Category: Ôn Thi Đại Học

Tổng hợp kiến thức ôn thi vào đại học

  • Tuyển tập các bài Văn nghị luận xã hội lớp 12 2019

    Tuyển tập các bài Văn nghị luận xã hội lớp 12 2019

    Tuyển tập các bài Văn nghị luận xã hội lớp 12 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay 2019


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tuyển tập các bài Văn nghị luận xã hội lớp 12 2019

    Tuyển tập các bài Văn nghị luận xã hội lớp 12

    Đề 1: Nhà văn Nga L.Tôn-xtôi nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò lí tưởng trong cuộc sống con người.

    Bài làm

    Trong cuộc sống, mỗi con người từ khi sinh ra đã là một hành trình tư tưởng. Cha mẹ khắc khoải một lí tưởng là con sinh ra được khoẻ mạnh, lớn khôn con là đứa trẻ ngoan ngoãn, giỏi gian, mai kia con trở thành môt người thành đạt. Rồi khi con đủ lớn, đủ ý thức để sống cho những lí tưởng riêng của mình. Con sẽ trở thành một học sinh xúât sắc, lớn hơn nửa con sẽ là một danh nhân lớn hay là một bác sĩ tài ba, con có cuộc sống riêng cùng một gia đình hạnh phúc. Cuộc sống được nuôi dưỡng bằng những lí tưởng. Nói cách khác: Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có Lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”.( Lép Tôn -xtôi)

    Mỗi chúng ta khi vô tình chạm đến hai chữ “lí tưởng” thì cảm thấy như gặp một cái gì xa

    vời, không thực tại chút nào. Ta cứ nghĩ rằng lí tưởng là cái gì đó vĩ đại như lí tưởng cách mạng của Các Mác- Ăngghen, lí tưởng vô sàn của Lênin. Nhưng chúng ta lại không biết rằng lí tưởng lá thực tại, rất đời thường và gần gũi gắn bó bên cuốc sống mỗi chúng ta. Hoàn toàn có thể hiểu ” lí tưởng là một ngọn đèn”, nói dễ hiểu lí tưởng là niềm tin, lòng ao ước mong mõi của mỗi người đặt ra trong cuộc sống. Lí tưởng chính là cái mục tiêu phấn đấu. Lí tưởng trở thành một phần của cuộc sống, và ví thế cuộc sông sẽ vô vị biết bao nếu thiếu đi “lí tưởng”.

    Theo cách nói của Lép Tôn-xtôi thí lí tưởng là ngọn đèn chí đường, và vì là ngọn đèn chỉ

    đường nên khi thiếu vắng nó con người ta sẽ dễ lầm lạc, đôi khi chậm trễ trên lô trình của cuộc

    sống: “Lí tường là ngọn đèn chị đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định,

    mà không có phương hướng thí không có cuộc sống”.

    Hành trình đi đến lí tưởng, phấn đấu theo lí tưởng, cũng như một vận động viên điền kinh đang ra sức chinh phục chặng dường đua của mình.anh chàng vận động viên chỉ biết rằng phía trước, những bước cuối cùng của chăng đường đua là dãi băng gôn về đích. anh cố hết sức và lao về trước với một tinh thần sức mạnh thiêng liêng, như mỗi chúng ta đều hướng về lí tưởng của mình. Cuộc sống cũng là một chặng đua và nếu chặng đua ấy không có đích đến, không có hướng đi thì chúng ta sẽ đi đâu về đâu.

    Nhưng Lép Tôn-xtôi bảo rằng: ” lí tưởng là phương hướng kiên định”, đó không có nghĩa

    rằng lí tưởng là một khối vật khổng lồ, nặng chịt không bao giờ có thể chuyển dịch. Nếu hiểu ngược kiểu ấy chả nhẻ lí tưởng của cuộc sống hiện đại lại là một ông già phong kiến cổ hữu, cùng những đạo luật khắc khe của chế độ xưa.Đó hoàn toàn không phải là lí tưởng. Đã là lí tưởng thiêng liêng của một cuộc sống tươi đẹp thì đòi hỏi ở cái khí chất cao đẹp.

    Trong cuộc sống có vô vàng lí tưởng nhưng như thế nào mới là một lí tưởng chính đáng.Lí tượng của một người kinh doanh là làm giàu, nhưng không phải là được làm giàu mọi cách. anh ta phải tuân theo khuôn khổ của pháp luật và trách nhiệm của lương tâm.Lí tưởng của một cậu

    học sinh là đỗ cao trong kì thi đại học. Thế rồi ngày anh đến phòng thi để thực hiện cái lí tượng đó của mình thì lương tâm, xã hội không bao giờ cho phép anh có quyền làm ngơ khi thấy một ngưòi chết đuối. một hành đông đi trái lại pháp luật, trái với đạo lí thì không còn là lí tưởng.

    Mỗi bước đi của chúng ta bây giờ đều bước theo những bậc thang của lí tưởng, và luôn luôn có lí tưởng sáng soi chỉ đường. Lúc ấy chung ta như những đứa trẻ vô tri được bàn tay người mẹ nâng niu dìu dắt từng bước đi. Và khi ấy nếu không có mẹ, không có lí tưởng con là đứa trẻ bơ vơ, lạc loài, rồi sẽ đi đâu về đâu.Anh muốn chinh phục nốc nhà thế giới, muốn đứng trên đỉnh Everrét dù chỉ là một giây, dùi phải trãi qua ngàn giờ hãi hùng, có lúc tưởng rằng hi sinh cả tính mạng, nhưng vẫn hết mình thực hiện cái lí tượng của bản thân. Nếu một con chị tồn tại như một bản năng, hoạt động như một cái máy, khởi đông thì chạy, hết nhiên liệu thì tắt. Ta

    tự hỏi thế có phải là cuốc sống? Để chứng minh rằng ta đang sống, đang tồn tại trước tiên ta phải có lí tưởng, và khi đã có lí tưởng ta sẽ có dũng khí làm những gí ta quyết.

    Ngày 5.6.1911, chàng thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành cùng bàn tay trắng xuống

    tàu buôn ra nước ngoài mang trên mình hàng trang duy nhất là lí tưởng tìm đưỡng cứu nước. Giả dụ, nếu không có đủ sức mạnh của lí tưởng thì Bác đã không bao giớ có can đảm ra đi. Chính vì thế ta hãy sống, và thực sự sông khi đã có lí tưởng riêng của bàn thân. Xuân Diệu thì mài mê với lí tưởng:

    • Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt Còn hơn ngồi buồn le lói suốt trăm năm.”

    Cám ơn nhà thơ đã đem đến một quan niệm mới về lí tưởng của cuộc sống. Chắc

    hẳn,chúng ta ai cũng biết Xuân Diệu là một nhà thơ khát khao giao cảm với đời, yêu đời một cách tha thiết nhất. Chính vì thế nhà thơ đem hết trái tim của mình cống hiến cho cuộc sống này, cho lí tưởng sống tràn đầy yêu thương. Xuân Diệu mong muốn được sống chân thành với lí tưởng của riêng ông, được hiến dâng cả cuộc đời để đổi lấy ” 1 phút huy hoàng” , đó là giây phút cháy bổng của một tâm hồn sống trong lí tưởng. Đông thời nhà thơ, nhà thơ cũng muốn gửi gắm lí tưởng sống ấy cho mọi người trong cuốc đời. Sống phải sống sao cho đáng sống, phải đem hết dũng cảm để sống cho cái lí tưởng của mình, để từ đó tìm ra phương hướng đi theo tiếng gọi của “lí tưởng” như L.Tôn-xtôi đã khẳng định ” không có lí tưởng thì không có phương hướng, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”

    Nhưng thử hỏi có mấy ai có đủ dũng cảm để sống hết mình, sống một cách trọn đấy cho lí tưởng. Chắc hẳn, chúng ta – những người con của dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên và cũng không bao giờ được quên người thiếu nữ đã chết cho “mùa hoa lê-ki-ma nở, ở quê ta vùng Đất Đỏ”, và chết cho đời sau. Nữ anh hùng Võ Thi Sáu đã dâng cả cuộc đời mình cho dân tộc, cho tổ quốc yêu thương và cũng cho riêng lí tưởng sống của chị, khi mới trọn đầy cái tuổi 16.

    Tôi không so sánh bạn, cũng như không dám so sánh mình với lí tưởng cháy bỗng yêu thương

    của tâm hồn thi sĩ Xuân Diệu, với lí tưởng cách mạng cao cả của nữ anh hùng, liệt sỉ Võ Thị Sáu. Qua đó, tôi chỉ có thể khẳng định rằng mỗi chúng ta đều có thể gắng hết sức vì lí tưởng sống của bán thân mình để thật sự có một phương hướng sống, phương hướng để tồn tại. Cũng như từ đầu vẫn nói, lí tưởng khônh hề xa vời,lí tưởng l2 đoạn đường, là lối đi gắn bó với chúng ta trong suốt

    cuộc đời.

    Một lần nữa xin chân thành cảm ơn L.Tôn-xtôi đã đem đến cho chúng ta cái nhìn tổng quát

    vế lí tưởng:”Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng là không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng kiên định thì không có cuộc sống”. Con đường hôm qua, hôm kia của tôi, của bạn, của tất cả chúng ta đều đã lùi vào quá khgứ một cách mờ nhạt và tiếp tục nhạt nhoà. Nhưng con đường của hôm nay và của ngày mai còn tuỳ tôi, bạn, chúng ta đi như thế nào, chọn lựa “ngọn đèn lí tưởng ” nào, đi theo phương hướng nào, để tiếp tục phát triển và đi lên cùng với sự thăng hoa của “ánh sáng lí tưởng”.

    Đề 2: Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu : “Ôi ! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn ?”

    BÀI LÀM

    Con người ta sinh ra và lớn lên, ai lại không một lần ước mơ, dù là ước mơ thật bình thường, thật đơn giản và ai cũng có những khát vọng, có niềm tin và có lý tưởng để sống nhất là đối với tuổi trẻ của chúng ta, lứa tuổi người ta cho là đẹp nhất thì ước mơ và lý tưởng lại bộc lộ rõ nét, có lúc lại đan xen với nhau, có lúc lại là một cuộc đấu tranh dằn vặt. Ai cũng biết, tuổi trẻ bao giờ cũng vươn tới cái hay nhất, cái đẹp nhất. Đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời biết bao điều mới lạ đặt ra đòi hỏi phải nhận thức và xử lý. Đâu sẽ là sống đẹp, sống có ích? Tiền đề tươi sáng?

    Thế nào là hạnh phúc, là ước mơ cao đẹp?

    “Sống đẹp” không phải là một cái gì to lớn lắm, nó rất gần gũi với chúng ta, đó không phải là những lý lẽ, những lời nói suông, nhưng phương châm trên giấy, sách vở… mà đó là những việc làm, những hành động cụ thể diễn ra hàng ngày trong đời sống của chúng ta. Ðịnh nghĩa về “Sống đẹp” sẽ có rất nhiều cách khác nhau; Đó là sống có đạo đức trong sáng và bản lĩnh vững vàng, có lý tưởng và sống hết mình vì lý tưởng, chỉ khi xác định được điều đó ta mới sống và làm việc thật sự có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

    Có thể hiểu “Sống đẹp” là sống có ích, là sống có lý tưởng, có bản lĩnh vững vàng, có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, trong sang. Chỉ khi xác định được điều đó ta mới sống và làm việc thật sự có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Bản thân tôi nghĩ rằng bản thân mỗi người nên cố gắng hoàn thành tốt công việc mình đang làm cũng là sống đẹp.

    Trong thực tế, rất có thể có một số bạn trẻ nghĩ “Sống đẹp” là một khái niệm xa vời, khó thực hiện; tuy nhiên, nếu nhìn thẳng và sâu vào vấn đề này trong thời kỳ đất nước đổi mới tiến vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa ta thấy điều đó thật sự không có gì xa lạ, khó thực hiện; mà trái lại nó tồn tại ngay trong cách nghĩ, cách làm hay nói gần hơn là trong cách ăn nói, ứng xử trong lao động, công tác, học tập và đời sống thường nhật của mỗi con người. Nếu như trong chiến tranh, lớp lớp cha anh ta đã sống và cống hiến quên mình cho nền độc lập dân tộc, tính mạng con người và cuộc sống hạnh phúc cá nhân là rất qúy giá, nhưng tất cả đều được tình nguyện gác lại, tình nguyện hy sinh, họ sẵn sàng đánh đổi những gì là riêng tư nhất để đổi lấy nền độc lập dân tộc.

    Họ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” khi tuổi đời còn rất trẻ và cống hiến xứng đáng vào sự

    nghiệp chung của Tổ quốc. Khi Tổ quốc cần, họ đã tự nguyện ra đi, chiến đấu và hy sinh anh dũng. Đó là sự dấn thân, cống hiến hoàn toàn tự nguyện khi bản thân đã hiểu thế nào là lẽ sống của một con người và lý tưởng của Người Cộng sản. Họ đã có niềm tin tuyệt đối vào độc lập tự do, có lý tưởng cao cả vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vô tư dâng hiến tuổi trẻ và cuộc đời cho đất nước. Niềm tin và lý tưởng ấy được bồi đắp và khích lệ mạnh mẽ bởi sự hy sinh lớn lao và nhân cách cao cả của bộ máy lãnh đạo mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Biết bao nhiêu anh hùng, liệt sĩ đã nghĩ và hành động như vậy.

    Ngày hôm nay, sống giữa đất trời hoà bình, chiến tranh đã lùi xa, phần lớn mọi sự so sánh giữa

    thời chiến tranh với thời hiện tại đều có rất nhiều sự khác biệt, nhưng có một điểm chung rất

    thống nhất trong tình cảm và lí trí của thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay chính là: lý tưởng cách mạng

    và khát vọng sống, cống hiến cho quê hương, đất nước. Bởi tôi nghĩ, ở mỗi con người nhu cầu

    khẳng định mình là rất lớn; nhất là ở tuổi trẻ, bởi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào các bạn trẻ cũng

    luôn luôn khát khao được thực hiện những ước mơ và khát vọng của bản thân. Nếu như những

    ước mơ, khát vọng, niềm tin và lý tưởng ấy được quan tâm, chăm sóc, giáo dục và khơi dậy sẽ

    biến nó thành sức mạnh to lớn để phát triển đất nước và sẽ là những đoá hoa thơm có ích giữa

    cuộc đời như lời Bác đã khẳng định khi tham dự Đại hội Đoàn lần thứ III năm 1961 “Thanh niên

    là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế

    hệ thanh niên tương lai”.

    “Sống đẹp” là chúng ta phải biết dung hoà mọi mặt: môi trường sống và làm việc, quan hệ xã

    hội, gia đình… Một hành động giúp đỡ người già cả, tàn tật, người gặp khó khăn hoạn nạn; một

    phong trào cứu trợ đồng bào bị thiên tai; một phong trào đền ơn đáp nghĩa rộng khắp; những lớp

    học tình thương đem ánh sáng văn hoá đến với trẻ em nghèo… tất cả những việc làm ấy là kết

    quả của một cách sống coi trọng nhân nghĩa. Chúng ta thật sự cảm động khi bắt gặp rất nhiều

    những hình ảnh thanh niên tình nguyện đang lao động quên mình trên mọi miền đất nước. Đấy là

    những thanh niên có lý tưởng cao đẹp, có trái tim nồng nhiệt, xung kích vào những công việc mà

    tổ quốc và nhân dân gọi đến.

    Tôi đã nhìn thấy trong ánh mắt và qua chuyện kể của các bạn tình nguyện, ngọn lửa truyền thống yêu nước nồng nàn và lòng nhân ái cao đẹp của thanh niên ta. Riêng hai chữ “tình nguyện” đã nói lên những đức tính quên mình vì nước, vì dân của các bạn và một phong cách mới “mình vì mọi người”, không đòi “mọi người vì mình”.

    “Sống đẹp” phải chăng nó cũng giống như lý tưởng và ước mơ, bao giờ nó cũng đi đôi với nhau. Bởi chỉ sống đẹp, có ước mơ không thôi thì sẽ dễ sản sinh ra một lớp người chỉ thích hưởng thụ, dễ lầm lạc và dễ sa ngã. Còn sống chỉ có lý tưởng thì con người dễ bi quan, dễ chao đảo khi có cái gì đó không như họ muốn, họ nghĩ vậy thì chẳng khác nào sống có ích, có lý tưởng là cái gì đó thật cao qúi, tốt đẹp mà mình mơ ước và hướng tới, coi đó là mục đích phải thực hiện được, dẫu phải trải qua những khó khăn gian khổ. Có những lúc, chính cái “Sống đẹp” mà mình đang kiên trì hướng tới lại là cái tạo cho mình sức mạnh để vượt qua khó khăn.

    “Sống đẹp” cũng là lý tưởng cao đẹp của một thời, lý tưởng càng đẹp càng cao thì sức mạnh càng nhân lên gấp bội. Thời kháng chiến gian khổ ác liệt, sống chết trong gang tấc thì cái lý tưởng giải phóng đất nước đánh đuổi kẻ thù luôn là động lực thúc đẩy để người chiến sỹ cách mạng vượt lên và chiến thắng. Trong hoà bình xây dựng đất nước, không phải là không có kẻ thù, không có

    những cản trở đê hèn luôn rình rập để lôi kéo con người tha hoá, biến chất. Chính cái lý tưởng sống nhân ái, mong muốn dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh lại là niềm cổ vũ, là sức mạnh để những con người tự khẳng định và trưởng thành.

    Chúng ta có thể kể ra rất nhiều những nét tiêu biểu của lối sống đẹp – sống có ích. Nếu như trong chiến tranh, như đã nói ở trên, cha anh ta đã sống và cống hiến quên mình cho nền độc lập dân tộc; tính mạng con người và cuộc sống hạnh phúc cá nhân đều được tình nguyện gác lại, tình nguyện hy sinh, họ sẵn sàng đánh đổi những gì là riêng tư nhất để đổi lấy nền độc lập dân tộc. Họ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” khi tuổi đời còn rất trẻ và cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp chung của Tổ quốc. Khi Tổ quốc cần, họ đã tự nguyện ra đi, chiến đấu và hy sinh anh dũng. Đó là sự dấn thân, cống hiến hoàn toàn tự nguyện khi bản thân đã hiểu thế nào là lẽ sống của một con người và lý tưởng của Người Cộng sản. Biết bao nhiêu anh hùng, liệt sĩ đã nghĩ và hành động như , thì ngày hôm nay, sống giữa đất trời hoà bình, khi chiến tranh đã lùi xa, mọi sự so sánh giữa thời chiến tranh với thời hiện tại phần lớn đều có rất nhiều sự khác biệt, nhưng có một điểm chung rất thống nhất trong tình cảm và lí trí của thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay chính là: lý tưởng sống, khát vọng sống và cống hiến cho Tổ quốc. Bởi tôi nghĩ, ở mỗi con người nhu cầu khẳng định mình là rất lớn; nhất là ở tuổi trẻ, chúng tơi luôn luôn khát khao được thực hiện những ước mơ và khát vọng của bản thân.

    Thực tế, trong cuộc sống có rất nhiều những tấm gương để chúng ta suy nghĩ và học tập nói theo. Với tôi, đó là tấm gương của em học sinh vượt nghèo khó để học và học rất giỏi Nguyễn Vũ Hoàng – Trường THPT Bố Trạch – Quảng Bình. Em có thể quá xa tôi về khoảng cách địa lý, tuy nhiên tôi luôn cảm thấy em rất gần và có nhiều điều để cho tôi học tập.

    Sinh ra trong một gia đình nghèo trên mảnh đất nghèo, khô cằn bởi khí hậu và bom đạn, tưởng rằng như thế cũng đã là thử thách giành cho Hoàng, nhưng không, mẹ Hoàng lại còn bị bệnh hiểm nghèo, bố là thương binh, sức khoẻ yếu. Trong hoàn cảnh đó em đã biết vượt lên số phận để vừa lao động mưu sinh vừa học tập. Niềm khát khao được học tập của em đã làm cho bà ngoại của em đã có một hành động rất đáng nhớ, đó là hàng ngày đi cắt lúa mót, vừa là để ăn, vừa là để bán, bởi mùa nào thì thức đó, bà đều đặn để vào hũ tiết kiệm tiền cho Hoàng đi học:

    1.000 đồng. Điều tôi học được từ Hoàng đó chính là ý chí phấn đấu không mệt mỏi của em. Không cam chịu, không đầu hàng số phận, không buông xuôi bản thân mình em đã cố gắng và đã là học sinh giỏi trong 12 năm liền và hơn thế em đã là người vinh dự đội vòng nguyệt quế của chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” với một phần thưởng vô cùng lớn lao đó là được đi du học nước ngoài. Thành tích của em đã đem lại nghị lực để chiến thắngï bệnh tật cho người mẹ, niềm vui cho người bà rất mực thương yêu em và là tấm gương cho người em nhỏ trong gia đình và hơn thế, nó đã nâng cánh cho ước mơ cống hiến cho quê hương, đất nước của em dần trở thành hiện thực.

    Và tôi tin, em lớn lên từ nghèo khó và trưởng thành bằng nghị lực, em sẽ tiếp tục gặt hái được nhiều thành công, sẽ là người thanh niên sống có ích cho xã hội em sẽ luôn là tấm gương sáng về “Sống đẹp” cho rất nhiều người dù cho hoàn cảnh sống của họ có giống em hay không.

    Vâng! Có lẽ vì thế mỗi con người chúng ta, ai cũng đều có riêng cho mình những mục đích sống, những lý tưởng, ước mơ và hoài bão. Nhưng để “Sống đẹp” thì ai cũng phải tự nhìn lại

    chính mình để suy ngẫm về mục đích sống, những lý tưởng, những ước mơ và hoài bão đó. Và

    có lẽ còn khó khăn hơn để chúng ta hiểu cặn kẽ thế nào là “Sống đẹp – sống có ích” ?

    Riêng bản thân tôi: “Sống đẹp” đó chính là mình phải biết sống vì cái chung của xã hội và

    của mọi người, phải biết xa rời cái chủ nghĩa cá nhân, thực dụng. Để từ đó xây dựng cho chính

    mình một lối sống “Sống đẹp” cho mọi người và cho xã hội. Một nhà thơ đã từng viết: “Sống là

    cho, đâu chỉ nhận riêng mình”. Sống đẹp là nếp sống của một con người có phẩm chất đạo đức

    tốt, biết hy sinh và cống hiến, không đơn điệu, cá nhân, mà phải biết hoà mình với cộng đồng,

    với tập thể, biết yêu thương, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau khi khó khăn hoạn nạn. Sống có ích là lối

    sông biết hy sinh, biết gạt bỏ những lợi ích riêng tư để tìm cái chung và chia sẻ những đau

    thương mất mát của người khác, biết đóng góp và cống hiến hết sức mình vì lợi ích, tương lai

    của Tổ quốc, của dân tộc.

    Gần đây, qua hai cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc, chúng ta như được sống lại không khí thời chống Mỹ. Tôi rất tâm đắc với lời nhận xét của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn: “Sự tận tụy làm người của Đặng Thùy Trâm là nhân tố khiến cho những người lính Mỹ khác hắn về lý tưởng cũng phải kính trọng.” Trước mắt tôi hiện lên hình ảnh một cô gái Hà Nội nhỏ bé, một nữ bác sĩ trẻ phụ trách một bệnh viện dã chiến trong rừng sâu Đức Phổ, Quảng Ngãi. Đêm đêm, sau những lúc mệt mỏi vì chăm sóc thương binh, chị lại ngồi cặm cụi ghi những dòng nhật ký, ghi lại những khát vọng sống, khát vọng yêu thương, khát vọng làm người. Chị và đồng đội của chị đã chiến đấu và hy sinh với mong muốn ngày mai đất nước ta tươi đẹp, hoà bình thống nhất hai miền, để những đứa em Miền Nam kết nghĩa của chị được ra thăm Miền Bắc, để mọi người dân được sống trong hạnh phúc, ấm no.

    Tôi lại nghĩ đến một số không ít những thanh niên thế hệ chúng tôi ngày nay, sinh ra trong những gia đình giàu có đang lao vào những cuộc ăn chơi thác loạn, quay cuồng trong những hộp đêm với thuốc lắc hoặc đua xe gầm rú trên đường phố như những hung thần. Tôi lại nghĩ đến những cán bộ thoái hoá biến chất đang sống trong nhung lụa, trong những căn hộ cao cấp, thừa mứa những tiện nghi đắt tiền. Họ còn tìm đủ mọi mánh lới thủ đoạn để tham nhũng tiền bạc của nhà nước của nhân dân đem cung phụng cho trong khi đó nhiều gia đình còn đang sống trong bồ nhí, thư ký riêng những căn nhà dột nát, bữa no, bữa đói, thiếu nước, thiếu điện.

    Tóm lại, “Sống đẹp” không là một khái niệm xa vời, khó thực hiện; trái lại nó tồn tại ngay

    trong cách nghĩ, cách làm hay nói gần hơn là trong cách ăn nói, ứng xử trong lao động, công tác,

    học tập và đời sống thường nhật của mỗi con người. Nói rõ ra. thanh niên ngày nay sống đẹp,

    sống có ích trước hết phải là sống có lý tưởng, mục đích rõ ràng, trung thành với mục tiêu của

    chính mình. Mỗi người có thể có mục tiêu khác nhau, nhưng nhất thiết không phải là một lối

    sống vị kỷ mà luôn hướng tới cộng đồng, như nhà thơ Tố Hữu trong buổi đầu băn khoăn đi kiếm

    lẽ yêu đời đã viết:

    Tôi buộc lòng tôi với mọi người

    Để tình trang trải với muôn nơi

    Để hồn tôi với bao hồn khổ

    Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

    Đề 3: Tình thương là hạnh phúc của con người.

    Khi còn ở tuổi thiếu niên, dường như mọi người trong chúng ta thường nhìn nhận khái niệm hạnh phúc rất đơn giản là những điều mình mong muốn. Bước vào cuộc sống, bạn thật sự đặt chân lên cuộc hành trình tự khẳng định mình, tìm kiếm giá trị cuộc sống và ý nghĩa bản thân, bạn sẽ nhận ra rằng ” Tình Thương Là Hạnh Phúc của Con Người ”. Đó cũng chính là 1 chân lí vĩnh hằng của cuộc sống.

    Dù mơ hồ hay rõ ràng, ai cũng có thể nhận ra rằng tình thương là những tình cảm đẹp đẽ và nồng nhiệt của con người,gắn kết những trái tim đồng cảm. Nó có thể là tình cảm lứa đôi, tình cảm gia đình, bè bạn và cao hơn cả là tình người nói chung. Đó có thể là những tình cảm bình dị nhất, gần gũi nhất từ sự quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống đến những tình cảm lớn lao hơn mang tính giai cấp, cộng đồng. Tình thương – đó là tấm lòng yêu thương chân thành và trong sáng – là tình cảm chỉ trao đi mà ko cần nhận lại, không vụ lợi, không toan tính.Có thể nói, tình thương là 1 thứ tình cảm đẹp đẽ luôn tồn tại trong bản chất của mỗi con người.Và kết quả của sự yêu

    thương đó là sự thỏa mãn của con tim – cái được goi là niềm hạnh phúc. Hạnh phúc là gì ?

    Tự bao đời nay, con người luôn khao khát yêu thương, luôn kiếm tìm hạnh phúc. Người ta có thể cảm nhận được hạnh phúc nhưng để mô tả nó 1 cách rõ ràng thì ko phải là 1 điều đơn giản. Chỉ có thể nói về hạnh phúc như là 1 trạng thái sung sướng vì cảm thấy thỏa mãn ý nguyện.Nhưng đó không chỉ đơn thuần là ước muốn vật chất hay sự thành công, mà là cả 1 tổng thể bao gồm những khái niềm hết sức trừu tượng, nhưng cũng thật đơn giản biết bao. Có đôi lúc, hạnh phúc chỉ đơn giản là giọt nước mắt nóng hổi của mẹ và tiếng cười ấm áp của cha khi nhìn con ra đời khỏe mạnh. Hạnh phúc có khi chỉ đơn giản là niềm xúc động khi nhận được 1 sự giúp đỡ hay 1 lời chia sẻ chân thành.Đối với nhiều người, hạnh phúc bắt đầu từ điều đơn giản nhất, khi mỗi sớm mai thức dậy, thấy mình sống có ích trên cõi đời.

    • Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy Ta có thêm ngày nữa để yêu thương ” ( Trịnh công Sơn )

    Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản và bình dị thế thôi. Sự thật là có 1 mối liên hệ không thể tách rời giữa hạnh phúc và tình thương. Con người ko thể sống hạnh phúc mà không có tình thương. Tình thương mang lại hạnh phúc cho người nhận nó, giúp họ có thêm nghị lực để vượt qua mọi thử thách, khó khăn; là động lực giúp họ ngày càng hoàn thiện hơn. Trong ” Những người khốn khổ” ( V.Huy-gô ), triết lí tình thương của nhân vật Giăng-Van-Giăng đã có ý nghĩa lớn lao,thay đổi số phận và giáo hóa con người. Giăng-Van-Giăng đã thay lời Huy-gô để nói lên 1 triết lí:” Trong đời chỉ có 1 điều, ấy là yêu thương nhau” Không chỉ với người nhận, sự trao đi tình thương cũng là điều mang lại hạnh phúc. Khi bạn giúp đỡ 1 bà cụ đi qua đường thì bạn cảm thấy thế nào? Câu trả lời nằm trong tim bạn, có phải bạn

    đang vui…??. Thế có nghĩa là bạn đang hạnh phúc đấy. Trao đi yêu thương 1 cách tự nhiên, chúng ta sẽ nhận lại hạnh phúc xứng đáng. Bởi: khổ đau được san sẻ sẽ với nữa, còn hạnh phúc dc san sẻ sẽ nhân đôi.Thomas Merton đã từng nhận xét:” Nếu chúng ta chỉ biết tìm hạnh phúc

    cho riêng mình thì có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm thấy. Hạnh phúc đích thực là biết sống vì người khác – 1 tình yêu không vị kỉ, không đòi hỏi phải được đền đáp”.

    Đúng vậy, được yêu thương là 1 hạnh phúc, nhưng yêu thương người khác còn là 1 hạnh phúc lớn hơn. Tình thương mang lại hạnh phúc cho con người. Đó chính là lí do tại sao mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ chúng ta phải biết rèn luyện bản thân, để tạo nên hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và xã hội.”Cái đẹp cứu vớt thế giới”(Đốtx-tôi-ép-xki). Tình thương là nét đẹp tiềm ẩn sức mạnh vĩ đại, là niềm hạnh phúc quý giá của con người.Cần biết trân trọng những gì ta đang có, yêu thương và san sẻ để cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn.

    Ngày nào ta còn sống, tức là ta còn có cơ hội để cảm nhận hạnh phúc của cuộc đời. Vì vậy, chúng ta hãy chia sẻ lòng tốt và lòng nhiệt tình đối với người khác. Một câu ngạn ngữ của Scotland nói rằng:” Hãy sống thật hạnh phúc khi bạn còn đang sống – Bởi vì bạn chỉ có 1 lần sống duy nhất mà thôi!” Thế còn bạn thì sao? Tôi thì sao? Liệu chúng ta có biết nhận ra những điều tương tự? mỗi ngày chúng ta có 24h để sống, để yêu thương, để phát hiện những điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống. Hãy cho đi tình thương để có thể cảm nhận cuộc sống một cách đầy đủ nhất, tuyệt vời nhất, tròn vẹn nhất, bạn nhé… .

    Đề 4: “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”. Ý kiến của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân.

    BÀI 1

    Danh ngôn có câu:

    “Ý nghĩa là nụ hoa

    Lời nói là bông hoa

    Việc làm là quả ngọt”.

    Thật đúng như vậy, cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa như thế nào là tùy thuộc vào cách thể hiện của mỗi con người. Một quan niệm có nội dung tương tự: ” Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”.Vậy “đức hạnh” là gì? Và tại sao hành động lại là nơi chứa đựng mọi phẩm chất của đức hạnh?

    Trước hết cần phải hiểu ” đức hạnh” là những đức tính tốt đẹp của con người. “Phẩm chất” có thể hiểu nôm na là những tính cách, tính chất bên trong của con người. Nó có ý nghĩa trái ngược hoàn toàn với “hành động”, là những cử chỉ việc làm bên ngoài. Như vậy, ta có thể hiểu nói trên như là một lời nhân xét, một kinh nghiệm của M. Xi-xê-rông: những đức tính tốt đẹp của con người đều được thể hiện qua hành động. Nếu những cử chỉ và hành động của bạn là đúng, điều đó đồng nghĩa với việc bạn là người có nhân cách tốt, có đức hạnh. Ngược lại, nếu bạn có những cử chỉ, hành động không đẹp, thì có thể lắm bạn là một người chưa hoàn thiện về nhân cách, bạn còn cái lối sông ích kỉ, chỉ nghĩ cho riêng mình.

    Nhiều người đã tự hỏi làm thế nào để có thể làm được như câu nói trên. Thật ra câu trả lời rất đơn giản. Bạn không cần phải làm những việc lớn lao hay hy sinh những thứ quí giá của mình thì

    mới gọi là nhưng cử chỉ, hành động đẹp. Mỗi buổi sáng đi học, bạn không sợ trễ học mà dắt một cụ già qua đường. Mỗi tháng, bạn gom góp báo cũ đem bán để ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”.

    • nhà, bạn quan tâm, giúp đỡ và chăm sóc cho những người thân của mình. Khi đến trường, bạn cố gắng học tập và cư xử lễ phép với thầy cô, quan tâm đến bạn bè. Tất cả những điều đó thể hiện bạn là một người có những đức tính tốt và cao đẹp.

    Tuy nhiên, bên cạnh những mặt phải còn có những mặt trái của vấn đề. Đôi lúc, những hành động, cử chỉ đẹp lại không chứa đựng những đức tính tốt đẹp. Có những người làm những điều đó vì những mục đích không tốt, để qua mặt người khác. Lại cũng có những người không hề có những đức tính tốt đẹp, nhưng họ giả vờ có những cử chỉ hành động cao đẹp để chiếm lấy trái tim của người khác. Những việc làm của họ không nói lên họ là những người có đức tính tốt mà ngược lại họ còn làm cho người khác cảm thấy khinh bỉ và ghê tởm. Những con người đó rất đáng bị phê phán vì nếu cứ để họ tồn tại như vậy sẽ gây nên những tổn hại không đáng có cho người khác và cho xã hội.

    Tóm lại, mỗi học sinh chúng ta phải cố gắng rèn luyện đạo đức và trau dồi kiến thức. Hãy nhìn mọi người bằng con mắt yêu thương, trìu mến. Bạn sẽ thấy cuộc sống tươi đẹp hơn và muốn hành động, cư xử đẹp hơn. Qua đó, bạn sẽ cảm nhận được những đức tính tốt đẹp của mình.

    BÀI LÀM 2

    Những phẩm chất cao quí trong tâm hồn con người luôn là một mục tiêu mà chúng ta vươn tới. Đó chính là đức hạnh. Những phẩm chất đó tô điểm cho tâm hồn chúng ta, làm chúng ta luôn hoàn thiện bản thân mình. Muốn thế, chúng ta phải thể hiện qua hành động, qua hành vi cử chỉ hằng ngày của chúng ta. Và vì vậy,”mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”.

    Đức hạnh là gì? Đức hạnh là những gì cao quí nhất, trong sáng nhất trong tâm hồn của mỗi con người chúng ta. Hành động là gì? Hành động là những gì biểu hiện ra bên ngoài, qua đó thể hiện những tính cách của mỗi người. Những phẩm chất và hành động của con người là khác nhau, tạo nên sự khác biệt trong tính cách của mỗi thành phần trong xã hội.

    Vậy chúng ta phải làm gì để có được những phẩm chất cao quí và trong sáng mà chúng ta gọi là đức hạnh? Thật ra, đức hạnh là một điều không khó để vươn tới. Nó không quá cao siêu, chỉ là những gì nhỏ nhất đủ để đánh giá một con người. Giúp một bà cụ qua đường, tìm mẹ cho một em nhỏ bị lạc, hay đơn giản chỉ là một nụ cười khi ta gặp môt người quen ngoài đường, tất cả đã góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách của mỗi con người chúng ta. Như thế, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn với mọi người, làm cho quan hệ giữa người với người càng trở nên tươi đẹp và góp phần biến xã hội chúng ta thành một nơi “tốt hơn cho bạn và cho tôi”.

    Đức hạnh chỉ đơn giản, không cầu kì, phức tạp để đạt được. Nhưng chúng ta không nên quá đơn giản nó đi. Đừng chỉ nghĩ mà không làm rồi sau đó ru ngủ bản thân rằng: “những gì mình làm đã là tốt nhất”. Nghĩ phải đi đôi với hành động, và những phẩm chất đó cũng cần hành động để thể hiện chúng ta. Bây giờ, mở lòng mình ra với thế giới bên ngoài, nhìn xung quanh và hãy bắt đầu hành động. Không khó để xây dựng đức hạnh trong mỗi con người chúng ta.

    Bây giờ, chúng ta là thanh niên, là thế hệ tương lai và kế cận của xã hội sau này. Hãy xây dựng một hình ảnh, một tính cách bằng những hành động của chúng ta, bắt đầu bằng những hành vi nhỏ nhất, để xã hội ngày càng tươi đẹp và tốt hơn. “Cho bạn và cho tôi, cho tất cả mọi người.”. Và hãy nhớ rằng, “mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”. .

    Đề 5: Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

    BÀI LÀM:

    Trong thời đại khoa học tiên tiến như hiện nay, giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng. Học tập là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Vậy học hỏi để làm gì? Trả lời cho câu hỏi này UNESCO đã đề xướng mục đích học tập:” Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình “.

    Mục đích học tập mà UNESCO đề ra không chỉ phù hợp với thời đại mà còn là mục đích rất nhân văn. Mục đích học tập phải đáp ứng 2 ycầu: tiếp thu kiên thức và yêu cầu thực hành, vận dụng kiến thức, từng bước hoàn thiện nhân cách. Trước hết :” học để biết”. Bài học đầu tiên của mỗi học sinh là học chữ cái, con sô rồi cách viết, cách đọc. Chính từ nền tảng cơ bản nhất ấy đã dần hình thành nên 1 hệ thống kiến thức toàn diện ở mức phổ thông. Học ở đây là quá trình tiếp nhận kiến thức do người khác truyền lại và tự mình làm giàu vốn kiên thức cho mình. Qua việc học, chúng ta biết được những quy luật vận động của tự nhiên, những quy tắc chuẩn mực của xã hội, cách sống và hiểu hơn về giá trị cuộc sống. Thu nhận kiến thức có thể nói là mục đích học tập cơ bản nhất. Học tập trau dồi trí thức cho con người và làm cho trí tuệ con người sáng rạng ra.

    Tuy nhiên, ông cha ta quan niệm: “Trăm hay không băng tay quen”. Nếu như chỉ chăm học lí

    thuyết mà không chịu thực hành thì khi làm việc không tránh khỏi những khó khăn, thậm chí là

    thất bại. Một ví dụ dễ thấy rằng: trong cuộc sông của chúng ta, không ít ngừoi hiểu rộng biết

    nhiều nhưng khả năng thực hành lại rất kém. Ngược lại, tại sao những người nông dân “chân lấm

    tay bùn” suốt ngày “bắn mặt cho đất, bán lưng cho trời” không được học hành, đào tạo qua

    trường lớp nào mà tay nghề lại tài giỏi,xuất sắc như vậy? Đó là khả năng quan sát, đúc rút kinh

    nghiệm trong lao động của họ. Những người hay nói mà không hay làm là những người vô dụng.

    Đó là những con người chỉ biết trang trí bản thân chứ ko biết rèn luyện bản thân.

    Như vậy “học” thôi chưa đủ mà còn phải “đi đôi với hành” nữa. Tất nhiên, chúng ta ko nên

    nghiêng phiến diện 1 phía: “học” quan trọng hơn hay “hành” quan trọng hơn mà cân biết điều

    hòa kết hợp giữa 2 yếu tố trên. Trong xã hội ngày nay, tri thức là tiền dề quan trọng. Để hoàn

    thành được công việc có kĩ thuật cao cần phải nắm vững lí thuyết để vận dụng cho phù hợp.

    Công nghệ hiện đại khác nhiều với việc cày cấy, luân phiên mùa vụ của nông dân trên đồng

    ruộng. Lí thuyết gắn với thực hành sẽ tạo ra năng suất công việc cao hơn. Qua đây, ta thấy được

    tác động 2 chiều giữa “học” và “hành”, “biết” và “làm”, chúng bổ sung, tương tác với nhau, là 2

    mặt của 1 quá Bên cạnh việc đề cao giữa thu nhận kiến thức và thực hành, UNESCO đã chỉ ra:”

    học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Đây chính là mục đính học tập rất nhân văn. Học tập giúp ta hiểu hơn về thế giới xung quanh, làm cho những trạng thái tâm hồn ta trở nên linh hoạt hơn, đa dạng phong phú hơn. Ta đã biết mỉm cười trước niềm vui của người khác, biết đau trước những nỗi đau của con người, biết giúp đỡ, chia sẻ, cảm thông và tìm được chính mình. Tri thức tự nó đã là sức mạnh giúp cho con người rộng lượng hơn, vị tha hơn và tự tin hơn trong cuộc sống.

    Ngày nay, cuộc sống hiện đại đã tác động đến suy nghĩ con người. 1 bộ phận học sinh, sinh viên thời nay đã không xác định đúng đắn mục đích học tập của mình. Họ miệt mài trong học tập như cái máy, coi việc học như nghĩa vụ, trách nhiệm không thể chối bỏ, đối với cha mẹ, thầy cô.

    Họ học cho bằng cấp, cho sự nghiệp công danh mà họ trở nên thực dụng trong việc học và quên

    đi lợi ích của việc học, thiết nghĩ: nếu như cả xã hội này coi học tập chỉ là nghĩa vụ bắt buộc và

    chỉ dừng lại ở mức độ biết thì mỗi cá nhân sẽ không phát huy được tài năng, cá tính sáng tạo của

    bản thân và vô tình kìm hãm sự phát triển xã hội. Vì vậy việc xác định mục đích học tập là rất

    quan

    trọng.

    Mục đích học tập mà UNESCO đề xướng rất đúng đắn, nhân văn. Qua đó ta định huớng học tập dẽ dàng hơn, việc học trở nên hiệu quả và hữu ích hơn. Tri thức như 1 cái thang dài vô tận, bước qua 1 bậc thang ta có thêm hành trang để tự tin bước lên bậc kế tiếp. Học vấn làm đẹp con người! .

    Đề 6: Anh chị có suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” Internet trong nhiều bạn trẻ hiện nay.

    GỢI Ý LÀM BÀI

    MỞ BÀI:

    Trong suốt dòng lịch sử con người, đã có những người phải vất vả chống lại tính nghiện ngập, nào là nghiện rượu, nghiện ma túy, cũng như những thói quen không thể bỏ được, chẳng hạn như bài bạc. Giờ đây, các nhà tâm lý học ở nhiều quốc gia lại lưu ý đến tình trạng khẩn cấp phải đối phó của một chứng tật ham mê mới, đó là nghiện Internet.

    THÂN BÀI:

    • THỰC TRẠNG VỀ CĂN BÊNH NGHIỆN INTERNET TRONG GIỚI TRẺ

    Với nhiều người, Internet là một thứ không thể thiếu; một thói quen không kiểm soát nổi. Riêng tại Mỹ đã có khoảng 15-20 triệu người mắc “bệnh” này. Theo giáo sư Jerald Block của ĐH Khoa học và y tế Oregon, bốn triệu chứng nghiện Internet chính là: quên thời gian,sao lãng ăn uống và ngủ; tức giận, căng thẳng, bồn chồn khi không thể lên mạng; cần trang bị máy tính mạnh hơn, nhiều phần mềm mới; biểu hiện trầm cảm, hay cáu giận và tách biệt với xã hội.

    Nghiện Internet – một hành vi gây căng thẳng cho cuộc sống của chính nạn nhân và cho cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp – là một căn bệnh tâm lý đang lan tràn trên toàn thế giới. Hiện nay, có khoảng 5-10% người Mỹ (tức khoảng 15-20 triệu người) có thể đã bị nghiện Internet, Kimberly Young, giám đốc Trung tâm Cai nghiện Internet của Mỹ, nói. Số người nghiện net có thể lên từ 18-30% ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.

    Coleen Moore, điều phối viên tại Viện Phục hồi Nghiện Illinois, cho biết bà có những khách hàng từ độ tuổi học sinh cho đến độ tuổi trưởng thành, trong đó có những người dành đến 14-18 giờ mỗi ngày trên mạng.

    Chơi game trực tuyến là một dạng của nghiện Internet và đang lan tràn nhanh chóng trong giới trẻ. Brian Robbins, một thành viên của Hiệp hội các nhà phát triển Game quốc tế, cho biết số người nghiện chơi video game trực tuyến ngày càng tăng. “Có đến 90-95% các trò chơi trên web đều miễn phí”, Robbins nói.

    • 2: HẬU QUÁ CỦA NGHIỆN INTERNET

    Internet mang theo cùng nó những lợi ích nhưng cả các tác hại. Trong đó có tình trạng vì quá mê mệt Internet mà các con nghiện xao lãng chuyện học hành, thậm chí bỏ học.

    Họ giảm tiếp xúc với gia đình, bè bạn, sống cô lập trước màn hình máy tính, lặn vào những “chatroom” hay chơi những trò chơi bạo lực. Nói về các con nghiện này, giám đốc bệnh viện ***

    Ran, chuyên gia điều trị các loại nghiện thâm niên 20 năm, cho rằng các thiếu niên mắc bệnh này thường là những em có vấn đề về thái độ hành xử, mặc cảm.

    Họ lên Internet để củng cố sự tự tin. Chính ở trên thế giới mạng, họ có cảm giác chín chắn, thành công. Các con nghiện Internet thường đau khổ vì trầm uất, sợ sệt và không sẵn lòng giao tiếp với người khác. Nhiều em mắc bệnh rối loạn giấc ngủ, tê cóng hai tay.

    Tuy nhiên, Internet chỉ là chất xúc tác chứ không phải là nguyên nhân gây nghiện. Hầu hết

    những em gặp trục trặc trong cách hành xử hay thiếu tự tin chỉ bị cơn nghiện Internet làm trầm trọng thêm, mà trong quá khứ, không có Internet, chúng có thể tìm tới tội ác, ma túy, có khi tự tử để đối phó với những vấn đề của mình.

    1. GIẢI PHÁP

    Để xử lý vấn đề này, chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng một mạng lưới 140 trung tâm tư vấn về

    nghiện Internet, cùng với các chương trình điều trị ở gần 100 bệnh viện và gần đây nhất là trại

    “Giải thoát khỏi Internet” – mới được mở hồi hè năm nay. Các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra

    một danh sách để chẩn đoán chứng nghiện Internet và kết luận độ nghiêm trọng của nó, gọi là K-

    Scale (K là viết tắt của Korea). Rồi tháng 9 vừa rồi, Hàn Quốc cũng tổ chức hội thảo quốc tế đầu

    tiên về chứng nghiện Internet.

    “Trại giải thoát” ở Hàn Quốc nằm tại một vùng rừng ở phía Nam Seoul, là nơi để điều trị những ca nghiêm trọng nhất. Năm nay, trại đã tổ chức hai kỳ điều trị đầu tiên, mỗi kỳ kéo dài 12 ngày, mỗi lần có 16-18 học viên nam (các nhà nghiên cứu Hàn Quốc nói rằng đa số những user nghiện net là nam giới).

    “Trại” này được chính phủ tài trợ hoàn toàn, tức là ai cũng được điều trị miễn phí. Bây giờ vẫn còn quá sớm để nói rằng “trại” có thể “cai nghiện” được cho những người tham gia không, nhưng họ liên tục nhận được đơn đăng ký. Để đáp ứng nhu cầu, các nhà tổ chức nói rằng năm sau họ sẽ gấp đôi số khoá điều trị.

    Còn, giải pháp cho bệnh nghiện internet ở Việt Nam, theo bạn thì sao?

    KẾT BÀI:

    Cũng giống như nghiện rượu hay ma tuý vậy, nghiện Internet mang lại những hậu quả nhất định về tâm lí, thể xác và các mối quan hệ xung quanh. Đừng để thành quả được coi là có ý nghĩa nhất đối với xã hội loài người lại huỷ hoại chính bạn – công dân của thời đại @. .

    Đề 7: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.

    BÀI LÀM:

    Trong những năm gần đây, có thể nhận thấy tình hình trật tự ATGT ở nước ta có nhiều biến phức

    tạp, đặc biệt là trên lĩnh vực giao thông đường bộ. Theo Ban An Tòan Giao Thông Thành Phố

    Hồ Chí Minh, trong năm 2006, trên địa bàn TPHCM đã xảy ra 1.332 vụ tai nạn giao thông, tăng

    4,63% so với năm 2005. Đáng báo động, tính chất các vụ tai nạn ngày càng nghiêm trọng, thể

    hiện qua số người chết tăng mạnh. Số người thiệt mạng vì tai nạn giao thong là 1.014 người, tăng

    38 người so với năm trước (tăng 3,89%).Và theo đại tá Phạm Văn Thịnh, Trưởng Phòng CSGT

    Đường bộ Công an TPHCM, chỉ trong mấy tháng đầu năm 2007, TPHCM đã lọt vào top 17 tỉnh,

    thành có số người chết vì tai nạn giao thông (TNGT) cao nhất nước” – Tính chất TNGT ngày

    càng nghiêm trọng hơn.Vậy là thế hệ tuổi trẻ, là thế hệ mai sau của đất nước, chúng ta phải làm

    thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.

    Tai nạn giao thông và những thiệt hại do tai nạn gây ra đang là nổi lo và vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Đó là thiệt hại về sinh mạng, thiệt hại về nhân lực, trí tuệ, gây tổn thương về tinh thần xã hội, về vật chất, tiền của và cả nỗi đau thể xác, tinh thần dai dẵng. Điều ấy đã và đang đặt ra cho toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ tuổi trẻ hơn bao giờ hết phải nêu cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm để chung sức kiềm chế, đẩy lùi những nguy cơ trên.

    Trong vòng 10 năm qua, số vụ tai nạn giao thông đã tăng gấp 4 lần. Theo điều tra chấn thương liên trường (VMIS), trong năm 2001 có 4.100 trẻ chết do tai nạn giao thông, tương đương với 11 trẻ chết 1 ngày. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em trai gấp 2 lần tỷ lệ này ở trẻ em gái. Trong khi đó có

    290.000 trẻ bị thương do tai nạn giao thông cũng trong 2001, tương đương với 794 trẻ/ngày. Tai nạn giao thông là nguyên nhân tử vong hàng đầu của trẻ em từ 15 tuổi trở lên.

    Bà Isabelle Bardem, Trưởng phòng Phòng chống Tai nạn Thương tích Trẻ em của UNICEF nói “Tai nạn giao thông có ảnh hưởng nặng nề đối với trẻ Việt Nam. Không chỉ rất nhiều trẻ trực tiếp bị tai nạn giao thông gây tử vong hoặc thương tật nặng nề, còn có biết bao trẻ khác bị ảnh hưởng

    gián tiếp bởi cha, mẹ các em bị tai nạn giao thông cướp đi sinh mệnh hoặc tàn tật”.

    Phần lớn trẻ 0-9 tuổi chết là người đi bộ. Đa số trẻ 10-14 tuổi chết khi đi xe đạp trong khi tất cả các ca tử vong ở đối tượng 15-19 tuổi là người đi xe máy. Một số các yếu tố sau đây có thể giải thích được tình trạng tai nạn giao thông ở mức cao cả ở trẻ em và trong toàn dân:Sự hiểu biết còn hạn chế về an toàn giao thông đường bộ và số người chết do tai nạn giao thông.Sự hiểu biết còn hạn chế về quy định giao thông.Sự hiểu biết còn hạn chế về các hành vi lái xe an toàn.Số đông dân chúng còn có quan niệm răng tai nạn nói chung và tai nạn giao thông nói riêng là do số mệnh con người quyết định.Họ không thấy rằng phần lớn tai nạn giao thông là có thể phòng tránh được.Môi trường giao thông không an toàn và cơ sở hạ tầng giao thông nghèo nàn. Ví dụ, có rất ít các biển báo giao thông và các khu vực an toàn cho người đi bộ.Việc sử dụng mũ bảo hiểm là rất ít mặc dù có nhiều mũ bảo hiểm sản xuất trong nước với chất lượng tốt.Việc chấp hành luật lệ giao thông còn kém.

    • cấp quốc gia UNICEF cùng với Bộ Y tế, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia đã triển khai các hoạt động nhằm tăng nhận thức về phòng tránh tai nạn và an toàn giao thông. Áp phích, tờ rơi về an toàn giao thông và sử dụng mũ bảo hiểm đã được phân phát rộng rãi trên toàn quốc trong Sea Games 22 vừa qua. UNICEF cũng vận động để giúp cho công chúng hiểu rõ hơn về luật giao thông và tăng cường nghiêm chỉnh chấp hành luật. UNICEF cũng thúc đẩy sử dụng mũ bảo hiểm đặc biệt mũ bảo hiểm cho trẻ, và các hành vi lái xe an toàn trong thanh niên. Những hành động nguy hiểm thường gặp của thanh niên như lạng lách, đua xe máy là nguồn gốc của nhiều tại nan giao thông.

    Các hoạt động sau đang được triển khai nhằm giảm thiểu tai nạn thương tích cho trẻ:Đặt biển

    báo giới hạn tốc độ, làm gờ giảm tốc, đèn hiệu giao thông, vạch dành cho người đi bộ ở khu vực

    có đông trẻ em.Thực hiện chương trình giáo dục phòng chống thương tích trong trường học giúp

    học sinh có kỹ năng về giao thông để phòng tránh tai nạn khi đi bộ, đi xe đạp hay xe máy.Tổ

    chức các cuộc thi an toàn giao thông cho mọi người đặc biệt là thanh thiếu niên. Hỗ trợ người

    dân thực hiện các hoạt động thông tin truyền thông phù hợp với điều kiện địa phương.Huấn

    luyện cho các tuyên truyền viên đi đến từng hộ gia đình tuyên truyền về phòng chống tai nạn bao

    gồm cả các

    tai nan giao thông.Hỗ trợ các xã xây dựng sân chơi an toàn cho trẻ để trẻ có thể chơi an toàn xa đường giao thông.Tổ chức các cuộc hội thảo cho các cấp lãnh đạo xã về việc thi hành pháp luật bao gồm luật an toàn giao thông.

    Nhưng hàng năm số vụ tai nạn giao thông vẫn không hề suy giảm, ngược lại nó còn tăng lên rất nhiều. Cứ mỗi năm, Việt Nam có tới gần một nghìn vụ tai nạn giao thông, nhiều nhất là xe máy. Nguyên nhân chính gây ra các vụ tai nạn phần lớn là do ý thức chấp hành luật lệ giao thông của người dân: uống rượu bia vượt quá nồng độ cho phép khi lái xe, không đội mũ bảo hiểm ở phần đường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm, chở trên ba người phóng nhanh vượt ẩu…

    Một vấn đề cũng đang gây sự chú ý và bị lên án rất nhiều đó là tình trạng đua xe của giới trẻ, tầng lớp thanh niên – những người chủ tương lai đất nước. Đó là những thanh niên đua đòi với bản tính “con nhà giàu” cùng với sự rủ rê của bạn bè, họ sẵn sàng đánh cược với tính mạng của mình. Nhìn những chiếc xe máy phi như bay hay đang biểu diễn những trò mạo hiểm ghê rợn, rùng mình hoặc những pha lạng lách trên những con đường lớn ta không khỏi xót xa cho chính

    thế hệ trẻ của mình. Những bậc cha mẹ khi hay tin con mình xảy ra tai nạn, nhận ra thì đã quá muộn, tại sao họ sắm cho con những chiếc xe thật tốt, phân khối thật lớn để chúng đi đua. Họ làm ra

    nhiều tiền rồi cũng nhận ra khi mất đứa con thì tiền bạc cũng chẳng giải quyết được gì. Họ hối hận vì tại sao ngay từ đầu không bảo ban con cái mình.

    Tất cả những nguyên nhân gây ra tai nạn đều bắt nguồn từ ý thức của người dân. Nếu như họ biết quý bản thân mình, biết tuân thủ luật lệ giao thông thì sẽ chẳng có những điều thương tâm và đáng tiếc. Hồi chuông cảnh báo luôn rung lên, nhắc nhở mọi người hãy biết chấp hành giao thông, vì sự an toàn của bản thân và xã hội.

    Một mặt, đó là chất lượng đường sá kém và nguyên nhân là do sự tắc trách của các cơ quan xây dựng, ăn hối lộ, rút xén vật liệu. Mặt khác chúng ta phải lên án những kẻ chỉ vì các lợi ích cá nhân mà quên đi tính mạng, sự an toàn của người đi đường. Trên đường quốc lộ, đường lớn vẫn còn những kẻ rải đinh xuống lòng đường để thu lợi bởi những đồng tiền kiếm được từ vá xe, thay lốp. Họ không hiểu hết được sự nguy hiểm của việc làm đó, với tốc độ cao như vậy những người tham gia giao thông khi bị thủng săm đột ngột sẽ bị văng người ra khỏi xe và nguy cơ tử vong là rất lớn.

    Theo thống kê, những người thiệt mạng do tai nạn giao thông chủ yếu là đàn ông, trụ cột của gia đình. Những người vợ xót xa khi mất đi người chồng thân yêu, đứa con nghẹn ngào trong lệ vì tới đây sẽ chẳng còn được vòng tay người cha âu yếm vỗ về, bảo ban dạy dỗ trên đường đời. Họ mang đến sự thương tâm cho toàn xã hội.

    Hàng năm, nhà nước đã bỏ ra hàng tỉ đồng để nâng cấp các cơ sở giao thông, đường sá cầu cống phục vụ cho việc đi lại an toàn ở mọi nơi. Nhưng số tiền đó lại không được dùng hết, vậy thì nó rơi vào đâu? Phải chăng, số tiền đó đã rơi vào túi những kẻ rút lõi công trình, rút lõi vật tư để làm giàu cho mình. Đó là những kẻ vô lương tâm vì lợi ích bản thân mà quên đi sự an toàn chung cho xã hội.

    Để hạn chế tai nạn giao thông không phải còn là vấn đề đơn giản, mà đó đã và đang là vấn đề nóng cho tòan xã hội và đất nước. Vì vậy, với việc giảm thiểu tai nạn giao thông nói chung, nhà nước cần phải có một sộ biện pháp mạnh với những kẻ không ý thức, những kẻ cố tình gây nạn cho người khác,và đó chính là những kẻ phóng nhanh vượt ẩu làm mối đe dọa cho người tham gia giao thông.Còn đối với giao thông học đường nói riêng chấn chỉnh giao thông học đường, cần cả xã hội chung tay. Sự đồng thuận giữa gia đình, nhà trường và xã hội không chỉ được thể hiện bằng văn bản, giấy tờ, những lời hứa suông,… mà phải bằng hành động cụ thể.

    Trách nhiệm của gia đình và nhà trường cũng cần phải xem xét khi không hoàn thành nhiệm vụ

    giáo dục các em. Nhà trường cần đa dạng hoá các sinh hoạt ngoại khoá của học sinh, sinh viên,

    trong đó có các hoạt động về tuyên truyền, phổ biến pháp luật giao thông. Hàng năm, nếu điều

    kiện cho phép, các trường chủ động phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức học luật và sát hạch

    cấp giấy phép lái xe tại trường đối với những học sinh đủ tuổi.Cần coi ý thức chấp hành pháp

    luật về giao thông như một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá ý thức rèn luyện đạo đức của

    học sinh, sinh viên: xếp loại đạo đức trung bình đối với học sinh, sinh viên vi phạm giao thông

    lần một

    và xếp loại yếu nếu vi phạm lần hai trong cùng một năm học.

    Là một học sinh, mỗi chúng ta phải xem xét lại mình đã bao giờ vi phạm lỗi giao thông không, có bao giờ gây tai nạn giao thông không. Tất nhiên là có, không ai chưa bao giờ vi phạm lỗi giao thông dù đó chỉ là một lỗi nhỏ, nhưng qua mỗi lần như vậy chúng ta phải biết nhìn nhận và rút kinh nghiệm để lần sau không tái phạm và mỗi học sinh chúng ta phải tự giác làm đúng các nguyên tắc an tòan giao thông mà nhà trường và xã hội đã chỉ dẫn.Có như thế thì tuổi trẻ học đường đã góp một phần nào trong việc giảm thiểu tai nạn giao thông, một vấn nạn mà xã hội và đất nước đang tìm cách khắc phục.

    Đề 8: Hiện nay ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.

    BÀI LÀM:

    “Trong đêm, một bàn chân bước, bé xíu lang thang trên đường, ánh mắt buồn mệt nhoài của em,

    em rất buồn vì em không biết đi về đâu,về đâu…”. Đây chính là thực trạng xã hội hiện nay ở

    nước ta, tình trạng trẻ em lang thang ngày càng tăng và là một vấn nạn cần được giải quyết

    nhanh chóng. Tuy nhà nước ta đã rất cố gắng hết mình, nhưng không dễ gì có thể xóa đi vấn nạn

    này một cách nhanh chóng được do nhà nước ta không có đủ điều kiện. Vì thế trong xã hội đã

    xuất hiện một lực lượng mới, một lực lượng cảm thông với tình trạng hiện nay của các em, một

    Lực lượng giàu tâm huyết và đầy tình thương,đó chính là nhiều cá nhân, gia đình & tổ chức có

    lòng hảo tâm đã thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang, kiếm sống trong thành phố, thị trấn về

    những mái ấm tình thương để nuôi dạy,giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh,

    tốt đẹp.

    Số phận của những đứa trẻ lang thang, khác với các bạn bè cùng trang lứa, lẽ ra giờ này chúng

    phải đang được yêu thương, được nâng niu chăm sóc bởi gia đình, cha mẹ; thì giờ đây những đứa

    trẻ ấy phải lang thang kiếm sống dưới những tiêu cực của xã hội, những lừa lọc, áp bức, xâm hại

    tới bạn thân, mà quan trọng nhất là xâm hại tới tinh thần, tới tư tưởng.Vì thế các mạnh thường

    quân, các nhà hảo tâm từ khắp mọi miền đất nước đã cùng chung tay lập nên những Mái ấm tình

    thương, những gia đình không cùng chung huyết thống nhưng lại có chung một tấm lòng, để

    chăm lo và dạy bảo cho trẻ em lang thang, những mảnh đời bất hạnh có được một cuộc sống

    hạnh phúc, một tuổi thơ vui tươi và một tương lai tươi sáng. Tiêu biểu về các tổ chức nhân đạo ở

    Vịêt Nam là: Làng trẻ em SOS, một gia đình lớn cuả trẻ em lang thang. Nhưng trong số những

    nhà hảo tâm có đầy đủ điều kiện về vật chất lẫn tấm lòng thì cũng có không ít người không có

    điều kiện vật chất nhưng lại có tấm lòng như Cổ tích “bà bụt sinh viên” đăng trên báo Tuổi trẻ số

    ra ngày 26-9-2008 về nữ SV Nguyễn Hòang Oanh đảm đang, vững vàng với vai trò là chị, là mẹ

    của 3 em “nuôi” nhỏ mù lòa.Dù chỉ là sinh viên, lo tiền học của bản thân còn không đủ, nhưng

    Oanh vẫn gắng chăm sóc cho các em, lo cho các em có được một cuộc sống no đủ, được vui

    chơi, được học hành bằng những mối làm thêm đến tận khuya để có tiền cho các em.Thật đúng là

    một câu chuyện “cổ tích” giữa đời thường.

    Nhưng do đâu mà trẻ em lang thang trong xã hội ngày một đông? Trẻ em lang thang do nhiều lí do, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do những người mang tiếng là bậc sinh thành, nhưng lại thiếu trách nhiệm, đang tâm bỏ con giữa một xã hội đen tối, không nơi nương tựa, để chúng bị lợi dụng, lầm đường lạc lối.Thật đáng trách cho những kẻ đã quyết định sinh con ra đời thì ít nhất cũng phải mang đến cho chúng một cuộc sống hạnh phúc cho dù là không no đủ.

    Nguyên nhân thứ hai có thể do bọn trẻ mồ côi từ nhỏ, không nơi nương tựa, chúng phải sống dựa vào những đứa trẻ lang thang lớn hơn, những băng nhóm đường phố, học theo thói xấu, làm việc xấu để mưu sinh.Và nguyên nhân thứ ba chính là những kẻ có tâm địa độc ác, xấu xa đã lừa gia đình các em, dụ dỗ các em, xem các em như một món hàng đem lại lợi nhuận cho chúng.

    Trong cuộc sống có kẻ xấu, người tốt, cũng như có những nhà hảo tâm thì song song đó cũng có

    những kẻ gian, lừa đảo, chăn dắt các em gọi là “mẹ mìn”.Những người “mẹ” này đã lợi dụng các

    em, bóc lột sức lao động của các em, bắt các em làm việc quá sức: xin ăn,bán vé số, thậm chí là

    ăn cắp để kiếm tiền nuôi chúng.Nếu các em không kiếm đủ tiền, thì bị “mẹ” đánh đập dã man,

    bắt các em nhịn đói. Những kẻ nhẫn tâm hơn nữa thì đánh gãy tay, gãy chân, thậm chí là chặt

    ngón tay, ngón chân của các em để việc ăn xin đạt “hiệu quả” cao hơn. Những đứa trẻ bị lợi dụng

    chăn dắt thường xuất thân ở các gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa, bị những kẻ chăn dắt lường

    gạt đư vào TP.HCM làm việc kiếm tiền.Một thực trạng đau lòng khác là nhiềuu vụ việc khi phát

    hiện, lại do chính cha, mẹ ruột đẩy các em theo những kẻ chăn dắt để kiếm tiền. Như trường hợp

    em Hoa (khỏang 6 tuổi) trên báo Phụ nữ,quê ở Nghệ An, mẹ bệnh mất sớm từ lúc hai tuổi. Nhà

    có bốn chị em, thu nhập hàng ngày trông vào hai công đất trồng sắn và công việc phụ hồ hàng

    ngày của ba. “Khỏang giữa năm 2008, bác Năm ở TP.HCM ra quê đưa nhà em ba triệu đồng bảo

    ba cho con vào TP.HCM phụ bác Năm bán hàng.Bác sẽ cho ăn học đến nơi đến chốn. Khi vào

    TP.HCM, bác Năm Bắt con gọi bằng “mẹ”.Khi đi bán phải mặc đồng phục học sinh để người ta

    thấy tội nghiệp, mới bán được nhiều. Mỗi ngày làm việc, “mẹ” sẽ giữ dùm 10.000đ, cuối năm sẽ

    đưa con gửi về quê” – Hoa nói.Thật đáng xấu hổ khi một người lớn khỏe mạnh lại sống bằng số

    tiền ít ỏi kiếm được của một đứa trẻ, mà không biết tự lao động để nuôi sống bản thân, chỉ biết

    bóc lột sức lao dộng của các em. Những kẻ có hành vi này cần phải bị xử phạt thật nghiêm minh,

    để làm gương cho bọn xấu còn lại. Việc làm của những nhà hảo tâm đối với các em lang thang

    thật là tuyệt vời.Đó là một nghĩa cử vô cùng cao đẹp mà xã hội đang rất cần có ở mỗi công dân.

    Là một thanh niên sống trong xã hội, chúng ta phải có thái độ tích cực ngăn chặn những hành vi

    sai phạm của bọn xấu, đồng thời chung tay góp sức giúp các em có một cuộc sống tươi đẹp.Vì

    trẻ em chính là tương lai của đất nước, là tương lai của chính chúng ta.”Trẻ em hôm nay, đất

    nứơc ngày mai”, hãy để trẻ được sống trong ấm no hạnh phúc, có thế thì tương lai do chúng xây

    dựng mới có thể tốt đẹp được.

    Giúp đỡ người tàn tật, trẻ em cơ nhỡ cần có sự chung tay của nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức từ thiện và các cấp, các ngành và cả chính bản thân chúng ta nữa.Chúng ta hãy cùng nhau vận động mọi người xây nên những mái ấm, những gia đình thật lớn, để xã hội không còn cảnh trẻ em lang thang nữa.Hãy dể cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn. .

    Đề 9: Hãy trình bày quan điểm của mình trước cuộc vận động “nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục.

     

    BÀI LÀM:

    Học sinh, sinh viên là tương lai của đất nước. Vì vậy, giáo dục luôn là vấn đề quan trọng gây quan tâm cho mọi người trong xã hội, đặc biệt là các bậc phụ huynh. Tuy nhiên hiện nay đang xuất hiện nhiều tiêu cực gây nhiều ảnh hưởng xấu cho nền giáo dục nước ta, cho nên cuộc vận động “Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” rất đang rất được sự ủng hộ và hưởng ứng trên cả nước.

    Hiện tượng “tiêu cực thi cử” và “bệnh thành tích trong giáo dục” trong nhà trường hiện nay là một hiện tượng xấu cần xoá bỏ, nó làm cho học sinh ỷ lại, không tự phát huy năng lực học tập của mình, làm cho giáo viên mất đi lương tâm nghề nghiệp. “Tiêu cực trong thi cử” là những hành vi gian lận khi thi cử như thí sinh mang vào phòng thi và sử dụng những tài liệu hoặc thiết bị không được cho phép, hay giám thị coi thi cố tình lờ đi cho thí sinh sử dụng tài liệu hay trao đổi với nhau… Còn “bệnh thành tích trong giáo dục” là gì? Đó là những danh hiệu thi đua của thầy và trò, giữa các lớp, các trường và các phòng ban với nhau gây nên hiện tượng điểm ảo, thành tích ảo, không phản ánh đúng khả năng và trình độ. Đó là hành động vi phạm có ý thức. Vậy ý nghĩa của cuộc vận động này là phòng chống và ngăn chặn các hành vi gian lận, bao che trong dạy, học và thi cử.

    Vấn đề đã và đang trở nên rất cấp thiết. Đây không còn chỉ là cuộc vận động của bộ, ngành mà là của toàn ngành giáo dục. Tiêu cực và bệnh thành tích đã có từ lâu. Nếu để tiêu cực tiếp tục kéo dài, học sinh không có động lực để học, không tiếp thu được kiến thức, sẽ không có tương lai. Các thầy cô cũng không có động lực để dạy, không có sáng kiến đổi mới phương pháp dạy học, nền

    giáo dục khi ấy sẽ ngày càng trì trệ.

    Hiện nay, cái mà học sinh cần khi tốt nghiệp phổ thông không phải là tấm bằng thuần tuý mà là

    năng lực để học nghề, hay học lên đại học, gây dựng một tương lai cho bản thân. Vì vậy, cuộc

    vận động này chính là lợi ích của học sinh. Nếu loại bỏ được căn bệnh “chạy theo thành tích”

    như hiện nay thì sẽ không còn tình trạng học sinh, sinh viên phải “chọi nhau” ở các kỳ thi trung

    đông đúc do việc học, cách học, thời gian học,… thầy cô sẽ không phải làm những việc không

    đúng với lương tâm, tấm lòng mình, đó là báo cáo sai sự thật để đạt thi đua. Khi đó, thầy cô sẽ

    được giải phóng khỏi những việc không hiệu quả, cả thầy lẫn trò không còn phải bận tâm với

    chuyện thi cử, tranh đua mà được tự do lựa chọn và việc đánh giá chất lượng học hành trở nên

    thông thường như mọi hoạt động khác diễn ra trong trường học. Hơn nữa nếu học sinh, sinh viên

    sau khi cầm tấm bằng tốt nghiệp đúng với thực lực của mình thì khi bước vào đời họ sẽ không

    gặp phải những bỡ ngỡ, khó khăn, loay hoay tìm một chỗ đứng cho mình trong xã hội, mà những

    kiến thức họ tiếp thu được trên ghế nhà trường sẽ là hành trang hữu ích, là nền tảng để họ thể

    hiện mình, phát huy hết năng lực của mình trong công cuộc phát triển đất nước. Với lực lượng

    những người trẻ và hoài bão muốn cống hiến của họ như hiện nay thì việc nước ta có thể “sánh

    vai cùng

    các cường quốc năm châu” sẽ không còn xa.

    Cuộc vận động được triển khai đã gần ba năm và nhận được sự đồng tình lớn từ xã hội. Tuy nhiên, vần còn khá nhiều trường hợp không hưởng ứng, không tích cực tham gia cuộc vận động.

    Một số nhà quản lý giáo dục và giáo viên còn thoả hiệp hoặc làm ngơ, vô cảm trước các hiện tượng tiêu cực, hiện tượng chạy trường, chạy lớp, lấy tỉ lệ để nâng thành tích vẫn còn ở một số nhà trường, học sinh vẫn còn xu hướng ỷ lại, chán học, và rồi dẫn đến gian lận trong các kì kiểm tra và thi cử. Ngoài ra còn xảy ra trường hợp một số giáo viên dũng cảm đứng lên tố cáo tiêu cực nhưng lại bị trù dập và chịu sức ép từ nhiều phía. Đó đều là những hành vi đáng lên án và chê trách. Tuy không thấy được cái hại trước mắt nhưng sẽ gây hại cho cho tương lai của học sinh, hay rộng hơn là cho xã hội, cần phải được ngăn chặn.

    Để phòng chống “tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, mỗi cá nhân và tập thể

    cần phải hưởng ứng và hành động. Bắt đầu từ gia đình, nếu các bậc cha mẹ cứ chăm chăm vào

    lỗi lầm của con cái, la mắng, trách phạt chúng vì những lỗi lầm ấy, sẽ rất dễ khiến con cái họ khó

    lòng vượt lên mặc cảm là kẻ hậu đậu mà tự ti, không chịu khó cố gắng, không có ý chí vươn lên.

    Hoặc trái lại là một số phụ huynh mặc cho con cái buông thả, rồi sau đó chạy chọt khắp nơi cho

    con vào trường tốt, lớp tốt dù chúng không đủ trình độ, để rồi “đuối”, không theo kịp và tiếp tục

    dẫn đến nhiều hậu quả về sau. Vậy nên các bậc cha mẹ cần phải điều chỉnh cách suy nghĩ, cách

    dạy dỗ con cái để không gián tiếp hại con của mình. Các nhà quản lí giáo dục và giáo viên nên

    triển khai cuộc vận động bằng cách đừng quá coi trọng thành tích, thay đổi suy nghĩ sai lệch của

    phụ huynh và học sinh về “trường chuyên, lớp chọn”, xóa bỏ tình trạng “ngồi nhầm lớp”, đổi mới

    phương pháp kiểm tra và đánh giá nhằm đánh giá đúng thực chất năng lực học tập của học sinh,

    chú trọng hơn trong việc dạy tốt, học tốt… Và yếu tố cuối cùng, cũng là yếu tố quan trọng nhất

    để cuộc vận động thành công là chính bản thân học sinh. Mỗi học sinh nên nhận thức được bản

    chất và tầm quan trọng của việc học để tiếp thu kiến thức một cách có hiệu quả, và có thể tự tin

    thành công bằng chính thực lực của mình. Bên cạnh đó học sinh cũng cần rèn luyện và tu dưỡng

    đạo đức để tránh thực hiện những hành vi sai trái, phản giáo dục.

    “Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” là cuộc vận động có ý nghĩa to lớn và thiết thực đối với nền giáo dục nước ta hiện nay. Những năm gần đây, với sự cố gắng không ngừng của một số tập thể, cuộc vận động đã mang lại nhiều tín hiệu tích cực. Vì vậy chúng ta có quyền tin rằng nền giáo dục Việt Nam trong tương lai sẽ xóa bỏ được những tiêu cực và vươn xa theo đà phát triển của đất nước. .

    Đề 10: Nêu suy nghĩ và quan niệm của em về HIV/AIDS.

    GỢI Ý LÀM BÀI

    HIV /AIDS là 1 trong những tệ nạn nguy hiểm cho xã hội.

    Nguyên nhân dấn vào con đường “nàng tiên nâu”:Sự quá đà trong lối sống -> đem đến những

    hậu quả khó lường với bạn trẻ. Chỉ vì thiếu hiểu biết mà họ có tâm lý “thử cho biết ” ,thử để “lấy cảm giác”, và nhiều khi họ tìm đến ma túy để có được khoái cảm. Nhiều khi chỉ vì thiếu lập trường,đua đòi cho bằng bạn bằng bè mà họ bất chấp nhắm mắt dấn thân vào con đường chết. Đi vào con đường HIV nhiều khi không phải do tự bản thân mà còn do tác động bên ngoài của bạn bè, GĐ.

    Trích:

    Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn dắt một người đến tình trạng nghiện thuốc, cũng như có nhiều yếu tố bảo vệ giúp cho một người khó bị Ma Túy tấn công. Một thiếu niên bình thường sẽ chịu tác động của 4 lĩnh vực: quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, môi trường học đường và môi trường cộng đồng, nhưng gia đình là cơ sở chính cho thiếu niên sinh sống, lớn lên và phát triển tâm lý xã hội, chính gia đình là nơi chứa đựng những yếu tố bảo vệ cũng như nguy cơ nhiều hơn cả.

    Một số yếu tố nguy cơ hình thành sớm từ trong gia đình như:

    1. Gia đình hỗn loạn, cãi cọ, gia đình kém kỷ cương, đặc biệt là gia đình có cha mẹ nghiện hay bệnh tâm thần;
    1. Cha mẹ bất lực trong giáo dục, nhất là với những trẻ có tính khí bất thường hoặc khó dậy dỗ;
    1. Các thành viên trong gia đình thiếu sự liên kết hoặc kém nuôi dưỡng.
    1. Cha mẹ ly thân hay quá bận rộn, sự săn sóc và quan tâm đến con cái chưa đủ, ảnh hưởng trên con cái chưa đúng mức

    Một số yếu tố nguy cơ khác có nguồn gốc từ những hoạt động tương tác của trẻ với xã hội như trường học, bạn bè, cộng đồng như:

    1. Có thái độ rụt rè nhút nhát quá, hoặc có thái độ hung hăng quá trong lớp học;
    1. Thất bại trong học tập;
    1. Khó hòa mình trong tập thể;
    1. Nhập bọn với bạn xấu hoặc thích chơi với bạn vô đạo đức;
    1. Ngầm đồng tình với những hành vi xấu, như việc sử dụng thuốc trong trường lớp, trong nhóm bạn bè, trong cộng đồng;
    1. Kỷ luật trường ốc có sơ hở với những học sinh bất hảo;
    1. Môi trường dễ kiếm thuốc.

    Nếu không kể đến nguy cơ ban đầu trên, thì giai đoạn có nguy cơ lớn nhất đầu tiên là khi trẻ rời khỏi nơi an toàn của em (gia đình) để đến trường học. Khi học xong tiểu học và lên trung học sơ cấp, các em bước đầu đã có kinh nghiệm về những thách thức xã hội, chẳng hạn làm sao để thích hợp với tập thể, với những loại bạn bè khác nhau, thành phần kinh tế khác nhau. Chính trong giai đoạn này, cá tính và nhân cách từng bước hình thành, mà nếu gia đình phó thác cho các em tự phát “như một bông hoa tự nở”, thì giai đoạn thiếu niên sớm này các em thường chạm trán với lần sử dụng thuốc lá, cần sa hay Ma Túy đầu tiên trong đời.

    Khi em bước lên trung học cao cấp, bắt đầu chuẩn bị cho tương lai, chàng (hay nàng) tuổi trẻ

    phải đối mặt với những thách đố xã hội, tâm lý và giáo dục. Hoặc chàng ham chơi tìm cảm lạ, hoặc chàng/nàng đầu hàng những thách đố trên, chàng / nàng có thể sử dụng thuốc lá, rượu, hay những loại thuốc tác động tâm trí khác. Vai trò của gia đình vào thời điểm này có thể không mạnh như trước đây, nhưng vai trò của đoàn thể, xã hội vẫn còn giá trị của nó.

    Khi thanh niên bước vào đại học, lập gia đình hay đến sở làm, chàng vẫn luôn luôn phải đối phó với những cạm bẫy và nguy cơ của môi trường dành cho người trưởng thành, những thú vui ăn chơi, lạm dụng tình dục, sử dụng Ma Túy, nhậu nhẹt hàng ngày sau giờ tan sở… nếu như gia đình, đoàn thể không còn ảnh hưởng được đến chàng.

    Những nguy cơ sử dụng thuốc gây nghiện không chỉ giới hạn ở tuổi trẻ, thanh niên, trung niên, mà còn xảy ra đối với tuổi già. Bởi người già thường đau đớn mãn tính nhiều nơi trong cơ thể, các cụ thường hay sử dụng thuốc có nguy cơ gây nghiện cao như thuốc ngủ, an thần hay chống đau. Thêm nữa, tuổi già dễ bị nghiện cũng như tuổi trẻ. Các cụ hay buồn, giận hờn vì lệ thuộc con cái, tâm trạng thất vọng, cô đơn vì rất nhiều lý do nhân sinh kèm theo suy giảm mắt, tai, sức sống, các cụ dễ nghiện rượu và thuốc an thần. Khác với tuổi trẻ, tình trạng nghiện của các cụ hay bị bỏ sót, vì những tính nết bất thường, những hành vi quái lạ, những trục trặc cơ thể thường bị đổ thừa cho tuổi tác hay bệnh tật.

    Trong tình trạng của chúng ta hiện nay, những yếu tố nguy cơ rất nhiều cho mọi lứa tuổi, mà

    những yếu tố bảo vệ chưa phát huy được tác dụng tối đa vì chưa phối hợp chặt chẽ các biện pháp đa dạng trên nhiều lĩnh vực cá nhân-gia đình-đoàn thể / xã hội. Đối với những người đã từng sa ngã chúng ta cũng ko nên có hành động ruồng bỏ ,xa lánh .Tích cực giúp họ hòa nhập cộng đồng cũng là 1 cách góp phần ngăn chặn, đẩy lùi nạn HIV/AIDS. .

    Đề 11: Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn nói về vai trò của sách đối với thanh niên ngày nay.

    BÀI LÀM:

    Xã hội ngày nay đã phát triển và thay đổi rất nhiều, dấu vết thời xưa cũng đã dần phai nhoà.Vậy tại sao chúng ta có thể biết được xã hội,con người cuộc sống ngày xưa như thế nào.Để biết được tất cả những điều đó chúng ta phải cần đến sách Vậy sách có vai trò gì với nhân loại.

    Sách đã đi vào cuộc sống của chúng ta từ rất lâu rồi.Nó đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi người.Đọc sách giúp ta tích luỹ được nhiều kinh nghiệm ,mở mang kiến thức và đặc biệt đọc sách giúp ta cảm thấy thoải mái ,yêu đời hơn.Giống như Môngtexkiơ đã nói:”thích đọc sách tức là biết đánh đổi những giờ phút buồn tẻ không thể tránh được trong cuộc đời lấy những giờ phút kì thú”.Đọc sách còn có thể làm thay đổi cả một con người ,một cuộc đời.Nói tóm lại đọc sách có rất nhiều lợi ích.

    Đọc sách để thành công như Chủ tịch Mao Trạch Đông, như Thủ tướng Chu Ân Lai. Đọc sách để trở thành những nhà lãnh đạo như cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan hay thống đốc bang giàu có hàng đầu của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – California như Arnold Schwazenegger. Mỗi lần

    tìm hiểu về những người thành đạt, sự liên quan giữa sự thành đạt và sách, chúng ta lại càng hiểu thêm mối quan hệ này, càng hiểu thêm giá trị của sách.

    Tuy nhiên,để đạt được hiệu quả tốt,cần phải có những quyển sách hay ,phù hợp với lứa tuổi,và việc cần chú trọng nhiều nhất đó chính là cách đọc sách .Đọc sách phải nghiên cứu ,suy ngẫm: feel_good: tìm tòi,chắt lọc những điều hay để áp dụng vào cuộc sống chứ không phải đọc để lấy thành tích.Đọc sách nhiều mà không hiểu chỉ làm cho chúng ta cảm thấy thêm mệt mỏi ,chứ không giúp chúng ta mở mang thêm kiến thức.Vì vậy cầm trong tay một quyển sách hay chưa phải là tốt,mà tất cả phụ thuộc vào việc chúng ta có biết đọc quyển sách đó hay không.

    Hiện nay sách tràn ngập khắp mọi nơi.Nhưng để tìm được một quyển sách hay,phù hợp với hoàn

    cảnh lứa tuổi thì không phải là dễ.Nếu muốn tìm được một quyển sách vừa ý chúng ta phải mất

    hàng giờ ở nhà sách để tìm kiếm.Công việc này mất rất nhiều thời gian và hầu như chẳng mấy

    lần mang lại được hiệu quả.Vì vậy “Khi gặp được một quyển sách hay,nên mau liền dù đọc được

    hay không đọc được,vì sớm muộn gì cũng cần tới nó”đó là câu nói quen thuộc của Churchill Sir

    Winston.

    Sách mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích ,nó còn được coi là kho tàng cất giữ di sản tinh thần nhân loại .Biết đọc sách tức là chúng ta đã thoát khỏi sự chán ghét của cuộc sống ,và hướng tới một tương lai tươi sáng ,tốt đẹp hơn .Sách sẽ trở thành một người bạn của tất cả những ai trân trọng nó.

    Đề 12: Anh (chị) hãy viết một bài văn nói về l í tưởng sống của thanh niên ngày nay.

    BÀI LÀM:

    Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang trên đà hội nhập với sự phát triển của thế giới với rất nhiều cơ hội và thử thách được mở ra.Và thanh niên chúng ta-những người chủ tương lai của đất nước-phải góp một phần sức cho quê hương của mình. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách sống của mình, và một câu hỏi lớn được đặt ra : Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay là gì?

    Trước hết chúng ta phải hiểu được “lý tưởng sống” là gì? Lý tưởng sống là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới,là lí do,mục đích mà mỗi con người mong mỏi đạt được. Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn, giúp ích cho mình,gia đình xã hội và đất nước. Sinh ra ở đời, ai trong chúng ta cũng khao khát được sống hạnh phúc, với lòng khao khát đó thúc giục chúng ta đi kiếm tìm hạnh phúc. Hơn thế nữa, tự đáy lòng của con người luôn ước ao có được một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự may lành hơn là bất hạnh, giàu sang

    hơn là nghèo nàn. Để đạt được khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng. Lý tưởng này sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh. Vì có một lý tưởng để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người.

    Bạn có bao giờ tự hỏi bạn tồn tài trên cuộc đời vì lý do gì không? Một câu hỏi lẽ ra rất dễ nhưng

    nó làm cho bạn phải bắt đầu ngồi lại suy nghĩ về bản thân mình.Có thể bạn cũng đã có được một mục đích sống cho riêng mình,nhưng bạn vẫn nên xem lại mục đích đó có thật sự cao đẹp hay không bạn ạ.Chúng ta sống trong cộng đồng là sống vì mọi người,vì quê hương, vì đất nước.

    Nhiều người từng nghe câu nói trong bài hát khá nổi tiếng của Trịnh Công Sơn: “Sống ở đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi….”

    Phải mất một thời gian dài tôi và các bạn mới có thể mới ra rằng ý nghĩa của câu này là “hãy mở rộng tấm lòng của bạn với cuộc sống này, với mọi người xung quanh bạn và đừng mong đợi bạn sẽ nhận lại được gì… Hãy san sẻ tấm lòng để cuộc sống này đẹp hơn và đừng nghĩ rằng cái gì mình đã cho đi là lớn lao mà nó chỉ là những cái gì nhỏ nhoi nhất nhẹ nhàng… chỉ để gió cuốn đi…”. Đó cũng là một phần của lý tưởng sống đẹp.

    Lý tưởng của ta không cần lớn lao dù chỉ là một chiếc lá, nhưng chúng ta cũng cần có cho mình một lý tưởng bình dị như để vươn lên. hải sống có lý tưởng! Bạn có thể ra đi từ nhiều phía, theo những con đường khác nhau, nhưng cuối cùng mỗi người phải lựa chọn cho mình mục đích của cuộc sống. Ta sống cho ta, cho những người thân, bạn bè và cho mọi người. Vì vậy, chỉ có hạnh phúc khi “mình vì mọi người và mọi người phấn đấu vì hạnh phúc của từng người”. Rõ ràng lý tưởng là mục đích sống, là ý nghĩa của mỗi cuộc đời. Lý tưởng quyết định sự thành công trong cuộc sống. Lý tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người để đạt đến thành công

    trong sự nghiệp. Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn và thử thách trong cuộc sống.

    Nhà văn Pháp Đi-dơ-rô từng nói: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”. Câu nói đó, lời khẳng định đó thật rõ ràng. Nó khuyên chúng ta sống thì phải có mục đích, lý tưởng phải cao đẹp thì sống mới có ý nghĩa, mới làm được những điều vĩ đại. Trong thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa, kinh tế thế giới hội nhập, khoa học kĩ thuật hiện đại, con người đặt ra vấn đề về lẽ sống của cuộc đời và sống như thế nào cho xứng đáng ? chúng ta nên hiểu sống có mục đích và lý tưởng cao đẹp là như thế nào? Đó là phải sống để xây dựng đất nước, sống vì xã hội vì sự tiến bộ của nhân loại. Vậy thì tại

    sao ta phải sống có lí tưởng cao đẹp ? Vì nếu “sống không mục đích không làm được gì cả” và nếu “mục đích tầm thường thì không làm được điều gì vĩ đại”.Thế chúng ta phải làm gì để trở thành người có mục đích cao cả và có ích cho xã hội? Trước hết, ta cần phải xác định lý tưởng sống đúng đắn-dự tính về tương lai sẽ cống hiến cho xã hội về những mặt nào. Tiếp theo ta cần phải lên kế hoạch học tập, rèn luyện kĩ năng, sức khoẻ, tư tưởng nhằm thực hiện mục đích đó.

    Sau đó, ta phải tích cực tham gia các hoạt động xã hội, chính trị; điều này sẽ giúp cho bản thân hòa nhập cộng đồng.Ta cần phải phát huy những thế mạnh của bản thân, khắc phục các điểm yếu và

    vân dụng những điều đã học vào thực tế.

    Ngày xưa, anh hùng Lý Tự trọng đã từng nói:”Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đ ường nào khác!” rong thời kỳ chiến tranh bao lớp thanh niên xông pha lên đường với một mục tiêu – lý tưởng tất cả vì tiền tuyến, vì độc lập tư do của đất nước. Tư tưởng đó đã đi vào lời ca tiếng hát của bao nhiêu thế hệ người Việt Nam. “Anh lên xe trời đổ cơn mưa, Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ; Em xuống núi nắng vàng rực rỡ; Cái nhành hoa gạt mối riêng tư” hay “Khi tạm biệt mua xuân; Anh lính về biên giới; Cô gái vào ca ba”. Bên

    cạnh một tình yêu nồng cháy của tuổi trẻ nhưng ho phải tạm gác lại để dành tất cả cho một mục tiêu cao cả. Trong thời kỳ ngày nay có lẽ chúng ta khó có thể tìm kiếm được một ca khúc nói vê tình yêu đep như vậy. Biết bao thế hệ thanh niên đ ã ngã xuống vì mộtlý tưởng duy nhất là giành lại độc lập t ự do cho đất nước. Đến hôm nay khi đất nước hoà bình và đang trên đà phát tri ển,thì lý tưởng sống cao đẹp của thanh niên,thế hệ trẻ lại càng rộng hơn,bao la hơn,”Vì một Việt Nam Phát triển”.

    Thế hệ trẻ là những người chủ tương lai của đất nước, là chủ thể của thế giới, động lực giúp cho xã hội phát triển. Chính vì vậy mà các bạn thanh thiếu niên càng gần phải sống có mục đích cao đẹp. Hãy nhớ rằng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không đó là nhờ vào công học tập của các em” lời nhắn như thiêng liêng ấy phải được thực hiện! Bác luôn mong lớp lớp thanh niên sau này sẽ không chùn bước trước những khó khăn trước mắt,luôn vững chí bền tâm vượt qua thử thách để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

    “Không có việc gì khó

    Chỉ sợ lòng không bền

    Đào núi và lắp biển

    Quyết chí ắt làm nên”

    (Hồ Chí Minh)

    Chúng ta chắc còn nhớ hai chiến thắng vẻ vang liên tiếp của đội tuyển robocon Việt Nam, hay những tấm huy chương vàng,huy chương bạc từ những môn Olympic Toán, Lý, Hoá, Sinh, trong những giải thể thao hàng đầu của châu lục và thế giới Đó là một tấm gương gần gũi, rõ ràng mà thanh thiếu niên cần noi theo. Tôi xin được nhắn nhủ các bạn thanh thiếu niên, học sinh: “Hãy học tập để nắm lấy tri thức vì tri thức là sức mạnh. Có tri thức, các bạn như đứng trên vai những người đi trước để cao hơn người khác. Hãy phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chấp nhận và vượt qua thử thách, bởi không có người thất bại, chỉ có người không biết cố gắng mà thôi”. Và chắc hẳn ai trong chúng ta đều biết những Enstein, Môza, Đác-uyn,… Tất cả họ đều là những người sống có lý tưởng cao đẹp, tất cả đều làm nên điều vĩ đại và được lưu danh muôn thuở. Như mục đích “ra đi tìm đường cứu nước, hi sinh cuộc đời vì cách mạng, vì dân tộc ” của Bác. Đó là một minh chứng rất cao đẹp!

    Nhưng hiện nay,một bộ phận lớn thanh niên lại không suy nghĩ được như thế. Họ sống hờ hững với những gì diễn ra xung quanh, sống theo quan niệm: “Được đến đâu thì hay đến đó”, “Nước đến chân mới nhảy”. Tuổi trẻ ngày nay có nhiều thời gian để dành cho tình yêu nên có lẽ họ không thể nhận ra những hạnh phúc mà họ đang có mà chỉ toàn nhìn thấy sự khổ đau trong tình yêu, phải chăng tuổi trẻ ngày nay khi đã được đáp ứng quá đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần thì dần trở nên ích kỷ hơn. Chỉ biết nghĩ cho riêng mình.Và mục tiêu của phần lớn các bạn trẻ ngày nay là phải thật thành công trong cuộc sống, khẳng định được vị trí của mình trong xã hội; kiếm thật nhiều tiền để có thể thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống của riêng mình.Trong khi rất nhiều người đang cố gắng đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn thì lại không ít người lại tỏ ra rất hờ hững với những gì đang diễn ra cho đất nước mình. Thật đáng buồn cho một tương lai đất nước!

    Các bạn luôn mong muốn mình sẽ là người tài giỏi nhưng lại không có được một lý t ưởng cho

    riêng mình,thì cuộc đời bạn s ẽ trôi về đâu ? Hãy tưởng tượng mà xem: một thanh niên sống

    không mục đích, không có định hướng, học tập chỉ do ba me gượng ép ; chàng ta chẳng hề ham

    thích những lựa chọn ấy và cũng chẳng hề thich học những môn học ấy; rồi cậu rớt đại học, thất

    nghiệp (chẳng ai nhận những người không có học vấn cả, dù cậu đã qua các năm trung học rồi

    nhưng với tinh thần thiếu ý chí thì xét lại cậu cũng chẳng đủ sức cho công việc)… không có tiền

    câu đâm ra vòi vĩnh bố mẹ(tuy nhiên vẫn có một số người tốt, không phạm phải những sai lầm

    này)… tiêu xài tiền, rồi đủ các thói hư, tật xấu. Cuối cùng chàng thanh niên ấy đã kết thúc cuộc

    đời trong nhà tù hoặc trên giường bệnh sau bao năm ăn chơi, nghiện ngập. Đó là ví dụ về một

    con người không có lý tưởng sống. Còn những người sống có mục đích nhưng lại là mục đích

    tầm thường như ăn no mặc ấm, hạnh phúc gia đình, kiếm được nhiều tiền, cưới vợ đẹp,… Những

    người này vì lợi ích của bản thân, họ dễ dàng làm bạn với cái ác và sẽ phạm tội. Chúng ta thường

    đọc thấy trên báo công an hay thấy trên Tivi những tin liên quan đến ông này bà nọ có chức vụ,

    lạm dụng quyền hạn để trục lợi; hay những nhóm tội phạm, nhất là các nhóm thanh thiếu niên trẻ

    cướp giât, phạm tội… để kiếm tiền ăn chơi hay những thanh niên, học sinh (kể cả người lớn) chơi

    games đến mê mệt! Tất cả, những người sống không có mục đích và những người có mục đích

    tầm thường đều có kết quả không tốt. Tóm lại, thanh niên chúng ta cần phải biết và tạo cho mình

    một lý tưởng sống cao đẹp, vì mọi người, vì quê hương đất nước. Bản thân mỗi chúng ta hãy tự

    nhìn lại cách sống của mình để hướng đến tương lai t ươi sáng. Cuối cùng xin kết thúc bằng lời

    của chiến sĩ cách mạng, một người cộng sản trẻ tuổi, một nhà văn, một anh hùng thời vệ quốc Xô

    Viết vĩ đại, Paven Copsagine trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy (tác giả Nikolai Ostrovsky):

    “Cái quí nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi

    xót xa ân hận vì những năm

    tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, mà có thể nói rằng: Tất cả đời mình ta đã cống hiến cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được. Vì bệnh tật vô lý hay một sự bi đát tình cờ nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời này”. .

    Đề 13: Anh (chị) hãy trình bày ý kiến của mình về câu nói sau “sống sao cho khỏi xót xa….”

    BÀI LÀM:

    Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm ,tuổi trẻ của thanh niên cũng như mùa xuân. Là lứa tuổi đẹp nhất trong mỗi cuộc đời. Thanh niên là lứa tuổi với nhiều ước mơ , dự định và hoài bảo lớn nhất .Để có thể làm tốt những hoài bảo đó thì những thanh niên đó cần phải có một mục đích sống một lí tưởng sống . Vậy lí tưởng sống của thanh niên ngày nay là gì?

    Bạn có biết tại sao chúng ta lại được sống trong một đất nước độc lập ngày nay không? Vì sao một đất nước nhỏ như chúng ta lại có thể đánh thắng được giặc ngoại xâm hùng mạnh không? Đó chính là nhờ lí tưởng của ông cha ta ngày xưa. Trong sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, đã có hàng triệu thanh niên lên đường ra trận, dũng cảm chiến đấu, hy sinh cuộc đời thanh xuân đẹp nhất của mình, góp sức quan trọng cùng toàn dân tộc đánh thắng hai kẻ thù hùng mạnh của thời đại là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.Họ đã có những lý tưởng sống đẹp họ chiến đấu hi sinh vì Đất nước thân yêu.Vậy sống trên 1 đất nước hòa bình độc lập này chúng ta cân phải làm gì để tiếp bước ông cha ta với sứ mệnh xây dựng Việt Nam

    thành một quốc gia hùng mạnh đang đặt lên vai thanh niên chính họ phải lĩnh sứ mệnh vô cùng

    cao cả và thiêng liêng này bởi họ là chủ nhân, là tương lai, là ”mùa xuân” của dân tộc . Thanh

    niên sống là phải có lý tưởng. Đễ thực hiện được lí tưởng đó mỗi thanh niên chúng cần phải

    trang bị một hành trang thật vững chắc đễ vào đời bằng việc học tập và phải sống có đạo đức.

    Nhưng nhìn thẳng vào thực tế hiện nay, khi đất nước ta đang có nguy cơ tụt hậu về kinh tế, tệ

    nạn xã hội ngày một gia tăng thì thanh niên chưa chứng tỏ đầy đủ được vai trò, trọng trách của

    mình trước sứ mệnh của đất nước.Mà lai có nhiều thanh niên ngày nay chỉ biết sống cho chính

    bản thân mình, những người có lối sống buông thả, sống cho qua ngày. Họ chùn bước trước khó

    khăn, lắc đầu trước thử thách và sống vô trách nhiệm với xã hội. Bởi lẽ một điều, họ vẫn còn

    mặc cảm với quê hương. Thái độ đáng trách này biểu hiện ở những người ta sống tha hương, chỉ

    biết sống vì đồng tiền, lúc nào cũng đem lợi ích của mình lên bàn cân để so đo, tính toán. Bảo vệ

    quyền lợi của mình, đó là đúng, nhưng dường như đừng quá vì bản thân mà xem nhẹ công đồng.

    Đó là lối sống ích kỷ. ‘Sống’ – Đó chỉ là một từ đơn giản thôi nhưng nó hàm chứa biết bao nhiêu

    điều. Sống vì gì và sống như thế nào. Điều đó tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người trong

    chúng ta. Để thanh niên ngày nay trở thành trụ cột của nước nhà không chỉ ở hiện tại mà ngay cả

    trong tương lai thì vấn đề sống còn là thanh niên phải xác định được cho mình một lý tưởng; sau

    khi đã xác định được phải phấn đấu để thực hiện lý tưởng đó. Chỉ có như thế thanh niên Việt

    Nam mới có thể hoàn thành được sứ mệnh mà đất nước giao phó và có thể ngẩng cao đầu với

    thanh niên thế giới. Mỗi thanh niên sẽ có quan niệm riêng của mình về lý tưởng, tuỳ thuộc vào

    hoàn cảnh, trình độ, lý tưởng đó phù hợp với xu thế chung của đại đa số thanh niên, và mang lại

    lợi ích cho dân tộc đó mới thật sự là lý tưởng. Con người ta luôn khát vọng hướng tới cái cao cả

    tức là hướng tới chân lý, những người sống phấn đấu hướng tới cái cao cả thường được gọi là

    người có lý tưởng.

    Như vậy chân lý không chỉ là ngọn đèn pha mà còn là cái đích của lý tưởng. Trong công cuộc đổi mới của đất nước, nhất là thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, thanh niên chính là nguồn nhân lực chất lượng cao nhanh chóng nắm bắt khoa học công nghệ hiện đại ở mọi lĩnh vực để phát triển đất nước. Thanh niên Việt Nam đã thể hiện rất nhiều ưu điểm như thông minh, cần cù, chịu khó, ham học hỏi, tiếp thụ cái mới nhanh… Nhiều bạn trẻ đã thể hiện lối sống cao đẹp, thổi bùng ngọn lửa vì cộng đồng và không cam chịu đói nghèo. Các mùa hè tình nguyện đã thu hút hàng nghìn trí thức trẻ tình nguyện lên đường về nông thôn, miền núi. Nhiều dự án lớn do thanh niên đảm nhiệm… Kế thừa lời dạy về lý tưởng cho thanh niên của Hồ Chí Minh, kết hợp với thực tiễn ngày hôm nay của đất nước, thanh niên có thể xây dựng cho mình một chân lý – một lý tưởng: Không ngừng phấn đấu xây dựng Việt Nam trở thành một nước ”Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tất nhiên sự nghiệp to lớn này là của toàn dân tộc nhưng thanh niên giữ một vai trò quan trọng, bởi sự nghiệp này không phải một sớm một chiều mà đạt được; cần có thời gian, ngắn hay dài tuỳ thuộc vào sự phấn đấu của chúng ta. Thanh niên là lớp người trẻ tuổi sẽ kế tục và biến sự nghiệp này thành hiện thực.Giống như câu nói “Tinh thần của tuổi trẻ là đá quý kỳ lạ có thể nung sắt thành vàng”.

    Là 1 thanh niên thế kỉ 20 với bước hội nhập hiện nay,với những lý tưởng và hoài bảo lớn,chúng ta hãy ra sức học tập và sống có đạo đức .Để thật sự là 1 người có ích trên xã hội này. Chúng ta ai cũng sống có khát vọng, hoài bão và hết mình vì nó. ‘Cái quý nhất của con người là cuộc sống, đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa, ân hận vì nhưng năm tháng sống phí, cho khỏi phải hổ thẹn vì những năm tháng sống hoài, sống phí…Sống có lý tưởng để đưa đất nước mình đi lên hội nhập với các cường quốc năm Châu. .

    Đề 14: Anh (chị) hãy trình bày ý kiến của mình về câu nói sau “tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

    BÀI LÀM

    Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên Đán năm, chủ tịch Hồ Chí

    Minh đã viết: ” Một năm khởi đầu từ muà xuân. Một đơì khởi đâù từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là muà

    xuân của xã hội”. Theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên, ta thấy muà xuân vưà là caí kết thúc

    cho một năm cũ vừa mở đầu cho một năm mới. Mùa xuân mang laị sự ấm áp, cây cối đâm chồi

    nảy lộc, xanh tươi đầy sức sống. Và con người thời trai trẻ khi bước vaò muà xuân cũng cảm

    thấy mình lớn hơn, cơ thể,trí tuệ, tư duy cũng phát triển hơn và cả ước mơ khát vọng của tuổi trẻ

    cũng tràn đầy mãnh liệt hơn. Như vậy sự liên tưởng giữa muà xuân và tuổi trẻ trong câu viết cuả

    Bác

    là hết sức logic và thực tiễn; ở đây Bác đã rất đề cao vai trò của thanh niên trong xã hội, chính họ

    sẽ là những người sẽ làm đất nước tươi đẹp như muà xuân. Điều đó được chứng minh trong

    những trang sử chống ngoại xâm cuả dân tộc ta, biết bao thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân

    đẹp nhất của mình để đổi lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc. Tại sao họ có thể hoàn thành được sứ

    mệnh vinh quang đó bằng xương máu mà không chút e ngại, bơỉ họ có lý tưởng sống đúng đắn

    và cao đẹp: Tất cả cho Tổ quốc quyết sinh. Nhưng với hoàn cảnh sống, một môi trường sống

    khác tốt hơn, hạnh phúc hơn, yên bình hơn thì lý tưởng của thanh niên ngày nay là gì?

    Có người nói rằng lý tưởng của thanh niên là làm giàu và điều đó đã được một số ngươì hưởng ứng cổ vũ cho rằng là lẽ sống của thanh niên. Thật ra đó là một điều sai lầm, lý tưởng luôn là một caí gì đó cao cả, hướng con ngươì đến cái khát vọng lớn lao mà không nằm ngoài mục đích mang lại lợi ích cho dân tộc mình. Mỗi thanh niên luôn có quan niệm riêng về lý tưởng, tuỳ thuộc vaò hoàn cảnh, trình độ, cách sống của mình nhưng nếu lý tưởng đó phục vụ cho riêng lợi ích cá nhân của mình thì chỉ là lối sống vị kỉ, cá nhân. Còn lý tưởng đó phù hợp với xu thế chung của đại đa số thanh niên và vì mục đích trên thì đó chính là lý tưởng. Cũng giống như cái chung và cái riêng, lý tưởng riêng củ mỗi thanh niên phong phú hơn lý tưởng chung nhưng lý tưởng chung bao quát và sâu sắc hơn. Và lý tưởng chung đó chính là xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước vững mạnh cũng như tự gắm mình vào nhiệm vụ chống đói nghèo, lạc hậu, nuôi dưỡng bản than, gia đình, đưa đất nước phát triển và hội nhập cùng quốc tế.

    Nhưng thực tế hiện nay, khi đất nước có nguy cơ tụt hậu vế kinh tế, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng thì thanh niên chưa chứng tỏ đầy đủ vai trò, trọng trách của mình trước sứ mệnh của đất nước. Đó là một bộ phận thanh niên sống mờ nhạt. Dưới tác động của cơ chế thị trường, nhiều thanh niên đã chạy theo lối sống thực dụng của đồng tiền, lo ăn chơi, hưởng thụ, lao vào các tệ nạn xã hội. Và điều đó đã được phản ảnh qua thông số thống kê trong tổng số người nghiện ma tuý thì thanh niên chiếm hơn 70%; cả nước có 63000 ngươì bị nhiễm HIV thì thanh niên chiếm hơn 61% . Môĩ năm trong cả nước có từ 1,2 triệu đến 1,4 triệu ca nạo phá thai thỉ lứa tuổi thanh niên chiếm hơn 25%; 70,1% sinh viên nam và 62% sinh viên nữ ở thành phố coi sinh hoạt tình dục là trò giải trí; 30% – 40% nam nữ thanh niên từ 15-25 tuổi thưà nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân. Một điều không khỏi phải nhắc đến là tội phạm trong con cái những người có chức quyền có nguy cơ gia tăng, những thanh niên này thường được bố mẹ nuông chiều, thiếu sự giáo

    dục, lại cậy quyền thế, giàu có nên sống buông thả.

    Cùng với việc gia tăng tội phạm trong thanh niên, thì nạn chảy máu chất xám trong giới trí thức thanh niên hiện nay cũng đang trở thành một vấn đề bức xúc. Nhiều thanh niên sau khi được nhà nước cho di du học bằng tiền cuả nhân dân đã định cư nước ngoài không trở về, hoặc có trở về thì cũng đi làm cho các lien doanh nước ngoài để thu nhập cao. Có lẽ nguyên nhân do hoàn cảnh kinh tế, do ta chưa biết trọng nhân tài, thì điều quan trọng phải là do chính họ chạy theo lý tưởng sống thực dụng của đồng tiền mà quên đi đất nước – chính là nơi minh2 đã được sinh ra và nuôi dưỡng nên ngươì. Thay vì họ phải chung sức lực, trí tuệ cùng nhân dân xây dựng, phát triển đất nước thì họ lại chạy theo lối sống cá nhân, hưởng thụ.

    Hồ Chí Minh đã tửng dạy thanh niên: ” Chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoản toàn được thắng lợi trên đất nước ta..” Vì vậy kế thừa lời dạy về lý tưởng cho thanh niên của Bác, kết hợp với thực tiễn ngày hôm nay của đất nước, thanh niên có thể xây dựng cho mình một lý tưởng: Không ngừng phấn đấu xây dựng Việt Nam trở thành nước ” Dân già, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tất nhiên sự nghiệp to lớn này là của toàn dân tộc nhưng thanh niên giữ vai trò quan trọng, bởi sự nghiệp này không phải một sớm một chều mà đạt được; cần có thời gian, ngắn hay dài phụ thuộc vào sự phấn đấu của chúng ta. Thanh niên là lớp ngươì trẻ tuổi sẽ kế tục và biến sự nghiệp này thành hiện thực. .

    Đề 15: Nhà văn nữ người Pháp Ursula K.Le Guin đã từng nói: “Thành công của người này là thất bại của người khác.” Câu nói này cho rằng thành công và thất bại của mọi người thường hoán đổi cho nhau và không thể có tình trạng tất cả mọi người đều thành công cùng một lúc. Anh (chị) hãy bình luận câu nói trên.

    BÀI LÀM 1:

    Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều cố gắng đạt được một thành quả nào đó, cố gắng thực hiện ước mơ của mình, đều muốn được thành công trong những việc mình làm. Tuy nhiên, không phải ai trong chúng ta đều thành công trong mọi việc. Nhà văn nữ người Pháp Ursula K.Le Guin đã từng nói: “Thành công của người này là thất bại của người khác.” Câu nói này cho rằng thành công và thất bại của mọi người thướng hoán đổi cho nhau và không thể có tình trạng tất cả mọi người đều thành công cùng một lúc. Không phải câu nói này

    sai, tuy nhiên, nó chỉ đúng trong một phạm vi nào đó, không phải lúc nào cũng chính xác.

    Có nhưng trường hợp trong khi một người thành công thì một người khác lại thất bại. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này trong đời sống hằng ngày. Thất bại của một người là khi người đó không đạt được mục đích mà mình đã đặt ra. Trong trường hợp trên, người hạng nhì cũng có thể coi là thất bại nếu như mục đích của họ là đạt một thứ hạng cao hơn. Người thành công biết chính xác những gì mình muốn, tin tưởng vào khả năng của mình và sẵn sàng cống hiến hết thời gian của cuộc đời để đạt được điều đó. có khả năng ảnh hưởng đến những người xung quanh và hợp tác với họ trong thái độ thân thiện. chỉ bày tỏ ý kiến về những điều mình biết và họ hoàn toàn có thể thực hiện điều đó một cách rất khôn ngoan Người thành công dung hoà quan hệ với tất cả mọi người mà không quan tâm đến lợi ích đạt được. luôn trau dồi kiến thức và mở rộng

    lòng khoan dung. Họ sống hướng đến quyền lợi chung của cộng đồng.

    theo kịp thời đại và xem đây là một trách nhiệm quan trọng để biết được điều gì đang diễn ra.

    Người thất bại không có mục đích cụ thể cho cuộc sống, luôn tin rằng mọi thành công đều là kết quả của vận may và chỉ thật sự bắt tay vào việc khi có sự tác động từ bên ngoài tìm thấy khuyết điểm của mình ở người khác. phát biểu ý kiến về mọi vấn đề mà họ chỉ biết chút ít hoặc hoàn toàn không có một chút kiến thức gì về chúng. chỉ nuôi dưỡng quan hệ với những ai mà từ đó họ sẽ có những thứ mà họ muốn. Người thất bại có trí tuệ hạn chế, sự vị kỷ chiến thắng lòng vị tha. Vì vậy họ tách khỏi những cơ hội thuận lợi và mối quan hệ thân thiện với xã hội. chỉ quan tâm đến bản thân với những nhu cầu trước mắt và bất chấp mọi thứ để thực hiện, không cần biết đó là điều tốt hay xấu.

    Hai khái niệm đó cho thấy rằng giuẵ thành công và thất bại có khoảng cách rất mong manh,thành công của ngừơi này có thễ là thất bại của người khác.Tuy nhiên còn phãi tùy từng hoàn cảnh mới hiểu rõ câu nói của nhà văn Pháp Ursula K.Le Guin”Thành công của người này là thất bại của người khác.” Có hoàn toàn đúng hay không. Ở Asiancup2007 tổ chức ở VN, Malaysia,Indonesia và Thái Lan, trong 4 nứoc đồng chủ nhà chỉ có Vn lọt vào vòng tứ kết và cuối cùng để thất bại 0-2 trưóc IRAQ, với tuy thất bại nhưng đối với nhiều ngưoi đó đuợc coi là một sự thành công cho đội tuyển để ngày càng phát triển sau này.

    Nhắc đến vấn đề thành công hay thất bại chúng ta không thể quên nhắc đến Bill Gates một trong

    những nguời giàu nhất thế giới,ông đã từng thi rớt đại học đối với ông đó có thể là một thất bại,

    nhưng ông biết vượt qua thất bại để đứng lên tạo lập và xây dựng Microsoft thành một trong

    những tập đoàn hang đầu thế giớiNhư vậy, câu nói của nhà văn nữ người Pháp Ursula K.Le Guin

    có thể đúng khi định nghĩa thành công và thất bại một cách tuyệt đối: người thành công là người

    đạt một mục tiêu mà những người thất bại không đạt được hoặc khi ngừoi thất bại không biết

    nắm lấy cơ hôi đễ thành công mà để vuột mất vào tay ngừoi khác.Ngoài ra thành công và thất bại

    cũng chỉ là khái niệm nhất thời,có thể chỉ thành công trong một thời điểm nào đó nhưng sau đó

    lại gặp thất bại.

    Câu nói “Thành công của người này là thất bại của người khác.” Của nhà văn nữ người Pháp chỉ mang tính chất tương đối có nghĩa là không hoàn toàn đúng cũng không hoàn toàn sai mà nó tùy thuộc vào cách nhìn nhận thành công hay thất bại của từng người và còn phải tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể chứ không thể là lời đánh giá của một cá nhân.

    BÀI LÀM 2:

    Trong cuộc sống hằng ngày ,xã hội luôn không ngừng thay đổi ,có những con người nghị lực đã tự xây dựng nên cuộc sống ấm no,đã vun đắp ý chí ,tạo lập nên được thành công cho riêng mình . Đó là những con người cần cù ,tự lập ,rất đáng để ta noi theo ,học tập .Tuy nhiên ,cuộc sống với nhiều khó khăn và biến đổi ,không phải ai cũng đạt được thành công như mình mong muốn,bên cạnh thành công của người này có khi là thất bại của người khác .Cũng băn khoăn về những vấn đề này, nhà văn nữ người Pháp Ursula K.Le Guin đã từng nói : “Thành công của người này là thất bại của người khác .” .Câu nói này cho rằng thành công và thất bại của mọi người thường hoán đổi cho nhau và không thể có tình trạng tất cả mọi người đều thành công cùng một lúc .Vậy

    thế nào là thành công ,thế nào là thất bại ,và tại sao thành công của người này là thất bại của người khác ?

    Thành công là gì ? Thành công có thể được hiểu qua nhiều khía cạnh trong cuộc sống .Có người hiểu rằng thành công đích thực là đạt được đỉnh cao trong sự nghiệp ,lại có bạn hiểu ngắn gọn rằng thành công là chỉ cần hoàn thành được những công việc mà mình đề ra .Theo em , thành công bao gồm tất cả những tính chất trên ;không dừng lại ở đó ,thành công không chỉ đơn thuần là đạt được mục đích mà còn gồm cả nỗ lực và ý chí của chính bản thân mình .Thành công cũng giống như những khát khao bình dị trong cuộc sống ;như hình ảnh một cậu bé bị dị tật ở chân, không bao giờ đi lại bình thường được .Từ nhỏ ,cậu đã ước mơ trở thành cầu thủ bóng đá .Sau bao nỗ lực ,cậu đã trở thành một cầu thủ dự bị trong một đội bóng nhỏ ,nhưng chưa bao giờ được chính thức ra sân .Với cậu ,đó đã là một thành công lớn ,sự thành công trong sự bền bỉ và nghị lực của cậu bé đã giúp cậu theo đuổc ước mơ năm xưa .Vậy còn thất bại ?Nhiều người thường lầm hiểu cho rằng khi mình thất bại nghĩa là mình không có khả năng ,là mình không thể hoàn thành công việc được giao phó .Như những sĩ tữ khi bước vào kỳ thi tú tài ,trong số họ ,không ít người đã từng thất bại trong kỳ thi trước ,thất bại đến với họ trong sự chủ quan ,tâm lý hay thậm chí lo sợ, hồi hộp ;nhưng nhờ thất bại ,họ đã biết vượt qua ,biết phấn đấu nhờ đó đã đạt được kết quả cao trong kỳ thi .Vì thế ,thất bại không phải hoàn toàn tối nghĩa như ta thường nghĩ .Thất bại là cách học tâp để chung sống với thành công ,thành công sẽ hoàn toàn vô nghĩa nếu không từ thất bại đi. Và từ thất bại con người mới có thể vươn lên ,mới biết sửa chửa sai lầm của mình .Vì vậy, thất bại chẳng qua là bài học đi lên thành công .Câu nói của nhà văn nữ người Pháp cũng thế, “thành công của người này là thất bại của người khác.”là một lời tóm tắt phẩm chất ,là dây nối mối liên quan giữa thành công và thất bại .”Thành công của người này là thất bại của người khác.” ,câu nói của bà phản ánh chân thật phần nào chân dung của cuộc sống “có kẻ thắng người thua ” đó mới là chân lý ,là những gì đang diễn ra xung quanh ta .Như trong cuộc thi tuyển chọn giọng hát ,có người nhờ chất giọng tốt ,phong cách cá tính ,họ đã vượt qua và trở thành những ngôi sao sáng. Còn đối với những người còn lại ,họ là những người thua cuộc ,không phải do họ không cố gắng nỗ lực mà do họ không gặp may .Cũng như thế ,trong kỳ thi “Đường lên đỉnh Olympia” ,người thắng cuộc luôn được trao vòng nguyệt quế ,được đứng cao trong niềm vinh quang ,với những thí sinh khác ,tuy không đạt được gì nhưng họ vẫn ra về trong sự vui mừng của gia đình .Điều đó cho thấy “Thành công của người này là thất bại của người khác” là một chân lý.Tuy nhiên thành công không dành cho những kẻ ỷ lại ,sống nhờ vào thành công của người khác,sống như thế cũng sẽ khiến cho họ mãi là những kẻ thất bại ,không bao giờ đạt được mục đích trong cuộc sống .Với những người không thành công ,dẫu cho họ không gặp may mắn thuở ban đầu nhưng bằng nghị lực và ý chí thì họ cũng sẽ mang lại thành công cho riêng mình .

    Câu nói của nhà văn nữ người Pháp như một lời động viên thiết tha ,khuyên nhủ con người chớ nên vì thất bại mà từ bỏ mục đích ,ước mơ mà mình theo đuổi .Câu nói cũng như lời nhắc nhở người đọc chớ nên sống trong thành công quá nhiều mà quên đi thất bại ,nếu như có một lần thất bại thì chúng ta cũng coi nó như một lần bước lên nấc thang thành công . Thanh niên ngày nay phải luôn biết gắng mình để xây dựng Tổ Quốc ,đó còn là trách nhiệm chung của mỗi con người Việt Nam .Lời nói của nhà văn nữ người Pháp là một thông điệp giúp xây dựng nước ta ngày càng hoàn thiện hơn .Mọi người liệu có thành công được hay không? Đất nước ta có ngày tiến bộ được hay không ?Điều đó sẽ không hoàn toàn chắc chắn nếu không nhờ câu nói của bà .Câu nói nhắc nhở mọi người phải không ngừng phấn đấu để đạt được mục đích .Đó cũng chính là lời dạy thiết tha của bà dành cho mọi người . .

    Đề 17: Một câu triết học nói: Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả. Nó làm thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó. Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra.

    BÀI LÀM:

    Con người khác con vật ở chỗ nó dự phần quyết định vào việc tạo dựng nên nhân cách của nó. Chính vì vậy ,một nhà triết học có nói: “Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì mà nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả.Nó phải làm như thế nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy và nó phải tự làm bằng chính tự do của nó.Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra”.Câu nói đó chẳng những nêu bật sự khác nhau giữa con người à con vật mà còn nhấn mạnh tới vai trò con người trong việc hình thành nhân cách của mình.

    Thật vậy, mỗi con vật khi sinh ra đều đã là tất cả nhửng gì mà nó có.Điều đó có nghĩa lâ con vật được sinh ra như thế nào thì nó sẽ lớn lên như thế ấy.Một con chó sói được sinh ra thì sẽ trở thành con chó sói, một con chim sẽ thành chim. Dĩ nhiên phải có thời gian để con chó sói trưởng thành, tự kiếm ăn và tự vệ,để con chim được lớn,mở mắt biết bay đi kiếm mồi.Nhưng qua thời gian đó,con sói và con chim trưởng thành vẫn chỉ là con vật được quy định trong bộ gen của no. Con vật được sinh ra trong trạng thái đã tự đấy đủ. Con người thì khác hẳn, khi sinh ra tự nó không đầy đủ, không là gì cả. Một em bé sơ sinh đang oa oa chào đời,tự em không thể sống được nếu thiếu sự chăm sóc,bú mớm đùm bọc cùa người mẹ.Em sẽ không trở thành người được nếu không biết nói,biết đọc,biết viết,biết giao tiếp với cộng đồng . Em sẽ không có chỗ đứng trong xã hội nếu em không có một nghề nghiệp nào đó.Rồi em có thể có được mộ nghề nào không,em trở thanh người tốt hay xấu ,chưa ai có thể quả quyết được.vậy là con người,do khi lọt lòng tự nó không đầy đủ,cho nên mỗi người sinh ra đều mang theo một nhiệm vụ, hãy trỡ thành một con người!

    Ai chịu trách nhiệm làm cho một con người trở thành CON NGƯƠÌ? Xã hội hay cá nhân? Tại sao nhà triết học nói con người làm như thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, như vậy có coi nhẹ điều kiện xã hội hay không? Có quá coi trọng vai trò chủ thể cá nhân hay không? Xét về điều kiện, thì gia đình và xã hội là điều kiện để con người trở thành con người. Cha mẹ cho bú mớm, nuôi nấng ,dạy dỗ. Xã hội cung cấp trường học.sách vở,kiến thức,ngành nhề. các điều kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng. thử tưởng tượng một con người sinh ra trong một gia đình nghèo túng, ăn không đủ no lại phải làm việc để sống thì sẽ như thế nào? Lại tưởng tượng một người sinh ra trong một gia đình giàu có, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và học tập thì thế nào? Nếu một con người ở nơi hẻo lánh ,xa trung tâm văn hoá ,thiếu trường sở ,ít giao lưu thì thế nào? Một người khác ở thàh phố lớn ,nhiều trường tốt,có nhiều thầy giỏi thì sẽ ra sao.

    Rõ ràng điều kiện tốt là rất thuận lợi và điều kiện xấu là hết sức khó khăn.nhưng điều kiện không thể quyết định tât cả. Nhiều người xuất thân nghèo hèn lại có ý chí vươn lên. Ở đây, hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo của môi người vẫn là yếu tố quyết định sử dụng điều kiện như thế nào. Khi nói tôi sáng tạo ra tối, tôi tự làm ra chính tôi. không có nghĩa là tôi muốn trở thành cái gì cũng được. Một người mà không có giọng hát trời phú thì không thể trở thành danh ca; một người không có thể chất tốt không thể trở thành vận động viên triển vọng… Nhưng khi đã có một

    số đã có một số điều kiện nào đó thì việc phát huy điều kiện tốt, khắc phục điều kiện xấu phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của cá nhân có điều kiện ấy.

    Con người làm như thế nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy. Đúng như vậy ,con người được tự do lựa chọn để tự thực hiện mình theo một lý tưởng nhất định. Nhà sư Tuệ Tĩnh đi tu, nhưng ông tự học để trở thành một nhà thuốc vĩ đại của dân tộc. Ông Tư Mã Thiên đời Hán bị nhục hình, nhưng ông chu du khắp nước ,thu thập tài liệu để hoàn thành bộ Sử kí nổi tiếng… Lỗ Tấn đã tốt nghiệp trường khai mỏ, nhưng niềm băn khoăn cho số phận dân tộc dẫn ông đến nghề văn. Pastuer thi đỗ trường sư phạm, nhưng niềm say mê hoá học làm ông dồ sức vào môn khoa học này và cuối cùng và cuối cùng trở thành nhà bác học về vi trùng và phòng dịch vĩ đại . Ngay trước cái chết, con người vẫn có cơ hội để khẳng định mình. Câu nói của Trần Bình Trọng ” Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn Vương đất Bắc” đã khích lệ bao nhiêu thế hệ người Việt Nam yêu nước. Anh Nguyễn Ngọc Kí Lịch sử cũng cho thấy có nhiều liệt cả hai tay vẫn học viết bằng chân gương lầm lạc, tuy có những điều kiện tốt đẹp nhưng con người đã tự làm hỏng đời mình.

    Rõ rang dù điều kiện hoàn cảnh có vai trò quyết định như thế nào con người vẫn chịu trách

    nhiệm trước nhân cách của mình. Hiểu được điều này mỗi người cần thấy hết trách nhiệm của

    mình trước cuộc đời mình trong từng hành động lớn nhỏ. Trước mỗi con người, con người mở ra

    muôn ngã, con người có thể chọn một nghề phù hợp với khả năng sở trường của mình. Nhưng

    khà năng sở trường của con người chỉ có thể thực sự phát huy khi nó gắn liền với mục đích cao

    đẹp; phục vụ con người,phục vụ xã hội và nhân loại. Không phải ai cũng hiểu được trách nhiệm

    của mình đối với cuộc đời cùa mình. Gặp khó khăn trắc trở người ta thường than thở, viện ra nào

    hoàn cảnh nào số phận rồi buông xuôi gặp sao hay vậy. Nhưng tư tưởng đúng đắn thì cho thấy

    ngoài hoàn cảnh, yếu tố quyết định số phận mỗi

    người là chính người đó. .

    Đề 18: Anh chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về câu nói của Democrite đã nói: “Ai không có một người bạn chân chính thì người đó không xứng đáng được sống.”

