Author: Nguyễn Huyền

  • Văn mẫu Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Văn mẫu Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Văn mẫu Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Bài văn mẫu lớp 12

     Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    BÀI LÀM

    TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH ĐẤT NƯỚC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

    1.Về tác giả Nguyễn Khoa Điềm và xuất xứ đoạn trích « Đất Nước ».

    -Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943. Nhà thơ xứ Huế. Tốt nghiệp Đại học Văn Sư phạm Hà Nội. Thời chống Mĩ sống và chiến đấu tại chiến trường Trị-Thiên. Nay là Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin.

    • Tác phẩm thơ: “Đất ngoại ô”, “Mặt đường khát vọng”,…
    • Thơ của Nguyễn Khoa Điềm đậm đà, bình dị, hồn nhiên, giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư của người thanh niên trí thức tham gia tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
    • Xuất xứ : Trường ca “Mặt đường khát vọng” được Nguyễn Khoa Điềm viết tại chiến khu Trị-Thiên hoàn thành vào cuối năm 1971. Được xuất bản vào năm 1974.
    • Đoạn trích “ Đất nước” gồm 110 câu thơ tự do, là chương 5 của trường ca “Mặt đường khát vọng” (Sách Văn 12 trích 89 câu thơ phần đầu chương 5 ).

    2.Chủ đề đoạn trích « Đất Nước »

    Bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm nói về cội nguồn đất nước theo chiều dài lịch sử đằng đẵng và không gian địa lý mênh mông. Hình tượng Núi Sông gắn liền với tâm hồn và chí khí của Nhân dân, những con người làm ra Đất nước. Đất nước trường tồn hứa hẹn một ngày mai đẹp tươi và hát ca.

    3.Nội dung cơ bản

    3.1. Cảm nhận chung về đất nước.

    • Cảm nhận về đất nước bằng những gì gần gũi thân thiết, bình dị trong cuộc sống của con người.

    + : “Đất nước có…………..” qua sự tích:

    Trầu cau: nói lên tình nghĩa vợ chồng gắn bó, thủy chung, ý thức dân tộc.

    Thánh Gióng: tinh thần bất khuất chống xâm lược của dân tộc ta từ thời dựng nước.

    • Đất nước được hình thành từ những thuần phong mĩ tục: tóc mẹ thì bới sau đầu, đó là nét đẹp văn hoá cội nguồn của dân tộc dù trải qua 1000 năm Bắc thuộc.
    • Đất nước được hình thành từ những lối sống giàu tình nặng nghĩa: Cha mẹ thương nhau…..từ câu ca dao: Tay bưng chén muối đĩa gừng.
    • Đất nước được hình thành từ những vẻ đẹp văn hoá vật chất của nền văn minh nông nghiệp lúa nước: cái cột, cái kèo… và cuộc sống lao động nông nghiệp vất vả:

    Hạt gạo một nắng hai sương xay ,giã ,dần ,sàng. Đất nước có từ ngày đó

    – Đất nước được cảm nhận từ phương diện địa lí, lịch sử.

    • Đất nước là không gian rừng biển, sông núi, giang sơn, yêu qúy qua các làn điệu dân ca trữ tình:

    Đất là nơi chim về…

    Nước là nơi rồng ở

    • ĐN là không gian gần gũi gắn bó với mỗi chúng ta:

    Đất là nơi anh đến trường

    Nước là nơi em tắm

    Và cũng là nơi gắn bó với những kỉ niệm thơ mộng tuyệt đẹp “ĐN là nơi ta hò hẹn….thầm”

    • ĐN gắn với truyền thuyết con rồng cháu tiên: “Đất là nơi Chim về

    Nước là nơi Rồng ở

    Lạc Long Quân và Âu Cơ

    Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

    • ĐN là nơi k/gian sinh tồn của cả dân tộc qua bao thế hệ, từ quá khứ đến hiện tại, tương lai. không quên cội nguồn

    “Những ai đã khuất…….con cháu”

    – ĐN hoá thân trong cuộc sống của mỗi con người.

    • Mỗi chúng ta đều có một phần ĐN từ thể xác đến tâm hồn. Ý thơ gợi chúng ta về trách nhiệm về ĐN về sự đoàn kết giữa các dân tộc tạo nên sự vẹn toàn cho đất nước. Cho nên, cần đem xương máu của mình để xây dựng đất nước:

    “Em ơi Đất nước là máu xương của mình

    Phải biết gắn bó và san sẻ.

    Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

    Làm nên đất nước muôn đời”

    =>ĐN được tác giả cảm nhận từ chiều dài của thời gian và lịch sử, từ chiều rộng không gian và địa lí, bề dày văn hoá và phong tục lối sống.

    Tóm lại, 42 câu thơ trong phần I nói về nguồn gốc của Đất nước và sự gắn bó, san sẻ đối

    với Đất nước. Ý tưởng sâu sắc ấy được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân gian, một giọng điệu thủ thỉ tâm tình vô cùng thấm thía, xúc động. Chất trữ tình hòa quyện với tính chính luận.

    3.2.Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.

    -Tất cả mọi hình ảnh tồn tại trên đất nước đều gắn liền với nhân dân.

    “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

    Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

    Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên

    Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

    Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…”

    Những cảnh quan: hòn Vọng Phu, Trống Mái chỉ trở thành thắng cảnh khi gắn liền với con người vì không có sự chờ đợi của người vợ thì không có núi Vọng Phu, không có truyền thuyết Hùng Vương thì không có sự cảm nhận hùng vĩ quanh đền hùng:

    “ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

    Chẳng mang một dáng hình ,một ao ước,một lối sống ông cha Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những tâm hồn đã hoá núi sông ta”

    – Nhân dân gìn giữ và bảo vệ đất nước:

    +Nhà thơ không điểm lại những triều đại anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người

    vô danh, bình dị nhưng chính họ là người đã “giữ và truyền” hạt lúa, đã “truyền lửa”, “truyền giọng điệu”, “gánh tên làng tên xã”…, “đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái”. Chính Nhân dân đã làm nên Đất nước, để Đất nước là của Nhân dân

    • Họ là những con người anh hùng :

    .“Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

    Cần cù làm lụng

    Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng”

    . “Trong bốn nghìn năm lớp người giống ta lứa tuổi

    Họ đã sống và chết

    Giản dị và bình tâm

    Không ai nhớ mặt đặt tên

    Nhưng họ đã làm ra đất nước”.

    – Đất nước này là của nhân dân.

    + Vần thơ hàm chứa ý tưởng đẹp, một lối diễn đạt ý vị ngọt ngào:

    “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

    Có nội thù thì vùng lên đánh bại

    Để Đất nước này là Đất nước Nhân dân

    Đất nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại”

    + Đất nước mang sức sống mãnh liệt, tiềm tàng vì Nhân dân đã biết yêu và biết ghét, bền

    chí và dẻo dai, biết “quý công cầm vàng”, “biết trồng tre đợi ngày thành gậy”, biết trả thù cho nước, rửa hận cho giống nòi mà “không sợ dài lâu”.

    +Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng:

    “Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

    Mà khi về Đất nước mình thì bắt lên câu hát

    Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

    Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

  • Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    Bài văn mẫu lớp 9:

    Cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    BÀI LÀM

    Với tuổi học trò, ai cũng có cái nao nao của buổi tựu trường, Nhưng lần này, tôi tự nhiên thấy lạ: lần đầu tiên tôi đến với mái trường THPT.Bao niềm vui, sự hảnh diện và cả sự rụt rè bỡ ngỡ cứ xen lẫn trong tôi với nhũng ấn tượng sẽ đọng lại mãi trong lòng.

    Ngày đầu tiên đến trường – đó là một ngày nắng ấm, khí trời dìu dịu êm ái , theo sự thông báo của nhà trường , tôi đã chuẩn bị đủ tất cả mọi thứ nào là quần áo, giày dép, tập sách…. Nhưng lòng tôi vẫn cứ xôn xao khó tả. Bởi

    trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới: bạn bè, thầy cô, trường lớp… đều mới tinh.Trong những năm trước, sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trừơng thân quen với những hàng cây, ghế đá,..in đậm bao kỹ niệm của những lần nô đùa cùng bè bạn. Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa cấp ba – một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang, và không gian thoáng đãng..Từ cổng trường là một hàng cây me già rợp bóng mát dẫn lối vào các dãy phòng học ba tầng uy nghi, đẹp đẽ . Nào là hàng cây, phòng học, cột cờ ….tất cả đều dập vào mắt

    tôi, khiến lòng không thể nén lại được cảm xúc ngỡ ngàng , bao niềm vui sướng và tôi đã thốt lên: “Ôi! Ngôi trường đẹp quá!”.

    Chúng tôi, các lớp 10 cũng như anh chị lớp 11 dược phân công về các lớp. Tôi thầm ước sao cho mình có thể học chung với một số người bạn cũ. Tiếc thay, lớp tôi học hoàn toàn là bạn lạ. “Nhưng dần rồi mình cũng sẽ quen với những bạn ấy thôi” – Tôi tự an ủi mình như thế. Sau mấy phút bỡ ngỡ ban đầu, tôi thấy cô giáo chủ nhiệm bước vào. Dáng đi, hình ảnh của cô làm cho tôi gợi nhớ về cô giáo chủ nhiệm năm lớp 9.Vẫn một dáng người thon thả, đôi mắt hìên lành, mái tóc đen dài.. Chính hình ảnh có của cô đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng vì xung quanh tôi toàn là bạn lạ. Lởi đầu tiên cô

    nói với chúng tôi là những lời dạy bảo ân cần về ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, trường, lớp, trong học tập và rèn luyện trong năm học đầu tiên của ngưỡng cửa cấp ba.Tôi nghĩ đó là bài học đầu tiên mà tôi có thể có được ở ngôi trường mới này..

    Ấn tượng nhất trong tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục là một bộ đồ dài trắng tinh, tôi ra dáng là một nữ sinh thực sự. Tôi vừa thèn thẹn vừa cảm thấy mình như trưởng thành hơn. Tiếng trống khai trường do thầy hiệu trưởng gióng lên vang xa và âm thanh đó như lưu vào trong tôi một cảm xúc xao xuyến, lạ lùng. Tôi biết là từ hôm nay tôi hoà nhập vào một môi trừong mới.

    Tôi được học trong một ngôi trường có bề dày thành tích và truyền thống dạy học – Trường THPT chuyên Huỳnh Mẫn Đạt, bản thân tôi có biết bao nhiêu niềm vui sướng và lòng tự hào và có xen lẫn một vài nỗi lo sợ . Nhưng điều quan trọng trong tôi lúc này, tôi hứa sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường.

    Với bao nhiêu diều suy nghĩ trong tôi , có cả niềm vui xen lẩn niềm kiêu hảnh và cả sự thẹn thùng bỡ ngỡ và một chút lo lắng…. Bấy nhiêu cảm xúc

    của những ngày đầu tiên đó dưới mái trường THPT chắc chắn sẽ đọng lại mãi trong lòng tôi như một dấu ấn không thể phai mờ …

    Thuyết minh Nguyễn Du & Truyện kiều

    Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1866 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng)

    tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ.

    Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều

    Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.

    Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người. Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.

    Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Chánh học và tà thuyết” giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.

    Truyện kiều của nguyễn du là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại truyện nôm trong văn học trung đại VN.

    ND là kon người có trái tim giàu lòng yêu thương. chính nhà thơ đã từng viết trong Truyện Kiều: “chữ tâm kia mới= 3 chữ tài”. Mộng Liên Đường, chủ nhân trong lời tựa Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của ND:”nếu không có con mắt trông thấy cả 6 cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”.

    ND dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh tâm tài nhân (TQ), có bố cục theo 3 phần truyền thống của tác phẩm cổ điển:

    p1:Gặp gỡ & đính ước

    p2: Gia biến & lưu lạc

    p3:Đoàn tụ.

    Nhân vật chính là người kon gái tài sắc Thúy Kiều. nhưng phần sáng tạo của ND là rất lớn. Điều này làm nên giá trị của kiệt tác truyện kiều.

    về nội dung, truyện kiều có 2 giá trị lớn là hiện thực &nhân đạo. tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị & số phận những kon ngừ bị áp bức đau khổ, đặc biệc là số phận bi kịc của ngừ phụ nữ.

    TK mang giá trị nhân đạo với những nội dung cơ bản: niềm thương cảm sâu sắc trc những đau khổ của kon ngừ, sự lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo, sự trân trọng, đề cao kon ngừ từ vẻ đẹp hình thức, phẩm chất đến những ước mơ, khát vọng chân chính.

    về nghệ thuật, TK có những thành tựu lớn về nhìu mặt, nôit bật là ngôn ngữ

    • thể loại. đến TK, tiếng việt đã đạt đến trình độ đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật bỉu đạt, biểu cảm& thẩm mĩ, kết hợp giữa ngôn ngữ dân tộc& ngôn ngữ bác học. nghệ thuật tự sự, miêu tả trong tác phẩm thật đa dạng.

    Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều.Kiệt tác TK có sức chinh phục lớn đối với nhìu thế hệ độc giả.

    tác phẩm đã đc dịch ra nhiều thứ tiếng & đc giới thịu nhìu nc’ trên thế giới Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam”. Và ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

    Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân.

  • Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

    Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

    Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

    Văn mẫu lớp 9:

     “Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa”

    BÀI LÀM

    “Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện

    thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con

    người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi

    mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp

    áp” (Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về

    con người, T.C Văn học,1993, số 3, tr.20).

    Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khámphá trong

    văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và

    cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm

    đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người

    làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn

    chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện

    một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt

    phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.

    Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của

    mảnh đất chiến trường xưa A So từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những

    con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với

    mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại

    những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc

    sống lao động khoẻ khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp

    bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh (!). Thế nhưng,

    những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật

    gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ:

    “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái,

    hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản

    quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”.

    Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu

    chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn

    chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi

    chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao

    động, sẽ xoá tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã

    chỉ rõ cho chúng ta : cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều,

    con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hoà với nó. Cách lý giải về

    con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải

    trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức.

    Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã

    phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có

    thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung

    thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh

    đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc

    trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một

    khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn

    thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay

    thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà,

    hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm

    đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.” . Và những người dân vùng

    biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn,

    những con người gặp gỡ thật đáng yêu…

    Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc –

    thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh

    nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng

    quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại

    diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây

    dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Điều bất công

    diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất

    nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về

    người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ

    xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình.

    Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn

    bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh

    mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi

    đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong

    hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và

    tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”.

    Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí

    tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người

    cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có

    phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn

    lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực

    của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng

    kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu

    nơi gió bão.

    Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như

    vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là

    cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu

    sinh.

    Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản : người đàn ông kia dù cục súc

    nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây

    quần trong bữa ăn trên chiếc thuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả.

    Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng

    đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho

    người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật

    vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà

    ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến.Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc

    đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị

    Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan

    niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị

    nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái

    nhìn đa diện về số phận con người.

    Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao

    giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác

    động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả

    sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo

    chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư

    tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không

    đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những

    nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm

    thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về

    cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu.

    Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng

    tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn

    tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho

    những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến

    chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn

    toàn mất hết lòng tin vào con người vhà cuộc đời để bênh vực cho những con người

    không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi). Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác

    phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả

    năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối

    quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía : “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản

    sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và

    rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng

    nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp

    cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương-

    Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu).

    Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công

    chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự

    thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia?

    Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi

    lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi

    nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy

    đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường

    nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã

    nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt

    đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”

    Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra

    những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia

    cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền

    ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.

  • Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta

    Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta

    Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta

    Văn chứng minh

     Hãy chứng minh rằng “ Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta “.

    BÀI LÀM

    Suốt chiều dài Tổ quốc, từ mục Nam Quan cho tới mũi Cà Mau đâu đâu cũng có rừng. Những cánh rừng đại ngàn Tây Bắc, Việt Bắc, Trường Sơn,miền Đông Nam Bộ… Những khu rừng nguyên sinh Cúc Phương, Cát Tiên, Bạch Mã, Cần giờ, U Minh… là nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá đã tồn tại từ bao đời nay. Tục ngữ có câu “ Rừng vàng, biển bạc”, quả là rừng đã đem lại cho con người những lợi ích lớn lao. Con người không thể sống thiếu rừng, cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.

    Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, rừng gắn bó thân thiết với con người:

    “ Núi giăng thành lũy thép dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” ( Tố Hữu)

    Núi rừng Việt Bắc đã trở thành thủ đô của cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp.Núi rừng Trường Sơn với con đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đau thương và oanh liệt.

    Trong thực tế, ai cũng biết rừng là nơi cung cấp nguyên liệu làm giấy, xây dựng nhà cửa và vật dụng trong gia đình. Thậm chí, phút cuối của đời cũng nằm trong mấy tấm gỗ của rừng…Cảnh quang đẹp đẽ của rừng cùng với không khí trong lành là cơ sở cho những tua du lịch xanh cho thỏa trí tò mò mà biết bao người muốn khám phá, đem lại cho ta những phút thư giãn tuyệt vời sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng.

    Rừng còn là kho dược liệu vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Các loại cấy quý hiếm có thể trị được các bệnh nan y thường có trong rừng

    sâu.Ngoài ra,từ những cảnh rừng già, rừng nguyên sinh ấy còn là nơi nuôi dưỡng của các loài vật quý phục vụ cho con người như hổ,báo, hươu,nai… và cả những động, thực vật nằm trong sách đỏ cũng chọn rừng làm nơi sinh sống.

    Nhưng quan trọng hơn hết, rừng chính là môi trường cho loài người, các quá trình quang hợp của cây xanh liên tục xảy ra, cây hút khí cacbonic và nhả ra khí Oxi, một thứ rất cần thiết cho cuộc sống. Đơn giản hơn, rừng chính là “ nhà máy lọc bụi tối tân nhất”. Rừng điều tiết khí hậu. Rừng là lá chắn vững chắc nhất, là rào cản đầu tiên trước mọi biến động thiên tai. Rừng cản lũ, lụt, rừng chống sa mạc hóa, rừng ngăn cát, rừng giữ đất giữ nước…

    Rừng bị tàn phá sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày. Diện tích rừng của nước ta ngày càng bị thu hẹp một cách đáng lo ngại, một phần bởi nạn “lâm tặc” phá rừng lấy gỗ quý, làm giàu bất chính, một phần bởi sự kém hiểu biết của người dân địa phương phá rừng lấy đất trồng trọt. Cũng cách làm thô sơ, lạc hậu như đốt rừng, làm nương rẫy, đốt ong lấy mật… chỉ sơ ý một chút là gây ra tổn hại khôn lường, hàng ngàn hécta rừng nguyên sinh bị cháy rụi, hàng ngàn động vật bị tiêu diệt, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ… thế mấy trăm năm nữa mới khôi phục lại được những cánh rừng như thế ?

    Khai thác rừng để phục vụ cuộc sống con người là việc làm cần thiết nhưng muốn hưởng lợi ích lâu dài thì con người phải biết bảo vệ rừng. Cùng với việc chặt cây lấy gỗ, chúng ta phải biết trồng cây gây rừng.Khai thác lâm sản rừng phải có kế hoạch, có mức độ, nếu không, chẳng mấy chốc mà tài nguyên rừng cạn kiệt. Khi đó, thử hỏi con người lấy gì để chống đỡ với gió, với cát, với nước lũ … và lấy đâu ra “ rừng vàng” cho con cháu mai sau ?! Rừng thực sự bị đe dọa. Cái chết của những cánh rừng đang báo động hiểm họa với nhân loại cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ chính

    môi trường sống của chính con người. Hi vọng màu xanh của rừng sẽ trở lại. của chúng ta được trong lành và con tim chúng ta sẽ nghe được nhạc rừng từ những giọng chim ca …

    Viết thư kể về buổi thăm trường sau 20 năm xa cách

    undefinedCuộc sống đầy biến động . Những học sinh trường tôi đã chia tay nhau tái mái trường Thuận Thành yêu dấu này . Kể từ ngày đó một phần do bận việc cơ quan phần khác do công việc gia đình nên tôi chưa có dịp về thăm trường , thăm thầy , thăm cô . Hôm ấy nhân chuyến đi công tác tôi xin phép cơ quan nghỉ ba ngày để có dịp thăm lại trường xưa bạn cũ. Đi cùng tôi còn có mấy đồng nghiệp trong tòa soạn . Đó là chuyến đi đầy xúc động của tôi trong suốt những năm công tác ở hà nội

    Bánh xe lăn đều và nhan htreen con đường quen thuộc . Chỉ còn khoảng năm phút nữa là chúng tôi tới trường . Lòng tôi cứ bồn chộn rạo rực . Xe dừng lại ngay trước cổn gtruwonwfg. Cảnh trường khac sxuwa nhiều quá tôi gần như ko thể nhân jra. Thế là đã hai mươi năm kể từ khi chia tay , giờ tôi mới được trở lại đây nơi tôi đã từng có những kỉ niệm êm đẹp . CỎng tường này là này là nơi lũ học trò chung tôi vẫn đợi nhau . Tôi ngó nghiêng như ngóng chờ 1 điều gì đó …Áp mặt vào những thanh sát của cánh cổng trường tôi nhìn xa xăm…Vẫn màu áo xanh hòa bình nhưng học sinh đang vui vẻ nô đua hồn nhiên trong sân trường làm tôi nhớ quá những lần đá cầu nhảy dây trốn tìm

    ….cùng các bạn . Nước mắt tôi ứa ra , họng tôi tắc nghẹn như có cái gì chặn

    ngang . Tôi không thể kìm nổi xúc động này . Thầy cô ơi .. tiếng gọi sao mà

    thân thương quá . Mong tìm lại những kỉ niệm ngày xưa , tôi bước vào , hàng vú sữa đã thay bằng hàng phượng vĩ nhưng tôi vãn người thấy đâu đây mùi hương quen thuộc

    hè đến phượng nở đỏ rực cả một góc trời . Ve kêu râm ran .ve ve …Tiếng ve gọi hè gọi cả những hồi ức ấo thơ đẹp đẽ . Tôi đi dạo một vòng quanh trường như dạo lại hững bài hát mà chúng tôi đã từng hát khi còn học dưới mái trường này . Tôi lẩm bẩm ” hàng gế đá , xanh hàng cây góc sân trường , bạn thân hỡi …” tôi dừng lại ko hát nữa nói đúng hơn là ko hát nổi..Xúc động !

    Tôi ghét lại chỗ hàng liễu xanh rì , đó là nơi tôi và các thầy cô cùn gcacs bạn chụp bức hình cuối cùng ” bức ảnh ” tôi nghĩ trong dầu và chạy lại về phía phi cơ Tôi bới tung va li tìm kiếm bu ức ảnh

    Đây rồi ! mắt tôi sáng lên vui vẻ Tay tôi lướt trên bướt ảnh , lướt trên từng khuôn mặt nụ cười của thầy cô và các b ạn . nƯớc mắt trao dâng , cảnh vật xung quanh nhòa đi trước mắt tôi

    Tôi chạy vào văn phfong , chẳng có ai ngoài Bác hiền bác bảo v ệ mà học sinh chúng tôi ngày xưa rất kính trọng và tin tưởng . Bác quý học sinh như con của mình . Bác dã già nhưng vẫn vui tính và nhanh nhẹn như ngày xưa . Hồi đó bố mẹ gởi tôi lên học và nhờ bác lo cơm nước cho tôi . Hằng ngày tôi nhổ tóc sâu cho bác . hai b ác cháu nói chuyện với nhau rất vui vẻ . Trong 2 năm học ở trường bác đã cho tôi ko ít những lời khuyên bổ ích và đún gđắn . Tôi tiến gần chỗ bác :

    Bác…bác hiền ơi..>! tôi nghẹn ngào

    Bác quay sang phía tôi , chăm chú nhìn

    Trang…hã ?

    Giọng bác run run , mát bác sáng ngời và mặt bác vui vẻ . Bác trách tôi: Sao lâu rồi mày chẳng về đây với bác bác có bao nhiu chuyện mà chẳng biết kể với ai , bác cứ ngóng mày mãi \! THẾ Hôm nay có việc gì mà lại về đây

    Cháu về thăm bác . Tôi đùa

    Thăm bác ? lại xạo rồi Bác cười hiền hậu .

    Sao bác biết ? tôi nũng nịu > Cháu đùa thôi . HÔm nay cơ quan phân tụi cháu về trường mình làm bài phóng sự về phong trào thi đua và học tập của trường

    à ! ra thế >Bác cười

    Mấy bác cháu tôi ngồi nói chuyện hồi lâu thật vui vẻ . Một lúc bác hiền bảo Thôi mấy đứa ngồi nói chuyện bác phải lên đánh trống đây

    BỌn tôi ngồi đùa 1 cách vui vẻ . nhác thấy xa có bo ngs người quen quen tôi tìm lại kí ức ” cô huyền ‘ tôi nghĩ . Vẫn dáng người nhỏ nhắn tay hay đưa lên đầu và cả cách ôm cặp nữa . \ĐÚNG rồi tôi đứng bật dậy chạy lại phía cô ôm lấy cô thật chặt trông cô có vẻ xanh xao mệt mỏi : Cô không khỏe ạ \! tôi thắc mắt

    à…ừ …! mấy hôm nay thời tiết oi bức cô hơi mệt

    Tôi lúng túng hỏi

    Thế cô uống thuố chưa à ? cô đừng quá sực cô à ! Cô nhfin tôi với con mắt trìu mến . 2 cô trò trò chuyện với nhau cả buổi sáng . CÔ hroi tôi nhìu về cuộc sống của tôi .CÁc thầ y cô khác trng trường cùng đến nhưng chảng còn ai , toàn giáo viên trẻ . Cô đứng lên nghiêm mặt Trang!

    Dạ! tôi bật dạy

    Hôm nay là lần gặp mặt đầu tiên sau 20 năm của cô trò mình cô trò mình phải tâm sự với nhau thật nhiều chứ nhỉ cô vẫn cưng tôi như ngày nào toi hôm đó , tôi đưa đồng nghiệp vào nhà trọ rồi ngủ với cô , 2 cô trò nsoi chiện thâu đêm suốt sáng

    Đó là 1 chuyến công tác và là 1 chuyến thăm trường dầy xúc đọng cảu tôi . TÔI RA Về , tới chào mọi người nhưng tôi hứa với bác HIỀn và cô sẽ trở lại vào 1 ngày ko xa . chuyến đi nàu đã giúp tô đậm thêm những kỉ niêm về mọi người , về thầy cô và các bạn . Ngay ngày sau đó bài phòng sự về trường Thuận Thanh đã đc in ngay trên tờ báo nơi tôi làm việc

  • Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-v%C3%A0-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-chuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-kinh-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    LỜI MỞ ĐẦU

    Nước ta đang bước đầu thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển theo hướng mở cửa, hội nhập quốc tế. Để thực hiện tốt được quá trình trên thì yếu tố có vai trò quan trọng nhất là yếu tố con người. Nguồn nhân lực có trình độ cao, chất lượng tốt thì sẽ làm cho quá trình đổi mới đất nước diễn ra nhanh chóng hơn và đạt được kết quả cao hơn. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay thì chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển đất nước. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là công tác giáo dục và đào tạo nước ta còn yếu kém, tồng tại nhiều hạn chế, bất cập. Do đó để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ tốt cho công cuộc đổi mới đất nước thì trước hết phải nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, tạo điều kiện cho phát triển toàn diện nguồn nhân lực.

    Chính vì những lý do trên mà em đã chọn đề tài: “Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế”.

    Bao gồm các chương:

    Chương I: Lý luận về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Chương II: Đánh giá thực trạng của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.

    Chương III: Giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo trong quá trình em thực hiện đề án này.

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

    VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    I. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    1. Khái niệm

    Đào tạo và phát triển là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của xã hội.

    Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định.

    Đào tạo nguồn nhân lực bao gồm hai nội dung:

    Đào tạo kiến thức phổ thông

    Đào tạo kiến thức chuyên nghiệp

    Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động.

    Như vậy có thể thấy đào tạo nguồn nhân lực là một nội dung của phát triển nguồn nhân lực. Đào tạo nguồn nhân lực chỉ nhằm giúp cho người lao động năng cao trình độ và kỹ năng của mình trong công việc hiện tại, giúp cho người lao động thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình. Còn phát triển thì có phạm vi rộng hơn, nó không chỉ bó hẹp trong việc phục vụ cho công việc hiện tại mà còn nhằm mở ra cho họ những bước phát triển mới trong tương lai, giúp họ hoàn thiện hơn trên mọi phương diện.

    2. Vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    Có rất nhiều yếu tố tác động tới sự phát triển của một đất nước: Con người, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Nhưng hơn tất cả là yếu tố con người. Con người là trung tâm của mọi hoạt động và là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của đất nước.

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    Một đất nước có khoa học kỹ thuật hiện đại, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì sẽ điều kiện lớn để phát triển nền kinh tế .Tuy nhiên con người lại là người phát minh, tạo ra khoa học công nghệ. Con người có trình độ cao thì mới có khả năng tạo ra được khoa học công nghệ hiện đại, có bước đột phá. Và hiện nay thì tài nguyên thiên nhiên không phải là yếu tố quyết định. Nhiều quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế ( Nhật Bản, Hàn Quốc…) nhưng lại có một nền kinh tế rất phát triển do có khoa học kỹ thuật hiện đại nên có khả năng tìm ra các nguồn nguyên liệu mới thay thế cho các nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên

    Như vậy ta có thể thấy là nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một quốc gia. Nguồn nhân lực mà có trình độ cao thì sẽ tạo ra một nền khoa học công nghệ hiện đại, có khả năng khai thác một cách tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên và mở rộng ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hiện đại, phục vụ cho sự phát triển ngày cành mạnh mẽ của đất nước. Ngược lại nguồn nhân lực mà có trình độ thấp thì việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn, tài nguyên thiên không được khai thác tốt, gây lãng phí, dẫn đến kết quả là đất nước sẽ ngày càng tụt hậu so với các nước trên thế giới.

    Như vậy ta có thể thấy là việc nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một thực tế khách quan không thể không quan tâm. Xu hướng hiện nay của thế giới là đầu tư phát triển nguồn nhân lực, tiến tới “ nền kinh tế tri thức”.

    3.                 Các chương trình đào tạo

     

    • Định hướng lao động: Mục đích của chương trình này là phổ biến thông tin, định hướng và cung cấp kiến thức mới cho người lao động
    • Phát triển kỹ năng: Những người lao động phải đạt được những kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc và các kinh nghiệm để họ đạt được các kỹ năng mới khi công việc của họ thay đổi hôặc có sự thay đổi về máy móc công nghệ
    • Đào tạo an toàn: Loại đào tạo này được tiến hành để ngăn chặn và giảm bớt các tai nạn lao động và để đáp ứng đòi hỏi của luật pháp

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    • Đào tạo nghề nghiệp: Nhằm tránh việc kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp bị lạc hậu. Việc đào tạo này nhằm phổ biến các kiến thức mới hoặc các kiến thức thuộc lĩnh vực liên quan đến nghề mang tính đặc thù
    • Đào tạo người giám sát và quản lý: Những người quản lý và giám sát cần được đào tạo để biết cách ra các quyết định hành chính và cách làm việc với con người

    II. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    1. Khái niệm

    Cơ cấu kinh tế là tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hội cụ thể hướng vào thực hiện các mục tiêu đã định

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển

    Thực chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự phát triển không đều giữa các ngành. Ngành nào có tốc độ phát triển cao hơn tốc dộ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại, ngành có tốc độ thấp hơn sẽ giảm tỷ trọng. Nếu tất cả các ngành có cùng một tốc độ phát triển thì tỷ trọng các ngành sẽ không đổi, nghĩa là không có chuyển dịch cơ cấu ngành.

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý là sự chuyển dịch sang một cơ cấu kinh tế có khả năng tái sản xuất mở rộng cao, phản ánh được năng lực khai thác, sử dụng các nguồn lực và phải phù hợp với các quy luật, các xu hướng của thời đại

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tất yếu gắn liền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là sự phát triển trong quá trình hội nhập.

    2.                 Phân loại cơ cấu kinh tế

     

    • Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân
    • Cơ cấu kinh tế lãnh thổ được hình thành bởi việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Trong cơ cấu ngành kinh tế, lãnh thổ có sự biểu hiện củ

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Tuỳ theo tiềm nang phát triển kinh tế gắn với sự hình thành phân bố dân cư trên lãnh thổ để phát triển tổng hợp hay ưu tiên một vài ngành kinh tế nào đó

    • Cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện hệ thôngd tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội

    Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng lãnh thổ trong quá trình phát triển

    Ba loại hình kinh tế trên đặc trưng cho cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả. Và cơ cấu ngành kinh tế cũng phản ánh phần nào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội của một quốc gia. Chính vì vậy mà sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có quan hệ mật thiết tới sự chuyển dịch cơ cấu lao động.

    III. Tác động giữa nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh

    tế

    1.     Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động

    Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có quan hệ mật thiết và có tác động qua lại với nhau. Khi cơ cấu kinh tế thay đổi thì đồng nghĩa với việc thay đổi tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế. Ngành nào có tỷ trọng tăng lên thì nguồn lực cho ngành đó sẽ phải tăng lên để có thể đáp ứng được yêu cầu của ngành, đồng thời nguồn lực trong các ngành có tỷ trọng giảm cũng sẽ giảm theo. Chính vì vậy mà khi quá trình chuyển dịch kinh tế diễn ra sẽ làm thay đổi tỷ trọng lực lượng lao động trong các ngành. Lao động sẽ chuyển từ ngành có tỷ trọng giảm (thừa lao động) sang ngành có tỷ trọng tăng (thiếu lao động), do đó dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thì cá ngành công nghiệp và các ngành dịch vụ cũng ko ngừng phát triển, tỷ trọng của các ngành này trong nền kinh tế cũng không ngừng tăng lên dẫn đến quá trình dịch chuyển lụ lượng lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, quá trình chuyển dịch lao động diễn ra theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong các ngành

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Như vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường diễn ra trước và định hướng cho chuyển dịch cơ cấu lao động.

    2. Nguồn nhân lực tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Nguồn nhân lực được coi là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình phát triển kinh tế , và có có tác động to lớn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế .

    Nguồn nhân lực mà có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao… thì khả năng tư duy sáng tạo, và tinh thần làm việc cũng như tinh thần trách nhiệm và tính tự giác sẽ cao hơn, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ cũng cao hơn. Đây là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy khoa học kỹ thuật trong các ngành sản xuất phát triển, cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao năng suât lao động, thúc đẩy các ngành dịch vụ kỹ thuật cao phát triển, do đó làm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh hơn. Tỷ trọng các ngành này trong nền kinh tế cũng tăng lên tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đi đúng hướng , thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế.

    Ngược lại, nguồn nhân lực mà có trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ thấp thì sẽ không đủ khả năng để tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại. Khoa học kỹ thuật thì lạc hậu, năng suất lao động thấp sẽ làm cho tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao thấp và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng sẽ diễn ra chậm chạp hoặc “ dậm chân tại chỗ” thậm chí có khi còn thụt lùi, nền kinh tế sẽ phát triển một cách chậm chạp.

    Do đó, để phát triển đất nước thì việc đầu tiên cần làm là nâng cao trình độ cho người lao động và đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm cấp thiết cần phải được quan tâm đúng mức. Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay của nước ta thì điều này càng cần phải được quan tâm nhiều hơn. Nước ta là nước nông nghiệp và chỉ vừa tiến hành đổi mới nền kinh tế chưa lâu, đang trên con đường thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khoa học, kỹ thuật còn rất lạc hậu trình độ học vấn và trình độ chuyên kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Do đó để có thể theo kịp được các nước trên thế giới và khu vực thì nước

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    ta cần phải đầu tư phát triển các nguồn lực đất nước nhiều hơn nữa trong đó quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực vì đây là nhân tố bên trong quan trọng quyết định tới sự phát triển của đất nước.

    Hiện nay, lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ của nước ta đã qua đào tạo là rất ít, và số đã qua đào tạo thì trình độ cũng còn rất hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của quá trình công nghiệp hoá. Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các cấp trình độ: Đại học/Trung cấp/Công nhân kỹ thuật ở các nước phát triển trên thế giới là 1/4/10, trong khi tỷ lệ này ở nước ta là 1/1.2/2.7. Như vậy có thể thấy là nước ta có số lượng lao động với trình độ Trung cấp và trình độ kỹ thuật còn thiếu rất nhiều đặc biệt là lực lượng công nhân kỹ thuật. Vì vậy, cần phải chú trọng hơn vào công tác đào tạo công nhân kỹ thật trong các ngành công nghiệp và dịch vụ và tập trung chủ yếu vào các nghề như cơ khí, chế tạo và chế biến, công nghệ… Các ngành xây dựng và kiến trúc, y tế, tài chính và bưu chính viễn thông…

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    CHƯƠNG II

    ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

    I. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực

    1. Quy mô nguồn nhân lực

    Nước ta là một nước nông nghiệp với dân số rất đông và có tốc độ gia tăng dân số lớn. Do đó mà quy mô của nguồn nhân lực cũng rất lớn và tốc độ gia tăng cũng rất cao, khoảng gần 1,5%. Đây là một thách thức rất lớn đối với nền kinh tế trong vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao trình độ cho người lao động. Năm 2001 quy mô lực lượng lao động của cả nước là 39489804 người, đến năm 2002 là 40716856 người và đến năm 2003 là 41313288. Cho thấy là quy mô nguồn nhân lực của nước ta vẫn không ngừng tăng lên nhưng với tốc độ ngày càng giảm. Vì vậy mà để phát triển đất nước thì nước ta cần chú trọng làm giảm tỷ lệ tăng dân số và đảm bảo chất lượng cho nguồn nhân lực đang ngày càng tăng lên.

    1. Cơ cấu nguồn nhân lực theo tuổi

    Nước ta là một nước thuộc loại dân số trẻ. Số lao động trong độ tuổi từ 15-44 chiếm gần 80% lao động độ tuổi trên 60 chiếm khoảng 3% tổng lao động của cả nước. Nguồn nhân lực của nước ta rất dồi dào và đang ngày càng tăng nhanh. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi 15-34 và độ tuổi trên 60 thì có xu hướng giảm còn độ tuổi từ 35-59 lại có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, sự thay đổi này là rất nhỏ không đáng kể. Trong tổng số lao động của cả nước thì lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2002 cả nước có 31012699 lao động nông thôn (chiếm 76,17% lao dộng cả nước) năm 2004 thì có 31298750 lao động nông thôn (chiếm 75,76 lao động cả nước). Lượng lao động nông thôn

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    vẫn ngày càng tăng tuy nhiên tỷ trọng trong tổng số lao động cả nước thì đang có xu hướng giảm dần.

    Tỷ lệ lao động nông thôn lớn, mà đa số lại không có trình độ đang là một thách thức rất lớn đối với phát triển nền kinh tế. Yêu cầu giáo dục, đào tạo đối với họ là cấp thiết không thể không triển khai nếu muốn phát triển nền kinh tế đất nước.

    Trong khi đó thì khu vực thành thị có lượng lao động thất nghiệp tương đối cao và có xu hướng ngày càng tăng. Năm 2002 là 6,85% và năm 2003 là 7,22%

    Bảng 1: Lực lượng và cơ cấu lao động chia theo nhóm tuổi của cả nước

            Đơn vị: người
             
    Các chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
             
    Tổng số Tỷ lệ (%) Tổng số   Tỷ lệ (%)
       
               
    Chung cả nước 40716856 100 41313288   100
               
    15-24 8868700 21,78 8895951   21,53
               
    25-34 11346249 27,87 11164509   27,02
               
    35-44 11216660 27,55 11496511   27,83
               
    45-54 6544274 15,07 7175375   17,37
               
    55-59 1289063 3,11 1411690   3,42
               
    >=60 1450858 3,60 1168413   2,83
               

    Nguồn: Lao động – việc làm ở Việt Nam 1996-2003

    Như vậy ta có thể thấy là nguồn nhân lực của nước ta có nhu cầu đào tạo rất lớn do số lượng lao động đông tỷ lệ trong độ tuổi lao động cao và số lượng lao động nông thôn cũng rất lớn. Mặt khác thì hiện nay trình độ của lực lượng lao động nước ta rất thấp, một khối lượng lớn người lao động chưa được giáo dục đào tạo. Do đó, muốn đáp ứng được nhu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu thì lao động cần phải được đào tạo, trang bị và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ tay nghề

    1. Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới tính Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    Lực lượng lao động nước ta có tỷ lệ lao động nữ chiếm gần 52% trong đó lao động nữ trong và trên độ tuổi lao động nhiều hơn lao động nam đặc biệt là lao động nữ trên độ tuổi lao động cao hơn rất nhiều so với lao động nam (gấp 2 lần).

    Như vậy có thể thấy là lao động nữ nước ta trong tổng số lao động của cả nước là lớn và đây là một lực lượng lao động rất quan trọng, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển của đất nước.

    Theo điều tra lao động – việc làm 1/7/2004 tỷ lệ lao động nữ trong độ tuổi lao động tham gia vào lực lượng lao động xã hội chiếm khoảng 77,4%

    Bảng 2: Cơ cấu lao động theo giới tính của cả nước

        Đơn vị: %
         
    Các chỉ tiêu Nữ Nam
         
    Chung 51,4 48,6
         
    Trong độ tuổi lao động 50,74 49,26
         
    Trên độ tuổi lao động 63,5 36,5
         

    Nguồn: Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010

    Do đặc điểm về giới tính và chức năng của người phụ nữ nên tỷ lệ nữ tham gia vào hoạt động kinh tế ít hơn so với nam giới ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn. Đây là một sự lãng phí rất lớn nguồn nhân lực của đất nước.

    Khu vực nông thôn tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế cao hơn thành thị (81,3% ở nông thôn so với 67,3% ở khu vực thành thị). Điều này cho thấy

    • nông thôn chủ yếu là lao động nông nghiệp nên thu hút nhiều lao động nữ hơn khu vực thành thị

    Bảng 3: Tỷ lệ người tham gia hoạt động kinh tế chia theo giới và khu vực

                  Đơn vị: %  
                     
      Các chỉ tiêu Chung Thành thị Nông thôn  
                     
      Nam Nữ Nam Nữ Nam   Nữ  
           
                     
    Từ 15 tuổi trở lên 75,51 67,62 68,9 57,95 77,9   71,3  
                       
                       
      Hoàng Mai Dung                

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    Trong độ tuổi lao động 81,9 77,4 76,07 67,3 84,16 81,3
                 

    Nguồn: Điều tra lao động- việc làm 1/7/2004

    Lao động nữ chiếm tỷ lệ tương đương với lao động nam trong lực lượng lao động của cả nước. Tuy nhiên, thì tỷ lệ lao động nữ tham gia vào hoạt đông kinh tế lại ít hơn so với lao động nam (77,4% so với 81,9%) và nhất là ở khu vực thành thị thì khoảng cách chênh lệch tỷ lệ nàylà rất cao (tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế là 67,3% trong khi tỷ lệ nam là 76,6%)

    Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị

          Đơn vị: %
           
    Các chỉ tiêu   Năm 2002 Năm 2003
           
    Chung   6,01 5,78
           
    Lao động nữ   6,85 7,22
           
      Nguồn: Lao động – việc làm ở Việt Nam 1996-2003
    • khu vực thành thị tỷ lệ lao động nữ thất nghiệp cao, cao hơn so với tỷ lệ thất nghiệp chung và ngày càng có xu hướng tăng lên (năm 2002 là 6,85% năm 2003 là 7,22%). Như vậy để có thể phát huy hết nguồn lực phát triển đất nước thì cần phải có giải pháp để tăg tỷ lệ lao động nữ tham gia vào hoạt động kinh tế, và giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ cũng như tỷ lệ thất nghiệp chung của lao động cả nước nhằm tận dụng hết nguồn lực bên trong, phát triển đất nước.
    1. Theo trình độ học vấn

    Trình độ học vấn và dân trí của nước ta hiện nay là khá cao nhờ phát triển mạnh nền giáo dục và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đây là chìa khoá quan trọng để tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.

    Bảng 5: Số lượng và loại hình các trường trung học trong cả nước

    Đơn vị: Trường

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

      Trung học cơ sở   Trung học phổ thông
                   
      Tổng CL   NCL Tổng CL NCL
                   
    2000-2001 7733 7635   98 1251 905 346
                   
    2001-2002 8092 7997   95 1397 995 402
                   
    2002-2003 8396 8314   82 1532 1090 442
                   

    Nguồn: Giáo dục Việt Nam 1945- 2005

    Quy mô giáo dục vẫn không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng.

    Số lượng trường cấp II và cấp III tăng nhanh theo thời gian, cùng với sự gia tăng của trường công lập thì số lượng trường ngoài công lập cũng không ngừng tăng lên. Cho thấy là nước ta đã hình thành được một hệ thống trường học đa dạng về hình thức nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân, cũng như đã khai thác được triệt để hơn các nguồn lực trong nhân dân, phục vụ cho công tác đào tạo nước ta ngày càng tốt hơn.

    Không chỉ quy mô hệ thống trường học tăng lên mà quy mô học sinh

    trong các cấp học cũng không ngừng tăng lên, phản ánh nhu cầu học tập ngày

    càng tăng của nhân dân. Trong đó thì số học sinh nữ cũng tăng qua các thời

    kỳ cho thấy sự bình đẳng giới trong xã hội đã được quan tâm, chú ý nhiều hơn

    vào việc đào tạo lao động nữ. Tổng số học sinh tốt nghiệp cũng tăng qua các

    năm làm cho lượng lao động có trình độ học vấn ngày càng tăng lên.

    Bảng 6: Tổng số học sinh trung học phổ thông trong cả nước

                    Đơn vị: Người
                       
            Ngoài   Trong tổng số
      Năm Tổng số Công lập            
      công lập Nữ   Mới   Tốt nghiệp
                tuyển
                     
                         
    2000-2001 2199814 1444376 755438 1028351   830826   598957  
                         
    2001-2002 2328965 1545120 783845 1091430   853998   634628  
                         
                         

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    2002-2003 2458446 1656942 801504 1164367 942111 686478
                 

    Nguồn: Giáo dục Việt Nam 1945- 2005

    Tuy nhiên tỷ lệ tốt nghiệp này là chưa cao chỉ khoảng 28% trong tổng số học sinh. Như vậy có thể thấy là chất lượng giáo dục vẫn chưa cao, phương pháp giảng dạy vẫn chưa được tốt nên học sinh ít chú trọng vào việc học tập, và chất lượng quá trình học tập cũng không được cao. Do đó tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ học vấn vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy để nâng cao chất lượng giảng dạy thì cần phải có biện pháp nhằm làm cho học sinh chú tâm nhiều hơn vào việc học, thích thú hơn với việc học tập và quan trọng nhất là phải giáo dục cho họ ý thức được tầm quan trọng của việc học tập rồi từ đó mà tự giác học tập. Có vậy mới nâng cao được chất lượng giáo dục đào tạo.

    Bảng 7: Lực lượng lao động chia theo trình độ văn hoá phổ thông

          Đơn vị: Người
           
    Các chỉ tiêu   Năm 2002 Năm 2003
           
    Tổng cả nước   40716856 41313288
           
    Không biết chữ   1523001 1752393
           
    Chưa tốt nghiệp cấp 1   6433724 6393460
           
    Tốt nghiệp cấp 1   12911678 13017458
           
    Tốt nghiệp cấp 2   12400369 12560352
           
    Tốt nghiệp cấp 3   7447084 7589625
           
      Nguồn: Lao động – việc làm ở Việt Nam 1996-2003

    Trong tổng số lao động của cả nước số lao động biết chữ là khá cao chiếm gần 95%, số lao động không biết chữ chiếm khoảng gần 5%, tuy nhiên tỷ lệ này đang có xu hướng tăng, năm 2002 là 3,74% đến năm 2003 là 4,24% và năm 2004 là 5% chủ yếu tập trung ở các vùng núi, cao nguyên và miền nông thôn. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở và tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học có tăng nhưng không đáng kể và tỷ lệ này vẫn còn thấp so với yêu cầu của xã hội. Một điều đáng quan tâm là có sự cách biệt về trình độ học vấn giữa lực lượng lao động thành thị và nông thôn, giữa các vùng lãnh thổ. Vùng

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    núi và cao nguyên thì tỷ lệ người mù chư cao hơn và người tốt nghiệp các cấp thì thấp hơn so với vùng đồng bằng. Năm 2004 ở đồng bằng sông Hồng cứ

    • người tham gia lực lượng lao động thì só 27 người tốt nghiệp phổ thông trung học, 51 người tốt nghiệp phổ thông cơ sở và chỉ 3 người mù chữ hoặc chưa tốt nghiệp tiểu học. trong khi đó ở đồng bằng sông Cửu Long có các chỉ số tương ứng là 11,16 và 33. Tây Bắc là 12,23 và 35. Tây Nguyên là 16,26 và
    1.  

    Như vậy, có thể thấy là lực lượng lao động nước ta có trình độ học vấn vẫn còn hạn chế và trình độ này cũng không đều giữa các vùng, miền. Lực lương lao động ở thành thị có trình độ cao hơn lao động ở nông thôn, và lao động ở các vùng đồng bằng có trình độ cao hơn nhiều so với lao động ở các vùng núi và cao nguyên.

    1. Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

    Trình độ chuyên môn kỹ thuật là chỉ tiêu thể hiện chất lượng nguồn nhân lực và tiềm năng to lớn của nguồn nhân lực. Do đó để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động.

    Tính đến nay cả nước đã có 127 trường cao đẳng, 87 trường đại học, học viện, 147 cơ sở đào tạo sau đại học, 95 cơ sở đào tạo tiến sĩ. Hệ thống các trường đào tạo của nước ta ngày càng tăng về số lượng và loại hình. Số trường dân lập cũng ngày càng tăng lên cùng với sự gia tăng của loại hình công lập.

    Bảng 8: Số lượng và tỷ lệ các trường dân lập trong cả nước

          Đơn vị: Trường
           
    Đại học- cao đẳng Trung học chuyên nghiệp
           
    Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
           
    27 21,7 30 11
           
        Nguồn: Giáo dục Việt Nam 1945-2005

    Số lượng giáo viên giảng dạy trong các trường ngoài công lập cũng ngày càng tăng lên nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn chất lượng đào tạo và

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân. Tỷ lệ giáo viên được đào tạo đạt chuẩn đối với trung học chuyên nghiệp là 86,3%, đại học – cao đẳng có 45% giáo viên đạt trình độ thạc sĩ trở lên.

    Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của hệ thống cơ sở giáo dục đào tạo thì quy mô tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và các trường trung học chuyên nghiệp cũng không ngừng tăng lên

    Trong tổng số sinh viên tuyển mới vào các trường đại học và cao đẳng thì số sinh viên vào các trường đại học là chủ yếu, trong đó phần lớn là vào các trường công lập. Cho thấy nhu cầu đào tạo đại học là rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với các loại hình khác. Đây vừa là điểm tốt vừa là điểm không tốt. Tốt vì nó cho thấy được nhu cầu đào tạo đại học, cao đẳng của nhân dân ngày càng tăng, làm cho số dân có trình độ cao ngày càng tăng. Tuy nhiên đây cũng lại là thách thức lớn đối với công tác giáo dục, đào tạo của đất nước. Do nền kinh tế còn yếu kém nên đầu tư cho giáo dục đào tạo còn nhiều hạn chế, do đó không thể đáp ứng tốt được nhu cầu của người dân và chất lượng đào tạo cũng không được cao, gây lãng phí rất lớn nguồn nhân lực.

    Bảng 9: Số sinh viên tuyển vào các trường theo cấp và loại hình

    Đơn vị: Trường

    Năm Tổng số Chia ra   Loại hình  
    tuyển mới            
    ĐH CL   BC DL
       
                   
    2000-2001 215281 59892 155389 187330   6535 21416
                   
    2001-2002 239584 68643 170941 207902   7959 23723
                   
    2002-2003 256935 70378 186557 225528   7065 24342
                   

    Nguồn: Giáo dục Việt Nam 1945-2005

    Cùng với việc tăng nhanh số lượng sinh viên thì tình hình thất nghiệp của đội ngũ tốt nghiệp đại học cũng là một vấn đề nổi cộm.

    Trước tình hình trên một luồng ý kiến khác phổ biến đã nảy sinh: không nên gia tăng số lượng sinh viên đại học nữa, vì xã hội không có nhu cầu, tăng số lượng sinh viên chỉ làm tăng đội quân thất nghiệp đại học. Thật ra nếu xem xét kỹ hơn thì vấn đề sẽ được nhìn theo cách khác. Trước hết, tuy Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    số lượng sinh viên nước ta tăng nhiều, nhưng con số hiện tại chưa phải là cao: tính trên một vạn dân, ta chỉ có khoảng 130 sinh viên, và tỷ lệ độ tuổi đại học ta chỉ đạt cỡ 8%. Như vậy tỷ lệ độ tuổi đại học của nước ta chỉ đạt cỡ một nửa yêu cầu của giai đoạn giáo dục đại học đại chúng, tương ứng với nền kinh tế công nghiệp.

    Do đó có thể thấy số lượng sinh viên đại học được đào tạo ở nước ta hiện nay không phải là quá lớn và từ đó tạo nên thất nghiệp đại học, cũng không phải chúng ta cần ngăn chặn sự phát triển về số lượng, mà vấn đề quan trọng là ở chỗ chúng ta phải đảm bảo và tăng cường chất lượng đào tạo đại học.

    Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì dạy nghề là một bộ phận thuộc giáo dục nghề nghiệp. Hiện nay mạng lưới cơ sở dạy nghề của nước ta cũng đang ngày càng lớn mạnh, đa dạng hoá về loại hình và lĩnh vực đào tạo. Tính đến 30-6-2004 mạng lưới cơ sở dạy nghề trong cả nước có: 226 trường dạy nghề, trong đó 199 trường công lập, 27 trường ngoài công lập; 113 trường thuộc bộ, ngành (trong đó có 17 trường dạy nghề của quân đội, 46 trường thuộc Tổng công ty nhà nước); 98 trường công lập thuộc địa phương (trong đó có 5 trường của quận huyện); 24 trường dân lập, tư thục; 2 trường có vốn đầu tư của nước ngoài. 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có ít nhất một trường dạy nghề; riêng 3 tỉnh mới được thành lập, Đắc Nông đã quyết định thành lập trường dạy nghề, Lai Châu và Hậu Giang đang xúc tiến thành lập trường dạy nghề; 320 trung tâm dạy nghề, trong đó: 210 trung tâm dạ nghề ngoài công lập(trong đó có hơn 100 trung tâm dạy nghề quận, huyện) và

    • trung tâm dạy nghề ngoài công lập; 965 cơ sở dạy nghề gắn với cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cơ sở giáo dục khác. Các trường dạy nghề tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đông nam bộ, vùng đông bắc. Ba vùng này chiếm 70% tổng số trường dạy nghề trong cả nước. Để đáp ứng ngàycàng tốt hơn yêu cầu đào tạo thì đội ngũ giáo viên cũng phải không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Số lượng giáo viên dạy nghề

    của các trường dạy nghề đã tăng từ 5849 người ( năm 1998) lên 7056 người (năm 2003), giáo viên trong các trung tâm dạy nghề năm 2003 là 2036 người. Tuy nhiên, so với tốc độ tăng quy mô đào tạo thì tốc độ tăng số lượng giáo viên chưa tương ứng. Tỷ lệ học sinh học nghề dài hạn/ 1 giáo viên ở các

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    trường dạy nghề năm học 2002-2003 là: 28 học sinh/ 1 giáo viên. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở các trường dạy nghề là 71%, ở các trung tâm dạy nghề là 54%; trình độ chuyên môn của giáo viên dạy nghề ở các trường dạy nghề là 70% có trình độ cao đẳng trở lên; 12,2 % trình độ công nhân lành nghề và 17,8% trình độ khác; ở các trung tâm dạy nghề tương ứng là 65%; 15,2%; 19,8%. Trình độ sư phạm của giáo viên dạy nghề: 82% giáo viên các trường dạy nghề, 60% giáo viên các trung tâm dạy nghề đã được đào tạo, bồi dưỡng bậc I và bậc II về sư phạm kỹ thuật; 63% giáo viên các trường dạy nghề có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ A trở lên; 56,3% giáo viên có chứng chỉ tin học trình độ cơ sở trở lên, nhiều giáo viên dạy nghề có thể tham khảo tài liệu nước ngoài và ứng dụng tin học vào bài giảng.

    Từ những năm 1998 đến năm 2003 quy mô tuyển sinh dạy nghề tăng bình quân 15,65%/ năm, trong đó quy mô tuyển sinh dài hạn tăng 19,14%/năm, ngắn hạn tăng 15,15%/năm. Như vậy là số lượng và tỷ lệ người lao động được đào tạo dài hạn, chính quy ngày càng được tăng lên, đảm bảo tốt hơn chất lượng đào tạo cho người lao động.

    Do đó chất lượng đào tạo nghề của nước ta trong những năm gần đây cũng đạt được nhiều thành quả nhất định: tỷ lệ học sinh xếp loại đạo đức tốt chiếm trên 60%, đạo đức yếu chỉ trên 1%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp luôn đạt trên 96%, trong đó tỷ lệ tốt nghiệp loại khá trở lên tăng từ 26,26% năm học 1998-1999 lên 32,2% năm 2002-2003. Học sinh tốt nghiệp trường dạy nghề đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, ở một số lĩnh vực như bưu chính viễn thông, dầu khí… học sinh tốt nghiệp trường các trường dạy nghề đã có trình độ tương đương quốc tế và khu vực, thay thế được công nhân nước ngoài. Khoảng 70% học sinh học nghề tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp (ở các trường thuộc doanh nghiệp và ở một số nghề tỷ lệ này đạt trên 90%). Kết quả này cũng phần nào phản ánh chất lượng dạy nghề ở nước ta đã có tiến bộ.

    Tuy đã có những bước phát triển đáng kể nhưng nhìn chung chất lượng nguồn lao động nước ta vẫn còn rất thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế.

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    Trình độ văn hoá và dân trí của nước ta cũng đã tăng qua các thời kỳ, tuy nhiên chất lượng thì vẫn chưa tốt, đặc biệt là lao động ở vùng nông thôn và miền núi, cao nguyên thì tỷ lệ mù chữ là rất cao và tỷ lệ tốt nghiệp các cấp học vẫn còn thấp. Không chỉ có trình độ học vấn chưa cao mà trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động nước ta cũng còn rất thấp.

    Bảng10: Lực lượng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

        Đơn vị: Người
         
      Năm 2002 Năm 2003
         
    Không có chuyên môn kỹ thuật 33090589 33575528
         
    Có trình độ từ sơ cấp, học nghề trở lên 7564874 8625038
         
    Từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên 4800517 4887362
         

    Nguồn: Lao động- việc làm ở Việt Nam 1996-2003

    Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo, không có chuyên môn kỹ thuật trong tổng lao động là rất cao, chiếm gần 80%. Trong đó tỷ lệ qua đào tạo nghề là rất thấp chiếm trên 10% tổng lực lượng lao động, các công nhân kỹ thuật được đào tạo thì chủ yếu là qua hình thức đào tạo nghề ngắn hạn, không chính quy. năm 2004 chỉ có khoảng 17,3% là đào tạo dài hạn chính quy. Do không được đào tạo một cách chính quy nên khả năng làm việc và phát triển nghề cuả họ không cao. Một vấn đề cần được quan tâm nữa hiện nay là cơ cấu đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các cấp trình độ ở Việt Nam năm 2002 là 1/1/3,65, năm 2004 là 1/1,2/2,7, trong khi đó thì tỷ lệ này của các nước phát triển trên thế giới là 1/4/10. Như vậy có thể thấy là cơ cấu đào tạo của nước ta đang có sự mất cân đối lớn và lại có xu hướng ngày càng bất hợp lý hơn, gây ra tình trạng thừa thầy thiếu thợ làm hạn chế rất lớn việc sử dụng nguồn nhân lực làm lãng phí nguồn nhân lực của đất nước, không đáp ứng được yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp mà lượng lao động đã qua đào tạo thì chất lượng cũng không được cao. Thể hiện ở năng suất lao động thấp và tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao.

    Năng suất lao động chung của cả nước năm 2002 là 7,974 triệu VNĐ/LĐ, năm 2003 tăng lên là 8,212 triệu VNĐ/LĐ như vậy năng suất lao

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    động của cả nước có xu hướng tăng lên, nhưng tỷ lệ tăng là không đáng kể, và mức năng suất lao động này là còn rất thấp so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Tỷ lệ lao động thất nghiệp của nước ta là khá cao, trong đó thì những lao động đã qua đào tạo bị thất nghiệp cũng còn khá lớn, ngoài ra thì với các lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp thì tỷ lệ đào tạo lại công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng là khá cao, chiếm hhơn 20% tổng số lao động được chọn. Qua đó ta có thể thấy chất lượng của nguồn nhân lực nước ta là rất thấp. tuy những năm gần đây đã có những sự thay đổi tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Do đó để có thể thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thì cần phải chú trọng hơn nữa đến công tác giáo dục, đào tạo nâng cao trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lực lượng lao động – nguồn lực bên trong của đất nước.

    2.     Những kết quả đã đạt được và những mặt còn hạn chế của đào tạo nguồn nhân lực

    Trong những năm qua thì công tác giáo dục, đào tạo của nước ta đã đạt được những kết quả nhất định

    Trong thời gian qua tỷ lệ người biết chữ ở nước ta có xu hướng tăng và chiếm tỷ lệ cao. Đến năm 2000 toàn quốc đạt tiêu chuẩn quốc gia vè xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đàu chuyển sang thời kỳ mới- thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở.

    Nước ta đã có một hệ thống các trường dạy học có quy mô lớn và ngày càng được mở rộng hơn, có nhiều tiềm năm để phát triển đào tạo một cách đa dạng và phong phú, đội ngũ giáo viên giảng dạy cũng liên tục tăng cả về số lượng và chất lượng. Các lĩnh vực và loại hình đào tạo ngày càng được mở rộng và đa dạng hơn đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đào tạo của nhân dân, và yêu cầu của quá trình đổi mới nền kinh tế. Số lượng lao động được đào tạo ngày càng nhiều đa dạng về lĩnh vực, loại hình đào tạo và chất lượng đào tạo cũng ngày càng tốt hơn.

    Công tác giáo dục, đào tạo vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã được quan tâm nhiều hơn. tỷ lệ người mù chữ đã giảm và số lượng người dân tộc thiểu số được cử đi học ngày càng nhiều. Không chỉ tăng

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    về số lượng các trường dạy học mà cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc giảng dạy cũng được trang bị nhiều hơn. Đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi và cao nguyên đã được cải thiện đáng kể, giảm bớt tình trạng vô cùng khó khăn do thiếu thốn trang thiết bị trong công tác giảng dạy.

    Phương pháp giáo dục đào tạo cũng đã được đổi mới cho phù hợp với tình hình phát triển của xã hội và sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật. Một số trường và cơ sở đào tạo đã có Phương pháp đào tạo và trang thiết bị hiện đại có thể sánh ngang với các nước tiên tiến trong khu vực. Hiện nay đào tạo nghề đã gắn liền với giải quyết việc làm và yêu cầu của thị trượng lao động, nhằm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng thiếu lao động trong một số lĩnh vực, ngành nghề mới đáp ứng được phần nào nhu cầu của xa hội.

    Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng công tác giáo dục, đào tạo nước ta còn nhiều mặt hạn chế cần được khắc phục để nâng cao trình độ của người lao động. Chất lượng giáo dục phổ thông chưa được cao, học sinh bị hạn chế về tính linh hoạt, độc lập sáng tạo trong tư duy cũng như kỹ năng thực hành, khả năng vận dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn.

    Chất lượng đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa cao, còn đại trà, Phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới trong đào tạo các ngành mũi nhọn và các lĩnh vực công nghệ mới ở các bậc đại học và sau đại học còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực cả về nội dung lẫn phương pháp đào tạo. Làm cho các ngành kỹ thuật công nghệ thiếu nhân lực trình độ cao. Hiện nay cơ cấu đào tạo nghề còn bất hợp lý với 85% là đào tạo ngắn hạn, 15% là đào tạo chính quy dài hạn. Các cơ sở đào tạo nghề phân bố không đều tập trung nhiều ở các vùng đồng bằng và các thành phố lớn, làm cho chất lượng của lực lượng lao động chưa cao và có sự chênh lệch giữa các vùng và khu vực.

    • tất cả các cấp học và bậc học phương pháp giảng dạy còn nặng nề về

    lý thuyết, nhẹ về thực hành chưa phát huy được tinh thần sáng tạo và tư duy của học viên. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho đào tạo chuyên môn kỹ thuật, dạy nghề còn nhiều bất cập, vừa thiếu về số lượng, vừa lạc hậu về

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    chất lượng (số trang thiết bị phục vụ tốt cho công tác dạy nghề chỉ đạt 20%) đặc biệt là trang thiết bị đào tạo nghề trong các ngành cơ khí, hoá chất, luyện kim,sửa chữa thiết bị chính xác, in ấn…

    Đội ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu nhiều về số lượng ( đội ngũ giáo viên đại học- cao đẳng và dạy nghề chỉ gần bằng 50% so với chuẩn quy định) và trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì còn thấp so với yêu cầu đổi mới giáo dục, đa số còn lúng túng trong đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt nhiều giáo viên còn có biểu hiện về sự tha hoá đạo đức, phẩm chất, thiếu tinh thần trách nhiệm và chưa tâm huyết với nghề.

    Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các cấp trình độ ở nước ta là 1/1,2/2,7, cơ cấu đào tạo này còn nhiều bất cập đã gây nên tình trạng “ thừa thầy thiếu thợ” đang ngày một gia tăng, gây nhiều khó khăn cho sự phát triển kinh tế.

    Nhìn chung lực lượng lao động ở nước ta đã qua đào tạo và chất lượng lao động là rất thấp, khả năng thực hành và tác phong công nghiệp cũng như khả năng tiếp cận công nghệ kỹ thuật tiên tiến còn rất thấp. Do đó để đổi mới nền kinh tế thì cần nhanh chóng đổi mới công tác giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    3. Nguyên nhân của thực trạng trên

    Công tác đào tạo của nước ta còn nhiều bất cập như trên là do rất nhiều các nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân về công tác giáo dục đào tạo:

    Trong giáo dục phổ thông thì việc học đối phó là rất phổ biến (học không vì kiến thức mà chỉ để đối phó với các kỳ kiểm tra, kỳ thi), học sinh ít được thực hành, chưa có thói quen tự học một cách nghiêm túc có hiệu quả.

    Đối với công tác giáo dục đại học thì hệ thống các trường đại học, cao đẳng nước ta vẫn chưa được thống nhất về loại hình (dân lập, công lập, tư

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    thục) gây khó khăn rất nhiều trong việc ban hành các chính sách và công tác quản lý.

    Mạng lưới các trường dạy học, dạy nghề phân bố không đều theo vùng lãnh thổ, tập trung nhiều ở vùng đồng bằng và các thành phố lớn gây khó khăn trong việc đào tạo lao động tại các vùng sâu, vùng xa. Đội ngũ giáo viên còn hạn chế về chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, khả năng thực hành cũng như khả năng tiếp cận công nghệ mới, nên Phương pháp giảng dạy còn lạc hậu, chậm đổi mới.

    Ngân sách Nhà nước cho giáo dục còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của giáo dục, cơ sở vật chất thì thiếu thốn, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy thì vừa thiếu vừa lạc hậu. Việc áp dụng những công nghệ tiên tiến vào việc giảng dạy còn nhiều hạn chế. Việc phân bổ ngân sách còn nhiều bất cập chưa hợp lý. Công tác đầu tư cho giáo dục còn dàn trải chưa tập trung cao cho mục tiêu ưu tiên. Công tác dạy nghề chưa được quan tâm đúng mức. Nhận thức của người dân và của toàn xã hội về tầm quan trọng của công tác giáo dục nói chung và công tác dạy nghề nói riêng là chưa thật sự đúng đắn, không coi trọng việc dạy nghề, học nghề mà chỉ quan tâm đến giáo dục đại học.

    Việc tổ chức thực hiện các chính sách giáo dục còn nhiều bất cập. Trình độ và năng lực điều hành của một bộ phận các cán bộ quản lý giáo dục còn yếu kém, tính chuyên nghiệp chưa cao, gây khó khăn nhiều cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.

    II. Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    1.     Những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm qua

    Kết quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong những năm đổi mới được thể hiện ở các khía cạnh cơ cấu khác nhau, trong đó rõ nét nhất và đặc trưng nhất là từ góc độ cơ cấu ngành.

    Cơ cấu kinh tế phân chia theo 3 nhóm ngành lớn: Nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghịêp), công nghiệp (bao công nghiệp và

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    xây dựng) và dịch vụ (bao gồm các ngành kinh tế còn lại) đã có sự chuyển dịch tích cực: Tỷ trong nông nghiệp trong GDP giảm dần, tỷ trong công nghiệp và dịch vụ tăng hàng năm.

    Bảng 11: Cơ cấu ngành của nền kinh tế

    Đơn vị: %

    Năm 1991 1995 2000 2001 2002 2003
                 
    GDP 100 100 100 100 100 100
                 
    Nông – lâm – thuỷ sản 40,5 27,5 24,3 23,2 23,0 22,4
                 
    Công nghiệp, xây dựng 23,8 30,1 36,6 38,1 38,6 39,8
                 
    Dịch vụ 37,5 42,4 39,1 38,7 38,4 37,8
                 

    Nguồn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta trong những năm qua đã đi đúng hướng và đạt được những kết quả nhất định.

    Nhìn một cách tổng thể chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp đã theo hướng tích cực và tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng ngày càng nhanh (năm 2001 là 76,8%, năm 2002 là 77% đến năm 2003 tăng lên 77,6%). Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn tăng dầnvới tốc độ bình quân khoảng hơn 5%, tuy vậy so với công nghiệp và dịch vụ thì tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp vẫn chậm hơn nên kết quả là tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần mặc dù giá trị tuyệt đối của toàn ngành vẫn tăng (tỷ trọng ngành năm 2002 là 23,0% đến năm 2003 giảm còn 22,4%). Các ngành đã nỗ lực vượt qua những trở ngại, thách thức (nông nghiệp thì vượt qua thiên tai, dịch bệnh, cong công nghiệp thì vượt qua thách thức”cơn bão” nguyên liệu và cạnh tranh quốc tế) mở rộng quy mô sản xuất đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Sự chuyển dịch cơ cấu nội tại các ngành kinh tế thể hiện rõ nét hơn động thái chuyển từ khai thác yếu tố sẵn có sang sản xuất hàng hoá theo yêu cầu của thị trường trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, biểu hiện ngày càng rõ hơn không chỉ với sản xuất công nghiệp mà còn cả với ngành sản xuất nông nghiệp. Sự tăng lên đột biến của một số

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    ngành công nghiệp (đồ gỗ, đóng tàu…) thể hiện sự năng động trong nắm bắt thời cơ do thị trường mang lại.

    Việc sử dụng các quan hệ thị trường trong điều tiết sản xuất và phân bố các nguồn lực có các chuyển biến nhất định (Nhà nước từ tác động trực tiếp chuyển sang vai trò định hướng qua các cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ, sự tác động của thị trường đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng tăng lên…)

    Trong nội bộ các ngành kinh tế cũng có những chuyển biến tích cực: Trong những năm đổi mới, cơ cấu kinh tế ngành nông- lâm- ngư nghiệp tiếp tục có những chuyển biến đáng kể, những lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng đã được khai thác và phát huy, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển với tốc độ cao, cải thiện chất lượng tăng trưởng.

    Bảng 12: Cơ cấu GDP của khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản qua các năm

            Đơn vị: %
             
    Năm   Nông nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản
             
    2000   80,8 5,5 13,8
             
    2001   78,5 5,4 16
             
    2002   78,2 5,3 16,5
             
    2003   76,9 5,2 17,9
             
      Nguồn: Tổng cục thống kê – Niên giám thống kê hàng năm

    _Tỷ trọng nông nghiệp mặc dù đã giảm từ năm 2000 đến nay, nhưng vẫn còn ở mức khá cao. Tỷ trọng lâm nghiệp liên tục giảm sút, mặc dù lâm nghiệp có nhiều tiềm năng về rừng và đất rừng. Tỷ trọng thuỷ sản cũng đã tăng nhưng vẫn còn ở mức thấp.

    Trong ngành nông nghiệp, tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi tăng từ 16,5% năm 2000 lên 17,5% năm 2002; trồng trọt giảm từ 81% xuống còn 80%. Riêng trong ngành trồng trọt, tỷ trọng giá trị sản xuất cây lương thực giảm nhẹ, từ 60,7% năm 2000 xuống còn 60% năm 2002; cây công nghiệp giảm từ 24% xuống còn 23%; giá trị sản xuất các cây trồng khác tăng mạnh từ

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    15,3% lên 17%. Cơ cấu sản phẩm chuyển dần sang hướng thích ứng với thị trường, người sản xuất không chỉ quan tâm tới số lượng mà còn phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm. Cơ cấu sản xuất cũng chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá với nhiều loại cây, con và nhiều loại sản phẩm khác nhau, đảm bảo an toàn hơn trước biến động của thị trường.

    Ngành lâm nghiệp tiếp tục chuyển từ một nền lâm nghiệp nặng về khai thác tự nhiên sang nền lâm nghiệp dựa vào lâm sinh và từ chỗ chủ yếu dựa vào quốc doanh sang nền sản xuất có tính xã hội hoá cao với nhiều thành phần kinh tế tham gia.

    Ngành thuỷ sản tiếp tục có bước chuyển mạnh từ khai thác tự nhiên sang nâng cao tỷ trọng nuôi trồng; từ đánh bắt ven bờ với tàu công suất nhỏ với các loại sản phẩm có chất lượng và giá trị thấp sang bước đầu đánh bắt xa bờ với trang thiết bị lớn hơn, sản phẩm đánh bắt có chất lượng và giá trị cao hơn.

    _Trong những năm gần đây công nghiệp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, phát huy được lợi thế so sánh trong việc khai thác tài nguyên và phát huy lợithế về sử dụng sức lao động.

    Cơ cấu công nghiệp có sự chuyển dịch tích cực. Tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng tăng từ 34,5% năm 1999 lên 39,8% năm 2003, trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến tăng từ 18% lên 21% so với GDP toàn nền kinh tế.

    Đến năm 2002, công nghiệp khai thác chiếm khoảng 15% tổng giá trị sản xuất toàn ngành, công nghiệp chế tác chiếm 79%( trong đó công nghiệp thực phẩm chiếm 23,6%), công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước chiếm khoảng 6%.

    Hiện nay một số ngành mới được hình thành sản xuất ra các sản phẩm quan trọng phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đã nâng dần được tỷ trọng, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp trong những năm qua. Nhìn chung các ngành sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu tăng nhanh nhằm đảm bảo yêu cầu cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng của dân cư và đẩy mạnh xuất khẩu. Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    cũng được chú ý phát triển như là tư liệu phục vụ cho ngành nông nghiệp, xây dựng cơ bản…. những ngành sử dụng nhiều lao động cũng được đẩy mạnh.

    Ngành công nghiệp khai thác phát triển mạnh, chủ yếu là khai thác dầu khí, đã có vai trò quan trọng đóng góp cho sự khởi động của quá trình công nghiệp hoá đất nước. Sản lượng dầu thô quy đổi năm 2003 đạt khoảng 20 triệu tấn, đạt 3 tỷ USD. Trong những năm tới nguồn tài nguyên này đang được gia tăng khai thác, đặc biệt la dầu khí, tạo điều kiện cho phát triển các ngành công nghiệp chế biến đi theo, tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra những ngành công nghiệp khai thác có tốc độ phát triển cao đang dần chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển công nghiệp những năm tới, đáng chú ý là công nghiệp nguyên nhiên liệu như dầu khí, than, khai thác quặng kim loại…

    Ngành công nghiệp chế biến và chế tạo hiện nay chiếm trên 80% trong tổng gí trị sản xuất công nghiệp, đã từng bước đổi mới công nghệ trong một số ngành nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, hướng mạnh về xuất khẩu. Đã có xu hướng hình thành những ngành công nghiệp có công nghệ cao. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng đi từ thu hút nhiều lao động với công nghệ thấp sang ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động với công nghệ tiên tiến và hiện đại. Đó là các ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin.

    _ Kể từ khi tiến hành đổi mới, nhất là từ đầu thập kỷ 90 trở lại đây khu vực dịch vụ của nước ta đã phát triển nhảy vột cả về chất là lượng. Tuy nhiên tốc độ này lại rất không đều qua các thời kỳ khác nhau, tăng nhanh trong thời kỳ 1990-1995 rồi liên tục giảm và chỉ có dấu hiệu hồi phục nhẹ trong mấy năm gần đây.

    Tốc độ tăng trưởng của toàn bộ ngành dịch vụ phục thuộc vào tốc độ tăng trưởng của các lĩnh vực kinh tế dịch vụ hợp phần, đặc biệt là các lĩnh vực chủ chốt có tỷ trọng cao.

    Bảng 13: Tỷ trọng của một số lĩnh vực chủ chốt

    Đơn vị: %

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

      Năm 1995 Năm 2002  
           
    Thương nghiệp/ sửa chữa xe gắm máy, 16,38 14,11  
    đồ dùng có nhân và gia đình
         
           
    Khách sạn và nhà hàng 3,77 3,2  
           
    Vận tải, kho bãi- thông tin liên lạc 3,98 3,94  
           
    Tài chính tín dụng 2,01 1,82  
           
    Kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn 5,41 4,56  
           
    Giáo dục và doanh thu 3,62 3,38  
           

    Nguồn: Tổng cục thống kê- Niên giám thống kê năm 2002

    Tỷ trọng trong GDP của các lĩnh vực dịch vụ chủ chốt năm 2002 đều thấp hơn so với năm 1995. Điều này cho thấy một phần của quá trình chuyển dịch cơ cấu của ngành dịch vụ.

    Theo đánh giá khái quát thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta trong thời kỳ đổi mới là đúng hướng, đã khắc phục dần những bất hợp lý của cơ cấu kinh tế nặng về nông nghiệp chuyển dần sang công nghiệp. Tuy nhiên quá trình chuyển dịch này vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

    Nhược điểm lớn nhất của quá trình chuyển dịch cơ cấu cũng như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa qua là yếu tố hiện đại hoá chưa được quan tâm đúng mức. Công nghiệp chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tập trung vào các ngành sử dụng nhiều lao động, tính hướng nội cao. Ngành dịch vụ giảm tỷ trọng là một sự lãng phí lớn nguồn nhân lực của đất nước.

    Trong công nghiệp thì ngành công nghiệp khai thác tài nguyên ( than, dầu khí… ), công nghiệp gia công cho nước ngoài ( giày dép, dệt may…) chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài. Trong nông nghiệp chăn nuôi còn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn trong giá trị sản xuất của ngành ( trong nhiều năm chưa vượt qua 21% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp và nhiều vùng chưa thoát khhỏi địa vị ngành sản xuất phụ). Trong dịch vụ chủ yếu mới tạp trung vào những dịch vụ phổ thông ( thương mại, du lịch..) thiếu vắng hoặc phát triển ở

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    trình độ thấp những dịch vụ cao cấp và những dịch vụ thiết yếu của kinh tế thị trường ( tài chính, bảo hiểm, khoa học và công nghệ, giáo dục…). Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế về cơ bản chưa có sự chuyển biến đáng kể, chưa tương ứng với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, tuy giá trị tuyệt đối của các ngành dịch vụ có sự gia tăng nhưng gia tăng với tốc độ không cao, do đó tỷ trọng trong cơ cấu ngành kinh tế có xu hướng giảm. Điều này không tương thích với xu thế chung của thế giới là tỷ trọng dịch vụ có xu hướng tăng nhanh và ngày càng trở thành ngành có địa vị hàng đầu trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Như vậy ta có thẻ thấy là hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu nội tại từng ngành kinh tế là chưa cao, còn nhiều hạn chế cần khắc phục để điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho hợp lý nhằm phát triển đất nước.

    2. Những định hướng nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    _ Đối với nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trước hết phải ưu tiên cho mục tiêu an ninh lương thực quốc gia và tăng nguồn nông sản cho chế biến xuất khẩu. Muốn thế phải tiếp tục phát triển thuỷ lợi, làm tốt công tác chuyển giao giống mới, kỹ thuật canh tác tiến bộ, tập trung cao vào những loại sản phẩm mà thị trường có nhu cầu và nước ta có lợi thế so sánh. Tăng kim ngạch xuất khẩu nôgn sản từ 4 tỷ USD năm 2002 lên 10 tỷ USD năm 2010. Mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng cây công nghiệp, rau,hoa, quả, tiến tới cung cấp đủ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào khâu sau thu hoạch để giảm tổn thất hoa hụt lúa gạo, rau quả còn dưới 10% và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu, áp dụng công nghệ, thiết bị chế biến bảo quản nông sản để có sản phẩm chế biến chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu.

    _ Đối với công nghiệp cơ cấu công nghiệp phải đổi mới, mở rộng theo các hướng:

    Công nghiệp gắn với nông nghiệp tạo thành mắt xích công- nông nghiệp trên phạm vi vùng, không bị chia cắt, giới hạn ở từng địa phương.

    Tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các thành phần kinh tế khác. Chú trọng phát triển một số ngành mới

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    mà nước ta có thế mạnh, có triển vọng như công nghiệp phần mềm, công nghệ sinh học, đóng tàu và sửa chữa tàu thuỷ…

    Công nghiệp chuyển mạnh từ hướng khai thác tài nguyên là chủ yếu sang hướng khai thác lao động lành nghề, áp dụng khoa học công nghệ. Cơ cấu các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, trọng điểm và muũi nhọn cần phải được xem xét định kỳ theo kế hoạch 5 năm và hàng loạt, laọi bỏ các sản phẩm có sức cạnh tranh kém, hiệu quả thấp và bổ sung các sản phẩm mới, lập danh mục các sản phẩm được ưu tiên khuyến khích đàu tư phát triển.

    _ Đối với dịch vụ, xu hướng ngày nay các nước đều đẩy mạnh tăng trưởng dịch vụ, chú ý một số ngành sau:

    Dịch vụ công nghệ thông tin và phần mềm: thúc đẩy phát triển thị trường phần mềm bằng cách khuyến khích tất cả các tổ chức kinh tế – xã hội, tin học hoá hoạt động của mình và có sự hỗ trợ của Nhà nước.

    Phát triển thương mại thúc đẩy mở rộng thị trường, phương thức lưu chuyển hàng hoá trong và ngoài nước ngày càng tiến bộ, hiện đại theo kịp trình độ trong khu vực, tiếp cận với thương mại điện tử. Khai thác lợi thế về cảnh quan, về truyền thống văn hoá, lịch sử và liên kết với các nước trong khu vực để phát triển mạnh du lịch thành một ngành dịch vụ mũi nhọn

    Dịch vụ vận tải hàng không: Nâng cấp những sân bay có khả năng khai thác cao, bao gồm cả hệ thống nhà ga, khu vực sân đỗ, đường băng cũng như các trang thiết bị phục vụ tại các sân bay, đặc biệt sân bay quốc tế đầu mối.

    Dịch vụ xây dựng: phát triển các tổ chức nghiên cứu, tư vấn, thiết kế xây dựng, các trang thiết bị công nghiệp trong xây lắp. Thực hiện chính sách hiện đại hoá công nghệ phù hợp với trình độ phát triển, tận dụng tối đa lao động thủ công trong nước. Khuyến khích xuất khẩu lao động kỹ thuật ra nước ngoài cũng như việc thực hiện tham gia đấu thầu và nhận công trình ở nước ngoài. Không hạn chế các công ty nước ngoài nhận thầu thiết kế và xây lắp các công trình trong nước.

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    CHƯƠNGIII

    NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    I. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn tới

    1.     Quan điểm và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    1. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Bước vào thế kỷ XXI, cùng với những thuận lợi cơ bản thì sự phát triển nguồn nhân lực nước ta đang đứng trước nhiều thách thức, khó khăn rất nghiêm trọng. Để có những định hướng đúng đắn và giải phắp hữu hiệu vượt qua những thách thức trên, thì trước hết phải quán triệt những quan điểm cơ bản về phát triển nguồn nhân lực:

    Phát triển nguồn nhân lực phải là nhiệm vụ hàng đầu và là khâu đột phá của chiến lượnc phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn hiện nay.

    Chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải hướng vào việc xây dựng đội ngũ những người lao động có phẩm chất và năng lực ngày càng cao với cơ cấu hợp lý về trình độ, ngành nghề và theo lãnh thổ.

    Coi trọng việc phát hịên, bồi dưỡng, trọng dụng và tôn vinh nhân tài.

    Phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm của nhà nước và của toàn xã hội.

    Đảm bảo công bằng xã hội trong phát triển nguồn nhân lực, quan tâm nhiều hơn đến phát triển nguồn nhân lực các vùng kém phát triển và các bộ phận dân cư hiện nay còn đang gặp nhiều khó khăn, thực hiện mục tiêu đoàn kết, ổn định xã hội và phát triển bền vững.

    1. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh

     

    tế

    Mục tiêu tổng quát của phát triển nguồn nhân lực là : nâng cao dân trí, tri thức, phát triển kỹ năng nghề nghiệp và phát triển toàn diện con người Việt Nam về chính trị, trí tuệ, đạo đức, ý chí, tầm vóc, thể trạng và thể lực. Hình thành đội ngũ lao động có trình độ và cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    tế, xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. bảo đảm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là bộ phận nhân lực trình độ cao, có năng lực tham gia phát triển các ngành đem lại giá trị tăng cao trong công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, tạo điều kiện và các cơ hội để người lao động phát triển năng lực sáng tạo trong một số lĩnh vực khoa học, công nghệ cao.

    2. Yêu cầu của nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Những năm qua, trong khi cơ cấu kinh tế có những động thái tích cực thì cơ cấu lao động lại chưa có sự chuyển biến rõ nét, đang diễn ra một cách hết sức chậm chạp. Lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao động xã hội ( chiếm 58,35% tổng lực lượng lao động của cả nước năm 2003). Như vậy cho thấy lad tuy công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế nhưng Việt Nam chưa thoát khỏi trạng thái của một nước nông nghiệp . Để có thể tiến hành quá trình chuyển dịch cơ cấu một cách có hiệu quả thì chúng ta cần phải đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng của lao động công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của lao động nông nghiệp trong cơ cấu lao động xã hội, bên cạnh đó thì cũng cần phải nâng cao chất lượng toàn diện cho đội ngũ lao động của đất nước để có thể đáp ứng được yêu cầu của quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế, phát triển đất nước. Do đó cần chú trọng hơn nữa vào công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.

    II. Giải pháp nhằm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay còn rất thấp, để có thể phát triển một cách toàn diện nguồn nhân lực thì cần phải chú ý các vấn đề sau:

    Nâng cao một cách liên tục, bề vững tầm vóc của người Việt Nam, thể hiện bằng việc tăng chiều cao ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đồng thười không ngừng cải thiện thể trạng để đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa chiều cao và trọng lượng cơ thể, tăng cường trạng thái sức khoẻ chung, đặc biệt là sự phát triển hài hoà về tố chất thể lực cần thiết (sức bền,

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo…) cho lao động, học tập, sáng tạo và các hoạt động bình thường khác của mỗi người.

    Giáo dục, bồi dưỡng tác phong công nghiệp, tăng tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần hợp tác, lương tâm nghề nghiệp, tính tự trọng, long tin, tính cộng đồng và trách nhiệm công dân. Đây là việc làm rất khó khăn không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, song nhất thiết phải thực hiện và cần thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, bền bỉ, kiên trì, sâu rộng và bằng nhiều hình thức khác nhau ở mọi nơi, mọi lúc, sao cho những đức tính đó ngấm dần một cách tự nhiên vào tâm khảm và trở thành thói quen tự giác của mọi người.

    Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Tiếp thu những tinh hoa nhân loại, giúp hình thành và phát triển con người văn hoá Việt Nam.

    Trong thời gian qua công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực của nước ta vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc chưa được giải quyết nên chất lượng đào tạo vẫn chưa được cao . Để khắc phục cần chú ý vào một số giải pháp quan trọng sau:

    _Để nâng cao chất lượng giáo dục thì trước hết phải có một chiến lược về đào tạo hợp lý, xây dựng và hoàn thiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp với tình hình mới.

    _ Đổi mới tư duy và nhận thức của xã hội và nhân dân về vai trò của dạy nghề. Hiện nay tình trạng thừa thày thiếu thợ là do nhận thức của sai lầm của người dân, không coi trọng vấn đề học nghề mà chỉ chú ý đến đào tạo đại học và cao đẳng. Cần chú trọng hơn nữa vào đào tạo nghề, đào tạo chuyên môn kỹ thuậ để làm hợp lý cơ cấu đào tạo của nước ta, cần tăng cường chương trình đào tạo chính quy dài hạn để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

    _Đổi mới quản lý giáo dục

    Đổi mới về cơ bản tư duy phương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu lực chỉ đạo tập trung của Chính phủ. Đổi mới cơ chế và phương thức quản lý giáo dục theo hướng phân cấp hợp lý nhằm phải phóng và phát huy tiềm năng, sức sáng tạo giải quyết có hiệu quả những bất cập của toàn hệ thống giáo dục và đào tạo trong quá trình

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    phát triển. Tập trung vào làm tốt 3 nhiệm vụ chủ yếu sau: Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển giáo dục; xây dựng cơ chế chính sách và quy chế quản lý nội dung chất lượng đào tạo; tổ chức thanh tra kiểm tra và kiểm định. Trong đó thì đặc biệt chú trọng công tác thanh tra giáo dục và đảm bảo chất lượng giáo dục.

    Thực hiện phân cấp mạnh về quản lý giáo dục cho các bộ ngành và các địa phương. Tăng cường chất lượng của công tác lập kế hoạch, dự báo thường xuyên và cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực của xã hội nhằm điều tiết quy mô, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo cho phù hợp. Thực hiện cải cách hành chính trong giáo dục và đổi mới phương thức quản lý giáo dục. Xây dựng và thựchiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức. ứng fụng công nghệ mới để nâng cao hiệuquả quản lý, xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục.

    Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu giáo dục, thường xuyên đánh giá kết qủa thực hiện các chủ trương, chính sách, các giải pháp đổi mới giáo dục.

    _ Tiếp thục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục, đào tạo.

    Hoàn thiện cơ cấu giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hoá, chuẩn hoá, liên thông, liên kết từ giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến cao đẳng, đại học và sau đại học. Tổ chức phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông. Khắc phục các bất hợp lý về cơ cấu trình độ ngành nghề và cơ cấu vùng miền. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ. Ưu tiên các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng gặp nhiều khó khăn .

    Cơ cấu lại hệ thống giáo dục phù hợp với nhu cầu của đất nước trong giai đoạn mới. Cơ cấu lại cá trình độ đào tạo theo chuẩn quốc tế, đổi mới quy chế, đổi mới tuyển sinh, đa dạng hoá phượng thức đào tạo…

    Triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng. Xây dựng và phát triển các trường trọng điểm, thành lập một số trường đại học công nghệ, trường cao đẳng kỹ thuật ở gần khu công nghệ cao, vùng

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    kinh tế trọng điểm. mở thêm trường ở những vùng đông dân, nhu cầu đào tạo lớn mà chưa có trường đại học, cao đẳng. Mở rộng hình thức giáo dục từ xa. Đẩy mạnh công tác vừa giáo dục vừa nghien cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong các trường đại học và cao đẳng.

    Đổi mới cơ cấu hệ thống dạy nghề: Nhanh chóng hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành. Thực hiện giáo dục đào tạo theo 4 phân hệ: Phân hệ giáo dục –đào tạo cơ bản cho mọi người; phân hệ giáo dục- đào tạo chất lượng cao; Phân hệ đào tạo thích hợp; phân hệ giáo dục- đào tạo thường xuyên và chúng được đặt trong một hệ thống đào tạo giáo dục thống nhất.

    Cần có một quy hoạch về hệ thống đào tạo nghề và chuyên môn hợp lý để phát triển tăng quy mô và năng lực đào tạo.

    _ Đổi mới cơ chế quản lý và tăng cường nguồn tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục

    Tăng ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục ( 15% năm 2000 lên 18% năm 2005 và 20% năm 2010). Ngân sách Nhà nước tập trung nhiều hơn cho giáo dục phổ cập, cho vùng nông thôn, miền nuúi, vùng có nhiều khó khăn, cho đào tạo trình độ cao, tạo điều kiện học tập cho con em người có công, cho con em gia đình nghèo. Dành nhiều ngân sách cho việc đưa cán bộ khoa học đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước có nền khoa học công nghệ tiên tiến.

    Huy động nghiều nguồn tài chính khác: Đóng góp của học viên, nguồn lực của cáccơ sở đào tạo, nguồn lực của các doanh nghiệp, kết hợp với các nguồn vốn của các cad nhân và các tổ chức trong và ngoài nứơc.

    Tăng cường và hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ đổi mới chương trình, nội dung và Phương pháp giáo dục.

    _ Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục

    Nhà nước khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục nhằm tăng cường trách nhiệm và nguồn lực cho giáo dục và đào tạo. Mở rộng các quỹ khuyến học , quỹ bảo trợ giáo dục, khuyến khích cá nhân và tập thể đầu tư mở thêm trường mới. Mở rộng tăng cường các mối quan hệ của nhà trường với các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… tạo điều kiện để xã hội có thể đóng góp xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, góp ý kiến cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo.

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    _ Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục

    Khuyến khích mở rộng và đẩy mạnh các quan hệ hợp tác về đào tạo, nghiên cứu với các nhà trường, các cơ quan nghiên cứu khoa học có uy tín và chất lượng cao trên thế giới, đặc biệt là tiếp thu những kinh nghiệm tốt phù hợp về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục hiện đại và tiên tiến.

    KẾT LUẬN

    Nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và nền kinh tế đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế để hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với tình hình và khả năng của đất nước. Để đẩy nhanh tốc độ của chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì yếu tố quan trọng là yếu tố nguồn nhân lực. Do đó chất lượng nguồn nhân lực một phần quyết định kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới đất nước. Trong khi chất lượng nguồn nhân lực của nước ta còn nhiều hạn chế thì chúng ta cần phải cải thiện nguồn nhân lực cả về mặt thể chất và dân trí, cần đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Muốn vậy thì cần có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước cũng như toàn xã hội đối với công tác giáo dục, đào tạo của nước nhà. Toàn xã hội phải cùng nhau xây dựng một hệ thống giáo dục lành mạnh với quy mô và chất lượng tiên tiến, sánh ngang cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp

    Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp

    Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/C%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-h%E1%BB%AFu-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp

    Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực
    của Doanh nghiệp

     * Làm thế nào để quản trị nguồn nhân lực một cách hiệu quả?

    Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trước sự biến động mạnh mẽ của môi trường kinh doanh, tính chất khốc liệt của sự cạnh tranh và nhu cầu đòi hỏi được đáp ứng ngày càng cao của nhân viên, tất cả những vấn đề này đã và đang là sức ép lớn đối với doanh nghiệp. Trong đó, vấn đề quản trị nguồn nhân lực là một trong các yếu tố mang tính chất sống còn.

    Từ nhu cầu – Một doanh nghiệp có thể tăng lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách tổ chức được một hệ thống quản trị nguồn nhân lực toàn diện: xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại, chính xác, sử dụng người lao động một cách hiệu quả, giải quyết chính sách, chế độ kịp thời, tiêu chí đánh giá công việc được chuẩn hóa, chính sách lương thưởng công bằng, hoạch định nguồn nhân lực đảm bảo đúng người, đúng việc 

    Đến giải pháp  – Lạc Việt HRP2004 là phần mềm được phát triển trên cơ sở đó với các phân hệ được xây dựng tích hợp đầy đủ tất cả các tính năng cao cấp nhất mà một giải pháp quản trị nhân sự cần có.

      * GIÁ TRỊ NỔI BẬT.

    • Chuyên nghiệp: Hệ thống tính năng – nghiệp vụ được thiết kế chuyên nghiệp theo mô hình quản trị mới và đúng luật định, phù hợp với các loại hình doanh ngiệp đang hoạt động tại Việt Nam.
    • Hệ thống mở, linh hoạt, dễ sử dụng: Cho phép thiết lập các thông số tùy biến của hệ thống, tự định nghĩa các yếu tố tính lương, công thức tính toán trong công tác tính lương, chấm công, tuyển dụng, đào tạo …
    • Hệ thống chấm công: phù hợp với tất cả các loại máy chấm công hiện nay, người dùng có thể sử dụng phân ca tự động hoặc theo chu kỳ ca với ca làm việc kéo dài trong thời gian bao lâu tùy ý và các tiện ích khác như: tính công ngoài giờ tự động hoặc qua xác nhận … giúp cho công tác tính công được chính xác tuyệt đối.
    • Hệ thống tuyển dụng: người dùng tự thiết lập quy trình tuyển dụng, các tiêu thức tuyển dụng … trên từng chức danh. Tự động lọc danh sách ứng viên hoặc nhân viên nội bộ theo đúng tiêu thức tuyển dụng. Quản lý công tác tuyển dụng đi từ yêu cầu, kế hoạch đến thực hiện.
    • Hệ thống đào tạo: người dùngtự định nghĩa các yếu tố , công thức tính thời gian cam kết phục vụ sau đào tạo, tự động tính tiền đền bù hợp đồng nếu nhân viên nghỉ việc không phục vụ đủ, tự động tạo lập danh sách nhân viên cần đào tạo theo yêu cầu công việc.
    • Hệ soạn thảo các quyết định: giúp người dùng tự xây dựng một hê thống các quyết định như: lên lương, phụ cấp, khen thưởng, kỷ luật … theo bất kỳ định dạng nào đặc thù. Ngoài ra có thể thiết kế lại các mẫu báo cáo có sẵn từ hệ thống theo yêu cầu riêng của mình.
    • Hệ hỗ trợ ra quyết định: Với hệ thống báo cáo quản trị từ xa, người dùng có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi sẽ giúp lãnh đạo đưa ra những quyết định nhanh chóng, chính xác nhờ hệ thống báo cáo từ xa được cung cấp bởi phần mềm LV-HRP. Từ đó, giúp doanh nghiệp thực hiện công tác quản trị nhân sự chuyên nghiệp hơn.
    • Hệ phân tích dữ liệu: Chỉ cần 2 phút để lập ra mẫu báo cáo với số liệu tuyệt đối chính xác với số lượng báo cáo tự “chế biến” là vô tận.
    • Đa ngôn ngữ, chuyển đổi ngôn ngữ chỉ bằng một phím tắt.
    • Hợp nhất dữ liệu công ty đa cấp, đa chi nhánh.

      * CÁC TÍNH NĂNG CHÍNH

    Phân hệ cơ bản  
    1. Thông tin nhân viên Kết nối thông tin với các phân hệ nhân sự khác.

     

    Lưu trữ đầy đủ hệ thống dữ liệu chi tiết của cá nhân trong suốt quá trình làm việc tại công ty.

    Công cụ trích lập báo cáo giúp dễ dàng phân tích tình hình biến động nhân sự trong toàn công ty.

    2. Bảo hiểm xã hội

     

    Bảo hiểm Y tế

    Xử lý và theo dõi các thông tin liên quan đến Bảo hiểm Xã hội và Bảo hiểm Y tế.

     

    Cung cấp hệ thống báo cáo đúng mẫu của nhà nước quy định.

    3. Chấm công tự động Quản lý giờ công, ngày công thực tế của nhân viên thông qua việc xử lý dữ liệu thô từ các máy chấm công

     

    Tự động tính toán và xuất ra các báo cáo phù hợp phục vụ cho công tác tính lương.

    4. Tính lương Quản lý dữ liệu liên quan đến tiền lương

     

    Tính lương định kỳ dựa trên các số liệu liên quan như ngày công, phụ cấp và các hệ số cấu thành nên công thức tính lương.

    Ngoài các phương pháp tính lương truyền thống, hệ thống còn cung cấp thêm phương pháp tính lương do người dùng tự định nghĩa.

    5. Hệ phân tích dữ liệu Truy xuất, phân tích và xử lý hệ thống dữ liệu theo các tiêu thức khác nhau tạo thành các báo cáo từ chi tiết đến tổng hợp, đáp ứng nhu cầu thực tế trong công tác quản lý của công ty.

     

    Vô vàn các báo cáo được tạo ra chỉ bằng các thao tác click chuột đơn giản.

    Phân hệ mở rộng  
    1. Tuyển dụng Tự thiết lập quy trình tuyển dụng, quy định môn thi, điểm thi cho từng bước trong quy trình.

     

    Theo dõi quá trình tuyển dụng để tìm kiếm những ứng viên phù hợp nhất với yêu cầu của từng vị trí công việc đòi hỏi.

    2. Đào tạo Tính năng chuyên nghiệp và linh hoạt à công cụ hiệu quả giúp doanh nghiệp phát triển chất lượng nguồn nhân lực trong công ty.

     

    Giúp hoạch định các kế hoạch đào tạo, tổ chức thực hiện cũng như theo dõi chi phí, kết quả đào tạo

    3. Đánh giá Tự động hoá hệ thống đánh giá năng lực và đánh giá kết quả công việc của nhân viên

     

    Giúp việc thực thi công tác đánh giá trở nên dễ dàng, chính xác và khoa học hơn.

    4. Trang thiết bị

     

    Bảo hộ lao động

    Lập định mức cấp phát thiết bị an toàn lao động.

     

    Huấn luyện an toàn lao động.

    Lập yêu cầu và kế hoạch cấp phát hằng năm.

    Quản lý quá trình cấp phát trang thiết bị, bảo hộ lao động cho nhân viên.

    5. Hệ Báo cáo từ xa Hỗ trợ việc truy xuất báo cáo Quản trị và báo cáo cá nhân thông qua mạng Intranet/Internet.

     

    Thông tin báo cáo thể hiện dạng số liệu hoặc biểu đồ thống kê cho thấy diễn biến tình hình nhân sự tại các thời điểm.

    6. Hệ hợp nhất dữ liệu Đáp ứng yêu cầu công ty có mô hình đa cấp, đa chi nhánh có quản lý dữ liệu phân tán tại các điểm khác nhau

     

    Cung cấp báo cáo từng đơn vị thành viên và tự động hợp nhất dữ liệu cho toàn công ty.

     

    Quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

    ( Bình chọn:   —  Thảo luận: —  Số lần đọc: 18778)

    – Quản trị nhân sự (QTNS) là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức doanh nghiệp với người lao động. QTNS chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào doanh nghiệp giúp  họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh.

    Mục tiêu cơ bản của QTNS trong doanh nghiệp (DN) là thu hút, lôi cuốn những người giỏi về với DN; sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp; động viên, thúc đẩy nhân viên, tạo điều kiện cho họ bộc lộ, phát triển và cống hiến tài năng cho DN, giúp họ gắn bó, tận tâm, trung thành với DN.

    QTNS giúp cho các DN xuất phát từ vai trò quan trọng của con người. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức DN, vận hành DN và quyết định sự thành bại của DN. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của DN nên QTNS là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức DN. Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu DN không quản lý tốt nguồn nhân lực, vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người. Xét về mặt kinh tế, QTNS giúp cho các DN khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của DN về nguồn nhân lực. Về mặt xã hội, QTNS thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, DN và người lao động.

    Nhận thức được tầm quan trọng của QTNS trong các DN như vậy nên hiện nay các DN đều chú trọng đến vấn đề này. Sự tiến bộ của QTNS được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng thúc đẩy các DN hoạt động có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trên thực tế công tác quản lý nguồn nhân lực ở các DN hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều thách thức lớn. Khó khăn và thách thức lớn nhất đối với các DN hiện nay không phải là thiếu vốn hay trình độ kỹ thuật mà là làm thế nào để quản trị nguồn nhân lực có hiệu quả.

    Hiện nay, các DN Việt Nam trung bình chỉ sử dụng khoảng 40% năng suất của nguồn nhân lực mà họ đang sở hữu và tỷ lệ này còn khó lý giải hơn nữa ở nhóm nhân viên khối văn phòng. Nguyên nhân của vấn đề này cơ bản nằm ở sự yếu kém về công tác quản trị nguồn nhân lực. Những khó khăn và hạn chế chủ yếu mà phần lớn các DN ở Việt Nam hay gặp phải như là:

    – Nhận thức chưa đúng của nhiêu cán bộ lãnh đạo, nhân viên về vai trò then chốt của nguồn nhân lực con người và quản trị nguồn nhân lực đối với sự thành công của DN.
    – Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động chưa cao, thiếu cán bộ quản lý giỏi và các chuyên gia về quản trị nguồn nhân lực.
    – Nhiều DN rơi vào tình trạng thừa biên chế. Cùng lúc các DN phải giải quyết tình trạng thiếu lao động có trình độ lành nghề cao nhưng lại thừa lao động không có trình độ lành nghề hoặc có những kỹ năng được đào tạo không còn phù hợp với những yêu cầu hiện tại, dẫn đến năng suất lao động thấp.
    – Nhiều DN hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, thu nhập của người lao động thấp, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, nhiệt tình và hiệu quả làm việc của người lao động.
    – Ý thức tôn trọng pháp luật chưa cao, luật pháp được thực hiện chưa nghiêm minh.
    – Chưa có tác phong làm việc công nghiệp.
    – Chưa xác lập được quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa người lao động và chủ DN.
    – Một số quy chế về đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, cho nghỉ việc… chậm cải tiến, không còn phù hợp với điều kiện kinh doanh mới của DN
    – Nhiều DN chưa chú trọng đầu tư vào nguồn nhân lực để có lợi thế cạnh tranh cao hơn.

    Những khó khăn, hạn chế trong quản trị nguồn nhân lực ở Việt Nam đặt ra yêu cầu cần phải thay đổi cơ bản cách thức hoạt động quản trị con người trong DN. Các DN cần có hệ thống QTNS với những chính sách về tuyển dụng, đào tạo, trả lương, khen thưởng, đánh giá mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển hiện nay của DN

    Về chính sách tuyển dụng: DN cần phải chuẩn bị kỹ, thực hiện tốt quá trình tuyển chọn các ứng cử viên nhằm tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người có đủ các tiêu chuẩn thích hợp cho các vị trí và các chức danh cần người trong DN. DN có thể trực tiếp tuyển dụng các nguồn từ bên ngoài và trong nội bộ DN hoặc có thể áp dụng các giải pháp thay thế tuyển dụng. Các giải pháp thay thế tuyển dụng thường được áp dụng là: Giờ phụ trội, hợp đồng thuê gia công, thuê lao động thời vụ, thuê lao động của DN khác. Mỗi giải pháp tuyển dụng có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì vậy, DN cần phải xem xét khi áp dụng các giải pháp này phải phù hợp với điều kiện của DN.

    Về đào tạo và phát triển nhân sự: Dựa trên những mục tiêu và để thực hiện các mục tiêu của DN, DN cần phảiđào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp họ hoàn thành tốt nhất công việc được giao và nâng cao trình độ bản thân. Sau khi phân tích và xác định nhu cầu đào taọ công nhân kỹ thuật và phát triển năng lực cho các nhà quản trị DN thì vấn đề tiếp theo là xác định các hình thức đào tạo với các chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo thích hợp. Đây là vấn đề quan trọng, đòi hỏi bộ phận QTNS DN phải hết sức thận trọng vì tất cả các chi phí đào tạo đều tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của DN và phải được hoàn lại. DN có thể áp dụng một trong các hình thức đào tạo với các chương trình và phương pháp đào tạo phổ biến như: đào tạo tại nơi làm việc, đào tạo ngoài nơi làm, tại các trường, các lớp đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề và nâng cao năng lực cho quản trị gia, đào tạo tại các trường đại học.

