Category: Ôn Thi Đại Học

Tổng hợp kiến thức ôn thi vào đại học

  • So sánh điểm tương đồng và khác biệt về thân phân người phụ nữ trong hai tác phẩm Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm

    So sánh điểm tương đồng và khác biệt về thân phân người phụ nữ trong hai tác phẩm Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm

    So sánh điểm tương đồng và khác biệt về thân phân người phụ nữ trong hai tác phẩm Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Trích Chinh phụ ngâm


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: So sánh điểm tương đồng và khác biệt về thân phân người phụ nữ trong hai tác phẩm Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm

    Văn học lớp 10

    So sánh điểm tương đồng và khác biệt về thân phân người phụ nữ trong hai tác phẩm “Chinh phụ ngâm” và “Cung oán ngâm”.

    Bài làm

    So sánh những điểm tương đồng và khác biệt về thân phân người phụ nữ trong hai tác phẩm “Chinh phụ ngâm” và “Cung oán ngâm”.

    Bài làm

    -Giống nhau:

    Cả hai nhân vật trữ tình đều sống trong nhớ nhung, sầu muộn, đều đau đáu đợi chờ trong cô đơn phòng không chiếc bóng, buồn tủi trong nỗi đau khổ khôn nguôi về thân phận đơn chiếc của bản thân mình cùng với sự nhớ mong trong vô vọng khi người mình yêu thương không ở bên cạnh, khát khao có được hạnh phúc của cả hai nhân vật.

    -Khác nhau:

    Chinh phụ ngâm

    Cung oán ngâm

    -Người chinh phụ cô đơn, buồn tủi khi phải xa chồng.

    -Người cung nữ cô đơn, buồn tủi khi bị nhà vua ruồng bỏ, phụ bạc.

    -Người chinh phụ hãnh diện khi chồng đi chinh chiến; xa chồng vì hoàn cảnh chiến tranh.

    – Người cung nữ có chồng là bị ép buộc; xa chồng vì bị bỏ rơi.

    -Cô gái là vợ của một người dân bình thường; cuộc sống đơn sơ, giản dị.

    -Người con gái là vợ lẻ của một người đứng đầu quốc gia, dân tộc; vinh hoa, phú quý có thừa.

    -Người chinh phụ tuy lẻ loi đơn độc, buồn nhớ cùng cực nhưng vẫn nhẫn nhục cam chịu.

    -Người cung nữ bị nhà vua ruồng bỏ, chôn vùi tuổi xuân trong vách quế hắt hiu, lạnh lẽo nàng muốn bứt phá để thoát khỏi cảnh bị giam hãm.

    • Người chinh phụ này bơ phờ, héo úa vì phải lo lắng cho chồng nơi chiến trường khốc liệt.
    • Người cung nữ này tự tin xem mình là người có “tài sắc ai bì” mà lại bị nhà vua phụ bạc, bội ước.
    • Người chinh phụ vì nhớ chồng quá đứng ngồi không yên nên đã chủ động nhờ gió đông gửi tấm lòng của mình đến nơi chồng đang chinh chiến.
    • Người cung nữ ngày ngày nhớ mong nhớ đến nỗi “đứng tuổi ngồi sầu” nhưng nàng vẫn bị động vò võ chờ người phụ bạc chứ không hành động như người chinh phụ.
    • Người chinh phụ đã tìm mọi cách để thoát ra được nỗi cô đơn đang bao trùm, bủa vây như: đốt trầm hương, gảy đàn nhưng mọi gắng gượng đều là vô ích

    -Người cung nữ ngày ngày phải chờ đợi, trông ngống một cách vô vọng và cái u sầu ấy nó có thể giết người trong vô hình mà chẳng cần vũ khí.

    -Tính cách: Kiên nhẫn đợi chồng về; có ước mơ, khao khát nhưng chỉ là vô vọng khi không thể thực hiện được cũng bởi người chồng đang ở phương xa; một mực tha thiết yêu thương chồng.

    -Tính cách: Người cung nữ có ý thức xã hội rõ hơn, bộc lộ thái độ lên án, tố cáo mạnh mẽ dữ dội hơn.

  • Văn mẫu  Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Trích Chinh phụ ngâm

    Văn mẫu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Trích Chinh phụ ngâm

    Văn mẫu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Trích Chinh phụ ngâm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích Nỗi Buồn của người chinh phục trong bài Chinh Phụ Ngâm Khúc


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Trích Chinh phụ ngâm

    VĂN HỌC LỚP 10

    Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ –

    Trích Chinh phụ ngâm

    BÀI LÀM

    1. Chinh phụ ngâm nguyên văn bằng chữ Hán, do Đặng Trần Côn sáng tác. Bản Nôm hiện hành, nhiều ý kiến thống nhất, là của dịch giả Đoàn Thị Điểm. Trước cảnh chiến tranh liên miên đầu thế kỉ XVIII, cảm động trước thời thế, Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm. Qua nỗi niềm và tâm trạng cô đơn, tủi hờn của người chinh phụ, tác phẩm đã nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Bản dịch đã thể hiện tài năng của tác giả và dịch giả trong việc thể hiện những trạng thái tâm lí vô cùng tinh tế và phức tạp của người vợ nhớ chồng.

    * Về bản dịch Chinh phụ ngâm hiện có tất thảy bảy bản dịch và phỏng dịch bằng các thể song thất lục bát (bốn bản) và lục bát (ba bản) của các dịch giả : Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Bạch Liên Am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh, nhưng chưa biết bản dịch nào của ai. Riêng bản dịch thành công nhất và được phổ biến rộng rãi xưa nay, thể song thất lục bát, 412 câu (bản in chữ Nôm cũ hiện còn (1902, AB 26), hoặc 408 câu (một bản khác lưu tại thư viện Pa-ri) có người cho là của Đoàn Thị Điểm, có người cho là của Phan Huy Ích.

    (Nguyễn Lộc, Từ điển văn học, tập I, Sđd)

    • So bản dịch của bà với bản chữ nho thì thấy văn dịch rất sát nghĩa nguyên văn mà lời văn êm đềm, ảo não, rõ ra giọng một người đàn bà buồn bã, nhưng có vẻ thê lương hơn là vẻ đau đớn, không đến nỗi réo rắt, sầu khổ như giọng văn cung oán, thật là lời văn hợp cảnh vậy. Bản dịch viết theo thể “song thất”. Có nhiều đoạn đặt theo lối liên hoàn, những chữ cuối câu trên láy lại làm chữ đầu câu dưới, cứ thế đặt dài tới mấy câu, thật hợp với tình buồn liên miên không dứt của người chinh phụ.

    (Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, 1950)

    1. Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh quyền quý, nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập công danh nơi yên ngựa và trở về trong cảnh vinh hoa. Thấm nỗi cô đơn lẻ loi, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang đi qua và hạnh phúc lứa đôi ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn cùng cực. Khúc ngâm thể hiện tâm trạng cô đơn ấy của người chinh phụ. Đoạn trích miêu tả tâm trạng lẻ loi của người chinh phụ trong cảnh chờ chồng.

    Đầu đời Cảnh Hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê Mạc đánh nhau đến Trịnh Nguyễn kéo dài cuộc phân tranh, đất nước chia làm hai nửa dưới cái ngai vàng mục ruỗng, rồi khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh nồi da nấu thịt, loạn li chinh chiến, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất thối nát, bộ mặt tàn bạo của chế độ phong kiến và nỗi đau khổ của con người những nạn nhân của chế độ xã hội ấy. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm của rất nhiều nho sĩ. Nhiều bản dịch Chinh phụ ngâm ra đời, trong đó bản dịch được cho là của Đoàn Thị Điểm là bản dịch thành công hơn cả vì dịch giả đã gặp được ở đó sự đồng cảm sâu sắc.

    Hình tượng nổi bật của Chinh phụ ngâm là hình tượng người chinh phụ héo mòn trong trông ngóng chờ đợi. Người chinh phụ hiện lên trong khúc ngâm với ước vọng công hầu và khát khao hạnh phúc lứa đôi. Được nuôi dưỡng trong nền giáo dục Nho gia, người phụ nữ quý tộc phong kiến cũng từng mong ước, tự hào về hình ảnh một người chồng dũng mãnh :

    Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

    Xếp bút nghiên theo việc đao cung

    Thành liền mong tiễn bệ rồng

    Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời

    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

    Thế nhưng sau những ngày mỏi mòn chờ chồng trong tuyệt vọng, nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng và cất lời oán trách. Qua tâm trạng của người thiếu phụ, khúc ngâm là tiếng nói oán trách chiến tranh phong kiến đã giày xéo lên hạnh phúc lứa đôi.

    Chinh phụ ngâm là một tác phẩm trữ tình, từ đầu đến cuối tác phẩm vẫn chỉ là tâm trạng của nhân vật trữ tình người chinh phụ. Khúc ngâm được phát triển theo mạch tâm trạng và nỗi nhớ nhung của người chinh phụ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bao quát được những trạng thái tâm trạng của người chinh phụ. Nội tâm đầy biến động được diễn tả qua những từ ngữ chỉ ngoại hình, tả hành động, tả việc làm của người chinh phụ. Người thiếu phụ trong Khuê oán của Vương Xương Linh vẫn vô tư trang điểm má hồng để lên lầu biếc ngắm cảnh xuân, chỉ khi ngắm màu dương liễu mới bừng tỉnh và nhận ra cảnh ngộ cô đơn của mình ; còn

    người chinh phụ này luôn chìm đắm trong nỗi cô đơn. Sự trông đợi mỏi mòn và vô vọng đã khiến nàng trễ nải cả việc điểm phấn tô son, công việc quan trọng nhất của người phụ nữ nơi gác tía lầu son như nàng :

    Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng,

    Lệch vòng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.

    Nỗi đau buồn của người thiếu phụ trong cảnh đợi chồng đi chiến trận đã khiến nàng mất hết sức lực, như người mộng du trong ngôi nhà của mình :

    Há như ai hồn say bóng lẫn,

    Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.

    Sự chờ đợi vô vọng đã khiến nàng tê liệt cả tinh thần. Với việc miêu tả dáng vẻ bề ngoài, tác giả đã lột tả được trạng thái tâm lí phức tạp trong nội tâm của người thiếu phụ. Người thiếu phụ hiện lên với vẻ mệt mỏi và buông xuôi, nỗi cô đơn đã giày vò cả tâm thần và thể xác của người thiếu phụ khiến nàng nhạt phấn phai hương. Nỗi cô đơn bao trùm cả lên không gian và thời gian, ngày và đêm. Trong và ngoài căn phòng đều tràn ngập nỗi cô đơn. Chỉ có người thiếu phụ đối diện ngọn đèn, tình cảnh lẻ loi càng hiện rõ hơn. Cái vẻ lẻ loi tội nghiệp ấy hiện lên thật rõ ràng với hình ảnh :

    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

    Giữa cái không gian tĩnh mịch của đêm, tiếng bước chân chậm rãi như gieo vào lòng người cái âm thanh lẻ loi cô độc. Pu-skin trên con đường mùa đông vắng vẻ, cô đơn hơn bởi tiếng lục lạc đơn điệu thì người chinh phụ cô đơn hơn khi nghe tiếng bước chân của mình. Nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng mà thôi. Liệu ngọn đèn có

    thấu hiểu được không hay sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng. Ngọn đèn chỉ là vật vô tri vô giác, “có biết dường bằng chẳng biết” :

    Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

    Buồn rầu nói chẳng nên lời,

    Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

    Cảnh vật không san sẻ mà cộng hưởng cùng nỗi sầu của người chinh phụ khiến nàng đau càng đau, sầu càng sầu. Nỗi chờ đợi ngày càng vô vọng. Dường như người thiếu phụ thức trắng cả năm canh và bị nỗi nhớ nhung giày vò :

    Gà eo óc gáy sương năm trống,

    Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

    Dịch giả đã sử dụng rất hợp lí những từ ngữ thuần Việt với những chữ như “eo óc”, “phất phơ”, những từ ngữ ấy dùng để tả cảnh nhưng đã chuyển tải được nỗi cô độc, buồn sầu của người thiếu phụ. Nó vừa gợi hình ảnh, vừa gợi tâm trạng. Dáng hoè phất qua bên nọ bên kia gợi nên hình ảnh người chinh phụ vật vã trong nhớ nhung giữa đêm khuya lẻ loi. Đếm từng khắc thời gian trôi đi chậm chạp, nhìn xung quanh thì bốn phía chỉ là cây hoè rủ bóng, nàng chìm ngập trong nỗi cô đơn. Khi chờ đợi bao giờ thời gian cũng rất dài. Thuý Kiều trong tâm trạng đợi chờ Kim Trọng :

    Sầu đong càng lắc càng đầy,

    Ba thu dọn lại một ngày dài ghê !

    Giống như tâm trạng người chinh phụ chờ chồng :

    Khắc giờ đằng đẵng như niên,

    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

    Thời gian cứ dài dằng dặc và không gian thì mênh mông vô tận, người chinh phụ nhỏ bé và đơn độc trước không gian và thời gian. Biết nỗi đợi chờ là vô vọng, nàng đã cố gắng để đưa mình ra khỏi nỗi cô đơn. Gắng gượng điểm phấn tô son, dạo đàn nhưng càng cố gắng vùng vẫy càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, cũng nhìn thấy cảnh lẻ loi đơn chiếc. Soi gương thì nước mắt đầm đìa bởi nàng phải đối diện với gương mặt thanh xuân đang mỏi mòn dần và thì xuân sắc đang phũ phàng trôi qua. Khúc đàn loan phượng thì gợi nhớ cảnh chồng vợ chia lìa.

    Nỗi đau đớn, tủi hờn của người chinh phụ thể hiện nỗi khao khát hạnh phúc lứa đôi chân chính. Với nỗi niềm cảm thông sâu sắc, tác giả và dịch giả đã thể hiện rất tinh tế và thành công những trạng thái tâm lí phức tạp của người thiếu phụ, qua đó thể hiện thái độ của mình trước những cuộc chiến tranh, binh biến liên miên dưới chế độ phong kiến thế kỉ XVIII. Tuy tác phẩm không nói rõ tính chất cuộc chiến tranh mà người chinh phu tham gia, song dựa trên những điều kiện lịch sử khi tác phẩm ra đời, có thể nhận thấy, đó không phải là cuộc chiến tranh vệ quốc, mà là cuộc chiến giành giật quyền lực của các tập đoàn phong kiến, những cuộc chiến phi nghĩa.

    Dịch Chinh phụ ngâm, dịch giả đã chọn thể thơ song thất lục bát, một thể thơ dân tộc có khả năng lớn trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật, nhất là tâm trạng buồn đau, sầu muộn. Dịch giả đã dịch rất thanh thoát nội dung của nguyên tác, thể hiện chân thực nỗi buồn của người thiếu phụ phương Đông, mãnh liệt, da diết nhưng kín đáo. Chinh phụ ngâm đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của ngôn ngữ văn học dân tộc. Với tác phẩm này, tiếng Việt đã chứng minh khả năng diễn tả tư tưởng tình cảm một cách sâu sắc, tinh tế. Với tấm lòng thương yêu và sự cảm thông sâu sắc với

    những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, tác giả và dịch giả cất lên tiếng kêu nhân đạo, tiếng kêu phản đối chiến tranh phi nghĩa. Thái độ phản chiến tuy không bộc lộ trực tiếp song lại rất mạnh mẽ. Chiến tranh đã cướp đi của con người hạnh phúc và tuổi trẻ, thậm chí cả mạng sống. Vì một cuộc chiến, có biết bao người vợ phải xa chồng, phải giam mình trong nỗi cô đơn, buồn tủi như người chinh phụ kia. Có người đón chồng trở về khi tóc đã pha sương, nhưng đó còn là may mắn. Có người đau xót đón tin chồng không trở về sau những ngày mỏi mòn trông đợi.

    “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này” là lời oán thán nặng nề nhất trong Chinh phụ ngâm, lời ai oán không mạnh mẽ nhưng uất ức và oán trách. Đó là một trong những giá trị của Chinh phụ ngâm. Nhưng cao hơn cả, tác phẩm là sự tiếp nối xuất sắc cảm hứng nhân đạo của nền văn học dân tộc, một lần nữa, những khao khát hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến lại được ủng hộ. Đề tài về thân phận người phụ nữ lại được góp thêm một tiếng nói mới đầy sức mạnh nhân văn.

  • Văn mẫu  Phân tích Nỗi Buồn của người chinh phục trong bài Chinh Phụ Ngâm Khúc

    Văn mẫu Phân tích Nỗi Buồn của người chinh phục trong bài Chinh Phụ Ngâm Khúc

    Văn mẫu Phân tích Nỗi Buồn của người chinh phục trong bài Chinh Phụ Ngâm Khúc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU BÀ HUYỆN THANH QUAN, NGƯỜI ĐI DỌC NHỮNG ĐÈO NGANG


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích Nỗi Buồn của người chinh phục trong bài Chinh Phụ Ngâm Khúc

    Văn học lớp 10

    Phân tích Nỗi Buồn của người chinh phục trong

    bài “Chinh Phụ Ngâm Khúc”

    BÀI LÀM

    Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn là kiệt tác trong nền văn học cổ điển của nước nhà. Bản dịch “ Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) là tác phẩm dịc đặc sắc vừa truyền đạt tư tưởng sâu sắc của tác giả vừa phô diễn vẻ mĩ lệ của tiếng Việt.

    Đoạn trích diễn tả nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ, khía cạnh nổi bật của chủ đề tác phẩm: oán ghét chiến tranh và đòi quyền sống cho người phụ nữ.

    Chiến tranh phong kiến đã xô đẩy người chinh phu biền biệt ngoài chiến địa. Người chinh phụ vò võ đợi chờ, nỗi thương nhớ chất chồng trong lòng , tràn ra cả không gian xa cách:

    “ Lòng này gửi gió đông có tiện Nghìn vàng xin gửi đến non Yên Non Yên dù chẳng tới miền

    Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

    Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong Cảnh buồn người thiết tha lòng

    Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun..”

    Một chút ngờ vực “ Lòng này gửi gió đông có tiện”, một cử chỉ trân trọng “ Nghìn vàng xin gửi đến non Yên” đã thể hiện được tình cảm thiêng liêng trong lòng người chinh phụ. Hình ảnh ước lệ ( non Yên – một địa danh ở Trung Quốc) khiến cho cách biểu đạt sang trọng , cổ kính làm tôn vẻ đẹp của tâm hồn người chinh phụ . Nỗi nhớ trong lòng người đã tràn ra cả cả không gian rộng lớn:

    “ Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời”

    Trong hình ảnh khoa trương ấy có cả thời gian thương nhớ “ đằng đẵng”, có cả không gian chia li rộng lớn mà chỉ kích thước của vũ trụ “ đường lên bằng trời” thì mới sánh kịp. Mà nói thời gian “ đằng đẵng”, nói không gian xa cách vô tận “ bằng trời” là để làm nổi bật nỗi cô đơn trong lòng người chinh phụ:

    “ Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

    Mỗi từ ở đây, ngoài nghĩa riêng , nó còn thấm đẫm tâm trạng của người chinh

    phụ. Từ “ thăm thẳm” ngầm ý oán trách, từ “ đau đáu” như hiện lên nỗi thèm khát mà vô vọng trong trái tim yêu thương của người chinh phụ. Tình và cảnh xâm nhập, thẩm thấu lẫn nhau tạo ra hình ảnh của nỗi lòng thương nhớ não nề:

    “ Cảnh buồn người thiết tha lòng

    Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

    Gợi nhớ một câu Kiều “ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Nhưng đó là câu thơ đã có tính khái quát, triết lí, lạnh. Câu thơ này là một hiện tượng cụ thể của một nỗi lòng , nỗi lòng đã hoàn toàn phơi ra bên ngoài cảnh vật: “ Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”. Chao ôi, “ cành cây sương đượm” đã buốt giá, “ tiếng

    trùng” đã ảo não , lại còn mưa phun vào tiếng trùng! Âm thanh của một cõi lòng tan nát. Khi “ tiếng trùng mưa phun” rung lên thì ta không còn nghe tiếng của “ lòng này” nữa mà tâm trạng của người chinh phụ càng lẫn khuất trong hình ảnh, âm điệu của thiên nhiên làm xao động lòng người:

    “ Sương như búa, bổ mòn gốc liễu Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô Giọt sương phủ bụi chim gù

    Sâu tường kêu vẳng , chuông chùa nện khơi Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc

    Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên Lá màn lay ngọn gió xuyên

    Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm…”

    Hình ảnh nào cũng là hình ảnh bên ngoài mà hình ảnh nào cũng là hình ảnh bên

    trong , âm thanh nào cũng là âm thanh của thiên nhiên mà âm thanh nào cũng là âm thanh của lòng người. Một hệ thống hình ảnh thiên nhiên đã họa lên nỗi lòng của người chinh phụ , nhớ thương mòn mỏi, héo hắt. Những hình ảnh so sánh bất ngờ, độc đáo mà chỉ có sự đồng cảm với nỗi đau của người chinh phụ thì mới có cái nhìn, cái nghe kì lạ như vậy.

    “ Sương như búa, bổ mòn gốc liễu Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô”

    Hình ảnh so sánh nào cũng lạ , cũng táo bạo . Hình ảnh nào cũng đau đớn “

    sương như búa…”, “ tuyết dường cưa…”, khi đau đớn nặng nề ( búa bổ) khi thì đau đớn dai dẳng (cưa xẻ ). “ Gốc liễu”, “ cành ngô” là những vật yếu mềm , hiện thân của

    người phụ nữ bị nỗi sầu muộn tàn phá cả thể xác lẫn tinh thần . Không còn phân biệt được những hình ảnh đó là bên trong hay bên ngoài , cũng như không còn phân biệt được những âm thanh cô đơn này là bên ngoài hay bên trong:

    Giọt sương phủ bụi chim gù

    Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi

    Tiếng chim gù ( gọi bạn) đơn phương trong bụi bị “ sương phủ”, tiếng chim gù nghe lạnh thấu xương. Sắc độ của âm thanh được phân biệt trong hai từ “ vẳng” và “ nện”. “ Vẳng” là dành cho tiếng côn trùng “ sâu tường”, và “ nện” là dành cho tiếng “ chuông chùa”, tiếng chuông chùa đã làm thổn thức trái tim cô quạnh của người chinh phụ. Không một âm thanh nào trong đêm trăng là không dội vang vào lòng người chinh phụ. Song để ý một chút ta có thể nhận ra sắc độ của âm thanh, có những âm thanh nỉ non, thê thiết của “ tiếng trùng mưa phùn”, của tiếng “ chim gù” phủ sương , của tiếng dế não nùng, lại có những âm thanh dữ dội của “ chuông chùa nện khơi”, của “ gió thốc ngoài hiên” biểu hiện sức sống mãnh liệt của người chinh phụ. Chính sức sống mãnh liệt đó làm run rẩy cây cỏ, tiếng trùng trong đêm trăng, làm lay động lá màn đơn chiếc của nàng . Và kì lạ thay, nỗi sầu muộn đã tàn phá dung nhan của nàng , làm đau đớn trái tim yêu thương của nàng, nhưng không thể hủy diệt được sức sống mãnh liệt của nàng, không thể hủy diệt được tình yêu của nàng, nàng vẫn hiện diện như một bông hoa trong đêm trăng.

    “ Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm”

    Nếu như hai khổ thơ đầu, âm điệu tha thiết của tình cảm được thể hiện ở những từ láy như “ đằng đẵng”, “ thẳm thẳm”, “ đau đáu”, “ thiết tha” thì ở hai khổ thơ tiếp theo tâm trạng của nhân vật trữ tình được biểu hiện ở thanh điệu; những thanh trắc

    khô khốc như “ búa”, “ bổ”, “ tuyết”, “ héo”, “ nện”, “ thốc”…phô diễn được xung đột nội tâm của người chinh phụ: sự tàn phá ghê gớm của hoàn cảnh khắc nghiệt và sự trỗi dậy của tinh thần người thiếu phụ đòi được sống, được yêu thương. Và những vần thơ thần bút đã hiện lên cùng với tinh thần ham sống, đam mê, khát khao hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ:

    “ Hoa giãi nguyệt , nguyệt in một tấm Nguyệt —g hoa, hoa thắm từng bông Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu”

    Thiên nhiên đã bày ra một cuộc ái ân thật là mê li. Những ẩn dụ “ hoa”, “

    nguyệt” đã tạo ra “ trường liên tưởng” về một quá khứ tình cảm êm đẹp, về chuyện buồng the ân ái nồng nàn. Nhạc điệu cũng chuyển , tha thiết hơn, nồng nàn hơn bằng những điệp ngữ, điệp từ, bằng sự hòa âm, hòa điệu tạo ra sự trùng điệp mê li. Bằng những hình ảnh hoa nguyệt gợi cảm lạ lùng, bằng nhạc điệu đầy cám dỗ , tác giả đã họa lên nỗi lòng khao khát hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ. Và đây cũng là những dòng thơ thể hiện một cách rực rỡ vẻ mĩ lệ của tiếng Việt.

    Đoạn thơ “ Nỗi buồn chinh phụ” đã thể hiện một cách rực rỡ tài hoa của tác giả và dịch giả “ Chinh phụ ngâm “. Tình cảm nhân bản, nồng nàn. Tư tưởng sâu sắc, thái độ căm ghét chiến tranh, phản kháng chiến tranh được bộc lộ một cách kín đáo, tế nhị( chỉ bóng gió mà thái độ oán trách vẫn lộ ra. “ Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu”). Bút pháp biến hóa, nhạc điệu thay đổi rất hay ( âm điệu của từ láy ở hai khổ thơ đầu , âm điệu và thanh sắc ở khổ ba, bốn và điệp từ, điệp ngữ ở đoạn kết). Đoạn thơ gây xúc động đối với người đọc là những biểu hiện sống mãnh liệt của người phụ nữ bị chiến

    tranh vùi dập. Nỗi nhớ chồng ( chinh phụ) tha thiết, vô vọng . Thương nhớ, sầu muộn

    trong chia lìa ảm đạm đã tàn phá cả tinh thần và thể xác của người chinh phụ, nhưng

    không có gì có thể dập tắt được ngọn luwarcuar sự sống, của tình yêu và những khát

    vọng về hạnh phúc lứa đôi trong lòng người chinh phụ.

  • Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận Văn học lớp 9 có hiệu quả


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    I.                   LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    Theo thống kê kết quả kiểm tra, thi những năm gần đây bài kiểm tra môn Ngữ Văn đạt điểm cao rất ít, phần lớn dưới điểm trung bình, thậm chí điểm 0 cũng có. Trong đó nhiều bài làm của học sinh khiến người chấm chưa hài lòng vì những sai sót quá cơ bản như sai chính tả, sai kiến thức, lỗi diễn đạt, suy diễn theo cảm tính, viết mà không hiểu những gì mình đã viết,… Đặc biệt khả năng lập luận trong văn nghị luận của học sinh hiện nay rất yếu, nhiều em tỏ ra rất lúng túng, thậm chí chưa xác định được một hệ thống luận điểm, luận cứ một cách rõ ràng và xác đáng.

    Có một điều khá phổ biến của học sinh THPT hiện nay là khi làm văn xong không thể tự mình rút kinh nghiệm, tự mình đánh giá xem bài làm có chỗ nào được, chỗ nào chưa được. Và có nhiều học sinh chưa nắm vững được quy trình làm một bài văn, chưa làm chủ được các thao tác lập luận, các công việc cần thiết của tiến trình xây dựng một văn bản, học sinh thường chỉ lo khâu bước vào bài và cảm thấy khó khăn ở bước nhập đề. Cứ nghĩ nhập đề xong thế là viết được bài. Ở đây, tôi không bàn đến cảm hứng sáng tạo mà chỉ nói đến ý thức trong đầu óc của người cầm bút về ý đồ thông báo, về nội dung thông báo, về cách thức thông báo, về cách dùng từ, diễn đạt. Chỗ yếu cơ bản này của học sinh phản ánh tình trạng mù mờ về lí thuyết mà giáo viên THPT chúng ta lâu nay thường mắc phải. Đa số học sinh THPT làm văn theo cảm tính, học sinh chưa có thói quen suy nghĩ về đề, về yêu cầu của đề, về cách tìm ý, sắp xếp các ý, về kết cấu văn bản sắp hình thành. Hiện tượng học sinh lạc đề, xa đề, viết lan man, kết cấu lộn xộn, trùng lặp, đứt mạch, mất cân đối, hoặc bài văn kết cấu không đầy đủ, không biết triển khai luận điểm ở từng phần hay không biết khai thác tư liệu,… Đó là những thiếu sót phổ biến trong kĩ năng làm văn nghị luận của học sinh hiện nay. Có nhiều cách lí giải hiện tượng này, nhưng có một nguyên nhân chính, đó là sự non kém về ý thức làm văn của học sinh hay nói đúng hơn là sự non kém về văn hóa làm văn.

    Hơn nữa, đối tượng mà tôi nghiên cứu trong chuyên đề này là học sinh lớp 11, cụ thể là học sinh lớp 11A4, 11A5, 11A6 của trường THCS và THPT Bàu Hàm – một ngôi trường vùng sâu vùng xa, mà phần lớn học sinh là người dân tộc, lực học rất yếu, đặc biệt là rất yếu khi làm văn.

    Điều đó đã phản ánh một thực tế: hiệu quả học và làm văn ngày càng sa sút và đang ở mức báo động đòi hỏi cần phải đưa ra những giải pháp thích hợp để đổi mới quy trình dạy và học môn Ngữ Văn hiện nay, đặc biệt phân môn làm văn, trong đó có bài văn nghị luận. Với suy nghĩ trên, tôi xin giới thiệu cùng các thầy cô giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 11 chuyên đề: Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11. Mong rằng chuyên đề này sẽ góp một phần nhỏ vào quy trình đổi mới phương pháp dạy và học môn Ngữ Văn ở các trường trung học phổ thông vùng sâu, vùng xa trên địa bàn huyện Trảng Bom và các trường trung học phổ thông hiện nay.

    II.               TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

     

    1. Cơ sở lý luận:

     

    Xuất phát từ phương châm “Học đi đôi với hành, lí luận phải gắn liền với thực tiễn”, do đó ngoài việc cung cấp kiến thức mới, giáo viên cần hướng dẫn học sinh áp dụng các kiến thức đã học vào làm văn ở các kiểu bài, các dạng đề có liên quan đến những kiến thức đã học, nhằm nâng cao kiến thức cũng như khả năng vận dụng các kiến thức vào thực tế cuộc sống. Có như vậy học sinh mới phát huy tư duy một cách toàn diện và sâu sắc nhất.

    Trong thực tế giảng dạy nếu giáo viên chỉ cung cấp kiến thức mới mà không có các bài làm văn liên quan đến những kiến thức đã học thì học sinh chỉ thu nhận một cách thụ động. Vì vậy, qua các bài làm văn học sinh sẽ đánh giá kết quả học tập của mình cũng như giáo viên dựa vào kết quả đó để thay đổi phương pháp giảng dạy phù hợp.

    Trong quá trình giảng dạy, hướng dẫn, giáo viên không chỉ là người dạy, cung cấp kiến thức mà là người hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức; còn học sinh thì không thụ động lĩnh hội kiến thức (được đơn giản hóa). Bởi trên thực tế, vì sự thụ động của học sinh, có những giáo viên viết thay học sinh phần mở bài, thân bài hay kết bài mà học sinh gọi đó là văn mẫu, mà học sinh phải tự mình (dưới sự hướng dẫn của giáo viên và năng động của tư duy) tìm tòi, phát hiện, tiếp nhận, giải mã, rồi biết vận dụng những kiến thức vào làm văn. Vì vậy, giáo viên phải linh hoạt trong từng dạng bài làm văn nhằm đạt được kết quả cao nhất.

    Quá trình làm văn là một quá trình chuyển hóa kiến thức đã học thành một sản phẩm kiến thức mới của chủ thể sáng tạo, của từng cá nhân học sinh. Chính vì vậy có thể khái quát rằng: Làm văn là quá trình sáng tạo của cá nhân học sinh, là một cơ hội để học sinh bộc lộ được rõ nét nhất, tập trung nhất vốn hiểu biết về nhiều mặt cùng những phẩm chất và năng lực của học sinh, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, năng lực hoạt động ngôn ngữ.

    Hơn nữa, văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy logíc, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống.

    Và xuất phát từ thực tế, trong năm năm giảng dạy tại trường THCS và THPT Bàu Hàm, tôi cũng thẳng thắn đưa ra những thuận lợi và khó khăn khiến tôi trăn trở, quyết tâm thực hiện chuyên đề này:

    • Trước hết, về bản thân giáo viên được đào tạo đúng chuyên môn, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để phù hợp với xu thế đổi mới hiện nay và tình hình học tập của học sinh trường THCS và THPT Bàu Hàm.
    • Còn học sinh luôn chuẩn bị tâm thế tiếp thu bài.
    • Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối đầy đủ cho việc giảng dạy môn Ngữ Văn.
    • Tài liệu tham khảo trong thư viện của nhà trường cũng khá nhiều, giúp ích cho công tác giảng dạy và nghiên cứu, tham khảo cho cả thầy và trò.

    Bên cạnh đó phải kể đến những khó khăn như:

    • Về đối tượng học sinh của trường THCS và THPT Bàu Hàm – đối tượng học sinh vùng sâu vùng xa, người dân tộc nhiều (chủ yếu là người Hoa) lực học rất yếu, đặc biệt yếu môn Văn, trong đó có phân môn làm văn. Hơn thế học sinh hiện nay có xu thế xem nhẹ môn Văn dẫn đến chất lượng học tập rất thấp.
    • Mặt khác, yêu cầu chất lượng của nhà trường giao cho mỗi năm cần phải nâng lên và giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường nhằm nâng cao kết quả nhận thức và học tập của học sinh.
    • Tuy nhiên, bản thân tôi và các đồng nghiệp trong trường cũng thấy còn hạn chế trong việc không thể “cầm tay” hướng dẫn cho từng cá nhân học sinh và giáo viên cũng không thể đọc và sửa hết bài của các em tại lớp trong 1 – 2 tiết làm văn,…

    2.                 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:

     

    Văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Muốn vậy, người viết phải biết trình bày ý kiến của mình và đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục, nghĩa là phải biết lập luận.

    • chương trình Ngữ Văn lớp 11 trong phân môn làm văn, trong đó có kiểu bài văn nghị luận học sinh sẽ đi sâu vào hai dạng đề: nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Sau đây tôi xin lần lượt rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh lớp 11:

    2.1 Kĩ năng phân tích đề:

    Phân tích đề là công việc trước tiên trong quá trình làm một bài văn nghị luận nhưng lại là khâu mà phần lớn học sinh bỏ qua. Bởi theo các em nghĩ nếu phân tích đề sẽ mất thời gian làm bài. Thực tế cho thấy, một bài văn làm trong 45 – 90 phút, học sinh chỉ mất khoảng 5 – 10 phút phân tích đề.

    Khi phân tích đề cần đọc kĩ đề bài, chú ý những từ ngữ then chốt để xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghị luận, phạm vị tư liệu cần sử dụng.

    Trước tiên, phương pháp tôi đã vận dụng để phân tích đề là phương pháp nêu vấn đề. Phương pháp này được tiến hành thông qua việc giáo viên (hoặc học sinh) đưa ra một tình huống có vấn đề nảy sinh trong bài học hoặc trong cuộc sống. Nó giúp học sinh biết cách giải quyết vấn đề và rèn kĩ năng tư duy.

    Mục tiêu của phương pháp này mà tôi áp dụng là rèn kĩ năng phát hiện, nhận biết và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập, đặc biệt khi làm văn và trong cuộc sống của học sinh.

    Sau đây là ví dụ về việc sử dụng tình huống nêu vấn đề khi phân tích đề văn nghị luận xã hội và đề văn nghị luận văn học:

    Đề 1:Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay?

    Đề 2: Cảm nhận của anh (chị) về tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II).

    Trước hết, giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề và dùng thước gạch chân những từ ngữ then chốt:

    VD: Đề 1: Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay. Đề 2: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II).

    • Hoạt động 1: Học sinh đọc kĩ đề và cho biết đề nào có định hướng cụ thể, đề nào đòi hỏi người viết phải tự xác định hướng triển khai?

     

    Dự kiến học sinh trả lời:

     

    + Đề 1 là “đề đóng” vì đây là dạng đề định hướng rõ nội dung nghị luận.

     

    + Đề 2: là “đề mở” yêu cầu bàn về tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Tự tình (bài II), nhưng chưa rõ, vì vậy đòi hỏi người viết phải tự xác định hướng triển khai.

    • Hoạt động 2: Giáo viên đặt câu hỏi: Vấn đề nghị luận của mỗi đề là gì?

    Dự kiến học sinh trả lời:

    Đề 1: Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.

    Đề 2: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II).

    Nhưng học sinh chưa hiểu: Vấn đề nghị luận nêu ở đề 2: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) đó là tâm sự gì?

    Giáo viên tiếp tục sử dụng phương pháp gợi mở. Đây là phương pháp dẫn dắt học sinh từng bước tìm hiểu vấn đề bằng những câu hỏi gợi mở:

    Đề 2: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) là tâm sự về vấn đề gì? Tâm sự đó được bộc lộ qua diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài

    Tự tình (bài II) ra sao? Và được biểu hiện trong bài thơ Tự tình (bài II) như thế nào?

    Dự kiến học sinh trả lời:

    Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) là tâm sự về tình duyên, về hạnh phúc lứa đôi. Tâm sự đó được bộc lộ qua diễn biến tâm trạng: cô đơn, buồn tủi, chán chường, đau khổ và cả sự phẫn uất, phản kháng.

    • Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định nội dung nghị luận của mỗi đề?

     

    Dự kiến học sinh trả lời:

     

    Đề 1: Từ vấn đề nghị luận trên có thể thấy: Thực phẩm hiện nay phong phú và đa dạng, bên cạnh những thực phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn thì cũng có nhiều loại thực phẩm không an toàn, kém chất lượng đang được toàn xã hội quan tâm. Đồng thời cần đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng trên.

     

    Đề 2: Nêu cảm nghĩ của mình về tâm sự và diễn biến tâm trạng của Hồ Xuân

     

    Hương: cô đơn, chán chường, đau khổ, phẫn uất, khát khao được sống hạnh phúc,…

     

    • Hoạt động 4: Giáo viên vẫn tiếp tục sử dụng phương pháp nêu vấn đề, gợi mở đề cho mỗi đề: Phạm vi bài viết đến đâu? Dẫn chứng, tư liệu thuộc lĩnh vực đời sống xã hội hay văn học? Học sinh nghe và lượt lượt trả lời cá nhân, cả lớp nghe và nhận xét, góp ý. Giáo viên nghe và nhận xét, chốt ý.

     

    Dự kiến học sinh trả lời:

     

    Phạm vi nghị luận:

     

    Đề 1: Bài viết chỉ xoay quanh vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.

     

    Đề 2: Bài viết xoay quanh tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Tự tình (bài II).

     

    Nếu học sinh không xác định được điều này, khi viết sẽ rơi vào tình trạng xa đề, viết lan man hay viết mà không hiểu những gì mình đang viết,…

     

    Dẫn chứng, tư liệu:

     

    Đề 1: Học sinh lấy dẫn chứng, tư liệu từ cuộc sống và kinh nghiệm của bản thân khi lựa chọn, sử dụng, chế biến thực phẩm, điều này sẽ giúp học sinh có cách nhìn nhận đúng vấn đề.

     

    Đề 2: Học sinh lấy dẫn chứng trong bài thơ Tự tình (bài II) và từ chính cuộc đời của Hồ Xuân Hương cũng như những bài thơ khác của bà có liên quan.

     

    • Hoạt động 5: Giáo viên tiếp tục yêu cầu học sinh hãy xác định thao tác nghị luận sẽ sử dụng trong bài viết?

    Yêu cầu về phương pháp:

    Đề 1: Sử dụng thao tác lập luận bình luận, giải thích; dùng dẫn chứng từ thực tế xã hội là chủ yếu.

    Đề 2: Sử dụng thao tác lập luận phân tích kết hợp với nêu cảm nghĩ; dẫn chứng lấy trong bài thơ Tự tình (bài II) là chủ yếu.

    Như vậy, sau khi giáo viên hướng dẫn, học sinh đã có kĩ năng phân tích đề và biết cách phân tích đề khi gặp bất kì dạng đề, kiểu đề nào. Nghĩa là học sinh đã hiểu các bước phân tích đề cho mỗi đề.

    2.2 Kĩ năng lập dàn ý:

    Lập dàn ý là công việc lựa chọn và sắp xếp những nội dung cơ bản dự định triển khai vào bố cục ba phần của văn bản theo trình tự logíc. Lập dàn ý giúp người viết bao quát được những nội dung chủ yếu, những luận đểm, luận cứ cần triển khai,

    phạm vi và mức độ nghị luận,…nhờ đó mà người viết không bỏ sót những ý quan trọng, đồng thời loại bỏ được những ý không cần thiết, hay tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp ý. Hơn nữa, có dàn ý người viết sẽ phân phối thời gian làm bài hợp lí, không bị rơi vào tình trạng “đầu voi đuôi chuột” như đã thấy trong khá nhiều bài làm văn ở nhà trường.

    • Quy trình lập dàn ý bao gồm:

     

    • Xác lập luận điểm, luận cứ.
    • Sắp xếp luận điểm, luận cứ theo một trình tự logíc, chặt chẽ.
    • Dàn ý chi tiết:

    MB: Giới thiệu và định hướng triển khai vấn đề.

    TB: Triển khai lần lượt các luận điểm, luận cứ và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí, chặt chẽ.

    KB: Khẳng định, nhấn mạnh hoặc mở rộng vấn đề.

    Để rèn kĩ năng lập dàn ý, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

    • Phương pháp thảo luận nhóm.

    Phương pháp này được tiến hành như sau:

     

    + Trước tiên, giáo viên nêu vấn đề, xác định các yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi nhóm. Cụ thể ở đây, giáo viên yêu cầu học sinh xác lập luận điểm, luận cứ và sắp xếp luận điểm, luận cứ theo trình tự hợp lí, logíc.

     

    + Giáo viên tổ chức chia lớp thành 4 nhóm, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm: Hoạt động 1: Hãy xác lập luận điểm, luận cứ cho đề 1.

     

    + Các nhóm tiến hành thảo luận trong 5 – 10 phút.

     

    Trong quá trình học sinh thảo luận, giáo viên theo dõi, quan sát và bao quát các nhóm để lắng nghe ý kiến thảo luận của học sinh, nhắc nhở những học sinh thiếu tập trung tham gia thảo luận nhóm,…

    • Phương pháp gợi mở: khi thấy học sinh chưa biết tìm ý, giáo viên có thể gợi ý bằng một số câu hỏi gợi mở:

     

    (1) Thực phẩm hiện nay có nhiều loại, phong phú và đa dạng như thế nào? Nhưng tại sao vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang được toàn xã hội quan tâm?

     

    (2) Như thế nào thì được coi là thực phẩm chất lượng, an toàn? Thực phẩm chất lượng, đảm bảo an toàn đem lại những lợi ích gì?

     

    (3) Những thực phẩm không an toàn, kém chất lượng ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe người sử dụng?

     

    (4) Làm thế nào để vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm không còn là nỗi lo đối với người sử dụng?

     

    Như vậy khi học sinh trả lời được những câu hỏi trên tức là học sinh đã hiểu cần triển khai bài viết gồm những luận điểm nào và trong mỗi luận điểm đó có bao nhiêu luận cứ.

     

    • Đến đây giáo viên kết hợp sử dụng phương pháp thuyết trình. Mỗi nhóm cử đại diện lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình. Các nhóm khác theo dõi, có thể chất vấn, trao đổi, nhận xét, bổ sung ý kiến.

    Tiếp đến, giáo viên tổng hợp các ý kiến của học sinh, liên kết các ý kiến khác nhau lên bảng.

    Sau đó giáo viên sử dụng bảng phụ có viết sẵn luận điểm, luận cứ để học sinh đối chiếu với kết quả của nhóm mình. Đến đây giáo viên nhấn mạnh những luận điểm quan trọng, bổ sung những luận điểm, luận cứ cần thiết.

    Hoạt động 2: Học sinh dựa vào các luận điểm, luận cứ vừa tìm, hãy sắp xếp chúng theo trình tự hợp lí, logíc?

    Học sinh làm việc cá nhân.

    Giáo viên tiếp tục sử dụng phương pháp thuyết trình yêu cầu học sinh đứng lên trình bày.

    Học sinh trả lời, giáo viên cho lớp nhận xét, bổ sung, góp ý. Cuối cùng giáo viên treo bảng phụ ghi sẵn dàn ý chi tiết để chốt ý cho phần lập dàn ý:

    Lập dàn ý đề 1:

    MB: Giới thiệu vấn đề nghị luận và định hướng triển khai vấn đề.

    TB: Học sinh lần lượt sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo trình tự sau:

    • LĐ1: Thực trạng của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay:

     

    • Thực phẩm hiện nay có nhiều loại, phong phú và đa dạng như rau, củ, quả, thịt, cá, trứng, sữa,…
    • Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang được toàn xã hội quan tâm bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người sử dụng.
    • LĐ2: Thực phẩm an toàn, chất lượng:
    • Thực phẩm an toàn, chất lượng là những thực phẩm được sản xuất, chế biến hợp vệ sinh, được rửa sạch, nấu chín, đã qua kiểm định, có ghi rõ nơi sản xuất, chế biến, ngày tháng năm sản xuất và hạn sử dụng,…
    • Thực phẩm an toàn, chất lượng đem lại những lợi ích: thơm ngon, bổ dưỡng, đem lại sức khỏe tốt cho người sử dụng.

    – LĐ3: Thực phẩm không an toàn, kém chất lượng:

    • Thực phẩm ôi thui, nấm mốc, không rõ nguồn gốc, không ghi ngày sản xuất, nơi sản xuất, hạn sử dụng; sản xuất, chế biến không đảm bảo vệ sinh an toàn, sử dụng chất bảo quản, chất phụ gia, thuốc kích thích, thuốc tăng trưởng,… được coi là thực phẩm không an toàn, kém chất lượng.
    • Thực phẩm không an toàn, kém chất lượng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng: gây ngộ độc thực phẩm, tiêu chảy cấp, là nguyên nhân của nhiều căn bệnh: ung thư, tiểu đường, các bệnh về đường ruột, thậm chí có thể dẫn đến tử vong.

    – LĐ4: Cần nâng cao ý thức vệ sinh an toàn thực phẩm:

    • Đối với người sản xuất, chế biến thực phẩm cần phải làm gì trước vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm?
    • Đối với người tiêu dùng nên lựa chọn và sử dụng những thực phẩm như thế nào là vệ sinh an toàn?

    Cách 2: Sơ đồ hóa dàn ý:

    MB: Luận điểm trung tâm
    Luận điểm 1 Luận điểm 2
    TB:
    Luận cứ 1 Luận cứ 2 Luận cứ 1 Luận cứ 2
    Dẫn chứng Dẫn chứng Dẫn chứng Dẫn chứng
    minh họa minh họa minh họa minh họa
    Chốt ý Chốt ý
    KB Khẳng định, nhấn mạnh hoặc mở rộng vấn đề.

    Cách thực hiện dàn ý trên cho một đề văn cụ thể:

    Cảm nghĩ của anh (chị) về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự – Lê Hữu Trác).

     

    MB: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự – Lê Hữu
    Trác).

    TB:        LĐ1: Sự cao sang, quyền uy cùng cuộc sống hưởng lạc đến cực điểm của nhà chúa.

    LĐ2: Thái độ và những suy nghĩ của tác giả về sự cao sang, quyền uy nơi phủ chúa:

     

    Luận cứ 1: Quang cảnh trong phủ chúa

    Luận cứ 2: Cung trong Luận cứ 1: Thái Luận cứ 2: Những suy nghĩ, nhận
    phủ chúa cách sinh hoạt. độ của tác giả xét của tác giả:
    Vào phủ Vườn Khuôn Đến Trong Cách Vào Mặc dù khen cái
    chúa trong viên nội phủ xưng khám đẹp, sự giàu
    phải phủ: phủ cung người hô: gọi bệnh cho sang nơi phủ
    qua cây chúa có của thế giữ cửa chúa thế tử: chúa, song thái
    mấy lần cối um cái tử phải truyền Trịnh phải quỳ độ  tác giả: coi
    cửa” với tùm, điếm qua báo rộn lạy , xin thường danh lợi,
    “những chim “hậu năm ràng,… Thánh phép; không đồng tình
    dãy kêu ríu sáu lần ”. thượng xem trước cuộc sống
    hành rít, quân trướng ”, thế xong viết quá no đủ, tiện
    lang danh túc gấm… tử tờ khải nghi ấy.
    quanh hoa đua trực”, Đông dâng lên.
    co,….” thắm, cung
    ”. thế tử”
    Đứng Khi Đường Bệnh
    trước được vào nội của thế
    cảnh phủ mời ăn cung tử:  “
    chúa: sáng: thế  tử, ở trong
    “Bước mâm chốn
    chân vào vàng, trong màn
    đây mới chén tối om, che
    hay cảnh bạc, đồ không trướng
    giàu ăn toàn thấy phủ, ăn
    sang của của cửa quá no,
    vua chúa ngon ngõ  gì mặc
    ….” vật cả,…” quá
    lạ….” ấm,…”
    èBức tranh chân thực, sinh động về cuộc sống xa hoa,  quyền uy
    è Đó là những suy nghĩ, nhận xét rất chân thực, qua đó
    nơi phủ chúa Trịnh được ghi lại khá tỉ mỉ,… bộc lộ thái độ coi thường danh lời của tác giả.

    KB:              Khẳng định vấn đề và bộc lộ thái độ cảm thông, đồng tình với thái độ coi thường danh lợi của tác giả.

     

    2.3 Kĩ năng viết đoạn văn:

    Để rèn kĩ năng viết đoạn văn, tôi đã triển khai tổ chức giờ làm văn viết và giờ làm văn miệng.

    1. Giờ làm văn viết:

    Khi rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận, tôi không ôm đồm trong một tiết yêu cầu học sinh phải viết xong cả bài văn mà chủ yếu hướng các em tập viết tốt từng ý, từng đoạn, xong ý này, đoạn này tôi mới chuyển sang ý khác, đoạn khác. Hơn nữa, khi các em viết đoạn văn, tôi thường hướng dẫn các em viết đoạn văn theo nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp diễn dịch, quy nạp hay song hành để có những đoạn văn khác nhau cho cùng một luận điểm và cần chú ý những câu chuyển ý, liên kết đoạn để các ý, các đoạn trong bài viết không bị rời rạc.

    Cụ thể:

    Bước 1: Trước hết, giáo viên giới thiệu cho học sinh phương pháp diễn dịch, quy nạp là gì?

    Diễn dịch là từ tiền đề chung, có tính phổ biến suy ra những kết luận về những sự việc, hiện tượng riêng.

    Có thể khái quát phương pháp này như sau:

    Câu chốt

    Câu 1          Câu 2            Câu 3       Câu n

    Quy nạp là từ cái riêng suy ra cái chung, từ những sự vật cá biệt suy ra nguyên lí phổ biến.

    Có thể khái quát phương pháp này như sau:

    Câu 1       Câu 2          Câu 3     Câu n

    Chốt ý

    Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn theo hai phương pháp trên.

    Bước 3: Giáo viên giao một vấn đề (một luận điểm) yêu cầu học sinh thực hiện theo nhóm. Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm viết theo một phương pháp.

    Ví dụ giáo viên cho luận điểm: Thực trạng của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.

    Yêu cầu học sinh thực hiện theo nhóm, mỗi nhóm viết theo một phương pháp trên.

    Giáo viên chuẩn bị sẵn đoạn văn cho từng phương pháp:

    • Đoạn văn diễn dịch:

    Vấn đề vệ sinh thực phẩm ở nước ta hiện nay còn nhiều tồn tại (1). Bởi các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và ngoài nước nhập vào với nhiều chủng loại (2). Việc sử dụng chất phụ gia trong chế biến thực phẩm trở nên phổ biến (3). Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng (4). Những móm ăn chế biến sẵn như thịt, giò, chả,… được bày bán trên thị trường chưa qua kiểm dịch (5). Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, hóa chất kích thích tăng trưởng, thuốc bảo quản không theo đúng quy định vẫn còn tồn dư trong

    thực phẩm (6). Hay bảo quản thực phẩm không đúng cách cũng tạo điểu kiện cho

    • khuẩn, nấm mốc phát triển… dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm cấp tính vẫn thường xuyên xảy ra ở các thành phố cũng như ở nông thôn và có chiều hướng tăng năm sau cao hơn năm trước (7). Đó là chưa kể đến sự ngộ độc do tích lũy độc chất trong cơ thể và phát sinh những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư (8).

    (Ghi chú: Câu 1 là câu chủ đề, nêu ý chính của đoạn văn. Các câu còn lại triển khai làm rõ câu chủ đề).

    – Đoạn văn quy nạp:

    Trên thị trường hiện nay, các loại thực phẩm được sản xuất, chế biến trong nước và ngoài nước nhập vào ngày càng nhiều chủng loại (1). Việc sử dụng các chất phụ gia trong chế biến thực phẩm trở nên phổ biến (2). Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng (3). Những món ăn chế biến sẵn đang được bày bán công khai trên thị trường chưa qua kiểm dịch (4). Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, hóa chất kích thích tăng trưởng, thuốc bảo quản không đúng quy định vẫn còn tồn dư trong thực phẩm (5). Hay bảo quản thực phẩm không đúng cách cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển… dẫn đến các vụ ngộ độc cấp tính vẫn thường xuyên xảy ra ở thành phố cũng như ở nông thôn và có chiều hướng gia tăng (6). Đó là chưa kể đến sự ngộ độc do tích lũy độc chất trong cơ thể và phát sinh những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư (7). Điều đó cho thấy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta rất cần sự quan tâm của toàn xã hội ngay hôm nay (8).

    (Ghi chú: Câu 8 là câu chốt đoạn từ các câu trước đó triển khai). Bước 4: Học sinh trình bày đoạn văn trước lớp theo nhóm.

    Nhóm 1 trình bày đoạn văn viết theo phương pháp diễn dịch:

    Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay là vấn đề được nhắc đến thường xuyên (1). Vì đây là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe của người dân nhưng chưa được giải quyết đến nơi đến chốn (2). Theo thống kê của Bộ y tế thì trong năm qua có hơn 900 người bị ngộ độc thực phẩm và trong đó có tới 7 người tử vong (3). Mỗi năm cứ đến khoảng mùa nóng bắt đầu thì vấn đề vệ sinh thực phẩm lại được nhắc đến và “ tháng an toàn thực phẩm” lại được phát động (4). Từ các cơ quan đến toàn xã hội đều rung lên hồi chuông cấp báo về tình trạng mất an toàn thực phẩm từ rau quả cho đến thức ăn, đồ uống (5). Vấn đề quan trọng là ý thức của mỗi người (6). Phần nữa nhà nước cần có một đội ngũ kiểm tra thường xuyên, nếu chỉ làm từng đợt thì hễ có kiểm tra thì người ta làm tốt còn không thì thôi (7). Và khi phát hiện đơn vị vi phạm, cũng không kiên quyết xử lí (8). Và một nguyên nhân nữa là chưa có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan chức năng với các địa phương (9).

    Nhóm 2 trình bày đoạn văn viết theo phương pháp quy nạp:

    Thực phẩm trên thị trường hiện nay có nhiều loại như rau, củ, quả, thịt, cá, trứng,…(1) Nhưng nhiều năm trở lại đây người tiêu dùng liên tục nghe những tin dữ như rau bị phun thuốc sâu, thuốc tăng trưởng nhiều, gia cầm bị dịch cúm, gia sức bị dịch bệnh (2). Xuất phát từ lòng tham, từ sự ích kỉ tư lợi quá xem nhẹ tính mạng, sự sống của người khác nên nhiều cá nhân, doanh nghiệp trong sản xuất,… đã không tuân thủ yêu cầu về chất lượng thực phẩm (3). Họ vẫn giết mổ, bày bán những con gia súc, gia cầm chưa qua kiểm dịch (4). Thậm chí, gần đây trong nhiều loại nước chấm, gia vị các cơ quan chức năng còn phát hiện dấu hiệu quá liều lượng cho phép của một vài loại chất độc như MC3D, chất bảo quản, phẩm màu,…

    (5). Nhưng hàng ngày con người vẫn phải ăn, phải uống nên nguy hiểm từ nguồn

    thực phẩm như lưỡi gươm treo lơ lửng trên mỗi mái nhà (6). Vì thế, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là việc làm cần giải quyết ngay để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và nâng cao chất lượng cuộc sống (7).

    Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét chéo nhóm.

    Cuối cùng giáo viên nhận xét, chốt ý đúng và rút kinh nghiệm cho học sinh.

    Với phương pháp hoạt động trên sẽ giúp học sinh trên mọi đối tượng tự giác phát huy được kĩ năng viết đoạn văn theo nhiều phương pháp và các đoạn văn được xây dựng trong bài viết sẽ linh hoạt, đa dạng phong phú hơn cách viết một chiều theo một phương pháp gây nhàm chán, không lôi cuốn người học, người đọc.

    Như vậy chắc chắn sẽ có nhiều điều thú vị hơn trong giờ viết văn, đặc biệt đoạn văn học sinh trình bày sẽ có nhiều cách lập luận khác nhau.

    1. Giờ làm văn miệng:

     

    Trong khó khăn chung của việc giảng dạy làm văn ở phổ thông, việc giảng dạy

    giờ làm văn miệng thường bị bỏ qua, thay vào đó là những giờ làm văn viết kéo dài, hoặc có chăng chủ yếu cũng chỉ là việc đơn điệu: giáo viên ra một đề văn và học sinh chuẩn bị trong 15 – 20 phút rồi giáo viên chỉ định một vài học sinh lên trình bày, cả lớp nhận xét, phản biện,… Cuối cùng giáo viên nhận xét, góp ý, chỉnh

    sửa và cho điểm,…và giờ làm văn viết kết thúc. Thì giờ làm văn miệng có những đặc thù riêng. Thời gian học sinh chuẩn bị tương đối ít. Học sinh phải trực tiếp với một đối tượng giao tiếp hiện diện, khoảng cách giữa hai tư duy và ngôn ngữ rút ngắn, đòi hỏi sự nhanh nhạy, linh hoạt cơ động trong sự lựa chọn từ, sắp xếp ý và diễn đạt sao cho mạch lạc, rõ ràng và có sức thuyết phục. Đã thế, trong giờ làm văn miệng, học sinh cần phải huy động những yếu tố cần thiết khi làm văn mà còn phải vận dụng nhiều yếu tố đặc thù của lời nói kết hợp với những hoạt động hình thể. Đó là đặc trưng của giờ làm văn miệng mà giờ làm văn viết không có được.

    Trong giờ làm văn miệng hiệu quả lao động của học sinh được cảm nhận trực tiếp. Không khí giờ làm văn miệng rất sinh động, hấp dẫn dễ kích thích hứng thú hoạt động của cả lớp.

    Đành rằng giờ làm văn miệng phải chú ý đến yêu cầu rèn luyện ngôn ngữ nói của học sinh. Qua cách trình bày, diễn đạt, qua phong cách, qua điệu bộ của học sinh, qua bản trình bày hay ý kiến phát biểu của học sinh,… giáo viên có cơ hội uốn nắn về mặt ứng xử, đồng thời bổ sung, điều chỉnh những kiến thức khác cho học sinh. Như vậy giờ làm văn miệng có ý nghĩa giáo dục toàn diện học sinh, đặc biệt rèn luyện ngôn ngữ nói, phương pháp tư duy và nghệ thuật giao tiếp.

    Tùy thuộc vào điều kiện chuẩn bị của học sinh theo hướng dẫn của giáo viên, hoạt động của giờ làm văn miệng có thể có những hình thức khác nhau:

    • Giáo viên cho một vấn đề để cả lớp cùng chuẩn bị ở nhà và giáo viên yêu cầu một vài học sinh (không nhất thiết phải là học sinh khá) chuẩn bị kĩ hơn và trình bày trước lớp đoạn văn đã giao. Trong khi bạn trình bày, cả lớp sẽ trao đổi cùng làm rõ vấn đề.

    Ví dụ: Bàn về một vẻ đẹp của bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn

    Khuyến.

    Học sinh có thể chọn viết đoạn văn về vẻ đẹp của bức tranh mùa thu ở nông thôn Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ hoặc vẻ đẹp tâm hồn thi nhân.

    • Giáo viên có thể ra một đề bài tại lớp, học sinh chuẩn bị trong 15 phút rồi phát biểu trao đổi và chọn một trong các luận điểm vừa tìm được để viết đoạn văn + đoạn văn tại chỗ.

    Ví dụ: + Đọc sách đối với trí tuệ giống như thể dục đối với cơ thể.

    • Đọc cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn thông minh.

    Học sinh sau khi viết xong, lên bảng trình bày trước lớp. Giáo viên sẽ chọn những đoạn văn hay làm văn mẫu để cả lớp cùng học tập và làm tư liệu trong quá trình làm văn.

    III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:

    Theo phân phối chương trình Ngữ Văn 11 năm nay của tổ dưới sự chỉ đạo của nhà trường, việc sắp xếp các tiết làm văn sau bài học cung cấp kiến thức mới, học sinh có thời lượng làm văn cũng tương đối nên giáo viên cũng đã tận dụng được điểm này để tăng cường luyện tập, hướng dẫn học sinh làm văn một cách triệt để. Kết quả học sinh đã có kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý và viết đoạn văn, bài văn nghị luận với những kiểu bài, dạng đề có liên quan đến những kiến thức đã học vào làm văn cũng như việc vận dụng những kiến thức ấy vào thực tế cuộc sống.

    • Số liệu thống kê trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm:
    Lớp Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
    số
    SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ
    % % % % %
    11A4 41 0 0.0 0 0.0 2 4.8 18 44.0 21 51.2
    11A5 43 0 0.0 0 0.0 3 7.0 12 27.9 28 65.1
    11A6 42 0 0.0 0 0.0 2 4.8 11 26.2 29 69.0
    • Kết quả sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này như sau:
    Lớp Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
    số
    SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ
    % % % % %
    11A4 41 1 2.4 10 24.3 22 54.0 7 17.0 1 2.4
    11A5 43 3 7.0 12 28.0 18 41.8 10 23.2 0 0.0
    11A6 42 0 0.0 9 21.4 19 45.2 12 28.6 2 4.8
    1. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:

    Việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11 là việc làm cần thiết trong quá trình giảng dạy môn Ngữ Văn.

    Học sinh được rèn luyện thường xuyên và có phương pháp cụ thể sẽ giúp các em có bản lĩnh vững vàng, biết cách lập luận, thuyết phục người khác nghe theo ý kiến của mình, tránh được việc những người quen suy nghĩ, diễn đạt bằng những ý vay mượn, những lời có sẵn,…

    Kiến thức đã học lưu giữ trong đầu các em lâu dài và tránh được cách giảng dạy áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của giáo viên tới học sinh.

    Mặt khác, giúp các em chủ động, sáng tạo trong học tập làm cho các em mạnh dạn hơn khi đưa ra ý kiến của mình thuyết phục người khác.

    Bên cạnh giáo viên lưu giữ lại những bài viết tốt, lập luận chặt chẽ, biết triển khai vấn đề, trình bày rõ ràng, đủ ý,… để làm mẫu cho các bạn cùng lớp học tập.

    Ngoài ra, việc giáo viên sửa bài cho học sinh nếu chỉ đọc rồi sửa bài viết của một số học sinh thì những học sinh khác không thể biết bạn mình viết như thế nào và chỗ nào chưa đạt. Vì vậy mong nhà trường sắm thêm máy overhead để tiện cho việc sửa bài của học sinh. Từ đó, mỗi học sinh có thể tự rút kinh nghiệm và tự sửa bài cho mình.

    Có thể nói đây là một chuyên đề tuy không mới mẻ ở các trường THPT nhưng đối với đối tượng học sinh của trường THCS và THPT Bàu Hàm – một ngôi trường mà phần lớn là học sinh vùng sâu vùng xa, người dân tộc nhiều lại non kém khi làm văn, đặc biệt là văn nghị luận thì tôi thấy sau khi thực hiện chuyên đề này học sinh đã có được kĩ năng làm văn và kết quả học tập cũng được nâng lên.

    Trong quá trình xây dựng chuyên đề, do hạn chế về tư liệu cũng như kinh nghiệm còn non nớt nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong quý thầy cô trong tổ Văn, các bạn đồng nghiệp, Hội đồng khoa học các cấp xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm này góp ý, bổ sung thêm để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn chỉnh, để có thể áp dụng sớm vào giảng dạy rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11 có hiệu quả hơn ở các trường THPT vùng sâu, vùng xa không chỉ ở huyện Trảng Bom mà còn ở các trường học khác.

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
    • Sách giáo khoa lớp 11, tập 1 – Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên). NXB GD năm

    2006.

    • Sách giáo viên lớp 11, tập 1 – Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên). NXB GD năm 2008.
    • Sách giáo khoa lớp 10, tập 2 – Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên). NXB GD năm 2006.
    • Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh – Bộ giáo dục và đào tạo.
    • Tài liệu Phương pháp dạy học Văn – Phan Trọng Luận (Chủ biên). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 1998.

    Xin chân thành cảm ơn!

    NGƯỜI THỰC HIỆN

    BÙI THỊ THỦY

    SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI              CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Đơn vị: Trường THCS và THPT Bàu Hàm Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    Bàu Hàm, ngày  tháng  năm 20

    PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2011 – 2012

    Sáng kiến kinh nghiệm

    RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN LỚP 11

    Họ và tên tác giả: BÙI THỊ THỦY   Chức vụ: Giáo viên
    Đơn vị: Trường THCS và THPT Bàu Hàm
    Lĩnh vực:
    – Quản lý giáo dục – Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn
    – Phương pháp giáo dục – Lĩnh vực khác:
    Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
    1. Tính mới:
    • Có giải pháp hoàn toàn mới
    • Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
    1. Hiệu quả:

    – Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao

    • Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
    • Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
    • Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả
    1. Khả năng áp dụng:
    • Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
    Tốt Khá Đạt
    • Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
    và dễ đi vào đời sống: Tốt Khá Đạt
    • Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
    quả trong phạm vi rộng: Tốt Khá Đạt
    XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
    (Ký tên và ghi rõ họ tên) (Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng
    dấu)
  • Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

    Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

    Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia – Chuyên đề Văn nghị luận xã hội


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

    A-PHẦN MỞ ĐẦU

     

    I-LÝ DO TỔNG KẾT KINH NGHIỆM :

    1/Lí do khách quan :

    Dạy văn nói chung, dạy phân môn tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm văn

    học (phần truyện) nói riêng ở khối lớp Chín trường Trung học cơ sở là dạy cho các em

    học sinh lứa tuổi 14, 15 – lứa tuổi hồn nhiên, trong sáng, năng động và nhạy cảm… biết

    tìm tòi, khám phá ra thế giới văn chương nghệ thuật. Tác phẩm văn chương nghệ thuật là

    thành quả sáng tạo của nhà văn, nhà thơ . Mỗi tác phẩm văn thơ đều thuộc một thời kì

    văn học nhất định ( có thể cách xa thời đại mà các em sống hiện nay cả hàng thế kỉ , hàng

    thập niên …). Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất : là một câu tục ngữ, một bài ca dao,

    hay lớn hơn là một bài văn, một bài thơ, một truyện ngắn hay một bộ tiểu thuyết đều có

    giá trị về nội dung và nghệ thuật của nó. Làm thế nào để giáo viên giúp học sinh đồng

    cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệm vụ

    giảng dạy của GV dạy Ngữ Văn.

    Lep- Tôn-xTôi nói : “Vấn đề không phải biết là quả đất tròn mà là làm thế nào để biết được quả đất tròn?”. Chân lí là quý báu ! Nhưng cách tìm ra chân lí còn quý hơn nhiều. Vì thế, cái khó trong việc dạy văn, nhất là dạy Tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác truyện là làm sao hướng cho học sinh tìm ra cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm.

    Thực trạng trong những năm gần đây, học sinh khối lớp Chín viết bài tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện thường khô cứng, sáo rỗng, lúng túng và máy móc

    • Các em thường dựa vào văn mẫu hoặc dựa vào các ý trong đề cương hay trong dàn ý thầy cô cho sẵn mà viết lại nên rất hạn chế về mạch cảm xúc (không chân thật, còn gượng ép …). Rất ít học sinh chịu khó tìm tòi, khám phá ra các ý mới, ý riêng, ý sâu sắc, ý hay do chính bản thân các em cảm nhận, thật sự rung động với tác phẩm.

    Mặt khác, đa số các em học sinh thường không tìm hiểu kĩ đề bài và tìm ý trước khi bắt tay vào làm bài viết của mình nên thường lệch lạc kiểu bài, nhầm lẫn các dạng đề. Đề bài Nghị luận về tác phẩm truyện thường có các dạng đề mệnh lệnh và “ mở”. Các mệnh lệnh thường gặp là “suy nghĩ”(về nhân vật , tác phẩm….) , “cảm nhận của em” ( về nhân vật, tác phẩm……).Đối tượng nghị luận có thể là tác phẩm, nhân vật, tư tưởng hay những đổi thay trong số phận nhân vật …….) theo phạm vi vấn đề trong các bài đọc hiểu tác phẩm truyện ở SGK ) đòi hỏi các em phải có tư duy kiến thức , tích hợp , tổng hợp và phân tích mới đảm bảo được yêu cầu của từng đề bài văn cụ thể.

    Bên trên là những lí do khách quan thôi thúc tôi tổng kết kinh nghiệm hướng dẫn học sinh cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện.

    2 / Lí do chủ quan :

    Về phía giáo viên, không ít thầy cô còn e ngại khi dạy phân môn Tập làm văn. Qua nhiều năm theo dõi phong trào thi đua dạy giỏi các cấp và dạy tốt ở

    trường, giáo viên thường chỉ đăng kí dạy phân môn Giảng văn và Tiếng Việt. Bởi dạy phân môn Tập làm văn nhất là kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện , giáo viên phải tìm tòi nghiên cứu kĩ về tác phẩm, phải thực sự nhập tâm vào cốt truyện ,vào nhân vật ,phải đặt mình trong hoàn cảnh nhân vật sống , nhân vật suy nghĩ và hành động ….đòi hỏi GV

    phải vận dụng ,tổng hợp nhiều kiến thức , kể cả vốn sống, vốn tư tưởng tình cảm. Thế là GV phải tìm ra phương pháp tích hợp giữa văn và đời, giữa thực tại và hư cấu …….Có thực hiện được như thế, mới có thể đảm bảo được đặc trưng của phân môn : “Dạy văn –

    Dạy người”như nhà văn M. Gorki từng nói : “Văn học là nhân học”.

    Bản thân là GV nhiều năm dạy khối lớp Chín Trường THCS Phường 2 , tôi luôn

    tâm đắc câu nói của dân gian : “Cho cá không thích bằng nhận được cần câu”. Nếu ví bộ

    cần câu là phương pháp và cá ăn là kiến thức thì sự đánh giá về vai trò, tầm quan trọng

    của hoạt động dạy và học của GV và HS là phải tìm tòi và sáng tạo. Chính vì vậy, trong

    quá trình giảng dạy, tôi luôn trân trọng, đánh giá cao những bài làm có nét riêng, thể hiện

    được những cảm xúc chân thật, những nhận xét, phân tích tinh khôi , sáng tạo của các em

    đối với một tác phẩm, một nhân vật (một vấn đề hay một khía cạnh của vấn đề thể hiện

    trong tác phẩm…). Đó cũng chính là nguồn động viên không nhỏ giúp tôi đầu tư và

    quyết định tổng kết kinh nghiệm này, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của GV-

    1. Đồng thời qua đây, xin được góp một tiếng nói riêng, một ý kiến nho nhỏ cho phong

    trào “ Dạy Tốt – Học Tốt” của Trường THCS Phường 2 nói riêng và cho ngành Giáo Dục

    Thị xã Gò Công nói chung.

    B- PHẦN NỘI DUNG

    Chương I : Cơ sở lí luận

    Nghị luận tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm truyện nói riêng là một kiểu bài nghị luận văn học có vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp Chín. Thông qua việc đọc và học tác phẩm văn học, học sinh chẳng những đã có một vốn khá phong phú về kiến thức văn học (tác phẩm, thể loại …)và cũng đã được nâng cao dần về năng lực cảm thụ, phân tích, bình giá tác phẩm ….Đó là một thuận lợi. Nhưng mặt khác, cũng

    cần nắm vững yêu cầu và mức độ cần đạt của kiểu bài nghị luận về tác phẩm trong chương trình Tập làm văn chín để không đồng nhất yêu cầu và mức độ phân tích tác phẩm trong chương trình văn học và khi làm bài Tập làm văn ở lớp Chín.

    Tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tổng thể hoàn chỉnh giữa nội dung và

    phương thức biểu đạt, tức là nghệ thuật. Nghị luận một tác phẩm truyện là trình bày

    những nhận xét , đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một

    tác phẩm cụ thể.Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt

    truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết

    phát hiện và khái quát. Các nhận xét, đáng giá về tác phẩm truyện trong bài nghị luận

    phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục. bài nghị luận về tác phẩm

    truyện phải có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, có lồi văn chuẩn xác, gợi cảm. Như vậy,để đáp

    ứng yêu câu làm một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện,người GV cần cho HS hiểu rõ

    tính chất tổng hợp của kiểu bài nghị luận này.

    Giáo sư Lê Trí Viễn cũng có lời nhắn nhủ : “ Dạy văn lấy cảm làm đầu”. Người GV dạy HS phương pháp làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện không thể nghèo nàn cảm xúc . Bởi những trang truyện hay, những số phận của các nhân vật trong truyện đều có cuộc đời riêng, có tư tưởng, tình cảm, nội tâm ….phong phú và đa dạng . Cho nên trong

    hướng gợi ý HS trình bày những cảm nhận , đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề ….trong tác phẩm truyện phải xuất phát từ những rung cảm chân thật, thẩm mĩ. Đồng thời

    biết kết hợp linh hoạt nhiều phép lập luận (giải thích, chứng minh, phân tích,…).Trong cách hướng dẫn HS cách làm bài và luyện tập, GV cần chú ý phát huy, động viên tính tích cực, sáng tạo của từng HS chứ không gò ép theo những khuôn mẫu. Người GV phải biết khơi gợi những cảm xúc của HS, kích thích và nuôi dưỡng , phát triển ở HS những nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận thức cái mới qua hình tượng nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại,…..Vì vậy, nếu ai đó tự cho rằng mình đã gợi đầy đủ các ý tưởng của tác phẩm

    qua từng trang truyện thì chưa hẳn là một GVdạy tốt, nắm chắc phương pháp hướng dẫn HS cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện

    Dưới đây là một vài kinh nghiệm hướng dẫn HS cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện mà bản thân tôi- một GVtrực tiếp giảng dạy Ngữ văn 9 đã dúc kết được qua nhiều năm .

    Chương II : Phương pháp tổng kết một vài kinh nghiệm hướng dẫn HS cách làm bài Nghị luận về tác phẩm truyện

    I- Hướng dẫn HS phân tích đề :

    Một đề bài Tập làm văn còn được xem là một bài toán nghệ thuật ngôn từ.

    Bởi bao giờ trong một đề bài TLV cũng có những yêu cầu bắt buộc mà người thực hiện

    đề bài phải tìm ra phương pháp giải. Vì thế, bước phân tích đề được xem là khâu đầu

    tiên, có vai trò quyết định dẫn đường, chỉ lối cho người làm bài. Nếu phân tích đúng

    yêu cầu của đề bài thì sẽ tìm ra được hướng đi đúng. Ngược lại, nếu phân tích sai thì sẽ

    không đáp ứng được yêu cầu của đề ,đôi khi còn bị lệch đề , lạc đề . Chính vì thế mà

    người GV phải hướng dẫn HS phải biết phân tích kĩ đề .Một đề bài văn Nghị luận về tác

    phẩm truyện không bao giờ đồng nhất một dạng đề đơn điệu. Trái lại, nó có rất nhiều

    dạng, nhưng chủ yếu ỏ lớp 9 dạng thường gặp 3 dạng đề cơ bản sau đây :

    • Dạng đề I :Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh nhân vật, tác phẩm . Ví dụ như các đề bài :

    +Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn : Làng của Kim Lân (SGK Ngữ văn 9 tr 65)

    +Suy nghĩ của em về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao (SGK Ngữ văn 9 tr 66 )

    • Dạng đề II : Phân tích đặc điểm nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm. Ví dụ như các đề :

     

    • Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của Kim Lân (SGK Ngữ văn 9 tr 65)

     

    • Phân tích tâm trạng của Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều (SGK Ngữ văn 9 tr 66 )

    ÄDạng đề III : Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề .Ví dụ như các đề :

    +Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở truyện Người con gái Nam Xương

    (SGK Ngữ văn 9 tr 65)

    +Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua tuyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng (SGK Ngữ văn 9 tr 65)

    Tuỳ theo mỗi dạng đề bài mà GV hướng dẫn HS các thao tác làm bài khác nhau.

    • Đối với dạng đề I và dạng đề II Hs thường hay nhầm lẫn ,GVphải hướng dẫncho HS biết phân biệt rõ thế nào là suy nghĩ về nhân vật, về tác phẩm ?; thế nào là phân tích nhân vật, tác phẩm? .

    Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm là nghiên về cảm nhận chủ quan của người viết về nhân vật, tác phẩm hay một khía cạnh nào đó về nhân vật, tác phẩm (không nhất thiết phải phân tích đầy đủ từng đặc điểm của nhân vật hoặc đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có thể chọn những gì mình cảm nhận sâu sắc nhất mà thôi. Ví dụ đề bài :Suy nghĩ về nhân vật ông Hai tron truyện ngắn Làng của Kim Lân ,GVcó thể hướng HS cảm nhận, suy nghĩ về nét nổi bật của nhân vật này là tình yêu làng quyện với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến được bộc lộ trong tình huống nào ? Tình cảm ấy có đặc điểm gì ở hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ ? ( thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp?) Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động. thú vị tình yêu làng và lòng yêu nước ấy (về tâm trạng, cử chỉ , lời nói …) Trong khi đó yêu cầu của dạng đề II(phân tích nhân vật , tác phẩm hay một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm) là yêu cầu người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ từng đặc điểm nhân vật, từng giá trị nội dung,nghệ thuật của tác phẩm.

    • Đối với dạng đề III :Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề, người GV phải biết tích hợp các kiến thức chương trình Tập làm văn ở các lớp dưới để nâng cao yêu cầu giải quyết đề bài văn dạng này. Ví dụ đối với đề bài : “ Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua tuyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng” (SGK Ngữ văn 9 tr 65), HS không phải đơn thuần tập trung phân tích những biểu hiện cụ thể tình cảm cha con của hai nhân vật ông Sáu và bé Thu mà còn phải trình bày những cảm nhận của mình về tình cảm cha con hết sức cảm động trong hoàn cảnh éo le của thời chiến tranh : chịu đựng nhiều thiệt thòi mất mát …;khơi gợi nhiều xúc cảm cho người đọc niềm cảm động, khâm phục, quý mến ….Từ đó suy nghĩ về tình cảm cha con, tình cảm gia đình trong hoàn cảnh hiện tại : phải biết trân trọng, giữ gìn, vun đắp…

    Từ việc phân tích ba dạng đề nêu trên, GV giúp HS nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích , tìm hiểu đề và biết vận dụng thành thạo, linh hoạt để hình thành những thao tác và kĩ năng phân tích đề chính xác ,làm cơ sở cho việc tìm ý .Tuỳ theo yêu cầu của mỗi dạng đề (như nghị luận toàn bộ tác phẩm, ngị luận một vấn đề trong tác phẩm hay nghị luận có kết hợp giải quyết một vấn đề có liên quan )mà xác định nội dung

    và trình tự phân tích (khái quát – phân tích – tổng hợp ). Căn cứ vào nội dung và trình tự phân tích, đặt ra và trả lời những câu hỏi để có các ý lớn , ý nhỏ của bài văn.

    II- Hướng dẫn Học sinh tìm ý :

    Một bài nghị luận tác phẩm văn học nói chung và nghị luận về tác phẩm truyện nói riêng hay , trước hết phải có ý hay. Vậy ý hay là gì ? và thế nào là ý hay ? Làm thế nào để tìm ra được những ý hay cho bài .

    Theo định nghĩa của SGK Tiếng Việt Tám (nxb Giáo Dục ) trước đây thì ý là nội dung ta suy nghĩ, nhìn nhận, tìm hiểu, đánh giá …về sự vật, sự việc được phản ánh, bao gồm cả cách nhìn nhận sự vật, sự việc và tình cảm, cảm xúc, …Ý có thể diễn đạt thành nhiều lời .

    Còn ý hay thì theo đặc san văn học và tuổi trẻ (số 68 tháng 2/2002 ); Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng : “ý hay trước hết phải là ý đúng , ý sâu, ý mới, ý riêng. Ý đúng, ý sâu phải là ý của mình khám phá mới hay. Cho nên tìm ra ý mới, ý riêng, ý đúng, ý sâu là công việc quyết định nhất và tất nhiên cũng là khó khăn nhất”.

    Tác phẩm văn học nhất là tác phẩm truyện là tấm gương phản ánh hiện thực của

    cuộc sống muôn màu, muôn vẻ thông qua những hình tượng nhân vật với đầy đủ tư

    tưởng, tình cảm nội tâm phong phú , đặt trong những tình huống, hoàn cảnh có vấn đề

    mấu chốt, cụ thể, tiêu biểu …đại diện cho một từng lớp nào đó trong cuộc sống đời

    thường . Vì thế, muốn tìm được ý đúng, ý hay, ý sâu sắc, người GV phải hướng HS đọc

    hiểu tác phẩm truyện . Đọc hiểu trước hết là phải đọc kĩ tác phẩm để nắm cốt truyện, chủ

    đề, các ý chính , các chi tiết tiêu biểu của từng ý, các dẫn chứng thuyết phục…Không

    đọc kĩ tác phẩm, HS khó lòng nắm được ý đồ của tác giả ,dễ dàng bỏ qua những điểm

    đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm ; từ đó phân tích hời hợt, đánh giá

    chung chung . Bởi để viết ra được một tác phẩm, người nghệ sĩ đã phải trải qua những

    trăn trở , họ tự đặt ra những yêu cầu , những định hướng khắt khe : viết về vấn đề gì ?

    viết về đối tượng nào ? viết cho ai ? viết như thế nào ? Họ đã phải thay nghén tác phẩm

    truyện – đứa con tinh thần của họ – suốt bao tháng, bao năm . Họ đã phải chọn lựa từng

    hình ảnh có thực trong thực tế rồi khái quát lên thành nhân vật , dùng ngòi bút vẽ nên

    bức chân dung của xã hội sao cho phù hợp với từng thời điểm lịch sử . Họ phải nghiền

    ngẫm từng chi tiết , đắn đo từng câu, chữ , từng lời ăn tiếng nói , từng hành động của mỗi

    nhân vật ….đặt trong những tình huống cụ thể , mấu chốt của tác phẩm .

    Ví dụ với đề bài : Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân . Nếu HS không đọc kĩ tác phẩm này, thì không thể tìm ra được những ý hay,

    • đặc sắc . Các em sẽ dễ dàng rơi vào công thức chung chung , suy nghĩ hời hợt, không khám phá ra nét mới trong tình cảm đối với làng quê của nhân vật ông Hai . Đó là một trường hợp tiêu biểu cho những chuyển biến mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Tình cảm gắn bó sâu nặng

    với quê hương là một đặc điểm có tính truyền thống nhưng nét đăc sắc ở đây là nhà văn Kim Lân , bằng vốn sống, vốn am hiểu về tâm lí của người nông dân đã đặt ông Hai vào một tình huống gay cấn , thử thách lòng yêu nước tuyệt đối của nhân vật , để buộc nhân vật phải đấu tranh tư tưởng gay go, quyết liệt để chọn lựa một trong hai giữa tình yêu làng và tình yêu nước, trung thành với kháng chiến, với Bác Hồ. Nếu HS không đọc kĩ từng trang truyện , thì làm sao thấu hiểu được nỗi lòng của ông Hai với cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn, vật vã … để cuối cùng nhân vật mới đi đến quyết định dứt khoát : Làng thì yêu thât, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù” . Rõ ràng để có được những suy nghĩ và nhận xét sâu sắc về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng làm sao các em có thể không đọc kĩ tác phẩm . Có đọc kĩ tác phẩm các em mới cảm thụ hết những tình huống thú vị , các chi tiết hay trong tác phẩm . Từ đó ý tứ mới tuôn trào, suy nghĩ về nhân vật mới sâu sắc .

    Sau khi đọc kĩ tác phẩm truyện, khám phá ra được cái hay, cái đẹp ,cái đăc sắc trong từng yếu tố nội dung, nghệ thuật và nhân vật , HS tự đặt ra và trả lời những câu hỏi để có những ý lớn, ý nhỏ ….của bài văn .

    Dưới đây là các dạng câu hỏi gợi ý ,giúp HS tìm ý :

    • Câu hỏi tìm hiểu tác giả, xuất xứ , hoàn cảnh sáng tác :

    FTác giả của tác phẩm truyện sẽ nghị luận là ai ? Có những nét gì nổi bật trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác ? Sống trong thời kì nào ? Có nét riêng , nét độc đáo gì về phong cách cá nhân ? ( Chuyên sáng tác về mảng đề tài nào ? Sự nghiệp sáng tác ra sao ?

    FTác phẩm truyện trên được trích từ đâu ? Được sáng tác trong hoàn cảnh nào ? Tác phẩm được đánh giá như thế nào ? Có phải là tác phẩm tiêu biểu cho sự sáng tác văn chương của tác giả không ? …

    ? Câu hỏi tìm giá trị nội dung :

    FĐề bài gồm mấy ý ? Ý nghĩa cụ thể, ý nghĩa khái quát là gì ? Những ý nào tập trung biểu hiện chủ đề, tư tưởng của truyện ? Nội dung có thể hiện được những vấn đề lớn, bức xúc mà xã hội quan tâm hay không ? Có giá trị nhân văn như thế nào ?

    FNhân vật chính của truyện là ai ? Đại diện cho từng lớp con người nào trong xã hội ? Có những nét tính cách như thế nào ? Nét tính cách nào là tiêu biểu nhất ? Nét tính cách đó được thể hiện qua những chi tiết nào (diện mạo, cử chỉ, lời nói, hành động , tư tương tình cảm, nội tâm …? )

    ? Câu hỏi tìm giá trị nghệ thuật :

    FTác phẩm truyện được viết theo phong cách nào ? có nét gì sáng tạo riêng trong nghệ thuật tạo tình huống ? có hình tượng nghệ thuật nào độc đáo ? ngôn ngữ diễn đạt, cấu trúc bố cục của truyện có đặc sắc ?

    FTác phẩm truyện trên có tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả không

    • Có thể hiện được bản lĩnh sáng tạo của một nhà văn đầy tài năng và tâm huyết cho một thời đại , một trào lưu văn học không ?
      • Câu hỏi liên hệ,gợi mở những hướng xem xét khác :

    FCó thể so sánh, đối chiếu với những tác giả , tác phẩm nào để phân tích tác phẩm được sâu rộng, toàn diện hơn ?

    • Tác phẩm truyện có ảnh hưởng gì trong thời đại tác giả đương sống và đối với các thời đại sau này ? Tại sao tác phẩm được mọi người yêu thích ?

    Với ngần ấy câu hỏi, không thể nào GV giảng giải một cách cặn kẽ, tỉ mỉ trong quá trình phân tích một đề bài trên lớp. Do đó đòi hỏi người GVphải biết chọn lựa nhưng câu hỏi tìm ý cho phù hợp, có tác dụng khơi nguồn cảm xúc cho các em HS. Hay nói cách khác, người GV phải biết chọn điểm đột phá. Bởi mỗi tác phẩm truyện (dù là ngắn hay dài ) đều là một kho báu vừa lộ thiên vừa bí mật về nội dung và nghệ thuật. Nhiệm vụ của người GV là giúp cho các em HS biết cách khám phá và đột nhập kho báu ấy, nhất là phần sáng tạo kì công của tác giả .

    Nhưng bắt đầu từ đâu và như thế nào ? đây là vấn đề nghệ thuật giảng dạy . Nếu khéo léo khám phá sẽ có được nhiều cảm xúc , hứng thú gợi mở cho các em HS niềm yêu thích, tích cực tư duy làm bài . Bài nghị luận của các em sẽ sâu sắc, tinh tế và chân thật . Nếu không khéo sẽ làm cho các em nhàm chán và bài viết của các em trở nên lạc lỏng, hời hợt, tẻ nhạt.

    Sau đây là những việc làm cụ thể hướng dân HS tìm ý cho đề bài : “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện bgắn Làng của Kim Lân”

    Khi tìm ý cho đề văn trên , GV nên gợi cho HS suy nghĩ theo các câu hỏi sau :

    • Nhà văn Kim Lân có sở trường gì trong sáng tác truyện ngắn?
    • Làng là một truyện ngắn ra đời trong hoàn cảnh nào ? có những thành công gì về nội dung và nghệ thuật ?
    • Truyện có kết cấu ra sao ? Xoay quanh nhân vật nào ? Nhân vật có những đặc điểm gì nổi bật ? Tình yêu làng được biểu hiện như thế nào ? Tình yêu làng ,yêu nước của nhân vật ông Hai được bộc lộ trong tình huống nào ?

    Tình cảm ấy có đăc điểm gì mới so với vẻ đẹp trong nét tính cách truyền thống của người nông dân ? (cụ thể lúc bấy giờ – thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ) ? Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động, thú vị tình yêu làng và lòng yêu nước ấy ? ( về tâm trạng, cử chỉ, hành động, lời nói ….) ?

    • Em có nhận xét, đánh giá suy nghĩ gì về tư tưởng tình cảm của người nông dân trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp qua nhân vật Ông Hai ?( những nhận thức, tình cảm đúng đắn cao đẹp : sự nhiệt tình, hăng

    hái tham gia kháng chiến , lòng tin tưởng tuyệt đối vào kháng chiến vào lãnh tụ …)

    • Nhân vật ông Hai đã để lại những tình cảm gì trong lòng em ? (sự yêu mến,

    trân trọng và cảm phục, tự hào ….)

    Với những câu hỏi tìm ý gợi mở trên, ngưòi GV có thể yên tâm HS sẽ đảm bảo đáp ứng tốt nội dung đề bài . Tương tự như thế HS có thể tự tìm và trả lời các câu hỏi tìm ý cho bất kì đề bài văn nghị luận nào .

    Sau khi đã có được ý , bước kế tiếp GVphải hướng dẫn cho các em biết cách sắp xếp các ý ( luận điểm, luận chứng, luận cứ …..theo một trình tự hợp lí . Việc làm này gọi là lập dàn ý .

    III- Hướng dẫn Học sinh lập dàn ý :

    Như đã nói ở trên lập dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước tìm ý theo một trình tự thích hợp lí và xác định mức độ trinh bày mỗi ý theo tỉ lệ thoả đáng giữa các ý .

    Nếu một bài văn hoàn chỉnh được ví như một ngôi nhà thì dàn ý là cái sườn thiết kế nên ngôi nhà ấy. Viết một bài văn nghị luận cũng thế . Muốn có một bài văn nghị luận hay, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của đề bài một cách rõ ràng, chặt chẽ, có hệ thống, mạch lạc, lập luận thuyết phục …người GV phải hướng dẫn HS làm tốt bước lập dàn ý này

    . Có thể hướng dẫn HS sắp xếp các ý theo trình tự nội dung, nghệ thuật , rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân, nhưng có thể sắp xếp đan xen giữa nôi dung , nghệ thuật và nhận xét, đánh giá , suy nghĩ của bản thân . Cũng có khi việc sắp xếp không bị gò bó theo một trật tự cố định nào . Trong trường hợp này, đòi hỏi HS phải có bản lĩnh viết văn, phải có dụng ý nghệ thuật trong cách sắp xếp trình bày lập luận để đạt được mục đích yêu cấu của đề bài, làm sáng tỏ vấn đề .Thông thường dàn bài chung cho bài văn nghị luận về tác phẩm truyện theo một trình tự như sau :

    1/.Mở bài : Giới thiệu tác phẩm truyện hay một đoạn trích ( tuỳ theo yêu cầu cụ thể của đề bài )và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình .

    2/.Thân bài : Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác

    phẩm ; có phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực

    3/.Kết bài : Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện hoặc

    đoạn trích

    Điểm lưư ý trong cách làm bài văn nghị luận là trong bài văn không phải bao giờ các ý cũng được trình bày dàn đều nhau mà nên có chỗ đậm, chỗ nhạt, chỗ nói kĩ, chỗ nói lướt qua. Cho nên, ngay ở khâu lập dàn ý, sau khi sắp xếp ý , ta nên cân nhắc , định trước tỉ lệ dành cho mỗi ý trong bài để chủ động xạy dựng một bài văn cân đối, có chiều sâu, tạo được điểm nhấn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc . Thông thường ý được nói kĩ là trọng tâm . Ví như với đề bài :

    “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”, GV có thể hướng dẫn Hs lập dàn bài như sau :

    1/. Mở bài : Giới thiệu truyện ngắn Làng và nhân vật ông Hai – nhân vật chính của tác phẩm, một trong những nhân vật thành công bậc nhất của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp .

    2/. Thân bài :

    a)Triển khai các nhận định về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai và nghệ thuật đặc sắc của nhà văn

    *Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai là tình cảm nổi bật xuyên suốt toàn truyện

    +Chi tiết đi tản cư nhớ làng

    +Theo dõi tin tức kháng chiến

    +Tâm trạng khi nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây +Niềm vui tin đồn được cải chính

    *Nghệ thuật xây dựng nhân vật

    +Chọn tình huống tin đồn thất thiệt để thể hiện diễn biến tâm    trạng

    nhân vật

    +Các chi tiết miêu tả nhân vật

    • Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại …) b)Nhận xét, đánh giá về nhân vật :

    0 Nhân vật ông Hai đã có những chuyển biến mới trong tình cảm của

    người nông dân (những nhận thức mới, những tình cảm mới mẻ : sự nhiệt tình, hăng hái tham gia kháng chiến, lòng tin tưởng tuyệt đối vào kháng chiến, vào lãnh tụ …)

    • Tình yêu làng đã được nâng lên thành tình yêu nước, sẵn sàng hy sinh tình cảm riêng, của cải riêng ( nhà ông bị Tây đốt nhẵn ông vẫn vui sướng, tự hào )
    • Là nhân vật để lại nhiều tình cảm đẹp trong lòng người đọc : sự yêu mến , trân trong và cảm phục

    3/. Kết bài :

    Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật. Thành công của nhà văn khi xây dựng hình tượng nhân vật ông Hai

    Bên trên là một dàn ý tiêu biểy cho một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện , hoc sinh có thể dựa vào ý trên để thiết lập cho những bài văn cụ thể khác . Lưu ý khi lập dàn ý cần tránh các lỗi sau :

    • Lạc ý : là những ý không đúng với yêu cầu về nội dung và phương pháp nghị luận nêu trong đề bài . Vd: Yêu cầu của một bài văn nghị luận là những luận điểm luận cứ , luận chứng mà học sinh lại nêu ý miêu tả hoặc kể chuyện

     

    • Ý không phù hợp với nội dung : Vd: Đề yêu cầu nêu suy nghĩ về nhân vật mà dàn bài lại đưa ra ý phê phán thái độ của nhân vật hoặc đề ra phương hướng giải quyết khác như nêu quan niệm sống, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân tiêu cực hay sa vào bình luận về giá trị tác phẩm và những đóng góp của tác giả

     

    • Thiếu ý : có thể thiếu một số ý lớn so với yêu cầu đề bài hoặc một số ý nhỏ . Vd : tình yêu làng yêu nước của nhận vật ông Hai trong truyện ngắn làng của tác giả Kim Lân được triển khai thành bốn ý nhỏ mà dàn ý chỉ có ba hoặc hai .

     

    • Lặp ý : là ý sau lặp lại hoàn toàn ý trước . Vd : Với đề bài : “Suy nghĩ về tình cha con trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng nếu học sinh không khéo triển khai tình cảm của bé Thu với cha và ngược lại tình cảm của ông Sáu với bé Thu thì sẽ dễ lặp ý

     

    • Sắp xếp ý lộn xộn : Là sắp xếp không theo thứ tự nào, đảo lộn cả giá trị nội dung ,nghệ thuật .Đây là hiện tượng viết văn tuỳ tiện, gặp đâu nói đấy, không chuẩn bị kỹ dàn ý Khi đã có cái để viết, có dàn ý, bước kế tiếp,GV hướng dẫn HS chuyển sang phần luyện viết văn với mục đích để rèn kĩ năng diễn đạt của các em .

    IV – Hướng dẫn HS viết đoạn và liên kết đoạn :

    Từ dàn ý đã có sẵn, các em có thể viết thành đoạn, thành bài . Các em được GV hướng dẫn viết từng đoạn tiêu biểu : đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài

    • Đoạn mở bài :là đoạn văn khởi đầu của bất cứ bài văn nào . Nó là đoạn giới thiệu vấn đề được nghị luận trong bài văn , đồng thời khơi gợi, lôi cuốn người đọc sự chú ý đối với vấn đề đó .

     

    1. Nguyên tắc mở bài :

     

    • Cần nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề nài
    • Chỉ được phép nêu những ý khái quát (HS không

    được lấn sang phần thân bài : giảng giải, minh hoạ hay nhận xét , đánh giá ý kiến nêutrong đề bài

    b.Cách mở bài : Có rất nhiều cách mở bài . Tuỳ dụng ý của người làm mà có thể vận dụng một trong những cách sau đây :

    • Mở bài trực tiếp : Giới thiệu ngay vấn đề cần nghị luận (còn gọi là trực khởi )
    • Mở bài gián tiếp : Nêu ra những ý kiến có liên quan đến vấn đề cần nghị luận ( từ khái quát đến cụ thể, so sánh đối chiếu, tương đồng, tương phản…. )

    ÄSau đây là mấy cách mở bài tham khảo cho đề bài : “ Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân .

    8 Cách trực tiếp :

     

    Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là người nông dân có tinh yêu làng quyện với lòng yêu nước , trung thành với kháng chiến và lãnh tụ. Đó là nét mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc .

    • Cách gián tiếp 🙁 có thể giới thiệu cho HS nhiều cách gián tiếp , sau đây là hai cách cho HS tham khảo )

    Cách 1:

    Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một gương mặt độc đáo . Do hoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu sâu sắc sinh hoạt , tâm lý của người nông dân. Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Việt Nam với những vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “Làng” là một truyên ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân. Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người nông dân. Ai đến với “Làng”, chắc khó quên được ông Hai – một nhân vật nông dân mang những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc hoạ tài tình của Kim Lân.

    Cách 2:

    Tình yêu làng, sự gắn bó nơi chôn nhau cắt rốn là một tình cảm sâu nặng

    • con người Việt Nam nói chung, đặc biệt ở người nông dân nói riêng. Lịch sử văn học dân tộc từng xây dựng thành công nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những trường hợp như thế .

    Sau khi đã hướng dẫn cụ thể cho HS các cách mở bài trên, GV tiến hành cho HS rèn viết đoạn mở bài và tin chắc rằng HS sẽ viết tốt.

    Bước kế tiếp, GVsẽ hướng dẫn HS viết phần thân bài(gồm nhiều đoạn , GV có thể chọn cho HS viết một đoạn tiêu biểu)

    2) Đoạn thân bài :

    Trước hết, GV nên xác định vai trò của phần thân bài cho HS nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của nó trong một bài văn .Phần thân bài sẽ lần lượt trình bày, giải thích , nhận xét, đánh giá … các luận điểm của vấn đề được đặt ra trong đề bài ( thực hiện vừa đủ, không thiếu, không thừa các nhiệm vụ đã đề ra ỏơ phần mở bài ).

    • từng luận điểm , cần có sự phân tích, chứng minh cụ thể, chính xác bằng những dẫn chứng sinh động trong tác phẩm .

    Giữa các luận điểm, đoạn văn cần có sự liên kết, chuyển tiếp một cách linh hoạt , uyển chuyển, tránh gò bó, máy móc, công thức.

    Dưới đây là một trong những đoạn thân bài của đề bài : “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân” mà GV có thể giới thiệu cho HS tham khảo.

    Lòng yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai được thể hiện một cách cảm

    động qua diễn biến tâm trạng của ông . Tác giả đã sáng tạo ra một tình huống bất

    ngờ, đầy kịch tính thử thách tình yêu làng của ông Hai là có tin đồn về làng Chợ Dầu

    đã theo giặc . Ông Hai vô cùng đau xót : “cổ ông lão nghẹn ắng hẵn lại, da mặt tê rân

    rân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được …ông cúi gầm mặt xuống mà đi”.

    Về đến nhà, ông nằm vật ra giường không dám đi đâu . Ông buồn, ông xấu hổ . Ông

    tự tranh luận với mình, tự dằn vặt mình hoặc đâm cáu gắt với vợ ….Đêm, ông trằn

    trọc không sao ngủ được; ông hết trở mình bên này , lại trở mình bên kia thở dài ,….chân tay ông lão nhũn ra , ….Tin đồn loang xa, mụ chủ nhà hay được lại đuổi

    khéo gia đình ông. Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc. Ông có nghĩ đến việc trở về làng nhưng liền sau đó ông phản kháng lại ngay , ông phẫn uất nói : “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”.Thật là tuyệt đường sinh sống ! Ông quyết không trở về làng vì về làng là bỏ kháng chiến , bỏ cụ Hồ . Ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ. Qua những lời tâm sự mộc mạc, chân thật đầy cảm động với con, ta thấy được tấm lòng yêu nước cao đẹp của người nông dân này. Như nhà văn hào I-li-a Ê-ren-bua có nói : “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu nước”.Ông Hai đúng là một con người như thế – một con người thiết tha yêu làng, vì yêu làng nên ông yêu nước , kính yêu cụ Hồ ,quyết trung thành với kháng chiến. Đó chính là nét đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.

    Bên trên chỉ là một đoạn tiêu biểu của phần thân bài ( gồm nhiều đoạn),

    GV có thể hướng dẫn HS viết các đoạn khác nhau của các đề khác. Dù là đoạn văn nào

    thì GV cũng phải phân tích cho HS thấy rõ các cách trình bày nội dung một đoạn văn .

    Thế là phải tích hợp với kiến thức Tiếng Việt Tám ở lớp dưới . GV nhắc lại các cách

    trình bày tiêu biểu mà HS thường vận dụng viết đoạn văn nghị luận ( gồm bốn cách :

    diễn dịch, qui nạp, móc xích và song hành ) nhưng đôi khi để nhấn mạnh ý chính, ý khái

    quát của vấn đề cần phân tích , ta cũng có thể viết đoạn văn hỗn hợp như đoạn văn thân

    bài trên. Đoạn thân bài trên được phân tích cách trình bày như sau:

    Đoạn văn trên gồm 17 câu.

    Câu( 1) là câu diễn đạt ý chính của đoạn : nêu khái quát đặc điểm yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai .( Câu này còn gọi là câu chủ đề )

    Từ câu (2) đến câu (16) là các câu diễn giải cho ý chính ( lòng yêu nước của nhân vật ông Hai). Đó là những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, chính xác, sinh động .

    Câu (17)( câu cuối) là câu khẳng định lại và nâng cao lòng yêu nước của nhân vật ông Hai (là vẻ đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.

    Từ việc phân tích cách viết đoạn trên, GVcó thể minh hoạ bằng sơ đồ đoạn văn nghị luận như sau :

    KHÁI QUÁT

    PHÂN TÍCH

    Ý DIỄN GIẢI, DẪN CHỨNG TIÊU BIỂU

    TỔNG HỢP

    Mục đích của bài văn nghị luận về tác phẩm truyện là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện hay chủ đề, tư tưởng và nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể. Cho nên sau khi đã thực hiện được các nhiệm vụ đó ở phần thân bài, GV tiến hành hướng dẫn HS khẳng định lại vấn đề ở đoạn kết bài

    3) Đoạn kết bài :

    Đoạn kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài

    Chỉ nêu những ý nhận xét, đánh giá khái quát, không trình bày lan man hay lặp lại ý diễn giải, minh hoạ ,cụ thể, chi tiết. Cũng lhông nên lặp lại nguyên văn lời lẽ của phần mở bài . Khác với mở bài, phần kết bài thiên về đánh giá, tổng kết vấn đề .

    Có nhiều cách kết bài khác nhau, tuỳ theo dụng ý của người viết. Có khi kết bài là tóm tắt , khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Có khi kết bài là tổng

    hợp những cảm nhận sâu sắc về nhân vật, tác giả, tác phẩm . Có khi kết bài lại là liên tưởng đến các vấn đề khác có liên quan.

    Thế nên , để hướng dẫn HS viết được những kết bài sâu sắc , người GV cần phải giúp HS nhận thức được tầm quan trọng của đoạn kết bài (không chỉ khép lại ,hoàn chỉnh bài văn mà còn làm cho bài văn thêm khái quát, nâng cao về mọi mặt : tư tưởng , tình cảm , chủ đề , quan niệm sống tốt đẹp …

    Dưới đây là hai cách kết bài cho đề bài văn : Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân .

    Cách 1: Đánh giá nhân vật và khẳng định giá trị tác phẩm

    Ông Hai trong truyện ngắn Làng là một nhân vật tạo ấn tượng sâu sắc đối với người đọc. Qua truyện này , bằng những tình huống , chi tiết chân thật , thú vị

    • bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí sinh động, Kim Lân đã đem đến cho chúng ta một hình tượng hấp dẫn về người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình yêu thiết tha , sự gắn bó sâu năng với làng quê, đất nước của nhân vật ông Hai luôn luôn có ý nghĩa giáo dục thấm thía đối với các thế hệ bạn đọc.

    Cách 2: Cảm nhận sâu sắc về nhân vật và  tác giả, tác phẩm

    Trong số rất nhiều nhân vật nông dân từ những trang truyện đi vào lòng người đọc và đã chiếm được tình cảm yêu thương , quý mến , trân trọng nơi trái tim sâu kín của mỗi người , có thể nói người đọc khó có thể quên được nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của Kim Lân – một người nông dân thuần phác, yêu làng ,yêu nước chứa chan, sâu nặng ,một lòng trung thành với kháng chiến, với cụ Hồ – đã trở thành hình tượng nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp . Nhà văn Kim Lân đã diễn tả được diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật bằng chất liệu ngôn ngữ bình dị, mộc mạc , tạo được tình huống bất ngờ ,thú vị . Chính vì thế, nhà văn Kim Lân được đánh giá là cây bút hàng đầu về đề tài nông thôn và người nông dân .

    Có thể nói, hướng dẫn HS cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện tức là đi tìm và khám phá ra cái hay, cái đẹp trong văn chương nghệ thuật. Từ khâu phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý , viết đoạn và liên kết đoạn là cả một quá trình lao động nghệ thuật sáng tạo . Giúp các em hiểu ra chân lí ấy sẽ là con đường ngắn nhất hướng các em yêu thích văn chương và có hứng thú khi làm bài tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm truyện nói riêng.

    Chương III: Hiệu quả đạt được

    Với tâm huyết giảng dạy thực tốt kiểu bài phân tích tác phẩm truyện và qua tích luỹ một vài kinh nghiệm hướng dẫn HS phân tích đề, tìm ý , lập dàn ý , viết đoạn và liên kết đoạn , tôi đã giúp HS của các lớp do chính tôi trực tiếp giảng dạy đạt được kết quả tốt trong các kì kiểm tra học kì II và thi Tuyển vào lớp 10 luôn đảm bảo chỉ tiêu chất lượng từ 85% trở lên và chất lượng năm sau cao hơn năm trước.

    Đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề ; khai thác được ý hay, ý sâu sắc ; phân tích tinh tế, có cảm xúc , biết tìm tòi và sáng tạo mang phong cách riêng , không còn gượng ép, máy móc hay khuôn sáo.

    Rất ít bài làm sơ lược, ý nghèo nàn hoặc không tìm được ý.

    Theo dõi tỷ lệ HS làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện trong hai năm thi tuyển vào lớp 10 (2005-2006 ;2006-2007), tôi đã thống kê được chất lượng như sau :

    NĂM HỌC TỶ LỆ TB
    2005 -2006 87.6%
    2006 -2007 91.7%

    Chính hiệu quả đạt được trên, đã động viên, thôi thúc tôi hoàn thành kinh nghiệm giảng dạy này.

    C – PHẦN KẾT LUẬN

    Đối với thi sĩ, sáng tác được một câu thơ, một bài thơ hay là niềm hạnh phúc. Còn đối với người GV dạy Ngữ văn chúng tôi, việc nghiền ngẫm, trao đổi với nhau qua bao tháng năm trên bục giảng để hiểu được đúng, thấm được sâu từng trang truyện, từng nhân vật, từng yếu tố nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà nhà văn muốn gửi gắm vào đó một lời nhắn nhủ, một tư tưởng tình cảm mới mẻ, tốt đẹp ….là nguồn vui lớn, say mê với đời, với sự nghiệp dạy Văn. Và đối với tôi, việc tích luỹ một vài kinh nghiệm

    hướng dẫn HS cách làm tốt bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện là điều tôi tâm đắc.

    Dẫu còn không ít thiếu sót và vụng về trong cách trình bày, diễn đạt …nhưng tôi xin gởi

    trọn niềm tin yêu vào những gì mình đã viết, đã đúc kết được kinh nghiệm ở nơi này .