    BÀI LÀM:

    Ông cha ta từng có câu:

    “Bạn bè là nghĩa tương thân

    Khó khăn hoạn nạn, ân cần có nhau”

    Con nguời không ai có thể sống thiếu bạn. Tình bạn là một trong những tình cảm cao đẹp và trong sáng nhất. Như nhà văn Thomas Hughs từng nói: “Phước thay người nào đó có tài kết bạn, vì đó là một trong những quà tặng quý nhất của Thượng Đế.” Quả thật như thế, tình bạn có một sức ảnh hưởng vô cùng to lớn đến cuộc sống của mỗi chúng ta. Con người từ khi sinh ra đến ngày trưởng thành không ai không có bạn. Tình bạn rất gần gũi, giản dị chứ không xa vời hay khó nói như nhiều thứ tình cảm khác. Tình bạn là một phạm trù xã hội, được dùng để chỉ quan hệ giữa người với người có những nét giống nhau về tâm tư, tình cảm, quan điểm hay hoàn mà họ

    có thể chia sẻ, đồng cảm, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.    cảnh

    Tình bạn có thể là bạn tri kỉ, bạn nối khố, bạn học, bạn đồng hương, bạn đồng lứa, bạn đồng minh hay bạn chiến đấu. Bạn là người có cùng sở thích, cùng lí tưởng, quan niệm sống với chúng ta. Bạn là người cho ta một bờ vai mỗi khi ta khóc, cho ta một điểm tựa khi ta rơi vào tuyệt vọng, cho ta một bầu trời ánh sáng khi ta lạc bước vào thế giới tăm tối, là người sẽ luôn bên ta dù cuộc đời có đổi thay, khi ta gặp hoạn nạn cũng như tìm thấy hạnh phúc. Nhưng tại sao ta cần phải có bạn? Phải chăng vì bạn là người luôn ở bên ta như câu nói: “Ở nhà thì nhờ ba mẹ, ra đường thì nhờ bạn bè”. Có lẽ vì vậy mà bạn bè rất quan trọng, nếu ai không có bạn thì đó là một thiệt thòi lớn trong đời. Có bạn là điều hạnh phúc nhất của mỗi cuộc đời như nhà văn A.Manzoni đã nói: “Một trong những hạnh phúc lớn nhất đời này là tình bạn, và một trong những hạnh phúc của tình bạn là có một người để gửi gắm tâm sự thầm kín. Tình bạn đến với mỗi chúng ta một cách rất tự nhiên bởi lẽ nó xuất phát từ trái tim của mỗi người.

    Trong cuộc sống, tình bạn được biều hiện trên nhiều phương diện khác nhau. Bất cứ thời đại nào cung tồn tại rất nhiều tình bạn đẹp. Chẳng hạn như tình bạn của Lưu Bình và Dương Lễ ngày xưa. Khi Dương Lễ là một thư sinh nghèo khổ, Lưu Bình không những không chê bai mà còn kết giao bạn hữu và tạo điều kiện cho Dương Lễ ăn học. Đến khi Dương Lễ công thành danh toại, Lưu Bình chỉ là một kẻ ăn mày rượu chè bê tha. Nhớ đến nghĩa tình bạn bè năm xưa, Dương Lễ đã nhờ vợ mình giúp nuôi và đốc thúc việc học của Lưu Bình. Sau đó, Lưu Bình đỗ đạt làm quan. Hay tình bạn vô cùng tốt đẹp và sâu sắc của hai nhà chính trị lớn là Các-mác và Ăng-ghen.

    Tình bạn của hai ông bắt nguồn từ việc có cùng chung mục đích và lí tưởng. Trong suốt thời gian

    nghiên cứu và làm việc, hai ông đã không ngừng viết thư cho nhau và vô cùng vui sướng khi gặp

    lai nhau. Có lần Ăng-ghen bị bệnh, Các-mác đã bỏ ra rất nhiều thời gian và tâm huyết nghiên

    cứu sách vở để tự tìm ra cách trị bệnh cho bạn.. Đó mới chính là tình bạn chân thành và cao quý.

    Bên cạnh tình bạn chân chính còn có tình bạn không chân chính. Đó là tinh bạn dựa trên sự giả

    dối và lợi dụng. Tình bạn ấy sẽ không bao giờ vĩnh cửu cả. Bởi tình bạn được xây dựng dựa trên

    những tình cảm, những cảm xúc chân thành nhất. Chính vì vậy, nếu thiếu đi những thứ này, tình

    bạn sẽ không bao giờ bền vững.Viên pha lê “tình bạn” óng ánh kia sẽ không còn sáng lấplánh

    nữa mà thay vào đó là những ánh sáng mờ nhạt, đen tối. Tình bạn dối lừa sẽ làm cho con người

    ta mất đi nhân phẩm, đạo đức của mình. Tình bạn dối trá sẽ khiến cho hai chữ “tình bạn” không

    còn thiêng liêng và cao quý nữa. Tình bạn này sẽ khiến cho bất cứ ai trong cuộc đều cảm thấy

    buồn phiền và thất vọng. Không những ta đã gây cho người khác sự tổn thương mà chính ta cũng

    bị tổn thương ngược lại bởi những gì ta đã gây ra. Vì vậy, chúng ta cần tránh xa thứ tình bạn

    đáng xấu xa này.

    Tình bạn là một trải nghiệm lí thú của cuộc đời mỗi người. Tình bạn giúp chúng ta hoàn thiện nhân cách của mình. Chính nhờ tình bạn mà ta trưởng thành hơn, giàu nghị lực hơn trong cuộc sống. Không những thế, tình bạn giúp cuộc sống trở nên vô cùng ý nghĩa, đúng như Democrite đã nói: “Ai không có một người bạn chân chính thì người đó không xứng đáng được sống.”

    BÀI LÀM 2:

    Cuộc như một trò chơi ghép hình, những mảnh ghép là một thứ tình cảm sâu sắc. Trái tim của mỗi người chỉ đẹp hơn khi biết chia sẻ những cảm xúc, giúp đỡ nhau. Vì vậy bức tranh chỉ thực sự hoàn thiện khi ta biết chọn đúng những mãnh ghép, ghép vào đúng chỗ trong trái tim.

    Tình yêu có thể đến, cũng có thể ra đi bất cứ khi nào, nhưng tình bạn vẫn mãi ở bên cạnh, xuất

    hiện khi ta cần nó nhất. Và đối với chúng ta, lứa tuổi mười bảy biết bao ước mơ và hoài bão thì

    một người bạn thân luôn luôn được chào đón, và trong cuộc sống lúc này chúng ta đã có những

    người bạn thật tốt, chúng ta nên yêu quí họ… Chúng ta không thể biết tình bạn xuất phát từ lúc

    nào nhưng biết được rằng cuộc sống sẽ thật tẻ nhạt khi không có bạn. Tình bạn như sợi chi bằng

    vàng nối trái tim toàn thế giới. Có lẽ, khi ông trời tạo ra một vùng đất, nơi ấy có con người thì

    ông đã thêm vào đó những thứ tình cảm để gắn kết mỗi người lại với nhau, và tình bạn là một

    trong những tình cảm ấy. Theo tiếng anh “tình bạn” được dịch là ” friendship”, “con thuyền của

    tình bạn”, ở đây chiếc thuyền được xem như một chiếc ghe nhỏ, nó được tạo nên từ những miếng

    gỗ đóng chặc vào nhau. Thiên nhiên với muôn vàng thách thức, bão táp, phong ba có thể lật đổ

    chiếc thuyền bất cứ lúc nào nếu chiếc thuyền ấy thiếu đi những miếng gỗ, và tình bạn cũng vậy.

    Tình bạn chỉ kết thúc khi ta không có sẻ chia, không có sự tương đồng, khi ta ích kỉ, nhỏ nhen,

    khi ta chỉ biết đến mình. Mười hai năm học, một chặng đường dài để chúng ta học cách chung

    sống với mọi người. Chúng ta đã có những người bạn, tình bạn của ta cũng đẹp xiết bao! Đôi lúc

    nó xanh mát như bầu trời, phẳng lặng như một dòng sông… nhưng đôi khi nó âm u, tối đen như

    thành phố lúc không đèn, không trăng, như những con sóng dữ dội lúc biển động.

    Chắc hẳn, ai cũng biết được tình bạn của hai nhà nho, nhà thơ nổi tiếng ở nước ta là Nguyễn Khuyến và Dương Khuê. Nguyễn Khuyến đã đau xót, khóc thương cho người bạn của mình. Và bài thơ ” Khóc Dương Khuê” được ông sáng tác diễn tả những cảm xúc đau thương, tiếc thương về sự ra đi đột ngột của người bạn, nhớ về những kỉ niệm đẹp của một tình bạn mà cảm thấy đau đớn và cô đơn. Mỗi câu thơ, vần thơ của ông thấm đầy lệ, khiến phải xót xa, nuối tiếc về một tình bạn đẹp của ông.

    “Rượu ngon không có bạn hiền

    Không mua không phải không tiền không mua

    Câu thơ nghĩ đắn đo không viết

    Viết đưa ai, ai biết mà đưa

    Giường kia treo cũng hững hờ

    Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”

    Sáu câu thơ này để lại ấn tượng nhất trong lòng đọc giả, sáu từ ” không” kết hợp với hai từ láy ” hững hờ”, ” ngẩn ngơ” nói lên tiếng lòng của nhà thơ. Khi không có bạn để sẻ chia thì mọi thứ như vô vị, nó như một món canh không được nêm nếm. Sẽ thật là buồn khi không có người tri âm, thấu hiểu suy nghĩ của mình. Và tình bạn đối với Nguyễn Khuyến đẹp biết nhường nào! Quay ngược về quá khứ có tình bạn đẹp của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê, quay trở về hiện tại có đôi bạn ” Lưu Bình- Dương Lễ thời nay”. Thật sự,đôi bạn ấy thật đáng để ngưỡng mộ “A Byuh và A Trâm” hai người bạn một đôi chân. Chẵng có gì thay thế được tình bạn của hai cậu bé

    ấy, không ngại những chặng đường xa khi cõng bạn đến trường, không xa lánh bạn khi bạn tật

    nguyền, giúp bạn, giúp bằng tất cả khả năng của mình, trái tim của A Byuh đã làm rung động

    biết bao nhiêu người, dạy họ phải biết sống vì mọi người, yêu mọi người như yêu chính bản thân

    mình.

    Tuổi học trò hồn nhiên với bao giấc mơ, kí ức đẹp nhất của một tuổi hoa là những người bạn, những người luôn sát cánh bên bạn. Thật sự khó có thể dùng một từ nào để nói về tình bạn, không một từ nào có thể diễn tả được ý nghĩ sâu sắc của ” tình bạn”. Tình bạn nhẹ nhàng, mát dịu như cơn gió mùa thu, khiến lá vàng xao động, ấm áp như tia nắng mặt trời, sôi rọi từng ngõ ngách trong trái tim. Tình bạn là sự thấu hiểu lẫn nhau, sẵn sàng ngồi cạnh nhau khi khó khăn, không ích kỉ, không tự lợi, cùng nhau đối mặt với cuộc sống, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn. Đôi khi cuộc sống không như ta muốn, có những tình bạn vu lợi, lợi dụng, đối xử với nhau không bằng con tim mà bằng sự ganh ghét. Những điều ấy sẽ đánh mất đi nét đẹp thật sự của tình bạn. Ở đời, khi đã mất đi một cái gì đó khi ấy ta mới hối tiếc. Thôi thì ta hãy học cách tiếp nhận và gìn giữ cái hiện tại, đừng nuối tiếc về quá khứ, hãy đối xử với những người bạn của mình bằng sự chân thành từ đáy con tim. Vẫn hãy luôn tin tưởng rằng: bất kì một người bạn tốt nào cũng đã từng là một người xa lạ. Ta cứ mở làng chào đón mọi người đến với ta… vì chỉ khi ta mở cánh cửa của lòng tin, ta mới có thể mở cánh cửa tình bạn. Khi ta cho tất cả bằng sự chân thật của mình khi ấy ta sẽ nhận được những món quà lớn lao của thượng đế. Người ta nói “Tình yêu mù quáng, còn tình bạn thì lại giúp ta sống tốt hơn”, bởi một người bạn thật sự, sẽ bước vào cuộc sống ta khi mọi người bước ra… sẽ cho ta thấy đâu là đúng, là sai… sẽ bên ta để cùng vượt qua thử thách cuộc đời.

    “Rồi một ngày mỗi đứa đi một đường, mỗi chí hướng, giấc mơ tình yêu. Bạn ơi! Xin nhớ rằng buồn vui luôn có tôi luôn bên bạn chia sớt”. Đúng vậy, tình bạn luôn là thứ tình cảm đẹp nhất, quý giá nhất. Hãy biết quý trọng những người bạn bên cạnh chúng ta, cuộc sống dù ngắn hay dài thì cũng nên trân trọng tất cả những tình bạn đẹp. Hãy vẽ nên một thiên sử về tình bạn, tô lên nó bằng những màu sắc yêu thương và màu sắc quan tâm. Vì bức tranh tình bạn sẽ luôn in sâu vào con tim mỗi chúng ta, theo ta suốt chặng đường của cuộc đời. Hãy làm cho mỗi ngày mới – ngày đầu tiên cho phần còn lại của cuộc sống… đều tràn ngập tiếng cười của bạn và tôi! .

     

  • Văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay 2019

    Văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay 2019

    Văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Ôn Thi ĐH Văn nghị luận xã hội 2019


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay 2019

    NHỮNG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI HAY

     

    Bài 1: Bài nghị luận về tôn sư trọng đạo

    Tôn sư trọng đạo không chỉ còn là vấn đề đạo đức mà còn là một truyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của nhân dân ta. Đó cũng là yếu tố quan trọng làm nên nền tảng đạo đức của xã hội văn minh.

    Nhân dân ta từng có những câu nói vô cùng giản dị mà chứa đựng những ý nghĩa rất sâu sắc về vấn đề Đạo và Thầy. Những câu nói ấy vừa tôn vinh người Thầy, vừa nhắc nhở con người phải biết sống cho phải đạo làm người. Thầy là người vạch đường chỉ lối cho mối người “Không thầy đố mày làm nên”. Vì thế vị trí của người thầy được đặt ngang hàng với vị trí của cha mẹ, “Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”. Chúng ta vẫn luôn tự nhắc mình: “Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.

    Người làm thầy trong bất cứ xã hội nào luôn được xã họi tôn trọng “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Bởi vậy, “tôn sư trọng đạo” không còn là một vấn đề quan niệm sống hay quan niệm về cách cư xử mà đã trở thành một phạm trù đạo đức. Thời xưa Platôn, Aritxtôt, Khổng Tử… từ người thầy đã trở thành những bậc thánh trong lòng học trò. Ngày nay, người thầy tuy không có vị trí tuyệt đối như thế song thầy vẫn là người được xã hội tôn trọng và “nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”. Dù ở phương Đông hay phương Tây, dù mối quan hệ thầy trò có bình đẳng đến đâu, gần gũi đến đâu thì danh giới thầy trò, vị trí đáng kính của người thầy vẫn không hề bị mai một.

    Trên thực tế, vấn đề “tôn sư trọng đạo” ngày nay đã có nhiều điều đáng phải bàn. Các thầy cô giáo dù phải đứng trước bao nhiêu khó khăn của cuộc sống vẫn đang ngày đêm lo lắng, nghiền ngẫm để truyền thụ cho học sinh những tri thức quý giá nhất. Còn học sinh, bên cạnh những học sinh chăm chỉ ngoan ngoãn, thực hiện đúng đạo làm trò, kính yêu và tôn trọng thầy cô giáo, đã có không ít bạn chót quên đi đạo nghĩa thầy trò. Những học sinh ấy đã vô tình hoặc cố ý vi phạm đạo làm trò, làm đau lòng các thầy cô giáo. Đã có những câu chuyện đau lòng mà chúng ta không muốn nhắc đến như hiện tượng học trò xúc phạm thầy cô giáo, vô lễ với những người đang ngày đêm dạy bảo mình những điều hay lẽ phải, truyền đạt cho mình những tinh hoa tri thức nhân loại. Xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục lên án những học sinh đó.

    Tôn sư trọng đạo là một truyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của loài người. Nếu trẻ em là tờ giấy trắng thì người cầm cây bút viết lên những tờ giấy trắng ấy những tráng thẳng hàng, rõ nét, rõ chữ nhất chính là thầy cô giáo. Tôn trọng những người giữ vai trò truyền đạt tri thức nhân loại cho thế hệ sau là biểu hiện của tình yêu tri thức, của lòng ham học hỏi, của ý chí và khát vọng vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế “tôn sư” không chỉ là vấn đề tôn trọng, kính yêu người làm nghề dạy học mà còn là biểu hiện của tình yêu tri thức, biểu hiện của văn minh, tiến bộ. “Đạo” cũng không chỉ dừng lại ở đạo làm trò, ở những hình thức, thái độ ứng xử với người thầy mà còn là cả vấn đề đạo đức xã hội. Đó là đạo làm người, là đạo học ở đời. Trọng đạo là coi trọng sự hiểu biết, coi trọng tinh thần ham học hỏi, đề cao truyền thống ham học.

    Tôn sư trọng đạo là một truyền thống đạo đức vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta. Đứng trước những hiện tượng đáng suy nghĩ hiện nay về vấn đề đạo đức học đường, chúng ta cần phải có những hoạt động cần thiết để nhắc nhở mỗi người nhìn lại thái độ và cách ứng xử của mình đối với những người làm thầy trong xã hội này. Tôn sư trọng đạo cần phải được quan tâm hơn nữa.

    Để xã hội ngày càng văn minh con người ngày càng phải chú ý đến chuyện học hành, tiếp thu tri thức. Vì thế, vai trò của người thầy trong xã hội hiện đại đã thay đổi, từ người truyền đạt tri thức đã chuyển thành người dẫn dắt học sinh tìm ra con đường đến với tri thức. Vai trò của người thầy ít nhiều thay đổi nhưng vị trí của người thầy thì không hề suy giảm. Thầy vẫn là thầy và ngày càng quan trọng hơn. Vì vậy, dù xã hội có đi đến đâu, xã hội ấy vẫn có những người muốn học và vẫn có những người thực hiện nhiệm vụ dạy bảo người đi sau. Trong cuộc sống ngày nay, khi mà vấn đề học hành ngày càng phức tạp và sự xuống cấp về đạo đức xã hội đang khiến nhiều người có lương tâm trách nhiệm phải quan tâm suy nghĩa thì vấn đề “tôn sư trọng đạo” càng phải tiếp tục được kế thừa và phát huy hơn nữa.

     

    Bài 2: Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới của M.Gorki

    Từ một cậu bé mồ côi,thất học,Alesei Peshkov đã vươn lên trở thành M.Gorki-nhà văn bậc thầy của giai cấp vô sản,con người được nhân dân thế giới kính trọng vì một vốn hiểu biết văn hóa vừa rộng lớn vừa sâu sắc.Nhờ đâu? Nhờ một nghị lực sống phi thường đã tìm gặp được một thứ tài sản phi thường: sách.

    Nói đến M.Gorki,không thể không nói đến tự học,do đó không thể không nói đến sách.Chính ông đã nói đến tác động ghê gớm của sách đối với mình trong một lời phát biểu giản dị :

    “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”.

    Câu nói ấy hàm chứa một ý nghĩa phong phú và một chân lí,một lời khuyên. Từ lâu con người đã biết đến sự kì diệu của sách.Sách,đó là cái thần kì trong những cái thần kì mà nhân loại đã sáng tạo nên.Thật không thể hình dung một nền văn minh mà không có sách.Từ hàng nghìn năm trước,khi chưa có chữ in,chưa có máy in,chưa có cả giấy bút nữa,thì nhân loại đã nghĩ đến sách rồi,đã có những hình thức đầu tiên của sách rồi.Sách là cái cần có để con người lưu giữ và truyền lại cho người khác,cho thế hệ khác,những hiểu biết của mình về thế giới xung quanh,những khám phá về vũ trụ,về con người,cả những ý nghĩ,những quan niệm,những mong muốn về cuộc sống cần gửi đến cho mọi người và trao gửi đến đời sau.

    Sách,đó là kho tàng chứa đựng những hiểu biết của con người đã được khám phá,chọn lọc,thử thách,tổng hợp.Sách là nơi kết tinh những tư tưởng tiên tiến nhất của các thời đại,những hoài bão mạnh mẽ nhất,những tình cảm tha thiết nhất của con người.Chỉ có những gì mà con người cảm thấy bức xúc cần nói,cần truyền lại,mới đi vào sách.

    Tác động của sách không hề bị giới hạn bởi thời gian và không gian.Con người ngày nay vẫn không giảm sút hứng thú tìm lại những trang sách đã có hàng mấy nghìn năm nay,từ những hình vẽ bí hiểm trên những phiến đất sét,những chữ cái từ lâu đã trở nên lạ lùng trên các tấm da cừu,những con chữ tượng hình trên các thẻ tre…cho đến hôm nay,những cuốn sách được in hàng loạt bằng những máy in điện từ hiên đại.Một người sống ở một làng hẻo lánh Châu Á cũng có thể đọc được cuốn sách của một người viết từ một đất nước xa xôi ở Châu Mĩ.Thật có thể không ngoa rằng: có sách,các thể kỉ và các dân tộc xích lại gần nhau.

    Sách là thế,sách có sức mạnh như thế,cho nên M.Gorki đã rất có lí khi nói: “Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới”. Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh,về vũ trụ bao la,về những đất nước và dân tộc xa xôi.Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó,hiểu được quả đất tròn mang trên mình nó bao nhiêu đất nước khác nhau với những hoàn cảnh thiên nhiên khác nhau.Những quyển sách xã hội học giúp hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế,lịch sử,văn hóa,những truyền thống,những khát vọng.

    Sách,đặc biệt là những cuốn sách văn học,giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong của con người,qua các thời kì khác nhau,ở các dân tộc khác nhau,những niềm vui và nỗi buồn,hạnh phúc và đau khổ,những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình,hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này,hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác,với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này.Sách giúp người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc,đâu là nỗi khổ của mỗi người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.

    Đã từng có những cuốn sách không chỉ “mở rộng những chân trời mới” cho một người,trăm người,triệu người,mà cho cả nhân loại.Những trang sách của Bruno,Galie về quả đất và thái dương hệ đã mở ra cho loài người một thời kì mới trên con đường chinh phục tự nhiên.Những trang sách của Dacuyn về các giống loài không chỉ giúp con người hiểu rõ về các giống loài sinh vật mà còn hiểu rõ hơn về chính con người.Sách của Secspia,của Diderro,Monteskier rồi của Mac,Angghen…thực sự đã giúp con người làm những cuộc cách mạng.Đọc Bangdac ta hiểu về thế giới tư bản với sức mạnh lạ lùng của đồng tiền.Đọc thơ Tago,thơ Lý Bạch,Đỗ Phủ,ta hiểu đời sống và tâm hồn của cả những dân tộc.Đọc Nguyễn Du,Hồ Xuân Hương,Cao Bá Quát…ta hiểu xưa kia cha ông ta từng đau khổ và ước mơ những gì…Thật không sao kể hết “những chân trời” mà các trang sách đã mở rộng trước mắt ta.Có thể nói một cách tóm tắt rằng: lợi ích của sách là vô tận.Ta đồng ý với lời nhận xét của M.Gorki cũng là tiếp nhận lời khuyên bao hàm chứa trong câu nói ấy : Hãy đọc sách,cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt.

    Tuy nhiên,chẳng lẽ đó là một lời khuyên vô điều kiện ? Ngẫm cho kĩ,ta vẫn thấy có một khoảng trống cần cân nhắc trong lời khuyên ấy.Vì sao ? Vì không phải mọi quyển sách đề “mở rộng những chân trời mới”.

    Từ khi xuất hiện chủ nghĩa tư bản,mọi vận dụng của con người,trong đó có sách,đều trở thành hàng hóa.Sách không chỉ là cái do con người viết ra cho con người đọc,mà còn là một món hàng cho những ông chủ nhà in,chủ nhà xuất bản kiếm lời.Mục đích của những ông chủ ấy,nói chung,không phải là phục vụ nhân loại mà để kiếm lợi nhuận,lợi nhuận tối đa.Vì thế,trên thị trường sách,không phải bao giờ cũng chỉ có những cuốn sách tốt thực sự phục vụ mục đích cao cả của con người,mà còn có rất nhiều những cuốn sách vì mục đích kiếm lời,đã gây tác hại không nhỏ cho con người.

    Thế nào là sách tốt ? Đó là những cuốn sách phản ánh chính xác quy luật của tự nhiên và của đời sống xã hội.Chúng giúp con người ta hiểu rõ về số phận của mình để có ý thức đúng về nghĩa vụ của mình trong đời sống.Một cuốn sách tốt phải giúp cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn.Nó phải ca ngợi sự công bằng và tình hữu nghị giữa các dân tộc.Nó phải khiến cho con người thêm tự hào về mình,thêm vững tin ở cuộc sống để chiến đấu cho cuộc sống mỗi ngày một hợp lí và hạnh phúc hơn.Nó phải khiến cho tâm hồn con người trở nên phong phú hơn,độ lượng hơn,trong sáng hơn.

    Đọc những cuốn sách như thế,đúng là chân trời mở rộng không chỉ trước mắt ta mà còn cả trong tâm hồn ta.Ta không chỉ tăng thêm hiểu biết mà còn tăng thêm giá trị và sức mạnh.

    Còn thế nào là sách xấu ? Đó là những cuốn sách xuyên tạc đời sống,đưa đến cho người đọc những kiến thức giả trá về thế giới xung quanh.Chúng đề cao dân tộc này mà bôi nhọ dân tộc kia,chúng gây thù hằn và ngờ vực giữa các dân tộc,đề cao bạo lực và chiến tranh,kích động những thị hiếu bản năng thấp hèn của con người. Đọc những cuốn sách như thế,người đọc không những không tăng thêm những hiểu biết mà còn trở nên dốt nát,mê muội hơn.Đọc những cuốn sách như thế,tâm hồn người đọc không những không hề mở rộng chân trời mà còn thêm khô cằn vì những thú tính độc ác,những ước muốn tầm thường ích kỉ,những tình cảm bạc nhược đớn hèn.Sách cỏ thể là một thứ thuốc bồi dưỡng cực kì công hiệu,cũng có thể là một thứ ma túy,một thứ thuốc độc cực kì nguy hiểm.

    Bởi vậy, từ câu nói của nhà văn vô sản Nga,ta có thể tự xác định cho mình một thái độ đối với sách.Trước hết,phải biết quý trọng sách và coi việc đọc sách là một công việc rất cần thiết,vừa rất thú vị vừa rất bổ ích.Sống mà không đọc sách,không ham mê sách,là một điều không thể chấp nhận được.Nhưng phải chọn sách để đọc.Không bị mê hoặc bởi sự hấp dẫn của hình thức,không để bị lôi cuốn bởi những thị hiếu tầm thường,phải tìm đến những cuốn sách thực sự tốt,có ích.

    Mặt khác,đọc sách không chỉ là một sự hưởng thụ,mà còn là một cách hành động ở đời.Cho nên,đọc sách là để rút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống tốt hơn,hành động có hiệu quả hơn.Đọc sách mà không tiêu hóa được,không vận dụng được vào hành động,thì dẫu đọc hàng nghìn cuốn sách cũng không hơn gì cái tủ mọt đựng sách.

    Hàng ngàn năm qua,con người đã sáng tạo ra sách và mê đọc sách.Nhưng nếu xưa kia niềm vui ấy chỉ là đặc quyền của một số người rất nhỏ thì ngày nay là niềm vui, là quyền lợi của cả những con người bé nhỏ bình thường.Sách vẫn tiếp tục phát huy tác dụng kì diệu của nó.Ta không thể hình dung một thế giới không có sách.Không còn sách,nền văn minh nhân loại cũng sẽ không còn.

     

    Bài 3: Nghị luận xã hội Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Trong cuộc sống, chúng ta thường dùng lời nói để trao đổi thông tin, để diễn đạt ý tưởng hoặc để bày tỏ, biểu lộ tâm tư tình cảm của mình… Nói chung, nhờ lời nói mà con người có thể hiểu nhau và dễ đến gần nhau hơn. Nói thì dễ nhưng nói như thế nào để không mất lòng người nghe, nói như thế nào để “lọt” đến xương, nói làm sao để “mật ngọt chết ruồi” thì không dễ chút nào. Vì thế cha ông ta có lời khuyên: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”…

    Tâm lý chung của con người là thích nghe ngọt. Những lời nói tốt đẹp không làm chúng ta tốn kém tiền bạc hay hao tổn sức lực, nhưng nó đem lại nhiều ích lợi và làm cho người nghe được an ủi, khích lệ và làm cho tình thân giữa ta với người khác được thêm thắm thiết đậm đà. Dĩ nhiên, chúng ta không nên vì “lựa lời” mà nói với nhau những lời giả dối. Trái lại, chúng ta cần nói thật với nhau bằng tấm lòng yêu thương.

    Lại có một câu chuyện kể lại rằng:

    Ngày xưa có một ông vua nước Ai-cập gửi cho nhà hiền triết Bias một con vật vừa quý lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng, ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triết một vố, bèn phán:

    – Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quý hiếm ấy.

    Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi trao cho ông vua. Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng:

    – Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.

    Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín; nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông. Lưỡi đóng một vai trò quan trọng như vậy, song cái lưỡi cộng với lời nói lại chính là nguyên cớ làm cho chúng ta dễ vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm ở bất kỳ đâu, trong bất cứ lúc nào và với bất kỳ ai.

    Tục ngữ cũng đã có câu:

    “Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi”.

    Hay:

    “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”.

    Một lời nói thiếu suy nghĩ được sánh ví như đổ thêm dầu vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu huỷ hết tình ruột thịt cũng như tình nghĩa anh em. Hơn nữa, trong cộng đoàn tu trì gồm những con người từ “khắp tứ phương thiên hạ”, mỗi người mỗi tính ***,   mỗi người một kiểu sống khác nhau, nên không thể tránh được hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền… Nhiều khi chính chúng ta lại là những người gây ra những đau khổ, buồn phiền cho người khác chỉ bằng những lời nói thiếu cân nhắc trước sau.

    Cụ thể ngay trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi có thể vô tình thôi, chúng ta chọc ghẹo anh chị em mình bằng những lời nói nghe hơi… “rát tai”, nghe mà “đau nhói cả tim”. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn nói cho sướng cái miệng của mình, nhưng lại không để ý đến nỗi đau của người anh chị em mình khi phải nghe những lời chọc ghẹo đó.

    Do vậy, trong cộng đoàn tiếng cười là cần thiết, nó đem lại niềm vui cho cộng đoàn là điều cần làm và nên làm. Nhưng chúng ta cũng cần phải ý tứ hơn nữa trong những lời chọc vui để những lời chọc vui đó không những đem lại niềm vui cho mình mà còn làm cho người bị chọc cũng được vui cười thoải mái. Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn của chúng ta. Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ, một phần lớn là do cái lưỡi và lời nói của chúng ta.

    Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mỗi người, như một câu danh ngôn đã dạy: “Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang”. Bởi đó, ta cần phải biết đắn đo cân nhắc trong cách ăn nói của mình để tránh đi những hiểu lầm, đau khổ cho người khác. Phải sử dụng lời nói như một phương tiện, giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau hơn “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” là vậy.

    Ý thức được tầm quan trọng của ngôn từ, chúng ta hãy chú ý những ngôn từ chúng ta dùng trong ngày. Phải có trách nhiệm khi sử dụng ngôn từ, bởi vì qua những lời chúng ta nói, chúng ta có thể đem lại niềm vui Phục sinh nhưng cũng có thể đem lại đau khổ thập giá cho những anh em trong cộng đoàn và chúng ta cũng nên lắp đặt một… “Cái thắng” vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “stop” lại đúng nơi và đúng lúc.

    Để kết thúc, xin mượn câu nói của cha ông ta nói về ngôn từ: “Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”.

    Hoặc:

    “Lựa lời mà nói khó thay

    Tiếng chì, tiếng bấc thường hay “chàng ràng”

    Khi ai mở miệng nói ngang

    Thì ta chắc chẳng ngại “phang”…. “mỹ từ”

    Một tia lửa nhỏ sơ sơ

    Khu rừng lớn mấy mặc dù, cháy tiêu

    Giữa ngàn thế sự đảo điên

    Có ai áp dụng lời khuyên bao giờ

    Lời nói không mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

     

    Bài 4: Tình cảm nhân đạo biểu hiện trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh

    Không có một bậc vĩ nhân nào lại không có lòng nhân ái. Đọc tập thơ “Nhật kí trong tù” của Bác, tất cả những người có hiểu biết đều nhận đinh thống nhất: Bác là một bậc Đại nhân, là người có lòng thương yêu con người mênh mông.

    Lòng thương yêu con người của Bác là tinh thần nhân đạo Cộng sản, đó là tinh thần nhân đạo mới mẻ mà Bác mang lại cho dân tộc và nhân loại. Ông Trường Chinh cũng cho rằng: “Một điểm nổi bật nhất trong đạo đức Hồ Chủ Tịch là lòng thương người”.

    Tình thương người của Hồ Chí Minh không phải là lòng thương người siêu giai cấp mà có quan điểm nội dung và giai cấp cụ thể, đó là tình thương người của giai cấp vô sản, nó rất khác với tinh thần bác ái của tôn giáo, yêu thương an ủi con người và khuyên con người hãy thụ động chờ đợi hạnh phúc ở thế giới xa xôi hoặc kiếp sau. Đó cũng không phải là tình thương có ý nghĩa ban phát của giai cấp quý tộc, của những người sống trên tiền của.

    Giá trị của “Nhật kí trong tù” phong phú về nhiều mặt. Nhà thơ Hoàng Trung Thông thâu tóm ở hai điểm rất chủ yếu: chât thép và tình người.

    “Vần thơ của Bác vần thơ thép

    Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

    Tố Hữu nhận xét: “Bấy lâu người ta chỉ hiểu người chiến sĩ cách mạng là thép ở mũi nhọn chiến đâu. Trong tập thơ này ta hiểu rõ thêm người cộng sản là tình. Tình ở đây là tình yêu thương đất nước, cuộc sống và con người. Chủ yếu ở đây chúng ta tìm hiểu, khai thác tình cảm với con người”. Trong tù Bác cũng chịu khổ ải như bất kì tù nhân nào. Mà Bác thì đã già, bị tù trong hoàn cảnh cô độc, nhưng Người đã quên đi nỗi đâu của riên mình mà đem lòng thương yêu những người bạn tù mà Bác gọi là nạn hữu.

    Có thể nói trong đám tù nhân ở nhà lao Quảng Tây, Bác là người cô độc hơn ai hết, nhưng chỉ nhìn thấy vợ của một người bạn tù đến thăm chồng là Bác đã xúc động, Bác diễn tả nỗi lòng thương yêu của mình đối với vợ chồng người bạn tù trong một bài thơ đặc sắc:

    “Anh đứng trong cửa sắt

    Em đứng ngoài cửa sắt

    Gần nhau trong tấc gang

    Mà biển trời cách mặt

    Miệng nói chẳng nên lời

    Nói lên bằng khóe mắt

    Chưa nói lên tuôn đầy

    Tình cảnh đáng thương thật.”

    Dù sao thì vợ chồng người bạn tù còn được an ủi, vậy mà con người cô độc này lại đem lòng thương “gần nhau trong tấc gang. Mà biển trời cách mặt” thật ra thì họ đã được gần nhau trong gang tấc. Còn “biển trời cách mặt” là biển của tình yêu thương mênh mông của Bác đối với những con người bất hạnh. Trên con đường giải tù, nhìn thấy người phu làm đường cực khổ dưới nắng mưa, Bác động lòng thương và ghi lại thành thơ:

    “Dãi gió dầm mưa chẳng nghỉ ngơi

    Phu đường vất vả lắm ai ơi

    Ngựa xe hành khách thường qua lại

    Biết cảm ơn anh được mấy người”.

    Tại sao Bác lại cảm động với người phu làm đường kia. Có lẽ Bác cũng là một người “phu làm đường” cho nên dễ thông cảm với người phu làm đường kia đang vất vả với cong đường hành khách qua lại.

    “Tôi khổ sở vì đang kiến trúc con đường cho nhân loại, con đường cách mạng”. Đó là sự đồng cảm của hai người “trúc lộ phu” cho nên tình thương càng sâu sắc, thấm thía. Nhiều bài thơ trong “Nhật kí trong tù” cũng biểu hiện sự cảm thông đối với những người nông dân:

    “Khắp chốn nông dân cười hớn hở

    Đồng quê vang dậy tiếng ca vui”

    Vào nhà lao Tân Dương nghe tiếng khóc của một đứa trẻ, Bác vô cùng xúc động tưởng chừng như đứa trẻ muốn nói với Bác qua tiếng khóc trẻ thơ:

    Oa…! Oa…! Oa…!

    Cha trốn không đi lính nước nhà

    Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi,

    Phải theo mẹ đến ở nhà pha.

    Âm thanh non nớt đó kể lể với Bác một điều cay đắng trong ngàn điều cay đắng trên đời. Tiếng khóc non tơ đó đã bật ra từ sự dồn nén của tầng tầng phi lí. Nhà thơ đã tự sự trong cái không thể tự sự được. Dường như đứa trẻ biết đây là ông chủ bút tờ báo “Người cùng khổ” nên mới bật ra tiếng khóc kể lể như vậy. Trong những người bất hạnh Bác gặp trong tù, Bác đặc biệt thương mến nhi đồng và phụ nữ. Trên kia ta thấy được niềm thôn cảm của Bác đối với người phụ nữ có chồng mới bị bắt lính và giờ đây chúng ta lại hiểu thêm được tấm lòng yêu thương của Bác trong tiếng khóc của người góa phụ trong bài thơ “Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng”:

    “Hỡi ôi! Chàng hỡi, hỡi chàng ơi!

    Cơ sự vì sao vội lánh đời?

    Để thiếp từ nay đâu thấy được

    Con người tâm ý hợp mười mươi”

    Ở trong tù, nửa đêm nghe tiếng khóc của một người thiếu nữ mà biết được đó là tiếng khóc “người bạn đời, tâm đầu ý hợp” thì đấy là cái lỗ tai đặc biệt của ông chủ bút “Người cùng khổ”

    Trong tù, Bác còn chứng kiến những cảnh ngộ thương tâm. Một người tù cờ bạc nằm bên Bác vì đói rét bị nhà tù hành hạ chết thảm thương:

    “Thân anh da bọc lấy xương.

    Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi,

    Đêm qua còn ngủ bên tôi

    Sáng nay anh đã về nơi suối vàng!”.

    Đây là một cái chết hai lần oan nên Bác càng thương cảm. (Oan thứ nhất là đánh bạc không đáng vào tù vì trong tù đánh bạc công khai, oan thứ hai là phải chết trong đói rét thê thảm)

    Có một bài thơ đã kết đọng lại hai dòng tình cảm lớn của Bác là tình thương và lòng yêu nước “Người bạn tù thổi sáo”. Bác thương người bạn tù nhớ quê hương da diết trong âm điệu sầu não. Bác cũng là người cùng hội cùng thuyền, Bác cũng đang có tâm trạng nhớ quê hương đất nước nên tiếng sáo của người bạn tù cũng là tiếng lòng của Bác:

    “Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu

    Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu

    Muôn dặm quan hà khuôn xiết nỗi

    Lên lầu ai đó ngóng trông nhau”.

    Qua “Nhật kí trong tù”, ta thây rõ tấm lòng của Bác: nhân hậu, giàu yêu thương và luôn có cách xử thế ân tình. Người luôn tìm cách giúp đỡ mọi người trong khả năng của mình và tỏ lòng biết ơn ai đó giúp mình. Trong hoàn cảnh lẫn lộn, bề bộn Người vẫn luôn phân biệt sáng tỏ người tốt kẻ xấu, người đáng thương người đáng trọng. Giá trị nhân đạo của “Nhật kí trong tù” góp phần quan trọng tạo nên bền vững của tác phẩm.

    Xin dẫn ra đây hai nhận xét của các nhà học giả về tinh thần nhân đạo của Hồ Chí Minh trong “Nhật kí trong tù” :

    “ “Nhật kí trong tù” là tiếng nói vút lên từ chỗ tối tăm mù mịt ấy mà lại là tiếng nói chứa chan tình nhân đạo nên tự nhiên cũng là tiếng nói kết tội những bóng tối dày đặc đang đè nặng lên kiếp sống của người ta. Giữa bao nhiêu tối tăm dày đặc, ánh sáng vẫn ngời lên, ánh sáng của lòng thương người và yêu đời vô hạn” (Hoài Thanh)

    “Tôi cũng nhận thấy với tấm lòng khâm phục tràn đầy rằng ngay trong nhà tù Người cũng có thể thương xót những người khác và luôn nghĩ đến những nguyên tắc của chủ nghĩa nhân đạo”.

     

    Bài 5: Nghị luận xã hội Gần mực thì đen, Gần đèn thì sáng

    Từ xưa, trong cuộc sống lao động và chiến đấu của mình, nhân dân ta đã rút được biết bao bài học quý giá. Đó là những kinh nghiệm trong sản xuất, chiến đấu và cách ứng xử trong xã hội. Đó là cách nhìn nhận mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách của mỗi người. Câu tục ngữ “Gần mực thì đen,gần đen thì rạng” đã nói lên kinh nghiệm đó.

    Để nêu lên một bài học,một kinh nghiệm trong cuộc sống,ông cha ta thường mượn hình ảnh một sự vật có liên quan đến con người để thể hiện ý của mình. Mực màu đen, tượng trưng cho những cái xấu xa, những cái không tốt đẹp. Đèn là vật phát ra ánh sáng, soi tỏ mọi vật xung quanh, tượng trưng cho những cái tốt đẹp, sáng sủa. Từ hai hình ảnh tương phản nhau “mực và đèn”, câu tục ngữ đã đưa ra kết luận : “Gần mực thì đen,gần đèn thì rạng”. Đó là quy luật của sự vật.
    Dựa vào thực tế cuộc sống của con người,ta thấy câu tục ngữ hoàn toàn đúng khi xét trong mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách mỗi người.Nhưng trong vài trường hợp đặc biệt,có thể gần mực mà không đen,gần đèn mà không rạng.Vì con người có khả năng vượt khỏi hoàn cảnh,chế ngự môi trường xung quanh.

    Trong thực tế,hai mặt khả năng này không loại trừ nhau mà chúng bổ sung cho nhau,giúp chúng ta hiểu một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách.

    Trong kho tàng văn học dân gian,nhân dân ta có câu tương tự :

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    Và :

    Thói thường gần mực thì đen

    Anh em bạn hữu phải nên chọn người.

    Những câu ca dao,tục ngữ đó đã khẳng định ảnh hưởng quyết định của môi trường xã hội đối với việc hình thành nhân cách.Trong thực tế cuộc sống,nhà trường làm công tác giáo dục tốt vì nhà trường đã chú ý đến quang cảnh sư phạm và xây dựng môi trường xã hội tốt.Ở gia đình cũng vậy, cha mẹ là những tấm gương sáng,anh chị em hòa thuận, thì gia đình sẽ có những người con ngoan.

    Ở lớp học cũng thế, lớp nào biết quan tâm xây dựng tập thể tốt, quan hệ giữa thầy và trò, bạn bè đúng đắn, thân ái đoàn kết, thì lớp đó có nhiều học sinh giỏi, đạo đức tốt. Gần gũi hơn, trong quan hệ bạn bè, nếu ta chơi với một người bạn tốt, chăm ngoan, học giỏi, thì chúng ta sẽ học tập được những đức tính tốt ấy và sẽ trở thành người tốt. Ngược lại,trong một gia đình, nếu cha mẹ không quan tâm đến con cái, anh em không nhường nhịn nhau, thì con cái trong gia đình cũng dễ lười biếng, ăn chơi, đua đòi. Ở những môi trường xã hội phức tạp càng dễ sinh ra những hành vi phạm pháp.

    Trong thực tế, khó mà tạo ra một môi trường hoàn toàn lành mạnh và tốt đẹp. Trong xã hội cũ cũng như trong xã hội chúng ta ngày nay, những yếu tố lành mạnh và chưa lành mạnh, tốt đẹp và xấu xa thường xen kẽ vào nhau để cùng tồn tại và phát triển. Có lúc, có nơi, cái chưa lành mạnh, cái chưa tốt đẹp lại lấn át cái đẹp, cái lành mạnh. Đó là lúc môi trường xã hội không thuận lợi cho việc hình thành nhân cách.

    Nhưng chính trong môi trường không thuận lợi ấy, vẫn có những con người có phẩm chất cao đẹp,có tình cảm đạo đức tốt đẹp, có những hành động cao cả. Chính trong môi trường không thuận lợi đó vẫn nở rộ những bông sen thơm ngát từ chốn bùn đen hôi tanh. Đó là những con người biết vượt lên trên mọi cám dỗ thấp hèn, làm được những việc có ích cho đất nước và cho chính bản thân mình.

    Ngày nay, trên đất nước ta còn nhiều hiện tượng tiêu cực,mặc dù chế độ ta về cơ bản là tốt đẹp. Do đó, bất cứ lúc nào, vẫn có những trường hợp gần mực mà không đen, gần đèn mà vẫn tối tăm. Sống trong môi trường tốt đẹp, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp xúc với những hiện tượng không lành mạnh, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội.

    Câu tục ngữ là một lời khuyên bảo sâu sắc,đã mang đến cho chúng ta một bài học bổ ích, có cách nhìn đúng đắn về mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách của bản thân.Câu tục ngữ giúp chúng ta xác lập một thế đứng vững chắc trước những tác động tiêu cực ngoài xã hội và nếu bị rơi vào một hoàn cảnh không thuận lợi, đầy rẫy những tiêu cực thì chúng ta nên có quyết tâm vượt qua. Nó giúp chúng ta có tinh thần cảnh giác trước những tác động tiêu cực của môi trường xung quanh để luôn luôn “gần mực mã vẫn không đen” và chúng ta nên có ý chí quyết tâm trở thành một ngọn đèn luôn luôn tỏa sáng.

     

    Bài 6: Nghị luận xã hội Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

    Xã hội loài người phát triển được như ngày nay là nhờ quá trình tìm hiểu, nhận thức, tích lũy và không ngừng nâng cao tri thức của tất cả các dân tộc trên thế giới. Tri thức rất cần thiết đối với con người. Muốn có tri thức thì phải học hỏi: học trong sách vở, học từ thực tế cuộc sống.

    Ông cha ta xưa kia đã nhận thức rất đúng đắn về sự cần thiết của việc mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết đối với mỗi người nên đã khuyên nhủ, động viên con cháu : “Đi một ngày đàng,học một sàng khôn”.

    Xã hội Việt Nam trước đây là xã hội phong kiến còn nhiều bảo thủ, lạc hậu. Người dân quanh năm suốt tháng chỉ quanh quẩn trong lũy tre xanh, ranh giới của cộng đồng làng xã. Có người suốt đời chẳng bước ra khỏi cổng làng. Số người được đi xa để ăn học hoặc làm việc rất hiếm hoi. Vì vậy mà trình độ hiểu biết của mọi người nói chung rất thấp và khó mà mở rộng hoặc nâng cao lên được.

    Tuy vậy,trong sự ràng buộc của tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, vẫn lóe lên những tia sáng nhận thức về sự cần thiết phải học hỏi để nâng cao hiểu biết. “Đi một ngày đàng,học một sàng khôn”. Chỉ cần “đi một ngày đàng” (ý nói thời gian ít ỏi và quãng đường không xa là bao so với nơi ta sinh sống) thì ta đã học được “một sàng khôn”. Đây là hình ảnh cụ thể, gần gũi được dùng để thể hiện một khái niệm trừu tượng là sự hiểu biết của con người. Nếu chịu khó đi xa thì ta sẽ học được nhiều bài học bổ ích trong cuộc đời, bởi trên khắp các nẻo đường đất nước,nơi nào cũng có vô vàn những điều hay, điều lạ.

    Để động viên tinh thần học hỏi của con cháu, ông cha xưa đã có những câu ca dao nội dung tương tự như câu tục ngữ trên: “Làm trai cho đáng nên trai-Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng”; “Làm trai đi đó đi đây-Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Điều đó chứng tỏ ông cha ta đã nhận thức được việc đi xa để học hỏi là điều quan trọng, cần thiết và đáng khuyến khích.

    Trình độ hiểu biết tạo điều kiện cho ta làm việc tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn, giúp ích cho gia đình,xã hội được nhiều hơn. Hiểu biết càng nhiều,con người càng có cách xử thế đúng đắn trong quan hệ gia đình và xã hội.

    Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, việc học tập để mở mang nhận thức và hiểu biết của mỗi người càng trở nên cấp bách. Muốn xóa bỏ tình trạng lạc hậu,muốn rút ngắn sự cách biệt giữa nước ta và các nước phát triển trên thế giới, chúng ta chỉ có một con đường là học : “Học,học nữa,học mãi” như lời Lenin đã dạy. Vấn đề đặt ra là phải học những điều hay, lẽ phải, những điều thiết thực, bổ ích cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Không nên học theo điều dở, điều xấu, có hại đến bản thân, gia đình và xã hội.

    Hiện nay, việc đi đó đi đây không còn là chuyện hiếm có như ngày xưa. Ai cũng có quyền tự do đi lạ, học hành, kể cả ra nước ngoài. Học hỏi bằng con đường tham quan, du lịch; học hỏi bằng con đường du học… Nhưng mục đích cuối cùng vẫn là để tiếp thu những kinh nghiệm, những kiến thức khoa học mới mẻ, tiên tiến của nhân loại, nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển Việt Nam thành một đất nước giàu mạnh mà vẫn giữ được bản sắc và truyền thống dân tộc.

    Học hỏi không phải là chuyện ngày một, ngày hai mà là chuyện của cả đời người. “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học ở cuộc sống”. Việc nâng cao hiểu biết là rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi người. Vì vậy chúng ta phải có mục đích và phương pháp học tập đúng đắn để đạt được hiệu quả cao. Có tri thức,chúng ta mới làm chủ được bản thân, mới đóng góp hữu ích cho gia đình, xã hội.”Học vấn làm đẹp con người”-đó cũng là điều ông cha muốn nhắn gửi đến chúng ta. Câu tục ngữ : “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là lời khuyên quý báu của người xưa; đến nay nó vẫn là bài học quý báu đối với tuổi trẻ trên con đường tạo dựng sự nghiệp

     

    Bài 7: Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm

    Người Việt Nam có truyền thống vô cùng tốt đẹp là “thương người như thế thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”… Thế nhưng có những cách sống ngày nay đang gặm nhấm những truyền thống tốt đẹp đó.
    Đi ra đường thấy lũ càn quấy không ai dám ngăn cản, thấy người khác bị đánh không ai dại gì bênh vực… Xã hội mà có nhiều người “không dại gì” như vậy nên người xấu càng được đà làm càn. Trong cơ quan nhiều người “không dại gì” đấu tranh nên những người nắm quyền muốn làm gì thì làm kể cả vi phạm pháp luật… Trong xã hội có nhiều người “không dại gì” nên sẽ tiếp tay cho việc gia tăng nhiều người xấu.

    Hiện nay đang phát triển một căn bệnh của thế giới hiện đại – đúng hơn là mặt trái thuộc thế giới hiện đại. Đó là căn bệnh không có trong danh mục của ngành y, nhưng “những điều trông thấy” luôn “làm đau đớn lòng”. Đó chính là căn bệnh vô cảm mà nhiều người dân Việt – nhất là tầng lớp thanh niên- mắc phải.

    Bệnh này thể hiện ở chỗ không hề động lòng trước những nỗi đau của người khác cũng như không hề phẫn nộ trước những tệ nạn xảy ra hàng ngày. Liệu rằng chúng ta đã hiểu rõ căn bệnh này chưa? Nguyên nhân hình thành như thế nào? Tác hại ra sao? Đó là một khó khăn.  Vô tức là không, cảm tức là tình cảm cảm xúc của con người.

    Vô cảm tức là không có cảm xúc trước bất kì sự vật sự việc gì.chẳng hạn như : không sẵn lòng giúp đỡ những người gặp khó khăn hoạn nạn, mặc dầu mình có điều kiện có thể giúp đỡ được. Rất nhiều người, nhất là thanh niên nam nữ, khi thấy những người hành khất thì xua đuổi, dè bỉu. Đi đường gặp người bị tai nạn vẫn bỏ đi không sẵn sàng cứu giúp. Thậm chí có kẻ còn nhân cơ hội tìm cách lấy cắp tiền của người bị nạn. Thấy người tàn tật không giúp đỡ, trên xe buýt, ở nơi công cộng, không nhường chỗ cho người tàn tật, có khi lại còn cười trước những khuyết tật của họ.

    Những người có trách nhiệm giải quyết, nhưng không quan tâm giải quyết công việc cho người dân, mặc dân phải đến trình bày lần này lượt khác, có khi còn vòi vĩnh rồi mới giải quyết – Các cán bộ đã giàu sang nhưng vẫn tìm cách cướp đất của dân, đuổi dân đi chỗ khác để lấy những mảnh đất đẹp chia nhau như vụ tiêu cực đất đai ở Đồ Sơn và nhiều nơi khác.

    Có những cán bộ giải quyết chính sách đã ăn chặn của những thương binh, những gia đình chính sách, của những người tàn tật , những gia đình hộ nghèo như báo chí đã từng nêu lên. Trường hợp một bà mẹ già ở Hà Tĩnh có con nuôi là liệt sĩ mà lãnh đạo xã tìm cách cắt tiêu chuẩn không cho nhận, khiến các nhà báo phải vào cuộc mới giải quyết được. Rất nhiều tệ nạn và hiện tượng thể hiện căn bệnh vô cảm không kể hết.

    Sở dĩ nảy sinh căn bệnh này vì những người đó không tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, không có lòng nhân đạo, thờ ơ với mọi người, ý thức tập thể, ý thức cộng đồng quá kém, không giữ được truyền thống quý báu của dân tộc ta là “thương người như thể thương thân”. Căn bệnh vô cảm đã có ở không ít nhân vật được giao trọng trách từ lâu, nó biểu hiện dưới nhiều dạng “lâm sàng” khác nhau nhưng tất cả đều rất dễ phát hiện, chỉ có điều không ai chịu chữa trị hay nói cách khác là đang trong tình trạng vô phương cứu chữa.

    Ngăn chặn nó không phải bằng biện pháp hành chính mà bằng chính tấm lòng và dũng khí của mỗi con người, tấm lòng và dũng khí của các cơ quan chức năng. Con người vô cảm và cơ quan chức năng thờ ơ thì căn bệnh càng trầm trọng. Lúc đó thì chẳng còn gì để nói. Vô cảm là một chứng bệnh thường gặp ở một số người bị khủng hoảng tâm lí nặng nề, thường bị sốc nặng sau đó dần dần họ không có cảm giác yêu thương hay ghét bỏ nào nữa…….là trạng thái tâm lí có thể do vô tình hoặc hữu ý mà gây ra, vì lúc đó con người coi như không có nhận thức, suy nghĩ, và tình cảm…..

    Vô cảm nguy hiểm với cả chính người bệnh lẫn vả người xung quanh . Nhân loại đang bó tay trước căn bệnh của thế kỷ: bệnh nan y HIV/AIDS. Căn bệnh thứ hai cũng nan y không kém là bệnh vô cảm! Ra đường nhiều người gặp cái tốt không ủng hộ, thấy cái xấu không lên án, không ít nơi cả phố, cả làng sợ tên ăn trộm, cả xã sợ thằng say rượu vì không muốn bị liên lụy… đang làm cho bệnh vô cảm vốn đã và đang có nguy cơ lan rộng, càng có điều kiện lây lan mạnh hơn. Bệnh HIV/AIDS vốn đã nguy nan, bệnh vô cảm nếu không được giáo dục, không được ngăn chặn sẽ là tác nhân làm “lệch chuẩn” hay “loạn chuẩn” đạo đức, sẽ là nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng kinh tế – xã hội, thậm chí làm sụp đổ một chế độ, làm tan nát một gia đình. Một xã hội vô cảm là một xã hội chết. Cần xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ……

    Người Việt Nam có truyền thống vô cùng tốt đẹp là “thương người như thế thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”… Thế nhưng có những cách sống ngày nay đang gặm nhấm những truyền thống tốt đẹp đó.

    Đi ra đường thấy lũ càn quấy không ai dám ngăn cản, thấy người khác bị đánh không ai dại gì bênh vực… Xã hội mà có nhiều người “không dại gì” như vậy nên người xấu càng được đà làm càn. Trong cơ quan nhiều người “không dại gì” đấu tranh nên những người nắm quyền muốn làm gì thì làm kể cả vi phạm pháp luật… Trong xã hội có nhiều người “không dại gì” nên sẽ tiếp tay cho việc gia tăng nhiều người xấu.

    Hiện nay đang phát triển một căn bệnh của thế giới hiện đại – đúng hơn là mặt trái thuộc thế giới hiện đại. Đó là căn bệnh không có trong danh mục của ngành y, nhưng “những điều trông thấy” luôn “làm đau đớn lòng”. Đó chính là căn bệnh vô cảm mà nhiều người dân Việt – nhất là tầng lớp thanh niên- mắc phải.

    Bệnh này thể hiện ở chỗ không hề động lòng trước những nỗi đau của người khác cũng như không hề phẫn nộ trước những tệ nạn xảy ra hàng ngày. Liệu rằng chúng ta đã hiểu rõ căn bệnh này chưa? Nguyên nhân hình thành như thế nào? Tác hại ra sao? Đó là một khó khăn.  Vô tức là không, cảm tức là tình cảm cảm xúc của con người.

    Vô cảm tức là không có cảm xúc trước bất kì sự vật sự việc gì.chẳng hạn như : không sẵn lòng giúp đỡ những người gặp khó khăn hoạn nạn, mặc dầu mình có điều kiện có thể giúp đỡ được. Rất nhiều người, nhất là thanh niên nam nữ, khi thấy những người hành khất thì xua đuổi, dè bỉu. Đi đường gặp người bị tai nạn vẫn bỏ đi không sẵn sàng cứu giúp. Thậm chí có kẻ còn nhân cơ hội tìm cách lấy cắp tiền của người bị nạn. Thấy người tàn tật không giúp đỡ, trên xe buýt, ở nơi công cộng, không nhường chỗ cho người tàn tật, có khi lại còn cười trước những khuyết tật của họ.

    Những người có trách nhiệm giải quyết, nhưng không quan tâm giải quyết công việc cho người dân, mặc dân phải đến trình bày lần này lượt khác, có khi còn vòi vĩnh rồi mới giải quyết – Các cán bộ đã giàu sang nhưng vẫn tìm cách cướp đất của dân, đuổi dân đi chỗ khác để lấy những mảnh đất đẹp chia nhau như vụ tiêu cực đất đai ở Đồ Sơn và nhiều nơi khác.

    Có những cán bộ giải quyết chính sách đã ăn chặn của những thương binh, những gia đình chính sách, của những người tàn tật , những gia đình hộ nghèo như báo chí đã từng nêu lên. Trường hợp một bà mẹ già ở Hà Tĩnh có con nuôi là liệt sĩ mà lãnh đạo xã tìm cách cắt tiêu chuẩn không cho nhận, khiến các nhà báo phải vào cuộc mới giải quyết được. Rất nhiều tệ nạn và hiện tượng thể hiện căn bệnh vô cảm không kể hết.

    Sở dĩ nảy sinh căn bệnh này vì những người đó không tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, không có lòng nhân đạo, thờ ơ với mọi người, ý thức tập thể, ý thức cộng đồng quá kém, không giữ được truyền thống quý báu của dân tộc ta là “thương người như thể thương thân”. Căn bệnh vô cảm đã có ở không ít nhân vật được giao trọng trách từ lâu, nó biểu hiện dưới nhiều dạng “lâm sàng” khác nhau nhưng tất cả đều rất dễ phát hiện, chỉ có điều không ai chịu chữa trị hay nói cách khác là đang trong tình trạng vô phương cứu chữa.

    Ngăn chặn nó không phải bằng biện pháp hành chính mà bằng chính tấm lòng và dũng khí của mỗi con người, tấm lòng và dũng khí của các cơ quan chức năng. Con người vô cảm và cơ quan chức năng thờ ơ thì căn bệnh càng trầm trọng. Lúc đó thì chẳng còn gì để nói. Vô cảm là một chứng bệnh thường gặp ở một số người bị khủng hoảng tâm lí nặng nề, thường bị sốc nặng sau đó dần dần họ không có cảm giác yêu thương hay ghét bỏ nào nữa…….là trạng thái tâm lí có thể do vô tình hoặc hữu ý mà gây ra, vì lúc đó con người coi như không có nhận thức, suy nghĩ, và tình cảm…..

    Vô cảm nguy hiểm với cả chính người bệnh lẫn vả người xung quanh . Nhân loại đang bó tay trước căn bệnh của thế kỷ: bệnh nan y HIV/AIDS. Căn bệnh thứ hai cũng nan y không kém là bệnh vô cảm! Ra đường nhiều người gặp cái tốt không ủng hộ, thấy cái xấu không lên án, không ít nơi cả phố, cả làng sợ tên ăn trộm, cả xã sợ thằng say rượu vì không muốn bị liên lụy… đang làm cho bệnh vô cảm vốn đã và đang có nguy cơ lan rộng, càng có điều kiện lây lan mạnh hơn. Bệnh HIV/AIDS vốn đã nguy nan, bệnh vô cảm nếu không được giáo dục, không được ngăn chặn sẽ là tác nhân làm “lệch chuẩn” hay “loạn chuẩn” đạo đức, sẽ là nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng kinh tế – xã hội, thậm chí làm sụp đổ một chế độ, làm tan nát một gia đình. Một xã hội vô cảm là một xã hội chết. Cần xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ……

     

    Bài 8: Nghị luận xã hội Lí tưởng là ngọn đèn soi sáng

    Cuộc sống ngày càng vận động và phát triển theo chiều hướng mới. Để tồn tại và có một cuộc sống bền vững thì mỗi người chúng ta cần phải có một phương hướng sống nhất định, một lí tưởng mà ta sẽ hướng tới để thực hiện trong suốt cuộc đời. Nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi đã nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Vậy cuộc sống sẽ ra sao nếu mỗi người không có lí tưởng xác định?Cuộc đời sẽ ra sao nếu mỗi người chỉ sống vì những mục đích không rõ ràng và chỉ cho bản thân mình?

    Thoạt đọc qua, ta sẽ cảm thấy câu nói trên hơi khó hiểu. “Lí tưởng” là gì? Đó chính là cái đích của cuộc sống mà mỗi con người khát khao đạt được. Còn “ngọn đèn”, đó là một vật dùng để thắp sáng vào ban đêm, nhờ có nó mà ta thấy được rõ đường đi và những vật xung quanh. “Phương hướng kiên định” chính là mục tiêu, là đường lối xác định sẽ thực hiện một cách quyết tâm và không thay đổi. “Cuộc sống” là cuộc đời thực tiễn của mỗi người, nhưng đó sẽ là cuộc đời có ý nghĩa, cuộc đời tươi đẹp khi mà con người sống chứ không phải tồn tại. Cuộc sống đó là thành quả rực rỡ của một cuộc sống có lí tưởng. Qua đó, ta thấy câu nói của Lép Tôn-xtôi mang một ‎nghĩa rất rõ ràng: sống trên đời, mỗi con người cần phải có riêng cho mình một lí tưởng sống, đó chính là ngọn đèn chỉ phương rõ ràng nhất. “Lí tưởng” rất quan trọng với chúng ta. Vì nếu sống mà không có lí tưởng thì chúng ta sẽ khó mà xác định những việc nên làm, còn nếu có xác định được thì cũng không có quyết tâm để thực hiện cho tới nơi chốn. Như trong học tập, nếu không chắc chắn mục tiêu học để làm gì thì khi gặp khó khăn, ta dễ buông xuôi và không chịu cố gắng. Bên cạnh đó, khả năng thực hiện sai hướng hay cảm thấy khó khăn hơn khi không xác định được lí tưởng là rất lớn. Chẳng hạn ta muốn trở thành bác sĩ nhưng không xác định được là sẽ trở thành bác sĩ gì, thì khi dấn thân vào con đường học vấn ta sẽ cảm thấy lạc lõng với chính mục tiêu mình đề ra. Và cuộc sống sẽ tẻ nhạt biết bao khi con người ta sống thiếu “lí tưởng”. Thiếu lí tưởng, ta dễ nản chí, ta dễ cảm thấy buồn chán với chính cuộc đời của mình. Vậy một người có lí tưởng là người như thế nào? Đó chính là người luôn xác định rõ mục tiêu sống và tận tuỵ với những việc mà mình cần hoàn thành, thể hiện rõ thái độ quyết tâm vươn tới sự hoàn thiên bản thân, mong muốn cống hiến cho sự nghiệp chung. Hơn thế nữa đó là một người sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng của mình, chấp nhận sự thất bại và khó khăn để đạt đến cái đích cuối cùng của cuộc đời. Đôi khi lí tưởng của một người chỉ là kiếm được việc làm ổn định và có một gia đình đầm ấm nhưng để thực hiện được thì người đó cũng phải trải qua nhiều khó khăn. Và dù cho đó chỉ là một lí tưởng tưởng chừng như rất đơn giản nhưng vẫn xứng đáng nhận được sự tôn trọng từ những người xung quanh. Vì người đó đã có được lí tưởng riêng để thực hiên chứ không như nhiều người sống hơn nửa cuộc đời vẫn chưa biết đâu là lí tưởng của đời mình và vẫn còn đang quẩn quanh…Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi với một lí tưởng suốt đời “tìm ra con đường giải phóng đất nước, quyết tâm vì Tổ quốc độc lập, vì dân tộc Việt Nam tự do và bền vững”. Đó cũng chính là lí tưởng của tất cả thanh niên trong thời chiến. Nhưng ngày nay khi đất nước ta đã hoàn toàn độc lập và đang trên đà phát triển nhanh thì lí tưởng của thanh niên đã khác đi rất nhiều. Tất nhiên mỗi thanh niên sẽ có cho mình một lí tưởng riêng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh sống, địa vị và cách sống của mỗi người nhưng nếu lí tưởng đó chỉ phục vụ cho lợi ích của bản thân thì đó không hoàn toàn là lí tưởng mà đó chính là lối suy nghĩ ích kỉ và cá nhân. Vì thế thanh niên ngày nay cần có một lí tưởng chung là: không ngừng phấn đấu vì một đất nước Việt Nam “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Mà muốn có được những lí tưởng có ‎ nghĩa cho bản thân và cho xã hội như vậy thì mỗi người nhất là thanh niên học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường đã xác định được cho mình mục đích của việc học tập, phân biệt được mục đích đó là đúng hay sai và xác định xem khả năng của mình có thực hiện được hay không. Bên cạnh đó cần biết lắng nghe lời khuyên của những người xung quanh như cha mẹ, thầy cô để có một “phương hướng kiên định” cho chính mình. Một xã hội sẽ phát triển vững bền khi có những con người có chung một lí tưởng cao đẹp là sống vì Tổ quốc, vì mọi người.

    Câu nói của Lép Tôn-xtôi đã để lại nhiều ‎nghĩa thật sâu sắc và đầy tính nhân văn khi ông đã nhấn mạnh sự quan trọng của lí tưởng đối với mỗi người qua việc ví lí tưởng với phương hướng kiên định và cuộc sống. Cuộc sống ngày càng khác đi, mỗi người chúng ta cần có một lí tưởng để thực hiện trong cuộc đời, em cũng vậy, em sẽ luôn phấn đấu để hoàn thành lí tưởng của mình: trở thành một công dân có ích cho xã hội, đóng góp sức mình vì sự nghiệp chung của dân tộc. Để mỗi ngày trôi qua, sẽ có thêm một ngày mới được chiếu sáng bởi lí tưởng cuộc đời..

     

    Bài 9: Nghị luận xã hội về tầm quan trọng của việc học

    Học hành có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc đời của mỗi con người. Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành thì khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó còn có những câu : “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc: “Bất học bất tri lí” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải).

    Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đường duy nhất là học, học suốt đời.

    Nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lí. Điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì vậy, ngay từ lúc nhỏ, bất kì ai cũng phải được học hành.

    Trong mười hai năm ở trường phổ thông, học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ… Tuy thế, học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao.

    Thực tế cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu ta đơn thuần làm việc theo thói quen hoặc kinh nghiệm có sẵn thì công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng, bằng mọi hình thức khác nhau.

    Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay thì tri thức (chất xám) của con người là tiền đề vô cùng quan trọng. Có nắm vững lí thuyết, chúng ta mới làm được những công việc phức tạp. Có nắm vững lí thuyết, chúng ta mới làm được những công việc phức tạp.

    Lí thuyết khoa học có tác dụng soi sáng, dẫn đường cho kĩ năng thực hành, con người sẽ rút ngắn được thời gian mò mẫm, tìm hiểu thực tiễn, do đó sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc

    Học không chỉ là quá trình rèn luyện tri thức mà còn là quá trình rèn luyện tình cảm và đạo đức. Con người ngoài cái trí còn cần có cái tâm. Học là để thấu hiểu những lẽ huyền bí của cuộc đời, của vũ trụ chứa đựng trong những công thức toán đơn giản hoặc trong những quy luật thịnh suy của một xã hội. Không hòa cái tâm của mình vào trong cuộc đời, vào vũ trụ để lắng tìm và cảm nhận thì làm sao có được những tín hiệu mách bảo cho trí tuệ con đường đi tới những lẽ huyền diệu và bí ẩn kia ?. Như vậy là có biết bao kién thức mới, nhận thức mới về cuộc đời, về thế giới mà chúng ta tìm kiếm được không chỉ bằng lí trí mà còn bằng cả tâm hồn.

    Học cần có cái trí và cũng có cần có cái tâm là vì thế. Học cũng là để sáng thêm cái trí, lành thêm cái tâm và để đóng góp tài đức của mình cho sự nghiệp xây dựng đất nước mạnh giàu. Điều quan trọng là đã học thì phải học đều các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

    Văn, Sử là những môn học cần thiết, nếu không nói là đặc biệt quan trọng để tạo nên nhân cách. Nếu chúng ta không coi trọng các môn này thì tâm hồn sẽ khô cứng, vô cảm trước con người và cuộc đời mà dẫn đến thái độ dửng dưng trước vẻ đẹp phong phú và sự giàu có của lịch sử văn hóa dân tộc.

    Sẽ không ai trách chúng ta khi chỉ thích học Tin học, Kinh tế, Ngoại ngữ… Nhưng nếu chỉ giỏi chữ số mà quên chữ viết, giỏi kĩ thuật mà kém văn hóa thì sẽ là thiệt thòi lớn cho mỗi con người.

    Việc học hành quan trọng như vậy, do đó chúng ta không thể coi nhẹ vai trò của việc học hành. Đúng là : “Nếu không có học hành đến nơi đến chốn thì lớn lên, chúng ta sẽ chẳng làm được việc gì có ích”.

    Hiện nay, một số bạn trẻ không nhận thức được tầm quan trọng của việc học đối với sự thành công hay thất bại của đời người. Nhận thức lệch lạc thường dẫn đến hành động sai lầm. Bỏ học đi chơi, giao du với những thành phần bất hảo để rồi bị rủ rê, sa ngã vào con đường cờ bạc, chơi bời, hút chích… dần dần những người đó sẽ đánh mất nhân cách, mất khả năng làm việc và trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội. Một cuộc sống như thế không đáng gọi là cuộc sống của một con người chân chính. Đến lúc nào đó tỉnh ngộ, dẫu có ăn năn, hối hận thì cũng đã muộn màng.

    Những kiến thức mà chúng ta tiếp thu được từ nhà trường, sách vở và cuộc đời nếu đem áp dụng vào thực tiễn sẽ mang lại nhiều thành quả tinh thần, vật chất cho cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội.

    Tri thức loài người mênh mông như biển cả (“Bể học vô bờ”). Dẫu chúng ta có miệt mài học suốt cuộc đời thì cũng chỉ là tiếp thu được một phần rất nhỏ. Bác Hồ dạy : “Học ở trường, học trong sách vở; học lẫn nhau và học ở dân”. Lenin cũng từng khuyên thanh niên : “Học ! Học nữa ! Học mãi !”. Đó là những lời khuyên chí lí, có giá trị đối với mọi thời đại. Nếu không coi trọng việc họ thì chúng ta sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của đất nước trong giai đoạn mới.

     

    Bài 10: Nghị luận xã hội Lá lành đùm lá rách

    Thực tế lịch sử đã cho thấy trong bốn ngàn năm sống còn trên dải đất bên bờ biển Đông đầy sóng gió này,dân tộc Việt Nam chúng ta đã từng gánh chịu biết bao là thiên tai,dịch họa vô cùng ác liệt.Phép lạ nào đã giúp tổ tiên chúng ta vượt qua được mọi khó khăn,điêu đứng ấy để đứng vững cùng bè bạn năm châu ? Phải chăng là ở sức mạnh của tinh thần đoàn kết,tương trợ lẫn nhau ? Phải chăng là nhờ nhân dân ta đã thực hiện đúng như câu tục ngữ mà từ bao đời nay cha ông ta đã truyền đời : “Lá lành đùm lá rách” ?

    Nội dung chứa đựng trong câu ấy có thể xem như một bài học về đạo lí làm người,đồng thời phản ánh mối quan hệ tình cảm đậm đà trong xã hội ta ngày trước.

    Đọc câu tục ngữ ấy lên, chúng ta hình dung được ngay một hiện tượng rất bình thường trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân ta. Đó là dùng lá cây-lá chuối chẳng hạn-để gói hàng. Nếu lá bị rách, người ta sẽ lấy một tấm lá khác lành lặn bọc lại bên ngoài cho thêm chắc chắn.

    Đó là nghĩa đen,nghĩa thực của câu tục ngữ. Thế nhưng về mặt nghĩa bóng thì sao ? Hình ảnh “lá lành”, “lá rách” ở đây tượng trưng cho con người trong những hoàn cảnh riêng khác nhau.”Lá lành” chỉ con người lúc yên ổn, thuận lợi, cuộc sống xuôi chèo mát mái. Trái lại “lá rách” chỉ con người lúc khó khăn, sa cơ lỡ vận. Bằng lối nói tượng trưng, dùng hình ảnh cụ thể và giản dị ấy, câu tục ngữ ngụ ý khuyên chúng ta nên biết chia sẻ, giúp đỡ, thông cảm, xót thương những người bị rơi vào cảnh ngộ cùng quấn, gieo neo.

    Với nội dung vừa nói, câu tục ngữ trên đã biểu hiện mối quan hệ tình cảm tốt đẹp, đậm đà của nhân dân ta từ xưa trong xã hội. Thật vậy, đoàn kết tương thân tương ái vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Ngoài câu tục ngữ trên,người xưa còn truyền đời các câu :

    “Chị ngã em nâng”.

    “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

    “Bầu ơi ! thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”…

    Các câu trên đều khuyên nhủ ta hễ là đồng bào thì nên đoàn kết, hợp tác, chặt chẽ với nhau trong tinh thần tương thân tương ái, không nên thờ ơ, ngoảnh mặt, quay lưng trước nỗi bất hạnh của người khác mà trái lại phải luôn luôn quan tâm giúp đỡ, đùm bọc, chở che người khó khăn, thất thế. Những người giàu có nên thương yêu giúp đỡ cho những người nghèo khổ nhất là trong những khi họ gặp hoạn nạn tai ương như lụt lội, cháy nhà, bệnh tật…

    Những người có địa vị cao, trách nhiệm lớn nên tạo điều kiện, giúp đỡ quần chúng được sống một đời no ấm hạnh phúc. Đúng như tinh thần của người xưa đã từng khuyên dạy :

    “Thấy ai đói rách thì thương

    Rét thường cho mặc,đói thường cho ăn”.

    Trong đời sống xã hội,hoàn cảnh con người dễ thay đổi bất thường khi thành công, khi thất bại. Có cái tính thương người như thể thương thân ấy, thì cuộc sống xã hội mới tránh được mầm mống chia rẽ, xung đột, xây dựng được tình đoàn kết, tương thân, tương ái. Điều đó đủ cho thấy lòng nhân ái hay tình cảm nhân đạo chính là một phẩm chất tốt đẹp mà mỗi cá nhân cần phải có để lấy đó làm nền tảng xây dựng nên một xã hội bình đẳng, thân ái. Cũng phải thấy rằng thờ ơ trước nỗi đau bất hạnh của kẻ khác là một thói xấu, một thái độ ích kỉ, vô lương tâm.

    Trong đời sống còn nhiều khó khăn của buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, hơn lúc nào hết, lòng nhân ái, tình cảm thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ấy phải được nâng lên thành ý thức tự giác ở mỗi con người chúng ta.

    Câu tục ngữ được truyền tiếp bao đời nay đủ khẳng định truyền thống cao quý trong đạo lí làm người của dân tộc ta. Chính nhờ sự đoàn kết keo sơn, tinh thần tương thân tương ái đậm đà nên trải qua bao đời Bắc thuộc, Pháp thuộc, và Mĩ thuộc, nhân dân ta vẫn bảo vệ được nền độc lập, bảo vệ được sự sống còn vững mạnh cho đến ngày nay.

    Tuy nhiên chúng ta cần phải nhận định,đánh giá đúng tinh thần của câu tục ngữ này. Lá lành đùm lá rách nghĩa là người khỏe mạnh, bình yên phải giúp đỡ người yếu đuối, khó khăn là một bổn phận cần thiết nhưng phải không được xuất phát từ động cơ cá nhân thấp hèn và cũng không phải là hành động ban ơn trịch thượng kiểu bố thí mà nhất thiết phải bắt nguồn từ lòng nhân ái hay tình cảm nhân đạo mà chúng ta vừa phân tích ở trên. Cả người được giúp đỡ cũng vậy,không nên ỷ lại, hoàn toàn sống nhờ vào tình thương xót của người khác để trở nên thụ động, biếng lười. Họ phải vươn lên xứng đáng để làm nên mối quan hệ bình đẳng thân ái với người khác.

    Tóm lại, tình yêu thương đùm bọc nhau là một truyền thống đẹp đẽ về đạo lí làm người đã được dân tộc ta giữ vững và phát triển qua nhiều thế hệ, trải qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, nhất là trong khó khăn, hoạn nạn, dịch họa, thiên tai.

    Ngày nay, truyền thống ấy cần được kế thừa và phát huy mạnh mẽ hơn nữa. Mỗi người chúng ta phải có ý thức đoàn kết tương ái, tương thân, tương trợ nhau trong sinh hoạt, học tập và sẵn sàng tích cực tham gia các công tác cứu trợ xã hội. Tuy nhiên, hơn ai hết, thanh niên chúng ta cần chống tư tưởng ỷ lại, đề cao tinh thần tự lực cánh sinh.

     

    Bài 11: Văn học có tính nhân đạo hóa con người

    Văn học là trong những loại hình nghệ thuật có từ rất sớm, gắn bó thiết thân với đời sống tinh thần của con người ngay từ thuở xa xưa. Dù dưới hình thức nào thì nó vẫn là sự phản ánh thế giới khách quan qua thế giới chủ thể của nghệ sĩ…

    Tác phẩm nghệ thuật chân chính là sự giãi bày những tình cảm, những khát vọng sâu xa của nhà văn trước cuộc đời, trước những vấn đề có ý nghĩa thân thiết đối với con người. Dù văn học viết về những sự cố lớn lao: bão táp cách mạng, chiến tranh, hay chỉ diễn tả một tiếng chuông chùa, một bờ tre, ruộng lúa… bao giờ ta cũng tìm thấy hình bóng, tâm sự của con người gửi gắm ở bên trong.

    Với tư cách là cụ thể của hoàn cảnh, là động lực của sự phát triển xã hội, là nguồn gốc của mọi sáng kiến, phát minh. Con người với tất cả niềm vui, nỗi buồn, tâm tư khát vọng, thành đạt hay khổ đau luôn luôn là đối tượng trung tâm của văn học, là mối quan tâm hàng đầu của nghệ sĩ chân chính. Tình yêu thương đối với con người là nguồn động lực căn bản nhất thúc đẩy ngòi bút của mọi nhà văn chân chính.

    Nhà văn Nga Tolstoi đã từng viết: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu”. Còn Goethe thì nói: “Những điều đầu tiên mà thiên nhiên cần là tình yêu nồng nàn đối với cuộc sống”. Nữ văn sĩ Pháp Elsa Trisolet thì diễn tả tình yêu ấy bằng hình ảnh thật cụ thể: “Nhà văn là người cho máu”. Đó là một tình yêu bao gồm cả sự hi sinh to lớn. Tác phẩm chân chính đúng là sản phẩm của trí tuệ, trái tim, mồ hôi và cả nước mắt nữa của người nghệ sĩ, là kết quả của quá trình nếm trải, nung nấu, cảm xúc dào dạt – cái mà người ta gọi là cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật.

    Không ai làm thơ làm văn trong trạng thái khô cằn, chai sạn xúc cảm. Cảm hứng ấy có thể bắt đầu từ niềm vui sướng, tự hào hay tin tưởng, phấn khởi, nhưng với nghệ sĩ chân chính thì chẳng bao giờ có niềm vui hời hợt, giản đơn. Bởi vì cuộc sống con người, trong tính hiện thực của nó, niềm vui luôn luôn đi đôi với nỗi buồn, ánh sáng luôn tồn tại bên cạnh bóng tối, cái xấu luôn luôn xen lẫn bên cạnh cái tốt, hạnh phúc thường đi liền với khổ đau, bất hạnh…Và những khổ đau của con người xưa nay vốn là nỗi nhức nhối, bức xúc nhất thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút.

    Chính nhà văn Xô viết V.Raxpuchin đã diễn đạt tình cảm ấy một cách giản dị chân thành: “Nếu tôi viết, ấy là vì tôi cảm thấy đau ở đâu đấy trong người” với Huygo thì bể khổ của nhân loại là hầm mỏ khai thác không vơi cạn của đời ông. Truyện kiều là tiếng khóc đứt ruột. Chí Phèo là tiếng thét phẫn uất đòi quyền làm người…Những tác phẩm chân chính, bất tử với thời gian thường là những tác phẩm diễn tả những xung đột có khi đầy bi kịch giữa cái thật và cái giả, giữa cái thiện và cái ác, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, ghê tởm … Tuy nhiên “thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”. Đó chính là khả năng nhân đạo mà văn học chân chính có thể mang lại cho con người.

    Ở đây có mấy vấn đề cần lưu ý:

    Sở dĩ nói văn học chân chính chứ không phải văn học nói chung vì trong sự tồn tại của văn học nhân loại quả là những tác phẩm vì con người, nâng cao phẩm giá con người nhưng cũng có thứ văn chương làm hạ thấp phẩm giá con nguời. Có những tác phẩm là kết quả của thao thức khổ đau, hi sinh, trăn trở, nhưng cũng không thiếu thứ văn chương làm thuê, làm công cụ, bồi bút tô son trát phấn cho giai cấp thống trị trong những xã hội đã suy tàn, mục ruỗng…

    Có thứ văn chương bất tử, sống mãi với muôn đời, có thứ văn chương rẻ tiền sẽ bị quên lãng với thời gian. Chủ nghĩa nhân đạo, lòng yêu thương tôn trọng con người là thước đo căn bản nhất để đánh giá mọi giá trị văn học chân chính . “Những người khốn khổ” của Hugo, “ Sống lại” của L.Tolstoi, Truyện Kiều của Nguyễn Du… là những tác phẩm trong đó tác giả còn bộc lộ nhiều quan điểm sai lầm về tư tưởng và những giải pháp cải tạo xã hội, nhiều nhân vật cũng đã trải qua bao nhiêu vấp ngã, giằng xé, lầm lẫn… nhưng đó lại là những tác phẩm nghệ thuật chân chính sẽ sống mãi với thời gian; bởi sức mạnh cảm hóa sâu xa, bởi lòng yêu thương con người mênh mông, sâu thẳm; bởi thái độ căm ghét, phẫn uất trước những thế lực xấu xa, tàn ác đã giày xéo, chà đạp lên con người.

    Đó chính là lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn có khả năng nhân đạo hóa con người, làm cho con người tin hơn ở những điều thiện, ở khả năng vươn tới cái cao cả, cao thượng, kể cả những con người đã trải qua và chịu đựng những điều ác khủng khiếp do xã hội và có khi do chính mình gây ra.

    Mặt khác, nói tới quá trình nhân đạo hóa của văn học không phải chỉ là khả năng gợi lòng trắc ẩn, động tâm, thương cảm đối với những cảnh ngộ bất hạnh đói nghèo diễn ra trong xã hội, dù điều đó cũng là một phương tiện đáng quí. Khả năng nhân đạo hóa còn bộc lộ ở sự tự ý thức về bản thân, tự nhận diện bản thân trước những điều xấu, tốt, thiện, ác… mà tác phẩm gợi lên. Người ta đã nói đến sự “thanh lọc” tâm hồn của văn học, hay hình thức “sám hối” của bản thân trước lương tâm của quá trình tiếp nhận tác phẩm là như thế.

    Đọc Nam Cao không phải chỉ là để cảm thông với Điền, với Thứ, với Hộ… với một cuộc sống bị “cơm áo ghì sát đất”, nó đang có nguy cơ giết chết những ước mơ và những tình cảm nhân ái, cao thượng. Những tác phẩm của Nam Cao còn như một tấm gương soi để độc giả hôm nay tự nhận diện chính mình, không ngừng vượt lên hoàn cảnh bản thân để sống một cách xứng đáng hơn, tốt đẹp hơn.

    Nếu trong tác phẩm “Đời thừa”, nhân vật Hộ là một trí thức hoàn toàn tốt thì tác phẩm có thể không làm ta xúc động đến thế. Sự giằng xé giữa nhân cách cao thượng, hành vi đẹp đẽ, hoài bão to lớn, tấm lòng vị tha của một “chàng trai trẻ vốn say mê lí tưởng” với những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí, với sự câu thúc của đời sống tầm thường hàng ngày, cả những cẩu thả, bất lương trong nghề cầm bút và những hành vi “tàn nhẫn của hắn” đối với Từ – người vợ rất đỗi đáng thương của y và những giằng xé nội tâm không nguôi trong lòng Hộ, lại làm người đọc xót xa thương cảm đến tận đáy lòng. Chính điều đó đã làm nên giá trị nhân văn rất lớn của tác phẩm.

    Chính bản thân tác phẩm “Đời thừa” đã tạo được giá trị đích thực mà tác giả của nó hằng mong mỏi. “Nó chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho con người gần người hơn”. Những giá trị nhân văn to lớn như thế lại được hình thành từ những mẫu chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh nhưng đã được viết bằng một ngòi bút chân thực, tài hoa và nhất là bằng một cuộc sống cũng đầy mâu thuẫn, đau xót, trăn trở của chính nhà văn Nam Cao.

    Ở đây có vấn đề viết cái gì và viết như thế nào. Không nên đồng nhất nội dung phản ánh và sự phản ánh. Nói cho rõ hơn, ở đây tình cảm, lương tri, thái độ trân trọng đối với giá trị tinh thần của con người đã rọi sáng vào từng cảnh ngộ trong câu văn, làm dấy lên ở người đọc một mối liên tưởng đồng cảm, đau xót. Đó mới là những yếu tố tạo nên sức thuyết phục sâu xa đối với người đọc.

    Đọc “Đời thừa” ta có cảm giác như nhà văn đã rọi vào chỗ sâu kín nhất của tâm tư. Quá trình nhân đạo hóa sẽ hình thành từ sự đồng cảm ấy. Ở “Lão Hạc” cũng vậy. Tác phẩm gợi lên lòng thương cảm nơi người đọc từ cái chết thê thảm của lão vì lòng thương con và vì tình trạng khốn quẫn của lão. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm chủ yếu lại không chỉ nằm ở đấy. Tác phẩm gợi lên những tình cảm vị tha, cao thượng đầy tự trọng của một lão già nông dân chất phác, hiền lành: biết đâu lão tự tử còn vì lòng tự trọng bị tổn thương, bị lương tâm cắn rứt vì nỡ lừa dối một con chó! (trong khi còn biết bao con người mang mặt người nhưng lòng lang dạ thú “người với người là chó sói”). Phát hiện ở chỗ sâu xa nhất những nét đẹp lương tri con người, tác phẩm đóng vai trò tích cực trong việc làm cho con người trở nên tốt đẹp, nhân ái hơn.

    Đó là chưa kể đến những câu văn chan chứa một lòng vị tha độ lượng, một thái độ làm hòa với người khác và với chính mình, những tình cảm nhân văn, nhân đạo là bài học về cách sống, cách xử thế, cách nhìn nhận và đánh giá con người làm cho lòng ta trở nên thanh thản hơn, cao thượng hơn. “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tâm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn là những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương… “Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân, có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác hơn. Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị nỗi lo lắng buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận”.

    Chao ôi, nếu ai cũng nghĩ được như thế thì quan hệ giữa con người với con người sẽ tốt đẹp biết bao nhiêu. Những câu văn xót xa mà đẹp đẽ như thế đã vượt ra khỏi muôn khổ của tác phẩm, nó nói về cái tình người muôn thuở cần có, nó có khả năng nhân đạo hóa con người, làm cho con người trở nên cao thượng và nhân ái hơn.

    Ở đây nói nhân đạo hóa để nhấn mạnh sức cảm hóa mạnh mẽ của nghệ thuật. Con người là sản phẩm của tạo hóa, nó vốn đẹp đẽ “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nhưng xã hội có thể làm tha hóa con người thì văn chương chân chính lại có khả năng tác động ngược lại. Tình thương, lòng nhân đạo sẽ cảm hóa, thức tỉnh lương tri vốn luôn ẩn chứa trong chiều sâu nội tâm con người, có khả năng “nhân đạo hóa” con người. Nói “khả năng” vì không nhất thiết bao giờ cũng có thể đạt được như vậy. Nó còn tuỳ thuộc vào sự tiếp nhận riêng biệt của chủ thể cảm thụ. Nhưng một nhà văn chân chính bao giờ cũng nung nấu, khát vọng tác phẩm của mình sẽ đem lại một giá trị tinh thần nào đấy, nhằm cứu vãn con người. Ngay cả Truyện Kiều, dù Nguyễn Du có viết:

    “Lời quê chắp nhặt dông dài

    Mua vui cũng được một vài trống canh”

    thì ta cũng hiểu đó chỉ là một cách nói khiêm nhường. Khi trút lên ngòi bút bao nỗi đớn đau về cuộc đời, đương nhiên nhà văn khao khát những tấm lòng tri âm, những giọt nước mắt đồng cảm:

    Bất tri tam bách dư niên hậu

    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?

    Mấy thế kỉ trôi qua, Truyện Kiều và những tác phẩm đầy nhân đạo của Nguyễn Du mãi mãi là người bạn tâm tình, là nguồn sức mạnh của biết bao thế hệ độc giả, kể cả những độc giả trẻ tuổi hiện nay:

    Dẫu súng đạn nặng lòng ra hỏa tuyến

    Đi đường dài, em giữ “Truyện Kiều” theo.

    (Chế Lan Viên – Gửi Kiều cho em Năm đi đánh Mỹ)

    Không thể nào có thể nói hết khả năng nhân đạo hóa của văn học đối với con người. Nhưng quả thật, đọc một tác phẩm văn học chân chính, ta có cảm giác thật hạnh phúc và sung sướng như đang được đối diện, tâm tình trò truyện với một người bạn thông minh, nhân ái, từng trải, như đang được chia sẻ nỗi buồn, niềm vui, tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong cuộc hành trình đầy thử thách của cuộc sống. Biết bao nhiêu tác phẩm văn chương đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ.

    Nói như Gorki :“sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong đời sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại và đẹp đẽ, rằng con người luôn luôn hướng về cái tốt đẹp hơn, rằng con người đã làm nên nhiều thứ trên trái đất và vì thế mà họ đã chịu biết bao đau khổ”. Và cũng chính Gorki đã tuyên ngôn: “Con người – cái tên mới đẹp làm sao, mới vinh quang làm sao. Con người phải tôn trọng con người”.

    Hiểu biết con người, hiểu chính mình, cảm thông chia sẻ với nỗi khổ đau của g của mình trong đời sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại và đebuồn, niềm vui, tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong cuộc hành trình đầy tà truyện với môcon người, biết căm ghét cái giả dối, ti tiện, tàn ác, biết hướng tới cái chân, thiện, mĩ; biết sống một cách chân thật, nhân ái, cao thượng… đó là những dấu hiệu của quá trình ‘nhân đạo hóa” mà văn học chân chính đã và mãi mãi sẽ đem lại cho con người, vì hạnh phúc của con người.

     

    Bài 12: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo

    Mỗi con người ta khi sinh ra đều có những ước mơ, hoài bão cho riêng mình. Những ước mơ đó là những khát khao, hi vọng mà chúng ta vươn tới. Để thực hiện ước mơ đó, trước tiên chúng ta cần phải lao động, suy nghĩ và làm viẹc hết mình để góp phần nâng cánh những ước mơ trỏ thành hiện thực. M Goorki đã từng nói: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo”…

    Lao động là những hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những của cải vật chất và tinh thần cho bản thân và cho xã hội. Những hoạt động đó đã góp phần nâng cánh những ước mơ, những mong ước thiết tha về những điều tốt đẹp trong tương lai. Như vậy, lao động là đôi cánh những ước mơ bay cao, bay xa, đưa con người đến những thành công mới, khám phá những điều bất ngờ, thú vị.

    M Gooriki đã khẳng định sâu sắc vai trò của lao động đối với mỗi người, đối với toàn xã hội. Lao động là một cách để chúng ta khẳng định mình, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ, tri thức. Mỗi chúng ta đều có những ước mơ lớn lao hay những gì thân thuộc đều là cả một quá tình phấn đấu, vươn lên. Không ngừng suy nghĩ và làm việc, chúng ta mới có thể góp phần xây dựng và phát hiện nó.

    Thực tế, trong lao động nhiều người đã thấy khó khăn, mệt mỏi, mong muốn giản đơn của họ là sáng tạo ra một cái gì đó giúp họ đỡ vất vả. Nhứng ước mơ đó được xây dựng từ trong lao động và cũng được chính lao động nâng cánh cho ước mơ bay cao, bay xa. Phải lao động, nổ lực hết mình chúng ta mới có thể thực hiện được ước mơ đó.

    Đó là hình ảnh của bạn học sinh Đỗ Bằng Định- Học sinh trương THPT Phạm Ngũ Lão- Đông Anh- Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình làm nông với hai vụ lúa chính và một vụ màu, phải thường xuyên lao động giúp gia đình. Nhận ra sự khó khăn trong việc tách vỏ hạt đậu của bà con nông dân, Định đã nuôi ước mơ chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt để giúp bà con nông dân đỡ vất vả. Sau một thời gian dài nghiên cứu và tìm tòi, Định đã chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt đậu. Tuy chỉ mới ở dạng mô hình nhưng cậu học sinh này tin rằng trong tương lai, cậu có thể nhân rộng ra chiếc máy để giúp đỡ mọi người.

    Không chỉ Định mà hiện nay ở nước ta có rất nhiều người đã nuôi ước mơ và nâng cánh ước mơ từ lao động mà đặc biệt là thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước với những sự sáng tạo và cống hiến hết mình. Những sáng tạo của thế hệ trẻ đó, có lẽ, đều bắt nguồn từ lao động. Phải hiểu được những gì mình và mọi người cần trong xã hội thì chúng ta mới có thể chủ động sáng tạo, phát huy được khả năng của mình.

    Và trong những lúc lao động ấy, được cống hiến là niềm vui của mỗi người. Lao động không mệt mỏi còn giúp chúng ta vơi đi những nổi buồn, nỗu đau trong cuộc sống. Làm việc hết mình suy nghĩ hết mình, sáng tạo làm cho chúng ta vui hơn khi mình có thể sáng chế, tìm tòi ra những cái mới. Chính từ lao động, chăm chỉ làm việc mà cuộc sống của chúng ta dần được cải thiện. Những thành quả lao động góp phần rất lớn vào cuộc sống vật chất và tinh thần của mỗi người. Và khi mà cuộc sống của chúng ta phát triển thì xã hội cung đi lên, phát triển mạnh mẽ, hội nhập ra toàn thế giới.

    Như vậy, ý kiến của M Goocki là hoàn toàn đúng. Mỗi chúng ta đều phải tích cực lao động, lao động không ngừng, phát huy những khả năng sẵn có của bản thân. Đồng thời chúng ta cần phải tích cực học tập, tìm tòi và phát triển cái mới. Cần tích cực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo ra những phương thức mới, kĩ thuật mới.

    Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta phải có thái độ tích cực, tự giác, nghiêm túc, ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, có tính tự giác, kỉ luật cao trong lao động để có được những thành quả lớn nhất.

    Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều người không chịu lao động, chỉ biết ỉ lại, sống dựa dẵm vào sức lao dộng của người khác: suốt ngày chỉ biết chơi bời, không chịu làm việc. Hay là hiện nay có rất nhiều bạn trẻ tuy lao động nhưng lại không biết cách sáng tạo ra những phương pháp mới, chỉ biết làm theo những cái cũ không còn thích hợp với điều kiện và yêu cầu lao động hiện nay. Mỗi người chúng ta, trước hết là phải lao động và sáng tạo và tìm tòi những cái mới, đồng thời cũng nhắc nhở, động viên những người xung quanh lao động sáng tạo để có kết quả tốt nhất.

    Như vậy, có lao động chúng ta mới có điều kiện phát huy khả năng của bản thân, nâng cánh cho những ước mơ bay cao, bay xa. Lao động còn giúp cho cuộc sống và xã hội thêm phát triển, vì vạy mà chúng ta cần phải tích cực hơn trong lao động để có điều kiện vươn cao, bay xa hơn, đi đến những tầm cao mới

     

    Bài 13: Đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa người với người

    Nhưng bên cạnh đó một bộ phận không ít những đứa trẻ ấy vẫn còn hiện hữu đâu đó nơi đầu đường cuối hẻm đang hằng ngày mong chờ được sự giúp đỡ, từ những tấm lòng cao cả…
    Trước hết ta hãy hiểu như thế nào là “trẻ lang thang cơ nhở”. “Trẻ lang thang cơ nhở” là một nhóm các đứa trẻ chọn lối sống ngoài vỉa hè, các thành phố lớn, tự tìm cho mình một sinh kế để nuôi sống bản thân. Những đứa trẻ ấy không có một nơi ở nhất định và cũng không nghề nghiệp ổn định và quan trọng hơn là trẻ phải hay tự xa lánh gia đình vì những tổn thương về mặt tâm lý.

    Đa phần những nguyên nhân dẫn đến việc trẻ trở thành trẻ lang thang đường phố là do gia đình đổ vỡ, trẻ bị bỏ bê hay bị người thân ngược đãi, gia đình nghèo không đủ ăn phải kiếm sống. Nhưng đa phần những nguyên nhân làm trẻ trở thành trẻ lang thang là do cách cư xử và thái độ của người thân đối với trẻ.

    Hiện nay ở nước ta xuất hiện khá nhiều các mái ấm tình thương ở những tình thành, quận huyện trong nước thu nhận nuôi dưỡng, giáo dục những đứa trẻ lang thang cơ nhở sống ngoài đường phố.

    Điển hình như cô nhi viện Thánh An, Giáo phận Bùi Chu (Xuân Trường, Nam Định) hiện đang nuôi dưỡng hàng trăm trẻ bị bỏ rơi, mồ côi, khuyết tật, không phân biệt lương, giáo. Ban giám đốc Cô nhi viện, đội ngũ thiện nguyện nơi ấy và bao tấm lòng từ thiện đang gắng hết sức mình để chăm sóc, dưỡng dục các cô nhi…

    Làng trẻ em SOS Đồng Hới (Quảng Bình) là nơi chăm sóc, nuôi dưỡng 94 mảnh đời mồ côi. 14 mẹ, dì ở đây cũng là những phụ nữ có nỗi buồn trong cuộc sống. Và họ tìm niềm vui sống bằng sự tận hiến cho tình yêu…

    Không chỉ ở các mái ấm tình thương mà đối với những con người, những cá nhân,những gia đình bình thường họ củng biểu hiện lòng nhân đạo, tình thương của mình qua việc thu nhận những đứa trẻ ấy về nuôi dưỡng giáo dục chúng nên người như hai mươi bà mẹ của làng trẻ SOS Gò Vấp, hai mươi hoàn cảnh và nguyên nhân đến với trẻ khác nhau, có người nói do thích trẻ con, có người nói do duyên số nhưng họ đều có điểm chung là tấm lòng nhân ái, bao la như “biển Thái Bình”. Bởi lẽ, để làm mẹ của Làng trẻ SOS Gò Vấp, những người phụ nữ này phải chấp nhận một điều kiện khắc nghiệt: Không lập gia đình, tức là chấp nhận hy sinh hạnh phúc cả đời người để dành trọn tâm huyết bù đắp cho những trẻ không may…

    Và những mảnh đới bất hạnh ấy sẽ không còn phải sống trong chốn tăm tối của xã hội, sẽ không còn phải chiệu cóng chiệu rét những khi đêm xuống, sẽ không còn lo âu dể tìm kiếm cái ăn, cái mặc mà giờ đậy chúng đã trở lại là những đứa trẻ được sống trong sự bao bọc chỡ che và tình yêu thương như bao đứa trẻ bình thường khác.

    Thế mới thấy tuy rằng mỗi người 1 nghề, mỗi nguời một hoàn cảnh, họ có thể khác nhau về quốc tịch, khác nhau về hoàn cảnh sống, địa vị xã hội nhưng họ gặp nhau ở tấm lòng yêu thương con người. Cho ta thấy tình cảm giữ con người với con ng là vô bờ bến, không có biên giới nào có thể ngăn cản.Bởi truyền thống tốt đẹp của người VN “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”.

    Nhưng rồi số phận của những đứa trẻ không may mắn gặp được sự cưu mang cứu giúp từ những tấm lòng nhân ái thì chúng sẽ ra sao. Dẫu biết lòng nhân đạo giữa con người với con người là bao la to lớn nhưng không thể nào cùng một lúc trong một xã hội không còn hiện hữu hình bóng cũa những đứa trẻ lang thang đường phố. Chúng sẽ ra sao khi bao quanh chúng là những căn bệnh hiểm nghèo, những cạm bẫy đang rình rập và những vũng mực đen sâu thẳm của xã hội.

    Chúng ta hãy làm những gì có thể để cứu vớt những mảnh đời ấy và cầu mong sao cho chúng sẽ không bị cám dỗ, sẽ không bị vấy bẩn bởi những mực trong xã hội và rằng ngày nào đó chúng củng sẻ được cứu giúp như những đứa trẻ lang thang khác.

    Thật cảm động và đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa con người với con người. Những cá nhân dám xả thân hi sinh cuộc đời mình”đổi tuổi xuân cho tuổi thơ” để cứu vớt cho những mảnh đời bất hạnh thế mới thấy tình cảm ấy không gì có thể ngăn cản được. Nhưng trong xã hội ngày nay luôn hiện hữu hai mặt trái ngược nhau đó là tốt và xấu. Bên cạnh những con người có tấm lòng nhân hậu là những con người cá nhân chỉ biết trục lợi bản thân, họ nhẫn tâm hành hạ đánh đập để ép bắt buộc các đứa trẻ làm những công việc trái với lương tâm đạo đức. Thật không may cho những đứa trẻ ấy, thật bất hạnh tại sao chúng lại rơi vào tay những con người mất đi tình người như vậy.

    Thật cảm thông và xót thương sao cho những mảnh đời bất hạnh ấy. Mong rằng xã hội của chúng ta trong nay mai và trong tương lai sẽ không còn những mãnh đời bất hạnh như vậy. Vì thế để có thể làm được vậy chúng ta những người thân, những bậc cha me hãy luôn y’ thức xem xét, cân nhắc các hành động và thái độ đối với trẻ.

    Vì một thế hệ trẻ và vì sự phát triển của đất nước trong tương lai ngay từ bây giờ các bậc cha mẹ hãy luôn xem xét cân nhắc thái độ và cách giáo dục đối với trẻ em, hãy cho trẻ những gì trẻ đáng được thừa hưởng và nhận lấy. Chúng ta hãy vì một tương tươi sáng, một tương lai sẽ không còn hiện hữu bóng dáng những đứa trẻ lang thang trên đường phố.

     

    Bài 14: Nghị luận xã hội về mái ấm tình thương

    “Trong đêm, một bàn chân bước, bé xíu lang thang trên đường, ánh mắt buồn mệt nhoài của em, em rất buồn vì em không biết đi về đâu,về đâu …”.

    Đây chính là thực trạng xã hội hiện nay ở nước ta, tình trạng trẻ em lang thang ngày càng tăng và là một vấn nạn cần được giải quyết nhanh chóng. Tuy nhà nước ta đã rất cố gắng hết mình, nhưng không dễ gì có thể xóa đi vấn nạn này một cách nhanh chóng được do nhà nước ta không có đủ điều kiện. Vì thế trong xã hội đã xuất hiện một lực lượng mới, một lực lượng cảm thông với tình trạng hiện nay của các em, một lực lượng giàu tâm huyết và đầy tình thương,đó chính là nhiều cá nhân, gia đình & tổ chức có lòng hảo tâm đã thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang, kiếm sống trong thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy,giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.

    Số phận của những đứa trẻ lang thang, khác với các bạn bè cùng trang lứa, lẽ ra giờ này chúng phải đang được yêu thương, được nâng niu chăm sóc bởi gia đình, cha mẹ; thì giờ đây những đứa trẻ ấy phải lang thang kiếm sống dưới những tiêu cực của xã hội, những lừa lọc, áp bức, xâm hại tới bạn thân, mà quan trọng nhất là xâm hại tới tinh thần, tới tư tưởng.Vì thế các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm từ khắp mọi miền đất nước đã cùng chung tay lập nên những Mái ấm tình thương, những gia đình không cùng chung huyết thống nhưng lại có chung một tấm lòng, để chăm lo và dạy bảo cho trẻ em lang thang, những mảnh đời bất hạnh có được một cuộc sống hạnh phúc, một tuổi thơ vui tươi và một tương lai tươi sáng.

    Tiêu biểu về các tổ chức nhân đạo ở Vịêt Nam là: Làng trẻ em SOS, một gia đình lớn cuả trẻ em lang thang. Nhưng trong số những nhà hảo tâm có đầy đủ điều kiện về vật chất lẫn tấm lòng thì cũng có không ít người không có điều kiện vật chất nhưng lại có tấm lòng như Cổ tích “bà bụt sinh viên” đăng trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 26-9-2008 về nữ SV Nguyễn Hòang Oanh đảm đang, vững vàng với vai trò là chị, là mẹ của 3 em “nuôi” nhỏ mù lòa. Dù chỉ là sinh viên, lo tiền học của bản thân còn không đủ, nhưng Oanh vẫn gắng chăm sóc cho các em, lo cho các em có được một cuộc sống no đủ, được vui chơi, được học hành bằng những mối làm thêm đến tận khuya để có tiền cho các em.Thật đúng là một câu chuyện “cổ tích” giữa đời thường.

    Nhưng do đâu mà trẻ em lang thang trong xã hội ngày một đông? Trẻ em lang thang do nhiều lí do, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do những người mang tiếng là bậc sinh thành, nhưng lại thiếu trách nhiệm, đang tâm bỏ con giữa một xã hội đen tối, không nơi nương tựa, để chúng bị lợi dụng, lầm đường lạc lối.Thật đáng trách cho những kẻ đã quyết định sinh con ra đời thì ít nhất cũng phải mang đến cho chúng một cuộc sống hạnh phúc cho dù là không no đủ.

    Nguyên nhân thứ hai có thể do bọn trẻ mồ côi từ nhỏ, không nơi nương tựa, chúng phải sống dựa vào những đứa trẻ lang thang lớn hơn, những băng nhóm đường phố, học theo thói xấu, làm việc xấu để mưu sinh.Và nguyên nhân thứ ba chính là những kẻ có tâm địa độc ác, xấu xa đã lừa gia đình các em, dụ dỗ các em, xem các em như một món hàng đem lại lợi nhuận cho chúng.

    Trong cuộc sống có kẻ xấu, người tốt, cũng như có những nhà hảo tâm thì song song đó cũng có những kẻ gian, lừa đảo, chăn dắt các em gọi là “mẹ mìn”.Những người “mẹ” này đã lợi dụng các em, bóc lột sức lao động của các em, bắt các em làm việc quá sức: xin ăn,bán vé số, thậm chí là ăn cắp để kiếm tiền nuôi chúng.Nếu các em không kiếm đủ tiền, thì bị “mẹ” đánh đập dã man, bắt các em nhịn đói. Những kẻ nhẫn tâm hơn nữa thì đánh gãy tay, gãy chân, thậm chí là chặt ngón tay, ngón chân của các em để việc ăn xin đạt “hiệu quả” cao hơn. Những đứa trẻ bị lợi dụng chăn dắt thường xuất thân ở các gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa, bị những kẻ chăn dắt lường gạt đư vào TP.HCM làm việc kiếm tiền.

    Một thực trạng đau lòng khác là nhiều vụ việc khi phát hiện, lại do chính cha, mẹ ruột đẩy các em theo những kẻ chăn dắt để kiếm tiền. Như trường hợp em Hoa (khỏang 6 tuổi) trên báo Phụ nữ,quê ở Nghệ An, mẹ bệnh mất sớm từ lúc hai tuổi.Nhà có bốn chị em, thu nhập hàng ngày trông vào hai công đất trồng sắn và công việc phụ hồ hàng ngày của ba. “Khỏang giữa năm 2008, bác Năm ở TP.HCM ra quê đưa nhà em ba triệu đồng bảo ba cho con vào TP.HCM phụ bác Năm bán hàng.Bác sẽ cho ăn học đến nơi đến chốn. Khi vào TP.HCM, bác Năm Bắt con gọi bằng “mẹ”.Khi đi bán phải mặc đồng phục học sinh để người ta thấy tội nghiệp, mới bán được nhiều. Mỗi ngày làm việc, “mẹ” sẽ giữ dùm 10.000đ, cuối năm sẽ đưa con gửi về quê” – Hoa nói.Thật đáng xấu hổ khi một người lớn khỏe mạnh lại sống bằng số tiền ít ỏi kiếm được của một đứa trẻ, mà không biết tự lao động để nuôi sống bản thân, chỉ biết bóc lột sức lao dộng của các em. Những kẻ có hành vi này cần phải bị xử phạt thật nghiêm minh, để làm gương cho bọn xấu còn lại.

    Việc làm của những nhà hảo tâm đối với các em lang thang thật là tuyệt vời.Đó là một nghĩa cử vô cùng cao đẹp mà xã hội đang rất cần có ở mỗi công dân. Là một thanh niên sống trong xã hội, chúng ta phải có thái độ tích cực ngăn chặn những hành vi sai phạm của bọn xấu, đồng thời chung tay góp sức giúp các em có một cuộc sống tươi đẹp.Vì trẻ em chính là tương lai của đất nước, là tương lai của chính chúng ta.“Trẻ em hôm nay, đất nứơc ngày mai”, hãy để trẻ được sống trong ấm no hạnh phúc, có thế thì tương lai do chúng xây dựng mới có thể tốt đẹp được.

    Giúp đỡ người tàn tật, trẻ em cơ nhỡ cần có sự chung tay của nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức từ thiện và các cấp, các ngành và cả chính bản thân chúng ta nữa.Chúng ta hãy cùng nhau vận động mọi người xây nên những mái ấm, những gia đình thật lớn, để xã hội không còn cảnh trẻ em lang thang nữa.Hãy dể cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.

     

    Bài 15: Nghị luận xã hội Hiền tài là nguyên khí quốc gia

    Thế hệ ngày nay, chắc nhiều người biết Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu, ông ghi nhận về trí thức “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống cấp.”

    Theo tôi hiểu, hiền tài là nguyên khí của quốc gia, đấy chính là khát vọng của cả dân tộc. Nếu nói theo nghĩa đen của Đông y, “nguyên khí” không mùi, không màu, không vị nhưng con người không có nguyên khí là con người chết. Nguyên khí chính là sức sống của mỗi quốc gia. Ngay từ khi còn nhỏ, mới cắp sách đến trường, tôi đã được các thày cô dậy về lòng tự hào quê hương Thái Bình đã sản sinh ra nhà bác học, nhà giáo Lê Quý Đôn, ông đã có những nhận định trở thành chân lý cho mọi thời đại “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” có nghĩa là đất nước muốn hưng vượng phải nhờ vào trí thức.

    Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức cho đến nay vẫn chưa định hình. Hiền tài đương nhiên là trí thức. Người xưa, quan niệm trí thức là người được học rộng, biết nhiều, có trình độ đào tạo cao hơn mặt bằng chung của xã hội. Theo từ điển :”Trí thức là người sử dụng trí tuệ làm việc, nghiên cứu, phản ánh, dự đoán hoặc để hỏi và trả lời các các câu hỏi liên quan hàng loạt những ý tưởng khác nhau”. C.Mac định nghĩa :” Trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”.

    Ngày nay, theo quan điểm chính thống, trí thức là những người lao động trí óc. Thái độ của trí thức là thước đo sự tiến triển của chế độ. Gs Cao Huy Thuần đại học Picardie (Pháp) định nghĩa :“Ai đánh thức không cho xã hội ngủ, người ấy là trí thức bất kỳ họ là ai”. J.P.Sartre, triết gia lừng danh người Pháp đã nói “Nếu ai đó chế tạo ra quả bom nguyên tử, thì người đó là bác học, chỉ khi nào ông bác học ý thức được cái khí giới giết ngươi ghê gớm ấy, đứng lên hô hào chống bom nguyên tử, lúc đó ông ta là trí thức”.

    Lịch sử nhân loại, việc dùng người mỗi thời khác nhau tùy theo hoàn cảnh lịch sử, thời thế và vai trò, nhiệm vụ. Đông-Tây, kim-cổ người có thực tài và là người trí thức chân chính đều có “mẫu số chung” trong cách ứng xử với xã hội và tầng lớp cầm quyền. Người chân chính có thực tài thật là hiếm hoi, cần phải biết tìm, biết trân trọng. Thời Tam quốc chí, Lưu Bị được lên làm vua cai trị nước Thục nhờ sáng suốt biết thu phục nhân tâm và trọng dụng người tài. Điển hình là ông đã 3 lần thực tâm cầu hiền, không quản đường xa, khẩn cầu Khổng Minh một nhân tài đa mưu, túc kế ra phò tá làm quân sư. Tần Thủy Hoàng vị Hoàng đế Trung Hoa đầu tiên có công thống nhất đất nước nhưng cai trị đất nước bằng bạo quyền, đốt sách, không coi trọng trí thức chỉ được thời gian ngắn đất nước lại hỗn loạn, phân ly.

    Đất nước ta, từ xưa đến nay lúc nào cũng nhiều người hiền tài, tuy nhiên từng thời kỳ, từng lúc mà nguồn hiền tài đó được khơi ra như thế nào. Có nghĩa là khi được quan tâm, trọng dụng thì hiền tài sẽ có, tri thức sẽ nhiều. Người có học vấn thường có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng suốt hơn người thường. Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm và xây dựng đất nước phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp trí thức lãnh đạo biết khơi dạy, hòa đồng cùng với nhân dân xả thân vì nghiệp lớn. Bài “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt xác định chủ quyền của đất nước “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” hay bản hùng văn lịch sử của Nguyễn Trãi :”Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của các tiền nhân biết coi trọng và sử dụng trí thức là các nhà quân sự, nhà tư tưởng chiến lược của thời đại.

    Mặc dù, chế độ phong kiến chỉ cho phép sĩ phu tiến thân trong chốn quan trường nhưng các bậc trí thức hiền tài khi thấy ý kiến của mình không được Vua tôn trọng, đã sẵn sàng rũ áo, từ quan về ở ẩn. Ông Chu Văn An nổi tiếng là bậc Thánh hiền, ngay khi đỗ Thái học sinh, ông từ chối làm quan, không màng danh lợi về quê mở trường dạy học có nhiều môn sinh. Vua Trần Minh Tông biết tài của Chu Văn An mời ông vào triều dạy học cho thái tử và các con đại thần. Đến đời vua Trần Dụ Tông thấy nhiều đại thần xung quanh Vua là nịnh thần, tham quan, nhà giáo Chu Văn An đã dũng cảm dâng sớ, hạch tội và xin chém 7 kẻ tội thần. Vua không nghe, ông liền treo ấn, từ quan về ở ẩn. “Thất trảm sớ” nổi tiếng của nhà giáo Chu Văn An vẫn còn được truyền tụng mãi đến muôn đời sau. Thời Vua Quang Trung, biết rõ Ngô Thời Nhậm có tật nhưng vẫn sử dụng vì biết ông ta có tài. Tiếc thay, bậc minh quân tài giỏi như vua Quang Trung lại đoản thọ nên nghiệp lớn vẫn còn dở dang.

    Năm 1930, thời kỳ đầu của cách mạng, tư tưởng của một số người có thẩm quyền xuất phát từ nền kinh tế “tiểu nông” lạc hậu, nên đã ấu trĩ đề ra chính sách sai lầm coi trí thức như kẻ thù cần đả phá với khẩu hiệu “ Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Thời thế tạo ra anh hùng. May mắn cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh xuất hiện với tư duy, tầm nhìn sáng suốt, khôn ngoan nhờ tích lũy và sàng lọc theo thời gian trong những năm tháng lăn lộn ở xứ người đã cảm hóa, thuyết phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, một nhân tố cực kỳ quan trọng để gọi dạy sức mạnh đoàn kết dân tộc, từ bỏ cuộc sống “nhung lụa”, bất chấp hiểm nguy, vào bưng, ra chiến khu đi theo kháng chiến tiêu biểu như Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Hữu Thọ vv…

    Khi thành lập Chính phủ kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có công thư “Tìm người tài đức” đăng báo để công khai, minh bạch vì Bác sợ rằng “không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những người tài đức không thể xuất thân”. Bác Hồ đã làm công tác cán bộ trên cơ sở dựa vào thành ý và minh tâm của dân để tuyển chọn và sử dụng người tài, chứ không cho rằng công tác tổ chức là chỉ thuộc về Đảng, làm trong nội bộ Đảng rồi đưa ra thuyết phục, thường là áp đặt, để dân chấp nhận.

    Sau này, một số người có thẩm quyền với cách nhìn hẹp hòi, thiển cận về lý lịch, thành phần đã chuyên quyền, bỏ qua không đào tạo và sử dụng nhiều người có năng lực, và chí khí cần thiết cho công cuộc tái thiết đất nước. Họ chưa thấm nhuần lời dậy của Hồ Chủ Tịch: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý”. Ngày nay, cơ chế và tuyển chọn cán bộ vẫn còn “chuyên quyền”, dễ thấy nhất là sự hẹp hòi, thiển cận không dám dùng và không biết dùng những người có thực tài ngoài Đảng. Thời đại ngày nay, do nền kinh tế thị trường, những trí thức có năng lực thực sự và tự trọng cao, không còn chí thú theo đuổi, cố bám vào cái ghế quyền lực để tiến thân. Có những lúc các cụ ta phải kêu lên:

    “Nhân tài như lá mùa thu

    Tuấn kiệt như sao biển sớm”

    Đó là lúc báo hiệu đất nước sẽ suy vong, lòng người ly tán. Bởi vậy, nhiều người cho rằng, nếu Đảng và Nhà nước không có cơ chế tuyển chọn công khai, minh bạch (trí thức thích thi thố tài năng) và chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc thích hợp thì rất khó tuyển chọn được những người hiền tài cho đất nước. Người được tuyển chọn trong vòng luẩn quẩn “chuyên quyền” đó, dễ dẫn đến một số người lọt vào “mắt xanh” của Đảng nhưng lại không đủ tâm và tầm để sử dụng nguồn nhân lực có trí tuệ, người giúp việc tài giỏi hơn mình.

    Cổ nhân đã dạy :”Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” có nghĩa là ngay cả người tầm thường cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của đất nước. Trí thức lại càng phải có trách nhiệm hơn thế!. Ngày nay, tiếp tục truyền thống của cha ông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành hiền tài có vai trò và trách nhiệm cống hiến tài năng vào tiến trình phát triển đất nước. Người khôn học kinh nghiệm lịch sử, kẻ dại học kinh nghiệm bản thân. Thời xưa, có những nhà vua anh minh đề ra chức “Gián quan” được miễn tội chém đầu để can ngăn những việc không đúng, không nên làm của Vua. Tri thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, sáng tạo ra các giá trị tinh thần, tôn trọng chân lý phải biết làm phản biện chính là hình ảnh của “gián quan” thời xưa nhưng được nâng lên tầm cao mới theo tư duy của xã hội dân chủ và phù hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền kinh tế tri thức.

    Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và bền bỉ của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng, quy tụ, sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là các bậc trí thức lão thành, tâm huyết có kinh nghiệm, bản lãnh hiến kế cho tiến trình xây dựng đất nước. Các bậc trí thức hàng đầu của đất nước, theo quy luật của tạo hóa sẽ có lúc phải ngừng nghỉ, đó là khoảng trống mênh mông để lại.

    Tôi được nghe kể, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đến thăm chúc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân kỷ niệm 55 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ. Câu đầu tiên Đại tướng hỏi Thủ tướng là về dự án bauxite Tây Nguyên. Thủ tướng chân tình, giải đáp ý kiến của Đại tướng đã được Chính phủ nghiêm túc tiếp thu, nghiên cứu, Bộ Chính trị cũng rất quan tâm đến vấn đề này. Có thể nói người phản biện dự án bauxite Tây Nguyên, nhà trí thức lão thành cách mạng nổi tiếng Võ Nguyên Giáp luôn trăn trở, suy nghĩ về đất nước đã được Thủ tướng chân thành, cầu thị, tiếp thu tuy hơi muộn nhưng đó là bài học vô giá về sử dụng hiền tài của quốc gia trong thời đại ngày nay.

    Nhiều người vẫn còn nhớ một “trí thức bẩm sinh” không bằng cấp luôn biết đánh thức xã hội thức dạy cũng mang họ Võ là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Với cốt cách của kẻ sĩ, bộ óc thông tuệ, tư duy minh triết, ông Sáu Dân nắm vững “thuật dùng người” và có khí phách trong nhiều bài phản biện đột phá sâu sắc được lòng dân nhưng cũng làm cho một số người có đầu óc “tiểu nông” không hài lòng. Bằng chứng là ông Sáu mới nằm xuống chưa đầy năm, nhưng có kẻ “bảo kê” nào đó cho tờ báo ở TP.HCM (ít độc giả) nên mới dám công khai đả phá vào những tư tưởng mang tầm vóc lớn, đột phá tìm hướng đi mới của dân tộc cũng như tư duy hòa hợp dân tộc qua câu nói nổi tiếng một thời của ông: “ngày thống nhất, triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”! Xin nói rõ hơn, câu này họ trích dẫn không đúng thành ra xuyên tạc ý của ông Sáu Dân. Phải là người tri thức chân chính, có tầm nhìn xa, biết nén thù nhà (vợ và 3 con thân yêu bị địch giết hại) đặt quyền lợi đất nước lên trên tất cả, ông Sáu Dân mới phát biểu nguyên văn như sau: “một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu” (báo Quốc tế [Bộ Ngoại giao] ngày 13.4.2005, được in lại trong sách “Những câu chuyện về anh Sáu Dân”. Nhà Xuất bản Thông tấn. Hà Nội 2008. tr.75.) Tôi tin rằng nếu có thế giới tâm linh, thì ở cõi vĩnh hằng, ông Sáu vẫn luôn tự hào vì những trí thức lớn của dân tộc, nhân tài của quốc gia thì tên tuổi và sự nghiệp luôn đọng mãi trong dân và sống mãi với thời gian.

    Nhìn xa, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới, sáng tạo, phụng sự đất nước khi còn sung sức. Khơi nguồn hiền tài từ lớp trẻ, đặc biệt là tuổi trẻ trí thức là con đường lâu dài và đúng đắn nhất. Cần tạo môi trường cho trí thức làm việc, phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng công sức, thành quả họ mang lại. Tuy nhiên, vẫn có luồng ý kiến, trí thức chân chính không cần đãi ngộ, họ sẽ tự biết tìm cách để sáng tạo và tự sử dụng mình vào những công việc hữu ích cho tổ quốc. Có thực tế, “luật bất thành văn”, trong hệ thống xét duyệt, bổ nhiệm cán bộ cao cấp của Nhà nước không có chỗ dung thân cho những trí thức tài giỏi ngoài Đảng. Có nghịch lý, khá nhiều trí thức tiêu biểu cũng lại không thiết tha vào Đảng để làm con đường tiến thân.

    Nếu chúng ta hiểu một cách sâu sa chân lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” không cần phải đốt đuốc lên mới thấy được người có thực tài mà chỉ cần có kế sách cụ thể, thực sự trân trọng tài năng, khiêm nhường mời gọi người tâm huyết để khơi nguồn hiền tài còn rất nhiều tiềm năng của đất nước để làm cho đất nước hưng thịnh và hiền tài ngày một nhiều thêm. Trong công tác cán bộ Hồ Chí Minh luôn coi trọng dân, phải theo ý dân :” “Dựa theo ý kiến của họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng”. Không hiểu vì sao lúc này, tôi lại tự vấn và ước ao nếu những người làm công tác cán bộ không buôn bán quyền lực, thực sự thấu hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh thì giới tinh hoa của trí thức kể cả trong và ngoài Đảng lại đồng nghĩa với giới lãnh đạo thì chắc chắn đất nước sẽ hưng thịnh, hội nhập và xã hội sẽ ổn định, phát triển vững bền.

     

    Bài 16: Nghị luận xã hội Rừng vàng biển bạc

    Ở nền giáo dục phổ cập của nước ta, trẻ em được day rằng ‘Việt nam là một nước có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng’. Nhưng ở nước Nhật trẻ em được giáo dục rằng dất nước họ không có nhiều tài nguyên khoáng sản như nhiều nước khác nên chúng cần phải học tập thật chăm chỉ để khi lớn lên tìm cách sử dụng, đổi mới nền công nghệ do cha ông để lại.

    Như vậy qua nền giáo dục thì đã tạo nên thói quen ỷ lại cho thế hệ trẻ, chúng không cần cố gắng học tập để phát triển đất nước vì chúng thấy đất nước mình đã quá đầy đủ. Cho đến khi lớn lên nhiều người lớn vẫn kiếm sống bằng nghề ‘ chặt phá, đốn hạ thiên nhiên. Đó là vì nhiều năm trước thế hệ trẻ nước ta vẫn chưa được giáo dục đúng về thực trạng tài nguyên nước ta, nhiều người cho rằng phần lớn lỗi là do nền giáo dục.

    Trước tình trạng lũ lụt, dông bão, hạn hán xảy ra liên miên trên nước ta thì nhiều công ty, xí nghiệp vẫn thản nhiên tàn phá, khai thác một cách triệt để rừng phòng hộ, tài nguyên biển để khai thác titan, dầu khí, các loại lâm, khoáng, thủy sản,… để xuất khẩu ra nước ngoài, để kiếm lợi nhuận cho chính họ trong khi nước ta phải nhập các loại hàng hóa giả từ Trung Quốc về bán cho người dân nước ta.

    Vậy thì vấn đề nào cần được giải quyết? Chúng ta biết nhiệm vụ của người lớn, của các nhà giáo dục là chỉ cho ta hiểu biết, chỉ cho ta cách sống, có nhận thức đúng về vai trò của chính mình trong xã hội, nhận thức về đất nước ta , từ đó hình thành kiến thức, các thói quen nhân sinh xã hội. Câu thành ngữ “ Rừng vàng biển bạc “ là câu nói quen thuộc của ông cha ta chỉ sự giàu có trù phú của nước ta về tài nguyên thiên nhiên.