    Về đánh giá năng lực thực hiện công việc và thù lao cho người lao động: Các nhà QTNS phải kiểm tra, giám sát, đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao động để đưa ra mức thù lao hợp lý theo quy định củaLuật Lao động và chính sách tiền lương mà Nhà nước ban hành; tổ chức huấn luyện những người làm công tác đánh giá. Hiệu quả của công tác đánh giá năng lực thực hiện công việc phụ thuộc nhiều vào những người làm công tác đánh giá. Do đó những người này phải được huấn luyện kỹ năng và nghệ thuật đánh giá để đảm bảo hiệu quả của đánh giá…

    “Nhân sự là chìa khóa thành công của mọi doanh nghiệp”. Nhưng để quản lý có hiệu quả nguồn nhân lực thật không đơn giản, điều đó đòi hỏi nghệ thuật của người lãnh đạo. Với những giải pháp nêu trên, cùng với khả năng cố gắng, kinh nghiệm và sự học hỏi, không ngừng tiếp cận tri thức mới của các nhà QTNS. Hy vọng rằng công tác QTNS trong các DN ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ có những kết quả đáng ghi nhận.

    www.SAGA.vn l ST

     

     

    Phân quyền quản lý nhân lực trong doanh nghiệp

    CKA

    12-30-2008, 03:55 PM

    Cách đây một thập niên, các chủ doanh nghiệp thường chú tâm đến vấn đề kinh doanh – tiếp thị hay tài chính – kế toán. Những năm gần đây, người ta quan tâm nhiều hơn đến yếu tố con người trong phát triển sản xuất kinh doanh.

    Trừ các công ty có quy mô lớn, hoạt động bài bản, do không nhìn thấy lợi ích lâu dài mà chỉ suy xét dưới góc độ chi phí trước mắt, hầu hết các công ty tư nhân nhỏ và vừa ở Việt Nam đều rất ngần ngại khi đầu tư cho bộ phận nhân sự.

    Ở những công ty này, hệ thống điều hành hầu như chỉ nằm trong tay một người. Mọi việc lớn nhỏ đều phải báo cáo và do người này quyết định khiến họ luôn bị công việc thường nhật đeo bám và không còn thời gian cho những việc dài hơi khác. Hệ thống quyền lực đôi khi lại rơi vào vài người mà ranh giới không rõ ràng khiến nhân viên vô cùng bối rối, không biết phải nghe lệnh ai. Có trường hợp lãnh đạo can thiệp vào công việc của cấp dưới mặc dù đã giao việc ấy cho họ.

    Lối làm việc này khiến nhân viên ngày càng trở nên thụ động, cứng nhắc, thiếu tự tin. Khi nhân viên cảm thấy không được tin tưởng và không có cơ hội tiến thân thì sức đóng góp của họ cũng ngày càng giảm thiểu. Cơ cấu tổ chức như vậy vẫn tồn tại đối với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, tập trung, ít người và ít phức tạp về chuyên môn do nó cũng có lợi điểm là người chủ an tâm rằng con thuyền kinh doanh được lèo lái bởi bàn tay của những người góp vốn.

    Xu thế phát triển không cho phép một ai đứng tại chỗ mà vẫn duy trì được vị trí như ban đầu, khi mà nhu cầu khách hàng ngày càng thay đổi cùng với áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Để duy trì hay chiếm lĩnh vị trí cao hơn trên thị trường, phải mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư trang thiết bị và công nghệ tiên tiến.

    Muốn thế, lực lượng lao động, hệ thống quản lý và trình độ quản lý của các cấp cũng phải đáp ứng kịp thời với sự đổi mới này. Người đứng đầu công ty lúc này không còn đủ thời gian, tâm trí và sức lực để ôm đồm mọi việc nữa. Họ phải biết chọn lựa nên quản cái gì, biết cái gì, làm cái gì và nhất là biết dùng ai, dùng gì để có được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.

    Ngày nay, nhân lực được coi là nguồn tài nguyên quý giá mà công ty phải đầu tư, vun trồng và chăm sóc kỹ lưỡng. Đó cũng là lý do tại sao nhiều công ty nước ngoài đã điều chỉnh tên gọi bộ phận nhân sự (Personnel Department) thành bộ phận phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development Department).

    Để có người phụ trách văn phòng, trong đó bao gồm cả công tác nhân sự, các công ty nhỏ thường thành lập phòng hành chính – nhân sự, còn ở những đơn vị mới hoạt động thì đôi khi giám đốc hay một phó giám đốc sẽ kiêm luôn việc này. Dù cơ cấu hay quy mô như thế nào thì những công việc như hoạch định, tuyển chọn nhân lực và sau đó là sử dụng, đào tạo hay khen thưởng, đề bạt vẫn phải thực hiện tùy theo mức độ khác nhau.

    Khác với khu vực hành chính sự nghiệp nhà nước, nhu cầu quản lý và phát triển nhân lực trong các đơn vị sản xuất thuộc khu vực kinh tế tư nhân ngày càng nặng nề do yêu cầu sản xuất kinh doanh, do cạnh tranh nhân lực và do nhu cầu ngày càng cao của nhân viên. Người phụ trách lĩnh vực này thường hay phải lo toan những công việc hành chính, xử lý sự vụ hàng ngày nên thường không quán xuyến nổi hoặc không sâu sát để có thể chăm sóc chu đáo nguồn nhân lực này.

    Khi ấy, bắt đầu phát sinh những sự việc lúc đầu thì nhỏ nhưng nếu không được giải quyết rốt ráo sẽ ngày càng phức tạp và hậu quả là gánh nặng ấy đè lên vai các trưởng bộ phận – nhất là những người trực tiếp điều hành nhân viên từ cấp tổ trưởng đến quản đốc – vì tư tưởng bất an sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả lao động của đội nhóm mà họ phụ trách.

    Khoảng trống trong quản lý và trách nhiệm phát triển nhân lực xảy ra khi mọi người, nhất là hầu hết các trưởng bộ phận, đều có thói quen nghĩ rằng “đó là việc của bộ phận nhân sự” hay “tôi đâu có được giao việc ấy?”, thậm chí có người nghĩ “tôi đâu biết làm việc ấy” hay “tôi làm tốt việc ấy liệu có ai biết không?”.

    Theo ý kiến người viết, việc giao một phần nhiệm vụ quản lý nhân lực cho các trưởng bộ phận hoàn toàn phù hợp với bối cảnh hiện nay vì họ có chuyên môn riêng cộng với sự sâu sát và cập nhật thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

    Như vậy, nguyên tắc “ai làm việc chuyên môn của người ấy” sẽ không còn hiệu lực nữa mà thay vào đó là “ai làm tốt, kịp thời và hiệu quả nhất” sẽ được chọn. Tùy theo phong cách làm việc của mỗi công ty mà tỷ trọng công việc và tầm quan trọng của trưởng bộ phận trong công tác nhân sự có khác nhau nhưng không thể phủ nhận tầm quan trọng của công tác nhân sự này đối với hiệu quả hoạt động của công ty và chính từng bộ phận ấy.

    Như vậy, cơ cấu tổ chức trong các công ty có sự phân công hoàn toàn theo chức năng không còn thịnh hành nữa mà mỗi bộ phận, mỗi nhân viên thường phải làm nhiều chức năng cùng một lúc. Và để giảm chi phí, tăng hiệu quả và kích thích sự đóng góp của nhân viên, xu hướng phân quyền trong cơ cấu đa chức năng đã và đang được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nơi. Trong đó việc xây dựng hệ thống quản lý, chuẩn hóa các hoạt động và yếu tố con người trong bộ máy công ty đóng vai trò quyết định với sự cộng tác của các trưởng bộ phận – những người góp phần tích cực để bộ máy quản lý nhân lực công ty vận hành hiệu quả.

    Một số quy tắc quản lý nguồn nhân lực

     

    Thứ sáu, 20 Tháng bảy 2007, 11:31 GMT+7
           
     
    Tags: quản lý nguồn nhân lựcquy tắc quản lýquy tắc vàngnhững người khácnhân viên,lãnh đạohiệu quảmột sốtổ chứctập trungquanđiểmcôngxemnhận

     

    Quản lý nguồn nhân lực luôn là vấn đề mà lãnh đạo các tổ chức quan tâm hàng đầu. Quy tắc vàng ở đây là: “Quản lý những người khác theo cách bạn muốn được quản lý”.

    Jack Welch – Chủ tịch kiêm CEO của tập đoàn GE nhấn mạnh vào sự công bằng trong việc quản lý nhân viên. Ông cho rằng, sự thiên vị trong công việc có thể là một trong những chướng ngại quan trọng đối với thành công của tổ chức: “Trong một môi trường quan liêu, mọi người sẽ sợ nói ra quan điểm của mình. Loại môi trường này sẽ nhấn chìm bạn xuống, và nó không cải thiện được công việc”.

    Thay vì thế, Jack Welch kêu gọi phát triển văn hoá tổ chức theo hướng khuyến khích và khen thưởng cho những phản hồi trung thực. Ông cũng cho rằng với các nhân viên hàng đầu của công ty, sự kết hợp đúng đắn của việc khen thưởng và thừa nhận sẽ nâng cao tinh thần làm việc của nhân viên.

    Dưới đây là các lưu ý cơ bản trong quản lý nguồn nhân lực:

    Đừng quản lý con người, hãy quản lý tiềm năng

    Hãy đối mặt với điều này: tất cả chúng ta có phong cách làm việc, nền tảng, kinh nghiệm và văn hoá khác nhau. Vị CEO không hiệu quả sẽ xem tất cả những khác biệt này là điều cần phải quản lý, nhưng đó là quan điểm sai lầm. Cố gắng để quản lý vi mô phong cách làm việc của mọi người và các xung đột cá nhân là một việc làm hoàn toàn mất thì giờ. Hãy xem nhân viên như những người chuyên nghiệp và định hướng các kỹ năng của họ.

    Các CEO hiệu quả lãnh đạo bằng cách quản lý tiềm năng – mài sắc các kỹ năng trong nhóm, tạo nên kế hoạch để tận dụng những kỹ năng này nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng.

    Tập trung vào điểm mạnh, không phải điểm yếu

    Một huấn luyện viên bóng đá không yêu cầu một tiền vệ phải phòng thủ. Người huấn luyện đặt các cầu thủ vào nơi họ có thể phát huy và nhóm giành chiến thắng. Làm cho các kỹ năng phù hợp với trách nhiệm là cách để thành công, không chỉ tập trung vào điểm yếu.

    Nhiều vị CEO không nhận thức được quan điểm rằng công việc của họ là đặt con người vào vị trí để thành công. Các nhà lãnh đạo không hiệu quả thường xem việc tổng kết hàng năm là cơ hội tập trung vào các điểm yếu, để thiết lập các mục tiêu cho việc cải thiện những lĩnh vực này. Lãng phí thời gian. Các CEO hiệu quả tập trung vào các thế mạnh, phát huy tài năng và sở thích của nhân viên và quản lý điểm yếu của họ.

    Học cách để động viên mỗi nhân viên tốt nhất

    Trong việc động viên và khuyến khích nhân viên, cách tiến hành thường là cào bằng. Thực tế, mỗi người có những mong muốn khác nhau. Một nhân viên độc thân sẽ xem chuyến đi được bao trọn gói là một món quà động viên, nhưng nhân viên lớn tuổi – cha của những đứa trẻ có thể xem việc có thời gian với gia đình là sự động viên.

    Giống như vậy, trong việc quản lý hàng ngày, một số nhân viên không cần gì ngoài một cái vỗ vào lưng, trong khi các nhân viên khác muốn nhận được sự thừa nhận thường xuyên.

    Các nhà lãnh đạo hiệu quả nhận ra rằng nhân viên có các mục tiêu và tham vọng khác nhau. Học những điều họ có thể giúp để giành được hiệu quả, lòng trung thành và cách làm việc từ nhân viên.

     

     

    Quản lý nguồn nhân lực có nghĩa là gì?

    Doanh nghiệp của bạn là một tập hợp các Nguồn lực mà bạn đã tập trung lại nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh:

     

    • Con người (bản thân bạn và nhân viên)
    • Tiền
    • Máy móc. thiết bị và nguyên vật liệu
    • Kiến thức (thông tin, thời gian, các hệ thông quản lý và sáng tạo, các quy trình và thủ tục)

    Đọc và suy ngẫm cẩn thận những bài học cơ bản dưới đây về Quản lý nguồn nhân lực (HRM) chính là giúp cho bản thân bạn và doanh nghiệp của bạn:

    • Con người là tài sản quan trọng nhất mà một doanh nghiệp có. Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính hiệu quả của cách “quản lý con người” của bạn- bao gồm cả cách quản lý chính bản thân mình, quản lý nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và người cho vay như thế nào!
    • Cung cách quản lý, môi trường làm việc mà bạn đem lại cho nhân viên của mình và cách truyền đạt những giá trị và mục đích sẽ quyết định sự thành công của bạn cũng như thành công của doanh nghiệp.
    • Để đạt được mục tiêu và thực hiện các kế hoạch chiến lược bạn cần phải liên kết chặt chẽ các chính sách nhân sự và các thủ tục với mục tiêu kinh doanh. Chẳng hạn bạn cần biết rõ khi nào và tại sao phải tuyển dụng nhân viên, bạn mong đợi những gì ở họ, bạn sẽ khen thưởng và/hoặc kỷ luật nhân viên thể nào để họ phải đạt được các mục đích chiến lược kinh doanh.
    • Bạn, với tư cách là chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa (giám đốc hoặc lãnh đạo ban quản lý) có trách nhiệm không ngừng chỉ rõ và truyền đạt những mục tiêu kinh doanh cho tất cả các nhân viên trong doanh nghiệp. Bạn cũng phải tạo điều kiện để cán bộ chuyên môn và nhân viên làm việc vì những mục tiêu này bằng cách xây dựng những hệ thống trong công ty: quy tắc làm việc, hệ thống lương bổng, phương pháp đánh giá hiệu quả làm việc, biện pháp khen thưởng và kỷ luật.

    Quản lý nguồn nhân lực là gì?

    • Trước tiên quản lý nguồn nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho những mong muốn của doanh nghiệp và mong muốn của nhân viên của bạn tương hợp với nhau và cùng đạt đến mục tiêu. Hãy nghiên cứu biểu đồ dưới đây để tự đánh giá xem bạn xác định được tới đâu mong muốn của bạn và của nhân viên trong doanh nghiệp. Nhân viên của bạn trông đợi từ phía bạn một mức lương thoả đáng, điều kiện làm việc an toàn, sự gắn bó với tổ chức, những nhiệm vụ có tính thách thức, trách nhiệm và quyền hạn. Mặt khác, bạn với tư cách là chủ lao động mong muốn nhân viên của mình sẽ tuẩn thủ quy định tại nơi làm việc và các chính sách kinh doanh, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, đóng góp sáng kiến vào các mục tiêu kinh doanh, chịu trách nhiệm về cả việc tốt và việc dở, liêm khiết và trung thực.
    • Thứ hai, quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động (một quy trình) mà bạn và nhóm quản lý nhân sự của bạn tiến hành triển khai sắp xếp nhân lực nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Quy trình này gồm các bước tuyển dụng, quản lý, trả lương, nâng cao hiệu quả hoạt động, và sa thải nhân viên trong doanh nghiệp.
     

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    LỜI NÓI ĐẦU

    N

    guồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng của quá trình đầu tư phát triển của xã hội. Tuy nhiên nguồn lực này lại đặc biệt hơn các nguồn lực khác ở chỗ, đây là nguồn lực tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội nhưng cũng lại chính là đối tượng tiêu dùng những sản phẩm đó. Hơn nữa, tài nguyên con người là nhân tố cần có cách quản lý và khai thác khác hẳn so với những tài nguyên khác. Vì vậy, vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng mang nhiều đặc điểm khác biệt so với hoạt động đầu tư phát triển nói chung. Việc nghiên cứu về đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng là một trong những vấn đề cần thiết cấp bách, vì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với xã hội (vĩ mô) nói chung, và sự sống còn của các doanh nghiệp (vi mô) nói riêng.

    Hơn nữa, Việt Nam vừa mới tham gia WTO trong điều kiện vẫn chưa hoàn thiện nền kinh tế thị trường, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cũng đang được đặt ra cấp bách để đáp ứng được những yêu cầu của thế giới, của quốc gia về một đội ngũ lao động chất lượng cao, tay nghề giỏi để có thể xây dựng nền kinh tế nước ta thêm mạnh mẽ vững chắc. Vì vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực cần có những đổi mới theo chiều hướng đúng đắn. Trong quá trình này, con người luôn chiếm vị trí trung tâm, là đối tượng và mục tiêu phát triển.

    Vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung gì, hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua có những gì nổi bật, và nước ta cần có những cải cách gì đối với hoạt động này để có thêm sức mạnh khi tham gia hội nhập với thế giới. Sau đây chúng tôi xin được đưa ra một số hiểu biết của mình về vấn đề này.

     

    Chương I: Một số hiểu biết chung về đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    I. Nguồn nhân lực

    1.1.1        1. Khái niệm nguồn nhân lực

    Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

    – Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư trong xã hội có khả năng lao động.

    – Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế- xã hội thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội.

    – Với tư cách là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động thì nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố thể lực và trí lực của những người từ 15 tuổi trở lên.

    Định nghĩa trên mới phản ánh về mặt số lượng chưa nói lên mặt chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên các khía cạnh: sức khỏe, trình độ học vấn, kiến thức, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy được, ý thức tác phong của người lao động.

    Như vậy, mặc dù có các biểu hiện khác nhau về định nghĩa, khái niệm về nguồn nhân lực của một quốc gia nhưng có thể hiểu 1 cách nôm na nguồn nhân lực chính là nguồn lao động. Theo người Việt Nam, khái niệm ít tranh cãi thì nguồn lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động.

    1.1.2                    2. Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực.

    Nguồn nhân lực ở đây được biểu hiện qua hai khía cạnh là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, vì vậy để đánh giá nguồn nhân lực thì chúng ta có hai nhóm chỉ tiêu sau.

    1.1.2.      2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá số lượng nguồn nhân lực.

    Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá số lượng nguồn nhân lực nhưng tiêu biểu thì người ta hay dùng các chỉ tiêu sau :

    -Tỷ lệ nguồn nhân lực trong dân số.

    -Tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số

    -Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động.

    -Tỷ lệ lao động có việc làm  trong lực  lượng lao động.

                            2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.

    Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:

                            2.2.1. Chỉ  tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.

    Một người có sức khoẻ không đơn thuần là người đó không có bệnh tật. Sức khoẻ theo định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần, là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.

    Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

    – Tuổi thọ bình quân.

    – Chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động.

    – Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ.

    – Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức khoẻ.

    – Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật: tỉ suất chết, tỉ suất dân số trong độ tuổi bị mắc HIV/AIDS…

                            2.2.2. Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.

    Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn. Những chỉ tiêu đó là:

    – Tỉ lệ người lớn biết chữ.

    – Tỉ lệ đi học chung.

    – Tỉ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

    2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.

    Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó( nó biểu hiện trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học), có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đo bằng:

    – Tỉ lệ cán bộ tổ chức.

    – Tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học

    – Tỉ lệ cán bộ trên đại học.

                            2.2.4. Chỉ số phát triển con nguời HDI

    HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển con người trên ba phương diện sức khoẻ, tri thức và thu nhập. Ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh sau:

    – Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình.

    – Kiến thức được đo bằng tỉ lệ nguời lớn biết chữ ( với quyền số 2/3) và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học,trung học và đại học (với quyền số 1/3)

    – Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người (tính theo sức mua tương đương PPP USD Mỹ)

    Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng xã hội.

                            2.2.5. Một số chỉ tiêu khác.

    Bên cạnh những chỉ tiêu có thể lượng hoá được như trên, người ta còn xem xét đến các chỉ tiêu định tính thể hiện năng lực phẩm chất của người lao động. Chỉ tiêu này được thể hiện qua các mặt:

    -Truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ Quốc.

    – Truyền thống về văn hoá văn minh dân tộc.

    – Phong tục tập quán, lối sống

    II. Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới, vì mục tiêu phát triển.

    Đầu tư phát triển bao gồm:

    – Đầu tư tài sản vật chất (Tài sản thực)

    – Đầu tư phát triển tài sản vô hình.

    Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội dung của đầu tư phát triển những tài sản vô hình. Nó cũng là việc chi dùng vốn hiện tại, tiến hành các hoạt động làm tăng quy mô và chất lượng nguồn nhân lực, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt động đào tạo lực lượng lao động, đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động.

    1.1.3        1. Vĩ mô.

    Trên quan điểm vĩ mô, nhà nước luôn luôn có những chính sách để đầu tư phát triển nguồn nhân lực hiệu quả nhất. Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng việc phát triển mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia. Gia nhập WTO được gần 2 năm, Việt Nam gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít thách thức trên con đường phát triển. Trong đó có việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực thế nào để đạt hiệu quả? Chúng ta sẽ nghiên cứu nội dung của vấn đề này để từ đó tìm ra những giải pháp và hướng đi đúng đắn cho bài toán nan giải này. Về cơ bản, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung sau:

    – Đầu tư cho hoạt động giáo dục đào tạo ( chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ…)

    – Đầu tư cho công tác chăm sóc sức khoẻ.

    – Đầu tư cho tiền lương.

    – Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động.

    1.1.3.      1.1. Đầu tư cho giáo dục

    Cùng với khoa học – công nghệ, vốn đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế – xã hội. Kinh tế nước ta có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới, thu hút được mạnh mẽ các nguồn đầu tư, đều phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nguồn nhân lực. Và giáo dục – Đào tạo có vai trò quyết định đối với việc hình thành quy mô và chất lượng nguồn nhân lực. Chính vì vậy, đầu tư nguồn nhân lực cũng là đầu tư vào giáo dục-đào tạo của đất nước. Đầu tư cho giáo dục đào tạo bao gồm các nội dung sau đây:

                            1.1.1. Đầu tư cho chương trình giảng dạy

    Chương trình giảng dạy là những nội dung sẽ được đưa vào giảng dạy tại các trường học, là những kiến thức mà người học sẽ trực tiếp thu nhận. Vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực có đảm bảo hay không là phụ thuộc nhiều vào chương trình giảng dạy có phù hợp với người học hay không, và khả năng tiếp thu của người học với những kiến thức đó là như thế nào. Nên đầu tư vào chương trình giảng dạy ở mỗi nước cần được coi trọng, và phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu trong công cuộc đầu tư vào giáo dục đào tạo. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

    – Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo.

    – Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

    – Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.

    – Giáo dục đại học và sau đại học (trong Luật gọi chung là giáo dục đại học), đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.

    Ngoài ra, bên cạnh hệ thống giáo dục quốc dân của Việt nam thì còn có các cơ sở giáo dục khác đóng góp vào phát triển nguồn nhân lực. Các cơ sở giáo dục khác bao gồm:

    – Nhóm nhà trẻ.

    – Các lớp độc lập: lớp mẫu giáo, lớp xoá mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin học, lớp dành cho trẻ em vì hoàn cảnh khó khăn không được đi học ở nhà trường, lớp dành cho trẻ tàn tật, khuyết tật, lớp dạy nghề và lớp trung cấp chuyên nghiệp được tổ chức tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

    – Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp; trung tâm dạy nghề; trung tâm giáo dục thường xuyên; trung tâm học tập cộng đồng.

    – Viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ.

    Quan điểm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu được khẳng định từ nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục trong quá trình phát triển đất nước, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Ở Việt Nam hiện nay chương trình giảng dạy chủ yếu là từ sách giáo khoa (SGK), và giáo trình. Nên SGK, cũng như giáo trình phải đảm bảo chuyển tải được những kiến thức cho người học một cách logic, đầy đủ, được gia công về mặt sư phạm một cách kĩ lưỡng, phù hợp với trình độ người học và thời gian học tập, có sự tham gia của các học giả, các nhà giáo kinh nghiệm để đảm bảo hệ thống kiến thức trong đó phải chính xác. Và ngoài phần kiến thức, SGK, giáo trình còn có một phần về rèn luyện các kĩ năng và các phương pháp giảng dạy môn học.

    Ở các nước trên Thế giới có nhiều nước, ở các cấp phổ thông có nhiều bộ SGK cho cùng một môn học, nhưng hiện nay ở Việt Nam mỗi môn học cấp phổ thông chỉ có một bộ SGK, hơn nữa hệ thống SGK còn khá hạn chế, dù đã cải cách, cũng như sửa đổi nhiều lần. Chương trình đào tạo của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo của xã hội nói chung.

                            1.1.2. Đầu tư về đội ngũ cán bộ giảng dạy và phương pháp dạy học

    Để tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, trước hết cần đầu tư cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, là những người hướng dẫn và trực tiếp truyền thụ kiến thức cho học sinh, sinh viên. Họ phải là những người có đầy đủ kiến thức chuyên môn, trình độ sư phạm, và đạo đức nghề nghiệp. Người học muốn giỏi cần có người dạy giỏi, vì vậy cần đảm bảo làm sao đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng, bảo đảm cơ cấu các Thầy, Cô giáo dạy đủ các môn, tăng cường chất lượng toàn đội ngũ, thanh lọc những người không đủ tiêu chuẩn giảng dạy cho đào tạo, bồi dưỡng bổ sung, làm cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng mạnh về chất lượng, tăng cường nề nếp, trật tự, kỷ cương.

    Phương pháp giáo dục cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu quả tiếp thu kiến thức của học sinh, sinh viên…Phương pháp dạy học có phù hợp, và thực sự cuốn hút mới có thể làm người học hứng thú với việc học. Ở nước ta hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau như

    – Phương pháp giáo dục truyền thống: Giáo viên là người truyền đạt một chiều đến học sinh, mà không có tương tác ngược lại giữa học sinh tới giáo viên. Giáo viên đọc, học sinh chép và hầu như chỉ học lượng kiến thức mà giáo viên cho ghi, không có sự sáng tạo.

    – Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức còn bản thân học sinh là người tự tìm hiểu kiến thức. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn còn học viên phải tự học hỏi, tự tìm tòi qua sách báo và các phương tiện khác. Theo phương pháp này thì học sinh chủ động hơn trong cách học, vì vậy tăng khả năng sáng tạo, tìm tòi của học sinh, sinh viên.

    Ở Việt Nam, thì phương pháp giáo dục truyền thống vẫn phổ biến hơn cả. Dù chúng ta đang dần thay đổi phương pháp dạy học, song việc thay đổi cần sự đầu tư cả về thời gian cũng như đầu tư về cơ sở vật chất. Đầu tư về đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy là nhân tố quan trọng cho việc phát triển giáo dục đào tạo, rất cần sự quan tâm của nhà nước.

                            1.1.3. Đầu tư về cơ sở hạ tầng vật chất cho giáo dục

    Giáo dục là sự nghiệp chung, Nhà nước chăm lo xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục và ban hành những chính sách phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Một trong những nội dung đầu tư giáo dục đào tạo là đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục. Nhà nước ta hiện nay đã đầu tư ngân sách cho giáo dục một phần không nhỏ, trong đó có đầu tư xây dựng trường học, trang thiết bị trường học phục vụ cho việc dạy và học, các công cụ cho phương pháp giảng dạy mới như giảng dạy bằng slide, thảo luận, hội thảo…Đặc biệt ngân sách cho đầu tư phát triển hệ thống trường học đào tạo nghề tăng cao…Việc đào tạo nghề đang được nước ta coi là quốc sách đầu tư quan trọng, là nhân tố cho việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Bên cạnh việc đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng giáo dục tại thành thị, nhà nước quan tâm đến việc xây dựng trường học tại vùng sâu vùng xa miền núi, hay hải đảo.

    1.1.3.      1.2. Đầu tư cho y tế

    Sức khoẻ là vốn quý của con người. Để có thể sống, học tập và làm việc một cách hiệu quả và năng suất thì con người cần phải có sức khoẻ tốt. Có thể khẳng định rằng đầu tư chăm sóc sức khoẻ con người hay đầu tư vào lĩnh vực y tế cũng là đầu tư phát triển.

    Đặc biệt, đầu tư phát triển nguồn nhân lực thì không thể không đầu tư phát triển y tế và chăm sóc sức khoẻ người lao động. Dịch vụ y tế được coi là hàng hoá không thể thẩm định được. Vì vậy, đầu tư vào lĩnh vực này cũng có nhiều điểm khác biệt với các ngành khác.

    Trên góc độ vĩ mô, đầu tư phát triển trong lĩnh vực y tế bao gồm một số nội dung sau:

                            1.2.1. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng khám chữa bệnh.

    Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân thì ở đâu cũng có, vì vậy hệ thống bệnh viện cần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh mọi nơi, mọi lúc.

    Hệ thống bệnh viện có thể chia làm 3 tuyến chính:

    • Tuyến cơ sở: thường là các trạm y tế xã, phường… với trang thiết bị thô sơ, nhân viên y tế thường chỉ là y tá, y sĩ trình độ không cao lắm, chỉ có thể đáp ứng nhu cầu tạm thời, sơ cứu trong những trường hợp khẩn cấp.
    • Tuyến địa phương: là những bệnh tuyến huyện, tuyến tỉnh… có đội ngũ y bác sĩ trình độ cao hơn, đáp ứng hầu hết nhu cầu khám chữa bệnh trong địa phương trực thuộc.
    • Tuyến trung ương: bao gồm những bệnh viện tập trung đội ngũ y bác sĩ lành nghề, máy móc thiết bị hiện đại… chuyên khám chữa những ca bệnh nguy hiểm, phức tạp…

    Đầu tư cơ sở hạ tầng bệnh viện bao gồm xây dựng phòng khám, trang bị giường bệnh và những dụng cụ y tế cơ bản, đảm bảo đầy đủ để có thể khám chữa bệnh cho người dân.

                           

                            1.2.2. Đầu tư sản xuất, lắp đặt trang thiết bị y tế (TTBYT).

    TTBYT bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân.

    Nghề y là một nghề đặc biệt mà ở đó cơ sở vật chất, phương tiện hành nghề chiếm vị trí cực kỳ quan trọng – bác sĩ giỏi nhưng không có máy móc, TTBYT hiện đại, tiên tiến thì hiệu quả khám chữa bệnh cũng khó có hiệu quả cao.

    Đầu tư TTBYT phải dựa trên các tiêu chí sau:

    • Đảm bảo cung cấp đủ TTBYT cho bệnh viện các tuyến (tuyến cơ sở, tuyến địa phương và tuyến trung ương).
    • Từng bước hiện đại hoá TTBYT nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho người dân.
    • Ðào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành để khai thác sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa và kiểm chuẩn trang thiết bị y tế.
    • Phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế nhằm nâng cao dần tỷ trọng hàng hoá sản xuất trong nước và tiến tới tham gia xuất khẩu.

    Để thực hiện được những mục tiêu trên, chính phủ cần có những chính sách khuyến khích nghiên cứu và phát triển TTBYT trong nước, tìm tòi, sáng tạo những phương pháp chữa trị bệnh mới có hiệu quả ngày càng cao.

    Bên cạnh đó cũng cần có chính sách ưu đãi đối với hàng hoá TTBYT như giảm thuế nhập khẩu, củng cố và phát triển hợp lý hệ thống mua bán hàng hoá TTBYT…

    Đồng thời hỗ trợ hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, đảm bảo cho việc vận hành và bảo dưỡng TTBYT luôn làm việc hiệu quả, lâu dài.

    Đặc biệt là chính phủ phải có chính sách huy động vốn cho lĩnh vực này, vì TTBYT thường là những máy móc, dụng cụ có kỹ thuật phức tạp, hiện đại, yêu cầu kỹ thuật cao nên giá thành tương đối lớn. Có biện pháp thúc đẩy sản xuất, chế tạo TTBYT trong nước giúp hạ giá thành cũng như chi phí về trang thiết bị.

     

                            1.2.3. Đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên y tế.

    Nếu như khoa học cần có các nhà nghiên cứu, phát minh thì ngành y tế cũng không thể thiếu đội ngũ nhân viên y tế. Máy móc thiết bị có hiện đại bao nhiêu mà không có bác sĩ thì cũng không thể hoạt động được. Vì vậy, một đội ngũ nhân viên y tế lành nghề, có lương tâm trong mỗi cơ sở y tế luôn luôn là mục tiêu phấn đấu của xã hội. Vì vậy, đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên y tế là rất càn thiết.

    Trước hết, cần phải đầu tư đào tạo nhân viên y tế một cách bài bản, không chỉ có tay nghề giỏi mà còn có tấm lòng đối với bệnh nhân. Như Bác Hồ từng nói “Có tài mà không có đức thì cũng là người vô dụng”, đặc biệt là người thầy thuốc, cần nhấn mạnh về giáo dục tư tưởng, lòng nhiệt tình với nghề và lương tâm đối với người bệnh.

    Bên cạnh đó, dạy và học cần đi đôi với hành. Người thầy thuốc là người nắm sự sinh tử của bệnh nhân trong tay, nếu không được thực hành một cách kỹ lưỡng trước khi thực sự làm việc thì khó có thể lường trước được hậu quả.

    Chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ nhân viên y tế là không thể không chú trọng, người thầy thuốc mang trên mình trọng trách lớn lao yêu cầu tinh thần trách nhiệm lớn nhưng lại thường không được đánh giá đúng mực. Vì vậy, chế độ lương thưởng phù hợp giúp đội ngũ y bác sĩ có thể tập trung vào chuyên môn của mình mà không phải lo lắng đến những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.

    1.2.4. Y tế dự phòng và truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng.

    Thông thường người ta chỉ hay đi khám bệnh khi cảm thấy trong người không được khoẻ mà ít chú trọng tới việc phòng bệnh, khi ấy mới chịu bỏ ra rất nhiều chi phí để chạy chữa tốn kém mà thực tế chi phí cho việc phòng bệnh ít hơn rất nhiều. Vì vậy, đầu tư cho y tế dự phòng và truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khoẻ cộng đồng là góp phần giảm chi phí xã hội một cách hiệu quả.

    Đẩy mạnh nghiên cứu các biện pháp phòng chống những bệnh thường gặp, ngăn chặn ngay từ sớm nguy cơ mắc bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho người dân, giảm thiểu chi phí cho xã hội.

    Tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho người dân về những căn bệnh thường gặp và cách phòng chống qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Đưa vào trường học, cơ quan giáo dục chăm sóc sức khoẻ bản thân, đẩy lùi những nạn dịch có nguy cơ phát triển nhanh trong xã hội.

    1.1.3.      1.3. Đầu tư cho tiền lương

    Một số quan điểm cho rằng: Tiền lương là nhân tố có ảnh hưởng quyết định nhất tới quyết định chọn việc làm, thái độ làm việc của người lao động. Vậy nhà nước nói chung, và các doanh nghiệp nói riêng đã làm gì để thu hút, khuyến khích người lao động làm việc với hiệu quả công việc cao nhất.

    Có thể khẳng định tiền lương là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới quyết định làm việc của người lao động.

    Tăng lương cũng chính là tăng đầu tư nguồn nhân lực.

    + Tăng lương chính là một trong các biện pháp tăng đầu tư cho nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

    + Tăng lương chính là việc đầu tư cho con người. Đầu tư cho con người chính là một trong những hình thức đầu tư phát triển mang lại hiệu quả cao nhất, vì đây là việc đầu tư để nâng cao nguồn nhân lực.

    + Định hướng chính sách tiền lương cũng sẽ liên quan đến việc đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng được thu phí dịch vụ tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ về chi phí hoạt động.

    + Theo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, bên cạnh việc kiềm chế lạm phát, tăng cường công tác thanh kiểm tra của Nhà nước, Chính phủ cần sớm nghiên cứu trình Quốc hội ban hành Luật tiền lương tối thiểu, trong đó quy định rõ các nguyên tắc xây dựng thang bảng lương.

    Đầu tư xây dựng và điều chỉnh chính sách tiền lương thường xuyên để đảm bảo tính hợp lý: Quy định mức lương tối thiểu, thang bậc lương, phụ cấp và trợ cấp đối với các đối tượng đặc biệt.

    Đầu tư cho hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách tiền lương của các doanh nghiệp, đảm bảo tính công bằng cho người lao động.

    1.1.3.      1.4. Đầu tư cải thiện môi trường làm việc

    Khá nhiều nhận định cho rằng tiền lương không phải là yếu tố duy nhất quyết định tới nguồn lực. Ngoài tiền lương còn môi trường làm việc, điều kiện thăng tiến … Vậy môi trường làm viêc ảnh hưởng như thế nào tới quyết định làm việc của người lao động và nàh nước cũng như doanh nghiệp phải đầu tư như thế nào để có được môi trường làm việc tốt nhất cho người lao động, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực.

    Môi trường làm việc tốt là môi trường làm việc mà người lao động cảm thấy hứng thú với công việc của mình trong môi trường đó.

    Nhà nước đã có những chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mang lại cho người lao động môi trường làm việc hiệu quả nhất. Bên cạnh đó nhà nước cũng đầu tư cơ sở hạ tầng khu vui chơi giải trí phục vụ cho người dân, nâng cao đời sống nhân dân, giúp cho người lao động có thể lấy lại cân bằng sau những ngày làm việc mệt mỏi. Vậy chính phủ đầu tư vào những lĩnh vực gì, cần đầu tư vào những lĩnh vực gì tiếp theo. Đó là câu hỏi luôn được cac nhà quản lý tìm câu trả lời thích hợp để mang lại không gian làm việc thoải mái cho người lao động, nhằm nâng cao chất lượng lao động, nâng cao năng suất lao động của nguồn nhân lực nước ta. Với các hoạt động cụ thể như quy định những điều kiện cần thiết về công đoàn, môi trường làm việc tối thiểu cho người lao động nói chung. Nhà nuwocs có một cơ chế đúng với việc cải thiện môi trường làm việc của người lao động. Và luôn luôn có những chế tài định chế phù hợp để tạo công bằng cho người lao động nói chung và cải thiện môi trường làm việc nói riêng.

    Đầu tư cho tăng cường điều kiện lao động

    • Đầu tư tăng cường bảo hộ lao động.
    • Đầu tư giảm tai nạn lao động.

    1.1.4        2. Vi mô

    1.1.4.      2.1. Các doanh nghiệp đầu tư cho nâng cao trình độ người lao động.

    Giáo dục – Đào tạo có vai trò quyết định đối với việc hình thành quy mô và chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp và các nhà tuyển dụng. Nghiên cứu nội dung đầu tư vào giáo dục-đào tạo ở tầm vi mô gồm những nội dung sau:

                            2.1.1. Đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực tại nhà trường đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp:

    Giáo dục đại học và kỹ thuật nghề nghiệp là bộ phận chủ yếu tạo ra nguồn nhân lực trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhưng giáo trình ở bậc đại học còn nhiều hạn chế trong việc cập nhật thông tin tình hình thực tế, việc dạy và học thụ động vẫn còn tồn tại làm giảm khả năng sáng tạo cũng như làm sinh viên có tâm lý ỷ lại, phụ thuộc vào giáo trình…. Chương trình giảng dạy ở các trường kỹ thuật nghề nghiệp còn chưa hiệu quả, các loại hình dạy nghề còn chưa đa dạng. Hiện nay đào tạo tại các nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, giải quyết việc này cần sự nỗ lực của 3 phía: nhà tuyển dụng, người học, nhà trường.

    Nhiều trường đại học đã có chuyển rất mạnh sang mô hình đào tạo theo nhu cầu, chủ động tìm đến doanh nghiệp tìm kiếm sự hợp tác, tìm kiếm “khách hàng”. Nhiều doanh nghiệp đã tài trợ cho nhà trường với số trang thiết bị lên đến hàng triệu USD.Và nhà trường cũng phối hợp để điều chỉnh, thay đổi chương trình giảng dạy cho phù hợp.

                                        2.1.2. Đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực của chính các doanh nghiệp

    Hiện tượng “khát” nhân lực có tay nghề diễn ra ở hầu hết các khu công nghiệp và khu chế xuất và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp xác định rằng đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai. Doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp với việc đào tạo nhân lực..Và ngày càng quan tâm đến việc tham gia vào công tác đào tạo, khắc phục tình trạng thừa lao động chưa được đào tạo, thiếu lao động có kỹ năng theo tiêu chuẩn công nghiệp. Nhà tuyển dụng không chỉ nói rõ nhu cầu của họ với nhà trường về các kỹ năng họ yêu cầu, mà còn trực tiếp tham gia vào công tác đào tạo.

    Hiện nay dù việc các doanh nghiệp tham gia đào tạo còn gặp nhiều khó khăn nhưng họ vẫn liên tục xây trường học, mở nhiều lớp đào tạo kỹ năng, tặng học bổng cho sinh viên các trường đại học và kỹ thuật chuyên nghiệp, thực hiện các dự án giáo dục cộng đồng.

    1.1.4.      2.2. Doanh nghiệp đầu tư cho y tế

    Thông thường đầu tư trong lĩnh vực y tế do chính phủ bỏ vốn là chủ yếu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng không được xem nhẹ hoạt động này trong nội bộ doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp muốn phát triển thì phải có đội ngũ nhân viên có đủ sức khoẻ để làm việc với hiệu quả tốt nhất.

    Xét trên góc độ doanh nghiệp, đầu tư phát triển y tế bao gồm:

                            2.2.1. Đầu tư phát triển cơ sở vật chất trạm y tế trong công ty.

    Nếu như bệnh viện là nơi người dân tìm đến khi có dấu hiệu sức khoẻ không bình thường thì trạm y tế là nơi nhân viên trong công ty tìm đến khi cảm thấy không khoẻ mạnh.

    Đầu tư cơ sở vật chất trên tầm vóc doanh nghiệp thì mức độ tuỳ thuộc vào quy mô doanh nghiệp. Cơ bản là phải đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của lao động trong cơ quan, có thể xử lý tạm thời những ca nghiêm trọng nhằm làm giảm nguy cơ xấu cho người bệnh.

                            2.2.2. Đầu tư hoạt động tổ chức khám chữa bệnh định kì cho người lao động.

    Mỗi ngành nghề có một đặc thù riêng nhưng hầu như ngành nào cũng sẽ có bệnh nghề nghiệp. Tổ chức khám chữa bệnh định kì cho nhân viên vừa đảm bảo phát hiện kịp thời và chữa đúng bệnh, vừa làm an tâm người lao động, giúp họ yên tâm sản xuất, kinh doanh.

    Doanh nghiệp nên lập kế hoạch khám bệnh cho nhân viên thường xuyên, khám toàn diện và kỹ càng, đảm bảo sức khỏe người lao động.

                            2.2.3. Tuyên truyền phòng chống dịch bệnh.

    Dịch bệnh không chừa một ai, vì vậy các doanh nghiệp cần chú ý tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho nhân viên về những bệnh thường gặp. Tổ chức các buổi giáo dục phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường làm việc lành mạnh, giảm nguy cơ nhiễm bệnh

    1.1.4.      2.3. Tiền lương trong doanh nghiệp

                            2.3.1. Tiền lương.

    Doanh nghiệp với các chiến lược riêng của mình cũng đã có những tác động nhất định tới tiền lương nhằm khuyến khích người lao động làm việc với hiệu quả và năng suất cao nhất.

    Đối với doanh nghiệp thì tiền lương là 1 khoản chi phí cấu thành chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Tiền lương phải trả cho công nhân là yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.

    Các doanh nghiệp cũng đã sử dụng tiền lương làm đòn bấy để nhằm khuyến khích người lao động làm việc hiệu quả hơn và thu hút nhân tài cho doanh nghiệp mình. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề tiền lương tới thái độ và cung cách, hiệu quả làm việc của người lao động. Trong những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp đều có những chiến lược với việc trả lương.

    Việc trả mức lương như thế nào cho người lao động cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Tùy vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp, điều kiện làm việc của người lao động mà nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có những điều chỉnh mức lương phù hợp nhằm đạt hiệu quả của người lao động, và chi phí phù hợp nhất cho sản phẩm hay dịch vụ mà công ty cung cấp.

                            2.3.2. Tiền thưởng

    Gần đây, tiền thưởng cho nhân viên là một nét văn hóa trong kinh doanh của người Việt Nam. Các doanh nghiệp cũng đã tận dụng tốt điều này để khuyến khích người lao động gắn bó với doanh nghiệp. Tiền thưởng cũng là một yếu tố quan trọng khẳng định thương hiệu của doanh nghiệp, những doanh nghiệp ăn nên làm ra thườn có mức thưởng lớn cho nhân viên của mình. Vậy các doanh nghiệp đã áp dụng những chính sách tiền thưởng như thế nào?

    Tiền thưởng: là một khoản tiền tặng không mà người được phục vụ trả cho người phục vụ để khuyến khích và động viên người phục vụ. Tiền thưởng có thể bằng tiền hoặc một giá trị như cổ phiếu.

    Có nhiều loại tiền thưởng:

    • Tiền thưởng người mua là khoản tiền mà người bán thưởng cho người mua khi đã mua tới một kim ngạch nhất định, trong một kì hạn nhất định; có thể biểu thị bằng một khoản giảm giá mà người bán dành cho người mua;
    • Tiền thưởng xuất khẩu là khoản tiền nhà nước thưởng cho các nhà xuất khẩu về việc đã xuất được những mặt hàng cần đẩy mạnh xuất khẩu hoặc đã xuất được vào những thị trường khó cạnh tranh, Tiền thưởng này có thể biểu thị bằng một khoản thuế được miễn giảm, hoặc bằng một tỉ giá hối đoái ưu đãi;
    • Tiền thưởng hoàn thành kế hoạch là khoản Tiền thưởng dành cho đơn vị hoặc cá nhân đã hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh về giá trị, khối lượng và tiến độ…;
    • Tiền thưởng cuối năm là khoản tiền mà một xí nghiệp hay hãng công ti thưởng cho người làm công vào dịp cuối năm…;
    • Tiền thưởng phát minh, sáng kiến;
    • Tiền thưởnghoàn thành nhiệm vụ đột xuất.

    Trong các doanh nghiệp, Tiền thưởng là khoản tiền ngoài lương mà người sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận còn lại hàng năm (sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước) để thưởng cho người lao động đã làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp.

    Mức tiền thưởng phần nào thể hiện được tình hình kinh doanh của công ty trong năm. Vì vậy các doanh nghiệp luôn muốn công khai mức tiền thưởng của mình là một kênh markerting cho công ty, và doanh nghiệp cũng muốn tiền thưởng cho công nhân ở mức cao hơn các doanh nghiệp khác cùng ngành để khuếch trương uy tín công ty.

    Mức tiền thưởngphù hợp, đúng người đúng việc sẽ khuyến khích đngười lao động. Nhưng bên cạnh đó nó cũng chứa đựng mặt trái, gây gánh nặng cho các doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ vẫn phải chi một khoản lớn để thưởng cho nhân viên mặc dú công ty đang làm ăn chưa thuận lợi.

    1.1.4.      2.4. Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của công nhân trong doanh nghiệp

    “Doanh nghiệp tìm đỏ cả mắt” đó là câu mà các chuyên gia kinh tế hay nhắc tới khi nói tới nguồn nhân lực của các doanh nghiệp. Hiện nay, các doanh nghiệp cũng đã có những chế tài phù hợp để thu hút nguồn nhân lực cho riêng doanh nghiệp của mình. Vậy các doanh nghiệp cần phải làm gì để thu hút nguồn nhân lực cho doanh nghiệp mình và phát triển nguồn nhân lực với năng suất hiệu quả cao nhất.

    Người lao động mong muốn gì ở những gì từ những người lãnh đạo các doanh nghiệp: ngoài tiền lương, người lao động còn cần một môi trường làm việc phù hợp.

    Trước tiên, các doanh nghiệp nên có đội ngũ giám sát công sở và phản hồi của nhân viên. Người lãnh đạo cần phải biết nhân viên của họ yêu cầu và mong muốn gì? Một số doanh nghiệp đã dành hàng tháng trời để thăm dò các nhân viên để biết được các cuộc trao đổi, họp bàn diễn ra như thế nào và ở đâu là thích hợp nhất. Thách thức sau đó chính là cân bằng được các phản hồi này với thực tế. Môi trường làm việc chính là yếu tố quyết định tới thái độ hứng thú làm việc của người lao động, việc giám sát và phản hồi của nhân viên mang lại rất nhiều điều cho doanh nghiệp.

    Những thay đổi không gian cho tập thể. Một trong những lời phàn nàn phổ biến nhất là cách bố trí phòng làm việc không hợp lý, không tạo điều kiện thuận cho giao tiếp xã hội trong doanh nghiệp. Hiện nay một số doanh nghiệp cũng đã có những khoản đầu tư thích hợp để cải thiện môi trường làm việc cho người lao động.

    Ngắt quãng cho giải trí và các trò chơi. Việc này giúp cho nhân việc có thể thư giãn đầu óc, tạm dừng suy nghĩ về công việc. Điều này sẽ làm nhân viên cảm thấy bớt căng thăng trong giờ làm việc. Và những không gian làm việc, mang tính cộng tác còn thu hút nhiều nhân viên triển vọng đến làm việc. Doanh nghiệp cần đầu tư

    – Đầu tư tăng cường điều kiện lao động.

    – Đầu tư tăng cường bảo hộ lao động.

    – Đầu tư giảm tai nạn lao động.

    – Đầu tư cho bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội.

    1.1.5        3 Vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    1.1.5.      3.1 Vĩ mô:

    Nguồn nhân lực là nguồn lực con người – là một trong những nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Vai trò của nguồn nhân lực thể hiện trong các mặt sau:

                            3.1.1. Nguồn nhân lực là động lực phát triển kinh tế – xã hội:

    Cùng với khoa học – công nghệ, vốn đầu tư, nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế – xã hội ở nước ta. Chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Không thể không khẳng định vai trò của con người trong việc sáng tạo ra công cụ lao động, rồi vận hành và cải tiến chúng trong quá trình lao động, từ đó thúc đẩy quá trình sản xuất. Nguồn lực của con người  chính là tổng hợp năng lực được huy động vào trong quá trình sản xuất. Năng lực đó chính là động lực quan trọng cho sự phát triển.

    Với mỗi quốc gia, nguồn nhân lực là nguồn lực dồi dào cần cho sự phát triển. Đặc biệt, đối với nước ta có nền kinh tế đang phát triển, với dân số đông,và dân số trẻ là tiềm năng cho nguồn nhân lực dồi dào. Nếu biết khai thác hợp lý nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển.

                3.1.2. Nguồn nhân lực là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội:

    Phát triển kinh tế-xã hội là nhằm  phục vụ nhu cầu của con người, cải thiện đời sống con người, làm xã hội ngày càng hiện đại, văn minh. Con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội, nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng.

    Có thể khẳng định rằng nhu cầu tiêu dùng của con người cũng là nhân tố quyết định tác động tới quá trình sản xuất, định hướng cho sản xuất thông qua quá trình vận động cung-cầu trên thị trường. Trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó và ngược lại. Đời sống con người ngày càng được cải thiện thì nhu cầu của con người cả về vật chất và tinh thần cũng tăng lên, những nhu cầu đa dạng đó làm tác động tới sự phát triển của xã hội, vì con người không chỉ là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội mà còn tạo điều kiện tự hoàn thiện mình.

    3.1.3. Nguồn nhân lực là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển

    Lịch sử phát triển của loài người, từ thời kỳ đồ đá đến thời kỳ hiện đại đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm của con người đã làm tăng động lực phát triển xã hội. Như vậy, động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. Điều đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển.

    1.1.5.      3.2. Vi mô

    1.1.5.      Nguồn nhân lực có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp

    Một doanh nghiệp muốn có sức mạnh để phát triển cần phải có được đội ngũ lao động có trình độ tay nghề thỏa mãn nhu cầu công việc ,và nguồn chất xám cũng như nhân lực kỹ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Doanh nghiệp đã kinh doanh là muốn thành công, nên cái gì thực sự có ích cho họ thì họ sẽ làm. Thời gian trước doanh nghiệp tham gia vào đào tạo còn ít là bởi rất nhiều đơn vị chỉ dừng ở phương thức sản xuất gia công, nên nhu cầu nhân lực trình độ cao còn ít. Và gần đây khi lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng, các doanh nghiệp cần phát triển các sản phẩm mới sâu hơn thì lúc đó xuất hiện nhu cầu nhân lực trình độ cao.

    Để đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nói chung, cũng như vì sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, việc tuyển dụng nhân lực của mỗi doanh nghiệp phải có những đòi hỏi cao về chất lượng, về kỹ năng mềm cũng như chuyên môn của người lao động.

     

    1.1.5.      4. Đặc điểm của đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Nhân lực không chỉ đơn thuần là một trong những nguồn lực sản xuất, mà đó còn là nguồn lực có khả năng quyết định việc tổ chức, sử dụng các nguồn lực khác, là chủ thể tích cực của tất cả các hoạt động sản xuất và hoạt động thị trường. Trong khi các nguồn lực tự nhiên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, nếu không được con người khai thác trong quá trình lao động thì sẽ trở thành vô dụng, thì lao động là nguồn lực duy nhất có khả năng phát hiện, khơi dậy và cải biến các nguồn lực tự nhiên và xã hội khác. Chỉ có con người mới có khả năng nhận biết các quy luật. Ta chỉ có thể thuê vốn con người.

    Lợi ích có được từ đầu tư vào nhân lực mang một số đặc trưng khác hẳn với các loại đầu tư khác.

    Đầu tư vào nguồn nhân lực không hề bị giảm giá trị trong quá trình sử dụng mà ngược lại càng được sử dụng nhiều, khả năng tạo thu nhập và do vậy thu hồi vốn càng cao.

    Đầu tư vào nguồn nhân lực có chi phí tương đối không cao trong khi đó khoảng thời gian sử dụng lại lớn, thường là khoảng thời gian làm việc của một đời người.

    Các hiệu ứng gián tiếp, và hiệu ứng lan tỏa của đầu tư và vốn nhân lực là rất lớn. Trình độ nhân lực trung bình ở một nước cao hơn cũng cho phép tăng trưởng kinh tế tốt hơn và điều chỉnh tốt hơn đối với các vấn đề dân số, kế hoạch hóa gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác.

    Đầu tư vào con người không chỉ là phương tiện để đạt thu nhập mà còn là mục tiêu của xã hội, giúp con người thưởng thức cuộc sống đầy đủ hơn.

    Đầu tư vào con người không chỉ do tỷ lệ thu hồi đầu tư trên thị trường quyết định.

    Tuy nhiên, như đã nói ở trên, các lợi ích thu được từ đầu tư vào nguồn vốn nhân lực thu được chỉ trong điều kiện được sử dụng hiệu quả và có môi trường phát triển phù hợp và thuận lợi. Ngược lại sẽ là sự lãng phí đầu tư. Trong mọi sự lãng phí, lãng phí nguồn nhân lực con người là mất mát to lớn và đáng sợ nhất

     

    1.1.5.      5.Các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    5.1. Vốn.

