Author: LionLee

  • [Văn Nghị luận Mẫu] “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”

    [Văn Nghị luận Mẫu] “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    DÀN Ý:

    Mở bài: Giới thiệu triết lí sống “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” hay cụ thể chính là tấm lòng yêu thương giữa con người với con người.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Là những điều được rút tỉa, chắt lọc bởi những trải nghiệm trong cuộc sống, làm nền tảng cho tinh thần con người. Triết lí sống liên quan mật thiết đến những định hướng sống của con người như lí tưởng sống, niềm vui, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc, thiện – ác.

    – “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” đó là tiêu chuẩn đánh giá tư cách làm người.

    – Tình thương: là tấm lòng yêu thương chân thành và trong sáng, là tình cảm chỉ trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, không toan tính. Có thể nói, tình thương là một thứ tình cảm đẹp đẽ luôn tồn tại trong bản chất của mỗi con người.

    1. b) Bàn luận:

    – Trao đi yêu thương một cách tự nhiên, chúng ta sẽ nhận lại hạnh phúc xứng đáng. Bởi: khổ đau được san sẻ sẽ vơi đi còn hạnh phúc được sẻ chia sẽ nhân đôi.

    – Tình yêu thương cũng không nằm ngoài định luật bảo toàn năng lượng của ngành vật lí: nó ví như một dạng năng lượng bất biến, tình yêu thương chỉ  truyền từ nơi này sang nơi khác, chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi. Những người trao tặng và đón nhận tình yêu thương cũng đang làm một sứ mệnh chuyển giao như thế. Người trao tặng yêu thương và ban phát tình thương nhận về mình niềm vui, niềm hạnh phúc khi được cảm thông, thấu hiểu, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình, đó có thể không phải là sự giúp đỡ về vật chất mà là những giá trị về tinh thần, điều còn quý giá hơn gấp bội.

    – Chuyện xúc động kể lại cuộc đời của một người đàn ông có tên là Mark. Câu chuyện đó được in trong cuốn “hạt giống tâm hồn” của Martin Luther king, như một bài thánh ca cho sự hiện hữu của tình thương luôn tràn ngập.

    – Nhà tỷ phú Bill Gate hiến toàn bộ gia tài của mình làm từ thiện.

    1. c) Bài học nhận thức: Học cách yêu thương từ những điều đơn giản xung quanh ta; trân trọng tình yêu thương mà ta nhận được từ mọi người.

    Kết bài: tình thương làm đẹp cuộc sống, làm đẹp con người.

    Văn Nghị luận Mẫu “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng"

    BÀI LÀM:

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…” . Lời bài hát với âm điệu du dương của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nhẹ nhàng đi vào lòng người như một lời nhắc nhở đầy chân thành và ấm áp, cái ấm áp của tình người, tình đời… Đối với tôi, lời nhắc nhở ấy chính là một quan niệm sống, một triết lí sống quý báu.

    Tôi cho rằng triết lý sống là những điều được rút tỉa, chắt lọc bởi những trải nghiệm trong cuộc sống, nó làm nền tảng cho tinh thần con người. Triết lí sống liên quan mật thiết đến những định hướng sống của con người như lí tưởng sống, niềm vui, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc thiện ác.

    Mỗi con người sinh ra trên thế gian này đã là một niềm hạnh phúc lớn lao. Nhưng sinh ra để sống trong vô nghĩa thì cái diễm phúc lớn lao kia lại trở thành một thứ bi kịch chua xót. Ý nghĩa cuộc sống – điều làm nên hạnh phúc thực sự, để hạnh phúc tồn tại lâu bền nhất lại chỉ vang lên nhịp đập của nó khi được nuôi dưỡng bởi suối nguồn của tình yêu thương. Dường như quy luật ấy đã trở thành muôn thuở và là chân lý của cuộc sống. Cũng bởi thế mà đã có ý kiến cho rằng: “Tình thương là hạnh phúc của con người.”

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” đó là tiêu chuẩn đánh giá tư cách làm người.Yêu thương ở đây nghĩa là sống phải có tình thương. Dù mơ hồ hay rõ ràng, tôi nghĩ rằng ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra tình thương là những tình cảm đẹp đẽ và nồng nhiệt của con người, gắn kết những trái tim đồng cảm. Nó có thể là tình cảm lứa đôi, tình cảm gia đình, bè bạn và cao hơn cả là tình người nói chung. Đó có thể là những tình cảm bình dị nhất, gần gũi nhất từ sự quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống đến những tình cảm lớn lao hơn mang tính cộng đồng.

    Tình thương là tấm lòng yêu thương chân thành và trong sáng, là tình cảm chỉ trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, không toan tính.Có thể nói, tình thương là một thứ tình cảm đẹp đẽ luôn tồn tại trong bản chất của mỗi con người. Tình thương mang lại một sức mạnh kì diệu và nhiệm màu, nó được ví như loại thảo dược mọc ở tất cả nơi đâu có dấu chân con người, một cây nấm linh chi quý giá và bổ dưỡng cho tất cả mọi can bệnh nan y, một củ nhân sâm khó tìm giữa cuộc đời vốn bao quanh là đầy rẫy những củ nhân sâm hình người giả. Và kết quả của sự yêu thương đó là sự thỏa mãn của con tim: cái được gọi là niềm hạnh phúc. Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản và bình dị thế thôi.

    Trao đi yêu thương một cách tự nhiên, chúng ta sẽ nhận lại hạnh phúc xứng đáng. Bởi: khổ đau được san sẻ sẽ vơi đi còn hạnh phúc được sẻ chia sẽ nhân đôi. Đúng vậy, được yêu thương là một hạnh phúc, nhưng yêu thương người khác còn là một hạnh phúc lớn hơn. Tình yêu thương cũng không nằm ngoài định luật bảo toàn năng lượng của ngành vật lí: nó ví như một dạng năng lượng bất biến, tình yêu thương chỉ  truyền từ nơi này sang nơi khác, chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi. Những người trao tặng và đón nhận tình yêu thương cũng đang làm một sứ mệnh chuyển giao như thế. Người trao tặng yêu thương và ban phát tình thương nhận về minh niềm vui, niềm hạnh phúc khi được cảm thông, thấu hiểu, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình, đó có thể không phải là sự giúp đỡ về vật chất mà là những giá trị về tinh thần, điều còn quý gia hơn gấp bội.

    Tôi đã từng đọc một câu chuyện xúc động kể lại cuộc đời của một người đàn ông có tên là Mark. Câu chuyện đó được in trong cuốn “hạt giống tâm hồn” của Martin Luther king, nó như một bài thánh ca cho sự hiện hữu của tình thương luôn tràn ngập. “Trong một đêm mưa tầm tã, Mark đã quyết định chấm dứt cuộc đời mình. Mark không có vợ, chưa từng tìm thấy niềm hạnh phúc bên cạnh gia đình, làm một công việc bất đắt dĩ và dường như trên thế gian này không còn ai quan tâm đến sự tồn tại của ông nữa. Mark đi dọc những con phố, thẫn thờ đến nỗi không để ý đến một câu bé đang cầm tờ hai đô la đứng bên một hàng truyện. Cậu bé ngay cả đến sau nay Mark cũng không biết tên, nhìn thấy ông ướt sũng và khuôn mặt buồn rầu đang thất thần đi tới giữa ngã tư. Cậu bé bối rối nhìn Mark một chặp rồi từ bỏ ý định mua truyện để thay vào đó dùng một đô la mua một cây viết. Cậu bé chạy lại bên ông già Mark khốn khổ và đặt vào lòng bàn tay ông một đô la còn lại của mình và ôm Mark một cái thật nhanh. Cậu bé bỏ đi mà không biết rằng cuộc đời Mark đã thay đổi từ đó. Thật khó tin những điều đơn giản ấy thôi lại có thể thay đổi được cả cuộc đời của một con người đã sống trong sự cô đơn gần suốt hai mươi năm qua. Trên tờ một đô la ấy là dòng chữ nguệch ngoạc của cậu bé kì lạ “còn có ai đó yêu thương ông mà”. Martin Luther King đã nói đúng, mỗi người đều có thể trở nên vĩ đại, chỉ cần trái tim chan chứa lòng khoan dung và tâm hồn luôn tràn ngập một tình yêu thương. Cậu bé với trái tim bằng vàng là một ánh cầu vồng phản chiếu bản năng yêu thương có sẵn của con người. Bản năng ấy cứu vớt cuộc đời, đưa những người trao tặng yêu thương đến một thế giới của tâm hồn đẹp và cũng mở ra cho những con người đón nhận tình yêu thương một chân trời mới không còn sự cô đơn và lạc lõng.

    Còn nhiều lắm những con người mong muốn đem đến hạnh phúc cho mọi người. “Tôi không cần được nhớ đến” đó là câu nói của tỷ phú Mỹ Bill Gate, người đã đem hết của cải kếch xù của mình để làm từ thiện. Ông muốn đem đến cho những con người nghèo khổ, bệnh tật đang ngày ngày đấu tranh giành giật cuộc sống với tử thần một cuộc sống tốt đẹp hơn…

    Nơi đánh mất tình thương, đó là một địa ngục. Nơi chất chứa tình yêu, một thiên đường đã mở ra trước mắt. Nếu cuộc sống với những hạnh phúc và khổ đau làm nên hai bến bờ thì chính tình yêu thương là cầu nối hai bến bờ ấy, để hạnh phúc kia xoá tan mọi đau khổ và hiềm khích.

     

     

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!

    [Văn Nghị luận Mẫu] Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!

       Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    DÀN Ý:

    Mở bài: Giới thiệu về triết lý sống của mình.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Triết lý sống là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm trong cuộc sống, như một quan niệm nền tảng để con người sống tốt hơn.

    – “Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!” là triết lý sống của tôi.

    1. b) Bàn luận:

    – Sống chậm lại:

    + Để cảm nhận những gì tốt đẹp của cuộc đời này.

    + Để nghĩ về cuộc sống và những người xung quanh.

    + Để lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

    + Con người hiện nay chỉ biết lao đầu kiếm tìm những thứ hão huyền như tiền bạc, danh lợi mà đánh mất đi nhiều thứ.

    + Sống chậm ở đây không phải là cố níu giữ thời gian mà là để ta nhìn lại cuộc sống, nhìn lại chính mình.

    – Nghĩ khác đi:

    + Là biết nhìn nhận, đánh giá, biết lựa chọn những lối đi riêng. Ta không chỉ nghĩ cho bản thân mà còn phải nghĩ cho người khác, để thấu hiểu hơn con người họ, biết lắng nghe lòng mình hơn.

    + Đó phải là những suy nghĩ đem lại lợi ích cho bản thân và những người xung quanh.

    – Yêu thương nhiều hơn là biết nghĩ, biết quan tâm tới chính mình và người khác nhiều hơn. Trao yêu thương chân thành, thật lòng và ta sẽ cảm nhận được nhiều điều tốt đẹp đến từ cuộc sống.

    – Sống chậm, suy nghĩ khác và yêu thương nhiều hơn tuy là ba mặt của một vấn đề nhưng chúng lại gắn bó mật thiết với nhau. Sống chậm thực chất là để cho con người có thời gian thảnh thơi để suy nghĩ, nhìn nhận, yêu thương cuộc sống.

    1. c) Bài học nhận thức: Mỗi ngày, từ những việc nhỏ nhất, ta hãy biết sống chậm lại, nghĩ khác đi, yêu thương nhiều hơn.

    Kết bài: Rút lại nhận xét chung và cảm nhận về triết lý sống.

    Văn nghị luận mẫu

    BÀI LÀM:

    Trong cuộc sống bộn bề hiện nay, con người đang mải lao đầu vào việc tìm kiếm những thứ xa xỉ mà quên mất điều sâu thẳm trong trái tim mình. Con người đang dần dần tự biến mình thành những cỗ máy vô cảm. Sống giữa cái xã hội xô bồ ấy, tôi cần có một nốt lặng để giúp mình tìm tất cả trong cuộc sống này những điều giản dị, để tâm hồn tôi ngập tràn yêu thương. Và đó chính là triết lý sống “Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!”

    Triết lý sống là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm trong cuộc sống, như một quan niệm nền tảng để con người lấy đó làm bước đệm trên con đường tiến tới một cuộc sống chân – thiện – mĩ và cũng làm cuộc sống tốt đẹp hơn.

    “Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!” là một sự lựa chọn cho tâm hồn tôi. Nó giúp tôi bình tâm lại, suy nghĩ lại mọi thứ, ngẫm lại vẻ đẹp thuần túy nhất, để trái tim nghỉ một chút, và từ đó tôi có thể nhìn đời bằng con mắt đơn giản nhất.

    Sống chậm lại để cảm nhận những gì tốt đẹp của cuộc đời này. Tâm hồn con người cần được vun trồng, cày xới bởi thế giới hình ảnh và những tâm tư, tình cảm tác động qua lại giữa ngoại cảnh và con người. Đôi lúc, tôi lắng lại để ngắm một bông hoa, lặng mình trong tiếng nhạc du dương,… chỉ thế thôi cũng đủ để tôi cảm thấy nhẹ nhõm và thoải mái trong lòng, trôi hết những bực dọc và muộn phiền đang ngự trị trong tôi. Sống chậm một chút nhưng cũng đủ để tôi, và cả bạn nữa, cảm thấy thế giới xung quanh tươi đẹp và đáng sống biết bao!

    Sống chậm lại, đó cũng là lúc để tôi nghĩ về cuộc sống và những người xung quanh nhiều hơn. Sống vội vã gây cho con người áp lực, căng thẳng và làm khô héo tâm hồn, là vội vã, lạnh lùng với những người xung quanh. Tôi nghĩ, sống chậm một chút, chúng ta có thể trao tình thương cho mọi người. Một ánh mắt nhìn, một nụ cười thân thiện, một cái siết tay trìu mến cũng đủ làm ấm lòng những trái tim đang buốt lạnh.

    Sống chậm lại cũng là để ta lấy lại cân bằng trong cuộc sống. Sống chậm đã cho tôi những khoảng lặng lẽ, riêng tư với chính mình, để tôi biết suy nghĩ và trân trọng những gì đã qua, quý trọng hiện tại và tôi biết rõ đó là tiền đề để tôi có được một tương lai tươi sáng. Biết sống chậm lại, tâm hồn của mỗi người sẽ trở nên thâm trầm, sâu sắc, tinh tế, chín chắn và trưởng thành hơn.

    Với cuộc sống hiện đại này, chạy đua với thời gian là điều không thể tránh khỏi. Con người hối hả, giục giã trong công việc để kiếm tiền bạc, danh lợi và thành công cho bản thân. Đời người thì quay cuồng trong vòng một luẩn quẩn của thời gian, chỉ biết bước đi nhanh trên con đường kiếm tìm những thứ có vẻ hão huyền như tiền bạc, danh lợi mà đánh mất đi nhiều thứ.

    Sống chậm như tôi đã nói, không phải là lối sống cố níu giữ thời gian mà là để ta trân trọng nó hơn, để ta có thể suy nghĩ chín chắn hơn, kịp nhìn lại mình, để cảm nhận nhiều hơn và nuôi chín cảm xúc của mình. Chậm lại để lặng mình nghe nhịp chảy của cuộc sống, nghe tiếng gọi của con tim.

    Nghĩ khác đi là biết nhìn nhận, đánh giá, biết lựa chọn những lối đi riêng. Đó cũng đồng nghĩa với việc ta không chỉ nghĩ về bản thân, không chỉ nghĩ về lợi ích của chính mình mà ta còn phải nghĩ co những người xung quanh, để ta có thể thấu hiểu được con người họ, những tình cảm, cảm xúc của họ. Nói cách khác, ta không được phép dừng lại ở cái nhìn bên ngoài mà phải nhìn thấu vào bản chất đẹp đẽ bên trong những con người xung quanh ta, cũng từ đó mà ta biết lắng nghe lòng mình hơn.

    Suy nghĩ khác ở đây, chắc chắn phải là những suy nghĩ đem lại sức sống và sự thanh thản cho bản thân, tích cực và có ý nghĩa lớn lao, chứ không phải là cách suy nghĩ, cách nhìn lập dị, cổ hủ và làm bệnh hoạn một số thành phần xã hội.

    Ngày nay, con người đang sống trong một xã hội trống rỗng và vô hồn vô cảm. Vì thế cái mà cuộc sống hiện đại thiếu nhiều nhất không phải là về vật chất mà về mặt tinh thần: sống thiếu tình thương. Yêu thương là cái gốc của nhân loại. Và đó cũng là lý do để tôi muốn nói với các bạn rằng: Hãy yêu thương nhau nhiều hơn. Yêu thương nhiều hơn là biết nghĩ, biết quan tâm chăm sóc và hướng tới người khác nhiều hơn, yêu thương chính mình và cũng là yêu thương người khác. Đó chỉ đơn giản là sống chậm lại một chút, trao yêu thương mà không cần nhận lại. Tình yêu thương ấy chân thành, thật lòng và vì thế mà ta cũng cảm nhận được những điều đẹp đẽ đến từ cuộc sống, vào trong trái tim và sưởi ấm tâm hồn ta.

    Sống chậm, suy nghĩ khác và yêu thương nhiều hơn tuy là ba mặt của một vấn đề nhưng chúng lại gắn bó mật thiết và bổ sung cho nhau. Sống chậm, thực chất là thời gian để con người suy nghĩ, mài giũa tâm hồn, nhạy cảm với thế giới xung quanh. Sống chậm cũng là lúc con người được thảnh thơi, yêu thương, trân trọng, có thời gian để “suy nghĩ khác đi” và cũng là khoảng lặng để con người ta yêu thương nhau nhiều hơn. Vì vậy, tuổi trẻ chúng ta hiện nay cần phải sống chậm để rèn luyện sự trưởng thành, chín chắn nhưng cùng cần biết sống vội vã để có thể sống tận độ, sống với một cuộc sống ý nghĩa nhất.

    Triết lý sống “Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!” đã cho chúng ta một cách sống đúng đắn và rất thiết thực trong cuộc sống hiện đại, xã hội xô bồ hiện nay. Với tôi, dùng một ít thời gian để hít thở không khí trong lành, một ít thời gian để đọc cuốn sách bồi bổ tâm hồn, một ít thời gian để lắng nghe những tâm sự của người thân và quan tâm hơn đến mọi người,… những giây phút thảnh thơi ấy đã khiến tôi nhận ra được nhiều điều giá trị mà cuộc sống ban tặng. Hãy hãm phanh lại, sống theo cách của riêng mình, thì tôi, và cả bạn nữa, sẽ khám phá ra những điều đáng quý và thêm yêu cuộc sống.

     

  • Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

    Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

    Đây là Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương được biên soạn bởi bạn Nguyễn Thành Nam, sinh viên Khoa Ngoại Thương khóa K54.  Bài tham khảo khá chi tiết và đầy đủ! Mong là sẽ giúp được mọi người!

    Các bạn có thể tải Full đồ án bản pdf tại link sau: Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”][/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương


    LỜI MỞ ĐẦU

    Cuối năm 2006 nước ta đã trở thành một thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Điều đó cũng có thể là điều thuận lợi đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng đồng thời nó cũng đã đem lại nhiều thách thức lớn mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải trải qua. Việc phân tích hoạt động kinh tế là một trong những công việc cần làm đối với các doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy môn học phân tích hoạt động kinh tế sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản đầu tiên giúp cho thế hệ sinh viên chúng em có một tư duy mới để có thể thích nghi với điều kiện hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay.

    Nhận thức rõ được điều này, khi tiến hành nghiên cứu môn học em đã tích cực tìm tòi những tài liệu, kết hợp với những kiến thức thực tế mà bản thân đã thu lượm được, và với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Nguyễn Phong Nhã, em đã hoàn thành được đồ án môn học này. Nội dung của đồ án bao gồm hai phần chính:

    Phần I: Lý luận chung về phân tích hoạt động kinh tế

    Phần II: Nội dung phân tích

    Chương 1: Phân tích tình hình đảm bảo hàng xuất khẩu theo các phương thức gom hàng

    Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc

    Phần III: Kết luận – kiến nghị

    Đây là hai nhóm chỉ tiêu quan trọng thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Qua phân tích hai nhóm chỉ tiêu này em đưa ra được những biện pháp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, từng bước cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện được mục tiêu đề ra của tổ chức và của cả nền kinh tế. Tuy nhiên vì còn hạn chế về thời gian và kinh nghiệm thực tế nên trong quá trình thiết kế đồ án này em chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong muốn có được sự chỉ bảo của thầy để giúp em vững vàng hơn trong việc nghiên cứu cũng như trong việc hoàn thành môn học quan trọng này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

    PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

    1.1. Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh tế

    1.1. Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh tế

    1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh tế

    – Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể gồm nhiều hoạt động như hoạt động sản xuất, hoạt động thương mại, hoạt động tài chính…

    – Mỗi hoạt động kinh doanh lại gồm nhiều quá trình như hoạt động sản xuất bao gồm các quá trình cung ứng, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ; Hoạt động thương mại bao gồm quá trình mua hàng, dự trữ, bán hàng

    – Hoạt động kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố từ bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Nhân tố bên trong như quyết định giá cả, kết cấu sản phẩm; nhân tố bên ngoài như chính sách thuế, sự cạnh tranh trên thị trường…

    – Do đó, phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp cần phải đánh giá từng hoạt động, từng quá trình, từng nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thì mới nhận biết đúng về hoạt động kinh doanh.

    Phân tích hoạt động kinh tế là quá trình phân chia các hiện tượng kinh tế – đối tượng phân tích( quá trình, điều kiện, kết quả kinh doanh) thành các bộ phận và sử dụng các phương pháp phân tích để đánh giá hiện tại và quá khứ, dự báo xu hướng phát triển tương lai nhằm tìm ra biện pháp kinh doanh tiếp theo có hiệu quả hơn.

    Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    1.1.2. Ý nghĩa phân tích hoạt động kinh tế

    Phân tích hoạt động kinh tế có ý nghĩa cho các đối tượng sau:

    1. Nhà quản trị doanh nghiệp

    – Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp các thông tin sau

    + Kết quả thực hiện từng mục tiêu của kế hoạch kinh doanh đạt được ở mức độ nào, hoàn thành hay không

    + Khả năng tài chính mạnh hay yếu, thanh toán nợ và thu hồi nợ tốt hay không

    + Hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt hay xấu

    + Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

    + Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thực hiện từng mục tiêu kế hoạch kinh doanh

    + Năng lực tiềm tàng

    – Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin để nhà quản trị ra những quyết định kinh doanh tốt

    + Lập kế hoạch kinh doanh kỳ sau thích hợp

    + Chọn phương hướng, biện pháp kinh doanh có hiệu quả hơn

    1. Ngân hàng, nhà đầu tư

    – Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cung cấp cho nhà quản trị ngân hàng, nhà đầu tư các thông tin:

    + Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu

    + Khả năng thanh toán nợ của các doanh nhiệp cao hay thấp

    + Tỷ số nợ – quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, tỷ trọng trong từng loại vốn vay và vốn chủ sở hữu trong tổng số vốn, biết doanh nghiệp đang vay nhiều hay ít hơn bao nhiêu so với vốn chủ sở hữu

    + Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

    – Phân tích kết quả kinh doanh cung cấp để nhà đầu tư, ngân hàng ra quyết định cho vay, đầu tư hay bán hàng chịu hay không

    1. Cơ quan quản lý

    – Phân tích hoạt động kinh doanh cung cấp cho cơ quan chức năng của nhà nước thông tin của doanh nghiệp

    + Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu

    + Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

    – Cung cấp thông tin đề cơ quan chức năng đưa ra các biện pháp kiểm soát nền kinh tế, hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp

    1.1.3. Mục đích phân tích hoạt động kinh tế

    – Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, chấp hành chế độ, chính sách nhà nước

    – Xác định nhân tố và mức độ ảnh hưởng của nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích.

    – Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các nhân tố

    – Đề xuất phương hướng và biện pháp để cải tiến phương pháp kinh doanh,khai thác khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp nhằm nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh

    1.1.4. Nội dung phân tích hoạt động kinh tế

    Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế được cụ thể bằng các chỉ tiêu

    – Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh

    + Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh

    + Ví dụ: giá trị sản xuất, chi phí sản xuất, chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận

    – Phân tích các yếu tố của quá trình kinh doanh

    + Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    + Ví dụ: Chỉ tiêu nguyên vật liệu, chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tiêu số lượng lao động, số máy móc thiết bị…

    – Phân tích tài chính

    + Phân tích các chỉ tiêu phản ánh tài sản, nguồn vốn, thu hồi nợ, tỷ số nợ -quan hệ vốn vay

    + Ví dụ: chỉ tiêu kết cầu nguồn vốn, chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu…

    1.1.5. Nguyên tắc phân tích

    – Phân tích từ việc đánh giá chung, sau đó phân tích từng nhân tố

    – Phân tích đảm bảo tính toàn diện, khách quan

    – Phân tích thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng kinh tế => thấy nguyên nhân phát triển của hiện tượng

    – Phân tích trong sự vận động và phát triển của hiện tượng kinh tế=> thấy xu hướng phát triển và tính quy luật của hiện tượng

    – Phải sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp=> thực hiện mục tiêu phân tích

    1.2. Chỉ tiêu và nhân tố trong phân tích

    1.2.1. Chỉ tiêu phân tích

    1. Khái niệm

    – Là tiêu thức phản ánh nội dung, phạm vi hiện tượng kinh tế

    – Ví dụ: Chỉ tiêu doanh thu, chi phí…

    – Tùy vào mục đích và nội dung phân tích mà lựa chọn chỉ tiêu cho thích hợp

    1. Phân loại chỉ tiêu

    – Theo nội dung kinh tế:

    + Chỉ tiêu biểu hiện kết quả: Doanh thu, lợi nhuận, tổng kim ngạch xuất khẩu

    + Chỉ tiêu biểu hiện điều kiện: Lao động, tổng máy móc thiết bị, tổng số vốn, vật t­ư

    – Theo tính chất của chỉ tiêu:

    + Chỉ tiêu khối lư­ợng (số l­ượng) là chỉ tiêu phản ánh quy mô kết quả hay điều kiện kinh doanh. Ví dụ: tổng doanh thu, tổng khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

    + Chỉ tiêu chất l­ượng là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng các yếu tố hay hiệu suất kinh doanh. VD: hiệu suất sử dụng vốn, năng suất lao động, giá thành sản phẩm.

    – Theo ph­ương pháp tính toán:

    + Chỉ tiêu tuyệt đối: thường dùng để đánh giá quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh tại thời gian và không gian cụ thể

    + Chỉ tiêu tư­ơng đối: thường dùng trong phân tích các quan hệ kinh tế giữa các bộ phận(cơ cấu) hay xu hướng phát triển của chỉ tiêu

    + Chỉ tiêu bình quân:nhằm phản ánh trình độ phổ biến của hiện tượng nghiên cứu

    – Theo cách biểu hiện:

    + Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị hiện vật:chỉ tiêu có đơn vị tính phù hợp với đặc điểm vật lý

    + Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị giá trị: là chỉ tiêu có đơn vị tính là tiền tệ

    + Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị thời gian: là chỉ tiêu có đơn vị tính là thời gian

    1.2.2. Nhân tố phân tích

    1. Khái niệm

    – Là những yếu tố bên trong hay bên ngoài nội dung phân tích và mỗi biến động của nó có tác động đến kết quả và xu hướng của nội dung phân tích

    – Là những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh mà có thể tính toán hoặc lượng hóa được mức độ ảnh hưởng

    – Phân loại nhân tố hay chỉ tiêu chỉ mang tính chất tương đối.