    Câu nói thể hiện lòng tự hào, niềm yêu quý của đối với của cải, giang sơn gấm vóc của dân tộc Đại Việt. Chúng ta có thể tự hào rằng nước ta có đường bờ biển dài 3260km, phần biển có diện tích hơn 1000000km vuông, ở trong miền nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên đa dạng, có nguồn khoáng sản phong phú, nhiều đồng bằng rộng lớn, có mạng lưới sông ngòi dày đặc, lượng phù sa lớn, có hàng chục nghìn loài sinh vật sống và phân bố khắp mọi miền đất nước, có rừng nhiệt đới gió mùa,… tạo nên nhiều hệ sinh thái khác nhau.

    Nhưng không lẽ trong tự nhiên nước ta phong phú là thế chẳng lẽ lại nói rằng tài nguyên nước ta khan hiếm, đất đai xơ xác, khô khan là xuyên tạc sự thật chăng? Không thế hệ trẻ vẫn có thể được biết để tự hào, yêu quý dân tộc ta. Thế hệ trẻ cần phải biết như thế nào để bảo vệ và giữ gìn sao cho tốt nhất. Các nhà giáo dục phải hướng dẫn cho ta hành động chứ không phải nói là nói những lời nói suông! Chính bản thân thế hệ trẻ phải tự mình hành động không nên chỉ dựa dẫm vào thời đi trước được.

    Tài nguyên thiên nhiên nước ta rất phong phú đa dạng về tài nguyên rừng cũng như tài nguyên biển. Nhưng con người ta phải biết cách khai thác hợp lý để trở thành vàng bạc thực sự. Nhưng mình thấy ở nước ngoài cũng rất giàu tài nguyên nhưng họ không khoe như mình mà họ chỉ đầu tư và các phương án khai thác nâng cao‘rừng vàng biển bạc’chỉ đúng với một khía cạnh nào đó, tức là nó chỉ đúng khi con người chúng ta biết khai thác sử dụng đúng cách,chứkhông thể đi phá cây, chặt rừng mà gọi là ‘rừng vàng, biển bạc’ được.

    Xuất phát từ mong muốn giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào cho nhân dân và giới trẻ, Bác Hồ phát biểu “rừng vàng biển bạc “nhằm khẳng định những thuận lợi trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt khi nói đến đây Chủ tịch luôn nhấn mạnh việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên quý giá cho thế hệ sau. Rừng là vàng, biển là bạc thì nếu phá rừng thì tiêu hủy vảng, phá biển là đốt bạc còn gì!

    Như vậy thông qua lời nói Bác Hồ đã phê phán mạnh mẽ tệ nạn phá rừng, phá biển hủy hoại tài nguyên thiên nhiên. Những ý kiến của Người vẫn còn vang vọng tới thời nay, nhắc nhở chúng ta về việc bảo vệ tài nguyên mà chúng ta đang có. Như vậy, việc bảo vệ rừng trong tầm tay của chúng ta, nhưng tùy vào ý thức của mọi người mà thôi. Nếu ta không biết giữ gìn và bảo vệ thì tài nguyên sẽ hao tổn, biến mất trước mắt, người mẹ thiên nhiên sẽ nổi giận và đến chính con người chúng cũng chẳng thể bảo vệ mình được, khi đó có hối hận cũng không kịp nữa.

    Ai cho rằng việc giáo dục như trên là gián tiếp tệ nạn phá rừng, đánh bắt hải, thủy sản sai trái,.. là hết sức sai lầm. Điều đó chỉ phụ thuộc vào ý thức và hành động của mỗi con người chúng ta thôi! Chúng ta hãy hành động để bảo vệ “ rừng vàng biển bạc”.

     

    Bài 17: Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc

    Có bao giờ bạn tự hỏi:Tiền bạc là gì mà bao kẻ mù quáng theo đuổi, hạnh phúc là gì mà bao người khát khao, hi vọng. Hai điều dó tuêongt chừng không gắn bó gì với nhau nhưng lại tạo nên một mối quân hệ chặt chẽ, mật thiết trong cuộc sống.
    Hạnh phúc là cảm giác sung sướng , mãn nguyện vì cảm thấy hoàn toàn đạt được những gì mong muốn, còn tiền bạc là những đồng tiền dùng để chi tieu và sử dụng. Giữa tiền bạc và hạnh phúc có một mối quan hệ khăng khít với nhau.

    Tiền bạc có tầm ảnh hưởng lớn đối với chúng ta. Nó là điều kiện cần cho nhiều hoạt động của cuộc sống như học tập, ăn, mặc ,ở ,đi lại…. Mỗi việc chúng ta làm đều cần rất nhiều tiền. Hàng ngày chúng ta phải ăn uống để duy trì sư sống. Phải có tiền thì chúng ta mới có thể mua được những loại thực phẩm mà chúng ta cần dùng hàng ngày. Hãy thử tưởng tượng nếu một ngày chúng ta không có tiền để chi tiêu, không thể mua được những thứ cần thiết cho cuộc sống, lúc đó chúng ta sẽ như thế nào? Không ăn uống, không có những điều kiện tối thiểu để sinh hoạt, chắc chắn sức khoẻ của chúng ta sẽ bị giảm sút và kéo theo đó là rất nhiều hệ luỵ, việc khám chữa bệnh sẽ gặp nhiều khó khăn, kết quả học tập và làm việc sẽ không được đảm bảo.

    Bên cạnh những giá trị vật chất, chúng ta còn đáp ứng được những giá trị tinh thần khi có tiền. Chúng ta có thể tổ chức đi chới vào những ngày cuối tuần, hay đơn giản là những hoạt động, dịch vụ như Internet, điện thoại, xem phim…. phải có tiền thì chúng ta mới có thể chi trả cho những hoạt động đó.

    Chúng ta cần tiền, rất cần tiền mỗi ngày để chi trả cho những vấn đề cần thiết của cuộc sống. Dường như đồng tiền đẽa một phần nào chi phối hoạt động và nhu cầu của chúng ta. Mỗi người đều coa nững nhu cầu thiết yếu cho gia đình, và cho bản thân, tuy nhiên với những gì chúng ta có, cần phải biết cách chi tiêu sao cho hợp lý, phải biết tính toán những gì mình cần, mình có. Nếu là một sinh viên nghèo vừa tốt nghiệp ra trường, cần có một chiếc xe máy dể đi làm, với những gì cô có, chỉ có thể mua được một chiếc xe bình thường, không sang trọng, đắt tièn nhueng đã đáp ứng được nhu cầu của bản thân. Hay bên cạnh đó là những sinh viên con nhà giàu, có thể mua được chiếc xe đắt tiền, sang trọng.

    Nhưng dù có nhiều tiền hay ít tiền, với nhu cầu của bản thân, với một sự tính toán, cân đối thì chúng ta có thể thoả mãn nhu cầu của cuộc sống tuy có lúc cũng chưa thật sự hài lòng.Tiền bạc là một điều kiện cần của cuộc sống, của hạnh phúc nhưng đó không phải là điều kiện đủ của hạnh phúc. Có rất nhiều người chỉ biết kiếm tiền, họ chỉ mải làm, tiền đối với ho chẳng bao giờ là đư nhưng họ lạ không quan tâm, không biết trân trọng những gì mình đang có. Đối với họ, họ hạnh phúc ở chỗ họ làm ra tiền. Và khi nhận ra ra rằng mình không có được hạnh phúc thực sự rthì có lẽ, đã là quá muộn. Những đồng tiền họlàm ra không thể đổi lấy hạnh phúc. Khi có tiền, tạo ra những giá trị tinh thần,được vui chơi, được hoà mình vào cuộc sống, đó là điều kiện cho hạnh phúc nảy sinh và phát triển.

    Như vậy chúng ta có thể nói tiền bạc là một điều kiện cần nhưng chưa đủ của hạnh phúc. Khi thức tỉnh lòng mình, có ước mơ nhưng đồng ý tiếp nhận, biết trân trọng và yêu thương những gì mình có, chấp nhận những gì mình không thể có, cód một nhận thức rõ ràng về đông tiền, lúc đó, chúng ta đã có được hạnh phúc.Trong xã hội Việt Nam xưa và bây giờ vẫn còn tồn tại những quan niệm sai trái về quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc:

    “ Trong tay đã sẵn đồng tiền Dẫu rằng đổi trắng thay đen khó gì”

    Trong cái xã hội cũ đó, đồng tiền như một thế lực vạn năng. Hạnh phúc của con người có thể đem ra mua bán bằng những giá trị đồng tiền. Còn ngày nay lại coa rất nhiều người không biết quý trọng đồng tiền, sinh ra những thói hư, tật xấu: lười biếng, hư hỏng, trì trệ……… Cái gì cũng đã có, không phải làm gì, không ai hướng dãn, hộ chỉ biết hưởng thụ những gì tiền có thể đem tới, có những thứ cần phải có sự rèn luyện về tinh thần và ý chí, họ không thể có được hạnh phúc. Họ không nghe nhạc để biết thế nào là bản nhạc hay, họ không biết đọc báo để biết ai sướng, ai khổ, họ không có thời gian để nói chuyện tâm tình thật lâu, hật sâu để hiểu về một người bạn, để hiểu thế nào là một tình bạn……..

    Và khi có được tất cả, trừ những cái mới như ma tuý, thuốc lắc, ……. thì họ sẽ thử. Họ có thể vui khi làm được điều đó, họ có thể hạnh phúc nhưng bố mệ họ chắc chắn không hạnh phúc, những người thân của họ chắc chắn không hạnh phúc và cái hạn phúc của họ chỉ là nhất thời. Như vậy những quan niệm sai trái về ý nghĩa của tiền bạc  và hạnh phúc cần phải phê phán, bác bỏ và hướng họ tới những quan niêm tốt đẹp, cho họ biết giá trị của cuộc sống và làm thế nào để có được hạnh phúc thực sự.

    Tiền bạc và hạnh phúc? Tiền bạc giúp cúng ta thoả mãn nhu cầu về vất chất, một phần nào đó giúp chúng ta đáp ứng về tinh thần. Còn hạnh phúc là sự thoả mãn về nhu cầu ấy. Với tôi, hạnh phúc không phụ thuộc vào giá trị vất chất mà đồng tiền mang đến, quan trọng là sự nâng niu, trân trọng cuộc sống mà chúng ta có mà thôi.

     

    Bài 18: Nghị luận xã hội về tinh thần tự học

    Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì việc học tập cũng phát triển theo. Chính vì vậy giới học sinh chúng ta đã sáng tạo ra rất nhiều cách học nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho bản thân. Nhưng theo tôi: trong học tập, tự học là cách học tốt nhất giúp ta tiến bộ hơn trong khi học. Và khi nói đến vấn đề này, tôi muốn mọi người hiểu được trước nhất là ý nghĩa của việc học rồi mới đến cách tự học. Vậy học là gì ?
    Tự học là gì ? Học là quá trình con người tiếp thu những kiến thức, kĩ năng do người khác truyền lại và tự học là việc con người phát huy những kiến thức,kĩ năng đã được truyền lại bằng chính sức lực,khả năng của riêng mình. Thực tế ngày nay cho thấy các cách học của các bạn chưa mang lại hiệu quả cao.

    Học sinh ngày nay đã quá phụ thuộc vào các bài giảng của thầy cô trên lớp, thầy cô dạy như thế nào thì lại hiểu và học như thế ấy dẫn đến quá trình thụ động, thiếu suy nghĩ và sáng tạo trong lúc học để đào sâu kho tàng kiến thức còn ẩn sâu các bài giảng của thầy cô.

    Và cũng chính vì chỉ học cô đọng trong các bài giảng bốn mười lăm phút trên lớp của thầy cô mà dẫn đến tình trạng học sinh phải đi học thêm tràn lan. Mà khi đã học thêm tràn lan thì lại càng khiến mọi người không chịu tự học, càng thêm phụ thuộc vào việc học thêm. Thêm việc ngày nay khi việc học được nâng cao thì có quá nhiều sách tham khảo, văn mẫu, hướng dẫn…dẫn đến việc học sinh đâm lười suy nghĩ trong khi làm các bài tập.

    Hậu quả của những việc trên rất nặng nề vì như vậy sẽ dễ dẫn đến hiện tượng “học vẹt”: học thuộc bài nhưng không hiểu nội dung, vấn đền được nêu ra trong bài dẫn đến việc học xong là quên ngay, kiến thức không bền và sẽ không làm được các bài tập thực hành, chỉ học lí thuyết suông, kiến thức sẽ ngày càng rỗng, thành tích học tập sẽ càng sút kém khiến mọi người đâm nãn chí. Một khi kiến thức đã trang bị không chắc chắn thì kết quả sẽ không bao giờ cao.

    Chính những thực tế được nêu trên lại càng khẳng định việc tự học cho bản thân là rất quan trọng. Nó chính là một chiếc chìa khóa đưa ta đến kho tàng tri thức, là điều kiện giúp ta thành công trong học tập. Nếu chúng ta biết tự học cho bản thân thì chúng ta chắc chắn sẽ thành công và nâng cao được tri thức của chính mình. Tự học giúp con người có được ý thức tốt nhất trong quá trình học: chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được bản chất vấn đề từ đó tự học giúp ta tiếp thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, từ truyền hình ti vi,từ bạn bè hoặc từ những người xung quanh,những kinh nghiệm sống của nhân dân.

    Tự học giúp ta có thể chủ động ghi nhớ các bài giảng trên lớp,tiết kiệm được thời gian, có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn mà vẫn hiểu và nắm chắc bài học. Và qua tự học, từ lí thuyết, chúng ta biết chủ động luyện tập thực hành,giúp ta có thể nhanh chóng hình thành kĩ năng,củng cố và nâng cao kiến thức đã học.Vì vậy,chủ động tự học sẽ giúp ta tìm ra được phương pháp học tốt nhất mang lại hiệu quả cao cho chính bản thân mình.

    Ví như các vị danh nhân nổi tiếng trên thế giới thành đạt trong sự nghiệp học tập,có được kiến thức uyên thâm cũng là nhờ biết chủ động tự học mà dẫn đến thành công như Thần đồng Lương Thế Vinh khi xưa,nhờ cố gắng chủ động tự học cộng với phẩm chất thông minh trời ban mà sau đỗ trạng,chế ra bảng cửu chương còn lưu truyền mãi đến ngày nay…hayTrạng nguyên lừng danh Mạc Đinh Chi, lúc nhỏ nhờ biết chủ động tự học, sáng tạo cách học bắt đom đóm bỏ vỏ trứng mà sau đỗ trạng, đi xứ làm rạng danh nước nhà, được phong “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” vang danh hai nước, ghi vào sử sách nhân loại về những tấm gương tự học sáng ngời.

    Tuy phương pháp tự học đã có từ lâu đời những đó là một phương pháp rất có hiệu quả cho việc học tập.Tôi khẳng định rằng tự học là chìa khóa,là con đường đưa ta đến thành công…Vị lãnh tụ vĩ đại ngày trước của dân tộc Việt Nam ta cũng đã từng nỗ lực tự học, Bác đã tự say mê tìm tòi học hỏi và đã thành công,thông thuộc được nhiều ngôn ngữ của các nước trên thế giới và tìm ra được con đường cứu nước,đưa cả dân tộc Việt Nam ra khỏi ách đô hộ của giặc Tây tàn ác, hướng đến nền độc lập,dân chủ,tự do,hạnh phúc ngày nay.

    Chính vì vậy,tự học là cách tốt nhất giúp ta tiến bộ hơn trong học tập,mang lại một kết quả học tập cao nhất có thể.Nếu chúng ta biết nỗ lực tự học,chúng ta sẽ thành công,sẽ mở được một tương lai rộng mở cho chính mình.Nếu chúng ta học tập thành công,chúng ta sẽ trở thành những người có ích cho xã hội,cho đất nước, đưa đất nước ngày càng đi lên, phát triển đến một tầm cao mới

     

    Bài 19: Giá trị nhân văn trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn

    Lí Công Uẩn sinh năm 974, quê ở Từ Sơn(Bắc Ninh). Là người có chí lớn lại khoan từ nhân thứ(lời sư Vạn Hạnh), nên sau khi Lê Long Đĩnh mất, vua kế vị còn nhỏ không thể đảm đương trọng trách gánh vác giang sơn xã tắc, ông đã được các vị đại thần trong triều tôn lên ngôi hoàng đế.

    Vốn thông minh bẩm sinh lại nhập thân văn hóa ở một vùng đất văn minh, văn hiến, là con nuôi của các vị cao tăng xuất chúng, Lí Công Uẩn thực sự là người con ưu tú của dân tộc. Ông đã cùng triều Lí làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử oanh liệt dựng nước và giữ nước.

    Lí Công Uẩn(tức Lí Thái Tổ) khởi đầu sự nghiệp trị vì đất nước của mình bằng việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Việc dời đô vốn là một sự kiện quan trọng và việc dời đô của Lí Thái Tổ càng in đậm dấu ấn trong lịch sử vì nó mở ra một giai đoạn phát triển phồn vinh của đất nước, hơn nữa nó lại gắn với một áng văn chương bất hủ: Chiếu dời đô.

    Tiếp xúc với áng văn chương kiệt tác này, không những ta được sống trong hào khí của một khát vọng cao cả và một khí phách anh hùng, mà còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ánh sáng nhân văn.

    Để hiểu rõ giá trị nhân văn cao đẹp của bài Chiếu, ta cần suy ngẫm kĩ xem vì sao Lí Thái Tổ quyết định rời đô? Việc dời đô của ông xuất phát từ những ý nguyện và quyền lợi của ai và nhằm mục đích gì?

    Vậy mà vì sao mà Lí Thái Tổ quyết định dời đô?

    Khi Lí Công Uẩn được suy tôn lên ngôi hoàng đế, triều đình vẫn còn đang đóng đô ở Hoa Lư. Kinh đô Hoa Lư nằm ở một vùng đất hẹp(thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay), Địa thế hiểm trở chỉ tiện cho việc chống giữ mà không dễ bề phát triển. Với trí tuệ nhạy cảm, Lí Thái Tổ cảm nhận một cách sâu sắc và thấm thía những cái bất lợi của việc đóng đô ở đây.

    Nhìn lại hai triều trước, nhà Đinh chỉ tồn tại có 12 năm(968-980), nhà Lê chỉ tồn tại có 29 năm(980-1009). Số vận của họ mới ngắn ngủi làm sao! Số vận của một vương triều, đâu chỉ là vấn đề riêng của một dòng họ, nó có quan hệ mật thiết tới sự suy thịnh, tồn vong của một quốc gia , dân tộc. Hơn nữa, nó còn quan hệ mật thiết với phận của trăm dân, muôn họ. Triều đình suy thì trăm họ cũng phải hao tổn. Điều đó khiến Lí Thái Tổ vô cùng đau xót: Trẫm rất đau xót về việc đó.

    Nỗi lòng và tình cảm của hoàng đế Thái Tổ chính là tình cảm yêu nước thương dân tha thiết, sau nặng của ông. Tấm lòng ấy khiến ông đi đến một quyết định đúng đắn và dứt khoát: dời đô!

    Như vậy, lí do dời đô của Lí Thái Tổ xuất phát từ sự lo lắng cho sự an nguy, tồn vong, suy thịnh của giang sơn xã tắc, lo lắng cho số phận và hạnh phúc của nhân dân. Tấm lòng lo nghĩ cho nước, cho dân, há chẳng phải là biểu hiện của tư tưởng nhân văn đó sao?

    Với một trí tuệ hiếm có và tầm nhìn khác thường, hoàng đế Thái Tổ thấy rõ lợ thế to lớn của thành Đại La. Đó là một vùng đất vừa thuận lợi về mặt địa lí để có thể phát triển kinh tế giàu mạnh khiến cho muôn dân được ấm no, hạnh phúc: huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ, ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Đồng thời cũng là nơi thuận tiện cho việc xây dựng và phát triển chính trị, văn hóa: Thật là chốn hội tụ của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

    Mục đích dời đô của Lí Thái Tổ không chỉ vì quyền lợi của dòng họ mình, cao hơn nữa là quyền lợi của quốc gia, dân tộc, nhân dân. Mục đích đó thật cao đẹp và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc!

    Có thể nói, Chiếu dời đô đã phản ánh được khát vọng của nhân dân ta về một đất nước độc lập, thống nhất, hùng cường. chính khát vọng ấy làm cho bài Chiếu thấm đẫm tinh thần tinh thần nhân văn cao cả. Để tận hôm nay, ánh sáng nhân văn trong bài Chiếu vẫn tỏa sáng.

     

    Bài 20: Nghị luận về câu ca dao Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

    Từ ngàn đời xưa, ông cha ta đã đúc kết được bao nhiêu kinh ngiệm trong thực tế cuộc sống xã hội cũng như trong lao động sản xuất . Những kinh nghiệm quý báu đố đã được đưa vào kho tàng ca dao, tục ngữ . Câu ca dao :“ Ta về ta tắm ao ta/Dù ttrong dù đục ao nhà vẫn hơn” đã cho chúng ta một lời khuyên sâu sắc về tinh thần độc lập tự chủ, tâm trạng yêu quý những cái của ta, do ta làm chủ không phụ thuộc vào người khác…

    ” Ta về ta tắm ao ta

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”

    Câu ca dao đã dùng hình ảnh gần gũi, dể hiểu như lời nói hằng ngày của người nông dân : Hãy về tắm ao nhà mình dù nước có trong hay vẫn đục hơn nơi khác . Qua hình ảnh thơ này tác giả dân gian muốn khuyên mọi người : Con người ai cũng có gia đình, xã hội, môi trường sống của mình ; phải biết trân trọng môi trường sống của mình, dùng những cái vốn có của mình hơn là đi nhờ vả, sử dụng của người khác. Câu ca dao muốn dề cao ý thức độc lập, không phụ thuộc vào người khác . Những gì thuộc về quyền làm chủ của ta ta nên quý trọng và sử dụng nó.

    Với nội dung trên , câu ca dao vừa có mặt đúng, vừa có mặt còn hạn chế . Trước tiên ta hãy bàn về mặt đúng của vấn đề . ” Ao ta” thuộc quyền sở hữu của ta, ta có thể tắm thoải mái , tự do không e dè khi phải tắm nhờ ao của người khác .

    Trong cuộc sống cũng vậy,sử dụng những gì của mình vẫn thích hơn là đi mượn của người khác. . Mặt khác nhà mình có ao thì mình tắm , xã hội mình có sản phẩm thì mình dùng ; đi sử dụng của người khác trong khi mình cũng có thứ đó là hành động thiếu tôn trọng xã hội mình, coi thường chính bản thâm mình . Ấy là chưa kể đến việc almf cho “ao nhà” bẩn đi vì khônbg được sử dụng, tu sửa.

    Trong hoàn cảnh mở cửa hiện nay, hàng ngoại ngập tràn, canh tranh với hàng nội , các cấp cũng đã nêu câu ca dao trên để động viên nhân dân dùng hàng nội . Theo em, đây là một chủ trương đúng đắn, vì ta dùng hàng của ta tức là ta trân trọng danh dự của chính ta, quý trọng sức lao động của bản thân. Nếu được tiêu thụ nhiều , hàng hóa sẽ được sản xuất nhiều và do đó ngày càng được cải tiến tốt hơn lên. Nhờ đó “ ao nhà” ngầy càng sạch, nền kinh tế của nước nhà ngày càng phát triển .

    Đối với những người con xa quê hương, xa tổ quốc , nội dung câu ca dao trên càng có ý nghĩa sâu sắc. Sống trên đất nước người , họ có thể có cuộc sống vật chất khá hơn trên quê hương mình . Nhưng nước người vẫn là “ao” của người khác . Làm sao họ có thể thích ứng hoàn toàn với phong tục tập quán, vớia cách sống, cách sinh hoạt của miền đất lạ. Làm sao họ có thể tìm được hồn quê hương dù là trong khoảnh khắc ở những con người xa lạ. “ Ta về ta tắm ao ta” , nhiều Việt kiều xa quê hương nhưng tâm hồn luôn hướng về tổ quốc. nhiều người đã trở về sống với mãnh đất thương yêu để tìm nguồn an ủi, sự cảm thông và sự gắn bó máu thịtnơi chôn nhau cát rốn .Rõ ràng câu ca dao đã là lời khuyên chân thành , lời chỉ bảo đúng đắn cho mỗi người Việt chúng ta.

    Tuy nhiên nội dung của câu ca dao vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Như hần trên đã bàn, câu ca dao khuyên ta phải tắm ao ta, phải sử dụng những cái của ta và lời khuyên đó là đúng là hợp đạo lí . Nhưng câu ca dao lại nêu: “ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” thì thật là chưa thỏa đáng . Nếu “ ao nhà” ta đục, xã hội ta trì trệ, lạc hậu thì làm sao có thể “vẫn hơn” được. Chẳng nhẽ ta cứ an phận tắm nước ao đục, cứ an phận ssống trong xã hội nghèo nàn, lạc hậu mãi hay sao?

    Ta không nên bảo thủ, không nên bằng lòng với cuộc sống nghèo nàn lạc hậu, càng không nên coc tâm lí tự cao mù quáng cho rằng cái gì của mình cũng nhất , cái gì của ta thì hơn tất cả mọi người. Hiện nay trong xã hội không ít người còn quan niệm lạc hậu như vậy. Thậm chí có người còn cho rằng ta phải sống trong cái xã hội xủa ta với tất cả các hiện trạng “ trong” “ đục” vốn có của nó, vì sống như thế mới không lai căn, sống như thế mới là dân tộc.

    Không phải phân tích nhiều ta cũng thấy quan niệm đó là bảo thủ , vô trách nhiệm đối với xã hội, đói với chính mình. Quan niệm đó sẽ làm xã hội trì trệ, cuộc ssống nghèo nàn. Trở lại với cuộc vận động dùng hàng nôị hóa hiện nay. Nếu ta lại vận động nhân dân dùng hàng nội với khẩu hiệu: “ Dù tốt dù xấu cũng là hàng của ta”, vẫn hơn hàng ngoại thì cuộc vận động sẽ hoàn toàn thất bại, sẽ không lôi kéo được đông đảo quần chúng . Vì trong thời buổi hàng hóa tràn ngập thị trường. Không ai dại gì đi dùng hàng xấu, hàng đắt dù những thứ ấy là của ta đi chăng nữa. Rõ ràng quan niệm “ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Không còn phù hợp với thực tiễn với xã hội ngày nay, càng không phù hợp với đường lối mở cửa,đổi mới để phát triển không ngừng của chúng ta nữa .

    Vậy chúng ta phải nhận thức vấn đề này như thế nào cho đúng, cho phù hợp ? Chúng ta không chấp nhận quan niệm an phận” dù trong dù đục” vẫn cứ tắm ao nhà, không có nghĩa là ta đồng tình với thái độ lẫn tránh, bỏ đi sống ở nơi khác khi quê nhà còn nghèo nàn lạc hậu. Nhận thức đúng đắn nhất hiện nay là phải tôn trọng, sử dụng cái của ta với thái độ “ Khơi trong gạn đục” Như một đồng chí lãnh đạo Đảng ta trước đây đã nói :

    “ Ta về ta tắm ao ta

    Khơi trong gạn đục ao nhà vẫn hơn”

     

    Bài 21: Hạnh phúc nằm trong bản lĩnh sống

    Con người khác con vật ở chỗ nó dự phần quyết định vào việc tạo dựng nên nhân cách của nó. Chính vì vậy ,một nhà triết học có nói: “Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì mà nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả. Nó phải làm như thế nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy và nó phải tự làm bằng chính tự do của nó. Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra”…
    Câu nói trên chẳng những nêu bật sự khác nhau giữa con người à con vật mà còn nhấn mạnh tới vai trò con người trong việc hình thành nhân cách của mình.

    Thật vậy, mỗi con vật khi sinh ra đều đã là tất cả nhửng gì mà nó có. Điều đó có nghĩa lâ con vật được sinh ra như thế nào thì nó sẽ lớn lên như thế ấy. Một con chó sói được sinh ra thì sẽ trở thành con chó sói, một con chim sẽ thành chim. Dĩ nhiên phải có thời gian để con chó sói trưởng thành, tự kiếm ăn và tự vệ,để con chim được lớn,mở mắt biết bay đi kiếm mồi. Nhưng qua thời gian đó, con sói và con chim trưởng thành vẫn chỉ là con vật được quy định trong bộ gen của no. Con vật được sinh ra trong trạng thái đã tự đấy đủ.

    Con người thì khác hẳn, khi sinh ra tự nó không đầy đủ, không là gì cả. Một em bé sơ sinh đang oa oa chào đời, tự em không thể sống được nếu thiếu sự chăm sóc, bú mớm đùm bọc cùa người mẹ. Em sẽ không trở thành người được nếu không biết nói, biết đọc, biết viết, biết giao tiếp với cộng đồng . Em sẽ không có chỗ đứng trong xã hội nếu em không có một nghề nghiệp nào đó.Rồi em có thể có được mộ nghề nào không,em trở thanh người tốt hay xấu, chưa ai có thể quả quyết được. Vậy là con người, do khi lọt lòng tự nó không đầy đủ, cho nên mỗi người sinh ra đều mang theo một nhiệm vụ, hãy trỡ thành một con người !

    Ai chịu trách nhiệm làm cho một con người trở thành CON NGƯỜI? Xã hội hay cá nhân? Tại sao nhà triết học nói con người làm như thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, như vậy có coi nhẹ điều kiện xã hội hay không? Có quá coi trọng vai trò chủ thể cá nhân hay không?

    Xét về điều kiện, thì gia đình và xã hội là điều kiện để con người trở thành con người. Cha mẹ cho bú mớm, nuôi nấng, dạy dỗ. Xã hội cung cấp trường học, sách vở, kiến thức, ngành nhề.các điều kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thử tưởng tượng một con người sinh ra trong một gia đình nghèo túng, ăn không đủ no lại phải làm việc để sống thì sẽ như thế nào? Lại tưởng tượng một người sinh ra trong một gia đình giàu có, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và học tập thì thế nào? Nếu một con người ở nơi hẻo lánh, xa trung tâm văn hoá, thiếu trường sở, ít giao lưu thì thế nào? Một người khác ở thàh phố lớn, nhiều trường tốt, có nhiều thầy giỏi thì sẽ ra sao?

    Rõ ràng điều kiện tốt là rất thuận lợi và điều kiện xấu là hết sức khó khăn.nhưng điều kiện không thể quyết định tât cả. Nhiều người xuất thân nghèo hèn lại có ý chí vươn lên. Ở đây, hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo của môi người vẫn là yếu tố quyết định sử dụng điều kiện như thế nào. Khi nói tôi sáng tạo ra tối, tôi tự làm ra chính tôi, không có nghĩa là tôi muốn trở thành cái gì cũng được.

    Một người mà không có giọng hát trời phú thì không thể trở thành danh ca; một người không có thể chất tốt không thể trở thành vận động viên triển vọng…Nhưng khi đã có một số đã có một số điều kiện nào đó thì việc phát huy điều kiện tốt, khắc phục điều kiện xấu phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của cá nhân có điều kiện ấy.

    Con người làm như thế nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy. Đúng như vậy, con người được tự do lựa chọn để tự thực hiện mình theo một lý tưởng nhất định. Nhà sư Tuệ Tĩnh đi tu, nhưng ông tự học để trở thành một nhà thuốc vĩ đại của dân tộc. Ông Tư Mã Thiên đời Hán bị nhục hình, nhưng ông chu du khắp nước, thu thập tài liệu để hoàn thành bộ Sử kí nổi tiếng… Lỗ Tấn đã tốt nghiệp trường khai mỏ, nhưng niềm băn khoăn cho số phận dân tộc dẫn ông đến nghề văn. Pasteur thi đỗ trường sư phạm, nhưng niềm say mê hoá học làm ông dồ sức vào môn khoa học này và cuối cùng và cuối cùng trở thành nhà bác học về vi trùng và phòng dịch vĩ đại. Ngay trước cái chết, con người vẫn có cơ hội để khẳng định mình. Câu nói của Trần Bình Trọng “ Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn Vương đất Bắc” đã khích lệ bao nhiêu thế hệ người Việt Nam yêu nước. Anh Nguyễn Ngọc Kí liệt cả hai tay vẫn học viết bằng chân… Lịch sử cũng cho thấy có nhiều gương lầm lạc, tuy có những điều kiện tốt đẹp nhưng con người đã tự làm hỏng đời mình.

    Rõ ràng dù điều kiện hoàn cảnh có vai trò quyết định như thế nào con người vẫn chịu trách nhiệm trước nhân cách của mình. Hiểu được điều này mỗi người cần thấy hết trách nhiệm của mình trước cuộc đời mình trong từng hành động lớn nhỏ.

    Trước mỗi con người, con người mở ra muôn ngã, con người có thể chọn một nghề phù hợp với khả năng sở trường của mình. Nhưng khà năng sở trường của con người chỉ có thể thực sự phát huy khi nó gắn liền với mục đích cao đẹp; phục vụ con người,phục vụ xã hội và nhân loại.

    Không phải ai cũng hiểu được trách nhiệm của mình đối với cuộc đời cùa mình. Gặp khó khăn trắc trở người ta thường than thở, viện ra nào hoàn cảnh nào số phận rồi buông xuôi gặp sao hay vậy. Nhưng tư tưởng đúng đắn thì cho thấy ngoài hoàn cảnh, yếu tố quyết định số phận mỗi người là chính người đó.

     

    Bài 22: Suy nghĩ về đức tính tự tin

    Trong thực tế cuộc sống, ta có thể thấy được rất nhiều những danh nhân, những con người thành đạt với sự thành công trên nhiều lĩnh vực. Chúng ta thường hay đặt câu hỏi rằng tại sao và bằng cách nào mà những người như thế có thể tiếp cận được sự thành công, ngoài những đức tính, phẩm chất cần thiết như sự chăm chỉ, tài năng, linh hoạt trong giao tiếp, may mắn,… Để có được những sự thành đạt như thế, con người cần có một phẩm chất không kém phần quan trọng ở thời đại này, đó chính là sự tự tin. Vậy sự tự tin là gì và nó có tầm quan trọng như thế nào trong cuộc sống mỗi con người?

    Tự tin là tin vào chính bản thân mình, tin vào chính giá trị, những phẩm chất tốt đẹp đang tồn tại bên trong con người mình, tin vào những thành công, những thành quả mà mình đã đạt được trong quá khứ để vững bước đón nhận những thử thách mới trong tương lai; tin vào tài năng của mình, những ước mơ tốt đẹp mà mình theo đuổi và tin rằng dù có phải thất bại đi chăng nữa, mình vẫn có thể thực hiện được nó ở những lần sau.

    Tự tin trái ngược với sự hèn nhát, rụt rè, thiếu niềm tin vào bản thân và lo sợ phải thất bại, không dám theo đuổi ước mơ. Sự tự tin trong cuộc sống có thể được biểu hiện ở những việc làm nhỏ nhất như tự tin thuyết trình bài học trước lớp, tự tin đóng góp phát biểu ý kiến của mình cho tập thể lớp; cho đến những việc làm lớn hơn như công bố phát minh của một nhà khoa học hay một nhà văn cho ra đời tác phẩm của mình trước công chúng, và còn rất nhiều biểu hiện của sự tự tin trong cuộc sống mà chúng ta không thể kể hết.

    Tự tin là một phẩm giá mà mỗi cá nhân cần phải hướng tới và rèn luyện để có thể tồn tại và phát triển trong cuộc sống và sự nghiệp. Với sự tự tin, chúng ta sẽ tạo được một nền móng vững chãi trong tâm hồn, một bản lĩnh vững chắc của bản thân, từ đó chúng ta có thể xác định rõ rang rằng: chúng ta là ai trong cuộc đời này, xác định rõ con đường chúng ta sẽ đi trong cuộc đời, sự nghiệp. Chỉ có thế chúng ta mới có thể hình thành và theo đuổi ước mơ đúng đắn của chính bản thân mình, cũng là thể hiện bản thân.

    Đồng thời, sự tự tin trong cuộc sống hay công việc thường nhật mang đến cho ta khả năng quyết đoán trong việc lựa chọn khi mắc phải những vấn đề cần sự giải quyết. Những sự lửa chọn có thể là rất nhỏ như chọn đề trong một bài kiểm tra Văn hay lớn hơn là sự chọn ban ngành, công việc mà chúng ta sẽ làm trong tương lai, dù là lớn hay nhỏ thì sự tự tin và quyết đoán cũng đều ảnh hưởng đến kết quả mà chúng ta đạt được sau này.

    Nếu không có sự tự tin thì làm sao chúng ta dám chọn đề văn khó hơn trong khi chúng ta đủ khả năng làm được, hay là chọn ban ngành mà mình yêu thích để mà theo đuổi. Kế đến, người tự tin sẽk hông ngần ngại trước bất cứ một công việc nào dù công việc đó có quá sức với họ đi chăng nữa và họ có thể thất bại. Qua đó, ta có thể thấy được: tự tin như một nguồn động lực giúp cho ta có thể chấp nhận đương đầu với những thử thách trong cuộc sống, dù thành công hay thất bại thì đó cũng là cơ hội để chúng ta học thêm những kiến thức mới, phát hiện, đào sâu những phẩm chất tồn tại bên trong con người chúng ta mà bấy lâu naychúng ta không biết.

    Nếu ta không chịu đứng ra thuyết trình bài học của mình trước lớp thì làm sao chúng ta có thể biết kĩ năng nói của mình đến đâu để mà sửa chữa, bồi dưỡng? Quan trọng hơn, sự tự tin sẽ tiếp cho ta thêm sức mạnh và nghị lực để có thể vượt qua thất bại, khó khăn trước mắt để tiến lên phía trước, đồng thời cũng là chìa khóa dẫn đến thành công trong công việc.

    Điển hình cụ thể hơn: những người nói tiếng Anh giỏi chắc chắn phải có nhiều lần đứng ra nói chuyện với người khác, người nước ngoài bằng tiếng Anh, cũng phải vấp những lỗi về ngữ pháp, cách dùng từ, nhưng sự tự tin trong giao tiếp đã giúp họ vượt qua và đạt được thành công trong việc học ngoại ngữ. Cuộc sống luôn đầy rẫy những thử thách, nếu chúng ta không tự tin, tin vào chính mình để vượt qua thì thành công sẽ khó mà đến với chúng ta.

    Hầu như ai cũng biết, tự tin là một kĩ năng, phẩm chất cần thiết cho con người. Thế nhưng không phải ai cũng có trong người sự tự tin ấy. Trong cuộc sống, chúng ta vẫn quan sát thấy được những người nhút nhát, thiếu niềm tin vào bản thân, hay thích dựa dẫm vào kẻ khác, vào cha mẹ, dẫn đến sự thiếu kĩ năng và kiến thức cần thiết. Điển hình là một số bạn trẻ, dù đã bước sang tuổi trưởng thành rồi mà vẫn không tự tin dấn thân vào đời, tự lập để mà kiếm sống, vẫn ăn bám vào cha mẹ cung cấp, kĩ năng sống thì không có, sống vật vờ vô ích như một người thừa của xã hội.

    Một số kẻ còn thiếu tự tin đến mức không dám chấp nhận những thử thách trong công việc, để học những cơ hội thăng tiến bay qua mà không muốn nắm bắt vì sợ thất bại, không tin vào những khả năng của bản thân mình có thể làm được. Trong việc chọn ngành nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT, đa số các bạn học sinh đều thi vào những trường như Kinh tế, Bách khoa, Ngoại thương,… với những ngành thật “hot” có thể gặt tiền nhiều mà không nghĩ đến tài năng của mình không thuộc những phạm trù của những ngành nghề ấy, không tự tin vào năng lực thực của mình mà chỉ muốn a dua theo kẻ khác.

    Tệ hơn nữa là có một số người tự tin quá mức đâm ra chủ quan, tự phụ vào chính bản thân mình, xem trọng và đề cao cái tôi của mình, xem thường người khác. Ắt hẳn khi còn bé, chúng ta đã đều được đọc truyện ngụ ngôn “Rùa và Thỏ”, Thỏ đã chủ quan quá mức nên thua ê chề trong cuộc đua với Rùa. Những người chủ quan như thế sẽ khó tránh khỏi thất bại. Đồng thời, hcúng ta cũng cần phải hiểu tự tin thôi vẫn chưa đủ để dẫn đến thành công, cần có sự hỗ trợ của đức tính khác như cần cù, sự khéo léo, linh hoạt trong công việc,… và cả sự giúp đỡ của người khác để vươn tới thành công mai sau.

    Việc rèn luyện một phẩm chất cho mình là một việc không dễ dàng thực hiện. Là một học sinh, trước tiên em phải ra sức học tập thật là tốt để tạo cho mình một nền móng kiến thức thật vững chãi, không ngừng ra sức học hỏi để phát huy tài năng bản thân. Từ đó, em có thể thực hiện việc rèn luyện từ những công việc làm nhỏ nhất như tự tin giơ tay phát biểu ý kiến của mình trước lớp, khắc phục sự rụt rè sợ sai khi phát biểu xây dựng bài học, kế đến nữa, em sẽ tham gia các hoạt động của trường, lớp, đoàn thể, tự tin trong giao tiếp và dũng cảm xung phong nhận lãnh những trách nhiệm phù hợp với sức của mình để thực hiện nó. Đến kì thi Đại học, sẽ chẳng có lí do gì để em từ chối thi vào trường Xã hội nhân văn khoa Tâm lý học, theo đuổi ước mơ của chính em.

    Về phía gia đình, đặc biệt là các bậc cha mẹ cần đặc biệt chú ý rèn luyện đức tính tự tin cho con em mình ngay từ khi chúng còn nhỏ, như khen con khi con làm việc tốt, tôn trọng, khuyến khích những quyết định riêng tư chính đáng của con cái và biết lắng nghe, động viên, an ủi chúng khi cần thiết. Về phía nhà trường và xã hội, cần có những buổi hội thảo dành cho giới trẻ về “sự tự tin”, giáo dục một cách rõ ràng mà không sơ sài chung chung, gần gũi mà không cứng nhắc và lý thuyết suông, gần gũi với thực tế cuộc sống của chúng em, chú trọng hơn về việc tư vấn tâm lí tuổi vị thành niên, định hướng tương lai cho học sinh.

    Tự tin là chiếc chìa khóa dẫn đến sự thành đạt trong cuộc sống, vậy chúng ta hãy rèn luyện nó ngay từ bây giờ để trở thành một con người năng động , bản lĩnh trong xã hội, tồn tại một niềm tin mãnh liệt vào bản thân trước chông gai cuộc đời.

     

    Bài 23: Nghị luận xã hội về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay

    Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang trên đà hội nhập với sự phát triển của thế giới với rất nhiều cơ hội và thử thách được mở ra.Và thanh niên chúng ta-những người chủ tương lai của đất nước-phải góp một phần sức cho quê hương của mình. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách sống của mình, và một câu hỏi lớn được đặt ra : Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay là gì?

    Trước hết chúng ta phải hiểu được “lý tưởng sống” là gì? Lý tưởng sống là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới, là lí do, mục đích mà mỗi con người mong mỏi đạt được.Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn,giúp ích cho mình,gia đình xã hội và đất nước. Sinh ra ở đời, ai trong chúng ta cũng khao khát được sống hạnh phúc, với lòng khao khát đó thúc giục chúng ta đi kiếm tìm hạnh phúc. Hơn thế nữa, tự đáy lòng của con người luôn ước ao có được một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự may lành hơn là bất hạnh, giàu sang hơn là nghèo nàn. Để đạt được khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng. Lý tưởng này sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh. Vì có một lý tưởng để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người.

    Bạn có bao giờ tự hỏi bạn tồn tài trên cuộc đời vì lý do gì không? Một câu hỏi lẽ ra rất dễ nhưng nó làm cho bạn phải bắt đầu ngồi lại suy nghĩ về bản thân mình. Có thể bạn cũng đã có được một mục đích sống cho riêng mình, nhưng bạn vẫn nên xem lại mục đích đó có thật sự cao đẹp hay không bạn ạ. Chúng ta sống trong cộng đồng là sống vì mọi người, vì quê hương,vì đất nước.

    Nhiều người từng nghe câu nói trong bài hát khá nổi tiếng của Trịnh Công Sơn: “Sống ở đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi….”

    Phải mất một thời gian dài tôi và các bạn mới có thể mới ra rằng ý nghĩa của câu này là “hãy mở rộng tấm lòng của bạn với cuộc sống này, với mọi người xung quanh bạn và đừng mong đợi bạn sẽ nhận lại được gì… Hãy san sẻ tấm lòng để cuộc sống này đẹp hơn và đừng nghĩ rằng những cái gì mình đã cho đi là lớn lao mà nó chỉ là những cái gì nhỏ nhoi nhất nhẹ nhàng… chỉ để gió cuốn đi…”. Đó cũng là một phần của lý tưởng sống đẹp.

    Lý tưởng của ta không cần lớn lao dù chỉ là một chiếc lá, nhưng chúng ta cũng cần có cho mình một lý tưởng bình dị như để vươn lên. hải sống có lý tưởng! Bạn có thể ra đi từ nhiều phía, theo những con đường khác nhau, nhưng cuối cùng mỗi người phải lựa chọn cho mình mục đích của cuộc sống. Ta sống cho ta, cho những người thân, bạn bè và cho mọi người. Vì vậy, chỉ có hạnh phúc khi “mình vì mọi người và mọi người phấn đấu vì hạnh phúc của từng người”. Rõ ràng lý tưởng là mục đích sống, là ý nghĩa của mỗi cuộc đời. Lý tưởng quyết định sự thành công trong cuộc sống. Lý tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người để đạt đến thành công trong sự nghiệp. Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn và thử thách trong cuộc sống.

    Nhà văn Pháp Đi-dơ-rô từng nói: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”. Câu nói đó, lời khẳng định đó thật rõ ràng. Nó khuyên chúng ta sống thì phải có mục đích, lý tưởng phải cao đẹp thì sống mới có ý nghĩa, mới làm được những điều vĩ đại.

    Trong thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa, kinh tế thế giới hội nhập, khoa học kĩ thuật hiện đại, con người đặt ra vấn đề về lẽ sống của cuộc đời và sống như thế nào cho xứng đáng ? chúng ta nên hiểu sống có mục đích và lý tưởng cao đẹp là như thế nào ? Đó là phải sống để xây dựng đất nước, sống vì xã hội vì sự tiến bộ của nhân loại. Vậy thì tại sao ta phải sống có lí tưởng cao đẹp ? Vì nếu “sống không mục đích không làm được gì cả” và nếu “ mục đích tầm thường thì không làm được điều gì vĩ đại”.Thế chúng ta phải làm gì để trở thành người có mục đích cao cả và có ích cho xã hội? Trước hết, ta cần phải xác định lý tưởng sống đúng đắn-dự tính về tương lai sẽ cống hiến cho xã hội về những mặt nào. Tiếp theo ta cần phải lên kế hoạch học tập, rèn luyện kĩ năng, sức khoẻ, tư tưởng nhằm thực hiện mục đích đó. Sau đó, ta phải tích cực tham gia các hoạt động xã hội, chính trị; điều này sẽ giúp cho bản thân hòa nhập cộng đồng.Ta cần phải phát huy những thế mạnh của bản thân, khắc phục các điểm yếu và vân dụng những điều đã học vào thực tế.

    Ngày xưa, anh hùng Lý Tự trọng đã từng nói:”Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đ ường nào khác!” rong thời kỳ chiến tranh bao lớp thanh niên xông pha lên đường với một mục tiêu – lý tưởng tất cả vì tiền tuyến, vì độc lập tư do của đất nước. Tư tưởng đó đã đi vào lời ca tiếng hát của bao nhiêu thế hệ người Việt Nam. “Anh lên xe trời đổ cơn mưa, Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ; Em xuống núi nắng vàng rực rỡ; Cái nhành hoa gạt mối riêng tư” hay “Khi tạm biệt mua xuân; Anh lính về biên giới; Cô gái vào ca ba”. Bên cạnh một tình yêu nồng cháy của tuổi trẻ nhưng ho phải tạm gác lại để dành tất cả cho một mục tiêu cao cả. Trong thời kỳ ngày nay có lẽ chúng ta khó có thể tìm kiếm được một ca khúc nói vê tình yêu đep như vậy. Biết bao thế hệ thanh niên đ ã ngã xuống vì mộtlý tưởng duy nhất là giành lại độc lập t ự do cho đất nước. Đến hôm nay khi đất nước hoà bình và đang trên đà phát tri ển,thì lý t ưởng sống cao đẹp của thanh niên,thế hệ trẻ lại càng rộng hơn,bao la hơn,”Vì một Việt Nam Phát triển

    Thế hệ trẻ là những người chủ tương lai của đất nước, là chủ thể của thế giới, động lực giúp cho xã hội phát triển. Chính vì vậy mà các bạn thanh thiếu niên càng gần phải sống có mục đích cao đẹp. Hãy nhớ rằng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không đó là nhờ vào công học tập của các em” lời nhắn như thiêng liêng ấy phải được thực hiện! Bác luôn mong lớp lớp thanh niên sau này sẽ không chùn bước trước những khó khăn trước mắt,luôn vững chí bền tâm vượt qua thử thách để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

    “Không có việc gì khó

    Chỉ sợ lòng không bền

    Đào núi và lắp biển

    Quyết chí ắt làm nên”

    (Hồ Chí Minh)

    Chúng ta chắc còn nhớ hai chiến thắng vẻ vang liên tiếp của đội tuyển robocon Việt Nam,hay những tấm huy chương vàng, huy ch ương bạc từ những môn Olympic Toán, Lý, Hoá, Sinh, trong những giải thể thao hàng đầu của châu lục và thế giới. Đó là một tấm gương gần gũi, rõ ràng mà thanh thiếu niên cần noi theo. Tôi xin được nhắn nhủ các bạn thanh thiếu niên, học sinh: “Hãy học tập để nắm lấy tri thức vì tri thức là sức mạnh. Có tri thức, các bạn như đứng trên vai những người đi trước để cao hơn người khác. Hãy phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chấp nhận và vượt qua thử thách, bởi không có người thất bại, chỉ có người không biết cố gắng mà thôi”. Và chắc hẳn ai trong chúng ta đều biết những Enstein, Môza, Đác-uyn,… Tất cả họ đều là những người sống có lý tưởng cao đẹp, tất cả đều làm nên điều vĩ đại và được lưu danh muôn thuở. Như mục đích “ra đi tìm đường cứu nước, hi sinh cuộc đời vì cách mạng, vì dân tộc “ của Bác. Đó là một minh chứng rất cao đẹp!

    Nhưng hiện nay, một bộ phận lớn thanh niên lại không suy nghĩ được như thế. Họ sống hờ hững với những gì diễn ra xung quanh, sống theo quan niệm: “Được đến đâu thì hay đến đó”, “Nước đến chân mới nhảy”. Tuổi trẻ ngày nay có nhiều thời gian để dành cho tình yêu nên có lẽ họ không thể nhận ra những hạnh phúc mà họ đang có mà chỉ toàn nhìn thấy sự khổ đau trong tình yêu, phải chăng tuổi trẻ ngày nay khi đã được đáp ứng quá đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần thì dần trở nên ích kỷ hơn. Chỉ biết nghĩ cho riêng mình.Và mục tiêu của phần lớn các bạn trẻ ngày nay là phải thật thành công trong cuộc sống, khẳng định được vị trí của mình trong xã hội; kiếm thật nhiều tiền để có thể thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống của riêng mình.Trong khi rất nhiều người đang cố gắng đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn thì lại không ít người lại tỏ ra rất hờ hững với những gì đang diễn ra cho đất nước mình. Thật đáng buồn cho một tương lai đất nước!

    Các bạn luôn mong muốn mình sẽ là người tài giỏi nhưng lại không có được một lý tưởng cho riêng mình,thì cuộc đời bạn sẽ trôi về đâu ? Hãy tưởng tượng mà xem: một thanh niên sống không mục đích, không có định hướng, học tập chỉ do ba me gượng ép; chàng ta chẳng hề ham thích những lựa chọn ấy và cũng chẳng hề thich học những môn học ấy; rồi cậu rớt đại học, thất nghiệp (chẳng ai nhận những người không có học vấn cả, dù cậu đã qua các năm trung học rồi nhưng với tinh thần thiếu ý chí thì xét lại cậu cũng chẳng đủ sức cho công việc)…không có tiền câu đâm ra vòi vĩnh bố mẹ (tuy nhiên vẫn có một số người tốt, không phạm phải những sai lầm này)…tiêu xài tiền, rồi đủ các thói hư, tật xấu. Cuối cùng chàng thanh niên ấy đã kết thúc cuộc đời trong nhà tù hoặc trên giường bệnh sau bao năm ăn chơi, nghiện ngập. Đó là ví dụ về một con người không có lý tưởng sống. Còn những người sống có mục đích nhưng lại là mục đích tầm thường như ăn no mặc ấm, hạnh phúc gia đình, kiếm được nhiều tiền, cưới vợ đẹp,…Những người này vì lợi ích của bản thân, họ dễ dàng làm bạn với cái ác và sẽ phạm tội. Chúng ta thường đọc thấy trên báo công an hay thấy trên Tivi những tin liên quan đến ông này bà nọ có chức vụ, lạm dụng quyền hạn để trục lợi; hay những nhóm tội phạm, nhất là các nhóm thanh thiếu niên trẻ cướp giât, phạm tội… để kiếm tiền ăn chơi hay những thanh niên, học sinh (kể cả người lớn) ghiền chơi games đến mê mệt! Tất cả, những người sống không có mục đích và những người có mục đích tầm thường đều có kết quả không tốt.

    Tóm lại,thanh niên chúng ta cần phải biết và tạo cho mình một lý tưởng sống cao đẹp, vì mọi người, vì quê hương đất nước. Bản thân mỗi chúng ta hãy tự nhìn lại cách sống của mình để hướng đến tương lai t ươi sáng. Cuối cùng xin kết thúc bằng lời của chiến sĩ cách mạng, một người cộng sản trẻ tuổi, một nhà văn, một anh hùng thời vệ quốc Xô Viết vĩ đại, Paven Copsagine trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy (tác giả Nikolai Ostrovsky): “Cái quí nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, mà có thể nói rằng: Tất cả đời mình ta đã cống hiến cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được. Vì bệnh tật vô lý hay một sự bi đát tình cờ nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời này”

     

    Bài 24: Nghị luận xã hội Hãy sống trọn vẹn nhất

    Có một quan niệm sống mà nhà văn Lưu Quang Vũ đã đưa ra cho chúng ta trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là : “ Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Vậy thực chất câu nói của Lưu Quang Vũ như thế nào ? Quan niệm sống mà ông muốn đưa ra là gì ? Quan niệm sống mà nhà văn muốn nói đến chính là hãy sống thành thật với chính mình,sống để giữa tinh thần và thể xác của là một sự thống nhất .“ Bên trong, bên ngoài “ở đây chính là bên trong tâm hồn, về mặt tinh thần. Còn bên ngoài là những cư xử , về mặt thể xác. “ Một đằng, một nẻo” chỉ sự trái ngược nhau. “Bên trong một đằmg, bên ngoài một nẻo “ chỉ sự trái ngược nhau giữa tinh thần và thể xác. “ Toàn vẹn “ là sự trọn vẹn hoàn toàn, một sự thống nhất chung.

    Do vậy, điều đầu tiên mà Quang Vũ muốn đặt ra ở đây là : Con người luôn cần một sự thống nhất chung giữa bên trong và bên ngoài. Thật vậy, điều đó là điều thực sự quan trọng cần có đối với mỗi người chúng ta bởi con nguời là một thực thể thống nhất giữa hai mặt tinh thần và thể xác. Nếu như sự thống nhất đó không còn thì ta không còn là chính ta nữa. Ví dụ đơn giàn là nếu như ta là một con người quyết tâm nhưng lại có những hành động trái ngược với sự quyết tâm do thì ta không còn là một người quyết tâm như ta muốn nữa. Điều thứ hai mà nhà văn muốn nói đến đó là : Con người phải sống thật với chính mình. Song để sống thật với bản thân mình chính là điều xuất phát từ trái tim, hiểu những gì mà mình cần và hãy là chính mình. Nếu không sống thực với mình thì con người sẽ đau khổ và sẽ gây ra đau khổ, tai họa cho người khác. Bởi vì khi đó ta đang tự lừa dối chính bản thân mình, lừa dối người khác. Và rồi sự lừa dối đó sẽ làm chính bản thân mình dằn vặt, đau khổ, mọi người sẽ nhìn nhận người đó là một người khác chứ không phải là chính bãn thân họ. Chẳng hạn có một ai đó với vẻ bề ngoài rất đỗi hiền thục, tốt bụng nhưng bên trong lại độc ác,suy tính những chuyện có hại cho người khác dựa vào vẽ bề ngoài của mình thì khi đó chính người đó đã gây ra sự đau khổ, tai họa cho người khác.

    Vì thế chúng ta hãy sống một cách trọn vẹn nhất , giữa suy nghĩ và hành động , giữa bên trong và bên ngoài luôn có sự thống nhất. Hãy nhìn xung quanh chúng ta, những người biết sống thành thực với bản thân mình thì họ luôn cảm thấy hạnh phúc. Họ có những suy nghĩ và hành động luôn có một sự thống nhất. Lúc đó họ đã là chính họ trong mắt người khác. Như khi ta ghét một ai thì ta cứ nói ghét, không phải bên trong ghét bên ngoài lại tỏ vẻ rất yêu mến người đó,làm những điều mà ta không thích để thể hiện sự yêu mến của mình. Nhưng bên cạnh đó còn có những kẻ không hề xem trọng bản thân mình, luôn làm những điều trái ngược với chính mình để đạt được mục đích của mình. Thế nên chúng ta hãy làm những gì mà chính con người chúng ta mong muốn mà không gây hại đến người khác, hãy nhìn nhận những gì mà bản thân mình đang có

    Hãy trung thực với bản thân, đừng tự lừa dối mình và lừa dối những người xung quanh. Điều quan trọng hãy là chính mình trong mọi tình huống, hãy sống một cách trọn vẹn nhất và hãy để sự thống nhất giữa tinh thần và thể xác của mỗi người luôn tôn tại. Tất cả những điều ấy cũng góp phần tạo nên điều kỳ diệu cho con người chúng ta, bởi vì “ Mỗi người chúng ta là một điều kỳ diệu

     

    Bài 25: Nghị luận xã hội Sống đẹp là gì hỡi bạn?

    Trong cuộc sống hằng ngày mỗi người chọn cho mình những cách thể hiện khác nhau hình thành lên những cách sống khác nhau: sống đẹp, sống có ích và lối sống ích kỷ, buông thả thậm chí chìm trong vòng tội lỗi. Như vậy “sống đẹp” là một lối sống tích cực mà mỗi người cần phải hướng tới. Nhưng sổng thế nào mới là lối “sống đẹp”, còn là điều băn khoăn của rất nhiều người.

    “Đẹp” không phải chỉ là cái đẹp hình thức. Cái “đẹp” thể hiện từ những hành động cư xử nhỏ nhất trong cuộc sống đến nghị lực vươn lên trong mỗi con người. “Sống đẹp” trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, từ chính tình yêu trong trái tim để từ đó mà sống hết mình vì người khác, để bao dung, thứ tha … Xuất phát từ tình yêu thương nên bất cứ hành động nào dù là nhỏ nhất cũng đầy sự quan tâm, chia sẻ giữa những con người. Một sáng đến trường, bạn không sợ muộn học mà dừng lại giúp một cụ già qua đường. Mỗi ngày dành dụm tiền để ủng hộ quỹ “Vì người nghèo”. Những hành động ấy dù nhỏ nhặt nhưng đều là những nghĩa cử cao đẹp.

    Lại nhớ đến hơn 30 năm trước đây, người con gái Hà Nội Đặng Thuỳ Trâm xung phong vào chiến trường Quảng Trị gian khổ bản thân chịu những thiệt thòi nhưng chị vẫn dành một tình thương bao la cho những người quanh chị. Bất lực trước một ca mổ, chị đau đớn, lo lắng cho người em nuôi giờ này đang đè nặng tang tóc, đêm chị mất ngủ.Tất cả những điều ấy đều xuất phát từ lòng yêu thương trong trái tim chị! Để chính từ những lo lắng, đớn đau ấy dân tộc Việt Nam có một người con anh dũng, kiên cường tận tụy làm người. Đó là chuyện của 30 năm trước, còn giờ đây có biết bao người ngày đêm nhen lên ngọn lửa tình yêu thương trên cõi đời này. Một nhà giáo già ngày ngày đạp xe khắp chốn bán những bức hình cụ Rùa Hồ Gươm mà thầy vô tình chụp được để lấy tiền góp vào quỹ “Vì người nghèo”. Bao nhà hảo tâm, bao con người có mỗi năm lại lắng lòng mình nhớ đến những người còn trong đói khổ bần cùng.Cuộc sống muôn màu muôn vẻ tạo nên muôn nghìn gương mặt con người khác nhau: có người tốt, kẻ xấu, có những người từng gây ra tội ác. Nhưng không có ai chưa từng sai lầm. Dẫu có lầm lạc bước vào ngõ cụt vẫn có thể quay đầu lại. Chúng ta vẫn luôn dang tay chờ đón một con người mới ở những người từng mắc tội. Mỗi dịp lễ lớn, không chỉ những người ngoài khung sắt nhà lao mới náo nức chờ đợi mà những người ở trong cũng vui mừng vì mỗi dịp ấy họ lại có cơ hội được ân xá, được trở về với người thân, bè bạn. Chào đón họ bằng lòng bao dung tha thứ, tin vào một sự thay đổi ở họ đó cũng là “sống đẹp”. Chính nhờ có lòng yêu thương mà không ít người tìm lại được chính mình. Có một nhà thơ với bút danh “Hoàn Lương” từng nửa đời làm tướng cướp trên những chuyến tàu Đà Nẵng – Nha Trang, làm đại gia buôn lậu xảo quyệt, thi nhân ấy tên là “Nguyễn Đức Tân” (Đông Mỹ – Thanh Trì – Hà Nội). Nửa đời làm việc thất đức nhưng trong trại giam được nghe lời khuyên nhủ tâm tình của giám thi, như người tỉnh cơn mê anh tâm sự:“Đêm đêm nghe tiếng vọng vangTiếng ngoài xã hội rộn ràng trong đêmĐã buồn lại thấy buồn thêmKhát thèm cuộc sống ấm êm ngoài đời”Và cuộc đời của tên tướng cướp ấy rẽ sang một ngả khác khi mãn hạn tù, anh trở thành một nhà thơ, một thành viên của đội Công an xã. Khi được hỏi làm thế nào mà cá sự thay đổi lớn trong anh như vậy, tướng cướp, thi nhân ấy trả lời nhờ có sự bao dung, tình yêu của người vợ hiền và của tất cả mọi người. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết “Sống trên đời cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…”. Gió sẽ cuốn những tấm lòng thảo thơm gieo tình yêu khắp muôn nơi, mang lại ánh sáng cho miền đất tăm tối, mang lại hạnh phúc cho những người cùng khổ. Mỗi chúng ta, hãy gửi theo gió tấm lòng mình để cứu giúp bao người và để chính chứng ta là những con người có lối “sống đẹp”.

    “Cuộc sống không có con đường cùng chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải làm sao để vượt qua được những ranh giới ấy” (Nguyễn Khải). Cuộc sống luôn chứa đựng những thử thách, và không ai là không vấp ngã một lần. Vậy nhưng sau cú ngã đau đớn ấy, bạn làm gì mới là điều đáng nói. Trong đầu tôi cứ thể hiện lên hình ảnh con lật đật nhỏ bé miệng luân nở nụ cười và lần nào vấp ngã cũng bật dậy, trên môi vẫn là nụ cười lạc quan. Đã bao giờ bạn được như con búp bê ấy, kiên cường và nghị lực?…Đọc Đặng Thuỳ Trâm, những dòng tâm sự của chị, từng câu từng chữ bao giờ cũng tràn ngập một lòng ham sống phi thường. “Đời phải trải qua giông tố nhưng chớ cúi đầu trước giông tố “. Câu nói tâm đắc ấy của chị, giờ đây, mỗi chúng ta cũng phải lấy đó làm châm ngôn sống cho cuộc sống của mình.

    Tôi được nghe thầy dậy Hoá kể câu chuyện về người học trò cũ của thầy. Anh là một học sinh chăm ngoan, học giỏi, luôn nằm trong nhóm đầu. Vậy nhưng trong kỳ thi Đại học quan trọng anh lại trượt điều tưởng như không thể đã xảy ra. Đau buồn, thất vọng về chỉnh mình, cuộc sống của một thanh niên 18 tuổi lúc ấy chỉ toàn một màu đen khi bao hứa hẹn tương lai, kỳ vọng của gia đình, thầy cô đều sụp đổ. Không chịu giam mình trong màn đêm, anh tự mình thắp lên ngọn nến niềm tin và tiếp tục học tập hết mình. Anh đã đỗ vào năm sau với một số điểm cao. Dù so với bạn bè, anh là người đến sau nhưng anh lại là người đạt được chiến thắng lớn nhất: Chiến thắng chính mình, cuộc sống với những ranh giới của nó luôn bao quanh bạn. Nếu không có nghị lực làm sao bạn có thể đi hết được con đường của riêng mình ? Từ số 1 đến số 0 chỉ trong gang tấc nhưng khoảng cách từ số 0 đến số 1 trên trục đời là cả một quá trình mà nếu không có niềm tin, nghị lực, bạn sẽ mãi chỉ là con số 0 mà thôi. Hãy là một người bộ hành với đôi chân dẻo dai sẵn sàng đạp lèn mọi chông gai để bước đi: “Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng, bàn chân cũng thấm đau vô vàn những mũi gai” Lời bài hát của ban nhạc tôi yêu thích cứ văng vẳng bên tai. Bàn chân có thể sẽ chảy máu vì gai nhọn nhưng đừng ngồi xuống rên xiết, hãy để máu ấy thấm lên những cánh hồng đỏ thắm trên bước đường vinh quang của bạn! Làm được như vậy tức là bạn đang “sống đẹp”,sống và luôn giữ cho mình một niềm tin vào ngày mai, luôn có một nghị lực vươn lên hướng đến ánh mặt trời.Tôi từng đọc một bài thơ nghe qua tưởng chỉ là thơ vui nhưng lại mang một ý nghĩa sâu sắc: “Khi anh sinh raMọi người đều cườiRiêng anh thì khóc tu tuHãy sống sao để khi chết điMọi người đều khócCòn môi anh thì nở nụ cười”Bạn và tôi, hãy tự chiêm nghiệm cho mình lối sống đẹp để khi ở cuối con đường, chúng ta đều mỉm cười mãn nguyện!

     

    Bài 26: Nghị luận xã hội Giữ lấy truyền thống dân tộc

    Từ thời xa xưa, ông bà ta đã thường sử dụng những câu thành ngữ, tục ngữ để răng đe dạy và nhắc nhở con cháu của mình về những phẩm chất, đạo lí cần thiết mà mỗi người ai cũng phải có như là: “một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tùy rằng khác giống nhưng chung một giàn”…..các câu tục ngữ, thành ngữ ấy thể hiện lòng hiếu thảo, sự biết ơn và lòng thương người… Trong đó, có câu tục ngữ “uống nước nhớ nguồn” thể hiện phẩm chất đạo đức quan trọng của người Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đất nước mình đang ngày một phát triển để hội nhập với nước ngoài thì đạo lí này càng trở nên sâu sắc hơn. Sau đây, tôi và các bạn hãy cùng nhau làm rõ câu tục ngữ này để có thể hiểu tận tường những ý từ của ngươì xưa muốn răng dạy chúng ta thông qua câu tục ngữ này.

    Thoạt nghe qua thì chắc hẳn ai cũng có suy nghĩ này rất đơn giản, rất dễ hiểu. “Nước” là một thứ vô cùng quý giá, không có nước, con ngươì và cây cỏ sẽ bị hủy diệt, không có sự sống. “Nguồn” là nơi xuất phát của dòng nước, nhưng đó chỉ là nghĩa đen của câu tục ngữ. Bên cạnh đó vẫn còn hàm ý sâu xa trong câu tục ngữ đó chính là lòng biết ơn. “Nước” chính là những thành quả mà cha anh ta đã có công xây dựng nên. Vì vậy, khi thừa hưởng thành quả đó, chúng ta phải biết nhớ đến những người đã tạo ra nó, đồng thời phải biết giữ gìn quý trọng và không được lãng phí. Mặt khác, chúng ta phải có bổn phận phát huy phẩm chất đạo đức tốt đẹp này và truyền lại cho các lớp đàn em sau.

    Với những lời lí giải trên, chắc hẳn tôi và các bạn có thể hiểu được thế nào là “uống nước nhớ nguồn” và tại sao khi “uống nướ”c chúng ta phải “nhớ nguồn”. Trước tiên chúng ta phải thừa nhận một điều rằng đây là một đạo lí đúng và mỗi người cần phải thực hiện. Trong thiên nhiên và xã hội, không có sự vật nào là không có nguồn gốc. Trong cuộc sống, không có thành quả nào không do công sức lao động tạo nên. Trong lịch sử Việt Nam đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ vô cùng gian khổ, nhiều người hi sinh tuổi thanh xuân, hạnh phúc cá nhân và hơn thế nữa, có người đã phải hi sinh cả mạng sống của mình để chiến đấu giành lại độc lập cho đất nước. Họ đã chiến đấu với một ý chí kiên cường, anh dũng với mong muốn đất nước sớm được thống nhất và độc lập. Ngày nay, đất nước ta đã có được những điều đó và ngày một phát triển, hội nhập với thế giới. Đó chính là nhờ vào những công lao của cha anh ta, của những người đi trước. Chúng ta là những lớp đàn em, những thế hệ đi sau nên được thừa hưởng những thành tuự mà cha anh ta đã tạo ra. Vì vậy, chúng ta phải nhớ đến những người đã tạo ra những thành quả cho chúng ta. Ta phải biết đền đáp xứng đáng, đó chính là bổn phận tất yếu mà mỗi người chúng ta phải thực hiện. Ví dụ như: Hằng năm, nhà nước ta thương xây dựng nhà tình nghĩa tình thương cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng, cấp vốn cho những thương binh liệ sĩ và tạo điều kiện cho họ làm ăn để cải thiện cuộc sống. Đó chỉ là một phần nhỏ những gì chúng ta làm được so với những gì mà cha anh ta đã làm. Ngoài ra, lòng biết ơn giúp ta gắn bó với người đi trước, với tập thể…, từ đó hình thành một xã hội thân ái, đoàn kết.Ở nhà trường, các bạn học sinh cùng nhau quyên góp tiền để giúp đỡ xây dựng nhà tình thương hay tăng quà cho những gia đình thương binh, liệt sĩ và ở mỗi khu phố, phường xã thì mỗi gia đình nhỏ cũng làm giống như vậy…thể hiện tính đoàn kết của một xã hội thân ái. Nếu thiếu lòng biết ơn, con người sẽ trở nên ích kỉ, dễ thoái hóa và trở thành kẻ ăn bám gia đình và xã hội. Vì không có lòng biết ơn, ta sẽ không biết quý trọng những thành quả của người khác tạo ra và sẽ sử dụng một cách lãng phí.

    Để thực hiện tốt việc nhớ nguồn, trước hết chúng ta phải biết tự hào về truyền thống, văn hóa của dân tộc, phải có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa quê hương và sử dụng thành quả lao động một cách tiết kiệm.Ta phải biết tiếp thu một cách có chọn lọc những tinh hoa của nhân loại để làm cho truyền thống của nước nhà ngày một phong phú.Về phần mình, chúng ta phải học tập nghiêm túc để sau naỳ tạo ra được chính thành quả cho mình, cho xã hội, đó chính là biểu hiện cụ thể của lòng biết ơn.

    Qua câu tục ngữ này, chúng ta đã rút ra được bài học cụ thể cho bản thân: “uống nước nhớ nguồn” trước hết là nhớ công sinh thành, dưỡng dục của thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ của mọi người xung quanh, công lao của những thế hệ đã đi trước. Chúng ta phải sống sao cho trọn tình, trọn nghĩa, phải biết quý trọng và giữ gìn những thành quả mà mình đươc hưởng.Ta hãy học tập và làm việc sao cho xứng đáng với đạo lí làm người và truyền thống dân tộc.

     

    Bài 27: Nghị luận xã hội Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận

    Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, tuổi trẻ của thanh niên cũng như mùa xuân. Là lứa tuổi đẹp nhất trong mỗi cuộc đời. Thanh niên là lứa tuổi với nhiều ước mơ , dự định và hoài bảo lớn nhất .Để có thể làm tốt những hoài bảo đó thì những thanh niên đó cần phải có một mục đích sống một lí tưởng sống . Vậy lí tưởng sống của thanh niên ngày nay là gì?

    Bạn có biết tại sao chúng ta lại được sống trong một đất nước độc lập ngày nay không? Vì sao một đất nước nhỏ như chúng ta lại có thể đánh thắng được giặc ngoại xâm hùng mạnh không? Đó chính là nhờ lí tưởng của ông cha ta ngày xưa. Trong sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, đã có hàng triệu thanh niên lên đường ra trận, dũng cảm chiến đấu, hy sinh cuộc đời thanh xuân đẹp nhất của mình, góp sức quan trọng cùng toàn dân tộc đánh thắng hai kẻ thù hùng mạnh của thời đại là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.Họ đã có những lý tưởng sống đẹp họ chiến đấu hi sinh vì Đất nước thân yêu.Vậy sống trên 1 đất nước hòa bình độc lập này chúng ta cân phải làm gì để tiếp bước ông cha ta với sứ mệnh xây dựng Việt Nam thành một quốc gia hùng mạnh đang đặt lên vai thanh niên chính họ phải lĩnh sứ mệnh vô cùng cao cả và thiêng liêng này bởi họ là chủ nhân, là tương lai, là ‘’mùa xuân’’ của dân tộc . Thanh niên sống là phải có lý tưởng. Đễ thực hiện được lí tưởng đó mỗi thanh niên chúng cần phải trang bị một hành trang thật vững chắc đễ vào đời bằng việc học tập và phải sống có đạo đức. Nhưng nhìn thẳng vào thực tế hiện nay, khi đất nước ta đang có nguy cơ tụt hậu về kinh tế, tệ nạn xã hội ngày một gia tăng thì thanh niên chưa chứng tỏ đầy đủ được vai trò, trọng trách của mình trước sứ mệnh của đất nước. Mà lai có nhiều thanh niên ngày nay chỉ biết sống cho chính bản thân mình, những người có lối sống buông thả, sống cho qua ngày. Họ chùn bước trước khó khăn, lắc đầu trước thử thách và sống vô trách nhiệm với xã hội. Bởi lẽ một điều, họ vẫn còn mặc cảm với quê hương. Thái độ đáng trách này biểu hiện ở những người ta sống tha hương, chỉ biết sống vì đồng tiền, lúc nào cũng đem lợi ích của mình lên bàn cân để so đo, tính toán. Bảo vệ quyền lợi của mình, đó là đúng, nhưng dường như đừng quá vì bản thân mà xem nhẹ công đồng. Đó là lối sống ích kỷ. ‘Sống’ – Đó chỉ là một từ đơn giản thôi nhưng nó hàm chứa biết bao nhiêu điều. Sống vì điều gì và sống như thế nào. Điều đó tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người trong chúng ta. Để thanh niên ngày nay trở thành trụ cột của nước nhà không chỉ ở hiện tại mà ngay cả trong tương lai thì vấn đề sống còn là thanh niên phải xác định được cho mình một lý tưởng; sau khi đã xác định được phải phấn đấu để thực hiện lý tưởng đó. Chỉ có như thế thanh niên Việt Nam mới có thể hoàn thành được sứ mệnh mà đất nước giao phó và có thể ngẩng cao đầu với thanh niên thế giới. Mỗi thanh niên sẽ có quan niệm riêng của mình về lý tưởng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, trình độ, , lý tưởng đó phù hợp với xu thế chung của đại đa số thanh niên, và mang lại lợi ích cho dân tộc đó mới thật sự là lý tưởng. Con người ta luôn khát vọng hướng tới cái cao cả tức là hướng tới chân lý, những người sống phấn đấu hướng tới cái cao cả thường được gọi là người có lý tưởng. Như vậy chân lý không chỉ là ngọn đèn pha mà còn là cái đích của lý tưởng. Trong công cuộc đổi mới của đất nước, nhất là thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, thanh niên chính là nguồn nhân lực chất lượng cao nhanh chóng nắm bắt khoa học công nghệ hiện đại ở mọi lĩnh vực để phát triển đất nước. Thanh niên Việt Nam đã thể hiện rất nhiều ưu điểm như thông minh, cần cù, chịu khó, ham học hỏi, tiếp thụ cái mới nhanh… Nhiều bạn trẻ đã thể hiện lối sống cao đẹp, thổi bùng ngọn lửa vì cộng đồng và không cam chịu đói nghèo. Các mùa hè tình nguyện đã thu hút hàng nghìn trí thức trẻ tình nguyện lên đường về nông thôn, miền núi. Nhiều dự án lớn do thanh niên đảm nhiệm… Kế thừa lời dạy về lý tưởng cho thanh niên của Hồ Chí Minh, kết hợp với thực tiễn ngày hôm nay của đất nước, thanh niên có thể xây dựng cho mình một chân lý – một lý tưởng: Không ngừng phấn đấu xây dựng Việt Nam trở thành một nước ‘’Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’. Tất nhiên sự nghiệp to lớn này là của toàn dân tộc nhưng thanh niên giữ một vai trò quan trọng, bởi sự nghiệp này không phải một sớm một chiều mà đạt được; cần có thời gian, ngắn hay dài tuỳ thuộc vào sự phấn đấu của chúng ta. Thanh niên là lớp người trẻ tuổi sẽ kế tục và biến sự nghiệp này thành hiện thực.Giống như câu nói “Tinh thần của tuổi trẻ là đá quý kỳ lạ có thể nung sắt thành vàng”

    Là 1 thanh niên thế kỉ 20 với bước hội nhập hiện nay,với những lý tưởng và hoài bảo lớn,chúng ta hãy ra sức học tập và sống có đạo đức .Để thật sự là 1 người có ích trên xã hội này. Chúng ta ai cũng sống có khát vọng, hoài bão và hết mình vì nó. ‘Cái quý nhất của con người là cuộc sống, đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa, ân hận vì nhưng năm tháng sống phí, cho khỏi phải hổ thẹn vì những năm tháng sống hoài, sống phí… Sống có lý tưởng để đưa đất nước mình đi lên hội nhập với các cường quốc năm Châu.

     

    Bài 28: Nỗ lực học là trách nhiệm của thanh niên

    Lênin từng có câu: “Học, học nữa, học mãi”. Câu nói trên đã khẳng định tầm quan trọng thiết yếu của việc học. Và để việc học của chúng ta đạt được kết quả tốt đẹp thì mỗi cá nhân cần xác định rõ mục đích học tập cho bản thân. Vì lẽ đó mà UNESCO đã đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khằng định mình”. Vậy chúng ta hãy cùng làm rõ vấn đề trên.

    “Học” là sự tiếp thu kiến thức ở nhiều lĩnh vực không chỉ từ nhà trường mà còn từ cuộc sống. Ông bà ta khi xưa thường khuyên con cháu: “ Không biết thì hỏi, muốn giỏi phải học”. Thật vậy, để mở mang sự hiểu biết cũng như tích luỹ tri thức quý giá thì con người ta luôn phải trải qua quá trình học tập không ngừng nghỉ. Bạn có thể biết được những điều hay, mới lạ, bổ ích bằng cách tìm tòi học hỏi qua sách vở, qua thầy cô ,bạn bè cũng như từ thực tế cuộc sống. Chỉ cần luôn cố gắng và có tinh thần ham học hỏi, chắc chắn ta sẽ giải đáp được những điều ta muốn biết và hơn nữa là hiểu thêm về những điều ta chưa biết. Nhờ vậy mà bản thân luôn bắt kịp với thời đại, với sự phát triển vượt bậc của xã hội. Bên cạnh việc học để tiếp thu kiến thức, chúng ta còn cần xác định cho mình một mục đích học tập quan trọng khác nữa , đó là “học để làm”.Ta có thể hiểu “học để làm” ở đây là vận dụng những kiến thức mình đã học vào cuộc sống. Hay nói rõ hơn là học cho tương lai, học để mai sau có thể kiếm được công việc , nghề nghiệp ổn định nhờ đó nuôi sống bản thân và cống hiến sức lực , trí tuệ cho đất nước… Vậy còn “học để chung sống” là như thế nào? Hẳn ai cũng biết,cuộc sống quanh ta vốn muôn màu muôn vẻ, đa dạng và vô cùng phức tạp với nhiều mối quan hệ. Việc “học” trong trường hợp này được hiểu là học cách đối nhân xử thế, học những điều hay lẽ phải cũng như cách sống đẹp. Quan hệ giữa người với người đi đến tốt đẹp, hoà hảo hay mâu thuẫn, xung đột đều là do chúng ta quyết định. Nếu biết cư xử phải lẽ với nhau, biết nghĩ cho nhau, cho tập thể thì hẳn mỗi người đểu cảm nhận được niềm hạnh phúc khi cho đi và nhận lại. Mặt khác, “học để chung sống” còn là học tập và tuân theo những chuẩn mực về đạo đức, pháp luật để trở thành một cong dân gương mẫu , góp phần xây dựng bộ mặt văn minh, tích cực cho đất nước.  Cuối cùng là “học để tự khẳng định mình”. Ai mà không muốn được mọi người kính nể, ai mà không muốn đạt được địa vị cao cũng như gặt hái được thành công trong cuộc sống. Thế nhưng không phải muốn là có thể có được mà ta phải trải qua sự rèn luyện, học tập chăm chỉ. Vì lẽ đó mà mỗi chúng ta phải luôn nổ lực tìm tòi kiến thức, cố gắng học thật giỏi để chứng minh được mình là người hữu ích và khẳng định tài băng của chính bản thân.  Có thể nói, bốn yếu tố trênđóng vai trò hết sực quan trọng cho sự học. “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình” là yêu cầu tiếp thu kiến thức rồi vận dụng nó vào thực hành, vào hành động trong cuộc sống từ đó hoàn thiện nhân cách và khẳng định chính bản thân. Là học sinh, việc đầu tiên chúng ta cần làm là phải ra sức học tập văn hoá để ứng dụng kiến thức đã học vào thức tế. Nhưng học giỏi vẫn chưa đủ mà ta còn phải rèn luyện nhân cách , đạo đức. Có những người rất giỏi giang, thành đạt nhưng chỉ biết có bản thân mình mà không nghĩ đến tập thể, không bao giờ biết giúp đỡ cộng đồng, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình. Như vậy là họ đã bỏ qua việc học để chung sống với xã hội. Cũng có những bạn chẳng xác định được mình học để làm gì. Các bạn ấy chỉ học qua loa, đối phó sao cho đủ điểm, học chỉ vì nghĩ ba mẹ ép buộc mà không hiểu rằng việc học có ý nghĩa rất quan trọng cho tương lai của mình. Bởi lẽ đó, mỗi học sinh hãy luôn có ý thức học tập và có trách nhiệm với chính bản thân cũng như gia đình và xã hội.  Tóm lại, việc học là rất quan trọng không chỉ với mỗi cá nhân mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội. Do đó, mỗi chúng ta, nhất là thế hệ thanh niên thế kỉ XXI hãy xác định cho mình mục đích học tập và phấn đấu nổ lực hết mình để mai này trở thành công dân có ích, góp phần xây dựng đất nước thêm giàu mạnh.

     

    Bài 29: Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động

    Khi mỗi người trong chúng ta làm một việc tốt, bất kể là việc gì, có ai biết rằng chúng ta đang thể hiện đức hạnh của chính mình. Hay nói cách khác như lời của nhà văn Pháp M. Xi-xê-rông: “ Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”.

    Mỗi con người khi sinh ra đều có mặt tốt và mặt xấu. Trong mặt tốt, một phần chính là đức hạnh của mỗi người. Đức hạnh là đạo đức, là phẩm chất, là những đức tính tốt đẹp của con người, có sẵn hay phải trải qua quá trình rèn luyện mới có được. Hành động có thể được định nghĩa là những việc làm cụ thể, được bộc lộ hằng ngày, và quan trọng hơn đó là sự thể hiện của đức hạnh. Đó cũng chính là phần còn lại của mặt tốt trong mỗi người. Cả câu nói của nhà văn M. Xi-xê-rông mang ý nghĩa như chính nghĩa gốc của nó. Mọi phẩm chất tốt đẹp cần được thể hiện ở trong những hành động cụ thể.

    Một người không phải tự nhiên được biết đến là có đức hạnh, mà điều đó còn phụ thuộc vào những việc làm ý nghĩa mà người ấy đã làm. Đơn giản hơn, đó chỉ là những công việc bình thường, như giúp đỡ người già qua đường, nhường chỗ cho phụ nữ và trẻ em trên xe buýt hay biết quan tâm dến người khác và đối xử tốt với mọi người xung quanh. Đó chỉ là những công việc nhỏ hằng ngày được xuất phát từ một tâm hồn trong sáng, luôn hướng về cái đẹp, cái thiện, điều đó sẽ chính là sự thể hiện của đức hạnh.

    Người ta thường nói rằng:

    “ Ý nghĩa là nụ

    Lời nói là bông hoa

    Việc làm mới là quả ngọt.”

    Khi ta có ý nghĩa về một việc làm tốt, ta cần nói ra để xem xét. Nhưng không phải là nói suông, ta cần phải thực hiện điều đó. Chúng ta làm điều đó bằng tất cả tấm lòng, biến những điều ấy từ suy nghỉ, lời nói thành vệc làm cụ thể, như vậy mới tạo thành “quả ngọt”.

    Tuy vậy, vẫn có một số trường hợp cần được xem xét trong từng hoàn cảnh. Nói dối được xem là một hành động xấu và sai. Nhưng trong trường hợp một bác sĩ phải nói dối về bệnh tình của bệnh nhân để người ấy yên tâm tiếp tục điều trị, đó lại là một hành động cao cả. Thế nhưng vẫn còn tồn tại rất nhiều những kẻ thiếu đức hạnh. Họ nói ra những điều lớn lao, cao cả nhưng hành động thì ngược lại, vì thực chất, họ làm vậy vì những mục đích ích kỉ riêng của chính họ. Chúnh ta không loại bỏ họ mà phải làm thay đổi được những con người ấy.

    Một xã hội tốt đẹp là một xã hội có những con người làm nhiều việc tốt, biết tu dưỡng bản thân, hoàn thiện tâm hồn. Điều đó được xuất phát từ đức hạnh hay cũng chính là sự thể hiện của một con người có mọi phẩm chất tốt đẹp từ đức hạnh.

    Nhạc sỹ thiên tài người Đức Beettoven có nói “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem hạnh phúc cho người khác”. Ý kiến đó có còn nguyên giá trị trong cuộc sống của ngày hôm nay?. “Hạnh phúc” chính là cuộc sống tốt đẹp; niềm vui, sự thỏa mãn về mặt tinh thần, tình cảm của con người …. Còn “cao quý” và “tốt đẹp” là những cụm từ có ý tôn vinh ca ngợi. Câu nói “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem hạnh phúc cho người khác” của Beettoven thể hiện quan niệm sống đẹp ,khẳng định ca ngợi quan niệm sống hướng về cống hiến,vị tha…Trong cuộc sống, ai cũng tìm kiếm hạnh phúc nhưng quan niệm về hạnh phúc của mỗi người khác nhau. Có người coi sự thỏa mãn vật chất, tình cảm của riêng mình là hạnh phúc. Nhưng cũng có không ít người quan niệm hạnh phúc là cống hiến, là trao tặng. Đối với họ, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết hi sinh cho hạnh phúc nhân loại. Beethoven quan niệm như thế. Những người biết sống vì người khác , đem lại hạnh phúc cho người khác , là những người có tấm lòng nhân hậu; có cuộc sống đầy ý nghĩa cao cả , đáng trân trọng…Thật vậy, trong cuộc sống nếu chúng ta đem lại được hạnh phúc cho người khác thì quả là tuyệt vời. Hạnh phúc đó có thể dễ dàng có được khi ta giúp đỡ một cụ giá qua đường, hay nhường chỗ cho một phụ nữ có thai trên xe buýt… Tất cả những điều đó thật đơn giản nhưng đã mang lại hạnh phúc cho người khác, làm mọi người vui vẻ. Và không dừng ở đó hạnh phúc cũng ở lại với chúng ta khi ta làm được một điều tốt đẹp, có ích cho người khác, cho xã hội. Hành động cao quý và tốt đẹp hơn, to lớn hơn chính là hạnh phúc của sự bình yên mà các anh bộ đội, các chiến sỹ Cách mạng đã đem lại cho chúng ta. Tất cả những hy sinh của các anh chỉ để đem lại hạnh phúc cho chúng ta, cho dân tộc. Hạnh phúc ở đây là sự độc lập tự do cho cả dân tộc. Thậ cao quý và tốt đẹp dáng tôn vinh biết nhướng nào!

    Việc đem hạnh phúc cho người khác thật đơn giản nhưng cũng rất cao quý. Tuy nhiên trong xã hội vẫn còn nhiều người ngay cả việc nhỏ nhất họ cũng không làm. Một số họ chỉ biết có bản thân, toàn đem lại bất hạnh cho người khác. Trong gia đình, chúng ta cần lên án những người chồng vũ phu, đánh đập vợ con hoặc những đứa com bất hiếu chỉ ăn chơi, thoả mãn nhu cầu cá nhân, làm cha mẹ đau lòng. Tại sao những con người ấy lại nhẫn tâm đem lại sự bất hạnh cho chính những người thân yêu nhất của mình?… Ngoài xã hội, hiên có một lớp thanh niên, thay vì giúp đỡ người giá yếu , họ lại lợi dụng để cướp giất, móc túi… Những kẻ lấy sự bất hạnh của người khác làm hạnh phúc của mình cần đáng bị trừng trị!. “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem hạnh phúc cho người khác”. Đó là một quan điểm sống mang tính nhân văn. Nếu có một điều ước thì tôi sẽ ước cho tất cả mọi người trên thế giới này đều dược hạnh phúc. Muốn vậy, ngay từ bây giờ mỗi người chúng ta hãy cố gắng làm thật nhiều điều , dù lớn, dù nhỏ, để đem lại hạnh phúc cho cho mọi người, cho gia đình và cũng là cho bản thân chúng ta…

     

    Bài 30: Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy…

    Triết lý nhà phật có nhắc đến cái gọi là thuyết luân hồi: Một con người, sự vật chết đi sẽ hoá thân, chuyển kiếp sang một kiếp sống mới, dưới một hình hài mới. Bản thân tôi không hoàn toàn tin vào nó, tôi cảm nhận được nó dưới một khía cạnh khác. Đọc “Mùa lạc” của Nguyễn Khải tôi nhận ra được một điều đó: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”

    Sự sống ở đây, theo tôi là những giá trị hiện sinh, đó là sự sống của con người, cỏ cây, chim muông. Đó cũng có thể hiểu là sự sống trong tâm hồn, trong nhận thức. Sự sống và cái chết; hạnh phúc và hy sinh gian khổ là những khái niệm trái ngược nhau, thế nhưng “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ”.

    Tại sao lại như thế? Theo tôi, trước hết là bởi không có gì trường tồn mãi với thời gian, không có cuộc sống, số phận nào là luôn luôn hạnh phúc. Cái chết phải luôn song hành cùng sự sống, có hy sinh gian khổ mới có hạnh phúc. Cuộc sống vốn rất phức điệu và đa chiều. Nó có muôn màu, muôn vẻ thiên hình và vạn trạng.Ông cha ta đã từng khẳng định: “Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai”. Đó chính là một dẫn chứng cho ý kiến trên.Không ai cấm, trên xác cây khô kia nảy sinh những mầm xanh, qua mùa đông tàn tạ úa vàng mới đến ngày xuân trăm hoa đua nở. Đó chính là vì “sự sống nảy sinh từ trong cái chết”.

    Ở đây là một câu nói có tính chất khẳng định. Từ trong cái chết – cái tàn tạ, úa vàng sẽ nảy sinh ra sự sống – giá trị hiện sinh. Sự sống ấy dĩ nhiên không thể chung sống, phát triển trong môi trường ấy nhưng đó là nơi nó “nảy sinh”. Bản thân sự vật luôn biến đổi không ngừng nghỉ, ẩn đằng sau – tận bên trong cái khô héo không ai ngăn trở được những biến đổi vận động không ngừng để nảy sinh ra sự sống. Ai biết được, những hạt lúa đã được phơi khô kia cấy xuống nước lại có thể mọc ra cây lúa xanh tươi. Tôi lại chợt nhớ đến bài kệ của một bậc thiền sư thời Lý căn dặn học trò trước lúc ra đi.

    Xuân khứ bách hoa lạc

    Xuân đáo bách hoa khai

    Sự trục nhãn tiền quá

    Lão tòng đầu thượng lai

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

    Dịch thơ

    Xuân đi trăm hoa rụng

    Xuân đến trăm hoa cười

    Trước mắt việc đi mãi

    Sau lưng già đến rồi

    Ai bảo xuân tàn hoa rụng hết

    Đêm qua sân trước một cành mai

    (Mãn giác thiền sư)

    Vâng, xuân đến và đi là quy luật của tạo hoá. Đó là vòng quay của thời gian. Thế nhưng, trong cái giá rét của đêm đông ấy, trên cái cành khô mà tưởng như hoa đã “lạc tận” – rụng hết ấy vẫn bừng lên vẻ đẹp của “nhất chi mai”. Cái hình ảnh cành mai dẫu đơn độc nhưng thật cứng cỏi ấy như tạc vào đêm tối chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự sống ở giữa cái nơi mà vạn vật tưởng đã úa tàn. Sự sống và cái chết, đau khổ và hạnh phúc, đó chính là một vòng tròn của số phận, của tạo hoá; đó chính là nguyên cớ cho sự nảy sinh – hiện hình.

    Với “Mùa lạc”, Nguyễn Khải cũng đã chứng minh được điều đó. Có ai ngờ đâu trên mảnh đất đầy bom đạn của Điện Biên, nơi từng bị bom thù giày xéo từng tấc đất, tưởng như không một sư sống lại mọc lên một nông trường Điện Biên cây cối tốt tươi, có cả cuộc sống con người với đủ mọi cung bậc cảm xúc.Đối với con người cũng vậy, hạnh phúc hiện hình từ trong hy sinh, gian khổ. Bác Hồ cũng đã từng nói:“Nếu không có cảnh đông tànThì sao có cảnh huy hoàng ngày xuân”Con người từ khi sinh ra, không ai có được quyền hưởng hạnh phúc suốt đời mà không phải chịu sự khổ đau, hi sinh nào. Cũng như, không có ai là suốt đời đau khổ mà không tìm được hạnh phúc. Trong vất vả, đớn đau, hạnh phúc vẫn có thể hiện hình. Một người đã “quá lứa lỡ thì” như Đào, đã từng mất chồng mất con, từng lang bạt tứ xứ tối đến đặt lưng ở đâu là nhà – một con người từng chịu bao nhiêu đau khổ, mặc cảm – cuối cùng cũng tìm được một bến đỗ bình yên nơi nông trường, tìm được một hạnh phúc dẫu muộn màng bên người đội trưởng.

    Vâng, phải chăng đó chính là sự hiện hình của hạnh phúc. Hay với “Vợ nhặt” của Kim Lân chẳng hạn. Trong cái nạn đói khủng khiếp từng giết chết hai triệu đồng bào ta, giữa cái không khí dày đặc nỗi ám ảnh về cái chết mà Kim Lân đã dựng rất thành công, người đọc vẫn cảm động biết bao khi bắt gặp hạnh phúc – dẫu mới chớm nở và đang ngập chìm trong nỗi lo toan của Tràng của “Thị” và của bà cụ Tứ. Vâng, trong đau khổ, đói nghèo, kề cận với cái chết hạnh phúc vẫn hiện hình và trở thành nguồn động viên với họ. Không trải qua hy sinh, gian khổ làm sao đòi hỏi được có hạnh phúc. Hạnh phúc – sự sống cứ như được gieo mầm từ trong cái chết – trong gian khổ hy sinh. Đó chính là lí do để thôi thúc tôi không nguôi hy vọng, không thôi chiến đấu vì niềm tin đó.Đó là bởi “ở đời này không có con đường cùng chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”…

    Vai trò của con người đã được khẳng định: con người phải chiến đấu, luôn luôn chiến đấu để vượt qua ranh giới – ranh giới của sự sống và cái chết, giữa hạnh phúc và hy sinh, đau khổ. Vâng, ở đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Sự sống, hạnh phúc chưa và sẽ không bao giờ đi đến chỗ tận diệt cả, có chăng đó chỉ là những thử thách, ranh giới đòi hỏi con người phải vượt qua, phải chiến thắng nó. Đó mới là vai trò, sứ mệnh của con người.Vậy, “điều cốt yếu” là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy.

    Giữa sự sống – cái chết, hạnh phúc – khổ đau luôn có những ranh giới. Và chỉ có chúng ta, những con người mới có đủ khả năng vượt qua nó. Mị trong “vợ chồng A Phủ” là một minh chứng về sức mạnh vượt qua những ranh giới của con người.Từ một cô gái xinh đẹp, thổi sáo hay nức tiếng khắp nơi, bị bắt về “cúng trình ma” nhà A Sử, sau khi muốn tự tử mà không được vì thương bố, Mị phải chấp nhận làm dâu – làm con trâu, con ngựa cho nhà thống lý Pá Tra. Bị hành hạ, đối xử tàn tệ, tưởng như Mị đã mất hết sức sống, mất hết ý chí mà trở thành cái xác vô hồn. Nhưng không, trong con người Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt không gì dập tắt nổi. Đó là ngày xuân muộn ở Hồng Ngài, Mị đòi đi chơi xuân (dù sau đó bị A Sử bắt trói vào cột nhà) Đó là ngày tết Mị lén lấy rượu uống từng ngụm lớn. Và tiêu biểu nhất, đỉnh cao của tác phẩm là khi cô cắt dây trói cho A Phủ và xin đi theo. Đó chính là hành động giải thoát cho người khác và cho chính bản thân mình. Tưởng chừng như, sau biết bao hy sinh đau khổ, sư sống, khát khao hạnh phúc trong cô đã bị dập tắt. Nhưng không, nó vẫn cháy âm ỉ thành một sức mạnh giúp cô vượt qua cái ranh giới ấy mà tìm tới hạnh phúc, tìm lại sự sống (và quả thật, tới Phiềng Sa, tìm được ánh sáng của cách mạng Mị và A Phủ đã có cuộc sống đúng nghĩa). Một con người như Mị, tưởng như bị đẩy tới “bước đường cùng” nhưng vẫn đủ sức mạnh để vượt qua. Đó chính là minh chứng: trên đời này không có bước đường cùng mà đó chỉ là ranh giới mà chúng ta phải vượt qua mà thôi. Vậy tại sao, con người lại không đủ dũng khí để tiến bước !Hay như nhân vật Đào của “Mùa lạc”, cảnh ngộ ấy, cuộc đời ấy như bị đẩy tới tột cùng của đau khổ. Có lúc, Đào mặc cảm không dám đón nhận và chiến đấu vì hạnh phúc. Vậy mà sau đó cô cũng nhận thức được, cũng khao khát được hạnh phúc, đón nhận nó. Và cuối cùng, hạnh phúc đã đến với cô, một gia đình hạnh phúc với người yêu cô trên cái nông trường Điện Biên thân yêu. Đó chính là ranh giới và sự vượt qua ranh giới.Trên đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Vâng, và vì thế, đứng trước những ranh giới đó con người phải biết chiến đấu, phải có sức mạnh để vượt qua. Đó chính là điều cốt yếu ! Là con người, hạnh phúc và sự sống không thể chờ đợi ai mang đến cho mình mà phải chiến đấu mà giành lấy và gìn giữ nó. Đứng trước những ranh giới ấy, bản lĩnh con người mới được bộc lộ và phát huy. Không bao giờ được nguôi tắt hi vọng – phải chăng phần nào Nguyễn Khải muốn nhắn gửi với chúng ta điều đó.

    Trong cái chết, trong gian khổ hy sinh vẫn có thể nảy sinh, hiện hình hạnh phúc và sự sống. Xung quanh chúng ta cũng có biết bao tấm gương như vậy. Những học sinh hoàn cảnh khó khăn, mất bố mẹ, gia đình nghèo khó mà vẫn vươn lên học tốt không phải là những tấm gương cho ta học tập sao? Những người thương binh, hy sinh một phần máu thịt cho Tổ quốc, những người không còn sức khoẻ mà vẫn vươn lên làm kinh tế giỏi, những người đó có làm ta khơi lại suy nghĩ? Cuộc sống dường như đã đẩy họ đến bước đường cùng, nhưng họ đã chứng minh cho ta thấy, đó chỉ là những ranh giới và thực tế bằng ý chí, quyết tâm, sức mạnh họ đã vượt qua cái ranh giới khó khăn ấy!.

    Vâng, từ trong cái chết sự sống vẫn hiện hình. Nó thôi thúc ta hy vọng, chiến đấu để vượt qua tất cả. Hạnh phúc, sự sống nảy sinh hiện hình từ trong gian khổ và cái chết mới khiến ta trân trọng biết bao!Vấn đề nhân sinh mà Nguyễn Khải đặt ra trong “Mùa lạc” là rất đáng để suy ngẫm chiêm nghiệm. Kết thúc bài viết, tôi lại nhớ đến một bài thơ (cũng của một nhà sư) mà tất cả mọi người trong lớp tôi đều yêu mến. Dường như giữa Nguyễn Khải và Khuông Việt có gì gặp nhau chăng ?

    Mộc trung nguyên hữu hoả

    Nguyên hoả phục hoàn sinh

    Nhược vị mộc vô hoả

    Toàn toại hà do minh

    Tạm dịch:

    Lửa sẵn có trong cây

    Vơi đi chốc lại đầy

    Ví cây không có lửa

    Xát lửa sao bùng ngay

    .           Cái “ngọn lửa đầu tiên” thắp sáng nên hi vọng ấy phải chăng đã được Nguyễn Khải đưa vào “Mùa lạc” mà phát triển, bổ sung thành một triết lý mới.

     

     

    Bài 31: Nghị luận xã hội về nghị lực sống của con người

    Trong cuộc sống của chúng ta, có biết bao khó khăn mà ta cần phải vượt qua. Những khó khăn đó như một định luật tự nhiên để ta có thể phát triển và thăng tiến.
    Trong cuộc sống của chúng ta, có biết bao khó khăn mà ta cần phải vượt qua. Những khó khăn đó như một định luật tự nhiên để ta có thể phát triển và thăng tiến. Nhưng để có thể vượt qua được những khó khăn đó đòi hỏi chúng ta phải có sự kiên trì, bền bỉ. Và Nguyễn Bá Học đã có câu châm ngôn: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” Vậy bây giờ chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu câu nói này của ông!

    Đường đi ở đây có nghĩa là con đường mà chúng ta phải đi, phải vượt qua để tiến về phía trước. Trên đường đi của chúng ta chắc chắn sẽ phải có nhiều những con sông, những ngọn núi làm cho chúng ta khó có thể vượt qua. Nhưng con đường đó dù có bao nhiêu sông, bao nhiêu núi, nếu chúng ta không; ngại ngùng, lo âu, sợ hãi hay chán nản, chùn bước, buông xuôi thì ta vẫn có thể vượt qua được nó một cách dễ dàng. Nhìn chung, qua câu nói này, Nguyễn Bá Học muốn ngụ ý cho chúng ta rằng con đường đi cho dù khó mấy thì ta cũng vẫn có thể vượt qua, điều quan trọng là tâm ý của ta có kiên định để vượt qua những khó khăn mà con đường đó mang tới cho ta hay không? Nói sâu hơn thì con đường mà Nguyễn Bá Học muốn nói tới đó là đường đời, chúng ta phải dùng chính sức của mình để vượt qua nó, nếu chỉ biết dựa dẫm, nhờ vả mà không nỗ lực thì sẽ không tài nào vượt qua được.

    Khó khăn như là một câu thách đố đòi hỏi chúng ta phải biết vượt qua chính mình bằng cách chỉnh đốn lại nội tâm và làm chủ bản thân. Chỉ có lòng kiên định và ý chí kiên trì bền bỉ mới có thể giúp ta vượt qua được những trở ngại của cuộc sống. Đó là một nền tảng mà bất cứ người nào cũng cần nên có. Chẳng hạn như chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, suốt một đời lo cho nước, cho dân, đi nhiều noi và làm đủ mọi việc. Con đường Người phải đi thật gian lao, vất vả nhưng với ý chí, quyết tâm, nghị lực phi thường. Người đã mang đến cho dân tộc ta ánh sáng của độc lập tự do, một cuộc đời ấm no, hạnh phúc.

    Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều người không biết dùng sức mình để vượt qua khó khăn, họ chỉ biết dựa dẫm vào người khác. Những người đó là những người không biết vượt qua nhiệm vụ mà cuộc sống đã thử thách chúng ta, thật đáng bị xã hội phê phán. Không nói đâu xa, chỉ cần nói trong học sinh chúng ta. Khi làm bài kiểm tra, những bạn biết tự dùng sức mình để làm bài vẫn hơn những bạn không học mà quay cóp hay mở tập. Dù có thể điểm số khi phát ra của những bạn đó không cao bằng những bạn quay cóp nhưng những bạn đó có thể tự hào vì mình đã không làm những chuyện làm cho lương tâm mình ray rứt. Vì vậy, cho dù khó khăn có thế nào đi nữa thi chúng ta đừng nên nản lòng, hãy vững tâm bước tiếp, có như vậy ta mới có được những bài học sáng suốt để có thể vượt qua những khó khăn của cuộc sống.

    Chúng ta không thể biết con đường này, hay nói cách khác là đường đời sẽ dẫn ta đến đâu nếu ta chưa thực sự đi qua nó. Có rất nhiều khả năng mà ta Không thể kiểm soát được. Điều duy nhất có thể làm là ta phải biết làm chủ mình, đưa ra quyết định thật đúng đắn và quyết tâm kiên trì theo đuổi đến cùng. Như vậy không sớm thì muộn ta cũng có thể vượt qua được nó. Cũng như chủ tịch Hổ Chí Minh đã dạy: ” Không có việc gì khó – Chi sợ lòng không bền – Đào núi và lấp biển – Quyết chí ắt làm nên.” Chỉ cần có ý chí là chúng ta có thể vượt qua được mọi trở ngại cho dù trở ngại đó có lớn đến mức nào. Khó khăn càng lớn khi ước vọng càng cao, khó khăn càng không thể vượt qua khi khả năng làm chủ bản thân càng thiếu. Vậy tại sao chúng ta không thử quyết tâm, kiên trì theo đuổi một điều gì đó đến cùng để rồi ta có thể nhận được một thành quả lớn như ta đã mơ ước ?

    Cuộc sống luôn là một bức tranh muôn màu muôn vẻ, còn biết bao nhiêu điều đang chờ đợi ta phía trước. Vì thế hãy dám nghĩ, dám quyết định và lựa chọn con đường đi cho chính bản thân mình, đừng nên chần chừ và do dự. Kiến thức, niềm tin, lòng nhiệt huyết và sự quyết tâm kiên trì vượt khó sẽ là những người bạn đồng hành không thể thiếu của mỗi người chúng ta trên con đường đời ấy.


    Bài 32: Nghị luận xã hội về tính tự tin và tự phụ

    Trong cuộc sống của chúng ta, có biết bao khó khăn mà ta cần phải vượt qua. Những khó khăn đó như một định luật tự nhiên để ta có thể phát triển và thăng tiến. Nhưng để có thể vượt qua được những khó khăn đó đòi hỏi chúng ta phải có sự kiên trì, bền bỉ. Và Nguyễn Bá Học đã có câu châm ngôn: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” Vậy bây giờ chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu câu nói này của ông!

    Đường đi ở đây có nghĩa là con đường mà chúng ta phải đi, phải vượt qua để tiến về phía trước. Trên đường đi của chúng ta chắc chắn sẽ phải có nhiều những con sông, những ngọn núi làm cho chúng ta khó có thể vượt qua. Nhưng con đường đó dù có bao nhiêu sông, bao nhiêu núi, nếu chúng ta không; ngại ngùng, lo âu, sợ hãi hay chán nản, chùn bước, buông xuôi thì ta vẫn có thể vượt qua được nó một cách dễ dàng. Nhìn chung, qua câu nói này, Nguyễn Bá Học muốn ngụ ý cho chúng ta rằng con đường đi cho dù khó mấy thì ta cũng vẫn có thể vượt qua, điều quan trọng là tâm ý của ta có kiên định để vượt qua những khó khăn mà con đường đó mang tới cho ta hay không? Nói sâu hơn thì con đường mà Nguyễn Bá Học muốn nói tới đó là đường đời, chúng ta phải dùng chính sức của mình để vượt qua nó, nếu chỉ biết dựa dẫm, nhờ vả mà không nỗ lực thì sẽ không tài nào vượt qua được.

    Khó khăn như là một câu thách đố đòi hỏi chúng ta phải biết vượt qua chính mình bằng cách chỉnh đốn lại nội tâm và làm chủ bản thân. Chỉ có lòng kiên định và ý chí kiên trì bền bỉ mới có thể giúp ta vượt qua được những trở ngại của cuộc sống. Đó là một nền tảng mà bất cứ người nào cũng cần nên có. Chẳng hạn như chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, suốt một đời lo cho nước, cho dân, đi nhiều noi và làm đủ mọi việc. Con đường Người phải đi thật gian lao, vất vả nhưng với ý chí, quyết tâm, nghị lực phi thường. Người đã mang đến cho dân tộc ta ánh sáng của độc lập tự do, một cuộc đời ấm no, hạnh phúc.

    Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều người không biết dùng sức mình để vượt qua khó khăn, họ chỉ biết dựa dẫm vào người khác. Những người đó là những người không biết vượt qua nhiệm vụ mà cuộc sống đã thử thách chúng ta, thật đáng bị xã hội phê phán. Không nói đâu xa, chỉ cần nói trong học sinh chúng ta. Khi làm bài kiểm tra, những bạn biết tự dùng sức mình để làm bài vẫn hơn những bạn không học mà quay cóp hay mở tập. Dù có thể điểm số khi phát ra của những bạn đó không cao bằng những bạn quay cóp nhưng những bạn đó có thể tự hào vì mình đã không làm những chuyện làm cho lương tâm mình ray rứt. Vì vậy, cho dù khó khăn có thế nào đi nữa thi chúng ta đừng nên nản lòng, hãy vững tâm bước tiếp, có như vậy ta mới có được những bài học sáng suốt để có thể vượt qua những khó khăn của cuộc sống.

    Chúng ta không thể biết con đường này, hay nói cách khác là đường đời sẽ dẫn ta đến đâu nếu ta chưa thực sự đi qua nó. Có rất nhiều khả năng mà ta Không thể kiểm soát được. Điều duy nhất có thể làm là ta phải biết làm chủ mình, đưa ra quyết định thật đúng đắn và quyết tâm kiên trì theo đuổi đến cùng. Như vậy không sớm thì muộn ta cũng có thể vượt qua được nó. Cũng như chủ tịch Hổ Chí Minh đã dạy: ” Không có việc gì khó – Chi sợ lòng không bền – Đào núi và lấp biển – Quyết chí ắt làm nên.” Chỉ cần có ý chí là chúng ta có thể vượt qua được mọi trở ngại cho dù trở ngại đó có lớn đến mức nào. Khó khăn càng lớn khi ước vọng càng cao, khó khăn càng không thể vượt qua khi khả năng làm chủ bản thân càng thiếu. Vậy tại sao chúng ta không thử quyết tâm, kiên trì theo đuổi một điều gì đó đến cùng để rồi ta có thể nhận được một thành quả lớn như ta đã mơ ước ?

    Cuộc sống luôn là một bức tranh muôn màu muôn vẻ, còn biết bao nhiêu điều đang chờ đợi ta phía trước. Vì thế hãy dám nghĩ, dám quyết định và lựa chọn con đường đi cho chính bản thân mình, đừng nên chần chừ và do dự. Kiến thức, niềm tin, lòng nhiệt huyết và sự quyết tâm kiên trì vượt khó sẽ là những người bạn đồng hành không thể thiếu của mỗi người chúng ta trên con đường đời ấy.


    Bài 33: Nghị luận xã hội về thần tượng

    Hiện nay, xuất hiện nhiều nghệ sĩ ca sĩ trẻ tuổi đang nổi tiêng trong giới trẻ. Họ trở thành thần tượng trong mắt của những thanh thiếu niên và tạo ra những xu hướng mới lạ. Nhưng làm sao để thanh thiếu niên biết được cách hâm mộ thần tượng của mình một cách không thái quá hay làm những hành động không đúng đối với thần tuợng của mình. Đó là những nghi vấn của người ngoài cuộc khi thấy những hành vi không đúng đắn của thanh thiếu niên gây ra.

    Thần tượng là hình mẫu lí tưởng, mô thức hoàn hảo trong lĩnh vực nghệ thuật mà người hâm mộ muốn, học hỏi, noi theo và tiếp nối. Họ tạo nên những xu hướng mới lạ và khi đó người hâm mộ sẽ noi theo, bắt chước giống như thần tượng của mình. Những nghệ sĩ ca sĩ đánh bóng tên tuổi của mình bằng hình thức như luôn sáng tác các ca khúc, gây ra những tai tiếng xấu,… Nhưng giới trẻ lại xem đó là những điều hay mà học hỏi.

    Một số thanh thiếu niên bắt chước thái quá hoặc giống hoàn toàn với thần tượng của mình. Đó cũng là vấn đề mà các bậc phụ huynh đang lo lắng cho con em của họ. Nhưng họ lại không có thời gian chăm sóc cho con của mình nên ít quan tâm đến. Vì vậy, ngày càng nhiều những hành động hâm mộ thái quá của thanh thiếu niên.

    Qua các sự việc được nêu ở trên cho ta thấy được hai mặt về việc hâm mộ thần tượng ở thanh thiếu niên: sống có thần tượng cũng là một nét văn hóa. Nhưng vấn đề là nét văn hóa ấy cần được người hâm mộ thể hiện, kiểm soát và điều chỉnh một cách phù hợp để giúp bản thân vươn lên, tiến bộ không ngừng. Và thần tượng phải góp phần làm cho người hâm mộ ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, sống tốt đẹp và sống có ý nghĩa hơn. Vì vậy, người hâm mộ nên học hỏi điều tốt đẹp từ thần tượng chứ không phải sùng bái một cách điên cuồng rồi đua đòi, bắt chước theo những thói hư tật xấu mà bỏ bê học hành có khi dẫn đến bệnh hoang tưởng.

    Từ những hành động của thanh thiếu niên dành cho thần tượng của mình một cách thái quá cho ta rút được kinh nghiệm: chọn cho mình một thần tượng phù hợp để học ở đó thái độ cầu tiến, để ra cho mình hướng đi, lối sống đúng đắn… Chứ không phải bắt chước thái quá gây phản cảm cho người khác và có khi làm hại đến bản thân mình.

    Mỗi bạn trẻ cần xác định cho mình những cách ứng xử và lựa chọn đúng đắn. Trân trọng và thần tượng cái đẹp nhưng không thái quá mà vẫn luôn giữ được một phương châm sống chuẩn mực và lành mạnh

    Bài 34: Nghị luận xã hội về lòng khoan dung

    Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo. Ai cũng mang trong mình những yếu đuối rất con người. Và vì thế ai cũng cần được khoan dung…

    Khoan dung là một phẩm chất đáng trân trọng của con người. Khoan dung là biết tha thứ, bỏ qua cho những sai lầm thiếu sót của người khác; là biết chấp nhận những yếu đuối sai phạm của người khác và giúp họ đứng lên sau vấp ngã. Khoan dung, còn nghĩa là tự tha thứ cho chính mình…

    Khoan dung – ấy là khi bạn bỏ qua cho người lạ vừa vô tình dẫm lên chân bạn trên xe buýt. Khoan dung – ấy là khi tôi chân thành đón nhận lời xin lỗi của người bạn vừa khiến tôi buồn. Khoan dung – là khi người mẹ giang rộng vòng tay ôm lấy đứa con trai sau những chuỗi ngày lang thang, nay đã ân hận trở về. Khoan dung, nhiều cách biểu hiện, chung một trái tim: Nhân ái!!!

    Vậy… tại sao phải khoan dung?

    Trước hết, khoan dung là sự hiểu biết của một nhân cách cao đẹp, thể hiện một tâm hồn rộng mở, giàu lòng yêu thương. Bởi, chỉ khi biết mở rộng tấm lòng, chỉ khi tình yêu được nhân ái hoá, con người ta mới có thể quên đi những thiệt hại, những tổn thất của mình mà tha thứ cho người khác. Hãy xem cách dân tộc Việt Nam tha thứ cho kẻ thù xâm lược để thấy đưọc truyền thông nhân đạo, nhân ái của ông cha ta đáng khâm phục đến nhường nào. Trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi viết:

    Mã Kì, Phương Chính cấp cho 500 chiếc thuyền

    Vương Thông, Mã Anh cấp cho hàng nghìn cỗ ngựa.

    Trong “Tuyên ngôn độc lập” Bác đã khẳng định: “Tuy vậy, dân tộc Việt Nam trước sau vẫn giữ thái độ khoan hồng, nhân đạo với kẻ thù thất thế”…

    Hẳn là khi viết lại những hành động khoan dung, nhân đạo ấy của dân tộc ta, các tác giả phải tự hào biết bao!

    Không chỉ là biểu hiện của một tấm lòng nhân ái cao đẹp, lòng nhân ái đã thấm đượm tình người, khoan dung còn là phẩm chất của một con người biết mình biết ta. Không ai là không phạm sai lầm. Chính khi khoan dung với người khác là bạn đang chuẩn bị cho mình “một lối đi về”… Bởi cũng sẽ đến lượt bạn sa ngã, bạn phạm lỗi. Ai sẽ tha thứ cho bạn nếu bạn không từng biết tha thứ? Ai sẽ chấp nhận bạn nếu bạn từng không đoái hoài đến sự ăn năn hối lỗi của người khác? Và ai sẽ khoan dung với bạn nếu bạn chưa từng khoan dung với kẻ khác đây?

    Vậy, không khoan dung với người khác là tàn nhẫn với chính mình…

    Không những thế, bất cứ khi nào bạn khoan dung cho người khác là bạn đang rộng mở một đường về cho chính họ. Lòng khoan dung sẽ cảm hoá được lỗi lầm, là động lực thúc đẩy, khuyến khích họ nhận ra sai lầm và sửa chữa. Chỉ cần một ánh mắt thiện cảm thôi cũng đủ cho những người từng là tù nhân cảm thấy được đón nhận, sống có ý nghĩa hơn, chỉ cần một nụ cười khuyến khích cũng đủ đẻ những thanh niên vừa ra trại thấy mình không bị bỏ rơi, lạc lõng..

    Tôi cực kì lên án thái độ thờ ơ lạnh nhạt của một số thanh niên hiện nay. Đối với những người đã từng phạm sai lầm giờ đang mang trong mình căn bệnh thế kỷ, mòn mỏi sống trong sự ghẻ lạnh của không ít người. Chính sự thờ ơ, lạnh nhạt, chính lòng ích kỷ thiếu khoan dung ấy đang gián tiếp tiếp tay cho tội ác lan rộng. Như thế là đúng sao? Là văn minh, tiến bộ sao?

    Những ánh mắt ghẻ lạnh ấy, những con người vô cảm ấy đang khiến xã hội này ngày càng thêm lạnh! Thiếu thốn tình cảm, thiếu thốn vị tha, lòng khoan dung,… tất cả sẽ chỉ còn là một xã hội vô tri, vô giác, lạnh lùng, vô cảm… Nhưng, vẫn còn đó những tấm lòng nhân ái, sống vì mọi người, biết tha thứ biết khoan dung góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, phát triển hơn, nhân ái hơn,…

    Và chắc hẳn những người biết khoan dung đó sẽ luôn nhận được tình yêu thương, sự kính trọng của mọi người.

    Khoan dung với người khác, rất cần thiết, nhưng chưa đủ! Tôi đau lòng khi không ít người tự dằn vặt mình, hành hạ tâm hồn và thể xác mình… vì họ cho rằng mình đã làm sai, mình không đáng được tha thứ. Đừng như thế. Biết nhận ra lỗi lầm là điều tốt, nhưng cứ sống mãi trong hoài niệm thế có tốt không? Tại sao không tự tha thứ và bắt đầu lại… một sự khởi đầu mới tốt đẹp hơn…?

    Tuy nhiên cần biết phân biệt giữa khoan dung và bao che. Thật đáng buồn khi nhiều người tiếp tay cho tội ác mà cứ nghĩ là khoan dung. Nhìn thấy người bạn thân quay cóp bài, một lần, hai lần, rồi ba lần… làm ngơ bỏ qua, hi vọng bạn tự biết sửa chữa. Khoan dung đây ư?

    Xin nhắc lại, khoan dung là tha thứ chứ không là bao che.

    Khoan dung – là chấp nhận những yếu đuối của người khác và giúp họ sữa chữa – không có nghĩa là tiếp tay cho họ. Mỗi người hãy học cách khoan dung với bản thân, với người khác bằng lòng nhân ái, bằng đức hi sinh. Không chỉ biết khoan dung, bên cạnh đó, việc giúp người khác (hay chính mình) nhận ra sai lầm, định hướng sửa chữa, cũng là điều rất quan trọng.

    Vâng! Tôi cũng không phải là một người hoàn hảo. Bản thân tôi cũng từng mắc sai lầm… đó là khi tôi không học bài và bị điểm kém…. tôi đã vô tình khiến bốmẹ và thầy cô thất vọng… Là khi tôi trách nhầm đứa bạn… là khi tôi đã dửng dưng trước những ánh mắt thơ ngây cầu xin sự giúp đỡ của những em bé đánh giầy tội nghiệp…

    Nhưng nhờ đó tôi cũng rút ra bài học cho bản thân mình… đó là khi nhìn thấy ánh mắt buồn của mẹ, tôi biết mình cần cố gắng. Là khi nhận được lời giải thích, cái ôm xiết chặt của nhỏ bạn, tôi biết mình cần suy nghĩ chín chắn hơn. Là khi tôi nhận được sự giúp đỡ của những em nhỏ đánh giầy nhặt giúp tôi chiếc ví mà tôi đã vô ý đánh rơi, tôi biết mình cần rộng lượng… Sau những vấp ngã, tôi vẫn được đón nhận, được yêu thương.

    Chính tình yêu, sự tha thứ của mọi người khiến tôi đứng lên sau những thất bại. Và tôi tin là lòng khoan dung có sức mạnh cảm hoá mãnh liệt…

    Chính vì vậy, để cuộc sống tươi đẹp và giàu tình người hơn. Mỗi chúng ta hãy sống một cách chân thành, luôn bao dung và độ lượng với những người xung quanh. Khi đó, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống thật đẹp và ý nghĩa.


    Bài 35: Nghị luận xã hội về lòng kiên nhẫn

    Kiên nhẫn là sẵn lòng làm việc để đạt được kết quả như mong muốn. Điều tốt đẹp, tích cực và sự thật không thể có được ngay tức thì hay tự động mà có, chúng đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua quá trình tiến triển theo từng giai đoạn.

    Có những lúc chúng ta phái hành động, nhưng cũng có những thời điểm ta chúng ta cần phải biết chờ đợi. Sự thành công chỉ đến khi chúng ta có những quyết định hợp lý, đúng lúc. Con người thường cứ cố buộc sự việc phải xảy ra. Đôi khi sự ép buộc này có hiệu quả, nhưng sau đó, trong chúng ta không có cảm giác đã hoàn thành một cách đúng nghĩa. Nếu sự thành công được gặt hái qua một cuộc chiến hay một vụ xung đột thì chiến thắng ấy cũng chỉ là một sự trống rỗng.

    Những thành quả tốt đẹp nhất không chỉ phụ thuộc vào bản thân chúng ta hay công sức của riêng ta mà còn đến từ việc học cách chấp nhận thực tại hoàn cảnh và những người trong mối quan hệ của chúng ta. Hãy để cho chính họ và những tình huống diễn ra một cách tự nhiên. Chắc chắn rằng mỗi việc chúng ta làm đều có một mục đích rõ ràng, tuy nhiên, chúng ta cũng không nên bám quá chặt vào mục đích, tìm cách đạt được nó bằng mọi cách. Chính sự đeo bám đó sẽ khiến kết quả công việc của chúng ta bị hạn chế. Khao khát đạt được thành quả sẽ tước đoạt sự trong sáng khỏi những hành động của chúng ta. Lúc đó, những gì chúng ta làm đều phụ thuộc vào sự toan tính.

    Bạn có biết công việc của người làm vườn diễn ra như thế nào không đầu tiên là chọn đất, chọn giống theo mùa vụ thích hợp. Sau đó sẽ là việc cày xới và gieo hạt, rồi tưới nước. Tiếp theo, anh ta phải đảm bảo luôn có đủ nước cho khu vườn, ngăn ngừa côn trùng tấn công. Nhưng vẫn chưa đủ, khu vườn của anh ta tươi tốt hay lụi tàn còn phụ thuộc rất nhiều vào việc thiên nhiên có ban tặng điều kiện sống thích hợp cho nó hay không. Anh ta hợp tác và giúp đỡ khu vườn nhưng không thể can thiệp được vào các quy luật của tự nhiên: bão tuyết, giông tố, ngập úng, nắng hạn… Khu vườn đẹp là sản phẩm của sự hợp tác giữa anh ta và thiên nhiên. Anh ta cần biết đặt mình vào những quy luật của thiên nhiên hiểu được rằng khi nào thì nên xen vào và khi nào thi phải chờ đợi.

    Thành công thật sự luôn dựa trên sự cộng tác tích cực. Người cộng tác không chỉ nhìn thấy vai trò của mình mà còn nhìn thấy vai trò của người khác. Và bản thân chúng ta cũng không quên trách nhiệm của riêng mình trước những đóng góp của người khác. Chúng ta không được quên quy luật quân bình.

    Người làm vườn phải hiểu quy luật quân bình, nếu không, anh ta sẽ hoặc làm việc quá nhiều hoặc lại làm quá ít, và vụ mùa sẽ không thu hoạch được như mong đợi. Người làm vườn phải tôn trọng thời gian, phải có lòng kiên nhẫn chờ đến đúng mùa mới gieo trồng, bởi nêu gieo hạt giống không đúng thời điểm hay không đúng mảnh đất phù hợp, thì có chăm chút bao nhiêu đi nữa cũng bằng không. Tuy thế chỉ riêng sự kiên nhẫn thôi chưa đủ. Kiên nhẫn mà thiếu hiểu biết, chúng ta sẽ đánh mất đi những cơ hội tốt đẹp. Mọi hành động chỉ cho kết quả tốt đẹp khi chúng ta biết thực hiện đúng lúc và đúng cách.

    Không hành động không có nghĩa là kiên nhẫn. Không hành động có thể đồng nghĩa với sự thờ ơ, hờ hững. Một khi châm chước trước thái độ thờ ơ„ hờ hững thì trong nội lực chúng ta không còn chỗ cho khát vọng nỗ lực, phân đấu hay tự cam kết với chính mình.