    Đặc điểm đầu tiên của đầu tư phát triển chính là hoạt động này cần lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng không phải là ngoại lệ. Thậm chí đây còn là lĩnh vực cần nhiều vốn như: đầu tư giáo dục với những thiết bị dạy học quy mô và hiện đại, đầu tư y tế thì cần những trang thiết bị y yêu cầu độ chính xác cao, hệ thống xử lý rác thải y tế cực kì tốn kém, còn trong đầu tư cải thiện chế độ làm việc thì cần nhiều vốn mới có thể cung cấp cho người lao động cuộc sống vật chất và tinh thần không quá nghèo nàn. Vì vậy, để đầu tư phát triển nguồn nhân lực một cách có hệ thống cần rất nhiều vốn.

    Việc thu hút nguồn vốn cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, ví dụ như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất và tỷ giá hối đoái, thu nhập của người dân…

                            5.2. Các phương hướng, chiến lược của nhà nước về đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Thông thường, đầu tư bao giờ cũng phải dựa trên phương hướng, chiến lược phát triển của ngành, vùng, đất nước. Đầu tư nguồn nhân lực phù hợp chiến lược phát triển quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi xin tài trợ vốn, vay vốn, xin cấp phép đầu tư…

                           

    5.3. Trình độ phát triển của đất nước.

    Khi đất nước còn nghèo, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp cần nhiều lao động, phát triển nguồn nhân lực ít được chú trọng, chủ yếu chỉ là sự gia tăng dân số nhằm đảm bảo nhu cầu lao động.

    Khi đất nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bắt đầu thể hiện vai trò của mình vì lao động trong các xí nghiệp ít nhất cũng phải có tay nghề và cần được đào tạo.

    Trong xã hội liên tục đổi mới và phát triển, mở cửa và hội nhập hiện nay, đầu tư phát triển nguồn nhân lực trở nên cực kì quan trọng. Phát triển nguồn nhân lực không còn đơn giản là gia tăng số lượng hay đào tạo lao động công nghiệp giản đơn nữa. Mà người lao động thời đại này cần tri thức, sự hiểu biết nhiều hơn. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cần có định hướng, chiến lược quy mô và toàn diện.

     

    Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển nguồn nhân lực Việt Nam từ năm 2000 đến nay

     I. Tình hình đầu tư phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam từ năm 2000 đến nay.

    1.1.6        1. Tình hình đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

    1.1.6.      1.1. Tình hình chi ngân sách cho giáo dục đào tạo:

    Theo các báo cáo của Bộ GD&ĐT, ngân sách nhà nước cho giáo dục năm 2006 tăng so với năm 2005 là 13.940 tỷ đồng, năm 2007 tăng so với năm 2006 là 11.400 tỷ đồng. Riêng phần ngân sách cho chi thường xuyên của năm 2006 là 42.625 tỷ đồng, của năm 2007 là 51.860 tỷ đồng.  Trong giai đoạn 2002 – 2006, Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT đã tăng gấp 2,4 lần, từ hơn 22.600 tỷ đồng năm 2002 lên đến gần 55.000 tỷ đồng năm 2006. Tỷ trọng chi Ngân sách nhà nước cho GDĐT trong GDP tăng từ 4,2% (năm 2002) lên 5,6% (năm 2006). Theo Thứ trưởng Bộ Tài Chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn, đây là mức chi cao so với các nước trong khu vực và thế giới dành cho GDĐT. Trong đó, chi thường xuyên cho GD Đại học đã tăng hơn 2,4 lần trong giai đoạn 2002 – 2006. Từ năm 2000, chi ngân sách cho GDĐT từ 15%, đã tăng đến năm 2008 là 19,7%. Tỷ trọng chi Ngân sách nhà nước cho GD ĐT trong GDP tăng từ 3,0%năm 2000 đến 5,9% năm 2008

    Bảng chi Ngân sách nhà nước cho GDDT qua các năm

    Năm Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT trong GDP (%) Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT (% so với tổng chi Ngân sách nhà nước) Trong đó
    Chi thường xuyên (% so với tổng chi về GDĐT) Chi Chương trình MTQG (% so với tổng chi về GDĐT) Chi đầu tư (% so với tổng chi về GDĐT)
    2000 3.0 15,0 71,6 4,8 23,5
    2001 4,1 15,3 73,0 4,0 22,3
    2002 4,2 15,6 71,0 4,0 24,9
    2003 4,7 16,4 81,7 4,3 14,0
    2004 4.9 17,1 79,0 4,3 16,7
    2005 5,1 18,1 79,8 4,3 15,9
    2006 5,6 18,4 82,5 5,4 17,5
    2007 5,6 18,1 77,6 5,1 17,2
    2008 5,9 18,2* 73,9 8,9 17,2

    Nguồn: Số liệu thống kê giáo dục. Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ GD&ĐT

    Ghi chú: (*) Tỷ lệ này sẽ là 19,7% nếu tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ chi cho chương trình kiên cố hóa trường học.

    Theo những số liệu trên ta có thể thấy đó là những cố gắng của nhà nước trong việc đầu tư cho giáo dục đào tạo nguồn nhân lực. Để nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu chung của xã hội và trên thế giời, cần nguồn vốn rất lớn cho đầu tư về mọi mặt của giáo dục.

    Về vấn đề  xã hội hoá giáo dục, tính đến ngày 30-10-2007, đã có 31 bộ, ban, ngành ban hành cơ chế chính sách thuộc thẩm quyền nhằm đẩy mạnh phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; sắp xếp các trường trực thuộc theo hướng đa dạng hóa. Hầu hết các tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án Xã hội hóa giáo dục.

    Xét năm 2006, đối với tất cả các trường công lập từ mầm non đến đại học, tổng chi từ Ngân sách nhà nước (kể cả công trái giáo dục và xổ số kiến thiết) là 59.239 tỉ đồng, chiếm 87,2%. Đóng góp của người dân (bao gồm học phí, xây dựng trường học, học thêm…) cho hệ thống giáo dục khoảng 8.658 tỉ đồng (chiếm 12,8%). Nếu tính đóng góp của người dân cho hệ thống giáo dục đào tạo là chi học tập của con em ở trường công lập và cả trường ngoài công lập thì tỷ lệ đóng góp của nhà nước cho giáo dục đào tạo cả nước là 75%, tỷ lệ đóng góp của người dân là 25%.

    Từ chủ trương Xã hội hoá, bộ mặt trường lớp đã ngày càng khang trang hơn: Trong 4 năm  (2002-2006), cả nước có 74.011 phòng học mới được xây dựng; góp phần xóa 4.206 phòng học 3 ca; thanh toán 55.848 phòng học tạm tranh tre nứa lá… Tổng số vốn đã huy động cho kiên cố hóa trường lớp là 9.310 tỉ đồng, ngân sách Trung ương hỗ trợ 5.223 tỉ đồng; ngân sách địa phương: 3.174 tỉ đồng. Các nguồn huy động từ nhân dân, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm là 913 tỉ đồng. Tiêu biểu như tại Đồng Nai, trong 3 năm từ 2003-2006 đã huy động 511 tỉ đồng từ ngân sách địa phương thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường lớp học, tạo nên một diện mạo mới về trường lớp trên địa bàn với 2.200 phòng học, 49 ngôi trường mới, nâng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 35 trường.

    Đầu tư Ngân sách nhà nước về giáo dục hiện đã đảm bảo được kinh phí cho giáo dục phổ cập, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ trọng điểm, ưu tiên vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người. Nhiều dự án tài trợ và vốn vay nhằm hỗ trợ giáo dục các vùng khó khăn, dân tộc ít người đã được triển khai và góp phần tạo cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho trẻ nghèo như: Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em hoàn cảnh khó khăn tại 222 huyện với 5.000 trường tiểu học và 15.000 điểm trường lẻ; Dự án giáo dục tiểu học bạn hữu cho trẻ em…

    Sự đóng góp của người học và xã hội cho giáo dục đào tạo được thể hiện hết sức phong phú, đa dạng trong thực tế. Tính đến ngày 25-5-2007, cả nước đã có 150 tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tập thể và hơn 150 cá nhân có đóng góp xuất sắc cho giáo dục đào tạo với tổng số hơn 900 tỉ đồng; hơn 22.356.000 USD; 232.000 bảng Anh và 1.500.000m2 đất. Từ sự hỗ trợ này, hàng nghìn phòng học; hàng trăm nhà công vụ cho giáo viên, nhiều thư viện với các thiết bị dạy học,… đã được đưa vào sử dụng. Hiện nay, ngành giáo dục đã có mối quan hệ và hợp tác với 70 nước, hơn 20 tổ chức quốc tế và hơn 70 tổ chức phi chính phủ. Các nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức quốc tế bình quân hàng năm chiếm 7,5 – 8% tổng kinh phí dành cho giáo dục đào tạo. Đến nay, đã có khoảng 114 chương trình, dự án hợp tác với tổng kinh phí hơn 1.000 triệu USD.

    Vào tháng 8/2007, tại Hà Nội đã diễn ra lễ khởi động dự án Giáo dục Trung học cơ sở (THCS) vùng khó khăn nhất, bao gồm 103 huyện khó khăn của 17 tỉnh trên cả  nước , được biết  tổng đầu tư cho dự án là 64 triệu USD, trong đó có 50 triệu do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho vay và 14 triệu USD là nguồn vốn đối ứng của Việt Nam.

    Đầu tư cho giáo dục mầm non:

    Đầu tư cho giáo dục mầm non là một trong những nội dung quan trọng của đầu tư phát triển nguồn nhân lực, bởi lẽ đầu tư cho giáo dục mầm non là đào tạo con người trong những giai đoạn đầu đời- đây có thể là giai đoạn đầu tư hiệu quả – là nền tảng cho đào tạo các cấp cao hơn. Trong những năm qua nhà nước ta đã quan tâm đến đầu tư cho giáo dục mầm non phù hợp nhu cầu thực tế.

    Theo báo cáo của các tỉnh, thành, năm 2007 số trường mầm non và số trẻ ăn bán trú trong toàn quốc tăng rõ rệt, đứng đầu là TP.HCM (100% trẻ nhà trẻ và 93% trẻ mẫu giáo được ăn tại trường); kế đến là Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình, Bắc Giang… Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm từ 11% (năm 2005-2006) xuống còn 10%… Ở TP.HCM, hiện đã có 35/48 trường mầm non bán công chuyển sang công lập tự chủ về tài chính, hầu hết các trường vẫn được nhận kinh phí của Nhà nước từ 20 – 50% tổng mức chi hằng năm. Còn Hà Nội đang có dự án chuyển đổi 5 trường mầm non trọng điểm sang mô hình tư thục chất lượng cao, nhằm cạnh tranh với các trường mầm non dân lập chất lượng cao và các cơ sở giáo dục quốc tế đang mọc lên như “nấm sau mưa”.

    Dưới đây là bảng về quy mô giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2000-2008

    Đội ngũ giáo viên  mầm non cũng được nâng cao chất lượng và đạo đức nghề nghiệp. Về chế độ chính sách đối với giáo viên mầm non, giáo viên hợp đồng được hưởng chế độ tiền lương, các khoản phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, các danh hiệu tôn vinh nhà giáo như giáo viên trong biên chế, tiền lương, phụ cấp, các khoản bảo hiểm phải đóng được chi trả từ nguồn thu học phí và các khoản thu hợp pháp khác.

    Đối với những cơ sở giáo dục mầm non bán công, nếu nguồn thu nêu trên không đủ để chi trả tiền lương và đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho giáo viên hợp đồng thì phần còn thiếu được ngân sách nhà nước chi hỗ trợ để bảo đảm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trả tiền lương của những giáo viên này không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

    Đầu tư cho giáo dục cấp tiểu học, TH cơ sở, THPT :

    Sau giáo dục đào tạo mầm non, thì đầu tư giáo dục đào tạo cấp phổ thông là cơ sở hình thành cho sự phát triển nguồn nhân lực.

    Trong đó, giáo dục tiểu học là điều kiện cơ sở nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính vì vậy, thời gian qua Nhà nước dành ngân sách thích đáng để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học. Nhà nước có chính sách động viên các nguồn tài chính khác trong xã hội, lập Quỹ giáo dục quốc gia, nhằm hỗ trợ kinh phí cho sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học. Các trường tiểu học sẽ là những đơn vị chủ yếu tổ chức và kiểm tra bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên theo nhu cầu nhằm hoàn thiện năng lực sư phạm cho giáo viên theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp. Hiện nay, để phù hợp với điều kiện từng vùng, Vụ Giáo dục Tiểu học đang xây dựng chương trình “Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học – SEQAP” với đề xuất về 2 mô hình dạy học cả ngày: T30, T35 tuỳ theo điều kiện cụ thể của các trường. Theo đó, T30 (học 30 tiết/tuần) chủ yếu áp dụng cho các vùng khó khăn, tập trung tăng cường Tiếng Việt và Toán và dạy tiếng dân tộc; T35 (học 35 tiết/tuần) áp dụng cho vùng thuận lợi, cho trường thuận lợi ở vùng khó khăn. Đến năm 2025, phấn đấu các trường tiểu học trong cả nước sẽ học 35 tiết/tuần

    Về giáo dục cấp trung học cơ sở, tháng 8/2007, tại Hà Nội đã diễn ra lễ khởi động dự án Giáo dục Trung học cơ sở (THCS) vùng khó khăn nhất, bao gồm 103 huyện khó khăn của 17 tỉnh. Dự án được bắt đầu từ năm 2007 và kết thúc vào năm 2014. Mục tiêu dự án hướng tới là nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó khăn, vùng dân tộc, góp phần khắc phục tình trạng không đồng đều giữa các vùng, các dân tộc; hỗ trợ các mục tiêu về phổ cập giáo dục THCS, bình đẳng giới và chính sách đối với nhóm đối tượng đặc biệt; đồng thời tăng cường năng lực quản lý giáo dục.

    Trong những năm gần đây sự hình thành mạng lưới trường lớp  rất đa dạng, nhất là sự lớn mạnh của hệ thống trường ngoài công lập. Hiện nay, cả nước có 6.049 cơ sở mầm non ngoài công lập, chiếm 52,2%; 90 trường tiểu học, chiếm 0,61%; THCS: 49 trường, chiếm 0,47% và THPT có 617 trường, chiếm 26,2%; Hệ thống trường ngoài công lập đã đóng góp đáng kể vào việc chia sẻ trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi học tập của mọi trẻ em, tăng quy mô giáo dục.

    Trong năm học 2006 – 2007, trong khuôn khổ dự án phát triển THPT, Bộ GD-ĐT đã đầu tư 5,2 triệu USD mua sắm thiết bị bổ sung cho 64 trường THPT, 22 trường THPT nội trú, 4 trường THPT kỹ thuật, 4 trường sư phạm thực hành; sửa chữa, xây mới 1.400 phòng học, phòng thí nghiệm. Các tỉnh, thành phố đầu tư 480 tỉ đồng để xây mới 4.000 phòng học.

    Đầu tư phát triển giáo dục đại học, cao đẳng, kỹ thuật chuyên nghiệp

    Để huy động thêm các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học (GD ĐH), Nhà nước đã đầu tư bằng các Dự án ODA và nhiều Dự án nâng cao năng lực GD ĐH bằng các nguồn vốn viện trợ không hoàn lại khác. Ngoài ra, khuyến khích các cơ sở GD ĐH thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn và chuyển giao công nghệ để tăng nguồn thu. Tuy nhiên, so với nhu cầu của ngành GD, hàng năm các cơ sở GD vẫn thiếu kinh phí để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất. Nhà nước huy động các nguồn lực từ xã hội, vay tín dụng nước ngoài để bổ sung nguồn vốn cho phát triển GDĐT, xây dựng cơ sở vật chất cho các trường ĐH, CĐ.

    Ngoài ra, riêng chính sách về đất đai, Bộ TC đề nghị, các địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế thì khi quy hoạch đất làm khu công nghiệp, khu kinh tế phải dành một phần diện tích đất cho việc xây dựng trường, cơ sở đào tạo, không thu tiền thuê đất.

    Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tính đến tháng 7/2007, cả nước có 325 Học viện, trường ĐH, trường CĐ, trong đó có 155 ĐH, Học viện, trường ĐH; 170 trường CĐ (gồm cả các trường thuộc khối an ninh quốc phòng). Có 54 trường ĐH, CĐ ngoài công lập.Tổng số sinh viên CĐ, ĐH năm 2006 – 2007 là 1.415.563 (tăng 10,21% so với năm 2005 – 2006). Tỉ lệ sinh viên/giảng viên bình quân trung của cả hệ thống giáo dục ĐH năm học 2006 – 2007 là 27,15 sinh viên/1 giảng viên. Khối các trường ngoài công lập, bình quân 31,1 sinh viên/giảng viên.

    Các dự án đầu tư xây dựng trường đại học đã và đang được triển khai trên nhiều địa bàn. Thời gian gần đây, trước đòi hỏi của các nhà tuyển dụng, cũng như của xã hội, các trường đại học đang đầu tư điều chỉnh chương trình giảng dạy, đầu tư xây dựng mở rộng giảng đường, khu vực nghiên cứu khoa học, thư viện, phòng thí nghiệm, …các điều kiện cơ sở vật chất cho sinh viên, học viên…Các trường đại học đang liên kết với các doanh nghiệp, với ngân hàng, công ty thực hiện nhiều hội thảo hướng nghiệp, tạo mối liên kết , đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, ngoài các doanh nghiệp trong nước mà ta thường thấy ở các trường ĐH như: Vietcombank, Techcombank, Mobifone, ACCA…Nhiều trường còn liên kết đào tạo với các trường ĐH nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tạo ra một môi trường GD quốc tế, tiến tới ngang tầm khu vực và đạt trình độ thế giới.

    Về đầu tư phát triển trường đào tạo nghề, kỹ thuật chuyên nghiệp. Hiện cả nước có khoảng 355 cơ sở dạy nghề (CSDN) thuộc các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế, bao gồm: hơn 100 trường Trung cấp nghề (TCN), Cao đẳng nghề (CĐN) (trong đó có 47,57% trường ngoài công lập); còn lại khoảng 250 CSDN (trong đó có 67% ngoài công lập) và hàng trăm CSDN khác tham gia dạy nghề ngắn hạn.

    Những năm qua, bình quân mỗi năm các trường nghề thuộc doanh nghiệp đào tạo khoảng 90.000 – 100.000 học sinh hệ dài hạn và hàng trăm ngàn học sinh học nghề ngắn hạn Trường CĐN mỏ Hữu Nghị (bình quân 4.000 học sinh/năm); Các trường thuộc Tổng công ty VINASHIN hàng năm đào tạo được 6.000 – 7.000 học sinh…); Trường CĐN LILAMA 2 (bình quân 2.500 học sinh/năm). Qua gần 33 năm hoạt động, Trường Cao đẳng nghề dầu khí (trường đào tạo nhân lực dầu khí trước đây) đã đào tạo, bồi dưỡng cho các DN dầu khí hơn 60.000 lượt người với trên 100 chương trình; đào tạo được hơn 12.500 công nhân kỹ thuật vớí 27 nghề khác nhau…

    Trong thời gian qua bước đầu có sự gắn kết giữa nhà trường và DN trong dạy nghề. Có nhiều hình thức hợp tác giữa nhà trường và DN, như tổ chức cho học sinh thực tập, thực hành tại DN sau khi đã học lý thuyết tại trường (Trường CĐN LILAMA 1 và 2, các trường của VINASHIN…); DN đầu tư trang thiết bị thực hành cho trường (như tập đoàn Compal Đài Loan, Nhà máy đóng tầu VINASHIN, TOYOTA Việt Nam, một số DN của Tập đoàn LILAMA…); đào tạo theo hợp đồng của DN thông qua việc ký kết giữa địa phương với DN và trường hoặc trực tiếp giữa DN và trường (Hà Tây, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm, Hữu Nghị,…).

    1.1.6.      1.2. Tình hình đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp.

    Việt Nam đang trải qua giai đoạn phát triển rất nhanh, trong khi xã hội nói chung chưa được chuẩn bị để đối phó với những đòi hỏi mới về nhân lực chất lượng cao. Đầu tư vào việc đào tạo nhân viên ngay trong công việc là một giải pháp tự đáp ứng nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực. Song mỗi doanh nghiệp, tại mỗi thời điểm có những nhu cầu và điều kiện làm việc đặc thù, do đó khó có thể nói tới một hình thức đào tạo chung chung cho tất cả các công ty. Việc đào tạo nhân viên cũng trở thành một chiến lược kinh doanh đối với mỗi doanh nghiệp. Hiểu về các hình thức đào tạo khác nhau có thể giúp nhà lãnh đạo lựa chọn một hình thức phù hợp nhất với đặc điểm doanh nghiệp mình.

    Về việc đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp thời gian qua, việc đào tạo như thế nào cho hiệu quả với các doanh nghiệp đã trở thành vấn đề bức thiết, doanh nghiệp phải chọn cho mình một địa chỉ đào tạo đáng tin cậy. Các tiêu chí để chọn một dịch vụ đào tạo chất lượng bao gồm: chương trình học, danh sách giảng viên, lĩnh vực chuyên môn, danh sách khách hàng của dịch vụ, ý kiến phản hồi từ các khách hàng. Trong các doanh nghiệp luôn liên tục diễn ra tập huấn và tái tập huấn cho người lao động, đào tạo nhập môn cho người lao động mới làm.

    Với quan  điểm GD&ĐT phải là “bạn đồng hành” của doanh nghiệp, các doanh nghiệp chủ động gặp gỡ, tìm đối tác liên kết đào tạo, tháo gỡ những vướng mắc, điều phối sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường. Đào tạo nhân lực cho những doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 1 tỷ USD, doanh nghiệp cần thông báo sớm về nhu cầu đào tạo, tuyển dụng, mức lương dự kiến trả cho người lao động sau khi tốt nghiệp.

    Các doanh nghiệp hiện nay thường chọn các hình thức đào tạo nguồn nhân lực: 62% doanh nghiệp lựa chọn đào tạo tại chỗ theo nhu cầu công việc, tiếp theo là gửi nhân viên tập huấn lớp ngắn hạn, chiếm 30%, và tự mở lớp đào tạo, 8%. Đào tạo tại chỗ là cách rẻ nhất và nhanh nhất để phục vụ nhu cầu trước mắt của doanh nghiệp, nhưng về mặt chiến lược, hình thức này không trang bị được cho nhân viên những kiến thức bài bản, có hệ thống, do đó hiệu quả về lâu dài không cao

    Một số doanh nghiệp cho rằng mối lo ngại của họ sau khi gia nhập WTO là nạn chảy máu chất xám và đào tạo nguồn nhân lực. Việc các doanh nghiệp nước ngoài với môi trường làm việc chuyên nghiệp và mức lương hấp dẫn, chắc chắn sẽ thu hút được một số lượng lớn các lao động trẻ có tài năng. Để tránh tình trạng này, các doanh nghiệp đã  xây dựng cho minh một chiến lược phát triển nguồn nhân lực rõ ràng.

    Một số doanh nghiệp có cách tiếp cận rất hay. Chẳng hạn như bằng cách tài trợ cho chương trình của một trường đại học nào đó, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận với những sinh viên năng động để có thể phát triển, nuôi dưỡng tài năng cho doanh nghiệp. Cách khác có thể kết hợp với phòng đào tạo của nhà trường trong tuyển dụng, thường xuyên tổ chức các cuộc nói chuyện với sinh viên các trường đại học, vừa là để quảng bá về doanh nghiệp tới các bạn sinh viên, vừa là để lắng nghe tâm tư nguyện vọng của họ để có thể có được những chiến lược phù hợp trong công tác tuyển dụng và “giữ chân lao động”.

    Bên cạnh đó, có thể nhận thấy một điều rằng mặc dù biết đầu tư cho nguồn nhân lực là rất quan trọng, song việc đầu tư nhân lực trong doanh nghiệp vẫn hạn chế, bởi ít có khả năng thu hồi được lợi ích từ việc bỏ vốn cho giáo dục đào tạo. Do đó, các Doanh nghiệp không bao giờ đầu tư ở mức tối ưu. Có Doanh nghiệp thậm chí đã thôi không cử cán bộ đi học nước ngoài nữa. Hơn nữa, các Doanh nghiệp có xu hướng đầu tư vào các kỹ năng nào không chuyển giao được, ít đầu tư vào những kỹ năng và nghiên cứu cơ bản.

     

    1.1.7        2. Đầu tư cho y tế

    1.1.7.      2.1. Chi ngân sách cho đầu tư phát triển y tế.

    Việt Nam được đứng gần chót bảng xếp loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân (xếp thứ 183/190 nước), bởi trong tổng chi phí cho y tế, Nhà nước mới chỉ đóng góp 30%, người dân phải chi đến 60%, số còn lại từ các nguồn khác. Trong khi đó, theo WHO, để bảo đảm sự công bằng, phần của người dân phải dưới 50%.

    Trong thời kỳ vừa qua, Nhà nước ta cũng đã có quan tâm đầu tư trong lĩnh vực y tế.

    Từ biểu đồ thể hiện tỉ lệ chi ngân sách nhà nước cho y tế ta có thể thấy nhà nước ta đã nhận thấy vai trò quan trọng của đầu tư phát triển y tế, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước đã tăng gấp đôi trong vòng 8 năm từ 2000 đến 2008 (3,17% ngân sách nhà nước cho y tế năm 2000 tăng lên đến 6,1% năm 2008). Tuy nhiên, có thể nói tỷ lệ này vẫn còn rất thấp, Bộ y tế hiện đang có đề nghị tăng chi ngân sách cho y tế lên 10%.

    Về giá trị tuyệt đối của nguồn vốn đầu tư, ta có thể thấy dưới biểu đồ sau:

    Như vậy, ngay cả vốn chi ngân sách cho y tế cũng tăng lên đáng kể, từ 6189,5 tỷ đồng năm 2001 lên đến 27 463 tỷ đồng năm 2008. Điều này cũng có thể cho thấy sự gia tăng trong nhu cầu khám chữa bệnh của người dân kéo theo sự cần thiết phải đầu tư cho y tế.

    Bên cạnh đó, nhu cầu đầu tư rất lớn trong lĩnh vực y tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tăng lên nhưng mức chi tiêu cho y tế còn ở mức thấp so với thế giới (chỉ chiếm 1,48% GDP, trong khi của Mỹ là 15,3% GDP hay của Thái Lan là 6% GDP),

     

    1.1.7.      2.2. Tình trạng cơ sở vật chất khám chữa bệnh và đội ngũ nhân viên y tế.

     

     

     

    Bảng thống kê tình hình cơ sở vật chất khám chữa bệnh 2000 – 2007

    (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

    Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
    Số cán bộ ngành y (nghìn người) 173,5 176,4 181,6 184,6 188,6 194,1 200,2 211,3
    Số cán bộ y tế bình quân trên 1 vạn dân (người) 5 5,2 5,6 5,8 6,1 6,2 6,3 6,4
    Số giường bệnh tính bình quân trên 1 vạn dân (giường) 24,7 24,5 24,2 23,8 23,9 23,7 23,6 24,8
    Số cơ sở khám chữa bệnh (cơ sở) 13 117 13 172 13 095 13 162 13 149 13 243 13 232 13 438

    Qua số liệu dễ dàng nhận thấy, tuy số cán bộ y tế tuyệt đối tăng về số lượng (từ 173,5 nghìn người năm 2000 lên 211,3 nghìn người năm 2007) nhưng chưa theo kịp tốc độ tăng dân số. Tỷ lệ số cán bộ y tế bình quân trên 1 vạn dân là quá nhỏ, với tỷ lệ này thì trung bình 1 nhân viên y tế phải chăm sóc cho 1562,5 người (= 10 000/6,4), con số này là quá lớn, không thể đảm bảo chăm sóc sức khoẻ người dân một cách cẩn thận và chu đáo.

    Về số cơ sở khám chữa bệnh đã có sự gia tăng, từ 13 117 cơ sở năm 2000 lên 13 438 cơ sở năm 2007. Tuy nhiên, số giường bệnh lại quá ít. Bình quân 10 000 người mới có 24,8 giường bệnh. Tình trạng thiếu giường bệnh là hiện tượng không hề hiếm, đặc biệt là những bệnh viện tuyến trên, bệnh viện lớn, 2- 3 bệnh nhân nằm chung 1 chiếc giường nhỏ hẹp, không đảm bảo nhu cầu điều trị bệnh hiệu quả.

    Như vậy, đầu tư thế nào và đầu tư ra sao đang là vấn đề cấp thiết đối với ngành y tế nước ta.

     

    1.1.7.      2. 3. Tình hình cung cấp trang thiết bị y tế.

    Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về lĩnh vực trang thiết bị y tế còn quá ít và nghèo nàn, phạm vi hạn hẹp, quy chế thử lâm sàng phức tạp và quá tốn kém. Đáng nói, một số sản phẩm ít ỏi được nghiên cứu, sản xuất thành công, có giấy phép lưu hành nhưng khó tìm nơi bán, mặc dù các sản phẩm này, ở tất cả các cơ sở y tế đều thiếu trầm trọng.

    Phần lớn các trang thiết bị y tế hiện đại như máy X-quang các loại, hệ thống chụp cắt lớp vi tính CT- scanner, máy điện tim và nhiều thiết bị y tế khác như máy thở, máy gây mê, siêu âm…đều phải nhập khẩu. Các sản phẩm trang thiết bị y tế sản xuất trong nước đơn thuần là những trang thiết bị thông dụng, công nghệ thấp như thiết bị nội thất BV, vật tư y tế tiêu hao…

    Hầu hết TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao.

    Theo Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Thắng, đội ngũ giáo sư, bác sĩ Việt Nam rất giỏi chuyên môn, không thua kém bất cứ nước nào trong khu vực nhưng chúng ta lại thiếu một số TTBYT hiện đại để phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh nên nhiều bệnh nhân phải ra nước ngoài điều trị.

    Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết, bình quân trên toàn quốc chỉ có 0,79 cán bộ/bệnh viện đủ khả năng vận hành, khai thác và sửa chữa các TTBYT có trị giá hàng trăm triệu, thậm chí lên tới cả chục tỷ đồng.

    1.1.7.      2. 4. Về y tế dự phòng.

    Trong khi các bệnh dịch mới nguy hiểm như SARS, cúm H5N1 liên tiếp xuất hiện, các bệnh “cổ điển” như tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết vẫn hoành hành thì y tế dự phòng lại được đầu tư rất thấp, chỉ chiếm 10-12% trong đầu tư y tế, trong khi khuyến cáo của WHO là tối thiểu 30%. Xu thế của thế giới hiện nay là tập trung vào khâu phòng bệnh thay vì chỉ chú trọng chữa bệnh.

    Với mỗi tỷ đồng đầu tư cho y tế dự phòng có thể tiết kiệm cho chúng ta 4 tỷ đồng nếu để dịch bệnh xảy ra rồi mới lo chạy chữa. Vì vậy, Bộ y tế cũng đang có kiến nghị ngân sách nhà nước cấp vốn khoảng 30% đầu tư y tế để đảm bảo công tác phòng chống dịch bệnh, tiết kiệm chi phí.

     

    1.1.8        3. Đầu tư cho tiền lương

    1.1.8.      3.1. Vĩ mô

    Để bảo vệ quyền lợi của người lao động trước chủ lao động, Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới đều quy định định mức lương tối thiểu cho lao động. Khác với các nước trên thế giới áp dụng một mức lương tối thiểu chung cho cả nước thì chúng ta phân biệt mức lương tối thiểu ở doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự chênh lệch về mức lương tối thiểu giữa 2 khu vực này tạo ra lợi thế tương đối về chi phí của doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài. Đây là sự ưu đãi của chính phủ dành cho các doanh nghiệp trong nước khi sức cạnh tranh của chúng còn yếu, tuy nhiên 2 mức lương tối thiểu này sẽ dần được tăng lên theo hướng mức tăng ở doanh nghiệp trong nước tăng nhanh hơn mức tăng ở doanh nghiệp FDI. Dự kiến đến năm 2012, 2 mức lương này sẽ được thống nhất theo cam kết của Việt Nam gia nhập WTO.

    Lương tối thiểu ở Việt Nam có quá nhiều ràng buộc với hệ thống an sinh. Nếu như ở các nước, lương tối thiểu gắn với yếu tố lạm phát, thường được điều chỉnh kịp thời dựa trên những thay đổi về chỉ số giá sinh hoạt, thì ở Việt Nam, lương tối thiểu còn là cơ sở để điều chỉnh lương hưu, trợ cấp, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc. Mục đích của nhà nước là rất rõ ràng, đó là tạo ra sự công bằng hơn cho tất cả mọi đối tượng hưởng lương, nhưng điều đó lại tạo ra sự mất linh hoạt trong cơ chế điều chỉnh lương, đặt lên vai ngân sách nhà nước một gánh nặng quá lớn.

    Bảng 5: Mức lương tối thiểu chung áp dụng từ 1/1/2008

    Đơn vị :đồng/tháng

      Hà Nội, TP HCM Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Vũng Tàu (*) Địa bàn khác
    Doanh nghiệp trong nước 620.000 580.000 540.000
    Doanh nghiệp nước ngoài 1.000.000 900.000 800.000

     

     

     

     

    Bảng 5: Mức lương tối thiểu chung áp dụng từ 1/1/2009

    Đơn vị :đồng/tháng

      Vùng I Vùng II Vùng III
    Doanh nghiệp trong nước 800.000 740.000 690.000
    Doanh nghiệp nước ngoài 1.200.000 1.080.000 950.000

    Vùng 1: Doanh nghiệp hoạt động tại các quận và TP Hà Đông thuộc Hà Nội; các quận thuộc TPHCM

    Vùng 2: Doanh nghiệp hoạt động tại các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Thường Tín, Hoài Đức, Đan Phượng, Thạch Thất, Quốc Oai và TP Sơn Tây thuộc Hà Nội; các huyện thuộc TPHCM; các quận, huyện Thủy Nguyên, An Dương của Hải Phòng; các quận, huyện thuộc Đà Nẵng; các quận Ninh Kiều, Bình Thủy thuộc Cần Thơ; TP Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh; TP Biên Hòa, thị xã Long Khánh và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu, Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên của tỉnh Bình Dương; TP Vũng Tàu và huyện Tân Thành của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Vùng 3: Doanh nghiệp hoạt động tại các TP trực thuộc tỉnh (trừ các TP thuộc tỉnh nêu tại vùng 2) và các huyện còn lại của TP Hà Nội; một số TP, thị xã, huyện của các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh; TP Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc thuộc Lâm Đồng; TP Nha Trang, thị xã Cam Ranh thuộc Khánh Hòa; huyện Trảng Bàng thuộc Tây Ninh; các huyện còn lại của Bình Dương, Đồng Nai; thị xã Tân An và các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước thuộc tỉnh Long An; các quận, huyện còn lại thuộc TP Cần Thơ; thị xã Bà Rịa và các huyện Châu Đức, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu

    Vùng 4: Gồm Doanh nghiệp đóng trên các địa bàn còn lại 650.000, 920.000

    Mức lương tối thiểu năm 2009 đã tăng trung bình 20% so với năm 2008. Cho thấy việc quan tâm tới người dân lao động thông qua chính sách điều chỉnh mức lương cơ bản phù hợp với tình hinh flamj phát cũng như bảo bảo đời sống của người dân. Mức lương tối thiểu tăng lên đồng nghĩa với lao động của người lao động được trả với giá cao hơn. Nguười lao động sẽ có hứng thú hơn với công việc của mình. Tuy nhiên mức điều chỉnh lương cơ bản này vẫn chưa thực sự bảo đảm việc nâng cao đời sống của người lao động khi mức lạm phát chính thức của năm 2008 được công bố là 12.6%, vậy thực ra cược sống của người lao động có được thay đổi nhiều hay không khi lương không đủ để chống lại với lạm phát. Chính phủ đã có những biện pháp gì để nâng cao cuộc sống cho người lao động?

          Hiện nay, thị trường lao động trong khu vực nhà nước có một số vấn đề cần giải quyết: sự bảo hộ về cạnh tranh, sự thiếu ràng buộc về ngân sách, và việc đảm bảo việc làm vĩnh viễn đã dẫn đến tình trạng tuyển quá nhiều lao động so với mức cần thiết,nhiều doanh nghiệp quốc doanh trả lương cho công nhân rất hậu và thường cao hơn nhiều so với hiệu quả công việc của họ. Tiền lương có xu hướng bình quân hơn: trả lương quá cao cho lao động không có trình độ chuyên môn cao, đối với lao động có trình độ chuyên môn cao lại trả lương thấp hơn khu vực ngoài quốc doanh. Điều này dẫn đến hiện tượng ”chảy máu chất xám” đối với các lao động có trình độ cao từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, các hợp đồng lao động quá chặt chẽ không những làm cho chi phí kinh doanh tăng thêm mà còn giới hạn quyền của người chủ sử dụng lao động trong quá trình thuê, sử dụng, sa thải và tổ chức lao động.

    Hiện nay khi nền kinh tế thế giới suy giảm, có ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể là thất nghiệp tăng lên, đời sống của người lao động rất khó khăn.

    1.1.8.      3.2. Vi mô

                                        3.2.1. Tiền lương.

    Hiện nay, việc trả lương cho công nhân được mọi doanh nghiệp đặt lên hàng đầu với việ cân nhắc làm sao trả lương cho công nhân một cách hợp lý nhất. Nhưng đây là một câu hỏi không dễ trả lời đối với các doanh nghiệp.

    Điều đáng bàn có thể nằm ở một khía cạnh khác của vấn đề, mà niềm vui được tăng thu nhập không nên làm khuất lấp. Ấy là cái cuộc cải cách tiền lương lần này dường như vẫn chưa dứt khoát hẳn với cách làm cũ. Rất thông cảm với những người làm chính sách khi phải co kéo “tấm chăn” ngân sách cho đều khắp cơ thể kềnh càng của bộ máy hành chính cũng như số lượng người về hưu đông đảo. Nhưng nếu cứ dàn hàng ngang mà tiến với quỹ lương dù phình to thêm 20.000 tỉ đồng thì rốt cuộc giá trị của đợt tăng lương này chỉ còn vài trăm ngàn đồng mỗi người mà thôi. Một thực tế mà ai cũng thấy là mức lương nhà nước hiện nay, dù đã tăng, vẫn còn rất xa mới đủ để người cán bộ, công chức, viên chức yên tâm làm việc. Song với một lực lượng ăn lương đông đảo như hiện nay, nếu trả một mức lương để cho họ đủ sống và nuôi được con cái thì ngân sách nhà nước không đủ sức. Trong khi đó, công cuộc cải cách hành chính hướng vào việc tinh giản bộ máy đang được triển khai quá chậm chạp và gặp rất nhiều lướng vướng.

                            3.3.2. Tiền thưởng.

    Trong những năm gần đây tiền thưởngđã trở thành chủ đề “nhạy cảm” đối với các doanh nghiệp. Ngay cả những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả trong những năm vừa qua cũng rất ngại chia sẻ

    Năm 2007, hai doanh nghiệp được ghi nhận có mức thưởng Tết cao nhất là Công ty Motorola (Hà Nội) và Bayer Việt Nam (Đồng Nai) với mức thưởng 124 triệu đồng và 110 triệu đồng. Theo Vụ Tiền công-Tiền lương (Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội) mức thưởng Tết bình quân vào dịp Tết âm lịch năm 2007 khoảng 1,2 triệu đồng/người. Mức thưởng Tết thấp nhất trong năm cũ theo thống kê là 100.000đ/người.

    Tới năm 2008, thưởng tết của các doanh nghiệp cũng có nhiều thay đổi. Ở TPHCM, cá nhân có mức thưởng cao nhất tính đến hiện nay thuộc về một đơn vị tư vấn luật nước ngoài với 98,5 triệu đồng. Doanh nghiệp ở Bình Dương có mức thưởng thấp nhất là 450 nghìn đồng/người và cao nhất là 40 triệu đồng/người. Vụ Tiền lương, tiền công tổng hợp mức thưởng bình quân trong dịp Tết Âm lịch đạt trên 1,2 triệu đồng/người (gần bằng 1 tháng lương bình quân).

    Bình quân các doanh nghiệp Nhà nước thưởng Tết khoảng 1,4 triệu đồng/người. Các doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Hà Nội là 1 triệu đồng/người; TP.HCM là 1,69 triệu đồng/người; Đồng Nai là 1 triệu đồng/người; Bình Dương là 1,1 triệu đồng/người.

    Còn các doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP.HCM có mức thưởng Tết trung bình 4,134 triệu đồng/người; Hà Nội là 1 triệu đồng/người; Đồng Nai là 1,06 triệu đồng/người; Bình Dương là 1,4 triệu đồng/người .

    Nhưng năm 2009, tết kỷ sửu,  khi kinh tế thế giới cũng như Việt Nam rơi vào khủng hoảng thì tiền thưởngđược nhắc tới như là một gánh nặng cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp nghĩ tới tiền thưởngtết mà … run. Đó là câu được các báo giật tít nhiều trong tet xuân Kỷ Sửu. Khá nhiều doanh nghiệp khi thấy đặt vấn đề tìm hiểu tình hình lương, thưởng Tết cho người lao động đã nhẹ nhàng… từ chối vì không muốn hình ảnh của đơn vị bị ảnh hưởng. Vay ngân hàng để lo thưởng Tết cho công nhân có lẽ là biện pháp chủ yếu mà các doanh nghiệp dùng để giải quyết  “bài toán” thưởng Tết .

    Tại Hà Nội, mức thưởng cao nhất 80 triệu đồng thuộc về doanh nghiệp FDI chuyên sản xuất đồ uống; thấp nhất là 100.000 đồng thuộc về doanh nghiệp nhà nước và dân doanh.

    Ở khối doanh nghiệp nhà nước, thu nhập bình quân năm nay của lao động tăng 1,4 lần so với năm 2007, khoảng 2,5 triệu đồng một tháng, thì tiền thưởngTết lại giảm 6%, trung bình chỉ 1,1 triệu đồng; thấp nhất là 100.000 đồng/ người.

    Thu nhập cao nhất là 20 triệu đồng/tháng, rơi vào công ty kinh doanh dịch vụ. Đây cũng là đơn vị có mức thưởng Tết cao nhất với 30 triệu đồng/người.

    Khối Doanh nghiệp FDI, tiền lương bình quân là 2.066.000 đồng, giảm 11,9% so với năm 2007. Mức thưởng Tết bình quân là 3,1 triệu đồng/người, tăng 1,5 lần so với năm 2007. Thưởng Tết thấp nhất là 300.000 đồng/người. Mức thu nhập thấp nhất của lao động tại khối này là 1 triệu đồng một tháng, đúng bằng mức lương tối thiểu vùng.

    Mức thu nhập bình quân cao nhất ở khối FDI Hà Nội là 32 triệu đồng một người một tháng, thuộc về một Doanh nghiệp chuyên sản xuất thiết bị điện tử. Doanh nghiệp có mức thưởng Tết cao nhất 80 triệu đồng/người thuộc về 1 Doanh nghiệp sản xuất đồ uống rượu bia.

    Khối Doanh nghiệp dân doanh, nơi có số lao động đông đảo nhất, mức thu nhập bình quân trong năm chỉ 1,5 triệu đồng/người/tháng, giảm hơn 9%. Mức thu thập thấp nhất 700.000 đồng.

    1.1.9        4. Đầu tư cải thiện môi trường lao động.

    Những năm gần đây, nhiều khu công nghiệp lớn ở nước ta được hình thành và phát triển với hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp và các dịch vụ kèm theo đã giải quyết được việc làm cho một số lượng lao động lớn. Song đi kèm với sự phát triển nhanh và mạnh của các cơ sở đó thì vấn đề môi trường làm việc của người lao động phải cần được nhà nước cũng như các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển hơn nữa. Vậy thực trạng đầu tư phát triển môi trường làm việc ở Việt Nam hiên nay như thế nào, đạt được những thành tựu gì và còn tồn tại những khó khăn nào? Để trả lời cho câu hỏi đó trước hết ta đi xem xét tình hình đầu tư  phát triển môi trường làm việc ở tầm vĩ mô hay ở phía các cơ quan quản lý.

    1.1.9.      4.1. Về công đoàn.

                            4.1.1. Vĩ  mô.

    Công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống  vật chất, tinh thần của người lao động.(Trích Luật Công Đoàn).

    Trong điều khiện kinh tế thị trường như hiện nay thì sự hoạt động của tổ chức công đoàn là không thể thiếu, ý thức được điều đó nhà nước ta đã đầu  tư phát triển một hệ thống tổ chức công đoàn từ trung ương đến địa phương, hoạt động theo luật Công đoàn và luật Lao động. Nhà nước thường xuyên đôn đốc kiểm tra hoạt động của các tổi chức này, cứ 5 năm 1 lần nhà nước tổ chức họp Đại hội Công đoàn trong đó đánh giá hoạt động trong một nhiệm kì chỉ ra các thành tựu cũng như các mặt còn hạn chế để từ đó đề ra các biện pháp, phương hướng hoạt động của tổ chức trong nhiệm kỳ kế tiếp. Trong nhiệm kỳ 2003-2008, tổ chức công đoàn đã đẩy mạnh hơn việc chăm lo đời sống, đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ. 5 năm qua, cơ cấu đội ngũ công nhân viên chức lao động (CNVC-LĐ) nước ta đang diễn ra theo hướng tăng tỷ lệ trong các ngành giáo dục, y tế, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Số lượng công nhân lao động hiện có khoảng 9,5 triệu người, chiếm tỉ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội… Bình quân mỗi năm có khoảng 1,5 triệu lao động được tạo việc làm, tỉ lệ lao động thất nghiệp và thiếu việc làm giảm dần. Đến hết năm 2007, tổ chức công đoàn trên cả nước đã phát triển vượt chỉ tiêu 2 triệu đoàn viên mới, nâng tổng số đoàn viên công đoàn lên hơn 6 triệu người với trên 93.000 công đoàn cơ sở.

    Tuy nhiên trước bối cảnh nước ta đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO với những tác động yêu cầu hoạt động công đoàn phải năng động linh hoạt hơn nữa để có thể thích ứng được với sự biến động thường xuyên của nền kinh tế thị trường.Hiện nay nền sản xuất nước ta chưa ổn định vững chắc,lại đã và đang chịu sự tác động tiêu cực kép của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới nên yêu cầu về các tổ chức công đoàn lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Và việc đầu tư cho các hoạt động cưa công đoàn đòi hỏi dặt ra rất cần thiết với những chính sách tác động phù hợp của nhà nước.

    Ngân sách CĐ gồm 3 nguồn chủ yếu là kinh phí CĐ, đoàn phí CĐ và các nguồn thu khác. Nguồn thu ngân sách công đoàn tương đối ổn định, năm sau cao hơn năm trước, mức tăng bình quân trên 10%/năm, trong đó phần lớn (80%) là từ nguồn kinh phí CĐ khu vực HCSN và Doanh nghiệp NN. Thu kinh phí CĐ khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng nhỏ và còn thất thu nhiều. Thu đoàn phí CĐ được đánh giá là đạt kết quả khá, năm sau cao hơn năm trước, mức tăng trên 20%/năm. Tuy nhiên cũng như thu kinh phí CĐ, khu vực ngoài nhà nước cũng xảy ra tình trạng thất thu. Việc phân phối tài chính CĐ được thực hiện nghiêm túc, theo đúng quy định của nhà nước và TLĐ. Các cấp công đoàn đã chủ động khai thác nguồn thu, tiết kiệm chi, đảm bảo kinh phí cho bộ máy và hoạt động phong trào. Công tác quản lý ngân sách CĐ được các cấp CĐ quan tâm. Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TLĐ (khoá IX) của TLĐ về tăng cường công tác quản lý ngân sách công đoàn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng, các cấp công đoàn đã có bước chuyển biến tích cực. Thực hiện định mức, chế độ chi tiêu theo đúng quy định của Nhà nước và TLĐ. Các cấp CĐ đã chú trọng dành kinh phí cho hoạt động phong trào, chiếm khoảng 60%, chủ yếu là chi cho công tác tuyên truyền giáo dục, tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng, các hoạt động xã hội, phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS. Tuy nhiên trong đó, kinh phí chi cho công tác đào tạo CBCĐ còn hạn chế, mới chỉ chiếm 1,6%; chi hành chính CĐ còn chiếm tỉ trọng lớn (lên đến 22%, bao gồm cả các khoản chi khác). Kiểm toán quyết toán thu chi ngân sách công đoàn năm 2006 tại 27 đơn vị cho thấy các đơn vị đều thực hiện tốt, không có sai phạm lớn.

    Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế phân phối tài chính CĐ theo QĐ 699/QĐ-TLĐ cũng bộc lộ một số nhược điểm. Quy định phân phối chỉ dựa vào chỉ tiêu lao động là không phù hợp, do nguồn thu còn dựa vào tiền lương, thu nhập, điều kiện KT-XH của từng vùng. Số LĐ theo báo cáo dự toán và quyết toán là số liệu thống kê nên chưa chính xác, cấp hỗ trợ kinh phí dựa trên số thu, không khống chế mức cấp hỗ trợ tối đa là không hợp lý, tạo tư tưởng bao cấp, ỷ lại cho một số đơn vị. Quy định thưởng đơn vị thu vượt kế hoạch tại QĐ này cũng dẫn đến tình trạng có những đơn vị xây dựng kế hoạch thấp để giảm nộp, duyệt kế hoạch NGÂN SÁCH hàng năm thấp, không sát thực tế.

                             4.1.2. Vi mô

    Hoạt động của Công đoàn ngày càng trở nên hết sức quan trọng,các doanh nghiệp cũng đang dần ý thức một cách rõ ràng rằng Công đoàn chính là cầu nối giữa lãnh đạo Doanh nghiệp và NLĐ và cầu nối này là con đường ngắn nhất để chủ Doanh nghiệp và NLĐ hiểu biết lẫn nhau và có những trao đổi kịp thời, tránh dẫn tới bức xúc, hiểu lầm làm tổn hại đến quan hệ lao động nên việc thành lập các tổ chức Công đoàn ở các Doanh nghiệp kể cả Doanh nghiệp NN và Doanh nghiệp ngoài nhà nước đang được quan tâm phát triển. Mặc dù vậyj nhưng hiện nay vẫn có 85% doanh nghiệp dân doanh, 65% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa có tổ chức công đoàn cơ sở. Bên cạnh đó vẫn tồn tại hiện tượng Doanh nghiệp đổ xô xin thành lập CĐ để đối phó với quy định mới của Nhà nước về đăng ký thang, bảng lương vào cuối quý I/2008. Khi tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng có nhiều Doanh nghiệp nước ngoài được thành lập và hoạt động ở nước ta thu hút một số lượng lớn lao động tham gia, nhưng ở các Doanh nghiệp này hầu hết thì các tổ chức Công đoàn còn chưa được thành lập mặc dù đại bộ phận người lao động ở đây phải làm việc với cường độ làm việc cao.

    Việc thành lập Công đoàn đã khó, duy trì hoạt động và chăm lo tốt cho người lao động còn khó hơn. Hoạt động của các CĐCS còn kém hiệu quả, theo số liệu thống kê thì số cuộc đình công qua các năm đều tăng , nhưng 100% tất cả các cuộc đình công đó đều không do công đoàn cơ sở lãnh đạo. Năm 2006, cả nước xảy ra

    387 vụ đình công, năm 2007 xảy ra 541 vụ; song chỉ riêng 3 tháng đầu năm 2008 đã có tới gần 300 vụ.

    Còn những khó khăn trên một phần là do đội ngũ cán bộ Công đoàn bán chuyên trách yếu về năng lực và khồng ổn định. Hiện nay ở các Doanh nghiệp việc tìm một người đủ năng lực đảm đương chức vụ Chủ tịch Công đoàn là rất khó và thực tế đội ngũ này thường xuyên biến động. Một phần do các Doanh nghiệp còn chưa đầu tư  nhiều cho phát triển các tổ chức Công đoàn nên hoạt động của các cán bộ công đoàn còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù có quỹ hỗ trợ cán bộ công đoàn nhưng thực tế cho thấy chủ Doanh nghiệp mới là người trả lương chính cho cán bộ công đoàn nên CBCĐ không dám đứng ra lãnh đạo, tổ chức đòi quyền lợi cho công nhân. Đã có nhiều trường hợp, chủ Doanh nghiệp lại chấm dứt HĐLĐ với CBCĐ vào thời điểm hết HĐLĐ, chứ không phải ngay sau thời điểm diễn ra đình công.

    1.1.9.      4.2.  Đầu tư cải thiện điều kiện làm việc.

                            4.2.1. Vĩ mô.

    Trong những năm vừa qua, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, số vụ cháy nổ làm chết và bị thương nhiều người, gây thiệt hại lớn về tài sản có xu hướng tăng lên hàng năm. Năm 2008 đã xảy ra 5.836 vụ tai nạn lao động làm 6.047 người bị nạn, có 508 vụ tai nạn lao động chết người, làm 573 người bị chết và 1262 người bị thương nặng. Các loại TNLĐ phổ biến vẫn là điện giật, ngã cao, máy, thiết bị cuốn, cán. Các lĩnh vực sản xuất xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người là: xây dựng, công nghiệp và công trình giao thông; khai thác khoáng sản; sản xuất vật liệu xây dựng; cơ khí. Nguyên nhân chủ yếu của nhiều vụ TNLĐ và cháy nổ trong thời gian qua là do doanh nghiệp thiếu ý thức cải thiện điều kiện làm việc, do người sử dụng lao động và người lao động vị phạm quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn. Nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận, không quan tâm vấn đề cải thiện điều kiện làm việc an toàn cho người lao động.

    Trước tình hình đó các cấp công đoàn đã đẩy mạnh hoạt động bảo hộ lao động chủ yếu như: tham gia với Nhà nước xây dựng các văn bản pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp công đoàn về BHLĐ; tổ chức và tham gia tuyên truyền về BHLĐ cho người lao động và người sử dụng lao động; củng cố mạng lưới an toàn vệ sinh viên ở cơ sở, tổ chức hội thi an toàn vệ sinh viên giỏi ở cấp cơ sở và cấp tỉnh, CĐ ngành TW; triển khai các nội dung hoạt động hàng năm về BHLĐ của Công đoàn. Kết quả, năm 2008 các cấp công đoàn đã tổ chức treo 158.497 khẩu hiệu, panô, tranh BHLĐ, phân phát 641.778 tờ gấp, 43.093 bản tài liệu, đĩa CD về ATVSLĐ; tham gia vận động chiến dịch “Trồng 3 tỉ cây xanh vì hoà bình”; đã tổ chức thăm hỏi 2.101 nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân bị TNLĐ, BNN có hoàn cảnh khó khăn.