    Tôi xin ghi lại những chân thành trong nhiệt tình giảng dạy qua từng trang viết. Rất mong những ý kiến đóng góp, những lời chỉ bảo của bạn bè, của đồng nghiệp và của những ai có duyên nợ với nghề : dạy VĂN.

    TƯ LI ỆU THAM KHẢO

    F&

    1. Phương pháp làm bài Nghị luận tác phẩm Văn học 9 của Hoàng Đức ( nxb GD Thành phố Hồ Chí Minh )
    1. Hiểu Văn , dạy Văn của Nguyễn Thanh Hùng

    ( nxb GD Thành phố Hồ Chí Minh )

    1. Đọc Văn, học Văn của Trần Đình Sử ( nxb GD 2002)
    1. Để hiểu thêm một số tác giả và tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại của Nguyễn Ngọc Thu (nxb GD )
    1. Sách Ngữ văn 9 hiện hành (SGK & SGV)
    1. Tài liệu tham khảo soạn kĩ năng làm văn nghị luận của Vụ GD – TH
    1. Tiếp cận và đánh giá tác phẩm truyện sau Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Văn Long ( nxb GD )

    J

  • Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia – Chuyên đề Văn nghị luận xã hội

    Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia – Chuyên đề Văn nghị luận xã hội

    Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia – Chuyên đề Văn nghị luận xã hội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:40 Bài văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay nhất 2015


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia – Chuyên đề Văn nghị luận xã hội

    Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia – Chuyên đề: Văn nghị luận xã hội

     

    ĐỀ BÀI

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Bản Lĩnh.

    “Bản lĩnh” – hai từ thật đơn giản nhưng bạn biết không, hàm chứa trong đó là cả một quá trình quyết tâm kiên cường không ngại gian khổ. Giống như một chiếc áo giáp được tôi luyện từ những nguyên liệu bền vững nhất, bản lĩnh giúp ta không còn phải lo sợ trước những cơn gió to hay những ngọn sóng dữ. Vậy bản lĩnh là gì? Bản lĩnh là khả năng giải quyết mọi chuyện một cách bình tĩnh, thông minh và tỉnh táo. Người bản lĩnh là người dám đương đầu với khó khăn gian khổ. Thất bại, tự họ sẽ đứng lên. Cay đắng họ sẽ làm cho mọi thứ ngọt ngào. Họ dám làm những điều lớn lao, kỳ vĩ, xoay trời chuyển đất. Ở những người có bản lĩnh, họ luôn có trái tim đầy lý trí; có lòng quyết tâm cao độ với một lòng can đảm cùng với một nghị lực, ý chí mạnh mẽ. Họ sẵn sàng đương đầu với thử thách. Ở họ, ta luôn tìm thấy cái kiên định nơi đáy mắt và một nụ cười biểu trưng cho sự tự tin. Các cầu thủ U23 Việt Nam làm nên kỳ tích trước các đối thủ lớn về thể hình, mạnh về tốc độ như Uzơ-bê –kit- tan, I-rắc, Quata cũng là nhờ vào bản lĩnh. Người bản lĩnh, họ sẽ được mọi người yêu quý, tin cậy; bản thân họ cũng sẽ hiểu được sứ mệnh của mình là chỗ dựa tinh thần cho người khác. Vì vậy, người bản lĩnh là người dám nghĩ, dám làm và dám thành công. Tuy nhiên cũng có những người vừa mới thấy nhấp nhô gợn sóng đã vội vã buông tay chèo, dễ dàng chấp nhận thất bại. Chắc chắn một điều rằng, những kẻ ấy vĩnh viễn không thể tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội, mãi mãi chỉ có thể sống dưới cái bóng của kẻ khác. Và bạn ơi, bản lĩnh khởi đầu như thế đấy! Khoan nói đến những thành quả mà bản lĩnh đem lại, chỉ nói riêng đến quá trình rèn luyện thôi cũng đã được xem là một thành tựu rồi. Đến đây, tôi chợt nhớ đến bông bồ công anh mạnh mẽ nương mình theo gió để vươn đến những chân trời cao xa. Ngay cả loài hoa mong manh nhỏ bé còn có thể tự luyện cho mình bản lĩnh, vậy còn bạn? Bạn có chấp nhận kiếp sống còn thua kém cả một loài hoa?

    Bài 2: Bản lĩnh

    Trong cuộc sống của mỗi con người muốn đạt được thành công, chúng ta không thể thiếu bản lĩnh. Vậy bản lĩnh là gì và tại sao lại đóng vai trò quan trọng đến vậy? Bởi bản lĩnh là những vấn đề quyết định một cách độc lập, không vì áp lực bên ngoài mà dễ dàng thay đổi. Một con người bản lĩnh luôn dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với thử thách khó khăn và không bao giờ chối bỏ trách nhiệm của mình. Nhờ vậy, trên đường đời với vô số chông gai, họ luôn giữ cho mình một tinh thần sắt đá, phong thái điềm tĩnh, sự kiên định đáng ngưỡng mộ và dễ dàng dành được sự tín nhiệm, tôn trọng từ những người xung quanh. Oprah Winfrey là một tấm gương tiêu biểu. Sinh

    ra tại một khu ổ chuột, lớn lên với người cha nghiện ngập, thậm chí đã từng bị xâm hại tình dục, bà vẫn kiên cường vượt qua mọi định kiến, gian nan để trở thành tỉ phú da màu ở tuổi 40 cũng như truyền cảm hứng cho biết bao mảnh đời bất hạnh. Tuy nhiên trong xã hội ngày nay vẫn còn một số người thiếu bản lĩnh trong cuộc sống, ngại khó, ngại khổ, luôn đổ lỗi cho số phận. Chính vì vậy họ mãi mãi không bao giờ chạm đến ngưỡng cửa thành công. Bản thân mỗi chúng ta hiểu được giá trị của bản lĩnh vì vậy cần xây dựng cho riêng mình một bản lĩnh vững vàng bằng cách không ngừng trau dồi tri thức, kĩ năng sống cũng như nhân cách. Hơn tất thảy, tuyệt đối không được nhầm lẫn giữa bản lĩnh với sự tự phụ hay bảo thủ. Bởi như John Ruskin từng nói, “ bản lĩnh là sự hợp nhất của kinh nghiệm, trí tuệ và đam mê trong guồng hành động”.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Lòng Dũng Cảm”

    Lòng dũng cảm là một trong những đức tính vô cùng cần thiết và đáng quý ở mỗi con người. Dù ở

    nơi đâu khi làm bất cứ việc gì con người cũng đều cần đến lòng dũng cảm. Dũng cảm là không sợ

    nguy hiểm, khó khăn. Người có lòng dũng cảm là người không run sợ, không hèn nhát, dám đứng

    lên đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, các thế lực tàn bạo để bảo vệ công lí, chính nghĩa. Dũng

    cảm là sẵn sàng hy sinh bản thân mình để cứu giúp những người khó khăn hoạn nạn. Trong chiến

    tranh, nhờ những tấm gương dũng cảm như Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, La Văn Cầu… và bao

    tấm gương thương binh, liệt sĩ mà đất nước mới có được nền độc lập. Trong hoà bình những người

    lính, những chiến sĩ công an dũng cảm đấu tranh với tội phạm để bảo vệ bình yên cho nhân dân.

    Người dũng cảm là người bản lĩnh, dám đương đầu và không lùi bước. Và cũng như bản lĩnh, dũng

    cảm sẽ giúp con người vươn đến thành công. Người dũng cảm luôn được mọi người yêu mến và

    quý trọng. Qua đây ta cũng cần phê phán những người nhầm tưởng lòng dũng cảm với hành động

    liều lĩnh, mù quáng, bất chấp công lí. Phê phán những kẻ hèn nhát, bạc nhược không dám đấu

    tranh, không dám đương đầu với khó khăn thử thách để vươn lên trong cuộc sống. Dũng cảm là

    cần thiết, vì vậy cần rèn luyện tinh thần dũng cảm từ việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày.

    Luôn đấu tranh loại bỏ sự hèn nhát, rèn cho mình ý chí, nghị lực, bản lĩnh. Hãy nhớ rằng, hèn nhát là bóng tối đẩy lùi bước tiến của xã hội và chỉ có dũng cảm mới có thể dẫn lối soi đường cho ta thoát khỏi con đường hầm tăm tối đó.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về vai trò của Ý Chí (Nghị lực)

     

     

    Đoạn văn 1

     

    Muốn vượt qua gian nan thử thách trên đường đời, con người không thể thiếu đi nghị lực. Vậy nghị lực là gì? Đó là là ý chí, là bản lĩnh, lòng quyết tâm vươn lên trong cuộc sống. Người giàu nghị lực luôn có sức sống mạnh mẽ, dám đương đầu với mọi thử thách khó khăn, kiên trì vượt qua nghịch cảnh để đi đến thành công. Trong thực tế, ta có thể bắt gặp không ít con người như vậy. Nguyễn Ngọc Ký thiếu đi đôi tay nhưng không ngừng nỗ lực để trở thành một người thầy đáng kính, Nick Vujick sinh ra với tứ chi khiếm khuyết nhưng chưa một lần chịu thua số phận, Stephen Hawking bị bại liệt ở tuổi ngoài 20 và được ngợi ca là nhà vật lí học đương đại nổi tiếng nhất… Họ chính là những tấm gương sáng, đem đến cho ta bài học quý báu về giá trị của ý chí, nghị lực và sự quyết tâm. Vậy nhưng, trong xã hội vẫn có một số người có lối sống ỷ lại, dựa dẫm, không có tinh thần phấn đấu, ý chí tiến thủ. Không chỉ tự đưa mình vào ngõ cụt, những người như vậy còn kéo lùi dòng chảy văn minh của nhân loại, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hôi. Thế hệ trẻ hôm nay cần phê phán lối sống này, không ngừng rèn đức luyện, nỗ lực bằng tất cả khả năng để có thể vững vàng tiến về phía trước. Bởi đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, “Tuổi trẻ là tuổi của tương lai. Muốn có tương lai tốt đẹp thì phải chiếm lấy bằng ý chí và nghị lực của chính bản thân”.

    Đoạn văn 2

    Nếu nói bản lĩnh nghiêng về thực hành thì ý chí chính là phần lý thuyết. Muốn thực hành thì phải

    nắm vững lý thuyết mà áp dụng. Có ý chí, con người mới có đủ quyết tâm để chinh phục những

    tầm cao mới. Bản thân ý chí vốn không có một định nghĩa cụ thể. Nói đơn giản, đó là quyết tâm cố

    gắng vượt qua gian khổ thử thách; còn nói phức tạp, ý chí là mồi lửa giúp cho bản lĩnh bùng cháy.

    Ông bà ta có câu “có chí thì nên” cũng là vì lẽ đó. Chưa nói đến khả năng bạn đến đâu, chỉ riêng

    việc bạn có cho mình một ý chí sắt đá cùng niềm tin vững vàng thì bạn đã đi trước người khác một

    bước! Nhưng, cái gì cũng có cái giá của nó, ý chí cũng không phải là một ngoại lệ. Để có được một

    tinh thần thép khi đứng trước bão tố của cuộc đời, bạn sẽ phải bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức

    để mài sắt luyện kim! Vậy nên, người nói được câu “Tôi có ý chí” thì rất nhiều, nhưng người mà

    hành động của họ nói lên điều đó thì quả thực không được mấy ai. Những người chỉ mới giáp mặt

    cơn lốc xoáy hung tợn đã nhụt chí xin hàng, hay những kẻ sẵn sàng quỳ gối trước những thế lực

    mạnh mẽ, tất cả bọn họ suy cho cùng đều là vì thiếu đi cái ý chí cần thiết. Họ không biết cách tự

    tạo cho riêng mình một đế chế hùng mạnh. Những người như thế, chung quy lại, cũng chỉ mãi là kẻ

    thất bại mà thôi. Còn bạn? Bạn sẽ chọn con đường gập ghềnh hướng tới tương lai hay biến mình

    thành một con ốc chỉ biết thu mình trong vỏ?

    Lê Phùng Tú Lệ

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    4. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về tính Trung Thực.

    “Trung thực là “chương đầu tiên” trong cuốn sách về sự khôn ngoan” – Thomas Jefferson. Quả

    đúng như vậy, trung thực là một đức tính quý báu mà bất cứ ai trong cuộc đời cũng đều mong

    muốn có cho mình. Vậy trung thực là gì? Đó là lối sống ngay thẳng, không bao giờ nói sai sự thật,

    luôn đứng về lẽ phải, bảo vệ công bằng; trung thực là không dối trá, sống đúng lương tâm mình.

    Trung thực được thể hiện ở rất nhiều mặt của đời sống. Đó là lúc bạn sai lầm và mạnh dạn nhận lỗi

    về mình. Trong thi cử chấp nhận điểm kém còn hơn gian lận, quay cóp. Trung thực còn giúp cho

    chúng ta rất nhiều điều khác trong cuộc sống nữa. Nó giúp ta có được sự tin tưởng, tin yêu của

    người khác. Trong công việc làm ăn, nếu chúng ta làm ăn trung thực với nhau, không gian dối thì

    cả hai bên đều có lợi. Nếu mỗi con người là một tấm gương sáng về trung thực thì sẽ tạo nên một

    xã hội văn minh, công bằng, xã hội ổn định, phát triển. Ta cũng cần phê phán những kẻ gian dối,

    thiếu trung thực. Những kẻ không trung thực là những kẻ xấu, dễ gây mất niềm tin đối với người

    xung quanh, khiến ai cũng phải dè chừng. Trong cuộc sống hằng ngày, khi vi phạm lỗi lầm gì thì

    cố gắng kiếm cớ, nói dối sao cho mình thoát khỏi tội. Đó là những hành vi đê hèn của kẻ không

    trung thực. Người không trung thực là người không tốt. Vậy nên chúng ta cần đấu tranh loại bỏ

    thói xấu này ra khỏi xã hội. Tóm lại, trung thực là một đức tính tốt, cao quý rất đáng để cho chúng

    ta noi theo. Vì thế, ngay từ giờ phút này, hãy chung tay loại bỏ thói dối trá ra khỏi đời sống xã hội,

    hãy cùng nhau tạo nên một thế giới nơi con người tin tưởng và sống với nhau bình đẳng và bác ái.

    Bài 2

    Wiliam Sh.Peare từng nói: “Không di sản nào quý giá bằng lòng trung thực”. Vậy “trung thực” là

    gì? “Trung thực” nghĩa là ngay thẳng, thật thà, nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, dám

    nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm. Trong cuộc sống, người có đức tính trung thực luôn tôn trọng

    sự thật, chân lý và lẽ phải. Trung thực là một phẩm chất cao đẹp làm nên nhân cách con người.

    Trung thực mang đến giá trị lòng tin làm cho cuộc sống xã hội và các mối quan hệ trở nên bền

    vững. Chúng ta luôn trung thực, thẳng thắn thì luôn có kết quả tốt đẹp vì đem lại lòng tin cho mọi

    người. Lúc làm sai – người trung thực luôn dũng cảm nhận trách nhiệm, biết sửa sai. Trung thực

    làm cho xã hội, cộng đồng luôn trong sạch, đẩy lùi được sự tha hoá đạo đức. Trung thực làm cho

    sự gian dối, giả tạo không còn đất sống. Lòng trung thực mặc dù không đem lại cho ta sự giàu có và quyền lực, nhưng nó mang đến cho ta một xã hội công bằng và có sự tin tưởng giữa người với người. Ngược lại, gian dối và không trung thực sẽ biến con người ta thành những kẻ giả tạo, đạo đức con người dần dần bị hạ thấp, phá bỏ những nét đẹp truyền thống của dân tộc. Cũng qua đây chúng ta cần rút ra bài học cho mình: là một con người sống trong xã hội hiện đại, đức tính trung thực là không thể thiếu cho bản thân, cần tích cực rèn luyện đức tính đáng quý này để hoàn thiện chính mình, trở thành người công dân tốt đưa đạo đức xã hội ngày càng đi lên, đất nước ngày một phát triển hơn nữa.

    5. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Cống Hiến

    Peter Marshall – Giáo của Thượng nghị viện Mỹ từng nói: “Thước đo của đời người không phải

    thời gian mà là sự cống hiến”. Cống hiến là đóng góp công sức, đóng góp những thứ từ bình

    thường đến quý giá cho sự nghiệp chung của mọi người, của đất nước. Suy rộng hơn, cống hiến

    chính là góp phần xây dựng thế giới ngày một văn minh, tân tiến hơn. Người biết cống hiến được

    tôn trọng và kính nể rất nhiều. Bởi khi ta biết cống hiến, chính là lúc ta biết đặt lợi ích của cộng

    đồng lên trên lợi ích cá nhân. Biết hi sinh lợi ích của mình vì cộng đồng. Để làm được điều này, ta

    cần phải mở rộng tầm nhìn của mình đối với thế giới, tránh xa những nông cạn, vị kỉ, nhỏ nhen.

    Việc cống hiến còn giúp chúng ta hoàn thiện nhân cách và tâm hồn mình hơn, như biết bao dung

    hơn, trở thành người quảng đại hơn, yêu thương con người nhiều hơn. “Cống hiến”- hai chữ với

    hai thanh sắc- khiến ta liên tưởng đến điều gì lớn lao, xa xăm, ta nghĩ chỉ những người xuất chúng

    mới có khả năng cống hiến cho nhân loại. Như những sáng tạo, những phát minh, tìm kiếm khoa

    học được đánh giá cao của Mark Zuckerberg – ông chủ của trang mạng xã hội lớn nhất thế giới –

    Facebook; Marie Curie với phát hiện vĩ đại cho nền công nghiệp phóng xạ – Uranium. Nhưng chữ

    “cống hiến” cũng rất đời thường. Đó là sự chăm chỉ lao động cùa người nông dân, là sự miệt mài

    với công việc của người trí thức, là sự hăng say trong học tập của lớp trẻ. Phải chăng đó là hình

    ảnh giản dị của anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long, là các anh lính biên

    phòng hay hải đảo xa xôi đang ngày đêm canh giữ bình yên cho đất nước. Và cao hơn cả cống hiến,

    chính là đức hy sinh. Hãy nhớ về những vị anh hùng hữu danh, vô danh, họ đã hy sinh cả mạng

    sống để cho đất nước được yên tiếng súng, được độc lập tự do. Từ đó, nhắc nhở bản thân mỗi

    chúng ta phải biết sống vì mọi người, sống vì đất nước, dân tộc và “Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì

    cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hôm nay”

    6. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ ) bàn về sống Có Ích

    Cách để sự tồn tại của mỗi con người trở nên tốt đẹp – ấy chính là sống sao cho có ý nghĩa, sống sao cho có ích. Vậy thế nào là sống cho ý nghĩa? Sống ý nghĩa là sống có ích, sống cao đẹp, cao thượng, biết làm nhiều việc tốt, việc thiện, biết hi sinh và cống hiến; sống cho mọi người và sống hết mình. Quả đúng như vậy, ý nghĩa cuộc sống hình thành trên vô vàn phương diện khác nhau. Sống có ích chính là lối sống tích cực phù hợp với thời đại; làm đẹp cho cuộc sống bản thân, sống hòa hợp với mọi người xung quanh, được nhiều người thừa nhận. Sống có ích còn phải có những hành động, tình cảm, việc làm thiết thực đem lại hiệu quả cho cá nhân cũng như cho cộng đồng. Sống có ích là khi chúng ta biết nghĩ đến người khác, biết hi sinh những cái nhỏ nhặt, và biết rộng mở vòng tay để có chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh hơn chúng ta và biết cách đối nhân xử thế với mọi người, giúp đỡ những người đang hoạn nạn, lắng nghe và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh…. Sống có ích là khi vấp ngã phải biết đứng dậy, thành công không tự mãn. Ai cũng đều có thể sống có ích, nếu như thế thì xã hội này sẽ tốt đẹp biết bao, sẽ không còn những xấu xa, sẽ

    không còn những mảng tối trong cuộc sống. Vì thế chúng ta hãy làm nên sự khác biệt, hãy biết

    sống có ích mỗi ngày, biết phê phán đấu tranh với cái ác, cái xấu để bảo vệ lẽ phải. Hãy là một tấm

    gương, hãy tìm một mục đích sống của mình để sống có ích từng ngày từng giờ, đừng lãng phí một

    thời gian nào cả và chúng ta sẽ giúp thế giới trở thành một ngôi nhà tốt đẹp cho mọi người. Sự thật

    là mọi thứ tồn tại trên đời này đều có nguyên do của nó. Bông hoa tồn tại để góp hương sắc, làm

    đẹp cho đời. Con ong tồn tại để dâng cho đời những chén mật ngọt ngon. Còn con người, tồn tại để

    làm cuộc sống của chính mình và mọi người xung quanh trở nên ý nghĩa. Kết lại, chúng ta “phải

    sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì

    những dĩ vãng đớn hèn của mình”

    7. Viết đoạn văn 200 chữ bàn về Sự SẺ CHIA trong cuộc sống

    Đối với mỗi cuộc đời con người, sự sẻ chia trong cuộc sống là điều vô cùng cần thiết. Vậy sẻ chia

    là gì? Tại sao nó lại quan trọng đến vậy? Sẻ chia là một dạng tình cảm xuất phát từ trái tim, sự

    đồng cảm, và tình yêu thương, được thể hiện khi ta biết quan tâm, lo lắng và giúp đỡ những người

    xung quanh. Nói cách khác, sẻ chia chính là cho đi mà không mong muốn được nhận lại. Bạn biết

    đấy, cuộc sống là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Biết sẻ chia chắc chắn sẽ giúp bạn phát

    triển các mối quan hệ xã hội, tạo nên sự gắn kết với những người xung quanh, từ đó không bao giờ

    cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo. Đồng thời khi ai đó gặp khó khăn, giúp được họ – dù chỉ một chút thôi –

    chắc chắn bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc và thanh thản hơn rất nhiều. Trong thực tế, không khó để ta

    bắt gặp và cảm phục những con người mang trong mình đức tính này. Những tình nguyện viên

    mang trên mình màu áo xanh tình nguyện, các mạnh thường quân không quản ngại khó khăn đến

    với vùng bão lũ hay đơn giản hơn là một cậu bé biết dành tiền ăn sáng tặng cho người hành khất…,

    đó đều là những bông hoa đẹp điểm tô cho vườn đời thêm rực rỡ. Tuy nhiên, vẫn có một số người

    sống ích kỉ, chỉ biết nhận lại chứ không biết cho đi. Họ chỉ biết đến lợi ích của bản thân mình mà

    không quan tâm đến người khác muốn gì, nghĩ gì, cần giúp đỡ gì. Đứng trước hiện tượng này, tất

    cả chúng ta cần học cách đồng cảm, sẻ chia với những người xung quanh từ những việc làm nhỏ

    nhất: gửi lời chào tới bố mẹ trước khi đi học, chúc người bạn cùng bàn một ngày tốt lành khi tới

    lớp… Như vậy, chắc chắn cuộc sống ý nghĩa hơn rất nhiều. Bởi đúng như một nhà văn Nga từng

    nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương của con người”.

    Viết đoạn văn 200 chữ bàn về: Khát vọng

    Để sống một cuộc đời có ý nghĩa, con người không thể thiếu đi những khát vọng chân chính. Vậy

    khát vọng là gì? Nó đóng vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta? Khác với tham

    vọng, khát vọng chính là mong muốn hướng tới những điều lớn lao, tốt đẹp với sự thôi thúc mãnh

    liệt đến từ sâu thẳm trái tim con người. Nó đem đến một mục đích sống cao đẹp, trở thành động

    lực giúp ta vượt qua khó khăn trên đường đời. Đồng thời, nó cũng nâng ta lên khỏi những cái tầm

    thường, vươn tới cái cao cả, thuần khiết hơn, trở thành nền tảng quan trọng để có thể kiến tạo nên

    lợi ích cho gia đình và xã hội. Thử hỏi, cách đây hơn một trăm năm, nếu người thanh niên Nguyễn

    Tất Thành không vì khát vọng giành lại độc lập cho dân tộc mà đặt chân lên con tàu Đô đốc Đờ

    Tác – tơ – ri, biết đến bao giờ chúng ta mới được sống trong hòa bình như ngày hôm nay? Và nếu

    không có những con người dám ước mơ, dám thực hiện như Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, có lẽ

    thương hiệu ô tô Made in Vietnam 100% sẽ chẳng bao giờ trở thành hiện thực. ..Những người biết

    khát vọng vươn lên xứng đáng để mỗi chúng ta nêu gương và học tập. Tuy nhiên bên cạnh những

    con người biết khát vọng và hướng đến những điều tốt đẹp thì trong xã hội vẫn còn đâu đó những

    con người không biết vươn lên, tự mãn với bản thân. Những người như vậy sẽ làm xã hội đi xuống,

    họ đáng bị phê phán và lên án. Nói tóm lại, tất cả chúng ta, trong đó có tôi, hãy xây dựng cho mình

    một khát vọng cao cả và nỗ lực hết sức để biến nó thành hiện thực. Bởi nếu cuộc đời này là bầu

    trời rộng lớn, khát vọng chính là đôi cánh giúp ta có thể bay xa.

    Viết đoạn văn 200 chữ bàn về: Sáng tạo

     

    Sáng tạo là yếu tố quyết định trực tiếp tới thành công của con người thời nay. Vậy sáng tạo là gì?

    Tại sao con người lại cần nó đến vậy? Sáng tạo chính là khả năng tạo ra những điều mới, hiệu quả

    và tiên tiến hơn những gì đã có. Người mang trong mình khả năng sáng tạo luôn không ngừng nỗ

    lực, tìm tòi để cải tiến phương thức lao động hay tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, giàu

    giá trị. Như chúng ta đã biết, cuộc sống hiện đại luôn biến đổi không ngừng, đòi hỏi con người

    phải thích ứng, thay đổi. Nếu cứ mãi neo mình theo lối mòn đã cũ, chẳng những đánh mất cơ hội

    của bản thân mà ta còn kéo lùi sự phát triển của văn minh nhân loại. Thử hỏi, không có sáng tạo,

    liệu những con người như Edison, Picasso, Mark Zukerberg… có ghi được tên tuổi mình vào lịch

    sử nhân loại; chúng ta có có được những kiệt tác nghệ thuật để chiêm ngưỡng, những đồ vật, ứng

    dụng tiện ích để sử dụng hay không? Vậy nhưng, hiện nay vẫn còn đâu đó trong xã hội có những

    kẻ thụ động, lười suy nghĩ, thích hưởng thụ, họ đang dần trở thành gánh nặng cho xã hội. Chính vì

    vậy, giới trẻ ngày nay cần nghiêm túc học tập và làm việc, đánh thức khả năng sáng tạo bằng

    những suy nghĩ, hành động cụ thể. Có như vậy, chúng ta mới có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa,

    phát triển khả năng của chính mình cũng như đóng góp tích cực cho quê hương, đất nước.

    Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của Anh/chị về: Sự tự tin

    Thành công đối với mỗi người rất cần nhiếu yếu tố, một trong những yếu tố quan trọng chính là sự tự tin. Vậy tự tin là gì và tại sao nó lại quan trọng đến thế? Tự tin là sự tin tưởng vào khả năng, giá trị và sức mạnh của bản thân mình. Người mang trong mình phẩm chất này sẽ có được một nền tảng tâm lí vững vàng, dễ dàng trả lời được các câu hỏi như: “Tôi là ai? Tôi muốn gì? Tôi có thể làm gì để biến ước mơ thành hiện thực?” Đồng thời, trên đường đời với vô số chông gai, họ luôn giữ được sự bình tĩnh, can trường trước mọi biến cố, dễ dàng thuyết phục và dành được niềm tin từ người đối diện. Người tự tin bao giờ cũng bản lĩnh, kiên cường và không dễ bị khuất phục trước khó khăn thử thách. Trước đám đông ồn ào họ tự tin đứng ra thuyết phục, trước đường đi khó – họ tự tin và bình tĩnh vượt qua. Sự tự tin cũng như ý chí, nghị lực hay lòng dũng cảm, nó chính là thước đó của con người và cũng là kim chỉ Nam để con người vươn tới thành công. Bởi vậy, Walt Disney – người từ một cậu bé nghèo không có cả tiền mua giấy vẽ vươn lên thành ông chủ của tập đoàn sản xuất phim hoạt hình lớn nhất thế giới – đã coi tự tin là một trong bốn điều làm nên cuộc đời mình. Quan trọng là vậy nhưng không phải ai cũng tạo được cho mình sự tự tin đúng nghĩa. Một số quá nhút nhát, không đủ can đảm để trình bày ý kiến cá nhân trong khi số khác lại kiêu căng, ngạo mạn, tự phụ về khả năng của mình, chính vì vậy họ rất khó thành công trong cuộc sống. Hiều được sự quan trọng của tự tin mỗi chúng ta cần nghiêm túc học tập, rèn luyện để có thể thoát

    ra khỏi lớp vỏ tự ti, nhút nhát, mạnh mẽ đứng dậy và thể hiện bản thân mình với thế giới. Bởi đúng như Helen Keller từng nói: “Bạn chẳng thể làm được điều gì mà thiếu đi sự tự tin.”

    Viết đoạn văn ngắn bàn về Hi vọng

    Cuộc sống của mỗi người luôn có muôn vàn những khó khăn, chông gai ở phía trước, nhưng dù

    khắc nghiệt đến đâu mỗi chúng ta vẫn không bao giờ ngừng hi vọng, sự lạc quan, tin tưởng vào

    tương lai, đó sẽ là chìa khóa thành công của mỗi người. Bởi trên đường đời, chưa ai không một lần

    vấp ngã. Điều quan trọng không phải ngã như thế nào, đau đớn ra làm sao mà là ta phải biết đối

    mặt với nó như thế nào. Nếu mất đi niềm tin, trở nên tuyệt vọng, không có ý chí vươn lên, ta sẽ

    mãi chìm trong vũng bùn tăm tối và chắc chắn sẽ đưa chúng ta đến bờ bực của những thất bại.

    Ngược lại, nếu trong tâm có hi vọng, ta luôn có thể nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm, tìm được

    sự bình an, thanh thản trong bất hạnh khổ đau. Đồng thời, thái độ sống lạc quan, vui vẻ sẽ giúp ta

    nhận được sự yêu quý, gần gũi từ những người xung quanh và không bao giờ cảm thấy cô đơn, lạc

    lõng. Gần đây, chúng ta không khỏi cảm phục trước diễn viên Quốc Tuấn – người không từ bỏ hi

    vọng, đồng hành cùng con suốt mười lăm năm ròng rã. Để rồi, sau tất cả, hạnh phúc đã thực sự

    mỉm cười với anh và gia đình. Dù vậy, không phải ai cũng tìm được ngọn lửa hi vọng để thắp sáng

    tương lai của chính mình. Một số dễ dàng bi lụy trước khó khăn, từ bỏ ước mơ và sống một cuộc

    đời mờ nhạt. Số khác thì lại cứ lao theo những ảo vọng xa vời, những mộng tưởng phù phiếm mà

    dần lãng quên giá trị đích thực của cuộc sống. và cuối cùng họ trở thành cái bóng mờ nhạt trên

    chính cuộc đời của mình. Helen Keller từng nói: “Bạn chẳng thể làm gì mà thiếu đi hi vọng”. Vậy

    nên, tất cả chúng ta hãy tìm cho mình những hi vọng đúng đắn và sống hết mình từng giây từng

    phút để thực hiện những giấc mơ của bản thân.

    12. Viết đoạn văn ngắn bàn về Thành công.

    Đã bao giờ bạn tự hỏi thành công là gì mà có những người bỏ ra cả cuộc đời để theo đuổi? Phải chăng, đó là sự hoàn hảo trong công việc, là cuộc sống giàu sang, được nhiều người nể phục? Thực ra thành công đơn giản và gần gũi hơn rất nhiều. Đó là khi bạn nấu được một bữa cơm ngon, giải một bài toán khó hay giúp mẹ một vài việc vặt… Nhưng dẫu được định nghĩa thế nào chăng nữa, thành công vẫn phải là kết quả của quá trình không ngừng cố gắng, nỗ lực, dám chấp nhận và vượt qua thất bại. Và, tuyệt đối đừng biến con đường theo đuổi thành công trở thành bi kịch bởi cố gắng không đồng nghĩa với bất chấp tất cả để đạt được điều mình mong muốn. Thành công cũng giống như con người, chỉ bền vững khi được tạo nên từ chính sức lực của chính mình với một cái tâm

    trong sáng. Một giáo sư người Anh từng nói: “Cuộc sống này không có thất bại, có chăng là cách ta nhìn nhận nó mà thôi”. Vậy nên, mỗi chúng ta đừng ủ rũ mà cho rằng mình là kẻ thua cuộc, hãy cứ vui lên và bước tiếp con đường đã chọn.

    Viết bài văn ngắn suy nghĩ về hai chữ: Thất bại

    Trong cuộc đời của mỗi người bên cạnh những thành công có lẽ không tránh khỏi những lần thất

    bại. Vậy thất bại là gì? Nó có ảnh hưởng như thế nào tới chúng ta? Thất bại là trạng thái hụt hẫng,

    bế tắc khi không thể hoàn thành được mục tiêu mà mình đã đặt ra hay thua cuộc trước một ai đó.

    Dù xuất phát từ nguyên nhân khách quan hay chủ quan, nó vẫn để lại những hậu quả nghiêm trọng

    cho chúng ta cả về vật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt, thất bại có thể khiến ta mất đi niềm tin vào bản

    thân, trở nên bi quan, tuyệt vọng. Vậy nhưng, “thất bại là mẹ thành công”, nếu biết đối mặt bằng

    một thái độ đúng đắn, ta hoàn toàn có thể biến nó trở thành bước đệm để thực hiện hoài bão của

    mình. Hãy đứng lên từ những thất bại, hãy lấy thất bại làm động lực và hãy biến nỗi đau thành

    những kỷ niệm ngọt ngào. Bạn đừng nản chí mà hãy bình tĩnh để trí óc tỉnh táo. Hãy để khát vọng

    và mơ ước tiếp thêm sức mạnh tinh thần. Bạn biết không ? Để tạo ra dây tóc bóng đèn, Edison đã

    thất bại hơn một nghìn lần; cái tên Seven Up xuất phát từ bảy lần hãng phải bắt đầu lại từ đầu; Jack

    Ma cũng đã bảy lần trắng tay trước khi gây dựng đế chế Alibaba… Vậy nên, đừng bao giờ nản

    lòng khi gặp phải thất bại. Hãy rút ra những bài học từ thất bại và biến nó trở thành động lực, chắc

    chắn thành công sẽ mỉm cười với bạn.

    Bài 2

    “Thất bại là mẹ thành công” – bạn có đồng ý không? Mới nghe qua có vẻ vô lí vì thất bại là sự đối lập của thành công vậy tại sao lại là “mẹ” của thành công được? Thành công là trạng thái mà con người đạt được mục đích mà họ mong muốn. Còn thất bại thì ngược lại đó là khi chúng ta không đạt được điều mình muốn. Trong câu nói này ý chỉ rằng thất bại chính là tiền đề để tạo nên sự thành công. Khi bạn thất bại bạn sẽ có kinh nghiệm hơn về việc đó để rồi sau này có thể hạn chế được mặt tiêu cực và đạt được thành công. Sau thất bại bạn sẽ có động lực để vực dậy, sửa đổi mặt yếu kém. Cứ như thế thành công sẽ chào đón bạn. Các nhà khoa học đã phải thất bại rất nhiều trước khi có những phát minh có thể làm thay đổi cả thế giới. Nhưng nếu khi bạn thất bại mà chán nản, bỏ cuộc để rồi bạn sẽ không bao giờ đạt được thành công mà bạn mong muốn. Chúng ta cần có ý thức, nghị lực để khắc phục thất bại và biến nó thành thành công. Thất bại chưa là dấu chấm

    hết, nó thực sự kết thúc là khi bạn không có nghị lực sống để giải quyết thất bại. Cánh cửa thành công luôn chào đón bạn, vậy tại sao bạn không tự đứng lên để Bắt Đầu.

    Viết bài văn ngắn suy nghĩ về hai chữ: Khiêm tốn

    Khiêm tốn không chỉ là nghệ thuật sống mà còn là nền tảng dẫn tới thành công.Vậy khiêm tốn là gì? Tại sao nó lại quan trọng với chúng ta đến vậy? Khiêm tốn là lối sống không tự đề cao mình, đánh giá đúng mực về bản thân, không khoe khoang thành công và không ngừng học hỏi từ những người khác. Chắc hẳn bạn cũng biết, không ai trong chúng ta là hoàn hảo, trí tuệ của mỗi người cũng chỉ là một hạt cát nhỏ bé giữa sa mạc rộng lớn. Hiểu được khả năng của mình sẽ là cơ sở quan trọng để ta hoàn thiện bản thân và mở mang tri thức. Đồng thời, biết khiêm nhường và lắng nghe cũng giúp ta có được sự tôn trọng, tin yêu của những người xung quanh. Khiêm tốn làm chúng ta cao quý hơn trong mặt mọi người và luôn luôn nhận được sự nể phục. Khiêm tốn còn làm chúng ta tự kiềm chế bản thân mình để không tự mãn khi thành công. Chính điều này làm chúng ta luôn thấy mình “thấp” hơn người khác để bản thân không ngừng cố gắng mỗi ngày. Chính đức tính ấy đã làm cho bức chân dung Chủ tich Hồ Chí Minh trở nên gần gũi, cao quý hơn đối với nhân dânViệt Nam cũng như bạn bè quốc tế. Vậy nhưng, trong xã hội hiện nay vẫn có không ít người quá đề cao chủ nghĩa cá nhân, mải khoe khoang tự mãn, đắm chìm trong những gì đã đạt được để rồi dần thụt lùi so với dòng chảy của văn minh nhân loại. Hiểu được giá trị của đức tính khiêm tốn mỗi chúng ta cần nói không với cách sống tiêu cực và rèn luyện đức khiêm tốn từ những điều nhỏ bé hàng ngày. Bởi “khiêm tốn là lương tri của cơ thể”, thiếu nó ta đâu thể trở thành một con người đúng nghĩa cũng như hoàn thiện bản thân.

    Viết bài văn ngắn suy nghĩ về Tình Cảm Gia Đình

    Trong cuộc đời của mỗi người có nhiều đều đáng để chúng ta trân quý. Một trong những điều ấy chính là tình cảm gia đình .Vậy tình cảm gia đình là gì? Tại sao nó lại quan trọng với chúng ta đến vậy? Bởi tình cảm gia đình là sự gắn kết giữa những người có cùng máu mủ, huyết thống và sống chung với nhau dưới một mái nhà. Rộng hơn, đó còn là sợi dây nối kết những con người dẫu không chung cội rễ nhưng luôn gắn bó, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng dù hiểu theo cách nào, tình cảm gia đình vẫn là món quà thiêng liêng và quý giá nhất mà chúng ta có thể có được. Vì sao ư? Vì gia đình chính là điểm tựa tinh thần vô cùng vững chãi, là nơi mà bất cứ khi nào chúng ta cũng có thể tìm thấy niềm tin, hi vọng và sức mạnh để vượt qua những thử thách khó khăn. Thiếu đi thứ tình cảm ấy, trái tim ta sẽ dần bị bóp nghẹt bởi cái cảm giác cô đơn, lạc lõng và cứ mãi bơ

    vơ trên nẻo đường kiếm tìm hạnh phúc. Vậy nhưng, đâu phải ai cũng biết trân trọng tình cảm gia đình, một số người cứ mải chạy theo tiền tài danh vọng hay những mối quan hệ phù phiếm. Để rồi khi nhận ra xung quanh chẳng còn một cánh tay nào sẵn sàng nắm lấy mình, đã không còn cơ hội nào cho họ sửa chữa thì tất cả đã quá muộn. Để tránh đi vào những vết xe đổ ấy, ngay từ hôm nay mỗi chúng ta cần dành tâm sức để giữ gìn tình cảm gia đình từ những hành động thường ngày. Một lời chúc nhẹ nhàng mỗi sáng, một bữa cơm ấm áp trong ánh chiều tà, một bông hoa thơm nhân ngày đặc biệt…, những việc làm nhỏ thôi nhưng chắc chắn sẽ giúp ngọn lửa gia đình mãi cháy sáng, soi đường và sưởi ấm cho bạn đến hết cuộc đời này. Xin được mượn một câu nói của Euripides để thay cho lời kết: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận”

    16. Viết bài văn ngắn trình bày về tinh thần Trách Nhiệm

    Tinh thần trách nhiệm là một trong những phẩm chất đáng quý nhất của con người. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Đó chính là ý thức thực hiện tốt nghĩa vụ, công việc của bản thân, không ỷ lại, dựa dẫm hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Trong công việc và cả cuộc sống, tinh thần trách nhiệm chiếm một vai trò vô cùng quan trọng. Nó là nguồn động lực thúc đẩy ta nỗ lực và hoàn thiện bản thân, nâng cao các kĩ năng giải quyết tình huống cũng như trình độ chuyên môn. Đồng thời, nhờ có phẩm chất này, ta có thể chiếm được lòng tin, sự tôn trọng và yêu quý từ bạn bè, đồng nghiệp và đối tác, từ đó dễ dàng vươn tới thành công hơn. Trong thế kỉ 21 – kỉ nguyên của hội nhập quốc tế, nơi không có chỗ cho những kẻ lười biếng, không dám làm và dám chịu trách nhiệm. Vì vậy mỗi chúng ta cần xây dựng tinh thần trách nhiệm từ những hành động nhỏ hàng ngày: tự hoàn thành bài tập, tuân thủ luật giao thông, dũng cảm nhận và sửa lỗi khi phạm sai lầm…

    Bởi đúng như Richard L Evans đã nói, chỉ khi biết chấp nhận trách nhiệm cho hành động của mình, ta mới có thể bắt đầu trưởng thành.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”. Từ xa xưa, lòng biết ơn luôn được cha ông ta đề cao, phát huy như một truyền thống quý báu. Cùng với quan niệm trên, tục ngữ có câu “Uống nước nhớ nguồn”. Nghĩa hàm ẩn là khi chúng ta hưởng thụ bất cứ thành quả nào, dù là vật chất hay tinh thần, cũng phải nhớ đến công ơn người đã làm ra chúng. Ăn một bữa cơm no đủ phải nhớ đến người làm ra hạt gạo; mặc một chiếc áo ấm áp phải biết ơn người đã thêu dệt nên. Câu tục ngữ như một lời răn rất triết lý, rất nhân sinh, hướng con người trở nên hoàn thiện hơn.

    Bởi, lòng biết ơn không chỉ là đức tính vĩ đại nhất mà còn là khởi nguồn của mọi đức tính tốt đẹp

    nhất của con người. Người có lòng biết ơn sẽ luôn được yêu quý, trân trọng, họ sẽ nhận được sự

    giúp đỡ nồng nhiệt bất cứ khi nào họ gặp khó khăn. Người được biết ơn cũng sẽ cảm thấy vui vẻ,

    nhiệt tình hơn khi giúp đỡ, từ đó, các mối quan hệ giữa người và người cũng phát triển và ngày

    một khăng khít hơn. Khi chúng ta biết ơn quá khứ, trân trọng giá trị nguồn cội cũng là khi chúng ta

    đang làm giàu vốn văn hoá cho bản thân và góp phần bảo vệ văn hoá truyền thống của đất nước.

    Tuy nhiên với sự phát triển hiện đại như hiện nay, những giá trị truyền thống đang ngày càng mai

    một, một bộ phận giới trẻ ngày nay đang quay lưng với truyền thống, sống ích kỷ, chỉ biết cho

    riêng mình. Chính vào lúc này đây, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” – truyền thống biết ơn

    cần phải được đề cao hơn nữa. Bởi không có những bài học quá khứ làm sao có được thành công

    trong hiện tại và tương lai? Vậy nên, hãy chắt chiu những giá trị tốt đẹp từ quá khứ bằng lòng biết

    ơn, nhưng cũng vừa nhìn vào tương lai một cách đầy tích cực và chiến đấu với thực tại thật nhiệt

    huyết.

    Trần Thuý Anh

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Bài 2

    “Uống nước nhớ nguồn” – câu tục ngữ tuy ngắn gọn, súc tích nhưng lại ẩn chứa một nét đẹp văn hóa quý báu của dân tộc. Thông qua các hình ảnh ẩn dụ: “nước, nguồn”, cha ông ta dặn dò con cháu phải trân trọng, biết ơn những người đã giúp đỡ hay tạo dựng thành quả để thế hệ trẻ hôm nay được hưởng thụ. Đây là một đạo lí hoàn toàn đúng đắn đối với mỗi con người bởi không gì tự nhiên mà có. Nhỏ bé như cây kim, viên thuốc hay lớn lao như nền hòa bình, độc lập ta đang tận hưởng, tất cả đều là bắt nguồn từ một quá trình lao động miệt mài và thậm chí là có cả sự hi sinh máu xương, tính mạng của thế hệ đi trước. Hiểu được điều này, xuyên suốt mạch nguồn bốn nghìn năm lịch sử, nhân dân ta đã sống trọn với đạo lí tốt đẹp của dân tộc. Bằng chứng là hiện nay, trên bước đường hội nhập quốc tế, những lễ hội có từ khi vua Hùng dựng nước vẫn được bảo tồn, những trang sử vàng son thời trung đại chưa bao giờ bị lãng quên, những gia đình chính sách, người có công với cách mạng luôn luôn nhận được sự quan tâm từ cộng đồng, xã hội…. Tuy nhiên vẫn còn đâu đó một số cá nhân có lối sống ích kỉ, chỉ biết hưởng thụ mà quên mất nguồn cội.

    Những người như vậy đáng bị lên án và phê phán. Như vậy tư tưởng “uống nước nhớ nguồn” mãi

    mãi là đạo lí mãi cuộn chảy trong trái tim các thế hệ người Việt hôm nay và mai sau. Bởi đó là kết kinh của đạo lí thủy chung, của tinh thần cộng đồng và cũng là nguồn gốc của sức mạnh dân tộc.

    18. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về “cuộc đời là những chuyến đi”

    Cuộc đời là những chuyến đi. “Chuyến đi” ở đây có thể hiểu theo nhiều tầng nghĩa. Đó có thể là sự

    xê dịch đến vùng đất mới, cũng có thể là hành trình tìm đến những sở thích, đam mê độc lạ, đôi khi

    là những cuộc cách mạng trong tâm tưởng, nhận thức. Đó còn có thể là những giai đoạn trong quá

    trình hình thành và phát triển của con người. Trái Đất quay miệt mài như muốn thúc đẩy con người

    vận động nhiều hơn, tránh dậm chân tại chỗ, tránh thụt lùi. Những chuyến đi rải đều, rải đều trên

    quỹ thời gian của chúng ta. Đôi khi số phận buộc ta phải đi, đôi khi ta tự mình dấn thân vào những

    trải nghiệm mới mẻ. Sau cùng, bài học được đúc kết từ những chuyến đi vẫn quan trọng hơn cả.

    Chúng ta học được cách tôi luyện bản thân, trưởng thành, mạnh mẽ hơn trong hành đông bởi

    những kinh nghiệm xương máu tích nhặt được. Chúng ta biết thêm nhiều điều thú vị, hay ho từ thế

    giới bên ngoài, khám phá ra những tri thức vô tận của nhân loại, bởi “đi một ngày đàng, học một

    sàng khôn”. Đặc biệt hơn, qua mỗi chuyến đi, ta có thể biết thế mạnh-điểm yếu của bản thân, hiểu

    rõ hơn về chính mình. Đi đường dài có thể gian nan, hành trang cho đầy đủ để tránh vấp ngã là

    điều không tưởng. Người ta thường ngại những vấp ngã đó nên chỉ khoanh tay đứng nhìn, mặc cho

    bản thân bị thụt lùi phía sau. Người ta không biết rằng chính những vấp ngã, sai lầm mới làm nên

    giá trị thật của những chuyến đi. Và có những chuyến đi vô giá mới hoàn thiện nên cuộc sống này.

    Trần Thuý Anh

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Lòng yêu thương”

    Con người ta sinh ra, được sống trên đời đã là một hạnh phúc lớn. Nhưng có lẽ được sống trong lòng của người khác còn là hạnh phúc lớn hơn. Đó chính là khi có cảm giác yêu thương và được yêu thương. Tình yêu thương là thứ tình cảm tốt đẹp mà con người dành cho nhau. Tình thương là những nét đẹp bình dị, trong sáng của tình người, lòng nhân hậu, sự khoan dung, cao thượng, vị tha và công lí. Đó có thể là tình cảm gia đình, tình bằng hữu, tình yêu lứa đôi, tình người nói chung. Nó có thể là thứ tình cảm vun đắp, xây dựng trong một thời gian dài nhưng cũng có thể chỉ là một niềm thương cảm chực trào dâng khi ta gặp một hoàn cảnh nào đó. Yêu thương chính là khi ta cảm

    thông quan tâm giúp đỡ người có cảnh ngộ bất hạnh, khó khăn trong cuộc sống, yêu mến và trân trọng những ng có phẩm chất đạo đức tốt, tình cảm cao đẹp. Nhưng dù với bất cứ biểu hiện nào thì tình yêu thương cũng luôn mang lại những điều kì diệu riêng cho cả người cho đi và nhận về nó. Cái hạnh phúc mà tình yêu thương đem lại dành cho cả hai phía. Bên cạnh đó, yêu thương còn là lực hấp dẫn kéo con người ta xích lại gần nhau, tạo thành khối thống nhất, gây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Song trong cuộc sống hiện đại ngày nay, còn có những kẻ sống lạnh lùng như một cỗ máy, vô hồn vô cảm, chỉ biết sống cho mình, luôn đố kị ganh ghét, xung đột, cướp đoạt, là mối hiểm họa lớn cho xã hội mà ta cần lên án và bài trừ. Yêu thường đem lại hạnh phúc cho nhân loại, chỉ có yêu thương mới xoa dịu những ngăn cách giàu nghèo, những bất đồng đố kị, làm cho xã hội văn minh tươi đẹp. Vì vậy hãy dành tình thương của mình cho mọi người thật nhiều. Hạnh phúc thật sự chỉ đến khi ta biết mạnh dạn cho đi, hãy đem tình thương của mình gửi đến muôn đời như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nhắn nhủ : “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi”.

    Trịnh Thị Tú Uyên – 12A7 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về “đừng trông chờ vào người khác”

    Bill Gates đã từng nói: “Thói quen ỷ lại là một hòn đá cản bước bạn đến với thành công, muốn làm nên nghiệp lớn, bạn phải đá chúng khỏi con đường của mình”. Trông chờ và người khác là thói quen ỷ lại, dựa dẫm, trông chờ vào sự giúp đỡ của những người xung quanh. Họ không muốn bỏ công sức của mình để làm việc và tìm kiếm những việc mình muốn. Không ai trong chúng ta có thể sống mà không cần sự qtam giúp đỡ của người khác nhưng đó sẽ là sự giúp đỡ trong khả năng của họ và lúc đó bạn thật sự không thể xoay xở. Đừng mong chờ sự giúp đỡ của người thân bạn bè khi bạn vẫn có thể tự mình làm được. Ngày nay có khá nhiều bạn trẻ thích sống dựa dẫm ỷ lại. Trong học tập, khi có bình thường về nhà không chịu làm mà đợi bạn làm rồi sao chép lại hay khi sinh viên đã có bằng tốt nghiệp nhưng không tự đi kiếm việc làm mà chờ đợi vào một người thân nào đó kiếm công việc cho… Trông chờ vào người khác không phải là một giải pháp tối ưu để chúng ta xây dựng cuộc đời mình. Đây là mộ thói quen xấu để lại rất nhiều hậu quả khôn lường mà ta cần phê phán và loại bỏ. Nó sẽ biến chúng ta trở thành những kẻ bù nhìn vô thức và sẽ gặp thất bại trong cuộc sống. Hãy tự đi trên đôi bàn chân của mình và mở ra cánh cửa mà bạn muốn mở. Đừng phó mặc cuộc đời mình cho người khác cho dù đó là cha mẹ hay người thân của bạn. Bên cạnh đó phải biết rèn luyện cho bản thân tính tự lập, trau dồi kiến thức, hoàn thiện bản thân mình.

    Đừng nép bên cuộc đời ai đó mà hãy sống cuộc đời của chính mình, có như vậy ta mới có thể thành công, giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

    Trịnh Thị Tú Uyên

    12A7 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về “Tôn sư trọng đạo”

    “Nhất tự vi sư – bán tự vi sư” không chỉ là câu nói có ý nghĩa trong xã hội xưa, mà cho đến ngày nay câu nói vẫn còn để lại ý nghĩa sâu sắc. Trong hành trình dài và rộng của mình, mỗi chúng ta đều được gặp gỡ, gắn bó với nhiều người thầy, người thầy nào cũng đều để lại một dấu ấn riêng chiếu rọi vào đời ta những thứ ánh sáng riêng biệt. Thầy là người đã dạy dỗ, truyền tải cho ta biết bao tri thức, văn hóa, lẽ sống, không chỉ vậy, thầy còn là người chắp cánh những ước mơ, hoài bão, lí tưởng cao đẹp cho chúng ta. Mỗi một lời giảng của thầy là cả tâm huyết với nghề, chứa đựng niềm khát khao được chia sẻ kinh nghiệm, vốn sống của mình cho trò, những lời giảng ấy không đơn thuần chỉ là kiến thức học vấn mà còn đem đến niềm tin, tình yêu, nghị lực, lí trí và có những thứ đã trở thành kim chỉ nam để ta theo đuổi trong cuộc đời này. Thật vậy, công lao của thầy to lớn vô ngần, thầy đã hi sinh cả cuộc đời mình cho ta những bài học hay. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải biết quý trọng, yêu mến thầy cô, sự trân trọng, biết ơn không phải chỉ những hành động lớn, những lời đao to búa lớn mới thể hiện tấm lòng của ta. Đôi khi chỉ một cử chỉ nhỏ như ta luôn chăm học, nghiêm túc nghe giảng cũng là lời tri ân chân thành, sâu sắc nhất của ta. Nhưng đáng buồn thay, lẽ sống đẹp này đang bị mai một dần trong xã hội hiện đại, chúng ta cần phê phán nhiều bạn trẻ có những hành vi thiếu lễ độ, thiếu tôn trọng và có những phát ngôn không tốt đối với thầy cô. Qua đó, mỗi chúng ta cần rút ra bài học cho mình, cần biết yêu mến quý trọng thầy cô và luôn dưỡng nuôi truyền thống “tôn sư trọng đạo”.

    Nguyễn Vũ Thảo Nguyên

    THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Cho đi là còn mãi”

    Nếu ví cuộc đời này là một trường ca bất tận thì có lẽ, lối sống sẻ chia, cho đi là còn mãi là một nốt trầm sâu lắng chứa đựng giá trị nhân sinh sâu sắc về cách ứng xử của con người trong cuộc sống.

    Cho đi là cách ta sẻ chia, giúp đỡ ai đó về mặt vật chất hoặc tinh thần. Cho đi làm cho chúng ta

    hạnh phúc hơn, yêu đời hơn, làm cho chính bản thân ta hoàn thiện hơn, cảm nhận cuộc đời này có

    • nghĩa hơn. Không chỉ vậy cuộc sống là một ngọn núi, có lúc dốc, có lúc bằng phẳng khác nhau, bởi vậy luôn cần đến những con người biết chia sẻ, biết cho đi mà không nghĩ đến việc nhận lại. Cuôc sống này còn nhiều những mảnh đời bất hạnh, họ cần lắm một ánh lửa sẻ chia từ chúng ta,

    đôi khi chỉ là cái nắm tay thật chặt, cái vỗ vai, lời an ủi, động viên cũng phần nào giúp họ. Nhắc đến lẽ sống đẹp này, chúng ta lại nhớ đến câu chuyện về chàng thanh niên Nguyễn Hữu Ân đã chia sẻ chiếc bánh thời gian của mình để giúp đỡ những người bệnh ung thư giai đoạn cuối. Trái với hành động đẹp biết sống cho đi, cần lên án những người chỉ biết sống ích kỉ, luôn lo sợ nhận lại ít hơn cho đi. Chúng ta cần phải biết mỗi ngày sống là một trải nghiệm, được yêu thương, được sẻ chia là điều hạnh phúc nhất. Cuộc sống sẽ tuyệt vời biết bao khi mỗi con người sẵn sàng cho đi, sẻ chia đối với những người xung quanh mình. Chính vì vậy, bạn trẻ ơi “Còn gì đẹp trên đời hơn thế. Người với người sống để yêu nhau” (Tố Hữu).

    Nguyễn Vũ Thảo Nguyên

    THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    23. Viết bài văn ngắn bàn về Cho và Nhận

    “Cho” và “nhận” là hai quá trình quen thuộc và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người. Vậy “cho” và “ nhận” là gì? Nó đóng vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta? “Cho” chính là sự san sẻ, giúp đỡ, yêu thương xuất phát từ tâm từ trái tim của một người, còn “nhận” là sự được đáp trả, đền ơn. Giữa “cho” và “nhận” luôn tồn tại mối quan hệ nhân quả nhưng đồng thời cũng tương trợ, bổ sung cho nhau. Bởi cuộc sống luôn tồn tại quy luật hai chiều, nếu không cho đi thì đừng mong ngóng được nhận lại. Đồng thời, khi cho đi bằng cả tấm lòng, thứ ta nhận lại không chỉ là lời cảm ơn từ người nhận mà còn là sự thanh thản, trạng thái hạnh phúc cho tâm hồn. Hơn nữa, đường đời không bao giờ bằng phẳng. Những lúc phải đối mặt với khó khăn thử thách , một cái nắm tay thật chặt, một sự giúp đỡ – dù nhỏ thôi nhưng chắc chắn sẽ giúp người được nhận mạnh mẽ hơn nhiều. Vậy nhưng, nếu cho đi mà chỉ mong nhận được sự đền đáp, chắc chắn việc đã làm sẽ mất đi ý nghĩa. Trong cuộc sống, không khó để bắt gặp những người mượn việc từ thiện để đánh bóng tên tuổi, thương hiệu. Thậm chí, gần đây còn xuất hiện những kẻ lợi dụng lòng tốt của người khác, giả danh bán tăm nhân đạo để trục lợi. Những người như vậy đáng bị xã hội lên án và phê phán. Chính vì vậy mỗi chúng ta cần nhận thức được vai trò của “cho”

    và “nhận”, cương quyết chối bỏ lối sống ích kỉ, vô cảm, thờ ơ với đồng loại, nỗ lực học tập và rèn luyện để có thể kiến tạo giá trị cho bản thân cũng như cộng đồng. Bởi đúng như nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Tình mẫu tử”

    Tự bao đời nay, tình mẹ luôn được ngợi ca như biển Thái Bình, “như nước trong nguồn chảy ra”.

    Quả thực vậy tình mẫu tử là một tình cảm thiêng liêng, cao quý theo ta suốt cuộc đời này. Mẹ là

    người đã phải trải qua chín tháng mười ngày vất vả, khổ cực để sinh thành nên ta, mẹ nuôi dưỡng

    ta bằng tiếng hát, bằng dòng sữa mát ngọt dịu êm. Mẹ tần tảo lo lắng nuôi dạy cho ta thành người,

    mẹ như ánh sao rực rỡ soi sáng cuộc đời của ta, làm sao có thể nói hết công lao to lớn, vĩ đại của

    mẹ, làm sao gánh hết những vất vả, nhọc nhằn mẹ chịu vì con. Mỗi lần cất tiếng gọi mẹ là lòng ta

    lại dâng trào bao cảm xúc, mẹ – chỉ một từ thôi sao mà thiêng liêng quá đỗi. Mẹ như người thầy,

    người chị chia sẻ với ta những kinh nghiệm sống, động viên ta những lúc ta buồn, thất bại trong

    học tập, chia tay với người yêu. Mẹ là động lực để ta tin tưởng và có niềm tin vào cuộc đời, mẹ

    luôn là người dang tay đỡ ta khi ta vấp ngã, khi ta khó khăn. Mẹ vất vả, hi sinh cả cuộc đời mình

    cho ta mà không than thở điều gì cả, có những lúc ta cáu giận vô cớ, nặng lời với mẹ, mẹ chỉ im

    lặng, mẹ lặng lẽ giấu nước mắt trong nụ cười với ta. Mẹ luôn động viên, tin tưởng vào quyết định

    của ta. Mẹ, tình mẹ cao cả và tuyệt vời biết bao, mỗi chúng ta cần phải biết trân trọng, yêu thương,

    chăm sóc, quan tâm đến mẹ nhiều hơn nữa, có bao giờ chúng ta để ý đến tóc mẹ đã điểm những sợi

    bạc, có hay những nếp nhăn hằn nơi khóe mắt. Mẹ yêu thương, chăm sóc ta từng li từng tí, vậy mà

    vẫn còn nhiều kẻ không biết trân trọng, yêu quí mẹ của mình, có những người con bất hiếu đối xử

    tệ bạc với mẹ mình, không làm tròn chữ hiếu, đạo làm con. Hỡi những ai đang còn có mẹ bên mình,

    hãy trân trọng những phút giây quí báu này: “Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc. Đừng để buồn lên

    mắt mẹ nghe không ? ”

    Nguyễn Vũ Thảo Nguyên

    THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Tình Phụ Tử”

    “Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ. Mây trời lồng lộng không đếm được tình cha”. Thực vậy, công lao của cha dành cho con cái không thể đong đo, cân đếm được, nếu mẹ luôn ân

    cần, chăm sóc ta từng li từng tí thì có lẽ cha là người âm thầm yêu thương chúng ta. Người không thể hiện sự quan tâm rõ ràng như mẹ, người thầm lặng, bảo vệ ta, cha là trụ cột gia đình, luôn nghiêm khắc với ta nhưng thực chất lại là người mềm lòng nhất, quan tâm ta nhất. Tuổi thơ của ai mà lại không một lần được “cưỡi” lên lưng cha, được cha dạy chơi thả diều, đạp xe. Tuy cha không hay nói chuyện, chia sẻ với ta nhiều, nhưng mỗi lời dạy của cha đều thấm thía, khắc sâu trong lòng con. Dù mai sau khôn lớn, chúng ta sẽ luôn nhớ mãi lời dặn của cha, nhớ mãi cảm giác ấm áp khi được cha ru ngủ, nhớ mãi cái xoa đầu dịu dàng của cha cùng lời động viên : “Con làm tốt lắm”. Tình phụ tử – một tình cảm thiêng liêng, sâu sắc theo ta suốt cuộc đời, phải khi trưởng thành, làm cha, làm mẹ, ta mới thấu hiểu được nỗi vất vả ấy, mới thấy yêu thương, quí trọng cha. Hãy trở thành một người con cho tròn chữ hiếu, trân trọng, quan tâm, lo lắng cho cha đừng trở thành những đứa con vô tâm, bất hiếu. Hãy nhớ “Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”

    Nguyễn Vũ Thảo Nguyên

    THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    26. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về “Lời cảm ơn”

    Có khi nào bạn tự hỏi rằng từ bé đến lớn bạn đã nói lời cảm ơn bao nhiêu lần chưa? Lời cảm ơn có

    lẽ là một trong những lời nói chân thành nhất xuất phát từ trái tim từ tấm lòng của chính mình.

    Cảm ơn là một thái độ trân trọng biết ơn những gì mà người khác đã làm cho ta đem lại cho ta

    những điều tốt đẹp. Cảm ơn chính là một cách thể hiện tình cảm, lối ứng xử lịch sự, lễ phép, biết

    tôn trọng đến những người xung quanh mình. Văn hóa cảm ơn chính là nét đẹp vốn có của một con

    người. Lời cảm ơn dù chỉ là bé nhỏ nhưng lại có thể đánh giá được nhân phẩm của một con người.

    Thế giới sẽ đẹp hơn rất nhiều nếu ta biết cảm ơn ta biết trân trọng những thành quả mà người khác

    đã làm cho ta. Nét đẹp của lối sống này diễn ra thường xuyên biểu hiện ở lời nói, cử chỉ, hành động

    và nằm ngay trong chính tình cảm của mỗi người. Cảm ơn thực ra chỉ là một cách hành xử biết

    điều, lễ phép, lịch sự. Nét đẹp này không phô trương ra bên ngoài nhưng lại khiến người xung

    quanh yêu quý mình. Hằng ngày chúng ta gặp gỡ bao nhiêu chuyện, tiếp xúc bao nhiêu chuyện.

    Lời cảm ơn khi được bạn bè giúp đỡ, cảm ơn khi đi lạc đường được một người lạ chỉ giúp, cảm ơn

    vì hôm nay xe thủng xăm và có người đưa mình về. Chỉ là một lời nói đơn giản và rất dễ dàng thể

    hiện. Hoặc đơn giản hơn là nói lời cảm ơn ba mẹ vì đã nuôi dạy mình lớn khôn, có thể tự lập được.

    Nhưng dường như lời nói cảm ơn với ba mẹ lại khó khăn vì bạn nghĩ nó sáo rỗng, không thật. Đây

    là lời cảm ơn chân thành nhất mà ba mẹ vẫn mong một lần con cái sẽ nói với mình. Giá như ai

    cũng biết nói lời cảm ơn thì thế giới sẽ toàn là màu hồng, ai cũng sẽ hết lòng vì người khác. Xã hội sẽ tiến bộ hơn văn minh hơn. Giữa người với người sẽ tràn ngập yêu thương. Hãy nói cảm ơn với tất cả và đặc biệt là cảm ơn những thất bại vì chính những thất bại ấy đã cho ta thêm kinh nghiệm để có những thành công sau này. Những người trẻ chúng ta phải học để nói lời cảm ơn. Nó không chỉ là một truyền thống tốt đẹp mà nó còn là những cư xử đẹp để mọi người yêu thương và chia sẻ cho nhau nhiều hơn. Vậy hãy cảm ơn và đừng ngần ngại nói lời cảm ơn với tất cả yêu thương.

    27. Viết đoạn văn ngắn bàn về : Lời Xin Lỗi

    Có ai đó đã từng nói: “Một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn sự im lặng”. Quả thật như vậy, lời xin

    lỗi là cái cúi đầu, cái khoanh tay lễ phép và lời chân thành: cháu xin lỗi, em xin lỗi, bác xin lỗi,

    thầy xin lỗi…Nhưng trong cuộc sống này đã mấy ai làm được điều đó. Lời xin lỗi khi mình làm sai

    không chỉ là cách thể hiện thái độ biết lỗi, tự nhận thấy sai lầm mà còn là phép lịch sự trong giao

    tiếp, ứng xử giữa người với người. Lời xin lỗi là thể hiện sự tôn trọng và khiến người nghe cảm

    thấy hài lòng, vui vẻ, chấp nhận, bỏ qua, làm cho mối quan hệ tốt đẹp hơn. Còn người xin lỗi thì

    cảm thấy nhẹ lòng và trên hết là ý thức được trách nhiệm của mình trước hành động sai trái. Hành

    động của cậu bé 8 tuổi ở Hải Phòng lỡ làm vỡ gương ô tô đã viết giấy gửi lời xin lỗi và số điện

    thoại ngỏ ý đền bù cho chủ nhân chiếc ô tô để trước cổng trường mà báo chí đưa tin trong suốt thời

    gian qua khiến chúng ta phải suy ngẫm. Cho nên biết nói lời xin lỗi là một hành động lịch sự làm

    cuộc sống xã hội trở nên văn minh, tốt đẹp hơn. Cần phê phán những kẻ thiếu tự trọng, thiếu dũng

    cảm, làm sai nhưng bảo thủ không nhận trách nhiệm. Cũng qua đây chúng ta cần rút ra bài học cho

    mình: cần phải nghiêm túc nhận lỗi khi làm sai, biết nói lời xin lỗi chân thành cũng như dũng cảm,

    tự trọng trước những sai lầm của bản thân.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “ước mơ – khát vọng”

    “Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ!”. Quả thật là vậy, chúng ta sẽ chỉ là tồn tại nếu không có ước mơ và mục tiêu cho riêng mình. Ước mơ là khát vọng là những điều tốt đẹp mà ta luôn muốn hướng tới. Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn nếu ta biết ước mơ biết phấn đấu. Sống là phải biết ước mơ phải nghĩ tới những điều cao đẹp. Chính ước mơ làm cuộc sống chúng ta thêm động lực. Và ước mơ cũng chính là ngọn núi lửa luôn âm ỷ cháy trong tim ta và hối thúc, đánh thức chúng ta mỗi ngày. Khi chúng ta có ước mơ và hoài bão thì cuộc sống chúng ta trở nên lãng mạn hơn, bay bổng hơn. Nó chính là liều thuốc tinh thần kích thích chúng ta nỗ lực phấn đấu. Tuy nhiên cũng cần phải phân biệt được giữa ước mơ và tham vọng. Tham vọng có thể hướng đến những điều tốt đẹp nhưng nó mang tính

    chất cá nhân ích kỷ, háo thắng và phần lớn kẻ tham vọng bao giờ cũng thất bại. Chúng ta cũng cần

    phê phán những kẻ sống thiếu ước mơ, sống không hoài bão. Họ giống như những loài côn trùng

    chỉ biết rúc mình trong bóng đêm mà không biết đâu là ánh sáng. Và mỗi chúng ta hãy nuôi dưỡng

    cho mình một ước mơ, hãy chăm chút cho ước mơ lớn lên và trưởng thành mỗi ngày. Vâng! “đủ

    nắng hoa sẽ nở. Đủ gió chong chóng sẽ quay. Đủ yêu thương hạnh phúc sẽ đong đầy” và chắc chắn

    đủ ước mơ bạn sẽ gặt hái được thành công.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Niềm tin”

    Bạn có thể bị lừa dối nếu bạn tin tưởng quá nhiều nhưng nếu bạn không có lòng tin thì bạn sẽ

    không tồn tại được. Đúng là như vậy, niềm tin là sự tin tưởng đặt hết mọi thứ vào người khác hoặc

    điều gì đó. Nếu bạn là một người có niềm tin thì đảm bảo với bạn rằng bạn là một trong những

    người hạnh phúc nhất. Vì niềm tin chính là một loại thuốc tăng lực một nguồn động lực tuyệt vời

    cho chúng ta. Nó giúp chúng ta tự tin vào bản thân mình vượt qua mọi trở ngại và đạt được thành

    công vượt bậc trong cuộc sống. Tại sao lại có những người khuyết tật những trở thành huyền thoại

    chỉ đơn giản là họ có niềm tin vào bản thân và vào cả thế giới. Câu hỏi đặt ra là cuộc sống sẽ như

    thế nào nếu chúng ta không có niềm tin vào bất cứ thứ gì? Chắc chắn với bạn rằng sẽ vô cùng

    khủng khiếp. Chúng ta sẽ chẳng có động lực làm bất cứ điều gì trong cuộc sống và thậm chí cũng

    chẳng thể có nổi một ước mơ. Vì có mơ bạn cũng chẳng tin tưởng vào bản thân để thực hiện nó.

    Bạn sẽ luôn ở trong tâm trạng ngờ vực không tin vào bất cứ điều gì. Nếu vậy thì bạn sẽ không thể

    nào tồn tại chứ đừng nói đến chuyện tiến bộ. Đã sống ở trên đời thì phải có cho mình một niềm tin.

    Chỉ có niềm tin và sự quyết tâm mới có thể đưa bạn đến thành công. Nhưng phải nhớ rằng niềm tin

    và sự mù quáng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hãy luôn luôn tỉnh táo để vượt qua được

    những cám dỗ và không bao giờ mù quáng tin vào những điều không có thật. Hãy tập cho mình

    một thói quen tốt nên tin vào những điều tốt đẹp. Đừng bao giờ đánh mất niềm tin vào bản thân

    mình, chỉ cần bạn tin là mình có thể làm được thì bạn lại có thêm lý do để thực hiện điều đó.

    Bùi Nhật Quỳnh Anh

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Bài số 2.

     

    Steven Jobs – cựu CEO của đại gia công nghệ Apple – đã nói một câu mà tôi rất tâm đắc: “Đôi khi cuộc đời sẽ ném gạch vào đầu bạn. Nhưng đừng bao giờ đánh mất niềm tin”. Vậy, niềm tin được nhắc đến trong câu nói trên được hiểu như thế nào? Đó chính là một trạng thái tinh thần tồn tại trong ý thức của mỗi người, thường gắn với những cảm xúc tích cực, với ước mơ, khát vọng về tương lai. Trong cuộc sống của tất cả chúng ta, niềm tin đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bởi trong cuộc sống, chẳng phải lúc nào mọi chuyện cũng diễn ra tốt đẹp, ai rồi cũng có lúc vấp ngã hay thất bại thảm hại. Rơi vào tình huống ấy, nếu mất đi niềm tin, sẽ chẳng còn nguồn sức mạnh nào có thể nâng bạn dậy và bước tiếp con đường đã chọn. Thử hỏi, trong những tháng ngày bôn ba nơi đất khách quê người, thiếu đi sự tin tưởng vào một tương lai tươi sáng hơn cho dân tộc, liệu rằng Bác Hồ có thể tìm được con đường cách mạng vô sản và dùng nó để giải phóng đất nước ta hay không? Vậy nhưng, một thực trạng đáng buồn hiện nay là một bộ phận giới trẻ ngày nay quá dễ dàng gục ngã trước thử thách khó khăn, trở nên tự ti, bi quan. Số khác lại quá tự phụ, dẫn đến những niềm tin sai lệch, hão huyền về bản thân. Thế hệ trẻ ngày nay cần xa rời những lối sống như vậy, nghiêm túc học tập và rèn luyện, phát triển các kĩ năng sống và khám phá được khả năng tiềm ẩn của mình. Bởi chỉ khi biết được mình là ai, mình có thể làm được những gì, chúng ta mới có thể xây dựng được một niềm tin vững chắc cho tương lai .

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Vị Tha”

    “Chúng ta đầy khiếm khuyết và sai lầm; hãy để chúng ta cùng tha thứ cho sự nực cười của nhau – đó là luật đầu tiên của tự nhiên” (Voltaire). Cuộc sống sẽ bớt đi những điều nực cười nếu bạn và tôi biết nuôi dưỡng cho mình lòng vị tha. Chỉ là một cái gật đầu chấp nhận lời xin lỗi, một nụ cười là một lời tha thứ sau lỗi lầm của người khác hay hi sinh vì lợi ích chung nhưng cũng đủ để xóa tan những sắc màu ma mị đang làm sầu não tâm hồn con người. Vị tha không đơn thuần là một đức tính tốt mà còn là liều thuốc chữa lành vết thương, là chìa khóa mở cánh cửa cơ hội hoàn thiện bản thân mà ta nên trao cho người đang cần.Trong lớp có học sinh học kém hơn, bạn không dè bỉu, xa lánh mà sẻ chia, giúp đỡ bạn mình học tốt. Trong tập thể có thành viên mắc lỗi, làm điều sai trái, bạn không lên án gay gắt mà ngược lại, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để giúp họ sửa sai. Chắc chắn cuộc sống chúng ta sẽ tươi đẹp hơn, tập thể vững mạnh hơn, đó cũng chính là cách bạn đang gieo trồng một hạt giống tốt lành cho tâm hồn nhân loại, cho quá trình trưởng thành của nhân cách một con người. Song vẫn còn không ít cá nhân nhỏ nhen, khép mình vào khuôn khổ của sự khắt nghiệt, như mảnh đất cằn cỗi chẳng bao giờ chịu nuôi dưỡng hạt giống nào. Giữa thế giới lung linh vạn ánh sáng nhân ái và khu vườn tăm tối với hơi thở của sự lạnh lùng, đâu sẽ là nơi hạnh phúc được

    lớn dần? Học cách tha thứ là học cách sống đẹp cho người và cho bản thân. Đó cũng là cách bạn tận hưởng và tận hiến giữa cuộc đời!

    Quảng Võ Kim Nhung

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    31. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Giá Trị Của Sách

    Triết gia Pháp Rene Descartes từng nói “Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với các bộ óc

    tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã trôi qua”. Sách là kết tinh của tri thức, trí tuệ và tâm hồn. Như

    một ngọn lửa bé nhỏ mà sáng rực, sách không những bồi đắp cho dòng chảy tri thức con người

    giàu phù sa, là nguồn thông tin, trao đổi kiến thức, giao lưu giữa hàng nghìn vùng miền xa lạ mà

    còn có sức mạnh thắp sáng tâm hồn nhân loại. Xóa tan u buồn, thất vọng hay nhắc nhở những ai

    còn non trẻ tránh sai lầm là sứ mệnh của “người bạn trung thành” này, bởi lẽ sách sinh ra là vì sự

    tiến bộ không ngừng của con người. Bầu bạn với sách là cách dễ nhất để tâm tĩnh tại, tầm nhìn

    rộng mở để rồi khám phá được muôn điều hay, mới lạ, trong đó có cả cái hay của tác giả lẫn cái tốt

    của giá trị cuộc sống, tri thức từ xa xưa đến nay. Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Lão Hạc của Nam

    Cao với những tấn bi kịch người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám phải gánh chịu

    để hiểu rõ được bất công của xã hội và càng thấm thía hơn giá trị cuộc sống tự do, công bằng, bác

    ái. Hay “Hạt giống tâm hồn” với các câu chuyện cổ tích đời thường, bài học nhân văn, lời khuyên

    quý báu để ta vững chắc từng bước đi trên đường đời. Bên cạnh đó, vẫn còn những loại sách vô bổ

    đang làm xấu vầng hào quang trí tuệ, chúng ta cần có sự chọn lọc thích hợp để làm giàu Trí và

    Tâm một cách hoàn hảo nhất.

    Quảng Võ Kim Nhung

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Bài 2: Văn hóa đọc

    Văn hóa đọc là yếu tố vô cùng quan trọng trong đời sống của chúng ta. Văn hóa đọc chính là thái

    độ, là cách ứng xử của chúng ta với tri thức sách vở. Trước khi có các phương tiện nghe nhìn, sách

    là con đường lớn nhất để con người tiếp cận thông tin, văn hóa, tri thức. Đọc sách là một trong

    những cách thức giúp con người thư giãn, tích lũy kiến thức tăng cường khả năng tư duy cũng như

    hướng con người đến gần hơn với “chân-thiện-mĩ”. Vì vậy, có thể nói, quốc gia nào đẩy mạnh

    được văn hóa đọc, trình độ dân trí sẽ cao và tỉ lệ tội phạm sẽ thấp hơn rất nhiều. Nhật Bản, quốc

    gia hiếm hoi trên thế giới có số lượng sách xuất bản hằng năm tăng, là một ví dụ điển hình. Thế

    nhưng, giới trẻ Việt Nam ngày nay có vẻ thờ ơ, lãnh cảm với văn hóa đọc sách, để lại những hệ

    quả tiêu cực cho mỗi cá nhân cũng như sự phát triển của toàn dân tộc. Nguyên nhân có lẽ xuất phát

    từ sự bùng nổ của công nghệ thông tin với sự xuất hiện của mạng xã hội, game online hay vô số

    các chương trình truyền hình. Vậy, giải pháp nào để phát triển văn hóa đọc ở nước ta? Thiết nghĩ,

    ta nên tổ chức thêm nhiều ngày hội sách, phát động phong trào đọc sách trong trường học cũng

    như các cơ quan, tổ chức, tận dụng công nghệ để đa dạng hóa các loại hình phục vụ, tạo thêm hứng

    thú cho người đọc. Tóm lại, tất cả chúng ta cần hiểu và trân trọng hơn văn hóa đọc, biến đọc sách

    trở thành một sở thích hàng ngày. Bởi đúng như Cựu Tổng thống Hoa Kì Barack Obama từng nói:

    “Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn.”

    32. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200) chữ bàn về lối sống Ích Kỉ

    Viên thuốc độc duy nhất bóp chết tâm hồn con người bởi vị đắng và vị của sự khắc nghiệt có lẽ là

    ích kỉ. Nó sinh ra từ chính sự đố kị, ghen ghét, không gian chật hẹp trong trái tim bạn khi ở trong

    một tập thể, cộng đồng. Ích kỉ thể hiện ở nhiều mặt, có thể là không thích san sẻ vì sợ bản thân

    thiệt thòi hơn, là nhỏ nhen trước sự hối lỗi của người khác…Song thử hỏi trong cuộc sống này ai

    hạnh phúc hơn ai, ai thành công hơn ai…? Biết chia sẻ với mọi người có nghĩa là bạn đang ghép

    cho trái tim mình những tế bào nhân ái mạnh khỏe, còn ích kỉ giữ khư khư dẫu những gì nhỏ nhặt

    nhất cũng đủ làm già nua gốc rễ tâm hồn. Bởi bạn đang tự tách mình khỏi mối quan hệ với mọi

    người, cộng đồng, khỏi tình cảm ấm áp của nhân loại. Chưa đủ, ích kỉ chính là con virus đẩy lùi sự

    phát triển văn minh con người, rõ nhất là hệ lụy của nó-căn bệnh vô cảm.Chỉ vì chỉ ích kỉ, xem

    trọng bản thân mà không quan tâm đến người khác mà không ít những vụ vợ chồng , anh em,.. sát

    hại nhau vì một câu nói, hành động không vừa mắt, hay vì của cải cha mẹ chia không vừa ý. Chúng

    ta cần lên án những kẻ vị kỉ cá nhân nghiêm trọng kia, giúp đỡ những ai còn đang mềm yếu trước

    virus ích kỉ và ca ngợi, trân trọng lòng tốt của mọi người.Cuộc sống nồng nàn hương vị hạnh phúc

    khi ta đối mặt với tinh xấu-ích kỉ, đương nhiên sẽ ngập tràn oán hờn nếu lựa chọn xuôi theo nó.

    Quảng Võ Kim Nhung

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Đừng Dối Trá”

    Một trong những chiếc gai xuất hiện trong đời thường làm trái tim đau đớn chính là Dối Trá. Dối trá là sự thiếu trung thực, nói không thật, không đúng với sự thật nhằm che giấu sự thật hoặc mưu cầu một lợi ích nào đó. Dối trá là không thành thật, nói và làm không thống nhất với nhau nhằm một mục đích không tốt đẹp. Sự dối trá để lại nhiều tác hại nghiêm trọng. Nói dối, làm giả làm suy giảm lòng tin giữa con người với con người. Làm cho mọi người nhìn nhận vấn đề không đúng với bản chất vấn đề. Dối trá làm cho mọi chuẩn mực không được nhìn nhận đúng. Gây ra nhiều tác hại nguy hiểm về đạo đức, làm cho cuộc sống không ổn định. Tạo ra sự đau khổ và căm ghét trong lòng người khác khi họ biết mình bị dối trá. Cần phân biệt nói dối và sự dối trá, bản chất của chữ Dối đã là xấu, Dối trá lại càng xấu hơn nhưng nói dối thì đôi khi không phải là xấu. Một người mắc bệnh hiểm nghèo nhưng người thân giấu người bệnh nguồn tin ấy cũng là điều tốt; người cha người mẹ nói dối với con cái về sức khoẻ của mình cũng là để cho con cái yên tâm công việc mà không phải bận lòng lo lắng. Qua đây chúng ta cần lên án thói dối trá và rèn cho mình đức tính trung thực, sống đúng với lương tâm và sống cao thượng cho xứng đáng với danh nghĩa Con Người.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Bình yên”

    Khi bạn rời xa vòng tay của bố mẹ đó cũng là lúc bạn trưởng thành. Bạn bị cuốn vào những bộn bề

    lo toan của cuộc sống. Và bạn biết đó không ai có cuộc đời trải đầy hoa hồng cả sẽ có những lúc

    mọi thứ quay lưng lại với bạn khiến bạn bế tắc tuyệt vọng, điều bạn cần ngay lúc đó là gì? Đó

    chính là sự bình yên ngay trong chính tâm hồn của bạn. Vậy bình yên là gì nhỉ? Hẳn mỗi người

    đều có câu trả lời cho riêng mình. Nhưng tôi chắc chắn nếu có thứ gì đó đọng lại sau những biến cố

    thăng trầm của cuộc đời thì đó chính là bình yên. Bình yên đơn giản là mỗi sáng sớm nhâm nhi

    tách cà phê bên những giọt nắng rơi trên cửa sổ. Bình yên là dù bạn có đi đâu vẫn có người chờ

    bạn quay trở về. Bình yên là khi bạn biết có người yêu thương bạn vô điều kiện, chấp nhận việc

    bạn sống như một đứa trẻ. Đơn giản và mộc mạc thế thôi. Vậy hà cớ gì bạn không cho bản thân cơ

    hội tận hưởng điều tuyệt vời đó? Ngưng sự buồn phiền toan tính lại hãy để cho bản thân cảm nhận

    được cảm giác an toàn và hạnh phúc nhất cuộc đời này. Hãy để bình yên tiếp cho bạn sức mạnh để

    vượt qua những nỗi đau trong cuộc sống bất ổn này. Hãy bỏ qua ngày tháng mệt mỏi để tìm sự

    bình yên cho mình. Bạn sẽ hiểu rằng có những thứ không ai có thể dạy bạn được mà chính bản

    thân bạn phải cảm nhận tự nắm bắt lấy. Bình yên không ở đâu xa nó tồn tại trong tâm hồn của bạn. Suy cho cùng bình yên đâu phải thứ gì đó quá xa xỉ phải không tôi?

    35. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Hãy sống trung thực”

    Dân tộc Việt Nam ta có rất nhiều phẩm chất tốt đẹp được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và

    một trong số đó là đức tính trung thực. Vậy “tính trung thực” là gì? “Trung thực” nghĩa là ngay

    thẳng, thật thà, nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, dám nhận lỗi khi mình mắc khuyết

    điểm. Trong cuộc sống, người có đức tính trung thực luôn tôn trọng sự thật, chân lý và lẽ phải.

    Trung thực là một phẩm chất cao đẹp làm nên nhân cách con người. Trung thực không chỉ là một

    chính sách. Nó có thể là một nguyên tắc. Có một sự khác biệt giữa chính sách và nguyên tắc. Một

    chính sách có thể được thay đổi khi nó không còn đem lại hiệu quả. Còn quy tắc, cái mà bạn không

    thể thay đổi ngay cả khi nó gây ra thiệt hại. Có những nguyên tắc buộc ta phải bỏ đi theo thời gian

    và thời đại chứ không bất biến. Lòng trung thực là cần thiết cho một cuộc sống thật sự. Một người

    có thể lừa cả thế giới nhưng làm sao anh có thể lừa gạt tâm hồn của chính mình? Một người không

    trung thực luôn sợ cái gì đó. Điều này làm cho họ có cảm giác sợ hãi. Một người trung thực có thể

    là một người nghèo, phải sống một cuộc sống khó khăn. Tuy nhiên, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc.

    Nhưng ngày nay, hầu như mọi người đều không tập cho mình làm quen được với tính trung thực.

    Lòng trung thực mặc dù không đem lại cho ta sự giàu có và quyền lực, nhưng nó mang đến cho ta

    một xã hội công bằng và có sự tin tưởng giữa người với người. Ngược lại, gian dối và không trung

    thực sẽ biến con người ta thành những kẻ giả tạo, đạo đức con người dần dần bị hạ thấp, phá bỏ

    những nét đẹp truyền thống của dân tộc. Cũng qua đây chúng ta cần rút ra bài học cho mình: là

    một con người sống trong xã hội hiện đại, đức tính trung thực là không thể thiếu cho bản thân, cần

    tích cực rèn luyện đức tính đáng quý này để hoàn thiện chính mình, trở thành người công dân tốt

    đưa đạo đức xã hội ngày càng đi lên, đất nước ngày một phát triển hơn nữa.

    36. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về mạng xã hội Facebook

    Hiện nay cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã cho ra đời nhiều mạng xã hội. Nhắc đến mạng xã hội thì không thể thiếu Facebook – một trang mạng rất quen thuộc đối với thế giới nói chung và Việt Nam ta nói riêng. Không thể không nhắc đến những gì mà mạng xã hội làm được cho con người: giao lưu, kết bạn, giải trí, quảng bá thương hiệu, bán hàng…Nhưng chúng ta cũng không phủ nhận những tác hại khôn lường từ mạng xã hội mang lại. Mạng xã hội đã và đang làm mất quỹ thời gian ngắn ngủi của con người. Quá tập trung mạng xã hội, chúng ta dường như

    quên rằng mình phải làm rất nhiều việc. Quá rong chơi trong thế giới ảo ta quên mất mình cần sống cho mình, cho mọi người xung quanh. Chính mạng xã hội đang dần dần thủ tiêu mọi giao tiếp của con người. Ngồi đâu, ở đâu đâu bạn cũng chỉ thấy người ta chúi đầu vào điện thoại và quên đi việc phải trò chuyện cùng nhau. Đó là chưa nói đến việc những thông tin trên mạng xã hội là thông tin chưa qua kiểm chứng, thật giả lẫn lộn. Chẳng những gây hại về sức khỏe, sản phẩm công nghệ này còn tác động tiêu cực về mặt tinh thần của con người, đặc biệt là giới trẻ. Do nguồn thông tin trên mạng không có ai giám sát, kiểm duyệt nên còn tràn lan rất nhiều thông tin sai lệch, văn hóa phẩm đồi trụy, trong khi giới trẻ còn chưa đủ nhận thức để sàng lọc thông tin, dễ dẫn đến nhận thức lệch lạc, kéo theo đó là hành động sai lầm. Bị kẻ xấu lợi dụng tên tuổi, hình ảnh vào những việc làm phạm pháp gây ảnh hưởng tới uy tín và lòng tin của người khác. Có nhiều học sinh cũng chính vì nghiện mạng xã hội mà việc học tập ngày càng đi xuống. Lo sống ảo nên quên mất bản thân cần phải cố gắng trong đời thực. Bởi vậy chúng ta cần nhận thức được ý nghĩa thực sự của mạng xã hội và cần phải sử dụng mạng xã hội một cách thông minh và phải làm chủ nó cũng như làm chủ được bản thân trước những cám dỗ.

    37. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về thói vô trách nhiệm

    Như một thứ axit vô hình, thói vô trách nhiệm có thể ăn mòn cả xã hội của chúng ta. Thật vây, trách nhiệm là có ý thức, có tính tự giác, làm tròn bổn phận của mình với những công việc được giao. Còn vô trách nhiệm là vô tâm, cẩu thả, không quan tâm đến đúng sai, phải trái. Bởi thế, thói vô trách nhiệm để lại những hậu quả nghiêm trọng. Thói vô trách nhiệm làm chậm sự tiến bộ của xã hội và gây ra những thất thoát, lãng phí. Kẻ vô trách nhiệm không hoàn thành nhiệm vụ dẫn đến mất lòng tin của mọi người. Đôi khi sự vô trách nhiệm của bản thân cũng mang đến những thất bại

    • chề. May mắn thay, thói vô trách nhiệm ấy chỉ là một bộ phận nhỏ, còn bên cạnh đó là cả một dân tộc với những con người luôn đề cao trách nhiệm và sống hết mình vì những nhiệm vụ cao cả. Vì vậy, chúng ta cần rút ra bài học cho riêng mình: cần phải có trách nhiệm với bản thân với gia

    đình và xã hội, đừng để sau này chúng ta phải hối hận vì hành động vô trách nhiệm của mình.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Mất mát lớn nhất của đời người là đánh

    mất niềm tin”

    Con người ta không thể sống mà không có niềm tin vào bất cứ thứ gì, vì thế đối với mỗi con người khi đánh mất niềm tin thì đó chính là một sự mất mát lớn khó có thể lấy lại được. Để hiểu được điều đó đầu tiên chúng ta cần phải hiểu được niền tin là gì? Niềm tin là vào chính mình, tin vào

    năng lực, trí tuệ, phẩm chất, giá trị của mình trong cuộc sống. Đó còn là mình hiểu mình và tự

    đánh giá được vị trí, vai trò của mình trong các mối quan hệ của cuộc sống. Niềm tin vào bản thân

    giúp con người vượt lên mọi thử thách và trưởng thành. Trong cuộc sống, có biết bao con người

    không may mắn, họ phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách, bất hạnh. Nhưng càng khó khăn, bản

    lĩnh của họ càng vững vàng. Họ tin vào ý chí, nghị lực, khả năng của bản thân và họ đã vượt lên,

    chiến thắng tất cả. Nếu con người không có ý chí, nghị lực, niềm tin vào bản thân sẽ không đủ bản

    lĩnh để vượt qua, không khẳng định được mình, mất tự chủ, dần buông xuôi, rồi dẫn đến đánh mất

    chính mình. Khi đã đánh mất chính mình là đánh mất tất cả, trong đó có những thứ quý giá như:

    tình yêu, hạnh phúc, cơ hội… thậm chí cả sự sống của mình đây quả thực là những mất mát quá

    lớn khi con người đã đánh mất niềm tin. Vì vậy, con người biết tin yêu vào cuộc sống, tin vào sức

    mạnh, khả năng của chính mình, biết đón nhận những thử thách để vượt qua, tất yếu sẽ đạt đến bến

    bờ của thành công và hạnh phúc. Trong thực tế, có những người mới va vấp, thất bại lần đầu

    nhưng không làm chủ được mình, không tin vào mình có thể gượng dậy mà từ đó dẫn đến thất bại.

    Khi làm việc không tự tin vào mình, không có chính kiến của mình mà phải thực hiện theo ý kiến

    tham khảo của nhiều người khác thì dẫn đến tình trạng “đẽo cày giữa đường”, “lắm thầy thối ma”.

    Qua đó chúng ta rút ra được bài học trong mọi hoàn cảnh sống, đặc biệt khi gặp những khó khăn,

    thử thách cần nêu cao bản lĩnh, không đánh mất niềm tin vào chính mình. Luôn sống tự tin nhưng

    tránh chủ quan. Phải cảnh giác với những việc tự tin mù quáng. Phải tỉnh táo để biết lắng nghe, biết

    học hỏi, hợp tác; biết tu dưỡng phẩm chất và trau dồi năng lực của bản thân vì đó là cơ sở của niềm

    tin.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Tình yêu thương”

    Nếu cuộc sống là những ngày thường nhật kéo dài thì yêu thương sẽ rải lên những hạt nắng ấm áp,

    dịu dàng và ngọt ngào nhất. Sức mạnh chân thành của tình yêu thương rất khó để giải thích, nhưng

    rất dễ để nhận ra. Nó chính là tình cảm thiêng liêng của đấng sinh thành với con cái, tình cảm

    khăng khít của anh em, tình làng nghĩa xóm, sự chân thành của những người bạn hay cũng chính là

    tình thương giữa người với người. Suy cho cùng, yêu thương lại chính là loại vũ khí lợi hại nhất

    của con người. Bởi nó có khả năng chuốc say gã xấu xa trong tâm can ta, nó có khả năng thức tỉnh

    một trái tim đong đầy yêu thương, và nó còn có khả năng dìu bước con người ta hướng thiện nữa!

    Một Chí Phèo, “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, sau cuộc gặp gỡ bản năng, chính tình thương của

    Thị Nở, chính bát cháo hành nồng nàn yêu thương của Thị đã cảm hóa Chí. Ấy chẳng phải là sức

    mạnh của tình yêu thương hay sao! Đừng biến cuộc sống của bạn trở nên vô vị và cằn cỗi như

    mảnh đất bị bỏ hoang. Mảnh đất ấy thì lãng phí, còn bạn thì thật đáng trách! Hãy gieo lên mảnh đất tâm hồn mình những hạt giống yêu thương, rồi ánh ban mai sẽ khẽ hôn nhẹ để chúng vươn mình và lan tỏa yêu thương đi muôn nơi. Bạn biết không, được yêu thương là một hạnh phúc nhưng yêu thương người khác lại càng hạnh phúc hơn.

    Nguyễn Thị Thuỳ Trang

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Lòng can đảm”

    Quả thực, mỗi chúng ta như một vòng tròn bị khuyết mà cuộc sống thì luôn dung nạp những yếu tố đối nghịch nhau. Trong đó, khắc tinh của “hèn nhát” chính là “can đảm”. Người Can đảm trước hết là người không hèn nhát, là người dám đối mặt với sự thật, là người dám đương đầu với những khó khăn thử thách của bản thân, dám đối diện với chính mình… Nếu bất ngờ được hỏi về những tấm gương tiêu biểu của lòng can đảm, tôi chẳng ngần ngại gì mà sẽ trả lời ngay: người con gái anh hùng Võ Thị Sáu đứng trước họng súng quân địch mà vẫn cất cao tiếng hát, chú bé loắt choắt chạy như bay dưới làn đạn quân thù để đưa mật thư cho kháng chiến… Nói tóm lại, can đảm là một đức tính vô cùng cần thiết đối với mỗi con người và người can đảm là người đáng khâm phục. Khi ta có lòng can đảm, nghĩa là ta đã nắm giữ chiếc chìa khóa vạn năng giúp ta có sức mạnh vượt qua những cánh cửa chứa đựng khó khăn, thử thách. Cần phê phán những con người hèn nhát, không dám đương đầu với thử thách, không dám vượt qua chính mình, thấy gian khổ thì chùn bước, thấy nguy hiểm thì không dám hành động. Và sau cùng, mỗi chúng ta phải học cách dám đương đầu với những thử thách và hơn cả là can đảm trong trận chiến với chính mình. Đừng quên xếp “can đảm” vào trong chiếc túi hành trang của mình, bạn nhé!

    Nguyễn Thị Thuỳ Trang

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    41. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về t nh “T            PHU”

    “Con người có trăm tính tốt và muôn vàn thói xấu”. Tự phụ là một trong những thói xấu mà những con người ta thường dễ mắc phải. Tự phụ, hiểu nôm na là thói tự cao tự đại, tự đánh, tự đánh giá cao bản thân của mình, luôn cho bản thân là “cái rốn của vũ trụ”. “Tự phụ” là một “căn bệnh nan

    y” mà người “mắc bệnh” luôn trong trạng thái ảo tưởng về bản thân, luôn muốn thổi phồng sự thật, huênh hoang, khoác lác, hợm hĩnh đến mức lố bịch. Cái họ nhận được chỉ là sự xanh lánh, cô lập hay thậm chí là thất bại. Thuở vừa nổi tiếng trên thi đàn “Thơ mới”, Xuân Diệu đã viết : “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/Không có chi bè bạn nổi

    cùng ta”. Để rồi sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thi sĩ tự phê phán đó là nhận thức ấu trĩ,

    nông nổi của tuổi trẻ. Quả thực, tuổi trẻ thường hăng hái và xốc nổi, hay ngộ nhận về mình. Có

    chút tài năng nào đó đã vội cho mình là “trung tâm vũ trụ”. Bản thân tôi cũng đã từng tự phụ về

    năng lực của bản thân nhưng kết quả tôi nhận được chỉ là sự thất bại. Vậy, để khắc phục thói tự

    phụ, ta cần sống khiên nhường, hòa đồng, biết lắng nghe và chia sẻ, không ngừng học hỏi; dám phê

    bình và tự phê bình bản thân, không nên giấu dốt… Hãy học cách khiêm tốn, vì “khiêm tốn là một

    loại nhân đức tu chỉnh thói tự phụ”.

    Nguyễn Thị Thuỳ Trang

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    42. Vết đoạn văn ngắn bàn về lòng TỰ TRỌNG

    Nếu “tự phụ” là một trong những thói xấu của người đời thì “tự trọng” lại là một nét tính cách được coi là nền tảng để làm nên phẩm giá cao quý của một con người chân chính. Bởi „‟tự trọng‟‟ là coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình. Từ ngàn xưa, ông cha ta đã đặt danh dự lên hàng đầu :“Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Tốt danh hơn lành áo”… Tính “tự trọng” không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một quá trình được giáo dục và tự tu dưỡng lâu dài của mỗi cá nhân. Khi một học sinh không thuộc bài nhưng dứt khoát không quay cóp của bạn bên cạnh, không giở sách để chép, đó là “tự trọng”. Có lỗi, biết nhận và biết sửa lỗi, đó là “tự trọng”. Việc gì làm được thì cố gắng làm, không phiền lụy đến người khác, đó là “tự trọng‟‟. Không làm điều gì tổn hại đến thanh danh, không bị khuất phục trước cường quyền, bạo lực; không bị mua chuộc bởi tiền tài, danh vọng, đó là “tự trọng”. Tóm lại, “tự trọng” là một đức tính đáng quý và nghiễm nhiên người có tính tự trọng sẽ được mọi người yêu mến và nể trọng. Song, cũng cần phê phán những kẻ thiếu tự trọng, vì một nguồn lợi cá nhân nào đó mà bán rẻ danh dự và tự chà đạp nhân phẩm của bản thân. Mỗi chúng ta hãy tự có trách nhiệm với danh dự của bản thân, bằng cách rèn luyện tính tự trọng – nền tảng làm nên phẩm giá của một con người chân chính!

    Nguyễn Thị Thuỳ Trang

    12D3 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Thành công là những bậc thang”.

    Đã ai trong các bạn đã định nghĩa được “sự thành công” là gì? Trong thế giới quan của tôi: “thành công là những bậc thang”. “Thành công” là sự nỗ lực, sự phấn đấu và không ngừng hoàn thiện bản thân mình từng ngày từng chút một. “Thành công” là từ có thể dễ dàng nói ra, nhưng trong cuộc sống đã mấy ai có thể đạt được hay nắm được nó một cách dễ dàng? Thành công luôn mang đến cho con người niềm hạnh phúc – bởi, để có được nó – con người phải trải qua nhiều thử thách chông gai. Thành công càng nhiều thử thách chông gai thì thành công mới thật có ý nghĩa. Vì thế – thành công đã cho ta ý chí, bản lĩnh được tôi luyện và trưởng thành trong giông bão. Mặt khác, thành công giống như những bậc thang dẫn ta lên tới đỉnh cao. Chỉ khi con người xem thành công là những bậc thang thì chúng ta mới có thể đạt được nhiều thành công hơn – bởi vì bậc thang thành công không có bậc cuối cùng. Thành công thật khó vươn tới đúng không các bạn? Nhưng khi đạt được rồi, nó sẽ đưa chúng ta tới những nấc thang mới, nhưng dãy lầu mới nhiều khi còn vượt xa hơn những sự thiếu niềm tin, sự kiên trì. Đối với thế hệ trẻ ngày nay xác định được ước mơ và nỗ lực không ngừng để đạt thành công là không dễ. Vì vậy bạn hãy tạo đà cho bước nhảy và đủ dũng khí để vươn tới những bậc thang cao hơn, xa hơn.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “giá trị của lịch sử”

    Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt nam”. Thật vậy, câu nói của Hồ Chủ Tịch chính là lời nhắc nhở sâu sắc với con dân đất Việt về lịch sử nước nhà. Có thể nói, lịch sử là cội rễ của sự hình thành nền văn hóa, là lời giải đáp về gốc tích tổ tiên cha ông mà mỗi con người, mỗi quốc gia đều mang một ẩn số riêng. Lịch sử đem lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn về nguồn cội, về cha ông, tổ tiên, nâng cao thêm lòng tự tôn dân tộc, chắp cho đôi cánh của niềm tự hào về một trang sử đau thương mà oanh liệt của những con người đã hóa núi sông ta. Bên cạnh đó, lịch sử còn đem lại những giá trị truyền thống, của đạo đức mà cha ông ta truyền lại cho con cháu ngàn đời. Trong quá trình dựng nước và giữ nước đầy gian khổ của dân tộc Việt, có biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, nếu không có lịch sử lưu dấu lại những tháng ngày tang thương mà hào hùng đó thì làm sao ta có thể hiểu hết ý nghĩa, giá trị của lịch sử cùng niềm tự hào tự tôn dân tộc là như thế nào? Nhưng trong cuộc sống, có mấy

    ai đứng lại, nhìn về phía sau một thời oanh liệt. Và một thế hệ không biết về lịch sử sẽ dẫn đến cả nhiều thế hệ mù mờ lịch sử kéo theo các giá trị về cội nguồn tổ tiên cũng bị xem nhẹ. Cần phê phán những kẻ lãng quên lịch sử, phủ nhận và làm mất đi lòng tự tôn dân tộc bằng những hành động, lời nói xuyên tạc về lịch sử. Qua đây mỗi chúng ta phải thấy được lịch sử là thước đo nhân phẩm của mỗi con người. Bởi vậy, mỗi công dân đất nước phải có bổn phận kế tục, gìn giữ, bảo vệ và phát huy những giá trị lịch sử, truyền thống của dân tộc.

    Nguyễn Thị Diệu Huyền 12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    45. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Vượt qua Cám dỗ”

    Có nhận định cho rằng: “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”. Thật vậy, chúng ta thường rất khó khan trong việc chiến thắng những cám dỗ đến với bản thân. Cám dỗ là ma lực khiến chúng ta đầu hàng trước những dự kiến ban đầu, sao nhãng trước những công việc còn dang dở. Cám dỗ sẽ ngăn cản bước đi của chúng ta trên con đường tìm kiếm thành công hay chân lí. Bên cạnh đó, cám dỗ sẽ khiến chúng ta dễ dàng hình thành nên những thói quen xấu, tìm kiếm những lí do để biện hộ cho cá nhân, tạo nên những vỏ bọc giả tạo trước những thử thách cuộc sống, hay chỉ là những việc nhỏ nhặt nhưng lại trì hoãn bởi những “lời cám dỗ ngọt ngào”. Khi đi học, chúng ta thường tìm những lí do để bao biện cho việc trễ nải chưa làm bài tập và sự lười biếng đó chính là cơn cám dỗ khó cưỡng nhất đối với học sinh. Nguyên nhân dẫn cám dỗ đến với bản thân đó chính là do ý chí và quyết tâm của chúng ta. Nhưng bạn không thay đổi, hay không muốn thay đổi bản thân để chống lại cơn cám dỗ ngọt ngào khiến con tim tan chảy kia? Muốn chiến thắng cám dỗ ta phải rèn luyện ý chí thật kiên định. Bên cạnh những kẻ để cám dỗ điều khiển khối óc thì còn có những con người có quyết tâm cao độ dù đương đầu trước vô vàn cám dỗ nhưng đã đạp bằng lên tất cả mà vươn đến một mục tiêu, một lý tưởng cao đẹp như nhà diễn giảng tài ba Adam Khoo đã vượt lên mọi cám dỗ bởi bạn bè xung quanh. Và qua đó, mỗi chúng ta cần không ngừng nỗ lực cố gắng vượt qua mọi cám dỗ và gian khó. Thế nên, thay vì ngồi chờ đợi sự cám dỗ lướt qua thì bạn hãy làm gì đó để cơn cám dỗ lụi tàn.

    Nguyễn Thị Diệu Huyền

    12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    46. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Đừng giấu dốt”

     

    “Bất kì một kẻ ngốc nào cũng cố che đậy và hầu hết mọi kẻ ngốc đều làm thế” (Đắc nhân tâm). Quả thế, khuyết điểm không ngoại trừ bất kì ai, không ai có thể mạnh dạn tuyên xưng: tôi là người hoàn hảo! Giấu dốt – một hiện tượng ngày nay đã và đang phổ biến ở đại đa số học sinh, thể hiện qua sự che đậy cái kém cỏi, cái thiếu hiểu biết của mình. Khuyết điểm, kém cỏi hầu hết phát sinh từ ý thức và khả năng vươn lên của mỗi con người và “giấu dốt” có thể khiến chúng ta ngày càng lún sâu trong cái vỏ của sự uyên bác giả tạo. Những hành vi giấu dốt do chính chúng ta tạo nên, nếu đối mặt với thực tại mà xua tay cho qua, nghĩ rằng sẽ không ai biết đến, ta sẽ tiếp tục sống dưới ngôi nhà học thức giả. Nếu chẳng may có ai đó biết được, chỉ rõ mà ta chống chế, phủ nhận, đổ lỗi cho hoàn cảnh thì không những ta không vươn lên được mà đem đến hậu quả khôn lường, càng khiến cho tri thức càng hạn hẹp, uy tín bị suy thoái, mất niềm tin nơi mọi người. Hẳn ai cũng biết đến anh chàng tự kiêu – giấu dốt trong “Tam đại con gà”, anh đã đem đến cho chúng ta những tràng cười thư giãn mà hơn hết đó là bài học cho những kẻ giấu dốt và là hồi chuông cảnh báo cho chúng ta tránh tình trạng che đậy sự kém cỏi, khuyết điểm của mình, bởi “che dấu khuyết điểm của bản thân sẽ không làm ta trở nên tốt đẹp hơn. Uy tín của ta tăng lên nếu ta chân thành công nhận khuyết điểm”.

    Nguyễn Thị Diệu Huyền 12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    47. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về : Cho & Nhận

    Nếu bạn muốn có một cuộc đời đầy ý nghĩa, hài lòng với bản thân và có được sự thăng hoa trong tâm hồn, bạn phải biết chia sẻ – biết cho đi, đồng thời cũng phải biết lĩnh hội – biết đón nhận.Thật vậy, sự sẻ chia, sự đón nhận – mật mã của mọi tình yêu thương . “Cho đi” là san sẻ , là trao tặng đi những giá trị vật chất hay tinh thần mà bản thân có để đem đến cho những người xung quanh .

    “Nhận lại” là đón nhận những món quà vật chất hay tinh thần mà người khác đem đến cho mình . “Cho – nhận” chính là hai khái niệm tưởng chừng như trái ngược nhưng luôn song hành với nhau. Quả thế, đời sống sẽ thối mục nếu ta chỉ lo giữ cho mình nó sẽ nảy nở thêm nếu ta biết chia sẻ cho mọi người. Khi cho đi, thứ mà ta nhận lại chính là niềm hạnh phúc vì đôi môi có hé mở mới nhận lại nụ cười. Chính vì lẽ ấy, sự sẻ chia và đón nhận chắc chắn là đôi cánh đưa ta đến gần hơn với mọi người, đôi cánh “cho – nhận” có thể ôm ấp lấy những tâm hồn nguội lạnh. Bên cạnh những con người biết dung hòa giữa mối quan hệ cho nhận, thì còn đó những con người chỉ biết giữ cho riêng mình, chỉ biết vun vén cho cái tôi cá nhân nhỏ nhen thì tình yêu, hạnh phúc sẽ không bao giờ ghé thăm đến những kẻ chỉ biết nhận mà không biết cho đi. Hãy chia sẻ để biết đời sống thật phong

    phú, hãy đón nhận để biết cuộc sống đáng yêu dường nào! Luôn tâm niệm : “ Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới ngập tràn vui sướng”.