    – Ví dụ:

    + Lợi nhuận= Doanh thu – chi phí. Doanh thu trong mối quan hệ này là nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu lợi nhuận

    + Doanh thu=Sản lượng*giá cả. Doanh thu trong mối quan hệ này là chỉ tiêu được cấu thành bởi 2 nhân tố sản lượng và giá cả.

    1. Phân loại nhân tố

    – Căn cứ theo nội dung kinh tế: Phân làm 2 loại

    + Nhân tố điều kiện: là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. VD: số l­ượng lao động, máy móc thiết bị, vật tư , tiền vốn…

    + Nhân tố kết quả: là những nhân tố ảnh hưởng dây chuyền đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng từ khâu cung ứng đầu vào đến sản xuất, đến tiêu thụ và đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. VD: Giá cả nguyên liệu đầu vào, khối lượng hàng hóa tiêu thụ được

    – Căn cứ theo tính tất yếu của nhân tố:

    + Nhân tố chủ quan: là nhân tố mà nó phát triển theo h­ướng nào, mức độ bao nhiêu, phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp như trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, tiết kiệm hao phí nguyên vật liệu…

    + Nhân tố khách quan: là nhân tố phát sinh và tác động nh­ư một tất yếu ngoài sự chi phối của bản thân doanh nghiệp: giá cả thị trường, thuế suất…

    – Căn cứ theo tính chất của nhân tố:

    + Nhân tố số l­ượng: phản ánh qui mô sản xuất và kết quả kinh doanh

    + Nhân tố chất l­ượng: phản ánh hiệu suất hoạt động của quá trình, kết quả kinh doanh

    – Căn cứ theo xu h­ướng tác động:

    + Nhân tố tích cực: là nhân tố có tác động tốt làm tăng quy mô kết quả sản xuất kinh doanh→cần tận dụng ưu thế

    + Nhân tố tiêu cực: là nhân tố phát sinh và  tác động làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh( giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh) →hạn chế ảnh hưởng

    1.3. Các phương pháp kĩ thuật trong phân tích

    1.3.1. Phương pháp so sánh

    – Là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định mức độ đạt được, khả năng thực hiện, mức độ và xu hướng biến động của chỉ tiêu bằng cách so sánh trị số các chỉ tiêu

    – Có nhiều cách thức so sánh nên khi phân tích phải căn cứ vào mục đích phân tích để lựa chọn phương pháp thích hợp

    – So sánh đảm bảo tính thống nhất phương pháp tính, đơn vị tính, thời gian tính, phạm vi tính.

    – So sánh để:

    • Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch: so sánh thực hiện với kế hoạch
    • Xác định nhịp độ, tốc độ phát triển: so sánh 2 kì
    • Xác định mức độ tiên tiến hoặc lạc hậu giữa các đơn vị: so sánh các đơn vị
    • Xác định khả năng: so sánh thực tế với định mức, khả năng với nhu cầu
    1.3.1.1  So sánh bằng số tuyệt đối

    – So sánh hiệu số giữa trị số(mức độ) kì thực tế và trị số( mức độ) kì gốc của chỉ tiêu

    – Phản ánh mức chênh lệch của chỉ tiêu – mức độ biến động tuyệt đối – chênh lệch tuyệt đối

    ∆Y=Y1 –Y0

    Y1  : mức độ kì nghiên cứu; Y0  : mức độ kì gốc

    1.3.1.2. So sánh bằng số tương đối
    1. Số tương đối kế hoạch

    – Phản ánh mức độ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu

    + Số tương đối kế hoạch dạng giản đơn

    kht  =Y1 /Ykh

    kht : tỷ lệ hoàn thành kế hoạch; Y1 :mức độ( trị số) thực hiện; Ykh : mức độ kì kế hoạch

    + Số tương đối kế hoạch dạng liên hệ

    kht  =Y1 /mức độ kì gốc đã điều chỉnh

    + Số tương đối kế hoạch dạng kết hợp – số tương đối có tính tới hệ số điều chỉnh

    Mức độ biến động tương đối=Y1–Y0*kc

    kc : hệ số tính chuyển – hệ số điều chỉnh

    1. Số tương đối động thái

    – So sánh giữa mức độ kì nghiên cứu và mức độ kì gốc

    t=Y1 /Y0 *100(%)

    + Số tương đối động thái gốc cố định

    + Số tương đối động thái liên hoàn

    1. Số tương đối kết cấu

    – Biểu hiện mối quan hệ giữa giữa mức độ đạt được của từng bộ phận so với mức độc ủa tổng thể

    – Cho biết vai trò, vị trí của từng bộ phận trong tổng thể

    d=Yi /Y*100(%)

    Yi : Mức độ từng bộ phận; Y: mức độ tổng thể; ∑Yi =Y

    1.3.1.3. So sánh bằng số bình quân

    Cho biết mức độ mà đơn vị đạt được so với số bình quân chung của tổng thể, của ngành.Cho phép đánh giá sự biến động chung về số lượng, chất lượng của các mặt hoạt động nào đó của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp

    1.3.2. Phương pháp chi tiết

    1. Chi tiết theo thời gian

    – Nội dung

    + Hoạt động kinh doanh tiến hành liên tục và kết quả kinh doanh từng khoảng thời gian thường không đồng đều=> cần phân tích chi tiết theo từng khoảng thời gian thích hợp

    + Ví dụ: phân tích giá trị sản xuất  theo quý, tháng, năm

    – Tác dụng:

    + Xác định thời điểm hiện tượng kinh tế có những dấu hiệu bất thường

    + Xác định tiến độ phát triển, nhịp điệu phát triển của hiện t­ượng kinh tế từ đó giúp doanh nghiệp có biện pháp khai thác các tiềm năng, khắc phục được sự mất cân đối, tính thời vụ, mùa vụ  thường xẩy ra trong quá trình kinh doanh

    1. Chi tiết theo không gian

    – Nội dung

    + Hoạt động kinh doanh tiến hành ở các địa điểm khác nhau=> phân tích theo địa điểm để biết kết quả kinh doanh của từng địa điểm cụ thể

    + Ví dụ: Phân tích kim ngạch xuất khẩu theo các xí nghiệp thành phần

    – Tác dụng

    + Xác định điển hình tiên tiến của công ty

    + Xác định tính hợp lý trong việc phân công nhiệm vụ giữa các đơn vị thành phần

    + Đánh giá kết quả từng đơn vị thành phần trong tổng công ty

    1. Chi tiết theo bộ phân cấu thành

    – Nội dung

    + Chỉ tiêu kinh tế thường được cấu thành gồm nhiều bộ phận=> phân tích từng bộ phận để hiểu chỉ tiêu chi tiết hơn

    + Ví dụ: phân tích kim ngạch xuất khẩu theo thị trường hay theo mặt hàng

    – Tác dụng:

    + Chi tiết theo các bộ phận cấu thành giúp ta biết đ­ược quan hệ cấu thành của các hiện t­ượng và kết quả kinh tế

    + Nhận thức đ­ược bản chất của các chỉ tiêu kinh tế từ đó giúp cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp đ­ược chính xác, cụ thể và xác định đ­ược nguyên nhân cũng nh­ư trọng tâm, trong điểm điểm của công tác quản lý.

    1.3.3. Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng

    1.3.3.1.  Phương pháp thay thế liên hoàn
    1. Nội dung

    Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố chỉ tiêu phân tích khi nhân tố có mối quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp thương tích với chỉ tiêu kinh tế

    1. Nguyên tắc thực hiện

    – Sắp xếp nhân tố theo trình tự: nhân tố số lượng đứng trước, chất lượng đứng sau. nếu cùng số lượng hoặc chất lượng thì sắp xếp theo mối quan hệ nhân quả – cái nào có trước – cái nào có sau

    – Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố theo trình tự đã sắp xếp

    – Xác định ảnh hưởng của nhân tố nào thì cố định các nhân tố còn lại

    – Nhân tố nào chưa xác định mức độ ảnh hưởng thì cố định theo trị số gốc

    – Nhân tố nào đã xác định mức độ ảnh hưởng thì cố định theo trị số kì nghiên cứu.

    1. Ví dụ

    – Chỉ tiêu Y; Nhân tố ảnh hưởng: a,b,c

    – Phương trình kinh tế: Y=a.b.c

    + Giá trị kì gốc: =a0.b0.c0

    + Giá trị kì nghiên cứu: =a1.b1.c1

    – Xác định đối tượng nghiên cứu: ∆Y=Y1-Y0 =a1.b1.c1 -a0.b0.c0   

    – Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

    + Nhân tố a

    Tuyệt đối: ∆Ya=a1.b0.c0 -a0.b0.c0

    Tuơng đối: δYa=∆Ya/Y0*100(%)

    + Nhân tố b

    Tuyệt đối: ∆Yb=a1.b1.c0 –a1.b0.c0

    Tuơng đối: δYb=∆Yb/Y0*100(%)

    + Nhân tố c

    Tuyệt đối: ∆Yc=a1.b1.c1 –a1.b1.c0

    Tuơng đối: δYc=∆Yc/Y0*100(%)

    Tổng ảnh hưởng của các nhân tố

    ∆Ya+∆Yb+∆Yc=∆Y

    δYa+ δYb+δYc=δY

    1.3.3.2. Phương pháp số chêch lệch

    – Là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn

    – Đây là kết quả của quá trình nhóm các thừa số chung của phương pháp thay thế liên hoàn.

    – Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

    + Nhân tố a

    Tuyệt đối: ∆Ya=a1.b0.c0 -a0.b0.c0=(a1-a0)b0.c0

    Tuơng đối: δYa=∆Ya/Y0*100(%)

    + Nhân tố b

    Tuyệt đối: ∆Yb=a1.b1.c0 –a1.b0.c0b=a1(b1–b0)c0

    Tuơng đối: δYb=∆Yb/Y0*100(%)

    + Nhân tố c

    Tuyệt đối: ∆Yc=a1.b1.c1 –a1.b1.c0=a1.b1(c1 –c0)

    Tuơng đối: δYc=∆Yc/Y0*100(%)

    Tổng ảnh hưởng

    ∆Ya+∆Yb+∆Yc=∆Y; δYa+ δYb+δYc=δY

    1.3.3.3. Phương pháp cân đối

    – Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chi tiêu phân tích khi các nhân tố có mối quan hệ tổng số.

    – Xác định mức độ ảnh hưởng

    Tuyệt đối: ∆Yi=a1i –a0i

    Tương đối: δ Yi=(a1i –a0i)/Y0 *100(%)

    1.4. Tổ chức phân tích

    1.4.1. Phân loại phân tích

    1.4.1.1. Căn cứ thời điểm

    – Phân tích trước kinh doanh: thẩm định, dự báo, lập phương án kinh doanh

    – Phân tích trong kinh doanh: xem xét, đánh giá, điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý

    – Phân tích sau kinh doanh: đánh giá kết quả, mức độ hoàn thành kế hoạch và dự báo, tìm biện pháp cho kì tiếp theo

    1.4.1.2. Căn cứ thời hạn

    – Phân tích thường xuyên: phân tích khi cần thiết, phục vụ thông tin kịp thời cho nhà quản lý

    – Phân tích định kì: phân tích theo thời hạn đã ấn định trước

    1.4.1.3. Căn cứ nội dung

    – Phân tích toàn bộ: phân tích tất cả nội dung của hiện tượng kinh tế

    – Phân tích chuyên đề: Phân tích 1 nội dung của hiện tượng kinh tế

    1.4.1.4. Căn cứ phạm vi phân tích

    – Phân tích điển hình: phân tích 1 đơn vị

    – Phân tích tổng thể: phân tích toàn bộ doanh nghiệp

    1.4.2. Tổ chức phân tích

    1.4.2.1. Chuẩn bị

    – Lập kế hoạch phân tích: Xác định nội dung, phạm vi, mục đích và thời gian phân tích

    Phân công người thực hiện

    – Thu nhập, kiểm tra và xử lý số liệu: kế hoạch, định mức, dự toán, báo cáo tổng kế,  báo cáo kết quả sxkd, tài liệu hạch toán…

    1.4.2.2. Trình tự tiến hành phân tích

    1. Xây dựng công thức và bảng biểu phân tích

    – Lập phương trình kinh tế

    – Xác định đối tượng phân tích

    – Lập bảng phân tích

    1. Phân tích

    – Đánh giá chung

    – Phân tích chi tiết từng nhân tố:

    + Chủ thể, thời gian, biến động, địa điểm, nguyên nhân

    + Kết luận nguyên nhân chủ quan, khách quan, tiêu cực, tích cực

    1. Kết luận kiến nghị

    – Tổng hợp lại nguyên nhân, nêu bật nguyên nhân chủ yếu, chính

    – Đánh giá những mặt được, chưa được, những tồn tại, khuyến điểm, khó khăn, tiềm năng của của doanh nghiệp

    – Đề xuất giải pháp trên cơ sở những nguyên nhân và xây dựng định hướng phát triển trong tương lai

    1.4.2.3. Báo cáo kết quả phân tích

    PHẦN 2: NỘI DUNG PHÂN TÍCH

    Chương 1: Phân tích chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A:

    1.1. Mục đích và ý nghĩa:

    1.1.1. Mục đích:

    – Đánh giá các kết quả, tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu của công ty. Bên cạnh đó cũng nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu, tình hình thực hiện các hợp đồng đã ký kết về cả số lượng, giá trị, chất lượng…

    – Tính toán mức độ ảnh hưởng của các phương thức thu gom tới kết quả của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của sản lượng của các phương thức thu mua đó, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của giá trị đảm bảo xuất khẩu của công ty.

    – Trên cơ sở đó, đề xuất 1 số phương hướng và biện pháp để cải tiến, cải thiện sản lượng cũng như chất lượng của sản phẩm đem đi xuất khẩu, khai thác tận dụng các khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    – Ngoài ra việc phân tích các chỉ tiêu cụ thể là cơ sở giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định trong chỉ đạo kinh doanh.

    – Phân tích theo phương thức để thấy phương thức nào hiệu quả nhất, ưu thế nhất để có tiếp tục phát huy, hạn chế những phương phức không hiệu quả.

    1.1.2. Ý nghĩa:

    – Tăng cường xuất nhập khẩu hàng hoá hợp lý có ý nghĩa kinh tế to lớn trong việc góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân, tăng thu nhập dân cư và giải quyết tốt chính sách lao động xã hội, sử dụng có hiệu quả khả năng tiềm tàng của sản xuất, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và nâng cao địa vị kinh tế nước nhà trên trường quốc tế. Với ý nghĩa của việc kinh doanh xuất nhập khẩu ta phải phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá.

    – Phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện những khả năng tiềm tàng chư­a đư­ợc sử dụng, vạch rõ những thành tích và khuyết điểm trong quá trình kinh doanh, từ đó có biện pháp tối ư­u nhằm thúc đẩy quá trình kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao. Việc PTTH XNK hàng hoá trở lên cần thiết để tạo điều kiện DN chủ động sáng tạo trong việc tiếp cận thị trường thế giới, mở rộng giao lưu hàng hoá với nước ngoài và kinh doanh có lãi.

    – Đặc biệt đối với phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa theo phương thức gom hàng như tự sản xuất, nhập khẩu từ nước ngoài, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất, qua phân tích có thể thấy được phương thức thu gom hàng nào có ý nghĩa thực sự quan trọng, đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo hàng xuất khẩu của công ty.

    1.2. Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu về đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng.

    1.2.1. Lập phương trình kinh tế:

    – Chỉ tiêu tổng thể: Tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu: G1 (103đ)

    – Chỉ tiêu cá biệt (Các phương thức gom hàng):

    + Phương thức tự sản xuất (T1)

    + Phương thức nhập khẩu từ Trung Quốc (T2)

    + Phương thức mua trực tiếp từ nhà sản xuất (T3)

    + Phương thức mua qua công ty chuyên cung ứng (T4)

    + Phương thức đặt gia công (T5)

    + Phương thức mua từ khu chế xuất (T6)

    – Phương trình kinh tế:

    G1 = T1 + T2 + T+ T4 + T5 + T6

    1.2.2. Lập bảng phân tích:

     

    BẢNG 1: BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU ĐẢM BẢO HÀNG XUẤT KHẨU THEO CÁC PHƯƠNG THỨC GOM HÀNG CỦA CÔNG TY A

    STT Phương thức Kì gốc Kì nghiên cứu So sánh (%) Chênh lệch MĐAH đến G1 (%)
    Quy mô (103đ) Tỷ trọng (%) Quy mô (103đ) Tỷ trọng (%)
    1 Tự sản xuất 168.184.682 62,54 199.143.873 67,64 118,41 30.959.191 11,51
    2 Nhập khẩu từ Trung Quốc 21.729.009 8,08 18.695.500 6,35 86,04 -3.033.510 -1,13
    3 Mua trực tiếp từ nhà sản xuất 22.455.102 8,35 20.138.144 6,84 89,68   -2.316.958 -0,86
    4 Mua qua công ty chuyên cung ứng 15.247.956 5,67 12.424.411 4,22 81,48 -2.823.545 -1,05
    5 Đặt công ty khác gia công 31.706.067 11,79 23.494.502 6,25 74,10 -8.211.565 -3,05
    6 Mua từ khu chế xuất 9.600.565 3,57 20.520.887 6,97 213,75 10.920.322 4,06
    Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu (G1) 268.923.380 100 294.417.316 100 109,48 25.493.936

    1.2.3. Đánh giá chung:

    Qua bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu ở kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu tăng 25.493.936 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 9,48%. Chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng được cấu thành bởi sáu phương thức là tự sản xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất. Trong đó giá trị hàng hóa thu mua từ khu chế xuất tăng nhanh nhất với mức tăng là 113,75% trong khi giá trị hàng hóa thu mua bằng cách đặt công ty khác gia công giảm mạnh (giảm 25,9%). Mặc dù phương thức thu mua từ khu chế xuất có giá trị hàng hóa tăng nhanh nhưng phương thức tự sản xuất vẫn là phương thức thu mua chủ yếu của công ty qua cả hai kỳ với mức tăng là 30.959.191 nghìn đồng ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Xét trên khía cạnh ảnh hưởng đến giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thì phương thức tự sản xuất có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất, nó ảnh hưởng 11,51% đến G1. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng lên của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu gồm:

    – Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, bảo gồm cả đơn đặt hàng trong nước và nước ngoài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực giúp doanh nghiệp tăng thị phần các ngành hàng của mình, tăng tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu. Trong kỳ gốc, thị trường nước ngoài của công ty chỉ tập trung tại hai nước lớn là Mỹ và Nhật, đến kỳ nghiên cứu, do nhận thấy được xu hướng tiêu dùng mặt hàng may mặc của người dân tại một số nước châu Âu tăng do vậy công ty quyết định đầu tư và phát triển một số ngành hàng mới tại thị trường tiềm năng này. Bên cạnh đó, nhu cầu cũng như khả năng tiêu dùng của thị trường trong nước tăng nhanh, là một trong những nguyên nhân tăng sản lượng sản xuất trong kỳ nghiên cứu.

    – Giá trị hàng xuất khẩu tăng một phần nguyên nhân là do chất lượng mặt hàng của doanh nghiệp ngày càng tăng đi cùng với sự mạnh dạn trong đầu tư thay mới và cải tiến máy móc. Do được đi tham khảo học tập tại một số công ty lớn ở Nhật và Hàn Quốc , công ty tiếp thu được một số phương pháp, dây chuyền sản xuất mới, giúp tăng năng suất từ đó làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

    1.2.4. Phân tích chi tiết:

    A, Xét phương thức tự sản xuất:

    Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức tự sản xuất ở kỳ nghiên cứu là 199.143.873 nghìn đồng, tăng 30.959.191 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Đây là phương thức thu gom hàng chủ yếu của công ty A với tỷ trọng giá trị hàng tự sản xuất để xuất khẩu là 67,64% trong kỳ nghiên cứu. Mức độ ảnh hưởng đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 11,51%. Từ đó ta có thể thấy rằng công ty đang ngày càng chú trọng vào tự sản xuất và những nguyên nhân dẫn đến xu hướng trên là:

    Nguyên nhân 1: Thuận lợi trong việc thu mua nguyên vật liệu.

    Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

    Nguyên nhân 2: Thay đổi trong phương thức đào tạo công nhân.

    Cán bộ quản lý của công ty A sau thời gian công tác tham quan và học hỏi ở một số công ty nước ngoài đã đưa ra được phương án đào tạo và quản lý công nhân mới. Nhờ phương án mới này mà công nhân làm việc hiệu quả hơn, tiêu tốn ít sức lực hơn từ đó nâng cao được năng suất làm việc của họ. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 3: Bảo trì, bảo dưỡng và mua mới máy móc.

    Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 4: Tiếp thu dây chuyền sản xuất mới của nước ngoài.

    Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Hàn Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Nguyên nhân này mang tính chất chủ quan tích cực.

    Biện pháp đề xuất:

    – Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

    – Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

    – Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    B, Xét phương thức nhập khẩu hàng từ Trung Quốc:

    Trong kỳ gốc, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức nhập khẩu từ Trung quốc là 21.729.009 nghìn đồng, tuy nhiên tại kỳ nghiên cứu, giá trị này đã giảm xuống còn 18.695.500 nghìn đồng, giảm 3.033.510 nghìn đồng tương đương với mức giảm tương đối là 13,96%. Mức độ ảnh hưởng của phương thức này đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 1,13%. Nguyên nhân dẫn đến giảm giá trị hàng nhập khẩu Trung Quốc là:

    Nguyên nhân 1: Đầu mối nguyên vật liệu chất lượng kém.

    Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá cả phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 2: Khó khăn khi thực hiện thủ tục hải quan nhập khẩu.

    Đầu kỳ nghiên cứu, do Việt Nam và Trung Quốc xảy ra một số tranh chấp về địa lí nên làm cho việc thông quan hàng hóa qua cửa khẩu gặp nhiều khó khăn. Việc làm thủ tục hàng hóa khắt khe dẫn đến việc hàng bị giữ lại không được thông quan gây thiệt hại cho công ty. Việc giảm giá trị hàng nhập khẩu từ Trung Quốc là hợp lý. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Nguyên nhân 3: Chi phí để nhập hàng từ Trung Quốc tương đối cao.

    Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 4: Nhà nước thu mua ngoại tệ vào làm đẩy tỷ giá hổi đoái lên.

    Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng. Điều này gây bất lợi cho công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực ảnh hưởng đến công ty.

    C, Xét phương thức mua trực tiếp từ nhà sản xuất:

    Tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng hóa mua từ nhà sản xuất là 22.455.102 nghìn đồng giảm 2.316.958 nghìn đồng tương ứng với mức giảm tương đối là 10,32% so với kỳ gốc. Tỷ trọng của giá trị hàng hóa thu mua bằng phương pháp mua trực tiếp từ nhà sản xuất ở kỳ gốc là 8,35% trong khi tỷ trọng này ở kỳ nghiên cứu giảm xuống còn 6,84%. Mức độ ảnh hưởng làm giảm giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 0,86%. Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là:

    Nguyên nhân 1: Nhu cầu thu mua hàng từ các nhà sản xuất khác giảm.

    Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Chất lượng hàng hóa mua tại một số cơ sở sãn xuất trong nước giảm so với kỳ trước.

    Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 3: Mất một số mối quan hệ làm ăn với các công ty trực tiếp sản xuất.

    Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 4: Chạy đua trong việc cạnh tranh tranh giành thị trường với các công ty đối thủ.

    Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn. Giá trị hàng thu mua từ các công ty sản xuất trực tiếp giảm do tính đối đầu cạnh tranh gay gắt. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Biện pháp đề xuất:

    – Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

    – Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

    D, Xét phương thức thu mua qua công ty chuyên cung ứng:

    Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức thu mua qua công ty chuyên cung ứng tại kỳ gốc là 15.247.956 nghìn đồng chiếm 5,67% trên tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty. Đến kỳ nghiên cứu con số này giảm xuống còn 12.422.411 nghìn đồng ứng với mức giảm tương đối là 18,52% chiếm 4,22% trong tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Mức độ ảnh hưởng của sự biến động này tới tổng giá trị đảm bảo hàng xuất khẩu là 1,05%. Dưới đây là một số nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi này:

    Nguyên nhân 1: Giá hàng thông qua công ty chuyên cung ứng sẽ cao hơn giá mua trực tiếp hay tự sản xuất.

    Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 2: Kho hàng của các công ty chuyên cung ứng ở cách xa so với vị trí kho hàng của công ty.

    Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 3: Một số công ty chuyên cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phầm hoặc thành phẩm bị phá sản.

    Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực dẫn đến việc giảm giá trị hàng thu mua được từ các công ty chuyên cung ứng. Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

    Nguyên nhân 4: Sự phụ thuộc của các công ty chuyên cung ứng với nguồn cung của chính họ.

    Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Biện pháp đề xuất:

    – Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

    E, Xét phương thức thu mua bằng đặt các công ty gia công:

    Tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng hóa đảm bảo xuất khẩu được thu mua bằng phương thức đặt công ty khác gia công là 31.706.067 nghìn đồng chiếm 11,79% tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu (G1). Giá trị này ở kỳ nghiên cứu giảm 8.2111.565 nghìn đồng so với kỳ gốc tương ứng với mức giảm tương đối là 25,9%. Mức độ ảnh hưởng của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua bằng phương thức này tới tổng G1 là 3,05%. Nguyên nhân của việc giảm này là:

    Nguyên nhân 1: Giá nhân công cao nâng cao sức ép về chi phí.

    Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 2: Máy móc, trang thiết bị và tay nghề nhân công kém, lạc hậu.

    Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu. Đây là nguyên nhân khách quan xuất phát từ phía người gia công gây ảnh hưởng tiêu cực tới giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua bằng phương thức đặt gia công của công ty.

    Nguyên nhân 3: Tình trạng hàng hóa bị may sai loại vải xảy ra thường xuyên.

    Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực gây ảnh hưởng lớn đối với công ty.

    Nguyên nhân 4: Tình trạng gian lận nguyên vật liệu, thành phẩm.

    Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Biệp pháp đề xuất:

    Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

    F, Xét phương thức thu mua từ khu chế xuất:

    Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo các phương thức gom hàng, ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu mua từ khu chế xuất tăng từ 9.600.565 nghìn đồng ở kỳ gốc lên 20.520.887 đồng ở kỳ nghiên cứu, tỷ trọng tăng từ 3,57% lên 6,97%. Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng thu mua từ khu chế xuất tăng 10.920.322 nghìn đồng tương ứng với mới tăng tương đối là 113,75%. Mức độ ảnh hưởng đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty là 4,06%. Nguyên nhân dẫn đến biến động này là:

    Nguyên nhân 1: Giá thành từ các công ty trong khu chế xuất thấp:

    Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực đối với công ty.