    Các cấp quản lý ngày càng tăng cường hơn nữa việc giám sát, kiểm tra, đôn đốc các Doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc theo Luật lao động, ngày càng hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về các điều kiện, tiêu chuẩn VSATLĐ nhằm một điều kiện làm việc  tốt nhất cho người lao động. Mặc dù đã có quy định cụ thể về tiêu chuẩn  VSATLĐ song việc thực hiện còn chưa nghiêm túc. Theo số liệu thống kê năm 2008 nguyên nhân chủ yếu xảy ra tai nạn lao động chết người: Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 20,02% và do người lao động chiếm 34,93% tổng số vụ, cụ thể là:

    – Người sử dụng lao động vi phạm Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật, Quy phạm an toàn chiếm 5,60% tổng số vụ

    – Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 2,66% tổng số vụ

    – Chưa huấn luyện an toàn lao động cho người lao động, không có phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 7,77% tổng số vụ

    – Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 2,78% tổng số vụ; không có thiết bị an toàn chiếm 1,21% tổng số vụ

    – Người lao động vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động chiếm 30,38% tổng số vụ

    – Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,55% tổng số vụ

                            4.2.2. Vi mô.

    Theo quy định của Bộ Luật lao động, người chủ sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo chế độ,trang bị đầy đủ các phương tiện BHLĐ bảo đảm an toàn Theo quy định của Bộ Luật lao động, người chủ sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo chế độ,trang bị đầy đủ các phương tiện BHLĐ bảo đảm ATLĐ cho NLĐ. Trong những năm gần đây, mặc dù các doanh nghiệp (Doanh nghiệp) đã nhận thức được tầm quan trọng, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với công tác an toàn và vệ sinh lao động (ATVSLĐ), tuy nhiên vẫn còn nhiều nơi, kể cả Doanh nghiệpNN chưa thật sự chú ý đầu tư cơ sở vật chất cho công tác này, thậm chí có Doanh nghiệp còn trang bị theo kiểu đối phó với các đợt thanh, kiểm tra, nhất là các Doanh nghiệp trong ngành xây dựng, khai thác đá, vận hành thiết bị chịu áp lực. Còn với các cơ sở sản xuất nhỏ thì tuân thủ các quy định về ATVSLĐ vẫn là chuyện xa vời. Qua công tác thanh, kiểm tra, ngành chức năng đã phát hiện nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ hầu như không nắm được các văn bản pháp quy của Nhà nước về BHLĐ. Vì vậy, các nội dung về BHLĐ chưa được thực hiện nghiêm túc, không đảm bảo an toàn trong hoạt động sản xuất.Vì thế chuyện  TNLĐ xảy ra nhiểu,theo số liệu thống kê thì trong số các vụ TNLĐ đã xảy ra , nguyên nhân do vi phạm quá trình kiểm tra ATLĐ chiếm 29,67%, do thiết bị sản xuất không an toàn: 1,1%, Doanh nghiệp không có biện pháp kiểm tra ATLĐ: chiếm 1,1%, do các nguyên nhân khác chiếm 68,13%.

    Chủ các Doanh nghiệp còn chưa coi trọng vấn đề về quần áo bảo hộ,điều kiện làm việc cho người lao động trong khi số lượng lao động hoạt động trong Doanh nghiệp có môi trường độc hại ngày càng gia tăng dẫn đến bệnh nghề nghiệp của người lao động ngày càng có xu hướng tăng cao. Theo báo cáo mới nhất của Bộ Y tế, hàng năm chỉ có khoảng 18 – 20% số cơcó  sở có nguy cơ cao được giám sát về môi trường lao động. Chỉ có 22 – 25% số người lao động được khám sức khoẻ định kỳ và dưới 10% số người lao động tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm độc hại được khám sức khoẻ nghề nghiệp. Còn theo Cục An toàn lao động (Bộ LĐTBXH), có hơn 1,33 triệu công nhân và người lao động đã được tập huấn về ATVSLĐ trong năm 2008, tăng 156% so với năm 2007, song số lượng các vụ tai nạn lao động và tử vong vẫn tiếp tục.Đa phần NLĐ xuất phát từ nông thôn đi làm thuê,không được đào tạo qua trường lớp;các Doanh nghiệp thì chưa thực sự chú trọng đên s công tác huấn luyện ATLĐ nên NLĐ hầu như chỉ được hướng dẫn thao tac công việc ít được hướng dẫn các biện pháp ATLĐ,cảnh báo những nguy hiểm nên TNLĐ thường xảy ra.Công nhân ở các Doanh nghiệp thường phải nộp tiền  mới được cấp quần áo BHLĐ,còn xưởng làm việc chỉ cấp mũ và khẩu trang.Tuy vậy chất lượng của các bộ quần áo này vẫn  còn đang là vấn đề nhức nhối.

    1.1.9.      4.3. Đời sống văn hóa tinh thần của người lao động.

                            4.3.1. Vĩ mô

    Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu châu á nói chung và đến VN nói riêng là không thể phủ nhận. Đời sống của người lao động vì thế mà ngày càng khó khăn cả về vật chất và tinh thần. Trước thực tế khó khăn chung của cả nước khiến một bộ phận người LĐ bị mất việc trong năm 2008, và dự báo LĐ thất nghiệp sẽ tiếp tục tăng lên trong năm 2009, chính sách của nhà nước thì chưa thực sự quan tâm đến vấn đề tinh thần cho người lao động. Việt Nam lại chưa có hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho người thất nghiệp. Chưa đầu tư vào các vấn đề về các khu vui chơi giải trí, tổ chức các hoạt động du lịch lành mạnh cho họ. Nhiều người còn sống trong các khu nhà tạm bợ, không đủ các điều khiện tối thiểu để sinh hoạt.

    Hiện nay nhà nước Đảng đã đề ra nhiều biện pháp nhằm cải thiện tình trạng này. Chính sách về tiền lương tối thiểu có hiệu lực năm 2009 này là một trong những biện pháp tích cực để cải thiện tình hình trên.

    Xây dựng đội ngũ CN vững vàng về chính trị tư tưởng, có chuyên môn nghiệp vụ, có kỷ luật LĐ, tác phong công nghiệp và có nếp sống văn hoá, thực sự là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước… là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó có tổ chức CĐ.

                            4.3.2. Vi mô

    Do sức ép về việc làm của các địa phương ngày càng gia tăng, dòng người LĐ di cư từ các nơi đến thành thị cũng ngày càng đông. Phần lớn số LĐ này trình độ văn hoá, tay nghề còn thấp, tác phong công nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật còn hạn chế. Trong khi đó, việc xây dựng các KCN-KCX chưa gắn với quy hoạch đô thị, đặc biệt là xây dựng nhà ở, các công trình phúc lợi công cộng và hình thành các thiết chế văn hoá đi kèm… Điều này khiến cho đa phần người LĐ buộc phải sống, sinh hoạt trong những khu nhà trọ tạm bợ, nhếch nhác mọc lên tự phát xung quanh các KCN-KCX. Đây là môi trường thuận lợi cho các loại tệ nạn xã hội, đặc biệt là nạn ma tuý, mại dâm rình rập lôi kéo người LĐ. Nếu chúng ta không cải thiện được tình hình trên thì nguy cơ tha hoá một bộ phận đội ngũ CN là hiện thực. Đây là một thực tế rất đáng lo ngại. Quả thật có nhiều doanh nghiệp mới chỉ chăm chú báo cáo con số bình quân lương tháng của NLĐ, mà hoàn toàn quên “phần hồn” của họ.tiền lương thâm chí ko đủ ăn chứ không nói gì đến giải trí. ngay trong “hàng rào” doanh nghiệp, quan hệ chủ thợ vẫn  rất phức tạp, điều kiện làm việc của người CN còn xấu, quyền lợi về vật chất và văn hoá, tinh thần của người LĐ còn bị vi phạm.

    Điển hình là một số thành phố lớn trong cả nước:

    Hà Nội:  số liệu điều tra 45 Doanh nghiệp của CĐ thủ đô cho thấy với 60% số CNLĐ không xem tivi, 85% không đọc báo, 80% không tập thể dục và 65% không tham gia các hoạt động văn hoá…

    Nhiều Doanh nghiệp không đảm bảo điều kiện LĐ, ký HĐLĐ, ký TƯLĐTT, đóng BHXH cho NLĐ…

    Qua một điều tra gần đây ở tỉnh Bình Dương cho thấy, CN phụ thuộc hoàn toàn vào các hình thức giải trí được cung cấp sẵn, rẻ tiền hoặc miễn phí như: 89,4% (người được hỏi) giải trí bằng ti vi; 82,4% nghe đài; sử dụng Internet 1,2%.

    Nhưng 71,8% (số người được hỏi) không đến rạp chiếu phim (trong vòng một năm), tương tự 88,2% không đến nhà hát; 77,6% không đến bảo tàng; 74,1% không đến các di tích lịch sử văn hóa; 76,5% không đến danh lam thắng cảnh; 84,7% không đến nhà thi đấu thể thao; 95,3% không đến câu lạc bộ; 91,8% không đến cung văn hóa; 89,4% không đến thư viện; 62,4% không đến các khu vui chơi giải trí…

    Tóm lại, đời sống văn hóa tinh thần rất nghèo.trước tình hình đó LĐLĐVN đã đề ra một số kiến nghị.

    1.1.9.      4.4. Bảo hiểm

    1.1.9.                  4.4.1. Vĩ mô

    Nhà nước hiện nay đã có rất nhiều chế tài quy định về bảo hiểm cho người lao động với những quy định chế tài phù hợp với việc ban hành luật bảo hiểm chính thức có hiệu lực 1/1/2007, quy định bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… Tất cả những nội dung trong luật nhằm bảo vệ người cuộc sống của người lao động hiện tại và cả trong tương lai. Việc đầu tư cho vấn đề bảo hiểm cũng được nhà nước chú trọng. Và đã đạt được những kết quả thiết thực. Tính đến cuối năm 2008, cả nước có 8,527 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, chiếm gần 70% số lao động thuộc diện tham gia bắt buộc. Bên cạnh đó, có trên 6.200 người tham gia BHXH tự nguyện, trong đó chủ yếu là những người trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc. Đồng thời, số tiền nợ đóng BHXH là 2000 tỷ đồng, chiếm 7,0% tổng số phải thu theo chỉ tiêu được giao. Số tiền nợ trong hai năm qua tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp. Trong đó, riêng năm 2008, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 35%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 33% tổng số tiền chậm đóng, nợ đóng BHXH. Và cuối năm 2008 đã giải quyết trên 117.700 người hưởng BHXH hàng tháng, trong đó hưu trí là 96.500 người, giải quyết chế độ BHXH ngắn hạn cho 2,5 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, gần 600. 000 lượt người hưởng chế độ thai sản, trên 4.500 người hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN và khoảng 500.000 lượt người hưởng trợ cấp dưỡng sức, phụ hồi sức khỏe. Việc thực hiện đầu tư với một cơ chế đồng bộ về bảo hiểm cho người lao động của nhà nước phần nào đã đảm bảo cuộc sống cho người lao động tạo sự an tâm làm việc của họ. Bên cạnh đó nhà nước cũng đã xó những chính sách nhự trợ cấp phụ cấp cho người lao động khi ốm đau bệnh tật từ quỹ của BH.

                            4.4.2.Vi mô.

    Bảo hiểm xã hội là cầu nối trung gian khiến các chủ Doanh nghiệp và NLĐ giữ được mức ổn địng về đời sống vật chất ,tinh thần truớc mắt cũng như lau dài góp phần an sinh xã hội.Và mặc dù đóng BHXH,BHYT là một trong các nội dung mà pháp luật nước ta yêu cầu các Doanh nghiệp phải thực hiện để đảm bảo  quyền và nghĩa vụ đối với người lao động thế nhưng ở nước ta trong thoèi gian qua vẫn còn nhiều Doanh nghiệp chưa chấp hành tốt chế độ BHXH cho NLĐ.Trong cả nước năm 2008, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 35%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 33% tổng số tiền chậm đóng, nợ đóng BHXH.

    Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp tìm mọi cách né tránh với lý do làm ăn không hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ; chế tài xử lý các trường hợp vi phạm còn bất cập cả về mức xử phạt và cơ chế phối hợp khi kiểm tra, xử lý các vi phạm. Một số đơn vị khi có đoàn thanh tra xuống kiểm tra thì vin vào cớ là làm thủ tục chưa xong, khi đoàn kiểm tra đi rồi thì đâu lại vào đấy, 2 năm sau xuống kiểm tra vẫn… chưa xong! Một số doanh nghiệp còn né tránh việc ký kết hợp đồng lao động cho lao động có thời gian từ 3 tháng trở lên, hoặc ký hợp đồng với mức lương thấp hơn mức tiền lương quy định, gây khó khăn cho công tác thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế. Việc xây dựng thang bảng lương ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc trích nộp Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.

    Ở khu vực kinh doanh nhỏ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các hộ sản xuất những mặt hàng tiêu dùng như bánh kẹo, ô mai, do chỉ mang tính chất “tự sản, tự tiêu” nên số lao động được đóng bảo hiểm hầu như không có.

    Những cơ sở có quy mô nhỏ, lao động thời vụ khó khăn đã đành, nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn làm ăn có lãi cũng tìm cách trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội, ở một số địa phương tình trạng đã đến mức báo động. Theo tài liệu của Bộ Lao động Thương binh Xã hội, tỉnh Bắc Kạn hiện có 117 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động nhưng mới chỉ có 18 đơn vị tham gia đóng bảo hiểm cho 191 lao động, chiếm 15% tổng số doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp xây dựng lớn có quy mô hoạt động rộng với lực lượng công nhân tới vài trăm người, nhưng vẫn không chịu tham gia đóng bảo hiểm cho người lao động.

    Doanh nghiệp vì lợi nhuận cố tình chây ỳ trách nhiệm, người lao động tuy rất muốn tham gia bảo hiểm xã hội, song lại không dám đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng của mình do sợ bị đuổi việc. Thống kê sơ bộ, tổng số tiền nợ bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp đã lên đến 1.500 tỷ đồng.

    Tuy nhiên, biện pháp xử lý những “con nợ” kiểu này dường như chưa đủ sức răn đe ngăn ngừa. Một chuyên viên Vụ Bảo hiểm xã hội Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết, cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ có quyền kiến nghị, yêu cầu thành lập các đoàn thanh tra liên ngành để kiểm tra việc tuân thủ Luật Lao động của các doanh nghiệp. Quyết định xử phạt do các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra nhưng thường số tiền phạt không thấm vào đâu so với số nợ và tiền lãi phát sinh, thậm chí có quyết định xử phạt rồi doanh nghiệp chây ỳ vẫn không làm gì được họ.

    Biện pháp khấu trừ tài khoản của doanh nghiệp chậm nộp bảo hiểm xã hội cũng không có tác dụng vì thiếu sự phối hợp với các ngân hàng thương mại. “Cực chẳng đã, có lần cơ quan chức năng ra quyết định phong tỏa tài khoản, nhưng khi kiểm tra lại không có một đồng nào vì đó chỉ là tài khoản “ma” doanh nghiệp dùng để đối phó với các cơ quan chức năng.

     

    II. Thành tựu và thách thức đặt ra cho vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

    1.1.10    1.Thành tựu

    1.1.10.  1.1. Về sức khỏe

    Chiều cao trung bình: Nam:163,5cm. Nữ :152,7cm

    Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi :16 phần ngàn ( 2007);

    Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng: 21,2% (2007)

    Tuổi thọ trung bình :71,3 tuổi

    Chiều cao trung bình của thanh thiếu niên và người trưởng thành đã được cải thiện rõ rệt, trong đó chiều cao trung bình của thanh niên từ 18-19 tuổi tăng 4,5 cm và nữ tăng 4,5 cm so với lứa tuổi này cách đây 25 năm .Hiện tại, nam thanh niên VN 20 tuổi đã cao hơn 4,7cm so với năm 1975 (163,7cm so với 159cm), nữ thanh niên cao hơn (153m so với 149cm) nhưng vẫn chậm nếu đem so với quốc tế.Tuy nhiên, so với Nhật Bản, chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam thấp hơn 8 cm (Việt Nam 163,5 cm – Nhật Bản: 172 cm); chiều cao trung bình của nữ thanh niên cũng thấp hơn 4 cm (Việt Nam: 152,7 cm – Nhật 157 cm). Nếu so với chỉ số trung bình của thế giới thì càng kém (hiện nay, chiều cao trung bình của thế giới là 176,8 cm với nam và 163,7 cm với nữ).So với thanh niên Singapore kém 6-7cm , so với Thái Lan kém 2cm.Tầm vóc nam thanh niên 18 tuổi của ta kém châu Âu 13,1cm (163,7cm so với 176,8cm), nữ thanh niên thì kém 10,7cm (153cm và 163,7cm). Thể lực cũng thua kém nhiều, đặc biệt là sức bền. Chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam chỉ ngang thanh niên Lào, Myanmar và thấp hơn chiều cao trung bình của thanh niên Campuchia.

    Các chỉ số khác như: dung lượng tim, sức bền… của thanh niên Việt Nam cũng thấp.Chỉ số công năng tim trong vận động (theo dõi nhịp tim khi đứng lên ngồi xuống 30 lần/30 giây), thanh niên VN đạt loại kém… phản ánh thực trạng ít vận động, dẫn đến béo phì, trầm cảm, ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ.

    Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 44,4 phần ngàn năm 1989 xuống còn 16 phần ngàn năm 2007; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 51,5%năm 1990 xuống còn 21,2% năm 2007. Năm 2007, chiều cao trung bình của trẻ dưới 2 tuổi đã tăng 5 cm so với 22 năm trước, nhưng vẫn thấp hơn 5 cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Đó là kết quả điều tra mới nhất của ngành dinh dưỡng, vừa hoàn thành vào cuối năm 2007. Theo điều tra này, lứa tuổi càng lớn, khoảng cách giữa chiều cao trung bình của trẻ em Việt Nam với chuẩn càng xa. Trẻ 5 tuổi tuy đã cao hơn gần 6 cm so với thời điểm 1985 nhưng vẫn phải cố 7 cm nữa mới đạt mức chuẩn 109,4 cm mà Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra.

    Trong những năm qua tuổi thọ trung bình của Việt Nam không ngừng tăng lên. Năm 2003 tuổi thọ trung bình của Việt Nam là 68,6 tuổi, năm 2004-69 tuổi, năm 2005-70,5 tuổi và năm 2006 tăng lên 71,3 tuổi. Mặc dù tuổi thọ bình quân của nước ta đạt khá cao là 71,3 tuổi so với mức thu nhập của nền kinh tế, nhưng theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới thì tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại rất thấp, chỉ đạt 58,2 tuổi và xếp thứ 116 so với 174 nước trên thế giới.

    1.1.10.  1.2. Về trình độ văn hóa

    Tỷ lệ người biết chữ từ 88% năm 1989 tăng lên 93% năm 2000. Đến hết năm 2000, 100% các tỉnh thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù, các tỉnh thành phố đã thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở.

    1.1.10.  1.3. Về chuyên môn kỹ thuật

    Thống kê cho thấy, cho đến nay, tỉ lệ công nhân đã tốt nghiệp tiểu học là 7,4%, tốt nghiệp THCS là 28,4% và tốt nghiệp PTTH trở lên là 62,3%. Cả nước có khoảng 25% công nhân và 39% lao động phổ thông chưa qua đào tạo tay nghề, đặc biệt là lao động trong một số khu vực ngành nghề như cao su, thuỷ sản…(12/02/2007)

    Hiện nay cả nước có 65% dân số trong độ tuổi lao động (khoảng 53 triệu người), trong đó, chỉ có 27,5% đã qua đào tạo (trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ này là 60 – 70%). Theo Bộ LĐ-TB-XH, lực lượng lao động ở VN chủ yếu là lao động nông thôn (chiếm trên 50%), trong khi có đến khoảng 70% lao động ở khu vực này chưa qua đào tạo,0,8% có trình độ cao đẳng, 0,7% ở trình độ đại học và tương đương, trình độ chuyên môn, tay nghề yếu, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp kém.

    Trong những năm gần đây, trình độ học vấn của lao động cả nước nói chung và nông thôn nói riêng không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên có sự cách biệt khá lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ, giữa các vùng lãnh thổ kinh tế về trình độ giáo dục. Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận ở nông thôn, dân trí thấp hơn 2 lần, nhân tài thấp hơn 8,6 lần và nhân lực, trong đó đào tạo nghề thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị. Cơ cấu lao động theo trình độ kỹ thuật cũng có những điểm mất cân đối so với yêu cầu của sự phát triển. Lao động trí óc ở thành thị chiếm 30%, ở nông thôn chỉ là 4,4%.

    Hiện tại VN đang nhập khẩu khoảng 2% lao động đối với một số nhóm ngành đặc biệt. Hiện tại, các doanh nghiệp ở một số khu công nghiệp đang trong tình trạng thiếu lao động, trong khi một số địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu về nhân lực. Năng suất lao động của VN chỉ đứng thứ 77/125 quốc gia, thấp hơn nhiều với cả các nước như Philíppin, Thái Lan, Malaixia.

    Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh tranh của lao động theo thang điểm 100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động. Các nhà kinh tế thế giới cũng cảnh báo rằng các nền kinh tế có chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

    1.1.10.  1.4. Về số lượng lao động.

    Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động năm 2005 và đã tăng lên khoảng 63,4 triệu năm 2007.

    Ông Nguyễn Bá Thủy, Thứ trưởng Bộ Y tế, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số – KHHGĐ cho biết, từ năm 2007, cơ cấu dân số (DS) nước ta bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ DS trong độ tuổi lao động đạt giá trị cực đại và tỷ lệ DS phụ thuộc dưới 50%.

    Giai đoạn “cơ cấu DS vàng” dự báo kéo dài 15 năm, từ 2007 đến 2012, đây là khoảng thời gian ngắn so với nhiều nước trên thế giới. Đến năm 2015, tỷ lệ DS trong độ tuổi lao động đạt giá trị cực đại, chiếm tới 68,2% DS, theo đó có 63,4 triệu người trong độ tuổi lao động trên tổng số 94,3 triệu dân.

    Đồng thời, số người bước vào tuổi lao động mỗi năm là 1,6 triệu người khiến nhu cầu về giải quyết việc làm tăng. Do vậy, giải quyết việc làm và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động dồi dào sẽ là một thách thức đối với nền kinh tế nước ta trong những năm tới.

    Mỗi năm có khoảng 200.000 sinh viên tốt nghiệp ra trường (chưa kể số lượng công nhân kỹ thuật tốt nghiệp từ các trường đào tạo nghề – PV). GS-TS Hồ Đức Hùng (Viện Nghiên cứu kinh tế TP.HCM) nói: “Đội ngũ này chỉ nặng về lý thuyết mà yếu về kỹ năng thực hành”. Các doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động phải đào tạo lại từ kỹ năng cho đến ý thức hệ và tính kỷ luật công nghiệp”.

    1.1.11    2. Hạn chế

    Ngoài những ưu thế phần nhiều mang đặc tính số lượng, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện vẫn còn phải đối mặt với rất nhiều hạn chế về mặt chất lượng, trong đó, những hạn chế nổi bật nhất là:

    Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị

        2006 2007 Ước tính năm 2008
             
    CẢ NƯỚC 4,82 4,64 4,65
             
      Đồng bằng sông Hồng 6,42 5,74 5,31
      Trung du và miền núi phía Bắc 4,18 3,85 4,13
      Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 5,50 4,95 4,73
      Tây Nguyên 2,38 2,11 2,49
      Đông Nam Bộ 5,47 4,83 4,85
      Đồng bằng sông Cửu Long 4,52 4,03 4,08

    – Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng trong tổng lực lượng lao động còn rất thấp.

    Đến 1/7/2002, tính chung trong cả nước, số người được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng (có trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề trở lên) chỉ chiếm có 19,62% tổng lực lượng lao động. Riêng đối với nữ, tỷ lệ này còn thấp hơn, chỉ có 15,67%

    Hơn thế nữa, cơ cấu đào tạo lực lượng lao động còn nhiều bất hợp lý: số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật còn quá thiếu so với yêu cầu. Số này chủ yếu chỉ tập trung tại các thành phố và khu đô thị lớn (Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố, trung tâm công nghiệp lớn khác). Trong khi đó, ngành nông nghiệp chiếm 60,5% tổng số lực lượng lao động của cả nước, nhưng chỉ chiếm 3,85 % số người được đào tạo. Điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến việc tăng cơ hội việc làm và thu nhập, mà còn là yếu tố làm hạn chế sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Bảng 5 : Cơ cấu lực lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (đến 1/7/2002)
      Không có TĐ

     

    chuyên môn kỹ thuật

    Có trình độ

     

    CMKT

    Trong đó chia ra theo trình độ
    Sơ cấp/

     

    Chứng chỉ

    CN KT  không bằng CN KT

     

    có bằng

    Trung

     

    học CN

    CĐ, ĐH

     

    trở lên

    Cả nước: số lao động (người) 32.710.127 7.984.233 265.875 307.393 352.903 307.393 332.144
    Chiếm tỷ  lệ (%) 80.38 19.62 3.33 3.85 4.42 3.85 4.16
    Theo giới tính:              
    Nữ (người) 16.917.831 3.143.631 81.106 78.276 79.220 132.661 121.344
    Chiếm tỷ lệ (%) 84.33 15.67 2.58 2.49 2.52 4.22 3.86

    Nguồn: Báo cáo kết quả “Điều  tra lao động, việc làm”, Bộ LĐ-TB-XH, 1/7/2002

    – Đội ngũ “lao động chất xám” còn thiếu về số lượng và yếu kém về chất lượng

    Tình hình học sinh bỏ học là vấn đề đang được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm. Năm học 2007-2008, cả nước có 215,1 nghìn học sinh bỏ học, chiếm gần 1,4% tổng số học sinh, bao gồm 32 nghìn học sinh tiểu học, chiếm 0,5% tổng số học sinh tiểu học; 105,2 nghìn học sinh trung học cơ sở, chiếm 1,8% số học sinh trung học cơ sở; 77,9 nghìn học sinh trung học phổ thông, chiếm 2,6% số học sinh trung học phổ thông. Nguyên nhân của tình trạng bỏ học chủ yếu do học sinh có học lực yếu kém hoặc hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, không có điều kiện theo học tiếp.

    – Thể lực của người lao động Việt Nam còn kém

    Theo số liệu điều tra về tình trạng thể lực của lao động Việt Nam năm 1996, người lao động Việt Nam có thể lực kém, thể hiện qua các chỉ số về cân nặng, chiều cao trung bình, sức bền. Cụ thể là trong khi chiều cao trung bình của người lao động Việt Nam là 1,47 m; cân nặng 34,4 kg thì các con số tương ứng của người Philipin là 1,53 m; 45,5 kg; người Nhật là 1,64 m; 53,3 kg. Số người không đủ tiêu chuẩn về cân nặng ở Việt Nam chiếm tới 48,7%. Số lượng người lớn suy dịnh dưỡng là 28%, phụ nữ thiếu máu là 40 % (số liệu điều tra năm 2000). Các số liệu điều tra năm 2001 đối với người lao động trong một số doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy số người mắc bệnh nghề nghiêp chiếm 54%.

    Người từ 60 đến 69 tuổi chiếm 4,61% (gần bốn triệu người), từ 70 đến 79 tuổi chiếm 3,41% (khoảng 2,9 triệu người).

    Tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp còn chưa cao

     

    Chương 3: Một số giải pháp đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    1 Giải pháp cho việc đầu tư phát triển giáo dục đào tạo

    1.1.12    1.1 Vĩ mô:

    Thứ nhất, đầu tư đổi mới chương trình giảng dạy, chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, thực hiện sự liên thông giữa các bậc học, một số ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt mềm dẻo hơn, đáp ứng dụng cầu học tập thường xuyên; tạo ra nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học.

    Đối với giáo dục đại học, đầu tư thay đổi chương trình giảng dạy phù hợp với yêu cầu nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp, ngoài các kiến thức cần giảng dạy thêm kỹ năng nghề nghiệp, để thực hiện được yêu cầu này có sự đầu tư và quan tâm của nhà nước đối với giáo dục đại học,  từ đó có những giải pháp cân đối ngân sách nhà nước,và bên cạnh đó là duy trì các chính sách khuyến khích đối với sinh viên giỏi, sinh viên nghèo vượt khó như: chế độ học bổng , miễn giảm học phí cho các đối tượng thuộc chính sách xã hội, học bổng cho các sinh viên học giỏi, thực hiện tín dụng sinh viên, miễn học phí cho các sinh viên theo học tại các trường sư phạm

    Thứ hai, chăm lo và đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD.. Tiến hành đổi mới kiểm tra, đánh giá cho tất cả Giáo viên từ cấp tiểu học đến THPT. Triển khai chương trình xây dựng nhà công vụ cho giáo viên bằng ngân sách nhà nước và huy động sự đóng góp của xã hội. Thực hiện việc cử luân phiên giáo viên làm công tác ở các vùng khó khăn theo Nghị định của Chính phủ từ năm học 2007-2008. Đầu tư triển khai cuộc vận động nâng cao đạo đức nhà giáo (xây dựng quy tắc ứng xử, tiêu chí đánh giá đạo đức nhà giáo), chống bạo hành trong nhà trường. Thực hiện thí điểm đánh giá giảng viên ĐH, CĐ thông qua ý kiến của SV, từng bước mở rộng sang TCCN và dạy nghề. Xây dựng chương trình chuẩn bồi dưỡng về quản lý GD cho các hiệu trưởng trường mầm non, phổ thông, TCCN, CĐ, ĐH. Tổ chức các lớp bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông, hiệu trưởng ĐH

    Thứ ba: Đầu tư đổi mới cơ chế tài chính của nền GD, thực hiện xã hội hoá GD-ĐT:

    Tăng ngân sách cho GD-ĐT và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách: Thực hiện kế hoạch ngân sách trung hạn (3-5 năm); triển khai chương trình mục tiêu quốc gia GD-ĐT đến 2010 gắn với tiêu chí hiệu quả (xây dựng trường lớp, trang bị phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu khoa học, tin học hoá quản lý, triển khai đào tạo theo các chương trình tiên tiến…); thực hiện phân bổ kinh phí theo nguyên tắc công khai, hiệu quả, cạnh tranh; gắn kết giữa chi của ngân sách và các dự án ODA, khuyến khích sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp, địa phương. Tập trung đầu tư cho các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ, các huyện, xã khó khăn.

    Triển khai và giám sát việc thực hiện chế độ cho vay ưu đãi để học ĐH, CĐ, TCCN và dạy nghề.  Thực hiện xã hội hoá giáp dục, huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáp dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp… để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục.

    Hoàn thiện các cơ sở pháp lý và chính sách để phát triển hệ thống các trường ngoài công lập, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào GD-ĐT bằng các chính sách khuyến khích về đất đai, thuế, tín dụng, hỗ trợ đào tạo GV; Xây dựng văn bản hướng dẫn về chuyển đổi loại hình từ trường bán công sang công lập hoặc tư thục, trường dân lập sang tư thục… Tăng cường hợp tác quốc tế về GD – ĐT, tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới.

    Thứ tư: Đầu tư thực hiện phân cấp và quản lý theo tiêu chí chất lượng

    Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đầu tư tiến hành phân cấp mạnh mẽ hơn, ví dụ phân cấp quản lý đối với các trường ĐH trọng điểm; Phân cấp cho HĐND các tỉnh thành quyết định mức học phí các trường phổ thông ở địa phương, phát triển GD phổ thông và phát triển dạy nghề… tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục. Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện miễn giảm việc đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi.

    1.1.13     1.2. Vi mô:

    Như ta đã biết các doanh nghiệp coi việc đào tạo cho người lao động là đầu tư cho tương lai và có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Các nhóm giải pháp đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp bao gồm:

    Thứ nhất: Các doanh nghiệp kết hợp với các trường đại học, cũng như trường đào tạo nghề, các doanh nghiệp sẽ nói cho nhà trường biết các yêu cầu của họ về kỹ năng cũng trình độ của người lao động mà họ cần, nhà trường cam kết sẽ đào tạo được số lượng học viên đáp ứng yêu cầu đó, thì đổi lại doanh nghiệp sẽ đầu tư các trang thiết bị, điều kiện cơ sở vật chất, phục vụ cho việc học tập tại trường.

    Thứ hai, thực hiện dạy nghề, đào tạo lại cho công nhân mới vào làm. Dù cách này chỉ mang tính nhất thời trước mắt, nhưng việc đào tạo lại cho người lao động mới vào làm là cần thiết trong điều kiện hiện nay giáo dục của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của việc làm. Việc đào tạo này đỏi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư về vốn và đội ngũ giảng dạy, để tổ chức các khóa đào tạo lại, ngoài ra các doanh nghiệp có thể kết hợp với các trường đại học và trường đào tạo nghề để thực hiện việc này.

    Thứ ba, Đầu tư thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ khen thưởng cho sinh viên, học viên các trường đại học, đào tạo nghề. Trao học bổng, khen thưởng các sinh viên giỏi cũng như sinh viên nghèo vượt khó, tổ chức các hội thảo hướng nghiệp, các dự án giáo dục nhằm tiếp cận và tìm kiếm những sinh viên xuất sắc, có tiềm năng cho công việc của doanh nghiệp. Còn hình thức nữa mà doanh nghiệp có thể dùng để thực hiện công tác đào tạo người lao động ngoài các quỹ hỗ trợ cho sinh viên ra, doanh nghiệp có thể thực hiện hỗ trợ nghiên cứu sinh trong việc nghiên cứu khoa học, hỗ trợ các dự án giáo dục , các hoạt động phong trào tại trường mà doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng

    Thứ tư, tổ chức cho người lao động đi sang nước ngoài du học nâng cao trình độ và tay nghề. Tận dụng điều kiện thuận lợi về khoa học công nghệ nước ngoài, cũng như trình độ quản lý tiên tiến ở nước ngoài, người lao động có thể nâng cao hiểu biết, áp dụng khoa học của những nước ấy sau khi về nước. Tuy nhiên để tránh tình trạng người lao động ra nước ngoài mà không quay lại nữa, cần doanh nghiệp có những quy định ràng buộc người lao động về hợp đồng tiền lương, hay tạo các điều kiện làm việc hấp dẫn cho người lao động sau khi đi du học trở về nước.

    2.Một số giải pháp đối với ngành y tế

    1.1.14    2.1. Đối với vấn đề thiếu vốn.

    1.1.14.  – Xã hội hoá ngành y tế.

    Để có nền y tế phát triển thật sự bền vững, điều kiện đầu tiên đó là y tế phải thuộc về xã hội. Xã hội hoá y tế dể huy động tối đa các nguốn lực trong xa hội cùng tham gia vào lĩnh vực y tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa cơ sở y tế và tư nhân, khuyến khích tạo cơ hội đầu tư cho các cơ sở y tế có tiềm năng để có những bước phát triển vượt trôi, hỗ trợ các cơ sở y tế chưa có tiềm năng không bị thua thiệt và có cơ hội phát triển, tránh sự phân hoá về trình độ chuyên môn và chất lượng khám chữa bệnh, đảm bảo mọi ngưòi dân đều có cơ hội được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng cao.

    “ Phải đẩy mạnh xã hội hoá y tế, mọi thành phần kinh tế và mọi nguồn lực đầu tư phát triển ngành y tế, coi xã hội hoá là một giải pháp song song với việc tăng cường đầu tư của nhà nước cho phát triển y tê”.

    1.1.14.  – Số hoá ngành y tế.

    Công nghệ thông tin (CNTT) đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội. Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý mà còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các kỹ thuật cao trong KCB như chụp cắt lớp, mổ nội soi… thăm khám cho bệnh nhân qua hệ thống điện tử…

    Tại hội nghị về ứng dụng CNTT trong ngành y tế vừa được tổ chức vào cuối tháng 2/2009, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã yêu cầu: “Với nhận thức sâu sắc vai trò của CNTT đối với công tác y tế hiện đại, ngành y tế cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công cụ này vừa để nâng cao chất lượng công tác quản lý điều hành và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…”.

    1.1.14.  – Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển TTBMM y tế nhằm giảm chi phí mua sắm trang thiết bị.

    Bộ Y tế cần có giải pháp đồng bộ để xây dựng quy chế nhằm tạo môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ thuộc các ngành, các địa phương tham gia sản xuất TTBYT. Khuyến khích dùng TTBYT sản xuất trong nước, giảm dần nhập khẩu.

    Đến năm 2010 chỉ nhập khẩu những TTBYT chưa sản xuất được trong nước. Từng bước xây dựng và trình Chính phủ xem xét ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất TTBYT thay thế hàng nhập khẩu. Có chính sách ưu tiên thích đáng trong việc cử cán bộ đi đào tạo về nghiên cứu sản xuất TTBYT.

    1.1.15    2.2. Đối với vấn đề quản lý vốn trong ngành y tế.

    1.1.15.  – Mô hình viện – trường

    Mô hình này giúp các y bác sỹ có thể vừa hoạt động khám chữa bệnh vừa tham gia nghiên cứu phát triển y tế dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, các học sinh sinh viên học tại trường có cơ hội chứng kiến thực tế nhiều hơn, đúc rút kinh nghiệm cho bản thân mình.

    1.1.15.  – Đẩy mạnh phát triển khu vực tư nhân.

    Để ngành y tư nhân phát triển nhanh, Bộ cần thành lập một ban chuyên trách y tế tư nhân. Ban này sẽ hỗ trợ về nhiều mặt như xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực qua việc cho phép mở các trường đại học y khoa tư nhân.

    Ngoài ra, khi khu vực tư nhân phát triển sẽ khiến sự cạnh tranh hoàn hảo hơn. Các dịch vụ y tế sẽ phải không ngừng nâng cao chât lượng dịch vụ của mình, giá cả cung cấp dịch vụ phù hợp, người dân sẽ cơ hội được sử dụng dịch vụ y tế chất lượng cao với chi phí không quá tốn kém.

    1.1.16    2.3. Cải cách chế độ viện phí và chính sách đãi ngộ đối với y bác sỹ.

    Để thu hút các bác sỹ giỏi làm việc các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng cao… cần liên tục đào tạo và cử tuyển chứ không phải thi tuyển, tăng phụ cấp, luân chuyển cán bộ y bác sỹ.

    Viện phí chính là một nguồn thu đối với các cơ sở y tế. Ngày nay nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng nhiều trong khi đội ngũ nhân viên y tế không tăng đáng kể khiến ngành y tế đã phải tận dụng hết mức nguồn lực trong khi chế độ viện phí đã quá lỗi thời. Vì vậy cần phải cải cách chế độ viện phí phù hợp, cải thiện cuộc sống của đội ngũ nhân viên y tế.

    3. Một số giải pháp cho vấn đề tiền lương

    • Tăng lương cơ bản đi đôi với kiềm chế lạm phát
    • Tiền lương phải phản ánh đúng chất lượng người lao động
    • Thưởng mang đúng nghĩa và phản ánh đúng thực lực người lao động cũng như tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

    4. Giải pháp cho vấn đề môi trường lao động.

    1.1.16.  4.1.Vĩ mô.

    Đứng trước thực trạng hiện nay ở các Doanh nghiệp về vấn đề môi trường lao động như :công đoàn ,vệ sinh an toàn lao động,bảo hộ lao động,tham gia BH cho người lao động,nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động…còn nhiều bất cập,chúng tôi xin đề ra một số biện pháp giải quyết sau:

    Tuyên truyền vận động các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các chính sách về lao động đối với công nhân lao động; chú trọng chăm lo đời sống tinh thần lẫn vật chất; Công đoàn ở các doanh nghiệp KCN phải thường xuyên giáo dục tuyên truyền các chính sách pháp luật của nhà nước cho công nhân lao động ở đơn vị mình, đặc biệt là pháp luật về lao động.

    Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội trong việc thực hiện chính sách pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động như: bảo hộ lao động, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm, khám sức khỏe định kỳ, các chế độ chính sách đối với lao động nữ, lao động nữ khi đang mang thai,…

    .    Sớm ban hành thống nhất cơ chế chính sách, hỗ trợ ưu đãi đầu tư đối với việc xây dựng nhà ở cho người lao động làm việc trong các KCN. Quy hoạch KCN phải gắn với quy hoạch khu nhà ở cho công nhân, đáp ứng quy hoạch chung của đô thị. Việc quy hoạch xây dựng nhà ở cho công nhân phải gắn với các dự án nhà ở thương mại hoặc các dự án khu đô thị mới để bảo đảm tính đồng bộ về cơ sở hạ tầng xã hội. Cần có quy định điều kiện và ràng buộc trách nhiệm đối với Công ty đầu tư hạ tầng KCN trong việc quy hoạch và triển khai xây dựng hạ tầng KCN đồng bộ, thống nhất. Công ty đầu tư hạ tầng KCN phải bảo đảm tối thiểu 10% chỗ ở cho người lao động trong KCN với giá cả hợp lý. Đồng thời cho phép các doanh nghiệp sản xuất trong KCN được giao đất theo quy hoạch xây dựng nhà ở cho người lao động theo cơ chế hạch toán vào chi phí sản xuất để tự doanh nghiệp có thể bảo đảm 40-50% chỗ ở cho công nhân của mình với quy mô, giá cả phù hợp. Nhà nước có chính sách đặc biệt khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư nhà ở cho công nhân về giải phóng mặt bằng, miễn tiền thuê đất, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp… Đa dạng hóa các hình thức đầu tư, xã hội hoá xây dựng nhà ở cho công nhân nhưng không thả nổi cho thị trường tự điều tiết và có quy định các điều kiện thiết yếu cũng như quản lý nhân khẩu, an ninh trật tự… Đồng thời nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể trong doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần tích cực nâng cao cuộc sống cho người lao động. Đặc biệt cần có tổ chức Đảng trong mỗi doanh nghiệp cũng như KCN vì ở đó tập trung cao những người lao động là giai cấp công nhân. Tuy nhiên KCN lại thuộc địa bàn nhiều ,tỉnh ,huyện hoặc nhiều xã nên phải có cách thức tổ chức phù hợp để sự chỉ đạo đạt tính thống nhất và nâng cao hiệu quả.

    Tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của người lao động, những ý kiến đề xuất của tổ chức Công đoàn, của chủ doanh nghiệp để có hướng giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc.

    Mặt khác, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao trình độ chính trị, hiểu biết pháp luật, nhất là pháp luật về lao động, về quyền lợi chính đáng và hợp pháp của người lao động để họ có ý thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và tự giác tuân thủ pháp luật lao động

    Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư các cơ sở dạy nghề với các phương tiện kỹ thuật hiện đại; đầu tư nâng cấp các cơ sở dạy nghề hiện có; tăng cường công tác quản lý nhà nước về dạy nghề; thực hiện tốt công tác dự báo nhu cầu lao động, ngành nghề đào tạo; gắn công tác đào tạo nghề sát với nhu cầu của các doanh nghiệp.

    Cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp các nghành có lien quan để đồng bộ thực hiện cac biện pháp này.

    1.1.16.  4.2.Vi mô.

    Nhóm giải pháp ở phía các Doanh nghiệp.

    Mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công việc như:máy điều hòa ,hệ thống máy tính ,cung cấp các tài liệu cần thiết phục vụ công tác nghiên cứu,hệ thongs hút bụi trong các phân xưởng hay ngay cả việc cung cấp các thiết bị văn phòng cần thiết khác như bàn làm việc,phòng làm việc các thức tổ chức…Điều kiện lao động là vấn đề mà người lao động luôn quan tâm hàng đầu khi chấp nhận công việc cho Doanh nghiệp.

    Thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ chỗ ở,cuộc sống cho đội ngũ các nhà khoa học như:chính sách cấp nhà đât,hỗ trợ tài chính cho họ ổn định cuộc sống

    Chú trọng các hoạt động cải thiện điều kiện lao động, thực hiện tốt quy định về thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi, chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo các chế độ phúc lợi xã hội… đối với lao động .

    Quan tâm tổ chức nâng cao đời sống tinh thần cho chị em; tạo điều kiện cho lao động nữ hoàn thành tốt các công việc của gia đình và ở nơi làm việc, trở thành người phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà, đáp ứng được các yêu cầu mới trong giai đoạn phát triển hiện nay

    Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện, nâng cao nhận thức an toàn vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ; tăng cường phổ biến các biện pháp cải thiện điều kiện lao động đến các phân xưởng ,xí nghiệp

    Tổ chức vệ sinh cơ quan, xí nghiệp, trường học, trồng và chăm sóc caay xanh, thực hiện tốt nôi quy an toàn, vệ sinh lao động nơi sản xuất… sẽ hạn chế được nhiều sự cố mất an toàn, gây tai nạn cho người lao động. Bên cạnh đó, nên phát huy sáng kiến, nghiên cứu đề tài khoa học về BHLĐ nhằm đảm bảo an toàn lao động cho công nhân.

    Khi tổ chức thực hiện, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp cần nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm về AT – VSLĐ mà luật pháp đã qui định tại Điều 13 của Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 như: Khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp AT – VSLĐ và cải thiện điều kiện lao động; trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, thực hiện tốt các chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, chế độ đối với lao động nữ, chế độ bồi thường TNLĐ, BNN, các qui định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, trang bị các phương tiện cấp cứu, kiểm tra đo đạc các yếu tố độc hại, khi phát hiện có bất thường phải kịp thời kiểm tra, xử lý; xây dựng nội qui, qui trình AT – VSLĐ phù hợp với từng loại máy, thiết bị, công nghệ đúng theo tiêu chuẩn của Nhà nước; tổ chức khám sức khoẻ, huấn luyện AT – VSLĐ cho NLĐ; thực hiện  nghiêm chỉnh các qui định về đăng ký, kiểm định khi sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về AT – VSLĐ; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện…

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Nguồn nhân lực nước ta hiện nay có thể nói là “thiếu về số lượng và yếu về chất lượng”, chưa đảm bảo để có thể tận dụng hết mọi cơ hội phát triển của đất nước. Nếu không khắc phục được những khó khăn này thì việc Việt Nam đuổi kịp những nước châu Á mới phát triển ở châu Á như Hàn Quốc, Singapo sẽ trở thành những mục tiêu khó đạt được.

    Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong thời gian qua đã có một thành tựu đáng kể đến, tuy nhiên hạn chế cũng không phải là ít, vì vậy, cần phải thực hiện hoạt động này một cách quy củ và hợp lý hơn nữa, đảm bảo cung cấp cho đất nước lực lượng lao động tiên tiến trong quá trình hội nhập quốc tế.

    Con người lúc nào cũng là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội, là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế. Đầu tư cho con người là đầu tư một cách vững chắc cho tương lai. Để tương lai Việt Nam sáng sủa hơn nữa thì chúng ta cần đầu tư lĩnh vực này nhiều hơn và hiệu quả hơn nữa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Kỷ yếu hội thảo văn hoá, con người và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI (Hội đồng lý luận TW và Viện KHXH Việt Nam, Hà Nội 2004)
    2. Kỷ yếu Đại hội lần thứ nhất Hội Khoa học và phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam, Hà Nội 2005
    3. Tạp chí Nghiên cứu con người, các số năm 2006,2007
    4. Website tổng cục thống kê Việt Nam.
    5. Website Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    6. Website Bộ Y tế.
    7. Website Bộ Lao động và thương binh xã hội.
    8. vietbao.com
    9. nhandan.com
    10. bài “Chất lượng nguồn nhân lực quá yếu”, của Nguyễn Xuân Hãn, báo Lao Động ngày 06-10-2007

    Và một số bài báo điện tử khác.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức

    Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức

    Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập tình huống – Quản trị nguồn nhân lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-l%C3%A0-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-then-ch%E1%BB%91t-c%E1%BB%A7a-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-trong-m%E1%BB%8Di-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức

    LỜI NÓI ĐẦU

    Thực tiễn cho thấy sự tồn tại, phát triển của một tổ chức phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người hay nguồn nhân lực của tổ chức. Một số tổ chức từ những ngày sơ khai đều có nguồn nhân lực của mình. Để có được nguồn nhân lực đó không cách nào khác tổ chức đó phải tiến hành tuyển dụng lao động và quản lý sử dụng nguồn nhân lực đó. Vậy tuyển dụng có một vị trí vô cùng quan trọng đối với tổ chức cũng như đối công tác quản trị nguồn nhân lực. Tuyển dụng là tiền đề cho các hoạt động khác của quản trị nguồn nhân lực.

    Đề án này nhằm khẳng định: “Tuyển dụng là hoạt động then chốt của

    quản trị nhân lực trong mọi tổ chức”. Quản trị nhân lực cho chúng ta khái niệm về rất nhiều cách thức giải quyết về vấn đề con người, nhằm làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả đạt được mục tiêu tổ chức, và công tác tuyển dụng là một trong những cách thức giải quyết đó. Để tiến hành nghiên cứu các đề tài các phương pháp được sử dụng là: Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu giáo trình, các tài liệu tham khảo khác.

    Nội dung bài viết gồm 3 chương:

    Chương I – Cơ sở lý luận của hoạt động tuyển dụng trong tổ chức.

    Chương II – Phân tích tầm quan trọng của tuyển dụng.

    Chương III – Phương hướng nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Vũ Thị Mai đã giúp đỡ em hoàn

    thành bản đề án này. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng bài viết của em không tránh khỏi một số thiếu sót. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn.

    CHƯƠNG I

    CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG TUYỂN DỤNG

    I. KHÁI NIỆM VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ TUYỂN DỤNG.

    1.                 Khái niệm về tuyển dụng lao động.

     

    1. Tuyển dụng lao động.

     

    Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút ứng cử viên từ những nguồn

    khác nhau đến tham gia dự tuyển vào các vị trí còn trống trong tổ chức và lựa chọn trong số họ những người đáp ứng tốt yêu cầu công việc đặt ra.

    1.2. Tuyển mộ lao động.

    Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lao động bên trong tổ chức đến đăng ký, nộp đơn tìm việc hay tham gia dự tuyển.

    1.3. Tuyển chọn lao động.

    Tuyển chọn là quá trình đánh giá các ứng cử viên theo nhiều khía cạnh khác nhau, để tìm cho được những người phù hợp với các yêu cầu của công việc.

    2. Các yêu cầu đối với tuyển dụng.

    Tuyển dụng phải gắn chặt với nhu cầu về nguồn nhân lực phù hợp với chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ tiến hành tuyển dụng trong những trường hợp cần thiết.

    Tuyển dụng được những người thực sự phù hợp với yêu cầu của công việc đảm bảo cho tổ chức có đội ngũ lao động tốt đáp ứng yêu cầu công việc (giảm bớt chi phí đào tạo, giúp người lao động phát huy được năng lực của mình trong quá trình lao động).

    Tuyển được người có kỷ luật, trung thực gắn bó với công việc của tổ

    chức.

    Tuyển được người có sức khoẻ, làm việc lâu dài trong tổ chức với nhiệm vụ được giao.

    3.Phân tích các yếu tố tác động đến tuyển dụng.

     

    1. Nhóm các yếu tố bên trong.

     

    – Uy tín của tổ chức trên thị trường, tổ chức càng có uy tín thì càng dễ

    thu hút lao động. Người lao động khi đi xin việc thì họ luôn mong đợi xin vào làm việc tại các doanh nghiệp có uy tín, có truyền thống lâu năm.

    Ví dụ: Các tổng công ty lớn, hệ thống ngân hàng tài chính, các doanh nghiệp đầu ngành là những nơi dễ thu hút lao động.

    • Khả năng tài chính tài chính của doanh nghiệp: Đây là yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động tuyển dụng vì khi tổ chức một chương trình tuyển dụng rất tốn kém về kinh phí.
    • Các chính sách về nguồn nhân lực của doanh nghiệp, chính sách đào tạo, đề bạt, sử dụng lao động. Người lao động ở bất cứ tổ chức nào cũng rất quan tâm đến các chính sách đào tạo, đề bạt, sử dụng lao động vì vậy nếu các chính sách này phù hợp thì sẽ giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động. Còn người lao động cũng tin tưởng và trung thành hơn với doanh nghiệp.
    • Các yếu tố khác như văn hoá doanh nghiệp, phong cách người lãnh đạo, điều kiện làm việc. Người lao động luôn mong muốn được làm việc trong một môi trường có sự gắn kết chặt chẽ các thành viên, có đầy đủ mọi điều kiện để thực hiện công việc, được khuyến khích sáng tạo và được các thành viên trong môi trường đó quý mến, giúp đỡ… Khi các điều kiện trên là hợp lý thì đều thu hút được người lao động đến và làm việc lâu dài với tổ chức.

    3.2. Nhóm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.

    • Cung lao động, cầu lao động trên thị trường, khi doanh nghiệp có nhu cầu về lao động thì cung về lao động là vấn đề được doanh nghiệp quan tâm. Qua đó doanh nghiệp sẽ biết được cung về lao động sẽ đáp ứng đến đâu so với nhu cầu lao động của doanh nghiệp về số lượng và chất lượng.
    • Quan niệm về nghề nghiệp công việc: Ở các thời gian khác nhau thì quan niệm về nghề nghiệp, công việc là khác nhau. Nếu các vị trí công việc cần tuyển dụng, các công việc của tổ chức đang là các công việc của nhiều người yêu thích thì doanh nghiệp sẽ thu hút được nhiều người lao động hơn.

    Ví dụ: Hiện nay có nhiều người muốn xin việc ở công ty Môi trường đô thị vì xã hội ngày càng quan tâm hơn đến môi trường.

    • Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dẫn tới có sự thay đổi cơ cấu lao động trong toàn bộ nền kinh tế vì vậy nó có tác động đến việc ngành này hay ngành khác có tuyển được lao động hay không?. Ngành nào được người lao động lựa chọn nhiều hơn.
    • Sự cạnh tranh của các tổ chức, các doanh nghiệp trong công tác tuyển dụng. Ở Việt Nam sự cạnh tranh này chưa gay gắt nhưng trong tương lai nhất định nó sẽ là một vấn đề mà các tổ chức luôn phải quan tâm.