    Nguyễn Thị Diệu Huyền 12D1 – THPT Trấn Biên – năm học 2016 – 2017

    48. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về sự Giản Dị

    Trong cuộc sống không gì quý bằng sự khiêm tốn, và người bạn hiền của khiêm tốn ấy lại là sự giản dị. Giản dị là một phẩm chất cao quý của con người biểu hiện trong lối sống thanh sạch hằng ngày từ lời nói, cách ăn mặc, lối sống đều hết sức bình dị, mộc mạc. “Lối sống giản dị” là lối sống đơn giản, không cầu kỳ, phức tạp, không khoa trương, xa hoa. Sống phù hợp với hoàn cảnh bản thân và xã hội. Đó là lối sống lành mạnh, chuẩn mực. Bác Hồ từng nói: Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, cần với kiệm phải đi đôi với nhau. Giản dị và tiết kiệm là phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi người. Người sống giản dị, tiết kiệm sẽ được mọi người xung quanh yêu mến. Người sống tiết kiệm là thể hiện sự quý trọng kết quả lao động của bản thân và người khác. Hai phẩm chất trên góp phần làm cho đời sống giao tiếp giữa con người với con người trở nên thân thiện, hoà bình và phồn vinh xã hội. Ngày nay, không ít người có chút tiền lại đem đi phung phí. Có những mâm tiệc trị giá chục triệu bạc, nhằm khoe gia thế; có những tiệc cưới phung phí đến kinh hoàng; sự lãng phí tràn lan. Một số cán bộ nhà nước tha hoá đạo đức và kém năng lực đã làm lãng phí tiền của nhân dân. Tất cả những điều vừa nói đã đi ngược với truyền thống của dân tộc ta và làm chậm sự phát triển của đất nước. Ngày nay, đất nước chúng ta đang vươn vai cùng với năm châu trong thế hội nhập, nhưng nội lực kinh tế đất nước chúng ta chưa thật sự lớn mạnh. Vì thế, chúng ta càng phải sống giản dị và tiết kiệm. Là thanh niên – thế hệ trẻ – người chủ tương lai của đất nước lại càng phải ý thức nhiều hơn về điều đó. Hãy dành thời gian học tập nhiều hơn vui chơi. Hãy giản dị để cuộc sống đáng yêu hơn.

    49. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Lạc quan

    Lạc quan là một thái độ sống vô cùng quan trọng góp phần tạo nên một cuộc sống tốt đẹp đối với tất cả mọi người. Lạc quan tức là không lo lắng thái quá, tinh thần luôn thoải mái dù khó khăn cận kề. Trong cuộc sống, lạc quan luôn là người bạn đồng hành của mỗi chúng ta để đưa chúng ta vượt qua những khó khăn thách. Làm việc gì, dù khó khăn tới đâu thì người lạc quan vẫn tin vào những điều tốt đẹp ở phía trước. Khi gặp thất bại họ vẫn không bỏ cuộc, không chán nản mà ngược lại sự lạc quan làm tăng cơ hội thành công. Lạc quan là kẻ thù của uỷ mị, yếu đuối thì chắc chắn sự lạc

    quan chính là bạn hành trình của con người trên con đường tới tương lai. Hãy loại bỏ mọi nguồn tin mang tính tiêu cực. Hãy tránh xa những người thường xuyên kêu ca phàn nàn. Hãy đón nhận những tin tích cực để luôn có suy nghĩ tích cực. Như vậy, lạc quan đã góp phần tăng giá trị cho bản thân và xã hội!

    50. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Lòng Khoan Dung

    Trong cuộc sống của chúng ta, mở rộng lòng khoan dung, tha thứ độ lượng là một trong những đức tính, phẩm chất vô cùng cao quý, tốt đẹp của con người. Vì vậy, Phật – người được xem là hiện thân của lòng bác ái đã xem đó là một thứ tài sản vô giá: “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung”. “Khoan dung” là lòng rộng lượng, bao dung, thương yêu con người, sẵn sàng tha thứ, không khắt khe, không trừng phạt, hoặc sẵn sàng xoá bỏ những lỗi lầm mà người khác đã phạm phải. Lòng khoan dung là một yếu tố quan trọng đem lại sự bình yên, hoà thuận, thân thiện cho xã hội và gia đình. Khi ta thể hiện lòng khoan dung với ai đó thì tâm hồn ta cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng vì đã làm được một điều có ý nghĩa của phẩm chất nhân ái, vì như thế là không phạm vào sự nhỏ nhen, hẹp hòi, trái với phẩm chất quý giá của con người. Còn nữa, khoan dung, tha thứ lỗi lầm cho người khác thì có thể cảm hoá được họ. Khi được nhận lòng khoan dung của ta, thì bản thân người đó sẽ ăn năn hối lỗi, tự tu chỉnh bản thân mình, sửa chữa lỗi lầm và có thể biết ơn ta nữa, để từ đó không tiếp tục phạm lỗi mà họ đã từng mắc phải. Tuy nhiên bên cạnh sự ngợi ca về lòng khoan dung ta cũng cần phê phán lối sống ích kỷ, cố chấp, thù dai. Tác hại của lối sống ấy: làm cho con người sống với nhau chỉ có ích kỷ, hận thù. Có thể nói, lòng khoan dung làm cho tâm hồn ta trở nên thánh thiện, cao thượng và giàu có hơn. Đúng như một triết gia nào đó đã nói: sự nghèo nàn về của cải vật chất không đáng sợ bằng sự nghèo nàn về tâm hồn. Vì thế, ta phải lấy sự khoan dung, sự nhường nhịn làm phương châm xử thế: “Một sự nhịn, chín sự lành”. Thấm thía lời dạy của Phật, bản thân mỗi chúng ta, phải không ngừng tự rèn luyện, phấn đấu bồi đắp cho mình có lòng khoan dung rộng lớn. Lòng khoan dung là tài sản vô giá của con người và cũng là phương châm đối nhân xử thế tốt nhất để nhằm hoàn thiện nhân cách bản thân và đưa lại sự bình an cho cuộc sống.

    Bài 2

    Lòng vị tha là biểu hiện cao đẹp nhất của vẻ đẹp tâm hồn con người. Vậy vị tha nghĩa là gì và đóng vai trò như thế nào trong cuộc sống? Vị tha chính là sống vì người khác, không ích kỉ hay mưu lợi cá nhân với xuât phát điểm không gì khác ngoài một trái tim biết yêu thương đồng loại. Trong

    công việc, một con người có được đức tính này luôn đặt lợi ích tập thể lên trên tư lợi cá nhân,

    không lười biếng, ỷ lại hay tránh né, đùn đẩy trách nhiệm. Trong quan hệ với mọi người, họ luôn

    vui vẻ, hòa nhã, biết đồng cảm sẻ chia và sẵn lòng thứ tha cho lỗi lầm của kẻ khác. Bởi vậy, lòng

    vị tha giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Nó giúp ta tìm được sự bình an,

    thanh thản trong tâm hồn, giữ được cảm tình, sự tôn trọng từ những người xung quanh. Đồng thời,

    lòng vị tha cũng kéo người gần lại với nhau hơn, góp phần kiến tạo một xã hội lành mạnh và bác ái,

    nơi độc ác mưu toan không còn chỗ đứng. Và còn một điều ta luôn phải nhớ, sống vị tha không

    đồng nghĩa với việc nuông chiều, dung túng những thói hư tật xấu hay mượn hành động thiện

    nguyện để đánh bóng tên tuổi. Bởi chỉ những điều xuất phát từ sâu thẳm tâm hồn mới có thể chạm

    tới trái tim người khác. Mỗi chúng ta hãy học cách lắng nghe, chia sẻ và tha thứ cho người khác

    cũng như chính bản thân mình, để lòng vị tha có thể lan tỏa mạnh mẽ và giúp cho cuộc đời đẹp đẽ,

    hạnh phúc hơn.

    51. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Tinh thần tự học

    Nhà bác học vĩ đại Đác-Uyn, người khiến nhân loại sững sờ trước bộ óc vĩ đại của ông, đã rất khiêm tốn khi phát biểu: “Tất cả những gì có giá trị một chút tôi đều đã thu nhận được nhờ tự học”,

    • kiến đó đã khẳng định tầm quan trọng của tự học đối với mỗi cá nhân. Học tập là hoạt động thu nhận kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm từ trong sách vở, nhà trường và ngoài xã hội. Song, việc học

    không đơn giản chỉ là tiếp thu kiến thức một cách máy móc, sách vở mà còn gắn với ý thức của người học về việc biến những kiến thức ấy thành kĩ năng, vốn sống, là hành trang mang theo suốt đời của mỗi người đó chính là tinh thần tự học. Tự học chính là ý thức học, là sự chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được bản chất vấn đề giúp ta tiếp thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau. Nhờ có tinh thần tự học, chúng ta có thể chủ động ghi nhớ các bài học trên lớp, tiết kiệm được thời gian. Và nhờ tự học, ta có thể biến lý thuyết thành thực hành để nắm vững hơn vừa lý thuyết vừa hình thành kĩ năng. Chủ động trong việc học giúp chúng ta tìm được cách học tốt mang lại hiệu quả cao cho chính mình. Ví như Đác-Uyn, Bác Hồ, Bill Gates…nhờ tự học mà đi đến vinh quang. Thực tế ngày nay cho thấy nhiều bạn học sinh còn quá lệ thuộc vào bài giảng của các thầy cô giáo, học và ghi chép lại một cách thụ động, máy móc, lười suy nghĩ, thuộc bài nhưng không hiểu được nội dung, học xong quên ngay, không áp dụng được những kiến thức đã đạt được vào thực tế cuộc sống… dẫn đến kết quả không cao thậm chí còn để lại nhiều tiêu cực trong môi trường giáo dục. Vì vậy, đề đạt được kết quả tốt, để thành công, để vững vàng bước vào đời, mỗi học sinh chúng ta cần phải nỗ lực tự học, bởi “life long leaning” – học tập là công việc

    suốt đời, học không ngừng nghỉ, đủ ý chí và sức mạnh, niềm tin vào bản thân đề chạm đích thành công.

    52. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Đức hi sinh

    Những người mẹ ngày đêm tảo tần, vật lộn với cuộc sống mưu sinh, những người cha hằng ngày

    vẫn vật lộn với gánh nặng trụ cột gia đình, những chiến sĩ nơi hải đảo xa xôi vẫn cầm chắc tay

    súng… đó là những hi sinh lặng thầm cho tất cả từ nhỏ bé đến lớn lao vô tận. Hi sinh là hành động

    đánh đổi một thứ quan trọng của bản thân cho một điều gì đó đáng quý hơn, đó là sự quên mình,

    cống hiến, sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp chung, lợi ích chung. Đức hi sinh đòi hỏi con người sẵn

    sàng san sẻ những quyền lợi về vật chất, tinh thần cho người khác mà không tính toán thiệt hơn,

    thậm chí còn xả thân vì người khác. Từ những việc làm rất nhỏ như nhường chỗ cho người già, san

    sẻ cho những người còn khó khăn đến lý tưởng cao đẹp cống hiến hết mình cho Tổ quốc của

    những người lính và còn vô số những sự hi sinh thầm lặng khác mà nhờ đó xã hội chúng ta đã phát

    triển tốt đẹp và bền vững. Nhưng không phải việc làm, hành động nào cũng đáng được biểu dương

    nếu đó là những hi sinh giả tạo, nhằm mang lại danh tiếng cho bản thân, muốn nhận cái hư danh

    “người tốt”. Nhiều người còn ích kỉ, sống chỉ biết lợi ích của riêng mình, tham sống sợ chết… đó

    vẫn là một mảng tối trong xã hội hiện nay. Vì vậy, chúng ta phải biết rộng mở trái tim mình, phải

    biết sống vì người khác, quan tâm, chia sẻ, đừng ích kỉ, hãy đề đôi bàn tay phảng phất hương hoa

    vì những hành động tốt đẹp của bản thân, để vị ngọt tình người lan tỏa khắp cuộc đời này.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Đừng sống như hòn đá”

    Triết gia người Mỹ, Elbert Hubbard đã từng nói: “Cuộc sống chỉ thực sự phong phú khi nó tràn ngập tình yêu và sự cao thượng”. Ý nghĩa của ông muốn gửi gắm qua câu nói chính là thông điệp sâu xa về lòng yêu thương giữa con người với con người trong cuộc sống này. Vậy muốn có được lòng yêu thương, bao dung, vị tha cao thượng thì trước hết chúng ta hãy “đừng sống giống như hòn đá”. Hòn đá chính là ẩn dụ tượng trưng cho lòng vô cảm của con người. Nếu như con người sống nghèo nàn về mặt tâm hồn, chai sạn cảm xúc trước tình yêu thương thì rồi kết cục cũng sẽ trở thành hòn đá kia – trơ trọi một mình, cô đơn giữa đời, tâm hồn sẽ hóa đá. Sống như đá là lối sống vị kỷ, sống chỉ cho riêng bản thân mình, luôn đặt lợi ích tư lên đầu mà không để tâm đến những người xung quanh. Cuộc sống đó không tồn tại tình yêu thương và cũng không thể có được yêu thương, chính vì thế mà nó trở nên vô nghĩa và ảm đạm tối tăm. Sống như hòn đá sẽ đẩy con người vào tình cảnh cô đơn, bị mọi người xung quanh xa lánh không muốn tiếp xúc. Ta cần phải làm thế

    nào để không sống như một hòn đá? Cần phải tăng cường hành động hành động yêu thương nếu như chính ta muốn được yêu thương, bởi chăng : “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” (Trịnh Công Sơn). Trong cuộc đời này, ta nên hòa mình vào với cộng đồng, biết mở tâm hồn ra để đón nhận tình thương cũng như biết cho đi, vì khi cho đi chính là còn mãi.

    1. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Thành công chỉ đến khi chúng ta cố gắnghết sức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình”.

    Không ai vươn đến sự thành công mà lại không có sự nỗ lực, cố gắng từng ngày. Bởi vậy chỉ khi chúng ta cố gắng hết sức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình thì thành công mới chạm đến cuộc sống của ta. Thành công cũng không đến với những người không chịu thay đổi theo chiều hướng tích cực và cũng không ở lại quá lâu với những ai dễ dàng hài lòng với bản thân. Con người là chủ thể quyết định suy nghĩ, hành vi của chính mình và kết quả của mỗi việc làm, hành động của họ. Do đó, thành công chỉ gõ cửa nhà bạn khi bạn không ngừng cố gắng và hoàn thiện bản thân. Leonardo Davinci trở thành danh họa kiệt xuất thế giới nhờ tháng ngày khổ luyện vẽ những quả trứng để rồi hoàn thiện kĩ năng của mình hơn qua mỗi bức hình tưởng chừng như đơn giản. Các vận động viên giành được thứ hạng cao trong các đại hội thể thao thế giới do luyện tập gian khổ ngay từ thuở lên năm, sáu tuổi. Đằng sau mỗi tấm huy chương là những giọt mồ hôi, nước mắt nơi phòng tập. Đôi khi, thành công đến sau mỗi thất bại, vì vậy, nếu bỏ cuộc giữa chừng thì bạn không bao giờ vươn tới mục tiêu của mình. Theo đuổi thành công đến cùng không có nghĩa là bất chấp tất cả để có được điều mình mong muốn. Thành công chỉ bền vững nếu con người cố gắng dựa trên nội lực của bản thân và không ngừng hoàn thiện chính mình.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về Lòng yêu nước

    Đất nước kết tinh, hóa thân trong mỗi con người. Con người phải có tinh thần cống hiến, hi sinh, có tinh thần trách nhiệm đối với sự trường tồn của quê hương xứ sở. Đúng như Nguyễn Khoa Điềm đã viết “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi” – đó là lời thơ dung dị về tình yêu đất nước trong mỗi con người. Đất Nước là nơi ta sinh ra, nơi ta lớn lên, nơi ta được đến trường, được yêu thương và được làm người. Vì vậy, tình yêu đất nước là tình cảm thường trực trong mỗi con người chúng ta. Tôi còn nhớ đến một câu nói nổi tiếng của một cố tổng thống Mỹ “Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn mà bạn phải hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc”. Đó là câu hỏi đặt ra với tất cả mọi người chúng ta. Đất nước – dân tộc là thiêng liêng là sự hòa kết giữa nhiều tế bào sống. Vì vậy, sự tồn tại của cá nhân chỉ có ý nghĩa khi hòa nhập vào cộng đồng. Có như vậy mới đem lại sự thành công

    trong sự nghiệp chung. Bên cạnh đó chúng ta cần phải phê phán những người có lối sống ích kỉ, chỉ nghĩ cho bản thân mình. Lòng yêu nước là tình cảm cao đẹp và thiêng liêng, mỗi con người chúng ta cần nhận thức được tình cảm cao đẹp ấy để sống cho ra cuộc sống con người.

    Bài 2

    Nhắc đến các phẩm chất của những người con đất Việt, ta không thể không kể đến tình yêu nước nồng nàn. Yêu nước không phải một khái niệm xa xôi, trừu tượng. Đó là tình cảm giản dị, gần gũi nhưng vô cùng thiêng liêng bắt nguồn từ sự trân trọng, nâng niu mà ta dành cho những sự vật quanh mình, cho những con người ta yêu thương, gắn bó. Biểu hiện của lòng yêu nước cũng nằm ngay trong ý thức, hành động hàng ngày của mỗi chúng ta. Trong thời chiến, nó sục sôi và cuộn trào cùng các cuộc khởi nghĩa, cùng lớp lớp thanh niên sẵn sàng hi sinh tính mạng khi lên đường nhập ngũ. Trong thời bình, mỗi người thể hiện tình yêu nước bằng cách chăm chỉ trau dồi tri thức, cần cù lao động và rèn luyện đạo đức với ước mong đem đến cuộc sống tươi đẹp hơn cho bản thân, gia đình và dân tộc mình. Cứ như vậy, lòng yêu nước đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành nguồn sức mạnh vô giá, thành sợi dây nối kết trái tim của những “con Lạc cháu Hồng”, giúp ta có thể lập nên những chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Chính tình yêu nước của thế hệ đi trước đã tạo dựng niềm tin cho thế hệ mai sau. Dù thế hệ trẻ có lập nghiệp nơi đâu trên địa cầu rộng lớn, những con người Việt Nam ta vẫn luôn giữ trong trái tim mình tình yêu nước nồng nàn, để nhớ, để ngưỡng vọng và cũng để khao khát được làm điều gì đó cho mảnh đất hình chữ S thân thương Việt Nam.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Đường đến Thành Công”

    “Đường đến thành công” là ẩn dụ để nói đến hành trình gian nan mà con người phải vượt qua để

    đến những điều tốt đẹp. “Thành công” là kết quả đạt được một cách mỹ mãn trong lĩnh vực nào đó

    mà con người theo đuổi. Để thành công, người ta phải đổ mồ hôi, công sức, thời gian, trí tuệ, gian

    nan vất vả, thậm chí phải nếm trải những thất bại mới có được. Con đường đó không dành cho

    những kẻ lười biếng. Vì con đường dẫn tới thành công là con đường chông gai, đầy khó khăn, thử

    thách chứ không phải bằng nhung lụa; là cả quá trình học tập, lao động, nghiên cứu, sáng tạo

    không ngừng, đòi hỏi con người phải cần cù, miệt mài, chịu khó và có ý chí quyết tâm cao mới

    thành. Không có một thành công, thành quả nào mà không phải đổi bằng mồ hôi, công sức. Như

    vậy, đường thành công không dành cho những ai lười biếng. Đây là một chân lý, khẳng định được

    cái giá của sự thành công: bất cứ sự thành công nào cũng đổi bằng sự cần cù, chăm chỉ, kiên trì,

    chịu khó. Lười biếng, ỉ lại, ngại khó ngại khổ sẽ chẳng bao giờ làm được việc gì có ý nghĩa. Mỗi người phải nắm vững chân lý này để xây dựng cho mình một phương hướng cụ thể nhằm đạt được những thành công trong cuộc sống; không ngừng rèn luyện nhân cách, bản lĩnh, dám nghĩ dám làm, dám thành công.

    57. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Không có mục tiêu nào quá lớn”

    “Mục tiêu” là điểm là đích mà chúng ta hướng đến trong cuộc đời, là một dự định, một định hướng được đề ra trước mắt ta. Có mục tiêu thì chúng ta mới có động lực để thúc đẩy mình và nếu không có mục tiêu thì chúng ta sẽ giống như con thuyền giữa đại dương không biết đâu là bến bờ. Bản thân mỗi người phải đề ra cho mình mục tiêu vì đó chính là tương lai của bản thân. Đừng nghĩ là nó quá lớn với bạn vì nghĩ nó quá lớn bạn lại đâm ra sợ hãi với chính bản thân. Đôi khi bạn gặp thất bại nhưng thất bại lại là chỗ dựa lớn nhất cho sự trưởng thành. Đừng sống không có ước mơ, vì như thế bạn đã để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống. Ước mơ giống như con đường chưa có nhưng sẽ khám phá và vượt qua. Và thử hỏi nếu con người sống mà không có ước mơ ? Chắc chắn đó là cuộc sống vô nghĩa nhất. Cần phê phán những kẻ sống thiếu mục tiêu vì những kẻ đó là những kẻ sống nhờ sống gửi, sống ký sinh lên người khác; ăn bám gia đình, bạn bè; thiếu chí hướng, mục đích, ước mơ nghĩa là đã “chết ngay khi còn sống”. Trong cuộc sống mỗi con người hãy xây dựng cho mình một mục tiêu, một ước mơ. Hãy thực hiện nó vì nó không có gì “quá lớn”, không có gì quá “xa vời”.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Nhìn vào thất bại để nâng mình lên”

    Trong cuộc sống của chúng ta, thành hay bại, thắng hay thua là đều phụ thuộc vào tính cách của

    con người. Thường thì phải qua thất bại rồi mới đến thành công. Nhưng cũng có người thấy thất

    bại đã cúi đầu chấp nhận một cách dễ dàng. Bàn về thái độ của con người trước thất bại, tổng

    thống Mỹ – A.Linconl cho rằng “Điều tôi muốn biết trước tiên không phải là bạn đã thất bại ra sao

    mà bạn đã chấp nhận nó như thế nào”. “Thất bại” là hỏng việc, thua mất, là không đạt được kết quả,

    mục đích như dự định. Điều quan trọng hơn cả là nhận thức, thái độ của con người trước sự thất

    bại trong cuộc sống. Trước một sự việc không thành, con người cần có sự bình tĩnh để tìm hiểu

    nguyên nhân của sự thất bại (khách quan và chủ quan). Dám đối mặt để chấp nhận, không né tránh

    sự thật, cũng không đổ lỗi hoàn toàn cho khách quan. Biết “dậy mà đi” sau mỗi lần vấp ngã, biết

    rút ra bài học từ những thất bại đã qua để tiếp tục thực hiện công việc và ước mơ của mình. Thất

    bại là môi trường tôi luyện ta trưởng thành hơn (A.Linconl là con người đã 8 lần thất bại nặng nề

    trong cuộc đời và một ngày ông trở thành tổng thống của nước Mỹ). Cần phê phán những kẻ ủy mị, yếu đuối, ngại khó ngại khổ. Qua đây chúng ta cần nhớ: Phải biết cách chấp nhận sự thất bại để có thái độ sống tích cực. Không đắm chìm trong thất vọng nhưng cũng không được bất cần trước mọi sự việc, không để một sự thất bại nào đó lặp lại trong đời. Đó là bản lĩnh sống.

    Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) bàn về “Lòng Hiếu Thảo”

    Đạo làm con là phải hết lòng phụng dưỡng, báo đáp mẹ cha, vì thế Hiếu Thảo là tình cảm tự nhiên

    và cũng là đạo đức của con người. Người con hiếu thảo là người con luôn biết kính trọng và yêu

    thương cha mẹ của mình. Cha mẹ nuôi con không bao giờ mong được đền đáp lại công lao ấy –

    nhưng nghĩa vụ của mỗi người con là phụng dưỡng khi cha mẹ tuổi già sức yếu. Lòng hiếu thảo

    luôn mang lại hạnh phúc cho gia đình, làm cho gia đình yên ấm. Hiếu thảo cũng mang lại một xã

    hội tốt đẹp văn minh. Bởi gia đình vốn là tế bào của xã hội. Nếu mỗi gia đình là những tấm gương

    hiếu thảo thì xã hội này sẽ tốt đẹp biết bao. Muốn vậy ta cần phê phán những kẻ bất hiếu, không

    vâng lời cha mẹ, ngược đãi cha mẹ mình, luôn làm cha mẹ đau lòng. Đúng như đức nhân Khổng

    Tử từng nói: “Tội ác lớn nhất của con người chính là tội bất hiếu”. Tóm lại, bổn phận làm con phải

    biết giữ tròn chữ hiếu với đấng sinh thành. Ngày nay, không chỉ hiếu thảo với cha mẹ, chữ hiếu

    còn được mở rộng ý nghĩa như trong lời Bác Hồ dạy: “Trung với nước, hiếu với dân”.

    Viết đoạn văn (200 chữ) bàn về thông điệp: “Hãy giữ cho mình niềm đam mê khác biệt”

    “Mỗi người đều phải rước một đam mê. Đam mê – ngọn lửa sinh tồn hay ngọn lửa hủy diệt đều do

    tự tay mình thắp lên” – đây là câu nói giàu ý nghĩa của hoạ sĩ Bửu Ý về niềm đam mê. Lại còn hay

    hơn nữa, đặc biệt hơn nữa nếu mỗi người có một niềm đam mê khác biệt. Đam mê khác biệt là

    niềm say mê, yêu thích, theo đuổi một sở thích độc đáo riêng biệt không trùng lặp với người khác.

    “Hãy giữ cho mình một niềm đam mê khác biệt” là một câu nói khuyên chúng ta nên tìm kiếm cho

    bản thân một đam mê mà không phụ thuộc vào bất kì ai. Vì sao lại giữ cho mình niềm đam mê

    riêng biệt? Đam mê riêng biệt đem lại nguồn cảm hứng cho cuộc sống tạo nên động lực mãnh mẽ

    để chúng ta vượt qua khó khăn để biến ước mơ thành hiện thực.Nó giúp ta tập trung toàn bộ trí lực

    không ngừng sáng tạo để mở ra những con đường mới mẻ đạt đến những đỉnh cao nghề nghiệp,

    giúp ta khẳng định mình tạo dấu ân riêng cho bản thân. thêm vào đó nó sẽ kích thích sự sáng tạo và

    phát triển của xã hội có nhiều giá trị nhiều thành quả mới được. Như Đăng Lê Nguyên Vũ – là ông

    chủ của cà phê Trung Nguyên, ông đã can đảm theo đuổi con đường kinh doanh khi đang học nghề

    y năm thứ 4,cho dù trên bước đường lập nghiệp ông gặp không ít thử thách nhưng cho đến nay ông

    đã và đang là một doanh nhân thành công. Bên cạnh tấm gương như Đăng Lê Nguyên Vũ, thì lại có nhiều người sống phù phiếm, không biết mình đam mê cái gì hoặc có đam mê mà không có can đảm theo đuổi. Tìm kiếm và sống với đam mê không dễ dàng nên đòi hỏi mỗi cá nhân phải tập trung cao độ trí tuệ,dũng cảm để vượt qua thử thách và mỗi bản thân ai cũng đều cần phải tìm ra một đam mê thực sự cho chính mình trong cuộc sống.

    (Châu Hiền)

    Bài 2

    Cuộc đời sẽ trở nên mất đi ý nghĩa nếu chúng ta không tìm được đam mê đích thực của mình. Vậy

    đam mê là gì và tại sao nó lại quan trọng đến thế? Đam mê đơn giản là một việc nào đó có thể

    khiến bạn cảm thấy hứng thú, vui vẻ và sẵn sàng bỏ ra thời gian, công sức để thực hiện nó. Chẳng

    hạn, khi ai đó nhận ra mình hạnh phúc nhất khi nấu ăn và quyết định trở thành đầu bếp, người đó

    được coi là đã tìm ra đam mê của mình. Và, chỉ khi thực sự được làm điều mình muốn, chúng ta

    mới có thể toàn tâm toàn sức làm việc, phấn đấu nỗ lực vì một mục tiêu nhất định. Bởi vậy, có thể

    nói, đam mê là ngọn lửa soi đường, sưởi ấm và khiến cho cuộc đời ta tỏa sáng rực rỡ hơn. Chắc

    hẳn ai cũng đã hơn một lần nghe về Bill Gates – nhà đồng sáng lập hãng công nghệ Microsoft.

    Nhưng, nếu không dũng cảm từ bỏ giảng đường đại học và theo đuổi đam mê công nghệ của mình,

    liệu có bao nhiêu người sẽ biết về một luật sư Bill Gates?. Tuy nhiên hiện nay có một số bạn trẻ

    không xác định được đam mê của mình, chỉ biết hài lòng với hiện tại nên luôn tụt hậu phía sau của

    xã hội. Vậy nên tất cả chúng ta cần nghiêm túc kiếm tìm và nỗ lực hết sức để theo đuổi đam mê

    của mình. Bởi đúng như Nick Vujick từng chia sẻ: “Những ước mơ không chết chừng nào bạn còn

    nuôi dưỡng nó bằng niềm đam mê.”

    Đoạn văn ngắn bàn về : Hạnh phúc

    Cuộc sống này là hành trình không ngừng nghỉ nhằm kiếm tìm hạnh phúc. Vậy hạnh phúc là gì và có vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta? Hạnh phúc chính là trạng thái vui vẻ, thoải mái khi chúng ta được thỏa mãn một điều gì đó. Trừu tượng như vậy nhưng ta có thể tìm được hạnh phúc trong những điều gần gũi và giản đơn vô cùng: một lời khen của cô giáo, một bức tranh nguệch ngoạc mà đứa trẻ lên ba dành tặng mẹ hay một bàn thắng vào khung thành đối phương… Hoặc lớn lao hơn, đó là niềm hân hoan rạo rực khi ta làm nên những điều kì diệu, thỏa ước mơ cháy bỏng bấy lâu: đạt được tấm huy chương vàng ở đấu trường quốc tế, đỗ vào ngôi

    trường mơ ước hay mua được căn nhà đẹp đẽ… Nhưng dẫu là gì chăng nữa, hạnh phúc vẫn mang ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng. Nó mang tới cho tâm hồn sự thoải mái, thanh thản, là nền tảng vững chắc để ta chinh phục những hoài bão lớn hơn. Tương tự, ở một quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao, con người sẽ gắn bó với nhau hơn, tỉ lệ tội

    phạm cũng nhờ vậy mà giảm bớt. Do vậy, thế hệ trẻ cần nhận thức rõ về ý nghĩa thực sự của hạnh

    phúc và phấn đấu hết sức để đạt được hạnh phúc, trước là cho bản thân và sau là cho cả cộng đồng.

    Muốn làm được điều này, mỗi người phải không ngừng bồi dưỡng trí tuệ, tạo lập nhân cách để có

    thể vững vàng trên “con đường kiếm tìm và chia sẻ hạnh phúc”. “Mỗi người đều là kiến trúc sư

    hạnh phúc cho riêng mình”. Vậy nên hãy sống hết mình với những điều mình muốn và bạn sẽ tìm

    được ý nghĩa của cuộc đời mình.

    Đoạn 200 chữ bàn về Thành Công và Thất Bại

    Trong cuộc sống, không có ai muốn bản thân mình rơi vào cái hố của thất bại, nên luôn cố gắng để đạt được thành công. Tuy nhiên thất bại hay thành công đều là những việc chúng ta cần phải trải qua để thấy bản thân mình đã trưởng thành lên như thế nào. Thất bại và thành công luôn tồn tại song song và triệt tiêu nhau. Thành công chính là kết quả đạt được sau quá trình cố gắng, phấn đấu không ngừng nghỉ. Đó chính là công sức do lao động, học tập mà có. Thành công cũng có thể xem là niềm vui tinh thần tạo nên nhiều niềm vui khác mà nhiều người vẫn cố gắng muốn vươn tới. Còn thất bại chính là trạng thái rơi vào hụt hẫng, bế tắc khi không thể hoàn thành được mục tiêu mà mình đã đặt ra, không thể trở thành một ai đó mà mình mong. Thành công và thất bại luôn tồn tại trong mỗi con người. Đây là hai trạng thái xuất hiện nhiều lần trong một người. Có người đi từ thất bại này đến thất bại khác rồi cuối cùng mới chạm đến được với thành công. Để đi đến sự thành công, cần phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách, cả những thất bại cần phải đối mặt và bước qua. Những thất bại đó không nhỏ, đó có thể là đánh đổi nhiều thứ khác để đạt được cái mà mình mong. Những thất bại mà chúng ta trải qua không phải đều là bế tắc và con đường cùng. Chính những thất bại mà mình phải gánh chịu chính là kinh nghiệm, sự trưởng thành nhận lấy sau này. Như vậy hà cớ gì không dám thất bại, không dám đánh đổi? Có câu nói “Thất bại là mẹ thành công”. Có thể thấy rằng tầm quan trọng của thất bại đối với thành công, đó chính là nền tảng để chúng ta có thể tự đứng lên và học tập không ngừng. Không có con đường đi nào trải toàn hoa hồng, chỉ có đánh đổi thì mới có thể lâu dài được. Con đường đi của mỗi chúng ta chưa bao giờ bằng phẳng, bởi vậy không nên ngại khó khăn, thử thách, ngại thất bại. Phải trải qua những điều đó thì tự bản thân mới thấy mình trưởng thành và thành công sẽ đên trong nay mai. Bởi vậy chúng ta hãy đừng ngại ngần

    thất bại để đổi lấy thành công về sau. Những người không dám đối mặt với thất bại là những người không có ý chí và nghị lực, không có quyết tâm vượt qua mọi chuyện.

    63. Đoạn văn 200 chữ bàn về sự Chân Thành

    Sự chân thành là một thứ phương thuốc thần diệu nhất giúp con người tạo được cho mình một thế

    quân bình trong đời sống. Sống trong một xã hội cuộc sống thường ngày phải chung đụng cùng

    bao nhiêu người mà ta bắt buộc phải giao tiếp thường xuyên, nếu trong những cuộc tiếp xúc chúng

    ta thiếu lòng chân thành tự nhiên sẽ bị mọi người coi thường và tìm phương trốn lánh, nói một

    cách khác là chúng ta sẽ hoàn toàn bị cô lập. Đó chính là một điều thất bại vô cùng tai hại cho công

    cuộc tiến thủ cho chúng ta trên bước đường đi tìm tương lai. Ngoài ra lòng thành thật còn giúp

    chúng ta có thêm một phương tiện để chinh phục lòng người. Nếu một con người sống ngoài xã

    hội lại thiếu tinh thần ngay thẳng, nghĩa là sống không có lòng thành thật tự nhiên sẽ tạo cho mình

    một sự thất bại không phương cứu vãn. Một con người có lòng thành thật, luôn luôn bao giờ cũng

    tôn trọng chữ thành và chữ tín, nhất định sẽ được mọi người sống chung quanh mình ưu đãi bằng

    tất cả sự kín đáo tha thiết. Ngược lại một người chủ trương lọc lừa, xảo trá, gian ngoa làm bất cứ

    một công việc gì cũng luôn luôn bị những người chung quanh tìm những cách lánh xa. Lòng chân

    thành là một thứ tính tình quan hệ để giúp con người bảo toàn được thiên chức làm người của cá

    nhân, chính lòng chân thành cũng giúp cho con người nêu cao nhân cách. Vì những lý do đó cho

    nên trong phương diện xử thế vấn đề được đặt ra trước nhất là lòng chân thành, sự thành thật giữa

    người đối với người là như thế. Con người nếu sống trong xã hội luôn bị những người khác cạnh

    tranh thì vấn đề chân thành càng phải được bảo toàn hơn bao giờ hết. Vì chân thành, con người

    mới tạo được những uy tín cho cá nhân mình và làm cho mọi người chung quanh khâm phục, từ

    chuyện khâm phục cá nhân con người mới có thể nói đến những vấn đề mật thiết lâu bền. Tóm lại,

    con người muốn thành công trên trường đời bao giờ cũng phải tạo cho mình lòng chân thành tuyệt

    đối và chỉ có lòng thành thật mới đem đến cho con người sự chiến thắng ở đời mà thôi. (Nguồn:

    mangthuvien.com)

    64. Đoạn văn 200 chữ bàn về sức mạnh của lòng yêu thương

    Bình an và hạnh phúc sẽ đến với những người có tâm hồn trong sáng và tình yêu thương. Quả đúng như vậy, tình yêu thương là tình cảm xuất phát từ lòng yêu mến, đồng cảm, cảm thông và quý mến đối với đồng loại và mọi điều xung quanh. Tình thương yêu có sức mạnh rất lớn, nó giúp người khác vững tin hơn trong cuộc sống, giúp người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay

    đổi những người sống chưa tốt. Tình yêu thương chân thành của Thị Nở đã chạm đến trái tim cằn khô, sỏi đá của Chí Phèo và thức dậy trong anh những giây phút người nhất. Tình yêu thương làm cuộc đời này đẹp hơn. Tình yêu thương của ta đưa người khác đến đỉnh cao của thành công và đưa ta vượt lên trên những điều tầm thường. Tình yêu thương là điều quý giá nhất trên đời mà người với người có thể trao tặng nhau. Rất nhiều người hối hận vì chưa kịp nói lời yêu thương với người thân khi người thân của họ còn sống. Vì vậy đừng ngại nói lời yêu thương với những người mà ta quý mến họ. Đôi khi cuộc sống nhiều mâu thuẫn, hiểu nhầm, hận thù và nó chỉ được hóa giải khi xuất hiện sự tha thứ và tình yêu thương vĩ đại. Khi bên trong bạn có tình yêu thương, bạn sẽ lan tỏa tình yêu thương ra cho mọi người xung quanh, vì “bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm”. Một người chủ động trao tặng tình yêu thương thì bên trong họ tràn đầy tình yêu thương. Muốn có tình yêu thương thì trước hết, ta phải trao tặng tình yêu thương cho thế giới. Ta cũng cần phê phán những kẻ sống vô cảm, ích kỷ, hận thù. Và nhiệm vụ của chúng ta là hãy cảm hoá họ, vì chỉ có tình yêu thương mới có thể biến thế giới đầy khổ đau này thành biển cả của hoà bình và hạnh phúc. (Nguyễn Hữu Hiếu)

    1. Viết đoạn văn (200 chữ) bàn về “Tình cảm cao thượng không chỉ giúp con ngườisống thanh thản mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội và đồng loại tiến bộ”.

    Tình cảm cao thượng không chỉ giúp con người sống thanh thản mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội và đồng loại tiến bộ. Thật vậy, tình cảm cao thượng là tấm lòng vị tha, bao dung. Tình cảm ấy luôn hướng đến những điều cao đẹp trong cuộc đời, tới những khát vọng và chân lý của sự toàn thiện. Trong thực tế nếu con người chỉ có lòng đố kỵ thì lúc nào bản thân cũng chỉ thấy mình đau khổ bởi thấy mình thua kém người khác. Vì thế kẻ đố kỵ không bao giờ được thanh thản trong tâm hồn. Ngược lại, người có tình cảm cao thượng thì luôn xem thành công của người khác là niềm vui cũng như hạnh phúc của mình. Luôn lấy sự thành công ấy làm mục tiêu để bản thân phấn đấu thì tâm lý lúc nào cũng nhẹ nhàng thanh thản. Người có tình cảm cao thượng bao giờ cũng mang tâm lý lạc quan, yêu đời. Họ luôn phấn đấu nỗ lực để vươn lên trong cuộc sống. Nếu xã hội vắng bóng những kẻ đố kỵ mà chỉ toàn là những con người có lòng cao thượng thì xã hội ấy luôn có sự cạnh tranh lành mạnh, mọi người đều cố gắng nỗ lực không ngừng để vươn đến thành công. Điều này tạo nên động lực, tạo nên sức mạnh làm nền tảng cho xã hội phát triển. Nhận thức được tình cảm cao thượng là đức tính tốt đẹp, mỗi chúng ta cần đấu tranh lên án và loại bỏ những kẻ đố kỵ, ích kỷ làm xã hội chậm tiến bộ. Bản thân phải luôn có ý thức phấn đấu rèn luyện nhân cách sống vị tha, bao dung và cao thượng.

    1. Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ) bàn về đức hi sinh, lòng dũng cảm của 64 chiến sĩ Hảiquân Việt Nam đã hi sinh trong trận chiến bảo vệ Gạc Ma, ngày 14.3.1988. (Xem bài tập đọchiểu)

    Lòng nhân ái, vị tha, đức hi sinh, lòng dũng cảm… vốn là những phẩm chất cao quý của con người. Trong đó, đức hi sinh và lòng dũng cảm còn là truyền thống quý báu của người Việt từ bao đời nay. Hình ảnh 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ biển đảo là minh chứng hùng hồn cho phẩm chất cao quý ấy. Trong cuộc sống, đức hi sinh và lòng dũng cảm chính là sống dâng hiến, quên bản thân mình vì người khác. Sự kiện Gạc Ma 1988, các chiến sĩ hải quân đứng thành một vòng tròn bất tử chính là biểu tượng cao đẹp cho sự quên mình vì Tổ quốc. Họ chính là biểu tượng của lòng yêu nước, sự bất khuất, kiên gan, sự hy sinh vô bờ bến – “thà hi sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ biển đảo”. Thật xúc động biết bao khi những chàng trai – những người con ưu tú đã ngã xuống khi tuổi xuân còn nồng nàn. Họ đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình vì đất nước. Sự anh dũng hi sinh của những người lính hải quân năm nào đã nhắc nhở chúng ta phải biết sống tốt hơn giữa cuộc đời này. Biết ơn những liệt sĩ bao nhiêu ta lại càng căm phẫn bấy nhiêu trước hành động đê hèn của quân xâm lược Trung Quốc. Chúng ta cũng cần lên án những kẻ thiếu sự dũng cảm, trong chiến tranh thì phản bội đồng đội, khi hòa bình thì chỉ biết sống cho riêng mình. Được sống trong hòa bình, mỗi chúng ta phải ghi nhớ công ơn trời biển của thế hệ cha ông. Phải tôn trọng sự thật lịch sử cũng như luôn nêu cao bài học cảnh giác trước âm mưu của kẻ thù. Tuổi trẻ ngày nay phải sống có mục đích, có lý tưởng – nhất là phải có lòng yêu nước. Phải học tập lòng dũng cảm, đức hi sinh, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ khi tổ quốc kêu gọi. Xin được mượn mấy lời ca trong bài hát Tự Nguyện thay cho lời kết: “Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng- Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương- Nếu là mây tôi sẽ là một vầng mây ấm- Nếu là người tôi xin chết cho quê hương”

    67. Đoạn văn bàn về Tình Bạn

    Tình bạn là mối quan hệ không thể thiếu trong đời sống của tất cả chúng ta. Vậy tình bạn là gì? Thiếu nó, cuộc sống của ta sẽ ra sao? Trong cuộc đời mỗi chúng ta ai cũng có những tình bạn, đó là sự gắn bó giữa hai hoặc nhiều người trên cơ sở tương đồng về sở thích, tính cách hay lí tưởng. Một tình bạn trở nên đẹp đẽ và cao quý khi ta dành cho đối phương sự tôn trọng, đồng cảm và sẻ chia; không quản ngại hi sinh, vất vả để giúp đỡ lẫn nhau. Giữa dòng đời với biết bao bon chen, xô đẩy, có được một tình bạn chân thành là điều vô cùng may mắn. Bởi đó là niềm vui, là chỗ dựa lớn

    lao đem đến cho ta sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Đồng thời, “học thầy không tày học bạn”, từ họ ta có thể nhìn ra thiếu sót của bản thân, từ đó mà phấn đấu, nỗ lực để hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, không phải ai cũng tìm được cho riêng mình những người tri âm tri kỉ như Lưu Bình – Dương Lễ, Bá Nha – Tử Kì hay Nguyễn Khuyến – Dương Khuê… Một chút tham lam ích kỉ hay ghen ghét đố kị cũng có thể khiến người gọi là “bạn” kia lợi dụng hay phản bội hòng trục lợi từ ta. Thêm nữa, là bạn tốt không đồng nghĩa với việc bao che, đồng tình với những hành động sai trái của đối phương mà phải mạnh dạn thẳng thắn giúp bạn nhận ra sai lầm và quay lại với con đường đúng đắn. Vì vậy, tất cả chúng ta cần đối xử với những người bạn của mình bằng tất cả sự chân thành và không ngừng giúp đỡ nhau vươn lên trong cuộc sống. Bởi đúng như Ralph Waldo Emerson từng nói: “Cách duy nhất để có một người bạn là hãy làm một người bạn.

    68. Đoạn văn ngắn bàn về Tiết Kiệm

    Tiết kiệm là đức tính cần có của tất cả chúng ta. Vậy bản chất của tiết kiệm là gì? Tại sao nó lại quan trọng với con người đến vậy? Tiết kiệm là sử dụng hợp lí, không lãng phí hay bừa bãi các giá trị vật chất. Ai cũng hiểu tài nguyên trên Trái Đất không gì là vô tận. Nước, than, dầu mỏ, khí đốt…, dẫu có nhiều đến đâu mà không được sử dụng đúng cách chắc chắn sẽ sớm cạn kiệt. Tương tự, khả năng tích lũy của con người cũng là có hạn. Nếu không có dự tính lâu dài, ăn tiêu phung phí, chẳng mấy chốc ta sẽ rơi vào nghèo túng nợ nần. Bởi vậy, có thể khẳng định, tiết kiệm chính là nền tảng đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, bền vững của mỗi cá nhân nói riêng cũng như xã hội nói chung. Vậy nhưng, ngày nay, vẫn còn không ít kẻ sử dụng phung phí, thậm chí là tận thu tận diệt sản vật tự nhiên, không có ý thức giữ gìn, nâng niu tài sản chung của bản thân và nhân loại. Đồng thời, cũng có những người lầm lẫn giữa tiết kiệm với ki bo, bủn xỉn, không biết cách cho đi dù chỉ một đồng. Là thế hệ trẻ nắm giữ tương lai của đất nước, chúng ta cần nói không với các hiện tượng tiêu cực này và bắt đầu thực hành tiết kiệm từ những điều nhỏ nhất: tắt đèn khi ra khỏi phòng, vặn vòi nước thật chặt nếu không sử dụng… Bởi đúng như Benjamin Frankmin đã nói: “Hãy cẩn thận với những chi phí nhỏ. Một lỗ ròbé có thể làm đắm cả con tàu.”

    69. Lối sống “ảo” ở một bộ phận giới trẻ

    Hiện nay, lối sống “ảo” ở một bộ phận giới trẻ đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội.

    Vậy, “sống ảo” là gì? Nó có tác động như thế nào tới cuộc sống của chúng ta? Theo tôi, đó là lối

    sống quá phụ thuộc vào mạng xã hội, thiếu đi sự liên lệ cần có với cuộc sống thực tại. Lối sống này

    đã và đang để lại rất nhiều hệ lụy cho một bộ phận thanh thiếu niên. Trước hết, dành quá nhiều thời

    gian lang thang trên mạng sẽ khiến ta thiếu đi cơ hội học tập, giao tiếp trực tiếp với những người xung quanh cũng như gây ra các vấn đề về thể chất: cận thị, cong vẹo cột sống… Đồng thời, đắm mình trong một thế giới mà mọi thứ đưa lên đều được chỉnh sửa kĩ lưỡng và đầy hào nhoáng, ta sẽ dễ cảm thấy ghen tị và rơi vào trạng thái tự ti, bất hạnh. Đó là chưa kể đến một số bị ám ảnh bởi những nút “like”, những lời khen sáo rỗng trên mạng xã hội để rồi dùng đủ mọi chiêu trò để thu hút sự chú ý. Chẳng hạn, cách đây không lâu, dư luận từng xôn xao trước sự việc một nam thanh niên nhảy cầu Tân Hóa sau khi nhận được 40 nghìn lượt thích hay một người khác tự thiêu khi có được điều tương tự. Đây đều là những hành động mù quáng, gây tổn hại cho bản thân cũng như tác động tiêu cực tới xã hội. Bởi vậy, tất cả chúng ta cần nghiêm túc lên án những hiện tượng này, cẩn trọng khi ấn từng nút “like”, từng lời bình luận và trân trọng hơn những giá trị đích thực của cuộc sống. Mạng xã hội là con dao hai lưỡi. Hãy sử dụng một cách thông minh và chắc chắn nó sẽ đem lại cho bạn nhiều lợi ích.

    70. Cách mạng công nghiệp 4.0

    Thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với cả cơ hội và thách thức, đòi hỏi thế hệ trẻ phải có những thay đổi phù hợp để có thể thích ứng và thành công. Như chúng ta đã biết, trong lịch sử, nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp, đem tới sự thay đổi toàn diện cho cuộc sống của con người. Không phải ngoại lệ, cuộc cách mạng 4.0 với nền tảng là công nghệ vạn vật kết nối, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, được dự đoán sẽ tạo ra một bộ mặt hoàn toàn mới cho thế giới. Những công việc năng nhọc và không đòi hỏi tính sáng tạo sẽ được thay thế bằng rô bốt, Internet với tốc độ siêu nhanh và phủ sóng khắp mọi nơi cũng thay đổi cách ta làm việc và giao tiếp. Đồng thời, những cỗ máy với khả năng tính toán, xử lí siêu việt sẽ xuất hiện nhiều hơn tại các cơ quan, viện nghiên cứu, đe dọa trực tiếp tới việc làm của hàng triệu lao động. Viễn cảnh ấy không hề xa vời bởi mới đây, Google đã tạo ra một phần mềm có thể giành chiến thắng tuyệt đối trước nhà vô địch cờ vây thế giới, một công ti tại Nhật Bản đang bắt đầu thử nghiệm rô bốt thay cho nhân viên văn phòng và ô tô tự hành cũng xuất hiện ngày càng nhiều trên đường phố…

    Đối mặt với thực tế này, ta – những chủ nhân tương lai của đất nước – cần phải làm gì? Câu trả lời rất đơn giản: tất cả chúng ta cần nghiêm túc học tập, trau dồi tri thức, phát triển khả năng sáng tạo, tư duy khoa học của bản thân. Bởi giờ đây, cơ hội được chia đều cho tất cả. Tiến bước thật mạnh mẽ và tiếp nhận thành quả văn minh nhân loại hay mãi mãi tụt lại phía sau, câu trả lời phụ thuộc hoàn toàn vào sự nỗ lực của bạn.

  • 40 Bài văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay nhất 2015

    40 Bài văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay nhất 2015

    40 Bài văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay nhất 2015

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Hồ sơ , tài liệu hoàn thành công trình xây dựng và bản vẽ hoàn công


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: 40 Bài văn nghị luận xã hội về các chủ đề hay nhất 2015

    NHỮNG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI HAY

     

    Bài 1: Bài nghị luận về tôn sư trọng đạo

    Tôn sư trọng đạo không chỉ còn là vấn đề đạo đức mà còn là một truyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của nhân dân ta. Đó cũng là yếu tố quan trọng làm nên nền tảng đạo đức của xã hội văn minh.

    Nhân dân ta từng có những câu nói vô cùng giản dị mà chứa đựng những ý nghĩa rất sâu sắc về vấn đề Đạo và Thầy. Những câu nói ấy vừa tôn vinh người Thầy, vừa nhắc nhở con người phải biết sống cho phải đạo làm người. Thầy là người vạch đường chỉ lối cho mối người “Không thầy đố mày làm nên”. Vì thế vị trí của người thầy được đặt ngang hàng với vị trí của cha mẹ, “Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”. Chúng ta vẫn luôn tự nhắc mình: “Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.

    Người làm thầy trong bất cứ xã hội nào luôn được xã họi tôn trọng “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Bởi vậy, “tôn sư trọng đạo” không còn là một vấn đề quan niệm sống hay quan niệm về cách cư xử mà đã trở thành một phạm trù đạo đức. Thời xưa Platôn, Aritxtôt, Khổng Tử… từ người thầy đã trở thành những bậc thánh trong lòng học trò. Ngày nay, người thầy tuy không có vị trí tuyệt đối như thế song thầy vẫn là người được xã hội tôn trọng và “nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”. Dù ở phương Đông hay phương Tây, dù mối quan hệ thầy trò có bình đẳng đến đâu, gần gũi đến đâu thì danh giới thầy trò, vị trí đáng kính của người thầy vẫn không hề bị mai một.

    Trên thực tế, vấn đề “tôn sư trọng đạo” ngày nay đã có nhiều điều đáng phải bàn. Các thầy cô giáo dù phải đứng trước bao nhiêu khó khăn của cuộc sống vẫn đang ngày đêm lo lắng, nghiền ngẫm để truyền thụ cho học sinh những tri thức quý giá nhất. Còn học sinh, bên cạnh những học sinh chăm chỉ ngoan ngoãn, thực hiện đúng đạo làm trò, kính yêu và tôn trọng thầy cô giáo, đã có không ít bạn chót quên đi đạo nghĩa thầy trò. Những học sinh ấy đã vô tình hoặc cố ý vi phạm đạo làm trò, làm đau lòng các thầy cô giáo. Đã có những câu chuyện đau lòng mà chúng ta không muốn nhắc đến như hiện tượng học trò xúc phạm thầy cô giáo, vô lễ với những người đang ngày đêm dạy bảo mình những điều hay lẽ phải, truyền đạt cho mình những tinh hoa tri thức nhân loại. Xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục lên án những học sinh đó.

    Tôn sư trọng đạo là một truyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của loài người. Nếu trẻ em là tờ giấy trắng thì người cầm cây bút viết lên những tờ giấy trắng ấy những tráng thẳng hàng, rõ nét, rõ chữ nhất chính là thầy cô giáo. Tôn trọng những người giữ vai trò truyền đạt tri thức nhân loại cho thế hệ sau là biểu hiện của tình yêu tri thức, của lòng ham học hỏi, của ý chí và khát vọng vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế “tôn sư” không chỉ là vấn đề tôn trọng, kính yêu người làm nghề dạy học mà còn là biểu hiện của tình yêu tri thức, biểu hiện của văn minh, tiến bộ. “Đạo” cũng không chỉ dừng lại ở đạo làm trò, ở những hình thức, thái độ ứng xử với người thầy mà còn là cả vấn đề đạo đức xã hội. Đó là đạo làm người, là đạo học ở đời. Trọng đạo là coi trọng sự hiểu biết, coi trọng tinh thần ham học hỏi, đề cao truyền thống ham học.

    Tôn sư trọng đạo là một truyền thống đạo đức vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta. Đứng trước những hiện tượng đáng suy nghĩ hiện nay về vấn đề đạo đức học đường, chúng ta cần phải có những hoạt động cần thiết để nhắc nhở mỗi người nhìn lại thái độ và cách ứng xử của mình đối với những người làm thầy trong xã hội này. Tôn sư trọng đạo cần phải được quan tâm hơn nữa.

    Để xã hội ngày càng văn minh con người ngày càng phải chú ý đến chuyện học hành, tiếp thu tri thức. Vì thế, vai trò của người thầy trong xã hội hiện đại đã thay đổi, từ người truyền đạt tri thức đã chuyển thành người dẫn dắt học sinh tìm ra con đường đến với tri thức. Vai trò của người thầy ít nhiều thay đổi nhưng vị trí của người thầy thì không hề suy giảm. Thầy vẫn là thầy và ngày càng quan trọng hơn. Vì vậy, dù xã hội có đi đến đâu, xã hội ấy vẫn có những người muốn học và vẫn có những người thực hiện nhiệm vụ dạy bảo người đi sau. Trong cuộc sống ngày nay, khi mà vấn đề học hành ngày càng phức tạp và sự xuống cấp về đạo đức xã hội đang khiến nhiều người có lương tâm trách nhiệm phải quan tâm suy nghĩa thì vấn đề “tôn sư trọng đạo” càng phải tiếp tục được kế thừa và phát huy hơn nữa.

     

    Bài 2: Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới của M.Gorki

    Từ một cậu bé mồ côi,thất học,Alesei Peshkov đã vươn lên trở thành M.Gorki-nhà văn bậc thầy của giai cấp vô sản,con người được nhân dân thế giới kính trọng vì một vốn hiểu biết văn hóa vừa rộng lớn vừa sâu sắc.Nhờ đâu? Nhờ một nghị lực sống phi thường đã tìm gặp được một thứ tài sản phi thường: sách.

    Nói đến M.Gorki,không thể không nói đến tự học,do đó không thể không nói đến sách.Chính ông đã nói đến tác động ghê gớm của sách đối với mình trong một lời phát biểu giản dị :

    “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”.

    Câu nói ấy hàm chứa một ý nghĩa phong phú và một chân lí,một lời khuyên. Từ lâu con người đã biết đến sự kì diệu của sách.Sách,đó là cái thần kì trong những cái thần kì mà nhân loại đã sáng tạo nên.Thật không thể hình dung một nền văn minh mà không có sách.Từ hàng nghìn năm trước,khi chưa có chữ in,chưa có máy in,chưa có cả giấy bút nữa,thì nhân loại đã nghĩ đến sách rồi,đã có những hình thức đầu tiên của sách rồi.Sách là cái cần có để con người lưu giữ và truyền lại cho người khác,cho thế hệ khác,những hiểu biết của mình về thế giới xung quanh,những khám phá về vũ trụ,về con người,cả những ý nghĩ,những quan niệm,những mong muốn về cuộc sống cần gửi đến cho mọi người và trao gửi đến đời sau.

    Sách,đó là kho tàng chứa đựng những hiểu biết của con người đã được khám phá,chọn lọc,thử thách,tổng hợp.Sách là nơi kết tinh những tư tưởng tiên tiến nhất của các thời đại,những hoài bão mạnh mẽ nhất,những tình cảm tha thiết nhất của con người.Chỉ có những gì mà con người cảm thấy bức xúc cần nói,cần truyền lại,mới đi vào sách.

    Tác động của sách không hề bị giới hạn bởi thời gian và không gian.Con người ngày nay vẫn không giảm sút hứng thú tìm lại những trang sách đã có hàng mấy nghìn năm nay,từ những hình vẽ bí hiểm trên những phiến đất sét,những chữ cái từ lâu đã trở nên lạ lùng trên các tấm da cừu,những con chữ tượng hình trên các thẻ tre…cho đến hôm nay,những cuốn sách được in hàng loạt bằng những máy in điện từ hiên đại.Một người sống ở một làng hẻo lánh Châu Á cũng có thể đọc được cuốn sách của một người viết từ một đất nước xa xôi ở Châu Mĩ.Thật có thể không ngoa rằng: có sách,các thể kỉ và các dân tộc xích lại gần nhau.

    Sách là thế,sách có sức mạnh như thế,cho nên M.Gorki đã rất có lí khi nói: “Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới”. Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh,về vũ trụ bao la,về những đất nước và dân tộc xa xôi.Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó,hiểu được quả đất tròn mang trên mình nó bao nhiêu đất nước khác nhau với những hoàn cảnh thiên nhiên khác nhau.Những quyển sách xã hội học giúp hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế,lịch sử,văn hóa,những truyền thống,những khát vọng.

    Sách,đặc biệt là những cuốn sách văn học,giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong của con người,qua các thời kì khác nhau,ở các dân tộc khác nhau,những niềm vui và nỗi buồn,hạnh phúc và đau khổ,những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình,hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này,hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác,với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này.Sách giúp người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc,đâu là nỗi khổ của mỗi người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.

    Đã từng có những cuốn sách không chỉ “mở rộng những chân trời mới” cho một người,trăm người,triệu người,mà cho cả nhân loại.Những trang sách của Bruno,Galie về quả đất và thái dương hệ đã mở ra cho loài người một thời kì mới trên con đường chinh phục tự nhiên.Những trang sách của Dacuyn về các giống loài không chỉ giúp con người hiểu rõ về các giống loài sinh vật mà còn hiểu rõ hơn về chính con người.Sách của Secspia,của Diderro,Monteskier rồi của Mac,Angghen…thực sự đã giúp con người làm những cuộc cách mạng.Đọc Bangdac ta hiểu về thế giới tư bản với sức mạnh lạ lùng của đồng tiền.Đọc thơ Tago,thơ Lý Bạch,Đỗ Phủ,ta hiểu đời sống và tâm hồn của cả những dân tộc.Đọc Nguyễn Du,Hồ Xuân Hương,Cao Bá Quát…ta hiểu xưa kia cha ông ta từng đau khổ và ước mơ những gì…Thật không sao kể hết “những chân trời” mà các trang sách đã mở rộng trước mắt ta.Có thể nói một cách tóm tắt rằng: lợi ích của sách là vô tận.Ta đồng ý với lời nhận xét của M.Gorki cũng là tiếp nhận lời khuyên bao hàm chứa trong câu nói ấy : Hãy đọc sách,cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt.

    Tuy nhiên,chẳng lẽ đó là một lời khuyên vô điều kiện ? Ngẫm cho kĩ,ta vẫn thấy có một khoảng trống cần cân nhắc trong lời khuyên ấy.Vì sao ? Vì không phải mọi quyển sách đề “mở rộng những chân trời mới”.

    Từ khi xuất hiện chủ nghĩa tư bản,mọi vận dụng của con người,trong đó có sách,đều trở thành hàng hóa.Sách không chỉ là cái do con người viết ra cho con người đọc,mà còn là một món hàng cho những ông chủ nhà in,chủ nhà xuất bản kiếm lời.Mục đích của những ông chủ ấy,nói chung,không phải là phục vụ nhân loại mà để kiếm lợi nhuận,lợi nhuận tối đa.Vì thế,trên thị trường sách,không phải bao giờ cũng chỉ có những cuốn sách tốt thực sự phục vụ mục đích cao cả của con người,mà còn có rất nhiều những cuốn sách vì mục đích kiếm lời,đã gây tác hại không nhỏ cho con người.

    Thế nào là sách tốt ? Đó là những cuốn sách phản ánh chính xác quy luật của tự nhiên và của đời sống xã hội.Chúng giúp con người ta hiểu rõ về số phận của mình để có ý thức đúng về nghĩa vụ của mình trong đời sống.Một cuốn sách tốt phải giúp cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn.Nó phải ca ngợi sự công bằng và tình hữu nghị giữa các dân tộc.Nó phải khiến cho con người thêm tự hào về mình,thêm vững tin ở cuộc sống để chiến đấu cho cuộc sống mỗi ngày một hợp lí và hạnh phúc hơn.Nó phải khiến cho tâm hồn con người trở nên phong phú hơn,độ lượng hơn,trong sáng hơn.

    Đọc những cuốn sách như thế,đúng là chân trời mở rộng không chỉ trước mắt ta mà còn cả trong tâm hồn ta.Ta không chỉ tăng thêm hiểu biết mà còn tăng thêm giá trị và sức mạnh.

    Còn thế nào là sách xấu ? Đó là những cuốn sách xuyên tạc đời sống,đưa đến cho người đọc những kiến thức giả trá về thế giới xung quanh.Chúng đề cao dân tộc này mà bôi nhọ dân tộc kia,chúng gây thù hằn và ngờ vực giữa các dân tộc,đề cao bạo lực và chiến tranh,kích động những thị hiếu bản năng thấp hèn của con người. Đọc những cuốn sách như thế,người đọc không những không tăng thêm những hiểu biết mà còn trở nên dốt nát,mê muội hơn.Đọc những cuốn sách như thế,tâm hồn người đọc không những không hề mở rộng chân trời mà còn thêm khô cằn vì những thú tính độc ác,những ước muốn tầm thường ích kỉ,những tình cảm bạc nhược đớn hèn.Sách cỏ thể là một thứ thuốc bồi dưỡng cực kì công hiệu,cũng có thể là một thứ ma túy,một thứ thuốc độc cực kì nguy hiểm.

    Bởi vậy, từ câu nói của nhà văn vô sản Nga,ta có thể tự xác định cho mình một thái độ đối với sách.Trước hết,phải biết quý trọng sách và coi việc đọc sách là một công việc rất cần thiết,vừa rất thú vị vừa rất bổ ích.Sống mà không đọc sách,không ham mê sách,là một điều không thể chấp nhận được.Nhưng phải chọn sách để đọc.Không bị mê hoặc bởi sự hấp dẫn của hình thức,không để bị lôi cuốn bởi những thị hiếu tầm thường,phải tìm đến những cuốn sách thực sự tốt,có ích.

    Mặt khác,đọc sách không chỉ là một sự hưởng thụ,mà còn là một cách hành động ở đời.Cho nên,đọc sách là để rút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống tốt hơn,hành động có hiệu quả hơn.Đọc sách mà không tiêu hóa được,không vận dụng được vào hành động,thì dẫu đọc hàng nghìn cuốn sách cũng không hơn gì cái tủ mọt đựng sách.

    Hàng ngàn năm qua,con người đã sáng tạo ra sách và mê đọc sách.Nhưng nếu xưa kia niềm vui ấy chỉ là đặc quyền của một số người rất nhỏ thì ngày nay là niềm vui, là quyền lợi của cả những con người bé nhỏ bình thường.Sách vẫn tiếp tục phát huy tác dụng kì diệu của nó.Ta không thể hình dung một thế giới không có sách.Không còn sách,nền văn minh nhân loại cũng sẽ không còn.

     

    Bài 3: Nghị luận xã hội Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Trong cuộc sống, chúng ta thường dùng lời nói để trao đổi thông tin, để diễn đạt ý tưởng hoặc để bày tỏ, biểu lộ tâm tư tình cảm của mình… Nói chung, nhờ lời nói mà con người có thể hiểu nhau và dễ đến gần nhau hơn. Nói thì dễ nhưng nói như thế nào để không mất lòng người nghe, nói như thế nào để “lọt” đến xương, nói làm sao để “mật ngọt chết ruồi” thì không dễ chút nào. Vì thế cha ông ta có lời khuyên: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”…

    Tâm lý chung của con người là thích nghe ngọt. Những lời nói tốt đẹp không làm chúng ta tốn kém tiền bạc hay hao tổn sức lực, nhưng nó đem lại nhiều ích lợi và làm cho người nghe được an ủi, khích lệ và làm cho tình thân giữa ta với người khác được thêm thắm thiết đậm đà. Dĩ nhiên, chúng ta không nên vì “lựa lời” mà nói với nhau những lời giả dối. Trái lại, chúng ta cần nói thật với nhau bằng tấm lòng yêu thương.

    Lại có một câu chuyện kể lại rằng:

    Ngày xưa có một ông vua nước Ai-cập gửi cho nhà hiền triết Bias một con vật vừa quý lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng, ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triết một vố, bèn phán:

    – Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quý hiếm ấy.

    Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi trao cho ông vua. Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng:

    – Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.

    Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín; nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông. Lưỡi đóng một vai trò quan trọng như vậy, song cái lưỡi cộng với lời nói lại chính là nguyên cớ làm cho chúng ta dễ vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm ở bất kỳ đâu, trong bất cứ lúc nào và với bất kỳ ai.

    Tục ngữ cũng đã có câu:

    “Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi”.

    Hay:

    “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”.

    Một lời nói thiếu suy nghĩ được sánh ví như đổ thêm dầu vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu huỷ hết tình ruột thịt cũng như tình nghĩa anh em. Hơn nữa, trong cộng đoàn tu trì gồm những con người từ “khắp tứ phương thiên hạ”, mỗi người mỗi tính ***,   mỗi người một kiểu sống khác nhau, nên không thể tránh được hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền… Nhiều khi chính chúng ta lại là những người gây ra những đau khổ, buồn phiền cho người khác chỉ bằng những lời nói thiếu cân nhắc trước sau.

    Cụ thể ngay trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi có thể vô tình thôi, chúng ta chọc ghẹo anh chị em mình bằng những lời nói nghe hơi… “rát tai”, nghe mà “đau nhói cả tim”. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn nói cho sướng cái miệng của mình, nhưng lại không để ý đến nỗi đau của người anh chị em mình khi phải nghe những lời chọc ghẹo đó.

    Do vậy, trong cộng đoàn tiếng cười là cần thiết, nó đem lại niềm vui cho cộng đoàn là điều cần làm và nên làm. Nhưng chúng ta cũng cần phải ý tứ hơn nữa trong những lời chọc vui để những lời chọc vui đó không những đem lại niềm vui cho mình mà còn làm cho người bị chọc cũng được vui cười thoải mái. Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn của chúng ta. Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ, một phần lớn là do cái lưỡi và lời nói của chúng ta.

    Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mỗi người, như một câu danh ngôn đã dạy: “Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang”. Bởi đó, ta cần phải biết đắn đo cân nhắc trong cách ăn nói của mình để tránh đi những hiểu lầm, đau khổ cho người khác. Phải sử dụng lời nói như một phương tiện, giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau hơn “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” là vậy.

    Ý thức được tầm quan trọng của ngôn từ, chúng ta hãy chú ý những ngôn từ chúng ta dùng trong ngày. Phải có trách nhiệm khi sử dụng ngôn từ, bởi vì qua những lời chúng ta nói, chúng ta có thể đem lại niềm vui Phục sinh nhưng cũng có thể đem lại đau khổ thập giá cho những anh em trong cộng đoàn và chúng ta cũng nên lắp đặt một… “Cái thắng” vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “stop” lại đúng nơi và đúng lúc.

    Để kết thúc, xin mượn câu nói của cha ông ta nói về ngôn từ: “Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”.

    Hoặc:

    “Lựa lời mà nói khó thay

    Tiếng chì, tiếng bấc thường hay “chàng ràng”

    Khi ai mở miệng nói ngang

    Thì ta chắc chẳng ngại “phang”…. “mỹ từ”

    Một tia lửa nhỏ sơ sơ

    Khu rừng lớn mấy mặc dù, cháy tiêu

    Giữa ngàn thế sự đảo điên

    Có ai áp dụng lời khuyên bao giờ

    Lời nói không mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

     

    Bài 4: Tình cảm nhân đạo biểu hiện trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh

    Không có một bậc vĩ nhân nào lại không có lòng nhân ái. Đọc tập thơ “Nhật kí trong tù” của Bác, tất cả những người có hiểu biết đều nhận đinh thống nhất: Bác là một bậc Đại nhân, là người có lòng thương yêu con người mênh mông.

    Lòng thương yêu con người của Bác là tinh thần nhân đạo Cộng sản, đó là tinh thần nhân đạo mới mẻ mà Bác mang lại cho dân tộc và nhân loại. Ông Trường Chinh cũng cho rằng: “Một điểm nổi bật nhất trong đạo đức Hồ Chủ Tịch là lòng thương người”.

    Tình thương người của Hồ Chí Minh không phải là lòng thương người siêu giai cấp mà có quan điểm nội dung và giai cấp cụ thể, đó là tình thương người của giai cấp vô sản, nó rất khác với tinh thần bác ái của tôn giáo, yêu thương an ủi con người và khuyên con người hãy thụ động chờ đợi hạnh phúc ở thế giới xa xôi hoặc kiếp sau. Đó cũng không phải là tình thương có ý nghĩa ban phát của giai cấp quý tộc, của những người sống trên tiền của.

    Giá trị của “Nhật kí trong tù” phong phú về nhiều mặt. Nhà thơ Hoàng Trung Thông thâu tóm ở hai điểm rất chủ yếu: chât thép và tình người.

    “Vần thơ của Bác vần thơ thép

    Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

    Tố Hữu nhận xét: “Bấy lâu người ta chỉ hiểu người chiến sĩ cách mạng là thép ở mũi nhọn chiến đâu. Trong tập thơ này ta hiểu rõ thêm người cộng sản là tình. Tình ở đây là tình yêu thương đất nước, cuộc sống và con người. Chủ yếu ở đây chúng ta tìm hiểu, khai thác tình cảm với con người”. Trong tù Bác cũng chịu khổ ải như bất kì tù nhân nào. Mà Bác thì đã già, bị tù trong hoàn cảnh cô độc, nhưng Người đã quên đi nỗi đâu của riên mình mà đem lòng thương yêu những người bạn tù mà Bác gọi là nạn hữu.

    Có thể nói trong đám tù nhân ở nhà lao Quảng Tây, Bác là người cô độc hơn ai hết, nhưng chỉ nhìn thấy vợ của một người bạn tù đến thăm chồng là Bác đã xúc động, Bác diễn tả nỗi lòng thương yêu của mình đối với vợ chồng người bạn tù trong một bài thơ đặc sắc:

    “Anh đứng trong cửa sắt

    Em đứng ngoài cửa sắt

    Gần nhau trong tấc gang

    Mà biển trời cách mặt

    Miệng nói chẳng nên lời

    Nói lên bằng khóe mắt

    Chưa nói lên tuôn đầy

    Tình cảnh đáng thương thật.”

    Dù sao thì vợ chồng người bạn tù còn được an ủi, vậy mà con người cô độc này lại đem lòng thương “gần nhau trong tấc gang. Mà biển trời cách mặt” thật ra thì họ đã được gần nhau trong gang tấc. Còn “biển trời cách mặt” là biển của tình yêu thương mênh mông của Bác đối với những con người bất hạnh. Trên con đường giải tù, nhìn thấy người phu làm đường cực khổ dưới nắng mưa, Bác động lòng thương và ghi lại thành thơ:

    “Dãi gió dầm mưa chẳng nghỉ ngơi

    Phu đường vất vả lắm ai ơi

    Ngựa xe hành khách thường qua lại

    Biết cảm ơn anh được mấy người”.

    Tại sao Bác lại cảm động với người phu làm đường kia. Có lẽ Bác cũng là một người “phu làm đường” cho nên dễ thông cảm với người phu làm đường kia đang vất vả với cong đường hành khách qua lại.

    “Tôi khổ sở vì đang kiến trúc con đường cho nhân loại, con đường cách mạng”. Đó là sự đồng cảm của hai người “trúc lộ phu” cho nên tình thương càng sâu sắc, thấm thía. Nhiều bài thơ trong “Nhật kí trong tù” cũng biểu hiện sự cảm thông đối với những người nông dân:

    “Khắp chốn nông dân cười hớn hở

    Đồng quê vang dậy tiếng ca vui”

    Vào nhà lao Tân Dương nghe tiếng khóc của một đứa trẻ, Bác vô cùng xúc động tưởng chừng như đứa trẻ muốn nói với Bác qua tiếng khóc trẻ thơ:

    Oa…! Oa…! Oa…!

    Cha trốn không đi lính nước nhà

    Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi,

    Phải theo mẹ đến ở nhà pha.

    Âm thanh non nớt đó kể lể với Bác một điều cay đắng trong ngàn điều cay đắng trên đời. Tiếng khóc non tơ đó đã bật ra từ sự dồn nén của tầng tầng phi lí. Nhà thơ đã tự sự trong cái không thể tự sự được. Dường như đứa trẻ biết đây là ông chủ bút tờ báo “Người cùng khổ” nên mới bật ra tiếng khóc kể lể như vậy. Trong những người bất hạnh Bác gặp trong tù, Bác đặc biệt thương mến nhi đồng và phụ nữ. Trên kia ta thấy được niềm thôn cảm của Bác đối với người phụ nữ có chồng mới bị bắt lính và giờ đây chúng ta lại hiểu thêm được tấm lòng yêu thương của Bác trong tiếng khóc của người góa phụ trong bài thơ “Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng”:

    “Hỡi ôi! Chàng hỡi, hỡi chàng ơi!

    Cơ sự vì sao vội lánh đời?

    Để thiếp từ nay đâu thấy được

    Con người tâm ý hợp mười mươi”

    Ở trong tù, nửa đêm nghe tiếng khóc của một người thiếu nữ mà biết được đó là tiếng khóc “người bạn đời, tâm đầu ý hợp” thì đấy là cái lỗ tai đặc biệt của ông chủ bút “Người cùng khổ”

    Trong tù, Bác còn chứng kiến những cảnh ngộ thương tâm. Một người tù cờ bạc nằm bên Bác vì đói rét bị nhà tù hành hạ chết thảm thương:

    “Thân anh da bọc lấy xương.

    Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi,

    Đêm qua còn ngủ bên tôi

    Sáng nay anh đã về nơi suối vàng!”.

    Đây là một cái chết hai lần oan nên Bác càng thương cảm. (Oan thứ nhất là đánh bạc không đáng vào tù vì trong tù đánh bạc công khai, oan thứ hai là phải chết trong đói rét thê thảm)

    Có một bài thơ đã kết đọng lại hai dòng tình cảm lớn của Bác là tình thương và lòng yêu nước “Người bạn tù thổi sáo”. Bác thương người bạn tù nhớ quê hương da diết trong âm điệu sầu não. Bác cũng là người cùng hội cùng thuyền, Bác cũng đang có tâm trạng nhớ quê hương đất nước nên tiếng sáo của người bạn tù cũng là tiếng lòng của Bác:

    “Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu

    Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu

    Muôn dặm quan hà khuôn xiết nỗi

    Lên lầu ai đó ngóng trông nhau”.

    Qua “Nhật kí trong tù”, ta thây rõ tấm lòng của Bác: nhân hậu, giàu yêu thương và luôn có cách xử thế ân tình. Người luôn tìm cách giúp đỡ mọi người trong khả năng của mình và tỏ lòng biết ơn ai đó giúp mình. Trong hoàn cảnh lẫn lộn, bề bộn Người vẫn luôn phân biệt sáng tỏ người tốt kẻ xấu, người đáng thương người đáng trọng. Giá trị nhân đạo của “Nhật kí trong tù” góp phần quan trọng tạo nên bền vững của tác phẩm.

    Xin dẫn ra đây hai nhận xét của các nhà học giả về tinh thần nhân đạo của Hồ Chí Minh trong “Nhật kí trong tù” :

    “ “Nhật kí trong tù” là tiếng nói vút lên từ chỗ tối tăm mù mịt ấy mà lại là tiếng nói chứa chan tình nhân đạo nên tự nhiên cũng là tiếng nói kết tội những bóng tối dày đặc đang đè nặng lên kiếp sống của người ta. Giữa bao nhiêu tối tăm dày đặc, ánh sáng vẫn ngời lên, ánh sáng của lòng thương người và yêu đời vô hạn” (Hoài Thanh)

    “Tôi cũng nhận thấy với tấm lòng khâm phục tràn đầy rằng ngay trong nhà tù Người cũng có thể thương xót những người khác và luôn nghĩ đến những nguyên tắc của chủ nghĩa nhân đạo”.

     

    Bài 5: Nghị luận xã hội Gần mực thì đen, Gần đèn thì sáng

    Từ xưa, trong cuộc sống lao động và chiến đấu của mình, nhân dân ta đã rút được biết bao bài học quý giá. Đó là những kinh nghiệm trong sản xuất, chiến đấu và cách ứng xử trong xã hội. Đó là cách nhìn nhận mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách của mỗi người. Câu tục ngữ “Gần mực thì đen,gần đen thì rạng” đã nói lên kinh nghiệm đó.

    Để nêu lên một bài học,một kinh nghiệm trong cuộc sống,ông cha ta thường mượn hình ảnh một sự vật có liên quan đến con người để thể hiện ý của mình. Mực màu đen, tượng trưng cho những cái xấu xa, những cái không tốt đẹp. Đèn là vật phát ra ánh sáng, soi tỏ mọi vật xung quanh, tượng trưng cho những cái tốt đẹp, sáng sủa. Từ hai hình ảnh tương phản nhau “mực và đèn”, câu tục ngữ đã đưa ra kết luận : “Gần mực thì đen,gần đèn thì rạng”. Đó là quy luật của sự vật.
    Dựa vào thực tế cuộc sống của con người,ta thấy câu tục ngữ hoàn toàn đúng khi xét trong mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách mỗi người.Nhưng trong vài trường hợp đặc biệt,có thể gần mực mà không đen,gần đèn mà không rạng.Vì con người có khả năng vượt khỏi hoàn cảnh,chế ngự môi trường xung quanh.

    Trong thực tế,hai mặt khả năng này không loại trừ nhau mà chúng bổ sung cho nhau,giúp chúng ta hiểu một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách.

    Trong kho tàng văn học dân gian,nhân dân ta có câu tương tự :

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    Và :

    Thói thường gần mực thì đen

    Anh em bạn hữu phải nên chọn người.

    Những câu ca dao,tục ngữ đó đã khẳng định ảnh hưởng quyết định của môi trường xã hội đối với việc hình thành nhân cách.Trong thực tế cuộc sống,nhà trường làm công tác giáo dục tốt vì nhà trường đã chú ý đến quang cảnh sư phạm và xây dựng môi trường xã hội tốt.Ở gia đình cũng vậy, cha mẹ là những tấm gương sáng,anh chị em hòa thuận, thì gia đình sẽ có những người con ngoan.

    Ở lớp học cũng thế, lớp nào biết quan tâm xây dựng tập thể tốt, quan hệ giữa thầy và trò, bạn bè đúng đắn, thân ái đoàn kết, thì lớp đó có nhiều học sinh giỏi, đạo đức tốt. Gần gũi hơn, trong quan hệ bạn bè, nếu ta chơi với một người bạn tốt, chăm ngoan, học giỏi, thì chúng ta sẽ học tập được những đức tính tốt ấy và sẽ trở thành người tốt. Ngược lại,trong một gia đình, nếu cha mẹ không quan tâm đến con cái, anh em không nhường nhịn nhau, thì con cái trong gia đình cũng dễ lười biếng, ăn chơi, đua đòi. Ở những môi trường xã hội phức tạp càng dễ sinh ra những hành vi phạm pháp.

    Trong thực tế, khó mà tạo ra một môi trường hoàn toàn lành mạnh và tốt đẹp. Trong xã hội cũ cũng như trong xã hội chúng ta ngày nay, những yếu tố lành mạnh và chưa lành mạnh, tốt đẹp và xấu xa thường xen kẽ vào nhau để cùng tồn tại và phát triển. Có lúc, có nơi, cái chưa lành mạnh, cái chưa tốt đẹp lại lấn át cái đẹp, cái lành mạnh. Đó là lúc môi trường xã hội không thuận lợi cho việc hình thành nhân cách.

    Nhưng chính trong môi trường không thuận lợi ấy, vẫn có những con người có phẩm chất cao đẹp,có tình cảm đạo đức tốt đẹp, có những hành động cao cả. Chính trong môi trường không thuận lợi đó vẫn nở rộ những bông sen thơm ngát từ chốn bùn đen hôi tanh. Đó là những con người biết vượt lên trên mọi cám dỗ thấp hèn, làm được những việc có ích cho đất nước và cho chính bản thân mình.

    Ngày nay, trên đất nước ta còn nhiều hiện tượng tiêu cực,mặc dù chế độ ta về cơ bản là tốt đẹp. Do đó, bất cứ lúc nào, vẫn có những trường hợp gần mực mà không đen, gần đèn mà vẫn tối tăm. Sống trong môi trường tốt đẹp, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp xúc với những hiện tượng không lành mạnh, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội.

    Câu tục ngữ là một lời khuyên bảo sâu sắc,đã mang đến cho chúng ta một bài học bổ ích, có cách nhìn đúng đắn về mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách của bản thân.Câu tục ngữ giúp chúng ta xác lập một thế đứng vững chắc trước những tác động tiêu cực ngoài xã hội và nếu bị rơi vào một hoàn cảnh không thuận lợi, đầy rẫy những tiêu cực thì chúng ta nên có quyết tâm vượt qua. Nó giúp chúng ta có tinh thần cảnh giác trước những tác động tiêu cực của môi trường xung quanh để luôn luôn “gần mực mã vẫn không đen” và chúng ta nên có ý chí quyết tâm trở thành một ngọn đèn luôn luôn tỏa sáng.

     

    Bài 6: Nghị luận xã hội Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

    Xã hội loài người phát triển được như ngày nay là nhờ quá trình tìm hiểu, nhận thức, tích lũy và không ngừng nâng cao tri thức của tất cả các dân tộc trên thế giới. Tri thức rất cần thiết đối với con người. Muốn có tri thức thì phải học hỏi: học trong sách vở, học từ thực tế cuộc sống.

    Ông cha ta xưa kia đã nhận thức rất đúng đắn về sự cần thiết của việc mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết đối với mỗi người nên đã khuyên nhủ, động viên con cháu : “Đi một ngày đàng,học một sàng khôn”.

    Xã hội Việt Nam trước đây là xã hội phong kiến còn nhiều bảo thủ, lạc hậu. Người dân quanh năm suốt tháng chỉ quanh quẩn trong lũy tre xanh, ranh giới của cộng đồng làng xã. Có người suốt đời chẳng bước ra khỏi cổng làng. Số người được đi xa để ăn học hoặc làm việc rất hiếm hoi. Vì vậy mà trình độ hiểu biết của mọi người nói chung rất thấp và khó mà mở rộng hoặc nâng cao lên được.

    Tuy vậy,trong sự ràng buộc của tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, vẫn lóe lên những tia sáng nhận thức về sự cần thiết phải học hỏi để nâng cao hiểu biết. “Đi một ngày đàng,học một sàng khôn”. Chỉ cần “đi một ngày đàng” (ý nói thời gian ít ỏi và quãng đường không xa là bao so với nơi ta sinh sống) thì ta đã học được “một sàng khôn”. Đây là hình ảnh cụ thể, gần gũi được dùng để thể hiện một khái niệm trừu tượng là sự hiểu biết của con người. Nếu chịu khó đi xa thì ta sẽ học được nhiều bài học bổ ích trong cuộc đời, bởi trên khắp các nẻo đường đất nước,nơi nào cũng có vô vàn những điều hay, điều lạ.

    Để động viên tinh thần học hỏi của con cháu, ông cha xưa đã có những câu ca dao nội dung tương tự như câu tục ngữ trên: “Làm trai cho đáng nên trai-Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng”; “Làm trai đi đó đi đây-Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Điều đó chứng tỏ ông cha ta đã nhận thức được việc đi xa để học hỏi là điều quan trọng, cần thiết và đáng khuyến khích.

    Trình độ hiểu biết tạo điều kiện cho ta làm việc tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn, giúp ích cho gia đình,xã hội được nhiều hơn. Hiểu biết càng nhiều,con người càng có cách xử thế đúng đắn trong quan hệ gia đình và xã hội.

    Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, việc học tập để mở mang nhận thức và hiểu biết của mỗi người càng trở nên cấp bách. Muốn xóa bỏ tình trạng lạc hậu,muốn rút ngắn sự cách biệt giữa nước ta và các nước phát triển trên thế giới, chúng ta chỉ có một con đường là học : “Học,học nữa,học mãi” như lời Lenin đã dạy. Vấn đề đặt ra là phải học những điều hay, lẽ phải, những điều thiết thực, bổ ích cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Không nên học theo điều dở, điều xấu, có hại đến bản thân, gia đình và xã hội.

    Hiện nay, việc đi đó đi đây không còn là chuyện hiếm có như ngày xưa. Ai cũng có quyền tự do đi lạ, học hành, kể cả ra nước ngoài. Học hỏi bằng con đường tham quan, du lịch; học hỏi bằng con đường du học… Nhưng mục đích cuối cùng vẫn là để tiếp thu những kinh nghiệm, những kiến thức khoa học mới mẻ, tiên tiến của nhân loại, nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển Việt Nam thành một đất nước giàu mạnh mà vẫn giữ được bản sắc và truyền thống dân tộc.

    Học hỏi không phải là chuyện ngày một, ngày hai mà là chuyện của cả đời người. “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học ở cuộc sống”. Việc nâng cao hiểu biết là rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi người. Vì vậy chúng ta phải có mục đích và phương pháp học tập đúng đắn để đạt được hiệu quả cao. Có tri thức,chúng ta mới làm chủ được bản thân, mới đóng góp hữu ích cho gia đình, xã hội.”Học vấn làm đẹp con người”-đó cũng là điều ông cha muốn nhắn gửi đến chúng ta. Câu tục ngữ : “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là lời khuyên quý báu của người xưa; đến nay nó vẫn là bài học quý báu đối với tuổi trẻ trên con đường tạo dựng sự nghiệp

     

    Bài 7: Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm

    Người Việt Nam có truyền thống vô cùng tốt đẹp là “thương người như thế thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”… Thế nhưng có những cách sống ngày nay đang gặm nhấm những truyền thống tốt đẹp đó.
    Đi ra đường thấy lũ càn quấy không ai dám ngăn cản, thấy người khác bị đánh không ai dại gì bênh vực… Xã hội mà có nhiều người “không dại gì” như vậy nên người xấu càng được đà làm càn. Trong cơ quan nhiều người “không dại gì” đấu tranh nên những người nắm quyền muốn làm gì thì làm kể cả vi phạm pháp luật… Trong xã hội có nhiều người “không dại gì” nên sẽ tiếp tay cho việc gia tăng nhiều người xấu.

    Hiện nay đang phát triển một căn bệnh của thế giới hiện đại – đúng hơn là mặt trái thuộc thế giới hiện đại. Đó là căn bệnh không có trong danh mục của ngành y, nhưng “những điều trông thấy” luôn “làm đau đớn lòng”. Đó chính là căn bệnh vô cảm mà nhiều người dân Việt – nhất là tầng lớp thanh niên- mắc phải.

    Bệnh này thể hiện ở chỗ không hề động lòng trước những nỗi đau của người khác cũng như không hề phẫn nộ trước những tệ nạn xảy ra hàng ngày. Liệu rằng chúng ta đã hiểu rõ căn bệnh này chưa? Nguyên nhân hình thành như thế nào? Tác hại ra sao? Đó là một khó khăn.  Vô tức là không, cảm tức là tình cảm cảm xúc của con người.

    Vô cảm tức là không có cảm xúc trước bất kì sự vật sự việc gì.chẳng hạn như : không sẵn lòng giúp đỡ những người gặp khó khăn hoạn nạn, mặc dầu mình có điều kiện có thể giúp đỡ được. Rất nhiều người, nhất là thanh niên nam nữ, khi thấy những người hành khất thì xua đuổi, dè bỉu. Đi đường gặp người bị tai nạn vẫn bỏ đi không sẵn sàng cứu giúp. Thậm chí có kẻ còn nhân cơ hội tìm cách lấy cắp tiền của người bị nạn. Thấy người tàn tật không giúp đỡ, trên xe buýt, ở nơi công cộng, không nhường chỗ cho người tàn tật, có khi lại còn cười trước những khuyết tật của họ.

    Những người có trách nhiệm giải quyết, nhưng không quan tâm giải quyết công việc cho người dân, mặc dân phải đến trình bày lần này lượt khác, có khi còn vòi vĩnh rồi mới giải quyết – Các cán bộ đã giàu sang nhưng vẫn tìm cách cướp đất của dân, đuổi dân đi chỗ khác để lấy những mảnh đất đẹp chia nhau như vụ tiêu cực đất đai ở Đồ Sơn và nhiều nơi khác.

    Có những cán bộ giải quyết chính sách đã ăn chặn của những thương binh, những gia đình chính sách, của những người tàn tật , những gia đình hộ nghèo như báo chí đã từng nêu lên. Trường hợp một bà mẹ già ở Hà Tĩnh có con nuôi là liệt sĩ mà lãnh đạo xã tìm cách cắt tiêu chuẩn không cho nhận, khiến các nhà báo phải vào cuộc mới giải quyết được. Rất nhiều tệ nạn và hiện tượng thể hiện căn bệnh vô cảm không kể hết.

    Sở dĩ nảy sinh căn bệnh này vì những người đó không tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, không có lòng nhân đạo, thờ ơ với mọi người, ý thức tập thể, ý thức cộng đồng quá kém, không giữ được truyền thống quý báu của dân tộc ta là “thương người như thể thương thân”. Căn bệnh vô cảm đã có ở không ít nhân vật được giao trọng trách từ lâu, nó biểu hiện dưới nhiều dạng “lâm sàng” khác nhau nhưng tất cả đều rất dễ phát hiện, chỉ có điều không ai chịu chữa trị hay nói cách khác là đang trong tình trạng vô phương cứu chữa.

    Ngăn chặn nó không phải bằng biện pháp hành chính mà bằng chính tấm lòng và dũng khí của mỗi con người, tấm lòng và dũng khí của các cơ quan chức năng. Con người vô cảm và cơ quan chức năng thờ ơ thì căn bệnh càng trầm trọng. Lúc đó thì chẳng còn gì để nói. Vô cảm là một chứng bệnh thường gặp ở một số người bị khủng hoảng tâm lí nặng nề, thường bị sốc nặng sau đó dần dần họ không có cảm giác yêu thương hay ghét bỏ nào nữa…….là trạng thái tâm lí có thể do vô tình hoặc hữu ý mà gây ra, vì lúc đó con người coi như không có nhận thức, suy nghĩ, và tình cảm…..

    Vô cảm nguy hiểm với cả chính người bệnh lẫn vả người xung quanh . Nhân loại đang bó tay trước căn bệnh của thế kỷ: bệnh nan y HIV/AIDS. Căn bệnh thứ hai cũng nan y không kém là bệnh vô cảm! Ra đường nhiều người gặp cái tốt không ủng hộ, thấy cái xấu không lên án, không ít nơi cả phố, cả làng sợ tên ăn trộm, cả xã sợ thằng say rượu vì không muốn bị liên lụy… đang làm cho bệnh vô cảm vốn đã và đang có nguy cơ lan rộng, càng có điều kiện lây lan mạnh hơn. Bệnh HIV/AIDS vốn đã nguy nan, bệnh vô cảm nếu không được giáo dục, không được ngăn chặn sẽ là tác nhân làm “lệch chuẩn” hay “loạn chuẩn” đạo đức, sẽ là nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng kinh tế – xã hội, thậm chí làm sụp đổ một chế độ, làm tan nát một gia đình. Một xã hội vô cảm là một xã hội chết. Cần xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ……

    Người Việt Nam có truyền thống vô cùng tốt đẹp là “thương người như thế thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”… Thế nhưng có những cách sống ngày nay đang gặm nhấm những truyền thống tốt đẹp đó.

    Đi ra đường thấy lũ càn quấy không ai dám ngăn cản, thấy người khác bị đánh không ai dại gì bênh vực… Xã hội mà có nhiều người “không dại gì” như vậy nên người xấu càng được đà làm càn. Trong cơ quan nhiều người “không dại gì” đấu tranh nên những người nắm quyền muốn làm gì thì làm kể cả vi phạm pháp luật… Trong xã hội có nhiều người “không dại gì” nên sẽ tiếp tay cho việc gia tăng nhiều người xấu.

    Hiện nay đang phát triển một căn bệnh của thế giới hiện đại – đúng hơn là mặt trái thuộc thế giới hiện đại. Đó là căn bệnh không có trong danh mục của ngành y, nhưng “những điều trông thấy” luôn “làm đau đớn lòng”. Đó chính là căn bệnh vô cảm mà nhiều người dân Việt – nhất là tầng lớp thanh niên- mắc phải.

    Bệnh này thể hiện ở chỗ không hề động lòng trước những nỗi đau của người khác cũng như không hề phẫn nộ trước những tệ nạn xảy ra hàng ngày. Liệu rằng chúng ta đã hiểu rõ căn bệnh này chưa? Nguyên nhân hình thành như thế nào? Tác hại ra sao? Đó là một khó khăn.  Vô tức là không, cảm tức là tình cảm cảm xúc của con người.

    Vô cảm tức là không có cảm xúc trước bất kì sự vật sự việc gì.chẳng hạn như : không sẵn lòng giúp đỡ những người gặp khó khăn hoạn nạn, mặc dầu mình có điều kiện có thể giúp đỡ được. Rất nhiều người, nhất là thanh niên nam nữ, khi thấy những người hành khất thì xua đuổi, dè bỉu. Đi đường gặp người bị tai nạn vẫn bỏ đi không sẵn sàng cứu giúp. Thậm chí có kẻ còn nhân cơ hội tìm cách lấy cắp tiền của người bị nạn. Thấy người tàn tật không giúp đỡ, trên xe buýt, ở nơi công cộng, không nhường chỗ cho người tàn tật, có khi lại còn cười trước những khuyết tật của họ.

    Những người có trách nhiệm giải quyết, nhưng không quan tâm giải quyết công việc cho người dân, mặc dân phải đến trình bày lần này lượt khác, có khi còn vòi vĩnh rồi mới giải quyết – Các cán bộ đã giàu sang nhưng vẫn tìm cách cướp đất của dân, đuổi dân đi chỗ khác để lấy những mảnh đất đẹp chia nhau như vụ tiêu cực đất đai ở Đồ Sơn và nhiều nơi khác.

    Có những cán bộ giải quyết chính sách đã ăn chặn của những thương binh, những gia đình chính sách, của những người tàn tật , những gia đình hộ nghèo như báo chí đã từng nêu lên. Trường hợp một bà mẹ già ở Hà Tĩnh có con nuôi là liệt sĩ mà lãnh đạo xã tìm cách cắt tiêu chuẩn không cho nhận, khiến các nhà báo phải vào cuộc mới giải quyết được. Rất nhiều tệ nạn và hiện tượng thể hiện căn bệnh vô cảm không kể hết.

    Sở dĩ nảy sinh căn bệnh này vì những người đó không tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, không có lòng nhân đạo, thờ ơ với mọi người, ý thức tập thể, ý thức cộng đồng quá kém, không giữ được truyền thống quý báu của dân tộc ta là “thương người như thể thương thân”. Căn bệnh vô cảm đã có ở không ít nhân vật được giao trọng trách từ lâu, nó biểu hiện dưới nhiều dạng “lâm sàng” khác nhau nhưng tất cả đều rất dễ phát hiện, chỉ có điều không ai chịu chữa trị hay nói cách khác là đang trong tình trạng vô phương cứu chữa.

    Ngăn chặn nó không phải bằng biện pháp hành chính mà bằng chính tấm lòng và dũng khí của mỗi con người, tấm lòng và dũng khí của các cơ quan chức năng. Con người vô cảm và cơ quan chức năng thờ ơ thì căn bệnh càng trầm trọng. Lúc đó thì chẳng còn gì để nói. Vô cảm là một chứng bệnh thường gặp ở một số người bị khủng hoảng tâm lí nặng nề, thường bị sốc nặng sau đó dần dần họ không có cảm giác yêu thương hay ghét bỏ nào nữa…….là trạng thái tâm lí có thể do vô tình hoặc hữu ý mà gây ra, vì lúc đó con người coi như không có nhận thức, suy nghĩ, và tình cảm…..

    Vô cảm nguy hiểm với cả chính người bệnh lẫn vả người xung quanh . Nhân loại đang bó tay trước căn bệnh của thế kỷ: bệnh nan y HIV/AIDS. Căn bệnh thứ hai cũng nan y không kém là bệnh vô cảm! Ra đường nhiều người gặp cái tốt không ủng hộ, thấy cái xấu không lên án, không ít nơi cả phố, cả làng sợ tên ăn trộm, cả xã sợ thằng say rượu vì không muốn bị liên lụy… đang làm cho bệnh vô cảm vốn đã và đang có nguy cơ lan rộng, càng có điều kiện lây lan mạnh hơn. Bệnh HIV/AIDS vốn đã nguy nan, bệnh vô cảm nếu không được giáo dục, không được ngăn chặn sẽ là tác nhân làm “lệch chuẩn” hay “loạn chuẩn” đạo đức, sẽ là nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng kinh tế – xã hội, thậm chí làm sụp đổ một chế độ, làm tan nát một gia đình. Một xã hội vô cảm là một xã hội chết. Cần xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ……

     

    Bài 8: Nghị luận xã hội Lí tưởng là ngọn đèn soi sáng

    Cuộc sống ngày càng vận động và phát triển theo chiều hướng mới. Để tồn tại và có một cuộc sống bền vững thì mỗi người chúng ta cần phải có một phương hướng sống nhất định, một lí tưởng mà ta sẽ hướng tới để thực hiện trong suốt cuộc đời. Nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi đã nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Vậy cuộc sống sẽ ra sao nếu mỗi người không có lí tưởng xác định?Cuộc đời sẽ ra sao nếu mỗi người chỉ sống vì những mục đích không rõ ràng và chỉ cho bản thân mình?

    Thoạt đọc qua, ta sẽ cảm thấy câu nói trên hơi khó hiểu. “Lí tưởng” là gì? Đó chính là cái đích của cuộc sống mà mỗi con người khát khao đạt được. Còn “ngọn đèn”, đó là một vật dùng để thắp sáng vào ban đêm, nhờ có nó mà ta thấy được rõ đường đi và những vật xung quanh. “Phương hướng kiên định” chính là mục tiêu, là đường lối xác định sẽ thực hiện một cách quyết tâm và không thay đổi. “Cuộc sống” là cuộc đời thực tiễn của mỗi người, nhưng đó sẽ là cuộc đời có ý nghĩa, cuộc đời tươi đẹp khi mà con người sống chứ không phải tồn tại. Cuộc sống đó là thành quả rực rỡ của một cuộc sống có lí tưởng. Qua đó, ta thấy câu nói của Lép Tôn-xtôi mang một ‎nghĩa rất rõ ràng: sống trên đời, mỗi con người cần phải có riêng cho mình một lí tưởng sống, đó chính là ngọn đèn chỉ phương rõ ràng nhất. “Lí tưởng” rất quan trọng với chúng ta. Vì nếu sống mà không có lí tưởng thì chúng ta sẽ khó mà xác định những việc nên làm, còn nếu có xác định được thì cũng không có quyết tâm để thực hiện cho tới nơi chốn. Như trong học tập, nếu không chắc chắn mục tiêu học để làm gì thì khi gặp khó khăn, ta dễ buông xuôi và không chịu cố gắng. Bên cạnh đó, khả năng thực hiện sai hướng hay cảm thấy khó khăn hơn khi không xác định được lí tưởng là rất lớn. Chẳng hạn ta muốn trở thành bác sĩ nhưng không xác định được là sẽ trở thành bác sĩ gì, thì khi dấn thân vào con đường học vấn ta sẽ cảm thấy lạc lõng với chính mục tiêu mình đề ra. Và cuộc sống sẽ tẻ nhạt biết bao khi con người ta sống thiếu “lí tưởng”. Thiếu lí tưởng, ta dễ nản chí, ta dễ cảm thấy buồn chán với chính cuộc đời của mình. Vậy một người có lí tưởng là người như thế nào? Đó chính là người luôn xác định rõ mục tiêu sống và tận tuỵ với những việc mà mình cần hoàn thành, thể hiện rõ thái độ quyết tâm vươn tới sự hoàn thiên bản thân, mong muốn cống hiến cho sự nghiệp chung. Hơn thế nữa đó là một người sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng của mình, chấp nhận sự thất bại và khó khăn để đạt đến cái đích cuối cùng của cuộc đời. Đôi khi lí tưởng của một người chỉ là kiếm được việc làm ổn định và có một gia đình đầm ấm nhưng để thực hiện được thì người đó cũng phải trải qua nhiều khó khăn. Và dù cho đó chỉ là một lí tưởng tưởng chừng như rất đơn giản nhưng vẫn xứng đáng nhận được sự tôn trọng từ những người xung quanh. Vì người đó đã có được lí tưởng riêng để thực hiên chứ không như nhiều người sống hơn nửa cuộc đời vẫn chưa biết đâu là lí tưởng của đời mình và vẫn còn đang quẩn quanh…Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi với một lí tưởng suốt đời “tìm ra con đường giải phóng đất nước, quyết tâm vì Tổ quốc độc lập, vì dân tộc Việt Nam tự do và bền vững”. Đó cũng chính là lí tưởng của tất cả thanh niên trong thời chiến. Nhưng ngày nay khi đất nước ta đã hoàn toàn độc lập và đang trên đà phát triển nhanh thì lí tưởng của thanh niên đã khác đi rất nhiều. Tất nhiên mỗi thanh niên sẽ có cho mình một lí tưởng riêng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh sống, địa vị và cách sống của mỗi người nhưng nếu lí tưởng đó chỉ phục vụ cho lợi ích của bản thân thì đó không hoàn toàn là lí tưởng mà đó chính là lối suy nghĩ ích kỉ và cá nhân. Vì thế thanh niên ngày nay cần có một lí tưởng chung là: không ngừng phấn đấu vì một đất nước Việt Nam “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Mà muốn có được những lí tưởng có ‎ nghĩa cho bản thân và cho xã hội như vậy thì mỗi người nhất là thanh niên học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường đã xác định được cho mình mục đích của việc học tập, phân biệt được mục đích đó là đúng hay sai và xác định xem khả năng của mình có thực hiện được hay không. Bên cạnh đó cần biết lắng nghe lời khuyên của những người xung quanh như cha mẹ, thầy cô để có một “phương hướng kiên định” cho chính mình. Một xã hội sẽ phát triển vững bền khi có những con người có chung một lí tưởng cao đẹp là sống vì Tổ quốc, vì mọi người.

    Câu nói của Lép Tôn-xtôi đã để lại nhiều ‎nghĩa thật sâu sắc và đầy tính nhân văn khi ông đã nhấn mạnh sự quan trọng của lí tưởng đối với mỗi người qua việc ví lí tưởng với phương hướng kiên định và cuộc sống. Cuộc sống ngày càng khác đi, mỗi người chúng ta cần có một lí tưởng để thực hiện trong cuộc đời, em cũng vậy, em sẽ luôn phấn đấu để hoàn thành lí tưởng của mình: trở thành một công dân có ích cho xã hội, đóng góp sức mình vì sự nghiệp chung của dân tộc. Để mỗi ngày trôi qua, sẽ có thêm một ngày mới được chiếu sáng bởi lí tưởng cuộc đời..

     

    Bài 9: Nghị luận xã hội về tầm quan trọng của việc học

    Học hành có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc đời của mỗi con người. Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành thì khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó còn có những câu : “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc: “Bất học bất tri lí” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải).

    Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đường duy nhất là học, học suốt đời.

    Nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lí. Điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì vậy, ngay từ lúc nhỏ, bất kì ai cũng phải được học hành.

    Trong mười hai năm ở trường phổ thông, học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ… Tuy thế, học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao.

    Thực tế cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu ta đơn thuần làm việc theo thói quen hoặc kinh nghiệm có sẵn thì công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng, bằng mọi hình thức khác nhau.

    Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay thì tri thức (chất xám) của con người là tiền đề vô cùng quan trọng. Có nắm vững lí thuyết, chúng ta mới làm được những công việc phức tạp. Có nắm vững lí thuyết, chúng ta mới làm được những công việc phức tạp.

    Lí thuyết khoa học có tác dụng soi sáng, dẫn đường cho kĩ năng thực hành, con người sẽ rút ngắn được thời gian mò mẫm, tìm hiểu thực tiễn, do đó sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc

    Học không chỉ là quá trình rèn luyện tri thức mà còn là quá trình rèn luyện tình cảm và đạo đức. Con người ngoài cái trí còn cần có cái tâm. Học là để thấu hiểu những lẽ huyền bí của cuộc đời, của vũ trụ chứa đựng trong những công thức toán đơn giản hoặc trong những quy luật thịnh suy của một xã hội. Không hòa cái tâm của mình vào trong cuộc đời, vào vũ trụ để lắng tìm và cảm nhận thì làm sao có được những tín hiệu mách bảo cho trí tuệ con đường đi tới những lẽ huyền diệu và bí ẩn kia ?. Như vậy là có biết bao kién thức mới, nhận thức mới về cuộc đời, về thế giới mà chúng ta tìm kiếm được không chỉ bằng lí trí mà còn bằng cả tâm hồn.

    Học cần có cái trí và cũng có cần có cái tâm là vì thế. Học cũng là để sáng thêm cái trí, lành thêm cái tâm và để đóng góp tài đức của mình cho sự nghiệp xây dựng đất nước mạnh giàu. Điều quan trọng là đã học thì phải học đều các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

    Văn, Sử là những môn học cần thiết, nếu không nói là đặc biệt quan trọng để tạo nên nhân cách. Nếu chúng ta không coi trọng các môn này thì tâm hồn sẽ khô cứng, vô cảm trước con người và cuộc đời mà dẫn đến thái độ dửng dưng trước vẻ đẹp phong phú và sự giàu có của lịch sử văn hóa dân tộc.

    Sẽ không ai trách chúng ta khi chỉ thích học Tin học, Kinh tế, Ngoại ngữ… Nhưng nếu chỉ giỏi chữ số mà quên chữ viết, giỏi kĩ thuật mà kém văn hóa thì sẽ là thiệt thòi lớn cho mỗi con người.

    Việc học hành quan trọng như vậy, do đó chúng ta không thể coi nhẹ vai trò của việc học hành. Đúng là : “Nếu không có học hành đến nơi đến chốn thì lớn lên, chúng ta sẽ chẳng làm được việc gì có ích”.

    Hiện nay, một số bạn trẻ không nhận thức được tầm quan trọng của việc học đối với sự thành công hay thất bại của đời người. Nhận thức lệch lạc thường dẫn đến hành động sai lầm. Bỏ học đi chơi, giao du với những thành phần bất hảo để rồi bị rủ rê, sa ngã vào con đường cờ bạc, chơi bời, hút chích… dần dần những người đó sẽ đánh mất nhân cách, mất khả năng làm việc và trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội. Một cuộc sống như thế không đáng gọi là cuộc sống của một con người chân chính. Đến lúc nào đó tỉnh ngộ, dẫu có ăn năn, hối hận thì cũng đã muộn màng.

    Những kiến thức mà chúng ta tiếp thu được từ nhà trường, sách vở và cuộc đời nếu đem áp dụng vào thực tiễn sẽ mang lại nhiều thành quả tinh thần, vật chất cho cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội.

