Category: Ôn Thi Đại Học

Tổng hợp kiến thức ôn thi vào đại học

  • PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    Bài làm

    Cái nhan đề Người lái đò sông Đà ùa vào ta một liên tưởng kép: Nguyễn Tuân xưng tụng ông lái đò tài hoa trí dũng trên dòng sông thiên nhiên bạo liệt, còn ngôn ngữ Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông lái bậc thầy con thuyền chữ trên một dải sông văn không kém thác ghềnh. Bài ca lao động và bài ca ngôn từ song hành trong một áng kí lạ. Thì chính Nguyễn Tuân đã hạ bút ngay từ khúc dạo đầu: “Chúng thuỷ giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu” (Mọi con sông đều chảy về đông, chỉ có sông Đà ngược bắc).

    Câu đề từ của Nguyễn Tuân vừa thâu tóm lấy cái thần sông Đà, vừa tóm luôn cái thần chữ của mình. Một mặt bắc lưu là sự cưỡng lại đông tẩu, cái riêng độc đáo là sự cưỡng lại sức xói mòn của cái chung nhàm cũ. Mặt khác, bắc lưu chỉ tồn tại trước đông tẩu, cái riêng độc đáo chỉ tồn tại trước cái chung khi nó đồng nghĩa với cái cao hơn sự khác lạ là cái sáng tạo (tức là cái độc đáo phải trở thành cái riêng mang giá trị). Phi giá trị, cái riêng hóa trò chơi duy mĩ. Đó là nguyên tắc của phép lạ hóa văn chương, để vừa chối bỏ sự nhàm lặp của cái chung, vừa hội nhập với cái chung mang giá trị văn chương bền vững. Còn nguyên tắc riêng của phép lạ hóa ngôn ngữ Nguyễn Tuân? Trong kho từ vị Việt, ngôn ngữ mang bản tính nguyên thủy của một vật liệu tĩnh, lạnh, khá ổn định. Tài năng nghệ sĩ là biết vung cây gậy thần biến nó thành chất liệu động và nóng, phập phồng sự sống. Nổi trội trong các tài năng, văn Nguyễn Tuân là thứ ngôn từ nóng giẫy sự sống. Có thể coi bài kí sông Đà này là cuộc thí nghiệm tâm đắc của ngôn ngữ nóng Nguyễn Tuân. Đầu tiên, sức nóng ngôn ngữ Nguyễn Tuân cũng tìm được một đối tượng “nóng”: sông Đà. Con sông độc lạ ấy thật thích hợp với một ngòi bút độc lạ. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy, tưới linh hồn vào nó, và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào đó: “hung bạo và trữ tình”. Nếu chỉ có một vế, con sông sẽ lười nhác trong đơn giản. Tính cách sông Đà phải là một hệ thống những phẩm chất đối chọi nhau như nước với lửa, và phải từ những nghịch lí nghịch âm ấy, con sông mới có điều kiện phô bày hết vẻ phức tạp phong phú, đầy hấp dẫn của mình. Đầu tiên là con thác – tâm điểm dữ dội của sông Đà. Nước dữ, đã đành. Đá cũng dữ. Đúng ra là do đá dữ mà nước dữ. Vậy thì cần phải dựng đá dậy cho lộ bản chất của nó ra. Và Nguyễn Tuân hạ một so sánh đắc địa: “Một hòn (đá) ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến”. Trong công thức A = B của so sánh, cái độc lạ của Nguyễn Tuân chủ yếu tỏa sắc ở vế B. Trong câu văn trên, ông chêm động từ hất hàm vào B để mang đến cho nó một năng lượng sống, đủ khả năng truyền hồn vào đá vô tri, rọi một cái nhìn đậm tính điêu khắc vào thói du côn của thiên nhiên man dại. Nhưng gây cảm giác “chết người” nhất là cái hút nước. Nguyễn Tuân tả hình ảnh những cái thuyền bị dòng sông nuốt vào bụng, gợi cảm giác

    lạnh người: “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác

    • khuỷnh sông dưới”. Người ta nói văn Nguyễn Tuân là thứ văn ham cảm giác mạnh, có lẽ vì thế mà cái hút nước hiểm nguy kia trở thành một đam mê dưới ngòi bút của ông. Ông tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh người đọc bằng cách bắt họ phải tự “chiêm nghiệm” cái cảm giác lạ lùng này: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà, – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre- plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đành phèn”. Hình ảnh những cái thuyền bị cái hút nước nuốt chửng, hình ảnh cái hút nước như một cái giếng xây bằng nước sông đang xoay tít… tạo nên ở người đọc một cảm giác hình hết sức mạnh mẽ. Họ bị đặt vào trong cuộc, và cảm thấy bối rối vì khó bứt thoát khỏi những ám ảnh đầy ma lực mà ngôn từ Nguyễn Tuân truyền tới họ. Và đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần, gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hàng bao thế kỉ.

    Cảm giác hình gắn với cảm giác âm nên ám ảnh của văn Nguyễn Tuân càng mạnh. Ở đây, người đọc lại hứng khởi nhận ra một đặc điểm khác của văn Nguyễn Tuân: những câu văn của ông thường liên kết trong một tính liên hoàn giàu giá trị thẩm mĩ, có khả năng thôi miên người đọc trong một chuỗi dây chuyền liên tưởng ngỡ như vô tận. Tả cái thác nước, Nguyễn Tuân viết: “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Đúng là một cảnh tượng man rợ như thời tiền sử. Để dò hết năng lượng thẩm mĩ của câu văn, liên tưởng của người đọc phải nối nhau trong cơ chế ba chặng: tiếng thác (rống) – tiếng trâu mộng (lồng lộn) – tiếng rừng lửa (gầm thét). Liên tưởng của Nguyễn Tuân rất lạ: âm thanh thác được động vật hóa thành tiếng gầm “trâu mộng”, nhưng cao tay nhất là lấy tháclửa (hỏa) gây một bất ngờ thẩm mĩ. Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Nguyễn Tuân còn chạm bút tới cái hút nước một lần nữa: “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Hai chữ “ặc ặc” mô phỏng rất tài thứ âm thanh quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại. (thủy) so sánh với Mặt thứ hai của sông Đà là trữ tình. Để lột tả đặc tính này của sông Đà, Nguyễn Tuân rất tâm đắc với những so sánh.

    Mỗi so sánh chứa đựng một góc nhìn độc đáo, đầy tính phát hiện của nhà văn trước đối tượng thẩm mĩ của mình. Sông Đà như loài thủy quái với những nanh vuốt nơi mặt ghềnh, hút nước và thạch trận dữ hiểm, được nhà văn ví như “kẻ thù số một” của con người. Song những so sánh đam mê nhất của Nguyễn Tuân là dành cho một Đà giang trữ tình: “Cái dây thừng ngoằn ngoèo” dưới chân người ngồi trên tàu bay nhìn xuống, cái “áng tóc trữ tình

    • ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”; rồi lại “như một cố nhân” trong nỗi niềm du khách, như “cái miếng sáng lóe lên” trong trò chiếu gương con trẻ, như “một bờ tiền sử”, như “một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”… Những so sánh biến hóa không trùng lặp, luôn gây men bằng những đột ngột, người đọc sửng sốt vì những so sánh lạ lẫm, gây đứt quãng liên tưởng, để rồi thán phục nhận ra không thể so sánh hay hơn, đúng hơn, và cứ thế bị thôi miên vào mê hồn trận của những so sánh ăm ắp tràn bờ… Vẻ đẹp ngôn ngữ Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho. Nhà văn phải lao động cật lực, trong đó có khổ công quan sát. Liệu đã mấy ai đủ công phu quan sát những biến đổi tinh vi đến thế của sông Đà, với mùa xuân thì “dòng xanh ngọc bích” mùa thu thì “lừ lừ chín đỏ”, giữa hai mùa ấy là cái “màu nắng tháng ba Đường thi”… Sông Đà giàu ám ảnh trở thành nỗi nhớ thật da diết của con người. Một sông Đà góc cạnh như thế ắt cần một đối tượng giao tiếp tương xứng cỡ ông lái đò. Hình như Nguyễn Tuân tô đậm sức hấp dẫn của sông Đà là để ngầm đề cao chính ông lái đó tài ba, nghệ sĩ này chăng. Để tiếp ông khách không vừa này, sông Đà “bày thạch trận trên sông” với một thế trận bài bản theo kiểu binh pháp Tôn Tử: nào là cửa tử, cửa sinh, đánh vu hồi, đánh du kích, đánh mai phục, đánh giáp lá cà…

    Sông Đà còn lắm mưu nhiều kế bày bao nhiêu mẹo lược và sự nham hiểm để sẵn sàng bóp chết con người. Ông lái đò thì nhỏ bé nhưng lại sừng sững hiện lên như một viên tướng trí dũng song toàn trước con thủy quái khổng lồ kia, với tư thế của kẻ đã nắm chắc “binh pháp của thần sông thần đá”. Để miêu ta cuộc giao tranh giữa người và thác dữ, Nguyễn Tuân có ngón chơi động từ độc đáo. Trong dăm trang kí, ông tốc tới ngót 300 động từ để đủ sức ganh tài cùng con nước cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường. Tần số động từ đậm đặc nhất là ở trường đoạn hỗn chiến giữa người và sông nước, khiến người đọc nghẹt thở. Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn thịnh nộ sông Đà: “rống lên, nhổm cả dậy, vồ lấy, đánh khuýp, reo hò, thúc, đội, túm, lật ngửa, bóp chặt… Phía ông lái, động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡi hổ tung hoành: nắm chặt, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh, lái miết, đè sấn, chặt đôi, phóng thẳng, chọc thủng… Hai hệ thống động từ đối chọi, tương phản gay gắt, nhưng đọc kĩ, vẫn thấy nổi lên thế chủ động, thế lấn lướt của ông lái đò. Hãy xem tiếp động từ phát huy sức mạnh như thế nào trong đoạn văn sau đây của Nguyễn Tuân: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghi cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải

    nước bên bờ liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn mày, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến…”. Quả là một bức tranh chiến trận hào hùng, ngôn ngữ Nguyễn Tuân hả hê tụng ca con người trong cuộc quyết đấu với thiên nhiên để giành sự sống. Văn Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp của sự tổng hòa văn hóa. Nàng văn của ông thật quảng giao đón du khách từ bốn phương trời kiến thức: lịch sử, địa lí, quân sự, võ thuật, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… Những kiến thức liên ngành đa dạng ấy tạo bề dày uyên bác trong vốn tri thức của nhà văn, nâng cho đôi cánh tài hoa bay bổng. Có thể coi Nguyễn Tuân là người đã nắm vững “binh pháp của ngôn ngữ”. Với một ý thức ngôn từ mới mẻ, hiện đại, Nguyễn Tuân đã truyền hồn cho chữ, chữ truyền hồn cho dòng sông, và dòng sông truyền xúc cảm vào người đọc. Song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn. Nhiều người từng than phiền văn Nguyễn Tuân cầu kì, rắc rối. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân tự nhận xét: “Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng. Đọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng. Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được” (Đôi tri kỉ gượng). Nay ngôn ngữ Nguyễn Tuân là ngôn ngữ của một công dân đầy trách nhiệm trước một nước Việt Nam mới. Ông lái Nguyễn Tuân đã chở con đò chữ không chỉ bằng bàn tay khéo dùng từ, đặt câu mà còn bằng tình yêu tha thiết thiên nhiên và con người lao động xây dựng cuộc đời. Xin chiêm ngưỡng tấm lòng thơ của nhà văn ẩn trong câu văn òa ập nỗi niễm này: “Nói chuyện với người lái đò, như càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước”.

  • Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Đề bài: Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    A. Hướng dẫn cách làm

    1. Giải thích

    Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta: “Xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, phải huy động nguồn lực của toàn xã hội cùng nhà nước giải quyết, từng bước thanh toán đói nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, mức sống giữa các vùng, tầng lớp dân cư”

    Tham gia phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” thể hiện tấm lòng cao cả nhân văn “Thương người như thể thương thân” , “là lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Mọi người đều nên có ý thức ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” .

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” thu được kết quả to lớn trong nhiều năm qua, góp phần cùng nhà nước làm giảm số lượng và tỷ lệ người nghèo. Việt Nam đã được Liên Hợp Quốc biểu dương và tặng giải thưởng vì đã thành công lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.

    2. Bàn luận

    Xóa đói giảm nghèo chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta

    Xóa đói giảm nghèo muốn thành công phải huy động nguồn lực của toàn xã hội.

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” là hoạt động thiết thực huy động nguồn lực của toàn xã hội vào công việc xóa đói giảm nghèo.

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” là nét đẹp phát huy truyền thống đoàn kết, nhân văn, quan tâm đến người nghèo của dân tộc ta. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”

    Mỗi người dân nên nhiệt tình tham gia phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”

    3. Liên hệ

    • Bản thân em sẽ cố gắng trong từng việc có thể tham gia ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” Tuyên truyền vận động bạn bè và người thân tham gia phong trào.

    B. Bài làm tham khảo

    Đề : Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”

    Mở bài:

    Nhiều năm nay, “Quỹ vì người nghèo” do mặt trận Tổ quốc Việt Nam thiết lập đã nhận được sự ủng hộ to lớn của nhân dân, từ cán bộ, công chức đến tầng lớp doanh nhân. Vì sao phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” lan rộng và sôi nổi như vậy ?

    Thân bài:

    1.“ Quỹ vì người nghèo” góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo

    Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” chứng tỏ ý thức cộng đồng cao của dân ta, góp sức cùng nhà nước thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tháng vì người nghèo hàng năm thu được hàng nghìn tỷ đồng, liên tục trong hàng chục năm nay, làm cho tỷ lệ người nghèo ở nước ta liên tục giảm xuống. Các nước bè bạn, cả thế giới khâm phục thành công về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam. Tổ chức Liên Hợp Quốc biểu dương và tặng giải thưởng về xóa đói giảm nghèo.

    1. Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn, của nhân dân ta.

    Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn cao cả trong tâm hồn con người Việt Nam. Mọi người dân nước ta đều hiểu sâu sắc “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Trải qua bao gian khổ, hy sinh trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thiên tai bão lụt, dân ta luôn có truyền thống “Thương người như thể thương thân”

    • “là lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Hình ảnh cụ già bớt chút lương hưu, các em học sinh bớt tiền ăn sáng của bố mẹ cho để san sẻ với bạn nhỏ bất hạnh hơn mình luôn làm cho mọi người xúc động và thức tỉnh lương tâm trách nhiệm ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”.

    Công cuộc xóa đói giảm nghèo còn phải tiếp tục lâu dài , là mục tiêu “Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc” cũng như của Nhà nước Việt Nam. Chúng ta hàng năm phải có ý thức và hành động thiết thực cùng toàn dân, toàn hệ thống chính trị tham gia công cuộc xóa đói, giảm nghèo, mà cụ thể nhất là ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”. “Nhường cơm sẽ áo, chị ngã em nâng”

    1. Mọi người nuôi dưỡng ý thức và hành động thiết thực ủng hộ quỹ vì người nghèo. Nước ta là nước đang phát triển, thu nhập thấp, đại bộ phận dân cư sinh sống, làm nghề nông, thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh ở người và gia súc, rủi ro trong làm ăn, tai nạn trong

    sinh hoạt làm cho người ta nghèo đi. Số lượng người nghèo của nước ta rất đông, từ tỷ lệ khoảng 60% cách đây 30 năm, nay vẫn còn khoảng 15% tức là hơn 10 triệu dân trong diện người nghèo. Công cuộc xóa đói giảm nghèo còn lâu dài và mỗi người chúng ta phải kiên trì hành động, luôn

    Tài liệu khóa học Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn.

    nuôi dưỡng tấm lòng nhân văn cao cả, nghĩa hiệp để có việc làm, hành động đóng góp ủng hộ quỹ vì người nghèo.

    Ông cha chúng ta có khái niệm “nợ đồng lần”. Người ta giúp mình việc gì đó không phải để mong được mình trả ơn, mà mong mình sẽ lại đi giúp những người khác. Như thế, những tấm lòng thơm thảo sẽ được nhân lên, những hoàn cảnh được chia sẻ sẽ được tăng lên theo cấp số cộng, cấp số nhân. Nhờ đó, xã hội chúng ta sẽ đầy những tấm lòng nhân ái, cuộc sống ấm áp ngày càng tươi đẹp, thanh bình, hạnh phúc. Giúp đỡ người nghèo, ủng hộ quỹ vì người nghèo là một trong những cách thiết thực biểu hiện sự quan tâm tới người khác, tới xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn mình”.

    Kết luận

    Một nhà văn Nga đã viết “Nơi lạnh nhất không phải Bắc Cực mà là nơi không có tình thương” . Nhà văn Pháp Misen Êken Mongtenho cũng đã viết “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa” .Một trong những việc nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người là hàng năm hãy có hành động thiết thực ủng hộ quỹ vì người nghèo

    Giáo viên: Nguyễn Quang Ninh.

  • Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bài Làm

    “…Con sóng dưới lòng sâu…..

    Hướng về anh một phương”.

    Sóng biển rộng lớn, bao la mà vẫn điệp trùng thương nhớ. Sóng biển vật vã, thương đau mà vẫn một đời mê đắm. Sóng biển dữ dội thét gào mà vẫn nồng cháy thương yêu. Phải, có những con sóng như thế, những con sóng mang trong mình biết bao đói cực vẫn đêm ngày cuộc tròn trong thơ, trong tâm hồn người phụ nữ đa tài, đa tình và cũng đa đoan ấy: nữ sĩ Xuân Quỳnh. Và bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh đã chuyên chở hết cái tài, cái tình và cả cái đa đoan ấy của nữ sĩ mà tiêu biểu là đoạn thơ:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Hướng về anh một phương”

    Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của

    tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp “má hồng”.

    bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân

    vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm

    tư. Và có thể nói, khổ thơ:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Hướng về anh – một phương”

    Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước”

    Hai câu thơ với hình thức lặp quyện hòa cùng nghệ thuật đối vỗ nên điệp trùng những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Con sóng lặn sâu dưới lòng đại dương qua thanh bằng cuối câu thơ. Con sóng dữ dội tung bọt trắng xóa trên mặt biển với thanh trắc. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc

    lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì: “Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được”

    Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao

    giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, ẩn sâu trong ngực sóng là nhịp đập của đại dương mênh mông. Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “ không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về

    bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm. Chọn hình tượng sóng-một trong những hình tượng đồng nhất của tự nhiên, Xuân Quỳnh đã khẳng định được bản lĩnh của mình. Chọn hình tượng động để gắn với người phụ nữ, người mà xưa nay được ví như liễu yếu đào tơ, Xuân Quỳnh phải đứng trước nhiều thử thách nhưng chị đã vượt qua bằng một bản lĩnh vững vàng và hơn hết là bằng một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm tinh tế. Còn sự vật nào hơn sóng có thể diễn tả hết được cái lòng người phụ nữ đang yêu: nồng nàn, băn khoăn, bồn chồn, thao thức lắm ! Nỗi băn khoăn ấy được góp nước từ nỗi nhớ: nhớ một người!