    Ví dụ: Một người thợ may giỏi họ luôn có xu hướng muốn làm việc tại công ty may 10 hơn là công ty may Chiến thắng. Vậy đối thủ cạnh tranh của công ty may Chiến thắng là công ty may10.

    • Các văn bản pháp lý của nhà nước. Đây là cơ sở của các tổ chức tiến hành tuyển dụng lao động theo pháp luật nhà nước quy định.

    4.Phân tích công việc là cơ sở để tiến hành tuyển dụng

    Phân tích công việc là quá trình thu thập các tư liệu và đánh giá một cách có hệ thống các thông tin quan trọng có liên quan đến các công việc cụ thể trong tổ chức nhằm làm rõ bản chất của từng công việc.

    Thực chất và mục đích của phân tích công việc là nghiên cứu các công việc để làm rõ ở từng công việc cụ thể, người lao động có những nhiệm vụ gì; họ thực hiện hoạt động nào, tại sao phải thực hiện và thực hiện như thế nào; những máy móc, thiết bị công cụ nào được sử dụng; những mối quan hệ nào được thực hiện và thực hiện như thế nào; các điều kiện làm việc cụ thể cũng như những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và các khả năng mà người lao động cần phải có để thực hiện công việc.

    Phân tích công việc có ý nghĩa rất quan trọng đối với tuyển mộ, tuyển chọn, có thể nói phân tích công việc là cơ sở của tuyển chọn. Vì để tuyển dụng một cán bộ có trình độ, kỹ năng phù hợp thì trước tiên cần xác định rõ cán bộ đó sẽ làm được công việc gì? Hay chính là những tiêu chuẩn được xây dựng nhằm thực hiện tuyển dụng. Việc xây dựng các tiêu chuẩn càng chính xác bao nhiêu thì việc tuyển chọn có hiệu quả bấy nhiêu và qua đó sẽ tuyển chọn được người phù hợp với công việc. Để xây dựng được những tiêu chuẩn trên tất yếu phải thông qua phân tích công việc.

    II. QUÁ TRÌNH TUYỂN DỤNG

     

    1.     Quá trình tuyển dụng

    Sơ đồ về quá trình tuyển mộ.

    Kế hoạch hoá nguồn nhân lực

    Giải pháp thay thế

    Tuyển mộ

    Nguồn nội bộ

    Nguồn bên ngoài

    Phương pháp tuyển mộ   Phương pháp tuyển mộ
         

    Tiến hành tuyển mộ

    1.1. Kế hoạch hoá nguồn nhân lực:

    Kế hoạch hoá nguồn nhân lực (KHHNNL) là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu về nguồn nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc của tổ chức và việc xây dựng các kế hoạch lao động để đáp ứng được các nhu cầu đó.

    1.1.2. Cầu lao động: là số lượng và cơ cấu lao động cần thiết để hoàn thành số lượng sản phẩm, dịch vụ và công việc của tổ chức trong một giai đoạn nào đó.

    Các phương pháp xác định cầu nhân lực:

    1. Phương pháp xác định nhu cầu nhân lực theo hao phí lao động. Công thức tính: D = Error!

     

    Trong đó:

     

    D: cầu về lao động.

    SLi: sản lượng của sản phẩm thứ i căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    ti: hao phí thời gian để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.

    Tn: quĩ thời gian làm việc bình quân của một người lao động năm kế hoạch.

    Km: hệ số tăng năng suất lao động dự tính cho năm kế hoạch.

    1. Phương pháp tính theo năng suất lao động. Công thức: D = Error!

     

    Trong đó:

     

    D: cầu về lao động.

     

    Q: giá trị tổng sản lượng năm kế hoạch.

     

    W: năng suất lao động bình quân năm báo cáo.

     

    c.Phương pháp xác định nhu cầu lao động theo tiêu chuẩn định biên. Theo phương pháp này nhu cầu nhân lực sẽ được tính theo cơ sở tiêu

    chuẩn định biên (khối lượng công việc, nhiệm vụ mà một người đảm nhận) d. Phương pháp ước lượng trung bình.

    Theo phương pháp này dự báo nhu cầu nhân lực của tổ chức thời kỳ kế hoạch dựa vào cầu nhân lực bình quân hàng năm.

    đ. Phương pháp dự tính nhu cầu trên cơ sở nhu cầu của từng đơn vị. Theo phương pháp này cán bộ quản lý các bộ phận, phòng ban đơn vị

    căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ và khối lượng công việc để dự báo nhu cầu nhân lực trong bộ phận mà mình phụ trách.

    Nhu cầu lao động; của tổ chức = Σ nhu cầu lao động của các đơn vị.

    1. Phương pháp phân tích hồi qui.

    Theo phương pháp này cầu nhân lực sẽ được dự báo trên cơ sở sử dụng hàm cầu toán học biểu thị mối quan hệ giữa số lượng lao động cần thiết với các yếu tố ảnh hưởng (doanh số, số lượng, sản phẩm, năng suất lao động).

    Hàm cầu: D = f(x1, x2, x3…)

    1. Phương pháp tiêu chuẩn hao phí lao động cho một đơn vị sản phẩm (sản lượng).

     

    Công thức: D = Error!

     

    Trong đó : D: cầu nhân lực năm kế hoạch.

     

    • tổng sản lượng cần phải sản xuất năm kế hoạch.

    t: tiêu chuẩn hao phí lao động cho một đơn vị sản lượng năm kế hoạch.

    • tổng số giờ làm việc bình quân của một lao động năm kế hoạch.
    1. Phương pháp chuyên gia.

    Theo phương pháp này nhu cầu nhân lực sẽ được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm của các chuyên gia có thể là trưởng phòng nguồn nhân lực, người có hiều biết sâu rộng kế hoạch hoá nguồn nhân lực, các chuyên gia phân tích tình hình thực tế của tổ chức, dự báo sự thay đổi có thể xảy ra bằng kinh nghiệm bản thân.

    1. Phương pháp phân tích xu hướng.

    Theo phương pháp này cầu nhân lực sẽ được ước lượng trên cơ sỏ số liệu của các năm trước, từ số liệu đó có thể dự đoán được xu hướng tăng hay giảm lao động trong những năm tiếp theo.

    1.1.3. Cung lao động.

    Dự báo cung nhân lực từ hai nguồn: cung nhân lực từ bên trong tổ chức và cung nhân lực từ bên ngoài tổ chức.

    1. Cung nội bộ: Phân tích tình hình sử dụng lao động với nội dung: Đánh giá cơ cấu lao động hiện đại có phù hợp với yêu cầu của công việc lao động hay không. Phân tích đánh giá trình độ của người lao động. Phân tích đánh giá sự biến động lao động trong tương lai. Từ việc phân tích sẽ đưa ra các kế hoạch thích ứng cho tuyển mộ tuyển chọn lao động.

     

    1. Cung bên ngoài:

    Nguồn lao động: Học sinh, sinh viên tốt nghiệp, lao động tự do, lao động hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp khác, những người hết tuổi lao động có mong muốn và khả năng lao động, lao động trên thị trường vv…

    1.2. Phân tích các giải pháp thay thế.

    Để thưc hiện được chương trình tuyển dụng đòi hỏi chi phí tương đối lớn và tốn nhiều công sức vì vậy một tổ chức chỉ thực hiện tuyển dụng mới trong những điều kiện thực sự cần thiết. Trước khi đi đến quyết định mở một chương trình tuyển dụng thì các tổ chức thường xem xét các giải pháp thay thế.

    1. Hợp đồng thầu lại:

    Trong điều kiện hiện nay một số tổ chức vì khó khăn về lao động không thể tuyển mộ được thì có thể cho một số tổ chức khác thực hiện công viêc dưới dạng hợp đồng thuê lại. Tuy nhiên giải pháp này muốn thực hiện có hiệu quả thì phải phân tích kỹ lưỡng các mặt như chất lượng công việc chi phí và lợi ích các bên.

    Ví dụ: Một xưởng may nhỏ của hộ gia đình nhận được một hợp đồng với số lượng sản phẩm lớn. Thời gian thực hiện hợp đồng là 20 ngày. Xét thấy xưởng may không thể hoàn tất công việc trong thời gian trên thì chủ hộ có thể ký hợp đồng để một xưởng may khác thực hiện một phần công việc của hợp đồng hoặc toàn bộ hợp đồng.

    1. Làm thêm giờ.

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh tổ chức sẽ gặp phải các khó khăn khi thực hiện các hợp đồng. Một trong các khó khăn đó là thời gian, lao động đáp ứng cho việc thực hiện hợp đồng. Những lúc như thế tổ chức không thể tuyển mộ lao động được ngay thì có một giải pháp thường xuyên được các tổ chức lựa chọn đó là làm thêm giờ. Phương pháp này cho phép tiết kiệm được chi phí tuyển thêm người và tăng năng suất lao động mà không cần tăng thêm lao động.

    Làm thêm giờ phải tuân theo các điều khoản đã được quy định trong “Bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

    1. Nhờ giúp tạm thời (nhân viên tạm thời)

    Thuê nhân công tạm thời cũng là một biện pháp được nhiều tổ chức lựa chọn trong giai đoạn biến thiên theo mùa vụ.

    Ví dụ: Công ty da giầy, công ty may mặc, công ty bánh kẹo có thể sử dụng hợp đồng thuê lao động ngắn hạn vào các thời điểm cần nhiều lao động để sản xuất phục vụ cho một dịp nào đó.

    1. Thuê lao động từ công ty cho thuê.

    Phương pháp này chưa phổ biến ở Việt Nam tuy nhiên các tổ chức cũng có thể tham khảo.

    1.3. Nguồn tuyển mộ.

    1.3.1. Nguồn nội bộ.

    Bất cứ một tổ chức nào khi có nhu cầu tuyển dụng lao động thì nguồn nội bộ luôn được ưu tiên hàng đầu vì những ưu điểm của nó.

    • Tạo ra được động cơ tốt cho tất cả những người đang làm việc trong tổ chức, kích thích họ làm việc tốt hơn, sáng tạo hơn, tận tâm và với hiệu suất cao hơn.
    • Nhân viên cũ của tổ chức đã quen với điều kiện làm việc nên ta tiết kiệm được thời gian làm quen công việc và tăng cường được sự trung thành đối với tổ chức.
    • Nguồn nội bộ cũng có những hạn chế nhất định. Nhân viên được tuyển vào một chức vụ theo kiểu thăng chức nội bộ có thể sinh ra hiện tượng rập khuôn lại cách làm việc do quá quen với cách làm việc của cấp trên mà thiếu tính sáng tạo.
    • Mặt khác, trong đơn vị dễ hình thành nhóm “Những ứng cử viên không thành công”. Họ là những người ứng cử vào một chức vụ nào đó nhưng không được chọn gây ra tâm lý không phục lãnh đạo, thái độ bất hợp tác chia bè phái, khó làm việc.

    Khi tuyển mộ nguồn này ta có ba phương pháp để lựa chọn:

    Phương pháp tham khảo ý kiến. Theo phương pháp này để tìm người cho một vị trí nào đó người ta có thể tham khảo ý kiến những người quản lý bộ phận và những người có uy tín trong doanh nghiệp, một số lao động và các chuyên gia về nhân sự. Đây là phương pháp thường được sử dụng ở Việt Nam.

    Phương pháp thông báo công khai: Theo phương pháp này tất cả cán bộ công nhân viên trong tổ chức sẽ được cung cấp thông tin đối với người được tuyển dụng. Những người trong tổ chức thấy mình có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện thì có thể nộp đơn tham gia dự tuyển.

    Phương pháp lưu giữ kỹ năng: Theo phương pháp này thì tất cả các đặc điểm nhân sự sẽ được lưu giữ lại trong phần mềm máy tính. Khi cần tìm người cho một vị trí nào đó ta có thể dùng các lệnh khác nhau, khi cần sẽ gọi trong máy ra. Đây là phương pháp thích hợp cho các doanh nghiệp công ty có quy mô lớn.

    1.3.2. Nguồn bên ngoài: Có rất nhiều nguồn tuyển mộ từ bên ngoài, có thể là bạn bè của nhân viên, nhân viên cũ của công ty, người nộp đơn xin việc, nhân viên các hãng doanh nghiệp khác, các trường đại học – cao đẳng, người thất nghiệp…

    • Bạn bè của nhân viên: Các nhân viên thường biết rất rõ bạn bè của mình đang cần một việc làm và họ có thể trở thành một nhân viên tốt. Họ thường giới thiệu cho công ty những người có khả năng và có chất lượng.
    • Nhân viên cũ: Là những nhân viên đã từng làm trong doanh nghiệp nhưng vì một lý do nào đó họ chuyển đến nơi khác, hiện đang mong muốn trở lại làm việc cho doanh nghiệp.
    • Ứng cử viên nộp đơn xin việc: Là những người lao động đến nộp đơn xin việc, được coi như các ứng cử viên tự nguyện bởi vì doanh nghiệp không đăng quảng cáo tìm người.
    • Nhân viên của hãng khác: Tuyển mộ nhân viên từ nguồn này có nhiều ưu điểm. Những nhân viên này có sẵn tay nghề và doanh nghiệp không phải bỏ chi phí đào tạo, nếu có thì kinh phí đào tạo thấp, thời gian đào tạo ngắn.
    • Sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng: Đây là một trong những nguồn ngày càng trở nên quan trọng đối với hầu hết các doanh nghiệp bởi vì những người từ nguồn này là những sinh viên còn trẻ dễ đào tạo và có nhiều sáng kiến.
    • Người thất nghiệp: Là những người lao động trên thị trường và họ không có việc làm trong số này có rất nhiều lao động có năng lực trình độ nhưng vì nhiều lý do nên họ không có việc làm.

    Các phương pháp được dùng khi tuyển mộ nguồn bên ngoài là:

    Phương pháp quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến nhất là quảng cáo trên báo chí vì chi phí quảng cáo cho cách này không quá lớn như quảng cáo trên ti vi hay các phương tiện nghe nhìn khác. Trước khi tiến hành quảng cáo thì doanh nghiệp tạo dư luận để tránh những phản ứng của công nhân viên trong công ty.

    Phương pháp cử chuyên viên tuyển mộ đến các trường: Doanh nghiệp sẽ tuyên truyền việc tìm kiếm nhân viên, tiến hành gặp mặt, phỏng vấn đối với nhân viên mới tốt nghiệp có nhu cầu tìm việc, một số doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ lâu dài với các trường đào tạo, tài trợ học bổng cho các

    trường, tổ chức cho sinh viên, học sinh đến doanh nghiệp mình tham quan, thực tập.

    Phương pháp thông qua các văn phòng, các trung tâm giới thiệu việc làm. Các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển lao động thì có thể thông qua các trung tâm chuyên giới thiệu việc làm. Tuyển dụng theo cách này không mất thời gian và dễ tìm được người theo đúng yêu cầu tuy nhiên chi phí rất cao.

    Phương pháp thông qua hội trợ việc làm: Doanh nghiệp có thể cử người đến các hội trợ việc làm để tuyển lao động.

    Phương pháp thông qua người thân hoặc bạn bè của các nhân viên trong công ty, ứng cử viên tự nộp đơn hay các phương pháp khác.

    2. Quá trình tuyển chọn.

    Quá trình tuyển chọn gồm các bước sau đây:

    Bước 1: Phỏng vấn sơ bộ, đón tiếp ban đầu phải được diễn ra trong bầu không khí lịch sự thoải mái, thông qua phỏng vấn sơ bộ có thể loại những ứng cử viên không có khả năng phù hợp với công việc.

    Bước 2: Nộp đơn xin việc. Đơn xin việc phải được thiết kế có chủ định để có thể thu thập được những thông tin cơ bản về người lao động.

    Bước 3: Trắc nghiệm tuyển chọn là việc sử dụng các kỹ thuật khác nhau để đánh giá, đo lường về sự hiểu biết, khéo léo, cá tính của mỗi người, các bài trắc nghiệm thường được soạn thảo dưới dạng câu hỏi và ứng cử viên sẽ lựa chọn phương án trả lời. Có bốn loại trắc nghiệm: trắc nghiệm tâm lý, trắc nghiệm về kiến thức, trắc nghiệm về khả năng thực hiện công việc, trắc nghiệm về thái độ và sự nghiêm túc.

    Bước 4: Phỏng vấn tuyển chọn: Là sự trao đổi trực tiếp giữa nhà tuyển dụng và ứng cử viên. Đây là một trong những bước tuyển dụng hiệu quả nhất vì thông qua phỏng vấn nhà tuyển dụng sẽ đánh giá được nhiều khía cạnh mà các bước tuyển dụng trước không cho ta thấy rõ. Có các loại phỏng vấn sau: Phỏng vấn theo mẫu, phỏng vấn theo tình huống, phỏng vấn theo mục tiêu,

    phỏng vấn không có hướng dẫn, phỏng vấn căng thẳng, phỏng vấn theo nhóm và phỏng vấn hội đồng.

    Bước 5: Thẩm tra lại về trình độ và tiền sử làm việc, kiểm tra lại những thông tin mà ứng cử viên cung cấp có chính xác hay không, thẩm tra lại quá trình làm việc, trình độ đào tạo.

    Bước 6: Đánh giá y tế, kiểm tra sức khoẻ. Mục đích nhằm giúp cho doanh nghiệp bố trí hợp lý các công nhân viên mới vào các vị trí công việc phù hợp với đặc điểm sức khoẻ của họ.

    Bước 7: Phỏng vấn bởi người lãnh đạo trực tiếp. Người lãnh đạo trực tiếp có thể đánh giá kỹ hơn về các khả năng kỹ thuật của người dự tuyển và trả lời câu hỏi chi tiết có liên quan đến công việc và sẽ cho ý kiến quyết định cuối cùng.

    Bước 8: Tham quan cụ thể về công việc. Người dự tuyển được xem tận mắt công việc mà họ sẽ thực hiện lao động, có liên quan đến cả các yếu tố không thuận lợi về công việc.

    Bước 9: Ra quyết định tuyển chọn.

    Phòng quản trị nhân lực thông báo lại cho những người không trúng tuyển để giữ các mối quan hệ xã hội tốt. Đồng thời lưu giữ các đơn xin việc của những người không trúng tuyển để sử dụng trong đợt tuyển dụng tiếp theo, phòng quản trị nguồn nhân lực cũng lưu giữ hồ sơ của những người trúng tuyển để bắt đầu việc theo dõi và quản trị nhân sự đốivới họ, ngoài ra phòng quản trị nguồn nhân lực còn nghiên cứu tất cả các đơn xin việc của tất cả những người dự tuyển để đánh giá mức độ thành công của công tác tuyển dụng và tham khảo ý kiến của người trúng tuyển để điều chỉnh hoặc thiết kế lại quá trình tuyển chọn nếu cần thiết.

    Trên thực tế không phải tất cả mọi doanh nghiệp đều thực hiện đầy đủ các bước trên mà có thể quá trình tuyển chọn được rút ngắn hơn để tiết kiệm thời gian và kinh phí, việc tuyển chọn tại các doanh nghiệp mặc dù rút ngắn

    nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả của quá trình tuyển chọn, không loại bỏ một số bước mà các doanh nghiệp thường làm gộp một số bước.

    Qua phân tích trên ta thấy công tác tuyển dụng lao động có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đồng thời nó cũng có

    • nghĩa đối với tập thể và cá nhân người lao động thể hiện qua hiệu quả hoạt động của tập thể người lao động. Từ đây ta thấy được vai trò then chốt, quan trọng của hoạt động tuyển dụng ở chuyên ngành quản trị nhân nhân lực.

    CHƯƠNG II

    PHÂN TÍCH TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG TUYỂN DỤNG.

    Sơ đồ 1: Mối quan hệ qua l ại giữa tuyển dụng và các chức năng khác của quản trị nhân lực.

    Nhiều người tham gia tuyển mộ cho phép người sử dụng  lao động có khả năng lựa chọn nhiều hơn

    Tỷ lệ số người được chấp nhận ảnh hưởng đến

    số người cần thiết phải tuyển mộ.

    Những người xin việc có trình độ tay nghề cao

    thì thực hiện công việc tốt hơn

    Tuyển

    dụng

    Các vấn đề tồn tại về thực hiện công việc có thể cho thấy

    sự cần thiết thu hút những người lao động có trình độ

    cao

    Đánh giá tình hình thực hiện công việc

    Thù lao

    Cung về lao động sẽ ảnh hưởng đến mức lương và người

    có trình độ cao sẽ mong muốn mức lương cao hơn

    Mức lương cao tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc thu

    hút người có trình độ cao hơn.

                  Đào tạo
                  và phát
          Người lao động có tay nghề đòi hỏi ít phải đào tạo hơn
          người không có tay nghề.   triển
                   
                   
          Tuyển mộ được đơn giản hoá hơn nếu nhân viên mới có        
      thể được đào tạo phù hợp với ít thời gian và kinh phí hơn.        
                   
                   
                  Các mối
          Những người lao động được bố trí vào những vị trí thích
            quan hệ
          hợp có tỷ lệ công việc thay đổi thấp hơn và có sự thoả  
            lao động
          mãn cao hơn  
             
    I. TUYỂN   XUẤT KINH
    DHìnhỤNGả nhVcIa côngVIỆCty ảTHnhhưởC ngHIđếnNquyKẾết địHOACHnhnộpđơSnvàoN
    DOANH, M   một vị trí      
    ỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP      
    Khi doanh nghiệp có một kế hoạch sản xuất kinh doanh thì cần xác định

    các nguồn lực để đáp ứng kế hoạch sản xuất kinh doanh đó như: tài chính, nguyên vật liệu, vốn đầu tư, nhà cung ứng, nguồn nhân lực vv…. Trong đó

    nguồn nhân lực là quan trọng hàng đầu. Dù kế hoạch sản xuất có đầy đủ các điều kiện về công nghệ hiện đại, tài chính, nguyên vật liệu… nhưng nếu không có một nguồn lao động vận hành sử dụng các nguồn lực ấy thì nó chỉ là các nguồn lực chết. Nếu tất cả các điều kiện khác của sản xuất đã đáp ứng nhu cầu thì nguồn nhân lực được đáp ứng đúng và đủ về số lượng và chất lượng sẽ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục. Đặc biệt khi gặp khó khăn từ các nguồn khác mà nguồn nhân lực lại có thế mạnh thì vẫn duy trì được hoạt động của doanh nghiệp.

    Ví dụ: Doanh nghiệp đang trong giai đoạn khó khăn về tài chính, người lao động trung thành với doanh nghiệp có thể chấp nhận để lại một phần

    lương của mình giúp đỡ doanh nghiệp. Hay doanh nghiệp muốn đổi mới công nghệ hiện đại nhưng việc vận hành công việc này lại khó khăn, người lao động có tay nghề cao hay lao động tiềm năng của doanh nghiệp có thể giúp được doanh nghiệp vì những người này luôn nắm bắt được công nghệ mới nhanh chóng với vốn kiến thức của mình. Vậy cung ứng nguồn nhân lực đầy đủ (hay tuyển dụng đúng kế hoạch) sẽ đảm bảo cho tổ chức tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao.

    Trong một kế hoạch sản xuất kinh doanh, cần có kế hoạch về lao động với cơ cấu thích hợp (lao động kỹ thuật, lao động trực tiếp sản xuất, lao động quản lý vv …). Doanh nghiệp tuyển dụng được một cơ cấu lao động tương đối phù hợp thì kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ diễn ra thuận lợi. Tuy nhiên trên thực tế việc tuyển dụng được cơ cấu lao động hợp lý là rất khó khăn. Ví dụ: Hầu hết các doanh nghiệp ở một số địa phương phía Nam đều không đảm bảo được kế hoạch tuyển dụng lao động cho sản xuất kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp thường có kế hoạch tuyển dụng lao động.

    Biểu 1: Thực hiện kế hoạch tuyển dụng của các doanh nghiệp phía Nam 6 tháng đầu năm 2002.

      Kế hoạch Thực hiện tuyển Tỷ lệ thực hiện
    Chỉ tiêu tuyển dụng cả dụng 6 tháng so với kế
      năm (người) đầu năm (người) hoạch năm (%)
           
    1. Lao động quản lý, tổng số 4724 3804 80,52
    – Kỹ thuật 2263 1871 82,68
    – Hành chính 1456 1119 76,85
    – Kinh tế 1007 814 80,83
           
    2. Lao động trực tiếp, tổng số 87543 73560 84,03
    a. Lao động phổ thông 57678 54413 94,34
    b. Lao động đào tào. 29865 19147 61,11
    Trong đó      
    – Cao đẳng kỹ thuật 1510 551 36,49
           
    – Trung cấp chuyên nghiệp 1480 766 51,76
    – Công nhân kỹ thuật dài hạn 6908 3826 55,39
    – Công nhân kỹ thuật ngắn hạn 19292 13603 70,51
    – Nhân viên nghiệp vụ dài hạn 517 299 57,83
    – Nhân viên nghiệp vụ ngắn 69 41 59,42
    hạn      
           

    Qua biểu trên ta thấy đa số lao động không tuyển dụng được theo kế hoạch là lao động có chuyên môn kỹ thuật, trong đó tỷ lệ thực hiện tuyển dụng so với kế hoạch rất thấp, loại lao động trình độ cao đẳng kỹ thuật (36,5%), công nhân kỹ thuật đào tạo dài hạn (55,39%), trung cấp chuyên nghiệp (51,76%), nhân viên nghiệp vụ đào tạo dài hạn (57,83%)… Kết quả tuyển dụng này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nên quan tâm hơn nữa đến tuyển dụng lao động, áp dụng các phương pháp tuyển mộ rộng rãi để thu hút được nhiều người lao động từ nhiều nguồn khác nhau đến tham gia nộp đơn xin việc.

    Trong giai đoạn nước ta đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu về lao động có chuyên môn tay nghề, lao động kỹ thuật là rất lớn. Mọi tổ chức muốn đứng vững được trong môi trường kinh tế quốc tế hoá với sự cạnh tranh khốc liệt tổ chức phải đặc biệt quan tâm đến việc tuyển một đội ngũ lao động phù hợp với chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn và định hướng phát triển tổ chức trong tương lai. Vậy tuyển dụng có vai trò rất quan trọng trong mọi tổ chức.

    II. TUYỂN DỤNG VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC CỦA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC.

     

    1.     Tuyển dụng với vấn đề đào tạo, phát triển.

    Một trong các yêu cầu của tuyển dụng là tuyển được người có chuyên môn cần thiết, có thể làm việc đạt tới năng suất cao, hiệu suất công tác tốt, đáp ứng được các yêu cầu công việc.

    Tuyển dụng không phù hợp với thực tiễn và khoa học thì người lao động được tuyển sẽ không đáp ứng được yêu cầu công việc. Ta phải căn cứ

    vào phân tích công việc để tiến hành tuyển dụng theo đúng yêu cầu của công việc. Trong tuyển chọn phải thông qua bản tiêu chuẩn thực hiện công việc và bản yêu cầu của công việc đối với người thực hiện. Qua đây sàng lọc kỹ hơn các đối tượng không đáp ứng được yêu cầu công việc và tuyển chọn được người lao động có trình độ kỹ năng phù hợp. Nếu khi tuyển dụng cán bộ tuyển dụng không căn cứ vào các yêu cầu của công việc đối với người lao động, không sử dụng các phương pháp tuyển chọn khoa học thì chất lượng của người lao động được tuyển vào sẽ không cao. Như vậy vô hình dung tổ chức đã tuyển dụng những người không đáp ứng được nhu cầu công việc bắt buộc tổ chức phải đào tạo những người này với thời gian và kinh phí nhất định. Bằng các phương pháp tuyển dụng khoa học tổ chức có thể tiết kiệm được các khoản chi phí này.

    Chính sách tuyển dụng của tổ chức:

    Ta biết rằng chính sách tuyển dụng của một tổ chức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tuyển dụng của chính tổ chức đó, thể hiện qua việc người lao động có đáp ứng được yêu cầu công việc hay không.

    Ví dụ: Tại Hưng Yên mặc dù đã có chính sách cứ 100m2 đất bị “mất” sẽ được nhận một lao động. Song hầu như ở mọi địa bàn trong tỉnh, tỷ lệ này không bao giờ đạt được. Ở những khu công nghiệp, khu chế xuất việc sử dụng thiết bị máy móc mới là một điều tất yếu. Vì vậy, dù có thiện chí với địa phương đến đâu thì các doanh nghiệp cũng không thể sử dụng những lao động không biết làm gì với hệ thống thiết bị của họ.

    Trong ví dụ này nếu doanh nghiệp áp dụng chính sách tuyển dụng ban đầu thì doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều kinh phí cho đào tạo đội ngũ lao động mới. Nếu doanh nghiệp chỉ tuyển dụng một số người lao động đáp ứng được yêu cầu công việc thì lại mâu thuẫn với lợi ích của những người khác. Vậy chính sách tuyển dụng mà phù hợp với thực tiễn thì sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động tuyển dụng, đồng thời chính sách đó cũng chỉ cho doanh nghiệp biết đối tượng lao động nào được tuyển nhằm tiết kiệm chi phí đào tạo.

    Ngành nghề gắn với chuyển giao công nghệ ngoại nhập, ngành nghề đang có quy mô phát triển trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và các ngành nghề sản xuất hướng vào xuất khẩu thì công tác tuyển dụng càng thể hiện vai trò quan trọng. Tuyển được người lao động đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu công việc, tạo điều kiện cho tổ chức đào tạo người lao động trở thành thợ đa kỹ năng, có thể tiếp nhận được công nghệ mới, vận hành được nhiều máy móc trong phân xưởng. Đảm bảo ổn định lao động trong tổ chức, nhu cầu lao động xuất hiện tổ chức có thể tuyển từ chính nguồn lao động bên trong tổ chức, giảm thiểu các trường hợp bị động trong tuyển dụng.

    Vậy qua trên phân tích ta thấy là một hoạt động rất quan trọng của tổ chức, đồng thời tuyển dụng cũng ảnh hưởng rất lớn đến nội dung của công tác quản trị nhân lực đó là đào tạo và phát triển.

    Tuyển dụng mà đánh giá chính xác trình độ chuyên môn tay nghề của người lao động sẽ tiết kiệm được chi phí đào tạo. Người lao động có tay nghề ít đòi hỏi về đào tạo. Để đánh giá chính xác trình độ chuyên môn tay nghề thì tổ chức lại tiếp tục dựa vào bản tiêu chuẩn thực hiện công việc và bản yêu cầu của công việc đối với người thực hiện. Đây là cơ sở để ta đối chiếu khả năng thực tế của người lao động đối với các tiêu chuẩn, yêu cầu. Trong quá trình tuyển chọn nhất định phải phỏng vấn chuyên môn và tham quan thử việc từ đây đánh giá được trình độ chuyên môn của người lao động.

    Người lao động được tuyển vào có trình độ kỹ thuật phù hợp họ sẽ thực hiện được công việc ngay tạo ra năng suất lao động. Họ dễ dàng nâng cao hiệu quả thực hiện công việc mà không cần đào tạo thêm.

    Tuy rằng người lao động mới vào doanh nghiệp thì đều phải làm quen với dây truyền sản xuất, công nghệ của doanh nghiệp, nhưng người có trình độ tay nghề cao, đặc biệt là lao động có kinh nghiệm từ các tổ chức khác được tuyển, họ có số năm đảm nhận công việc lớn. Thời gian định hướng cho những lao động này rất ít, họ thường làm quen nhanh chóng với công nghệ sản xuất.

    Người lao động được tuyển vào doanh nghiệp được bố trí làm đúng công việc yêu thích theo đúng khả năng là động lực to lớn khích lệ tinh thần làm việc hăng say, tận tâm với công việc đưa đến kết quả làm việc cao. Song song với những yếu tố tốt đẹp trên người lao động sẽ tự biết rèn luyện nâng cao tay nghề mà không cần phải qua các lớp đào tạo, còn nếu phải đào tạo thì cũng chỉ là đào tạo trong công việc, ít tốn kém.

    Người lao động mới đáp ứng được ngay các yêu cầu công việc mà không phải tiến hành đào tạo thêm là một thành công rất lớn của hoạt động tuyển dụng.

    2. Tuyển dụng với vấn đề đánh giá sự thực hiện công việc

    Tuyển dụng, được những người lao động có trình độ lành nghề thấp, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chưa vững thì kết quả thực hiện của họ ở mức trung bình. Trong quá trình sản xuất vì kinh nghiệm và kỹ năng chưa nhiều nên sản phẩm mà họ làm ra có chất lượng không cao, độ chính xác và thẩm mỹ ở mức vừa phải, đôi khi tỷ lệ sản phẩm sai hỏng cao tù đây gây khó khăn cho việc đánh giá sự thực hiện công việc. Tuyển người lao động có trình độ thấp không những doanh nghiệp phải tiến hành đào tạo như ở mục II.1 rất tốn kém mà việc đánh giá sự thực hiện công việc của những người này cũng không dễ dàng. Đến đây ta càng thấy rõ hơn vai trò của hoạt động tuyển dụng với các chức năng khác của quản trị nhân lực và với tổ chức. Kết quả thực hiện công việc của người lao động ở một thời điểm nào đó là một phần trong kết quả sản xuất chung của toàn doanh nghiệp. Vì vậy, đánh giá đúng chính xác sự thực hiện của người lao động là rất cần thiết. Trên thực tế đánh giá sự thực hiện công việc sẽ thuận lợi với những người lao động có trình độ chuyên môn cao.

    Người lao động được tuyển mới có trình độ chuyên môn cao, thao tác làm việc chính xác, kết quả sản xuất ít sai hỏng nên dễ đo lường để đánh giá kết quả thực hiện công việc. Vấn đề đặt ra với hoạt động tuyển dụng là phải tuyển được đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao, tạo thuận lợi cho đánh giá sự thực hiện công việc của họ. Ngược lại đánh giá đúng kết

    quả thực hiện công việc của người lao động, sẽ tạo cho họ sự yên tâm với công việc và người lao động sẽ gắn bó hơn với doanh nghiệp. Khi thực hiện thăng thưởng đề bạt, những người có chuyên môn tay nghề cao với kết quả thực hiện công việc tốt sẽ được ưu tiên trước. Đề đạt như vậy tạo ra sự công bằng dân chủ trong doanh nghiệp, gây dựng được tình cảm và sự đồng tình của người lao động.

    Người lao động mới được đảm nhận một vị ttí công việc với nhiệm vụ rõ ràng sẽ tạo thuận lợi cho việc đánh giá sự thực hiện công việc hay nhiệm vụ của họ. Vậy tuyển dụng phải tuyển đúng người cho đúng công việc. Người lao động luôn quan tâm đến công việc và nhiệm vụ mình làm được đánh giá như thế nào, có tương ứng với đóng góp của họ hay không. Người lao động được làm đúng chuyên môn, họ sẽ tự hạn chế được các sai phạm trong quá trình lao động vì thế kết quả thực hiện công việc của họ thường là tốt. Kết quả thực hiện công việc chủ yếu là thành tích của người lao động mà không có các yếu tố không mong muốn xảy ra như tai nạn lao động, sản phẩm hỏng, không hoàn thành nhiệm vụ được giao v.v..

    Kết quả đánh giá sự thực hiện công việc giúp cho bộ phận quản lý nguồn nhân lực và lãnh đạo cấp cao có thể đánh giá được thắng lợi của hoạt động tuyển dụng. Các vấn đề tồn tại về thực hiện công việc có thể cho thấy sự cần thiết thu hút những người lao động có trình độ cao hơn.

    3. Tuyển dụng với các mối quan hệ lao động

    Tuyển dụng với việc thực hiện hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể. Tuyển được người lao động đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công việc thì việc thực hiện hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể sẽ rất thuận lợi. Do đó trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể không vấp phải các trường hợp bỏ dở hợp đồng hoặc là người lao động không đáp ứng được yêu cầu công việc phải làm các công việc không đúng như hợp đồng đã ký. Việc này có thể dẫn đến những thiệt hại cho tổ chức nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng.

    Người lao động được tuyển vào doanh nghiệp thực hiện hợp đồng với sự nhất trí cao thì kết quả thực hiện hợp đồng tốt hơn, từ đó gây dựng được mối quan hệ lao động tốt đẹp giữa người lao động và tổ chức.

    Những người lao động được bố trí làm việc ở những vị trí thích hợp có tỷ lệ công việc thay đổi thấp và có sự thoả mãn cao hơn. Người lao động sẽ gắn bó với công việc, tâm huyết với nghề, vui vẻ với đồng nghiệp, luôn thưc hiện tốt các nội quy lao động góp phần tạo nên mối quan hệ thoải mái trong bộ phận từ đây hình thành lên văn hoá nhóm lành mạnh. Ở đây mọi thành viên đều đạt được sự thoả mãn về công việc và về các mối quan hệ lao động của mình. Nhân viên mới sẽ được đón tiếp vui vẻ và được công nhận là một thành viên của nhóm (tổ sản xuất). Mối quanhệ lao động tốt đẹp hoà hợp trong tổ chức làm tăng năng suất lao động chung, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện tốt các mục tiêu của tổ chức.

    Tuyển dụng dựa trên cơ sở của phân tích công việc sẽ đảm bảo thành công hơn trong việc bố trí sắp xếp, thuyên chuyển và thăng thưởng một cách kịp thời và hợp lý. Không những thế mà còn tạo kích thích lao động, gắn bó được người lao động đối với công việc, khích lệ phát triển năng lực cá nhân. Người lao động được doanh nghiệp quan tâm đúng mức sẽ trung thành hơn với doanh nghiệp và vun đắp cho mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp. Qua mối quan hệ lao động tốt đẹp sẽ nâng cao danh tiếng, uy tín của tổ chức, tạo dựng hình ảnh về một nơi làm việc tốt cho người lao động, tạo thuận lợi cho những lần tuyển dụng sau.

    Ví dụ: Chương trình tuyển dụng và đào tạo lao động của Unilever Việt

    Nam

    Mọi người lao động được tuyển vào Unilever đều được quan tâm định hướng và đảm bảo đầy đủ các điều kiện làm việc, được phát triển các kỹ năng. Những điều tốt đẹp trên đã xây dựng được quan hệ lao động hoà hợp trong công ty, người lao động được tuyển rất khắt khe và được bố trí làm các công việc ưa thích theo đúng năng lực làm cho người lao động gắn bó hơn với

    công ty. Chính quan hệ lao động tốt đẹp mà chính quyền tuyển dụng, sử dụng lao động của mình mà Unilever đã trở thành một trong các nhà tuyển dụng được ưa thích ở Việt Nam.

    Tuyển dụng được những lao động có kỷ luật, trung thực gắn bó với công việc của tổ chức sẽ đảm bảo cho quan hệ lao động hoàn thiện dần theo hướng đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hẹ lao động. Người lao động vi phạm kỷ luật về số lượng, chất lượng sản phẩm, thời gian lao động, an toàn lao động v.v.. thì cả phía người lao động và người sử dụng lao động đều nhận được các kết quả không cao.

    Người lao động có kỷ luật tốt sẵn sàng hợp tác với đồng nghiệp và người quản lý tạo nên không khí làm việc hoà đồng. Người lao động cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm nghè nghiệp, học tập lẫn nhau các hành vi chuẩn mực, các thao tác lao động tiên tiến. Phong cách làm việc như vậy sẽ gắn kết người lao động với nhau tạo nên sự đoàn kết gắn bó trong tổ chức. Người lao động được làm việc trong các tổ chức có mối quan hệ lao động tốt là một yếu tố tích cực giúp người lao động không bị xa vào các tệ nạn xã hội, đặc biệt là các tổ chức sử dụng lao động ở nhiều vùng khác nhau.

    Vậy tuyển dụng lao động có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành quan hệ lao động và duy trì quan hệ lao động tốt đẹp trong tổ chức.

    4.                 Tuyển dụng tốt tạo thuận lợi để thực hiện thù lao đãi ngộ đối với người lao động

     

    Tình hình cung cầu lao động sẽ ảnh hưởng đến mức lương mà doanh nghiệp quyết định trả cho người lao động. Thông thường người lao động mới được tuyển sẽ nhận được mức lương thấp (mức lương khởi điểm của doanh nghiệp). Kết quả tuyển dụng sẽ chỉ cho doanh nghiệp biết đã tuyển được bao nhiêu lao động, cơ cấu lao động, chất lượng lao động. Từ đây xác định mức lương tương ứng cho từng loại lao động, từng người lao động.

    Với mức lương tối thiểu hiện nay là 290.000 đồng, doanh nghiệp không được phép trả lương cho người lao động dưới 290.000 đồng. Lao động phổ

    thông sẽ được trả mức lương tối thiểu của doanh nghiệp, mức lương này tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp. Nếu lao động tyển vào là sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng thì có hệ số lương nhất định, tuỳ vào hệ số lương mà tổ chức xác định mức tiền lương cho người lao động của mình. Một sinh viên đại học ra trường nếu được tuyển vào các doanh nghiệp làm việc thì hệ số lương là 1,78, nếu vào cơ quan hành chính thì hệ số lương là 1,86 còn nếu ở lại trường thì hệ số lương là 1,92.

    Người lao động được tuyển có trình độ cao sẽ mong đợi các mức lương thù lao cao hơn. Tổ chức luôn phải trả cho những người này mức thù lao cao tương ứng làm cho người lao động yên tâm về thù lao của mình. Nếu doanh nghiệp có chính sách thu hút các nhân tài thì doanh nghiệp phải có chương trình thù lao cho các nhân tài đó. Làm được như vậy thì những nhân tài – người lao động có trình độ cao mới đến với doanh nghiệp, vì ở đây mong muốn về mức thù lao cao được đảm bảo. Khi trúng tuyển lao động, người lao động luôn mong muốn được trả mức lương cao. Người lao động được trả mức lương phù hợp sẽ có động lực tăng năng suất lao động, gắn bó với tổ chức.

    Tuyển dụng tốt đánh giá được khả năng chuyên môn của từng người lao động tạo thuận lợi cho quản lý lao động và quản lý thù lao trong tổ chức. Doanh nghiệp trả thù lao cho người lao động tương ứng với sức lao động, chất xám mà họ đã bỏ ra trong quá trình lao động. Thù lao phù hợp tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp giữ chân những người lao động giỏi. Tuyển dụng được các ứng cử viên tiềm năng, đánh giá đúng tiềm năng của họ, như những người lao động trẻ tuổi, sinh viên tốt nghiệp có thành tích học tập giỏi có thể được trả lương cao vì họ có tiềm năng trở thành người quản lý giỏi trong tương lai.

    Tỷ lệ tuyển mộ phần lớn do tính đặc thù của công việc, tâm lý xã hội của người xin việc quyết định, trong đó yếu tố thu nhập có ý nghĩa quan trọng nhất. Vì vậy mức lương cao của doanh nghiệp tạo thuận lợi cho việc thu hút người có trình độ cao.

    Vậy chính sách tuyển dụng kết hợp chặt chẽ với các chính sách tiền lương, BHXH, phúc lợi… sẽ thành công hơn. Ta thấy được vai trò then chốt của hoạt động tuyển dụng, vai trò này ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động khác của quản trị nhân lực và các hoạt động của tổ chức.

    5. Kết luận

    Qua phân tích ta thấy tuyển dụng có một vai trò quan trọng đối với các tổ chức. Một tổ chức luôn thực hiện thành công các đợt tuyển dụng sẽ nâng cao được uy tín, nâng cao được vị thế cạnh tranh, đưa tổ chức phát triển đi lên. Tuyển dụng thành công đảm bảo cho doanh nghiệp có một đội ngũ lao động phù hợp, tạo ra một sức mạnh giúp doanh nghiệp có thể vượt qua những khó khăn thử thách trong quá trình hoạt động. Ngược lại tuyển dụng không thành công sẽ làm cho doanh nghiệp không thực hiện được kế hoạch sản xuất kinh doanh vì kế hoạch về lao động không được đảm bảo. Tuyển dụng không thành công làm cho doanh nghiệp tốn kém rất nhiều chi phí và giảm hiệu quả của các hoạt động khác như đánh giá sự thực hiện công việc, thù lao đãi ngộ v.v..

    CHƯƠNG III

    PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG

    1.     Phương pháp xây dựng bản mô tả công việc, bản yêu cầu công việc và bản tiêu chuẩn thực hiện công việc

    Vận dụng các phương pháp quan sát, thu thập thông tin về một công việc cần phân tích như tên công việc, tên chức danh công việc, mối quan hệ trong quá trình thực hiện công việc. Cùng với những thông tin này ta kết hợp với những dữ liệu thu thập được từ việc đọc tài liệu liên quan như: Bản phân công chức năng, qui trình công việc, qui chế thực hiện công việc. Từ đó ta sẽ tổng hợp vào xây dựng được bản mô tả công việc. Sau khi xây dựng được bản mô tả công việc ta sẽ dựa vào bản này và kết hợp với việc tham khảo ý kiến cán bộ thực hiện công việc, cán bộ lãnh đạo. Rồi từ đó xây dựng bản yêu cầu công việc và bản tiêu chuẩn thực hiện công việc.

     

    Thực chất của phân tích công việc để trả lời cho những câu hỏi sau: + Nhân viên thực hiện những công tác gì?

    + Khi nào công việc được hoàn tất + Công việc được thực hiện ở đâu?

    + Công nhân làm việc đó như thế nào?

     

    + Để thực hiện công việc đó cần những tiêu chuẩn, trình độ nào?

     

    Việc trả lời chính xác các câu hỏi trên có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình tuyển dụng lao động và quyết định sự thành côn trong quá trình sử dụng lao động.

     

    2.     Phương pháp tuyển mộ, tuyển chọn

    Trong quá trình tuyển dụng nên sử dụng các phương pháp khoa học tiên tiến đảm bảo tuyển chọn được những người đáp ứng yêu cầu công việc, đánh giá đúng khả năng của người lao động nhằm đạt được thành công trong tuyển dụng.

    KẾT LUẬN

    Qua quá trình phân tích, nghiên cứu ta khẳng định được vấn đề tuyển dụng lao động thực sự quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Như cố chủ tịch Lee – người sáng lập ra công ty Samsung – vào cuối đời đã có một câu nói mang tính chiến lược: “Thành công của tôi là nhờ đã tuyển dụng được những người cộng sự tài giỏi hơn tôi…” Vậy tuyển dụng thực sự là một hoạt động then chốt của quản trị nhân lực trong mọi tổ chức. Việc sử dụng con người đúng lúc, đúng chỗ sẽ giúp cho tổ chức có một cơ cấu hợp lý, đội ngũ nhân vien thích hợp với từng loại công việc. Điều này nếu làm tốt sẽ tiết kiệm được các nguồn lực khác, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp và hiển nhiên tăng lợi nhuận giúp tái sản xuất mở rộng và phát triển. Sự quan tâm đúng mức đến tuyển dụng lao động sẽ khắc phục được những hạn chế cho tổ chức, tạo đà cho phát triển tương lai của mỗi tổ chức.

    Nền kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn đổi mới của sự phát triển. Đặc điểm, đặc trưng của nó là hàm lượng khoa học cao, ưu tiên chất lượng hơn số lượng, cơ cấu sản xuất thay đổi liên tục do áp dụng những thành tựu mới. Quá trình đổi mới không chỉ hạn chế ở lĩnh vực kỹ thuật mà còn phát triển mạnh ở cả lĩnh vực khoa học quản lý. Trong tiến trình đó tuyển dụng nguồn nhân lực phải thay đổi sáng tạo để kịp đáp ứng và sử dụng “nguồn lực con người mới”.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giá trình quản trị nhân lực

    Của trường Đại học KTQD – NXB Lao động – xã hội – 2004

    1. Quản trị nhân sự:

    Của Nguyễn Hữu Thân – NXB Thống kê 1998.

    1. Hành vi tổ chức

    Của trường Đại học KTQD – NXB Thống kê 2003

    1. Tuyển chọn và quản lý công nhân viên Nhật Bản (Nguyễn Việt Trung dịch – NXB Sự thật Hà Nội – 1991)
    2. Tạp chí Thông tin thị trường lao động (Số 4/2003)
    1. Tạp chí Lao động & xã hội (Số 215/2003)
    1. Tạp chí Lao động & xã hội (số 223/2003)

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập tình huống – Quản trị nguồn nhân lực

    Bài tập tình huống – Quản trị nguồn nhân lực

    Bài tập tình huống – Quản trị nguồn nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-t%C3%ACnh-hu%E1%BB%91ng-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập tình huống – Quản trị nguồn nhân lực

    Bài tập tình huống – Quản trị nguồn nhân lực

    TÌNH HUỐNG 1: TIẾNG CƯỜI BÍ QUYẾT KINH DOANH CỦA CÁC ĐẠI CÔNG TY

    30 năm trước, công ty Men’s Wearhouse (MW) chỉ là một cửa hang nhỏ ở thành phố Houston. Hiện nay MW đã trở thành mạng lưới bán lẻ y phục nam giới lớn nhất nước Mỹ, với 507 cửa hang và tài sản giá trị 1 tỷ đô. Triết lý kinh doanh của công ty này là: “Công việc sẽ tốt hơn nếu có tiếng cười”.
    Tiếng cười đã giúp MW sống sót và vượt qua mặt nhiều đối thủ cạnh tranh khác ngay cả khi trong những thời kỳ nền kinh tế Mỹ khó khăn nhất. Ông George Zimmer, người sang lập và là tổng giám đốc của MW cho biết, thành phần quan trọng nhất đối với một công ty không phải là cổ đông hay khách hanàg mà chính là nhân viên.

    Nếu nhân viêncảm thấy thoải mái và tạo được bầu không khí vui vẻ trong công việc, khách hang cũng thấy thoải mái và vui lây. Triết lý này đã xuất hiện vào những năm 1990, thời điểm nền kinh tế Mỹ còn thịnh vượng. Khi đó nhiều công ty phải đưa ra các hình thức hậu đãi nhân viên để thu hút và giữ chân nhân tài. Nhưng MW, University Games, vẫn không từ bỏ quan niệm rằng sự vui vẻ có thể giúp người lao động thoát khỏi tình trạng chán nản, căng thẳng, từ đó khoiư dậy sự sang tạo ở họ. Và các công ty này đã thành công cho dù cái giá cho sự vui vẻ ấy không giẻ chút nào.

    MW đã chi 1,8 tỷ đôla cho 38 buổi tiệc giáng sinh vào cuối năm ngoái và những chuyến bay đưa Zimmer hay các viên chức khác của MW đến tham dự từng buổi tiệc. Mỗi khi có một đợt quảng cáo mới trên truyền hình, công ty cho một số nhân viên đến ở trong những khách sạn tại khu Beverly Hillss sang trọng giữa Los Angeless, và đưa họ đi quanh thành phố trên những chiếc xe hơi đắt tiền để họ có thể trở thành ngôi sao của những chương trình quảng cáo. MW cúng khuyến khích việc giới thiệu người quen vào làm vì cho rằng mọi người sẽ dễ làm việc hơn nếu quen nhau.

    Tạo ra tiếng cười trong công ty là một khoản đầu tư không nhỏ nhưng rất cần thiết, một nhà tư vấn quản lý, người cổ vũ không khí vui vẻ ở nơi làm việc, nhận định: “Vào thời điểm kinh tế dang gặp khó khăn như hiện nay, bên cạnh lợi nhuận người ta lại cần đến nụ cười hơn bao giờ hết:.
    (Doanh nghiệp số 1+2/2004)
    Câu hỏi: Phân tích bí quyết kinh doanh của công ty. Bài học gì rút ra cho nhà quản trị.

    TÌNH HUỐNG 2: TÌM KIẾM NHÂN TÀI LÀ CÔNG VIỆC HÀNG ĐẦU.

    32 tuổi, Từ Minh – Chủ tịch Tập đoàn Dalian Shide được mệnh danh là nhà tỷ phú trẻ tuổi nhất Trung Quốc, được tạp chí Forbes bình chọn là người đứng thứ 12 trong số 50 người giàu nhất Trung Quốc với tài sản tích lũy trị giá 500 triệu USD. Tập đoàn Shide được thành lập từ năm 1995, đến nay đã có hệ thống hơn 20 công ty hoạt động trong các lĩnh vực, nhựa PVC, hóa dầu, thiết bị điện và bảo hiểm, với hơn 5 500 nhân viên. Tốc độ tăng trưởng trung bình mỗi năm của tập đoàn Dalian Shide đạt 20%.

    Không giống như các doanh nghiệp khác là chỉ có một Tổng giám đốc, Từ Minh thực hiện chiến lược “nhiều Tổng giám đốc” tại tập đoàn Dalian Shide. Hiện nay, tập đoàn này có đến 05 vị Tổng giám đốc. Voiứ chủ trương “hiểu người, dùng người, đào tạo rồi mới quản người và dẫn dắt”. Nghĩa là anh phải biết đuược người nào có năng lực, tận dụng phát huy cái hay, cái tốt của họ rồi mới căn cứ vào đó để đào tạo một cách hợplý, bổ sung cho năng lực của họ sâu hơn. Quan trọng nhất là trong quá trình đào tạo và quản lý, Từ Minh luôn phải đánh thưc cái Tâm trong họ.

    Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của công ty, Từ Minh không ngừng tìm kiếm nhân tài và coi đó là công việc hàng đầu trong chiến lược kinh doanh của mình. Dựa vào nhu cầu phát triển của Dalian Shide, Từ Minh dự tính sẽ chọn từ 300 đến 5000 thạc sỹ quản lý (MBA). Với anh “lực lượng chủ yếu của kinh doanh là con người, vấn đề con người được giải quyết thì những vấn đề khác tất sẽ được giải quyết đơn giản”. Từ Minh muốn Dalian Shide không chỉ là một công ty mà phải là một trường học, một khu quân đội, một gia đình để từ đó từng bước đi vào xã hội. Anh muốn jọc hỏi tập đoàn Đài Tô của Vương Dũng Khánh: tự thiết lập một trường đại học, tự bồi dưỡng những hạt giống quân đội.

    Từ Minh luôn kiếm tìm nhân tài với 3 điều kiện:
    Thứ nhất, phải có sự ham thích đối với công việc;
    Thứ hai, phải có năng lực;
    Thứ ba, bắt buộc phải có đạo đức.

    Câu hỏi: Tiêu chí đánh giá nhân tài? Làm thế nào để tìm kiếm được người có đủ những tố chất nêu trên? Theo bạn, tại sao nhiều doanh nghiệp nhỏ khó thu hút được nhân tài?

    TÌNH HUỐNG 3: TRẠM KINH DOANH TỔNG HỢP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.