    Nguyên nhân 2: Thuận tiện trong việc vận chuyển và kiểm tra hàng hóa.

    Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 3: Hàng hóa có thể xuất khẩu trực tiếp từ khu chế xuất, giảm chi phí cho công ty.

    Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Nguyên nhân 4: Máy móc, thiết bị cùng trình độ kỹ thuật của công nhân cao hơn.

    Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Biện pháp đề xuất:

    Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

    1.3. Kết luận:

    1.3.1. Kết luận chung:

    Qua bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu ở kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu tăng 25.493.936 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 9,48%. Chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng được cấu thành bởi sáu phương thức là tự sản xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất. Trong đó giá trị hàng hóa thu mua từ khu chế xuất tăng nhanh nhất với mức tăng là 113,75% trong khi giá trị hàng hóa thu mua bằng cách đặt công ty khác gia công giảm mạnh (giảm 25,9%). Mặc dù phương thức thu mua từ khu chế xuất có giá trị hàng hóa tăng nhanh nhưng phương thức tự sản xuất vẫn là phương thức thu mua chủ yếu của công ty qua cả hai kỳ với mức tăng là 30.959.191 nghìn đồng ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Xét trên khía cạnh ảnh hưởng đến giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thì phương thức tự sản xuất có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất, nó ảnh hưởng 11,51% đến G1.

    1.3.2. Nguyên nhân chính:

    1.3.2.1. Nguyên nhân chính chủ quan tích cực:

    – Cán bộ quản lý của công ty A sau thời gian công tác tham quan và học hỏi ở một số công ty nước ngoài đã đưa ra được phương án đào tạo và quản lý công nhân mới. Nhờ phương án mới này mà công nhân làm việc hiệu quả hơn, tiêu tốn ít sức lực hơn từ đó nâng cao được năng suất làm việc của họ.

    – Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả.

    – Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Trung Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    – Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó.

    – Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn.

    1.3.2.2. Nguyên nhân khách quan tích cực:

    – Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty.

    – Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường.

    – Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi.

    – Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng.

    1.3.2.3. Nguyên nhân chính khách quan tiêu cực:

    – Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí.

    – Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển.

    – Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng.

    – Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này

    – Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng

    – Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn.

    – Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng.

    – Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng.

    – Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

    – Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào.

    – Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài.

    – Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu.

    – Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra.

    – Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty.

    1.3.3. Các biện pháp cho các nguyên nhân chính chủ quan:

    – Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

    – Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

    – Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    – Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

    – Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

    – Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

    – Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

    – Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

    Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng lao động tại công ty A:

    2.1. Mục đích và ý nghĩa:

    2.1.1. Mục đích:

    – Đánh giá các kết quả, tình hình thực hiện chỉ tiêu sử dụng lao động của công ty. Để từ đó đưa ra những yêu cầu và phương thức sử dụng lao động hợp lý nhất.

    – Tính toán mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu sử dụng lao động tới kết quả của giá trị sản xuất trong kỳ. Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các chỉ tiêu đó, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của giá trị hàng sản xuất của công ty.

    – Trên cơ sở đó, đề xuất 1 số phương hướng và chính sách để khuyến khích lao động, sử dụng lao động một cách hiệu quả nhằm nâng cao năng suất cũng như chất lượng thành phẩm.

    – Ngoài ra việc phân tích các chỉ tiêu cụ thể là cơ sở giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định trong chỉ đạo kinh doanh.

    2.1.2. Ý nghĩa:

    – Giá trị sản xuất của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng, ảnh hưởng đến mục đích kinh doanh, nên việc phân tích giá trị sản xuất có ý nghĩa cho nhà quản trị kinh doanh.

    – Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng sức lao động để biết được việc hoàn thành kế hoạch sản xuất có ảnh hưởng đến việc hoàn thành các chỉ tiêu tiêu thụ và lợi nhuận cũng như quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    – Phân tích giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng sức lao động để phát hiện ra những lợi thế, khó khăn của doanh nghiệp trong công tác quản lý và sử dụng lao động.

    – Đánh giá công tác tổ chức, quản lý sản xuất theo lao động:

    + Đánh giá sự phân công hợp lý, phù hợp với năng lực trình độ của từng người lao động, kiểm tra, điều độ sản xuất kịp thời.

    + Phát hiện ra những điểm hợp lý và bất hợp lý trong tổ chức quản lý sản xuất.

    2.2. Phân tích:

    2.2.1. Phương trình kinh tế:

    – Chỉ tiêu tổng thể: Giá trị sản xuất trong kỳ : G (103đ)

    – Chỉ tiêu cá biệt:

    + Số lao động bình quân: N ( Người)

    + Số ngày làm việc bình quân: T  ( Ngày/ người)

    + Số giờ làm việc trong ngày: t  (Giờ/ ngày)

    + Năng suất giờ bình quân: Ph  ( 103đ/ giờ)

    – Phương trình kinh tế:

    Gs = N x T x t x Ph

    2.2.2. Lập bảng phân tích:

    BẢNG 2: BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT THEO CÁC CHỈ TIÊU SỬ DỤNG MÁY MÓC TẠI CÔNG TY A

    STT

    Chỉ tiêu

    KH

    Đơn vị

    Kỳ gốc

    Kỳ nghiên cứu

    So sánh (%)

    Chênh lệch

    MĐAH đến G2 (%)
    Tuyệt đối (103đ) Tương đối (%)
    1 Số lao động có bình quân trong kì

    N Chiếc 112 119 106,25 7,00 12.212.760 6,25
    2 Số ngày làm việc bình quân trong kì T Ngày/chiếc 217 225 103,69 8,00 7.654.080 3,92
    3 Số giờ làm việc bình quân trong ngày t Giờ/ ngày 6,7 6,9 102,99 0,20 6.426.000 3,29
    4 Năng suất giờ bình quân Ph 103 đ/h 1200 1340 111,67 140,00 25.864.650 13,24
    Giá trị sản xuất trong kỳ (G2) Gs 103 đ 195.404.160 247.561.650 126,69 52.157.490,00

    2.2.3. Nhận xét chung:

    Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc tại công ty A ta thấy giá trị sản xuất tại kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu tăng 52.157.490 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 26,69%. Chỉ tiêu giá trị sản xuất được cấu thành bởi bốn chỉ tiêu là số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc trong ngày và năng suất giờ bình quân. Trong đó thì tất cả các chỉ tiêu đều tăng. Xét trên khía cạnh mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu trên tới giá trị sản xuất trong kỳ ta thấy: chỉ tiêu năng suất giờ bình quân có mức độ ảnh hưởng tới Gs là lớn nhất với mức độ ảnh hưởng tuyệt đối là 25.864.650 nghìn đồng tương ứng với mức độ ảnh hưởng tương đối là 13,24%. Ngược lại, chỉ tiêu số giờ làm việc trong ngày có mức độ ảnh hưởng thấp nhất đối với giá trị sản xuất. Cụ thể là mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 6.426.000 nghìn đồng với mức ảnh hưởng tương đối là 3,29%. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng đáng kể của giá trị sản xuất trong kỳ gồm:

    – Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, bảo gồm cả đơn đặt hàng trong nước và nước ngoài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực giúp doanh nghiệp tăng thị phần các ngành hàng của mình, tăng tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu. Trong kỳ gốc, thị trường nước ngoài của công ty chỉ tập trung tại hai nước lớn là Mỹ và Nhật, đến kỳ nghiên cứu, do nhận thấy được xu hướng tiêu dùng mặt hàng may mặc của người dân tại một số nước châu Âu tăng do vậy công ty quyết định đầu tư và phát triển một số ngành hàng mới tại thị trường tiềm năng này. Bên cạnh đó, nhu cầu cũng như khả năng tiêu dùng của thị trường trong nước tăng nhanh, là một trong những nguyên nhân tăng sản lượng sản xuất trong kỳ nghiên cứu.

    – Giá trị hàng xuất khẩu tăng một phần nguyên nhân là do chất lượng mặt hàng của doanh nghiệp ngày càng tăng đi cùng với sự mạnh dạn trong đầu tư thay mới và cải tiến máy móc. Do được đi tham khảo học tập tại một số công ty lớn ở Nhật và Trung Quốc, công ty tiếp thu được một số phương pháp, dây chuyền sản xuất mới, giúp tăng năng suất từ đó làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

     

    2.2.4. Phân tích chi tiết:

    A, Xét chỉ tiêu số máy móc bình quân:

    Từ bảng phân tích, ta thấy số máy móc bình quân của kỳ nghiên cứu là 119 người, tăng 7 chiếc so với kỳ gốc với mức tăng tương đối là 6,25%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu máy móc bình quân tới giá trị sản xuất trong kỳ là 12.212.760 nghìn đồng tương ứng với mức ảnh hưởng tương đối là 6,25%. Nguyên nhân dẫn đến tăng số lao động là:

    Nguyên nhân 1: Công ty mở rộng ngành nghề sản xuất mua sắm thêm máy móc

    Do nhận thấy thị trường nhu cầu mặt hàng quần jeans có tiềm năng lớn trong khi có ít đối thủ cạnh tranh công ty quyết định sản xuất thêm mặt hàng quần jeans. Do đó công ty phải mua sắm thêm máy móc để phục vụ sản xuất mặt hàng mới. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Công ty nhận được nhiều đơn đặt hàng

    Do doanh nghiệp làm ăn uy tín, sản phẩm chất lượng cao, giá thành phù hợp nên kì nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng. Tuy nhiên do số lượng máy móc hiện tại không đủ để đáp ứng lượng lớn đơn hàng do đó doanh nghiệp quyét định mua sắm thêm máy móc . Đây là nguyên nhân khách quan tích cực đối với doanh nghiệp.

    Nguyên nhân 3: Công ty thành công trong việc mở rộng cả thị trường trong nước.

    Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải mua sắm thêm máy móc góp vào nâng cao sản lượng sản xuất. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 4: Do trong kì nghiên cứu thuế nhập khẩu máy móc giảm, công ty quyết định mua sắm thêm máy móc thay cho loại đã cũ, lạc hậu

    Trong kì nghiên cứu do hiệp định thương mại tự do FTA Việt Nam- Hàn QUốc có hiệu lực từ đó thuế nhập khẩu máy móc giảm so với kì gốc; công ty đã quyêt thanh lí, thay thế những máy móc đã cũ lạc hậu và mua sắm thêm thiết bị máy móc để nâng cao chất lượng, sản lượng sản phẩm. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực

    Biện pháp đề xuất:

    – Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

    – Cần bảo quản, quản lí máy móc trang thiết bị một cách thường xuyên, thanh lí những máy móc cũ, năng suất kém, mua sắm thêm máy móc khi cần thiết để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm.

    – Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

    B, Xét chỉ tiêu số ngày làm việc bình quân

    Từ bảng phân tích, ta thấy số ngày làm việc bình quân của công nhân tăng từ 217 ngày/chiếc ở kỳ gốc lên 225 ngày/chiếc ở kỳ nghiên cứu. Mức tăng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 8 ngày/chiếc tương ứng với mức tăng tương đối là 3,69%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu số ngày làm việc bình quân đến tổng giá trị sản xuất được trong kỳ là 7.654.080 nghìn đồng, mức ảnh hưởng tương đối là 3,92%. Nguyên nhân dẫn đến việc công nhân phải tăng ngày làm việc trong kỳ lên là:

    Nguyên nhân 1: Lượng hàng nhiều hơn yêu cầu công nhân phải tăng ca để giao hàng kịp thời.

    Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách do đó thì thời gian sử dụng máy móc cũng tăng theo. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Số ngày bảo dưỡng, bảo trì máy móc ít đi

    Trong kỳ nghiên cứu, do máy móc đã hoạt động lâu nên cần đợt bảo dưỡng, duy tu lớn. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu do máy móc đã qua đợt bảo dưỡng lớn cho nên thời gian làm việc tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Nguyên nhân 3: Chất lượng bảo dưỡng máy móc được nâng cao

    Tại kỳ gốc, máy móc được bảo dưỡng nhiều lần tuy nhiên chất lượng mỗi lần bảo dưỡng không cao. Sang kì nghiên cứu bộ phận kĩ thuật đã có những biện pháp thay đổi làm cho số lần bảo dưỡng ít đi và vẫn đảm bảo chất lượng vận hành của máy móc một cách tốt nhất. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Nguyên nhân 4: Khắc phục được tình trạng mất điện dài ngày do thời tiết

    Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất.. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Biện pháp đề xuất:

    – Tiếp tục duy trì nâng cao chất lượng mỗi lần bảo dưỡng máy móc từ đó làm giảm được thời gian bảo dưỡng.

    – Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

    C, Xét chỉ tiêu số giờ làm việc bình quân trong ngày:

    Từ bảng phân tích ta có thể thấy số giờ làm việc trong ngày tăng nhẹ, tăng 0,2 giờ/ngày, tăng từ 6,7 giờ/ngày ở kỳ gốc lên 6,9 giờ/ngày ở kỳ nghiên cứu. Mức tăng tương đối của chỉ tiêu số giờ làm việc bình quân là 2,99%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này tới tổng giá tị sản xuất trong kỳ (Gs) là 6.426.000 nghìn đồng, mức độ ảnh hưởng tương đối tới Gs là 3,29%. Nguyên nhân dẫn đến số giờ làm việc bình quân một ngày tăng là:

    Nguyên nhân 1: Do số lượng đơn hàng lớn trong khi thời gian ngắn công ty cho công nhân tăng ca

    Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân. Từ đó làm thời gian sử dụng máy móc tăng. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Quy định mới của công ty về thời gian bắt đầu vào làm.

    Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu. Từ đó dẫn tới thời gian sử dụng máy móc tăng.  Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 3:  Có 2 lô hàng lớn do khách hàng trong nước đặt bị lỗi, thời gian làm việc của công nhân tăng lên để sửa lỗi lô hàng.

    Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng. Từ đó thì thời gian sử dụng máy móc tăng. Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 4: Do ý thức lao động của công nhân được cải thiện

    Ở kì nghiên cứu nhận thấy xuất hiện nhiều tình trạng công nhân đi sớm về muộn, bỏ ca, thái độ làm việc hời hợt. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã có nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng này đó là: nâng cao quá trình giám sát công nhân, có chế độ lương thưởng phù hợp theo tháng, quý đối với những công nhân được bình bầu tốt….. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Biện pháp đề xuất:

    – Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

    – Nâng cao việc quản lí, giám sát công nhân trong quá trình làm viêc. Có sự khuyến khích động viên kịp thời đối với những công nhân làm việc chăm chỉ, năng suất cao..

    – Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

    D, Xét chỉ tiêu năng suất giờ bình quân:

    Từ bảng phân tích ta thấy rằng, năng suất giờ bình quân của máy móc tăng đáng kể với mức tăng tuyệt đối là 140.000 đồng/giờ tương đương với mức tăng tương đối là 11,67% (Từ 1.200.000 đồng/giờ lên 1.340.000 đồng/giờ ở kỳ nghiên cứu). Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu năng suất giờ bình quân đến giá trị sản xuất trong kỳ (Gs) là 25.864.650 (103đ), mức độ ảnh hưởng tương đối đến Gs là 13,24%. Nguyên nhân dẫn đến biến động này là:

    Nguyên nhân 1: Do nghiên cứu, cải tiến của bộ phận kĩ thuật

    Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Máy móc, dây chuyền sản xuất mới

    Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 3: Do công nhân được đào tạo để sử dụng máy móc tốt hơn.

    Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 4: Để đáp ứng số lượng đơn hàng lớn

    Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Biện pháp đề xuất:

    – Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

    – Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

    2.3. Kết luận chương:

    2.3.1. Kết luận chung:

    Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc tại công ty A ta thấy giá trị xuất khẩu tại kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu tăng 52.157.490 (nghìn đồng) tương ứng với mức tăng tương đối là 26,69%. Chỉ tiêu giá trị sản xuất được cấu thành bởi bốn chỉ tiêu là số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc trong ngày và năng suất giờ bình quân. Trong đó thì tất cả các chỉ tiêu đều tăng. Xét trên khía cạnh mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu trên tới giá trị sản xuất trong kỳ ta thấy: chỉ tiêu năng suất giờ bình quân có mức độ ảnh hưởng tới Gs là lớn nhất với mức độ ảnh hưởng tuyệt đối là 25.864.650 nghìn đồng tương ứng với mức độ ảnh hưởng tương đối là 13,24%. Ngược lại, chỉ tiêu số giờ làm việc trong ngày có mức độ ảnh hưởng thấp nhất đối với giá trị sản xuất. Cụ thể là mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 6.426.000 nghìn đồng với mức ảnh hưởng tương đối là 3,29%.

    2.3.2. Các nguyên nhân chính:

    2.3.2.1. Nguyên nhân chủ quan tích cực:

    Do nhận thấy thị trường nhu cầu mặt hàng quần jeans có tiềm năng lớn trong khi có ít đối thủ cạnh tranh công ty quyết định sản xuất thêm mặt hàng quần jeans. Do đó công ty phải mua sắm thêm máy móc để phục vụ sản xuất mặt hàng mới

    Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải mua sắm them máy móc góp vào nâng cao sản lượng sản xuất.

    Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách do đó thì thời gian sử dụng máy móc cũng tăng theo

    Trong kỳ nghiên cứu, do máy móc đã hoạt động lâu nên cần đợt bảo dưỡng, duy tu lớn. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu do máy móc đã qua đợt bảo dưỡng lớn cho nên thời gian làm việc tăng lên

    Tại kỳ gốc, máy móc được bảo dưỡng nhiều lần tuy nhiên chất lượng mỗi lần bảo dưỡng không cao. Sang kì nghiên cứu bộ phận kĩ thuật đã có những biện pháp thay đổi làm cho số lần bảo dưỡng ít đi và vẫn đảm bảo chất lượng vận hành của máy móc một cách tốt nhất

    Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất

    Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân. Từ đó làm thời gian sử dụng máy móc tăng

    Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu. Từ đó dẫn tới thời gian sử dụng máy móc tăng

    Ở kì nghiên cứu nhận thấy xuất hiện nhiều tình trạng công nhân đi sớm về muộn, bỏ ca, thái độ làm việc hời hợt. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã có nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng này đó là: nâng cao quá trình giám sát công nhân, có chế độ lương thưởng phù hợp theo tháng, quý đối với những công nhân được bình bầu tốt…..

    Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta.

    Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

    Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

    Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp

    2.3.2.2. Nguyên nhân chủ quan tiêu cực:

    Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng.

    2.3.2.3. Nguyên nhân khách quan tích cực:

    Do doanh nghiệp làm ăn uy tín, sản phẩm chất lượng cao, giá thành phù hợp nên kì nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng. Tuy nhiên do số lượng máy móc hiện tại không đủ để đáp ứng lượng lớn đơn hàng do đó doanh nghiệp quyét định mua sắm thêm máy móc

    Trong kì nghiên cứu do hiệp định thương mại tự do FTA Việt Nam- Hàn QUốc có hiệu lực từ đó thuế nhập khẩu máy móc giảm so với kì gốc; công ty đã quyêt thanh lí, thay thế những máy móc đã cũ lạc hậu và mua sắm thêm thiết bị máy móc để nâng cao chất lượng, sản lượng sản phẩm

     

    2.3.3. Các biện pháp cho các nguyên nhân chính:

    – Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

    – Cần bảo quản, quản lí máy móc trang thiết bị một cách thường xuyên, thanh lí những máy móc cũ, năng suất kém, mua sắm thêm máy móc khi cần thiết để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm.

    – Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

    – Tiếp tục duy trì nâng cao chất lượng mỗi lần bảo dưỡng máy móc từ đó làm giảm được thời gian bảo dưỡng.

    – Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

    – Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

    – Nâng cao việc quản lí, giám sát công nhân trong quá trình làm viêc. Có sự khuyến khích động viên kịp thời đối với những công nhân làm việc chăm chỉ, năng suất cao..

    – Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

    – Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

    – Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

     

    PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận:

    Tại kỳ nghiên cứu tuy công ty gặp nhiều khó khăn trong việc gom đủ hàng để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu, công ty vẫn có những hướng đi đúng đắn trong việc nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Nhìn lại bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng lao động tại công ty A ta thấy giá trị hàng đản bảo xuất khẩu (G­1)  tăng 9,48% từ trên 268 tỉ đồng lên hơn 294 tỉ đồng. Trong đó giá trị hàng công ty tự sản xuất chiếm 67,64% trên tổng G1 với mức tăng tương đối là 18,41%. Ngược lại, các phương thức gom hàng gồm nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng và đặt công ty khác gia công đều giảm. Thu mua hàng bằng đặt gia công giảm mạnh 25,9%  so với kỳ gốc. Các phương thức còn lại giảm trong khoảng 10-20%. Nhận thấy được nhiều lợi thế khi thu mua hàng từ khu chế xuất, công ty tích cực tạo dựng mối quan hệ làm ăn với các công ty trong khu chế xuất do vậy trong kỳ nghiên cứu giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua được bằng phương thức này tăng 13,75% so với kỳ gốc, tốc độ tăng nhiều nhất trong các phương thức.

    Giá trị sản xuất trong kỳ của công ty A tăng do sự đóng góp không nhỏ của các chỉ tiêu như số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc bình quân ngày và năng suất giờ bình quân. Các chỉ tiêu trên đều tăng cùng với giá trị sản xuất của công ty. Giá trị sản xuất của công ty tăng trên 50 tỉ đồng. Trong kỳ công ty mua thêm 7 máy móc . Số ngày làm việc bình quân tăng 8 ngày tương ứng với mắc tăng tương đối là 3,69%. Sô giờ làm việc trong ngày tăng 2,99 % lên 6,9 giờ/ ngày. Năng suất giờ bình quân tăng nhiều nhất với mức tăng tương đối là 11,67%.

    1. Các nguyên nhân chính:

    – Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

    – Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả.

    – Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Hàn Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    – Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó.

    – Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn.

    – Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty.

    – Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường.

    – Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi.

    – Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng.

    – Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí.

    – Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển.

    – Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng.

    – Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này

    – Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng

    – Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn.

    – Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng.

    – Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng.

    – Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

    – Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào.

    – Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài.

    – Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu.

    – Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra.

    – Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty.

    – Công đoàn là bộ phận đại diện cho tinh thần của công nhân. Trong kỳ nghiên cứu, công ty phát huy tốt vai trò của công đoàn khi tiến hành tổ chức các kỳ nghỉ cho công nhân trong đó có chuyến du lịch dài đi Đà Nẵng với kinh phí một nửa do công ty tài trợ. Ngoài ra công đoàn công ty còn tiến hành thăm hỏi các công nhân, cán bộ quản lý bị ốm đau, sinh nở,… tặng quà và trợ cấp cho họ.

    – Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Mỹ, Nhật… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

    – Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu.

    – Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân.

    – Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất

    Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta

    Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

    Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

    Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp

    – Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách. Tuy nhiên việc tăng ca không quá nhiều để tránh gây tổn hại tới sức khỏe của công nhân.

    – Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải tuyển thêm công nhân đóng góp vào nâng cao sản lượng sản xuất.

    – Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng.

    1. Biện pháp và kiến nghị:

    – Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

    – Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

    – Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    – Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

    – Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

    – Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

    – Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

    – Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

    – Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

    – Quan tâm đến tái cơ cấu tổ chức, hoàn thiện bộ máy quản lý để công ty nâng cao năng suất làm việc, thu được nhiều lợi nhuận hơn. Loại bỏ  những quản lý, công nhân thiếu năng lực và thay thế những người làm tốt vào.

    – Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

    – Tiếp tục duy trì các quỹ hỗ trợ cần thiết cho công nhân nhằm giữ vững tinh thần lao động của công nhân tránh tình trạng công nhân chán làm. Bên cạnh đó quản lý chặt chẽ ngày giờ đi làm của công nhân để đảm bảo năng suất công việc và là cơ sở đến trả lương cho công nhân.

    – Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

    – Lên kế hoạch mở rộng thị trường để thu hút nhiều đơn đặt hàng hơn.

    – Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

    – Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

    – Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

    – Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

    Nhìn chung giá trị sản xuất trong kỳ của công ty A tăng đáng kể với tốc độ cao. Tuy nhiên để duy trì và phát huy được những kết quả, thành tựu khác cao hơn công ty cần phải đánh giá tổng thể nhu cầu của toàn thị trường, từ đó đưa ra được những phương án hợp lý cho công ty, đưa công ty hướng lên trong các giai đoạn về sau. Trở thành một trong những công ty lớn trên cả nước, vững mạnh phát triển. Khi gặp phải những khó khăn, rào cản thì cần đưa ra những phương án giải quyết tối ưu nhất để không ảnh hưởng đến mối quan hệ của các bên tham gia. Mặc dù đảm bảo hàng xuất khẩu bằng phương pháp tự sản xuất sẽ gặp phải một số khó khăn liên quan đến chất lượng, giá thành sản phẩm; không đáp ứng đủ thị hiếu của khách hàng nhưng công ty cần có những biện pháp phát triển năng lực sản xuât đúng đắn, hiệu quả. Nhưng phương thức khác như nhập khẩu, thuê gia công, mua từ công ty chuyên cung ứng… đề có mặt hạn chế, do vậy công ty chỉ nên sử dụng những phương pháp này để ứng phó với những trường hợp thiếu hàng khẩn cấp hoặc thời gian giao hàng ngắn mà cơ sở vật chất cũng như dây chuyền sản xuất của công ty không kịp đáp ứng.

     

    KẾT LUẬN

    Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp tự đánh giá về thế mạnh, điểm yếu để củng cố, phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý. Từ đó, doanh nghiệp tận dụng và phát huy mọi tiềm năng, khai thác tối đa những nguồn lực nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. Kết quả của phân tích là cơ sở để đưa ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro trong kinh doanh.

    Thông qua việc phân tích và thường xuyên phân tích hoạt động kinh tế có tác dụng nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của công ty, thông qua việc phân tích kinh tế thường xuyên có tác dụng ngăn ngừa khuynh hướng cục bộ không lành mạnh, phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, mở rộng sản xuất. Qua tài liệu phân tích giúp công ty thấy được mặt mạnh, mặt yếu của mình mà chỉ đạo sản xuất cũng như quản lý tài chính của xã hội được thực hiện một cách có hiệu quả. Chính vì vậy phân tích kinh tế có vai trò hết sức quan trọng trong việc chỉ đạo và lãnh đạo kinh tế.

    Qua lần làm bài tập lớn này em đã hiểu được nhiều về công tác phân tích, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là do rất nhiều nhân tố tác động tạo nên, có những nhân tố tác động tích cực nhưng cũng có những nhân tố tác động tiêu cực. Và phải nhận thức rõ đối tượng phân tích và góc độ của người phân tích để có thể đi đến được kết luận về sự biến động của các chỉ tiêu để có thể có biện pháp hợp lý giải quyết tận gốc vấn đề.