    “Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Sóng bây giờ dường như cũng đã không còn đủ sức chuyên chở nỗi lòng người phụ nữ. Nỗi nhớ như thiêu, như đốt, như phá tan những phàm tục đời thường, cất cánh đưa người phụ nữ đến một cõi mơ. Ở đây Xuân Quỳnh dùng từ “ lòng” thật chính xác để diễn tả tình cảm của người phụ nữ với tình yêu. Lòng là chốn sâu kín nhất của tâm hồn, lòng

    là kết tinh của tình cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua

    biết bao thử thách. Vì vậy mà tấm lòng ấy không chút hời hợt mà đã là

    gan, là ruột của người phụ nữ rồi. “Lòng em nhớ đến anh”, ơi thương

    sao câu nói giản dị, chân thành mà nồng nàn, da diết đến thế. Câu thơ

    “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Có thể nói,

    với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật

    nhất của thi ca hiện đại Việt Nam. Câu thơ như trào dâng nâng nỗi nhớ

    niềm thương

    Sóng-em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng

    cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam”

    Đầu mỗi câu thơ, Xuân Quỳnh đã đóng vào đó những từ chỉ sự đối lập (“dẫu”). Nó chỉ một sự khẳng định chắc nịch, vững vàng rằng khó khăn, thách thức là mấy em vẫn mãi yêu anh. . Chẳng phải là “ngược Bắc”, “xuôi Nam” mà là “xuôi Nam” “ngược Bắc”.Phương hướng thế nào không quan trọng, quan trọng nhất vẫn là “phương anh”. “Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh một phương”

    Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh. Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì

    nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã dành “hệ qui chiếu” của đời em. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của chị.

    Sự thành công của Xuân Quỳnh trong bài thơ “Sóng” không chỉ ở tình cảm chân thành nồng cháy mà còn ở nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng_hình tượng trung tâm của bài thơ. Sóng trong bài thơ là một hình tượng kép. Sóng vừa là sóng biển vừa là sóng lòng của người phụ nữ đang yêu. Cả hai cuộn tròn trong sóng thơ dạt dào. Hình tượng sóng rất đa dạng: lúc dữ dội, ồn ào, lúc dịu êm lặng lẽ cũng như tâm hồn em vậy dịu dàng lắm nhưng cũng đôi khi nồng cháy, mãnh liệt. Hình tượng sóng được Xuân Quỳnh xây dựng như thế động. Sóng luôn vận động với bao đối cực, bao chiều kích và cũng chính nhờ vậy mà nỗi lòng của người phụ nữ đang yêu được bộc lộ chân thành hơn, chính xác hơn. Với hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã góp vào thi đàn một hình tượng cũ mà mới. Mới bởi nó được ủ ấp những nỗi niềm của người phụ nữ. Và sẽ không quá lời khi ta khẳng định rằng, làm nên sự nghiệp Xuân Quỳnh không thể không có “sóng”.

    Xuân Quỳnh đã đi về một miền miên viễn. Chị đã đi xa nhưng sóng thì vẫn “bạc đầu thương nhớ” còn người thì vẫn bên chị cùng một nỗi nhớ thương. Người phụ nữ ấy sống mãi cùng sóng lòng, sóng thơ và “sóng”. Cũng như sóng kia, nhịp đập thủy triều có bao giờ nguội yên trong ngực biển, người nữ sĩ ấy vẫn mãi bên đời cùng một nhịp đập yêu thương.

    Con sóng trong thơ chị phải đâu là con sóng một thuở mà nó đã thành con sóng ngàn đời: con sóng tình yêu, con sóng yêu thương, con sóng của một tâm hồn đẹp. Vỗ mãi con sóng thương yêu!

  • Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    của Thanh Hải

    (Tổng hợp)

    Bài Làm

    Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” được Thanh Hải sáng tác năm 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Bài thơ là tiếng lòng thiết tha, yêu mến và gắn bó với đất nước ,với cuộc đời và thể hiện chân thành một ước nguyện hiến dâng .

    Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được phác hoạ bằng vài nét chấm phá :

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc,

    Ơi! con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời.

    Chỉ bằng vài nét đơn sơ mà đặc sắc ,với những hình ảnh nho nhỏ, thân quen , bình dị, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh xuân thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế .Bức tranh có không gian thoáng đãng ,sắc màu tươi tắn, hài hoà và âm thanh rộn rã tươi vui của tiếng chim chiền chiện . Cách lựa chọn hình ảnh “dòng sông xanh” , “bông hoa tím” ,

    cách sử dụng các từ ngữ “ơi” ,“chi” đi liền sau động từ “hót” khiến người đọc liên tưởng đến quê hương xứ Huế và cả tâm trạng say đắm hân hoan của tác giả . Dường như thấp thoáng đâu đó trong câu thơ là màu xanh của dòng Hương Giang mềm mại và những tà áo dài tím biếc của những cô gái Huế mộng mơ, cùng với âm thanh rộn rã, tươi vui của tiếng chim chiền chiện, khiến mùa xuân của cố đô trầm mặc, chợt trở nên rực rỡ, rộn ràng .Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân còn được miêu tả ở chi tiết rất tạo hình :

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng .

    Giọt âm thanh của tiếng chim thật trong ,thật tròn,vang ngân giữa không gian,đọng lại thành từng giọt hữu hình long lanh như hạt ngọc ,nhà thơ đưa tay hứng với tất cả sự trân trọng , đắm say . Sự chuyển đổi cảm giác khiến hình ảnh thơ trở nên lung linh, đa nghĩa góp phần diễn tả trọn vẹn hơn niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất vào xuân .

    Từ mùa xuân của thiên nhiên, trời đất nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước . Tác giả hướng tình cảm của mình tới những con người đang làm đẹp mùa xuân :

    Mùa xuân người cầm súng

    Lộc dắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ.

    Những câu thơ tạo ra hình ảnh sóng đôi đẹp như hai vế của câu đối mừng xuân nói về những người chiến sỹ bảo vệ và những người lao động dựng xây đất nước

    .“Lộc” theo bước chân người cầm súng ra trận,theo bàn tay người lao động ra đồng và gieo mùa xuân đến khắp mọi miền đất nước. Có lẽ bởi vậy mà không khí khẩn trương ,rộn ràng , náo nức lan toả khắp tứ thơ :

    Tất cả như hối hả

    Tất cả như xôn xao.

    Điệp từ “tất cả” ,từ láy “hối hả”, “xôn xao ” tạo nên nhịp điệu mùa xuân hối hả ,hào hùng ,mở ra những cảm nhận chan chứa tự hào về đất nước :

    Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước .

    Hình ảnh so sánh đẹp : “đất nước như vì sao” toả sáng, luôn vận động và phát triển không ngừng, có ý nghĩa định hướng ,giục giã mọi người hăng say cống hiến xây dựng quê hương .

    Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về mùa xuân riêng của mỗi cuộc đời và dạt dào một khát vọng hiến dâng :

    Ta làm con chim hót

    Ta làm một canh hoa

    Ta nhập vào hoà ca

    Một nốt trầm xao xuyến .

    Nếu ở đầu bài thơ tác giả miêu tả những hình ảnh làm đẹp thêm ,tô điểm thêm cho mùa xuân là âm thanh náo nức vang trời của tiếng chim chiền chiện và sắc màu tím biếc dịu dàng của cánh lục bình nhỏ trên sông thì ở đây tứ thơ được lặp lại, tạo ra

    sự đối ứng chặt chẽ . Tác giả mong muốn được làm bông hoa toả ngát hương ,con chim mang tiếng hót và nốt trầm xao xuyến để hiến dâng nhưng không làm mất đi nét riêng của mỗi người .Đó thực sự là lời tâm niệm chân thành, tha thiết, khiêm nhường và khát khao được cống hiến phần tinh tuý nhất của mình làm đẹp thêm mùa xuân của quê hương, xứ sở mà không bị giới hạn bởi thời gian, tuổi tác :

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc .

    “Mùa xuân nho nhỏ” là một sáng tạo bất ngờ ,độc đáo mà tự nhiên, hợp lý của nhà thơ , bởi mùa xuân vốn là một khái niệm chỉ thời gian thế mà ở đây “ mùa xuân” lại có khối ,có hình ,một hình hài nho nhỏ thật xinh xắn . Mùa xuân đã trở thành một ẩn dụ nói về khát vọng , một lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường góp sức mình làm đẹp thêm mùa xuân của thiên nhiên,đất nước.Điệp từ “dù là” đặt ở đầu hai câu thơ liên tiếp có ý nghĩa khẳng định cho khát vọng dâng hiến miệt mài, không mệt mỏi của tác giả .

    Thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết ,gần gũi với dân ca nhiều hình ảnh đẹp , giản dị ,gợi cảm ,những so sánh và ẩn dụ sáng tạo đã góp phần tạo nên thành công không nhỏ cho bài thơ .

    Bài thơ kết thúc khi đã làm lay động trái tim mỗi người bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương và ước nguyện thiết tha chân thành của tác giả .Dường như ước nguyện nhỏ bé khiêm nhường ấy không còn là của riêng Thanh Hải mà đã trở thành

    tiếng lòng chung của nhiều người .Bởi vậy mà đọc xong bài thơ em muốn tự hỏi mình một điều giản dị :

    “Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn ?

    Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình !”

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    I – Mở bài:

    Mùa xuân từ lâu đã là đề tài vô tận cho các thi sĩ. Nhưng hiếm có bài thơ nào viết về mùa xuân lại hay và trong hoàn cảnh đặc biệt như “mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, nhà thơ của xứ Huế mộng mơ. Bài thơ “mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác năm 1980, khi tác giả đang nằm trên giường bệnh và chỉ mấy tuần lễ sau khi hoàn thành bài thơ thì nhà thơ đã qua đời. Đây là một bài thơ hay tiêu biểu cho hồn thơ Thanh Hải đã thể hiện được tâm nguyện thật thiết tha, cảm động của nhà thơ Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời.

    II – Thân bài:

    1. Mùa xuân của thiên nhiên.

    Cảm hứng xuân phơi phới của Thanh Hải đã dệt nên một bức tranh mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, hiền hoà, đầy sức sống của xứ Huế mộng mơ.

    Mọc giữa dòng sông xanh

    …………

    Tôi đưa tay tôi hứng

    • Xứ Huế đã đi vào trong thi ca của không ít các thi nhân như Hàn Mạc Tử, Tố Hữu… nhưng ở đây với bài thơ này ta vẫn cảm nhận được phong vị rất riêng của Thanh Hải. Bức tranh xuân ấy hiện lên rất ít chi tiết nhưng vẫn đẹp, một vẻ đẹp hoàn thiện với đầy đủ sắc màu, âm thanh và đường nét. Có một dòng sông xanh hiền hoà, mênh mang làm nền cho sắc tím của bông hoa, màu tím của xứ Huế thơ mộng, của nhớ nhung đã tạo nên cảm giác mát dịu làm sao! Nghệ thuật đảo ngữ càng làm nổi bật vẻ đẹp của bông hoa. Bông hoa ấy mọc từ giữa dòng sông như tâm điểm của một bức tranh đầy ấn tượng. Bông hoa ấy như phát sinh, khởi nguồn từ cái sức sống dồi dào, bất tận của dòng sông xanh để không ngừng vươn lên bất tử. Bức tranh ấy càng sống động hơn bởi âm thanh của tiếng chim chiền chiện quen thuộc của quê hương miền trung. Tiếng chim ấy hót vang bên trời cao, tiếng hót trong trẻo, ngân nga, rộn ràng có độ lan tỏa không dứt, làm cho không khí của mùa xuân trở nên náo nức lạ thường.
    • Hãy đọc lại khổ thơ đầu và lắng nghe trong đó: có phải là nhạc và thơ đã hoà quyện vào từng chữ, từng dòng trong cả khổ thơ, đem đến môt giai điệu mùa xuân vui tươi, rạo rực ? Nhà thơ lặng ngắm, lắng nghe với vẻ say mê và tấm lòng tràn đầy một cảm xúc thanh cao trong sáng. Bằng sự cảm nhận tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ, nhà thơ đã tạo dựng được một hình ảnh tuyệt đẹp, gợi ra sự liên tưởng phong phú cho người đọc về âm thanh của tiếng chim. Âm thanh mượt mà, trong vắt của tiếng chim thánh thót như chuỗi ngọc long lanh, đọng lại làm thành từng giọt niềm vui, rơi xuống cõi lòng rộng mở của thi sĩ, thấm vào tâm hồn đang rạo rực tình xuân. Như vậy từ một hình tượng, một sự vật được cảm nhận bằng âm thanh ( thính giác), tác giả đã chuyển đổi biến nó thành một sự vật có thể nhìn được bằng mắt ( thị giác) bởi nó có hình khối, màu sắc rồi lại được như cảm nhận nó bằng da thịt, bằng sự tiếp xúc ( xúc giác).

    Sự chuyển đổi cảm giác ấy là một sáng tạo nghệ thuật gợi cảm từ con mắt nhìn rất thơ của thi sĩ. Hình ảnh đưa tay “hứng” xiết bao yêu quý, nâng niu đã thể hiện được sự đồng cảm của tâm hồn nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc đời.

    2.Trong mùa xuân lớn ấy, đất nước và con người cũng mang vẻ đẹp của sức sống vô tận, rộn ràng bước vào một mùa xuân mới:

    Mùa xuân người cầm súng

    ……

    Lộc trải dài nương mạ

    • Lộc xuân theo người cầm súng, lộc xuân trải dài nương mạ. Hình ảnh dân tộc Việt Nam kết tụ lại ở “người cầm súng” và “người ra đồng”. Đây là mùa xuân của con người đang lao động và chiến đấu, của đất nước vất vả gian lao đang đi lên phía trước. Câu thơ vừa tả thực vừa tượng trưng hàm chứa nhiều ý nghĩa trong hình ảnh người lính và người nông dân với từ “lộc” nhiều nghĩa. “Lộc” là chồi non, lá non, nhưng “lộc” còn có nghĩa là mùa xuân, là sức sống, là thành quả hạnh phúc. Người cầm súng giắt lộc để nguỵ trang như mang theo sức xuân vào trận địa, người ra đồng như gieo mùa xuân trên từng nương mạ. Những con người lao động chiến đấu ấy đã mang cả mùa xuân ra trận địa của mình để gặt hái mùa xuân về cho đất nước. Âm hưởng thơ hối hả, khẩn trương với nhiều điệp từ, điệp ngữ láy lại ở đầu câu cùng với các tính từ “hối hả”, “xôn xao” làm tăng thêm sức xuân phơi phới, mãnh liệt trong mỗi con người và trong cả cộng đồng rộng lớn là dân tộc. Điều đó làm cho tác giả nhớ đến niềm tự hào lớn lao của đất nước:

    Đất nước bốn nghìn năm

    ……

    Cứ đi lên phía trước”

    • Đất nước đang bước vào mùa xuân, từ thiên nhiên đến con người đều hối hả và xôn xao. Mang tình sông núi, nhà thơ Thanh Hải đã có một cái nhìn sâu sắc và tự hào về chiều dài lịch sử bốn nghìn năm của đất nước.Đó là truyền thống anh hùng trong đánh giặc, cần cù trong dựng xây, là truyền thống nhân ái, là khát vọng hòa bình. Mỗi truyền thống ấy đều được xây đắp nên từ mồ hôi, công sức, nước mắt và thậm chí cả xương máu của biết bao thế hệ con người. Trong quá trình xây dựng và giữ nước, đất nước ta còn đầy vất vả và gian lao nhưng đất nước Việt Nam vẫn ngời sáng cứ tiến lên phía trước như một vì sao sáng. Vần thơ so sánh và nhân hoá thể hiện một niềm tin sáng ngời, ngợi ca đất nước tráng lệ, trường tồn. Ba tiếng “cứ đi lên” đã thể hiện ý chí quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc để xây dựng đất nước giàu và mạnh.
    • Đặt bài thơ vào những năm 80 khi nước ta còn đang phải đương đầu với bao khó khăn, nền kinh tế còn rất thấp kém thì ta càng trân trọng lòng yêu đời, yêu cuộc sống và niềm tin của nhà thơ Thanh Hải vào quê hương, đất nước.

    3.Xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước, nhà thơ muốn góp một mùa xuân nho nhỏ của mình để làm nên một mùa xuân lớn, mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, mùa xuân của cách mạng:

    Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến

    Đó là khát vọng sống hoà nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé, của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên giầu sức gợi tả, gây xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Ước nguyện được làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vào vườn hoa muôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim, để đem lại hương sắc, tô điểm cho mùa xuân thêm tươi đẹp. Nhà thơ nguyện cầu được làm một “nốt trầm xao xuyến” không ồn ào, không cao điệu mà chỉ âm thầm, lặng lẽ để “nhập”vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vui mừng đón xuân về. Được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước. Một ước mơ nho nhỏ, chân tình, không cao siêu vĩ đại mà gần gũi quá, khiêm tốn và đáng yêu quá ! Hình ảnh nhuần nhị, tự nhiên, chân thành, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái , ngọt ngào của những thanh bằng liên tiếp kết hợp với cách cấu tứ lặp lại như vậy đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnh thêm mong ước được sống có ích cho đời, cống hiến cho đất nước như một lẽ tự nhiên. Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, vừa như một tiếng lòng, như một lời tâm sự nhỏ nhẹ, chân tình. Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một lẽ sống cao đẹp, không chỉ cho riêng nhà thơ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta. Đó là lẽ sống cống hiến cho đời lặng lẽ, khiếm tốn, không kể gì đến tuổi tác:

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc.

