Category: Ôn Thi Đại Học

Tổng hợp kiến thức ôn thi vào đại học

  • Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp

    Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp

    Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp

    Bài văn mẫu lớp 12:

    Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp

    Bài làm

    Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật

    đẹp. Hình ảnh ấy tạo một cảm giác cô đơn,lạc lõng thậm chí là bị đày đọa nhưng

    bông hoa bénhỏ ấy vẫn kiên cường,hiên ngang.Nó chống chọi với những điều đó

    với tất cả sức lực nhỏ bé màbền bỉ, như cánh chim bé nhỏ chao lượn giữa cơn

    giông bão tìm đường về tổ và cuối cùng nó đãchiến thắng. Chiến thắng tất cả

    những khó khăn, gian khổ ấy mà trở thành một đóa hoa đẹp, bừngcháy sức sống,

    nó vượt lên những sỏi đá khô cằn, giữa nắng gắt để trở thành một điểm chấm

    phátrên bức tranh hoang mạc nỏng bỏng và khắc nghiệt. Đó thực sự là một phép

    màu của Chúa, là

    một trong rất nhiều những điều kì diệu của cuộc sống này, như môt câu chuyện cổ

    tích. Và hơn nữa, đó còn là một trong những bài học giản dị, sâu sắc và cũng tuyệt

    vời nhất mà cuộc sống đã dành tặng cho chúng ta.

    Trong đời,ai chẳng đôi lần gục ngã trước những khó khăn, thách thức…Tất cả như

    đám mây đen khổng lồ, che lấp những tia sáng của tương lai, làm cho chúng ta kiệt

    quệ,mỏi mòn,mất ý chí chiến đấu, muốn buông xuôi. Và đây cũng là lúc chúng ta

    đối mặt với chính mình, là thời khắc

    mà những quyết định sẽ ảnh hưởng đến quãng đời còn lại của chúng ta. Lòng dũng

    cảm,bãn lĩnh,sự quyết đoán…tất cả sẽ được thể hiện một cách rõ nét nhất.

    Kì diệu thay, có những người khi gặp khó khăn, trắc trở thì họ trở nên cứng rắn,

    mạnh mẽ hơn cho dù họ vẫn có thể thất bại nhưng họ đã cố gắng đến mức cuối

    cùng.Họ nhận thức được rằng,một khi họ buông xuôi, họ sẽ mất tất cả.Công sức

    học hành bấy lâu,tiền bạc,thời gian…những thứ đó sẽ tan biến cùng với đám mây

    đen đang vần vũ trên bầu trời. Họ đã được Thượng đế ban cho một món quà mà

    không phải ai cũng có : nghị lực. Với món quà đó,họ đã biến những nỗi tủi

    nhục,đắng cay thành một thứ vũ khí sắc bén mà không có một loại khí tài nào trên

    Trái đất này có thể sánh được. Họ đã vượt qua chông gai để xua tan đám mây đen

    ấy. Và ánh sáng đã trở lại, tâm hồn họ có thể bị chai sạn,rách nát nhưng nó đã trở

    nên mạnh mẽ và thiêng liêng hơn bao giờ hết. Họ biết rằng dù con đường có đẹp

    đến mức nào cũng phải trả giá bằng những mũi gai đau đớn, bằng máu và nước

    mắt…

    “Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng

    Bàn chân cũng thấm đau vì những mũi gai

    Ðường vinh quang đi qua muôn ngàn sóng gió

    Lời hứa ghi trong tim mình

    Vẫn bước đi hiên ngang đầu ngẩng cao….”

    (trích bài hát “Đường đến ngày vinh quang”)

    Nhưng cuộc sống đâu phải chỉ có những điều tuyệt vời như thế, bên cạnh đó vẫn có

    những kẻ hèn nhác,yếu đuối,chưa gì đã từ bỏ những ước mơ của mình.Họ sẵn sàng

    vứt bỏ tất cả hoài bão để sống một cuộc đời vô vị,chán ngắt thậm chí là tàn tạ,vật

    vờ.Họ như một chiếc bóng lẻ loi đơn chiếc cứ đi đi về về trong cái xã hội nhộn

    nhịp,năng động này.Suốt đời lẩn tránh, sống ủ rủ và khi về già, chắc chắn họ sẽ

    nuối tiếc những tháng ngày lãng phí, không sống hết mình. Hối tiếc vì đã chấp

    nhận làm một bông hoa úa tàn, khô héo, không tô điểm cho đời. Vâng, chúng ta sẽ

    vượt qua tất cả khó khăn,trắc trở. Cho dù con đường hoa hồng có nhiều gai đi thế

    nào chăng nữa thì nó vẫn là con đường của vinh quang,của thành công và theo một

    câu nói khá nổi tiếng thì trên con đường này ” không có dấu chân của kẻ lười

    biêng”. Thân xác có thể tả tơi,mỏi mòn nhưng ý chí ta vẫn luôn tồn tại một hạt

    giống – hạt giống của khát vọng và hoài bão – rồi nó sẽ đâm chồi nảy lộc, sẽ trở

    thành một đóa hoa dại đẹp đẽ để tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta vượt qua những

    ghềnh thác cheo leo, đi đến bến bờ của những giấc mơ. Đau đớn, tủi nhục, nước

    mắt sẽ tan biến khi chúng ta đi hết con đường và chạm tay vào đỉnh vinh quang.

    Mặt trời sẽ chiếu sáng, vầng dương sẽ cài lên vai chúng ta vinh quang của những

    người chiến thắng, ta sẽ ngẩng cao đầu và tự hào vì chúng ta đã đấu tranh không

    mệt mỏi với những phút giây yếu mềm của bản thân và những gian nan chồng chất.

    Những bông hoa dại sau khi vượt qua những điều khắc nghiệt của thiên nhiên đã

    nở và…

    “Ngày đó, ngày đó sẽ không xa xôi

    Và chúng ta là người chiến thắng

    Ðường đến những ngày vinh quang không còn xa”

    Cuộc đời vẫn trôi đi, những khó khăn khác lại đến và chúng ta sẽ phải chiến đấu

    một cách ngoan cường. Hãy sống và đấu tranh sao cho đến lúc sức tàn lực kiệt, ta

    không phải hối tiếc về những tháng ngày tuổi trẻ bị hoài phí. Những gian truân, vất

    vả sẽ trở thành những chiến công bất diệt trong trái tim của mỗi conngười. Vì loài

    hoa dại kia sẽ úa tàn và chúng ta cũng không sống mãi, nhưng những dấu chân mà

    chúng ta đã in trên đường đời, những thành công trong cuộc sống sẽ tô thắm cho

    bước tranh cuộc sống muôn màu kia, như loài hoa dại ấy đã gợi nên sức sống cho

    vùng sỏi đá khô cằn.

  • Phương pháp giải nhanh vật lý 12

    Phương pháp giải nhanh vật lý 12

    Phương pháp giải nhanh vật lý 12

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC VẬT LÝ 12 VÀ CÁC CÔNG THỨC TÍNH NHANH TRONG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phương pháp giải nhanh vật lý 12

     

    CHƯƠNG I: DAO ĐỘNG CƠ HỌC

    I. DAO ĐỘNG ĐIỀU HOÀ

    1. Phương trình dao động: x = Acos(wt + j)

    1. Vận tốc tức thời: v = – wAsin(wt + j)
    2. Gia tốc tức thời: a = -w2Acos(wt + j)
    3. Vật ở VTCB: x = 0; |v|Max = wA; |a|Min = 0

    Vật ở biên: x = ±A; |v|Min = 0; |a|Max = w2A

    1. Hệ thức độc lập:

    a = -w2x

    1. Chiều dài quỹ đạo: 2A
    2. Cơ năng:

    Với

    1. Dao động điều hoà có tần số góc là w, tần số f, chu kỳ T. Thì:

    động năngthế năng biến thiên với tần số góc 2w, tần số 2f, chu kỳ T/2

    1. Động năng và thế năng trung bình trong thời gian T/2 ( nÎN*, T là chu kỳ dao động) là:
    2. Khoảng thời gian ngắn nhất để vật đi từ vị trí có toạ độ x1 đến x2

    với   và ()

    1. Quãng đường đi trong 1 chu kỳ luôn là 4A; trong 1/2 chu kỳ luôn là 2A

    Quãng đường đi trong l/4 chu kỳ là A khi vật xuất phát từ VTCB hoặc vị trí biên (tức là j = 0; p; ±p/2)

    1. Quãng đường vật đi được từ thời điểm t­1 đến t2.

    Xác định:  (v1 và v2 chỉ cần xác định dấu)

    Phân tích: t2 – t1 = nT + Dt (n ÎN; 0 ≤ Dt < T)

    Quãng đường đi được trong thời gian nT là S1 = 4nA, trong thời gian Dt là S2.

    Quãng đường tổng cộng là S = S1 + S2

    * Nếu v1v2 ≥ 0 Þ

    * Nếu v1v2 < 0 Þ

    1. Các bước lập phương trình dao động dao động điều hoà:

    * Tính w

    * Tính A (thường sử dụng hệ thức độc lập)

    * Tính j dựa vào điều kiện đầu: lúc t = t0 (thường t0 = 0)

    Lưu ý: + Vật chuyển động theo chiều dương thì v > 0, ngược lại v < 0

    + Trước khi tính j cần xác định rõ j thuộc góc phần tư thứ mấy của đường tròn lượng giác

    (thường lấy -π < j ≤ π)

    1. Các bước giải bài toán tính thời điểm vật đi qua vị trí đã biết x (hoặc v, a, E, Et, Eđ, F) lần thứ n

    * Giải phương trình lượng giác lấy các nghiệm của t (Với t > 0 Þ phạm vi giá trị của k )

    * Liệt kê n nghiệm đầu tiên (thường n nhỏ)

    * Thời điểm thứ n chính là giá trị lớn thứ n

    Lưu ý: Đề ra thường cho giá trị n nhỏ, còn nếu n lớn thì tìm quy luật để suy ra nghiệm thứ n

    1. Các bước giải bài toán tìm số lần vật đi qua vị trí đã biết x (hoặc v, a, E, Et, Eđ, F) từ thời điểm t1 đến t2.

    * Giải phương trình lượng giác được các nghiệm

    * Từ t1 < t ≤ t2 Þ Phạm vi giá trị của (Với k Î Z)

    * Tổng số giá trị của k chính là số lần vật đi qua vị trí đó.

    1. Các bước giải bài toán tìm li độ dao động sau thời điểm t một khoảng thời gian Dt.

    Biết tại thời điểm t vật có li độ x = x0.

    * Từ phương trình dao động điều hoà: x = Acos(wt + j) cho x = x0

    Lấy nghiệm wt + j = a

    hoặc wt + j = – a

    * Li độ sau thời điểm đó Dt giây là: x = Acos(wDt + a) hoặc x = Acos(wDt – a)

    1. 17. Dao động điều hoà có phương trình đặc biệt:

    * x = a ± Acos(wt + j) với a = const

    Biên độ là A, tần số góc là w, pha ban đầu j

    x là toạ độ,  x0 = Acos(wt + j) là li độ.

    Toạ độ vị trí cân bằng x = a, toạ độ vị trí biên x = a ± A

    Vận tốc v = x’ = x0’, gia tốc a = v’ = x” = x0

    Hệ thức độc lập:   a = -w2x0

    * x = a ± Acos2(wt + j) (ta phải hạ bậc)

    Biên độ A/2; tần số góc 2w, pha ban đầu 2j.

    II. CON LẮC LÒ XO

    1. Tần số góc: ; chu kỳ: ; tần số:
    2. Cơ năng:

    Với

    1. * Độ biến dạng của lò xo thẳng đứng: Þ

    * Độ biến dạng của lò xo nằm trên mặt phẳng nghiêng có góc nghiêng α:

    Þ

    * Trường hợp vật ở dưới:

    + Chiều dài lò xo tại VTCB: lCB = l0 + Dl (l0 là chiều dài tự nhiên)

    + Chiều dài cực tiểu (khi vật ở vị trí cao nhất): lMin = l0 + Dl – A

    + Chiều dài cực đại (khi vật ở vị trí thấp nhất): lMax = l0 + Dl + A

              Þ lCB = (lMin + lMax)/2

    * Trường hợp vật ở trên:

           lCB = l0Dl;  lMin = l0Dl – A; lMax = l0Dl + A  Þ lCB = (lMin + lMax)/2

    1. Lực hồi phục hay lực phục hồi (là lực gây dao động cho vật) là lực để đưa vật về vị trí cân bằng (là hợp lực của các lực tác dụng lên vật xét phương dao động), luôn hướng về VTCB, có độ lớn Fhp = k|x| = mw2|x|.
    2. Lực đàn hồi là lực đưa vật về vị trí lò xo không biến dạng.

    Có độ lớn Fđh = kx* (x* là độ biến dạng của lò xo)

    * Với con lắc lò xo nằm ngang thì lực hồi phục và lực đàn hồi là một (vì tại VTCB lò xo không biến dạng)

    * Với con lắc lò xo thẳng đứng hoặc đặt trên mặt phẳng nghiêng

    + Độ lớn lực đàn hồi có biểu thức:

    * Fđh = k|Dl + x| với chiều dương hướng xuống

    * Fđh = k|Dl – x|  với chiều dương hướng lên

    + Lực đàn hồi cực đại (lực kéo): FMax = k(Dl + A) = FKMax

    + Lực đàn hồi cực tiểu:

    * Nếu A < Dl Þ FMin = k(Dl – A) = FKMin

    * Nếu A ≥ Dl Þ FMin = 0 (lúc vật đi qua vị trí lò xo không biến dạng)

    Lực đẩy (lực nén) đàn hồi cực đại: FNmax = k(A – Dl) (lúc vật ở vị trí cao nhất)

    Lưu ý: Khi vật ở trên: * FNmax = FMax = k(Dl + A)

    * Nếu A < Dl Þ FNmin = FMin = k(Dl – A)

    * Nếu A ≥ Dl Þ FKmax =  k(A – Dl) còn FMin = 0

    1. Một lò xo có độ cứng k, chiều dài l được cắt thành các lò xo có độ cứng k1, k2, … và chiều dài tương ứng là l1, l2, … thì ta có: kl = k1l1 = k2l2 = …
    2. Ghép lò xo:

    * Nối tiếp  Þ cùng treo một vật khối lượng như nhau thì: T2 = T12 + T22

    * Song song: k = k1 + k2 + … Þ cùng treo một vật khối lượng như nhau thì:

    1. Gắn lò xo k vào vật khối lượng m1 được chu kỳ T1, vào vật khối lượng m2 được T2, vào vật khối lượng m1+m2 được chu kỳ T3, vào vật khối lượng m1 – m2 (m1 > m2)được chu kỳ T4.

    Thì ta có:  và

    1. Vật m1 được đặt trên vật m2 dao động điều hoà theo phương thẳng đứng. (Hình 1)

    Để m1 luôn nằm yên trên m2 trong quá trình dao động thì:

    1. Vật m1 và m2 được gắn vào hai đầu lò xo đặt thẳng đứng, m1 dao động điều hoà.(Hình 2)

    Để m2 luôn nằm yên trên mặt sàn trong quá trình m1 dao động thì:

    1. Vật m1 đặt trên vật m2 dao động điều hoà theo phương ngang. Hệ số ma sát giữa m1 và m2 là µ, bỏ qua ma sát giữa m2 và mặt sàn. (Hình 3)

    Để m1 không trượt trên m2 trong quá trình dao động thì:

     

    III. CON LẮC ĐƠN

    1. Tần số góc: ; chu kỳ: ; tần số:
    2. Phương trình dao động:

    s = S0cos(wt + j) hoặc α = α0cos(wt + j)  với s = αl, S0 = α0l và α ≤ 100

    Þ v = s’ = – wS0sin(wt + j) = – wlα0sin(wt + j)

    Þ a = v’ = -w2S0cos(wt + j) = -w2lα0cos(wt + j) = -w2s = -w2αl

    Lưu ý: S0 đóng vai trò như A còn s đóng vai trò như x

    1. Hệ thức độc lập:

    * a = -w2s = -w2αl

    *

    *

    1. Cơ năng:

    Với

    1. Tại cùng một nơi con lắc đơn chiều dài l1 có chu kỳ T1, con lắc đơn chiều dài l2 có chu kỳ T2, con lắc đơn chiều dài l1 + l2 có chu kỳ T2,con lắc đơn chiều dài l1 – l2 (l1>l2) có chu kỳ T4.

    Thì ta có:  và

    1. Vận tốc và lực căng của sợi dây con lắc đơn

    v2 = 2gl(cosα – cosα0) và TC = mg(3cosα – 2cosα0)

    1. Con lắc đơn có chu kỳ đúng T ở độ cao h1, nhiệt độ t1. Khi đưa tới độ cao h2, nhiệt độ t2 thì ta có:

    Với R = 6400km là bán kính Trái Đât, còn l là hệ số nở dài của thanh con lắc.

    1. Con lắc đơn có chu kỳ đúng T ở độ sâu d1, nhiệt độ t1. Khi đưa tới độ sâu d2, nhiệt độ t2 thì ta có:
    1. Con lắc đơn có chu kỳ đúng T ở độ cao h, nhiệt độ t1. Khi đưa xuống độ sâu d, nhiệt độ t2 thì ta có:
    1. Con lắc đơn có chu kỳ đúng T ở độ sâu d, nhiệt độ t1. Khi đưa lên độ cao h, nhiệt độ t2 thì ta có:

    Lưu ý: * Nếu DT > 0 thì đồng hồ chạy chậm (đồng hồ đếm giây sử dụng con lắc đơn)

    * Nếu DT < 0 thì đồng hồ chạy nhanh

    * Nếu DT = 0 thì đồng hồ chạy đúng

    * Thời gian chạy sai mỗi ngày (24h = 86400s):

    1. Khi con lắc đơn chịu thêm tác dụng của lực phụ không đổi:

    Lực phụ không đổi thường là:

    * Lực quán tính: , độ lớn F = ma     ( )

    Lưu ý: + Chuyển động nhanh dần đều  ( có hướng chuyển động)

    + Chuyển động chậm dần đều

    * Lực điện trường: , độ lớn F = |q|E   (Nếu q > 0 Þ ; còn nếu q < 0 Þ )

    * Lực đẩy Ácsimét: F = DgV  (luông thẳng đứng hướng lên)

    Trong đó: D là khối lượng riêng của chất lỏng hay chất khí.

    g là gia tốc rơi tự do.

    V là thể tích của phần vật chìm trong chất lỏng hay chất khí đó.

    Khi đó:  gọi là trọng lực hiệu dụng hay trong lực biểu kiến (có vai trò như trọng lực )

    gọi là gia tốc trọng trường hiệu dụng hay gia tốc trọng trường biểu kiến.

    Chu kỳ dao động của con lắc đơn khi đó:

    Các trường hợp đặc biệt:

    *  có phương ngang: + Tại VTCB dây treo lệch với phương thẳng đứng một góc có:

    +

    * có phương thẳng đứng thì

    + Nếu  hướng xuống thì

    + Nếu  hướng lên thì

    1. Con lắc vật lý

    + Tần số góc:  => T =

    1. TỔNG HỢP DAO ĐỘNG
    2. Tổng hợp hai dao động điều hoà cùng phương cùng tần số x1 = A1cos(wt + j1) và x2 = A2cos(wt + j2) được một dao động điều hoà cùng phương cùng tần số x = Acos(wt + j).

    Trong đó:

    với j1 ≤ j ≤ j2  (nếu j1 ≤ j2 )

    * Nếu Dj = 2kπ (x1, x2 cùng pha) Þ AMax = A1 + A2

    `               * Nếu Dj = (2k+1)π (x1, x2 ngược pha) Þ AMin = |A1 – A2|

    1. Khi biết một dao động thành phần x1 = A1cos(wt + j1) và dao động tổng hợp x = Acos(wt + j) thì dao động thành phần còn lại là x2 = A2cos(wt + j2).

    Trong đó:

    với j1 ≤ j ≤ j2  ( nếu j1 ≤ j2 )

    1. Nếu một vật tham gia đồng thời nhiều dao động điều hoà cùng phương cùng tần số x1 = A1cos(wt + j1);

    x2 = A2cos(wt + j2) … thì dao động tổng hợp cũng là dao động điều hoà cùng phương cùng tần số

    x = Acos(wt + j).

    Ta có:

    và           với  j Î[jMin;jMax]

    V. DAO ĐỘNG TẮT DẦN – DAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC – CỘNG HƯỞNG

    1. Một con lắc lò xo dao động tắt dần với biên độ A, hệ số ma sát µ. Quãng đường vật đi được đến lúc dừng lại là:
    2. Một vật dao động tắt dần thì độ giảm biên độ sau mỗi chu kỳ là:

    Þ số dao động thực hiện được

    1. Hiện tượng cộng hưởng xảy ra khi: f = f0 hay w = w0 hay T = T0

    Với f, w, T và f0, w0, T0 là tần số, tần số góc, chu kỳ của lực cưỡng bức và của hệ dao động.

  • HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC VẬT LÝ 12 VÀ CÁC CÔNG THỨC TÍNH NHANH TRONG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM

    HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC VẬT LÝ 12 VÀ CÁC CÔNG THỨC TÍNH NHANH TRONG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM

    HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC VẬT LÝ 12 VÀ CÁC CÔNG THỨC TÍNH NHANH TRONG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Sáng kiến kinh nghiệm Thiết kế tiết dạy thí nghiệm, thực hành Vật lý 10


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC VẬT LÝ 12 VÀ CÁC CÔNG THỨC TÍNH NHANH TRONG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM

     

        HỆ THỐNG HOÁ  KIẾN THỨC VẬT LÝ 12 VÀ CÁC CÔNG THỨC

                 TÍNH NHANH TRONG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM.

    CHƯƠNG : DAO ĐỘNG CƠ

    I. DAO ĐỘNG ĐIỀU HOÀ

    1. Phương trình dao động: x = Acos(wt + j)
    2. Vận tốc tức thời: v = -wAsin(wt + j)

    luôn cùng chiều với chiều chuyển động (vật cđộng theo chiều dương thì v>0, theo chiều âm thì v<0)

    1. Gia tốc tức thời: a = -w2Acos(wt + j)

    luôn hướng về vị trí cân bằng

    1. Vật ở VTCB: x = 0; |v|Max = wA; |a|Min = 0

    Vật ở biên: x = ±A; |v|Min = 0; |a|Max = w2A

    1. Hệ thức độc lập:

    a = -w2x

    1. Cơ năng:

    Với

    1. Dao động điều hoà có tần số góc là w, tần số f, chu kỳ T. Thì động năng và thế năng biến thiên với tần số góc 2w, tần số 2f, chu kỳ T/2
    2. Động năng và thế năng trung bình trong thời gian nT/2 ( nÎN*, T là chu kỳ dao động) là:
    3. Khoảng thời gian ngắn nhất để vật đi từ vị trí có li độ x1 đến x2

    với   và ()

    1. Chiều dài quỹ đạo: 2A
    2. Quãng đường đi trong 1 chu kỳ luôn là 4A; trong 1/2 chu kỳ luôn là 2A

    Quãng đường đi trong l/4 chu kỳ là A khi vật đi từ VTCB đến vị trí biên hoặc ngược lại

    1. Quãng đường vật đi được từ thời điểm t­1 đến t2.

    Xác định:  (v1 và v2 chỉ cần xác định dấu)

    Phân tích: t2 – t1 = nT + Dt (n ÎN; 0 ≤ Dt < T)

    Quãng đường đi được trong thời gian nT là S1 = 4nA, trong thời gian Dt là S2.

    Quãng đường tổng cộng là S = S1 + S2

    Lưu ý: + Nếu  Dt = T/2 thì S2 = 2A

    + Tính S2 bằng cách định vị trí x1, x2 và chiều chuyển động của vật trên trục Ox

    + Trong một số trường hợp có thể giải bài toán bằng cách sử dụng mối liên hệ giữa dao động điều hoà và chuyển động tròn đều sẽ đơn giản hơn.

    + Tốc độ trung bình của vật đi từ thời điểm t1 đến t2:  với S là quãng đường tính như trên.

    1. Bài toán tính quãng đường lớn nhất và nhỏ nhất vật đi được trong khoảng thời gian 0 < Dt < T/2.

    Vật có vận tốc lớn nhất khi qua VTCB, nhỏ nhất khi qua vị trí biên nên trong cùng một khoảng thời gian quãng đường đi được càng lớn khi vật ở càng gần VTCB và càng nhỏ khi càng gần vị trí biên.

    Sử dụng mối liên hệ giữa dao động điều hoà và chuyển  đường tròn đều.

    Góc quét Dj = wDt.

    Quãng đường lớn nhất khi vật đi từ M1 đến M2 đối xứng qua trục sin (hình 1)

    Quãng đường nhỏ nhất khi vật đi từ M1 đến M2 đối xứng qua trục cos (hình 2)

      Lưu ý: + Trong trường hợp Dt > T/2

    Tách

    trong đó

    Trong thời gian  quãng đường  luôn là 2nA

    Trong thời gian Dt’ thì quãng đường lớn nhất, nhỏ nhất tính như trên.

    + Tốc độ trung bình lớn nhất và nhỏ nhất của trong khoảng thời gian Dt:

    và  với SMax; SMin tính như trên.

    1. Các bước lập phương trình dao động dao động điều hoà:

    * Tính w

    * Tính A

    * Tính j dựa vào điều kiện đầu: lúc t = t0 (thường t0 = 0)

    Lưu ý: + Vật chuyển động theo chiều dương thì v > 0, ngược lại v < 0

    + Trước khi tính j cần xác định rõ j thuộc góc phần tư thứ mấy của đường tròn lượng giác

    (thường lấy -π < j ≤ π)

    1. Các bước giải bài toán tính thời điểm vật đi qua vị trí đã biết x (hoặc v, a, Wt, Wđ, F) lần thứ n

    * Giải phương trình lượng giác lấy các nghiệm của t (Với t > 0 Þ phạm vi giá trị của k )

    * Liệt kê n nghiệm đầu tiên (thường n nhỏ)

    * Thời điểm thứ n chính là giá trị lớn thứ n

    Lưu ý:+ Đề ra thường cho giá trị n nhỏ, còn nếu n lớn thì tìm quy luật để suy ra nghiệm thứ n

    + Có thể giải bài toán bằng cách sử dụng mối liên hệ giữa dao động điều hoà và c động   tròn đều

    1. Các bước giải bài toán tìm số lần vật đi qua vị trí đã biết x (hoặc v, a, Wt, Wđ, F) từ thời điểm t1 đến t2. * Giải phương trình lượng giác được các nghiệm

    * Từ t1 < t ≤ t2 Þ Phạm vi giá trị của (Với k Î Z)

    * Tổng số giá trị của k chính là số lần vật đi qua vị trí đó.

    Lưu ý: + Có thể giải bài toán bằng cách sử dụng mối liên hệ giữa dao động điều hoà và c/động tròn đều.

    + Trong mỗi chu kỳ (mỗi dao động) vật qua mỗi vị trí biên 1 lần còn các vị trí khác 2 lần.

    1. Các bước giải bài toán tìm li độ, vận tốc dao động sau (trước) thời điểm t một khoảng thời gian Dt.

    Biết tại thời điểm t vật có li độ x = x0.

    * Từ phương trình dao động điều hoà: x = Acos(wt + j) cho x = x0

    Lấy nghiệm wt + j = a với  ứng với x đang giảm (vật chuyển động theo chiều âm vì v < 0)

    hoặc wt + j = – a  ứng với x đang tăng (vật chuyển động theo chiều dương)

    * Li độ và vận tốc dao động sau (trước) thời điểm đó Dt giây là

    hoặc

    1. Dao động có phương trình đặc biệt:

    * x = a ± Acos(wt + j) với a = const

    Biên độ là A, tần số góc là w, pha ban đầu j

    x là toạ độ,  x0 = Acos(wt + j) là li độ.

    Toạ độ vị trí cân bằng x = a, toạ độ vị trí biên x = a ± A

    Vận tốc v = x’ = x0’, gia tốc a = v’ = x” = x0

    Hệ thức độc lập:   a = -w2x0                        ;

    * x = a ± Acos2(wt + j) (ta hạ bậc)

    Biên độ A/2; tần số góc 2w, pha ban đầu 2j.

    II. CON LẮC LÒ XO

    1. Tần số góc: ; chu kỳ: ; tần số:

    Điều kiện dao động điều hoà: Bỏ qua ma sát, lực cản và vật dao động trong giới hạn đàn hồi

    1. Cơ năng:
    2. * Độ biến dạng của lò xo thẳng đứng khi vật ở VTCB:

    Þ

    * Độ biến dạng của lò xo khi vật ở VTCB với con lắc lò xo

    nằm trên mặt phẳng nghiêng có góc nghiêng α:

    Þ

    + Chiều dài lò xo tại VTCB: lCB = l0 + Dl0 (l0 là chiều dài tự nhiên)

    + Chiều dài cực tiểu (khi vật ở vị trí cao nhất): lMin = l0 + Dl0 – A

    + Chiều dài cực đại (khi vật ở vị trí thấp nhất): lMax = l0 + Dl0 + A

              Þ lCB = (lMin + lMax)/2

    + Khi A >Dl0 (Với Ox hướng xuống):

    – Thời gian lò xo nén 1 lần là thời gian ngắn nhất để vật đi

    từ vị trí x1 = –Dl0 đến x2 = -A.

    – Thời gian lò xo giãn 1 lần là thời gian ngắn nhất để vật đi

    từ vị trí x1 = –Dl0 đến x2 = A,

    Lưu ý: Trong một dao động (một chu kỳ) lò xo nén 2 lần

    và giãn 2 lần

    1. Lực kéo về hay lực hồi phục F = -kx = -mw2x

    Đặc điểm: * Là lực gây dao động cho vật.

    * Luôn hướng về VTCB

    * Biến thiên điều hoà cùng tần số với li độ

    1. Lực đàn hồi là lực đưa vật về vị trí lò xo không biến dạng.

    Có độ lớn Fđh = kx* (x* là độ biến dạng của lò xo)

    * Với con lắc lò xo nằm ngang thì lực kéo về và lực đàn hồi là một (vì tại VTCB lò xo không biến dạng)

    * Với con lắc lò xo thẳng đứng hoặc đặt trên mặt phẳng nghiêng

    + Độ lớn lực đàn hồi có biểu thức:

    * Fđh = k|Dl0 + x| với chiều dương hướng xuống

    * Fđh = k|Dl0 – x|  với chiều dương hướng lên

    + Lực đàn hồi cực đại (lực kéo): FMax = k(Dl0 + A) = FKmax  (lúc vật ở vị trí thấp nhất)

    + Lực đàn hồi cực tiểu:

    * Nếu A < Dl0 Þ FMin = k(Dl0 – A) = FKMin

    * Nếu A ≥ Dl0 Þ FMin = 0 (lúc vật đi qua vị trí lò xo không biến dạng)

    Lực đẩy (lực nén) đàn hồi cực đại: FNmax = k(A – Dl0) (lúc vật ở vị trí cao nhất)

    *. Lực đàn hồi, lực hồi phục:

    1. Lực đàn hồi:
    2. Lực hồi phục: hay lực hồi phục luôn hướng vào vị trí cân bằng.

    Chú ý: Khi hệ dao động theo phương nằm ngang thì lực đàn hồi và lực hồi phục là như nhau .

    1. Một lò xo có độ cứng k, chiều dài l được cắt thành các lò xo có độ cứng k1, k2, … và chiều dài tương ứng

    l1, l2, … thì có: kl = k1l1 = k2l2 = …

    1. Ghép lò xo:

    * Nối tiếp  Þ cùng treo một vật khối lượng như nhau thì: T2 = T12 + T22

    * Song song: k = k1 + k2 + … Þ cùng treo một vật khối lượng như nhau thì:

    1. Gắn lò xo k vào vật khối lượng m1 được chu kỳ T1, vào vật khối lượng m2 được T2, vào vật khối lượng m1+m2 được chu kỳ T3, vào vật khối lượng m1 – m2 (m1 > m2) được chu kỳ T4.

    Thì ta có:  và

    1. Đo chu kỳ bằng phương pháp trùng phùng

    Để xác định chu kỳ T của một con lắc lò xo (con lắc đơn) người ta so sánh với chu kỳ T0 (đã biết) của một con lắc khác (T » T0).

    Hai con lắc gọi là trùng phùng khi chúng đồng thời đi qua một vị trí xác định theo cùng một chiều.

    Thời gian giữa hai lần trùng phùng

    Nếu T > T0 Þ q = (n+1)T = nT0.

    Nếu T < T0 Þ q = nT = (n+1)T0. với n Î N*

    III. CON LẮC ĐƠN

    1. Tần số góc: ; chu kỳ: ; tần số:

    Điều kiện dao động điều hoà: Bỏ qua ma sát, lực cản và a0 << 1 rad hay S0 << l

    1. Lực hồi phục

    Lưu ý: + Với con lắc đơn lực hồi phục tỉ lệ thuận với khối lượng.

    + Với con lắc lò xo lực hồi phục không phụ thuộc vào khối lượng.

    1. Phương trình dao động:

    s = S0cos(wt + j) hoặc α = α0cos(wt + j)  với s = αl, S0 = α0l

    Þ v = s’ = -wS0sin(wt + j) = -wlα0sin(wt + j)

    Þ a = v’ = -w2S0cos(wt + j) = -w2lα0cos(wt + j) = -w2s = -w2αl

    Lưu ý: S0 đóng vai trò như A còn s đóng vai trò như x

    1. Hệ thức độc lập:

    * a = -w2s = -w2αl                    *                      *

    1. Cơ năng:
    2. Tại cùng một nơi con lắc đơn chiều dài l1 có chu kỳ T1, con lắc đơn chiều dài l2 có chu kỳ T2, con lắc đơn chiều dài l1 + l2 có chu kỳ T2,con lắc đơn chiều dài l1 – l2 (l1>l2) có chu kỳ T4.

    Thì ta có:  và

    1. Khi con lắc đơn dao động với a0 bất kỳ. Cơ năng, vận tốc và lực căng của sợi dây con lắc đơn

    W = mgl(1-cosa0); v2 = 2gl(cosα – cosα0) và TC = mg(3cosα – 2cosα0)

    Lưu ý: – Các công thức này áp dụng đúng cho cả khi a0 có giá trị lớn

    – Khi con lắc đơn dao động điều hoà (a0 << 1rad) thì:

    (đã có ở trên)

    1. Con lắc đơn có chu kỳ đúng T ở độ cao h1, nhiệt độ t1. Khi đưa tới độ cao h2, nhiệt độ t2 thì ta có:

    Với R = 6400km là bán kính Trái Đât, còn l là hệ số nở dài của thanh con lắc.

    1. Con lắc đơn có chu kỳ đúng T ở độ sâu d1, nhiệt độ t1. Khi đưa tới độ sâu d2, nhiệt độ t2 thì ta có:

    Lưu ý: * Nếu DT > 0 thì đồng hồ chạy chậm (đồng hồ đếm giây sử dụng con lắc đơn)

    * Nếu DT < 0 thì đồng hồ chạy nhanh

    * Nếu DT = 0 thì đồng hồ chạy đúng

    * Thời gian chạy sai mỗi ngày (24h = 86400s):

    1. Khi con lắc đơn chịu thêm tác dụng của lực phụ không đổi:

    Lực phụ không đổi thường là:

    * Lực quán tính: , độ lớn F = ma     ( )

    Lưu ý: + Chuyển động nhanh dần đều  ( có hướng chuyển động)

    + Chuyển động chậm dần đều

    * Lực điện trường: , độ lớn F = |q|E   (Nếu q > 0 Þ ; còn nếu q < 0 Þ )

    * Lực đẩy Ácsimét: F = DgV  (luông thẳng đứng hướng lên)

    Trong đó: D là khối lượng riêng của chất lỏng hay chất khí.

    g là gia tốc rơi tự do.

    V là thể tích của phần vật chìm trong chất lỏng hay chất khí đó.

    Khi đó:  gọi là trọng lực hiệu dụng hay trong lực biểu kiến (có vai trò như trọng lực )

    gọi là gia tốc trọng trường hiệu dụng hay gia tốc trọng trường biểu kiến.

    Chu kỳ dao động của con lắc đơn khi đó:

    Các trường hợp đặc biệt:

    *  có phương ngang: + Tại VTCB dây treo lệch với phương thẳng đứng một góc có:

    Thì

    * có phương thẳng đứng thì

    + Nếu  hướng xuống thì

    + Nếu  hướng lên thì

    IV. CON LẮC VẬT LÝ

    1. Tần số góc: ; chu kỳ: ; tần số

    Trong đó: m (kg) là khối lượng vật rắn

    d (m) là khoảng cách từ trọng tâm đến trục quay

    I (kgm2) là mômen quán tính của vật rắn đối với trục quay

    1. Phương trình dao động α = α0cos(wt + j)

    Điều kiện dao động điều hoà: Bỏ qua ma sát, lực cản và a0 << 1rad

    l

                                      MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP THƯỜNG GẶP

    + Chọn gốc thời gian là lúc vật qua vt cb  theo chiều dương : Pha ban đầu

    + Chọn gốc thời gian là lúc vật qua vị trí cân bằng  theo chiều âm : Pha ban đầu

    + Chọn gốc thời gian là lúc vật qua biên dương: Pha ban đầu

    + Chọn gốc thời gian là lúc vật qua biên âm: Pha ban đầu

    + Chọn gốc thời gian là lúc vật qua vị trí  theo chiều dương : Pha ban đầu

    + Chọn gốc thời gian là lúc vật qua vị trí  theo chiều dương : Pha ban đầu

    + Chọn gốc thời gian là lúc vật qua vị trí  theo chiều âm : Pha ban đầu

    +  ;

    V. TỔNG HỢP DAO ĐỘNG

    1. Tổng hợp hai dao động điều hoà cùng phương cùng tần số x1 = A1cos(wt + j1) và x2 = A2cos(wt + j2) được một dao động điều hoà cùng phương cùng tần số x = Acos(wt + j).