    Em xin cảm ơn thầy Nguyễn Phong Nhã đã hướng dẫn tận tình, giúp em hoàn thiện bài đồ án môn học này.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Quản Trị Tài Chính

    Quản Trị Tài Chính

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Quản Trị Nhân Sự – Quản Trị Chiến Lược – Quản Trị Doanh Nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/03/quan-tri-tai-chinh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH

    Câu 1:Vai trò và nội dung chủ yếu của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp?

    Vai trò:

    • Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

    Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài. Do vậy, vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp.

    • Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả:

    Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên gắn liền với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn.

    • Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Thông qua các tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.

    Nội dung:

    • Tham gia đánh giá, lựa chọn, các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh.
    • Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp.
    • Tổ chức sử dụng tốt các số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
    • Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp.
    • Đảm bảo kiểm tra,kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính.
    • Thực hiện tốt việc kế hoạch hoá tài chính.

    Câu 2: Các cách phân loại TSCĐ – VCĐ của doanh nghiệp?  Nêu mục đích của mỗi cách phân loại đối với việc quản trị TSCĐ-VCĐ trong DN. Cho ví dụ minh họa

    1. Phân loại theo hình thái biểu hiện

    Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 2 loại:

    -TSCĐ hữu hình là những tài sản được biểu hiện bằng những hình thái hiện vật cụ thể như nhà cửa, máy móc thiết bị…

    -TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất, thể hiện 1 lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đầu tư và phát triển, bằng sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại…

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp vào TSCĐ hữu hình và vô hình, từ đó lựa chọn các quyết định đầu tư đúng đắn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất.

    1. Phân loại theo mục đích sử dụng

    Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 3 loại sau đây:

    – TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: là những TSCĐ vô hình hay TSCĐ hữu hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm: quyền sử dụng đất, chi phí thành lập doanh nghiệp, vị trí cửa hàng, nhãn hiệu sản phẩm,… nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý, vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và (hoặc) cho sản phẩm, các loại TSCĐ khác chưa liệt kê vào 5 loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật…

    – TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng.

    – TSCĐ bảo quản hộ, cất giữ cho nhà nước, cho các doanh nghiệp khác.

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu TSCĐ theo mục đích sử dụng của nó, từ đó có biện pháp quản lý TSCĐ theo mục đích sử dụng sao cho có hiệu quả nhất.

    1. Phân loại theo công dụng kinh tế

    Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 2 loại:

    -TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh là những TSCĐ hữu hình và vô hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị truyền dẫn, máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải; những TSCĐ không có hình thái vật chất khác…

    -TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh: là những TSCĐ dùng cho phúc lợi công cộng, không mang tính chất sản xuất kinh doanh. Bao gồm: nhà cửa, phương tiện dùng cho sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao, nhà ở và các công trình phúc lợi tập thể…

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy rõ kết cấu TSCĐ và vai trò, tác dụng của TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng TSCĐ và tính toán khấu hao chính xác.

    1. Phân loại theo mức độ sử dụng

    Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 3 loại:

    – TSCĐ đang sử dụng là những TSCĐ đang sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp như hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng.

    – TSCĐ chưa sử dụng là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp, song hiện tại chưa cần dùng, đang được dự trữ để sử dụng sau này.

    – TSCĐ chờ xử lý là những TSCĐ không cần thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần được thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu.

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy mức độ sử dụng có hiệu quả các TSCĐ của doanh nghiệp như thế nào, từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng của chúng.

    1. Phân loại theo quyền sở hữu

    Căn cứ vào tình hình sở hữu có thể chia TSCĐ thành 2 loại:

    – TSCĐ tự có: TSCĐ là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp.

    – TSCĐ đi thuê: TSCĐ là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp khác bao gồm: TSCĐ thuê hoạt động và TSCĐ thuê tài chính.

    Đối với loại TSCĐ này, doanh nghiệp phải tiến hành theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao như đối với TSCĐ thuộc sở hữu của doanh nghiệp.

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy kết cấu TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và  TSCĐ thuộc sở hữu của người khác mà khai thác, sử dụng hợp lý TSCĐ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả đồng vốn.

     

    Câu 3:  Nêu nội dung và ý nghĩa của các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định? Phân tích phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ, VCĐ

    • Nội dung và ý nghĩa của các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định
    1. Hệ số trang bị máy móc thiết bị cho công nhân trực tiếp sản xuất:

    Hệ số trang bị máy móc, thiết bị =

    – Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh giá trị TSCĐ bình quân trang bị cho một công nhân trực tiếp sản xuất. Hệ số càng lớn phản ánh mức độ trang bị TSCĐ cho sản xuất của doanh nghiệp càng cao.

    1. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ.

    Hiệu suất sử dụng TSCĐ =  x100%

    Trong đó:

    – TSCĐ bình quân =1/2 ( Giá trị TSCĐ đầu kỳ + Giá trị TSCĐ ở cuối kỳ).

    – Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần. Hiệu suất càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ càng cao.

    1. Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên TSCĐ.

    Lợi nhuận ròng trên TSCĐ =  x 100%

    Trong đó:

    – Lợi nhuận ròng là chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ sau khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp. Chú ý ở đây muốn đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng TSCĐ thì lợi nhuận ròng chỉ bao gồm phần lơị nhuận do có sự tham gia trực tiếp của TSCĐ tạo ra. Vì vậy phải loại bỏ lợi nhuận từ các hoạt động khác.

    – Ý nghĩa: Cho biết một đồng TSCĐ sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Giá trị này càng lớn càng tốt.

    1. Hiệu suất sử dụng vốn cố định:

    Hiệu suất sử dụng vốn cố định =  x 100%

    VCĐ bình quân = ½ (VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ)

    Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định, nó giúp cho các nhà phân tích biết được đầu tư một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

    • Phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ, VCĐ

    Phương hướng:

    • Thứ nhất, với quy mô TSCĐ – VCĐ không phải đầu tư tăng thêm, phấn đấu đạt tổng doanh thu và tổng lợi nhuận cao hơn. Đây không phải là phương hướng chính yếu, vì khi mọi TSCĐ đã được tổ chức sắp xếp và quản lý tốt thì không thể tăng kết quả SXKD được nữa.
    • Thứ hai, duy trì quy mô kết quả SX kinh doanh đã đạt được không bị giảm sút, phấn đấu giảm bớt số VCĐ. Đây không phải là phương hướng chính yếu, vì kết quả nó mang lại không lớn và chỉ thực hiện khi có TSCĐ tỏ ra kém hiệu quả KT.
    • Thứ ba, tăng cường đầu tư thêm về TSCĐ song phải đảm bảo tính toán chính xác và tổ chức thực hiện tốt các phương án đầu tư tăng thêm để sao cho tốc độ tăng kết quả SX kinh doanh cao hơn tốc độ tăng vốn đầu tư. Đây là phương hướng mang kết quả không hạn chế cho DN.

    Biện pháp:

    • Hoàn thiện qui trình theo qui trình ra quyết địnhmua sắm TSCĐ
    • Tăng cường đổi mới công nghệ, quản lý sử dụng và bảo dưỡng TSCĐ.
    • Thanh lý, xử lý các TSCĐ không dùng đến.
    • Tận dụng năng lực của TSCĐ trong công ty.
    • Lựa chọn nguồn tài trợ dài hạn hợp lý.
    • Hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ.
    • Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên trong công ty.

    Câu 4: Các cách phân loại TSLĐ – VLĐ của doanh nghiệp?  Nêu mục đích của mỗi cách phân loại đối với việc quản trị TSLĐ-VLĐ trong DN.

    1. Căn cứ theo khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản.
    • Tiền:

    Bao gồm tiền mặt tại các quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, tiền dưới dạng séc, tiền trong thẻ tín dụng và trong tài khoản ATM. Bên cạnh đó, còn có các tài sản dạng đặc biệt như: vàng, bạc, đá quý, kim khí quý được dùng cho mục đích dự trữ.

    • Các khoản phải thu:

    Các khoản phải thu là nguồn tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, dặc biệt là các công ty thương mai, mua bán hàng hóa. Các khoản phải thu bảo gồm: phải thu của khách hàng, trả trước người bán, phải thu từ các đơn vị nội bộ, phải thu khác, dự phòng phải thu khó đòi.

    • Hàng tồn kho:

    Gồm các loại nguyên vật liệu chính, vậy liệu phụ, nhiên liêu, phụ tùn thay thế, vật đóng gói và công cụ, dụng cụ phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; các sản xuất dở dang (các sản phẩm đang chế tạo); thành phẩm.

    • Các tài sản lưu động khác (tạm ứng, đặt cọc,…)
    • Mục đích: Doanh nghiệp có thể xem xét đánh giá mức độ tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán trong doanh nghiệp, kết câu tài sản lưu dộng theo khả năng chuyển hóa thành tiền, từ đó doanh nghiệp có hướng điều chỉnh hợp lý và hiệu quả.
    1. Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh

    Tài sản lưu động được chia làm 3 loại chủ yếu:

    1. Tài sản lưu động trong khâu dự trữ sản xuất:Bao gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, công cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ dụng cụ nhỏ
    2. Tài sản lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất: Bao gồm sản phẩm đang chế tạo (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm), chi phí trả trước, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
    3. Tài sản lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm hàng hóa, thành phẩm, tiền, các khoản phải thu, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán ( các khoản phải thu, tạm ứng,…)
    • Mục đích: Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh để phân chia tài sản lưu động – vốn lưu động giúp nhà quản trị lập ra các phương án quản lý, sử dụng đối với từng loại tài sản lưu động sao cho chúng đạt được mục tiêu hiệu quản nhất, phù hợp nhất.
    1. Căn cứ theo phương pháp quản lí vốn

    Vốn lưu động được chia thành 2 loại:

    1. Vốn lưu động định mức: là các khoản vốn lưu động vận động tuân theo quy luật nhất định, doanh nghiệp có thể dựa vào các điều kiện có thể dự đoán tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của đơn vị mà xác định nhu cấu cần thiết tối thiểu, đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách bình thường liên tục

    VD: Về vốn lưu động định mức như vốn về nguyên vật liệu,nhiên liệu,…

    1. Vốn lưu động không định mức: là những khoản vốn vận động không tuân theo những quy luật mà doanh nghiệp có thể nắm bắt được, không thể dựa vào các điều kiện và tình hình thực tế của mình để xác định chính xác nhu cần cần thiết, tối thiểu. Hầu hết các khoản vốn trong quá trình lưu thông thanh toán đều thuộc vào loại này, chẳng hạn các khoản phải thu, vốn bằng tiền,…
    2. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn

    Có thể chia vốn lưu động thành 2 loại:

    1. Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt. Bao gồm: Nguồn ngân sách liên doanh, liên kết; nguồn vốn cổ phần, tự bổ sung,…
    2. Nợ phải trả: Nguồn vốn đi vay, nguồn vốn trong thanh toán
    • Mục đích: Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động được hình thành bằng vốn của doanh nghiệp hay từ các khoản nợ, từ đó các quy định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn.

    Câu 5: Khấu hao tài sản cố định là gì? Tính khấu hao đúng và hợp lí có tác dụng gì? Trình bày các phương pháp tính khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp? Nêu ưu nhược điểm của từng cách tính khấu hao.

    • Khấu hao tài sản cố định làsự phân bổ một cách có kế hoạch giá trị phải khấu hao tài sản cố định vào thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó, sau đó phân bổ vào các sp mà nó làm ra với tư cách là 1 yếu tố chi phí trong giá thành sp.
    • Tính khấu hao đúng và hợp lí có tác dụng:
    • Khấu hao hợp lý là biện pháp quan trọng để thực hiện bảo toàn VCĐ,làm cho DN có thể thu hồi được đầy đủ VCĐ khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
    • Khấu hao hợp lý giúp DN có thể tập trung được vốn từ tiền khấu hao để có thể thực hiện kịp thời việc đổi máy móc, thiết bị công nghệ.
    • Việc xác định Khấu hao hợp lý là 1 nhân tố quan trọng để xác định đúng đắn giá thành sp và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của DN.

    Phương pháp tính khấu hao tài sản cố định:

    1. Phương pháp tính khấu hao theo đường thẳng:

    Mức khấu hao trung bình hàng năm =  (đ/năm)

    Mức khấu hao trung bình hàng tháng =  (đ/tháng)

    • Ưu điểm: tính toán đơn giản
    • Nhược điểm: không phản ánh chính xác hao mòn của TSCĐ; không tạo điều kiện thu hồi nhanh vốn để kịp thời khắc phục hao mòn vô hình.
    1. Phương pháp tính khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh:

    Theo phương pháp này thì số tiền khấu hao hàng năm được tính bằng lấy giá trị còn lại xủa TSCĐ theo thời gian sử dụng nhân với tỷ lệ khấu hao nhanh. Như vậy, mức và tỷ lệ khấu hao theo thời gian sử dụng sẽ giảm dần.

    Có thể tính mức khấu hao hàng năm theo thời hạn sử dụng như sau:

    Ai = NGi x Kkhn

    Trong đó:

    Ai: Mức khấu hao ở năm thứ i

    NGi: Giá trị còn lại của TSCĐ vào đầu năm sử dụng thứ i

    Kkhn: Tỷ lệ khấu hao nhanh

    Kkhn = Kkhđt x Hđc

    Kkhđt là tỷ lệ khấu hao theo đường thẳng = 1/Tsd

    Hđc là hệ số xác định: Tsd <= 4 thì Hđc = 1,5

    4 < Tsd <= 6 thì Hđc = 2

    Tsd > 6 thì Hđc = 2,5

    Ở những năm sử dụng cuối, khi mức khấu hao xác định theo Phương pháp tính khấu hao theo số dư giảm dần còn bằng hoặc nhỏ hơn số bình quân giữa gt còn lại và số năm sử dụng còn lại thì kể từ đó mức khấu hao hàng năm tính bằng gt còn lại chia cho số năm sử dụng còn lại.

    • Ưu điểm: tạo điều kiện thu hồi vốn nhanh và kịp thời đổi mới TSCĐ, khắc phục được hao mòn vô hình.
    • Nhược điểm: Phức tạp, khó tính toán; Tiền khấu hao theo phương pháp này có thể làm cho giá thành sp biến động một cách bất hợp lý.
    1. Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm:

    Xác định mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định theo công thức dưới đây:

    Trong đó:

    Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định bằng tổng mức trích khấu hao của 12 tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau:

    Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của tài sản cố định.

    • Ưu điểm: phản ánh tương đối chính xác hao mòn của TSCĐ; giá thành sp không bị biến động bất thường.
    • Nhược điểm: trong điều kiện khó khăn của việc khai thác, khối lượng sp không đạt các định mức tính toán thì DN có thể không thu hồi đủ số khấu hao cần thiết của TSCĐ.

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Cho đi và nhận lại

    [Văn Nghị luận Mẫu] Cho đi và nhận lại

    Cho đi và nhận lại?

    Trong cuộc sống này những gì mà bạn cho đi không bao giờ ít hơn những gì mà bạn nhận được.


    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu liên quan: Nghị luận xã hội tư tưởng đạo lý 12


    DÀN Ý

    Mở bài: Giới thiệu triết lí sống: Trong cuộc sống này những gì mà bạn cho đi không bao giờ ít hơn những gì mà bạn nhận được.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Cho là gì? Cho ở đây không nhất thiết phải là cho những giá trị vật chất, mà đáng quý hơn cả là cho những giá trị tinh thần.

    – Nhận là gì? Người được nhận cũng không nhất thiết phải nhận được vật chất mà có thể là sự nhận về những giá trị tinh thần cao đẹp.

    – Là con người ai cũng luôn muốn được nhận nhiều hơn cho. Thế nhưng cuộc sống này luôn rất công bằng, “gieo nhân nào gặt quả đấy” chúng ta cho đi bao nhiêu thì chắc chắn sẽ nhận lại được bấy nhiêu.

    1. b) Bàn luận:

    – Trong sâu thẳm trái tim mỗi người luôn có sự hiện diện của tình thương và sự quan tâm. Đó sẽ là món quà ý nghĩa nhất, quý giá nhất, thiêng liêng nhất mà ai cũng muốn nhận được.

    – Hạnh phúc mà ta nhận được khi đã cho đi chỉ thực sự đến khi sự cho đi ấy xuất phát từ cả tấm lòng, không vụ lợi, toan tính.

    – Sự cho đi – bản thân nó đã là một phần thưởng.

    1. c) Bài học nhận thức: Mỗi chúng ta hãy tập cho mình cách sống sẵn sàng cho đi để cuộc đời này thêm nhiều ý nghĩa.

    Kết bài: Ý nghĩa của triết lý sống.

    Cho đi và nhận lại

    BÀI LÀM:

    Trong guồng sống tất bật của cuộc đời, không ít người đã vô tình để cho mình bị cuốn đi theo dòng chảy thời gian; để rồi đến một lúc nào đó, khi đã tìm được cho mình một khoảng lặng giữa nhịp sống xô bồ ấy, con người ta chợt thấy mình đang dần mất đi phương hướng.  Mình đang sống vì ai? Vì cái gì? Vì vậy, để không bị cuộc sống khắc nghiệt làm cho bão hòa, làm cho mất đi mục tiêu sống thì mỗi người tốt nhất nên có cho mình một triết lí sống. Để từ triết lí sống ấy ta tìm được chỗ dựa vững chắc cho những bước đi trên con đường tìm đến thành công và hạnh phúc.

    Tùy theo những trải nghiệm và cảm nhận về cuộc đời mà mỗi người tự chọn cho mình những triết lí sống khác nhau. Riêng với tôi, tôi luôn cố gắng làm theo một điều mà tôi hằng tâm đắc đó là: trong cuộc sống này những gì mà bạn cho đi không bao giờ ít hơn những gì mà bạn nhận được.

    Cho ở đây là cho cái gì? Đó có thể là sự cho đi về vật chất. Ta quyên góp tiền giúp đỡ những người gặp khó khăn, trao tặng sách vở cho trẻ em nghèo. Nhưng cũng đáng quý hơn cả là sự cho đi những giá trị tinh thần. Đó có thể chỉ là một cái vỗ vai động viên khi cuộc sống đang trở nên quá khó khăn, là ánh mắt ngời sáng khi ta chúc mừng thành công của một người thân, là một ly trà gừng khi ai đó đang cảm thấy lạnh… Tất cả chỉ là những cử chỉ giản đơn nhưng lại có đủ sức làm vơi bớt đi nỗi đau và nhân đôi niềm hạnh phúc.

    Còn nhận ở đây là nhận những gì? Trước hết đó có thể là cái nhận về vật chất. Khi còn nhỏ, ta nhận được những giá trị vật chất mà ba mẹ cung cấp hoặc với những gia đình khó khăn thì đó là số tiền trợ cấp từ chính quyền. Nhưng cũng quan trọng nhất là cái nhận về tinh thần. Đó là lời an ủi của người bạn thân khi ta gặp chuyện buồn, là tiếng vỗ tay động viên khi ta cảm thấy bối rối, là sự tĩnh lặng tuyệt đối khi ta cần sự tập trung để làm việc… Những điều ta nhận được ấy có thể không giúp ta giải quyết được những khó khăn trước mắt nhưng nó sẽ giúp ta biết rằng mình không hề cô đơn cũng như đã và đang được yêu thương.

    Cho và nhận tưởng chừng như là hai khái niệm hoàn toàn đơn giản nhưng đối với đa số chúng ta để cân bằng được nó lại không hề dễ dàng. Bởi lẽ là con người ai cũng luôn muốn được nhận nhiều hơn cho . Thế nhưng cuộc sống này luôn rất công bằng, “gieo nhân nào gặt quả đấy”, chúng ta cho đi bao nhiêu thì chắc chắn sẽ nhận lại được bấy nhiêu. Khi ta trao yêu thương thì cũng sẽ được yêu thương trở lại , khi ta giúp đỡ người khác thì cũng là lúc ta tự giúp đỡ chính mình. Bởi lẽ cuộc đời là một chuỗi những điều bất ngờ . Biết đâu rằng một ngày nào đó chính ta sẽ là người cần lắm một sự giúp đỡ từ người khác giống như ta đã từng làm cho họ. Như vậy, có thể nói khi ta cho đi cũng là lúc ta đang gieo trồng những hạt giống để đến một lúc nào đó ta sẽ nhận lại được những lợi ích mà chính những hạt giống ấy mang lại. Có ai đó đã từng nói rằng “ hạnh phúc là một cái rất kì lạ mà người ta chỉ nhận được khi đem nó cho người khác”. Vì vậy mỗi chúng ta hãy thử cho đi một cái gì đó để rồi biến niềm hạnh phúc của người khác thành niềm hạnh phúc của chính mình.

    Xin kể một câu chuyện rằng: Người ta bảo ở bên Palextin có hai biển hồ. Biển hồ thứ nhất gọi là Biển Chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Cá không thể sống nổi với nuớc trong hồ và khi con người uống phải thứ nước trong hồ cũng bị bệnh. Ai ai cũng đều không muốn sống gần đó. Biển hồ thứ hai là Galilê. Đây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này… Nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào Biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại riêng cho mình mà không chảy về đâu cả, không chia sẻ nên nước trong Biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Galilê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong biển hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người.

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường

    [Văn Nghị luận Mẫu] Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường

    Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu liên quan: [Nghị luận] Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn….


    [toc]

    Dàn ý

    1. Mở bài:

    “Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường”- câu nói ấy cứ hiện lên trong tâm trí và nó trở thành một triết lí sống, một kim chỉ nan để dẫn lối cho tôi vượt qua tất cả những chông gai dũng cảm cũng như đối mặt với mọi thách thức trong cuộc sống.

    2.Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Triết lí sống là những quan niệm sống chi phối cách nhìn nhận của mỗi người.

    – “Ý chí”: chính là nghị lực, là lòng quyết tâm của chúng ta để thực hiện thành công một điều gì đó. Ý chí được thể hiện bằng hành động và suy nghĩ có định hướng của con người vì thế người có ý chí là người theo đuổi để đạt được mục đích đã định trước và cố gắng vượt qua các trở ngại đó.

    – “Con đường”: ở đây được hiểu là con đường của thành công, hạnh phúc.

    – Ý nghĩa:

    +Ý chí giúp ta có niềm tin để nhìn thấy hướng đi và tương lai, tìm ra con đường phía trước.

    +Ý chí  giúp ta có được sự thành công, thành đạt trong sự nghiệp, tự mình thay đổi số phận.

    1. b) Bàn luận:

    – Không có sự vinh quang nào đến với bạn nếu không có sự phấn đấu gian khổ của bản thân. Ý chí chính là động lực quan trọng để tiếp thêm sức mạnh cho bạn vượt qua tất cả những chông gai ấy.

    – Biểu hiện của những người thiếu ý chí: buông xuôi khi gặp thất bại, mất niềm tin. Đó là những kẻ yếu đuối hèn nhát.

    – Những người có ý chí, dũng cảm đối mặt với khó khăn  sẽ thành công.

    – Mở rộng vấn đề:

    +Ý chí giúp ta có thêm kinh nghiệm đứng lên sau mỗi lần vấp ngã.

    +Ý chí có thể nói là cánh cửa duy nhất để tiến đến con đường của sự thành công và hạnh phúc

     – Dẫn chứng:

    + Bác sĩ Glenn Cunningham người chạy nhanh nhất thế giới trong cự li một dặm được mệnh danh là “cánh én”, “con ngựa sắt” .

    + Nhà sản xuất phim hoạt hình lơn nhất thế giới Walt Disney. Nhờ vào ý chí và niềm tin họ đã có được những thành công rực rỡ, đem lại niềm tự hào cho gia đình và đất nước.

    c) Bài học nhận thức: Mỗi chúng ta cần phải củng cố niềm tin, tin tưởng vào bản thân mình, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn tiến về phía trước để có thể hoàn thành tốt mọi công việc và thành công trong cuộc sống.

    3. Kết bài:

    Xác định mục đích sống rõ ràng và hãy là chình mình trong mọi hoàn cảnh. Nỗ lực hết sức quyết tâm cao độ và không được chùn bước dù gặp bất cứ khó khan, luôn ước mơ và có khát vọng vì ý chí chính là chiếc chìa khoá vạn năng để mở mọi cánh cửa trong cuộc sống.

    Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường.

     BÀI LÀM Tham Khảo:

    Trong cuộc sống, thành công hay thất bại chỉ cách nhau gang tất. Nó tùy thuộc vào con đường bạn đã đi qua. Để đến được đỉnh của vinh quang bạn phải đánh đổi bằng cả mồ hôi và nước mắt. Thất bại chỉ là phép thử để bạn tìm ra điều mình muốn. Ý chí chính là liều thuốc quan trọng giúp con người có thêm nghị lực và niềm tin để vượt qua tất cả những rào cản để biến những điều không thể thành có thể, làm nên điều kì diệu. “Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường”- câu nói ấy cứ hiện lên trong tâm trí và nó trở thành một triết lí sống, một kim chỉ nan để dẫn lối cho tôi vượt qua tất cả những chông gai dũng cảm cũng như đối mặt với mọi thách thức trong cuộc sống.

    Triết lí sống là những quan niệm sống, quan niệm về cuộc đời chi phối cách nhìn nhận của từng người. Nó có thể giúp chúng ta đi đúng hướng nhưng cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến thất bại hay những sai lầm to lớn. Vì vậy mỗi người cần lựa chọn chính xác triết lí sống đúng đắn phù hợp với bản thân. “Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường”- Con đường mang ý nghĩa tượng trưng cho những thành công và hạnh phúc mà mỗi người vươn đến trong cuộc đời. Có ý chí mới có con đường bởi không có sự vinh quang nào đến với chúng ta nếu không có sự phấn đấu, hi sinh, nỗ lực của bản thân. Cuộc đời không bao giờ đóng cửa với bất kì ai có ý chí và nỗ lực. Vì khi một cánh cửa khác đóng lại thì cũng sẽ có một cách cửa khác mở ra và nơi đó sẽ có con đường dành riêng cho bạn. Ý chí giúp ta có thêm niềm tin để nhìn thấy hướng đi nhìn thấy tương lai, tìm ra con đường phía trước. Nó giúp ta có được sự thành công, thành đạt trong sự nghiệp và trong cuộc sống, tự mình thay đổi số phận.