    Tri thức loài người mênh mông như biển cả (“Bể học vô bờ”). Dẫu chúng ta có miệt mài học suốt cuộc đời thì cũng chỉ là tiếp thu được một phần rất nhỏ. Bác Hồ dạy : “Học ở trường, học trong sách vở; học lẫn nhau và học ở dân”. Lenin cũng từng khuyên thanh niên : “Học ! Học nữa ! Học mãi !”. Đó là những lời khuyên chí lí, có giá trị đối với mọi thời đại. Nếu không coi trọng việc họ thì chúng ta sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của đất nước trong giai đoạn mới.

     

    Bài 10: Nghị luận xã hội Lá lành đùm lá rách

    Thực tế lịch sử đã cho thấy trong bốn ngàn năm sống còn trên dải đất bên bờ biển Đông đầy sóng gió này,dân tộc Việt Nam chúng ta đã từng gánh chịu biết bao là thiên tai,dịch họa vô cùng ác liệt.Phép lạ nào đã giúp tổ tiên chúng ta vượt qua được mọi khó khăn,điêu đứng ấy để đứng vững cùng bè bạn năm châu ? Phải chăng là ở sức mạnh của tinh thần đoàn kết,tương trợ lẫn nhau ? Phải chăng là nhờ nhân dân ta đã thực hiện đúng như câu tục ngữ mà từ bao đời nay cha ông ta đã truyền đời : “Lá lành đùm lá rách” ?

    Nội dung chứa đựng trong câu ấy có thể xem như một bài học về đạo lí làm người,đồng thời phản ánh mối quan hệ tình cảm đậm đà trong xã hội ta ngày trước.

    Đọc câu tục ngữ ấy lên, chúng ta hình dung được ngay một hiện tượng rất bình thường trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân ta. Đó là dùng lá cây-lá chuối chẳng hạn-để gói hàng. Nếu lá bị rách, người ta sẽ lấy một tấm lá khác lành lặn bọc lại bên ngoài cho thêm chắc chắn.

    Đó là nghĩa đen,nghĩa thực của câu tục ngữ. Thế nhưng về mặt nghĩa bóng thì sao ? Hình ảnh “lá lành”, “lá rách” ở đây tượng trưng cho con người trong những hoàn cảnh riêng khác nhau.”Lá lành” chỉ con người lúc yên ổn, thuận lợi, cuộc sống xuôi chèo mát mái. Trái lại “lá rách” chỉ con người lúc khó khăn, sa cơ lỡ vận. Bằng lối nói tượng trưng, dùng hình ảnh cụ thể và giản dị ấy, câu tục ngữ ngụ ý khuyên chúng ta nên biết chia sẻ, giúp đỡ, thông cảm, xót thương những người bị rơi vào cảnh ngộ cùng quấn, gieo neo.

    Với nội dung vừa nói, câu tục ngữ trên đã biểu hiện mối quan hệ tình cảm tốt đẹp, đậm đà của nhân dân ta từ xưa trong xã hội. Thật vậy, đoàn kết tương thân tương ái vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Ngoài câu tục ngữ trên,người xưa còn truyền đời các câu :

    “Chị ngã em nâng”.

    “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

    “Bầu ơi ! thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”…

    Các câu trên đều khuyên nhủ ta hễ là đồng bào thì nên đoàn kết, hợp tác, chặt chẽ với nhau trong tinh thần tương thân tương ái, không nên thờ ơ, ngoảnh mặt, quay lưng trước nỗi bất hạnh của người khác mà trái lại phải luôn luôn quan tâm giúp đỡ, đùm bọc, chở che người khó khăn, thất thế. Những người giàu có nên thương yêu giúp đỡ cho những người nghèo khổ nhất là trong những khi họ gặp hoạn nạn tai ương như lụt lội, cháy nhà, bệnh tật…

    Những người có địa vị cao, trách nhiệm lớn nên tạo điều kiện, giúp đỡ quần chúng được sống một đời no ấm hạnh phúc. Đúng như tinh thần của người xưa đã từng khuyên dạy :

    “Thấy ai đói rách thì thương

    Rét thường cho mặc,đói thường cho ăn”.

    Trong đời sống xã hội,hoàn cảnh con người dễ thay đổi bất thường khi thành công, khi thất bại. Có cái tính thương người như thể thương thân ấy, thì cuộc sống xã hội mới tránh được mầm mống chia rẽ, xung đột, xây dựng được tình đoàn kết, tương thân, tương ái. Điều đó đủ cho thấy lòng nhân ái hay tình cảm nhân đạo chính là một phẩm chất tốt đẹp mà mỗi cá nhân cần phải có để lấy đó làm nền tảng xây dựng nên một xã hội bình đẳng, thân ái. Cũng phải thấy rằng thờ ơ trước nỗi đau bất hạnh của kẻ khác là một thói xấu, một thái độ ích kỉ, vô lương tâm.

    Trong đời sống còn nhiều khó khăn của buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, hơn lúc nào hết, lòng nhân ái, tình cảm thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ấy phải được nâng lên thành ý thức tự giác ở mỗi con người chúng ta.

    Câu tục ngữ được truyền tiếp bao đời nay đủ khẳng định truyền thống cao quý trong đạo lí làm người của dân tộc ta. Chính nhờ sự đoàn kết keo sơn, tinh thần tương thân tương ái đậm đà nên trải qua bao đời Bắc thuộc, Pháp thuộc, và Mĩ thuộc, nhân dân ta vẫn bảo vệ được nền độc lập, bảo vệ được sự sống còn vững mạnh cho đến ngày nay.

    Tuy nhiên chúng ta cần phải nhận định,đánh giá đúng tinh thần của câu tục ngữ này. Lá lành đùm lá rách nghĩa là người khỏe mạnh, bình yên phải giúp đỡ người yếu đuối, khó khăn là một bổn phận cần thiết nhưng phải không được xuất phát từ động cơ cá nhân thấp hèn và cũng không phải là hành động ban ơn trịch thượng kiểu bố thí mà nhất thiết phải bắt nguồn từ lòng nhân ái hay tình cảm nhân đạo mà chúng ta vừa phân tích ở trên. Cả người được giúp đỡ cũng vậy,không nên ỷ lại, hoàn toàn sống nhờ vào tình thương xót của người khác để trở nên thụ động, biếng lười. Họ phải vươn lên xứng đáng để làm nên mối quan hệ bình đẳng thân ái với người khác.

    Tóm lại, tình yêu thương đùm bọc nhau là một truyền thống đẹp đẽ về đạo lí làm người đã được dân tộc ta giữ vững và phát triển qua nhiều thế hệ, trải qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, nhất là trong khó khăn, hoạn nạn, dịch họa, thiên tai.

    Ngày nay, truyền thống ấy cần được kế thừa và phát huy mạnh mẽ hơn nữa. Mỗi người chúng ta phải có ý thức đoàn kết tương ái, tương thân, tương trợ nhau trong sinh hoạt, học tập và sẵn sàng tích cực tham gia các công tác cứu trợ xã hội. Tuy nhiên, hơn ai hết, thanh niên chúng ta cần chống tư tưởng ỷ lại, đề cao tinh thần tự lực cánh sinh.

     

    Bài 11: Văn học có tính nhân đạo hóa con người

    Văn học là trong những loại hình nghệ thuật có từ rất sớm, gắn bó thiết thân với đời sống tinh thần của con người ngay từ thuở xa xưa. Dù dưới hình thức nào thì nó vẫn là sự phản ánh thế giới khách quan qua thế giới chủ thể của nghệ sĩ…

    Tác phẩm nghệ thuật chân chính là sự giãi bày những tình cảm, những khát vọng sâu xa của nhà văn trước cuộc đời, trước những vấn đề có ý nghĩa thân thiết đối với con người. Dù văn học viết về những sự cố lớn lao: bão táp cách mạng, chiến tranh, hay chỉ diễn tả một tiếng chuông chùa, một bờ tre, ruộng lúa… bao giờ ta cũng tìm thấy hình bóng, tâm sự của con người gửi gắm ở bên trong.

    Với tư cách là cụ thể của hoàn cảnh, là động lực của sự phát triển xã hội, là nguồn gốc của mọi sáng kiến, phát minh. Con người với tất cả niềm vui, nỗi buồn, tâm tư khát vọng, thành đạt hay khổ đau luôn luôn là đối tượng trung tâm của văn học, là mối quan tâm hàng đầu của nghệ sĩ chân chính. Tình yêu thương đối với con người là nguồn động lực căn bản nhất thúc đẩy ngòi bút của mọi nhà văn chân chính.

    Nhà văn Nga Tolstoi đã từng viết: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu”. Còn Goethe thì nói: “Những điều đầu tiên mà thiên nhiên cần là tình yêu nồng nàn đối với cuộc sống”. Nữ văn sĩ Pháp Elsa Trisolet thì diễn tả tình yêu ấy bằng hình ảnh thật cụ thể: “Nhà văn là người cho máu”. Đó là một tình yêu bao gồm cả sự hi sinh to lớn. Tác phẩm chân chính đúng là sản phẩm của trí tuệ, trái tim, mồ hôi và cả nước mắt nữa của người nghệ sĩ, là kết quả của quá trình nếm trải, nung nấu, cảm xúc dào dạt – cái mà người ta gọi là cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật.

    Không ai làm thơ làm văn trong trạng thái khô cằn, chai sạn xúc cảm. Cảm hứng ấy có thể bắt đầu từ niềm vui sướng, tự hào hay tin tưởng, phấn khởi, nhưng với nghệ sĩ chân chính thì chẳng bao giờ có niềm vui hời hợt, giản đơn. Bởi vì cuộc sống con người, trong tính hiện thực của nó, niềm vui luôn luôn đi đôi với nỗi buồn, ánh sáng luôn tồn tại bên cạnh bóng tối, cái xấu luôn luôn xen lẫn bên cạnh cái tốt, hạnh phúc thường đi liền với khổ đau, bất hạnh…Và những khổ đau của con người xưa nay vốn là nỗi nhức nhối, bức xúc nhất thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút.

    Chính nhà văn Xô viết V.Raxpuchin đã diễn đạt tình cảm ấy một cách giản dị chân thành: “Nếu tôi viết, ấy là vì tôi cảm thấy đau ở đâu đấy trong người” với Huygo thì bể khổ của nhân loại là hầm mỏ khai thác không vơi cạn của đời ông. Truyện kiều là tiếng khóc đứt ruột. Chí Phèo là tiếng thét phẫn uất đòi quyền làm người…Những tác phẩm chân chính, bất tử với thời gian thường là những tác phẩm diễn tả những xung đột có khi đầy bi kịch giữa cái thật và cái giả, giữa cái thiện và cái ác, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, ghê tởm … Tuy nhiên “thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”. Đó chính là khả năng nhân đạo mà văn học chân chính có thể mang lại cho con người.

    Ở đây có mấy vấn đề cần lưu ý:

    Sở dĩ nói văn học chân chính chứ không phải văn học nói chung vì trong sự tồn tại của văn học nhân loại quả là những tác phẩm vì con người, nâng cao phẩm giá con người nhưng cũng có thứ văn chương làm hạ thấp phẩm giá con nguời. Có những tác phẩm là kết quả của thao thức khổ đau, hi sinh, trăn trở, nhưng cũng không thiếu thứ văn chương làm thuê, làm công cụ, bồi bút tô son trát phấn cho giai cấp thống trị trong những xã hội đã suy tàn, mục ruỗng…

    Có thứ văn chương bất tử, sống mãi với muôn đời, có thứ văn chương rẻ tiền sẽ bị quên lãng với thời gian. Chủ nghĩa nhân đạo, lòng yêu thương tôn trọng con người là thước đo căn bản nhất để đánh giá mọi giá trị văn học chân chính . “Những người khốn khổ” của Hugo, “ Sống lại” của L.Tolstoi, Truyện Kiều của Nguyễn Du… là những tác phẩm trong đó tác giả còn bộc lộ nhiều quan điểm sai lầm về tư tưởng và những giải pháp cải tạo xã hội, nhiều nhân vật cũng đã trải qua bao nhiêu vấp ngã, giằng xé, lầm lẫn… nhưng đó lại là những tác phẩm nghệ thuật chân chính sẽ sống mãi với thời gian; bởi sức mạnh cảm hóa sâu xa, bởi lòng yêu thương con người mênh mông, sâu thẳm; bởi thái độ căm ghét, phẫn uất trước những thế lực xấu xa, tàn ác đã giày xéo, chà đạp lên con người.

    Đó chính là lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn có khả năng nhân đạo hóa con người, làm cho con người tin hơn ở những điều thiện, ở khả năng vươn tới cái cao cả, cao thượng, kể cả những con người đã trải qua và chịu đựng những điều ác khủng khiếp do xã hội và có khi do chính mình gây ra.

    Mặt khác, nói tới quá trình nhân đạo hóa của văn học không phải chỉ là khả năng gợi lòng trắc ẩn, động tâm, thương cảm đối với những cảnh ngộ bất hạnh đói nghèo diễn ra trong xã hội, dù điều đó cũng là một phương tiện đáng quí. Khả năng nhân đạo hóa còn bộc lộ ở sự tự ý thức về bản thân, tự nhận diện bản thân trước những điều xấu, tốt, thiện, ác… mà tác phẩm gợi lên. Người ta đã nói đến sự “thanh lọc” tâm hồn của văn học, hay hình thức “sám hối” của bản thân trước lương tâm của quá trình tiếp nhận tác phẩm là như thế.

    Đọc Nam Cao không phải chỉ là để cảm thông với Điền, với Thứ, với Hộ… với một cuộc sống bị “cơm áo ghì sát đất”, nó đang có nguy cơ giết chết những ước mơ và những tình cảm nhân ái, cao thượng. Những tác phẩm của Nam Cao còn như một tấm gương soi để độc giả hôm nay tự nhận diện chính mình, không ngừng vượt lên hoàn cảnh bản thân để sống một cách xứng đáng hơn, tốt đẹp hơn.

    Nếu trong tác phẩm “Đời thừa”, nhân vật Hộ là một trí thức hoàn toàn tốt thì tác phẩm có thể không làm ta xúc động đến thế. Sự giằng xé giữa nhân cách cao thượng, hành vi đẹp đẽ, hoài bão to lớn, tấm lòng vị tha của một “chàng trai trẻ vốn say mê lí tưởng” với những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí, với sự câu thúc của đời sống tầm thường hàng ngày, cả những cẩu thả, bất lương trong nghề cầm bút và những hành vi “tàn nhẫn của hắn” đối với Từ – người vợ rất đỗi đáng thương của y và những giằng xé nội tâm không nguôi trong lòng Hộ, lại làm người đọc xót xa thương cảm đến tận đáy lòng. Chính điều đó đã làm nên giá trị nhân văn rất lớn của tác phẩm.

    Chính bản thân tác phẩm “Đời thừa” đã tạo được giá trị đích thực mà tác giả của nó hằng mong mỏi. “Nó chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho con người gần người hơn”. Những giá trị nhân văn to lớn như thế lại được hình thành từ những mẫu chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh nhưng đã được viết bằng một ngòi bút chân thực, tài hoa và nhất là bằng một cuộc sống cũng đầy mâu thuẫn, đau xót, trăn trở của chính nhà văn Nam Cao.

    Ở đây có vấn đề viết cái gì và viết như thế nào. Không nên đồng nhất nội dung phản ánh và sự phản ánh. Nói cho rõ hơn, ở đây tình cảm, lương tri, thái độ trân trọng đối với giá trị tinh thần của con người đã rọi sáng vào từng cảnh ngộ trong câu văn, làm dấy lên ở người đọc một mối liên tưởng đồng cảm, đau xót. Đó mới là những yếu tố tạo nên sức thuyết phục sâu xa đối với người đọc.

    Đọc “Đời thừa” ta có cảm giác như nhà văn đã rọi vào chỗ sâu kín nhất của tâm tư. Quá trình nhân đạo hóa sẽ hình thành từ sự đồng cảm ấy. Ở “Lão Hạc” cũng vậy. Tác phẩm gợi lên lòng thương cảm nơi người đọc từ cái chết thê thảm của lão vì lòng thương con và vì tình trạng khốn quẫn của lão. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm chủ yếu lại không chỉ nằm ở đấy. Tác phẩm gợi lên những tình cảm vị tha, cao thượng đầy tự trọng của một lão già nông dân chất phác, hiền lành: biết đâu lão tự tử còn vì lòng tự trọng bị tổn thương, bị lương tâm cắn rứt vì nỡ lừa dối một con chó! (trong khi còn biết bao con người mang mặt người nhưng lòng lang dạ thú “người với người là chó sói”). Phát hiện ở chỗ sâu xa nhất những nét đẹp lương tri con người, tác phẩm đóng vai trò tích cực trong việc làm cho con người trở nên tốt đẹp, nhân ái hơn.

    Đó là chưa kể đến những câu văn chan chứa một lòng vị tha độ lượng, một thái độ làm hòa với người khác và với chính mình, những tình cảm nhân văn, nhân đạo là bài học về cách sống, cách xử thế, cách nhìn nhận và đánh giá con người làm cho lòng ta trở nên thanh thản hơn, cao thượng hơn. “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tâm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn là những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương… “Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân, có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác hơn. Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị nỗi lo lắng buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận”.

    Chao ôi, nếu ai cũng nghĩ được như thế thì quan hệ giữa con người với con người sẽ tốt đẹp biết bao nhiêu. Những câu văn xót xa mà đẹp đẽ như thế đã vượt ra khỏi muôn khổ của tác phẩm, nó nói về cái tình người muôn thuở cần có, nó có khả năng nhân đạo hóa con người, làm cho con người trở nên cao thượng và nhân ái hơn.

    Ở đây nói nhân đạo hóa để nhấn mạnh sức cảm hóa mạnh mẽ của nghệ thuật. Con người là sản phẩm của tạo hóa, nó vốn đẹp đẽ “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nhưng xã hội có thể làm tha hóa con người thì văn chương chân chính lại có khả năng tác động ngược lại. Tình thương, lòng nhân đạo sẽ cảm hóa, thức tỉnh lương tri vốn luôn ẩn chứa trong chiều sâu nội tâm con người, có khả năng “nhân đạo hóa” con người. Nói “khả năng” vì không nhất thiết bao giờ cũng có thể đạt được như vậy. Nó còn tuỳ thuộc vào sự tiếp nhận riêng biệt của chủ thể cảm thụ. Nhưng một nhà văn chân chính bao giờ cũng nung nấu, khát vọng tác phẩm của mình sẽ đem lại một giá trị tinh thần nào đấy, nhằm cứu vãn con người. Ngay cả Truyện Kiều, dù Nguyễn Du có viết:

    “Lời quê chắp nhặt dông dài

    Mua vui cũng được một vài trống canh”

    thì ta cũng hiểu đó chỉ là một cách nói khiêm nhường. Khi trút lên ngòi bút bao nỗi đớn đau về cuộc đời, đương nhiên nhà văn khao khát những tấm lòng tri âm, những giọt nước mắt đồng cảm:

    Bất tri tam bách dư niên hậu

    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?

    Mấy thế kỉ trôi qua, Truyện Kiều và những tác phẩm đầy nhân đạo của Nguyễn Du mãi mãi là người bạn tâm tình, là nguồn sức mạnh của biết bao thế hệ độc giả, kể cả những độc giả trẻ tuổi hiện nay:

    Dẫu súng đạn nặng lòng ra hỏa tuyến

    Đi đường dài, em giữ “Truyện Kiều” theo.

    (Chế Lan Viên – Gửi Kiều cho em Năm đi đánh Mỹ)

    Không thể nào có thể nói hết khả năng nhân đạo hóa của văn học đối với con người. Nhưng quả thật, đọc một tác phẩm văn học chân chính, ta có cảm giác thật hạnh phúc và sung sướng như đang được đối diện, tâm tình trò truyện với một người bạn thông minh, nhân ái, từng trải, như đang được chia sẻ nỗi buồn, niềm vui, tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong cuộc hành trình đầy thử thách của cuộc sống. Biết bao nhiêu tác phẩm văn chương đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ.

    Nói như Gorki :“sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong đời sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại và đẹp đẽ, rằng con người luôn luôn hướng về cái tốt đẹp hơn, rằng con người đã làm nên nhiều thứ trên trái đất và vì thế mà họ đã chịu biết bao đau khổ”. Và cũng chính Gorki đã tuyên ngôn: “Con người – cái tên mới đẹp làm sao, mới vinh quang làm sao. Con người phải tôn trọng con người”.

    Hiểu biết con người, hiểu chính mình, cảm thông chia sẻ với nỗi khổ đau của g của mình trong đời sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại và đebuồn, niềm vui, tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong cuộc hành trình đầy tà truyện với môcon người, biết căm ghét cái giả dối, ti tiện, tàn ác, biết hướng tới cái chân, thiện, mĩ; biết sống một cách chân thật, nhân ái, cao thượng… đó là những dấu hiệu của quá trình ‘nhân đạo hóa” mà văn học chân chính đã và mãi mãi sẽ đem lại cho con người, vì hạnh phúc của con người.

     

    Bài 12: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo

    Mỗi con người ta khi sinh ra đều có những ước mơ, hoài bão cho riêng mình. Những ước mơ đó là những khát khao, hi vọng mà chúng ta vươn tới. Để thực hiện ước mơ đó, trước tiên chúng ta cần phải lao động, suy nghĩ và làm viẹc hết mình để góp phần nâng cánh những ước mơ trỏ thành hiện thực. M Goorki đã từng nói: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo”…

    Lao động là những hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những của cải vật chất và tinh thần cho bản thân và cho xã hội. Những hoạt động đó đã góp phần nâng cánh những ước mơ, những mong ước thiết tha về những điều tốt đẹp trong tương lai. Như vậy, lao động là đôi cánh những ước mơ bay cao, bay xa, đưa con người đến những thành công mới, khám phá những điều bất ngờ, thú vị.

    M Gooriki đã khẳng định sâu sắc vai trò của lao động đối với mỗi người, đối với toàn xã hội. Lao động là một cách để chúng ta khẳng định mình, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ, tri thức. Mỗi chúng ta đều có những ước mơ lớn lao hay những gì thân thuộc đều là cả một quá tình phấn đấu, vươn lên. Không ngừng suy nghĩ và làm việc, chúng ta mới có thể góp phần xây dựng và phát hiện nó.

    Thực tế, trong lao động nhiều người đã thấy khó khăn, mệt mỏi, mong muốn giản đơn của họ là sáng tạo ra một cái gì đó giúp họ đỡ vất vả. Nhứng ước mơ đó được xây dựng từ trong lao động và cũng được chính lao động nâng cánh cho ước mơ bay cao, bay xa. Phải lao động, nổ lực hết mình chúng ta mới có thể thực hiện được ước mơ đó.

    Đó là hình ảnh của bạn học sinh Đỗ Bằng Định- Học sinh trương THPT Phạm Ngũ Lão- Đông Anh- Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình làm nông với hai vụ lúa chính và một vụ màu, phải thường xuyên lao động giúp gia đình. Nhận ra sự khó khăn trong việc tách vỏ hạt đậu của bà con nông dân, Định đã nuôi ước mơ chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt để giúp bà con nông dân đỡ vất vả. Sau một thời gian dài nghiên cứu và tìm tòi, Định đã chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt đậu. Tuy chỉ mới ở dạng mô hình nhưng cậu học sinh này tin rằng trong tương lai, cậu có thể nhân rộng ra chiếc máy để giúp đỡ mọi người.

    Không chỉ Định mà hiện nay ở nước ta có rất nhiều người đã nuôi ước mơ và nâng cánh ước mơ từ lao động mà đặc biệt là thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước với những sự sáng tạo và cống hiến hết mình. Những sáng tạo của thế hệ trẻ đó, có lẽ, đều bắt nguồn từ lao động. Phải hiểu được những gì mình và mọi người cần trong xã hội thì chúng ta mới có thể chủ động sáng tạo, phát huy được khả năng của mình.

    Và trong những lúc lao động ấy, được cống hiến là niềm vui của mỗi người. Lao động không mệt mỏi còn giúp chúng ta vơi đi những nổi buồn, nỗu đau trong cuộc sống. Làm việc hết mình suy nghĩ hết mình, sáng tạo làm cho chúng ta vui hơn khi mình có thể sáng chế, tìm tòi ra những cái mới. Chính từ lao động, chăm chỉ làm việc mà cuộc sống của chúng ta dần được cải thiện. Những thành quả lao động góp phần rất lớn vào cuộc sống vật chất và tinh thần của mỗi người. Và khi mà cuộc sống của chúng ta phát triển thì xã hội cung đi lên, phát triển mạnh mẽ, hội nhập ra toàn thế giới.

    Như vậy, ý kiến của M Goocki là hoàn toàn đúng. Mỗi chúng ta đều phải tích cực lao động, lao động không ngừng, phát huy những khả năng sẵn có của bản thân. Đồng thời chúng ta cần phải tích cực học tập, tìm tòi và phát triển cái mới. Cần tích cực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo ra những phương thức mới, kĩ thuật mới.

    Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta phải có thái độ tích cực, tự giác, nghiêm túc, ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, có tính tự giác, kỉ luật cao trong lao động để có được những thành quả lớn nhất.

    Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều người không chịu lao động, chỉ biết ỉ lại, sống dựa dẵm vào sức lao dộng của người khác: suốt ngày chỉ biết chơi bời, không chịu làm việc. Hay là hiện nay có rất nhiều bạn trẻ tuy lao động nhưng lại không biết cách sáng tạo ra những phương pháp mới, chỉ biết làm theo những cái cũ không còn thích hợp với điều kiện và yêu cầu lao động hiện nay. Mỗi người chúng ta, trước hết là phải lao động và sáng tạo và tìm tòi những cái mới, đồng thời cũng nhắc nhở, động viên những người xung quanh lao động sáng tạo để có kết quả tốt nhất.

    Như vậy, có lao động chúng ta mới có điều kiện phát huy khả năng của bản thân, nâng cánh cho những ước mơ bay cao, bay xa. Lao động còn giúp cho cuộc sống và xã hội thêm phát triển, vì vạy mà chúng ta cần phải tích cực hơn trong lao động để có điều kiện vươn cao, bay xa hơn, đi đến những tầm cao mới

     

    Bài 13: Đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa người với người

    Nhưng bên cạnh đó một bộ phận không ít những đứa trẻ ấy vẫn còn hiện hữu đâu đó nơi đầu đường cuối hẻm đang hằng ngày mong chờ được sự giúp đỡ, từ những tấm lòng cao cả…
    Trước hết ta hãy hiểu như thế nào là “trẻ lang thang cơ nhở”. “Trẻ lang thang cơ nhở” là một nhóm các đứa trẻ chọn lối sống ngoài vỉa hè, các thành phố lớn, tự tìm cho mình một sinh kế để nuôi sống bản thân. Những đứa trẻ ấy không có một nơi ở nhất định và cũng không nghề nghiệp ổn định và quan trọng hơn là trẻ phải hay tự xa lánh gia đình vì những tổn thương về mặt tâm lý.

    Đa phần những nguyên nhân dẫn đến việc trẻ trở thành trẻ lang thang đường phố là do gia đình đổ vỡ, trẻ bị bỏ bê hay bị người thân ngược đãi, gia đình nghèo không đủ ăn phải kiếm sống. Nhưng đa phần những nguyên nhân làm trẻ trở thành trẻ lang thang là do cách cư xử và thái độ của người thân đối với trẻ.

    Hiện nay ở nước ta xuất hiện khá nhiều các mái ấm tình thương ở những tình thành, quận huyện trong nước thu nhận nuôi dưỡng, giáo dục những đứa trẻ lang thang cơ nhở sống ngoài đường phố.

    Điển hình như cô nhi viện Thánh An, Giáo phận Bùi Chu (Xuân Trường, Nam Định) hiện đang nuôi dưỡng hàng trăm trẻ bị bỏ rơi, mồ côi, khuyết tật, không phân biệt lương, giáo. Ban giám đốc Cô nhi viện, đội ngũ thiện nguyện nơi ấy và bao tấm lòng từ thiện đang gắng hết sức mình để chăm sóc, dưỡng dục các cô nhi…

    Làng trẻ em SOS Đồng Hới (Quảng Bình) là nơi chăm sóc, nuôi dưỡng 94 mảnh đời mồ côi. 14 mẹ, dì ở đây cũng là những phụ nữ có nỗi buồn trong cuộc sống. Và họ tìm niềm vui sống bằng sự tận hiến cho tình yêu…

    Không chỉ ở các mái ấm tình thương mà đối với những con người, những cá nhân,những gia đình bình thường họ củng biểu hiện lòng nhân đạo, tình thương của mình qua việc thu nhận những đứa trẻ ấy về nuôi dưỡng giáo dục chúng nên người như hai mươi bà mẹ của làng trẻ SOS Gò Vấp, hai mươi hoàn cảnh và nguyên nhân đến với trẻ khác nhau, có người nói do thích trẻ con, có người nói do duyên số nhưng họ đều có điểm chung là tấm lòng nhân ái, bao la như “biển Thái Bình”. Bởi lẽ, để làm mẹ của Làng trẻ SOS Gò Vấp, những người phụ nữ này phải chấp nhận một điều kiện khắc nghiệt: Không lập gia đình, tức là chấp nhận hy sinh hạnh phúc cả đời người để dành trọn tâm huyết bù đắp cho những trẻ không may…

    Và những mảnh đới bất hạnh ấy sẽ không còn phải sống trong chốn tăm tối của xã hội, sẽ không còn phải chiệu cóng chiệu rét những khi đêm xuống, sẽ không còn lo âu dể tìm kiếm cái ăn, cái mặc mà giờ đậy chúng đã trở lại là những đứa trẻ được sống trong sự bao bọc chỡ che và tình yêu thương như bao đứa trẻ bình thường khác.

    Thế mới thấy tuy rằng mỗi người 1 nghề, mỗi nguời một hoàn cảnh, họ có thể khác nhau về quốc tịch, khác nhau về hoàn cảnh sống, địa vị xã hội nhưng họ gặp nhau ở tấm lòng yêu thương con người. Cho ta thấy tình cảm giữ con người với con ng là vô bờ bến, không có biên giới nào có thể ngăn cản.Bởi truyền thống tốt đẹp của người VN “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”.

    Nhưng rồi số phận của những đứa trẻ không may mắn gặp được sự cưu mang cứu giúp từ những tấm lòng nhân ái thì chúng sẽ ra sao. Dẫu biết lòng nhân đạo giữa con người với con người là bao la to lớn nhưng không thể nào cùng một lúc trong một xã hội không còn hiện hữu hình bóng cũa những đứa trẻ lang thang đường phố. Chúng sẽ ra sao khi bao quanh chúng là những căn bệnh hiểm nghèo, những cạm bẫy đang rình rập và những vũng mực đen sâu thẳm của xã hội.

    Chúng ta hãy làm những gì có thể để cứu vớt những mảnh đời ấy và cầu mong sao cho chúng sẽ không bị cám dỗ, sẽ không bị vấy bẩn bởi những mực trong xã hội và rằng ngày nào đó chúng củng sẻ được cứu giúp như những đứa trẻ lang thang khác.

    Thật cảm động và đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa con người với con người. Những cá nhân dám xả thân hi sinh cuộc đời mình”đổi tuổi xuân cho tuổi thơ” để cứu vớt cho những mảnh đời bất hạnh thế mới thấy tình cảm ấy không gì có thể ngăn cản được. Nhưng trong xã hội ngày nay luôn hiện hữu hai mặt trái ngược nhau đó là tốt và xấu. Bên cạnh những con người có tấm lòng nhân hậu là những con người cá nhân chỉ biết trục lợi bản thân, họ nhẫn tâm hành hạ đánh đập để ép bắt buộc các đứa trẻ làm những công việc trái với lương tâm đạo đức. Thật không may cho những đứa trẻ ấy, thật bất hạnh tại sao chúng lại rơi vào tay những con người mất đi tình người như vậy.

    Thật cảm thông và xót thương sao cho những mảnh đời bất hạnh ấy. Mong rằng xã hội của chúng ta trong nay mai và trong tương lai sẽ không còn những mãnh đời bất hạnh như vậy. Vì thế để có thể làm được vậy chúng ta những người thân, những bậc cha me hãy luôn y’ thức xem xét, cân nhắc các hành động và thái độ đối với trẻ.

    Vì một thế hệ trẻ và vì sự phát triển của đất nước trong tương lai ngay từ bây giờ các bậc cha mẹ hãy luôn xem xét cân nhắc thái độ và cách giáo dục đối với trẻ em, hãy cho trẻ những gì trẻ đáng được thừa hưởng và nhận lấy. Chúng ta hãy vì một tương tươi sáng, một tương lai sẽ không còn hiện hữu bóng dáng những đứa trẻ lang thang trên đường phố.

     

    Bài 14: Nghị luận xã hội về mái ấm tình thương

    “Trong đêm, một bàn chân bước, bé xíu lang thang trên đường, ánh mắt buồn mệt nhoài của em, em rất buồn vì em không biết đi về đâu,về đâu …”.

    Đây chính là thực trạng xã hội hiện nay ở nước ta, tình trạng trẻ em lang thang ngày càng tăng và là một vấn nạn cần được giải quyết nhanh chóng. Tuy nhà nước ta đã rất cố gắng hết mình, nhưng không dễ gì có thể xóa đi vấn nạn này một cách nhanh chóng được do nhà nước ta không có đủ điều kiện. Vì thế trong xã hội đã xuất hiện một lực lượng mới, một lực lượng cảm thông với tình trạng hiện nay của các em, một lực lượng giàu tâm huyết và đầy tình thương,đó chính là nhiều cá nhân, gia đình & tổ chức có lòng hảo tâm đã thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang, kiếm sống trong thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy,giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.

    Số phận của những đứa trẻ lang thang, khác với các bạn bè cùng trang lứa, lẽ ra giờ này chúng phải đang được yêu thương, được nâng niu chăm sóc bởi gia đình, cha mẹ; thì giờ đây những đứa trẻ ấy phải lang thang kiếm sống dưới những tiêu cực của xã hội, những lừa lọc, áp bức, xâm hại tới bạn thân, mà quan trọng nhất là xâm hại tới tinh thần, tới tư tưởng.Vì thế các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm từ khắp mọi miền đất nước đã cùng chung tay lập nên những Mái ấm tình thương, những gia đình không cùng chung huyết thống nhưng lại có chung một tấm lòng, để chăm lo và dạy bảo cho trẻ em lang thang, những mảnh đời bất hạnh có được một cuộc sống hạnh phúc, một tuổi thơ vui tươi và một tương lai tươi sáng.

    Tiêu biểu về các tổ chức nhân đạo ở Vịêt Nam là: Làng trẻ em SOS, một gia đình lớn cuả trẻ em lang thang. Nhưng trong số những nhà hảo tâm có đầy đủ điều kiện về vật chất lẫn tấm lòng thì cũng có không ít người không có điều kiện vật chất nhưng lại có tấm lòng như Cổ tích “bà bụt sinh viên” đăng trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 26-9-2008 về nữ SV Nguyễn Hòang Oanh đảm đang, vững vàng với vai trò là chị, là mẹ của 3 em “nuôi” nhỏ mù lòa. Dù chỉ là sinh viên, lo tiền học của bản thân còn không đủ, nhưng Oanh vẫn gắng chăm sóc cho các em, lo cho các em có được một cuộc sống no đủ, được vui chơi, được học hành bằng những mối làm thêm đến tận khuya để có tiền cho các em.Thật đúng là một câu chuyện “cổ tích” giữa đời thường.

    Nhưng do đâu mà trẻ em lang thang trong xã hội ngày một đông? Trẻ em lang thang do nhiều lí do, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do những người mang tiếng là bậc sinh thành, nhưng lại thiếu trách nhiệm, đang tâm bỏ con giữa một xã hội đen tối, không nơi nương tựa, để chúng bị lợi dụng, lầm đường lạc lối.Thật đáng trách cho những kẻ đã quyết định sinh con ra đời thì ít nhất cũng phải mang đến cho chúng một cuộc sống hạnh phúc cho dù là không no đủ.

    Nguyên nhân thứ hai có thể do bọn trẻ mồ côi từ nhỏ, không nơi nương tựa, chúng phải sống dựa vào những đứa trẻ lang thang lớn hơn, những băng nhóm đường phố, học theo thói xấu, làm việc xấu để mưu sinh.Và nguyên nhân thứ ba chính là những kẻ có tâm địa độc ác, xấu xa đã lừa gia đình các em, dụ dỗ các em, xem các em như một món hàng đem lại lợi nhuận cho chúng.

    Trong cuộc sống có kẻ xấu, người tốt, cũng như có những nhà hảo tâm thì song song đó cũng có những kẻ gian, lừa đảo, chăn dắt các em gọi là “mẹ mìn”.Những người “mẹ” này đã lợi dụng các em, bóc lột sức lao động của các em, bắt các em làm việc quá sức: xin ăn,bán vé số, thậm chí là ăn cắp để kiếm tiền nuôi chúng.Nếu các em không kiếm đủ tiền, thì bị “mẹ” đánh đập dã man, bắt các em nhịn đói. Những kẻ nhẫn tâm hơn nữa thì đánh gãy tay, gãy chân, thậm chí là chặt ngón tay, ngón chân của các em để việc ăn xin đạt “hiệu quả” cao hơn. Những đứa trẻ bị lợi dụng chăn dắt thường xuất thân ở các gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa, bị những kẻ chăn dắt lường gạt đư vào TP.HCM làm việc kiếm tiền.

    Một thực trạng đau lòng khác là nhiều vụ việc khi phát hiện, lại do chính cha, mẹ ruột đẩy các em theo những kẻ chăn dắt để kiếm tiền. Như trường hợp em Hoa (khỏang 6 tuổi) trên báo Phụ nữ,quê ở Nghệ An, mẹ bệnh mất sớm từ lúc hai tuổi.Nhà có bốn chị em, thu nhập hàng ngày trông vào hai công đất trồng sắn và công việc phụ hồ hàng ngày của ba. “Khỏang giữa năm 2008, bác Năm ở TP.HCM ra quê đưa nhà em ba triệu đồng bảo ba cho con vào TP.HCM phụ bác Năm bán hàng.Bác sẽ cho ăn học đến nơi đến chốn. Khi vào TP.HCM, bác Năm Bắt con gọi bằng “mẹ”.Khi đi bán phải mặc đồng phục học sinh để người ta thấy tội nghiệp, mới bán được nhiều. Mỗi ngày làm việc, “mẹ” sẽ giữ dùm 10.000đ, cuối năm sẽ đưa con gửi về quê” – Hoa nói.Thật đáng xấu hổ khi một người lớn khỏe mạnh lại sống bằng số tiền ít ỏi kiếm được của một đứa trẻ, mà không biết tự lao động để nuôi sống bản thân, chỉ biết bóc lột sức lao dộng của các em. Những kẻ có hành vi này cần phải bị xử phạt thật nghiêm minh, để làm gương cho bọn xấu còn lại.

    Việc làm của những nhà hảo tâm đối với các em lang thang thật là tuyệt vời.Đó là một nghĩa cử vô cùng cao đẹp mà xã hội đang rất cần có ở mỗi công dân. Là một thanh niên sống trong xã hội, chúng ta phải có thái độ tích cực ngăn chặn những hành vi sai phạm của bọn xấu, đồng thời chung tay góp sức giúp các em có một cuộc sống tươi đẹp.Vì trẻ em chính là tương lai của đất nước, là tương lai của chính chúng ta.“Trẻ em hôm nay, đất nứơc ngày mai”, hãy để trẻ được sống trong ấm no hạnh phúc, có thế thì tương lai do chúng xây dựng mới có thể tốt đẹp được.

    Giúp đỡ người tàn tật, trẻ em cơ nhỡ cần có sự chung tay của nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức từ thiện và các cấp, các ngành và cả chính bản thân chúng ta nữa.Chúng ta hãy cùng nhau vận động mọi người xây nên những mái ấm, những gia đình thật lớn, để xã hội không còn cảnh trẻ em lang thang nữa.Hãy dể cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.

     

    Bài 15: Nghị luận xã hội Hiền tài là nguyên khí quốc gia

    Thế hệ ngày nay, chắc nhiều người biết Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu, ông ghi nhận về trí thức “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống cấp.”

    Theo tôi hiểu, hiền tài là nguyên khí của quốc gia, đấy chính là khát vọng của cả dân tộc. Nếu nói theo nghĩa đen của Đông y, “nguyên khí” không mùi, không màu, không vị nhưng con người không có nguyên khí là con người chết. Nguyên khí chính là sức sống của mỗi quốc gia. Ngay từ khi còn nhỏ, mới cắp sách đến trường, tôi đã được các thày cô dậy về lòng tự hào quê hương Thái Bình đã sản sinh ra nhà bác học, nhà giáo Lê Quý Đôn, ông đã có những nhận định trở thành chân lý cho mọi thời đại “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” có nghĩa là đất nước muốn hưng vượng phải nhờ vào trí thức.

    Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức cho đến nay vẫn chưa định hình. Hiền tài đương nhiên là trí thức. Người xưa, quan niệm trí thức là người được học rộng, biết nhiều, có trình độ đào tạo cao hơn mặt bằng chung của xã hội. Theo từ điển :”Trí thức là người sử dụng trí tuệ làm việc, nghiên cứu, phản ánh, dự đoán hoặc để hỏi và trả lời các các câu hỏi liên quan hàng loạt những ý tưởng khác nhau”. C.Mac định nghĩa :” Trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”.

    Ngày nay, theo quan điểm chính thống, trí thức là những người lao động trí óc. Thái độ của trí thức là thước đo sự tiến triển của chế độ. Gs Cao Huy Thuần đại học Picardie (Pháp) định nghĩa :“Ai đánh thức không cho xã hội ngủ, người ấy là trí thức bất kỳ họ là ai”. J.P.Sartre, triết gia lừng danh người Pháp đã nói “Nếu ai đó chế tạo ra quả bom nguyên tử, thì người đó là bác học, chỉ khi nào ông bác học ý thức được cái khí giới giết ngươi ghê gớm ấy, đứng lên hô hào chống bom nguyên tử, lúc đó ông ta là trí thức”.

    Lịch sử nhân loại, việc dùng người mỗi thời khác nhau tùy theo hoàn cảnh lịch sử, thời thế và vai trò, nhiệm vụ. Đông-Tây, kim-cổ người có thực tài và là người trí thức chân chính đều có “mẫu số chung” trong cách ứng xử với xã hội và tầng lớp cầm quyền. Người chân chính có thực tài thật là hiếm hoi, cần phải biết tìm, biết trân trọng. Thời Tam quốc chí, Lưu Bị được lên làm vua cai trị nước Thục nhờ sáng suốt biết thu phục nhân tâm và trọng dụng người tài. Điển hình là ông đã 3 lần thực tâm cầu hiền, không quản đường xa, khẩn cầu Khổng Minh một nhân tài đa mưu, túc kế ra phò tá làm quân sư. Tần Thủy Hoàng vị Hoàng đế Trung Hoa đầu tiên có công thống nhất đất nước nhưng cai trị đất nước bằng bạo quyền, đốt sách, không coi trọng trí thức chỉ được thời gian ngắn đất nước lại hỗn loạn, phân ly.

    Đất nước ta, từ xưa đến nay lúc nào cũng nhiều người hiền tài, tuy nhiên từng thời kỳ, từng lúc mà nguồn hiền tài đó được khơi ra như thế nào. Có nghĩa là khi được quan tâm, trọng dụng thì hiền tài sẽ có, tri thức sẽ nhiều. Người có học vấn thường có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng suốt hơn người thường. Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm và xây dựng đất nước phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp trí thức lãnh đạo biết khơi dạy, hòa đồng cùng với nhân dân xả thân vì nghiệp lớn. Bài “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt xác định chủ quyền của đất nước “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” hay bản hùng văn lịch sử của Nguyễn Trãi :”Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của các tiền nhân biết coi trọng và sử dụng trí thức là các nhà quân sự, nhà tư tưởng chiến lược của thời đại.

    Mặc dù, chế độ phong kiến chỉ cho phép sĩ phu tiến thân trong chốn quan trường nhưng các bậc trí thức hiền tài khi thấy ý kiến của mình không được Vua tôn trọng, đã sẵn sàng rũ áo, từ quan về ở ẩn. Ông Chu Văn An nổi tiếng là bậc Thánh hiền, ngay khi đỗ Thái học sinh, ông từ chối làm quan, không màng danh lợi về quê mở trường dạy học có nhiều môn sinh. Vua Trần Minh Tông biết tài của Chu Văn An mời ông vào triều dạy học cho thái tử và các con đại thần. Đến đời vua Trần Dụ Tông thấy nhiều đại thần xung quanh Vua là nịnh thần, tham quan, nhà giáo Chu Văn An đã dũng cảm dâng sớ, hạch tội và xin chém 7 kẻ tội thần. Vua không nghe, ông liền treo ấn, từ quan về ở ẩn. “Thất trảm sớ” nổi tiếng của nhà giáo Chu Văn An vẫn còn được truyền tụng mãi đến muôn đời sau. Thời Vua Quang Trung, biết rõ Ngô Thời Nhậm có tật nhưng vẫn sử dụng vì biết ông ta có tài. Tiếc thay, bậc minh quân tài giỏi như vua Quang Trung lại đoản thọ nên nghiệp lớn vẫn còn dở dang.

    Năm 1930, thời kỳ đầu của cách mạng, tư tưởng của một số người có thẩm quyền xuất phát từ nền kinh tế “tiểu nông” lạc hậu, nên đã ấu trĩ đề ra chính sách sai lầm coi trí thức như kẻ thù cần đả phá với khẩu hiệu “ Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Thời thế tạo ra anh hùng. May mắn cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh xuất hiện với tư duy, tầm nhìn sáng suốt, khôn ngoan nhờ tích lũy và sàng lọc theo thời gian trong những năm tháng lăn lộn ở xứ người đã cảm hóa, thuyết phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, một nhân tố cực kỳ quan trọng để gọi dạy sức mạnh đoàn kết dân tộc, từ bỏ cuộc sống “nhung lụa”, bất chấp hiểm nguy, vào bưng, ra chiến khu đi theo kháng chiến tiêu biểu như Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Hữu Thọ vv…

    Khi thành lập Chính phủ kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có công thư “Tìm người tài đức” đăng báo để công khai, minh bạch vì Bác sợ rằng “không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những người tài đức không thể xuất thân”. Bác Hồ đã làm công tác cán bộ trên cơ sở dựa vào thành ý và minh tâm của dân để tuyển chọn và sử dụng người tài, chứ không cho rằng công tác tổ chức là chỉ thuộc về Đảng, làm trong nội bộ Đảng rồi đưa ra thuyết phục, thường là áp đặt, để dân chấp nhận.

    Sau này, một số người có thẩm quyền với cách nhìn hẹp hòi, thiển cận về lý lịch, thành phần đã chuyên quyền, bỏ qua không đào tạo và sử dụng nhiều người có năng lực, và chí khí cần thiết cho công cuộc tái thiết đất nước. Họ chưa thấm nhuần lời dậy của Hồ Chủ Tịch: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý”. Ngày nay, cơ chế và tuyển chọn cán bộ vẫn còn “chuyên quyền”, dễ thấy nhất là sự hẹp hòi, thiển cận không dám dùng và không biết dùng những người có thực tài ngoài Đảng. Thời đại ngày nay, do nền kinh tế thị trường, những trí thức có năng lực thực sự và tự trọng cao, không còn chí thú theo đuổi, cố bám vào cái ghế quyền lực để tiến thân. Có những lúc các cụ ta phải kêu lên:

    “Nhân tài như lá mùa thu

    Tuấn kiệt như sao biển sớm”

    Đó là lúc báo hiệu đất nước sẽ suy vong, lòng người ly tán. Bởi vậy, nhiều người cho rằng, nếu Đảng và Nhà nước không có cơ chế tuyển chọn công khai, minh bạch (trí thức thích thi thố tài năng) và chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc thích hợp thì rất khó tuyển chọn được những người hiền tài cho đất nước. Người được tuyển chọn trong vòng luẩn quẩn “chuyên quyền” đó, dễ dẫn đến một số người lọt vào “mắt xanh” của Đảng nhưng lại không đủ tâm và tầm để sử dụng nguồn nhân lực có trí tuệ, người giúp việc tài giỏi hơn mình.

    Cổ nhân đã dạy :”Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” có nghĩa là ngay cả người tầm thường cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của đất nước. Trí thức lại càng phải có trách nhiệm hơn thế!. Ngày nay, tiếp tục truyền thống của cha ông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành hiền tài có vai trò và trách nhiệm cống hiến tài năng vào tiến trình phát triển đất nước. Người khôn học kinh nghiệm lịch sử, kẻ dại học kinh nghiệm bản thân. Thời xưa, có những nhà vua anh minh đề ra chức “Gián quan” được miễn tội chém đầu để can ngăn những việc không đúng, không nên làm của Vua. Tri thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, sáng tạo ra các giá trị tinh thần, tôn trọng chân lý phải biết làm phản biện chính là hình ảnh của “gián quan” thời xưa nhưng được nâng lên tầm cao mới theo tư duy của xã hội dân chủ và phù hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền kinh tế tri thức.

    Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và bền bỉ của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng, quy tụ, sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là các bậc trí thức lão thành, tâm huyết có kinh nghiệm, bản lãnh hiến kế cho tiến trình xây dựng đất nước. Các bậc trí thức hàng đầu của đất nước, theo quy luật của tạo hóa sẽ có lúc phải ngừng nghỉ, đó là khoảng trống mênh mông để lại.

    Tôi được nghe kể, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đến thăm chúc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân kỷ niệm 55 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ. Câu đầu tiên Đại tướng hỏi Thủ tướng là về dự án bauxite Tây Nguyên. Thủ tướng chân tình, giải đáp ý kiến của Đại tướng đã được Chính phủ nghiêm túc tiếp thu, nghiên cứu, Bộ Chính trị cũng rất quan tâm đến vấn đề này. Có thể nói người phản biện dự án bauxite Tây Nguyên, nhà trí thức lão thành cách mạng nổi tiếng Võ Nguyên Giáp luôn trăn trở, suy nghĩ về đất nước đã được Thủ tướng chân thành, cầu thị, tiếp thu tuy hơi muộn nhưng đó là bài học vô giá về sử dụng hiền tài của quốc gia trong thời đại ngày nay.

    Nhiều người vẫn còn nhớ một “trí thức bẩm sinh” không bằng cấp luôn biết đánh thức xã hội thức dạy cũng mang họ Võ là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Với cốt cách của kẻ sĩ, bộ óc thông tuệ, tư duy minh triết, ông Sáu Dân nắm vững “thuật dùng người” và có khí phách trong nhiều bài phản biện đột phá sâu sắc được lòng dân nhưng cũng làm cho một số người có đầu óc “tiểu nông” không hài lòng. Bằng chứng là ông Sáu mới nằm xuống chưa đầy năm, nhưng có kẻ “bảo kê” nào đó cho tờ báo ở TP.HCM (ít độc giả) nên mới dám công khai đả phá vào những tư tưởng mang tầm vóc lớn, đột phá tìm hướng đi mới của dân tộc cũng như tư duy hòa hợp dân tộc qua câu nói nổi tiếng một thời của ông: “ngày thống nhất, triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”! Xin nói rõ hơn, câu này họ trích dẫn không đúng thành ra xuyên tạc ý của ông Sáu Dân. Phải là người tri thức chân chính, có tầm nhìn xa, biết nén thù nhà (vợ và 3 con thân yêu bị địch giết hại) đặt quyền lợi đất nước lên trên tất cả, ông Sáu Dân mới phát biểu nguyên văn như sau: “một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu” (báo Quốc tế [Bộ Ngoại giao] ngày 13.4.2005, được in lại trong sách “Những câu chuyện về anh Sáu Dân”. Nhà Xuất bản Thông tấn. Hà Nội 2008. tr.75.) Tôi tin rằng nếu có thế giới tâm linh, thì ở cõi vĩnh hằng, ông Sáu vẫn luôn tự hào vì những trí thức lớn của dân tộc, nhân tài của quốc gia thì tên tuổi và sự nghiệp luôn đọng mãi trong dân và sống mãi với thời gian.

    Nhìn xa, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới, sáng tạo, phụng sự đất nước khi còn sung sức. Khơi nguồn hiền tài từ lớp trẻ, đặc biệt là tuổi trẻ trí thức là con đường lâu dài và đúng đắn nhất. Cần tạo môi trường cho trí thức làm việc, phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng công sức, thành quả họ mang lại. Tuy nhiên, vẫn có luồng ý kiến, trí thức chân chính không cần đãi ngộ, họ sẽ tự biết tìm cách để sáng tạo và tự sử dụng mình vào những công việc hữu ích cho tổ quốc. Có thực tế, “luật bất thành văn”, trong hệ thống xét duyệt, bổ nhiệm cán bộ cao cấp của Nhà nước không có chỗ dung thân cho những trí thức tài giỏi ngoài Đảng. Có nghịch lý, khá nhiều trí thức tiêu biểu cũng lại không thiết tha vào Đảng để làm con đường tiến thân.

    Nếu chúng ta hiểu một cách sâu sa chân lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” không cần phải đốt đuốc lên mới thấy được người có thực tài mà chỉ cần có kế sách cụ thể, thực sự trân trọng tài năng, khiêm nhường mời gọi người tâm huyết để khơi nguồn hiền tài còn rất nhiều tiềm năng của đất nước để làm cho đất nước hưng thịnh và hiền tài ngày một nhiều thêm. Trong công tác cán bộ Hồ Chí Minh luôn coi trọng dân, phải theo ý dân :” “Dựa theo ý kiến của họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng”. Không hiểu vì sao lúc này, tôi lại tự vấn và ước ao nếu những người làm công tác cán bộ không buôn bán quyền lực, thực sự thấu hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh thì giới tinh hoa của trí thức kể cả trong và ngoài Đảng lại đồng nghĩa với giới lãnh đạo thì chắc chắn đất nước sẽ hưng thịnh, hội nhập và xã hội sẽ ổn định, phát triển vững bền.

     

    Bài 16: Nghị luận xã hội Rừng vàng biển bạc

    Ở nền giáo dục phổ cập của nước ta, trẻ em được day rằng ‘Việt nam là một nước có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng’. Nhưng ở nước Nhật trẻ em được giáo dục rằng dất nước họ không có nhiều tài nguyên khoáng sản như nhiều nước khác nên chúng cần phải học tập thật chăm chỉ để khi lớn lên tìm cách sử dụng, đổi mới nền công nghệ do cha ông để lại.

    Như vậy qua nền giáo dục thì đã tạo nên thói quen ỷ lại cho thế hệ trẻ, chúng không cần cố gắng học tập để phát triển đất nước vì chúng thấy đất nước mình đã quá đầy đủ. Cho đến khi lớn lên nhiều người lớn vẫn kiếm sống bằng nghề ‘ chặt phá, đốn hạ thiên nhiên. Đó là vì nhiều năm trước thế hệ trẻ nước ta vẫn chưa được giáo dục đúng về thực trạng tài nguyên nước ta, nhiều người cho rằng phần lớn lỗi là do nền giáo dục.

    Trước tình trạng lũ lụt, dông bão, hạn hán xảy ra liên miên trên nước ta thì nhiều công ty, xí nghiệp vẫn thản nhiên tàn phá, khai thác một cách triệt để rừng phòng hộ, tài nguyên biển để khai thác titan, dầu khí, các loại lâm, khoáng, thủy sản,… để xuất khẩu ra nước ngoài, để kiếm lợi nhuận cho chính họ trong khi nước ta phải nhập các loại hàng hóa giả từ Trung Quốc về bán cho người dân nước ta.

    Vậy thì vấn đề nào cần được giải quyết? Chúng ta biết nhiệm vụ của người lớn, của các nhà giáo dục là chỉ cho ta hiểu biết, chỉ cho ta cách sống, có nhận thức đúng về vai trò của chính mình trong xã hội, nhận thức về đất nước ta , từ đó hình thành kiến thức, các thói quen nhân sinh xã hội. Câu thành ngữ “ Rừng vàng biển bạc “ là câu nói quen thuộc của ông cha ta chỉ sự giàu có trù phú của nước ta về tài nguyên thiên nhiên.

    Câu nói thể hiện lòng tự hào, niềm yêu quý của đối với của cải, giang sơn gấm vóc của dân tộc Đại Việt. Chúng ta có thể tự hào rằng nước ta có đường bờ biển dài 3260km, phần biển có diện tích hơn 1000000km vuông, ở trong miền nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên đa dạng, có nguồn khoáng sản phong phú, nhiều đồng bằng rộng lớn, có mạng lưới sông ngòi dày đặc, lượng phù sa lớn, có hàng chục nghìn loài sinh vật sống và phân bố khắp mọi miền đất nước, có rừng nhiệt đới gió mùa,… tạo nên nhiều hệ sinh thái khác nhau.

    Nhưng không lẽ trong tự nhiên nước ta phong phú là thế chẳng lẽ lại nói rằng tài nguyên nước ta khan hiếm, đất đai xơ xác, khô khan là xuyên tạc sự thật chăng? Không thế hệ trẻ vẫn có thể được biết để tự hào, yêu quý dân tộc ta. Thế hệ trẻ cần phải biết như thế nào để bảo vệ và giữ gìn sao cho tốt nhất. Các nhà giáo dục phải hướng dẫn cho ta hành động chứ không phải nói là nói những lời nói suông! Chính bản thân thế hệ trẻ phải tự mình hành động không nên chỉ dựa dẫm vào thời đi trước được.

    Tài nguyên thiên nhiên nước ta rất phong phú đa dạng về tài nguyên rừng cũng như tài nguyên biển. Nhưng con người ta phải biết cách khai thác hợp lý để trở thành vàng bạc thực sự. Nhưng mình thấy ở nước ngoài cũng rất giàu tài nguyên nhưng họ không khoe như mình mà họ chỉ đầu tư và các phương án khai thác nâng cao‘rừng vàng biển bạc’chỉ đúng với một khía cạnh nào đó, tức là nó chỉ đúng khi con người chúng ta biết khai thác sử dụng đúng cách,chứkhông thể đi phá cây, chặt rừng mà gọi là ‘rừng vàng, biển bạc’ được.

    Xuất phát từ mong muốn giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào cho nhân dân và giới trẻ, Bác Hồ phát biểu “rừng vàng biển bạc “nhằm khẳng định những thuận lợi trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt khi nói đến đây Chủ tịch luôn nhấn mạnh việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên quý giá cho thế hệ sau. Rừng là vàng, biển là bạc thì nếu phá rừng thì tiêu hủy vảng, phá biển là đốt bạc còn gì!

    Như vậy thông qua lời nói Bác Hồ đã phê phán mạnh mẽ tệ nạn phá rừng, phá biển hủy hoại tài nguyên thiên nhiên. Những ý kiến của Người vẫn còn vang vọng tới thời nay, nhắc nhở chúng ta về việc bảo vệ tài nguyên mà chúng ta đang có. Như vậy, việc bảo vệ rừng trong tầm tay của chúng ta, nhưng tùy vào ý thức của mọi người mà thôi. Nếu ta không biết giữ gìn và bảo vệ thì tài nguyên sẽ hao tổn, biến mất trước mắt, người mẹ thiên nhiên sẽ nổi giận và đến chính con người chúng cũng chẳng thể bảo vệ mình được, khi đó có hối hận cũng không kịp nữa.

    Ai cho rằng việc giáo dục như trên là gián tiếp tệ nạn phá rừng, đánh bắt hải, thủy sản sai trái,.. là hết sức sai lầm. Điều đó chỉ phụ thuộc vào ý thức và hành động của mỗi con người chúng ta thôi! Chúng ta hãy hành động để bảo vệ “ rừng vàng biển bạc”.

     

    Bài 17: Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc

    Có bao giờ bạn tự hỏi:Tiền bạc là gì mà bao kẻ mù quáng theo đuổi, hạnh phúc là gì mà bao người khát khao, hi vọng. Hai điều dó tuêongt chừng không gắn bó gì với nhau nhưng lại tạo nên một mối quân hệ chặt chẽ, mật thiết trong cuộc sống.
    Hạnh phúc là cảm giác sung sướng , mãn nguyện vì cảm thấy hoàn toàn đạt được những gì mong muốn, còn tiền bạc là những đồng tiền dùng để chi tieu và sử dụng. Giữa tiền bạc và hạnh phúc có một mối quan hệ khăng khít với nhau.

    Tiền bạc có tầm ảnh hưởng lớn đối với chúng ta. Nó là điều kiện cần cho nhiều hoạt động của cuộc sống như học tập, ăn, mặc ,ở ,đi lại…. Mỗi việc chúng ta làm đều cần rất nhiều tiền. Hàng ngày chúng ta phải ăn uống để duy trì sư sống. Phải có tiền thì chúng ta mới có thể mua được những loại thực phẩm mà chúng ta cần dùng hàng ngày. Hãy thử tưởng tượng nếu một ngày chúng ta không có tiền để chi tiêu, không thể mua được những thứ cần thiết cho cuộc sống, lúc đó chúng ta sẽ như thế nào? Không ăn uống, không có những điều kiện tối thiểu để sinh hoạt, chắc chắn sức khoẻ của chúng ta sẽ bị giảm sút và kéo theo đó là rất nhiều hệ luỵ, việc khám chữa bệnh sẽ gặp nhiều khó khăn, kết quả học tập và làm việc sẽ không được đảm bảo.

    Bên cạnh những giá trị vật chất, chúng ta còn đáp ứng được những giá trị tinh thần khi có tiền. Chúng ta có thể tổ chức đi chới vào những ngày cuối tuần, hay đơn giản là những hoạt động, dịch vụ như Internet, điện thoại, xem phim…. phải có tiền thì chúng ta mới có thể chi trả cho những hoạt động đó.

    Chúng ta cần tiền, rất cần tiền mỗi ngày để chi trả cho những vấn đề cần thiết của cuộc sống. Dường như đồng tiền đẽa một phần nào chi phối hoạt động và nhu cầu của chúng ta. Mỗi người đều coa nững nhu cầu thiết yếu cho gia đình, và cho bản thân, tuy nhiên với những gì chúng ta có, cần phải biết cách chi tiêu sao cho hợp lý, phải biết tính toán những gì mình cần, mình có. Nếu là một sinh viên nghèo vừa tốt nghiệp ra trường, cần có một chiếc xe máy dể đi làm, với những gì cô có, chỉ có thể mua được một chiếc xe bình thường, không sang trọng, đắt tièn nhueng đã đáp ứng được nhu cầu của bản thân. Hay bên cạnh đó là những sinh viên con nhà giàu, có thể mua được chiếc xe đắt tiền, sang trọng.

    Nhưng dù có nhiều tiền hay ít tiền, với nhu cầu của bản thân, với một sự tính toán, cân đối thì chúng ta có thể thoả mãn nhu cầu của cuộc sống tuy có lúc cũng chưa thật sự hài lòng.Tiền bạc là một điều kiện cần của cuộc sống, của hạnh phúc nhưng đó không phải là điều kiện đủ của hạnh phúc. Có rất nhiều người chỉ biết kiếm tiền, họ chỉ mải làm, tiền đối với ho chẳng bao giờ là đư nhưng họ lạ không quan tâm, không biết trân trọng những gì mình đang có. Đối với họ, họ hạnh phúc ở chỗ họ làm ra tiền. Và khi nhận ra ra rằng mình không có được hạnh phúc thực sự rthì có lẽ, đã là quá muộn. Những đồng tiền họlàm ra không thể đổi lấy hạnh phúc. Khi có tiền, tạo ra những giá trị tinh thần,được vui chơi, được hoà mình vào cuộc sống, đó là điều kiện cho hạnh phúc nảy sinh và phát triển.

    Như vậy chúng ta có thể nói tiền bạc là một điều kiện cần nhưng chưa đủ của hạnh phúc. Khi thức tỉnh lòng mình, có ước mơ nhưng đồng ý tiếp nhận, biết trân trọng và yêu thương những gì mình có, chấp nhận những gì mình không thể có, cód một nhận thức rõ ràng về đông tiền, lúc đó, chúng ta đã có được hạnh phúc.Trong xã hội Việt Nam xưa và bây giờ vẫn còn tồn tại những quan niệm sai trái về quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc:

    “ Trong tay đã sẵn đồng tiền Dẫu rằng đổi trắng thay đen khó gì”

    Trong cái xã hội cũ đó, đồng tiền như một thế lực vạn năng. Hạnh phúc của con người có thể đem ra mua bán bằng những giá trị đồng tiền. Còn ngày nay lại coa rất nhiều người không biết quý trọng đồng tiền, sinh ra những thói hư, tật xấu: lười biếng, hư hỏng, trì trệ……… Cái gì cũng đã có, không phải làm gì, không ai hướng dãn, hộ chỉ biết hưởng thụ những gì tiền có thể đem tới, có những thứ cần phải có sự rèn luyện về tinh thần và ý chí, họ không thể có được hạnh phúc. Họ không nghe nhạc để biết thế nào là bản nhạc hay, họ không biết đọc báo để biết ai sướng, ai khổ, họ không có thời gian để nói chuyện tâm tình thật lâu, hật sâu để hiểu về một người bạn, để hiểu thế nào là một tình bạn……..

    Và khi có được tất cả, trừ những cái mới như ma tuý, thuốc lắc, ……. thì họ sẽ thử. Họ có thể vui khi làm được điều đó, họ có thể hạnh phúc nhưng bố mệ họ chắc chắn không hạnh phúc, những người thân của họ chắc chắn không hạnh phúc và cái hạn phúc của họ chỉ là nhất thời. Như vậy những quan niệm sai trái về ý nghĩa của tiền bạc  và hạnh phúc cần phải phê phán, bác bỏ và hướng họ tới những quan niêm tốt đẹp, cho họ biết giá trị của cuộc sống và làm thế nào để có được hạnh phúc thực sự.

    Tiền bạc và hạnh phúc? Tiền bạc giúp cúng ta thoả mãn nhu cầu về vất chất, một phần nào đó giúp chúng ta đáp ứng về tinh thần. Còn hạnh phúc là sự thoả mãn về nhu cầu ấy. Với tôi, hạnh phúc không phụ thuộc vào giá trị vất chất mà đồng tiền mang đến, quan trọng là sự nâng niu, trân trọng cuộc sống mà chúng ta có mà thôi.

     

    Bài 18: Nghị luận xã hội về tinh thần tự học

    Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì việc học tập cũng phát triển theo. Chính vì vậy giới học sinh chúng ta đã sáng tạo ra rất nhiều cách học nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho bản thân. Nhưng theo tôi: trong học tập, tự học là cách học tốt nhất giúp ta tiến bộ hơn trong khi học. Và khi nói đến vấn đề này, tôi muốn mọi người hiểu được trước nhất là ý nghĩa của việc học rồi mới đến cách tự học. Vậy học là gì ?
    Tự học là gì ? Học là quá trình con người tiếp thu những kiến thức, kĩ năng do người khác truyền lại và tự học là việc con người phát huy những kiến thức,kĩ năng đã được truyền lại bằng chính sức lực,khả năng của riêng mình. Thực tế ngày nay cho thấy các cách học của các bạn chưa mang lại hiệu quả cao.

    Học sinh ngày nay đã quá phụ thuộc vào các bài giảng của thầy cô trên lớp, thầy cô dạy như thế nào thì lại hiểu và học như thế ấy dẫn đến quá trình thụ động, thiếu suy nghĩ và sáng tạo trong lúc học để đào sâu kho tàng kiến thức còn ẩn sâu các bài giảng của thầy cô.

    Và cũng chính vì chỉ học cô đọng trong các bài giảng bốn mười lăm phút trên lớp của thầy cô mà dẫn đến tình trạng học sinh phải đi học thêm tràn lan. Mà khi đã học thêm tràn lan thì lại càng khiến mọi người không chịu tự học, càng thêm phụ thuộc vào việc học thêm. Thêm việc ngày nay khi việc học được nâng cao thì có quá nhiều sách tham khảo, văn mẫu, hướng dẫn…dẫn đến việc học sinh đâm lười suy nghĩ trong khi làm các bài tập.

    Hậu quả của những việc trên rất nặng nề vì như vậy sẽ dễ dẫn đến hiện tượng “học vẹt”: học thuộc bài nhưng không hiểu nội dung, vấn đền được nêu ra trong bài dẫn đến việc học xong là quên ngay, kiến thức không bền và sẽ không làm được các bài tập thực hành, chỉ học lí thuyết suông, kiến thức sẽ ngày càng rỗng, thành tích học tập sẽ càng sút kém khiến mọi người đâm nãn chí. Một khi kiến thức đã trang bị không chắc chắn thì kết quả sẽ không bao giờ cao.

    Chính những thực tế được nêu trên lại càng khẳng định việc tự học cho bản thân là rất quan trọng. Nó chính là một chiếc chìa khóa đưa ta đến kho tàng tri thức, là điều kiện giúp ta thành công trong học tập. Nếu chúng ta biết tự học cho bản thân thì chúng ta chắc chắn sẽ thành công và nâng cao được tri thức của chính mình. Tự học giúp con người có được ý thức tốt nhất trong quá trình học: chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được bản chất vấn đề từ đó tự học giúp ta tiếp thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, từ truyền hình ti vi,từ bạn bè hoặc từ những người xung quanh,những kinh nghiệm sống của nhân dân.

    Tự học giúp ta có thể chủ động ghi nhớ các bài giảng trên lớp,tiết kiệm được thời gian, có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn mà vẫn hiểu và nắm chắc bài học. Và qua tự học, từ lí thuyết, chúng ta biết chủ động luyện tập thực hành,giúp ta có thể nhanh chóng hình thành kĩ năng,củng cố và nâng cao kiến thức đã học.Vì vậy,chủ động tự học sẽ giúp ta tìm ra được phương pháp học tốt nhất mang lại hiệu quả cao cho chính bản thân mình.

    Ví như các vị danh nhân nổi tiếng trên thế giới thành đạt trong sự nghiệp học tập,có được kiến thức uyên thâm cũng là nhờ biết chủ động tự học mà dẫn đến thành công như Thần đồng Lương Thế Vinh khi xưa,nhờ cố gắng chủ động tự học cộng với phẩm chất thông minh trời ban mà sau đỗ trạng,chế ra bảng cửu chương còn lưu truyền mãi đến ngày nay…hayTrạng nguyên lừng danh Mạc Đinh Chi, lúc nhỏ nhờ biết chủ động tự học, sáng tạo cách học bắt đom đóm bỏ vỏ trứng mà sau đỗ trạng, đi xứ làm rạng danh nước nhà, được phong “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” vang danh hai nước, ghi vào sử sách nhân loại về những tấm gương tự học sáng ngời.

    Tuy phương pháp tự học đã có từ lâu đời những đó là một phương pháp rất có hiệu quả cho việc học tập.Tôi khẳng định rằng tự học là chìa khóa,là con đường đưa ta đến thành công…Vị lãnh tụ vĩ đại ngày trước của dân tộc Việt Nam ta cũng đã từng nỗ lực tự học, Bác đã tự say mê tìm tòi học hỏi và đã thành công,thông thuộc được nhiều ngôn ngữ của các nước trên thế giới và tìm ra được con đường cứu nước,đưa cả dân tộc Việt Nam ra khỏi ách đô hộ của giặc Tây tàn ác, hướng đến nền độc lập,dân chủ,tự do,hạnh phúc ngày nay.

    Chính vì vậy,tự học là cách tốt nhất giúp ta tiến bộ hơn trong học tập,mang lại một kết quả học tập cao nhất có thể.Nếu chúng ta biết nỗ lực tự học,chúng ta sẽ thành công,sẽ mở được một tương lai rộng mở cho chính mình.Nếu chúng ta học tập thành công,chúng ta sẽ trở thành những người có ích cho xã hội,cho đất nước, đưa đất nước ngày càng đi lên, phát triển đến một tầm cao mới

     

    Bài 19: Giá trị nhân văn trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn

    Lí Công Uẩn sinh năm 974, quê ở Từ Sơn(Bắc Ninh). Là người có chí lớn lại khoan từ nhân thứ(lời sư Vạn Hạnh), nên sau khi Lê Long Đĩnh mất, vua kế vị còn nhỏ không thể đảm đương trọng trách gánh vác giang sơn xã tắc, ông đã được các vị đại thần trong triều tôn lên ngôi hoàng đế.

    Vốn thông minh bẩm sinh lại nhập thân văn hóa ở một vùng đất văn minh, văn hiến, là con nuôi của các vị cao tăng xuất chúng, Lí Công Uẩn thực sự là người con ưu tú của dân tộc. Ông đã cùng triều Lí làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử oanh liệt dựng nước và giữ nước.

    Lí Công Uẩn(tức Lí Thái Tổ) khởi đầu sự nghiệp trị vì đất nước của mình bằng việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Việc dời đô vốn là một sự kiện quan trọng và việc dời đô của Lí Thái Tổ càng in đậm dấu ấn trong lịch sử vì nó mở ra một giai đoạn phát triển phồn vinh của đất nước, hơn nữa nó lại gắn với một áng văn chương bất hủ: Chiếu dời đô.

    Tiếp xúc với áng văn chương kiệt tác này, không những ta được sống trong hào khí của một khát vọng cao cả và một khí phách anh hùng, mà còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ánh sáng nhân văn.

    Để hiểu rõ giá trị nhân văn cao đẹp của bài Chiếu, ta cần suy ngẫm kĩ xem vì sao Lí Thái Tổ quyết định rời đô? Việc dời đô của ông xuất phát từ những ý nguyện và quyền lợi của ai và nhằm mục đích gì?

    Vậy mà vì sao mà Lí Thái Tổ quyết định dời đô?

    Khi Lí Công Uẩn được suy tôn lên ngôi hoàng đế, triều đình vẫn còn đang đóng đô ở Hoa Lư. Kinh đô Hoa Lư nằm ở một vùng đất hẹp(thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay), Địa thế hiểm trở chỉ tiện cho việc chống giữ mà không dễ bề phát triển. Với trí tuệ nhạy cảm, Lí Thái Tổ cảm nhận một cách sâu sắc và thấm thía những cái bất lợi của việc đóng đô ở đây.

    Nhìn lại hai triều trước, nhà Đinh chỉ tồn tại có 12 năm(968-980), nhà Lê chỉ tồn tại có 29 năm(980-1009). Số vận của họ mới ngắn ngủi làm sao! Số vận của một vương triều, đâu chỉ là vấn đề riêng của một dòng họ, nó có quan hệ mật thiết tới sự suy thịnh, tồn vong của một quốc gia , dân tộc. Hơn nữa, nó còn quan hệ mật thiết với phận của trăm dân, muôn họ. Triều đình suy thì trăm họ cũng phải hao tổn. Điều đó khiến Lí Thái Tổ vô cùng đau xót: Trẫm rất đau xót về việc đó.

    Nỗi lòng và tình cảm của hoàng đế Thái Tổ chính là tình cảm yêu nước thương dân tha thiết, sau nặng của ông. Tấm lòng ấy khiến ông đi đến một quyết định đúng đắn và dứt khoát: dời đô!

    Như vậy, lí do dời đô của Lí Thái Tổ xuất phát từ sự lo lắng cho sự an nguy, tồn vong, suy thịnh của giang sơn xã tắc, lo lắng cho số phận và hạnh phúc của nhân dân. Tấm lòng lo nghĩ cho nước, cho dân, há chẳng phải là biểu hiện của tư tưởng nhân văn đó sao?

    Với một trí tuệ hiếm có và tầm nhìn khác thường, hoàng đế Thái Tổ thấy rõ lợ thế to lớn của thành Đại La. Đó là một vùng đất vừa thuận lợi về mặt địa lí để có thể phát triển kinh tế giàu mạnh khiến cho muôn dân được ấm no, hạnh phúc: huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ, ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Đồng thời cũng là nơi thuận tiện cho việc xây dựng và phát triển chính trị, văn hóa: Thật là chốn hội tụ của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

    Mục đích dời đô của Lí Thái Tổ không chỉ vì quyền lợi của dòng họ mình, cao hơn nữa là quyền lợi của quốc gia, dân tộc, nhân dân. Mục đích đó thật cao đẹp và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc!

    Có thể nói, Chiếu dời đô đã phản ánh được khát vọng của nhân dân ta về một đất nước độc lập, thống nhất, hùng cường. chính khát vọng ấy làm cho bài Chiếu thấm đẫm tinh thần tinh thần nhân văn cao cả. Để tận hôm nay, ánh sáng nhân văn trong bài Chiếu vẫn tỏa sáng.

     

    Bài 20: Nghị luận về câu ca dao Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

    Từ ngàn đời xưa, ông cha ta đã đúc kết được bao nhiêu kinh ngiệm trong thực tế cuộc sống xã hội cũng như trong lao động sản xuất . Những kinh nghiệm quý báu đố đã được đưa vào kho tàng ca dao, tục ngữ . Câu ca dao :“ Ta về ta tắm ao ta/Dù ttrong dù đục ao nhà vẫn hơn” đã cho chúng ta một lời khuyên sâu sắc về tinh thần độc lập tự chủ, tâm trạng yêu quý những cái của ta, do ta làm chủ không phụ thuộc vào người khác…

    ” Ta về ta tắm ao ta

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”

    Câu ca dao đã dùng hình ảnh gần gũi, dể hiểu như lời nói hằng ngày của người nông dân : Hãy về tắm ao nhà mình dù nước có trong hay vẫn đục hơn nơi khác . Qua hình ảnh thơ này tác giả dân gian muốn khuyên mọi người : Con người ai cũng có gia đình, xã hội, môi trường sống của mình ; phải biết trân trọng môi trường sống của mình, dùng những cái vốn có của mình hơn là đi nhờ vả, sử dụng của người khác. Câu ca dao muốn dề cao ý thức độc lập, không phụ thuộc vào người khác . Những gì thuộc về quyền làm chủ của ta ta nên quý trọng và sử dụng nó.

    Với nội dung trên , câu ca dao vừa có mặt đúng, vừa có mặt còn hạn chế . Trước tiên ta hãy bàn về mặt đúng của vấn đề . ” Ao ta” thuộc quyền sở hữu của ta, ta có thể tắm thoải mái , tự do không e dè khi phải tắm nhờ ao của người khác .

    Trong cuộc sống cũng vậy,sử dụng những gì của mình vẫn thích hơn là đi mượn của người khác. . Mặt khác nhà mình có ao thì mình tắm , xã hội mình có sản phẩm thì mình dùng ; đi sử dụng của người khác trong khi mình cũng có thứ đó là hành động thiếu tôn trọng xã hội mình, coi thường chính bản thâm mình . Ấy là chưa kể đến việc almf cho “ao nhà” bẩn đi vì khônbg được sử dụng, tu sửa.

    Trong hoàn cảnh mở cửa hiện nay, hàng ngoại ngập tràn, canh tranh với hàng nội , các cấp cũng đã nêu câu ca dao trên để động viên nhân dân dùng hàng nội . Theo em, đây là một chủ trương đúng đắn, vì ta dùng hàng của ta tức là ta trân trọng danh dự của chính ta, quý trọng sức lao động của bản thân. Nếu được tiêu thụ nhiều , hàng hóa sẽ được sản xuất nhiều và do đó ngày càng được cải tiến tốt hơn lên. Nhờ đó “ ao nhà” ngầy càng sạch, nền kinh tế của nước nhà ngày càng phát triển .

    Đối với những người con xa quê hương, xa tổ quốc , nội dung câu ca dao trên càng có ý nghĩa sâu sắc. Sống trên đất nước người , họ có thể có cuộc sống vật chất khá hơn trên quê hương mình . Nhưng nước người vẫn là “ao” của người khác . Làm sao họ có thể thích ứng hoàn toàn với phong tục tập quán, vớia cách sống, cách sinh hoạt của miền đất lạ. Làm sao họ có thể tìm được hồn quê hương dù là trong khoảnh khắc ở những con người xa lạ. “ Ta về ta tắm ao ta” , nhiều Việt kiều xa quê hương nhưng tâm hồn luôn hướng về tổ quốc. nhiều người đã trở về sống với mãnh đất thương yêu để tìm nguồn an ủi, sự cảm thông và sự gắn bó máu thịtnơi chôn nhau cát rốn .Rõ ràng câu ca dao đã là lời khuyên chân thành , lời chỉ bảo đúng đắn cho mỗi người Việt chúng ta.

    Tuy nhiên nội dung của câu ca dao vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Như hần trên đã bàn, câu ca dao khuyên ta phải tắm ao ta, phải sử dụng những cái của ta và lời khuyên đó là đúng là hợp đạo lí . Nhưng câu ca dao lại nêu: “ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” thì thật là chưa thỏa đáng . Nếu “ ao nhà” ta đục, xã hội ta trì trệ, lạc hậu thì làm sao có thể “vẫn hơn” được. Chẳng nhẽ ta cứ an phận tắm nước ao đục, cứ an phận ssống trong xã hội nghèo nàn, lạc hậu mãi hay sao?

    Ta không nên bảo thủ, không nên bằng lòng với cuộc sống nghèo nàn lạc hậu, càng không nên coc tâm lí tự cao mù quáng cho rằng cái gì của mình cũng nhất , cái gì của ta thì hơn tất cả mọi người. Hiện nay trong xã hội không ít người còn quan niệm lạc hậu như vậy. Thậm chí có người còn cho rằng ta phải sống trong cái xã hội xủa ta với tất cả các hiện trạng “ trong” “ đục” vốn có của nó, vì sống như thế mới không lai căn, sống như thế mới là dân tộc.

    Không phải phân tích nhiều ta cũng thấy quan niệm đó là bảo thủ , vô trách nhiệm đối với xã hội, đói với chính mình. Quan niệm đó sẽ làm xã hội trì trệ, cuộc ssống nghèo nàn. Trở lại với cuộc vận động dùng hàng nôị hóa hiện nay. Nếu ta lại vận động nhân dân dùng hàng nội với khẩu hiệu: “ Dù tốt dù xấu cũng là hàng của ta”, vẫn hơn hàng ngoại thì cuộc vận động sẽ hoàn toàn thất bại, sẽ không lôi kéo được đông đảo quần chúng . Vì trong thời buổi hàng hóa tràn ngập thị trường. Không ai dại gì đi dùng hàng xấu, hàng đắt dù những thứ ấy là của ta đi chăng nữa. Rõ ràng quan niệm “ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Không còn phù hợp với thực tiễn với xã hội ngày nay, càng không phù hợp với đường lối mở cửa,đổi mới để phát triển không ngừng của chúng ta nữa .

    Vậy chúng ta phải nhận thức vấn đề này như thế nào cho đúng, cho phù hợp ? Chúng ta không chấp nhận quan niệm an phận” dù trong dù đục” vẫn cứ tắm ao nhà, không có nghĩa là ta đồng tình với thái độ lẫn tránh, bỏ đi sống ở nơi khác khi quê nhà còn nghèo nàn lạc hậu. Nhận thức đúng đắn nhất hiện nay là phải tôn trọng, sử dụng cái của ta với thái độ “ Khơi trong gạn đục” Như một đồng chí lãnh đạo Đảng ta trước đây đã nói :

    “ Ta về ta tắm ao ta

    Khơi trong gạn đục ao nhà vẫn hơn”

     

    Bài 21: Hạnh phúc nằm trong bản lĩnh sống

    Con người khác con vật ở chỗ nó dự phần quyết định vào việc tạo dựng nên nhân cách của nó. Chính vì vậy ,một nhà triết học có nói: “Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì mà nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả. Nó phải làm như thế nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy và nó phải tự làm bằng chính tự do của nó. Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra”…
    Câu nói trên chẳng những nêu bật sự khác nhau giữa con người à con vật mà còn nhấn mạnh tới vai trò con người trong việc hình thành nhân cách của mình.

    Thật vậy, mỗi con vật khi sinh ra đều đã là tất cả nhửng gì mà nó có. Điều đó có nghĩa lâ con vật được sinh ra như thế nào thì nó sẽ lớn lên như thế ấy. Một con chó sói được sinh ra thì sẽ trở thành con chó sói, một con chim sẽ thành chim. Dĩ nhiên phải có thời gian để con chó sói trưởng thành, tự kiếm ăn và tự vệ,để con chim được lớn,mở mắt biết bay đi kiếm mồi. Nhưng qua thời gian đó, con sói và con chim trưởng thành vẫn chỉ là con vật được quy định trong bộ gen của no. Con vật được sinh ra trong trạng thái đã tự đấy đủ.

    Con người thì khác hẳn, khi sinh ra tự nó không đầy đủ, không là gì cả. Một em bé sơ sinh đang oa oa chào đời, tự em không thể sống được nếu thiếu sự chăm sóc, bú mớm đùm bọc cùa người mẹ. Em sẽ không trở thành người được nếu không biết nói, biết đọc, biết viết, biết giao tiếp với cộng đồng . Em sẽ không có chỗ đứng trong xã hội nếu em không có một nghề nghiệp nào đó.Rồi em có thể có được mộ nghề nào không,em trở thanh người tốt hay xấu, chưa ai có thể quả quyết được. Vậy là con người, do khi lọt lòng tự nó không đầy đủ, cho nên mỗi người sinh ra đều mang theo một nhiệm vụ, hãy trỡ thành một con người !

    Ai chịu trách nhiệm làm cho một con người trở thành CON NGƯỜI? Xã hội hay cá nhân? Tại sao nhà triết học nói con người làm như thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, như vậy có coi nhẹ điều kiện xã hội hay không? Có quá coi trọng vai trò chủ thể cá nhân hay không?

    Xét về điều kiện, thì gia đình và xã hội là điều kiện để con người trở thành con người. Cha mẹ cho bú mớm, nuôi nấng, dạy dỗ. Xã hội cung cấp trường học, sách vở, kiến thức, ngành nhề.các điều kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thử tưởng tượng một con người sinh ra trong một gia đình nghèo túng, ăn không đủ no lại phải làm việc để sống thì sẽ như thế nào? Lại tưởng tượng một người sinh ra trong một gia đình giàu có, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và học tập thì thế nào? Nếu một con người ở nơi hẻo lánh, xa trung tâm văn hoá, thiếu trường sở, ít giao lưu thì thế nào? Một người khác ở thàh phố lớn, nhiều trường tốt, có nhiều thầy giỏi thì sẽ ra sao?

    Rõ ràng điều kiện tốt là rất thuận lợi và điều kiện xấu là hết sức khó khăn.nhưng điều kiện không thể quyết định tât cả. Nhiều người xuất thân nghèo hèn lại có ý chí vươn lên. Ở đây, hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo của môi người vẫn là yếu tố quyết định sử dụng điều kiện như thế nào. Khi nói tôi sáng tạo ra tối, tôi tự làm ra chính tôi, không có nghĩa là tôi muốn trở thành cái gì cũng được.

    Một người mà không có giọng hát trời phú thì không thể trở thành danh ca; một người không có thể chất tốt không thể trở thành vận động viên triển vọng…Nhưng khi đã có một số đã có một số điều kiện nào đó thì việc phát huy điều kiện tốt, khắc phục điều kiện xấu phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của cá nhân có điều kiện ấy.

    Con người làm như thế nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy. Đúng như vậy, con người được tự do lựa chọn để tự thực hiện mình theo một lý tưởng nhất định. Nhà sư Tuệ Tĩnh đi tu, nhưng ông tự học để trở thành một nhà thuốc vĩ đại của dân tộc. Ông Tư Mã Thiên đời Hán bị nhục hình, nhưng ông chu du khắp nước, thu thập tài liệu để hoàn thành bộ Sử kí nổi tiếng… Lỗ Tấn đã tốt nghiệp trường khai mỏ, nhưng niềm băn khoăn cho số phận dân tộc dẫn ông đến nghề văn. Pasteur thi đỗ trường sư phạm, nhưng niềm say mê hoá học làm ông dồ sức vào môn khoa học này và cuối cùng và cuối cùng trở thành nhà bác học về vi trùng và phòng dịch vĩ đại. Ngay trước cái chết, con người vẫn có cơ hội để khẳng định mình. Câu nói của Trần Bình Trọng “ Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn Vương đất Bắc” đã khích lệ bao nhiêu thế hệ người Việt Nam yêu nước. Anh Nguyễn Ngọc Kí liệt cả hai tay vẫn học viết bằng chân… Lịch sử cũng cho thấy có nhiều gương lầm lạc, tuy có những điều kiện tốt đẹp nhưng con người đã tự làm hỏng đời mình.

    Rõ ràng dù điều kiện hoàn cảnh có vai trò quyết định như thế nào con người vẫn chịu trách nhiệm trước nhân cách của mình. Hiểu được điều này mỗi người cần thấy hết trách nhiệm của mình trước cuộc đời mình trong từng hành động lớn nhỏ.

    Trước mỗi con người, con người mở ra muôn ngã, con người có thể chọn một nghề phù hợp với khả năng sở trường của mình. Nhưng khà năng sở trường của con người chỉ có thể thực sự phát huy khi nó gắn liền với mục đích cao đẹp; phục vụ con người,phục vụ xã hội và nhân loại.

    Không phải ai cũng hiểu được trách nhiệm của mình đối với cuộc đời cùa mình. Gặp khó khăn trắc trở người ta thường than thở, viện ra nào hoàn cảnh nào số phận rồi buông xuôi gặp sao hay vậy. Nhưng tư tưởng đúng đắn thì cho thấy ngoài hoàn cảnh, yếu tố quyết định số phận mỗi người là chính người đó.

     

    Bài 22: Suy nghĩ về đức tính tự tin

    Trong thực tế cuộc sống, ta có thể thấy được rất nhiều những danh nhân, những con người thành đạt với sự thành công trên nhiều lĩnh vực. Chúng ta thường hay đặt câu hỏi rằng tại sao và bằng cách nào mà những người như thế có thể tiếp cận được sự thành công, ngoài những đức tính, phẩm chất cần thiết như sự chăm chỉ, tài năng, linh hoạt trong giao tiếp, may mắn,… Để có được những sự thành đạt như thế, con người cần có một phẩm chất không kém phần quan trọng ở thời đại này, đó chính là sự tự tin. Vậy sự tự tin là gì và nó có tầm quan trọng như thế nào trong cuộc sống mỗi con người?

    Tự tin là tin vào chính bản thân mình, tin vào chính giá trị, những phẩm chất tốt đẹp đang tồn tại bên trong con người mình, tin vào những thành công, những thành quả mà mình đã đạt được trong quá khứ để vững bước đón nhận những thử thách mới trong tương lai; tin vào tài năng của mình, những ước mơ tốt đẹp mà mình theo đuổi và tin rằng dù có phải thất bại đi chăng nữa, mình vẫn có thể thực hiện được nó ở những lần sau.

    Tự tin trái ngược với sự hèn nhát, rụt rè, thiếu niềm tin vào bản thân và lo sợ phải thất bại, không dám theo đuổi ước mơ. Sự tự tin trong cuộc sống có thể được biểu hiện ở những việc làm nhỏ nhất như tự tin thuyết trình bài học trước lớp, tự tin đóng góp phát biểu ý kiến của mình cho tập thể lớp; cho đến những việc làm lớn hơn như công bố phát minh của một nhà khoa học hay một nhà văn cho ra đời tác phẩm của mình trước công chúng, và còn rất nhiều biểu hiện của sự tự tin trong cuộc sống mà chúng ta không thể kể hết.

    Tự tin là một phẩm giá mà mỗi cá nhân cần phải hướng tới và rèn luyện để có thể tồn tại và phát triển trong cuộc sống và sự nghiệp. Với sự tự tin, chúng ta sẽ tạo được một nền móng vững chãi trong tâm hồn, một bản lĩnh vững chắc của bản thân, từ đó chúng ta có thể xác định rõ rang rằng: chúng ta là ai trong cuộc đời này, xác định rõ con đường chúng ta sẽ đi trong cuộc đời, sự nghiệp. Chỉ có thế chúng ta mới có thể hình thành và theo đuổi ước mơ đúng đắn của chính bản thân mình, cũng là thể hiện bản thân.

    Đồng thời, sự tự tin trong cuộc sống hay công việc thường nhật mang đến cho ta khả năng quyết đoán trong việc lựa chọn khi mắc phải những vấn đề cần sự giải quyết. Những sự lửa chọn có thể là rất nhỏ như chọn đề trong một bài kiểm tra Văn hay lớn hơn là sự chọn ban ngành, công việc mà chúng ta sẽ làm trong tương lai, dù là lớn hay nhỏ thì sự tự tin và quyết đoán cũng đều ảnh hưởng đến kết quả mà chúng ta đạt được sau này.

    Nếu không có sự tự tin thì làm sao chúng ta dám chọn đề văn khó hơn trong khi chúng ta đủ khả năng làm được, hay là chọn ban ngành mà mình yêu thích để mà theo đuổi. Kế đến, người tự tin sẽk hông ngần ngại trước bất cứ một công việc nào dù công việc đó có quá sức với họ đi chăng nữa và họ có thể thất bại. Qua đó, ta có thể thấy được: tự tin như một nguồn động lực giúp cho ta có thể chấp nhận đương đầu với những thử thách trong cuộc sống, dù thành công hay thất bại thì đó cũng là cơ hội để chúng ta học thêm những kiến thức mới, phát hiện, đào sâu những phẩm chất tồn tại bên trong con người chúng ta mà bấy lâu naychúng ta không biết.

    Nếu ta không chịu đứng ra thuyết trình bài học của mình trước lớp thì làm sao chúng ta có thể biết kĩ năng nói của mình đến đâu để mà sửa chữa, bồi dưỡng? Quan trọng hơn, sự tự tin sẽ tiếp cho ta thêm sức mạnh và nghị lực để có thể vượt qua thất bại, khó khăn trước mắt để tiến lên phía trước, đồng thời cũng là chìa khóa dẫn đến thành công trong công việc.

    Điển hình cụ thể hơn: những người nói tiếng Anh giỏi chắc chắn phải có nhiều lần đứng ra nói chuyện với người khác, người nước ngoài bằng tiếng Anh, cũng phải vấp những lỗi về ngữ pháp, cách dùng từ, nhưng sự tự tin trong giao tiếp đã giúp họ vượt qua và đạt được thành công trong việc học ngoại ngữ. Cuộc sống luôn đầy rẫy những thử thách, nếu chúng ta không tự tin, tin vào chính mình để vượt qua thì thành công sẽ khó mà đến với chúng ta.

    Hầu như ai cũng biết, tự tin là một kĩ năng, phẩm chất cần thiết cho con người. Thế nhưng không phải ai cũng có trong người sự tự tin ấy. Trong cuộc sống, chúng ta vẫn quan sát thấy được những người nhút nhát, thiếu niềm tin vào bản thân, hay thích dựa dẫm vào kẻ khác, vào cha mẹ, dẫn đến sự thiếu kĩ năng và kiến thức cần thiết. Điển hình là một số bạn trẻ, dù đã bước sang tuổi trưởng thành rồi mà vẫn không tự tin dấn thân vào đời, tự lập để mà kiếm sống, vẫn ăn bám vào cha mẹ cung cấp, kĩ năng sống thì không có, sống vật vờ vô ích như một người thừa của xã hội.

    Một số kẻ còn thiếu tự tin đến mức không dám chấp nhận những thử thách trong công việc, để học những cơ hội thăng tiến bay qua mà không muốn nắm bắt vì sợ thất bại, không tin vào những khả năng của bản thân mình có thể làm được. Trong việc chọn ngành nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT, đa số các bạn học sinh đều thi vào những trường như Kinh tế, Bách khoa, Ngoại thương,… với những ngành thật “hot” có thể gặt tiền nhiều mà không nghĩ đến tài năng của mình không thuộc những phạm trù của những ngành nghề ấy, không tự tin vào năng lực thực của mình mà chỉ muốn a dua theo kẻ khác.

    Tệ hơn nữa là có một số người tự tin quá mức đâm ra chủ quan, tự phụ vào chính bản thân mình, xem trọng và đề cao cái tôi của mình, xem thường người khác. Ắt hẳn khi còn bé, chúng ta đã đều được đọc truyện ngụ ngôn “Rùa và Thỏ”, Thỏ đã chủ quan quá mức nên thua ê chề trong cuộc đua với Rùa. Những người chủ quan như thế sẽ khó tránh khỏi thất bại. Đồng thời, hcúng ta cũng cần phải hiểu tự tin thôi vẫn chưa đủ để dẫn đến thành công, cần có sự hỗ trợ của đức tính khác như cần cù, sự khéo léo, linh hoạt trong công việc,… và cả sự giúp đỡ của người khác để vươn tới thành công mai sau.

    Việc rèn luyện một phẩm chất cho mình là một việc không dễ dàng thực hiện. Là một học sinh, trước tiên em phải ra sức học tập thật là tốt để tạo cho mình một nền móng kiến thức thật vững chãi, không ngừng ra sức học hỏi để phát huy tài năng bản thân. Từ đó, em có thể thực hiện việc rèn luyện từ những công việc làm nhỏ nhất như tự tin giơ tay phát biểu ý kiến của mình trước lớp, khắc phục sự rụt rè sợ sai khi phát biểu xây dựng bài học, kế đến nữa, em sẽ tham gia các hoạt động của trường, lớp, đoàn thể, tự tin trong giao tiếp và dũng cảm xung phong nhận lãnh những trách nhiệm phù hợp với sức của mình để thực hiện nó. Đến kì thi Đại học, sẽ chẳng có lí do gì để em từ chối thi vào trường Xã hội nhân văn khoa Tâm lý học, theo đuổi ước mơ của chính em.

    Về phía gia đình, đặc biệt là các bậc cha mẹ cần đặc biệt chú ý rèn luyện đức tính tự tin cho con em mình ngay từ khi chúng còn nhỏ, như khen con khi con làm việc tốt, tôn trọng, khuyến khích những quyết định riêng tư chính đáng của con cái và biết lắng nghe, động viên, an ủi chúng khi cần thiết. Về phía nhà trường và xã hội, cần có những buổi hội thảo dành cho giới trẻ về “sự tự tin”, giáo dục một cách rõ ràng mà không sơ sài chung chung, gần gũi mà không cứng nhắc và lý thuyết suông, gần gũi với thực tế cuộc sống của chúng em, chú trọng hơn về việc tư vấn tâm lí tuổi vị thành niên, định hướng tương lai cho học sinh.

    Tự tin là chiếc chìa khóa dẫn đến sự thành đạt trong cuộc sống, vậy chúng ta hãy rèn luyện nó ngay từ bây giờ để trở thành một con người năng động , bản lĩnh trong xã hội, tồn tại một niềm tin mãnh liệt vào bản thân trước chông gai cuộc đời.

     

    Bài 23: Nghị luận xã hội về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay

    Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang trên đà hội nhập với sự phát triển của thế giới với rất nhiều cơ hội và thử thách được mở ra.Và thanh niên chúng ta-những người chủ tương lai của đất nước-phải góp một phần sức cho quê hương của mình. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách sống của mình, và một câu hỏi lớn được đặt ra : Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay là gì?

    Trước hết chúng ta phải hiểu được “lý tưởng sống” là gì? Lý tưởng sống là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới, là lí do, mục đích mà mỗi con người mong mỏi đạt được.Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn,giúp ích cho mình,gia đình xã hội và đất nước. Sinh ra ở đời, ai trong chúng ta cũng khao khát được sống hạnh phúc, với lòng khao khát đó thúc giục chúng ta đi kiếm tìm hạnh phúc. Hơn thế nữa, tự đáy lòng của con người luôn ước ao có được một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự may lành hơn là bất hạnh, giàu sang hơn là nghèo nàn. Để đạt được khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng. Lý tưởng này sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh. Vì có một lý tưởng để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người.

    Bạn có bao giờ tự hỏi bạn tồn tài trên cuộc đời vì lý do gì không? Một câu hỏi lẽ ra rất dễ nhưng nó làm cho bạn phải bắt đầu ngồi lại suy nghĩ về bản thân mình. Có thể bạn cũng đã có được một mục đích sống cho riêng mình, nhưng bạn vẫn nên xem lại mục đích đó có thật sự cao đẹp hay không bạn ạ. Chúng ta sống trong cộng đồng là sống vì mọi người, vì quê hương,vì đất nước.

    Nhiều người từng nghe câu nói trong bài hát khá nổi tiếng của Trịnh Công Sơn: “Sống ở đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi….”

    Phải mất một thời gian dài tôi và các bạn mới có thể mới ra rằng ý nghĩa của câu này là “hãy mở rộng tấm lòng của bạn với cuộc sống này, với mọi người xung quanh bạn và đừng mong đợi bạn sẽ nhận lại được gì… Hãy san sẻ tấm lòng để cuộc sống này đẹp hơn và đừng nghĩ rằng những cái gì mình đã cho đi là lớn lao mà nó chỉ là những cái gì nhỏ nhoi nhất nhẹ nhàng… chỉ để gió cuốn đi…”. Đó cũng là một phần của lý tưởng sống đẹp.

    Lý tưởng của ta không cần lớn lao dù chỉ là một chiếc lá, nhưng chúng ta cũng cần có cho mình một lý tưởng bình dị như để vươn lên. hải sống có lý tưởng! Bạn có thể ra đi từ nhiều phía, theo những con đường khác nhau, nhưng cuối cùng mỗi người phải lựa chọn cho mình mục đích của cuộc sống. Ta sống cho ta, cho những người thân, bạn bè và cho mọi người. Vì vậy, chỉ có hạnh phúc khi “mình vì mọi người và mọi người phấn đấu vì hạnh phúc của từng người”. Rõ ràng lý tưởng là mục đích sống, là ý nghĩa của mỗi cuộc đời. Lý tưởng quyết định sự thành công trong cuộc sống. Lý tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người để đạt đến thành công trong sự nghiệp. Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn và thử thách trong cuộc sống.

    Nhà văn Pháp Đi-dơ-rô từng nói: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”. Câu nói đó, lời khẳng định đó thật rõ ràng. Nó khuyên chúng ta sống thì phải có mục đích, lý tưởng phải cao đẹp thì sống mới có ý nghĩa, mới làm được những điều vĩ đại.

    Trong thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa, kinh tế thế giới hội nhập, khoa học kĩ thuật hiện đại, con người đặt ra vấn đề về lẽ sống của cuộc đời và sống như thế nào cho xứng đáng ? chúng ta nên hiểu sống có mục đích và lý tưởng cao đẹp là như thế nào ? Đó là phải sống để xây dựng đất nước, sống vì xã hội vì sự tiến bộ của nhân loại. Vậy thì tại sao ta phải sống có lí tưởng cao đẹp ? Vì nếu “sống không mục đích không làm được gì cả” và nếu “ mục đích tầm thường thì không làm được điều gì vĩ đại”.Thế chúng ta phải làm gì để trở thành người có mục đích cao cả và có ích cho xã hội? Trước hết, ta cần phải xác định lý tưởng sống đúng đắn-dự tính về tương lai sẽ cống hiến cho xã hội về những mặt nào. Tiếp theo ta cần phải lên kế hoạch học tập, rèn luyện kĩ năng, sức khoẻ, tư tưởng nhằm thực hiện mục đích đó. Sau đó, ta phải tích cực tham gia các hoạt động xã hội, chính trị; điều này sẽ giúp cho bản thân hòa nhập cộng đồng.Ta cần phải phát huy những thế mạnh của bản thân, khắc phục các điểm yếu và vân dụng những điều đã học vào thực tế.

    Ngày xưa, anh hùng Lý Tự trọng đã từng nói:”Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đ ường nào khác!” rong thời kỳ chiến tranh bao lớp thanh niên xông pha lên đường với một mục tiêu – lý tưởng tất cả vì tiền tuyến, vì độc lập tư do của đất nước. Tư tưởng đó đã đi vào lời ca tiếng hát của bao nhiêu thế hệ người Việt Nam. “Anh lên xe trời đổ cơn mưa, Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ; Em xuống núi nắng vàng rực rỡ; Cái nhành hoa gạt mối riêng tư” hay “Khi tạm biệt mua xuân; Anh lính về biên giới; Cô gái vào ca ba”. Bên cạnh một tình yêu nồng cháy của tuổi trẻ nhưng ho phải tạm gác lại để dành tất cả cho một mục tiêu cao cả. Trong thời kỳ ngày nay có lẽ chúng ta khó có thể tìm kiếm được một ca khúc nói vê tình yêu đep như vậy. Biết bao thế hệ thanh niên đ ã ngã xuống vì mộtlý tưởng duy nhất là giành lại độc lập t ự do cho đất nước. Đến hôm nay khi đất nước hoà bình và đang trên đà phát tri ển,thì lý t ưởng sống cao đẹp của thanh niên,thế hệ trẻ lại càng rộng hơn,bao la hơn,”Vì một Việt Nam Phát triển

    Thế hệ trẻ là những người chủ tương lai của đất nước, là chủ thể của thế giới, động lực giúp cho xã hội phát triển. Chính vì vậy mà các bạn thanh thiếu niên càng gần phải sống có mục đích cao đẹp. Hãy nhớ rằng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không đó là nhờ vào công học tập của các em” lời nhắn như thiêng liêng ấy phải được thực hiện! Bác luôn mong lớp lớp thanh niên sau này sẽ không chùn bước trước những khó khăn trước mắt,luôn vững chí bền tâm vượt qua thử thách để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

    “Không có việc gì khó

    Chỉ sợ lòng không bền

    Đào núi và lắp biển

    Quyết chí ắt làm nên”

    (Hồ Chí Minh)

    Chúng ta chắc còn nhớ hai chiến thắng vẻ vang liên tiếp của đội tuyển robocon Việt Nam,hay những tấm huy chương vàng, huy ch ương bạc từ những môn Olympic Toán, Lý, Hoá, Sinh, trong những giải thể thao hàng đầu của châu lục và thế giới. Đó là một tấm gương gần gũi, rõ ràng mà thanh thiếu niên cần noi theo. Tôi xin được nhắn nhủ các bạn thanh thiếu niên, học sinh: “Hãy học tập để nắm lấy tri thức vì tri thức là sức mạnh. Có tri thức, các bạn như đứng trên vai những người đi trước để cao hơn người khác. Hãy phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chấp nhận và vượt qua thử thách, bởi không có người thất bại, chỉ có người không biết cố gắng mà thôi”. Và chắc hẳn ai trong chúng ta đều biết những Enstein, Môza, Đác-uyn,… Tất cả họ đều là những người sống có lý tưởng cao đẹp, tất cả đều làm nên điều vĩ đại và được lưu danh muôn thuở. Như mục đích “ra đi tìm đường cứu nước, hi sinh cuộc đời vì cách mạng, vì dân tộc “ của Bác. Đó là một minh chứng rất cao đẹp!

    Nhưng hiện nay, một bộ phận lớn thanh niên lại không suy nghĩ được như thế. Họ sống hờ hững với những gì diễn ra xung quanh, sống theo quan niệm: “Được đến đâu thì hay đến đó”, “Nước đến chân mới nhảy”. Tuổi trẻ ngày nay có nhiều thời gian để dành cho tình yêu nên có lẽ họ không thể nhận ra những hạnh phúc mà họ đang có mà chỉ toàn nhìn thấy sự khổ đau trong tình yêu, phải chăng tuổi trẻ ngày nay khi đã được đáp ứng quá đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần thì dần trở nên ích kỷ hơn. Chỉ biết nghĩ cho riêng mình.Và mục tiêu của phần lớn các bạn trẻ ngày nay là phải thật thành công trong cuộc sống, khẳng định được vị trí của mình trong xã hội; kiếm thật nhiều tiền để có thể thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống của riêng mình.Trong khi rất nhiều người đang cố gắng đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn thì lại không ít người lại tỏ ra rất hờ hững với những gì đang diễn ra cho đất nước mình. Thật đáng buồn cho một tương lai đất nước!

    Các bạn luôn mong muốn mình sẽ là người tài giỏi nhưng lại không có được một lý tưởng cho riêng mình,thì cuộc đời bạn sẽ trôi về đâu ? Hãy tưởng tượng mà xem: một thanh niên sống không mục đích, không có định hướng, học tập chỉ do ba me gượng ép; chàng ta chẳng hề ham thích những lựa chọn ấy và cũng chẳng hề thich học những môn học ấy; rồi cậu rớt đại học, thất nghiệp (chẳng ai nhận những người không có học vấn cả, dù cậu đã qua các năm trung học rồi nhưng với tinh thần thiếu ý chí thì xét lại cậu cũng chẳng đủ sức cho công việc)…không có tiền câu đâm ra vòi vĩnh bố mẹ (tuy nhiên vẫn có một số người tốt, không phạm phải những sai lầm này)…tiêu xài tiền, rồi đủ các thói hư, tật xấu. Cuối cùng chàng thanh niên ấy đã kết thúc cuộc đời trong nhà tù hoặc trên giường bệnh sau bao năm ăn chơi, nghiện ngập. Đó là ví dụ về một con người không có lý tưởng sống. Còn những người sống có mục đích nhưng lại là mục đích tầm thường như ăn no mặc ấm, hạnh phúc gia đình, kiếm được nhiều tiền, cưới vợ đẹp,…Những người này vì lợi ích của bản thân, họ dễ dàng làm bạn với cái ác và sẽ phạm tội. Chúng ta thường đọc thấy trên báo công an hay thấy trên Tivi những tin liên quan đến ông này bà nọ có chức vụ, lạm dụng quyền hạn để trục lợi; hay những nhóm tội phạm, nhất là các nhóm thanh thiếu niên trẻ cướp giât, phạm tội… để kiếm tiền ăn chơi hay những thanh niên, học sinh (kể cả người lớn) ghiền chơi games đến mê mệt! Tất cả, những người sống không có mục đích và những người có mục đích tầm thường đều có kết quả không tốt.