    Trong đó:

    với j1 ≤ j ≤ j2  (nếu j1 ≤ j2 )

    * Nếu Dj = 2kπ (x1, x2 cùng pha) Þ AMax = A1 + A2

    `               * Nếu Dj = (2k+1)π (x1, x2 ngược pha) Þ AMin = |A1 – A2|

    Þ |A1 – A2|  ≤ A ≤ A1 + A2

    1. Khi biết một dao động thành phần x1 = A1cos(wt + j1) và dao động tổng hợp x = Acos(wt + j) thì dao động thành phần còn lại là x2 = A2cos(wt + j2).

    Trong đó:

    với j1 ≤ j ≤ j2  ( nếu j1 ≤ j2 )

    1. Nếu một vật tham gia đồng thời nhiều dđộng điều hoà cùng phương cùng tần số x1 = A1cos(wt + j1;

    x2 = A2cos(wt + j2) … thì dao động tổng hợp cũng là dao động điều hoà cùng phương cùng tần số

    x = Acos(wt + j).

    Chiếu lên trục Ox và trục Oy ^ Ox .

    Ta được:

    và           với  j Î[jMin;jMax]

    VI. DAO ĐỘNG TẮT DẦN – DAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC – CỘNG HƯỞNG

    1. Một con lắc lò xo dao động tắt dần với biên độ A, hệ số ma sát µ.

    * Quãng đường vật đi được đến lúc dừng lại là:

    * Độ giảm biên độ sau mỗi chu kỳ là:

    * Số dao động thực hiện được:

    * Thời gian vật dao động đến lúc dừng lại:

    (Nếu coi dao động tắt dần có tính tuần hoàn với chu kỳ )

    1. Hiện tượng cộng hưởng xảy ra khi: f = f0 hay w = w0 hay T = T0

    Với f, w, T và f0, w0, T0 là tần số, tần số góc, chu kỳ của lực cưỡng bức và của hệ dao động.

    1. Dao động cưỡng bức: . Có biên độ phụ thuộc vào biên độ của ngoại lực cưỡng bức, lực cản của hệ, và sự chênh lệch tần số giữa dao động cưỡng bức và dao động riêng.
    2. Dao động duy trì: Có tần số bằng tần số dao động riêng, có biên độ không đổi.

    CHƯƠNG : SÓNG CƠ

    I. SÓNG CƠ HỌC

    1. Bước sóng: l = vT = v/f

    Trong đó: l: Bước sóng; T (s): Chu kỳ của sóng; f (Hz): Tần số của sóng

    v: Tốc độ truyền sóng (có đơn vị tương ứng với đơn vị của l)

    1. Phương trình sóng

    Tại điểm O:  uO = Acos(wt + j)

    Tại điểm M cách O một đoạn x trên phương truyền sóng.

    * Sóng truyền theo chiều dương của trục Ox thì uM = AMcos(wt + j – ) = AMcos(wt + j – )

    * Sóng truyền theo chiều âm của trục Ox thì       uM = AMcos(wt + j + ) = AMcos(wt + j + )

    1. Độ lệch pha giữa hai điểm cách nguồn một khoảng x1, x2 :

    Nếu 2 điểm đó nằm trên một phương truyền sóng và cách nhau một khoảng x thì:

    Lưu ý: Đơn vị của x, x1, x2, l và v phải tương ứng với nhau

    1. Trong hiện tượng truyền sóng trên sợi dây, dây được kích thích dao động bởi nam châm điện với tần số dòng điện là f thì tần số dao động của dây là 2f.

    II. SÓNG DỪNG

    1. Một số chú ý

    * Đầu cố định hoặc đầu dao động nhỏ là nút sóng.

    * Đầu tự do là bụng sóng

    * Hai điểm đối xứng với nhau qua nút sóng luôn dao động ngược pha.

    * Hai điểm đối xứng với nhau qua bụng sóng luôn dao động cùng pha.

    * Các điểm trên dây đều dao động với biên độ không đổi Þ năng lượng không truyền đi

    * Khoảng thời gian giữa hai lần sợi dây căng ngang (các phần tử đi qua VTCB) là nửa chu kỳ.

    1. Điều kiện để có sóng dừng trên sợi dây dài l:

    * Hai đầu là nút sóng:

    Số bụng sóng = số bó sóng = k

    Số nút sóng = k + 1

    * Một đầu là nút sóng còn một đầu là bụng sóng:

    Số bó sóng nguyên = k

    Số bụng sóng = số nút sóng = k + 1

    1. Phương trình sóng dừng trên sợi dây CB (với đầu C cố định hoặc dao động nhỏ là nút sóng)

    * Đầu B cố định (nút sóng):

    Phương trình sóng tới và sóng phản xạ tại B:  và

    Phương trình sóng tới và sóng phản xạ tại M cách B một khoảng d là:

    Phương trình sóng dừng tại M:

    Biên độ dao động của phần tử tại M:

    * Đầu B tự do (bụng sóng):

    Phương trình sóng tới và sóng phản xạ tại B:

    Phương trình sóng tới và sóng phản xạ tại M cách B một khoảng d là:

    Phương trình sóng dừng tại M:                  ;

    Biên độ dao động của phần tử tại M:

    Lưu ý: * Với x là khoảng cách từ M đến đầu nút sóng thì biên độ:

    * Với x là khoảng cách từ M đến đầu bụng sóng thì biên độ:

    III. GIAO THOA SÓNG

    Giao thoa của hai sóng phát ra từ hai nguồn sóng kết hợp S1, S2 cách nhau một khoảng l:

    Xét điểm M cách hai nguồn lần lượt d1, d2

    Phương trình sóng tại 2 nguồn  và

    Phương trình sóng tại M do hai sóng từ hai nguồn truyền tới:

    Phương trình giao thoa sóng tại M: uM = u1M + u2M

    Biên độ dao động tại M:  với

    Chú ý:  * Số cực đại:

    * Số cực tiểu:

    1. Hai nguồn dao động cùng pha ()

    * Điểm dao động cực đại: d1 – d2 = kl (kÎZ)

    Số đường hoặc số điểm (không tính hai nguồn):

    * Điểm dao động cực tiểu (không dao động): d1 – d2 = (2k+1) (kÎZ)

    Số đường hoặc số điểm (không tính hai nguồn):

    1. Hai nguồn dao động ngược pha:()

    * Điểm dao động cực đại:  d1 – d2 = (2k+1) (kÎZ)

    Số đường hoặc số điểm (không tính hai nguồn):

    * Điểm dao động cực tiểu (không dao động): d1 – d2 = kl (kÎZ)

    Số đường hoặc số điểm (không tính hai nguồn):

    Chú ý: Với bài toán tìm số đường dao động cực đại và không dao động giữa hai điểm M, N cách hai nguồn lần lượt là d1M, d2M, d1N, d2N.

    Đặt DdM = d1M – d2M ; DdN = d1N – d2N và giả sử DdM < DdN.

    + Hai nguồn dao động cùng pha:

    • Cực đại: DdM < kl < DdN
    • Cực tiểu: DdM < (k+0,5)l < DdN

    + Hai nguồn dao động ngược pha:

    • Cực đại:DdM < (k+0,5)l < DdN

    * Cực tiểu: DdM < kl < DdN   .  Số giá trị nguyên của k thoả mãn các biểu thức trên là số đường cần tìm.

    IV. SÓNG ÂM

    1. Cường độ âm:

    Với W (J), P (W) là năng lượng, công suất phát âm của nguồn; S (m2) là diện tích mặt vuông góc với phương truyền âm (với sóng cầu thì S là diện tích mặt cầu S=4πR2)

    1. Mức cường độ âm

    Hoặc

    Với I0 = 10-12 W/m2 ở f = 1000Hz: cường độ âm chuẩn.

    1. * Tần số do đàn phát ra (hai đầu dây cố định Þ hai đầu là nút sóng)

    Ứng với k = 1 Þ  âm phát ra âm cơ bản có tần số

    k = 2,3,4… có các hoạ âm bậc 2 (tần số 2f1), bậc 3 (tần số 3f1)…

    * Tần số do ống sáo phát ra (một đầu bịt kín, một đầu để hở Þ một đầu là nút sóng, một đầu là bụng sóng)

    ;      Ứng với k = 0 Þ  âm phát ra âm cơ bản có tần số

    k = 1,2,3… có các hoạ âm bậc 3 (tần số 3f1), bậc 5 (tần số 5f1)…

    IV. ĐẶC ĐIỂM CỦA SÓNG ÂM

    1. Sóng âm, dao động âm:
    2. Dao động âm: Dao động âm là những dao động cơ học có tần số từ đến mà tai người có thể cảm nhận được.

    Sóng âm có tần số nhỏ hơn  gọi là sóng hạ âm; sóng âm có tần số lớn hơn  gọi là sóng siêu âm.

    1. Sóng âm là các sóng cơ học dọc lan truyền trong các môi trường vật chất đàn hồi: rắn, lỏng, khí. Không truyền được trong chân không.

    Chú ý: Dao động âm là dao động cưỡng bức có tần số bằng tần số của nguồn phát.

    1. Vận tốc truyền âm:

    Vận tốc truyền âm trong môi trường rắn lớn hơn môi trường lỏng, môi trường lỏng lớn hơn môi trường khí.

    Vận tốc truyền âm phụ thuộc vào tính đàn hồi và mật độ của môi trường.

    Trong một môi trường, vận tốc truyền âm phụ thuộc vào nhiệt độ và khối lượng riêng của môi trường đó.

    1. Đặc trưng sinh lí của âm:
    2. Nhạc âm: Nhạc âm là những âm có tần số hoàn toàn xác định; nghe êm tai như tiếng đàn, tiếng hát, …
    3. Tạp âm: Tạp âm là những âm không có tần số nhất định; nghe khó chịu như tiếng máy nổ, tiếng chân đi,
    4. Độ cao của âm: Độ cao của âm là đặc trưng sinh lí của âm phụ thuộc vào đặc trưng vật lí của âm là tần số. Âm cao có tần số lớn, âm trầm có tần số nhỏ.
    5. Âm sắc: Âm sắc là đặc trưng sinh lí phân biệt hai âm có cùng độ cao, nó phụ thuộc vào biên độtần số của âm hoặc phụ thuộc vào đồ thị dao động âm.
    6. Độ to: Độ to là đặc trưng sinh lí của âm phụ thuộc vào đặc trưng vật lí là mức cường độ âmtần số.

    Ngưỡng nghe: Âm có cường độ bé nhất mà tai người nghe được, thay đổi theo tần số của âm.

    Ngưỡng đau: Âm có cường độ lớn đến mức tai người có cảm giác đau ( ứng với  với mọi tần số).

    Miền nghe được là giới hạn từ ngưỡng nghe đến ngưỡng đau.

    Chú ý: Quá trình truyền sóng là quá trình truyền pha dao động, các phần tử vật chất dao động tại chỗ.

    V. HIỆU ỨNG ĐỐP-PLE

    1. Nguồn âm đứng yên, máy thu chuyển động với vận tốc vM.

    * Máy thu chuyển động lại gần nguồn âm thì thu được âm có tần số:

    * Máy thu chuyển động ra xa nguồn âm thì thu được âm có tần số:

    1. Nguồn âm chuyển động với vận tốc vS, máy thu đứng yên.

    * Máy thu chuyển động lại gần nguồn âm với vận tốc vM thì thu được âm có tần số:

    * Máy thu chuyển động ra xa nguồn âm thì thu được âm có tần số:

    Với v là vận tốc truyền âm, f là tần số của âm.

    Chú ý: Có thể dùng công thức tổng quát:

    Máy thu chuyển động lại gần nguồn thì lấy dấu “+” trước vM, ra xa thì lấy dấu “-“.

    Nguồn phát chuyển động lại gần nguồn thì lấy dấu “-” trước vS, ra xa thì lấy dấu “+“.

    CHƯƠNG : DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ

    I. CÁC ĐẠI LƯỢNG TRONG MẠCH DAO ĐỘNG LC

    1. Dao động điện từ

    * Điện tích tức thời q = q0cos(wt + j)

    * Hiệu điện thế (điện áp) tức thời

    * Dòng điện tức thời i = q’ = -wq0sin(wt + j) = I0cos(wt + j +)

    * Cảm ứng từ:

    Trong đó:  là tần số góc riêng ;   là chu kỳ riêng;    là tần số riêng

    ;

    * Năng lượng điện trường:        hoặc

    * Năng lượng từ trường:

    * Năng lượng điện từ:

    Chú ý: + Mạch dao động có tần số góc w, tần số f và chu kỳ T thì Wđ và Wt biến thiên với tần số góc   2w, tần số 2f và chu kỳ T/2

    + Mạch dao động có điện trở thuần R ¹ 0 thì dao động sẽ tắt dần. Để duy trì dao động cần cung

    cấp cho mạch một năng lượng có công suất:

    + Khi tụ phóng điện thì q và u giảm và ngược lại

    + Quy ước: q > 0 ứng với bản tụ ta xét tích điện dương thì i > 0 ứng với dòng điện chạy đến bản tụ mà ta xét.

    1. Phương trình độc lập với thời gian:

    Mạch dao động LC lí tưởng thực hiện dao động điện từ. Khoảng thời gian, giữa hai lần liên tiếp, năng lượng điện trường trên tụ điện bằng năng lượng từ trường trong cuộn dây.

    Khi năng lượng điện trường trên tụ bằng năng lượng từ trường trong cuộn cảm, ta có:    hay

    Với hai vị trí li độ  trên trục Oq, tương ứng với 4 vị trí trên đường tròn, các vị trí này cách đều nhau bởi các cung .

    Có nghĩa là, sau hai lần liên tiếp  , pha dao động đã biến thiên được một lượng là : Pha dao động biến thiên được 2p sau thời gian một chu kì T.

    Tóm lại, cứ sau thời gian  năng lượng điện lại bằng năng lượng từ.

    II. ĐIỆN TỪ TRƯỜNG, SÓNG ĐIỆN TỪ

    1. Bước sóng:
    2. Điện từ trường: Điện trường và từ trường có thể chuyển hóa cho nhau, liên hệ mật thiết với nhau. Chúng là hai mặt của một trường thống nhất gọi là điện từ trường.
    3. Giả thuyết Maxwell:
    4. a. Giả thuyết 1: Từ trường biến thiên theo thời gian làm xuất hiện một điện trường xoáy.
    5. b. Giả thuyết 2: Điện trường biến thiên theo thời gian làm xuất hiện một từ trường xoáy.
    6. Dòng điện dịch: Điện trường biến thiên theo thời gian làm xuất hiện một từ trường xoáy. Điện trường này tương đương như một dòng điện gọi là dòng điện dịch.
    7. Sóng điện từ: Sóng điện từ là quá trình truyền đi trong không gian của điện từ trường biến thiên tuần hoàn theo thời gian.
    8. Tính chất: + Sóng điện từ truyền đi với vận tốc rất lớn ().

    + Sóng điện từ mang năng lượng ().

    + Sóng điện từ truyền được trong môi trường vật chất và trong chân không.

    + Sóng điện từ tuân theo định luật phản xạ, định luật khúc xạ, giao thoa, nhiễu xạ, …

    + Sóng điện từ là sóng ngang.

    + Sóng điện từ truyền trong các môi trường vật chất khác nhau có vận tốc khác nhau.

    1. Phân loại và đặc tính của sóng điện từ:
    Loại sóng Tần số Bước sóng Đặc tính
    Sóng dài Năng lượng nhỏ, ít bị nước hấp thụ
    Sóng trung Ban ngày tầng điện li hấp thụ mạnh, ban đêm tầng điện li phản xạ
    Sóng ngắn Năng lượng lớn, bị tầng điện li và mặt đất phản xạ nhiều lần
    Sóng cực ngắn Có năng lượng rất lớn, không bị tầng điện li hấp thụ, truyền theo đường thẳng
    1. Mạch chọn sóng:
    2. Bước sóng điện từ mà mạch cần chọn:
    3. Một số đặc tính riêng của mạch dao động:
    1. Sóng điện từ

    Vận tốc lan truyền trong không gian v = c = 3.108m/s

    Máy phát hoặc máy thu sóng điện từ sử dụng mạch dao động LC thì tần số sóng điện từ phát hoặc thu được bằng tần số riêng của mạch.

    Bước sóng của sóng điện từ

    Lưu ý: Mạch dao động có L biến đổi từ LMin ® LMax và C biến đổi từ CMin ® CMax thì bước sóng l của

    sóng điện từ phát (hoặc thu)

    lMin tương ứng với LMin và CMin

    lMax tương ứng với LMax và CMax

    1. Sự tương tự giữa dao động điện và dao động cơ
    Đại lượng cơ Đại lượng điện Dao động cơ Dao động điện
    x q x” + w 2x = 0 q” + w 2q = 0
    v i
    m L x = Acos(wt + j) q = q0cos(wt + j)
    k v = x’ = -wAsin(wt + j) i = q’ = -wq0sin(wt + j)
    F u
    µ R F = -kx = -mw2x
    Wđ Wt (WC) Wđ =mv2 Wt = Li2
    Wt Wđ (WL) Wt = kx2 Wđ =

    CHƯƠNG : ĐIỆN XOAY CHIỀU

    1. CÁC MẠCH ĐIỆN XOAY CHIỀU.
    2. Biểu thức điện áp tức thời và dòng điện tức thời:

    u = U0cos(wt + ju) và i = I0cos(wt + ji)

    Với j = ju – ji là độ lệch pha của u so với i, có

    1. Dòng điện xoay chiều i = I0cos(2pft + ji)

    * Mỗi giây đổi chiều 2f lần

    * Nếu pha ban đầu ji =  hoặc ji =  thì chỉ giây đầu tiên

    đổi chiều 2f-1 lần.

    1. Công thức tính thời gian đèn huỳnh quang sáng trong một chu kỳ

    Khi đặt điện áp u = U0cos(wt + ju) vào hai đầu bóng đèn, biết đèn chỉ sáng lên khi u ≥ U1.

    Với ,  (0 < Dj < p/2)

    1. Dòng điện xoay chiều trong đoạn mạch R,L,C

    * Đoạn mạch chỉ có điện trở thuần R: uR cùng pha với i, (j = ju – ji = 0)    và   và

    Lưu ý: Điện trở R cho dòng điện không đổi đi qua và có

    * Đoạn mạch chỉ có cuộn thuần cảm L: uL nhanh pha hơn i là p/2, (j = ju – ji = p/2)

    và  với ZL = wL là cảm kháng

    Lưu ý: Cuộn thuần cảm L cho dòng điện không đổi đi qua hoàn toàn (không cản trở).

    * Đoạn mạch chỉ có tụ điện C: uC chậm pha hơn i là p/2, (j = ju – ji = -p/2)

    và  với  là dung kháng

    Lưu ý: Tụ điện C không cho dòng điện không đổi đi qua (cản trở hoàn toàn).

    1. Đặc điểm đoạn mạch thuần RLC nối tiếp:
    2. Tổng trở:
    3. Độ lệch pha (u so với i):
    4. Định luật Ohm:
    5. Công suất tiêu thụ trên đoạn mạch:

    Chú ý: Với mạch hoặc chỉ chứa L, hoặc chỉ chứa C, hoặc chứa LC không tiêu thụ công suất ()

    1. Giản đồ véc tơ: Ta có:
    1. Liên hệ giữa các hiệu điện thế hiệu dụng trong đoạn mạch thuần RLC nối tiếp:

    Từ suy ra

    Tương tự  suy ra

    Tương tự  suy ra

    suy ra

    1. Công suất toả nhiệt trên đoạn mạch RLC:

    * Công suất tức thời: P = UIcosj + UIcos(2wt + j

    * Công suất trung bình: P = UIcosj =  I2R.

    1. Điện áp u = U1 + U0cos(wt + j) được coi gồm một điện áp không đổi U1 và một điện áp xoay chiều u=U0cos(wt + j) đồng thời đặt vào đoạn mạch.
    2. Tần số dòng điện do máy phát điện xoay chiều một pha có P cặp cực, rôto quay với vận tốc n vòng/giây phát ra: f = pn Hz.

    +  Từ thông gửi qua khung dây của máy phát điện F :

    + Suất điện động tức thời: ;

    =   wNSBcos(wt + j – )           ;

    +  Hiệu điện thế tức thời: .  Nếu máy phát có điện trở rất nhỏ thì : U0 = E0.

    Với F0 = NBS là từ thông cực đại, N là số vòng dây, B là cảm ứng từ của từ trường, S là diện tích của vòng dây, w = 2pf , E0 = wNSB là suất điện động cực đại.

    1. Dòng điện xoay chiều ba pha là hệ thống ba dòng điện xoay chiều, gây bởi ba suất điện động xoay chiều cùng tần số, cùng biên độ nhưng độ lệch pha từng đôi một là

    trong trường hợp tải đối xứng thì

    Máy phát mắc hình sao: Ud = Up

    Máy phát mắc hình tam giác: Ud = Up

    Tải tiêu thụ mắc hình sao: Id = Ip

    Tải tiêu thụ mắc hình tam giác: Id = Ip

    Lưu ý: Ở máy phát và tải tiêu thụ thường chọn cách mắc tương ứng với nhau.

    1. Công thức máy biến áp:
    2. Công suất hao phí trong quá trình truyền tải điện năng:

    Trong đó: P  là công suất truyền đi ở nơi cung cấp

    U là điện áp ở nơi cung cấp

    cosj là hệ số công suất của dây tải điện

    là điện trở tổng cộng của dây tải điện (lưu ý: dẫn điện bằng 2 dây)

    Độ giảm điện áp trên đường dây tải điện: DU = IR

    Hiệu suất tải điện:  = .

    II. BÀI TOÁN CỰC TRỊ

    1. Hiện tượng cộng hưởng:

    Điều kiện cộng hưởng  thì .

    Suy ra . Chú ý

    1. Khi điện trở R thay đổi còn các đại lượng khác giữ không đổi.

    * Công suất P đạt cực đại khi :

    * Khi P < Pmax luôn tồn tại 2 giá trị R1, R2 để công suất tiêu thụ trên mạch bằng nhau, đồng thời thoả mãn đk

    * Các giá trị  I, UL, UC đạt cực đại khi : R = 0.

    * Giá trị UR cực đại khi : R = .

    * Khi R = R1 hoặc R = R2 mà công suất trên mạch có giá trị như nhau thì Pmax khi : R = .

    Nếu cuộn dây có điện trở r thì : R + r  =

     

    1. Khi giá trị điện dung C của tụ thay đổi, còn các đại lượng khác không đổi:

    *   Hiệu điện thế  đạt cực đại

    Khi :                và

    *  Khi C = C1 hoặc C = C2 mà công suất P trên mạch bằng nhau thì Pmax khi :

    *  Khi C = C1 hoặc C = C2 mà  UC bằng nhau thì UC đạt giá trị cực đại khi :         C = .

    *  Khi C = C1 hoặc C = C2 mà  các giá trị : I, P, UR, UL như nhau thì :

    * Các giá trị P, I, UR, UL, đạt cực đại khi mạch xảy ra cộng hưởng : ZC = ZL

     

    1. Khi giá trị độ tự cảm L của cuộn dây thay đổi, còn các đại lượng khác không đổi:

    * Hiệu điện thế        đạt cực đại khi :

    . Khi :                   và khi đó ta có :

    * Khi L = L1 hoặc L = L2 mà công suất P trên mạch bằng nhau thì  Pmax  khi :   .

    * Khi L = L1 hoặc L = L2 mà UL có giá trị như nhau thì  ULmax khi :                  .

    * Khi L = L1 hoặc L = L2 mà  I, P, UC, UR như nhau thì  :

    * Các giá trị P, I, UR, Uc, đạt cực đại khi mạch xảy ra cộng hưởng : ZL = ZC.

    1. Khi tần số góc ω của mạch thay đổi, còn các giá trị khác không đổi.

    *  Điều kiện của ω để UL max là  :

    *  Điều kiện của ω để UC max là  :

    * Khi ω = ω1  hoặc ω = ω2 mà P, I, Z, cosφ, UR có giá trị như nhau thì  P, I, Z, cosφ, UR sẽ đạt giá trị cực đại khi :                    ω =

    1. Liên quan độ lệch pha:
    2. Trường hợp 1:
    3. Trường hợp 2:
    4. Trường hợp 3: .
    5. Hai đoạn mạch AM gồm R1L1C1 nối tiếp và đoạn mạch MB gồm R2L2C2 nối tiếp mắc nối tiếp với nhau có UAB = UAM + UMB Þ uAB; uAMuMB cùng pha Þ tanuAB = tanuAM = tanuMB
    6. Hai đoạn mạch R1L1C1 và R2L2C2 cùng u hoặc cùng i có pha lệch nhau Dj

    Với  và  (giả sử j1 > j2)

    Có j1 – j2 = Dj Þ

    Trường hợp đặc biệt Dj = p/2 (vuông pha nhau) thì tanj1tanj2 = -1.

    VD: * Mạch điện ở hình 1 có uABuAM lệch pha nhau Dj

    Ở đây 2 đoạn mạch AB và AM có cùng i uAB chậm pha hơn uAM

    Þ  jAM ­– jAB = Dj Þ

    Nếu uAB vuông pha với uAM thì

    * Mạch điện ở hình 2: Khi C = C1 và C = C2 (giả sử C1 > C2) thì i1 và i2 lệch pha nhau Dj

    Ở đây  hai đoạn mạch RLC1 và RLC2 có cùng uAB 

    Gọi j1 và j2 là độ lệch pha của uAB so với i1i2

    thì có j1 > j2 Þ j1 – j2 = Dj

    Nếu I1 = I2 thì j1 = -j2 = Dj/2

    Nếu I1 ¹ I2 thì tính

     

     

    III. BÀI TOÁN HỘP KÍN (BÀI TOÁN HỘP ĐEN)

    X
    1. Mạch điện đơn giản:
    2. Nếu cùng pha với suy ra            chỉ chứa
    X
    1. Nếu sớm pha với góc  suy ra            chỉ chứa
    X
    1. Nếu trễ pha với góc  suy ra            chỉ chứa
    2. Mạch điện phức tạp:
    X
    1. Mạch 1

    Nếu  cùng pha với  suy ra            chỉ chứa

    X

    Nếu  và  tạo với nhau góc  suy ra            chỉ chứa

    X

    Vậy          chứa ()

    X
    1. Mạch 2

    Nếu  cùng pha với  suy ra            chỉ chứa

    X

    Nếu  và  tạo với nhau góc  suy ra            chỉ chứa

    X

    Vậy          chứa ()

    CHƯƠNG : SÓNG ÁNH SÁNG

     

    1. Hiện tượng tán sắc ánh sáng.

    * Đ/n: Là hiện tượng ánh sáng bị tách thành nhiều màu khác nhau khi đi qua mặt phân cách của hai môi trường trong suốt.

    * Ánh sáng đơn sắc là ánh sáng không bị tán sắc

    Ánh sáng đơn sắc có tần số xác định, chỉ có một màu.

    Bước sóng của ánh sáng đơn sắc , truyền trong chân không

    * Chiết suất của môi trường trong suốt phụ thuộc vào màu sắc ánh sáng. Đối với ánh sáng màu đỏ là nhỏ nhất, màu tím là lớn nhất.

    * Ánh sáng trắng là tập hợp của vô số ánh sáng đơn sắc có màu biến thiên liên tục từ đỏ đến tím.

    Bước sóng của ánh sáng trắng: 0,38 mm £ l £ 0,76 mm.

    1. Hiện tượng giao thoa ánh sáng (chỉ xét giao thoa ánh sáng trong thí nghiệm Iâng).

    * Đ/n: Là sự tổng hợp của hai hay nhiều sóng ánh sáng kết hợp trong không gian trong đó xuất hiện những vạch sáng và những vạch tối xen kẽ nhau.

    Các vạch sáng (vân sáng) và các vạch tối (vân tối) gọi là vân giao thoa.

    * Hiệu đường đi của ánh sáng (hiệu quang trình)

    Trong đó: a = S12 là khoảng cách giữa hai khe sáng

    D = OI là khoảng cách từ hai khe sáng S­1, S2 đến màn quan sát

    S1M = d1; S2M = d2

    x = OM  là (toạ độ) khoảng cách từ vân trung tâm đến điểm M ta xét

    * Vị trí (toạ độ) vân sáng: Dd = kl Þ

    k = 0:  Vân sáng trung tâm

    k = ±1: Vân sáng bậc (thứ) 1

    k = ±2: Vân sáng bậc (thứ) 2

    * Vị trí (toạ độ) vân tối: Dd = (k + 0,5)l Þ

    k = 0, k = -1: Vân tối thứ (bậc) nhất

    k = 1, k = -2: Vân tối thứ (bậc) hai

    k = 2, k = -3: Vân tối thứ (bậc) ba

    *  Khoảng cách giữa n vân sáng liên tiếp nhau là :

    *  Khoảng cách giữa m khoảng vân liên tiếp nhau là :

    *  Tại vị trí M mà

    * Khoảng vân i: Là khoảng cách giữa hai vân sáng hoặc hai vân tối liên tiếp:

    * Nếu thí nghiệm được tiến hành trong môi trường trong suốt có chiết suất n thì bước sóng và k/vân:

    * Khi nguồn sáng S di chuyển theo phương song song với S1S2 thì hệ vân di chuyển ngược chiều và khoảng vân i vẫn không đổi.

    Độ dời của hệ vân là:

    Trong đó: D là khoảng cách từ 2 khe tới màn

    D1 là khoảng cách từ nguồn sáng tới 2 khe

    d là độ dịch chuyển của nguồn sáng

    * Khi trên đường truyền của ánh sáng từ khe S1 (hoặc S2) được đặt một bản mỏng dày e, chiết suất n thì hệ vân sẽ dịch chuyển về phía S1 (hoặc S2) một đoạn:

    * Xác định số vân sáng, vân tối trong vùng giao thoa (trường giao thoa) có bề rộng L (đối xứng qua vân trung tâm)

    + Số vân sáng (là số lẻ):

    + Số vân tối (là số chẵn):

    Trong đó [x] là phần nguyên của x. Ví dụ: [6] = 6; [5,05] = 5; [7,99] = 7

    * Xác định số vân sáng, vân tối giữa hai điểm M, N có toạ độ x1, x2 (giả sử x1 < x2)

    + Vân sáng: x1 < ki < x2

    + Vân tối:    x1 < (k+0,5)i < x2

    Số giá trị k Î Z là số vân sáng (vân tối) cần tìm

    Lưu ý: M và N cùng phía với vân trung tâm thì x1 và x2 cùng dấu.

    M và N khác phía với vân trung tâm thì x1 và x2 khác dấu.

    * Xác định khoảng vân i trong khoảng có bề rộng L. Biết trong khoảng L có n vân sáng.

    + Nếu 2 đầu là hai vân sáng thì:

    + Nếu 2 đầu là hai vân tối thì:

    + Nếu một đầu là vân sáng còn một đầu là vân tối thì:  

    * Sự trùng nhau của các bức xạ l1, l2 … (khoảng vân tương ứng là i1, i2 …)

    + Trùng nhau của vân sáng: xs = k1i1 = k2i2 = …  Þ  k1l1 = k2l2 = …

    + Trùng nhau của vân tối: xt = (k1 + 0,5)i1 = (k2 + 0,5)i2 = …  Þ  (k1 + 0,5)l1 = (k2 + 0,5)l2 = …

    Lưu ý: Vị trí có màu cùng màu với vân sáng trung tâm là vị trí trùng nhau của tất cả các vs của các bức xạ.

    + Cách xác định số vân sáng trùng nhau trong một khoảng L:

    – Tìm khoảng cách ngắn nhất giữa 2 vs trùng nhau : Δxmin.

    – Số vân sáng trùng nhau : n = 2

    * Trong hiện tượng giao thoa ánh sáng trắng (0,38 mm £ l £ 0,76 mm)

    – Bề rộng quang phổ bậc k:  với lđ và lt là bước sóng ánh sáng đỏ và tím

    – Xác định số vân sáng, số vân tối và các bức xạ tương ứng tại một vị trí xác định (đã biết x)

    + Vân sáng: .

    Số vân sáng :

    Với 0,38 mm £ l £ 0,76 mm Þ  có bao nhiêu giá trị của k thì có bấy nhiêu vs , k € Z

    + Vân tối:

    Số vân tối :

    Với 0,38 mm £ l £ 0,76 mm  Þ  có bao nhiêu giá trị của k thì có bấy nhiêu vân tối , k € Z

    – Khoảng cách dài nhất và ngắn nhất giữa vân sáng và vân tối cùng bậc k:

    Khi vân sáng và vân tối nằm khác phía đối với vân trung tâm.

    Khi vân sáng và vân tối nằm cùng phía đối với vân trung tâm.

    *. Vị trí vân sáng bậc của bức xạ  trùng với vị trí vân sáng bậc của bức xạ :

    * . Vị trí vân sáng bậc của bức xạ  trùng với vị trí vân tối bậc của bức xạ :

    Chú ý: Trong không khí (chân không): ; trong môi trường có chiết suất n:

    Chú ý: Khoảng vân trong không khí là ; trong môi trường có chiết suất  khoảng vân

    III. QUANG PHỔ

    1. Máy quang phổ:
    2. Định nghĩa: Máy quang phổ là dụng cụ dùng để phân tích chùm sáng có nhiều thành phần thành những thành phần đơn sắc khác nhau.
    3. Cấu tạo:

    + Ống chuẩn trực là tạo ra chùm tia song song.

    + Lăng kính để phân tích song song thành những thành phần đơn sắc song song khác nhau.

    + Buồng ảnh là kính ảnh đặt tại tiêu điểm ảnh của thấu kính  để quan sát quang phổ.

    1. Nguyên tắc hoạt động:

    + Chùm tia qua ống chuẩn trực là chùm tia song song đến lăng kính.

    + Qua lăng kính chùm sáng bị phân tích thành các thành phần đơn sắc song song.

    + Các chùm tia đơn sắc qua buồng ảnh được hội tụ trên kính ảnh.

    1. Quang phổ liên tục:
    2. Định nghĩa: Quang phổ liên tục là dải màu biến thiên liên tục, quang phổ liên tục của ánh sáng là dải màu biến thiên liên tục từ đỏ tới tím.
    3. Nguồn phát: Các chất rắn, chất lỏng, chất khí có tỉ khối lớn nóng sáng phát ra quang phổ liên tục.
    4. Đặc điểm, tính chất:

    Qp liên tục không phụ thuộc thành phần hóa học của nguồn phát mà chỉ phụ thuộc vào nhiệt của nguồn phát

    + Ở nhiệt độ , các vật bắt đầu phát ra ánh sáng màu đỏ; ở nhiệt độ  đến  các vật phát ra quang phổ liên tục có màu biến thiên từ đỏ đến tím. Nhiệt độ của bề Mặt Trời khoảng , ánh sáng của Mặt Trời là ánh sáng trắng.

    1. Quang phổ vạch phát xạ:
    2. Định nghĩa: Qp vạch phát xạ là loại quang phổ gồm những vạch màu đơn sắc nằm trên một nền tối.
    3. Các chất khí hay hơi có áp suất thấp bị kích thích phát ra.
    4. Đặc điểm: + Các chất khí hay hơi ở áp suất thấp khác nhau cho những quang phổ vạch khác nhau cả về số lượng vạch, vị trí, màu sắc của các vạch và độ sáng tỉ đối của các vạch.

    + Mổi chất khí hay hơi ở áp suất thấp có một quang phổ vạch đặc trưng.

    1. Quang phổ vạch hấp thụ:
    2. Định nghĩa: Qp vạch hấp thụ là một hệ thống các vạch tối nằm trên một nền một quang phổ liên tục.
    3. Cách tạo:

    + Chiếu vào khe của máy quang phổ một ánh sáng trắng ta nhận được một quang phổ liên tục.

    + Đặt một đèn hơi Natri trên đường truyền tia sáng trước khi đến khe của máy quang phổ, trên nền quang phổ xuất hiện các vạch tối ở đúng vị trí các vạch vàng trong quang phổ vạch phát xạ của Natri.

    1. Điều kiện: Nhiệt độ của đám khí hay hơi hấp thụ phải thấp hơn nhiệt độ của nguồn sáng phát ra qplt.
    2. Hiện tượng đảo sắc: Ở một nhiệt độ nhất định, một đám khí hay hơi có khả năng phát ra những ánh sáng đơn sắc nào thì nó cũng có khả năng hấp thụ những ánh sáng đơn sắc đó.