    Lỗ Tấn, một nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc đã nói rằng: “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Con đường để chạm tới được thành công không hề dễ dàng và nó cũng lắm chông gai, thách thức. Một kẻ lười biếng chỉ muốn “há miệng chờ sung”, ỉ lại vào người khác thì chẳng mấy chốc trở thành một người vô dụng và là gánh nặng của xã hội. Nhưng với một người có ý chí kiên định, sự quyết tâm không gì lay chuyển được thì mọi khó khăn thử thách đều có thể vượt qua. Có thể nói ý chí chính là động lực quan trọng tiếp thêm niềm tin và sức mạnh để cuốn văng đi mọi khó khăn đang đợi ta ở phía trước. Khi thất bại con người thường bị nỗi đau khổ, tuyệt vọng che lấn áp cả tâm hồn. Dường như ai trong chúng ta đều từng bị rơi vào cái hố sâu không đáy, không có cách nào tìm được hướng đi đúng của bản thân. Những câu hỏi cứ luôn được đặt ra chúng ta nghĩ đến quá khứ và cảm thấy sợ hãi có thể mình cũng sẽ lại thất bại chăng. Ý chí giảm sút, tinh thần suy sụp và con người lại rơi vào tình trạng bế tắc. Tôi thiết nghĩa ai trong chúng ta cũng đã trải qua tâm trạng như vậy. Tôi có thể hiểu hết những cảm giác mà một người chết đuối đang cố tìm lấy chiếc phao cứu sinh, một người đang từng phút giành lấy mạng sống với Tử thần. Những cảm giác mà có lẽ trong đời tôi chưa từng quên. Tôi vẫn nhớ như in cái ngày mà tôi đậu vào cấp 3: những giọt lệ lăn dài trên khuôn mặt bố mẹ tôi làm tôi chạnh lòng. Mẹ ôm tôi với tất cả niềm vui sướng. Còn bố chỉ lặng lẽ đứng nhìn tôi và mẹ. Một nụ cười thoáng hiện khiến lòng tôi như được sưởi ấm. Cái cảm giác suýt rớt khiến tôi thấy hụt hẫng và yếu đuối. Tôi thấy mình thật nhỏ bé và vô dụng. Nếu ý chí bị quật ngã ngay lúc đó thi có thể tôi sẽ không được như hôm nay. “Hãy nhìn về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn”- nhìn về tương lai đừng hoài niệm về quá khứ đau buồn hay mộng tưởng về cái thời hoàng kim đã qua chúng ta sẽ tìm được con đường cho đúng cho bản thân. Đứng lên sau mỗi lần vấp ngã sẽ làm chúng ta có thêm kinh nghiệm, rút ra được nhiều bài học quý giá bởi ý chí đã tăng thêm sức mạnh cho khối óc và đôi chân. Nhờ đó, con người có thể xô đẩy những bức tường vô hình để tiến tới con đường mà mình đã chọn. Ý chí chính là cánh cửa duy nhất để tiến tới sự thành công và hạnh phúc. “Kì thực trên mặt đất làm gì có đường, người ta đi mãi nên thành đường thôi” (Lỗ Tấn) – muốn tìm ra con đường phải có ý chí phấn đấu vươn lên như thế thì mới đạt được những mục đích mà bản thân để ra. Tính cách quyết định số phận của con người.

    “Cánh én” hay “con ngựa sắt” là những cụm từ nói về tài năng của bác sĩ Glenn Cunningham người chạy nhanh nhất thế giới trong cự li một dặm. Sau một trận bỏng nặng ở cả hai chân khi mới lên năm, Glenn Cunningham được các bác sĩ chuẩn đoán rằng trường hợp của cậu là vô phương cứu chữa. Họ cho rằng cậu bé sẽ bị tàn tật và suốt đời phải ngồi xe lăn: “Cậu bé sẽ không bao giờ có thể đi lại được nữa”, họ khẳng định: “Không còn cơ hội nào nữa”. Các bác sĩ kiểm tra đôi chân của Glenn Cunningham, nhưng họ không thể hiểu được con người cậu. Cậu bé chẳng tin vào lời các bác sĩ, vẫn một mực bắt đầu tập đi trở lại. Nằm trên giường, với đôi chân đỏ đầy những vết sẹo chưa kéo da non, Glenn nguyện rằng: “Tuần tới mình sẽ bước xuống đường, mình sẽ đi được”. Và Glenn đã làm được. Mẹ cậu bé kể lại những lần bà vén màn nhìn ra cửa sổ, thấy cảnh Glenn rướn tay lên nắm lấy cái cày cũ kĩ trong vườn. Nắm lấy tay cầm của nó, cậu bé bắt đầu cuộc đấu tranh buộc đôi chân xương xẩu vặn vẹo của mình phải hoạt động. Mỗi bước đi của cậu là một bước đau. Mặt cậu bé liên tục nhăn lại, mồ hôi tủa ra như tắm. Nhưng cậu bé vẫn kiên định. Dần dần cậu có thể đi từng bước ngắn, và chẳng bao lâu sau, cậu gần như có thể đi lại bình thường. Khi cậu bé bắt đầu chạy được trên đôi chân chằng chịt sẹo bỏng của mình, cậu lại càng tỏ rỏ quyết tâm hơn. “Lúc nào tôi cũng tin là mình có thể đi được, và tôi đã làm như vậy. Còn bây giờ tôi đang cố gắng để có thể chạy nhanh hơn bất kỳ người nào khác”. Và cậu bé đã chứng minh rằng cậu có thể thực hiện những điều mình nói.Cậu bé ngày ấy đã trở thành nhà vô địch môn điền kinh đường trường cự ly một dặm khi lập kỷ lục thế giới trong thời gian chỉ có 4 phút 6 giây vào năm 1934. Anh đã được trao tặng bằng khen danh dự dành cho vận động viên tiêu biểu nhất thế kỷ ở quảng trường danh tiếng Madison. Một tấm gương rất đáng khâm phục sau khi gặp hàng loạt thất bại nặng nề những không bỏ cuộc chính là Walt Disney. Ngay sau khi xây dựng xưởng phim Disney Brothers, ông sáng tạo ra bộ phim Oswald the Lucky Rabbit. Vì sự non nớt của mình, ông đã tán thành một hợp đồng sản xuất và trong hợp đồng này ông sẽ sản xuất các bộ phim hoạt hình, nhưng công ty Mintz lại là chủ sở hữu các nhân vật. Bộ phim gây được tiếng vang lớn nhưng các nhà phân phối đã tàn nhẫn gạt người sáng tác ra khỏi cuộc chơi. Disney tuyên bố: “Không bao giờ ta làm việc cho bất kỳ ai nữa”. Sau thất bại với công ty phân phối Mintz, Walt Disney chán nản trở về California.Walt nhận ra rằng xưởng phim mới của mình sắp bị giải tán nếu như ông không phát minh ra nhân vật mới nào. Trở về California, bức phác thảo đầu tiên mà ông đưa ra là một con chuột hấp dẫn, lanh lợi, trông giống như tranh biếm họa. Để thực hiện bộ phim này, Disney phải bán chiếc xe ôtô thể thao yêu quý của mình. Ngày 18 tháng 11 năm 1928, Chuột Mickey được công diễn lần đầu ở Thành phố New York đã thu được thành công lẫy lừng. Bị ám ảnh từ thất bại trước, ông cố gắng phân phối phim hoạt hình của ông tới từng nhà hát. Lại một bài học mới xuất hiện, Chuột Mickey đang làm của cải trở lại nhưng số tiền quay trở lại với Disney rất ít ỏi. Cuối cùng, năm 1930, sau 7 năm ở Hollywood, Disney đã đầu hàng và bán xưởng phim, ký một thỏa thuận với hãng chiếu bóng Columbia, đồng ý phân phối phim với giá 7.000 USD một bộ phim, tiền chia đều cho hai bên nhưng Disney vẫn giữ bản quyền. Hãng phim Columbia đã phân phối phim hoạt hình của Disney đi khắp thế giới. Vào năm 1930, Chuột Mickey đã trở thành một nhân vật được toàn cầu quan tâm. Chẳng bao lâu, Disney đã nhận ra tiềm năng giá trị thương mại của Mickey. Ông trưởng thành, đủ kinh nghiệm lường trước những thất bại tiềm ẩn. Và cũng không phải thương trường ít chông gai hơn mà có lẽ mọi chông gai trở thành quá bé nhỏ đối với chàng khổng lồ Walt Disney. Nhờ vào ý chí họ đã đạt được những thành công rực rỡ. Họ cũng đã từng nếm trải những đau buồn thất vọng đời thường. Nhưng trong chính khoảnh khắc ấy họ đã bộc bộ những phẩm chất khác biệt giúp học luôn tiến về phía trước trong khi nhiều người chấp nhận đầu hàng, bỏ cuộc. Mỗi chúng ta cần phải củng cố niềm tin, tin tưởng vào bản thân mình, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn tiến về phía trước để có thể hoàn thành tốt mọi công việc và thành công trong cuộc sống.

    Mỗi người trong chúng ta từ bây giờ nên xác định mục đích sống rõ ràng và hãy là chình mình trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta phải nỗ lực hết sức, quyết tâm cao độ và không được chùn bước dù gặp bất cứ khó khăn nào, luôn ước mơ và khát vọng vì ý chí chính là chiếc chìa khoá vạn năng để mở mọi cánh cửa trong cuộc sống.

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ

    [Văn Nghị luận Mẫu] Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ

    Nghị luận câu nói: “Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ”.

    Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu liên quan: Nghị luận xã hội tư tưởng đạo lý 12


    [toc]

    Bài tham khảo 1

    Cuộc sống luôn tồn tại nghịch lý tốt và xấu. Con người thường khao khát đi tìm chân lý, tìm ra những điểm tốt song không phải ai cũng tìm ra sự thật, đôi khi sự thật làm con người cảm thấy tuyệt vọng. Dẫu thế người ta luôn muốn sự thật thuộc về mình, còn những điều dối trá mãi không tồn tại. Từ những kinh nghiệm sống, cha ông ta đã đúc kết ra câu nói: “Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ”.

    Trước khi hiểu được vế thứ nhất của câu nói, chúng ta cần hiểu từ “sự thật” là gì? Sự thật không là cảm giác, mà là ý nghĩ. Sự thật là điều minh nhiên hợp đạo lý mà không ai có thể chối cãi, dù người ta cố ý khước từ hoặc không muốn chấp nhận. Sự thật có tính vĩnh cửu, mãi mãi là sự thật. Từ “rạn nứt” được hiểu là tinh thần con người bị suy sụp, không được nguyên vẹn như trước. Vế thứ nhất của câu nói cho chúng ta hiểu rằng: sự thật là điều con người luôn phải tôn trọng, vì nó luôn luôn đúng, giúp con người nhìn nhận đúng đắn bản chất vấn đề ở một người nào đó hoặc một sự vật nào đó. Nhưng đôi khi sự thật cũng làm cho người khác phật ý, gây mất lòng đối phương, tình cảm giữa con người với con người trở nên xa cách và rạn nứt.

    Sự thật luôn luôn tồn tại hai mặt: sự thật có thể làm cho con người cảm thấy tin yêu cuộc sống, có niềm tin vào tương lai. Sự thật giúp con người phấn chấn, vượt qua tất cả những khó khăn, giông tố của cuộc đời để đi đến thành công. Để củng cố niềm tin sự thật mang đến cho con người nhiều mặt tích cực, chúng ta hãy quay trở về nhân vật Thạch Sanh và nhân vật Lí Thông trong truyện cổ tích “Thạch Sanh” để thấy được cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.

    Cái ác của Lí Thông là cái ác có thực trong xã hội. Nó bắt nguồn từ lòng tham, sự đố kị ghen ghét trước tài năng và công lao, thành tích của người khác. Cái ác của Lí Thông không chỉ là tội ác giết người, mà còn là tội ác của sự vong ân bội nghĩa, khiến cả con người lẫn đất trời đều phẫn nộ. Kẻ ác không những bị trừng trị mà còn bị trừng trị thật đích – đáng: bị biến thành bọ hung để đời đời kiếp kiếp bị người đời nguyền rủa và khinh bỉ.

    Nhân vật Thạch Sanh hiện lên thật đẹp. Với búa thần, cung tên vàng, đàn thần, với võ nghệ và phép thần thông biến hoá, chàng dũng sĩ đã chém Trăn tinh, giết Đại bàng, trừ diệt cái ác, tai họa cho nhân dân, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đem lại hoà bình. Thạch Sanh đã trải qua bao gian truân thử thách, lấp lánh bao chiến công hiển hách. Anh đã được kết duyên với công chúa, chàng đã thể hiện ước mơ của nhân dân, những ước mơ hồn nhiên, trong sáng và rất đẹp.

    Cuộc đấu tranh chống cái ác là một trận chiến gay go, phức tạp và dai dẳng. Tuy vậy, niềm tin và ước mơ về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác của nhân dân vẫn không hề suy giảm. Niềm tin và ước mơ ấy được họ gửi gắm vào trong các truyện cổ tích. “Thạch Sanh” là một truyện cổ tích tiêu biểu cho chủ đề chống cái ác.

    Như vậy, sự thật mang ý nghĩa tích cực vừa mang yếu tố khách quan, vừa mang yếu tố chủ quan. Nó giúp con người luôn dũng cảm đối mặt với sự thật, chúng ta có thể vượt qua những sự thật cay đắng để bước tiếp và những điều tốt lành sẽ đến với chúng ta.

    Sự thật của một việc hay của một ai đó nếu đựơc nói một cách trắng trợn và trần trụi thì dù có ích cho người nghe đi chăng nữa thì cũng khiến người nghe phải phật lòng.

    Cũng có một số người nói vì sự ghen tuông mà lời nói sẽ có âm lượng khác, cũng có thể lời nói đó đựơc nói ra từ thiện chí và muốn người nghe tiếp thu và sửa sai. “Sự thật” ở đâykhiến cho người nghe cảm thấy khó chịu, mơ hồ, không thể phân biệt đúng sai. Nó có thể được ví như là một món đồ xấu và làm tổn thương đến tâm hồn người nghe.

    Cũng có khi, chính bản thân người nghe biết rõ nhưng vẫn phật ý khi nghe người khác nói tới điều đó. Đúng như lời cha ông ta đã nhắc nhở qua câu tục ngữ: “Sự thật mất lòng”. Sự thật có thể làm cho người nói và người nghe từ một người bạn thân thiết trở thành kẻ thù của nhau, những nỗi đau về sự thật đó không thể hàn gắn lại được.

    Như vậy, sự thật đôi khi cũng mang yếu tố tiêu cực, sự thật khiến con người ta không dám tin tưởng vào bất kỳ ai, dần dần đánh mất niềm vào cuộc sống và đánh mất chính bản thân mình.

    Qua vế thứ nhất, câu nói muốn nhắc nhở người đời hãy luôn tin vào sự thật, đừng phủ nhận nó vì sự thật mãi mãi không thể thay đổi được. Dù sự thật có nghiệt ngã đến đâu, chúng ta vẫn phải trân trọng, và đứng trên lập trường của chính mình để giải quyết vấn đề một cách đúng đắn nhất.

    Đến vế thứ hai của câu nói, chúng ta lại thấy vế này đối nghịch với vế thứ nhất, nó phản ánh tính cách cũng như bản chất thường thấy trong con người chúng ta. Nếu như lương tâm mách bảo chúng ta làm điều tốt, nhưng vì lợi ích cá nhân hay vì hoàn cảnh bắt buộc chúng ta phải làm trái với lương tâm, phải nói dối để đạt được mục đích cho bản thân.

    “Nói dối” là hành vi cố tình cung cấp thông tin sai sự thật về vấn đề nào đó để người nói dối đạt được mục đích mà họ mong muốn – thường là không chính đáng. Người nói dối luôn tạo môi trường giống như thật, tạo mọi cử chỉ, hành động để đối tượng tin vào những gì họ đang nói. Những người nói dối sẽ luôn luôn tạo nên những “đổ vỡ” – giữa người nói dối và người bị nói dối sẽ tạo ra mối thù hằn sâu sắc, không thể hàn gắn lại được. Mối thù ấy có thể truyền lại từ đời này sang đời khác, hậu quả của nó không bao giờ giải quyết được.

    Có hai khía cạnh nói dối: nói dối có ý tốt và nói dối bất thiện. Nói dối có ý tốt nhằm mục đích cứu người, giúp người, tuy nhiên cũng tùy hoàn cảnh mà có nên nói hay không. Người nói dối sẽ trở nên đáng thương vì những lời nói dối tưởng chừng như an ủi được đối phương. Chắc hẳn các bạn đã từng nghe qua “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ: Vũ Nương đã làm tròn bổn phận của một phụ nữ, người vợ, người mẹ, người con, ở cương vị nào nàng cũng làm rất hoàn hảo. Nàng đúng là người phụ nữ lí tưởng của gia đình. Nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng hạnh phúc đã không mỉm cười với nàng.Câu chuyện của bé Đản, Vũ Nương vì thương con, và để con cảm nhận được tình yêu của cha dành cho con, Vũ Nương đã lấy cái bóng của mình để chỉ cho con trai đây là cha nó. Đứa co trai mới lên ba tuổi hồn nhiên, vô tư đó đã phủ nhận Trương Sinh khi anh đi đánh giặc trở về đã làm cho Trương Sinh nghi ngờ. Với bản tính hay ghen cộng thêm tính gia trưởng, thất học, Trương Sinh đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn. Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã “ mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” mặc cho Vũ Nương hết sức phân trần, mặc cho “hàng xóm can ngăn cũng chẳng ăn thua gì”. Nàng đau khổ đến xé lòng. Bi kịch dâng tràn đến đỉnh điểm, Vũ Nương phải tìm đến cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của chính mình!

    Qua câu chuyện đó giúp chúng ta rút ra bài học, trước khi quyết định nói dối một điều gì đó phải nghĩ đến hậu quả của nó. Bản thân chúng ta phải hạn chế đến mức thấp nhất vì nói như thế sẽ trở thành thói quen, dần dần sẽ chuyển từ ý nghĩ nói thiện sang nói bất thiện.

    Bên canh đó, chúng ta còn thấy những lời nói dối cố tình của người nói nhằm đánh lạc hướng người nghe, để người nghe gây thù hằn với người khác và đem lai lợi ích cho người nói. Nói dối bất thiện là lừa lọc, qua mặt người khác nhằm che đậy lỗi lầm của mình – đây là hành vi cần tránh. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng quy cho cùng thì lời nói dối xuất phát từ việc sợ người khác biết lỗi lầm của mình, chẳng hạn: người nổi tiếng nói dối là vì sợ ảnh hưởng đến tiếng tăm, doanh nghiệp nói dối là vì sợ mất uy tín trên thương trường, trẻ con nói dối là vì sợ bị la mắng…

    Hay như nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm “Chí phèo” của Nam Cao: Để đạt được mục đích của mình, Bá Kiến đã nhanh chóng tìm ra kế sách thích hợp nhất để đối phó với Chí phèo.Bá Kiến bắt đầu giở giọng đường mật, gọi đầy tớ cũ của mình – nay đã bị biến thành con vật gớm ghiếc – bằng “anh”, vồn vã mời Chí vào nhà uống nước. Chưa đủ, cụ tiên chỉ làng Vũ Đại đã dùng những lời nói và hành động dối trá như nhận họ hàng với Chí, rồi giết gà, mua rượu cho hắn uống, rồi còn đãi thêm đồng bạc để về uống nước. Cách cư xử, chứng tỏ cụ bá lõi đời đã đi guốc vào bụng dạ Chí Phèo lúc này: vừa ưa phỉnh nịnh, vừa hám cái lợi trước mắt. Rốt cuộc, bá Kiến chuyển bại thành thắng, đạt được cả hai mục đích: vừa tạm dập tắt ngon lửa hờn căm trong con người Chí, vừa chuẩn bị biến Chí thành tay sai lợi hại. Như vậy, chỉ cần mấy lời nói nham hiểm của bá Kiến đã biến Chí trở thành tay sai đắc lực nhất.

    Qua câu nói trên, chúng ta có thể thấy cuộc sống xã hội luôn biến động phức tạp. Sự thật và dối trá luôn luôn tồn tại song hàng trong cùng một con người. Vì thế, con người cần phải tỉnh táo phân biệt được đúng – sai, xấu – tốt để con người làm chủ được bản thân và sống đúng với lương tâm của mình. Nhưng con người trong cuộc sống ngày nay thường ít quan tâm và để ý đến nhau để có những lời nói thật. Vì thế, lời nói thật trở nên có giá trị, và tìm được một người luôn nói thật về ta cho ta nghe là một điều quả thật khó khăn. Tuy việc đi tìm sự thật đôi khi cũng tạo cho con người những rạn nứt về mặt tình cảm nhưng khi tìm ra được chân lý sự thật con người cũng sẽ cảm thấy có niềm tin vào cuộc sống. Hãy đi tìm sự thật, đừng tìm những lời dối trá để vụ lợi cho bản thân và sẽ lãnh chịu nhiều hậu quả.Nghị luận câu nói: “Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ”.

    Bài tham khảo 2

    Cuộc sống luôn tồn tại nghịch lý tốt và xấu. Con người thường khao khát đi tìm chân lý, tìm ra những điểm tốt song không phải ai cũng tìm ra sự thật, đôi khi sự thật làm con người cảm thấy tuyệt vọng. Dẫu thế người ta luôn muốn sự thật thuộc về mình, còn những điều dối trá mãi không tồn tại. Từ những kinh nghiệm sống, cha ông ta đã đúc kết ra câu nói: “Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ”.

    Trước khi hiểu được vế thứ nhất của câu nói, chúng ta cần hiểu từ “sự thật” là gì? Sự thật không là cảm giác, mà là ý nghĩ. Sự thật là điều minh nhiên hợp đạo lý mà không ai có thể chối cãi, dù người ta cố ý khước từ hoặc không muốn chấp nhận. Sự thật có tính vĩnh cửu, mãi mãi là sự thật. Từ “rạn nứt” được hiểu là tinh thần con người bị suy sụp, không được nguyên vẹn như trước. Vế thứ nhất của câu nói cho chúng ta hiểu rằng: sự thật là điều con người luôn phải tôn trọng, vì nó luôn luôn đúng, giúp con người nhìn nhận đúng đắn bản chất vấn đề ở một người nào đó hoặc một sự vật nào đó. Nhưng đôi khi sự thật cũng làm cho người khác phật ý, gây mất lòng đối phương, tình cảm giữa con người với con người trở nên xa cách và rạn nứt.

    Sự thật luôn luôn tồn tại hai mặt: sự thật có thể làm cho con người cảm thấy tin yêu cuộc sống, có niềm tin vào tương lai. Sự thật giúp con người phấn chấn, vượt qua tất cả những khó khăn, giông tố của cuộc đời để đi đến thành công. Để củng cố niềm tin sự thật mang đến cho con người nhiều mặt tích cực, chúng ta hãy quay trở về nhân vật Thạch Sanh và nhân vật Lí Thông trong truyện cổ tích “Thạch Sanh” để thấy được cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.

    Cái ác của Lí Thông là cái ác có thực trong xã hội. Nó bắt nguồn từ lòng tham, sự đố kị ghen ghét trước tài năng và công lao, thành tích của người khác. Cái ác của Lí Thông không chỉ là tội ác giết người, mà còn là tội ác của sự vong ân bội nghĩa, khiến cả con người lẫn đất trời đều phẫn nộ. Kẻ ác không những bị trừng trị mà còn bị trừng trị thật đích – đáng: bị biến thành bọ hung để đời đời kiếp kiếp bị người đời nguyền rủa và khinh bỉ.

    Nhân vật Thạch Sanh hiện lên thật đẹp. Với búa thần, cung tên vàng, đàn thần, với võ nghệ và phép thần thông biến hoá, chàng dũng sĩ đã chém Trăn tinh, giết Đại bàng, trừ diệt cái ác, tai họa cho nhân dân, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đem lại hoà bình. Thạch Sanh đã trải qua bao gian truân thử thách, lấp lánh bao chiến công hiển hách. Anh đã được kết duyên với công chúa, chàng đã thể hiện ước mơ của nhân dân, những ước mơ hồn nhiên, trong sáng và rất đẹp.

    Cuộc đấu tranh chống cái ác là một trận chiến gay go, phức tạp và dai dẳng. Tuy vậy, niềm tin và ước mơ về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác của nhân dân vẫn không hề suy giảm. Niềm tin và ước mơ ấy được họ gửi gắm vào trong các truyện cổ tích. “Thạch Sanh” là một truyện cổ tích tiêu biểu cho chủ đề chống cái ác.

    Như vậy, sự thật mang ý nghĩa tích cực vừa mang yếu tố khách quan, vừa mang yếu tố chủ quan. Nó giúp con người luôn dũng cảm đối mặt với sự thật, chúng ta có thể vượt qua những sự thật cay đắng để bước tiếp và những điều tốt lành sẽ đến với chúng ta.

    Sự thật của một việc hay của một ai đó nếu đựơc nói một cách trắng trợn và trần trụi thì dù có ích cho người nghe đi chăng nữa thì cũng khiến người nghe phải phật lòng.

    Cũng có một số người nói vì sự ghen tuông mà lời nói sẽ có âm lượng khác, cũng có thể lời nói đó đựơc nói ra từ thiện chí và muốn người nghe tiếp thu và sửa sai. “Sự thật” ở đâykhiến cho người nghe cảm thấy khó chịu, mơ hồ, không thể phân biệt đúng sai. Nó có thể được ví như là một món đồ xấu và làm tổn thương đến tâm hồn người nghe.

    Cũng có khi, chính bản thân người nghe biết rõ nhưng vẫn phật ý khi nghe người khác nói tới điều đó. Đúng như lời cha ông ta đã nhắc nhở qua câu tục ngữ: “Sự thật mất lòng”. Sự thật có thể làm cho người nói và người nghe từ một người bạn thân thiết trở thành kẻ thù của nhau, những nỗi đau về sự thật đó không thể hàn gắn lại được.

    Như vậy, sự thật đôi khi cũng mang yếu tố tiêu cực, sự thật khiến con người ta không dám tin tưởng vào bất kỳ ai, dần dần đánh mất niềm vào cuộc sống và đánh mất chính bản thân mình.

    Qua vế thứ nhất, câu nói muốn nhắc nhở người đời hãy luôn tin vào sự thật, đừng phủ nhận nó vì sự thật mãi mãi không thể thay đổi được. Dù sự thật có nghiệt ngã đến đâu, chúng ta vẫn phải trân trọng, và đứng trên lập trường của chính mình để giải quyết vấn đề một cách đúng đắn nhất.

    Đến vế thứ hai của câu nói, chúng ta lại thấy vế này đối nghịch với vế thứ nhất, nó phản ánh tính cách cũng như bản chất thường thấy trong con người chúng ta. Nếu như lương tâm mách bảo chúng ta làm điều tốt, nhưng vì lợi ích cá nhân hay vì hoàn cảnh bắt buộc chúng ta phải làm trái với lương tâm, phải nói dối để đạt được mục đích cho bản thân.

    “Nói dối” là hành vi cố tình cung cấp thông tin sai sự thật về vấn đề nào đó để người nói dối đạt được mục đích mà họ mong muốn – thường là không chính đáng. Người nói dối luôn tạo môi trường giống như thật, tạo mọi cử chỉ, hành động để đối tượng tin vào những gì họ đang nói. Những người nói dối sẽ luôn luôn tạo nên những “đổ vỡ” – giữa người nói dối và người bị nói dối sẽ tạo ra mối thù hằn sâu sắc, không thể hàn gắn lại được. Mối thù ấy có thể truyền lại từ đời này sang đời khác, hậu quả của nó không bao giờ giải quyết được.