    Tóm lại,thanh niên chúng ta cần phải biết và tạo cho mình một lý tưởng sống cao đẹp, vì mọi người, vì quê hương đất nước. Bản thân mỗi chúng ta hãy tự nhìn lại cách sống của mình để hướng đến tương lai t ươi sáng. Cuối cùng xin kết thúc bằng lời của chiến sĩ cách mạng, một người cộng sản trẻ tuổi, một nhà văn, một anh hùng thời vệ quốc Xô Viết vĩ đại, Paven Copsagine trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy (tác giả Nikolai Ostrovsky): “Cái quí nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, mà có thể nói rằng: Tất cả đời mình ta đã cống hiến cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được. Vì bệnh tật vô lý hay một sự bi đát tình cờ nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời này”

     

    Bài 24: Nghị luận xã hội Hãy sống trọn vẹn nhất

    Có một quan niệm sống mà nhà văn Lưu Quang Vũ đã đưa ra cho chúng ta trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là : “ Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Vậy thực chất câu nói của Lưu Quang Vũ như thế nào ? Quan niệm sống mà ông muốn đưa ra là gì ? Quan niệm sống mà nhà văn muốn nói đến chính là hãy sống thành thật với chính mình,sống để giữa tinh thần và thể xác của là một sự thống nhất .“ Bên trong, bên ngoài “ở đây chính là bên trong tâm hồn, về mặt tinh thần. Còn bên ngoài là những cư xử , về mặt thể xác. “ Một đằng, một nẻo” chỉ sự trái ngược nhau. “Bên trong một đằmg, bên ngoài một nẻo “ chỉ sự trái ngược nhau giữa tinh thần và thể xác. “ Toàn vẹn “ là sự trọn vẹn hoàn toàn, một sự thống nhất chung.

    Do vậy, điều đầu tiên mà Quang Vũ muốn đặt ra ở đây là : Con người luôn cần một sự thống nhất chung giữa bên trong và bên ngoài. Thật vậy, điều đó là điều thực sự quan trọng cần có đối với mỗi người chúng ta bởi con nguời là một thực thể thống nhất giữa hai mặt tinh thần và thể xác. Nếu như sự thống nhất đó không còn thì ta không còn là chính ta nữa. Ví dụ đơn giàn là nếu như ta là một con người quyết tâm nhưng lại có những hành động trái ngược với sự quyết tâm do thì ta không còn là một người quyết tâm như ta muốn nữa. Điều thứ hai mà nhà văn muốn nói đến đó là : Con người phải sống thật với chính mình. Song để sống thật với bản thân mình chính là điều xuất phát từ trái tim, hiểu những gì mà mình cần và hãy là chính mình. Nếu không sống thực với mình thì con người sẽ đau khổ và sẽ gây ra đau khổ, tai họa cho người khác. Bởi vì khi đó ta đang tự lừa dối chính bản thân mình, lừa dối người khác. Và rồi sự lừa dối đó sẽ làm chính bản thân mình dằn vặt, đau khổ, mọi người sẽ nhìn nhận người đó là một người khác chứ không phải là chính bãn thân họ. Chẳng hạn có một ai đó với vẻ bề ngoài rất đỗi hiền thục, tốt bụng nhưng bên trong lại độc ác,suy tính những chuyện có hại cho người khác dựa vào vẽ bề ngoài của mình thì khi đó chính người đó đã gây ra sự đau khổ, tai họa cho người khác.

    Vì thế chúng ta hãy sống một cách trọn vẹn nhất , giữa suy nghĩ và hành động , giữa bên trong và bên ngoài luôn có sự thống nhất. Hãy nhìn xung quanh chúng ta, những người biết sống thành thực với bản thân mình thì họ luôn cảm thấy hạnh phúc. Họ có những suy nghĩ và hành động luôn có một sự thống nhất. Lúc đó họ đã là chính họ trong mắt người khác. Như khi ta ghét một ai thì ta cứ nói ghét, không phải bên trong ghét bên ngoài lại tỏ vẻ rất yêu mến người đó,làm những điều mà ta không thích để thể hiện sự yêu mến của mình. Nhưng bên cạnh đó còn có những kẻ không hề xem trọng bản thân mình, luôn làm những điều trái ngược với chính mình để đạt được mục đích của mình. Thế nên chúng ta hãy làm những gì mà chính con người chúng ta mong muốn mà không gây hại đến người khác, hãy nhìn nhận những gì mà bản thân mình đang có

    Hãy trung thực với bản thân, đừng tự lừa dối mình và lừa dối những người xung quanh. Điều quan trọng hãy là chính mình trong mọi tình huống, hãy sống một cách trọn vẹn nhất và hãy để sự thống nhất giữa tinh thần và thể xác của mỗi người luôn tôn tại. Tất cả những điều ấy cũng góp phần tạo nên điều kỳ diệu cho con người chúng ta, bởi vì “ Mỗi người chúng ta là một điều kỳ diệu

     

    Bài 25: Nghị luận xã hội Sống đẹp là gì hỡi bạn?

    Trong cuộc sống hằng ngày mỗi người chọn cho mình những cách thể hiện khác nhau hình thành lên những cách sống khác nhau: sống đẹp, sống có ích và lối sống ích kỷ, buông thả thậm chí chìm trong vòng tội lỗi. Như vậy “sống đẹp” là một lối sống tích cực mà mỗi người cần phải hướng tới. Nhưng sổng thế nào mới là lối “sống đẹp”, còn là điều băn khoăn của rất nhiều người.

    “Đẹp” không phải chỉ là cái đẹp hình thức. Cái “đẹp” thể hiện từ những hành động cư xử nhỏ nhất trong cuộc sống đến nghị lực vươn lên trong mỗi con người. “Sống đẹp” trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, từ chính tình yêu trong trái tim để từ đó mà sống hết mình vì người khác, để bao dung, thứ tha … Xuất phát từ tình yêu thương nên bất cứ hành động nào dù là nhỏ nhất cũng đầy sự quan tâm, chia sẻ giữa những con người. Một sáng đến trường, bạn không sợ muộn học mà dừng lại giúp một cụ già qua đường. Mỗi ngày dành dụm tiền để ủng hộ quỹ “Vì người nghèo”. Những hành động ấy dù nhỏ nhặt nhưng đều là những nghĩa cử cao đẹp.

    Lại nhớ đến hơn 30 năm trước đây, người con gái Hà Nội Đặng Thuỳ Trâm xung phong vào chiến trường Quảng Trị gian khổ bản thân chịu những thiệt thòi nhưng chị vẫn dành một tình thương bao la cho những người quanh chị. Bất lực trước một ca mổ, chị đau đớn, lo lắng cho người em nuôi giờ này đang đè nặng tang tóc, đêm chị mất ngủ.Tất cả những điều ấy đều xuất phát từ lòng yêu thương trong trái tim chị! Để chính từ những lo lắng, đớn đau ấy dân tộc Việt Nam có một người con anh dũng, kiên cường tận tụy làm người. Đó là chuyện của 30 năm trước, còn giờ đây có biết bao người ngày đêm nhen lên ngọn lửa tình yêu thương trên cõi đời này. Một nhà giáo già ngày ngày đạp xe khắp chốn bán những bức hình cụ Rùa Hồ Gươm mà thầy vô tình chụp được để lấy tiền góp vào quỹ “Vì người nghèo”. Bao nhà hảo tâm, bao con người có mỗi năm lại lắng lòng mình nhớ đến những người còn trong đói khổ bần cùng.Cuộc sống muôn màu muôn vẻ tạo nên muôn nghìn gương mặt con người khác nhau: có người tốt, kẻ xấu, có những người từng gây ra tội ác. Nhưng không có ai chưa từng sai lầm. Dẫu có lầm lạc bước vào ngõ cụt vẫn có thể quay đầu lại. Chúng ta vẫn luôn dang tay chờ đón một con người mới ở những người từng mắc tội. Mỗi dịp lễ lớn, không chỉ những người ngoài khung sắt nhà lao mới náo nức chờ đợi mà những người ở trong cũng vui mừng vì mỗi dịp ấy họ lại có cơ hội được ân xá, được trở về với người thân, bè bạn. Chào đón họ bằng lòng bao dung tha thứ, tin vào một sự thay đổi ở họ đó cũng là “sống đẹp”. Chính nhờ có lòng yêu thương mà không ít người tìm lại được chính mình. Có một nhà thơ với bút danh “Hoàn Lương” từng nửa đời làm tướng cướp trên những chuyến tàu Đà Nẵng – Nha Trang, làm đại gia buôn lậu xảo quyệt, thi nhân ấy tên là “Nguyễn Đức Tân” (Đông Mỹ – Thanh Trì – Hà Nội). Nửa đời làm việc thất đức nhưng trong trại giam được nghe lời khuyên nhủ tâm tình của giám thi, như người tỉnh cơn mê anh tâm sự:“Đêm đêm nghe tiếng vọng vangTiếng ngoài xã hội rộn ràng trong đêmĐã buồn lại thấy buồn thêmKhát thèm cuộc sống ấm êm ngoài đời”Và cuộc đời của tên tướng cướp ấy rẽ sang một ngả khác khi mãn hạn tù, anh trở thành một nhà thơ, một thành viên của đội Công an xã. Khi được hỏi làm thế nào mà cá sự thay đổi lớn trong anh như vậy, tướng cướp, thi nhân ấy trả lời nhờ có sự bao dung, tình yêu của người vợ hiền và của tất cả mọi người. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết “Sống trên đời cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…”. Gió sẽ cuốn những tấm lòng thảo thơm gieo tình yêu khắp muôn nơi, mang lại ánh sáng cho miền đất tăm tối, mang lại hạnh phúc cho những người cùng khổ. Mỗi chúng ta, hãy gửi theo gió tấm lòng mình để cứu giúp bao người và để chính chứng ta là những con người có lối “sống đẹp”.

    “Cuộc sống không có con đường cùng chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải làm sao để vượt qua được những ranh giới ấy” (Nguyễn Khải). Cuộc sống luôn chứa đựng những thử thách, và không ai là không vấp ngã một lần. Vậy nhưng sau cú ngã đau đớn ấy, bạn làm gì mới là điều đáng nói. Trong đầu tôi cứ thể hiện lên hình ảnh con lật đật nhỏ bé miệng luân nở nụ cười và lần nào vấp ngã cũng bật dậy, trên môi vẫn là nụ cười lạc quan. Đã bao giờ bạn được như con búp bê ấy, kiên cường và nghị lực?…Đọc Đặng Thuỳ Trâm, những dòng tâm sự của chị, từng câu từng chữ bao giờ cũng tràn ngập một lòng ham sống phi thường. “Đời phải trải qua giông tố nhưng chớ cúi đầu trước giông tố “. Câu nói tâm đắc ấy của chị, giờ đây, mỗi chúng ta cũng phải lấy đó làm châm ngôn sống cho cuộc sống của mình.

    Tôi được nghe thầy dậy Hoá kể câu chuyện về người học trò cũ của thầy. Anh là một học sinh chăm ngoan, học giỏi, luôn nằm trong nhóm đầu. Vậy nhưng trong kỳ thi Đại học quan trọng anh lại trượt điều tưởng như không thể đã xảy ra. Đau buồn, thất vọng về chỉnh mình, cuộc sống của một thanh niên 18 tuổi lúc ấy chỉ toàn một màu đen khi bao hứa hẹn tương lai, kỳ vọng của gia đình, thầy cô đều sụp đổ. Không chịu giam mình trong màn đêm, anh tự mình thắp lên ngọn nến niềm tin và tiếp tục học tập hết mình. Anh đã đỗ vào năm sau với một số điểm cao. Dù so với bạn bè, anh là người đến sau nhưng anh lại là người đạt được chiến thắng lớn nhất: Chiến thắng chính mình, cuộc sống với những ranh giới của nó luôn bao quanh bạn. Nếu không có nghị lực làm sao bạn có thể đi hết được con đường của riêng mình ? Từ số 1 đến số 0 chỉ trong gang tấc nhưng khoảng cách từ số 0 đến số 1 trên trục đời là cả một quá trình mà nếu không có niềm tin, nghị lực, bạn sẽ mãi chỉ là con số 0 mà thôi. Hãy là một người bộ hành với đôi chân dẻo dai sẵn sàng đạp lèn mọi chông gai để bước đi: “Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng, bàn chân cũng thấm đau vô vàn những mũi gai” Lời bài hát của ban nhạc tôi yêu thích cứ văng vẳng bên tai. Bàn chân có thể sẽ chảy máu vì gai nhọn nhưng đừng ngồi xuống rên xiết, hãy để máu ấy thấm lên những cánh hồng đỏ thắm trên bước đường vinh quang của bạn! Làm được như vậy tức là bạn đang “sống đẹp”,sống và luôn giữ cho mình một niềm tin vào ngày mai, luôn có một nghị lực vươn lên hướng đến ánh mặt trời.Tôi từng đọc một bài thơ nghe qua tưởng chỉ là thơ vui nhưng lại mang một ý nghĩa sâu sắc: “Khi anh sinh raMọi người đều cườiRiêng anh thì khóc tu tuHãy sống sao để khi chết điMọi người đều khócCòn môi anh thì nở nụ cười”Bạn và tôi, hãy tự chiêm nghiệm cho mình lối sống đẹp để khi ở cuối con đường, chúng ta đều mỉm cười mãn nguyện!

     

    Bài 26: Nghị luận xã hội Giữ lấy truyền thống dân tộc

    Từ thời xa xưa, ông bà ta đã thường sử dụng những câu thành ngữ, tục ngữ để răng đe dạy và nhắc nhở con cháu của mình về những phẩm chất, đạo lí cần thiết mà mỗi người ai cũng phải có như là: “một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tùy rằng khác giống nhưng chung một giàn”…..các câu tục ngữ, thành ngữ ấy thể hiện lòng hiếu thảo, sự biết ơn và lòng thương người… Trong đó, có câu tục ngữ “uống nước nhớ nguồn” thể hiện phẩm chất đạo đức quan trọng của người Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đất nước mình đang ngày một phát triển để hội nhập với nước ngoài thì đạo lí này càng trở nên sâu sắc hơn. Sau đây, tôi và các bạn hãy cùng nhau làm rõ câu tục ngữ này để có thể hiểu tận tường những ý từ của ngươì xưa muốn răng dạy chúng ta thông qua câu tục ngữ này.

    Thoạt nghe qua thì chắc hẳn ai cũng có suy nghĩ này rất đơn giản, rất dễ hiểu. “Nước” là một thứ vô cùng quý giá, không có nước, con ngươì và cây cỏ sẽ bị hủy diệt, không có sự sống. “Nguồn” là nơi xuất phát của dòng nước, nhưng đó chỉ là nghĩa đen của câu tục ngữ. Bên cạnh đó vẫn còn hàm ý sâu xa trong câu tục ngữ đó chính là lòng biết ơn. “Nước” chính là những thành quả mà cha anh ta đã có công xây dựng nên. Vì vậy, khi thừa hưởng thành quả đó, chúng ta phải biết nhớ đến những người đã tạo ra nó, đồng thời phải biết giữ gìn quý trọng và không được lãng phí. Mặt khác, chúng ta phải có bổn phận phát huy phẩm chất đạo đức tốt đẹp này và truyền lại cho các lớp đàn em sau.

    Với những lời lí giải trên, chắc hẳn tôi và các bạn có thể hiểu được thế nào là “uống nước nhớ nguồn” và tại sao khi “uống nướ”c chúng ta phải “nhớ nguồn”. Trước tiên chúng ta phải thừa nhận một điều rằng đây là một đạo lí đúng và mỗi người cần phải thực hiện. Trong thiên nhiên và xã hội, không có sự vật nào là không có nguồn gốc. Trong cuộc sống, không có thành quả nào không do công sức lao động tạo nên. Trong lịch sử Việt Nam đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ vô cùng gian khổ, nhiều người hi sinh tuổi thanh xuân, hạnh phúc cá nhân và hơn thế nữa, có người đã phải hi sinh cả mạng sống của mình để chiến đấu giành lại độc lập cho đất nước. Họ đã chiến đấu với một ý chí kiên cường, anh dũng với mong muốn đất nước sớm được thống nhất và độc lập. Ngày nay, đất nước ta đã có được những điều đó và ngày một phát triển, hội nhập với thế giới. Đó chính là nhờ vào những công lao của cha anh ta, của những người đi trước. Chúng ta là những lớp đàn em, những thế hệ đi sau nên được thừa hưởng những thành tuự mà cha anh ta đã tạo ra. Vì vậy, chúng ta phải nhớ đến những người đã tạo ra những thành quả cho chúng ta. Ta phải biết đền đáp xứng đáng, đó chính là bổn phận tất yếu mà mỗi người chúng ta phải thực hiện. Ví dụ như: Hằng năm, nhà nước ta thương xây dựng nhà tình nghĩa tình thương cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng, cấp vốn cho những thương binh liệ sĩ và tạo điều kiện cho họ làm ăn để cải thiện cuộc sống. Đó chỉ là một phần nhỏ những gì chúng ta làm được so với những gì mà cha anh ta đã làm. Ngoài ra, lòng biết ơn giúp ta gắn bó với người đi trước, với tập thể…, từ đó hình thành một xã hội thân ái, đoàn kết.Ở nhà trường, các bạn học sinh cùng nhau quyên góp tiền để giúp đỡ xây dựng nhà tình thương hay tăng quà cho những gia đình thương binh, liệt sĩ và ở mỗi khu phố, phường xã thì mỗi gia đình nhỏ cũng làm giống như vậy…thể hiện tính đoàn kết của một xã hội thân ái. Nếu thiếu lòng biết ơn, con người sẽ trở nên ích kỉ, dễ thoái hóa và trở thành kẻ ăn bám gia đình và xã hội. Vì không có lòng biết ơn, ta sẽ không biết quý trọng những thành quả của người khác tạo ra và sẽ sử dụng một cách lãng phí.

    Để thực hiện tốt việc nhớ nguồn, trước hết chúng ta phải biết tự hào về truyền thống, văn hóa của dân tộc, phải có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa quê hương và sử dụng thành quả lao động một cách tiết kiệm.Ta phải biết tiếp thu một cách có chọn lọc những tinh hoa của nhân loại để làm cho truyền thống của nước nhà ngày một phong phú.Về phần mình, chúng ta phải học tập nghiêm túc để sau naỳ tạo ra được chính thành quả cho mình, cho xã hội, đó chính là biểu hiện cụ thể của lòng biết ơn.

    Qua câu tục ngữ này, chúng ta đã rút ra được bài học cụ thể cho bản thân: “uống nước nhớ nguồn” trước hết là nhớ công sinh thành, dưỡng dục của thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ của mọi người xung quanh, công lao của những thế hệ đã đi trước. Chúng ta phải sống sao cho trọn tình, trọn nghĩa, phải biết quý trọng và giữ gìn những thành quả mà mình đươc hưởng.Ta hãy học tập và làm việc sao cho xứng đáng với đạo lí làm người và truyền thống dân tộc.

     

    Bài 27: Nghị luận xã hội Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận

    Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, tuổi trẻ của thanh niên cũng như mùa xuân. Là lứa tuổi đẹp nhất trong mỗi cuộc đời. Thanh niên là lứa tuổi với nhiều ước mơ , dự định và hoài bảo lớn nhất .Để có thể làm tốt những hoài bảo đó thì những thanh niên đó cần phải có một mục đích sống một lí tưởng sống . Vậy lí tưởng sống của thanh niên ngày nay là gì?

    Bạn có biết tại sao chúng ta lại được sống trong một đất nước độc lập ngày nay không? Vì sao một đất nước nhỏ như chúng ta lại có thể đánh thắng được giặc ngoại xâm hùng mạnh không? Đó chính là nhờ lí tưởng của ông cha ta ngày xưa. Trong sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, đã có hàng triệu thanh niên lên đường ra trận, dũng cảm chiến đấu, hy sinh cuộc đời thanh xuân đẹp nhất của mình, góp sức quan trọng cùng toàn dân tộc đánh thắng hai kẻ thù hùng mạnh của thời đại là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.Họ đã có những lý tưởng sống đẹp họ chiến đấu hi sinh vì Đất nước thân yêu.Vậy sống trên 1 đất nước hòa bình độc lập này chúng ta cân phải làm gì để tiếp bước ông cha ta với sứ mệnh xây dựng Việt Nam thành một quốc gia hùng mạnh đang đặt lên vai thanh niên chính họ phải lĩnh sứ mệnh vô cùng cao cả và thiêng liêng này bởi họ là chủ nhân, là tương lai, là ‘’mùa xuân’’ của dân tộc . Thanh niên sống là phải có lý tưởng. Đễ thực hiện được lí tưởng đó mỗi thanh niên chúng cần phải trang bị một hành trang thật vững chắc đễ vào đời bằng việc học tập và phải sống có đạo đức. Nhưng nhìn thẳng vào thực tế hiện nay, khi đất nước ta đang có nguy cơ tụt hậu về kinh tế, tệ nạn xã hội ngày một gia tăng thì thanh niên chưa chứng tỏ đầy đủ được vai trò, trọng trách của mình trước sứ mệnh của đất nước. Mà lai có nhiều thanh niên ngày nay chỉ biết sống cho chính bản thân mình, những người có lối sống buông thả, sống cho qua ngày. Họ chùn bước trước khó khăn, lắc đầu trước thử thách và sống vô trách nhiệm với xã hội. Bởi lẽ một điều, họ vẫn còn mặc cảm với quê hương. Thái độ đáng trách này biểu hiện ở những người ta sống tha hương, chỉ biết sống vì đồng tiền, lúc nào cũng đem lợi ích của mình lên bàn cân để so đo, tính toán. Bảo vệ quyền lợi của mình, đó là đúng, nhưng dường như đừng quá vì bản thân mà xem nhẹ công đồng. Đó là lối sống ích kỷ. ‘Sống’ – Đó chỉ là một từ đơn giản thôi nhưng nó hàm chứa biết bao nhiêu điều. Sống vì điều gì và sống như thế nào. Điều đó tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người trong chúng ta. Để thanh niên ngày nay trở thành trụ cột của nước nhà không chỉ ở hiện tại mà ngay cả trong tương lai thì vấn đề sống còn là thanh niên phải xác định được cho mình một lý tưởng; sau khi đã xác định được phải phấn đấu để thực hiện lý tưởng đó. Chỉ có như thế thanh niên Việt Nam mới có thể hoàn thành được sứ mệnh mà đất nước giao phó và có thể ngẩng cao đầu với thanh niên thế giới. Mỗi thanh niên sẽ có quan niệm riêng của mình về lý tưởng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, trình độ, , lý tưởng đó phù hợp với xu thế chung của đại đa số thanh niên, và mang lại lợi ích cho dân tộc đó mới thật sự là lý tưởng. Con người ta luôn khát vọng hướng tới cái cao cả tức là hướng tới chân lý, những người sống phấn đấu hướng tới cái cao cả thường được gọi là người có lý tưởng. Như vậy chân lý không chỉ là ngọn đèn pha mà còn là cái đích của lý tưởng. Trong công cuộc đổi mới của đất nước, nhất là thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, thanh niên chính là nguồn nhân lực chất lượng cao nhanh chóng nắm bắt khoa học công nghệ hiện đại ở mọi lĩnh vực để phát triển đất nước. Thanh niên Việt Nam đã thể hiện rất nhiều ưu điểm như thông minh, cần cù, chịu khó, ham học hỏi, tiếp thụ cái mới nhanh… Nhiều bạn trẻ đã thể hiện lối sống cao đẹp, thổi bùng ngọn lửa vì cộng đồng và không cam chịu đói nghèo. Các mùa hè tình nguyện đã thu hút hàng nghìn trí thức trẻ tình nguyện lên đường về nông thôn, miền núi. Nhiều dự án lớn do thanh niên đảm nhiệm… Kế thừa lời dạy về lý tưởng cho thanh niên của Hồ Chí Minh, kết hợp với thực tiễn ngày hôm nay của đất nước, thanh niên có thể xây dựng cho mình một chân lý – một lý tưởng: Không ngừng phấn đấu xây dựng Việt Nam trở thành một nước ‘’Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’. Tất nhiên sự nghiệp to lớn này là của toàn dân tộc nhưng thanh niên giữ một vai trò quan trọng, bởi sự nghiệp này không phải một sớm một chiều mà đạt được; cần có thời gian, ngắn hay dài tuỳ thuộc vào sự phấn đấu của chúng ta. Thanh niên là lớp người trẻ tuổi sẽ kế tục và biến sự nghiệp này thành hiện thực.Giống như câu nói “Tinh thần của tuổi trẻ là đá quý kỳ lạ có thể nung sắt thành vàng”

    Là 1 thanh niên thế kỉ 20 với bước hội nhập hiện nay,với những lý tưởng và hoài bảo lớn,chúng ta hãy ra sức học tập và sống có đạo đức .Để thật sự là 1 người có ích trên xã hội này. Chúng ta ai cũng sống có khát vọng, hoài bão và hết mình vì nó. ‘Cái quý nhất của con người là cuộc sống, đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa, ân hận vì nhưng năm tháng sống phí, cho khỏi phải hổ thẹn vì những năm tháng sống hoài, sống phí… Sống có lý tưởng để đưa đất nước mình đi lên hội nhập với các cường quốc năm Châu.

     

    Bài 28: Nỗ lực học là trách nhiệm của thanh niên

    Lênin từng có câu: “Học, học nữa, học mãi”. Câu nói trên đã khẳng định tầm quan trọng thiết yếu của việc học. Và để việc học của chúng ta đạt được kết quả tốt đẹp thì mỗi cá nhân cần xác định rõ mục đích học tập cho bản thân. Vì lẽ đó mà UNESCO đã đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khằng định mình”. Vậy chúng ta hãy cùng làm rõ vấn đề trên.

    “Học” là sự tiếp thu kiến thức ở nhiều lĩnh vực không chỉ từ nhà trường mà còn từ cuộc sống. Ông bà ta khi xưa thường khuyên con cháu: “ Không biết thì hỏi, muốn giỏi phải học”. Thật vậy, để mở mang sự hiểu biết cũng như tích luỹ tri thức quý giá thì con người ta luôn phải trải qua quá trình học tập không ngừng nghỉ. Bạn có thể biết được những điều hay, mới lạ, bổ ích bằng cách tìm tòi học hỏi qua sách vở, qua thầy cô ,bạn bè cũng như từ thực tế cuộc sống. Chỉ cần luôn cố gắng và có tinh thần ham học hỏi, chắc chắn ta sẽ giải đáp được những điều ta muốn biết và hơn nữa là hiểu thêm về những điều ta chưa biết. Nhờ vậy mà bản thân luôn bắt kịp với thời đại, với sự phát triển vượt bậc của xã hội. Bên cạnh việc học để tiếp thu kiến thức, chúng ta còn cần xác định cho mình một mục đích học tập quan trọng khác nữa , đó là “học để làm”.Ta có thể hiểu “học để làm” ở đây là vận dụng những kiến thức mình đã học vào cuộc sống. Hay nói rõ hơn là học cho tương lai, học để mai sau có thể kiếm được công việc , nghề nghiệp ổn định nhờ đó nuôi sống bản thân và cống hiến sức lực , trí tuệ cho đất nước… Vậy còn “học để chung sống” là như thế nào? Hẳn ai cũng biết,cuộc sống quanh ta vốn muôn màu muôn vẻ, đa dạng và vô cùng phức tạp với nhiều mối quan hệ. Việc “học” trong trường hợp này được hiểu là học cách đối nhân xử thế, học những điều hay lẽ phải cũng như cách sống đẹp. Quan hệ giữa người với người đi đến tốt đẹp, hoà hảo hay mâu thuẫn, xung đột đều là do chúng ta quyết định. Nếu biết cư xử phải lẽ với nhau, biết nghĩ cho nhau, cho tập thể thì hẳn mỗi người đểu cảm nhận được niềm hạnh phúc khi cho đi và nhận lại. Mặt khác, “học để chung sống” còn là học tập và tuân theo những chuẩn mực về đạo đức, pháp luật để trở thành một cong dân gương mẫu , góp phần xây dựng bộ mặt văn minh, tích cực cho đất nước.  Cuối cùng là “học để tự khẳng định mình”. Ai mà không muốn được mọi người kính nể, ai mà không muốn đạt được địa vị cao cũng như gặt hái được thành công trong cuộc sống. Thế nhưng không phải muốn là có thể có được mà ta phải trải qua sự rèn luyện, học tập chăm chỉ. Vì lẽ đó mà mỗi chúng ta phải luôn nổ lực tìm tòi kiến thức, cố gắng học thật giỏi để chứng minh được mình là người hữu ích và khẳng định tài băng của chính bản thân.  Có thể nói, bốn yếu tố trênđóng vai trò hết sực quan trọng cho sự học. “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình” là yêu cầu tiếp thu kiến thức rồi vận dụng nó vào thực hành, vào hành động trong cuộc sống từ đó hoàn thiện nhân cách và khẳng định chính bản thân. Là học sinh, việc đầu tiên chúng ta cần làm là phải ra sức học tập văn hoá để ứng dụng kiến thức đã học vào thức tế. Nhưng học giỏi vẫn chưa đủ mà ta còn phải rèn luyện nhân cách , đạo đức. Có những người rất giỏi giang, thành đạt nhưng chỉ biết có bản thân mình mà không nghĩ đến tập thể, không bao giờ biết giúp đỡ cộng đồng, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình. Như vậy là họ đã bỏ qua việc học để chung sống với xã hội. Cũng có những bạn chẳng xác định được mình học để làm gì. Các bạn ấy chỉ học qua loa, đối phó sao cho đủ điểm, học chỉ vì nghĩ ba mẹ ép buộc mà không hiểu rằng việc học có ý nghĩa rất quan trọng cho tương lai của mình. Bởi lẽ đó, mỗi học sinh hãy luôn có ý thức học tập và có trách nhiệm với chính bản thân cũng như gia đình và xã hội.  Tóm lại, việc học là rất quan trọng không chỉ với mỗi cá nhân mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội. Do đó, mỗi chúng ta, nhất là thế hệ thanh niên thế kỉ XXI hãy xác định cho mình mục đích học tập và phấn đấu nổ lực hết mình để mai này trở thành công dân có ích, góp phần xây dựng đất nước thêm giàu mạnh.

     

    Bài 29: Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động

    Khi mỗi người trong chúng ta làm một việc tốt, bất kể là việc gì, có ai biết rằng chúng ta đang thể hiện đức hạnh của chính mình. Hay nói cách khác như lời của nhà văn Pháp M. Xi-xê-rông: “ Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”.

    Mỗi con người khi sinh ra đều có mặt tốt và mặt xấu. Trong mặt tốt, một phần chính là đức hạnh của mỗi người. Đức hạnh là đạo đức, là phẩm chất, là những đức tính tốt đẹp của con người, có sẵn hay phải trải qua quá trình rèn luyện mới có được. Hành động có thể được định nghĩa là những việc làm cụ thể, được bộc lộ hằng ngày, và quan trọng hơn đó là sự thể hiện của đức hạnh. Đó cũng chính là phần còn lại của mặt tốt trong mỗi người. Cả câu nói của nhà văn M. Xi-xê-rông mang ý nghĩa như chính nghĩa gốc của nó. Mọi phẩm chất tốt đẹp cần được thể hiện ở trong những hành động cụ thể.

    Một người không phải tự nhiên được biết đến là có đức hạnh, mà điều đó còn phụ thuộc vào những việc làm ý nghĩa mà người ấy đã làm. Đơn giản hơn, đó chỉ là những công việc bình thường, như giúp đỡ người già qua đường, nhường chỗ cho phụ nữ và trẻ em trên xe buýt hay biết quan tâm dến người khác và đối xử tốt với mọi người xung quanh. Đó chỉ là những công việc nhỏ hằng ngày được xuất phát từ một tâm hồn trong sáng, luôn hướng về cái đẹp, cái thiện, điều đó sẽ chính là sự thể hiện của đức hạnh.

    Người ta thường nói rằng:

    “ Ý nghĩa là nụ

    Lời nói là bông hoa

    Việc làm mới là quả ngọt.”

    Khi ta có ý nghĩa về một việc làm tốt, ta cần nói ra để xem xét. Nhưng không phải là nói suông, ta cần phải thực hiện điều đó. Chúng ta làm điều đó bằng tất cả tấm lòng, biến những điều ấy từ suy nghỉ, lời nói thành vệc làm cụ thể, như vậy mới tạo thành “quả ngọt”.

    Tuy vậy, vẫn có một số trường hợp cần được xem xét trong từng hoàn cảnh. Nói dối được xem là một hành động xấu và sai. Nhưng trong trường hợp một bác sĩ phải nói dối về bệnh tình của bệnh nhân để người ấy yên tâm tiếp tục điều trị, đó lại là một hành động cao cả. Thế nhưng vẫn còn tồn tại rất nhiều những kẻ thiếu đức hạnh. Họ nói ra những điều lớn lao, cao cả nhưng hành động thì ngược lại, vì thực chất, họ làm vậy vì những mục đích ích kỉ riêng của chính họ. Chúnh ta không loại bỏ họ mà phải làm thay đổi được những con người ấy.

    Một xã hội tốt đẹp là một xã hội có những con người làm nhiều việc tốt, biết tu dưỡng bản thân, hoàn thiện tâm hồn. Điều đó được xuất phát từ đức hạnh hay cũng chính là sự thể hiện của một con người có mọi phẩm chất tốt đẹp từ đức hạnh.

    Nhạc sỹ thiên tài người Đức Beettoven có nói “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem hạnh phúc cho người khác”. Ý kiến đó có còn nguyên giá trị trong cuộc sống của ngày hôm nay?. “Hạnh phúc” chính là cuộc sống tốt đẹp; niềm vui, sự thỏa mãn về mặt tinh thần, tình cảm của con người …. Còn “cao quý” và “tốt đẹp” là những cụm từ có ý tôn vinh ca ngợi. Câu nói “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem hạnh phúc cho người khác” của Beettoven thể hiện quan niệm sống đẹp ,khẳng định ca ngợi quan niệm sống hướng về cống hiến,vị tha…Trong cuộc sống, ai cũng tìm kiếm hạnh phúc nhưng quan niệm về hạnh phúc của mỗi người khác nhau. Có người coi sự thỏa mãn vật chất, tình cảm của riêng mình là hạnh phúc. Nhưng cũng có không ít người quan niệm hạnh phúc là cống hiến, là trao tặng. Đối với họ, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết hi sinh cho hạnh phúc nhân loại. Beethoven quan niệm như thế. Những người biết sống vì người khác , đem lại hạnh phúc cho người khác , là những người có tấm lòng nhân hậu; có cuộc sống đầy ý nghĩa cao cả , đáng trân trọng…Thật vậy, trong cuộc sống nếu chúng ta đem lại được hạnh phúc cho người khác thì quả là tuyệt vời. Hạnh phúc đó có thể dễ dàng có được khi ta giúp đỡ một cụ giá qua đường, hay nhường chỗ cho một phụ nữ có thai trên xe buýt… Tất cả những điều đó thật đơn giản nhưng đã mang lại hạnh phúc cho người khác, làm mọi người vui vẻ. Và không dừng ở đó hạnh phúc cũng ở lại với chúng ta khi ta làm được một điều tốt đẹp, có ích cho người khác, cho xã hội. Hành động cao quý và tốt đẹp hơn, to lớn hơn chính là hạnh phúc của sự bình yên mà các anh bộ đội, các chiến sỹ Cách mạng đã đem lại cho chúng ta. Tất cả những hy sinh của các anh chỉ để đem lại hạnh phúc cho chúng ta, cho dân tộc. Hạnh phúc ở đây là sự độc lập tự do cho cả dân tộc. Thậ cao quý và tốt đẹp dáng tôn vinh biết nhướng nào!

    Việc đem hạnh phúc cho người khác thật đơn giản nhưng cũng rất cao quý. Tuy nhiên trong xã hội vẫn còn nhiều người ngay cả việc nhỏ nhất họ cũng không làm. Một số họ chỉ biết có bản thân, toàn đem lại bất hạnh cho người khác. Trong gia đình, chúng ta cần lên án những người chồng vũ phu, đánh đập vợ con hoặc những đứa com bất hiếu chỉ ăn chơi, thoả mãn nhu cầu cá nhân, làm cha mẹ đau lòng. Tại sao những con người ấy lại nhẫn tâm đem lại sự bất hạnh cho chính những người thân yêu nhất của mình?… Ngoài xã hội, hiên có một lớp thanh niên, thay vì giúp đỡ người giá yếu , họ lại lợi dụng để cướp giất, móc túi… Những kẻ lấy sự bất hạnh của người khác làm hạnh phúc của mình cần đáng bị trừng trị!. “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem hạnh phúc cho người khác”. Đó là một quan điểm sống mang tính nhân văn. Nếu có một điều ước thì tôi sẽ ước cho tất cả mọi người trên thế giới này đều dược hạnh phúc. Muốn vậy, ngay từ bây giờ mỗi người chúng ta hãy cố gắng làm thật nhiều điều , dù lớn, dù nhỏ, để đem lại hạnh phúc cho cho mọi người, cho gia đình và cũng là cho bản thân chúng ta…

     

    Bài 30: Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy…

    Triết lý nhà phật có nhắc đến cái gọi là thuyết luân hồi: Một con người, sự vật chết đi sẽ hoá thân, chuyển kiếp sang một kiếp sống mới, dưới một hình hài mới. Bản thân tôi không hoàn toàn tin vào nó, tôi cảm nhận được nó dưới một khía cạnh khác. Đọc “Mùa lạc” của Nguyễn Khải tôi nhận ra được một điều đó: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”

    Sự sống ở đây, theo tôi là những giá trị hiện sinh, đó là sự sống của con người, cỏ cây, chim muông. Đó cũng có thể hiểu là sự sống trong tâm hồn, trong nhận thức. Sự sống và cái chết; hạnh phúc và hy sinh gian khổ là những khái niệm trái ngược nhau, thế nhưng “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ”.

    Tại sao lại như thế? Theo tôi, trước hết là bởi không có gì trường tồn mãi với thời gian, không có cuộc sống, số phận nào là luôn luôn hạnh phúc. Cái chết phải luôn song hành cùng sự sống, có hy sinh gian khổ mới có hạnh phúc. Cuộc sống vốn rất phức điệu và đa chiều. Nó có muôn màu, muôn vẻ thiên hình và vạn trạng.Ông cha ta đã từng khẳng định: “Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai”. Đó chính là một dẫn chứng cho ý kiến trên.Không ai cấm, trên xác cây khô kia nảy sinh những mầm xanh, qua mùa đông tàn tạ úa vàng mới đến ngày xuân trăm hoa đua nở. Đó chính là vì “sự sống nảy sinh từ trong cái chết”.

    Ở đây là một câu nói có tính chất khẳng định. Từ trong cái chết – cái tàn tạ, úa vàng sẽ nảy sinh ra sự sống – giá trị hiện sinh. Sự sống ấy dĩ nhiên không thể chung sống, phát triển trong môi trường ấy nhưng đó là nơi nó “nảy sinh”. Bản thân sự vật luôn biến đổi không ngừng nghỉ, ẩn đằng sau – tận bên trong cái khô héo không ai ngăn trở được những biến đổi vận động không ngừng để nảy sinh ra sự sống. Ai biết được, những hạt lúa đã được phơi khô kia cấy xuống nước lại có thể mọc ra cây lúa xanh tươi. Tôi lại chợt nhớ đến bài kệ của một bậc thiền sư thời Lý căn dặn học trò trước lúc ra đi.

    Xuân khứ bách hoa lạc

    Xuân đáo bách hoa khai

    Sự trục nhãn tiền quá

    Lão tòng đầu thượng lai

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

    Dịch thơ

    Xuân đi trăm hoa rụng

    Xuân đến trăm hoa cười

    Trước mắt việc đi mãi

    Sau lưng già đến rồi

    Ai bảo xuân tàn hoa rụng hết

    Đêm qua sân trước một cành mai

    (Mãn giác thiền sư)

    Vâng, xuân đến và đi là quy luật của tạo hoá. Đó là vòng quay của thời gian. Thế nhưng, trong cái giá rét của đêm đông ấy, trên cái cành khô mà tưởng như hoa đã “lạc tận” – rụng hết ấy vẫn bừng lên vẻ đẹp của “nhất chi mai”. Cái hình ảnh cành mai dẫu đơn độc nhưng thật cứng cỏi ấy như tạc vào đêm tối chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự sống ở giữa cái nơi mà vạn vật tưởng đã úa tàn. Sự sống và cái chết, đau khổ và hạnh phúc, đó chính là một vòng tròn của số phận, của tạo hoá; đó chính là nguyên cớ cho sự nảy sinh – hiện hình.

    Với “Mùa lạc”, Nguyễn Khải cũng đã chứng minh được điều đó. Có ai ngờ đâu trên mảnh đất đầy bom đạn của Điện Biên, nơi từng bị bom thù giày xéo từng tấc đất, tưởng như không một sư sống lại mọc lên một nông trường Điện Biên cây cối tốt tươi, có cả cuộc sống con người với đủ mọi cung bậc cảm xúc.Đối với con người cũng vậy, hạnh phúc hiện hình từ trong hy sinh, gian khổ. Bác Hồ cũng đã từng nói:“Nếu không có cảnh đông tànThì sao có cảnh huy hoàng ngày xuân”Con người từ khi sinh ra, không ai có được quyền hưởng hạnh phúc suốt đời mà không phải chịu sự khổ đau, hi sinh nào. Cũng như, không có ai là suốt đời đau khổ mà không tìm được hạnh phúc. Trong vất vả, đớn đau, hạnh phúc vẫn có thể hiện hình. Một người đã “quá lứa lỡ thì” như Đào, đã từng mất chồng mất con, từng lang bạt tứ xứ tối đến đặt lưng ở đâu là nhà – một con người từng chịu bao nhiêu đau khổ, mặc cảm – cuối cùng cũng tìm được một bến đỗ bình yên nơi nông trường, tìm được một hạnh phúc dẫu muộn màng bên người đội trưởng.

    Vâng, phải chăng đó chính là sự hiện hình của hạnh phúc. Hay với “Vợ nhặt” của Kim Lân chẳng hạn. Trong cái nạn đói khủng khiếp từng giết chết hai triệu đồng bào ta, giữa cái không khí dày đặc nỗi ám ảnh về cái chết mà Kim Lân đã dựng rất thành công, người đọc vẫn cảm động biết bao khi bắt gặp hạnh phúc – dẫu mới chớm nở và đang ngập chìm trong nỗi lo toan của Tràng của “Thị” và của bà cụ Tứ. Vâng, trong đau khổ, đói nghèo, kề cận với cái chết hạnh phúc vẫn hiện hình và trở thành nguồn động viên với họ. Không trải qua hy sinh, gian khổ làm sao đòi hỏi được có hạnh phúc. Hạnh phúc – sự sống cứ như được gieo mầm từ trong cái chết – trong gian khổ hy sinh. Đó chính là lí do để thôi thúc tôi không nguôi hy vọng, không thôi chiến đấu vì niềm tin đó.Đó là bởi “ở đời này không có con đường cùng chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”…

    Vai trò của con người đã được khẳng định: con người phải chiến đấu, luôn luôn chiến đấu để vượt qua ranh giới – ranh giới của sự sống và cái chết, giữa hạnh phúc và hy sinh, đau khổ. Vâng, ở đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Sự sống, hạnh phúc chưa và sẽ không bao giờ đi đến chỗ tận diệt cả, có chăng đó chỉ là những thử thách, ranh giới đòi hỏi con người phải vượt qua, phải chiến thắng nó. Đó mới là vai trò, sứ mệnh của con người.Vậy, “điều cốt yếu” là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy.

    Giữa sự sống – cái chết, hạnh phúc – khổ đau luôn có những ranh giới. Và chỉ có chúng ta, những con người mới có đủ khả năng vượt qua nó. Mị trong “vợ chồng A Phủ” là một minh chứng về sức mạnh vượt qua những ranh giới của con người.Từ một cô gái xinh đẹp, thổi sáo hay nức tiếng khắp nơi, bị bắt về “cúng trình ma” nhà A Sử, sau khi muốn tự tử mà không được vì thương bố, Mị phải chấp nhận làm dâu – làm con trâu, con ngựa cho nhà thống lý Pá Tra. Bị hành hạ, đối xử tàn tệ, tưởng như Mị đã mất hết sức sống, mất hết ý chí mà trở thành cái xác vô hồn. Nhưng không, trong con người Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt không gì dập tắt nổi. Đó là ngày xuân muộn ở Hồng Ngài, Mị đòi đi chơi xuân (dù sau đó bị A Sử bắt trói vào cột nhà) Đó là ngày tết Mị lén lấy rượu uống từng ngụm lớn. Và tiêu biểu nhất, đỉnh cao của tác phẩm là khi cô cắt dây trói cho A Phủ và xin đi theo. Đó chính là hành động giải thoát cho người khác và cho chính bản thân mình. Tưởng chừng như, sau biết bao hy sinh đau khổ, sư sống, khát khao hạnh phúc trong cô đã bị dập tắt. Nhưng không, nó vẫn cháy âm ỉ thành một sức mạnh giúp cô vượt qua cái ranh giới ấy mà tìm tới hạnh phúc, tìm lại sự sống (và quả thật, tới Phiềng Sa, tìm được ánh sáng của cách mạng Mị và A Phủ đã có cuộc sống đúng nghĩa). Một con người như Mị, tưởng như bị đẩy tới “bước đường cùng” nhưng vẫn đủ sức mạnh để vượt qua. Đó chính là minh chứng: trên đời này không có bước đường cùng mà đó chỉ là ranh giới mà chúng ta phải vượt qua mà thôi. Vậy tại sao, con người lại không đủ dũng khí để tiến bước !Hay như nhân vật Đào của “Mùa lạc”, cảnh ngộ ấy, cuộc đời ấy như bị đẩy tới tột cùng của đau khổ. Có lúc, Đào mặc cảm không dám đón nhận và chiến đấu vì hạnh phúc. Vậy mà sau đó cô cũng nhận thức được, cũng khao khát được hạnh phúc, đón nhận nó. Và cuối cùng, hạnh phúc đã đến với cô, một gia đình hạnh phúc với người yêu cô trên cái nông trường Điện Biên thân yêu. Đó chính là ranh giới và sự vượt qua ranh giới.Trên đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Vâng, và vì thế, đứng trước những ranh giới đó con người phải biết chiến đấu, phải có sức mạnh để vượt qua. Đó chính là điều cốt yếu ! Là con người, hạnh phúc và sự sống không thể chờ đợi ai mang đến cho mình mà phải chiến đấu mà giành lấy và gìn giữ nó. Đứng trước những ranh giới ấy, bản lĩnh con người mới được bộc lộ và phát huy. Không bao giờ được nguôi tắt hi vọng – phải chăng phần nào Nguyễn Khải muốn nhắn gửi với chúng ta điều đó.

    Trong cái chết, trong gian khổ hy sinh vẫn có thể nảy sinh, hiện hình hạnh phúc và sự sống. Xung quanh chúng ta cũng có biết bao tấm gương như vậy. Những học sinh hoàn cảnh khó khăn, mất bố mẹ, gia đình nghèo khó mà vẫn vươn lên học tốt không phải là những tấm gương cho ta học tập sao? Những người thương binh, hy sinh một phần máu thịt cho Tổ quốc, những người không còn sức khoẻ mà vẫn vươn lên làm kinh tế giỏi, những người đó có làm ta khơi lại suy nghĩ? Cuộc sống dường như đã đẩy họ đến bước đường cùng, nhưng họ đã chứng minh cho ta thấy, đó chỉ là những ranh giới và thực tế bằng ý chí, quyết tâm, sức mạnh họ đã vượt qua cái ranh giới khó khăn ấy!.

    Vâng, từ trong cái chết sự sống vẫn hiện hình. Nó thôi thúc ta hy vọng, chiến đấu để vượt qua tất cả. Hạnh phúc, sự sống nảy sinh hiện hình từ trong gian khổ và cái chết mới khiến ta trân trọng biết bao!Vấn đề nhân sinh mà Nguyễn Khải đặt ra trong “Mùa lạc” là rất đáng để suy ngẫm chiêm nghiệm. Kết thúc bài viết, tôi lại nhớ đến một bài thơ (cũng của một nhà sư) mà tất cả mọi người trong lớp tôi đều yêu mến. Dường như giữa Nguyễn Khải và Khuông Việt có gì gặp nhau chăng ?

    Mộc trung nguyên hữu hoả

    Nguyên hoả phục hoàn sinh

    Nhược vị mộc vô hoả

    Toàn toại hà do minh

    Tạm dịch:

    Lửa sẵn có trong cây

    Vơi đi chốc lại đầy

    Ví cây không có lửa

    Xát lửa sao bùng ngay

    .           Cái “ngọn lửa đầu tiên” thắp sáng nên hi vọng ấy phải chăng đã được Nguyễn Khải đưa vào “Mùa lạc” mà phát triển, bổ sung thành một triết lý mới.

     

     

    Bài 31: Nghị luận xã hội về nghị lực sống của con người

    Trong cuộc sống của chúng ta, có biết bao khó khăn mà ta cần phải vượt qua. Những khó khăn đó như một định luật tự nhiên để ta có thể phát triển và thăng tiến.
    Trong cuộc sống của chúng ta, có biết bao khó khăn mà ta cần phải vượt qua. Những khó khăn đó như một định luật tự nhiên để ta có thể phát triển và thăng tiến. Nhưng để có thể vượt qua được những khó khăn đó đòi hỏi chúng ta phải có sự kiên trì, bền bỉ. Và Nguyễn Bá Học đã có câu châm ngôn: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” Vậy bây giờ chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu câu nói này của ông!

    Đường đi ở đây có nghĩa là con đường mà chúng ta phải đi, phải vượt qua để tiến về phía trước. Trên đường đi của chúng ta chắc chắn sẽ phải có nhiều những con sông, những ngọn núi làm cho chúng ta khó có thể vượt qua. Nhưng con đường đó dù có bao nhiêu sông, bao nhiêu núi, nếu chúng ta không; ngại ngùng, lo âu, sợ hãi hay chán nản, chùn bước, buông xuôi thì ta vẫn có thể vượt qua được nó một cách dễ dàng. Nhìn chung, qua câu nói này, Nguyễn Bá Học muốn ngụ ý cho chúng ta rằng con đường đi cho dù khó mấy thì ta cũng vẫn có thể vượt qua, điều quan trọng là tâm ý của ta có kiên định để vượt qua những khó khăn mà con đường đó mang tới cho ta hay không? Nói sâu hơn thì con đường mà Nguyễn Bá Học muốn nói tới đó là đường đời, chúng ta phải dùng chính sức của mình để vượt qua nó, nếu chỉ biết dựa dẫm, nhờ vả mà không nỗ lực thì sẽ không tài nào vượt qua được.

    Khó khăn như là một câu thách đố đòi hỏi chúng ta phải biết vượt qua chính mình bằng cách chỉnh đốn lại nội tâm và làm chủ bản thân. Chỉ có lòng kiên định và ý chí kiên trì bền bỉ mới có thể giúp ta vượt qua được những trở ngại của cuộc sống. Đó là một nền tảng mà bất cứ người nào cũng cần nên có. Chẳng hạn như chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, suốt một đời lo cho nước, cho dân, đi nhiều noi và làm đủ mọi việc. Con đường Người phải đi thật gian lao, vất vả nhưng với ý chí, quyết tâm, nghị lực phi thường. Người đã mang đến cho dân tộc ta ánh sáng của độc lập tự do, một cuộc đời ấm no, hạnh phúc.

    Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều người không biết dùng sức mình để vượt qua khó khăn, họ chỉ biết dựa dẫm vào người khác. Những người đó là những người không biết vượt qua nhiệm vụ mà cuộc sống đã thử thách chúng ta, thật đáng bị xã hội phê phán. Không nói đâu xa, chỉ cần nói trong học sinh chúng ta. Khi làm bài kiểm tra, những bạn biết tự dùng sức mình để làm bài vẫn hơn những bạn không học mà quay cóp hay mở tập. Dù có thể điểm số khi phát ra của những bạn đó không cao bằng những bạn quay cóp nhưng những bạn đó có thể tự hào vì mình đã không làm những chuyện làm cho lương tâm mình ray rứt. Vì vậy, cho dù khó khăn có thế nào đi nữa thi chúng ta đừng nên nản lòng, hãy vững tâm bước tiếp, có như vậy ta mới có được những bài học sáng suốt để có thể vượt qua những khó khăn của cuộc sống.

    Chúng ta không thể biết con đường này, hay nói cách khác là đường đời sẽ dẫn ta đến đâu nếu ta chưa thực sự đi qua nó. Có rất nhiều khả năng mà ta Không thể kiểm soát được. Điều duy nhất có thể làm là ta phải biết làm chủ mình, đưa ra quyết định thật đúng đắn và quyết tâm kiên trì theo đuổi đến cùng. Như vậy không sớm thì muộn ta cũng có thể vượt qua được nó. Cũng như chủ tịch Hổ Chí Minh đã dạy: ” Không có việc gì khó – Chi sợ lòng không bền – Đào núi và lấp biển – Quyết chí ắt làm nên.” Chỉ cần có ý chí là chúng ta có thể vượt qua được mọi trở ngại cho dù trở ngại đó có lớn đến mức nào. Khó khăn càng lớn khi ước vọng càng cao, khó khăn càng không thể vượt qua khi khả năng làm chủ bản thân càng thiếu. Vậy tại sao chúng ta không thử quyết tâm, kiên trì theo đuổi một điều gì đó đến cùng để rồi ta có thể nhận được một thành quả lớn như ta đã mơ ước ?

    Cuộc sống luôn là một bức tranh muôn màu muôn vẻ, còn biết bao nhiêu điều đang chờ đợi ta phía trước. Vì thế hãy dám nghĩ, dám quyết định và lựa chọn con đường đi cho chính bản thân mình, đừng nên chần chừ và do dự. Kiến thức, niềm tin, lòng nhiệt huyết và sự quyết tâm kiên trì vượt khó sẽ là những người bạn đồng hành không thể thiếu của mỗi người chúng ta trên con đường đời ấy.


    Bài 32: Nghị luận xã hội về tính tự tin và tự phụ

    Trong cuộc sống của chúng ta, có biết bao khó khăn mà ta cần phải vượt qua. Những khó khăn đó như một định luật tự nhiên để ta có thể phát triển và thăng tiến. Nhưng để có thể vượt qua được những khó khăn đó đòi hỏi chúng ta phải có sự kiên trì, bền bỉ. Và Nguyễn Bá Học đã có câu châm ngôn: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” Vậy bây giờ chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu câu nói này của ông!

    Đường đi ở đây có nghĩa là con đường mà chúng ta phải đi, phải vượt qua để tiến về phía trước. Trên đường đi của chúng ta chắc chắn sẽ phải có nhiều những con sông, những ngọn núi làm cho chúng ta khó có thể vượt qua. Nhưng con đường đó dù có bao nhiêu sông, bao nhiêu núi, nếu chúng ta không; ngại ngùng, lo âu, sợ hãi hay chán nản, chùn bước, buông xuôi thì ta vẫn có thể vượt qua được nó một cách dễ dàng. Nhìn chung, qua câu nói này, Nguyễn Bá Học muốn ngụ ý cho chúng ta rằng con đường đi cho dù khó mấy thì ta cũng vẫn có thể vượt qua, điều quan trọng là tâm ý của ta có kiên định để vượt qua những khó khăn mà con đường đó mang tới cho ta hay không? Nói sâu hơn thì con đường mà Nguyễn Bá Học muốn nói tới đó là đường đời, chúng ta phải dùng chính sức của mình để vượt qua nó, nếu chỉ biết dựa dẫm, nhờ vả mà không nỗ lực thì sẽ không tài nào vượt qua được.

    Khó khăn như là một câu thách đố đòi hỏi chúng ta phải biết vượt qua chính mình bằng cách chỉnh đốn lại nội tâm và làm chủ bản thân. Chỉ có lòng kiên định và ý chí kiên trì bền bỉ mới có thể giúp ta vượt qua được những trở ngại của cuộc sống. Đó là một nền tảng mà bất cứ người nào cũng cần nên có. Chẳng hạn như chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, suốt một đời lo cho nước, cho dân, đi nhiều noi và làm đủ mọi việc. Con đường Người phải đi thật gian lao, vất vả nhưng với ý chí, quyết tâm, nghị lực phi thường. Người đã mang đến cho dân tộc ta ánh sáng của độc lập tự do, một cuộc đời ấm no, hạnh phúc.

    Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều người không biết dùng sức mình để vượt qua khó khăn, họ chỉ biết dựa dẫm vào người khác. Những người đó là những người không biết vượt qua nhiệm vụ mà cuộc sống đã thử thách chúng ta, thật đáng bị xã hội phê phán. Không nói đâu xa, chỉ cần nói trong học sinh chúng ta. Khi làm bài kiểm tra, những bạn biết tự dùng sức mình để làm bài vẫn hơn những bạn không học mà quay cóp hay mở tập. Dù có thể điểm số khi phát ra của những bạn đó không cao bằng những bạn quay cóp nhưng những bạn đó có thể tự hào vì mình đã không làm những chuyện làm cho lương tâm mình ray rứt. Vì vậy, cho dù khó khăn có thế nào đi nữa thi chúng ta đừng nên nản lòng, hãy vững tâm bước tiếp, có như vậy ta mới có được những bài học sáng suốt để có thể vượt qua những khó khăn của cuộc sống.

    Chúng ta không thể biết con đường này, hay nói cách khác là đường đời sẽ dẫn ta đến đâu nếu ta chưa thực sự đi qua nó. Có rất nhiều khả năng mà ta Không thể kiểm soát được. Điều duy nhất có thể làm là ta phải biết làm chủ mình, đưa ra quyết định thật đúng đắn và quyết tâm kiên trì theo đuổi đến cùng. Như vậy không sớm thì muộn ta cũng có thể vượt qua được nó. Cũng như chủ tịch Hổ Chí Minh đã dạy: ” Không có việc gì khó – Chi sợ lòng không bền – Đào núi và lấp biển – Quyết chí ắt làm nên.” Chỉ cần có ý chí là chúng ta có thể vượt qua được mọi trở ngại cho dù trở ngại đó có lớn đến mức nào. Khó khăn càng lớn khi ước vọng càng cao, khó khăn càng không thể vượt qua khi khả năng làm chủ bản thân càng thiếu. Vậy tại sao chúng ta không thử quyết tâm, kiên trì theo đuổi một điều gì đó đến cùng để rồi ta có thể nhận được một thành quả lớn như ta đã mơ ước ?

    Cuộc sống luôn là một bức tranh muôn màu muôn vẻ, còn biết bao nhiêu điều đang chờ đợi ta phía trước. Vì thế hãy dám nghĩ, dám quyết định và lựa chọn con đường đi cho chính bản thân mình, đừng nên chần chừ và do dự. Kiến thức, niềm tin, lòng nhiệt huyết và sự quyết tâm kiên trì vượt khó sẽ là những người bạn đồng hành không thể thiếu của mỗi người chúng ta trên con đường đời ấy.


    Bài 33: Nghị luận xã hội về thần tượng

    Hiện nay, xuất hiện nhiều nghệ sĩ ca sĩ trẻ tuổi đang nổi tiêng trong giới trẻ. Họ trở thành thần tượng trong mắt của những thanh thiếu niên và tạo ra những xu hướng mới lạ. Nhưng làm sao để thanh thiếu niên biết được cách hâm mộ thần tượng của mình một cách không thái quá hay làm những hành động không đúng đối với thần tuợng của mình. Đó là những nghi vấn của người ngoài cuộc khi thấy những hành vi không đúng đắn của thanh thiếu niên gây ra.

    Thần tượng là hình mẫu lí tưởng, mô thức hoàn hảo trong lĩnh vực nghệ thuật mà người hâm mộ muốn, học hỏi, noi theo và tiếp nối. Họ tạo nên những xu hướng mới lạ và khi đó người hâm mộ sẽ noi theo, bắt chước giống như thần tượng của mình. Những nghệ sĩ ca sĩ đánh bóng tên tuổi của mình bằng hình thức như luôn sáng tác các ca khúc, gây ra những tai tiếng xấu,… Nhưng giới trẻ lại xem đó là những điều hay mà học hỏi.

    Một số thanh thiếu niên bắt chước thái quá hoặc giống hoàn toàn với thần tượng của mình. Đó cũng là vấn đề mà các bậc phụ huynh đang lo lắng cho con em của họ. Nhưng họ lại không có thời gian chăm sóc cho con của mình nên ít quan tâm đến. Vì vậy, ngày càng nhiều những hành động hâm mộ thái quá của thanh thiếu niên.

    Qua các sự việc được nêu ở trên cho ta thấy được hai mặt về việc hâm mộ thần tượng ở thanh thiếu niên: sống có thần tượng cũng là một nét văn hóa. Nhưng vấn đề là nét văn hóa ấy cần được người hâm mộ thể hiện, kiểm soát và điều chỉnh một cách phù hợp để giúp bản thân vươn lên, tiến bộ không ngừng. Và thần tượng phải góp phần làm cho người hâm mộ ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, sống tốt đẹp và sống có ý nghĩa hơn. Vì vậy, người hâm mộ nên học hỏi điều tốt đẹp từ thần tượng chứ không phải sùng bái một cách điên cuồng rồi đua đòi, bắt chước theo những thói hư tật xấu mà bỏ bê học hành có khi dẫn đến bệnh hoang tưởng.

    Từ những hành động của thanh thiếu niên dành cho thần tượng của mình một cách thái quá cho ta rút được kinh nghiệm: chọn cho mình một thần tượng phù hợp để học ở đó thái độ cầu tiến, để ra cho mình hướng đi, lối sống đúng đắn… Chứ không phải bắt chước thái quá gây phản cảm cho người khác và có khi làm hại đến bản thân mình.

    Mỗi bạn trẻ cần xác định cho mình những cách ứng xử và lựa chọn đúng đắn. Trân trọng và thần tượng cái đẹp nhưng không thái quá mà vẫn luôn giữ được một phương châm sống chuẩn mực và lành mạnh

    Bài 34: Nghị luận xã hội về lòng khoan dung

    Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo. Ai cũng mang trong mình những yếu đuối rất con người. Và vì thế ai cũng cần được khoan dung…

    Khoan dung là một phẩm chất đáng trân trọng của con người. Khoan dung là biết tha thứ, bỏ qua cho những sai lầm thiếu sót của người khác; là biết chấp nhận những yếu đuối sai phạm của người khác và giúp họ đứng lên sau vấp ngã. Khoan dung, còn nghĩa là tự tha thứ cho chính mình…

    Khoan dung – ấy là khi bạn bỏ qua cho người lạ vừa vô tình dẫm lên chân bạn trên xe buýt. Khoan dung – ấy là khi tôi chân thành đón nhận lời xin lỗi của người bạn vừa khiến tôi buồn. Khoan dung – là khi người mẹ giang rộng vòng tay ôm lấy đứa con trai sau những chuỗi ngày lang thang, nay đã ân hận trở về. Khoan dung, nhiều cách biểu hiện, chung một trái tim: Nhân ái!!!

    Vậy… tại sao phải khoan dung?

    Trước hết, khoan dung là sự hiểu biết của một nhân cách cao đẹp, thể hiện một tâm hồn rộng mở, giàu lòng yêu thương. Bởi, chỉ khi biết mở rộng tấm lòng, chỉ khi tình yêu được nhân ái hoá, con người ta mới có thể quên đi những thiệt hại, những tổn thất của mình mà tha thứ cho người khác. Hãy xem cách dân tộc Việt Nam tha thứ cho kẻ thù xâm lược để thấy đưọc truyền thông nhân đạo, nhân ái của ông cha ta đáng khâm phục đến nhường nào. Trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi viết:

    Mã Kì, Phương Chính cấp cho 500 chiếc thuyền

    Vương Thông, Mã Anh cấp cho hàng nghìn cỗ ngựa.

    Trong “Tuyên ngôn độc lập” Bác đã khẳng định: “Tuy vậy, dân tộc Việt Nam trước sau vẫn giữ thái độ khoan hồng, nhân đạo với kẻ thù thất thế”…

    Hẳn là khi viết lại những hành động khoan dung, nhân đạo ấy của dân tộc ta, các tác giả phải tự hào biết bao!

    Không chỉ là biểu hiện của một tấm lòng nhân ái cao đẹp, lòng nhân ái đã thấm đượm tình người, khoan dung còn là phẩm chất của một con người biết mình biết ta. Không ai là không phạm sai lầm. Chính khi khoan dung với người khác là bạn đang chuẩn bị cho mình “một lối đi về”… Bởi cũng sẽ đến lượt bạn sa ngã, bạn phạm lỗi. Ai sẽ tha thứ cho bạn nếu bạn không từng biết tha thứ? Ai sẽ chấp nhận bạn nếu bạn từng không đoái hoài đến sự ăn năn hối lỗi của người khác? Và ai sẽ khoan dung với bạn nếu bạn chưa từng khoan dung với kẻ khác đây?

    Vậy, không khoan dung với người khác là tàn nhẫn với chính mình…

    Không những thế, bất cứ khi nào bạn khoan dung cho người khác là bạn đang rộng mở một đường về cho chính họ. Lòng khoan dung sẽ cảm hoá được lỗi lầm, là động lực thúc đẩy, khuyến khích họ nhận ra sai lầm và sửa chữa. Chỉ cần một ánh mắt thiện cảm thôi cũng đủ cho những người từng là tù nhân cảm thấy được đón nhận, sống có ý nghĩa hơn, chỉ cần một nụ cười khuyến khích cũng đủ đẻ những thanh niên vừa ra trại thấy mình không bị bỏ rơi, lạc lõng..

    Tôi cực kì lên án thái độ thờ ơ lạnh nhạt của một số thanh niên hiện nay. Đối với những người đã từng phạm sai lầm giờ đang mang trong mình căn bệnh thế kỷ, mòn mỏi sống trong sự ghẻ lạnh của không ít người. Chính sự thờ ơ, lạnh nhạt, chính lòng ích kỷ thiếu khoan dung ấy đang gián tiếp tiếp tay cho tội ác lan rộng. Như thế là đúng sao? Là văn minh, tiến bộ sao?

    Những ánh mắt ghẻ lạnh ấy, những con người vô cảm ấy đang khiến xã hội này ngày càng thêm lạnh! Thiếu thốn tình cảm, thiếu thốn vị tha, lòng khoan dung,… tất cả sẽ chỉ còn là một xã hội vô tri, vô giác, lạnh lùng, vô cảm… Nhưng, vẫn còn đó những tấm lòng nhân ái, sống vì mọi người, biết tha thứ biết khoan dung góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, phát triển hơn, nhân ái hơn,…

    Và chắc hẳn những người biết khoan dung đó sẽ luôn nhận được tình yêu thương, sự kính trọng của mọi người.

    Khoan dung với người khác, rất cần thiết, nhưng chưa đủ! Tôi đau lòng khi không ít người tự dằn vặt mình, hành hạ tâm hồn và thể xác mình… vì họ cho rằng mình đã làm sai, mình không đáng được tha thứ. Đừng như thế. Biết nhận ra lỗi lầm là điều tốt, nhưng cứ sống mãi trong hoài niệm thế có tốt không? Tại sao không tự tha thứ và bắt đầu lại… một sự khởi đầu mới tốt đẹp hơn…?

    Tuy nhiên cần biết phân biệt giữa khoan dung và bao che. Thật đáng buồn khi nhiều người tiếp tay cho tội ác mà cứ nghĩ là khoan dung. Nhìn thấy người bạn thân quay cóp bài, một lần, hai lần, rồi ba lần… làm ngơ bỏ qua, hi vọng bạn tự biết sửa chữa. Khoan dung đây ư?

    Xin nhắc lại, khoan dung là tha thứ chứ không là bao che.

    Khoan dung – là chấp nhận những yếu đuối của người khác và giúp họ sữa chữa – không có nghĩa là tiếp tay cho họ. Mỗi người hãy học cách khoan dung với bản thân, với người khác bằng lòng nhân ái, bằng đức hi sinh. Không chỉ biết khoan dung, bên cạnh đó, việc giúp người khác (hay chính mình) nhận ra sai lầm, định hướng sửa chữa, cũng là điều rất quan trọng.

    Vâng! Tôi cũng không phải là một người hoàn hảo. Bản thân tôi cũng từng mắc sai lầm… đó là khi tôi không học bài và bị điểm kém…. tôi đã vô tình khiến bốmẹ và thầy cô thất vọng… Là khi tôi trách nhầm đứa bạn… là khi tôi đã dửng dưng trước những ánh mắt thơ ngây cầu xin sự giúp đỡ của những em bé đánh giầy tội nghiệp…

    Nhưng nhờ đó tôi cũng rút ra bài học cho bản thân mình… đó là khi nhìn thấy ánh mắt buồn của mẹ, tôi biết mình cần cố gắng. Là khi nhận được lời giải thích, cái ôm xiết chặt của nhỏ bạn, tôi biết mình cần suy nghĩ chín chắn hơn. Là khi tôi nhận được sự giúp đỡ của những em nhỏ đánh giầy nhặt giúp tôi chiếc ví mà tôi đã vô ý đánh rơi, tôi biết mình cần rộng lượng… Sau những vấp ngã, tôi vẫn được đón nhận, được yêu thương.

    Chính tình yêu, sự tha thứ của mọi người khiến tôi đứng lên sau những thất bại. Và tôi tin là lòng khoan dung có sức mạnh cảm hoá mãnh liệt…

    Chính vì vậy, để cuộc sống tươi đẹp và giàu tình người hơn. Mỗi chúng ta hãy sống một cách chân thành, luôn bao dung và độ lượng với những người xung quanh. Khi đó, bạn sẽ cảm thấy cuộc sống thật đẹp và ý nghĩa.


    Bài 35: Nghị luận xã hội về lòng kiên nhẫn

    Kiên nhẫn là sẵn lòng làm việc để đạt được kết quả như mong muốn. Điều tốt đẹp, tích cực và sự thật không thể có được ngay tức thì hay tự động mà có, chúng đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua quá trình tiến triển theo từng giai đoạn.

    Có những lúc chúng ta phái hành động, nhưng cũng có những thời điểm ta chúng ta cần phải biết chờ đợi. Sự thành công chỉ đến khi chúng ta có những quyết định hợp lý, đúng lúc. Con người thường cứ cố buộc sự việc phải xảy ra. Đôi khi sự ép buộc này có hiệu quả, nhưng sau đó, trong chúng ta không có cảm giác đã hoàn thành một cách đúng nghĩa. Nếu sự thành công được gặt hái qua một cuộc chiến hay một vụ xung đột thì chiến thắng ấy cũng chỉ là một sự trống rỗng.

    Những thành quả tốt đẹp nhất không chỉ phụ thuộc vào bản thân chúng ta hay công sức của riêng ta mà còn đến từ việc học cách chấp nhận thực tại hoàn cảnh và những người trong mối quan hệ của chúng ta. Hãy để cho chính họ và những tình huống diễn ra một cách tự nhiên. Chắc chắn rằng mỗi việc chúng ta làm đều có một mục đích rõ ràng, tuy nhiên, chúng ta cũng không nên bám quá chặt vào mục đích, tìm cách đạt được nó bằng mọi cách. Chính sự đeo bám đó sẽ khiến kết quả công việc của chúng ta bị hạn chế. Khao khát đạt được thành quả sẽ tước đoạt sự trong sáng khỏi những hành động của chúng ta. Lúc đó, những gì chúng ta làm đều phụ thuộc vào sự toan tính.

    Bạn có biết công việc của người làm vườn diễn ra như thế nào không đầu tiên là chọn đất, chọn giống theo mùa vụ thích hợp. Sau đó sẽ là việc cày xới và gieo hạt, rồi tưới nước. Tiếp theo, anh ta phải đảm bảo luôn có đủ nước cho khu vườn, ngăn ngừa côn trùng tấn công. Nhưng vẫn chưa đủ, khu vườn của anh ta tươi tốt hay lụi tàn còn phụ thuộc rất nhiều vào việc thiên nhiên có ban tặng điều kiện sống thích hợp cho nó hay không. Anh ta hợp tác và giúp đỡ khu vườn nhưng không thể can thiệp được vào các quy luật của tự nhiên: bão tuyết, giông tố, ngập úng, nắng hạn… Khu vườn đẹp là sản phẩm của sự hợp tác giữa anh ta và thiên nhiên. Anh ta cần biết đặt mình vào những quy luật của thiên nhiên hiểu được rằng khi nào thì nên xen vào và khi nào thi phải chờ đợi.

    Thành công thật sự luôn dựa trên sự cộng tác tích cực. Người cộng tác không chỉ nhìn thấy vai trò của mình mà còn nhìn thấy vai trò của người khác. Và bản thân chúng ta cũng không quên trách nhiệm của riêng mình trước những đóng góp của người khác. Chúng ta không được quên quy luật quân bình.

    Người làm vườn phải hiểu quy luật quân bình, nếu không, anh ta sẽ hoặc làm việc quá nhiều hoặc lại làm quá ít, và vụ mùa sẽ không thu hoạch được như mong đợi. Người làm vườn phải tôn trọng thời gian, phải có lòng kiên nhẫn chờ đến đúng mùa mới gieo trồng, bởi nêu gieo hạt giống không đúng thời điểm hay không đúng mảnh đất phù hợp, thì có chăm chút bao nhiêu đi nữa cũng bằng không. Tuy thế chỉ riêng sự kiên nhẫn thôi chưa đủ. Kiên nhẫn mà thiếu hiểu biết, chúng ta sẽ đánh mất đi những cơ hội tốt đẹp. Mọi hành động chỉ cho kết quả tốt đẹp khi chúng ta biết thực hiện đúng lúc và đúng cách.

    Không hành động không có nghĩa là kiên nhẫn. Không hành động có thể đồng nghĩa với sự thờ ơ, hờ hững. Một khi châm chước trước thái độ thờ ơ„ hờ hững thì trong nội lực chúng ta không còn chỗ cho khát vọng nỗ lực, phân đấu hay tự cam kết với chính mình.

    Chúng ta nên gieo những hạt giống hành động đúng đắn và tưới chúng bằng tinh thần trách nhiệm và sự chăm chút. Đừng bao giờ gò ép hành vi hay tìm cách đi ngược lại quy luật tự nhiên, vì như thế, những tham vọng, những ham muốn ích kỷ sẽ phá hủy vụ mùa. Không thể có được thành công – đúng nghĩa hạnh phúc và mãn nguyện – nếu như luôn có một sự can thiệp và thao túng của tham vọng và những suy nghĩ không trong sáng. Chúng ta phải làm việc bằng sự tôn trọng đối với những quy luật tự nhiên và điều tốt đẹp vốn có sẽ hiện ra từ bản chất sự việc.

     

     

    Bài 36: Về một tác phẩn văn học đã gợi cho anh (chị) những cảm nghĩ sâu sắc nhất trước những vấn đề tu dưỡng và rèn luyện của tuổi trẻ hiện nay.

    Trong cuộc sống có biết bao điều ta nâng niu, quý trọng, yêu mến. Bạn rất yêu bức phù điêu tạc chân đung một vị thần công lý, còn người khác lại rung động bởi nét nhạc dịu dàng, thiết tha của Chopin, và người thứ ba lại yêu bức họa cánh rừng xào xạc của Levita. Nhưng có lẽ riêng tôi, cái mà tôi yêu nhất đó là những vần thơ tươi xanh, những vần thơ lửa cháy, trong những vần thơ ấy có cái “cái màu đỏ ấy”. Có thể lúc đầu đó chỉ là một tình yêu đầy cảm tính. Nhưng dần dần, cái cảm tính ấy mất đi, và nhường chỗ cho một cái gì đó cao quý lắm… mà chúng tôi không định nghĩa nổi. Tôi muốn các bạn cùng tôi yêu bài thơ ấy và màu đỏ ấy:

    CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ

    Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ

    Tươi như cánh nhạn lai hồng

    Trưa một ngày sắp ngả sang đông

    Thu, bồng nắng vàng lên rực rỡ

    Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ

    Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa

    Chồng của cô sắp sửa đi xa,

    Cùng đi với nhiều đồng chí nữa,

    Chiếc áo đỏ rực như than lửa

    Cháy không nguôi trước cảnh chia ly

    Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia

    Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy,

    Không che được nước mắt cô đã chảy,

    Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời

    Chảy trên bình minh đang hé ỊỊÌữ lùn mõi

    Và rạng đông đã bừng trên nét mặt

    … Một rạng đông với màu hồng ngọc

    Cây si xanh gọi họ đến ngồi

    Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai

    Ngày mai sẽ là ngày sum họp

    Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp!

    Nắng vẫn còn ngời trên những lá si

    Và người chồng ấy đã ra đi…

    Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế

    Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ

    Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào

    “Khi Tổ Quốc cần, họ biết sống xa nhau ”

    Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy

    Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy

    Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi

    Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người

    Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp

    Một làng xa giữa đêm gió rét…

    Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi

    Như không hề có cuộc chia ly…

    Trong cuộc sống, chia ly là chuyện tất nhiên. Mỗi con người đã chứng kiến biết bao cuộc ra đi, và có người không trở về… Tôi cũng vậy, từ nhỏ tôi đã phải tiếp tục với những cuộc chia ly. Đầu tiên là trong lời ru của bà ôm tôi vào lòng, bà tôi nhẹ nhàng hát ru: “À ơi, cháu ngoan cháu ngủ với bà. Bố mày đi đánh giặc xa chưa về” – giọng ngâm trầm của hà nghe sao mà buồn, mà nhớ. Lên ba tuổi, tôi được chứng kiến một cuộc ra đi thực sự, không phải trong giấc ngủ chập chờn nữa: bà và mẹ tôi, nước mắt lưng tròng, tiễn đưa cha và các anh tôi lên đường ra mặt trận. Nhìn những giọt nước mắt long lanh trên mí mắt mẹ, tôi cảm thấy sợ, một nỗi sợ mơ hồ. Vì sao phải có những cuộc ra đi ấy? Nỗi sợ ấy lớn dần theo năm tháng.

    Thế rồi một hôm, tôi cũng không còn nhớ rõ, khi chị phát thanh viên vừa đọc xong bản tin chiến thắng trên chiến trường diệt Mỹ, tôi bỗng nghe ấm áp một giọng ngâm, một người nào đó đang ngâm bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ của nhà thơ Nguyễn Mỹ. Tôi lặng nghe và có một cái gì rất lạ đang xáo trộn trong tôi:

    Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ

    Tươi như cánh nhạn lai hồng

    Trưa một ngậy sắp ngả sang đông

    Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ.

    Cũng vẫn là khung cảnh của một cuộc chia ly, nhưng đâu còn cái màu ảm đạm, cái buồn tê tái của nỗi chia xa mà thỉnh thoảng ta vẫn gặp. Một cuộc chia ly mà lại có cánh nhạn bay, cánh nhạn “lai hồng”, và cái màu đỏ “chói ngời”trong nắng thu “vàng rực rỡ”, cả không gian như chói lên, những giọt nước mắt chia ly và giữa khung cảnh ấy con người hiện ra cũng tươi tắn, rực rỡ không kém gì cảnh vật:

    Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ

    Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa

    Chồng của cô sắp sửa đi xa,

    Cùng đi với nhiều đồng chí nữa,

    Chiếc áo đỏ rực như than lửa

    Cháy không nguôi trước cảnh chia ly

    Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia

    Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy,

    Không che được nước mắt cô đã chảy,

    Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi

    Và rạng đông đã bừng trên nét mặt …

    Một rạng đông với màu hồng ngọc

    Những câu thơ vang dội vào lòng ta, dồn dập,  hình ảnh nọ nổi sắc màu kia, và tất cả ngời lên trong một hòa sắc tuyệt vời: sắc đỏ chói chang, màu xanh dịu dàng và chiếc nón trắng giản dị, rất Việt Nam. Đã có cuộc chia ly nặng nề, bàng bạc một nỗi buồn, day dứt nỗi đau khiến cho người thiếu phụ “bịn rịn vào chàng” và rồi những con người ấy “bước đi một bước thây thây lại dừng”. Một cuộc chia ly như thế đọng lại trong lòng người ra đi và người ở lại những nỗi buồn tê tái, nó chỉ giục người đi hãy mau mau quay về, cho dù cái đích mà mình phải tới còn rất xa, cho dù nhiệm vụ được giao rất quan ưọng, có ý nghĩa.

    Đó là cảnh đi lính ngày xưa: vướng víu, buồn tủi, nặng trĩu lo âu trong lòng người đi, kẻ ở.

    Tế Hanh, khi còn là một chàng thanh niên tiểu tư sản trong xã hội cũ những năm trước Cách mạng, cũng đã viết về tâm trạng của một cuộc chia ly, mặc dù tác giả không phải là người trong cuộc:

    Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu

    Ngàn đời không đủ sức đi mau

    Có chi vướng víu trong hơi máy

    Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau

    (Những ngày nghỉ học – Tế Hanh)

    Đó là tâm trạng thường gặp trong những cuộc chia ly trước kia, nó nặng nề như những toa tàu “’nặng khổ đau”, nó nghẹn ngào bịn rịn, cái tình quyến luyến đó dĩ nhiên phải có, nhưng đến mức như vậy, nó sẽ thành một nỗi đau canh cánh trong lòng người ra đi. Sự “lưu luyến” ấy có ích gì? Cái buồn ấy tê tái quá, bi sầu quá… khiến ta tưởng như đằng sau cái ngày hôm nay xa cách, tiễn biệt là chuỗi ngày vô vọng, bặt tin xa. Cái “ngày mai” tiếp nối  cái “ngày hôm nay” của họ dường như bị đóng kín.

    Nhưng rồi đã đến lúc cuộc chia ly đã mang sắc màu lạc quan, đẹp đẽ, đã ánh lên sức mạnh của niềm tin. Đó là khung cảnh:

    Một buổi sáng mai

    Anh bước chân ra đi

    … Và người vợ, chị nông dân tiễn chồng đi tòng quân, đã hứa với chồng “Giải thi đua em giật”.

    … Và người chồng ra đi dặn vợ:

    Ruộng mình quên cày xáo

    Nên lúa chín không đều

    Nhớ lấy để mùa sau

    Nhà cố làm cho tốt

    Khác với người chinh phụ xưa kia, chị nông dân trong Thăm lúa của Trần Hữu Thung đã biến những giọt nước mắt đau đớn thành nụ cười tin tưởng. Đôi lứa ấy nghĩ đến một ngày mai hạnh phúc, sum họp. Ngày mai ấy sẽ đến khi cái ngày mai của dân tộc đến với mỗi con người.

    Tình cảm của chị nông dân có cái gì đó ấm áp lắm, chưa nói ra thành lời, nhưng tất cả sự nồng cháy, thương yêu, tất cả tình yêu, nỗi nhớ hy vọng và tất cả những giọt nước mắt trong sáng lại được thể hiện một cách cao đẹp, mạnh mẽ hơn qua sắc đỏ của màu áo, trong cái yêu thương của vườn cây xanh, của Cuộc chia ly màu đỏ.

    Cũng vẫn là giọt nước mắt, nhưng nét mới về chất so với những giọt nước mắt của người chinh phụ xưa kia. Cũng vẫn là những giọt nước mắt, nhưng nó “long lanh nóng bỏng sáng ngời”, nó lấp lánh ánh sáng của tình yêu cao thượng và một lẽ sống đẹp đẽ. Và rồi cái chất của nhà thơ, đồng nhất với nhân vật trữ tình, đã cất lên tiếng nói, tiếng nói tin yêu về một ngày mai:

    Ngày mai sẽ là ngày sum họp

    Đã kia sáng những tâm hồn cao đẹp!

    Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá

    Và người chồng ấy đã ra đi…

    Một tình yêu được nói đến với vườn hoa, với gốc cây si thì còn gì đẹp hơn. hợp lý hơn. Nhưng một cuộc chia ly lại được nói lên bằng tiếng nói về một ngày mai ấy, thì chỉ bây giờ đây ta mới gặp, mới cảm, mới hiểu. Tứ thơ như đọng lại với cái màu đỏ chói chang, cái màu đỏ của niềm tin và hy vọng, cái màu đỏ ấy cứ cháy lên trong lòng bạn, lòng những lứa đôi. Có những lứa đôi còn đang sống bình thản trong những vườn hoa, dưới những căn nhà khi họ đọc bài thơ này họ sẽ suy nghĩ, phải suy nghĩ, và có thể hạ sẽ tiến đến “cuộc chia ly màu đỏ” ấy. Có những lứa đôi đã xa nhau, khi đọc bài thơ này sẽ thêm tin và yêu “cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy”, cái màu đỏ của chính họ, cái màu đỏ của những người khác.

    Bài thơ mở đầu với cái màu đỏ chói chang, rực rỡ, tiếp diễn với cái màu đỏ ấy, và cuối cùng cái màu đỏ ấy cắt nghĩa tất cả:

    Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy

    Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy

    Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi

    Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người

    Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp

    Một làng xa giữa đêm gió rét…

    Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi

    Như khônq hề có cuộc chia ly…

    Điều kỳ diệu và sâu sắc biết bao nhiêu “cáimàu đỏ ấy”, nó như một vị thần hiển hiện, nói như một cái gì đó vĩnh cửu. Có lúc cái màu đỏ ấy hiện lên bằng sự gợi nhớ, gợi thương của bông hoa chuối, có lúc nó hiện lên lung linh trong ánh lửa hồng ấm áp, tỏa sáng trong đêm gió rét. Thế nghĩa là cái màu đỏ ấy luôn ở trong tim, luôn ngời trên khóe mắt, nó thúc giục, động viên, nó hiện lên trên “đầu súng trăng treo” mội đêm diệt địch. Cao quý biết bao cái màu đỏ ấy. Nó cắt nghĩa cả, đơn giản, logic, dễ hiểu. Làm sao có được khái niệm “chia ly” khi giữa hai đầu không gian phải là khoảng trống mà nóng bỏng, ấm áp sức nóng của ngọn lửa sum hợp. Cái khái niệm ấy tan biến đi “như không hề có cuộc chia ly”.

    Yêu sao cái màu đỏ ấy và những con người ấy. Tôi biết trong cuộc chiến tranh thần thánh của chúng ta chống lên ác thù xâm lược đế quốc Mỹ, đã không trở về. Nhưng cái màu đỏ chói chang sắc nấng mà niềm tin ấy, mỗi con người đã giữ trong mình trọn vẹn.

    Tôi nhớ lại một câu thơ nói: “Anh đã cùng em yêu “cuộc chia ly màu đỏ” mà trong lòng trào lên một niềm xúc động, xen lẫn sự hổ thẹn”. Có những người đã dám xa nhau và đã yêu “cuộc chia ly màu đỏ”, có những người đã ngã xuống để bảo vệ sự thiêng liêng của sắc đỏ ấy, họ biết yêu thương nhau và yêu đất nước, vậy mà tôi, tôi lại sợ những cuộc chia ly như thế hoặc tương tự như thế?.

    Từ kỉ niệm của bản thân, tôi hiểu rằng cũng có bao người như tôi, cũns đã nghĩ và hiểu không đúng về những gì đang diễn ra xung quanh ta., và rồi hôm nào đó, cũng sẽ được một bài thơ tuyệt diệu như vậy cảm hóa, tôi không còn thấy sợ chia ly nữa. Tiếng còi tàu vang lên trong đêm khuya tĩnh mịch không còn gợi cho tôi một nỗi sợ, một nỗi buồn, tôi nghe trong đó tiếng reo vui của những trái tim đang về với trái tim, sự sống đang được trả về với sự sống, và tôi hiểu rằng sự ra đi của cha và các anh tôi có một ý nghĩa đặc biệt: nó làm nên con tàu trở về.

    Tôi tự hỏi: không biết đôi cánh nào của thơ ca đã bay đến cùng tôi, cùng các bạn, để đốt lên trong chúng ta ngọn lửa tôi yêu và gột rửa trong ta những vết hằn của thời gian?

    Tôi nhớ lại câu hỏi của Maiakovski: “Trên đời, có những vấn đề chỉ có thể giải quyết được bằng thơ”. Phải chăng đôi cánh của thơ ca chính là dòng tình cảm chân thật, đằm thắm?

    Thơ ca mang những tâm trạng đến với những tâm trạng, thơ ca có khả năng bao quát sâu rộng không gian và thời gian, từ đó gợi mở trong lòng người những gì chưa có. Những cái đó sẽ rất lâu trong lòng ta, có những lúc nó sẽ bùng lên dữ dội, nó sẽ giúp cho ta hiểu và đánh giá chính ta và những con người xung quanh ta, từ đó sẽ tự ta cải tạo, sẽ nâng con người ta lên.

    Tôi nhớ mãi những lời thơ ấm áp, tin yêu, những lời thơ với những hình tượng thơ độc đáo, giàu tính thẩm mỹ này. “Cái màu đỏ” mà tác giả mượn trong bài thơ của mình là một trong số vô vàng hình tượng mà tác giả có thể mượn để nói lên một niềm tin, một tình yổu và sự sum họp. Nhưng đó là cái độc đáo nhất để diễn tả một cái gì đó ấm cúng, gợi lên niềm tin và một ngày mai: một ánh lửa hồng trên bếp, màu đỏ của sắc hoa trong vườn xuân. Và Nguyễn Mỹ đã chọn “Cúi màu đỏ ấy” – hình tượng thơ ấy là sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ của mình. Cũng như một lần Nguyễn Duy đã lấy “hơi ấm ổ rơm” để viết về tình người nồng thắm, một Hoàng Nhuận Cầm đã mượn tiếng kêu của chú ve kim để viết cái lạc quan, yêu đời của những người lính. Và tất cả, tất cả những hình tượng thơ đẹp đẽ, giàu tính điển hình ấy đi vào trong lòng người đọc một cách nhẹ nhàng, tinh tế mà thấm sâu hơn nhiều tiếng nói khác.

    Nói chung, khoa học là tiếng nói của lý trí, văn học là tiếng nói của tình cảm. Tinh cảm và lý trí phải kết hợp với nhau, gắn bó hữu cơ với nhau. Trái tim có rung động, khối óc mới được trong suốt nhuần nhuyễn. Ta hiểu vì sao mà bài thơ Cuộc chia ly màu để lại có tác dụng sâu sắc đến thế trong lòng người đọc. Ta cũng hiểu vì sao văn học nghệ thuật nói chung lại trở thành một “Cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống ” (Secnusepxki), trở thành nguồn suối tắm mát tâm hồn quần chúng. Văn học có phải là một cái gì cao siêu, thần thánh đâu, văn học là hơi thở của biển, là làn gió thơm hương lúa, là gương mặt những người chung quanh ta và chính ta… Chúng ta đến với văn học từ khi chập chững biết đi, và văn học đã giúp ta đốt cháy thời gian để “khôn” là “lớn”. Đọc thơ, ta hiểu được cái đẹp của “cuộc chia ly màu đỏ”, đọc sách ta hiểu được một trái tim nhiệt thành và nghị lực sắt đá của Paven Corsaghin. Hiểu rồi, ta sẽ yêu, yêu cái đẹp của tự nhiên, xã hội, yêu tiếng cười trẻ thơ, yêu nhịp sống chảy cuồn cuộn trong lòng thời đại.

    “Hãy yêu! Hãy yêu! Và bảo vệ…” (Chế Lan Viên). Đó là tiếng nói và mệnh lệnh của mỗi trái tim con người.

    Tôi suy nghĩ nhiều về nhiệm vụ của những người cầm bút và nhiệm vụ của những người đọc những dòng chữ quý giá đó. Thay mặt cho hàng vạn, hàng triệu trái tim, người nghệ sĩ (và có thể là chiến sĩ) nhà thơ đã viết lên tâm sự của họ, nói tiếng nói của tâm hồn họ. Tôi suy nghĩ nhiều về tác động của bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ đối với các thời đại – các thế hệ thanh niên. Nhà thơ Nguyễn Mỹ – tác giả của bài thơ – đã ngã xuống, nhưng biết bao thế hệ thanh niên đã đọc và yêu thơ của anh. Và đến hôm nay, vân đề mà Nguyễn Mỹ đã đặt ra vẫn mang tính thời đại sâu sắc. Sự ra đi. Chiến tranh đã kết thúc nhưng đâu phải là những chuyến tàu ngược xuôi đã ngừng chuyển bánh. Đâu phải sự sum họp là vĩnh viễn. Không! Sông Đà “tóc dài tuôn như một áng tóc trữ tình” (Nguyễn Tuân) đang gọi ta, những miền quê ta chưa tới, ta chưa biết đang chờ ta. Tạm biệt mảnh đất quê hương, ta ra đi và tin lưởng: đâu cũng là nhà.

    Nghe Đảng gọi ra đi

    Mở những vùng quê mới

    Nhớ buổi ấy chia ly

    Quê cũ mà đi tới Có nỗi nhớ hàng tre

    Con sông đào trước ngõ

    Có nỗi nhớ xóm nhỏ

    Con đường nắng lim dim

    (Quê mới – Thanh Hải)

    Nhưng không phải bao giờ và ở đâu, sự ra đi cũng dễ dàng, thanh thản. Có những người không bứt mình ra khỏi hiện tại, có những người còn luyến tiếc một cái gì đó. Không, chúng ta không thể là những con người như thế. Hãy nhớ về “Cuộc chia ly màu đỏ” để mà yêu thêm, tin thêm vào con người và bản thân mình. Giữa những năm tháng khói lửa, “Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau”, thì chúng ta, giữa những năm tháng đẹp đẽ này, cũng sẽ biết sống xa nhau, sống vì nhau, sống cho nhau.

    Sống trên những mảnh đất của những con người biết yêu thương nhau và yêu đất nước, tôi cảm thấy có một cái gì đó lớn dần lên trong tôi, cái đó là gì, thật khó định nghĩa, nhưng tôi luôn luôn ước mơ về một ngày mai ấy, cái ngày mai mà có thể tôi sẽ ra đi, ra đi để làm người lao động chân chính, người kế tục xứng đáng, người chủ của những di sản lớn lao mà cha ông ta đã dành lại trong máu và nước mắt.

    Và có một lúc nào đó, khi tiếng còi rúc lên trong đêm khuya yên ả của một ngày lao động, một ngày sống có ý nghĩa trong cuộc sống có ý nghĩa của chúng ta, khi tiếng còi tàu báo hiệu một sự ra đi hay trở về vang lên, và trong tôi không còn cái sợ hãi, đau buồn rồi chia xa, thì tôi còn nhớ lại hôm nào xa, rất xa, tôi được đọc bài thơ ấy và đến bây giờ mới có được tâm trạng ấy. Hơn bao giờ hết tôi cảm thấy tha thiết cái hôm nay, rộn rã tiếng cười ấm áp những niềm vui và âm vang tiếng còi tàu rộn rã ngược xuôi, đưa trái tim về với trái tim, đưa sự sống trả về sự sống.


    Bài 37: Lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay

    Lòng yêu thương là một trong những phẩm chất cao đẹp của không chỉ mỗi cá nhân mà của cả nhân loại. Đối với tuổi trẻ, những con người đang bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, cần trau dồi trí tuệ nhưng nhất định không thể bỏ quên một giá trị cơ bản nhất khi làm người, đó là biết trân trọng giá trị của tình yêu thương. Tình yêu thương là những xúc cảm phát ra tự đáy tâm hồn biểu hiện, sự chia sẻ, thấu hiểu, đồng cảm với đồng loại. Nếu không biết yêu thương những cảnh đời bất hạnh; nếu không biết trân trọng những người có phẩm chất, tình cảm cao đẹp và không biết nghiêm khắc rèn luyện, trau dồi nhân phẩm mình; không biết để cho trái tim mình trỗi lên những xúc cảm yêu thương thì đó là người có trái tim “tật nguyền” về cảm xúc hay nói cách khác là vô cảm. Từ muôn đời nay, mối quan hệ giữa mẫu từ, phụ tử bao giờ cũng thiết lập bởi tình yêu thương và vì thế nó trở thành những tình cảm thiêng liêng bậc nhất của nhân loại. Cũng chính vì thế, mà mối tình cảm ấy đã đi vào đời sống văn chương và nó trở thành những vần thơ, những câu chuyện giàu tính nhân văn nhất. Bài thơ “Thư gửi mẹ” của Ê-xê-nhin – thi hào Nga đã lay động biết bao nhiêu trái tim con người. Câu chuyện Chứ Đồng Tử trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam làm ta nhớ mãi về tấm lòng của Chử Cù Văn – người cha hết mực thương con. Và còn biết bao câu chuyện về tình yêu thương khác nữa đã làm ngời sáng giá trị của tình người, tình đời. Mỗi mùa hè đến, những sinh viên với chiếc áo xanh của niềm tin và hi vọng đã lặn lội khắp nơi giúp đỡ những đồng bào khó khăn trên khắp dải đất này đã trở thành biểu tượng sáng đẹp về tình yêu thương, biết sống vì yêu thương. Câu chuyện Nguyễn Hữu Ân đã chia “Chiếc bánh thời gian” của mình để chăm sóc những bệnh nhân là hình ảnh đẹp mà tuổi trẻ cần học tập. Bên cạnh những thanh niên biết vun đắp, biết đối nhân xử thế bằng tình yêu thương, thì vẫn còn một số ít đang sống hờ hững, lạnh lùng, vô cảm với xung quanh. Lối sống ích kỉ ấy là một hiện tượng cần lên án, vì nó đi ngược lại với truyền thống trọng tình, quý nghĩa của cha ông ta. Ngày nay, sống trong xã hội văn minh hơn, thì tình thương càng phải được đề cao hơn. Đó là điều tuổi trẻ cần ý thức và nhận ra trách nhiệm sống của mình. Tuổi trẻ là đối tượng phải mang cho mình nhiều trọng trách nhất đối Với chính bản thân, gia đình và xã hội. Vì thế, trong muôn vàn điều phải học trong kho tàng tri thức của nhân loại phải nhận thức đúng đắn tình thương là đỉnh cao của văn minh nhân loại. Hãy biết sống sẻ chia, cảm thông, thấu hiểu và hướng về cộng đồng, để hoàn thiện nhân cách mình và trở thành những công dân có ích.

    Bài 38: Như một thứ a-xít vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội

    Hằng ngày đi trên các ngả đường người ta gặp nhiều bích chương ngợi ca, bích chương cảnh báo, hình ảnh cảnh báo ở nhiều phương diện nhưng quả thật ít thấy bích chương hình ảnh nào cảnh báo thói vô trách nhiệm của những cá nhân, hoặc một tập thể nào đó trong khi nó “Như một thứ a-xít vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội”. Ý kiến này đề cập đến mối nguy hại ngấm ngầm rất cần cảnh giác của thói vô trách nhiệm; nó xuất phát từ mỗi cá nhân nhưng lại gây hậu quả to lớn đối với toàn xã hội. về thực chất, ý kiến này là sự cảnh báo về một vấn nạn đạo đức mang tính thời sự; thói vô trách nhiệm và hậu quả khôn lường của nó.
    Tinh thần trách nhiệm là ý thức nỗ lực nhằm hoàn thành tốt những phận sự của mình. Nó được biểu hiện cụ thể, sống động trong ba mối quan hệ cơ bản: giữa cá nhân với gia đình, cá nhân với toàn xã hội và cá nhân với bản thân mình. Tinh thần trách nhiệm là một phẩm chất cao đẹp, một thước đo giá trị con người, là cơ sở để xây dựng hạnh phúc của mỗi gia đình; đồng thời tinh thần trách nhiệm cũng góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp. thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Hình ảnh cô cảnh sát giao thông đưa người già qua đường giữa làn xe tấp nập ở cung đường Nam Kỳ Khởi nghĩa – Võ Thị Sáu ở Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mà các cơ quan thông tấn báo chí gần đây đưa tin là những hình ảnh thật đẹp về tinh thần trách nhiệm. Rõ ràng đó là những hình ảnh đẹp, nó toát ra từ nhân phẩm của cá nhân được rèn luyện nghiêm túc. Dù phải sống cùng với căn bệnh ung thư xương đang di căn từng ngày vào cơ thế nhưng Sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Hân vẫn sống đẹp dù trong tuyệt vọng. Với cánh tay phải, Hân vẫn miệt mài hàng giờ bên tờ báo tường của lớp, nắn nót từng nét chữ tươi rói màu mực cho ngày lễ 20-11 của lớp trọn vẹn. Những đêm khuya, bà Trần Thị Tư – mẹ Hân – canh cánh trong lòng khi con gái vẫn ngồi bên bàn viết miệt mài với những bài văn, con toán của năm cuối cấp. Hân ngồi lặng lẽ trên phản, trở mình với từng trang giấy được lật, bài học không bỏ phí một ngày. Đó chính là một biểu tượng về tinh thần trách nhiệm với chính bản thân mình, không gục ngã trước nghịch cảnh dù đời sống của Ngọc Hân chẳng còn bao lâu nữa. Hình như em đã đang ở cuối con đường. Bên cạnh những nhân phẩm cao đẹp về trách nhiệm sống thì vẫn còn đâu đó thói vô trách nhiệm làm bức xúc dư luận xã hội. Thói vô trách nhiệm là biểu hiện của lối sống phi đạo đức, thể hiện ở ý thức và hành động không làm tròn phận sự của mình đối với xã hội, gia đình và bản thân, gây nên những hậu quả tiêu cực. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, lối sống ấy đang khá phổ biến, trở thành một vấn nạn trong xã hội. Những cán bộ có tài và có chức vụ cao ở huyện Hóc Môn và Gò Vấp đã và đang ra vòng móng ngựa thời gian vừa qua. Những khi còn tại vị chắc họ đã từng giáo huân nhiều vấn đề đạo đức, trách nhiệm cho cán bộ cấp dưới, cho dân chúng địa phương nhưng rồi cuối cùng họ trở thành tội phạm tham ô. Thói vô trách nhiệm và đạo đức giả ấy làm băng hoại đạo đức con người, gây tổn hại hạnh phúc gia đình, gây tổn thất cho cộng đồng, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Chúng ta có cuộc sống thanh bình hơn 30 nã.m qua là phải đổi biết bao máu xương của cha, ông, của các anh hùng đã ngã xuống cho Tổ quốc này. Chúng ta cần phải “sống sao cho khỏi phải xót xa ân hận” để xứng đáng với những hi sinh của thế hệ đi trước và sự kỳ vọng tha thiết của những người ngã xuống cho quê hương. Trách nhiệm sống của mỗi chúng ta là luôn rèn luyện nhân phẩm, năng lực tri thức để làm cho xã hội ngày càng phồn vinh, trong đó cần tuyên chiến một cách dũng cảm nhất với thói vô trách nhiệm và lối sống đạo đức giả.

    Bài 39: Nghị luận xã hội về ước mơ khát vọng

    “Nếu bầu trời tượng trưng cho những ước mơ, những kế hoạch lớn và những cái nhìn bao quát nhưng toàn diện về bản thân, thì phải chăng những nỗi lo thường nhật đã kéo tầm mắt của ta xuống dưới mặt đất, để chìm trong một dòng người hối hả, để đối phó với những chướng ngại vật ngay trước mắt và rồi ta chẳng còn lúc nào để phóng tầm mắt lên thật xa trên bầu trời, để thấy những ước mơ của ta lớn đến chừng nào…”. Và thế là nhiều khi ta quên đi những điều thực sự quan trọng: đó chính là những ước mơ.

    Ai cũng có ước mơ. Có thể đó chỉ là những nhu cầu bình thường trong sinh hoạt hằng ngày. Nhưng cũng có thể đó là những khát khao hướng thượng những kế hoạch dài hơn cho chính bản thân mình. Cũng như các bạn tôi là một người có rất… rất nhiều ước mơ và hoài bão. Vâng, một lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại một trong những người làm nên thế kỷ XX, một tỷ phú Bill Gates làm chao đảo cả thế giới phần mềm, cũng như các Thiên tướng của Thế giới qua mọi thời đại: Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Anh cả của Quân đội Việt Nam Đại Tướng Võ Nguyên Giáp làm cả thế giới phải thán phục về tài dụng binh của mình… Thử hỏi ai trong chúng ta lại không một lần ước mơ được như thế?

    Ước mơ – hoài bão là những xuất phát điểm quan trọng, đây là cơ sở đầu tiên để mỗi cá nhân, tổ chức và dân tộc cất cánh. Nhưng ước mơ sẽ chỉ là mơ ước nếu nó không đi kèm với những sự chuẩn bị cần thiết để thực hiện ước mơ đó. Sự chuẩn bị trong hành trình của mỗi giấc mơ có nhiều thành phần, nhưng thành phần quan trọng nhất hiện nay và trong tương lai phải kể đến tri thức với hai quá trình song hành và bổ sung cho nhau: tích luỹ tri thức và phát triển tri thức. Nếu như học tập là quá trình tích luỹ tri thức thì nghiên cứu khoa học, tìm lời giải cho các bài toán trong khoa học và thực tiễn là quá trình phát triển các tri thức mới. Học tập và nghiên cứu khoa học do vậy là hai quá trình song hành, không thể thiếu đối với thanh niên hiện nay.

    Mỗi ước mơ, dù lớn lao hay giản dị, đều cần được tiếp lửa bằng nhiệt huyết, quyết tâm và nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ. Tuổi trẻ là một thứ ngầm rất quý mà không phải ai cũng biết, nó là món quà vô giá mà tạo hoá ban tặng cho chúng ta trên con đường chinh phục ước mơ cúa mình.

    Ai đó đã nói: “Nếu có một thời điểm nào đó trong cuộc sống, mà chúng ta cần phải và nên bị dúi xuống bùn lầy tăm tối, tốt nhất hãy chọn lúc 18-25 tuổi, lúc mà bạn có cả sức khoẻ lẫn sự dẻo dai; cả hưng phấn lẫn thất vọng; cả niềm tin sắt đá lẫn sự ngoan cố mù quáng; cả sự hiểu biết bằng bản năng và trực giác chưa bị pha tạp lẫn sự tăm tối vì mơ hồ nhận thấy những lực cản của xã hội. Nghĩa là có tất cả mà lại chẳng có gì vững chắc. Lúc ấy là lúc có cả một tiềm năng – cái năng lực tiềm ẩn trong từng cử động, từng quyết định nhỏ, cái khả năng có thể nhảy rất dài, vượt rất xa, thay đổi cả thế giới; hoặc là cái nguy cơ trượt xa khôn cùng xuống vực sâu của tăm tối, kiệt quệ, u uất và rệu rã.”. Tuổi trẻ tự bản thân nó đã là một tài sản, tự bản thân nó đã hàm chứa ánh sáng và hạnh phúc, khi bị dúi xuống bùn, cơ hội để nó vẫn toả sáng và thăng hoa sẽ lớn hơn so với khi bạn già đi.

    Ước mơ thuộc về tương lai mà người trẻ tuổi thì sống vì tương lai, vậy tại sao không sống và phấn đấu vì ước mơ của mình? Thành công bắt đầu từ suy nghĩ “dám ước mơ”. Chúng ta dám ước mơ, dám nghĩ khác và vượt khỏi những hạn hẹp của hoàn cảnh sống để thực hiện cho bằng được khát vọng của mình. Ước mơ cũng giống như những tên lửa đang chuẩn bị cất cánh, nhưng nếu không được châm ngòi bằng một niềm tin, ý chí và nỗ lực vượt khó thì mãi mãi nó chỉ nằm chỏng chơ trên mặt đất.

    Cuộc đời thật có quá nhiều ước mơ, có những ước mơ đã trở thành sự thật và cả những ước mơ mãi mãi chỉ là mơ ước mà thôi. Nhưng chúng ta hãy cảm nhận những ước mà trong chính con người mình và học cách để nuôi dưỡng nó. Trước hết, phải tìm cho mình một hoài bão, đam mê và tự đặt câu hỏi cho mình có dám đánh đổi tất cả để hoàn thành được ước nguyện đó hay không, Con đường biến ước mơ thành hiện thực đều phải trải qua ba giai đoạn: Điều đầu tiên và quan trọng nhất là phải nuôi trong mình một ước mơ, lẽ sống để có động lực phấn đấu và vươn lên. Tiếp đó, ta luôn có những kế hoạch và dự định để từng bước cụ thể hoá, hiện thực hoá ước mơ. Muốn làm được điều đó mỗi chúng ta cần tự trang bị cho mình kiến thức và nền tảng giáo dục vững chắc. Cuối cùng, phải biết kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình. Không thành công nào mà chưa từng trải qua thất bại, những bài học từ sai lầm đã qua sẽ tôi luyện cho ý chí thêm mạnh mẽ và vững vàng.

    Tất nhiên, không dễ để biến ước mơ thành hiện thực. Một ước mơ dù lớn hay nhỏ, được ấp ủ, nuôi dưỡng và hiện thực hoá là cả một quá trình với ý chí tự thân và những bước đi khoa học.