    Trạm kinh doanh tổng hợp Đà Nẵng trực thuộc công ty X (có trụ siử chính đặt tại Hà Nội) được thiếy lập tại một địa điểm hết sức thuận tiện cho việc tiếp nhận và phân phối hàng hóacho các cửa hàng nằm trong vùng. Trước đây trạm trưởng là kỹ sư Minh và phụ tá là ông Linh. Kỹ sư Minh là người có nhiều kinh nghiệm về ngành xây dựng và tổ chức; ông đã có đóng góp đáng kể trong việc xây cất trạm Đà Nẵng. Khi hoạt động thương mại còn ít thì công việc tiến triển khá khả quan. Nhưng khi hoạt động thương mại gia tăng thì hiệu năng hoạt động của trạm giảm sút rõ rệt. Toàn thể nhân viên đều ngày đêm bận rộn, không còn thì giừo để huấn luyện mà các cửa hàng vẫn than phiền ngày càng nhiều về việc cung ứng hàng hóa không mau chóng. Công ty phái một Ban thanh tra xuống quan sát tình hình và ngay sau đó kỹ sư Minh được thuyên chuyển đi phụ trách việc xây dựng một trạm khác và kỹ sư Chi được điều tới để phụ trách trạm kinh doanh Đà Nẵng.

    Kỹ sư Chi là người có nhiều năm kinh nghiệm trong kinh doanh và đã từng nắm chức vụ trưởng phòg kho vận của công ty. Đên trạm Đà Nẵng ông được các nhân viên cho biết tình trạng kém khả quan ở đây. Sau một tuần, ông thấy rằng điều kiện làm việc tại trạm rất kém, đa số nhân viên là người tốt nhưng chưa được huấn luyện do vậy họ làm việc không đạt kết quả mong muốn. Và ông cho rằng điều thiết yếu là phải có thêm nhân viên, tăng cường hoạt động quản trị và có tổ chức hoàn thiện hơn.

    Kỹ sư Chi thảo luận hàng ngày với các thuộc viên then chốt và cùng họ lập ra một ban tổ chức mà họ tin là sẽ làm cho hoạt động có hiệu quả hơn và đặt các liên hệ thông đạt rõ rệt hơn. Sau đó ông để tâm lo vấn đề nhân viên quản trị. Ông đã dành nhiều công sức để tìm người. Ông còn gửi thư cho cán bộ lãnh đạo của một số trạm kinh doanh khác nhờ họ tìm giúp. Chẳng bao lâu sau ông nhận được thư phúc đáp của ông Bá – trạm trưởng trạm kinh doanh Cần Thơ có đoạn như sau:

    “ Tôi vui lòng giới thiệu một người mà tôi tin có thể thích ứng với nhu cầu cần của anh. Nhười đó là Hà Văn Sơn, đã có đôi lần làm việc với chúng tôi với tư cách cố vấn. Ông Sơn là một cựu sinh viên Luật, có mở một văn phòng dịch vụ pháp lý tại Cần Thơ và nghe đâu rất giỏi trong nghề này. Tôi chắc ông ta có thể giúp anh một cách đắc lực”.

    Kỹ sư Chi lập tức đánh điện mời ông Sơn ra làm việc tại trạm Đà Nằng. Mặc dù khi đó ông chưa có dự định giao công việc gì cho ông Sơn, nhưng ông tin chắc có thể tìm một chức vụ xứng đáng với khả năng của người này. Ông Sơn nhận lời mời và tới nhận việc sau đó độ 10 ngày.

    Kỹ sư Chi sau khi gặp gỡ và chỉ định ông Sơn làm việc tại Ban Thanh tra và hiện trưởng phòng là ông Gấm – một cán bộ vừa tốt nghiệp trường Đại học kinh tế, làm việc có nhiều kết quả khả quan, được mọi người yêu mến; giúp việc cho ông Gấm là ông Huy một người có kinh nghiệm trong công việc hành chính. Nhiệm vụ của Ban Thanh tra là:

    -Làm báo cáo thường xuyên về sự tiến triển của công việc cải tiến lên trạm trưởng.
    -Kiểm điểm công việc của các phòng ban thuộc trạm.
    -Điều tra và làm rõ những khiếu nại gửi tới trạm tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp giải quyết.

    Trưởng phòng Gấm cho đặt một bàn giấy cho ông Sơn tại phòng. Lập tức ông Sơn sắp đặt các vật dụng cá nhân gồm có văn bằng, chứng chỉ luật được đóng khung lên tường và giấy phép của tòa án cho quyền mở văn phòng dịch vụ pháp lý. Ông Sơn không được giao phó một công việc nhất định nào, nhưng trưởng phòng tin rằng ông sẽ giúp đỡ phòng trong việc điều tra và có những đề nghị bổ ích cho việc làm báo cáo để trình trạm trưởng.

    Một vấn đề nổi cộm tại trạm Đà Nẵng vào thời điểm đó là tình trạng tồn trữ hành hóa ở đây. Ban Thanh tra đang lo thảo một báo cáo dùng để làm cơ sở cho sự cải tổ phòng Kho vận. Trưởng phòng Gấm và ông Huy mời Sơn cho ý kiến về tình trạng này. Sau khi điều tra hết một buổi sáng ông Sơn cho hai người biết răng: muốn cải tiến tình trạng tồn trữ thì phải kiểm kê hàng tồn kho hàng ngày. Ông Gấm và ông Huuy cho rằng làm như vậy rất khó, bởi vì có 12 nhà kho, một nàh kho dài tới 100 m và chứa đựng hơn 5000 mặt hàng khác nhau. Hơn nữa để thực hiện được việc kiểm kê thì cần có thêm nhiều nhân viên, mà hiện thời sự thiếu hụt nhân công, không thể đào đâu ra.

    Ông Sơn nhấn mạnh ý kiến của ông là rất hay và ông đề nghị ý kiến đó được nêu trong báo cáo để trình lên trạm trưởng. Rồi ông lại đem ý kiến đó bàn với ông Côi – trưởng phòng kho vận, ông Côi không đồng ý, hai người gây lộn với nhau và ông Côi phải ra lệnh tống cổ ông Sơn ra khỏi phòng mình.

    Vài ngày sau, trạm trưởng nhận được báo cáo của trưởng ban Thanh tra rằng ông Sơn quấy rầy họ và đề nghị những chuyện thiếu thực tế. Các trưởng phòng khác cũng có ý kiến cho rằng ông Sơn đang gây rối tổ chức. Trạm trưởng đáng rất đau đầu về việc này: dù ông Sơn là người có năng lực đi nữa, thì với tư cách khó hòa hợp của ông cũng ngăn trở việc thu lượm tài liệu, không làm cho người khác nghe theo. Chưa biết định đoạt ra sao thì một hôm ông Chi thấy xôn xao. Khi tới nơi thì ông Chi thấy tất cả nhân viên trong phòng đang nhìn ông Sơn mà cười khi ông này đang ngủ gục ngáy o o trên bàn giấy.

    Câu hỏi:
    1. Vận dụng lý thuyết quản trị nhân lực để phân tích tình huống trên.
    2. Trách nhiệm của trạm trưởng Chi, trưởng phòng Gấm đối với ông Sơn? Và ông Sơn có làm tròn trách nhiệm đối với ông Chi không?
    3. Nếu bạn là ông trmj trưởng Chi bạn sẽ giải quyết vấn đề với ông Sơn như thế nào?

    TÌNH HUỐNG 4: CHYỆN KHÔNG THƯỜNG NGÀY Ở HUYỆN.

    46 tuổi, đậm người, chưng nhanh nhẹn, quyết đoán. Cái máy tính xách tay luôn “kẹp” bên người như bảo bối. Mới gặp ông lần đầu trong Văn phòng UBND huyện, đoán ông là chủ tịch thì đích thị là chủ tịch. Nhưng bảo ông là doanh nhân từ dưới xuôi lên thì cũng không nhầm mấy, bởi ông rất giống một doanh nhân thành đạt thời công nghệ số. Ông đã từng là Hạt trưởng kiểm lâm Phúc Lộc, là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tỉnh Thừa Thiên – Huế và bây giừo làm Chủ tịch huyện A Lưới ở cương vị này ông cũng gây kinh hoàng cho thuộc cáp bởi tác phong, cường độ làm việc.

    Huyện A Lưới một huyện miền núi của Thừa Thiên – Huế đầu năm 2004 có đến 2 452/7 000 hộ đói nghèo (tye lệ hơn 24%). Thu nhập bình quân đầu người chưa tới 2,2 triệu đồng/người/năm, cả huyện có hơn 50% trẻ em bị suy dinh dưỡng vì thiếu ăn. Xét về tài nguyên, tiềm năng A Lưới hơn hẳn huyện bạn mà mặt bằng chung ở đây vẫn còn rất ì ạch. “Làm sao để A Lưới thoát khỏi đói nghèo?” là câu hỏi luôn bắt đầu nơi ông trong mỗi câu chuyện.

    Việc đầu tiên ông làm khi lên A Lưới là bỏ ra 5 tháng liền không làm chi cả để đi khắp hang cùng, ngõ hẻm, nhừm xem đồng bào đang làm ăn sinh sống như thế nào, cán bộ mình làm việc ra sao, năng lực đến đâu. Để rồi rút ra kết luận “Hóa ra lâu nay ở đây vẫn vận hành theo kiểu xưa nay làm, chứ không có hoạch định chiến lược, phương hướng phát triển chi cả”.

    Và “chuyện không thường ngày ở huyện” bắt đầu, khi mới lên đây ông cũng nghe phong thanh có 10 sinh viên là con em đồng bào dân tộc củ huyện vừa mới tốt nghiệp Đại học Nông lâm Huế, tình cờ gặp một em trong số đó biết là họ chưa ai xin được việc làm, đang định đi vào Nam tìm đường sông. Với tư cách là Chủ tịch huyện, ông đã yêu cầu gặp tất cả 10 em để nghe nguyện vọng của họ. Cuộc gặp mặt được ấn định vào ngày UBND huyện tổ chức hội thảo triển khai hoạt động một dự án về phát triển nông nghệp trên địa bàn. Tất cả họ đều được mời dự và cho phép phát biểu bình đẳng như mọi đại biểu khác. Và ông không tin vò tai mình khi nghe các em phát biểu rất mạch lạc và đầy tâm huyết. Sau đó để kiểm tra năng lực của họ ông đã phát cho mỗi người một phiếu điều tra hộ nghèo đói ở một xaz, tập huấn sơ về phương pháp và yêu cầu họ kiểm tra, họ đã hoàn thành xuất sắc. Ông nghĩ, so với mặt bằng chung về cán bộ của huyện, thì họ là nhân tài chứ còn đâu. “Phát hiện” được nhân tài rồi, nhưng sử dụng nhân tài thế nào mới là chuyện. Nếu đưa những người này về làm cán bộ khuyến nông, khuến lâm thì có khác gì những anh khyến nông, khuyến lâm như lâu nay của tỉnh đưa về, họ chỉ có quyền “noi” chứ không có quyền “làm”. Hay bố trí làm chuyên viên cấp xã? Cũng không được, bởi vì họ là cán bộ thuộc quyền của huyện, xã, nhưng cũng chỉ hơn anh “nói” vừa kể một chút. Sau nhiều ngày suy nghĩ, ông quyết định bổ nhiệm họ làm lãnh đạo, cụ thẻ là phó chủ tịch xã phụ trách kinh tế. Đây là một việc làm mà từ trước đến nay chưa có ai làm thế cả. Họ còn quá trẻ chưa một ngày va vấp chốn quan trường, hơn nữa muốn làm lãnh đạo thì phải kết nạp Đảng cho họ. Ông chủ tịch huyện đem chuyện này trình lên Thường vụ huyện ủy, thường vụ thông qua ngay. Nhưng khi đưa về Đảng ủy địa pương sau nhiều ngày họp đi họp lại, kết quả chỉ có 8 xã đồng ý, còn 2 xã cương quyết không vì lý do họ còn quá trẻ, không có kinh nghiệm. Vận động mãi không được, ông đồng ý để 2 xã đó tự quyết định chuyện nhân sự của xã mình, với điều kiện phó chủ tịch của hai xã đó già trẻ gì cũng được nhưng phải tốt nghiệp đại học và là đại học nông lâm.

    Mặc dù chỉ có 8/10 xã đồng ý, nhưng ông vãn coi đó là một thành công ngoài mong đợi. Nhưng ông còn làm một chuyện quan trọng nữa là trong số 8 người đó, ông đã cho luân chuyển 4 người, là người địa phương này sang làm lãnh đạo ở địa phương khác. Nghe thì binhg thường, nhưng so sánh với tình trạng cục bộ địa phương lâu nay thì đó là cả một cuộc cách mạng.
    Đến thời điểm này, có lẽ còn quá sớm để “phán xét” những việc làm “không thường này” của ông Chủ tịch huyện “khác thường”. Cái dề nhìn thấy nhất là kết quả của 8 tân phó chủ tịch xã cũng mới chỉ dừng lại ở không khí hồ hởi, bởi họ còn trong thời gian bắt đầu học việc. Anh Lê Văn Nghiễu, 24 tuổi người dân tộc Pa Kô – một tân phó chủ tịch xã, kể mãi không thôi về cái ngày đầu tiên nhận được quyết định làm lãnh đạo “Không chỉ em sướng cái bụng, gia đình, họ hàng em sướng cái bụng, mà người dân cả xã em đều tổ chức ăn mừng. Tuy thời gian đầu còn bỡ ngỡ nhưng em tin là em sẽ làm tốt trong thời gian tới để không phụ lòng chú Dự”.

    (Trích phóng sự dự thi của Trần Chính Đức _ Báo Lao Động số 283/2004)

    Câu hỏi:
    1. Sử dụng lý thuyết bố trí và sử dụng nhân sự để bình luận tình huống trên
    2. Nếu bạn là sinh viên mới ra trường được bổ nhiệm như trong tình huống trên, hãy tự đánh giá năng lực bản thân so với yêu cầu công việc.

    TÌNH HUỐNG 5: HOẠCH ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO.

    Trưởng phòng nhân sự của một công ty May ở thành phố X nhận được một báo cáo do Ban giám đốc chuyển, đây là báo cáo của phòng Kinh doanh về tình hình nhân sự thuộc hệ thống kinh doanh nội địa. Trong báo cáo về tình hình nhân sự có nêu vấn đề: hiện tại cso nhiều nhân viên bán hàng được tuyển trong vòng một năm gần đây chưa có đủ kiến thức về sản phẩm, về hệ thống tiêu thụ sản phẩm, về nguyên tắc bán hàng của công ty. Chính vì điều đó mà công việc chào hàng, bán hàng và kinh doanh chưa đạt được kết quả như mong đợi. Hiện nay, công ty chưa có chương trình đào tạo nhân viên bán hàng. Hướng dẫn và làm việc với nhân viên bán hàng mới đuợc giao cho một người có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động này, nhưng sắp đến tuổi về hưu. Mục tiêu và mối quan tâm hàng đầu của trưởng phòng nhân sự là chất lượng. Việc nâng cao trình độ của đội ngũ nhân viên ngay là rất cần thiết trong khi họ vẫn phải làm việc như thường lệ bởi vì hiện không có người thay thế.

    Câu hỏi:
    1. Vận dụng lý thuyết đào tạo nhân lực để phân tích tình huống trên và đưa ra giải pháp.
    TÌNH HUỐNG 6: CHỌN NGƯỜI (ĐÔI MẮT TINH ĐỜI) (CAO THỦ).

    Mới chuyển về côngtác tại Ban thanh tra thành phố. Tôi là thành viên trong đoàn thanht ra được cử đến làm rõ sự việc ở doanh nghiệp Thươg mại X., noiư có đơn thư tới tấp gửi lên cơ quan cấp trên. Với thái độ làm việc có trách nhiệm và nghiêm túc, chẳng bao lâu đoàn thanh tra chúng tôi đã tìm ra nguyên nhân chính của vụ việc. Một bằng chứng quan trọng chúng tôi có đựoc đó là “những cuộc băng ghi âm” do ông giám đốc cung cấp. Trong chuyến công tác này ngoài những bát ngờ trong công việc, tôi còn vui vì được gựp lại anh, một người mà hồi còn đi học tôi rất ấn tượng, nhưng đã lâu lắm rồi không có dịp gặp lại – người đó cũng chính là ông giám đốc doanh nghiệp. Một cuộc gặp gỡ thú vị, một cuộc gặp gỡ đã giúp tôi giải đáp thắc mắc về anh.

    Có lẽ mọi người chưa hiểu tại sao “những cuộc băng ghi âm” của ông giám đốc lại có cai trò quan trọng như thế. Câu chuyện được bắt đầu khi ông giám đốc doanh nghiệp đã đến tuổi nghỉ hưu. Không như những vị sếp, sắp đến ngày nghỉ hưu thì buồn và thậm chí sốc, còn ông giám đốc doanhnghiệp X vẫn rất vui vẻ, ông còn thông báo cho cả cơ quan biết cuối năm mình sẽ về hưu để nhường ghế giám đốc cho lớp trẻ. Ông còn tâm sự rất chân tình trong một cuộc họp là: “Cấp trên có giao cho tôi trọng trách tìm và chọn người kế nhiệm trước kho nghỉ làm và cũng có một số gợi ý, nhưng tôi nghĩ không ai quen việc và hiểu rõ về doanh nghiệp, nguyện vọng của cán bộ công nhân viên bằng chính những đồng chí lãnh đạo trong doanh nghiệp. Đồng chí phó giám đốc, đồng chí trưởng phòng A, đồng chí trưởng phòng B đều có thể đảm đương tốt công việc”. Được lời như cởi tấm lòng, sau đó trong doanh nghiệp hình thành năm bè bảy phái, mà đứng đầu các bè phái này là các sếp đã được ông giám đốc gợi ý trong cuộc họp kia. SlÚc đầu các phe cánh này chỉ thi nhau tâng bốc sếp của mình và nói xấu các sếp kia. Sau những lời thì thầm bóng gió chuyển dần thành các cuộc đấu khẩu, công kích công khai. Các sếp cũng gần ghè nhau. Nội bộ cơ quan lục đục, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Công việc kinh doanh trì trệ. Còn ông giám đốc tối tối phải tiếp các vị khách đang khẩu chiến này, họ đến thậm thà thậm thụt với phong bì, quà cáp với lời hứa hẹn về tương lai nếu được lên giám đốc và không quên chỉ trích đạo đức, năng lực của các đối thủ. Ông giám đốc vẫn nhẫn nạ ngồi nghe và không quên bật máy ghi âm nhỏ xíu.

    Tôi biết được nguồn gốc của “những cuộc băng ghi âm” và không ngạc nhiên lắm. Bởi vì hành động của anh hoàn toàn phù hợp với đức tính cẩn trọng, kỹ càng mà tôi đã biết và rất ấn tượng từ ngày còn sinh viên. Hồi đó anh là bộ đội phục viên về tiếp tục đi học nên anh hơn tuổi chúng tôi. Đức tính đó làm rất nhiều người khó chịu và thậm chí còn độc miệng: “Rồi cũng chết già cho mà xem”. Còn tôi rất quý anh bởi anh lúc nào cũng coi tôi như em trai, và tôi không tin lời mọi người nói đúng. Nhưng có một lần tôi đã chủ ý sắp xếp, giới thiệu cô em họ, trông khá xing đến

    Chơi với anh. Tôi thấy anh hý hoáy chuẩn bị đủ thứ chải đầu, bẻ cổ áo, tráng ấm chén. Quá giờ hẹn 10 phút em tôi mới đến. Không hiểu vì sao, luống cuống thế nào, cô ấy không gỡ được quai dép, cô giật luôn ra và bước vội vào phòng. Câu chuyện hôm đó diễn ra rôm rả, tôi cố vun vén cho hai người. Nhưng rồi một hôm anh bảo thẳng tôi: “Em cậu có hiểu biết, ưa nhìn tuy nhiên mình chỉ có thể coi là bạn”. Tôi rất buồn và cũng giận anh, anh còn nói “Cứ nhớ đến cử chỉ mạnh tay giật tung quai dép, tôi ngại cô ấy sẽ là người đáo để”. Một phần vì giận anh, một phần sau đó là thời gian thực tập rồi ra trường, mỗi người đều tập trung vào công việc, tôi cũng không thành công, không lâu sau cô em họ tôi lấy chồng, chồng cô khá thành đạt nhưng em tôi thường hay bắt nạt chồng và gia đình ít khi hòa thuận. Và gặp lại anh lần này, tôi nghĩ trước đây mình thật trẻ con, tôi không còn giận anh nữa chính cái đức tính cẩn trọng, kỹ càng của anh cũng trong việc :chọn người” đã giúp chúng tôi mau chóng tìm ra nguyên nhân và hướng giải quyết vụ việc làm đau đầu cơ quan cấp trên.

    Tôi được anh mời đến nhà chơi, ra mở cửa đón tôi là vợ anh, chị không đẹp lắm nhưng đoan trnag, thỳ mị. Qua câu chuyện tôi được hai con anh ngoan, học giỏi, hiện đều đang là sinh viên Đại học.

    Câu hỏi:
    1. Theo bạn, việc lựa chọn kế nhiệm trên đạt và chưa đạt điều gì?
    2. Bạn đánh giá gì về ông giám đốc trên: năng lực, kỹ năng và phẩm chất.
    3. Ai đó nói với bạn: “Nhân viên của bạn đầy tham vọng:. Bạn thấy sao với tư cách là nhà quản trị nhân sự?.

    TÌNH HUỐNG 7: CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÙNG CƯỜNG.

    Sau khi tốt nghiệp Đại học Thương Mại – chuyên ngành Quản trị Kinh doanh năm 1999, anh Nguyễn Hùng Cường đã trở thành cán bộ trẻ có năng lực của phòng vật tư cấp thoát nước Hà Nội. Sau 05 năm lăn lộn trong công việc, anh Cường đã có quan hệ và làm việc với rất nhiều bạn hàng.

    Điều anh suy nghĩ là làm thế nào để giản hóa quá trình cung cấp vật tư cho ngành nước. Với sự hỗ trợ và giúp đỡ của gia đình, bạn bè, anh Cường mở công ty trong lĩnh vực mà anh có nhiều kinh nghiệm. Công ty thương mại Hùng Cường ra đời năm 2000 với một cửa hàng bán vật tư thiết bị ngành nước tại Hà Nội với 5 nhân viên.

    Bằng kinh nghiệm và nhạy cảm trong thương trường, anh Cường đã nhanh chóng mở rộng kinh doanh, tuyển thêm nhân viên, mở cửa hàng mới. 3 cửa hàng tại Hà Nội, 2 cửa hàng ở hải phòg, 1 ở TP.HCM, 1 ở Đà Nẵng. Tuy nhiên anh nhận thấy doanh thu của công ty tăng chậm dần vào cuối năm 2002, do nguồn hành khai thác khó khăn, hàng nhập khẩu bị đánh thuế nặng, đối thủ cạnh tranh nhiều, các mối quan hệ trước đây giảm tác dụng. Anh Cường tự hỏi: Làm thế nào để duy trì và phát triển công ty trong tình hình đó.

    Anh Cường thấy vấn đề khó khăn của công ty không chỉ là do các yếu tố bên ngoài, mà chủ yếu do các yếu tố bên trong quyết định. Nhưng anh thấy phần lớn nhân viên đều rất chăm chỉ, thường xuyên làm thêm giờ với hy vọng tăng doanh thu cho công ty. Anh Cường bắt đầu kiểm tra từ chính mình (anh cảm thấy mình làm việc cảm tính, kinh nghiệm và kiến thức được trang bị kiểu bao cấp mà chưa thật hiểu về kinh tế thị trường). Anh quyết định bỏ tiền sang Mỹ học MBA 14 tháng. Anh quản lý công ty từ xa phối hợp với Phó giám đốc. Thời gian anh đu học tuy doanh thu của công ty không tăng, nhưng anh Cường thấy vỡ lẽ ra rất nhiều điều bổ ích, và mở rộng được quan hệ với các bạn hàng nước ngoài. Anh mơ ước sẽ lập nên một trung tâm thương mại lớn có uy tín và khả năng giao dịch với quốc tế.

    Về nước, anh bắt tay vào đánh giá lại chất lượng toàn bộ nhân viên. Hai phần ba trong số học tốt nghiệp đại học và có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với việc được giao. Song anh Cường rất ngạc nhiên là tất cả phong cách và thói quen của họ không hề phù hợp với yêu cầu của công việc. Để vào công ty tất cả họ đều được phỏng vấn các kiến thức nghề nghiệp và trải qua thời gian thử việc là 3 tháng trong sự giám sát chặt chẽ của người có trách nhiệm. Hơn nữa anh Cường quan tâm khuyến khích nhân viên đi học các lớp đào tạo ngắn hạn và tiếng Anh.

    Công ty sẵn sàng trả tiền học phí cho nhân viên đi học ngoài giờ khi họ đề nghị. Tuy nhiên các nhân viên văn phòng dễ được đi học hơn vì không phải làm ca kíp, ngoài giờ. Anh cho rằng chính nhân viên của mình tự họ sẽ biết họ cần đi học bổ sung những gì họ thấy thiếu trong giải quyết công việc hàng ngày. Nhưng nhân viên cửa hàng thì khó sắp sếp thời gian để đi học, vì vướng công việc, hơn nữa việc đi học này không bắt buộc. Vì vậy nhiều điều cần thiết không đến được đúng đối tượng. Trong khi nhiều người đi học về khen khóa học này hay, ông thầy kia giỏi.

    Nhưng anh Cường nhận thấy một số điều ở nhân viên bán hàng:
    1 Khi khách đến, nếu không phải là người quen thì nhân viên vẫn tiếp tục câu chuyện hoặc công việc của mình rồi mới tiếp khách.
    2 Các cửa hàng trưởng không kiểm soát được nhân viên vì họ ngang tuổi nhau, hơn nữa nhân viên cho rằng chỉ có cửa hàng trưởng mới chịu trách nhiệm về tình hình kinh doanh của cửa hàng.
    3 Nhân viên nhìn nhau khi làm và ganh tỵ nhau khi nhận lương thưởng.
    4 Các nhân viên đều hành động theo kiểu làm đến đâu hay đến đó.
    5 Không ít cán bộ nhân viên của cửa hàng không hiểu gì về kinh tế thị trường, nhiều người không nắm được các luật lệ của nhà nước liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh nên nhiều khi làm thiệt hại đến công ty.

    Anh Cường thấy rằng việc khẩn cấp là đào tạo được đội ngũ nhân viên phù hợp với yêu cầu của kinh doanh trong nên kinh tế thị trường. Tháng 3/2003, anh tuyển một sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Luật về đảm nhiệm hoạt động quy hoạch – tổ chức đào tạo – phát triển nhân viên trong công ty. Người này tên là Hiền, chưa biết nên bắt đầu thế nào. Nhưng vừa rồi cô đã mời được một cán bộ của Bộ Kế hoạch & Đầu tư về giảng cho nhân viên công tác Marketing thời gian 2 ngày sau giờ làm việc. Sau đó cô thở phào và tiếp tục chuẩn bị cho đợt đào tạo mới.

    Tuy nhiên làm thế nào để thay đổi được tình trạng của công ty, tại sao nhân viên được học mà công ty dường như không khá lên được, tại sao mọi người đi học về vẫn làm việc như xưa, đó là những câu hỏi làm anh Cường đau đầu. Anh nói anh đã nhận thức được vai trò của việc đào tạo và anh kiên quyết đầu tư cho việc này, anh sẽ tìm kiếm và đổi mới.

    Câu hỏi:
    1. Anh chị cho biết nhận xét của mình về công tác Quản trị nhân sự nói chung của công ty Hùng Cường.
    2. Trình bày các sai lầm trong đào tạo của công ty.
    3. Nếu là giám đốc, bạn sẽ làm gì?.

    TÌNH HUỐNG 8: SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC

    Sai lầm lớn nhất của người chủ doanh nghiệp là không muốn thuê người giỏi hơn mình. Một ông giám đốc dùng những kẻ xu nịnh rồi cứ thắc mắc tại sao những người này chẳng có sáng kiến gì cả. Cách tốt hơn cả là thuê những người hạng nhất, và phần việc của bạn với tư cách là một nhà quản trị là biết khéo léo khơi dậy nhiệt tình và năng lực của họ để tổ chức thành một công ty làm ăn khá.

    David Ogilvy, nhà quản trị có tên tuổi ở Mỹ và là chủ tịch Công ty Ogilvy & Mather đã làm trong một phiên họp Hội đồng giám đốc của công ty. Ogilvy đặt một con búp bê trước mỗi chiếc ghế của các ông giám đốc và nói: “Mời các ông mở ra”. Các vị giám đốc mở con búp bê, thấy một con búp bê nhỏ bên trong, họ lại mở nó ra và thấy một con nhỏ hơn nữa bên trong, và cứ như thế tiếp tục. Đến con nhỏ nhất, bên trong đó có tờ giấy của Ogilvy, viết rằng: “Nếu bạn muốn thuê những người nhỏ hơn bạn, chúng ta sẽ trở thành công ty của những người lùn, nhưng nếu thuê được những người giỏi hơn bạn, chúng ta sẽ trở thành công ty của những người khổng lồ”

    Câu hỏi:
    1. Hãy phân tích quan điểm quản trị nhân sự của ông David Ogilvy.
    2. Bình luận câu nói: “Nhà quản trị giỏi là người biết dùng người giỏi hơn mình”.
    3. Hãy đưa một quan điểm quản trị nhân sự ở Việt Nam và phân tích quan điểm đó.

    TÌNH HUỐNG 9: KỸ TÍNH.

    Thời đi học bạn bè trong lớp thương gọi đùa anh là “Bút chì màu”. Trong ký túc xá sinh viê, có người không ưa, buông câu độc miệng: “Rồi cũng chết già cho mà xem”. Tôi lại thích anh bởi tính cẩn trọng, kỹ càng. Một lần tôi chủ ý sắp xếp, mời cô em họ, trông khá xing đến chơi và giới thiệu với anh. Tôi thấy anh hý hoáy tráng ấm chén và chải đầu, bẻ cổ áo. Quá 10 phút em tôi mới xuất hiện. Không hiểu vì sao, luống cuống không gỡ được quai dép, cô giật luôn ra và bước vộ vào phòng. Tôi vun vén cho hai người. Nhưng anh bảo thẳng tôi: :Em cậu có hiểu biết, hình thức dễ ưa. Tuy nhiên mình chỉ có thể coi là bạn”. Tôi gặng hỏi mãi, anh nói “Cứ nhớ của chỉ quá mạnh tay giật tung quai dép, tôi ngại cô ấy sẽ là người đáo để:.

    Quả là sau này em tôi thường hay bắt nạt chồng, ggia đình ít khi hòa thuận. Còn anh, bây giờ đã là thủ trưởng một cơ quan có nề nếp, ăn nên làm ra. Tôi được cô nhân viên tạp vụ của anh kể lại: hôm em dự tuyển, chính anh là người trực tiếp hỏi han và bảo “Cô lau cho tôi cái bàn”. Thấy maýa cánh bánh quy vương ra em vun lại, phủi nhẹ vào tờ giấy, rồi mới cầm khăn lau. Qua một câu chuyện nhỏ vậy thôi, có lẽ em cẩn thận, thế là anh ấy nhận.

    Tôi được biết, vợ anh không đẹp lắm nhưng đoan trang, thùy mị, hai con anh ngoan và học giỏi. Tôi thầm nghĩ, kỹ tính như anh quả thì là một nết tốt.
    Trinh Huyền (Báo Nhân Dân 10/6/2002)

    Câu hỏi:
    1. Kỹ tính trong câu chuyện kể trên là một đức tính tốt hay không tốt?
    2. Câu chuyện có liên quan đến vấn đề gì của quản trị nhân sự doanh nghiệp.

    TÌNH HUỐNG 10: CON NGƯỜI LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TẤT CẢ,

    Song song với việc đầu tư cho công nghê, máy móc thì yếu tố con người cũng được Cao Tiến Vị chú trọng không kém. Ngay từ đầu, anh đã xác định con người ,ới là tài sản quý giá của công ty. Hiện nay, công ty Giấy Sài Gòn có hơn 400 nhân viên. Tất cả đều được anh quan tâm, đối xử như những người thân trong gia đình.

    Các nhân viên luôn nhận thấy ở sự gần gũi như một ngừoi anh trong gia đình chứ không phải là một :ông chủ:. Cao Tiến Vị cũng hết sức chú trọng đến việc tổ chức những hoạt động mang ý nghĩa tinh thần cho nhân viên như tổ chức cho họ đi nghỉ mát, xem ca nhạc, vui chơi giải trí và trích cho một khoản chi phí đáng kể để tặng quà cho tất cả nhân viên của công ty cho những ngày lễ lớn trong năm.

    Với tính cách khiêm tốn, lối sống thân thiện, gần gũi và tận tâm như vậy nên vào những lúc khó khăn, bế tắc trong công việc. Ngoài chế độ Bảo hiểm Y tế, Bảo hiểm Xã hội và Bảo hiểm tai nạn 24/24 giờ cho tất cả nhân viên, những người đạt thành tích tốt và có thâm niên gắn bó với công ty còn được ông mua bảo hiểm Nhân thọ để họ tích lũy sau này.

    Cao Tiến Vị luôn khích lệ và tạo mọi điều kiện cho nhân viên sáng tạo cá nhân và tự phấn đấu để hoàn thiện. Anh mời các chuyên gia trong và ngoài nước tới công ty để làm việc để trao đổi kinh nghiệm, tổ chức cho cán bộ và nhân viên kỹ thuật ra nước ngoài học tập. Tất ả những hoạt động này được duy trì rất đều đặn.

    Không chỉ chu đáo với nhân viên trong công ty mà ngay cả với các nhà phân phối của mình, Cao Tiến Vị cũng quan tâm chăm sóc họ rất tốt. Ông cho rằng những người này là trung gian giữa công ty với người tiêu dùng nên họ cũng là nhân tố quan trọng góp phần cho sự phát triển của công ty. Vì thế họ cần được đối xử tốt. Công ty luôn có những món quà động viên tinh thần gửi đến họ vào những ngày có ý nghĩa trong năm, “dù nhỏ nhưng đó là cách làm cho họ nhớ đến mình” – ông nghĩ vậy.
    TÌNH HUỐNG 11: QUẢN LÝ CON NGƯỜI TRONG MỘT CÔNG TY MAY THÊU.

    Công ty TNHH Tiến Bộ kinh doanh trong ngành thêu ren từ năm 1992. Ban đầu khi mới thành lập công ty chỉ có 20 công nhân nhưng nay đã có trên 300 công nhân. Bà Nguyệt, giám đốc công ty cũng là người đa sáng lập công ty sau một thời gian làm việc và thành đạt ở Ngân hàng Ngoại thưong Việt Nam.

    Công ty chuyên sản xuất các sản phẩm và thêu ren trên lụa, các kỹ năng nghề nghệp này đã được mài dũa dần khi truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khách hàng hiện nay của công ty chủ yếu là từ Châu Âu, Nhật Bản, Singapore và người tiêu dùng cao cấp trong nước. Trong đó đối với thì trường trong nước công ty sản xuất sản phẩm theo mẫu mã riêng, con đối với khách hàng nước ngoài hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty vần là gia công, phía nước ngoài cung cấp toàn bộ nguyên vật liệu và mẫu mã. Hai xưởng của công ty cẫn là ở Đội Cấn và Pháp Vân sử dụng công nhân và máy móc để thực hiện các đơn đặt hàng. Hợp đồng gần đây nhất của công ty là ký với một số khách sạn ở Nhật Bản trong thời gian 5 năm và để thực hiện được hợp đồng này công ty sẽ thuê thêm 300 công nhân hợp đồng để thực hiện cam kết này.

    Công ty đang muốn đổi mới chiến lược của mình. Tính đến thơid điểm này chiến lược của công ty vẫn bị chi phối bởi các hợp đồng gia công. Việc đầu tư vào máy móc thiết bị được thực hiện chỉ để hoàn thành các yêu cầu tức thời của hợp đồng. Vì thế công ty đã bỏ lỡ một vài cơ hội do thiết bị và các phương pháp đào tạo của họ không cho phép mở rộng sản xuất để thực hiện hợp đồng mới. Hiện tại trước hết bà Nguyệt muốn đào tạo trước hết vào thiết bị và đào tạo công nhân, để nhằm thu hút được các hợp đồng mới từ đó tạo điều kiện cho việc có được uy tín về năng lực sản xuất và chất lượng cao.

    Bà Nguyệt đã giao phó nhiều trách cho những người quản lý cấp dưới mình (hai người con trai và một người con dâu). Bản thân bà chỉ chịu trách nhiệm về hai vấn đề chính: kiểm soát tài chính, bao gồm cả các quyết định đầu tư và quản lý hệ thống đại lý trong nước tiêu thụ các sản phẩm gốc của công ty ở Hà Nội.
    Anh Hùng, con trai bà điều hành xưởng bia gia công ở Đội Cấn đồng thời quản lý toàn bộ việc tuyển dụng và đào tạo nhân sự mới. Anh Hùng cũng là nhà quản lý kỹ thuật của xưởng.

    Anh Quang, con trai phụ trách xưởng Pháp Vân, nhiệm vụ của anh là tuyển dung, đò tạo và phân công công việc cho công nhân. Anh cũng giữ vai trò quản lý kỹ thuật và quản lý trực tiếp của xưởng.

    Chị Phụng, con dâu bà Nguyệt – một nhân vật có uy tín trong công ty đã tốt nghiệp Đại học Ngoại thương và có thời gian làm việc cho UNIMEX Hà Nội, là người thành thạo tiếng Nga và tiếng Anh, có tài giao tiếp và thương lượng, sáng tọa nhạy bén. Chị là người thông thạo kế toán đồng thời luôn chịu khó nâng cao kỹ năng máy tính và thông thạo môi trường pháp lý ở Việt Nam trong XNK. Với vai trò là một phó giám đốc, chị chịu trách nhiệm về đối nội và đối ngoại. Chị Phụng cũng có những tính cách cá nhân phù hợp với vị trí công việc của mình, chị có thái độ mềm mỏng và làm việc rất hiệu quả với những người khác. Chị là người thường xuyên gặp gỡ khách hàng và luôn đóng vai trò trung gian giữa nhân viên bất bình và cấp trên. Chị cũng chịu trách nhiẹm về bán hnàg và Marketing. Chị Phụng là người đã tạo dựng đuợc nhiều mối quan hệ trong và ngoài nước có lợi cho hoạt động làm ăn của công ty, đặc biệt là ở Nga và Đức. Sau khi tham gia một vài khóa học quản lý chị đã có khả năng tăng cường vai trò của mình trong các quan hệ với nhân viên mặc dù chồng chị, anh Hùng vẫn chịu trách nhiệm về đào tạo và tuyển dụng. Tuy nhiên kỹ năng lãnh đạo và tổ chức của chị còn yếu và do đó chị chưa tạo được động lực làm việc cho nhân viên. Chị chưa quen với vai trò người phụ trách về vấn đề nhân sự. Chị không hiểu làm thế nào quản lý nguồn nhân lực có thể cải thiện tình hình của công ty và thấy không phải lập kế hoạch nguồn nhân lực. Chị đồng ý với triết lý của công ty cho rằng nguồn nhân lực chỉ liên quan đến sản xuất và do đó chức năng này chỉ nên hạn chế ở việc tuyển dụng, lựa chọn, đào tạo và thanh toán thù lao cho nhân viên.

    Công ty hiện có 305 nhan viên nhưng 90% số đó chỉ là hợp đồng tạm thời, 80 % nhân công là nữ. Các nhân công nhìn chung tỏ ra thỏa mãn (có thể thấy trong mức độ tương đối nhỏ trong tháy đổi nhân công, trung bình chỉ là 1% mỗi năm). Công nhân làm việc chăm chỉ và đúng giừo, họ hoàn toàn thoải mái với điều kiện sản xuát dây chuyền bởi nó tạo không khí làm việc tổ nhóm và tinh thần đồng đội. Việc quản lý ở đây được thực hiện theo mục tiêu và định hướng theo kết quả sản xuấ cố định. Thực tế không có những nhà qunả lý thực thụ ngoài ban giám đốc. Lãnh đạo tổ nhóm là quản lý chức năng nhưng cũng là nhân viên hợp đồng.
    Đến nay việc đào tạo của công ty vẫn hướng vào dạy các kỹ năng cần thiết để tạo thuận lợi cho sản xuất. Các công nhân được dạy cách sử dụng máy móc và một số công nhân được luân chuyển công việc đến các xưởng khác nhau để làm quen với các chức năng riêng biêtn trong công ty. Các khóa đào tạo và phát triển bên ngoài được dành cho các phó giám đốc. Tuy nhiên cho đến nay công ty vẫn chưa hề phân tích nhu cầu đào tạo, không đào tạo riêng cho các lãnh đạo nhóm và không có quỹ cho đào tạo phát triển. Phát triển nhân viên chủ yếu bao gồm các đánh giá hàng tháng của kãnh đạo các nhóm và cá phó giánm đốc chịu trách nhiệm về bộ phận đó. Trong suốt thời gian làm việc với công ty nhân viên không được vạch rõ đường hướng làm việc của mình và không thấy điều gì về tương lai của họ khi làm việc với công ty.

    Việc trả lương được dựa trên năng suất. Khi ký hợp đồng với một khách hanhd ban giám đốc xác định phần chi phí trả công lao động, thương là 8-10% trị giá hoạt động. Số tiền này sau đó được chia theo số lượng đơn vị sản phẩm, kết quả là nhân viên được trả một khoản tiền lương cố định cho một sản phẩm làm ra. Công ty trả thêm 15% vào tiền lương công như là bảo hiểm xã hội cho các nhân viên hợp đồng với các thời hạn kéo dài trên 3 tháng. Công ty cũng luôn cố gắng cải thiện các điều kiện sống và làm việc cho người lao động.

    Câu hỏi:
    1. Trách nhiệm và hoạt động của chị Phụng là gì? Hãy nêu các trách nhiệm và hoạt động phù hợp với chức năng quản lý nguồn nhân lực?
    2. Những kỹ năng nào giúp chị Phụng quản lý các hoạt động liên quan đến nguồn nhân lực? Kiến thức và kỹ năng nào chị còn thiếu?
    3. Giả sử bạn ở vị trí đề xuất với chị Phụng tuyển một trưởng phòng nhân sự. Bạn sẽ trình bày những lợi ích nào để thuyết phục cho ý kiến của mình?.
    TÌNH HUỐNG 12: CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC LƯỚI VÀ HÀM RĂNG.

    Lão Tử là một người thông minh và tài giỏi. Bữa đó nghe tin thầy giáo là Thương Dung bị bệnh nặng, Lão Tử đến thăm và mời thầy ăn chút gì để chống lại bệnh tật hiểm nghèo. Nhân lúc thầy giáo tỉnh, Lão Tử xin thầy cho ý kiến dạy bảo thêm cho đệ tử. Thương Dung thấy Lão Tử không những thông minh mà còn ham học, suy nghĩ sâu sắc nên đã mở rộng miệng cho Lão Tử xem và hỏi:
    – Lưỡi của ta còn không?
    + Thưa thầy, lưỡi của Thầy còn ạ!
    -Thế răng của ta còn không?
    + Thưa Thầy, không còn ạ!
    -Vậy anh có biết ta hỏi anh vấn đề này có thâm ý gì không?
    Lão Tử trả lời: Thưa Thầy, Thầy về già rất thọ, sở dĩ cái lưỡi còn vì cái lưỡi mềm, còn răng rụng hết vì nó cứng. Thưa Thầy, có phải thế không ạ?
    Thương Dung nghe Lão Tử trả lời vậy đã vui vẻ nói: Đúng! Lý giải của anh hoàn toàn chính xác. Lưỡi vì mềm mà còn được lâu, răng vì cứng nên rụng hết . Đạo lý này không những đúng với răng và lưỡi. Mọi việc, vạn vật trong thiên hạ đều thế cả.

    Câu hỏi:
    1. Đây là câu chuyện về răng và lưỡi. Nó có ý nghĩa gì trong cuộc sống hiện tại?
    2. Khi xử thế công việc kinh doanh, thương lượng, câu chuyện trên có giúp được gì?
    3. Ngụ ý câu chuyện này có khác với thành ngữ xử thế “lạt mềm buộc chặt” không ? Tại sao?

    TÌNH HUỐNG 13: CHUYỆN NGỤ NGÔN VỀ CÁCH ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI.

    Con Cò Cạp vốn không biết bơi, muốn băng qua một cái hồ. Nó tìm đến conếch và noi : “Anh Ếch à, xin anh vui lòng cõng tôi qua hồ nhé”
    Ếch trả lời: “Rất săn sàng. Nhưng đối với anh tôi phải từ chối. Có thể anh sẽ chích vào tôi khi tôi đang qua hồ”.
    “Nhưng tại sao tôi lại làm vậy?” Bò Cạp nói: “Tôi chẳng có lợi ích gì khi chích anh cả. Anh sẽ chết và tôi sẽ chìm theo”.
    Mặc dù Êứch biết rằng Cò Cạp có thể giết chết nó nhưng trong trường hợp này lý luận của Bò Cạp khá thuyết phục. Ếch nghĩ rằng trong trường hợp này Bò Cạp sẽ giữ được cái đuôi của nó không phạm sai lầm. Thế là Ếch đồng ý. Bò Cạp leo lên lừn Ếch và chúng cùng băng qua hồ. Đến giữa hồ Bò Cạp cong đuôi chích vào Ếch. Ếch la lên “Tại sao anh lại chích tôi? Có lợi gì cho anh đau bởi vì tôi sẽ chết và anh cũng sẽ chìm theo”. “Tôi biết”, Bò Cạp trả lời khi đang chìm xuống hồ, “Nhưng tôi là Bò Cạp. Tôi phải chích anh. Đó là bản năng”

    Câu hỏi:
    1. Hãy bình luận câu chuyện trên.
    2. Theo anh (chị), một nhà quản trị giỏi cần đánh giá năng lực và nhìn nhận bản chát của nhân viên như thế nào?

    TÌNH HUỐNG 14: TẠO ĐỘNG LỰC CHO NHÂN VIÊN.

    Đông Á được đánh giá là một công ty thành công trong lĩnh vực phân phối mặt hàng inox. Được thành lập cachs đay ba năm, công ty liên tục phát triển với một doanh số và thì phàn kha khá nhờ vào đội ngũ nhân viên giỏi và nhiẹt tình với công việc.

    Thế nhưng, dạo gần đây việc kinh doanh ở đây chững lại, nhân viên cốt cán không còn làm việc hăng say như trước. Cường, chủ doanh ngiệp, đã quyết định tăng lương cho các vị trí chủ chốt của công ty cao hơn hẳn mức chuẩn trên thị trường. Thế nhưng tình hình cải thiện không được bao lâu.

    Đwns khi các nhà tư vấn vào cuộc tìm hiểu, Cường mới biết được các nhân viên chán nản vì cho rằng không còn được quan tâm như xưa. Nếu như trước đây họ được ông chủ khen tặng khi đạt được thành tích xuất sắc, hay được thông báo về những chính sách mới trước khi công ty áp dụng, thì này điều đó không còn nữa.

    Chuyện ở công ty cho thấy ông chủ đã định bệnh và cho thuốc sai ngay từ đầu. Thu nhập cao không thể tạo ra động lục làm việc lâu dài. Điều mà nhà quản lý cần biết, là nếu thu nhập của nhan viên thấp hơn mức chuẩn thì nhân viên không thỏa mãn, nhưng thu nhập cao hơn mức chuẩn cũng không hẳn là tạo được độmg lực bền vững cho nhân viên. Động lực của nhân viên chủ yếu được tạo ra từ phong cách và tài năng lãnh đạo của “sếp”

    TÌNH HUỐNG 15: MỌI NHÂN VIÊN PHẢI ĐI BÁN HÀNG.

    Một số người nói: “Đó là một kế hoạch điên rồ”, nhưng Bill Spencer tin rằng nó sẽ gây “nổ tung thị trường”. Cách Marketing của Bill: 500 người từ tất cả các phòng ban được huy động bắt buộc để đi bán hàng, từ nhân viên văn phòng, kế toán, thủ quỹ, thu ngân cho đến kỹ sư những người cho có tý kinh nghiệm bán hàng. Quả đúng như Bill tiên đoán, chính họ đã tự khám phá ra tài năng bán hành của mình.

    Tập đoàn Dupont (Mỹ ) với bề dày 20 năm, có mặt tại hơn 70 quốc gia, chuyên hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, hóa chất, công nghiệp (công nghệ sạch). Dupont đã có mặt tại Việt Nam, nhà máy đặt tại khu Công nghiệp Sónh Thần 2. Năm 1985, công ty muốn thúc đẩy nhãn hiệu “Atron Army”, một nhãn hiệu mới của thảm lát sàn được chế tạo từ sợi hóa học (có độ bền cao và dễ giặt sạch). Bill Spencer, giám đốc tiếp thị lúc bấy giờ thấy trước phải cạn tranh khốc liệt với các dòng sản phẩm cùng loại trên thị trường nên ông đã vạch ra cách tiếp thị độc đáo và đã mang lại thành công lớn. Sau khi nghiên cứu kỹ 1 500 thương nhân bán lẻ của Dupont, ông phát hiện ra rằng công ty có thể bán sản phẩm mới này bằng phương pháp bán chịu.

    Tập đoàn Dupont đang theo một phương thức kinh doanh truyền thống: 85% trên tổng số bán ra là được trả bằng tiền măt, trong khi đó việc thanh toán bằng tiền mặt ngày càng ít phổ biến. Cần phải có sự thay đổi. Rất nhiều người nghi ngờ tính khả thi ủa chiến lược của Bill Spencer vạch ra. Tuy nhiên, nhờ vào tài lãnh đạo và tổ chức của mình nên ông đã thực hiện kế hoạch rất tốt. Ông cũng đã làm công tác tư tưởng với 500 nhân viên được chọn làm đại diện bán hàng, cung cấp khóa huấn luyện bán hàng, trợ giúp bán hàng và luôn khuyến khích họ, ý đồ của Bill đã khiến mọi nhân viên của công ty hiểu về khách hàng, hiểu về hoạt động bán hàng của mình hơn. Mặt khác đây là chiêu tiếp thị rất độc đáo với ý nghĩa: “Mọi nhân viên của Dupont đều lắng nghe khách hàng và gần gũi với khách hàng”. Có nhiều câu chuyện vui xung quanh cách tiếp thị này. Bạn cứ tưởng tượng một anh kỹ sư hóa học đi gặp một khách hàng thì sẽ như thế nào? Kế hoạch bắt đầu thành công sau 3 tuần lễ thực hiện và nó trở thành động lực thúc đẩy nhân viên Dupont làm việc tốt hơn.
    __________________


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quản trị nguồn nhân lực & Thách thức của sự thay đổi


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    LỜI NÓI ĐẦU

    Chúng ta đã biết, trong mọi nguồn lực thì nguồn nhân lực là quan trọng nhất trong một tổ chức. Nguồn nhân lực có vai trò rất lớn trong việc thành bại của tổ chức. Trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt hiện nay, khi mà luôn có những thay đổi chóng mặt; những xu hướng mới; những cơ hội và thách thức mới thì mỗi tổ chức phải linh hoạt để thích ứng. Những giá trị ngày xưa đã không còn phù hợp với thời buổi hiện nay. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn quá khứ. Song một thực tế rõ ràng là các nhân viên ngày nay cần thiết phải trang bị một kiến thức mới, một công nghệ mới và với một tư duy mới. Chúng ta chỉ giữ lại những gì còn phù hợp với thời buổi hiện nay, còn lại phải thay đổi hết. Từ đó chúng ta thấy rõ nhu cầu cấp thiết của Tổ chức trong việc tuyển dụng một đội ngũ nhân viên mới thoả mãn yêu cầu của công việc trong thời buổi hiện nay. Đặc biệt là trong nền kinh tế Việt Nam khi mới chuyển từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường thì nhu cầu đó lại càng bức xúc hơn bao giờ hết. Chỉ khi nào các doanh nghiệp, công ty của Việt Nam có một nguồn nhân lực đủ mạnh thì mới thể tồn tại và phát triển trên thị trường và sau đó là hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.

    Cùng với công tác đào tạo và đào tạo lại thì công tác tuyển dụng nhân lực được xem là hoạt động then chốt của tổ chức trong việc có được một đội ngũ nhân viên thoả mãn yêu cầu công việc mới. Hoạt động tuyển dụng nhân lực sẽ quyết định lớn đến chất lượng và sự phù hợp của nhân viên. nếu công tác này được làm tốt thì tổ chức sẽ có một cơ cấu tổ chức hợp lý, đủ sức tồn tại và phát triển. Điều ngược lại là có thể dẫn tới sự phá sản của Tổ chức.

    Đây là một đề tài còn khá mới mẻ, rất ít tài liệu tham khảo nen bài viết chỉ để cập đến những vấn đề cơ bản và chung nhất, không có ý định đi sâu và phân tích kỹ càng. Nhưng cũng mong qua bài viết này sẽ ít nhiều nêu bật được tầm quan trọng của công tác tuyển nhân lực trong một tổ chức. Đồng thời sẽ cố gắng đưa ra những giải pháp để cho hoạt động này được tốt hơn trong các doanh nghiệp ở Việt Nam.

    Đề tài này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của giáo viên – Thạc sỹ

    …………………….. Xin chân thành cảm ơn cô đã hướng dẫn và sửa chữa giúp cho

    đề tài này được ra đời.

    Tuy rất cố gắng, xong bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, thiển cận. Vậy rất mong các bạn bỏ qua và góp ý kiến để đề tài này càng hoàn thiện thêm

    1

    CHƯƠNG I

    HOẠT ĐỘNG TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC

    A. TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC

    Nghiên cứu kỹ các kế hoạch chiến lược của tổ chức mình là nhiệm vụ trước tiên mà nhà quản trị phải thực hiện. Từ đó xem xét với nguồn nhân lực hiện thời của tổ chức thì có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra hay không. Thông thường việc đáp ứng đầy đủ rất khó xảy ra nếu không mốn nói là không thể. Với một kế hoạch chiến lược thì trong tổ chức luôn xảy ra tình trạng dư thừa hoặc thiếu nhân viên là như thế nào?