    Có hai khía cạnh nói dối: nói dối có ý tốt và nói dối bất thiện. Nói dối có ý tốt nhằm mục đích cứu người, giúp người, tuy nhiên cũng tùy hoàn cảnh mà có nên nói hay không. Người nói dối sẽ trở nên đáng thương vì những lời nói dối tưởng chừng như an ủi được đối phương. Chắc hẳn các bạn đã từng nghe qua “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ: Vũ Nương đã làm tròn bổn phận của một phụ nữ, người vợ, người mẹ, người con, ở cương vị nào nàng cũng làm rất hoàn hảo. Nàng đúng là người phụ nữ lí tưởng của gia đình. Nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng hạnh phúc đã không mỉm cười với nàng.Câu chuyện của bé Đản, Vũ Nương vì thương con, và để con cảm nhận được tình yêu của cha dành cho con, Vũ Nương đã lấy cái bóng của mình để chỉ cho con trai đây là cha nó. Đứa co trai mới lên ba tuổi hồn nhiên, vô tư đó đã phủ nhận Trương Sinh khi anh đi đánh giặc trở về đã làm cho Trương Sinh nghi ngờ. Với bản tính hay ghen cộng thêm tính gia trưởng, thất học, Trương Sinh đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn. Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã “ mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” mặc cho Vũ Nương hết sức phân trần, mặc cho “hàng xóm can ngăn cũng chẳng ăn thua gì”. Nàng đau khổ đến xé lòng. Bi kịch dâng tràn đến đỉnh điểm, Vũ Nương phải tìm đến cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của chính mình!

    Qua câu chuyện đó giúp chúng ta rút ra bài học, trước khi quyết định nói dối một điều gì đó phải nghĩ đến hậu quả của nó. Bản thân chúng ta phải hạn chế đến mức thấp nhất vì nói như thế sẽ trở thành thói quen, dần dần sẽ chuyển từ ý nghĩ nói thiện sang nói bất thiện.

    Bên canh đó, chúng ta còn thấy những lời nói dối cố tình của người nói nhằm đánh lạc hướng người nghe, để người nghe gây thù hằn với người khác và đem lai lợi ích cho người nói. Nói dối bất thiện là lừa lọc, qua mặt người khác nhằm che đậy lỗi lầm của mình – đây là hành vi cần tránh. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng quy cho cùng thì lời nói dối xuất phát từ việc sợ người khác biết lỗi lầm của mình, chẳng hạn: người nổi tiếng nói dối là vì sợ ảnh hưởng đến tiếng tăm, doanh nghiệp nói dối là vì sợ mất uy tín trên thương trường, trẻ con nói dối là vì sợ bị la mắng…

    Hay như nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm “Chí phèo” của Nam Cao: Để đạt được mục đích của mình, Bá Kiến đã nhanh chóng tìm ra kế sách thích hợp nhất để đối phó với Chí phèo.Bá Kiến bắt đầu giở giọng đường mật, gọi đầy tớ cũ của mình – nay đã bị biến thành con vật gớm ghiếc – bằng “anh”, vồn vã mời Chí vào nhà uống nước. Chưa đủ, cụ tiên chỉ làng Vũ Đại đã dùng những lời nói và hành động dối trá như nhận họ hàng với Chí, rồi giết gà, mua rượu cho hắn uống, rồi còn đãi thêm đồng bạc để về uống nước. Cách cư xử, chứng tỏ cụ bá lõi đời đã đi guốc vào bụng dạ Chí Phèo lúc này: vừa ưa phỉnh nịnh, vừa hám cái lợi trước mắt. Rốt cuộc, bá Kiến chuyển bại thành thắng, đạt được cả hai mục đích: vừa tạm dập tắt ngon lửa hờn căm trong con người Chí, vừa chuẩn bị biến Chí thành tay sai lợi hại. Như vậy, chỉ cần mấy lời nói nham hiểm của bá Kiến đã biến Chí trở thành tay sai đắc lực nhất.

    Qua câu nói trên, chúng ta có thể thấy cuộc sống xã hội luôn biến động phức tạp. Sự thật và dối trá luôn luôn tồn tại song hàng trong cùng một con người. Vì thế, con người cần phải tỉnh táo phân biệt được đúng – sai, xấu – tốt để con người làm chủ được bản thân và sống đúng với lương tâm của mình. Nhưng con người trong cuộc sống ngày nay thường ít quan tâm và để ý đến nhau để có những lời nói thật. Vì thế, lời nói thật trở nên có giá trị, và tìm được một người luôn nói thật về ta cho ta nghe là một điều quả thật khó khăn. Tuy việc đi tìm sự thật đôi khi cũng tạo cho con người những rạn nứt về mặt tình cảm nhưng khi tìm ra được chân lý sự thật con người cũng sẽ cảm thấy có niềm tin vào cuộc sống. Hãy đi tìm sự thật, đừng tìm những lời dối trá để vụ lợi cho bản thân và sẽ lãnh chịu nhiều hậu quả.

     

  • Nghị luận xã hội tư tưởng đạo lý 12

    Nghị luận xã hội tư tưởng đạo lý 12

    Nghị luận xã hội tư tưởng đạo lý 12

    Nghị luận xã hội tư tưởng đạo lý 12

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu liên quan: Tinh thần tự học – Nghị luận xã hội


    Đề 1

    Trong một bài phát biểu, một học sinh có nói : “… Hãy cho em xin một phút giây thôi – một phút giây ngưng nghỉ trên hành trình đời để em chiêm nghiệm về những gì đã qua và nghĩ tiếp những điều em sẽ làm trong khoảng thời gian sắp đến…”

    Em rút ra được bài học gì từ câu nói trên?

    Yêu Cầu:

    1. Học sinh trên đã khái quát suy nghĩ của mình về cuộc sống:

    – Cuộc sống chảy trôi, không ngừng vận động, con người lo bươn chải, sống gấp, sống vội, ít có những phút giây ngừng lại để mà nghĩ suy.

    “ Dừng lại” nhấn mạnh đến vấn đề ý thức, tư tưởng của con người ngắm nhìn lại mình trong suốt quãng thời gian đang tồn tại.

    + Hướng về quá khứ: Với những kỉ niệm đẹp, với những niềm vui và hạnh phúc.

    + Hướng về tương lai: Với những cái gì chưa tới, với những ước mơ và khát vọng.

    Ý nghĩa:

    + Hướng về quá khứ mà chiêm nghiệm, rút ra những bài học, những kinh nghiệm sâu sắc cho bản thân.

    + Hướng đến tương lai để mà định hướng.

    – “  Thực tại” là những khoảng lặng trong suy nghĩ, ít ai để ý tới nhưng  lại giàu ý nghĩa: có thực tại mới có quá khứ và tương lai.

    – Hướng đến thực tại là thể hiện một cuộc sống thực tế để thực hiện lí tưởng trong quá khứ và là những kinh nghiệm của tương lai.

    Câu nói của bạn học sinh nhấn mạnh đến một cuộc sống có điểm đầu và điểm đích.

    + Là hãy xác định thực tại.

    + Là sự suy nghĩ, cân nhắc kĩ lưỡng và hành động.

    Ø     Thực tại điểm dừng chân ngắn ngủi cho những ai biết nghĩ suy.

    Một người biết suy nghĩ, ít vấp ngã sẽ hứa hẹn nhiều thành công

    Đề 2:

    “Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của người bạn, người anh em, của bố mẹ mình hoặc của bất cứ một đồng bào nào mà em gặp, nếu đứa trẻ không biết đọc trong mặt người khác điều đang xảy ra trong trái tim người đó thì đứa trẻ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính”.

    Anh (chị hãy trình bày ý kiến của mình về nhận định trên của nhà sư phạm Xukhomlinki.

     

    Tìm hiểu đề:

    1. Thể loại: Nghị luận hỗn hợp ( giải thích, chứng minh và bình luận ).
    1. Nội dung: Thiếu lòng đồng cảm đối với người khác, thiếu năng lực hiểu người khác thì không thể trở thành con người chân chính được.
    1. Tư liệu: Lấy từ trong đời sống thực tế, kinh nghiệm từ bản thân và nhữngg lời răn dạy của cha ông qua ca dao tục ngữ.

     

    Dàn ý:

    1. Mở bài

    – Nêu rõ nội dung yêu cầu, ý kiến của nhà sư phạm để dẫn tới giới thiệu ý kiến của ông.

    – Trích lại nguyên văn câu  nói.

    – Dự báo hướng  giải quyết của bài làm.

    1. Thân bài

    Nhân dân ta từ xưa đã khuyên mọi nguời nên có lòng vị tha và tình cảm nhân ái bằng những lời nhắn nhủ chân tình và sâu sắc.

    + Môi hở răng lạnh

    + Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.

    + Máu chảy ruột mềm.

    + Nhiễu đềiu phủ lấy giá gương

    Người trong một nước thì thương nhau cùng.

    + Chị ngã em nâng

    Ý tưởng nhân văn cao đẹp ấy cũng được nhà sư phạm nổi danh Xukhômlinxki  thể hiện qua câu nói nổi tiếng “ Nếu đứa trẻ dửng dung …. con người chân chính.

    – Cấu trúc của nhận định trên là cấu trúc của câu điều kiện ( nếu.. thì). Nhà sư phạm Xukhômlinxki đã trình bày hai điều kiện chủ yếu để đưa trẻ trở nên con người chân chính.

    Trong câu nói của ông: Thế nào là dửng dưng? dửng dưng là lạnh lùng, thờ ơ vô trách nhiệm. nói cách  khác là vô cảm: không vui, không buồn, không đau xót, không thương mến… Cần lưu ý ở đây Xukhômlinxki  nhấn mạnh thái độ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong “ Trái tim của con người bạn,  người anh em của bố mẹ mình hoặc bất cứ đồng bào nào..” Nghĩa là có thể con ngừơi này dửng dưng trước tình cảm của ngưòi khác, trước sự việc xảy ra của người khác chứ anh không hề dửng dưng với chính mình, không hề dửng dưng với những gì đang xảy ra với bản thân.)

    – Tiếp theo là điều kiện thứ hai, là tình trạng “ không biết  đọc trong mắt người khác điều đang xảy ra trong trái tim người đó” Như thế, nếu thái độ dửng dưng ở bên trên nghiêng về đánh giá khả năng đồng cảm thì tình trạng  bên dưới này nghiêng về đánh giá khả năng nhận thức nói một cách khác là không có khả năng hiểu được người khác.

    – Như vậy dửng dưng là tình trạng vô cảm, câm điếc về cảm xúc và tình cảm “ Không đọc được trong mắt người khác” là mù loà về nhận thức, thiếu khả năng hiểu biết người khác.

    Một khi đứa trẻ, nói rộng ra là một người đã “ dửng dưng’ và thiếu khả năng đồng cảm như thế thì nhất định sẽ là một con người ích kỉ, nhỏ nhen độc ác, chẳng chút vị tha nhân ái, không thể nào là một con người chân chính.

    Con người chỉ có thể trở thành con người chân chính khi có được những khả năng đồng cảm với những năng lực hiểu biết được người khác đồng cảm và hiểu biết mình. Chính sự giao cảm sẽ làm cho con người không cô độc, đơn côi. Tình cảm vị tha nhân ái khiến con người trở nên cao thượng bao dung. Cũng chính tình cảm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, vượt qua cả chính mình, làm nên những thành quả, những chiến công vĩ đại.

    Bởi vậy chúng ta giáo dục thế  hệ trẻ phẩm chất quý báu từ lúc còn bé thơ. Chỉ  có như thế, xã hội ta mới có được những con người chân chính. Nhận định trên của nhà sư phạm đã chỉ rõ điều này.

    Dân tộc ta vốn là một dân tc giàu lòng nhân ái. Đối với mỗi con người Việt Nam “ Thương nhà, thương người, thương mình biểu hiện bằng những hành động cụ thể, đó là truyền thống đạo lí lâu đời của dân tộc lịch sử và  văn học nước ta xưa cũng thể hiện khá rõ nét điều này. Đồng chí Lê Duẫn có nói  “ Cái gốc của đạo lí, của lí luận là lòng nhân ái” đồng chí cũng nói “ Lòng thương người là đạo lí của cuộc sống, là đạo lí của lòng người”.

    1. Kết bài

    Tóm lại, nhận định trên của nhà sư phạm Xukhômlinxki thật xác đáng và sâu sắc. Có thể xem đây là một bài học mà các nhà giáo dục cần thiết quan tâm, Maxim Goroki cũng nói “ Nơi lạnh lẽo nhất không phải ở Bắc Cực, nơi lạnh lẽo nhất là nơi thiếu tình thương “ Dân tộc ta vốn có truyền thống lâu đời” thương người như thể thương thân. Muốn duy trì và phát triển truyền thống tốt đẹp ấy, nhất định chúng ta không thể để trẻ em từ lúc bé có thể “ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim” những người xung quanh mình cũng như có thể thờ ơ vô cảm trước niềm vui và nỗi đau đồng loại.

    Đề 3: Nhà sư phạm nổi tiếng V.A.Xu-khôm-lin-xki có viết: “Niềm tin và thế giới xúc cảm của con người có đạo đức đúng đắn, tâm hồn đẹp đẽ được xây dựng trên cơ sở khinh bỉ những điều không xứng đáng”.

    Theo anh (chị), đối với một người có đạo đức và tâm hồn đẹp đẽ, những điều gì là không xứng đáng?

    Dàn ý

    1. Phẩm giá con người là gì?
    1. Phẩm giá con người được hình thành từ sự sáng suốt và tinh tế xác định cái gì xứng đáng và không xứng đáng.
    1. Những điều không xứng đáng cần khinh bỉ

    – Tìm kiếm cuộc sống hạnh phúc của mình nhờ vào sự ức hiếp, sự quấy phá gây nỗi buồn phiền và sự lo âu cho người khác.

    – Lợi dụng kết quả lao động, núp đằng sau lưng người khác.

    – Sự rụt rè, yếu đuối và không kiên quyết.

    Nói năng bừa bãi, thiếu suy nghĩ  và hứa những điều không thực hiện được.

    –         Thả lỏng nhu cầu và dục vọng làm cho chúng dường như thoát khỏi sự kiểm soát của tinh thần con người.

    Say rượu khiến ý thức bị lu mờ và bản năng trỗi dậy.

    Đề 4:

    Trong một buổi diễn thuyết vào đầu năm học, Bryan Dison – Tổng giám đốc tập đoàn Coca Cola đã nói chuyện với sinh viên về mối tương quan giữa nghề nghiệp với những trách nhiệm khác của con người … “Bạn chớ để cuộc sống trôi qua kẻ tay vì bạn cứ đắm mình trong quá khứ hoặc ảo tưởng về tương lai, Chỉ bằng cách sống cuộc đời mình trong từng khoảnh khắc của nó, bạn sẽ sống trọn vẹn từng ngày của đời mình …”

    (Sống trọn vẹn từng ngày – Thanh Hằng dịch từ Internet)

    Anh/Chị hãy trình bày quan điểm của mình về cuộc sống trước lời khuyên ấy.

     

    Dàn ý

    I.Mở bài.

    – Giới thiệu hoàn cảnh và dẫn lời khuyên của Bryan Dison.

    – Đối với sinh viên và thế hệ trẻ ngày nay, lời khuyên ấy có ý nghĩa rất lớn

    1. Thân bài

     

    – Hiểu đúng lời khuyên của Bryan Dison cho sinh viên về cuộc sống ấy

    + Phải phấn đấu học tập từng khoảnh khắc để tạo dựng một tương lai vững chắc cho mình, không thể để cho ngày tháng trôi qua lãng phí.

    + Không ỷ lại vào những thành tích học tập đã có trong quá khứ.

    + Không nuôi ảo tưởng cho tương lai như: trông chờ ở người khác giúp đỡ, chờ đợi một phép màu, một dịp may bất ngờ.

    +  Phải thử sức mình khi đem lý thuyết trong nhà trường để ứng dụng trong cuộc sống.

    – Qua lời khuyên đó, mỗi người cần hình thành quan điểm tiến bộ

    + Phải luôn năng động, sáng tạo và biết tận dụng thời gian để học tập và thực hành.

    + Tham gia tích cực mọi hoạt động bổ ích do nhà trường, đoàn thanh niên và các đoàn thể xã hội phát động.

    + Không nên lãng phí thời gian vào những đam mê vô bổ và có hại cho sức khỏe, đạo đức.

    + Không nên ỷ lại vào sự giàu có của gia đình mà không chuẩn bị cho mình tri thức vững vàng và đạo đức cao đẹp để làm hành trang vững chắc cho cuộc sống tương lai.

    III. Kết bài

    – Khẳng định lại lời khuyên của Bryan Dison là đúng đắn và có ý nghĩa.

    – Nêu trách nhiệm của bản thân qua lời khuyên đó.

  • Tinh thần tự học – Nghị luận xã hội

    Tinh thần tự học – Nghị luận xã hội

    Tinh thần tự học – Nghị luận xã hội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu liên quan: Thượng Đế cũng không biết – Nghị Luận Xã Hội


    [toc]

    Dàn ý bài Tinh thần tự học

    Đặt vấn đề:

    Lê nin từng nói: “Học, học nữa, học mãi”. Câu nói đó luôn có giá trị ở mọi thời đại, đặc biệt trong xã hội ngày nay đang hướng tới nền kinh tế tri thức, nó đòi hỏi mọi người phải vận động để theo kịp sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy mà tinh thần tự học có vai trò vô cùng quan trọng .

    Giải thích các khái niệm:

    + Học là thu nhận kiến thức từ người khác truyền lại, rèn luyện thành kỹ năng, nhận thức

    + Các hình thức thu nhận kiến thức :Học ở trên lớp, học ở trường, học thầy, học bạn…

    + Tự học là sự chủ động , tích cực , độc lập tìm hiểu , lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng cho mình. Tự học là tự mình tìm hiểu nghiên cứu, thu nhặt các kiến thức tự luyện tập để có kỹ năng. Tự học có thể không cần sự hướng dẫn của người khác.

    Bình luận về tự học:

    Vai trò của tự học :

    + Tự học giúp ta lĩnh hội tri thức một cách chủ động, toàn diện, hứng thú

    + Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng những kiến thức đã học một cách hữu ích hơn trong cuộc sống. Không những thế tự học còn giúp con người trở nên năng động, sáng tạo, không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác. Từ đó biết tự bổ sung những khiếm khuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân.

    + Tự học là con đường ngắn nhất và duy nhất để hoàn thiện bản thân và biến ước mơ thành hiện thực.

    + Người có tinh thần tự học luôn chủ động, tự tin trong cuộc sống.

    Tự học như thế nà cho có hiệu quả:

    + Khi nghe giảng, đọc sách hay làm bài tập, cần tích cực suy nghĩ, ghi chép, sáng tạo nhằm rút ra những điều cần thiết, hữu ích cho bản thân.

    + Tự mày mò tìm hiểu hoặc có sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy cô giáo

    + Tự học ở trường, tự học ở nhà, tự học ngoài xã hội….

    + Người học phải trình bày ý kiến của mình đối với những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu với người dạy để nắm chắc kiến thức. Từ việc nắm được khoa học từ sách vở người học phải biết vận dụng kiến thức đó vào thực tế đời sồng

    –> Dù ở hình thức nào thì sự chủ động tiếp nhận tri thức của người học vẫn là quan trọng nhất bởi nó luôn giúp con người có được kiến thức vững vàng sâu sắc.

    Phê phán những biểu hiện tiêu cực: lối học thụ động, học chay, học vẹt của một số bạn trẻ hiện nay

    Bàn bạc mở rộng: Bài học cuộc sống

    + Bản thân mỗi chúng ta phải xây dựng cho mình tinh thần tự học trên nền tảng của sự say mê, ham học, ham hiểu biết, giàu khát vọng và kiên trì trên con đường chinh phục tri thức.

    + Mỗi con người cần chủ động, tích cực, sáng tạo, độc lập trong học tập. Có như vậy mới chiếm lĩnh được tri thức để vươn tới những ước mơ, hoài bão của mình.

    Tinh thần tự học

    Bài tham khảo 1

    Trên thế giới có rất nhiều người đã thành công nhờ phương pháp tự học của bản thân. Nhiều người đã chia sẻ kinh nghiệm về tinh thần tự học của mình cho nhiều bạn trẻ noi theo. Việc tự học sẽ đem lại thành công như mong đợi cho những ai kiên trì và vận dụng nó một cách phù hợp.

     

    Quá trình con người tiếp thu những kiến thức, kĩ năng do người khác truyền lại chính là quá trình học và tự học chính là con người tìm ra cách để tiếp thu những kiến thức,kĩ năng đã được truyền lại bằng chính sức lực, khả năng của riêng mình. Việc học của chúng ta chưa đem lại hiệu quả cao vì chúng ta thụ động khi tiếp thu kiến thức mà thầy cô truyền tụng lại. Học sinh chưa biết đào sâu, sáng tạo từ những bài giảng còn sơ sài của thầy cô. Việc học thêm tràn lan, dựa nhiều vào sách tham khảo cũng làm cho việc học bị cản trở.

    Do nền giáo dục của chúng ta còn yếu kém, việc học tủ, học chống đối còn diễn ra ở nhiều học sinh. Nhiều học sinh học thuộc bài nhưng không hiểu bài dẫn đến tình trạng thuộc lí thuyết những không biết làm thực hành. Nấu tình trạng này kéo dài, học sinh sẽ bị mất gốc, gây tâm lí chán nản trong học tập.

    Việc tự học sẽ giúp con người hiểu vấn đề một cách sâu sắc, giải quyết vấn đề nhanh chóng chính xác. Việc tự học có thể được coi là chiếc chìa khóa đưa ta đến kho tàng tri thức, là điều kiện giúp ta thành công trong học tập. Nếu chúng ta biết tự học cho bản thân thì chúng ta chắc chắn sẽ thành công và nâng cao được tri thức của chính mình. Những người có tinh thần tự học sẽ chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được bản chất vấn đề. Tinh thần tự học có thể giúp con người tiếp thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, từ truyền hình ti vi,từ bạn bè hoặc từ những người xung quanh,những kinh nghiệm sống của nhân dân. Khi ta có tinh thần tự học, ta sẽ có ý thức chủ động ghi nhớ các bài giảng trên lớp,tiết kiệm được thời gian, có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn mà vẫn hiểu và nắm chắc bài học. Khi chúng ta đã tự học chắc được lí thuyết, chúng ta biết chủ động luyện tập thực hành,giúp ta có thể nhanh chóng hình thành kĩ năng, ghi nhớ kiến thức rất tốt. Có rất nhiều những danh nhân đã thành nhân tài của đất nước từ việc họ tự học như: Lương Thế Vinh, Mạc Đinh Chi, Hồ Chí Minh…Đ ây là những người có sự kiên trì trong quá trình tự học và là những tấm gương mà chúng ta cần noi theo.

    Hiểu được tầm quan trọng của việc tự học, em sẽ noi gương và học tập kinh nghiệp của những thể hệ đi trước để đưa ra một phương pháp tự học hợp lí đem lại hiều qur cho bản thân. Việc tự học chính là chìa khóa của sự thành công, đưa chúng ta đến với tương lai tươi sáng ở phía trước.

    Hiểu được tầm quan trọng của việc tự học, chúng ta sẽ có ý thức tự giác hơn trong quá trình học tập, và sẽ mang lại kết quả cao. Những người biết vận dụng phương pháp tự học cho bản thân sẽ có vốn kiến thức rộng rãi và sẽ có khả năng trở thành người có ích cho xã hội, góp phần làm phát triển xã hội lên tầm cao  mới.

     

    Bài tham khảo 2

     

    Xã hội ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc lượng kiến thức ngày càng gia tăng . Để đáp ứng được nhu cầu học vấn của thời đại, mỗi người cần phải tìm cho mình phương pháp học tập phù hợp. Trong đó quan trọng hơn hết là phương pháp tự học. Vậy tự học là gì?

    Tự học là tự giác, chủ động trong học tập nhằ vươn lên nắm bắt tri thức . Tự học không chỉ đơn thuần là tiếp nhận kiến thức từ thầy cô mà là còn học hỏi ở bạn bè , tìm tòi nghiên cứu sách vở hay học hỏi, quan sát từ thực tế.

    Tự học đóng một vai trò rất quan trọng trên con đường học vấn của mỗi người. Người biết tự học luôn tư mày mò, tìm kiếm, nghiên cứu một cách tích cực và không cấn ai nhắc nhở ở bất cứ hoàn cảnh nào. Nhờ đó những con người ấy luôn biết nhìn xa trông rộng, không bị tụt hậu, luôn nhạy bén trong thực tế do biết áp dụng kiến thức đã học. Kiến thức là vô cùng trong khi trí nhớ của con người là hữu hạn, nếu chỉ biết học tủ học vẹt thì ta sẽ không thể biền những kiến thức ấy thành của mình để vận dụng vào thực tế mà sẽ mau chóng quên đi. Tự học sẽ giúp ta khắc phục phục được nhược điểm này đồng thời giúp ta rèn luyện thói quen tích cực, chủ động hơn trong hoàn cảnh khó khăn. Hơn hết, khi tự học ta mới thấy được cái hay, cái đẹp của tri thức từ đó trở nên say mê khám phá, học hỏi nhiều điều mới lạ hơn nữa. Tự học chính là cuộc hành trình của bản thân để chiếm lĩnh kiến thức, và những bước đi đầu tiên sẽ luôn có nhiều chông gai, thử thách nhưng chính những lúc bế tắc ấy lai là động lực thúc đẩy chúng ta tích cực tư duy để tìm ra hướng đi. Cái cảm giác lúc tự mình ngộ ra được những điều mới lạ thật không còn gì vui hơn và bài học đó sẽ mãi theo ta. Tự học giúp ta nắm vững căn bản, đào sâu và mở rộng kiến thức chứ không phải nhận thức một cách máy móc. Có tự học ta mới hệ thống lại được những kiến thức đã học và kịp thời nhận ra thiếu sót của bản thân để kịp thời bồi đắp, từ đó ta có bước đầu tự tin trên con đường học vấn. Trong lịch sử ta thấy có rất nhiều tấm gương thành tài nhờ nỗ lực tự học của bản thân như trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền và tiêu biểu chính là chủ tịch Hồ Chí Minh. Hằng đêm, sau 12 giờ lao động nặng nhọc Người lại tự học tiếng Pháp bằng cách học thuộc long mỗi ngày mười từ, và cứ thế Người đã thong thạo không chỉ tiếng Pháp mà còn nhiều ngoại ngữ khác như tiếng Trung Quốc, tiếng Anh. Người cũng đã từng nói “ Trong cách học. phải lấy tự học làm nòng cốt ”.

    Trong thực tế ta có thể thấy vẫn còn rất nhiều người học tủ, học vẹt một cách ép buộc để đối phó với kiểm tra thi cử. Cách học này chỉ đem lại hiệu quả tức thời nhưng không mấy ai nghĩ đến hậu quả lâu dài của nó. Những cách học ấy làm cho ta không hiểu hết bản chất của vấn đề dẫn đến việc mau chóng lãng quên mà lại còn lãng phí thời gian và công sức. Những con người này nều không biết vươn lên tự học thì sẽ mãi bị bỏ lại phía sau mà thôi.