    Chú ý: Quang phổ của Mặt Trời mà ta thu được trên Trái Đất là quang phổ hấp thụ, Bề mặt của Mặt Trời phát ra quang phổ liên tục.

    IV. SÓNG ĐIỆN TỪ

     

    Loại sóng Bước sóng Chú ý Vùng đỏ
    Tia gamma Vùng cam
    Tia Roengent Vùng vàng
    Tia tử ngoại Vùng lục
    Ánh sáng nhìn thấy Vùng lam
    Tia hồng ngoại Vùng chàm
    Sóng vô tuyến Vùng tím
    1. Tia hồng ngoại:
    2. Định nghĩa: Tia hồng ngoại là những bức xạ không nhìn thấy, có bước sóng lớn hơn bước sóng cùa ánh sáng đỏ ().
    3. Nguồn phát sinh: + Các vật bị nung nóng dưới  phát ra tia hồng ngoại.

    + Có  năng lượng Mặt Trời thuộc về vùng hồng ngoại.

    + Nguồn phát tia hồng ngoại thường là các đèn dây tóc bằng Vonfram nóng sáng có

    công suất từ .

    1. Tính chất, tác dụng: + Có bản chất là sóng điện từ.

    + Tác dụng nổi bật nhất là tác dụng nhiệt.

    + Tác dụng lên một loại kính ảnh đặc biệt gọi là kính ảnh hồng ngoại.

    + Bị hơi nước hấp thụ.

    + Có khả năng gây ra 1 số phản ứng hoá học.

    + Có thể biến điệu được như sóng điện từ cao tần.

    + Có thể gây gây ra hiện tượng quang điện trong cho một số chất bán dẫn

    1. Ứng dụng: Sấy khô sản phẩm, sưởi ấm, chụp ảnh hồng ngoại.
    2. Tia tử ngoại:
    3. Định nghĩa: Tia hồng ngoại là những bức xạ không nhìn thấy, có bước sóng nhỏ hơn bước sóng cùa ánh sáng tím ().
    4. Nguồn phát sinh: + Các vật bị nung nóng trên phát ra tia tử ngoại.

    + Có  năng lượng Mặt Trời thuộc về vùng tử ngoại.

    + Nguồn phát tia tử ngoại là các đèn hơi thủy ngân phát ra tia tử ngoại.

    1. Tính chất, tác dụng: + Có bản chất là sóng điện từ.

    + Tác dụng rất mạnh lên kính ảnh.

    + Làm phát quang một số chất.

    + Tác dụng làm ion hóa chất khí

    + Gây ra một số phản ứng quang hóa, quang hợp.

    + Gây hiệu ứng quang điện.

    + Tác dụng sinh học: hủy hoại tế bào, giết chết vi khuẩn, …

    + Bị thủy tinh, nước hấp thụ rất mạnh. Thạch anh gần như trong suốt đối với các

    tia tử ngoại

    1. Ứng dụng: Chụp ảnh; phát hiện các vết nứt, xước trên bề mặt sản phẩm; khử trùng; chữa bệnh còi xương
    2. Tia Rơnghen ( Tia X) :
    3. Định nghĩa: Tia X là những bức xạ điện từ có bước sóng từ đến (tia X cứng, tia X mềm).
    4. Cách tạo ra tia Rơnghen: Khi chùm tia catốt đập vào tấm kim loại có nguyên tử lượng phát ra.
    5. Tính chất, tác dụng: + Khả năng đâm xuyên rất mạnh.

    + Tác dụng mạnh lên kính ảnh.

    + Làm ion hóa không khí.

    + Làm phát quang nhiều chất.

    + Gây ra hiện tượng quang điện cho hầu hết các kim loại.

    + Tác dụng sinh lí: hủy diệt tế bào, diệt tế bào, diệt vi khuẩn, …

    1. Ứng dụng: Dò khuyết tật bên trong các sản phẩm, chụp điện, chiếu điện, chữa bệnh ung thư nông, đo liều lượng tia X …

    CHƯƠNG : LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG

    I. HIỆN TƯỢNG QUANG ĐIỆN NGOÀI.

    1. Định nghĩa : Hiện tượng ánh sáng làm bật các eletron ra khỏi bề mặt kim loại gọi là hiện tượng qđ ngoài.
    2. Các định luật quang điện:
    3. Định luật 1 quang điện: Hiện tượng quang điện chỉ xảy ra khi bước sóng ánh sáng kích thích () phải nhỏ hơn bằng giới hạn quang điện () của kim loại đó: .
    4. Định luật 2 quang điện: Cường độ dòng quang điện bão hòa tỉ lệ thuận với cường độ chùm sáng kích thích: .
    5. Định luật 3 quang điện: Động năng ban đầu cực đại của các electron quang điện chỉ phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng kích thích và bản chất của kim loại, không phụ thuộc vào cường độ chùm sáng kích thích: .

    II. THUYẾT LƯỢNG TỬ

    1. Giả thuyết lượng tử năng lượng của Plăng.

    Lượng năng lượng mà mỗi lần nguyên tử hay phân tử hấp thụ hay phát xạ có giá trị hoàn toàn xác định, gọi là lượng tử năng lượng. Lượng tử năng lượng kí hiệu là ε , có giá trị bằng : ε  = hf.

    Trong đó h = 6,625.10-34J.s là hằng số Plăng, f là tần số của ánh sáng được hấp thụ hay phát xạ.

    1. Thuyết lượng tử ánh sáng.

    +  Mỗi chùm sáng là 1 chùm hạt, mỗi hạt gọi là 1 phôtôn, mỗi phôtôn có năng lượng xác định ε  = hf. Cường độ chùm sáng tỉ lệ với số phôtôn phát ra trong 1 giây.

    + Phân tử, nguyên tử, electron…. phát xạ hay hấp thụ á/sáng có nghĩa là chúng phát xạ hay hấp thụ phôtôn

    + Các phôtôn bay dọc theo tia sáng với tốc độ c = 3.108 m/s trong chân không.

    1. Phương trình Einstein:
    2. Giới hạn quang điện:
    3. Động năng:
    4. Phương trình Einstein: hay

    Chú ý: Phương trình Einstein giải thích định luật 1; định luật 3; thuyết lượng tử giải thích định luật 2.

    1. Điều kiện để triệt tiêu hoàn toàn dòng quang điện:
    2. Dòng quang điện bão hòa: : Số electron bứt ra trong thời gian Δt.

    Ibh = n1.e         ( Trong đó n1 là số e bứt ra trong 1giây)

    1. Năng lượng chùm photon: : Số photon đập vào
    2. Công suất bức xạ của nguồn: . Nε là số phôtôn đến K trong 1 giây.
    3. Hiệu suất lượng tử:
    4. Định lí động năng:

    * Xét vật cô lập về điện, có điện thế cực đại VMax  và khoảng cách cực đại dMax mà electron chuyển động trong điện trường cản có cường độ E được tính theo công thức:

    * Với U là hiệu điện thế giữa anốt và catốt, vA là vận tốc cực đại của electron khi đập vào anốt, vK = v0Max là vận tốc ban đầu cực đại của electron khi rời catốt thì:

    1. Năng lượng tia X :

    Bước sóng nhỏ nhất của tia Rơnghen:

    Trong đó   là động năng của electron khi đập vào đối catốt (đối âm cực)

    U là hiệu điện thế giữa anốt và catốt

    v là vận tốc electron khi đập vào đối catốt

    v0 là vận tốc của electron khi rời catốt (thường v0 = 0)

    m = 9,1.10-31 kg là khối lượng electron.

    * Bán kính quỹ đạo của electron khi chuyển động với vận tốc v trong từ trường đều B

    Xét electron vừa rời khỏi catốt thì v = v0Max

    Khi

    Lưu ý: Hiện tượng quang điện xảy ra khi được chiếu đồng thời nhiều bức xạ thì khi tính các đại lượng: Vận tốc ban đầu cực đại  v0Max, hiệu điện thế hãm Uh, điện thế cực đại VMax, … đều được tính ứng với bức xạ có lMin (hoặc fMax).

    * Bán kính quỹ đạo khi electron quang điện chuyển động trong điện trường đều có .:

    III. MẪU NGUYÊN TỬ BOHR

    1. 1. Tiên đề Bohr:

     

     

    1. Tiên đề 1: Nguyên tử chỉ tồn tại ở những trạng thái có năng lượng hoàn toàn xác định gọi là trạng thái dừng. Ở trạng thái dừng nguyên tử không bức xạ năng lượng.
    2. Tiên đề 2: Nguyên tử ở thái thái có mức năng lượng cao hơn khi chuyển về trạng thái dừng có mức năng lượng thấp hơn sẽ giải phóng một năng lượng     và ngược lại.
    3. Hệ quả: Ở những trạng thái dừng các electron trong nguyên tử chỉ chuyển động trên quỹ đạo có bán kính hoàn toàn xác định gọi là quỹ đạo dừng: .

    Chú ý: Trong nguyên tử Hiđrô, trạng thái dừng là trạng thái có mức năng lượng thấp nhất (ứng với quỹ đạo K), các trạng thái có mức năng lượng cao hơn gọi là trạng thái kích thích (thời gian tồn tại ).

    Nguyên tử (electron) chỉ hấp thụ hoặc bức xạ năng lượng đúng bằng hiệu năng lượng giữa hai mức.

    1. Năng lượng ở trạng thái dừng:
    2. Bước sóng:

    hay:

    1. Quang phổ nguyên tử Hiđrô:

    Các electron ở trạng thái kích thích tồn tại khoảng  nên giải phóng năng lượng dưới dạng phôtôn để trở về các trạng thái có mức năng lượng thấp hơn.

    1. Dãy Lynam: Các electron chuyển từ trạng thái có mức năng lượng cao hơn về trạng thái có mức năng lượng ứng với quỹ đạo K (thuộc vùng tử ngoại).
    2. Dãy Balmer: Các electron chuyển từ trạng thái có mức năng lượng cao hơn về trạng thái có mức năng lượng ứng với quỹ đạo L (thuộc vùng tử ngoại và vùng nhìn thấy).
    3. Dãy Paschen: Các electron chuyển từ trạng thái có mức năng lượng cao hơn về trạng thái có mức năng lượng ứng với quỹ đạo M (thuộc vùng hồng ngoại).

    Chú ý: Bước sóng càng ngắn năng lượng càng lớn.

     Lưu ý: Vạch dài nhất lLK khi e chuyển từ L ® K

    Vạch ngắn nhất l¥K khi e chuyển từ ¥ ® K.

    – Dãy Banme: Một phần nằm trong vùng tử ngoại, một phần nằm trong vùng ánh sáng nhìn thấy

    Ứng với e chuyển từ quỹ đạo bên ngoài về quỹ đạo L

    Vùng ánh sáng nhìn thấy có 4 vạch:

    + Vạch đỏ Ha     ứng với e: M ® L                            + Vạch lam Hb   ứng với e: N ® L

    + Vạch chàm Hg ứng với e: O ® L                             + Vạch tím Hd    ứng với e: P ® L

    Lưu ý: Vạch dài nhất lML (Vạch đỏ Ha )

    Vạch ngắn nhất l¥L khi e chuyển từ ¥ ® L.

    – Dãy Pasen: Nằm trong vùng hồng ngoại

    Ứng với e chuyển từ quỹ đạo bên ngoài về quỹ đạo M

    Lưu ý: Vạch dài nhất lNM khi e chuyển từ N ® M.

    Vạch ngắn nhất l¥M khi e chuyển từ ¥ ® M.

    Mối liên hệ giữa các bước sóng và tần số của các vạch quang phổ của nguyên từ hiđrô:

    và f13 = f12 +f23   (như cộng véctơ)

    III. HẤP THỤ VÀ PHẢN XẠ ÁNH SÁNG

    1. Hấp thụ ánh sáng:

    Hấp thụ ánh sáng là hiện tượng môi trường vật chất làm giảm cường độ của chùm sáng truyền qua nó.

    1. Định luật về hấp thụ ánh sáng:

    Cường độ của chùm sáng đơn sắc khi truyền môi trường hấp thụ, giảm theo định luật hàm mũ của độ dài đường truyền tia sáng: .

    Trong đó:

    1. Hấp thụ lọc lựa:

    + Vật trong suốt (vật không màu) là vật không hấp thụ ánh sáng trong miền nhìn thấy của quang phổ.

    + Vật có màu đen là vật hấp thụ hoàn toàn ánh sáng trong miền nhìn thấy của quang phổ.

    + Vật trong suốt có màu là vật hấp thụ lọc lựa ánh sáng trong miền nhìn thấy của quang phổ.

    1. Phản xạ (tán sắc) lọc lựa ánh sáng:

    Các vật có thể hấp thụ lọc lựa một số ánh sáng đơn sắc, như vậy các vật cũng có thể phản xạ (tán sắc) một số ánh sáng đơn sắc. Hiện tượng đó được gọi là phản xạ (tán sắc) lọc lựa ánh sáng.

    Chú ý: Yếu tố quyết định đến việc hấp thụ, phản xạ (tán sắc) ánh sáng đó là bước sóng của ánh sáng.

    IV. LASER

    1. Hiện tượng phát quang:
    2. Sự phát quang: Có một số chất ở thể rắn, lỏng, khí khi hấp thụ một năng lượng dưới dạng nào đó thì có khả năng phát ra một bức xạ điện từ. Nếu bức xạ đó có bước sóng nằm trong giới hạn của ánh sáng nhìn thấy thì được gọi là sự phát quang.

    Đặc điểm

    Mỗi chất phát quang có một quang phổ đặc trưng riêng cho nó.
    Sau khi ngừng kích thích, sự phát quang của một số chất còn được duy trì trong một khoảng thời gian nào đó.

    + Thời gian phát quang là khoảng thời gian kể từ lúc ngừng kích thích cho đến lúc ngừng phát quang: Thời gian phát quang có thể kéo dài từ  đến vài ngày.

    + Hiện tượng phát quang là hiện tượng khi vật hấp thụ ánh sáng kích thích có bước sóng này để phát ra ánh sáng có bước sóng khác.

    1. Các dạng phát quang:

    + Huỳnh quang là sự phát quang có thời gian ngắn dưới , thường xảy ra với chất lỏng và khí.

    + Lân quang là sự phát quang có thời gian dài trên , thường xảy ra với chất rắn.

    Chú ý: Thực tế trong khoảng  không xác định được lân quang hay huỳnh quang.

    1. Định luật Xtốc về sự phát quang: Ánh sáng phát quang có bước sóng nhỏ hơn bước sóng ánh sáng kích thích: .
    2. Laser:
    3. Đặc điểm:

    +  Tia Laser  có tính đơn sắc cao. Độ sai lệch .

    + Tia Laser là chùm sáng kết hợp, các photon trong chùm sáng có cùng tần số và cùng pha.

    + Tia Laser là chùm sáng song song, có tính định hướng cao.

    + Tia Laser có cường độ lớn .

    1. Các loại Laser: Laser hồng ngọc, Laser thủy tinh pha nêođim, Lasre khí He – He, Laser , Laser bán dẫn, …
    2. Ứng dụng:

    + Trong thông tin liên lạc: cáp quang, vô tuyến định vị, …

    +  Trong y học: làm dao mổ, chữa một số bệnh ngoài da nhờ tác dụng nhiệt, …

    + Trong đầu đọc đĩa: CD, VCD, DVD, …

    + Trong công nghiệp: khoan, cắt, tôi, … với độ chính xác cao.

    CHƯƠNG :  THUYẾT TƯƠNG ĐỐI HẸP

    1. Các tiên đề Einstein:

    1. Tiên đề I (nguyên lí tương đối): Các hiện tượng vật lí diễn ra như nhau trong các hệ quy chiếu quán tính.
    2. Tiên đề II (nguyên lí bất biến của vận tốc ánh sáng): Vận tốc ánh sáng trong chân không có cùng giá trị bằng c trong mọi hệ quy chiếu quán tính, không phụ thuộc vào phương truyền và vận tốc của nguồn sáng hay máy thu.

    2. Các hệ quả:

    + Sự co của độ dài: Độ dài của một thanh bị co lại dọc theo phương chuyển động của nó: .

    + Sự dãn ra của khoảng thời gian: Đồng hồ gắn với quan sát viên chuyển động chạy chậm hơn đồng hồ gắn với quan sát viên đứng yên: .

    + Khối lượng tương đối: .                              + Động lượng tương đối: .

    + Năng lượng tương đối: .                      Chú ý:

    3. Đối với photon:

    + Năng lượng của photon:

    + Khối lượng tương đối tính của photon: , suy ra

    Mà  nên .

    CHƯƠNG : VẬT LÝ HẠT NHÂN

    I. HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ

    1. Cấu tạo hạt nhân:
    2. Đơn vị khối lượng nguyên tử ():
    3. Các công thức liên hệ:
    4. Số mol:
    5. Bán kính hạt nhân:

     

    II. NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN

    1. Độ hụt khối: ( m là khối lượng hạt nhân)
    2. Hệ thức Einstein: ; ;
    3. Năng lượng liên kết, năng lượng liên kết riêng:
    4. a. Năng lượng liên kết:
    5. Năng lượng liên kết riêng:

    Chú ý:  + Hạt nhân có năng lượng liên kết riêng càng lớn thì càng bền vững.

                 + Hạt nhân có số khối trong khoảng từ 50 đến 70, năng lượng liên kết riêng của chúng có giá trị

                    lớn nhất vào khoảng

     

    III. PHÓNG XẠ.

     

    1. Định nghĩa : Hiện tượng một hạt nhân không bền , tự phát phân rã phát ra các tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác gọi là hiện tượng phóng xạ.
    2. Đặc điểm : Hiện tượng phóng xạ hoàn toàn do nguyên nhân bên trong hạt nhân gây nên, không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như : nhiệt độ , áp suất, điện từ trường….
    3. Định luật phóng xạ:

    * Số nguyên tử chất phóng xạ còn lại sau thời gian t :

    * Số hạt nguyên tử bị phân rã bằng số hạt nhân con được tạo thành và bằng số hạt (a hoặc e hoặc e+) được tạo thành:

    * Khối lượng chất phóng xạ còn lại sau thời gian t :

    Trong đó: N0, m0 là số nguyên tử, khối lượng chất phóng xạ ban đầu

    T là chu kỳ bán rã

    là hằng số phóng xạ l và T không phụ thuộc vào các tác động bên ngoài mà chỉ phụ thuộc bản chất bên trong của chất  phóng xạ.

    * Khối lượng chất bị phóng xạ sau thời gian t :

    * Phần trăm chất phóng xạ bị phân rã:

    Phần trăm chất phóng xạ còn lại:

    * Khối lượng chất mới được tạo thành sau thời gian t :

    Trong đó: Am, Ac là số khối của chất phóng xạ ban đầu (mẹ) và của chất mới được tạo thành (con)

    NA = 6,022.10-23 mol-1 là số Avôgađrô.

    Lưu ý: Trường hợp phóng xạ b+, b thì Ac = Am Þ mc = Dm

    1. Độ phóng xạ H: Là đại lượng đặc trưng cho tính phóng xạ mạnh hay yếu của một lượng chất phóng xạ, đo bằng số phân rã trong 1 giây.

    H0 = lN0  là độ phóng xạ ban đầu.

    Đơn vị: Becơren (Bq); 1Bq = 1 phân rã/giây

    Curi (Ci);        1 Ci = 3,7.1010 Bq

    Lưu ý: Khi tính độ phóng xạ H, H0 (Bq) thì chu kỳ phóng xạ T phải đổi ra đơn vị giây(s).

    * Công thức độ phóng xạ:

    * Thể tích của dung dịch chứa chất phóng xạ:   ,   Trong đó:

    Chu kì bán rã của một số chất

     

    Chất phóng xạ

    Chu kì bán rã
    1. Các tia phóng xạ:
    2. Tia : .

    * Những tính chất của tia α :

    + Bị lệch trong điện trường,  từ trường.

    + Phóng ra từ hạt nhân phóng xạ với tốc độ khoảng 2.107m/s.

    + Có khả năng iôn hoá mạnh các nguyên tử trên đường đi, mất năng lượng nhanh, do đó nó chỉ đi được

    tối đa là 8cm trong không khí , khả năng đâm xuyên yếu, không xuyên qua được tấm bìa dày cỡ 1mm.

    1. Tia : ,

    * Những tính chất của tia  β :

    + Bị lệch trong điện trường,  từ trường nhiều hơn tia .

    + Phóng ra từ hạt nhân với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sang.

    + Có khả năng iôn hoá môi trường, nhưng yếu hơn tia α , tia β có khả năng đi quãng đường dài hơn trong không khí ( cỡ vài m ) vì vậy khả năng đâm xuyên của tia β mạnh hơn tia α , nó có thể xuyên qua tấm nhôm dày vài mm.

    * Lưu ý : Trong phóng xạ β có sự giải phóng các hạt nơtrino và phản nơtrino.

    1. Tia :

    * Bản chất là sóng điện từ có bước sóng cực ngắn , cũng là hạt photon có năng lượng cao.

    *  Những tính chất của tia γ :

    +  Không bị lệch trong điện trường, từ trường.

    + Phóng ra với tốc độ bằng tốc độ ánh sáng.

    + Có khả năng iôn hoá môi trường và khả năng đâm xuyên cực mạnh.

    IV. PHẢN ỨNG HẠT NHÂN

    1. Phương trình phản ứng:

    Trong số các hạt này có thể là hạt sơ cấp như nuclôn, eletrôn, phôtôn …

    Trường hợp đặc biệt là sự phóng xạ: X1 ® X2 + X3

    X1 là hạt nhân mẹ, X2 là hạt nhân con, X3 là hạt a hoặc b

    1. Các định luật bảo toàn trong phản ứng hạt nhân.

    + Bảo toàn số nuclôn (số khối):        A1 + A2 = A3 + A4

    + Bảo toàn điện tích (nguyên tử số): Z1 + Z2 = Z3 + Z4

    + Bảo toàn động lượng:

    + Bảo toàn năng lượng:

    Trong đó: DE là năng lượng phản ứng hạt nhân; DE = (m1+m2 – m3 – m4 )c= ( M0 – M ) c2.

    là động năng chuyển động của hạt X

    Lưu ý: – Không có định luật bảo toàn khối lượng.

    – Mối quan hệ giữa động lượng pX và động năng KX của hạt X là:

    – Khi tính vận tốc v hay động năng K thường áp dụng quy tắc hình bình hành

    Ví dụ:  biết

    hay

    hay

    Tương tự khi biết  hoặc

    Trường hợp đặc biệt: Þ

    Tương tự khi  hoặc

    v = 0 (p = 0) Þ p1 = p2 Þ

    Tương tự v1 = 0 hoặc v2 = 0.

    1. Phản ứng hạt nhân

    * Năng lượng phản ứng hạt nhân :     DE = (M0 – M)c2

    Trong đó: là tổng khối lượng các hạt nhân trước phản ứng.

    là tổng khối lượng các hạt nhân sau phản ứng.

    Lưu ý: – Nếu M0 > M thì pứ toả năng lượng DE dưới dạng động năng của các hạt X3, X4 hoặc phôtôn g.

    Các hạt sinh ra có độ hụt khối lớn hơn nên bền vững hơn.

    – Nếu M0 < M thì pứ thu năng lượng |DE| dưới dạng động năng của các hạt X1, X2 hoặc phôtôn g.

    Các hạt sinh ra có độ hụt khối nhỏ hơn nên kém bền vững.

    – Muốn phản ứng xảy ra thì phải cung cấp năng lượng dưới dạng động năng của các hạt A và B. Năng lượng cung cấp cho pứ bao gồm và động năng của các hạt mới sinh ra :

    * Trong phản ứng hạt nhân

    Các hạt nhân X1, X2, X3, X4 có:

    Năng lượng liên kết riêng tương ứng là e1, e2, e3, e4.

    Năng lượng liên kết tương ứng là DE1, DE2, DE3, DE4

    Độ hụt khối tương ứng là Dm1, Dm2, Dm3, Dm4

    Năng lượng của phản ứng hạt nhân  :          DE = A3e3 +A4e4 – A1e1 – A2e2

    DE = DE3 + DE4 – DE1 – DE2

    DE = (Dm3 + Dm4 – Dm1 – Dm2)c2

    1. Quy tắc dịch chuyển của sự phóng xạ

    + Phóng xạ a ():

    So với hạt nhân mẹ, hạt nhân con lùi 2 ô trong bảng tuần hoàn và có số khối giảm 4 đơn vị.

    + Phóng xạ b ():

    + So với hạt nhân mẹ, hạt nhân con tiến 1 ô trong bảng tuần hoàn và có cùng số khối.

    + Thực chất của phóng xạ b là một hạt nơtrôn biến thành 1 hạt prôtôn, 1 hạt electrôn và một hạt nơtrinô:

    Lưu ý: – Bản chất (thực chất) của tia phóng xạ b là hạt electrôn (e)

    – Hạt nơtrinô (v) không mang điện, không khối lượng (hoặc rất nhỏ) chuyển động với vận tốc của ánh sáng và hầu như không tương tác với vật chất.

    + Phóng xạ b+ ():

    So với hạt nhân mẹ, hạt nhân con lùi 1 ô trong bảng tuần hoàn và có cùng số khối.

    + Thực chất của phóng xạ b+ là 1 hạt prôtôn biến thành 1 hạt nơtrôn, 1 hạt pôzitrôn và 1 hạt nơtrinô:

    Lưu ý: Bản chất (thực chất) của tia phóng xạ b+ là hạt pôzitrôn (e+)

    + Phóng xạ g (hạt phôtôn)

    Hạt nhân con sinh ra ở trạng thái kích thích có mức năng lượng E1 chuyển xuống mức năng lượng E2 đồng thời phóng ra một phôtôn có năng lượng :

     * Lưu ý: Trong phóng xạ g không có sự biến đổi hạt nhân Þ phóng xạ g thường đi kèm theo pxạ a và b.

    1. Hai loại phản ứng tỏa năng lượng:

    – Phản ứng nhiệt hạch :

    + Hai hạt nhân rất nhẹ có (số khối A < 10), như Hidro, heli…  hợp lại thành hạt nhân nặng hơn. Vì sự tổng hợp hạt nhân chỉ có thể xảy ra ở nhiệt độ cao nên phản ứng này gọi là phản ứng nhiệt hạch.

    Ví dụ :  tỏa năng lượng khoảng 18MeV.

    + Ngoài điều kiện nhiệt độ cao, còn phải thỏa mãn hai điều kiện nữa để phản ứng tổng hợp hạt nhân có thể xảy ra. Đó là : mật độ hạt nhân  phải đủ lớn, đồng thời thời gianduy trì nhiệt độ cao (cỡ 108K) cũng phải đủ dài. Lo-sơn (Lawson) đã chứng minh điều kiện

    + Phản ứng nhiệt hạch trong lòng mặt trời và các ngôi sao là nguồn gốc năng lượng của chúng.

    + Trên Trái Đất con người đã thực hiện được phản ứng nhiệt hạch dưới dạng không kiểm soát được. Đó gọi là sự nổ của bom nhiệt hạch hay bom H

    Năng lượng tỏa ra trong phản ứng nhiệt hạch lớn hơn năng lượng tỏa ra trong phản ứng phân hạch rất nhiều. Nhiên liệu nhiệt hạch có thể coi là vô tận trong thiên nhiên.

     

    – Phản ứng phân hạch :

    + Một hạt nhân nặng hấp thụ một notron chậm (notron nhiệt) vỡ thành hai mảnh nhẹ hơn (có khối lượng cùng cỡ). Phản ứng này gọi là phản ứng phân hạch.

    + Đặc điểm : Sau mỗi phản ứng đều có hơn 2 notron được phóng ra, và mỗi phân hạch đều giải phóng ra năng lượng lớn. Người ta gọi đó là năng lượng hạt nhân.

    + Phản ứng phân hạch dây chuyền : Các nơtron sinh ra sau mỗi phân của của urani lại có thể bị hấp thụ bởi các hạt nhân urani khác ở gần đó và cứ thế, sự phân hạch tiếp diễn thành một dây chuyền. Số phân hạch tăng lên rất nhanh trong một thời gian ngắn, ta có phản ứng phân hạch dây chuyền.  Trên thực tế các notron sinh ra có thể mất đi do nhiều nguyên nhân khác nhau nên không tiếp tục tham gia vào phản ứng phân hạch. Thành thử, muốn phản ứng dây chuyền xảy ra ta phải xét tới số notron trung bình s  còn lại sau mỗi lần phân hạch (hệ số notron).

    + Nếu s <1 thì phản ứng dây chuyền không xảy ra.

    + Nếu s = 1 thì phản ứng xây chuyền xảy ra với mật độ notron không đổi. Đó là phản ứng dây chuyền điều khiển được xảy ra trong lò phản ứng hạt nhân.

    + Nếu s> 1thì dòng notron tăng lên liên tục theo thời gian, dẫn tới vụ nổ nguyên tử. Đó là phản ứng dây chuyền không điều khiển được.

    Để giảm thiểu số notron bị mất đi nhằm đảm bảo , thì khối lượng nhiên liệu hạt nhân cần phải có một giá trị tối thiểu, gọi là khối lượng giới hạn .

    1. Các hằng số và đơn vị thường sử dụng

    * Số Avôgađrô: NA = 6,022.1023 mol-1

    * Đơn vị năng lượng: 1eV = 1,6.10-19 J; 1MeV = 1,6.10-13 J

    * Đơn vị khối lượng nguyên tử (đơn vị Cacbon): 1u = 1,66055.10-27kg = 931 MeV/c2

    * Điện tích nguyên tố: |e| = 1,6.10-19 C

    * Khối lượng prôtôn: mp = 1,0073u

    * Khối lượng nơtrôn: mn = 1,0087u

    * Khối lượng electrôn: me = 9,1.10-31kg = 0,0005u

    CHƯƠNG : TỪ VI MÔ ĐẾN VĨ MÔ.

    I. CÁC HẠT SƠ CẤP

    1. Hạt sơ cấp: Các hạt sơ cấp (hạt cơ bản) là các hạt nhỏ hơn hạt nhân.
    2. Các đặc trương của hạt sơ cấp:
    3. Khối lượng nghỉ : Phôtôn , nơtrinô , gravitôn có khối lượng nghỉ bằng không.
    4. Điện tích: Các hạt sơ cấp có thể có điện tích bằng điện tích nguyên tố , cũng có thể không mang điện. Q được gọi là số lượng tử điện tích.
    5. Spin s: Mỗi hạt sơ cấp khi đứng yên cũng có momen động lượng riêng và momen từ riêng. Các momen này được đặc trưng bằng số lượng tử spin. Prôtôn, nơtrôn có , phôtôn có , piôn có .
    6. Thời gian sống trung bình T: Trong các hạt sơ cấp có 4 hạt không phân rã (proton, electron, photon, notrino) gọi là các hạt nhân bền. Còn các hạt khác gọi là hạt không bền và phân rã thành các hạt khác. Notron có , các hạt không bền có thời gian ngắn từ đến .
    7. Phản hạt: Các hạt sơ cấp thường tạo thành một cặp; mỗi cặp gồm hai hạt có khối lượng nghỉ và spin như nhau nhưng có điện tích trái dấu nhau. Trong quá trình tương tác có thể sinh cặp hoặc hủy cặp.
    8. Phân loại hạt sơ cấp:
    9. Photon (lượng tử ánh sáng):
    10. Lepton: Gồm các hạt nhẹ như electron, muyon (), các hạt tau (), …
    11. Mêzôn: Gồm các hạt có khối lượng trung bình, được chia thành mêzôn và mêzôn .

    Barion: Gồm các hạt nặng có khối lượng lớn, được chia thành nuclon và hipêrôn.

    Tập hợp các mêzôn và bariôn được gọi là hađrôn.

    1. Tương tác của các hạt sơ cấp:
    2. Tương tác hấp dẫn: Bán kính lớn vô cùng, lực tương tác nhỏ.
    3. Tương tác điện từ: Bán kính lớn vô hạn, lực tương tác mạnh hơn tương tác hấp dẫn cỡ lần.
    4. Tương tác yếu: Bán kính tác dụng rất nhỏ cỡ , lực tương tác yếu hơn t/ tác hấp dẫn cỡ lần.
    5. Tương tác mạnh: Bán kính tác dụng rất nhỏ cỡ , lực tương tác yếu hơn tương tác hấp dẫn cỡ lần. Tương tác giữa các hađrôn.
    6. Hạt quark:
    7. Hạt quark: Tất cả các hạt hađrôn được tạo nên từ các hạt rất nhỏ.
    8. Các loại quark: Có 6 loại quark là u, d, s, c, b, t và phản quark tương ứng. Điện tích các quark là .
    9. Các baraiôn: Tổ hợp của 3 quark tạo nên các baraiôn.

     

    II. MẶT TRỜI – HỆ MẶT TRỜI

    1. Hệ Mặt Trời: Gồm 8 hành tinh lớn, tiểu hành tinh, các sao chổi.

    Các hành tinh: Thủy tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên Vương tinh, Hải

    Vương tinh,

    + Để đo đơn vị giữa các hành tinh người ta dùng đơn vị thiên văn: .

    + Các hành tinh đều quay quanh mặt trời theo chiều thuận trong cùng một phẳng, Mặt Trời và các hành tinh tự quay quanh nó và đều quay theo chiều thận trừ Kim tinh.

    1. Mặt Trời:
    2. Cấu trúc của Mặt Trời: Gồm quang cầu và khí quyển

    + Quang cầu: Khối khí hình cầu nóng sáng, nhìn từ Trái Đất có bán kính góc 16 phút, bán kính của khối cầu khoảng , khối lượng riêng trung bình của các vật chất trong quang cầu là , nhiệt độ hiệu dụng .

    + Khí quyển: Bao quanh Mặt Trời có khí quyển Mặt Trời: Chủ yếu là Hiđrô, Heli. Khí quyển được chia ra hai lớp có tính chất vật lí khác nhau: Sắc cầu và nhật hoa.

    – Sắc cầu là lớp khí nằm sát mặt quang cầu có độ dày trên  và có nhiệt độ khoảng .

    – Phía trên sắc cầu là nhật hoa: Các phân tử vật chất tồn tại ở trạng thái ion hóa mạnh (trạng thái plasma), nhiệt độ khoảng . Nhật hoa có hình dạng thay đổi theo thời gian.

    1. Năng lượng Mặt Trời:

    + Năng lượng Mặt Trời được duy trì là nhờ trong lòng nó đang diễn ra các phản ứng nhiệt hạch.

    + Hằng số Mặt Trời  là lượng năng lượng bức xạ của Mặt trời truyền vuông góc tới một đơn vị diện tích cách nó một đơn vị thiên văn trong một đơn vị thời gian.

    + Công suất bức xạ  năng lượng Mặt Trời là .

    1. Sự hoạt động của Mặt Trời:

    + Quang cầu sáng không đều, có cấu tạo dạng hạt, gồm những hạt sáng biến đổi trên nền tối do sự đối lưu mà tạo thành: vết đen, bùng sáng, tai lửa:

    Vết đen có màu sẫm tối, nhiệt độ vào khoảng .

    Bùng sáng thường xuất hiện khi có vết đen, bùng sáng phóng ra tia X và dòng hạt tích điện gọi là gió Mặt Trời.

    Tai lửa là những lưỡi phun lửa cao trên sắc cầu.

    + Năm Mặt Trời có nhiều vết đen nhất xuất hiện được gọi là Năm Mặt Trời hoạt động. Năm Mặt Trời có ít vết đen nhất xuất hiện được gọi là Năm Mặt Trời tĩnh. Chu kì hoạt động của Mặt Trời có trị số trung bình là 11 năm.

    + Sự hoạt động của Mặt Trời có nhiều ảnh hưởng đến Trái Đất. Tia X và dòng hạt tích điện từ bùng sáng truyền đến Trái Đất gây ra nhiều tác động:

    Làm nhiễu hoặc mất thông tin liên lạc bằng sóng vô tuyến ngắn.

    Làm cho từ trường Trái Đất biến thiên, gây ra bão từ: bão từ xuất hiện sau khoảng 20 giờ kể từ khi bùng sáng xuất hiện trên sắc cầu

    Sự hoạt động của Mặt Trời còn có ảnh hưởng đến trạng thái thời tiết trên Trái Đất, đến quá trình phát triển của các sinh vật, …

    1. Trái Đất:
    2. Cấu tạo: + Trái Đất có dạng hình phỏng cầu, bán kính xích đạo bằng , bán kính ở hai cực bằng , khối lượng riêng trung bình .

    +  Lõi Trái Đất: bán kính ; chủ yếu là sắt, niken; nhiệt độ khoảng .

    + Vỏ Trái Đất: dày khoảng ; chủ yếu là granit; khối lượng riêng .

    1. Từ trường của Trái Đất:

    Trục từ của nam châm nghiêng so với trục địa cực một góc  và thay đổi theo thời gian.

    1. Mặt Trăng – vệ tinh của Trái Đất:

    + Mặt Trăng cách Trái Đất ; có bán kính ; có khối lượng ; gia tốc trọng trường ; quay quanh Trái Đất với chu kì ngày; Mặt Trăng quay quanh Trái Đất với chu kì bằng chu kì quay của Trái Đất quanh trục; quay cùng chiều với chiều quay quanh trái Đất, nên Mặt Trăng luôn hướng một nửa nhất định vào Trái Đất; nhiệt độ lúc giữa trưa , lúc nửa đêm .