    Chúng ta nên gieo những hạt giống hành động đúng đắn và tưới chúng bằng tinh thần trách nhiệm và sự chăm chút. Đừng bao giờ gò ép hành vi hay tìm cách đi ngược lại quy luật tự nhiên, vì như thế, những tham vọng, những ham muốn ích kỷ sẽ phá hủy vụ mùa. Không thể có được thành công – đúng nghĩa hạnh phúc và mãn nguyện – nếu như luôn có một sự can thiệp và thao túng của tham vọng và những suy nghĩ không trong sáng. Chúng ta phải làm việc bằng sự tôn trọng đối với những quy luật tự nhiên và điều tốt đẹp vốn có sẽ hiện ra từ bản chất sự việc.

     

     

    Bài 36: Về một tác phẩn văn học đã gợi cho anh (chị) những cảm nghĩ sâu sắc nhất trước những vấn đề tu dưỡng và rèn luyện của tuổi trẻ hiện nay.

    Trong cuộc sống có biết bao điều ta nâng niu, quý trọng, yêu mến. Bạn rất yêu bức phù điêu tạc chân đung một vị thần công lý, còn người khác lại rung động bởi nét nhạc dịu dàng, thiết tha của Chopin, và người thứ ba lại yêu bức họa cánh rừng xào xạc của Levita. Nhưng có lẽ riêng tôi, cái mà tôi yêu nhất đó là những vần thơ tươi xanh, những vần thơ lửa cháy, trong những vần thơ ấy có cái “cái màu đỏ ấy”. Có thể lúc đầu đó chỉ là một tình yêu đầy cảm tính. Nhưng dần dần, cái cảm tính ấy mất đi, và nhường chỗ cho một cái gì đó cao quý lắm… mà chúng tôi không định nghĩa nổi. Tôi muốn các bạn cùng tôi yêu bài thơ ấy và màu đỏ ấy:

    CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ

    Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ

    Tươi như cánh nhạn lai hồng

    Trưa một ngày sắp ngả sang đông

    Thu, bồng nắng vàng lên rực rỡ

    Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ

    Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa

    Chồng của cô sắp sửa đi xa,

    Cùng đi với nhiều đồng chí nữa,

    Chiếc áo đỏ rực như than lửa

    Cháy không nguôi trước cảnh chia ly

    Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia

    Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy,

    Không che được nước mắt cô đã chảy,

    Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời

    Chảy trên bình minh đang hé ỊỊÌữ lùn mõi

    Và rạng đông đã bừng trên nét mặt

    … Một rạng đông với màu hồng ngọc

    Cây si xanh gọi họ đến ngồi

    Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai

    Ngày mai sẽ là ngày sum họp

    Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp!

    Nắng vẫn còn ngời trên những lá si

    Và người chồng ấy đã ra đi…

    Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế

    Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ

    Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào

    “Khi Tổ Quốc cần, họ biết sống xa nhau ”

    Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy

    Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy

    Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi

    Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người

    Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp

    Một làng xa giữa đêm gió rét…

    Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi

    Như không hề có cuộc chia ly…

    Trong cuộc sống, chia ly là chuyện tất nhiên. Mỗi con người đã chứng kiến biết bao cuộc ra đi, và có người không trở về… Tôi cũng vậy, từ nhỏ tôi đã phải tiếp tục với những cuộc chia ly. Đầu tiên là trong lời ru của bà ôm tôi vào lòng, bà tôi nhẹ nhàng hát ru: “À ơi, cháu ngoan cháu ngủ với bà. Bố mày đi đánh giặc xa chưa về” – giọng ngâm trầm của hà nghe sao mà buồn, mà nhớ. Lên ba tuổi, tôi được chứng kiến một cuộc ra đi thực sự, không phải trong giấc ngủ chập chờn nữa: bà và mẹ tôi, nước mắt lưng tròng, tiễn đưa cha và các anh tôi lên đường ra mặt trận. Nhìn những giọt nước mắt long lanh trên mí mắt mẹ, tôi cảm thấy sợ, một nỗi sợ mơ hồ. Vì sao phải có những cuộc ra đi ấy? Nỗi sợ ấy lớn dần theo năm tháng.

    Thế rồi một hôm, tôi cũng không còn nhớ rõ, khi chị phát thanh viên vừa đọc xong bản tin chiến thắng trên chiến trường diệt Mỹ, tôi bỗng nghe ấm áp một giọng ngâm, một người nào đó đang ngâm bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ của nhà thơ Nguyễn Mỹ. Tôi lặng nghe và có một cái gì rất lạ đang xáo trộn trong tôi:

    Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ

    Tươi như cánh nhạn lai hồng

    Trưa một ngậy sắp ngả sang đông

    Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ.

    Cũng vẫn là khung cảnh của một cuộc chia ly, nhưng đâu còn cái màu ảm đạm, cái buồn tê tái của nỗi chia xa mà thỉnh thoảng ta vẫn gặp. Một cuộc chia ly mà lại có cánh nhạn bay, cánh nhạn “lai hồng”, và cái màu đỏ “chói ngời”trong nắng thu “vàng rực rỡ”, cả không gian như chói lên, những giọt nước mắt chia ly và giữa khung cảnh ấy con người hiện ra cũng tươi tắn, rực rỡ không kém gì cảnh vật:

    Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ

    Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa

    Chồng của cô sắp sửa đi xa,

    Cùng đi với nhiều đồng chí nữa,

    Chiếc áo đỏ rực như than lửa

    Cháy không nguôi trước cảnh chia ly

    Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia

    Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy,

    Không che được nước mắt cô đã chảy,

    Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi

    Và rạng đông đã bừng trên nét mặt …

    Một rạng đông với màu hồng ngọc

    Những câu thơ vang dội vào lòng ta, dồn dập,  hình ảnh nọ nổi sắc màu kia, và tất cả ngời lên trong một hòa sắc tuyệt vời: sắc đỏ chói chang, màu xanh dịu dàng và chiếc nón trắng giản dị, rất Việt Nam. Đã có cuộc chia ly nặng nề, bàng bạc một nỗi buồn, day dứt nỗi đau khiến cho người thiếu phụ “bịn rịn vào chàng” và rồi những con người ấy “bước đi một bước thây thây lại dừng”. Một cuộc chia ly như thế đọng lại trong lòng người ra đi và người ở lại những nỗi buồn tê tái, nó chỉ giục người đi hãy mau mau quay về, cho dù cái đích mà mình phải tới còn rất xa, cho dù nhiệm vụ được giao rất quan ưọng, có ý nghĩa.

    Đó là cảnh đi lính ngày xưa: vướng víu, buồn tủi, nặng trĩu lo âu trong lòng người đi, kẻ ở.

    Tế Hanh, khi còn là một chàng thanh niên tiểu tư sản trong xã hội cũ những năm trước Cách mạng, cũng đã viết về tâm trạng của một cuộc chia ly, mặc dù tác giả không phải là người trong cuộc:

    Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu

    Ngàn đời không đủ sức đi mau

    Có chi vướng víu trong hơi máy

    Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau

    (Những ngày nghỉ học – Tế Hanh)

    Đó là tâm trạng thường gặp trong những cuộc chia ly trước kia, nó nặng nề như những toa tàu “’nặng khổ đau”, nó nghẹn ngào bịn rịn, cái tình quyến luyến đó dĩ nhiên phải có, nhưng đến mức như vậy, nó sẽ thành một nỗi đau canh cánh trong lòng người ra đi. Sự “lưu luyến” ấy có ích gì? Cái buồn ấy tê tái quá, bi sầu quá… khiến ta tưởng như đằng sau cái ngày hôm nay xa cách, tiễn biệt là chuỗi ngày vô vọng, bặt tin xa. Cái “ngày mai” tiếp nối  cái “ngày hôm nay” của họ dường như bị đóng kín.

    Nhưng rồi đã đến lúc cuộc chia ly đã mang sắc màu lạc quan, đẹp đẽ, đã ánh lên sức mạnh của niềm tin. Đó là khung cảnh:

    Một buổi sáng mai

    Anh bước chân ra đi

    … Và người vợ, chị nông dân tiễn chồng đi tòng quân, đã hứa với chồng “Giải thi đua em giật”.

    … Và người chồng ra đi dặn vợ:

    Ruộng mình quên cày xáo

    Nên lúa chín không đều

    Nhớ lấy để mùa sau

    Nhà cố làm cho tốt

    Khác với người chinh phụ xưa kia, chị nông dân trong Thăm lúa của Trần Hữu Thung đã biến những giọt nước mắt đau đớn thành nụ cười tin tưởng. Đôi lứa ấy nghĩ đến một ngày mai hạnh phúc, sum họp. Ngày mai ấy sẽ đến khi cái ngày mai của dân tộc đến với mỗi con người.

    Tình cảm của chị nông dân có cái gì đó ấm áp lắm, chưa nói ra thành lời, nhưng tất cả sự nồng cháy, thương yêu, tất cả tình yêu, nỗi nhớ hy vọng và tất cả những giọt nước mắt trong sáng lại được thể hiện một cách cao đẹp, mạnh mẽ hơn qua sắc đỏ của màu áo, trong cái yêu thương của vườn cây xanh, của Cuộc chia ly màu đỏ.

    Cũng vẫn là giọt nước mắt, nhưng nét mới về chất so với những giọt nước mắt của người chinh phụ xưa kia. Cũng vẫn là những giọt nước mắt, nhưng nó “long lanh nóng bỏng sáng ngời”, nó lấp lánh ánh sáng của tình yêu cao thượng và một lẽ sống đẹp đẽ. Và rồi cái chất của nhà thơ, đồng nhất với nhân vật trữ tình, đã cất lên tiếng nói, tiếng nói tin yêu về một ngày mai:

    Ngày mai sẽ là ngày sum họp

    Đã kia sáng những tâm hồn cao đẹp!

    Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá

    Và người chồng ấy đã ra đi…

    Một tình yêu được nói đến với vườn hoa, với gốc cây si thì còn gì đẹp hơn. hợp lý hơn. Nhưng một cuộc chia ly lại được nói lên bằng tiếng nói về một ngày mai ấy, thì chỉ bây giờ đây ta mới gặp, mới cảm, mới hiểu. Tứ thơ như đọng lại với cái màu đỏ chói chang, cái màu đỏ của niềm tin và hy vọng, cái màu đỏ ấy cứ cháy lên trong lòng bạn, lòng những lứa đôi. Có những lứa đôi còn đang sống bình thản trong những vườn hoa, dưới những căn nhà khi họ đọc bài thơ này họ sẽ suy nghĩ, phải suy nghĩ, và có thể hạ sẽ tiến đến “cuộc chia ly màu đỏ” ấy. Có những lứa đôi đã xa nhau, khi đọc bài thơ này sẽ thêm tin và yêu “cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy”, cái màu đỏ của chính họ, cái màu đỏ của những người khác.

    Bài thơ mở đầu với cái màu đỏ chói chang, rực rỡ, tiếp diễn với cái màu đỏ ấy, và cuối cùng cái màu đỏ ấy cắt nghĩa tất cả:

    Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy

    Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy

    Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi

    Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người

    Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp

    Một làng xa giữa đêm gió rét…

    Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi

    Như khônq hề có cuộc chia ly…

    Điều kỳ diệu và sâu sắc biết bao nhiêu “cáimàu đỏ ấy”, nó như một vị thần hiển hiện, nói như một cái gì đó vĩnh cửu. Có lúc cái màu đỏ ấy hiện lên bằng sự gợi nhớ, gợi thương của bông hoa chuối, có lúc nó hiện lên lung linh trong ánh lửa hồng ấm áp, tỏa sáng trong đêm gió rét. Thế nghĩa là cái màu đỏ ấy luôn ở trong tim, luôn ngời trên khóe mắt, nó thúc giục, động viên, nó hiện lên trên “đầu súng trăng treo” mội đêm diệt địch. Cao quý biết bao cái màu đỏ ấy. Nó cắt nghĩa cả, đơn giản, logic, dễ hiểu. Làm sao có được khái niệm “chia ly” khi giữa hai đầu không gian phải là khoảng trống mà nóng bỏng, ấm áp sức nóng của ngọn lửa sum hợp. Cái khái niệm ấy tan biến đi “như không hề có cuộc chia ly”.

    Yêu sao cái màu đỏ ấy và những con người ấy. Tôi biết trong cuộc chiến tranh thần thánh của chúng ta chống lên ác thù xâm lược đế quốc Mỹ, đã không trở về. Nhưng cái màu đỏ chói chang sắc nấng mà niềm tin ấy, mỗi con người đã giữ trong mình trọn vẹn.

    Tôi nhớ lại một câu thơ nói: “Anh đã cùng em yêu “cuộc chia ly màu đỏ” mà trong lòng trào lên một niềm xúc động, xen lẫn sự hổ thẹn”. Có những người đã dám xa nhau và đã yêu “cuộc chia ly màu đỏ”, có những người đã ngã xuống để bảo vệ sự thiêng liêng của sắc đỏ ấy, họ biết yêu thương nhau và yêu đất nước, vậy mà tôi, tôi lại sợ những cuộc chia ly như thế hoặc tương tự như thế?.

    Từ kỉ niệm của bản thân, tôi hiểu rằng cũng có bao người như tôi, cũns đã nghĩ và hiểu không đúng về những gì đang diễn ra xung quanh ta., và rồi hôm nào đó, cũng sẽ được một bài thơ tuyệt diệu như vậy cảm hóa, tôi không còn thấy sợ chia ly nữa. Tiếng còi tàu vang lên trong đêm khuya tĩnh mịch không còn gợi cho tôi một nỗi sợ, một nỗi buồn, tôi nghe trong đó tiếng reo vui của những trái tim đang về với trái tim, sự sống đang được trả về với sự sống, và tôi hiểu rằng sự ra đi của cha và các anh tôi có một ý nghĩa đặc biệt: nó làm nên con tàu trở về.

    Tôi tự hỏi: không biết đôi cánh nào của thơ ca đã bay đến cùng tôi, cùng các bạn, để đốt lên trong chúng ta ngọn lửa tôi yêu và gột rửa trong ta những vết hằn của thời gian?

    Tôi nhớ lại câu hỏi của Maiakovski: “Trên đời, có những vấn đề chỉ có thể giải quyết được bằng thơ”. Phải chăng đôi cánh của thơ ca chính là dòng tình cảm chân thật, đằm thắm?

    Thơ ca mang những tâm trạng đến với những tâm trạng, thơ ca có khả năng bao quát sâu rộng không gian và thời gian, từ đó gợi mở trong lòng người những gì chưa có. Những cái đó sẽ rất lâu trong lòng ta, có những lúc nó sẽ bùng lên dữ dội, nó sẽ giúp cho ta hiểu và đánh giá chính ta và những con người xung quanh ta, từ đó sẽ tự ta cải tạo, sẽ nâng con người ta lên.

    Tôi nhớ mãi những lời thơ ấm áp, tin yêu, những lời thơ với những hình tượng thơ độc đáo, giàu tính thẩm mỹ này. “Cái màu đỏ” mà tác giả mượn trong bài thơ của mình là một trong số vô vàng hình tượng mà tác giả có thể mượn để nói lên một niềm tin, một tình yổu và sự sum họp. Nhưng đó là cái độc đáo nhất để diễn tả một cái gì đó ấm cúng, gợi lên niềm tin và một ngày mai: một ánh lửa hồng trên bếp, màu đỏ của sắc hoa trong vườn xuân. Và Nguyễn Mỹ đã chọn “Cúi màu đỏ ấy” – hình tượng thơ ấy là sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ của mình. Cũng như một lần Nguyễn Duy đã lấy “hơi ấm ổ rơm” để viết về tình người nồng thắm, một Hoàng Nhuận Cầm đã mượn tiếng kêu của chú ve kim để viết cái lạc quan, yêu đời của những người lính. Và tất cả, tất cả những hình tượng thơ đẹp đẽ, giàu tính điển hình ấy đi vào trong lòng người đọc một cách nhẹ nhàng, tinh tế mà thấm sâu hơn nhiều tiếng nói khác.

    Nói chung, khoa học là tiếng nói của lý trí, văn học là tiếng nói của tình cảm. Tinh cảm và lý trí phải kết hợp với nhau, gắn bó hữu cơ với nhau. Trái tim có rung động, khối óc mới được trong suốt nhuần nhuyễn. Ta hiểu vì sao mà bài thơ Cuộc chia ly màu để lại có tác dụng sâu sắc đến thế trong lòng người đọc. Ta cũng hiểu vì sao văn học nghệ thuật nói chung lại trở thành một “Cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống ” (Secnusepxki), trở thành nguồn suối tắm mát tâm hồn quần chúng. Văn học có phải là một cái gì cao siêu, thần thánh đâu, văn học là hơi thở của biển, là làn gió thơm hương lúa, là gương mặt những người chung quanh ta và chính ta… Chúng ta đến với văn học từ khi chập chững biết đi, và văn học đã giúp ta đốt cháy thời gian để “khôn” là “lớn”. Đọc thơ, ta hiểu được cái đẹp của “cuộc chia ly màu đỏ”, đọc sách ta hiểu được một trái tim nhiệt thành và nghị lực sắt đá của Paven Corsaghin. Hiểu rồi, ta sẽ yêu, yêu cái đẹp của tự nhiên, xã hội, yêu tiếng cười trẻ thơ, yêu nhịp sống chảy cuồn cuộn trong lòng thời đại.

    “Hãy yêu! Hãy yêu! Và bảo vệ…” (Chế Lan Viên). Đó là tiếng nói và mệnh lệnh của mỗi trái tim con người.

    Tôi suy nghĩ nhiều về nhiệm vụ của những người cầm bút và nhiệm vụ của những người đọc những dòng chữ quý giá đó. Thay mặt cho hàng vạn, hàng triệu trái tim, người nghệ sĩ (và có thể là chiến sĩ) nhà thơ đã viết lên tâm sự của họ, nói tiếng nói của tâm hồn họ. Tôi suy nghĩ nhiều về tác động của bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ đối với các thời đại – các thế hệ thanh niên. Nhà thơ Nguyễn Mỹ – tác giả của bài thơ – đã ngã xuống, nhưng biết bao thế hệ thanh niên đã đọc và yêu thơ của anh. Và đến hôm nay, vân đề mà Nguyễn Mỹ đã đặt ra vẫn mang tính thời đại sâu sắc. Sự ra đi. Chiến tranh đã kết thúc nhưng đâu phải là những chuyến tàu ngược xuôi đã ngừng chuyển bánh. Đâu phải sự sum họp là vĩnh viễn. Không! Sông Đà “tóc dài tuôn như một áng tóc trữ tình” (Nguyễn Tuân) đang gọi ta, những miền quê ta chưa tới, ta chưa biết đang chờ ta. Tạm biệt mảnh đất quê hương, ta ra đi và tin lưởng: đâu cũng là nhà.

    Nghe Đảng gọi ra đi

    Mở những vùng quê mới

    Nhớ buổi ấy chia ly

    Quê cũ mà đi tới Có nỗi nhớ hàng tre

    Con sông đào trước ngõ

    Có nỗi nhớ xóm nhỏ

    Con đường nắng lim dim

    (Quê mới – Thanh Hải)

    Nhưng không phải bao giờ và ở đâu, sự ra đi cũng dễ dàng, thanh thản. Có những người không bứt mình ra khỏi hiện tại, có những người còn luyến tiếc một cái gì đó. Không, chúng ta không thể là những con người như thế. Hãy nhớ về “Cuộc chia ly màu đỏ” để mà yêu thêm, tin thêm vào con người và bản thân mình. Giữa những năm tháng khói lửa, “Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau”, thì chúng ta, giữa những năm tháng đẹp đẽ này, cũng sẽ biết sống xa nhau, sống vì nhau, sống cho nhau.

    Sống trên những mảnh đất của những con người biết yêu thương nhau và yêu đất nước, tôi cảm thấy có một cái gì đó lớn dần lên trong tôi, cái đó là gì, thật khó định nghĩa, nhưng tôi luôn luôn ước mơ về một ngày mai ấy, cái ngày mai mà có thể tôi sẽ ra đi, ra đi để làm người lao động chân chính, người kế tục xứng đáng, người chủ của những di sản lớn lao mà cha ông ta đã dành lại trong máu và nước mắt.

    Và có một lúc nào đó, khi tiếng còi rúc lên trong đêm khuya yên ả của một ngày lao động, một ngày sống có ý nghĩa trong cuộc sống có ý nghĩa của chúng ta, khi tiếng còi tàu báo hiệu một sự ra đi hay trở về vang lên, và trong tôi không còn cái sợ hãi, đau buồn rồi chia xa, thì tôi còn nhớ lại hôm nào xa, rất xa, tôi được đọc bài thơ ấy và đến bây giờ mới có được tâm trạng ấy. Hơn bao giờ hết tôi cảm thấy tha thiết cái hôm nay, rộn rã tiếng cười ấm áp những niềm vui và âm vang tiếng còi tàu rộn rã ngược xuôi, đưa trái tim về với trái tim, đưa sự sống trả về sự sống.


    Bài 37: Lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay

    Lòng yêu thương là một trong những phẩm chất cao đẹp của không chỉ mỗi cá nhân mà của cả nhân loại. Đối với tuổi trẻ, những con người đang bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, cần trau dồi trí tuệ nhưng nhất định không thể bỏ quên một giá trị cơ bản nhất khi làm người, đó là biết trân trọng giá trị của tình yêu thương. Tình yêu thương là những xúc cảm phát ra tự đáy tâm hồn biểu hiện, sự chia sẻ, thấu hiểu, đồng cảm với đồng loại. Nếu không biết yêu thương những cảnh đời bất hạnh; nếu không biết trân trọng những người có phẩm chất, tình cảm cao đẹp và không biết nghiêm khắc rèn luyện, trau dồi nhân phẩm mình; không biết để cho trái tim mình trỗi lên những xúc cảm yêu thương thì đó là người có trái tim “tật nguyền” về cảm xúc hay nói cách khác là vô cảm. Từ muôn đời nay, mối quan hệ giữa mẫu từ, phụ tử bao giờ cũng thiết lập bởi tình yêu thương và vì thế nó trở thành những tình cảm thiêng liêng bậc nhất của nhân loại. Cũng chính vì thế, mà mối tình cảm ấy đã đi vào đời sống văn chương và nó trở thành những vần thơ, những câu chuyện giàu tính nhân văn nhất. Bài thơ “Thư gửi mẹ” của Ê-xê-nhin – thi hào Nga đã lay động biết bao nhiêu trái tim con người. Câu chuyện Chứ Đồng Tử trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam làm ta nhớ mãi về tấm lòng của Chử Cù Văn – người cha hết mực thương con. Và còn biết bao câu chuyện về tình yêu thương khác nữa đã làm ngời sáng giá trị của tình người, tình đời. Mỗi mùa hè đến, những sinh viên với chiếc áo xanh của niềm tin và hi vọng đã lặn lội khắp nơi giúp đỡ những đồng bào khó khăn trên khắp dải đất này đã trở thành biểu tượng sáng đẹp về tình yêu thương, biết sống vì yêu thương. Câu chuyện Nguyễn Hữu Ân đã chia “Chiếc bánh thời gian” của mình để chăm sóc những bệnh nhân là hình ảnh đẹp mà tuổi trẻ cần học tập. Bên cạnh những thanh niên biết vun đắp, biết đối nhân xử thế bằng tình yêu thương, thì vẫn còn một số ít đang sống hờ hững, lạnh lùng, vô cảm với xung quanh. Lối sống ích kỉ ấy là một hiện tượng cần lên án, vì nó đi ngược lại với truyền thống trọng tình, quý nghĩa của cha ông ta. Ngày nay, sống trong xã hội văn minh hơn, thì tình thương càng phải được đề cao hơn. Đó là điều tuổi trẻ cần ý thức và nhận ra trách nhiệm sống của mình. Tuổi trẻ là đối tượng phải mang cho mình nhiều trọng trách nhất đối Với chính bản thân, gia đình và xã hội. Vì thế, trong muôn vàn điều phải học trong kho tàng tri thức của nhân loại phải nhận thức đúng đắn tình thương là đỉnh cao của văn minh nhân loại. Hãy biết sống sẻ chia, cảm thông, thấu hiểu và hướng về cộng đồng, để hoàn thiện nhân cách mình và trở thành những công dân có ích.

    Bài 38: Như một thứ a-xít vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội

    Hằng ngày đi trên các ngả đường người ta gặp nhiều bích chương ngợi ca, bích chương cảnh báo, hình ảnh cảnh báo ở nhiều phương diện nhưng quả thật ít thấy bích chương hình ảnh nào cảnh báo thói vô trách nhiệm của những cá nhân, hoặc một tập thể nào đó trong khi nó “Như một thứ a-xít vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội”. Ý kiến này đề cập đến mối nguy hại ngấm ngầm rất cần cảnh giác của thói vô trách nhiệm; nó xuất phát từ mỗi cá nhân nhưng lại gây hậu quả to lớn đối với toàn xã hội. về thực chất, ý kiến này là sự cảnh báo về một vấn nạn đạo đức mang tính thời sự; thói vô trách nhiệm và hậu quả khôn lường của nó.
    Tinh thần trách nhiệm là ý thức nỗ lực nhằm hoàn thành tốt những phận sự của mình. Nó được biểu hiện cụ thể, sống động trong ba mối quan hệ cơ bản: giữa cá nhân với gia đình, cá nhân với toàn xã hội và cá nhân với bản thân mình. Tinh thần trách nhiệm là một phẩm chất cao đẹp, một thước đo giá trị con người, là cơ sở để xây dựng hạnh phúc của mỗi gia đình; đồng thời tinh thần trách nhiệm cũng góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp. thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Hình ảnh cô cảnh sát giao thông đưa người già qua đường giữa làn xe tấp nập ở cung đường Nam Kỳ Khởi nghĩa – Võ Thị Sáu ở Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mà các cơ quan thông tấn báo chí gần đây đưa tin là những hình ảnh thật đẹp về tinh thần trách nhiệm. Rõ ràng đó là những hình ảnh đẹp, nó toát ra từ nhân phẩm của cá nhân được rèn luyện nghiêm túc. Dù phải sống cùng với căn bệnh ung thư xương đang di căn từng ngày vào cơ thế nhưng Sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Hân vẫn sống đẹp dù trong tuyệt vọng. Với cánh tay phải, Hân vẫn miệt mài hàng giờ bên tờ báo tường của lớp, nắn nót từng nét chữ tươi rói màu mực cho ngày lễ 20-11 của lớp trọn vẹn. Những đêm khuya, bà Trần Thị Tư – mẹ Hân – canh cánh trong lòng khi con gái vẫn ngồi bên bàn viết miệt mài với những bài văn, con toán của năm cuối cấp. Hân ngồi lặng lẽ trên phản, trở mình với từng trang giấy được lật, bài học không bỏ phí một ngày. Đó chính là một biểu tượng về tinh thần trách nhiệm với chính bản thân mình, không gục ngã trước nghịch cảnh dù đời sống của Ngọc Hân chẳng còn bao lâu nữa. Hình như em đã đang ở cuối con đường. Bên cạnh những nhân phẩm cao đẹp về trách nhiệm sống thì vẫn còn đâu đó thói vô trách nhiệm làm bức xúc dư luận xã hội. Thói vô trách nhiệm là biểu hiện của lối sống phi đạo đức, thể hiện ở ý thức và hành động không làm tròn phận sự của mình đối với xã hội, gia đình và bản thân, gây nên những hậu quả tiêu cực. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, lối sống ấy đang khá phổ biến, trở thành một vấn nạn trong xã hội. Những cán bộ có tài và có chức vụ cao ở huyện Hóc Môn và Gò Vấp đã và đang ra vòng móng ngựa thời gian vừa qua. Những khi còn tại vị chắc họ đã từng giáo huân nhiều vấn đề đạo đức, trách nhiệm cho cán bộ cấp dưới, cho dân chúng địa phương nhưng rồi cuối cùng họ trở thành tội phạm tham ô. Thói vô trách nhiệm và đạo đức giả ấy làm băng hoại đạo đức con người, gây tổn hại hạnh phúc gia đình, gây tổn thất cho cộng đồng, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Chúng ta có cuộc sống thanh bình hơn 30 nã.m qua là phải đổi biết bao máu xương của cha, ông, của các anh hùng đã ngã xuống cho Tổ quốc này. Chúng ta cần phải “sống sao cho khỏi phải xót xa ân hận” để xứng đáng với những hi sinh của thế hệ đi trước và sự kỳ vọng tha thiết của những người ngã xuống cho quê hương. Trách nhiệm sống của mỗi chúng ta là luôn rèn luyện nhân phẩm, năng lực tri thức để làm cho xã hội ngày càng phồn vinh, trong đó cần tuyên chiến một cách dũng cảm nhất với thói vô trách nhiệm và lối sống đạo đức giả.

    Bài 39: Nghị luận xã hội về ước mơ khát vọng

    “Nếu bầu trời tượng trưng cho những ước mơ, những kế hoạch lớn và những cái nhìn bao quát nhưng toàn diện về bản thân, thì phải chăng những nỗi lo thường nhật đã kéo tầm mắt của ta xuống dưới mặt đất, để chìm trong một dòng người hối hả, để đối phó với những chướng ngại vật ngay trước mắt và rồi ta chẳng còn lúc nào để phóng tầm mắt lên thật xa trên bầu trời, để thấy những ước mơ của ta lớn đến chừng nào…”. Và thế là nhiều khi ta quên đi những điều thực sự quan trọng: đó chính là những ước mơ.

    Ai cũng có ước mơ. Có thể đó chỉ là những nhu cầu bình thường trong sinh hoạt hằng ngày. Nhưng cũng có thể đó là những khát khao hướng thượng những kế hoạch dài hơn cho chính bản thân mình. Cũng như các bạn tôi là một người có rất… rất nhiều ước mơ và hoài bão. Vâng, một lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại một trong những người làm nên thế kỷ XX, một tỷ phú Bill Gates làm chao đảo cả thế giới phần mềm, cũng như các Thiên tướng của Thế giới qua mọi thời đại: Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Anh cả của Quân đội Việt Nam Đại Tướng Võ Nguyên Giáp làm cả thế giới phải thán phục về tài dụng binh của mình… Thử hỏi ai trong chúng ta lại không một lần ước mơ được như thế?

    Ước mơ – hoài bão là những xuất phát điểm quan trọng, đây là cơ sở đầu tiên để mỗi cá nhân, tổ chức và dân tộc cất cánh. Nhưng ước mơ sẽ chỉ là mơ ước nếu nó không đi kèm với những sự chuẩn bị cần thiết để thực hiện ước mơ đó. Sự chuẩn bị trong hành trình của mỗi giấc mơ có nhiều thành phần, nhưng thành phần quan trọng nhất hiện nay và trong tương lai phải kể đến tri thức với hai quá trình song hành và bổ sung cho nhau: tích luỹ tri thức và phát triển tri thức. Nếu như học tập là quá trình tích luỹ tri thức thì nghiên cứu khoa học, tìm lời giải cho các bài toán trong khoa học và thực tiễn là quá trình phát triển các tri thức mới. Học tập và nghiên cứu khoa học do vậy là hai quá trình song hành, không thể thiếu đối với thanh niên hiện nay.

    Mỗi ước mơ, dù lớn lao hay giản dị, đều cần được tiếp lửa bằng nhiệt huyết, quyết tâm và nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ. Tuổi trẻ là một thứ ngầm rất quý mà không phải ai cũng biết, nó là món quà vô giá mà tạo hoá ban tặng cho chúng ta trên con đường chinh phục ước mơ cúa mình.

    Ai đó đã nói: “Nếu có một thời điểm nào đó trong cuộc sống, mà chúng ta cần phải và nên bị dúi xuống bùn lầy tăm tối, tốt nhất hãy chọn lúc 18-25 tuổi, lúc mà bạn có cả sức khoẻ lẫn sự dẻo dai; cả hưng phấn lẫn thất vọng; cả niềm tin sắt đá lẫn sự ngoan cố mù quáng; cả sự hiểu biết bằng bản năng và trực giác chưa bị pha tạp lẫn sự tăm tối vì mơ hồ nhận thấy những lực cản của xã hội. Nghĩa là có tất cả mà lại chẳng có gì vững chắc. Lúc ấy là lúc có cả một tiềm năng – cái năng lực tiềm ẩn trong từng cử động, từng quyết định nhỏ, cái khả năng có thể nhảy rất dài, vượt rất xa, thay đổi cả thế giới; hoặc là cái nguy cơ trượt xa khôn cùng xuống vực sâu của tăm tối, kiệt quệ, u uất và rệu rã.”. Tuổi trẻ tự bản thân nó đã là một tài sản, tự bản thân nó đã hàm chứa ánh sáng và hạnh phúc, khi bị dúi xuống bùn, cơ hội để nó vẫn toả sáng và thăng hoa sẽ lớn hơn so với khi bạn già đi.

    Ước mơ thuộc về tương lai mà người trẻ tuổi thì sống vì tương lai, vậy tại sao không sống và phấn đấu vì ước mơ của mình? Thành công bắt đầu từ suy nghĩ “dám ước mơ”. Chúng ta dám ước mơ, dám nghĩ khác và vượt khỏi những hạn hẹp của hoàn cảnh sống để thực hiện cho bằng được khát vọng của mình. Ước mơ cũng giống như những tên lửa đang chuẩn bị cất cánh, nhưng nếu không được châm ngòi bằng một niềm tin, ý chí và nỗ lực vượt khó thì mãi mãi nó chỉ nằm chỏng chơ trên mặt đất.

    Cuộc đời thật có quá nhiều ước mơ, có những ước mơ đã trở thành sự thật và cả những ước mơ mãi mãi chỉ là mơ ước mà thôi. Nhưng chúng ta hãy cảm nhận những ước mà trong chính con người mình và học cách để nuôi dưỡng nó. Trước hết, phải tìm cho mình một hoài bão, đam mê và tự đặt câu hỏi cho mình có dám đánh đổi tất cả để hoàn thành được ước nguyện đó hay không, Con đường biến ước mơ thành hiện thực đều phải trải qua ba giai đoạn: Điều đầu tiên và quan trọng nhất là phải nuôi trong mình một ước mơ, lẽ sống để có động lực phấn đấu và vươn lên. Tiếp đó, ta luôn có những kế hoạch và dự định để từng bước cụ thể hoá, hiện thực hoá ước mơ. Muốn làm được điều đó mỗi chúng ta cần tự trang bị cho mình kiến thức và nền tảng giáo dục vững chắc. Cuối cùng, phải biết kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình. Không thành công nào mà chưa từng trải qua thất bại, những bài học từ sai lầm đã qua sẽ tôi luyện cho ý chí thêm mạnh mẽ và vững vàng.

    Tất nhiên, không dễ để biến ước mơ thành hiện thực. Một ước mơ dù lớn hay nhỏ, được ấp ủ, nuôi dưỡng và hiện thực hoá là cả một quá trình với ý chí tự thân và những bước đi khoa học.

    Tôi là một người giàu có những ước mơ. Cũng như nhiều bạn bè khác, tôi ước mơ mình sống có ích, giàu có tri thức, giỏi nghề và tất nhiên thành đạt trong cuộc sống. Tôi bắt đầu lập kếhoạch cho mình từ những năm cuối trung học: phải vào được đại học. Phải cố gắng trong quá trình học đó để có được kết quả tốt. Tôi cũng sẽ tranh thủ những năm cuối đi làm thêm để lấy kinh nghiệm. Ra trường, tôi sẽ đi làm ở một công ty lớn mà ở đó tôi có cơ hội để thể hiện bản thân mình… Và kế hoạch vạch vẽ từ ngày chập chững nhận ra cuộc đời mình phải do chính mình xây nên đó đến nay tôi đã phần nào hoàn thành được: tôi đã vào được đại học, trong quá trình học tôi đã nỗ lực cố gắng và đạt được kết quả tốt, nhưng cũng có những việc mà bản thân tôi chưa thực hiện được trong kế hoạch nhỏ mà mình tự đặt ra đó: tôi đã không đi làm thêm trong những năm cuối đế lấy kinh nghiệm được vì tôi dành thời gian qua nhiều cho việc học, cho việc trang bị kiến thức, hành trang để bước vào cuộc sống thực tế, để thực hành những gì mình đã học, tôi cũng đã không làm ở một công ty lớn như mình đã định mà hiện tại tôi đang làm tại một cơ quan nhà nước. Ở đó, mọi thứ thật mới lạ so với những gì tôi đã học ở trường. Tôi nghĩ rằng, những lý thuyết, những bài học mà tôi đã học ở trường chỉ là một phần nhỏ trong cái thực tế to lớn này. Và tôi như đang phải học lại từ đầu trong một ngôi trường thực tế với những thử thách và khó khăn mới. Tôi phải nỗ lực hơn trong việc tìm tòi và học hỏi ở các cô chú, các anh chị đi trước để mong mình có thể thích nghi với ngôi trường mới này. Đó là cả một quá trình với ý chí và nỗ lực rất lớn vì thực tế bao giờ cũng khác nhiều so với những lý thuyết mà mình đã được trang bị.

    Một ước mơ mới, một kế hoạch mới sẽ được đặt ra cho một tương lai mới. Đó là điều tôi phải làm bây giờ. Trước tiên, tôi phải biết kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình để từng bước làm quen với công việc mới của mình, từng bước thích nghi với ngôi trường rộng lớn mà tôi là một sinh viên mới vào trường với những bỡ ngỡ, mọi thứ dường như mới lạ và tôi phải cố gắng học hỏi nhiều, phải cố gắng vận dụng những gì mình đã học vào những môn học thực tế mà tôi sẽ được học trong ngôi trường mới này. Tiếp đó, tôi sẽ phấn đấu trở thành một thành viên chính thức trong cơ quan của mình vì hiện giờ tôi vẫn là chuyên viên tập sự chưa phải là cán bộ chính thức. Điều này đòi hỏi một sự cố gắng và nỗ lực rất lớn của bản thân tôi. Sau khi trở thành một cán bộ chính thức bằng nhiệt huyết, quyết tâm và nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ tôi sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong công việc, tôi sẽ trở thành một cán bộ giỏi, một cán bộ tốt và thành đạt trong cuộc sống là mục tiêu cuối cùng của tôi.

    Tất nhiên, không dễ để biến ước mơ thành hiện thực. Nhưng ước mơ sẽ chỉ là mơ ước nếu ta không có một niềm tin, ý chí và nỗ lực vượt khó, không có sự kiên trì, nhẫn nại. Không thành công nào mà chưa từng trải qua thất bại, những bài học từ sai lầm đã qua sẽ tôi luyện cho ý chí thêm mạnh mẽ và vững vàng. “Tiếp tục cất bước, tiếp tục ước mơ và cố gắng thực hiện chúng – những điều chi có ước mơ mang lại được cho con người và tuổi trẻ…”.

    Cuộc đời của mỗi chúng ta là một câu chuyện, chính vì thế mà tại sao chúng ta lại không viết tất cả câu chuyện của chúng ta lên, để chia sẻ kinh nghiệm với nhau, cũng như để tạo cho các bạn trẻ chúng ta có những suy nghĩ theo chiều hướng tích cực hoặc lạc quan yêu đời hơn. Để cho cuộc sống của mỗi chúng ta là một màu hồng.

    Cũng chính vì thế mà qua cuộc thi này tôi muốn viết đôi dòng tâm sự về những ước mơ của mình. Và cũng hi vọng các bạn, các anh, chị chia sẻ những ước mơ để hy vọng một ngày mai tươi sáng hom, tốt đẹp hơn và to lớn hơn. “Hãy tin vào mình và những gì mình làm, bạn sẽ đạt được điều bạn muốn. Hãy theo đuổi những ước mơ của bạn đến cùng, bạn sẽ biến nó thành hiện thực”.


    Bài 40: Nghị luận xã hội về kỹ năng sống

    “Nếu bầu trời tượng trưng cho những ước mơ, những kế hoạch lớn và những cái nhìn bao quát nhưng toàn diện về bản thân, thì phải chăng những nỗi lo thường nhật đã kéo tầm mắt của ta xuống dưới mặt đất, để chìm trong một dòng người hối hả, để đối phó với những chướng ngại vật ngay trước mắt và rồi ta chẳng còn lúc nào để phóng tầm mắt lên thật xa trên bầu trời, để thấy những ước mơ của ta lớn đến chừng nào…”. Và thế là nhiều khi ta quên đi những điều thực sự quan trọng: đó chính là những ước mơ.

    Ai cũng có ước mơ. Có thể đó chỉ là những nhu cầu bình thường trong sinh hoạt hằng ngày. Nhưng cũng có thể đó là những khát khao hướng thượng những kế hoạch dài hơn cho chính bản thân mình. Cũng như các bạn tôi là một người có rất… rất nhiều ước mơ và hoài bão. Vâng, một lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại một trong những người làm nên thế kỷ XX, một tỷ phú Bill Gates làm chao đảo cả thế giới phần mềm, cũng như các Thiên tướng của Thế giới qua mọi thời đại: Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Anh cả của Quân đội Việt Nam Đại Tướng Võ Nguyên Giáp làm cả thế giới phải thán phục về tài dụng binh của mình… Thử hỏi ai trong chúng ta lại không một lần ước mơ được như thế?

    Ước mơ – hoài bão là những xuất phát điểm quan trọng, đây là cơ sở đầu tiên để mỗi cá nhân, tổ chức và dân tộc cất cánh. Nhưng ước mơ sẽ chỉ là mơ ước nếu nó không đi kèm với những sự chuẩn bị cần thiết để thực hiện ước mơ đó. Sự chuẩn bị trong hành trình của mỗi giấc mơ có nhiều thành phần, nhưng thành phần quan trọng nhất hiện nay và trong tương lai phải kể đến tri thức với hai quá trình song hành và bổ sung cho nhau: tích luỹ tri thức và phát triển tri thức. Nếu như học tập là quá trình tích luỹ tri thức thì nghiên cứu khoa học, tìm lời giải cho các bài toán trong khoa học và thực tiễn là quá trình phát triển các tri thức mới. Học tập và nghiên cứu khoa học do vậy là hai quá trình song hành, không thể thiếu đối với thanh niên hiện nay.

    Mỗi ước mơ, dù lớn lao hay giản dị, đều cần được tiếp lửa bằng nhiệt huyết, quyết tâm và nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ. Tuổi trẻ là một thứ ngầm rất quý mà không phải ai cũng biết, nó là món quà vô giá mà tạo hoá ban tặng cho chúng ta trên con đường chinh phục ước mơ cúa mình.

    Ai đó đã nói: “Nếu có một thời điểm nào đó trong cuộc sống, mà chúng ta cần phải và nên bị dúi xuống bùn lầy tăm tối, tốt nhất hãy chọn lúc 18-25 tuổi, lúc mà bạn có cả sức khoẻ lẫn sự dẻo dai; cả hưng phấn lẫn thất vọng; cả niềm tin sắt đá lẫn sự ngoan cố mù quáng; cả sự hiểu biết bằng bản năng và trực giác chưa bị pha tạp lẫn sự tăm tối vì mơ hồ nhận thấy những lực cản của xã hội. Nghĩa là có tất cả mà lại chẳng có gì vững chắc. Lúc ấy là lúc có cả một tiềm năng – cái năng lực tiềm ẩn trong từng cử động, từng quyết định nhỏ, cái khả năng có thể nhảy rất dài, vượt rất xa, thay đổi cả thế giới; hoặc là cái nguy cơ trượt xa khôn cùng xuống vực sâu của tăm tối, kiệt quệ, u uất và rệu rã.”. Tuổi trẻ tự bản thân nó đã là một tài sản, tự bản thân nó đã hàm chứa ánh sáng và hạnh phúc, khi bị dúi xuống bùn, cơ hội để nó vẫn toả sáng và thăng hoa sẽ lớn hơn so với khi bạn già đi.

    Ước mơ thuộc về tương lai mà người trẻ tuổi thì sống vì tương lai, vậy tại sao không sống và phấn đấu vì ước mơ của mình? Thành công bắt đầu từ suy nghĩ “dám ước mơ”. Chúng ta dám ước mơ, dám nghĩ khác và vượt khỏi những hạn hẹp của hoàn cảnh sống để thực hiện cho bằng được khát vọng của mình. Ước mơ cũng giống như những tên lửa đang chuẩn bị cất cánh, nhưng nếu không được châm ngòi bằng một niềm tin, ý chí và nỗ lực vượt khó thì mãi mãi nó chỉ nằm chỏng chơ trên mặt đất.

    Cuộc đời thật có quá nhiều ước mơ, có những ước mơ đã trở thành sự thật và cả những ước mơ mãi mãi chỉ là mơ ước mà thôi. Nhưng chúng ta hãy cảm nhận những ước mà trong chính con người mình và học cách để nuôi dưỡng nó. Trước hết, phải tìm cho mình một hoài bão, đam mê và tự đặt câu hỏi cho mình có dám đánh đổi tất cả để hoàn thành được ước nguyện đó hay không, Con đường biến ước mơ thành hiện thực đều phải trải qua ba giai đoạn: Điều đầu tiên và quan trọng nhất là phải nuôi trong mình một ước mơ, lẽ sống để có động lực phấn đấu và vươn lên. Tiếp đó, ta luôn có những kế hoạch và dự định để từng bước cụ thể hoá, hiện thực hoá ước mơ. Muốn làm được điều đó mỗi chúng ta cần tự trang bị cho mình kiến thức và nền tảng giáo dục vững chắc. Cuối cùng, phải biết kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình. Không thành công nào mà chưa từng trải qua thất bại, những bài học từ sai lầm đã qua sẽ tôi luyện cho ý chí thêm mạnh mẽ và vững vàng.

    Tất nhiên, không dễ để biến ước mơ thành hiện thực. Một ước mơ dù lớn hay nhỏ, được ấp ủ, nuôi dưỡng và hiện thực hoá là cả một quá trình với ý chí tự thân và những bước đi khoa học.

    Tôi là một người giàu có những ước mơ. Cũng như nhiều bạn bè khác, tôi ước mơ mình sống có ích, giàu có tri thức, giỏi nghề và tất nhiên thành đạt trong cuộc sống. Tôi bắt đầu lập kếhoạch cho mình từ những năm cuối trung học: phải vào được đại học. Phải cố gắng trong quá trình học đó để có được kết quả tốt. Tôi cũng sẽ tranh thủ những năm cuối đi làm thêm để lấy kinh nghiệm. Ra trường, tôi sẽ đi làm ở một công ty lớn mà ở đó tôi có cơ hội để thể hiện bản thân mình… Và kế hoạch vạch vẽ từ ngày chập chững nhận ra cuộc đời mình phải do chính mình xây nên đó đến nay tôi đã phần nào hoàn thành được: tôi đã vào được đại học, trong quá trình học tôi đã nỗ lực cố gắng và đạt được kết quả tốt, nhưng cũng có những việc mà bản thân tôi chưa thực hiện được trong kế hoạch nhỏ mà mình tự đặt ra đó: tôi đã không đi làm thêm trong những năm cuối đế lấy kinh nghiệm được vì tôi dành thời gian qua nhiều cho việc học, cho việc trang bị kiến thức, hành trang để bước vào cuộc sống thực tế, để thực hành những gì mình đã học, tôi cũng đã không làm ở một công ty lớn như mình đã định mà hiện tại tôi đang làm tại một cơ quan nhà nước. Ở đó, mọi thứ thật mới lạ so với những gì tôi đã học ở trường. Tôi nghĩ rằng, những lý thuyết, những bài học mà tôi đã học ở trường chỉ là một phần nhỏ trong cái thực tế to lớn này. Và tôi như đang phải học lại từ đầu trong một ngôi trường thực tế với những thử thách và khó khăn mới. Tôi phải nỗ lực hơn trong việc tìm tòi và học hỏi ở các cô chú, các anh chị đi trước để mong mình có thể thích nghi với ngôi trường mới này. Đó là cả một quá trình với ý chí và nỗ lực rất lớn vì thực tế bao giờ cũng khác nhiều so với những lý thuyết mà mình đã được trang bị.

    Một ước mơ mới, một kế hoạch mới sẽ được đặt ra cho một tương lai mới. Đó là điều tôi phải làm bây giờ. Trước tiên, tôi phải biết kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình để từng bước làm quen với công việc mới của mình, từng bước thích nghi với ngôi trường rộng lớn mà tôi là một sinh viên mới vào trường với những bỡ ngỡ, mọi thứ dường như mới lạ và tôi phải cố gắng học hỏi nhiều, phải cố gắng vận dụng những gì mình đã học vào những môn học thực tế mà tôi sẽ được học trong ngôi trường mới này. Tiếp đó, tôi sẽ phấn đấu trở thành một thành viên chính thức trong cơ quan của mình vì hiện giờ tôi vẫn là chuyên viên tập sự chưa phải là cán bộ chính thức. Điều này đòi hỏi một sự cố gắng và nỗ lực rất lớn của bản thân tôi. Sau khi trở thành một cán bộ chính thức bằng nhiệt huyết, quyết tâm và nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ tôi sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong công việc, tôi sẽ trở thành một cán bộ giỏi, một cán bộ tốt và thành đạt trong cuộc sống là mục tiêu cuối cùng của tôi.

    Tất nhiên, không dễ để biến ước mơ thành hiện thực. Nhưng ước mơ sẽ chỉ là mơ ước nếu ta không có một niềm tin, ý chí và nỗ lực vượt khó, không có sự kiên trì, nhẫn nại. Không thành công nào mà chưa từng trải qua thất bại, những bài học từ sai lầm đã qua sẽ tôi luyện cho ý chí thêm mạnh mẽ và vững vàng. “Tiếp tục cất bước, tiếp tục ước mơ và cố gắng thực hiện chúng – những điều chi có ước mơ mang lại được cho con người và tuổi trẻ…”.

    Cuộc đời của mỗi chúng ta là một câu chuyện, chính vì thế mà tại sao chúng ta lại không viết tất cả câu chuyện của chúng ta lên, để chia sẻ kinh nghiệm với nhau, cũng như để tạo cho các bạn trẻ chúng ta có những suy nghĩ theo chiều hướng tích cực hoặc lạc quan yêu đời hơn. Để cho cuộc sống của mỗi chúng ta là một màu hồng.

    Cũng chính vì thế mà qua cuộc thi này tôi muốn viết đôi dòng tâm sự về những ước mơ của mình. Và cũng hi vọng các bạn, các anh, chị chia sẻ những ước mơ để hy vọng một ngày mai tươi sáng hom, tốt đẹp hơn và to lớn hơn. “Hãy tin vào mình và những gì mình làm, bạn sẽ đạt được điều bạn muốn. Hãy theo đuổi những ước mơ của bạn đến cùng, bạn sẽ biến nó thành hiện thực”.

  • Ôn Thi ĐH Văn nghị luận xã hội 2019

    Ôn Thi ĐH Văn nghị luận xã hội 2019

    Ôn Thi ĐH Văn nghị luận xã hội 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ôn Thi ĐH Văn nghị luận xã hội 2019

    Văn nghị luận xã hội

    1.     Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Bản Lĩnh.

    “Bản lĩnh” – hai từ thật đơn giản nhưng bạn biết không, hàm chứa trong đó là cả một quá trình quyết tâm kiên cường không ngại gian khổ. Giống như một chiếc áo giáp được tôi luyện từ những nguyên liệu bền vững nhất, bản lĩnh giúp ta không còn phải lo sợ trước những cơn gió to hay những ngọn sóng dữ. Vậy bản lĩnh là gì? Bản lĩnh là khả năng giải quyết mọi chuyện một cách bình tĩnh, thông minh và tỉnh táo. Người bản lĩnh là người dám đương đầu với khó khăn gian khổ. Thất bại, tự họ sẽ đứng lên. Cay đắng họ sẽ làm cho mọi thứ ngọt ngào. Họ dám làm những điều lớn lao, kỳ vĩ, xoay trời chuyển đất. Ở những người có bản lĩnh, họ luôn có trái tim đầy lý trí; có lòng quyết tâm cao độ với một lòng can đảm cùng với một nghị lực, ý chí mạnh mẽ. Họ sẵn sàng đương đầu với thử thách. Ở họ, ta luôn tìm thấy cái kiên định nơi đáy mắt và một nụ cười biểu trưng cho sự tự tin. Các cầu thủ U23 Việt Nam làm nên kỳ tích trước các đối thủ lớn về thể hình, mạnh về tốc độ như Uzơ-bê –kit- tan, I-rắc, Quata cũng là nhờ vào bản lĩnh. Người bản lĩnh, họ sẽ được mọi người yêu quý, tin cậy; bản thân họ cũng sẽ hiểu được sứ mệnh của mình là chỗ dựa tinh thần cho người khác. Vì vậy, người bản lĩnh là người dám nghĩ, dám làm và dám thành công. Tuy nhiên cũng có những người vừa mới thấy nhấp nhô gợn sóng đã vội vã buông tay chèo, dễ dàng chấp nhận thất bại. Chắc chắn một điều rằng, những kẻ ấy vĩnh viễn không thể tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội, mãi mãi chỉ có thể sống dưới cái bóng của kẻ khác. Và bạn ơi, bản lĩnh khởi đầu như thế đấy! Khoan nói đến những thành quả mà bản lĩnh đem lại, chỉ nói riêng đến quá trình rèn luyện thôi cũng đã được xem là một thành tựu rồi. Đến đây, tôi chợt nhớ đến bông bồ công anh mạnh mẽ nương mình theo gió để vươn đến những chân trời cao xa. Ngay cả loài hoa mong manh nhỏ bé còn có thể tự luyện cho mình bản lĩnh, vậy còn bạn? Bạn có chấp nhận kiếp sống còn thua kém cả một loài hoa?

    Bài 2: Bản lĩnh

    Trong cuộc sống của mỗi con người muốn đạt được thành công, chúng ta không thể thiếu bản lĩnh. Vậy bản lĩnh là gì và tại sao lại đóng vai trò quan trọng đến vậy? Bởi bản lĩnh là những vấn đề quyết định một cách độc lập, không vì áp lực bên ngoài mà dễ dàng thay đổi. Một con người bản lĩnh luôn dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với thử thách khó khăn và không bao giờ chối bỏ trách nhiệm của mình. Nhờ vậy, trên đường đời với vô số chông gai, họ luôn giữ cho mình một tinh thần sắt đá, phong thái điềm tĩnh, sự kiên định đáng ngưỡng mộ và dễ dàng dành được sự tín nhiệm, tôn trọng từ những người xung quanh. Oprah Winfrey là một tấm gương tiêu biểu. Sinh

    ra tại một khu ổ chuột, lớn lên với người cha nghiện ngập, thậm chí đã từng bị xâm hại tình dục, bà vẫn kiên cường vượt qua mọi định kiến, gian nan để trở thành tỉ phú da màu ở tuổi 40 cũng như truyền cảm hứng cho biết bao mảnh đời bất hạnh. Tuy nhiên trong xã hội ngày nay vẫn còn một số người thiếu bản lĩnh trong cuộc sống, ngại khó, ngại khổ, luôn đổ lỗi cho số phận. Chính vì vậy họ mãi mãi không bao giờ chạm đến ngưỡng cửa thành công. Bản thân mỗi chúng ta hiểu được giá trị của bản lĩnh vì vậy cần xây dựng cho riêng mình một bản lĩnh vững vàng bằng cách không ngừng trau dồi tri thức, kĩ năng sống cũng như nhân cách. Hơn tất thảy, tuyệt đối không được nhầm lẫn giữa bản lĩnh với sự tự phụ hay bảo thủ. Bởi như John Ruskin từng nói, “ bản lĩnh là sự hợp nhất của kinh nghiệm, trí tuệ và đam mê trong guồng hành động”.

    2.     Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Lòng Dũng Cảm”

    Lòng dũng cảm là một trong những đức tính vô cùng cần thiết và đáng quý ở mỗi con người. Dù ở

    nơi đâu khi làm bất cứ việc gì con người cũng đều cần đến lòng dũng cảm. Dũng cảm là không sợ

    nguy hiểm, khó khăn. Người có lòng dũng cảm là người không run sợ, không hèn nhát, dám đứng

    lên đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, các thế lực tàn bạo để bảo vệ công lí, chính nghĩa. Dũng

    cảm là sẵn sàng hy sinh bản thân mình để cứu giúp những người khó khăn hoạn nạn. Trong chiến

    tranh, nhờ những tấm gương dũng cảm như Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, La Văn Cầu… và bao

    tấm gương thương binh, liệt sĩ mà đất nước mới có được nền độc lập. Trong hoà bình những người

    lính, những chiến sĩ công an dũng cảm đấu tranh với tội phạm để bảo vệ bình yên cho nhân dân.

    Người dũng cảm là người bản lĩnh, dám đương đầu và không lùi bước. Và cũng như bản lĩnh, dũng

    cảm sẽ giúp con người vươn đến thành công. Người dũng cảm luôn được mọi người yêu mến và

    quý trọng. Qua đây ta cũng cần phê phán những người nhầm tưởng lòng dũng cảm với hành động

    liều lĩnh, mù quáng, bất chấp công lí. Phê phán những kẻ hèn nhát, bạc nhược không dám đấu

    tranh, không dám đương đầu với khó khăn thử thách để vươn lên trong cuộc sống. Dũng cảm là

    cần thiết, vì vậy cần rèn luyện tinh thần dũng cảm từ việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày.

    Luôn đấu tranh loại bỏ sự hèn nhát, rèn cho mình ý chí, nghị lực, bản lĩnh. Hãy nhớ rằng, hèn nhát là bóng tối đẩy lùi bước tiến của xã hội và chỉ có dũng cảm mới có thể dẫn lối soi đường cho ta thoát khỏi con đường hầm tăm tối đó.

    3.     Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về vai trò của Ý Chí (Nghị lực)

     

     

    Đoạn văn 1

     

    Muốn vượt qua gian nan thử thách trên đường đời, con người không thể thiếu đi nghị lực. Vậy nghị lực là gì? Đó là là ý chí, là bản lĩnh, lòng quyết tâm vươn lên trong cuộc sống. Người giàu nghị lực luôn có sức sống mạnh mẽ, dám đương đầu với mọi thử thách khó khăn, kiên trì vượt qua nghịch cảnh để đi đến thành công. Trong thực tế, ta có thể bắt gặp không ít con người như vậy. Nguyễn Ngọc Ký thiếu đi đôi tay nhưng không ngừng nỗ lực để trở thành một người thầy đáng kính, Nick Vujick sinh ra với tứ chi khiếm khuyết nhưng chưa một lần chịu thua số phận, Stephen Hawking bị bại liệt ở tuổi ngoài 20 và được ngợi ca là nhà vật lí học đương đại nổi tiếng nhất… Họ chính là những tấm gương sáng, đem đến cho ta bài học quý báu về giá trị của ý chí, nghị lực và sự quyết tâm. Vậy nhưng, trong xã hội vẫn có một số người có lối sống ỷ lại, dựa dẫm, không có tinh thần phấn đấu, ý chí tiến thủ. Không chỉ tự đưa mình vào ngõ cụt, những người như vậy còn kéo lùi dòng chảy văn minh của nhân loại, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hôi. Thế hệ trẻ hôm nay cần phê phán lối sống này, không ngừng rèn đức luyện, nỗ lực bằng tất cả khả năng để có thể vững vàng tiến về phía trước. Bởi đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, “Tuổi trẻ là tuổi của tương lai. Muốn có tương lai tốt đẹp thì phải chiếm lấy bằng ý chí và nghị lực của chính bản thân”.

    Đoạn văn 2

    Nếu nói bản lĩnh nghiêng về thực hành thì ý chí chính là phần lý thuyết. Muốn thực hành thì phải

    nắm vững lý thuyết mà áp dụng. Có ý chí, con người mới có đủ quyết tâm để chinh phục những

    tầm cao mới. Bản thân ý chí vốn không có một định nghĩa cụ thể. Nói đơn giản, đó là quyết tâm cố

    gắng vượt qua gian khổ thử thách; còn nói phức tạp, ý chí là mồi lửa giúp cho bản lĩnh bùng cháy.

    Ông bà ta có câu “có chí thì nên” cũng là vì lẽ đó. Chưa nói đến khả năng bạn đến đâu, chỉ riêng

    việc bạn có cho mình một ý chí sắt đá cùng niềm tin vững vàng thì bạn đã đi trước người khác một

    bước! Nhưng, cái gì cũng có cái giá của nó, ý chí cũng không phải là một ngoại lệ. Để có được một

    tinh thần thép khi đứng trước bão tố của cuộc đời, bạn sẽ phải bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức

    để mài sắt luyện kim! Vậy nên, người nói được câu “Tôi có ý chí” thì rất nhiều, nhưng người mà

    hành động của họ nói lên điều đó thì quả thực không được mấy ai. Những người chỉ mới giáp mặt

    cơn lốc xoáy hung tợn đã nhụt chí xin hàng, hay những kẻ sẵn sàng quỳ gối trước những thế lực

    mạnh mẽ, tất cả bọn họ suy cho cùng đều là vì thiếu đi cái ý chí cần thiết. Họ không biết cách tự

    tạo cho riêng mình một đế chế hùng mạnh. Những người như thế, chung quy lại, cũng chỉ mãi là kẻ

    thất bại mà thôi. Còn bạn? Bạn sẽ chọn con đường gập ghềnh hướng tới tương lai hay biến mình

    thành một con ốc chỉ biết thu mình trong vỏ?

    Lê Phùng Tú Lệ

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    4. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về tính Trung Thực.

    “Trung thực là “chương đầu tiên” trong cuốn sách về sự khôn ngoan” – Thomas Jefferson. Quả

    đúng như vậy, trung thực là một đức tính quý báu mà bất cứ ai trong cuộc đời cũng đều mong

    muốn có cho mình. Vậy trung thực là gì? Đó là lối sống ngay thẳng, không bao giờ nói sai sự thật,

    luôn đứng về lẽ phải, bảo vệ công bằng; trung thực là không dối trá, sống đúng lương tâm mình.

    Trung thực được thể hiện ở rất nhiều mặt của đời sống. Đó là lúc bạn sai lầm và mạnh dạn nhận lỗi

    về mình. Trong thi cử chấp nhận điểm kém còn hơn gian lận, quay cóp. Trung thực còn giúp cho

    chúng ta rất nhiều điều khác trong cuộc sống nữa. Nó giúp ta có được sự tin tưởng, tin yêu của

    người khác. Trong công việc làm ăn, nếu chúng ta làm ăn trung thực với nhau, không gian dối thì

    cả hai bên đều có lợi. Nếu mỗi con người là một tấm gương sáng về trung thực thì sẽ tạo nên một

    xã hội văn minh, công bằng, xã hội ổn định, phát triển. Ta cũng cần phê phán những kẻ gian dối,

    thiếu trung thực. Những kẻ không trung thực là những kẻ xấu, dễ gây mất niềm tin đối với người

    xung quanh, khiến ai cũng phải dè chừng. Trong cuộc sống hằng ngày, khi vi phạm lỗi lầm gì thì

    cố gắng kiếm cớ, nói dối sao cho mình thoát khỏi tội. Đó là những hành vi đê hèn của kẻ không

    trung thực. Người không trung thực là người không tốt. Vậy nên chúng ta cần đấu tranh loại bỏ

    thói xấu này ra khỏi xã hội. Tóm lại, trung thực là một đức tính tốt, cao quý rất đáng để cho chúng

    ta noi theo. Vì thế, ngay từ giờ phút này, hãy chung tay loại bỏ thói dối trá ra khỏi đời sống xã hội,

    hãy cùng nhau tạo nên một thế giới nơi con người tin tưởng và sống với nhau bình đẳng và bác ái.

    Bài 2

    Wiliam Sh.Peare từng nói: “Không di sản nào quý giá bằng lòng trung thực”. Vậy “trung thực” là

    gì? “Trung thực” nghĩa là ngay thẳng, thật thà, nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, dám

    nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm. Trong cuộc sống, người có đức tính trung thực luôn tôn trọng

    sự thật, chân lý và lẽ phải. Trung thực là một phẩm chất cao đẹp làm nên nhân cách con người.

    Trung thực mang đến giá trị lòng tin làm cho cuộc sống xã hội và các mối quan hệ trở nên bền

    vững. Chúng ta luôn trung thực, thẳng thắn thì luôn có kết quả tốt đẹp vì đem lại lòng tin cho mọi

    người. Lúc làm sai – người trung thực luôn dũng cảm nhận trách nhiệm, biết sửa sai. Trung thực

    làm cho xã hội, cộng đồng luôn trong sạch, đẩy lùi được sự tha hoá đạo đức. Trung thực làm cho

    sự gian dối, giả tạo không còn đất sống. Lòng trung thực mặc dù không đem lại cho ta sự giàu có và quyền lực, nhưng nó mang đến cho ta một xã hội công bằng và có sự tin tưởng giữa người với người. Ngược lại, gian dối và không trung thực sẽ biến con người ta thành những kẻ giả tạo, đạo đức con người dần dần bị hạ thấp, phá bỏ những nét đẹp truyền thống của dân tộc. Cũng qua đây chúng ta cần rút ra bài học cho mình: là một con người sống trong xã hội hiện đại, đức tính trung thực là không thể thiếu cho bản thân, cần tích cực rèn luyện đức tính đáng quý này để hoàn thiện chính mình, trở thành người công dân tốt đưa đạo đức xã hội ngày càng đi lên, đất nước ngày một phát triển hơn nữa.

    5. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Cống Hiến

    Peter Marshall – Giáo của Thượng nghị viện Mỹ từng nói: “Thước đo của đời người không phải

    thời gian mà là sự cống hiến”. Cống hiến là đóng góp công sức, đóng góp những thứ từ bình

    thường đến quý giá cho sự nghiệp chung của mọi người, của đất nước. Suy rộng hơn, cống hiến

    chính là góp phần xây dựng thế giới ngày một văn minh, tân tiến hơn. Người biết cống hiến được

    tôn trọng và kính nể rất nhiều. Bởi khi ta biết cống hiến, chính là lúc ta biết đặt lợi ích của cộng

    đồng lên trên lợi ích cá nhân. Biết hi sinh lợi ích của mình vì cộng đồng. Để làm được điều này, ta

    cần phải mở rộng tầm nhìn của mình đối với thế giới, tránh xa những nông cạn, vị kỉ, nhỏ nhen.

    Việc cống hiến còn giúp chúng ta hoàn thiện nhân cách và tâm hồn mình hơn, như biết bao dung

    hơn, trở thành người quảng đại hơn, yêu thương con người nhiều hơn. “Cống hiến”- hai chữ với

    hai thanh sắc- khiến ta liên tưởng đến điều gì lớn lao, xa xăm, ta nghĩ chỉ những người xuất chúng

    mới có khả năng cống hiến cho nhân loại. Như những sáng tạo, những phát minh, tìm kiếm khoa

    học được đánh giá cao của Mark Zuckerberg – ông chủ của trang mạng xã hội lớn nhất thế giới –

    Facebook; Marie Curie với phát hiện vĩ đại cho nền công nghiệp phóng xạ – Uranium. Nhưng chữ

    “cống hiến” cũng rất đời thường. Đó là sự chăm chỉ lao động cùa người nông dân, là sự miệt mài

    với công việc của người trí thức, là sự hăng say trong học tập của lớp trẻ. Phải chăng đó là hình

    ảnh giản dị của anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long, là các anh lính biên

    phòng hay hải đảo xa xôi đang ngày đêm canh giữ bình yên cho đất nước. Và cao hơn cả cống hiến,

    chính là đức hy sinh. Hãy nhớ về những vị anh hùng hữu danh, vô danh, họ đã hy sinh cả mạng

    sống để cho đất nước được yên tiếng súng, được độc lập tự do. Từ đó, nhắc nhở bản thân mỗi

    chúng ta phải biết sống vì mọi người, sống vì đất nước, dân tộc và “Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì

    cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hôm nay”

    6. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ ) bàn về sống Có Ích

    Cách để sự tồn tại của mỗi con người trở nên tốt đẹp – ấy chính là sống sao cho có ý nghĩa, sống sao cho có ích. Vậy thế nào là sống cho ý nghĩa? Sống ý nghĩa là sống có ích, sống cao đẹp, cao thượng, biết làm nhiều việc tốt, việc thiện, biết hi sinh và cống hiến; sống cho mọi người và sống hết mình. Quả đúng như vậy, ý nghĩa cuộc sống hình thành trên vô vàn phương diện khác nhau. Sống có ích chính là lối sống tích cực phù hợp với thời đại; làm đẹp cho cuộc sống bản thân, sống hòa hợp với mọi người xung quanh, được nhiều người thừa nhận. Sống có ích còn phải có những hành động, tình cảm, việc làm thiết thực đem lại hiệu quả cho cá nhân cũng như cho cộng đồng. Sống có ích là khi chúng ta biết nghĩ đến người khác, biết hi sinh những cái nhỏ nhặt, và biết rộng mở vòng tay để có chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh hơn chúng ta và biết cách đối nhân xử thế với mọi người, giúp đỡ những người đang hoạn nạn, lắng nghe và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh…. Sống có ích là khi vấp ngã phải biết đứng dậy, thành công không tự mãn. Ai cũng đều có thể sống có ích, nếu như thế thì xã hội này sẽ tốt đẹp biết bao, sẽ không còn những xấu xa, sẽ

    không còn những mảng tối trong cuộc sống. Vì thế chúng ta hãy làm nên sự khác biệt, hãy biết

    sống có ích mỗi ngày, biết phê phán đấu tranh với cái ác, cái xấu để bảo vệ lẽ phải. Hãy là một tấm

    gương, hãy tìm một mục đích sống của mình để sống có ích từng ngày từng giờ, đừng lãng phí một

    thời gian nào cả và chúng ta sẽ giúp thế giới trở thành một ngôi nhà tốt đẹp cho mọi người. Sự thật

    là mọi thứ tồn tại trên đời này đều có nguyên do của nó. Bông hoa tồn tại để góp hương sắc, làm

    đẹp cho đời. Con ong tồn tại để dâng cho đời những chén mật ngọt ngon. Còn con người, tồn tại để

    làm cuộc sống của chính mình và mọi người xung quanh trở nên ý nghĩa. Kết lại, chúng ta “phải

    sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì

    những dĩ vãng đớn hèn của mình”

    7. Viết đoạn văn 200 chữ bàn về Sự SẺ CHIA trong cuộc sống

    Đối với mỗi cuộc đời con người, sự sẻ chia trong cuộc sống là điều vô cùng cần thiết. Vậy sẻ chia

    là gì? Tại sao nó lại quan trọng đến vậy? Sẻ chia là một dạng tình cảm xuất phát từ trái tim, sự

    đồng cảm, và tình yêu thương, được thể hiện khi ta biết quan tâm, lo lắng và giúp đỡ những người

    xung quanh. Nói cách khác, sẻ chia chính là cho đi mà không mong muốn được nhận lại. Bạn biết

    đấy, cuộc sống là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Biết sẻ chia chắc chắn sẽ giúp bạn phát

    triển các mối quan hệ xã hội, tạo nên sự gắn kết với những người xung quanh, từ đó không bao giờ

    cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo. Đồng thời khi ai đó gặp khó khăn, giúp được họ – dù chỉ một chút thôi –

    chắc chắn bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc và thanh thản hơn rất nhiều. Trong thực tế, không khó để ta

    bắt gặp và cảm phục những con người mang trong mình đức tính này. Những tình nguyện viên

    mang trên mình màu áo xanh tình nguyện, các mạnh thường quân không quản ngại khó khăn đến

    với vùng bão lũ hay đơn giản hơn là một cậu bé biết dành tiền ăn sáng tặng cho người hành khất…,

    đó đều là những bông hoa đẹp điểm tô cho vườn đời thêm rực rỡ. Tuy nhiên, vẫn có một số người

    sống ích kỉ, chỉ biết nhận lại chứ không biết cho đi. Họ chỉ biết đến lợi ích của bản thân mình mà

    không quan tâm đến người khác muốn gì, nghĩ gì, cần giúp đỡ gì. Đứng trước hiện tượng này, tất

    cả chúng ta cần học cách đồng cảm, sẻ chia với những người xung quanh từ những việc làm nhỏ

    nhất: gửi lời chào tới bố mẹ trước khi đi học, chúc người bạn cùng bàn một ngày tốt lành khi tới

    lớp… Như vậy, chắc chắn cuộc sống ý nghĩa hơn rất nhiều. Bởi đúng như một nhà văn Nga từng

    nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương của con người”.

    8. Viết đoạn văn 200 chữ bàn về: Khát vọng

    Để sống một cuộc đời có ý nghĩa, con người không thể thiếu đi những khát vọng chân chính. Vậy

    khát vọng là gì? Nó đóng vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta? Khác với tham

    vọng, khát vọng chính là mong muốn hướng tới những điều lớn lao, tốt đẹp với sự thôi thúc mãnh

    liệt đến từ sâu thẳm trái tim con người. Nó đem đến một mục đích sống cao đẹp, trở thành động

    lực giúp ta vượt qua khó khăn trên đường đời. Đồng thời, nó cũng nâng ta lên khỏi những cái tầm

    thường, vươn tới cái cao cả, thuần khiết hơn, trở thành nền tảng quan trọng để có thể kiến tạo nên

    lợi ích cho gia đình và xã hội. Thử hỏi, cách đây hơn một trăm năm, nếu người thanh niên Nguyễn

    Tất Thành không vì khát vọng giành lại độc lập cho dân tộc mà đặt chân lên con tàu Đô đốc Đờ

    Tác – tơ – ri, biết đến bao giờ chúng ta mới được sống trong hòa bình như ngày hôm nay? Và nếu

    không có những con người dám ước mơ, dám thực hiện như Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, có lẽ

    thương hiệu ô tô Made in Vietnam 100% sẽ chẳng bao giờ trở thành hiện thực. ..Những người biết

    khát vọng vươn lên xứng đáng để mỗi chúng ta nêu gương và học tập. Tuy nhiên bên cạnh những

    con người biết khát vọng và hướng đến những điều tốt đẹp thì trong xã hội vẫn còn đâu đó những

    con người không biết vươn lên, tự mãn với bản thân. Những người như vậy sẽ làm xã hội đi xuống,

    họ đáng bị phê phán và lên án. Nói tóm lại, tất cả chúng ta, trong đó có tôi, hãy xây dựng cho mình

    một khát vọng cao cả và nỗ lực hết sức để biến nó thành hiện thực. Bởi nếu cuộc đời này là bầu

    trời rộng lớn, khát vọng chính là đôi cánh giúp ta có thể bay xa.

    9. Viết đoạn văn 200 chữ bàn về: Sáng tạo

     

    Sáng tạo là yếu tố quyết định trực tiếp tới thành công của con người thời nay. Vậy sáng tạo là gì?

    Tại sao con người lại cần nó đến vậy? Sáng tạo chính là khả năng tạo ra những điều mới, hiệu quả

    và tiên tiến hơn những gì đã có. Người mang trong mình khả năng sáng tạo luôn không ngừng nỗ

    lực, tìm tòi để cải tiến phương thức lao động hay tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, giàu

    giá trị. Như chúng ta đã biết, cuộc sống hiện đại luôn biến đổi không ngừng, đòi hỏi con người

    phải thích ứng, thay đổi. Nếu cứ mãi neo mình theo lối mòn đã cũ, chẳng những đánh mất cơ hội

    của bản thân mà ta còn kéo lùi sự phát triển của văn minh nhân loại. Thử hỏi, không có sáng tạo,

    liệu những con người như Edison, Picasso, Mark Zukerberg… có ghi được tên tuổi mình vào lịch

    sử nhân loại; chúng ta có có được những kiệt tác nghệ thuật để chiêm ngưỡng, những đồ vật, ứng

    dụng tiện ích để sử dụng hay không? Vậy nhưng, hiện nay vẫn còn đâu đó trong xã hội có những

    kẻ thụ động, lười suy nghĩ, thích hưởng thụ, họ đang dần trở thành gánh nặng cho xã hội. Chính vì

    vậy, giới trẻ ngày nay cần nghiêm túc học tập và làm việc, đánh thức khả năng sáng tạo bằng

    những suy nghĩ, hành động cụ thể. Có như vậy, chúng ta mới có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa,

    phát triển khả năng của chính mình cũng như đóng góp tích cực cho quê hương, đất nước.

    10. Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của Anh/chị về: Sự tự tin

    Thành công đối với mỗi người rất cần nhiếu yếu tố, một trong những yếu tố quan trọng chính là sự tự tin. Vậy tự tin là gì và tại sao nó lại quan trọng đến thế? Tự tin là sự tin tưởng vào khả năng, giá trị và sức mạnh của bản thân mình. Người mang trong mình phẩm chất này sẽ có được một nền tảng tâm lí vững vàng, dễ dàng trả lời được các câu hỏi như: “Tôi là ai? Tôi muốn gì? Tôi có thể làm gì để biến ước mơ thành hiện thực?” Đồng thời, trên đường đời với vô số chông gai, họ luôn giữ được sự bình tĩnh, can trường trước mọi biến cố, dễ dàng thuyết phục và dành được niềm tin từ người đối diện. Người tự tin bao giờ cũng bản lĩnh, kiên cường và không dễ bị khuất phục trước khó khăn thử thách. Trước đám đông ồn ào họ tự tin đứng ra thuyết phục, trước đường đi khó – họ tự tin và bình tĩnh vượt qua. Sự tự tin cũng như ý chí, nghị lực hay lòng dũng cảm, nó chính là thước đó của con người và cũng là kim chỉ Nam để con người vươn tới thành công. Bởi vậy, Walt Disney – người từ một cậu bé nghèo không có cả tiền mua giấy vẽ vươn lên thành ông chủ của tập đoàn sản xuất phim hoạt hình lớn nhất thế giới – đã coi tự tin là một trong bốn điều làm nên cuộc đời mình. Quan trọng là vậy nhưng không phải ai cũng tạo được cho mình sự tự tin đúng nghĩa. Một số quá nhút nhát, không đủ can đảm để trình bày ý kiến cá nhân trong khi số khác lại kiêu căng, ngạo mạn, tự phụ về khả năng của mình, chính vì vậy họ rất khó thành công trong cuộc sống. Hiều được sự quan trọng của tự tin mỗi chúng ta cần nghiêm túc học tập, rèn luyện để có thể thoát

    ra khỏi lớp vỏ tự ti, nhút nhát, mạnh mẽ đứng dậy và thể hiện bản thân mình với thế giới. Bởi đúng như Helen Keller từng nói: “Bạn chẳng thể làm được điều gì mà thiếu đi sự tự tin.”

    11. Viết đoạn văn ngắn bàn về Hi vọng

    Cuộc sống của mỗi người luôn có muôn vàn những khó khăn, chông gai ở phía trước, nhưng dù

    khắc nghiệt đến đâu mỗi chúng ta vẫn không bao giờ ngừng hi vọng, sự lạc quan, tin tưởng vào

    tương lai, đó sẽ là chìa khóa thành công của mỗi người. Bởi trên đường đời, chưa ai không một lần

    vấp ngã. Điều quan trọng không phải ngã như thế nào, đau đớn ra làm sao mà là ta phải biết đối

    mặt với nó như thế nào. Nếu mất đi niềm tin, trở nên tuyệt vọng, không có ý chí vươn lên, ta sẽ

    mãi chìm trong vũng bùn tăm tối và chắc chắn sẽ đưa chúng ta đến bờ bực của những thất bại.

    Ngược lại, nếu trong tâm có hi vọng, ta luôn có thể nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm, tìm được

    sự bình an, thanh thản trong bất hạnh khổ đau. Đồng thời, thái độ sống lạc quan, vui vẻ sẽ giúp ta

    nhận được sự yêu quý, gần gũi từ những người xung quanh và không bao giờ cảm thấy cô đơn, lạc

    lõng. Gần đây, chúng ta không khỏi cảm phục trước diễn viên Quốc Tuấn – người không từ bỏ hi

    vọng, đồng hành cùng con suốt mười lăm năm ròng rã. Để rồi, sau tất cả, hạnh phúc đã thực sự

    mỉm cười với anh và gia đình. Dù vậy, không phải ai cũng tìm được ngọn lửa hi vọng để thắp sáng

    tương lai của chính mình. Một số dễ dàng bi lụy trước khó khăn, từ bỏ ước mơ và sống một cuộc

    đời mờ nhạt. Số khác thì lại cứ lao theo những ảo vọng xa vời, những mộng tưởng phù phiếm mà

    dần lãng quên giá trị đích thực của cuộc sống. và cuối cùng họ trở thành cái bóng mờ nhạt trên

    chính cuộc đời của mình. Helen Keller từng nói: “Bạn chẳng thể làm gì mà thiếu đi hi vọng”. Vậy

    nên, tất cả chúng ta hãy tìm cho mình những hi vọng đúng đắn và sống hết mình từng giây từng

    phút để thực hiện những giấc mơ của bản thân.

    12. Viết đoạn văn ngắn bàn về Thành công.

    Đã bao giờ bạn tự hỏi thành công là gì mà có những người bỏ ra cả cuộc đời để theo đuổi? Phải chăng, đó là sự hoàn hảo trong công việc, là cuộc sống giàu sang, được nhiều người nể phục? Thực ra thành công đơn giản và gần gũi hơn rất nhiều. Đó là khi bạn nấu được một bữa cơm ngon, giải một bài toán khó hay giúp mẹ một vài việc vặt… Nhưng dẫu được định nghĩa thế nào chăng nữa, thành công vẫn phải là kết quả của quá trình không ngừng cố gắng, nỗ lực, dám chấp nhận và vượt qua thất bại. Và, tuyệt đối đừng biến con đường theo đuổi thành công trở thành bi kịch bởi cố gắng không đồng nghĩa với bất chấp tất cả để đạt được điều mình mong muốn. Thành công cũng giống như con người, chỉ bền vững khi được tạo nên từ chính sức lực của chính mình với một cái tâm

    trong sáng. Một giáo sư người Anh từng nói: “Cuộc sống này không có thất bại, có chăng là cách ta nhìn nhận nó mà thôi”. Vậy nên, mỗi chúng ta đừng ủ rũ mà cho rằng mình là kẻ thua cuộc, hãy cứ vui lên và bước tiếp con đường đã chọn.

    13. Viết bài văn ngắn suy nghĩ về hai chữ: Thất bại

    Trong cuộc đời của mỗi người bên cạnh những thành công có lẽ không tránh khỏi những lần thất

    bại. Vậy thất bại là gì? Nó có ảnh hưởng như thế nào tới chúng ta? Thất bại là trạng thái hụt hẫng,

    bế tắc khi không thể hoàn thành được mục tiêu mà mình đã đặt ra hay thua cuộc trước một ai đó.

    Dù xuất phát từ nguyên nhân khách quan hay chủ quan, nó vẫn để lại những hậu quả nghiêm trọng

    cho chúng ta cả về vật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt, thất bại có thể khiến ta mất đi niềm tin vào bản

    thân, trở nên bi quan, tuyệt vọng. Vậy nhưng, “thất bại là mẹ thành công”, nếu biết đối mặt bằng

    một thái độ đúng đắn, ta hoàn toàn có thể biến nó trở thành bước đệm để thực hiện hoài bão của

    mình. Hãy đứng lên từ những thất bại, hãy lấy thất bại làm động lực và hãy biến nỗi đau thành

    những kỷ niệm ngọt ngào. Bạn đừng nản chí mà hãy bình tĩnh để trí óc tỉnh táo. Hãy để khát vọng

    và mơ ước tiếp thêm sức mạnh tinh thần. Bạn biết không ? Để tạo ra dây tóc bóng đèn, Edison đã

    thất bại hơn một nghìn lần; cái tên Seven Up xuất phát từ bảy lần hãng phải bắt đầu lại từ đầu; Jack

    Ma cũng đã bảy lần trắng tay trước khi gây dựng đế chế Alibaba… Vậy nên, đừng bao giờ nản

    lòng khi gặp phải thất bại. Hãy rút ra những bài học từ thất bại và biến nó trở thành động lực, chắc

    chắn thành công sẽ mỉm cười với bạn.

    Bài 2

    “Thất bại là mẹ thành công” – bạn có đồng ý không? Mới nghe qua có vẻ vô lí vì thất bại là sự đối lập của thành công vậy tại sao lại là “mẹ” của thành công được? Thành công là trạng thái mà con người đạt được mục đích mà họ mong muốn. Còn thất bại thì ngược lại đó là khi chúng ta không đạt được điều mình muốn. Trong câu nói này ý chỉ rằng thất bại chính là tiền đề để tạo nên sự thành công. Khi bạn thất bại bạn sẽ có kinh nghiệm hơn về việc đó để rồi sau này có thể hạn chế được mặt tiêu cực và đạt được thành công. Sau thất bại bạn sẽ có động lực để vực dậy, sửa đổi mặt yếu kém. Cứ như thế thành công sẽ chào đón bạn. Các nhà khoa học đã phải thất bại rất nhiều trước khi có những phát minh có thể làm thay đổi cả thế giới. Nhưng nếu khi bạn thất bại mà chán nản, bỏ cuộc để rồi bạn sẽ không bao giờ đạt được thành công mà bạn mong muốn. Chúng ta cần có ý thức, nghị lực để khắc phục thất bại và biến nó thành thành công. Thất bại chưa là dấu chấm

    hết, nó thực sự kết thúc là khi bạn không có nghị lực sống để giải quyết thất bại. Cánh cửa thành công luôn chào đón bạn, vậy tại sao bạn không tự đứng lên để Bắt Đầu.

    14. Viết bài văn ngắn suy nghĩ về hai chữ: Khiêm tốn

    Khiêm tốn không chỉ là nghệ thuật sống mà còn là nền tảng dẫn tới thành công.Vậy khiêm tốn là gì? Tại sao nó lại quan trọng với chúng ta đến vậy? Khiêm tốn là lối sống không tự đề cao mình, đánh giá đúng mực về bản thân, không khoe khoang thành công và không ngừng học hỏi từ những người khác. Chắc hẳn bạn cũng biết, không ai trong chúng ta là hoàn hảo, trí tuệ của mỗi người cũng chỉ là một hạt cát nhỏ bé giữa sa mạc rộng lớn. Hiểu được khả năng của mình sẽ là cơ sở quan trọng để ta hoàn thiện bản thân và mở mang tri thức. Đồng thời, biết khiêm nhường và lắng nghe cũng giúp ta có được sự tôn trọng, tin yêu của những người xung quanh. Khiêm tốn làm chúng ta cao quý hơn trong mặt mọi người và luôn luôn nhận được sự nể phục. Khiêm tốn còn làm chúng ta tự kiềm chế bản thân mình để không tự mãn khi thành công. Chính điều này làm chúng ta luôn thấy mình “thấp” hơn người khác để bản thân không ngừng cố gắng mỗi ngày. Chính đức tính ấy đã làm cho bức chân dung Chủ tich Hồ Chí Minh trở nên gần gũi, cao quý hơn đối với nhân dânViệt Nam cũng như bạn bè quốc tế. Vậy nhưng, trong xã hội hiện nay vẫn có không ít người quá đề cao chủ nghĩa cá nhân, mải khoe khoang tự mãn, đắm chìm trong những gì đã đạt được để rồi dần thụt lùi so với dòng chảy của văn minh nhân loại. Hiểu được giá trị của đức tính khiêm tốn mỗi chúng ta cần nói không với cách sống tiêu cực và rèn luyện đức khiêm tốn từ những điều nhỏ bé hàng ngày. Bởi “khiêm tốn là lương tri của cơ thể”, thiếu nó ta đâu thể trở thành một con người đúng nghĩa cũng như hoàn thiện bản thân.

    15. Viết bài văn ngắn suy nghĩ về Tình Cảm Gia Đình

    Trong cuộc đời của mỗi người có nhiều đều đáng để chúng ta trân quý. Một trong những điều ấy chính là tình cảm gia đình .Vậy tình cảm gia đình là gì? Tại sao nó lại quan trọng với chúng ta đến vậy? Bởi tình cảm gia đình là sự gắn kết giữa những người có cùng máu mủ, huyết thống và sống chung với nhau dưới một mái nhà. Rộng hơn, đó còn là sợi dây nối kết những con người dẫu không chung cội rễ nhưng luôn gắn bó, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng dù hiểu theo cách nào, tình cảm gia đình vẫn là món quà thiêng liêng và quý giá nhất mà chúng ta có thể có được. Vì sao ư? Vì gia đình chính là điểm tựa tinh thần vô cùng vững chãi, là nơi mà bất cứ khi nào chúng ta cũng có thể tìm thấy niềm tin, hi vọng và sức mạnh để vượt qua những thử thách khó khăn. Thiếu đi thứ tình cảm ấy, trái tim ta sẽ dần bị bóp nghẹt bởi cái cảm giác cô đơn, lạc lõng và cứ mãi bơ

    vơ trên nẻo đường kiếm tìm hạnh phúc. Vậy nhưng, đâu phải ai cũng biết trân trọng tình cảm gia đình, một số người cứ mải chạy theo tiền tài danh vọng hay những mối quan hệ phù phiếm. Để rồi khi nhận ra xung quanh chẳng còn một cánh tay nào sẵn sàng nắm lấy mình, đã không còn cơ hội nào cho họ sửa chữa thì tất cả đã quá muộn. Để tránh đi vào những vết xe đổ ấy, ngay từ hôm nay mỗi chúng ta cần dành tâm sức để giữ gìn tình cảm gia đình từ những hành động thường ngày. Một lời chúc nhẹ nhàng mỗi sáng, một bữa cơm ấm áp trong ánh chiều tà, một bông hoa thơm nhân ngày đặc biệt…, những việc làm nhỏ thôi nhưng chắc chắn sẽ giúp ngọn lửa gia đình mãi cháy sáng, soi đường và sưởi ấm cho bạn đến hết cuộc đời này. Xin được mượn một câu nói của Euripides để thay cho lời kết: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận”

    16. Viết bài văn ngắn trình bày về tinh thần Trách Nhiệm

    Tinh thần trách nhiệm là một trong những phẩm chất đáng quý nhất của con người. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Đó chính là ý thức thực hiện tốt nghĩa vụ, công việc của bản thân, không ỷ lại, dựa dẫm hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Trong công việc và cả cuộc sống, tinh thần trách nhiệm chiếm một vai trò vô cùng quan trọng. Nó là nguồn động lực thúc đẩy ta nỗ lực và hoàn thiện bản thân, nâng cao các kĩ năng giải quyết tình huống cũng như trình độ chuyên môn. Đồng thời, nhờ có phẩm chất này, ta có thể chiếm được lòng tin, sự tôn trọng và yêu quý từ bạn bè, đồng nghiệp và đối tác, từ đó dễ dàng vươn tới thành công hơn. Trong thế kỉ 21 – kỉ nguyên của hội nhập quốc tế, nơi không có chỗ cho những kẻ lười biếng, không dám làm và dám chịu trách nhiệm. Vì vậy mỗi chúng ta cần xây dựng tinh thần trách nhiệm từ những hành động nhỏ hàng ngày: tự hoàn thành bài tập, tuân thủ luật giao thông, dũng cảm nhận và sửa lỗi khi phạm sai lầm…

    Bởi đúng như Richard L Evans đã nói, chỉ khi biết chấp nhận trách nhiệm cho hành động của mình, ta mới có thể bắt đầu trưởng thành.

    17. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”. Từ xa xưa, lòng biết ơn luôn được cha ông ta đề cao, phát huy như một truyền thống quý báu. Cùng với quan niệm trên, tục ngữ có câu “Uống nước nhớ nguồn”. Nghĩa hàm ẩn là khi chúng ta hưởng thụ bất cứ thành quả nào, dù là vật chất hay tinh thần, cũng phải nhớ đến công ơn người đã làm ra chúng. Ăn một bữa cơm no đủ phải nhớ đến người làm ra hạt gạo; mặc một chiếc áo ấm áp phải biết ơn người đã thêu dệt nên. Câu tục ngữ như một lời răn rất triết lý, rất nhân sinh, hướng con người trở nên hoàn thiện hơn.

    Bởi, lòng biết ơn không chỉ là đức tính vĩ đại nhất mà còn là khởi nguồn của mọi đức tính tốt đẹp

    nhất của con người. Người có lòng biết ơn sẽ luôn được yêu quý, trân trọng, họ sẽ nhận được sự

    giúp đỡ nồng nhiệt bất cứ khi nào họ gặp khó khăn. Người được biết ơn cũng sẽ cảm thấy vui vẻ,

    nhiệt tình hơn khi giúp đỡ, từ đó, các mối quan hệ giữa người và người cũng phát triển và ngày

    một khăng khít hơn. Khi chúng ta biết ơn quá khứ, trân trọng giá trị nguồn cội cũng là khi chúng ta

    đang làm giàu vốn văn hoá cho bản thân và góp phần bảo vệ văn hoá truyền thống của đất nước.

    Tuy nhiên với sự phát triển hiện đại như hiện nay, những giá trị truyền thống đang ngày càng mai

    một, một bộ phận giới trẻ ngày nay đang quay lưng với truyền thống, sống ích kỷ, chỉ biết cho

    riêng mình. Chính vào lúc này đây, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” – truyền thống biết ơn

    cần phải được đề cao hơn nữa. Bởi không có những bài học quá khứ làm sao có được thành công

    trong hiện tại và tương lai? Vậy nên, hãy chắt chiu những giá trị tốt đẹp từ quá khứ bằng lòng biết

    ơn, nhưng cũng vừa nhìn vào tương lai một cách đầy tích cực và chiến đấu với thực tại thật nhiệt

    huyết.

    Trần Thuý Anh

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Bài 2

    “Uống nước nhớ nguồn” – câu tục ngữ tuy ngắn gọn, súc tích nhưng lại ẩn chứa một nét đẹp văn hóa quý báu của dân tộc. Thông qua các hình ảnh ẩn dụ: “nước, nguồn”, cha ông ta dặn dò con cháu phải trân trọng, biết ơn những người đã giúp đỡ hay tạo dựng thành quả để thế hệ trẻ hôm nay được hưởng thụ. Đây là một đạo lí hoàn toàn đúng đắn đối với mỗi con người bởi không gì tự nhiên mà có. Nhỏ bé như cây kim, viên thuốc hay lớn lao như nền hòa bình, độc lập ta đang tận hưởng, tất cả đều là bắt nguồn từ một quá trình lao động miệt mài và thậm chí là có cả sự hi sinh máu xương, tính mạng của thế hệ đi trước. Hiểu được điều này, xuyên suốt mạch nguồn bốn nghìn năm lịch sử, nhân dân ta đã sống trọn với đạo lí tốt đẹp của dân tộc. Bằng chứng là hiện nay, trên bước đường hội nhập quốc tế, những lễ hội có từ khi vua Hùng dựng nước vẫn được bảo tồn, những trang sử vàng son thời trung đại chưa bao giờ bị lãng quên, những gia đình chính sách, người có công với cách mạng luôn luôn nhận được sự quan tâm từ cộng đồng, xã hội…. Tuy nhiên vẫn còn đâu đó một số cá nhân có lối sống ích kỉ, chỉ biết hưởng thụ mà quên mất nguồn cội.

    Những người như vậy đáng bị lên án và phê phán. Như vậy tư tưởng “uống nước nhớ nguồn” mãi

    mãi là đạo lí mãi cuộn chảy trong trái tim các thế hệ người Việt hôm nay và mai sau. Bởi đó là kết kinh của đạo lí thủy chung, của tinh thần cộng đồng và cũng là nguồn gốc của sức mạnh dân tộc.

    18. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về “cuộc đời là những chuyến đi”

    Cuộc đời là những chuyến đi. “Chuyến đi” ở đây có thể hiểu theo nhiều tầng nghĩa. Đó có thể là sự

    xê dịch đến vùng đất mới, cũng có thể là hành trình tìm đến những sở thích, đam mê độc lạ, đôi khi

    là những cuộc cách mạng trong tâm tưởng, nhận thức. Đó còn có thể là những giai đoạn trong quá

    trình hình thành và phát triển của con người. Trái Đất quay miệt mài như muốn thúc đẩy con người

    vận động nhiều hơn, tránh dậm chân tại chỗ, tránh thụt lùi. Những chuyến đi rải đều, rải đều trên

    quỹ thời gian của chúng ta. Đôi khi số phận buộc ta phải đi, đôi khi ta tự mình dấn thân vào những

    trải nghiệm mới mẻ. Sau cùng, bài học được đúc kết từ những chuyến đi vẫn quan trọng hơn cả.

    Chúng ta học được cách tôi luyện bản thân, trưởng thành, mạnh mẽ hơn trong hành đông bởi

    những kinh nghiệm xương máu tích nhặt được. Chúng ta biết thêm nhiều điều thú vị, hay ho từ thế

    giới bên ngoài, khám phá ra những tri thức vô tận của nhân loại, bởi “đi một ngày đàng, học một

    sàng khôn”. Đặc biệt hơn, qua mỗi chuyến đi, ta có thể biết thế mạnh-điểm yếu của bản thân, hiểu

    rõ hơn về chính mình. Đi đường dài có thể gian nan, hành trang cho đầy đủ để tránh vấp ngã là

    điều không tưởng. Người ta thường ngại những vấp ngã đó nên chỉ khoanh tay đứng nhìn, mặc cho

    bản thân bị thụt lùi phía sau. Người ta không biết rằng chính những vấp ngã, sai lầm mới làm nên

    giá trị thật của những chuyến đi. Và có những chuyến đi vô giá mới hoàn thiện nên cuộc sống này.

    Trần Thuý Anh

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    19. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Lòng yêu thương”

    Con người ta sinh ra, được sống trên đời đã là một hạnh phúc lớn. Nhưng có lẽ được sống trong lòng của người khác còn là hạnh phúc lớn hơn. Đó chính là khi có cảm giác yêu thương và được yêu thương. Tình yêu thương là thứ tình cảm tốt đẹp mà con người dành cho nhau. Tình thương là những nét đẹp bình dị, trong sáng của tình người, lòng nhân hậu, sự khoan dung, cao thượng, vị tha và công lí. Đó có thể là tình cảm gia đình, tình bằng hữu, tình yêu lứa đôi, tình người nói chung. Nó có thể là thứ tình cảm vun đắp, xây dựng trong một thời gian dài nhưng cũng có thể chỉ là một niềm thương cảm chực trào dâng khi ta gặp một hoàn cảnh nào đó. Yêu thương chính là khi ta cảm

    thông quan tâm giúp đỡ người có cảnh ngộ bất hạnh, khó khăn trong cuộc sống, yêu mến và trân trọng những ng có phẩm chất đạo đức tốt, tình cảm cao đẹp. Nhưng dù với bất cứ biểu hiện nào thì tình yêu thương cũng luôn mang lại những điều kì diệu riêng cho cả người cho đi và nhận về nó. Cái hạnh phúc mà tình yêu thương đem lại dành cho cả hai phía. Bên cạnh đó, yêu thương còn là lực hấp dẫn kéo con người ta xích lại gần nhau, tạo thành khối thống nhất, gây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Song trong cuộc sống hiện đại ngày nay, còn có những kẻ sống lạnh lùng như một cỗ máy, vô hồn vô cảm, chỉ biết sống cho mình, luôn đố kị ganh ghét, xung đột, cướp đoạt, là mối hiểm họa lớn cho xã hội mà ta cần lên án và bài trừ. Yêu thường đem lại hạnh phúc cho nhân loại, chỉ có yêu thương mới xoa dịu những ngăn cách giàu nghèo, những bất đồng đố kị, làm cho xã hội văn minh tươi đẹp. Vì vậy hãy dành tình thương của mình cho mọi người thật nhiều. Hạnh phúc thật sự chỉ đến khi ta biết mạnh dạn cho đi, hãy đem tình thương của mình gửi đến muôn đời như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nhắn nhủ : “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi”.

    Trịnh Thị Tú Uyên – 12A7 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    20. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về “đừng trông chờ vào người khác”

    Bill Gates đã từng nói: “Thói quen ỷ lại là một hòn đá cản bước bạn đến với thành công, muốn làm nên nghiệp lớn, bạn phải đá chúng khỏi con đường của mình”. Trông chờ và người khác là thói quen ỷ lại, dựa dẫm, trông chờ vào sự giúp đỡ của những người xung quanh. Họ không muốn bỏ công sức của mình để làm việc và tìm kiếm những việc mình muốn. Không ai trong chúng ta có thể sống mà không cần sự qtam giúp đỡ của người khác nhưng đó sẽ là sự giúp đỡ trong khả năng của họ và lúc đó bạn thật sự không thể xoay xở. Đừng mong chờ sự giúp đỡ của người thân bạn bè khi bạn vẫn có thể tự mình làm được. Ngày nay có khá nhiều bạn trẻ thích sống dựa dẫm ỷ lại. Trong học tập, khi có bình thường về nhà không chịu làm mà đợi bạn làm rồi sao chép lại hay khi sinh viên đã có bằng tốt nghiệp nhưng không tự đi kiếm việc làm mà chờ đợi vào một người thân nào đó kiếm công việc cho… Trông chờ vào người khác không phải là một giải pháp tối ưu để chúng ta xây dựng cuộc đời mình. Đây là mộ thói quen xấu để lại rất nhiều hậu quả khôn lường mà ta cần phê phán và loại bỏ. Nó sẽ biến chúng ta trở thành những kẻ bù nhìn vô thức và sẽ gặp thất bại trong cuộc sống. Hãy tự đi trên đôi bàn chân của mình và mở ra cánh cửa mà bạn muốn mở. Đừng phó mặc cuộc đời mình cho người khác cho dù đó là cha mẹ hay người thân của bạn. Bên cạnh đó phải biết rèn luyện cho bản thân tính tự lập, trau dồi kiến thức, hoàn thiện bản thân mình.

    Đừng nép bên cuộc đời ai đó mà hãy sống cuộc đời của chính mình, có như vậy ta mới có thể thành công, giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

    Trịnh Thị Tú Uyên

    12A7 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    21. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về “Tôn sư trọng đạo”

    “Nhất tự vi sư – bán tự vi sư” không chỉ là câu nói có ý nghĩa trong xã hội xưa, mà cho đến ngày nay câu nói vẫn còn để lại ý nghĩa sâu sắc. Trong hành trình dài và rộng của mình, mỗi chúng ta đều được gặp gỡ, gắn bó với nhiều người thầy, người thầy nào cũng đều để lại một dấu ấn riêng chiếu rọi vào đời ta những thứ ánh sáng riêng biệt. Thầy là người đã dạy dỗ, truyền tải cho ta biết bao tri thức, văn hóa, lẽ sống, không chỉ vậy, thầy còn là người chắp cánh những ước mơ, hoài bão, lí tưởng cao đẹp cho chúng ta. Mỗi một lời giảng của thầy là cả tâm huyết với nghề, chứa đựng niềm khát khao được chia sẻ kinh nghiệm, vốn sống của mình cho trò, những lời giảng ấy không đơn thuần chỉ là kiến thức học vấn mà còn đem đến niềm tin, tình yêu, nghị lực, lí trí và có những thứ đã trở thành kim chỉ nam để ta theo đuổi trong cuộc đời này. Thật vậy, công lao của thầy to lớn vô ngần, thầy đã hi sinh cả cuộc đời mình cho ta những bài học hay. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải biết quý trọng, yêu mến thầy cô, sự trân trọng, biết ơn không phải chỉ những hành động lớn, những lời đao to búa lớn mới thể hiện tấm lòng của ta. Đôi khi chỉ một cử chỉ nhỏ như ta luôn chăm học, nghiêm túc nghe giảng cũng là lời tri ân chân thành, sâu sắc nhất của ta. Nhưng đáng buồn thay, lẽ sống đẹp này đang bị mai một dần trong xã hội hiện đại, chúng ta cần phê phán nhiều bạn trẻ có những hành vi thiếu lễ độ, thiếu tôn trọng và có những phát ngôn không tốt đối với thầy cô. Qua đó, mỗi chúng ta cần rút ra bài học cho mình, cần biết yêu mến quý trọng thầy cô và luôn dưỡng nuôi truyền thống “tôn sư trọng đạo”.

    Nguyễn Vũ Thảo Nguyên

    THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    22. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Cho đi là còn mãi”

    Nếu ví cuộc đời này là một trường ca bất tận thì có lẽ, lối sống sẻ chia, cho đi là còn mãi là một nốt trầm sâu lắng chứa đựng giá trị nhân sinh sâu sắc về cách ứng xử của con người trong cuộc sống.

    Cho đi là cách ta sẻ chia, giúp đỡ ai đó về mặt vật chất hoặc tinh thần. Cho đi làm cho chúng ta

    hạnh phúc hơn, yêu đời hơn, làm cho chính bản thân ta hoàn thiện hơn, cảm nhận cuộc đời này có

    • nghĩa hơn. Không chỉ vậy cuộc sống là một ngọn núi, có lúc dốc, có lúc bằng phẳng khác nhau, bởi vậy luôn cần đến những con người biết chia sẻ, biết cho đi mà không nghĩ đến việc nhận lại. Cuôc sống này còn nhiều những mảnh đời bất hạnh, họ cần lắm một ánh lửa sẻ chia từ chúng ta,

    đôi khi chỉ là cái nắm tay thật chặt, cái vỗ vai, lời an ủi, động viên cũng phần nào giúp họ. Nhắc đến lẽ sống đẹp này, chúng ta lại nhớ đến câu chuyện về chàng thanh niên Nguyễn Hữu Ân đã chia sẻ chiếc bánh thời gian của mình để giúp đỡ những người bệnh ung thư giai đoạn cuối. Trái với hành động đẹp biết sống cho đi, cần lên án những người chỉ biết sống ích kỉ, luôn lo sợ nhận lại ít hơn cho đi. Chúng ta cần phải biết mỗi ngày sống là một trải nghiệm, được yêu thương, được sẻ chia là điều hạnh phúc nhất. Cuộc sống sẽ tuyệt vời biết bao khi mỗi con người sẵn sàng cho đi, sẻ chia đối với những người xung quanh mình. Chính vì vậy, bạn trẻ ơi “Còn gì đẹp trên đời hơn thế. Người với người sống để yêu nhau” (Tố Hữu).

    Nguyễn Vũ Thảo Nguyên

    THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    23. Viết bài văn ngắn bàn về Cho và Nhận

    “Cho” và “nhận” là hai quá trình quen thuộc và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người. Vậy “cho” và “ nhận” là gì? Nó đóng vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta? “Cho” chính là sự san sẻ, giúp đỡ, yêu thương xuất phát từ tâm từ trái tim của một người, còn “nhận” là sự được đáp trả, đền ơn. Giữa “cho” và “nhận” luôn tồn tại mối quan hệ nhân quả nhưng đồng thời cũng tương trợ, bổ sung cho nhau. Bởi cuộc sống luôn tồn tại quy luật hai chiều, nếu không cho đi thì đừng mong ngóng được nhận lại. Đồng thời, khi cho đi bằng cả tấm lòng, thứ ta nhận lại không chỉ là lời cảm ơn từ người nhận mà còn là sự thanh thản, trạng thái hạnh phúc cho tâm hồn. Hơn nữa, đường đời không bao giờ bằng phẳng. Những lúc phải đối mặt với khó khăn thử thách , một cái nắm tay thật chặt, một sự giúp đỡ – dù nhỏ thôi nhưng chắc chắn sẽ giúp người được nhận mạnh mẽ hơn nhiều. Vậy nhưng, nếu cho đi mà chỉ mong nhận được sự đền đáp, chắc chắn việc đã làm sẽ mất đi ý nghĩa. Trong cuộc sống, không khó để bắt gặp những người mượn việc từ thiện để đánh bóng tên tuổi, thương hiệu. Thậm chí, gần đây còn xuất hiện những kẻ lợi dụng lòng tốt của người khác, giả danh bán tăm nhân đạo để trục lợi. Những người như vậy đáng bị xã hội lên án và phê phán. Chính vì vậy mỗi chúng ta cần nhận thức được vai trò của “cho”

    và “nhận”, cương quyết chối bỏ lối sống ích kỉ, vô cảm, thờ ơ với đồng loại, nỗ lực học tập và rèn luyện để có thể kiến tạo giá trị cho bản thân cũng như cộng đồng. Bởi đúng như nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.

    24. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Tình mẫu tử”

    Tự bao đời nay, tình mẹ luôn được ngợi ca như biển Thái Bình, “như nước trong nguồn chảy ra”.

    Quả thực vậy tình mẫu tử là một tình cảm thiêng liêng, cao quý theo ta suốt cuộc đời này. Mẹ là

    người đã phải trải qua chín tháng mười ngày vất vả, khổ cực để sinh thành nên ta, mẹ nuôi dưỡng

    ta bằng tiếng hát, bằng dòng sữa mát ngọt dịu êm. Mẹ tần tảo lo lắng nuôi dạy cho ta thành người,

    mẹ như ánh sao rực rỡ soi sáng cuộc đời của ta, làm sao có thể nói hết công lao to lớn, vĩ đại của

    mẹ, làm sao gánh hết những vất vả, nhọc nhằn mẹ chịu vì con. Mỗi lần cất tiếng gọi mẹ là lòng ta

    lại dâng trào bao cảm xúc, mẹ – chỉ một từ thôi sao mà thiêng liêng quá đỗi. Mẹ như người thầy,

    người chị chia sẻ với ta những kinh nghiệm sống, động viên ta những lúc ta buồn, thất bại trong

    học tập, chia tay với người yêu. Mẹ là động lực để ta tin tưởng và có niềm tin vào cuộc đời, mẹ

    luôn là người dang tay đỡ ta khi ta vấp ngã, khi ta khó khăn. Mẹ vất vả, hi sinh cả cuộc đời mình

    cho ta mà không than thở điều gì cả, có những lúc ta cáu giận vô cớ, nặng lời với mẹ, mẹ chỉ im

    lặng, mẹ lặng lẽ giấu nước mắt trong nụ cười với ta. Mẹ luôn động viên, tin tưởng vào quyết định

    của ta. Mẹ, tình mẹ cao cả và tuyệt vời biết bao, mỗi chúng ta cần phải biết trân trọng, yêu thương,

    chăm sóc, quan tâm đến mẹ nhiều hơn nữa, có bao giờ chúng ta để ý đến tóc mẹ đã điểm những sợi

    bạc, có hay những nếp nhăn hằn nơi khóe mắt. Mẹ yêu thương, chăm sóc ta từng li từng tí, vậy mà

    vẫn còn nhiều kẻ không biết trân trọng, yêu quí mẹ của mình, có những người con bất hiếu đối xử

    tệ bạc với mẹ mình, không làm tròn chữ hiếu, đạo làm con. Hỡi những ai đang còn có mẹ bên mình,

    hãy trân trọng những phút giây quí báu này: “Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc. Đừng để buồn lên

    mắt mẹ nghe không ? ”

    Nguyễn Vũ Thảo Nguyên

    THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    25. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Tình Phụ Tử”

    “Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ. Mây trời lồng lộng không đếm được tình cha”. Thực vậy, công lao của cha dành cho con cái không thể đong đo, cân đếm được, nếu mẹ luôn ân

    cần, chăm sóc ta từng li từng tí thì có lẽ cha là người âm thầm yêu thương chúng ta. Người không thể hiện sự quan tâm rõ ràng như mẹ, người thầm lặng, bảo vệ ta, cha là trụ cột gia đình, luôn nghiêm khắc với ta nhưng thực chất lại là người mềm lòng nhất, quan tâm ta nhất. Tuổi thơ của ai mà lại không một lần được “cưỡi” lên lưng cha, được cha dạy chơi thả diều, đạp xe. Tuy cha không hay nói chuyện, chia sẻ với ta nhiều, nhưng mỗi lời dạy của cha đều thấm thía, khắc sâu trong lòng con. Dù mai sau khôn lớn, chúng ta sẽ luôn nhớ mãi lời dặn của cha, nhớ mãi cảm giác ấm áp khi được cha ru ngủ, nhớ mãi cái xoa đầu dịu dàng của cha cùng lời động viên : “Con làm tốt lắm”. Tình phụ tử – một tình cảm thiêng liêng, sâu sắc theo ta suốt cuộc đời, phải khi trưởng thành, làm cha, làm mẹ, ta mới thấu hiểu được nỗi vất vả ấy, mới thấy yêu thương, quí trọng cha. Hãy trở thành một người con cho tròn chữ hiếu, trân trọng, quan tâm, lo lắng cho cha đừng trở thành những đứa con vô tâm, bất hiếu. Hãy nhớ “Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”

    Nguyễn Vũ Thảo Nguyên

    THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    26. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về “Lời cảm ơn”

    Có khi nào bạn tự hỏi rằng từ bé đến lớn bạn đã nói lời cảm ơn bao nhiêu lần chưa? Lời cảm ơn có

    lẽ là một trong những lời nói chân thành nhất xuất phát từ trái tim từ tấm lòng của chính mình.

    Cảm ơn là một thái độ trân trọng biết ơn những gì mà người khác đã làm cho ta đem lại cho ta

    những điều tốt đẹp. Cảm ơn chính là một cách thể hiện tình cảm, lối ứng xử lịch sự, lễ phép, biết

    tôn trọng đến những người xung quanh mình. Văn hóa cảm ơn chính là nét đẹp vốn có của một con

    người. Lời cảm ơn dù chỉ là bé nhỏ nhưng lại có thể đánh giá được nhân phẩm của một con người.

    Thế giới sẽ đẹp hơn rất nhiều nếu ta biết cảm ơn ta biết trân trọng những thành quả mà người khác

    đã làm cho ta. Nét đẹp của lối sống này diễn ra thường xuyên biểu hiện ở lời nói, cử chỉ, hành động

    và nằm ngay trong chính tình cảm của mỗi người. Cảm ơn thực ra chỉ là một cách hành xử biết

    điều, lễ phép, lịch sự. Nét đẹp này không phô trương ra bên ngoài nhưng lại khiến người xung

    quanh yêu quý mình. Hằng ngày chúng ta gặp gỡ bao nhiêu chuyện, tiếp xúc bao nhiêu chuyện.

    Lời cảm ơn khi được bạn bè giúp đỡ, cảm ơn khi đi lạc đường được một người lạ chỉ giúp, cảm ơn

    vì hôm nay xe thủng xăm và có người đưa mình về. Chỉ là một lời nói đơn giản và rất dễ dàng thể

    hiện. Hoặc đơn giản hơn là nói lời cảm ơn ba mẹ vì đã nuôi dạy mình lớn khôn, có thể tự lập được.

    Nhưng dường như lời nói cảm ơn với ba mẹ lại khó khăn vì bạn nghĩ nó sáo rỗng, không thật. Đây

    là lời cảm ơn chân thành nhất mà ba mẹ vẫn mong một lần con cái sẽ nói với mình. Giá như ai

    cũng biết nói lời cảm ơn thì thế giới sẽ toàn là màu hồng, ai cũng sẽ hết lòng vì người khác. Xã hội sẽ tiến bộ hơn văn minh hơn. Giữa người với người sẽ tràn ngập yêu thương. Hãy nói cảm ơn với tất cả và đặc biệt là cảm ơn những thất bại vì chính những thất bại ấy đã cho ta thêm kinh nghiệm để có những thành công sau này. Những người trẻ chúng ta phải học để nói lời cảm ơn. Nó không chỉ là một truyền thống tốt đẹp mà nó còn là những cư xử đẹp để mọi người yêu thương và chia sẻ cho nhau nhiều hơn. Vậy hãy cảm ơn và đừng ngần ngại nói lời cảm ơn với tất cả yêu thương.

    27. Viết đoạn văn ngắn bàn về : Lời Xin Lỗi

    Có ai đó đã từng nói: “Một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn sự im lặng”. Quả thật như vậy, lời xin

    lỗi là cái cúi đầu, cái khoanh tay lễ phép và lời chân thành: cháu xin lỗi, em xin lỗi, bác xin lỗi,

    thầy xin lỗi…Nhưng trong cuộc sống này đã mấy ai làm được điều đó. Lời xin lỗi khi mình làm sai

    không chỉ là cách thể hiện thái độ biết lỗi, tự nhận thấy sai lầm mà còn là phép lịch sự trong giao

    tiếp, ứng xử giữa người với người. Lời xin lỗi là thể hiện sự tôn trọng và khiến người nghe cảm

    thấy hài lòng, vui vẻ, chấp nhận, bỏ qua, làm cho mối quan hệ tốt đẹp hơn. Còn người xin lỗi thì

    cảm thấy nhẹ lòng và trên hết là ý thức được trách nhiệm của mình trước hành động sai trái. Hành

    động của cậu bé 8 tuổi ở Hải Phòng lỡ làm vỡ gương ô tô đã viết giấy gửi lời xin lỗi và số điện

    thoại ngỏ ý đền bù cho chủ nhân chiếc ô tô để trước cổng trường mà báo chí đưa tin trong suốt thời

    gian qua khiến chúng ta phải suy ngẫm. Cho nên biết nói lời xin lỗi là một hành động lịch sự làm

    cuộc sống xã hội trở nên văn minh, tốt đẹp hơn. Cần phê phán những kẻ thiếu tự trọng, thiếu dũng

    cảm, làm sai nhưng bảo thủ không nhận trách nhiệm. Cũng qua đây chúng ta cần rút ra bài học cho

    mình: cần phải nghiêm túc nhận lỗi khi làm sai, biết nói lời xin lỗi chân thành cũng như dũng cảm,

    tự trọng trước những sai lầm của bản thân.

    28. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “ước mơ – khát vọng”

    “Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ!”. Quả thật là vậy, chúng ta sẽ chỉ là tồn tại nếu không có ước mơ và mục tiêu cho riêng mình. Ước mơ là khát vọng là những điều tốt đẹp mà ta luôn muốn hướng tới. Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn nếu ta biết ước mơ biết phấn đấu. Sống là phải biết ước mơ phải nghĩ tới những điều cao đẹp. Chính ước mơ làm cuộc sống chúng ta thêm động lực. Và ước mơ cũng chính là ngọn núi lửa luôn âm ỷ cháy trong tim ta và hối thúc, đánh thức chúng ta mỗi ngày. Khi chúng ta có ước mơ và hoài bão thì cuộc sống chúng ta trở nên lãng mạn hơn, bay bổng hơn. Nó chính là liều thuốc tinh thần kích thích chúng ta nỗ lực phấn đấu. Tuy nhiên cũng cần phải phân biệt được giữa ước mơ và tham vọng. Tham vọng có thể hướng đến những điều tốt đẹp nhưng nó mang tính

    chất cá nhân ích kỷ, háo thắng và phần lớn kẻ tham vọng bao giờ cũng thất bại. Chúng ta cũng cần

    phê phán những kẻ sống thiếu ước mơ, sống không hoài bão. Họ giống như những loài côn trùng

    chỉ biết rúc mình trong bóng đêm mà không biết đâu là ánh sáng. Và mỗi chúng ta hãy nuôi dưỡng

    cho mình một ước mơ, hãy chăm chút cho ước mơ lớn lên và trưởng thành mỗi ngày. Vâng! “đủ

    nắng hoa sẽ nở. Đủ gió chong chóng sẽ quay. Đủ yêu thương hạnh phúc sẽ đong đầy” và chắc chắn

    đủ ước mơ bạn sẽ gặt hái được thành công.

    29. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Niềm tin”

    Bạn có thể bị lừa dối nếu bạn tin tưởng quá nhiều nhưng nếu bạn không có lòng tin thì bạn sẽ

    không tồn tại được. Đúng là như vậy, niềm tin là sự tin tưởng đặt hết mọi thứ vào người khác hoặc

    điều gì đó. Nếu bạn là một người có niềm tin thì đảm bảo với bạn rằng bạn là một trong những

    người hạnh phúc nhất. Vì niềm tin chính là một loại thuốc tăng lực một nguồn động lực tuyệt vời

    cho chúng ta. Nó giúp chúng ta tự tin vào bản thân mình vượt qua mọi trở ngại và đạt được thành

    công vượt bậc trong cuộc sống. Tại sao lại có những người khuyết tật những trở thành huyền thoại

    chỉ đơn giản là họ có niềm tin vào bản thân và vào cả thế giới. Câu hỏi đặt ra là cuộc sống sẽ như

    thế nào nếu chúng ta không có niềm tin vào bất cứ thứ gì? Chắc chắn với bạn rằng sẽ vô cùng

    khủng khiếp. Chúng ta sẽ chẳng có động lực làm bất cứ điều gì trong cuộc sống và thậm chí cũng

    chẳng thể có nổi một ước mơ. Vì có mơ bạn cũng chẳng tin tưởng vào bản thân để thực hiện nó.

    Bạn sẽ luôn ở trong tâm trạng ngờ vực không tin vào bất cứ điều gì. Nếu vậy thì bạn sẽ không thể

    nào tồn tại chứ đừng nói đến chuyện tiến bộ. Đã sống ở trên đời thì phải có cho mình một niềm tin.

    Chỉ có niềm tin và sự quyết tâm mới có thể đưa bạn đến thành công. Nhưng phải nhớ rằng niềm tin

    và sự mù quáng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hãy luôn luôn tỉnh táo để vượt qua được

    những cám dỗ và không bao giờ mù quáng tin vào những điều không có thật. Hãy tập cho mình

    một thói quen tốt nên tin vào những điều tốt đẹp. Đừng bao giờ đánh mất niềm tin vào bản thân

    mình, chỉ cần bạn tin là mình có thể làm được thì bạn lại có thêm lý do để thực hiện điều đó.

    Bùi Nhật Quỳnh Anh

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Bài số 2.

     

    Steven Jobs – cựu CEO của đại gia công nghệ Apple – đã nói một câu mà tôi rất tâm đắc: “Đôi khi cuộc đời sẽ ném gạch vào đầu bạn. Nhưng đừng bao giờ đánh mất niềm tin”. Vậy, niềm tin được nhắc đến trong câu nói trên được hiểu như thế nào? Đó chính là một trạng thái tinh thần tồn tại trong ý thức của mỗi người, thường gắn với những cảm xúc tích cực, với ước mơ, khát vọng về tương lai. Trong cuộc sống của tất cả chúng ta, niềm tin đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bởi trong cuộc sống, chẳng phải lúc nào mọi chuyện cũng diễn ra tốt đẹp, ai rồi cũng có lúc vấp ngã hay thất bại thảm hại. Rơi vào tình huống ấy, nếu mất đi niềm tin, sẽ chẳng còn nguồn sức mạnh nào có thể nâng bạn dậy và bước tiếp con đường đã chọn. Thử hỏi, trong những tháng ngày bôn ba nơi đất khách quê người, thiếu đi sự tin tưởng vào một tương lai tươi sáng hơn cho dân tộc, liệu rằng Bác Hồ có thể tìm được con đường cách mạng vô sản và dùng nó để giải phóng đất nước ta hay không? Vậy nhưng, một thực trạng đáng buồn hiện nay là một bộ phận giới trẻ ngày nay quá dễ dàng gục ngã trước thử thách khó khăn, trở nên tự ti, bi quan. Số khác lại quá tự phụ, dẫn đến những niềm tin sai lệch, hão huyền về bản thân. Thế hệ trẻ ngày nay cần xa rời những lối sống như vậy, nghiêm túc học tập và rèn luyện, phát triển các kĩ năng sống và khám phá được khả năng tiềm ẩn của mình. Bởi chỉ khi biết được mình là ai, mình có thể làm được những gì, chúng ta mới có thể xây dựng được một niềm tin vững chắc cho tương lai .

    30. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Vị Tha”

    “Chúng ta đầy khiếm khuyết và sai lầm; hãy để chúng ta cùng tha thứ cho sự nực cười của nhau – đó là luật đầu tiên của tự nhiên” (Voltaire). Cuộc sống sẽ bớt đi những điều nực cười nếu bạn và tôi biết nuôi dưỡng cho mình lòng vị tha. Chỉ là một cái gật đầu chấp nhận lời xin lỗi, một nụ cười là một lời tha thứ sau lỗi lầm của người khác hay hi sinh vì lợi ích chung nhưng cũng đủ để xóa tan những sắc màu ma mị đang làm sầu não tâm hồn con người. Vị tha không đơn thuần là một đức tính tốt mà còn là liều thuốc chữa lành vết thương, là chìa khóa mở cánh cửa cơ hội hoàn thiện bản thân mà ta nên trao cho người đang cần.Trong lớp có học sinh học kém hơn, bạn không dè bỉu, xa lánh mà sẻ chia, giúp đỡ bạn mình học tốt. Trong tập thể có thành viên mắc lỗi, làm điều sai trái, bạn không lên án gay gắt mà ngược lại, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để giúp họ sửa sai. Chắc chắn cuộc sống chúng ta sẽ tươi đẹp hơn, tập thể vững mạnh hơn, đó cũng chính là cách bạn đang gieo trồng một hạt giống tốt lành cho tâm hồn nhân loại, cho quá trình trưởng thành của nhân cách một con người. Song vẫn còn không ít cá nhân nhỏ nhen, khép mình vào khuôn khổ của sự khắt nghiệt, như mảnh đất cằn cỗi chẳng bao giờ chịu nuôi dưỡng hạt giống nào. Giữa thế giới lung linh vạn ánh sáng nhân ái và khu vườn tăm tối với hơi thở của sự lạnh lùng, đâu sẽ là nơi hạnh phúc được

    lớn dần? Học cách tha thứ là học cách sống đẹp cho người và cho bản thân. Đó cũng là cách bạn tận hưởng và tận hiến giữa cuộc đời!

    Quảng Võ Kim Nhung

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    31. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Giá Trị Của Sách

    Triết gia Pháp Rene Descartes từng nói “Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với các bộ óc

    tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã trôi qua”. Sách là kết tinh của tri thức, trí tuệ và tâm hồn. Như

    một ngọn lửa bé nhỏ mà sáng rực, sách không những bồi đắp cho dòng chảy tri thức con người

    giàu phù sa, là nguồn thông tin, trao đổi kiến thức, giao lưu giữa hàng nghìn vùng miền xa lạ mà

    còn có sức mạnh thắp sáng tâm hồn nhân loại. Xóa tan u buồn, thất vọng hay nhắc nhở những ai

    còn non trẻ tránh sai lầm là sứ mệnh của “người bạn trung thành” này, bởi lẽ sách sinh ra là vì sự

    tiến bộ không ngừng của con người. Bầu bạn với sách là cách dễ nhất để tâm tĩnh tại, tầm nhìn

    rộng mở để rồi khám phá được muôn điều hay, mới lạ, trong đó có cả cái hay của tác giả lẫn cái tốt

    của giá trị cuộc sống, tri thức từ xa xưa đến nay. Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Lão Hạc của Nam

    Cao với những tấn bi kịch người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám phải gánh chịu

    để hiểu rõ được bất công của xã hội và càng thấm thía hơn giá trị cuộc sống tự do, công bằng, bác

    ái. Hay “Hạt giống tâm hồn” với các câu chuyện cổ tích đời thường, bài học nhân văn, lời khuyên

    quý báu để ta vững chắc từng bước đi trên đường đời. Bên cạnh đó, vẫn còn những loại sách vô bổ

    đang làm xấu vầng hào quang trí tuệ, chúng ta cần có sự chọn lọc thích hợp để làm giàu Trí và

    Tâm một cách hoàn hảo nhất.