    Tôi là một người giàu có những ước mơ. Cũng như nhiều bạn bè khác, tôi ước mơ mình sống có ích, giàu có tri thức, giỏi nghề và tất nhiên thành đạt trong cuộc sống. Tôi bắt đầu lập kếhoạch cho mình từ những năm cuối trung học: phải vào được đại học. Phải cố gắng trong quá trình học đó để có được kết quả tốt. Tôi cũng sẽ tranh thủ những năm cuối đi làm thêm để lấy kinh nghiệm. Ra trường, tôi sẽ đi làm ở một công ty lớn mà ở đó tôi có cơ hội để thể hiện bản thân mình… Và kế hoạch vạch vẽ từ ngày chập chững nhận ra cuộc đời mình phải do chính mình xây nên đó đến nay tôi đã phần nào hoàn thành được: tôi đã vào được đại học, trong quá trình học tôi đã nỗ lực cố gắng và đạt được kết quả tốt, nhưng cũng có những việc mà bản thân tôi chưa thực hiện được trong kế hoạch nhỏ mà mình tự đặt ra đó: tôi đã không đi làm thêm trong những năm cuối đế lấy kinh nghiệm được vì tôi dành thời gian qua nhiều cho việc học, cho việc trang bị kiến thức, hành trang để bước vào cuộc sống thực tế, để thực hành những gì mình đã học, tôi cũng đã không làm ở một công ty lớn như mình đã định mà hiện tại tôi đang làm tại một cơ quan nhà nước. Ở đó, mọi thứ thật mới lạ so với những gì tôi đã học ở trường. Tôi nghĩ rằng, những lý thuyết, những bài học mà tôi đã học ở trường chỉ là một phần nhỏ trong cái thực tế to lớn này. Và tôi như đang phải học lại từ đầu trong một ngôi trường thực tế với những thử thách và khó khăn mới. Tôi phải nỗ lực hơn trong việc tìm tòi và học hỏi ở các cô chú, các anh chị đi trước để mong mình có thể thích nghi với ngôi trường mới này. Đó là cả một quá trình với ý chí và nỗ lực rất lớn vì thực tế bao giờ cũng khác nhiều so với những lý thuyết mà mình đã được trang bị.

    Một ước mơ mới, một kế hoạch mới sẽ được đặt ra cho một tương lai mới. Đó là điều tôi phải làm bây giờ. Trước tiên, tôi phải biết kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình để từng bước làm quen với công việc mới của mình, từng bước thích nghi với ngôi trường rộng lớn mà tôi là một sinh viên mới vào trường với những bỡ ngỡ, mọi thứ dường như mới lạ và tôi phải cố gắng học hỏi nhiều, phải cố gắng vận dụng những gì mình đã học vào những môn học thực tế mà tôi sẽ được học trong ngôi trường mới này. Tiếp đó, tôi sẽ phấn đấu trở thành một thành viên chính thức trong cơ quan của mình vì hiện giờ tôi vẫn là chuyên viên tập sự chưa phải là cán bộ chính thức. Điều này đòi hỏi một sự cố gắng và nỗ lực rất lớn của bản thân tôi. Sau khi trở thành một cán bộ chính thức bằng nhiệt huyết, quyết tâm và nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ tôi sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong công việc, tôi sẽ trở thành một cán bộ giỏi, một cán bộ tốt và thành đạt trong cuộc sống là mục tiêu cuối cùng của tôi.

    Tất nhiên, không dễ để biến ước mơ thành hiện thực. Nhưng ước mơ sẽ chỉ là mơ ước nếu ta không có một niềm tin, ý chí và nỗ lực vượt khó, không có sự kiên trì, nhẫn nại. Không thành công nào mà chưa từng trải qua thất bại, những bài học từ sai lầm đã qua sẽ tôi luyện cho ý chí thêm mạnh mẽ và vững vàng. “Tiếp tục cất bước, tiếp tục ước mơ và cố gắng thực hiện chúng – những điều chi có ước mơ mang lại được cho con người và tuổi trẻ…”.

    Cuộc đời của mỗi chúng ta là một câu chuyện, chính vì thế mà tại sao chúng ta lại không viết tất cả câu chuyện của chúng ta lên, để chia sẻ kinh nghiệm với nhau, cũng như để tạo cho các bạn trẻ chúng ta có những suy nghĩ theo chiều hướng tích cực hoặc lạc quan yêu đời hơn. Để cho cuộc sống của mỗi chúng ta là một màu hồng.

    Cũng chính vì thế mà qua cuộc thi này tôi muốn viết đôi dòng tâm sự về những ước mơ của mình. Và cũng hi vọng các bạn, các anh, chị chia sẻ những ước mơ để hy vọng một ngày mai tươi sáng hom, tốt đẹp hơn và to lớn hơn. “Hãy tin vào mình và những gì mình làm, bạn sẽ đạt được điều bạn muốn. Hãy theo đuổi những ước mơ của bạn đến cùng, bạn sẽ biến nó thành hiện thực”.


    Bài 40: Nghị luận xã hội về kỹ năng sống

    “Nếu bầu trời tượng trưng cho những ước mơ, những kế hoạch lớn và những cái nhìn bao quát nhưng toàn diện về bản thân, thì phải chăng những nỗi lo thường nhật đã kéo tầm mắt của ta xuống dưới mặt đất, để chìm trong một dòng người hối hả, để đối phó với những chướng ngại vật ngay trước mắt và rồi ta chẳng còn lúc nào để phóng tầm mắt lên thật xa trên bầu trời, để thấy những ước mơ của ta lớn đến chừng nào…”. Và thế là nhiều khi ta quên đi những điều thực sự quan trọng: đó chính là những ước mơ.

    Ai cũng có ước mơ. Có thể đó chỉ là những nhu cầu bình thường trong sinh hoạt hằng ngày. Nhưng cũng có thể đó là những khát khao hướng thượng những kế hoạch dài hơn cho chính bản thân mình. Cũng như các bạn tôi là một người có rất… rất nhiều ước mơ và hoài bão. Vâng, một lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại một trong những người làm nên thế kỷ XX, một tỷ phú Bill Gates làm chao đảo cả thế giới phần mềm, cũng như các Thiên tướng của Thế giới qua mọi thời đại: Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Anh cả của Quân đội Việt Nam Đại Tướng Võ Nguyên Giáp làm cả thế giới phải thán phục về tài dụng binh của mình… Thử hỏi ai trong chúng ta lại không một lần ước mơ được như thế?

    Ước mơ – hoài bão là những xuất phát điểm quan trọng, đây là cơ sở đầu tiên để mỗi cá nhân, tổ chức và dân tộc cất cánh. Nhưng ước mơ sẽ chỉ là mơ ước nếu nó không đi kèm với những sự chuẩn bị cần thiết để thực hiện ước mơ đó. Sự chuẩn bị trong hành trình của mỗi giấc mơ có nhiều thành phần, nhưng thành phần quan trọng nhất hiện nay và trong tương lai phải kể đến tri thức với hai quá trình song hành và bổ sung cho nhau: tích luỹ tri thức và phát triển tri thức. Nếu như học tập là quá trình tích luỹ tri thức thì nghiên cứu khoa học, tìm lời giải cho các bài toán trong khoa học và thực tiễn là quá trình phát triển các tri thức mới. Học tập và nghiên cứu khoa học do vậy là hai quá trình song hành, không thể thiếu đối với thanh niên hiện nay.

    Mỗi ước mơ, dù lớn lao hay giản dị, đều cần được tiếp lửa bằng nhiệt huyết, quyết tâm và nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ. Tuổi trẻ là một thứ ngầm rất quý mà không phải ai cũng biết, nó là món quà vô giá mà tạo hoá ban tặng cho chúng ta trên con đường chinh phục ước mơ cúa mình.

    Ai đó đã nói: “Nếu có một thời điểm nào đó trong cuộc sống, mà chúng ta cần phải và nên bị dúi xuống bùn lầy tăm tối, tốt nhất hãy chọn lúc 18-25 tuổi, lúc mà bạn có cả sức khoẻ lẫn sự dẻo dai; cả hưng phấn lẫn thất vọng; cả niềm tin sắt đá lẫn sự ngoan cố mù quáng; cả sự hiểu biết bằng bản năng và trực giác chưa bị pha tạp lẫn sự tăm tối vì mơ hồ nhận thấy những lực cản của xã hội. Nghĩa là có tất cả mà lại chẳng có gì vững chắc. Lúc ấy là lúc có cả một tiềm năng – cái năng lực tiềm ẩn trong từng cử động, từng quyết định nhỏ, cái khả năng có thể nhảy rất dài, vượt rất xa, thay đổi cả thế giới; hoặc là cái nguy cơ trượt xa khôn cùng xuống vực sâu của tăm tối, kiệt quệ, u uất và rệu rã.”. Tuổi trẻ tự bản thân nó đã là một tài sản, tự bản thân nó đã hàm chứa ánh sáng và hạnh phúc, khi bị dúi xuống bùn, cơ hội để nó vẫn toả sáng và thăng hoa sẽ lớn hơn so với khi bạn già đi.

    Ước mơ thuộc về tương lai mà người trẻ tuổi thì sống vì tương lai, vậy tại sao không sống và phấn đấu vì ước mơ của mình? Thành công bắt đầu từ suy nghĩ “dám ước mơ”. Chúng ta dám ước mơ, dám nghĩ khác và vượt khỏi những hạn hẹp của hoàn cảnh sống để thực hiện cho bằng được khát vọng của mình. Ước mơ cũng giống như những tên lửa đang chuẩn bị cất cánh, nhưng nếu không được châm ngòi bằng một niềm tin, ý chí và nỗ lực vượt khó thì mãi mãi nó chỉ nằm chỏng chơ trên mặt đất.

    Cuộc đời thật có quá nhiều ước mơ, có những ước mơ đã trở thành sự thật và cả những ước mơ mãi mãi chỉ là mơ ước mà thôi. Nhưng chúng ta hãy cảm nhận những ước mà trong chính con người mình và học cách để nuôi dưỡng nó. Trước hết, phải tìm cho mình một hoài bão, đam mê và tự đặt câu hỏi cho mình có dám đánh đổi tất cả để hoàn thành được ước nguyện đó hay không, Con đường biến ước mơ thành hiện thực đều phải trải qua ba giai đoạn: Điều đầu tiên và quan trọng nhất là phải nuôi trong mình một ước mơ, lẽ sống để có động lực phấn đấu và vươn lên. Tiếp đó, ta luôn có những kế hoạch và dự định để từng bước cụ thể hoá, hiện thực hoá ước mơ. Muốn làm được điều đó mỗi chúng ta cần tự trang bị cho mình kiến thức và nền tảng giáo dục vững chắc. Cuối cùng, phải biết kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình. Không thành công nào mà chưa từng trải qua thất bại, những bài học từ sai lầm đã qua sẽ tôi luyện cho ý chí thêm mạnh mẽ và vững vàng.

    Tất nhiên, không dễ để biến ước mơ thành hiện thực. Một ước mơ dù lớn hay nhỏ, được ấp ủ, nuôi dưỡng và hiện thực hoá là cả một quá trình với ý chí tự thân và những bước đi khoa học.

    Tôi là một người giàu có những ước mơ. Cũng như nhiều bạn bè khác, tôi ước mơ mình sống có ích, giàu có tri thức, giỏi nghề và tất nhiên thành đạt trong cuộc sống. Tôi bắt đầu lập kếhoạch cho mình từ những năm cuối trung học: phải vào được đại học. Phải cố gắng trong quá trình học đó để có được kết quả tốt. Tôi cũng sẽ tranh thủ những năm cuối đi làm thêm để lấy kinh nghiệm. Ra trường, tôi sẽ đi làm ở một công ty lớn mà ở đó tôi có cơ hội để thể hiện bản thân mình… Và kế hoạch vạch vẽ từ ngày chập chững nhận ra cuộc đời mình phải do chính mình xây nên đó đến nay tôi đã phần nào hoàn thành được: tôi đã vào được đại học, trong quá trình học tôi đã nỗ lực cố gắng và đạt được kết quả tốt, nhưng cũng có những việc mà bản thân tôi chưa thực hiện được trong kế hoạch nhỏ mà mình tự đặt ra đó: tôi đã không đi làm thêm trong những năm cuối đế lấy kinh nghiệm được vì tôi dành thời gian qua nhiều cho việc học, cho việc trang bị kiến thức, hành trang để bước vào cuộc sống thực tế, để thực hành những gì mình đã học, tôi cũng đã không làm ở một công ty lớn như mình đã định mà hiện tại tôi đang làm tại một cơ quan nhà nước. Ở đó, mọi thứ thật mới lạ so với những gì tôi đã học ở trường. Tôi nghĩ rằng, những lý thuyết, những bài học mà tôi đã học ở trường chỉ là một phần nhỏ trong cái thực tế to lớn này. Và tôi như đang phải học lại từ đầu trong một ngôi trường thực tế với những thử thách và khó khăn mới. Tôi phải nỗ lực hơn trong việc tìm tòi và học hỏi ở các cô chú, các anh chị đi trước để mong mình có thể thích nghi với ngôi trường mới này. Đó là cả một quá trình với ý chí và nỗ lực rất lớn vì thực tế bao giờ cũng khác nhiều so với những lý thuyết mà mình đã được trang bị.

    Một ước mơ mới, một kế hoạch mới sẽ được đặt ra cho một tương lai mới. Đó là điều tôi phải làm bây giờ. Trước tiên, tôi phải biết kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình để từng bước làm quen với công việc mới của mình, từng bước thích nghi với ngôi trường rộng lớn mà tôi là một sinh viên mới vào trường với những bỡ ngỡ, mọi thứ dường như mới lạ và tôi phải cố gắng học hỏi nhiều, phải cố gắng vận dụng những gì mình đã học vào những môn học thực tế mà tôi sẽ được học trong ngôi trường mới này. Tiếp đó, tôi sẽ phấn đấu trở thành một thành viên chính thức trong cơ quan của mình vì hiện giờ tôi vẫn là chuyên viên tập sự chưa phải là cán bộ chính thức. Điều này đòi hỏi một sự cố gắng và nỗ lực rất lớn của bản thân tôi. Sau khi trở thành một cán bộ chính thức bằng nhiệt huyết, quyết tâm và nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ tôi sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong công việc, tôi sẽ trở thành một cán bộ giỏi, một cán bộ tốt và thành đạt trong cuộc sống là mục tiêu cuối cùng của tôi.

    Tất nhiên, không dễ để biến ước mơ thành hiện thực. Nhưng ước mơ sẽ chỉ là mơ ước nếu ta không có một niềm tin, ý chí và nỗ lực vượt khó, không có sự kiên trì, nhẫn nại. Không thành công nào mà chưa từng trải qua thất bại, những bài học từ sai lầm đã qua sẽ tôi luyện cho ý chí thêm mạnh mẽ và vững vàng. “Tiếp tục cất bước, tiếp tục ước mơ và cố gắng thực hiện chúng – những điều chi có ước mơ mang lại được cho con người và tuổi trẻ…”.

    Cuộc đời của mỗi chúng ta là một câu chuyện, chính vì thế mà tại sao chúng ta lại không viết tất cả câu chuyện của chúng ta lên, để chia sẻ kinh nghiệm với nhau, cũng như để tạo cho các bạn trẻ chúng ta có những suy nghĩ theo chiều hướng tích cực hoặc lạc quan yêu đời hơn. Để cho cuộc sống của mỗi chúng ta là một màu hồng.

    Cũng chính vì thế mà qua cuộc thi này tôi muốn viết đôi dòng tâm sự về những ước mơ của mình. Và cũng hi vọng các bạn, các anh, chị chia sẻ những ước mơ để hy vọng một ngày mai tươi sáng hom, tốt đẹp hơn và to lớn hơn. “Hãy tin vào mình và những gì mình làm, bạn sẽ đạt được điều bạn muốn. Hãy theo đuổi những ước mơ của bạn đến cùng, bạn sẽ biến nó thành hiện thực”.

  • BỘ ĐỀ THI HỌC KÌ II MÔN HÓA HỌC LỚP 10 NĂM 2017-2018 (CÓ ĐÁP ÁN)

    BỘ ĐỀ THI HỌC KÌ II MÔN HÓA HỌC LỚP 10 NĂM 2017-2018 (CÓ ĐÁP ÁN)

    BỘ ĐỀ THI HỌC KÌ II MÔN HÓA HỌC LỚP 10 NĂM 2017-2018 (CÓ ĐÁP ÁN)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hoa


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BỘ ĐỀ THI HỌC KÌ II MÔN HÓA HỌC LỚP 10 NĂM 2017-2018 (CÓ ĐÁP ÁN)

    BỘ ĐỀ THI HỌC KÌ II MÔN HÓA HỌC LỚP 10 NĂM 2017-2018 (CÓ ĐÁP ÁN)

     

    1.     Đề thi học kì 2 môn Hóa học 10 năm 2017-2018 có đáp án – Trường THCS&THPT Võ Nguyên Giáp

    2.     Đề thi học kì 2 môn Hóa học 10 năm 2017-2018 có đáp án – Trường THPT Đoàn Thượng

    3.     Đề thi học kì 2 môn Hóa học 10 năm 2017-2018 có đáp án – Trường THPT Liễn Sơn

    4.     Đề thi học kì 2 môn Hóa học 10 năm 2017-2018 có đáp án – Trường THPT Lý Thái Tổ

    5.     Đề thi học kì 2 môn Hóa học 10 năm 2017-2018 có đáp án – Trường THPT Nguyễn Huệ

    6.     Đề thi học kì 2 môn Hóa học 10 năm 2017-2018 có đáp án – Trường THPT Phan Ngọc Hiển

    7.     Đề thi học kì 2 môn Hóa học 10 năm 2017-2018 có đáp án – Trường THPT Yên Lạc 2

     

    SỞ GD-ĐT TỈNH PHÚ YÊN

    ĐỀ THI HỌC KÌ II

    TRƯỜNG THCS&THPT VÕ NGUYÊN GIÁP

    MÔN: HOÁ HỌC –LỚP 10
    NĂM HỌC 2017 – 2018

    Thời gian làm bài: 45 phút.

    MÃ ĐỀ 01

    Họ và Tên………………………………………………………………..Lớp 10…

    1. PHẦN TRẮC NGHIỆM (24 câu – 6 điểm).CHỌN ĐÁP ÁN ĐÚNG RỒI KHOANH TRÒN Câu 1: Dãy các chất nào sau đây đều tác dụng với axit clohidric?
    2. A. Fe2O3, KMnO4, Cu, AgNO3. B. Fe2O3, KMnO4¸ CuO, AgNO3.
    3. Fe, CuO, H2SO4, Mg(OH)2 D. KMnO4, Cu, H2SO4, Mg(OH)2.

    Câu 2: Kim loại nào sau đây khi tác dụng với HCl và Clo cho cùng một muối clorua kim loại:

    1. Fe B. Mg C. Ag                                      D. Cu

    Câu 3: cho 15,8 gam KMnO4 tác dụng với dd HCl đậm đặc thu được V lít khí Cl2 (đktc). Giá trị của V

    1. 5,6 lít B. 2,8 lít C. 0,28                                    D. 0,56 lít

    Câu 4: Tính oxi hóa của các halogen giảm dần theo thứ tự nào sau đây:

    1. I2 > Br2 > Cl2 > F2. B. Cl2 > F2 > Br2 > I2. C. F2 > Cl2 > Br2 > I2. D. Cl2 > Br2 > I2 > F2.
    Câu 5: H2SO4 đặc, nguội không phản ứng với các kim loại nào sau đây? D. Fe, Zn, Mg
    A. Cu, Fe, Mg B. Al, Mg, Cu C. Al, Fe, Cr

    Câu 6: Hơi thuỷ ngân rất độc, bởi vậy khi làm vỡ nhiệt kế thuỷ ngân thì chất bột được dùng để rắc lên thuỷ ngân rồi gom lại là

    1. lưu huỳnh. B. vôi sống. C. cát.                                     D. muối ăn.

    Câu 7: Để phân biệt dung dịch Natri clorua và dung dịch Natri florua, người ta có thể dùng thuốc thử nào trong các chất sau đây:

    1. Dung dịch AgNO3. B. Dung dịch Ca(OH)2.
    2. Dung dịch Flo. D. Dung dịch Ba (OH)2.

    Câu 8: Hoà tan m gam Fe trong dung dịch HCl dư, sau khi phản ứng kết thúc thu được 4,48 lít khí H2 (ở đktc). Giá trị của m là

    1. 2,8. B. 1,4. C. 5,6.                                 D. 11,2.

    Câu 9:Nguyên tắc pha loãng axit Sunfuric đặc là:

    1. Rót từ từ nước vào axit và đun nhẹ B. Rót từ từ axit vào nước và đun nhẹ
    1. Rót từ từ nước vào axit và khuấy nhẹ D. Rót từ từ axit vào nước và khuấy nhẹ

    Câu 10: Dẫn 2,24 lít khí SO2 vào 150 ml dung dịch NaOH 1M, dung dịch thu được có chứa

    A. Na2SO3 và NaOH B. Na2SO3 C. NaHSO3 và Na2SO3 D. NaHSO3
    Câu 11: Công thức nào sau đây là của Oleum?
    A. HNO3.nSO3 B. H2SO3.nSO3 C. H2SO4 D. H2SO4.nSO3
    Câu 12: Cho các phản ứng sau:

    (1) SO2 + NaOH → NaHSO3    ;    (2) 5SO2 + 2KMnO4+ 2H2O → 2H2SO4 + K2SO4 + 2MnSO4 ;

    • SO2 + 2H2S → 3S + 2H2O ; (4) SO2 + 2H2O + Br2 → 2HBr + H2SO4 . Những phản ứng trong đó SO2 thể hiện tính khử là:

    A .3.                                              B. 2 và 4.                                    C. 3 và 4                                     D. 1, 2 và 4.

    Câu 13:Câu nào sau đây diễn tả đúng tính chất hóa học của lưu huỳnh?

    • .Lưu huỳnh chỉ có tính khử.
    1. Lưu huỳnh chỉ có tính oxi hóa.
    1. Tất cả đều sai.
    1. Lưu huỳnh vừa có tính khử, vừa có tính oxi hóa.

    Câu 14:Dãy kim loại phản ứng được với H2SO4 loãng là:

    1. K, Mg, Al B. Ag, Ba, Fe. C. Zn, Ag, Cu                          D. Au, Fe, Na

    Câu 15: Cho các phát biểu sau:

    (a) Tính chất hóa học cơ bản của các halogen là tính oxi hóa mạnh,

    GV: PHAN THỊ KIM HẬN                                                                                                                                                     Page 1

    • Khi đi từ flo đến iot, nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy của các đơn chất halogen tăng dần,
    • Trong hợp chất, halogen có số oxi hóa: -1, +1, +3, +5, +7,
    • Trong tự nhiên, hoalogen chủ yếu tồn tại ở dạng đơn chất
    • Ở điều kiện thường, brom lỏng màu đỏ nâu, dễ bay hơi và bị thăng hoa.
    Số phát biểu đúng là
    A. 3 B. 1 C. 2 D. 4

    Câu 16: Trong các thí nghiệm cho kim loại tác dụng với H2SO4 đặc nóng, sau phản ứng thường sinh ra một lượng lớn khí SO2 ( khí này rất độc, ảnh hưởng đến đường hô hấp..) Vậy để bảo vệ sức khỏe của người làm thí nghiệm ta xử lí khí SO2 bằng:

    1. Bông tẩm xút B. Bông tẩm KMnO4 C. Bông tẩm muối ăn           D. Cả A và B

    Câu 17: Số oxi hóa của Cl trong các chất sau: NaCl, Cl2, KClO3, HClO lần lượt là:

    1. +1; 0; +3; +1. B. -1; 0; +5; +1. C. 0; -1; +3; +2.                       D. -1; 0; +1; +5.

    Câu 18: Khí oxi có lẫn ít khí clo để thu được khí oxi tinh khiết người ta dẫn hỗn hợp khí qua dung dịch nào sau đây:

    1. NaOH B. NaCl. C. H2SO4 đặc                          D. NaNO3

    Câu 19: Hiện tượng đúng khi nhỏ dd I2/KI vào hồ tinh bột, sau đó đun nóng lên, rồi để nguội là:

    1. xuất hiện màu xanh tím, mất màu xanh, màu xanh quay trở lại.
    1. xuất hiện màu xanh tím,và màu xanh tím không đổi khi đun nóng hay để nguội.
    1. xuất hiện màu đỏ, mất màu đỏ, màu đỏ quay trở lại.
    1. xuất hiện màu xanh dương, mất màu xanh, màu xanh quay trở lại.

    Câu 20: Cặp thuốc thử dùng để phân biệt 3 dung dịch không màu sau: NaCl, Na2SO4, H2SO4 là:

    1. AgNO3, Qùy tím B. Qùy tím, BaCl2 C. NaOH, HCl                        D. H2SO4, AgNO3

    Câu 21: Cho hỗn hợp 6,4 gam Cu và 5,6 gam Fe tác dụng với lượng dư dung dịch axit H2SO4 đặc nóng, sau phản ứng thu được V lít khí SO2 (đktc) giá trị của V là:

    1. 11,2 B. 22,4 C. 5,6

    Câu 22: Cho O (Z =8) cấu hình electron của O2- là:

    1. 1s22s22p4 B. 1s22s22p2 C. 1s22s22p6

    Câu 23: Nước Gia – ven là hỗn hợp các chất nào sau đây?

    1. HCl, HClO, H2O B. NaCl, NaClO, H2O
    1. NaCl, NaClO3, H2O D.NaCl, NaClO4,H2O
    1. 6,72
    1. 1s22s22p63s2

    Câu 24: Đây là mô hình điều chế SO2 trong phòng thí nghiệm. quan sát mô hình và cho biết, khí SO2 thu bằng phương pháp nào và tại sao trên bình khí lại có bông tẩm NaOH:

    GV: PHAN THỊ KIM HẬN                                                                                                                                                     Page 2

    1. Phương pháp đẩy không khí, dùng bông tẩm NaOH ngăn không cho SO2 dư thoát ra ngoài.
    1. Phương pháp đẩy nước, dùng bông tẩm NaOH để cho khí tinh khiết hơn.
    1. Phương pháp đẩy không khí, dùng bông tẩm NaOH ngăn O2 đi vào bình.
    2. Phương pháp đẩy nước, dùng bông tẩm NaOH ngăn không cho SO2 dư thoát ra ngoài.
    1. PHẦN TỰ LUẬN(2 câu – 4,0 điểm)

    Câu 1: (2,0 điểm) Hoàn thành chuỗi phản ứng sau, cân bằng và ghi rõ điều kiện (nếu có).

    Câu 2: (2,0 điểm). Cho 13,6 gam hỗn hợp hai kim loại Fe và Mg tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng dư, thu được 6,72 lit khí H2.

    1. Viết các phương trình phản ứng xảy ra.
    2. Tính m và thành phần % về khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp .
    1. Cũng khối lượng Fe trên để lâu ngoài không khí , sau một thời gian thu được 14,4 gam hỗn hợp X gồm: Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3. Cho X phản ứng với lượng dư axit H2SO4 đặc nóng, thu được V lít SO2 (đktc). Giá trị của V là:

    (Cho biết Cu=64,Zn=65,Cl=35,5,S=32,O=16,H=1,Fe=56,Na=23,K=39,Mn=55,Br=80)

    Học sinh không được sử dụng bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học

    *******************************HẾT*************************************

    GV: PHAN THỊ KIM HẬN                                                                                                                                                     Page 3

    ĐÁP ÁN ĐỀ THI HỌC KÌ II HÓA HỌC 10 NĂM HỌC 2017-2018

    1. TRẮC NGHIỆM:

    ĐỀ 1:

    Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
    Đáp án B B A C C A A D D C D B
    Câu 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24
    Đáp án D A A D B A A B C C B A
    B. TỰ LUẬN:
    Câu Đáp án tham khảo Điểm
    (1) S + O2 → SO2 0,5
    (2) SO2 + Br2 +2H2O → 2HBr + H2SO4
    0,5
    1 (3) 3H2SO4 + Fe2O3 → Fe2(SO4)3 + 3H2O
    0,5
    ( 2, 0 điểm ) (4) Fe2(SO4)3 + 3BaCl2 → 3BaSO4 + 2FeCl3
    0,5
    Fe +H2SO4 → FeSO4 + H2
    a mol a 0,5
    a Mg + H2SO4  →MgSO4 + H2
    b b
    – Gọi a, b lần lượt là số mol của Fe và Mg. 0,25
    – Ta có: khối lượng 2kl là 13,6→
    56a + 24b =13,6 (1)
    – mặc khác: nH2 = 6,72/22,4 = 0,3 mol. 0,25
    Vậy: a + b = 0,3 (2)
    b – giải hệ phương trình (1) và (2) ta được:
    a = 0,2 mol, b= 0,1 mol.
    Vậy mFe = 0,2*56 =11,2 gam; 0,25
    mMg = 0,1*24 = 2,4 gam.
    – vậy: %mFe = (11,2/13,6)*100 = 82,35%
    %mMg = 17,65% 0,25
    2 – Quy hỗn hợp rắn X thành Fe và O2
    Gọi x, y lần lượt là số mol của Fe và O2
    ( 2, 0 điểm )
    – Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng
    56x + 32y = 14,4; x =0,2 mol vậy: y= 0,1 mol
    – Bản chất cho rắn X tác dụng với H2SO4 đặc
    nóng chính là cho Fe và O2 tác dụng với H2SO4
    đặc nóng.
    0 +3
    c Fe – 3e Fe 0,5
    0,2 0,6 mol
    0 -2
    O2 + 4e 2O
    0,1 0,4 mol
    +6 +4
    S + 2e S
    2x x

    Áp dụng định luật bảo toàn electron ta có: 0,6 =

    0,4 + 2x; vậy x = 0,1 mol

    Vậy VSO2 = 2,24 lít.

    GV: PHAN THỊ KIM HẬN                                                                                                                                                     Page 4

    SỞ GD&ĐT HẢI DƯƠNG

    ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II

    TRƯỜNG THPT ĐOÀN THƯỢNG

    MÔN HÓA HỌC 10- NĂM HỌC 2017 – 2018
    Thời gian làm bài: 45 phút
    Câu 1(3,0 điểm) Viết các phương trình phản ứng xảy ra (ghi rõ điều kiện, nếu có):
    d/ Cho C + H2SO4 đặc, nóng
    a/ Cho Fe + Cl2 (t0)
    b/ Cho Br2 + dd KI e/ Cho Zn(OH)2 + dd axit HCl
    c/ Cho Ag + hỗn hợp khí (O2, O3) ở đk thường f/ Sục SO2 vào dd H2S
    Câu 2 (2,0 điểm)

    1/ Bằng phương pháp hóa học (Không dùng chỉ thị: quì tím, phenolphtalein) hãy phân biệt 3

    dung dịch loãng mất nhãn đựng một trong các chất sau: HCl; K2S; Na2SO4 (Không dùng sơ đồ để trình bày).

    2/ Viết 1 PTHH điều chế O2 trong CN từ nước và 1 PTHH điều chế clorua vôi từ Ca(OH)2. Câu 3 (2,0 điểm)

    Chia m gam hỗn hợp X gồm: FeO và MgCO3 thành 2 phần bằng nhau:

    P1: Hòa tan trong dd H2SO4 loãng, dư đến pứ hoàn toàn thu được 0,672 lít khí Y (ở đktc).

    P2: Tác dụng với V (ml) dd H2SO4 đặc, nóng, dư thu được 1,008 lít hỗn hợp khí Z (ở đktc, SO2 là sản phẩm khử duy nhất của S+6).

    a/ Viết PTHH xảy ra? Tính %m mỗi chất trong hỗn hợp X.

    b/ Dẫn lượng khí Y thu được ở phần 1 vào 35 ml dung dịch Ba(OH)2 1M thu được a gam kết tủa. Tính a?

    Câu 4(1,5 điểm)

    1/ Cân bằng sau được thực hiện trong hệ kín:

    4NH 3 (k) + 3O 2 (k)                   2N 2 (k) +  6H 2 O (k)              H = -1268kJ

    Trong các yếu tố: (1) Thêm một lượng hơi nước; (2) Tăng áp suất của hệ; (3) Thêm một chất xúc tác; (4) Tăng nhiệt độ của hệ. Yếu tố nào làm cho cân bằng hóa học chuyển dịch theo chiều nghịch?

    2/ Cho phản ứng sau: N2 (K) + 3H2(K)  2NH3(K) trong bình kín có dung tích không đổi. Nồng độ ban đầu của H2 là 0,08M, sau 40 giây nồng độ của nó chỉ còn lại là 0,03M. Tốc độ trung bình của pứ trong khoảng thời gian 40 giây (tính theo H2) là x. Tính x.

    Câu 5 (1,5 điểm)

    Nhiệt phân 11,85 gam KMnO4 trong không khí một thời gian thu được m gam hỗn hợp chất rắn A. Cho A tác dụng hết với dd HCl đặc, nóng, dư được V(lít) khí Cl2 (đktc). Dẫn lượng Cl2 trên vào dd Ca(OH)2 (300) vừa đủ thu được clorua vôi là hỗn hợp của CaCl2, CaOCl2, Ca(ClO)2 và nước. Sau khi loại bỏ nước, thu được 15,24 gam hỗn hợp X chứa 50% CaOCl2; 28,15% Ca(ClO)2 còn lại CaCl2 (theo khối lượng). Tính m, V và hiệu suất pứ nhiệt phân KMnO4?

    Cho nguyên tử khối: C = 12; H = 1, O = 16; N = 14; Ca = 40; Na = 23; K = 39; Cl = 35,5; S = 32; Mg = 24; Fe = 56; Mn = 55; Ba = 137; Al = 27; Br = 80; Ag = 108.

    ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM CHẤM HK II

    Môn: Hóa học – Khối 10

    Năm học: 2017 – 2018

    Câu Ý/điểm Đáp án Điểm
    1(3,0) 1 PTPƯ đúng là 0,5đx6pt 3,0
    1PTPƯ không cân bằng hoặc không ghi điều kiện (nếu có) thì trừ
    0,125đ/pt đó
    1/1,0 -Trích mẫu thử, đánh STT 0,25
    – Chọn thuốc thử để phân biệt được 1 chất: Nêu hiện tượng, viết 0,25đ/1
    PTHH
    – Kết luận chất còn lại. 0,25
    Lưu ý: HS dùng AgNO3 ngay từ đầu không cho điểm vì Ag2SO4 ít
    2(2,0) tan
    2/1 Viết 2 PT: 0,5
    2H 2O dp
    2H 2  O2
    Cl2 + Ca(OH)2 300 + H2O 0,5
    CaOCl2
    P1: Viết 2 pt 0,25
    a/ nY = nCO2 = 0,03 mol = nMgCO3 0,25
    3(2,0đ)
    P2: Viết 2 pt 0,25
    nZ = 0,045 mol = nCO2  + nSO2 0,25
    –> nSO2 = 0,015mol –> nFeO = 0,03 mol.
    Tính được khối lượng của 2 chất trong 1 phần:
    mFeO  + mMgCO3 = 2,16 + 2,52 = 4,68 g 0,25
    Tính được: %mFeO  = 46,15% và % mMgCO3 = 53,85% 0,25
    b/ Tính được số mol Ba(OH)2  = 0,035 mol   nOH  =  0,07. 0,25
    Tính TBA = 2,33   Pư tạo muối trung hòa:
    CO2  + Ba(OH)2BaCO3  + H2O 0,25
    0,03 0,035 0,03
    a = mBaCO3 = 5,91 gam
    1/0,75 Xác định đúng 3 yếu tố: (1), (2), (4) mỗi yếu tố được 0,25 0,75
    4(1,5đ) 2/0,75 Tính được nồng độ của H2 pứ = 0,08 – 0,03 = 0,05M 0,25
    Tốc độ trung bình của pứ theo H2:
    0,5
    x = v   0,05  1,25.10 3 (mol / l.s)
    40
    Nếu không ghi đúng đơn vị của x thì trừ 0,25 đ
    5(1,5) PTPƯ nhiệt phân: 0,25
    2KMnO4 t 0
    K2MnO4 + MnO2 + O2
    nbd 0,075
    npư x x/2 x/2
    ndư 0,075-x
    Hỗn hợp A gồm KMnO4 dư, K2MnO4, MnO2 0,25
    0,075 -x x/2 x/2  mol
    Viết các QT cho – nhận: 0,25
    Mn+7 + 5e Mn+2
    0,075-x 5(0,075-x) mol
    Mn+6 + 4e Mn+2
    x/2 2x mol
    Mn+4 + 2e Mn+2
    x/2 x mol
    2Cl Cl2 0+ 2e
    Áp dụng bảo toàn e tính được: ne nhường  = 0,375 – 2x = 2nCl2 0,25
    * Cho Cl2 tác dụng với dd Ca(OH)2: 0,25
    Cl2 + Ca(OH)2 → CaOCl2 + H2O
    2Cl2 + 2Ca(OH)2 → Ca(ClO)2+ CaCl2 + H2O
    Tính được số mol các chất trong A: CaOCl2 (0,06 mol); Ca(ClO)2
    (0,03 mol); CaCl2: 0,03 mol.
    Số mol Cl2 = 0,12 mol
    • VCl2 = 2,688 lít
    Vậy: ne nhường  = 0,375 – 2x = 2nCl2  = 2.0,12 0,25
    → x = 0,0675
    H = (0,0675/0,075).100% = 90%
    mA = m = 10,77 gam

    Ghi chú:          1. HS làm theo cách khác vẫn đạt điểm tối đa.

    1. GV chấm lưu ý những chú ý trong hướng dẫn chấm.

     

    SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

    MA TRẬN

    TRƯỜNG THPT LIỄN SƠN

    ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2017-2018
    Môn: HÓA HỌC 10
    Thời gian làm bài: 45 phút
    Nội dung Mức độ nhận thức Cộng
    kiến thức Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng ở
    mức cao hơn
    Nhóm -TCVL,tính tan của -Tính chất hóa học -Khả năng phản -Tính toán
    Halogen clo,HCl,muối clorua của Clo,Brom, ứng của Clo, liên quan
    -Ứng dụng của clo HCl,muối clorua. HCl,Muối clorua. đến C%
    ,nước gia ven. -Nhận biết được dung dịch
    gốc clorua. HCl
    Số câu hỏi 2TN 5TN 1TN+ 1a,b(TL) 1( câu 3 9,5
    TL)
    Số điểm 0,6 1,5 1.3 2,5 5,9 đ
    Oxi-lưu Tính chất hóa học Khả năng phản ứng Bài tập  tính
    huỳnh của O2 ,S của O2 ,S khối lượng
    ,H2SO4,H2S, SO2 ,H2SO4,H2S, SO2 muối dựa vào
    muối sunphat. muối sunphat. phản ứng của
    Xác định sản phẩm SO2 với dung
    phản ứng của SO2 với dịch bazơ
    dung dịch bazơ theo theo tỉ lệ mol
    tỉ lệ mol khác nhau khác nhau tạo
    tạo muối axit hoặc muối axit
    trung hòa hoặc cả hai hoặc trung
    . hòa hoặc  cả
    hai .
    Số câu 1TN 1c,d(TL) 1TL( câu 2) 2,5
    hỏi
    Số điểm 0.3 1,0 2.5 3,8 đ
    Tốc độ Các yếu tố ảnh
    phản ứng hưởng đến tốc độ
    và cân phản ứng ,cân bằng
    bằng hóa hóa học
    học
    Số câu 1TN 1
    hỏi
    Số điểm 0,3 0.3đ

    SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

    ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2017-2018

    TRƯỜNG THPT LIỄN SƠN

    Môn: HÓA HỌC 10
    Thời gian làm bài: 45 phút

    PHẦN I: TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN (3,0 điểm)

    Câu 1: Khi tham gia các phản ứng hóa học, 1 nguyên tử oxi có khả năng dễ dàng:

    A. nhận thêm 2e. B. nhận thêm 1e. C. nhường đi 4e. D. nhường đi 2e.
    Câu 2 : Đặc điểm nào dưới đây là đặc điểm chung của các nguyên tố halogen?
    A. Có tính oxi hóa mạnh nhất trong mỗi chu kỳ. B. Vừa có tính oxi hóa vừa có tính khử.
    C. Ở điều kiện thường là chất khí. D. Tác dụng mạnh với nước.
    Câu 3: Trong số các chất dưới đây, đơn chất halogen nào sau đây có tính oxi hóa yếu nhất?
    A. Flo. B. Iot. C. Clo. D. Brom.
    Câu 4: Nhóm đơn chất nào sau đây vừa có tính oxi hóa vừa có tính khử
    A. O3, S, Br2. C. Na, O2, S.
    B. Cl2, S, Br2. D. S, F2, Cl2.
    Câu 5: Dung dịch axit nào sau đây không thể chứa trong bình thủy tinh?
    A. HCl. B. HBr. C. HF. D. HI.
    Câu 6: Công thức phân tử của clorua vôi là :
    A. CaCl2. B. Ca(OCl)2. C. CaOCl2. D. CaClO2.
    Câu 7: Trong công nghiệp, khí clo thường được điều chế bằng cách
    A. Điện phân nước. B. Chưng cất phân đoạn không khí lỏng.
    C. Điện phân dung dịch NaCl có màng ngăn. D. Nhiệt phân muối KClO3.

    Câu 8: Tốc độ phản ứng chỉ có chất rắn tham gia và tạo thành sau phản ứng không phụ thuộc vào

    1. nhiệt độ. B. diện tích bề mặt tiếp xúc. C. áp suất .             D. khuấy trộn.

    Câu 9: Khí hiđroclorua có thể điều chế đươc bằng phản ứng giữa tinh thể muối ăn với:

    1. Xút. B. Axit H2SO4 loãng. C. H2O.                  D. Axit H2SO4 đặc, đun nóng.

    Câu 10: Thuốc thử dùng để phân biệt các dung dịch muối halogenua là:

    1. quỳ tím. B. dung dịch Na2SO4. C. dung dịch Ba(NO3)2.                D. dung dịch AgNO3.

    PHẦN II: TỰ LUẬN (7,0 điểm)

    Câu 1 (2 điểm): Hoàn thành các phương trình phản ứng :

    1. a) AgNO3 + NaBr ->
    2. b) Al +  Cl2  ->
    3. SO2 +  H2S ->
    4. SO2 + NaOH ->

    Câu 2: (2,5 điểm)

    Cho 8,4 gam Fe tác dụng với lượng dư dung dịch H2SO4 loãng, dư thu được dung dịch X chứa m gam muối và V lít khí H2 (đktc).

    1. Viết phương trình phản ứng xẩy ra
    2. Tính V, m.

    Câu 3: (2,5 điểm)

    Khi đun nóng 25,28 gam kali pemanganat thu được 23,52 gam hỗn hợp rắn. Hãy tính thể tích khí clo (đktc) thu được khi cho hỗn hợp rắn đó tác dụng hoàn toàn với axit clohiđric đậm đặc, dư ?

    Cho biết: Zn = 65; Cu=64; K=39; O=16; Cl= 35,5; Mn= 55; N= 14; Na= 23; S=32;Fe=56

    ————-HẾT————-

     

    SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

    ĐÁP ÁN

    TRƯỜNG THPT LIỄN SƠN

    ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2017-2018

    Môn: HÓA HỌC 10

    PHẦN I: TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN (3,0 điểm)

    Mổi câu đúng ứng với 0,3 điểm

    Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
    Đáp án A A B B C C C C D D
    PHẦN II: TỰ LUẬN ( 7điểm)
    Câu 1 (2 điểm) : Mổi phần đúng được 0,5 điểm( riêng phần d có hai trường hợp).
    ( Nếu tổng điểm của bài thi > 9 phản ứng d) phải lưu ý hai trường hợp)
    Câu 2 (2,5 điểm) Tính được số mol Fe=0,15 mol (được 0,5 điểm)
    Fe + H2SO4 -> FeSO4 + H2 (0,5 điểm)
    0,15 0,15 0,15 mol ( 0,5 điểm)
    Tính được: V = 3,36 (lít) ( 0,5 điểm)
    m = 22,8 gam ( 0,5 điểm)

    Câu 3 (2,5điểm)

    25, 28

    n KMnO4     158     0,16mol

    Ta có sơ đồ phản ứng:

    (0,5 điểm)
    t0 O2 HCl ( 0,5 điểm)
    KMnO4 KCl, MnCl2,Cl2+H2O
    K2 MnO4 , MnO2 , KMnO4

    Theo bảo toàn khối lượng ta tính được:

    n 25, 28  23,52 0,055mol
    O 32
    2
    Áp dụng phương pháp bảo toàn e toàn quá trình ta có :
    Mn+7 + 5e -> Mn+2
    0,16 0,8 ( 0,5 điểm)
    2O-2 -> O2 + 4e
    Cl 0,055 0,22
    -> Cl2 + 2e (0,5 điểm)
    x 2x
    Ta có : 0,8  = 0,22 + 2x => x = 0,29  =>  V = 6,496( lít) (0,5 điểm)
    (Nếu học sinh giải theo cách khác mà đúng vẩn cho điểm tối đa)

    ————-HẾT————-

     

    SỞ GD & ĐT BẮC NINH

    ĐỀ THI CUỐI HỌC KÌ 2 NĂM 2017 – 2018

    TRƯỜNG THPT LÝ THÁI TỔ

    Môn: Hóa học lớp 10
    Ngày thi: 03/05/2018
    Thời gian làm bài: 50 phút;
    (40 câu trắc nghiệm)
    Mã đề 134

    Họ và tên:……………………………………… Số báo danh:……………………

    (Biết NTK của Fe=56; Cl=35,5; Br=80; Na=23; K=39; Mn=55; O=16; Mg=24; Cu=64; Ca=40;

    Al=27; Zn=65; S=32; H=1)

    Câu 1: Ở điều kiện thường, chất nào sau đây có màu tím:

    1. Cl2 B. I2 C. O2                                       D. Br2

    Câu 2: Cho 10 g oxit của kim loại hóa trị II tác dụng vừa hết với 500 ml dd HCl 1,0M. Công thức

    phân tử của oxit là :

    1. MgO B. CaO C. CuO                                   D. FeO

    Câu 3: Cho 4,05 gam một kim loại tác dụng hết với H2SO4 đặc, nóng dư thu được 5,04 lít khí SO2 (đktc). Tên kim loại là:

    1. sắt B. kẽm C. nhôm                                D. đồng

    Câu 4: Dung dịch nào sau đây ăn mòn được thủy tinh

    1. H2SO4 đậm đặc B. HCl C. HF                                      D. HNO3

    Câu 5: Đốt cháy hoàn toàn m gam Fe trong khí Cl2 dư, thu được 6,5 gam FeCl3. Giá trị của m là

    1. 2,24. B. 2,80. C. 1,12.                                  D. 0,56.

    Câu 6: Cho 1,58 gam KMnO4 tác dụng hoàn toàn với dung dịch HCl đặc, dư. Thể tích khí thu được ở đktc là:

    A. 0,56 lit. B. 5,6 lit. C. 4,48 lit. D. 8,96 lit.
    Câu 7: Phương trình phản ứng thể hiện tính oxi hóa của SO2
    A. SO2 + KOH → KHSO3 B. 2SO2 + O2 → 2SO3
    C. SO2 + Br2 + 2H2O → H2SO4 + 2HBr D. SO2 + 2H2S → 3S + 2H2O
    Câu 8: Câu nào sau đây sai khi nhận xét về ozon?
    A. Ozon có tính oxi hóa mạnh hơn oxi B. Ozon oxi hóa được Ag thành Ag2O
    C. Phân tử ozon bền hơn phân tử oxi D. Phân tử ozon kém bền hơn phân tử oxi.

    Câu 9: Trong PTN, người ta thu khí X bằng phương pháp đẩy nước. Vậy X có thể là khí nào sau đây?

    1. O2 B. Cl2

    Câu 10: Khí có mùi trứng thối là

    1. H2S B. SO2
    1. SO2
    1. HCl
    1. H2S
    1. Cl2

    Trang 1/5 – Mã đề thi 134

    Câu 11: Thí nghiệm nào sau đây không xảy ra phản ứng

    1. Sục khí CO2 vào nước Gia-ven. B. Sục khí H2S vào dung dịch FeCl2.
    1. Sục khí SO2 vào dung dịch NaOH. D. Sục khí Cl2 vào dung dịch H2S.

    Câu 12: Dung dịch H2S để lâu ngày trong không khí thường có hiện tượng

    1. xuất hiện chất rắn màu đen B. bị vẩn đục, màu vàng
    1. chuyển thành màu nâu đỏ D. vẫn trong suốt không màu

    Câu 13: Lưu huỳnh đioxit có công thức hóa học là

    1. FeS2. B. SO3 C. H2S                                    D. SO2.

    Câu 14: Trong các phản ứng sau đây, phản ứng nào chứng minh axit HCl có tính oxi hóa?

    A. MnO2 + 4HCl → MnCl2 + Cl2 + 2H2O B. 2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2
    C. Fe2O3 + 6HCl → 2FeCl3 + 3H2O D. Cu(OH)2 + 2HCl → CuCl2 + 2H2O
    Câu 15: Chất nào sau đây thuộc loại muối sunfat?
    A. K2SO3 B. Na2S C. NaCl D. BaSO4
    Câu 16: Phương trình phản ứng viết sai là:
    A. CuO + H2SO4 loãng → CuSO4 + H2O .B. Fe + H2SO4 loãng → FeSO4  + H2.
    C. Cu + H2SO4 loãng → CuSO4 + H2. D. FeO+ H2SO4 loãng → FeSO4 + H2O.
    Câu 17: Dãy kim loại nào sau đây thụ động trong H2SO4 đặc, nguội.
    A. Na, Ba B. Mg, Zn C. Al, Fe D. Cu, Ag

    Câu 18: Chất nào sau đây khi tác dụng với axit H2SO4 đặc, nóng có thể giải phóng khí SO2 ?

    1. MgO B. ZnO C. Al2O3                                D. FeO
    1. Axit H2SO4 đặc có tính háo nước và tính oxi hóa mạnh.

    Câu 20: Số oxi hóa của Clo trong NaClO là

    1. +1 B. +3 C. +5                                       D. +7

    Câu 21: Chất khí được dùng để diệt trùng nước sinh hoạt, nước bể bơi… là:

    1. F2 B. CO2 C. Cl2                                      D. N2

    Câu 22: Chọn nhận xét sai:

    1. Trong các phản ứng hóa học, flo chỉ thể hiện tính oxi hóa.
    1. Tính oxi hóa của halogen tăng dần theo thứ tự F2 < Cl2 < Br2 < I2.
    1. Dung dịch NaF loãng được dùng làm thuốc chống sâu răng.
    1. Dung dịch axit flohiđric (HF) có tính axit yếu.

    Trang 2/5 – Mã đề thi 134

    Câu 23: Trong hợp chất nào, nguyên tố S thể hiện tính oxi hóa và tính khử ?

    1. Na2S B. H2S2O7 C. SO2                                    D. H2SO4

    Câu 24: Cho 10 gam hỗn hợp bột Mg và Fe tác dụng với dd HCl dư thấy có 5,6 lit khí (đktc) bay

    ra. Hỏi có bao nhiêu gam muối clorua tạo thành
    A. 40,5g B. 45,5g C. 27,75g D. 60,5g
    Câu 25: Khí Clo không phản ứng với chất nào sau đây?
    A. NaI B. NaOH C. NaBr D. NaCl
    Câu 26: Hoá chất dùng để nhận biết 4 dd: NaF, NaCl, NaBr, NaI là
    A. H2SO4 B. NaOH C. NaNO3 D. AgNO3
    Câu 27: Các ứng dụng của nước Gia-ven, clorua vôi chủ yếu dựa trên tính chất nào của chúng?
    A. tính khử mạnh B. tính tẩy trắng. C. tính sát trùng. D. tính oxi hoá mạnh.

    Câu 28: Cho hỗn hợp gồm 6,4 gam Cu và 5,6 gam Fe vào dd H2SO4 loãng dư sinh ra V lit khí H2 (đktc). Giá trị của V là:

    1. 2,24 lit. B. 4,48 lit. C. 1,12 lit.                            D. 3,36 lit.

    Câu 29: Các nguyên tố nhóm halogen có cấu hình eletron lớp ngoài cùng là

    1. ns2np5 B. ns2np4 C. ns2np3                               D. ns2np6

    Câu 30: Để trung hòa 20 ml dung dịch HCl 0,1M cần 16 ml dung dịch NaOH nồng độ x mol/l. Giá

    trị của x là
    A. 0,25. B. 0,125. C. 0,34. D. 0,2.

    Câu 31: Hòa tan hết 1,69 gam oleum có công thức H2SO4.3SO3 vào nước dư. Trung hòa dung dịch thu được cần V ml dung dịch KOH 1M. Giá trị của V là

    1. 10 B. 40 C. 20                                       D. 30

    Câu 32: Hỗn hợp ban đầu SO2 và O2 có tỉ khối hơi đối với H2 bằng 24. Cần thêm bao nhiêu lít SO2 vào 10 lít hỗn hợp ban đầu để hỗn hợp sau có tỉ khối hơi so với H2 bằng 25,6. Các khí đo ở cùng điều kiện.

    1. 2,5 lít. B. 7,5 lít. C. 8 lít.                                   D. 5 lít.

    Câu 33: Có 200ml dd H2SO4 98% (D = 1,84 g/ml). Người ta muốn pha loãng thể tích H2SO4 trên

    thành dung dịch H2SO4 49% thì thể tích nước cần pha loãng là bao nhiêu?
    A. 621,28cm3 B. 368,00 cm3 C. 533,60 cm3 D. 711,28cm3

    Câu 34: Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp gồm 2,7 gam Al và 3,6 gam Mg trong hỗn hợp khí X gồm Cl2 và O2 có tỉ khối so với H2 là 25,75. Sau khi các phản ứng xay ra hoàn toàn, thu được m gam hỗn hợp chất rắn gồm muối và oxit (không còn dư khí). Giá trị của m là

    1. 20,22 gam. B. 18,32 gam. C. 16,6 gam.                        D. 11,45 gam.

    Trang 3/5 – Mã đề thi 134

    Câu 35: Một bình kín dung tích không đổi chứa khí ozon, sau một thời gian bị phân hủy dần, tạo thành oxi. Một học sinh nêu ra các nhận xét sau:

    (1) Khối lượng hỗn hợp khí trong bình tăng lên. (2) Thể tích hỗn hợp khí trong bình tăng lên.
    (3) Số mol hỗn hợp khí trong bình tăng lên. (4) Tỉ khối của hỗn hợp khí trong bình tăng lên.
    Số nhận xét đúng là:
    A. 4 B. 2 C. 3 D. 1

    Câu 36: Hoà tan hết 50 gam hỗn hợp gồm Cu và CuO trong dung dịch H2SO4 đặc nóng dư. Khí SO2 sinh ra làm mất màu vừa đủ 200 ml dd Br2 2M. Hàm lượng % của CuO trong hỗn hợp là:

    1. 64,4%. B. 25,6%. C. 36%.                                 D. 48,8%.

    Câu 37: Cho các chất sau: FeO, Cu, MnO2, CaCO3. Số chất có thể phản ứng được với dung dịch HCl loãng là

    1. 1 B. 2 C. 4                                          D. 3

    Câu 38: Hỗn hợp H gồm 2 muối X và Y là 2 muối halogenua của 2 kim loại kiềm với 2 halogen (2 kim loại kiềm và 2 halogen đều thuộc 2 chu kì liên tiếp trong bảng tuần hoàn và MX < MY). Cho 22,9 gam H tác dụng vừa đủ với 250 ml dd AgNO3 1M, sau phản ứng thu được 42,55 gam hỗn hợp kết tủa G. Tính % khối lượng của muối X trong H.

    A. 32,53% B. 25,55% C. 38,32% D. 29,12%
    Câu 39: Thí nghiệm nào không sinh ra đơn chất:
    A. SO2 + dung dịch H2S → B. F2 + H2O →;
    C. Cl2 + dung dịch H2S → D. O3 + dung dịch KI →;

    Câu 40: Cho các chất Fe, ZnS, Ag, MgO. Số chất tác dụng với H2SO4 loãng và đặc đều cho cùng một loại muối sunfat là

    A. 1 B. 2 C. 3 D. 4
    ———– HẾT ———-

    Trang 4/5 – Mã đề thi 134

    Đáp án hóa 10 cuối kì 2 năm 2017 – 2018

    134 210 356 483
    1 B 1 A 1 C 1 A
    2 A 2 B 2 A 2 D
    3 C 3 D 3 D 3 A
    4 C 4 A 4 C 4 C
    5 A 5 C 5 A 5 D
    6 A 6 D 6 C 6 B
    7 D 7 C 7 C 7 A
    8 C 8 C 8 B 8 B
    9 A 9 D 9 A 9 B
    10 A 10 D 10 C 10 D
    11 B 11 C 11 D 11 C
    12 B 12 A 12 B 12 C
    13 D 13 D 13 B 13 D
    14 B 14 D 14 A 14 B
    15 D 15 A 15 B 15 C
    16 C 16 B 16 A 16 C
    17 C 17 C 17 A 17 D
    18 D 18 C 18 D 18 A
    19 D 19 A 19 A 19 A
    20 A 20 A 20 D 20 D
    21 C 21 C 21 D 21 D
    22 B 22 D 22 D 22 A
    23 C 23 C 23 C 23 C
    24 C 24 C 24 B 24 B
    25 D 25 D 25 A 25 C
    26 D 26 B 26 D 26 B
    27 D 27 A 27 B 27 C
    28 A 28 B 28 D 28 A
    29 A 29 D 29 C 29 A
    30 B 30 A 30 D 30 D
    31 B 31 A 31 A 31 B
    32 A 32 B 32 B 32 D
    33 B 33 B 33 C 33 D
    34 C 34 D 34 B 34 B
    35 D 35 B 35 B 35 A
    36 D 36 B 36 D 36 C
    37 B 37 B 37 A 37 B
    38 A 38 C 38 C 38 B
    39 C 39 B 39 B 39 C
    40 B 40 A 40 C 40 A

    Trang 5/5 – Mã đề thi 134

    TRƯỜNG THPT NGUYỄN HUỆ

    ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2017-2018
    MÔN: HÓA HỌC 10
    Thời gian làm bài: 45 phút;
    Mã đề thi 1001
    ………………………………………………………………..………..Họvàtên:

    (Cho biết khối lượng nguyên tử các nguyên tố: H = 1; C = 12; N = 14; O = 16; Na = 23; Mg = 24; Al = 27; S=32; Cl = 35,5; K = 39; Ca = 40; Fe = 56; Cu = 64; Zn = 65; Br = 80;I=127; Ag = 108; Ba = 137)

    Câu 1: Cấu hình electron lớp ngoài cùng của các nguyên tố nhóm halogen là
    A. ns2np4. B. ns2np3. C. ns2np5. D. ns2np6.
    Câu 2: Theo chiều tăng điện tích hạt nhân thì khả năng oxi hóa của các halogen đơn chất:
    A. tăng dần. B. giảm dần. C. không thay đổi. D. vừa tăng, vừa giảm.
    Câu 3: Công dụng nào sau đây không phải của NaCl?
    A. Làm thức ăn cho người và gia súc. B. Điều chế Cl2, HCl, nước Javen.
    C. Làm dịch truyền trong y tế. D. Khử chua cho đất.
    Câu 4: Thuốc thử đặc trưng để nhận biết ra hợp chất halogenua trong dung dịch là:
    A. AgNO3 B. Ba(OH)2 C. NaOH D. Ba(NO3)2

    Câu 5: Cho hình vẽ mô tả thí nghiệm điều chế Clo từ MnO2 và dung dịch HCl như sau:

    Khí Clo sinh ra thường lẫn hơi nước và khí hiđro clorua. Để thu được khí Clo khô thì bình (1) và bình (2) lần

    lượt đựng

    1. Dung dịch H2SO4 đặc và dung dịch NaCl. B. Dung dịch NaCl và dung dịch H2SO4 đặc.
    2. Dung dịch H2SO4 đặc và dung dịch AgNO3. D. Dung dịch NaOH và dung dịch H2SO4 đặc.

    Câu 6: Hòa tan hoàn toàn 91,35 gam MnO2 trong dung dịch   HCl đặc, nóng, dư thì sau phản ứng thu được V lít

    khí Cl2 (đktc). Gía trị của V là: C. 15,68. D. 11,76.
    A. 19,6. B. 23,52.
    Câu 7: Phương trình hóa học nào sau đây không thể xảy ra?
    A. KBrdung dịch + Cl2 B. NaIdung dịch + Br2
    C. H2Ohơi nóng+ F2 D. KBrdung dịch + I2

    Câu 8: Cho 75 gam hỗn hợp X gồm CaCO3 và KHCO3 tác dụng vừa đủ với m gam dung dịch HCl 20% (d=1,2g/ml). Gía trị của m là:

    1. 228,12. B. 82,5. C. 270.                                    D. 273,75.

    Câu 9: Cho 11,7 gam hỗn hợp bột Mg và Al tác dụng hết với dung dịch HCl dư thu được dung dịch Y và V lít khí

    H2 (đktc). Cô cạn dung dịch Y thu được 54,3 gam muối clorua khan. Gía trị của V là: D. 6,72.
    A. 10,08. B. 13,44. C. 3,36.
    Câu 10: Tính chất hóa học của axit clohiđric là:
    A. Là axit mạnh, có tính oxi hoá, không có tính khử.
    B. Là axit mạnh, có tính khử, không có tính oxi hoá.
    C. Là axit mạnh, có tính oxi hoá, có tính khử, dễ bay hơi.
    D. Là axit mạnh, có tính oxi hoá, có tính khử.
    Câu 11: Phương trình hóa học nào dưới đây không đúng?
    A. NaCl + AgNO3     AgCl + NaNO3. B. HCl + AgNO3      AgCl + HNO3.
    C. 2HCl + Cu    CuCl2 + H2. D. 2HCl + FeS    FeCl2 + H2S.
    Câu 12: Trong tự nhiên, Clo tồn tại chủ yếu dưới dạng
    A. Khoáng vật sinvinit (KCl.NaCl). B. Đơn chất Cl2 có trong khí thiên nhiên.
    C. Khoáng vật cacnalit (KCl.MgCl2.6H2O). D. NaCl trong nước biển và muối mỏ.
    Câu 13: Vị trí của nguyên tố Oxi trong bảng tuần hoàn hóa học là
    A. Ô thứ 8, chu kì 3, nhóm VIA. B. Ô thứ 8, chu kì 2, nhóm VIA.
    C. Ô thứ 16, chu kì 3, nhóm VIA. D. Ô thứ 16, chu kì 2, nhóm VIA.
    Câu 14: Muốn pha loãng dung dịch axit H2SO4 đặc cần làm như sau:

    Trang 1/2 – Mã đề thi 1001

    A. Rót từ từ dung dịch axit đặc vào nước. B. Rót từ từ nước vào dung dịch axit đặc.
    C. Rót nhanh dung dịch axit đặc vào nước. D. Rót thật nhanh nước vào dung dịch axit đặc
    Câu 15: Số oxi hoá của lưu huỳnh trong một loại hợp chất oleum H2S2O7 là: D. +8.
    A. -2. B. +4. C. +6.

    Câu 16: Một chất dùng để làm sạch nước, dùng để chữa sâu răng và có tác dụng bảo vệ các sinh vật trên trái đất không bị bức xạ cực tím. Chất này là:

    1. Ozon. B. Clo. C. Oxi.                                    D. Flo.

    Câu 17: Oxi có thể thu được từ phản ứng nhiệt phân chất nào sau đây:

    1. KMnO4. B. NaHCO3. C. CaCO3.                              D. (NH4)2SO4.

    Câu 18: Hãy chọn phát biểu đúng về oxi và ozon:

    1. Oxi và ozon đều có tính oxi hoá mạnh như nhau.
    2. Oxi và ozon đều có số proton và số notron giống nhau trong phân tử.
    3. Oxi và ozon là các dạng thù hình của nguyên tố oxi.
    4. Oxi và ozon đều phản ứng được với các chất như: Ag, KI, PbS ở nhiệt độ thường.

    Câu 19: Ở phản ứng nào sau đây, H2S đóng vai trò chất khử ?

    A. 2H2S + 4Ag + O22Ag2S + 2H2O. B. H2S+ Pb(NO3)22HNO3 + PbS.
    C. 2Na + 2H2S2NaHS + H2. D. 3H2S+2KMnO4” 2MnO2 +2KOH + 3S +2H2O.
    Câu 20: Cho các phản ứng hoá học sau, phản ứng nào không xảy ra với chất tan trong dung dịch ?
    A. SO2 + dung dịch NaOH B. SO2 + dung dịch BaCl2
    C. SO2 + dung dịch nớc clo D. SO2 + dung dịch H2S

    Câu 21: Cho 2,24 lít SO2 (đktc) hấp thụ hết vào 150 ml dung dịch NaOH 1M thu được dung dịch Y. Khối lượng muối có trong dung dịch Y là:

    1. 11,5 gam. B. 12,6 gam. C. 10,4 gam.                          D. 9,64 gam.

    Câu 22: Hòa tan 18,4 gam hỗn hợp X gồm Fe và Cu trong dung dịch H2SO4 đặc, nóng dư thu được 7,84 lít SO2 (đktc) và dung dịch Y. Phần trăm khối lượng của Fe trong hỗn hợp X là:

    1. 60,87% B. 45,65% C. 53,26%                              D. 30,43%.

    Câu 23: Hoà tan 13,44 gam một kim loại M có hóa trị không đổi bằng dung dịch H2SO4 loãng dư, thu được dung dịch Y và V lit khí H2 (đktc). Cô cạn dung dịch Y thu được 36,48 gam muối sunfat khan. Kim loại M là:

    1. Mg. B. Al. C. Fe.                                       D. Zn.

    Câu 24: Có một loại quặng pirit chứa 96% FeS2. Nếu mỗi ngày nhà máy sản xuất 100 tấn axit sunfuric 98% thì cần m tấn quặng pirit trên và biết hiệu suất của cả quá trình sản xuất H2SO4 là 90%. Gía trị của m là:

    1. 69,44 tấn. B. 68,44tấn. C. 67,44 tấn.                          D. 70,44tấn.

    Câu 25: Tốc độ phản ứng là:

    1. Độ biến thiên nồng độ của một chất phản ứng trong một đơn vị thời gian.
    2. Độ biến thiên nồng độ của một sản phẩm phản ứng trong một đơn vị thời gian.
    3. Độ biến thiên nồng độ của một chất phản ứng hoặc sản phẩm phản ứng trong một đơn vị thời gian.
    4. Độ biến thiên nồng độ của các chất phản ứng trong một đơn vị thời gian.

    Câu 26: Cho các yếu tố sau: (a) nồng độ chất; ( b) áp suất; (c) xúc tác; (d) nhiệt độ; (e) diện tích tiếp xúc.

    Số yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng nói chung là:
    A. 2. B. 3. C. 4. D. 5.

    Câu 27: Xét phản ứng phân hủy N2O5 trong dung môi CCl4 ở 45oC: N2O5 → N2O4 + 1/2O2. Ban đầu nồng độ của N2O5 là 4,66M, sau 368 giây nồng độ của N2O5 là 4,16M. Tốc độ trung bình của phản ứng tính theo N2O5

    1. 2,72.10−3 mol/(l.s). B. 1,36.10−3 mol/(l.s). C. 6,80.10−4 mol/(l.s).       D. 6,80.10−3 mol/(l.s).

    Câu 28: Sự dịch chuyển cân bằng hoá học là sự di chuyển từ trạng thái cân bằng hoá học này sang trạng thái cân bằng hoá học khác do

    1. không cần có tác động của các yếu tố từ bên ngoài tác động lên cân bằng.
    2. tác động của các yếu tố từ bên ngoài tác động lên cân bằng.
    3. tác động của các yếu tố từ bên trong tác động lên cân bằng.
    4. cân bằng hóa học tác động lên các yếu tố bên ngoài.

    Câu 29: Cho các cân bằng sau:

    xt,to
    2SO3 (k)
    (a) 2SO2 (k) + O2 (k)

    xt,to

    (c) CO (k) + H (k)                                     CO (k) + H O (k)

    2             2                                              2

    xt,to
    2NH3 (k)
    (b) N2 (k) + 3H2 (k)

    xt,to

    (d) 2HI (k)                             H (k) + I (k)

    2                                 2

    xt,to

    (e) CH COOH (l) + C H OH (l)                                               CH COOC H (l) + H O (l)

    3                          2    5                                     3             2     5             2

    Số cân bằng hoá học đều không bị chuyển dịch khi tăng áp suất là:

    1. 1. B. 2. C. 3.                                         D. 4.

    Câu 30: Cho phương trình phản ứng : 2A (k) + B (k)        2X (k) + 2Y (k). Người ta trộn 4 chất, mỗi chất 1 mol

    vào bình kín dung tích 2 lít (không đổi). Khi cân bằng, lượng chất X là 1,6 mol. Nồng độ B ở trạng thái cân bằng

    lần lượt là:
    A. 0,7M. B. 0,8M. C. 0,35M. D. 0,5M.

    Trang 2/2 – Mã đề thi 1001

    SỞ GD&ĐT CÀ MAU

    KIỂM TRA HKII – NĂM HỌC 2017 – 2018

    TRƯỜNG THPT PHAN NGỌC HIỂN

    MÔN HÓA HỌC LỚP 10
    Thời gian làm bài: 45 Phút
    (Đề có 2 trang)
    Mã đề 127

    Cho nguyên tử khối của các nguyên tố: Mg = 24, Ca = 40, Ba = 137, Cu = 64, O = 16, S = 32, C = 12, N = 14,Na = 23, K = 39, F = 9, Cl = 35,5 , Br = 80, I = 127, Fe = 56, Mn = 55, Ag = 108, Al = 27, Zn = 65.

    1. PHẦN TRẮC NGHIỆM : ( 4 điểm ) Hãy chọn đáp án đúng nhất

    Câu 1: Axit hipoclorơ có công thức:

    1. HClO3 B. HClO2 C. HClO4                                 D. HClO

    Câu 2: Hoà tan hoàn toàn 15,4g hỗn hợp Mg và Zn trong dung dịch HCl dư thấy có 6,72 lít khí (đktc) thoát ra và dung dịch X. Cô cạn dung dịch X được bao nhiêu gam muối khan?

    A. 23,1 gam B. 46,2 gam
    C. 36,7 gam D. 32,6 gam
    Câu 3: Chọn cấu hình electron nguyên tử đúng của lưu huỳnh
    A. 1s22s22p63s23p3 B. 1s22s22p63s23p4 C. 1s22s22p63s23p5 D. 1s22s22p53s23p2
    Câu 4: Cho HCl vào các dung dịch Na2SO3, NaHSO3, NaOH, HNO3. Số phản ứng xảy ra là
    A. 2 B. 1 C. 3 D. 4
    Câu 5: Nhóm gồm các kim loại thụ động với H2SO4 đặc nguội là D. Cu, Fe
    A. Cu, Al B. Cu, Zn C. Al, Fe
    Câu 6: Các nguyên tử Halogen đều có:
    A. 5 electron ở lớp ngoài cùng B. 3 electron ở lớp ngoài cùng
    C. 7 electron ở lớp ngoài cùng D. 8 electron ở lớp ngoài cùng

    Câu 7: Dẫn 5,6 lit khí hiđrosunfua (đktc) vào 5 gam NaOH . Kết thúc phản ứng, cô cạn dung dịch thu được m gam chất rắn. Giá trị m?

    1. 7,0g NaHS B. 5,0g NaHS và 4,0g Na2S
    1. 14,0g NaHS D. 9,75g Na2S

    Câu 8: Dung dịch axit không thể chứa trong bình thủy tinh là

    1. HCl B. H2SO4 C. HNO3                                       D. HF

    Câu 9: Có 3 bình riêng biệt đựng 3 dung dịch HCl, Ba(NO3)2 và H2SO4. Thuốc thử duy nhất có thể dùng để phân biệt các dung dịch trên là

    1. dung dịch NaOH. B. dung dịch NaCl. C. quỳ tím. D. dung dịch HNO3. Câu 10: Hoà tan 2,52 gam một kim loại hóa trị II bằng dung dịch H2SO4 loãng dư, cô cạn dung dịch thu được 6,84 gam muối khan. Kim loại đó là
    1. Fe B. Zn C. Al D. Mg Câu 11: Phương trình hóa học chứng minh Clo có tính oxi hóa mạnh hơn Brom là
    2. Br2 + 2NaCl Cl2 + 2NaBr B. F2 + 2NaBr           Br2 + 2NaF
    1. I2 + 2NaBr Br2 + 2NaI D. Cl2 + 2NaBr           Br2 + 2NaCl

    Câu 12: Khối lượng (gam) của 3,36 lít hỗn hợp khí oxi và

    nitơ ở điều kiện tiêu chuẩn, có tỷ khối so với hiđro bằng 15

    là bao nhiêu?

    1. 3,2g B. 3,5g C.

    4,5g                                                  D. 2,25g

    Câu 13: Trong phòng thí nghiệm, khí X được điều chế và

    Trang 1/2 – Mã đề 127

    thu vào bình tam giác bằng cách đẩy nước như hình vẽ sau:

    Khí X được tạo ra từ phản ứng hoá học nào sau đây?

    1. NaOHrắn + H2SO4đặc t0       NaHSO4 + HCl(k)

     

    1. H2SO4 đặc + Cu t0      CuSO4 + SO2(k) + 2H2O

     

    1. FeS + 2HClFeCl2 + H2S (k)
    D. 2KMnO4 t0 + O2(k)
    MnO2 + K2MnO4
    Câu 14: Số oxi hóa của clo trong phân tử CaOCl2 là:
    A. -1 B. 0 C. -1 và +1 D. +1
    Câu 15: Phát biểu nào dưới đây không đúng?
    1. H2SO4 loãng có đầy đủ tính chất chung của axit
    2. H2SO4 đặc là chất hút nước mạnh
    3. Khi tiếp xúc với H2SO4 đặc, dễ gây bỏng nặng
    4. Khi pha loãng axit sunfuric, chỉ được cho từ từ nước vào axit

    Câu 16: Đốt khí hidrosunfua trong điều kiện thiếu oxi thì sản phẩm thu được gồm các chất nào sau đây ?

    1. H2O và SO3 B. H2O và SO2 C. H2S và SO2 D. H2O và S II. PHẦN TỰ LUẬN : ( 6 điểm )

    Bài 1 : (1 điểm). Đốt 3 mol Zn phản ứng hoàn toàn với 2 mol S. Tính khối lượng kẽm sunfua tạo thành?

    Bài 2 : (2 điểm). Viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra giữa các chất sau (nếu có), ghi rõ điều kiện.

    1. Fe + Cl2
    2. H2S + SO2
    3. S + K
    4. HCl + CuO

    Bài 3 : (1 điểm). Cho 16,8 gam Fe tác dụng hoàn toàn với dung dịch H2SO4 đặc, nóng (dư) thu được V lít khí SO2 sản phầm khử duy nhất (ở đktc). Tính giá trị của V?

    Bài 4 : (1 điểm). Nêu hiện tượng xảy ra khi cho dung dịch H2SO4 98% vào ống nghiệm chứa 0,5 gam đường saccarozơ. Giải thích và viết phương trình hóa học.

    —— HẾT ——

     

    Trang 2/2 – Mã đề 127

    SỞ GD&ĐT CÀ MAU KIỂM TRA HKII – ĐÁP ÁN NĂM HỌC 2017 – 2018
    TRƯỜNG THPT PHAN NGỌC HIỂN MÔN HÓA HỌC LỚP 10 – HKII
    Thời gian làm bài : 45 Phút

    Phần đáp án câu trắc nghiệm:

    Câu 127 228 265 166
    1 D B A B
    2 C A B A
    3 B D D D
    4 C B C C
    5 C D D C
    6 C D C C
    7 A C C B
    8 D D C A
    9 C C B A
    10 A D D C
    11 D A A D
    12 C B D D
    13 D C C A
    14 C B C A
    15 D D C A
    16 D D D A
    1. PHẦN TỰ LUẬN: (6 điểm)
    Câu Đề 127 và 228 Điểm Đề 265 và 166
    Bài 1 PTHH: PTHH:
    ( đ) t0 ZnS 0,5 O2 + t0
    Zn  +   S SSO2
    2 2 mol 2 2 mol
    mZnS     2. 97 = 194 gam 0,5 mSO 2. 64 = 128 gam
    2
    t0 0,5 a) 3Cl2 + 2Al t0
    a) 2Fe + 3Cl22FeCl3 2AlCl3
    Bài 2 b) 2H2S + SO2 3S + 2H2O 0,5 b) SO2 + Br2 + 2H2OH2SO4 + 2HBr
    0,5
    (2 đ) t0 c) H2 + S t0
    c) S + 2KK2S 0,5 H2S
    d) 2HCl + CuO    CuCl2 + H2O d) 2HCl + Zn ZnCl2 + H2
    Bài 3 n 16,8 0,3mol 0,5 n 6,72 0,3mol
    (2 đ) Fe
    56 SO 22, 4
    2
    PTHH: PTHH:
    t0 0,5 t0
    Fe + 2H2SO4 đặcFeSO4 + SO2 + 2H2O Fe + 2H2SO4 đặcFeSO4 + SO2 + 2H2O
    0,3 0,3 mol 1 0,3 0,3 mol
    VSO 0,3.22, 4  6, 72lít m 0,3.56  16,8gam
    2 Fe

    Trang 3/2 – Mã đề 127

    Bài 4 Hiện tượng: Đường hóa đen rồi trào lên Hiện tượng: Đường hóa đen rồi trào lên
    (1 đ) miệng ống nghiệm 0,5 miệng ống nghiệm
    Saccarozơ H 2 SO4 H 2 SO4
    C + H2O SaccarozơC + H2O
    ( C12H22O11 H 2 SO4 H 2 SO4
    12C + 11H2O ) 0,5 ( C12H22O1112C + 11H2O )
    Một phần cacbon bị H2SO4 đặc oxi hóa Một phần cacbon bị H2SO4 đặc oxi hóa
    C + 2H2SO4 đặc     CO2 + 2SO2 + 2H2O C + 2H2SO4 đặc     CO2 + 2SO2 + 2H2O

    lưu ý: Học sinh giải theo phương pháp khác cho kết quả đúng cũng đạt điểm tối đa của câu đó.

    Trang 4/2 – Mã đề 127

    SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

    KỲ THI HỌC KÌ 2 NĂM HỌC 2017 – 2018

    TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2

    ĐỀ THI MÔN: HÓA HỌC – KHỐI 10
    ———– Thời gian làm bài: 45 phút, không kể thời gian giao đề.
    Đề thi gồm 02 trang.
    ———————
    Họ và tên thí sinh…………………………………………………………. Số báo danh: ……………..

    Cho nguyên tử khối: O = 16; Mg = 24; Al = 27; F = 19; S = 32; Cl = 35,5; Fe = 56; I = 127. I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (2,0 điểm)

    Câu 1: Hơi thủy ngân rất độc, bởi vậy khi làm vỡ nhiệt kế thủy ngân người ta dùng chất bột rắc lên thủy ngân rồi gom lại. Chất bột đó là?

    1. Vôi sống B. Cát C. Lưu huỳnh                      D. Muối ăn

    Câu 2: Cho AgNO3 dư vào dung dịch hỗn hợp chứa 0,04 mol NaF; 0,06 mol NaI. Khối lượng kết tủa thu được là

    1. 13,02 gam. B. 14,1 gam.
    1. 5,08 gam. D. 19,18 gam.

    Câu 3: Trong phản ứng hóa học sau: SO2 + Br2 + 2H2O → H2SO4 + 2HBr. SO2 đóng vai trò là

    A. Chất khử. B. Chất oxi hóa.
    C. Vừa là chất oxi hóa, vừa là chất khử. D. Chất môi trường.
    Câu 4: Chất nào sau đây không dùng để điều chế khí oxi trong phòng thí nghiệm?
    A. KMnO4. B. H2O2 C. KClO3 D. H2O
    Câu 5: Dung dịch H2SO4 đặc không dùng làm khô khí nào sau đây?
    A. SO2 B. H2S C. Cl2 D. O2
    Câu 6: Số oxi hóa phổ biến của nguyên tố lưu huỳnh trong các hợp chất hóa học là
    A. -2, 0, +2, +4, +6. B. -2, 0, +4, +6. C. -2, +4, +6. D. -1, +2, +4, +6.
    Câu 7: Phát biểu nào sau đây không đúng?
    1. HCl có tính axit, tính oxi hóa và tính khử.
    2. O2 và O3 cùng có tính oxi hóa nhưng O3 có tính oxi hóa mạnh hơn.
    3. H2SO3 và H2SO4 cùng có tính oxi hóa nhưng H2SO4 có tính oxi hóa mạnh hơn.

     

    1. HBr và HI đều có tính khử nhưng HBr có tính khử mạnh hơn.

    Câu 8: Trong hợp chất clorua vôi, số oxi hóa của clo là

    1. -1 và +1. B. -1. C. +1.                                        D. 0.
    1. PHẦN TỰ LUẬN (8,0 điểm)

    Câu 1: (2 điểm) Hoàn thành các phương trình hóa học sau (ghi rõ điều kiện nếu có):

    1. KI + O3 + H2O
    2. FeS2 + O2
    3. NaOH (loãng) + Cl2
    4. FeCO3 + H2SO4 (đặc, nóng)

     

    Câu 2: (1,5 điểm)

     

    Bằng phương pháp hóa học hãy phân biệt các dung dịch mất nhãn đựng trong các ống nghiệm riêng biệt sau (viết phương trình hóa học xảy ra nếu có): KOH; NaI; K2SO4; MgCl2.

    Trang 1

    Câu 3 : (2,0 điểm)

    Hòa tan hoàn toàn 8,3 gam hỗn hợp X gồm Al và Fe vào 500 ml dung dịch HCl vừa đủ thu được 5,6 lít khí (ở đktc).

    1. Viết các phương trình hóa học xảy ra.

     

    1. Tính khối lượng mỗi kim loại trong X và nồng độ mol dung dịch HCl đã dùng.

    Câu 4: (2,5 điểm)

    Hòa tan 22,8 gam hỗn hợp A gồm Mg và Fe vào dung dịch H2SO4 80% (đặc, nóng) vừa đủ. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, thấy thoát ra 15,68 lít khí SO2 (sản phẩm khử duy nhất ở đktc) và dung dịch B.

    1. Tính thành phần % khối lượng mỗi kim loại trong A.
    2. Tính C% mỗi chất trong dung dịch B.

    —————-Hết—————-

    (Thí sinh không được dùng tài liệu kể cả bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học)

    Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm

    Trang 2

    SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2 ———–

    HƯỚNG DẪN CHẤM KIỂM TRA HỌC KÌ 2

    NĂM HỌC 2017 – 2018

    MÔN: HÓA HỌC – LỚP 10

    Đáp án gồm 02 trang.

    ———————

    A. Phần trắc nghiệm(2,0 điểm): 0,25điểm/câu

    Câu 1 2 3 4 5 6 7 8
    Đáp án C B A D B C D A
    B. Phần tự luận (8,0 điểm).
    Câu Nội dung Điểm
    a. 2KI + O3 + H2O →  2KOH + O2 + I2 0,5
    Câu 1 b. 4FeS2 +  11O2 0 0,5
    (2,0 điểm) → 2Fe2O3 + 8SO2
    c. 2NaOH (loãng) + Cl2 → NaCl +NaClO + H2O 0,5
    d. 2FeCO3 + 4H2SO4 (đặc, nóng)  → Fe2(SO4)3 + 2CO2 + SO2 + 4H2O 0,5
    Lấy mỗi chất một ít ra các ống nghiệm riêng biệt làm thuốc thử rồi
    đánh số từ 1 – 4
    KOH NaI K2SO4 MgCl2
    Câu 2 Quỳ tím Xanh 0,75
    (1,5 điểm)
    Dd BaCl2 X ↓ trắng
    Dd AgNO3 X ↓ vàng đậm X ↓ trắng
    PTHH 0,25
    BaCl2 + K2SO4 → BaSO4 ↓ + 2KCl
    2AgNO3 + NaI → AgI ↓ + 2NaNO3 0,25
    2AgNO3 + MgCl2 → 2AgCl ↓ + Mg(NO3)2 0,25
    (Các phương pháp nhận biết khác nếu đúng vẫn được điểm tối đa)
    a. 2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2 0,25
    x 3x 1,5x (mol)
    Câu 3 Fe + 2HCl →  FeCl2 + H2 0,25
    y 2y y (mol)
    (2,0 điểm)
    b. Gọi số mol của Al và Fe lần lượt là x và y (mol).
    Ta có : mX = 27x + 56y =8,3 (g) (1) 0,5
    nH2 = 0,25 mol => 1,5x + y = 0,25  (2)
    Từ (1) và (2) => x= y = 0,1 (mol) 0,5
    ð mAl = 2,7 g ; mFe = 5,6 g.
    nHCl = 3x + 2y = 0,5 (mol) 0,5
    ð CM (HCl) = 1M
    Trang 3
    a. Mg + H2SO4 đặc, nóng  → MgSO4 + SO2 + 2H2O 0,25
    x 2x x x (mol)
    2Fe + 6H2SO4 đặc, nóng → Fe2(SO4)3 + 3SO2 + 2H2O 0,25
    Câu 4 y 3y y/2 1,5y (mol)
    (2,5 điểm)
    Gọi số mol của Mg và Fe lần lượt là x và y (mol).
    Ta có : mA = 24x + 56y = 22,8 (g) (1) 0,5
    nSO2 = 0,7 (mol) => x + 1,5y = 0,7 (mol) (2)
    Từ (1) và (2) giải hệ => x= 0,25; y= 0,3 (mol) 0,5
    %mMg = 26,32% ; %mFe = 73,68%
    b. mdd B = 22,8 + 1,4. 98 .100/80 – 0,7.64 = 149,5 g 0,5
    mMgSO4 = 0,25.120 = 30 (g) 0,25
    C% MgSO4 =  20,07%.
    C% Fe2(SO4)3 = 400.0,3/2 = 60 (g) 0,25
    C% Fe2(SO4)3 = 40,13%.
    —————–Hết—————–

    Trang 4

  • HÓA HỌC 11 CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO

    HÓA HỌC 11 CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO

    HÓA HỌC 11 CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập trắc địa


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: HÓA HỌC 11 CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Simpo PDF Merge and Split UnregisteredLÝTHUYẾTVersion – http://wwwBÀI.simpopdfTẬP.com

    HÓA HỌC 11 CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Mục tiêu xuyên suốt của người giáo viên trong giảng dạy Hóa học là giúp học sinh nắm vững được tính chất, cách điều chế của các chất cũng như vận dụng lý thuyết đã học vào việc triển khai các bài tập Hóa học. Tuy nhiên lượng lý thuyết trong SGK quá nhiều, bài tập còn hạn chế nên học sinh khó có thể nắm vững được phần lý thuyết trọng tâm và vận dụng thành thạo để giải các bài tập khó. Mặt khác, Hóa học lớp 11 chiếm một lượng kiến thức rất lớn trong các kỳ thi quốc gia (nhất là kỳ thi tuyển sinh vào đại học – cao đẳng).

    Xuất phát từ những thực tế đó và một số kinh nghiện trong giảng dạy bộ môn hóa học, tôi thấy để có chất lượng giáo dục bộ môn hóa học cao, người giáo viên ngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực, bài tập SGK thì giáo viên cần bổ sung thêm các bài tập hóa học nâng cao (nhất là đề thi đại học trong các năm) nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập bộ môn. Từ những lí do đó tôi chọn đề tài: LÝ THUYẾT VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC 11 CƠ BẢN VÀ NÂNG BAO, áp dụng cho chương trình hóa học lớp 11 chương trình SGK 11 cơ bản.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    Xây dựng hệ thống bài tập hóa học 11 từ dể đến khó phù hợp với học sinh Trường THPT Nguyễn Chí Thanh.

    • ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. ĐỐI TƯỢNG

     

    Học sinh trường THPT Nguyễn Chí Thanh.

     

    III.2. PHẠM VI

    • Hệ thống lý thuyết hóa học lớp 11 theo chương trình SGK lớp 11 cơ bản.
    • Hệ thống các bài tập SGK lớp 11, các bài tập ở sách tham khảo và các câu hỏi trong đề thi đại học từ 2007 – 2011.

    IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

    Nếu vận dụng tốt hệ thống lý thuyết và các bài tập từ cơ bản đến nâng cao sẽ giúp học sinh nắm vững lý thuyết và triển khai được các bài tập khó trong các sách tham khảo và các đề thi đại học trong các năm qua.

    V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Nghiên cứu SGK hóa học lớp 11, sách tham khảo và các đề thi đại học trong các năm từ 2007 – 2011.

    Nghiên cứu thực trạng dạy – học hóa học lớp 11 ở Trường THPT Nguyễn Chí Thanh.

    Liệt kê lý thuyết trọng tâm, bài tập ở SGK lớp 11, các bài tập sách tham khảo và các đề thi đại học trong những năm từ 2007 – 2011.

    VI. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

    • Phần lý thuyết trọng tâm các chương (bám sát SGK)

     

    • Phần hướng dẫn giải các dạng bài tập thường gặp (có ví dụ)
    • Phần bài tập tự giải
    1. Phần bài tập cơ bản
    2. Phần bài tập nâng cao

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                               Page 1

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Simpo PDF MergeCHUYÊNandSplit ĐỀUnregisteredI.CHƯƠNGVersion- I:http://wwwSỰĐIỆN.simpopdfLI.com

    A. PHẦN LÝ THUYẾT TRỌNG TÂM

    I. SỰ ĐIỆN LI

    • Sự điện li là quá trình các chất tan trong nước ra ion.
    • Chất điện li mạnh: là chất khi tan trong nước, các phân tử hòa tan đều phân li ra ion.

    + Những chất điện li mạnh: Các axit mạnh: HCl, HNO3, H2SO4 . . .các bazơ mạnh: KOH, NaOH, Ca(OH)2, Ba(OH)2 . . .và hầu hết các muối.

    HCl                      →             H+            +          Cl

    Ba(OH)2            →             Ba2+        +          2OH

    • Chất điện li yếu: là chất khi tan trong nước chỉ có một số phần tử hòa tan phân li ra ion, phần tử còn lại vẫn tồn tại dưới dạng phân tử trong dung dịch.
      • Những chất điện li yếu: Là các axit yếu: CH3COOH, HClO, HF, H2S…các bazơ yếu:

    Mg(OH)2, Al(OH)3 . . .

    CH3COOH ¾¾® CH3COO +
    ¬¾ +   H
    • AXIT – BAZƠ – MUỐI
    1. Axit
    • Theo A-re-ni-ut: Axit là chất khi tan trong nước phân li ra cation H+.
    • Axit một nấc: phân li một nấc ra ion H+: HCl, HNO3, CH3COOH . . .
    • Axit nhiều nấc: phân li nhiều nấc ra ion H+: H3PO4 . . .
    1. Bazơ
    • Theo A-re-ni-ut: Bazơ là chất khi tan trong nước phân li ra ion H+.

    NaOH            →            Na+        +             OH

    1. Hidroxit lưỡng tính
    • Hidroxit lưỡng tính là hidroxit khi tan trong nước vừa có thể phân li như axit, vừa có thể phân li như bazơ.

    Thí dụ: Zn(OH)2 là hidroxit lưỡng tính

    Phân li theo kiểu bazơ: Zn(OH)2 ¾¾® Zn 2+ + 2OH
    ¬¾
    Phân li theo kiểu axit: Zn(OH)2 ¾¾® 2- + +
    ¬¾ ZnO2 2H
    1. Muối
    • Muối là hợp chất khi tan trong nước phân li ra cation kim loại (hoặc cation NH+4 ) và anion là gốc axit.

    – Thí dụ:             NH4NO3       →         NH+4   +         NO3

    NaHCO3        →        Na+        +         HCO3

    III. SỰ ĐIỆN LI CỦA NƯỚC. pH. CHẤT CHỈ THỊ AXIT – BAZƠ

    • Tích số ion của nước là K H2O = [H + ].[OH ] = 1,0.10-14 (ở 250C). Một cách gần đúng, có thể coi

    giá trị của tích số này là hằng số cả trong dung dịch loãng của các chất khác nhau.

    • Các giá trị [H+] và pH đặc trưng cho các môi trường

    Môi trường trung tính: [H+] = 1,0.10-7M hoặc pH = 7

    Môi trường axit: [H+] > 1,0.10-7M hoặc pH < 7

    Môi trường kiềm: [H+] < 1,0.10-7M hoặc pH > 7

    1. PHẢN ỨNG TRAO ĐỔI ION TRONG DUNG DỊCH CÁC CHẤT ĐIỆN LI 1. Điều kiện xãy ra phản ứng
    • Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch các chất điện li chỉ xãy ra khi các ion kết hợp lại với nhau tạo thành ít nhất một trong các chất sau:
    • Chất kết tủa:
    BaCl2 + H2SO4 BaSO4 + 2HCl
    Ba2+ + SO24 BaSO4
    + Chất bay hơi:
    Na2CO3 + 2HCl 2NaCl + CO2↑+H2O
    CO32- + 2H+ CO2↑+H2O
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 2

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    + Chất điện li yếu:
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    CH3COONa + HCl CH3COOH+ NaCl
    CH3COO + H+ CH3COOH
    1. Bản chất phản ứng
    • Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch các chất điện li là phản ứng giữa các ion.
    1. PHẦN HƯỚNG DẪN GIẢI
    1. Các công thức liên quan khi giải bài tập của chương
    • Các PT ion thu gọn thường gặp
    –   H+ + OH ® H2O
    Ba2 + +   SO2 ® BaSO  ¯
    4 4
    NH+ +   OH ®NH ­  +  H O
    4 3 2
    ìH+ + CO2 ® HCO
    ï 3 3
    íH+ + HCO ® CO  ­  + H O
    ï
    î 3 2 2
    Mn+ + nOH ® M(OH)  ¯
    n
    –   Và các PT ion thu khác liên quan. Nên khi giải toán dựa vào PT ion thu gọn, các em
    cần đưa ra được PT ion thu gọn để việc giải bài tập hóa học được nhanh hơn.
    2.  Các CT thường gặp khi giải bài tập chương sự điện li
    – [H+] = 10-a (mol/l) → a = pH
    – pH = -lg[H+]
    – [H+].[OH] = 10-14  ® [H+ ]= 10-14
    [OH ]
    • Định luật bảo toàn điện tích
    • iÖn tÝch d­¬ng = å§iÖn tÝch ©m

    II. Bài tập vận dụng

    Ví dụ 1: Trộn 100 ml dung dịch HNO3 0.1M với 100 ml dung dịch H2SO4 0.05M thu được dung dịch A.

    1. Tính nồng độ các ion trong A.
    2. Tính pH của dung dịch A.
    3. Tính thể tích dung dịch NaOH 0.1M để trung hòa dung dịch A.

    Giải

    1. nHNO3 = 0.1*0.1 = 0.01 (mol) ; nH2 SO4 = 0.1*0.05 = 0.005 (mol)
    • nSO24= nH2 SO4 = 0.005 (mol); nNO3–  = nHNO3  = 0.01 (mol); nH= nHNO3
    ® [NO ] = 0.01 = 0.05(M); [SO2 ] = 0.005 = 0.025(M); [H+ ] = 0.02
    3 0.2 4 0.2 0.2
    • [H+ ] = 02 = 0.1(M) = 101(M) ® pH = 1 0.2
    • Câu c ta có thể làm theo hai cách khác nhau:
    • 2nH2 SO4 = 0.02 (mol)
    • 1(M)
    • Cách 1: Đây là cách mà chúng ta hay làm nhất từ trước đến nay đó là viết PTHH rồi tính toán dựa vào PTHH.
    HNO3 + NaOH ® NaNO3 + H2O
    0.01 0.01 ®
    H2SO4 + 2NaOH Na2SO4 + 2H2O
    0.005 0.01

    ® V         = nNaOH  = 0.02 = 0.2 (lit)

    NaOH

    CM         0.1

    • Cách 2: Ngoài cách giải trên, ta có thể vận dụng cách giải dựa vào PT ion thu gọn để giải. Đây là cách giải chủ yếu mà ta sử dụng khi giải các dạng bài tập về axit – bazơ củng như các dạng bài tập khác khi sử dụng PT ion thu gọn.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                               Page 3

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Bản chất của hai phản ứng trên là:
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    H+ + OH ® H2O
    0.02 ® 0.02
    ® n   = n = 0.02 (mol) ® V = 0.02 = 0.2 (lit)
    NaOH
    OH NaOH 0.1

    Ví dụ 2: Dung dịch X chứa NaOH 0.1M, KOH 0.1M và Ba(OH)2 0.1M. Tính thể tích dung dịch HNO3 0.2M để trung hòa 100 ml dung dịch X.

    Giải

    Bài này ta có thể giải bằng các cách khác nhau, tuy nhiên ta đang học dựa vào PT ion thu gọn để giải bài tập, nên TÔI sẽ hướng dẫn giải dựa vào PT ion thu gọn.

    nNaOH = 0.1*0.1 = 0.01 (mol); nKOH = 0.1*0.1 = 0.01 (mol); nBa(OH)2  = 0.1*0.1 = 0.01 (mol)

    • nOH= nNaOH + nKOH + 2nBa(OH)2 = 0.04 (mol)

    Bản chất của các phản ứng này là

    H+ + OH®   H2O
    0.04 ¬  0.04
    V= nHNO = 0.04 = 0.2 (lit)
    3
    HNO3 CM 0.2

    Ví dụ 3: Cho dung dịch X chứa a mol Ba2+; b mol H+; c mol NO3 và d mol Cl. Tìm mối liên hệ giữa a, b, c và d.

    Giải

    Dựa vào định luật bảo toàn điện tích ta có: 2a + b = c + d

    Ví dụ 4 (CĐA-07): Một dung dịch chứa 0,02 mol Cu2+, 0,03 mol K+ , x mol Cl và y mol SO2- . 4

    Giải

    Theo bài ra ta có hệ phương trình:

    ì x + 2 y = 0, 02.2 + 0, 03 ìx = 0, 03
    í + 0, 03.39 = 5, 435 ® í
    î35,5x + 96 y + 0, 02.64 îy = 0, 02

    C. PHẦN BÀI TẬP TỰ GIẢI

    1. PHẦN BÀI TẬP CƠ BẢN

    Câu 1. Viết PT điện li của các chất sau:

    • HNO3, Ba(OH)2, NaOH, H2SO4, Ca(OH)2, Na2CO3, BaCl2, NaHCO3, H2
    • CuSO4, Na2SO4 , Fe2(SO4)3, NaHPO4, Mg(OH)2, CH3COOH, H3PO4, HF.

    Câu 2. Viết PT phân tử và ion rút gọn của các phản ứng (nếu có) khi trộn lẫn các chất sau:

    a. dd HNO3 và CaCO3 b. dd KOH và dd FeCl3
    c. dd H2SO4 và dd NaOH d. dd Ca(NO3)2 và dd Na2CO3
    e. dd NaOH và Al(OH)3 f. dd Al2(SO4)3 và dd NaOHvừa đủ
    g. dd NaOH và Zn(OH)2 h. FeS và dd HCl
    i. dd CuSO4 và dd H2S k. dd NaOH và NaHCO3
    l. dd NaHCO3 và HCl m. Ca(HCO3)2 và HCl
    • NH4NO3, (NH4)2CO3, Na2SO 4, NaCl.
    • NaOH, NaCl, Na2SO4, NaNO3
    • NaOH, H2SO4, BaCl2, Na2SO4, NaNO3 (chỉ dùng thêm quỳ tím).

    Câu 4. Viết phương trình phân tử ứng với phương trình ion thu gọn của các phản ứng sau

    a. Ba2+ +  CO2 – ® BaCO ¯ b. NH+ + OH  ® NH 3 ­ + H O
    3 3 4 2
    c. S2- + 2H+ ® H2S↑ d. Fe3+ + 3OH ®  Fe(OH)3
    e. Ag+ + Cl ®  AgCl↓ f. H+ +   OH ®  H2O
    Câu 5. Viết PT dạng phân tử và ion rút gọn của các phản ứng trong dd theo sơ đồ sau:
    a. Pb(NO3)2   + ? ®  PbCl2 + ?
    b. FeCl3 + ? ®  Fe(OH)3 + ?
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 4

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    c. BaCl2 + ? ® BaSO4 +   ?
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    d. HCl + ? ® ? + CO2↑   +   H2O
    e. NH4NO3   + ?    ®  ? +   NH3↑   +   H2O
    f. H2SO4 + ?    ®  ? +   H2O
    Câu 6. Tính nồng độ các ion trong các dung dịch sau
    a. dd NaOH 0,1M b. dd BaCl2 0,2 M c. dd Ba(OH)2 0,1M

    Câu 7. Hòa tan 20 gam NaOH vào 500 ml nước thu được dung dịch A.

    1. Tính nồng độ các ion trong dung dịch A.
    2. Tính thể tích dung dịch HCl 2M để trung hòa dung dịch A.

    Câu 8. Trộn 100 ml dung dịch NaOH 2M với 200 ml dung dịch KOH 0,5M thu được dung dịch C.

    1. Tính nồng độ các ion trong dung dịch C.
    2. Trung hòa dung dịch C bằng 300 ml dung dịch H2SO4 CM. Tính CM.

    Câu 9. Trộn 100 ml dung dịch HCl 1M với 100 ml dung dịch H2SO4 0,5M thu được dung dịch D.

    1. Tính nồng độ các ion trong dung dịch D.
    2. Cho dung dịch D tác dụng với dung dịch BaCl2 dư thu được m gam kết tủa. Tính m. Câu 10. Tính pH của các dung dịch sau
    1. NaOH 0,001M b. HCl 0,001M
    1. Ca(OH)2 0,0005M d. H2SO4 0,0005M

    Câu 11. Trộn 200 ml dung dịch NaOH 0,1M với 300 ml dung dịch HCl 0,2M thu được dung dịch A.

    1. Tính nồng độ các ion trong dung dịch A.
    2. Tính pH của dung dịch A.

    Câu 12. Trộn 100 ml dung dịch NaOH 0.1M với 100 ml dung dịch KOH 0.1M thu được dung dịch D.

    1. Tính nồng độ các ion trong dung dịch D.
    2. Tính pH của dung dịch D.
    3. Trung hòa dung dịch D bằng dung dịch H2SO4 1M. Tính thể tích dung dịch H2SO4 1M cần dùng.

    Câu 13. Hỗn hợp dung dịch X gồm NaOH 0.1M và KOH 0.1M. Trộn 100 ml dung dịch X với 100 ml dung dịch H2SO4 0.2M thu được dung dịch A.

    1. Tính nồng độ các ion trong dung dịch A.
    2. Tính pH của dung dịch A.

    Câu 14. Dung dịch X chứa 0.01 mol Fe3+, 0.02 mol NH+ , 0.02 mol SO2 và x mol NO . 4 4 3

    1. Trộn dung dịnh X với 100 ml dung dịch Ba(OH)2 0.3 M thu được m gam kết tủa và V lít khí (đktc). Tính m và V.

    Câu 15. Trộn 100 ml dung dịch FeCl3 0.1M với 500 ml dung dịch NaOH 0.1 M thu được dung dịch D và m gam kết tủa.

    1. Tính nồng độ các ion trong D.
    2. Tính m.

    Câu 16. Trộn 50,0ml dd NaOH 0,40M với 50,0 ml dd HCl 0,20M được dd A. Tính pH của dd A Câu 17. Trộn lẫn 100ml dd HCl 0,03M với 100 ml dd NaOH 0,01M được dd A. a. Tính pH của dd A.

    1. Tính thể tích dd Ba(OH)2 1M đủ để trung hòa dd A

    Câu 18. Trộn lẫn 100ml dd K2CO3 0,5M với 100ml dd CaCl2 0,1M.

    1. Tính khối lượng kết tủa thu được.
    2. Tính CM các ion trong dd sau phản ứng.

    Câu 19. Trộn 50ml dung dịch HCl với 50ml dung dịch NaOH có pH = 13 thu được dung dịch X có pH = 2. Số mol của dung dịch HCl ban đầu là bao nhiêu?

    Câu 20. Chia 19,8 gam Zn(OH)2 thành hai phần bằng nhau:

    • Cho 150 ml dung dịch H2SO4 1M vào phần một. Tính khối lượng muối tạo thành.
    • Cho 150 ml dung dịch NaOH 1M vào phần hai. Tính khối lượng muối tạo thành.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                               Page 5

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 21. Cho 100 ml dung dịch hỗn hợp A gồm H2SO4 0,015M; HCl 0,03M; HNO3 0,04M. Tính Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    thể tích dung dịch NaOH 0,2M để trung hòa hết 200ml dung dịch A.

    Câu 22. Cho 100 ml dung dịch hỗn hợp X gồm Ba(OH)2 0.015M; NaOH 0.03 M; KOH 0.04M.

    Tính thể tích dung dịch HCl 0.2M để trung hòa dung dịch X.

    Câu 23. Cho dung dịch A gồm 2 chất HCl và H2SO4. Trung hoà 1000 ml dung dịch A thì cần 400ml dung dịch NaOH 0,5M. Cô cạn dung dịch tạo thành thì thu được 12,95 gam muối.

    1. Tính nồng độ mol/l của các ion trong dung dịch A.
    2. Tính pH của dung dịch A.

    Câu 24. Cho 200 ml dung dịch gồm MgCl2 0,3M; AlCl3 0,45M; và HCl 0,55M tác dụng hoàn toàn với V lít dung dịch C gồm NaOH 0,02M và Ba(OH)2 0,01M. Hãy tính thể tích V để được kết tủa lớn nhất và lượng kết tủa nhỏ nhất? Tính lượng kết tủa đó?

    Câu 25. Trộn 250 ml dung dịch hỗn hợp gồm HCl 0,08 mol/l và H2SO4 0,01 mol/l với 250 ml dung dịch NaOH a mol/l, thu được 500 ml dung dịch có pH = 12. Tính a.

    Câu 26. Để trung hòa 500 ml dung dịch X chứa hỗn hợp HCl 0,1M và H2SO4 0,3M cần bao nhiêu ml dung dịch hỗn hợp gồm NaOH 0,3M và Ba(OH)2 0,2M?

    II. PHẦN BÀI TẬP NÂNG CAO

    Câu 1. Trộn 250 ml dd hỗn hợp HCl 0,08 mol/l và H2SO4 0,01 mol/l với 250 ml dd Ba(OH)2 có nồng độ x mol/l thu được m gam kết tủa và 500 ml dd có pH = 12. Hãy tím m và x. Giả sử Ba(OH)2 điện li hoàn toàn cả hai nấc.

    Câu 2. Trộn 300 ml dd hỗn hợp NaOH 0,1 mol/l và Ba(OH)2 0,025 mol/l với 200 ml dd H2SO4 có nồng độ x mol/l thu được m gam kết tủa và 500 ml dd có pH=2. Hãy tím m và x. Giả sử H2SO4 điện li hoàn toàn cả hai nấc.

    Câu 3. Dung dịch X chứa hỗn hợp KOH và Ba(OH)2 có nồng độ tương ứng là 0,2M và 0,1M. Dung dịch Y chứa hỗn hợp H2SO4 và HCl có nồng độ lần lượt là 0,25M và 0,75M. Tính thể tích dung dịch X cần để trung hòa vừa đủ 40 ml dung dịch Y.

    Câu 4. Dung dịch A gồm 5 ion: Mg2+, Ca2+, Ba2+, 0,1 mol Cl và 0,2 mol NO3 . Thêm từ từ dung

    dịch K2CO3 1M vào dung dịch A đến khi lượng kết tủa lớn nhất. Tính thể tích dung dịch K2CO3 cần dùng.

    Câu 5 (A-2010). Dung dịch X có chứa: 0,07 mol Na+; 0,02 mol SO24 và x mol OH . Dung dịch Y có chứa ClO4 , NO3 và y mol H+; tổng số mol ClO4 và NO3 là 0,04. Trộn X và Y được 100 ml dung dịch Z. Tính pH của dung dịch Z (bỏ qua sự điện li của H2O). Đáp án: pH = 1

    Câu 6 (A-2010). Nhỏ từ từ từng giọt đến hết 30 ml dung dịch HCl 1M vào 100 ml dung dịch chứa Na2CO3 0,2M và NaHCO3 0,2M, sau phản ứng thu được V lít khí CO2 (đktc). Tính V.

    Đáp án: V = 0,01.22,4 = 0,224 (lít)

    Câu 7 (B-07). Trộn 100 ml dung dịch (gồm Ba(OH)2 0,1M và NaOH 0,1M) với 400 ml dung dịch (gồm H2SO4 0,0375M và HCl 0,0125M), thu được dung dịch X. Tính pH của dung dịch X.

    Đáp án: pH = 2

    Câu 8 (B-08). Trộn 100 ml dung dịch có pH = 1 gồm HCl và HNO3  với 100 ml dung dịch NaOH

    nồng độ a (mol/l) thu được 200 ml dung dịch có pH = 12. Xác định giá trị của a (biết trong mọi dung dịch [H+][OH] = 10-14). Đáp án: Giá trị a: 0,12

    Câu 9 (CĐA-07). Một dung dịch chứa 0,02 mol Cu2+, 0,03 mol K+ , x mol Cl và y mol SO2- . 4

    Đáp án: x = 0,03; y = 0,02

    Câu 10 (CĐA-08). Dung dịch X chứa các ion: Fe3+, SO24 , NH+4 , Cl. Chia dung dịch X thành hai phần bằng nhau:

    • Phần một tác dụng với lượng dư dung dịch NaOH, đun nóng thu được 0,672 lít khí (ở đktc) và 1,07 gam kết tủa;
    • Phần hai tác dụng với lượng dư dung dịch BaCl2, thu được 4,66 gam kết tủa.

    Tính tổng khối lượng các muối khan thu được khi cô cạn dung dịch X (quá trình cô cạn chỉ có nước bay hơi). Đáp án: Khối lượng muối trong X: 7,46 (gam)

    Câu 11 (CĐA-2009). Cho dung dịch chứa 0,1 mol (NH4)2CO3 tác dụng với dung dịch chứa 34,2 gam Ba(OH)2. Sau phản ứng thu được m gam kết tủa và V lít khí (đktc). Xác định giá trị

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                              Page 6

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    của V và m. Đáp án: m = 19,7 (gam), V = 0,2*22,4 = 4,48 (lít)

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    Câu 12 (B-2011). Dung dịch X gồm 0,1 mol H+, z mol Al3+, t mol NO3  và 0,02 mol SO24 . Cho

    120 ml dung dịch Y gồm KOH 1,2M và Ba(OH)2 0,1M vào X, sau khi các phản ứng kết thúc, thu được 3,732 gam kết tủa. Tính giá trị của z, t. Đáp án: z = 0,020 và t = 0,120.