    + Mặt Trăng có nhiều ảnh hưởng đến Trái Đất như thủy triều, …

    1. Các hành tinh khác. Sao chổi:
    2. Các đặc trưng cơ bản của các hành tinh
    Thiên thể Khoảng cách đến Mặt Trời (đvtv) Bán kính (km) Khối lượng (so với Trái Đất) Khối lượng riêng (103kg/m3) Chu kì tự quay Chu kì chuyển động quanh Mặt Trời Số vệ tinh đã biết
    Thủy tinh 0,39 2440 0,052 5,4 59 ngày 87,0 ngày 0
    Kim tinh 0,72 6056 0,82 5,3 243 ngày 224,7 ngày 0
    Trái Đất 1 6375 1 5,5 23g56ph 365,25 ngày (1 năm) 1
    Hỏa tinh 1,52 3395 0,11 3,9 24g37ph 1,88 năm 2
    Mộc tinh 5,2 71,490 318 1,3 9g50ph 11,86 năm > 30
    Thổ tinh 9,54 60,270 95 0,7 14g14ph 29,46 năm 19
    Thiên Vương tinh 19,19 25,760 15 1,2 17g14ph 84,00 năm 15
    Hải Vương tinh 30,07 25,270 17 1,7 16g11ph 164,80 năm > 8
    Diêm Vương tinh 39,5 1160 0,002 0,2 6,4 ngày 248,50 năm 1
    1. Sao chổi:

    + Sao chổi chuyển động quanh Mặt Trời theo quỹ đạo elíp; có kích thước và khối lượng rất nhỏ. Được cấu tạo từ các chất dễ bốc hơi như tinh thể băng, amoniac, mêtan, …

    Ngoài ra có những sao chổi thuộc thiên thể bền vững.

     

    III. CÁC SAO. THIÊN HÀ

    1. Các sao:
    2. Định nghĩa: Sao là một thiên thể nóng sáng giống như Mặt Trời. Các sao ở rất xa, hiện nay đã biết ngôi sao gần nhất cách chúng ta đến hàng chục tỉ kilômet; còn ngôi sao xa nhất cách xa đến 14 tỉ năm ánh sáng ().
    3. Độ sáng các sao:

    Độ sáng mà ta nhìn thấy của một ngôi sao thục chất là độ rọi sáng lên con ngươi của mắt ta, nó phụ thuộc vào khoảng cách và độ sáng thực của mỗi sao. Độ sáng thực của mỗi sao lại phụ thuộc vào công suất bức xạ của nó. Độ sáng của các sao rất khác nhau. Chẳng hạn Sao Thiên Lang có công suất bức xạ lớn hơn của Mặt Trời trên 25 lần; sao kém sáng nhất có công suất bức xạ nhỏ hơn của Mặt Trời hàng vạn lần.

    1. Các loại sao đặc biệt:

    + Đa số các sao tồn tại trong trạng thái ổn định; có kích thước, nhiệt độ .. không đổi trong một thời gian dài.

    + Ngoài ra; người ta đã phát hiện thấy có một số sao đặc biệt như sao biến quang, sao mới, sao nơtron, …

    Sao biến quang có độ sáng thay đổi, có hai loại:

    • Sao biến quang do che khuất là một hệ sao đôi (gồm sao chính và sao vệ tinh), độ sáng tổng hợp mà ta thu được sẽ biến thiên có chu kì.
    • Sao biến quang do nén dãn có độ sáng thay đổi thực sự theo một chu kì xác định.

    Sao mới có độ sáng tăng đột ngột lên hàng ngàn, hàng vạn lần rồi sau đó từ từ giảm. Lí thuyết cho rằng sao mới là một pha đột biến trong quá trình biến hóa của một hệ sao.

    Punxa, sao nơtron ngoài sự bức xạ năng lượng còn có phần bức xạ năng lượng thành xung sóng vô tuyến.

    • Sao nơtron được cấu tạo bỡi các hạt nơtron với mật độ cực kì lớn .
    • Punxa (pulsar) là lõi sao nơtron với bán kính tự quay với tốc độ góc và phát ra sóng vô tuyến. Bức xạ thu được trên Trái Đất có dạng từng xung sáng giống như áng sáng ngọn hải đăng mà tàu biển nhận được.
    1. Thiên hà:

    Các sao tồn tại trong Vũ trụ thành những hệ tương đối độc lập với nhau. Mỗi hệ thống như vậy gồm hàng trăm tỉ sao gọi là thiên hà.

    1. Các loại thiên hà:
    • Thiên hà xoắn ốc có hình dạng dẹt như các đĩa, có những cánh tay xoắn ốc, chứa nhiều khí.
    • Thiên hà elip có hình elip, chứa ít khí và có khối lượng trải ra trên một dải rộng. Có một loại thiên hà elip là nguồn phát sóng vô tuyến điện rất mạnh.
    • Thiên hà không định hình trông như những đám mây (thiên hà Ma gien-lăng).
    1. Thiên Hà của chúng ta:
    • Thiên Hà của chúng ta là thiên hà xoắn ốc, có đường kính khoảng 90 nghìn năm ánh sáng và có khối lượng bằng khoảng 150 tỉ khối lượng Mặt Trời. Nó là hệ phẳng giống như một cái đĩa dày khoảng 330 năm ánh sáng, chứa vài trăm tỉ ngôi sao.
    • Hệ Mặt Trời nằm trong một cánh tay xoắn ở rìa Thiên Hà, cách trung tâm khoảng 30 nghìn năm ánh sáng. Giữa các sao có bụi và khí.
    • Phần trung tâm Thiên Hà có dạng hình cầu dẹt gọi là vùng lồi trung tâm được tạo bỡi các sao già, khí và bụi.
    • Ngay ở trung tâm Thiên Hà có một nguồn phát xạ hồng ngoại và cũng là nguồn phát sóng vô tuyến điện (tương đương với độ sáng chừng 20 triệu ngôi sao như Mặt Trời và phóng ra1 luồng gió mạnh).
    • Từ Trái Đất, chúng ta chỉ nhìn được hình chiếu của thiên Hà trên vòm trời gọi là dải Ngân Hà nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam trên nền trời sao.
    1. Nhóm thiên hà. Siêu nhóm thiên hà:

    +  Vũ trụ có hàng trăm tỉ thiên hà, các thiên hà thường cách nhau khoảng mười lần kích thước Thiên Hà của chúng ta. Các thiên hà có xu hướng hợp lại với nhau thành từng nhóm từ vài chục đến vài nghìn t / hà.

    + Thiên Hà của chúng ta và các thiên hà lân lận thuộc về Nhóm thiên hà địa phương, gồm khoảng 20 thành viên, chiếm một thể tích không gian có đường kính gần một triệu năm ánh sáng. Nhóm này bị chi phối chủ yếu bỡi ba thiên hà xoắn ốc lớn: Tinh vân Tiên Nữ (thiên hà Tiên Nữ M31 hay NGC224); Thiên Hà của chúng ta; Thiên hà Tam giác, các thành viên còn lại là Nhóm các thiên hà elip và các thiên hà không định hình tí hon.

    + Ở khoảng cách cỡ khoảng 50 triệu năm ánh sáng là Nhóm Trinh Nữ  chứa hàng nghìn thiên hà trải rộng trên bầu trời trong chòm sao Trinh Nữ.

    + Các nhóm thiên hà tập hợp lại thành Siêu nhóm thiên hà hay Đại thiên hà. Siêu nhóm thiên hà địa phương có tâm nằm trong ở Nhóm Trinh Nữ và chứa tất cả các nhóm bao quanh nó, trong đó có nhóm thiên hà địa phương của chúng ta.

     

    IV. THUYẾT VỤ NỔ LỚN (BIG BANG)

    1. Định luật Hubble (Hớp-bơn): Tốc độ lùi ra xa của thiên hà tỉ lệ với khoảng cách giữa thiên hà và chúng ta: ;
    2. Thuyết vụ nổ lớn (Big Bang):

    + Theo thuyết vụ nổ lớn, vũ trụ bắt đầu dãn nở từ một “điểm kì dị”. Để tính tuổi và bán kính vũ trụ, ta chọn “điểm kì dị” làm mốc (gọi là điểm zêrô Big Bang).

    + Tại thời điểm này các định luật vật lí đã biết và thuyết tương đối rộng không áp dụng được. Vật lí học hiện đại dựa vào vật lí hạt sơ cấp để dự đoán các hiện tượng xảy ra bắt đầu từ thời điểm  sau Vụ nổ lớn gọi là thời điểm Planck.

    + Ở thời điểm Planck, kích thước vụ trụ là , nhiệt độ là  và mật độ là . Các trị số cực lớn cực nhỏ này gọi là trị số Planck. Từ thời điểm này Vũ trụ dãn nở rất nhanh, nhiệt độ của Vũ trụ giảm dần. Tại thời điểm Planck, Vũ trụ bị tràn ngập bỡi các hạt có năng lượng cao như electron, notrino và quark, năng lượng ít nhất bằng .

    + Tại thời điểm , chuyển động các quark và phản quark đã đủ chậm để các lực tương tác mạnh gom chúng lại và gắn kết chúng lại thành các prôtôn và nơtrôn, năng lượng trung bình của các hạt trong vũ trụ lúc này chỉ còn .

    + Tại thời điểm , các hạt nhân Heli được tạo thành. Trước đó, prôtôn và nơtrôn đã kết hợp với nhau để tạo thành hạt nhân đơteri . Khi đó, đã xuất hiện các hạt nhân đơteri , triti , heli  bền. Các hạt nhân hiđrô và hêli chiếm  khối lượng các sao và các thiên hà, khối lượng các hạt nhân nặng hơn chỉ chiếm . Ở mọi thiên thể, có  khối lượng là hêli và có  khối lượng là hiđrô. Điều đó chứng tỏ, mọi thiên thể, mọi thiên hà có cùng chung nguồn gốc.

    +  Tại thời điểm , các loại hạt nhân khác đã được tạo thành, tương tác chủ yếu chi phối vũ trụ là tương tác điện từ. Các lực điện từ gắn các electron với các hạt nhân, tạo thành các nguyên tử H và He.

    +  Tại thời điểm , các nguyên tử đã được tạo thành, tương tác chủ yếu chi phối vũ trụ là tương tác hấp dẫn. Các lực hấp dẫn thu gom các nguyên tử lại, tạo thành các thiên hà và ngăn cản các thiên hà tiếp tục nở ra. Trong các thiên hà, lực hấp dẫn nén các đám nguyên tử lại tạo thành các sao. Chỉ có khoảng cách giữa các thiên hà tiếp tục tăng lên.

    +  Tại thời điểm , vũ trụ ở trạng thái như hiện nay với nhiệt độ trung bình .

  • Công thức vật lý lớp 12

    Công thức vật lý lớp 12

    Công thức vật lý lớp 12

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập giải tích 1 (ĐH)


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Công thức vật lý lớp 12

    CHƯƠNG II: DAO ĐỘNG CƠ

    I. DAO ĐỘNG ĐIỀU HOÀ

    1. P.trình dao động : x = Acos(wt + j)
    2. Vận tốc tức thời : v = –wAsin(wt + j)
    3. Gia tốc tức thời : a = –w2Acos(wt + j) = –w2x

     luôn hướng về vị trí cân bằng

    1. Vật ở VTCB : x = 0; |v|Max = wA; |a|Min = 0

        Vật ở biên         :   x = ±A; |v|Min = 0; |a|Max = w2A

    1. Hệ thức độc lập: ;
    2. Cơ năng:
    3. Dao động điều hoà có tần số góc là w, tần số f, chu kỳ T. Thì động năng và thế năng biến thiên với tần số góc 2w, tần số 2f, chu kỳ T/2.
    4. 8. Tỉ số giữa động năng và thế năng:
    5. 9. Vận tốc, vÞ trÝ cña vËt t¹i ®ã :

    + ®.n¨ng = n lÇn thÕ n¨ng   :

    + ThÕ n¨ng = n lÇn ®.n¨ng  :

    1. Khoảng thời gian ngắn nhất để vật đi từ vị trí có li độ x1 đến x2

                   

    1. Chiều dài quỹ đạo: 2A
    2. Quãng đường đi trong 1 chu kỳ luôn là 4A; trong 1/2 chu kỳ luôn là 2A
    3. Quãng đường vật đi được từ thời điểm t­1 đến t2.

    Phân tích: t2 – t1 = nT + Dt (n ÎN; 0 ≤ Dt < T)

    • Quãng đường đi được trong thời gian nT là S1 = 4nA
    • Trong thời gian Dt là S2.

    Quãng đường tổng cộng là S = S1 + S2

    Lưu ý:   

    + Nếu  Dt = T/2 thì S2 = 2A

    + Tính S2 bằng cách định vị trí x1, x2 và vẽ vòng tròn mối quan hệ

    + Tốc độ trung bình của vật đi từ thời điểm t1 đến t2:

    1. Bài toán tính quãng đường lớn nhất và nhỏ nhất vật đi được trong khoảng thời gian 0 < Dt < T/2.

    – Vật có vận tốc lớn nhất khi qua VTCB, nhỏ nhất khi qua vị trí biên nên trong cùng một khoảng thời gian quãng đường đi được càng lớn khi vật ở càng gần VTCB và càng nhỏ khi càng gần vị trí biên.

    – Sử dụng mối liên hệ giữa dao động điều hoà và chuyển  đường tròn đều.

    + Góc quét Dj = wDt.

    + Quãng đường lớn nhất khi vật đi từ M1 đến M2 đối xứng qua trục

    sin

    + Quãng đường nhỏ nhất khi vật đi từ M1 đến M2 đối xứng qua trục cos

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Lưu ý:     + Trong trường hợp Dt > T/2

    Tách  (trong đó )

    Trong thời gian  quãng đường  luôn là 2nA

    Trong thời gian Dt’ thì quãng đường lớn nhất, nhỏ nhất tính như trên.

    + Tốc độ trung bình lớn nhất và nhỏ nhất của trong khoảng thời gian Dt:

    và  với SMax; SMin tính như trên.

    1. Các bước lập phương trình dao động dao động điều hoà:

    * Tính w

    * Tính A dựa vào phương trình độc lập

    * Tính j dựa vào điều kiện đầu và vẽ vòng tròn (-π < j ≤ π)

    1. Các bước giải bài toán tính thời điểm vật đi qua vị trí đã biết x (hoặc v, a, Wt, Wđ, F) lần thứ n

    * Xác định M0 dựa vào pha ban đầu

    * Xác định M dựa vào x (hoặc v, a, Wt, Wđ, F)

    * Áp dụng công thức  (với )

    Lưu ý: Đề ra thường cho giá trị n nhỏ, còn nếu n lớn thì tìm quy luật để suy ra nghiệm thứ n

    1. Các bước giải bài toán tìm li độ, vận tốc dao động sau (trước) thời điểm t một khoảng thời gian Dt.

    * Xác định góc quét  trong khoảng thời gian  Dt :

    * Từ vị trí ban đầu (OM1) quét bán kính một góc lùi (tiến) một góc , từ đó xác định M2 rồi chiếu lên Ox xác định x

    II. CON LẮC LÒ XO

    k tỉ lệ nghịch với T2
    m tỉ lệ thuận với T2

    và

     

    m = m1 + m2 —-> T2 = (T1)2 + (T2)2

    m = m1 – m2 —-> T2 = (T1)2 – (T2)2

    * Ghép nối tiếp các lò xo  Þ cùng treo một vật khối lượng như nhau thì: T2 = T12 + T22

    * Ghép song song các lò xo: k = k1 + k2 + … Þ cùng treo một vật khối lượng như nhau thì:

    Điều kiện dao động điều hoà: Bỏ qua ma sát, lực cản và vật dao động trong giới hạn đàn hồi

    1. Cơ năng:
    2. * Độ biến dạng của lò xo thẳng đứng khi vật ở VTCB:

    Þ

    * Độ biến dạng của lò xo khi vật ở VTCB với con lắc lò xo

    nằm trên mặt phẳng nghiêng có góc nghiêng α:

    Þ

    + Chiều dài lò xo tại VTCB: lCB = l0 + Dl (l0 là chiều dài tự nhiên)

    + Chiều dài cực tiểu (khi vật ở vị trí cao nhất): lMin = l0 + Dl – A

    + Chiều dài cực đại (khi vật ở vị trí thấp nhất): lMax = l0 + Dl + A

              Þ lCB = (lMin + lMax)/2

    + Khi A >Dl (Với Ox hướng xuống):

    – Thời gian lò xo nén 1 lần là thời gian ngắn nhất để vật đi

    từ vị trí x1 = –Dl đến x2 = -A.

    – Thời gian lò xo giãn 1 lần là thời gian ngắn nhất để vật đi

    từ vị trí x1 = –Dl đến x2 = A,

    Trong một dao động (một chu kỳ) lò xo nén 2 lần và giãn 2 lần!

    1. Lực kéo về hay lực hồi phục F = -kx = -mw2x

    Đặc điểm:             * Là lực gây dao động cho vật.

    * Luôn hướng về VTCB

    * Biến thiên điều hoà cùng tần số với li độ

    1. Lực đàn hồi là lực đưa vật về vị trí lò xo không biến dạng.

    Có độ lớn Fđh = kx* (x* là độ biến dạng của lò xo)

    * Với con lắc lò xo nằm ngang thì lực kéo về và lực đàn hồi là một (vì tại VTCB lò xo không biến dạng)

    * Với con lắc lò xo thẳng đứng hoặc đặt trên mặt phẳng nghiêng

    + Độ lớn lực đàn hồi có biểu thức:

    * Fđh = k|Dl + x| với chiều dương hướng xuống

    * Fđh = k|Dl – x|  với chiều dương hướng lên

    + Lực đàn hồi cực đại (lực kéo): FMax = k(Dl + A) = FKmax  (lúc vật ở vị trí thấp nhất)

    + Lực đàn hồi cực tiểu:

    * Nếu A < Dl Þ FMin = k(Dl – A) = FKMin

    * Nếu A ≥ Dl Þ FMin = 0 (lúc vật đi qua vị trí lò xo không biến dạng)

    1. Một lò xo có độ cứng k, chiều dài l được cắt thành các lò xo có độ cứng k1, k2, … và chiều dài tương ứng là l1, l2, … thì có:

    kl = k1l1 = k2l2 = …

    1. Đo chu kỳ bằng phương pháp trùng phùng

    Để xác định chu kỳ T của một con lắc lò xo (con lắc đơn) người ta so sánh với chu kỳ T0 (đã biết) của một con lắc khác (T » T0).

    Hai con lắc gọi là trùng phùng khi chúng đồng thời đi qua một vị trí xác định theo cùng một chiều.

    Thời gian giữa hai lần trùng phùng

    Nếu T > T0 Þ q = (n+1)T = nT0.

    Nếu T < T0 Þ q = nT = (n+1)T0. với n Î N*

    III. CON LẮC ĐƠN

    1. Con l¾c dao ®éng víi li ®é gãc bÐ (<100– ®Ó ®­îc coi nh­ mét

    D§§H)

    tøc l tØ lÖ thuËn víi T2 nªn   l = l1 + l2 —–> T2 = (T1)2 + (T2)2

    1. Lực hồi phục

    + Với con lắc đơn lực hồi phục tỉ lệ thuận với khối lượng.

    + Với con lắc lò xo lực hồi phục không phụ thuộc vào khối lượng.

    1. Phương trình dao động:

    s = S0cos(wt + j) hoặc α = α0cos(wt + j)  với s = αl, S0 = α0l

    Þ v = s’ = -wS0sin(wt + j) = -wlα0sin(wt + j)

    Þ a = v’ = -w2S0cos(wt + j) = -w2lα0cos(wt + j) = -w2s = -w2αl

    Lưu ý: S0 đóng vai trò như A còn s đóng vai trò như x

    1. Hệ thức độc lập: a = -w2s = -w2αl
    1. Công thức tính gần ®óng vÒ sự thay đổi chu kỳ tæng qu¸t của con lắc đơn (chó ý lµ chØ ¸p dông cho sù thay ®æi c¸c yÕu tè lµ nhá):
    2. Cơ năng:
    3. Khi con lắc đơn dao động với a0 bất kỳ.

    Cơ năng                 W = mgl(1-cosa0);

    Tốc độ                   v2 = 2gl(cosα – cosα0)

    Lực căng               T = mg(3cosα – 2cosα0)

    Khi con lắc đơn DĐĐH(a << ) thì:

    víi : R = 6400km,

    NÕu bµi to¸n cho thay ®æi yÕu tè nµo th× dïng yÕu tè ®ã ®Ó tÝnh cßn c¸c yÕu cßn l¹i coi nh­ b»ng kh«ng

    Sù sai lÖch ®ång hå trong mét ngµy ®ªm sÏ lµ :

    1. Khi con lắc đơn chịu thêm tác dụng của lực phụ không đổi:

    Lực phụ không đổi thường là:

    * Lực quán tính: , độ lớn F = ma     ( )

    * Lực điện trường: , độ lớn F = |q|E   (Nếu q > 0 Þ ; còn nếu q < 0 Þ )

    Khi đó:  gọi là trọng lực hiệu dụng hay trong lực biểu kiến (có vai trò như trọng lực )

    gọi là gia tốc trọng trường hiệu dụng hay gia tốc trọng trường biểu kiến.

    Chu kỳ dao động của con lắc đơn khi đó:

    Các trường hợp đặc biệt:

    *  có phương ngang:

    + Tại VTCB dây treo lệch với phương thẳng đứng một góc có:

    +

    * có phương thẳng đứng thì

    + Nếu  hướng xuống thì

    + Nếu  hướng lên thì

    IV. TỔNG HỢP DAO ĐỘNG

    1. Tổng hợp hai dao động điều hoà cùng phương cùng tần số x1 = A1cos(wt + j1) và x2 = A2cos(wt + j2) được một dao động điều hoà cùng phương cùng tần số x = Acos(wt + j).

    Trong đó:

    với j1 ≤ j ≤ j2  (nếu j1 ≤ j2 )

    * Nếu Dj = 2kπ (x1, x2 cùng pha) Þ AMax = A1 + A2

    `* Nếu Dj = (2k+1)π (x1, x2 ngược pha) Þ AMin = |A1 – A2|

    Þ |A1 – A2|  ≤ A ≤ A1 + A2

    1. Thông thường ta gặp các trường hợp đặc biệt sau:

    + =00        thì A =A1+A2

    + =900     thì

    + =1200  và A1=A2   thì A=A1=A2

    + =1800   thì

    1. DAO ĐỘNG TẮT DẦN-DAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC-CỘNG HƯỞNG
    2. Dao động tắt dần của con lắc lò xo

    + §é gi¶m c¬ n¨ng sau mét chu k× b»ng c«ng cña lùc ma s¸t c¶n trë trong chu k× ®ã, nªn :

    + Số dao động thùc hiÖn ®­îc:

    + Thêi gian kÓ tõ lóc b¾t ®Çu dao ®éng cho ®Õn khi dõng h¼n:

    + Gäi lµ qu·ng ®­êng ®i ®­îc kÓ tõ lóc chuyÓn ®éng cho ®Õn khi dõng h¼n. C¬ n¨ng ban ®Çu b»ng tæng c«ng cña lùc ma s¸t trªn toµn bé qu·ng ®­êng ®ã, tøc lµ:

    1. Dao ®éng t¾t dÇn cña con l¾c ®¬n

    + Suy ra, ®é gi¶m biªn ®é dµi sau mét chu k×:

    + Sè dao ®éng thùc hiÖn ®­îc:

    + Thêi gian kÓ tõ lóc chuyÓn ®éng cho ®Õn khi dõng h¼n:

    + Gäi lµ qu·ng ®­êng ®i ®­îc kÓ tõ lóc chuyÓn ®éng cho ®Õn khi dõng h¼n. C¬ n¨ng ban ®Çu b»ng tæng c«ng cña lùc ma s¸t trªn toµn bé qu·ng ®­êng ®ã, tøc lµ:

    1. Hiện tượng cộng hưởng xảy ra khi: f = f0 hay w = w0 hay T = T0

    Với f, w, T và f0, w0, T0 là tần số, tần số góc, chu kỳ của lực cưỡng bức và của hệ dao động.

    CHƯƠNG III: SÓNG CƠ

    I. SÓNG CƠ HỌC

    1. l = vT = v/f
    2. Phương trình sóng

    Tại điểm O:

           uO = Acos(wt + j)

    Tại điểm M1 :   uM1 =  Acos(wt + j – )

    Tại điểm M2 :   uM2 =  Acos(wt + j + )

    1. Độ lệch pha giữa hai điểm trên cùng một phương truyền cách nhau một khoảng d là :
    2. Trong hiện tượng truyền sóng trên sợi dây, dây được kích thích dao động bởi nam châm điện với tần số dòng điện là f thì tần số dao động của dây là 2f.

    II. SÓNG DỪNG

    1. Một số chú ý

    * Đầu cố định hoặc âm thoa là nút sóng.

    * Đầu tự do là bụng sóng

    * 2điểm đối xứng với nhau qua nút sóng luôn dao động ngược pha.

    * 2điểm đối xứng với nhau qua bụng sóng luôn dao động cùng pha.

    * Các điểm trên dây đều dao động với biên độ không đổi Þ năng lượng không truyền đi

    * Khoảng thời gian giữa hai lần sợi dây căng ngang (các phần tử đi qua VTCB) là nửa chu kỳ.

    1. Điều kiện để có sóng dừng trên sợi dây dài l:

    * Hai đầu là nút sóng:

    Số bụng sóng = số bó sóng = k

    Số nút sóng = k + 1

    * Một đầu là nút sóng còn một đầu là bụng sóng:

    Số bó sóng nguyên = k

    Số bụng sóng = số nút sóng = k + 1

    III. GIAO THOA SÓNG

    Phương trình sóng tại 2 nguồn (cách nhau một khoảng l)

    ;

    Phương trình tại điểm M cách hai nguồn lần lượt d1, d2

    * Số cực đại:

    * Số cực tiểu:

    1. Hai nguồn dao động cùng pha ()

    * Điểm dao động cực đại: d1 – d2 = kl (kÎZ)

    Số đường hoặc số điểm (không tính hai nguồn):

    * Điểm dao động cực tiểu (không dao động): d1 – d2 = (2k+1)

    Số đường hoặc số điểm (không tính hai nguồn):

    1. Hai nguồn dao động ngược pha:()

    * Điểm dao động cực đại:  d1 – d2 = (2k+1) (kÎZ)

    Số đường hoặc số điểm (không tính hai nguồn):

    * Điểm dao động cực tiểu (không dao động): d1 – d2 = kl (kÎZ)

    Số đường hoặc số điểm (không tính hai nguồn):

    Chú ý: Với bài toán tìm số đường dao động cực đại và không dao động giữa hai điểm M, N cách hai nguồn lần lượt là d1M, d2M, d1N, d2N.

    Đặt DdM = d1M – d2M ; DdN = d1N – d2N và giả sử DdM < DdN.

    + Hai nguồn dao động cùng pha:

    • Cực đại: DdM < kl < DdN
    • Cực tiểu: DdM < (k+0,5)l < DdN

    + Hai nguồn dao động ngược pha:

    • Cực đại:DdM < (k+0,5)l < DdN
    • Cực tiểu: DdM < kl < DdN

    Số giá trị nguyên của k thoả mãn các biểu thức trên là số đường cần tìm.

    IV. SÓNG ÂM

    1. Cường độ âm:

    Với W (J), P (W) là năng lượng, công suất phát âm của nguồn

    S (m2) là diện tích mặt vuông góc với phương truyền âm (với sóng cầu thì S là diện tích mặt cầu S=4πR2)

    1. Mức cường độ âm

    Hoặc

    Với I0 = 10-12 W/m2 ở f = 1000Hz: cường độ âm chuẩn.

    1. * Tần số do đàn phát ra (hai đầu dây cố định Þ hai đầu là nút sóng)

    Ứng với k = 1 Þ  âm phát ra âm cơ bản có tần số

    k = 2,3,4… có các hoạ âm bậc 2 (tần số 2f1), bậc 3 (tần số 3f1)…

    * Tần số do ống sáo phát ra (một đầu bịt kín, một đầu để hở Þ một đầu là nút sóng, một đầu là bụng sóng)

    Ứng với k = 0 Þ  âm phát ra âm cơ bản có tần số

    k = 1,2,3… có các hoạ âm bậc 3 (tần số 3f1), bậc 5 (tần số 5f1)…

     

    CHƯƠNG IV: DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ

    1. Dao động điện từ

    * Điện tích tức thời q = q0cos(wt + j)

    * Hiệu điện thế (điện áp) tức thời

    * Dòng điện tức thời i = q’ = –wq0sin(wt + j) = I0cos(wt + j +)

    Với;

    * Năng lượng điện trường:

    * Năng lượng từ trường:

    * Năng lượng điện từ:

    Chú ý: + Mạch dao động có tần số góc w, tần số f và chu kỳ T thì Wđ và Wt biến thiên với tần số góc  2w, tần số 2f và chu kỳ T/2

    + Mạch dao động có điện trở thuần R ¹ 0 thì dao động sẽ tắt dần. Để duy trì dao động cần cung cấp cho mạch một năng lượng có công suất:

    2. Sóng điện từ

    Vận tốc lan truyền trong không gian v = c = 3.108m/s

    Máy phát hoặc máy thu sóng điện từ sử dụng mạch dao động LC thì tần số sóng điện từ phát hoặc thu được bằng tần số riêng của mạch.

    Bước sóng của sóng điện từ

    Lưu ý: Mạch dao động có L biến đổi từ LMin ® LMax và C biến đổi từ CMin ® CMax thì bước sóng l của sóng điện từ phát (hoặc thu)

    lMin tương ứng với LMin và CMin

    lMax tương ứng với LMax và CMax

    BÀI TẬP

    1. Cho mạch dao động với L cố định. Mắc L với C1 được tần số dao động là f1, mắc L với C2 được tần số là f2.

    + Khi mắc nối tiếp C1 với C2 rồi mắc với L ta được tần số f thỏa :

    + Khi mắc song song C1 với C2 rồi mắc với L ta được tần số f thỏa :

     

    CHƯƠNG V: ĐIỆN XOAY CHIỀU

    1. Biểu thức điện áp tức thời và dòng điện tức thời:

    u = U0cos(wt + ju) và i = I0cos(wt + ji)

    Với j = ju – ji là độ lệch pha của u so với i, có

    1. Dòng điện xoay chiều i = I0cos(2pft + ji)

    * Mỗi giây đổi chiều 2f lần

    * Nếu pha ban đầu ji =  hoặc ji =  thì chỉ giây đầu tiên đổi chiều 2f-1 lần.

    1. Dòng điện xoay chiều trong đoạn mạch R,L,C

    * Đoạn mạch chỉ có điện trở thuần R: uR cùng pha với i, (j = ju – ji = 0)  và

    Lưu ý: Điện trở R cho dòng điện không đổi đi qua và có

    * Đoạn mạch chỉ có cuộn thuần cảm L: uL nhanh pha hơn i là p/2, (j = ju – ji = p/2) và  với ZL = wL là cảm kháng

    Lưu ý: Cuộn thuần cảm L cho dòng điện không đổi đi qua hoàn toàn (không cản trở).

    * Đoạn mạch chỉ có tụ điện C: uC chậm pha hơn i là p/2, (j = ju – ji = -p/2)    và  với  là dung kháng

    Lưu ý: Tụ điện C không cho dòng điện không đổi đi qua (cản trở hoàn toàn).

       * Đoạn mạch RLC không phân nhánh

    với

    + Khi ZL > ZC  thì u nhanh pha hơn i

    + Khi ZL < ZC thì u chậm pha hơn i

    + Khi ZL = ZC thì u cùng pha với i.

    Lúc đó  gọi là hiện tượng cộng hưởng dòng điện

    1. Công suất toả nhiệt trên đoạn mạch RLC:

    * Công suất tức thời: P = UIcosj + UIcos(2wt + ju+ji)

        * Công suất trung bình: P = UIcosj =  I2R.

    1. Tần số dòng điện do máy phát điện xoay chiều một pha có p cặp cực, rôto quay với vận tốc n vòng/giây phát ra: f = pn Hz

    Từ thông gửi qua khung dây của máy phát điện :

    F = NBScos(wt +j) = F0cos(wt + j)

    Với F0 = NBS là từ thông cực đại gửi qua N vòng dây, B là cảm ứng từ của từ trường, S là diện tích của vòng dây, w = 2pf

    Suất điện động trong khung dây:

    e = wNSBcos(wt + j – ) = E0cos(wt + j – )

    Với E0 = wNSB là suất điện động cực đại.

    1. Dòng điện xoay chiều 3 pha là hệ thống ba dòng điện xoay chiều, gây bởi ba suất điện động xoay chiều cùng tần số, cùng biên

    độ nhưng độ lệch pha từng đôi một là

    à  (tải đối xứng)

    Máy phát mắc hình sao: Ud = Up

    Máy phát mắc hình tam giác: Ud = Up

    Tải tiêu thụ mắc hình sao: Id = Ip

    Tải tiêu thụ mắc hình tam giác: Id = Ip

    1. Công thức máy biến áp lý tưởng:
    2. Công suất hao phí trong quá trình truyền tải điện năng:

    là điện trở tổng cộng của dây tải điện (lưu ý: dẫn điện bằng 2 dây)

    Độ giảm điện áp trên đường dây tải điện: DU = IR

    Hiệu suất tải điện:

    1. Đoạn mạch RLC có R thay đổi:

    * Khi R=ïZL-ZCï thì

    * Khi R=R1 hoặc R=R2 thì P có cùng giá trị. Ta có

    R1, R2 th.mãn phương trình bậc 2

    Và khi  thì

    1. Đoạn mạch RLC có L thay đổi:

    * Khi ZL=ZC thì IMax Þ URmax; PMax còn ULCMin 

    * Khi  thì  và

    * Với  thì UL có cùng giá trị thì ULmax khi

    * Khi  thì

    1. Đoạn mạch RLC có C thay đổi:

    * Khi ZL=ZC  thì IMax Þ URmax; PMax còn ULCMin

    *Khi  thì  và

    *Với  thì UC có cùng giá trị thì UCmax khi

    * Khi  thì

    1. Mạch RLC có w thay đổi:

    * Khi  thì IMax Þ URmax; PMax còn ULCMin 

    * Khi  thì

    * Khi  thì

    * Với w = w1 hoặc w = w2 thì I hoặc P  hoặc UR có cùng một giá trị thì IMax hoặc PMax hoặc URMax khi  Þ tần số

    1. Hai đoạn mạch AM gồm R1L1C1 nối tiếp và đoạn mạch MB gồm R2L2C2 nối tiếp mắc nối tiếp với nhau có UAB = UAM + UMB Þ uAB; uAMuMB cùng pha Þ tanuAB = tanuAM = tanuMB

     

    CHƯƠNG VI: SÓNG ÁNH SÁNG

    1. Hiện tượng tán sắc ánh sáng.

    * Đ/n: Là hiện tượng ánh sáng bị tách thành nhiều màu khác nhau khi đi qua mặt phân cách của hai môi trường trong suốt.

    * Ánh sáng đơn sắc là ánh sáng không bị tán sắc

    Ánh sáng đơn sắc có tần số xác định, chỉ có một màu.

    Bước sóng của ánh sáng đơn sắc  , truyền trong chân không

    * Chiết suất của môi trường trong suốt phụ thuộc vào màu sắc ánh sáng. Đối với ánh sáng màu đỏ là nhỏ nhất, màu tím là lớn nhất.

    * Ánh sáng trắng là tập hợp của vô số ánh sáng đơn sắc có màu biến thiên liên tục từ đỏ đến tím.

    Bước sóng của ánh sáng trắng: 0,38 mm £ l £ 0,76 mm.

    2. Hiện tượng giao thoa ánh sáng (chỉ xét giao thoa ánh sáng trong thí nghiệm Iâng).

    * Đ/n: Là sự tổng hợp của hai hay nhiều sóng ánh sáng kết hợp trong không gian trong đó xuất hiện những vạch sáng và những vạch tối xen kẽ nhau.

    Các vạch sáng (vân sáng) và các vạch tối (vân tối) gọi là vân giao thoa.

    * Hiệu đường đi của ánh sáng (hiệu quang trình) :

    * Khoảng vân i là khoảng cách giữa hai vân sáng hoặc hai vân tối liên tiếp::

    * Vị trí (toạ độ) vân sáng: xs=ki ()

    k = 0:  Vân sáng trung tâm

    k = ±1: Vân sáng bậc (thứ) 1…

    * Vị trí (toạ độ) vân tối: xt=ki+()

    k = 0, k = -1: Vân tối thứ (bậc) nhất

    k = 1, k = -2: Vân tối thứ (bậc) hai…

    * Nếu thí nghiệm được tiến hành trong môi trường trong suốt có chiết suất n thì bước sóng và khoảng vân đều giảm n lần :

    * Khi nguồn sáng S di chuyển theo phương song song với S1S2 thì hệ vân di chuyển ngược chiều và khoảng vân i vẫn không đổi.