    Quảng Võ Kim Nhung

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Bài 2: Văn hóa đọc

    Văn hóa đọc là yếu tố vô cùng quan trọng trong đời sống của chúng ta. Văn hóa đọc chính là thái

    độ, là cách ứng xử của chúng ta với tri thức sách vở. Trước khi có các phương tiện nghe nhìn, sách

    là con đường lớn nhất để con người tiếp cận thông tin, văn hóa, tri thức. Đọc sách là một trong

    những cách thức giúp con người thư giãn, tích lũy kiến thức tăng cường khả năng tư duy cũng như

    hướng con người đến gần hơn với “chân-thiện-mĩ”. Vì vậy, có thể nói, quốc gia nào đẩy mạnh

    được văn hóa đọc, trình độ dân trí sẽ cao và tỉ lệ tội phạm sẽ thấp hơn rất nhiều. Nhật Bản, quốc

    gia hiếm hoi trên thế giới có số lượng sách xuất bản hằng năm tăng, là một ví dụ điển hình. Thế

    nhưng, giới trẻ Việt Nam ngày nay có vẻ thờ ơ, lãnh cảm với văn hóa đọc sách, để lại những hệ

    quả tiêu cực cho mỗi cá nhân cũng như sự phát triển của toàn dân tộc. Nguyên nhân có lẽ xuất phát

    từ sự bùng nổ của công nghệ thông tin với sự xuất hiện của mạng xã hội, game online hay vô số

    các chương trình truyền hình. Vậy, giải pháp nào để phát triển văn hóa đọc ở nước ta? Thiết nghĩ,

    ta nên tổ chức thêm nhiều ngày hội sách, phát động phong trào đọc sách trong trường học cũng

    như các cơ quan, tổ chức, tận dụng công nghệ để đa dạng hóa các loại hình phục vụ, tạo thêm hứng

    thú cho người đọc. Tóm lại, tất cả chúng ta cần hiểu và trân trọng hơn văn hóa đọc, biến đọc sách

    trở thành một sở thích hàng ngày. Bởi đúng như Cựu Tổng thống Hoa Kì Barack Obama từng nói:

    “Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn.”

    32. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về lối sống Ích Kỉ

    Viên thuốc độc duy nhất bóp chết tâm hồn con người bởi vị đắng và vị của sự khắc nghiệt có lẽ là

    ích kỉ. Nó sinh ra từ chính sự đố kị, ghen ghét, không gian chật hẹp trong trái tim bạn khi ở trong

    một tập thể, cộng đồng. Ích kỉ thể hiện ở nhiều mặt, có thể là không thích san sẻ vì sợ bản thân

    thiệt thòi hơn, là nhỏ nhen trước sự hối lỗi của người khác…Song thử hỏi trong cuộc sống này ai

    hạnh phúc hơn ai, ai thành công hơn ai…? Biết chia sẻ với mọi người có nghĩa là bạn đang ghép

    cho trái tim mình những tế bào nhân ái mạnh khỏe, còn ích kỉ giữ khư khư dẫu những gì nhỏ nhặt

    nhất cũng đủ làm già nua gốc rễ tâm hồn. Bởi bạn đang tự tách mình khỏi mối quan hệ với mọi

    người, cộng đồng, khỏi tình cảm ấm áp của nhân loại. Chưa đủ, ích kỉ chính là con virus đẩy lùi sự

    phát triển văn minh con người, rõ nhất là hệ lụy của nó-căn bệnh vô cảm.Chỉ vì chỉ ích kỉ, xem

    trọng bản thân mà không quan tâm đến người khác mà không ít những vụ vợ chồng , anh em,.. sát

    hại nhau vì một câu nói, hành động không vừa mắt, hay vì của cải cha mẹ chia không vừa ý. Chúng

    ta cần lên án những kẻ vị kỉ cá nhân nghiêm trọng kia, giúp đỡ những ai còn đang mềm yếu trước

    virus ích kỉ và ca ngợi, trân trọng lòng tốt của mọi người.Cuộc sống nồng nàn hương vị hạnh phúc

    khi ta đối mặt với tinh xấu-ích kỉ, đương nhiên sẽ ngập tràn oán hờn nếu lựa chọn xuôi theo nó.

    Quảng Võ Kim Nhung

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    33. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Đừng Dối Trá”

    Một trong những chiếc gai xuất hiện trong đời thường làm trái tim đau đớn chính là Dối Trá. Dối trá là sự thiếu trung thực, nói không thật, không đúng với sự thật nhằm che giấu sự thật hoặc mưu cầu một lợi ích nào đó. Dối trá là không thành thật, nói và làm không thống nhất với nhau nhằm một mục đích không tốt đẹp. Sự dối trá để lại nhiều tác hại nghiêm trọng. Nói dối, làm giả làm suy giảm lòng tin giữa con người với con người. Làm cho mọi người nhìn nhận vấn đề không đúng với bản chất vấn đề. Dối trá làm cho mọi chuẩn mực không được nhìn nhận đúng. Gây ra nhiều tác hại nguy hiểm về đạo đức, làm cho cuộc sống không ổn định. Tạo ra sự đau khổ và căm ghét trong lòng người khác khi họ biết mình bị dối trá. Cần phân biệt nói dối và sự dối trá, bản chất của chữ Dối đã là xấu, Dối trá lại càng xấu hơn nhưng nói dối thì đôi khi không phải là xấu. Một người mắc bệnh hiểm nghèo nhưng người thân giấu người bệnh nguồn tin ấy cũng là điều tốt; người cha người mẹ nói dối với con cái về sức khoẻ của mình cũng là để cho con cái yên tâm công việc mà không phải bận lòng lo lắng. Qua đây chúng ta cần lên án thói dối trá và rèn cho mình đức tính trung thực, sống đúng với lương tâm và sống cao thượng cho xứng đáng với danh nghĩa Con Người.

    34. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Bình yên”

    Khi bạn rời xa vòng tay của bố mẹ đó cũng là lúc bạn trưởng thành. Bạn bị cuốn vào những bộn bề

    lo toan của cuộc sống. Và bạn biết đó không ai có cuộc đời trải đầy hoa hồng cả sẽ có những lúc

    mọi thứ quay lưng lại với bạn khiến bạn bế tắc tuyệt vọng, điều bạn cần ngay lúc đó là gì? Đó

    chính là sự bình yên ngay trong chính tâm hồn của bạn. Vậy bình yên là gì nhỉ? Hẳn mỗi người

    đều có câu trả lời cho riêng mình. Nhưng tôi chắc chắn nếu có thứ gì đó đọng lại sau những biến cố

    thăng trầm của cuộc đời thì đó chính là bình yên. Bình yên đơn giản là mỗi sáng sớm nhâm nhi

    tách cà phê bên những giọt nắng rơi trên cửa sổ. Bình yên là dù bạn có đi đâu vẫn có người chờ

    bạn quay trở về. Bình yên là khi bạn biết có người yêu thương bạn vô điều kiện, chấp nhận việc

    bạn sống như một đứa trẻ. Đơn giản và mộc mạc thế thôi. Vậy hà cớ gì bạn không cho bản thân cơ

    hội tận hưởng điều tuyệt vời đó? Ngưng sự buồn phiền toan tính lại hãy để cho bản thân cảm nhận

    được cảm giác an toàn và hạnh phúc nhất cuộc đời này. Hãy để bình yên tiếp cho bạn sức mạnh để

    vượt qua những nỗi đau trong cuộc sống bất ổn này. Hãy bỏ qua ngày tháng mệt mỏi để tìm sự

    bình yên cho mình. Bạn sẽ hiểu rằng có những thứ không ai có thể dạy bạn được mà chính bản

    thân bạn phải cảm nhận tự nắm bắt lấy. Bình yên không ở đâu xa nó tồn tại trong tâm hồn của bạn. Suy cho cùng bình yên đâu phải thứ gì đó quá xa xỉ phải không tôi?

    35. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Hãy sống trung thực”

    Dân tộc Việt Nam ta có rất nhiều phẩm chất tốt đẹp được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và

    một trong số đó là đức tính trung thực. Vậy “tính trung thực” là gì? “Trung thực” nghĩa là ngay

    thẳng, thật thà, nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, dám nhận lỗi khi mình mắc khuyết

    điểm. Trong cuộc sống, người có đức tính trung thực luôn tôn trọng sự thật, chân lý và lẽ phải.

    Trung thực là một phẩm chất cao đẹp làm nên nhân cách con người. Trung thực không chỉ là một

    chính sách. Nó có thể là một nguyên tắc. Có một sự khác biệt giữa chính sách và nguyên tắc. Một

    chính sách có thể được thay đổi khi nó không còn đem lại hiệu quả. Còn quy tắc, cái mà bạn không

    thể thay đổi ngay cả khi nó gây ra thiệt hại. Có những nguyên tắc buộc ta phải bỏ đi theo thời gian

    và thời đại chứ không bất biến. Lòng trung thực là cần thiết cho một cuộc sống thật sự. Một người

    có thể lừa cả thế giới nhưng làm sao anh có thể lừa gạt tâm hồn của chính mình? Một người không

    trung thực luôn sợ cái gì đó. Điều này làm cho họ có cảm giác sợ hãi. Một người trung thực có thể

    là một người nghèo, phải sống một cuộc sống khó khăn. Tuy nhiên, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc.

    Nhưng ngày nay, hầu như mọi người đều không tập cho mình làm quen được với tính trung thực.

    Lòng trung thực mặc dù không đem lại cho ta sự giàu có và quyền lực, nhưng nó mang đến cho ta

    một xã hội công bằng và có sự tin tưởng giữa người với người. Ngược lại, gian dối và không trung

    thực sẽ biến con người ta thành những kẻ giả tạo, đạo đức con người dần dần bị hạ thấp, phá bỏ

    những nét đẹp truyền thống của dân tộc. Cũng qua đây chúng ta cần rút ra bài học cho mình: là

    một con người sống trong xã hội hiện đại, đức tính trung thực là không thể thiếu cho bản thân, cần

    tích cực rèn luyện đức tính đáng quý này để hoàn thiện chính mình, trở thành người công dân tốt

    đưa đạo đức xã hội ngày càng đi lên, đất nước ngày một phát triển hơn nữa.

    36. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về mạng xã hội Facebook

     

    Hiện nay cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã cho ra đời nhiều mạng xã hội. Nhắc đến mạng xã hội thì không thể thiếu Facebook – một trang mạng rất quen thuộc đối với thế giới nói chung và Việt Nam ta nói riêng. Không thể không nhắc đến những gì mà mạng xã hội làm được cho con người: giao lưu, kết bạn, giải trí, quảng bá thương hiệu, bán hàng…Nhưng chúng ta cũng không phủ nhận những tác hại khôn lường từ mạng xã hội mang lại. Mạng xã hội đã và đang làm mất quỹ thời gian ngắn ngủi của con người. Quá tập trung mạng xã hội, chúng ta dường như

    quên rằng mình phải làm rất nhiều việc. Quá rong chơi trong thế giới ảo ta quên mất mình cần sống cho mình, cho mọi người xung quanh. Chính mạng xã hội đang dần dần thủ tiêu mọi giao tiếp của con người. Ngồi đâu, ở đâu đâu bạn cũng chỉ thấy người ta chúi đầu vào điện thoại và quên đi việc phải trò chuyện cùng nhau. Đó là chưa nói đến việc những thông tin trên mạng xã hội là thông tin chưa qua kiểm chứng, thật giả lẫn lộn. Chẳng những gây hại về sức khỏe, sản phẩm công nghệ này còn tác động tiêu cực về mặt tinh thần của con người, đặc biệt là giới trẻ. Do nguồn thông tin trên mạng không có ai giám sát, kiểm duyệt nên còn tràn lan rất nhiều thông tin sai lệch, văn hóa phẩm đồi trụy, trong khi giới trẻ còn chưa đủ nhận thức để sàng lọc thông tin, dễ dẫn đến nhận thức lệch lạc, kéo theo đó là hành động sai lầm. Bị kẻ xấu lợi dụng tên tuổi, hình ảnh vào những việc làm phạm pháp gây ảnh hưởng tới uy tín và lòng tin của người khác. Có nhiều học sinh cũng chính vì nghiện mạng xã hội mà việc học tập ngày càng đi xuống. Lo sống ảo nên quên mất bản thân cần phải cố gắng trong đời thực. Bởi vậy chúng ta cần nhận thức được ý nghĩa thực sự của mạng xã hội và cần phải sử dụng mạng xã hội một cách thông minh và phải làm chủ nó cũng như làm chủ được bản thân trước những cám dỗ.

    37. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về thói vô trách nhiệm

    Như một thứ axit vô hình, thói vô trách nhiệm có thể ăn mòn cả xã hội của chúng ta. Thật vây, trách nhiệm là có ý thức, có tính tự giác, làm tròn bổn phận của mình với những công việc được giao. Còn vô trách nhiệm là vô tâm, cẩu thả, không quan tâm đến đúng sai, phải trái. Bởi thế, thói vô trách nhiệm để lại những hậu quả nghiêm trọng. Thói vô trách nhiệm làm chậm sự tiến bộ của xã hội và gây ra những thất thoát, lãng phí. Kẻ vô trách nhiệm không hoàn thành nhiệm vụ dẫn đến mất lòng tin của mọi người. Đôi khi sự vô trách nhiệm của bản thân cũng mang đến những thất bại

    • chề. May mắn thay, thói vô trách nhiệm ấy chỉ là một bộ phận nhỏ, còn bên cạnh đó là cả một dân tộc với những con người luôn đề cao trách nhiệm và sống hết mình vì những nhiệm vụ cao cả. Vì vậy, chúng ta cần rút ra bài học cho riêng mình: cần phải có trách nhiệm với bản thân với gia

    đình và xã hội, đừng để sau này chúng ta phải hối hận vì hành động vô trách nhiệm của mình.

    38. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Mất mát lớn nhất của đời người là đánh

    mất niềm tin”

    Con người ta không thể sống mà không có niềm tin vào bất cứ thứ gì, vì thế đối với mỗi con người khi đánh mất niềm tin thì đó chính là một sự mất mát lớn khó có thể lấy lại được. Để hiểu được điều đó đầu tiên chúng ta cần phải hiểu được niền tin là gì? Niềm tin là vào chính mình, tin vào

    năng lực, trí tuệ, phẩm chất, giá trị của mình trong cuộc sống. Đó còn là mình hiểu mình và tự

    đánh giá được vị trí, vai trò của mình trong các mối quan hệ của cuộc sống. Niềm tin vào bản thân

    giúp con người vượt lên mọi thử thách và trưởng thành. Trong cuộc sống, có biết bao con người

    không may mắn, họ phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách, bất hạnh. Nhưng càng khó khăn, bản

    lĩnh của họ càng vững vàng. Họ tin vào ý chí, nghị lực, khả năng của bản thân và họ đã vượt lên,

    chiến thắng tất cả. Nếu con người không có ý chí, nghị lực, niềm tin vào bản thân sẽ không đủ bản

    lĩnh để vượt qua, không khẳng định được mình, mất tự chủ, dần buông xuôi, rồi dẫn đến đánh mất

    chính mình. Khi đã đánh mất chính mình là đánh mất tất cả, trong đó có những thứ quý giá như:

    tình yêu, hạnh phúc, cơ hội… thậm chí cả sự sống của mình đây quả thực là những mất mát quá

    lớn khi con người đã đánh mất niềm tin. Vì vậy, con người biết tin yêu vào cuộc sống, tin vào sức

    mạnh, khả năng của chính mình, biết đón nhận những thử thách để vượt qua, tất yếu sẽ đạt đến bến

    bờ của thành công và hạnh phúc. Trong thực tế, có những người mới va vấp, thất bại lần đầu

    nhưng không làm chủ được mình, không tin vào mình có thể gượng dậy mà từ đó dẫn đến thất bại.

    Khi làm việc không tự tin vào mình, không có chính kiến của mình mà phải thực hiện theo ý kiến

    tham khảo của nhiều người khác thì dẫn đến tình trạng “đẽo cày giữa đường”, “lắm thầy thối ma”.

    Qua đó chúng ta rút ra được bài học trong mọi hoàn cảnh sống, đặc biệt khi gặp những khó khăn,

    thử thách cần nêu cao bản lĩnh, không đánh mất niềm tin vào chính mình. Luôn sống tự tin nhưng

    tránh chủ quan. Phải cảnh giác với những việc tự tin mù quáng. Phải tỉnh táo để biết lắng nghe, biết

    học hỏi, hợp tác; biết tu dưỡng phẩm chất và trau dồi năng lực của bản thân vì đó là cơ sở của niềm

    tin.

    39. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Tình yêu thương”

    Nếu cuộc sống là những ngày thường nhật kéo dài thì yêu thương sẽ rải lên những hạt nắng ấm áp,

    dịu dàng và ngọt ngào nhất. Sức mạnh chân thành của tình yêu thương rất khó để giải thích, nhưng

    rất dễ để nhận ra. Nó chính là tình cảm thiêng liêng của đấng sinh thành với con cái, tình cảm

    khăng khít của anh em, tình làng nghĩa xóm, sự chân thành của những người bạn hay cũng chính là

    tình thương giữa người với người. Suy cho cùng, yêu thương lại chính là loại vũ khí lợi hại nhất

    của con người. Bởi nó có khả năng chuốc say gã xấu xa trong tâm can ta, nó có khả năng thức tỉnh

    một trái tim đong đầy yêu thương, và nó còn có khả năng dìu bước con người ta hướng thiện nữa!

    Một Chí Phèo, “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, sau cuộc gặp gỡ bản năng, chính tình thương của

    Thị Nở, chính bát cháo hành nồng nàn yêu thương của Thị đã cảm hóa Chí. Ấy chẳng phải là sức

    mạnh của tình yêu thương hay sao! Đừng biến cuộc sống của bạn trở nên vô vị và cằn cỗi như

    mảnh đất bị bỏ hoang. Mảnh đất ấy thì lãng phí, còn bạn thì thật đáng trách! Hãy gieo lên mảnh đất tâm hồn mình những hạt giống yêu thương, rồi ánh ban mai sẽ khẽ hôn nhẹ để chúng vươn mình và lan tỏa yêu thương đi muôn nơi. Bạn biết không, được yêu thương là một hạnh phúc nhưng yêu thương người khác lại càng hạnh phúc hơn.

    Nguyễn Thị Thuỳ Trang

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    40. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Lòng can đảm”

    Quả thực, mỗi chúng ta như một vòng tròn bị khuyết mà cuộc sống thì luôn dung nạp những yếu tố đối nghịch nhau. Trong đó, khắc tinh của “hèn nhát” chính là “can đảm”. Người Can đảm trước hết là người không hèn nhát, là người dám đối mặt với sự thật, là người dám đương đầu với những khó khăn thử thách của bản thân, dám đối diện với chính mình… Nếu bất ngờ được hỏi về những tấm gương tiêu biểu của lòng can đảm, tôi chẳng ngần ngại gì mà sẽ trả lời ngay: người con gái anh hùng Võ Thị Sáu đứng trước họng súng quân địch mà vẫn cất cao tiếng hát, chú bé loắt choắt chạy như bay dưới làn đạn quân thù để đưa mật thư cho kháng chiến… Nói tóm lại, can đảm là một đức tính vô cùng cần thiết đối với mỗi con người và người can đảm là người đáng khâm phục. Khi ta có lòng can đảm, nghĩa là ta đã nắm giữ chiếc chìa khóa vạn năng giúp ta có sức mạnh vượt qua những cánh cửa chứa đựng khó khăn, thử thách. Cần phê phán những con người hèn nhát, không dám đương đầu với thử thách, không dám vượt qua chính mình, thấy gian khổ thì chùn bước, thấy nguy hiểm thì không dám hành động. Và sau cùng, mỗi chúng ta phải học cách dám đương đầu với những thử thách và hơn cả là can đảm trong trận chiến với chính mình. Đừng quên xếp “can đảm” vào trong chiếc túi hành trang của mình, bạn nhé!

    Nguyễn Thị Thuỳ Trang

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    41. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về t nh “T PHU”

    “Con người có trăm tính tốt và muôn vàn thói xấu”. Tự phụ là một trong những thói xấu mà những con người ta thường dễ mắc phải. Tự phụ, hiểu nôm na là thói tự cao tự đại, tự đánh, tự đánh giá cao bản thân của mình, luôn cho bản thân là “cái rốn của vũ trụ”. “Tự phụ” là một “căn bệnh nan

    y” mà người “mắc bệnh” luôn trong trạng thái ảo tưởng về bản thân, luôn muốn thổi phồng sự thật, huênh hoang, khoác lác, hợm hĩnh đến mức lố bịch. Cái họ nhận được chỉ là sự xanh lánh, cô lập hay thậm chí là thất bại. Thuở vừa nổi tiếng trên thi đàn “Thơ mới”, Xuân Diệu đã viết : “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/Không có chi bè bạn nổi

    cùng ta”. Để rồi sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thi sĩ tự phê phán đó là nhận thức ấu trĩ,

    nông nổi của tuổi trẻ. Quả thực, tuổi trẻ thường hăng hái và xốc nổi, hay ngộ nhận về mình. Có

    chút tài năng nào đó đã vội cho mình là “trung tâm vũ trụ”. Bản thân tôi cũng đã từng tự phụ về

    năng lực của bản thân nhưng kết quả tôi nhận được chỉ là sự thất bại. Vậy, để khắc phục thói tự

    phụ, ta cần sống khiên nhường, hòa đồng, biết lắng nghe và chia sẻ, không ngừng học hỏi; dám phê

    bình và tự phê bình bản thân, không nên giấu dốt… Hãy học cách khiêm tốn, vì “khiêm tốn là một

    loại nhân đức tu chỉnh thói tự phụ”.

    Nguyễn Thị Thuỳ Trang

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    42. Vết đoạn văn ngắn bàn về lòng TỰ TRỌNG

    Nếu “tự phụ” là một trong những thói xấu của người đời thì “tự trọng” lại là một nét tính cách được coi là nền tảng để làm nên phẩm giá cao quý của một con người chân chính. Bởi „‟tự trọng‟‟ là coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình. Từ ngàn xưa, ông cha ta đã đặt danh dự lên hàng đầu :“Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Tốt danh hơn lành áo”… Tính “tự trọng” không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một quá trình được giáo dục và tự tu dưỡng lâu dài của mỗi cá nhân. Khi một học sinh không thuộc bài nhưng dứt khoát không quay cóp của bạn bên cạnh, không giở sách để chép, đó là “tự trọng”. Có lỗi, biết nhận và biết sửa lỗi, đó là “tự trọng”. Việc gì làm được thì cố gắng làm, không phiền lụy đến người khác, đó là “tự trọng‟‟. Không làm điều gì tổn hại đến thanh danh, không bị khuất phục trước cường quyền, bạo lực; không bị mua chuộc bởi tiền tài, danh vọng, đó là “tự trọng”. Tóm lại, “tự trọng” là một đức tính đáng quý và nghiễm nhiên người có tính tự trọng sẽ được mọi người yêu mến và nể trọng. Song, cũng cần phê phán những kẻ thiếu tự trọng, vì một nguồn lợi cá nhân nào đó mà bán rẻ danh dự và tự chà đạp nhân phẩm của bản thân. Mỗi chúng ta hãy tự có trách nhiệm với danh dự của bản thân, bằng cách rèn luyện tính tự trọng – nền tảng làm nên phẩm giá của một con người chân chính!

    Nguyễn Thị Thuỳ Trang

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    43. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Thành công là những bậc thang”.

    Đã ai trong các bạn đã định nghĩa được “sự thành công” là gì? Trong thế giới quan của tôi: “thành công là những bậc thang”. “Thành công” là sự nỗ lực, sự phấn đấu và không ngừng hoàn thiện bản thân mình từng ngày từng chút một. “Thành công” là từ có thể dễ dàng nói ra, nhưng trong cuộc sống đã mấy ai có thể đạt được hay nắm được nó một cách dễ dàng? Thành công luôn mang đến cho con người niềm hạnh phúc – bởi, để có được nó – con người phải trải qua nhiều thử thách chông gai. Thành công càng nhiều thử thách chông gai thì thành công mới thật có ý nghĩa. Vì thế – thành công đã cho ta ý chí, bản lĩnh được tôi luyện và trưởng thành trong giông bão. Mặt khác, thành công giống như những bậc thang dẫn ta lên tới đỉnh cao. Chỉ khi con người xem thành công là những bậc thang thì chúng ta mới có thể đạt được nhiều thành công hơn – bởi vì bậc thang thành công không có bậc cuối cùng. Thành công thật khó vươn tới đúng không các bạn? Nhưng khi đạt được rồi, nó sẽ đưa chúng ta tới những nấc thang mới, nhưng dãy lầu mới nhiều khi còn vượt xa hơn những sự thiếu niềm tin, sự kiên trì. Đối với thế hệ trẻ ngày nay xác định được ước mơ và nỗ lực không ngừng để đạt thành công là không dễ. Vì vậy bạn hãy tạo đà cho bước nhảy và đủ dũng khí để vươn tới những bậc thang cao hơn, xa hơn.

    44. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “giá trị của lịch sử”

    Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt nam”. Thật vậy, câu nói của Hồ Chủ Tịch chính là lời nhắc nhở sâu sắc với con dân đất Việt về lịch sử nước nhà. Có thể nói, lịch sử là cội rễ của sự hình thành nền văn hóa, là lời giải đáp về gốc tích tổ tiên cha ông mà mỗi con người, mỗi quốc gia đều mang một ẩn số riêng. Lịch sử đem lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn về nguồn cội, về cha ông, tổ tiên, nâng cao thêm lòng tự tôn dân tộc, chắp cho đôi cánh của niềm tự hào về một trang sử đau thương mà oanh liệt của những con người đã hóa núi sông ta. Bên cạnh đó, lịch sử còn đem lại những giá trị truyền thống, của đạo đức mà cha ông ta truyền lại cho con cháu ngàn đời. Trong quá trình dựng nước và giữ nước đầy gian khổ của dân tộc Việt, có biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, nếu không có lịch sử lưu dấu lại những tháng ngày tang thương mà hào hùng đó thì làm sao ta có thể hiểu hết ý nghĩa, giá trị của lịch sử cùng niềm tự hào tự tôn dân tộc là như thế nào? Nhưng trong cuộc sống, có mấy

    ai đứng lại, nhìn về phía sau một thời oanh liệt. Và một thế hệ không biết về lịch sử sẽ dẫn đến cả nhiều thế hệ mù mờ lịch sử kéo theo các giá trị về cội nguồn tổ tiên cũng bị xem nhẹ. Cần phê phán những kẻ lãng quên lịch sử, phủ nhận và làm mất đi lòng tự tôn dân tộc bằng những hành động, lời nói xuyên tạc về lịch sử. Qua đây mỗi chúng ta phải thấy được lịch sử là thước đo nhân phẩm của mỗi con người. Bởi vậy, mỗi công dân đất nước phải có bổn phận kế tục, gìn giữ, bảo vệ và phát huy những giá trị lịch sử, truyền thống của dân tộc.

    Nguyễn Thị Diệu Huyền 12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    45. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Vượt qua Cám dỗ”

    Có nhận định cho rằng: “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”. Thật vậy, chúng ta thường rất khó khan trong việc chiến thắng những cám dỗ đến với bản thân. Cám dỗ là ma lực khiến chúng ta đầu hàng trước những dự kiến ban đầu, sao nhãng trước những công việc còn dang dở. Cám dỗ sẽ ngăn cản bước đi của chúng ta trên con đường tìm kiếm thành công hay chân lí. Bên cạnh đó, cám dỗ sẽ khiến chúng ta dễ dàng hình thành nên những thói quen xấu, tìm kiếm những lí do để biện hộ cho cá nhân, tạo nên những vỏ bọc giả tạo trước những thử thách cuộc sống, hay chỉ là những việc nhỏ nhặt nhưng lại trì hoãn bởi những “lời cám dỗ ngọt ngào”. Khi đi học, chúng ta thường tìm những lí do để bao biện cho việc trễ nải chưa làm bài tập và sự lười biếng đó chính là cơn cám dỗ khó cưỡng nhất đối với học sinh. Nguyên nhân dẫn cám dỗ đến với bản thân đó chính là do ý chí và quyết tâm của chúng ta. Nhưng bạn không thay đổi, hay không muốn thay đổi bản thân để chống lại cơn cám dỗ ngọt ngào khiến con tim tan chảy kia? Muốn chiến thắng cám dỗ ta phải rèn luyện ý chí thật kiên định. Bên cạnh những kẻ để cám dỗ điều khiển khối óc thì còn có những con người có quyết tâm cao độ dù đương đầu trước vô vàn cám dỗ nhưng đã đạp bằng lên tất cả mà vươn đến một mục tiêu, một lý tưởng cao đẹp như nhà diễn giảng tài ba Adam Khoo đã vượt lên mọi cám dỗ bởi bạn bè xung quanh. Và qua đó, mỗi chúng ta cần không ngừng nỗ lực cố gắng vượt qua mọi cám dỗ và gian khó. Thế nên, thay vì ngồi chờ đợi sự cám dỗ lướt qua thì bạn hãy làm gì đó để cơn cám dỗ lụi tàn.

    Nguyễn Thị Diệu Huyền

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    46. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Đừng giấu dốt”

     

    “Bất kì một kẻ ngốc nào cũng cố che đậy và hầu hết mọi kẻ ngốc đều làm thế” (Đắc nhân tâm). Quả thế, khuyết điểm không ngoại trừ bất kì ai, không ai có thể mạnh dạn tuyên xưng: tôi là người hoàn hảo! Giấu dốt – một hiện tượng ngày nay đã và đang phổ biến ở đại đa số học sinh, thể hiện qua sự che đậy cái kém cỏi, cái thiếu hiểu biết của mình. Khuyết điểm, kém cỏi hầu hết phát sinh từ ý thức và khả năng vươn lên của mỗi con người và “giấu dốt” có thể khiến chúng ta ngày càng lún sâu trong cái vỏ của sự uyên bác giả tạo. Những hành vi giấu dốt do chính chúng ta tạo nên, nếu đối mặt với thực tại mà xua tay cho qua, nghĩ rằng sẽ không ai biết đến, ta sẽ tiếp tục sống dưới ngôi nhà học thức giả. Nếu chẳng may có ai đó biết được, chỉ rõ mà ta chống chế, phủ nhận, đổ lỗi cho hoàn cảnh thì không những ta không vươn lên được mà đem đến hậu quả khôn lường, càng khiến cho tri thức càng hạn hẹp, uy tín bị suy thoái, mất niềm tin nơi mọi người. Hẳn ai cũng biết đến anh chàng tự kiêu – giấu dốt trong “Tam đại con gà”, anh đã đem đến cho chúng ta những tràng cười thư giãn mà hơn hết đó là bài học cho những kẻ giấu dốt và là hồi chuông cảnh báo cho chúng ta tránh tình trạng che đậy sự kém cỏi, khuyết điểm của mình, bởi “che dấu khuyết điểm của bản thân sẽ không làm ta trở nên tốt đẹp hơn. Uy tín của ta tăng lên nếu ta chân thành công nhận khuyết điểm”.

    Nguyễn Thị Diệu Huyền 12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    47. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về : Cho & Nhận

    Nếu bạn muốn có một cuộc đời đầy ý nghĩa, hài lòng với bản thân và có được sự thăng hoa trong tâm hồn, bạn phải biết chia sẻ – biết cho đi, đồng thời cũng phải biết lĩnh hội – biết đón nhận.Thật vậy, sự sẻ chia, sự đón nhận – mật mã của mọi tình yêu thương . “Cho đi” là san sẻ , là trao tặng đi những giá trị vật chất hay tinh thần mà bản thân có để đem đến cho những người xung quanh .

    “Nhận lại” là đón nhận những món quà vật chất hay tinh thần mà người khác đem đến cho mình . “Cho – nhận” chính là hai khái niệm tưởng chừng như trái ngược nhưng luôn song hành với nhau. Quả thế, đời sống sẽ thối mục nếu ta chỉ lo giữ cho mình nó sẽ nảy nở thêm nếu ta biết chia sẻ cho mọi người. Khi cho đi, thứ mà ta nhận lại chính là niềm hạnh phúc vì đôi môi có hé mở mới nhận lại nụ cười. Chính vì lẽ ấy, sự sẻ chia và đón nhận chắc chắn là đôi cánh đưa ta đến gần hơn với mọi người, đôi cánh “cho – nhận” có thể ôm ấp lấy những tâm hồn nguội lạnh. Bên cạnh những con người biết dung hòa giữa mối quan hệ cho nhận, thì còn đó những con người chỉ biết giữ cho riêng mình, chỉ biết vun vén cho cái tôi cá nhân nhỏ nhen thì tình yêu, hạnh phúc sẽ không bao giờ ghé thăm đến những kẻ chỉ biết nhận mà không biết cho đi. Hãy chia sẻ để biết đời sống thật phong

    phú, hãy đón nhận để biết cuộc sống đáng yêu dường nào! Luôn tâm niệm : “ Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới ngập tràn vui sướng”.

    Nguyễn Thị Diệu Huyền 12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    48. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về sự Giản Dị

    Trong cuộc sống không gì quý bằng sự khiêm tốn, và người bạn hiền của khiêm tốn ấy lại là sự giản dị. Giản dị là một phẩm chất cao quý của con người biểu hiện trong lối sống thanh sạch hằng ngày từ lời nói, cách ăn mặc, lối sống đều hết sức bình dị, mộc mạc. “Lối sống giản dị” là lối sống đơn giản, không cầu kỳ, phức tạp, không khoa trương, xa hoa. Sống phù hợp với hoàn cảnh bản thân và xã hội. Đó là lối sống lành mạnh, chuẩn mực. Bác Hồ từng nói: Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, cần với kiệm phải đi đôi với nhau. Giản dị và tiết kiệm là phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi người. Người sống giản dị, tiết kiệm sẽ được mọi người xung quanh yêu mến. Người sống tiết kiệm là thể hiện sự quý trọng kết quả lao động của bản thân và người khác. Hai phẩm chất trên góp phần làm cho đời sống giao tiếp giữa con người với con người trở nên thân thiện, hoà bình và phồn vinh xã hội. Ngày nay, không ít người có chút tiền lại đem đi phung phí. Có những mâm tiệc trị giá chục triệu bạc, nhằm khoe gia thế; có những tiệc cưới phung phí đến kinh hoàng; sự lãng phí tràn lan. Một số cán bộ nhà nước tha hoá đạo đức và kém năng lực đã làm lãng phí tiền của nhân dân. Tất cả những điều vừa nói đã đi ngược với truyền thống của dân tộc ta và làm chậm sự phát triển của đất nước. Ngày nay, đất nước chúng ta đang vươn vai cùng với năm châu trong thế hội nhập, nhưng nội lực kinh tế đất nước chúng ta chưa thật sự lớn mạnh. Vì thế, chúng ta càng phải sống giản dị và tiết kiệm. Là thanh niên – thế hệ trẻ – người chủ tương lai của đất nước lại càng phải ý thức nhiều hơn về điều đó. Hãy dành thời gian học tập nhiều hơn vui chơi. Hãy giản dị để cuộc sống đáng yêu hơn.

    49. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Lạc quan

    Lạc quan là một thái độ sống vô cùng quan trọng góp phần tạo nên một cuộc sống tốt đẹp đối với tất cả mọi người. Lạc quan tức là không lo lắng thái quá, tinh thần luôn thoải mái dù khó khăn cận kề. Trong cuộc sống, lạc quan luôn là người bạn đồng hành của mỗi chúng ta để đưa chúng ta vượt qua những khó khăn thách. Làm việc gì, dù khó khăn tới đâu thì người lạc quan vẫn tin vào những điều tốt đẹp ở phía trước. Khi gặp thất bại họ vẫn không bỏ cuộc, không chán nản mà ngược lại sự lạc quan làm tăng cơ hội thành công. Lạc quan là kẻ thù của uỷ mị, yếu đuối thì chắc chắn sự lạc

    quan chính là bạn hành trình của con người trên con đường tới tương lai. Hãy loại bỏ mọi nguồn tin mang tính tiêu cực. Hãy tránh xa những người thường xuyên kêu ca phàn nàn. Hãy đón nhận những tin tích cực để luôn có suy nghĩ tích cực. Như vậy, lạc quan đã góp phần tăng giá trị cho bản thân và xã hội!

    50. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Lòng Khoan Dung

    Trong cuộc sống của chúng ta, mở rộng lòng khoan dung, tha thứ độ lượng là một trong những đức tính, phẩm chất vô cùng cao quý, tốt đẹp của con người. Vì vậy, Phật – người được xem là hiện thân của lòng bác ái đã xem đó là một thứ tài sản vô giá: “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung”. “Khoan dung” là lòng rộng lượng, bao dung, thương yêu con người, sẵn sàng tha thứ, không khắt khe, không trừng phạt, hoặc sẵn sàng xoá bỏ những lỗi lầm mà người khác đã phạm phải. Lòng khoan dung là một yếu tố quan trọng đem lại sự bình yên, hoà thuận, thân thiện cho xã hội và gia đình. Khi ta thể hiện lòng khoan dung với ai đó thì tâm hồn ta cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng vì đã làm được một điều có ý nghĩa của phẩm chất nhân ái, vì như thế là không phạm vào sự nhỏ nhen, hẹp hòi, trái với phẩm chất quý giá của con người. Còn nữa, khoan dung, tha thứ lỗi lầm cho người khác thì có thể cảm hoá được họ. Khi được nhận lòng khoan dung của ta, thì bản thân người đó sẽ ăn năn hối lỗi, tự tu chỉnh bản thân mình, sửa chữa lỗi lầm và có thể biết ơn ta nữa, để từ đó không tiếp tục phạm lỗi mà họ đã từng mắc phải. Tuy nhiên bên cạnh sự ngợi ca về lòng khoan dung ta cũng cần phê phán lối sống ích kỷ, cố chấp, thù dai. Tác hại của lối sống ấy: làm cho con người sống với nhau chỉ có ích kỷ, hận thù. Có thể nói, lòng khoan dung làm cho tâm hồn ta trở nên thánh thiện, cao thượng và giàu có hơn. Đúng như một triết gia nào đó đã nói: sự nghèo nàn về của cải vật chất không đáng sợ bằng sự nghèo nàn về tâm hồn. Vì thế, ta phải lấy sự khoan dung, sự nhường nhịn làm phương châm xử thế: “Một sự nhịn, chín sự lành”. Thấm thía lời dạy của Phật, bản thân mỗi chúng ta, phải không ngừng tự rèn luyện, phấn đấu bồi đắp cho mình có lòng khoan dung rộng lớn. Lòng khoan dung là tài sản vô giá của con người và cũng là phương châm đối nhân xử thế tốt nhất để nhằm hoàn thiện nhân cách bản thân và đưa lại sự bình an cho cuộc sống.

    Bài 2

    Lòng vị tha là biểu hiện cao đẹp nhất của vẻ đẹp tâm hồn con người. Vậy vị tha nghĩa là gì và đóng vai trò như thế nào trong cuộc sống? Vị tha chính là sống vì người khác, không ích kỉ hay mưu lợi cá nhân với xuât phát điểm không gì khác ngoài một trái tim biết yêu thương đồng loại. Trong

    công việc, một con người có được đức tính này luôn đặt lợi ích tập thể lên trên tư lợi cá nhân,

    không lười biếng, ỷ lại hay tránh né, đùn đẩy trách nhiệm. Trong quan hệ với mọi người, họ luôn

    vui vẻ, hòa nhã, biết đồng cảm sẻ chia và sẵn lòng thứ tha cho lỗi lầm của kẻ khác. Bởi vậy, lòng

    vị tha giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Nó giúp ta tìm được sự bình an,

    thanh thản trong tâm hồn, giữ được cảm tình, sự tôn trọng từ những người xung quanh. Đồng thời,

    lòng vị tha cũng kéo người gần lại với nhau hơn, góp phần kiến tạo một xã hội lành mạnh và bác ái,

    nơi độc ác mưu toan không còn chỗ đứng. Và còn một điều ta luôn phải nhớ, sống vị tha không

    đồng nghĩa với việc nuông chiều, dung túng những thói hư tật xấu hay mượn hành động thiện

    nguyện để đánh bóng tên tuổi. Bởi chỉ những điều xuất phát từ sâu thẳm tâm hồn mới có thể chạm

    tới trái tim người khác. Mỗi chúng ta hãy học cách lắng nghe, chia sẻ và tha thứ cho người khác

    cũng như chính bản thân mình, để lòng vị tha có thể lan tỏa mạnh mẽ và giúp cho cuộc đời đẹp đẽ,

    hạnh phúc hơn.

    51. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Tinh thần tự học

    Nhà bác học vĩ đại Đác-Uyn, người khiến nhân loại sững sờ trước bộ óc vĩ đại của ông, đã rất khiêm tốn khi phát biểu: “Tất cả những gì có giá trị một chút tôi đều đã thu nhận được nhờ tự học”,

    • kiến đó đã khẳng định tầm quan trọng của tự học đối với mỗi cá nhân. Học tập là hoạt động thu nhận kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm từ trong sách vở, nhà trường và ngoài xã hội. Song, việc học

    không đơn giản chỉ là tiếp thu kiến thức một cách máy móc, sách vở mà còn gắn với ý thức của người học về việc biến những kiến thức ấy thành kĩ năng, vốn sống, là hành trang mang theo suốt đời của mỗi người đó chính là tinh thần tự học. Tự học chính là ý thức học, là sự chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được bản chất vấn đề giúp ta tiếp thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau. Nhờ có tinh thần tự học, chúng ta có thể chủ động ghi nhớ các bài học trên lớp, tiết kiệm được thời gian. Và nhờ tự học, ta có thể biến lý thuyết thành thực hành để nắm vững hơn vừa lý thuyết vừa hình thành kĩ năng. Chủ động trong việc học giúp chúng ta tìm được cách học tốt mang lại hiệu quả cao cho chính mình. Ví như Đác-Uyn, Bác Hồ, Bill Gates…nhờ tự học mà đi đến vinh quang. Thực tế ngày nay cho thấy nhiều bạn học sinh còn quá lệ thuộc vào bài giảng của các thầy cô giáo, học và ghi chép lại một cách thụ động, máy móc, lười suy nghĩ, thuộc bài nhưng không hiểu được nội dung, học xong quên ngay, không áp dụng được những kiến thức đã đạt được vào thực tế cuộc sống… dẫn đến kết quả không cao thậm chí còn để lại nhiều tiêu cực trong môi trường giáo dục. Vì vậy, đề đạt được kết quả tốt, để thành công, để vững vàng bước vào đời, mỗi học sinh chúng ta cần phải nỗ lực tự học, bởi “life long leaning” – học tập là công việc

    suốt đời, học không ngừng nghỉ, đủ ý chí và sức mạnh, niềm tin vào bản thân đề chạm đích thành công.

    52. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Đức hi sinh

    Những người mẹ ngày đêm tảo tần, vật lộn với cuộc sống mưu sinh, những người cha hằng ngày

    vẫn vật lộn với gánh nặng trụ cột gia đình, những chiến sĩ nơi hải đảo xa xôi vẫn cầm chắc tay

    súng… đó là những hi sinh lặng thầm cho tất cả từ nhỏ bé đến lớn lao vô tận. Hi sinh là hành động

    đánh đổi một thứ quan trọng của bản thân cho một điều gì đó đáng quý hơn, đó là sự quên mình,

    cống hiến, sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp chung, lợi ích chung. Đức hi sinh đòi hỏi con người sẵn

    sàng san sẻ những quyền lợi về vật chất, tinh thần cho người khác mà không tính toán thiệt hơn,

    thậm chí còn xả thân vì người khác. Từ những việc làm rất nhỏ như nhường chỗ cho người già, san

    sẻ cho những người còn khó khăn đến lý tưởng cao đẹp cống hiến hết mình cho Tổ quốc của

    những người lính và còn vô số những sự hi sinh thầm lặng khác mà nhờ đó xã hội chúng ta đã phát

    triển tốt đẹp và bền vững. Nhưng không phải việc làm, hành động nào cũng đáng được biểu dương

    nếu đó là những hi sinh giả tạo, nhằm mang lại danh tiếng cho bản thân, muốn nhận cái hư danh

    “người tốt”. Nhiều người còn ích kỉ, sống chỉ biết lợi ích của riêng mình, tham sống sợ chết… đó

    vẫn là một mảng tối trong xã hội hiện nay. Vì vậy, chúng ta phải biết rộng mở trái tim mình, phải

    biết sống vì người khác, quan tâm, chia sẻ, đừng ích kỉ, hãy đề đôi bàn tay phảng phất hương hoa

    vì những hành động tốt đẹp của bản thân, để vị ngọt tình người lan tỏa khắp cuộc đời này.

    53. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Đừng sống như hòn đá”

    Triết gia người Mỹ, Elbert Hubbard đã từng nói: “Cuộc sống chỉ thực sự phong phú khi nó tràn ngập tình yêu và sự cao thượng”. Ý nghĩa của ông muốn gửi gắm qua câu nói chính là thông điệp sâu xa về lòng yêu thương giữa con người với con người trong cuộc sống này. Vậy muốn có được lòng yêu thương, bao dung, vị tha cao thượng thì trước hết chúng ta hãy “đừng sống giống như hòn đá”. Hòn đá chính là ẩn dụ tượng trưng cho lòng vô cảm của con người. Nếu như con người sống nghèo nàn về mặt tâm hồn, chai sạn cảm xúc trước tình yêu thương thì rồi kết cục cũng sẽ trở thành hòn đá kia – trơ trọi một mình, cô đơn giữa đời, tâm hồn sẽ hóa đá. Sống như đá là lối sống vị kỷ, sống chỉ cho riêng bản thân mình, luôn đặt lợi ích tư lên đầu mà không để tâm đến những người xung quanh. Cuộc sống đó không tồn tại tình yêu thương và cũng không thể có được yêu thương, chính vì thế mà nó trở nên vô nghĩa và ảm đạm tối tăm. Sống như hòn đá sẽ đẩy con người vào tình cảnh cô đơn, bị mọi người xung quanh xa lánh không muốn tiếp xúc. Ta cần phải làm thế

    nào để không sống như một hòn đá? Cần phải tăng cường hành động hành động yêu thương nếu như chính ta muốn được yêu thương, bởi chăng : “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” (Trịnh Công Sơn). Trong cuộc đời này, ta nên hòa mình vào với cộng đồng, biết mở tâm hồn ra để đón nhận tình thương cũng như biết cho đi, vì khi cho đi chính là còn mãi.

    54. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Thành công chỉ đến khi chúng ta cố gắng hết sức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình”.

    Không ai vươn đến sự thành công mà lại không có sự nỗ lực, cố gắng từng ngày. Bởi vậy chỉ khi chúng ta cố gắng hết sức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình thì thành công mới chạm đến cuộc sống của ta. Thành công cũng không đến với những người không chịu thay đổi theo chiều hướng tích cực và cũng không ở lại quá lâu với những ai dễ dàng hài lòng với bản thân. Con người là chủ thể quyết định suy nghĩ, hành vi của chính mình và kết quả của mỗi việc làm, hành động của họ. Do đó, thành công chỉ gõ cửa nhà bạn khi bạn không ngừng cố gắng và hoàn thiện bản thân. Leonardo Davinci trở thành danh họa kiệt xuất thế giới nhờ tháng ngày khổ luyện vẽ những quả trứng để rồi hoàn thiện kĩ năng của mình hơn qua mỗi bức hình tưởng chừng như đơn giản. Các vận động viên giành được thứ hạng cao trong các đại hội thể thao thế giới do luyện tập gian khổ ngay từ thuở lên năm, sáu tuổi. Đằng sau mỗi tấm huy chương là những giọt mồ hôi, nước mắt nơi phòng tập. Đôi khi, thành công đến sau mỗi thất bại, vì vậy, nếu bỏ cuộc giữa chừng thì bạn không bao giờ vươn tới mục tiêu của mình. Theo đuổi thành công đến cùng không có nghĩa là bất chấp tất cả để có được điều mình mong muốn. Thành công chỉ bền vững nếu con người cố gắng dựa trên nội lực của bản thân và không ngừng hoàn thiện chính mình.

    55. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Lòng yêu nước

    Đất nước kết tinh, hóa thân trong mỗi con người. Con người phải có tinh thần cống hiến, hi sinh, có tinh thần trách nhiệm đối với sự trường tồn của quê hương xứ sở. Đúng như Nguyễn Khoa Điềm đã viết “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi” – đó là lời thơ dung dị về tình yêu đất nước trong mỗi con người. Đất Nước là nơi ta sinh ra, nơi ta lớn lên, nơi ta được đến trường, được yêu thương và được làm người. Vì vậy, tình yêu đất nước là tình cảm thường trực trong mỗi con người chúng ta. Tôi còn nhớ đến một câu nói nổi tiếng của một cố tổng thống Mỹ “Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn mà bạn phải hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc”. Đó là câu hỏi đặt ra với tất cả mọi người chúng ta. Đất nước – dân tộc là thiêng liêng là sự hòa kết giữa nhiều tế bào sống. Vì vậy, sự tồn tại của cá nhân chỉ có ý nghĩa khi hòa nhập vào cộng đồng. Có như vậy mới đem lại sự thành công

    trong sự nghiệp chung. Bên cạnh đó chúng ta cần phải phê phán những người có lối sống ích kỉ, chỉ nghĩ cho bản thân mình. Lòng yêu nước là tình cảm cao đẹp và thiêng liêng, mỗi con người chúng ta cần nhận thức được tình cảm cao đẹp ấy để sống cho ra cuộc sống con người.

    Bài 2

    Nhắc đến các phẩm chất của những người con đất Việt, ta không thể không kể đến tình yêu nước nồng nàn. Yêu nước không phải một khái niệm xa xôi, trừu tượng. Đó là tình cảm giản dị, gần gũi nhưng vô cùng thiêng liêng bắt nguồn từ sự trân trọng, nâng niu mà ta dành cho những sự vật quanh mình, cho những con người ta yêu thương, gắn bó. Biểu hiện của lòng yêu nước cũng nằm ngay trong ý thức, hành động hàng ngày của mỗi chúng ta. Trong thời chiến, nó sục sôi và cuộn trào cùng các cuộc khởi nghĩa, cùng lớp lớp thanh niên sẵn sàng hi sinh tính mạng khi lên đường nhập ngũ. Trong thời bình, mỗi người thể hiện tình yêu nước bằng cách chăm chỉ trau dồi tri thức, cần cù lao động và rèn luyện đạo đức với ước mong đem đến cuộc sống tươi đẹp hơn cho bản thân, gia đình và dân tộc mình. Cứ như vậy, lòng yêu nước đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành nguồn sức mạnh vô giá, thành sợi dây nối kết trái tim của những “con Lạc cháu Hồng”, giúp ta có thể lập nên những chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Chính tình yêu nước của thế hệ đi trước đã tạo dựng niềm tin cho thế hệ mai sau. Dù thế hệ trẻ có lập nghiệp nơi đâu trên địa cầu rộng lớn, những con người Việt Nam ta vẫn luôn giữ trong trái tim mình tình yêu nước nồng nàn, để nhớ, để ngưỡng vọng và cũng để khao khát được làm điều gì đó cho mảnh đất hình chữ S thân thương Việt Nam.

    56. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Đường đến Thành Công”

    “Đường đến thành công” là ẩn dụ để nói đến hành trình gian nan mà con người phải vượt qua để

    đến những điều tốt đẹp. “Thành công” là kết quả đạt được một cách mỹ mãn trong lĩnh vực nào đó

    mà con người theo đuổi. Để thành công, người ta phải đổ mồ hôi, công sức, thời gian, trí tuệ, gian

    nan vất vả, thậm chí phải nếm trải những thất bại mới có được. Con đường đó không dành cho

    những kẻ lười biếng. Vì con đường dẫn tới thành công là con đường chông gai, đầy khó khăn, thử

    thách chứ không phải bằng nhung lụa; là cả quá trình học tập, lao động, nghiên cứu, sáng tạo

    không ngừng, đòi hỏi con người phải cần cù, miệt mài, chịu khó và có ý chí quyết tâm cao mới

    thành. Không có một thành công, thành quả nào mà không phải đổi bằng mồ hôi, công sức. Như

    vậy, đường thành công không dành cho những ai lười biếng. Đây là một chân lý, khẳng định được

    cái giá của sự thành công: bất cứ sự thành công nào cũng đổi bằng sự cần cù, chăm chỉ, kiên trì,

    chịu khó. Lười biếng, ỉ lại, ngại khó ngại khổ sẽ chẳng bao giờ làm được việc gì có ý nghĩa. Mỗi người phải nắm vững chân lý này để xây dựng cho mình một phương hướng cụ thể nhằm đạt được những thành công trong cuộc sống; không ngừng rèn luyện nhân cách, bản lĩnh, dám nghĩ dám làm, dám thành công.

    57. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Không có mục tiêu nào quá lớn”

    “Mục tiêu” là điểm là đích mà chúng ta hướng đến trong cuộc đời, là một dự định, một định hướng được đề ra trước mắt ta. Có mục tiêu thì chúng ta mới có động lực để thúc đẩy mình và nếu không có mục tiêu thì chúng ta sẽ giống như con thuyền giữa đại dương không biết đâu là bến bờ. Bản thân mỗi người phải đề ra cho mình mục tiêu vì đó chính là tương lai của bản thân. Đừng nghĩ là nó quá lớn với bạn vì nghĩ nó quá lớn bạn lại đâm ra sợ hãi với chính bản thân. Đôi khi bạn gặp thất bại nhưng thất bại lại là chỗ dựa lớn nhất cho sự trưởng thành. Đừng sống không có ước mơ, vì như thế bạn đã để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống. Ước mơ giống như con đường chưa có nhưng sẽ khám phá và vượt qua. Và thử hỏi nếu con người sống mà không có ước mơ ? Chắc chắn đó là cuộc sống vô nghĩa nhất. Cần phê phán những kẻ sống thiếu mục tiêu vì những kẻ đó là những kẻ sống nhờ sống gửi, sống ký sinh lên người khác; ăn bám gia đình, bạn bè; thiếu chí hướng, mục đích, ước mơ nghĩa là đã “chết ngay khi còn sống”. Trong cuộc sống mỗi con người hãy xây dựng cho mình một mục tiêu, một ước mơ. Hãy thực hiện nó vì nó không có gì “quá lớn”, không có gì quá “xa vời”.

    58. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Nhìn vào thất bại để nâng mình lên”

    Trong cuộc sống của chúng ta, thành hay bại, thắng hay thua là đều phụ thuộc vào tính cách của

    con người. Thường thì phải qua thất bại rồi mới đến thành công. Nhưng cũng có người thấy thất

    bại đã cúi đầu chấp nhận một cách dễ dàng. Bàn về thái độ của con người trước thất bại, tổng

    thống Mỹ – A.Linconl cho rằng “Điều tôi muốn biết trước tiên không phải là bạn đã thất bại ra sao

    mà bạn đã chấp nhận nó như thế nào”. “Thất bại” là hỏng việc, thua mất, là không đạt được kết quả,

    mục đích như dự định. Điều quan trọng hơn cả là nhận thức, thái độ của con người trước sự thất

    bại trong cuộc sống. Trước một sự việc không thành, con người cần có sự bình tĩnh để tìm hiểu

    nguyên nhân của sự thất bại (khách quan và chủ quan). Dám đối mặt để chấp nhận, không né tránh

    sự thật, cũng không đổ lỗi hoàn toàn cho khách quan. Biết “dậy mà đi” sau mỗi lần vấp ngã, biết

    rút ra bài học từ những thất bại đã qua để tiếp tục thực hiện công việc và ước mơ của mình. Thất

    bại là môi trường tôi luyện ta trưởng thành hơn (A.Linconl là con người đã 8 lần thất bại nặng nề

    trong cuộc đời và một ngày ông trở thành tổng thống của nước Mỹ). Cần phê phán những kẻ ủy mị, yếu đuối, ngại khó ngại khổ. Qua đây chúng ta cần nhớ: Phải biết cách chấp nhận sự thất bại để có thái độ sống tích cực. Không đắm chìm trong thất vọng nhưng cũng không được bất cần trước mọi sự việc, không để một sự thất bại nào đó lặp lại trong đời. Đó là bản lĩnh sống.

    59. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Lòng Hiếu Thảo”

    Đạo làm con là phải hết lòng phụng dưỡng, báo đáp mẹ cha, vì thế Hiếu Thảo là tình cảm tự nhiên

    và cũng là đạo đức của con người. Người con hiếu thảo là người con luôn biết kính trọng và yêu

    thương cha mẹ của mình. Cha mẹ nuôi con không bao giờ mong được đền đáp lại công lao ấy –

    nhưng nghĩa vụ của mỗi người con là phụng dưỡng khi cha mẹ tuổi già sức yếu. Lòng hiếu thảo

    luôn mang lại hạnh phúc cho gia đình, làm cho gia đình yên ấm. Hiếu thảo cũng mang lại một xã

    hội tốt đẹp văn minh. Bởi gia đình vốn là tế bào của xã hội. Nếu mỗi gia đình là những tấm gương

    hiếu thảo thì xã hội này sẽ tốt đẹp biết bao. Muốn vậy ta cần phê phán những kẻ bất hiếu, không

    vâng lời cha mẹ, ngược đãi cha mẹ mình, luôn làm cha mẹ đau lòng. Đúng như đức nhân Khổng

    Tử từng nói: “Tội ác lớn nhất của con người chính là tội bất hiếu”. Tóm lại, bổn phận làm con phải

    biết giữ tròn chữ hiếu với đấng sinh thành. Ngày nay, không chỉ hiếu thảo với cha mẹ, chữ hiếu

    còn được mở rộng ý nghĩa như trong lời Bác Hồ dạy: “Trung với nước, hiếu với dân”.

    60. Viết đoạn văn (200 chữ) bàn về thông điệp: “Hãy giữ cho mình niềm đam mê khác biệt”

    “Mỗi người đều phải rước một đam mê. Đam mê – ngọn lửa sinh tồn hay ngọn lửa hủy diệt đều do

    tự tay mình thắp lên” – đây là câu nói giàu ý nghĩa của hoạ sĩ Bửu Ý về niềm đam mê. Lại còn hay

    hơn nữa, đặc biệt hơn nữa nếu mỗi người có một niềm đam mê khác biệt. Đam mê khác biệt là

    niềm say mê, yêu thích, theo đuổi một sở thích độc đáo riêng biệt không trùng lặp với người khác.

    “Hãy giữ cho mình một niềm đam mê khác biệt” là một câu nói khuyên chúng ta nên tìm kiếm cho

    bản thân một đam mê mà không phụ thuộc vào bất kì ai. Vì sao lại giữ cho mình niềm đam mê

    riêng biệt? Đam mê riêng biệt đem lại nguồn cảm hứng cho cuộc sống tạo nên động lực mãnh mẽ

    để chúng ta vượt qua khó khăn để biến ước mơ thành hiện thực.Nó giúp ta tập trung toàn bộ trí lực

    không ngừng sáng tạo để mở ra những con đường mới mẻ đạt đến những đỉnh cao nghề nghiệp,

    giúp ta khẳng định mình tạo dấu ân riêng cho bản thân. thêm vào đó nó sẽ kích thích sự sáng tạo và

    phát triển của xã hội có nhiều giá trị nhiều thành quả mới được. Như Đăng Lê Nguyên Vũ – là ông

    chủ của cà phê Trung Nguyên, ông đã can đảm theo đuổi con đường kinh doanh khi đang học nghề

    y năm thứ 4,cho dù trên bước đường lập nghiệp ông gặp không ít thử thách nhưng cho đến nay ông

    đã và đang là một doanh nhân thành công. Bên cạnh tấm gương như Đăng Lê Nguyên Vũ, thì lại có nhiều người sống phù phiếm, không biết mình đam mê cái gì hoặc có đam mê mà không có can đảm theo đuổi. Tìm kiếm và sống với đam mê không dễ dàng nên đòi hỏi mỗi cá nhân phải tập trung cao độ trí tuệ,dũng cảm để vượt qua thử thách và mỗi bản thân ai cũng đều cần phải tìm ra một đam mê thực sự cho chính mình trong cuộc sống.

    (Châu Hiền)

    Bài 2

    Cuộc đời sẽ trở nên mất đi ý nghĩa nếu chúng ta không tìm được đam mê đích thực của mình. Vậy

    đam mê là gì và tại sao nó lại quan trọng đến thế? Đam mê đơn giản là một việc nào đó có thể

    khiến bạn cảm thấy hứng thú, vui vẻ và sẵn sàng bỏ ra thời gian, công sức để thực hiện nó. Chẳng

    hạn, khi ai đó nhận ra mình hạnh phúc nhất khi nấu ăn và quyết định trở thành đầu bếp, người đó

    được coi là đã tìm ra đam mê của mình. Và, chỉ khi thực sự được làm điều mình muốn, chúng ta

    mới có thể toàn tâm toàn sức làm việc, phấn đấu nỗ lực vì một mục tiêu nhất định. Bởi vậy, có thể

    nói, đam mê là ngọn lửa soi đường, sưởi ấm và khiến cho cuộc đời ta tỏa sáng rực rỡ hơn. Chắc

    hẳn ai cũng đã hơn một lần nghe về Bill Gates – nhà đồng sáng lập hãng công nghệ Microsoft.

    Nhưng, nếu không dũng cảm từ bỏ giảng đường đại học và theo đuổi đam mê công nghệ của mình,

    liệu có bao nhiêu người sẽ biết về một luật sư Bill Gates?. Tuy nhiên hiện nay có một số bạn trẻ

    không xác định được đam mê của mình, chỉ biết hài lòng với hiện tại nên luôn tụt hậu phía sau của

    xã hội. Vậy nên tất cả chúng ta cần nghiêm túc kiếm tìm và nỗ lực hết sức để theo đuổi đam mê

    của mình. Bởi đúng như Nick Vujick từng chia sẻ: “Những ước mơ không chết chừng nào bạn còn

    nuôi dưỡng nó bằng niềm đam mê.”

    61. Đoạn văn ngắn bàn về : Hạnh phúc

    Cuộc sống này là hành trình không ngừng nghỉ nhằm kiếm tìm hạnh phúc. Vậy hạnh phúc là gì và có vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta? Hạnh phúc chính là trạng thái vui vẻ, thoải mái khi chúng ta được thỏa mãn một điều gì đó. Trừu tượng như vậy nhưng ta có thể tìm được hạnh phúc trong những điều gần gũi và giản đơn vô cùng: một lời khen của cô giáo, một bức tranh nguệch ngoạc mà đứa trẻ lên ba dành tặng mẹ hay một bàn thắng vào khung thành đối phương… Hoặc lớn lao hơn, đó là niềm hân hoan rạo rực khi ta làm nên những điều kì diệu, thỏa ước mơ cháy bỏng bấy lâu: đạt được tấm huy chương vàng ở đấu trường quốc tế, đỗ vào ngôi

    trường mơ ước hay mua được căn nhà đẹp đẽ… Nhưng dẫu là gì chăng nữa, hạnh phúc vẫn mang ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng. Nó mang tới cho tâm hồn sự thoải mái, thanh thản, là nền tảng vững chắc để ta chinh phục những hoài bão lớn hơn. Tương tự, ở một quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao, con người sẽ gắn bó với nhau hơn, tỉ lệ tội

    phạm cũng nhờ vậy mà giảm bớt. Do vậy, thế hệ trẻ cần nhận thức rõ về ý nghĩa thực sự của hạnh

    phúc và phấn đấu hết sức để đạt được hạnh phúc, trước là cho bản thân và sau là cho cả cộng đồng.

    Muốn làm được điều này, mỗi người phải không ngừng bồi dưỡng trí tuệ, tạo lập nhân cách để có

    thể vững vàng trên “con đường kiếm tìm và chia sẻ hạnh phúc”. “Mỗi người đều là kiến trúc sư

    hạnh phúc cho riêng mình”. Vậy nên hãy sống hết mình với những điều mình muốn và bạn sẽ tìm

    được ý nghĩa của cuộc đời mình.

    62. Đoạn 200 chữ bàn về Thành Công và Thất Bại

    Trong cuộc sống, không có ai muốn bản thân mình rơi vào cái hố của thất bại, nên luôn cố gắng để đạt được thành công. Tuy nhiên thất bại hay thành công đều là những việc chúng ta cần phải trải qua để thấy bản thân mình đã trưởng thành lên như thế nào. Thất bại và thành công luôn tồn tại song song và triệt tiêu nhau. Thành công chính là kết quả đạt được sau quá trình cố gắng, phấn đấu không ngừng nghỉ. Đó chính là công sức do lao động, học tập mà có. Thành công cũng có thể xem là niềm vui tinh thần tạo nên nhiều niềm vui khác mà nhiều người vẫn cố gắng muốn vươn tới. Còn thất bại chính là trạng thái rơi vào hụt hẫng, bế tắc khi không thể hoàn thành được mục tiêu mà mình đã đặt ra, không thể trở thành một ai đó mà mình mong. Thành công và thất bại luôn tồn tại trong mỗi con người. Đây là hai trạng thái xuất hiện nhiều lần trong một người. Có người đi từ thất bại này đến thất bại khác rồi cuối cùng mới chạm đến được với thành công. Để đi đến sự thành công, cần phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách, cả những thất bại cần phải đối mặt và bước qua. Những thất bại đó không nhỏ, đó có thể là đánh đổi nhiều thứ khác để đạt được cái mà mình mong. Những thất bại mà chúng ta trải qua không phải đều là bế tắc và con đường cùng. Chính những thất bại mà mình phải gánh chịu chính là kinh nghiệm, sự trưởng thành nhận lấy sau này. Như vậy hà cớ gì không dám thất bại, không dám đánh đổi? Có câu nói “Thất bại là mẹ thành công”. Có thể thấy rằng tầm quan trọng của thất bại đối với thành công, đó chính là nền tảng để chúng ta có thể tự đứng lên và học tập không ngừng. Không có con đường đi nào trải toàn hoa hồng, chỉ có đánh đổi thì mới có thể lâu dài được. Con đường đi của mỗi chúng ta chưa bao giờ bằng phẳng, bởi vậy không nên ngại khó khăn, thử thách, ngại thất bại. Phải trải qua những điều đó thì tự bản thân mới thấy mình trưởng thành và thành công sẽ đên trong nay mai. Bởi vậy chúng ta hãy đừng ngại ngần

    thất bại để đổi lấy thành công về sau. Những người không dám đối mặt với thất bại là những người không có ý chí và nghị lực, không có quyết tâm vượt qua mọi chuyện.

    63. Đoạn văn 200 chữ bàn về sự Chân Thành

    Sự chân thành là một thứ phương thuốc thần diệu nhất giúp con người tạo được cho mình một thế

    quân bình trong đời sống. Sống trong một xã hội cuộc sống thường ngày phải chung đụng cùng

    bao nhiêu người mà ta bắt buộc phải giao tiếp thường xuyên, nếu trong những cuộc tiếp xúc chúng

    ta thiếu lòng chân thành tự nhiên sẽ bị mọi người coi thường và tìm phương trốn lánh, nói một

    cách khác là chúng ta sẽ hoàn toàn bị cô lập. Đó chính là một điều thất bại vô cùng tai hại cho công

    cuộc tiến thủ cho chúng ta trên bước đường đi tìm tương lai. Ngoài ra lòng thành thật còn giúp

    chúng ta có thêm một phương tiện để chinh phục lòng người. Nếu một con người sống ngoài xã

    hội lại thiếu tinh thần ngay thẳng, nghĩa là sống không có lòng thành thật tự nhiên sẽ tạo cho mình

    một sự thất bại không phương cứu vãn. Một con người có lòng thành thật, luôn luôn bao giờ cũng

    tôn trọng chữ thành và chữ tín, nhất định sẽ được mọi người sống chung quanh mình ưu đãi bằng

    tất cả sự kín đáo tha thiết. Ngược lại một người chủ trương lọc lừa, xảo trá, gian ngoa làm bất cứ

    một công việc gì cũng luôn luôn bị những người chung quanh tìm những cách lánh xa. Lòng chân

    thành là một thứ tính tình quan hệ để giúp con người bảo toàn được thiên chức làm người của cá

    nhân, chính lòng chân thành cũng giúp cho con người nêu cao nhân cách. Vì những lý do đó cho

    nên trong phương diện xử thế vấn đề được đặt ra trước nhất là lòng chân thành, sự thành thật giữa

    người đối với người là như thế. Con người nếu sống trong xã hội luôn bị những người khác cạnh

    tranh thì vấn đề chân thành càng phải được bảo toàn hơn bao giờ hết. Vì chân thành, con người

    mới tạo được những uy tín cho cá nhân mình và làm cho mọi người chung quanh khâm phục, từ

    chuyện khâm phục cá nhân con người mới có thể nói đến những vấn đề mật thiết lâu bền. Tóm lại,

    con người muốn thành công trên trường đời bao giờ cũng phải tạo cho mình lòng chân thành tuyệt

    đối và chỉ có lòng thành thật mới đem đến cho con người sự chiến thắng ở đời mà thôi. (Nguồn:

    mangthuvien.com)

    64. Đoạn văn 200 chữ bàn về sức mạnh của lòng yêu thương

    Bình an và hạnh phúc sẽ đến với những người có tâm hồn trong sáng và tình yêu thương. Quả đúng như vậy, tình yêu thương là tình cảm xuất phát từ lòng yêu mến, đồng cảm, cảm thông và quý mến đối với đồng loại và mọi điều xung quanh. Tình thương yêu có sức mạnh rất lớn, nó giúp người khác vững tin hơn trong cuộc sống, giúp người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay

    đổi những người sống chưa tốt. Tình yêu thương chân thành của Thị Nở đã chạm đến trái tim cằn khô, sỏi đá của Chí Phèo và thức dậy trong anh những giây phút người nhất. Tình yêu thương làm cuộc đời này đẹp hơn. Tình yêu thương của ta đưa người khác đến đỉnh cao của thành công và đưa ta vượt lên trên những điều tầm thường. Tình yêu thương là điều quý giá nhất trên đời mà người với người có thể trao tặng nhau. Rất nhiều người hối hận vì chưa kịp nói lời yêu thương với người thân khi người thân của họ còn sống. Vì vậy đừng ngại nói lời yêu thương với những người mà ta quý mến họ. Đôi khi cuộc sống nhiều mâu thuẫn, hiểu nhầm, hận thù và nó chỉ được hóa giải khi xuất hiện sự tha thứ và tình yêu thương vĩ đại. Khi bên trong bạn có tình yêu thương, bạn sẽ lan tỏa tình yêu thương ra cho mọi người xung quanh, vì “bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm”. Một người chủ động trao tặng tình yêu thương thì bên trong họ tràn đầy tình yêu thương. Muốn có tình yêu thương thì trước hết, ta phải trao tặng tình yêu thương cho thế giới. Ta cũng cần phê phán những kẻ sống vô cảm, ích kỷ, hận thù. Và nhiệm vụ của chúng ta là hãy cảm hoá họ, vì chỉ có tình yêu thương mới có thể biến thế giới đầy khổ đau này thành biển cả của hoà bình và hạnh phúc. (Nguyễn Hữu Hiếu)

    65. Viết đoạn văn (200 chữ) bàn về “Tình cảm cao thượng không chỉ giúp con người sống thanh thản mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội và đồng loại tiến bộ”.

    Tình cảm cao thượng không chỉ giúp con người sống thanh thản mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội và đồng loại tiến bộ. Thật vậy, tình cảm cao thượng là tấm lòng vị tha, bao dung. Tình cảm ấy luôn hướng đến những điều cao đẹp trong cuộc đời, tới những khát vọng và chân lý của sự toàn thiện. Trong thực tế nếu con người chỉ có lòng đố kỵ thì lúc nào bản thân cũng chỉ thấy mình đau khổ bởi thấy mình thua kém người khác. Vì thế kẻ đố kỵ không bao giờ được thanh thản trong tâm hồn. Ngược lại, người có tình cảm cao thượng thì luôn xem thành công của người khác là niềm vui cũng như hạnh phúc của mình. Luôn lấy sự thành công ấy làm mục tiêu để bản thân phấn đấu thì tâm lý lúc nào cũng nhẹ nhàng thanh thản. Người có tình cảm cao thượng bao giờ cũng mang tâm lý lạc quan, yêu đời. Họ luôn phấn đấu nỗ lực để vươn lên trong cuộc sống. Nếu xã hội vắng bóng những kẻ đố kỵ mà chỉ toàn là những con người có lòng cao thượng thì xã hội ấy luôn có sự cạnh tranh lành mạnh, mọi người đều cố gắng nỗ lực không ngừng để vươn đến thành công. Điều này tạo nên động lực, tạo nên sức mạnh làm nền tảng cho xã hội phát triển. Nhận thức được tình cảm cao thượng là đức tính tốt đẹp, mỗi chúng ta cần đấu tranh lên án và loại bỏ những kẻ đố kỵ, ích kỷ làm xã hội chậm tiến bộ. Bản thân phải luôn có ý thức phấn đấu rèn luyện nhân cách sống vị tha, bao dung và cao thượng.

    66. Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ) bàn về đức hi sinh, lòng dũng cảm của 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã hi sinh trong trận chiến bảo vệ Gạc Ma, ngày 14.3.1988. (Xem bài tập đọc hiểu)

    Lòng nhân ái, vị tha, đức hi sinh, lòng dũng cảm… vốn là những phẩm chất cao quý của con người. Trong đó, đức hi sinh và lòng dũng cảm còn là truyền thống quý báu của người Việt từ bao đời nay. Hình ảnh 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ biển đảo là minh chứng hùng hồn cho phẩm chất cao quý ấy. Trong cuộc sống, đức hi sinh và lòng dũng cảm chính là sống dâng hiến, quên bản thân mình vì người khác. Sự kiện Gạc Ma 1988, các chiến sĩ hải quân đứng thành một vòng tròn bất tử chính là biểu tượng cao đẹp cho sự quên mình vì Tổ quốc. Họ chính là biểu tượng của lòng yêu nước, sự bất khuất, kiên gan, sự hy sinh vô bờ bến – “thà hi sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ biển đảo”. Thật xúc động biết bao khi những chàng trai – những người con ưu tú đã ngã xuống khi tuổi xuân còn nồng nàn. Họ đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình vì đất nước. Sự anh dũng hi sinh của những người lính hải quân năm nào đã nhắc nhở chúng ta phải biết sống tốt hơn giữa cuộc đời này. Biết ơn những liệt sĩ bao nhiêu ta lại càng căm phẫn bấy nhiêu trước hành động đê hèn của quân xâm lược Trung Quốc. Chúng ta cũng cần lên án những kẻ thiếu sự dũng cảm, trong chiến tranh thì phản bội đồng đội, khi hòa bình thì chỉ biết sống cho riêng mình. Được sống trong hòa bình, mỗi chúng ta phải ghi nhớ công ơn trời biển của thế hệ cha ông. Phải tôn trọng sự thật lịch sử cũng như luôn nêu cao bài học cảnh giác trước âm mưu của kẻ thù. Tuổi trẻ ngày nay phải sống có mục đích, có lý tưởng – nhất là phải có lòng yêu nước. Phải học tập lòng dũng cảm, đức hi sinh, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ khi tổ quốc kêu gọi. Xin được mượn mấy lời ca trong bài hát Tự Nguyện thay cho lời kết: “Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng- Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương- Nếu là mây tôi sẽ là một vầng mây ấm- Nếu là người tôi xin chết cho quê hương”

    67. Đoạn văn bàn về Tình Bạn

    Tình bạn là mối quan hệ không thể thiếu trong đời sống của tất cả chúng ta. Vậy tình bạn là gì? Thiếu nó, cuộc sống của ta sẽ ra sao? Trong cuộc đời mỗi chúng ta ai cũng có những tình bạn, đó là sự gắn bó giữa hai hoặc nhiều người trên cơ sở tương đồng về sở thích, tính cách hay lí tưởng. Một tình bạn trở nên đẹp đẽ và cao quý khi ta dành cho đối phương sự tôn trọng, đồng cảm và sẻ chia; không quản ngại hi sinh, vất vả để giúp đỡ lẫn nhau. Giữa dòng đời với biết bao bon chen, xô đẩy, có được một tình bạn chân thành là điều vô cùng may mắn. Bởi đó là niềm vui, là chỗ dựa lớn

    lao đem đến cho ta sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Đồng thời, “học thầy không tày học bạn”, từ họ ta có thể nhìn ra thiếu sót của bản thân, từ đó mà phấn đấu, nỗ lực để hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, không phải ai cũng tìm được cho riêng mình những người tri âm tri kỉ như Lưu Bình – Dương Lễ, Bá Nha – Tử Kì hay Nguyễn Khuyến – Dương Khuê… Một chút tham lam ích kỉ hay ghen ghét đố kị cũng có thể khiến người gọi là “bạn” kia lợi dụng hay phản bội hòng trục lợi từ ta. Thêm nữa, là bạn tốt không đồng nghĩa với việc bao che, đồng tình với những hành động sai trái của đối phương mà phải mạnh dạn thẳng thắn giúp bạn nhận ra sai lầm và quay lại với con đường đúng đắn. Vì vậy, tất cả chúng ta cần đối xử với những người bạn của mình bằng tất cả sự chân thành và không ngừng giúp đỡ nhau vươn lên trong cuộc sống. Bởi đúng như Ralph Waldo Emerson từng nói: “Cách duy nhất để có một người bạn là hãy làm một người bạn.

    68. Đoạn văn ngắn bàn về Tiết Kiệm

    Tiết kiệm là đức tính cần có của tất cả chúng ta. Vậy bản chất của tiết kiệm là gì? Tại sao nó lại quan trọng với con người đến vậy? Tiết kiệm là sử dụng hợp lí, không lãng phí hay bừa bãi các giá trị vật chất. Ai cũng hiểu tài nguyên trên Trái Đất không gì là vô tận. Nước, than, dầu mỏ, khí đốt…, dẫu có nhiều đến đâu mà không được sử dụng đúng cách chắc chắn sẽ sớm cạn kiệt. Tương tự, khả năng tích lũy của con người cũng là có hạn. Nếu không có dự tính lâu dài, ăn tiêu phung phí, chẳng mấy chốc ta sẽ rơi vào nghèo túng nợ nần. Bởi vậy, có thể khẳng định, tiết kiệm chính là nền tảng đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, bền vững của mỗi cá nhân nói riêng cũng như xã hội nói chung. Vậy nhưng, ngày nay, vẫn còn không ít kẻ sử dụng phung phí, thậm chí là tận thu tận diệt sản vật tự nhiên, không có ý thức giữ gìn, nâng niu tài sản chung của bản thân và nhân loại. Đồng thời, cũng có những người lầm lẫn giữa tiết kiệm với ki bo, bủn xỉn, không biết cách cho đi dù chỉ một đồng. Là thế hệ trẻ nắm giữ tương lai của đất nước, chúng ta cần nói không với các hiện tượng tiêu cực này và bắt đầu thực hành tiết kiệm từ những điều nhỏ nhất: tắt đèn khi ra khỏi phòng, vặn vòi nước thật chặt nếu không sử dụng… Bởi đúng như Benjamin Frankmin đã nói: “Hãy cẩn thận với những chi phí nhỏ. Một lỗ ròbé có thể làm đắm cả con tàu.”

    69. Lối sống “ảo” ở một bộ phận giới trẻ

    Hiện nay, lối sống “ảo” ở một bộ phận giới trẻ đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội.

    Vậy, “sống ảo” là gì? Nó có tác động như thế nào tới cuộc sống của chúng ta? Theo tôi, đó là lối

    sống quá phụ thuộc vào mạng xã hội, thiếu đi sự liên lệ cần có với cuộc sống thực tại. Lối sống này

    đã và đang để lại rất nhiều hệ lụy cho một bộ phận thanh thiếu niên. Trước hết, dành quá nhiều thời

    gian lang thang trên mạng sẽ khiến ta thiếu đi cơ hội học tập, giao tiếp trực tiếp với những người xung quanh cũng như gây ra các vấn đề về thể chất: cận thị, cong vẹo cột sống… Đồng thời, đắm mình trong một thế giới mà mọi thứ đưa lên đều được chỉnh sửa kĩ lưỡng và đầy hào nhoáng, ta sẽ dễ cảm thấy ghen tị và rơi vào trạng thái tự ti, bất hạnh. Đó là chưa kể đến một số bị ám ảnh bởi những nút “like”, những lời khen sáo rỗng trên mạng xã hội để rồi dùng đủ mọi chiêu trò để thu hút sự chú ý. Chẳng hạn, cách đây không lâu, dư luận từng xôn xao trước sự việc một nam thanh niên nhảy cầu Tân Hóa sau khi nhận được 40 nghìn lượt thích hay một người khác tự thiêu khi có được điều tương tự. Đây đều là những hành động mù quáng, gây tổn hại cho bản thân cũng như tác động tiêu cực tới xã hội. Bởi vậy, tất cả chúng ta cần nghiêm túc lên án những hiện tượng này, cẩn trọng khi ấn từng nút “like”, từng lời bình luận và trân trọng hơn những giá trị đích thực của cuộc sống. Mạng xã hội là con dao hai lưỡi. Hãy sử dụng một cách thông minh và chắc chắn nó sẽ đem lại cho bạn nhiều lợi ích.

    70. Cách mạng công nghiệp 4.0

    Thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với cả cơ hội và thách thức, đòi hỏi thế hệ trẻ phải có những thay đổi phù hợp để có thể thích ứng và thành công. Như chúng ta đã biết, trong lịch sử, nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp, đem tới sự thay đổi toàn diện cho cuộc sống của con người. Không phải ngoại lệ, cuộc cách mạng 4.0 với nền tảng là công nghệ vạn vật kết nối, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, được dự đoán sẽ tạo ra một bộ mặt hoàn toàn mới cho thế giới. Những công việc năng nhọc và không đòi hỏi tính sáng tạo sẽ được thay thế bằng rô bốt, Internet với tốc độ siêu nhanh và phủ sóng khắp mọi nơi cũng thay đổi cách ta làm việc và giao tiếp. Đồng thời, những cỗ máy với khả năng tính toán, xử lí siêu việt sẽ xuất hiện nhiều hơn tại các cơ quan, viện nghiên cứu, đe dọa trực tiếp tới việc làm của hàng triệu lao động. Viễn cảnh ấy không hề xa vời bởi mới đây, Google đã tạo ra một phần mềm có thể giành chiến thắng tuyệt đối trước nhà vô địch cờ vây thế giới, một công ti tại Nhật Bản đang bắt đầu thử nghiệm rô bốt thay cho nhân viên văn phòng và ô tô tự hành cũng xuất hiện ngày càng nhiều trên đường phố…

    Đối mặt với thực tế này, ta – những chủ nhân tương lai của đất nước – cần phải làm gì? Câu trả lời rất đơn giản: tất cả chúng ta cần nghiêm túc học tập, trau dồi tri thức, phát triển khả năng sáng tạo, tư duy khoa học của bản thân. Bởi giờ đây, cơ hội được chia đều cho tất cả. Tiến bước thật mạnh mẽ và tiếp nhận thành quả văn minh nhân loại hay mãi mãi tụt lại phía sau, câu trả lời phụ thuộc hoàn toàn vào sự nỗ lực của bạn.

     

  • Văn Mẫu Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Văn Mẫu Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Văn Mẫu Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề thi kết thúc môn Thực hành nghiệp vụ ngân hàng thương mại


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng biết rằng tuổi trẻ là một thành phần, yếu tố quan trọng , ảnh hưởng đến tương lai đất nước, vì thế mà Bác đã căn dặn:

    “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt nam có bước đến đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em”. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước.

    Tuổi trẻ là những công dân ở lứa thành niên, thanh niên… là thế hệ măng đã sắp thành tre, là người đã đủ điều kiện, đủ ý thức để nhận biết vai trò của mình đối với bản thân, xã hội.

    Tuổi trẻ của mỗi thời đại là niềm tự hào dân tộc, là lớp người tiên phong trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước.

    Tương lai đất nước là vận mệnh, là số phận của đất nước mà mỗi công dân sẽ góp phần xây dựng, phát triển, trong đó quan trọng nhất là thế hệ trẻ. Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá kinh tế, đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì đòi hỏi sự chung sức đồng lòng của tất cả mọi người mà lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ. Bởi đó là lực lượng nồng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho non sông Tổ quốc. Tuổi trẻ hôm nay là tôi, là bạn, là những anh chị đang có mặt trên giảng đường đại học,đang hoạt động bằng cả tâm huyết để cống hiến sức trẻ với những đam mê cùng lòng nhiệt tình bốc lửa. Tuổi trẻ tốt thì xã hội tốt, còn xã hội tốt sẽ tạo điều kiện cho tầng lớp trẻ phát triển toàn diện, sinh ra những người con có ích cho đất nước, đó là điều tất yếu, hiển nhiên mà ai cũng biết.

    Mỗi người chúng ta cũng đi qua thời tuổi trẻ- tuổi của sức mạnh phi thường, của cái tuổi không chịu khuất phục trước khó khăn và sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Sức mạnh vô sông của tuổi trẻ “ sông kia phải chuyển, núi kia phải dời”. Chúng ta chỉ có một lần trong đời là tuổi trẻ vì vậy cần phải nắm bắt, cần đóng góp sức lực cho đất nước.

    Việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của mọi người, mọi công dân chứ không phải của riêng ai. Nhưng với số lượng đông đảo hàng chục triệu người thì lẽ nào tuổi trẻ lại không thể xây dựng đất nước. Chẳng lẽ chúng ta để cho những cụ già đi khuân vác, lao động nặng, những phụ nữ phải ngày đêm làm việc trong các nhà xưởng đầy khói bụi, những trẻ em phải phụ giúp gia đình ngay còn nhỏ mà “quên” đi việc học hành, lúc đó chúng ta sẽ “làm” gì? Chẳng lẽ ngồi không như một “người bị liệt”. Vì vậy chúng ta phải cố gắng xây dựng đất nứơc như lời dặn của Bác: “ Các vua Hùng đã có công dựng nước, thì Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

    Sinh ra ở đời ai cũng khao khát được sống hạnh phúc, sung sướng. Mỗi người luôn tìm cho mình một lẽ sống hay nói đúng hơn là lý tưởng sống. Là chủ nhân tương lai thì chúng ta phải xác định cho mình lý tưởng sống phù hợp, đúng đắn. Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá như hiện nay thì tuổi trẻ chúng ta lại đứng trước một câu hỏi lớn : “ Sống như thế nào là đúng đắn là có ích cho xã hội?” Vì lý tưởng sống của chúng ta là động lực thúc đẩy đất nước phát triển.

    Và thời nào cũng vậy, thế hệ trẻ luôn là lực lượng tiên phong, xong pha vào những nơi gian khổ mà không ngại khó.Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong thời kì kháng chiến. Những người con đất nước như: Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám… đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc.Đây là những thanh niên của hơn 40 năm trước còn lớp thanh niên ngày nay thì sao?

    Vâng. Cách bạn ạ! Chúng ta nên biết một điều: những thế hệ trước đã dâng hiến xương máu để ngày sau độc lập thì chúng ta phải biết “ cùng nhau giữ nước” và nối tiếp , kế thừa truyền thống cao đẹp đó. Và một điều quan trọng là các bạn đừng nghĩ đó là nghĩa vụ để rồi miễn cưỡng thực hiện. Chúng ta phải hiểu rằng: được sinh ra là một hạnh phúc và sống tự do, no đủ là một món quà quý báu, vô giá mà quê hương xã hội đã ban tặng. Hạnh phúc không tự nhiên mà có mà đó xương máu, tâm huyết của biết bao người con của đất nước.Mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh lịch sử mà thanh niên nuôi dưỡng những ước vọng, suy nghĩ riêng. Chúng ta không được bác bỏ, phũ nhận quá khứ hay công sức của những anh hùng dân tộc. Đơn giản là vì mỗi thế hệ đều có sứ mệnh riêng, nhận thức riêng mà chúng ta không nên so bì, tính toán. Vì vậy: “Không có chuyện lớp trẻ ngày nay quay lưng với quá khứ” (như tổng bí thư Đỗ Mười nói)

    Nhưng tuổi trẻ chúng ta có điều kiện gì để xây dựng đất nước? Vâng, đó chính là học tập. Nói đến tuổi trẻ hôm nay là nói đến việc học hành.. Trong cuộc sống ta gặp không ít trường hợp xem việc học là việc khổ sai chỉ do cha mẹ, thầy cô thúc ép, chứ không ham học. Họ xem đi học như một hình thúc giải khuây cho vui nên không cần học tập, coi học học tập là một nỗi nhọc nhằn.Có người lại coi việc học là để ứng phó với đời, để không xấu hổ với mọi người, để có “bằng cấp” mà hãnh diện với đời, dù đó chỉ là “hàng giả” mà thực lực không làm được.Chúng chẳng những không đưa nước ta “sánh kịp với cường quốc năm châu” mà còn đưa nước ta về lạc hậu, lụn bại. Cách duy nhất là phải học chân chính, học bằng khả năng của mình.Bước vào thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì ai nắm được tri thức thì mới có thể xây dựng đất nước, lèo lái chiếc thuyền số phận của non sông Tổ quốc.Và nhiệm vụ của chúng ta phải học, học nũa, học mãi. Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để chúng ta dễ dàng tiếp cận tri thức thì tương lai dân tộc

    mới sáng lạn, lấp lánh hào quang.

    Tóm lại, tuổi trẻ là người sẽ quyết định tương lai đất nước sau này.Tuổi trẻ nước ta đầy rẫy nhân tài sẽ góp phần cho dáng hình sứ sở. Ngay từ hôm nay, tôi, bạn và tất cả mọi người phải cố gắng học tập để sau này có thể giúp nước ta tiến nhanh trên con đường xây dựng và phát triển nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

    * Chú ý:

    -Trong bài còn nhiều chỗ thiếu sót, trùng lấp cần lựa chọn cho phù hợp

    -Nhấn mạnh mối quan hệ tương tác của tuổi trẻ và tương lai ( tuổi tẻ tốt thì xã hội tốt, xã hội tốt tạo điều kiện cho tuổi trẻ phát triển toàn diện) -Thêm 1 số ý sáng tạo

    + Định hướng phát triển của giới trẻ là phải học

    +Làm thế nào để thật sự giúp ích cho đất nước, là người hữu dụng +Nhận đinh về từng phương diện ( học tập, lao động, kinh tế, điện ảnh, an ninh- quốc phòng …)

    Dựa theo văn bản “Chiếu dời đô” & “Hịch tướng sĩ” nêu vai trò người

    lãnh đạo.

    Đất nước ta có những triều đại vững bền và phát triển, là nhờ vị vua như Lý Công uẩn nười đã sáng lập ra vương triều nhà Lý và tướng Trần Quốc Tuấn, vị tướng tài giỏi hai lần chỉ huy nhân dân ta chiến thắng quân Mông Nguyên. Vì vậy văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ” đã nói lên vai trò quan trọng của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công Uẩn và Trần Quốc

    Tuấn đối với vận mệnh đất nước

    Vậy thế nào là vị lãnh đạo anh minh? Vị lãnh đạo anh minh là những vị vua, vị tướng yêu nước thương dân, hết lòng chăm lo cho vận mệnh đất nước, cuộc sống của muôn dân, những vị vua, vị tướng thông minh tài gỏi, nhìn xa trông rông, có tài lãnh đạo, điều binh khiển tướng.

    Lý Công Uẩn là vị vua anh minh vì ông là vị vua yêu nước thương dân.

    Sau khi lên ngôi vua, việc đâu tiên mà ông nghĩ đến là việc dời đô. Vì theo sử sách nhà Chu, nhà Thương, vhua Bàn canh nhiều vần dời đô cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Đó chính là việc làm của vị vua yêu nước thương dân.

    Khi nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, không dời đô cho nên triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ hao tốn, điều đó đã khiến Lý Công uẩn rất đau xót. Đó là tấm lòng yêu nước của Lý Công Uẩn, đau xót trước vận mệnh ngắn ngủi của những triều đại đã qua.

    Lý Công Uẩn là vị vua anh minh vì ông là một vị vua thông minh tài giỏi.

    Ông thông minh tài hỏi nên ông có thể xìn thấy được thành Đại La hội đủ yếu tố, xứng đáng một kinh đô bậc nhất, đế vương muôn đời. Thành Đại La

    • vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng nơi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà bằng phẳng đất cao mà tháng…. Quả là Lý Công Uẩn có cái nhìn thật sáng suốt.

    Ông thông minh tài giỏi nên ông được tôn lên làm vua, ông là người sáng lập nên vương triều nhà Lí.

    Trần Quốc Tuấn là vị tướng anh minh vì ông là vị tướng yêu nước thương nhân.

    Khi bọn giặc sang xâm lược, cướp bóc, bắt nạt tể phụ, ông vô cùng căm ghét, ông quyết tâm giết giặc:”Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm nằm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước bắt đầm đìa, chỉ tước chưa được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thì. Dẫu cho trâmthan6 này phơi ngoài nội cỏ, ngìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng.”

    Trần Quốc Tuấn là vị tướng giỏi nên ông nêu ra những tấm gương trung thần nghĩa sĩ để khúc lệ tướng sĩ xả thân vì nước.

    Sự tài giỏi của ông thể hiện ở khi ông nhìn thấy và phân tích cho tướng sĩ thấy lối sống sai hưởng thụ của các tướng sĩ sẽ dẫn đến mất nước, để tướng sĩ từ và và theo ông học binh thư yếu lược và rèn luyện võ nghệ, chiến thắng kẻ thù xâm lược.

    Qua hai văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ” đã nêu lên vai trò quan trọng của những người lãnh đạp anh minh như Lý Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn. Họ là những vị vua, vị tướng đánh kính, đáng tự hào.

     

  • Văn Mẫu Phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản Tuyên ngôn độc lập

    Văn Mẫu Phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản Tuyên ngôn độc lập

    Văn Mẫu Phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản Tuyên ngôn độc lập

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Phong-c%C3%A1ch-ngh%E1%BB%87-thu%E1%BA%ADt-trong-v%C4%83n-ch%C3%ADnh-lu%E1%BA%ADn-c%E1%BB%A7a-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-qua-b%E1%BA%A3n-Tuy%C3%AAn-ng%C3%B4n-%C4%91%E1%BB%99c-l%E1%BA%ADp.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản Tuyên ngôn độc lập

    Phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản Tuyên ngôn độc lập

     

    Phân tích giá trị lịch sử của Tuyên ngôn độc lập. Nêu một vài cảm nhận của anh (chị) về phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản Tuyên ngôn độc lập này.

    BÀI LÀM

    19.8.1945 chính quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân ta. 23.8 tại Huế, trước 15 vạn đồng bào ta, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Ngày 15.7, hơn 80 vạn đồng bào Sài Gòn, Chợ Lớn quật khởi đứng lên giành chính quyền. Chỉ không đầy mười ngày, Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ. Chế độ thực dân kéo dài 80 năm cùng với chế độ phong kiến hàng ngàn năm sụp đổ tan tành.

    Ngày 2.9.1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới Độc lập. Dự do. Hà Nội tưng bừng màu đỏ, cả một vùng

    trời bát ngát cờ, đèn và hoa.

    Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Hồ Chủ tịch dừng lại và hỏi: “Tôi nói đồng bao nghe rõ không?” Tức thì một tiếng “có” của một triệu con người cùng đáp, vang dậy như sấm.

    “Việt Nam độc lập muôn năm”. Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hòa làm một, vang dội núi sông, khi Hồ Chí Minh vừa kết thúc bản Tuyên ngôn:

    “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

    Có thể nói: bản Tuyên ngôn độc lập thể hiện một cách hùng hồn, khát vọng ý chí và sức mạnh Việt Nam. Nó có một giá trị lịch sử vô cùng to lớn. Nó phản ánh một cách tập trung nhất, tiêu biểu nhất phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh.

    Nếu như Nam Quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt mở đầu bằng một lời tuyên ngôn đanh thép: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, Bình ngô đại cáo khẳng định một chân lý lịch sử: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”, thì Tuyên ngôn Độc lập lại mở đầu bằng

    cách trích dẫn hai câu nổi tiếng trong hai bản “Tuyên ngôn” nổi tiếng thế giới.

    Câu thứ nhất trích dẫn từ bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776:

    “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ

    những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc”.

    Câu thứ hai rút từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791.

    Hồ Chí Minh không chỉ trích dẫn mà còn bình luận, suy rộng ra” “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và tự do”, và đi tới khẳng định: “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.” Qua đó, ta thấy lý tưởng cao cả, sâu sắc của Hồ Chí Minh là từ sự xác nhận và đề cao một lý tưởng thời đại về tự do, bình đẳng, bác ái, về nhân quyền đi đến một yêu cầu, một khát vọng cháy bỏng và vô cùng thiêng liêng của nhân dân Việt Nam và độc lập dân tộc. Và “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” là mục tiêu chiến đấu của nhân dân ta, của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Ngoài ra, việc trích dẫn ấy còn là để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ rộng lớn của dư luận tiến bộ trên thế giới nhất là đối với các cường quốc năm châu. Như vậy, khi ta nói đến giá trị lịch sử của Tuyên ngôn độc lập trước hết phải nói đến dụng ý chiến lược và chiến thuật của việc trích dẫn hai câu nổi tiếng trong hai bản “Tuyên ngôn” của Mỹ và Pháp.

    Giọng văn từ trang nghiêm, trang trọng chuyển thành hùng hồn, căm giận khi Hồ Chủ tịch vạch trần và lên án tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta trong gần một thế kỷ qua. Bộ mặt của chúng vô cùng xảo quyệt và dã man “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bao ta”. Tác giả đã điểm qua một cách khái quát và điển hình tội ác của thực dân Pháp trên các lĩnh vực về chính trị, kinh tế vf những tội ác khác chồng chất như núi. Đó là năm tội ác ghê tởm về chính trị và bốn tội ác cực kỳ dã man về kinh tế của chúng.

    Năm tội ác lớn về chính trị đó là tước đoạt quyền tự do dân chủ, luật pháp dã man, chia để trị, đàn áp khủng bố, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc bằng rượu cồn và thuốc phiện “để làm cho nòi giống ta suy nhược”. Trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi đã nói về tội ác của quân “cuồng Minh”: “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn – Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Hơn 500 năm sau, trong Tuyên ngôn Độc lập, người hanh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh viết:

    “Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết

    những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.”

    Đó là những bằng chứng không ai chối cãi được. Câu văn ngắn, đanh thép, hùng hồn. Chữ “chúng” được nhắc lại nhiều lần đầy ám ảnh. Cách so sánh của thể, mỉa mai (lập ra nhà tù nhiều hơn trường học). Cách dùng vị ngữ, trạng ngữ xác đáng (thẳng tay chém giết), cách dùng hình ảnh (bể máu) – tất cả tạo nên phong cách chính luận Hồ Chí Minh: súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn đầy sức thuyết phục.

    Bốn tộ lác về kinh tế của thực dân Pháp là bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho “dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”; cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu, độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng…Lên án chính sách sưu thuế vô nhân đạo của chúng, tác giả căm giận viết: “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.” Hàng trăm thứ thuế vô lý ấy của thực dân Pháp đặt ra, nhân dân ta đã từng chịu đựng và ghê tởm:

    Các hạng thuế, các làng tăng mãi,

    Hết đinh điền rồi lại trâu bò,

    Thuế diêm, thuế rượu, thuế đò, thuế xe

    Thuế sản vật, thuế chè, thuế thuốc

     

    Thuế môn bài, thuế nước thuế đèn

    Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền

    Thuế bà tre gỗ, thuế thuyền bán buôn,

    Thuế đến cả phân sơn đường phố,

    Thuế những anh thuốc lọ gầy mòn.

    Thuế gò, thuế bãi, thuế cồn

    Thuế người chức sắc, thuế cơn hát đàn,

    Thuế dầu, mật, thuế sơn mọi lối,

    Thuế gạo, rau, thuế muối, thuế bông,

    Thuế tơ, thuế sắt, thuế đồng

    Thuế chim, thuế cá, khắp trong lưỡng kỳ

    Các hạng thuế kể chi cho xiết

    Thuế xia kia mới thiệt lạ lùng!…

    Làm cho thập thất cửu không,

    Làm cho đau đớn khốn cùng không thôi!…

    (Đề tỉnh quốc dân ca 1906) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt hèn nhát và phản bội của thực dân Pháp. Mùa thu năm 1940, thực dân Pháp “quỳ gối đầu hàng, mở của nước ta, rước Nhật”. Pháp và Nhật đã câu kết với nhau, bóc lột dân ta thậm tệ, gây ra thảm họa Ất Dậu 1945: “Từ ddos, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, dân ta sống cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói!”.

    Sự hèn hạ, tanf ác của thực dân Pháp không thể nào kể xiết!. Ngày

    9.3.1945 Nhật đảo chính Pháp “quân Pháp bỏ chạy hoặc đầu hàng”. Tác giả châm biếm lên án: “Chúng chẳng những không “bảo hộ” được ta, trái lại trong năm năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật!”. Thậm tệ và tàn nhẫn hơn nữa là trước khi rút chạy “chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.

    Bằng cách lập luận chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một sự thật lịch sử: Từ năm 1940 trở đi, nước ta đã trở thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải của Pháp nữa. Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Để đập tan luận điệu của Đờ Gôn và bọn thực dân phản động Pháp đang âm mưu “tái chiếm” Đông Dương, Hồ Chí Minh hùng hồn tuyên bố: “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”. Tuyên ngôn Độc lập có giá trị lịch sử to lớn. Tác giả chỉ rõ một cục diện chí trị mới: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Từ nô lệ, nhân dân ta đã giành được độc lập: Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”. Một chế độ mới, một nhà nước mới ra đời: “Dân ta đã đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.

    Phần tiếp theo là một lời tuyên bố sáng ngời chính nghĩa, thể hiện một

    quyết tâm sắt thép, không có một thế lực thù địch nào có thể lay chuyển nổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưng trên lập trường dân tộc kêu gọi các nước Đồng Minh “công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam”. Đồng thời mạnh mẽ tuyên bố: “thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam, xóa bỏ tất cả những đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Tác giả tự hào nêu cao truyền thống anh hùng, bất khuất chống thực dân và chống phát xít của dân tộc ta và khẳng định: “Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”

    Kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập là một lời tuyên bố mang ý nghĩa lịch sử như một lời thề thiêng liêng, thể hiện sâu sắc khát vọng được độc lập, tự do của nhân dân ta, biểu thị quyết tâm và sức mạnh Việt Nam:

    “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

    Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện một cách cao đẹp và sáng tỏ phong cách

    chính luận của Hồ Chí Minh. Bác viết văn làm thơ để phục vụ cách

    mạng. Trước lúc cầm bút, Người tự hỏi: “Viết nhằm mục đích gì? Viết

    cho ai? Viết về vấn đề gì? Viết như thế nào?”. Tuyên ngôn Độc lập

    không chỉ nói với nhân dân Việt Nam mà còn để nói với thế giới, đặc biệt là bọn đế quốc, thực dân đang âm mưu tái chiếm Việt Nam. Mọi lý lẽ, luận cứ đều tập trung hướng về đối tượng ấy và khẳng định quyền độc lập, tự do của nhân dân ta.

    Những luận cứ được Hồ Chủ tịch nêu lên trong bản Tuyên ngôn Độc lập

    là những bằng chứng không thể chối cãi được. Chỉ một lời vạch tội, một

    mũi tên mà bắn trúng hai đích: “Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường

    học”. Đó chính là chính sách đàn áp khủng bố và ngu dân của thực dân

    Pháp.

    Lối viết ngắn gọn, hàm súc, đầy thuyết phục. Chỉ một câu chín từ mà

    nêu bật một cục diện chính trị: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại

    thoái vị”. Cách dùng từ ngữ của Bác rất chính xác và gợi cảm. Văn

    chính luận, bản chất của nó là lý lẽ và cách lập luận. Thế nhưng có lúc

    xuất hiện những hình ảnh đầy xúc động “chúng tắm các cuộc khởi nghĩa

    của chúng ta trong những bể máu”; cách dùng từ ngữ, nhất là động từ,

    trạng từ vừa chính xác vừa đanh thép: “thẳng tay chém giết…”, “thoát ly

    hẳn…” “xóa bỏ hết”…”xóa bỏ tất cả…”. Văn phong của Bác rất nhuần

    nhị, uyển chuyển trong cách sử dụng điệp từ, điệp ngữ, cấu trúc cân

    xứng, trùng điệp, tăng cấp…tạo nên những câu văn đẹp, ý tưởng sâu sắc,

    đầy ấn tượng: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80

    năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít

    mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!.”

    Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập vào hạ tuần tháng 8-1945 tại căn nhà số 48 phố Hàng ngang – Hà Nội, ngay sau ngày Người từ chiến khu Việt Bắc trở về với thủ đô (26-8-1945). Hồ Chí Minh đã có lần nói, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chỉ có lúc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập là “những giờ phút sảng khoái nhất của Người”.

    Tuyên ngôn Độc lập đã kế thừa và phát triển bài thơ Thần của Lý

    Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, nó là bản anh hùng ca

    của thời đại Hồ Chí Minh. Nó nói lên khát vọng độc lập, tự do của dân

    tọc Việt Nam anh hùng. Với giá trị lịch sử to lớn, lập luận chặt chẽ, sắc

    bén, đanh thép, hùng hồn, bản Tuyên ngôn Độc lập là một nét chói lọi

    góp phần làm rạng rỡ nên văn hiến Việt Nam. Trong cuốn hồi ký

    “Những năm tháng không thể nào quên” Đại tướng Võ Nguyên Giáp có

    viết:

    “Bản án chế độ thực dân Pháp đã có từ 30 năm trước đây. Nhưng hôm nay mới chính là ngày thực dân Pháp bị đưa ra cho toàn nhân dân Việt Nam công khai xét xử. Lịch sử đã sang trang. Một kỷ nguyên mới bắt đầu: kỷ nguyên Độc lập, Tự do, Hạnh phúc…cả dân tộc đã hồi sinh. Vo vàn khó khăn còn ở phía trước mắt. Nhưng đối với bọn đế quốc, muốn phục hồi lại thiên đàng đã mất, mọi việc không còn dễ dàng như xưa.”

     

    Tuyên ngôn Độc lập là thành quả chiến đấu hơn 80 năm của dân tộc ta, là sự kết tinh bằng máu của hàng triệu người Việt Nam.

    Tự do đã nở hoa hồng

    Trong dòng máu đỏ, trên đồng Việt Nam


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

    Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

    Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-b%C3%A0i-th%C6%A1-Vi%E1%BB%87t-B%E1%BA%AFc-c%E1%BB%A7a-T%E1%BB%91-H%E1%BB%AFu.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

    Phân tích đầy đủ bài Việt Bắc của Tố Hữu

    VIỆT BẮC

    Giới thiệu: Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, quê hương cách mạng đầu tiên của Việt Nam, gồm các tỉnh Cao – Bắc – Lạng – Thái – Tuyên – Hà, nơi gắn bó tình nghĩa keo sơn của TW Đảng và chính phủ thời kì kháng chiến chống Pháp.

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    7.1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, miềnBắc hoàn toàn giải phóng.

    Tháng 10/1954, TW Đảng và Chính phủ rời VB trở về HN. Nhân sự kiện ấy TH sáng tác bài Việt Bắc.

    Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần hai gợi viễn cảnh tươi sáng, ca ngợi công ơn của Đảng của Bác Hồ.

    SGK trích học phần đầu.

    Bài thơ được kết cấu theo lối đối đáp trong ca dao trữ tình truyền thống.

    PHÂN TÍCH

    1. Hai mươi câu đầu

    Phân tích đoạn thơ trích trong Việt Bắc của Tố Hữu:

    “Mình về mình có nhớ ta (…) Tân trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

    Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:

    “Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng /Mình về mình có nhớ không /Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

    Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ. Cách xưng hô “mình – ta” mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: “Mình về ta chẳng cho về – Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ”. “15 năm” là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh, đồng thời cũng là chi tiết gợi cảm – nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn. Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều – Mười lăm năm bằng thời gian Kim – Kiều xa cách thương nhớ mong đợi hướng về nhau (Những là rày ước mai ao – Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình). Cảm xúc đậm đà chất dân gian, đậm đà chất Kiều. Âm điệu ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm, tình cảm do vậy dạt dào thiết tha. Việt Bắc hỏi về: “Mình về mình có nhớ không – Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”. Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn cách mạng.

    Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về:

    “Tiếng ai tha thiết bên cồn/ Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi /Áo chàm đưa buổi phân li /Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

    “Bâng khuâng, bồn chồn” là hai từ láy gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong… lẫn lộn cùng một lúc. Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau, mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10-1954), biết mang theo điều gì, biết lưu lại hình ảnh nào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bâng khuâng khó tả.

    “Áo chàm đưa buổi phân li” là một ẩn dụ, màu áo chàm, màu áo xanh đen đặc trưng của người miền núi Việt Bắc – tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc qua hình

    ảnh cụ thể “áo chàm”, chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

    Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm – biết nói gì không phải không có điều để giải bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì. Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…

    12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích, là lời tâm tình của Việt Bắc:

    “Mình đi, có nhớ những ngày/ Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù /Mình về, có nhớ chiến khu /Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?/ Mình về, rừng núi nhớ ai/ Trám bùi để rụng măng mai để già/ Mình đi, có nhớ những nhà/ Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son/ Mình về, có nhớ núi non /Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh/ Mình đi, mình có nhớ mình/ Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

    Điệp từ “nhớ” lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở. Hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc. Tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềm thương theo cách:

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

    Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất vả, hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn.

    “Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

    “Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta.

    Cảm xúc thương nhớ xa vắng thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dào dạt:

    “Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già”

    Hình ảnh “Trám bùi để rụng, măng mai để già” gợi nỗi buồn thiếu vắng – “Trám rụng – măng già” không ai thu hái. Nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại.

    Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng. Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền”, đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của người cán bộ chiến sĩ. Xin đừng quên thời kỳ “kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, đừng quên cội nguồn cách mạng, đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng. “Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

    Tóm lại, đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc. Đoạn thơ trên tiêu biểu sắc thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang đậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến con người và cuộc sống kháng chiến. Thông qua hình tượng Việt Bắc, tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao đẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc.

    2. Đoạn 2: Tâm tình người ra đi

    Khẳng định ân tình sắt son như nhất (4 câu đầu)

    Ta với mình, mình với ta

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

    Mình đi mình lại nhớ mình

    Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.

    • Ta với mình/mình với ta”: ngắt nhịp 3/3, mình – ta lặp lại xoắn xúyt > quấn quýt, gắn bó, không thể chia cắt > Vận dụng sáng tạo ca dao (Mình với ta tuy hai mà một/ Ta với mình tuy một mà hai) > mượn tình cảm lứa đôi để diễn tả tình cảm cách mạng khăng khít bền chặt.
    • Khẳng định: lòng ta – sau trước – mặn mà- đinh ninh > nhịp 2/2/2/2, kết hợp với 2 từ láy> là lời khẳng định chắc nịch
    • Mình đi mình lại nhớ mình:
    • Chữ “lại”: thanh trắc ở âm vực trầm nhất > câu trả lời vừa là lời khẳng định, vừa là một nguyện thề thiêng liêng với người ở lại, với chính mình.
    • Gắn với câu hỏi “Mình đi mình có nhớ mình” > Sự vận dụng sáng tạo cấu trúc ca dao (Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền): không chỉ có một vế đơn độc- vế hỏi vừa như nêu băn khoăn, vừa khẳng

    định lòng thuỷ chung của bến đợi mà còn có vế đáp để nói rõ sự chung thuỷ sắt son của người ra đi.

    • Cách so sánh, cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu diễn tả được nghĩa tình cách mạng là vô hạn tận, như suối nguồn không bao giờ vơi cạn > khẳng định lòng thủy chung son sắt với cách mạng, với quê hương kháng chiến của người cán bộ vê xuôi.

    Hiện thực Việt Bắc trong hồi tưởng:

    -Khái quát: Sau khi khẳng định tấm lòng trước sau như nhất, người ra đi nhớ về một Việt Bắc ắp đầy kỉ niệm. Hình ảnh chiến khu càng sống động bao nhiêu càng cho thấy nỗi nhớ, tình cảm kẻ đi với người ở tươi mới bấy nhiêu. Cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến lần lượt hiện hình nổi sắc.

    Nhớ gì như nhớ người yêu

    ………………

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa

    • Nhớ cảnh Việt Bắc thanh bình: Nhớ gì như nhớ người yêu

    Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

    Nhớ từng bản khói cùng sương

    Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

    Nhớ từng rừng nứa bờ tre

    Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

    • Hình ảnh so sánh như nhớ người yêu thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm. Cách so sánh này mới lạ sáng tạo, chỉ với “như nhớ người yêu” mà

    người đọc có thể thấy hết được tình cảm của người ra đi.

    • Hình ảnh gợi cảm đầy thi vị :bản khói cùng sương, bếp lửa, trăng lên đầu núi, rừng nứa bờ tre, Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê … gợi nhớ những nét nhớ nhung tưởng như nhẹ nhàng mà lại hóa tha thiết, mãnh liệt.
    • Nhớ những ngày khó khăn gian khổ nhưng đậm đà tình nghĩa: Ta đi ta nhớ những ngày

    Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

    Thương nhau chia củ sắn lùi

    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

    Tuy thiếu thốn, gian khổ nhưng cảnh và người Việt Bắc đẹp và tình nghĩa chan hòa:

    Hình ảnh tượng trưng: “Chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa “chia, sẻ, cùng” diễn tả được mối tình cảm “chia ngọt sẻ bùi” giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng. Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong “củ sắn”, “bát cơm”, “chăn sui”… mà người cán bộ cách mạng đã chịu ơn Việt Bắc. Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai cấp.

    • Nhớ người mẹ Việt Bắc: Nhớ người mẹ nắng cháy lưng. Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô

    Hình ảnh chọn lọc: Người mẹ nắng cháy lưng… gợi người đọc liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưu mang chiến sĩ, cán bộ cách mạng. Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi .

    • Nhớ cảnh sinh hoạt cơ quan và những âm thanh quen thuộc: Nhớ sao lớp

    học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

    Đoạn thơ còn dựng lại những khung cảnh quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh hết sức tiêu biểu cho sinh hoạt trong kháng chiến Việt Bắc. Câu thơ đối ý mà nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ, chiến sĩ cách mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khăn :

    “Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”

    Âm thanh “tiếng mõ rừng chiều” và “chày đêm nện cối đều đều suối xa” là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc, phản ánh sinh hoạt yên ả, bình dị nơi núi rừng, gợi nhớ một thời đã qua.

    3. Bức tranh tứ bình của Việt Bắc với bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông.

    • Bức tranh tứ bình: Ta về mình có nhớ ta

    …. Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

    1. Đoạn này được xem là đặc sắc nhất Việt Bắc. 10 câu lục bát thu gọn cả

    sắc màu 4 mùa, cả âm thanh cuộc sống, cả thiên nhiên con người Việt Bắc.

    Ta về mình có nhớ ta

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

    Tố Hữu lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng : hoa – người. Hoa là vẻ đẹp tinh tuý nhất của thiên nhiên, kết tinh từ hương đất sắc trời, tương xứng với con người là hoa của đất. Bởi vậy đoạn thơ được cấu tạo: câu lục nói đến thiên nhiên, câu bát nói tới con người. Nói đến hoa hiển hiện hình người, nói đến người lại lấp lóa bóng hoa. Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau tỏa sáng bức tranh thơ. Bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc.

    1. Trước hết đó là nỗi nhớ mùa đông Việt Bắc – cái mùa đông thuở gặp gỡ ban đầu, đến hôm nay vẫn sáng bừng trong kí ức.

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

    Câu thơ truyền thẳng đến người đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ, trầm tĩnh của rừng già. Cái màu xanh ngằn ngặt đầy sức sống ngay giữa mùa đông tháng giá. Cái màu xanh chứa chất bao sức mạnh bí ẩn “Nơi thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng”. Màu xanh núi rừng Việt Bắc:

    Rừng giăng thành lũy thép dày

    Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

    Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn làm ấm cả không gian, ấm cả lòng người. Hai chữ “đỏ tươi” không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu, mà chứa đựng cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân.

    Có thể thấy cái màu đỏ trong câu thơ Tố Hữu như điểm sáng hội tụ sức mạnh tiềm tàng chốn rừng xanh đại ngàn, lấp lóa một niềm tin rất thật, rất đẹp.

    Trên cái phông nền hùng vĩ và thơ mộng ấy, hình ảnh con người xuất hiện thật vững chãi, tự tin. Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ núi rừng, đứng trên đỉnh trời cùng tỏa sáng với thiên nhiên, “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.

    1. Cùng với sự chuyển mùa (mùa đông sang mùa xuân) là sự chuyển màu trong bức tranh thơ: Màu xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến. Cả không gian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân.

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Trắng cả không gian “trắng rừng”, trắng cả thời gian “ngày xuân”. Hình ảnh này khá quen thuộc trong thơ Tố Hữu, hình ảnh rừng mơ sắc trắng cũng đi vào tr-ờng ca Theo chân Bác gợi tả mùa xuân rất đặc trưng của Việt Bắc:

    Ôi sáng xuân nay xuân 41

    Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

    Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn người ở, thẫn thờ kẻ đi. Người đi không thể không nhớ sắc trắng hoa mơ nơi xuân rừng Việt Bắc, và lại càng không thể không nhớ đến con người Việt Bắc, cần cù uyển chuyển trong vũ điệu nhịp nhàng của công việc lao động thầm lặng mà cần mẫn tài hoa:

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Copyright Phandanhhieu, Bui Thi Xuan high School On thi TN THPT

    Hai chữ “chuốt từng” gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa, dường như bao yêu thương đợi chờ mong ngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nón. Cảnh thì mơ mộng, tình thì đợm nồng. Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân vậy. Tài tình như thế thật hiếm thấy.

    1. Bức tranh thơ thứ 3 chuyển qua rừng phách – một loại cây rất thường gặp
    • Việt Bắc hơn bất cứ nơi đâu. Chọn phách cho cảnh hè là sự lựa chọn đặc sắc, bởi trong rừng phách nghe tiếng ve ran, ngắm sắc phấn vàng giữa những hàng cây cao

    vút, ta như cảm thấy sự hiện diện rõ rệt của mùa hè. Thơ viết mùa hè hay xưa nay hiếm, nên ta càng thêm quí câu thơ của Tố Hữu:

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    • đây có sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: Tiếng ve kêu – ấn tượng của

    thính giác đã đem lại ấn tượng thị giác thật mạnh. Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây: Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh, những nụ hoa còn náu kín trong kẽ lá, khi tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổ bông, đồng loạt tung phấn, cả rừng phách lai láng sắc vàng. Chữ đổ được dùng thật chính xác, tinh tế. Nó vừa gợi sự biến chuyển mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt mưa hoa rừng phách khi có ngọn gió thoảng qua, vừa thể hiện chính xác khoảng khắc hè sang. Tác giả sử dụng nghệ thuật âm thanh để gọi dậy màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian. Bởi vậy cảnh thực mà vô cùng huyền ảo.

    Trên nền cảnh ấy, hình ảnh cô em gái hiện lên xiết bao thơ mộng, lãng mạn: “Cô em gái hái măng một mình” nghe ngọt ngào thân thơng trìu mến. Nhớ về em, là nhớ cả một không gian đầy hương sắc. Người em gái trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng. Vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng ấy còn được tô đậm

    • hai chữ “một mình” nghe cứ xao xuyến lạ, như bộc lộ thầm kín niềm mến

    thương của tác giả. Nhớ về em, nhớ về một mùa hoa…

    1. Khép lại bộ tứ bình là cảnh mùa thu. Đây là cảnh đêm thật phù hợp với khúc hát giao duyên trong thời điểm chia tay giã bạn. Hình ảnh ánh trăng dọi qua kẽ lá dệt lên mặt đất một thảm hoa trăng lung linh huyền ảo.

    Dưới ánh trăng thu, tiếng hát ân tình càng làm cho cảnh thêm ấm áp tình người. Đại từ phiếm chỉ “ai” đã gộp chung người hát đối đáp với mình làm một, tạo một hòa âm tâm hồn đầy bâng khuâng lu luyến giữa kẻ ở, ngời đi, giữa con người và thiên nhiên.

    1. Mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình. Mỗi bức tranh có vẻ đẹp riêng hòa kết bên nhau tạo vẻ đẹp chung. Đó là sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc… Tiếng ve của mùa hè, tiếng hát của đêm thu, màu xanh của rừng già, sắc đỏ của hoa chuối, trắng tinh khôi của rừng mơ, vàng ửng của hoa phách…

    Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên thật bình dị, thơ mộng trong công việc lao động hàng ngày.

    4. Việt Bắc đánh giặc, VB anh hùng

    Phân tích đoạn thơ ” Nhớ khi… Nhị Hà”

    Thiên nhiên VB không chỉ được cảm nhận bởi vẻ đẹp của 4 mùa mà thiên nhiên còn là một nhân tố đắc lực góp phần làm nên cuộc kháng chiến toàn thắng.

    Câu thơ mở đầu gợi lên một bối cảnh chiến tranh tao loạn ” Nhớ khi giặc đến giặc lùng”. “Giặc đến” là thời điểm nguy kịch, “giặc lùng” là cảnh nguy biến, hoảng loạn, tan tác, loạn lạc. Câu thơ làm ta liên tưởng tới cảnh chạy loạn trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

    Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

    Mất tổ đàn chim dáo dác bay

    Hay cảnh tang thương trong thơ Hoàng Cầm:

    Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

    Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

    Ruộng ta khô

    Nhà ta cháy

    Chó ngộ một đàn

    Lưỡi dài lê sắc máu

    Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

    Trước cảnh đau thương ấy rừng núi đã vào cuộc chiến đấu. Với thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, TH đã dựng nên một rừng núi kiêu hùng cùng ta đánh giặc:

    Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn

    Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn

    Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-h%C3%ACnh-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-c%C3%A2y-x%C3%A0-nu-trong-truy%E1%BB%87n-ng%E1%BA%AFn-R%E1%BB%ABng-x%C3%A0-nu-c%E1%BB%A7a-Nguy%E1%BB%85n-Trung-Th%C3%A0nh-nh%E1%BA%ADn-x%C3%A9t-ng%E1%BA%AFn-g%E1%BB%8Dn-v%E1%BB%81-ngh%E1%BB%87-thu%E1%BA%ADt-mi%C3%AAu-t%E1%BA%A3-c%C3%A2y-x%C3%A0-nu-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A0-v%C4%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn

    VĂN MẪU LỚP 12

    ĐỀ BÀI: “PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG CÂY XÀ NU TRONG TRUYỆN NGẮN RỪNG XÀ NU CỦA NGUYỄN TRUNG THÀNH.  NHẬN XÉT NGẮN GỌN VỀ NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ CÂY XÀ NU CỦA NHÀ VĂN”

    BÀI LÀM

    Nguyễn Trung Thành là nhà văn có duyên nợ gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên. Qua hai cuộc kháng chiến cùng vào sinh ra tử với những người dân nơi đây đã cung cấp cho Nguyễn Trung Thành một vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng về mảnh đất âm vang rộn tiếng cồng chiêng trong mùa lễ hội, nơi có những người con trung dũng, kiên cường. Nếu trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trung Thành – bút danh Nguyên Ngọc nổi tiếng cùng “Đất nước đứng lên”; thì trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là những năm 1965 khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam đang diễn ra gay go ác liệt thì Nguyễn Trung Thành cho ra mắt người đọc truyện ngắn “Rừng xà nu”. Tác phẩm này đã là một bản hùng ca, ca ngợi cuộc sống và con người Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh vĩ đại. Và nổi bật hơn cả trong tác phẩm chính là hình tượng cây xà nu.

    Cây xà nu là một hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cây xà nu là một loài cây quen thuộc, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên. “Củi xà nu cháy trong mỗi bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học chữ, đuốc xà nu rọi sáng sân nhà Ưng trong những đêm lễ hội…”. Tất cả mọi hoạt động dù lớn dù nhỏ của người dân Tây Nguyên đều có sự góp mặt của cây xà nu. Sự sống của dân làng Xôman đều gắn liền với những cánh rừng xà nu. Khi Nguyễn Trung Thành viết: “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc, chúng nó bắn đã thành lệ, ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn”, nhà văn đã phản ảnh không khí căng thẳng của thời đại, gợi lên sự đối mặt quyết liệt giữa sự sống và cái chết. Nổi bật trên nền bối cảnh ấy, Nguyễn Trung Thành đã đi sâu miêu tả những đặc điểm nổi bật của câu xà nu. Cũng như bao loài cây khác, cây xà nu là một loài cây ham ánh sáng và khí trời “trong rừng ít có loài cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ đến vậy… ít có loài cây nào ham ánh sáng đến thế” cũng có nghĩa là ham sống, khao khát muốn được vươn lên giữa bầu trời cao rộng.

    Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, cũng như bao cánh rừng khác của Việt Nam, rừng xà nu đã bị tàn phá rất dữ dội “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Tuy vậy, bất chấp mọi sự tàn phá huỷ diệt của chiến tranh, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt “cạnh cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Tư thế vươn lên mạnh mẽ ấy của cây xà nu như để thách thức với bom đạn của chiến tranh “đố chúng nó giết được cây xà nu đất ta”. Sức sống mãnh liệt đã giúp những cánh rừng xà nu vươn lên trong một màu xanh, hiện lên hiên ngang, kiêu dũng như một tráng sĩ “cứ thế hai ba năm sau, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của hình ra che chở cho dân làng Xô man”.

    Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, Nguyễn Trung Thành đã dựng lên thật thành công và rõ nét, ấn tượng về hình tượng cây xà nu. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trung Thành còn đặt hình tượng cây xà nu vào trong quan hệ đối chiếu sóng đôi với con người mảnh đất Tây Nguyên. Nếu cây xà nu là một loại cây ham ánh sáng và khí trời, thì người dân Tây Nguyên yêu tự do, tin vào Đảng, đi theo bước chân cách mạng như muôn cây vẫn hướng vào ánh sáng mặt trời. Nếu cây xà nu bị tàn phá, huỷ diệt bởi đạn bom, khói lửa thì những người dân Tây Nguyên phải chịu bao đau thương mất mát do chính kẻ thù gây ra. Bao nhiêu người bị giặc giết chết như những cây xà nu bị chặt đứt ngang nửa thân mình, bao nhiêu người còn sống mà phải mang trong mình bao nỗi thương đau. Bằng cách miêu tả hình ảnh cây và người trong quan hệ sóng đôi như thế, Nguyễn Trung Thành đã khắc sâu tội ác dã man của kẻ thù để qua đó tác giả giúp ta hình dung rõ hơn những thảm cảnh dân ta phải chịu do bọn giặc gây ra.

    Cũng giống như những cánh rừng quê hương, như những con người Việt Nam vẫn ý thức được rằng:

    “Gươm nào chia được dòng Bến Hải

    Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn

    Căm hờn lại giục căm hờn

    Máu kêu trả máu đầu van trả đầu”

    Các thế hệ nhân dân Tây Nguyên đã thay nhau tiếp nối đứng lên. Ánh sáng của niềm tin “Đảng còn thì núi nước này còn” đã soi đường chỉ lối cho những bước chân đến với cách mạng. Thế hệ này ngã xuống, thế hệ sau tiếp nối đứng lên; anh Sút bà Nhan bị giặc giết, đi thay họ tiếp tế nuôi quân đã có Tnú và Mai. Cứ như  thế, các thế hệ người Tây Nguyên đã thay nhau giữ vững ngọn lửa truyền thống, thay nhau giữ vững ý chí đánh giặc kiên cường, để giữ làng, giữ nước của dân làng Xôman nói riêng và của người Tây Nguyên nói chung.

    Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trung Thành, cây xà nu hiện lên sừng sững, đồng hành với những bước đi, cuộc sống của dân làng Xôman. Gắn bó với cánh rừng anh dũng, kiêu hùng, những người dân Tây Nguyên như được tiếp thêm sức mạnh để đứng lên chiến đấu. Và gắn bó với con người Tây Nguyên ân tình, thuỷ chung, trung dũng như thế. Cây xà nu cũng luôn luôn sánh bước cùng họ để họ có cuộc sống bình yên hơn; để “hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn” chứ không nhằm vào những người dân vô tội lầm than.

    Cây xà nu là hình tượng mang đậm chất lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất, số phận của người dân Tây Nguyên. Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm mang đậm chất sử thi, tính hào hùng, nó làm rõ chủ đề tư tưởng của truyện ngắn “Rừng xà nu”. Để xây dựng một hình tượng xà nu như thế, Nguyễn Trung Thành đã sử dụng những câu văn miêu tả, những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc đặc sắc, cùng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, giọng văn miêu tả trong tác phẩm rất linh hoạt.