    Trong trường hợp khiếm dụng nhân viên, nhà quản trị cần phải thực hiện chương trình thuyên chuyển nhân viên theo đúng khả năng và tiềm năng của họ, hoặc thăng chức và giáng chức theo đúng nhu cầu và khả năng của công ty. Nếu sau khi sắp xếp lại mà vẫn thấy không đủ theo nhu cầu, tổ chức sẽ tiến hành chương trình tuyển mộ và tuyển chọn nhân viên. Còn trong trường hợp thặng dư nhân viên, nhà quản trị có thể áp dụng các biện pháp như: hạn chế việc tuyển dụng lại; giảm bớt giờ lao động; cho về hưu sớm hoặc giãn thợ (cho nghỉ tạm thời) – trường hợp này sẽ không đề cập đến nhiều, bởi mục đích chính của chúng ta là tuyển dụng nhân lực.

    Hoạt động tuyển dụng nhân lực bao gồm tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực. Chúng ta có thể hiểu một cách nôm na rằng: Tuyển mộ là tập trung các ứng viên lại, còn tuyển chọn là quyết định xem trong số các ứng cử viên ai là người hội đủ các tiêu chuẩn để làm việc cho tổ chức. Bây giờ ta hay xem xét kỹ từng hoạt động này.

    I. TUYỂN MỘ.

    Khái niệm: Tuyển mộ là một tiến trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký, nộp đơn tìm việc làm.

    Tuy nhiên, như trên đã nói, không phải là khi thấy thiếu nhân viên là ta phải lập tức tuyển mộ ngay. Để tránh lãnh phí, trước khi đưa ra quyết định tuyển mộ người ta xem xét còn giải pháp nào có thể giải quyết được tình hình thiếu hụt nhân viên hay không?

    1. Các giải pháp khác trước khi quyết định tuyển mộ. Giờ phụ trội (làm thêm giờ).

    Đối với các công ty, doanh nghiệp mà lượng hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra không ổn định trong năm mà có tính chất thời vụ thì họ thường khuyến khích công nhân làm thêm giờ phụ trội. Giờ phụ trội được tính cap gấp rưỡi hoặc gấp đôi giờ công lao động bình thường.

    Giải pháp này có ưu điểm là công ty không phải tuyển thêm lao động mà vẫn hoàn thành các đơn đặt hàng. Vẫn giữ được cơ cấu và không phải nuôi số người dư thừa khi nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của công ty qua mùa cao điểm.

    Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là khi nhân viên làm việc phụ trội trong một thời gian dài sẽ dẫn đến mệt mỏi, quá tải và kéo theo chất lượng sản phẩm giảm. Đồng thời nhân viên sẽ thiếu nhiệt tình khi trở lại làm việc ở mức độ bình thường như trước kia.

    1. Hợp đồng gia công.

    Khi ở vào tình trạng thiếu nhân viên, các công ty có thể chọn giải pháp ký hợp đồng với các hãng khác sản xuất cho mình. Việc này về trước mắt có lợi cho cả đôi bên. Công ty sẽ không phải tuyển mộ thêm nhân viên, song lại có nhược điểm là (về lâu dài) có thể mất khách hàng vào tay các công ty được thuê gia công kia.

    1. Thuê nhân viên của hãng khác.

    Trong trường hợp này, sổ lương của các công nhân được thuê, mướn vẫn nằm tại công ty gốc và tiền thù lao của họ được thanh toán tại công ty gốc. Điều này không phá vỡ cơ cấu của cả hai công ty, tuy nhiên nó có nhược điểm lớn là công nhân cảm thấy mình không phải là công nhân biên chế, nên họ làm việc không hăng hái. Điều quan trọng khác rất dễ xảy ra là sự chênh lệch về chuyên môn của các công nhân.

    1. Nhân viên tạm thời.

    Đây cũng là giải pháp giải quyết vấn đề khiếm dụng nhân công. Để tránh những điều đáng tiếc xảy ra sau này, chúng ta nên nói ra trong hợp đồng là cần tuyển người trong thời gian ngắn. Trường hợp này cũng có những hạn chế giống như ở giải pháp thuê nhân viên hãng khác.

    Khi đã thực hiện tất cả các giải pháp trên mà vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của tổ chức, lúc đó chúng ta mới quyết định tuyển mộ nhân viên.

    3

    1. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến quá trình tuyển mộ nhân viên.

     

    Phẩm chất của nhân viên luông là mục đích quan trọng của quá trình

    tuyển dụng. Việc tìm được các nhân viên có đầy đủ năng lực và phẩm chất để sắp xếp đúng vị trí luôn là điều mơ ước của các nhà quản trị. Tuy nhiên, vì lý do này hay lý do khác mà các nhà quản trị đôi khi phải chấp nhận những phương án không phải là tối ưu. Đó là do sự tác động của môi trường (bên trong và bên ngoài) doanh nghiệp. Chúng ta hãy xem xét kỹ ảnh hưởng của yếu tố này.

    1. Môi trường bên trong doanh nghiệp.

    * Tính chất, đặc điểm công việc của doanh nghiệp.

    Với từng loại công việc mà nhân viên được tuyển dụng sẽ cần các kỹ năng, trình độ không giống nhau. Xác định rõ được điều này sẽ giúp nhà quản trị phân vùng và hướng tới các ứng viên phù hợp. Sẽ tránh được việc phải xem xét quá nhiều những trường hợp, những ứng viên không phù hợp với yêu cầu tuyển dụng.

    * Thời gian.

    Đôi khi, do sự việc đến quá bất ngờ và cấp bách yếu tố thời gian sẽ là quan trọng nhất đối với việc tuyển dụng nhân viên. Lúc này nhà quản trị phải quyết định tuyển dụng những nhân viên có thể không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất đã đề ra. Chỉ cần những nhân viên đó thoả mãn một trong các yêu cầu đó là có thể tuyển dụng được.

    * Khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    Có những trường hợp, do khả năng tài chính của doanh nghiệp quá eo hẹp nên các nhà quản trị không có điều kiện để sàng lọc tất cả các ứng viên để tìm được những người thích hợp nhất. Kết quả là họ phải chấp nhận các phương pháp tuyển dụng tắt (bỏ một số bước) hoặc trong một phạm vi hẹp để phù hợp với khả năng tài chính. Điều này sẽ dẫn đến chất lượng của các nhân viên được chọn có thể không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công việc.

    * Bầu không khí văn hoá của doanh nghiệp.

    Một công ty hay doanh nghiệp có bầu không khí năng động, chắc chắn các nhà quản trị sẽ tuyển chọn những người có đầu óc thông minh, có tham vọng, và nhất là năng động và có sáng kiến.

    Phản ứng của công đoàn.

    4

    Nếu các cấp quản trị thực hiện việc tuyển dụng không bình đẳng, phân biệt đối xử và nhất là đi ngược lại lợi ích của Công đoàn thì chắc chắn Công đoàn sẽ phản ứng. Điều này chưa xảy ra ở Việt Nam, nhưng trong tương lai chắc chắn sẽ xảy ra.

    1. Môi trường bên ngoài doanh nghiệp. * Khung cảnh kinh tế.

    Khi nền kinh tế phát triển hay suy giảm, nó ảnh hưởng đến quá trình tuyển dụng nhân viên của các doanh nghiệp. Khi kinh tế phát triển có chiều hướng ổn định, doanh nghiệp phải tuyển thêm người có trình độ, tăng lương để thu hút nhân tài, tăng phúc lợi và cải thiện điều kiện làm việc và ngược lại.

    * Dân số, lực lượng lao động.

    Dân số và lực lượng lao động đông dẫn đến nhu cầu về việc làm tăng. Chúng ta còn có thể kể đến luật lệ của Nhà nước, văn hoá – xã hội, đối thủ cạnh tranh, khoa học kỹ thuật, khách hàng và chính quyền đoàn thể.

    1. Nguồn tuyển mộ.

    Có hai nguồn tuyển mộ là nguồn nội bộ và nguồn bên ngoài.

    1. Nguồn nội bộ.

    Tuyển mộ nhân viên trong nội bộ công ty là cả một thủ tục phức tạp. Đối với các chức vụ quản trị gia cao cấp, thường công ty áp dụng hồ sơ thuyên chuyển. Với các chức vụ hoặc công việc ở cấp thấp hơn các công ty thường sử dụng phương pháp niêm yết công việc còn trống. Bảng niêm yết này được dán công khai để mọi người đều biết. Trong bảng này, thường người ta ghi rõ chỗ làm còn trống, các thủ tục cần biết… Kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật mời đăng ký chỗ còn trống. Đôi khi một số công ty tổ chức thêm các cuộc trắc nghiệm và phỏng vấn để cho việc tuyển lựa chính xác hơn.

    Khi yếu tố thời gian là yếu tố nổi bật – nghĩa là công ty cần tìm gấp một người nào đó mà không có thời gian thì cách tốt nhất là dán thông báo trong nội bộ công ty. Ngoài ra, đây cũng là vấn đề thuộc về chính sách. Các công ty lớn của các nước Âu – Mỹ, nhất là Nhật Bản, thường ưu tiên tuyển người từ nguồn nội bộ (nó còn được gọi là tuyển nhân viên hiện hành).

    Tuyển người từ nguồn nội bộ có ưu điểm là nhân viên thấy công ty luôn luôn tạo cơ hội để họ được thăng tiến, và do đó họ gắn bó với công ty hơn và làm việc tích cực hơn. Ngoài ra, họ là những người đã quen thuộc, hiểu được

    5

    chính sách và cơ cấu của công ty. Do đó chỉ cần một thời gian ngắn công ty giúp họ hội nhập vào môi trường làm việc mới.

    1. Nguồn bên ngoài.

    Có rất nhiều nguồn tuyển mộ từ bên ngoài. Sau đây là một số nguồn

    chính.

    * Bạn bè của nhân viên.

    Các nhân viên đang làm trong công ty có thể giới thiệu cho công ty những người bạn (mà mình biết và hiểu rõ) có khả năng và có chất lượng. Điều dễ hiểu là nếu nhân viên thích các công việc ở công ty, họ thường rất muốn bạn bè của mình vào làm việc chung với mình.

    Tuyển mộ theo lối này có khả năng dẫn tới sự thiện vị hoặc cảm tưởng không tốt trong nhân viên khi một người bạn hoặc họ hàng của họ không được chấp nhận vào làm việc. Sự bất lợi nãy sẽ được giải quyết khi công ty giải thích rõ ràng tất cả các đơn xin việc đó sẽ được cứu xét khách quan giống như những người nộp đơn qua hệ thống tuyển mộ khác, nhưng sẽ được ưu tiên hơn người khác nếu xảy ra trường hợp bằng điểm số.

    * Nhân viên cũ (cựu nhân viên của công ty).

    Đó là trường hợp các nhân viên vì lý do nào đó rời bỏ công ty để làm việc cho một công ty khác mà nay lại muốn trở về nơi cũ. Việc nhận số nhân viên này làm cho tất cả các nhân viên có ý tưởng rằng họ có thể rời công ty bất cứ lúc nào họ muốn, và một khi trở lại họ không mất mát gì. nếu nhà quản trị thận trọng tránh để nhân viên có tư tưởng như vậy thì việc nhận số người cũ có lợi là họ sẽ trở thành những nhân viên làm việc tốt hơn, vui vẻ hơn và có tinh thần trung thực hơn trước kia.

    * Ứng viên tự nộp đơn xin việc.

    Đó là những người tự ý đến văn phòng công ty để xin việc trong khi công ty không đăng quảng cáo tìm người.

    Trong trường hợp này ta nên thiết lập một hệ thống hồ sơ các ứng viên loại này để khi cần thiết có thể mời họ vào mà không phải tốn thời gian, công sức và tiền bạc.

    * Nhân viên của các hãng khác.

    Tuyển dụng những nhân viên này là con đường ngắn nhất và có hiệu quả nhất vì công ty không phải chi phí cho nghiệp vụ đào tạo và hầu như không phải qua thời kỳ tập sự. Hình thức này hay được áp dụng tại Mỹ.

    6

    * Các trường đại học và cao đẳng

    Đây là nguồn tuyển mộ quan trọng đối với hầu hết các công ty. Bởi vì những người này còn giữ được thói quen học tập, tâm hồn trong trắng, để tào tạo, có sức bật vươn lên và nhiều sáng kiến.

    * Người thất nghiệp.

    Đây cũng là nguồn có giá trị. Có nhiều lý do để họ thất nghiệp mặc dù không phải là họ thiếu khả năng. Nếu khai thác tốt nguồn này công ty có thể nhặt được những “của quý” bất ngờ.

    * Công nhân làm nghề tự do.

    Những công nhân làm nghề tự do cũng là một nguồn tuyển mộ có tiềm năng. Họ có thể sẽ là những ứng viên cho những công việc đòi hỏi kỹ thuật, chuyên môn cao.

    1. Phương pháp tuyển mộ.

    Có rất nhiều phương pháp tuyển mộ nhân viên từ nguồn bên ngoài. Phổ biến nhất vẫn là quảng cáo, đến các trường tuyển mộ và đến các cơ quan lao động – công cũng như tư.

    1. Phương pháp quảng cáo.

    Phổ biến nhất vẫn là quảng cáo trên báo chí, ngoài ra còn ở tivi, đài, tờ rơi… Tiền quảng cáo khá tốn kém nhất là đối với tivi. Hầu hết các công ty đều đồng ý rằng đăng quảng cáo trên báo chí là nguồn cung cấp các công nhân, nhân viên trẻ tuổi, đa số ít có kỹ năng theo nhu cầu của công ty. Cách này được áp dụng khi các phương pháp tuyển mộ khác quá tốn kém hoặc khó khăn. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là công ty sẽ e ngại phản ứng của công nhân khi họ biết công ty đang rất cần người, nhất là các ngành nghề đòi hỏi kỹ năng cao, điều đó dẫn đến năng suất lao động giảm.

    1. Cử chuyên viên tuyển mộ đến các trường.

    Còn được gọi là phương pháp chuyên viên tuyển mộ. Mấu chốt là ở chỗ các chuyên viên tiếp xúc với giám đốc sinh viên vụ của các trường. Hầu hết các sinh viên giỏi đều lọt vào “tầm ngắm” của họ và có thể tài trợ cho sinh viên đó học tập. Khi ra trường, sinh viên đó sẽ được mời về công ty để làm việc (thậm chí là bắt buộc).

    7

    1. Các cơ quan tuyển dụng.

    Cũng có nhiều công ty lại phải nhờ cậy các cơ quan tuyển dụng hoặc tuyển chọn dùm. Thường là họ thiên về tuyển nhân viên văn phòng hơn. Chất lượng tuyển tuỳ theo kha năng chuyên môn của cấp quản trị của các cơ quan này. Các cơ quan tư nhân thường tuyển lựa kỹ và tốt hơn các cơ quan công.

    1. Sinh viên thực tập.

    Sinh viên thường thực tập trong các tháng hè. Qua thời gian làm việc ở công ty và qua mối quan hệ tiếp xúc, sinh viên có thể xác định được có nên xin làm việc tại đây không và ngược lại, công ty có thể chấp nhận sinh viên này hay không.

    Ngoài ra còn có một số phương pháp như: Nhờ nhân viên giới thiệu, ứng viên tự nộp đơn… và các phương pháp áp dụng ở các nước phát triển, chưa xuất hiện ở Việt Nam như: Sử dụng hiệp hội chuyên ngành, Trung tâm dịch vụ dữ kiện lỹ lịch.

    II. TUYỂN CHỌN NHÂN LỰC.

    Tuyển chọn nhân lực là một quá trình phức tạp và tốn nhiều công sức. Phải có nghiệp vụ chuyên môn, tầm hiểu biết rộng rãi đồng thời còn phụ thuộc và chính sách tuyển dụng của công ty.

    Tuyển chọn nhân lực được định nghĩa như sau: Là quyết định xem trong số các ứng viên đã được tuyển mộ ái là người hội đủ các tiêu chuẩn để làm việc cho công ty.

    Tiến trình tuyển chọn gồm các giai đoạn.

    1. Giai đoạn chuẩn bị.

    Nhất thiết phải chuẩn bị kỹ càng về vật chất và cơ sở hạ tầng, các công ty cần chú trọng đến bảng mô tả chi tiết tiêu chuẩn công việc. Có bảng này sẽ giúp các cấp quản trị biết rõ sẽ cần loại ứng viên có tiêu chuẩn như thế nào. Từ đó các chuyên gia sẽ soạn thảo các mẫu trắc nghiệm, các mẫu phỏng vấn thích hơp.

    1. Giai đoạn chính thức. Bao gồm 7 bước:

     

    Bước1: Ứng viên nộp đơn

    8

    Bước này yêu cầu các ứng viên nộp đầy đủ hồ sơ xin việc, bao gồm các giấy tờ cần thiết cho cơ quan tuyển chọn. Các công ty nên soạn thảo mẫu đơn xin việc của riêng mình, như vậy dễ cho việc xem xét về sau này hơn.

    Bước 2: Phỏng vấn hồ sơ.

    Sau khi hồ sơ được tuyển chọn sơ bộ, công ty sẽ báo cho các ứng viên được chọn đến tham dự các giai đoạn tuyển chọn kế tiếp. Vì là lần đầu tiên ứng viên tiếp xúc với công ty nên các tiếp viên nên tế nhị để gây ảnh hưởng tốt cho công ty. Là giai đoạn chọn lọc hồ sơ để loại các ứng viên không đủ yêu cầu. Phỏng cấn viên hỏi thẳng một số câu hỏi về chuyên môn ngay. Cần chú ý khi các ứng viên có kinh nghiệm và trình độ thuộc lĩnh vực khác thì không nên loại ra ngay mà có thể chuyển sang bộ phận sắp cần người hoặc tuyển đợt sau.

    Thực hiện tốt giai đoạn này sẽ xây dựng thiện ý cho công ty, đồng thời tối đa hoá hiệu quả của tuyển dụng.

    Bước 3: Trắc nghiệm.

    Qua trắc nghiệm có thể phát hiện ra những tài năng đặc biệt của ứng viên, tìm ra các sắc thái đặc biệt về cá tính …

    Mục đích của nó là nhằm giảm bớt chi phí về huấn luyện. Khi đã biết năng khiếu của họ chỉ việc phát triển lên, rút ngắn thời gian tập sự…

    Các phương pháp trắc nghiệm:

    • Trắc nghiệm về kiến thức tổng quát: Mục đích là tìm xem trình độ hiểu biết tổng quát của cá nhân đạt đến trình độ nào về các lĩnh vực kinh tế, địa lý, toán… Chỉ áp dụng trắc nghiệm này khi cần phải tuyển chọn những nhân viên thuộc cấp quản trị.
    • Trắc nghiệm tâm lý: Hiện nay đóng vai trò quan trọng. Nó giúp cho nhà quản trị hiểu được động thái và thái độ ứng xử của ứng viên.
    • Trắc nghiệm trí thông minh.

    Với loại này người ta sẽ suy đoán được khả năng của ứng viên về từ ngữ, óc toán học, lý luận logic và những mối liên hệ trong không gian.

    Chỉ số thông minh IQ được tính như sau:

      IQ = Tuổi tinh thần x 100%
       
      Tuổi thực
         
    IQ < 100 → kém thông minh  
    IQ > 100 → thông minh  

    9

    • < IQ < 140 → lỗi lạc IQ > 140 → thần đồng * Trắc nghiệm cá tính:

    Mục đích xem cá tính của ứng viên để sau này giúp các ứng viên thực

    hiện nhiệm vụ dễ dàng hơn nhờ chỉnh bớt sự phức tạp và sai lệch của cá tính.

    * Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng chuyên môn.

    Đây là loại trắc nghiệm để tìm ra người có chuyên môn, nghiệp vụ có đầu óc sáng tạo cho công ty.

    Còn một số trắc nghiệm khác như khả năng nhận thức, độ linh hoạt của phản ứng, sở thích nghề nghiệp…

    Bước 4: Phỏng vấn sâu.

    Là phương pháp thông dụng nhất trong nghiệp vụ truyển chọn. Đây là phương pháp được sử dụng để lựa một ứng viên thích hợp.

    Mục đích là phối kiểm tra lại tất cả những dữ kiện mà ứng viên đã cung cấp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tong suốt giai đoạn lựa chọn. Phỏng vấn giúp ứng viên và chỉ huy hiểu rõ nhau hơn, xem ứng viên có thực sự đủ kiến thức không, đánh giá cả bên ngoài và bên trong ứng viên viên. những người chịu trách nhiệm phỏng vấn có thể gồm: Giám đốc TNNS, chỉ huy trực tiếp của ứng viên… Để công việc đạt được hiệu quả cao thì cả hai bên cùng phải chuẩn bị.

    Có các phương pháp phỏng vấn sau:

    Phỏng vấn theo mẫu; Phỏng vấn không theo mẫu; Phỏng vấn theo hợp đồng; Phỏng vấn căng thẳng; Phỏng vấn cá nhân hay phỏng vấn nhóm. Lưu ý những điều cần tránh sau:

    – Không nên phán xét một ứng viên bằng cách so sánh họ với một người

    khác.

    • Người phỏng vấn không nên tự cho mình là người kỳ cựu của công ty hay là người hiểu rộng biết nhiều khi đánh giá ứng viên.
    • Không nên tạo cho ứng viên cảm tưởng lạc quan quá đáng về quyền lợi ma họ được hưởng.
    • Không nên che đậy thực trạng của công ty.

    Bước 5: Sưu tra lý lịch.

    Sau khi đã trắc nghiệm và phỏng vấn sâu, nhà quản trị nên kiểm tra xem lại tất cả những gì ứng viên trình bày có đúng sự thật hay không. Ngoài ra còn

    10

    cần tìm hiểu một đôi nét về ứng viên qua thông tin người nào đó nói về ứng viên. Đó là sưu tra lý lịch.

    Bước 6: Khám sức khoẻ.

    Xem có phù hợp với tính chất của công việc không.

    Nên khám sức khoẻ trước khi quyết định tuyển dụng để việc tuyển dụng không biến thành “công dã tràng”.

    Bước 7: Thử việc và quyết định tuyển dụng.

    Sau khi ứng viên vượt qua được các bước trên, ứng viên sẽ có một thời gian ngắn để tiếp xúc và làm thử công việc của mình. Nếu họ hoàn thành công việc của mình thì công ty sẽ quyết định tuyển dụng anh ta.

    Từ 7 bước trên ta có kết luận:

    Các yêu cầu với cán bộ tuyển chọn phải là: Có trình độ kỹ năng đặt lợi ích của tổ chức lên trên hết đồng thời nhạy bén và linh hoạt trong việc ứng dụng các phương pháp tuyến chọn.

    B- VAI TRÒ Ý NGHĨA CỦA TUYỂN DỤNG.

    1. Đối với tổ chức.

    Hoạt động tuyển dụng tốt thì tổ chức sẽ có một đội ngũ nhân viên có trình độ, kinh nghiệm để giúp tổ chức tồn tại và phát triển tốt, có tính cạnh tranh cao. Ngược lại có thể dẫn đến suy yếu nguồn nhân lực → hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, lãng phí nguồn lực → phá sản.

    2. Đối với xã hội.

    Hoạt động tuyển dụng tốt thì sẽ giúp xã hội sử dụng hợp lý tốt đa nguồn lực. Là đầu ra của đào tạo nguồn nhân lực. Nó có thể giải quyết vấn đề việc làm xã hội.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRANG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG TẠI CÁC DOANH

    NGHIỆP Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG.

    I.                   THAM KHẢO PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC TUYỂN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN.

    1. Tại Mỹ.

    Các công ty tại Mỹ có vốn lớn, trình độ quản lý và công nghê cao do đó họ rất coi trọng công tác tuyển dụng nhân lực. Quá trình này luôn đầy đủ các bước. Một đặc trưng rất quan trọng là theo lậut lao động Mỹ, sau ba tháng, các công ty hoặc phải cho người lao động vào biên chế chính thức hoặc cho nghỉ. Nếu vào biên chế chính thức ngoài khoản được tăng lương, công nhân còn được hưởng các loại phúc lợi rất tốn kém. Công nhân thường được tuyển dụng theo hợp đồng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nên việc tuyển chọn nhân viên của hãng khác là khá phổ biến. Đây là triết lý chính trong quan điểm tuyển dụng của họ: Sử dụng triệt để người có tài bất kể trước đây anh là ai, làm việc cho hãng nào. Ngoài ra tuyển chọn quan trọng của các công ty Mỹ. Họ ưa thích nguồn nội bộ.

    2. Tại Nhật Bản.

    Các công ty ở Nhật bản cũng có vốn lớn, trình độ quản lý và công nghệ cao. Quá trình tuyển dụng nhân lực luôn được làm đầy đủ, nghiêm túc và kỹ càng. Giống tại Mỹ, các công ty Nhật ưa thích các nguồn nội bộ, trái với người Mỹ việc thăng chức chủ yếu dựa vào thành tích và khả năng là chủ yêu và thâm niên là thứ yếu. Còn người Nhật, thì yếu tố nhâm niên là chủ yếu giống hệt như tại Việt Nam. Tuy nhiên kể từ thập niên 1980, người Nhật đã cố gắng phá vỡ quan niệm truyền thống lạc hậu này vì cản trở người trẻ tuổi có thực tài. Từ thập niên 1990, hầu hết các hãng lớn của Nhật theo bước chân Mỹ trong việc thăng cấp. Những người trẻ tuổi muốn được thăng cấp ngạch quản trị đều phải qua chu kỳ thi trắc nghiệm và phải qua khoá huận luyện về quản trị. Truyền thống tuyển dụng của người Nhật là tuyển dụng suốt đời do đó họ không muốn tuyển dụng người nhân viên của các khãng khác như các công ty Mỹ. Hầu hết các công ty Nhật tuyển dụng nhân viên từ các trường Đại học và

    12

    Cao đẳng. Nhưng từ thập niên 1980 và nhất là 1990, dần dần càng có nhiều công ty tuyển mộ theo cách trên. họ thường thu nhận nhân viên của các hãng đang sa sút thừa nhân viên, sinh viên trẻ tuổi của các khoa Đại học… Rất hiếm khi nhân viên được tuyển từ các hãng đang cạnh tranh trong cùng ngành công nghiệp. Trong việc bố trí những người này vào một tổ chức, các công ty thường hết sức thận trọng, mục đích để bảo vệ nhân viên “riêng” của mình. Vì vậy những nhân viên này thường bị thua thiệt về chính sách lương bổng với nhân viên “gốc” của công ty. Điều này khác hẳn với Mỹ.

    Ngoài ra tại Mỹ và Nhật còn có các hãng như hãng chuyên cung cấp ứng viên có khả năng quản trị (Executive Search Firms) hoặc Hiệp hội chuyên ngành (Professional Associations) hoặc đến các trung tâm dịch vị dữ kiện lý lịch (Resume Databases) để được cung cấp lý lịch của các ứng viên đang cần việc làm. Những phương pháp này tại Việt Nam chưa có.

    1. ĐỘNG THÁI VÀ KHẢ NĂNG THU HÚT LAO ĐỘNG CỦA CÁCDOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG.

    “Mức cầu lao động” trong các doanh nghiệp là bộ phận quan trọng cấu thành “Mức cầu chung về lao động” của thị trường lao động. Đánh giá động thía lao động doanh nghiệp làm cơ sở cho cơ quan chức năng hoạch định các chính sách, giải pháp về phát triển kinh tế (đầu tư, công nghệ, phát triển ngành nghề, đào tạo nhân lực…) nhằm không ngừng tăng số chỗ làm việc mới, ổn định việc làm cho lực lượng lao động trong từng khu vực và thị trường lao động cả nước. Động thái lao động doanh nghiệp còn phản ánh xu thế thu hút lao động của các doanh nghiệp về mặt số lượng và chất lượng và đặc trưng khác của người lao động,

    Qua khảo sát động thái lao động năm 1999 của các doanh nghiệp tại 5 địa phương: Hà Nội, Vinh, Đà Năng, Đồng Nai, Cần Thơ, (tháng 12/1999) cho thấy tính đa dạng về mức độ giảm, tăng và khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp. Cụ thể:

    1. Lao động giảm trong năm.

    Mức lao động giảm trong năm 1999 của các doanh nghiệp tại các địa phương thể hiện ở biểu sau:

    13

    Biểu mức độ giảm lao động của các doanh nghiệp tại địa phương năm 1999

                  Thị trường lao động  
      Các chỉ tiêu                
        Vinh   Đà Đồng Cần Tổng số
              Nội   Nẵng Nai Thơ
                   
                           
        A     1 2   3 4 5 6
                   
    Tổng số lao động có đầu             172.663
    năm thuộc mẫu quan sát 34.415 21.222   32.851 65.635 18.540 (nữ
    (người)                   92.293)
                   
    Tổng số lao động thực tế             193.165
    đang làm việc thuộc mẫu 37.180 25.568   36.244 73.005 21.168 (nữ
    quan sát (người)               102.014)
                         
    Tổng số lao động giảm 2.046 908   3.824 7.676 1.740 16.191
    (người)        
                       
                       
    % giảm so tổng số lao 5,5 3,5   10,5 10,5 8,2 8,4
    động đang làm việc    
                   
                           
    Tổng số lao động nữ 1.224 348   2.840 4.950 1.009 10.381
    giảm          
                         
                   
    % lao động nữ giảm so              
    tổng số lao động nữ đang 6,4 3,6   15,4 10,7 11,9 10,2
    làm việc                    
                   
    Tỷ lệ số lao động giảm so              
    tổng số lao động có đầu 5,95 4,28   11,64 11,69 9,39 9,38
    năm (%)                    
                   
    Tỷ lệ lao động nữ giảm              
    so tổng số lao động nữ 6,72 4,35   16,42 12,29 12,29 11,2
    đầu năm (%)                  
                           

    Biểu trên cho thấy, trong năm 1999 lao động của các doanh nghiệp giảm khá lớn, bằng 8,4% tổng số lao động thực tế đang làm việc và bằng 9,38% tổng số lao động có đầu năm. Trong đó so với lao động thực tế đang làm việc, mức giảm lao động lớn ở các doanh nghiệp khu vực Đà Nẵng, Đồng Nai (đều 10,5%), Cần Thơ (8,2%) và thấp ở khu vực Vinh (3,5%). Tỷ lệ lao động nữ giảm trong tương quan với lao động nam, không có chênh lệch lớn, ngoại trừ

    14

    tại khu vực Đà Nẵng và Cần Thơ tỷ lệ này cao vọt lên tương ứng là 15,4 và 11,9% so tổng số lao động đang làm việc do một số doanh nghiệp cơ cấu lại sản suất và lao động, phát triển các nghề ít thu hút lao động nữ.

    Phần lớn lao động nữ giảm trong năm thuộc ngành công nghiệp chế biến, chiếm tỷ lệ 72%; sản suất điện – xây dựng: 8%; thương nghiệp: 7,3%; dịc vụ khác: 7,6% tổng số lao động giảm. Ở các ngành khác lao động giảm với tỷ lệ thấp.

    Số lao động giảm trong năm hầu hết tập trung vào các doanh nghiệp vừa và lớn (trên 100 lao động), chiếm tới 97,2% tổng số lao động giảm. Trong đó, doanh nghiệp có hơn 1000 lao động chiếm tỷ lệ 46,6% tổng số lao động giảm. Như vậy, biến động lao động giảm trong các doanh nghiệp lớn rất đáng chú ý.

    Lao động giảm trong năm chủ yếu là lao động phổ thông chiếm 54,1%, sau đó là công nhân kỹ thuật và sơ cấp: 36,5% tổng số lao động giảm. Lao động phổ thông giảm cao hơn mức chung là ở các doanh nghiệp khu vực Đồng Nai, chiếm 64,3% tổng số lao động giảm. Lao động cao đẳng, đại học giảm cao hơn mức chung là ở các doanh nghiệp khu vực Hà Nội, chiếm tỷ lệ 12,4% tổng số lao động giảm.

    Xem xét nguyên nhân giảm lao động của các doanh nghiệp cho thấy số lao động giảm do bỏ việc vì mức tiền lương (tiền công) thấp, chiếm tỷ lệ cao nhất: 36,3%, do kết thúc hợp đồng: 18,8%, về hưu mất sức: 8,1%. Các nguyên nhân khác: sản suất thu hẹp, thay đổi công nghệ, sa thải… chiếm tỷ lệ từ 0,4% – 4,2% tổng số lao động giảm trong năm.

    1. Tuyển dụng lao động trong năm.

    Biểu dưới cho thấy tình hình tuyển dụng lao động trong năm của các địa phương.

    Biểu tình hình tuyển dụng lao động các doanh nghiệp tại đại phương, 1999

    Chỉ tiêu Vinh Đà Đồng Cần Tổng
      Nội   Nẵng Nai Thơ số
                 
    Tổng số lao động tuyển 3.028 1.205 6.595 14.651 2.063 27.542
    dụng (người)            
                 
    % so tổng số lao động 8,14 4,71 18,2 20,07 9,75 14,26
    đang làm việc            
                 
    % so tổng số lao động có 8,8 5,68 20,08 22,32 11,13 15,95
                 

    15

    đầu năm

    Tổng số lao động tuyển dụng trong năm 1999 của các doanh nghiệp được quan sát tại 5 địa bàn là 17.542 người, bằng 14,26% tổng số lao động đang làm việc. Trong đó có 17.821 lao động nữ, bằng 64,7% TSLĐ tuyển dụng. Rõ ràng lao động nữ được các doanh nghiệp quan tâm sử dụng. Mức tuyển dụng lao động rất cao tại khu vực Đồng Nai: 20,07%, Đà Nẵng: 18,2% và thấp ở Vinh: 4,71% tổng số lao động đang làm việc.

    Số lao động tuyển dụng của các ngành có tỷ lệ cao nhất là công nghiệp chế biến: 21.841 người (79,3%), sản suất phân phối điện – xây dựng: 2.275 người (8,26%), thương nghiệp: 1.382 người (5,02%), dịch vụ khác: 1.120 người (4,7). Các lĩnh vực sản suất kinh doanh khác chỉ chiếm con số nhỏ.

    Các doanh nghiệp có quy mô lao động hơn 1000 người tuyển lao động nhiều nhất là 14.111 lao động, bằng 51,23% tổng số lao động tuyển dụng; Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn hoặc bằng 100 người chỉ chiếm tỷ lệ 2&. Ở đây biểu hiện rõ xu thế doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì nhu cầu tuyển dụng lao động có phần lớn hơn.

    Xét theo nghề cho thấy, nhu cầu tuyển dụng lao động lớn nhất thuộc nhóm nghề rệt, may, và thợ liên quan đến dệt may (cơ khí, điện…), chiếm tỷ lệ 33,5% tổng số lao động tuyển dụng của tất cả các nghề. Một số nghề khác chiếm tỷ lệ khá cao như lao động giản đơn trong công nghiệp: 10,7%; thợ giày da và thợ liên quan: 7,2%; thợ sản suất đồ gỗ và thợ liên quan: 6,29%; nhóm nghề khác chiếm tỷ lệ tư 0,9 – 3,6%.

    Nhu cầu tuyển dụng lao động nữ phụ thuộc vào đặc trưng nghề (tính chất công việc). Một số nhóm nghề thích hợp với lao động nữ nên tỷ lệ tuyển dụng nữ cao như: thợ giày da chiếm tỷ lệ 93,92%; thợ may:84,8%; thợ lắp ráp: 89,07%; lao động giản đơn trong công nghiệp: 69,37% … so tổng số lao động tuyển dụng của từng nghề. Ngược lại, nghề có tính chất năng nhọc, độc hại thì tỷ lệ tuyển dụng lao động nữ thấp, như: thợ xây dựng: 6,33%; thợ đúc, hàn: 8,46%; thợ cơ khí sửa chữa máy móc, thiết bị sản suất: 10,51%… so tổng lao động tuyển dụng của từng nghề.

    Phần lớn lao động tuyển dụng trong năm là lao động phổ thông và công nhân kỹ thuật. Trong đó, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ 56,6% (nữ 60,6%), công nhân kỹ thuật: 34,7% (nữ 33,5%). Các tỷ lệ này thấp ở lao động trung cấp chuyên nghiệp: 3,5% (nữ 2,3%); cao đẳng, đại học trở lên: 6,2% (nữ 2,3%).

    16

    Như vậy, trong năm các doanh nghiệp đã giải quyết được một số lượng đáng kể chỗ làm việc cho đội ngũ công nhân.

    Động thái giảm lao động trong năm 1999 của các doanh nghiệp vận động theo chiều hướng tích cực, xuất hiện nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động.

    Trong 5 tỉnh khảo sát cho thấy, mức thu hút lao động đạt cao ở các doanh nghiệp khu vực Đồng Nai (9,5% TS lao động đang làm việc) Đà Nẵng (7,7%); thấp ở Cần Thơ (1,55%); Vinh (1,21%). Một yếu tố quan trọng đảm bảo sự tăng trưởng việc làm cao ở các địa phương có mức thu hút lao động cao là do khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm qua có sự phát triển đáng kể hơn so với địa hương khác.

    1. Nhu cầu tuyển dụng lao động trong năm 2000 của các doanh nghiệp.

    Biểu sau cho thấy nhu cầu tuyển dụng lao động một số ngành trong năm

    • qua điều tra kế hoạch tuyển dụng lao động, đảm bảo kế hoạch sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp.

    Biểu nhu cầu tuyển dụng lao động năm 2000

        Nhu cầu tuyển dụng lao động
      Lĩnh vực hoạt động    
      Bình quân một doanh Tỷ lệ nữ (%)
        nghiệp (người)
         
           
    1. Nông-Lâm-Ngư 4,9 13,6
           
    2. Khai thức mỏ 5,1 27,8
           
    3. CN chế biến 15,6 71,9
           
    4. SX-PP điện-xây dựng 10,1 5,9
           
    5. Thương ngiệp 6,5 55,8
           
    6. Vận tải-Thông tin 4,9 19,9
           
    7. Tài chính, tín dụng và dịc vụ khác 3,9 50,29
           

    Tổng số nhu cầu tuyển dụng lao động trong năm 2000 của 500 doanh nghiệp quan sát là 5226 người, bằng 2,78% tổng số lao động tực tế đang làm. Đây là con số thấp hơn nhiều so với nhu cầu tuyển dụng lao động năm 1999 (2,78% so 14,26%). Từ biểu trên cho thấy, nhu cầu tuyển dụng lao động bình quân trên doanh nghiệp cao nhất là ở ngành công nghiệp chế biến cũng chỉ đạt

    17

    15,6 người; sản suất phân phối điện – xây dựng: 10,1 người, các ngành khác có nhu cầu tuyển dụng lao động rất thấp.

    Xét theo trình độ chuyên môn – kỹ thuật, nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông cao nhất là 41,73%, tiếp đến công nhân kỹ thuật: 39,56%, trung cấp: 7,4%, cao đẳng, đại học trở lên 12,8%. Đáng chú ý là năm 200 mức tuyển dụng lao động phổ thông có giảm xuống so với năm 1999 (41,73% so 55,6%), trong khi lao động các loại khác có tăng lên: công nhân kỹ thuật: 33,5% (1999) và 33,56% (2000); trung cấp chuyên nghiệp: 3,5% (1999) và 7,43% (2000); cao đẳng, đại học trở lên 6,2% (1999) và 12,8% (2000). Đây là xu thế tất yếu về sự tăng lên của cầu lao động kỹ thuật trong điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật.

    II.                MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC.

    Tuyển dụng lao động là khâu quan trọng quyết định đến chất lượng đóng

    góp lao động, khả năng đáp ứng công việc đảm bảo cho hoạt động của dây chuyền sản xuất – kinh doanh nhịp nhàng, có hiệu quả. Công tác tuyển dụng lao động còn là yếu tố đảm bảo ổn định quan hệ lao động, bầu không khí quan hệ lao động, khả năng hợp tác lao động, ứng xử và thái độ tác phong làm việc… Chính vì thế công tác tuyển dụng lao động được các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các tỉnh phía Bắc rất chú trọng.

    Từ thực tế điều tra:

    Qua số liệu điều tra 110 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các tỉnh phía Bắc cho thấy các biểu hiện chủ yếu của công tác tuyển dụng lao động là:

    • Số lao động bình quân của tất cả các doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 1998 tăng 2,62% so với lao động bình quân năm 1997. Xét trong năm 1997 thì số lao động giảm của tất cả các doanh nghiệp là 6.667 người, số lao động tăng 8.789 người. Như vậy, số lao động tăng thực tế của 110 doanh nghiệp trong năm 1997 là 2.122 người. Trong tổng số lao động giảm của năm 1997 nêu trên thì 33,05% là kết thúc hợp đồng lao động, 1.28% bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động và 57,36% lao động tự chấm dứt hợp đồng lao động vì lương thấp, cường độ lao động cao, làm thêm giờ quá mức (10% tổng số doanh nghiệp có số giờ làm thêm bình quân một lao động cao hơn 200 giờ/năm). Số lao động tăng thêm trong năm 1997 bao gồm 30,72% là do ký tiếp hợp đồng lao động và

    18

    69,28% là tuyển mớ. Số lao động tăng thêm chủ yếu là ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và giảm ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hồng Kông, Singapore. Việc ký kết hợp đồng lao động ngắn hạn (dưới 6 tháng) theo mùa, vụ và công việc, sau đó ký kết lại hợp đồng lao động hoặc sa thải lao động là phương pháp tuyển – sử dụng lao động mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng để đổi mới lao động hàng năm. Tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có một bộ phận lao động (chiếm khoảng 9,7% tổng số lao động) có công việc không ổn định luôn có nguy cơ bị sa thải do phụ thuộc vào tình trạng sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp.

    • Trong số lao động được tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được điều tra, lao động ở độ tuổi dưới 29 chiếm tỷ lệ 54,7%, ở độ tuổi từ 30-40 tuổi là 32,26%, và trên 40 tuổi là 13,04%. Số lao động dưới 24 tuổi (12,1% tổng số lao động) phần lớn là lao động phổ thông được tuyển từ nông thôn vào làm các công việc theo mùa, vụ và công việc nhất định. Trong số lao động ở độ tuổi trên 30 được tuyển từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước, khu vực hành chính sự nghiệp có một số người được nắm giữ vị trí quản trị doanh nghiệp điều hành ở một số khâu, công đoạn sản xuất – kinh doanh. Do tỷ trọng các chỗ làm việc có cường độ cao, nhịp độ dây chuyền sản xuất lớn (lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử, may mặc…) nên việc tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tuyển dụng lao động ở độ tuổi dưới 45 tuổi.
    • Hình thức tuyển dụng lao động: Theo quy định của luật lao động, tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện qua hai kênh: Trung tâm dịch vụ việc làm và cơ quan lao động địa phương. Sau 30 ngày, các kênh trên không đáp ứng thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép tự tuyển lấy lao động. Thực tế điều tra ơ các doanh nghiệp cho thấy, 76,1% tổng số lao động được tuyển vào làm việc là do doanh nghiệp tự tuyển, 23,39% là do trung tâm dịch vụ việc làm. Nguyên nhân của tình hình trên là do hệ thống trung tâm dịch vụ việc là, tại các địa phương không đáp ứng được kịp thời về số lượng, chất lượng lao động theo yêu cầu của các doanh nghiệp. Các cơ quan địa phương chưa có mối quan hệ cung ứng lao động với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài một cách chặt chẽ. Theo ý kiến của một số cơ quan lao động địa phương, thực tế còn có hiện tượng các trung tâm dịch vụ việc làm thu lệ phí không hợp lệ từ người lao

    19

    động và doanh nghiệp làm giảm sức hút của các trung tâm dịch vụ việc làm đối với người lao động và doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng thấy rằng, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các tỉnh phía Bắc đòi hỏi chất lượng lao động tuyển dụng cao (trong 1.100 lao động đang có việc làm được phỏng vấn thì 93,27% đã tốt nghiệp phổ thông trung học, 86,1% đã qua đào tạo chuyên môn – kỹ thuật) trong khi thị trường lao động địa phương còn khan hiếm lao động đã qua đào tạo. Chính vì thế các doanh nghiệp phải tự tuyển lấy lao động tốt nghiệp phổ thông trung học để đào tạo theo yêu cầu sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp (riêng năm 1997 số lượt người được đào tạo bằng 14,41% tổng số lao động đang làm việc). Rõ ràng, nguồn lao động đã tốt nghiệp phổ thông trung học dù chưa qua đào tạo cũng được các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chú ý khai thác, tuyển dụng để đào tạo và làm việc.

    • Đánh giá của doanh nghiệp về lao động được tuyển dụng: Theo đánh giá của người sử dụng lao động các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì việc tuyển dụng lao động vào làm việc vào làm việc tại các doanh nghiệp này được thực hiện khá khắt khe, nên 93,53% tổng số lao động đang sử dụng đáp ứng được yêu cầu công việc của doanh nghiệp. Số còn lại (6,47% gồm 1.437 người của 110 doanh nghiệp) chưa đáp được yêu cầu công việc do các nguyên nhân khác nhau. Trong số đó nguyên nhân do trình độ chuyên môn yếu chiếm tỷ lệ 45,46%, do tác phong lao động là 46,63%, các lý do khác (thái độ lao động…) là 7,93%. Rõ ràng là trong tuyển dụng lao động, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những chú trọng đến chuyên môn mà còn đến các phẩm chất khác như tác phong lao động, khả năng hợp tác lao động, ứng xử xã hội trong lao động…
    • Khó khăn trongtuyển dụng lao động: Trong số các doanh nghiệp được điều tra, số doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động chiếm tỷ lệ 35,45% (49/110 doanh nghiệp). Nguyên nhân khó khăn chủ yếu của tuyển dụng lao động là thiếu lao động theo loại hình ngành nghề (lao động nghề đào tạo trên thị trường lao động không phù hợp yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp), chiếm tỷ lệ 63%. Còn các nguyên nhân khác như: mức tiền công thấp, địa bàn khó khăn, hợp đồng ngắn hạn và công việc bấp bênh không thu hút được người lao động là 37%. Ngoài ra, một bộ phận doanh nghiệp (55,32% tổng số lao động trên thị trường lao động các doanh nghiệp) có ý kiến chất lượng lao động trên thị trường lao động các địa phương chưa đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, thủ tục tuyển dụng lao động vào làm việc tại các

    20

    doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn phức tạp (19,15% tổng số doanh nghiệp có ý kiến), thủ tục cấp giấy phép cho người lao động vào làm việc tại Việt Nam chưa nhanh chóng.

    CHƯƠNG III

    CÁC BIỆN PHÁP CHO CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG LAO

    ĐỘNG.

    Tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang có những vấn đề tồn tại, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có các biện pháp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện tốt nhất công tacs tuyển dụng lao động cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, sử dụng hiệu quả nguồn lao động dồi dào của các địa phương. Các biện pháp có thể là:

    • Tạo môi trường pháp luật thông thoáng hơn, phù hợp cơ chế thị trường cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tuyển dụng lao động, cho phép doanh nghiệp tự tuyển chọn trực tiếp lao động để sử dụng hoặc để đào tạo rồi sử dụng có sự quản lý của cơ quan lao động địa phương.
    • Nâng cao năng lực hoạt động của các Trung tâm dịch vụ việc làm bằng việc hướng các hoạt động của các Trung tâm vào tư vấn việc làm, cung ứng lao động, thông tin thị trường lao động để góp phần hỗ trợ có hiệu quả vào cung ứng lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không khuyến khích các trung tâm dịch vụ việc làm làm công tác đào tạo, kinh doanh, dịch vụ…).
    • Tăng cường công tác đào tạo, dạy nghề lao động có trình độ chuyên môn – kỹ thuật cao cho thị trường lao động các tỉnh phía Bắc. việc đào tạo, dạy nghề có tính đến nhu cầu sử dụng lao động theo ngành nghề, loại hình lao động (công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trở lên) của doanh nghiệp các khu vực kinh tế, kể cả khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
    • Hoàn thiện quy định thủ tục tuyển dụng lao động và tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; thủ tục cấp phép cho người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đảm bảo thuận lợi, nhanh chóng.
    • Thực hiện việc huấn luyện các phẩm chất cần thiết cho người lao động trong các trường đào tạo, dạy nghề phù hợp với lao động trong điều kiện công

    nghiệp, công nghệ hiện đại và trình độ tổ chức sản suất – kinh doanh, tổ chức lao động cao.

    • Hoàn thiện các quy định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi, tự do di chuyển sức lao động giữa các tỉnh, các khu vực kinh tế trong vùng. Trên cơ sở đó tránh hiện tượng chia cắt thị trường lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động xã hội.

    Ngoài ra, người viết nà xin được đưa ra một số giải pháp có tính chất chung nhằm nâng cao hiệu quả của tuyển dụng nhân lực.

    * Đào tạo một đội ngũ cán bộ, chuyên gia nhân sự giỏi.

    Có được đội ngũ này thì hoạt động tuyển dụng nhân lực sẽ được làm đến nơi đến chốn. Hoạt động sẽ được hướng dẫn và thực hiện một các tỉ mỉ, cụ thể và có khoa học. Do đó sẽ nâng cao được hiệu quả của tuyển dụng nhân lực.

    • Tuỳ vào điều kiện tài chính của doanh nghiệp, tuỳ theo môi trường kinh tế – xã hội mà tiếp thu có chọn lọc các phương pháp tiến bộ, khoa học ở các nước phát triển. Để áp dụng vào thực tế ở Việt Nam.

    Các phương pháp tuyển dụng ở các nước phát triển tiên tiến và khoa học nhưng chưa chắc khi đem áp dụng vào thực tế Việt Nam đã đem lại hiệu quả, bởi vì mỗi nơi đều có văn hoá riêng và bản sắc dân tộc riêng. Việc cải tiến các phương pháp đó sao cho phù hợp với thực tiễn của Việt Nam là nhiệm vụ của các nhà quản trị. Nếu vấn đề này được giải quyết thì có lẽ đó là giải pháp hữu hiệu và phổ biến nhất ở nước ta trong năm tới.

    • Thay đổi cơ cấu đào tạo theo hướng phát triển các ngành kỹ thuật và giảm bớt các khối kinh tế – xã hội.

    Điều này có vẻ xa vời và lệch với nội dung cần đề cập của đề án này, song đó lại là một thực tế ở Việt Nam. Việc thiếu các kỹ sư có tay nghề và thừa rất nhiều các cử nhân là điều đã và đang xả ra trên thị trường lao động. Cần tăng lượng kỹ sư không chỉ về lượng mà còn về chất là một nhu cầu bức xúc để theo kịp yêu cầu của thị trường. Việc đào tạo ồ ạt các cử nhân khối kinh tế mà không có việc làm phù hợp khi ra trường là một sự lãnh phí ghê gớm. Không có việc làm phù hợp tất sẽ sinh ra hiện tượng “trái ngành, trái nghề”. Chính điều này đã dẫn đến khó khăn lớn cho hoạt động tuyển dụng vì có công việc thì rất nhiều ứng viên phù hợp song có những ông việc lại thiếu ứng viên.

    • Cuối cùng, chúng ta cần duy trì và phát triển loại nhật báo như tờ Mua
    • Những tờ nhật báo này sẽ mang đến thông tin về lao động một cách

    22

    nhanh nhất và đại chúng nhất cho những người quan tâm. Nó là tối khi tính vả về giá cả và hiệu quả. Nhờ nó các ứng viên và nhà quản trị sẽ bớt được nhiều công sức mà hoạt động tuyển dụng lại thu hút được nhiều ứng viên phù hợp hơn. Từ đó tuyển dụng sẽ hiệu quả hơn.

    KẾT LUẬN

    Như vậy chúng ta đã có một cái nhìn tổng quan về hoạt động tuyển dụng nhân lực trong một tổ chức. Tuy đơn giản, sơ sài và không tránh khỏi thiếu sót song qua đó chúng ta cũng thấy được tầm quan trọng của hoạt động này đúng thời điểm cần thiết sẽ khiến công việc của doanh nghiệp được thực hiện một cách trôi chảy và hiệu quả. Việc sử dụng người đúng lúc, đúng chỗ sẽ giúp công ty có một cơ cấu hợp lý và đội ngũ nhân viên thích hợp với từng loại công việc. Điều này sẽ dẫn tới một loạt các vấn đề khác được giải quyết như: tiết kiệm các nguồn lực khác, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp… Kết quả cuối cùng là lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp càng lớn sẽ giúp doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và phát triển. Ngược lại việc sử dụng người không hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả xấu khó lường trước được. Việc hoạt động kinh doanh kém hiệu quả là điều có thể thấy rõ nhất. Nặng hơn, doanh nghiệp có thể bị phá sản. vậy có thể nói hoạt động tuyển dụng nhân lực trong một tổ chức là yếu tố sống còn của tổ chức đó.

    Trước khi làm công việc gì thì yếu tố đầu tiên được tính đến sẽ là con người. Có nhân lực rồi thì mới lo đến máy móc, thiết bị, công nghệ, vật liệu,… Chính con người sẽ sử dụng những nguồn lực đó đẻ biến thành kết quả đầu ra.

    Như vậy hoạt động tuyển dụng nhân lực là khởi đầu cho mọi công tác khác.

    Đất nước Việt Nam đang trên đường hoà nhập cùng thế giới và nền kinh tế của chúng ta cũng đang dần hoà nhập với kinh kế khu vực và toàn cầu. Chúng ta hào nhập chứ không hoà tan, vẫn giữ được những nét riêng, đặc sắc và bản sắc dân tộc. Hoạt động tuyển dụng cũng vậy; một mặt tiếp thu, học hỏi những cái hay, những phương pháp tiên tiến, khoa học của nước ngoài những mặt khác chúng ta vẫn giữ truyền thống nhân đạo; giúp đỡ và tạo điều kiện cho những người chưa đạt tiêu chuẩn hoặc cho người lao động cơ hội để họ bù lấp những thiếu sót của mình… nghĩa là vấn đề đặt con người lên trên hết; thậm trí trên cả công việc. Đây là một nét truyền thống rất Á Đông, tuy trước mắt có thể hiệu quả công việc sẽ không như ý muốn nhưng về sau, về dài thì nó có một cái lợi không gì sánh được đó là lòng trung thành, sự tận tâm tuyệt đối của nhân viên với doanh nghiệp. Có lẽ đó sẽ là xu hướng hoạt động tuyển dụng ở nền kinh tế Việt Nam của thiên niên kỷ mới.

    23

    Đến đây chúng ta có thể khẳng định: Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nhân lực trong một tổ chức.

    Trước khi kết thúc, một lần nữa em xin cảm ơn cô giáo: Thạc sĩ

    đã hướng dẫn để em hoàn thành đề án này.

    Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2000


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]