    Thái độ ‘lặng lẽ dâng cho đời” nói lên ý nguyện thật khiêm nhường nhưng hết sức bền bỉ và vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Thật cảm động làm sao trước ao wowcs của nhà thơ dẫu đã qua tuổi xuân của cuộc đời, vẫn được làm một mùa xuân nhỏ trong cái mùa xuân lớn lao ấy. Điệp ngữ “dù là” ở đây như một lời tự khẳng định để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước. Giọng thơ vẫn nhỏ nhẹ, chân tình nhưng mang sức khái quát lớn. Chính vì vậy, hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” ở cuối bài như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ.

    Những câu thơ cuối cùng mang đậm dấu ấn của những làn điệu dân ca trữ tình xứ Huế. Nó như tiếng tâm tình, thủ thỉ, như tiếng lòng sâu lắng thiết tha, nồng đậm nghĩa tình:

    Mùa xuân ta xin hát

    Câu Nam Ai, Nam Bình

    Nước non ngàn dặm

    Nhịp phách tiền đất Huế

    Cùng với ý nguyện ấy, khúc Nam Ai, Nam Bình ở khổ thơ kết nói lên niềm tin yêu tha thiết với quê hương, đất nước và cuộc đời. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ , tình cảm đó càng đáng trân trọng, càng cảm động biết bao !

    III – Kết bài:

    “Mùa xuân nho nhỏ” là một bài thơ có tứ thơ độc đáo, cảm hứng xuân phơi phới, hình ảnh sáng tạo, nhạc điệu vui tươi tha thiết. Đọc “mùa xuân nho nhỏ”, trái tim ta dường như xao xuyến, một cảm xúc thanh cao, trong sáng từ từ dâng ngập hồn

    1. Bài thơ đem đến cho chúng ta bao cảm xúc đẹp về mùa xuân, gợi cho ta suy nghĩ về một lẽ sống cao đẹp của một tâm hồn trong sáng khiến ta cảm phục và tin yêu. Còn gì đẹp hơn mùa xuân ? Có tình yêu nào rộng lớn hơn tình yêu quê hương đất nước ? Thấm nhuần tâm tư, ước nguyện của của nhà thơ, chúng ta càng thêm tin yêu vào mùa xuân của đất nước và “mùa xuân nho nhỏ” trong lòng mình. Chúng ta muốn cùng con chim chiền chiện hót lên khúc ca ngọt ngào gọi xuân về, muốn học thành tài để hiến dâng cho đất nước, góp phần công sức nhỏ bé để tô điểm cho mùa xuân cuộc đời thêm đẹp.

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    Thanh hải là 1 cây bút có công xaay dựng nền văn học cách mạng ở Miền Nam từ những ngày đầu Thơ ông thể hiện niêm yêu mến thiết tha của cuộc sống đất nước ước nguyện của tác giả . Và MXNN là 1 bài thơ nhu thê

    Bài thơ được sáng tác vao nhữung năm cúôi đời của thanh hải thế nhưng đặc biệt tràn ngập cả bai thơ là những cảm xúc của tác giả đi từ mùa xuân thiên nhiên đên mùa xuân đất nưuợc ocn người và cuối cùng đã bộc lộ khát vọng sống của con người . Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ Đã tạo nên 1 giọng điệu thơ sâu lắng trữ tình tha thiết

    Mở đâu bài thơ thanh hải đã fác hoạc cảnh mùa xuân tươi đẹp dang về trên xứ

    huế

    mọc giuẵ dòng sông xanh

    một bông hoa tím biếc

    ơi con chim chiền chiện

    hót chi mà vang trời

    khổ thơ là cảm nhận của thanh hải về mùa xuân thiên mùa xuân quê hương . Đâu có gì nhiều chỉ 1 bông hoa 1 dòng sông 1 tiếng chim hsot . Đơn giản thế nhưng vui và đẹp biết bao ! . Chỉ bằng vài nét fác họa chọn lọc hình ảnh màu sắc và âm thanh nhà thơ như vẽ ra cả 1 không gian cao rộng dòng sông mặt đất bầu trờ cả màu sắc thắm tuơi sông xanh thắm hoa tím biếc và âm thanh rộn rã Tiếng chim chiền chiện hót vang trờ . Truwocs đây cũng đã nhiều thi nhân mieue tả mùa xuân vơi những ítn hiệu bông hoa chim hót

    chim hót véo von liễu nở đầy

    Nhưng điểm đặc biệt trong thơ Tanh hải là cảnh màu xuân mang nét đẹp riêng cảu quê hương xứ huế . Dòng sông xanh đây là dòng sông hương thở mông của huế ko phải là sông hồng đỏ nặng phù sa cũng chẳng phải là Vàm cỏ đông tươi mát trên dòng sông hương giang thơ mộng ấy ” mọc ” lên l1 bông hoa tím biếc. có lẽ đó là họa lục bình . 1 lòai hoa ưa sông nuwocs ưa đồng nội bình dị thân th ương . Thi nhân xuă thường nói đến màu xuân với những loài hoa tiêu biểu kiêu saquí hiếm như hoa đào mai lan nhưng ở đây mùa xuân trong thơ thanh hại lại được báo hiêu băng 1 bông hoa lục binh tím biêc .Cái màu tím đặc trunưg của xứ huếy ngươi huế . Cách đảo ngữ đưa từ mọc lên đầu câu thơ . Mọc giữa dòng sông xanh gây ấn tuợng về sự vương lên đầy sức sống của bông hoa . 1 sức sống tràn trề tuơi trẻ Chỉ với 2 câu thơ mở đầu nhà thơ đa miêu tả đựoc cả 1 sắc xuân đằm thắm dịu dàng mà xao xuyến lòng người Thanh hải còn cảm nhận thêm 1 nét đẹp nữa của thiên nhiên xứ huế đó là tiếng xuân rộn rã reo vui qua âm thanh thánh thó của chim chiền chienẹ . 1 lòai chim sơn ca sống rất nhiều

    • Huế Tiếng chim hót thánh thóe véo von vang vọng cả đâtd trờ Cã không gian cao rộng nghe tiếng chim hót nàh thơ thoế lên lời gọi của chim thậ thiết tha say đăm

    Ơi con chim chiền chiện hót chi mà vang trờ

    Hô ngữ Ơi kết hiưpự với cụm từ hót chi mà nghe sao mà dịu ngọt êm ái thân thương . 1 lần nữa qua cách thể hiện của TH ta bắt gạp các chât thơ ngọ ngào của xứ Huế qua tiếng thơ nhẹn nhang thân thương tràn đầy cảm xúc lẫn chất huế ấy đã thể hiện tình yêu tha thiêt của nàh thơ đối với quê hương ruột thịt của mình

    Thế ta mùa xuân đang đên ở xứ huế rất đẹp của hoa tím sông xanh ở sức sông của bông hoa và ở niềm vui trong tiếng chim chiền chiện hót. Tâm hồn nhà thơ rộng mỡ để đón nhận nâng niu trân trọng vẻ đẹp sứuc sống và niềm vui ấy

    Từng giọt long lanh rờ Tôi đưa tay tôi hứng

    Nhưng dòng thơ đã thể hiện cảm xúc của hôn thơ TH . bàk ca xứa huế vào xuân nghe tiếng hót trong trẻo véo von thánh thót của chim chiền chiện . Âm thanh đó được kết tinh lại đọng lại thanh từng giọt long lanh lấp lánh Và nhà thơ muốn đuă tay đón nhận từn ggiọt âm thẩ ấy . Rất sáng tạo và đầy gợi cảm . TH đã dùng hiện tượng chuyển đổi cảm giác để thể hiện cảm xúc của mình . Từ cái có tính thính giác chỉ có thê4r nghe được là âm thành của tiếng chim nhà thơ tưởng tnhư thấy được và có thể hứng đựoc cả tiếng chim trong tay . Cảm nhận nó bằng xúc giác nêu xuân diệu ddax có lần say sưa trược vẻ đẹp tươi trẻ của mùa xuân . Thàng giêng ngon như 1 cặp 1 gần để ròi hào hứng thốt lên

    Hơi hồng ta muốn căn vào ngươi thì thanh hải cũng ngất ngây tưởng chứng hưng được cả tiếng xuân . giọt xuana trong tay. Hiện tưởng chueyen đổi cảm giác ấy hoàn toàn màng tính chủ quan có lẽ phi lí ko thực tết .Nhưng đã trở thành nghệ thật trong thơ ca bởi nó đã thể hiện được cái cảm xúc nồng nàn say đăm của nhà thơ . Cací đất trờ xứ huế vào xuân và nhà thơ khương tư dung cũng đã có lần thể hienẹ cảm xúc của mình trong âm thanh của tiếng chim bằng 1 câu thơ có hiện tuơng chuyển đổng cảm giác tương tự

    Một tiếng chim kêu sống cả rừng

    Rồi tờ đó nàh thơ tiếp túc trải dài cảm xúc của mình với mùa xuân đất nước con người

    Mùa xuân người cẩm súng

    Lộc giắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ

    • đay chún gtả đã thây thanh hỉa đề cập đên 2 hình ảnh đó là người cầm súng và người ra đông . Vì sao vậy có pảhi cahưng học chinh alf nhưng người đã chiến đấu bào vệ tổ quốc họl à những người đổ mồ hôi cong sức để góp phần xây dunựg đất nược đocọ lập hạnh phúc cho mọi người . Như vây jchín hhọc là nhưng nguơiừ mang lại mùa xuân cho nguơiừ khác .Bên cạnh 2 hình ản hnày là lộc Nói đến Lộc là nói đến sự đama chồi của cây là . Nhưng trong văn cảnh này lộc mang hàm ý là mùa xuân là sự may mắn là hạnh phúc đến với người khác Và lộc của người cầm sùng đó là cành lá nguyện trang . Và lộc của người ra đồng là nương mạ xanh tốt . Như vaỵa lộc đã

    theo họ ra chiến trường ra ruộng đồng hay là chín họ đã mang lộc về cho đất nước cho mọi người

    Từ hình ảnh con người tác giả đề cập đến hình ảnh đất nước

    Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước

    Đất nước tả kể từ buổi đầu dựng nước là quá trình giữ nước hết cuộc kháng chiến này đến cuộc kháng chiến khác . Cha ông ta sẵn sàng đổ xương máu để bảo vệ nền văn hiến cha ông. Đây là 1 quy trình đầy gian lao vất vả nhưng cũng đầy tự hào Niềm tự hảo đó đã được tác giả so sánh bằng hình ảnh rất đẹp ” như vì sao ” Nói đến vì sao là nói đến các tinh tú lấpl ánh trên bầo trời . Vì sao cứ ngàn năm mãi vình hằng đối với cuộc sống con người và đối với đất nước như vì sao có nghĩa là đất nước ta rất đẹp đất nước ta từ 4000 năm đã đặc xây dựng và phát triển “cứ đi lên phía trước “Chính vì thế mà trước vẻ đẹp đó trước niềm tự hào Con người khi cảm nhận về đó như cảm thấy hối hả . Ở 2 câu này vuằ có điệp từ ” tất cả ” Lạp lại cùng với những hình ảnh đầy hình tượng như âm thanh >Nó gợi tả đươcọ không khi và khí thế rộn ràng vui vẻ cảnh đất nước vào xuân

    Mở đầu bài thơ . Nó đã giớ thiệu cảnh sắc mùa xuana thiên nhiên đẹp tươi ddang đến trên quê hương xứ huế thân thương . Nhưng khổ thơ của thanh hải là cảm nhận của nhà thơ về mùa xuân đất nước . dân tộc . Và cũng từ mạch cảm xúc đó nhà thơ đã quay về với lòng mình . Suy nghĩ thật chân thành và lắng động

    Ta làm con chim hót

    Ta làm 1 cành hoa

    Ta nhập vào hòa ca

    Một nốt trầm xao xuyến

    Thanh Hải suy nghĩ về mình về trách nhiệm đóng góp của mình trong mùa xuân của đời . Nêu ở khổ thơ đầu mùa xuan thiên nhiên đưộc báo hiệu bằng hình ảnh 1 bông hoa đang nở rộ bằng âm thanh tháng thót của con chim chiền chiện thì giờ đây nhà thơ cũng muốn làm con chim hót 1 cành hoa để góp phần làm nên mùa xuân cho đời . Nêu trong khổ thơ truóc đó nhà thơ đã gợi ra mùa xuân của thiên nhiên đất nưộc dân tộc thì ở đaya nhà thơ đã liên hệ đến mình nghĩ về mình trong nhưng ngày cuối đời . khát khao đưộc cống hiến cho cuộc sống cho đất nước cho cách mạng. Trong cái lớn lao của đất trờ vào xuana . Tổ quốc vào xuân .Thanh Hải chỉ xin góp phần làm 1 tiếng chim trong giọng hót của muôn chim để âm thanh mùa xuân thêm rộn rã tưng bunừg màng đến niềm vui cho người . Làm 1 cành hoa trong hương sắc của muôn hoa góp them vẻ thắm tươi rực rỡ cho đời . Mà đặc biệt múôn làm 1 nốt trầm trong bản hoa tấu muôn lời muôn điều của cuộc sống . Thanh hải chỉ muốn làm 1 nốt trầm không vuốt cao ko âm ỉ một nót phụ trong vè phụ của giàn hợp xướng làm nền cho bè vút lên . Nhưng là 1 nốt trầm nghe xao xuyến lòng người cho đời thêm sinh động đáng yêu Nhà thơ dùng nhữung hình ản hđẹp của thiên nhiên như chim hót cành hòa để nói lên ược nguyện đươcọ sống có ich để cống hiến cái tinh túy cao đẹp nhất của chính mình cho cuộc đời chung . Số từ một đặt trứoc cành hoa notó trầm thể hiện sự khiêm tốn của nhà thơ ko làm đưộc 1 vường hoa thì hãy làm 1 bông hoa bé nhó ko làm 1 giàn hợp xướng thì hãy làm 1 nốt trầm xao xuyến > Chỉ xin làm 1 bông hoa 1 tiếng chim 1 nốt trầm để tô điểm làm đpẹ làm vui cho cuộc sống . Ước nguyện hóa thân ấy

    của nàh thơ ko cao xa vĩ đại mà gần gũi thân thương. đẹp và đáng yêu biêt mấy Bời khát vọng sống có ich có ý nghĩa và vô cùng khiêm tốn . Điệp ngữ ta làm ta nhập như 1 lời tự nhủ cùng với nhịp thơ sôi nổi thiết tha đã thể hienẹ 1 cách gợi cảm mạng mẽ cái khát vọng cháy bỏng của nàh thơ tự nguyện gop xuân đời riêng vào xuân đời chung của đất nước quyêh ương . 1 điều đán gchú ýe là từ chỗ xưng tôi ở đầu bài thơ với bao cảm xúc Thanh Hìa đã chuyển sang xưng ta với bao nhiêu nhận thức suy ngẫm . Rõ ràn gđã có sự vươn lên trong tư duy của nhà thơ để chuyển từ cái cá nhân riêng lẻ đến cái chung rộng lớn với ba ước nguyện cống hiến cho đời . Có thể thanh hải muốn gởi vào cái ta ấy 1 lời nhắc nhở đối với tất cả chúng ta trong cuộc đời này

    ko Những vậy khát vọng cống hiến ây rất khiêm tốn thầm lặng ko ngừng nghĩ . Khiêm tốn ở chỗ tất cả ước nguyện cảu nhà thơ đọng lại trong hìn hảnh

    Một màu xuan nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Hìn hản hthơ ở đay lạp lại nhan đề Mùa Xuân Nho Nhỏ là 1 điểm sáng thẩm mỹ của bìa tohư . Mùa xuana là 1 khải niệm về thơi gian vậy mà nhà thơ đã cụ thể hóa thàn hhính khôi nho nhỏ. Thanạ xinh xắn đễ thưonưg để thể hiện tấm lòng mình . KO phải là 1 mùa xuân xanh 1 mùa xuân hông hay mùa chín nhưng ở thanh hải là mùa xuân nho nhỏ Chính với khát vọng làm 1 tiếng chim hót cành hoa xinh nốt nhạ trầm là thanh hải đã tạo được 1 màu xuân nho nhro đề hòa mình với 1 mùa xuân lớn lao của đất nước .nó dâng hạnh phúc sự sống cho đời . Nhà thơ muốn gởi gắm qua hình ảnh mùa xuân nho nhỏ cái khát vọng thật nhro bé và vô cùng cao đẹp . Ước nguyện được làm 1 mùa xuân nghĩa là muốn song đẹp sống với sức xuana tương trẻ của mình dẫu chỉ là xuân nhỏ nhỏ trong cái mùa xuân rộng lớn của đất nước nhưng trong cái xuân

    đời riêng vào mùa xuân bào la bất tận của cuộc đời là khát vọng khiêm tốn đáng yêu của 1 người thiết tha muốn cống hiến cho tổ quốc và ý thức rất rrõ cái hữu hạn của cá nhân mỗi người truớc cái vô hạn cái rộng lớn của cuộc đời

    Điều đáng quý là cái MXNN mà nhà thơ muốn cống hiến đo ko chút âm ĩ phô trương mà chỉ âm thầm lặng lẽ như 1 dòng sông tháng ngày lặng lẽ bồi đắp phù sa cho ruộng đồng màu mỡ . cây trái xanh tươi. Từ láy gợi tả gơij cảm lặng lẽ của đông từ dàng cho thấy thái độ cống hiến trân trọng mà thầm lặng khiêm tốn đáng yêu đáng quí của nhà thơ . Thái đó cống hiến thầm lặng đó gợi ta nhớ đến cùng sự hi sinh dấn hiên lặng lẽ tuổi xuân xứ huế và hạnh phúc cá nhân mình cho tổ quốc thân yêu . Cú nhưng con người ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước như anh than nhiên, người kĩ sư vường rau , anh cán bố nghiên cứu vê fsét bên dưới cái giá bằng thâm thùng mây tuyết ở Lặng Lẽ Sa Pa

    Điểm đáng nổi bật đặc biệt ở đaya là Thanh Hải dẫu chỉ mong được đóng góp cho đời 1 Mùa xuân nho nhro 1 cách âm thầm lặng lẽ nhưng lại miệt mài ko dứt hay nói cách khác là ko ngừng nghĩ dù khi tuổi trẻ đầu xanh hay tuổi già tóc bạc