    Có đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp hình tượng cây xà nu. Hình tượng này đã góp phần tạo nên một “Rừng xà nu” trọn vẹn, mang đậm giá trị văn học. Nguyễn Trung Thành đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học dân tộc.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐỊA LÝ 12

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐỊA LÝ 12

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐỊA LÝ 12

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 12


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-C%C6%AF%C6%A0NG-%C3%94N-T%E1%BA%ACP-%C4%90%E1%BB%8AA-L%C3%9D-12.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐỊA LÝ 12

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐỊA LÝ 12

    Bài 1: Việt nam trên đường đổi mới và hội nhập

    • Công cuộc đổi mới là một cuộc cải cách toàn diện về kinh tế xã hội Bối cảnh

     

    • Ngày 30 – 4 – 1975: Đất nước thống nhất, cả nước tập trung vào hàn gắn các vết thương chiến tranh và xây dựng, phát triển đất nước.
    • Nước ta đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu.
    • Tình hình trong nước và quốc tế trong những năm cuối thập kỉ 80, đầu thập kỉ 90 diễn biến phức

    tạp. Trong thời gian dài nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng.

    1. Diễn biến
      • Năm 1979: Bắt đầu thực hiện Đổi mới trong một số ngành (nông nghiệp, công nghiệp)
      • Ba xu thế đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986:
        • Dân chủ hoá đời sống kinh tế – xã hội.
        • Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
        • Tăng cường giao lưu và hợp tác với các nước trên thế giới. Thành tựu
          • Nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài. Lạm phát được đẩy lùi và kiềm chế ở mức một con số.

    – Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, (đạt 9,5% năm 1999, 8,4% năm 2005).

    – Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (giảm tỉ trọng khu vực I, tăng tỉ trọng khu vực II và III)

    – Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ củng chuyển dịch rỏ nét (hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng chuyên canh…).

    – Đời sống nhân dân được cải thiện làm giảm tỉ lệ nghèo của cả nước.

    1. Nước ta trong hội nhập quốc tế và khu vực a. Bối cảnh
    • Thế giới: Toàn cầu hoá là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh hợp tác kinh tế thế giới và khu vực.
    • Việt Nam là thành viên của ASEAN (7/1995), bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, thành viên WTO năm 2007.
    1. Thành tựu

     

    • Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng (ODA, FDI)
    • Đẩy mạnh hợp tác kinh tế, khoa học kĩ thuật, bảo vệ môi trường
    • Phát triển ngoại thương ở tầm cao mới, xuất khẩu gạo, dệt dầu thô, sản phẩm cây công nghiệp, các sản phẩm công nghệp tăng. Thị trường xuất nhận khẩu ngày càng mở rộng

    3.                 Một số đ̣nh hướng chính đẩy mạnh công cuộc Đổi mới

    • Thực hiện chiến lược tăng trưởng đi đôi với xóa đói giảm nghèo.
    • Hoàn thiện cơ chế chính sách của nền kinh tế tḥtrường.
    • Đẩy mạnh CNH- HĐH gắn với nền kinh tế tri thức
    • Phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường. Đẩy mạnh phát triển y tế, giáo dục

    Bài 2: Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ

    1.                 Vị trí đ̣a lí

    • Nằm ở phía đông của bán cầu trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâm khu vực Đông Nam á. Giáp Trung quốc, Lào, Campuchia
    • Hệ toạ độ đ̣a lí:
      • Vĩ độ:…….
      • Kinh độ:……..
    • Việt nam vừa tiếp giáp lục địa Á-Au, vừa tiếp giáp Biển đông, thông ra Thái bình dương
    • Việt nam nằm trọn trong múi giờ thứ 7
    1. Phạm vi lãnh thổ Vùng đất

     

    • Diện tích đất liền và các hải đảo 331 212 km2
    • Biên giới:
      • Phía Bắc giáp Trung Quốc với đường biên giới dài 1300km2
    • Phía Tây giáp Lào 2100km2, Campuchia hơn 1100km2
    • Phía đông va nam giáp biển dài 3260km
    • Nước ta có 4000 đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo Trường Sa (Khánh Hoà), Hoàng Sa (Đà Nẵng).
    1. Vùng biển:
      • Diện tích khoảng 1 triệu km2 gồm vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa
      • Vùng biển giáp các quốc gia Trung quốc, Phi lip pin, Ma lai xia, Sing ga po, Cam pu chia
    1. Vùng trời

    Khoảng không gian bao trùm trên lãnh thổ không giới hạn độ cao

    3. Ý nghĩa của vị trí địa lí

    1. Ý nghĩa về tự nhiên

     

    • Vị trí địa lí đã qui định đặc điểm cơ bản của thiên nhiên nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa
    • Vị trí địa lí và lãnh thổ tạo nên sự phân hóa thiên nhiên, sự phong phú về tài nguyên sinh vật và khoáng sản
    • Có sự phân hoá da dạng về tự nhiên, phân hoá Bắc – Nam, Đông – Tây, theo độ cao.
    • Khó khăn: Nằm trong vùng có nhiều thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán
    1. Ý nghĩa về kinh tê, văn hóa, xã hội và quốc phòng
      • Về kinh tế:

     

    • Có nhiều thuận lợi để phát triển cả về giao thông đường bộ, đường biển, đường hàng không với các nước trên thế giới tạo điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các nước trong khu vưc và trên thế giơí
    • Vùng biển rộng lớn, giàu có, phát triển các ngành kinh tế (khai thác, nuôi trồng, đánh bắt hải sản, giao thông biển, du lịch).
    • Về văn hoá – xã hội: Thuận lợi nước ta chung sống hoà bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á.
      • Về chính trị và quốc phòng: Nước ta có vị trí đặc biệt quan trọng ở trong khu vực Đông nam A. Biển Đông có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước

    Bài 4,5: Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ

    Lãnh thổ Việt nam gắn liền với lịch sử phát triển của trái đất, bao gồm 3 giai đọan

    • Giai đoạn Tiền cambri
    • Giai đoạn Cổ kiến tạo
    • Giai đoạn Tân kiến tạo

    1.                 Giai đoạn tiền Cambri: Hình thành nền móng ban đầu của lãnh thổ Việt Nam. Với các đặc điểm sau:

    • Đây là giai đoạn cổ nhất, kéo dài nhất trong lịch sử phát triển của lãnh thổ việt nam. Bắt đầu cách đây 2 tỉ năm, kết thúc cách đây 542 triệu năm, kéo dài……triệu năm
    • Chỉ diễn ra trong một phạm vi hẹp trên phần lãnh thổ nước ta hiện nay
    • Các điều kiện cổ địa lí còn rất sơ khai và đơn điệu

    2.                 Giai đoạn Cổ kiến tạo. Là giai đoạn tạo địa hình cơ bản, có tính chất quyết định đến sự phát triển của tự nhiên với các đặc điểm sau:

     

    • Diễn ra thời gian khá dài, tới 477 triệu năm, trải qua đại cổ sinh và trung sinh, kéo dài…. triệu năm
    • Là giai đoạn có nhiều biến động mạnh mẽ nhất trong lịch sử phát triển tự nhiên nước ta
    • Về cơ bản, đại lãnh thổ nước ta hiện nay đã được hình thành từ khi kết thúc giai đoạn này

    3.                 Giai đoạn Tân kiến tạo. Giai đoạn cuối cùng trong lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ, với các đặc điểm sau:

    • Diễn ra thời gian ngắn nhất trong lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ. Diễn ra cách đây 65 triệu năm và tiếp diễn cho đến ngày nay
    • Chịu tác động mạnh mẽ nhất trong vận động kiến tạo Hymalaya và những biến đổi khí hậu có qui mô toàn cầu
    • Là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện các điều kiện tự nhiên làm cho đất nước ta có điều kiện tự nhiên như ngày nay

    Bài 6: Đất nứơc nhiều đồi núi

    1.                 Đặc điểm chung của địa hình

    • Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp
    • Cấu trúc đia hình nước ta khá đa dạng, gồm 2 hướng chính

     

    • Hướng Tây bắc- Đông nam (kể tên các dãy núi tiêu biểu)
    • Hướng vòng cung (kể tên các dãy núi tiêu biểu)
    • Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
    • Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người

    2.                 Các khu vực địa hình

    1. Khu vực đồi núi

     

    Địa hình núi

     

    • Vùng núi Đông bắc

     

    • Giới hạn: Vùng núi phía tả ngạn sông Hồng chủ yếu là đồi núi thấp.
    • Gồm 4 cánh cung lớn mở rộng về phía bắc và đông chụm lại ở Tam Đảo. Địa hình Cac xtơ rất phổ biến.
    • Hướng nghiêng: cao ở Tây Bắc và thấp xuống Đông Nam
    • Có 4 cánh cung lớn là Sông gâm, Ngân sơn, Bắc sơn, Đông triều. Theo các dãy núi là các thung lũng Sông cầu, Sông thương, Sông lục nam. Có các khối núi đá vôi ở Hà giang, Cao bằng. Giáp đồng bằng là các vùng đồi núi thấp dưới 100m.
    • Vùng núi Tây bắc:

     

    • Giới hạn: Nằm giữa sông Hồng và sông Cả.
    • Đặc điểm: Địa hình cao nhất nước ta, dãy Hoàng Liên Sơn (Phanxipang 3143m). Các dãy núi hướng Tây bắc – Đông nam, xen giữa là Cao nguyên đá vôi (cao nguyên Sơn La, Mộc Châu).
    • Hướng nghiêng: Tây bắc- Đông nam
    • Có 3 mạch chính: Đông là Dãy Hoàng liên sơn; Tây là dãy Pu đen đinh, Pu sam sao: giữa là các sơn nguyên, cao nguyên đá vôi Phông thổ, Tả phìn, Sín chảy, Sơn la, Mộc châu. Xen giữa các dãy núi là các thung lũng sông Đà, sông Mã
    • Vùng núi Trường Sơn Bắc

     

    • Giới hạn: Từ Sông Cả tới dãy núi Bạch Mã
    • Hướng tây bắc – đông nam .
    • Các dãy núi song song, so le nhau dài nhất, cao ở hai đầu, thấp ở giữa
    • Phía bắc là vùng núi thượng du Nghệ an, giữa là vùng đá vôi Quảng bình, nam là vùng núi phía Tây Thừa thiên Huế. Có các mạch núi đâm ra biển như dãy Hoành sơn, dãy Bạch mã
    • Vùng núi Trường Sơn Nam
      • Giới hạn: từ nam Bạch mã đến vĩ tuyến 110o B
    • Các khối núi cao nguyên theo hướng Đông bắc- Tây nam
    • Hướng nghiêng: Tây bắc- Đông nam
    • Các cao nguyên đất đỏ ba dan: Playku, Đắk Lắk, Mơ Nông, Lâm Viên bề mặt bằng phẳng, độ cao xếp tầng 500 – 1000m.. Các bán bình nguyên xen đồi ở phía tây tạo sự bất đối xứng

    Địa hình bán bình nguyên và vùng đồi trung du: Chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng, rõ nhấ t là Đông nam bộ với bậc thềm phù sa cổ ở độ cao khoảng 100m. Địa hình đồi trung du phần nhiều là các bậc thềm phù sa c ổ bị chia cắt do tác động của dòng chảy. Dải đồi trung du rộng nhất ở rìa phía bắc và tây Đồng bằng song Hồng, thu hẹp rìa đồng bằng ven biển miền Trung

    1. Khu vực đồng bằng
      • Đồng bằng châu thổ sông: Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.

     

    • Đặc điểm chung

     

    • Đều là 2 đồng bằng lớn nhất cả nước
    • Đều được hình thành trên cơ sở các sụt lún trên các vịnh biển nông
    • Địa hình tương đối bằng phẳng
    • Thuận lợi cho phát triển cây lúa nước
    • Đồng bằng sông Hồng

     

    • Diện tích 15 nghìn km2
    • Đồng bằng bồi tụ do phù sa sông Hồng và sông Thái bình
    • Đồng bằng có hình tam giác cao ở ở Phía tây va Tây bắc, thấp dần ra biển, có một số khu thấp trủng và gò đồi
    • Bề mặt bị chia cắt thành nhiều ô, đồng bằng có đê bao phủ nên đất có 2 loại đất phù sa trong đê và đất phù sa ngoài đê
    • Đồng bằng thuận lợi cho phát triển cây lúa nước
    • Đồng bằng sông Cửu long

     

    • Diện tích 40 nghìn km2
    • Được bồi đấp do con sông Tiền và sông Hậu
    • Đồng bắng có hình thang, địa hình khá bằng phẳng, thấp dần từ Tây bắc xuống

    Đông nam, phần lớn lãnh thổ có địa hình trủng thấp

    • Đồng bằng cómạng lưới sông ngòi chằn chịt. Đất có đất phèn, đất mặn, đất phù sa. Vùng đồng bằng có các vùng trủng thấp như Đồng Tháp mười và Tứ giác Long xuyên
    • Đồng bằng thuận lợi cho phát triển cây lúa nước
    • Đồng bằng ven biển miền Trung

     

    • Diện tích 15 nghìn km2
    • Chủ yếu do phù sa biển bồi đắp. Đất nhiều cát, ít phù sa. Hẹp chiều ngang, bị chia

    cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ.

    • Các đồng bằng lớn: Đồng bằng sông mã, sông Chu; đồng bằng sông Cả, sông Thu Bồn, …
    • Địa hình chia làm 3 dãy: giáp biển là cồn cát, đầm phá; giữa thấp trủng; bên trong đã bồi tụ thành đồng bằng
    • Thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp ngắn ngày nhưng không thật thuận lợi cho trồng lúa
    1. Thế mạnh và hạn chế về thiên nhiên của các khu vực đồi núi và đồng bằng trong phát triển kinh tế – xã hội Khu vực đồi núi
      • Thế mạnh

     

    • Các mỏ nội sinh tập trung ở vùng đồi núi thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp.
    • Tài nguyên rừng giàu có về thành phần loài với nhiều loài quý hiếm, tiêu biểu cho sinh vật rừng nhiệt đới, thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp
    • Bề mặt cao nguyên bằng phẳng thuận lợi cho việc xây dựng các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc
    • Các dòng sông ở miền núi có tiềm năng thuỷ điện lớn (sông Đà, sông Đồng Nai…).
    • Với khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp nhiều vùng trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng như Đà

    Lạt, Sa Pa, Tam Đảo thuận lợi cho phát triển du lịch

    • Hạn chế
      • Địa hình bị chia cắt mạnh, nhiều sông suối, hẻm vực, sườn dốc gây trở ngại cho giao thông, cho việc khai thác tài nguyên và giao lưu kinh tế giữa các miền.
      • Do mưa nhiều, độ dốc lớn, miền núi là nơi xảy ra nhiều thiên tai như lũ quét, xói mòn, xạt lở đất, tại các đứt gãy còn phát sinh động đất. Các thiên tai khác như lốc, mưa đá, sương mù, rét hại…
    1. Khu vực đồng bằng
    • Thuận lợi:

     

    • Phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, đa dạng các loại nông sản, đặc biệt là gạo.
    • Cung cấp các nguồn lợi thiên nhiên khác như khoáng sản, thuỷ sản và lâm sản.
    • Là nơi có điều kiện để tập trung các thành phố, các khu công nghiệp và các trung tâm thương mại…
    • Hạn chế: Thường xuyên chịu nhiều thiên tai bão, lụt, hạn hán gây thiệt hại về người và tài sản

     

    Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển

    1.                 Khái quát về Biển Đông:

    • Biển Đông là một vùng biển rộng (3,477triêụ km2), lớn thứ hai trong Thái bình dương
    • Là biển tương đối kín
    • Nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa.

    2.                 Anh hưởng của Biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam

     

    • Khí hậu: Nhờ có Biển Đông nên khí hậu nước ta mang tính hải dương điều hòa, lượng mưa nhiều, độ ẩm tương đối của không khí trên 80%.
    • Địa hình và các hệ sinh thái vùng ven biển đa dạng
    • Tài nguyên thiên nhiên vùng biển phong phú khoáng sản, hải sản
    • Thiên tai như bão, sạt lở bờ biển, cát bay, cát chảy

    Bài 10: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa

    1.     Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm

    1. Tính chất nhiệt đới

     

    • Biểu hiện:

     

    • Tổng bức xạ lớn, cán cân bức xạ dương quanh năm.
    • Nhiệt độ trung bình năm trên 200
    • Tổng số giờ nắng từ 14000 – 3000 giờ.
    • Nguyên nhân:
      • Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến
      • Tổng số giờ nắng lớn
    1. Lượng mưa, độ ẩm lớn

     

    • Biểu hiện:
      • Lượng mưa trung bình năm cao: 1500 – 2000mm. Mưa phân bố không đều, sườn đón gió 3500 – 4000mm.
    • Độ ẩm không khí cao trên 80%, cân bằng ẩm luôn dương
    • Nguyên nhân:

     

    • Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyên
    • Giáp biển Đông.
    • Có gió mùa
    1. Gió mùa

    Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến nên có gió tín phong hoạt động quanh năm, nhưng nứơc ta chụ ảnh hưởng của các khối khí hoạt động theo mùa

    *Gío mùa mùa đông

    • Biểu hiện

     

    • Từ tháng 11 đến tháng 4
    • Thổi từ áp cao Xibia
    • Hứớng gió đông bắc
    • Phạm vi ảnh hưởng từ dãy Bạch mã trở ra bắc
    • Anh hưởng: Miền bắc nửa đầu mùa: lạnh khô, nửa cuối mùa: lạnh, ẩm có mưa phùn
    • Nguyên nhân

     

    • Khối không khí lạnh từ áp cao Xi bia thổi vào nước ta gây lạnh, cuối mùa có mưa phùn
    • Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến chịu ảnh hưởng của các khối khí hoạt động theo mùa
    • Chịu ảnh hưởng của dãy Bạch mã
    • Gió mùa mùa hạ:
      • Biểu hiện:

     

    • Thời gian: từ tháng 5 đến tháng 10
    • Thổi từ Ấn độ dương vào nước ta
    • Hướng gió Tây nam

    +Phạm vi cả nước

    • Anh hưởng:Đầu mùa hạ: khối khí ẩm từ An độ dương thổi vào gây cho mưa ở Nam bộ và Tây nguyên. Do ảnh hưởng của dãy Trường sơn nên ở Trung bộ, Tây bắc khô. Cuối mùa hạ: khối khí từ An Độ dương thổi vào gây ra mưa ở Nam bộ và Tây nguyên. Gió mùa Tây nam cùng dãy hội tụ nhiệt đới gây mưa cho cả nước
    • Nguyên nhân:
      • Khối không khí nóng ẩm từ An Độ dương thổi vào nước ta
      • Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến chịu ảnh hưởng của các khối khí hoạt động theo mùa
      • Chịu tác động của dãy hội tụ nhiệt đới gây mưa cho cả nước

    Chế độ phân mùa khí hậu:

    • Miền khí hậu phía bắc: mùa đông lạnh, mùa hạ nóng ẩm
    • Miền khí hậu phía nam: mùa mưa, mùa khô
    • Tây nguyên và Trung bộ có sự đối lập về mùa mưa và mùa khô

    2.                 Các thành phần tự nhiên khác:

    a/ Địa hình

    • Biểu hiện

     

    • Xâm thực mạnh ở miền đồi núi
    • Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông
    • Nguyên nhân:
      • Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
      • Địa hình có độ dốc lớn
      • Nham thạch dễ bị phong hóa

    b/ Sông ngòi, đất, sinh vật.

    • Biểu hiện

     

    • Mạng lưới sông ngòi dày đặc, nứơc ta có 2360 con sông có độ dài trên 10 km
    • Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa
    • Chế độ nước theo mùa

    *Nguyên nhân:

    • Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, lượng mưa lớn
    • Địa hình chia cắt mạnh
    • Mưa theo mùa

    c/ Đất

    • Biểu hiện

     

    • Quá trình feralit là quá trình hình thành đất đặc trưng cho vùng khí hậu nhiệt đới ẩm
    • Đất dễ bị suy thoái thoái hóa
    • Nguyên nhân:

     

    • Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
    • Quá trình feralit diễn ra mạnh
    • Nhiệt độ cao, độ ẩm lớn

    d/ Sinh vật

    • Biểu hiện

     

    • Rừng rậm nhiệt đới ẩm là rộng thường xanh đặc trưng cho vùng khí hậu nhiệt đới ẩm
    • Trong giới sinh vật thành phần loài nhiệt đới chiếm ưu thế
    • Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm gió mùa phát triển trên đất feralit là cảnh quan tiêu biểu cho thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
    • Nguyên nhân:
      • Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có sự phân hóa
      • Nhiệt độ cao, độ ẩm lớn

    3/ Anh hưởng của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa đến hoạt động sản xuất và đời sống

    • Anh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

     

    • Nền nhiệt ẩm cao thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp lúa nước, tăng vụ, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, phát triển mô hình nông – lâm kết hợp
    • Khó khăn: Lũ lụt, hạn hán, khí hậu, thời tiết không ổn định

    *Anh hưởng đến các hoạt động sản xuất khác và đời sống

     

    • Thuận lợi: để phát triển các ngành lâm nghiệp , thuỷ sản, GTVT, du lịch và đẩy mạnh hoạt động khai thác, xây dựng vào mùa khô.

     

    • Khó khăn:

     

    • Các hoạt động giao thông, vận tải du lịch, công nghiệp khai thác chụ ảnh hưởng trực tiếp của sự phân mùa khí hậu, chế độ nước sông.
    • Độ ẩm cao gây khó khăn cho việc quản máy móc, thiết bị, nông sản.
    • Các thiên tai như mưa bão, lũ lụt, hạn hán
    • Diễn biến bất thường của thời tiết như dong, lốc, mưa đá, sương mù, rét hại, khô nóng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.
    • Môi trường thiên nhiên dễ bị suy thoái

    Bài 11: Thiên nhiên phân hóa đa dạng

    1. Thiên nhiên phân hóa theo Bắc Nam là do sự phân hóa của khí hậu

    a. Phần lãnh thổ phía Bắc: (từ dãy Bạch mã trở ra) b. Phần lãnh thổ phía Nam (từ dãy Bạch Mã trở vào)
    – Có kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với mùa đông – Khí hậu mang tính chất cận xích đạo gió mùa nóng
    lạnh quanh năm
    – Nhiệt độ trung bình năm trên 20 oC, biên độ nhiệt độ – Nhiệt độ trung bình năm trên 25oC, biên độ nhiệt độ
    trung bình năm lớn trung bình năm nhỏ
    – Phân thành 2 mùa là mùa đôngmùa hạ – Phân thành 2 mùa là mưakhô
    – Cảnh quan phổ biến là đới rừng nhiệt đới gió mùa – Cảnh quan phổ biến đới rừng cận xích đạo gió mùa
    – Thành phần sinh vật có các loại nhiệt đới chiếm ưu – Thành phần sinh vật mang đặc trưng xích đạo và nhiệt
    thế. đơí với nhiều loài

    2.                 Thiên nhiên phân hoá theo Đông – Tây

     

    1. Vùng biển và thềm lục địa

     

    • Vùng biển nước ta gấp 3 lần diện tích đất liền
    • Thiên nhiên vùng biển nước ta đa dạng và giàu có, tiêu biểu cho thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
    1. Vùng đồng bằng ven biển
      • Đồng bằng Bắc bộ và Đồng bằng Nam bộ

     

    • Đồng bằng mở rộng với các bãi triều thấp phẳng, thềm lục địa mở rộng, nông;
    • Phong cảnh thiên nhiên phong phú, xanh tươi, thay đổi theo mùa
    • Dãy đồng bằng ven biển Miền trung:

     

    • Đồng bằng hẹp ngang và bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ, đường bờ biển khúc khủy với thềm lục địa hẹp, tiếp giáp với vùng biển sâu
    • Các dạng địa hình chịu ảnh hưởng của biển
    • Thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai kém màu mở nhưng giàu tiềm năng du lịch và phát triển kinh tế biển

    c/ Vùng đồi núi

    • Trong khi vùng núi Đông bắc mang sắc thái cận nhiệt đới thì ở vùng đồi núi thấp Tây bắc có cảnh quan nhiệt đới ẩm gió mùa và ở vùng Tây bắc cảnh quan thiên nhiên giống vùng ôn đới
    • Sườn đông Trường sơn mùa mưa vào thu đông thì Tây nguyên lại là mùa khô. Tây nguyên vào mùa mưa thì bên Trường sơn đông chịu tác động của gió tây khô nóng
    1. Thiên nhiên phân hóa theo độ cao Đai nhiệt đới gió mùa:
      • Ở miền Bắc: có độ cao trung bình dưới 600 – 700m, miền Nam có độ cao dưới 900-1000m.
      • Khí hậu nhiệt đới biểu hiện rỏ rệt. Độ ẩm thay đổi tùy nơi từ khô đến ẩm ước
      • Trong đai này có 2 nhóm đất
        • Nhóm đất phù sa chiếm 24% diện tích tự nhiên gồm phù sa ngọt, phù sa mặn, phù sa phèn, đất cát
        • Nhóm đất feralit chiếm hơn 60% diện tích tự nhiên
      • Sinh vật gồm các hệ sinh thái nhiệt đới
        • Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh
    • Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa: rừng thường xanh, rừng nữa rụng lá và rừng thưa nhiệt đới khô

     

    1. Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi

     

    • Miền Bắc có độ cao từ 600 – 700m đến 2600m, miền Nam có độ cao từ 900 – 1000m đến độ cao 2600m.
    • Khí hậu mát mẽ, mưa nhiều, độ ẩm tăng
    • Hệ sinh thái đa dạng:
      • Ơ độ cao từ 600-700m đến 1600-1700m: Rừng nhiệt đới lá rộng và lá kim phát triển trên đất feralit có mùn
      • Ơ độ cao trên 1600-1700m rừng phát triển kém
      • Đất feralit có mùn và đất mùn
    1. Đai ôn đới gió mùa trên núi có độ

     

    • Cao từ 2600m trở lên (chỉ có ở Hoàng Liên Sơn)
    • Khí hậu có tính chất ôn đới
    • Đất chủ yếu là đất mùn thô

    4/ Các miền đ̣a lí tự nhiên

    Tên miền Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ Miền Tây Bắc Và Bắc Trung Miền Nam Trung Bộ và Nam
        Bộ Bộ
    Phạm vi Vùng đồi núi tả ngạn sông Vùng núi hữu ngạn sông Hồng Từ 16 oB trở xuống.
      Hồng và đồng bằng sông Hồng đến dãy bạch mã  
    Địa chất Cấu trúc địa chất quan hệ với Cấu trúc địa chất quan hệ với Các khôi núi cổ, các bề mặt sơn
      Hoa Nam (TQ), địa hình tương Vân Nam (TQ). Địa chưa ổn nguyên bóc mòn và các cao
      đối ổn định định, tân kiến tạo nâng mạnh nguyên badan
      Tân kiến tạo nâng yếu    
    Địa hình Chủ yếu là đồi núi thấp. Độ cao Địa hình cao nhất nước vơí độ Chủ yếu là cao nguyên, sơn
      trung bình 600m, có nhiều núi dốc lớn, hướng chủ yếu là tây nguyên
      đá vôi, hướng núi vòng cung, bắc – đông nam với các bề mặt Đồng bằng Nam bộ thấp, phẳng
      đồng bằng mở rông, địa hình sơn nguyên, cao nguyên, đồng và mở rộng
      bờ biển đa dạng bằng giữa núi  
    Khoáng Giàu khoáng sản: than, sắt, … Có đất hiếm, sắt, crôm, titan Dầu khí có trữ lượng lớn, bôxit
    sản     ở Tây Nguyên
    Khí hậu Mùa đông lạnh, mùa hạ nóng Chịu tác độn của địa hình, có Phân thành mùa mưa và mùa
      mưa nhiều gió phơn khô
    Sông ngòi Dày đặc chảy theo hướng TB- Có độ dốc lớn, chảy theo hướng Dày đặc
      ĐN và vòng cung tây- đông là chủ yếu  
    Sinh vật Nhiệt đới và á nhiệt đới Nhiệt đới Nhiệt đới, cận xích đạo

    Bài 14: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

    1/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật

    a/ Suy giảm tài nguyên rừng

    • Biểu hiện: Diện tích rừng tăng nhưng chất lượng rừng giảm

     

    • Nguyên nhân:

     

    • Rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh giảm
    • Rừng trồng tăng
    • Khai thác chưa hợp lí
    • Phá rừng
    • Biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng

     

    • Đảm bảo sự quản lí của nhà nước về sử dụng, bảo vệ tài nguyên rừng
    • Triển khai luật bảo vệ và phát triển rừng, giao quyền sử dụng đất và bảo vệ rừng cho nông dân
    • Thực hiện chiến lược trồng 5 triệu ha rừng

    b/ Suy giảm da dạng sinh học

    • Biểu hiện: Nước ta có tính đa dạng sinh học cao nhưng đang bị suy giảm. Số thành phần loài sinh vật có xu hướng giảm, có nguy cơ tuyệt chủng
    • Nguyên nhân

     

    • Khai thác quá mức
    • O nhiễm môi trường sống
    • Các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học

     

    • Xây dựng mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên
    • Ban hành Sách đỏ Việt nam
    • Qui đ̣nh việc khai thác
    • Hạn chế ô nhiễm môi trường

    2/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất

    *Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất

    Nứơc ta có 12,7 triệu ha diện tích đất có rừng, 9,4 triệu ha đất sử dụng nông nghiệp, bình quân đầu người 0,1 ha/ người. Trong 5,35 triệu ha đất chưa sử dụng thì đồng bằng có trên 350 nghìn ha, còn lại

    • vùng đồi núi bị thoái hóa nặng

    *Nguyên nhân

    – Phá rừng

    – Canh tác chưa hợp lí

    – Ô nhiễm môi trường đất

    • Các biện pháp bảo vệ đất
    • Hạn chế xói mòn đất ở vùng đồi núi
    • Bảo vệ và phát triển rừng
    • Định canh định cư cho nhân dân miền núi
    • Có kế hoạch mở rộng diện tích đất nông nghiệp
    • Thâm canh, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất
    • Bón phân cải tạo thích hợp
    • Chống ô nhiễm đất do các chất hóa học

    3/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên khác

    • Tài nguyên nước: sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên nước, đảm bảo cân bằng nước và phòng chống ô nhiễm nứơc
    • Tài nguyên khoáng sản: quản lí chặc chẽ việc khai thác khoáng sản. Tránh lãng phí và gây ô nhiễm
    • Tài nguyên du lịch:bảo tồn, tôn tạo các tài nguyên du lịch, bảo vệ cảnh quan không bị ô nhiễm, phát triển du lịch sinh thái
    • Khai thác, sử dụng hợp lí và bền vững các nguồn tài nguyên khác như khí hậu, tài nguyên biển

    Bài 15. Bảo vệ môi trường và phong chống thiên tai

    1/ Bảo vệ môi trường: Có 2 vấn đề môi trường đáng quan tâm ở nước ta hiện nay:

    • Tình trạng mất cân bằng sinh thái
    • Tình trạng ô nhiễm môi trường
    1. Một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống Bão
      • Hoạt động của bão ở Việt nam

     

    • Thời gian hoạt động từ tháng 6, kết thúc vào tháng 9. Đặc biệt là các tháng 9 và 12 bão hoạt động mạnh
    • Mùa bão chậm dần từ Bắc vào Nam.
    • Bão hoạt động mạnh nhất ở ven biển Trung Bộ. Nam Bộ ít chịu ảnh hưởng của bão
    • Trung bình mỗi năm có từ 9 đến 10 cơn bão
    • Hậu quả của bão

     

    • Mưa lớn trên diện rộng (300 – 400mm), gây ngập úng đồng ruộng, đường giao thông
    • Thủy triều dâng cao làm ngập mặn vùng ven biển.
    • Gió mạnh làm lật úp tàu thuyền, tàn phá nhà cửa, cầu cống, cột điện cao thế…
    • Ô nhiễm môi trường gây dịch bệnh
    • Biện pháp phòng chống bão

     

    • Dự báo chính xác về quá trình hình thành và hướng di chuyển của cơn bão
    • Thông báo cho tàu thuyền đánh cá trở về đất liền.
    • Củng cố hệ thống đê kè ven biển.
    • Sơ tán dân khi có bão mạnh.

    – Chống lũ lụt ở đồng bằng, chống xói mòn lũ quét ở miền núi.

    1. Ngập lụt

    -Nới diễn ra: Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu long

    • Hậu quả:
      • Gây ngập lụt trên diện rộng
      • Anh hường đến hoạt động sản xuất (nhất là nông nghiệp, lâm nghiệp) và đời sống
    • Biện pháp

     

    • Làm các công trình ngăn lũ và thủy triều
    • Bảo vệ rừng

    c/ Lũ quét

    • Nơi diên ra: Diễn ra mạnh ớ khu vực đồi núi,

     

    • Hậu quả:

     

    • Làm mất lớp phủ thực vật,
    • Đất đai dễ xói mòn
    • Biện pháp: Qui hoạch các điểm dân cư, phát triển thủy lợi và trồng rừng dự báo lũ quét d/ Hạn hán
    • Nới diễn ra: khắp nới trên cả nứơc

     

    • Hậu quả

     

    • Gây thiếu nước nghiêm trọng ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt
    • Gây cháy rừng
    • Biện pháp: trồng rừng và phát triển các công trình thủy lợi

    đ/ Động đất

    • Nơi xảy ra: Tây bắc, Tây nguyên, vùng biển Nam trung bộ
    • Hậu quả: gây thiệt hại rất lớn về người và của

    3/ Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường

    • Duy trì hệ sinh thái và các quá trình sinh thai chu yeu
    • Đảm bảo sự giàu có về vốn gen
    • Đảm bảo việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, điều khiển việc sử dụng trong giới hạn có thể phục hồi

    được

    • Đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với yêu cầu cuộc sống của con người
    • Phấn đấu đạt tới trạng thái dân số ổn định dân số ở mức cân bằng với khả năng sử dụng hợp lí các tài nguyên thiên nhiên
    • Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, kiểm soát và bảo vệ môi trường

    BÀI 16. ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ NƯỚC TA

    1.                 Việt Nam là nước đông dân, có nhiều thành phần dân tộc.

    • Năm 2006 dân số nước ta là 84,1 triệu người, thứ 3 ĐNA, 13 trên thế giới.

    ÖNguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn, bên cạnh đó gây trở ngại trong giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống.

    – Có 54 dân tộc, đông nhất là người Kinh (86.2%)

    ÖĐoàn kết tạo nên sức mạ nh dân t ộc, đa dạ ng văn hoá…, nhưng vẫn còn chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, nhất là đối với các dân tộc ít người, mức sống còn thấp.

    2.                 Dân số tăng nhanh, dân số trẻ.

    • Dân số nước ta tăng nhanh đặc biệt là nửa cuối thế kỷ XX: 1965-75: 3%, 1979-89: 2.1%.
    • Thời kỳ 2000-2005 còn 1,32% đã giảm đáng kể nhưng vẫn còn cao, mỗi năm tăng hơn 1 triệu người. ÆSức ép lên phát triển kinh tế, bảo vệ TNMT, nâng cao chất lượng cuộc sống.
    • Dân số trẻ: độ tuổi lao động khoảng 64,0% dân số, trẻ em chiếm 27%, tuổi già chỉ 9,0% (2005).
    • LLLĐ dồi dào, trẻ nên năng động, sáng tạo, bên cạnh đó khó khăn trong giải quyết việc làm.

    3.                 Sự phân bố dân cư không đều

    M ật độ dân số: 254 người/km2 (2006) Æ phân bố không đều a/ Phân bố không đều giữa đồng bằng – miền núi:

    • Đồng bằng: 1/4 diện tích – chiếm 3/4 dân số Æ ĐBSH cao nhất, 1.225 người/km2 , gấp 5 lần cả nước.
    • Miền núi: 3/4 diện tích – chiếm 1/4 dân số Æ Tây Nguyên 89 người/km2, Tây Bắc 69 người/km2

    b/ Phân bố không đều giữa nông thôn và thành thị:

    • Thực trạng
      • Nông thôn: 73,1%, có xu hướng giảm.
      • Thành thị: 26,9%, có xu hướng tăng.

    4/ Phân tích được nguyên nhân, hậu quả của dân đông, gia tăng nhanh và phân bố chưa hợp lí

    • Nguyên nhân của dân số đông, gia tăng nhanh và phân bố chưa hợp lí: ĐKTN, KTXH, lịch sử khai thác lãnh thổ.
    • Hậu quả: Sử dụng lãng phí, không hợp lý lao động, khó khăn trong khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường

    5/ Chiến lược phát triển dân số hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động nước ta:

    • Tuyên truyền và thực hiện chính sách KHHDS có hiệu quả.
    • Phân bố dân cư, lao động hợp lý giữa các vùng.
    • Quy hoạch và có chính sách thích hợp nhằm đáp ứng xu thế chuyển dịch cơ cấu dân số nông thôn và thành thị.
    • Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, đẩy mạnh đào tạo người lao động có tay nghề cao, có tác phong công nghiệp.
    • Phát triển công nghiệp ở miền núi và ở nông thôn nhằm sử dụng tối đa nguồn lao động của đất nước.

    BÀI  17. LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM

    1.                 Nguồn lao động

    • Nguồn lao động dồi dào: Dân số hoạt dộng kinh tế ở nước ta chiếm 51,2% tổng số dân (42,53 triệu người), mỗi năm tăng hơn 1 triệu lao động.

    ÖLà lực lượng quyết định phát triển kinh tế đất nước.

    • Người lao động cần cù, sáng tạo, có kinh nghiệm sản xuất.
    • Chất lượng lao động ngày được nâng cao, nguồn lao động đã qua đào tạo chiếm 25,0%.

    ÖVẫn chưa đáp ứng yêu cầu hiện nay, nhất là lao động có trình độ cao.

    • Chất lượng lao động các vùng không đồng đều.
    • Có sự chênh lệch khá lớn về chất lượng lao động giữa thành thị và nông thôn.

    2.                 Cơ cấu lao động

    a/ Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế cơ cấu này có sự thay đổi nhưng còn chậm

    Lao động có xu hướng gi ảm ở khu vực 1 (57,3%), tăng ở khu vực 2 (18,2%) và 3 (24,5%). Tuy nhiên lao động trong khu vực 1 vẫn còn cao Æsự thay đổi trên nhờ vào cuộc CMKHKT, công nghiệp hóa,hiện đại hóa và quá trình Đổi mới.

    b/ Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế

    Giai đoạn 2000-2005, lao độngtrong khu v ực ngoài Nhà nướ c chiếm 88,9% có xu hướng giảm, lao động trong khu vực nhà nước chi ếm 9,5% có xu hướng giảm và lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1,6% có xu hướng tăng

    c/ Cơ cấu lao động theo thành thị và nông thôn

    Lao động thành thị ngày càng tăng chiếm 25,0%, ở nông thôn giảm chiếm 75,0% (2005).

    d/ Năng suất lao dộng chưa cao:

    Lao động nhìn chung năng suất còn thấp, quỹ thời gian lao động vẫn còn chưa được sử dụng triệt để, làm chậm sự chuyển biến trong thay đổi cơ cấu lao động

    • Nguyên nhân của các xu hướng trên:
      • Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
      • Do chính sách nhà nước về dân số và dân cư
      • Nước ta thu hút đầu tư nước ngoài
      • Nước ta đang đô thị hóa
      • Nước ta đa dạng hóa thành phần kinh tế
      • Năng suất lao động chưa cao do lao động chưa qua đào tạo còn nhiều. Quỹ thời gian lao động trong nông nghiệp và nhiều xí nghiệp quốc doanh chưa sử dụng triệt để
    1. Vấn đề việc làm và hướng giải quyết a/ Vấn đề giải quyết việc làm

     

    • Mặc dù mỗi năm nước ta đã tạo ra khoảng 1 triệu chỗ làm mới nhưng tình trạng việc làm vẫn còn gay gắt.
    • Năm 2005, tỷ lệ thất nghiệp của cả nước là 2,1%, còn thiếu việc làm là 8,1%. Thất nghiệp ở thành thị cao: 5,3%, thiếu việc làm ở thành thị là 4,5%. Ở nông thôn, thất nghiệp là 1,1%, thiếu việc làm là 9,3%.

    b/ Quan hệ giữa dân số- lao động- việc làm

    • Dân số đông nguồn lao động dồi dào
    • Nguồn lao động dồi dào tạo ra nhu cầu việc làm rất lớn. nếu không giải quyết dẫn đến thất nghiệp và thiếu việc làm

    c/ Hướng giải quyết

    • Phân bố lại dân cư và nguồn lao động .
    • Thực hiện tốt chính sách dân số, sức khoẻ sinh sản.
    • Đa dạng hóa các hoạt động sản xuất.
    • Tăng cường hợp tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng sản xuất hàng XK.
    • Đa dạng các loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động.
    • Đẩy mạnh xuất khẩu lao động

    BÀI  18. ĐÔ THỊ HÓA

    1.     Đặc điểm

    a/ Quá trình Đô thị hoá nước ta diển ra chậm chạp, trình độ đô thị hóa thấp

    • Thành Cổ Loa, kinh đô của Nhà nước Âu Lạc, được coi là đô thị đầu tiên của nước ta.
    • Thế kỷ XXI, xuất hiện thành Thăng Long.
    • Thời Pháp thuộc, xuất hiện một số đô thị lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài gòn
    • Đô thị hoá nước ta diễn ra chậm chạp, trình độ ĐTH nước ta còn thấp so với thế giới và khu vực b/ Tỷ lệ dân thành thị ngày càng tăng: năm 2005 chiếm 26,9%, nhưng vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực.

    c/ Đô thị nước ta có quy mô không lớn, phân bố không đều giữa các vùng

    • Các đô thị tập trung đồng bằng ven biển
    • Số lượng và qui mô đô thị khác nhau giữa các vùng. Vùng có số lượng đô thị nhiều là Trung du Miền núi bắc bộ. vùng có tỉ lệ dân thành thị cao là Đông nam bộ

    2/ Nguyên nhân đô thị hóa

    • Gia tăng dân số nhanh
    • Nươc ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
    • Dân cư tập trung tự phát vào đô thị
    • Sự phát triển công nghiệp và dịch vụ thu hút lao động về thành thị
    • Nhu cầu việc làm của người dân
    • Cơ sở hạ tầng phát triển và thu nhập cao

    3.                 Ảnh hưởng của đô thị hoá đến phát triển kinh tế – xã hội

     

    • Đô thị hoá ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình chuyến dịch cơ cấu kinh tế đất nước và địa phương.
    • Đô thị có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế – xã hội. Năm 2005, khu vực đô thị đóng góp 70,4% GDP cả nước, 84% GDP công nghiệp, 87% GDP dịch vụ, 80% ngân sách Nhà nước.
    • Đô thị là thị trường có sức mua lớn, nơi tập trung đông lao động có trình độ chuyên môn, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại.
    • Thu hút vốn đầu tư lớn, tạo động lực phát triển kinh tế.
    • Tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động.
    • Tác động tiêu cực: ô nhiễm môi trường, trật tự xã hội, việc làm, nhà ở

    Bài chất lượng cuộc sống

    Mức sống của nhân dân ta ngày càng được cải thiện, tuy nhiên có sự phân hóa giữa các vùng

    • Mức sống của người dân đang được cải thiện. năm 1999 là 295 nghìn đồng/người/tháng, năm 2002 là 356,1 nghìn đồng/người/tháng, năm 2004 là 448,4 nghìn đồng/người/tháng
    • Mức sống có sự phân hóa giữa các vùng. Năm 2004 cao nhất là Đông nam bộ (833 nghìn đồng/người/tháng), thấp nhất là Bắc trung bộ (317 nghìn đồng/người/tháng) chênh lệch 2,6 lần

    BÀI 20. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    1/Ý nghĩa:

    -Có tầm quan trọng trong các mục tiêu phát triển kinh tế.

    -Tạo tiền đề đẩy mạnh xuất khẩu, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo…

    • Phát huy tốt các nguồn lực
    • Góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước 1/Chuyển dịch cơ cấu ngành:

    * Thực trạng

    • Giảm tỷ trong khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II, khu vực III chiếm tỷ trọng cao nhưng chưa

    ổn định. Năm 2005, lần lượt các khu vực I, II, III có tỷ trọng là: 21,0%; 41,0%; 38,0%.

    • Xu hướng chuyển dịch là tích cực, nhưng vẫn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới.
    • Có sự chuyển dịch trong nội bộ ngành

    +Khu v ực I: giả m tỷ tr ọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ tr ọng ngành thuỷ sản. Trong nông nghiệp, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm, ngành chăn nuôi tăng.

    +Khu vực II: công nghiệp chế biến có tỷ trọng tăng, công nghi ệp khai thác có tỷ trọng giảm. Đa dạ ng hóa các sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường, nhất là các sản phẩm cao cấp, có chất lượng và có sức cạnh tranh.

    +Khu v ực III : tăng nhanh các lĩnh vực liên quan đến kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và các dịch vụ mới.

    • Nguyên nhân
      • Nước ta đang trong giai đoan công nghiệp hóa hiện đại hóa
      • Chính sách của nhà nước
      • Đa dạng hóa các ngành kinh tế

    2.                 Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế

     

    • Thực trạng

     

    • Thành phần kinh tế Nhà nước giảm tỷ trọng nhưng vẫn giữ vai trò chủ dạo
    • Thành phần kinh tế tư nhân ngày càng tăng tỉ trọng
    • Thành phấn kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh tỉ trọng, đặc biệt từ khi nước ta gia nhập

    WTO

    • Nguyên nhân:

     

    • Nước ta đa dạng hóa các thành phần kinh tế
    • Nước ta đang công nghiệp hóa hiện đại hóa
    • Chính sách nhà nước

    3.                 Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ kinh tế

    • Thực trang

     

    • Nông nghiệp: hình thành các vùng chuyên canh cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp
    • Công nghiệp: hình thành các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất có quy mô lớn.
    • Cả nước đã hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm:
      • Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
      • Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
      • Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

    *Nguyên nhân

    • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của các vùng khác nhau
    • Điều kiện kinh tế xã hội
    • Chính sách nhà nước và có sự đầu tư của nước ngoài

    BÀI 21.  ĐẶC ĐIỂM NỀN NÔNG NGHIỆP NƯỚC TA

    1. Nền nông nghiệp nhiệt đới:

    1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho phép nước ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt

    đới

     

    • Thuận lợi: Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có sự phân hoá rõ rệt, cho phép:

     

    • Đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp. Mùa đông lạnh cho phép phát triển cây trồng vụ đông ở ĐBSH.
    • Áp dụng các biện pháp thâm canh, tăng vụ, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ.
    • Địa hình và đất trồng cho phép áp dụng các hệ thống canh tác khác nhau giữa các vùng. Đồng bằng thế mạnh là cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản; miền núi thế mạnh cây lâu năm, chăn nuôi gia súc lớn.
    • Khó khăn: Thiên tai, sâu bệnh, dịch bệnh…
    1. Nước ta đang khai thác ngày càng có hiệu quả đặc điểm của nền nông nghiệp nhiệt đới.
      • Các tập đoàn cây trồng và vật nuôi được phân bố phù hợp hơn với các vùng sinh thái
      • Cơ cấu mùa vụ, giống có nhiều thay đổi.
      • Tính mùa vụ được khai thác tốt hơn nhờ hoạt động giao thông vận tải và công nghiệp chế biến
      • Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm của nền nông nghiệp nhiệt đới

    2.     Phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa góp phần nâng cao hiệu quả của nông nghiệp nhiệt

    đới :

     

    • Nền nông nghiệp nước ta hiện nay tồn tại song song nền nông nghiệp cổ truyền và nền nông nghiệp hàng hóa.
    • Đặc điểm chính của nền nông nghiệp cổ truyền và nền nông nghiệp hàng hóa

    Nền nông nghiệp cổ truyền (đặc điểm, phân bố)

    Nền nông nghiệ p sản xuất hang hóa (đặc điểm, phân bố)

    3.     Xu hướng chuyển dịch trong nông nghiệp

     

    • Nông nghiệp giảm tỉ trọng 79,3%(1990)-> 73,5%(2005)
    • Chăn nuôi tăng tỉ trọng 17,9%(1990)->24,7% (2005)
    • Dịch vụ nông nghiệp chưa ổn định tỉ trọng 2,8%(1990)->1,8%(2005)

    BÀI 22. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

    I. Ngành trồng trọt:

    Cơ c ấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt đang chuyển dịch theo hướng tích cực

    • Cây lương thực giảm tỉ trọng (dẫn chứng) …………………….(biểu đồ trang 93 sách giáo khoa)
    • Cây rau đậu tăng tỉ trọng……………………..
    • Cây công nghiệp tăng tỉ trọng………………………
    • Cây ăn quả giảm tỉ trọng………………………….
    • Cây khác giảm tỉ trọng ……………..
    • 1/Sản xuất lương thực
    • Tình hình sản xuất lương thực:

     

    • Diện tích gieo trồng lúa tăng mạnh: 5,6 triệu ha (1980) lên 7,3 triệu ha (2005).
    • Cơ cấu mùa vụ có nhiều thay đổi
    • Năng suất tăng mạnhÆ đạt 4,9 tấn/ha/năm Æ nhờ áp dụng các biện pháp thâm canh.
    • Sản lượng lương thực quy thóc tăng nhanh: 14,4 triệu tấn (1980) lên 39,5 triệu tấn, trong đó lúa là 36,0 triệu tấn (2005).
    • Bình quân lương thực đạt trên 470 kg/người/năm.
    • VN xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
    • Diện tích và sản lượng hoa màu lương thực cũng tăng nhanh.
    • Phân bố:

    ĐBSCL là vùng sản xuất lương thực lớn nhất nước, chiếm trên 50% diện tích, 50% sản lượng lúa cả nước.

    2.                 Sản xuất cây thực phẩm

    • Tình hình phát triển

    Rau đậu trồng tập trung ven các thành phố lớn. Diện tích rau cả nước là trên 500.000 ha, Diện tích đậu các loại trên 200.000 ha

    • Phân bố: ĐNB, Tây Nguyên, ĐBSH, ĐBSCL

     

    3.                 Sản xuất cây công nghiệp và cây ăn quả:

    a/ Cây công nghiệp: chiếm 23,7% giá trị sản xuất ngành trồng trọt (2005) và có xu hướng trong đó cây lâu năm tăng tỉ trọng, cây hang năm giảm tỉ trọng

    • Ý nghĩa của việc phát triển cây công nghiệp:
      • Sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước và khí hậu
      • Sử dụng tốt hơn nguồn lao động nông nghiệp, đa dạng hóa nông nghiệp.
      • Tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
      • Là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, nâng cao thu nhập của người dân, nhất là ở trung du-miền núi
      • Góp phần phần phân bố lại dân cư và lao động
    • Điều kiện phát triển:

     

    • Thuận lợi (về tự nhiên, xã hội, kinh tế: trình bày, phân tích và dẫn chứng)
    • Khó khăn (thị trường)
    • Tình hình phát triển và phân bố

    Nước ta chủ yếu trồng cây công nghiệ p có nguồn gốc nhiệ t đới, ngoài ra còn có một s ố cây có ngu ồn gốc cận nhiệt. Tổng DT gieo trồng năm 2005 khoảng 2,5 triệu ha, trong đó cây lâu năm là hơn 1,6 triệu ha (65%)

    • Cây công nghiệp lâu năm:
      • Có xu hướng tăng cả về năng suất, diện tích,sản lượng
      • Đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất cây công nghiệp
      • Nước ta đã hình thành được các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm với qui mô lớn.
      • Các cây công nghiệp lâu năm chủ yếu : cà phê, cao su, hồ tiêu, dừa, chè
        • Café trồng nhiều ở Tây Nguyên, ĐNB, BTB
    • Cao su trồng nhiều ở ĐNB, Tây Nguyên, BTB
    • Chè trồng nhiều ở Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên
    • Hồ tiêu trồng nhiều ở Tây Nguyên, ĐNB, DHMT
    • Điều trồng nhiều ở ĐNB
    • Dừa trồng nhiều ở ĐBSCL

    +Cây công nghiệp hàng năm: mía, lạc, đậu tương, bông, đay, cói, dâu tằm, thuốc lá…

    • Mía trồng nhiều ở ĐBSCL, ĐNB, DHMT
    • Lạc trồng nhiều ở BTB, ĐNB, Đắc Lắc
    • Đậu tương trồng nhiều ở TD-MN phía Bắc, Đắc Lắc, Hà Tây, Đồng Tháp
    • Đay trồng nhiều ở ĐBSH
    • Cói trồng nhiều ở ven biển Ninh Bình, Thanh Hóa
    • Dâu tằm tập trung ở Lâm Đồng
    • Bông vải tập trung ở NTB, Đắc Lắc

    b/ Cây ăn quả: chuối, cam, xoài, nhãn, vải…Vùng trồng cây ăn quả lớn nhất là ĐBSCL, ĐNB.

    II.Ngành chăn nuôi:

    • Chiếm 24,7% giá trị sản lượng nông nghiệp có xu hướng tăng trong nông nghiệp
    • Tỷ trọng ngành chăn nuôi còn nhỏ (so với trồng trọt) nhưng đang có xu hướng tăng.
    • Xu hướng phát triển của ngành chăn nuôi hiện nay:
      • Ngành chăn nuôi tiến mạnh lên sản xuất hàng hoá
      • Chăn nuôi trang trại theo hình thức công nghiệp
      • Các sản phẩm không qua giết mổ (trứng, sữa) chiếm tỷ trọng ngày càng cao.
    • Điều kiện phát triển ngành chăn nuôi nước ta:
      • Thuận lợi (cơ sở thức ăn được đảm bảo tốt hơn, dịch vụ giống, thú y có nhiều tiến bộ…)
      • Khó khăn (giống gia súc, gia cầm năng suất thấp, dịch bệnh…)

    1/Chăn nuôi lợn và gia cầm

    -Đàn lợn hơn 27 triệu con (2005), cung cấp hơn ¾ sản lượng thịt các loại.

    -Gia cầm với tổng đàn trên 250 triệu con (2003).

    -Chăn nuôi lợn và gia cầm tập trung nhiều nhất ở ĐBSH, ĐBSCL

    2/ Chăn nuôi gia súc ăn cỏ

    -Đàn trâu: 2,9 triệu conÆ nuôi nhiều ở TD-MN phía Bắc, BTB

    -Đàn bò: 5,5 triệu conÆ BTB, NTB, Tây Nguyên. Chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh ở tp.HCM, HN…

    -Dê, cừu: 1,3 triệu con nuôi khắp nơi

    BÀI 24. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN VÀ LÂM NGHIỆP

    I.Ngành thủy sản

    1/ Những điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển thủy sản.

    a/Thuận lợi:

    • Nước ta có đường bờ biển dài, có 4 ngư trường lớn: Hải Phòng-Quảng Ninh, quần đảo

    Hoàng Sa-Trường Sa, Ninh Thuận-Bình Thuận-Bà Rịa-Vũng Tàu, Cà Mau-Kiên Giang.

    • Nguồn lợi hải sản rất phong phú. Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm 1,9 triệu tấn. Biển nước ta có hơn 2000 loài cá, 100 loài tôm, rong biển hơn 600 loài,…
    • Dọc bờ biển có nhiều vũng, vịnh, đầm phá, các cánh rừng ngập mặn có khả năng nuôi trồng hải sản. Nước ta có nhiều sông, suối, kênh rạch…có thể nuôi thả cá, tôm nước ngọt. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản là 850.000 ha, trong đó 45% thuộc Cà Mau, Bạc Liêu.
    • Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích phát triển, nhân dân có kinh nghiệm nuôi trồng và đánh bắt.
    • Các phương tiện đánh bắt được trang bị tốt hơn; các dịch vụ thuỷ sản và công nghiệp chế biến

    cũng phát triển mạnh.

    • Thị trường tiêu thụ được mở rộng trong và ngoài nước. b/Khó khăn:
    • Thiên tai, bão, gió mùa Đông Bắc thường xuyên xảy ra.
    • Tàu thuyền và phương tiện đánh bắt còn chậm đổi mới, năng suất lao động còn thấp. Hệ thống cảng cá còn chưa đáp ứng yêu cầu.
    • Chế biến và chất lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế.
    • Môi trường bị suy thoái và nguồn lợi thuỷ sản bị suy giảm.

    2/Sự phát triển và phân bố ngành thủy sản.

    • Tình hình phát triển: trong những năm gần đây có những bước phát triển đột phá.,SLTS năm 2005 là hơn 3,4 triệu tấn, SL bình quân đạt 42 kg/người/năm, là một trong những nước xuất khẩu hang đầu thế giới. ngành nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng trong cơ cấu và giá trị

    *Khai thác thủy sản:

    • Sản lượng khai thác liên tục tăng, đạt 1,79 triệu tấn (2005), trong đó cá biển 1,36 triệu tấn.
    • Tất cả các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt hải sản, nhất là các tỉnh duyên hải NTB và Nam Bộ. Dẫn đầu là các tỉnh về SL đánh bắt: Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình

    Định, Bình Thuận, Cà Mau.

     

    *Nuôi trồng thủy sản:

    -Chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu sản xuất và giá trị sản lượng thủy sản.

    -Tiề m năng nuôi trồng thủy sản còn nhiều, diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản là gần 1 triệu ha, trong đó ĐBSCL chiếm hơn 70%.

    -Nghề nuôi tôm phát triển mạnh với hình thức bán thâm canh và thâm canh công nghiệpÆ tập trung ở ĐBSCL

    • Nghề nuôi cá nước ngọt cũng phát triển, đặc biệt ở ĐBSCL và ĐBSH, nhất là ở An Giang nổi tiếng về nuôi cá tra, cá basa.

    II.Ngành lâm nghiệp

    • Ngành lâm nghiệp ở nước ta có vai trò quan trọng về mặt kinh tế và sinh thái.
      • Kinh tế:
        • Tạo nguồn sống cho đông bào dân tộc ít người
        • Bảo vệ các hồ thủy điện, thủy lợi
        • Tạo nguồn nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp.
        • Bảo vệ an toàn cho nhân dân cả ở trong vùng núi, trung du và vùng đồng bằng
      • Sinh thái:
        • Chống xói mòn đất
        • Bảo vệ các loài động vật, thực vật quí hiếm
        • Điều hòa dòng chảy sông ngòi, chống lũ lụt và khô hạn
        • Đảm bảo cân bằng sinh thái và cân bằng nước.
    • Tài nguyên rừng nước ta vốn giàu có nhưng đã bị suy thoái nhiều:
    • Rừng phòng hộ: gần 7 triệu ha, có tác dụng lớn đối với việc điều hòa dòng chảy, chống lũ, chống xói mòn, ở DHMT còn chắn cát bay.

    -Rừng đặc dụng: bảo tồn ĐTV quý hiếm, phát triển du lịch, cân bằng sinh thái…

    • Rừng sản xuất: 5,4 triệu ha, tạo ra nhiều giá trị kinh tế.
    • Sự phát triển và phân bố lâm nghiệp

    -Trồng rừng: có 2,5 triệu ha rừng trồng tập trung, chủ yếu là rừng làm nguyên liệu giấy, rừng gỗ trụ mỏ,…rừng phòng hộ. Hàng năm trồng khoảng 200.000 ha rừng tập trung.

    -Khai thác, chế biến gỗ và lâm sản: khai thác hàng năm khoảng 2,5 triệu m3 gỗ, 120 triệu cây tre, 100 triệu cây nứa.

    -Các sản phẩm gỗ: gỗ tròn, gỗ xẻ, đồ gỗ…công nghiệp bột giấy và giấy đang đượ c phát triển, lớn nhất là nhà máy giấy Bãi Bằ ng (Phú Thọ) và Liên hợp giấy Tân Mai (Đồng Nai). -Các vùng có diện tích rừng lớn: Tây Nguyên, BTB

    -Rừng còn được khai thác cung cấp gỗ củi, than củi.

    BÀI 25. TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP

    1.                 Các nhân tố tác động tới tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở nước ta:

    • Sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố lên hoạt động nông nghiệp trên các vùng lãnh thổ khác nhau là cơ sở cho tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
    • Sự phân hóa các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tạo ra nền chung cho sự phân hóa
    • Trên nền chung ấy, các nhân tố kinh tế,xã hội, kĩ thuật, lịch sử có tác động khác nhau

    2.                 Các vùng nông nghiệp ở nước ta: có 7 vùng nông nghiệp (học trong sách giáo khoa + át lát)

     

    3.                 Những thay đổi trong tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở nước ta:

     

    • Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp của nước ta trong những năm qua thay đổi theo hai xu hướng chính:
    • Tăng cường chuyên môn hóa sản xuất, phát triển vùng chuyên canh quy mô lớn
    • Đa dạng hóa nông nghiệp, đa dạng hóa kinh tế nông thôn
    • Kinh tế trang trại có bước phát triển mới, thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản theo hướng sàn xuất hàng hoá.

    BÀI 26 CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP

    • Cơ cấu công nghiệp theo ngành:
      • Cơ cấu ngành công nghiệp nước ta tương đối đa dạng với khá đầy đủ các ngành quan trọng

     

    • Thuộc 3 nhóm chính: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước;
    • Cơ cấu ngành công nghiệp đang có sự chuyển dịch
    • Công nghiệp khai thác………………………(dẫn chứng biểu đồ trang 113 sgk)
    • Công nghiệp chế biên………………………
    • Công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước………………..
    • Nguyên nhân:

     

    • Điều kiện trong nước và thế giới
    • Chính sách phát triển công nghiệp của việt nam
    • Có sự đầu tư của nước ngoài
    • Cơ cấu CN theo lãnh thổ:

    a/Hoạt động công nghiệp tập trung chủ yếu ở một số khu vực:

    ĐBSH & vùng phụ cận có mức độ t ập trung công nghiệp theo lãnh thổ cao nhất nước. Từ Hà Nội toả theo các hướng với các cụm chuyên môn hoá:

    1. Hải Phòng-Hạ Long-Cẩm Phả: khai thác than , cơ khí.
    2. Đáp Cầu- Bắc Giang: phân hoá học, VLXD.
    3. Đông Anh-Thái Nguyên: luyện kim ,cơ khí.
    4. Việt Trì-Lâm Thao-Phú Thọ: hoá chất, giấy.
    5. Hoà Bình-Sơn La: thuỷ điện.
    6. Nam Định-Ninh Bình-Thanh Hoá: dệt, ximăng, điện.

    -Ở Nam Bộ: Hình thành 1 dải công nghiệp với các TTCN trọng điểm: tp.HCM, Biên Hoà, Vũng Tàu,

    có các ngành: khai thác dầu ,khí; thực phẩm, luyện kim, đi ện tửÆtp.HCM là TTCN lớn nhất cả nướ c. –DHMT: Huế, Đà Nẵng, Vinh, với các ngành: cơ khí, thực phẩm, điệnÆĐà Nẵng là TTCN lớn nhất vùng.

    Vùng núi: Công nghiệp chậm phát triển, phân bố phân tán, rời rạc, chủ yếu là điểm công nghiệp b/ Sự phân trên là kết quả tác động của nhiều yếu tố:

    • Vị trí địa lý, TNTN
    • Nguồn lao động có tay nghề, thị trường tiêu thụ
    • Kết cấu hạ tầng
    • Chính sách phát triển CN
    • Thu hút đầu tư nước ngoài.

    Khu vực TD-MN còn hạn chế là do thiếu đồng bộ các nhân tố trên, nhất là GTVT kém phát triển.

    *Những vùng có giá trị công nghiệp lớn: ĐNB, ĐBSH, ĐBSCLÆĐNB chiếm hơn ½ tổng GTSXCN.

    3 Cơ cấu công nghiệp theo thành phần KT:

    -Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế đã có những thay đổi sâu sắc:

    • Khu vực Nhà nước giảm tỉ trọng
    • Khu vực ngoài Nhà nước tăng tỉ trọng
    • Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng tỉ trong
    • Nguyên nhân: Nước ta đa dạng hóa thành phần kinh tế công nghiệp, có sự đầu tư của nước ngoài

    BÀI 26. CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM 1/ Công nghiệp năng lượng:

    a/Công nghiệp khai thác nguyên nhiên liệu:

    *Công nghiệp khai thác than:

    – Tình hình phát triển

    +Than antraxít tập trung ở Quảng Ninh với tr ữ lượng hơn 3 tỷ tấn, chiếm hơn 90% trữ lượng than cả nước, ngoài ra còn có than mỡ ở Thái Nguyên, than nâu ở ĐBSH, than bùn ở Cà Mau…

    +Than đượ c khai thức dưới hình thức lộ thiên và hầm lò. Năm 2005, sản lượng than đạt hơn 34 triệu tấn, tiêu thụ trong và ngoài nước.

    • Phân bố: Than khai thác nhiều ở Quảng ninh

     

    *Công nghiệp khai thác dầu khí: -Tình hình phát triển

     

    +Tập trung ở các bể trầm tích ngoài thềm lục địa: bể trầm tích s.Hồng, Trung Bộ, Cửu Long

    +Nam Côn Sơn, Thổ Chu-Mã Lai, với trữ lượng vài tỷ tấn dầu, hàng trăm tỷ m3 khí. +Năm 1986 bắt đầu khai thác đến năm 2005, sản lượng dầu đạt 18,5 triệu tấn. +Năm 2009, đưa vào họat động nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi).

     

    +Khí đốt còn được đưa vào phục vụ cho các ngành công nghiệp điện lực, sản xuất phân bón như: nhà máy nhiệt điện và sản xuất phân đạm Phú Mỹ, Cà Mau.

     

    • Phân bố:

     

    • Các mỏ dầu đang khai thác:………………………..
    • Các mỏ khí đang khai thác:……………………………

    b/ Công nghiệp điện lực:

    *Tình hình phát triển

    • Đến nay, sản lượng điện tăng rất nhanh đạt 52,1 tỷ kwh (2005), bao gồm nhiệt điện và thủy điện. Trong đó nhiệt điện cung cấp 70% sản lượng địên
    • Đường dây 500 kv được xây dựng từ Hoà Bình đi Phú Lâm (tp.HCM) đưa vào hoạt động.
    • Thủy điện: Tiềm năng rất lớn, khoảng 30 triệu KW, tập trung ở hệ thống sông Hồng (37%) và sông Đồng Nai (19%).
    • Nhiệt điện:
      • Nhiên liệu dồi dào: than, dầu khí; nguồn nhiên liệu tiềm tàng: năng lượng mặt trời, sức gió…
      • Các nhà máy nhiệt điện phía bắc chủ yếu dựa vào than ở Quảng Ninh, các nhà máy nhiệt điện ở miền Trung và miền Nam chủ yếu dựa vào dầu, khí.
    • Phân bố:

     

    • Các nhà máy thủy điện đã xây dựng…………….
    • Các nhà máy thủy điên đang xây dựng…………
    • Các nhà máy nhiệt điện……………..

    2/ Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm:

    a/ Công nghiệp chế biến sản phẩm trồng trọt:

    -Công nghiệp xay xát phát triển mạnh, sản l ượng gạo, ngô xay xát đạt 39,0 triệu tấn (2005)Æ phân bố tập trung tp.HCM, HN, ĐBSH, ĐBSCL.

    -Công nghiệp đường mía: sản lượng đường kính đạt 1,0 triệu tấn (2005)Æ phân bố tập trung ở ĐBSCL, ĐNB, DHMT…

    -Công nghiệp chế biến cafe, chè, thuốc lá phát triển mạnh: chế biến chè chủ yếu ở TD-MN BB, Tây Nguyên-SL đạt 127.000 tấn; chế biến cafe chủ yếu ở Tây Nguyên, ĐNB, BTB-SL đạt 840.000 tấn cafe nhân;

    -Công nghiệp rượ u, bia, nước giải khát phát triể n nhanh. Hàng năm sx 160-220 triệu lít rượu, 1,4 tỷ lít biaÆ tập trung nhất ở tp.HCM, HN, HP, ĐN

    b/ Công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi:

    -Chưa phát triển mạnh do cơ sở nguyên liệu cho ngành còn hạn chế.

    -Các cơ sở chế biến s ữa và các sả n phẩ m từ sữa tập trung ở một số đô thị lớn. Sản lượng sữa đặc trung bình hàng năm đạt 300-350 triệu hộp.

    -Thịt và sản phẩm từ thịt Æ Hà Nội, tp.Hồ Chí Minh.

    c/ Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản:

    -Nghề làm nước mắm nổi tiếng ở Cát Hải (HP), Phan Thiết (Bình Thuận), Phú Quốc (Kiên Giang).

    Sản lượng hàng năm đạt 190-200 triệu lít.

    -Chế biến tôm, cá và một số s ản phẩm khác: tăng trưởng nhanh đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nướcÆ phát triển tập trung ở ĐBSCL

    BÀI 28 .TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP

    1/Khái niệm

    Tổ chức lãnh thổ công nghiệ p là sự sắp xếp, phối hợ p gi ữa các quá trình và cơ s ở sản xuất công nghiệp trên một lãnh thổ nhất định để sử dụng hợp lý nguồn lực sẵn có để đạt hiệu quả kinh tế cao.

    2/ Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

    • Nhóm nhân tố bên trong (vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế xã hội) có ảnh hưởng rất quan trọng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp
    • Nhóm nhân tố bên ngoài (thị trường, hợp tác quốc tê) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

    3/ Các hình thức chủ yêu tổ chức lãnh thổ công nghiệp.

    1. Điểm công nghiệp: *Đặc điểm
      • Gắn liền với điểm dân cư
      • Có vị trí thuận lợi
      • Bao gồm 1 hoặc 2 xí nghiệp nằm gần nguồn khoáng sản hoặc nguyên liệu nông sản
      • Các xí nghiệp không có mối lien hệ với nhau
    • Phân bố:có nhiều ở Tây Bắc, Tây Nguyên

     

    1. Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao:

     

    • Đặc điểm

     

    • Khu vức có vị trí thuận lợi, có ranh giới rỏ rang, không có dân cư ở
    • Tập trung tương đối nhiều các xí nghiệp công nghiệp có khả năng hợp tác sản xuẩt cao
    • Sản xuất phục vụ tiêu dung trong nước và xuất khẩu
    • Có các xí nghiệp bỗ trợ và phục vụ
    • Hình thành trong những năm 90
    • Khu công nghiệp do chính phủ quyết định thành lập
    • Năm 2007 cả nước có 150 khu, trong đó có 90 khu đi vào hoạt động

    *Phân bố:Tập trung ở ĐNB, ĐBSH, DHMT

    1. Trung tâm công nghiệp
      • Đặc điểm:

     

    • Gằn liền với đô thị vừa và lớn, có vị trí thuận lợi
    • Bao gồm nhiều điểm công nghiệp, khu công nghiệp có mối quan hệ chặc chẻ với nhau
    • Có các xí nghiệp nồng cốt và bỗ trợ, phục vụ

    *Phân bố

    • Các trung tâm công nghiệp có ý nghĩa quốc gia……………
    • Các trung tâm có ý nghĩa vùng……………
    • Các trung tâm có ý nghĩa địa phương………
    1. Vùng công nghiệp:

     

    • Đặc điểm

     

    • Vùng lãnh thổ rộng lớn
    • Bao gồm nhiều điểm công nghiệp, khu công nghiệp,trung tâm công nghiệp có mối lien hệ trong sản xuất và có nét tương đồng trong quá trình hình thành và phát triển
    • Có một vài ngành công nghiệp chủ yếu tạo nên hướng chuyên môn hóa sản xuất
    • Có các ngành bỗ trợ và phục vụ
    • Phân bố: theo qui hoạch của bộ công nghiệp(năm 2001) cả nước có 6 vùng công nghiệp
      • Vùng 1: các tỉnh thuộc TD-MN Bắc Bộ, trừ Quảnh Ninh.
      • Vùng 2: các tỉnh thuộc ĐBSH và Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
      • Vùng 3: các tỉnh từ Quảng Bình đến Ninh Thuận.
      • Vùng 4: các tỉnh thuộc Tây Nguyên, trừ Lâm Đồng.
      • Vùng 5: các tỉnh thuộc Động Nam Bộ, Lâm Đồng, Bình Thuận.
      • Vùng 6: các tỉnh thuộc ĐBSCL.

    BÀI 29. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG VẬN TẢI VÀ THÔNG TIN LIÊN LẠC

    1. GTVT:

    1/ Đường bộ:

    *Sự phát triển:

    -Ngày càng được mở rộng và hiện đại hóa.

    -Mạ ng lưới đường bộ đã phủ kín các vùng, tuy nhiên mậ t độ đường bộ vẫn còn thấp so với một số nước trong khu vực, chất lượng đường còn nhiều hạn chế.

    *Các tuyến đường chính:

    -QL 1 và đường HCM là 2 trục đường bộ xuyên quốc gia. QL 1 chạy từ c ửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn) đến Năm Căn (Cà Mau) dài 2.300 km, là tuyến đường xương sống đi qua các vùng kinh tế của cả nước.

    – Đường HCM có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển KT-XH của dải đất phía tây đất nước.

    -Các tuyến đường bộ xuyên Á được kết nối vào hệ thống đường bộ các nước trong khu vực.

    2/ Đường sắt:

    *Tổng chiều dài là 3.143 km.

    * Các tuyến đường chính:

    -Đường sắ t Thống Nhất dài 1.726 km (HN-tp.HCM) là trục giao thông quan trọng theo hướng Bắc-Nam.

    -Các tuyến khác: HN-HP, HN-Lào Cai, HN-Đồng Đăng.

    -Các tuyến đường thuộc mạng đường sắt xuyên Á cũng đang được xây dựng.

    3/ Đường sông:

    *Tổng chiều dài là 11.000 km.

    -Các phươ ng tiện vận tải trên sông khá đa dạng nhưng ít hiện đại hóa. Cả nước có hàng tăm cảng sông với năng lực bốc dỡ khoảng 100 triệu tấn/năm.

    *Các tuyến đường chính: tập trung trên một số hệ thống sông chính.

    -Hệ thống s.Hồng-s.Thái Bình

    -Hệ thống s.Mekong-s.Đồng Nai

    -Hệ thống sông ở miền Trung.

    4/ Đường biển:

    • Các tuyến đường biển chủ yếu
      • Hải phòng- thành phố HCM dài……….km
      • Hải phòng- đà nẵng dài…………..km
      • Thành phố HCM- Đà nẵng dài…………..km
    • Đà nẵng – Vinh dài………….km
    • Các cảng và cụm cảng quan trọng…………..

    5/ Đường không:

    – Tình hình phát triển

    -Phát triển nhanh chóng và ngày càng hiện đại hóa.

    -Cả nước có 19 sân bay, trong đó có 5 sân bay quốc tế: Tân Sơn Nhất (tp.HCM), Nội Bài (HN)

    • Các đầu mối chủ yếu: Hà nội, thành phố HCM, Đà nẵng
    1. TTLL

    1/ Bưu chính:

    -Mạng lưới phân bố rộng khắp.

    -Hạn chế: mạ ng lưới phân bố chưa hợp lý, công nghệ còn lạc hậ u, thiếu lao động trình độ cao… -Định hướng phát triển theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa.

    2/ Viễn thông:

    *Sự phát triển:

    -Tốc độ phát triển nhanh vượt bậc, đạt mức trung bình 30%/năm. Đến 2005, cả nước có 15, 8 triệu thuê bao điện thoại, đạt 19 thuê bao/100 dân. -Chú trọng đầu tư công nghệ mới và đa dịch vụ.

    -Hệ thống vệ tinh thông tin và cáp quang hiện đại đã kết nối với mạng thông tin quốc tế.

    *Mạng lưới viễn thông:

    -Mạng điện thoại: nội hạt, đường dài, cố định và di động.

    -Mạng phi thoại: fax, telex

    -M ạng truyền dẫn: có nhiều phương thức khác nhau: mạng truyề n dẫn viba, truyền dẫn cáp sợ i quang… Năm 2005, có hơn 7,5 triệu người sử dụng Internet, chiếm 9% dân số. -3 trung tâm thông tin chính: HN, tp.HCM, Đà Nẵng.

    BÀI 30 VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI, DU LỊCH

    1. Thương mại:

    1/ Nội thương:

    a/Tình hình phát triển:

    -Sau khi thống nhất đất nước đến nay, đã hình thành thị trường thống nhất đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân.

    b/Cơ cấu theo thành phần kinh tế:

    • Khu vực nhà nước giảm tỉ trọng (Chứng minh)
    • Khu vực ngoài nhà nước tăng tỉ trọng
    • Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng tỉ trọng

    2/ Ngoại thương: a/Tình hình:

    • Sau khi đổi mới thị trường ngày càng mở rộng

    -Hoạt động XNK có nhiều chuyển biến rõ rệt. 1992, lần đầu tiên cán cân XNK tiến tới cân đối; từ 1993 tiếp tục nhập siêu.

    -Thị trường mua bán ngày càng mở rộng theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa.

    -2007, VN chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, tạo ra nhiều cơ hội và thách thức

    • Giá trị nhập khẩu tăng,giá trị xuất khẩu tăng b/cơ cấu hàng Xuất nhập khẩu:

    -Các mặt hàng XK ngày càng phong phú: hàng CN nặng và khoáng sản, hàng CN nhẹ và tiểu thủ CN, hàng nông lâm thuỷ sản.

    -Các mặt hàng NK: tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, nguyên liệu…

    1. Du lịch:

    1/ Tài nguyên du lịch:

    a/Tài nguyên du lịch tự nhiên: phong phú và đa dạng, gồm: địa hình, khí hậu, nước, sinh vật.

    -Về địa hình có nhiều cảnh quan đẹp như: đồi núi, đồng bằng, bờ biển, hải đảo. Địa hình

    Caxtơ với hơn 200 hang động, nhiều thắng cảnh nổi tiếng như: vịnh Hạ Long, Phong Nha-Kẽ

    Bàng…

    -Sự đa dạng c ủa khí hậu thuận lợi cho phát triển du l ịch, nhất là phân hóa theo độ cao. Tuy nhiên cũng bị ảnh hưởng như thiên tai, sự phân mùa của khí hậu.

    -Nhiề u vùng sông nước trở thành các điểm tham quan du lịch như: hệ thống s.Cửu Long, các hồ tự nhiên (Ba Bể) và nhân tạo (Hoà Bình, Dầu Tiếng). Ngoài ra còn có nguồn nước khoáng thiên nhiên có sức hút cao đối với du khách.

    -Tài nguyên SV có nhiều giá trị: nước ta có hơn 30 vườn quốc gia.

    b/Tài nguyên du lịch nhân văn: gồm: di tích, lễ hội, tài nguyên khác…

    -Các di tích văn hóa-lị ch sử có giá trị hàng đầu. Cả nước có 2.600 di tích được Nhà nước xếp hạng, các di tích được công nhận là di s ản văn hóa thế giới như: Cố đô Huế, Phố c ổ Hội An, Di tích Mỹ Sơn; di s ản phi vật thể như: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên.

    -Các lễ hội diễn ra khắp cả nước, có ý nghĩa qưuốc gia là lễ hội đền Hùng, kéo dài nhất là lễ hội Chùa Hương…

    -Hàng loạt làng nghề truyền thống và các sản phẩm đặc sắc khác có khả năng phục vụ mục đích du lịch.

    2/ Tình hình phát triển du lịch và các trung tâm du lịch chủ yếu:

    a/Tình hình phát triển:

    -Phát triển mạnh từ đầu thập kỷ 90 (TK XX) đến nay, nhờ có chính sách đổi mới:

    • khách nội địa tăng, khách quốc tế tăng, doanh thu từ du lịch tăng b/Sự phân bố

    -Nước ta chia làm 3 vùng du lịch: vùng du lịch Bắc Bộ, BTB, NTB và Nam Bộ.

    -Tập trung ở 2 tam giác tăng trưởng du lịch: HN-HP-QN, tp.HCM-Nha Trang-Đà Lạt.

    -Các trung tâm du lịch lớn: HN, tp.HCM, Huế-Đà Nẵng, Hạ Long, Vũng Tàu, Cần Thơ…

    3/ Phát triển du lịch bền vững:

    -Là mục tiêu quan trọng hàng đầu của ngành du lịchÆbền vững về KT, XH, tài nguyên-môi trường.

    -Cần có nhiều giải pháp đồng bộ như: tạ o ra các sản phẩm du lịch độc đáo, tôn tạ o và bảo vệ tài nguyên-môi trường gắn với lợi ích cộng đồng, tổ chức thực hiện theo quy hoạch, giáo dục-đào tạo về du lịch…

    BÀI 32 VẤN ĐỀ KHAI THÁC THẾ MẠNH Ở TRUNG DU-MIỀN NÚI BẮC BỘ 1/ Khái quát chung

    • Vị trí địa lí: giáp Trung quốc, Lào, Đồng bằng sông Hồng, có vùng biển Đông bắc
    • Ý nghĩa:
      • Thuận lợi cho phát triển kinh tế
      • Thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế bắng giao thông đường bộ, đường biển
      • Có ý nghĩa quan trọng trong an ninh, quốc phòng
    • Thế mạnh
      • Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có điều kiện phát triển kinh tế đa ngành
      • Cơ sở vật chất có nhiều tiến bộ
    • Khó khăn: đây là vùng thưa dân, trình độ lao động còn hạn chế, vùng núi cơ sở vật chất còn nghèo nàn

     

    2/ Thé mạnh vè khai thác, chế biến khoáng sản và thủy điện a/ Khai thác, chế biến khoáng sản

     

    * Tiềm năng Giàu khoáng sản bậc nhất nước ta, rất phong phú, gồm nhiều loại (kể ra)…………..

    * Thực trạng

    • Than: tập trung vùng Quảng Ninh, Na Dương, Thái Nguyên, Sản lượng khai thác trên 30 triệu

    tấn/nă m. Than tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Than dùng trong nhà máy luyện kim, nhiệt đ iện như Uông Bí (150 MW), Uông Bí mở rộng (300MW), Na Dương (110MW), Cẩm Phả (600MW)…

    • Sắt ở Yên Bái, kẽm-chì ở Bắc Kạn,
    • Dồng-vàng ở Lào Cai,
    • Bô-xit ở Cao Bằng.

    -Thiếc Tĩnh Túc, sx 1000 tấn/nămÆ tiêu dùng trong nước & xuất khẩu.

    • Apatid Lào Cai, khai thác 600.000 tấn/năm dùng để sản xuất phân bón.
    • Đồ ng-niken ở Sơn La.
    • Cơ cấu công nghiệp đa ngành
      • Phát triển công nghiệp khai khoáng (Sản lượng khai thác than đá 30triệu tấn/năm)

    +Phát triển công nghiệp luyện kim,hóa chất và sản xuất vậy liệu xây dựng (mỗi năm sản xuất 1000 tấn thiếc)

    b/Thuỷ điện:

    • Tiềm năng : Trữ năng lớn nhất nước ta. Trữ năng trên sông Hồng chiếm 37% trữ năng cả nước (11 triệu KW), riêng sông Đà 6 triệu KW
    • Thực trạng :
      • Đã xây dựng: nhà máy thuỷ điện Hòa Bình trên sông Đà (1,900MW), Thác Bà trên sông Chảy (110MW)
      • Đang xây dựng thuỷ điện Sơn La trên sông Đà (2.400MW), Tuyên Quang trên sông Gâm (342MW)
      • Phát triển thủy điện cần chú ý sự thay đổi môi trường

    3/ Trồng và ch ế biến cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận nhiệt & ôn đới * Tiềm năng

    -Đất: feralít trên đá phiến, đá vôi và đá mẹ khác; đất phù sa cổ, đất phù sa ở các cánh đồng giữa núi: Than Uyên, Nghĩa Lộ, Điện Biên…

    -Khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa, có mùa đông l ạnh, chị u ảnh h ưởng sâu sắc của vùng đồi núi nên có khí hậu lạnhÆ phát triển các cây CN có nguồn gốc cận nhiệt & ôn đới

    • Nhân dân có kinh nghiệm trồng và chế biến chè

    *Hiện trạng:

    + Chè: Đây là vùng trồng chè lớn nhất nước ta, 80 nghìn ha, trồng nhiều ở Phú thọ, Thái nguyên, Yên bái, Hà giang, Sơn la

    + Cà phê : 3,3 nghìn ha trồng rải rác các tỉnh

    + Cây dược liệu. trồng nhiều ở Cao bằng, Lạng sơn, vùng núi Hoàng liên sơn +Cây ăn quả: trồng nhiều ở Cao bằng, Lạng sơn, vùng núi Hoàng liên sơn

    + Rau vụ đông & sản xuất hạt giống, rau quanh năm, trồng hoa xuất khẩu ở Sapa

    Æ cho phép phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đem lại hiệu quả cao & có tác dụng hạn chế nạn du canh, du cư.

    *Biện pháp:

    • Phát triển CNCB,GTVT
    • Định canh, định cư cho nhân dân
    • Phát triển thủy lợi
    • Hình thành các vùng chuyên canh qui mô lớn

    4/Chăn nuôi gia súc: a.Tiềm năng:

    • Nhiều đồng cỏ trên các cao nguyên 600-700m
    • Nhiều giống vật nuôi tốt
    • Người dân có kinh nghiệm chăn nuôi đại gia súc nhất là trâu, bò
    • Lương thực được đảm bảo
    • Nhu cầu trong nước và xuất khẩu lớn

    b.Thực trạng

    -Bò sữa 900.000 con, chiếm 16% đàn bò cả nước (2005) ở Mộc Châu, Sơn La.

    -Trâu 1,7 triệu con, chiếm 1/2 đàn trâu cả nước, nuôi rộng khắp (2005)

    • Lợn trong vùng hơn 5,8 triệu con, chiếm 21% đàn lợn cả nước (2005) Biện pháp :
    • Tăng cường dịch vụ thú y, giống vật nuôi.
    • Phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở chế biến

    -Cải tạo đồng cỏ để nâng cao năng suất

    5/ Kinh tế biển

    *Tiềm năng: Vùng biển Quảng Ninh giàu tiềm năngÆphát triển tổng hợp kinh tế biển như…………

    • Thực trạng
      • Phát triển mạnh nuôi trồng & đánh bắt thuỷ sản( ngư trường Quảng Ninh-Hải Phòng.)
      • Du lịch biển-đảo (vịnh Hạ Long)
      • GTVT biển: xây dựng, nâng cấp cảng nước sâu Cái lân

    BÀI 33 VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO NGÀNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

    1/ Các thế mạnh, hạn chế của vùng chủ yếu của vùng:

    a/ Thế mạnh

    • Vị trí địa lí: nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, giáp Trung du miền núi Bắc bộ, Bắc trung bộ, vịnh Bắc bộ, thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế
    • Tài nguyên thiên nhiên
      • Diện tích đất nông nghiệp lớn 51,2%diện tích đồng bằng, trong đó 70% là đất phù sa màu mỡÆ giá trị nông nghiệp
      • Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh làm cho cơ cấu cây trồng đa dạng.
      • Tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Ngoài ra còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng.
    • Tài nguyên biển: bờ biển dài 400 km, vùng biển có tiềm năng phát triển KT biển, du lịch
    • Khoáng sản không nhiều, có giá trị là đá vôi, sét cao lanh, than nâu, khí tự nhiên.
    • Điều kiện kinh tế – xã hội:
      • Nguồn lao động dồi dào
      • Thị trường tiêu thụ rộng lớn
      • Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật tương đối tốt

    b/ Hạn chế:

    • Một số tài nguyên bị xuống cấp
    • Thiên tai thường xuyên xảy ra
    • Số dân, mật độ dân số cao so với cả nước
    • Vấn đề việc làm còn nan giải
    • Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm c/ Vấn đề cần giải quyết:
    • Quỹ đất nông nghiệp đang bị thu hẹp
    • Sức ép việc làm

    2/ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

    a/ Nguyên nhân

    Do vai trò đặc biệt của ĐBSH: nằm trong địa bàn kt trọng điểm PB, vùng trọng điểm LTTP lớn thứ2…

    -Cơ cấu KT của ĐBSH trước đây có nhiều hạn chế, không phù hợp với tình hình phát triển KTXH hiện nay và trong tương lai

    -Chuy ển d ịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH nhằm khai thác hiệu quả những thế mạnh vốn có của vùng, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân

    b/Thực trạng:

    Cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch tích cực nhưng còn chậm.

    • Giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III
    • Có sự chuyển dịch trong nội bộ ngành

    c/Định hướng:

    • Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III, đảm bảo tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề XH và môi trường
    • Chuyển dịch trong nội bộ từng ngành kinh tế:
      • Trong khu vực I:
    • Giảm tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi và thuỷ sản.
    • Trong trồng trọt: giảm tỉ trọng cây lương thực, tăng tỉ trọng cây thực phẩm và cây ăn quả.
    • Trong khu vực II: chú trọng phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm dựa vào thế mạnh về tài nguyên và lao động: công nghiệp chế biến LT-TP, dệt may, da giày, cơ khí, điện tử…
    • Trong khu vực III: phát triển du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, giáo dục – đào tạo

    BÀI 35 VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở BẮC TRUNG BỘ

    1/ Khái quát chung:

    -Thuận lợi: điều kiện tự nhiên đa dạng, lãnh thổ kéo dài, vùng biển mở rộng thuận lợi cho phát triển cơ cấu kinh tế đa ngành

    • Hạn chế: Thường xuyên chịu thiên tai: bão, lũ, khô hạn, gió Lào…

     

    2/ Hình thành cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp

    a/ Lí do để hình thành cơ cấu nông lâm ngư: lãnh thổ kéo dài, tỉnh nào cũng có đồi núi, đồng bằng, biển b/ Khai thác thế mạnh về lâm nghiệp:

    • Tiềm năng
      • Diện tích rừng 2,46 triệu ha (20% cả nước). Độ che phủ rừng là 47,8%, chỉ đứng sau Tây Nguyên.
      • Rừng có nhiều loại gỗ quý (lim, sến…), nhiều lâm sản chim, thú có giá trị(voi, bò tót…)
      • Nhiều trung tâm chế biến gỗ và lâm sản

    *Hiện trạng :

    -Nhiều lâm trường hình thành khai thác đi đôi với tu bổ và bảo vệ rừng -Rừng sản xuất 34% diện tích, rừng phòng hộ 50%, rừng đặc dụng 16%

    c/ Khai thác tổng hợp các thế mạnh về nông nghiệp của trung du, đồng bằng và ven biển:

    *Thế mạnh

    Vùng đồi trước núi có thể phát triển chăn nuôi đại gia súc

    -Diện tích đất badan khá màu mỡ ÆTrồng cây công nghiệp lâu năm

    -Vùng đồng bằng ven biển có nhiều đất cát pha Æhình thành cây công nghiệp hàng năm và vùng lúa thâm canh

    *Hiện trạng

    • Đàn bò có 1,1 triệu con, (1/5 cả nước)
    • Đàn trâu có 750 000 con, (1/4 cả nước)
    • Hình thành một số vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm, hàng năm
    • Cà phê ở Tây nghệ an, Quảng trị
    • Cao su, hồ tiêu ở Quãng bình, quãng trị
    • Chè ở Nghệ an
    • Bình quân lương thực có tăng nhưng vẫn còn thấp 348 kg/người (năm 2005) c/ Đẩy mạnh phát triển ngư nghiệp:

    *Thế mạnh

    -Tỉnh nào cũng giáp biểnÆ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản

    • vùng biển có nhiều vịnh đầm phá thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản

    -Người dân có kinh nghiệm đánh bắt thủy sản

    *Hiện trạng

    -Việc nuôi tr ồng thủy sản nước lợn,nước mặn phát triển khá nhanh đã làm thay đôi rõ nét cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển

    -Các tỉnh khai thác, đánh bắt nhiều………………….

    3 Hình thành cơ cấu công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng GTVT

    a/ Phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm và các trung tâm công nghiệp chuyên môn hóa:

    • Một số ngành CN trọng điểm:
      • Công nghiệp khai thác crom, thiếc
      • Công nghiệp sản xuất xi măng: Bỉm sơn, Nghi sơn , Hoàng mai
      • Công nghiệp sản xuất thép: Hà tĩnh
      • Các nhà máy thủy điện: Bản vẽ, Cửa đạt, Rào quán
    • Các TTCN chuyên môn hóa: phân bố chủ yếu ở dải ven biển, phía đông bao gồm Thanh Hóa-Bỉm Sơn, Vinh, Huế với các sản phẩm chuyên môn hóa khác nhau.

    b/ Xây dựng cơ sở hạ tầng, trước hết là GTVT

    • Xây dựng cơ sở hạ tầng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển KT-XH của vùng
    • Mạng lưới giao thông: quốc lộ 1, đường sắt Thống Nhất
    • Các tuyến đường ngang như: quốc lộ 7, 8, 9.
    • Đường Hồ Chí Minh hoàn thành thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở vùng phía Tây
    • Tuyến hành lang giao thông Đông-Tây cũng đã hình thành, hàng loạt cửa khẩu mở ra như: Lao Bảo, thúc đẩy giao thương với các nước láng giềng.
    • Hầm đường bộ qua Hải Vân, Hoành Sơn góp phần gia tăng vận chuyển Bắc-Nam
    • Hệ thống sân bay, cảng biển đang được đầu tư xây dựng & nâng cấp hiện đại như…………

    BÀI 36 VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

    • Các thế mạnh và hạn chế: a/ Thế mạnh:
      • Vị trí địa lí: thuận lợi giáp……………………………thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế
      • Có nhiều tiềm năng trong kinh tế biển như……………………………………………………………

    b/Hạn chế:

    • Đồng bằng nhỏ hẹp
    • Thiên tai thường xảy ra như bão, hạn hán, lũ lụt

    2/ Phát triển tổng hợp kinh tế biển.

    a/ Nghề cá:

    *Tiềm năng

    • Biển lắm tôm, cá; tỉnh nào cũng có bãi tôm, bãi cá, lớn nhất ở các tỉnh cực NTB và ngư trường Hoàng Sa-Trường Sa.
    • Nhiều vũng, vịnh, đầm, phá thuận lợi nuôi trồng thuỷ sản
    • Người dân có nhiều kinh nghiệm nghề cá

    *Thực trạng

    • Sản lượng thuỷ sản tăng: 624 nghìn tấn, trong đó cá biển 420 nghìn tần (2005)
    • Nuôi trồng thủy sản phát triển
    • Hoạt động chế biến ngày càng đa dạng, trong đó có nước mắm Phan Thiết.
    • Có vai trò lớn trong việc giải quyết vấn đề thực phẩm

    b/ Du lịch biển:

    *Tiềm năng

    -Có nhiều bãi biển nổi tiếng như: Mỹ Khê (Đà Nẵng), Sa Huỳnh (Quãng Ngãi), Qui nhơn (Bình định), Nha trang (Khánh hòa)

    -Nhiều nhà hàng khách sạn chất lượng tốt

    *Thực trạng

    • Có nhiều bãi biển đẹp
    • Các trung tâm du lịch biển của vùng: Đà nẵng, Qui nhơn, Nha trang
    • Thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế
    • Đẩy mạnh phát triển du lịch biển gắn với du lịch đảo kết hợp nghỉ dưỡng, thể thao… c/ Dịch vụ hàng hải:

    *Tiềm năng: Có tiềm năng xây dựng các cảng nước sâu: Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang.

    *Thực trạng:

    -Cảng lớn, năng lực bốc xếp tăng

    -Cảng tổng hợp: Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang

    • Các cảng nước sâu: Dung Quất
    • Cảng trung chuyển: Vân Phong

    d/ Khai thác khoáng sản ở thềm lục địa và sản xuất muối:

    *Tiềm năng

    -Khoáng sản có dầu khí ở thềm lục địa, phía đông đảo Phú quí

    -Nước biển có độ mặn cao thuận lợi cho sản xuất muối

    *Thực trạng

    • Khai thác dầu khí ở phía đông quần đảo Phú Quý (Bình Thuận)
    • Sản xuất muối nổi tiếng ở Cà Ná, Sa Huỳnh…

    3/ Phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng:

    a/ Phát triển công nghiệp:

    • Hình thành các trung tâm công nghiệp: Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, Phan ThiếtÆ công nghiệp chủ yếu là cơ khí, chế biến nông-lâm-thuỷ sản, sản xuất hàng tiêu dùng.
    • Bước đầu thu hút đầu tư nước ngoài vào hình thành các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất.

    -Với việc hình thành vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, nhất là Khu kinh tế mở Chu Lai, Khu kinh tế Dung Quất, Nhơn Hội góp phần thúc đẩy công nghiệp của vùng ngày càng phát triển.

    b/Phát triển giao thông vận tải:

    • Quốc lộ 1, đường sắt Bắc – Nam đang được nâng cấp
    • Các tuyến đường ngang (đường 19, 26…)
    • Các sân bay cũng được hiện đại hóa:
    • Các cảng biển đã được nâng cấp, xây dựng như
    • Tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng: thúc đầy kinh tế xã hội trong vùng, ngoài vùng phát triển và phát huy các nguồn lực của vùng

    BÀI 37 VẤN ĐỀ KHAI THÁC THẾ MẠNH Ở TÂY NGUYÊN

    1.Khái quát chung:

    a/ Ý nghĩa của việc phát triển kinh tế của Tây nguyên:

    • Vùng giáp Lào và Cam pu chia -> vùng có ý nghĩa quốc phòng đặc biệt
    • Vùng có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng-> cơ cấu kinh tế đa dạng
    • Đây là vùng thưa dân, có nhiều dân tộc ít người, truyền thống văn hóa độc đáo
    • Mức sống của người dân thấp

    => Việc phát huy thế mạnh của vùng này có ý nghĩa quốc phòng và kinh tế đặc biệt

    b.Các thế mạnh

    -Địa hình: các khối cao nguyên xếp tầng đồ sộ, mặt bằng rộng lớn

    -Đất đỏ badan, giàu chất dinh dưỡng, tầng phong hóa sâu, phân bố tập trungÆ vùng chuyên canh cây công nghiệp quy mô lớn.

    -Khí hậu cận xích đạo, có sự phân hóa theo độ cao Æ tiềm năng to lớn về nông nghiệp (Cây công nghiệp nhiệt đới, cận nhiệt)

    -Diện tích rừng và độ che phủ rừng cao nhất nước taÆphát triển lâm nghiệp nghiệp, du lịch

    -Không nhiều khoáng sản nhưng có qu ặng bô-xit với trữ l ượng hàng tỷ tấn Æphát triển công nghiệp -Trữ năng thủy điện tương đối lớn trên các sông: Xê Xan, Xrê Pok, thượng nguồn sông Đồng Nai

    • Có nhiều dân tộc thiểu số với nền văn hóa độc đáo và kinh nghiệm sản xuất phong phú Æphát triển du lịch c/ Hạn chế:
    • Đây là vùng thưa dân nhất cả nước

    -Mùa khô thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất và đời sống.

    -Thiếu lao động lành nghề.

    -Mức sống của nhân dân còn thấp, giáo dục, y tế còn kém phát triển…

    -Cơ sở hạ tầng còn thiếu, nhất là GTVT còn kém phát triển, các TTCN qui mô nhỏ.

    2.Phát triển cây công nghiệp lâu năm:

    a.Tiềm năng

    -Đất đỏ badan, giàu chất dinh dưỡng, tầng phong hóa sâu, phân bố tập trungÆ Vùng chuyên canh cây công nghiệp quy mô lớn.

    -Khí hậu có tính chất cận xích đạo, phân hóa theo độ cao, mùa khô kéo dài thuận lợi cho phát triể cây công nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt, phơi sấy, bảo quản các sản phẩm nông nghiệp

    b.Thực trạng

    -Café chiếm 4/5 diện tích trồng café cả nước (445.000 ha). Đắc Lắc là có diện tích café lớn nhất nước +Café chè: Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng

    +Café vối: Đắc Lắk.

    • Chè: 27 nghìn ha trồng nhiều ở Lâm đồng
    • Cao su lớn thứ 2 cả nước 109,4 nghìn ha (sau ĐNB), tập trung ở Gia Lai, Đắc Lắk. Biện pháp khắc phục:

     

    • Phát triển thuỷ lợi, chống xói mòn đất.
    • Thu hút lao động từ nơi khác đến tạo ra tập quán sản xuất mới.
    • Bảo đảm lương thực, thực phẩmÆ ổn định diện tích cây công nghiệp.
    • Hoàn thiện quy hoạch các vùng chuyên canh cây công nghiệp, mở rộng diện tích có kế hoạch, đi đôi với việc bảo vệ rừng và phát triển thuỷ lợi.
    • Đa dạng hoá cơ cấu cây công nghiệp.
    • Phát triển mô hình kinh tế vườn vườn trồng
    • Nâng cấp mạng lưới giao thông vận tải
    • Đẩy mạnh các cơ sở chế biến, xuất khẩu & thu hút đầu tư nước ngoài.

    3.Khai thác và chế biến lâm sản:

    a.Tiềm năng

    • Rừng diện tích lớn nhất nước chiếm 36% diện tích đất có rừng & 52% SL gỗ có thể khai thác của cả nước, là “kho vàng xanh”

    -Có nhiều gỗ quý, chim, thú có giá trị: cẩm lai, sến, trắc, voi, bò tót, tê giác…

    b.Thực trạng

    -Có hàng chục lâm trường khai thác, chế biến & trồng rừng

    -Liên hiệp lâm-nông-công nghiệp lớn nhất :Kon Hà Nừng (Gia Lai ), Gia Nghĩa (Đắc lắc)

    -Sản lượng khai thác gỗ hàng năm đều giảm

    -Nạn phá rừng gia tăng làm giảm sút lớp phủ thực vật, môi trường sống bị đe dọa, mực nước ngầm hạ thấp, đất đai dễ bị xói mòn…

    c.biện pháp

    • Biện pháp ngăn chặn nạn phá rừng, khai thác hợp lý đi đôi với trồng rừng mới,
    • Đẩy mạnh giao đất, giao rừng, chế biến tại địa phương và hạn chế xuất khẩu gỗ tròn.

    4./Khai thác thủy năng kết hợp với thủy lợi: a.Thực trạng:

    Thế mạnh thủy điện đang khai thác càng hiệu quả

    -Đã xây dựng một số nhà máy thuỷ điện:………………………

    -Đang xây dựng thêm:………………………………………………

    b.Ý nghĩa:

    -Cung cấp năng lượng để phát triển công nghiệp (khai thác và chế biến bột nhôm ) -Giải quyết nước tưới vào mùa khô, du lịch, nuôi trồng thủy sản

    5/ Phát triển chăn nuôi gia súc

    • Tiềm năng
      • Vùng có nhiều đồng cỏ
      • Người dân có kinh nghiêm trong chăn nuôi
      • Chính sách nhà nước thúc đầy ngành chăn nuôi
    • Thực trạng
      • Nuôi nhiều trâu: 71,9 nghìn con nuôi nhiều ở…………..
      • Nuôi nhiều bò: 616 nghìn con, nuôi nhiều ở……….

    5.Sự khác nhau về trồng cây CN lâu năm và chăn nuôi gia súc của vùng TN và TDMN Bắc Bộ a.TDMNBB:

    * Điều kiện

    -Đất feralit có độ phì không cao

    -Địa hình đồi núi bị chia cắt,ít mặt bằng lớn

    ÆQuy mô sản xuất nhỏ

    -Khí hậu lạnh ẩm thích hợp để nuôi trâu

    -Người dân có kinh nghiệm trồng và chế biến chè

    * Sản phẩm chuyên môn hóa: chè, trâu, bò sữa

    b.TN:

    * Điều kiện phát triển

    -Đất badan có độ phì cao

    -Địa hình tương đối bằng phẳng

    ÆQuy mô sản xuất lớn

    -Khí hâu cận xích đạo nóng khô,đồng cỏ lớnÆnuôi bò đàn,bò sữa theo quy mô lớn -Người dân có kinh nghiệm trồng và chế biến cà phê

    • Sản phẩm chuyên môn hóa: cà phê, cao su, hồ tiêu, trâu, bò thịt

    BÀI 39 VẤN ĐỀ KHAI THÁC LÃNH THỔ THEO CHIỀU SÂU Ở ĐÔNG NAM BỘ 1/ Các thế mạnh và hạn chế của vùng:

    a/ Vị trí địa lý:

    • Nằm liền kề ĐBSCL, Tây Nguyên, Campuchia, Duyên hải NTB là những vùng nguyên liệu dồi dào để phát triển công nghiệp chế biến, dễ dàng giao lưu bằng đường bộ
    • Cụm cảng Sài Gòn, Vũng Tàu là cửa ngõ giao thông quốc tế.

    b/ ĐKTN & TNTN:

    * Thế mạnh

    -Đất đỏ badan chiếm 40% diện tích vùng, đất xám,đất phù sa cổ ở Tây Ninh, Bình Dương.

    -Khí hậu cận xích đạo thuận lợi trồng cây công nghiệp nhiệt đới

    -Hệ thống sông Đồng Nai có giá trị lớn về thuỷ điện,giao thông, thuỷ lợi, thuỷ sản.

    -Vùng nằm gần các ngư trường l ớn: Ninh Thuận-Bình Thuận-BR-VT, Cà Mau-Kiên GiangÆ có điều kiện xây dựng các cảng cá, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.

    -Rừng: không nhiều nhưng là nguồn cung cấp gỗ , nguyên liệu giấy ,du lịch. Ven biển có rừng ngập mặn thuận lợi để nuôi trồng thuỷ sảnÆ Nam Cát Tiên, Cần Giờ

    -Khoáng sản: dầu, khí trữ lượ ng lớ n ở thềm lục địa Vũng Tàu; đất sét, cao lanh cho công nghiệp VLXD, gốm, sứ ở Đồng Nai, Bình Dương.

    * Hạn chế

    -Mùa khô kéo dài gây thiếu nước cho sản xuất & sinh hoạt.

    c/ ĐKKT-XH:

    * Thế mạnh

    -Lực lượng lao động lành nghề, có chuyên môn cao.

    -Có cơ sở vật chất-kỹ thuật hoàn thiện nhất nước, đặc biệt là GTVT & TTLL.

    -Có vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: tp.HCM-ĐN-BD-VT, đặc biệt quan trọng tp.HCM là TTCN, GTVT, DV lớn nhất nước.

    -Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đứng đầu cả nước.

    * Hạn chế

    -Giải quyết việc làm cho lao động từ vùng khác đến.

    – O nhiễm môi trường.

    -CSHT có phát triển nhưng chậm so với yêu cầu phát triển kinh tế của vùng.

    2/Khai thác lãnh thổ theo chiều sâu:

    Khai thác lãnh thổ theo chiều sâu là nâng cao hiệu quả khai thác lãnh thổ trên cơ sở đẩy mạnh đầu tư vốn, khoa học công nghệ , nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực tự nhiên và KT-XH, đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.

    a/Trong CN:

    *Hướng khai thác theo chiều sâu :

    • Chiếm tỷ trọng CN cao nhất nước (khoảng 55,6% GTSLCN cả nước)
    • Cơ cấu công nghiệp đa dạng, bao gồm nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao: công nghiệp điện tử, luyện kim, hóa chất, chế tạo máy, tin học, thực phẩm…
    • Công nghiệp rất phát triến nên nhu cầu năng lượng rất lớn: Tăng cường cải thiện & phát triển nguồn năng lượng:

    +Đường dây 500 kv từ Hòa Bình vào Phú Lâm (tp.HCM) +Xây dựng các nhà máy thuỷ điện:…………………….

    +Phát triển các nhà máy điện tuốc-bin khí: Phú Mỹ, Bà Rịa, Thủ Đức

    +Phát triển các nhà máy điện chạy bằng dầu phục vụ các khu công nghiệp, khu chế xuất.

    • Nâng cao, hoàn thiện CSHT, nhất là GTVT-TTLL.
    • Mở rộng hợp tác đầu tư nước ngoài, chú trọng các ngành trọng điểm, công nghệ cao, đặc biệt ngành hóa dầu trong ương lai.

    ÆTuy nhiên vấn đề môi trường cần phải quan tâm, tránh ảnh hưởng tới ngành du lịch.

    *Nguyên nhân:

    • Là vùng có vị trí thuận lợi, gần nguồn nguyên liệu
    • Là vùng năng động nhất nước
    • Lao động có chuyên môn kĩ thuật cao
    • Cơ sở hạ tầng hoàn thiện nhất nước
    • Vùng có sự đầu tư trong và ngoài nước

    b/ Trong nông-lâm nghiệp:

    Nông nghiệp

    *Hướng khai thác

    -Vấn đề thuỷ lợi có ý nghĩa hàng đầu. Nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng như hồ Dầu Tiếng, Phước Hòa

    -Đây là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất nước.

    • Thay đổi cơ cấu cây trồng,vật nuôi có năng suất cao và ứng dụng công nghệ thông

    tin

    • Trồng với qui mô lớn các loại cây công nghiệp…………………………….

    * Nguyên nhân

    -ĐNB có 1 mùa khô kéo dài cần giải quyết nước tưới

    -Do giống cao su cũ, già cỗi, năng suất thấp

    -Người dân có kinh nghiệm trồng cây công nghiệp

    • Vùng có điều kiện để phát triển nông nghiệp
    • Nhu cầu trong vùng lớn

    Lâm nghiệp:

    *Hướng khai thác

    • Cần được bảo vệ nhất là ở vùng thượng lưu các con sông để giữ nguồn nước ngầm, môi trường sinh thái.
    • Bảo vệ và quy hoạch tốt vùng rừng ngập mặn, vườn quốc gia

    *Nguyên nhân:

    • Khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong lâm nghiệp đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường,phát triển bền vững.
    • Vùng có nhiều rừng

    c/ Trong phát triển tổng hợp kinh tế biển:

    • Lí do để phát triển kinh tế biển
      • Có điều kiện thuận lợi phát triển tổng hợp kinh tế biển: Tài nguyên biển phong phú, đa dạng, nhiều vũng vịnh, nhiều bãi tắm ….
      • Khai thác dầu khí ở vùng thềm lục địa Nam Biển Đông, đã tác động đến sự phát triển của vùng, nhất là Vũng Tàu.
    • Các dịch vụ về dầu khí & sự phát triển ngành hóa dầu trong tương lai góp phần thúc đẩy sự thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế và sự phân hóa lãnh thổ ở ĐNB
    • Phát triển GTVT biển với cụm cảng Sài Gòn, Vũng Tàu.
    • Phát triển du lịch biển: Vũng Tàu, Long Hải…
    • Đẩy mạnh nuôi trồng & đánh bắt thuỷ sản.
    • Ngành công nghiệp dầu khí tác động đến nhiều ngành kinh tế khác
    • Ngành công nghiệp dầu khí tác động đến nhiều vùng kinh tế khác

    *Lí do bảo vệ môi trường biển

    • Vùng có nhiều rừng
    • Do khai thác khoáng sản, thủy sản … dễ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới phát triển du lịch, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của vùng
    • Công nghiệp rất phát triển tác động đến môi trường biển

    BÀI 41. ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    1. Các thế mạnh và hạn chế chủ yếu: a/ Thế mạnh:
      • Chủ yếu đất phù sa, gồm 3 nhóm đất chính:
        • Đất phù sa ngọt: (1,2 triệu ha ) ven sông Tiền, sông Hậu, là đất tốt nhất thích hợp trồng lúa.
        • Đất phèn (1,6 triệu ha) ở ĐTM, tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau.
        • Đất mặn (75 vạn ha )ven biển Đông và vịnh Thái Lan Æ sản xuất NN hoặc nuôi trồng thủy sản.

    -Khí hậu: có tính chất cận xích đạo, chế độ nhiệt cao ổn địnhÆ thuận lợi cho trồng trọt, nhất là trồng lúa

    • Sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Æđể tháu chua, rửa mặn, phát triển giao thông, nuôi trồng thuỷ sản, sinh hoạt.
    • Sinh vật: chủ yếu là rừng ngập mặn (Cà Mau, Bạc Liêu) & rừng tràm (Kiên Giang, Đồng Tháp). Có nhiều loại chim, cá(54% trữ lượng cá biển cả nước)Æ Phát triển lâm nghiệp, thúy sản
    • Khoáng sản: không nhiều chủ yếu là than bùn, dầu, khí ÆPhát triển CN năng lượng

    b/ Khó khăn:

    -Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn.

    -Mùa khô kéo dài gây thiếu nước & sự xâm nhập mặn

    -Thiên tai lũ lụt thường xảy ra.

    -Khoáng sản hạn chế

    3/ Sử dụng hợp lý và cải tạo tự nhiên ở ĐBSCL

    -Khai thác hợp lí và bảo vệ môi trường

    -Nước ngọt là vấn đề quan trọng hàng đầu

    -Duy trì và bảo vệ tài nguyên rừng.

    -Chuyển đổi cơ cấu kinh tế

    -Cần chủ động sống chung với lũ

    BÀI 42 VẤ N ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, AN NINH QUỐC PHÒNG Ở BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC ĐẢO, QUẦN ĐẢO 1/ Vùng biển và thềm lục địa của nước ta giàu tài nguyên:

    a/Nước ta có vùng biển rộng lớn:

    -Diện tích trên 1 triệu km2

    -Bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng chủ quyền kinh tế biển, vùng thềm lục địa.

    b/Phát triển tổng hợp kinh tế biển:

    -Nguồn lợ i SV: SV biển rất phong phú, nhiều loài có giá trị kinh tế cao: cá, tôm, mực, cua, đồi mồi, bào ngư…trên các đảo ven bờ NTB có nhiều chim yến.

    -Tài nguyên khoáng sản: muối biển, titan, cát thủy tinh, dầu khí

    -Có nhiều vũng vịnh thuận lợi xây dựng các cảng nước sâu, tạo điều kiện phát triển GTVT biển.

    -Phát triển du lịch biển-đảo thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước.

    2/ Đảo và quần đảo là bộ phận quan trọng của nước ta.Đây là nơi có nhiều tài nguyên,có vị trí quan trọng về an ninh,quốc phòng,cần phải bảo vệ :

    a/Đảo và quần đảo:

    -Có hơn 4.000 đảo lớn, nhỏ. Trong đó đảo lớn nhất là Phú Quốc.

    -Quần đảo: Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Sơn, Thổ Chu, Nam Du.

    • Biển nước ta có nhiều điều kiện để phát triển tổng hợp kinh tế biển:nguồn lợi sinh vật,tài nguyên ks,tài nguyên du lịch.

    -Các đảo và quần đảo có ý nghĩa chiến lược trong phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh vùng biển: tiền tiêu để bảo vệ đất liền và cơ sở để tiến ra biển trong điều kiện hiện nay

    b/Các huyện đảo ở nước ta:       Atlat

    3/Khai thác tổng hợp các tài nguyên vùng biển và hải đảo:

    a/Tại sao phải khai thác tổng hợp:

    -Hoạt động KT biển rất đa d ạng và phong phú, giữa các ngành KT biển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chỉ trong khai thác tổng hợp thì mới mang lại hiệu quả KT cao.

    -Môi trường biển không thể chia cắt được, vì vậy khi một vùng biển bị ô nhiễm sẽ gây thiệt hại rất lớn.

    -Môi trường đảo rất nhạy cảm trước tác động của con người, nếu khai thác mà không chú ý bảo vệ môi trường có thể biến thành hoang đảo.

    b/Khai thác tài nguyên SV biển và hải đảo:

    -Hiện trạng: Biển sâu trung bình,vùng biển nông,ấm quanh năm,sinh vật biển phong phú, ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh

    -Biện pháp: Cần tránh khai thác quá mức, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ,cấm sử dung các phương tiện đánh bắt có tính hủy diệt, hiện đại hóa các phương tiện đánh bắt

    c/Khai thác tài nguyên khoáng sản:

    *Hiện trạng :

    • Phát triển nghề làm muối, nhất là ở Duyên hải NTB.
    • Đẩy mạnh thăm dò và khai thác dầu, khí thềm lục địaÆphát triển CN hóa dầu, sx nhiệt điện, phân bón…
    • Biện pháp :
      • Bảo vệ môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác, vận chuyển và chế biến.
      • Xây dựng các nhà máy lọc dầu,hóa dầu

    d/Phát triển du lịch biển:

    *Hiện trạng

    • Từ B-N có nhiều bãi tắm rộng,phong cảnh đẹp,khí hậu tốtÆdu lịch,an dưỡng
    • Du lịch biển đảo đang là loại hình du lịch thu hút nhiều nhất du khách
    • Các trung tâm du lịch biển đã được nâng cấp và đưa vào khai thác như: Khu du lịch Hạ Long-Cát Bà-Đồ Sơn; Nha Trang; Vũng Tàu…
    • Các tuyến du lịch biển đảo đã hình thành

    *Bi ện pháp: Bảo vệ môi trường,đa dạng hoạt động du lịch,nâng cấp CSHT, khai thác bãi biển mới e/GTVT biển:

    *Hiện trạng

    Có nhiều vụng biển kín,nhiều cửa sôngÆxây dựng cảng

    -Hàng loạt hải cảng được cải tạo, nâng cấp: cụm cảng SG, HP, Quảng Ninh….

    -Một số cảng nước sâu được xây dựng: Cái Lân, Nghi Sơn, Dung Quất, Vũng Tàu…

    • Các tuyến vận tải biển đảo đã hình thành

    *Biện pháp

    • Phát triển giao thông quốc tế
    • Hiện đại hóa các cảng biển
    • Phát triển các dịch vụ hàng hải

    4/Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng trong giải quyết các vấn đề về biển và thềm lục địa:

    • Cần tăng cường đối thoại, hợp tác giữa VN và các nước, nhằm tạo sự ổn định và bảo vệ lợi ích chính đáng ,giữ vững chủ quyền,toàn vẹn lãnh thổ nước ta.
    • Mỗi công dân có bổn phận bảo vệ vùng biển và hải đảo.
    • Biển đông là vùng biển chung có nhiều tiềm năng
    • Việt nam là nước có nhiều lợi ích từ biển

    => Do vậy cần hợp tác giải quyết các vấn đề biển

    Bài 43 CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

    1/ Dặc điểm chung của 3 vùng kinh tế trọng điểm

    a/ Phạm vi lãnh thổ: bao gồm nhiều tỉnh và thành phố, ranh giới có thể thay đổi theo thới gian tùy thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước

    b/ Tên các tỉnh thành của mỗi vùng kinh tế trọng điểm

    • Vùng kinh tế trọng điểm phía bắc
    • Vùng kinh tế trọng điểm miền trung
    • Vùng kinh tế trọng điểm miền nam

    c/ Vai trò : có ý nghĩ a quyết định đối với nền kinh tế đấ t nước, có tỉ trọng GDP lớn, tốc độ phát triển kinh tế cao, có khả năng thu hút các ngành mớ i về công nghiệp và dịch vụ c/ Thực trạng phát triển kinh tế của 3 vùng kinh tế trọng điểm

    • Tốc độ tăng trưởng GDP
    • % GDP
    • Cơ cấu GDP

    Nông lâm ngư

    Công nghiệp xây dựng

    Dịch vụ

    • Kim ngạch xuất khẩu so với cả nước
    • Đặc điểm
    • Phạm vi gồm nhiều tỉnh, thành phố, ranh giới có sự thay đổi theo thời gian,tùy thuộc

    vào chiến lược phát triển KT-XH của đất nước.

    • Có đủ các thế mạnh, có tiềm lực KT và hấp dẫn đầu tư.
    • Vai trò: Có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế cả nước,có tỉ trọng GDP lớn,tốc độ phát triển kinh tế cao, có khả năng thu hút các ngành mới về CNghệ, DV

    2/ Ba vùng kinh tế trọng điểm

    a/ Vùng KTTĐ phía Bắc

    *Qui mô

    • Gồm 8 tỉnh………………………………………………………….
    • Diện tích: 15,3 nghìn km2 (4,7%)
    • Dân số: 13,7 triệu người (16,3%)

    – Tổng số GDP………… trong đó

    + Nông- lâm- ngư……….

    + Công nghiệp- xây dựng…………..

    + Dịch vụ…………………..

    *Thế mạnh

    • Vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu
    • Có thủ đô Hà Nội là trung tâm
    • Cơ sở hạ tầng phát triển, đặc biệt là hệ thống giao thông
    • Nguồn lao dộng dồi dào, chất lượng cao
    • Các ngành KT phát triển sớm, cơ cấu tương đối đa dạng
    • Có lị ch sử khai thác lãnh thổ lâu đời.

    *Thực

    trạng

    – Tổng số GDP………… trong đó

    + Nông- lâm- ngư……….

    + Công nghiệp- xây dựng…………..

    + Dịch vụ…………………..

    -Trung tâm: Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Hải Dương….

    *Định hướng phát triển:

    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa
    • Đẩy mạnh phát triển các ngành KTTĐ
    • Giải quyết vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm
    • Coi trọng vấn đề giảm thiểu ô nhiễm MT nước, không khí và đất.

    b/ Vùng KTTĐ miền Trung

    *Qui mô

    • Gồm 5 tỉnh: Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.
    • Diện tích: 28 nghìn km2 (8,5%)
    • Dân số: 6,3 triệu người (7,4%)

    – Tổng số GDP………… trong đó

    + Nông- lâm- ngư……….

    + Công nghiệp- xây dựng…………..

    + Dịch vụ…………………..

    *Thế mạnh

    • Vị trí chuyển tiếp từ vùng phía Bắc sang phía Nam. Là của ngõ thông ra biển với các cảng biển, sân bay: Đà Nẵng, Phú Bài… thuận lợi trong giao trong và ngoài nước
    • Có Đà Nẵng là trung tâm
    • Có thế mạnh về khai thác tổng hợp tài nguyên biển, khoáng sản, rừng
    • Còn khó khăn về lực lượng lao động và cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông

    *Thực trạng

    – Tổng số GDP………… trong đó

    + Nông- lâm- ngư……….

    + Công nghiệp- xây dựng…………..

    + Dịch vụ…………………..

    -Trung tâm: Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang

    • Định hướng phát triển:
      • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển tổng hợp tài nguyên biển, rừng, du lịch.
      • Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, giao thông
      • Phát triển các ngành công nghiệp chế biến, lọc dầu
      • Giải quyết vấn đề phòng chống thiên tai do bão.

    c/ Vùng KTTĐ phía Nam:

    • Qui mô

     

    • Gồm 8 tỉnh: TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang
    • Diện tích: 30,6 nghìn km2 (9,2%)
    • Dân số: 15,2 triệu người (18,1%)

    – Tổng số GDP………… trong đó

    + Nông- lâm- ngư……….

    + Công nghiệp- xây dựng…………..

    + Dịch vụ…………………..

    • Thế mạnh
      • Vị trí bản lề giữa Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ với ĐBSCL
      • Nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có: dầu mỏ, khí đốt
      • Dân cư, nguồn lao động dồi dào, có kinh nghiệm sản xuất và trình độ tổ chức sản xuất cao
      • Cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối tốt và đồng bộ
      • Có thế mạnh về khai thác tổng hợp tài nguyên biển, khoáng sản, rừng

    *Thực

    trạng

    – Tổng số GDP………… trong đó

    + Nông- lâm- ngư……….

    + Công nghiệp- xây dựng…………..

    + Dịch vụ…………………..

    -Trung tâm: TP.HCM, Biên Hòa, Vũng Tàu

    *Định hướng phát triển:

    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển các ngành công nghệ cao.
    • Hoàn thiện cơ sơ vật chất kỹ thuật, giao thông theo hướng hiện đại
    • Hình thành các khu công nghiệp tập trung công nghệ cao
    • Giải quyết vấn đề đô thị hóa và việc làm cho người lao động
    • Coi trọng vấn đề giảm thiểu ô nhiễm môi trường, không khí, nước…

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 12

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 12

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 12

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CUNG CẤP ĐIỆN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-C%C6%AF%C6%A0NG-%C3%94N-T%E1%BA%ACP-M%C3%94N-H%C3%93A-H%E1%BB%8CC-L%E1%BB%9AP-12.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 12

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 12

    CHƯƠNG 1: ESTE – CHẤT BÉO

     

    Câu 1: Số đồng phân este ứng với công thức phân tử C3H6O2 là

    1. 5. B. 4. C. 2.                            D. 3.

    Câu 2: Số đồng phân este ứng với công thức phân tử C4H8O2 là

    1. 2.                            B. 3.                             C. 4.                            D. 5.

    Câu 3: Số đồng phân đơn chức ứng với công thức phân tử C3H6O2 là

    1. 2.                            B. 3.                             C. 4.                            D. 5.

    Câu 4: Số đồng phân đơn chức ứng với công thức phân tử C4H8O2 là

    1. 6.                            B. 3.                             C. 4.                            D. 5.

    Câu 5: Cho tất cả các đồng phân đơn chức, mạch hở, có cùng công thức phân tử C2H4O2 lần lượt tác dụng với: Na, NaOH, NaHCO3. Số phản ứng xảy ra là

    1. 2. B. 5. C. 4.                            D. 3.

    Câu 6: Chất X có công thức phân tử C3H6O2, là este của axit axetic. Công thức cấu tạo thu gọn của X là

    1. C2H5COOH. B. HO-C2H4-CHO. C. CH3COOCH3.         D. HCOOC2H5.

    Câu 7: Hợp chất X có công thức cấu tạo: CH3CH2COOCH3. Tên gọi của X là:

    1. A. etyl axetat.              metyl propionat.      C. metyl axetat.                        D. propyl axetat.

    Câu 8: Thủy phân este E có công thức phân tử C4HO2 (có mặt H2SO4 loãng) thu được 2 sản phẩm hữu cơ X và Y. Từ X có thể điều chế trực tiếp ra Y bằng một phản ứng duy nhất. Tên gọi của E là:

    1. metyl propionat.      B. propyl fomat.          C. ancol etylic.                          D. etyl axetat.

    Câu 9: Este etyl axetat có công thức là

    1. CH3CH2OH. B. CH3COOH.              C. CH3COOC2H5.           D. CH3CHO.

    Câu 10: Đun nóng este HCOOCH3 với một lượng vừa đủ dung dịch NaOH, sản phẩm thu được là

    1. CH3COONa và C2H5OH. B. HCOONa và CH3OH.
    2. HCOONa và C2H5OH. D. CH3COONa và CH3OH.

    Câu 11: Este etyl fomat có công thức là

    1. CH3COOCH3. B. HCOOC2H5.               C. HCOOCH=CH2.    D. HCOOCH3.

    Câu 12: Đun nóng este CH3COOC2H5 với một lượng vừa đủ dung dịch NaOH, sản phẩm thu được là

    1. CH3COONa và CH3OH. B. CH3COONa và C2H5OH.
    2. HCOONa và C2H5OH. D. C2H5COONa và CH3OH.

    Câu 13: Thủy phân este X trong môi trường kiềm, thu được natri axetat và ancol etylic. Công thức của X là

    1. C2H3COOC2H5. B. CH3COOCH3. C. C2H5COOCH3.        D. CH3COOC2H5.

    Câu 14: Este metyl acrilat có công thức là

    1. CH3COOCH3. B. CH3COOCH=CH2. C. CH2=CHCOOCH3.    D. HCOOCH3.

    Câu 15: Este vinyl axetat có công thức là

    1. CH3COOCH3. B. CH3COOCH=CH2. C. CH2=CHCOOCH3.    D. HCOOCH3.

    Câu 16: Đun nóng este CH3COOCH=CH2 với một lượng vừa đủ dung dịch NaOH, sản phẩm thu được là

    1. CH2=CHCOONa và CH3OH. B. CH3COONa và CH3CHO.
    2. CH3COONa và CH2=CHOH. D. C2H5COONa và CH3OH.

    Câu 17: Đun nóng este CH2=CHCOOCH3 với một lượng vừa đủ dung dịch NaOH, sản phẩm thu được là

    1. CH2=CHCOONa và CH3OH. B. CH3COONa và CH3CHO.
    2. CH3COONa và CH2=CHOH. D. C2H5COONa và CH3OH.

    Câu 18: Khi đốt cháy hoàn toàn một este no, đơn chức thì số mol CO2 sinh ra bằng số mol O2 đã phản ứng. Tên gọi của este là

    1. n-propyl axetat. B. metyl axetat. C. etyl axetat.              D. metyl fomat.