    Độ dời của hệ vân là:

    Trong đó:           D là khoảng cách từ 2 khe tới màn

    D1 là khoảng cách từ nguồn sáng tới 2 khe

    d là độ dịch chuyển của nguồn sáng

    * Khi trên đường truyền của ánh sáng từ khe S1 (hoặc S2) được đặt một bản mỏng dày e, chiết suất n thì hệ vân sẽ dịch chuyển về phía S1 (hoặc S2) một đoạn:

    * Xác định số vân sáng, vân tối trong vùng giao thoa (trường giao thoa) có bề rộng L (đối xứng qua vân trung tâm)

       + Số vân sáng (là số lẻ):   

       + Số vân tối (là số chẵn):

    * Xác định số vân sáng, vân tối giữa hai điểm M, N có toạ độ x1, x2 (giả sử x1 < x2)

    + Vân sáng: x1 < ki < x2

    + Vân tối:    x1 < (k+0,5)i < x2

    Số giá trị k Î Z là số vân sáng (vân tối) cần tìm

    Lưu ý: M và N cùng phía với vân trung tâm thì x1 và x2 cùng dấu.

    M và N khác phía với vân trung tâm thì x1 và x2 khác dấu.

    * Xác định khoảng vân i trong khoảng có bề rộng L. Biết trong khoảng L có n vân sáng.

    + Nếu 2 đầu là hai vân sáng thì:

    + Nếu 2 đầu là hai vân tối thì:

    + Nếu một đầu là vân sáng còn một đầu là vân tối thì:  

    * Sự trùng nhau của các bức xạ l1, l2 … (khoảng vân tương ứng là i1, i2 …)

    + Trùng nhau của vân sáng: xs = k1i1 = k2i2 = …  Þ  k1l1 = k2l2 = …

    + Trùng nhau của vân tối: xt = (k1 + 0,5)i1 = (k2 + 0,5)i2 = …  Þ  (k1 + 0,5)l1 = (k2 + 0,5)l2 = …

    Lưu ý: Vị trí có màu cùng màu với vân sáng trung tâm là vị trí trùng nhau của tất cả các vân sáng của các bức xạ.

    * Trong hiện tượng giao thoa ánh sáng trắng (0,38mm £ l £ 0,76mm)

    – Bề rộng quang phổ bậc k:

    – Xác định số vân sáng, số vân tối và các bức xạ tương ứng tại một vị trí xác định (đã biết x)

    + Vân sáng: Þ các giá trị của k Þ l

    + Vân tối: Þ các giá trị của k Þ l

     

    CHƯƠNG VII: LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG

    1. Năng lượng một lượng tử ánh sáng (hạt phôtôn)

    Trong đó :             h = 6,625.10-34 Js là hằng số Plăng.

    c = 3.108m/s là vận tốc ánh sáng trong chân không.

    2. Tia Rơnghen (tia X)

    Bước sóng nhỏ nhất của tia Rơnghen

    Trong đó  là động năng của electron khi đập vào đối catốt (đối âm cực)

    U là hiệu điện thế giữa anốt và catốt

    v là vận tốc electron khi đập vào đối catốt

    v0 là vận tốc của electron khi rời catốt (thường v0 = 0)

    m = 9,1.10-31 kg là khối lượng electron

    3. Hiện tượng quang điện

    *Công thức Anhxtanh :

    Trong đó    là công thoát của kim loại dùng làm catốt

    l0 là giới hạn quang điện của kim loại dùng làm catốt

    * Để dòng quang điện triệt tiêu thì UAK £ Uh (Uh < 0), Uh gọi là hiệu điện thế hãm:

    Lưu ý: Trong một số bài toán người ta lấy Uh > 0 thì đó là độ lớn.

    * Xét vật cô lập về điện, có điện thế cực đại VMax  và khoảng cách cực đại dMax mà electron chuyển động trong điện trường cản có cường độ E được tính theo công thức:

    * Với U là hiệu điện thế giữa anốt và catốt, vA là tốc độ cực đại của electron khi đập vào anốt, vK = v0Max là tốc độ ban đầu cực đại của electron khi rời catốt thì:

    * Hiệu suất lượng tử (hiệu suất quang điện)

    Với n và n0 là số electron quang điện bứt khỏi catốt và số phôtôn đập vào catốt trong cùng một khoảng thời gian t.

    Công suất của nguồn bức xạ:

    Cường độ dòng quang điện bão hoà:

    à

    * Bán kính quỹ đạo của electron khi chuyển động với vận tốc v trong từ trường đều B :   ()

    Lưu ý: Hiện tượng quang điện xảy ra khi được chiếu đồng thời nhiều bức xạ thì khi tính các đại lượng: Tốc độ ban đầu cực đại  v0Max, hiệu điện thế hãm Uh, điện thế cực đại VMax, … đều được tính ứng với bức xạ có lMin (hoặc fMax)

    4. Tiên đề Bo – Quang phổ nguyên tử Hiđrô

    * Tiên đề Bo

    * Bán kính quỹ đạo dừng thứ n của electron trong nguyên tử hiđrô:

    rn = n2r0   Với r0 =5,3.10-11m là bán kính Bo (ở quỹ đạo K)

    * Năng lượng electron trong nguyên tử hiđrô:

    Với n Î N*.

    Năng lượng ion hóa là năng lượng tối thiểu để đưa e từ quỹ đạo K ra xa vô cùng (làm ion hóa nguyên tử Hiđrô): Eion=13,6eV

    * Sơ đồ mức năng lượng

    Dãy Laiman: Nằm trong vùng tử ngoại:Ứng với e chuyển từ quỹ đạo bên ngoài về quỹ đạo K

    Lưu ý:    Vạch dài nhất lLK khi e chuyển từ L ® K

    Vạch ngắn nhất l¥K khi e chuyển từ ¥ ® K.

    Dãy Banme: Một phần nằm trong vùng tử ngoại, một phần nằm trong vùng ánh sáng nhìn thấy

    Ứng với e chuyển từ quỹ đạo bên ngoài về quỹ đạo L

    Vùng ánh sáng nhìn thấy có 4 vạch:

    Vạch đỏ Ha     ứng với e: M ® L

    Vạch lam Hb   ứng với e: N ® L

    Vạch chàm Hg ứng với e: O ® L

    Vạch tím Hd    ứng với e: P ® L

    Lưu ý: Vạch dài nhất lML (Vạch đỏ Ha )

    Vạch ngắn nhất l¥L khi e chuyển từ ¥ ® L.

    Dãy Pasen: Nằm trong vùng hồng ngoại

    Ứng với e chuyển từ quỹ đạo bên ngoài về quỹ đạo M

    Lưu ý: Vạch dài nhất lNM khi e chuyển từ N ® M.

    Vạch ngắn nhất l¥M khi e chuyển từ ¥ ® M.

    Mối liên hệ giữa các bước sóng và tần số của các vạch quang phổ của nguyên từ hiđrô:

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG IX. VẬT LÝ HẠT NHÂN

    1. Hiện tượng phóng xạ

    * Số n.tử chất phóng xạ còn lại sau thời gian t

    * Số hạt nguyên tử bị phân rã bằng số hạt nhân con được tạo thành và bằng số hạt (a hoặc e hoặc e+) được tạo thành:

    * Khối lượng chất phóng xạ còn lại sau thời gian t:

    Trong đó :  gọi là hằng số phóng xạ

    l và T không phụ thuộc vào các tác động bên ngoài mà chỉ phụ thuộc bản chất bên trong của chất phóng xạ.

    * Khối lượng chất bị phóng xạ sau thời gian t :

    * Phần trăm chất phóng xạ bị phân rã:

    Phần trăm chất phóng xạ còn lại:

    * Liên hệ giữa khối lượng và số nguyên tử :

    NA = 6,022.10-23 mol-1 là số Avôgađrô (số hạt trong một mol)

    * Độ phóng xạ H:Là đại lượng đặc trưng cho tính phóng xạ mạnh hay yếu của một lượng chất phóng xạ, đo bằng số phân rã trong 1 giây :

    H0 = lN0  là độ phóng xạ ban đầu.

    Đơn vị: Becơren (Bq); 1Bq = 1 phân rã/giây

    Curi (Ci);        1 Ci = 3,7.1010 Bq

    Lưu ý: Khi tính độ phóng xạ H, H0 (Bq) thì chu kỳ phóng xạ T phải đổi ra đơn vị giây(s).

    2. Hệ thức Anhxtanh, độ hụt khối, năng lượng liên kết

    * Hệ thức Anhxtanh giữa khối lượng và năng lượng

    Vật có khối lượng m thì có năng lượng nghỉ  E = m.c2

    Với c = 3.108 m/s là vận tốc ánh sáng trong chân không.

    * Độ hụt khối của hạt nhân  : Dm = m0 – m

    Với:  m0 = Zmp + Nmn = Zmp + (A-Z)mn là khối lượng các nuclôn.

    m là khối lượng hạt nhân X.

    * Năng lượng liên kết : DE = Dm.c2 = (m0-m)c2

    * Năng lượng liên kết riêng (là năng lượng liên kết tính cho 1 nuclôn):

    Lưu ý: Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững.

    3. Phản ứng hạt nhân

    * Phương trình phản ứng:

    Trong số các hạt này có thể là hạt sơ cấp như nuclôn, e, phôtôn …

    Trường hợp đặc biệt là sự phóng xạ: X1 ® X2 + X3

    X1 là hạt nhân mẹ, X2 là hạt nhân con, X3 là hạt a hoặc b

    * Các định luật bảo toàn

    + Bảo toàn số nuclôn (số khối):        A1 + A2 = A3 + A4

    + Bảo toàn điện tích (nguyên tử số): Z1 + Z2 = Z3 + Z4

    Hai định luật này dùng để viết phương trình phản ứng hạt nhân  

    + Bảo toàn năng lượng

    Q>0 phản ứng tỏa năng lượng; Q<0 phản ứng thu năng lượng

    Ngoài ra :

    + Bảo toàn động lượng:   (với )

    Lưu ý: – Không có định luật bảo toàn khối lượng.

    – Mối quan hệ giữa động lượng pX và động năng KX của hạt X là:

    4. Các hằng số và đơn vị thường sử dụng

    * Số Avôgađrô: NA = 6,022.1023 mol-1

    * Đơn vị năng lượng: 1eV = 1,6.10-19 J; 1MeV = 1,6.10-13 J

    * Đơn vị khối lượng nguyên tử (đơn vị Cacbon):

    1u = 1,66055.10-27kg = 931 MeV/c2

    * Điện tích nguyên tố: |e| = 1,6.10-19 C

    * Khối lượng prôtôn: mp = 1,0073u

    * Khối lượng nơtrôn: mn = 1,0087u

    * Khối lượng electrôn: me = 9,1.10-31kg = 0,0005u

    CHÖÔNG  X.  TÖØ VI MOÂ ÑEÁN VÓ MOÂ

     

    1. HẠT SƠ CẤP

    – Haït sô caáp laø nhöõng haït coù kích thöôùc vaø khoái löôïng nhoû hôn haït nhaân nguyeân töû. Ñaëc tröng chính cuûa caùc haït sô caáp laø:

    + Khoái löôïng nghæ m0 hạt naêng löôïng nghæ E0 = m0c2.

    + Soá löôïng tử ñieän tích q cuûa haït sô caáp coù theå laø +1, -1, 0 (tính theo ñieän tích nguyeân toá e).

    + Soá löôïng spin s laø ñaïi löôïng ñaëc tröng cho chuyeån ñoäng noäi taïi cuûa haït sô caáp.

    + Thôøi gian soáng trung bình. Chæ coù 4 haït sô caáp khoâng phaân raõ thaønh caùc haït khaùc, ñoù laø proâtoân, eâlectron, phoâtoân, nôtrinoâ; coøn laïi laø caùc haït khoâng beàn coù thôøi gian soáng raát ngaén, côõ töø 10-24s  ñeán 10-6s, tröø  nôtron coù thôøi gian soáng laø 932s.

    + Phaàn lôùn caùc haït sô caáp ñeàu taïo thaønh caëp: haït vaø phaûn haït.

    Phaûn haït coù cuøng khoái löôïng nghæ, cuøng spin, ñieän tích coù cuøng ñoä lôùn nhöng traùi daáu.

    – Caùc haït sô caáp ñöôïc phaân thaønh 4 loaïi: phoâtoân, leptoân, meâzoân vaø barion. Meâzoân vaø barion ñöôïc goïi chung laø hañroân.

    Coù 4 loaïi töông taùc cô baûn ñoái vôùi haït sô caáp laø: töông taùc haáp daãn, töông taùc ñieän töø, töông taùc yeáu, töông taùc maïnh.

    – Taát caû caùc hañroân ñeàu coù caáu taïo töø haït quac.

    Coù 6 loaïi quac laø u, d, s, c, b vaø t.

    Ñieän tích caùc haït quac laø , .

    Caùc barion laø toå hôïp cuûa ba quac.

    Quan nieäm hieän nay veà caùc haït thöïc söï laø sô caáp goàm caùc quac, caùc leptoân vaø caùc haït truyeàn töông taùc laø gluoân, phoâtoân, , Z0 vaø gravitoân.

    1. HỆ MẶT TRỜI

    – Heä Maët Trôøi goàm Maët Trôøi ôû trung taâm heä; 8 haønh tinh lôùn vaø caùc veä tinh cuûa noù goàm Thuyû tinh, Kim tinh, Traùi Ñaát, Hoaû tinh, Moäc tinh, Thoå tinh, Thieân Vöông tinh vaø Haûi Vöông tinh. Caùc haønh tinh naøy chuyeån ñoäng quanh Maët Trôøi theo cuøng moät chieàu vaø gaàn nhö trong cuøng maët phaúng. Maët Trôøi vaø caùc haønh tinh coøn töï quay quanh mình noù.

    Khoái löôïng Maët Trôøi baèng 1,99.1030kg, gaáp 333000 laàn khoái löôïng Traùi Ñaát. Khoaûng caùch töø Traùi Ñaát ñeán Maët Trôøi xaáp xæ 150 trieäu km, baèng 1 ñôn vò thieân vaên.

    – Maët Trôøi goàm quang caàu vaø khí quyeån Maët Trôøi.

    Maët Trôøi luoân böùc xaï naêng löôïng ra xung quanh. Haèng soá Maët Trôøi laø H= 1360W/m2. Coâng suaát böùc xaï naêng löôïng cuûa Maët Trôøi laø P = 3,9.1026W. Nguoàn naêng löôïng cuûa Maët Trôøi chính laø caùc phaûn öùng nhieät haïch. ÔÛ thôøi kì hoaït ñoäng cuûa Maët Trôøi, treân Maët Trôøi xuaát hieän caùc veát ñen, buøng saùng nhieàu hôn luùc bình thöôøng.

    – Traùi Ñaát coù daïng phoûng caàu coù baùn kính xích ñaïo baèng 6378km, coù khoái löôïng laø 5,98.1024kg. Maët Traêng laø veä tinh cuûa Traùi Ñaát coù baùn kính 1738km vaø khoái löôïng laø 7,35.1022kg. Gia toác troïng tröôøng treân Maët Traêng laø 1,63m/s2.

    1. SAO. THIÊN HÀ

    – Sao laø moät khoái khí noùng saùng gioáng nhö Maët Trôøi nhöng ôû raát xa Traùi Ñaát. Ña soá sao ôû traïng thaùi oån ñònh. Ngoaøi ra coù moät soá sao ñaëc bieät nhö sao bieán quang, sao môùi, sao nôtron.

    Khi nhieân lieäu trong sao caïn kieät, sao trôû thaønh sao luøn, sao nôtron hoaëc loã ñen.

    – Thieân haø laø heä thoáng goàmnhieàu loaïi sao vaø tinh vaân.

    Ba loaïi thieân haø chính laø thieân haø xoaén oác, thieân haø elip, vaø thieân haø khoâng ñònh hình.

    Thieân Haø cuûa chuùng ta laø thieân haø xoaén oác coù ñöôøng kính khoaûng 100 ngaøn naêm aùnh saùng, daøy khoaûng 330 naêm aùnh saùng, khoái löôïng baèng 150 tæ laàn khoái löôïng Maët Trôøi. Heä Maët Trôøi naèm ôû rìa Thieân Haø, caùch trung taâm khoaûng 30 000 naêm aùnh saùng vaø quay vôùi toác ñoä khoaûng 250km/s.

    1. THUYẾT BIG BANG

    Theo Thuyeát Big Bang, vuõ truï ñöôïc taïo ra bôûi moät vuï noå “cöïc lôùn, maïnh” caùch ñaây khoaûng 14 tæ naêm, hieän ñang daõn nôû vaø loaõng daàn. Hai hieän töôïng thieân vaên quan troïng laø vuõ truï daõn nôû vaø böùc xaï “neàn” vuõ truï laø minh chöùng cuûa thuyeát Big Bang.

  • VĂN MẪU BÌNH GIẢNG ĐOẠN VĂN TỪ “THUYỀN TÔI TRÔI TRÊN SÔNG ĐÀ. CẢNH VEN SÔNG Ở ĐÂY LẶNG LỜ… THẮT MÌNH DÂY CỔ ĐIỂN TRÊN DÒNG TRÊN” TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    VĂN MẪU BÌNH GIẢNG ĐOẠN VĂN TỪ “THUYỀN TÔI TRÔI TRÊN SÔNG ĐÀ. CẢNH VEN SÔNG Ở ĐÂY LẶNG LỜ… THẮT MÌNH DÂY CỔ ĐIỂN TRÊN DÒNG TRÊN” TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    VĂN MẪU BÌNH GIẢNG ĐOẠN VĂN TỪ “THUYỀN TÔI TRÔI TRÊN SÔNG ĐÀ. CẢNH VEN SÔNG Ở ĐÂY LẶNG LỜ… THẮT MÌNH DÂY CỔ ĐIỂN TRÊN DÒNG TRÊN” TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU BÌNH GIẢNG ĐOẠN VĂN TỪ “THUYỀN TÔI TRÔI TRÊN SÔNG ĐÀ. CẢNH VEN SÔNG Ở ĐÂY LẶNG LỜ… THẮT MÌNH DÂY CỔ ĐIỂN TRÊN DÒNG TRÊN” TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    VĂN MẪU LỚP 12

    6 BÀI VĂN MẪU BÌNH GIẢNG ĐOẠN VĂN TỪ “THUYỀN TÔI TRÔI TRÊN SÔNG ĐÀ. CẢNH VEN SÔNG Ở ĐÂY LẶNG LỜ… THẮT MÌNH DÂY CỔ ĐIỂN TRÊN DÒNG TRÊN” TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    BÀI MẪU SỐ 1:

     

    Từ Vang bóng một thời (1940) đến Sông Đà (1960), con đường sáng tạo văn chương cùa Nguyễn Tuân đã trải qua 20 năm tròn. Tùy bút Sông Đà làm cho chân dung văn học của Nguyễn Tuân thêm tươi sáng, rạng rỡ. Với 15 tùy bút và một bài thơ phác thảo, Sông Đà đã khẳng định vị trí vẻ vang của Nguyễn Tuân trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, tô đậm một phong cách nghệ thuật uyên bác, độc đáo và tài hoa để ta thêm yêu mến tự hào.

    Người lái đò Sông Đà rút trong tập tùy bút Sông Đà thể hiện cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân trên một tầm cao phát triển mới. Là nhà văn của những tính cách phi thường, Nguyễn Tuân phát hiện, miêu tả con người Tây Bắc mang bao phẩm chất tuyệt đẹp mà ông gọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn. Là một con người yêu thiên nhiên tha thiết, ông nói về cảnh sắc sông Đà với những phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi và sông, về cỏ cây trên một vùng đất nước bao la, hùng vĩ và thơ mộng.

    Bút pháp của Nguyễn Tuân rất biến hóa. Lúc thì ông miêu tả sông Đà “hung bạo và trữ tình” qua cặp mắt ông lái đò dũng cảm, tài hoa. Lúc thì ông nhắc đến sông Đà như một “cố nhân” sau những ngày dài ở rừng đi núi “thèm chỗ thoáng”, và khi gặp lại con sông “vui như thấy nắng giòn tan sau kì mui dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Có lúc Nguyễn Tuân từ trên tàu bay nhìn xuống Đà Giang bâng khuâng dõi theo dáng hình của nó “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình…”. Có lúc ông lại trôi theo con đò êm ả xuôi dòng để thăm thú và tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ, kì thú mà nhiều người trong chúng ta thèm khát. Nhà văn đang miêu tả hay đang tâm tình. Đây một đoạn tùy bút đẹp, gợi tả vẻ đẹp hoang sơ, thơ mộng của miền trung lưu Sông Dà, một bài thơ trữ tình bằng văn xuôi hiếm có:

    “Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ… và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

    Nếu trong cảnh vượt thác, Nguyễn Tuân tung ra một vốn từ ngữ phong phú, chính xác, mới lạ để diễn tả cuộc chiến giữa ông đò với thần sông, thần đá có đủ quân đông, tướng dữ, bằng một giọng văn mạnh mẽ, nhịp vần gấp như thác gầm, sóng réo, thì đến đoạn văn này giọng văn, nhịp điệu thay đổi hẳn: nhẹ nhùng, lâng lâng, mơ màng. Vẻ đẹp thơ mộng, êm đềm của Đà Giang ở quãng trung lưu được diễn tả đầy chất thơ. Đó là quãng sông từ thác Tiếu trở như một câu tục ngữ Thái đã nói: “Qua thác Tiếu trải chiếu mà nằm” – mới có vẻ êm đềm thơ mộng ấy. Câu văn toàn thanh bằng diễn tả con thuyền êm ái nhẹ nhàng trôi xuôi: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà…”. Một không gian nghệ thuật “lặng lờ” như ru “ông khách Sông Đà” vào giấc mộng phiêu du. Cái “lặng lờ” được nhấn đi nhấn lại như ướp hương rừng gió núi vào hồn người mà lắng nghe, mà cảm nhận, mà thưởng ngoạn: “Cảnh ven sông ở đáy lặng tờ, hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà. Ngược thời gian một thiên niên kỉ về trước, hai tiếng “lặng tờ” dẫn người đọc trở về với “mấy trăm năm thấp thọáng mộng bình yên” (Hoàng Cầm). Đã có cái “phẳng lặng tờ” của con sông trong cổ thi: “Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ” nên mới có cái “lặng tờ” êm như ru của sông Đà mà Nguyễn Tuân cảm mến.

    Mơ màng nhìn dòng sông, nghe nước êm trôi “lặng tờ”, ông khách sông Đà bâng khuâng nhìn xa, nhìn gần cảnh ven sông. Bao trùm cảnh vật là một màu xanh hoang sơ, hồn nhiên. Cũng thấy nương ngô “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, đã có dấu ấn của con người in trên màu xanh mỡ màng ấy, nhưng thật vô cùng ngạc nhiên “mà tịnh không một bóng người”. Chỉ có đồi gianh nối tiếp đồi gianh trùng điệp với những “nõn búp” ngon lành. Hình ảnh đàn hươu xuất hiện trên màu xanh bát ngát những đồi gianh là một nét vẽ tài hoa làm cho bức tranh thiên nhiên sông Đà đượm màu “hoang dại” và “cổ tích”. Không phái chú nai vàng ngơ ngác trong cái xào xạc của lá thu rơi thuở nào : mà ở đây chì có: “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”. Chỉ có Nguyễn Tuân mới có cái nhìn “xanh non” ấy, mới có cách nói, cách tả độc đáo ấy; ông đã thả hồn mình vào linh vật, mà yêu mến, nâng niu. Câu văn của ông tưởng như là hai vế của của một câu song quan trong bài phú lưu thúy:

    Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử;

    Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Nguyễn Tuân so sánh không phải để cụ thể hóa sự vật mà là trừu tượng hóa, thơ mộng hóa cảnh vật. “Bờ tiền sử”, “nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” là chữ của nhà văn bậc thầy về ngôn ngữ này. Nguyễn Tuân không dựa vào trực giác để so sánh, ông ta đã dùng tưởng tượng để tạo nên những liên tưởng, những so sánh đầy chất thơ và rất kì thú, gieo vào tâm hồn người đọc bao cảm xúc, để cùng ông tận hưởng cái vẻ đẹp “hoang dại” và “hồn nhiên” của Đà Giang.

    Rồi từ trong cái không gian “hoang dã” ấy của đôi bờ sông Đà, NguyễnTuân khao khát sống, khao khát “thèm” một âm vang của thời đại. Từ giấc mơ của “bờ tiền sử” chuyển sang giấc mơ về một tương lai huy hoàng qua một tiếng còi tàu kì diệu… Trong mộng tưởng có nhiều say mê: “Chao ôi thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đườngsắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu’’. Ông yêu sông Đà với cái “hồn nhiên”, “hoang dại’’ của nó, đã “nhìn sông Đà như một cổ nhân”, ông còn “thèm” ánh sáng của thời đại chiếu rọi đôi bờ Đà Giang, đưa người đọc cùng ông bay lên cùng “ngọn gió ngày mai thổi lại…”. Chất lãng mạn trong văn Nguyễn Tuân dìu dịu trong hương hoa “bữa tiệc thạch lan hương” thuở nào, chỉ đủ cho ta mơ ước về một viễn cảnh…

    Đó là dư vị, là nhã thú mà ta cảm nhận được qua tiếng còi xúp lê mơ màng. Cuộc đối thoại giữa ông khách sông Đà và con hươu thơ ngộ đích thực là một bài thơ trữ tình kì diệu, một giấc mơ chập chờn chơi vơi trong cái lặng tờ của ven sông. Cái tĩnh lặng của khoảnh khắc giao cảm thần tiên giữa ông khách sông Đà với đàn hươu núi đã lên đến đỉnh điểm. Trên cái nền xanh của cò sương, hươu chăm chăm nhìn người như dò hỏi. Lòng người và tạo vật cùng rung động: “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhin tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò”. Hươu nhìn người mà ngơ ngác Người nhìn đàn hươu mà lâng lâng chìm vào mộng tưởng. Không một tiếng động nhỏ. Cả một không gian nghệ thuật trở nên tĩnh lặng, thiêng liêng, nhiệm màu. Hươu hỏi người hay người tự hỏi? Một giả định vừa thực vừa mộng ảo, siêu thực mà lãng mạn.

    Từ cõi mộng mà trở về thực tại với bao nỗi bồi hồi: Hươu vểnh tai, nhìn tôi khôug chớp mắt mà như hỏi mình bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Có thể nói những nét vẽ của Nguyễn Tuân về đàn hươu núi là những nét vẽ tài hoa, độc đáo, đã gợi tả cái vẻ đẹp hồn nhiên hoang dại của đôi bờ con sông Đà, đã tạo nên chất thơ, chất mộng ảo, dào dạt trong lòng người và thiên nhiên tạo vật. Câu chữ rất có duyên gợi lên cái hồn của cảnh vật: “Con hươu thơ ngộ”, “ngẩng đầu nhung”, “áng cỏ sương”, “chăm chăm nhìn”, “Con vật lành”, “tiếng còi sương…”. Nguyễn Tuân đã nhìn thiên nhiên với cái nhìn phát hiện ở những chi tiết, dáng vẻ mang tính thẩm mĩ tài hoa.

    Cảnh biến đổi nên câu văn Nguyễn Tuân cũng co duỗi biến hóa. Một tiếng động nhỏ của con cá dầm xanh như làm cho ông khách sông Đà chợt tỉnh mộng. Mượn cái động để tả cái tĩnh được vận dụng sáng tạo, mở ra một không gian nghệ thuật mới. Cá quầy, đàn hươu vụt biến, cá vọt lên mặt sông “bụng trắng như bạc rơi thoi”. Như một đoạn phim chuyển cảnh từ tĩnh qua động để rồi tĩnh lặng hơn. Hươu núi vụt biến, cá bụng trắng vượt lên rồi rơi xuống, lặn xuống; trước mắt du khách chỉ còn là một màu xanh của nước, màu xanh cùa cỏ gianh đồi núi. Câu văn “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” là một câu văn đẹp, có âm thanh, có màu sắc, có cái nghe thấy, có vật nhìn thấy, có điều cảm thấy. Hình ảnh so sánh “đàn cá. bụng trắng như bạc rơi thoi” đầy chất thơ vừa gợi tả sắc trắng (như bạc), vừa chỉ rõ dáng hình thon dài (như thoi) của đàn cá dầm xanh.

    Cá quẫy… đàn hươu vụt biến… và ông khách sông Đà chợt tỉnh mộng, trở về thực tại, với con đò trôi xuôi, êm ái, lặng tờ. Vốn là một nhà văn tài hoa. uyên bác, những câu văn, câu thơ cổ kim đông tây, ông “giắt đầy mình”, vui thì ông đưa duyên, buồn thì ông ngâm

    ngợi Tản Đà với Nguyễn Tuân là đôi bạn vong niên. Chưa có thi sĩ nào viết nhiều và viết hay về núi Tản sông Đà như Nguyễn Khắc Hiếu. Có trăng phải có rượu, cũng như có cảnh đẹp thì phải ngâm thơ. Nguyễn Tuân coi sông Đà là “cố nhân”, nên lấy thơ thi sĩ Tản Đà ra ngâm vịnh, mà ngắm cảnh đẹp Đà Giang, hỏi có còn nhã thú nào bằng? Tản Đà có ba bài thơ trường thiên cùng chung một giọng điệu: “Thư đưa người tình nhân không quen biết” (1918), “Thư trách người tình nhân không quen biết (1921), “Thư lại trách người tình nhân không quen biết” (1926). Nguyễn Tuân chỉ trích hai câu trong bài thơ thứ hai, trích hai câu hay nhất, đích đáng mà lại vừa hợp cảnh, hợp tình, ông viết:

    “Thuyền tôi trôi trên “dải sông Đà bọt nước lênh bênh – bao nhiêu cảnh bấy; nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Việc trích dẫn thơ Tản Đà ở đây còn mang một ý nghĩa “tri ân”, “Rượu ngon không có bạn hiền” để cùng nhau “đối tửu”. Cũng như có cảnh đẹp mà thiếu bạn thì cái yêu hoa thưởng nguyệt đã giảm đi ít nhiều nhã thú. Đọc thơ bạn, ngâm bạn trong lúc này, Nguyễn Tuân xem như bạn đang cùng mình ngồi trên thuyền trôi trên “dải sông Đà bọt nước lênh bênh…” mơ màng tâm tình và thưởng ngoạn. Đó là tài tử, là tài hoa. Đó là tri ân, tri kỉ.

    Càng về xuôi, sông Đà càng rộng thêm ra, dòng sông mênh mông hơn, êm nhẹ hơn. Nhìn dòng sông nước chảy “lững lờ”, nhà văn cảm thấy nó “như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”. Dòng sông vẫn “lững lờ” êm trôi “như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”, “Con đò mình nở chạy buồm vải”, “Con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển”, là nhận xét, là cách tả, là cách dùng từ rất độc đáo của Nguyễn Tuân. Mỗi câu, mỗi chữ đều phả linh hồn vào dòng sông, vào con đò, vào cảnh vật. Những so sánh ẩn dụ, những nhân hóa trong đoạn văn này cho thấy một tình yêu sông núi thiết tha, một cái nhìn đàm thắm nồng hậu, một cái lắng nghe trìu mến yêu thương. Nguyễn Tuân như đang mở rộng lòng mình, tâm hồn mình với dòng sông để cùng với nó mà “lắng nghe”, mà nhớ thương, những âm vang, những nhịn sống ấm ấp của cuộc đời. Ta cảm thấy có một dòng sông đang êm trôi,đang lững lờ trong tâm hồn minh, bát ngát mênh mông… Văn Nguyễn Tuân không chỉ đem đến cho ta bao nhã thú mà còn để lại nhiều dư vị, dư ba là vậy!

    Nguyễn Tuân yêu sông Đà, yêu Tây Bắc, yêu một trời hoa ban, yêu một sắc đầy Tô Hiệu, yêu một ông lái đò dũng mãnh tài ba, lúc vượt thác cũng như lúc ngồi trong hang đá nướng ống cơm lam… Bác Nguyễn yêu cái lặng tờ của dòng sông ,yêu đàn hươu rừng thơ ngộ, yêu một tiếng cá dầm xanh quẫy, vọt lên mặt sông “bụng trắng như bạc rơi thoi”. Tác giả Sông Đà còn yêu và say mê ngắm “con đò đuôi én thát mình dây cổ điển” của người Thái, “con đò mình nở chạy buồm vải” của người Kinh, người Mường… Yêu sông Đà, yêu cảnh sắc sông Đà yêu Tây Bắc, với Nguyễn Tuân, với chúng ta, chính là tình yêu sông núi, yêu con người Việt Nam cần cù, nhân hậu, dũng cảm, tài ba..

    Đoạn văn trên đây chỉ là một đoạn ngắn trong bài tùy bút Người lái đà Sông Đù, chi nói về một nét đẹp – vẻ đẹp thơ mộng – của Đà Giang ở quãng trung lưa. Tuy vậy, ta vẫn cảm thấy được cái hay, cái đẹp trong văn Nguyễn Tuân. Một chất thơ tỏa rộng, man mác. Một ngòi bút nhiều khám phá, sáng tạo và kiến tạo trong tạo hình dựng cảnh, trong dùng chữ, đặt câu. Những so sánh, ẩn dụ và liên tưởng rất gợi. Đây là một đoạn hay và đẹp nói về hương sắc đất nước. Chất tài hoa, tài tử, cái bề thế độc đáo, sắc sảo và uyên bác của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân để lại dấu ấn trên “trang hoa”, “tờ hoa” này.. Người đọc vẫn cảm thấy mình trở thành “ông khách sông Đà” đang cùng con thuyền nhẹ trôi trên Đà Giang cùng với bác Nguyễn say mê ngắm cảnh đẹp cùa hương núi. hoa ngàn và lắng nghe tiếng cá dầm xanh quẫy trên cái lững lờ cùa dòng sông “dải sông Đà bọt nước lênh bênh…”.

    BÀI MẪU SỐ 2:

     

    Người lái đò sông Đà là một bút kí rất đặc sắc của Nguyễn Tuân rút từ tập Sông Đà (1960). Hình ảnh con sông Đà với hai đặc tính nối bật là “hung bạo và trữ tình” đã được khắc họa thật đậm nét. Đế có thể khách thể hóa được đối tượng và “đóng đinh” nó vào trí nhớ độc giả, Nguyên Tuân đã tung ra nhiều “độc chiêu” ngôn ngữ tưởng chỉ mình không mới có. Khi miêu tả những con thác vô cùng “độc dữ, nham hiểm”, câu văn của ông mang nhịp diệu dồn dập, kích thích. Nhưng khi ca ngợi “con sông Đà gợi cảm”, câu văn lại thư duỗi hết sức êm ả nghe như một tiếng hát ngân nga. Văn Nguyễn Tuân gồm chứa cả hai cực đó là cực thứ hai – cực trữ tình mềm mại và thấm đượm một thứ “mĩ học hoài cựu” độc đáo được thể hiện rất rõ trong đoạn văn từ câu “Thuyền trôi trên sông” đến câu… “khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

    Nội dung của đoạn văn là nói về vẻ thơ mộng của sông Đà ở quảng trung lưu. Thác ghềnh lúc này chỉ còn lại trong nỗi nhớ. Thuyền được trôi êm và câu văn mở đầu vì thế cùng trở nên lâng lâng, mơ màng, không vướng víu với một thanh trắc nào: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà”. Cái “lặng lờ” được nhắc đi nhắc lại mấy lần theo một kiểu trùng điệp rất đặc thù của thơ: “Cảnh ven sông ở đây lặng lờ, hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ như thế là thôi”, nghĩa là không thể lặng lờ hơn được nữa! Thiên nhiên thật hài hòa và mang vẻ trong trẻo nguyên sơ, dành riêng cho con mắt nhìn “xanh non” của tác giả những hình ảnh kì thú: “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”. Cảnh đã làm cho vị tình nhân của non nước Đà giang hết sức xúc động. Ông thấy cần phải nói thêm nữa đề diền tả cho cùng kiệt đặc tính của đối tượng: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”. Những so sánh lạ lầm, chính xác mà cùng thật Nguyễn Tuân! Nhà văn đã đi ngược thói quen, đem giải thích một đặc tính vốn đã khá trừu tượng bằng nhửng khái niệm trừu tượng hơn nữa, khiến cho cảm giác trực tiếp bỗng mở ra nhửng iièn tưởng trùng trùng, bát ngát. Đi từ “hoang dại”, “hồn nhièn” là cái còn có thể cảm nhận được, đến “tiền sử” và “nỗi niềm cổ tích ngày xưa”, câu văn đã cập bờ siêu cảm giác, đòi hỏi người đọc phải tiếp nhận nó bằng siêu giác quan chứ không phải bằng giác quan bình thường. Trong câu tiếp theo: “Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê cúa một chuyên xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu”, một mặt nhà văn bộc lộ thèm ước muốn có tiếng còi kéo mình ra khói mạng lưới vò hình mà quấn chật của giấc mơ xưa, mặt khác tạo nên một cái cớ tuyệt điệu để biến cả một đoạn văn thành một bài thơ siêu thực mà trong đó giữa người với cảnh có sự tương thông rất đỗi huyền nhiệm và cái hư phút chốc biến thành cái thực: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ dừ trôi trên một mùi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi mình bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cùng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Người mơ cảnh cũng mơ, và cái thời điểm “ông khách sông Đà” bỗng nghe ra tiếng chú hươu gọi hỏi chính là đỉnh điểm của giấc mơ đó. Nhà văn đã khéo tạo được một giấc mơ ngay giữa ban ngày để rồi sau đó như sực tỉnh với tiếng động của “Đàn cá dầm xanh quầy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuối mất đàn hươu vụt biến”. Phút sực tỉnh cùng là phút nhà văn hiến cho độc giả một hình ảnh cực kỳ sống động mà ai được một lần thấy trong đời hẳn phải nhớ mải. Bút pháp mượn cái động để tả cái tĩnh đã được vận dựng ở đây hết sức đắc địa. Cảnh tĩnh lặng đến mức chỉ tiếng cá quẫy cùng đủ khiến ta phải giật mình. Nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, cái tĩnh không đồng nghĩa với sự phẳng lặng, đơn điệu mà vẫn luôn hàm chứa sự bất ngờ, vẫn không ngớt biến hóa. Theo con thuyền thả trôi, điểm nhìn của nhà văn liên tục di động và “đi động” hơn nữa là cái nhìn của Nguyễn Tuân. Có vẻ như ông muốn học cách nhìn của “con hươu thơ ngộ”, “vểnh tai”, “nhìn không chớp mắt” những sự vật như hiện lên từ thế giới cổ tích, sau đó truyền sự bỡ ngỡ lại cho độc giả qua những từ dùng độc đáo, sáng tạo, kích thích rất mạnh giác quan và vốn ngôn ngữ của chúng ta: “thơ ngộ”, “đầu nhung”, “áng cỏ sương”, “tiếng còi sương…”. Vật nào cảnh nào được cây đùa thần của nhà văn động đến đều cựa quậy, không chịu ép mình làm một tiêu bản dẹt. Có lúc, Nguyễn Tuân như vượt qua lề luật của phép diễn đạt thông thường để viết: “Đàn cá đầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi”. Có thể nói câu văn kia đã được viết theo bút pháp của hội họa “lập thể” mà mục đích của nó là muốn cùng một lúc thấy được sự vật ở nhiều chiều. Trước một nét miêu tả rất cô đọng như thế, ta không chỉ thấy mà còn nghe – thấy cái lấp lánh ánh bạc của bụng cá và nghe tiếng quẫy nước rộn ràng vang ngân.