    Dù là tuổi 20

    Dù là khi tóc bạc

    Mùa xuân nho nhỏ chính là tấm lòn gđáng quí của thanh hải đôiv ới cuộc đời và tấm kòng ấy còn đáng quí hơn nữa khi đã ý thức được sự hữu hạn cảu đời người trong cái vô cùng của đất trời thiên nhiên nhà thơ vẫn cớ muốn cóng hiến tất cả và mãi mãi cho cuộc sóng . Điệp ngữu dù là để lạp lại như mang ý nhấn mạng đã giúp cho thanh hải thể hiện thành công khát vọng cống hiến ko thôi bất chấp tất cả thách thức của tjhơi gian tuổi già bệnh tật khảng định quyết tâm cống hiến hết mình cống hiến ko

    giừoi hạn ở luằ tuổi nào . ko dừng lại ở thơi điểm nào . khi tuởi 20 tràn đầy như sống hay luắ đóc đã phải suơngư và đã qua đi tuổi xuân của đời mình . Nhà thơ cũng xin cống hiến nhưng gì thật đẹp tất cả sức lực và nhiệt tình coi đó là niềm vui là lẽ sống . khát vọng ấy đã trở thành 1tâm nguyện bất diệt . Thể hiện tình yêu thiết tha đối với quê hương đất nước cuộc đời sâu xa hơn đây là ý thức trách nhiệm đời với xã hội với con người

    Tấm lòng và nguyện ước của nhà thơ chính là tư tưởng là nhân sinh quan ai ước mông được sống với sự cống hiến nhiều hơn là hưởng thụ sống cũng là quan niệm sống mà Tố hữu đã từng khẳng định qua 1 khúc ca xuân

    Nếu ta làm con chim chiếc là

    Con chim phải hót , chiếc là phải xanh

    Lẽ nào vay mà ko trả

    Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình

    Nhưng nàh thơ cách mạng đó đã có chung 1 suy nghĩ thật đpẹ thật cao quý nhưng gì mà mình nhận của đời là vô cùng lớn lao nên sống là phải đóng góp dựng xây cuộc đời . Quan niệm này có nét giống và cũng có nét khác với quan niêm của nguyên công trứ ngày xuă Trước đay đã có nhưung suy nghĩ thật tiến bộ cho rằng khi sinh ra trên đời là để hưởng thụ bào di sản của lớp người đi truớc là ta đã mang 1 món nợ ở đời _ nợ tang bồng Và được vậy phải nhập thể hành đạo để trả nợ

    Nợ tang bồng vay trả trả vay

    Nguyễn Công Trứ đã có 1 nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhận với xã hội và trách nhiêm của mỗi thành viên trong cộngđòng . QUan niệm như thể là đáng quí nhưung theo ông khi

    Nợ tang bồng trong trắc vỗ tay reo

    Thi con người có thể mãng nguyện nghỉ ngơi hương thanh nhàn . ko còn gì vướng bận với đời

    Thảnh thơi thơ túc rượu bầu

    Còn đối với thanh hải và quan niệm xã hội chủ nghĩa của chúng ta hôm nay thì sự cống hiến cho hạnh phúc chung ko bao giờ có thể nói hoàn thành là kết thúc . Cống hiến ây là vô cùng là mãi mãi và chỉ thức sự chấm dứt khi con người nhắm mắt xuôi tay QUan niệm káht vọng cống hiến mãi ko thôi của Thanh Hải ở đay tích cực hơn đáng quí hơn và do vậy cao đẹp hơn bởi có sự tiếp xức của thời đại và có cội nguồn sâu xa là tình yêu nống thắm đối với con người quê hương cuộc đời .

    Khổ thơ đã khép lại nhưng ý tình vẫn còn lắng đọng và ngân vang trong lòng người phải chăng 1 mùa xuân nho nhỏ lặng lẽ dâng cho đời kìa ko chỉ là của thanh hải mà còn lòa ước nguyện của mỗi chung ta những ai đã đọc bài thơ những ai muốn sống đẹp và hữu ích cho đời Có biết được haòn cảnh ra đời của bài thơ ta mới thây hết giá trị và ý nghĩa cao đẹp của nó . Bài thơ được thanh hải viết vào mùa đông tiết trời lạnh giá lúc nằm trên giường bệnh cận kề cái chết Ta chợt hiểu mùa xuân đây ko pảhi từ bên ngời đên mà đã có trong lòng nguời Như xuân Diệu đã có lần cảm nhận

    Xuân của đất trời hôm nay sao mới đến Trong tôi xuân đến tự lâu rồi ( xuân ko mùa )

    Chính mùa xuân vĩnh cữu trong lòng ấy đã giúp nhà thơ quên đi sự đau đớn của bệnh tật sự rình rập của cái chết đem lại cho nàh thơ niềm say xức với cuộc sống lòng tin yêu lạc quan với cuộc đời

    Hai khổ thơ ko hề có 1 từ ngữ bóng bẩy trau chuốt hoa mỹ lờ thơ nhẹ nhàng chân chất bình dị tình người ko phải ngẫu nhiên mà bài thơ mùa xuân nho nhở được phổ nhạc . Đây là 1 bài thơ giàu nhạc điệu giàu hình ản hvà khi nó đươcọ phổ nhạn thì đáy lại là 1 bài hạc giàu chất thơ. CHỉnh giau điệu nhẹ nhàng và tươi trẻ . từ đó ddax tạo cho bài thơ có sức truyền cảm lạ thường làm nỗi bật hơn những ước vọng cống hiến còa đẹp của 1 người rất tâm huyết với quê hương đất nước cuộc đời

    Chỉ 1 thang sau nàgy sáng tác bài thơ này Thanh ải qua đời Mùa Xuan nho nhỏ trở thành lời di chúc của chính nàh thơ . Bài thơ là lời tâm tình nhỏ nhẻ thiết tha mà vô cùng sâu lắng của 1 hồn thơ dịu dàg đăm thắm yêu đời yêu đất nước và ước nguyện sống đẹp sống có ích cống hiến cho đời tấm lòng khiêm tốn nhà thơ gợi lên trong em người là lẽ sống cao đẹp vượt lên những tình toán nhỏ nhen vuằ đời thường khơi dậy

    • em niềm káht khao muốn theo bước nàh thơ Tự nguyên góp xuân đời riêng vào xuân đời chung của dân tộc quê hương

    Như hạt muối hòa trong biển mặn Cùng góp mình cho cuộc đời chung

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào Thanh Hải cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh

    cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. có thể nói bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc về cõi vĩnh hằng. Chính vì vậy nó bâng khuâng, tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người, yêu cuộc sống, yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời.

    Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu, thiết tha và thanh thản, không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông, nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt, muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời.

    Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ:

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc.

    Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng, bất ngờ, không gian như tươi tắn hơn, trẻ trung hơn, thánh thoát hơn:

    “Ơi con chim chiền chiện

    Hót cho mà vang trời,

    Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn . Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu, một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào, thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ.

    Trước khung cảnh màu xuân ấy, Thanh Hải không giấu nổi cả xúc của mình Từng giọt long lanh rơi,

    Tôi đưa tay tôi hứng”.

    Từ “giọt long lanh” không chỉ hiểu là giọt mưa xuân trong anh sáng của sắc xuân mà còn được hiểu là giọt âm thanh, giọt sắc màu, giọt thời gian khiến tác giả say sưa ngây ngất . Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời, của sông, của chim muông hoa lá; đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời.

    chỉ bằng vài nét điẻm xuyến phác hoạ tác giả đã vẽ ra một không gian cao rộng, sắc màu tươi thắm, âm thanh vang vọng tươi vui của mùa xuân, của thiên nhiên đất trời.

    Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời, tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống, nhân dân và đất nước. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”, biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm:

    “Mùa xuân người cầm súng,

    Lộc giắt đầy trên lưng.

    Mùa xuân người ra đồng,

    Lộc trãi dài nương mạ.

    Tất cả như hối hả,

    Tất cả như xôn xao…”

    Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng, hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu.

    Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên, sẽ phát triển, sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ.

    Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm, trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy, được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp:

    “Đất nước bốn ngàn năm

    Vất và vào gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước”

    Cùng với động từ Cứ đặt ở đầu câu, tác giả đã khẳng định một sự khẩn trương, hói h, náo nức vào xuân của đất nước với vẻ đẹp lung linh, lấp lánh đang vững bước về phía trước khiến không một thế lực thù địch nào có thể ngăn cản nổi.

    Đó chính là lòng tự hào, lạc quan, tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước, dân tộc. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người.

    Từ cảm xúc của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng; với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc

    bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết:

    “Ta làm con chim hót,

    Ta làm một cành hoa.

    Ta nhập vào hoà ca,

    Một nốt trầm xao xuyến”

    Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Khát vọng của ông là được làm con chim hót dâng tiếng ca lảnh lót , một cành hoa toả hương khoe sắc để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước, góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành, giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”.

    Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người, ở mọi lứa tuổi, chứ đâu phải của riêng ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước, cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ

    “Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc”.

    Một mùa xuân nho nhỏ hay phải chăng cũng là một ẩn dụ cho chính cuộc đời của tác giả: sống là cống hiến, cống hiến chính là mùa xuân của cuộc đời?Mà mùa xuân ấy thì là mãi mái: “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc, khi sức cùng lực kiệt vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời . và, dù Thanh Hải cũng có đi xa thì những lời ca tiếng hát mà ông để lại cho đời mãi mãi vẫn có giá trị, mãi mãi vẫn tô điểm cho đất nước đẹp xinh. Điệp ngữ dù là được tác giả nhác lại hai lần như một lời hứa, một lời khẳng định của nhà thơ: sống là phải cống hiếntuyệt đối.nNhư nhà thơ Tố Hữu đã từng viết :

    “Nếu là con chim, chiếc lá,

    Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

    Lẽ nào vay mà không trả,

    Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”

    Tác giả Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai, Nam Bình mênh mang tha thiết, là lời ngợi ca đất nước, biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương, đất nước, một câu chân tình thắm thiết

    “Mùa xuân ta xin hát

    Câu Nam ai, Nam Bình

    Nước non ngàn dặm tình

    Nước non ngàn dặm mình

    Nhịp phách tiền đất Huế”

    Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự, luôn chứa chan tình cảm, ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những

    điều đúc kết cả cuộc đời của Thanh Hải. Ông đã giải bày, tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng, và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ, cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau, hiểu nhau và giải bày cho nhau.

    Với thể thơ năm chữ, mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết, giàu hình ảnh, nhạc điệu, cất trúc thơ chặt chẽ, ‘’Mùa xuân nho nhỏ’’ mang một nét đặc sắc riêng Nét đặc sắc đó là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”, vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành, thiết tha, bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự, gửi gắm của mình với cuộc đời. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung .Bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta

  • Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Bài làm

    Lúc đầu:

    Trước khi gặp Thị Nở, tối ấy Chí Phèo đã uống rượu ở nhà Tự Lãng, một lão vừa làm nghề thầy cúng, vừa làm nghề hoạn lợn.

    Sau khi gặp Thị Nở:

    • Lúc đầu: Trước khi gặp Thị Nở, tối ấy Chí Phèo đã uống rượu ở nhà Tự Lãng, một lão vừa làm nghề thầy cúng, vừa làm nghề hoạn lợn. Ở đó, chưa bao giờ Chí Phèo được uống thoả thê đến thế… Người ta cư tưởng như cả làng Vũ Đại phải nhịn uống rượu để cho chúng uống. Khi trở về vườn, Chí đã quá say, không đi vào túp lều mà ra thẳng bờ sông đẻ tắm. Trên đường đi hắn gặp Thị Nở đang ngủ hớ hênh dưới trăng. Sự chung đụng ấy hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính bản năng của người đàn ông trong cơn say.

    Sự thức tỉnh:

    Sáng hôm sau, khi đã trải qua 2 biến cố: gặp Thị Nở rồi bị trúng gió được Thị Nở đưa vào lều.

    +Đầu tiên, Chí Phèo tỉnh rượu: Đây có lẽ là lần đầu tiên anh ta tỉnh rượu kể từ lúc ra tù về. Những lần trước, mỗi khi tỉnh rượu, anh lại uống, vì thế say kế tiếp say.

    Còn lần này, Chí Phèo tỉnh rượu với trạng thái khác hẳn: “ Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc; hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tí. Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm”. Đó là điều rất lạ ở Chí.

    +Từ tỉnh rượu, Chí Phèo dần thức dậy ý thức vốn có ở một người bình thường. Lần đầu tiên, nah ta nghe tiếng ríu rít bên ngoài, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng gõ mái đuổi cá của anh thuyền chài. Tất cả những âm thanh ấy là những tiếng quen thuộc hôm nào chả có, nhưng hôm nay Chí Phèo mới nghe thấy, bởi xưa nay anh chưa bao giờ hết say.

    Không những thế, Chí còn biết ngoài cái lều ẩm thấp chỉ có hơi lờ mờ của mình, mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cũng như những người say tỉnh dậy, Chí Phèo thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Nhưng với anh, đây là cảm giác, cảm xúc vừa được đánh thức. Khi Chí Phèo nghe những âm thanh của cuộc sống và biết đuợc trời sớm hay muộn cũng chính là anh đã dần ý thức về cuộc sống. Rồi anh lại nhớ về quá khứ, rằng có một thời, đã ước mơ có một cuộc sống gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Thông thường, người ta nhớ lại thời gian quã vẵng để hiểu hiện tại.Chí cũng vậy: Hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay ch đời! Có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu… Hắn đã tới cái dốc kia của đời.

    Rồi Chí Phèo đã hình dung được tương lai đầy bất trắc: Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao là chất độc, đày đoạ cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa cuối mùa thu cho biết trời gió rét, này mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông trước thấy

    tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc… Càng nghĩ, Chí càng lo, vì cô độc đáng sợ hơn là đói rét và ốm đau. Nếu không có Thị Nở vào, cứ để hắn vẩn vơ, thì đến khóc được mất. Đến đay, không ai nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa. Một người không những giàu cảm giác, cảm xúc, mà còn ý thức có phần sâu sắc về cuộc đời, về bản thân phải là con người bình thường chứ! Với bản thân Chí Phèo, anh đã trở lại hoàn toàn con đường tự ý thức.

    • Khi được chăm sóc: Những ngày kế tiếp, Thị Nở sống chung với Chí Phèo. Anh ta ốm và Thị Nở trở thành người duy nhất chăm sóc. Nhà văn không kể lể nhiều về sự chăm sóc đó mà dừng lại miêu tả thật chi tiết bát cháo hành Thị Nở đã bón cho Chí.

    +Với Thị Nở, việc ấy xuất phát từ sự đáng thương đối với một người đau ốm mà nằm chòng queo một mình, lòng yêu của một người làm ơn và có cả lòng yêu của người chịu ơn.

    +Còn Chí Phèo, anh ta cảm nhận được rất nhiều: Lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì… Đời hắn chưa bao giờ đuợc săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà” …Hắn chưa được người đàn bà nào yêu cả. Còn lần này, bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được… Như vậy, qua bát cháo hành, Chí Phèo cảm nhận được sự chăm sóc yêu thương của người khác dành cho mình và chính anh ta cũng mong ước có niềm yêu thương ấy.

    +Từ cảm nhận về tình yêu của Thị Nở, cảm xúc, cảm giác càng được đánh thức sâu sắc hơn ở Chí Phèo: Hắn thấy mắt hình như ướt ướt…Hắn nhìn bát cháo hành bốc khói mà bâng khuâng… Hắn thấy vừa vui vừa buồn… Hắn thấy lòng thành trẻ con.

    Hắn muốn làm nũng Thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền… Không những thế, ở Chí còn giống một cái gì nữa như ăn năn… hối hận về tội ác khi không đủ sức mà ác nữa. Anh ta băn khoăn tự hỏi rồi tự trả lời, ngẫm nghĩ mà sợ hãi: Hắn đâu còn mạnh nữa. Và có lúc hắn ngẫm mình mà lo. Xưa nay hắn chỉ sống bằng giật cướp và doạ nạt. Nếu không còn sức mà giật cướp, dọa nạt nữa thì sao? Đã đành, hắn chỉ mạnh vì liều. Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có một lúc mà người ta không thể liều được nữa. Bầy giờ mới nguy!

    +Bùng nổ trong tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở là khát vọng lương thiện. Đấy cũng là đỉnh điểm của sự tỉnh thức của Chí Phèo: Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với, vọi nguời biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lạo không thể đựơc. Họ sẽ thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại được ai. Họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện… Chí đã đem cái khát vọng ấy ta thăm dò đặng tìm sự chia sẻ ở Thị Nở. Khi thị cười tin cẩn, Chí Phèo thấy tự nhiên nhẹ cả người và lòng thấy rất vuoi chứng tỏ anh ta đang tràn đầy hy vọng trở lại thế giới con người. Những ngày sau đó, Chí không còn kinh rượu nhưng cố uống thật ít. Để cho khỏ tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo mà yêu nhau. Đàn bà không có men như rượu nhưng cũng làm người say. Và hắn say Thị Lắm. Cả người kể chuyện ẩn hình, vốn rất lạnh lùng, cũng không giấu nổi cảm xúc cảm hình khi hình dung về tương lai của họ: Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi.

    – Bị từ chối quyền làm người lương thiện:

    Những ngày vui của Chí Phèo không kéo dài được bao lâu. Đến hôm thư sáu, thì Thị bỗng nhớ rằng có một ngưòi cô ở đời… Thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để hỏi cô Thị đã.

    +Bà cô Thị Nở quyết liệt phản đối cháu gái lấy thằng Chí Phèo vì ai lại đi lấy thằng Chí Phèo, một thằng không cha, chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Đau đớn cho Chí Phèo, khi anh ta hiền và muốn làm hoà với mọi ngưòi thì chính họ vẫn sợ và vẫn nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ ở làng Vũ Đại! Đến bà cô của Thị Nở, một người năm muơi tuổi vẫn chưa lấy chồng, sống cái đời dằng dặc, uất ức, còn nghĩ về Chí như vậy huống chi ngườ khác. Sự phản đối của bà cô Thị Nở đồng nghĩa với việc đóng chặt con đường trở về với thế giới lương thiện của Chí Phèo. Vì thế, ban đầu còn ngơ ngác, hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu, hắn bỗng nhiên ngẩn người. Chí thấy cần thiết phải trả thù: Hắn phải đến nhà ****** Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nó. Nếu không đâm được, đến lúc ấy hãy đập đầu ra kêu làng. Với Chí, đập đàu hay kêu làng cũng là cách tỏ rõ sức mạnh của mình, một cách trả thù. Nhưng muốn đập đầu phải uống thật say. Không có rượu lấy gì làm cho máu nó chảy! Thế là Chí uống, song lần này càng uống lại càng tỉnh ra và đặc biệt hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Như vậy, đây cũng là lần đầu tiên trong đời, Chí Phèo uống rượu mà ngưòi lại tỉnh, khác với những cơn say dài mênh mông trước đó. Khi trong đầu anh cứ thoang thoảng mùi cháo hành chứng tỏ Chí không sao quên được những ngày ngắn ngủi từng được chăm sóc, vui sống. Bây giờ, tất cả những cái đó đã bị tước đoạt, vì thế Chí quyết phải đi trả thù, đi đòi lại lương thiện.