    Vậy để việc tự học có hiệu quả, ta cần phải nắm vững kiến thức căn bản của thầy cô truyền thụ thật tốt, biết lien kết chúng thành một khối kiến thức đầy đủ và vững chắc từ đó mới có thể áp dụng vào trong bài tập. Ta cũng cần phải soạn trước bài học ở nhà để nắm bắt được nội dung chính và dễ dàng theo kịp bài giảng của thầy cô trên lớp. Ta còn có thể học nhóm cùng bạn bè trong lớp sau giờ học để ôn lại bài giảng trên lớ hay cùng nhau giải quyết những bài tập khó khó. Nhưng quan trọng hơn hết mỗi người cần phải có tinh thần tự giác học tập mọi lúc, mọi nơi. Như vậy việc học sẽ không bị nhàm chán, không bị lệ thuộc gò bó từ đó khiến kiến thức sâu rộng hơn, in đậm trong trí nhớ.

    Tự học luôn là phương pháp học học tập hiệu quả, ít tốn kém và phù hợp cho mọi đối tượng. Vậy, là thế hệ tương lai của đất nước, mỗi học sinh chúng ta hãy ra sức tự học nhiều hơn nữa để trau dồi kiến thức cho bản thân hành một hành trang vào đời vững chắc mai sau đi xây dựng dất nước.

     

    Bài tham khảo 3

     

    Trong học tập, mỗi người đều có một cách học riêng, phù hợp với điều kiện và khả năng của mình. Thế nhưng, cách học hiệu quả nhất là tự học. Chỉ có tự học mới giúp chúng ta dễ dàng tiếp thu và hiểu sâu sắc kiến thức một cách chủ động và dễ dàng nhất.

    Như ta đã biết, học là quá trình thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại. Thế nhưng, ngoài ý nghĩa đó, tự học còn là sự chủ động suy nghĩ, tự khám phá, nghiên cứu các kiên thức để hiểu rõ bản chất của vấn đề. Kiến thức không của riêng ai nhưng muốn biến thành kiến thức của riêng mình phải đào sâu suy nghĩ. Nếu như suy nghĩ hời hợt thì sẽ không hiểu rõ, không nắm chắc bản chất của vấn đề, sau một thời gian sẽ quên mất. Chính vì vậy, khi học phải cố gắng tìm hiểu cốt lõi của kiến thức. Chính quá trình tìm tòi, khám phá vấn đề đến tận gốc rễ đó sẽ giúp cho kiến thức thu nhận được in sâu trong trí nhớ. Có rất nhiều cách tự học nhưng bất cứ các cách tự học nào thì cũng bao gồm các khâu tìm tòi kiến thức, suy nghĩ, đồng thời phải biết áp dụng kiến thức đó vào thực tế. Có thể tự học qua sách, báo, qua nghe giảng, qua các bài tập, qua học thuộc lòng, qua thực tế. Sách báo chiếm một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống và trong học tập. Học qua sách báo có nghĩa là thu thập, tìm hiểu, nghiên cứu các kiến thức mà sách báo mang lại cho ta. Tự học còn thể hiện qua cách nghe giảng bài. Nghe giảng không đơn thuần chỉ là nghe giảng rồi chép vào vở rồi bỏ đấy mà khi nghe giảng còn phải hiểu và nắm vững vấn đề. Có thể tự đặt ra các câu hỏi khi nghe giảng như: Bài giảng đề cập đến vấn đề gì? Vấn đề đó đã triển khai như thế nào? Cốt lõi của vấn đề là gì?… Có thể nói, tự học qua nghe giảng là cách học phổ biến nhất. Khi nghe giảng, ta có thể nhanh chóng thu nhận được lượng kiến thức khá lớn trong một khoảng thời gian không nhiều. Đó cũng là hạn chế của việc tự học qua nghe giảng bởi với lượng kiến thức lớn trong khoảng thời gian hạn chế, người học có thể không có thời gian đào sâu suy nghĩ, tìm tòi, do đó không hiểu hết hay không nắm chắc vấn đề.

    Một cách tự học nữa cũng hiệu quả không kém đó là học qua các bài tập. Việc làm bài tập giúp ta cùng cố các kiến thức đã học, nắm bắt được bản chất của vấn đề. Hơn thế, tự học qua các bài tập còn giúp ta sáng tạo hơn trong cách giải bài tập sao cho ngắn, gọn, súc tích và dễ hiểu. Chính vì vậy, có rất nhiều dạng bài khác nhau để giúp học sinh nắm vững và sáng tạo các kiến thức đã học được. Một cách học nữa cũng rất hiệu quả là học qua cách học thuộc lòng. Cách học này không phải là học vẹt, khi học phải hiểu rõ mình đang học cái gì? Nội dung cùa nó ra làm sao?. Chỉ có học thuộc mới giúp ta nhớ lâu hơn, không bị quên. Nhưng học thuộc lòng cũng phải có phương pháp học làm sao cho dễ nhớ, gạch ra các ý quan trọng mà học chứ không cần phải học thuộc từng dấu chấm, dấu phẩy. Vì thế, học thuộc lòng cũng là một cách tự học cho kết quả cao. Nhưng cho dù học bằng phương pháp nào, qua sách, báo hay bài tập thì cũng phải biết áp dụng vào thực tế, vào cuộc sống. Điều này giúp chúng ta không bị xa rời thực tế, biết áp dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày, vào sản xuất nông, công nghiệp hoặc một ngành nghề nào đó. Khi áp dụng vào thực tế, các kiến thức sẽ được sử dụng triệt để, sâu sắc nhất đồng thời cũng là cách tự học hiệu quả nhát bởi nó giúp chúng ta không chỉ nắm vững các kiến thức đã được cung cấp mà còn khám phá ra nhiều vấn đề mới nảy sinh, cần phải giải quyết bằng các thao tác tổng hợp: tra cứu sách vở, học hỏi những người có kinh nghiệm, bàn luận với bạn bè…

    Vì vậy, tự học là một cách học rất quan trọng, nếu bản thân mỗi người không tự tạo cho mình được một thói quen tự học thì sẽ bị lệ thuộc vào những điều mà thầy cô đã dạy cho mình và quan trọng hơn là sẽ không nắm vững được bài. Tự học sẽ giúp chúng ta có tính chủ động học tập, là con đường dần tới sáng tạo, khơi nguồn lòng đam mê, tìm tòi những điều mới lạ.

    Chính vì thế, tự học là khâu quan trọng nhất trong việc học – tìm hiểu kiến thức. Với mỗi người, bất kể cách học gì thì cũng phải tự học. Chỉ có tự học mới giúp ta hiểu rõ được kiến thức, hiểu được các sự vật, sự việc xảy ra trong cuộc sống và hướng tới một tương lai tươi sáng.

     

    Bài tham khảo 4

     

    Trong cuộc sống, muốn đạt được mọi kết quả như ý, bên cạnh sức khỏe dẻo dai con người ta cần phải có một kiến thức tương đối đầy đủ đề phục vụ cho công việc của mình. Việc thu nạp kiến thức không chỉ có ở nhà trường mà còn có ở xung quanh ta một khi ta quan tâm và muốn học hỏi mọi điều. Với một người có ý chí muốn vươn lên thì việc tự trau dồi kiến thức cho mình sẽ luôn đem lại niềm thích thú đối với bản thân họ, và chân trời kiến thức sẽ luôn rộng mở cho bất cứ ai có ý chí đáng khâm phục như vậy.

    Con người ta một khi muốn bồi dưỡng kiến thức sẽ tìm được nhiều phương pháp học tập phù hợp với điều kiện của bản thân mình, có nhiều con đường rộng mở cho việc học, học từ thầy cô bạn bè, học từ sách vở báo chí, học từ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, và còn một cách học nữa cũng đem lại hiệu quả cao trong học tập, đó là việc tự học. Đối với nhũĩig người được may mắn sinh ra có cha có mẹ, được sống trong điều kiện đầy đủ thì việc cắp sách đến trường không mấy gì khó. Nhưng cuộc sống vẫn còn đổ nhiều mảnh đời bất hạnh, những người kém may mắn hơn vì họ sinh ra trong hoàn cảnh thiếu thốn và không có điều kiện sống tốt như chúng ta. Và đối với những người kém may mắn như vậy thì việc tự học sẽ là con đường tốt nhất giúp họ trau dồi kiến thức để vươn lên trong xã hội. Vậy tự học là như thế nào? Tự học là tự nguyện không ai bắt buộc mà chính bản thân ta tự tìm tòi khám phá, tự làm phong phú thêm vốn hiểu biết cho mình, đó cũng là nhu cầu tự nhiên tất yếu của con người. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làm nên”, chúng ta vẫn phải đến trường để nghe sự chỉ dạy của thầy cô, kiến thức học từ nhà trường là những điều căn bản mà mồi người cần biết. Nếu ai đó không có được một người thầy dạy bảo trực tiếp cho mình thì cũng có những người thầy gián tiếp dạy mình bằng tấm gương về cách sống và cách hành động của họ. Nhưng dù có thầy hay không có thầy thì chính bản thân ta tự vận động, tự học vẫn tốt hơn. Người tự học hoàn toàn có khả năng làm chủ bản thân mình và biết mình cần gì, mình muốn học như thế nào và vào thời điểm nào cũng được. Nếu chúng ta có một cái đầu tốt cùng với sự chăm chỉ cao thì tự học ỉà phương pháp học hiệu quả nhất. Khỉ chúng ta đi học ở trường, có một số môn ta phải học thuộc rihư một con vẹt, cần nhớ thuộc lòng như một cái máy, khi đó người học sinh sẽ ít vận dụng cái đầu, không làm cho nó động não, như vậy thì chẳng khác nào đào tạo ra các con rô-bốt không hơn không kém. Nếu ta muốn làm con người chứ không phải mãn đời chỉ là một cái máy thì điều tất nhiên là ta phải tự học. Tuy nhiên không phải ai cũng hoàn toàn có khả năng tự học. Bất kì ai cũng có tính tò mò muốn hiểu biết thêm nhưng phần lớn trong số họ có tính lười biếng, lười suy nghĩ, không chịu khó tìm tòi học hỏi mà chỉ thích những thú vui dễ tìm. Và một khi đã thoả mãn thì chẳng cần bồi dưỡng đạo đức và tinh thần nữa nên số người tự học rất ít và người nào kiên tâm tự học sớm muộn gì cũng vượt lên hẳn những kẻ khác, không giàu hơn thì cũng được kính trọng hơn. Mỗi người chúng ta đều có bản năng tò mò muốn hiểu rõ hơn về bản thân và vạn vật xung quanh, vì vậy loài người mới văn minh làm chủ được chính mình và làm chủ cả mọi vật, thế nên có người đã nói khôi hài rằng: con người chỉ hơn loài vật ở chỗ là con người biết hỏi: “Tại sao?”.

    Tự học là việc rất cần thiết với con ngựời, trước tiên vì nó bổ sung kiến thức còn thiếu ở nhà trường. Mỗi ngày sự hiểu biết của con người càng tăng lên, nếu chúng ta không tự giác học tập thì sẽ không theo kịp và bị tụt hậu, sẽ trở thành người thừa của xã hội. Khi làm ở bất cứ ngành nghề hay lĩnh vực nào thì việc tự học luôn là cần thiết. Chẳng hạn như một bác sĩ, một luật sư nếu không có ý thức, tự học thì khi mới ra trường họ cũng có biết gì về sử kí, về địa lí hơn một cậu tú đâu, và ngành chuyên môn của họ cũng đã có thể giúp ích được gì nhiều cho họ đâu. Vì thế họ phải tự học để mở mang đầu óc, trau dồi thêm kinh nghiệm cho nghề nghiệp và nhất là để tu dưỡng tâm tính của bản thân mình. Bản chất của việc tự học là tự làm việc với chính mình trước, tự nghiên cứu tài liệu hoặc tự trao đổi với bạn bè. Muốn học, muốn hiểu sâu một chủ đề nào, điều quan trọng nhất là phải tự mình chạm tới nó trước, như gieo mầm cho việc tiếp thu, thẩm thấu của mình. Nhưng trên con đường học vấn của người tự học vẫn luôn có những cạm bẫy nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứa những lỗ hổng rất lớn mà ngay cả bản thân họ cũng không hề hay biết. Không có một người thầy nào để kiểm tra mình, để thường xuyên nhắc nhở cho mình trong việc tự học, vì thế người tự học không nên chủ quan với bản thân mình. Trong cuộc sống có biết bao tấm gương sáng vì không chịu thua thiệt và bị khuất phục trước người khác nên họ đã cố gắng tự học để vươn lên, và thành công cùa họ là không thề phủ nhận, những con người đầy nghị lực ấy đấng để chúng ta khâm phục và học hỏi theo.

    Tự học cùng là một cách học như bao cách học khác. Tự học là con đường ngắn nhất dẫn đến sự thành công và rèn luyện thêm cho bản thân nhiều điều cần thiết trong cuộc đời mỗi người. Tự học từ trong lí thuyết để áp dụng ra ngoài thực tiễn. Cuộc sống là những trải nghiệm từ khó khăn này đến khó khăn khác, do đó tự học là một việc rất cần thiết, là đôi chân cho con người ta đứng vững trước những sóng gió của cuộc đời. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc tự học, chính minh phải vượt qua những khó khăn chông gai đó để vững bước theo kịp thời đại. “Hãy nói cho tôi biết anh học như thế nào, tôi sẽ nói cho anh biết anh có thành công hay không”.

     

    Bài tham khảo 5

     

    Học là một hoạt động không thể thiếu đối với tất cả mọi người từ khi sinh ra cho đến suốt cuộc đời. Mỗi người muốn tồn tại phát triển và thích ứng được với XH thì cần phải học tập ở mọi hình thức bởi cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng. Lê nin từng nói: “Học, học nữa, học mãi”. Câu nói đó luôn có giá trị ở mọi thời đại, đặc biệt trong xã hội ngày nay đang hướng tới nền kinh tế tri thức, nó đòi hỏi mọi người phải vận động để theo kịp sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy mà tinh thần tự học có vai trò vô cùng quan trọng.

    Học là thu nhận kiến thức từ người khác truyền lại, rèn luyện thành kỹ năng, nhận thức: Học ở trên lớp, học ở trường, học thầy, học bạn… Nếu học là quá trình tìm hiểu, thu nhận kiến thức và hình thành kỹ năng của bản thân thì tự học là sự chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng cho mình. Tự học là tự mình tìm hiểu nghiên cứu, thu nhặt các kiến thức tự luyện tập để có kỹ năng. Tự học có thể không cần sự hướng dẫn của người khác. Quá trình tự học cũng có phạm vi khá rộng :khi nghe giảng ,đọc sách hay làm bài tập, cần tích cực suy nghĩ, ghi chép, sáng tạo nhằm rút ra những điều cần thiết, hữu ích cho bản thân. Tự học cũng có nhiều hình thức: có khi là tự mày mò tìm hiểu hoặc có sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy cô giáo… Dù ở hình thức nào thì sự chủ động tiếp nhận tri thức của người học vẫn là quan trọng nhất bởi nó luôn giúp con người có được kiến thức vững vàng sâu sắc. Người có tinh thần tự học luôn chủ động, tự tin trong cuộc sống.

    Tự học có nhiều hình thức như: Tự học ở trường, tự học ở nhà, tự học ngoài xã hội…. Nghe giảng trên lớp cũng cần có sự tích cực học tập. Không phải thầy ghi gì, giảng gì người học cứ cắm đầu ghi chép và học thuộc theo nội dung đã chép được. Khi nghe giảng, người học phải chon lọc những gì cần học ghi vào vở, thực hành nội dung cơ bản rồi mới ghi chép. Người học phải trình bày ý kiến của mình đối với những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu với người dạy để nắm chắc kiến thức, hiểu được bản chất của kiến thức.

    Tự học ở nhà tức là phải tự học lại các kiến thức về lý thuyết đã được học trên lớp vận dụng lý thuyết vào làm bài tập thực hành. Tự sưu tầm thêm các bài tập nâng cao để làm. Tự giác, tích cực đọc, nghiên cứu trước bài mới trước khi được học, đọc sách tham khảo về các kiến thức có liên quan đến môn học, đồng thời tự nghiên cứu sáng tạo ra các cách làm bài tập, giải bài tập hay bằng con đường ngắn nhất, nhanh nhất và dễ hiểu nhất. Từ việc nắm được khoa học từ sách vở người học phải biết vận dụng kiến thức đó vào thực tế đời sồng. Tấm gương của bạn Phạm Văn Nghĩa là một minh chứng cho tinh thần tự học. Em đã biết vận dụng những điều đã học từ nhà trường để thụ phấn cho cây, tạo ra ròng rọc kéo nước từ giếng sâu. Sự sáng tạo trong học tập của em đã gúp cho cây trồng nhà mình có năng suất cao, gúp mẹ em vơi bớt được phần nào nỗi nhọc nhằn vất vả. Chính vì vậy Phạm Văn Nghĩa đã được thành doàn thành phố Hồ Chí Minh phát động phong trào học tập tấm gương Phạm Văn Nghĩa.

    Phải tự học mới thấy hết những ý nghĩa lớn lao của công việc này. Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng những kiến thức đã học một cách hữu ích hơn trong cuộc sống. Không những thế tự học còn giúp con người trở nên năng động, sáng tạo, không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác. Từ đó biết tự bổ sung những khiếm khuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân.

    Tự học là một công việc gian khổ, đòi hỏi lòng quyết tâm và sự kiên trì. Càng cố gắng tự học con người càng trau dồi được nhân cách và tri thức của mình. Chính vì vậy tự học là một việc làm độc lập gian khổ mà không ai có thể học hộ, học giúp. Bù lại, phần thưởng của tự học thật xứng đáng: đó là niềm vui, niềm hạnh phúc khi ta chiếm lĩnh được tri thức. Biết bao những con người nhờ tự học mà tên tuổi của họ được tạc vào lịch sử. Hồ Chí Minh với đôi bàn tay trắng ra đi từ bến cảng nhà Rồng, nhờ tự học Người biết nhiều ngoại ngữ và đã tìm được đường đi cho cả dân tộc Việt Nam đến bến bờ hạnh phúc. Macxim Gorki với cả một thời thơ ấu gian khổ ,không được đi học, bằng tinh thần tự học ông đã trở thành đại văn hào Nga .Và còn rất nhiều những tấm gương khác nữa: Lê Quí Đôn ,Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền… nhờ tự học đã trở thành bậc hiền tài, làm rạng danh cho gia đình quê hương xứ sở.

    Việc tự học có ý nghĩa to lớn như vậy nên bản thân mỗi chúng ta phải xây dựng cho mình tinh thần tự học trên nền tảng của sự say mê, ham học, ham hiểu biết, giàu khát vọng và kiên trì trên con đường chinh phục tri thức .Từ đó bản thân mỗi con người cần chủ động , tích cực, sáng tạo, độc lập trong học tập. Có như vậy mới chiếm lĩnh được tri thức để vươn tới những ước mơ, hoài bão của mình .

    Càng hiểu vai trò và ý nghĩa của việc tự học,em càng cố gắng và quyết tâm học tập hơn .Bởi tự học là con đường ngắn nhất và duy nhất để hoàn thiện bản thân và biến ước mơ thành hiện thực. Có lẽ bởi vậy mà Lê-nin đã từng đặt ra một phương châm: “Học, học nữa, học mãi”.

  • Tình hình biển đảo Tổ Quốc hiện nay và trách nhiệm của học sinh – sinh viên

    Tình hình biển đảo Tổ Quốc hiện nay và trách nhiệm của học sinh – sinh viên

    Tình hình biển đảo Tổ Quốc hiện nay

    Trách nhiệm của học sinh – sinh viên

    Tình hình biển đảo Tổ Quốc hiện nay

    [toc]

    ĐỀ SỐ 1. Tình hình biển đảo tổ quốc hiện nay và hành động của thanh thiếu niên, học sinh.

    Đặt vấn đề

    Tình hình biển đảo Việt Nam hiện nay đang có những diễn biến phức tạp đe dọa trực tiếp đến chủ quyền lãnh thổ của dân tộc. Trước tình hình căng thẳng ở biển Đông, “Thanh niên cần làm gì để bảo vệ Tổ quốc?”,  là câu hỏi nhận được sự quan tâm đặc biệt của các bạn trẻ khi đề cập đến thời sự biển Đông.

     Giải quyết vấn đề.

    Tình hình biển đảo? Nhận thức về tình hình?

    Biển đảo Việt Nam  trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của người Việt Nam. Điều này đã được chứng minh bằng lịch  sử và các tài liệu khoa học. Các tư liệu khoa học và pháp lý được công bố hiện nay, đều thể hiện quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục, của Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Tuy nhiên những năm gần đây, Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam: bắt ngư dân Việt làm ăn, tấn công các tàu Việt trên vùng biển của chính Việt Nam, ngang ngược xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa…

    Những hành động nói trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của Việt Nam; vi phạm Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011; trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ niệm 10 năm DOC, làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp.

     Hành động của thanh niên hiện nay

    Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển đông cũng như nội dung của luật pháp, chế độ pháp lý của các vùng biển theo Công ước Liên hợp quốc về  Luật biển 1982.

    Thanh niên cần hưởng hứng và tích tực các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam.

    Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính Hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo.

    Điều quan trọng nữa là không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới,  tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết thì chúng ta sẽ kết nối khối sức mạnh lớn đủ sức bảo vệ chủ quyền biển đảo.  Bên cạnh đó sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.

     Kết luận

    Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn”các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”.

     

    Đề số 2: Sự kiện Trung Quốc xâm lấn lãnh hải và nhiệm vụ của thanh niên học sinh

    Vào những ngày đầu tháng 5.2014, khi mà cả nước đang tưng bừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ thì Trung Quốc đã bất ngờ hạ giàn khoan 981 xuống lãnh hải Việt Nam. Tình hình trên biển xung quanh khu vực Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD-981 vẫn liên tục gia tăng những diễn biến phức tạp. Ngày 9-5, Trung Quốc vẫn sử dụng  79 tàu thuộc 6 lực lượng hoạt động tại khu vực. Đến nay Trung Quốc sử dụng hàng trăm tàu trong đó có nhiều tàu quân sự có tàu hộ vệ tên lửa 534, hai tàu tuần tiễu tấn công nhanh 752 và 753, và các máy bay chiến đấu… Tất cả những hành động ngang nược này đều nằm trên hải phận, không phận Việt Nam.

    Trước biến động này, có nhiều suy nghĩ và hành động trong giới trẻ. Đã có một số bạn tham gia biểu tình tự phát theo xúi dục của kẻ xấu gây lên những sự kiện đáng Buồn ở Bình Dương, Thanh Hoá… có nhiều bạn lo lắng vì thế giặc mạnh, nên hoang mang dao động. Nhưng tất cả những hành động trên là sai lầm.

    Có thể nói, dân tộc ta có một lòng yêu nước nồng nàn, vô song. Chúng ta có chính nghĩa, chúng ta anh dũng, không sợ hi sinh. Sự kiện này không phải là sự kiện đầu tiên và duy nhất trong quá khứ và kể cả trong tương lai. Chúng ta đã từng lật đổ 1000 năm thống trị của quân xâm lược Phương Bắc, ba lần đại phá quân Nguyên, một đội quân mạnh nhất lịch sử trung đại. Và đã chiến thắng trong 2 cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại là chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Bên cạnh đó chúng ta có sức mạnh của nhân dân luôn đoàn kết trong các cuộc chiến tranh. Nhất định chúng ta sẽ bảo vệ được độc lập chủ quyền của mình.

    Trong cuộc đối đầu với Trung Quốc lần này, Việt Nam có hai thứ mà Trung Quốc không bao giờ có. Đó là pháp lý và đạo lý. Sức mạnh vật chất cộng với đạo lý tạo nên sức mạnh bất khả xâm phạm. Trung Quốc mạnh nhưng họ có rất nhiều chỗ yếu, yếu nhất là pháp lý và đạo lý. Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ thì người Việt Nam bằng mọi cách sẽ bảo vệ.

    Trước tình hình an nguy tới vận mệnh quốc gia, chủ quyền dân tộc; Đồng hành với dân tộc Việt Nam ; thế hệ trẻ chúng ta cùng lên tiếng phản đối và tỏ rõ sự bất bình, phẫn nộ trước lối hành xử bất chấp lễ phải, đạo lý và luật pháp quốc tế của nhà cầm quyền Trung Quốc. Đồng thời bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ với các chiến sỹ, nhân dân đang ngày đêm bất chấp hiểm nguy để bám biển, bám tàu thuyền, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh hải thiêng liêng của Tổ Quốc.

    Ngay lúc này, chúng ta cần có hành động bảo vệ tổ quốc theo đúng luật pháp Việt Nam và quốc tế. Chúng ta cũng sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ của mình khi tổ quốc kêu gọi. Nhiệm vụ trước mắt là học và rèn luyện tự đào tạo mình thành những con người có ích xây dựng đất nước mạnh giàu và trở thành quốc gia lớn mạnh trong tương lai gần.

     Đề 3. Giá trị của biển đảo với cuộc sống của người Việt nam

    Đặt vấn đề

    Biển đảo Việt Nam là phần lãnh thổ đất nước Việt Nam, qua nghìn đời nó luôn gắn chặt với đời sống của cư dân nước Việt cả về vật chất và tinh thần. Bởi vậy, biển đảo trong tâm thức người Việt là đất nước, là cuộc sống; và thực tế hàng ngàn năm lịch sử người Việt đã ra sức khai phá dựng xây sẵn sàng đổ cả máu xương cho chủ quyền biển đảo.

     Giải quyết vấn đề

    Những giá trị  mang lại từ biển

    Việt Nam có  bờ biển dài, thềm lục địa rộng lớn trên một triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền; có hơn 3.000 hòn đảo.  Biển nước ta có nguồn tài nguyên tiềm tàng, khoáng sản nổi bật là dầu khí (với trữ lượng khoảng 3-4 tỷ tấn), và  nhiều loại khoáng sản  như: than, sắt, ti tan, cát thủy tinh…, hải sản có tổng trữ lượng khoảng 3-4 triệu tấn. Đặc biệt đáng chú ý là vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch có giá trị như những cánh cửa rộng mở để chủ động hội nhập kinh tế với thế giới.

    Vùng biển nước ta còn có vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự, là biên giới phía Đông, là đường tiếp cận, bàn đạp tiến công, các thế lực xâm lược. Lịch sử cho thấy rằng trong 14 cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù đối với nước ta, thì có 10 cuộc bắt đầu từ hướng biển.

    Biển nước ta luôn gắn với những giá trị thiêng liêng tâm linh và lịch sử: truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, những chiến công lịch sử Bạch Đằng, Vân Đồn xưa, Cồn cỏ, đường huyền thoại Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ… đã cấu thành những thành tố thuộc về dân tộc nâng đỡ sức mạnh tinh thần cho muôn thế hệ.