    Nguyễn Tuân là người hết sức nặng tình với con sông đất nước. Trong khi thưởng ngoạn vẻ đẹp thơ mộng của Sông Đà, trong ông dậy lên bao mối liên tưởng về lịch sử, dậy lên cảm giác hàm ơn sâu xa đối với cổ nhân. Việc ông nhắc tới đời Lí, đời Trần, đời Lê và câu thơ của Tản Đà cho thấy rỏ một thiên hướng bộc lộ cảm xúc rất đặc thù của người từng viết Vang bóng một thời. Nhưng trước vẻ “hoang dại” của bờ sông Đà, nhà văn cũng có những suy nghĩ mang tính tích cực của người công dân mới, mong cuộc sống hiện đại tỏa chiếu ánh sáng lên cả chốn sơn cùng thuỷ tận. “Tiếng còi sương” xuất hiện ở đây ngân xa như một khát vọng, nó hài hòa với cảm hứng lịch sử, tạo cho đoạn văn một vẻ đẹp vừa cổ kính, vừa hiện đại. Đối với Nguyễn Tuân, những cái gì mang trong nó hơi thở ấm áp của cuộc đời đều để thương, để nhớ, để lưu luyến cho ông. Trong những câu cuối của đoạn văn này, ông đã trải lòng mình ra với dòng sông, hóa thân vào nó để lắng nghe và xúc động: “Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dồng trên”. Qua mỗi dặm đường đất nước, nhà vãn đều thấy cảnh vật và con người gắn quyện với nhau rất chặt chẽ.

    Yêu sông Đà cũng chính là yêu Tổ quốc và yêu con người Việt Nam – những “đồng tác giả” của trăm vẻ đẹp từng làm đắm đuối lòng ta trên “trăm dáng sông xuôi” (ý thơ của Ngụ/ễn Khoa Điềm).

    Chỉ mới qua một đoạn trích ngắn ngủi, ta chưa có điều kiện thấy hết những đặc sắc của văn Nguyễn Tuân. Nhưng chừng ấy tưởng cũng đã đủ để ta quý trọng một tài năng, một tấm lòng, một Nguyễn Tuân – con người suốt cuộc đời đi tìm cái đẹp trong cuộc sống để sáng tạo nên những áng văn đẹp, làm phong phú, giàu có thêm đời sống tinh thần của tất cả độc giả

    BÀI MẪU SỐ 3:

     

    Nếu có một buổi tôi hỏi “Anh biết Nguyễn Tuân không ?”, anh đáp “Biết !” nhưng nếu tôi thêm “Anh biết tác phẩm Sông Đà không ?”, anh trả lời “Không !” thì tôi tin mình đã có đủ cơ sở để khẳng định lời anh thiếu chính xác. Thật thế, nói đến Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, người ta phải nhắc Vang bóng một thời cũng như sau cách mạng tháng Tám, nhắc đến Nguyễn Tuân người ta không thể quên tập tùy bút Sông Đà của ông.

    Thông qua Sông Đà, bằng ngòi bút tài hoa, già dặn của mình, Nguyễn Tuân không chỉ phác họa được bức chân dung ông lái đò trên sông Đà, bức chân dung người lao động trên sông nước được nâng lên ngang tầm nghệ sĩ, mà còn đem đến con sông Đà một cái hồn người thực sự: cũng biết vui, buồn, giận dỗi, phẫn nộ, nhớ thương… Nhưng, gấp lại trang sách, đọng lại trong tôi vẫn là đoạn này: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… trên dòng trên”.

    Sau những đợt gầm rung giận dữ, sóng vỗ tung bờ, sau những trận “làm mình mẩy” với con người Tây Bắc, con sông Đà lại trở về với cái đằm thắm, hiền hòa cố hữu của nó: “Cảnh sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi”. Câu văn đọc nghe cứ êm trải, mênh mang…, mênh mang như chính những gợn sóng trên sông Đà. Tôi dám cuộc rằng, nếu tác giả chỉ phác họa cảnh “lặng lờ” không thôi, người đọc cũng đủ hình dung ra cái tĩnh lặng của dòng trôi, cùng lắm như con sông quê nội, quê ngoại mình hay như con sông trước ngõ nhà mình. Song, ở đây Nguyễn Tuân đã viết thêm:

    “Hình như từ đời Lí, đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi”. Con sông bây giờ không hẳn chỉ là của hiện tại, mà nó trôi ngược về ạuá khứ. Bởi người ngắm nó – người đang lênh đênh giữa dòng sông, đang chìm trong hoài niệm, mạch cảm xúc bơi ngược về với lịch sử dân tộc. Nguyễn Tuân cho phả vào câu chữ của mình, phủ lên bề mặt con sông Đà một lớp sương khói huyền hoặc, mơ hồ, xa xăm, đẹp và thơ mộng lạ kì. Bỗng dưng tôi nhớ mấy câu ca dao:

    Mịt mù khỏi tỏa ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

    Cũng là lãng đãng khói sương, nhưng rõ ràng không gian mặt hồ bị cô lập và có giới hạn hơn không gian con sông Đà của Nguyễn Tuân.

    Vẫn miên man trong mạch xúc cảm đằm sâu, ta có cảm giác con người tác giả đang hiện diện đâu đó trên con sông Đà đã nhập thân làm một với cỏ cây sóng nước, để cho hiện dần lên trước ống kính những vẻ đẹp cụ thể gợi cảm. Đúng vậy ! Phải là người của cảnh này, tình này mới có được những hình ảnh nào là “nõn búp”, “búp có tranh”, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, nào là “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương”, “một tiếng còi sương”, rồi “đàn cá quẫy vọt bụng trắng như bạc rơi thoi”… cùng cái dáng dấp “lững lờ như nhớ như thương những hòn đá thác xa xôi” của con sông Đà… Một loại những sắc màu, hình ảnh, một loạt những so sánh ví von khiến người đọc phải thích thú cảm phục người cảm phục người cầm bút. Song, đọc kĩ lại ta mới hay rằng Nguyễn Tuân không chỉ muốn người đọc tâm phục đôi mắt nghệ sĩ có một không hai của mình mà chắc rằng, đằng sau một loạt ngôn từ sáng tạo tài hoa đó là cả một thực thể nguyên khai như “nụ sữa” thuần khiết. Ngẩm lại mà xem, từ “ nõn búp” đến “búp có tranh” là một cái gì rất tươi non, e ấp, đến “con hươu thơ ngộ”, bờ sông “hoang dại như một bờ tiền sử”, “hồn nhiên như một nổi niềm cổ tích tuổi xưa”… đều là những cái ban đầu, băng trinh, nguyên sơ… Và đằng sau, những dáng vẻ, những thực thể, màu sắc ấy, người ta còn thấy một sức sống ngồn ngộn, tươi rói, trẻ trong đang ẩn nấp, đang ngầm sinh sôi, chuuyển động, kết giao… Bắt được cái thần thái của cảnh vật, đòi hỏi cảm xúc Nguuyễn Tuân phải tinh tế đến cỡ nào. Chính xác hơn, như trên đã nói Nguvễn Tuân đã hòa mình vào thiên nhiên, vào trời mây non nước sông Đà, để thay mặt nó, ra trạng thái trinh nguyên của nó. Có thể hiểu rằng, Nguyễn Tuân không tả cảnh quan sông Đà hoàn toàn theo cái nhìn chủ quan của người ngắm mà còn tả bằng đôi mắt khách quan như bản thân con sông Đà hiện có.

    Đoạn văn trích cho ta thấy được vẻ đẹp thơ mộng tiềm tàng sức sống của sông Đà, xúc cảm rất chân thành của người ngắm cảnh và một lần nữa, buộc ta phải khâm phục, ngưỡng mộ ngòi bút tài hoa tài tử của Nguyễn Tuân, những chữ nghĩa, ví von có hồn có mắt được nâng niu, cẩn thận góp nhặt qua “ hàng trăm tuần trà, hàng ngàn lần dạo phố Hà Nội, đi Đông đi Tây chắt lọc lại, giữ lại cho chúng ta”.

    Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam, uống ngụm nước ngọt của dòng Cửu Long phù sa hiền hòa, đọc văn Nguyễn Tuân sao tôi cứ thây ao ước, bồn chồn: ước một lần được đặt chân đến với con sông đà, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp có thật của một con sông ở miền Bắc Tổ quốc mình…

    Mình cũng là người Việt Nam, cũng biết yêu mến và rung cảm với cái của non sông gấm vóc Việt Nam, biết đâu mình cũng có thể viết nên những dòng suy nghĩ đậm đà chất thơ theo tấm gương sáng tạo của tác giả tùy bút Sông Đà.

    BÀI MẪU SỐ 4:

     

    Trong cuộc kháng chiến mất còn của dân tộc, những dòng sông, cánh đồng, mảnh đất, ngôi làng đã đồng hành sống và chiến đấu với con người và hóa thân vào văn chương thành những vẻ đẹp của quê hương, đất nước. Một sông Mã gầm khan trầm uất, một sông Đuống cuộn trôi mang bao ảnh hình xứ sở…Đến với Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, ta cùng tác giả vượt thác xuống ghềnh và rồi thả thuyền hồn trôi xuôi trong một đoạn tả sông Đà trữ tình: “ Thuyền tôi trôi trên sông Đà…trên dòng trên”.

    Nếu ví người lái đòsông Đànhư bản trường ca với những cung bậc khi mãnh liệt lúc réo rắt ngân vang thì đoạn văn trên là một khúc ca êm ái nhất. Không những thế đoạn văn còn như một bài thơ, với những ý tưởng vần điệu nhịp nhàng, mềm mại. Ở những giai đoạn trên, ta bắt gặp một con thuyền chiến của người lái đò, còn đây là một con thuyền thơ của một hồn văn đầy chất thơ. Nhưng phải chăng vì cả ông lái đò và tác giả đều là người nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình nên cả hai con thuyền đều là thuyền thơ, chỉ khác là một tứ thơ dữ dội, khốc liệt và một tứ thơ êm đềm, dịu dàng. Hòa vào tứ thơ ấy, không gian liên tưởng của người đọc cứ mở ra mãi nhờ những cách so sáng. Các nhà văn khác thường so sáng cụ thể hóa sự vật còn Nguyễn Tuân, ông so sánh để làm vạn vật trở nên kích thích, mở rộng trí tưởng tượng. Hãy nghe cách so sáng của ông: “ Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Từ một hình ảnh cụ thể, hữu hình “ bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cố tích tuổi xưa”. Từ một hình ảnh cụ thể, hữu hình “ bờ sông” gợi đến bao cái vô hình “ bờ tiền sử”, “ nổi niềm cổ tích tuổi xưa”. Câu trên nghe hoang vắng, xa xăm. Câu dưới òa ập, xôn xao cảm xúc. Tác giả nhắc nhở tuổi thơ, ý văn tiếp nối với đoạn văn trên khui tả sông Đà “ loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”. Tuổi thơ như khoảng thời gian thần tiên trong hồn người. Và đi bên tuổi thơ của mỗi con người là tuổi thơ của nhân loại, bởi dòng sông nào cũng là chứng nhận của việc an cư lạc nghiệp, của biết bao biến đổi thăng trầm của lịch sử. Ở trên, Nguyễn Tuân đã nhìn sự vật trong chiều sâu lịch sử, trong ý thức hướng về truyền thống khi nói cái “ lặng tờ” của cảnh sông. Dường như dòng sông lặng tờ lại càng lặng tờ hơn bởi bề dày lịch sử của mấy trăm năm cộng lại. Tiếp nối sức mạnh quá khứ là hình ảnh bờ sông – bờ tiền sử. Và khi nhà văn “ them được giật mình vì tiếng còn xe lửa” thì tương lai đã náo nức reo vui. Cứ thế văn Nguyễn Tuân đưa người đọc từ thế giới này đến thế giới khác một cách uyển chuyển khéo léo. Và phải chăng, Nguyễn Tuân đã viết văn đúng như quan niệm về thơ của ông “ từ một cái hữu hình nó thức dậy được những cái vô hình bao la, từ một cái điểm nhất định mà nó mở ra được một cái diện không gian thời gian”, khi so sánh bờ sông như vậy? Ngoài ra, ông còn đem vật thể so sáng với tình cảm, cảm xúc trong hình ảnh” một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa hay như “ Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương…Con sông như đang lắng nghe…” Nguyễn Tuân đã nhập thân vào dòng sông để lắng nghe và xúc động, lòng dâng dầy chất thơ. Mơ mộng thay khi nối tiếp những vần thơ bập bềnh sông nước của Tản Đà là những cảm xúc rất thơ như thế! Thế giới vật chất, thế giới tinh thần xa xăm cứ thế mà nối qua những liên tưởng của nhà văn. Con sông đang “ nhớ thương”, đang “ lắng nghe” hay chính nhà văn đang thương nhớ, lắng nghe những tâm tình của cuộc sống?

    Chất thơ của đoạn trích còn thể hiện ở cách viết văn như thơ của Nguyễn Tuân. Câu mở đoạn “ Thuyền tôi trôi trên sông Đà” êm êm những thanh bằng như một câu lục trong thơ lục bát. Vần lưng “ tôi trôi” và điệp âm “ t” gợi hình ảnh con thuyền nổi nênh trên mặt sông. Những thanh ngang nằm giữa hai thanh bằng hai đầu câu văn như tạo một khoảng ngưng đọng cho cảm xúc. Thuyền trôi mà như không trôi, như tình cảm cứ đọng mãi, chất chứa trong thuyền. Và cụm từ “ thuyền tôi trôi” ấy cứ như một điệp khúc bằng lặng trong suốt cả đoạn văn. Đây là một kiểu trùng rất đặc trưng của thơ hay cũng là sự điệp trùng của cảm xúc. “ Thuyền tôi trôi qua một nương ngô..”, “ thuyền tôi trôi trên dải sông Đà…” tưởng như thuyền hồn người đọc cũng xuôi lặng theo dòng tâm tư khởi toàn thanh bằng nhẹ bỗng như thế. Hồn người như tan ra hòa cùng cảnh sắc. Con thuyền cũng trôi trên một dòng sông cũng lững lờ trôi theo những câu văn ngắn, chảy dài, chảy dài theo những câu văn dài. Có phải câu văn cứ khi dài, khi ngắn linh hoạt như dòng chảy lúc nhanh lúc chậm của con sông? Câu “ Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” xao động với những thanh trắc nhỏ nhẹ cố như khép lại nén lại cảm xúc đang dân trào. Ngoài câu văn mở đầu với sáu thanh bằng còn có vế câu nhiều thanh bằng nữa như “ chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên…”. Những thanh bằng ấy như cố lắng xuống để ghi nhận trong khoảnh khắc ánh nhìn của chú nai tơ. Và hai từ láy “ chăm chăm”, “ lừ lừ” chỉ trong một vế câu ngắn như đong đầy cảm xúc. Ngoài ra còn có những từ láy khác như “ lững lờ”, xa xôi, êm êm” đều gợi cảm, tạo nhạc. Bên cạnh một thứ nhạc thơ thấm đẫm đoạn văn là một điệu nhạc tâm hồn cứ khe khẽ hát lên, một chất thơ trở đầy tâm trạng.

    Chất thơ mơ mộng còn bao trùm cả cảnh sông bằng những ảnh nai tơ, mỡ màng nhất: “ lá ngô non đầu mùa”, nõn búp, búp cỏ gianh, những con vật hiền lành: con hươu thơ ngộ, đàn cá dâm xanh. Cảnh sắc thơ như từ một thế giới cổ tích nào đấy hiện về, vừa chân thực mà hư ảo, gần gũi mà xa xăm, bảng lảng một lớp sương huyền hồ của “ cỏ gianh đẫm sương đêm”, “ áng cỏ sương” và cả “ tiếng còi sương”. Tưởng như một tâm hồn lần đầu bắt gặp sự xanh non của cuộc sống. Những câu văn tươi xanh như thức dậy phần non tơ nhất của hồn người, thức dậy một ý thơ của Xuân Diệu “ Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non”. Có t” thể hình dung đây là một buổi sớm mùa xuân tinh khôi, mùa xuân của cuộc sống và mùa xuân của lòng người. Mỗi câu văn “ đẫm sương” ấy là một nét vẽ, tưởng như hòa vào nhau song tách bạch rất rõ rang. Một màn sương cứ rải nhẹ trong tâm trí độc giả, như nhắc nhở bao huyền thoại xa xưa, bao không gian cổ tích diễm ảo. Ta như cùng Nguyễn Tuân ngây ngất đắm say những nét diệu kỳ nhất của tạo hóa. Có một sự sống của mình trong ba thanh trắc “ nhú”, “ mấy”, “ lá”, có một cái gì mềm mại trong “ đầu nhung”. Và ấn tượng nhất là cỏ, ta chỉ nghe “ ngọn cỏ”, “ sóng cỏ” nhưng “ búp cỏ”, “ áng cỏ sương” thì có lẽ chưa bao giờ. Nếu thi hào dân tộc Nguyễn Du tả ngọn cỏ như một minh chứng cho sự đồng điệu đến kỳ lạ của thiên nhiên đối với con người thì Nguyễn Tuân nay đã đưa ngọn cỏ lên khía cạnh thơ nhất, đẹp nhất. Màu xanh của bờ đồng cỏ mênh mông đã nhuộm non cả đoạn văn – bài thơ

    của Nguyễn Tuân.

    Bài thơ cuối ấy còn đạt đến chất thơ tuyệt vời bằng nghệ thuật cổ điển lấy động tả tĩnh. Khung cảnh lặng tờ đến nỗi tác giả cảm nhận được cả tiếng cá quẫy. “ Tiếng cá đập nước sông đuồi mất đàn hươu vụt biến”. Phải chăng đó cũng là khoảng lặng trong tâm hồn của Nguyễn Tuân để hứng lấy những âm thanh nên thơ của sự sống, một sự sống trỗi mình trong lá ngô non, búp cỏ non mạnh mẽ trong tiếng đập nước của cá? Đàn hươu hiện ra chạy mất, phải chăng trong đoạn văn mơ mộng của Nguyễn Tuân, mọi vật đều trở nê hiền lành đến mức thơ ngây nhất? Từ một cái diện mênh mang một điệp khúc xanh của ngô non, áng có, nhà văn điểm vào sắc trắng của bụng cá. Nghệ thuật hội họa cổ điển đã đuộc vận dụng, khám phá mọi vẻ thơ ngây của cuộc sống.

    Trong không gian u huyền ấy bỗng tác giả “ thèm được giật mình vì một tiếng còi sương”. Đặt vào hoàn cảnh chưa có chuyến tàu nào đi Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu., câu văn như một tiếng reo náo nức của tác giả trước công cuộc xây dựng miền Bắc ( 1958 – 1960). Khi ấy, Tố Hữu đã cho ra đời những vần thơ đẹp.

    Yêu biết mấy những dòng song bát ngát
    Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non
    Yêu biết mấy những con đường ca hát
    Qua công trường mới dựng mái nhà son.

    Tiếng còi sương là ảo, là âm thanh trong tâm tưởng nhưng lại nói lên một ước vọng rất thực tế của nhà văn. Thèm được nghe một tiếng còi xa lửa đã quý, như Chế Lan Viên.

    Mắt ta them mái ngói đỏ trăm ga.
    ( Tiếng hát con tàu)

    Nhưng “ them giật mình” thì lại càng quý hơn bởi Nguyễn Tuân khao khát cái cảm giác khi được nghe tiếng còi Tây Bắc mở mang. Ta đã từng trân trọng cái giật mình vì phẩm giá “ thương mình xót xa” của Kiều, cảm thông cái giật mình hoài nhớ của Tú Xương khi “ vẳng nghe tiếng ếch” thì nay ta lại nâng niu thêm một cái giật mình ước tương lai của tác giả sông Đà. Và như thế đoạn văn của sông Đà của Nguyễn Tuân đã là văn chương mới của một thời đại mới. Trước Cách mạng, ông đã từng “ xê dịch” để tìm những cảm giác mới lạ, để trốn tránh trách nhiệm thì sau ngày đổi đời của dân tộc, ông lại đi để tìm hình ảnh quê hương và nhận chân trách nhiệm của mình. Thưởng ngoạn nhưng không quên vì người, vì cuộc sống mới, quả thật văn Nguyễn Tuân đã “ hợp lưu” với lòng người đọc dễ dàng nhờ những suy nghĩ như thế. Hòa cùng tiếng hát của con tàu thơ Chế Lan Viên, một tiếng còi sương của Nguyễn Tuân, mái nhà sơn của Tố Hữu, “ Ngói mới” của Xuân Diệu… đã góp thành sắc mới của thơ văn phản ánh màu mới của quê hương đất nước. Cuộc sống mới đã ngấm vào cảnh vật, và con hươn thơ như cũng lắng nghe tiếng còi sương. Cảnh vật có màu sắc, âm thanh dù là trong tâm tưởng.

    Một tứ thơ xưa đọng lại nơi quãng sông càng làm tăng chất thơ: “ Dải sông Đà bọt nước lên đênh. Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình.” Nguyễn Tuân đã chọn câu thơ hết sức trữ tình của nhà thơ quê hương sông Đà, sống hết lòng với sông Đà. Câu thơ ấy hòa với những câu văn đẹp như thơ của Nguyễn Tuân đã “ đề thơ” vào sóng nước Đà giang như khẳng định sự tồn tại của một sinh thế có hồi, coi sông Đà như một bạn đồng hành? Đưa vào câu thơ của Tản Đà, đoạn văn, bỗng dậy lên hơi thở nồng ấm, quấn quýt của tình người, tình yêu. Tình đã nồng cho nên những câu văn tiếp theo chất chứa cảm xúc “ nhớ thương”, “ lắng nghe những giọng nói êm êm”.

    Có một sông Đà gầm thét, chảy trôi miên man giữa trời Tây Bắc vời vợi chất thơ của sông núi, và có một sông Đà trong văn Nguyễn Tuân chảy vào lòng người. Văn chương đã làm cho thiên nhiên đẹp lên bội phần. Con sông Đà sẽ mãi đồng hành cùng với con người cũng như áng văn đẹp của Nguyễn Tuân sẽ luôn là hành trang của mỗi người, của dân tộc đi tới trong cuộc sống hôm nay.

     

     

    BÀI MẪU SỐ 5:

     

    1. Tìm hiểu đề

    – Kiểu đề: Nghị luận văn học – Phân tích đoạn văn xuôi

    – Nội dung: Con sông Đà trữ tình

    + Cảnh lặng tờ hoang dã của bờ bãi sông Đà

    + Khát khao hướng tới tương lai.

    – Phạm vi dẫn chứng” Đoạn văn trong tác phẩm “Người Lái đò sông Đà”

    1. Lập dàn ý:
    2. Giới thiệu:

    – Tác giả: Nhà văn Nguyễn Tuân là cây bút rất mực tài hoa, uyên bác….

    – “Người lái đò sông Đà” được rút ra từ tập tùy bút “Sông Đà” (1960) Tác phẩm đã góp phần khẳng định vị trí của Nguyễn Tuân trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

    – Trong tùy bút Nguyễn Tuân miêu tả hình tượng con sông Đà khi thì hung bạo lúc lại trữ tình.

    – Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của con sông Đà quãng trung lưu thác ghềnh lúc này chỉ còn trong trí nhớ…

    1. Phân tích

    * Nhận xét chung:

    Nếu như trong cảnh vượt thác băng ghềnh trên thượng nguồn, nhà văn Nguyễn Tuân đã tung ra một vốn từ ngữ chính xác, mới lạ và vô cùng ấn tượng để làm nổi bật cuộc chiến đấu giữa ông Đò với thần sông thần đá có đủ tướng mạnh quân đông bằng một giọng văn mạnh mẽ, nhịp văn dồn dập thì đến đoạn văn này nhịp văn thay đổi bằng sự nhịp nhàng, mơ màng, êm dịu đúng như câu tục ngữ của người Thái: “Qua thác Tiếu dải chiếu mà nằm”

    1. Luận điểm 1: Cảnh ven sông lặng tờ hoang dã

    – Câu đầu của đoạn văn được bắt đầu bằng hình ảnh “Thuyền tôi trôi trên sông Đà” gợi lên sự nhẹ nhàng êm ái. Câu văn ngắn gồm 6 âm tiết đều là thanh bằng tạo nên không gian nghệ thuật như ru khách sông Đà vào giấc mộng phiêu du.

    – “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí, đời Trần…thế mà thôi”

    + Hai chữ “lặng tờ” được nhắc đi nhắc lại tới hai lần theo kiểu trùng điệp rất đặc thù của thơ, không gian vắn lặng nhưng không thể “lặng tờ” hơn được nữa du khách đang đi thuyền trên quãng sông này nhưng lại có cảm giác mình đang đi ngược về quá khứ xa xưa của những đời Lí, đời Trần, đời Lê.

    + Cái lặng tờ trầm tu đột ngột của con sông vốn đã ồn ào, mạnh mẽ gợi lên không khí thiêng liêng trang trọng cổ kính. Đó là dòng sông cổ thi “trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ” mà ta đã từng bắt gặp trong trang thơ của Huy Cận, sông Đà con sông lịch sử đã từng chứng kiện một chặng đường oanh liệt, hào hùng của dân tộc ta trong những cuộc chiến tranh vệ quốc, câu văn không tả mà nó có sức gợi mênh mong của thi ca.

    – “Thuyền tôi trôi qua một nương ngô…nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”

    + Theo dòng trôi của con thuyền người đọc đi vào thế giới hoang sơ tĩnh mịch, Nguyễn Tuân láy lại cái điệp ngữ “thuyền tôi trôi” để gợi một dòng sông êm đềm, thơ mộng, ta tưởng như nhịp chảy của dòng sông đã hòa vào nhịp điệu của câu văn để ru hồn người “lạc vào thời tiền sử” đẹp như “một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”

    +Bao trùm cảnh vật là một màu xanh hoang sơ cũng thấy nương ngô “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa” dường như ở đó đã có dấu ấn của con người in trên cái màu xanh non mỡ màng ấy nhưng thật ngạc nhiên “tịnh không một bóng người”. Đoạn văn đẹp như một bức tranh lụa nhờ việc sử dụng rất nhiều định ngữ: “cỏ gianh đẫm sương đêm”, “lá ngô non đầu mùa”…chính những hình ảnh thi vị ấy đãkéo dòng sông hiện đại trở về gần với thực tại hơn.

    +Đặc biệt hai câu văn “bờ sông hoang dại …bờ sông hồn nhiên…” khiến ta tưởng đây là hai vế của một câu song quan trong bài phú lưu thủy. Nghệ thuật điệp cấu trúc đã kết dính hai câu thành một bè thơ gợi cảm, bồng bềnh, vấn vương cảm xúc hoài cổ mà ta đã bắt gặp ở người nghệ sĩ một thời vang bóng này. Nguyên Tuân đã tìm về vẻ đẹp xưa trong cái ngày

    hôm nay => tình yêu quê hương xứ sở.

    + Nguyễn Tuân so sánh không phải để cụ thể hóa sự vật mà để trìu tượng hóa, thơ mộng hóa. Lời văn chứng tỏ sự tài hoa của cây bút bậc thầy về ngôn ngữ, ông đã dùng tưởng tượng để tạo nên liên tưởng nhằm gieo vào lòng người đọc bao cảm xúc để được cùng nhà văn tận hưởng cái vẻ đẹp hoang dại và hồn nhiên của bờ bãi sông Đà.

    1. Luận điểm 2: Khao khát hướng tới tương lai của sông Đà
      – Say đắm trong cái tĩnh mịch của dòng sông nhưng nhà văn vẫn “thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu”

    + Có lẽ đây là cách làm duyên của Nguyễn Tuân cách nói vừa tô đậm ấn tượng về một không gian lặng lẽ, mơ màng đến độ phải “thèm giật mình” để rũ mình khỏi giấc mộng xưa.

    +Qua đó Nguyễn Tuân còn gửi găm cái khao khát được gửi gắm sự đổi mới của đất Tây Bắc hoang dã trong không khí xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc trong những năm 1960.

    – “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi án cỏ sương …như tiếng bạc rơi thoi”

    + Những định ngữ “thơ ngộ, đầu nhung, cỏ sương…” giống như một chiếc đùa thần kì diệu chạm tới đâu thì ở đó sự vật như cựa quậy, sống động có hồn. Cái hoang dại không mất đi mà trái lại đêm đến cho người đọc một vẻ đẹp tươi tắn, tinh khiết văng vẳng trong không gian tĩnh lặng của đôi bờ sông đà là một tiếng “còi sương” ngân xa như mở ra một chân trời thơ bát ngát.

    + Cuộc đối thoại giữa ông khách sông khách sông Đà và con vật “lành” đích thực là một bài thơ trữ tình, nó chập chờn chơi vơi. Hươu hỏi người hay người tự hỏi một giả định vừa thực vừa ảo. Chỉ cần một nét vẽ của Nguyễn Tuân về đàn hươu núi đã gợi trước mắt người đọc cái vẻ đẹp hoang dã hồn nhiên của con sông.

    + Hình ảnh “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” như manh sức nặng của một tâm hồn đang hòa vào cũng cảnh vật. Một câu văn có cả màu sắc, đường nét và đặc biệt cách miêu tả của nhà văn cũng vô cùng độc đáo. Biện pháp nghệ thuật so sánh cùng với nghệ thuật lấy động tả tĩnh gợi lên không gian tĩnh mịch đến độ người ta có thể nghe thấy cả tiếng cá quẫy đuôi làm đàn hươu phải giật mình và ông khách sông Đà cũng chợt tỉnh mộng để quay về thực tại.

    – Thuyền tôi trôi trên “dải sông Đà bọt trắng lênh đênh…”. Đến đây tác giả đã phát hiện ra sông Đà với vẻ đẹp tình tứ lãng mạn, vẻ đẹp đậm đà bản sắc văn hóa bởi nó được gắn với câu thơ rất mực tài hoa của thi sĩ Tản Đà “Dải sông Đà bọt nước lênh đênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”. Ở đây ta lại bắt gặp một giọng văn quen thuộc của nhà văn họ Nguyễn ông luôn nhìn sự vật dưới phương diện văn hóa, lịch sử, thẩm mĩ.

    – Càng về xuôi sông Đà càng rộng thêm ra bởi vậy nhìn dòng nước lững lờ trôi mà ta như cảm thấy nó “nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc” và “con sông như đang lắng nghe giọng nói êm êm của người về xuôi”. Bằng tấm lòng với vẻ đẹp quê hương đất nước, nghệ thuật văn xuôi điêu luyện của Nguyễn Tuân đã đem đến cho người đọc những khoái cảm được ngắm nhìn vẻ đẹp về con sông Đà nghệ sĩ lẵng mạn trữ tình.

    => Nhận xét, đánh giá cuối bài:

    Nguyễn Tuân yêu Tây Bắc, yêu một trời hoa ban trắng, yêu ông lái đò nghệ sĩ, yêu con sông Đà hung bạo trữ tình…phải chăng đó là thứ tình yêu sông núi, yêu con người Việt Nam tài hoa dũng cảm. Và ông đến với sông Đà như một cái cớ, một cơ duyên để ông được thỏa thuê với khát vọng khám phá, khát vọng thể hiện cái tôi trữ tình nghệ sĩ của mình.

    BÀI MẪU SỐ 6:

     

    Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa, nhà văn nổi tiếng trong cả hai giai đoạn sáng tác: trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945. Ông đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn học phong phú với nhiều tác phẩm như Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1939), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Tùy bút I, Tùy bút II (1943), Tóc chị Hoài (1943), Nguyễn (1945), Chùa Đàn (1946), Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Tùy bút kháng chiến và hòa bình I (1955), Tùy bút kháng chiến và hòa bình II (1956), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), Kí (1976), Chuyện nghề (1976),… Đặc biệt bài tùy bút Người lái đò sông Đà rút trong tập tùy bút Sông Đà là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài hoa của nhà văn Nguyễn Tuân trên bước đường đi tìm vẻ đẹp của cảnh và người Tây Bắc – “chất vàng mười” của tâm hồn. Trích đoạn trong đề bài là một đoạn của tùy bút.

    Trước đoạn văn này, tác giả trình bày mục đích chuyến đi thực tế Tây Bắc và sông Đà của mình là để tìm hiểu những con người ở đây mà ông gọi là “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của cách mạng và kháng chiến, hiện nay dang góp phần vào việc kiến thiết Tây Bắc. Tiếp đến, tác giả giới thiệu tài trí tuyệt vời của những người lái đò sông Đà, đồng thời liệt kê một loạt con thác của sông Đà từ Vạn Yên về xuôi, trong đó có những con thác vô cùng “độc dữ, nham hiểm”. Sau đó, nhà văn khám phá tính chất hung bạo và trữ tình của sông Đà. Đặc biệt là miêu tả hình tượng ông lái đò với tư cách một người lao động đầy trí dùng và một người nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh. Sau cuộc thủy chiến ác liệt giữa người lái đò và con thác dữ, dòng sông Đà như trở lại bản chất trừ tình vốn có.

    Trích đoạn trên đây miêu tả vẻ đẹp trữ tình và cảm xúc của du khách trên dòng sông ấy.

    Trước hết là vẻ đẹp trữ tình của một quãng sông êm ả. Nhà văn miêu tả một cách vô tư, khách quan kết hợp với vài suy nghĩ cá nhân:

    “Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”. Thêm vào đó, nhà văn chọn lọc, miêu tả nhiều hình ảnh đẹp, sắc nét: “Một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, “cỏ gianh đồi núi đang ra những non búp”, “một đàn hươu cúi đầu ngốn Lúp cỏ gianh đẫm sương đêm”, “(con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương”. Đặc biệt; nhà văn còn dùng thủ pháp so sánh tu từ, nhân hóa tu từ, điệp cấu trúc cú pháp: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “bờ sông hồn nhiên như một nổi niềm cổ tích tuổi xưa”. Dùng các thủ pháp này, một mặt nhà văn miêu tải vẻ đẹp thi vị, hoang dại, cổ kính của dòng sông. Mặt khác, nhà văn gợi được thần thái của nó. Hơn nữa, nhà văn dùng những nét chấm phá rất tài hoa của nghệ thuật hội họa, điêu khắc. Dễ thấy nhất là gam màu nhạt tạo cảm giác trữ tình thơ mộng. Đó là màu xanh non của lá ngô đầu mùa, của nõn búp, của cỏ gianh đồi núi. Đó là màu trắng đực của sương đêm. Đó là màu nhung của đầu con hươu thơ ngộ. Đó là màu “trắng như bạc rơi thoi” của bụng cá. Vả lại, không gian nơi đây rất tĩnh mịch, hoang vắng (ngoại trừ thanh âm của “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sóng”).

    Đã vậy, cách phối hợp thanh điệu, nhịp điệu của câu văn cũng rất tài hoa. Trong đoạn văn, các thanh bằng chiếm ưu thế, góp phần tạo nên cảm giác êm dịu, lắng đọng nơi chiều sâu cảm xúc. Chẳng hạn, câu mở đầu đoạn văn chỉ toàn thanh bằng: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà”.