    Khi nghe Thị Nở kể chuyện, Chí nghĩ ngay đến việc giết bà cô của thị để trả thù. Nhưng sau khi uống rất nhiều rượu, với một con dao ở thắt lưng, miệng lảm nhảm

    • “Tao phải đâm chết nó!”, Chí Phèo cứ thẳng đường mà đi đế nhà Bá Kiến. Anh không hề quên đường, bời bà cô Thị Nở không phải là người cướp đi những gì mà anh vốn có, càng không thể cho anh những gì đã mất. Đây có thể coi là giây phút tỉnh táo nhất khi Chí đi tù về. Tỉnh táo xác định kẻ thù : Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất được những vết mảnh trai trên mặt này? Tỉnh táo trong hành động tự sát vì không được sống lương thiện và không muốn trở lại kíêp sống thú vật như trước : Tao không thể làm người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách…biết không?…

    Chỉ có một cách là …cái này ! Biết không !… Những câu nói đứt quãng vừa thể hiện quyết tâm trả thù, vừa bộc lộ niềm phẫn uất, nỗi bế tắc của Chí Phèo. Cái chét là cách chọn lựa duy nhất để Chí giải quyết bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện. Vì thế, chết mà uất ức, vẫn còn muốn nói to với mọi người khát vọng của mình : …khi người ta đến thì hắn cũng đã giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược, mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra.

  • Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Phân tích truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”

    BÀI LÀM

    Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng.

    Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

    Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt.

    Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, má, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.

    Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và má, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và má được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo.

    Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.

    Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu. Néy đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những

    chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đoócòn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.

    Má của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng má đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vuợt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, má là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.

    Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha má, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, má bị trái cà nông quân thù sát hại.

    Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.

    Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống má, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như má, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.

    Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ má qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước

    vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

    Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động.

    Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn gó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.

    Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện

    sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh

    chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân

    dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi

    theo.

  • VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

    PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO 

    Nhan đề tác phẩm

    – Đầu tiên, Nam Cao đặt nhan đề : Cái lò gạch cũ. Sau đó – năm 1941- NXB tự ý đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi. Năm 1946, khi in lại trong tập Luống cày, Nam Cao đã đặt lại tên là Chí Phèo – Ý nghĩa của nhan đề: Chí Phèo, vẽ nên một con người cụ thể, một số phận cụ thể, cô đơn, cô độc…

    1. Hình tượng nhân vật Chí Phèo

    a, Sự xuất hiện của hình tượng Chí Phèo

    • Mở đầu truyện là một Chí Phèo say rượu và chửi bới:

    + “Hắn vừa đi vừa chửi” 

    + Hắn chửi tất cả : từ trời, đời ,cả làng Vũ Đại , “Chửii cha đứa nào không chửi nhau với hắn” “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”=> đối tượng chửi đã được xác định : xã hội thực dân nửa phong kiến đã sinh ra cái thằng Chí Phèo, đối tượng chửi qua đó cũng thu hẹp dần > chứng tỏ Chí đang rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc.

    • Cái mà Chí nhận được là : “ trời có của riêng nhà nào”,“đời là tất cả nhưng chẳng là ai” , “không ai lên tiếng cả” ,“không ai ra điều” , “nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo”. Đáp lại tiếng chửi ấy trớ trêu thay lại là “ tiếng chó cắn lao xao”.

    • Ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo:

    Chí đã bị đánh bât ra khỏi xã hội loài người, tiếng chửi trở nên vật vã, tuyệt vọng.¦+ Chí chửi tức là Chí muốn giao tiếp với mọi người nhưng tất cả đều im lặng, chỉ có “ba con chó dữ với một thằng say rượu”)

    + Tiếng chửi của Chí là tiếng nói đau thương của một con người ý thức về bi kịch của mình: sống giữa cuộc đời nhưng đã mất quyền làm người. Đó chính là sự đau xót của nhà văn đối với nhân vật của mình.

    b. Sự ra đời và quá trình tha hoá của Chí Phèo.

    Khi mới sinh ra Chí bị bỏ rơi bên cạnh chiếc lò gạch cũ, được dân làng nhặt về nuôi nấng. Tuổi thơ bất hạnh, tủi cực “ hết lang thang đi ở cho nhà người này lại đi ở cho nhà người khác, năm 20 tuổi thì làm canh điền cho nhà Bá Kiến”

    Chí là một nông dân hiền lành, lương thiện:

    + Bà ba sai bóp đùi, hắn: “vừa làm vừa run” “ thấy nhục chứ yêu đương gì”

    + Chí là một con người có lòng tự trọng: khi bị bà ba sai bóp chân, Chí “thấy nhục hơn là thích” trước một việc làm mà Chí cho là “không chính đáng”.

    + Có ước mơ giản dị: “ có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc muốn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”

    • Xã hội thực dân nửa phong kiến không để yên cho con người tội nghiệp ấy được sống với những ước mơ và khát vọng, Bá Kiến ngấm ngầm đẩy Chí vào tù. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão cáo già Bá Kiến biến Chí Phèo từ một người nông dân hiền lành lương thiện thành một kẻ lưu manh, côn đồ khét tiếng . Sau 7, 8 năm tù ra, Chí đã bị cái xã hội ấy vằm nát cả nhân hình lẫn nhân tính, trở thành một kẻ lưu manh, một con quỷ dữ.

    + Nhân hình: Bị xã hội lưu manh vằm nát bộ mặt người.

    •Gương mặt: “cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết” 

    •Trang phục: “mặc quần nái đen với cái áo tây vàng”

    •Thân thể: “cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế”. 

    + Nhân tính: Hành động và lời nói thể hiện tính cách của một kẻ liều lĩnh, hung hăng:

    • “Hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều…Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà Bá Kiến gọi tận tên tục ra mà chửi”. Chí bộc lộ tính lưu manh cùng đường: “đập cái chai vào cột cổng”, lăn lộn dưới đất…cào vào mặt” 

    • Nói với Bá Kiến: “Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi”. Trong câu nói ấy của Chí chất chứa hận thù. Chí vẫn đang còn tỉnh táo để nhận ra kẻ thù của mình. Đó là ý thức hệ của tầng lớp bị thống trị đối với giai cấp thống trị. Thế nhưng trước một Bá Kiến cáo già với châm ngôn sống “ Thứ nhất sợ kẻ anh hùng/ Thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân” “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Từ đây chí sống bằng rượu và máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện: “Hắn đã đập nát biết bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện”. Hắn làm những việc ấy trong lúc say “ ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say… đập đầu, rạch mặt, giết người trong lúc say để rồi say nữa say vô tận”. Chưa bao giờ hắn tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời bởi vì “ những cơn say của hắn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài mênh mang”.’. Chí phèo đã sa vào bẫy của tên cáo già ấymột cách thật dễ dàng. Để rồi sau đó hắn trở thành tay sai của BK, đối lập với nhân dân lao động cần lao. Từ một người nông dân hiền lành lương thiện Chí trở thành thằng lưu manh

    Giữa lúc Chí đang rơi vào ngõ thẳm đêm đen của tội lỗi thì Nam Cao bằng tấm lòng nhân đạo sâu sắc đã xuất hiện đúng lúc. Ông mang đến cho Chí một “thiên sứ” – Thị Nở với hi vọng cữu vãn linh hồn Chí Phèo.

    c. Chí Phèo gặp Thị Nở

    Cuộc gặp gỡ với Thị Nở trong một đêm trăng bên bờ suối đã thức tỉnh phần người của Chí giúp hắn trở về kiếp người. Sự quan tâm, chăm sóc của Thị Nở đã giúp Chí cởi bỏ phần “quỷ” để sống lại làm người, khát khao hoàn lương, làm người lương thiện.

    – Diễn biến tâm lí, tình cảm của Chí Phèo

    + Từ tỉnh rượu đến tỉnh ngộ

    • Tỉnh rượu: lần đầu tiên – từ khi mãn hạn tù – Chí hết say và cảm nhận được thời gian và âm thanh hằng ngày của cuộc sống. Âm thanh cuộc sống đang từng tiếng một gõ nhịp vận hành cùng với sự thức tỉnh của Chí Phèo. * “Ở đây (căn lều) người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng” * “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Tiếng mấy bà đi chợ về, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông” . Những âm thanh này ngày nào mà chẳng có, nhưng đây lại là lần đầu tiên chí mới nhận ra: chao ôi là buồn!

    • Tỉnh ngộ : nhận thức và nhìn lại cuộc đời mình trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai * Qúa khứ :“Hắn nao nao buồn” nhớ về một thời hắn đã từng ước mơ “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn,…” * Hiện tại: “Hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc”, “hắn “đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời”“cơ thể đã hư hỏng nhiều” * Tương lai: đáng buồn và lo sợ vì nghĩ đến nhiều điều bất hạnh: “tuổi già”, “đói rét và ốm đau, và cô độc”. Tỉnh ngộ, Chí muốn khóc… Chí Phèo đang thức tỉnh và bắt đầu hồi sinh về kiếp người.

    + Khát khao hoàn lương và mong ước hạnh phúc

    • Chí ngạc nhiên và xúc động “mắt hình như ươn ướt” khi Thị Nở mang “một nồi cháo hành còn nóng nguyên” vì đây là lần đầu tiên “hắn được một người đàn bà cho”, “đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”. Chí lại nghĩ đến con mụ Bà Ba và lấy làm kinh tởm vì những trò dâm đãng “nó chỉ mong cho thỏa nó chứ yêu đương gì”.

    • Chí “ăn năn”, “thấy lòng thành trẻ con” và “muốn làm nũng với thị như với mẹ” khi được Thị Nở chăm sóc bằng tình cảm thương yêu.

    • Chí trở nên hiền lành đến khó tin: “Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó vẫn là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt đâm chém người?”, “cái bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi” đã trỗi dậy mạnh mẽ, Chí sống đúng với con người thật của mình, giống như anh canh điền hiền lành trước đây.
    • Chí mong muốn trở lại làm người lương thiện: “Trời ơi ! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao !… Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện” 

    • Chí khát khao hạnh phúc và có một mái ấm gia đình: “Gía cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”, “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui.”  giống như lời cầu hôn chất phác, giản dị. Qua miêu tả tâm lí hồi sinh của nhân vật Chí Phèo, Nam Cao cho cho ta thấy được bản tính tốt của con người có ngay trong con người bị tha hoá. Bản tính ấy sẽ trỗi dậy khi có chất xúc tác. Đó là sự thương yêu, quan tâm. Từ đó nhà văn kêu gọi chúng ta cần tin vào con người, tin vào bản chất tốt đẹp của mỗi con người và cần giúp đỡ họ tìm lại những cái tốt đẹp nhất của phần “người” * Bài học nhân sinh: Con người cần phải quan tâm , chia sẻ tình thương giữa người với người. Tình thương có khả năng cảm hoá được con người.¦

    d. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo

    – Nguyên nhân  cả làng Vũ Đại, cả xã hội ko ai đón nhận linh hồn người vừa trở về của Chí. Định kiến của bà cô cũng là định kiến của cả xã hội đương thời. – Chí đau đớn và tuyệt vọng:’: Thị Nở đã cắt đứt với Chí Phèovì bị bà cô cấm đoán

    + Uống rượu cho thật say nhưng “càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi, buồn!”

    “Hắn ôm mặt khóc rưng rức” càng thấm thía nỗi đau khôn cùng của thân phận. – Phẫn uất, Chí xách dao đi, định đến nhà Thị Nở. Trong ý định, Chí định đến nhà đam chết con “khọm già”, con “đĩ nở” nhưng sự thức tỉnh ý thức về thân phận và bi kịch đã đẩy chệch hướng đi của CP dẫn Chí đến thẳng nhà Bá Kiến. Hơn ai hết lúc này Chí hiểu ra rằng: kẻ đã làm cho mình phải mang lốt quỷ, kẻ đã làm mình ra nỗng nỗi khốn cùng này chính là BK.

    + Lòng căm thù đã âm ỉ bấy lâu trong con người của Chí càng thấm thía tội ác kẻ đã cướp đi quyến làm người, cướp đi cả bộ mặt và linh hồn của mình. – Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh, đòi quyền làm người:

    “ Tao muốn làm người lương thiện”

    “ Ai cho tao lương thiện?” Đó là những câu hỏi vút lên đầy cay đắng và không lời giải đáp. Câu hỏi chất chứa nỗi đau của một con người thấm thía được nỗi đau khôn cùng của bi kịch cá nhân.

    • Chí giết Bá Kiến và tự sát. Cái chết của Chí Phèo là bản án tố cáo xã hội thực dân nửa phong , một cuộc sống mà trong đó, con người muốn sống lương thiện cũng không được.

    III. Tổng kết Nghệ thuật:

    – Xây dựng và điển hình hoá nhân vật.

    – Miêu tả , phân tích tâm lí nhân vật.

    – Trần thuật. – Ngôn ngữ sống động, gắn với lời ăn tiếng nói hằng ngày.

    – Giọng điệu phong phú, có sự đan xen lẫn nhau.

    – Cốt truyện hấp dẫn, kịch tính và đầy bất ngờ.

    – Kết cấu truyện độc đáo.

    Thầy Phan Danh Hiếu

    HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH:

    1.a. Chí Phèo là một nông dân lương thiện:

    Dẫn chứng 1: “Lại một thằng hiền lành như đất, tội nghiệp cho hắn, có lần Lí Kiến thấy hắn bóp đùi cho bà ba, vừa run run” (Phân tích để thấy “hắn thấy nhục hơn là thích”).

    Dẫn chứng 2: “Hắn lại nao nao buồn, là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa xôi. Hình như có một thời gian hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua năm ba sào ruộng” (Phân tích để thấy ước mơ hiền lành của Chí Phèo là một ước mơ bình thường, trong sáng của một nông dân chân chất, hiền hòa). Lương thiện, đó là bản chất của Chí Phèo, là chất người của nhân vật.

    b. Chí Phèo bị tha hóa

    Dẫn chứng 1: “Hắn về lần này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết (Phân tích để thấy Chí Phèo đã biến thành “người khác”: một tay anh chị, một kẻ lưu manh)

    Dẫn chứng 2: “Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không phải còn là mặt người; nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật đó có bao giờ biết tuổi? Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm màu tro; nó vằn dọc, vằn ngang, không thứ tự biết bao nhiêu là vết sẹo”. (Phân tích để thấy Chí Phèo đã biến thành một con vật).

    Dân chứng 3: “Hôm nay không có tiền, nhà mày bán chịu cho ông một chai…”. Mụ hàng rượu hơi ngần ngừ. Thế là hắn “rút bao diêm, đánh cái xòe, châm lên mái lều của mụ”. (Phân tích chi tiết này hành động mang tính chất thú vật của Chí Phèo. Từ một nông dân hiền lành như cục đất, Chí Phèo trở về từ nhà tù và trở thành một con quỷ dữ. Chú ý cách so sánh của Nam Cao “Trông đặc như thằng săng đá” tức là đọc trại chữ soldat – có nghĩa là lính. Điều này phải chăng là một ngụ ý của Nam Cao: Chí Phèo là một sản phẩm của nhà tù, của xã hội ấy).

    c. Chí Phèo bừng tỉnh và đòi quyền làm người

    Dẫn chứng 1: Tình yêu cảu Chí Phèo “Hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền...” (Phân tích chi tiết này để thấy chất con người của Chí Phèo. Bởi vì sau bát cháo hành ấy, thoáng một cái, hắn lại như hít hơi cháo hành đó là cái hơi của tình yêu).

    Dẫn chứng 2: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác không thể được“. Và hắn nói: “Giá như cứ thế này mãi thì thích nhỉ?” (Phân tích chi tiết này để thấy nội tâm Chí Phèo đã bừng tỉnh, cái bản chất con người, cái thật của Chí Phèo đã trỗi dậy, đã thôi thúc tình cảm Chí Phèo. Chí Phèo thật sự muốn “thế này” mãi nghĩa là muốn sống như một con người).

    Dẫn chứng 3: Chí Phèo tới nhà và giết bá Kiến rồi tự sát.

    – Phân tích chi tiết Chí Phèo định tới nhà giết bà cô thị Nở, nhưng rồi lại đến nhà bá Kiến (ý thức và vô thức).
    – Phân tích câu nói của Chí Phèo “Tao muốn làm người lương thiện”.
    – Lý giải hành động của Chí Phèo giết bá Kiến với ý nghĩa “Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này?” (Chí Phèo đã xác định được kẻ thù của mình và có một hành động quyết liệt và dữ dội – đây là hành động tích cực so với các tác phẩm hiện thực phê phán đương thời).

    2. Hợp

    Chí Phèo là một nhân vật điển hình xuất sắc của Nam Cao, và của dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945.

    Nam Cao đã xây dựng nhân vật này rất chu đáo (tất cả những Năm Thọ, binh Chức với hàng loạt chi tiết về những tên “du côn” ấy là để chuẩn bị làm nổi bật tính cách của Chí Phèo).

    Kết luận

    Vì vậy, có thể nói Chí Phèo là tất cả tác phẩm.

    Từ cuộc đời của nhân vật ấy, nhà văn đã phản ánh sâu sắc những hiện thực của xã hội, đã tố cáo mạnh mẽ sự vô nhân đạo của xã hội ấy. Và nhất là, qua nhân vật ấy, nhà văn đã lên tiếng bảo vệ cho quyền làm người của con người.

    Theo Trần Phò* .

  • Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Kế hoạch kinh doanh sản phẩm áo Massage Pro – ET


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    BÀI LÀM

    Người đọc bản tuyên ngôn độc lập (cũng là tác giả) cất lời là vào ngay vấn đề, nhằm thẳng mục tiêu; xác định một chân lý, nghĩa là khẳng định một chủ quyền.

    Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Chân lý bao giờ cũng giản dị đối với người sáng suốt, có thiện chí muốn tiếp thu nó. Còn đối với những kẻ có tà tâm bị lợi lộc ích kỷ làm cho mù, cho điếc, không còn muốn thấy sự thật, muốn nghe lẽ phải thì rất khó tiếp thu. Phải giải thích. Tốt nhất là dựa vào những lý lẽ có uy thế từ lâu.

    Đối tượng được nghe trước hết là một triệu đồng bào trong cuộc biểu tình, là hai mươi lăm triệu nhân dân cả nước đang hướng về Thủ đô Cách mạng…Tất nhiên chúng ta hiểu được nước ta là của ta. Ta hiểu từ lâu rồi, từ bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Ta đã khẳng định như thế nhiều lần, “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” hoặc:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác.”
    (Bình Ngô đại cáo)

    Nhưng trong hai mươi lăm triệu tất cũng có người còn ngơ ngác bàng hoàng vì cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi quá nhanh, chưa kịp tĩnh tâm để xóa được ngay những luận điệu xảo trá tung ra liên tục tám chục năm qua. Và, có hiểu rồi, nhắc lại cũng không sao. Có những sự thật nghe hàng nghìn lần vẫn thấy sảng khoái.

    Mặt khác, đối tượng nghe đâu phải chỉ có Việt Nam.

    Còn có “Đồng Minh”, có Mỹ, tên trùm tư bản quốc tế, đã trở thành tên đế quốc đầu sỏ sau đại chiến. Có Pháp đang hí hửng giơ vuốt, nhe nanh. Hồ Chí Minh hôm nay, Nguyễn Ái Quốc hôm qua còn lạ gì bụng dạ chúng. Lấy ngay lời nói của chính các bậc tiền bối của chúng, những lời tuyên bố trịnh trọng trong những hoàn cảnh lịch sử vĩ đại mà chúng không thể biết. Chúng cố tình quên thì nhắc lại. Nhắc lại những lời chí lý của những người Mỹ cách đấy chỉ gần hai trăm năm cũng có hoàn cảnh bị áp bức, bị làm nhục như Việt Nam. Câu nói của tên thủ tướng Anh Uy – Liêm như còn văng vẳng bên tai: “Hễ Mỹ làm ra dù chỉ một sợi len, một miếng sắt móng ngựa là bản chức sẽ cho lính sang đóng đầy xứ ngay lập tức.”

    Mười lăm năm sau bản Tuyên ngôn của Mỹ là bản Tuyên ngôn của Pháp, của những người Pháp không chịu được cái phải cõng trên lưng, đội trên đầu mấy chú quý tộc, mấy anh tăng lữ, không chịu được câu nói hống hách vô nghĩa của mấy tên vua: “Trẫm muốn, ấy là pháp luật”.

    Hồ Chủ Tịch khổng chỉ lấy lại lời nói hay của người xưa mà còn giải thích, bình luận, khái quát, nâng lên một tầm vóc cao hơn, rộng hơn, mới hơn. Từ hạnh phúc cá nhân, người nâng lên vấn đề “quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do” của các dân tộc. Không chỉ một cá nhân có quyền bình đẳng về quyền lợi với một cá nhân khác mà các dân tộc đều sinh ra bình đẳng với nhau về mọi mặt, nghĩa là một dân tộc dù nhỏ bé, dù thuộc chủng tộc da đen, da vàng cũng có quyền bình đẳng với một dân tộc lớn thuộc chủng tộc da trắng của nước tiên tiến nhất Âu, Mĩ. Cuộc tranh đấu ấy cũng là mục tiêu lớn, nội dung lớn của thời đại chúng ta, thời đại mở cửa đầu của Cách mạng tháng Mười, thời đại mà tính chất sẽ được khẳng định trong hội nghị 81 họp năm 1960 tại Ma-xcơ-va. Thực tế cách mạng đã xác định tính thiên tài trong cách nhìn, cách nghĩ của vị lãnh tụ đã từng là đại biểu của các dân tộc thuộc địa và bênh vực họ không biết mệt mỏi trong các hội nghị quốc tế.

    Đoạn văn mở đầu hết sức gọn, súc tích. Hai câu trích bổ sung cho nhau. Một lời bình luận, một câu kết thúc, gói lại thật chặt, thật vững.

    “Thế mà…”

    Chỉ một lớp chuyển tiếp là đủ mở ra hết nội dung của đoạn sau. Nó như một tiếng thở dài uất hận, một lời phê phán nghiêm khắc những kẻ muối mặt, cố tình làm bậy. Và thế là Bản án chế độ thực dân Pháp đã từng được đưa ra trước tòa án lịch sử cách đấy hai mươi năm lại được tóm tắt đưa ra lần nữa trước công luận Việt Nam và thế giới.

    Vẫn là lập trường dân tộc rộng rãi của người viết, vẫn là lòng căm giận quân cướp nước thể hiện bằng những lời lẽ súc tích, đanh thép. Những động từ, tính từ, trạng từ đều hết sức nặng để miêu tả bản chất bọn chúng (thẳng tay chém giết, ràng buộc dư luận, cướp không ruộng đất, hàng trăm thứ thuế vô lý…) Vẫn lòng xót xa đối với đất nước lầm than ở tính trữ tình và câu văn giàu hình ảnh (khiến dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu). Vẫn cái giọng châm biếm, đả kích sắc sảo, trí tuệ (thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại trong năm năm, chúng bán nước ta hai lần cho Nhật).

    Bản tuyên ngôn này chỉ khái quát hai loại tội ác về chính trị và kinh tế, đủ nhắc nhở đồng bào tăng cường cảnh giác và để dùng làm một luận cứ cho lí lẽ của bản Tuyên ngôn: Pháp không có quyền nói đến chuyện “bảo hộ” Việt Nam.

    Hết tội xa đến tội gần.

    Bọn thực dân Pháp cũng như mọi kẻ áp bức, lúc còn quyền hành thì hống hách, hung bạo, lúc thất thế thì đê hèn, mất hết, mất hết liêm sỉ, giẫm lên nhân phẩm để bám lấy chút sống thừa. Quỳ gối đầu hàng Nhật, chúng gây bao nhiêu tội ác. Đối với nhân dân Việt Nam mà chúng vẫn rêu rao được chúng “bảo hộ”, “khai hóa”, chúng quàng thêm một ách lên đầu. Kết quả thảm hại, cụ thể mà lịch sử Việt Nam và nhân loại ghi bằng chữ máu không thể phai mờ với thời gian là hai triệu người đã chết đói “chỉ riêng từ Quảng Trị đến Bắc Kì”.

    Đối với Đồng minh là phe của chúng, chúng phản bội, chúng biến Việt Minh là những người đứng về phe Đồng Minh thành kẻ thù chính, và “thẳng tay khủng bố”.

    Nhiều động từ miêu tả được dùng để vẽ lên hình ảnh thảm bại của chúng: quỳ gối đầu hàng, mở cửa rước Nhật, bỏ chạy…Trong sự việc nêu ở câu cuối của đoạn văn mỗi chữ dùng, mỗi nét phác họa đều có ý nghĩa (thậm chí, nhẫn tâm, giết nốt số đông tù chính trị…).

    Đối lập với cái ti tiện, cái dã man của chúng là lượng hải hà, là những hành động văn minh của nhân dân ta. Cũng chỉ là những hiện tượng lịch sử. Nhưng đặt vào đây nó có tác dụng như một thủ pháp nghệ thuật làm nổi bật lên cái khác nhau về bản chất giữa ta và địch, khẳng định thêm về chất nhân đạo của dân ta. Đối với kẻ tay còn đẫm máu Việt Nam, nhân dân và cách mạng Việt Nam vẫn giúp họ, cứu họ, bảo vệ họ. Ba động từ biểu hiện ba hình thái tương quan với kẻ thù, ba trạng thái cụ thể của lòng nhân đạo Việt Nam. Giúp là đối với kẻ còn chủ động, muốn vượt biên giới tránh cái họa của chủ nghĩa phát xít Nhật. Ta thêm cho họ một cái đẩy tay giúp họ vượt được ranh giới giữa mong muốn và hiện thực. Cứu là đối với những kẻ bất lực, trong một tình thế nguy nan tuyệt vọng, những kẻ bị giam trong nhà tù Nhật, chỉ chờ ngày tận số…Ta phá cũi sổ lồng, cứu những con mồi của thần chết. Bảo vệ là đối với những con người đang còn bị đe dọa. Ta cứu họ rồi lại còn tiếp tục bảo vệ, không chỉ tính mạng mà còn cả tài sản nữa. Cái chu đáo của lòng nhân đạo Việt Nam là như thế.

    Vậy thì giữa những người Việt Nam như thế và những người Pháp như trên, ai bảo hộ ai? Và người Pháp có quyền gì đối với Việt Nam nữa không?

    Việc tính sổ trên đã có thể giải đáp rõ ràng.

    Thêm vào đó là một sự thực rành rành: từ tháng 9 – 1940 khi Nhật tràn qua Lạng Sơn vào Việt Nam, Pháp đã đầu hàng Nhật, đã bán chủ quyền nước ta cho Nhật. Về mặt pháp lý, một vật đã bán cho người khác tất thuộc quyền sở hữu của người đó. Và ta đã lấy lại vật ta đã mất từ tay Nhật. Như thế là về mọi mặt, dứt khoát Pháp không còn quan hệ gì với Việt Nam nữa. Bản tuyên ngôn có thể dõng dạc tuyên bố “thoát li hẳn quan hệ với Pháp”.

    Những từ, những ý lập lại (Sự thật là mùa thu…Sự thật là dân ta…) những ý phủ định thèm vào song song tạ các vế để nhấn mạnh (của Nhật, chứ không phải của Pháp) như chồng chất thêm những tầng lớp cản, ngăn cách dứt khoát mọi thứ bắt mối ảo tưởng về chủ quyền của người Pháp trên đất Việt Nam. Những trạng từ dùng trong quan hệ với Pháp: thoát li hẳn, xóa bỏ hết, xóa bỏ tất cả, như những nhát gươm sắc chém ngọt vào sợi dây dợ còn dính díu.

    Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không phải là một sự thật ngẫu nhiên. Đó là bước phát triển của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam vĩ đại. Chủ nghĩa anh hùng đó đã “đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ” bằng vô vàn những cuộc khởi nghĩa quật đổ những ngai vàng mà cuối cùng là của vương triều nhà Nguyễn mục nát. Bảo Đại buộc phải thoái vị để làm một người nông dân.

    Chủ nghĩa anh hùng đó đã “đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay “bằng gươm súng, bằng máu xương của những Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và của những chiến sỹ vô sản bất khuất kiên cường.

    “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Một câu trong những câu hiếm của văn chương, cô đúc bao sự kiện lịch sử.

    Cảnh về chiều của các tầng lớp thống trị thật buồn, mà những động tác gợi ra ở những điên viên lịch sử trên sân khấu Việt Nam thì thật ngoạn mục. Một kẻ chạy thục mạng đâm đầu xuống hố diệt vong. Một kẻ giơ tay nhận lấy phận đầu hàng. Một kẻ tụt từ trên ngai xuống, hai tay run rẩy nộp ấn, kiếm.

    Động từ từ nhanh đến chậm. Nhịp câu văn từ nhanh, chậm lại, rồi ngừng như một chuyến tàu vét lịch sử lao từ xa tới, chậm lại để ngừng vĩnh viễn.

    Ách thực dân, họa phát xít, tệ quân quyền, những rác rưởi ấy bị quét sạch, dọn chỗ đón một quốc gia mới, một chế độ mới. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời.

    Những lẽ phải không ai chống cãi được, những lẽ phải mà Đồng minh đã công nhận trong các văn kiện còn chưa ráo mực ở hội nghị quốc tế Tê-hê-ran và Cự Kim Sơn, những hành động gan góc mấy năm qua cũng nhằm mục tiêu như Đồng minh: tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, củng cố cái quyền tồn tại của nước Việt Nam mới.

    Nhưng trên hết và cơ bản nhất là quyết tâm vững như bàn thạch của cả một dân tộc có bốn nghìn năm bất khuất nói lên qua tiếng nói của vị Chủ tịch đâu tiên của mình: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập”.

    Ba đoạn cuối của bản tuyên ngôn độc lập là những đoạn văn thép: chất thép của ý chí Hồ Chí Minh, của ý chí Việt Nam.

    Chất thép trong lập luận buộc Đồng minh phải công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam, lấy lời của họ để ràng buộc họ. “Chúng tôi tin rằng…”. Tin có ý nghĩa tu từ. Mềm đấy, mà rắn đấy. Tin là tỏ vẻ tôn trọng họ, giá định phẩm chất tốt đẹp của họ. Đó là cách buộc họ phải tự trọng, nghĩa là buộc họ không được có sự bất nhất giữa lời nói và việc làm, “Không thể khong công nhận” quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. “Không thể không” hai phủ định nghe vẫn chắc chắn hơn một khẳng định.

    Chất thép trong câu tiếp ở cái kết luận tất yếu của một thứ tam đoạn luận độc đáo vì có một vế ẩn mà lại rất rõ. Một dân tộc không chịu khuất phục, đã liên tục chiến đấu chống mọi ách nô lệ Pháp cũng như Nhật, dân tộc đó phải được độc lập. Phe Đồng minh gồm toàn những nước tự do. Một nước đứng về phe Đồng minh, cùng lí tưởng, cùng chiến đấu. Nước đó phải được tự do. Dân tộc đó là dân tộc Việt Nam. Vậy dân tộc Việt Nam phải được độc lập, nước Việt Nam phải được tự do.

    Dân tộc, tự do, độc lập. Những từ thiêng liêng đó trở lại cùng với những tính từ gan góc, những trạng ngữ: 80 năm nay, mấy năm nay, những khẳng định: phải được nhưng hùng dũng gõ nhịp trong một điệp khúc của một bài hùng ca đòi quyền sống.

    Chất thép trong đoạn cuối cùng là ở tính chất trịnh trọng của bản tuyên bố về một sự thực, về quyết tâm bảo vệ bằng bất cứ giá nào sự thực đó. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập…Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Mỗi từ, mỗi từ đều có sức nặng và sau đó những lời thề thiêng liêng thét lên từ cửa miệng của một triệu người, trên cái âm vang của làn sóng bốn nghìn năm bất khuất càng thêm vững chắc. Bản tuyên ngôn kết thúc dứt khoát ngoan cường như một lời thách thức. Những kẻ thù của Việt nam mù quáng vì lòng tham, không đủ khôn ngoan sáng suốt lần lượt lao đầu vào chất thép Việt Nam và sẽ nghiệm thấy thấm thía cái ghê gớm trong lời cảnh báo của một Hồ Chí Minh, cảu một Việt Nam dân chủ cộng hòa.

    (Lược trích GV Nguyễn Trác)

    Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập

    1. MB :

      HCM ( 1890-1969) không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại , anh hùng cứu quốc mà còn là một nhà văn lớn của dân tộc .Người đã để lại một di sản văn học với khối lượng đồ sộ , trong đó tác phẩm chính luận “ Tuyên ngôn độc lập” được coi là áng văn bất hủ , kết tinh những tư tưởng , tài năng , tâm hồnHCM.Tác phẩm là một văn kiện chính trị , có giá trị lịch sử lớn lao , có giá trị pháp lý , giá trị tư tưởng , giá trị nghệ thuật và giàu giá trị nhân văn , đã trang trọng tuyên bố về nền độc lập của dân tộc Việt Nam trước nhân dân trong nước và thế giới .

      II.TB : 

      1. Phân tích hoàn cảnh , đối tượng , mục đích bố cục của TN 

      TNĐL được đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9 năm 1945 . Khi đó , ở miền Nam nước ta , thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh thay mặt đồng minh vào giải giáp quân Nhật đang tiến vào Đông Dương . Miền Bắc , bon tàu tưởng , tay sai của đế quốc Mĩ đã trực sẵn ở bien giới . Trong nước , bọn phản động tìm cách ngóc đầu dậy hòng lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ . Cục diện thế giới có thể khiến Anh-Mĩ nhân nhượng cho Pháp trở lại Đông Dương. Hội nghị các nước thắng trận trong chiến tranh TG II họp tại Tê hê răng và San Phran- xít- cô kết luận: các nước thắng trận được trở lại cai trị các thuộc địa cũ ; các nước là thuộc địa của phe phát xít thì được trao quyền tự trị . Pháp thì đang tung dư luận quốc tế rằng ĐD vốn là thuộc địa của Pháp , Pháp đã có công khai hoá , bảo hộ , nay trở lại là lẽ đương nhiên .

      Trước hoàn cảnh lịch sử đặc biệt như vậy , bản TN của Bác có mục đích rõ ràng là tuyên bố nền ĐL TD của dân tộc VN , tuyên bố chấm dứt xoá bỏ mọi quan hệ thuộc địa với td Pháp , tuyên bố sự sụp đổ của chế độ phong kiến , tuyên bố sự ra đời của một chế độ mới , chế độ DC CH và đập tan mọi luận điệu xảo trá của TD Pháp . Đối tượng bản TN hướng đến không chỉ là toàn thể nhân dân VN mà còn là toàn thế giới , đặc biệt là nhằm vào những thế lực đang nhăm nhe cướp nước ta , can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta .Bản TNĐL có bố cục , kết cấu vô cùng chặt chẽ , mạch lạc , rõ ràng , cân đối . Phần đầu tác phẩm , Bác nêu cơ sở pháp lý , chính nghĩa cho lời tuyên ngôn . Phần hai , Bác trình bày cơ sở thực tiễn bằng cách tố cáo , vạch trần tội ác của thực dân Pháp và khẳng định sự xứng đáng hưởng độc lập của dân tộc Việt Nam . Phần ba là lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc ta .