    CHUYÊN ĐỀ II. NITƠ – PHOTPHO

    A. PHẦN LÝ THUYẾT TRỌNG TÂM

    I. NITƠ

    1. Vị trí – cấu hình electron nguyên tử
    • Vị tí: Nitơ ở ô thứ 7, chu kỳ 2, nhóm VA của bảng tuần hoàn.
    • Cấu hình electron: 1s22s22p3.
    • Công thức cấu tạo của phân tử: N≡N.
    1. Tính chất hóa học
    • Ở nhiệt độ thường, nitơ trơ về mặt hóa học, nhưng ở nhiệt độ cao nitơ trở nên hoạt động.
    • Trong các phản ứng hóa học nitơ vừa thể hiện tính oxi hóa vừa thể hiện tính khử. Tuy nhiên tính oxi hóa vẫn là chủ yếu.
    1. Tính oxi hóa (tác dụng với kim loại, H2,…)
    0 t0 -3 (magie nitrua)
    3Mg + N 2 ¾¾®Mg 3 N2
    0 t 0 ,p -3
    N 2 + 3H 2 ¾¾®
    ¬¾¾ 2 N H3
    xt
    1. Tính khử
    • ¾¾t0® +2

    N2 + O2 ¬¾¾ 2 N O

    Khí NO sinh ra kết hợp ngay với O2 không khí tạo ra NO2

    +2 +4
    2 N O + O2 ® 2 N O2
    1. Điều chế
    2. Trong công nghiệp
    • Nitơ được điều chế bằng cách chưng cất phân đoạn không khí lỏng. b. Trong phòng thí nghiệm
    • Đun nóng nhẹ dung dịch bảo hòa muối amoni nitrit
    NH4NO3 t0 + 2H2O
    ¾¾®N2
    – Hoặc NH4Cl   + t0 N2 +NaCl+2H2O
    NaNO2¾¾®
    • AMONIAC – MUỐI AMONI
    1. Amoniac

     

    1. Cấu tạo phân tử – Tính chất vật lý – Cấu tạo phân tử
    • Tính chất vật lý: NH3 là một chất khí, tan nhiều trong nước cho môi trường kiềm yếu. b. Tính chất hóa học

    * Tính bazơ yếu

    • Tác dụng với nước
    ¾¾® +
    NH+ H2 O  ¬¾ NH +  OH
    4

    Trong dung dịch amoniac là bazơ yếu. Có thể làm quỳ tím hóa xanh. Dùng để nhận biết NH3.

    • Tác dụng với dung dịch muối
    AlCl3 + 3NH3 + 3H2O   →   Al(OH)3↓   + 3NH4Cl
    – Tác dụng với axit
    NH3 + HCl NH4Cl (khói trắng)
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 7

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    * Tính khử
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    -3 t0 0
    4 N H 3 + 3O 2 ¾¾®2 N 2 + 6H 2O
    -3 t0 +2
    4 N H 3 + 5O 2 ¾¾®4 N O + 6H 2O
    -3 t0 0
    2 N H3 + 3Cl
    2 ¾¾® N2 + 6HCl
    Đồng thời NH3 kết hợp ngay với HCl tạo thành khói trắng.
    c. Điều chế
    * Trong phòng thí nghiệm
    2NH4Cl   + Ca(OH)2 t0 CaCl2+2NH3↑   +2H2O
    ¾¾®
    * Trong công nghiệp
    ¾¾¾®
    t 0 ,xt,p ∆H<0
    N2 (k) + 3H2 (k) ¬¾¾¾ 2NH3 (k)
    • Các điều kiện áp dụng để sản xuất amoniac trong công nghiệp là
      • Nhiệt độ: 450 – 5000C
      • Áp suất cao: 200 – 300atm
      • Chất xúc tác: sắt kim loại trộn thêm Al2O3, K2O…
    1. Muối amoni
    2. Định nghĩa – Tính chất vật lý
    • Là chất tinh thể ion, gồm cation amoni NH+4 và anion gốc axit
    • Tất cả đều tan trong nước và điện li hoàn toàn thành ion.
    1. Tính chất hóa học

    * Tác dụng với dung dịch kiềm

    (NH4)2SO4    +   2NaOH t0
    ¾¾®  2NH3↑   +   2H2O   +   Na2SO4
    NH4+     +OH NH3↑+H2O
    • Phản ứng này để nhận biết ion amoni và điều chế amoniac. * Phản ứng nhiệt phân
    NH4Cl t0 NH3 (k) + HCl (k)
    ¾¾®
    (NH4)2CO3 t0 + NH4HCO3 (r)
    ¾¾®  NH3 (k)
    NH4HCO3 t0 NH3 (k)  + CO2 (k)   +H2O (k)
    ¾¾®
    NH4NO2 t0 N2 + 2H2O
    ¾¾®
    NH4NO3 t0
    ¾¾®N2O   +2H2O

    III. AXIT NITRIC

    • Cấu tạo phân tử – Tính chất vật lý Cấu tạo phân tử
    • Trong hợp chất HNO3, nguyên tố nitơ có số oxi hoá cao nhất là +5. b. Tính chất vật lý
    • Axit nitric tinh khiết là chất lỏng không màu, bốc khói mạnh trong không khí ẩm. Axit nitric không bền lắm: khi đun nóng bị phân huỷ một phần theo phương trình:

    4HNO3 ® 4NO2 + O2 + 2H2O

    • Axit nitric tan trong nước theo bất kì tỉ lệ nào. Trên thực tế thường dùng loại axit đặc có nồng độ 68%, D = 1,40 g/cm3.
    1. Tính chất hóa học a. Tính axit
    • Axit nitric là một axit mạnh. Có đầy đủ tính chất của một axit.

    CuO + 2HNO3  ® Cu(NO3)2 + H2O

    Ca(OH)2 + 2HNO3  ® Ca(NO3)2 + 2H2O

    CaCO3 + 2HNO3 ® Ca(NO3)2  + CO2 + H2O

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                              Page 8

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. Tính oxi hoá

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    – Axit nitric là một trong những axit có tính oxi hoá mạnh. Tuỳ thuộc vào nồng độ của axit và bản chất của chất khử mà HNO3 có thể bị khử đến một số sản phẩm khác nhau của nitơ.

    * Với kim loại

    – Khi tác dụng với kim loại có tính khử yếu như Cu, Pb, Ag,… HNO3 đặc bị khử đến NO2, còn

    HNO3 loãng bị khử đến NO. Thí dụ:

    0 +5 +2 +4
    Cu+ 4H N O3 (®Æc) ® Cu(NO3 )2 + 2 N O2 + 2H2O
    0 +5 +2 +2

    ® 3Cu(NO3 )2 + 2 N O + 4H2O

    • Khi tác dụng với những kim loại có tính khử mạnh như Mg, Zn, Al,… HNO3 loãng có thể bị

    +1

    o

    -3

    khử đến

    N2O ,

    N2

    hoặc

    NH4 NO3 .

    • Fe, Al bị thụ động hoá trong dung dịch HNO3 đặc, nguội.

    * Với phi kim

    0 +5 +6 +4
    S + 6HNO3 (®Æc) ® H2SO4 + 6NO2 + 2H2O

    * Với hợp chất

     

    -2

    H2  S

    +5

    + 6H N O3 (®Æc) ®

    +6

    H2 S O4

    +4

    +  6 N O2

    + 3H2O

    1. Điều chế
    2. Trong phòng thí nghiệm

    NaNO3(r) + H2SO4(đặc) ® HNO3 + NaHSO4 b. Trong công nghiệp

    • HNO3 được sản xuất từ amoniac. Quá trình sản xuất gồm ba giai đoạn : + Giai đoạn 1: Oxi hóa NH3 bằng oxi không khí tạo thành NO

    0

    4NH3 + 5O2  ¾¾¾t®             4NO + 6H2O

    • Giai đoạn 2: Oxi hoá NO thành NO2.

    2NO + O2 ® 2NO2

    • Giai đoạn 3: Chuyển hoá NO2 thành HNO3.

    4NO2 + 2H2O + O2 ® 4HNO3.

    IV. MUỐI NITRAT

    • Muối nitrat là muối của axit nitric. Thí dụ, natri nitrat (NaNO3), đồng (II) nitrat (Cu(NO3)2),…
    1. Tính chất vật lí
    • Tất cả các muối nitrat đều tan nhiều trong nước và là chất điện li mạnh.
    NaNO ® Na+   +  NO
    3 3
    1. Tính chất hoá học
    • Muối nitrat của các kim loại hoạt động mạnh (kali, natri, canxi, …) bị phân huỷ thành muối nitrit và oxi:

    o

    Thí dụ: 2KNO3  ¾¾t® 2KNO2 + O2

    • Muối nitrat của kẽm, sắt, chì, đồng,… bị phân huỷ thành oxit kim loại tương ứng, NO2 và O2:

    o

    Thí dụ: 2Cu(NO3)2  ¾¾t® 2CuO + 4NO2 + O2

    • Muối nitrat của bạc, vàng, thuỷ ngân,… bị phân huỷ thành kim loại tương ứng, khí NO2 và O2.

    o

    Thí dụ: 2AgNO3  ¾¾t® 2Ag + 2NO2 + O2

    1. Nhận biết ion nitrat
    • Để nhận ra ion NO3 , người ta đun nóng nhẹ dung dịch chứa NO3 với Cu và H2SO4 loãng:
    3Cu + 8H+ + 2NO3  ® 3Cu2+ +   2NO­ + 4H2O
    (xanh) (không màu)
    2NO + O2 ® NO2 (nâu đỏ)

    Phản ứng tạo dung dịch màu xanh và khí màu nâu đỏ thoát ra.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                               Page 9

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. PHOTPHO

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    1. Vị trí – Cấu hình electron nguyên tử
    2. Vị trí: Ô thứ 15, nhóm VA, chu kỳ 3 trong bảng tuần hoàn.
    • Cấu hình electron: 1s22s22p63s23p3.
    1. Tính chất vật lý

    – Photpho có hai dạng thù hình: Photpho trắng và photpho đỏ. Tùy vào điều kiện mà P(t) có thể chuyển thành P (đ) và ngược lại.

    – P (t) kém bền hơn photpho đỏ. Do vậy để bảo quản P (t) người ta ngâm vào nước.

    1. Tính chất hóa học

    – Trong các hợp chất, photpho có các số oxi hóa -3, +3, +5.

    – Trong các phản ứng hóa học photpho thể hiện tính oxi hóa hoặc tính khử. a. Tính oxi hóa

    0 0 -3 (canxi photphua)
    t
    2 P + 3Ca ¾¾® Ca3 P2
    b. Tính khử
    * Tác dụng với oxi
    – Thiếu oxi: 0 t0 +3
    4 P  + 3O O3
    2  ¾¾® 2 P2
    – Dư oxi: 0 +5
    4 P+ 5O 2 ¾¾®2 P2 O5
    t0
    * Tác dụng với Clo
    0 +3
    • Thiếu clo:2 P+ 3Cl 2 ¾¾t0®2 P Cl3
    – Dư clo: 0 0 +5
    t
    2 P+ 5Cl 2 ¾¾®2 P Cl5
    1. Trạng thái tự nhiên
    • Trong tự nhiên photpho không tồn tại dưới dạng tự do. Hai khoáng vật quan trọng của photpho là: photphorit Ca3(PO4)2apatit 3Ca3(PO4)2.CaF2.
    1. AXIT PHOTPHORIC – MUỐI PHOTPHAT
    1. Axit photphoric a. Tính chất hóa học
    • Là một axit ba nấc, có độ mạnh trung bình. Có đầy đủ tính chất hóa học của một axit.
    ¾¾®  +
    H3 PO4 ¬¾ H + H2 PO4
    ¾¾®  + 2-
    H2 PO4 ¬¾ H + HPO4
    2- ¾¾®  + 3-
    HPO4 ¬¾ H + PO4
    • Khi tác dụng với dung dịch kiềm, tùy theo lượng chất mà tạo ra các muối khác nhau.
    H3PO4 + NaOH NaH2PO4 + H2O
    H3PO4 + 2NaOH Na2HPO4 + 2H2O
    H3PO4 + 3NaOH Na3PO4 + 3H2O
    1. Điều chế

    * Trong phòng thí nghiệm

    P + 5HNO3 → H3PO4 + 5NO2 + H2O * Trong công nghiệp

    • Cho axit sunfuric đặc tác dụng với quặng apatit hoặc photphoric
    t0 +   3CaSO4
    Ca3(PO4)2   +  3H2SO4 (đặc)¾¾®   2H3PO4
    • Để sản xuất axit photphoric với độ tinh khiết và nồng độ cao hơn người ta điều chế từ P

    0

    4P      +       5O2        ¾¾t®  2P2O5

    P2O5   +    3H2O    ¾¾®  2H3PO4

    • Muối photphat Định nghĩa

     

    – Muối photphat là muối của axit photphoric. – Muối photphat được chia thành 3 loại

     

    Muối đihiđrophotphat: NaH2PO4, NH4H2PO4, Ca(H2PO4)2

    Muối hiđrophotphat : Na2HPO4, (NH4)2HPO4, CaHPO4
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 10

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Muối photphat                                : Na3PO4, (NH4)3PO4, Ca3(PO4)2…

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com b. Nhận biết ion photphat

    • Thuốc thử: dung dịch AgNO3
    • Hiện tượng: Xuất hiện kết tủa màu vàng

    3Ag+  + PO34  ® Ag3 PO4 ¯ (màu vàng)

    VII. PHÂN BÓN HÓA HỌC

    • Phân bón hóa học là những hóa chất có chứa các nguyên tố dinh dưỡng, được bón cho cây nhằm nâng cao năng suất mùa màng.
    1. Phân đạm
    • Phân đạm cung cấp nitơ hóa hợp cho cây dưới dạng ion nitrat NO3 và ion amoni NH+4 .
    • Độ dinh dưỡng của phân đạm được đánh giá theo tỉ lệ % về khối lượng nguyên tố nitơ.
    1. Phân đạm amoni
    • Đó là các muối amoni: NH4Cl, NH4NO3, (NH4)2SO4
    • Được điều chế bằng cách cho NH3 tác dụng với axit tương ứng.

    2NH3   +       H2SO4       →       (NH4)2SO4

    1. Phân đạm nitrat
    • Đó là các muối nitrat: NaNO3, Ca(NO3)2
    • Được điều chế bằng phản ứng giữa axit HNO3 và muối cacbonat tương ứng.

    CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + 2H2O c. Phân đạm urê

    • (NH2)2CO (chứa khoảng 46%N) là loại phân đạm tốt nhất hiện nay.
    • Được điều chế bằng cách cho NH3 tác dụng với CO ở nhiệt độ và áp suất cao.

    0

    2NH3     +       CO          ¾¾¾t,p®                           (NH2)2CO            +             H2O

    • Trong đất urê dần chuyển thành muối cacbonat

    (NH2)2CO     +       2H2O        →         (NH4)2CO3.

    1. Phân lân
    • Phân lân cung cấp nguyên tố P cho cây dưới dạng ion photphat ( PO34 ).
    • Độ dinh dưỡng của phân lân được đánh giá theo tỉ lệ % khối lượng P2O5 tương ứng với lượng P có trong thành phần của nó.
    1. Supephotphat
    • Có hai loại: supephotphat đơn và supephotphat kép.
    • Supephotphat đơn: Gồm hai muối: Ca(H2PO4)2 và CaSO4. Được điều chế bằng cách cho quặng photphorit hoặc apatit tác dụng với axit H2SO4 đặc.
    • Supephotphat kép: Đó là muối Ca(H2PO4)2. Được điều chế qua hai giai đoạn

    Ca3(PO4)2   +   3H2SO4     →2H3PO4     +   3CaSO4

    Ca3(PO4)2 + H3PO4 → 3Ca(H2PO4)2 3. Phân kali

    • Phân kali cung cấp nguyên tố K dưới dạng ion K+.
    • Độ dinh dưỡng của phân K được đánh gái theo tỉ lệ % khối lượng K2O tương ứng với lượng K có trong thành phần của nó.
    1. Phân hỗn hợp – Phân phức hợp
    2. Phân hỗn hợp: chứa N, P, K được gọi chung là phân NPK.
    • Thí dụ: (NH4)2HPO4 và KNO3.
    • Phân phức hợp: Thí dụ: Phân amophot là hỗn hợp các muối NH4H2PO4 và (NH4)2HPO4.
    1. Phân vi lượng

    – Phân vi lượng cung cấp cho cây các nguyên tố như bo, kẽm, mangan, đồng… ở dạng hợp chất.

    1. PHẦN HƯỚNG DẪN GIẢI
    2. Bài tập về axit HNO3
    • Khi giải bài tập về axit HNO3 ta chủ yếu dựa vào phương pháp bảo toàn số mol electron để giải bài tập. Nội dung chủ yếu của phương pháp này là

    – å sè mol electron nh­êng = åsè mol electron nhËn .

    • Xác định đúng trạng thái số oxi hóa đầu và cuối.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 11

    = 62* åsè mol electron nh­êng hoÆc nhËn .

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    * Các hệ quả chủ yếu khi sử dụng phương pháp bảo toàn số mol electron:

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    – Khối lượng muối nitrat thu được khi cho kim loại tác dụng với axit HNO3 (không có muối NH4NO3) là

    mMuèi = mkim lo¹i + mNO3 ; mNO3

    • Số mol HNO3 cần dùng để hòa tan hết hỗn hợp các kim loại

    nHNO3  = 4nNO + 2nNO2  + 12nN 2  + 10nN 2 O + 10nNH 4 NO3

    Ví dụ 1: Hòa tan hoàn toàn m gam Al bằng 500 ml dung dịch HNO3 CM (vừa đủ) thu được 0.01 mol NO, 0.03 mol NO2 và dung dịch A chứa x gam muối (không có muối NH4NO3). a. Tính giá trị m.

    • Tính CM (HNO3) đã dung ban đầu.
    • Tính giá trị x.

    Giải

    * Cách 1: Đây là cách mà chúng ta thường dùng khi giải các bài tập hóa học thông thường

    Al + 4HNO3 Al(NO3)3 + NO↑ + 2H2O
    0.01 0.04 0.01 0.01
    Al + 6HNO3 Al(NO3)3 + 3NO2↑ + 3H2O
    0.01 0.06 0.01 0.03
    a. mAl = 0.02*27 = 0.54 (gam).
    b. CM(HNO ) = nHNO 0.1
    3 = = 0.2 (M)
    V
    3 0.5
    • mAl(NO3 )3 = 0.02*213 = 4.26 (gam)

    * Cách 2: Ta dựa vào phương pháp bảo toàn số mol electron và các hệ quả của nó để giải bài tập

    ì  +5 ® +4
    ïN +  1e N O2
    Al   ® Al3+ +  3e ï 0.03 0.03
    í +2
    0.02 0.06 ïN+5 ®
    +  3e N O
    ï
    î
    ï 0.03 0.01
    a. mAl = 0.02*27 = 0.54 (gam)
    b. nHNO  = 4*0.01 + 2*0.03 = 0.1 (mol) ® CM(HNO ) nHNO 0.1
    = 3 = = 0.2 (M)
    V
    3 3 0.5
    • mAl(NO3 )3 = mAl + mNO3= 0.54 + 62*0.06 = 4.26 (gam)

    Ví dụ 2: Khi cho 9.1 gam hỗn hợp Cu và Al tác dụng với dung dịch HNO3 đặc, dư đun nóng sinh ra 11.2 lít khí NO2 (đktc) là sản phẩm khử duy nhất.

    1. Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp ban đầu.
    1. Tính khối lượng muối thu được.

    Giải

    Bài này ta có thể giải theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên ở đây trong phạm vi chương này ta có thể áp dụng phương pháp bảo toàn số mol electron để giải bài tập này.

    * n = V = 11.2 = 0.5 (mol)
    NO
    2 22.4 22.4
    Đặt nCu = x; nAl = y.
    ìCu0 ® Cu2+ + 2e
    ï +4
    ïx 2x ; N+5   +  1e  ® N O2
    í ® Al3+
    ïAl0 + 3e 0.5 0.5
    ï 3y
    îy
    Từ đó ta có hệ PT như sau
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 12
    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh
    ì2x  + 3y = 0.5 ìx = 0.1
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    í ® í
    î64x + 27y = 9.1 îy = 0.1
    1. %Al = mAl *100 = 0.1*27 *100 = 29.67% ; %Cu = 100 – %Al = 100 – 29.67 = 70.33%.

    mhh                     9.1

    • mMuèi = mkim lo¹i + mNO3 = 9.1 + 62*0.5 = 40.1 (gam)
    II. Bài tập về P2O5, H3PO4 tác dụng với dung dịch kiềm
    H3PO4 + NaOH NaH2PO4 + H2O
    H3PO4 + 2NaOH Na2HPO4 + 2H2O
    H3PO4 + 3NaOH Na3PO4 + 3H2O
    Đặt T = nOH . Nếu T ≤ 1 → tạo muối duy nhất NaH2PO4
    nH PO 4
    3
    1 < T < 2 → tạo hỗn hợp hai muối NaH2PO4 và Na2HPO4
    T = 2 → tạo muối duy nhất Na2HPO4
    2 < T < 3 → tạo hỗn hợp hai muối Na2HPO4 và Na3PO4
    Chú ý: T ≥ 3 → tạo muối duy nhất Na3PO4.
    • Khi giải toán dạng này thì đầu tiên ta phải xác định xem muối nào được tạo thành bằng các tính giá trị T. Nếu trường hợp tạo hai muối thì thường ta sẽ lập hệ PT để giải BT.
    • Nếu đề ra không cho H3PO4 mà cho P2O5 thì ta giải hoàn toàn tương tự nhưng mà

    nH3 PO4  = 2nP2 O5

    Ví dụ 3: Trộn 100 ml dung dịch NaOH 1.5M với 100 ml dung dịch H3PO4 1M thu được dung dịch A. Tính khối lượng các chất tan trong A.

    Giải
    * nNaOH = 1.5*0.1 = 0.15 (mol); nH PO = 0.1*1 = 0.1 (mol)
    3 4
    * T = n = 0.15 → tạo hỗn hợp hai muối NaH2PO4 và Na2HPO4. Đặt số mol mỗi muối
    OH = 1.5
    nH PO 4 0.1
    3
    lần lượt là x và y.
    H3PO4 + NaOH NaH2PO4 + H2O
    x x x
    H3PO4 + 2NaOH Na2HPO4 + 2H2O
    y 2y y
    ìx + y = 0.1 ìx = 0.05 ìm = 0.05*120 = 6 (gam)
    ï NaH2 PO4
    Ta có hệ PT: í ® í ® í
    îx + 2y = 0.15 î y = 0.05 ïm Na HPO = 0.05*142 = 7.1 (gam)
    î 2 4
    1. PHẦN BÀI TẬP TỰ GIẢI
    1. PHẦN BÀI TẬP CƠ BẢN

    Câu 1. Nhận biết dung dịch các chất sau bằng phương pháp hóa học.

    • NH3, Na2SO4, NH4Cl, (NH4)2SO4.
    • NH4NO3, NaNO3, FeCl3, Na2SO4.
    • NH4NO3, NaCl, FeCl3, (NH4)2SO4.
    • NH4NO3, NH4Cl, (NH4)2SO4, (NH4)2CO3.
    Câu 2. Cân bằng các phản ứng sau theo phương pháp thăng bằng electron.
    a. Al + HNO3 ? + N2O + ?
    b. FeO + HNO3 ? + NO + ?
    c. Fe(OH)2 + HNO3 ? + NO + ?
    d. Fe3O4 + HNO3 ? + NO2 + ?
    e. Cu + HNO3 ? + NO2 + ?
    f. Mg + HNO3 ? + N2 + ?
    g*. Al + HNO3 ? + NH4NO3 + ?
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 13

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    h*. R + HNO3 ? + N2O + ?
    *Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    i . FexOy + HNO3 ? + NO + ?
    k*. Fe3O4 + HNO3 ? + NxOy + ?
    Câu 3. Hoàn thành các chuổi phản ứng sau.
    a. Khí A  ¾¾¾® dung dịch A ¾¾¾® B ¾¾¾®  Khí A ¾¾¾® C ¾¾®  D   +
    +H O +HCl +NaOH +HNO t0
    2 3
    (1) (2) (3) (4) (5)
    b. NO2 H2O ¾¾® Cu(NO3)2  ¾¾® Cu(OH)2 ¾¾® Cu(NO3)2 ¾¾® CuO  ¾¾®
    ¾¾® HNO3
    (1) ( 2 ) (3) (4) (5) (6)

    Cu

    c.

    (4)                                                 (8)

    Câu 4. Cần lấy bao nhiêu lít khí N2 và H2 để điều chế được 67,2 lít khí NH3 (đktc). Biết hiệu suất của phản ứng là 25%.

    Câu 5. Cho dung dịch NaOH dư vào dung dịch (NH4)2SO4 1M, đun nóng nhẹ.

    • Viết phương trình phân tử, phương trình ion thu gọn.
    • Tính thể tích khí thu được ở điều kiện tiêu chuẩn.

    Câu 6. Hòa tan 3 gam hỗn hợp Cu và CuO trong 1,5 lít dung dịch axit HNO3 1M (loãng) thấy thoát ra 6,72 lít NO (đktc) là sản phẩm khử duy nhất.

    • Tính % khối lượng mỗi chất trong hỗn hợp ban đầu.
    • Tính nồng độ mol của đồng (II) nitrat và dung dịch axit nitric sau phản ứng. Biết thể tích dung dịch sau phản ứng không thay đổi.

    Câu 7. Để điều chế 5 tấn axit nitric nồng độ 60% cần dùng bao nhiêu tấn NH3. Biết sự hao hụt NH3 trong quá trình sản xuất là 3,8%.

    Câu 8. Đốt cháy hoàn toàn 6,2 gam P trong oxi dư. Cho sản phẩm tạo thành tác dụng vừa đủ với dung dịch NaOH 32% tạo ra muối Na2HPO4.

    • Tính khối lượng dung dịch NaOH đã dùng.
    • Tính nồng độ % của muối trong dung dịch thu được sau phản ứng.

    Câu 9. Để thu được muối trung hòa, cần lấy bao nhiêu ml dung dịch NaOH 1M cho tác dụng với 50 ml dung dịch H3PO4 0,5M.

    Câu 10. Hòa tan hoàn toàn 3.2 gam Cu vào dung dịch HNO3 0.5M (vừa đủ) thu được V lít khí NO (ở đktc, là sản phẩm khử duy nhất).

    1. Tính giá trị V.
    2. Tính thể tích dung dịch HNO3 0.5M cần dùng.

    Câu 11. Hòa tan m gam Al bằng dung dịch HNO3 dư thu được 6.72 lit khí N2 (ở đktc, là sản phẩm khử duy nhất) và dung dịch chứa x gam muối.

    Tính m và x.

    Câu 12. Hòa tan m gam Cu bằng dung dịch HNO3 0.5M (vừa đủ) thu được 0.03 mol NO và 0.02 mol NO2 và dung dịch chứa x gam muối.

    1. Tính m và x.
    2. Tính thể tích dung dịch HNO3 0.5M cần dùng.

    Câu 13. Hòa tan 12 gam hỗn hợp Cu và Fe bằng dung dịch HNO3 đặc nguội, dư thu được 4,48 lít khí NO2 (ở đktc, là sản phẩm khử duy nhất). Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu. Câu 14. Hòa tan 8,3 gam hỗn hợp Al và Fe bằng dung dịch HNO3 dư thu được 8,96 lít khí NO2 (đktc, là sản phẩm khử duy nhất) và dung dịch chứa m gam muối.

    1. Tính khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu.
    1. Tính m.

    Câu 15. Cho 60 gam hỗn hợp Cu và CuO bằng dung dịch HNO3 dư thu được 6,72 lít khí NO (đktc, là sản phẩm khử duy nhất). Tính % khối lượng mỗi chất trong hỗn hợp đầu.

    Câu 16. Cho m gam hỗn hợp Fe và Al tan hết trong dung dịch HNO3 thu được 6,72 lít khí NO (đktc, là sản phẩm khử duy nhất) và dung dịch A. Cô cạn dung dịch A thu được 67,7 gam hỗn hợp các muối khan. Tính khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 14

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 17. Cho 68,7 gam hỗn hợp kim loại Al, Fe và Cu tác dụng với dung dịch HNO3 đặc, nguội, Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    dư. Sau phản ứng thu được 26,88 lít khí NO2 (đktc, là sản phẩm khử duy nhất) và m gam chất rắn B không tan. Tính m.

    Câu 10. Khi cho 9.1 gam hỗn hợp Cu và Al tác dụng với dung dịch HNO3 đặc, dư đun nóng sinh ra 11.2 lít khí NO2 (đktc) là sản phẩm khử duy nhất. Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 11. Cho 19,5 gam một kim loại M hóa trị n tan hết trong dung dịch HNO3 thu được 4,48 lít khí NO (ở đktc) là sản phẩm khử duy nhất. Xác định kim loại M.

    Câu 13. Chia hỗn hợp 2 kim loại Cu và Al thành hai phần bằng nhau:

    Phần 1: Cho tác dụng hoàn toàn với dd HNO3 đặc, nguội thu được 8,96 lít khí NO2 (giả sử chỉ tạo ra khí NO2).

    Phần 2: Cho tác dụng hoàn toàn với dd HCl thu được 6,72 lít khí.

    1. Viết các pthh.
    1. Xác định % về khối lượng của mỗi kim loại trong hỗn hợp trên. Các thể tích khí được đo ở đkc.

    Câu 14. Hòa tan hoàn toàn 24,8g hỗn hợp kim loại gồm đồng và sắt trong dung dịch HNO3 0,5M thu được 6,72 lít (đkc) một chất khí duy nhất, không màu hoá nâu ngoài không khí.

    1. Tính thành phần phần trăm theo khối lượng mỗi chất trong hỗn hợp ban đầu.
    2. Tính thể tích dung dịch HNO3 0,5 M cần dùng để hoà tan hết hỗn hợp trên.
    3. Nếu cho 1/2 lượng hỗn hợp trên vào dung dịch HNO3 đặc, nguội thì thể tích khí màu nâu đỏ thu được (ở đkc) là bao nhiêu?

    Câu 15. Cho 21,8g hỗn hợp kim loại gồm bạc và sắt tác dụng vừa đủ với 1,2 lít dung dịch HNO3 0,5M thu được một chất khí (X) duy nhất, không màu hoá nâu ngoài không khí.

    1. Tính thành phần phần trăm theo khối lượng mỗi chất trong hỗn hợp ban đầu.
    2. Tính thể tích khí (X) thu được ở đkc.

    Câu 16. Chia hỗn hợp Cu và Al làm hai phần bằng nhau:

    Phần 1: Cho vào dung dịch HNO3 đặc, nguội thì có 8,96 lít khí màu nâu đỏ bay ra.

    Phần 2: Cho vào dung dịch HCl thì có 6,72 lít khí H2 bay ra.

    Xác định thành phần % về khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp ban đầu. Các thể tích khí được đo ở đkc.

    Câu 17. Cho 11,0 gam hỗn hợp Al và Fe vào dung dịch HNO3 loãng, dư thì có 6,72 lít khí NO bay ra (đkc) là sản phẩm khử duy nhất. Tính khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu.

    Câu 18. Cho hỗn hợp gồm Fe và Zn tác dụng với dung dịch HNO3 đặc nguội thu được 0,896 lít màu nâu ở đkc. Mặt khác, nếu cho hỗn hợp trên tác dụng với dung dịch HCl 10% thu được 0,672 lít khí ở đkc.

    • Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp.
    • Tính khối lượng dung dịch HCl cần dùng.

    Câu 19. Hòa tan hết 1,92 gam một kim loại trong 1,5 lít dd HNO3 0,15M thu được 0,448 lít khí NO (ở đktc) và dd A. Biết khi phản ứng thể tích dd không thay đổi.

    1. Xác định kim loại R.
    2. Tính nồng độ mol của các chất trong dd A.

    Câu 20. Chia 34,8 gam hỗn hợp kim loại gồm Al, Fe và Cu thành 2 phần bằng nhau:

    • Phần I: Cho vào dung dịch HNO3 đặc nguội, dư thu được 4,48 lít khí NO2 (ở đktc).
    • Phần II: Cho vào dung dịch HCl dư thu được 8,96 lít H2 (ở đktc).

    Hãy xác định khối lượng của Al và Fe trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 21. Cho 100 ml dung dịch X chứa Al(NO3)3 0,2M, Cu(NO3)2 0,1M và AgNO3 0,2M tác dụng với dung dịch NH3 dư thu được m gam kết tủa. Xác định giá trị của m.

    Câu 22. Hoà tan hoàn toàn 0,9 gam kim loại M bằng dung dịch HNO3 thu được 0,28 lít khí N2O (đktc). Xác định kim loại M.

    Câu 23. Cho m gam Al tan hoàn toàn trong dung dịch HNO3 thu được 44,8 lít hỗn hợp 3 khí gồm NO, N2O và N2 (ở đktc) có tỉ lệ mol mol: nNO : nN 2 : nN 2O 1: 2 : 3 . Xác định giá trị m.

    Câu 24. Cho 6,4 g kim loại hóa trị II tác dụng với dd HNO3 đặc, dư thu được 4,48 lít NO2 (đkc, là sản phẩm khử duy nhất). Xác định kim loại đó.

    Câu 25. Cho 15 g hh Cu và Al tác dụng với dd HNO3 loãng (lấy dư) thu được 6,72 lít NO (đktc, là sản phẩm khử duy nhất). Xác định khối lượng của Cu và Al trong hỗn hợp đầu.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 15

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 26. Hòa tan một lượng 8,32 gam Cu tác dụng vừa đủ với 240 ml dd HNO3 cho 4,928 lít (ở Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    đktc) hỗn hợp khí gồm NO và NO2 thoát ra.

    1. Tính số mol của mối khí trong hỗn hợp khí thu được.
    • Tính nồng độ dung dịch HNO3 đã dùng.

    Câu 27. Cho dung dịch chứa 11,76 gam H3PO4 vào dung dịch chứa 16,8 gam KOH thu được dung dịch A. Cô cạn dung dịch A thu được m gam muối. Tính giá trị m.

    Câu 28 (B-09). Cho 100 ml dung dịch KOH 1,5M vào 200 ml dung dịch H3PO4 0,5M, thu được dung dịch X. Cô cạn dung dịch X, thu được m gam hỗn hợp gồm các chất. Xác định các chất đó và khối lượng chúng bằng bao nhiêu?

    Câu 29 (B-09). Cho 100 ml dung dịch KOH 1,5M vào 200 ml dung dịch H3PO4 0,5M, thu được dung dịch X. Cô cạn dung dịch X, thu được m gam hỗn hợp gồm các chất. Xác định các chất đó và khối lượng chúng bằng bao nhiêu?

    Câu 30 (B-08). Cho 0,1 mol P2O5 vào dung dịch chứa 0,35 mol KOH. Dung dịch thu được có các chất nào? Khối lượng bằng bao nhiêu?

    Câu 31. Cho 14,2 gam P2O5 và 100 ml dung dịch chứa NaOH 1M và KOH 2M thu được dung dịch X. Xác định các anion có mặt trong dung dịch X.

    Câu 32. Thêm 250 ml dung dịch NaOH 2M vào 200ml dung dịch H3PO4 1,5M.

    • Tìm khối lượng muối thu được?
    • Tính nồng độ mol/l của các chất trong dung dịch tạo thành?
    1. PHẦN BÀI TẬP NÂNG CAO

    Câu 1 (A-2010). Hỗn hợp khí X gồm N2 và H2 có tỉ khối so với He bằng 1,8. Đun nóng X một thời gian trong bình kín (có bột Fe làm xúc tác), thu được hỗn hợp khí Y có tỉ khối so với He bằng 2. Tính hiệu suất của phản ứng tổng hợp NH3.

    Câu 2. Một lượng 8,32 gam Cu tác dụng vừa đủ với 140 ml dung dịch HNO3 cho 4,928 lít ở đkc hỗn hợp gồm hai khí NO và NO2 bay ra.

    • Tính số mol mỗi khí đã tạo ra.
    • Tính nồng độ mol của dung dịch axit ban đầu.

    Câu 3. Hoà tan Fe trong HNO3 dư thấy sinh ra hỗn hợp khí chứa 0,03 mol NO2 và 0,02 mol NO. Khối lượng sắt bị hoà tan là bao nhiêu gam?

    Câu 4. Hòa tan hoàn toàn hỗn hợp gồm 0,1 mol Fe và 0,2 mol Al vào dung dịch HNO3 dư thu được hỗn hợp khí X gồm NO và NO2 có tỉ lệ mol tương ứng là 2:1. Tính thể tích của hỗn hợp khí X (đktc).

    Câu 5. Hòa tan hoàn toàn 11 gam hh gồm Fe và Al trong dd HNO3 dư thu được 11,2 lít hh khí X (đktc) gồm NO và NO2 có khối lượng 19,8 gam. Biết phản ứng không tạo NH4NH3. a. Tính thể tích của mỗi khí trong hh X.

    1. Tính khối lượng của mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu.

    Câu 6. Hoà tan hoàn toàn 5,94g kim loại R trong dung dịch HNO3 loãng thu được 2,688lít (đktc) hỗn hợp khí gồm NO và N2O có tỷ khối so với H 2 là 18,5. Xác định kim loại R.

    Câu 7. Nung nóng 39 gam hh muối gồm và KNO3 và Cu(NO3)2 đến khối lượng không đổi thu được rắn A và 7,84 lít hỗn hợp khí X (ở đktc). Tính % khối lượng của mỗi muối trong hh ban đầu.

    Câu 8 (A-09). Nung 6,58 gam Cu(NO3)2 trong bình kín không chứa không khí, sau một thời gian thu được 4,96 gam chất rắn và hỗn hợp khí X. Hấp thụ hoàn toàn X vào nước để được

    • ml dung dịch Y. Tính pH của dung dịch Y. Đáp án: pH = 1.

    Câu 9. Nung m gam Fe trong không khí, thu được 104,8g hỗn hợp A gồm Fe, FeO, Fe2O3, Fe3O4. Hoà tan hoàn toàn A trong dung dịch HNO3dư, thu được dung dịch B và 12,096 lít hỗn hợp khí C gồm NO và NO2 (đktc) có tỉ khối so với He là 10,167. Tính giá trị của m.

    Câu 10. Đốt cháy 5,6g bột Fe nung đỏ trong bình O2 thu được 7,36 gam hỗn hợp A gồm Fe2O3, Fe3O4, FeO và Fe. Hoà tan hoàn toàn hỗn hợp A bằng dung dịch HNO3 thu được V lít hỗn hợp khí B (đktc) gồm NO2 và NO có tỉ khối so với H2 là 19. Xác định giá trị của V.

    Câu 11. Thuỷ phân hoàn toàn 8,25 gam một photpho trihalogenua thu được dung dịch X. Để trung hoà X cần 100ml dung dịch NaOH 3M. Xác định công thức của photpho trihalogenua.

    Câu 12. Cho 150 ml dung dịch KOH 1M tác dụng với 200 ml dung dịch H3PO4 0,5M. Cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được m gam muối. Tính m.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 16

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 13 (B-08). Tính thể tích dung d ịch HNO3 1M (loãng) ít nhất cần dùng để hoà tan hoàn Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    toàn một hỗn hợp gồm 0,15 mol Fe và 0,15 mol Cu là bao nhiêu (biết phản ứng tạo chất khử duy nhất là NO)? Đáp án: V = 0,8 lít

    Câu 14 (A-09). Cho 3,024 gam một kim loại M tan hết trong dung dịch HNO3 loãng, thu được 940,8 ml khí NxOy (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc) có tỉ khối đối với H2 bằng 22. Xác định khí NxOy và kim loại M. Đáp án: N2O và Al.

    Câu 15 (B-08). Cho 2,16 gam Mg tác dụng với dung dịch HNO3 (dư). Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được 0,896 lít khí NO (ở đktc) và dung dịch X. Tính khối lượng muối khan thu được khi làm bay hơi dung dịch X. Đáp án: 13,92 gam.

    Câu 16 (A-07). Hoà tan hoàn toàn 12 gam hỗn hợp Fe, Cu (tỷ lệ mol 1:1) bằng HNO3, thu được V lít (đktc) hỗn hợp khí X (gồm NO và NO2) và dung dịch Y (chỉ chứa 2 muối và axit dư). Tỉ khối của X so với H2 bằng 19. Xác định giá trị của V. Đáp án: V = 5,6 lít

    Câu 17 (B-07). Nung m gam bột sắt trong oxi, thu được 3 gam hỗn hợp chất rắn X. Hoà tan hết hỗn hợp X trong dung dịch HNO3 (dư) thoát ra 0,56 lít (đktc) khí NO (là sản phẩm khử duy nhất). Xác định giá trị của m. Đáp án: m = 2,52 gam.

    Câu 18 (CĐA-08). Nhiệt phân hoàn toàn 34,65 gam hỗn hợp gồm KNO3 và Cu(NO3)2, thu được hỗn hợp khí X (tỉ khối của X so với khí hiđro bằng 18,8). Tính khối lượng Cu(NO3)2 trong hỗn hợp ban đầu. Đáp án: 9,4 gam

    Câu 20. Hỗn hợp A gồm N2 và H2 với tỉ lệ mol 1: 3. Tạo phản ứng giữa N2 và H2 cho ra NH3 với hiệu suất H% thu được hỗn hợp khí B. Tỉ khối của A so với B là 0,6. Tính giá trị của H.

    Câu 21 (B-2010). Một loại phân supephotphat kép có chứa 69,62% muối canxi đihiđrophotphat, còn lại gồm các chất không chứa photpho. Xác định độ dinh dưỡng của loại phân lân này.

    Đáp án: 42,25%.

    Câu 22 (A-2011). Cho 7,68 gam Cu vào 200 ml dung dịch gồm HNO3 0,6M và H2SO4 0,5M. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn (s ản phẩm khử duy nhất là NO), cô cạn cẩn thận toàn bộ dung dịch sau phản ứng thì khối lượng muối khan thu được là bao nhiêu? Đáp án: 22,56 gam.

    Câu 23 (B-2011). Cho 1,82 gam hỗn hợp bột X gồm Cu và Ag (tỉ lệ số mol tương ứng 4 : 1) vào 30 ml dung dịch gồm H2SO4 0,5M và HNO3 2M, sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được a mol khí NO (sản phẩm khử duy nhất của N+5). Trộn a mol NO trên với 0,1 mol O2 thu được hỗn hợp khí Y. Cho toàn bộ Y tác dụng với H2O, thu được 150 ml dung dịch có pH = z. Tính giá trị của z. Đáp án: z = 1.

    Câu 24 (A-2011). Cho 0,87 gam hỗn hợp gồm Fe, Cu và Al vào bình đựng 300 ml dung dịch H2SO4 0,1M. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được 0,32 gam chất rắn và có 448 ml khí (đktc) thoát ra. Thêm tiếp vào bình 0,425 gam NaNO3, khi các phản ứng kết thúc thì thu được V lít NO (đktc, sản phẩm khử duy nhất) và m gam muối trong dung dịch. Tính m và V.

    Đáp án: V = 0,112 lít và m = 3,865 gam.

    CHUYÊN ĐỀ III. CACBON – SILIC

    1. PHẦN LÝ THUYẾT TRỌNG TÂM
    1. CACBON
    • Vị trí – Cấu hình electron nguyên tử Vị trí

     

    – Cacbon ở ô thứ 6, chu kỳ 2, nhóm IVA của bảng tuần hoàn. b. Cấu hình electron nguyên tử

     

    1s22s22p2. C có 4 electron lớp ngoài cùng – Các số oxi hóa của C là: -4, 0, +2, +4

     

    • Tính chất vật lý
    • C có ba dạng thù hình chính: Kim cương, than chì và fuleren
    1. Tính chất hóa học
    • Trong các dạng tồn tại của C, C vô định hình hoạt động hơn cả về mặt hóa học.
    • Trong các phản ứng hóa học C thể hiện hai tính chất: Tính oxi hóa và tính khử. Tuy nhiên tính khử vẫn là chủ yếu của C.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 17

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 13 (B-08). Tính thể tích dung d ịch HNO3 1M (loãng) ít nhất cần dùng để hoà tan hoàn Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    toàn một hỗn hợp gồm 0,15 mol Fe và 0,15 mol Cu là bao nhiêu (biết phản ứng tạo chất khử duy nhất là NO)? Đáp án: V = 0,8 lít

    Câu 14 (A-09). Cho 3,024 gam một kim loại M tan hết trong dung dịch HNO3 loãng, thu được 940,8 ml khí NxOy (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc) có tỉ khối đối với H2 bằng 22. Xác định khí NxOy và kim loại M. Đáp án: N2O và Al.

    Câu 15 (B-08). Cho 2,16 gam Mg tác dụng với dung dịch HNO3 (dư). Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được 0,896 lít khí NO (ở đktc) và dung dịch X. Tính khối lượng muối khan thu được khi làm bay hơi dung dịch X. Đáp án: 13,92 gam.

    Câu 16 (A-07). Hoà tan hoàn toàn 12 gam hỗn hợp Fe, Cu (tỷ lệ mol 1:1) bằng HNO3, thu được V lít (đktc) hỗn hợp khí X (gồm NO và NO2) và dung dịch Y (chỉ chứa 2 muối và axit dư). Tỉ khối của X so với H2 bằng 19. Xác định giá trị của V. Đáp án: V = 5,6 lít

    Câu 17 (B-07). Nung m gam bột sắt trong oxi, thu được 3 gam hỗn hợp chất rắn X. Hoà tan hết hỗn hợp X trong dung dịch HNO3 (dư) thoát ra 0,56 lít (đktc) khí NO (là sản phẩm khử duy nhất). Xác định giá trị của m. Đáp án: m = 2,52 gam.

    Câu 18 (CĐA-08). Nhiệt phân hoàn toàn 34,65 gam hỗn hợp gồm KNO3 và Cu(NO3)2, thu được hỗn hợp khí X (tỉ khối của X so với khí hiđro bằng 18,8). Tính khối lượng Cu(NO3)2 trong hỗn hợp ban đầu. Đáp án: 9,4 gam

    Câu 20. Hỗn hợp A gồm N2 và H2 với tỉ lệ mol 1: 3. Tạo phản ứng giữa N2 và H2 cho ra NH3 với hiệu suất H% thu được hỗn hợp khí B. Tỉ khối của A so với B là 0,6. Tính giá trị của H.

    Câu 21 (B-2010). Một loại phân supephotphat kép có chứa 69,62% muối canxi đihiđrophotphat, còn lại gồm các chất không chứa photpho. Xác định độ dinh dưỡng của loại phân lân này.

    Đáp án: 42,25%.

    Câu 22 (A-2011). Cho 7,68 gam Cu vào 200 ml dung dịch gồm HNO3 0,6M và H2SO4 0,5M. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn (s ản phẩm khử duy nhất là NO), cô cạn cẩn thận toàn bộ dung dịch sau phản ứng thì khối lượng muối khan thu được là bao nhiêu? Đáp án: 22,56 gam.

    Câu 23 (B-2011). Cho 1,82 gam hỗn hợp bột X gồm Cu và Ag (tỉ lệ số mol tương ứng 4 : 1) vào 30 ml dung dịch gồm H2SO4 0,5M và HNO3 2M, sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được a mol khí NO (sản phẩm khử duy nhất của N+5). Trộn a mol NO trên với 0,1 mol O2 thu được hỗn hợp khí Y. Cho toàn bộ Y tác dụng với H2O, thu được 150 ml dung dịch có pH = z. Tính giá trị của z. Đáp án: z = 1.

    Câu 24 (A-2011). Cho 0,87 gam hỗn hợp gồm Fe, Cu và Al vào bình đựng 300 ml dung dịch H2SO4 0,1M. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được 0,32 gam chất rắn và có 448 ml khí (đktc) thoát ra. Thêm tiếp vào bình 0,425 gam NaNO3, khi các phản ứng kết thúc thì thu được V lít NO (đktc, sản phẩm khử duy nhất) và m gam muối trong dung dịch. Tính m và V.

    Đáp án: V = 0,112 lít và m = 3,865 gam.

    CHUYÊN ĐỀ III. CACBON – SILIC

    1. PHẦN LÝ THUYẾT TRỌNG TÂM
    1. CACBON
    • Vị trí – Cấu hình electron nguyên tử Vị trí

     

    – Cacbon ở ô thứ 6, chu kỳ 2, nhóm IVA của bảng tuần hoàn. b. Cấu hình electron nguyên tử

     

    1s22s22p2. C có 4 electron lớp ngoài cùng – Các số oxi hóa của C là: -4, 0, +2, +4

     

    • Tính chất vật lý
    • C có ba dạng thù hình chính: Kim cương, than chì và fuleren
    1. Tính chất hóa học
    • Trong các dạng tồn tại của C, C vô định hình hoạt động hơn cả về mặt hóa học.
    • Trong các phản ứng hóa học C thể hiện hai tính chất: Tính oxi hóa và tính khử. Tuy nhiên tính khử vẫn là chủ yếu của C.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 17

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. Tính khử

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com * Tác dụng với oxi

    0 t0 +4 . Ở nhiệt độ cao C lại khử CO2 theo phản ứng
    C + O2 ¾¾® C O2
    0 +4 t0 +2
    C + CO2 ¾¾® 2CO
    * Tác dụng với hợp chất
    0 +4
    C + 4HNO3 ¾¾®C O2 + 4NO2 + 2H2O
    t 0
    b. Tính oxi hóa
    * Tác dụng với hidro
    0 -4
    C+ 2H2 ¾¾¾®C H4
    t0 , xt
    * Tác dụng với kim loại
    0 t0 -4
    C3 (nhôm cacbua)
    3C+ 4Al ¾¾®Al4
    • CACBON MONOXIT
    1. Tính chất hóa học

    – Tính chất hóa học đặc trưng của CO là tính khử

    +2 t0 +4
    2CO + O2 ¾¾®2CO2
    +2 t0 +4 + 2Fe
    3CO + Fe2 O3 ¾¾®3CO2
    1. Điều chế
    2. Trong phòng thí nghiệm

    0

    HCOOH            ¾¾¾¾¾H2SO4(®Æc),t®            CO  +          H2O

    1. Trong công nghiệp: Khí CO được điều chế theo hai phương pháp * Khí than ướt
    10500 C
    C + H2O ¾¾¾® CO   +H2
    ¬¾¾¾
    * Khí lò gas
    C + O2 t0 CO2
    ¾¾®
    CO2 + C t0 2CO
    ¾¾®
    • CACBON ĐIOXIT Tính chất
    1. Tính chất vật lý

    – Là chất khí không màu, nặng gấp 1,5 lần không khí.

    – CO2 (rắn) là một khối màu trắng, gọi là “nước đá khô”. Nước đá khô không nóng chãy mà thăng hoa, được dùng tạo môi trường lạnh không có hơi ẩm.

     

    1. Tính chất hóa học

    – Khí CO2 không cháy, không duy trì sự cháy của nhiều chất. – CO2 là oxit axit, khi tan trong nước cho axit cacbonic

    CO2 (k)  +   H2O (l) ¾¾® H2CO3 (dd)
    ¬¾
    • Tác dụng với dung dịch kiềm
    CO2 + NaOH NaHCO3
    CO2 + 2NaOH Na2CO3+H2O

    Tùy vào tỉ lệ phản ứng mà có thể cho ra các sản phẩm muối khác nhau.

    1. Điều chế
    2. Trong phòng thí nghiệm

    CaCO3 + 2HCl → CaCl2 + CO2↑ + H2O b. Trong công nghiệp

    • Khí CO2 được thu hồi từ quá trình đốt cháy hoàn toàn than.
    1. AXIT CACBONIC – MUỐI CACBONAT
    1. Axit cacbonic
    • Là axit kém bền, chỉ tồn tại trong dung dịch loãng, dễ bị phân hủy thành CO2 và H2

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 18

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    – Là axit hai nấc, trong dung dịch phân li hai nấc.
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    H CO ¾¾® H+ + HCO
    23 ¬¾ 3
    ¾¾® + 2-
    HCO3 ¬¾ H + CO3
    1. Muối cacbonat
    • Muối cacbonat của các kim loại kiềm, amoni và đa số muối hiđrocacbonat đều tan. Muối cacbonat của kim loại khác thì không tan.
    • Tác dụng với dd axit
    NaHCO3 + HCl NaCl+   CO2 + H2O
    HCO3 + H+ CO2↑   +   H2O
    Na2CO3 + 2HCl 2NaCl   +  CO2 + H2O
    CO32- +2H+ →CO2↑   +   H2O
    • Tác dụng với dd kiềm
    NaHCO3 + NaOH Na2CO3 + H2O
    HCO3 + OH CO32- + H2O
    • Phản ứng nhiệt phân
    MgCO3(r) t0 MgO(r)   + CO2(k)
    ¾¾®
    2NaHCO3(r) t0 Na2CO3(r)   + CO2(k)+   H2O(k)
    ¾¾®
    1. SILIC
    1. Tính chất vật lý
    • Silic có hai dạng thù hình: silic tinh thể và silic vô định hình.
    1. Tính chất hóa học
    • Silic có các số oxi hóa: -4, 0, +2 và +4 (số oxi hóa +2 ít đặc trưng hơn).
    • Trong các phản ứng hóa học, silic vừa thể hiện tính oxi hóa vừa thể hiện tính khử. a. Tính khử
    0 +4
    Si+ 2F2 ¾¾®Si F4
    0 t0 +4
    Si+ O 2 ¾¾®Si O2
    0 +4
    Si+ 2NaOH + H 2 O ¾¾® Na 2 Si O 3 + 2H2 ­
    1. Tính oxi hóa
    0 -4
    t0 Si
    2Mg + Si ¾¾®Mg 2
    1. Điều chế
    • Khử SiO2 ở nhiệt độ cao

    0

    SiO2   +       2Mg         ¾¾t®    Si       +       MgO

    1. HỢP CHẤT CỦA SILIC
    2. Silic đioxit
    • SiO2 là chất ở dạng tinh thể.
    • Tan chậm trong dung dịch kiềm đặc nóng, tan dể trong kiềm nóng chãy.

    0

    SiO2       +        2NaOH          ¾¾t®    Na2SiO3      +      H2O

    • Tan được trong axit HF
    • Dựa vào tính chất này, người ta dùng dung dịch HF để khắc chử lên thủy tinh.
    1. Axit silixic
    • H2SiO3 là chất ở dạng keo, không tan trong nước. Khi mất một phần nước tạo thành vật liệu xốp là silicagen. Dùng để hút hơi ẩm trong các thùng đựng hàng hóa.
    • Axit silixic là axit yếu, yếu hơn cả axit cacbinic nên bị axit này đẩy ra khỏi dung dịch muối.

    Na2SiO3 + CO2 + H2O → Na2CO3 + H2SiO33. Muối silicat

    • Dung dịch đậm đặc của Na2SiO3 và K2SiO3 được gọi là thủy tinh lỏng.
    • Vải tẩm thủy tinh lỏng sẻ khó cháy, ngoài ra thủy tinh lỏng còn được dùng để chế tạo keo dán thủy tinh và sứ.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 19

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. PHẦN HƯỚNG DẪN GIẢI

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    1. DẠNG BÀI TẬP KHỬ OXIT KIM LOẠI BẰNG KHÍ CO

    Oxit Kl                   +    CO            →           Kl           +             CO2

    • moxit Kl + mCO = mKl + mCO2

     

    • nO (oxit) = nCO = nCO2 mOxitKl = mKl + mO
    • DẠNG BÀI TẬP CO2 TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH KIỀM
      • Dạng 1: CO2 tác dụng với dung dịch NaOH (hoặc KOH)
    Các PTHH của các phản ứng xãy ra
    CO2 + NaOH NaHCO3
    CO2 + 2NaOH Na2CO3 + H2O

    Khi gặp dạng bài tập này thì đầu tiên ta phải xác định xem muối thu được là muối nào bằng cách

    đặt T = nOH Nếu T ≤ 1 → tạo muối duy nhất NaHCO3
    nCO 2
    Nếu    1 < T < 2 → tạo hỗn hợp hai muối NaHCO3 và Na2CO3
    Nếu T ≥ 2 → tạo muối duy nhất Na2CO3
    • Dạng 2: CO2 tác dụng với dung dịch Ca(OH)2 (hoặc Ba(OH)2) Các PTHH của các phản ứng xãy ra

    CO2                      +             Ca(OH)2                                             →           CaCO3↓              +             H2O

    CO2 (dư)           +             H2O      +             CaCO3                →           Ca(HCO3)2 (tan)

    Do vậy, đối với dạng bài tập này khi cùng tạo ra một lượng kết tủa có thể tương ứng với 2 giá trị của CO2 (về số mol hoặc thể tích CO 2).

    ì(1) n 2-  = n ¯ = nCO 2 ì(1) n CO2 = n ¯
    ï CO3 ï
    í ® í
    (2) n 2-  = n¯ = n  –  – nCO ï(2) nCO = n  –  – n¯
    î CO3 OH 2 î 2 OH
    ï
    • Dạng 3: CO2 tác dụng với hỗn hợp dung dịch NaOH (hoặc KOH) với dung dịch Ca(OH)2 (hoặc Ba(OH)2)

    Cách 1: Viết PTHH

    CO 2 + OH ® HCO
    3
    HCO + OH ® CO2- +  H O
    3 3 2
    Ca2 + + CO2 ® CaCO ¯
    3 3

    → từ đó so sánh số mol các chất và tính khối lượng kết tủa.

    Cách 2: Trước hết tính nCO32-   rồi so sánh với nCa 2+   hoÆc nBa2+   sau đó tính khối lượng kết tủa thu

    được.

    Ví dụ 1: Sục 2.24 lít khí CO2  (đktc) vào 150 ml dung dịch NaOH 1M thu được dung dịch A.

    Tính khối lượng các chất tan trong A.

    Giải
    2.24
    nCO = = 0.1 (mol); nNaOH = 0.15*1 = 0.15 (mol)
    2 22.4
    • T = nOH = 15 = 1.5 → tạo hỗn hợp hai muối nCO2 0.1
    Đặt nNaHCO = x; n Na CO = y
    3 2 3
    CO2 + NaOH NaHCO3
    x x x
    CO2 + 2NaOH Na2CO3 + H2O
    y 2y y
    ìx + y = 0.1 ìx = 0.05 ìm = 0.05*84 = 4.2 (gam)
    ï NaHCO3
    Ta có hệ PT: í ® í ® í
    îx + 2y = 0.15 î y = 0.05 ïm Na CO = 0.05*106 = 5.3 (gam)
    î 2 3
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 20

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Ví dụ 2: Dẫn một luồng khí CO dư qua ống sứ đựng Fe3O4 và CuO nung nóng đến khi phản ứng Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    hoàn toàn thu được 2,32 gam hỗn hợp kim loại. Khí thoát ra khỏi bình được dẫn qua dung dịch nước vôi trong dư thu được 5 gam kết tủa. Tính tổng khối lượng 2 oxit trong hỗn hợp đầu.

    Giải

    * Cách 1: nCaCO  = 5 = 0.05 (mol) n O (oxit) = nCO = nCaCO  = 0.05 (mol)
    100
    3 2 3
    moxit = mKl + m O = 2.32 + 16*0.05 = 3.12 (gam)
    * Cách 2: nCaCO = 5 = 0.05 (mol) n O (oxit) = nCO = nCO = n = 0.05 (mol)
    CaCO
    3 100 2 3

    moxit = mKl + mCO2  – mCO = 2.32 + 44*0.05 – 28*0.05 = 3.12 (gam)

    Ví dụ 3 (A-2011): Hấp thụ hoàn toàn 0,672 lít khí CO2 (đktc) vào 1 lít dung dịch gồm NaOH 0,025M và Ca(OH)2 0,0125M, thu được x gam kết tủa. Tính giá trị của x.

    Giải
    nCO = 0.672 = 0.03 (mol); nNaOH = 0.025*1 = 0.025 (mol); nCa(OH)   = 1*0.0125 = 0.0125(mol)
    2 22.4 2
    ® n   = 0.025 + 0.0125* 2 = 0.05 (mol). ® T= 0.5 = 1.33
    OH 0.3
    n 2- = n OH –  – nCO = 0.05 – 0.03 = 0.02(mol)
    CO 2
    3
    Ca2+ + CO2 ®  CaCO 3 ¯
    3
    0.0125 0.02 0.0125
    • nCaCO3 =0125*100 = 1.25(gam).
    • PHẦN BÀI TẬP TỰ GIẢI
    • PHẦN BÀI TẬP CƠ BẢN

    Câu 1. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:

    a. NaHCO3 + NaOH ®
    b. NaHCO3 + HCl ®
    c. SiO2 + HF ®
    d. CO2 + NaOH ®
    1 mol 1 mol ®
    e. CO2 + NaOH
    1 mol 2 mol ®
    f. CO2 + Ca(OH)2
    1 mol 1 mol ®
    g. CO2 + Ca(OH)2
    2 mol 1 mol ®
    h. CO (dư) + Fe2O3
    i. CO (dư) + Fe3O4 ®

    Câu 2. Đốt một mẩu than đá (chứa tạp chất không cháy) có khối lượng 0,6 gam trong oxi dư thu được 1,06 m3 (đktc) khí cacbonic. Tính thành phần % khối lượng của cacbon trong mẩu than đá trên.

    Câu 3. Cho 224 ml khí CO2 (đktc) hấp thụ hết trong 100 ml dung dịch KOH 0,2M. Tính khối lượng của những chất trong dung dịch tạo thành.

    Câu 4. Cho 5,6 lít khí CO2 (đktc) sục vào dung dịch NaOH dư thu được dung dịch A. Cô cạn dung dịch A thu được m gam muối. Tính giá trị m.

    Câu 5. Sục 2,24 lít khí CO2 (đktc) vào 150 ml dung dịch NaOH 1M thu được dung dịch D. Tính khối lượng các chất tan trong dung dịch D.

    Câu 6. Sục 2,24 lít khí CO2 (đktc) vào 200 ml dung dịch NaOH 1M thu được dung dịch D. Tính nồng độ mol/lít của các chất tan trong dung dịch D.

    Câu 7. Sục 4,48 lít khí CO2 (đktc) vào 400 ml dung dịch NaOH CM thu được dung dịch A. Cô cạn dung dịch A thu được 19 gam hỗn hợp hai muối.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 21

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. Tính khối lượng mỗi muối.

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com b. Tính nồng độ dung dịch NaOH đem dùng.

    Câu 8. Nung 52,65 gam CaCO3 ở 10000C và cho toàn bộ khí thoát ra hấp thụ hết vào 500 ml dung dịch NaOH 1,8M. Hỏi thu được muối nào? Khối lượng là bao nhiêu. Biết hiệu suất của phản ứng nhiệt phân CaCO3 là 85%.

    Câu 9. Tính thể tích dung dịch NaOH 2M tối thiểu để hấp thụ hết 4,48 lít khí CO2 (đktc).

    Câu 10. Khử hoàn toàn 23,2 gam Fe3O4 bằng khí CO dư. Khí thu được sục vào dung dịch Ca(OH)2 dư thu được m gam kết tủa. Tính m.

    Câu 11. Khử hoàn toàn m gam Fe2O3 bằng khí CO dư. Khí thu được sục vào dung dịch Ca(OH)2 dư thu được 30 gam kết tủa. Tính m.

    Câu 12. Khử hoàn toàn 2,32 gam Fe3O4 bằng khí CO dư thu được m gam chất rắn. Hòa tan hoàn toàn chất rắn thu được bằng dung dịch axit HNO3 thu được V lít NO (đktc) là sản phẩm khử duy nhất. Tính m và V.

    Câu 13. Khử hoàn toàn m gam gam Fe3O4 bằng V lít khí CO (vừa đủ) thu được chất rắn C. Hòa tan hoàn toàn chất rắn C thu được bằng dung dịch axit HNO3 thu được 6,72 lít NO (đktc) là sản phẩm khử duy nhất. Tính m và V.

    Câu 14 (CĐA-09). Khử hoàn toàn một oxit sắt X ở nhiệt độ cao cần vừa đủ V lít khí CO (ở đktc), sau phản ứng thu được 0,84 gam Fe và 0,02 mol khí CO2. Công thức của X và giá trị V lần lượt là

    1. PHẦN BÀI TẬP NÂNG CAO

    Câu 1. Dẫn một luồng khí CO dư qua ống sứ đựng Fe3O4 và CuO nung nóng đến khi phản ứng hoàn toàn thu được 2,32 gam hỗn hợp kim loại. Khí thoát ra khỏi bình được dẫn qua dung dịch nước vôi trong dư thu được 5 gam kết tủa. Tính tổng khối lượng 2 oxit trong hỗn hợp đầu.

    Câu 2. Cho khí CO qua ống chứa 15,2g hỗn hợp gồm CuO và FeO nung nóng. Sau một thời gian thu được hỗn hợp khí B và 13,6g chất rắn C. Cho B tác dụng với dung dịch Ca(OH)2 dư thu được m gam kết tủa. Xác định giá trị của m.

    Câu 3. Dẫn một luồng khí CO qua ống sứ đựng m gam hỗn hợp CuO, Fe2O3, Fe3O4 và Al2O3 rồi cho khí thoát ra hấp thụ hết vào dung dịch nước vôi trong dư thu được 15 gam kết tủa. Chất rắn còn lại trong ống sứ có khối lượng 215,0 gam. Xác định giá trị của m.

    Câu 4. Cho V lít khí CO2 (đktc) hấp thụ hết vào 500 ml dung dịch Ca(OH)2 0,02 M thì thu được 0,5 gam kết tủa. Xác định giá trị tối thiểu của V.

    Câu 5. Cho 1,344 lít khí CO2 (đktc) hấp thụ hết vào 2 lít dung dịch X chứa NaOH 0,04M và Ca(OH)2 0,02M thu được m gam kết tủa. Xác định giá trị của m.

    Câu 6. Hoà tan hoàn toàn 11,2 gam CaO vào H2O thu được dung dịch A. Sục V lít khí CO2 (đktc) vào dung dịch A thu được 15 gam kết tủa. Xác định giá trị của V.

    Câu 7 (CĐ-2010). Hấp thụ hoàn toàn 3,36 lít khí CO2 (đktc) vào 125 ml dung dịch Ba(OH)2 1M, thu được dung dịch X. Coi thể tích dung dịch không thay đổi. Xác định nồng độ mol của chất tan trong dung dịch X. Đáp án: Chất tan ở đây là Ba(HCO3)2: 0,6M.

    Câu 8 (A-09). Cho 0,448 lít khí CO2 (ở đktc) hấp thụ hết vào 100 ml dung dịch chứa hỗn hợp NaOH 0,06M và Ba(OH)2 0,12M, thu được m gam kết tủa. Tính giá trị của m.

    Đáp án: 1,97 gam.

    Câu 9 (A-08). Hấp thụ hoàn toàn 4,48 lít khí CO2 (ở đktc) vào 500 ml dung dịch hỗn hợp gồm NaOH 0,1M và Ba(OH)2 0,2M, sinh ra m gam kết tủa.Tính giá trị của m. Đáp án: m = 9,85 gam. Câu 10 (A-07). Hấp thụ hoàn toàn 2,688 lít khí CO2 (đktc) vào 2,5 lít dung dịch Ba(OH)2 nồng độ a mol/l, thu được 15,76 gam kết tủa. Tính giá trị của a. Đáp án: a = 0,04 mol.

    Câu 11 (CĐA-08). Dẫn từ từ V lít khí CO (ở đktc) đi qua một ống sứ đựng lượng dư hỗn hợp rắn gồm CuO, Fe2O3 (ở nhiệt độ cao). Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được khí X. Dẫn toàn bộ khí X ở trên vào lượng dư dung dịch Ca(OH)2 thì tạo thành 4 gam kết tủa. Tính giá trị của V. Đáp án: V = 0,896 lít.

    Câu 12 (A-09). Cho luồng khí CO (dư) đi qua 9,1 gam hỗn hợp gồm CuO và Al2O3 nung nóng đến khi phản ứng hoàn toàn, thu được 8,3 gam chất rắn. Tính khối lượng CuO có trong hỗn hợp

    ban đầu. Đáp án: mCuO = 4 gam.

    Câu 13 (A-08). Cho V lít hỗn hợp khí (ở đktc) gồm CO và H2 phản ứng với một lượng dư hỗn hợp rắn gồm CuO và Fe3O4 nung nóng. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, khối lượng hỗn

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 22

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    hợp rắn giảm 0,32 gam. Xác định giá trị của V. Đáp án: V = 0,448 lít.

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    Câu 14 (A-2011). Hấp thụ hoàn toàn 0,672 lít khí CO2 (đktc) vào 1 lít dung dịch gồm NaOH 0,025M và Ca(OH)2 0,0125M, thu được x gam kết tủa. Tính giá trị của x. Đáp án: x = 1,25 gam. Câu 15 (B-2011). Hấp thụ hoàn toàn 2,24 lít CO2 (đktc) vào 100 ml dung dịch gồm K2CO3 0,2M và KOH x mol/lít, sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được dung dịch Y. Cho toàn bộ Y tác dụng với dung dịch BaCl2 (dư), thu được 11,82 gam kết tủa. Tính giá trị của x.

    Đáp án: x = 1,4 M.

    CHUYÊN ĐỀ IV. ĐẠI CƯƠNG VỀ HÓA HỮU CƠ

    1. PHẦN LÝ THUYẾT TRỌNG TÂM
    1. MỞ ĐẦU VỀ HÓA HỌC HỮU CƠ
    2. Khái niệm về hợp chất hữu cơ và hóa học hữu cơ
    • Hợp chất hữu cơ là hợp chất của cacbon (trừ CO, CO2, muối cacbonat…).
    • Hóa học hữu cơ là nghành hóa học nghiên cứu các hợp chất hữu cơ.
    • Phân loại hợp chất hữu cơ – Thường chia thành hai loại
    • Hiđrocacbon
    • Dẫn xuất hiđrocacbon
    • Đặc điểm chung của hợp chất hữu cơ
    • Đặc điểm cấu tạo: Liên kết hóa học chủ yếu trong hợp chất hữu cơ là liên kết cộng hóa trị.
    • Tính chất vật lý:
      • Nhiệt độ nóng chãy, nhiệt độ sôi thấp.
      • Phần lớn không tan trong nước, nhưng tan nhiều trong các dung môi hữu cơ.
    • Tính chất hóa học:
    • Các hợp chất hữu cơ thường kém bền với nhiệt và dể cháy.
    • Phản ứng hóa học của các hợp chất hữu cơ thường xãy ra chậm và theo nhiều hướng khác nhau, nên tạo ra hỗn hợp nhiều sản phẩm.
    1. Sơ lược về phân tích nguyên tố a. Phân tích định tính

    * Mục đích: Xác định nguyên tố nào có trong hợp chất hữu cơ.

    * Nguyên tắc: Chuyển các nguyên tố trong hợp chất hữu cơ thành các chất vô cơ đơn giản rồi nhận biết chúng bằng các phản ứng đặc trưng.

    1. Phân tích định lượng

    * Mục đích: Xác định thành phần % về khối lượng các nguyên tố có trong phân tử hợp chất hữu cơ.

    * Nguyên tắc: Cân chính xác khối lượng hợp chất hữu cơ, sau đó chuyển nguyên tố C → CO2, H → H2O, N → N2, sau đó xác định chính xác khối lượng hoặc thể tích của các chất tạo thành, từ đó tính % khối lượng các nguyên tố.

    * Biểu thức tính toán:

    mC = mCO2 .12 (g) ; mH = mH 2O .2 (g) ; m N = VN2 .28 (g)
    44 18 22, 4
    • Tính được: %C = mC .100 ; %H = mH .100 ; %N = mN .100 ; %O = 100-%C-%H-%N

    aaa

    • CÔNG THỨC PHÂN TỬ HỢP CHẤT HỮU CƠ
    1. Công thức đơn giản nhất a. Định nghĩa

    – Công thức đơn giản nhất là công thức biểu thị tỉ lệ tối giản về số nguyên tử của các nguyên tố trong phân tử.

    1. Cách thiết lập công thức đơn giản nhất

    – Thiết lập công thức đơn giản nhất của hợp chất hữu cơ CxHyOz là thiết lập tỉ lệ

    • : y : z = nC : nH : nO = m12C : m1H  : m16O  ; x : y : z = %C12 : %H1 : %O16

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 23

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. Công thức phân tử

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com a. Định nghĩa

    • Công thức phân tử là công thức biểu thị số lượng nguyên tử của mỗi nguyên tố trong phân tử. b. Cách thiết lập công thức phân tử
    • Có ba cách thiết lập công thức phân tử
    • Dựa vào thành phần % khối lượng các nguyên tố (ít dùng) – Cho CTPT CxHyOz: ta có tỉ lệ

    100M = 12.x%C = %H1.y = 16.z%O

    Từ đó ta có: x = M.%C ; y = M.%H ; z = M.%O

    12.100              1.100              16.100

    • Dựa vào công thức đơn giản nhất (thường dùng)
    • Tính trực tiếp theo khối lượng sản phẩm cháy (ít dùng)
    1. PHẦN HƯỚNG DẪN GIẢI

    Phần bài tập chương này chủ yếu là lập CT đơn giản nhất và CTPT. Một số công thức sau yêu cầu chúng ta phải nắm để vận dụng trong việc giải bài tập chương này.

    Cho hợp chất X có CT: CxHyOzNt.

    * nC = nCO  ; nH = 2nH O ; nN = 2nN ; mO = mX – (mC + mH + mN) → nO = mO
    2 2 2 16
    • x : y : z : t = nC : nH : nO : nN.

    * dA/ B = MA  ® MA = dA/ B *MB

    MB

    Ví dụ: Đốt cháy hoàn toàn 2,46 gam chất hữu cơ (A) thu được 5,28 gam CO2, 0,9 gam H2O và 224ml N2 (đo đktc). Tỉ khối hơi của (A) so với không khí là 4, 24. Xác định công thức phân tử của (A).

    Giải

    Đặt CT đơn giản nhất của A là CxHyOzNt

    n = n = 5.28 = 0.12 (mol) ; n = 2* n = 2* 0.9 = 0.1 (mol) ;
    C CO H H O
    44 18
    2 2
    nN = 2nN = 2* 0.224 = 0.02 (mol)
    2 22.4

    mO = mA – (mC + mH + mN) = 2.46 – (0.12*12+0.1*1+0.02*14) = 0.64 (gam)

    • nO = mO = 64 = 0.04 (mol) 16 16
    • x : y : z : t = nC : nH : nO : nN = 0.12 : 0.1 : 0.04 : 0.02 = 6 : 5 : 2 : 1
    • CT đơn giản nhất của A là: C6H5O2N

    dA/ kk = MA ® MA = dA/B *29 = 123 từ đó ta suy ra: CT đơn giản nhất chính là CTPT. 29

    → CTPT của A là: C6H5O2N

    1. PHẦN BÀI TẬP TỰ GIẢI

    Câu 1. Oxi hóa hoàn toàn 0,6 gam hợp chất hữu cơ A thu được 0,672 lít CO2 (đktc) và 0,72 gam H2O. Tính % khối lượng các nguyên tố trong phân tử chất A.

    Câu 2. Oxi hóa hoàn toàn 0,67 gam β-caroten rồi dẫn sản phẩm oxi hóa qua bình 1 đựng dd H2SO4 đặc, sau đó qua bình 2 đựng Ca(OH)2 dư. Kết quả cho thấy khối lượng bình 1 tăng 0,63 gam; bình 2 có 5 gam kết tủa. Tính % khối lượng các nguyên tố trong phân tử β-caroten.

    Câu 3. Tính khối lượng mol phân tử của các chất sau:

    • Chất A có tỉ khối hơi so với không khí bằng 2,07.
    • Thể tích hơi của 3,3 gam chất X bằng thể tích của 1,76 gam khí oxi (đo ở cùng điều kiện).

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 24

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 4. Kết quả phân tích nguyên tố cho thấy limonen được cấu tạo từ hai nguyên tố C và H, Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    trong đó C chiếm 88,235% về khối lượng. Tỉ khối hơi của limonen so với không khí gần bằng 4,69. Lập công thức phân tử của limonen.

    Câu 5. Đốt cháy hoàn toàn 0,3 gam chất A (phân tử chỉ chứa C, H, O) thu được 0,44 gam khí CO2 và 0,18 gam nước. Thể tích hơi của 0,3 gam chất A bằng thể tích của 0,16 gam khí oxi (đo ở cùng điều kiện). Xác định công thức phân tử của chất A.

    Câu 6. Anetol có khối lượng mol phân tử bằng 148 g/mol. Phân tích nguyên tố cho thấy anetol có %C=81,08%; %H=8,1%, còn lại là oxi. Lập công thức đơn giản nhất và công thức phân tử của anetol.

    Câu 7. Hợp chất X có % khối lượng C, H và O lần lượt là 54,54%, 8,1% và 36,36%. Khối lượng phân tử của X là 88g/mol. Lập công thức phân tử của X.

    Câu 8. Hợp chất Z có công thức đơn giản nhất là CH3O và có tỉ khối hơi so với hidro là 31. Xác định công thức phân tử của Z.

    Câu 9. Đốt cháy hoàn toàn 2,46 gam chất hữu cơ (A) thu được 5,28 gam CO2, 0,9 gam H2O và 224ml N2 (đo đktc). Tỉ khối hơi của (A) so với không khí là 4, 24. Xác định công thức phân tử của (A).

    Câu 10. Đốt cháy hoàn toàn 5,6 lít chất khí hữu cơ, thì thu được 16,8lít CO2 và 13,5 gam H2O. Các chất khí (đo đktc). Lập công thức phân tử, biết rằng 1 lít khí chất hữu cơ ở đktc nặng 1,875 gam.

    Câu 11. Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol hợp chất hữu cơ (D) cần vừa đủ 14,4 gam oxi, thấy sinh ra 13,2 gam CO2 và 7,2 gam nước.

    1. Tìm phân tử khối cuả (D).
    1. Xác định công thức phân tử của (D).

    Câu 12. Đốt a gam chất (X) cần 0,3 mol O2 thu được 0,2 mol CO2, 0,3 mol H2O. Hãy xác định a gam, công thức đơn giản của (X)?

    Câu 13. Đốt cháy hoàn toàn 9,9 gam chất hữu cơ (A) gồm 3 nguyên tố C, H và Cl. Sản phẩm tạo thành cho qua bình đựng H2SO4 đậm đặc và Ca(OH) 2 thì thấy khối lượng các bình nầy tăng lần lượt là 3,6 gam và 8,8 gam.

    • Tìm công thức nguyên (A).
    • Xác định CTPT, biết (A) chỉ chứa 2 nguyên tử Clo.

    Câu 14. Đốt cháy hoàn toàn 112 cm3 một hydrocacbon (A) là chất khí ở (đktc) rồi dẫn sản phẩm lần lượt qua bình (I) đựng H2SO4 đậm đặc và bình (II) chứa KOH dư người ta thấy khối lượng bình (I) tăng 0,18 gam và khối lượng bình (II) tăng 0,44 gam.

    Xác định CTPT (A).

    Câu 15. Đốt cháy hoàn toàn hợp chất hữu cơ gồm C, H, Cl, sinh ra 112 cm3 CO2 (đo đktc) và 0,09 gam H2O. Cũng từ hợp chất hưữ cơ đó cho tác dụng AgNO3 thì thu được 1,435 AgCl. Lập CTPT chất hữu cơ. Biết rằng tỉ khối hơi chất đó so với He là 21,25.

    Câu 16. Một chất hữu cơ có tỉ lệ khối lượng mC : mH : mO = 12 : 2,5 : 4. Biết rằng cứ 0,1 mol chất hữu cơ có khối lượng 7,4 gam.

    • Lập CTPT chất hữu cơ.
    • Viết CTCT các đồng phân.

    Câu 17. Đốt cháy hoàn toàn 1,608 gam Chất (A), thu được 1,272 gam Na2CO3, 0,528gam CO2.

    Lập CTPT (A). Biết rằng trong phân tử chỉ chứa 2 nguyên tử Na.

    CHUYÊN ĐỀ V: HIDROCACBON NO

    1. PHẦN LÝ THUYẾT
    1. ANKAN
    • Khái niệm – Đồng đẵng – Đồng phân – Danh pháp Khái niệm
    • Ankan là hidrocacbon no mạch hở có CTTQ CnH2n+2 (n≥1). Hay còn gọi là Parafin
    • Các chất CH4, C2H6, C3H8 …. CnH2n+2 hợp thành dãy đồng đẵng của ankan.
    1. Đồng phân
    • Từ C4H10 trở đi có đồng phân cấu tạo (đồng phân mạch C).

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 25

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    – Thí dụ: C5H10 có ba đồng phân:

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com CH3-CH2-CH2 -CH2CH3; CH3-CH(CH3)-CH2-CH3; CH 3-C(CH3)2-CH3

    1. Danh pháp
    • Nắm tên các ankan mạch không nhánh từ C1 → C10
    • Danh pháp thường.
      • n – tên ankan tương ứng (n- ứng với mạch C không phân nhánh)
      • iso – tên ankan tương ứng (iso- ở C thứ hai có nhánh -CH3).
    • neo – tên ankan tương ứng (neo- ở C thứ hai có hai nhánh -CH3).
    • Danh pháp quốc tế: Số chỉ vị trí nhánh + tên nhánh + tên mạch C chính + an

    1           2                       3            4

    Thí dụ:    C H 3 – C H(CH 3 ) – C H 2 – C H3  (2-metylbutan)

    • Bậccủa nguyên tử C trong hiđrocacbon no được tính bằng số liên kết của nó với các nguyên tử

    C khác.

    I           IV                   III                      II            I

    Thí dụ:   C H 3 – C(CH 3 ) 2 – C H(CH 3 ) – C H 2 – C H3

    1. Tính chất vật lý
    • Từ CH4 → C4H10 là chất khí.
    • Từ C5H12 → C17H36 là chất lỏng.
    • Từ C18H38 trở đi là chất rắn.
    1. Tính chất hóa học
    2. Phản ứng thế bởi halogen (đặc trưng cho hidrocacbon no)
    • Clo có thể thế lần lượt từng nguyên tử H trong phân tử metan
    CH4 + Cl2 askt CH3Cl + HCl
    ¾¾®
    CH3Cl + Cl2 askt CH2Cl2 + HCl
    ¾¾®
    CH2Cl2 + Cl2 askt CHCl3 + HCl
    ¾¾®
    CHCl3 + Cl2 askt CCl4 + HCl
    ¾¾®
    • Các đồng đẵng của metan cũng tham gia phản ứng thế tương tự metan
    Thí dụ CH3-CH2-CH2Cl
    as 1-clopropan (43%)
    CH3-CH2-CH3 CH3-CHCl-CH3
    250C
    2-clopropan (57%)

    – Nhận xét: Nguyên tử H liên kết với nguyên tử C bậc cao hơn dể bị thế hơn nguyên tử H liên kết với nguyên tử C bậc thấp hơn.

    1. Phản ứng tách.

    0

    Cn H2n+2  ¾¾¾t,xt®Cn H2n + H2

    0

    Cn H2n+2 ¾¾¾t,xt®Cn’H2n’ + CmH2m+2 (n = n’ + m)

    • Thí dụ

    0

    CH3-CH3       ¾¾¾¾500C,xt®  CH2=CH2     +   H2

    C4H10

    t0C, xt

    CH4       +         C3H6

    C2H4 +      C2H6

    C4H8 +       H2

     

    • Phản ứng oxi hóa.

    CnH2n+2  +

    1. Điều chế:
    1. Phòng thí nghiệm:

    3n +1

    2     O2     →    nCO2      +         nH2O   ( nH2O > nCO2  )

    – CH3COONa +NaOH CaO, t0 CH4↑   +Na2CO3
    ¾¾¾®
    – Al4C3   + 12H2O→ 3CH4 +4Al(OH)3
    1. Trong công nghiệp: Đi từ khí thiên nhiên, khí mỏ dầu và từ dầu mỏ.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 26

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. XICLOANKAN

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    1. Khái niệm – Danh pháp
    2. Khái niệm

    – Xicloankan là một loại hiđrocacbon no mà trong phân tử chỉ gồm liên kết đơn và có một vòng khép kín. Có CTTQ là CnH2n (n≥3).

    – Thí dụ:

    (xiclopropan)       (xiclobutan)

    1. Danh pháp: Số chỉ vị trí nhánh + tên nhánh + xicol + tên mạch C chính (vòng) + an

    – Thí dụ:                             (metylxiclopropan).

    • Tính chất hóa học Phản ứng thế

     

    1. Phản ứng cộng mở vòng

    – Cộng H2: Chỉ có xiclopropan và xiclobutan

     

    – Cộng Br2 và HX (X: Cl, Br): Chỉ có xicolpropan c. Phản ứng tách

     

    – Thường chỉ có xiclohexan và metylxiclohexan. d. Phản ứng oxi hóa:

    CnH2n + 3n2 O2  ¾¾t0® nCO2 + nH2O

    1. BÀI TẬP CÓ HƯỚNG DẪN GIẢI

    Phần bài tập ankan là phần bài tập cơ bản, làm nền tảng để ta giải các bài tập hóa học sau này. Do vậy yêu cầu chúng ta cần phải nắm chắc để vận dụng khi ta gặp các dãy đồng đẵng khác. Ở chương này chủ yếu ta giải quyết dạng bài tập lập công thức phân tử của ankan.

    CTPT của ankan là: CnH2n+2. Để lập CTPT của ankan ta có thể sử dụng một trong các cách sau (tùy bài ra mà ta sẽ có các cách giải phù hợp):

    • Cách 1: M = 14n + 2. M ta có thể tính bằng nhiều cách khác nhau tùy vào dử kiện bài ra.
    • Cách 2: n = nCO2 . Lưu ý: Công thức này ta có thể áp dụng cho mọi dãy đồng đẵng mà ta sẽ

    nankan

    gặp sau này. Và nankan = nH O – nCO ® n = n CO 2 = nCO2
    2 nankan nH – nCO
    2
    O 2
    2
    • Cách 3: Ta lập tỉ lệ trên PTHH để đưa ra phương trình bậc nhất một ẩn (ẩn đó là n). Từ đó tính giái trị n.
    • Lưu ý: Nếu là hỗn hợp hai ankan đồng đẵng kế tiếp của nhau thì ta quy thành một ankan có CT là C n H2 n +2 . Từ đó tính giá trị n .

    Ví dụ 1: Đốt cháy hỗn hợp hai hidrocacbon đồng đẳng kế tiếp nhau ta thu được 11,7g H2O và 17,6g CO2. Xác định CTPT của hai hidrocacbon trên.

    Giải
    Đặt CTPT của 2 ankan là C H2 +2 .
    n n
    nCO  = 17.6 = 0.4 (mol); nH O = 11.7 = 0.65 (mol)
    2 44 2 18
    nCO nCO 0.4
    ® n = 2 = 2 = = 1.6 . Từ đó suy ra CTPT của hai ankan là: CH4 và C2H6.
    nankan nH O nCO 2 0.65 – 0.4
    2

    Ví dụ 2: Đốt cháy hoàn toàn 3,36 lít hỗn hợp khí metan và etan thu được 4,48 lít khí CO2 (đktc).

    Tính thành phần phần trăm về thể tích của mỗi khí trong hỗn hợp A.

    Giải
    nhh = 3.36 = 0.15 (mol); n = 4.48 = 0.2 (mol)
    CO
    22.4 2 22.4
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 27
    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh
    Đặt n CH = a, n C H  = b and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    Simpo4 PDF Merge26
    CH4 ® CO2
    a a
    C2H6    ® 2CO2
    b 2b
    ìa + b = 0.15 ìa = 0.1 ì 0.1
    ® ï%CH4 = *100 = 66.67 (%)
    Ta có hệ PT: í ® í í 0.15
    îa + 2b = 0.2 îb = 0.05 ï 6 = 100 – 66.67 = 33.33 (%)
    î%C2 H
    1. PHẦN BÀI TẬP TỰ GIẢI
    1. PHẦN BÀI TẬP CƠ BẢN

    Câu 1. Viết công thức cấu tạo các đồng phân ankan ứng với công thức phân tử C4H10, C5H12

    C6H14. Gọi tên theo danh pháp thường và tên thay thế.

    Câu 2. Viết CTCT của các ankan có tên sau:

    1. pentan, 2-metylbutan, isobutan và 2,2-đimetylbutan.
    2. iso-pentan, neo-pentan, 3-etylpentan, 2,3-đimetylpentan.

    Câu 3. Gọi tên các chất sau theo danh pháp thường và danh pháp thay thế:

    a. CH3-CH(CH3)-CH3; b. CH3-(CH2)4-CH3
    c. CH3-CH(CH3)-CH2-CH3; d. CH3-C(CH3)2-CH3
    Câu 4. Gọi tên các chất sau theo danh pháp thay thế.
    a. CH3-CH2-CH2-CH2-CH(CH3)-CH3 b. CH3-CH2-CH(C2H5)-CH2-CH3
    c. CH3-CH2-C(CH3)2-CH3 d. CH3-CH(C2H5)-CH2-CH2-CH3

    Câu 5. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:

    a. CH4 + Cl2 ¾¾®
    askt
    1 mol + 1 mol ¾¾®
    b. C2H6 Cl2
    askt
    1 mol + 1 mol ¾¾®
    c. CH3-CH2-CH3 Br2
    askt
    1 mol + 1 mol ¾¾®
    d. CH4 O2
    t0
    e. CH3COONa + NaOH  ¾¾¾®
    CaO, t0
    f. Al4C3 + H2O ®

    Câu 6. Viết PTHH điều chế các ankan sau từ các chất tương ứng.

    Metan, 2-clobutan, iso-propyl clorua.

    Câu 7 (A-08). Cho iso-pentan tác dụng với Cl2 (askt) theo tỉ lệ số mol 1 : 1.

    1. Xác định số sản phẩm monoclo tối đa thu được.
    2. Viết PTHH tạo các sản phẩm mono clo tương ứng đó.

    Câu 8. Khi clo hóa C5H12 với tỷ lệ mol 1:1 thu được một sản phẩm thế monoclo duy nhất.

    1. Xác định CTCT và danh pháp IUPAC của ankan đó.
    2. Viết PTHH của phản ứng xãy ra.

    Câu 9. Khi clo hóa một ankan có công thức phân tử C6H14, người ta chỉ thu được 2 sản phẩm thế monoclo.

    1. Xác định CTCT và danh pháp IUPAC của ankan đó.
    1. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 10. Ankan Y mạch không nhánh có công thức đơn giản nhất là C2H5.

    1. Tìm công thức phân tử, viết CTCT và gọi tên Y.
    2. Viết PTHH phản ứng của Y với Clo khi chiếu sáng (tỉ lệ 1:1), chỉ rỏ sản phẩm chính.

    Câu 11. Đốt cháy hoàn toàn 4,48 lít C3H8 (đktc) thu được V lít CO2 (đktc) và m gam nước. Tính m và V.

    Câu 12. Đốt cháy hoàn toàn V lít khí C4H10 (đktc). Toàn bộ sản phẩm cháy sục vào dung dịch nước vôi trong dư thu được 40 gam kết tủa.

    1. Tính V.
    2. Tính khối lượng muối thu được.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 28

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 13. Đốt cháy hoàn toàn một hidrocacbon X thu được 8,96 lít khí CO2 (đktc) và 9 gam nước. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    Xác định công thức của X.

    Câu 14. Đốt cháy hoàn toàn 2,24 lít ankan X (đktc) thu được 6,72 lít khí CO2 (đktc) và m gam nước.

    1. Tính khối lượng muối thu được.
    2. Xác định công thức của X.

    Câu 15. Khi đốt cháy hoàn toàn một ankan A thì thể tích Oxi phản ứng bằng 5/3 lần thể tích của khí CO2 sinh ra trong cùng điều kiện. Xác định công thức của ankan A.

    Câu 16. Đốt cháy hoàn toàn 2,24 lít ankan B (đktc) cần 11,2 lít O2 (đktc).

    1. Xác định công thức của B.
    2. Tính khối lượng CO2 và nước sinh ra.

    Câu 17. Đốt cháy hoàn toàn 3,36 lít hỗn hợp khí metan và etan thu được 4,48 lít khí CO2 (đktc).

    Tính thành phần phần trăm về thể tích của mỗi khí trong hỗn hợp A.

    Câu 18. Xicloankan đơn vòng X có tỉ khối hơi so với nitơ bằng 2. Lập công thức phân tử của X. Câu 19. Khi đốt cháy hoàn toàn 3.6 gam ankan X thu được 5.6 lít CO2 (đktc). Xác định công thức phân tử của X.

    Câu 20. Đốt cháy hoàn toàn 4,48 lít hỗn hợp gồm C2H6 và C3H8 ( đktc) rồi cho sản phẩm cháy đi qua bình 1 đựng dung dịch H2SO4 đặc, bình 2 đựng dung dịch nước vôi trong có dư thấy khối lượng bình 1 tăng m g, bình 2 tăng 22 g.

    1. Xác định giá trị của m.
    2. Tính % thể tích mỗi khí trong hỗn hợp đầu.

    Câu 21. Đốt cháy hoàn toàn m g hỗn hợp gồm CH4, C2H6 và C4H10 thu được 3,3g CO2 và 4,5 g H2O. Xác định giá trị của m.

    Câu 22. Một hỗn hợp 2 ankan kế tiếp có khối lượng 24,8 gam có thể tích tương ứng là 11,2 lít (ở đktc). Xác định CTPT của 2 ankan.

    Câu 23. Đốt cháy hỗn hợp hai hidrocacbon đồng đẳng kế tiếp nhau ta thu được 11,7g H2O và 17,6g CO2. Xác định CTPT của hai hidrocacbon trên.

    Câu 24. Khi đốt cháy hoàn toàn 7,84 lít hỗn hợp khí gồm CH4, C2H6, C3H8 (đktc) thu được 16,8 lít khí CO2 (đktc) và x gam H2O. Xác định giá trị của X.

    Câu 25. Đốt cháy hoàn toàn 11,2 lít hỗn hợp propan và butan (đktc) rồi cho tất cả sản phẩm cháy thu được vào dung dịch NaOH thì thu được 95,4 gam Na2CO3 và 84 gam NaHCO 3.

    1. Tính thành phần % về số mol của hỗn hợp.
    1. Tìm thể tích dung dịch NaOH 0,5 M cần thiết dùng trong trường hợp trên.

    Câu 26. Đốt cháy hoàn toàn 0,01 mol ankan (A). Dẫn toàn bộ sản phẩm cháy qua bình Ca(OH)2 dư người ta thu được 4 gam kết tủa.

    1. Tìm công thức phân tử của Ankan (A).
    1. B là đồng đẳng liên tiếp của A. B tác dụng với clo (askt) theo tỉ lệ mol 1:1. Người ta thu được 4 sản phẩm. Hãy xác định CTCT đúng của (B).

    Câu 27. Một hỗn hợp gồm 2 ankan X và Y là đồng đẳng kế tiếp nhau có khối lượng 10,2 gam.

    Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp cần 36,8 gam O2.

    • Tính khối lượng CO2 và H2O tạo thành.
    • Tìm CTPT của 2 ankan.

    Câu 28. Khi tiến hành craking 22,4 lít khí C4H10  (đktc) thu được hỗn hợp A gồm CH4, C2H6,

    C2H4, C3H6, C4H8, H2 và C4H10 dư. Đốt cháy hoàn toàn A thu được x gam CO2 và y gam H2O.

    Xác định giá trị của x và y.

    Câu 29. Hỗn hợp (X) gồm 2 ankan A, B liên tiếp nhau trong dãy đồng đẳng có d X/ He = 16, 6 . Xác định CTPT của A, B và tính % V của hỗn hợp.

    Câu 30. Một ankan có thành phần % các nguyên tố: %C = 84,21; %H = 15,79. Tỉ khối hơi của ankan đối với không khí là 3,93. Xác định CTPT ankan.

    Câu 31. Đốt cháy hoàn toàn 3,6 g một ankan A thu được 11g CO2 và 5,4g nước. Khi clo hóa A theo tỉ lệ mol 1:1 tạo thành dẫn xuất monoclo duy nhất. Xác định CTPT và CTCT của A.

    1. PHẦN BÀI TẬP NÂNG CAO

    Câu 1. Hỗn hợp khí X gồm 2 hiđrocacbon A và B là đồng đẳng kế tiếp. Đốt cháy X với 64 gam O2 (dư) rồi dẫn sản phẩm thu được qua bình đựng Ca(OH) 2 dư thu được 100 gam kết tủa. Khí ra khỏi bình có thể tích 11,2 lít ở 0OC và 0,4 atm. Xác định công thức phân tử của A và B.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 29

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 2 (A-2010). Đốt cháy hoàn toàn một lượng hiđrocacbon X. Hấp thụ toàn bộ sản phẩm cháy Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    vào dung dịch Ba(OH)2 (dư) tạo ra 29,55 gam kết tủa, dung dịch sau phản ứng có khối lượng giảm 19,35 gam so với dung dịch Ba(OH)2 ban đầu. Xác định công thức phân tử của X.

    Đáp án: C3H8.

    Câu 3. Đốt cháy hoàn toàn một hiđrocacbon X thu được 0,11 mol CO2 và 0,132 mol H2O. Khi X tác dụng với khí clo (theo tỉ lệ số mol 1:1) thu được một sản phẩm hữu cơ duy nhất. Xác định tên gọi của X.

    Câu 4 (B-08). Hiđrocacbon mạch hở X trong phân tử chỉ chứa liên kết δ và có hai nguyên tử cacbon bậc ba trong một phân tử. Đốt cháy hoàn toàn 1 thể tích X sinh ra 6 thể tích CO2 (ở cùng điều kiện nhiệt độ, áp suất). Cho X tác dụng với Cl2 (theo tỉ lệ số mol 1:1). a. Xác định số dẫn xuất monoclo tối đa sinh ra.

    Đáp án: CTCT của X:

    2 dẫn xuất monoclo.

     

    1. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 5 (A-08). Khi crackinh hoàn toàn một thể tích ankan X thu được ba thể tích hỗn hợp Y (các thể tích khí đo ở cùng điều kiện nhiệt độ và áp suất); tỉ khối của Y so với H2 bằng 12. Xác định công thức phân tử của X. Đáp án: C5H12.

    Câu 6 (A-07). Khi brom hoá một ankan chỉ thu được một dẫn xuất monobrom duy nhất có tỷ khối hơi so với hiđro là 75,5. Xác định tên của ankan đó. Đáp án: 2,2-đimetylpropan.

    Câu 7. Khi đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp 2 ankan là đồng đẳng kế tiếp thu được 7,84 lít khí CO2 (đktc) và 9,0 gam H2O. Xác định công thức phân tử của 2 ankan.

    Câu 8. Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm hai hidrocacbon thuộc cùng dãy đồng đẵng cần dùng 6.16 lít O2 (đkc) và thu được 3.36 lít CO2 (đkc). Tính giá trị của m.

    Câu 9 (B-2011). Cho butan qua xúc tác (ở nhiệt độ cao) thu được hỗn hợp X gồm C4H10, C4H8, C4H6 và H2. Tỉ khối của X so với butan là 0,4. Nếu cho 0,6 mol X vào dung dịch brom (dư) thì số mol brom tối đa phản ứng là bao nhiêu? Đáp án: 0.36 mol.

    CHUYÊN ĐỀ VI

    HIDROCACBON KHÔNG NO – HIDROCACBON THƠM

    1. PHẦN LÝ THUYẾT
    1. ANKEN
    • Khái niệm – Đồng phân – Danh pháp Khái niệm:
    • Anken là hidrocacbon không no mạch hở có một nối đôi trong phân tử. Có CTTQ là CnH2n (n
      • 2 )
    • Các chất C2H4, C3H6, C4H8 . . . CnH2n (n≥2) hợp thành dãy đồng đẵng của anken.
    1. Đồng phân: Có hai loại đồng phân
    • Đồng phân cấu tạo: (Đồng phân mạch C và đồng phân vị trí liên kết đôi) Thí dụ: C4H8 có ba đồng phân cấu tạo.

    CH2=CH-CH2-CH3;  CH3-CH=CH-CH3;  CH2=C(CH3)-CH3

    • Đồng phân hình học (cis – trans): Cho anken có CTCT: abC=Ccd. Điều kiện để xuất hiện đồng phân hình học là: a ≠ b và c ≠ d.

    Thí dụ: CH3-CH=CH-CH3 có hai đồng phân hình học

    cis – but-2-en                       trans – but-2-en

    1. Danh pháp:
    • Danh pháp thường: Tên ankan nhưng thay đuôi an = ilen. + Ví dụ: C2H4 (Etilen), C3H6 (propilen)

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 30

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 2 (A-2010). Đốt cháy hoàn toàn một lượng hiđrocacbon X. Hấp thụ toàn bộ sản phẩm cháy Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    vào dung dịch Ba(OH)2 (dư) tạo ra 29,55 gam kết tủa, dung dịch sau phản ứng có khối lượng giảm 19,35 gam so với dung dịch Ba(OH)2 ban đầu. Xác định công thức phân tử của X.

    Đáp án: C3H8.

    Câu 3. Đốt cháy hoàn toàn một hiđrocacbon X thu được 0,11 mol CO2 và 0,132 mol H2O. Khi X tác dụng với khí clo (theo tỉ lệ số mol 1:1) thu được một sản phẩm hữu cơ duy nhất. Xác định tên gọi của X.

    Câu 4 (B-08). Hiđrocacbon mạch hở X trong phân tử chỉ chứa liên kết δ và có hai nguyên tử cacbon bậc ba trong một phân tử. Đốt cháy hoàn toàn 1 thể tích X sinh ra 6 thể tích CO2 (ở cùng điều kiện nhiệt độ, áp suất). Cho X tác dụng với Cl2 (theo tỉ lệ số mol 1:1). a. Xác định số dẫn xuất monoclo tối đa sinh ra.

    Đáp án: CTCT của X:

    2 dẫn xuất monoclo.

     

    1. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 5 (A-08). Khi crackinh hoàn toàn một thể tích ankan X thu được ba thể tích hỗn hợp Y (các thể tích khí đo ở cùng điều kiện nhiệt độ và áp suất); tỉ khối của Y so với H2 bằng 12. Xác định công thức phân tử của X. Đáp án: C5H12.

    Câu 6 (A-07). Khi brom hoá một ankan chỉ thu được một dẫn xuất monobrom duy nhất có tỷ khối hơi so với hiđro là 75,5. Xác định tên của ankan đó. Đáp án: 2,2-đimetylpropan.

    Câu 7. Khi đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp 2 ankan là đồng đẳng kế tiếp thu được 7,84 lít khí CO2 (đktc) và 9,0 gam H2O. Xác định công thức phân tử của 2 ankan.

    Câu 8. Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm hai hidrocacbon thuộc cùng dãy đồng đẵng cần dùng 6.16 lít O2 (đkc) và thu được 3.36 lít CO2 (đkc). Tính giá trị của m.

    Câu 9 (B-2011). Cho butan qua xúc tác (ở nhiệt độ cao) thu được hỗn hợp X gồm C4H10, C4H8, C4H6 và H2. Tỉ khối của X so với butan là 0,4. Nếu cho 0,6 mol X vào dung dịch brom (dư) thì số mol brom tối đa phản ứng là bao nhiêu? Đáp án: 0.36 mol.

    CHUYÊN ĐỀ VI

    HIDROCACBON KHÔNG NO – HIDROCACBON THƠM

    1. PHẦN LÝ THUYẾT
    1. ANKEN
    • Khái niệm – Đồng phân – Danh pháp Khái niệm:
    • Anken là hidrocacbon không no mạch hở có một nối đôi trong phân tử. Có CTTQ là CnH2n (n
      • 2 )
    • Các chất C2H4, C3H6, C4H8 . . . CnH2n (n≥2) hợp thành dãy đồng đẵng của anken.
    1. Đồng phân: Có hai loại đồng phân
    • Đồng phân cấu tạo: (Đồng phân mạch C và đồng phân vị trí liên kết đôi) Thí dụ: C4H8 có ba đồng phân cấu tạo.

    CH2=CH-CH2-CH3;  CH3-CH=CH-CH3;  CH2=C(CH3)-CH3

    • Đồng phân hình học (cis – trans): Cho anken có CTCT: abC=Ccd. Điều kiện để xuất hiện đồng phân hình học là: a ≠ b và c ≠ d.

    Thí dụ: CH3-CH=CH-CH3 có hai đồng phân hình học

    cis – but-2-en                       trans – but-2-en

    1. Danh pháp:
    • Danh pháp thường: Tên ankan nhưng thay đuôi an = ilen. + Ví dụ: C2H4 (Etilen), C3H6 (propilen)

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 30

    0
    ¾¾¾t,p,xt®

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    – Danh pháp quốc tế (tên thay thế):

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    Số chỉ vị trí nhánh + tên nhánh + tên mạch C chính + số chỉ vị trí liên kết đôi + en

    4 3 2 1
    + Ví dụ:  C H 3 – C H = C H – C H3 (C4H8) But-2-en
    1 2 3
    C H 2  = C(CH 3 ) – C H3 (C4H8) 2 – Metylprop-1-en
    1. Tính chất vật lý

    Ở điều kiện thường thì

    • Từ C2H4 → C4H8 là chất khí.
    • Từ C5H10 trở đi là chất lỏng hoặc chất rắn.
    1. Tính chất hóa học
    2. Phản ứng cộng (đặc trưng)
    * Cộng H2: CnH2n + H2 Ni, t0 CnH2n+2
    ¾¾¾®
    CH2=CH-CH3 +   H2 Ni, t0
    ¾¾¾®  CH3-CH2-CH3
    * Cộng Halogen: CnH2n + X2 ® CnH2nX2
    CH2=CH2 + Br2 ® CH2Br-CH2Br

    Phản ứng anken tác dụng với Br2 dùng để nhận biết anken (dd Br2 mất màu)

    * Cộng HX (X: Cl, Br, OH . . .)

    +

    Thí dụ: CH2=CH2   +   HOH    ¾¾H®  CH3-CH2OH CH2=CH2   +   HBr     ¾¾®   CH3-CH2Br

    • Các anken có cấu tạo phân tử không đối xứng khi cộng HX có thể cho hỗn hợp hai sản phẩm

    CH3-CH2-CH2Br (spp)

    CH3-CH=CH2+   HBr 1-brompropan

    CH3-CHBr-CH3 (spc)

    2-brompropan

    • Quy tắc Maccopnhicop: Trong phản ứng cộng HX vào liên kết đôi, nguyên tử H (phần mang điện dương) chủ yếu cộng vào nguyên tử C bậc thấp hơn (có nhiều H hơn), còn nguyên hay nhóm nguyên tử X (phần mang điện âm) cộng vào nguyên tử C bậc cao hơn (ít H hơn).

     

    1. Phản ứng trùng hợp:

    Điều kiện: Phân tử phải có liên kết đôi C=C.

    – Ví dụ: nCH2 =CH2 ¾¾¾¾®  ( CH2 -CH2 ) n
    TH (t0 , xt)
    Etilen Polietilen (P.E)
    c. Phản ứng oxi hóa:
    3n t0
    – Oxi hóa hoàn toàn: CnH2n + O2     ¾¾®  nCO2 +nH2O ( nH 2O = nCO2  )
    2
    • Oxi hóa không hoàn toàn: Anken có thể làm mất màu dung dịch B2 và dung dịch thuốc tím. Phản ứng này dùng để nhận biết anken và hợp chất chứa liên kết p .
    1. Điều chế
    a. Phòng thí nghiệm: CnH2n+1OH H SO  , 1700 C CnH2n +H2O
    ¾¾¾¾¾®
    2 4
    1. Điều chế từ ankan: CnH2n+2 II. ANKADIEN
    1. Định nghĩa – Phân loại – Danh pháp
    1. Định nghĩa: Là hidrocacbon không no mạch CTTQ CnH2n-2 (n ³ 3 )
    • Ví dụ: CH2=C=CH2, CH2=CH-CH=CH2 . . .
    1. Phân loại: Có ba loại:
    • Ankadien có hai liên kết đôi liên tiếp.

    CnH2n           +                H2

    hở, trong phân tử chứa hai liên kết C=C, có

    • Ankadien có hai liên kết đôi cách nhau bởi một liên kết đơn (ankadien liên hợp).
    • Ankadien có hai liên kết đôi cách nhau từ hai liên kết đơn trở lên.
    1. Danh pháp:

    Số chỉ vị trí nhánh + tên nhánh + tên anka mạch C chính + số chỉ vị trí liên kết đôi + đien. CH2=CH-CH=CH2 (buta-1,3-đien)

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 31

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. Tính chất hóa học

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com a. Phản ứng cộng (H2, X2, HX)

    * Cộng H2: CH2=CH-CH=CH2 + 2H2 Ni, t0 CH3-CH2-CH2-CH3
    ¾¾¾®
    * Cộng brom:
    Cộng 1:2 CH2=CH-CH=CH2 + Br2 (dd) -800 C
    ¾¾¾®  CH2=CH-CHBr-CH2Br (spc)
    Cộng 1:4 CH2=CH-CH=CH2 + Br2 (dd) 400 C CH2Br-CH=CH-CH2Br (spc)
    ¾¾¾®
    Cộng đồng thời vào hai liên kết đôi
    * Cộng HX CH2=CH-CH=CH2 + 2Br2 (dd) ¾¾® CH2Br-CHBr-CHBr-CH2Br
    Cộng 1:2 CH2=CH-CH=CH2 + HBr -800 C CH2=CH-CHBr-CH3 (spc)
    ¾¾¾®
    Cộng 1:4 CH2=CH-CH=CH2 + HBr 400 C CH2=CH-CH2-CH2Br (spc)
    ¾¾¾®
    b. Phản ứng trùng hợp:

    0

    – VD: nCH2 =CH-CH=CH2 ¾¾¾p,xt,t® ( CH2 -CH = CH-CH2 ) n Cao su buna

    1. Phản ứng oxi hóa:

    – Oxi hóa hoàn toàn

    0

    2C4H6      +       11O2       ¾¾t®  8CO2   +     6H2O

    • Oxi hóa không hoàn toàn: Tương tự như anken thì ankadien có thể làm mất màu dung dịch thuốc tím. Phản ứng này dùng để nhận biết ankadien.
    1. Điều chế
    • Được điều chế từ ankan tương ứng bằng phản ứng tách H2.
    CH3CH2CH2CH3 xt, t0 +   2H2
    ¾¾¾®  CH2=CH-CH=CH2
    xt, t0 +   2H2
    CH3-CH(CH3)-CH2-CH3¾¾¾®  CH2=C(CH3)-CH=CH2

    III. ANKIN

    • Khái niệm – Đồng phân – Danh pháp Khái niệm

     

    – Là hidrocacbon không no mạch hở trong phân tử có một liên kết C º C , có CTTQ là CnH2n-2 (n

     

    ³ 2).