    Bên cạnh đó, thưởng thức đoạn văn chúng ta còn bắt được mạch cảm xúc của du khách – nhân vật trữ tình – trên sông Đà. Cụ thể là sự rung động mãnh liệt trước vẻ đẹp ngây ngất của thiên nhiên và chiêm ngưỡng vẻ đẹp ấy bàng đôi mắt của một người nghệ sĩ tài hoa. Nhìn cảnh ven sông lặng tờ, người nghệ sĩ liên tưởng tới quá khứ của quãng sông để so sánh, đối chiếu, khám phá ra vẻ đẹp hoang sơ, cổ tích, huyền thoại kì thú của nó cũng như vẻ đẹp trẻ trung, tươi tắn nảy nở, sinh sôi của cảnh vật thực tại. Hơn thế nữa, tình yêu thiên nhiên của người nghệ sĩ ấy rất nồng nàn, tha thiết, ở đây, có một hòa nhập cả tâm hồn mình vào thiên nhiên. Vì người nghệ sĩ ấy với thiên nhiên như một người bạn tri âm, tri kỷ nên rất thấu hiểu thiên nhiên. Thật vậy, tâm hồn nhân vật trữ tình như mơ màng lắng nghe cả tiếng hươu đang thủ thỉ: “Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đặc biệt, có sự thấu hiểu tâm trạng của dòng sông như thấu hiếu tâm tư, tình cảm của con người. Ấy là tâm trạng nhớ nhung da diết: “Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”. Đó là tâm trạng quyến luyến, mong mỏi được nghe giọng nói của con người: “Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi”. Ấy là tâm trạng vui mừng, sung sướng, tự hào khi được làm bạn đủ loại ghe thuyền xuôi ngược trên sóng nước: “Con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

    Ngoài ra, với trí tưởng tượng lãng mạn, bay bổng, người nghệ sĩ ấy mượn hai câu thơ của thi sĩ Tản Đà để làm đẹp thêm cái thơ mộng tình tứ của sông Đà:

    Dải sông Đà bọt nước lênh bênh
    Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình.

    Vả lại, chúng ta còn cảm nhận được niềm khao khát, mơ ước, hi vọng của người nghệ sĩ về một tương lai tốt đẹp cho vùng đất Tây Bắc xa xôi của Tổ quốc: “Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên trên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu”. Phải chăng đây cùng là khát vọng chân chính của biết bao văn nghệ sĩ cùng thời Nguyễn Tuân về sự thay da đổi thịt của Tây Bắc?

    Nhìn chung, dù độc giả chỉ thưởng thức một đoạn văn ngắn của bài tùy bút Người lái đò sông Đà nhưng vẫn cảm nhận được rất rõ nét phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân. Tiêu biểu là phong cách “ngông” thể hiện ở sự tài hoa, uyên bác, lịch lãm trên câu chữ. Tuy tùy bút là một thể văn nhưng chúng ta thấy nhà văn còn phối hợp kiến thức của nhiều môn nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, địa lí, lịch sử, sinh học, văn hóa, phong tục, võ thuật,…

    Riêng trích đoạn trên, sự am hiểu về hội họa, điêu khắc, động vật học, thực vật học, lịch sử học, địa lí học, mỹ học đã giúp nhà vãn cảm nhận, đánh giá đúng vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc. Ở đây, sông Đà được miêu tả như một công trình thiên tạo tuyệt vời, đẹp trong chất thơ trữ tình, da diết. Mặt khác, nhà văn còn nhìn sự vật ở chiều lịch sử, gắn quá khứ, hiện tại với tương lai. Hơn nữa, vốn ngôn ngữ của nhà văn rất giàu, nhiều từ ngữ có giá trị tạo hình biểu cảm cao độ có nhạc điệu trầm bồng, biết co duỗi nhịp nhàng như muôn ganh đua với tài hoa của tạo hóa. Phải là một người nghệ sĩ yêu nước da diết, có trí tưởng tượng đa dạng, phong phú, biết khám phá mê say, thưởng thức cái đẹp kỳ thú của tự nhiên mới có được những trang viết dạt dào khoái cảm thẩm mỹ đến thế!

    Trên đây là một trong những trích đoạn đặc sắc nhất của tùy bút Người lái đò sông Đà. Cả tác phẩm cùng như trích đoạn đã khơi dậy trong lòng chúng ta tình yêu thiên nhiên, đất nước mãnh liệt, yêu những con người lao động chân chính, hăng say và đặc biệt càng thêm yêu vùng đất Tây Bắc xa xôi nhưng giàu tiềm năng của Tổ quốc Việt Nam.

  • Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    BÀI LÀM

    Truyện ngắn Vợ nhặt được Kim Lân sáng tác sau Cách mạng tháng Tám, nhưng bối cảnh của tác phẩm là nạn đói khủng khiếp năm một chín bốn lăm.

    Đặt câu chuyện trong bóng tối của thời sự đói khát và chết chóc ấy, nhà văn đã thể hiện cảm động tấm lòng yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và niềm khao khát hạnh phúc của những người nghèo khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả phát hiện và tập trung xây dựng thành công ở nhân vật bà cụ Tứ, mẹ của anh Tràng, người đã “nhặt” vợ.

    Bà cụ Tứ là người mẹ nghèo khổ thương con như muôn ngàn người mẹ Viện Nam khác. Nhưng người mẹ ấy được đặt trong một tình cảnh hết sức éo le. Đó là việc Tràng, con trai của bà, giữa lúc nạn đói hoành hành lại lấy vợ. Nhưng dường như chính nghịch cảnh này càng làm nổi rõ ánh sáng tâm hồn ở người mẹ đáng thương.

    Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện từ giữa truyện, lúc anh Tràng đưa vợ về, song từ đấy, dù rất ít nói, bà vẫn là người thu hút nhiêu nhat tâm trí của người đọc. Bởi trong lòng người mẹ ấy, cảm trăm mối tơ vò, chuyện nay, chuyện xưa đan xen lẫn lộn, niềm vui, nỗi buồn, sự cay đắng tủi cực lẫn xót thương vây lấy.

    1. Tâm trạng bà cụ Tứ lúc về nhà

    Như thường lệ, buổi chiều ấy trời sẩm tối, bà cụ Tứ về nhà. Chưa thấy người,

    nhưng anh Tràng biết là mẹ, bởi ngoài đầu ngõ có tiếng người húng hắng ho.

    Từ ngoài rặng tre, bà lọng khọng đi vào. Tính bà vẫn thế, vừa đi vừa lẩm bẩm

    tính toán gì trong miệng. Nhưng hôm nay khác, thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ và gọi với vào trong nhà: U đã về đấy! Anh con trai lật đật chạy ra đón mẹ từ ngoài cổng và trách sao bà về muộn. Ồ, hẳn có chuyện gì rồi, mọi bữa anh cu Tràng đâu có thế. Mà còn gọi với vào trong nữa. Trong nhà nào có ai. Lâu nay, khi ông lão và đứa con gái út lần lượt ra đi, nhà chỉ còn mỗi hai mẹ con. Bà nhấp nháy hai con mắt nhìn Tràng, chậm hỏi: Có việc gì thế vậy? Anh cu Tràng chưa chịu nói, giục bà vào nhà.

    Bà cụ Tứ phấp phỏng bước vào theo con vào nhà. Phấp phỏng vì linh tính cho bà biết trong nhà hẳn xảy ra chuyện gì. Mà quả đúng như vậy. Mới đến giữa sân, bà đứng sững lại và càng ngạc nhiên hơn. Trong nhà bà có người, lại là đàn bà. Người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Bà chưa gặp, bà không quen bao giờ. Người ấy lại đưng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?.. Ai thế nhỉ? Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu bà lão. Hay bà già rồi, trông gà hoá cuốc. Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải.. Không phải bà trông gà hoá cuốc, không phải mắt bà nhoèn. Đúng là có người rồi. Bà lão nhìn kỹ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người nào. Bà lão quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu.

    Cái anh cu Tràng hôm nay thật lạ. Tự dưng khách sáo với mẹ, cứ buộc bà lão phải ngồi lên giường lên chiếc ghế chĩnh chệnh rồi mới nói. Bà lập cập bước vào. Cái người đàn bà lạ ấy tưởng mẹ Tràng già cả, điếc lác lên cất tiếng chào đến lần thứ hai. Hoá ra, bà không điếc, bà mải băn khoăn vì người đàn bà ấy chào bà bằng u. Bà vẫn chưa hiểu vì sao lại thế. Đến khi anh Tràng nói: Nhà

    tôi nó mới về làm bạn với tôi u ạ! Thì bà hiểu rất nhanh. Đột ngột quá! Bà cúi đầu nín lặng. Bà không chỉ hiểu chừng ấy. Trong lòng người mẹ nghèo ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp của đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn con mình thì… Chỉ nghĩ đó, bà đã thấy biết bao lo lắng, xót thương. Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?

    2.Tâm trạng bà cụ Tứ với đôi vợ chồng son:

    Vợ chồng anh cu Tràng nào biết nỗi lòng bà cụ Tứ . Trông cảnh của chúng, bà khẽ thở dài rồi nhìn đăm đăm vào người đàn bà mà từ giờ phút này đã là con dâu. Bà nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có được vợ… Nghĩ thế, bà càng cay đắng cho thân phận của mình. Bà là mẹ, bà đã chẳng lo được gì cho con… May ra mà qua được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà la cho hết được? Trong cái khổ, có cái may. Bà khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”: một khi các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, bà cũng mừng lòng.

    Bà cụ Tứ còn dặn dò đôi vợ chồng trẻ: Nhà ta nghèo liệu mà bảo nhau làm ăn. Khi anh Tràng bước dài ra sân, bà động viên nàng dâu: Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Rồi ra thì con cái chúng mày về sau.

    Nói với con dâu là thế, nhưng lòng bà cụ Tứ thật ngổn ngang. Bà đăm đăm nhìn ra sông. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào két lẹt. Bà lão thở dài ra một hơi. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không? Những câu hỏi lại bám lấy trong đầu bà. Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy xót thương. Bà nói với con dâu, lẽ ra đám cưới phải làm được dăm ba mâm, nhưng nhà mình nghèo quá. Chắc cuũngchả ai người ta chấp nhặt, chỉ mong vợ chồng hoà thuận là bà mừng. Nhưng lúc đói to thế này mà chúng mày lấy nhau thì bà thương quá.

    Ôi biết bao là buồn, vui, vay đắng, tủi cực cùng sự lo lắng, thương xót đang tràn ngập trong lòng người mẹ nghèo khổ. Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa. Bà không khóc mà nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng. Nhưng bà đâu muốn để cho đôi vợ chồng son biết bà đang buồn. Khi anh cụ Tràng đánh liềm đốt đèn, bà lão vội vàng lau nước mắt ngửng lên. Bà chủ động nói vui: Có đèn à? Ừ thắp lên một tí cho sáng sủa… Dầu bây giờ đắt gớm lên mà ạ. Nói thế, rồi bà lão đứng dậy uể oải sang giường bên kia nằm. Bà đem cả cái tâm trạng ngổn ngang sang chiếc giường cũ kỹ!

    3.Tâm trạng bà cụ Tứ sau đêm tân hôn của con trai:

    Đêm hôm ấy, dẫu những tiếng khóc hờ ngoài xóm có lọt vào cái nhà rúm ró, nhưng đôi vợ chồng son hẳn ngủ rất ngon. Anh cu Tràng thật “hư”, khi, mặt trời lên bằng con sào, mới trở dậy, người êm ái lửng lơ như người từ trong

    mơ đi ra. Nàng dâu mới có vẻ “biết điều”, dậy sớm hơn, quét lại sân. Chỉ có bà lão, chắc đêm qua không ngủ được. Đầu hôm, bà nghĩ tới việc kiếm lấy ít nứa về đan cái phên ngăn căn nhà ra. Chưa biết chừng nửa khuya bà đã dậy. Khi anh cu Tràng thức dậy, xung quanh đã thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn đều được quét sạch sẽ gọn gàng… Hai cái ang nước vẫn để khô ong ở dưới góc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung hoàn ngay lối đi đã hót sạch. Bà cụ Tứ đang lúi húi giẫy những bụi cỏ dại mọc nham nhở ngoài vườn.

    Thấy con trai đã dậy, bà cụ Tứ vội giục nàng dâu đi dọn cơm ăn chẳng muộn. Sáng nay, lòng bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của và rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa. Bà và cả đôi vợ chồng Tràng, hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn.

    Bữa cơm sáng hôm nay cũng là bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Nhưng có điều lạ là hôm nay, bạ cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này. Bà bàn tính với nàng dâu khi nào có tiền mua lấy đôi gà, rồi ngoảnh đi ngoảng lại chẳng mấy chốc có một đàn gà cho mà xem. Vì thế chưa bao giờ trong nhà này mẹ conm lại đầm ấm, hoà hợp đến thế. Khi niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng nửa bát đã hết nhẵn, bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Đấy là nồi cám, mỗi khi đưa vào miệng, đắng chát và nghẹn bứ trong cổ, nhưng bà lão cho mọi người mà miệng tươi cười,

    đon đả nói, gọi là “chè khoán” và khen ngon đáo để. Bà không muốn bữa ăn đang vui bỗng ngừng lại. Thực ra, lòng đau lắm. Cả một nỗi tủi hờn đang len vào tâm trí bà

    Khi ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã khiến đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợt hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vẩn trên nền trời như những đám mây đen, bà cụ Tú giải thích cho nàng dâu biết đấy là tiếng trống thúc giục thuế. Đói khát như thế này, vẫn phải đóng thuế, làm sao mà sống qua ngày được. Bà ngoảnh vội ra ngoài vì không dám để con dâu thấy bà khóc. Mà đó lại là những giọt nứoc mắt khóc bởi cái tương lai mờ mịt, xanh xám của các con bà!

    Bà cụ Tứ xuất hiện trong Vợ nhặt của Kim Lân có một đêm và non buổi sáng hôm sau. Chừng ấy thời gian vừa đủ cho một người ngủ dậy muôn. Nhưng đối với người mẹ nghèo khổ kia, quả là rất dài. Chừng ấy thời gian, song ở bà, có biết bao buồn vui, mừng tủi, cay đắng, âu lo, lẫn hy vọng. Người mẹ ấy đã sống trọn tất cả đời sống bên trong của một người con. Và, vì thế, dù thời gian mải miết trôi đi, hình tượng bà lão đáng thương đó vẫn hết sức sống động bởi đây là nhân chứng của một thời hãi hùng, cũng là biểu trưng cho trái tim, phẩm giá của một người mẹ!

  • Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    BÀI LÀM

    Giá trị lớn nhất của bài phú này là: với lòng tự hào dân tộc,bằng một hơi văn liền

    mạch,bút pháp bi hùng,tác phẩm gợi lên trong lòng người đọc cảm hứng hào hùng về

    những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng,cảm hứng bi tráng thuộc hào khí Đông A.

    1.Tác giả

    • Trương Hán Siêu ( ?-1354 ) tự là Thăng Phủ ,hiệu Đôn Tẩu , người xã phúc thành , huyện Yên Ninh ( nay thuộc thị xã Ninh Bình ). Ông có tài và học giỏi , từng là môn khách của Trần Hưng Đạo , sau làm quan từ triều Trần Anh Tông đến triều Trần Dụ Tông , lúc chết được thăng tước Thái Bảo , Thái phó và được thờ ở Văn Miếu ( Thăng Long ).
    • Tính tình cương trực , học vấn uyên thâm , sinh thời được các vua Trần tin cậy , nhân dân kính trọng.
    • Tác phẩm: còn 4 bài thơ và 3 bài văn , trong đó có Bặch Đằng giang phú nổi tiếng nhất.

    2. Hoàn cảnh sáng tác:

    • Bạch Đằng là một nhánh sông Kinh Thầy , nơi ghi dấu những chiến công hào hùng và trở thành thi tứ cho nhiều tác phẩm văn học.
    • Ước mơ đoán viết vào khoảng 50 năm sau cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông thắng lợi.

    3. Thể loại:

    • Viết theo thể phú , nguyên tác bằng chữ Hán.
    • Phú là thể hiện văn vần , dùng để tả cảnh vật , phong tục , tập quán , tính tình .Hai loại phú phổ biến là phú cổ thể và phú Đường Luật .Phú cổ thể vốn có từ trước đời nhà

    Đường , có vần , không đối , như bài ca dài , hoặc bài văn xuôi có vần , vì thế nên còn gọi là phú lưu thuỷ ( nước chẩy ).Còn Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường , có vần ,

    đối , theo luật bằng trắc khá chặt chẽ .Bài phú của Trương Hán Siêu viết theo lối cổ thể .Bản dịch theo nguyên điệu , trừ hai bài ca cuối cùng chuyển sang thể lục bát .

    4. Câu tứ:

    – Dùng hình thức đối đáp giữa khách và bô lão. Khách ở đây chính là tác giả.

    5.Phân tích:

    5.1 Giới thiệu người và hoàn cảnh:

    • Người:
    • Khách : là nhân vật do tác giả sáng tạo nên , nhưng ở đây cũng chính là tác giả .Trong thể phú , thường có nhân vật khách để kể chuyện cho hấp dẫn.
    • Khách đến những địa danh nổi tiếng

    Tính ước lệ -> người có lòng yêu thiên nhiên , thú du ngoạn , tâm hồn khoáng đạt , chí khí lớn lao , mang tráng chí bốn phương .

    Bặch Đằng ->tả thực .Không chỉ có thú tiêu dao mà còn là người yêu lịch sủ dân tộc ,học ltheo Tử Trường xưa.

    Giọng văn thanh thản , phơi phới.

    =>Hình tượng nhân vật khách : tự khẳng định mình là một hồn thơ,một khách hải hồ đồng thời là một kẻ sĩ thiết tha với đất nước và lịch sử dân tộc.

    – Cảnh:

    + Sông Bặch Đằng hùng vĩ , hoành tráng:

    Bát ngát sóng kinh muôn dặm,

    Thướt tha đuôi trĩ một mầu.

    Nước trời : một sắc.

    Phong cảch: ba thu.

    + Nhưng lại ảm đạm , hiu hắt:

    Bò lau san sát,

    Bến lách đìu hiu.

    Sông chìm giáo gãy,

    Gò đầy xương khô.

    • Qua cách nhìn cảnh vật , ta đọc tâm trạng của khách vừa vui , vừa buồn , vừa tự hào , vừa tiếc nhớ .Vui với cảnh sông nước mênh mồn , có thuyền bè xuôi ngược .Buồn

    đau,nuối tiếc vì thấy cảnh chiến trường xưa ,chiến thắng oanh liệt còn hừng hực là thế , mà nay sao trơ trọi , hoang vu , hiu quạnh là vậy .Dòng thời gian đang làm mờ bao dấu vết.Bởi thế:

    Buồn vì cảnh thảm,

    Đứng lặng giờ lâu.

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.

    • Giọng điệu trầm lặng .Một tâm hồn phóng túng , mạnh mẽ cũng trở nên sững sờ , buồn tiếc.

    => Nhân vật khách , tuy có tính chất công thức của thể phú , đã được Trương Hán Siêu

    thổi vào , trở nên sinh động .Nhân vật khách chính là cái tôi của tác giả , một kẻ sĩ nặng lòng với đất nước, với lịch sửdân tộc.

    5.2 Lời các bô lão:

    – Bô lão:

    • Hình ảnh tập thể , người dân địa phương , có thể từng chứng kiến hoặc tham gia các trận chiến xưa.
    • Xuất hiện như một sự hô ứng có tính lịch đại,có thể nhằm tạo không khí đối đáp tự

    nhiên,kể cho khạch nghe về những trận thuỷ chiến.

    • Thái độ các bô lã nhiệt tình hiếu khách. – Trận Bặch Đằng qua lời kể các bô lão: +Lời kể được sắp xếp tho dòng hồi tưởng.

    +Giới thiệu hai trận đánh.

    +Tả lại cnảh chiến trận,chủ yếu là chiến tích năm 1288.

    Lúc đầu ra quân trong thế trận giằng co , ngang sức ngang tài , bất phân thắng bại .Cuộc chiến diễn ra ác liệt , đến nỗi : Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ / Bầu trời đất sắp đổi. Câu văn sử dụng biện pháp đối lập báo hiệu một trận đánh kinh thiên động địa .

    So sánh trận chiến thắng Bạch Đằng với trận Xích Bích , Hợp Phì ( của Trung Hoa ) với niềm tự hào dân tộc.

    Nghệ thuật: lời kể súc tích , đầy cảm hứng , có hồi hộp nhưng sảng khoái của người trong cuộc .Lời kể , lúc dùng câu ngắn gợi không khí gấp gáp căng thẳng , lúc câu dài gợi không khí trnag nghiêm dõng dạc.

    Cách miêu tả ngắn gọn mà vẫn cụ thể , tỉ mỉ khiến người đọc tưởng như cuộc chiến đang diễn ra trong hiện tại.

    – Lời bình luận các bô lão:

    +Suy nghĩ về nỗi nhục của kẻ thù .

    +Suy ngẫm về nguyên nhân ta thắng , địch thua .Ta chiến thắng vì ta chiến đấu bảo vệ non sông , chiến đấu cho chính nghĩa .Trời lại cho nơi đất hiểm .Nhưng điều quyết định là ta có nhân tài.

    Từ khi có vũ trụ,

    Đã có giang san.

    Quả là : trời đất cho nơi hiểm trở,

    Cũng nhờ : nhân tài giữ cuộc điện an.

    Nhấn mạnh yếu tố con người là cảm hứng mang tính nhân văn , có tầm triết lý sâu sắc.

    Lời bình luận vừa hào hùng sâu lắng thiêng liêng.

    +Tâm trạng của các bô lão khi nhắc đến người xưa , cũng buồn thương , tiếc nuối :

    Đến chơi sông chừ ủ mặt,

    Nhớ người cưa chừ lệ chan.

    +Lời ca của bô lão là lời tuyên ngôn sảng khoái , dõng dạc về chân lý: nhưng kẻ nghĩa tiêu vong , người anh hùng sẽ bất tử như sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông lịch sử.

    5.3 Lời ca của khách:

    • Ca ngợi công đức hai vị vua Trần ( Trần Thánh Tông , Trần Nhân Tông) đem lại thái bình cho đất nước.
    • Bày tỏ khát vọng hoà bình muôn thuở.
    • Ở câu cuối , khách vừa biện luận , vừa khẳng định chân lý : sức mạnh chính nghĩa , đạo

    đức dân tộc là yếu tố quyết định chiến thắng.

    • Lời ca của khách chỉ có bốn câu mà ý tưởng sâu xa.Giọng văn phơi phới , hân hoan.

    6.Chủ đề:

    Qua việc tái hiện không khí chiến thắng hào hùng trên sông Bặch Đằng , tác phẩm toát lên niềm tự hào dân tộc – tự hào về truyền thống anh hùng bất khất , tinh thần chuộng đạo lý của dân tộc , vẻ đẹp tâm hồn con người Đại Việt Dựa vào gợi ý sau rồi làm nhé

    Trương Hán Siêu là một danh sĩ đời Trần, sau lúc qua đời được vua Trần truy phong là Thiếu Bảo.Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cỗ Việt Nam có một số tác phẫm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú”cũa Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.

    “Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này. Bài cảm nhận về “Bạch Đằng giang phú” dựa trên văn bản dịch của giáo sư Bùi Văn Nguyên.

    Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và phú Đường luật. Phú cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thuỷ. Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chữ, có những kiểu câu được quy pạm rõ rang. “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu viết theo lối phú cổ thể, có vần sử dụng phép đối rất sáng tạo:

    … “Tiếng thơm đồn mãi,

    Bia miệng không mòn.

    Đến chơi sông chừ ủ mặt

    Nhớ người xưa chừ lệ chan…”

    Qua bài phú này, Trương Hán Siêu ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ, dòng sông lịch sử đã gán liền với tên tuổi bao anh hùng, với bao chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong sự nghiệp chống xâm lăng. Nhà thơ khẳng định: Núi sông hiểm trở, nhiều nhân tài hào kiệt đã tạo nên truyền thống anh

    Hùng của dân tộc, sự bền vững của Tổ quốc muôn đời. Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo của “Bạch Đằng giang phú”.

    “Giương buồm giong gió chơi vơi”.

    “Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.

    Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,…

    Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:

    “Nơi có người đi

    Đâu mà chẳng biết”.

    Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.

    “Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều

    Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.

    Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.

    “Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”

    Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo sông núi:

    “Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,

    Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”

    “Bát ngát sóng kình muôn dặm

    Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn

    nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng

    kình muôn dặm – Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”.

    Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu

    thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng

    Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết : “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn

    làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm

    tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:

    “ Bờ lau san sát Bến lách đìu hiu

    Sông chìm giáo gãy

    Gò đầy xương khô

    Bờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”).

    Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợi

    cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua

    những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông

    Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:

    “ Buồn vì cảnh thảm

    Đứng lặng giờ lâu

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.

    Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn”

    “Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”

    Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt của tổ tiên:

    “ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,

    Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.

    hoặc ………………………………………….. …

    Trương Hán Siêu là một nhân vật lớn đời Trần. Ông tên chữ Lăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện An Khánh, Ninh Bình. Trương Hán Siêu lúc trẻ làm môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tham gia cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba. Ông làm quan trải qua bốn triều vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông). Trương Hán Siêu là một người học vấn uyên bác, thông hiểu sâu sắc đạo Nho, đạo Phật, lại giàu lòng yêu nước và có nhiều công lao đối với triều Trần, vì vậy ông được các vua Trần tôn kính, xem như bậc thầy.

    Năm 1308, vua Trần Anh Tông phong ông làm Hàn Lâm học sĩ. Đời Minh Tông ông giữ chức Hành khiển. Đời Trần Dụ Tông, năm 1339, ông làm Hữu ti Lang trung ở Môn hạ. Đời Trần Dụ Tông đổi sang Tả Tư Lang kiêm chức Kinh Lược sứ ở Lạng Giang, năm 1345 ông được thăng chức Gián nghị Đại phu tham chính sự. Ông được vua Dụ Tông sai cùng với Nguyễn Trung Ngạn hợp soạn bộ “Hoàng Triều Đại Điển” và bộ “Hình Luật

    Thư”. Năm 1351, ông được phong Tham tri Chính sự.

    Năm 1353, ông lãnh chiếu chỉ ra trấn nhậm Hoá Châu (Huế), sai người xây thành đắp luỹ, lập kế chống quân Chiêm. Năm 1354, ông cáo bệnh xin nghỉ nhưng trên đường về Bắc chưa kịp đến nhà thì mất, sau được truy tặng Thái phó và cho phối thờ ở Văn Miếu, Thăng Long.

    Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang với các bậc hiền triết xưa. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam vào giai đoạn nửa sau thế kỷ XIV nảy sinh cuộc tranh giành vị trí, ảnh hưởng giữa Nho giáo và Phật giáo mà Trương Hán Siêu được coi là người đầu tiên lên tiếng phê phán đạo Phật, mở đường cho Nho giáo tiến lên. Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cổ Việt Nam có một số tác phẩm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú” được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.

    “Bạch Đằng Giang phú” là một kiệt tác trong văn chương cổ Việt Nam. Về mặt nghệ thuật, đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao của tài hoa viết phú. Về nội dung tư tưởng, Bạch Đằng Giang phú là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước.

    “Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này.

    Ở Trương Hán Siêu, hành vi ứng xử nổi bật nhất, in đậm vào sử sách, là thái độ gần gũi

    thiên nhiên, cách ông nhìn ngắm thiên nhiên tạo vật. Về điều này, nếu nói Trương Hán Siêu gắn bó với cảnh trí của đất nước thì không có gì sai nhưng hình như vẫn chưa đủ. Nhà thơ nhà văn Việt Nam xưa nay rất ít người thờ ơ trước vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu” (Nguyễn Trãi). Trương Hán Siêu cũng thế thôi. Nhưng với ông, trong tình yêu thiên nhiên hình như còn có một điều gì khác hơn, một khao khát thường trực muốn chiếm lĩnh thế giới tự nhiên, nhận biết cho hết mọi tri thức lịch sử – xã hội ẩn ngầm trong ngoại giới. Như chính ông phô bày trong vai một “người khách “ ở bài Bạch Đằng giang phú, hầu như cả một đời, ông đã coi lẽ sống của mình là ngược xuôi tìm đến mọi danh lam thắng cảnh:

    “Khách có kẻ,

    Giương buồm giong gió khơi vơi;

    Lướt bể chơi trăng mải miết.

    Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,

    Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt;

    Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt

    Nơi có người qua đâu mà chẳng biết.

    Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều

    Mà tráng chí tứ phương vẫn còn tha thiết…”

    Cũng có thể nghĩ đấy mới chỉ là những lời tâm niệm của Trương Hán Siêu bởi các địa danh nói trên đều là điển cố trong văn liệu, ông được đọc qua sách vở, hay là thông qua sách vở mà tìm đến chúng chứ chưa chắc đã một lần ghé thăm. Song cũng vì vậy, thiên nhiên như cái đích tìm kiếm của ông dường như có mang một hàm nghĩa thâm thúy: đây là nơi tập kết mọi trải nghiệm văn hóa của con người, và cũng là chứng tích để con người nhìn xa vào lịch sử. Vẫn trong bài phú về sông Bạch Đằng, tiếp theo mấy câu vừa dẫn, ông liền bày tỏ ý nguyện bắt chước “thú tiêu dao” của Tử Trường tức Tư Mã Thiên – nhà viết sử nổi tiếng của Trung Quốc, trước khi bắt tay cầm bút đã đi khắp mọi nơi đầu sông cuối bể nhằm nuôi dưỡng tình cảm và thu nhận kiến thức.

    Ta để ý nếu ở phần trên, các địa danh thực ra đều là ảo – địa danh trong điển tích, không phải trong thực tế – thì đến đây mới là địa danh thực. Nhà thơ đưa ra một cái tên Bạch Đằng chưa hề có trong các pho sách kinh điển nhưng lại hiển hiện trước mắt với tất cả sức thuyết phục của những chiến công vang dội của nó.

    Bạch Đằng giang phú ú là một bài phú lưu thủy, người viết cốt biểu đạt ý tưởng một cách

    phóng khoáng, tuôn chảy, không quá chú trọng gò gẫm bằng trắc đối xứng và hiệp vần.

    Nhưng cấu trúc bài phú cũng là cả một dụng công. Bằng sự phân vai khéo léo giữa

    “khách” và “bô lão” trong nghệ thuật biểu hiện để tạo nên sự đồng hiện về thời gian,

    bằng cách chuyển đoạn thần tình trong tâm trạng người trần thuật từ bâng khuâng hoài cổ

    sang cảm xúc bồng bột của người đang chứng kiến sự việc tiếp diễn, bằng nghệ thuật sắp

    xếp ngôn từ gây âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai thoắt đã trở nên gấp gáp, rồi lại trở lại

    khoan thai, và cả bằng sự sinh động của nhịp điệu… mấy trăm năm qua bài phú đã chiếm

    lĩnh trọn vẹn tâm hồn người đọc. Đặc biệt, không ít những bậc tự xem là tri âm tri kỷ có

    thiên hướng muốn đón nhận toàn bộ hình tượng nghệ thuật của bài phú như những đường

    nét khắc họa chân thực quang cảnh chiến trận Bạch Đằng.

    Nếu để ý ta sẽ thấy bức tranh đằng đằng sát khí của trận Bạch Đằng còn là một đối cực nữa của một bức tranh thủy mạc lặng tĩnh mà tác giả vẽ lên, như đã dẫn ở một phần trước:

    Thiệp Đại Than khẩu / tố Đông Triều đầu,

    Để Bạch Đằng giang / thị phiếm thị phù.

    Tiếp kình ba ư vô tế;

    Trám diêu vĩ chi tương mâu.

    Thủy thiên nhất sắc / phong cảnh tam thu

    Chử địch ngạn lô / sắt sắt sâu sâu

    Chiết kích trầm giang / khô cốt doanh khâu

    Thảm nhiên bất lạc / trữ lập ngưng mâu

    (Qua cửa Đại Than / ngược bến Đông Triều,

    Đến sông Bạch Đằng / nổi trôi mặc chèo.

    Bát ngát sóng kình muôn dặm/

    Xanh xanh đuôi trĩ một màu.

    Nước trời một sắc / phong cảnh ba thu

    Sông chìm giáo gãy / gò đầy xương khô

    Buồn vì cảnh thảm / đứng lặng giờ lâu

    Đây lại là đối cực động-tĩnh giữa hiện tại và quá khứ. Đối cực này đã khiến người đọc

    như rơi vào trạng thái mơ màng, bâng khuâng, trong khi đuổi theo cái cố gắng “đi tìm

    thời gian đã mất” của tác giả. Ta chợt tự hỏi: Không hiểu giữa hiện hữu thứ nhất (thực tại

    tĩnh lặng trước mắt mà cũng là một hụt hẫng trong tâm trạng) và hiện hữu thứ hai (thực

    tại sống động trong tiềm thức mà cũng là một miên viễn của tưởng tượng) thì hiện hữu

    nào mới là có thật? Sự vấn vương ở đây có chút gì đó làm lòng ta nặng trĩu khi nghĩ đến

    dòng chảy của thời gian và thói vô tình dễ quên của người đời. Nói cách khác, những âm

    hưởng trữ tình đối lập ở trong tác phẩm đã tạo nên một ngân vang sâu thẳm và ngân vang

    này chính là triết lý: sự sống là một tiếp biến không ngừng không nghỉ, cái đang diễn ra

    và cái đã đi vào vĩnh cửu cứ đan quyện lấy nhau, mà cái nhân tố có khả năng kết nối làm

    nên sự đan quyện ấy, khiến cho sợi dây chuyền vô hình nghiệt ngã của thời gian có lúc

    tưởng như bị đảo ngược: hiện tại không hẳn đã trôi về quá khứ tất cả, mà có phần nào đó

    còn trôi theo chiều ngược lại, còn có “dấu vết lưu lại” với hậu thế – cái nhân tố ấy là con

    người, được quyết định bởi con người:

    • Trời đất đặt ra nơi hiểm trở, Bậc anh tài tính cuộc tồn an
    • Giặc tan muôn thuở thăng bình, Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao

    Nhìn trở lại toàn bộ bài phú, nghệ thuật phối trí thời gian và không gian của Trương Hán

    Siêu đã đạt đến chỗ thần tình. Nhà thơ đưa không gian Bạch Đằng từ một viễn cảnh trải rộng và hết sức bao la đến với cận cảnh của một trận thủy chiến dữ dội, và cuối cùng dồn vào một tiêu điểm là chỗ đứng nội tâm của nhà chỉ huy quân sự quyết định sự thắng bại của chiến cuộc, đồng thời cũng chính là đang từ một không gian hiện thực ông quay trở về với không gian hồi cố, không gian tâm tưởng, cùng theo đó, thời gian nghệ thuật cũng đi lùi từ hiện tại về quá vãng. Vậy mà cảm hứng của người đọc lại không bị đẩy lùi bởi dòng hoài niệm, trái lại tiếp nhận nó như chính cái đang diễn ra trước mắt mình. Thủ pháp mờ chồng giữa hai thời đoạn cách quãng trên quang cảnh một con sông, thủ pháp hoán đổi điểm nhìn linh hoạt của tác giả… đã góp phần hóa giải tâm trạng hoài cổ của bài phú, tạo nên một tâm lý cân bằng và gây hứng thú sâu sắc trong cảm xúc thẩm mỹ.

    Tóm lại, bằng lượng thông tin đa nghĩa, những ẩn ngữ phong phú đọng lại phía sau ngôn từ, Bạch Đằng giang phú đã gợi lên được nhiều tiếng nói cùng một lúc trong cảm nhận nhiều chiều của người đọc. Sự dồn nén nghệ thuật của bút pháp Trương Hán Siêu quả đã đến một trình độ bậc thầy.

    Trương Hán Siêu là một danh nhân nổi tiếng của mảnh đất Trường Yên – Ninh Bình, một chứng nhân rõ rệt cho truyền thống văn hóa lâu đời của vùng đất văn vật này. Nhưng ông lại cũng là một nhân vật có tầm thước cả nước, một người con ưu tú của văn hóa Thăng Long dưới triều đại Trần. Ông xứng đáng được xếp vào hàng danh nhân tôn vinh ở Văn miếu Quốc tử giám như nhà Trần đã từng “liệt hạng” xưa kia, mặc dù ông không hề có mảnh bằng nào thông qua thi cử. Điều đó cũng nói lên rằng triều đại Trần có sức năng động lớn vì nó biết chuộng thực học, biết lựa chọn tài năng theo những tiêu chí thực tiễn. Bỏ qua mọi thứ phù danh, với những người như Trương Hán Siêu, nhà Trần đã biết cách làm cho mình trở thành bất tử.

    Nếu như người dân trung hoa tự hào có bài “phú cao đường” của Tống Ngọc đời nhà hán thì người dân Việt Nam lấy làm vẻ vang vinh dự khi được tiếp nhận và thừa hưởng 1 kiệt tác văn học của Trương Hán Siêu: “Phú sông Bạch Đằng”. Bằng ngòi bút tài hoa của

    mình THS đã cho chúng ta thấy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo lí nhân nghĩa và chủ nghĩa nhân văn cao đẹp.