    Bàn luận mở rộng vấn đề

    Phê phán: Tuy nhiên, trong một thời kỳ lâu dài, chúng ta vẫn chưa nhận thức được giá trị và tầm quan trọng của biển. Hiện nay còn nhiều cấp, nhiều ngành, địa phương và các lực lượng hoạt động trên biển chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò chiến lược của biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chưa thấy hết được tiềm năng to lớn của biển trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công tác nghiên cứu khoa học về biển còn hạn chế…

    Bài học: Để biển phát huy tiềm năng, chúng ta cần nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của biển, hải đảo ; cũng như tôn vinh những giá trị của nó với sự sống cộng đồng. Nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên, môi trường biển, hải đảo.

    Đặc biệt, trong thời điểm hiện tại cần xây dựng ý thức vươn ra biển, làm giàu từ biển trong cộng đồng người Việt Nam, từng bước khẳng định vị thế Việt Nam là một quốc gia mạnh về biển trong khu vực. Và song song với đó là xây dựng lực lượng quân sự hùng hậu đủ sức bảo vệ chủ quyền biển đảo.

     Kết luận

    Biển nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên, là nơi nương tựa của hàng chục triệu người dân đất Việt, là không gian sinh tồn của dân tộc, là địa bàn chiến lược trong bảo vệ và phát triển đất nước. Do vậy bảo vệ chủ quyền và phát huy tiềm năng biển đảo là mệnh lệnh của Tổ quốc cho mỗi người Việt Nam.

     

    Câu hỏi bổ sung

    Tại sao nói Trường Sa, Hoàng sa là của Việt Nam?

    Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, đó là một chân lý không thể chỗi cãi. Vấn đề về chủ quyền hai quần đảo này đã được các nhà khoa học trên thế giới công nhận, chỉ trừ các học giả Trung Quốc đương đại phản bác để phục vụ mưu đồ xâm lược bá quyền của họ. Theo đó, có rất nhiều căn cứ xác định chủ quyền hai quần đảo này là của Việt Nam, dưới đây là một số căn cứ cơ bản.

    Nhà cầm quyền Trung Quốc thường rêu rao chủ quyền 2 quần đảo này của họ, nhưng sự thật, các nhà khoa học đã tìm hiểu 24 bộ sách dư địa chí Trung Quốc  từ thời Hán đến thời Thanh kéo dài mấy ngàn năm đều không ghi 2 quần đảo này thuộc sở hữu Trung quốc.  Trong khi đó, các thư tịch, bản đồ cổ của các nhà tư bản, các cố đạo phương tây đều ghi 2 quần đảo này thuộc Việt Nam và ghi nhận việc Chúa Nguyễn nhiều lần cứu trợ khi thuyền của họ mắc nạn.  Bản đồ chủ quyền  của Pháp khi xâm lược Việt Nam cũng đã quy hoạch rất rõ sở hữu 2 quần đảo thuộc Việt Nam.

    Năm 1954, khi hiệp định Giơ ne vơ ký kết, Trung Quốc là một thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc tham dự cũng thừa nhận phần Nam vĩ tuyến 17 bao gồm lục địa biển quần đảo Hoàng sa, Trường Sa do chính quyền Việt Nam Cộng hoà quản lý.

    Bản thân các thư tịch cổ còn lưu giữ tại cố đô Huế, đều ghi chép các việc làm như : thành lập hải Đội Hoàng Sa, các chỉ dụ chỉ đạo việc bố phòng canh giữ… của các đời vua nhà Nguyễn. Nhiều dòng họ có con em là lính bảo vệ quần đảo này vẫn còn giữ những thư tịch, văn bản liên quan đến quá trình làm việc tại đây. Bản thân những người lính của Việt nam Cộng hoà (Chính quyền miền Nam cũ) vào năm 1974 đã phải chiến đấu và chết trên quần đảo vì Trung Quốc bất ngờ tấn công chiếm giữ trái phép.

    Từ sau giải phóng, thống nhất đất nước chính phủ và nhân dân Việt nam vẫn kiên trì đòi nhà cầm quyền Trung Quốc rút khỏi quần đảo Hoàng sa và có nhiều động thái tích cực trên trường quốc tế  tuyên bố chủ quyền về 2 quần đảo này.

    Từ những liệt kê trên có thể thấy tính sở hữu 2 quần đảo của Việt Nam vừa mang tính pháp lý phù hợp với công ước quốc tế về Biển vừa có tính lịch sử hàng mấy ngàn năm, nó là mảnh đất được người Việt sở hữu và ghi nhớ trong trái tim và khối óc.

    Từ đây chúng ta cũng nhìn rõ sự sai trái và âm mưu bành trướng bá quyền của Trung Quốc. Chúng ta yêu chuộng hoà bình, đoàn kết với nhân dân Trung Quốc nhưng chúng ta kiên quyết cống lại chủ nghĩa bá quyền nước lớn và bảo vệ từng đất đất tấc biển tổ quốc Việt Nam.

    Đoàn kết đấu tranh, thậm chí sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc với 2 quần đảo là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của thế hệ trẻ. Bài học của chúng ta là  không ngừng học tập rèn luyện tăng cường sức mạnh bản thân góp phần tăng cường sức mạnh dân tộc để giành lại toàn vẹn chủ quyền 2 quần đảo thân yêu này.

     Nếu tham gia vào một đoàn biểu tình phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan 981 trên lãnh hải Việt Nam em sẽ làm gì?

    Sự kiện ngày 1.5.2014, Trung quốc đơn phương đặt giàn khoan trên lãnh hải Việt Nam, cho nhiều tàu chiến máy bay bảo vệ và chống lại tàu của lực lượng Hải giám Việt Nam làm nhiệm vụ chấp pháp đã gây bức xúc trong toàn quốc. Và thời gian này đã có nhiều cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc nổ ra mạnh mẽ, trong đó có nhiều cuộc với quy mô lớn hàng vài chục ngàn người như ở  Bình Dương, Thanh Hoá…

    Tuy nhiên, tại những cuộc biểu tình này, có một số phần tử kích dộng xúi dục gây ra những hậu quả đáng tiếc làm ảnh hưởng đến hình ảnh của người Việt nam trên trường quốc tế.

    Biểu tình được hiểu một cách thông thường là hành động  phi bạo lực của một nhóm người, nhằm mục đích đưa đến cộng đồng một quan điểm hay một cách nhìn về một vấn đề nào đó trong xã hội. Hình thức của biểu tình diễn ra bởi nhiều cách và sự đa dạng khác nhau. Trong các xã hội dân chủ hiện đại, các cuộc biểu tình có thể được thực hiện qua các hình thức sau: Diễn hành, tập họp, thường trực ( cố định tại một địa bàn và diễn ra trong một khoảng thời gian dài), tuyệt thực… Ở Việt Nam thường chỉ có các cuộc mít tinh biểu thị ý chí về vấn đề gì đó chứ chưa có Luật biểu tình riêng biệt.

    Từ cách hiểu này có thể thấy, nếu VN ban hành Luật biểu tình và là người tham gia thì điều đầu tiên cần phải xác định biểu tình không phải là hành động bạo lực. Tham gia vào nó, chúng ta kiến nghị các yêu sách dân chủ đòi hỏi cái đúng theo những quy phạm pháp luật quốc gia và quốc tế.

    Áp dụng cụ thể vào biểu tình chống TQ, chúng ta cần bày tỏ ý chí dân tộc chống các hành động sai trái của nhà cầm quyền nước này xâm phạm trái phép lãnh ghải Việt Nam. Chúng ta bày tỏ sức mạnh dân tộc, biểu dương nó như một lực lượng cho nhà cầm quyền TQ thấy được sức mạnh lòng dân VN là bất khuất và sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ chủ quyền của tổ quốc mình. Thông qua biểu tình chúng ta cũng muốn thông tin tới quốc tế tâm nguyện vì hoà bình của chúng ta và để thế giới thấy được sức mạnh cộng đồng người Việt chống lại chủ nghĩa bá quyền nước lớn.

    Tại cuộc biểu tình cũng cần giải thích cho mọi người tham gia cùng hiểu và đồng lòng với mục tiêu biểu tình; song song với đó là tham gia ngăn chặn các hành động quá khích, phát hiện các phần tử phản động lợi dụng xúi dục đám đông nhẹ dạ cả tin đi chệch hướng biểu tình có những hành động phá hoại tạo cớ cho quân xâm lược có những lý do chống lại tổ quốc mình, làm suy yếu phân tán sức mạnh nhân dân.

    Là thanh niên học sinh, kiến thức về xã hội chính trị chưa nhiều, tốt nhất là chúng ta tham gia các cuộc tuần hành biểu dương lực lượng (nếu có) do nhà trường, cơ sở đoàn…đứng ra tổ chức ở đó chúng ta được hướng dẫn đầy đủ những việc làm cần thiết. Có rất nhiều cách thể hiện lòng yêu nước, nhưng thể hiện nó theo đúng pháp luật quốc gia và quốc tế vì sự tiến bộ chống bạo loạn mới là cách biểu tình đúng nhất.

    Phát biểu suy nghĩ về bản tin của Thủ tướng Chính phủ gửi tới các thuê bao di động ngày 15/5/2014

    Vào tối ngày 15/05/2014 và ngày 16/05/2014, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã gửi một tin nhắn văn bản đến hàng triệu người dân Việt Nam, kêu gọi người dân thể hiện lòng yêu nước để “bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc” nhưng không tham gia vào các hành vi bạo lực. Nguyên văn tin nhắn của Thủ Tướng: “Thủ tướng Chính phủ yêu cầu và kêu gọi mọi người dân Việt Nam hãy đề cao tinh thần yêu nước, bảo vệ  chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc bằng những việc thiết thực, đúng pháp luật, không để các phần tử xấu lợi dụng, kích động làm những việc quá khích gây tổn hại đến lợi ích và đất nước”. Đại diện nhà mạng VinaPhone cho biết, ngay trong lần nhắn đàu tiên đã có hơn 30 triệu thuê bao, các thuê bao sẽ sớm nhận được tin nhắn này.

    Những ngày qua Nhân dân cả nước đã biểu thị lòng yêu nước, phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép tại vùng biển Việt Nam là việc làm chính đáng. Nhưng tại một số địa phương đã có một số người có hành vi vi phạm pháp luật, manh động, phá hoại cơ sở sản xuất, có cả cơ sở sản xuất của nhà đầu tư nước ngoài và chống người thi hành công vụ, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, sinh hoạt bình thường của người dân, môi trường đầu tư và chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Tình hình này là nghiêm trọng. Vì vậy việc người lãnh đạo cao nhất chính phủ có tin nhắn tới tận tay người dân là một việc làm sáng suốt đúng đắn.

    Trước hết nói về tính hiệu quả của nó, tin nhắn sẽ đến với các công dân nhanh nhất, trực tiếp nhất qua điện thoại cầm tay vì đây là phương tiện thông tin phổ thông ở VN hiện nay. Trong khi đọc báo, xem ti vi… là những phương tiện đại chúng nhưng các công dân không phải ai cũng xem được.

    Về Nội dung, Thủ tướng không cấm biểu tình, mà nêu cao cảnh giác cho mọi người không tham gia vào các hành vi bạo lực gây tổn hại tới đất nước. Đây là nội dung quan trọng, một mặt Thủ tướng thừa nhận việc công dân biểu dương ý chí lòng yêu nước, một mặt ngăn chặn việc phá hoại của kẻ thù. Bởi nếu không, vô hình chung người biểu tình sẽ lại tiếp tay cho kẻ âm mưu phá hoại, các cuộc biểu tình sẽ trở thành phản tác dụng.

    Trật tự biểu tình và các hành động bạo lực đã được vãn hổi sau 2 ngày, điều này nói nên tính đúng đắn phù hợp tâm nguyện nhân dân của bản thông điệp mà Thủ tướng phát đi.

    Yêu nước là phẩm chất quý báu mà tuổi trẻ cần phát huy,  nhưng yêu nước và thể hiện nó như thế nào lại là câu chuyện thuộc về phương pháp. Hãy thực hiện nó bằng một phương pháp hiệu quả tích cực nhất đó là hành động của chúng ta lúc này. Theo đó chúng ta cần đồng lòng với Chính phủ, đoàn kết toàn dân tạo thành sức mạnh phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc lúc này; đồng thời sẵn sàng có những hành động mạnh mẽ quyết liệt hơn khi tổ quốc kêu gọi.

    Lòng yêu nước theo quan niệm của em?

    Lòng yêu nước là một phẩm chất quý giá của người Việt Nam ta từ ngàn xưa. Có thẻ có nhiều cách hiểu về lòng yêu nước, và khái niệm này ở từng thời kỳ đã có những thay đổi; nhưng tựu trung lại yêu nước chính là cống hiến những giá trị tốt đẹp nhất cho dân tộc cho tổ quốc.

    Bằng trái tim chúng ta dành tình cảm chân thành nhất cho dân tộc mình yêu thương đùm bọc chở che… chúng ta cũng dành tình yêu cho mỗi tấc đất trên dải đất hình cong chữ S, cho vùng trời vùng biển thân yêu. Ta thủy chung với tình yêu này và coi nó như là một lẽ sống của cuộc đời.  Bằng suy nghĩ và hành động, ta luôn tin vào dân tộc với sức mạnh ngàn xưa và hôm nay. Chúng ta có hành động với mục tiêu bảo vệ và xây dựng tổ quốc đúng với luật pháp Việt Nam và quốc tế.

    Chúng ta tránh lòng yêu nước mù quáng, cả tin không phân định rạch ròi để sa vào cạm bẫy của kẻ thù lợi dụng. Những sự kiện gần đây về các cuộc biểu tình phản đối Trung quốc đưa giàn khoan 981 vào lãnh hải nước ta, đã xuất hiện sự mù quáng đó của một bộ phận người lao động. Đó là các sự kiện lợi dụng biểu tình đạp phá các công xưởng nhà máy, hôi của… tại Bình Dương và Thanh Hoá. Hiện tượng này làm cho tình hình thêm rối ren và làm mất đi hình ảnh đẹp về người Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế. Cũng rất cần tỉnh táo để tránh sa vào cạm bẫy của bọn phản động chống lại chính quyền, chia rẽ nội bộ để làm giảm sức mạnh dân tộc. Hãy bày tỏ và hành động vì lòng yêu nước theo đúng cách đó là khẩu hiệu của thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng; đó là yêu nước nhưng tuân thủ pháp luật, yêu nước phải góp phần làm cho đất nước mạnh giàu.

    Yêu nước có nhiều cung bậc, nhiều mức độ. Hãy tùy thuộc vào khả năng của mình để cống hiến.Khi nói đến yêu nước đừng vội nghĩ đến những điều gì lớn lao to tát mà cần phải thể hiện tình yêu đó ngay trong từng lời nói việc làm và suy nghĩ nhỏ nhất của mình sao cho có lợi cho gia đình, quê hương. Yêu nước không phải là hô khẩu hiệu suông mà hãy thể hiện lòng yêu nước từ công việc hằng ngày mà chúng ta đang làm. Với tuổi trẻ học đường chính là rèn luyện tu dưỡng thật tốt để xứng đáng là thế hệ con người Việt nam mới có đủ năng lực hội nhập quốc tế xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Chúng ta hãy kiên trinh với lòng yêu nước của mình được đúc kết trong dòng máu dân tộc từ ngàn năm xưa. Chúng ta luôn tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc như Bác Hồ đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.Tuổi trẻ Việt Nam hãy đoàn kết và đồng hành cùng dân tộc

    Hát quốc ca, niềm tự hào và trách nhiệm của người Việt Nam

    Bài hát “Tiến quân ca” của Nhạc sỹ Văn Cao, do đích thân Bác Hồ chọn làm Quốc ca Việt Nam. Bài ca ấy, gần 80 năm qua đã cất lên trên chiến trường, trong những ngày mừng chiến thắng, trong mỗi buổi lễ chào cờ ở làng quê, khu phố lớp học. Khi đọc các tác phẩm chúng ta đã từng xúc động khi thấy các chiến sỹ cộng sản chào cờ và hát quốc ca trong tù. Mỗi lần xem các trận thi đấu thể thao, ta chứng kiến vận động viên trào nước mắt hát quốc ca khiến lòng ta cũng rưng rưng.. . Ngày 29-3 -2014 vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn số 1525/BGDĐT-CTHSSV yêu cầu các cơ sở giáo dục, các nhà trường khuyến khích dạy hát Quốc ca cho trẻ mẫu giáo và tổ chức sinh hoạt tập thể có hát Quốc ca. Đối với các trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, học viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở giáo dục khác, trong các lễ chào cờ, tất cả giáo viên, giảng viên và học sinh, sinh viên đều hát Quốc ca. Đó là một quyết định đúng đắn.

    Chào cờ và hát Quốc ca là nghi thức quan trọng thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào và trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân của mỗi công dân và với mỗi học sinh. Cũng bởi vì trường học là nơi đào tạo, giáo dục thế hệ tương lai của đất nước. Vấn đề đào tạo, giáo dục không chỉ là kiến thức, trình độ kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải giáo dục nhân cách, lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc và trách nhiệm với Tổ quốc, nhân dân. Nói cách khác, đây là là nơi không chỉ giáo dục ra những người  làm công ăn lương mà là những chủ nhân của đất nước. Họ phải biết tự hào về tổ quốc và bài hát quốc ca được hát từ chính trái tim họ sẽ hun đúc thêm lòng yêu nước cho chính họ.

    Nhưng hiện nay, ở nhiều nơi, trong lễ chào cờ, thay vì hát người ta mở nhạc hay băng ghi âm lời bài Quốc ca và mở to. Và trong các nhà trường, ngày càng có nhiều học sinh không thuộc và không hát Quốc ca. Cùng với lá quốc kỳ còn có quốc hiệu (tên nước) và quốc ca là 3 nội dung mà một công dân yêu nước không thể không nhớ, không thuộc. Bởi đó là niềm tự hào riêng, là những khái niệm mà nhờ đó ta có thể tự hào chính ta là người Việt Nam

    Để việc hát Quốc ca không  phải là một việc làm bắt buộc, một thứ nghi thức hình thức, thiết nghĩ các cấp chính quyền, các trường học cần  tăng cường công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của lễ chào cờ, hát Quốc ca để mọi người hiểu, thuộc và hát Quốc ca bằng cả trái tim mình. Nhưng điều quan trọng nhất là mỗi người hãy ý thức rằng, mỗi lần hát quốc ca chính là một lần mình tự giáo dục truyền thống, đạo đức cách mạng, xây dựng, bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, cho chính bản thân mình. Bởi một điều giản đơn, ta là người Việt Nam.

     

    Bài tham khảo của học sinh

    Có một tình yêu trong tôi

    Hồi còn nhỏ, mỗi lần ra biển, tôi luôn thích thú và choáng ngợp trước sự mênh mông và xa vời của đại dương. Trong vô vàn những băn khoăn về thế giới rộng lớn này, con bé nhỏ xíu ngày ấy luôn muốn biết phía bên kia bờ biển xanh thẳm là nơi nào và gửi cái ước ao được khám phá hết vẻ đẹp của biển quê hương vào cánh chim hải âu trắng muốt.

    Lớn dần lên, cảm giác thấy mình thật bé nhỏ trước biển vẫn chưa bao giờ mất, nhưng thêm vào đó, tình yêu với biển đảo quê hương cũng dần trở nên sâu sắc hơn. Và khi đủ lớn để hiểu được rằng vị mặn mòi của biển trên đất nước mình, phải chăng cũng hòa lẫn cả vị mặn những giọt mồ hôi của những người lính ngày đêm canh gác ngoài hải đảo xa xôi kia, đó là lúc trong tôi nảy nở một niềm ngưỡng vọng, yêu quý với những con người nơi đầu sóng ngọn gió ấy!

    Khi tôi mới chỉ học tiểu học, mỗi tối sau khi học xong, sở thích của tôi là cùng bố xem những bộ phim tài liệu về thiên nhiên đất nước, về cuộc sống của con người ở mọi vùng đất khác nhau, dù chưa thể hiểu và nhận thức đầy đủ về những tri thức ấy, nhưng những ấn tượng trong tôi từ bao giờ lại trở nên đậm sâu và rõ nét về những thước phim chân thực và sống động, đặc biệt là khi tôi xem được hình ảnh về cuộc sống của người lính biển, hiên ngang mà cũng thật đời thường, giản dị. Như những cây xương rồng gai góc, mạnh mẽ mà chịu đựng những khắc nghiệt của thời tiết, người lính đảo cũng sống một cuộc sống đón lấy nắng gió mặn mòi của biển khơi.

    Trong trí óc non nớt và giàu trí tưởng tượng của tôi ngày trước, có những hình dung thật ngây thơ về cuộc sống trên những hòn đảo xa xôi: Tôi chỉ nghĩ về biển đảo như những gì rất đỗi thơ mộng. Nhưng khi đã có những trải nghiệm nhất định, tôi mới thấu hiểu những cơ cực, vất vả trong cuộc sống chật vật, khó khăn với bao thiếu thốn, lo toan mỗi khi mưa giông, bão gió. Người lính trên biển có những người còn rất trẻ tuổi, song họ lại có một ý chí thật kiên cường.

    Dạn dày gió sương đã tôi luyện nên những con người dám hi sinh, dám cống hiến ở nơi cách xa những tiện nghi, đủ đầy trên đất liền, xa quê hương và gia đình. Khi đất nước chiến tranh, hàng nghìn thanh niên bấy giờ với khí thế hiên ngang “xếp bút nghiên ra trận chiến đấu” đã ra đi với nhuệ khí hào hùng và lòng yêu nước mãnh liệt.

    Cũng như vậy, những người lính cầm cây súng ra với biển khơi với quyết tâm và sự can trường. Bởi vì các anh không chỉ bảo vệ vùng biển mà còn mang trách nhiệm xây dựng cho hòn đảo của Tổ quốc được yên bình, ấm no. Sóng gió chỉ thổi bay được cát bụi chứ không thể thổi bớt được tình yêu quê hương tha thiết và sự vững vàng, niềm tin yêu mà các anh dành trọn cho đất nước.

    Khi chiến tranh qua đi, những người lính biển vẫn tiếp tục cầm chắc cây súng bảo vệ cho vùng hải đảo được bình yên. Bao năm qua luôn như thế, hình ảnh người lính đứng trên đảo vững chãi như ngọn hải đăng vẫn luôn rạng ngời và soi sáng cho bao lí tưởng, làm ấm thêm niềm yêu thương nơi quê nhà. Ngày hôm nay, khi biển xanh quê hương với hai quần đảo quý Trường Sa, Hoàng Sa ngày càng trở thành niềm tự hào bởi những giá trị tài nguyên vô tận, khi có kẻ vẫn còn nhăm nhe chiếm lấy biển đảo nước ta bằng những âm mưu hiểm ác thì nhiệm vụ của những người lính đảo lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.

     

     

    Bài viết của học sinh Hoàng Linh Phương về sự kiện Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981.

    “Trong những ngày này, cả Việt Nam và thế giới đều đang rất quan tâm tới việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 cùng hơn 80 tàu có vũ trang, tàu quân sự và máy bay hộ tống đi vào sâu tới 80 hải lý trong thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam ngày 01/05/2014. Hành động này đã gây phẫn nộ sâu sắc trong triệu triệu tấm lòng con dân đất Việt, nhân dân ta khắp ba miền đất nước đã xuống đường mít tinh, tuần hành để phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc với lãnh thổ nước ta. Từ việc trên, lần đầu tiên tôi đã có những suy nghĩ về đất nước, về lãnh thổ dân tộc.

    Chúng tôi, một thế hệ trẻ đã sống cách chiến tranh hơn hai mươi năm không thể hiểu được hết những cái giá mà cha ông ta đã phải trả cho chiến tranh. Tôi thấy mình thật may mắn khi đang được sống ở một đất nước hòa bình, không chiến tranh, không khói lửa – đó là điều mà đến tận thế kỷ XXI này vẫn có những quốc gia, những người dân chịu đựng từng ngày, từng giờ. Chúng tôi sống, đi học, làm việc với một nhịp sống đơn giản, thậm chí vẫn luôn nghĩ rằng những vấn đề về Tổ quốc, về chủ quyền dân tộc vẫn không phải là việc của mình mà là việc của người lớn, của Đảng, của Nhà nước.

    Ở trường, một trong những môn học tôi yêu thích chính là Lịch sử, đó có thể coi là điều khá trái ngược với đại bộ phận thế hệ trẻ ngày nay. Tôi luôn thấy hứng thú khi tìm hiểu về đất nước từ thủa hồng hoang đến khi lập nước và giữ nước. Bốn ngàn năm lịch sử, tất cả chúng ta ai cũng biết nhân dân ta đã phải trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh vệ quốc, ông cha ta bao đời đã không tiếc máu xương mình để gìn giữ đất nước cho đến ngày hôm nay, để chúng tôi được sống ở một đất nước hòa bình…

    Chủ quyền dân tộc từ bao đời nay đã được khẳng định từ bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, đến “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Cũng vì chủ quyền đó mà nhân dân ta chấp nhận những mất mát, đau thương, chấp nhận cả những cái chết khi đi vào nơi chiến trường lửa đạn, để bảo vệ Tổ quốc. Đó là điều mà bao thế hệ trước đã làm, và tôi chắc chắn, thế hệ ngày hôm nay cũng sẵn sàng làm mọi điều để bảo vệ chủ quyền dân tộc.

    Hành động trái phép của Trung Quốc đã làm cho chúng tôi, những con người của một thời hòa bình phải suy nghĩ. Triệu triệu con dân nước Việt từ mọi miền của Tổ quốc đến cả những kiều bào ở nước ngoài đều bất bình, phẫn nộ trước hành vi ngang ngược, bất hợp pháp của Trung Quốc. Có người giấu những suy nghĩ đó trong lòng, có người xuống đường tuần hành phản đối Trung Quốc, thậm chí có những bạn trẻ đã bày tỏ quan điểm rất mạnh mẽ trên Facebook.

    Mỗi người có một cách thể hiện khác nhau, nhưng tôi tin trong mỗi chúng tôi, đó đều là những xúc cảm, những hành động của một trái tim yêu nước nồng nàn. Là một đất nước đã đi qua nhiều cuộc chiến, hiểu rõ những mất mát, đau thương trong chiến tranh, nên chúng ta, với hành động ngang ngược của Trung Quốc vẫn đang tìm cách giải quyết bằng biện pháp hòa bình và ngoại giao, để giữ gìn từng vùng biển ngoài xa.

    Ở tuổi 18, chúng tôi dần dần có ý thức rõ ràng hơn về trách nhiệm của mình với Tổ quốc. Không chỉ dừng lại ở việc học tập để sau này trở thành người có ích cho đất nước, chúng tôi dần dần biết suy nghĩ trước mọi vấn đề của đất nước, biết phẫn nộ khi đất nước bị xâm phạm chủ quyền”.