      2. Phân tích phần mở đầu .

      Mở đầu bản TN , Bác đã khéo léo và kiên quyết trích dẫn hai bản TN nổi tiếng của CM Mĩ 1776 và CM Pháp 1791 làm tiền đề , cơ sở pháp lý , chính nghĩa cho lời TNĐL của CM VN . Đó là : “ Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng .Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy , có quyền được sống , quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” ; và “ Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn dược tự do và bình đẳng về quyền lợi” .Bác còn khẳng định mạnh mẽ “ Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” . Thật vậy , những lời trích dẫn trên là những lẽ phải , là nguyên lí phổ quát , là chân lí được cả thế giới công nhận ,là thành tựu lớn của tư tưởng nhân loại , là lí tưởng theo đuổi hết sức cao đẹp của nhiều dân tộc . Bác trích dẫn những lời trên một mặt thể hiện sự đề cao tư tưởng nhân đạo , văn minh nhân loại , tỏ sự tôn trọng với những thành quả của hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Mĩ và cuộc cách mạng tư sản Pháp . Mặt khác , Bác đã rất khôn khéo , kiên quyết vận dụng chính những lời của tổ tiên người Mĩ , người Pháp-những thế lực đang lăm le tiến vào Đông Dương- để khoá miệng những luận điệu bịp bợm , để nhắc nhở con cháu họ đừng phản bội cha ông mà xâm lược , can thiệp vào nước ta . Đây chính là chiêu “ gậy ông đập lưng ông” sắc sảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh . Đồng thời , khi trích dẫn lời hai bản tuyên ngôn , Hồ Chí Minh đã đặt ba bản TN ngang hàng nhau , ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau , ba nền độc lập ngang hàng nhau , đưa dân tộc ta bước lên vũ đài chính trị thế giới và ngầm thể hiện niềm tự hào ,tự tôn dân tộc .

      Không chỉ trích dẫn nguyên văn lời hai bản TN nổi tiếng thế giới mà Bác còn mở rộng vấn đề : “ Suy rộng ra , câu ấy có nghĩa là : tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng , dân tộc nào cũng có quyền sống , quyền sung sướng và quyền tự do”. Lời suy rộng này đã nâng quyền con người lên thành quyền dân tộc, chính là một sáng tạo to lớn về tư tưởng , tạo tiền đề cơ sở vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới . Qua đó ta thấy được khát vọng độc lập cháy bỏng và tầm tư tưởng lớn lao của Bác. Như vậy , với lời lẽ sắc bén , đanh thép , Hồ Chí Minh đã đã xác lập cớ sở pháp lý chính nghĩa cho bản TN , nêu cao chính nghĩa và đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập dân tộc .

      3.Phân tích cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn .

      Tiếp theo , Bác đã trình bày những cơ sở thực tiễn của lời tuyên ngôn độc lập . Bác đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ nước ta : chúng đã lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng bác ái để cướp nước ta , áp bức đồng bào ta , trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa . Bác đã đưa những chứng cứ cụ thể không thể chối cãi về tội ác của thực dân Pháp .Về chính trị , chúng không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào , dùng chính sách chia để trị hòng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc ta , chúng khủng bố dã man phong trào cách mạng, chúng thẳng tay chém giết những người Việt Nam yêu nước , chúng “ tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.Về văn hoá , chúng thi hành chính sách ngu dân , lập nhiều nhà tù hơn trường học , đầu độc , làm suy nhược giống nòi ta . Về kinh tế , chúng bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ , đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý , không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên …Những tội ác đó dẫn đến hậu quả xã hội là dân ta trở nên bần cùng , cực khổ , nghèo nàn và hơn hai triệu đồng bào ta đã bị chết đói cuối năm 1944 đầu năm 1945. Đây đều là những chứng cớ có thực không thể chối cãi , đã lật tẩy luận điệu “khai hoá , bác ái , bình đẳng” của thực dân Pháp .Trong năm năm từ 1940-1945 , Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật , đã phản bội lại đồng minh , không đáp ứng liên minh cùng Việt Minh để chống Nhật .Tư thế của chúng vô cùng nhục nhã hèn hạ là “quỳ gối đầu hàng”.Không những vậy chúng còn nhẫn tâm, dã man , trên đường rút chạy còn giết nốt số tù chính trị ở Yên Bái , Cao Bằng . Bác đã bóc trần luận điệu “bảo hộ” của thực dân Pháp . Đoạn văn có giá trị của bản cáo trạng đanh thép với lời lẽ sục sôi , căn hờn , phẫn nộ , là lời khai tử dứt khoát cho cái sứ mệnh bịp bợm của thực dân Pháp đối với nước ta ngót gần thế kỉ .

      Trái ngược với thực dân Pháp , nhân dân Việt Nam , dân tộc Việt Nam hoàn toàn xứng đáng hưởng tự do độc lập .Bản tuyên ngôn đã hùng hồn khẳng định dân tộc Việt Nam đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp trên 80 năm , nghĩa là đã làm công việc tương tự nhiệm vụ của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Mĩ 1776 ; đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm , góp phần vào công cuộc bảo vệ nền hoà bình thế giới chống lại những thế lực phản văn minh , phản nhân đạo ; đã lật đổ được chế độ phong kiến mấy mươi thế kỉ lập nên chế độ mới dân chủ cộng hoà , nghĩa là đã làm nhiệm vụ giống với cuộc cách mạng tư sản Pháp 1791.Đồng thời , nhân dân ta lại vô cùng khoan hồng độ lượng , giúp đỡ nhiều binh lính Pháp ra khỏi nhà giam Nhật , bảo vệ tính mạng , tài sản cho họ , giúp họ chạy thoát qua biên thuỳ . Tư thế của dân tộc Việt Nam vô cùng cao đẹp , anh hùng , dũng cảm . Hơn nữa , bản Tuyên ngôn cũng dõng dạc khẳng định dân tộc ta giành độc lập từ tay Nhật cứ không phải từ tay Pháp . Nước ta đã bị Pháp bán cho Nhật , nước ta là thuộc địa của Nhật chứ không phải của Pháp , vì vậy , sau chiến tranh thế giới II, đương nhiên nước ta phải được trao quyền độc lập theo quyết định của các nước đồng minh thắng trận họp tại Cựu Kim Sơn và Tê-hê-răng. Bác đã nêu cơ sở trên bằng phương pháp biện luận chặt chẽ , lôgíc, từ ngữ sắc sảo . Đoạn văn có nhiều cấu trúc câu đặc biệt , nhịp điệu dồn dập , điệp ngữ “ sự thật” được nhắc lại như chân lý không chối cãi được ; lời văn biền ngẫu rất nhịp nhàng , hùng hồn .

      Từ những cơ sở thực tiễn trên , bản Tuyên ngôn đã phủ định chế độ thuộc địa thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập , tự do của dân tộc Việt Nam . Bác đã phủ định dứt khoát , triệt để mọi đặc quyền đặc lợi của thực dân Pháp đối với đất nước Việt Nam bằng những cụm từ có tính tuyệt đối “ thoát li hẳn” , “ xoá bỏ hết” , “xoá bỏ tất cả” . Lời khẳng định quyền độc lập dân tộc thì rất mạnh mẽ , tuyệt đối với hệ thống câu móc xích “ Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay , một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay , dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !”. Đây là những lời kết luận hợp lý , có cơ sở chắc chắn , đáp ứng lòng mong mỏi của dân tộc Việt Nam . Từ đó bản tuyên ngôn kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết chống thực dân Pháp ; kêu gọi thế giới công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam .

      4.Phân tích lời tuyên ngôn.

      Lời tuyên ngôn tuyên bố độc lập cuối tác phẩm rất dứt khoát triệt để : “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập .Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng , tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do , độc lập ấy”. Lời tuyên bố thể hiện lí lẽ đanh thép vững vàng của Hồ Chủ Tịch về quyền độc lập tự do trên cơ sở lí luận pháp lý , thực tế và bằng ý chí mãnh liệt của dân tộc .

      III.KB

      – Như vậy , với tư duy sâu sắc , lập luận chặt chẽ , ngôn ngữ chính xác , dẫn chứng cụ thể , đầy sức thuyết phục , bản Tuyên ngôn độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta , đánh dấu kỉ nguyên độc lập , tự do của nước Việt Nam mới .Tác phẩm là áng văn chính luận mẫu mực , bộc lộ tình cảm yêu nước thương dân , khát vọng độc lập tự do cháy bỏng của tác giả và toàn dân tộc .TNĐL là áng văn bất hủ của nền văn học dân tộc .

      (Sưu tầm) .

    TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH 
    NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

    Như đã nói, Bác Hồ có một quan điểm sáng tác hết sức nhất quán: trước hết Người xác định đối tượng viết (viết cho ai?) và mục đích viết (viết để làm gì?). Từ đó mới quyết định nội dung (viết cái gì?) và hình thức (viết thế nào?) của tác phẩm.

    Nhưng nắm được quan điểm sáng tác của Người chưa đủ, còn cần phải hiểu đặc điểm về mặt thể loại của mỗi tác phẩm của Người nữa. Văn chính luận hay văn thẩm mĩ, thơ tuyên truyền hay thơ nghệ thuật, không phân biệt được điều đó, sự đánh giá không tránh khỏi hồ đồ. Ngoài ra còn phải biết được phong cách viết của Bác nữa. Nét nổi bật của phong cách văn xuôi Bác Hồ là giản dị, trong sáng, ngắn gọn, súc tích.

    Chúng ta hãy vận dụng những hiểu biết nói trên vào việc phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận. Văn chính luận thuyết phục người khác bằng những lí lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh địch bằng những lí lẽ. Lợi khí của nó là những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không ai chối cãi được. Văn chính luận nếu có dùng đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lí lẽ mà thôi. Chúng ta sẽ nói đến cái hay, cái tài của Tuyên ngôn Độc lập theo quan niệm đó.

    Bản Tuyên ngôn Độc lập viết cho ai? Câu hỏi đặt ra có vẻ như thừa, bởi vì lời giải đáp đã có sẵn trong văn bản:

    “Hỡi đồng bào cả nước,”.
    “…, chúng tôi, (…), trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng…”.
    Như vậy Bác Hồ viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới chứ còn cho ai nữa!
    Còn viết để làm gì? Thì viết để “Tuyên ngôn Độc lập” chứ còn mục đích nào khác!

    Thực ra vấn đề không hẳn chỉ có thế. Nếu chỉ viết cho đồng bào và thế giới chung chung thì chắc Người không dùng đến lắm lí lẽ như vậy, và chưa hẳn đã cần phải mở đầu bằng những câu trích trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Mĩ, Pháp từ thế kỉ XVIII.

    Vậy đối tượng và mục đích của văn kiện lịch sử này phải được tìm hiểu cặn kẽ hơn nữa. Cần thấy rằng khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn thì ở phía Nam, thực dân Pháp núp sau lưng quân đội Anh (thay mặt Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương, còn ở phía Bắc thì bọn Tàu Tưởng, tay sai của đế quốc Mĩ, đã chực sẵn ở biên giới. Người viết Tuyên ngôn cũng thừa hiểu rằng “mâu thuẫn giữa Anh – Pháp – Mĩ và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương”. Và tên thực dân này, để chuẩn bị cho cuộc xâm lược thứ hai của mình, đã tung ra trong dư luận quốc tế những lí lẽ “hùng hồn” của bọn ăn cướp: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp có công khai hoá đất nước này, nay trở lại là lẽ đương nhiên, khi phát xít Nhật đã bị Đồng minh đánh bại.

    Như vậy là bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ đọc trước đồng bào và một thế giới trừu tượng, cũng không phải chỉ để tuyên bố độc lập một cách đơn giản. Đối tượng “thế giới” ở đây, trước hết là bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp và sự khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc ở đây đồng thời còn là một cuộc tranh luận nhằm bác bỏ lí lẽ của bọn xâm lược trước dư luận thế giới.

    Trong tranh luận, để bác bỏ luận điệu của một đối thủ nào đấy, không gì thú vị và đích đáng hơn là dùng chính lí lẽ của đối thủ ấy. Người ta gọi cách làm đó là “lấy gậy ông đập lưng ông”.

    Bác Hồ đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi trong hai bản Tuyên ngôn độc lập, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hoá của những dân tộc ấy. Cách nói, cách viết như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết. Khéo léo, vì tỏ ra rất tôn trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ. Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng phản bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam.

    Ngoài ra, mở đầu Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn như thế, thì cũng có nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau. Một cách kín đáo hơn, bản Tuyên ngôn của Hồ Chí Minh dường như muốn gợi lại niềm tự hào của tác giả bài Bình Ngô đại cáo ngày xưa khi mở đầu tác phẩm bằng hai vế cân xứng như để đặt ngang hàng Triệu, Đinh, Lí, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Bắc quốc.

    Mà đăng đối, cân xứng cũng là phải, vì cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thực ra đã giải quyết đúng những nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mĩ (1776) và của Pháp (1789). Bản Tuyên ngôn đã nêu rõ: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”. Đó cũng là yêu cầu đặt ra cho cuộc cách mạng nước Mĩ: đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa Bắc Mĩ ra khỏi ách thực dân Anh. Bản Tuyên ngôn cũng biết: “Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”. Đấy cũng là tinh thần cơ bản của cuộc Cách mạng Nhân quyền, Dân quyền của Pháp thế kỉ XVIII.

    Nhưng để đối thoại với bọn đế quốc xâm lược lúc bấy giờ, vấn đề hàng đầu đặt ra là độc lập dân tộc. Điều đó giải thích vì sao bản Tuyên ngôn Độc lập đã mở đầu như thế:

    “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

    Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

    Ý kiến “suy rộng ra” ấy quả là một đóng góp đầy ý nghĩa của Bác Hồ đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Một nhà văn hoá nước ngoài đã viết: “Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”. Vậy có thể xem cái luận điểm “suy rộng ra” kia là phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX?

    Nhưng kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đe doạ nền độc lập của dân tộc khi bản Tuyên ngôn ra đời là bọn xâm lược Pháp. Đẩy lùi nguy cơ ấy sẽ phải là cuộc chiến đấu vũ trang lâu dài của toàn dân. Nhưng cuộc chiến đấu ấy rất cần đến sự đồng tình và ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Muốn vậy, phải xác lập cơ sở pháp lí của cuộc kháng chiến, phải nêu cao chính nghĩa của ta và đập tan những luận điệu xảo trá của bọn thực dân muốn “hợp pháp hóa” cuộc xâm lược của chúng trước dư luận quốc tế.

    Bản Tuyên ngôn đã giải quyết được yêu cầu ấy bằng một hệ thống lập luận hết sức chặt chẽ và đanh thép.
    Thực dân Pháp muốn khoe khoang công lao khai hóa của chúng đối với Đông Dương ư? Thì bản Tuyên ngôn đã vạch trần những hành động “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” của chúng trong 80 năm thống trị nước ta: thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, chia rẽ ba kì, tắm máu các phong trào yêu nước và cách mạng, thi hành chính sách ngu dân; đầu độc bằng thuốc phiện, rượu cần, bóc lột, vơ vét đến tận xương tủy, cuối cùng, gây ra nạn đói khiến “từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”.

    Thực dân Pháp muốn kể công “bảo hộ” Đông Dương ư? Thì bản Tuyên ngôn chỉ rõ đó không phải là công mà là tội, vì “trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

    Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của chúng và chúng có quyền trở lại Đông Dương ư? Nhưng Đông Dương có còn là thuộc địa của Pháp nữa đâu! Bản Tuyên ngôn vạch rõ: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
    Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Luận điểm này, đứng về ý nghĩa pháp lí, cực kì quan trọng. Nó sẽ dẫn tới lời tuyên bố tiếp theo của bản Tuyên ngôn:

    “Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu của toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Sức mạnh của chính nghĩa bao giờ cũng đồng thời là sức mạnh của sự thật. Và không có lí lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn là lí lẽ của sự thật. Vì thế, Người viết Tuyên ngôn luôn luôn láy đi láy lại hai chữ “sự thật”: “sự thật là…”, “sự thật là…”. Và cuối cùng thì “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập…”. Đấy là những điệp khúc nối tiếp nhau tăng thêm âm hưởng hùng biện của Tuyên ngôn. Đấy là hệ thống lí lẽ bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc thực dân.

    Còn đối với dân tộc Việt Nam? Dân tộc ta có xứng đáng được hưởng độc lập, tự do hay không, có đủ tư cách làm chủ đất nước mình hay không? Bản Tuyên ngôn đã đưa ra những lí lẽ để khẳng định.

    Nếu thực dân Pháp có tội phản bội Đồng minh, hai lần bán rẻ Đông Dương cho Nhật, thì dân tộc Việt Nam đại diện là Việt Minh, đã đứng lên chống Nhật cứu nước và cuối cùng giành được chủ quyền từ tay phát xít Nhật. Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn, tàn bạo và phản động của chúng ở hành động “thẳng tay khủng bố Việt Minh”, “Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”, thì nhân dân ta vẫn giữ thái độ khoan hồng và nhân đạo ngay đối với kẻ thủ đã thất thế: “Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ”.

    Một dân tộc phải chịu biết bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo, đã anh dũng chiến đấu cho độc lập, tự do, đã đứng hẳn về phe Đồng minh chống phát xít, đã nêu cao tinh thần nhân đạo, bác ái như thế, “dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”.

    Tinh thần khẳng định, trong lời kết luận, còn được tăng cấp lên một bậc nữa: hưởng độc lập tự do không phải chỉ là một cái quyền phải có, không phải chỉ là một tư cách cần có, mà đó đã là một hiện thực: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Và vì thế “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

    Người ta gọi bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là “thiên cổ hùng văn”. Cũng có thể nói như thế về bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất nhiên bản Tuyên ngôn không ra đời trong thời kì văn học còn nguyên hợp, văn sử bất phân nữa, để tác giả đưa vào bài chính luận của mình những hình tượng hào hùng, tầng tầng lớp lớp như bài Cáo của người xưa. Ngày nay văn chính luận là văn chính luận. Tài nghệ của người viết ở đây là dàn dựng được một lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được. Và đằng sau những lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hoá lớn, đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết, kinh nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc và của nhân loại. Chính Bác Hồ tự đánh giá đây là một thành công thứ ba khiến Người cảm “thấy sung sướng” trong cả cuộc đời viết văn, làm báo dày kinh nghiệm của mình.

    In trong Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12, Nxb GD, 2003.

     

  • KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Nghị luận xã Hội lớp 12 Tương lai của tôi


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    A/Điểm chung

    I/Loại:

    Cả 3 dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học đều thuộc loại bài nghị luận xã hội.

    II/Thao tác:

    Các dạng bài NLXH đều vận dụng chung các thao tác lập luận là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Ba thao tác cơ bản nhất là giải thích, chứng minh, bình luận.