    THS là nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XII_ nửa đầu thế kỉ XIII. Ông là người tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua trần trọng dụng. Thơ văn của ông còn lại ko nhiều nhưng có giá trị nhất là bài “Phú sông Bạch Đằng”.Phú sông Bạch Đằng mang đặc trưng cơ bản của thể phú. Phú là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi.

  • Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    VĂN MẪU LỚP 12

    2 BÀI VĂN MẪU VỀ VẺ ĐẸP TRỮ TÌNH CỦA HÌNH TƯỢNG DÒNG SÔNG QUA TÁC PHẨM “NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ”- NGUYỄN TUÂN VÀ “AI ĐÃ

    ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG” – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

     

    BÀI MẪU SỐ 1:

     

    Tác phẩm người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc, kết quả của chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 – 1960 của nhà văn, in trong tập bút ký Sông Đà. Cảm hứng gắng bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đã im đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ.

    Câu chuyện vượt sông Đà đã được nhà văn kể lại bằng tất cả niềm phấn khởi về sức mạnh con người chiến thắng thiên nhiên, với tất cả kịch tính, cao trào để tôn vinh nghệ thuật chinh phục thác đá sông Đà. Con sông Đà dữ với thần sông tướng đá bủa giăng thế trận vây lấy chiếc thuyền đơn độc được nhà văn miêu tả bằng ngôn ngữ phong phú của tiểu thuyết chương hồi như gợi cuộc phá vây của mãnh tướng Triệu Tử Long xông vào trận quân Tào Tháo, bên cạnh đó nhà văn có những dòng mô tả chân dung bằng giọng văn rất hóm hỉnh của riêng mình : “Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này…”. Cuộc đối đầu giữa con người trên chiếc thuyền đơn độc với “boongke chìm và pháo đài nổi” trong “cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn” có sức hấp dẫn đặc biệt.

    Có lẽ nhà văn đã hình dung ra không khí của những hội vật truyền thống khi miêu tả các cuộc đấu sức, đấu trí và đấu sự nhanh nhẹn giữa người và đá nước. Cuộc đấu có miếng, có mưu, cuối cùng phần chiến thắng thuộc về con người, bởi lẽ “Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”. Hình ảnh bình thường của người lao động, vật lộn với sóng nước đã được Nguyễn Tuân nâng lên ngang hàng danh tướng “biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”. Nhưng điều tác giả tô đậm nét hơn ở ông lái đò chính là chất nghệ sĩ toát lên từ công việc đối mặt với hiểm nguy đã trở thành bình thường. Ngay sau khoảnh khắc chiến thắng sức mạnh của thác đá, sóng dữ, thì “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình”.

    Đây mới chính là ông lái đò mang đậm nét Nguyễn Tuân. Con người chiến đấu với sông Đà dữ cũng chỉ là để mưu sinh, “ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác”, nên những con người này cũng yêu mến dòng sông đã cho họ những “cá anh vũ, cá dầm xanh”, những hầm cá hang cá “túa ra đầy tràn ruộng”. Sông Đà dữ thì có “diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một”, nhưng khi sông nước thanh bình, vẻ đẹp nên thơ gợi cảm của dòng sông lại hiện về nguyên vẹn.

    Nhà văn đã dành những trang viết thấm đẫm chất trữ tình để miêu tả vẻ đẹp dịu dàng của dòng sông mang trong lòng những huyền sử thuở khai thiên lập địa của cha ông. “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân.”, “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích…”, “mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”…

    Đó là thời điểm cho câu chữ Nguyễn Tuân lai láng chất thơ ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông, bằng cái nhìn và tình cảm của một người tự nhận sông Đà như một “cố nhân”. Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà”. Vẻ đẹp ấy như trang nghiêm trong mạch Đường thi cổ điển, vừa lắng đọng hoài vọng về một thuở Lý Trần Lê, vừa bâng khuâng cảm giác về sự sống nảy lộc đâm chồi : “Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tíchtuổi xưa”.

    Nhà văn đã để cho dòng cảm xúc dào dạt thốt lên thành lời đối thoại im lặng với thiên nhiên, bờ bãi ven sông, dường như con người muốn hoà vào cùng cảnh vật, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của dòng sông. Ngòi bút nhà văn đến lúc này mới thật sự tung hoành trong sự say sưa khám phá cội nguồn, kể về lịch sử dòng sông gắn với cuộc sống và con người Tây Bắc, những người đã đón nhận những tặng vật hào phóng của sông Đà.

    Cảm xúc từ thực tại của Nguyễn Tuân còn khơi nguồn cho những mơ ước mang tính dự báo về tương lai, biến sức mạnh của dòng sông trái tính trái nết thành nguồn thủy điện dồi dào. Rõ ràng, thực tại cuộc sống mới đã giúp cho Nguyễn Tuân có những dự cảm chính xác, có niềm tin vững chắc vào những con người đang xây dựng một chế độ mới, đem lại sinh khí mới cho cuộc sống ở sông Đà.

    Với Người lái đò sông Đà này, Nguyễn Tuân đã ghi dấu ấn không trộn lẫn của mình ở thể loại tùy bút, bám sát hiện thực, say mê khám phá những nét ấn tượng, những vẻ đẹp tiềm ẩn từ hiện thực. Hơn thế nữa, tác phẩm còn đánh dấu sự vững vàng trong tư tưởng tình cảm của nhà văn, sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ yêu đất nước, yêu con người lao động, yêu và tin vào cách mạng, vào con đường dân tộc đang hướng tới. Tấm lòng ấy, tài năng ấy của Nguyễn Tuân thật đáng trân trọng./

    Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một bút kí đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bài kí đã ca ngợi dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế.

    Vẻ đẹp dòng sông Hương ở thượng nguồn hóng khoáng và man dại. Vẻ đẹp dòng sông được phát hiện rất đa dạng. Có lúc trữ tình êm ả, hiền hòa như “một thiếu nữ dịu dàng, duyên dáng”; có lúc phóng khoáng và man dại, rầm rộ và mãnh liệt như một “bản trường ca của rừng già”. Có khi dịu dàng và trí tuệ như “người mẹ phù sa”; có khi biến ảo “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”; hoặc khi thì vui tươi, khi thì như một mặt hồ yên tĩnh v.v…Tất cả được miêu tả bằng một tình cảm thiết tha với Huế.

    Sức sống mãnh liệt, hoang dại, dịu dàng, đắm say, như ‘một bản trường ca của rừng già , rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn’. Khi chảy qua miền địa hình hiểm trở, sông Hương mang vẻ đẹp dữ dội: ‘mãnh liệt qua ghềnh thác, cuộn xoắn như cơn lốc xoáy vào đáy vực bí ẩn’, nhưng cũng có lúc lại ‘dịu dàng, đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng’.Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương như một ‘cô gái Digan, phóng khoáng và man dại’, bởi rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ , một tâm hồn tự do và trong sáng.Nghệ thuật: so sánh, tu từ, ẩn dụ và nhân hóa.

    Sông Hương khi về đến ngoại vi thành phố

    Sắc đẹp dịu dàng , trí tuệ , người mẹ phù sa của một vùng văn hóa ,xứ sở’, dòng sông duy nhất chỉ đi qua thành phố Huế.Với vốn hiểu biết sâu sắc về địa lí, văn hóa, lịc sử, tác giả miêu tả dòng sông thật sinh động vói cảm nhận mang nhiều khác biệt.

    Sông Hương như ‘người con gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại (hình ảnh thơ mộng gợi liên tưởng cổ tích đến nàng công chúa ngủ trong rừng), Dòng sông hiện lên với ‘khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm’.Lưu vực êm ả, thanh bình, vui tươi_giữa những bãi bờ xanh biếc , nhiều màu sắc trầm mặc, triết lí. Những lăng tẩm với ‘giấc ngủ nghìn năm của vua chúa đựoc phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm lan tỏa khắp cả một vùng thượng lưu’.

    Vói những quan sát tinh tế, ngôn ngữ giàu hình tượng, so sánh, ẩn dụ , sông Hương trong dư vang Trường Sơn, dòng sông mềm như tấm lụa’. ‘Những dãy đồi sừng sững như thành quách, với những đỉnh cao đột khởi: Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo’, những ngọn đồi đã tạo ra nững mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời ‘sớm xanh, trưa vàng ,chiều tím’ rất lạ và đặc trưng như người Huề từng nhận xét.

    Sự thay đổi tính cách của người con gái sông Hương đưa ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, một cô gái Digan,man dại và phóng khoáng đã trở nên dịu dàng, e lệ, như ‘người con gái đẹp được người tình mong đợi đến đánh thức’, ‘người mẹ phù sa của cả một vùng văn hóa xứ sở’.

    Thoảng đâu đó, mơ hồ mà vang vọng trong tâm thức Huế là tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiến gà từ xóm làng trung du bát ngát.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Thiên nhiên muôn đời này vẫn là người bạn thiết thân của các văn sĩ nói chung và những nhà văn Việt Nam nói riêng. Bởi vậy, hình ảnh thiên nhiên của non sông đất nước đi vào những trang văn của các tác giả văn học thật đáng yêu đáng mến biết nhường nào. Những dòng sông Việt Nam trong văn học cũng được nhìn nhận dưới vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình quyến rũ đến kì lạ. Chỉ qua hai tùy bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) ta đã cảm nhận được điều đó.

    Diễn đạt vẻ đẹp trữ tình của sông Đà, Nguyễn Tuân đã dùng những trang văn đậm chất thơ, lắng sâu xúc cảm trữ tình. Con sông Đà “tuôn dài như ángtóc trữ tình…” câu văn dài chất chứa niềm yêu say mê của tác giả đối với sông Đà. Biện pháp so sánh không chỉ gợi chiều dài của dòng sông mà còn cảm nhận về dáng hình, dòng chảy của nó. Sông Đà trong một sự vận động, chảy trôi miên man, vô tận. Sông Đà hung dữ đã được thay bằng hình ảnh
    một con sông mềm mại, uốn lượn, được hình dung như mái tóc của người thiếu nữ. Hình ảnh gợi cảm, duyên dáng, tình tứ, có khả năng tạo ra những trường liên tưởng rộng lớn qua

    trí tưởng tượng sinh động của nhà văn. Sông Đà là linh hồn Tây Bắc, nước mây, đất trời như nối liền một dải “đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc… cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Cảnh vật thơ mộng và huyền ảo. Câu văn xuôi vừa giàu chất
    tạo hình vừa thấm đượm chất thơ. Nguyễn Tuân nhìn sông Đà ở nhiều góc độ, soi chiếu nó ở nhiều phương diện, để rồi ở phương diện nào cũng tìm ra những nét đẹp của nó, khi thì nhìn say sưa, khi lại xuyên qua cảnh vật, khi lại bay tạt ngang sông Đà, khi nhìn từ trên xuống, khi nhìn từ dưới lên…Sông Đà được cảm nhận như một sinh thể sống có linh hồn. Sắc nước sông Đà có khi là màu xanh trong suốt, rực sáng đến diễm lệ, có khi là sắc đỏ đậm đặc đến bầm tím. Những hình ảnh ấy tác động mạnh mẽ vào giác quan của người đọc, tạo những trường liên tưởng mà khi tiếp nhận, người đọc luôn có cảm giác bất ngờ, lí thú.

    Sông Đà được nhìn như một cố nhân, thể hiện mối tri âm, tri kỉ của tác giả với con sông. Đã là cố nhân thì gần thương, xa nhớ, bởi vậy, những câu chữ của Nguyễn Tuân tràn đầy âu yếm, nâng niu, trân trọng. Mỗi dòng, mỗi chữ đều quyệt chặt tình yêu với con sông, thể hiện sinh động qua biện pháp nhân hóa. Những câu văn lúc này giống như những câu thơ tuyệt bút của đời Đường khi xưa, lắng sâu trong màu sắc cổ điển. Sông Đà là một cố nhân nhưng gặp lại sông Đà, lúc nào thi nhân cũng cảm thấy ngỡ ngàng. Vẻ đẹp sông Đà luôn đem đến cho người ta sự say mê, ngỡ ngàng, cuốn hút. Mỗi lần gặp lại, niềm say mê lại càng lớn hơn. Dường như có một sự liên hệ nào đó giữa không gian đầy sức sống của mảnh đất Dương Châu trong câu thơ của Lí Bạch với không gian rực rỡ của sông Đà. Từ ánh sáng của dòng sông mà bắt thành ánh nắng tháng ba Đường thi thì quả là tài hoa. Tình tri kỉ của người xưa như truyền những xúc cảm “đằm đằm, đầm ấm” cho Nguyễn Tuân gặp lại sông Đà.

    Bờ sông Đà được miêu tả bằng những câu văn đậm xúc cảm hoài niệm: “hoang dại… cổ tích tuổi xưa”. Sông Đà đẹp vẻ đẹp cổ kính, gần gũi, tha thiết. Cái hoang dại của dòng sông được so sánh với nét hoang sơ của bờ tiền sử, cái trẻ trung của dòng sông được so sánh với nỗi niềm hồn nhiên của cổ tích. Nguyễn Tuân rất có tài khi sử dụng biện pháp so sánh. Lần so sánh nào cũng khiến người ta ngỡ ngàng, thán phục, say mê. Câu văn đưa người đọc trở về với một thời quá vãng xa xưa, sông Đà được khoác lên tấm áo lung linh, huyền ảo, gợi nên một nét đẹp yên bình, thơ mộng, gần gũi và thân thiết.

    Sông Đà giống như một phần lịch sử dân tộc, là hồn thiêng của đất nước mang theo khát vọng ngàn đời của con người. Không phải đến Nguyễn Tuân mới phát hiện ra vẻ đẹp sông Đà mà nét đẹp của dòng sông ngàn đời vẫn thế. Những câu văn giúp người đọc cảm nhận dòng chảy của thời gian lịch sử. Dòng sông từ quá khứ đến hiện tại, trôi chảy đến tương lai. Dòng chảy của sông Đà là dòng chảy của lịch sử, đất nước. Những câu văn đậm chất thơ, chứa chan xúc cảm trữ tình. Phải chăng chất thơ ấy chính là chất thơ “hoài cựu” (Nguyễn Đăng Mạnh) dưới nét bút tài hoa của người nghệ sĩ. Những câu văn đắm chìm trong quá khứ rồi lại ngỡ ngàng, giật mình khi quay trở lại hiện tại. Âm thanh của tiếng còi

    xúp lê chính là tín hiệu của cuộc sống mới, thể hiện những nét đẹp hiện đại. Giữa bức tranh

    đầy chất thơ của đôi bờ sông Đà, giữa dòng chảy êm đềm của thời xưa cũ, không gian tĩnh lặng khôn cùng, nhà văn thèm nghe thấy một tiếng còi sương. Đó không chỉ là một âm thanh đơn thuần mà còn là âm thanh của nỗi niềm, ước mơ, khát vọng trong nhà văn. Khát vọng về hình ảnh một ngày mai tươi sáng của vùng đất Tây Bắc đã được thắp lên trong một âm điệu lạc quan, yêu đời. Ngòi bút của Nguyễn Tuân không chỉ làm người ta kinh ngạc bởi
    sự dữ dội của dòng sông mà còn làm người ta yêu thích bởi chất trữ tình của dòng sông ấy.

    Bằng trí tưởng tượng phong phú, bằng biện pháp so sánh, ẩn dụ đầy tài hoa, ngôn ngữ điêu luyện, cách diễn đạt độc đáo, những câu văn giàu nhạc điệu, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, trữ tình tạo vẻ đẹp rực rỡ, cuốn hút của sông Đà. Ở đó tưởng chừng bao nhiêu vốn sống, bao nhiêu kho kiến thức về  văn học, lịch sử, địa lí, quân sự, thể thao… cùng tình yêu say mê đã giúp Nguyễn Tuân viết về một dòng sông Đà thật sự ấn tượng và đẹp đẽ. Cũng giống mạch văn mà Nguyễn Tuân đã viết về sông Đà, miêu tả con sông dọc theo dòng chảy của nó, nhưng với cá tính dịu dàng của người con xứ Huế, cách viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng Hương Giang lại gợi cho người đọc một cảm giác khác, cảm giác của một cái gì đó dịu nhẹ cứ len lỏi miên man rồi từ từ thấm vào hồn người, làm trỗi dậy một cách trầm tĩnh cái tình yêu mê man, say đắm đối với dòng sông mang nét đẹp văn hóa xứ sở. Sông Hương – con sông đã đi vào thi ca với vẻ quyến rũ lạ kỳ:

    “Cầu cong như chiếc lược ngà
    Sông dài mái tóc cung nga buông hờ”

    Dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương đã trở thành một con người, một người con gái đẹp có tâm hồn, có cá tính, dịu dàng một vẻ sang trọng, đằm thắm một vẻ đẹp đầy văn hóa.

    Dưới con mắt của người nghệ sĩ, dòng chảy của Hương Giang được miêu tả thật hấp dẫn với nhiều cách so sánh, những từ ngữ được sử dụng rất đắc địa, giàu hình ảnh, màu sắc và hình khối tạo nên một dòng Hương Giang thật đẹp, thật nên thơ và như một con người đầy xúc cảm chứa chan tình yêu với cố đô Huế giàu truyền thống văn hóa. Giữa núi rừng hùng vĩ của Trường Sơn, sông Hương đã là bản trường ca của rừng gia… và cũng có lúc trở nên dịa dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng, vẻ đẹp của sông Hương nơi đại ngàn thật gần với vẻ dữ dằn mà cũng thật dịu dàng một cách hoang dại của sông Đà dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân “sông Đà hung bạo và trữ tình… sông Đà tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình mà đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân (Nguyễn Tuân – Người lái đò sông Đà). Cái dữ dội của sông Hương nơi đại ngàn đã được tác giả chọn lựa một hình ảnh so sánh thật sống động, gợi cảm và đầy màu sắc văn hóa sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. Dưới lăng kính của người nghệ sĩ, sông Hương đã trở thành một con người, một con người con gái có đầy đủ tâm hồn, tính cách, lòng yêu thương rừng già đã chế ngự bản năng của người con gái để “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của môt vùng văn hóa xứ sở”. Có thể thấy ngay ở trang đầu tiên dành cho sông Hương, tác giả đã sáng tạo một loạt hình ảnh độc đáo để gợi tả vẻ đẹp mang màu sắc văn hóa của dòng sông. Từ đó tạo cảm giác sông Hương khi vào lòng thành phố đã thay đổi mình, kiềm chế mình để phù hợp với vẻ mộng mơ, thâm trầm và cổ kính của cố đô. Sông Hương như người con gái đẹp ngủ mơ màng được đánh thức để hòa mình cùng Huế, nó duyên dáng uốn mình và bước đi chậm chạp, thật quí phái uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức… Bước chuẩn bị để dòng sông đi vào lòng thành phố đã được tác giả miêu tả rất kỹ càng với một cảm xúc ở độ cao trào, một loạt hình ảnh so sánh được sử dụng để khắc họa vẻ đẹp của dòng sông một cách hoàn mĩ. Đến chân đồi Thiên Mụ thì Hương Giang cùng tiếng chuông chùa cùng với sự thâm trầm uy nghiêm của những lăng tẩm của vua chúa Nguyễn đã tạo cho sông Hương một vẻ đẹp văn hóa đặc biệt mà bất kể một dòng sông nào của Việt Nam đều không có được. Vẻ đẹp ấy được tác giả chọn tả bằng một câu văn dài như ngân lên trong hồn người đọc, tạo một dư âm, một ấn tượng không thể phai mờ trong tâm trí người đọc. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương như triết lý, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga từ bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà.

    Nếu như Nguyễn Tuân đã tạo cho sông Đà vẻ trữ tình và hung dữ để nhằm mục đích tôn vinh con người trong lao động, Hoàng Cầm tạo cho thi ca một dáng “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” của dòng sông Đuống để tạo nên hình ảnh quê hương yêu dấu trong những ngày đau thương thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại tạo cho thi ca một dòng sông văn hóa. Vẻ đẹp của Hương Giang được tạo nên bởi truyền thống, bản sắc văn hóa của xứ Huế, với vùng ngoại ô Kim Long hay những khu nhà vườn Vĩ Dạ xanh mướt một màu thiên nhiên tràn đầy sức sống, những khu vườn thơ mộng ẩn chứa trong lòng nó những con người phúc hậu, những nếp sống cổ xưa với những nét sinh hoạt tinh tế đầy văn hóa. Và cái điệu chảy lững lờ như lưu luyến vấn vương của dòng Hương Giang đã tạo nên một môi trường tuyệt vời cho những đêm ca Huế, những đêm hội hoa đăng, những thú vui đố thơ, thả thơ trên những con thuyền giữa dòng sông. Mặt nước yên tĩnh như không trôi đã nâng niu góp phần gìn giữ những sinh hoạt văn hóa cổ truyền của Huế, tạo vẻ đẹp riêng thu hút và quyến rũ khách thập phương. Điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế ấy thật hợp cảnh hợp tình với những ngôi chùa cổ, những lăng tẩm uy nghi của chốn kinh thành xưa.

    Sông Hương có vẻ đẹp riêng, đó là vẻ đẹp đặc trưng nên thơ và trữ tình của Huế bởi nó mang trong mình cả một nền văn hóa của quê hương xứ sở. Những nét văn hóa đặc sắc nhất ở Huế, theo tác giả, đều được sinh ra và tồn tại cùng vẻ mặt nước lặng lờ của dòng sông, đó là những đêm hội hoa đăng, những làn điệu ca Huế ngọt ngào, những khu vườn cây trái xanh tươi, những lăng tảm uy nghiêm… Vì thế mà sông Hương trở thành “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”, điệu nhạc dìu dặt, đằm thắm của ca Huế chỉ có thể cảm nhận được trong cái không gian tĩnh lặng của mặt nước sông Hương về đêm. Cả câu Kiều hay nhất của Nguyễn Du khi miêu tả tiếng đàn của nàng Kiều cũng được sinh ra từ những ngày “Nguyễn Du lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu”. Như vậy sông Hương đã mang trong mình chất nhạc. Theo cảm nhận của tác giả sông Hương không chỉ mang trong mình vẻ đẹp văn hóa mà nó còn là môi trường sản sinh ra Truyện Kiều – niềm tự hào của văn hóa dân tộc “tôi đã cảm nhận ra cái âm hưởng sâu thẳm của Huế trên mỗi trang truyện Kiều, thiên nhiên của mảnh đất kinh xưa đã để lại một cái bóng mông lung nhưng rất dễ nhận ra trong thơ Nguyễn Du”. Sông Hương trong cảm hứng của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp thơ mộng của một vùng văn hóa truyền thống, không chỉ dịu dàng một vẻ sơn thủy hữu tình mà còn là một dòng sông anh hùng như bao dòng sông khác của quê hương Việt Nam, sông mang trong mình bao điều bí ẩn của lịch sử. Nếu những trang miêu tả dòng chảy của dòng sông là những trang trữ tình nhất thì những trang nói về lịch sử là những trang đáng tự hào nhất. Dòng sông “tươi trẻ và quyến rũ”, lung linh sắc màu trong những ngày thanh bình lại trở thành người anh hùng sát cánh cùng dân tộc đánh giặc. Việt Nam là đất nước có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mỗi người Việt Nam đều được sinh ra và lớn lên bên một dòng sông như lời bài hát: “Trong ta, ai cũng có một dòng sông” hay lời thơ của một nhà thơ trẻ:

    “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng

    Tất cả trả lời bên một dòng sông

    “Quê hương Việt Nam mườn mượt những cánh đồng Mỗi con người gắn bó một

    dòng sông”

    Dù là một ngòi, một con kênh nhỏ vô danh hay là dòng sông Hồng ngầu đỏ phù sa, dòng sông Lô gắn bó với những chiến công lịch sử của dân tộc đều đã là nguồn cảm hứng và ít nhất một lần đi vào tác phẩm thi ca của dân tộc. Và con sông Đà trong “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, dòng sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có được vinh dự mang trong mình vẻ đẹp thơ mộng trữ tình tiêu

    biểu cho những dòng sông Việt Nam trong văn học. Qua hai thiên tùy bút, vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam hiện lên vừa chân thực vừa mơ màng chẳng những thể hiện tài năng của các tác giả mà còn khẳng định tình yêu thiết tha, sâu nặng của những nhà văn Việt Nam đối với non sông đất nước.

  • Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    BÀI LÀM

    Chinh phụ ngâm nguyên văn bằng chữ Hán, do Đặng Trần Côn sáng tác. Bản Nôm hiện hành, nhiều ý kiến thống nhất, là của dịch giả Đoàn Thị Điểm. Trước cảnh chiến tranh liên miên đầu thế kỉ XVIII, cảm động trước thời thế, Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm. Qua nỗi niềm và tâm trạng cô đơn, tủi hờn của người chinh phụ, tác phẩm đã nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Bản dịch đã thể hiện tài năng của tác giả và dịch giả trong việc thể hiện những trạng thái tâm lí vô cùng tinh tế và phức tạp của người vợ nhớ chồng.

    • Về bản dịch Chinh phụ ngâm hiện có tất thảy bảy bản dịch và phỏng dịch bằng các thể song thất lục bát (bốn bản) và lục bát (ba bản) của các dịch giả : Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Bạch Liên Am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh, nhưng chưa biết bản dịch nào của ai. Riêng bản dịch thành công nhất và được phổ biến rộng rãi xưa nay, thể song thất lục bát, 412 câu (bản in chữ Nôm cũ hiện còn (1902, AB 26), hoặc 408 câu (một bản khác lưu tại thư viện Pa-ri) có người cho là của Đoàn Thị Điểm, có người cho là của Phan Huy Ích.

    (Nguyễn Lộc, Từ điển văn học, tập I, Sđd)

    • So bản dịch của bà với bản chữ nho thì thấy văn dịch rất sát nghĩa nguyên văn mà lời văn êm đềm, ảo não, rõ ra giọng một người đàn bà buồn bã, nhưng có vẻ thê lương hơn là vẻ đau đớn, không đến nỗi réo rắt, sầu khổ như giọng văn cung oán, thật là lời văn hợp cảnh vậy. Bản dịch viết theo thể “song thất”. Có nhiều đoạn đặt theo lối liên hoàn, những chữ cuối câu trên láy lại làm chữ đầu câu dưới, cứ thế đặt dài tới mấy câu, thật hợp với tình buồn liên miên không dứt của người chinh phụ.

    (Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, 1950)

    1. Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh quyền quý, nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập công danh nơi yên ngựa và trở về trong cảnh vinh hoa. Thấm nỗi cô đơn lẻ loi, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang đi qua và hạnh phúc lứa đôi ngày

    càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn cùng cực. Khúc ngâm thể hiện tâm trạng cô đơn ấy của người chinh phụ. Đoạn trích miêu tả tâm trạng lẻ loi của người chinh phụ trong cảnh chờ chồng.

    Đầu đời Cảnh Hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê Mạc đánh nhau đến Trịnh Nguyễn kéo dài cuộc phân tranh, đất nước chia làm hai nửa dưới cái ngai vàng mục ruỗng, rồi khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh nồi da nấu thịt, loạn li chinh chiến, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất thối nát, bộ mặt tàn bạo của chế độ phong kiến và nỗi đau khổ của con người những nạn nhân của chế độ xã hội ấy. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm của rất nhiều nho sĩ. Nhiều bản dịch Chinh phụ ngâm ra đời, trong đó bản dịch được cho là của Đoàn Thị Điểm là bản dịch thành công hơn cả vì dịch giả đã gặp được ở đó sự đồng cảm sâu sắc.

    Hình tượng nổi bật của Chinh phụ ngâm là hình tượng người chinh phụ héo mòn trong trông ngóng chờ đợi. Người chinh phụ hiện lên trong khúc ngâm với ước vọng công hầu và khát khao hạnh phúc lứa đôi. Được nuôi dưỡng trong nền giáo dục Nho gia, người phụ nữ quý tộc phong kiến cũng từng mong ước, tự hào về hình ảnh một người chồng dũng mãnh :

    Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

    Xếp bút nghiên theo việc đao cung

    Thành liền mong tiễn bệ rồng

    Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời

    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

    Thế nhưng sau những ngày mỏi mòn chờ chồng trong tuyệt vọng, nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng và cất lời oán trách. Qua tâm trạng của người thiếu phụ, khúc ngâm là

    tiếng nói oán trách chiến tranh phong kiến đã giày xéo lên hạnh phúc lứa đôi.

    Chinh phụ ngâm là một tác phẩm trữ tình, từ đầu đến cuối tác phẩm vẫn chỉ là tâm trạng của nhân vật trữ tình người chinh phụ. Khúc ngâm được phát triển theo mạch tâm trạng và nỗi nhớ nhung của người chinh phụ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bao quát được những trạng thái tâm trạng của người chinh phụ. Nội tâm đầy biến động được diễn tả qua những từ ngữ chỉ ngoại hình, tả hành động, tả việc làm của người chinh phụ. Người thiếu phụ trong Khuê oán của Vương Xương Linh vẫn vô tư trang điểm má hồng để lên lầu biếc ngắm cảnh xuân, chỉ khi ngắm màu dương liễu mới bừng tỉnh và nhận ra cảnh ngộ cô đơn của mình ; còn người chinh phụ này luôn chìm đắm trong nỗi cô đơn. Sự trông đợi mỏi mòn và vô vọng đã khiến nàng trễ nải cả việc điểm phấn tô son, công việc quan trọng nhất của người phụ nữ nơi gác tía lầu son như nàng :

    Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng,

    Lệch vòng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.

    Nỗi đau buồn của người thiếu phụ trong cảnh đợi chồng đi chiến trận đã khiến nàng mất hết sức lực, như người mộng du trong ngôi nhà của mình :

    Há như ai hồn say bóng lẫn,

    Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.

    Sự chờ đợi vô vọng đã khiến nàng tê liệt cả tinh thần. Với việc miêu tả dáng vẻ bề ngoài, tác giả đã lột tả được trạng thái tâm lí phức tạp trong nội tâm của người thiếu phụ. Người thiếu phụ hiện lên với vẻ mệt mỏi và buông xuôi, nỗi cô đơn đã giày vò cả tâm thần và thể xác của người thiếu phụ khiến nàng nhạt phấn phai hương. Nỗi cô đơn bao trùm cả lên không gian và thời gian, ngày và đêm. Trong và ngoài căn phòng đều tràn ngập nỗi cô đơn. Chỉ có người thiếu phụ đối diện ngọn đèn, tình cảnh lẻ loi càng hiện rõ hơn. Cái vẻ lẻ loi tội nghiệp ấy hiện lên thật rõ ràng với hình ảnh :

    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

    Giữa cái không gian tĩnh mịch của đêm, tiếng bước chân chậm rãi như gieo vào lòng người cái âm thanh lẻ loi cô độc. Pu-skin trên con đường mùa đông vắng vẻ, cô đơn hơn bởi tiếng lục lạc đơn điệu thì người chinh phụ cô đơn hơn khi nghe tiếng bước chân của mình. Nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng mà thôi. Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được không hay sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng. Ngọn đèn chỉ là vật vô tri vô giác, “có biết dường bằng chẳng biết” :

    Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

    Buồn rầu nói chẳng nên lời,

    Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

    Cảnh vật không san sẻ mà cộng hưởng cùng nỗi sầu của người chinh phụ khiến nàng đau càng đau, sầu càng sầu. Nỗi chờ đợi ngày càng vô vọng. Dường như người thiếu phụ thức trắng cả năm canh và bị nỗi nhớ nhung giày vò :

    Gà eo óc gáy sương năm trống,

    Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

    Dịch giả đã sử dụng rất hợp lí những từ ngữ thuần Việt với những chữ như “eo óc”, “phất phơ”, những từ ngữ ấy dùng để tả cảnh nhưng đã chuyển tải được nỗi cô độc, buồn sầu của người thiếu phụ. Nó vừa gợi hình ảnh, vừa gợi tâm trạng. Dáng hoè phất qua bên nọ bên kia gợi nên hình ảnh người chinh phụ vật vã trong nhớ nhung giữa đêm khuya lẻ loi. Đếm từng khắc thời gian trôi đi chậm chạp, nhìn xung quanh thì bốn phía chỉ là cây hoè rủ bóng, nàng chìm ngập trong nỗi cô đơn. Khi chờ đợi bao giờ thời gian cũng rất dài.

    Thuý Kiều trong tâm trạng đợi chờ Kim Trọng :

    Sầu đong càng lắc càng đầy,

    Ba thu dọn lại một ngày dài ghê !

    Giống như tâm trạng người chinh phụ chờ chồng :

    Khắc giờ đằng đẵng như niên,

    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

    Thời gian cứ dài dằng dặc và không gian thì mênh mông vô tận, người chinh phụ nhỏ bé và đơn độc trước không gian và thời gian. Biết nỗi đợi chờ là vô vọng, nàng đã cố gắng để đưa mình ra khỏi nỗi cô đơn. Gắng gượng điểm phấn tô son, dạo đàn nhưng càng cố gắng vùng vẫy càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, cũng nhìn thấy cảnh lẻ loi đơn chiếc. Soi gương thì nước mắt đầm đìa bởi nàng phải đối diện với gương mặt thanh xuân đang mỏi mòn dần và thì xuân sắc đang phũ phàng trôi qua. Khúc đàn loan phượng thì gợi nhớ cảnh chồng vợ chia lìa.

    Nỗi đau đớn, tủi hờn của người chinh phụ thể hiện nỗi khao khát hạnh phúc lứa đôi chân chính. Với nỗi niềm cảm thông sâu sắc, tác giả và dịch giả đã thể hiện rất tinh tế và thành công những trạng thái tâm lí phức tạp của người thiếu phụ, qua đó thể hiện thái độ của mình trước những cuộc chiến tranh, binh biến liên miên dưới chế độ phong kiến thế kỉ XVIII. Tuy tác phẩm không nói rõ tính chất cuộc chiến tranh mà người chinh phu tham gia, song dựa trên những điều kiện lịch sử khi tác phẩm ra đời, có thể nhận thấy, đó không phải là cuộc chiến tranh vệ quốc, mà là cuộc chiến giành giật quyền lực của các tập đoàn phong kiến, những cuộc chiến phi nghĩa.

    Dịch Chinh phụ ngâm, dịch giả đã chọn thể thơ song thất lục bát, một thể thơ dân tộc có khả năng lớn trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật, nhất là tâm trạng buồn đau, sầu muộn. Dịch giả đã dịch rất thanh thoát nội dung của nguyên tác, thể hiện chân thực nỗi buồn của người thiếu phụ phương Đông, mãnh liệt, da diết nhưng kín đáo. Chinh phụ

    ngâm đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của ngôn ngữ văn học dân tộc. Với tác phẩm này, tiếng Việt đã chứng minh khả năng diễn tả tư tưởng tình cảm một cách sâu sắc, tinh tế. Với tấm lòng thương yêu và sự cảm thông sâu sắc với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, tác giả và dịch giả cất lên tiếng kêu nhân đạo, tiếng kêu phản đối chiến tranh phi nghĩa. Thái độ phản chiến tuy không bộc lộ trực tiếp song lại rất mạnh mẽ. Chiến tranh đã cướp đi của con người hạnh phúc và tuổi trẻ, thậm chí cả mạng sống. Vì một cuộc chiến, có biết bao người vợ phải xa chồng, phải giam mình trong nỗi cô đơn, buồn tủi như người chinh phụ kia. Có người đón chồng trở về khi tóc đã pha sương, nhưng đó còn là may mắn. Có người đau xót đón tin chồng không trở về sau những ngày mỏi mòn trông đợi.

    “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này” là lời oán thán nặng nề nhất trong Chinh phụ ngâm, lời ai oán không mạnh mẽ nhưng uất ức và oán trách. Đó là một trong những giá trị của Chinh phụ ngâm. Nhưng cao hơn cả, tác phẩm là sự tiếp nối xuất sắc cảm hứng nhân đạo của nền văn học dân tộc, một lần nữa, những khao khát hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến lại được ủng hộ. Đề tài về thân phận người phụ nữ lại được góp thêm một tiếng nói mới đầy sức mạnh nhân văn.

  • Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    BÀI LÀM

    Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính

    là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc

    tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật

    “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm

    làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ

    tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.

    Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm

    hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi

    vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với

    thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”,

    ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,…

    Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu

    Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở

    đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha

    thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:

    “Nơi có người đi

    Đâu mà chẳng biết”.

    Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có

    những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt

    bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà

    “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao

    cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.

    “Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều

    Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.

    Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm

    trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.

    “Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”

    Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng.

    Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc

    “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử

    Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác

    giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem

    là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo

    sông núi:

    “Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,

    Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”

    “Bát ngát sóng kình muôn dặm”

    Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn

    nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng

    kình muôn dặm – Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”.

    Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu

    thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng

    Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết : “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn

    làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm

    tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non,

    bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:

    “ Bờ lau san sát Bến lách đìu hiu

    Sông chìm giáo gãy

    Gò đầy xương khô

    Bpờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm

    giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức

    Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng

    dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”).

    Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợi

    cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua

    những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông

    Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:

    “ Buồn vì cảnh thảm

    Đứng lặng giờ lâu

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.

    Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều

    biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ

    đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ

    chung “uống nước nhớ nguồn”

    “Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”

    Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ

    chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm

    điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách

    và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào

    hùng oanh liệt của tổ tiên:

    “ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,

    Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.