    Câu 19: Hai chất hữu cơ X1 và X2 đều có khối lượng phân tử bằng 60 đvC. X1 có khả năng phản ứng với: Na, NaOH, Na2CO3. X2 phản ứng với NaOH (đun nóng) nhưng không phản ứng Na. Công thức cấu tạo của X1, X2 lần lượt là:

    1. CH3-COOH, CH3-COO-CH3. B. (CH3)2CH-OH, H-COO-CH3.
    2. H-COO-CH3, CH3-COOH. D. CH3-COOH, H-COO-CH3.

    Câu 20: Cho sơ đồ chuyển hóa sau (mỗi mũi tên là một phương trình phản ứng):

    Tinh bột → X → Y → Z → metyl axetat. Các chất Y, Z trong sơ đồ trên lần lượt là:

    1. C2H5OH, CH3COOH. B. CH3COOH, CH3OH.
    2. CH3COOH, C2H5OH. D. C2H4, CH3COOH.

    Câu 21: Một este có công thức phân tử là C4H6O2, khi thuỷ phân trong môi trường axit thu được axetanđehit. Công thức cấu tạo thu gọn của este đó là

    1. HCOO-C(CH3)=CH2. B. HCOO-CH=CH-CH3.
    2. CH3COO-CH=CH2.                       D. CH2=CH-COO-CH3.

    Câu 22: Cho glixerol phản ứng với hỗn hợp axit béo gồm C17H35COOH và C15H31COOH, số loại trieste được tạo ra tối đa là

    1. 6. B. 3. C. 5.                            D. 4.

    Câu 23: Cho các chất: etyl axetat, anilin, ancol etylic, axit acrylic, phenol, phenylamoni clorua, ancol benzylic,

    p-crezol. Trong các chất này, số chất tác dụng được với dung dịch NaOH là

    1. 4. B. 6.                             C. 5.                            D. 3.

    Câu 24: Khi thuỷ phân chất béo trong môi trường kiềm thì thu được muối của axit béo và

    1. phenol. B. glixerol. C. ancol đơn chức.      D. este đơn chức.

    Câu 25: Khi xà phòng hóa tristearin ta thu được sản phẩm là

    1. C15H31COONa và etanol. B. C17H35COOH và glixerol.
    2. C15H31COOH và glixerol. D. C17H35COONa và glixerol.

    Câu 26: Khi xà phòng hóa tripanmitin ta thu được sản phẩm là

    1. C15H31COONa và etanol. B. C17H35COOH và glixerol.
    2. C15H31COONa và glixerol.  D. C17H35COONa và glixerol.

    Câu 27: Khi xà phòng hóa triolein ta thu được sản phẩm là

    1. C15H31COONa và etanol. B. C17H35COOH và glixerol.
    2. C15H31COONa và glixerol. D. C17H33COONa và glixerol.

    Câu 28: Khi thuỷ phân trong môi trường axit tristearin ta thu được sản phẩm là

    1. C15H31COONa và etanol. B. C17H35COOH và glixerol.
    2. C15H31COOH và glixerol. D. C17H35COONa và glixerol.

    Câu 29: Đun 12 gam axit axetic với 13,8 gam etanol (có H2SO4 đặc làm xúc tác) đến khi phản ứng đạt tới trạng thái cân bằng, thu được 11 gam este. Hiệu suất của phản ứng este hóa là (Cho H = 1; C = 12; O = 16).

    1. 50% B.  62,5%                    C. 55%                        D. 75%

    Câu 30: Cho 6 gam một este của axit cacboxylic no đơn chức và ancol no đơn chức phản ứng vừa hết với 100 ml dung dịch NaOH 1M. Tên gọi của este đó là

    1. etyl axetat. B. propyl fomat. C. metyl axetat.           D. metyl fomat.

    Câu 31: Để trung hòa lượng axit tự do có trong 14 gam một mẫu chất béo cần 15ml dung dịch KOH 0,1M. Chỉ số axit của mẫu chất béo trên là (Cho H = 1; O = 16; K = 39)

    1. 4,8 B. 6,0                            C. 5,5                            D. 7,2

    Câu 32: Xà phòng hoá hoàn toàn 22,2 gam hỗn hợp gồm hai este HCOOC2H5 và CH3COOCH3 bằng dung dịch NaOH 1M (đun nóng). Thể tích dung dịch NaOH tối thiểu cần dùng là

    1. 400 ml. B. 300 ml. C. 150 ml.                   D. 200 ml.

    Câu 33: Xà phòng hoá hoàn toàn 17,24 gam chất béo cần vừa đủ 0,06 mol NaOH. Cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được khối lượng xà phòng là

    1. 16,68 gam. B. 18,38 gam. C. 18,24 gam.              D. 17,80 gam.

    Câu 34: Xà phòng hóa 8,8 gam etyl axetat bằng 200 ml dung dịch NaOH 0,2M. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, cô cạn dung dịch thu được chất rắn khan có khối lượng là (cho H = 1, C = 12, O = 16, Na = 23)

    1. 3,28 gam. B. 8,56 gam. C. 8,2 gam.                  D. 10,4 gam.

    Câu 35: Cho dãy các chất: HCHO, CH3COOH, CH3COOC2H5, HCOOH, C2H5OH, HCOOCH3. Số chất trong dãy tham gia phản ứng tráng gương là

    1. 3. B. 6. C. 4.                            D. 5.

    Câu 36: Chất X có công thức phân tử C2H4O2, cho chất X tác dụng với dung dịch NaOH tạo ra muối và nước. Chất X thuộc loại

    1. ancol no đa chức. B. axit không no đơn chức. C. este no đơn chức.    D. axit no đơn chức.

    Câu 37: Đốt cháy hoàn toàn 7,8 gam este X thu được 11,44 gam CO2 và 4,68 gam H2O. Công thức phân tử của este là

    1. C4H8O4 B. C4H8O2 C. C2H4O2                       D. C3H6O2

    Câu 38: Thuỷ phân hoàn toàn 11,44 gam este no, đơn chức, mạch hở X với 100ml dung dịch NaOH 1,3M (vừa đủ) thu được 5,98 gam một ancol Y. Tên gọi của X là

    1. Etyl fomat B. Etyl axetat C. Etyl propionat            D. Propyl axetat

    Câu 39: Thuỷ phân este X có CTPT C4H8O2 trong dung dịch NaOH thu được hỗn hợp hai chất  hữu cơ Y và Z trong đó Y có tỉ khối hơi so với H2 là 16. X có công thức là

    1. HCOOC3H7 B. CH3COOC2H5 C. HCOOC3H5                D. C2H5COOCH3

    Câu 40: Propyl fomiat được điều chế từ

    1. axit fomic và ancol metylic. B. axit fomic và ancol propylic.
    2. axit axetic và ancol propylic. D. axit propionic và ancol metylic.

    Câu 41: Để trung hoà 14 gam một chất béo cần 1,5 ml dung dịch KOH 1M. Chỉ số axit của chất béo đó là

    1. 6         B. 5                                C. 7                               D. 8

    Câu 42: Có thể gọi tên este (C17H33COO)3C3H5

    1. triolein B. tristearin C. tripanmitin                 D. stearic

    Câu 43: Đun nóng chất béo cần vừa đủ 40 kg dung dịch NaOH 15%, giả sử phản ứng xảy ra hoàn toàn. Khối lượng (kg) glixerol thu được là           A. 13,8                                    B. 4,6                           C. 6,975                      D. 9,2

    Câu 44: Xà phòng hoá hoàn toàn 37,0 gam hỗn hợp 2 este là HCOOC2H5 và CH3COOCH3 bằng dung dịch NaOH, đun nóng. Khối lượng NaOH cần dùng là

    1. 8,0g B. 20,0g C. 16,0g                          D. 12,0g

    Câu 45: Hợp chất Y có công thức phân tử C4H8O2. Khi cho Y tác dụng với dung dịch NaOH sinh ra chất Z có công thức C3H5O2Na. Công thức cấu tạo của Y là

    1. C2H5COOC2H5. B. CH3COOC2H5. C. C2H5COOCH3.           D. HCOOC3H7.

    Câu 46: Xà phòng hoá hoàn toàn 17,6 gam hỗn hợp 2 este là etyl axetat và metyl propionat bằng lượng vừa đủ v (ml) dung dịch NaOH 0,5M. Giá trị v đã dùng là

    1. 200 ml. B. 500 ml. C. 400 ml.                      D. 600 ml.

    Câu 47: Trong phân tử este (X) no, đơn chức, mạch hở có thành phần oxi chiếm 36,36 % khối lượng. Số đồng phân cấu tạo của X là                       A. 4.                            B. 2.                             C. 3.                            D. 5.

     

    CHƯƠNG 2: GLUCOZƠ – SACCAROZƠ – TINH BỘT – XENLULOZƠ

     

    Câu 1: Trong phân tử của cacbohyđrat luôn có

    1. nhóm chức axit. B. nhóm chức xeton. C. nhóm chức ancol.   D. nhóm chức anđehit.

    Câu 2: Chất thuộc loại đisaccarit là

    1. glucozơ. B. saccarozơ. C. xenlulozơ.               D. fructozơ.

    Câu 3: Hai chất đồng phân của nhau là

    1. glucozơ và mantozơ. B. fructozơ và glucozơ. C. fructozơ và mantozơ.    D. saccarozơ và glucozơ.

    Câu 4: Trong điều kiện thích hợp glucozơ lên men tạo thành khí CO2

    1. C2H5OH. B. CH3COOH. C. HCOOH.                 D. CH3CHO.

    Câu 5: Saccarozơ và glucozơ đều có

    1. phản ứng với AgNO3 trong dung dịch NH3, đun nóng.
    2. phản ứng với dung dịch NaCl.
    3. phản ứng với Cu(OH)2 ở nhiệt độ thường tạo thành dung dịch xanh lam.
    4. phản ứng thuỷ phân trong môi trường axit.

    Câu 6: Cho sơ đồ chuyển hoá: Glucozơ ® X ® Y ® CH3COOH. Hai chất X, Y lần lượt là

    1. CH3CHO và CH3CH2OH. B. CH3CH2OH và CH3CHO.
    2. CH3CH(OH)COOH và CH3CHO. D. CH3CH2OH và CH2=CH2.

    Câu 7: Chất tham gia phản ứng tráng gương là

    1. xenlulozơ. B. tinh bột. C. fructozơ.                 D. saccarozơ.

    Câu 8: Chất không phản ứng với AgNO3 trong dung dịch NH3, đun nóng tạo thành Ag là

    1. C6H12O6 (glucozơ). B. CH3COOH. C. HCHO. D. HCOOH.

    Câu 9: Dãy gồm các dung dịch đều tác dụng với Cu(OH)2 là

    1. glucozơ, glixerol, ancol etylic. B. glucozơ, andehit fomic, natri axetat.
    2. glucozơ, glixerol, axit axetic. D. glucozơ, glixerol, natri axetat.

    Câu 10: Để chứng minh trong phân tử của glucozơ có nhiều nhóm hiđroxyl, người ta cho dung dịch glucozơ phản ứng với

    1. Cu(OH)2 trong NaOH, đun nóng. B. AgNO3 trong dung dịch NH3, đun nóng.
    2. Cu(OH)2 ở nhiệt độ thường. D. kim loại Na.

    Câu 11: Khi lên men 360 gam glucozơ với hiệu suất 100%, khối lượng ancol etylic thu được là

    1. 184 gam. B. 276 gam. C. 92 gam.                   D. 138 gam.

    Câu 12: Cho m gam glucozơ lên men thành rượu etylic với hiệu suất 80%. Hấp thụ hoàn toàn khí CO2 sinh ra vào nước vôi trong dư thu được 20 gam kết tủa. Giá trị của m là

    1. 14,4 B. 45. C. 11,25                      D. 22,5

    Câu 13: Đun nóng dung dịch chứa 27 gam glucozơ với AgNO3 trong dung dịch NH3 (dư) thì khối lượng Ag tối đa thu được là

    1. 16,2 gam. B. 10,8 gam. C. 21,6 gam.                D. 32,4 gam.

    Câu 14: Cho 50ml dung dịch glucozơ chưa rõ nồng độ tác dụng với một lượng dư AgNO3 trong dung dịch NH3 thu

    được 2,16 gam bạc kết tủa. Nồng độ mol (hoặc mol/l) của dung dịch glucozơ đã dùng là (Cho Ag = 108)

    1. 0,20M B. 0,01M                     C. 0,02M                     D. 0,10M

    Câu 15: Lượng glucozơ cần dùng để tạo ra 1,82 gam sobitol với hiệu suất 80% là

    1. 2,25 gam. B. 1,80 gam. C. 1,82 gam.                D. 1,44 gam.

    Câu 16: Đun nóng xenlulozơ trong dung dịch axit vô cơ, thu được sản phẩm là

    1. saccarozơ. B. glucozơ. C. fructozơ.                 D. mantozơ.

    Câu 17: Cho sơ đồ chuyển hóa sau: Tinh bột → X → Y → axit axetic. X và Y lần lượt là

    1. ancol etylic, anđehit axetic. B. glucozơ, ancol etylic.
    2. glucozơ, etyl axetat. D. glucozơ, anđehit axetic.

    Câu 18: Tinh bột, xenlulozơ, saccarozơ, mantozơ đều có khả năng tham gia phản ứng

    1. hoà tan Cu(OH)2. B. trùng ngưng. C. tráng gương.            D. thủy phân.

    Câu 19: Một chất khi thủy phân trong môi trường axit, đun nóng không tạo ra glucozơ. Chất đó là

    1. protit. B. saccarozơ. C. tinh bột.                  D. xenlulozơ.

    Câu 20: Cho dãy các chất: glucozơ, xenlulozơ, saccarozơ, tinh bột, fructozơ. Số chất trong dãy tham gia phản ứng tráng gương là

    1. 3. B. 4. C. 2.                            D. 5.

    Câu 21: Thủy phân 324 gam tinh bột với hiệu suất của phản ứng là 75%, khối lượng glucozơ thu được là

    1. 250 gam. B. 300 gam. C. 360 gam.                 D. 270 gam.

    Câu 22: Từ 16,20 tấn xenlulozơ người ta sản xuất được m tấn xenlulozơ trinitrat (biết hiệu suất phản ứng tính theo xenlulozơ là 90%). Giá trị của m là

    1. 26,73. B. 33,00. C. 25,46.                     D. 29,70.

    Câu 23: Cho các chất: ancol etylic, glixerol, glucozơ, đimetyl ete và axit fomic. Số chất tác dụng được với Cu(OH)2 là            A. 3.                            B. 1.                             C. 4.                            D. 2.

    Câu 24: Muốn có 2610 gam glucozơ thì khối l­ượng saccarozơ cần đem thuỷ phân hoàn toàn là

    1. 4595 gam. B. 4468 gam. C. 4959 gam.                  D. 4995 gam.

    Câu 25: Thuốc thử để phân biệt glucozơ và fructozơ là

    1. Cu(OH)2 B. dung dịch brom. C. [Ag(NH3)2] NO3         D. Na

    Câu 26: Đun nóng 37,5 gam dung dịch glucozơ với lượng AgNO3/dung dịch NH3 dư, thu được 6,48 gam bạc. Nồng độ % của dung dịch glucozơ là

    1. 11,4 % B. 14,4 % C. 13,4 %                       D. 12,4 %

    Câu 27: Phân tử khối trung bình của xenlulozơ là 1620 000. Giá trị n trong công thức (C6H10O5)n

    1. 10000 B. 8000 C. 9000                          D. 7000

    Câu 28: Tráng bạc hoàn toàn m gam glucozơ thu được 86,4 gam Ag. Nếu lên men hoàn toàn m gam  glucozơ rồi cho khí CO2 thu được hấp thụ vào nước vôi trong dư thì lượng kết tủa thu được là

    1. 60g. B. 20g. C. 40g.                            D. 80g.

    Câu 29: Trong các chất sau: axit axetic, glixerol, glucozơ, ancol etylic, xenlulozơ. Số chất hòa tan được Cu(OH)2 ở nhiệt độ thường là

    1. 3 B. 5 C. 1                                D. 4

    Câu 30: Lên men 41,4 gam glucozơ với hiệu suất 80%, lượng khí thu được cho hấp thụ hoàn toàn vào dung dịch nước vôi trong dư thì lượng kết tủa thu được là

    1. 18,4 B. 28,75g C. 36,8g                          D. 23g.

    Câu 31: Cho m gam glucozơ lên men thành ancol etylic. Khí sinh ra cho vào nuớc vôi trong dư thu được 120 gam kết tủa, biết hiệu suất quá trình lên men đạt 60%. Giá trị m là

    1. 225 gam. B. 112,5 gam. C. 120 gam.                    D. 180 gam.

    Câu 32: Cho các dung dịch sau: saccarozơ, glucozơ, anđehit axetic, glixerol, ancol etylic, axetilen, fructozơ. Số lượng dung dịch có thể tham gia phản ứng tráng gương là

    1. 3. B. 4. C. 5.                               D. 2.

    Câu 33: Khi thủy phân saccarozơ thì thu được

    1. ancol etylic. B. glucozơ và fructozơ. C. glucozơ.                              D. fructozơ.

    Câu 34: Công thức nào sau đây là của xenlulozơ?

    1. [C6H7O2(OH)3]n. B. [C6H8O2(OH)3]n. C. [C6H7O3(OH)3]n.         D. [C6H5O2(OH)3]n.

    Câu 35: Dãy các chất nào sau đây đều có phản ứng thuỷ phân trong môi trường axit?

    1. Tinh bột, xenlulozơ, glucozơ. B. Tinh bột, xenlulozơ, fructozơ.
    2. Tinh bột, xenlulozơ, saccarozơ. D. Tinh bột, saccarozơ, fructozơ

     

    CHƯƠNG 3: AMIN – AMINOAXIT – PEPTIT – PROTEIN

    AMIN – ANILIN

     

    Câu 1: Số đồng phân amin có công thức phân tử C2H7N là

    1. 4. B. 3. C. 2.                            D. 5.

    Câu 2: Số đồng phân amin có công thức phân tử C3H9N là

    1. 4. B. 3. C. 2.                            D. 5.

    Câu 3: Số đồng phân amin có công thức phân tử C4H11N là

    1. 5. B. 7. C. 6.                            D. 8.

    Câu 4: Số đồng phân amin bậc một ứng với công thức phân tử C3H9N là

    1. 4. B. 3. C. 2.                            D. 5.

    Câu 5: Số đồng phân amin bậc một ứng với công thức phân tử C4H11N là

    1. 4. B. 3. C. 2.                            D. 5.

    Câu 6: Có bao nhiêu amin chứa vòng benzen có cùng công thức phân tử C7H9N ?

    1. 3 amin.                     B. 5 amin.                    C. 6 amin.                    D. 7 amin.

    Câu 7: Anilin có công thức là

    1. CH3COOH. B. C6H5OH. C. C6H5NH2.                D. CH3OH.

    Câu 8: Trong các chất sau, chất nào là amin bậc 2?

    1. H2N-[CH2]6–NH2         B. CH3–CH(CH3)–NH2   C.  CH3–NH–CH3                 D. C6H5NH2

    Câu 9: Có bao nhiêu amin bậc hai có cùng công thức phân tử C5H13N ?

    1. 4 amin.                     B. 5 amin.                          C. 6 amin.                          D. 7 amin.

    Câu 10: Trong các tên gọi dưới đây, tên nào phù hợp với chất CH3–CH(CH3)–NH2?

    1. Metyletylamin.         B. Etylmetylamin.              C. Isopropanamin.             D. Isopropylamin.

    Câu 11: Trong các tên gọi dưới đây, chất nào có lực bazơ mạnh nhất ?

    1. NH3                          B. C6H5CH2NH2                 C. C6H5NH2                       D. (CH3)2NH

    Câu 12: Trong các tên gọi dưới đây, chất nào có lực bazơ yếu nhất ?

    1. C6H5NH2                      B. C6H5CH2NH2                 C. (C6H5)2NH                    D. NH3

    Câu 13: Trong các tên gọi dưới đây, tên nào phù hợp với chất C6H5-CH2-NH2?

    1. Phenylamin. B. Benzylamin.                  C. Anilin.                           D. Phenylmetylamin.

    Câu 14: Trong các chất dưới đây, chất nào có tính bazơ mạnh nhất ?

    1. C6H5NH2. B. (C6H5)2NH                     C. p-CH3-C6H4-NH2.          D. C6H5-CH2-NH2

    Câu 15: Chất không có khả năng làm xanh nước quỳ tím là

    1. Anilin B. Natri hiđroxit. C. Natri axetat.            D. Amoniac.

    Câu 16: Chất không phản ứng với dung dịch NaOH là

    1. C6H5NH3Cl. B. C6H5CH2OH. C. p-CH3C6H4OH.       D. C6H5OH.

    Câu 17: Để tách riêng từng chất từ hỗn hợp benzen, anilin, phenol ta chỉ cần dùng các hoá chất (dụng cụ,điều kiện thí nghiệm đầy đủ) là

    1. dung dịch NaOH, dung dịch HCl, khí CO2. B. dung dịch Br2, dung dịch HCl, khí CO2.
    2. dung dịch Br2, dung dịch NaOH, khí CO2. D. dung dịch NaOH, dung dịch NaCl, khí CO2.

    Câu 18: Dãy gồm các chất đều làm giấy quỳ tím ẩm chuyển sang màu xanh là:

    1. anilin, metyl amin, amoniac. B. amoni clorua, metyl amin, natri hiđroxit.
    2. anilin, amoniac, natri hiđroxit. D. metyl amin, amoniac, natri axetat.

    Câu 19: Kết tủa xuất hiện khi nhỏ dung dịch brom vào

    1. ancol etylic. B. benzen.                  C. anilin.                      D. axit axetic.

    Câu 20: Chất làm giấy quỳ tím ẩm chuyển thành màu xanh là

    1. C2H5OH. B. CH3NH2. C. C6H5NH2.                D. NaCl.

    Câu 21: Anilin (C6H5NH2) phản ứng với dung dịch

    1. NaOH. B. HCl. C. Na2CO3.                  D. NaCl.

    Câu 22: Có 3 chất lỏng benzen, anilin, stiren, đựng riêng biệt trong 3 lọ mất nhãn. Thuốc thử để phân biệt 3 chất lỏng trên là

    1. dung dịch phenolphtalein. B. nước brom. C. dung dịch NaOH.                D. giấy quì tím.

    Câu 23: Anilin (C6H5NH2) và phenol (C6H5OH) đều có phản ứng với

    1. dung dịch NaCl. B. dung dịch HCl. C. nước Br2.                 D. dung dịch NaOH.

    Câu 24: Dung dịch metylamin trong nước làm

    1. quì tím không đổi màu. B. quì tím hóa xanh.
    2. phenolphtalein hoá xanh. D. phenolphtalein không đổi màu.

    Câu 25: Chất có tính bazơ là

    1. CH3NH2. B. CH3COOH. C. CH3CHO.                D. C6H5OH.

    Câu 26: Cho 500 gam benzen phản ứng với HNO3 (đặc) có mặt H2SO4 đặc, sản phẩm thu được đem khử thành anilin. Nếu hiệu suất chung của quá trình là 78% thì khối lượng anilin thu được là

    1. 456 gam. B. 564 gam. C. 465 gam.                 D. 546 gam.

    Câu 27: Cho 9,3 gam anilin (C6H5NH2) tác dụng vừa đủ với axit HCl. Khối lượng muối thu được là

    1. 11,95 gam. B. 12,95 gam. C. 12,59 gam.              D. 11,85 gam.

    Câu 28: Cho 5,9 gam etylamin (C3H7NH2) tác dụng vừa đủ với axit HCl. Khối lượng muối (C3H7NH3Cl) thu được là (Cho H = 1, C = 12, N = 14)

    1. 8,15 gam. B. 9,65 gam. C. 8,10 gam.                D. 9,55 gam.

    Câu 29: Cho 4,5 gam etylamin (C2H5NH2) tác dụng vừa đủ với axit HCl. Khối lượng muối thu được là

    1. 7,65 gam. B. 8,15 gam. C. 8,10 gam.                D. 0,85 gam.

    Câu 30: Cho anilin tác dụng vừa đủ với dung dịch HCl thu được 38,85 gam muối. Khối lượng anilin đã phản ứng là

    1. 18,6g                       B. 9,3g                         C. 37,2g                       D. 27,9g.

    Câu 31: Trung hòa 11,8 gam một amin đơn chức cần 200 ml dung dịch HCl 1M. Công thức phân tử của X là

    1. C2H5N                   B. CH5N                        C. C3H9N                     D. C3H7N

    Câu 32: Cho lượng dư anilin phản ứng hoàn toàn với dung dịch chứa 0,05 mol H2SO4 loãng. Khối lượng muối thu được bằng bao nhiêu gam?

    1. 7,1g.      B. 14,2g.                      C. 19,1g.                     D. 28,4g.

    Câu 33: Để trung hòa 20 gam dung dịch của một amin đơn chức X nồng độ 22,5% cần dùng 100ml dung dịch HCl 1M. Công thức phân tử của X là (Cho H = 1; C = 12; N = 14)

    1. C2H7N B. CH5N                      C. C3H5N                     D. C3H7N

    Câu 34: Cho 10 gam amin đơn chức X phản ứng hoàn toàn với HCl (dư), thu được 15 gam muối. Số đồng phân cấu tạo của X là

    1. 8. B. 7.                             C. 5.                            D. 4.

    Câu 35: Đốt cháy hoàn toàn 0,2 mol metylamin (CH3NH2), sinh ra V lít khí N2 (ở đktc). Giá trị của V là

    1. 4,48. B. 1,12. C. 2,24.                       D. 3,36.

    Câu 36: Đốt cháy hoàn toàn m gam metylamin (CH3NH2), sinh ra 2,24 lít khí N2 (ở đktc). Giá trị của m là

    1. 3,1 gam. B. 6,2 gam. C. 5,4 gam.                  D. 2,6 gam.

    Câu 37: Thể tích nước brom 3% (d = 1,3g/ml) cần dùng để điều chế 4,4 gam kết tủa 2,4,6 – tribrom anilin là

    1. 164,1ml. B. 49,23ml.                  C 146,1ml.                  D. 16,41ml.

    Câu 38: Đốt cháy hoàn toàn amin no đơn chức X, thu được 16,8 lít CO2 ; 2,8 lít N2 (đktc) và 20,25 g H2O. Công thức phân tử của X là

    1. C4H9N. B. C3H7N.                          C. C2H7N.                          D. C3H9N.

    Câu 39: Một amin đơn chức có chứa 31,111%N về khối lượng. Công thức phân tử và số đồng phân của amin tương ứng là

    1. CH5N; 1 đồng phân.        B. C2H7N; 2 đồng phân.   C. C3H9N; 4 đồng phân.     D. C4H11N; 8 đồng phân.

    Câu 40: Cho 11,25 gam C2H5NH2 tác dụng với 200 ml dung dịch HCl x(M). Sau khi phản ứng xong thu được dung dịch có chứa 22,2 gam chất tan. Giá trị của x là

    1. 1,3M B. 1,25M C. 1,36M                        D. 1,5M

    Câu 41: Đốt cháy hoàn toàn một amin no, đơn chức, mạch hở thu được tỉ lệ khối lượng của CO2 so với nước là 44 : 27. Công thức phân tử của amin đó là

    1. C3H7N B. C3H9N C. C4H9N                        D. C4H11N

    Câu 42: Cho m gam Anilin tác dụng hết với dung dịch Br2 thu được 9,9 gam kết tủa. Giá trị m đã dùng là

    1. 0,93 gam B. 2,79 gam C. 1,86 gam                    D. 3,72 gam

    Câu 43: Ba chất lỏng: C2H5OH, CH3COOH, CH3NH2 đựng trong ba lọ riêng biệt. Thuốc thử dùng để phân biệt ba chất trên là

    1. quỳ tím. B. kim loại Na. C. dung dịch Br2.         D. dung dịch NaOH.

    Câu 44. Dãy gồm các chất được xếp theo chiều tính bazơ giảm dần từ trái sang phải là

    1. CH3NH2, NH3, C6H5NH2. B. CH3NH2, C6H5NH2, NH3.   
    2. C6H5NH2, NH3, CH3NH2. D. NH3, CH3NH2, C6H5NH2.

    Câu 45: Cho dãy các chất: phenol, anilin, phenylamoni clorua, natri phenolat, etanol. Số chất trong dãy phản ứng được với NaOH (trong dung dịch) là

    1. 3. B. 2. C. 1.                            D. 4.

     

    AMINOAXIT – PEPTIT – PROTEIN

     

    Câu 1: Amino axit là hợp chất hữu cơ trong phân tử

    1. chứa nhóm cacboxyl và nhóm amino. B. chỉ chứa nhóm amino.
    2. chỉ chứa nhóm cacboxyl. D. chỉ chứa nitơ hoặc cacbon.

    Câu 2: C4H9O2N có mấy đồng phân amino axit có nhóm amino ở vị trí α?

    1. 4. B. 3.                             C. 2.                            D. 5.

    Câu 3: Có bao nhiêu amino axit có cùng công thức phân tử C4H9O2N?

    1. 3 chất.                B. 4 chất.                     C. 5 chất.                     D. 6 chất.

    Câu 4: Có bao nhiêu amino axit có cùng công thức phân tử C3H7O2N?

    1. 3 chất.                B. 4 chất.                     C. 2 chất.                     D. 1 chất.

    Câu 5: Trong các tên gọi dưới đây, tên nào không phù hợp với chất CH3–CH(NH2)–COOH ?

    1. Axit 2-aminopropanoic. B. Axit a-aminopropionic.      C. Anilin.                     D. Alanin.

    Câu 6: Trong các tên gọi dưới đây, tên nào không phù hợp với chất CH3-CH(CH3)-CH(NH2)-COOH?

    1. Axit 3-metyl-2-aminobutanoic.                   B. Valin.
    2. Axit 2-amino-3-metylbutanoic. D. Axit a-aminoisovaleric.

    Câu 7: Trong các chất dưới đây, chất nào là glixin?

    1. H2N-CH2-COOH                                    B. CH3–CH(NH2)–COOH
    2. HOOC-CH2CH(NH2)COOH D. H2N–CH2-CH2–COOH

    Câu 8: Dung dịch của chất nào sau đây không làm đổi màu quỳ tím :

    1. Glixin (CH2NH2-COOH)                                    B. Lizin (H2NCH2-[CH2]3CH(NH2)-COOH)
    2. Axit glutamic (HOOCCH2CHNH2COOH) D. Natriphenolat (C6H5ONa)

    Câu 9: Chất X vừa tác dụng được với axit, vừa tác dụng được với bazơ. Chất X là

    1. CH3COOH. B. H2NCH2COOH. C. CH3CHO.                D. CH3NH2.

    Câu 10: Chất nào sau đây vừa tác dụng được với H2NCH2COOH, vừa tác dụng được với CH3NH2?

    1. NaCl. B. HCl. C. CH3OH.                  D. NaOH.

    Câu 11: Chất rắn không màu, dễ tan trong nước, kết tinh ở điều kiện thường là

    1. C6H5NH2. B. C2H5OH. C. H2NCH2COOH.      D. CH3NH2.

    Câu 12: Chất tham gia phản ứng trùng ngưng là

    1. C2H5OH. B. CH2 = CHCOOH. C. H2NCH2COOH.      D. CH3COOH.

    Câu 13: Cho dãy các chất: C6H5NH2 (anilin), H2NCH2COOH, CH3CH2COOH, CH3CH2CH2NH2, C6H5OH (phenol).  Số chất trong dãy tác dụng được với dung dịch HCl là

    1. 4. B. 2. C. 3.                            D. 5.

    Câu 14: Để chứng minh aminoaxit là hợp chất lưỡng tính ta có thể dùng phản ứng của chất này lần lượt với

    1. dung dịch KOH và dung dịch HCl. B. dung dịch NaOH và dung dịch NH3.
    2. dung dịch HCl và dung dịch Na2SO4 . D. dung dịch KOH và CuO.

    Câu 15: Chất phản ứng được với các dung dịch: NaOH, HCl là

    1. C2H6. B. H2N-CH2-COOH. C. CH3COOH.             D. C2H5OH.

    Câu 16: Axit aminoaxetic (H2NCH2COOH) tác dụng được với dung dịch

    1. NaNO3. B. NaCl. C. NaOH.                    D. Na2SO4.

    Câu 17: Dung dịch của chất nào trong các chất dưới đây không làm đổi màu quỳ tím ?

    1. CH3NH2.                 B. NH2CH2COOH        C. HOOCCH2CH2CH(NH2)COOH.     D. CH3COONa.

    Câu 18: Để phân biệt 3 dung dịch H2NCH2COOH, CH3COOH và C2H5NH2 chỉ cần dùng một thuốc thử là

    1. dung dịch NaOH. B. dung dịch HCl.        C. natri kim loại.          D. quỳ tím.

    Câu 19: Có các dung dịch riêng biệt sau: C6H5-NH3Cl (phenylamoni clorua), H2N-CH2-CH2-CH(NH2)-COOH, ClH3N-CH2-COOH, HOOC-CH2-CH2-CH(NH2)-COOH, H2N-CH2-COONa. Số lượng các dung dịch có pH < 7 là

    1. 2. B. 5.                             C. 4.                            D. 3.

    Câu 20: Glixin không tác dụng với

    1. H2SO4 loãng. B. CaCO3. C. C2H5OH.                 D. NaCl.

    Câu 21: Cho 7,5 gam axit aminoaxetic (H2N-CH2-COOH) phản ứng hết với dung dịch HCl. Sau phản ứng, khối lượng muối thu được là (Cho H = 1, C = 12, O = 16, Cl = 35, 5)

    1. 43,00 gam. B. 44,00 gam. C. 11,05 gam.                 D. 11,15 gam.

    Câu 22: Cho 7,5 gam axit aminoaxetic (H2N-CH2-COOH) phản ứng hết với dung dịch NaOH. Sau phản ứng, khối lượng muối thu được là (Cho H = 1, C = 12, O = 16, Na = 23)

    1. 9,9 gam. B. 9,8 gam. C. 7,9 gam.                     D. 9,7 gam.

    Câu 23: Cho m gam alanin phản ứng hết với dung dịch NaOH. Sau phản ứng, khối lượng muối thu được 11,1 gam. Giá trị m đã dùng là (Cho H = 1, C = 12, O = 16, Na = 23)

    1. 9,9 gam. B. 9,8 gam. C. 8,9 gam.                     D. 7,5 gam.

    Câu 24: Trong phân tử aminoaxit X có một nhóm amino và một nhóm cacboxyl. Cho 15,0 gam X tác dụng vừa đủ với dung dịch NaOH, cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được 19,4 gam muối khan. Công thức của X là

    1. H2NC3H6COOH. B. H2NCH2COOH. C. H2NC2H4COOH.     D. H2NC4H8COOH.

    Câu 25: 1 mol a – amino axit X  tác dụng vừa hết với 1 mol HCl tạo ra muối Y có hàm lượng clo là 28,287% Công thức cấu tạo của X là

    1. CH3-CH(NH2)–COOH B. H2N-CH2-CH2-COOH
    2. H2N-CH2-COOH                                                    D. H2N-CH2-CH(NH2 )-COOH

    Câu 26: Khi trùng ngưng 13,1 g axit  e – aminocaproic với hiệu suất 80%, ngoài aminoaxit còn dư người ta thu được m gam polime và 1,44 g nước. Giá trị m là

    1. 10,41                      B. 9,04                         C. 11,02                     D. 8,43

    Câu 27: Este A được điều chế từ ancol metylic và amino axit no B(chứa một nhóm amino và một nhóm cacboxyl). Tỉ khối hơi của A so với oxi là 2,78125. Amino axit B là

    1. axit amino fomic. B. axit aminoaxetic.     C. axit glutamic.          D. axit β-amino propionic.

    Câu 28: Cứ 0,01 mol aminoaxit (A) phản ứng vừa đủ với 40 ml dung dịch NaOH 0,25M. Mặt khác 1,5 gam aminoaxit (A) phản ứng vừa đủ với 80 ml dung dịch NaOH 0,25M. Khối lượng phân tử của A là

    1. 150. B. 75. C. 105.                        D. 89.

    Câu 29: 0,01 mol aminoaxit (A) tác dụng vừa đủ với 50 ml dung dịch HCl 0,2M. Cô cạn dung dịch sau phản ứng được 1,835 gam muối khan. Khối lượng phân tử của A là

    1. 89. B. 103. C. 117.                                    D. 147.

    Câu 30: Một α- amino axit X chỉ chứa 1 nhóm amino và 1 nhóm cacboxyl. Cho 10,68 gam X tác dụng với HCl dư thu được 15,06 gam muối. Tên gọi của X là

    1. axit glutamic. B. valin. C. alanin.                        D. glixin

    Câu 31: Este A được điều chế từ-amino axit và ancol metylic. Tỉ khối hơi của A so với hidro bằng 44,5. Công thức cấu tạo của A là:

    1. CH3–CH(NH2)–COOCH3. B. H2N-CH2CH2-COOH
    2. H2N–CH2–COOCH3. D. H2N–CH2–CH(NH2)–COOCH3.

    Câu 32: A là một a–aminoaxit. Cho biết 1 mol A phản ứng vừa đủ với 1 mol HCl, hàm lượng clo trong muối thu được là 19,346%. Công thức của A là :

    1. HOOC–CH2CHCH(NH2)–COOH B. HOOC–CH2CHCH–CH(NH2)–COOH
    2. CH3CH2–CH(NH2)–COOH D. CH3CH(NH2)COOH

    Câu 33: Tri peptit là hợp chất

    1. mà mỗi phân tử có 3 liên kết peptit.
    2. có liên kết peptit mà phân tử có 3 gốc amino axit giống nhau.
    3. có liên kết peptit mà phân tử có 3 gốc amino axit khác nhau.
    4. có 2 liên kết peptit mà phân tử có 3 gốc α-amino axit.

    Câu 34: Có bao nhiêu tripeptit mà phân tử chứa 3 gốc amino axit khác nhau?

    1. 3 chất.                     B. 5 chất.                     C. 6 chất.                     D. 8 chất.

    Câu 35: Trong các chất dưới đây, chất nào là đipeptit ?

    1. H2N-CH2-CO-NH-CH2-CH2-COOH.
    2. H2N-CH2-CO-NH-CH(CH3)-COOH.
    3. H2N-CH2-CO-NH-CH(CH3)-CO-NH-CH2-COOH.
    4. H2N-CH(CH3)-CO-NH-CH2-CO-NH-CH(CH3)-COOH

    Câu 36: Từ glyxin (Gly) và alanin (Ala) có thể tạo ra mấy chất đipeptit ?

    1. 1 chất.                    B. 2 chất.                     C. 3 chất.                     D. 4 chất.

    Câu 37: Số đồng phân tripeptit tạo thành từ 1 phân tử glyxin và 2 phân tử alanin là

    1. 2. B. 3. C. 5.                            D. 4.

    Câu 38: Số đồng phân tripeptit có chứa gốc của cả glyxin và alanin là

    1. 6. B. 3. C. 5.                            D. 4.

    Câu 39: Sản phẩm cuối cùng của quá trình thủy phân các protein đơn giản nhờ chất xúc tác thích hợp là

    1. α-aminoaxit. B. β-aminoaxit.              C. axit cacboxylic.      D. este.

    Câu 40: Số đồng phân đipeptit tạo thành từ 1 phân tử glyxin và 1 phân tử alanin là

    1. 3. B. 1. C. 2.                            D. 4.

     

    CHƯƠNG 4: POLIME – VẬT LIỆU POLIME

     

    Câu 1: Polivinyl clorua có công thức là

    1. (-CH2-CHCl-)2. B. (-CH2-CH2-)n. C. (-CH2-CHBr-)n.       D. (-CH2-CHF-)n.

    Câu 2: Chất không có khả năng tham gia phản ứng trùng hợp là

    1. stiren. B. isopren. C. propen.                   D. toluen.

    Câu 3: Chất có khả năng tham gia phản ứng trùng hợp là

    1. propan.      B. propen.                 C. etan.                            D. toluen.

    Câu 4: Quá trình nhiều phân tử nhỏ (monome) kết hợp với nhau thành phân tử lớn (polime) đồng thời giải phóng những phân tử nước gọi là phản ứng

    1. nhiệt phân. B. trao đổi. C. trùng hợp.               D. trùng ngưng.

    Câu 5: Quá trình nhiều phân tử nhỏ (monome) kết hợp với nhau thành phân tử lớn (polime) đồng thời giải phóng những phân tử nước được gọi là phản ứng

    1. trao đổi. B. nhiệt phân. C. trùng hợp.               D. trùng ngưng.

    Câu 6: Tên gọi của polime có công thức (-CH2-CH2-)n là

    1. polivinyl clorua. B. polietilen. C. polimetyl metacrylat.          D. polistiren.

    Câu 7: Từ monome nào sau đây có thể điều chế được poli(vinyl ancol)?

    1. CH2=CH-COOCH3. B. CH2=CH-OCOCH3. C. CH2=CH-COOC2H5.          D. CH2=CH-CH2OH.

    Câu 8: Chất tham gia phản ứng trùng hợp tạo ra polime là

    1. CH3-CH2-Cl. B. CH3-CH3. C. CH2=CH-CH3.         D. CH3-CH2-CH3.

    Câu 9: Monome được dùng để điều chế polietilen là

    1. CH2=CH-CH3. B. CH2=CH2. C. CH≡CH.                  D. CH2=CH-CH=CH2.

    Câu 10: Dãy gồm các chất được dùng để tổng hợp cao su Buna-S là:

    1. CH2=C(CH3)-CH=CH2, C6H5CH=CH2. B. CH2=CH-CH=CH2, C6H5CH=CH2.
    2. CH2=CH-CH=CH2, lưu huỳnh. D. CH2=CH-CH=CH2, CH3-CH=CH2.

    Câu 11: Cho các polime sau: (-CH2 – CH2-)n ; (- CH2– CH=CH- CH2-)n ; (- NH-CH2 -CO-)n

    Công thức của các monome để khi trùng hợp hoặc trùng ngưng tạo ra các polime trên lần lượt là

    1. CH2=CHCl, CH3-CH=CH-CH3, CH3– CH(NH2)- COOH.
    2. CH2=CH2, CH2=CH-CH= CH2, NH2– CH2– COOH.
    3. CH2=CH2, CH3– CH=C= CH2, NH2– CH2– COOH.
    4. CH2=CH2, CH3– CH=CH-CH3, NH2– CH2– CH2– COOH.

    Câu 12: Trong số các loại tơ sau:

    (1) [-NH-(CH2)6-NH-OC-(CH2)4-CO-]n                (2) [-NH-(CH2)5-CO-]n                                 (3) [C6H7O2(OOC-CH3)3]n .

    Tơ nilon-6,6 là

    1. (1). B. (1), (2), (3).                             C. (3).                                  D. (2).

    Câu 13: Nhựa phenolfomandehit được điều chế bằng cách đun nóng phenol (dư) với dung dịch

    1. HCOOH trong môi trường axit. B. CH3CHO trong môi trường axit.
    2. CH3COOH trong môi trường axit. D. HCHO trong môi trường axit.

    Câu 14: Polivinyl axetat (hoặc poli(vinyl axetat)) là polime được điều chế bằng phản ứng trùng hợp

    1. C2H5COO-CH=CH2. B. CH2=CH-COO-C2H5.
    2. CH3COO-CH=CH2. D. CH2=CH-COO-CH3.

    Câu 15: Nilon–6,6 là một loại

    1. tơ axetat. B. tơ poliamit. C. polieste. D. tơ visco.

    Câu 16: Polime dùng để chế tạo thuỷ tinh hữu cơ (plexiglas) được điều chế bằng phản ứng trùng hợp

    1. CH2=C(CH3)COOCH3. B. CH2 =CHCOOCH3.
    2. C6H5CH=CH2. D. CH3COOCH=CH2.

    Câu 17: Polivinyl clorua (PVC) điều chế từ vinyl clorua bằng phản ứng

    1. trao đổi. B. oxi hoá – khử. C. trùng hợp.               D. trùng ngưng.

    Câu 18: Công thức cấu tạo của polibutađien là

    1. (-CF2-CF2-)n. B. (-CH2-CHCl-)n. C. (-CH2-CH2-)n.         D. (-CH2-CH=CH-CH2-)n.

    Câu 19: Tơ được sản xuất từ xenlulozơ là

    1. tơ tằm. B. tơ capron. C. tơ nilon-6,6.            D. tơ visco.

    Câu 20: Monome được dùng để điều chế polipropilen là

    1. CH2=CH-CH3. B. CH2=CH2. C. CH≡CH.                  D. CH2=CH-CH=CH2.

    Câu 21: Tơ được sản xuất từ xenlulozơ là

    1. tơ visco. B. tơ nilon-6,6. C. tơ tằm.                     D. tơ capron.

    Câu 22: Tơ lapsan thuộc loại

    1. tơ poliamit. B. tơ visco. C. tơ polieste.              D. tơ axetat.

    Câu 23: Tơ capron thuộc loại

    1. tơ poliamit. B. tơ visco. C. tơ polieste.              D. tơ axetat.

    Câu 24: Tơ nilon – 6,6 được điều chế bằng phản ứng trùng ngưng

    1. HOOC-(CH2)2-CH(NH2)-COOH. B. HOOC-(CH2)4-COOH và HO-(CH2)2-OH.
    2. HOOC-(CH2)4-COOH và H2N-(CH2)6-NH2. D. H2N-(CH2)5-COOH.

    Câu 25: Cho sơ đồ chuyển hoá: Glucozơ ® X ® Y ® Cao su Buna. Hai chất X, Y lần lượt là

    1. CH3CH2OH và CH3CHO. B. CH3CH2OH và CH2=CH2.
    2. CH2CH2OH và CH3-CH=CH-CH3. D. CH3CH2OH và CH2=CH-CH=CH2.

    Câu 26: Cao su buna được tạo thành từ  buta-1,3-đien bằng phản ứng

    1. trùng hợp              B.  trùng ngưng       C.  cộng hợp        D.  phản ứng thế

    Câu 27: Công thức phân tử của cao su thiên nhiên

    1. ( C5H8)n B. ( C4H8)n                         C. ( C4H6)n                         D. ( C2H4)n

    Câu 28: Chất không có khả năng tham gia phản ứng trùng ngưng là :

    1. glyxin.                      B. axit terephtaric.             C. axit axetic.                    D. etylen glycol.

    Câu 29: Tơ nilon -6,6 thuộc loại

    1. tơ nhân tạo. B. tơ bán tổng hợp.            C. tơ thiên nhiên.               D. tơ tổng hợp.

    Câu 30: Tơ visco không thuộc loại

    1. tơ hóa học.               B. tơ tổng hợp.                   C. tơ bán tổng hợp.            D. tơ nhân tạo.

    Câu 31. Trong các loại tơ dưới đây, tơ nhân tạo là

    1. tơ visco. B. tơ capron.                      C. tơ nilon -6,6.                 D. tơ tằm.

    Câu 32. Teflon là tên của một polime được dùng làm

    1. chất dẻo. B. tơ tổng hợp.                   C. cao su tổng hợp.            D. keo dán.

    Câu 33: Polime có cấu trúc mạng không gian (mạng lưới) là

    1. PVC. B. nhựa bakelit. C. PE.                          D. amilopectin.

    Câu 34: Tơ nilon-6,6 được tổng hợp từ phản ứng

    1. trùng hợp giữa axit ađipic và hexametylen đi amin C. trùng hợp từ caprolactan
    2. trùng ngưng giữa axit ađipic và hexametylen đi amin D. trùng ngưng từ caprolactan

    Câu 35: Từ 4 tấn C2H4  có chứa 30% tạp chất có thể điều chế bao nhiêu tấn PE ? (Biết hiệu suất phản ứng là 90%)  A. 2,55                             B. 2,8                           C. 2,52                        D.3,6

    Câu 36: Phân tử khối trung bình của PVC là 750000. Hệ số polime hoá của PVC là

    1. 12.000 B. 15.000 C. 24.000                    D. 25.000

    Câu 37: Phân tử khối trung bình của polietilen X là 420000. Hệ số polime hoá của PE là

    1. 12.000 B. 13.000 C. 15.000                    D. 17.000

    Câu 38: Khối lượng của một đoạn mạch tơ nilon-6,6 là 27346 đvC và của một đoạn mạch tơ capron là 17176 đvC. Số lượng mắt xích trong đoạn mạch nilon-6,6 và capron nêu trên lần lượt là

    1. 113 và 152. B. 121 và 114.           C. 121 và 152.                           D. 113 và 114.

     

    CHƯƠNG 5: ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI

    VỊ TRÍ CỦA KIM LOẠI TRONG HTTH

     

    Câu 1: Số electron lớp ngoài cùng của các nguyên tử kim loại thuộc nhóm IIA là

    1. 3. B. 2. C. 4.                            D. 1.

    Câu 2: Số electron lớp ngoài cùng của các nguyên tử kim loại thuộc nhóm IA là

    1. 3. B. 2. C. 4.                            D. 1.

    Câu 3: Công thức chung của oxit kim loại thuộc nhóm IA là

    1. R2O3. B. RO2. C. R2O.                        D. RO.

    Câu 4: Công thức chung của oxit kim loại thuộc nhóm IIA là

    1. R2O3. B. RO2. C. R2O.                        D. RO.

    Câu 5: Cấu hình electron của nguyên tử Na (Z =11) là

    1. 1s22s2 2p6 3s2. B. 1s22s2 2p6. C. 1s22s22p63s1.           D. 1s22s22p6 3s23p1.

    Câu 6: Hai kim loại đều thuộc nhóm IIA trong bảng tuần hoàn là

    1. Sr, K. B. Na, Ba. C. Be, Al.                    D. Ca, Ba.

    Câu 7: Hai kim loại đều thuộc nhóm IA trong bảng tuần hoàn là

    1. Sr, K. B. Na, K. C. Be, Al.                    D. Ca, Ba.

    Câu 8: Nguyên tử Fe có Z = 26, cấu hình e của Fe là

    1. [Ar ] 3d6 4s2.      B. [Ar ] 4s13d7.            C. [Ar ] 3d7 4s1.               D. [Ar ] 4s23d6.

    Câu 9: Nguyên tử Cu có Z = 29, cấu hình e của Cu là

    1. [Ar ] 3d9 4s2.   B. [Ar ] 4s23d9.            C. [Ar ] 3d10 4s1.             D. [Ar ] 4s13d10.

    Câu 10: Nguyên tử Cr có Z = 24, cấu hình e của Cr là

    1. [Ar ] 3d4 4s2.              B. [Ar ] 4s23d4.            C. [Ar ] 3d5 4s1.               D. [Ar ] 4s13d5.

    Câu 11: Nguyên tử Al có Z = 13, cấu hình e của Al là

    1. 1s22s22p63s23p1. B. 1s22s22p63s3.            C. 1s22s22p63s23p3.         D. 1s22s22p63s23p2.

    Câu 12: Cation M+ có cấu hình electron lớp ngoài cùng 2s22p6

    1. Rb+.        B. Na+.               C. Li+.                          D. K+.

     

    TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI – DÃY ĐIỆN HÓA CỦA KIM LOẠI

     

    Câu 13: Kim loại nào sau đây có tính dẫn điện tốt nhất trong tất cả các kim loại?

    1. Vàng.                      B. Bạc.                         C. Đồng.                      D. Nhôm.

    Câu 14: Kim loại nào sau đây dẻo nhất trong tất cả các kim loại?

    1. Vàng.                      B. Bạc.                         C. Đồng.                      D. Nhôm.

    Câu 15: Kim loại nào sau đây có độ cứng lớn nhất trong tất cả các kim loại?

    1. Vonfam.                 B. Crom                       C. Sắt                           D. Đồng

    Câu 16: Kim loại nào sau đây là kim loại mềm nhất trong tất cả các kim loại ?

    1. Liti.                         B. Xesi.                        C. Natri.                       D. Kali.

    Câu 17: Kim loại nào sau đây có nhiệt độ nóng chảy cao nhất trong tất cả các kim loại?

    1. Vonfam.                 B. Sắt.                          C. Đồng.                      D. Kẽm.

    Câu 18: Kim loại nào sau đây nhẹ nhất ( có khối lượng riêng nhỏ nhất ) trong tất cả các kim loại ?

    1. Natri                        B. Liti                          C. Kali                         D. Rubidi

    Câu 19: Tính chất hóa học đặc trưng của kim loại là

    1. tính bazơ. B. tính oxi hóa. C. tính axit.                  D. tính khử.

    Câu 20: Hai kim loại đều phản ứng với dung dịch Cu(NO3)2 giải phóng kim loại Cu là

    1. Al và Fe. B. Fe và Au. C. Al và Ag.                D. Fe và Ag.

    Câu 21: Cặp chất không xảy ra phản ứng là

    1. Fe + Cu(NO3)2. B. Cu + AgNO3. C. Zn + Fe(NO3)2.        D. Ag + Cu(NO3)2.

    Câu 22: Hai kim loại Al và Cu đều phản ứng được với dung dịch

    1. NaCl loãng. B. H2SO4 loãng. C. HNO3 loãng.           D. NaOH loãng

    Câu 23: Kim loại Cu phản ứng được với dung dịch

    1. FeSO4. B. AgNO3. C. KNO3.                     D. HCl.

    Câu 24: Dung dịch FeSO4 và dung dịch CuSO4 đều tác dụng được với

    1. Ag. B. Fe. C. Cu.                          D. Zn.

    Câu 25: Để hoà tan hoàn toàn hỗn hợp gồm hai kim loại Cu và Zn, ta có thể dùng một lượng dư dung dịch

    1. HCl. B. AlCl3. C. AgNO3.                   D. CuSO4.

    Câu 26: Hai dung dịch đều tác dụng được với Fe là

    1. CuSO4 và HCl. B. CuSO4 và ZnCl2. C. HCl và CaCl2.         D. MgCl2 và FeCl3.

    Câu 27: Cho các kim loại: Ni, Fe, Cu, Zn; số kim loại tác dụng với dung dịch Pb(NO3)2

    1. 1. B. 2. C. 3.                            D. 4.

    Câu 28: Dung dịch muối nào sau đây tác dụng được với cả Ni và Pb?

    1. Pb(NO3)2. B. Cu(NO3)2. C. Fe(NO3)2.                D. Ni(NO3)2.

    Câu 29: Tất cả các kim loại Fe, Zn, Cu, Ag đều tác dụng được với dung dịch

    1. HCl. B. H2SO4 loãng. C. HNO3 loãng.           D. KOH.

    Câu 30: Cho các kim loại: Na, Mg, Fe, Al; kim loại có tính khử mạnh nhất là

    1. Al. B. Na. C. Mg.                         D. Fe.

    Câu 31: Cho phản ứng: aAl + bHNO3 cAl(NO3)3 + dNO + eH2O.

    Hệ số a, b, c, d, e là các số nguyên, tối giản. Tổng (a + b) bằng

    1. 5. B. 4. C. 7.                            D. 6.

    Câu 32: Dãy nào sau đây chỉ gồm các chất vừa tác dụng được với dung dịch HCl, vừa tác dụng được với dung dịch AgNO3 ?

    1. Zn, Cu, Mg             B. Al, Fe, CuO C. Fe, Ni, Sn                D. Hg, Na, Ca

    Câu 33: Cho phản ứng hóa học: Fe + CuSO4 → FeSO4 + Cu. Trong phản ứng trên xảy ra

    1. sự khử Fe2+ và sự oxi hóa Cu. B. sự khử Fe2+ và sự khử Cu2+.
    2. sự oxi hóa Fe và sự oxi hóa Cu. D. sự oxi hóa Fe và sự khử Cu2+.

    Câu 34: Cặp chất không xảy ra phản ứng hoá học là

    1. Cu + dung dịch FeCl3. B. Fe + dung dịch HCl.
    2. Fe + dung dịch FeCl3. D. Cu + dung dịch FeCl2.

    Câu 35: Cho kim loại M tác dụng với Cl2 được muối X; cho kim loại M tác dụng với dung dịch HCl được muối Y. Nếu cho kim loại M tác dụng với dung dịch muối X ta cũng được muối Y. Kim loại M có thể là

    1. Mg                         B. Al                            C. Zn                           D. Fe

    Câu 36: Để khử ion Cu2+ trong dung dịch CuSO4 có thể dùng kim loại

    1. K                         B. Na                           C. Ba                           D. Fe

    Câu 37: Để khử ion Fe3+ trong dung dịch thành ion Fe2+ có thể dùng một lượng dư

    1. Kim loại Mg B. Kim loại Ba C. Kim loại Cu            D. Kim loại Ag

    Câu 38: Thứ tự một số cặp oxi hóa – khử trong dãy điện hóa như sau : Fe2+/Fe; Cu2+/Cu; Fe3+/Fe2+. Cặp chất không phản ứng với nhau là

    1. Cu và dung dịch FeCl3                         B. Fe và dung dịch CuCl2
    2. Fe và dung dịch FeCl3                         D. dung dịch FeCl2 và dung dịch CuCl2

    Câu 39: X là kim loại phản ứng được với dung dịch H2SO4 loãng, Y là kim loại tác dụng được với dung dịch Fe(NO3)3. Hai kim loại X, Y lần lượt là (biết thứ tự trong dãy thế điện hoá: Fe3+/Fe2+ đứng trước Ag+/Ag)

    1. Fe, Cu. B. Cu, Fe. C. Ag, Mg.                   D. Mg, Ag.

    Câu 40: Dãy gồm các kim loại được xếp theo thứ tự tính khử tăng dần từ trái sang phải là

    1. Mg, Fe, Al. B. Fe, Mg, Al. C. Fe, Al, Mg. D. Al, Mg, Fe.

    Câu 41: Dãy gồm các kim loại đều phản ứng với nước ở nhiệt độ thường tạo ra dung dịch có môi trường kiềm

    1. Na, Ba, K. B. Be, Na, Ca. C. Na, Fe, K. D. Na, Cr, K.

    Câu 42: Trong dung dịch CuSO4, ion Cu2+ không bị khử bởi kim loại

    1. Fe. B. Ag. C. Mg.                         D. Zn.

    Câu 43: Cho dãy các kim loại: Fe, Na, K, Ca. Số kim loại trong dãy tác dụng được với nước ở nhiệt độ thường là

    1. 4. B. 1. C. 3.                            D. 2.

    Câu 44: Kim loại phản ứng được với dung dịch H2SO4 loãng là

    1. Ag. B. Au. C. Cu.                          D. Al.

    Câu 45: Cho dãy các kim loại: Na, Cu, Fe, Ag, Zn. Số kim loại trong dãy phản ứng được với dung dịch HCl là

    1. 5. B. 2. C. 3.                            D. 4.

    Câu 46: Đồng (Cu) tác dụng được với dung dịch

    1. H2SO4 đặc, nóng. B. H2SO4 loãng. C. FeSO4.                     D. HCl.

    Câu 47: Cho dãy các kim loại: Na, Cu, Fe, Zn. Số kim loại trong dãy phản ứng được với dung dịch HCl là

    1. 3. B. 1. C. 4.                            D. 2.

    Câu 48: Cho dãy các kim loại: K, Mg, Na, Al. Kim loại có tính khử mạnh nhất trong dãy là

    1. Na. B. Mg. C. Al.                           D. K.

     

    SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI

     

    Câu 49: Một số hoá chất được để trên ngăn tủ có khung bằng kim loại. Sau 1 thời gian, người ta thấy khung kim loại bị gỉ. Hoá chất nào dưới đây có khả năng gây ra hiện tượng trên?

    1. Ancol etylic. B. Dây nhôm. C. Dầu hoả.                 D. Axit clohydric.

    Câu 50: Biết rằng ion Pb2+ trong dung dịch oxi hóa được Sn. Khi nhúng hai thanh kim loại Pb và Sn được nối với nhau bằng dây dẫn điện vào một dung dịch chất điện li thì

    1. cả Pb và Sn đều bị ăn mòn điện hoá. B. cả Pb và Sn đều không bị ăn mòn điện hoá.
    2. chỉ có Pb bị ăn mòn điện hoá. D. chỉ có Sn bị ăn mòn điện hoá.

    Câu 51: Cho các cặp kim loại nguyên chất tiếp xúc trực tiếp với nhau : Fe và Pb; Fe và Zn; Fe và Sn; Fe và Ni. Khi nhúng các cặp kim loại trên vào dung dịch axit, số cặp kim loại trong đó Fe bị phá hủy trước là

    1. 4 B. 1                              C. 2                             D. 3

    Câu 52: Khi để lâu trong không khí ẩm một vật bằng sắt tây (sắt tráng thiếc) bị sây sát sâu tới lớp sắt bên trong, sẽ xảy ra quá trình:

    1. Sn bị ăn mòn điện hóa. B. Fe bị ăn mòn điện hóa.
    2. Fe bị ăn mòn hóa học. D. Sn bị ăn mòn hóa học.

    Câu 53: Để bảo vệ vỏ tàu biển làm bằng thép người ta thường gắn vào vỏ tàu (phần ngâm dưới nước)

    những tấm kim loại

    1. Cu. B. Zn. C. Sn.                          D. Pb.

    Câu 54: Có 4 dung dịch riêng biệt: a) HCl, b) CuCl2, c) FeCl3, d) HCl có lẫn CuCl2. Nhúng vào mỗi dung dịch một thanh Fe nguyên chất. Số trường hợp xuất hiện ăn mòn điện hoá là

    1. 0. B. 1. C. 2.                            D. 3.

    Câu 55: Cho các hợp kim sau: Cu-Fe (I); Zn-Fe (II); Fe-C (III); Sn-Fe (IV). Khi tiếp xúc với dung dịch chất điện li thì các hợp kim mà trong đó Fe đều bị ăn mòn trước là:

    1. I, II và III.             B. I, II và IV.               C. I, III và IV.              D. II, III và IV.

     

    ĐIỀU CHẾ KIM LOẠI

     

    Câu 56: Khi điều chế kim loại, các ion kim loại đóng vai trò là chất

    1. bị khử. B. nhận proton. C. bị oxi hoá.   D. cho proton.

    Câu 57: Để loại bỏ kim loại Cu ra khỏi hỗn hợp bột gồm Ag và Cu, người ta ngâm hỗn hợp kim loại trên vào lượng dư dung dịch

    1. AgNO3. B. HNO3. C. Cu(NO3)2.               D. Fe(NO3)2.

    Câu 58: Chất không khử được sắt oxit (ở nhiệt độ cao) là

    1. Cu. B. Al. C. CO.                         D. H2.

    Câu 59: Hai kim loại có thể điều chế bằng phương pháp nhiệt luyện là

    1. Ca và Fe. B. Mg và Zn. C. Na và Cu.                D. Fe và Cu.

    Câu 60: Phương pháp thích hợp điều chế kim loại Ca từ CaCl2

    1. nhiệt phân CaCl2. B. điện phân CaCl2 nóng chảy.
    2. dùng Na khử Ca2+ trong dung dịch CaCl2. D. điện phân dung dịch CaCl2.

    Câu 61: Oxit dễ bị H2 khử ở nhiệt độ cao tạo thành kim loại là

    1. Na2O. B. CaO. C. CuO.                       D. K2O.

    Câu 62: Phương trình hoá học nào sau đây thể hiện cách điều chế Cu theo phương pháp thuỷ luyện ?

    1. Zn + CuSO4 → Cu + ZnSO4 B.  H2 + CuO → Cu + H2O
    2. CuCl2 → Cu + Cl2 D. 2CuSO4 + 2H2O  → 2Cu + 2H2SO4 + O2

    Câu 63: Phương trình hóa học nào sau đây biểu diễn cách điều chế Ag từ AgNO3 theo phương pháp thuỷ luyện ?

    1. 2AgNO3 + Zn → 2Ag + Zn(NO3)2 B. 2AgNO3 →  2Ag  +  2NO2  +  O2
    2. 4AgNO3 + 2H2O → 4Ag + 4HNO3 + O2 D. Ag2O + CO → 2Ag + CO2.

    Câu 64: Trong phương pháp thuỷ luyện, để điều chế Cu từ dung dịch CuSO4 có thể dùng kim loại nào làm chất khử?            A. K.                            B. Ca.                          C. Zn.                          D. Ag.

    Câu 65: Cho khí CO dư đi qua hỗn hợp gồm CuO, Al2O3, MgO (nung nóng). Khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được chất rắn gồm

    1. Cu, Al, Mg. B. Cu, Al, MgO. C. Cu, Al2O3, Mg. D. Cu, Al2O3, MgO.

    Câu 66: Cho luồng khí H2 (dư) qua hỗn hợp các oxit CuO, Fe2O3, ZnO, MgO nung ở nhiệt độ cao. Sau phản ứng hỗn hợp rắn còn lại là:

    1. Cu, FeO, ZnO, MgO. B. Cu, Fe, Zn, Mg. C. Cu, Fe, Zn, MgO.    D. Cu, Fe, ZnO, MgO.

    Câu 67: Hai kim loại có thể được điều chế bằng phương pháp điện phân dung dịch là

    1. Al và Mg. B. Na và Fe. C. Cu và Ag.                D. Mg và Zn.

    Câu 68: Cặp chất không xảy ra phản ứng hoá học là

    1. Cu + dung dịch FeCl3. B. Fe + dung dịch HCl. C. Fe + dung dịch FeCl3.    D. Cu + dung dịch FeCl2.

    Câu 69: Dãy các kim loại đều có thể được điều chế bằng phương pháp điện phân dung dịch muối của chúng là:

    1. Ba, Ag, Au. B. Fe, Cu, Ag.             C. Al, Fe, Cr.               D. Mg, Zn, Cu.

    Câu 70: Hai kim loại có thể được điều chế bằng phương pháp điện phân dung dịch là

    1. Al và Mg. B. Na và Fe. C. Cu và Ag.                D. Mg và Zn.

    Câu 71: Khi điện phân NaCl nóng chảy (điện cực trơ), tại catôt xảy ra

    1. sự khử ion Cl. B. sự oxi hoá ion Cl. C. sự oxi hoá ion Na+. D. sự khử ion Na+.

    Câu 72: Oxit dễ bị H2 khử ở nhiệt độ cao tạo thành kim loại là

    1. Na2O. B. CaO. C. CuO.                       D. K2O.

    Câu 73: Trong công nghiệp, kim loại được điều chế bằng phương pháp điện phân hợp chất nóng chảy của kim loại đó là         A. Na.                          B. Ag.                          C. Fe.                           D. Cu.

    Câu 74: Phương pháp thích hợp điều chế kim loại Mg từ MgCl2

    1. điện phân dung dịch MgCl2. B. điện phân MgCl2 nóng chảy.
    2. nhiệt phân MgCl2. D. dùng K khử Mg2+ trong dung dịch MgCl2.

     

    CÁC DẠNG BÀI TẬP PHẦN ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI

    DẠNG 1: KIM LOẠI TÁC DỤNG VỚI PHI KIM

     

    Câu 1. Bao nhiêu gam clo tác dụng vừa đủ kim loại nhôm tạo ra 26,7 gam AlCl3?

    1. 21,3 gam             B.  12,3 gam.               C.  13,2 gam.               D.  23,1 gam.

    Câu 2: Đốt cháy bột Al trong bình khí Clo dư, sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn khối lượng chất rắn trong bình

    tăng 4,26 gam. Khối lượng Al đã phản ứng là

    1. 1,08 gam. B. 2,16 gam. C. 1,62 gam.                D. 3,24 gam.

    Câu 3. Bao nhiêu gam Cu tác dụng vừa đủ với clo tạo ra 27 gam CuCl2?

    1. 12,4 gam B.  12,8 gam.               C.  6,4 gam.                 D.  25,6 gam.

    Câu 4.  Cho m gam 3 kim loại Fe, Al, Cu vào một bình kín chứa 0,9 mol oxi. Nung nóng bình 1 thời gian cho đến khi số mol O2 trong bình chỉ còn 0,865 mol và chất rắn trong bình có khối lượng 2,12 gam. Giá trị m đã dùng là:

    1. 1,2 gam. B.  0,2 gam.                 C.  0,1 gam.                 D.  1,0 gam.

    Câu 5: Đốt 1 lượng nhôm(Al) trong 6,72 lít O2. Chất rắn thu được sau phản ứng cho hoà tan hoàn toàn vào dung dịch HCl thấy bay ra 6,72 lít H2 (các thể tích khí đo ở đkc). Khối lượng nhôm đã dùng là

    1. 8,1gam. B. 16,2gam.                C.  18,4gam.                D.  24,3gam.

     

    DẠNG 2: KIM LOẠI TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH AXIT

     

    Câu 1.  Cho 10 gam hỗn hợp các kim loại Mg và Cu  tác dụng hết với dung dịch HCl loãng dư thu được 3,733 lit H2(đkc). Thành phần % của Mg trong hỗn hợp là:

    1. 50%. B.  35%.                          C.  20%.                          D. 40%.

    Câu 2. Một hỗn hợp gồm 13 gam kẽm và 5,6 gam sắt tác dụng với dung dịch axit sunfuric loãng dư. Thể tích khí hidro (đktc) được giải phóng sau phản ứng là.

    1. 2,24 lit. B. 4,48 lit.                       C. 6,72 lit.                       D. 67,2 lit.

    Câu 3. Cho 4,05 gam Al tan hết trong dung dịch HNO3 thu V lít N2O (đkc) duy nhất. Giá trị V là

    1. 2,52 lít.                        B.  3,36 lít.                      C.  4,48 lít.                      D.  1,26 lít.

    Câu 4: Hỗn hợp X gồm Fe và Cu, trong đó Cu chiếm 43,24% khối lượng. Cho 14,8 gam X tác dụng hết với dung dịch HCl thấy có V lít khí (đktc) bay ra. Giá trị của V là

    1. 1,12 lít. B. 3,36 lít. C. 2,24 lít.                   D. 4,48 lít.

    Câu 5: Hoà tan hoàn toàn 1,5 gam hỗn hợp bột Al và Mg vào dung dịch HCl thu được 1,68 lít H2 (đkc). Phần  % khối lượng của Al trong hỗn hợp là

    1. 60%. B. 40%. C. 30%.                       D. 80%.

    Câu 6: Hoà tan m gam Fe trong dung dịch HCl dư, sau khi phản ứng kết thúc thu được 4,48 lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của m là (Cho Fe = 56, H = 1, Cl = 35,5)

    1. 2,8. B. 1,4. C. 5,6.                                     D. 11,2.

    Câu 7: Hòa tan 6,5 gam Zn trong dung dịch axit HCl dư, sau phản ứng cô cạn dung dịch thì số gam muối khan thu được là (Cho H = 1, Zn = 65, Cl = 35,5)

    1. 20,7 gam. B. 13,6 gam. C. 14,96 gam.              D. 27,2 gam.

    Câu 8: Hoà tan 6,4 gam Cu bằng axit H2SO4 đặc, nóng (dư), sinh ra V lít khí SO2 (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là

    1. 4,48. B. 6,72. C. 3,36.                       D. 2,24.

    Câu 9: Hoà tan m gam Al bằng dung dịch HCl (dư), thu được 3,36 lít H2 (ở đktc). Giá trị của m là

    1. 4,05. B. 2,70. C. 5,40.                       D. 1,35.

    Câu 10: Hoà tan 5,6 gam Fe bằng dung dịch HNO3 loãng (dư), sinh ra V lít khí NO (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là

    1. 6,72. B. 4,48. C. 2,24.                       D. 3,36.

    Câu 11: Cho 10 gam hỗn hợp gồm Fe và Cu tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng (dư). Sau phản ứng thu được 2,24 lít khí hiđro (ở đktc), dung dịch X và m gam chất rắn không tan. Giá trị của m là (Cho H = 1, Fe = 56, Cu = 64)

    1. 6,4 gam. B. 3,4 gam. C. 5,6 gam.                  D. 4,4 gam.

    Câu 12: Cho 20 gam hỗn hợp bột Mg và Fe tác dụng hết với dung dịch HCl thấy có 1 gam khí H2 bay ra. Lượng

    muối clorua tạo ra trong dung dịch là bao nhiêu gam ?

    1. 40,5g.    B. 45,5g.                     C. 55,5g.                    D. 60,5g.

    Câu 13: Cho m gam hỗn hợp X gồm Al, Cu vào dung dịch HCl (dư), sau khi kết thúc phản ứng sinh ra 3,36 lít khí (ở đktc). Nếu cho m gam hỗn hợp X trên vào một lượng dư axit nitric (đặc, nguội), sau khi kết thúc phản ứng sinh ra 6,72 lít khí NO2 (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của m là

    1. 15,6. B. 10,5. C. 11,5.                       D. 12,3.

    Câu 14:  Trong hợp kim Al – Mg, cứ có 9 mol Al thì có 1 mol Mg. Thành phần phần % khối lượng của hợp kim là

    1. 80% Al và 20% Mg. B. 81% Al và 19% Mg.      C. 91% Al và 9% Mg.            D. 83% Al và 17% Mg.

    Câu 15: Hoà tan 6 gam hợp kim Cu, Fe và Al trong axit HCl dư thấy thoát ra 3,024 lít khí (đkc) và 1,86 gam chất rắn không tan. Thành phần phần % của hợp kim là

    1. 40% Fe, 28% Al 32% Cu. B. 41% Fe, 29% Al, 30% Cu.
    2. 42% Fe, 27% Al, 31% Cu. D. 43% Fe, 26% Al, 31% Cu.

    Câu 16.  Hoà tan hoàn toàn 7,8 gam hỗn hợp gồm Mg, Al trong dung dịch HCl dư thấy tạo ra 8,96 lít khí H2 (đkc). Cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được m gam muối khan. Giá trị của m là

    1. 18,1 gam. B. 36,2 gam.                   C. 54,3 gam.                   D. 63,2 gam.        

    Câu 17.  Cho 11,9 gam hỗn hợp gồm Zn, Al tan hoàn toàn trong dung dịch H2SO4 loãng dư thấy có 8,96 lit khí (đkc) thoát ra. Khối lượng hỗn hợp muối sunfat khan thu được là:

    1. 44,9 gam. B.  74,1 gam.                   C. 50,3 gam.                    D.  24,7 gam.

    Câu 18. Cho m gam Fe vào dung dịch HNO3 lấy dư ta thu được 8,96 lit(đkc) hỗn hợp khí X gồm 2 khí NO và NO2 có tỉ khối hơi hỗn hợp X so với oxi bằng 1,3125. Giá trị của m là

    1. 0,56 gam. B. 1,12 gam.                    C. 11,2 gam.                    D. 5,6 gam.

    Câu 19. Cho 60 gam hỗn hợp Cu và CuO tan hết trong dung dịch HNO3 loãng dư thu được 13,44 lit khí NO (đkc, sản phẩm khử duy nhất). Phần % về khối lượng của Cu trong hỗn hợp là:                    

    1. 69%. B. 96%.                           C. 44%                            D. 56%.

    Câu 20. Cho 2,8 gam hỗn hợp bột kim loại bạc và đồng tác dụng với dung dịch HNO3 đặc, dư thì thu được 0,896 lít khí NO2 duy nhất (ở đktc). Thành phần phần trăm của bạc và đồng trong hỗn hợp lần lượt là:

    1. 73% ; 27%. B. 77,14% ; 22,86%        C. 50%; 50%.                  D. 44% ; 56%

    Câu 21. Cho 8,3 gam hỗn hợp Al và Fe tác dụng với dung dịch HNO3 loãng dư thì thu được 45,5 gam muối nitrat khan. Thể tích khí NO (đktc, sản phẩm khử duy nhất) thoát ra là:

    1. 4,48 lít. B.  6,72 lít.                      C. 2,24 lít.                       D. 3,36 lít.

    Câu 22. Cho 1,86 gam hỗn hợp Al và Mg tác dụng với dung dịch HNO3 loãng dư thì thu được 560 ml lít khí N2O (đktc, sản phẩm khử duy nhất) bay ra. Khối lượng muối nitrat tạo ra trong dung dịch là:    

    1. 40,5 gam.                     B. 14,62 gam.                  C. 24,16 gam.                  D. 14,26 gam.

    Câu 23.  Cho 5 gam hỗn hợp bột Cu và Al vào dung dịch HCl dư thu 3,36 lít H2 ở đktc. Phần trăm Al theo khối lượng ở hỗn hợp đầu là                          A. 27%.                           B. 51%.                           C. 64%.                  D. 54%.

    Câu 24: Hoà tan hoàn toàn 1,23 gam hỗn hợp X gồm Cu và Al vào dung dịch HNO3 đặc, nóng thu được 1,344 lít khí NO2 (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Phần trăm về khối lượng của Cu trong hỗn hợp X  là

    1. 21,95%. B. 78,05%.                  C. 68,05%.                  D. 29,15%.

    Câu 25.  Cho a gam bột Al tác dụng vừa đủ với dung dịch HNO3 loãng thu được dung dịch A chỉ chứa một muối duy nhất và 0,1792 lít (đktc) hỗn hợp khí NO, N2 có tỉ khối hơi so H2 là 14,25. Tính a ?

    1. 0,459 gam.             B.  0,594 gam.             C.  5,94 gam.               D.  0,954 gam.

    Câu 26.  Hoà tan hoàn toàn 7,8 gam hỗn hợp gồm Mg, Al trong dung dịch HCl dư. Sau phản ứng thấy khối lượng dung dịch tăng thêm 7 gam. Khối lượng của Al có trong hỗn hợp ban đầu là

    1. 2,7 gam. B. 5,4 gam.                 C. 4,5 gam.                  D. 2,4 gam.

    Câu 27: Cho hỗn hợp A gồm Cu và Mg vào dung dịch HCl dư thu được 5,6 lít khí (đkc) không màu và một chất

    rắn không tan B. Dùng dung dịch H2SO4 đặc, nóng để hoà tan chất rắn B thu được 2,24 lít khí SO2 (đkc). Khối

    lượng hỗn hợp A ban đầu là:

    1. 6,4 gam.          B. 12,4 gam.                C. 6,0 gam.                  D. 8,0 gam.

    Câu 28: Hoà tan hoàn toàn 1,5 gam hỗn hợp bột Al và Mg vào dung dịch HCl thu được 1,68 lít H2 (đkc). Phần  % khối lượng của Al trong hỗn hợp là

    1. 60%. B. 40%. C. 30%.                       D. 80%.

     

    DẠNG 3 : XÁC ĐỊNH CÔNG THỨC

     

     Câu 1.  Hoà tan 2,52 gam một kim loại bằng dung dịch H2SO4 loãng dư, cô cạn dung dịch thu được 6,84 gam muối khan. Kim loại đó là:  

    1. Mg. B. Al.                          C.  Zn.                         D. Fe.

    Câu 2.  Hoà tan hết m gam kim loại M bằng dung dịch H2SO4 loãng, rồi cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được 5m gam muối khan. Kim loại M là:

    1. Al.                          B.  Mg.                         C.  Zn.                         D.  Fe.

    Câu 3: Ngâm một lá kim loại có khối lượng 50 gam trong dung dịch HCl. Sau khi thu được 336 ml khí H2 (đktc) thì khối lượng lá kim loại giảm 1,68%. Kim loại đó là

    1. Zn. B. Fe. C. Ni.                           D. Al.

    Câu 4.  Nhiệt phân hoàn toàn 3,5 gam một muối cacbonat kim loại hoá trị 2 thu được 1,96 gam chất rắn. Muối cacbonat của kim loại đã dùng là:

    1. FeCO3.                   B.  BaCO3.                   C.  MgCO3.                  D. CaCO3.

    Câu 5.  Hoà tan hoàn toàn 0,575 gam một kim loại kìềm vào nước. Để trung hoà dung dịch thu được cần 25 gam dung dịch HCl 3,65%. Kim loại hoà tan là:

    1. Li.                          B.  K.                           C.  Na.                         D.  Rb.

    Câu 6.  Cho 9,1 gam hỗn hợp hai muối cacbonat trung hoà của 2 kim loại kiềm ở 2 chu kỳ liên tiếp tan hoàn toàn trong dung dịch HCl dư thu được 2,24 lít CO2(đktc). Hai kim loại đó là:

    1. K và Cs. B. Na và K.                  C. Li và Na.                 D.  Rb và Cs.

    Câu 7.  Hoà tan 1,3 gam một kim loại M trong 100 ml dung dịch H2SO4 0,3M. Để trung hoà lượng axit dư cần 200 ml dung dịch NaOH 0,1M. Xác định kim loại M?

    1. Al.                          B.  Fe.                          C.  Zn.                         D.  Mg.

    Câu 8.  Lượng khí clo sinh ra khi cho dung dịch HCl đặc dư tác dụng với 6,96 gam MnO2 đã oxi hoá kim loại M (thuộc nhóm IIA), tạo ra 7,6 gam muối khan. Kim loại M là:

    1. Ba.                         B.  Mg.                         C.  Ca.                         D.  Be.

    Câu 9. Hoà tan hoàn toàn 2 gam kim loại thuộc nhóm IIA vào dung dịch HCl và sau đó cô cạn dung dịch người ta thu được 5,55 gam muối khan. Kim loại nhóm IIA là:

    1. Be.                         B.  Ba.                         C.  Ca.                         D.  Mg.

    Câu 10: Cho 1,67 gam hỗn hợp gồm hai kim loại ở 2 chu kỳ liên tiếp thuộc nhóm IIA tác dụng hết với dung dịch HCl (dư), thoát ra 0,672 lít khí H2 (ở đktc). Hai kim loại đó là (Mg= 24, Ca= 40, Sr= 87, Ba = 137)

    1. Be và Mg. B. Mg và Ca. C. Sr và Ba.                 D. Ca và Sr.

    Câu 11.  Khi điện phân muối clorua kim loại nóng chảy, người ta thu được 0,896 lít khí (đktc) ở anot và 3,12 gam kim loại ở catot. Công thức muối clorua đã điện phân là

    1. NaCl.                           B.  CaCl2.                        C. KCl.                               D.  MgCl2.

    Câu 12.  Cho 19,2 gam kim loại (M) tan hoàn toàn trong dung dịch HNO3 loãng thì thu được 4,48 lít khí NO (đktc, sản phẩm khử duy nhất). Kim loại (M) là:

    1. Cu. B.  Zn.                             C.  Fe.                             D.  Mg.     

     

    DẠNG 4: KIM LOẠI TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH MUÔI

     

    Câu 1. Hoà tan 58 gam CuSO4. 5H2O vào nước được 500ml dung dịch CuSO4. Cho dần dần mạt sắt vào 50 ml dung dịch trên, khuấy nhẹ cho tới khi dung dịch hết màu xanh thì lượng mạt sắt đã dùng là:

    1. 0,65g. B. 1,2992g.                     C. 1,36g.                         D. 12,99g.

    Câu 2. Ngâm một đinh sắt sạch trong 200 ml dung dịch CuSO4 sau khi phản ứng kết thúc, lấy đinh sắt ra khỏi dung dịch rửa nhẹ làm khô nhận thấy khối lượng đinh sắt tăng thêm 0,8 gam. Nồng độ mol/lít của dung dịch CuSO4 đã dùng là:   

    1. 0,25M. B. 0,4M.                          C. 0,3M.                             D. 0,5M.

    Câu 3. Ngâm một lá kẽm vào dung dịch có hoà tan 8,32 gam CdSO4. Phản ứng xong lấy lá kẽm ra khỏi dung dịch, rửa nhẹ, làm khô thì thấy khối lượng lá kẽm tăng thêm 2,35% so với khối lượng lá kẽm trước phản ứng. Khối lượng lá kẽm trước phản ứng là:

    1. 80gam B. 60gam                         C. 20gam                         D. 40gam

    Câu 4. Nhúng một đinh sắt có khối lượng 8 gam vào 500ml dung dịch CuSO4 2M. Sau một thời gian lấy đinh sắt ra cân lại thấy nặng 8,8 gam. Nồng độ mol/l của CuSO4 trong dung dịch sau phản ứng là:

    1. 0,27M                          B. 1,36M                         C. 1,8M                           D. 2,3M

    Câu 5: Ngâm lá kẽm trong dung dịch chứa 0,1 mol CuSO4. Phản ứng xong thấy khối lượng lá kẽm:

    1. A. tăng 0,1 gam. tăng 0,01 gam. C. giảm 0,1 gam.         D. không thay đổi.

    Câu 6: Hoà tan hoàn toàn 28 gam bột Fe vào dung dịch AgNO3 dư thì khối lượng chất rắn thu được là

    1. 108 gam. B. 162 gam. C. 216 gam.                 D. 154 gam.

    Câu 7: Nhúng 1 thanh nhôm nặng 50 gam vào 400ml dung dịch CuSO4 0,5M. Sau một thời gian lấy thanh nhôm ra cân nặng 51,38 gam. Hỏi khối lượng Cu thoát ra là bao nhiêu?

                A. 0,64gam.                 B. 1,28gam.                 C. 1,92gam.                 D. 2,56gam.

    Câu 8: Ngâm một lá Fe trong dung dịch CuSO4. Sau một thời gian phản ứng lấy lá Fe ra rửa nhẹ làm khô, đem cân thấy khối lượng tăng thêm 1,6 gam. Khối lượng Cu bám trên lá Fe là bao nhiêu gam?

    1. 12,8 gam. B. 8,2 gam. C. 6,4 gam.                  D. 9,6 gam.

    Câu 9: Ngâm một lá kẽm trong 100 ml dung dịch AgNO3 0,1M. Khi phản ứng kết thúc, khối lượng lá kẽm tăng thêm            A. 0,65 gam.                B. 1,51 gam.                C. 0,755 gam.              D. 1,3 gam.

     

    DẠNG 5: NHIỆT LUYỆN

     

    Câu 1: Cho V lít hỗn hợp khí (ở đktc) gồm CO và H2 phản ứng với một lượng dư hỗn hợp rắn gồm CuO và Fe3O4 nung nóng. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, khối lượng hỗn hợp rắn giảm 0,32 gam. Giá trị của V là

    1. 0,448. B. 0,112. C. 0,224.                     D. 0,560.

    Câu 2: Dẫn từ từ V lít khí CO (ở đktc) đi qua một ống sứ đựng lượng dư hỗn hợp rắn gồm CuO, Fe2O3  (ở nhiệt độ cao). Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được khí X. Dẫn toàn bộ khí X ở trên vào lượng dư dung dịch Ca(OH)2 thì tạo thành 4 gam kết tủa. Giá trị của V là

    1. 1,120. B. 0,896. C. 0,448.                     D. 0,224.

    Câu 3: Cho khí CO khử hoàn toàn đến Fe một hỗn hợp gồm: FeO, Fe2O3, Fe3O4 thấy có 4,48 lít CO2 (đktc) thoát ra. Thể tích CO (đktc) đã tham gia phản ứng là

    1. 1,12 lít. B. 2,24 lít.                    C. 3,36 lít.                   D. 4,48 lít.

    Câu 4: Thổi một luồng khí CO đi qua ống sứ đựng m gam hỗn hợp Fe3O4 và CuO nung nóng thu được 2,32 gam hỗn hợp rắn. Toàn bộ khí thoát ra cho hấp thụ hết vào bình đựng dung dịch Ca(OH)2 dư thu được 5 gam kết tủa. Giá trị của m là:

    1. 3,22 gam.       B. 3,12 gam.                C. 4,0 gam.                  D. 4,2 gam.

    Câu 5: Để khử hoàn toàn 30 gam hỗn hợp CuO, FeO, Fe2O3, Fe3O4, MgO cần dùng 5,6 lít khí CO (ở đktc). Khối lượng chất rắn sau phản ứng là

    1. 28 gam. B. 26 gam.                   C. 22 gam.                   D.  24 gam.

    Câu 6: Khử hoàn toàn 17,6 gam hỗn hợp X gồm Fe, FeO, Fe2O3 cần 2,24 lít CO (ở đktc). Khối lượng sắt thu được là            A. 5,6 gam.                 B. 6,72 gam.                C. 16,0 gam.                D. 8,0 gam.

    Câu 7: Cho luồng khí CO (dư) đi qua 9,1 gam hỗn hợp gồm CuO và Al2O3 nung nóng đến khi phản ứng hoàn toàn, thu được 8,3 gam chất rắn. Khối lượng CuO có trong hỗn hợp ban đầu là

    1. 0,8 gam. B. 8,3 gam.                      C. 2,0 gam.                    D. 4,0 gam.

    Câu 8. Cho dòng khí CO dư đi qua hỗn hợp (X) chứa 31,9 gam gồm Al2O3, ZnO, FeO và CaO thì thu được 28,7 gam hỗn hợp chất rắn (Y). Cho toàn bộ hỗn hợp chất rắn (Y) tác dụng với dung dịch HCl dư thu được V lít H2 (đkc). Giá trị V là

    1. 5,60 lít. B. 4,48 lít.                           C. 6,72 lít.                           D. 2,24 lít.

    Câu 9. Để khử hoàn toàn 45 gam hỗn hợp gồm CuO, FeO, Fe3O4, Fe và MgO cần dùng vừa đủ 8,4 lít CO ở (đktc). Khối lượng chất rắn thu được sau phản ứng là:

    1. 39g B. 38g C. 24g                          D. 42g

     

    DẠNG 6: ĐIỆN PHÂN

     

    Câu 1. Khi cho dòng điện một chiều I=2A qua dung dịch CuCl2 trong 10 phút. Khối lượng đồng thoát ra ở catod là

    1. 40 gam.                        B.  0,4 gam.                     C.  0,2 gam.                     D.  4 gam.

    Câu 2. Điện phân đến hết 0,1 mol Cu(NO3)2 trong dung dịch với điện cực trơ, thì sau điện phân khối lượng dung dịch đã giảm bao nhiêu gam?

    1. 1,6 gam. B. 6,4 gam.                  C. 8,0 gam.                  D. 18,8 gam.

    Câu 3. Điện phân dùng điện cực trơ dung dịch muối sunfat kim loại hoá trị 2 với cường độ dòng điện 3A. Sau 1930 giây thấy khối lượng catot tăng 1,92 gam. Muối sunfat đã điện phân là

    1. CuSO4.                         B.  NiSO4.                       C.  MgSO4.                      D.  ZnSO4.

    Câu 4.  Điện phân hoàn toàn 1 lít dung dịch AgNO3 với 2 điên cực trơ thu được một dung dịch có pH= 2. Xem thể tích dung dịch thay đổi không đáng kể thì lượng Ag bám ở catod là:

    1. 0,54 gam.                     B.  0,108 gam.                 C. 1,08 gam.                    D.  0,216 gam.

    Câu 5: Điện phân 200 ml dung dịch muối CuSO4 trong thời gian, thấy khối lượng dung dịch giảm 8 gam. Dung dịch sau điện phân cho tác dụng với dd H2S dư thu được 9,6g kết tủa đen. Nồng độ mol của dung dịch CuSO4 ban đầu là

    1. 1M. B.0,5M. C. 2M.                         D. 1,125M.

    Câu 6: Điện phân dung dịch AgNO3 (điện cực trơ) trong thời gian 15 phút, thu được 0,432 gam Ag ở catot. Sau đó để làm kết tủa hết ion Ag+ còn lại trong dung dịch sau điện phân cần dùng 25 ml dung dịch NaCl 0,4M. Cường độ dòng điện và khối lượng AgNO3 ban đầu là (Ag=108)

    1. 0,429 A và 2,38 gam. B. 0,492 A và 3,28 gam.
    2. 0,429 A và 3,82 gam. D. 0,249 A và 2,38 gam.

    Câu 7: Điện phân 200 ml dung dịch AgNO3 0,4M (điện cực trơ) trong thời gian 4 giờ, cường độ dòng điện là 0,402A. Nồng độ mol/l các chất có trong dung dịch sau điện phân là

    1. AgNO3 0,15M và HNO3 0,3M. B. AgNO3 0,1M và HNO3 0,3M.
    2. AgNO3 0,1M D. HNO3 0,3M

    Câu 8:  Sau một thời gian điện phân 200 ml dung dịch CuCl2 thu được 1,12 lít khí X (ở đktc). Ngâm đinh sắt vào dung dịch sau điện phân, khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thấy khối lượng đinh sắt tăng thêm 1,2 gam. Nồng độ mol của CuCl2 ban đầu là

    1. 1M. B. 1,5M.                      C. 1,2M.                      D. 2M.

    Câu 9: Điện phân bằng điện cực trơ dung dịch muối sunfat của kim loại hoá trị II với dòng điện có cường độ 6A. Sau 29 phút điện phân thấy khối lượng catot tăng lên 3,45 gam. Kim loại đó là:

    1. Zn. B. Cu. C. Ni.                           D. Sn.

    Câu 10: Điện phân 400 ml dung dịch CuSO4 0,2M với cường độ dòng điện 10A trong 1 thời gian thu được 0,224 lít khí (đkc) ở anot. Biết điện cực đã dùng là điện cực trơ và hiệu suất điện phân là 100%. Khối lượng catot tăng là

    1. 1,28 gam. B. 0,32 gam. C. 0,64 gam.                D. 3,2 gam.

     

    KIM LOẠI KIỀM VÀ HỢP CHẤT

     

    Câu 1: Số electron lớp ngoài cùng của các nguyên tử kim loại thuộc nhóm IA là

    1. 3. B. 2. C. 4.                            D. 1.

    Câu 2: Công thức chung của oxit kim loại thuộc nhóm IA là

    1. R2O3. B. RO2. C. R2O.                        D. RO.

    Câu 3: Cấu hình electron của nguyên tử Na (Z =11) là

    1. 1s22s2 2p6 3s2. B. 1s22s2 2p6. C. 1s22s2 2p6 3s1.         D. 1s22s2 2p6 3s23p1.

    Câu 4: Chất phản ứng được với dung dịch NaOH tạo kết tủa là

    1. KNO3. B. FeCl3. C. BaCl2.                     D. K2SO4.

    Câu 5: Dung dịch làm quỳ tím chuyển sang màu xanh là

    1. NaCl. B. Na2SO4. C. NaOH.                    D. NaNO3.

    Câu 6: Sản phẩm tạo thành có chất kết tủa khi dung dịch Na2CO3 tác dụng với dung dịch

    1. KCl. B. KOH. C. NaNO3.                   D. CaCl2.

    Câu 7: Khi nhiệt phân hoàn toàn NaHCO3 thì sản phẩm của phản ứng nhiệt phân là

    1. NaOH, CO2, H2. B. Na2O, CO2, H2O. C. Na2CO3, CO2, H2O.             D. NaOH, CO2, H2O.

    Câu 8: Để bảo quản natri, người ta phải ngâm natri trong

    1. nước. B. rượu etylic. C. dầu hỏa. D. phenol lỏng.

    Câu 9: Một muối khi tan vào nước tạo thành dung dịch có môi trường kiềm, muối đó là

    1. Na2CO3. B. MgCl2. C. KHSO4.                   D. NaCl.

    Câu 10: Có thể dùng NaOH (ở thể rắn) để làm khô các chất khí

    1. NH3, O2, N2, CH4, H2 B. N2, Cl2, O2, CO2, H2
    2. NH3, SO2, CO, Cl2 D. N2, NO2, CO2, CH4, H2

    Câu 11: Trong công nghiệp, natri hiđroxit được sản xuất bằng phương pháp

    1. điện phân dung dịch NaCl, không có màng ngăn điện cực.
    2. điện phân dung dịch NaCl, có màng ngăn điện cực
    3. điện phân dung dịch NaNO3 , không có màn ngăn điện cực
    4. điện phân NaCl nóng chảy

    Câu 12: Cho dãy các chất: FeCl2, CuSO4, BaCl2, KNO3. Số chất trong dãy phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. 2. B. 1. C. 3.                            D. 4.

    Câu 13: Phản ứng nhiệt phân không đúng là

    1. 2KNO3 2KNO2 + O2. B. NaHCO3 NaOH + CO2.
    2. NH4Cl NH3 + HCl. D. NH4NO2 N2 + 2H2O.

    Câu 14: Quá trình nào sau đây, ion Na+ không bị khử thành Na?

    1. Điện phân NaCl nóng chảy. B. Điện phân dung dịch NaCl trong nước
    2. Điện phân NaOH nóng chảy. D. Điện phân Na2O nóng chảy

    Câu 15: Quá trình nào sau đây, ion Na+ bị khử thành Na?

    1. Dung dịch NaOH tác dụng với dung dịch HCl. B. Điện phân NaCl nóng chảy.
    2. Dung dịch Na2CO3 tác dụng với dung dịch HCl. D. Dung dịch NaCl tác dụng với dung dịch AgNO3.

    Câu 16: Trong quá trình điện phân dung dịch NaCl, ở cực âm xảy ra:

    1. sự khử ion Na+. B. Sự oxi hoá ion Na+.   C.  Sự khử phân tử nước.         D. Sự oxi hoá phân tử nước

    Câu 17: Trong quá trình điện phân dung dịch KBr, phản ứng nào sau đây xảy ra ở cực dương?

    1. Ion Br bị oxi hoá. B. ion Br bị khử.        C. Ion K+ bị oxi hoá.               D. Ion K+ bị khử.

    Câu 18: Những đặc điểm nào sau đây không là chung cho các kim loại kiềm?

    1. số oxihoá của nguyên tố trong hợp chất. B. số lớp electron.
    2. số electron ngoài cùng của nguyên tử. D. cấu tạo đơn chất kim loại.

    Câu 19: Điện phân NaCl nóng chảy với điện cực trơ, ở catôt thu được

    1. Na. B. NaOH.                     C. Cl2.                          D. HCl.

    Câu 20: Trường hợp không xảy ra phản ứng với NaHCO3 khi :

    1. tác dụng với kiềm. B. tác dụng với CO2.   C. đun nóng.                D. tác dụng với axit.

    Câu 21: Cho sơ đồ phản ứng:  NaHCO3  +  X  Na2CO3 +   H2O. X là hợp chất

    1. KOH B. NaOH C. K2CO3                     D. HCl

    Câu 22: Cho 0,02 mol Na2CO3 tác dụng với lượng dư dung dịch HCl thì thể tích khí CO2 thoát ra (ở đktc) là

    1. 0,672 lít. B. 0,224 lít. C. 0,336 lít.                 D. 0,448 lít.

    Câu 23: Trung hoà V ml dung dịch NaOH 1M bằng 100 ml dung dịch HCl 1M. Giá trị của V là

    1. 400. B. 200. C. 100.                        D. 300.

    Câu 24: Hấp thụ hoàn toàn 2,24 lít khí CO2 (ở đktc) vào dung dịch chứa 8 gam NaOH, thu được dung dịch X. Khối lượng muối tan có trong dung dịch X là (Cho C = 12, O = 16, Na = 23)

    1. 10,6 gam. B. 5,3 gam. C. 21,2 gam.                D. 15,9 gam.

    Câu 25: Điện phân muối clorua kim loại kiềm nóng chảy thu được 1,792 lít khí (đktc) ở anot và 6,24 gam kim loại ở catot. Công thức hoá học của muối đem điện phân là

    1. LiCl. B. NaCl.                       C.  KCl.                       ,D.  RbCl.

    Câu 26: Cho 0,69 gam một kim loại kiềm tác dụng với nước (dư) thu được 0,336 lít khí hiđro (ở đktc). Kim loại kiềm là (Cho Li = 7, Na = 23, K = 39, Rb = 85)

    1. Rb. B. Li. C. Na.                          D. K.

    Câu 27: Để tác dụng hết với dung dịch chứa 0,01 mol KCl và 0,02 mol NaCl thì thể tích dung dịch AgNO3 1M cần dùng là

    1. 40 ml. B. 20 ml. C. 10 ml.                     D. 30 ml.

    Câu 28: Hấp thụ hoàn toàn 4,48 lít khí SO2 (ở đktc) vào dung dịch chứa 16 gam NaOH thu được dung dịch X. Khối lượng muối tan thu được trong dung dịch X là (Cho H = 1, O = 16, Na = 23, S = 32)

    1. 20,8 gam. B. 23,0 gam. C. 25,2 gam.                D. 18,9 gam.

    Câu 29: Cho 6,08 gam hỗn hợp NaOH và KOH tác dụng hết với dung dịch HCl tạo ra 8,30 gam hỗn hợp muối clorua. Số gam mỗi hidroxit trong hỗn hợp lần lượt là:

    1. 2,4 gam và 3,68 gam. B. 1,6 gam và 4,48 gam.    C. 3,2 gam và 2,88 gam.        D. 0,8 gam và 5,28 gam.

    Câu 30: Cho 100 gam CaCO3 tác dụng với axit HCl dư. Khí thoát ra hấp thụ bằng 200 gam dung dịch NaOH 30%. Lượng muối Natri trong dung dịch thu được là

    1. 10,6 gam Na2CO3 B. 53 gam Na2CO3 và 42 gam NaHCO3
    2. 16,8 gam NaHCO3 D. 79,5 gam Na2CO3 và 21 gam NaHCO3

    Câu 31: Cho 6 lít hỗn hợp CO2 và N2 (đktc) đi qua dung dịch KOH tạo ra 2,07 gam K2CO3 và 6 gam KHCO3. Thành phần % thể tích của CO2 trong hỗn hợp là

    1. 42%. B.  56%.                      C.  28%.                      D.  50%.

    Câu 32: Thêm từ từ từng giọt dung dịch chứa 0,07 mol HCl vào dung dịch chứa 0,06 mol Na2CO3. Thể tích khí CO2 (đktc) thu được bằng:

    1. 0,784 lít. B. 0,560 lít.                 C. 0,224 lít.                 D. 1,344 lít.

    Câu 33: Cho hỗn hợp các kim loại kiềm Na, K hòa tan hết vào nước được dung dịch A và 0,672 lít khí H2 (đktc). Thể tích dung dịch HCl 0,1M cần để trung hòa hết một phần ba dung dịch A là

    1. 100 ml. B. 200 ml. C. 300 ml.                   D. 600 ml.

    Câu 34: Thêm từ từ đến hết dung dịch chứa 0,02 mol K2CO3 vào dung dịch chứa 0,03 mol HCl. Lượng khí CO2 thu được (đktc) bằng :

    1. 0,448 lít B. 0,224 lít. C. 0,336 lít.                 D. 0,112 lít.

    Câu 35: Dẫn khí CO2 điều chế được bằng cách cho 10 gam CaCO3 tác dụng với dung dịch HCl dư đi vào dung dịch có chứa 8 gam NaOH. Khối lượng muối Natri điều chế được (cho Ca = 40, C=12, O =16)

    1. 5,3 gam. B. 9,5 gam.                  C. 10,6 gam.                D. 8,4 gam.

    Câu 36: Cho 1,15 gam một kim loại kiềm X tan hết vào nước. Để trung hoà dung dịch thu được cần 50 gam dung dịch HCl 3,65%. X là kim loại nào sau đây?

    1. K. B. Na.                          C. Cs.                          D. Li.

    Câu 37: Nồng độ phần trăm của dung dịch thu được khi cho 3,9 gam Kali tác dụng với 108,2 gam H2O là

    1. 5,00% B. 6,00%                     C. 4,99%.                    D. 4,00%

    Câu 38: Hoà tan m gam Na kim loại vào nước thu được dung dịch X. Trung hoà dung dịch X cần 100ml dung dịch H2SO4 1M. Giá trị m đã dùng là

    1. 6,9 gam.      B. 4,6 gam.                 C. 9,2 gam.                               D. 2,3 gam.

    Câu 39: Cho 5,6 lit CO2 (đktc) hấp thụ hoàn toàn vào 1 lit dung dịch NaOH 0,6M, số mol các chất trong dung dịch sau phản ứng là

    1. 0,25 mol Na2CO3; 0,1 mol NaHCO3. B. 0,25 mol Na2CO3; 0,1 mol NaOH.
    2. 0,5 mol Na2CO3; 0,1 mol NaOH. D. 0,5 mol Na2CO3; 0,5 mol NaHCO3.

    Câu 40: Nung 13,4 gam hỗn hợp 2 muối cacbonat của 2 kim loại hóa trị 2, thu được 6,8 gam chất rắn và khí X. Lượng khí X sinh ra cho hấp thụ vào 75 ml dung dịch NaOH 1M, khối lượng muối khan thu được sau phản ứng là

    1. 5,8 gam.                  B. 6,5 gam.                  C. 4,2 gam.                  D. 6,3 gam.

    KIM LOẠI KIỀM THỔ VÀ HỢP CHẤT

     

    Câu 1: Số electron lớp ngoài cùng của các nguyên tử kim loại thuộc nhóm IIA là

    1. 3. B. 2. C. 4.                            D. 1.

    Câu 2: Trong bảng tuần hoàn, Mg là kim loại thuộc nhóm

    1. IIA. B. IVA. C. IIIA.                        D. IA.

    Câu 3: Khi đun nóng dung dịch canxi hiđrocacbonat thì có kết tủa xuất hiện. Tổng các hệ số tỉ lượng trong phương trình hóa học của phản ứng là

    1. 4. B. 5.                             C. 6.                            D. 7.

    Câu 4: Dãy gồm các kim loại đều phản ứng với nước ở nhiệt độ thường tạo ra dung dịch có môi trường kiềm là

    1. Be, Na, Ca. B. Na, Ba, K.             C. Na, Fe, K.               D. Na, Cr, K.

    Câu 5: Để phân biệt hai dung dịch KNO3 và Zn(NO3)2 đựng trong hai lọ riêng biệt, ta có thể dùng dung dịch

    1. HCl. B. NaOH. C. NaCl.                      D. MgCl2.

    Câu 6: Kim loại không phản ứng với nước ở nhiệt độ thường là

    1. Fe. B. Na. C. Ba.                          D. K.

    Câu 7: Hai kim loại đều thuộc nhóm IIA trong bảng tuần hoàn là

    1. Sr, K. B. Na, Ba. C. Be, Al.                    D. Ca, Ba.

    Câu 8: Chất có thể dùng làm mềm nước cứng tạm thời là

    1. NaCl. B. NaHSO4. C. Ca(OH)2.                 D. HCl.

    Câu 9: Kim loại không phản ứng với nước ở nhiệt độ thường là

    1. Na. B. Ba. C. Be.                          D. Ca.

    Câu 10: Phương pháp thích hợp điều chế kim loại Ca từ CaCl2

    1. nhiệt phân CaCl2. B. dùng Na khử Ca2+ trong dung dịch CaCl2.
    2. điện phân dung dịch CaCl2. D. điện phân CaCl2 nóng chảy.

    Câu 11: Chất phản ứng được với dung dịch H2SO4 tạo ra kết tủa là

    1. NaOH. B. Na2CO3. C. BaCl2.                     D. NaCl.

    Câu 12: Nước cứng là nước có chứa nhiều các ion

    1. Cu2+, Fe3+. B. Al3+, Fe3+. C. Na+, K+.                  D. Ca2+, Mg2+.

    Câu 13: Hai chất được dùng để làm mềm nước cứng vĩnh cửu là

    1. Na2CO3 và HCl. B. Na2CO3 và Na3PO4. C. Na2CO3 và Ca(OH)2. D. NaCl và Ca(OH)2.

    Câu 14:  Nước cứng không gây ra tác hại nào dưới đây?

    1. Gây ngộ độc nước uống.
    2. Làm mất tính tẩy rửa của xà phòng, làm hư hại quần áo.
    3. Làm hỏng các dung dịch pha chế. Làm thực phẩm lâu chín và giảm mùi vị thực phẩm.
    4. Gây hao tốn nhiên liệu và không an toàn cho các nồi hơi, làm tắc các đường ống dẫn nước.

    Câu 15: Cho các hiđroxit: NaOH, Mg(OH)2, Fe(OH)3, Al(OH)3. Hiđroxit có tính bazơ mạnh nhất là

    1. NaOH. B. Mg(OH)2. C. Fe(OH)3.                 D. Al(OH)3.

    Câu 16: Cặp chất không xảy ra phản ứng là

    1. Na2O và H2O. B. dung dịch NaNO3 và dung dịch MgCl2.
    2. dung dịch AgNO3 và dung dịch KCl. D. dung dịch NaOH và Al2O3.

    Câu 17: Khi cho dung dịch Ca(OH)2 vào dung dịch Ca(HCO3)2 thấy có

    1. bọt khí và kết tủa trắng. B. bọt khí bay ra.
    2. kết tủa trắng xuất hiện. D. kết tủa trắng sau đó kết tủa tan dần.

    Câu 18: Khi dẫn từ từ khí CO2 đến dư vào dung dịch Ca(OH)2 thấy có

    1. bọt khí và kết tủa trắng. B. bọt khí bay ra.
    2. kết tủa trắng xuất hiện. D. kết tủa trắng, sau đó kết tủa tan dần.

    Câu 19: Cho dãy các kim loại: Fe, Na, K, Ca. Số kim loại trong dãy tác dụng được với nước ở nhiệt độ thường là

    1. 4. B. 1. C. 2.                            D. 3.

    Câu 20: Sản phẩm tạo thành có chất kết tủa khi dung dịch Ba(HCO3)2 tác dụng với dung dịch

    1. HNO3. B. HCl. C. Na2CO3.                  D. KNO3.

    Câu 21: Cho 10 gam một kim loại kiềm thổ tác dụng hết với nước thoát ra 5,6 lít khí (đktc). Tên của kim loại kiềm thổ đó là

    1. Ba.             B. Mg.                          C. Ca.                         D. Sr.

    Câu 22: Cho 10 lít hỗn hợp khí (đktc) gồm CO2 và 68,64% CO về thể tích đi qua 100 gam dung dịch Ca(OH)2 7,4% thấy tách ra m gam kết tủa. Trị số của m bằng

    1. 10 gam. B. 8 gam.                     C. 6 gam.                     D. 12 gam.

    Câu 23: Cho 10 ml dung dịch muối Canxi tác dụng với dung dịch Na2CO3 dư tách ra một kết tủa, lọc và đem nung kết tuả đến lượng không đổi còn lại 0,28 gam chất rắn. Khối lượng ion Ca2+ trong 1 lít dung dịch đầu là

    1. 10 gam B. 20 gam.                   C. 30 gam.                   D.  40 gam.

    Câu 24: Hoà tan 8,2 gam hỗn hợp bột CaCO3 và MgCO3 trong nước cần 2,016 lít khí CO2 (đktc). Số gam mỗi muối ban đầu là

    1. 2,0 gam và 6,2 gam B. 6,1 gam và 2,1 gam
    2. 4,0 gam và 4,2 gam             D.  1,48 gam và 6,72 gam

    Câu 29: Thổi V lít (đktc) khí CO2 vào 300 ml dung dịch Ca(OH)2 0,02M thì thu được 0,2 gam kết tủa. Giá trị của V là:             A. 44,8 ml hoặc 89,6 ml          B. 224 ml         C. 44,8 ml hoặc 224 ml           D. 44,8 ml

    Câu 25: Dẫn 17,6 gam CO2 vào 500 ml dung dịch Ca(OH)2 0,6M. Phản ứng kết thúc thu được bao nhiêu gam kết tủa?            A. 20 gam.                   B. 30 gam.                   C. 40 gam.                   D. 25 gam.

    Câu 26: Dẫn V lit CO2 (đktc) vào dung dịch Ca(OH)­2 thu được 25 gam kết tủa và dung dịch X, đun nóng dung dịch lại thu thêm được 5 gam kết tủa nữa. Giá trị của V là

    1. 7,84 lit B. 11,2 lit C. 6,72 lit                    D. 5,6 lit

    Câu 27: Khi trộn lẫn dung dịch chứa 0,15 mol NaHCO3 với dung dịch chứa 0,10 mol Ba(OH)2, sau phản ứng thu được m gam kết tủa trắng. Giá trị m là (Cho C = 12, O = 16, Na = , Ba = 137)

    1. 39,40 gam. B. 19,70 gam.              C. 39,40 gam.              D. 29,55 gam.

    Câu 28: Hoà tan hoàn toàn 8,4 gam muối cacbonat của kim loại M (MCO3) bằng dung dịch H2SO4 loãng vừa đủ, thu được một chất khí và dung dịch G1. Cô cạn G1, được 12,0 gam muối sunfat trung hoà, khan. Công thức hoá học của muối cacbonat là (Cho C = 12, O = 16, Mg = 24, Ca = 40, Fe = 56, Ba = 137)

    1. CaCO3. B. MgCO3.                   C. BaCO3.                    D. FeCO3.

    Câu 29: Hoà tan hết 5,00 gam hỗn hợp gồm một muối cacbonat của kim loại kiềm và một muối cacbonat của kim loại kiềm thổ bằng dung dịch HCl thu được 1,68 lít CO2(đkc). Cô cạn dung dịch sau phản ứng sẽ thu được một hỗn hợp muối khan nặng

    1. 7,800 gam. B. 5,825 gam.              C. 11,100 gam.            D. 8,900 gam.

    Câu 30: Cho một mẫu hợp kim Na-Ba tác dụng với nước (dư) thu được dung dịch X và 3,36 lít H2 (ở đktc). Thể tích dung dịch axit H2SO4 2M cần dùng để trung hòa dung dịch X là

    1. 150 ml             B. 60 ml                       C. 75 ml                      D. 30 ml

    Câu 31: Hấp thụ hoàn toàn 2,688 lít khí CO2 (ở đktc) vào 2,5 lít dung dịch Ba(OH)2 nồng độ a mol/l, thu được 15,76 gam kết tủa. Giá trị của a là (cho C = 12, O = 16, Ba = 137)

    1. 0,032. B. 0,04. C. 0,048.                     D. 0,06.

     

    NHÔM và HỢP CHẤT

     

    Câu 1: Số electron lớp ngoài cùng của nguyên tử Al là

    1. 4. B. 3. C. 1.                            D. 2.

    Câu 2: Al2O3 phản ứng được với cả hai dung dịch:

    1. Na2SO4, KOH. B. NaOH, HCl. C. KCl, NaNO3.           D. NaCl, H2SO4.

    Câu 3: Mô tả nào dưới đây không phù hợp với nhôm?

    1. Ở ô thứ 13, chu kì 2, nhóm IIIA. B. Cấu hình electron [Ne] 3s2 3p1.
    2. Tinh thể cấu tạo lập phương tâm diện. D. Mức oxi hóa đặc trưng +3.

    Câu 4: Kim loại Al không phản ứng với dung dịch

    1. NaOH loãng. B. H2SO4 đặc, nguội. C. H2SO4 đặc, nóng.    D. H2SO4 loãng.

    Câu 5: Ở nhiệt độ thường, kim loại Al tác dụng được với dung dịch

    1. Mg(NO3)2. B. Ca(NO3)2.             C. KNO3.                     D. Cu(NO3)2.

    Câu 6: Chất phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. Mg(OH)2. B. Ca(OH)2. C. KOH.                      D. Al(OH)3.

    Câu 7: Để phân biệt dung dịch AlCl3 và dung dịch KCl ta dùng dung dịch

    1. NaOH. B. HCl. C. NaNO3.                   D. H2SO4.

    Câu 8: Nguyên liệu chính dùng để sản xuất nhôm là

    1. quặng pirit. B. quặng boxit. C. quặng manhetit. D. quặng đôlômit.

    Câu 9: Chỉ dùng dung dịch KOH để phân biệt được các chất riêng biệt trong nhóm nào sau đây?

    1. Zn, Al2O3, Al. B. Mg, K, Na.              C. Mg, Al2O3, Al.         D. Fe, Al2O3, Mg.

    Câu 10: Kim loại phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. Ag. B. Cu. C. Fe.                           D. Al.

    Câu 11: Chất có tính chất lưỡng tính là

    1. NaCl. B. Al(OH)3. C. AlCl3.                      D. NaOH.

    Câu 12: Cho phản ứng: aAl + bHNO3 cAl(NO3)3 + dNO + eH2O.

    Hệ số a, b, c, d, e là các số nguyên, tối giản. Tổng (a + b) bằng

    1. 5. B. 4. C. 7.                            D. 6.

    Câu 13: Kim loại Al không phản ứng với dung dịch

    1. H2SO4 đặc, nguội. B. Cu(NO3)2. C. HCl. D. NaOH.

    Câu 14: Chất phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. Al2O3. B. MgO. C. KOH.                      D. CuO.

    Câu 15: Chất không có tính chất lưỡng tính là

    1. NaHCO3. B. AlCl3. C. Al(OH)3.                 D. Al2O3.

    Câu 16: Phản ứng hóa học xảy ra trong trường hợp nào dưới đây không thuộc loại phản ứng nhiệt nhôm?

    1. Al tác dụng với Fe2O3 nung nóng B. Al tác dụng với CuO nung nóng.
    2. Al tác dụng với Fe3O4 nung nóng D. Al tác dụng với axit H2SO4 đặc nóng

    Câu 17: Al2O3 phản ứng được với cả hai dung dịch:

    1. KCl, NaNO3. B. Na2SO4, KOH. C. NaCl, H2SO4.          D. NaOH, HCl.

    Câu 18: Nhỏ từ từ cho đến dư dung dịch NaOH vào dung dịch AlCl3. Hiện tượng xảy ra là

    1. có kết tủa keo trắng và có khí bay lên. B. có kết tủa keo trắng, sau đó kết tủa tan.
    2. chỉ có kết tủa keo trắng. D. không có kết tủa, có khí bay lên.

    Câu 19: Sục khí CO2 đến dư vào dung dịch NaAlO2. Hiện tượng xảy ra là

    1. có kết tủa nâu đỏ. B. có kết tủa keo trắng, sau đó kết tủa lại tan.
    2. có kết tủa keo trắng.                         D. dung dịch vẫn trong suốt.

    Câu 20: Nhôm hidroxit thu được từ cách nào sau đây?

    1. Cho dư dung dịch HCl vào dung dịch natri aluminat. B. Thổi khí CO2 vào dung dịch natri aluminat.
    2. Cho dư dung dịch NaOH vào dung dịch AlCl3. D. Cho Al2O3 tác dụng với nước

    Câu 21: Các dung dịch MgCl2 và AlCl3 đều không màu. Để phân biệt 2 dung dịch này có thể dùng dung dịch của chất nào sau đây?

    1. NaOH. B. HNO3.                   C. HCl.                        D. NaCl.

    Câu 22: Cho 2,7 gam Al tác dụng hoàn toàn với dung dịch NaOH dư. Sau khi phản ứng kết thúc, thể tích khí H2 (ở đktc) thoát ra là (Cho Al = 27)

    1. 3,36 lít. B. 2,24 lít. C. 4,48 lít.                   D. 6,72 lít.

    Câu 23: Cho bột nhôm tác dụng với dung dịch NaOH (dư) thu được 6,72 lít khí H2 (ở đktc). Khối lượng bột nhôm đã phản ứng là (Cho Al = 27)

    1. 2,7 gam. B. 10,4 gam. C. 5,4 gam.                  D. 16,2 gam.

    Câu 24: Cho 5,4 gam bột nhôm tác dụng với 100 ml dung dịch NaOH 0,2M. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được V lít khí hiđro (ở đktc). Giá trị của V là (Cho H = 1, Al = 27)

    1. 0,336 lít. B. 0,672 lít. C. 0,448 lít.                 D. 0,224 lít.

    Câu 25: Hoà tan m gam Al vào dung dịch HNO3 rất loãng chỉ thu được hỗn hợp khí gồm 0,015 mol N2O và 0,01 mol NO. Giá trị của m là

    1. 8,1 gam. B. 1,53 gam. C. 1,35 gam.                D. 13,5 gam.

    Câu 26: Để khử hoàn toàn m gam hỗn hợp CuO và PbO cần 8,1 gam kim loại nhôm, sau phản ứng thu được 50,2 gam hỗn hợp 2 kim loại. Giá trị của m là

    1. 54,4 gam. B. 53,4 gam. C. 56,4 gam.                D. 57,4 gam.

    Câu 27: Hòa tan hết m gam hỗn hợp Al và Fe trong lượng dư dung dịch H2SO4 loãng thoát ra 0,4 mol khí, còn

    trong lượng dư dung dịch NaOH thì thu được 0,3 mol khí. Giá trị m đã dùng là

    1. 11,00 gam. B. 12,28 gam. C. 13,70 gam.              D. 19,50 gam.

    Câu 28: Cho m gam hỗn hợp bột Al và Fe tác dụng với dung dịch NaOH dư thoát ra 6,72 lít khí (đktc). Nếu cho m gam hỗn hợp trên tác dụng với dung dịch HCl dư thì thoát ra 8,96 lít khí (đktc). Khối lượng của Al và Fe trong hỗn hợp đầu là

    1. 10,8 gam Al và 5,6 gam Fe. B. 5,4 gam Al và 5,6 gam Fe.
    2. 5,4 gam Al và 8,4 gam Fe. D. 5,4 gam Al và 2,8 gam Fe.

    Câu 29: 31,2 gam hỗn hợp bột Al và Al2O3 tác dụng với dung dịch NaOH dư thoát ra 13,44 lít khí (đktc). Khối lượng mỗi chất trong hỗn hợp đầu là

    1. 21,6 gam Al và 9,6 gam Al2O3 B. 5,4 gam Al và 25,8 gam Al2O3
    2. 16,2 gam Al và 15,0 gam Al2O3 D. 10,8 gam Al và 20,4 gam Al2O3

    Câu 30: Xử lý 9 gam hợp kim nhôm bằng dung dịch NaOH đặc, nóng (dư) thoát ra 10,08 lít khí (đktc), còn các thành phần khác của hợp kim không phản ứng. Thành phần % của Al trong hợp kim  là

    1. 75%.                B.  80%.                      C.  90%.                      D.  60%.

    Câu 31: Hòa tan hoàn toàn hợp kim Al – Mg trong dung dịch HCl, thu được 8,96 lít khí H2 (đktc). Nếu cũng cho một lượng hợp kim như trên tác dụng với dung dịch NaOH dư, thu được 6,72 lít khí H2 (đktc). Thành phần phần trăm theo khối lượng của Al trong hợp kim là

    1. 69,2%. B. 65,4%. C. 80,2%.                    D. 75,4%.

    Câu 32. Cho dung dịch chứa 2,8 gam NaOH tác dụng với dung dịch chứa 3,42 gam Al2(SO4)3. Sau phản ứng khối lượng kết tủa thu được là

    1. 3,12 gam.               B.  2,34 gam.               C.  1,56 gam.               D.  0,78 gam.

    Câu 33: Cho 200 ml dung dịch AlCl3 1,5M tác dụng với V lít dung dịch NaOH 0,5M, lượng kết tủa thu được là 15,6 gam. Giá trị lớn nhất của V là (cho H = 1, O = 16, Al = 27)

    1. 1,2. B. 1,8. C. 2,4.                                     D. 2.

    SẮT và HỢP CHẤT

     

    Câu 1: Cấu hình electron nào sau đây là của ion Fe?
    A. [Ar] 4s23d6.             B. [Ar]3d64s2.              C. [Ar]3d8.                   D. [Ar]3d74s1.

    Câu 2: Cấu hình electron nào sau đây là của ion Fe2+?
    A. [Ar]3d6.                   B. [Ar]3d5.                   C. [Ar]3d4.                   D. [Ar]3d3.

    Câu 3: Cấu hình electron nào sau đây là của ion Fe3+?
    A. [Ar]3d6.                   B. [Ar]3d5.                   C. [Ar]3d4.                   D. [Ar]3d3.

    Câu 4: Cho phương trình hoá học: aAl + bFe3O4 → cFe + dAl2O3 (a, b, c, d là các số nguyên, tối giản). Tổng các hệ số a, b, c, d là

    1. 25. B. 24. C. 27.                          D. 26.

    Câu 5: Trong các loại quặng sắt, quặng có hàm lượng sắt cao nhất là

    1. hematit nâu. B. manhetit. C. xiđerit.                    D. hematit đỏ.

    Câu 6: Hai dung dịch đều phản ứng được với kim loại Fe là

    1. CuSO4 và ZnCl2. B. CuSO4 và HCl. C. ZnCl2 và FeCl3.       D. HCl và AlCl3.

    Câu 7: Cho sắt phản ứng với dung dịch HNO3 đặc, nóng thu được một chất khí màu nâu đỏ. Chất khí đó là

    1. NO2. B. N2O. C. NH3.                        D. N2.

    Câu 8: Hoà tan m gam Fe trong dung dịch HCl dư, sau khi phản ứng kết thúc thu được 4,48 lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của m là (Cho Fe = 56, H = 1, Cl = 35,5)

    1. 2,8. B. 1,4. C. 5,6.                                     D. 11,2.

    Câu 9: Hoà tan hoàn toàn m gam Fe trong dung dịch HNO3 loãng dư, sau khi phản ứng kết thúc thu được 0,448 lít khí NO duy nhất (ở đktc). Giá trị của m là (Cho Fe = 56, H = 1, Cl = 35,5)

    1. 11,2. B. 0,56. C. 5,60.                       D. 1,12.

    Câu 10. Bao nhiêu gam clo tác dụng vừa đủ kim loại sắt tạo ra 32,5 gam FeCl3?

    1. 21,3 gam B.  14,2 gam.               C.  13,2 gam.               D.  23,1 gam.

    Câu 11: Cho 2,52 gam một kim loại tác dụng hết với dung dịch H2SO4 loãng, thu được 6,84 gam muối sunfat. Kim loại đó là:
    A. Mg.                         B. Zn.                          C. Fe.                           D. Al.

    Câu 12: Ngâm một lá kim loại có khối lượng 50 gam trong dung dịch HCl. Sau khi thu được 336 ml khí H2 (đktc) thì khối lượng lá kim loại giảm 1,68%. Kim loại đó là
    A. Zn.                          B. Fe.                           C. Al.                           D. Ni.

    Câu 13: Cho một ít bột sắt nguyên chất tác dụng hết với dung dịch H2SO4 loãng thu được 560 ml một chất khí (ở đktc). Nếu cho một lượng gấp đôi bột sắt nói trên tác dụng hết với dung dịch CuSO4 thì thu được m gam một chất rắn. Giá trị m là

    1. 1,4 gam.                  B. 4,2 gam.                  C. 2,3 gam.                  D. 3,2 gam.

    Câu 14: Hỗn hợp X gồm Cu và Fe, trong đó Cu chiếm 43,24% khối lượng. Cho 14,8 gam X tác dụng hết với dung dịch HCl thấy có V lít khí (đktc). Giá trị của V là:
    A. 1,12 lít.                   B. 2,24 lít.                    C. 4,48 lít.                   D. 3,36 lít.

    Câu 15: Nhúng thanh sắt vào dung dịch CuSO4, sau một thời gian lấy thanh sắt ra rửa sạch, sấy khô thấy khối lượng tăng 1,2 gam. Khối lượng Cu đã bám vào thanh sắt là
    A. 9,3 gam.                  B. 9,4 gam.                  C. 9,5 gam.                  D. 9,6 gam.

    Câu 16: Cho sắt tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng thu được V lít H2 (đktc), dung dịch thu được cho bay hơi được tinh thể FeSO4.7H2O có khối lượng là 55,6 gam. Thể tích khí H2 (đktc) được giải phóng là
    A. 8,19 lít.                   B. 7,33 lít.                    C. 4,48 lít.                  D. 6,23 lít.