    1/Giải thích

    a/Mục đích: Hiểu

    b/Các bước:

    -Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề. Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là một câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng do người ra đề đề xuất, người viết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ ngữ. Nếu vấn đề là một hiện tượng đời sống, người viết cần cho biết đó là hiện tượng gì, hiện tượng đó biểu hiện ra sao, dưới các hình thức nào (miêu tả, nhận diện)…

    Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết.

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi LÀ GÌ.

    -Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu có vấn đề đó). Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù của thao tác giải thích. Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng.

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi TẠI SAO.

    -Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn cuộc sống như thế nào. Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như thế nào.

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi NHƯ THẾ NÀO.

    **Lưu ý:

    -Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn. Mục đích đặt câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn. Cũng có thể không cần đặt trực tiếp ba câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận điểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó. -Tuỳ

    theo thực tế của đề và thực tế bài làm, bước NHƯ THẾ NÀO có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt buộc.

    2/Chứng minh

    a/Mục đích: Tin

    b/Các bước:

    -Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.

    -Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.

    3/Bình luận

    a/Mục đích: Đồng tình

    b/Các bước:

    • Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
    • Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai). Làm tốt phần này chính là đã bước đầu đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
    • Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn.
    • Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại.

    B/Nét riêng

     

    I.Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

     

    1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

    2.Đề tài:

    Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…).

    Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lư cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ…).

    Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…).

    Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

    -Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (hiểu vấn đề cần nghị luận là gì).

    -Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luậ

    -Nêu ý nghĩa của vấn đề (bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí).

    4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:

    • Tình thương là hạnh phúc của con người.
    • “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”
    • kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy n học tập của bản thân?
    • Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học đ chung sống, học để tự khẳng định mình”.
    • Suy nghĩ của em về triết lí sau: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học cách làm c
    • Trả lời câu hỏi điều tra của nhà bác học Hantơn, nhà bác học Đacuyn nói về kinh nghiệm

    sau: “Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có giá trị một chút, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học.”

    Bình luận câu nói trên. Anh, chị có suy nghĩ gì về con đường học tập sắp tới của mình?

    • “Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của nguời bạn, người hoặc của bất cứ một đồng bào nào mà em gặp, nếu đứa trẻ không biết đọc trong mắt người khác đ tim người đó thì đứa trẻ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính.”

    Em hãy bày tỏ ý kiến của mình về nhận định trên của nhà sư phạm Xukhômlinxki.

    • Bình luận danh ngôn: “Tiền mua được tất cả, trừ hạnh phúc.”
    • Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng cả nước nhân dịp Tết 1946, Bác Hồ viết:

    “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã Hãy giải thích và nêu suy nghĩ của em về lời dạy của Bác.

    • Giải thích câu nói của Gorki: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.”
    • Đồng chí Lê Duẩn có nói: “Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái.”
    • Nhà thơ Pháp La Phôngten (La Fontaine) có nói :
    • Tính ích kỉ là thuốc độc giết chết tình bạn. » Hãy bình luận câu nói trên.
    • Suy nghĩ của em về câu danh ngôn: “Một người bạn chân thành là một người bạn tốt”.
    • Một nhà giáo dục đã nêu một quan niệm như sau:

    Con đường từ nhà đến trường của mỗi người học sinh tuy khác nhau nhưng nơi đến ở cu giống nhau: ở đó, có một ngôi trường đầy tình thân và sự san sẻ.

    Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó.

    -Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi

    Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

    • Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói:

    “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” (

    • Phải chăng, “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi.”?
    • “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên đ hướng thì không có cuộc sống.” (Lép Tôn-xtôi)

    Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng c

    • Phải chăng “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát l hồn tàn lụi ngay khi còn sống.”? (Noóc-man Ku-sin, theo “Những vòng tay âu yếm – NXB Trẻ, 200
    • Tiền tài và hạnh phúc.
    • “Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ.”

    Anh, chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó?

    II/Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống

    1/Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

    2.Đề tài: Những hiện tượng tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm.

    -Chấp hành luật giao thông ở nông thôn.

    -Hiến máu nhân đạo

    -Nạn bạo hành trong giao đình

    -Phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi

    -Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn

    -Cuộc đấu tranh chống nạn phá rừng

    -Những tấm gương người tốt việc tốt

    -Nhiều bạn trẻ quên nói lời xin lỗi khi mắc lỗi

    -Nhiều bạn trẻ quên nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ

    -…

    **Lưu ý:

    Nên quy thành từng cụm đề tài nhỏ như dạng bài NLVMTT, ĐL để dễ nhận diện:

    Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…).

    Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lư cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ…).

    Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…).

    Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

    -Nêu rõ hiện tượng.

    -Nêu nguyên nhân. Phân tích các mặt đúng-sai, lợi-hại.

    -Bày tỏ thái độ, ý kiến về hiện tượng xã hội đó.

     

    4.Một số đề tham khảo:

     

    • Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang t thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươ đẹp.

    Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.

    • Về hiện tượng ngày càng có nhiều người rời bỏ quê hương để đổ xô về các thành phố lớn.
    • Về hiện tượng nhiều người trong lớp trẻ hôm nay lạnh nhạt với âm nhạc truyền thống.

    -…

    III/Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

    1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

    2.Đề tài:

    Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học, *Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học.

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

    a/Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện).

    b/Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện).

    4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:

     

    -Từ đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ, nghĩ

    về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người.

    -Đọc văn bản “Hoa hồng tặng mẹ”:

    Nêu suy nghĩ của anh (chị) từ ý nghĩa của câu chuyện “Hoa hồng tặng

    mẹ”.

    “Con cò mà đi ăn đêm,

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.

    Ông ơi, ông vớt tôi nao!

    Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.

    Có xáo thì xáo nước trong,

    Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con”

    Từ bài ca dao, hãy bàn về vấn đề lẽ sống của con người Việt Nam.

    -Từ tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng, hãy bàn về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội.

    -Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nghĩ thêm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.

  • Văn Nghị luận xã Hội lớp 12 Tương lai của tôi

    Văn Nghị luận xã Hội lớp 12 Tương lai của tôi

    Văn Nghị luận xã Hội lớp 12 Tương lai của tôi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tuyển tập các bài Văn nghị luận xã hội lớp 12 2019


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Nghị luận xã Hội lớp 12 Tương lai của tôi

    Văn Nghị luận xã Hội lớp 12:

    Tương lai của tôi

    BÀI LÀM

    Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang trên đà hội nhập với sự phát triển của thế giới với rất nhiều cơ hội và thử thách được mở ra.Và thanh niên chúng ta-những người chủ tương lai của đất nước-phải góp một phần sức cho quê hương của mình. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách sống của mình, và một câu hỏi lớn được đặt ra : Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay là gì?

    Trước hết chúng ta phải hiểu được “lý tưởng sống” là gì? Lý tưởng sống là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới,là lí do,mục đích mà mỗi con người mong mỏi đạt được.Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn,giúp ích cho mình,gia đình xã hội và đất nước. Sinh ra ở đời, ai trong chúng ta cũng khao khát được sống hạnh phúc, với lòng khao khát đó thúc giục chúng ta đi kiếm tìm hạnh phúc. Hơn thế nữa, tự đáy lòng của con người luôn ước ao có được một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự may lành hơn là bất hạnh, giàu sang hơn là nghèo nàn. Để đạt được khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng. Lý tưởng này sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh. Vì có một lý tưởng để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, là niềm hạnh phúc

    lớn lao nhất của con người.

    Bạn có bao giờ tự hỏi bạn tồn tài trên cuộc đời vì lý do gì không? Một câu hỏi lẽ ra rất dễ nhưng nó làm cho bạn phải bắt đầu ngồi lại suy nghĩ về bản thân mình.Có thể bạn cũng đã có được một mục đích sống cho riêng mình,nhưng bạn vẫn nên xem lại mục đích đó có thật sự cao đẹp hay không bạn ạ.Chúng ta sống trong cộng đồng là sống vì mọi người,vì quê hương,vì đất nước.

    Nhiều người từng nghe câu nói trong bài hát khá nổi tiếng của Trịnh Công Sơn: “Sống ở đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi….”

    Phải mất một thời gian dài tôi và các bạn mới có thể mới ra rằng ý nghĩa của câu này là “hãy mở rộng tấm lòng của bạn với cuộc sống này, với mọi người xung quanh bạn và đừng mong đợi bạn sẽ nhận lại được gì… Hãy san sẻ tấm lòng để cuộc sống này đẹp hơn và đừng nghĩ rằng những cái gì mình đã cho đi là lớn lao mà nó chỉ là những cái gì nhỏ nhoi nhất nhẹ nhàng… chỉ để gió cuốn đi…”. Đó cũng là một phần của lý tưởng sống đẹp.

    Lý tưởng của ta không cần lớn lao dù chỉ là một chiếc lá, nhưng chúng ta

    cũng cần có cho mình một lý tưởng bình dị như để vươn lên. hải sống có lý

    tưởng! Bạn có thể ra đi từ nhiều phía, theo những con đường khác nhau,

    nhưng cuối cùng mỗi người phải lựa chọn cho mình mục đích của cuộc

    sống. Ta sống cho ta, cho những người thân, bạn bè và cho mọi người. Vì

    vậy, chỉ có hạnh phúc khi “mình vì mọi người và mọi người phấn đấu vì

    hạnh phúc của từng người”. Rõ ràng lý tưởng là mục đích sống, là ý nghĩa

    của mỗi cuộc đời. Lý tưởng quyết định sự thành công trong cuộc sống. Lý

    tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người để đạt đến

    thành công trong sự nghiệp. Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn và

    thử thách trong cuộc sống.

    Nhà văn Pháp Đi-dơ-rô từng nói: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”. Câu nói đó, lời khẳng định đó thật rõ ràng. Nó khuyên chúng ta sống thì phải có mục đích, lý tưởng phải cao đẹp thì sống mới có ý nghĩa, mới làm được những điều vĩ đại.

    Trong thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa, kinh tế thế giới hội nhập, khoa

    học kĩ thuật hiện đại, con người đặt ra vấn đề về lẽ sống của cuộc đời và

    sống như thế nào cho xứng đáng ? chúng ta nên hiểu sống có mục đích và lý

    tưởng cao đẹp là như thế nào ? Đó là phải sống để xây dựng đất nước, sống

    vì xã hội vì sự tiến bộ của nhân loại. Vậy thì tại sao ta phải sống có lí tưởng

    cao đẹp ? Vì nếu “sống không mục đích không làm được gì cả” và nếu “

    mục đích tầm thường thì không làm được điều gì vĩ đại”.Thế chúng ta phải

    làm gì để trở thành người có mục đích cao cả và có ích cho xã hội? Trước

    hết, ta cần phải xác định lý tưởng sống đúng đắn-dự tính về tương lai sẽ

    cống hiến cho xã hội về những mặt nào. Tiếp theo ta cần phải lên kế hoạch

    học tập, rèn luyện kĩ năng, sức khoẻ, tư tưởng nhằm thực hiện mục đích đó.

    Sau đó, ta phải tích cực tham gia các hoạt động xã hội, chính trị; điều này sẽ

    giúp cho bản thân hòa nhập cộng đồng.Ta cần phải phát huy những thế mạnh

    của bản thân, khắc phục các điểm yếu và vân dụng những điều đã học vào

    thực tế.

    Ngày xưa, anh hùng Lý Tự trọng đã từng nói:”Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đ ường nào khác!” rong thời kỳ chiến tranh bao lớp thanh niên xông pha lên đường với một mục tiêu

    • lý tưởng tất cả vì tiền tuyến, vì độc lập tư do của đất nước. Tư tưởng đó đã

    đi vào lời ca tiếng hát của bao nhiêu thế hệ người Việt Nam. “Anh lên xe

    trời đổ cơn mưa, Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ; Em xuống núi nắng vàng rực rỡ; Cái nhành hoa gạt mối riêng tư” hay “Khi tạm biệt mua xuân; Anh lính

    về biên giới; Cô gái vào ca ba”. Bên cạnh một tình yêu nồng cháy của tuổi trẻ nhưng ho phải tạm gác lại để dành tất cả cho một mục tiêu cao cả. Trong thời kỳ ngày nay có lẽ chúng ta khó có thể tìm kiếm được một ca khúc nói vê tình yêu đep như vậy. Biết bao thế hệ thanh niên đ ã ngã xuống vì mộtlý tưởng duy nhất là giành lại độc lập t ự do cho đất nước. Đến hôm nay khi đất nước hoà bình và đang trên đà phát tri ển,thì lý t ưởng sống cao đẹp của thanh niên,thế hệ trẻ lại càng rộng hơn,bao la hơn,”Vì một Việt Nam Phát triển

    Thế hệ trẻ là những người chủ tương lai của đất nước, là chủ thể của thế giới, động lực giúp cho xã hội phát triển. Chính vì vậy mà các bạn thanh thiếu niên càng gần phải sống có mục đích cao đẹp. Hãy nhớ rằng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không đó là nhờ vào công học tập của các em” lời nhắn như thiêng liêng ấy phải được thực hiện! Bác luôn mong lớp lớp thanh niên sau này sẽ không chùn bước trước những khó khăn trước mắt,luôn vững chí bền tâm vượt qua thử thách để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

    “Không có việc gì khó

    Chỉ sợ lòng không bền

    Đào núi và lắp biển

    Quyết chí ắt làm nên”

    (Hồ Chí Minh)

    Chúng ta chắc còn nhớ hai chiến thắng vẻ vang liên tiếp của đội tuyển

    robocon Việt Nam,hay những tấm huy chương vàng,huy ch ương bạc t ừ nh

    ững môn Olympic Toán ,Lý,Hoá,Sinh,trong những giải thể thao hàng đầu

    của châu lục và thế giới Đó là một tấm gương gần gũi, rõ ràng mà thanh

    thiếu niên cần noi theo. Tôi xin được nhắn nhủ các bạn thanh thiếu niên, học

    sinh: “Hãy học tập để nắm lấy tri thức vì tri thức là sức mạnh. Có tri thức, các bạn như đứng trên vai những người đi trước để cao hơn người khác. Hãy phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chấp nhận và vượt qua thử thách, bởi không có người thất bại, chỉ có người không biết cố gắng mà thôi”. Và chắc hẳn ai trong chúng ta đều biết những Enstein, Môza, Đác-uyn,… Tất cả họ đều là những người sống có lý tưởng cao đẹp, tất cả đều làm nên điều vĩ đại và được lưu danh muôn thuở. Như mục đích “ra đi tìm đường cứu nước, hi sinh cuộc đời vì cách mạng, vì dân tộc “ của Bác. Đó là một minh chứng rất cao đẹp!

    Nhưng hiện nay,một bộ phận lớn thanh niên lại không suy nghĩ được như

    thế. Họ sống hờ hững với những gì diễn ra xung quanh, sống theo quan

    niệm: “Được đến đâu thì hay đến đó”, “Nước đến chân mới nhảy”. Tuổi trẻ

    ngày nay có nhiều thời gian để dành cho tình yêu nên có lẽ họ không thể

    nhận ra những hạnh phúc mà họ đang có mà chỉ toàn nhìn thấy sự khổ đau

    trong tình yêu, phải chăng tuổi trẻ ngày nay khi đã được đáp ứng quá đầy đủ

    về vật chất lẫn tinh thần thì dần trở nên ích kỷ hơn. Chỉ biết nghĩ cho riêng

    mình.Và mục tiêu của phần lớn các bạn trẻ ngày nay là phải thật thành công

    trong cuộc sống, khẳng định được vị trí của mình trong xã hội; kiếm thật

    nhiều tiền để có thể thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống của riêng mình.Trong

    khi rất nhiều người đang cố gắng đóng góp một phần công sức nhỏ bé của

    mình mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn thì lại không ít người lại tỏ ra rất

    hờ hững với những gì đang diễn ra cho đất nước mình. Thật đáng buồn cho

    một tương lai đất nước!

    Các bạn luôn mong muốn mình sẽ là người tài giỏi nhưng lại không có được một lý t ưởng cho riêng mình,thì cuộc đời bạn s ẽ trôi về đâu ? Hãy tưởng tượng mà xem: một thanh niên sống không mục đích, không có định hướng, học tập chỉ do ba me gượng ép ; chàng ta chẳng hề ham thích những lựa

    chọn ấy và cũng chẳng hề thich học những môn học ấy; rồi cậu rớt đại học, thất nghiệp (chẳng ai nhận những người không có học vấn cả, dù cậu đã qua các năm trung học rồi nhưng với tinh thần thiếu ý chí thì xét lại cậu cũng chẳng đủ sức cho công việc)…không có tiền câu đâm ra vòi vĩnh bố mẹ(tuy nhiên vẫn có một số người tốt, không phạm phải những sai lầm này)…tiêu xài tiền, rồi đủ các thói hư, tật xấu. Cuối cùng chàng thanh niên ấy đã kết thúc cuộc đời trong nhà tù hoặc trên giường bệnh sau bao năm ăn chơi, nghiện ngập. Đó là ví dụ về một con người không có lý tưởng sống. Còn những người sống có mục đích nhưng lại là mục đích tầm thường như ăn no mặc ấm, hạnh phúc gia đình, kiếm được nhiều tiền, cưới vợ đẹp,…Những người này vì lợi ích của bản thân, họ dễ dàng làm bạn với cái ác và sẽ phạm tội. Chúng ta thường đọc thấy trên báo công an hay thấy trên Tivi những tin liên quan đến ông này bà nọ có chức vụ, lạm dụng quyền hạn để trục lợi; hay những nhóm tội phạm, nhất là các nhóm thanh thiếu niên trẻ cướp giât, phạm tội… để kiếm tiền ăn chơi hay những thanh niên, học sinh (kể cả người lớn) ghiền chơi games đến mê mệt! Tất cả, những người sống không có mục đích và những người có mục đích tầm thường đều có kết quả không tốt.

    Tóm lại,thanh niên chúng ta cần phải biết và tạo cho mình một lý tưởng sống cao đẹp,vì mọi người,vì quê hương đất nước. Bản thân mỗi chúng ta hãy tự nhìn lại cách sống của mình để hướng đến tương lai t ươi sáng. Cuối cùng xin kết thúc bằng lời của chiến sĩ cách mạng, một người cộng sản trẻ tuổi, một nhà văn, một anh hùng thời vệ quốc Xô Viết vĩ đại, Paven Copsagine trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy (tác giả Nikolai Ostrovsky): “Cái quí nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi

    tay, mà có thể nói rằng: Tất cả đời mình ta đã cống hiến cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được. Vì bệnh tật vô lý hay một sự bi đát tình cờ nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời này”.