    • Các chất C2H2, C3H4, C4H6 . . .CnH2n-2 (n ³ 2) hợp thành một dãy đồng đẵng của axetilen. b. Đồng phân
    • Chỉ có đồng phân cấu tạo (đồng phân mạch C và đồng phân vị trí liên kết C º C ). Ankin không có đồng phân hình học.
    • Thí dụ: C4H6 có hai đồng phân

    CH≡C-CH2-CH3;  CH3-C≡C-CH3.

    1. Danh pháp:
    • Danh pháp thường: Tên gốc ankyl + axetilen
    • VD: C2H2 (axetilen), CH≡C-CH3 (metylaxetilen) – Danh pháp thay thế:

    Số chỉ vị trí nhánh + tên nhánh + tên mạch C chính + số chỉ vị trí nối 3 + in

    4 3 2 1
    C H 3 – C H 2 – C º C H But-1-in
    4 3 2 1
    C H 3 – C º C- C H3 But-2-in
    1. Tính chất hóa học:
    2. Phản ứng cộng (H2, X2, HX, phản ứng đime hóa và trime hóa).
    • Thí dụ + Cộng H2
    CH≡CH + H2 Ni, t0
    ¾¾¾®CH2=CH2
    CH2=CH2  + H2 Ni, t0
    ¾¾¾®   CH3-CH3
    Nếu dùng xúc tác Pd/PbCO3 hoặc Pd/BaSO4, ankin chỉ cộng một phân tử H2 tạo anken
    CH≡CH + H2 ¾¾¾¾¾® CH2=CH2
    Pd/PbCO , t0
    3
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 32

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    + Cộng X2
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    CH≡CH + Br2 ¾¾® CHBr =CHBr
    CHBr=CHBr +  Br2 ¾¾® CHBr2-CHBr2
    + Cộng HX + HCl ¾¾¾¾0®CH2 =CHCl
    CH≡CH
    HgCl2
    150-200  C
    + Phản ứng đime hóa – trime hóa
    2CH≡CH xt, t0 CH2=CH-C≡CH (vinyl axetilen)
    ¾¾¾®

    0

    3CH≡CH            ¾¾¾600C®          C6H6

    xt

    1. Phản ứng thế bằng ion kim loại:
    • Điều kiện: Phải có liên kết 3 ở đầu mạch.
    R-C≡CH + AgNO3   + NH3 R-C≡CAg↓ +   NH4NO3
    Phản ứng này dùng để nhận biết Ank-1-in
    c. Phản ứng oxi hóa:
    – Oxi hóa hoàn toàn:
    CnH2n-2 + 3n -1 O2 nCO2 + (n-1)H2O ( n CO > nH O )
    2
    2 2
    • Oxi hóa không hoàn toàn: Tương tự như anken và ankadien, ankin cũng có khả năng làm mất màu dung dịch thuốc tím. Phản ứng này dùng để nhận biết ankin.
    1. Điều chế:
    2. Phòng thí nghiệm: CaC2 + 2H2O     →       C2H2↑          +           Ca(OH)2

    0

    1. Trong công nghiệp: 2CH4 ¾¾¾1500C® C2H2       +        3H2
    2. BENZEN VÀ DÃY ĐỒNG ĐẴNG:
    3. Đồng đẵng – Đồng phân – Danh pháp:
    • Đồng đẵng: Dãy đồng đẵng của benzen có CTTQ là CnH2n-6.
    • Đồng phân: Đồng phân về vị trí tương đối của các nhóm ankyl xung quanh vòng benzen (o, m, p).

    – Ví dụ: C8H10

    • Danh pháp: Gọi tên theo danh pháp hệ thống.
    • VD: C6H5CH3 (metylbenzen).
    1. Tính chât hóa học: a. Phản ứng thế:

    * Thế nguyên tử H ở vòng benzen

    • Tác dụng với halogen

    +      Br2                                                      +        HBr

    Cho ankyl benzen phản ứng với brom có bột sắt thì thu được hỗn hợp sản phẩm thế brom chủ

    yếu vào vị trí ortho và para.

    – VD:

    +   Br2 +   HBr

    +    HBr

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 33

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    • Phản ứng giữa benzen và đồng đẳng với axit HNO3 xãy ra tương tự như phản ứng với halogen.

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    • Quy tắc thế H ở vòng benzen: Các ankyl benzen dể tham gia phản ứng thế nguyên tử H của vòng benzen hơn benzen và sự thế ưu tiên ở vị trí ortho và para so với nhóm ankyl.

    * Thế nguyên tử H ở mạch chính

    0

    – C6H5CH3 + Br2 ¾¾t® C6H5CH2Br + HBr b. Phản ứng cộng:

    • Cộng H2 và cộng Cl2. c. Phản ứng oxi hóa:
    • Oxi hóa không hoàn toàn: Toluen có khả năng làm mất màu dung dịch thuốc tím còn benzen thì không. Phản ứng này dùng để nhận biết Toluen.
    • Phản ứng oxi hóa hoàn toàn:
    CnH2n-6     + 3n – 3 O2→nCO2     + (n-3)H2O
    2
    1. STIREN:
    • Cấu tạo: CTPT: C8H8; CTCT:
    • Tính chất hóa học:
    1. Phản ứng với dung dịch Br2. Phản ứng này dùng để nhận biết stiren.
    • Phản ứng với H2.
    • Tham gia phản ứng trùng hợp ở liên kết đôi C=C.
    1. NAPTTALEN:
    2. Câu tạo phân tử:
    • CTPT: C10H8. CTCT:
    1. Tính chất hóa học:
    • Tham gia phản ứng thế và tham gia phản ứng cộng.
    • PHẦN HƯỚNG DẪN GIẢI
    • Công thức tổng quát của các dãy đồng đẳng
      • Công thức tổng quát của hidrocacbon: CnH2n+2-2k (trong đó: k là số liên kết π hoặc số vòng).
    • Công thức tổng quát của ankan: CnH2n+2 (n ≥ 1).
    • Công thức tổng quát của anken và xiclo ankan: CnH2n (số liến kết π hoặc vòng: 1)
    • Công thức tổng quát của ankadien và ankin CnH2n-2 (số liến kết π: 2).
    • Công thức tổng quát của benzen: CnH2n-6 (n ≥ 6).
    • Lập CTPT của hidrocacbon
    • Các PTHH đốt cháy thường gặp của các hidrocacbon
    • Đốt cháy ankan
    Cn H2n +2 + 3n +1 O 2 ® nCO 2 + (n +1)H2O
    2
    • nH2 O > nCO2 ; nankan = nH 2 O  – nCO2 và công thức này áp dụng cho các hợp chất no sau

    này(ví dụ như ancol no).

    • Đốt cháy anken
    –    C H + 3n O ® nCO + nH O
    2n 2 2
    n 2 2
    • nH 2 O = nCO2 và công thức này ta có thể áp dụng cho các hợp chất chỉ chứa 1 liên kết π

    sau này (ví dụ: anđehit no đơn chức, axit no đơn chức…). Từ đó ta có thể suy ra rằng:

    Bất kỳ hợp chất nào khi đốt cháy nếu ta thấy nH 2 O  = nCO2  thì ta có thể kết luận rằng

    hợp chất đó có chứa 1 liên kết π.

    • Đốt cháy ankin (hoặc ankadien)
    Cn H2n -2 + 3n -1 O 2 ® nCO 2 + (n -1)H2O
    2

    nH2< nCO2 ; nankin (hoÆc ankadien)  = nCO2   – nH2O

    • Đốt cháy hỗn hợp ankan và anken

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 34

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    3n +1
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    Cn H2n +2 + O2 ® nCO2 + (n +1)H2O
    2
    C H + 3m O ® mCO + mH O
    m 2m 2 2
    2 2

    –   Đối với hỗn hợp ankan và anken ta luôn có: nH2 O  > nCO2 ; nankan  = nH 2 O  – nCO2

    • Đốt cháy hỗn hợp anken và ankin (hoặc ankadien)
    C H + 3m O ® mCO + mH O
    m 2m 2 2
    2 2
    Cn H2n -2   + 3n -1 O2 ® nCO2 + (n -1)H2O
    2
    Đối với hỗn hợp   anken và   ankin   (hoặc   ankadien)   ta   luôn   có:
    nH O < nCO ; nankin (hoÆc ankadien) = nCO 2 – nH O
    2 2 2
    • Đốt cháy hỗn hợp ankan và ankin (hoặc ankadien)
    Cn H2n+2 + 3n +1 O 2 ® nCO2 + (n +1)H2O
    2
    Cm H2m-2 + 3m -1 O 2 ® mCO 2 + (m -1)H2O
    2
    • Đối với hỗn hợp ankan và ankin (hoặc ankadien), nếu  nH2 O  = nCO2  thì  ta suy ra

    nankan  = nankin

    • Các cách lập công thức phân tử của hidrocacbon
    • Cách 1: Dựa vào M. M ta có thể tính bằng nhiều cách khác nhau tùy vào dử kiện bài ra. Ví dụ:
    d = M A ® M = d *M
    A/ B A A/ B B
    MB
    * Cách 2: n = nCO . Lưu ý: Công thức này ta có thể áp dụng cho mọi dãy đồng đẵng mà ta
    nhidrocacbon
    2

    sẽ gặp sau này.

    • Cách 3: Ta lập tỉ lệ dựa trên PTHH để đưa ra phương trình bậc nhất một ẩn (ẩn đó là n). Từ đó tính giái trị n.
    • Lưu ý: Nếu là hỗn hợp hai hidrocacbon đồng đẵng kế tiếp của nhau thì ta quy thành một hidrocacbon và giải như là một hidrocacbon.
    • Phần bài tập hidrocacbon không no tác dụng với dung dịch brom

    PTHH của phản ứng xãy ra

    CnH2n+2-2k + kBr2 ® CnH2n+2
    k ở đây là số liên kết π ® k = nBr
    2
    nhidrocacbon
    IV. Phần bài tập hidrocacbon không no tác dụng với H2
    • Dạng 1
    ìC n H 2 n ü
    ì Cn H2 n -2 ï ý(Z)
    Ni, t0 ï Cn H 2 n -2 (d­)þ
    Hçn hîp X í ¾¾¾® hçn hîp Y í ü
    î H2 ïCn H2n+2
    ï ý(T)
    îH2 (d­) þ

    Từ đó ta luôn có: mX  = mY  hay mX  = mZ  + mT

    mY

    • Dạng 2

    ìC H

    Hçn hîp X í       n  2n+2-2k ¾¾¾Ni,t0® hçn hîp Y

    îH2

    Đối với dạng bài tập này ta luôn luôn có

    • mX = mY .

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 35

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    dX/H n
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    2 = Y . Từ đó suy ra n H  (ph¶n øng) =nX – nY
    dY/H nX 2
    2

    Ví dụ 1: Đốt cháy hoàn toàn 2,24 lít hidrocacbon X thu được 6,72 lít khí CO2 (các thể tích khí được đo ở đktc). X tác dụng với AgNO3 trong NH3 sinh ra kết tủa Y. Xác định CTCT của X.

    Giải

    Do X tác dụng với AgNO3 trong NH3 sinh ra kết tủa Y từ đó ta có thể suy ra X là Ankin. Đặt CTPT của X là: CnH2n-2.

    nX = 2.24 = 0.1 (mol); nCO = 6.72 = 0.3 (mol)
    22.4 2 22.4
    • n = nCO2 = 3 = 3 ® CTPT của X là C3H4. CTCT của X là: CH≡C-CH3

    nankin0.1

    Ví dụ 2: Đốt cháy hoàn toàn 6.72 lít hỗn hợp X gồm hai anken là đồng đẳng kế tiếp nhau cần 26.88 lít khí oxi. Xác định công thức của hai anken.

    Giải
    Đặt CTPT của 2 anken là C H2 .
    n n
    nanken = 6.72 = 0.3 (mol); nO = 26.88 = 1.2 (mol)
    22.4 2 22.4
    C H2 + 3n O2  ® CO2  + H2O
    n n
    n n 2
    0.3 1.2
    ® 1.2 = 0.3* 3n ® = 2.67. Vậy CT của hai anken là: C2H4 và C3H6.
    n
    2

    Ví dụ 3 (A-2011): Hỗn hợp X gồm C2H2 và H2 có cùng số mol. Lấy một lượng hỗn hợp X cho qua chất xúc tác nung nóng, thu được hỗn hợp Y gồm C2H4, C2H6, C2H2 và H2. Sục Y vào dung dịch brom (dư) thì khối lượng bình brom tăng 10,8 gam và thoát ra 4,48 lít hỗn hợp khí Z (đktc) có tỉ khối so với H2 là 8. Tính thể tích O2 (đktc) cần để đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp Y.

    Giải

    • Vận dụng bảo toàn nguyên tố thì ta thấy rằng đốt cháy hỗn hợp Y thì hoàn toàn giống đốt cháy hỗn hợp X. Vì vậy ta chỉ cần tính thành phần hỗn hợp X và đốt cháy X thì hoàn toàn giống đốt cháy Y.

    nZ = 4, 48 = 0,2 (mol); MZ  = 8*2=16 ® mZ  = 16*0, 2 = 3, 2(gam)

    22, 4

    Trong hỗn hợp X đặt nC H = nH = x(mol) ; m X  = m Y  = 10,8 + 3, 2 =14(gam)
    2 2 2
    Từ đó ta có: 2.x + 26.x = 14 → x = 0,5 (mol).
    C2H2 + 5/2O2 → 2CO2 + H2O
    0,5 1,25
    H2   + 1/2O2    →  H2O
    0,5 0,25
    Vậy thể   tích O2    cần để đốt   cháy   hỗn   hợp   X   cũng   như   hỗn   hợp   Y   là:

    VO2 = (1,25+0,25)*22,4= 33,6 (lit)

    1. PHẦN BÀI TẬP TỰ GIẢI
    1. PHẦN BÀI TẬP CƠ BẢN

    Câu 1. Viết CTCT các đồng phân (cấu tạo) anken ứng với CTPT là C4H8 và C5H10 và gọi tên theo tên thay thế.

    Câu 2. Viết CTCT các anken có tên gọi sau:

    • Butilen, 2-metylbut-2-en, pent-1-en, 2,3-đimetylpent-2-en.
    • Propilen, hex-1-en, etilen, 2-metylpent-1-en, iso-butilen.

    Câu 3. Gọi tên các anken sau theo danh pháp thay thế

    • CH2=CH-CH2-CH3, CH2=C(CH3)-CH2-CH3, CH3-C(CH3)=C(CH3)-CH2-CH3.
    • CH3-CH=CH-CH(CH3)-CH2-CH3, CH2=CH-CH3, CH2=CH2.

    Câu 4. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 36

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    a. CH -CH=CH-CH + H ¾¾¾®
    Ni, t0
    Simpo PDF 3Merge and Split3 Unregistered 2Version – http://www.simpopdf.com
    b. CH2=CH-CH3 + Br2 ®
    c. CH2=C(CH3)-CH3 + HBr ®
    d. CH2=CH-CH2-CH3 + H+
    H2O¾¾®
    e. CH3-CH=CH-CH3 + HBr ®
    f. C2H4 + O2 ¾¾®
    t0
    g. nCH2=CH2 ¾¾¾®
    p, xt, t0
    h. nCH2=CH-CH3 ¾¾¾®
    p, xt, t0
    i. nCH2=CHCl ¾¾¾®
    p, xt, t0

    Câu 5. Viết PTHH điều chế các chất sau đi từ các chất hữu cơ tương ứng.

    PE, PVC, etilen, propilen, 2-clopropan, ancol etylic.

    Câu 6 (A-08). Cho các chất sau: CH2=CH-CH2-CH2-CH=CH2, CH2=CH-CH=CH-CH2-CH3, CH3-C(CH3)=CH-CH3, CH2=CH-CH2-CH=CH2. Chất nào có đồng phân hình học. Viết CTCT các đồng phân cis-trans của nó.

    Câu 7. Viết CTCT các đồng phân ankin ứng với CTPT là C4H6 và C5H8 và gọi tên theo tên thay thế.

    Câu 8. Viết CTCT các ankin có tên gọi sau:

    • Metyl axetilen, etyl metyl axetilen, đimetyl axetilen, 3-metylbut-1-in, pent-1-in.
    • Hex-2-in, axetilen, 3,4-đimetylpent-1-in.
    • CH≡CH-CH2-CH3, CH≡C-CH(CH3)-CH3, CH3-C(CH3)=C(CH3)-CH2-CH3.
    • CH3-C≡C-CH(CH3)-CH2-CH3, CH≡CH-CH3, CH≡

    Câu 10. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:

    a. CH≡C-CH3 + H2 ¾¾¾®
    Ni, t0
    b. CH≡C-CH3 + H2 ¾¾¾¾¾®
    Pd, PbCO , t0
    3
    c. CH≡C-CH3 + Br2 ®
    d. CH≡CH + HCl ®
    1 mol + 1 mol ¾¾¾®
    e. CH≡CH H2O
    Hg2+
    f. 2CH≡CH ¾¾¾¾®
    xt (®ime hãa)
    g. 3CH≡CH ¾¾¾¾¾¾®
    6000 C, xt (trime hãa)
    a. CH4 ¦  C2H2 ¦  C2H4 ¦  C2H6    ¦  C2H5Cl   ¦ C2H4.
    b. CH4 ¦  C2H2 ¦  C4H4 ¦ C4H6    ¦  polibutadien
    c. CH4 ¦  C2H2    ¦C6H6 ¦C6H5Br
    d. C2H6 ¦  C2H4    ¦PE
    e. CH4 ¦  C2H2 ¦Vinyl clorua ¦ PVC
    Câu 13. Nhận biết các chất sau bằng phương pháp hóa học.
    a. CH4, C2H4, C2H2 và CO2. b. But-1-in và but-2-in
    c. Benzen, hex-1-en và toluen d. Benzen, stiren và toluen

    Câu 14. Từ CH4 và các hóa chất vô cơ cần thiết khác, hãy viết các PTHH điều chế:

    Cao su buna, benzen, PE và PVC.

    Câu 15. Viết CTCT các đồng phân benzen ứng với CTPT C8H10 và gọi tên các đồng phân đó.

    Câu 16. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:

    a. C6H5CH3 + Br2 ¾¾®
    t0
    b. C6H5CH3 + Br2 ¾¾¾®
    Fe, t0
    c. C6H5CH3 + HNO3(đặc) ¾¾¾¾¾®
    H SO (®Æc), t0
    2 4
    d. C6H5CH=CH2 + Br2 ®
    e. C6H5CH=CH2 + HBr ®
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 37

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. nC H CH=CH ¾¾¾®

    p, xt, t0

    Simpo65 PDF Merge2 and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    Câu 17. Đốt cháy hoàn toàn 3.36 lít hồn hợp khí etilen và propilen thu được 8.96 lít khí CO2 và m gam nước (các khí đều được đo ở đktc).

    • Tính % thể tích mỗi khí trong hỗn hợp đầu.
    • Tính giá trị m.

    Câu 18. Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp khí C3H6 và C4H8. Toàn bộ sản phẩm cháy thu được dẫn qua bình 1 đựng H2SO4 (đặc), bình 2 đựng dung dịch nước vôi trong dư. Thấy khối lượng bình 1 tăng 9 gam, bình 2 tăng m gam. Tính giá trị m.

    Câu 19. Đốt cháy hoàn toàn 2.24 lít hỗn hợp khí propilen và butilen. Toàn bộ sản phẩm cháy thu được sục qua bình đựng dung dịch nước vôi trong dư thu được 25 gam kết tủa và thấy khối lượng bình tăng lên m gam.

    • Tính thể tích mỗi khí trong hỗn hợp đầu.
    • Tính giá trị m.

    Câu 20. Dẫn từ từ 3,36 lít hỗn hợp khí etilen và propilen (đktc) vào dung dịch brom thấy dung dịch bị nhạt màu và không có khí thoát ra. Khối lượng dung dịch sau phản ứng tăng 4,9 gam. a. Viết các PTHH và giải thích các hiện tượng ở thí nghiệm trên.

    1. Tính % theo thể tích của mỗi khí trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 21. Dẫn từ từ 4,48 lít hỗn hợp khí etilen và propilen (đktc) vào dung dịch brom dư thấy có 80 gam brom phản ứng.

    1. Viết các PTHH và giải thích các hiện tượng ở thí nghiệm trên.
    2. Tính thể tích của mỗi khí trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 22. Đốt cháy hoàn toàn 0.672 lít hỗn hợp khí etilen và propilen cần 2.688 lít khí oxi. Toàn bộ sản phẩm cháy thu được sục vào dung dịch nước vôi trong dư thu được m gam kết tủa.

    • Tính % thể tích mỗi khí trong hỗn hợp đầu.
    • Tính giá trị m.

    Câu 23. Đốt cháy hoàn toàn 4.48 lít hỗn hợp hai anken X (đktc) là đồng đẳng kế tiếp của nhau thu được 11.2 lít khí CO2 (đktc).

    • Xác định công thức của hai anken.
    • Tính % thể tích mỗi anken trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 24. Đốt cháy hoàn toàn 6.72 lít hỗn hợp X gồm hai anken là đồng đẳng kế tiếp nhau cần 26.88 lít khí oxi.

    • Xác định công thức của hai anken.
    • Cho hỗn hợp X qua dung dịch brom dư, tính khối lượng brom đã tham gia phản ứng. Câu 25. Oxi hóa hoàn toàn 0,68 gam ankadien X thu được 1,12 lít CO2 (đktc).
    • Tìm công thức phân tử của X.
    • Viết CTCT có thể có của X.

    Câu 26. Cho 4,48 lít hỗn hợp khí gồm metan và etilen đi qua dung dịch brom dư, thấy dung dịch bị nhạt màu và có 1,12 lít khí thoát ra. Các thể tích khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn. Tính % theo thể tích mỗi khí trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 27. Dẫn 3,36 lít hỗn hợp A gồm propin và etilen đi vào một lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3 thấy còn 0,84 lít khí thoát ra và có m gam kết tủa. Các thể tích khí được đo ở điều kiện tiêu chuẩn.

    1. Tính % theo thể tích etilen trong A.
    2. Tính m.

    Câu 28. Dẫn 6,72 lít hỗn hợp khí X gồm propan, etilen và axetilen qua dung dịch brom dư, thấy còn 1,68 lít khí không bị hấp thụ. Nếu dẫn 6,72 lít khí X trên qua dung dịch AgNO3 trong NH3 thấy có 24,24 gam kết tủa. Các thể tích khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn.

    1. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.
    2. Tính % theo thể tích và theo khối lượng mỗi khí trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 29. Đốt cháy hoàn toàn 2,24 lít hidrocacbon X thu được 6,72 lít khí CO2 (các thể tích khí được đo ở đktc). X tác dụng với AgNO3 trong NH3 sinh ra kết tủa Y. Xác định CTCT của X. Câu 30. Hidrocacbon X là chất lỏng có tỉ khối hơi so với không khí là 3,17. Đốt cháy hoàn toàn X thu được CO2 có khối lượng bằng 4,28 lần khối lượng H2O. Ở nhiệt độ thường X không làm mất màu dung dịch brom. Khi đun nóng X làm mất màu dung dịch KMnO4. Tìm CTPT và viết CTCT của X.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 38

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 31. Cho benzen tác dụng với lượng dư HNO3 đặc có xúc tác H2SO4 đặc để điều chế Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    nitrobenzen. Tính khối lượng nitrobenzen thu được khi dùng 1 tấn benzen với hiệu suất 78%. Câu 32. Trùng hợp 5,6 lít C2H4 (đktc) nếu hiệu suất phản ứng đạt 90% thì khối lượng polime thu được là bao nhiêu?

    Câu 33. Đốt cháy hoàn toàn 4,48 lít C3H6 ( đktc) rồi cho sản phẩm cháy đi qua bình đựng dung dịch nước vôi trong có dư thấy khối lượng bình tăng m(g). Xác định giá trị của m.

    Câu 34. Hỗn hợp X gồm C2H4 và C2H2. Dẫn 1,12 lít hỗn hợp X đi qua bình đựng dung dịch AgNO3/NH3 thu được 2,4 g kết tủa vàng. Xác định thể tích của C2H 4 và C2H2 đo được ở điều kiện chuẩn?

    Câu 35. Đốt cháy hoàn toàn 4,48 lít hỗn hợp khí C2H4 và C3H6 (đktc) thu được 11,2 lít khí CO2 (đktc).

    1. Xác định % theo thể tích mỗi khí trong hỗn hợp đầu.
    2. Tính khối lượng nước sinh ra.

    Câu 36. Một hỗn hợp gồm hai anken có thể tích 11,2 lít (đktc) kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng.

    Khi cho hổn hợp đi qua dung dịch brom thì thấy khối lượng bình brom tăng lên 15,4 g.

    1. Xác định CTPT của hai anken.
    2. Tính thể tích mỗi khí trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 37. Cho (A) và (B) là 2 anken đồng đẳng kế tiếp nhau. Cho 13,44 lít (đktc) hỗn hợp 2 anken

    • và (B) qua bình đựng dung dịch Br2 thấy bình Br2 tăng lên 28 gam. a. Xác định CTPT của A, B.
    1. Cho hỗn hợp 2 anken + HCl thu được 3 sản phẩm. Hãy cho biết CTCT của (A) và (B).

    Câu 38. Dẫn 4,48 lít hỗn hợp gồm C2H4 và C3H4 (đktc) qua bình đựng dung dịch Br2 dư thấy khối lượng bình tăng 6,2 gam. Tính phần trăm thể tích của C3H4 trong hỗn hợp.

    Câu 39. Cho 12,60 gam hỗn hợp 2 anken là đồng đẳng kế tiếp tác dụng vừa đủ với dung dịch Br2 thu được 44,60 gam hỗn hợp sản phẩm. Xác định công thức phân tử của 2 anken.

    Câu 40. Chia 16,4 gam hỗn hợp gồm C2H4 và C3H4 thành 2 phần bằng nhau. Phần 1 tác dụng vừa đủ với dung dịch chứa 56,0 gam Br2. Phần 2 cho tác dụng hết với H2 (Ni, t0), rồi lấy 2 ankan tạo thành đem đốt cháy hoàn toàn thì thu được x gam CO2. Tính giá trị của x.

    Câu 41. Đốt cháy hoàn toàn 0,2 mol hỗn hợp 2 ankin là đồng đẳng kế tiếp thu được 9,0 gam nước. Xác định công thức phân tử của 2 ankin.

    Câu 42. Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp 2 anken thu được 11,2 lít khí CO2 (đktc). Tính thể tích khí O2 (đktc) đã tham gia phản ứng cháy.

    Câu 43. Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp 3 anken rồi dẫn sản phẩm cháy lần lượt qua bình 1 đựng dung dịch H2SO4 đặc và bình 2 đựng dung dịch nước vôi trong dư, thấy khối lượng bình 1 tăng m gam và khối lượng bình 2 tăng (m + 5,2) gam. Tính giá trị của m.

    Câu 44. Khi cho 0,2 mol một ankin tác dụng với AgNO3 trong dung dịch NH3 (dư) thu được 29,4 gam kết tủa. Xác định công thức phân tử của ankin.

    1. PHẦN BÀI TẬP NÂNG CAO

    Câu 1 (A-07). Ba hiđrocacbon X, Y, Z kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng, trong đó khối lượng phân tử Z gấp đôi khối lượng phân tử X. Đốt cháy 0,1 mol chất Y, sản phẩm khí hấp thụ hoàn toàn vào dung dịch Ca(OH)2 dư, thu được m gam kết tủa. Tính m. Đáp án: m = 30 gam.

    Câu 2 (B-2008). Đốt cháy hoàn toàn 1 lít hỗn hợp khí gồm C2H2 và hiđrocacbon X sinh ra 2 lít khí CO2 và 2 lít hơi H2O (các thể tích khí và hơi đo ở cùng điều kiện nhiệt độ, áp suất). Xác định công thức phân tử của X. Đáp án: C2H6.

    Câu 3 (B-2010). Hỗn hợp khí X gồm một ankan và một anken. Tỉ khối của X so với H2 bằng 11,25. Đốt cháy hoàn toàn 4,48 lít X, thu được 6,72 lít CO2 (các thể tích khí đo ở đktc). Xác định công thức của ankan và anken. Đáp án: CH4 và C3H6.

    Câu 4 (A-07). Cho 4,48 lít hỗn hợp X (đktc) gồm 2 hiđrocacbon mạch hở lội từ từ qua bình chứa 1,4 lít dung dịch Br2 0,5M. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, số mol Br2 giảm đi một nửa và khối lượng bình tăng thêm 6,7 gam. Xác định công thức phân tử của 2 hiđrocacbon.

    Đáp án: C2H2 và C4H8.

    Câu 5 (B-08). Dẫn 1,68 lít hỗn hợp khí X gồm hai hiđrocacbon vào bình đựng dung dịch brom (dư). Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, có 4 gam brom đã phản ứng và còn lại 1,12 lít khí. Nếu

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 39

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    đốt cháy hoàn toàn 1,68 lít X thì sinh ra 2,8 lít khí CO2 . Xác định công thức phân tử của hai Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    hiđrocacbon (biết các thể tích khí đều đo ở đktc). Đáp án: CH4 và C3H6

    Câu 6 (A-2010). Đun nóng hỗn hợp khí X gồm 0,02 mol C2H2 và 0,03 mol H2 trong một bình kín (xúc tác Ni), thu được hỗn hợp khí Y. Cho Y lội từ từ vào bình nước brom (dư), sau khi kết thúc các phản ứng, khối lượng bình tăng m gam và có 280 ml hỗn hợp khí Z (đktc) thoát ra. Tỉ khối của Z so với H2 là 10,08. Tính giá trị của m. Đáp án: m = 0,328 gam.

    Câu 7 (B-09). Hỗn hợp khí X gồm H2 và một anken có khả năng cộng HBr cho sản phẩm hữu cơ duy nhất. Tỉ khối của X so với H2 bằng 9,1. Đun nóng X có xúc tác Ni, sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được hỗn hợp khí Y không làm mất màu nước brom; tỉ khối của Y so với H2 bằng

    • Xác định công thức cấu tạo của anken. Đáp án: CH3CH=CHCH3.

    Câu 8 (CĐ-09). Hỗn hợp khí X gồm H2 và C2H4 có tỉ khối so với He là 3,75. Dẫn X qua Ni nung nóng, thu được hỗn hợp khí Y có tỉ khối so với He là 5. Tính hiệu suất của phản ứng hiđro hoá.

    Đáp án: HS: 50%.

    Câu 9 (CĐ-2010). Cho 3,12 gam ankin X phản ứng với 0,1 mol H2 (xúc tác Pd/PbCO3, t0), thu được hỗn hợp Y chỉ có hai hiđrocacbon. Xác định công thức phân tử của X. Đáp án: C2H2.

    Câu 10. Hỗn hợp X gồm một olefin M và H2 có khối lượng phân tử trung bình 10.67 đi qua Ni đun nóng thu được hỗn hợp khí Y có tỉ khối so với H2 là 18. Biết M phản ứng hết. Xác định CTPT của M.

    Câu 11 (A-2011). Hỗn hợp X gồm C2H2 và H2 có cùng số mol. Lấy một lượng hỗn hợp X cho qua chất xúc tác nung nóng, thu được hỗn hợp Y gồm C2H4, C2H6, C2H2 và H2. Sục Y vào dung dịch brom (dư) thì khối lượng bình brom tăng 10,8 gam và thoát ra 4,48 lít hỗn hợp khí (đktc) có tỉ khối so với H2 là 8. Tính thể tích O2 (đktc) cần để đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp Y.

    Đáp án: 3,36 lít.

    Câu 12 (A-2011). Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp X gồm C2H2, C3H4 và C4H4 (số mol mỗi chất bằng nhau) thu được 0,09 mol CO2. N ếu lấy cùng một lượng hỗn hợp X như trên tác dụng với một lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, thì khối lượng kết tủa thu được lớn hơn 4 gam. Xác định công thức cấu tạo của C3H4 và C4H4 trong X. Đáp án: CHC-CH 3, CH 2=CH-CCH.

    Câu 13 (A-2011). Cho buta-1,3- đien phản ứng cộng với Br2 theo tỉ lệ mol 1:1. Viết CTCT số dẫn xuất đibrom (đồng phân cấu tạo và đồng phân hình học) thu được trong phản ứng trên.

    Câu 14 (B-2011). Hỗn hợ p khí X gồm etilen, metan, propin và vinylaxetilen có tỉ khối so với H2 là 17. Đốt cháy hoàn toàn 0,05 mol hỗn hợp X rồi hấp thụ toàn bộ sản phẩm cháy vào bình dung dịch Ca(OH)2 (dư) thì khối lượng bình tăng thêm m gam. Tính giá trị của m? Đáp án: 7.3 gam.

    CHUYÊN ĐỀ VII

    DẪN XUẤT HALOGEN – ANCOl – PHENOl

    1. PHẦN LÝ THUYẾT
    1. DẪN XUẤT HALOGEN CỦA HIDROCACBON 1. Khái niệm
    • Khi thay thế nguyên tử hidro của phân tử hidrocacbon bằng nguyên tử halogen ta được dẫn xuất halogen có CTTQ: RCl

    + Ví dụ: CH3Cl, C6H5Cl

    • Bậc của dẫn xuất halogen: Chính là bậc của nguyên tử C liên kết trực tiếp với C.
    + Ví dụ: Bậc I: CH3CH2Cl (etyl clorua)
    Bậc II: CH3CHClCH3 (isopropyl clorua)
    Bậc III: (CH3)C-Br (tert – butyl bromua)
    2. Tính chất hóa học:
    a. Phản ứng thế nguyên tử halogen bằng nhóm OH:
    RX + NaOH t0 ROH+ NaX
    ¾¾®
    CH3CH2Br   + NaOH t0 + NaBr
    ¾¾®  CH3CH2OH
    b. Phản ứng tách hidro halogenua: + KCl +   H2O
    – CH3-CH2Cl + KOH ¾¾¾¾0®  CH2=CH2
    C 2 H5OH

    t

    – PTTQ: (đối với dẫn xuất halogen no, đơn chức, mạch hở)

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 40

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    đốt cháy hoàn toàn 1,68 lít X thì sinh ra 2,8 lít khí CO2 . Xác định công thức phân tử của hai Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    hiđrocacbon (biết các thể tích khí đều đo ở đktc). Đáp án: CH4 và C3H6

    Câu 6 (A-2010). Đun nóng hỗn hợp khí X gồm 0,02 mol C2H2 và 0,03 mol H2 trong một bình kín (xúc tác Ni), thu được hỗn hợp khí Y. Cho Y lội từ từ vào bình nước brom (dư), sau khi kết thúc các phản ứng, khối lượng bình tăng m gam và có 280 ml hỗn hợp khí Z (đktc) thoát ra. Tỉ khối của Z so với H2 là 10,08. Tính giá trị của m. Đáp án: m = 0,328 gam.

    Câu 7 (B-09). Hỗn hợp khí X gồm H2 và một anken có khả năng cộng HBr cho sản phẩm hữu cơ duy nhất. Tỉ khối của X so với H2 bằng 9,1. Đun nóng X có xúc tác Ni, sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được hỗn hợp khí Y không làm mất màu nước brom; tỉ khối của Y so với H2 bằng

    • Xác định công thức cấu tạo của anken. Đáp án: CH3CH=CHCH3.

    Câu 8 (CĐ-09). Hỗn hợp khí X gồm H2 và C2H4 có tỉ khối so với He là 3,75. Dẫn X qua Ni nung nóng, thu được hỗn hợp khí Y có tỉ khối so với He là 5. Tính hiệu suất của phản ứng hiđro hoá.

    Đáp án: HS: 50%.

    Câu 9 (CĐ-2010). Cho 3,12 gam ankin X phản ứng với 0,1 mol H2 (xúc tác Pd/PbCO3, t0), thu được hỗn hợp Y chỉ có hai hiđrocacbon. Xác định công thức phân tử của X. Đáp án: C2H2.

    Câu 10. Hỗn hợp X gồm một olefin M và H2 có khối lượng phân tử trung bình 10.67 đi qua Ni đun nóng thu được hỗn hợp khí Y có tỉ khối so với H2 là 18. Biết M phản ứng hết. Xác định CTPT của M.

    Câu 11 (A-2011). Hỗn hợp X gồm C2H2 và H2 có cùng số mol. Lấy một lượng hỗn hợp X cho qua chất xúc tác nung nóng, thu được hỗn hợp Y gồm C2H4, C2H6, C2H2 và H2. Sục Y vào dung dịch brom (dư) thì khối lượng bình brom tăng 10,8 gam và thoát ra 4,48 lít hỗn hợp khí (đktc) có tỉ khối so với H2 là 8. Tính thể tích O2 (đktc) cần để đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp Y.

    Đáp án: 3,36 lít.

    Câu 12 (A-2011). Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp X gồm C2H2, C3H4 và C4H4 (số mol mỗi chất bằng nhau) thu được 0,09 mol CO2. N ếu lấy cùng một lượng hỗn hợp X như trên tác dụng với một lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, thì khối lượng kết tủa thu được lớn hơn 4 gam. Xác định công thức cấu tạo của C3H4 và C4H4 trong X. Đáp án: CHC-CH 3, CH 2=CH-CCH.

    Câu 13 (A-2011). Cho buta-1,3- đien phản ứng cộng với Br2 theo tỉ lệ mol 1:1. Viết CTCT số dẫn xuất đibrom (đồng phân cấu tạo và đồng phân hình học) thu được trong phản ứng trên.

    Câu 14 (B-2011). Hỗn hợ p khí X gồm etilen, metan, propin và vinylaxetilen có tỉ khối so với H2 là 17. Đốt cháy hoàn toàn 0,05 mol hỗn hợp X rồi hấp thụ toàn bộ sản phẩm cháy vào bình dung dịch Ca(OH)2 (dư) thì khối lượng bình tăng thêm m gam. Tính giá trị của m? Đáp án: 7.3 gam.

    CHUYÊN ĐỀ VII

    DẪN XUẤT HALOGEN – ANCOl – PHENOl

    1. PHẦN LÝ THUYẾT
    1. DẪN XUẤT HALOGEN CỦA HIDROCACBON 1. Khái niệm
    • Khi thay thế nguyên tử hidro của phân tử hidrocacbon bằng nguyên tử halogen ta được dẫn xuất halogen có CTTQ: RCl

    + Ví dụ: CH3Cl, C6H5Cl

    • Bậc của dẫn xuất halogen: Chính là bậc của nguyên tử C liên kết trực tiếp với C.
    + Ví dụ: Bậc I: CH3CH2Cl (etyl clorua)
    Bậc II: CH3CHClCH3 (isopropyl clorua)
    Bậc III: (CH3)C-Br (tert – butyl bromua)
    2. Tính chất hóa học:
    a. Phản ứng thế nguyên tử halogen bằng nhóm OH:
    RX + NaOH t0 ROH+ NaX
    ¾¾®
    CH3CH2Br   + NaOH t0 + NaBr
    ¾¾®  CH3CH2OH
    b. Phản ứng tách hidro halogenua: + KCl +   H2O
    – CH3-CH2Cl + KOH ¾¾¾¾0®  CH2=CH2
    C 2 H5OH

    t

    – PTTQ: (đối với dẫn xuất halogen no, đơn chức, mạch hở)

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 40

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    CnH2n+1X    +       KOH        ¾¾¾¾C2H5OH®                CnH2n          +      KX      +              H2O

    Simpo PDF Merge and Split Unregisteredt0  Version – http://www.simpopdf.com

    • Quy tắc Zaixep: Nguyên tử X tách với nguyên tử H ở C bậc cao hơn.
    1. ANCOL

     

    1. Định nghĩa – Phân loại a. Định nghĩa

     

    • Ancol là những hợp chất hữu cơ trong phân tử có nhóm OH liên kết trực tiếp với nguyên tử C no. Ví dụ: C2H5OH
    • Bậc ancol là bậc của nguyên tử C liên kết trực tiếp với nhóm OH.

    Thí dụ

    CH3-CH2-CH2-CH2OH:          ancol bậc I

    CH3-CH2-CH(CH3)-OH:         ancol bậc II

    CH3-C(CH3)2-OH:                      ancol bậc III

    1. Phân loại
    • Ancol no, đơn chức, mạch hở (CnH2n+1OH): Ví dụ: CH3OH . . .
    • Ancol không no, đơn chức mạch hở: CH2=CH-CH2OH
    • Ancol thơm đơn chức: C6H5CH2OH

    – Ancol vòng no, đơn chức:                          xiclohexanol

    • Ancol đa chức: CH2OH-CH2OH (etilen glicol), CH2OH-CHOH-CH2OH (glixerol)
    1. Đồng phân – Danh pháp
    2. Đồng phân: Chỉ có đồng phân cấu tạo (gồm đồng phân mạch C và đồng phân vị trí nhóm OH).
    • Thí dụ C4H10O có 4 đồng phân ancol

    CH3-CH2-CH2-CH2OH;         CH3-CH(CH3)-CH2OH

    CH3-CH2-CH(CH3)-OH; CH3-C(CH3)2-OH b. Danh pháp:

    • Danh pháp thường: Ancol + tên gốc ankyl + ic

    + Ví dụ: C2H5OH (ancol etylic)

    • Danh pháp thay thế: Tên hidrocacbon tương ứng với mạch chính + số chỉ vị trí nhóm OH + ol

    4         3                    2         1

    • Ví dụ: C H 3 C H(CH 3 ) C H 2 C H 2OH (3-metylbutan-1-ol)
    1. Tính chất vật lý
    • Tan nhiều trong nước do tạo được liên kết H với nước. Độ tan trong nước giảm dần khi số nguyên tử C tăng lên.
    1. Tính chất hóa học
    1. Phản ứng thế H của nhóm OH * Tính chất cung của ancol

    2C2H5OH   +    2Na         →       2C2H5ONa     +     H2

    * Tính chất đặc trưng của ancol đa chức có hai nhóm OH liền kề

    • Hòa tan được Cu(OH)2 ở điều kiện thường tạo thành dung dịch màu xanh lam. Phản ứng này dùng để nhận biết ancol đa chức có hai nhóm OH liền kề.

    2C3H5(OH)3 + Cu(OH)2 → [C3H5(OH)2O]2Cu + 2H2O b. Phản ứng thế nhóm OH

    * Phản ứng với axit vô cơ

    0

    C2H5 – OH + H – Br ¾¾t® C2H5Br + H2O * Phản ứng với ancol

    2C2H5OH H SO  , 1400 C C2H5OC2H5 + H2O
    ¾¾¾¾¾®
    2 4
    đietyl ete
    – PTTQ:  2ROH H SO  , 1400 C R-O-R + H2O
    ¾¾¾¾¾®
    2 4
    c. Phản ứng tách nước
    C2H5OH H SO  , 1700 C C2H4 + H2O
    ¾¾¾¾¾®
    2 4
    – PTTQ:CnH2n+1OH H SO  , 1700 C CnH2n + H2O
    ¾¾¾¾¾®
    2 4
    d. Phản ứng oxi hóa:
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 41

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    – Oxi hóa không hoàn toàn:

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com + Ancol bậc 1 khi bị oxi hóa bởi CuO/to cho ra sản phẩm là andehit

    0

    RCH2OH + CuO ¾¾t® RCHO + Cu↓ + H2O + Ancol bậc hai khi bị oxi hóa bởi CuO/to cho ra sản phẩm là xeton.

    0

    R-CH(OH)-R’     +   CuO      ¾¾t®    R-CO-R’     +    Cu↓    +      H2O

    • Ancol bậc III khó bị oxi hóa.

    – Oxi hóa hoàn toàn:

    CnH2n+1OH   + 3n O2 0 nCO2     + (n+1)H2O
    2 ¾¾®
    t
    5. Điều chế:
    a. Phương pháp tổng hợp:
    – Điều chế từ anken tương ứng: CnH2n+ H2O H SO  , t0 CnH2n+1OH
    ¾¾¾¾®
    2 4
    • Điều chế Glixerol đi từ anken tương ứng là CH2=CH-CH3. b. Phương pháp sinh hóa: Điều chế C2H5OH từ tinh bột.

    (C6H10O5)n

    C6H12O6

    1. PHENOL

    ¾¾¾+H2O®      C6H12O6

    t0 , xt

    ¾¾¾enzim®                      2C2H5OH    +             2CO2

     

    1. Định nghĩa – Phân loại – Danh pháp
    1. Định nghĩa: Phenol là những hợp chất hữu cơ trong phân tử có nhóm -OH liên kết trực tiếp với nguyên tử C vòng benzen.
    • Ví dụ: C6H5OH (phenol) . . .
    1. Phân loại:
    • Phenol đơn chức: Phân tử có một nhóm -OH phenol.
    • Phenol đa chức: Phân tử chứa hai hay nhiều nhóm -OH phenol. c. Danh pháp: Số chỉ vị trí nhóm thế + phenol
    1. Tính chất hóa học:
    2. Phản ứng thế nguyên tử H của nhóm OH
    • Tác dụng với kim loại kiềm

    2C6H5OH   +    2Na             →        2C6H5ONa     +     H2

    • Tác dụng với dung dịch bazơ

    C6H5OH   +    NaOH             →        C6H5ONa     +     H2O

    1. Phản ứng thế H của vòng benzen: Tác dụng với dung dịch Brom (Phản ứng này dùng để nhận biết phenol).

    C6H5OH + 3Br2 → C6H2Br3OH↓ + 3HBr 3. Điều chế: Để điều chế phenol ta có sơ đồ sau:

    C6H6   →   C6H5Br   →        C6H5ONa   →       C6H5OH

    1. PHẦN HƯỚNG DẪN GIẢI
    • Lập công thức phân tử của ancol
    • Các công thức tổng quát thường gặp của ancol
      • Ancol no, đơn chức, mạch hở: CnH2n+1OH
    • Ancol no, đa chức, mạch hở: CnH2n+2-a(OH)a hoặc CnH2n+2Oa (thường dùng khi làm bài tập).
    • Công thức của ancol đơn chức: ROH.
    • Phản ứng đốt cháy của ancol
    • Ancol no, đơn chức, mạch hở
    • Cn H2n +1OH + 3n O2 ® nCO2 + (n +1)H2O 2
    • nH2 O > nCO2 ; nancol = nH 2– nCO2

     

    • Đối với ancol no, đơn chức, mạch hở ta luôn có công thức sau để giải nhanh bài tập
    mancol = mH O mCO 2
    11
    2
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 42

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    b.  Ancol no, đơn chức, mạch hở
    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    –    C H O + 3n + 1 – a O ® nCO + (n +1)H O
    a 2 2 2
    n 2n +2 2
    • nH2 O > nCO2 ; nancol = nH 2 O  – nCO2  . Từ đó ta có thể suy ra: Đối với ancol no ta luôn có

    nH2> nCO2 ; nancol no  = nH2– nCO2

    • Lập công thức phân tử của ancol
    • Cách 1: M = 14n + 18 (đơn chức) hoặc M = 14n + 2 + 16a. M ta có thể tính bằng nhiều cách khác nhau tùy vào dử kiện bài ra.
    * Cách 2: n = nCO2 . Mà ta có nancol no = nH O  – nCO ® n = nCO 2 = nCO2
    2 nCO
    nancol 2 nancol nH
    O 2
    2
    • Cách 3: Ta lập tỉ lệ trên PTHH để đưa ra phương trình bậc nhất. Từ đó tính giái trị n.
    • Lưu ý: Nếu là hỗn hợp hai ancol đồng đẵng kế tiếp của nhau thì ta quy thành một ancol và giải hoàn toàn tương tự như 1 ancol.
    • Bài tập về phản ứng tách nước của ancol
    • Tách nước tạo anken

    C H OH n 2n+1

    ¾¾¾¾¾¾H2SO4(®Æc),1700C®

    C H + H On2n2

    X

    Y

    M

    dX/Y  =       X   > 1

    MY

    • Tách nước tạo ete

    0

    2 ROH    ¾¾¾¾¾¾H2SO4(®Æc),140C®  ROR  + H2O

    X                                                      Y

    –    d = MX < 1
    X/Y MY
    • mancol = mete + mH 2 nancol  = 2nH 2O

     

    • Đối với phần bài tập tách nước tạo ete, chủ yếu ta áp dụng định luật bảo toàn khối

    lượng để giải.

    • Oxi hóa ancol bậc I và II bởi CuO
      • Ancol bậc 1 khi bị oxi hóa bởi CuO tạo ra andehit
    • Ancol bậc 2 khi bị oxi hóa bởi CuO tạo ra xeton Ta chỉ xét ancol no, đơn chức, mạch hở.

    0

    CnH2n+1OH    +             CuO       ¾¾t®  CnH2nO +   Cu    +    H2O

    • mchÊt r¾n gi¶m = mCuO – mCu  = mO (CuO)

     

    • nO(CuO) = nancol = nandehit hoÆc xeton = nCu
    –    m + m = m + m H2O
    ancol O (CuO) andehit hoÆc xeton
    • Chú ý: Phần bài tập này liên quan đến rất nhiều phần bài tập andehit. Do vậy ta cần

    chú ý vận dụng phần bài tập andehit tham gia phản ứng tráng gương để giải bài tập này.

    Ví dụ 1: Đốt cháy hoàn toàn một ancol đơn chức X thu được 4,4 gam CO2 và 3,6 gam H2O. Xác định công thức phân tử của X.

    Giải
    Đặt CTPT của X là CnH2n+1OH.
    n = 4.4 = 0.1 (mol); n = 3.6 = 0.2 (mol)
    CO H O
    44 18
    2 2
    ® n = nCO 2 = nCO 2 = 0.1 = 1 . Từ đó suy ra CTPT của ancol là: CH3OH.
    O nCO
    nancol nH 2 0.2 – 0.1
    2

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 43

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Ví dụ 2: Đun nóng 12,90 gam hỗn hợp X gồm 2 ancol no, đơn chức, bậc 1, là đồng đẳng kế tiếp Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    trong H2 SO4 đặc ở 140oC thu được 10,65 gam hỗn hợp Y gồm 3 ete (h = 100%). Xác định công thức phân tử của hai ancol.

    Giải
    Đặt CT của hai ancol là
    2ROH .
    m = m – m = 12.9 – 10.65 = 2.25 (gam) ® n = 2.25 = 0.125 (mol)
    H O ancol ete H O
    18
    2 2
    = 0.25 (mol) ® = m = 12.9 = 51.6
    n ancol = 2n H O M
    ROH
    n 0.25
    2

    R + 17 = 51.6 ® R = 34.6 . Vậy công thức phân tử hai ancol là: C2H5OH và C3H7OH

    Ví dụ 3 (B-07): Cho m gam một ancol (rượu) no, đơn chức qua bình đựng CuO (dư), nung nóng. Sau khi phản ứng hoàn toàn, khối lượng chất rắn trong bình giảm 0,32 gam. Hỗn hợp hơi thu được có tỉ khối so với hiđro là 15,5. Tính giá trị của m.

    Giải

    • Như vậy khối lượng chất rắn giảm chính là khối lượng O (CuO) đã phản ứng:
    n = 0,32 = 0,02(mol) = n
    O (CuO) CuO
    16
    mancol + mO (CuO) = mandehit hoÆc xeton + mH O
    2
    Hçn hîp h¬i (X)
    CnH2n+1OH + t0 +  Cu   +  H2O
    CuO    ¾¾®  CnH2nO
    0,02 0,02 0,02

    MX  = 15,5.2 = 31 ® mx  = 31.0,04 = 1,24(gam)

    • mancol = mx – mO (CuO) = 1,24 – 0,32 = 0,92(gam)
    • PHẦN BÀI TẬP TỰ GIẢI
    • PHẦN BÀI TẬP CƠ BẢN

    Câu 1. Viết CTCT các đồng phân ancol ứng với CTPT C3H8O, C4H10O, C5H12O và gọi tên theo danh pháp thay thế.

    Câu 2. Viết CTCT các ancol có tên gọi sau:

    • Ancol iso-propylic, ancol etylic, ancol n-propylic, etanol, propan-1-ol.
    • 3-metylbutan-1-ol, 2-metylbutan-2-ol, pentan-1-ol, 2-metylpropan-2-ol.

    Câu 3. Gọi tên các ancol sau theo danh pháp thay thế.

    • CH3-CH(OH)-CH2-CH3; CH3-CH2-CH2-CH2OH; CH3-C(CH3)2-CH2-CH(OH)-CH3.
    • CH3-CH2-CH(CH3)-OH; CH3OH, CH3-CH=CH-CH(CH3)-CH2OH Câu 4. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:
    a. CH3Cl + NaOH t0
    ¾¾®
    b. CH3-CH2-CH2Cl + KOH t0
    ¾¾®
    c. CH3-CH2-CH2Cl + KOH C H OH, t0
    ¾¾¾¾®
    2 5
    d. CH3-CHCl-CH2CH3 + NaOH C H OH, t0
    ¾¾¾¾®
    2 5
    Câu 5. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:
    a. CH3OH + Na ®
    b. C3H5(OH)3 + Na ®
    c. ROH + HCl ®
    d. C2H5OH H SO , 1400 C
    ¾¾¾¾¾®
    2 4
    e. C2H5OH H SO , 1700 C
    ¾¾¾¾¾®
    2 4
    f. CH3-CH(OH)-CH2-CH3 H SO , 1700 C
    ¾¾¾¾¾®
    2 4
    g. C2H5OH + CuO t0
    ¾¾®
    h. iso-C3H7OH + CuO t0
    ¾¾®
    i. n-C3H7OH + CuO t0
    ¾¾®
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 44

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    0

    Simpo kPDF.C2HMerge5OH and Split+ UnregisteredO2¾¾Versiont® – http://www.simpopdf.com

    l. CnH2n+1OH + O2 t0
    ¾¾®
    Câu 6. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:
    a. C6H5OH + Na ®
    b. C6H5OH + KOH ®
    c. C6H5OH + Br2 ®
    d. C6H5OH + HNO3 (đặc) ¾¾¾¾¾®
    H SO (®Æc), t0
    2 4
    Câu 7. Viết PTHH để điều chế các chất sau từ các chất hữu cơ tương ứng:
    Etanol, etilen, propan-2-ol, propilen
    Câu 8. Hoàn thành các chuối phản ứng sau:
    a. Metan ¦ axetilen ¦ etilen ¦ etanol ¦  axit axetic
    b. Benzen ¦ brombenzen ¦ natri phenolat ¦ phenol   ¦ 2,4,6-tribromphenol

    Câu 9. Nhận biết các chất sau bằng phương pháp hóa học:

    1. Etanol, glixerol, nước và benzen.
    2. Phenol, etanol, glixerol, nước.
    • Propan-1,2-điol; propan-1,3-điol.
    • Propan-1,2,3-triol; propan-1,3-điol; 2-metylpropan-2-ol.

    Câu 10. Từ axetilen, viết PTHH của các phản ứng điều chế: etyl bromua (1); 1,2-đibrometan (2); vinyl clorua (3).

    Câu 11. Từ propen và các hóa chất vô cơ cần thiết khác có thể điều chế được các chất sau:

    propan-2-ol (1); propan-1,2-điol (2). Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 12. Từ benzen và các hóa chất vô cơ cần thiết khác có thể điều chế được các chất sau: 2,4,6-tribromphenol (1); 2,4,6-trinitrophenol (2). Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 13. Cho 12,2 gam hỗn hợp X gồm etanol và propan-1-ol tác dụng với Na dư thu được 2,8 lít khí (đktc).

    1. Tính thành phần % khối lượng của mỗi chất trong hỗn hợp ban đầu.
    2. Cho hỗn hợp X qua ống đựng CuO đun nóng. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 14. Đốt cháy hoàn toàn 5,5 gam hỗn hợp X gồm hai ancol CH3OH và C2H5OH thu được 4,48 lít khí CO2 (đktc) và m gam nước.

    1. Tính % khối lượng mỗi ancol trong hỗn hợp đầu.
    2. Tính giá trị m.
    1. Đun nóng hỗn hợp X với xúc tác H2SO4 đặc ở nhiệt độ 1400C thu được hỗn hợp 3 ete. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 15. Đốt cháy hoàn toàn 10,6 gam hỗn hợp X gồm hai ancol C2H5OH và n-C3H7OH. Toàn bộ sản phẩm cháy thu được sục vào bình đựng dung dịch nước vôi trong dư thu được 50 gam kết tủa và khối lượng bình tăng lên m gam.

    1. Tính khối lượng mỗi ancol trong hỗn hợp ban đầu.
    2. Tính giá trị m.
    3. Cho hỗn hợp X qua ống đựng CuO đun nóng. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 16. Câu . Cho 11 gam hỗn hợp hai ancol no đơn chức, kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng tác dụng hết với Na dư thu được 3,36 lít H2 (đktc).

    1. Xác định công thức phân tử của hai ancol.
    1. Tính % khối lượng mỗi ancol trong hỗn hợp đầu.

    Câu 17. Đốt cháy hoàn toàn 0.1 mol một ancol no, đơn chức X cần V lít O2 (đktc) thu được 6.72 lít khí CO2 (đktc) và gam nước.

    • Xác định công thức phân tử của X.
    • Tính giá trị m.
    • Tính V bằng các phương pháp khác nhau.

    Câu 18. Đốt cháy hoàn toàn một ancol đơn chức X thu được 4,4 gam CO2 và 3,6 gam H2O. Xác định công thức phân tử của X.

    Câu 19. Đun nóng 15,2 gam hỗn hợp 2 ancol no đơn chức, là đồng đẳng kế tiếp với H2SO4 đặc ở 140OC, thu được 12,5 gam hỗn hợp 3 ete (h = 100%).

    • Xác định công thức của 2 ancol.
    • Tính % khối lượng mỗi ancol trong hỗn hợp đầu.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 45

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 20. Cho 3,7 gam một ancol no, đơn chức, mạch hở tác dụng với Na dư thấy có 0,56 lít khí Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    thoát ra (ở đktc). Xác định công thức phân tử của X.

    Câu 21. Cho 14 gam hỗn hợp A gồm phenol và etanol tác dụng với Na dư thu được 2,24 lít khí

    H2 (đktc).

    1. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.
    2. Tính % mỗi chất trong hỗn hợp A.
    3. Cho 14 gam hỗn hợp A tác dụng với dung dịch HNO3 (đủ) thì thu được bao nhiêu gam axit picric (2,4,6-trinitrophenol).

    Câu 22. Cho hỗn hợp A gồm etanol và phenol tác dụng với Na dư thu được 3,36 lít H2 (đktc).

    Nếu cho hỗn hợp trên tác dụng với nước brom vừa đủ thu được 19,86 gam kết tủa trắng.

    1. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.
    2. Tính % theo khối lượng mỗi chất có trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 23. Cho natri tác dụng hoàn toàn với 18,8 gam hỗn hợp hai ancol no, đơn chức, mạch hở kế tiếp trong dãy đồng đẳng sinh ra 5,6 lít khí H2 (đktc).

    1. Xác định CTPT của hai ancol trên.
    1. Tính khối lượng mỗi ancol trong hỗn hợp ban đầu.

    Câu 24. Chia hỗn hợp X gồm hai ancol no, đơn chức, mạch hở thành hai phần bằng nhau. Đốt cháy hết phần (1) thu được 5,6 lít CO2 (đktc) và 6,3 g nước. Phần (2) tác dụng hết với natri thì thấy thoát ra V lít khí (đktc). Xác định V.

    Câu 25. Đốt cháy hết hỗn hợp gồm hai ancol no, đơn chức, mạch hở kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng thu được 5,6 lít CO2 (đktc) và 6,3 g nước. Xác định CTPT của hai ancol.

    Câu26. Cho 0,1 mol rượu X phản ứng hết với Na dư thu được 2,24 lít khí H2(đktc). Số nhóm chức -OH của rượu X là bao nhiêu?

    Câu 27. Chia m gam hỗn hợp hai ancol thành hai phần bằng nhau.

    Phần 1: Đốt cháy hoàn toàn, thu được 2,24 lít khí CO2 (đktc).

    Phần 2: Đehiđrat hóa hoàn toàn thu được hỗn hợp 2 anken. Nếu đốt cháy hết 2 anken thì thu được bao nhiêu gam nước?

    Câu 28. Oxi hoá 4,96 gam X là một ancol (rượu) đơn chức bậc 1 (h=100%), rối lấy anđehit thu được cho tác dụng hết với lượng dư AgNO3 trong dung dịch NH3, thu được 66,96 gam Ag. Xác định công thức của X .

    Câu 29. Oxi hoá hỗn hợp X gồm C2H6O và C4H10O thu được hỗn hợp Y gồm 2 anđehit. Cho Y tác dụng với dung dịch AgNO3 trong NH3 (dư) thu được m gam Ag. Cũng lượng X như trên, nếu cho tác dụng với Na dư thì thu được 1,12 lít khí H2(đktc). Tính giá trị của m.

    Câu 30. Đốt cháy hoàn toàn một ancol đơn chức X thu được 4,4 gam CO2 và 3,6 gam H2O. Nếu cho lượng X ở trên tách nước tạo ete (h=100%). Tính số gam ete thu được.

    Câu 31. Đun nóng 12,90 gam hỗn hợp X gồm 2 ancol no, đơn chức, bậc 1, là đồng đẳng kế tiếp trong H2SO4 đặc ở 140oC thu được 10,65 gam hỗn hợp Y gồm 3 ete (h = 100%). Xác định công thức phân tử của hai ancol.

    Câu 32. Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp hai ancol đơn chức A và B thuộc cùng một dãy đồng đẳng, người ta thu được 70,4 gam CO2 và 39,6 gam H2O. Tính giá trị của m.

    Câu 33. Chia 27,6 gam hỗn hợp 3 ancol đơn chức thành 2 phần bằng nhau. Phần 1 cho tác dụng hết với Na, thu được 3,36 lít khí H2 (đktc). Phần 2 tách nước thu được m gam hỗn hợp 6 ete (h=100%). Tính giá trị của m.

    • PHẦN BÀI TẬP NÂNG CAO

    Câu 1 (B-2010). Đốt cháy hoàn toàn một lượng hỗn hợp X gồm 2 ancol (đều no, đa chức, mạch hở, có cùng số nhóm -OH) cần vừa đủ V lít khí O2, thu được 11,2 lít khí CO 2 và 12,6 gam H2O (các thể tích khí đo ở đktc). Tính giá trị của V. Đáp án: V = 14,56 lít.

    Câu 2 (CĐ-08). Đốt cháy hoàn toàn một rượu (ancol) đa chức, mạch hở X, thu được H2O và CO2 với tỉ lệ số mol tương ứng là 3:2. Xác định công thức phân tử của X. Đáp án: C2H6O2.

    Câu 3 (B-2007). X là ancol (rượu) no, mạch hở. Đốt cháy hoàn toàn 0,05 mol X cần 5,6 gam oxi, thu được hơi nước và 6,6 gam CO2. Xác định công thức của X. Đáp án: C3H5(OH)3.

    Câu 4 (B-2010). Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm ba ancol (đơn chức, thuộc cùng dãy đồng đẳng), thu được 8,96 lít khí CO2 (đktc) và 11,7 gam H 2O. Mặt khác, nếu đun nóng m gam X với H2SO4 đặc thì thu được x gam hỗn hợp các ete. Tính giá trị của x. Đáp án: 7,85 gam.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 46

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 5 (B-08). Đun nóng một rượu (ancol) đơn chức X với dung dịch H2SO4 đặc trong điều Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    kiện nhiệt độ thích hợp sinh ra chất hữu cơ Y, tỉ khối hơi của X so với Y là 1,6428. Xác định công thức phân tử của X. Đáp án: C2H6O.

    Câu 6 (A-2010). Oxi hoá hết 2,2 gam hỗn hợp hai ancol đơn chức thành anđehit cần vừa đủ 4,8 gam CuO. Cho toàn bộ lượng anđehit trên tác dụng với lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, thu được 23,76 gam Ag. Xác định công thức phân tử của hai ancol.

    Đáp án: CH3OH và C2H5CH2OH.

    Câu 7 (CĐ-08). Oxi hoá ancol đơn chức X bằng CuO (đun nóng), sinh ra một sản phẩm hữu cơ duy nhất là xeton Y (tỉ khối hơi của Y so với khí hiđro bằng 29). Xác định công thức cấu tạo của

    • Đáp án: CH3-CH(OH)-CH3.

    Câu 8 (B-07). Cho m gam một ancol (rượu) no, đơn chức qua bình đựng CuO (dư), nung nóng. Sau khi phản ứng hoàn toàn, khối lượng chất rắn trong bình giảm 0,32 gam. Hỗn hợp hơi thu được có tỉ khối so với hiđro là 15,5. Tính giá trị của m. Đáp án: m = 0,92 gam.

    Câu 9. Đốt cháy hoàn toàn một ancol đơn chức X thu được 4,4 gam CO2 và 3,6 gam H2O. Nếu cho lượng X ở trên tách nước tạo ete (h=100%) thì số gam ete thu được là bao nhiêu?

    Câu 10. Cho 15,6 gam hỗn hợp X gồm 2 ancol (rượu) đơn chức, kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng tác dụng hết với 9,2 gam Na, thu được 24,5 gam chất rắn. Nếu cho 15,6 gam X tách nước tạo ete (h = 100%) thì số gam ete thu được là bao nhiêu?

    Câu 11 (A-2010). Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp 3 ancol đơn chức, thuộc cùng dãy đồng đẳng, thu được 3,808 lít khí CO2 (đktc) và 5,4 gam H2O. Tính giá trị của m. Đáp án: 4,72 gam. Câu 12 (CĐ-2010). Cho 10 ml dung dịch ancol etylic 460 phản ứng hết với kim lại Na (dư), thu được V lít khí H2 (đktc). Biết khối lượng riêng của ancol etylic nguyên chất bằng 0,8 g/ml. Tính giá trị của V. Đáp án: V = 0,896 lít.

    Câu 13 (A-2011). Hợp chất hữu cơ X chứa vòng benzen có công thức phân tử trùng với công thức đơn giản nhất. Trong X, tỉ lệ khối lượng các nguyên tố là mC : mH : mO = 21 : 2 : 8. Biết khi X phản ứng hoàn toàn v ới Na thì thu được số mol khí hiđro bằng số mol của X đã phản ứng. X có bao nhiêu đồng phân (chứa vòng benzen) thỏa mãn các tính chất trên? Đáp án: Công thức phân tử của X: C7H8O2: 9 đồng phân thỏa mản.

    Câu 14 (B-2011). Chia hỗn hợp gồm hai ancol đơn chức X và Y (phân tử khối của X nhỏ hơn của Y) là đồng đẳng kế tiếp thành hai phần bằng nhau:

    • Đốt cháy hoàn toàn phần 1 thu được 5,6 lít CO2 (đktc) và 6,3 gam H2
    • Đun nóng phần 2 với H2SO4 đặc ở 140oC tạo thành 1,25 gam hỗn hợp ba ete. Hoá hơi hoàn toàn hỗn hợp ba ete trên, thu được thể tích hơi bằng thể tích của 0,42 gam N2 (trong cùng điều kiện nhiệt độ, áp suất). Tính hiệu suất phản ứng tạo ete của X, Y. Đáp án: 40% và 20%.

    Câu 15 (A-2009). Khi đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp hai ancol no, đơn chức, mạch hở thu được V lít khí CO2 (ở đktc) và a gam H2O. Tìm biểu thức liên hệ giữa m, a và V?

    Đáp án: m = a – 5,6V

    Câu 16 (A-2009). Đun nóng hỗn hợp hai ancol đơn chức, mạch hở với H2SO4 đặc, thu được hỗn hợp gồm các ete. Lấy 7,2 gam một trong các ete đó đem đốt cháy hoàn toàn, thu được 8,96 lít khí CO2 (ở đktc) và 7,2 gam H2O. Xác định CTCT của hai ancol.

    Đáp án: CH3OH và CH2=CH-CH2-OH.

    Câu 17 (B-2009). Hỗn hợp X gồm hai ancol no, đơn chức, mạch hở, kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng. Oxi hoá hoàn toàn 0,2 mol hỗn hợp X có khối lượng m gam bằng CuO ở nhiệt độ thích hợp, thu được hỗn hợp sản phẩm hữu cơ Y. Cho Y tác dụng với một lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, thu được 54 gam Ag. Xác định giá trị của m. Đáp án: m = 8,5 gam.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 47

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Simpo PDF Merge and Split UnregisteredCHUYÊNVersionĐỀ VIII-http://www.simpopdf.com

    ANDEHIT – XETON – AXIT CACBOXYLIC

    1. PHẦN LÝ THUYẾT TRỌNG TÂM
    1. ANDEHIT
    1. Định nghĩa – Danh pháp
    1. Định nghĩa: Andehit là những hợp chất hữu cơ mà phân tử có nhóm -CH=O liên kết trực tiếp với nguyên tử C hoặc nguyên tử H.
    • Ví dụ: HCHO, CH3..
    1. Danh pháp:
    • Tên thay thế của các andehit no đơn chức mạch hở như sau:

    Tên hidrocacbon no tương ứng với mạch chính + al

    4         3                    2          1

    Ví dụ: C H 3 C H(CH 3 ) C H 2 C HO (3-metylbutanal)

    • Tên thường của một số anđehit: Andehit + tên axit tương ứng Ví dụ: HCHO (andehit fomic), CH3CHO (andehit axetic) . . .
    1. Tính chất hóa học
    • Vừa thể hiện tính oxi hóa, vừa thể hiện tính khử
    1. Tính oxi hóa: Phản ứng cộng H2 (tạo thành ancol bậc I):

    0

    RCHO  +       H2       ¾¾¾Ni,t® RCH2OH

    1. Tính khử: Tác dụng với các chất oxi hóa
    R-CHO + 2AgNO3  +  H2O +  3NH3 t0 R-COONH4 +  2Ag↓ +   2NH4NO3
    ¾¾®
    R-CHO  +   2Cu(OH)2   +  NaOH t0 RCOONa  + Cu2O↓ + 3H2O
    ¾¾®

    (đỏ gạch)

    Các phản ứng trên dùng để nhận biết andehit.

    1. Điều chế
    • Để điều chế andehit ta đi từ ancol bằng phản ứng oxi hóa không hoàn toàn.

    0

    CH3CH2OH + CuO ¾¾t® CH3CHO + Cu + H2O – Đi từ hidrocacbon.

    0

    2CH2=CH2 + O2 ¾¾¾xt,t® 2CH3CHO II. XETON

    1. Định nghĩa

    – Là những hợp chất hữu cơ mà phân tử có nhóm liên kết trực tiếp với hai nguyên tử C.

    -Ví dụ: CH3-CO-CH3 (đimetyl xeton), CH3-CO-C6H5 (metyl phenyl xeton) . . .

    1. Tính chất hóa học

    – Cộng H2 tạo thành ancol bậc II.

    0

    R-CO-R’    +    H2        ¾¾¾Ni,t® RCH(OH)R’

    0

    CH3-CO-CH3  +    H2     ¾¾¾Ni,t®               CH3CH(OH)CH3

    • Xeton không tham gia phản ứng tráng gương.
    1. Điều chế
    • Oxi hóa không hoàn toàn ancol bậc II.

    0

    CH3CH(OH)CH3       +   CuO         ¾¾t®    CH3-CO-CH3      +    Cu    +       H2O

    • Đi từ hidrocacbon.
    • AXIT CACBOXYLIC
    1. Định nghĩa – Danh pháp a. Định nghĩa

    – Là những phân tử hợp chất hữu cơ mà phân tử có nhóm -COOH liên kết trực tiếp với nguyên tử C hoặc nguyên tử H.

    – Ví dụ: HCOOH, CH3COOH, . . .

    1. Danh pháp

    – Tên thay thế của các axit cacboxylic no, đơn chức, mạch hở như sau:

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                           Page 48

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Axit + tên hidrocacbon no tương ứng với mạch chính + oic

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    5         4                    3         2         1

    – Ví dụ: C H 3 C H(CH 3 ) C H 2 C H 2 C OOH (Axit-4-metylpentanoic)

    1. Tính chất vật lý
    • Axit tan nhiều trong nước do tạo được liên kết H với nước và độ tan giảm dần khi số nguyên tử C tăng lên.
    • Nhiệt độ sôi cao hơn ancol tương ứng do liên kết H giữa các nguyên tử bền hơn liên kết H giữa các phân tử ancol.
    1. Tính chất hóa học
    2. Tính axit: Có đầy đủ tính chất của một axit.

    CH3COOH   +   NaOH→   CH3COONa   +   H2O

    2CH3COOH + ZnO (CH3COO)2Zn  + H2O
    2CH3COOH + CaCO3 (CH3COO)2Ca   + CO2 +   H2O
    2CH3COOH + Zn (CH3COO)2Zn  + H2
    b. Phản ứng thế nhóm -OH (phản ứng este hóa):
    H+ , t0
    RCOOH   + R’OH ¾¾¾® RCOOR’   + H2O
    ¬¾¾¾
    H+ , t 0
    CH3COOH + C2H5OH ¾¾¾® CH3COOC2H5 + H2O
    ¬¾¾¾

    etyl axetat

    • Điều chế axit axetic Lên men giấm
    C2H5OH   + O2 ¾¾¾¾® CH3COOH+H2O
    men giÊm
    b. Oxi hóa andehit axetic ¾¾® 2CH3COOH
    2CH3CHO +   O2
    xt
    1. Oxi hóa ankan
    2. Từ metanol

    0

    CH3OH   +    CO        ¾¾¾t,xt®         CH3COOH

    Đây là phương pháp hiện đại sản xuất axit axetic.

    1. PHẦN HƯỚNG DẪN GIẢI
    • Công thức tổng quát của andehit (xeton)
    • Công thức PT tổng quát
    • Andehit (xeton) no đơn chức mạch hở: CnH2nO
    • Andehit (xeton) không no có 1 liên kết C=C, đơn chức: CnH2n-2O
    • CTCT tổng quát
    • Andehit đơn chức: RCHO
    • Xeton đơn chức: RCOR’
    • Các PTHH liên quan đến việc giải bài tập phần này
    • PTHH đốt cháy andehit (xeton) no, đơn chức, mạch hở
    C H O  + 3n -1 O ® nCO + nH O
    2n 2 2
    n 2 2
    • Ở đây ta thấy rằng: nH2 O = nCO2 vì trong phân tử andehit (xeton) có 1 liên kết π C=O.
    • Do vậy, việc lập CTPT của andehit tương tự như việc lập CTPT của hidrocacbon.
    • PTHH andehit (xeton) tác dụng với hidro
    • Trong hầu hết các đề đại học các năm gần đây chủ yếu đề ra về andehit. Do vậy, ta chỉ xét andehit. Tuy nhiên, nếu đề ra có xeton thì cách giải hoàn toàn tương tự.
    RCHO +  H2 ¾¾¾®  RCH2OH
    Ni, t 0
    X Y

    Ta luôn có các công thức sau chúng ta cần nắm để giải bài tập:

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 49

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Simpo2 PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com
    nH  ( h¶n øng)  = nX – nY
    – m + m = m® m H 2 = m- m
    andehit H 2 ancol ancol andehit
    • PTHH andehit gia phản ứng tráng gương

    RCHO®   2Ag↓

    R(CHO)2®   4Ag↓

    Riêng:                 HCHO                 ®          4Ag↓

    Do vậy nếu cho hỗn hợp hai andehit đơn chức tham gia phản ứng tráng gương mà tỉ lệ nandehit : nAg ¹1:2 thì ta suy ra một trong hai andehit là HCHO.

    • Bài tập axit cacboxylic
    • Công thức tổng quát
    • Công thức phân tử tổng quát
    • Axit no đơn chức mạch hở: CnH2nO2 (n≥2)
    • Axit không no có 1 C=C: CnH2n-2O2 (n≥3)
    • Công thức cấu tạo tổng quát
    • Axit đơn chức: RCOOH.
    • Axit hai chức: R(COOH)2
    • Các dạng bài tập liên quan
    • Axit tác dụng với bazơ
    • Ở đây ta chỉ xét axit đơn chức tác dụng với dung dịch NaOH (hoặc KOH…). Nếu đề ra với axit hai chức… ta làm tương tự.
    • Ở dạng này chủ yếu vận dụng phương pháp tăng giảm khối lượng để làm bài tập.

    RCOOH

    + NaOH

    RCOONa

    +

    H2O

    x mol

    x

    Như vậy khối lượng tăng lên là 22x (gam). Trường hợp với KOH thì tương tự.

    • Lập công thức phân tử
    • Để lập công thức phân tử của axit cacboxylic thì ta vận dụng các cách lập công thức phân tử mà ta đã học ở các chương trước để trình bày.

    Ví dụ 1 (CĐ-08): Cho hỗn hợp gồm 0,1 mol HCHO và 0,1 mol HCOOH tác dụng với lượng dư Ag2O (hoặc AgNO3) trong dung dịch NH3, đun nóng. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, khối lượng Ag tạo thành là bao nhiêu?

    Giải

    HCHO ® 4Ag
    0.1 ® 0.4
    HCOOH 2Ag
    0.1 0.2
    • mAg = 0.6*108 = 64.8 (gam)

    Ví dụ 2: Trung hòa hoàn toàn 10,6 gam hỗn hợp X gồm axit axetic và axit fomic cần 200 ml dung dịch NaOH 1M. Tính khối lượng mỗi axit trong hỗn hợp ban đầu.

    Giải

    nNaOH = 0.2*1 = 0.2 (mol)

    Đặt nHCOOH  = x; nCH COOH = y
    3
    HCOOH + NaOH ® HCOONa + H2O
    x x ®
    CH3COOH + NaOH CH3COONa + H2O
    y y
    ì x + y = 0.2 ì x = 0.1 ìm HCOOH = 46*0.1 = 4.6 (gam)
    ï
    Ta có hệ PT: í ® í ® í CH 3COOH  = 60*0.1 = 6 (gam)
    î 46x + 60y = 10.6 î y = 0.1 ïm
    î
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 50

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Ví dụ 3 (A-08): Trung hoà 5,48 gam hỗn hợp gồm axit axetic, phenol và axit benzoic, cần dùng Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    600 ml dung dịch NaOH 0,1M. Cô cạn dung dịch sau phản ứng, thu được m gam hỗn hợp chất rắn khan. Tính giá trị m.

    Giải

    Do bài này chỉ yêu cầu tính khối lượng muối thu được và 3 chất trên đều tác dụng với dung dịch NaOH, vì vậy ta có thể đặt 3 chất trên có công thức ROH.

    nNaOH = 0.6*0.1 = 0.06 (mol)

    ROH  +   NaOH   → RONa

    0.06                                           0.06

    +   H2O

    Vận dụng phương pháp tăng giảm khối lượng ta có:

    m = 5,48 + 0,06.22=6,8 (gam)

    1. PHẦN BÀI TẬP TỰ GIẢI
    1. PHẦN BÀI TẬP CƠ BẢN

    Câu 1. Viết CTCT của các andehit có CTPT là C4H8O và gọi tên chúng theo tên thay thế.

    Câu 2. Gọi tên các andehit sau theo danh pháp thường:

    HCHO, CH3CHO, CH3CH2CHO, CH2=CHCHO.

    Câu 3. Gọi tên các andehit sau theo danh pháp thay thế:

    HCHO, CH3CHO, CH3CH2CHO, CH3CH(CH3)-CH2-CHO, CH3-CH(CH3)-CH(CH3)-CHO.

    Câu 4. Viết CTCT các andehit có tên gọi sau:

    1. Andehit acrylic, andehit propionic, andehit axetic, 2-metylbutanal.
    2. 2,2-đimetylbutanal, andehit fomic, 3,4-đimetylpentanal, andehit oxalic.

    Câu 5. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:

    a. CH3CHO + AgNO3 + NH3 ®
    b. RCHO + AgNO3 + NH3 ®
    c. CH3CHO + H2 Ni, t0
    ¾¾¾®
    d. RCHO + H2 ¾¾¾®
    Ni, t0
    e. CH≡CH + H2O ¾¾¾®
    Hg2+
    f. CH2=CH2 + O2 ¾¾®
    xt

    Câu 5. Viết PTHH điều chế các chất sau từ các chất hữu cơ tương ứng:

    Ancol etylic, ancol iso-propylic, ancol n-propylic, andehit axetic, andehit fomic.

    Câu 6. Viết CTCT, gọi tên các axit (theo danh pháp thay thế) có CTPT C4H8O2.

    Câu 7. Gọi tên các axit sau theo danh pháp thường:

    HCOOH, CH3COOH, CH3CH2COOH, CH2=CHCOOH, CH2=C(CH3) COOH, HOOC-COOH.

    Câu 8. Viết CTCT các andehit có tên gọi sau:

    1. Axit acrylic, axit propionic, axit axetic, axit -2-metylbutanoic.
    2. Axit – 2,2-đimetylbutanoic, axit fomic, axit – 3,4-đimetylpentanoic, axit oxalic.

    Câu 9. Hoàn thành các PTHH của các phản ứng sau:

    a. CH3COOH + Na ®
    b. HCOOH + KOH ®
    ¾¾¾¾¾®
    c. CH3COOH + C2H5OH H SO (®Æc), t0C
    ¬¾¾¾¾¾
    3 4
    ¾¾¾¾¾®
    d. RCOOH + R OH H SO (®Æc), t0C
    ¬¾¾¾¾¾
    3 4
    e. C2H5OH + O2 ¾¾¾¾®
    men giÊm
    Câu 10. Viết PTHH điều chế các chất sau từ các chất hữu cơ tương ứng:
    Etyl axetat, axit axetic, axit fomic.
    Câu 11. Hoàn thành chuổi phản ứng sau:
    (1) (2) metanol (3) (4)
    a. Metan   ¾¾® metyl clorua  ¾¾® ¾¾® metanal ¾¾® axit fomic.
    (1) (2) (3)
    b. Etanol ¾¾® andehit axetic ¾¾® axit axetic ¾¾® etyl axetat.
    (1) (2)
    c. Propen ¾¾® propan-2-ol ¾¾® axeton.
    (1) (2) (3)
    d. Etilen ¾¾® andehit axetic ¾¾® axit axetic ¾¾® etyl axetat.
    Câu 12. Nhận biết các chất sau bằng phương pháp hóa học:
    a. Andehit axetic, axit axetic, glixerol và etanol.
    GV: Nguyễn Phú Hoạt Page 51

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    1. Axit fomic, andehit axetic, axit axetic, ancol etylic

    Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com c. Propan-1-ol, propan -1,2-điol, andehit axetic, axit axetic.

    Câu 13. Từ metan và các hóa chất vô cơ cần thiết khác có thể điều chế được axit fomic và axit axetic. Viết PTHH của các phản ứng xãy ra.

    Câu 14. Trung hòa 16,6 gam hỗn hợp axit axetic và axit fomic bằng dung dịch natri hiđroxit thu được 23,2 gam hỗn hợp hai muối. Xác định thành phần % khối lượng mỗi axit trong hỗn hợp đầu.

    Câu 15 (CĐA-09). Cho 0,1 mol hỗn hợp X gồm hai anđehit no, đơn chức, mạch hở, kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng tác dụng với lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, đun nóng thu được 32,4 gam Ag. Xác định CTPT của anđehit trong X.

    Câu 16. Cho 0,94 g hỗn hợp hai anđehit đơn chức, no, kế tiếp nhau trong dãy đồng đẵng tác dụng với dung dịch AgNO3 trong NH3 thu được 3,24 gam Ag.

    1. Xác định CTPT của hai anđehit.
    1. Tính % theo khối lượng mỗi andehit trong hỗn hợp đầu.

    Câu 17. Đốt cháy hoàn toàn 4,4 gam một andehit X thu được 4,48 lít khí CO2 (đktc) và 3,6 gam nước. Xác định CTPT của X.

    Câu 18. Cho hỗn hợp X gồm 2 anđehit đồng đẳng kế tiếp tác dụng hết với H2 (Ni, t0), thu được hỗn hợp Y. Đốt cháy hoàn toàn Y thu được 6,6 gam CO2 và 4,5 gam H2O.

    • Xác định công thức phân tử của 2 anđehit trong X.
    • Tính khối lượng của mỗi andehit trong hỗn hợp X.

    Câu 19. Trung hòa hoàn toàn 10,6 gam hỗn hợp X gồm axit axetic và axit fomic cần 200 ml dung dịch NaOH 1M.

    • Tính khối lượng mỗi axit trong hỗn hợp ban đầu.
    • Tính khối lượng muối thu được.

    Câu 20. Để trung hoà 8,8 gam một axit cacboxylic mạch không nhánh thuộc dãy đồng đẳng của axit fomic cần 100ml dung dịch NaOH 1M. Xác định công thức cấu tạo và tên gọi của axit đó. Câu 21. Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol hỗn hợp 2 axit cacboxylic là đồng đẳng kế tiếp thu được 3,36 lít CO2 (đktc) và 2,7 gam H2O.

    • Xác định công thức phân tử của mỗi axit.
    • Tính % theo khối lượng mỗi axit trong hỗn hợp đầu.

    Câu 22 (CĐA-08). Đun nóng 6,0 gam CH3COOH với 6,0 gam C2H5OH (có H2SO4 làm xúc tác, hiệu suất phản ứng este hoá bằng 50%). Tính khối lượng este tạo thành.

    Câu 23. Hỗn hợp A gồm X, Y là 2 axit no, đơn chức, mạch hở, kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng. Cho 10,6 gam hỗn hợp A tác dụng hết với Na thu được 2,24 lít khí H2 (đktc).

    • Xác định công thức phân tử của X và Y.
    • Tính khối lượng mỗi axit trong hỗn hợp A.

    Câu 24. Đốt cháy hoàn toàn 6 gam một axit X thu được 4,48 lít khí CO2 (đktc) và 3,6 gam H2O.

    Xác định công thức phân tử của X.

    Câu 25. Đốt cháy hoàn toàn 0,88 gam 2 axit là đồng phân của nhau thu được 1,76 gam CO2 và 0,72 gam H2O.

    • Xác định công thức phân tử của 2 axit.
    • Viết CTCT của 2 axit đó.

    Câu 26. Đốt cháy hoàn toàn 8,8 gam một axit no, đơn chức X cần 11,2 lít khí O2 (đktc). Xác định công thức phân tử của axit.

    Câu 27. Cho 90 gam axit axetic tác dụng với 69 gam rượu etylic (H2SO4 xúc tác). Khi phản ứng đạt tới cân bằng thì 66% lượng axit đã chuyển thành ete, khối lượng este sinh ra là bao nhiêu gam?

    Câu 28. Trung hòa hoàn toàn 3 gam một axit cacboxilic no đơn chức X cần dùng vừa đủ 100ml dung dịch NaOH 0,5M. Tên gọi của X là gì?

    Câu 29. Cho 1,74gam một anđehit no, đơn chức phản ứng hoàn toàn với AgNO3/NH3 sinh ra 6,48 gam bạc kim loại. Xác định công thức cấu tạo của anđehit.

    Câu 30. Cho 0,92 gam hỗn hợp gồm axetilen và anđehit axetic phản ứng hoàn toàn với dung dịch AgNO3 trong NH3 thu được 5,64gam hỗn hợp rắn. Xác định thành phần % các chất trong hỗn hợp đầu.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 52

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 31. Cho 10,9 g hỗn hợp gồm axit acrylic và axit propionic phản ứng hoàn toàn với Na thoát Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    ra 1,68 lít khí (đktc). Nếu cho hỗn hợp trên tham gia phản ứng cộng H2 hoàn toàn thì khối lượng sản phẩm cuối cùng là bao nhiêu?

    Câu 32. Hỗn hợp X có khối lượng 10g gồm axit axetic và anđehit axetic. Cho X tác dụng với lượng dư dd AgNO3 trong amoniac thấy có 21,6g Ag kết tủa. Để trung hòa X cần Vml dd NaOH 0,2M. Giá trị của V bằng bao nhiêu?

    • PHẦN BÀI TẬP NÂNG CAO

    Câu 1 (CĐ-08). Cho hỗn hợp gồm 0,1 mol HCHO và 0,1 mol HCOOH tác dụng với lượng dư Ag2O (hoặc AgNO3) trong dung dịch NH3, đun nóng. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, khối lượng Ag tạo thành là bao nhiêu? Đáp án: 64.8 gam.

    Câu 2 (A-08). Cho 3,6 gam anđehit đơn chức X phản ứng hoàn toàn với một lượng dư Ag2O (hoặc AgNO3) trong dung dịch NH3 đun nóng, thu được m gam Ag. Hoà tan hoàn toàn m gam Ag bằng dung dịch HNO3 đặc, sinh ra 2,24 lít NO2 (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Xác định công thức của X. Đáp án: C3H7CHO.

    Câu 3 (B-07). Khi oxi hoá 2,2 gam một anđehit đơn chức thu được 3 gam axit tương ứng. Xác định công thức của anđehit. Đáp án: CH3CHO.

    Câu 4 (B-08). Cho 3,6 gam axit cacboxylic no, đơn chức X tác dụng hoàn toàn với 500 ml dung dịch gồm KOH 0,12M và NaOH 0,12M. Cô cạn dung dịch thu được 8,28 gam hỗn hợp chất rắn khan. Xác định công thức phân tử của X. Đáp án: CH3COOH.

    Câu 5 (CĐ-2010). Cho 45 gam axit axetic phản ứng với 69 gam ancol etylic (xúc tác H2SO4 đặc), đun nóng, thu được 41,25 gam etyl axetat. Tính hiệu suất của phản ứng este hoá.

    Đáp án: 62,5%.

    Câu 6 (CĐ-08). Đun nóng 6,0 gam CH3COOH với 6,0 gam C2H5OH (có H2SO4 làm xúc tác, hiệu suất phản ứng este hoá bằng 50%). Tính khối lượng este tạo thành. Đáp án: 4,4 gam.

    Câu 7 (A-2010). Cho m gam hỗn hợp etanal và propanal phản ứng hoàn toàn với lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, thu được 43,2 gam kết tủa và dung dịch chứa 17,5 gam muối amoni của hai axit hữu cơ. Tính giá trị của m. Đáp án: m = 10,9 gam.

    Câu 8 (CĐ-09). Hiđro hoá hoàn toàn hỗn hợp M gồm hai anđehit X và Y no, đơn chức, mạch hở, kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng (MX < MY), thu được hỗn hợp hai ancol có khối lượng lớn hơn khối lượng M là 1 gam. Đốt cháy hoàn toàn M thu được 30,8 gam CO2. Xác định công thức và phần trăm khối lượng của X trong hỗn hợp M. Đáp án: CH3CHO và 67,16%.

    Câu 9 (A-08). Trung hoà 5,48 gam hỗn hợp gồm axit axetic, phenol và axit benzoic, cần dùng 600 ml dung dịch NaOH 0,1M. Cô cạn dung dịch sau phản ứng, thu được m gam hỗn hợp chất rắn khan. Tính giá trị m. Đáp án: 6,8 gam.

    Câu 10 (B-07). Để trung hoà 6,72 gam một axit cacboxylic Y (no, đơn chức), cần dùng 200 gam dung dịch NaOH 2,24%. Xác định công thức của Y. Đáp án: CH3COOH.

    Câu 11 (B-07). Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol một axit cacboxylic đơn chức, cần vừa đủ V lít O2 (đktc), thu được 0,3 mol CO2 và 0,2 mol H2O. Tính giá trị của V. Đáp án: V = 6,72 lít.

    Câu 12 (A-2011). Hỗn hợp X gồm axit axetic, axit fomic và axit oxalic. Khi cho m gam X tác dụng với NaHCO3 (dư) thì thu được 15,68 lít khí CO2 (đktc). M ặt khác, đốt cháy hoàn toàn m gam X cần 8,96 lít khí O2 (đktc), thu được 35,2 gam CO2 và y mol H2O. Tính giá trị của y.

    Đáp án: y = 0,6 mol.

    Câu 13 (A-2011). Trung hoà 3,88 gam hỗn hợp X gồm hai axit cacboxylic no, đơn chức, mạch hở bằng dung dịch NaOH, cô cạn toàn bộ dung dịch sau phản ứng thu được 5,2 gam muối khan. Nếu đốt cháy hoàn toàn 3,88 gam X thì thể tích oxi (đktc) cần dùng là bao nhiêu?

    Đáp án: 2,24 lít.

    Câu 14 (A-2011). Đốt cháy hoàn toàn x gam hỗn hợp gồm hai axit cacboxylic hai chức, mạch hở và đều có một liên kết đôi C=C trong phân tử, thu được V lít khí CO2 (đktc) và y mol H2O. Viết

    biểu thức liên hệ giữa các giá trị x, y và V?  Đáp án: V = 5528 (x + 30y)

    Câu 15 (B-2011). Để hiđro hoá hoàn toàn 0,025 mol hỗn hợp X gồm hai anđehit có khối lượng 1,64 gam, cần 1,12 lít H2 (đktc). Mặt khác, khi cho cũng lượng X trên phản ứng với một lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3 thì thu được 8,64 gam Ag. Xác định công thức cấu tạo của hai anđehit trong X. Đáp án: CH2=CH-CHO và OHC-CH2-CHO.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 53

    Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

    Câu 16 (B-2011). Hỗn hợp X gồm hai anđehit đơn chức Y và Z (biết phân tử khối của Y nhỏ Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com

    hơn của Z). Cho 1,89 gam X tác dụng với một lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, sau khi các phản ứng kết thúc, thu được 18,36 gam Ag và dung dịch E. Cho toàn bộ E tác dụng với dung dịch HCl (dư), thu được 0,784 lít CO2 (đktc). Xác định tên của Z.

    Đáp án: Andehit acrylic (CH2=CH-CHO).

    Câu 17 (B-2011). X là hỗn hợp gồm H2 và hơi của hai anđehit (no, đơn chức, mạch hở, phân tử đều có số nguyên tử C nhỏ hơn 4), có tỉ khối so với heli là 4,7. Đun nóng 2 mol X (xúc tác Ni), được hỗn hợp Y có tỉ khối hơi so với heli là 9,4. Thu lấy toàn bộ các ancol trong Y rồi cho tác dụng với Na (dư), được V lít H2 (đktc). Xác định giá trị lớn nhất của V. Đáp án: V = 11,2 lít.

    Câu 18 (B-2009). Hỗn hợp X gồm axit Y đơn chức và axit Z hai chức (Y, Z có cùng số nguyên tử cacbon). Chia X thành hai phần bằng nhau. Cho phần một tác dụng hết với Na, sinh ra 4,48 lít khí H2 (ở đktc). Đốt cháy hoàn toàn phần hai, sinh ra 26,4 gam CO2. Xác định công thức cấu tạo thu gọn và phần trăm về khối lượng của Z trong hỗn hợp X? Đáp án: HOOC-COOH và 42,86%.

    GV: Nguyễn Phú Hoạt                                                                                                                                            Page 54

  • Văn mẫu Ý nghĩa của nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu

    Văn mẫu Ý nghĩa của nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu

    Văn mẫu Ý nghĩa của nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Những câu trả lời phỏng vấn mẫu


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Ý nghĩa của nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu

    Ý nghĩa của nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu

    BÀI LÀM

    “Chiếc thuyền ngoài xa” là nhan đề một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, trước in trong tập Bến quê (1985), sau được dùng đặt tên cho cả tập truyện ngắn gồm 15 truyện do nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987. Thiên truyện được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học lớp 12 phổ thông, cả ban khoa học xã hội – nhân văn lẫn ban cơ bản. Đặt vấn đề tìm hiểu ý nghĩa nhan đề một truyện ngắn hoàn toàn không phải là một cái gì mới mẻ bởi lẽ sự hoàn chỉnh về nội dung được thể hiện ngay trong ý nghĩa mà đầu đề văn bản chỉ ra, đặc biệt là với các văn bản nghệ thuật vốn thường mang những nhan đề hàm ẩn. Vậy nhan đề ấy – Chiếc thuyền ngoài xa- có ý nghĩa như thế nào?

    Những nhan đề loại này đòi hỏi người tiếp nhận phải suy nghĩ, liên tưởng mới có thể hiểu được ý nghĩa của chúng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người cho rằng nhan đề là nội dung cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản.

    Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu có vinh dự là người “ thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất” ( Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học sau 1975. Trong nhà trường, hai tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã được đưa bộ sách cải cách trước đây ( Bức tranh ở cấp trung học cơ sở và Mảnh trăng cuối rừng ở cấp trung học phổ thông) và lần thay sách này, giáo viên và học sinh lại được tiếp cận hai tác phẩm khác- Bến quê ở cấp trung học cơ sở và Chiếc thuyền ngoài xa ở trung học phổ thông.

    Hầu như các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông đều mang những nhan đề vừa cụ thể lại vừa có ý nghĩa biểu tượng. Nếu như Mảnh trăng cuối rừng vừa là một hình ảnh thực được miêu tả trong truyện và trở đi trở lại nhiều lần, thành hình ảnh nổi bật và bao trùm toàn bộ khung cảnh của câu chuyện, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho nữ nhân vật chính- Nguyệt thì “ Chiếc thuyền ngoài xa” cũng có phần giống như thế

    1- Chiếc thuyền ngoài xa là chiếc thuyền thực hay chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật?

    Truyện gồm 5 phần. Phần đầu nói về chiếc thuyền thực tại một vùng đầm phá ven biển miền Trung và phần cuối hoàn toàn nói về chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật, một trong 12 cảnh tĩnh vật thể hiện chủ đề thuyền và biển cho một cuốn lịch năm mới.

    Phần vào chuyện kể trọn vẹn sự cần thiết phải có bức ảnh. Nguyên là người trưởng phòng của nhân vật “ tôi” ( tên là Phùng – nhân vật người kể chuyện) “là người

    sâu sắc , lại cũng lắm sáng kiến”, anh ta đã đề xuất yêu cầu “ Phải có một bộ sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật”. Suốt năm tháng ròng làm việc khá thông đồng bén giọt, tổ nhiếp ảnh nghệ thuật đã mang về không biết cơ man nào là ảnh nhưng cũng chỉ có 11 bức được lọt vào cặp mắt xanh của viên trưởng phòng “ sâu sắc nước đời”. Một bức ảnh thiếu hụt oái oăm kia được trưởng phòng tin cẩn giao cho “ tôi” phải săn tìm cho được. Mà là tấm ảnh chụp có “ sương biển” giữa mùa tháng bảy – dường như thường “ chỉ có bão táp với biển động”. Thật là một vụ gieo trồng trái thời vụ vì “tôi” quá biết “ Muốn lấy sương thì phải nghĩ đến từ tháng ba cơ!”.

    Nhưng rồi “ khi nên trời cũng chiều người”, “ tôi” đã trở lại vùng biển chiến trường xưa, cách Hà Nội sáu trăm cây số” và vác máy nằm “phục kích” ở chính cái nơi mà “ dường như trong suốt dải bờ biển khắp cả nước, chỉ ở đây vào giữa tháng bảy là còn sương mù”. Đây cũng còn là quê của một đồng đội cũ của “ tôi”, giờ đang là Chánh án toàn án huyện. Thật là gồm đủ thiên thời , địa lợi , nhân hoà”. Và “ tôi” đã bỏ qua nhiều cảnh có ‘ không khí vui nhộn hơi thô lỗ và thật hùng tráng” để chớp lấy cái khoảnh khắc “ đắt” trời cho”. Đó là cảnh “ trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn và trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ…”. Nhà nghệ sĩ dạt dào một cảm hứng nghệ thuật, trải qua một khoảnh khắc yên-sĩ –phi –lí thuần tuyệt diệu: “ toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và tòan bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? (…) . Trong giây phút

    bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.”. Và tuyệt tác đã ra đời trong sự hưng phấn nghệ thuật – “ cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”. Rất cần chú ý thành phần phụ chú “ do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” trong lời kể chuyện. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền giữa biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mĩ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời

    Như thế , xét riêng về công vụ, nhiệm vụ của “tôi” lúc này đã hoàn thành. “Tôi” đã có cảnh thuyền và biển trong sương đúng như đặt hàng của trưởng phòng, mặc dù giữa mùa tháng bảy! Và ‘ tôi” đã có thể ung dung “ nhảy lên tàu hoả trở về”. Nếu khéo liên hệ một tí, ta dễ thấy nếu như “ tôi” về ngay lúc đó khác nào cô Nguyệt ( trong Mảnh trăng cuối rừng) xuống xe ở cầu Đá Xanh.

    Phần đầu truyện như thế đủ cho người đọc biết xuất xứ của bức ảnh nghệ thuật đặc sắc trên cuốn lịch năm mới kia ra đời thế nào. Và nếu nghĩ sâu xa hơn thì cũng cần bấy nhiêu ấy cũng đủ cho bộ môn lí luận nghệ thuật khái quát về công phu lao động của nghệ sĩ.

    Phần kết truyện cho biết người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh và bức ảnh không chỉ có tuổi thọ ngang với một cuốn lịch năm mà “mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”. Mở và kết truyện như vậy cho thấy, chiếc thuyền trong “ chiếc thuyền ngoài xa” là chiếc

    thuyền vừa có thực trong đời , vừa là chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật và nó cũng chính là một chi tiết nghệ thuật đắt, không dễ trong đời cầm máy “ tôi” đã có được may mắn thứ hai.

    2- Tại sao lại là “chiếc thuyền ngoài xa” ?

    Theo dòng kể của ‘ tôi” rõ ràng chiếc thuyền được chụp trong một cự li tương đối gần – “ một chiếc thuyền lưới vó…đang chèo thẳng vào trước mặt tôi”- nhà nghệ sĩ nhìn rõ cả “những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó”. Người thưởng thức bức ảnh thông thường chắc không ai không cảm nhận chiếc thuyền đang được chụp trong một cự li gần như thế . Thế nhưng vì sao tác giả lại đặt nhan đề truyện là “ chiếc thuyền ngoài xa”?

    Trở lại luận điểm ban đầu về đầu đề văn bản : Nhan đề là nội dung cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản. Nếu như nhan đề chỉ đơn thuần phản ánh các đối tượng thì hẳn chiếc thuyền trong ảnh không phải là ngoài xa ! Phải chăng nhan đề đó phản ánh cách nhìn của tác giả đối với đối tượng.

    Thật vậy, theo yêu cầu của trưởng phòng , bức ảnh phải săn tìm lần này “Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật” nhưng bức ảnh chụp được lại có ‘ vài

    bóng người lớn lẫn trẻ con”. Như không sao, dù có người thì người cũng chỉ “ ngồi im phăng phắc như tượng”!

    Điều đáng nói là bức ảnh như thế đã ghi nhận được cái gì? Quả là một bức ảnh đẹp được chụp từ một cự li khá gần nhưng cái cách tiếp cận “ thực tế”, tiếp cận “ nguyên mẫu” như thế là cách tiếp cận từ xa vì nhà nghệ sĩ chỉ thu được cái hình hài bên ngoài , cái thơ mộng bên ngoài của cảnh và người. Bởi vì ngay sau khi nhà nghệ sĩ “ săn tìm” được cái đẹp trong cuộc đời để sáng tạo ra cái đẹp nghệ thuật kia, thì anh ta đã phải chứng kiến một cảnh đời cay cực, ngang trái mà không một người bình thường nào có thể ngoảnh mặt làm ngơ , nói chi đến nghệ sĩ vốn được coi là những con người đa cảm, đa mang!

    Là nghệ sĩ và đã từng là một người lính , chứng kiến cảnh thằng con – Phác- vì thương mẹ mà đánh lại cha, khi thì bằng chính chiếc thắt lưng của lính nguỵ mà người cha của nó dùng để đánh mẹ nó , khi thì định dùng cả “ám khí” là một con dao găm lận ‘ trong cạp quần đùi”, “ tôi” đã không khoanh tay ngồi nhìn vì “ bất luận trong hoàn cảnh nào, tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo chio hắn đánh” . Và hậu quả là ‘ tôi” đã bị thương vì người chồng kia chống trả quyết liệt để tự vệ. Vậy cái cảnh thơ mộng đẹp đẽ mà “ tôi” thu được vào ống kính Pratica và cái cái cảnh đời ngang trái mà trong tư cách cựu chiến binh “ tôi” đã chứng kiến và tham dự cái nào cận nhân tình hơn? Do đó ảnh chụp chiếc thuyền thơ mộng kia chẳng phải là kết quả của lối tiếp cận hiện thực từ xa ư? Chiếc thuyền ngoài xa được chụp trong cự li gần là với ý nghĩa như vậy đó!

    Chưa hết, do dưỡng thương và nể bạn nên “ tôi” nán lại thêm mấy hôm và chính lần này “ tôi” mới vỡ ra mọi lẽ. Chứng kiến buổi làm việc giữa Đẩu – người đồng đội cũ của “ tôi” , giờ là Chánh án toàn án huyện- và người phụ nữ khốn khổ kia

    • ‘ tôi mới vỡ ra nhiều lẽ . Thì ra nếu chiếc thuyền chụp được là “ từ xa” thì cái cảnh “ tôi” chứng kiến cũng chỉ là bề nổi của cuộc đời gia đình nhà chài nọ. Vì sao người phụ nữ phải cam chịu một bề, không chống trả những trận “đòn chồng” và cũng không chịu li dị, hiểu theo nghĩa nào đó là không chịu “ giải phóng” mình. Cái lí do chị đưa ra đã đưa hai người cựu chiến binh tốt bụng – một là một nghệ sĩ, một được mệnh danh là một Bao công- đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác:

    -“ Chị cảm ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu cái việc của các người làm ăn lam lũ , khó nhọc…”

    • “ Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão ách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu. giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”
    • “ Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông …Cũng có khi biển động sóng gió chứ?”.
    • ‘ Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó- vả lại, ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ”.

    Cái vòng luẩn quẩn của những kiếp người cần lao quả thật đầy bất ngờ đối với “ tôi”, vốn đã trải qua mấy năm chiến đấu tại mảnh đất này, đã giải phóng mảnh đất

    này và hiện đang là nhà báo từng dong ruổi nhiều nơi! Và “ tôi” cũng nhận ra rằng vì sao ông lão ( cha người phụ nữ) làm nghề sơn tràng “ ở tận trên miền rừng A So” và thằng cháú ngoại lại hay xuất hiện ở miệt biển này và tại sao trong buổi sáng chia tay

    “ tôi” ông lão luôn “đặt hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền”. Vậy , với tất cả những điều ấy, “chiếc thuyền nghệ thuật” của “tôi” nói được cái gì cận nhân tình chưa hay cũng chỉ là “ chiếc thuyền ngoài xa”? Nhan đề ấy phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng.

    Tóm lại, qua thiên truyện và cách đặt tên nhan đề, ta thấy nhân vật “ tôi” vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn với những gì ống kính của mình đã thu được. Đằng sau bức ảnh chiếc thuyền thơ mộng ấy còn là những cuộc đời , những con người lầm lụi, khốn khổ đến quẫn trí và giải toả cái quẫn trí ấy bằng những giải pháp hết sức kì quặc. Bức ảnh “thuyền và biển” kia đã nói được gì đâu. Và đó là cách để nhà văn Nguyễn Minh Châu bộc lộ thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực ở bề sâu ẩn kín chứa đầy những nghịch lí , mâu thuẫn của đời sống hậu chiến tranh và đó cũng là đặc điểm nổi bật mới mẻ của phong cách Nguyễn Minh Châu, người tiên phong tinh tường và tài ba trên hành trình đổi mới văn học nước nhà. Có thể hiểu “ Con thuyền ngoài xa” là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống. Chính khát vọng muốn tìm đến cái đẹp, cái hài hoà, muốn làm cho con người hạnh phúc nhiều khi đã đưa người ta đến chỗ giản đơn hoá không nhận ra cái thực tế khắc nghiệt thì suy cho cùng cũng chỉ là một kiểu “ lướt nhẹ trên bề mặt cuộc sống” chứ đâu đã là thứ nghệ thuật “ là tiếng đau khổ…thoát ra từ những kiếp lầm than” ( Nam Cao- Trăng sáng).

    Từ đó, có thể phát hiện ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa:

    Khi con thuyền là đối tượng của nghệ thuật thì có thể được chiếm lĩnh từ xa, một

    khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, nhưng sự thực cuộc đời cần phải được

    chiếm lĩnh ở cự li gần. Đừng vì nghệ thuật thuần tuý mà bỏ quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ

    thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước khi là một nghệ sĩ biết rung

    động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu ghét , vui buồn trước cuộc đời, biết

    hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người . Với ý nghĩa ấy, phần nào

    gợi ra những liên tưởng tương đồng với truyện “ Trăng sáng” của nhà văn Nam Cao./.