    Câu 17: Ngâm một đinh sắt nặng 4 gam trong dung dịch CuSO4, sau một thời gian lấy đinh sắt ra, sấy khô, cân nặng 4,2857 gam. Khối lượng sắt tham gia phản ứng là
    A. 1,9990 gam.            B. 1,9999 gam.            C. 0,3999 gam.            D. 2,1000 gam

    Câu 18: Hoà tan 58 gam muối CuSO4.5H2O vào nước được 500 ml dung dịch A. Cho dần dần bột sắt vào 50 ml dung dịch A, khuấy nhẹ cho tới khi dung dịch hết màu xanh. Khối lượng sắt đã tham gian phản ứng là

    1. 1,9922 gam.            B. 1,2992 gam.            C. 1,2299 gam.            D. 2,1992 gam.

    Câu 19. Một hỗn hợp gồm 13 gam kẽm và 5,6 gam sắt tác dụng với dung dịch axit sunfuric loãng dư. Thể tích khí hidro (đktc) được giải phóng sau phản ứng là.

    1. 2,24 lit. B. 4,48 lit.                       C. 6,72 lit.                       D. 67,2 lit.

    Câu 20: Hoà tan 5,6 gam Fe bằng dung dịch HNO3 loãng (dư), sinh ra V lít khí NO (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là

    1. 6,72. B. 4,48. C. 2,24.                       D. 3,36.

    Câu 21: Cho 10 gam hỗn hợp gồm Fe và Cu tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng (dư). Sau phản ứng thu được 2,24 lít khí hiđro (ở đktc), dung dịch X và m gam chất rắn không tan. Giá trị của m là (Cho H = 1, Fe = 56, Cu = 64)

    1. 6,4 gam. B. 3,4 gam. C. 5,6 gam.                  D. 4,4 gam.

    Câu 22: Cho 20 gam hỗn hợp bột Mg và Fe tác dụng hết với dung dịch HCl thấy có 1 gam khí H2 bay ra. Lượng

    muối clorua tạo ra trong dung dịch là bao nhiêu gam ?

    1. 40,5 gam. B. 45,5 gam.                C. 55,5 gam.                D. 60,5 gam.

    Câu 23. Cho m gam Fe vào dung dịch HNO3 lấy dư ta thu được 8,96 lit(đkc) hỗn hợp khí X gồm 2 khí NO và NO2 có tỉ khối hơi hỗn hợp X so với oxi bằng 1,3125. Giá trị của m là

    1. 0,56 gam. B. 1,12 gam.                C. 11,2 gam.                D. 5,6 gam.

    Câu 24: Phân hủy Fe(OH)3 ở nhiệt độ cao đến khối lượng không đổi, thu được chất rắn là

    1. FeO. B. Fe2O3. C. Fe3O4.                     D. Fe(OH)2.

    Câu 25: Sản phẩm tạo thành có chất kết tủa khi dung dịch Fe2(SO4)3 tác dụng với dung dịch

    1. NaOH. B. Na2SO4.                   C. NaCl.                      D. CuSO4.

    Câu 26: Dãy gồm hai chất chỉ có tính oxi hoá là

    1. Fe(NO3)2, FeCl3. B. Fe(OH)2, FeO. C. Fe2O3, Fe2(SO4)3.     D. FeO, Fe2O3.

    Câu 27: Cho sơ đồ chuyển hoá: FeFeCl3Fe(OH)3 (mỗi mũi tên ứng với một phản ứng). Hai chất X, Y lần lượt là

    1. HCl, NaOH. B. HCl, Al(OH)3. C. NaCl, Cu(OH)2.       D. Cl2, NaOH.

    Câu 28: Hợp chất sắt (II) sunfat có công thức là

    1. FeSO4. B. Fe(OH)3. C. Fe2O3.                     D. Fe2(SO4)3.

    Câu 29: Sắt có thể tan trong dung dịch nào sau đây?

    1. FeCl2 . B. FeCl3.             C. MgCl2.                     D. AlCl3.

    Câu 30: Hợp chất nào sau đây của sắt vừa có tính oxi hóa, vừa có tính khử?

    1. FeO. B. Fe2O3. C. Fe(OH)3.                 D. Fe(NO3)3.

    Câu 31: Nhận định nào sau đây sai?

    1. Sắt tan được trong dung dịch CuSO4. B. Sắt tan được trong dung dịch FeCl3.
    2. Sắt tan được trong dung dịch FeCl2. D. Đồng tan được trong dung dịch FeCl3.

    Câu 32: Chất có tính oxi hoá nhưng không có tính khử là

    1. Fe. B. Fe2O3. C. FeCl2.                      D. FeO.

    Câu 33: Chất phản ứng với dung dịch FeCl3 cho kết tủa là

    1. CH3COOCH3. B. CH3OH. C. CH3NH2.                 D. CH3COOH.

    Câu 34: Cho phản ứng: a Fe + b HNO3 c Fe(NO3)3 + d NO + e H2O

    Các hệ số a, b, c, d, e là những số nguyên, đơn giản nhất. Thì tổng (a+b) bằng

    1. 3. B. 6. C. 4.                            D. 5.

    Câu 35: Cho dãy các chất: FeCl2, CuSO4, BaCl2, KNO3. Số chất trong dãy phản ứng được với dung dịch NaOH là   A. 2.                                 B. 1.                             C. 3.                            D. 4.

    Câu 36: Cho dãy các kim loại: Na, Cu, Fe, Ag, Zn. Số kim loại trong dãy phản ứng được với dung dịch HCl là

    1. 5. B. 2. C. 3.                            D. 4.

    Câu 37: Cho các hợp kim sau: Cu-Fe (I); Zn –Fe (II); Fe-C (III); Sn-Fe (IV). Khi tiếp xúc với dung dịch chất điện li thì các hợp kim mà trong đó Fe đều bị ăn mòn trước là:

    1. I, II và III. B. I, II và IV.               C. I, III và IV.              D. II, III và IV.

    Câu 38: Nung 21,4 gam Fe(OH)3 ở nhiệt độ cao đến khối lượng không đổi, thu được m gam một oxit. Giá trị của m là (Cho H = 1, O = 16, Fe = 56)

    1. 16. B. 14. C. 8.                            D. 12.

    Câu 39: Cho khí CO khử hoàn toàn đến Fe một hỗn hợp gồm: FeO, Fe2O3, Fe3O4 thấy có 4,48 lít CO2 (đktc) thoát ra. Thể tích CO (đktc) đã tham gia phản ứng là

    1. 1,12 lít. B. 2,24 lít.                    C. 3,36 lít.                   D. 4,48 lít.

    Câu 40: Để khử hoàn toàn 30 gam hỗn hợp CuO, FeO, Fe2O3, Fe3O4, MgO cần dùng 5,6 lít khí CO (ở đktc). Khối lượng chất rắn sau phản ứng là

    1. 28 gam. B. 26 gam.                   C. 22 gam.                   D.  24 gam.

    Câu 41: Khử hoàn toàn 17,6 gam hỗn hợp X gồm Fe, FeO, Fe2O3 cần 2,24 lít CO (ở đktc). Khối lượng sắt thu được là            A. 5,6 gam.                 B. 6,72 gam.                C. 16,0 gam.                D. 8,0 gam.

    Câu 42: Hỗn hợp A gồm FeO, Fe3O4, Fe2O3. Trong hỗn hợp A, mỗi oxit đều có 0,5 mol. Khối lượng của hỗn hợp A là

    1. A. 231 gam. 232 gam. C. 233 gam.                 D. 234 gam.

    Câu 43: Khử hoàn toàn 16 gam Fe2O3 bằng khí CO ở nhiệt độ cao. Khí đi ra sau phản ứng được dẫn vào dung dịch Ca(OH)2 dư. Khối lượng kết tủa thu được là
    A. 15 gam                    B. 20 gam.                   C. 25 gam.                   D. 30 gam.

    Câu 44: Khử hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm FeO và Fe2O3 bằng H2 (to), kết thúc thí nghiệm thu được 9 gam  H2O và 22,4 gam chất rắn. % số mol của FeO có trong hỗn hợp X là:

    1. 66,67%.             B. 20%.                       C. 67,67%.                  D. 40%.

    Câu 45: Nung một mẫu thép thường có khối lượng 10 gam trong O2 dư thu được 0,1568 lít khí CO2 (đktc). Thành phần phần trăm theo khối lượng của cacbon trong mẫu thép đó là
    A. 0,82%.                    B. 0,84%.                    C. 0,85%.                    D. 0,86%.

    Câu 46: Hoà tan hoàn toàn 2,81 gam hỗn hợp gồm Fe2O3, MgO, ZnO trong 500 ml axit H2SO4 0,1M (vừa đủ). Sau phản ứng, hỗn hợp muối sunfat khan thu được khi cô cạn dung dịch có khối lượng là

    1. 3,81 gam. B. 4,81 gam. C. 5,81 gam.                D. 6,81 gam.

    Câu 47: Cho 32 gam hỗn hợp gồm MgO, Fe2O3, CuO tác dụng vừa đủ với 300ml dung dịch H2SO4 2M. Khối lượng muối thu được là
    A. 60 gam.                   B. 80 gam.                   C. 85 gam.                   D. 90 gam.

    Câu 48:  Hòa tàn 10 gam hỗn hợp bột Fe và Fe2O3 bằng dd HCl thu được 1,12 lít khí (đktc) và dung dịch A. Cho dung dịch A tác dụng với NaOH dư, thu được kết tủa. Nung kết tủa trong không khí đến khối lượng không đổi được chất rắn có khối lượng là:

    1. 11,2 gam. B. 12,4 gam. C. 15,2 gam.                D. 10,9 gam.

    Câu 49: Hoà tan 5,6 gam Fe bằng dung dịch H2SO4 loãng (dư), thu được dung dịch X. Dung dịch X phản ứng vừa đủ với V ml dung dịch KMnO4 0,5M. Giá trị của V là (cho Fe = 56)

    1. 40. B. 80. C. 60.                          D. 20.

     

    CRÔM và HỢP CHẤT

     

    Câu 1: Cấu hình electron của ion Cr3+ là:
    A. [Ar]3d5.                   B. [Ar]3d4.                   C. [Ar]3d3.                   D. [Ar]3d2.

    Câu 2: Các số oxi hoá đặc trưng của crom là:
    A. +2; +4, +6.              B. +2, +3, +6.               C. +1, +2, +4, +6.        D. +3, +4, +6.

    Câu 3: Nhỏ từ từ dung dịch H2SO4 loãng vào dung dịch K2CrO4 thì màu của dung dịch chuyển từ

    1. không màu sang màu vàng. B. màu da cam sang màu vàng.
    2. không màu sang màu da cam. D. màu vàng sang màu da cam.

    Câu 4: Oxit lưỡng tính là

    1. Cr2O3. B. MgO. C. CrO.                        D. CaO.

    Câu 5: Cho phản ứng : NaCrO2 + Br2 + NaOH Na2CrO4  + NaBr + H2O

    Khi cân bằng phản ứng trên, hệ số của NaCrO2 là

    1. 1. B. 2. C. 3.                            D. 4.

    Câu 6: Cặp kim loại nào sau đây bền trong không khí và nước do có màng oxit bảo vệ?

    1. Fe và Al. B. Fe và Cr. C. Mn và Cr.                D. Al và Cr.

    Câu 7: Sục khí Cl2 vào dung dịch CrCl3 trong môi trường NaOH. Sản phẩm thu được là

    1. Na2Cr2O7, NaCl, H2O. B. Na2CrO4, NaClO3, H2O.
    2. Na[Cr(OH)4], NaCl, NaClO, H2O. D. Na2CrO4, NaCl, H2O.

    Câu 8: Khi so sánh trong cùng một điều kiện thì Cr là kim loại có tính khử mạnh hơn

    1. Fe. B. K. C. Na.                          D. Ca.

    Câu 9: Khối luợng K2Cr2O7 cần dùng để oxi hoá hết 0,6 mol FeSO4 trong dung dịch có H2SO4 loãng làm môi

    trường là (Cho O = 16, K = 39, Cr = 52)

    1. 29,4 gam B. 59,2 gam. C. 24,9 gam.                D. 29,6 gam

    Câu 10: Muốn điều chế 6,72 lít khí clo (đkc) thì khối luợng K2Cr2O7 tối thiểu cần dùng để tác dụng với dung dịch HCl đặc, dư là (Cho O = 16, K = 39, Cr = 52)

    1. 29,4 gam B. 27,4 gam. C. 24,9 gam.                D. 26,4 gam

    Câu 11: Để oxi hóa hoàn toàn 0,01 mol CrCl3 thành K2CrO4 bằng Cl2 khi có mặt KOH, lượng tối thiểu Cl2 và KOH tương ứng là

    1. 0,015 mol và 0,04 mol. B. 0,015 mol và 0,08 mol.
    2. 0,03 mol và 0,08 mol. D. 0,03 mol và 0,04 mol.

    Câu 12: Khối lượng bột nhôm cần dùng để thu được 78 gam crom từ Cr2O3 bằng phản ứng nhiệt nhôm (giả sử hiệu suất phản ứng là 100%) là

    1. 13,5 gam B. 27,0 gam. C. 54,0 gam.                D. 40,5 gam

    Câu 13: Nung hỗn hợp bột gồm 15,2 gam Cr2O3 và m gam Al ở nhiệt độ cao. Sau khi phản ứng hoàn toàn, thu được 23,3 gam hỗn hợp rắn X. Cho toàn bộ hỗn hợp X phản ứng với axit HCl (dư) thoát ra V lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của V là (cho O = 16, Al = 27, Cr = 52)

    1. 7,84. B. 4,48. C. 3,36.                       D. 10,08.

    Câu 14: Cho 13,5 gam hỗn hợp các kim loại Al, Cr, Fe tác dụng với lượng dư dung dịch H2SO4 loãng nóng (trong điều kiện không có không khí), thu được dung dịch X và 7,84 lít khí H2 (ở đktc). Cô cạn dung dịch X (trong điều kiện không có không khí) được m gam muối khan. Giá trị của m là

    1. 42,6. B. 45,5. C. 48,8.                       D. 47,1.

     

    ĐỒNG, KẼM và HỢP CHẤT

     

    Câu 1: Cấu hình electron của ion Cu là
    A. [Ar]4s13d10. B. [Ar]4s23d9.              C. [Ar]3d104s1. D. [Ar]3d94s2.

    Câu 2: Cấu hình electron của ion Cu2+
    A. [Ar]3d7.                   B. [Ar]3d8.                   C. [Ar]3d9.                   D. [Ar]3d10.

    Câu 3: Cho Cu tác dụng với dung dịch hỗn hợp gồm NaNO3 và H2SO4 loãng sẽ giải phóng khí nào sau đây?
    A. NO2.                        B. NO.                         C. N2O.                        D. NH3.

    Câu 4: Tổng hệ số (các số nguyên, tối giản) của tất cả các chất trong phương trình phản ứng giữa Cu với dung dịch HNO3 đặc, nóng là

    1. 10. B. 8. C. 9.                            D. 11.

    Câu 5: Có 4 dung dịch muối riêng biệt: CuCl2, ZnCl2, FeCl3, AlCl3. Nếu thêm dung dịch KOH (dư) vào 4 dung dịch trên thì số chất kết tủa thu được là

    1. 1. B. 2. C. 3.                            D. 4.

    Câu 6: Hai kim loại đều phản ứng với dung dịch Cu(NO3)2 giải phóng kim loại Cu là

    1. Al và Fe. B. Fe và Au. C. Al và Ag.                D. Fe và Ag.

    Câu 7: Cặp chất không xảy ra phản ứng là

    1. Fe + Cu(NO3)2. B. Cu + AgNO3. C. Zn + Fe(NO3)2.        D. Ag + Cu(NO3)2.

    Câu 8: Dung dịch FeSO4 và dung dịch CuSO4 đều tác dụng được với

    1. Ag. B. Fe. C. Cu.                          D. Zn.

    Câu 9: Kim loại Cu phản ứng được với dung dịch

    1. FeSO4. B. AgNO3. C. KNO3.                     D. HCl.

    Câu 10: Hai kim loại có thể điều chế bằng phương pháp nhiệt luyện là

    1. Ca và Fe. B. Mg và Zn. C. Na và Cu.                D. Fe và Cu.

    Câu 11: Chất không khử được sắt oxit (ở nhiệt độ cao) là

    1. Cu. B. Al. C. CO.                         D. H2.

    Câu 12: Dung dịch muối nào sau đây tác dụng được với cả Ni và Pb?

    1. Pb(NO3)2. B. Cu(NO3)2. C. Fe(NO3)2.                D. Ni(NO3)2.

    Câu 13: Để loại bỏ kim loại Cu ra khỏi hỗn hợp bột gồm Ag và Cu, người ta ngâm hỗn hợp kim loại trên vào lượng dư dung dịch

    1. AgNO3. B. HNO3. C. Cu(NO3)2.               D. Fe(NO3)2.

    Câu 14: Tất cả các kim loại Fe, Zn, Cu, Ag đều tác dụng được với dung dịch

    1. HCl. B. H2SO4 loãng. C. HNO3 loãng.           D. KOH.

    Câu 15: Một kim loại phản ứng với dung dịch CuSO4 tạo ra Cu. Kim loại đó là

    1. Fe. B. Ag. C. Cu.                          D. Na.

    Câu 16: Đồng (Cu) tác dụng được với dung dịch

    1. H2SO4 đặc, nóng. B. H2SO4 loãng. C. FeSO4.                     D. HCl.

    Câu 17: Kim loại M phản ứng được với: dung dịch HCl, dung dịch Cu(NO3)2, dung dịch HNO3 (đặc, nguội). Kim loại M là

    1. Al. B. Zn. C. Fe.                           D. Ag.

    Câu 18: Khi cho Cu tác dụng với dung dịch chứa H2SO4 loãng và NaNO3, vai trò của NaNO3 trong phản ứng là

    1. chất xúc tác. B. chất oxi hoá. C. môi trường.             D. chất khử.

    Câu 19: Trường hợp xảy ra phản ứng là

    1. Cu + Pb(NO3)2 (loãng) ® B. Cu + HCl (loãng) ®
    2. Cu + HCl (loãng) + O2 ® D. Cu + H2SO4 (loãng) ®

    Câu 20: Hợp chất nào sau đây không có tính lưỡng tính?
    A. ZnO.                       B. Zn(OH)2.                 C. ZnSO4.                    D. Zn(HCO3)2.

    Câu 21: Cho dung dịch NaOH vào dung dịch muối sunfat của một kim loại có hoá trị II thấy sinh ra kết tủa tan trong dung dịch NaOH dư. Muối sunfat đó là muối nào sau đây?
    A. MgSO4.                   B. CaSO4.                    C. MnSO4.                   D. ZnSO4.

    Câu 22: Dãy nào sau đây sắp xếp các kim loại đúng theo thứ tự tính khử tăng dần?
    A. Pb, Ni, Sn, Zn.        B. Pb, Sn, Ni, Zn.         C. Ni, Sn, Zn, Pb.        D. Ni, Zn, Pb, Sn.

    Câu 23: Sắt tây là sắt được phủ lên bề mặt bởi kim loại nào sau đây?
    A. Zn.                          B. Ni.                           C. Sn.                          D. Cr.

    Câu 24: Cho 19,2 gam kim loại M tác dụng với dung dịch HNO3 loãng, dư thu được 4,48 lít khí duy nhất NO (đktc). Kim loại M là
    A. Mg.                         B. Cu.                          C. Fe.                           D. Zn.

    Câu 25: Cặp chất không xảy ra phản ứng hoá học là

    1. Cu + dung dịch FeCl3.                                 B. Fe + dung dịch HCl.
    2. Fe + dung dịch FeCl3. D. Cu + dung dịch FeCl2.

    Câu 26: Hai kim loại có thể được điều chế bằng phương pháp điện phân dung dịch là

    1. Al và Mg. B. Na và Fe. C. Cu và Ag.                D. Mg và Zn.

    Câu 27: Cho 7,68 gam Cu tác dụng hết với dung dịch HNO3 loãng thấy có khí NO thoát ra. Khối lượng muối nitrat sinh ra trong dung dịch là
    A. 21, 56 gam.             B. 21,65 gam.              C. 22,56 gam.              D. 22,65 gam.

    Câu 28: Đốt 12,8 gam Cu trong không khí. Hoà tan chất rắn thu được vào dung dịch HNO3 0,5M thấy thoát ra 448 ml khí NO duy nhất (đktc). Thể tích tối thiểu dung dịch HNO3 cần dùng để hoà tan chất rắn là

    1. 0,84 lít.                   B. 0,48 lít.                    C. 0,16 lít.                  D. 0,42 lít.

    Câu 29: Khử m gam bột CuO bằng khí H2 ở nhiệt độ cao thu được hỗn hợp chất rắn X. Để hoà tan hết X cần vừa đủ 1 lít dung dịch HNO3 1M, thu được 4,48 lít khí NO duy nhất (đktc). Hiệu suất của phản ứng khử CuO là
    A. 70%.                       B. 75%.                       C. 80%.                       D. 85%.

     

    PHÂN BIỆT MỘT SỐ CHẤT VÔ CƠ

     

    Câu 1: Chỉ dùng dung dịch KOH để phân biệt được các chất riêng biệt trong nhóm nào sau đây?

    1. Zn, Al2O3, Al. B. Mg, K, Na.              C. Mg, Al2O3, Al.         D. Fe, Al2O3, Mg.

    Câu 2: Để phân biệt CO2 và SO2 chỉ cần dùng thuốc thử là

    1. dung dịch Ba(OH)2. B. CaO. C. dung dịch NaOH.    D. nước brom.

    Câu 3: Có 5 dung dịch riêng rẽ, mỗi dung dịch chứa một cation sau đây: NH4+, Mg2+, Fe2+, Fe3+, Al3+ (nồng độ khoảng 0,1M). Dùng dung dịch NaOH cho lần lượt vào từng dung dịch trên, có thể nhận biết tối đa được mấy dung dịch?
    A. 2 dung dịch.            B. 3 dung dịch.            C. 1 dung dịch.            D. 5 dung dịch.

    Câu 4: Có 5 lọ chứa hoá chất mất nhãn, mỗi lọ đựng một trong các dung dịch chứa cation sau (nồng độ mỗi dung dịch khoảng 0,01M): Fe2+, Cu2+, Ag+, Al3+, Fe3+. Chỉ dùng một dung dịch thuốc thử KOH có thể nhận biết được tối đa mấy dung dịch?
    A. 2 dung dịch.            B. 3 dung dịch.            C. 1 dung dịch.            D. 5 dung dịch.

    Câu 5: Có 5 dung dịch hoá chất không nhãn, mỗi dung dịch nồng độ khoảng 0,1M của một trong các muối sau: KCl, Ba(HCO3)2, K2CO3, K2S, K2SO3. Chỉ dùng một dung dịch thuốc thử là dung dịch H2SO4 loãng nhỏ trực tiếp vào mỗi dung dịch thì có thể phân biệt tối đa mấy dung dịch?
    A. 1 dung dịch.            B. 2 dung dịch.            C. 3 dung dịch.            D. 5 dung dịch.

    Câu 6: Khí CO2 có lẫn tạp chất là khí HCl. Để loại trừ tạp chất HCl đó nên cho khí CO2 đi qua dung dịch nào sau đây là tốt nhất?
    A. Dung dịch NaOH dư.                                  B. Dung dịch NaHCO3 bão hoà dư.
    C. Dung dịch Na2CO3 dư.                                D. Dung dịch AgNO3 dư.

    Câu 7: Có các lọ dung dịch hoá chất không nhãn, mỗi lọ đựng dung dịch không màu của các muối sau: Na2SO4, Na3PO4, Na2CO3, Na2S, Na2SO3. Chỉ dùng thuốc thử là dung dịch H2SO4 loãng nhỏ trực tiếp vào mỗi dung dịch thì có thể được các dung dịch
    A. Na2CO3, Na2S, Na2SO3.                               B. Na2CO3, Na2S.

    1. Na3PO4, Na2CO3, Na2S. D. Na2SO4, Na3PO4, Na2CO3, Na2S, Na2SO3.

    Câu 8: Có 4 ống nghiệm không nhãn, mỗi ống đựng một trong các dung dịch không màu sau(nồng độ khoảng 0,01M): NaCl, Na2CO3, KHSO4 và CH3NH2. Chỉ dùng giấy quì tím lần lượt nhúng vào từng dung dịch, quan sát sự đổi màu của nó có thể nhận biết được dãy các dung dịch nào?
    A. Hai dung dịch NaCl và KHSO4.                  B. Hai dung dịch CH3NH2 và KHSO4.

    1. Dung dịch NaCl. D. Ba dung dịch NaCl, Na2CO3 và KHSO4.

    Câu 9: Để phân biệt dung dịch Cr2(SO4)3 và dung dịch FeCl2 người ta dùng lượng dư dung dịch

    1. K2SO4. B. KNO3. C. NaNO3.                   D. NaOH.

    Câu 10: Có 4 mẫu kim loại là Na, Ca, Al, Fe. Chỉ dùng thêm nước làm thuốc thử có thể nhận biết được tối đa

    1. 2 chất.     B. 3 chất. C. 1 chất.                     D. 4 chất.

    Câu 11: Để nhận biết ion NO3 người ta thường dùng Cu và dung dịch H2SO4 loãng và đun nóng, bởi vì:

    1. tạo ra khí có màu nâu. B. tạo ra dung dịch có màu vàng.
    2. tạo ra kết tủa có màu vàng. D. tạo ra khí không màu hóa nâu trong không khí.

    Câu 12: Có 4 dung dịch là: NaOH, H2SO4, HCl, Na2CO3. Chỉ dùng một hóa chất để nhận biết thì dùng chất nào trong số các chất cho dưới đây?

    1. Dung dịch HNO3 B. Dung dịch KOH.   C. Dung dịch BaCl2     D. Dung dịch NaCl.

    Câu 13: Sục một khí vào nước brom, thấy nước brom bị nhạt màu. Khí đó là

    1. CO2. B. CO.                         C. HCl.                        D. SO2.

    Câu 14: Khí nào sau có trong không khí đã làm cho các đồ dùng bằng bạc lâu ngày bị xám đen?

    1. CO2. B. O2.                           C. H2S.                        D. SO2.

    Câu 15: Hỗn hợp khí nào sau đay tồn tại ở bất kỳ điều kiện nào?

    1. H2 và Cl2. B. N2 và O2.                 C. HCl và CO2.            D. H2 và O2.

     

    HÓA HỌC VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

     

    Câu 1: Hơi thuỷ ngân rất độc, bởi vậy khi làm vỡ nhiệt kế thuỷ ngân thì chất bột được dùng để rắc lên thuỷ ngân rồi gom lại là

    1. vôi sống. B. cát. C. lưu huỳnh.              D. muối ăn.

    Câu 2: Hiện tượng trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính chủ yếu là do chất nào sau đây?

    1. Khí cacbonic. B. Khí clo. C. Khí hidroclorua.      D. Khí cacbon oxit.

    Câu 3: Tỉ lệ số người chết về bệnh phổi do hút thuốc lá gấp hàng chục lần số người không hút thuốc là. Chất gây nghiện và gây ung thư có trong thuốc lá là

    1. nicotin. B. aspirin.                    C. cafein.                     D. moocphin.

    Câu 4: Tác nhân chủ yếu gây mưa axit là

    1. CO và CH4. B. CH4 và NH3. C. SO2 và NO2.            D. CO và CO2.

    Câu 5: Không khí trong phòng thí nghiệm bị nhiễm bẩn bởi khí clo. Để khử độc, có thể xịt vào không khí dung dịch nào sau đây?

    1. Dung dịch HCl. B. Dung dịch NH3. C. Dung dịch H2SO4.   D. Dung dịch NaCl.

    Câu 6: Dẫn không khí bị ô nhiễm đi qua giấy lọc tẩm dung dịch Pb(NO3)2 thấy dung dịch xuất hiện màu đen. Không khí đó đã bị nhiễm bẩn khí nào sau đây?

    1. Cl2. B. H2S. C. SO2.                        D. NO2.

    Câu 7: Dãy gồm các chất và thuốc đều có thể gây nghiện cho con người là

    1. penixilin, paradol, cocain.                           B. heroin, seduxen, erythromixin
    2. cocain, seduxen, cafein.                             D. ampixilin, erythromixin, cafein.

    Câu 8: Trong khí thải công nghiệp thường chứa các khí: SO2, NO2, HF. Có thể dùng chất nào (rẻ tiền) sau đây để loại các khí đó?                  A. NaOH.                    B. Ca(OH)2.                 C. HCl.                        D. NH3.

    GIỚI THIỆU MỘT SỐ ĐỀ THI TỐT NGHIỆP

     

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                         KỲ THI  TỐT NGHIỆP THPT – 2008

    Đề chính thức                                                                 Môn thi: HOÁ HỌC – Bổ túc

                                                                                                                           

    Câu 1:  Số đồng phân amin có công thức phân tử C2H7N là

    1. 4. B. 3.                             C. 2.                             D. 5.

    Câu 2: Số electron lớp ngoài cùng của các nguyên tử kim loại thuộc phân nhóm chính nhóm II là

    1. 3. B. 2.                             C. 4.                             D. 1.

    Câu 3: Công thức chung của oxit kim loại thuộc phân nhóm chính nhóm I là

    1. R2O3. B. RO2.                        C. R2O.                        D. RO.

    Câu 4: Tên gọi của polime có công thức (-CH2-CH2-)n

    1. poli vinyl clorua. B. poli etylen.
    2. poli metyl metacrylat. D. polistiren.

    Câu 5: Chất phản ứng được với dung dịch NaOH tạo kết tủa là

    1. KNO3. B. FeCl3.                      C. BaCl2.                      D. K2SO4.

    Câu 6: Quá trình nhiều phân tử nhỏ (monome) kết hợp với nhau thành phân tử lớn (polime) đồng thời giải phóng những phân tử nước gọi là phản ứng

    1. nhiệt phân. B. trao đổi.                   C. trùng hợp.                D. trùng ngưng.

    Câu 7: Chất tham gia phản ứng trùng hợp tạo ra polime là

    1. CH3-CH3. B. CH3-CH2-CH3.         C. CH3-CH2-Cl.            D. CH2=CH-CH3.

    Câu 8: Chất phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. Al2O3. B. MgO.                       C. KOH.                      D. CuO.

    Câu 9:  Để phân biệt dung dịch AlCl3 và dung dịch KCl ta dùng dung dịch

    1. NaOH. B. HCl.                        C. H2SO4.                     D. NaNO3.

    Câu 10:Kim loại Fe phản ứng được với dung dịch

    1. CuSO4. B. Al2(SO4)3.                C. MgSO4.                    D. ZnSO4.

    Câu 11:Chất phản ứng được với Cu(OH)2 tạo ra dung dịch màu xanh lam là

    1. phenol. B. etyl axetat.               C. ancol etylic. D. glixerol.

    Câu 12:  Trong điều kiện thích hợp, axit fomic (HCOOH) phản ứng được với

    1. HCl. B. Cu.                          C. C2H5OH.                D. NaCl.

    Câu 13: Cho các kim loại Na, Mg, Fe, Al; kim loại có tính khử mạnh nhất là

    1. Al. B. Na.                          C. Mg.                          D. Fe.

    Câu 14:  Cho m gam kim loại Al tác dụng với một lượng dư dung dịch NaOH, thu được 3,36 lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của m là

    1. 10,8. B. 8,1.                          C. 5,4.                          D. 2,7.

    Câu 15:  Trung hoà m gam axit CH3COOH bằng 100ml dung dịch NaOH 1M. Giá trị của m là

    1. 9,0. B. 3,0.                          C. 12,0.                        D. 6,0.

    Câu 16: Kim loại Al không phản ứng với dung dịch

    1. H2SO4 đặc, nguội. B. Cu(NO3)2.                C. HCl.                        D. NaOH.

    Câu 17: Cho 4,6gam ancol etylic phản ứng với lượng dư kim loại Na, thu được V lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của V là

    1. 3,36. B. 4,48.                        C. 2,24.                        D. 1,12.

    Câu 18: Phương pháp thích hợp điều chế kim loại Ca từ CaCl2

    1. nhiệt phân CaCl2. B. dùng Na khử Ca2+ trong dung dịch CaCl2.
    2. điện phân dung dịch CaCl2. D. điện phân CaCl2 nóng chảy.

    Câu 19: Chất phản ứng được với dung dịch CaCl2 tạo kết tủa là

    1. Mg(NO3)2. B. Na2CO3.                  C. NaNO3.                   D. HCl.

    Câu 20:  Chất có tính oxi hoá nhưng không có tính khử là

    1. Fe. B. Fe2O3.                     C. FeCl.                      D. FeO.

    Câu 21: Axit aminoaxetic (NH2CH2COOH) tác dụng được với dung dịch

    1. NaNO3. B. NaCl.                       C. NaOH.                    D. Na2SO4.

    Câu 22: Trung hoà V ml dung dịch NaOH 1M bằng 100ml dung dịch HCl 1M. Giá trị của V là

    1. 400. B. 200.                         C. 100.                         D. 300.

    Câu 23: Chất phản ứng được với Ag2O trong NH3, đun nóng tạo ra kim loại Ag là

    1. glucozơ. B. saccarozơ.               C. xenlulozơ.               D. tinh bột.

    Câu 24: Chất phản ứng được với axit HCl là

    1. HCOOH. B. C6H5NH2 (anilin).   C. C6H5OH.                 D. CH3COOH.

    Câu 25: Hai kim loại đều phản ứng với dung dịch Cu(NO3)2 giải phóng kim loại Cu là

    1. Al và Fe. B. Fe và Au.                C. Al và Ag.                 D. Fe và Ag.

    Câu 26:  Công thức chung của dãy đồng đẳng rượu no, đơn chức, mạch hở là

    1. CnH2n-1OH (n≥3). B. CnH2n+1OH (n1).
    2. CnH2n+1CHO (n≥0).               D. CnH2n+1COOH (n≥0).

    Câu 27:  Cho phản ứng a Al  + bHNO3 → c Al(NO3)3   + dNO  + eH2O

    Hệ số a, b, c, d, e là các số nguyên, tối giản. Tổng (a+b) bằng

    1. 5. B. 4.                             C. 7.                             D. 6.

    Câu 28: Andehyt axetic có công thức là

    1. CH3COOH. B. HCHO.                   C. CH3CHO.               D. HCOOH.

    Câu 29: Axit axetic không phản ứng với

    1. CaO. B. Na2SO4.                  C. NaOH.                     D. Na2CO3.

    Câu 30: Nung 21,4 gam Fe(OH)3 ở nhiệt cao đến khối lượng không đổi, thu được m gam một oxit. Giá trị của m là

    1. 16. B. 14.                           C. 8.                             D. 12.

    Câu 31: Cấu hình electron của nguyên tử Na (Z=11)

    1. 1s22s22p63s2. B. 1s22s22p6.                C. 1s22s22p63s1.           D. 1s22s22p63s23p1.

    Câu 32:  Cho 4,4 gam một andehyt no, đơn chức, mạch hở X phản ứng hoàn toàn với một lượng dư Ag2O trong dung dịch NH3, đun nóng thu được 21,6 gam kim loại Ag. Công thức của X là

    1. CH3CHO. B. C3H7CHO.               C. HCHO.                    D. C2H5CHO.

    Câu 33: Chất phản ứng được với Ag2O trong dung dịch NH3, đun nóng tạo ra kim loại Ag là

    1. CH3NH2. B. CH3CH2OH.            C. CH3CHO.               D. CH3COOH.

    Câu 34: Để phân biệt dung dịch phenol (C6H5OH) và ancol etylic (C2H5OH), ta dùng thuốc thử là

    1. kim loại Na. B. quỳ tím.                   C. nước brom. D. dd NaCl.

    Câu 35:  Oxi hoá CH3CH2OH bằng CuO đun nóng, thu được andehit có công thức là

    1. CH3CHO. B. CH3CH2CHO.          C. CH2=CH-CHO.        D. HCHO.

    Câu 36: Chất không phản ứng với brom là

    1. C6H5OH. B. C6H5NH2.                C. CH3CH2OH.           D. CH2=CH-COOH.

    Câu 37: Đun nóng este CH3COOC2H5 với một lượng vừa đủ dung dịch NaOH, sản phẩm thu được là

    1. CH3COONa và CH3OH. B. CH3COONa và C2H5OH.
    2. HCOONa và C2H5OH. D. C2H5COONa và CH3OH.

    Câu 38: Kim loại không phản ứng với nước ở nhiệt độ thường là

    1. Ba. B. Na.                          C. Fe.                           D. K

    Câu 39: Kim loại tác dụng được với axit HCl là

    1. Cu. B. Au.                          C. Ag.                          D. Zn.

    Câu 40: Nhôm oxit (Al2O3) không phản ứng được với dung dịch

    1. NaOH. B. HNO3.                     C. H2SO4.                     D. NaCl.

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                                KỲ THI  TỐT NGHIỆP THPT – 2008

    Đề chính thức                                                      Môn thi: HOÁ HỌC –Phân ban

                                                                                                                           

    1. I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH ( 33 câu, từ câu 1 đến câu 33)

    Câu 1: Hoà tan m gam Al bằng dung dịch HCl (dư), thu được 3,36 lít H2 (ở đktc). Giá trị của m là

    1. 4,05. B. 2,70.                        C. 1,35.                        D. 5,40.

    Câu 2: Cho dãy các kim loại: K, Mg, Na, Al. Kim loại trong dãy mạnh nhất là

    1. K. B. Mg.                          C. Al.                           D. Na.

    Câu 3: Al2O3 phản ứng được với cả hai dung dịch:

    1. NaOH, HCl. B. Na2SO4, KOH.         C. KCl, NaNO3.           D. NaCl, H2SO4.

    Câu 4: Cho sơ đồ chuyển hoá: Fe FeCl3 Fe(OH)3. Hai chất X, Y lần lượt là

    1. Cl2, NaOH. B. NaCl, Cu(OH)2. C. HCl, Al(OH)3.         D. HCl, NaOH.

    Câu 5: Đun nóng ancol etylic với H2SO4 đặc ở 1700C, thu được sản phẩm chính ( chất hữu cơ) là

    1. C2H6. B. (CH3)2O.                  C. C2H4.                      D. (C2H5)2O.

    Câu 6: Đồng phân của glucozơ là

    1. saccarozơ. B. xenloluzơ.               C. fructozơ.                 D. mantozơ.

    Câu 7: Chất phản ứng được với các dung dịch: NaOH, HCl là

    1. C2H5OH. B. CH3COOH.             C. H2N-CH2-COOH.  D. C2H6.

    Câu 8: Cho dãy các chất: CH3OH, CH3COOH, CH3COOCH3, CH3CHO, C6H5OH. Số chất trong dãy tác dụng được với Na sinh ra H2

    1. 5. B. 2.                             C.3.                              D. 4.

    Câu 9: Sản phẩm tạo thành có chất kết tủa khi dung dịch Fe2(SO4)3 tác dụng với dung dịch

    1. NaOH. B. Na2SO4.                   C. NaCl.                       D. CuSO4.

    Câu 10: Trong công nghiệp, kim loại được điều chế bằng phương pháp điện phân hợp chất nóng chảy của kim loại đó

    1. Fe. B. Ag.                          C. Na.                          D. Cu.

    Câu 11: Sản phẩm tạo thành có chất kết tủa khi dung dịch Na2CO3 tác dụng với dung dịch

    1. CaCl2. B. KCl.                        C. KOH.                      D. NaNO3.

    Câu 12: Axit acrylic có công thức là

    1. C3H7COOH. B. CH3COOH.             C.C2H3COOH.            D. C2H5COOH

    Câu 13: Đốt cháy hoàn toàn 0,2 mol metyl amin ( CH3NH2), sinh ra V lít khí N2 (ở đktc). Giá trị của V là

    1. 1,12. B. 4,48.                        C. 3,36.                        D. 2,24.

    Câu 14: Phương pháp thích hợp điều chế kim loại Mg từ MgCl2

    1. nhiệt phân MgCl2.              B. điện phân dung dịch MgCl2.
    2. dùng K khử Mg2+ trong dung dịch MgCl2. D. điện phân MgCl2 nóng chảy

    Câu 15: Cho dãy các kim loại: Fe, Na, K, Ca. Số kim loại trong dãy tác dụng được với nước ở nhiệt độ thường là

    1. 4. B. 1.                             C. 3.                             D. 2.

    Câu 16: Kết tủa tạo thành khi nhỏ nước brom vào

    1. anilin. B. ancol etylic. C. axit axetic.               D. benzen.

    Câu 17: Cho dãy các kim loại: Na, Cu, Fe, Ag, Zn. Số kim loại trong dãy phản ứng được với dung dịch HCl là

    1. 2. B. 4.                             C. 5.                             D. 3.

    Câu 18: Trong bảng tuần hoàn, Mg là kim loại thuộc nhóm

    1. IIA. B. IA.                           C. IVA.                        D. IIIA.

    Câu 19: Poli(vinyl clorua) được điều chế từ phản ứng trùng hợp

    1. CH3-CH=CHCl. B. CH2=CH-CH2Cl       C. CH3CH2Cl.              D. CH2=CHCl.

    Câu 20: Số nhóm hydroxyl (-OH) trong một phân tử glixerol là

    1. 3. B. 1.                             C. 4.                             D. 2.

    Câu 21: Công thức chung của axit cacboxylic no, đơn chức, mạch hở là

    1. CnH2n+1OH. B. CnH2n+1COOH. C. CnH2n+1CHO.           D. CnH2n-1COOH

    Câu 22: Số đồng phân cấu tạo ứng với công thức phân tử C2H6O là

    1. 5. B. 4.                             C. 2.                             D. 3.

    Câu 23: Dung dịch làm quỳ tím chuyển sang màu xanh là

    1. NaNO3. B. NaCl.                       C. Na2SO4.                   D. NaOH.

    Câu 24: Cho 3,2 gam ancol metylic phản ứng hoàn toàn với Na (dư), thu được V lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của V là

    1. 2,24. B. 3,36.                        C. 4,48.                        D. 1,12.

    Câu 25: Chất tham gia phản ứng tráng gương là

    1. tinh bột. B. axit axetic.               C. xenlulozơ.               D. mantozơ.

    Câu 26: Để phản ứng hoàn toàn với 100ml dung dịch CuSO4 1M, cần vừa đủ m gam Fe. Giá trị của m là

    1. 11,2. B. 2,8.                          C. 5,6.                          D. 8,4.

    Câu 27: Hoà tan 6,4 gam Cu bằng axit H2SO4 đặc, nóng (dư), sinh ra V lít khí SO2 (sản phẩm khử duy nhất ở đktc). Giá trị của V là       A. 2,24.                       B. 3,36.                        C. 6,72.                        D. 4,48.

    Câu 28: Hợp chất sắt (II) sunfat có công thức là

    1. Fe2(SO4)3. B. FeSO4.                    C. Fe(OH)3.                  D. Fe2O3.

    Câu 29: Cho dãy các chất: FeCl2, CuSO4, BaCl2, KNO3. Số chất trong dãy phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. 3. B. 2.                             C. 1.                             D. 4.

    Câu 30: Trong dung dịch CuSO4, ion Cu2+ không bị khử bởi kim loại

    1. Zn. B. Ag.                          C. Mg.                          D. Fe.

    Câu 31: Cho phương trình hoá học: a Al + b Fe3O4 →cFe  + dAl2O3. (a, b, c, d là các số nguyên, tối giản). Tổng các hệ số a, b, c, d là

    1. 26. B. 24.                           C. 27.                           D. 25.

    Câu 32: Kim loại phản ứng được với dung dịch H2SO4 loãng là

    1. Au. B. Ag.                          C. Al.                           D. Cu

    Câu 33: Số electron lớp ngoài cùng của nguyên tử Al là

    1. 1. B. 2.                             C. 4.                             D. 3.
    2. PHẦN RIÊNG [7 câu]. ( thí sinh học theo ban nào phải làm phần đề thi riêng của ban đó).

    Phần dành chi thí sinh ban khoa học tự nhiên ( 7 câu, từ câu 34 đến câu 40)

    Câu 34: Cho E0 (Zn2+/Zn)= -0,76V; E0(Cu2+/Cu)= 0,34V. Suất điện động của pin điện hoá Zn –Cu là

    1. -1,1V. B. -0,42V.                    C. 1,1V.                       D. 0,42V.

    Câu 35: Kim loại phản ứng với dung dịch NaOH là

    1. Ag. B. Al.                           C. Cu.                          D. Au.

    Câu 36: Để tinh chế Ag từ hỗn hợp bột gồm Zn và Ag, người ta ngâm hỗn hợp trên vào một lượng dư dung dịch

    1. AgNO3. B. NaNO3.                   C. Zn(NO3)3.                D. Mg(NO3)2.

    Câu 37: Chất không tham gia phản ứng tráng gương là

    1. glucozơ. B. axeton.                    C. andehyt axetic.        D. andehit fomic.

    Câu 38: Sản phẩm tạo thành có chất kết tủa khi dung dịch Ba(HCO3)2 tác dụng với dung dịch

    1. HCl. B. HNO3.                     C. KNO3.                     D. Na2CO3.

    Câu 39: Để phân biệt dung dịch Cr2(SO4)3 và dung dịch FeCl2 người ta dùng lượng dư dung dịch

    1. NaOH. B. NaNO3.                   C. KNO3.                     D. K2SO4.

    Câu 40: Hoà tan 5,6 gam Fe bằng dung dịch HNO3 loãng(dư), sinh ra V lít khí NO (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là

    1. 3,36. B. 6,72.                        C. 4,48.                        D. 2,24.

    Phần dành cho thí sinh ban Khoa học xã hội và nhân văn ( 7 câu, từ câu 41 đến câu 47).

    Câu 41: Trung hoà 6 gam CH3COOH cần V ml dung dịch NaOH 1M. Giá trị của V là

    1. 400. B. 100.                         C. 300.                         D. 200.

    Câu 42: Chất tác dụng được với agNO3 trong dung dịch NH3, đun nóng tạo ra Ag là

    1. CH3COOH. B. CH3CHO. C. CH3COOCH3.          D. CH3OH.

    Câu 43: Cho sơ đồ phản ứng: C2H5OH →X →CH3COOH (mỗi mũi tên ứng với một phản ứng). Chất X là

    1. HCHO. B. C2H5CHO.               C. CH4.                        D. CH3CHO.

    Câu 44: Phenol (C6H5OH) tác dụng được với

    1. NaCl. B. CH4.                        C. NaOH.                    D. NaNO3.

    Câu 45: Chất X có công thức phân tử C3H6O2 là este của axit axetic (CH3COOH). Công thức cấu tạo của X là

    1. C2H5COOH. B. CH3COOCH3.        C. HCOOC2H5.            D. HOC2H4CHO.

    Câu 46: Ancol metylic có công thức là

    1. C2H5OH. B. C3H7OH.                 C. CH3OH.                  D. C4H9OH.

    Câu 47: Thuốc thử để phân biệt axit axetic và ancol etyilc là

    1. phenolphtalein. B. quỳ tím.
    2. nước brom. D. AgNO3 trong dung dịch NH3.

     

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                           KỲ THI  TỐT NGHIỆP THPT – 2008

    Đề chính thức                                                             Môn thi: HOÁ HỌC –Không Phân ban

                                                                                                                           

    Câu 1: Chất tham gia phản ứng trùng hợp tạo ra polime là

    1. CH3-CH3. B. CH3-CH2-CH3.         C. CH3-CH2-Cl.                                  D. CH2=CH-CH3.

    Câu 2: Cho 4,6gam ancol etylic phản ứng với lượng dư kim loại Na, thu được V lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của V là

    1. 3,36. B. 4,48.                        C. 2,24.                        D. 1,12.

    Câu 3: Đun nóng este HCOOCH3 với một lượng vừa đủ dung dịch NaOH, sản phẩm thu được là

    1. CH3COONa và C2H5OH. B. HCOONa và CH3OH.
    2. HCOONa và C2H5OH. D. CH3COONa và CH3OH.

    Câu 4: Số electron lớp ngoài cùng của các nguyên tử kim loại thuộc phân nhóm chính nhóm II là

    1. 3. B. 2.                             C. 4.                             D. 1.

    Câu 5: Hai dung dịch đều phản ứng được với kim loại Fe là

    1. CuSO4 và ZnCl2. B. CuSO4 và HCl.       C. ZnCl2 và FeCl3.                   D. HCl và AlCl3.

    Câu 6: Chất có tính oxi hoá nhưng không có tính khử là

    1. Fe. B. Fe2O3.                     C. FeCl.                      D. FeO.

    Câu 7: Cho m gam kim loại Al tác dụng với một lượng dư dung dịch NaOH, thu được 3,36 lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của m là

    1. 10,8. B. 8,1.                          C. 5,4.                          D. 2,7.

    Câu 8: Trong điều kiện thích hợp, axit fomic (HCOOH) phản ứng được với

    1. HCl. B. Cu.                          C. C2H5OH.                D. NaCl.

    Câu 9: Trung hoà m gam axit CH3COOH bằng 100ml dung dịch NaOH 1M. Giá trị của m là

    1. 9,0. B. 3,0.                          C. 12,0.                        D. 6,0.

    Câu 10: Kim loại Al không phản ứng với dung dịch

    1. H2SO4 đặc, nguội. B. Cu(NO3)2.                C. HCl.                        D. NaOH.

    Câu 11: Cho các kim loại Na, Mg, Fe, Al; kim loại có tính khử mạnh nhất là

    1. Al. B. Na.                          C. Mg.                          D. Fe.

    Câu 12: Tên gọi của polime có công thức (-CH2-CH2-) là

    1. poli vinyl clorua. B. poli etylen.
    2. poli metyl metacrylat. D. polistiren.

    Câu 13: Nung 21,4 gam Fe(OH)3 ở nhiệt cao đến khối lượng không đổi, thu được m gam một oxit. Giá trị của m là

    1. 16. B. 14.                           C. 8.                             D. 12.

    Câu 14: Chất phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. Al2O3. B. MgO.                       C. KOH.                      D. CuO.

    Câu 15: Số đồng phân amin có công thức phân tử C2H7N là

    1. 4. B. 3.                             C. 2.                             D. 5.

    Câu 16: Để phân biệt dung dịch phenol (C6H5OH) và ancol etylic (C2H5OH), ta dùng thuốc thử là

    1. kim loại Na. B. quỳ tím.                   C. nước brom. D. dd NaCl.

    Câu 17: Hai chất đều phản ứng với dung dịch NaOH là

    1. CH3COOH và C6H5NH2 (anilin). B. HCOOH và C6H5NH2 (anilin).
    2. CH3NH2 và C6H5OH (phenol). D. HCOOH và C6H5OH (phenol).

    Câu 18: Trung hoà V ml dung dịch NaOH 1M bằng 100ml dung dịch HCl 1M. Giá trị của V là

    1. 400. B. 200.                         C. 100.                         D. 300.

    Câu 19: Chất thuộc loại đisaccarit là

    1. glucozơ. B. saccarozơ.              C. xelulozơ.                 D. fructozơ.

    Câu 20:  Để làm mềm nước cứng vĩnh cửu, ta dùng dung dịch

    1. Ca(NO3)2. B. NaCl.                       C. HCl.                        D. Na2CO3.

    Câu 21: Oxi hoá CH3CH2OH bằng CuO đun nóng, thu được andehit có công thức là

    1. CH3CHO. B. CH3CH2CHO.          C. CH2=CH-CHO.        D. HCHO.

    Câu 22: Công thức chung của dãy đồng đẳng rượu no, đơn chức, mạch hở là

    1. CnH2n-1OH (n≥3). B. CnH2n+1OH (n1).
    2. CnH2n+1CHO (n≥0). D. CnH2n+1COOH (n≥0).

    Câu 23: Chất phản ứng được với dung dịch NaOH tạo kết tủa là

    1. KNO3. B. FeCl3.                      C. BaCl2.                      D. K2SO4.

    Câu 24: Phương pháp thích hợp điều chế kim loại Ca từ CaCl2

    1. nhiệt phân CaCl2. B. dùng Na khử Ca2+ trong dung dịch CaCl2.
    2. điện phân dung dịch CaCl2. D. điện phân CaCl2 nóng chảy.

    Câu 25: Chất phản ứng được với dung dịch H2SO4 tạo ra kết tủa là

    1. NaOH. B. Na2CO3.                  C. BaCl2.                     D. NaCl.

    Câu 26: Este etylfomiat có công thức là

    1. CH3COOCH3. B. HCOOC2H5.           C. HCOOCH=CH2.      D. HCOOCH3.

    Câu 27: Axit axetic CH3COOH không phản ứng với

    1. Na2SO4. B. NaOH.                     C. Na2CO3.                  D. CaO

    Câu 28: Để phân biệt dung dịch AlCl3 và dung dịch KCl ta dùng dung dịch

    1. NaOH. B. HCl.                        C. H2SO4.                     D. NaNO3.

    Câu 29: Chất phản ứng được với Ag2O trong dung dịch NH3, đun nóng tạo ra kim loại Ag là

    1. CH3NH2. B. CH3CH2OH.            C. CH3CHO.               D. CH3COOH.

    Câu 30: Cho 4,4 gam một andehyt no, đơn chức, mạch hở X phản ứng hoàn toàn với một lượng dư Ag2O trong dung dịch NH3, đun nóng thu được 21,6 gam kim loại Ag. Công thức của X là

    1. CH3CHO. B. C3H7CHO.               C. HCHO.                    D. C2H5CHO.

    Câu 31: Hai kim loại đều phản ứng với dung dịch Cu(NO3)2 giải phóng kim loại Cu là

    1. Al và Fe. B. Fe và Au.                C. Al và Ag.                 D. Fe và Ag.

    Câu 32: Quá trình nhiều phân tử nhỏ (monome) kết hợp với nhau thành phân tử lớn (polime) đồng thời giải phóng những phân tử nước gọi là phản ứng

    1. nhiệt phân. B. trao đổi.                   C. trùng hợp.                D. trùng ngưng.

    Câu 33: Cặp chất không xảy ra phản ứng là

    1. Fe + Cu(NO3)2. B. Cu + AgNO3.           C. Zn + Fe(NO3)2.        D. Ag + Cu(NO3)2.

    Câu 34: Chất phản ứng được với Cu(OH)2 tạo ra dung dịch màu xanh lam là

    1. phenol. B. etyl axetat.               C. ancol etylic. D. glixerol.

    Câu 35: Axit aminoaxetic (NH2CH2COOH) tác dụng được với dung dịch

    1. NaNO3. B. NaCl.                       C. NaOH.                    D. Na2SO4.

    Câu 36: Cấu hình electron của nguyên tử Na (Z=11)

    1. 1s22s22p63s2.              B. 1s22s22p6.               C. 1s22s22p63s1.              D. 1s22s22p63s23p1.

    Câu 37: Cho phản ứng a Al  + bHNO3 → c Al(NO3)3   + dNO  + eH2O

    Hệ số a, b, c, d, e là các số nguyên, tối giản. Tổng (a+b) bằng

    1. 5. B. 4.                             C. 7.                             D. 6.

    Câu 38: Chất phản ứng được với CaCO3

    1. CH3CH2OH. B. C6H5OH.                 C. CH2=CH-COOH.   D. C6H5NH2 (anilin)

    Câu 39: Kim loại không phản ứng với nước ở nhiệt độ thường là

    1. Fe. B. Na.                          C. Ba.                          D. K.

    Câu 40: Hai kim loại Al và Cu đều phản ứng được với dung dịch

    1. NaCl loãng. B. H2SO4 loãng. C. HNO3 loãng.           D. NaOH loãng.

     

    MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN THI DO TÁC GIẢ ĐỀ XUẤT

     

                   BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                                        KỲ THI  TỐT NGHIỆP THPT

    Môn thi: HOÁ HỌC

    1. I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH ( 32 câu, từ câu 1 đến câu 32)

    Câu 1: Thuỷ phân phenyl axetat trong dung dịch NaOH thu được các sản phẩm hữu cơ là

    1. axit axetic và phenol . B. natri axetat và phenol.
    2. natri axetat và natri phenolat. D. axit axetic và natri phenolat.

    Câu 2: Phản ứng hoá học xảy ra trong trường hợp nào sau đây thuận nghịch?

    1. Đun hỗn hợp gồm axit axetic và ancol etylic.       B. Axit axetic tác dụng với axetilen.
    2. Thuỷ phân phenyl axetat trong môi trường axit.       D. thuỷ phân etyl axetat trong môi trường bazơ.

    Câu 3: Cho dãy các chất: phenol, o- crezol, ancol benzylic, ancol metylic. Số chất trong dãy phản ứng được với dung dịch NaOH là

    A.1.                             B. 2.                             C. 3.                             D. 4.

    Câu 4: Số lượng este đồng phân cấu tạo của nhau ứng với công thức phân tử C4H8O2

    A.2.                             B. 3.                             C. 4.                             D. 5.

    Câu 5: Để trung hoà lượng axit béo tử do có trong 14 gam chất béo cần 15ml dung dịch KOH 0,1M. Chỉ số axit của mẫu chất béo là

    1. 6. B. 12.                           C. 7.                             D. 14.

    Câu 6: Cacbohidrat ở dang polime là

    1. glucozơ. B. saccarozơ.               C. xenlulozơ.               D. fructozơ.

    Câu 7: Dung dịch làm quỳ tím chuyển sang màu hồng là

    1. anilin. B. axit 2- amino axetic.
    2. metyl amin. D. axit glutamic.

    Câu 8: Polime bị thuỷ phân cho α-amino axit là

    1. polistiren. B. polipeptit.               C. nilon-6,6.                D. polisaccarit.

    Câu 9: Cho m gam hỗn hợp hai ancol tác dụng hoàn toàn với Na (dư) được 2,24 lít H2 và 12,2 gam hỗn hợp muối. Giá trị của m là

    1. 7,8. B. 8,2.                          C. 4,6.                          D. 3,9.

    Câu 10: Trung hoà một lượng axit cacboxylic đơn chức cần vừa đủ 100ml dung dịch NaOH 1M. Từ dung dịch sau phản ứng thu được 8,2gam muối khan. Công thức của axit là

    1. HCOOH. B. CH3COOH.                         C. C2H3COOH.                        D. C2H5COOH.

    Câu 11: Cho chất X có công thức phân tử C4H8O2 tác dụng với dung dịch NaOH sinh ra chất Y có công thức phân tử C2H3O2Na. Công thức của X là

    1. HCOOC3H7.            B. C2H5COOCH3.         C. CH3COOC2H5.       D. HCOOC3H5.

    Câu 12: Cho cùng một khối lượng mỗi chất: CH3OH, CH3COOH, C2H4(OH)2, C3H5(OH)3 tác dụng hoàn toàn với Na (dư). Số mol H2 lớn nhất sinh ra là từ phản ứng của Na với

    1. CH3OH. B. CH3COOH.             C. C2H4(OH)2.              D. C3H5(OH)3.

    Câu 13: Cho dãy các chất: CH3Cl, C2H5COOCH3, CH3CHO, CH3COONa. Số chất trong dãy khi thuỷ phân sinh ra ancol metylic là

    1. 1. B. 2.                             C. 3.                             D. 4.

    Câu 14: Cho dãy các kim loại: Be, Mg, Cu, Li, Na. Số kim loại trong dãy có kiểu mạng tinh thể lục phương là

    1. 1. B. 2.                             C. 3.                             D. 4.

    Câu 15: Cấu hình electron của cation R3+ có phân lớp ngoài cùng là 2p6. Nguyên tử R là

    1. S. B. Al.                           C. N.                            D. Mg.

    Câu 16: Cho dãy các kim loại: Al, Cr, Hg, W. Hai kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp nhất tương ứng là :

    1. Hg, Al. B. Al, Cr.                     C. Hg, W.                    D. W, Cr.

    Câu 17: Công thức của thạch cao sống là

    1. CaSO4. B. CaSO4.2H2O.         C. CaSO4.H2O. D.2CaSO4.2H2O.

    Câu 18: Sục 8,96 lít khí CO2 (đktc) vào dung dịch có chứa 0,25 mol Ca(OH)2. Số gam kết tủa thu được là

    1. 25gam. B. 10gam.                    C. 12gam.                    D. 40gam.

    Câu 19: Nhôm không tan trong dung dịch

    1. HCl. B. NaOH.                     C. NaHSO4.                 D. Na2SO4.

    Câu 20: Cho hỗn hợp kim loại gồm 5,4 gam Al và 2,3 gam Na tác dụng với nước dư. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn khối lượng chất rắn còn lại là

    1. 2,7gam. B. 2,3gam.                   C. 4,05gam.                 D. 5,0 gam.

    Câu 21: Hỗn hợp X gồm 3 oxit có số mol bằng nhau: FeO, Fe2O3, Fe3O4. Cho m gam hỗn hợp X tác dụng với dung dịch HNO3 (dư), thu được dung dịch Y. Cho Y tác dụng với dung dịch NaOH loãng (dư), thu được 6,42 gam kết tủa nâu đỏ. Giá trị của m là

    1. 2,32. B. 4,64.                        C. 1,6.                          D. 4,8.

    Câu 22: Cấu hình electron của ion Fe2+

    1. [Ar] 3d6. B. [Ar] 3d54s1.             C. [Ar] 3d44s2.             D. [Ar] 3d34s2.

    Câu 23: Khi cho dung dịch muối sắt (II) vào dung dịch kiềm, cò mặt không khí đến khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được hợp chất

    1. Fe(OH)2. B. Fe(OH)3.                 C. FeO.                        D. Fe2O3.

    Câu 24: Khử hoàn toàn hỗn hợp gồm m gam FeO, Fe2O3, Fe3O4 bằng CO dư ở nhiệt độ cao. Sau phản ứng thu được 33,6 gam chất rắn. Dẫn hỗn hợp khí sau phản ứng vào dung dịch Ca(OH)2 dư, thu được 80gam kết tủa. Giá trị của m là            A. 34,88.                     B. 36,16.                      C. 46,4.                        D. 59,2.

    Câu 25: Hoà tan phèn chua vào nước thu được dung dịch có môi trường

    1. kiềm yếu. B. kiềm mạnh.             C. axit yếu.                  D. trung tính.

    Câu 26: Cho dãy các ion Ca2+, Al3+, Fe2+, Fe3+. Ion trong dãy có số electron độc thân lớn nhất là

    1. Al3+. B. Ca2+.                        C. Fe2+.                        D. Fe3+.

    Câu 27: Cho dãy kim loại: Zn, Fe, Cr. Thứ tự giảm dần độ hoạt động hoá học của các kim loại từ trái sang phải trong dãy là

    1. Zn, Fe, Cr. B. Fe, Zn, Cr.               C. Zn, Cr, Fe.              D. Cr, Fe, Zn.

    Câu 28: Cách bảo quản thực phẩm (thịt, cá…) an toàn là sử dụng

    1. fomon. B. phân đạm.               C. nước đá.                  D. nước vôi.

    Câu 29: Hoà tan hoàn toàn m gam kim loại X bằng dung dịch HCl sinh ra V lít khí (đktc), cũng m gam X khi đun nóng phản ứng hết với V lít O2 (đktc). Kim loại đó là

    1. Ni. B. Zn.                          C. Pb.                           D. Sn.

    Câu 30: Cho dãy các chất: FeO, Fe3O4, Al2O3, HCl, Fe2O3. Số chất trong dãy bị oxi hoá bởi dung dịch H2SO4 đặc, nóng là         A. 2.                            B. 3.                             C. 4.                             D. 5.

    Câu 31: Amilozơ được tạo thành từ các gốc

    1. α-glucozơ. B. β-glucozơ.               C. α- fructozơ.             D. β-fructozơ.

    Câu 32: Khi đốt cháy 4,5 gam một amin đơn chức giải phóng 1,12 lít N2 (đktc). Công thức phân tử của amin đó là

    1. CH5N. B. C2H7N.                    C. C3H9N.                    D. C3H7N.
    2. PHẦN RIÊNG [8 câu].

    Thí sinh học chương trình nào thì chỉ được làm phần dành riêng cho chương trình đó (phần A hoặc B)

    1. Theo chương trình Chuẩn ( 8 câu, từ câu 33 đến câu 40)

    Câu 33: Cho Cu tác dụng với dung dịch hỗn hợp gồm NaNO3 và H2SO4 loãng giải phóng khí X (không màu, dễ hoá nâu trong không khí). Khí X là

    1. NO. B. NH3.                        C. N2O.                        D. NO2.

    Câu 34: Kim loại không khử được nước ở nhiệt độ thường là

    1. Na. B. Ca.                          C. Be.                          D. Cs.

    Câu 35: Cho dãy các chất: CH3-NH2, NH3, C6H5NH2 (anilin), NaOH. Chất có lực bazơ nhỏ nhất trong dãy là

    1. CH3-NH2. B. NH3.                        C. C6H5NH2.               D. NaOH.

    Câu 36: Không nên dùng xà phòng để giặt rửa trong nước chứa nhiều ion

    1. Ca2+. B. Na+.                         C. NH                       D. Cl.

    Câu 37: Chất tác dụng với Cu(OH)2 tạo sản phẩm có màu tím là

    1. andehyt axetic. B. tinh bột.                   C. xenlulozơ.               D. peptit.

    Câu 38: Các số oxi hoá phổ biến của crom trong các hợp chất là

    1. +2, +4, +6. B. +2, +3, +6.              C. +1, +2, +6.               D. +3, +4, +6.

    Câu 39: Chất không có tính chất lưỡng tính là

    1. Al(OH)3. B. Al2O3.                      C. NaHCO3.                 D. ZnSO4.

    Câu 40: Tính chất hóa học đặc trưng của Fe là

    1. A. tính khử. tính oxi hoá.            C. tính axit.                  D. tính bazơ.
    2. Theo chương trình Nâng cao ( 8 câu , từ câu 41 đến câu 48)

    Câu 41: Khi điện phân NaCl nóng chảy, ở catot xảy ra

    1. sự khử ion Cl. B. sự oxi hoá ion Cl.
    2. sự khử ion Na+. D. sự oxi hoá ion Na+.

    Câu 42: Kim loại khử được nước ở nhiệt độ thường là

    1. Cu. B. Ca.                          C. Be.                          D. Fe.

    Câu 43: Khi cho glyxin tác dụng với dung dịch chất X thấy có khí N2 được giải phóng. Chất X là

    1. HCl. B. NaNO3.                   C. HNO3.                     D. NaOH.

    Câu 44: Phát biểu nào sau đây không đúng?

    1. Metyl glucozit có thể chuyển được từ dạng mạch vòng sang dạng mạch hở.
    2. Fructozơ còn tồn tại ở dạng β-, vòng 5 cạnh ở trạng thái tinh thể.
    3. Oxi hoá glucozơ bằng AgNO3 trong dung dịch NH3 thu được amoni gluconat.
    4. Khử glucozơ bằng H2 thu được sobitol.

    Câu 45: Tơ lapsan thuộc loại tơ

    1. poliamit. B. polieste.                  C. poli ete.                   D. vinylic.

    Câu 46: Dung dịch làm quỳ tím chuyển sang xanh là

    1. Na2CO3. B. NaNO3.                   C. NaHSO4.                 D. NaCl.

    Câu 47: Oxi hoá NH3 bằng CrO3 sinh ra N2, H2O và Cr2O3. Số phân tử NH3 tác dụng với một phân tử CrO3

    1. 4. B. 2.                             C. 3.                             D. 1.

    Câu 48: Hai hidroxit đều tan được trong dung dịch NH3

    1. Cu(OH)2 và Ni(OH)2. B. Fe(OH)2 và Ni(OH)2.
    2. Cu(OH)2 và Al(OH)3. D. Zn(OH)2 và Al(OH)3.

                    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                                        KỲ THI  TỐT NGHIỆP THPT

    Môn thi: HOÁ HỌC

    Câu 1: Este CH3COOC2H5 phản ứng với dung dịch NaOH (đun nóng) sinh ra các sản phẩm hữu cơ là

    1. C2H5COONa và CH3OH. B. C2H5ONa và CH3COOH.
    2. CH3COONa và C2H5OH. D. C2H5COOH và CH3ONa.

    Câu 2: Để chuyển chất béo lỏng thành chất béo rắn, người ta thường cho chất béo lỏng tác dụng với

    1. H2O. B. NaOH.                     C. CO2.                        D. H2.

    Câu 3: Vinyl axetat được điều chế bằng phản ứng của

    1. axit axetic với ancol vinylic. B. axit axetic với axetilen.
    2. axit axetic với vinyl clorua. D. axit axetic với etilen.

    Câu 4: Lên men chất X sinh ra sản phẩm gồm ancol etylic và khí cacbonic. Chất X là

    1. glucozơ. B. xenlulozơ.               C. tinh bột.                   D. saccarozơ.

    Câu 5: Cho dãy các chất: glucozơ, xenlulozơ, saccarozơ, mantozơ, fructozơ. Số chất trong dãy tham gia phản ứng tráng bạc là   A. 1.                            B. 2.                             C. 3.                             D. 4.

    Câu 6: Dãy gồm các chất được xếp theo chiều tăng dần lực bazơ từ trái sang phải là

    1. C6H5NH2, NH3, CH3NH2. B. NH3, C6H5NH2, CH3NH2.
    2. CH3NH2, NH3, C6H5NH2. D. CH3NH2, C6H5NH2, NH3.

    Câu 7: Số amino axit đồng phân cấu tạo của nhau ứng với công thức phân tử C4H9NO2

    1. 3. B. 4.                             C. 2.                             D. 5.

    Câu 8: Polime được dùng để chế tạo thuỷ tinh hữu cơ (plexiglas) là

    1. poli ( metyl acrylat). B. poli( metyl metacrylat).
    2. poli (phenol – fomanđehit). D. poli (metyl axetat).

    Câu 9: Dãy gồm các chất đều phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. C2H5Cl, C2H5COOCH3, CH3COOH.   C2H5OH, C2H5COOCH3, CH3COOH.
    2. C2H5Cl, C2H5COOCH3, CH3OH. D. C2H5Cl, C2H5COOCH3, C6H5– CH2OH

    Câu 10: Dãy gồm các chất tham gia phản ứng tráng bạc là

    1. andehyt axetic, saccarozơ, mantozơ    B. axit axetic, glucozơ, mantozơ.
    2. andehit axetic, glucozơ, mantozơ.               D. andehit axetic, glucozơ, mantozơ.

    Câu 11: Để phân biệt hai dung dịch riêng biệt: axit α- amino axetic, axit axetic người ta dùng một thuốc thử là

    1. quỳ tím. B. AgNO3/NH3.            C. NaOH.                     D. phenolphtalein.

    Câu 12: Khi xà phòng hoá triolein bằng dung dịch NaOH thu được sản phẩm là

    1. natri oleat và glixerol. B. natri oleat và etylen glicol.
    2. natri stearat và glixerol. D. natri stearat và etylen glicol.

    Câu 13: Để trung hoà 6,0 gam một axit cacboxylic X ( no, đơn chức, mạch hở) cần 100ml dung dịch NaOH 1M. Công thức của X là

    1. C3H7COOH.          B. C2H5COOH.                  C. HCOOH.              D. CH3COOH.

    Câu 14: Đốt cháy hoàn toàn một thể tích hơi ancol X thu được 3 thể tích khí CO2 và 4 thể tích hơi nước ( các thể tích khí và hơi đo ở cùng điều kiện nhiệt độ, áp suất). Công thức của X là

    1. C2H5OH. B. C3H7OH.                C. CH3OH.                   D. C4H9OH.

    Câu 15: Cho dãy các chất CH3COONa, CH3COOCH3, H2NCH2COOH, CH3CH2NH2. Số chất trong dãy phản ứng được với dung dịch NaOH là            A. 4.                            B. 3.                             C. 2.                             D. 1.

    Câu 16: Cấu hình electron của cation R+ có phân lớp ngoài cùng là 2p6. Nguyên tử R là

    1. Na. B. K.                            C. Li.                           D. Mg.

    Câu 17: Cho sắt lần lượt vào các dung dịch: FeCl3, AlCl3, CuCl2, Pb(NO3)2, HCl, H2SO4 đặc nóng (dư). Số trường hợp phản ứng sinh ra muối sắt (II) là

    1. 5. B. 4.                             C. 3.                             D. 6.

    Câu 18:  Nguyên tắc chung để điều chế kim loại là

    1. khử ion kim loại thành nguyên tử. B. oxi hoá ion kim loại thành kim loại.

    C.cho ion kim loại tác dụng với axit.               D. cho ion kim loại tác dụng với bazơ.

    Câu 19: Cho dãy các kim loại: K, Na, Ba, Ca, Be. Số kim loại trong dãy khử được nước ở nhiệt độ thường là

    1. 5. B. 2.                             C. 3.                             D. 4.

    Câu 20: Cho dãy các kim loại: K, Ca, Al, Fe. Kim loại trong dãy có tính khử mạnh nhất là

    1. K. B. Ca.                          C. Al.                           D. Fe.

    Câu 21: Cho dãy các chất: Na, Na2O, NaOH, NaHCO3. Số chất trong dãy tác dụng được với dung dịch HCl sinh ra chất khí là   A. 2.                            B. 1.                             C. 3.                             D. 4

    Câu 22: Chất X là một bazơ mạnh, được sử dụng để sản xuất clorua vôi. Chất X là

    1. KOH. B. NaOH.                     C. Ba(OH)2.                 D. Ca(OH)2.

    Câu 23: Cho dãy các chất: AlCl3, NaHCO3, Al(OH)3, Na2CO3, Al. Số chất trong dãy đều tác dụng được với axit HCl, dung dịch NaOH là      A. 2.                            B. 4.                             C. 3.                             D. 5.

    Câu 24: Dãy gồm các chất đều có tính chất lưỡng tính.

    1. NaHCO3, Al(OH)3, Al2O3. B. AlCl3, Al(OH)3, Al2O3.
    2. Al, Al(OH)3, Al2O3. D. AlCl3, Al(OH)3, Al2(SO4)3.

    Câu 25: Cho 4,6 gam kim loại kiềm M tác dụng với lượng nước (dư) sinh ra 2,24 lít H2 (đktc). Kim loại M là

    1. K. B. Na.                          C. Li.                           D. Cs.

    Câu 26: Cho dãy các chất: Fe, FeO, Fe2O3, Fe(OH)2, Fe(OH)3. Số chất trong dãy khi tác dụng với dung dịch HNO3 loãng sinh ra sản phẩm khí ( chứa nitơ) là

    1. 5. B. 2.                             C. 4.                             D. 3.

    Câu 27: Cho 5,5 gam hỗn hợp gồm hai kim loại Al và Fe vào dung dịch HCl (dư), thu được 4,48 lít khí H2 (đktc). Khối lượng của Al và Fe trong hỗn hợp lần lượt là

    1. 2,7gam và 2,8gam. B. 2,8gam và 2,7gam.
    2. 2,5gam và 3,0gam. D. 3,5gam và 2,0gam.

    Câu 28: Cho 6,85 gam kimloại X thuộc nhóm IIA vào nước, thu được 1,12 lít khí H2 (đktc). Kim loại X là

    1. Sr. B. Ca.                          C. Mg.                          D. Ba.

    Câu 29: Cho m gam Fe tan hoàn toàn trong lượng dư dung dịch HNO3, thể tích khí NO ( sản phẩm duy nhất, ở đktc) thu được là 1,12 lít. Giá trị của m là     A. 2,8.                         B. 5,6.                          C. 4,2.              D. 7,0.

    Câu 30: Phát biểu nào sau đây đúng?

    1. Sắt bị oxi hoá bởi clo tạo thành hợp chất sắt (II).
    2. Sắt tác dụng với axit loãng H2SO4, HCl đều tạo thành hợp chất sắt (III).
    3. Hợp chất sắt(II) bị oxi hoá thành hợp chất sắt (III).
    4. Hợp chất sắt (III) bị oxi hoá thành sắt.

    Câu 31: Một hợp chất của crom có khả năng làm bốc cháy S, C, P, C2H5OH khi tiếp xúc với nó. Hợp chất đó là

    1. CrO3. B. Cr2O3.                      C. Cr(OH)3.                  D. Cr2(SO4)3.

    Câu 32: Kim loại X có thể khử được Fe3+ trong dung dịch FeCl3 thành Fe2+ nhưng không khử được H+ trong dung dịch HCl thành H2. Kim loại X là

    1. Mg. B. Fe.                           C. Zn.                          D. Cu.

    Câu 33: Thuốc thử để phân biệt ba dung dịch riêng biệt: NaOH, HCl, H2SO4 loãng là

    1. BaCO3. B. Al.                           C. Fe.                           D. BaSO4.

    Câu 34: Một loại than đá dùng cho một nhà máy nhiệt điện có chứa 2% lưu huỳnh. Nếu mỗi ngày nhà máy đốt hết 100 tấn than chì trong một năm (365 ngày) khối lượng khí SO2 xả vào khí quyển là

    1. 1420 tấn. B. 1250 tấn.                 C. 1530 tấn.                 D. 1460 tấn.

    Câu 35: Cho một loại quặng chứa sắt trong tự nhiên đã được loại bỏ tạp chất. Hoà tan quặng này trong dung dịch HNO3 thấy có khí màu nâu bay ra; dung dịch thu được cho tác dụng với dung dịch BaCl2 thấy có kết tủa trắng ( không tan trong axit mạnh). Loại quặng đó là

    1. xiđerit. B. hematit.                   C. manhetit.                 D. pirit sắt.

    Câu 36: Khi cho Fe tác dụng với dung dịch HNO3 loãng thấy thoát ra một khí không màu, hoá nâu trong không khí. Khí đó là

    1. N2. B. NO.                         C. NO2.                        D. NH3.

    Câu 37: Cho dãy các chất: NaHCO3, Na2CO3, Ca(HCO3)2, FeCl3, AlCl3. Số chất trong dãy phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. 4.                         B. 2.                             C. 3.                             D. 5.

    Câu 38: Khi đun ancol X ( công thức phân tử C2H6O) với axit Y( công thức phân tử C2H4O2) có axit H2SO4 đặc làm chất xúc tác thu được este có công thức phân tử

    1. C4H10O2. B. C4H8O2.                  C. C4H10O3.                  D. C4H8O3

    Câu 39: Khi đun hợp chất X với dung dịch NaOH thu được hỗn hợp 2 chất hữu cơ Y ( C2H4NNaO2) và Z ( C2H6O). Công thức phân tử của X là

    1. C4H7NO2. B. C4H10NO2.               C. C4H9NO2.               D. C4H7NNaO2.

    Câu 40: Hai chất đều phản ứng được với dung dịch NaOH là

    1. CH3COOH và CH3COOCH3. B. CH3COOH và C2H5OH.
    2. C2H5OH và CH3COOCH3. D. CH3OH và CH3COOCH3.

                   BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                                               KỲ THI  TỐT NGHIỆP THPT

    Môn thi: HOÁ HỌC

    Câu 1: Nếu cho dung dịch NaOH vào dung dịch FeCl3 thì xuất hiện

    1. kết tủa màu nâu đỏ.
    2. kết tủa màu trắng hơi xanh, sau đó chuyển dẩn sang màu nâu đỏ.
    3. kết tủa màu trắng hơi xanh.
    4. kết tủa màu xanh lam.

    Câu 2:Công thức hoá học của sắt (II) hidroxit là

    1. Fe(OH)2. B. Fe3O4.                      C. Fe(OH)3.                  D. FeO.

    Câu 3:Cho dãy các kim loại: Na, Cu, Al, Cr. Kim loại mềm nhất trong dãy là

    1. Cu. B. Al.                           C. Cr.                           D. Na.

    Câu 4:Đun nóng tinh bột trong dung dịch axit vô cơ loãng sẽ thu được

    1. xenlulozơ. B. glucozơ.                  C. glixerol.                   D. etyl axetat.

    Câu 5: Cho dãy các chất: C2H5NH2, CH3NH2, NH3, C6H5NH2 (anilin). Chất trong dãy có lực bazơ yếu nhất.

    1. CH3NH2. B. C2H5NH2.                C. C6H5NH2.               D. NH3.

    Câu 6:Hợp chất có tính lưỡng tính là

    1. Ba(OH)2. B. Cr(OH)3.                C. Ca(OH)2.                 D. NaOH.

    Câu 7:Cho 1,37gam kim loại kiềm thổ M phản ứng với nước (dư), thu được 0,01 mol khí H2. Kim loại M là

    1. Sr. B. Mg.                          C. Ba.                          D. Ca.

    Câu 8:Cho dãy các kim loại: Na, Al, W, Fe. Kim loại trong dãy có nhiệt độ nóng chảy cao nhất là

    1. Fe. B. W.                           C. Al.                           D. Na.

    Câu 9: Cho 8,9 gam hỗn hợp bột Mg và Zn tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng( dư), thu được 0,2 mol khí H2. Khối lượng của Mg và Zn trong 8,9 gam hỗn hợp trên lần lượt là

    1. 2,4gam và 6,5gam, B. 1,2 gam và 7,7 gam.
    2. 1,8gam và 7,1gam. D. 3,6gam và 5,3gam.

    Câu 10:Điều chế kim loại Mg bằng phương pháp

    1. điện phân dung dịch MgCl2.             B. dùng H2 khử MgO ở nhiệt độ cao.
    2. dùng kim loại Na khử ion Mg2+ trong dung dịch MgCl2.       D. điện phân MgCl2 nóng chảy.

    Câu 11:Dãy gồm các ion được sắp xếp theo thứ tự oxi hoá giảm dần từ trái sang phải là:

    1. Al3+, Cu2+, K+. B. Cu2+, Al3+, K+.        C. K+, Al3+, Cu2+.         D. K+, Cu2+, Al3+.

    Câu 12:Oxit nào dưới đây thuộc loại oxit axit?

    1. Na2O. B. CrO3.                      C. K2O.                        D. CaO.

    Câu 13:Cho 5,0 gam CaCO3 phản ứng hết với axit CH3COOH (dư), thu được V lít khí CO2 (ở đktc), Giá trị của V là

    1. 1,12. B. 4,48.                        C. 2,24.                        D. 3,36.

    Câu 14: Hai dung dịch đều phản ứng được với kim loại Cu là

    1. FeCl3 và AgNO3. B. FeCl2 và ZnCl2.
    2. AlCl3 và HCl. D. MgSO4 và ZnCl2.

    Câu 15:Cấu hình electron lớp ngoài cùng của nguyên tử nguyên tố Al ( Z= 13) là

    1. 3s23p3. B. 3s23p2.                     C. 3s23p1.                     D. 3s13p2.

    Câu 16: Chất có chứa nguyên tố nitơ là

    1. metyl.amin. B. saccarozơ.               C. xenlulozơ.               D. glucozơ.

    Câu 17: Chất béo là trieste của axit béo với

    1. etanol. B. phenol.                    C. glixerol.                  D. etylen glicol.

    Câu 18: Hoà tan 22,4 gam Fe bằng dung dịch HNO3 loãng (dư), sinh ra V lít khí NO ( sản phẩm duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là

    1. 8,96. B. 2,24.                        C. 4,48.                        D. 3,36.

    Câu 19:Chất có nhiều trong khói thuốc lá gây hại cho sức khoẻ con người là

    1. heroin. B. nicotin.                    C. cafein.                     D. cocain.

    Câu 20: Cho dãy các chất: H2, H2NCH2COOH, C65NH2, C25NH2, CH3COOH. Số chất trong dãy phản ứng với NaoH trong dung dịch là        A. 2.                            B. 1.                             C. 3.                             D. 4.

    Câu 21:Canxi hiđroxit (Ca(OH)2) còn gọi là

    1. thạch cao. B. đá vôi.                     C. thạch ca sống.         D. vôi tôi.

    Câu 22: Cho dãy các kim loại: Fe, K, Mg, Ag. Kim loại trong dãy có tính khử yếu nhất là

    1. Fe. B. K.                            C. Ag.                          D. Mg.

    Câu 23: Metyl acrylat có công thức cấu tạo thu gọn là

    1. CH3COOC2H5. B. CH2=CHCOOCH3.
    2. C2H5COOCH3. D. CH3COOCH3.

    Câu 24: Este HCOOCH3 phản ứng với dung dịch NaOH (đun nóng), sinh ra các sản phẩm hữu cơ là

    1. CH3COONa và CH3OH. B. CH3ONa và HCOONa.
    2. HCOONa và CH3OH. D. HCOOH và CH3Ona.

    Câu 25: Axit amino axetic ( H2NCH2COOH) tác dụng được với dung dịch

    1. Na2SO4. B. NaOH.                    C. NaNO3.                   D. NaCl.

    Câu 26: Trùng hợp etilen thu được sản phẩm là

    1. poli (metyl metacrylat). B. poli (vinyl clorua) (PVC)
    2. poli (phenol-fomanđehit). D. poli etylen (PE)

    Câu 27: Dung dịch làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ là

    1. CH3COOH. B. CH3COOC2H5.        C. C2H5OH.                 D. CH3NH2.

    Câu 28: Ở nhiệt độ cao, Al khử được ion kim loại trong oxit.

    1. K2O. B. Fe2O3.                     C. MgO.                       D. BaO.

    Câu 29: Cho lòng trắng trứng vào Cu(OH)2 thấy xuất hiện màu

    1. vàng. B. đen.                         C. đỏ.                           D. tím.

    Câu 30: Kim loại phản ứng được với dung dịch HCl loãng là

    1. Ag. B. Au.                          C. Cu.                          D. Al.

    Câu 31: Kim loại không phản ứng được với axit HNO3 đặc, nguội là

    1. Ag. B. Cu.                          C. Mg.                          D. Cr.

    Câu 32: Polime thuộc loại tơ thiên nhiên là

    1. tơ nitron. B. tơ visco.                  C. tơ nilon-6,6.            D. tơ tằm.

    Câu 33: Glucozơ thuộc loại

    1. polime. B. polisaccarit. C. monsaccarit.           D. đisaccarit.

    Câu 34: Cho dãy các chất: NaOH, NaCl, NaNO3, Na2SO4. Chất trong dãy phản ứng được với dung dịch BaCl2

    1. Na2SO4. B. NaOH.                     C. NaNO3.                   D. NaCl.

    Câu 35: Cho 8,8 gam CH3COOC2H5 phản ứng hết với dung dịch NaOH (dư), đun nóng. Khối lượng muối CH3COONa thu được là

    1. 16,4gam. B. 12,3gam.                 C. 4,1gam.                   D. 8,2gam.

    Câu 36: Cho dãy các kim loại: Ag, Fe, Au, Al. Kim loại trong dãy có độ dẫn điện tốt nhất là

    1. Al. B. Fe.                           C. Ag.                          D. Au.

    Câu 37: Cho dãy các chất: glucozơ, xenlulozơ, metyl axetat, metyl amin. Số chất trong dãy tham gia phản ứng tráng bạc là               A. 4.                            B. 3.                             C. 1.                             D. 2.

    Câu 38: Cho 0,1 mol anilin (C6H5NH2) tác dụng vừa đủ với axit HCl. Khối lượng muối phenylamoniclorua ( C6H5NH3Cl) thu được là

    1. 25,900 gam . B. 6,475gam.               C. 19,425gam.             D. 12,950gam.

    Câu 39: Dung dịch làm quỳ tím chuyển sang màu xanh là

    1. HCl. B. H2S.             C. Ba(OH)2.                D. Na2SO4.

    Câu 40: Để phân biệt dung dịch AlCl3 và dung dịch MgCl2 người ta dùng lượng dư dung dịch

    1. KCl. B. KOH.                      C. KNO3.                     D. K2SO4.
    trung t©m  «n – luyÖn

     

    Phan

    E-mail: [email protected]

    ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG  NĂM 2010

     

    MÔN HOÁ HỌC

    Thời gian làm bài: 90 phút

    (50 câu trắc nghiệm)

     

     

    PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (40 câu, từ câu 1 đến câu 40)

    Câu 1: Cho hỗn hợp X gồm (K, Al) nặng 10,5 gam. Hòa tan hoàn toàn X trong nước được dung dịch Y. Thêm từ từ dung dịch HCl 1M vào Y nhận thấy khi thêm được 100 ml thì bắt đầu có kết tủa, và khi thêm được V ml thì thu được 3,9 gam kết tủa trắng keo. Giá trị của V và phần trăm khối lượng K trong X là:

    1. A. 50 ml hoặc 250 ml và 74,29 % 150 ml hoặc 350 ml và 66,67 %
    2. 50 ml hoặc 350 ml và 66,67 % D. 150 ml hoặc 250 ml và 74,29 %

    Câu 2: Thuỷ phân một chất hữu cơ X có công thức phân tử là C4H6O4 trong môi trường NaOH đun nóng; sản phẩm thu được một ancol A và muối của một axit hữu cơ B. Ng­­ười ta có thể điều chế B bằng cách dùng CuO ôxy hoá etylenglycol rồi lấy sản phẩm thu được tráng bạc. Cấu tạo đúng của X là ?

    1. HOOC-COOCH2-CH3 B. CH3OOC-CH2-COOH
    2. CH3COOCH2COOH D. Cả A, B và C đều phù hợp

    Câu 3: Chỉ dùng một thuốc thử nào dưới đây để phân biệt được etanal, propan−2−on và pent−1−in ?

    1. H2 (Ni, to) B. Dung dịch Na2CO3
    2. Dung dịch brom D. Dung dịch AgNO3/NH3

    Câu 4: Cho phản ứng: CO  +  Cl2   D   COCl2 thực hiện trong bình kín dung tích 1 lít ở nhiệt độ không đổi. Khi cân bằng [CO] = 0,02; [Cl2] = 0,01; [COCl2] = 0,02. Bơm thêm vào bình 1,42gam Cl2. Nồng độ mol/l của CO; Cl2 và COCl2 ở trạng thái cân bằng mới lần l­ượt là

    1. 0,016; 0,026 và 0,024. B. 0,014; 0,024 và 0,026.
    2. 0,012; 0,022 và 0,028. D. 0,015; 0,025 và 0,025.

    Câu 5: Cho 18,5 gam hỗn hợp X gồm Fe, Fe3O4 tác dụng với 200ml dung dịch HNO3 a (mol/lít). Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được 2,24 lít khí NO duy nhất (đktc), dung dịch B và 1,46 gam kim loại.

    Khối l­­ượng muối trong B và giá trị của a là

    1. 38,50g và 2,4M B. 54,92g và 1,2M C. 65,34g và 1,6M          D. 48,60g và 3,2M

    Câu 6: Thực hiện phản ứng este hoá giữa axit axetic và hỗn hợp gồm 8,4 gam 3 ancol là đồng đẳng của ancol etylic. Sau phản ứng thu được 16,8 gam 3 este. Lấy sản phẩm của phản ứng este hoá trên thực hiện phản ứng xà phòng hoá với dung dịch NaOH 4 M thì thu được m gam muối: (Giả sử hiệu suất phản ứng este hoá là 100%).  Giá trị của m là

    1. 10,0gam B.  16,4gam                    C.  20,0gam.                   D.  8,0gam

    Câu 7: Hoà tan hoàn toàn m gam Al vào dung dịch chứa 0,29 mol HNO3 loãng (vừa đủ) thì thu được hỗn hợp gồm 0,015 mol khí N2O và 0,01mol khí NO. Giá trị của m là

    1. 13,5 gam. B. 8,1 gam C. 2,07 gam.                   D. 1,35 gam.

    Câu 8: Cho 2,56 gam đồng phản ứng hoàn toàn với 25,2 gam dung dịch HNO 60% thu được dung dịch X. Hãy xác định nồng độ % của các chất tan trong X biết rằng nếu thêm 210ml dung dịch KOH 1M vào X rồi cô cạn và nung sản phẩm thu được tới khối lượng không đổi thì được 20,76 gam chất rắn.

    1. 28,66% B. 26,15% C. 17,67%                   D. 75,12%

    Câu 9: Trong 1 cốc đựng 200ml dung dịch AlCl3 2M. Rót vào cốc V ml dung dịch NaOH nồng độ a mol/l, ta thu đ­­ược một kết tủa đem sấy khô và nung đến khối lượng không đổi thì được 5,1g chất rắn. Nếu V = 200ml thì a có giá trị nào sau đây.

    1. 1,5M B. 7,5M C. 1,5M hoặc 7,5M.       D. 1,5M hoặc 3M

    Câu 10: Dẫn 2,24 lít hỗn hợp khí X gồm C2H2 và H2 (có tỉ lệ thể tích V(C2H2) ; V(H2) = 2 : 3 ) đi qua Ni nung nóng thu được hỗn hợp Y, cho Y đi qua dung dịch Br2 dư thu được 896ml hỗn hợp khí Z bay ra khỏi bình dung dịch Br2. Tỉ khối của Z đối với H2 bằng 4,5. Biết các khí đều đo ở đktc. Khối lượng bình Br2 tăng thêm là :

    1. 0,4 gam B. 0,8gam C. 1,6gam                       D. 0,6 gam

    Câu 11: Phản ứng nào sau đây không xảy ra?

    1. K2S + Pb(NO3)2 ® PbS¯ + 2KNO3. B. CuS + 2HCl ® CuCl2 + H2S­.
    2. FeS + 2HCl ® FeCl2 + H2S­. D. H2S + Pb(NO3)2 ® PbS¯ + 2HNO3.

    Câu 12: Chia 23,0 gam hỗn hợp X gồm Na, K và Li thành 2 phần bằng nhau. Phần 1 cho tác dụng với dung dịch HNO3 loãng, vừa đủ thu được 1,12 lít khí N2 (đktc) và dung dịch chứa m gam muối (không chứa NH4NO3). Phần 2 hoà tan hoàn toàn trong nước thu được V lít H2 (đktc). Giá trị của m và V là

    1. 48,7 và 4,48. B. 42,5 và 11,20. C. 17,7 và 8,96               D. 54,0 và 5,60

    Câu 13: Một ancol X bậc 1 mạch hở (có thể no hoặc chứa một liên kết đôi) có CTPT là CxH10O. Lấy 0,01 mol X và 0,02 mol CH3OH trộn với 0,1 mol Oxi rồi đốt cháy hoàn toàn 2 ancol nhận thấy sau phản ứng có Oxi còn dư. CTPT của X là:

    1. C6H10O5 B. C5H10O C. C8H10O                       D. C4H10O

    Câu 14: Trong phòng thí nghiệm, H3PO4 được điều chế bằng phản ứng

    1. Ca3(PO4)2 + 3H2SO4 ® 2H3PO4 + 3CaSO4. B. 3P + 5HNO3 + 22HH2O ® 33PO4H3PO4  +  5NO.
    2. 2AlPO4 + 3H2SO4 ® 2H3PO4 + Al2(SO4)3. D. P2O5 + 3H2O ® 2H3PO4.

    Câu 15: Cho các chất sau:

    H2N-CH2-COOH ; HOOC-CH2-CH2-CH(NH2)-COOH ; H2N-CH2-CH(COOH)-CH2-NH2

    Thuốc thử dùng nhận biết dung dịch các chất trên là:

    1. Na B. dung dịch KMnO4 C. Phenolphtalein           D. Quì tím

    Câu 16: Hoà tan 4 chất sau với cùng số mol vào nước để được 4 dung dịch có thể tích bằng nhau: C2H5ONa, C6H5ONa, CH3COONa, CH3NH2. Dung dịch có pH lớn nhất là dung dịch tạo từ

    1. C2H5ONa. B. CH3COONa. C. CH3NH2.                    D. C6H5ONa.

    Câu 17: Sắp xếp tính axit theo chiều tăng dần của các axit sau: H3PO4; H2SO4; HClO4

    1. H2SO4 < HClO4 < H3PO4 B. HClO4 > H2SO4 > H3PO4
    2. H2SO4 < H3PO4 < HClO4 D. H3PO4< H2SO4 < HClO4

    Câu 18: Chất hữu cơ X mạch hở, tồn tại ở dạng trans có công thức phân tử C4H8O, X làm mất màu dung dịch Br2 và tác dụng với Na giải phóng khí H2. X ứng với công thức phân tử nào sau đây?

    1. CH2=CH−CH2−CH2−OH. B. CH2=C(CH3)−CH2−OH
    2. CH3−CH=CH−CH2−OH. D. CH3−CH2−CH=CH−OH.

    Câu 19: Cho X có CTPT C4H6O.   Biết :   – X phản ứng Na theo tỷ lệ mol 1 : 2 cho ra khí H2.

    – X phản ứng C2H5OH , AgNO3/NH3     CTPT của X là :

    1. CH ≡ C – CH2 – O – CH3 B. CH ≡ C – CH­2CH2OH
    2. CH3– C ≡ C – CH2OH D. CH2 = C = CH -CH2OH

    Câu 20: Cho 200 ml dung dịch X gồm (NaAlO2 0,1M và Ba(OH)2 0,1M) tác dụng với V ml dung dịch HCl 2M thu được 0,78 gam kết tủa. Giá trị lớn nhất của V là

    1. 35. B. 55. C. 25 hoặc 45                 D. 45.

    Câu 21: Khi thuỷ phân 0,1mol este A được tạo bởi một ancol đa chức với một axit cacboxylic đơn chức cần dùng vừa đủ 12gam NaOH. Mặt khác để thuỷ phân 6,35gam A cần dùng 3gam NaOH và thu được 7,05gam  muối. Công thức của A là:

    1. (HCOO)3CH5 B. (CH3COO)3C3H5 C. (C2H3COO)3C3H5       D. (CH3COO)2C2H4

    Câu 22: Hoà tan hoàn toàn 13,200 gam hỗn hợp Na và K vào nư­­ớc thu đ­­ược dung dịch X và 4,48 lít khí H2 (đktc). Cho 5,200 gam hỗn hợp gồm Mg và Fe tác dụng hết với dung dịch HCl  thu đư­­ợc dung dịch Y chứa m gam muối và 3,36 lít khí H2 (đktc). Cho X tác dụng với Y đến khi phản ứng hoàn toàn thu được x gam kết tủa.  Giá trị của m và x là.

    1. 10,525 và 12,000. B. 25,167 và 22,235 C. 9,580 và 14,875.       D. 15,850 và10,300.

    Câu 23: Chia 14,8 gam hỗn hợp gồm Mg, Ni, Zn thành 2 phần bằng nhau. Phần 1 hoà tan hoàn toàn trong dung dịch H2SO4 đặc nóng­ thu được 3,36 lít khí SO2(đktc). Phần 2 nung trong oxi đến khối lượng không đổi thu được m gam chất rắn. Giá trị của m là

    1. 9,8. B. 17,2. C. 8,6.                            D. 16,0.

    Câu 24: Một chất hữu cơ X có CTPT là C4H11NO2. Cho X tác dụng hoàn toàn với 100ml dung dịch NaOH 2M, sau phản ứng thu được dung dịch X và 2,24 lít khí Y (đktc). Nếu trộn lượng khí Y này với 3,36 lít H2 (đktc) thì được hỗn hợp khí có tỉ khối so với H2 là 9,6. Hỏi khi cô cạn dung dịch X thì thu được bao nhiêu gam chất rắn khan?

    1. 8,6 gam B. 8,2 gam C. 12,3 gam                 D. 8,62 gam

    Câu 25: Để phân biệt glucozo và Fructozo người ta có thể dùng hóa chất nào sau đây?

    1. dung dịch Br2 B. dung dịch KMnO4
    2. dung dịch Ag2O/NH3 D. cả A,B,C đều đúng

    Câu 26: So sánh bán kính nguyên tử và ion sau: Mg ; O2- ; S ; P ; K+ ; Al3+

    1. Al3+ > S > K+ > Mg > O2- > P B. K+ > Mg > P > Al3+ > S > O2-
    2. Mg > P > S > K+ > O2- > Al3+ D. P > Al3+ > S > K+ > Mg > O2-

    Câu 27: Cho khí CO đi qua ống sứ chứa 16 gam Fe2O3 đun nóng, sau phản ứng thu được hỗn hợp rắn X gồm Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3. Hòa tan hoàn toàn X bằng H2SO4 đặc, nóng thu được dung dịch Y. Cô cạn dung dịch Y, lượng muối khan thu được là

    1. 40 gam. B. 48 gam. C. 20 gam.                      D. 32 gam.

    Câu 28: Khi cho (CH3)2CHC6H5 (có tên gọi (iso-propyl)benzen)  tác dụng với Cl2 (tỉ lệ mol 1:1, có mặt bột sắt), sản phẩm nào thu được chiếm ­­u thế?

    1. 4-Clo-1-(iso-propyl)benzen B. 2-Clo-1-(iso-propyl)benzen
    2. 3-Clo-1-(iso-propyl)benzen D. Cả A, B.

    Câu 29: Một aminoaxit no X tồn tại trong tự nhiên (phân tử chỉ chứa một nhóm -NH2 và một nhóm -COOH). Cho 0,89g X phản ứng vừa đủ với HCl tạo ra 1,255g muối. Công thức cấu tạo của X là:

    1. H2N–CH2–COOH. B. H2N–CH2–CH2–COOH.
    2. CH3–CH(NH2)–COOH. D. B, C đều đúng.

    Câu 30: Cho hỗn hợp Fe, Cu tác dụng với dung dịch HNO3 loãng. Sau khi phản ứng hoàn toàn, thu được dung dịch chỉ chứa một chất tan và kim loại­. Chất tan đó là

    1. Cu(NO3)2. B. HNO3. C. Fe(NO3)2.                   D. Fe(NO3)3.

    Câu 31: Có các dãy đồng đẳng của: anken; anđêhit no đơn chức; este của ancol êtylic với axit no đơn chức. Các dãy đồng đẳng trên có đặc điểm gì chung?

    1. Đều làm mất màu dung dịch Brôm B. Đốt cháy luôn cho = 1:1
    2. Đều chứa 1 liên kết p trong phân tử D. Cả A và B

    Câu 32: Điện phân 200ml dung dịch R(NO3)2 (R là kim loại ch­­a biết có hóa trị 2 và 3, không tác dụng với H2O). Với dòng điện một chiều c­­ờng độ 1A trong 32 phút 10 giây thì vừa điện phân hết R2+, ngừng điện phân và để yên dung dịch một thời gian thì  thu được 0,28gam kim loại. Khối lượng dung dịch giảm là:

    1. 0,16 gam B. 0,72 gam C. 0,59 gam                    D. 1,44 gam

    Câu 33: Trộn 200ml dung dịch gồm HCl 0,1M và H2SO4 0,05M với 300 ml dung dịch Ba(OH)2 a mol/lít thu được m gam kết tủa và 500ml dung dịch có pH = 13. Giá trị của a và m t­­ương ứng là

    1. 0,15; 2,33. B. 0,2; 10,48. C. 0,1; 2,33.                   D. 0,25; 10,48.

    Câu 34: M là hỗn hợp của một ancol no X và axit hữu cơ đơn chức Y đều mạch hở. Đốt cháy hết 0,4 mol hõn hợp M cần 30,24 lít O2 (đktc) vừa đủ, thu được 52,8 gam CO2 và 19,8 gam H2O. Biết số nguyên tử Cacbon trong X và Y bằng nhau. Số mol của Y lớn hơn số mol của X. Hãy xác định CTPT của X, Y?

    1. C3H8O2 và C3H6O2 B. C3H8O2 và C3H4O2             C. C3H8O2 và C3H2O2   D. Cả A,B,C đúng

    Câu 35: Cho các cân bằng:

    H2(k)  +  I2(k)  D 2HI(k)            (1)                            2NO(k)  +  O2(k) D 2NO2(k)         (2)

    CO(k)  +  Cl2(k) D COCl2(k)                (3)                                   CaCO3(r)  D CaO(r)  +  CO2(k)   (4)

    3Fe(r) + 4H2O(k) D Fe3O4(r) + 4H2(k)       (5)          Các cân bằng chuyển dịch theo chiều thuận khi tăng áp suất là:

    1. 1, 4 B. 1, 5 C. 2, 3, 5                        D. 2, 3

    Câu 36: Đồng trùng ngưng hỗn hợp phenol và anđêhit fomic. Để thu được sản phẩm là nhựa mạch thẳng (novolac) ta cần dùng điều kiện nào sau đây?

    1. lấy dư anđêhit fomic; môi trường bazơ B. lấy dư phenol; môi trường axit
    2. lấy dư phenol; môi trường bazơ D. lấy dư anđêhit fomic; môi trường axit

    Câu 37: Cho 3,84 gam Cu phản ứng với 80ml dung dịch HNO3 1M thoát ra V1 lít khí NO. Cho 3,84 gam Cu phản ứng với 80ml dung dịch HNO3 1M và H2SO4 0,5M thoát ra V2 lít khí NO. Biết NO là sản phẩm khử duy nhất và các thể tích khí đo ở cùng điều kiện. Quan hệ giữa V1 và V2

    1. V2 = 2V1. B. V2 = V1. C. V2 = 1,5V1.                D. V2 = 2,5V1.

    Câu 38: Để điều chế axit picric cần thiết dùng những hoá chất nào?

    1. Natriphenolat và dung dịch HCl B. Benzen, dung dịch HNO3 đặc và dung dịch H2SO4 đặc
    2. Phenol, dung dịch HNO3 đặc và dung dịch H2SO4 đặc D. Tôluen, dung dịch HNO3 đặc và dung dịch H2SO4 đặc

    Câu 39: Trong các chất sau: (X1): 1,2 – điCloeten; (X2): buten-2; (X3): anđehit acrylic; (X4): metylmetacrylat và (X5): axit oleic. Những chất nào có đồng phân hình học? Chọn kết luận đúng:

    1. (X1); (X3); (X5) B. (X1); (X2); (X5) C. (X2); (X3); (X5)           D. (X1); (X2); (X3)

    Câu 40: Cho dãy các hợp chất hữu cơ gồm: (X1): axít focmic; (X2): aminometan; (X3): amoniac; (X4): anilin và (X5): phenol.

    Trật tự sắp xếp theo chiều tăng dần tính axít của dãy các chất trên đó là:

    1. A. (X2); (X3); (X4); (X5); (X1).   (X5); (X3); (X4); (X2); (X1)
    2. (X3); (X2); (X4); (X5); (X1).      D.  (X1); (X4); (X3); (X2); (X5)

    ——————————————

    1. PHẦN RIÊNG [10 câu]

    Thí sinh chỉ được làm một trong hai phần (phần A hoặc B)

    1. Theo chương trình Chuẩn (10 câu, từ câu 41 đến câu 50)

    Câu 41: Hỗn hợp X gồm hai axit no. Đốt cháy hoàn toàn 0,3mol X thu được 11,2lit khí CO2 (đktc). Để trung hoà 0,3mol X cần 500ml dung dịch NaOH 1M. Công thức cấu tạo của hai axit đó là?

    1. H-COOH và CH3 – CH2 – COOH B. CH3 – COOH và HOOC – CH2 – COOH
    2. CH3 – COOH và CH3 – CH2 – COOH D. H- COOH và HOOC – COOH

    Câu 42: Cho các bazơ sau: NH3 ; C6H5NH2 ; (CH3)2NH ; C2H5NH2.

    Tính bazơ tăng theo chiều từ trái qua phải là:

    1. C6H5NH2 < NH3 < C2H5NH2 < (CH3)2NH B. NH3 < C2H5NH2 < (CH3)2NH < C6H5NH2
    2. C6H5NH2 < NH3 < (CH3)2NH < C2H5NH2 D. C2H5NH2 < C6H5NH2 < (CH3)2NH < NH3

    Câu 43: Chì không phản ứng được với dung dịch chất nào sau đây?

    1. HNO3 loãng B. H2SO4 đặc, nóng C. HCl                            D. Cả A, B, C

    Câu 44: Có 5 lọ mất nhãn đựng 5 chất lỏng sau: dung dịch HCOOH, dung dịch CH3COOH, ancol etylic, glixerol, dung dịch CH3CHO. Chỉ dùng thêm 2 thuốc thử nào d­ới đây để nhận biết được 5 lọ trên dung dịch trên?

    1. Cu(OH)2, Na2SO4. B. Qùi tím, Cu(OH)2.
    2. AgNO3 trong dung dịch NH3, quỳ tím. D. AgNO3 trong dung dịch NH3, Cu(OH)2

    Câu 45: Có 4 dung dịch riêng biệt: X (HCl), Y (CuCl2), Z (FeCl3), T (HCl có lẫn CuCl2). Nhúng vào mỗi dung dịch một thanh sắt nguyên chất. Số trường hợp ăn mòn điện hoá là

    1. 0. B. 3. C. 2.                               D. 1.

    Câu 46: Cân bằng   N2 + 3H2    D    2NH3 ,     chuyển dịch sang chiều thuận khi :

    1. Hạ áp suất, hạ nhiệt độ B. Tăng áp suất, tăng nhiệt đô
    2. Tăng áp suất, hạ nhiệt độ. D. Hạ áp suất, tăng nhiệt đô

    Câu 47: Chia một lu­ợng hỗn hợp hai ancol no, đơn chức thành hai phần bằng nhau. Phần I đem đốt cháy hoàn toàn, thu được 2,24lit CO2 (đktc). Phần II đem tách nước hoàn toàn được hai anken. Đem đốt cháy hoàn toàn hai anken này được bao nhiêu gam nước?             A. 1,8g               B. 3,6g                     C. 2,4g                 D. 1,2g

    Câu 48: Saccarozơ và glucozơ đều có phản ứng

    1. với dung dịch NaCl. B. thuỷ phân trong môi trường axit.
    2. Ag2O (AgNO3) trong dung dịch NH3. D. với Cu(OH)2 ở nhiệt độ th­ờng.

    Câu 49: Trong môi trường thích hợp, các muối cromat và đicromat chuyển hóa lẫn nhau theo một cân bằng:

    2CrO42-  +  2H+   D   Cr2O72-   +  H2O.

    Chất nào sau đây khi thêm vào, làm cân bằng phản ứng chuyển dịch theo chiều thuận?

    1. dung dịch NaOH B. dung dịch NaNO3 C. dung dịch NaHSO4                  D. dung dịch CH3COOK

    Câu 50: Tên gọi theo danh pháp quốc tế (IUPAC) của axit b-lactic là:

    1. axit 3- hiđroxipropannoic B. axit 1- hiđroxietanoic
    2. axit 2- hiđroxietanoic D. axit 2- hiđroxipropannoic—————————————–
    1. Theo chương trình Nâng cao (10 câu, từ câu 51 đến câu 60)

    Câu 51: Cho dung dịch hỗn hợp (HCN 0,010M; NaCN 0,010M). Giá trị pH của dung dịch là bao nhiêu nếu cho hằng số axit của HCN là Ka = 10-9,35

    1. 9,87 B. 12,64 C. 4,65                           D. 9,35

    Câu 52: Cho cumen tác dụng với CH3Cl trong AlCl3 thu được các sản phẩm monometyl hóa trong đó có X. Khi cho X tác dụng với KMnO4 đun nóng thu được chất Y có công thức C8H4O4K2 cấu tạo đối xứng. Công thức cấu tạo của X là:

    1. p-CH3-C6H4-CH(CH3)2 B. m-CH3-C6H4-CH(CH3)2 C. o-CH3-C6H4-CH(CH3)2     D. Cả A, B, C đều đúng

    Câu 53: Cho pin Sn-Au có suất điện động là 1,64 V. Biết , thế khử chuẩn

    1. -0,14 V B. +0,14 V C. -0,14 V hoặc +0,14 V             D. 0,28 V

    Câu 54: Người ta dùng dd KMnO4 để chuẩn độ H2O2. Biết rằng 100 ml dung dịch H2O2 phản ứng đủ với 10 ml dung dịch KMnO4 1M trong môi trường axit H2SO4. Xác định nồng độ mol/lít của dung dịch H2O2?

    1. 0,1M B. 0,3M C. 0,25M                        D. 0,05M

    Câu 55: Để trung hoà a gam hỗn hợp X gồm 2 axit no, đơn chức, mạch thẳng là đồng đẳng kế tiếp cần 100 ml dung dịch NaOH 0,3M. Mặt khác, đốt cháy hoàn toàn a gam X thu đư­ợc b gam nước và (b+3,64) gam CO2. Công thức phân tử của 2 axit là

    1. C4H8O2 và C5H10O2. B. CH2O2 và C2H4O2. C. C2H4O2 và C3H6O2.    D. C3H6O2 và C4H8O2.

    Câu 56: Cho các dd sau: glucozơ, axit axetic, glixerol, saccarozơ, ancol etylic.Số lượng dung dịch có thể hoà tan được Cu(OH)2 là                      A. 5.                   B. 4.                                     C. 2.                     D. 3.

    Câu 57: So sánh tính bazơ của các chất sau: NH3 ; NaOH ; C2H5ONa ; CH3NH2

    1. CH3NH2 < NH3 < NaOH < C2H5ONa B. NH3 < CH3NH2 < C2H5ONa < NaOH
    2. NH3 < CH3NH2 < NaOH < C2H5ONa D. NH3 < NaOH < C2H5ONa < CH3NH2

    Câu 58: Thuốc thử được dùng để phân biệt Ala-Ala-Gly với Gly-Ala là

    1. dung dịch NaOH. B. dung dịch NaCl.
    2. dung dịch HCl. D. Cu(OH)2 trong môi trường kiềm.

    Câu 59: Hòa tan hoàn toàn hỗn hợp gồm Zn, Cu, Fe, Cr vào dung dịch HCl có sục khí oxi thu được dung dịch X. Cho dung dịch NH3 dư vào X thu được kết tủa Y. Nung Y trong chân không hoàn toàn thu được chất rắn Z.

    Chất rắn Z gồm:

    1. CuO, FeO, CrO       B. Fe2O3, Cr2O3            C. Fe2O3, CrO, ZnO                           D. FeO, Cr2O3

    Câu 60: Trường hợp xảy ra phản ứng là

    1. Cu + Fe(NO3)2 (loãng) ® B. Cu + HCl (loãng) + O2 ®
    2. Cu + H2SO4 (loãng) ® D. Cu + HCl (loãng) ®

    ————————————-

    ———– HẾT ———-

    (Cho biết khối lượng nguyên tử (theo đvC) của các nguyên tố : Cl = 35,5 ; H = 1 ; N = 14 ; Ba = 137 ; S = 32 ; O = 16 ; Al = 27 ; C = 12 ; Fe = 56 ; Cu = 64 ; K = 39 ; Na = 23; Mg = 24 ; KK = 29 ; Br = 80 )

    Đón đọc cùng một Tác giả: “Trắc nghiệm Tổng hợp luyện thi Đại học 10-11-12”  (80 trang)

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu Nghị luận về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay

    Văn Mẫu Nghị luận về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay

    Văn Mẫu Nghị luận về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Phân tích Đề tài người nông dân và Chí Phèo- Nam Cao


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-Ngh%E1%BB%8B-lu%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-L%C3%BD-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-s%E1%BB%91ng-c%E1%BB%A7a-thanh-ni%C3%AAn-ng%C3%A0y-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Nghị luận về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay

    ÔN TẬP VĂN NGHỊ LUẬN

    Nghị luận về vấn đề

    Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay

    Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang trên đà hội nhập với sự phát triển của thế

    giới với rất nhiều cơ hội và thử thách được mở ra.Và thanh niên chúng ta-những

    người chủ tương lai của đất nước-phải góp một phần sức cho quê hương của mình.

    Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách sống của mình, và một câu

    hỏi lớn được đặt ra : Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay là gì?

    Trước hết chúng ta phải hiểu được “lý tưởng sống” là gì? Lý tưởng sống là mục

    đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới,là lí do,mục đích mà mỗi con

    người mong mỏi đạt được.Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ

    và hành động để hoàn thiện mình hơn,giúp ích cho mình,gia đình xã hội và đất

    nước. Sinh ra ở đời, ai trong chúng ta cũng khao khát được sống hạnh phúc, với

    lòng khao khát đó thúc giục chúng ta đi kiếm tìm hạnh phúc. Hơn thế nữa, tự đáy

    lòng của con người luôn ước ao có được một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo

    âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự may lành hơn là bất

    hạnh, giàu sang hơn là nghèo nàn. Để đạt được khát vọng đó, người ta luôn tìm cho

    mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng. Lý tưởng này sẽ

    hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh.

    Vì có một lý tưởng để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, là niềm hạnh phúc

    lớn lao nhất của con người.

    Bạn có bao giờ tự hỏi bạn tồn tài trên cuộc đời vì lý do gì không? Một câu hỏi lẽ ra

    rất dễ nhưng nó làm cho bạn phải bắt đầu ngồi lại suy nghĩ về bản thân mình.Có

    thể bạn cũng đã có được một mục đích sống cho riêng mình,nhưng bạn vẫn nên

    xem lại mục đích đó có thật sự cao đẹp hay không bạn ạ.Chúng ta sống trong cộng

    đồng là sống vì mọi người,vì quê hương,vì đất nước.

    Nhiều người từng nghe câu nói trong bài hát khá nổi tiếng của Trịnh Công Sơn:

    “Sống ở đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi,

    để gió cuốn đi….”

    Phải mất một thời gian dài tôi và các bạn mới có thể mới ra rằng ý nghĩa của câu

    này là “hãy mở rộng tấm lòng của bạn với cuộc sống này, với mọi người xung

    quanh bạn và đừng mong đợi bạn sẽ nhận lại được gì… Hãy san sẻ tấm lòng để

    cuộc sống này đẹp hơn và đừng nghĩ rằng những cái gì mình đã cho đi là lớn lao

    mà nó chỉ là những cái gì nhỏ nhoi nhất nhẹ nhàng… chỉ để gió cuốn đi…”. Đó

    cũng là một phần của lý tưởng sống đẹp.

    Lý tưởng của ta không cần lớn lao dù chỉ là một chiếc lá, nhưng chúng ta cũng cần

    có cho mình một lý tưởng bình dị như để vươn lên. hải sống có lý tưởng! Bạn có

    thể ra đi từ nhiều phía, theo những con đường khác nhau, nhưng cuối cùng mỗi

    người phải lựa chọn cho mình mục đích của cuộc sống. Ta sống cho ta, cho những

    người thân, bạn bè và cho mọi người. Vì vậy, chỉ có hạnh phúc khi “mình vì mọi

    người và mọi người phấn đấu vì hạnh phúc của từng người”. Rõ ràng lý tưởng là

    mục đích sống, là ý nghĩa của mỗi cuộc đời. Lý tưởng quyết định sự thành công

    trong cuộc sống. Lý tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người

    để đạt đến thành công trong sự nghiệp. Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó

    khăn và thử thách trong cuộc sống.

    Nhà văn Pháp Đi-dơ-rô từng nói: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì

    cả. Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”. Câu nói đó, lời

    khẳng định đó thật rõ ràng. Nó khuyên chúng ta sống thì phải có mục đích, lý

    tưởng phải cao đẹp thì sống mới có ý nghĩa, mới làm được những điều vĩ đại.

    Trong thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa, kinh tế thế giới hội nhập, khoa học kĩ

    thuật hiện đại, con người đặt ra vấn đề về lẽ sống của cuộc đời và sống như thế nào

    cho xứng đáng ? chúng ta nên hiểu sống có mục đích và lý tưởng cao đẹp là như

    thế nào ? Đó là phải sống để xây dựng đất nước, sống vì xã hội vì sự tiến bộ của

    nhân loại. Vậy thì tại sao ta phải sống có lí tưởng cao đẹp ? Vì nếu “sống không

    mục đích không làm được gì cả” và nếu “ mục đích tầm thường thì không làm

    được điều gì vĩ đại”.Thế chúng ta phải làm gì để trở thành người có mục đích cao

    cả và có ích cho xã hội? Trước hết, ta cần phải xác định lý tưởng sống đúng đắn-dự

    tính về tương lai sẽ cống hiến cho xã hội về những mặt nào. Tiếp theo ta cần phải

    lên kế hoạch học tập, rèn luyện kĩ năng, sức khoẻ, tư tưởng nhằm thực hiện mục

    đích đó. Sau đó, ta phải tích cực tham gia các hoạt động xã hội, chính trị; điều này

    sẽ giúp cho bản thân hòa nhập cộng đồng.Ta cần phải phát huy những thế mạnh

    của bản thân, khắc phục các điểm yếu và vân dụng những điều đã học vào thực tế.

    Ngày xưa, anh hùng Lý Tự trọng đã từng nói:”Con đường của thanh niên chỉ có

    thể là con đường cách mạng và không thể là con đ ường nào khác!” rong thời kỳ

    chiến tranh bao lớp thanh niên xông pha lên đường với một mục tiêu – lý tưởng tất

    cả vì tiền tuyến, vì độc lập tư do của đất nước. Tư tưởng đó đã đi vào lời ca tiếng

    hát của bao nhiêu thế hệ người Việt Nam. “Anh lên xe trời đổ cơn mưa, Cái gạt

    nước xua tan nỗi nhớ; Em xuống núi nắng vàng rực rỡ; Cái nhành hoa gạt mối

    riêng tư” hay “Khi tạm biệt mua xuân; Anh lính về biên giới; Cô gái vào ca ba”.

    Bên cạnh một tình yêu nồng cháy của tuổi trẻ nhưng ho phải tạm gác lại để dành

    tất cả cho một mục tiêu cao cả. Trong thời kỳ ngày nay có lẽ chúng ta khó có thể

    tìm kiếm được một ca khúc nói vê tình yêu đep như vậy. Biết bao thế hệ thanh niên

    • ã ngã xuống vì mộtlý tưởng duy nhất là giành lại độc lập t ự do cho đất nước.

    Đến hôm nay khi đất nước hoà bình và đang trên đà phát tri ển,thì lý t ưởng sống

    cao đẹp của thanh niên,thế hệ trẻ lại càng rộng hơn,bao la hơn,”Vì một Việt Nam

    Phát triển

    Thế hệ trẻ là những người chủ tương lai của đất nước, là chủ thể của thế giới, động

    lực giúp cho xã hội phát triển. Chính vì vậy mà các bạn thanh thiếu niên càng gần

    phải sống có mục đích cao đẹp. Hãy nhớ rằng: “Non sông Việt Nam có trở nên

    tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu

    được hay không đó là nhờ vào công học tập của các em” lời nhắn như thiêng liêng

    ấy phải được thực hiện! Bác luôn mong lớp lớp thanh niên sau này sẽ không chùn

    bước trước những khó khăn trước mắt,luôn vững chí bền tâm vượt qua thử thách

    để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

    “Không có việc gì khó

    Chỉ sợ lòng không bền

    Đào núi và lắp biển

    Quyết chí ắt làm nên”

    (Hồ Chí Minh)

    Chúng ta chắc còn nhớ hai chiến thắng vẻ vang liên tiếp của đội tuyển robocon

    Việt Nam,hay những tấm huy chương vàng,huy ch ương bạc t ừ nh ững môn

    Olympic Toán ,Lý,Hoá,Sinh,trong những giải thể thao hàng đầu của châu lục và

    thế giới Đó là một tấm gương gần gũi, rõ ràng mà thanh thiếu niên cần noi theo.

    Tôi xin được nhắn nhủ các bạn thanh thiếu niên, học sinh: “Hãy học tập để nắm lấy

    tri thức vì tri thức là sức mạnh. Có tri thức, các bạn như đứng trên vai những người

    đi trước để cao hơn người khác. Hãy phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân

    tộc. Chấp nhận và vượt qua thử thách, bởi không có người thất bại, chỉ có người

    không biết cố gắng mà thôi”. Và chắc hẳn ai trong chúng ta đều biết những

    Enstein, Môza, Đác-uyn,… Tất cả họ đều là những người sống có lý tưởng cao

    đẹp, tất cả đều làm nên điều vĩ đại và được lưu danh muôn thuở. Như mục đích “ra

    đi tìm đường cứu nước, hi sinh cuộc đời vì cách mạng, vì dân tộc “ của Bác. Đó là

    một minh chứng rất cao đẹp!

    Nhưng hiện nay,một bộ phận lớn thanh niên lại không suy nghĩ được như thế. Họ

    sống hờ hững với những gì diễn ra xung quanh, sống theo quan niệm: “Được đến

    đâu thì hay đến đó”, “Nước đến chân mới nhảy”. Tuổi trẻ ngày nay có nhiều thời

    gian để dành cho tình yêu nên có lẽ họ không thể nhận ra những hạnh phúc mà họ

    đang có mà chỉ toàn nhìn thấy sự khổ đau trong tình yêu, phải chăng tuổi trẻ ngày

    nay khi đã được đáp ứng quá đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần thì dần trở nên ích kỷ

    hơn. Chỉ biết nghĩ cho riêng mình.Và mục tiêu của phần lớn các bạn trẻ ngày nay

    là phải thật thành công trong cuộc sống, khẳng định được vị trí của mình trong xã

    hội; kiếm thật nhiều tiền để có thể thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống của riêng

    mình.Trong khi rất nhiều người đang cố gắng đóng góp một phần công sức nhỏ bé

    của mình mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn thì lại không ít người lại tỏ ra rất hờ

    hững với những gì đang diễn ra cho đất nước mình. Thật đáng buồn cho một tương

    lai đất nước!

    Các bạn luôn mong muốn mình sẽ là người tài giỏi nhưng lại không có được một

    lý t ưởng cho riêng mình,thì cuộc đời bạn s ẽ trôi về đâu ? Hãy tưởng tượng mà

    xem: một thanh niên sống không mục đích, không có định hướng, học tập chỉ do

    ba me gượng ép ; chàng ta chẳng hề ham thích những lựa chọn ấy và cũng chẳng

    hề thich học những môn học ấy; rồi cậu rớt đại học, thất nghiệp (chẳng ai nhận

    những người không có học vấn cả, dù cậu đã qua các năm trung học rồi nhưng với

    tinh thần thiếu ý chí thì xét lại cậu cũng chẳng đủ sức cho công việc)…không có

    tiền câu đâm ra vòi vĩnh bố mẹ(tuy nhiên vẫn có một số người tốt, không phạm

    phải những sai lầm này)…tiêu xài tiền, rồi đủ các thói hư, tật xấu. Cuối cùng chàng

    thanh niên ấy đã kết thúc cuộc đời trong nhà tù hoặc trên giường bệnh sau bao năm

    ăn chơi, nghiện ngập. Đó là ví dụ về một con người không có lý tưởng sống. Còn

    những người sống có mục đích nhưng lại là mục đích tầm thường như ăn no mặc

    ấm, hạnh phúc gia đình, kiếm được nhiều tiền, cưới vợ đẹp,…Những người này vì

    lợi ích của bản thân, họ dễ dàng làm bạn với cái ác và sẽ phạm tội. Chúng ta

    thường đọc thấy trên báo công an hay thấy trên Tivi những tin liên quan đến ông

    này bà nọ có chức vụ, lạm dụng quyền hạn để trục lợi; hay những nhóm tội phạm,

    nhất là các nhóm thanh thiếu niên trẻ cướp giât, phạm tội… để kiếm tiền ăn chơi

    hay những thanh niên, học sinh (kể cả người lớn) ghiền chơi games đến mê mệt!

    Tất cả, những người sống không có mục đích và những người có mục đích tầm

    thường đều có kết quả không tốt.

    Tóm lại,thanh niên chúng ta cần phải biết và tạo cho mình một lý tưởng sống cao

    đẹp,vì mọi người,vì quê hương đất nước. Bản thân mỗi chúng ta hãy tự nhìn lại

    cách sống của mình để hướng đến tương lai t ươi sáng. Cuối cùng xin kết thúc

    bằng lời của chiến sĩ cách mạng, một người cộng sản trẻ tuổi, một nhà văn, một

    anh hùng thời vệ quốc Xô Viết vĩ đại, Paven Copsagine trong tác phẩm Thép đã tôi

    thế đấy (tác giả Nikolai Ostrovsky): “Cái quí nhất của con người là cuộc sống. Đời

    người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm

    tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình,

    để đến khi nhắm mắt xuôi tay, mà có thể nói rằng: Tất cả đời mình ta đã cống hiến

    cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và

    ta phải sống gấp lên mới được. Vì bệnh tật vô lý hay một sự bi đát tình cờ nào đó

    có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời này”.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây