Author: Nguyễn Huyền

  • TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/TI%E1%BA%BEN-B%E1%BB%98-TRONG-X%C3%9AC-T%C3%81C-C%E1%BB%A6A-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-REFORMING-METHANE-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-TI%E1%BB%80M-N%C4%82NG-%C4%90%E1%BB%82-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-C%C3%81C-NGU%E1%BB%92N-KH%C3%8D-THI%C3%8AN-NHI%C3%8AN-C%C3%93-H%C3%80M-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-CO2-CAO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    PETROVIETNAM

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 51 – 61

     

    ISSN-0866-854X

     

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    Lưu Cẩm Lộc

    Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Sự gia tăng nhanh chóng của phát thải các khí nhà kính quan trọng như CO2 và CH4 trong thập niên vừa qua đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến biến đổi khí hậu và môi trường sống trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thêm vào đó, nhu cầu sử dụng hiệu quả khí tự nhiên giàu CO 2 đã thúc đẩy các nghiên cứu nhằm tìm ra các loại xúc tác mới có hoạt tính và độ ổn định cao cho quá trình reforming methane. NiO đã chứng tỏ là chất xúc tác phù hợp nhất cho quá trình reforming trong điều kiện công nghiệp. Nhằm khắc phục những hạn chế của xúc tác trên cơ sở NiO như tạo cốc và thiêu kết ở nhiệt độ phản ứng cao, nhiều nghiên cứu khác nhau từ sử dụng chất mang mới, biến tính xúc tác bằng các phụ gia kim loại kiềm, kiềm thổ và các oxide kim loại đến cải thiện phương pháp tổng hợp xúc tác đã được áp dụng. Kết quả là, các loại xúc tác có hiệu suất cao hơn đã được tạo ra, nhờ đó nhiệt độ phản ứng đã giảm từ 800oC về 700oC, cốc hình thành đã giảm mạnh và thời gian làm việc ổn định của xúc tác lên tới hơn 600 giờ.

     

    Từ khóa: Khí tự nhiên giàu CO2, reforming khô, bi-reforming, chất xúc tác.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Việc giảm phát thải khí nhà kính gây nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu là những vấn đề đang được thế giới quan tâm. Đối với Việt Nam, một trong những nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của các hiện tượng trên vấn đề càng trở nên cấp bách hơn. Methane (CH4) và car-bonic (CO2), hai khí chủ yếu gây nên hiệu ứng nhà kính, đã gia tăng với tốc độ cao trong thập niên qua và được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Bên cạnh đó, một số mỏ khí thiên nhiên được phát hiện với trữ lượng khá lớn và chứa CO2 hàm lượng cao ở thềm lục địa Việt Nam trở thành động lực thúc đẩy việc nghiên cứu chuyển hóa hai khí này thành sản phẩm và bán sản phẩm có giá trị cao như khí tổng hợp vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa giảm ô nhiễm môi trường.

     

    2. Tình hình phát thải khí nhà kính và tăng nhiệt độ trái đất

     

    Gần đây, nồng độ CO2 trong khi quyên không ngừng tăng, từ 375ppm trong năm 2001 lên đến 390,5ppm trong năm 2011, tương đương tăng khoảng 1,5ppm/năm, tức

     

    Ngày nhận bài: 30/4/2019. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 30/4 – 4/5/2019.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 9/5/2019.

     

    là khoảng 8 tỷ tấn/năm [1 – 3]. Giai đoạn 2013 – 2015 nồng độ tăng đến mức 400ppm, mức báo động đỏ đối với không khí [4]. Không dừng ở đó, nồng độ CO2 trong không khí tiếp tục tăng lên đến 403,53ppm vào năm 2016 và dự đoán có thể tiếp tục tăng đến 661ppm vào cuối thể kỷ 21 [5]. Hội đồng Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã dự đoán nồng độ CO2 trong tương lai dao động từ 541 đến 970ppm vào năm 2100. Điều đó có nghĩa là lượng khí thải CO2 đã vượt qua 32 tỷ tấn trong năm 2011 [1], dự kiến sẽ đạt 36 tỷ tấn vào năm 2020 [2] và sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050 [3] nếu các biện pháp giảm thiểu CO2 không mang lại hiệu quả.

     

    Trong tổng lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, CO2 chiếm 76%, methane (CH4) có mức độ nguy hại cho môi trường cao gấp 21 lần CO2, chiếm tới 16% [6]. Hiện nay “tỷ lệ hòa lẫn trung bình” của CH4 vào tầng đối lưu đạt mức 1,74ppmV, cao gấp 2 lần so với thời kỳ tiền công nghiệp (0,8ppmV) [7]. Theo kết quả nghiên cứu, sau mức tăng chậm từ năm 2000 đến năm 2006, nồng độ khí CH4 trong không khí đã tăng nhanh gấp 10 lần trong thập kỷ qua. Đặc biệt, lượng khí này đã tăng nhanh vượt dự đoán trong những năm 2014 và năm 2015.

     

    Khí carbonic là một trong những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu [8, 9] và nhiệt độ trái đất tăng cùng lượng phát thải CO2.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    51

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    Cụ thể, nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5oC trong khoảng thời gian từ năm 1885 đến năm 1940, do thay đổi nồng độ CO2 trong khí quyển từ 270ppm đến 350ppm [10], tăng 0,8oC trong thế kỷ 20 và dự đoán tăng thêm 1,4 – 5,8oC trong thế kỷ 21 [11]. Năm 2016 là năm có nhiệt độ cao nhất kể từ năm 1880, cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp khoảng 1,1oC. Với dự đoán nồng độ CO2 đạt mức 500ppm trong 50 năm tới, nhiệt độ trái đất sẽ tăng 3oC – theo các nhà khoa học khí hậu đây là mức tăng gây khí hậu cực đoan và nước biển dâng [4]. Các nhà nghiên cứu khí hậu hàng đầu cảnh báo mục tiêu giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2oC, vốn đã được 196 quốc gia thống nhất đề ra trong Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu năm 2015 [12], thực sự là một “thách thức lớn” nếu việc giảm lượng phát thải khí carbonic không được quan tâm xác đáng và tiến hành nhanh chóng.

     

    Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2014, trong giai đoạn 1994 – 2010, lượng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam tăng nhanh từ 103,8 triệu tấn CO2 quy đổi (million metric tonnes of carbon dioxide equivalents

     

    • MMTCDE) lên 246,8 MMTCDE. Trong đó, lĩnh vực năng lượng có tốc độ tăng nhanh nhất, từ 25,6 MMTCDE lên 141,1 MMTCDE trong năm 2010 [13].

    Trong bối cảnh đó, ở Việt Nam tổng trữ lượng xác minh của khí thiên nhiên trong năm 2015 vào khoảng 210 tỷ m3 và sản xuất khí thiên nhiên đạt 9.080 triệu m3

     

    • Bên cạnh các mỏ khí có chất lượng, một số mỏ khí có nồng độ CO2 cao được phát hiện trong những năm vừa qua. Điển hình, Lô B – Ô Môn có trữ lượng khí khoảng 107 tỷ m3 và mỏ khí Cá Voi Xanh trữ lượng khoảng 150 tỷ

    m3, cao gấp 3 lần mỏ khí Lan Tây và Lan Đỏ thuộc dự án khí Nam Côn Sơn [15]. Tuy nhiên, nồng độ khí CO2 trong các mỏ khí này cao, 20% thể tích đối với mỏ khí Lô B – Ô

     

    Môn và 30% thể tích đối với mỏ khí Cá Voi Xanh. Ngoài ra, một số mỏ khí khác cũng có nồng độ CO2 khá cao như: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Ma Lay-Thổ Chu, vùng Tư Chính… với trữ lượng khí xác

     

    minh từ 2.100 đến 2.800 tỷ m3, nhưng bên cạnh thành phần chính CH4, CO2 cũng chiếm hàm lượng lớn, như ở bể Sông Hồng hàm lượng CO2 từ 27% đến 90%, có nơi đạt tới 98%; ở bể Ma lay-Thổ Chu hàm lượng khí CO2 từ vài % đến 80% [15]. Hàm lượng CO2 trong khí cao gây khó khăn trong khai thác và vận chuyển. Việc khai thác sẽ dẫn đến một lượng CO2 rất lớn thải vào môi trường. Do đó, nếu có phương pháp sử dụng trực tiếp các mỏ khí này thì đây sẽ là một tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế.

     

    3. Tiềm năng chuyển hóa và sử dụng khí thiên nhiên giàu CO2

     

    Việc chuyển đổi CH4 và CO2 thành các sản phẩm có giá trị cao vừa giảm khí gây hiệu ứng nhà kính vừa sử dụng hiệu quả nguồn khí tự nhiên giàu CO2 vẫn là một thách thức lớn do các hợp chất này kém hoạt động [16]. Mặc dù vậy, hai chất này có thể được hoạt hóa khi có các chất xúc tác hiệu quả và điều kiện phản ứng thích hợp.

     

    Có thể chuyển hóa trực tiếp và gián tiếp khí thiên nhiên thành các sản phẩm và bán sản phẩm (Hình 1).

     

    Ngày nay, khoảng 20% tổng lượng khí tiêu thụ trên thế giới phục vụ cho sinh năng lượng (Phản ứng 1, Hình 1)] và dự tính con số này trên thị trường sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Ở các nước có nguồn khí thiên nhiên dồi dào, khí được sử dụng cho phát điện chiếm tỷ lệ rất cao – khoảng 80% sản lượng khí khai thác được. Bởi vì, việc sử dụng khí trong sản xuất năng lượng ít gây ô nhiễm môi trường, chi phí đầu tư thấp, hiệu suất nhiệt cao. Tuy nhiên hướng ứng dụng này sinh khí thải CO2. Các khí thải này có thể chuyển hóa thành khí tổng hợp trong phản ứng re-forming methane bằng CO2 và hơi nước (Phản ứng 7, Hình 1). Có thể oxy hóa trực tiếp methane để thu formaldehyde (Phản ứng 3), ethan, ethylene (Phản ứng 2). Ba hướng còn lại (Phản ứng 4, 5, 6) oxy hóa chọn lọc CH4 với các chất oxy hóa khác nhau thành khí tổng hợp (syngas), từ đó sản xuất hàng loạt hóa chất. Một trong những ứng dụng quan trọng nhất của syngas trong công nghiệp hóa chất là nguyên liệu sản xuất hydrocarbon và methanol. Phản ứng này dựa trên nguyên lý của quá trình chuyển hóa “khí thành lỏng” (gas-to-liquid – GTL) là quá trình chuyển hóa khí thiên nhiên thành dầu tổng hợp, từ đó chưng cất thu diesel, naphtha, wax, và các hợp chất lỏng khác. Tổng hợp Fischer-Tropsch được coi là nguyên tố công nghệ cốt lõi của quá trình chuyển hóa syngas thành nhiên liệu vận tải và các sản phẩm lỏng khác [18]. Tuy đã có cách đây 100 năm nhưng quá trình Fischer-Tropsch vẫn đang trong giai đoạn thương mại hóa [19]. Methanol – nguyên liệu cho quá trình hóa học C1, từ đó sản xuất formaldehyde, acid

     

     

    Hình 1. Chuyển hóa trực tiếp và gián tiếp khí thiên nhiên thành các sản phẩm và bán sản phẩm có giá trị [17]

     

     

    52       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    acetic, chloromethane và các hóa chất khác cho công nghiệp hóa chất, có thể được sản xuất từ syngas hoặc từ CO2. Tuy nhiên, đến nay chỉ có sẵn xúc tác công nghiệp cho tổng hợp methanol từ khí chứa H2 và CO.

     

    Sản xuất dimethyl ether (DME) và chuyển hóa khí thành lỏng là những quá trình hứa hẹn trong sử dụng CO2 làm nguyên liệu. Đã có một số công nghệ sử dụng khí thiên nhiên giàu CO2 cho sản xuất DME và nhiên liệu lỏng. DME có thể là nhiên liệu thay thế cho LPG và die-sel vì có tính chất tương đồng với LPG và có trị số cetane cao. DME có thể pha trộn đến 20 – 30% với LPG [20]. Quá trình KOGAS là thế hệ công nghệ mới nhất sản xuất DME

     

    • Trong công nghệ này DME được sản xuất từ khí tổng hợp (hỗn hợp CO + H2) thông qua các công nghệ một giai đoạn trực tiếp từ syngas hoặc hai bước, thông qua giai đoạn tổng hợp methanol từ syngas. Tuy nhiên, các công nghệ này còn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở mức độ thương mại [19].

    Từ các phân tích trên ta thấy hướng chuyển đổi CH4 và CO2 thành khí tổng hợp là một lựa chọn khả thi, từ đó sản xuất các hóa chất khác [21]. Trong công nghiệp hóa học, khí tổng hợp thường được sử dụng như một chất trung gian trong sản xuất methanol, ammonia, tổng hợp Fischer-Tropsch, sản xuất nhiên liệu diesel, phân bón, các dẫn xuất như acetic acid, xăng, dimethyl ether… và tổng hợp hóa dầu [22]. Khí tổng hợp cũng là cơ sở quan trọng để cung cấp hydro và sản xuất aldehyde từ các olefin.

     

    Chuyển hóa khí thiên nhiên thành khí tổng hợp.

     

    Chuyển hóa methane thành khí tổng hợp dựa vào ba phương pháp chính: reforming hơi nước (steam reform-ing); reforming khô (chuyển hóa methane có sự tham gia của CO2) và oxy hóa từng phần.

     

    Reforming khô (DRM) (1) được quan tâm do quá trình này tận dụng nguồn CO2 có sẵn trong mỏ khí làm nguyên liệu.

     

    CH4  + CO2 ↔ 2CO + 2H2   ΔH = +247 kJ/mol

    (1)

    Khí tổng hợp với tỷ lệ 1:1 được sử dụng trong hydro-forming để sản xuất polycarbonate hoặc formaldehyde.

     

    Quá trình steam reforming (SRM) dựa trên phản ứng dùng nước oxy hóa nhẹ methane (2) hay các hydrocarbon (3).

     

    CH4 + H2O ↔ CO + 3H2   ΔH = +226 kJ/mol

    (2)

    CnHm + nH2O →  nCO + (n+m/2)H2  ΔH298 < 0

    (3)

    Trong điều kiện phản ứng các hydrocarbon khác methane có hàm lượng rất nhỏ, nên phản ứng (3) có vai

     

    trò không đáng kể. Nhược điểm chính của quá trình steam reforming là: giá hơi quá nhiệt cao; tạo thành lượng lớn CO2 trong phản ứng water gas shift (WGS)

     

    CO + H2O ↔ CO2 + H2   ΔH = -41 kJ/mol

    (4)

    và khí tổng hợp nhận được có tỷ lệ H2:CO = 3:1 thuận tiện cho sản xuất amoniac nhưng không thuận tiện cho tổng hợp methanol, acid acetic và hydrocarbon theo phương pháp Fischer-Tropsch.

     

    Oxy hóa chọn lọc methane (5)

     

    CH4 + ½O2 ↔ CO + 2H2   ΔH = -44 kJ/mol

    (5)

    đòi hỏi sử dụng oxy tinh khiết và những thiết bị chuyên dùng để tách không khí, nên quá trình reforming tỏ ra ưu thế hơn.

     

    Đặc điểm của quá trình chuyển hóa trực tiếp CH4 và CO2 là phản ứng thu nhiệt mạnh [23], đồng thời trong re-forming khô tạo cốc là vấn đề nghiêm trọng vì hàm lượng carbon trong nguyên liệu khá cao và không có O2 tham gia trực tiếp trong khí hóa carbon lắng đọng trên bề mặt chất xúc tác [24], là nguyên nhân chính làm mất hoạt tính xúc tác.

     

    Cốc sinh ra từ các quá trình phản ứng methane crack-ing (6) và phản ứng Boudouard (7):

     

    CH4 → C + 2H2   ΔH = 75 kJ/mol

    (6)

    2CO ↔ Cads + CO2  ΔH = -86,24 kJ/mol

    (7)

    Để giảm cốc lắng đọng, carbon tạo ra cần được tiêu thụ trong phản ứng Boudouard nghịch reaction (7) [25]. Hơn nữa tạo cốc trong các phản ứng (6) và (7) thuận lợi hơn ở nhiệt độ thấp. Do đó khi nhiệt độ quá trình reform-ing khô dưới 800oC carbon sinh ra từ cả hai phản ứng. Ở nhiệt độ trên 800oC cốc lắng đọng trong quá trình reform-ing khô xuất phát chủ yếu từ cracking methane (6) và car-bon có hoạt tính cao hơn so với cốc hình thành từ phản ứng Boudouard. Do đó khi có CO2 trong môi trường phản ứng cốc tạo thành dễ dàng bị oxy hóa [26]. Ở nhiệt độ 700oC tốc độ phân hủy methane cao hơn so với tốc độ oxy hóa carbon bằng CO2, nên nếu thực hiện quá trình reform-ing khô với tỷ lệ CO2/CH4 cao (>1) và nhiệt độ cao có thể giảm thiểu tạo cốc. Tuy nhiên tỷ lệ CO2/CH4 thường xấp xỉ bằng 1 nhằm đảm bảo các phản ứng phụ như Boudouard và chuyển hóa nước – khí nghịch (RWGS) là ít nhất để sản xuất ra syngas với tỷ lệ H2/CO mong muốn.

     

    Quá trình reforming khô chưa được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp vì chất xúc tác giảm hoạt tính nhanh chóng do lượng cốc tạo thành, kim loại kết tụ hoặc bị oxy hóa. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng khí CH4 và CO2

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    53

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    trong công nghiệp phụ thuộc vào yêu cầu tiêu tốn năng lượng cho phản ứng. Tuy nhiên, từ các phân tích trên cho thấy, giảm nhiệt độ phản ứng DRM xuống thấp hơn 800oC nhằm giảm nhu cầu năng lượng cho phản ứng sẽ dẫn đến tăng tạo cốc và giảm thời gian làm việc ổn định của xúc tác. Có các lựa chọn khác nhau để cải thiện tính kinh tế của phản ứng chuyển hóa các chất kém hoạt động như CH4 và CO2, gồm giảm nhu cầu năng lượng bằng cách phát triển các xúc tác mới, tiết kiệm chi phí năng lượng thông qua sử dụng nhiên liệu tái tạo cũng như chuyển hóa thông qua một quá trình có khả năng phản ứng cao hơn để có thể sử dụng nguồn khí tự nhiên mà không cần loại bỏ CO2 sẽ mang lại lợi ích cả về mặt kinh tế lẫn môi trường.

     

    Bên cạnh đó, tỷ lệ mol H2/CO phù hợp cho quá trình tổng hợp Fischer-Tropsch là khoảng 2, cao hơn tỷ lệ thu trong reforming bằng CO2 (phản ứng 1) và thấp hơn giá trị thu được từ steam reforming (phản ứng 2). Reforming kết hợp tạo khả năng chuyển hóa methane trong 3 phản ứng (1, 2 và 5), được gọi là trireforming, cho phép giải quyết vấn đề tạo cốc cũng như năng lượng. Tuy nhiên, việc kết hợp 2 quá trình reforming khô và steam reforming meth-ane (CSCRM), được gọi là phản ứng bi-reforming, được ứng dụng rộng rãi hơn để sản xuất syngas [22]. Phản ứng diễn ra theo phương trình sau:

     

    3CH4 + CO2 + 2H2O ↔ 4CO + 8H2 ΔH = +220 kJ/mol    (8)

     

    CSCRM mang lại những lợi ích đáng kể so với phản ứng reforming khô, oxy hóa một phần và reforming hơi nước [16]. Việc kết hợp này tạo được tỷ lệ H2:CO mong muốn, hoàn toàn phù hợp cho phản ứng tổng hợp Fisch-er-Tropsch [23], hỗn hợp “metgas”(tỷ lệ H2/CO = 2/1) để sản xuất methanol [27] và giải quyết vấn đề khí nhà kính do CO2 sinh ra trong steam reforming (4). Hơn nữa, ưu thế của bi-reforming là giảm tạo cốc trong phản ứng Boud-ouard (7) nhờ vào việc đưa thêm hơi nước vào môi trường reforming khô [28].

     

    Trong công nghệ Topsoe sử dụng hỗn hợp nguyên liệu CH4 + CO2 + H2O (bi-reforming) để giảm tạo cốc trên xúc tác nickel và tránh tắc nghẽn đường ống.

     

    4. Xúc tác cho quá trình reforming

     

    Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp khí, vai trò của phản ứng reforming methane ngày càng trở nên quan trọng. Các bằng sáng chế (patents) về chất xúc tác cho quá trình này tăng nhanh chóng trong hai thập niên qua (Hình 2).

     

    Các quá trình reforming đòi hỏi nhiệt độ lên tới 800 –

     

    1000oC [23]. Do đó các xúc tác cho quá trình này cần đáp

     

    ứng 3 yêu cầu: bền nhiệt, kháng thiêu kết và hoạt tính cao

     

    • Phần lớn các kim loại sử dụng cho quá trình reform-ing methane là kim loại quý và oxide kim loại chuyển tiếp, có hoạt tính khử cao nhất [30]. Đáp ứng các yêu cầu đó, các kim loại được ưa chuộng nhất là Ni, Pt, Ru, Re, Ir, Co, Pd, Rh… [31, 32].

    4.1 Xúc tác kim loại quí

     

    Xúc tác kim loại quý thu hút sự chú ý vì tạo cốc thấp do khả năng “hòa” carbon trên bề mặt các kim loại này thấp [33], kháng thiêu kết cao, có tính ổn định và hoạt tính cao trong phản ứng ở nhiệt độ cao (>750oC) [34, 35]. Hơn nữa, các kim loại này có thể phân bố đồng đều trên bề mặt chất mang có electron d, tạo thuận lợi cho hấp phụ hydro. Một số kim loại quý được ứng dụng làm xúc tác reforming là Pt, Pd, Zr, Rh, Ir [34]. Các xúc tác này được mang trên các chất mang Al2O3, MSN hoặc SBA-15. Thứ tự hoạt tính của các kim loại nhóm VIII cho reforming hơi nước CH4 (SRM) như sau: Rh, Ru > Ni > Ir > Pd, Pt [36, 37]. Rh có hoạt tính cao nhất, tiếp theo là Ru. Kim loại quý có hoạt tính cao nhưng rất đắt tiền. Trong khi Ni có hoạt tính khá cao và rẻ tiền. Một đặc điểm thuận lợi là các phản ứng reforming đều sử dụng cùng một loại xúc tác. Do đó xúc tác công nghiệp sử dụng cho các quá trình reforming methane được lựa chọn là nickel mang trên chất mang khác nhau.

     

    4.2. Xúc tác kim loại chuyển tiếp

     

    Mặc dù có hoạt tính thấp hơn kim loại quí nhưng kim loại chuyển tiếp có vị trí quan trọng trong lịch sử xúc tác reforming methane. Ưu thế của kim loại chuyển tiếp là rẻ và sẵn có. Phần lớn các nghiên cứu gần đây đều tập trung vào nhóm kim loại chuyển tiếp VIIIB ngoại trừ Os, đặc biệt Ni, Co và Fe có hoạt tính cao trong quá trình reforming CH4 [38, 39]. Hoạt độ của các kim loại chuyển tiếp trong

     

     

     

    Hình 2. Các bằng sáng chế được ghi nhận về các chất xúc tác reforming cải tiến từ năm 1950 đến 2010 [29]

     

     

    54       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    phản ứng reforming khô giảm theo thứ tự sau: Fe > Ni > Co. Xúc tác Fe có hiệu suất cao trong quá trình reform-ing khô nhưng độ chọn lọc kém, lượng carbon lắng đọng nhiều gây đầu độc xúc tác và có khuynh hướng tạo thành các hydrocarbon mạch dài và hợp chất chứa oxy. Chất xúc tác dựa trên Co có hoạt độ cao nhưng chúng dễ tạo thành carbua trên bề mặt xúc tác trong quá trình phản ứng và độ chọn lọc tập trung chủ yếu vào hợp chất C2. Tuy không chiếm vị trí cao nhất trong dãy hoạt độ nhưng Ni là chất xúc tác thể hiện hoạt tính cao và độ chọn lọc tốt, đồng thời chi phí sử dụng thấp hơn so với các kim loại quý cho phản ứng reforming [40]. Do đó các chất xúc tác công nghiệp thương mại hóa cho quá trình reforming methane hiện nay chủ yếu là Ni kim loại với hàm lượng cao được phân bố trên chất mang khác nhau như Al2O3, MgO, SiO2, Cr2O3

     

    hoặc hỗn hợp các oxide [41, 42]. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của xúc tác kim loại chuyển tiếp là tạo cốc do sự nhạy cảm của kim loại (đặc biệt là nickel) và sự thiêu kết các tâm hoạt động [43, 44] dẫn đến giảm hoạt tính và giảm hiệu quả của xúc tác. Ni có ái lực với hydro làm suy yếu liên kết C–H,

     

    • nhiệt độ cao phản ứng phân hủy CH4 (6) sẽ xảy ra mạnh trên các tâm kim loại hoạt tính, tạo lớp carbon trên bề mặt xúc tác [45]. Do đó xúc tác dựa trên Ni thường bị mất hoạt tính nhanh hơn so với xúc tác kim loại quý.

    Hoạt tính và độ bền của chất xúc tác trên cơ sở nickel có thể được cải thiện bằng cách bổ sung các chất xúc tiến và sử dụng chất mang phù hợp và có thể thêm các chất oxy hóa cốc như oxy hoặc hơi nước vào môi trường phản ứng.

     

    4.3. Chất mang cho xúc tác NiO

     

    Chất mang phổ biến nhất cho quá trình reforming methane là Al2O3, các chất mang khác như MgO, TiO2, SiO2, and La2O3 cũng được sử dụng [46]. Nakamura et al. (1994) tìm thấy hoạt tính của xúc tác NiO trên các chất mang xếp theo thứ tự sau: Al2O3 > TiO2 > SiO2. Hiệu quả của chất mang thể hiện thông qua sự ảnh hưởng của chất mang lên sự hoạt hóa trực tiếp CH4 hoặc CO2 bởi các oxide kim loại và sự thay đổi kích thước hạt của kim loại trong tiến trình phản ứng [47].

     

    Sau khi điều chế và nung ở 400 – 600oC bề mặt Al2O3 bị loại nước một phần bên cạnh các tâm acid Lewis với lỗ trống phối trí (ion Al3+) và tâm acid Bronsted + còn tồn tại các tâm base Lewis (ion O2-). Các tâm base Lewis này có khả năng hấp phụ và phân ly CO2, một khí acid [48]. Tuy nhiên, ở nhiệt độ phản ứng reforming khô 700 – 900oC α-Al2O3 là chất mang phù hợp hơn α-Al2O3 do có ổn định nhiệt và độ bền cơ học cao. Trong quá trình nung ở nhiệt

     

    độ cao (>1100oC) để tạo α-Al2O3 một phần tâm base Lewis đã mất đi, dẫn đến tăng lắng đọng carbon trong quá trình reforming methane.

     

    Các xúc tác NiO/α-Al2O3 (NiAl) kích thước nano đã được điều chế thành công bằng các phương pháp khác nhau [49 – 52]. Kết quả cho thấy xúc tác điều chế bằng phương pháp tẩm có hoạt tính cao nhất, chuyển hóa 90% CH4 và 79% CO2 ngay ở 700oC và hoạt động ổn định trong hơn 30 giờ thử nghiệm trong phản ứng reforming khô [49 – 51]. Thêm hơi nước, độ chuyển hóa CH4 của xúc tác NiAl trong phản ứng bi-reforming cao hơn so với phản ứng reform-ing khô (95% so với 90%), nhưng độ chuyển hóa CO2 thì ngược lại, giảm xuống đến đến 69% [52]. Điều này được giải thích như sau khi có hơi nước lượng cốc tạo thành sau 30 giờ phản ứng ở 700oC giảm 3,7 lần, từ 37,5mgC/g trong phản ứng reforming khô xuống đến 10mgC/g trong phản ứng bi-reforming, dẫn đến tăng hoạt tính oxy hóa CH4, trong khi đó hơi nước và CO2 đều là chất oxy hóa, hấp phụ cạnh tranh trên tâm base của chất mang, mặt khác một lượng CO2 sinh ra trong steam reforming trong phản ứng (9):

     

    CH4 + 2H2O ↔ CO2 + 4H2  ΔH = +641 kJ/mol  (9)

     

    dẫn đến giảm độ chuyển hóa CO2. Kết quả cho thấy bi-re-forming có ưu thế vượt trội trong giảm tạo cốc và tăng độ bền xúc tác. Đồng thời tỷ lệ mol H2:CO thu được trong bi-reforming xấp xỉ 2, phù hợp cho sản xuất methanol và quá trình Fischer-Tropsch, trong khi tỷ lệ này trong reforming khô là 1, ứng dụng kém thuận lợi hơn.

     

    Theo Ki-Won Jun (2008), cả Ni/α-Al2O3 và Ni/γ-Al2O3 đều không ổn định theo thời gian phản ứng reforming methane. Ni/α-Al2O3 không bền do tạo cốc, còn Ni/γ-Al2O3 không bền ở nhiệt độ cao (700oC) do sự suy giảm của γ-Al2O3. S. Wang et al [44] cho rằng chất mang có thể cải tiến hoạt tính của xúc tác Ni. So với xúc tác Ni mang trên Al2O3 và MgO xúc tác Ni/SiO2 cho độ chuyển hóa cao hơn, đạt 96,2% CH4 và 93,8% CO2 ở 800oC. Bên cạnh đó thời gian làm việc ổn định của các xúc tác này cao.

     

    Từ khi xuất hiện vật liệu silicat cấu trúc trật tự vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 đã có nhiều vật liệu mao quản trung bình được tổng hợp như FSM, M41S, HMS, MSU-x, SBA-15, SBA-16…, mở ra hướng phát triển mới trong lĩnh vực xúc tác và hấp phụ. Các vật liệu này có kích thước mao quản đồng đều (dao động từ 20 – 100Å), rộng hơn kích thước của zeolit từ 3 đến 4 lần và diện tích bề mặt riêng lớn 500 – 1000m2/g. Santa Barbara Amorphous 15 (SBA-

     

    • là vật liệu mao quản trung bình với cấu trúc lỗ xốp lục giác đường kính 4,6 – 30nm được sử dụng làm chất mang

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    55

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    cho xúc tác Ni do có diện tích bề mặt lớn (600 – 1000m2/g), bền nhiệt, thể tích lỗ xốp lớn (0,5 – 1cm3/g) có thể kiểm soát được và phân bố kích thước lỗ xốp đều [53, 54]. Sự thay thế các nhóm silanol trên bề mặt bằng các ion Ni làm tăng sự ổn định của các tâm hoạt tính Ni trên SBA-15.

     

    Trong nghiên cứu [55] xúc tác nano NiO/SBA-15 với kích thước tinh thể NiO dao động trong khoảng 12,9 – 18,3nm được điều chế thành công. Trong hệ xúc tác này có các hạt NiO kích thước 5 – 6nm phân tán bên trong các lỗ xốp và hạt NiO kích thước 20 – 50nm nằm trên bề mặt của SBA-15 phụ thuộc vào hàm lượng NiO (30 – 50%). Sự phân tán vào bên trong lỗ xốp giúp ngăn chặn sự thiêu kết Ni và mất mát kim loại trong thời gian phản ứng. Sở dĩ NiO có độ phân tán cao như vậy do SBA-15 có các lỗ xốp đồng đều với đường kính lớn (5,3 – 6nm), độ xốp và diện tích bề mặt riêng cao (613m2/g). Xúc tác có khả năng khử Ni2+ thành các tâm hoạt tính Nio cao nên có hoạt tính cao trong phản ứng bi-reforming, chuyển hóa 86% CH4 và 77% CO2 ở 700oC và tương ứng 90,5% và 80% ở 800oC. Xúc tác có độ bền cao (làm việc ổn định hàng trăm giờ) do có các tâm base Lewis yếu và mạnh, vừa hạn chế tạo cốc, vừa tăng hấp phụ CO2. Tương tự, Zhang và cộng sự [56] công bố xúc tác 12,5% NiO/SBA-15 có độ chuyển hóa CH4 và CO2 ở 800oC lần lượt là 89% và 85% và bền trên 600 giờ. Kết quả cho thấy, SBA-15 có các tâm base Lewis và tương tác khác nhau với NiO là chất mang thích hợp cho NiO trong phản ứng bi-reforming. Tương tự, trong xúc tác NiO/ MSN tương tác giữa kim loại – chất mang (Si-O-Ni) tạo ra các tâm hoạt động phân tán, tăng cường phân ly CH4 và CO2, dẫn đến tăng hiệu suất xúc tác [57].

     

    Ceria (CeO2) – chất mang thế hệ mới, được biết đến như chất chứa oxy. Bên cạnh đó, CeO2 có thể hấp phụ và giải hấp H2O tạo H+ và OH- để chuyển hóa carbon trên bề mặt xúc tác thành CO và CO2 [58], dẫn đến giảm tạo cốc. Luu Cam Loc et al. [59] công bố rằng tính chất lý hóa và hoạt tính xúc tác NiO mang trên CeO2 phụ thuộc vào hình thái của nó. Các xúc tác NiO mang trên CeO2 dạng thanh nano (NR – nanorod), hạt nano (NP – nanoparticle) và khối nano (NC – nanocube) đều có độ phân tán cao. Các hạt NiO trên hai chất mang CeO2 dạng thứ nhất có kích thước là 5 – 10nm, còn trên CeO2-NR các hạt NiO nhỏ và đều hơn (5nm). Sự phân tán cao của các hạt NiO trong NiO/CeO2 được giải thích là do sự tương tác Ni2+ với chất mang CeO2 tạo thành các ion Ce3+ và các lỗ trống oxy, kích hoạt cho sự hình thành dung dịch rắn Ni-Ce-O, tạo tương tác mạnh giữa Ni với chất mang CeO2. Bên cạnh đó, xúc tác NiO/ CeO2 có 3 loại loại tâm base, hấp phụ cao CO2. Với những đặc trưng lý hóa vượt trội NiO/CeO2 dạng thanh có hoạt

     

    tính cao hơn các xúc tác mang trên CeO2 dạng hạt và dạng khối, chuyển hóa 89% CH4 và 67% CO2 ở 700oC và tương ứng 96% và 72% ở 800oC trong phản ứng bi-reforming methane. Hơn nữa, lượng cốc hình thành trên xúc tác này

     

    rất nhỏ, 0,54 mgC/gcat sau 30 giờ phản ứng ở 700oC, thấp hơn gần 20 lần so với xúc tác Ni/Al (10 mgC/gxt). Do đó xúc

     

    tác làm việc ổn định trong thời gian dài (hàng trăm giờ). Các tác giả [60, 61] cũng công bố Ni/CeO2 dạng thanh có độ bền và độ chuyển hóa tốt hơn Ni/CeO2 dạng hạt cho phản ứng reforming khô.

     

    Kết quả này cho thấy CeO2 là chất mang tiềm năng, có ưu thế vượt trội trong phân tán cao kim loại hoạt động dẫn đến tăng hoạt tính của xúc tác, chống tạo cốc, tăng tuổi thọ của xúc tác.

     

    4.4. Chất xúc tiến cho xúc tác NiO

     

    Dưới tác động của nhiệt độ phản ứng cao trong quá trình reforming methane nhiều chất xúc tác không ổn định, biến đổi về cấu trúc, thiêu kết kim loại hoạt động và tạo thành cốc trên bề mặt xúc tác. Những nguyên nhân này làm cho xúc tác mất hoạt tính nhanh chóng [62]. Như đã biết [63] trên xúc tác NiO/chất mang, CH4 hấp phụ phân ly thành các hợp chất trung gian CHx trên các tâm kim loại hoạt tính (Ni), trong khi đó chất mang hoạt hóa CO2. Để giảm tạo cốc, cần tạo ra các tâm base bằng cách biến tính chất mang bằng các oxide kim loại kiềm hay các nguyên tố đất hiếm, còn để tăng hoạt tính oxy hóa chọn lọc, cần thay đổi tính khử cũng như tương tác của NiO trong hệ để tăng độ phân tán và giảm thiêu kết của nó trong điều kiện phản ứng ở nhiệt độ cao trong thời gian dài sử dụng các chất xúc tiến như kim loại quý, oxide kim loại [64, 65]

     

    1. a) Phụ gia kim loại kiềm, kiềm thổ

    Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng carbon lắng đọng là độ kiềm của xúc tác [66], sự hình thành car-bon có thể được giảm bớt hoặc thậm chí bị ức chế khi kim loại hoạt động được phân tán trên chất mang là ox-ide kim loại với các tâm base Lewis. Nhiều nghiên cứu cho thấy thêm các phụ gia kim loại kiềm và kiềm thổ làm thay đổi tính chất của chất mang, giảm tạo cốc và tăng hấp phụ CO2, tạo lớp che phủ phần lớn bề mặt, bảo vệ xúc tác không bị lắng đọng carbon [47]. Thí dụ, thêm chất xúc tiến có tính base Lewis như các oxide kim loại kiềm (Na2O, K2O), kiềm thổ (CaO, MgO) và các base yếu (NH4OH) làm giảm mất hoạt tính xúc tác do cốc lắng đọng hoặc thiêu kết kim loại của các xúc tác Ni/Al2O3, Ni/SiO2 và NiO/SBA-15 vì các chất này sẽ hỗ trợ khả năng hấp phụ hóa học CO2 [47, 54, 67]. Các nghiên cứu của chúng tôi biến tính xúc

     

    56       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    tác NiO mang trên α-Al2O3 và SBA-15 bằng MgO [49, 52, 68] cho thấy do tương tác mạnh của NiO với phụ gia tạo hỗn hợp rắn (MgxNi1-xO), dẫn đến giảm kích thước hạt NiO, giảm sự thiêu kết các hạt Ni đồng thời tăng tính khử, tăng mật độ tâm base Lewis, hỗ trợ hấp phụ CO2 và giảm lắng đọng carbon. Từ đó tăng hoạt tính và độ bền của xúc tác. Độ chuyển hóa CH4 và CO2 đạt 92% và 87% ở 700oC, tăng tương ứng 5% và 9% so với xúc tác NiAl và giảm lượng cốc tạo thành 7 lần (từ 37,7 xuống 5,25mgC/g) trong phản ứng reforming khô [49]. Việc giảm cốc khi thêm MgO vào xúc tác NiO/α-Al2O3 được giải thích là do có lớp MgO hoặc MgO-NiO phủ trên bề mặt xúc tác như kết quả phân tích TEM đã minh chứng. Kết quả tương tự cũng quan sát thấy trong nghiên cứu [69], tác giả cho rằng lớp MgO phủ trên bề mặt xúc tác Ni-MgO/SiO2 giúp nó hoạt động ổn định trong 18 giờ thí nghiệm và sau phản ứng không có cặn carbon được tìm thấy. Tuy nhiên, MgO không thể hiện ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt tính của các xúc tác NiO mang trên α-Al2O3 và SBA-15 trong phản ứng bi-reforming cả về phương diện hoạt tính và tạo cốc [52, 68]. Kiềm hóa xúc tác NiO/SBA-15 bằng NH4OH cũng cho hiệu quả cao trong việc giảm kích thước tinh thể NiO xuống đến 10 – 15nm, tăng tính khử của Ni2+, tăng mật độ tâm base yếu của xúc tác, dẫn đến tăng hoạt tính trong bi-reforming methane

     

    • Xúc tác kiềm hóa có độ chuyển hóa CO2 cao, đạt 83% và độ chuyển hóa CH4 trên 98% ở 700oC [70]. Thông qua những kết quả nhận được có thể kết luận, trong các phụ gia kiềm MgO là một chất xúc tiến đầy hứa hẹn trong phản ứng reforming methane vì liên kết mạnh giữa NiO-MgO giúp ích trong việc ngăn ngừa thiêu kết hạt Ni và sự lắng cặn carbon. Ngoài ra, kiềm hóa bằng amoniac cũng là phương pháp xử lý xúc tác NiO có hiệu quả.
    1. Phụ gia oxide kim loại

    Bên cạnh làm chất mang, với tính chất nổi trội nhiều nghiên cứu chứng minh CeO2 còn thể hiện là phụ gia ưu việt cho xúc tác NiO trong phản ứng reforming hơi nước và reforming khô, giúp tăng khả năng chống tạo cốc, tăng tuổi thọ của xúc tác [50, 71, 72]. Bên cạnh CeO2, các kim loại quý cũng được nghiên cứu làm phụ gia cho xúc tác Ni trong phản ứng bi-reforming. Sự hiện diện của Pt giúp làm giảm nhiệt độ khử của NiO do Pt có nhiệt độ khử thấp hơn Ni và nó hấp thụ phân ly H2 thành nguyên tử H. Các nguyên tử H di chuyển trên bề mặt xúc tác và giúp khử NiO dê dàng hơn, nhờ đó độ chuyển hóa CH4 tăng [73]. Bên cạnh đó Pt giảm sự lắng đọng carbon, tăng độ ổn định của xúc tác NiO và tăng độ chọn lọc H2 và CO [74]. Rhodium (Rh) tăng độ ổn định của xúc tác và độ chọn lọc tạo H2, CO, đồng thời giảm sự lắng đọng cốc trong phản

     

    ứng reforming CH4 bằng CO2 [75]. ZrO2 tăng hấp phụ phân ly CO2, giảm sự hình thành NiAl2O4 dẫn đến tăng nhẹ hoạt tính của xúc tác Ni/Al2O3 trong phản ứng reforming khô CH4 [76]. CuO có vai trò ôn đinh câu truc xuc tac, can trơ thiêu kêt cac hat kim loai. Sư hinh thanh hôn hơp Cu-Ni thuc đây qua trinh phân ly CH4 va ngăn chăn sư gia tăng cua carbon dạng sợi trên tinh thê Ni [77]. Thêm phụ gia vanadium một mặt tao câu truc vi mô giup han chê sư hinh thanh spinel NiAl2O4, mặt khác là xúc tác oxy hóa phụ gia này giup cai thiên hiêu suât cua phan ưng reforming CH4 bằng CO2 [78]. Thêm V2O5 vào xúc tác NiO/CeO2 dạng thanh làm tăng độ chuyển hóa CH4 từ 89% lên 96% và CO2 từ 67% lên 76% ở 700oC, đồng thời sau 30 giờ phản ứng không có cốc tạo thành trên bề mặt xúc tác trong phản ứng bi-reforming methane [79]. Vậy, xúc tác NiO mang trên CeO2 có lượng cốc tạo thành thấp nhất, đặc biệt khi nó được biến tính bằng vanadium (V).

     

    5. Kết luận

     

    Hiện nay CO2 và CH4 được coi là các khí nhà kính cơ bản gây biến đổi khí hậu, sự nóng lên của trái đất và nước biển dâng, gây thảm họa cho loài người. Tuy nhiên, nếu tận dụng, chuyển hóa các nguồn khí nhà kính đó thành các sản phẩm có ích, thì chúng sẽ là nguồn nguyên liệu dồi dào cho một lĩnh vực công nghiệp hóa dầu mới, lĩnh vực chuyển hóa khí thiên nhiên giàu CO2. Thông qua chuyển hóa thành khí tổng hợp từ khí thiên nhiên có thể sản xuất hàng loạt hóa chất quan trọng, trong đó quan trọng nhất là hydro, hydrocarbon và methanol. Quá trình này càng có

     

    • nghĩa về kinh tế và môi trường hơn đối với Việt Nam khi

    sự phát hiện và khai thác một số mỏ khí thiên nhiên có trữ lượng lớn với hàm lượng CO2 cao đặt ra vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên này.

     

    Xu hướng gần đây cho thấy reforming methane là giải pháp chuyển hóa hiệu quả khí thiên nhiên giàu CO2. Kết hợp reforming khô và reforming hơi nước (bi-reforming) một mặt chuyển hóa hai loại khí nhà kính CO2 và CH4 thành nguồn nguyên liệu có ích với tỷ lệ H2:CO theo mong muốn, mặt khác hạn chế hình thành cốc do sự có mặt của hơi nước. Nickel được chọn là xúc tác hiệu quả cho công nghệ reforming methane. Trong 2 thập niên gần đây đã có những nỗ lực mạnh mẽ trong việc nghiên cứu và phát triển các chất xúc tác mới để cải thiện quá trình chuyển hóa CH4 và CO2 thành khí tổng hợp theo hướng tăng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Việc kiềm hóa chất mang và biến tính xúc tác bằng phụ gia cũng như thêm hơi nước vào môi trường phản ứng reforming khô là những biện pháp hữu hiệu tăng hoạt độ và độ bền của xúc tác NiO. Đã

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    57

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    có nhiều thành công trong việc sử dụng các chất mang mới như CeO2 và silica mao quản trung bình cũng như biến tính các xúc tác Ni bằng các phụ gia oxide kim loại kiềm hoặc kim loại chuyển tiếp để giảm tạo cốc và tăng hoạt độ và độ bền của xúc tác trong quá trình bi-reform-ing. Các hệ xúc tác mới giúp hạ nhiệt độ phản ứng xuống đến 700oC vẫn thu độ chuyển hóa CH4 đạt đến 97 – 99% và tỷ lệ H2:CO ~ 2, phù hợp cho sản xuất methanol và quá trình Fischer-Tropsch, đồng thời giảm thiểu tạo cốc.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Alfons Baiker. Utilization of carbon dioxide in heterogeneous catalytic synthesis. Applied organometallic 2000; 14(12): p. 751 – 762.
    1. Iwao Omae. Aspects of carbon dioxide utilization. Catalysis Today. 2006; 115 (1 – 4): p. 33 – 52.
    1. World Meteorological Organization (WMO). WMO Greenhouse Gas Bulletin (GHG Bulletin) – N°8: The State of Greenhouse Gases in the atmosphere based on global observations through 2011. 2012.
    1. Nicola Jones. How the world passed a carbon threshold and why it matters. The Yale School of Forestry & Environmental Studies. January 26 – 2017.
    1. Holian, A.P.Sokolov, R.G.Prinn. MIT joint program on the science and policy of global change. 2001.
    2. A.Dunn, M.G.Kozar, Budiyono. Annual Convention Proceedings. 1996; 25: p. 117 – 130.
    1. Donald J.Wuebbles, Katharine Hayhoe. Atmospheric methane and global change. Earth-Science 2002; 57 (3 – 4): p. 177 – 210.
    1. J.Bin, W.Sh.Wu, L.Yong, ZA. Z.Ci, W.X.Yu. Advances in climate change research. 2012; 3(3): p. 174 – 178.
    1. Thomas R.Anderson, Ed Hawkins, Philip D.Jones. CO2, the greenhouse effect and global warming: from the pioneering work of Arrhenius and Callendar to today’s Earth System Models. Endeavour. 2016; 40(3): p. 178 – 187.
    1. Erik Velasco, Matthias Roth. Cities as net sources

    of CO2: Review of atmospheric CO2 exchange in urban environments measured by Eddy Covariance Technique. Geography Compass. 2010; 4(9): p. 1238 – 1259.

     

    1. Dori Yosef Kalai. Dry reforming of methane: catalyst development and thermodynamic analysis. Master Thesis, University of Stavanger. 2015.
    1. ABC Australia. Paris climate talks: France releases ‘ambitious, balanced’ draft agreement at COP21. 12th December 2015.
    1. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo cập nhật hai năm một lần, lần thứ nhất của Việt nam cho công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. 2014.
    1. OPEC Annual Statistical Bulletin. Organization of the petroleum exporting countries.
    1. Nguyễn Thị Hoa. Nghiên cứu kỹ thuật phương án khai thác, thu gom, xử lý và đưa vào sử dụng mỏ khí Cá Voi Xanh (CVX). Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ (CTAT). 2013.
    1. Nitin Kumar, Amitava Roy, Zi Wang, Enrico Mario L’Abbate, Daniel Haynes, Dushyant Shekhawat, J.J.Spivey. Bi-reforming of methane on Ni-based pyrochlore catalyst. Applied Catalysis A: General. 2016; 517: p. 211 – 216.
    1. R.H.Ross, A.N.J van Keulen, M.E.S.Hegarty, K.Seshan. The catalytic conversion of natural gas to useful products. Catalysis Today. 1996; 30 (1 – 3): p. 193 – 199.
    1. J Wilhelm, D.R Simbeck, A.D Karp, R.L.Dickenson. Syngas production for gas-to-liquids applications: technologies, issues and outlook. Fuel processing technology. 2001; 71 (1 – 3): p. 139 – 148.
    1. Wonjun Cho, Hyejin Yu, Yonggi Mo. Recent advances in carbon capture and storage. Chapter 9: CO2 conversion to chemicals and fuel for carbon utilization. 2017: p.195 – 208.
    1. Youn. The status of DME fuel in Korea. The 6th Korea-China-Japan Petroleum Technology Congress, 4 – 6 September 2013.
    1. Jasmin Blanchard, Ana Julia Nsungui, Nicolas

    Abatzoglou, François Gitzhofer. Dry Reforming of Methane with a Ni/Al2O3 YSZ Catalyst: The Role of the Catalyst Preparation Protocol. The Canadian Journal of Chemical engineering. 2007; 85(6): p. 889 – 899.

     

    1. Jens R.Rostrup – Nielsen. Syngas in perspective. Catalysis today. 2002; 71(3 – 4): p. 243 – 247.
    1. Nitin Kumar, Zi Wang, Swarom Kanitkar, J.J.Spivey. Methane reforming over Ni-based pyrochlore catalyst: deactivation studies for different reactions. Applied Petrochemical Research. 2016; 6(3): p. 201 – 207.
    1. Oemar, K.Hidajat,  S.Kawi.  Role  of  catalyst

    support over PdO-NiO catalysts on catalyst activity and stability for oxy-CO2 reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2011; 402 (1 – 2): p. 176 – 187.

     

    1. Assabumrungrat,S.Charoenseri,

    N.Laosiripojana, W.Kiatkittipong, P.Praserthdam. Effect of oxygen addition on catalytic performance of Ni/SiO2·MgO toward carbon dioxide reforming of methane under periodic

     

     

    58       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    operation. International Journal of Hydrogen Energy.

     

    2009; 34: p. 6211 – 6220.

     

    1. B.Wang, G.Q.Lu, G.J.Millar. Carbon dioxide reforming of methane produces synthesis gas with over metal supported catalysts: state of the at. Energy Fuel. 1996;
    • 896 – 904.
    1. A.Olah, G.K.  Surya  Prakash,  A.Goeppert.

    Anthropogenie chemical carbon cycle for a sustainable future. Journal of the American Chemical Society. 2011; 133(33): p. 12881 – 12898.

     

    1. Kumar, M.Shojaee, J.Spivey. Current Opinion in Chemical Engineering. 2015; 9: p. 8 – 15.
    1. L.Roussière. Catalytic reforming of methane in the presence of CO2 and H2O at high pressure. 2013.
    2. A.Olah, A.Goeppert, M.Czaun, T.Mathew, R.B.May, G.S.Prakash. Single Step Bi-reforming and

    Oxidative Bi-reforming of Methane (Natural Gas) with Steam and Carbon Dioxide to Metgas (CO-2H2) for Methanol Synthesis: Self-Sufficient Effective and Exclusive Oxygenation of Methane to Methanol with Oxygen. Journal of the American Chemical Society. 2015; 137: p. 8720 – 8729.

     

    1. Glenn Jones, Jon Geest Jakobsen, Signe S.Shim, Jesper Kleis, Martin P.Andersson, Jan Rossmeisl, FrankAbild-Pedersen, ThomasBligaard, StigHelveg, BeritHinnemann, Jens R.Rostrup-Nielsen, IbChorkendorff, JensSehested, Jens K.Nørskov. First principles calculations and experimental insight into methane steam reforming over transition metal catalysts. Journal of Catalysis. 2008;
    • 147 – 160.
    1. Behzad Nematollahi, Mehran Rezaei, Majid Khajenoori. Combined dry reforming and partial oxidation of methane to synthesis gas on noble metal catalysts. International Journal of Hydrogen Energy. 2011; 36: p. 2969 – 2978.
    1. M.Ramallo-López, F.G.Requejo, A.F.Craievich, J.Wei, M.Avalos-Borja, E.Iglesia. Complementary methods for cluster size distribution measurements: supported platinum nanoclusters in methane reforming catalysts. Journal of Molecular Catalysis A: Chemical. 2005; 228: p. 299 – 307.
    1. Cyrille Rioche, Shrikant Kulkarni, Frederic C.Meunier, John P.Breen, Robbie Burch. Steam reforming of model compounds and fast pyrolysis bio-oil on supported noble metal catalysts. Applied Catalysis B: Environmental. 2005; 61: p. 130 – 139.
    1. Schuyten, Eduardo E.Wolf. Selective combinatorial studies on Ce and Zr promoted Cu/Zn/Pd

    catalysts for hydrogen productio via methanol oxidative reforming. Catalysis letters. 2006; 106: p. 7 – 14.

     

    1. Velu Subramani, Pradeepkumar Sharma, Lingzhi Zhang, Ke Liu. Catalytic steam reforming technology for the production of hydrogen and syngas. Hydrogen and Syngas Production and Purification Technologies. 2009: p. 14 – 126.
    2. Rezaei, S.M.Alavi, S.Sahebdelfar, Zi-Feng Yan.

    Syngas production by methane reforming with carbon dioxide on noble metal catalysts. Journal of Natural Gas Chemistry. 2006; 15(4): p. 327 – 334.

     

    1. Guojie Zhang, Lanxia Hao, Yong Jia, Yannian du, Yongfa Zhang. CO2 reforming of CH4 over efficient bimetallic Co-Zr/AC catalyst for H2 International Journal of Hydrogen Energy. 2015; 40(37): p. 12868 – 12879.
    1. Hyun-Seog Roh, Ki-Won Jun, Seung-Chan Baek,

    Sang-Eon Park. A Highly Active and Stable Catalyst for Carbon Dioxide Reforming of Methane: Ni/Ce-ZrO2/θ-Al2O3.

    Catalysis letters. 2002; 81(3 – 4): p. 147 – 151 (2002).

     

    1. Capeness, M.Edmundson, L.Horsfall. Nickel and platinum group metal nanoparticle production by Desulfovibrio alaskensis G20. New biotechnology. 2015;
    • 727 – 731.
    1. Dapeng Liu, Xian Yang Quek, Wei Ni Evelyn Cheo, Raymond Lau, Armando Borgna, Yanhui Yang. MCM-41 supported nickel-based bimetallic catalysts with superior stability during carbon dioxide reforming of methane: Effect of strong metal–support interaction. Journal of Catalysis. 2009; 266: p. 380 – 390.
    1. A.Olah, A.Goeppert,  M.Czaun,  G.K.Prakash.

    Bi-reforming of methane from any source with steam and carbon dioxide exclusively to metgas (CO-2H2) for methanol and hydrocarbon synthesis. J. American Chemical Society. 2013; 135(2): p. 648 – 650.

     

    1. Rostrupnielsen, J.B.Hansen. CO2-Reforming of Methane over Transition Metals. Journal of Catalysis. 1993;
    • 38 – 49.
    1. Shaobin Wang, G. Q(Max) Lu. Role of CeO2 in Ni/CeO2-Al2O3 catalysts for carbon dioxide reforming of methane. Applied Catalysis B: Environmental. 1998; 16: 269 – 277.
    1. Hu, J.Gao, Y.Ping, L.Jia, P.Gunawan, Z.Zhong,

    G.Xu, F.Gu, F.Su. Enhanced investigation of CO methanation over Ni/Al2O3 catalysts for synthetic natural gas production. Industrial & Engineering Chemistry Research. 2012; 51(13): p. 4875 – 4886.

     

    1. Guo, H.Lou, H.Zhao, D.Chai, X.Zheng. Dry reforming of methane over nickel catalysts supported on

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    59

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    magnesium aluminate spinels. Applied Catalysis A: General.

     

    2004; 273(1): p. 75 – 82.

     

    1. Hyunseog Roh, Ki Won Jun. Carbon dioxide reforming of methane over Ni catalysts supported on Al2O3 modified with La2O3, MgO, and CaO. Catalysis surveys from 2008; 12(4): p. 239 – 252.
    1. Rahemi, M.Haghighi, A.A.Babaluo, M.F.Jafari,

    P.Estifaee. Synthesis and physicochemical characterizations of Ni/Al2O3-ZrO2nanocatalyst prepared viaimpregnation method and treated with non-thermal plasma for CO2 reforming of CH4. Journal of Industrial and Engineering Chemistry. 2013; 19: p. 1566 – 1576.

     

    1. Phan Hồng Phương, Lưu Cẩm Lộc, Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Tiến, Nguyễn Huỳnh Phương Thảo, Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Thùy Vân, Hoàng Tiến Cường, Hà

    Cẩm Anh. Ảnh hưởng của tỷ lệ NiO/MgO đến hoạt tính xúc tác cơ sở Ni mang trên α-Al2O3 trong phản ứng reforming khô CH4. Tạp chí Xúc tác – Hấp phụ. 2017; 6(2): p. 30 – 35.

     

    1. Luu Cam Loc, Phan Hong Phuong, Nguyen Tri. Role of CeO2 promoter in NiO/α – Al2O3 catalyst for dry reforming of methane. AIP Conference Proceedings. 2017.
    1. Luu Cam Loc, Phan Hong Phuong, Nguyen Huynh Phuong Thao, Nguyen Tri, Nguyen Thi Thuy Van, Hoang

    Tien Cuong, Ha Cam Anh. Influence of preparation method on the activity of NiO+MgO/Al2O3 catalyst in dry reforming of methane. Journal of Chemistry. 2017; 55(3e): p. 1 – 7.

     

    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Pham The Sang, Nguyen Tri. Combined steam and CO2 reforming of CH4 over Nickel catalysts based on Al2O3-MgO. Tạp chí Khoa học – Công nghệ. 2017; 55(1B): p. 49 – 56.
    1. Zhao, J.Sun, Q.Li, G.D.Stucky. Morphological control of highly ordered mesoporous silica SBA-15. Chemistry of Materials. 2000; 12(2): p. 275 – 279.
    1. S.Roh, K.Y.Koo, J.H.Jeong, Y.T.Seo, D.J.Seo, Y.S.Seo, W.L.Yoon, S.B.Park. Combined reforming of methane over supported Ni catalysts. Catalysis Letters. 2007; 117(1 – 2): p. 85 – 90.
    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Hoang Tien Cuong, Nguyen Tri. Effect of NiO loading and thermal

    treatment duration on performance of Ni/SBA-15 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. Materials Transactions. 2018; 59(12): p.1898 – 1902.

     

    1. Zhang S.Ji, L.Hu, F.Yin, C.Li, H.Liu. Structural

    Characterization of Highly Stable Ni/SBA-15 Catalyst and Its Catalytic Performance for Methane Reforming with CO2. Chinese Journal of Catalysis. 2006; 27(9): p. 777 – 781.

     

    1. Sidik, S.Triwahyono,   A.Jalil,   M.Aziz,   N.

    Fatah, L.Teh. Tailoring the properties of electrolyzed Ni/ mesostructured silica nanoparticles (MSN) via different Ni-loading methods for CO2 reforming of CH4. Journal of CO2 Utilization. 2016; 13: p. 71 – 80.

     

    1. Zhuang, Y. Qin, and L. Chang. Promoting effect of cerium oxide in supported nickel catalyst for hydrocarbon steam-reforming. Applied catalysis. 1991; 70: p. 1 – 8.
    1. Luu Cam  Loc,  Phan  Hong  Phuong,  Dang,

    Putthea, Nguyen Tri, Nguyen Thi Thuy Van, Hoang Tien Cuong. Effect of CeO2 morphology on performance of NiO/ CeO2 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. International Journal of Nanotechnology. 2019.

     

    1. Wang, W.Qian, W.Chu, F. Wei. Crystal-plane effect of nanoscale CeO2 on the catalytic performance of Ni/ CeO2 catalysts for methane dry reforming. Catalysic Science
    • 2016; 6(10): p. 3594 – 3605.
    1. Xianjun Du, Dengsong Zhang, L iyi Shi, Ruihua

    Gao, Jianping Zhang. Morphology Dependence of Catalytic Properties of Ni/CeO2 Nanostructures for Carbon Dioxide Reforming of Methane. The Journal of Physical Chemistry. 2012; 116(18): p. 10009 – 10016.

     

    1. Jianjun Guo, Hui Lou, Xiaoming Zheng. The deposition of coke from methane on a Ni/MgAl2O4 catalyst. 2007; 45(6): p. 1314 – 1321.
    1. Yaser Vafaeian, Mohammad Haghighi, Sogand Aghamohammadi. Ultrasound assisted dispersion of

    different amount of Ni over ZSM-5 used as nanostructured catalyst for hydrogen production via CO2 reforming of methane. Energy conversion and management. 2013; 76: p. 1093 – 1103.

     

    1. S.Fan, A.Z.Abdullah, S.Bhatia. Catalytic technology for carbon dioxide reforming of methane to synthesis gas. Chem Cat Chem. 2009; 1(2): p. 192 – 208.
    1. Leilei Xu, Huanling Song, Lingjun Chou. Carbon

    dioxide reforming of methane over ordered mesoporous NiO-MgO-Al2O3 composite oxides. Applied Catalysis B: Environmental. 2011; 108: p. 177 – 190.

     

    1. A.Soria, C.Mateos-Pedrero, A.Guerrero-Ruiz, I.Rodríguez-Ramos. Thermodynamic and experimental

    study of combined dry and steam reforming of methane on Ru/ ZrO2-La2O3 catalyst at low temperature. International Journal of hydrogen energy. 2011; 36(23): p. 15212 – 15220.

     

    1. Juan-Juan, M.C.Román-Martínez,   M.J.Illán-

    Gómez. Effect of potassium content in the activity of K-promoted Ni/Al2O3 catalysts for the dry reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2006; 301(1): p. 9 – 15.

     

    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Nguyen Tri,

    60       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Vu Thanh Thuy Tien, Nguyen The Tung. Effect of alkalizing method on characteristics and performance of Ni/SBA-15 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. The 9th International Workshop on Advanced Materials Science and Nanotechnology. 2018.

     

    1. M.M.Danilova, Z.A.Fedorova, V.A.Kuzmin, V.I.Zaikovskii, A.V.Porsin, T.A.Krieger. Combined steam and carbon dioxide reforming of methane over porous nickel based catalysts. Catalysis Science & Technology. 2015; 5(5): p. 2761 – 2768.
    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Nguyen Tri, Nguyen The Tung. Effect of NH3-alkalization on catalytic performance of Ni/SBA-15 in combined steam and CO2 re-forming of CH4. Vietnam Journal of Catalysis and Adsorp-tion. 2019.
    1. Hua-Ping Ren, Yong-Hong  Song,  Wei  Wang,

    Jian-Gang Chen, Jie Cheng, Jinqiang Jiang, Zhao-Tie Liu, Zhong-Wen Liu, Zhengping Hao. Insights into CeO2-modified Ni-Mg-Al oxides for pressurized carbon dioxide reforming of methane. Chemical Engineering Journal. 2015; 259: p. 581 – 593.

     

    1. Xu Wenqian; Liu Zongyuan; C.Johnston-Peck Aaron, D.Senanayake Sanjaya, Zhou Gong, Stacchiola

    Dario, A.Stach Eric, A.Rodriguez José. Steam Reforming of Ethanol on Ni/CeO2: Reaction Pathway and Interaction between Ni and the CeO2 Support. ACS Catalysis. 2013; 3(5): p. 975 – 984.

     

    1. Edson L.Foletto, Ricardo W.Alves, Sérgio L.Jahn.

    Preparation of Ni/Pt catalysts supported on spinel (MgAl2O4) for methane reforming. Journal of power sources. 2006; 161(1): p. 531 – 534.

     

    1. M.García-Diéguez, I.S.Pieta, M.C.Herrera, M.A.Larrubia, L.J.Alemany. Improved Pt-Ni nanocatalysts for dry reforming of methane. Applied Catalysis A: General, 377(1 – 2), 191 – 199 (2010).
    1. Marco Ocsachoque, Francisco Pompeo, Gloria Gonzalez. Rh-Ni/CeO2-Al2O3 catalysts for methane dry reforming. Catalysis Today. 2011; 172(1): p. 226 – 231.
    1. Therdthianwong, C.Siangchin, A.Therdthianwong. Improvement of coke resistance of Ni/Al2O3 catalyst in CH4/ CO2reforming by ZrO2 Fuel Processing Technology. 2008; 89(2): p. 160 – 168.
    1. W.Chen, C.Y. Wang, C.H.Yu, L.T.Tseng, P.H.Liao. Carbon dioxide reforming of methane reaction catalyzed by stable nickel copper catalysts. Catalysis Today. 2004; 97(2): p. 173 – 180.
    1. Valentini,N.L.V.Carreño,L.F.D.Probst,

    P.N.Lisboa-Filho, W.H.Schreiner, E.R.Leite, E.Longo. Role of vanadium in Ni:Al2O3 catalysts for carbon dioxide reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2003; 255(2): p. 211 – 220.

     

    1. Phan Hồng Phương, Lê Hoàng Thanh Dũng, Lê

    Ngọc Tài, Nguyễn Trí, Lưu Cẩm Lộc. Ảnh hưởng phụ gia V2O5 đến hoạt tính của xúc tác NiO/CeO2 trong phản ứng reforming CH4 bằng CO2 và hơi nước. Tạp chí Hóa học. 2018; 56(3E12): p. 155 – 159 (2018).

     

    PROGRESS IN CATALYST OF REFORMING METHANE PROCESS – A POTENTIAL SOLUTION FOR EFFECTIVE USE OF CO2-RICH NATURAL GAS SOURCES

     

    Luu Cam Loc

    Ho Chi Minh City University of Technology (HCMUT)

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    The rapid increase in emissions of major greenhouse gases such as CO 2 and CH4 in the last decade has seriously affected the climate change and the living environment in the world in general and in Vietnam in particular. In addition, the demand for efficient use of CO2-rich natural gas has promoted studies to find new, highly active and stable catalysts for the reforming methane process. NiO has proven to be the most suitable catalyst for industrial application of the reforming process. To overcome the disadvantages of NiO-based catalysts such as coke formation and sintering at high reaction temperatures, many diverse researches from using new carriers to supporting catalyst by alkali, alkaline earth metals and other metal oxides to improve the catalyst synthesis method have been conducted. As a result, highly efficient catalysts were created, partly thanks to the reduction of the reaction temperature from 800oC to 700oC, the coke formation significantly decreased and the stable working time of the catalyst increased to over 600 hours.

     

    Key words: CO2-rich natural gas, dry reforming, bi-reforming, catalyst.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

    61


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-%C4%82N-M%C3%92N-%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG-%E1%BB%90NG-D%E1%BA%AAN-KH%C3%8D-B%E1%BA%A0CH-H%E1%BB%94-DINH-C%E1%BB%90-V%C3%80-%C4%90%E1%BB%80-XU%E1%BA%A4T-C%C3%81C-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-CH%E1%BB%90NG-%C4%82N-M%C3%92N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 62 – 66

     

    ISSN-0866-854X

     

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

     

    Phan Công Thành, Trương Quang Trường, Trần Mai Khôi

    Tổng công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố (16”, dài 116,5km) được đưa vào vận hành từ năm 1995 để vận chuyển khí đồng hành từ giàn nén khí trung tâm (CCP) mỏ Bạch Hổ đến Nhà máy xử lý khí Dinh Cố.

     

    Khi sản lượng khí của mỏ Bạch Hổ suy giảm, Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro” và Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS) đã xem xét khả năng sử dụng đường ống dẫn khí này để vận chuyển khí từ mỏ Đại Hùng, Thiên Ưng, Cá Chó – Gấu Chúa và Đại Nguyệt ở bể Nam Côn Sơn về bờ. Do đó, tuổi thọ của đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cần được đảm bảo đến năm 2025 để đáp ứng yêu cầu tiếp nhận và vận chuyển các nguồn khí mới.

     

    Bài báo đánh giá hiện trạng ăn mòn của hệ thống đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố trên cơ sở các thông số thiết kế, vận hành, kết quả cập nhật sau khảo sát, bảo dưỡng sửa chữa, đánh giá các ảnh hưởng đến an toàn vận hành của hệ thống đường ống khi tiếp nhận khí từ mỏ Thiên Ưng, Đại Hùng với thành phần CO2 cao hơn và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn cụ thể.

     

    Từ khóa: Đường ống dẫn khí, ăn mòn, CO2, Bạch Hổ – Dinh Cố.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các dạng ăn mòn phổ biến đối với đường ống dẫn khí gồm: ăn mòn đều, ăn mòn cục bộ (ăn mòn pitting, ăn mòn khe, ăn mòn mesa, ăn mòn vùng hàn), nứt do tác động môi trường và phá hủy do dòng chảy [1, 2].

     

    Nhiều tác nhân hóa học khác nhau trong đường ống có thể ảnh hưởng đến quá trình ăn mòn bên trong hệ thống. Sự phá hủy ăn mòn đối với từng tác nhân sẽ thay đổi theo điều kiện vận hành và môi trường vật lý. Có 4 tác nhân chính: CO2, H2S, O2, hoạt động trao đổi chất của vi khuẩn. Để tác nhân này có thể gây ăn mòn, bắt buộc phải có nước [1, 2].

     

    Các cơ chế phá hủy: Cơ chế ăn mòn (ăn mòn Galvanic, ăn mòn do chênh lệch nồng độ), cơ chế nứt do tác động môi trường (phá hủy do hydro, nứt ăn mòn ứng suất, giòn do kim loại lỏng), cơ chế phá hủy do dòng chảy (xói mòn, va chạm, ăn mòn xói mòn, tạo bọt khí) [3].

     

    Ngày nhận bài: 27/8/2018. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 27/8 – 19/9/2018.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 5/4/2019.

     

    2. Hiện trạng ăn mòn đường ống dẫn khí của PV GAS và Vietsovpetro trên cơ sở dữ liệu vận hành đến thời điểm hiện tại

     

    Trên cơ sở các thông số vận hành, khi có nước, cơ chế ăn mòn chủ yếu đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố là ăn mòn do CO2 [4]. Khả năng xảy ra và cơ chế ăn mòn được đưa ra trong Bảng 1:

     

    • Có khả năng: Cơ chế này khi chưa áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn có khả năng phá hủy tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Các biện pháp phòng ngừa cần được áp dụng để kiểm soát mối nguy.
    • Không có khả năng: Cơ chế này dự báo sẽ không có ảnh hưởng đáng kể đến tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Không cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn.

    Mỗi cơ chế “Có khả năng” sẽ cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn. Nguy cơ xảy ra những cơ chế này sau khi được áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn được chia thành 3 mức độ:

     

    • Cao: Dù sử dụng các biện pháp nhưng khả năng xảy ra rất cao, cần tăng cường kiểm tra, theo dõi, bảo

    62       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    dưỡng để kiểm soát nguy cơ, có thể phải thay đổi thiết kế/ vật liệu nếu cần.

     

    • Trung bình: Có thể kiểm soát sử dụng các phương pháp công nghiệp đã được công bố; kiểm tra, theo dõi, bảo dưỡng ở mức độ thông thường.
    • Thấp: Chỉ cần kiểm tra, theo dõi và bảo dưỡng ở mức độ tối thiểu.

    Dựa trên đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí, có thể kết luận cơ chế ăn mòn chính là do CO2.

     

    3. Đánh giá tốc độ ăn mòn đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố bằng phương pháp mô phỏng thực nghiệm và lý thuyết

     

    Các phần mềm mô phỏng thường được thiết lập chế độ an toàn khi đưa ra kết quả tốc độ ăn mòn dự đoán và trong nhiều trường hợp mức độ ăn mòn cao hơn thực tế rất nhiều. Một số phần mềm lại giả sử đường ống có sự bảo vệ từ lớp dầu hoặc sản phẩm ăn mòn và đưa ra mức độ ăn mòn thấp hơn so với thực tế [5 – 8].

     

    Theo tiêu chuẩn của Canada, bất kỳ khí có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành sẽ được coi là không có tính ăn mòn. Khí chứa H2S và CO2 có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành do khử nước hoặc sử dụng chất ức chế, cũng được coi là không có tính ăn mòn [9]. Nhiệt độ điểm sương của khí trong đường ống được duy trì ở mức 5oC ở áp suất vận hành, thấp hơn rất nhiều so với nhiệt độ vận hành (khoảng 30oC).

     

    Số liệu trong giai đoạn 2010 – 2017 được Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Dịch vụ Kỹ thuật (DMC RT) sử dụng là kết quả thực tế, trong khi đó WebCorr và DNV sử dụng kết quả dự báo từ phần mềm Hysis. Ngoài ra, WebCorr không tính đến tham số hàm lượng acid acetic/ acetate và hàm lượng bicarbonate, 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ ăn mòn. Trong khi đó, DNV có tính đến các tham số này nhưng bộ dữ liệu thiếu chắc chắn (2 bộ dữ liệu lệch nhau tương đối lớn).

     

    Thực nghiệm bằng phương pháp đo điện hóa và phương pháp tổn hao khối lượng, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 trong khí tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện

     

    Bảng 1. Tóm tắt các cơ chế phá hủy và nguy cơ xảy ra

     

                 

    Cơ ch

                     

    Nguy cơ

             

    Nguy cơ sau áp d ng bi n pháp

                                                   

    gi m thi u ăn mòn

         
                                                                     
               

    Ăn mòn oxy

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn vi khu n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Giòn th y ngân l ng

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn xói mòn

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    H2S (do MIC)

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
           

    H2S (nư c chua)

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                   

    C n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Clo hòa tan

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Ăn mòn CO2

               

    Có kh  năng

                   

    Trung bình

         
         

    Ăn mòn vùng hàn

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
       

    Giòn nhi t đ  th p

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Ăn mòn dư i l p c n

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
               

    Acid h u cơ

               

    Có kh  năng

                   

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn đ nh  ng

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                           

    Bảng 2. So sánh tốc độ ăn mòn từ các phần mềm với số liệu coupon/đầu dò

                     
                                                                               
       

    Đơn v

             

    Ph n m m

                             

    T c đ  ăn mòn (mm/năm)

                     
       

    th c hi n

             

    2010

       

    2011

         

    2012

         

    2013

       

    2014

       

    2015

         

    2016

       

    2017

     
                                                       
       

    DMC-RT

           

    ECE 5.4

    0

       

    0

     

    0

     

    0

       

    0,01

       

    0,01

     

    0,04

     

    0,08

     
               

    M-506

       

       

     

    0,19

       

    0,31

       

    0,3

     

    0,57

     

    0,69

     
                                           
       

    DNV

               

    ECE 4

       

     

     

       

       

    0,46

     

    0,58

     

    0,8

     
                   

    Predict 6.1

       

       

     

       

       

    0,045

     

    0,0005

     

    0,0005

     
                                           
                     

    ECE 5.1

       

     

     

       

       

    0,3

     

    0,41

     

    0,62

     
       

    WebCorr

           

    Predict 6.1

       

     

     

       

       

    0,66

     

    0,81

     

    1,1

     
               

    M-506

       

       

     

       

       

    0,42

     

    0,62

     

    0,99

     
                                           
                     

    DWM

       

     

     

       

       

    0,42

     

    0,53

     

    0,72

     
             

    Probe

     

    NA

     

    NA

     

    0,00035

     

    0,00155

       

    0,00195

       

    0,0003

     

    0,0001

     

    0,00025

     
           

    Coupon

    0,002

     

    0,0015

     

    0,0025

     

    0,00231

       

    0,00068

       

    0,00035

     

    0,00055

     

    0,00013

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    63

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    mô phỏng khắc nghiệt hơn thực tế (dung dịch NaCl 0,1%, 1.000ppm acid acetic) ở mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086mm/năm và 0,066mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59mm đến 0,77mm.

     

    Theo tiêu chuẩn của NACE, nếu không có nước, CO2 là chất không ăn mòn [1]. Trên thực tế, hàm lượng nước trong đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố rất thấp, tốc độ ăn mòn chậm, điều này được phản ánh qua kết quả khảo sát bằng đầu dò và coupon.

     

    Tuy nhiên, theo ghi nhận và thông tin từ PV GAS, trong quá trình vận hành, đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố gặp phải các vấn đề liên quan đến ăn mòn tại một số vị trí và đã phải sửa chữa. Để kiểm soát vấn đề này, cần nghiên cứu và khảo sát điều kiện địa hình tuyến ống biển, từ đó tính toán được góc tới hạn của độ nghiêng cho từng đoạn ống, tính toán vị trí có nguy cơ đọng nước và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp. Phóng thoi định kỳ cũng là biện pháp để kiểm soát các bất thường này [1, 5].

     

    4. Đánh giá hiệu quả của hóa phẩm chống ăn mòn đang sử dụng tại đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn hiệu quả

     

    Nhóm tác giả sử dụng phương pháp đặt mẫu coupon (Wheel test) và phương pháp đo điện trở phân cực trong điều kiện sục khí (LPR bubble test) [3, 10 – 12].

     

    Các hóa phẩm chống ăn mòn được đánh giá gồm 1 mẫu hóa phẩm đang sử dụng (chất ức chế A) và 2 mẫu hóa phẩm thương mại khác (chất ức chế B và C).

     

    • Chất ức chế A: BAKER PETROLITE CR080143.
    • Chất ức chế B: CORRTREAT 5745.
    • Chất ức chế C: HB CI 8102.

    Kết quả đo điện hóa tại các nồng độ khảo sát và so sánh khả năng bảo vệ của 3 chất ức chế ở mỗi nồng độ cho thấy:

     

    ++ Đối với chất ức chế A: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 100ppm.

     

    ++ Đối với chất ức chế B: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 150ppm.

     

    Hiu qu bo v (%)

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

    10ppm

    30ppm

    50ppm

    100ppm

    150ppm

       

    N ng đ  (ppm)

       
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

     

    Ch t  c ch  C

     
                 
                   
         

    Hình 1. So sánh hiệu quả bảo vệ các chất ức chế

           
           

    Bảng 3. So sánh hiệu quả bảo vệ

           
                           

    N ng đ

               

    Hi u qu  b o v  (%)

           
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

       

    Ch t  c ch  C

     
                     

    10ppm

       

    83,98

         

    80,58

       

    89,96

     

    30ppm

       

    85,10

         

    81,89

       

    90,92

     

    50ppm

       

    87,45

         

    84,55

       

    91,17

     

    100ppm

       

    90,12

         

    88,69

       

    91,73

     

    150ppm

       

    90,32

         

    90,04

       

    91,82

     

    64       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    ++ Đối với chất ức chế C: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 30ppm và đạt hiệu quả tối ưu ở nồng độ từ 100ppm.

     

    Trong 3 chất ức chế A, B, C thì chất ức chế C cho hiệu quả bảo vệ cao nhất đạt trên 90% tại hầu hết các nồng độ khảo sát.

     

    • Tách nước (kiểm soát điểm sương) kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp là biện pháp chủ yếu được sử dụng trên thế giới [1].

    ++ Ngay cả trong điều kiện áp suất riêng phần CO2 cao (7 – 8 bar), nhiệt độ cao (93 – 130oC) và tốc độ dòng lớn (25m/s), chất ức chế ăn mòn vẫn đạt hiệu quả bảo vệ cao [10].

     

    ++ Ở nhiệt độ lên tới 150oC, áp suất CO2 lên tới 10 bar, áp suất H2S lên tới 10 bar, tốc độ dòng trên 20m/s, đường ống thép carbon vẫn hoạt động tốt bằng việc sử dụng chất ức chế ăn mòn [5].

     

    • Tách CO2 và kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp cũng là một giải pháp. Tuy nhiên, chi phí cho việc lắp đặt hệ thống tách CO2 khá cao, cần cân nhắc yếu tố kinh tế khi quyết định sử dụng giải pháp này [13].
    • Giải pháp khác: Điều chỉnh pH (The pH stabilisation

    technique): tăng pH sẽ tăng sự hình thành sản phẩm ăn mòn có tính bảo vệ trên bề mặt kim loại (FeCO3) [13, 14].

     

    Đề xuất yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố nhằm đảm bảo an toàn vận hành: Hạn chế tối thiểu hàm lượng các khí ăn mòn trong thành phần khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố. Theo kết quả thực nghiệm bằng phương pháp trong phòng thí nghiệm, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện mô phỏng phòng thí nghiệm đạt mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66 mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086 mm/năm và 0,066 mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59 – 0,77mm. Theo thiết kế, chiều dày ăn mòn dự trữ là 1mm, trong khi những năm trước đó, tốc độ ăn mòn không đáng kể, theo lý thuyết thành phần khí giao như vậy hoàn toàn đáp ứng yêu cầu vận hành an toàn. Tuy nhiên, để kiểm chứng các mô hình mô phỏng, các thử nghiệm hiện trường (field test) là yêu cầu bắt buộc trước khi áp dụng thực tế bởi thử nghiệm hiện trường sẽ mô phỏng được đầy đủ hơn các yếu tố trong thực tế.

     

    5. Kết luận

     

    Kết quả đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cho thấy cơ chế ăn mòn chính là do CO2. Với hàm lượng CO2 được duy trì ở mức thấp (dưới 1% mol), ăn mòn CO2 đang được khống chế bằng việc bơm chất ức chế ăn mòn. Trong thực tế vận hành, các vị trí ăn mòn xuất hiện bất thường trên đường ống, vì vậy cần thường xuyên theo dõi ăn mòn bằng việc phóng thoi định kỳ và sử dụng phần mềm mô phỏng, xác định các vị có nguy cơ ăn mòn cao.

     

    Kết quả mô phỏng bằng các phần mềm mô phỏng với kết quả thực tế từ coupon, đầu dò, phần mềm Predict 6.1 cho kết quả phù hợp nhất.

     

    Kết quả thử nghiệm bằng phương pháp điện hóa và thử nghiệm bằng phương pháp tổn hao khối lượng tương đối phù hợp so với các kết quả tốc độ ăn mòn từ coupon, đầu dò và phần mềm Predict 6.1.

     

    Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp chống ăn mòn: tách nước kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; tách CO2 kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; sử dụng phần mềm Predict 6.1.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. NACE International. Control of internal corrosion in steel pipelines & piping systems. NACE SP0106-2018-SG.
    1. NACE International. Internal corrosion for pipelines
    • Advanced. www.nace.org.

     

    1. Papavinasam, R.W.Revie, M.Attard, A.Demoz, K.Michaelian. Comparison of laboratory methodologies to evaluate corrosion inhibitors for oil and gas pipelines. Corrosion. 2003; 59(10): p.897 – 912.
    1. Internal corrosion study for PL-16A gas pipeline, DNV GL. Report No.: 2014/474/008, Rev. 3.
    1. Sergio D.Kapusta, Bernardus F.M.Pots, R.A.Connell. Corrosion management of wet gas pipelines. Corrosion. 25-30 April, 1999.
    1. Rolf Nyborg. CO2 corrosion models for oil and gas production systems. Corrosion. 14 – 18 March, 2010.
    1. Seyed Mohammad Kazem Hosseini. Avoiding common pitfalls in CO2 corrosion rate assessment for upstream hydrocarbon industries. The 16th Nordic Corrosion Congress, Stavanger Norway. 20 – 22 May, 2015.
    1. Vishal V.Lagad, Sridhar Srinivasan, Rusell D.Kane. Facilitating internal corrosion direct assessment using

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    65

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    advanced flow and corrosion prediction models. Corrosion.

     

    16 – 20 March, 2008.

     

    1. Standards Council of Canadian. Oil & gas pipeline systems. CAN/CSA-Z662-11.
    1. Michael Swidzinski, Bob Fu, Audrey Taggart, W.Paul Jepson. Corrosion inhibitor of wet gas pipelines under high gas and liquid velocities. Corrosion. 2000.
    1. Papavinasam. Evaluation and selection of corrosion inhibitors. Materials Technology Laboratory, Ottawa, Canada.
    1. ASTM   Standard  practice  for

    preparing, cleaning, and evaluating corrosion test specimens.

     

    ASTM G1.

     

    1. Sridhar Srinivasan, Vishal Lagad. ICDA: A quantitative framework to prevent corrosion failures and protect pipelines. Corrosion. 12 – 16 March, 2006.
    1. NACE International. Internal corrosion direct assessment methodology for pipelines carrying normally dry natural gas (DG-ICDA).
    1. Prediction of corrosion growth rate for 16″ Bach Ho – Dinh Co pipeline from 2015 to 2025. CSM-15606.

    CORROSION ASSESSMENT OF BACH HO – DINH CO GAS TRANSMISSION PIPELINE AND SOLUTIONS FOR CORROSION CONTROL

    Phan Cong Thanh, Truong Quang Truong, Tran Mai Khoi

    Petrovietnam Drilling Mud Corporation (DMC)

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    Bach Ho – Dinh Co gas transmission pipeline (16” and 116.5km long) was put into operation in 1995 to transport associated gas from the Central Compression Platform (CPP) in Bach Ho field to Dinh Co Gas Processing Plant.

     

    As gas output from Bach Ho field decreases, Vietsovpetro and Petrovietnam Gas Joint Stock Corporation (PVGAS) have considered the possibility of using this pipeline to transport gas from Dai Hung, Thien Ung, Ca Cho, Gau Chua and Dai Nguyet fields in the Nam Con Son basin to shore. The service life of Bach Ho-Dinh Co gas transmission pipeline therefore needs to be guaranteed until 2025 to meet the requirements for receiving and transporting new gas sources.

     

    This article assesses the corrosive status of Bach Ho – Dinh Co gas pipeline system based on the design and operation parameters, updated results after survey, maintenance and repair. It also assesses the operational safety of the pipeline system when receiving gas with higher CO2 content from Thien Ung and Dai Hung fields and proposes anti-corrosion solutions.

     

    Key words: Gas pipeline, corrosion, CO2, Bach Ho – Dinh Co.

     

     

    66       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thuyết minh thi công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-%C4%90%E1%BA%BEN-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-B%E1%BB%98T-H%E1%BB%92NG-TR%C3%80-H%C3%92A-TAN-B%E1%BA%B0NG-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-S%E1%BA%A4Y-PHUN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

     

    Nguyễn Quốc Sinh1*, Nguyễn Thị Diễm Hương1, Nguyễn Thành Thuận2

    1Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế;

    2Trường Cao đẳng Lương thực thực phẩm Đà Nẵng.

     

    *Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Bột Hồng trà hòa tan là sản phẩm được chế biến bằng phương pháp sấy phun dịch trích ly từ nguyên liệu Hồng trà được sản xuất theo phương pháp lên men toàn phần. Trong công trình này chúng tôi tiến hành khảo sát một số thông số trong quy trình sản xuất trà hòa tan như công đoạn trích ly (4 mốc thời gian và 3 mức nhiệt độ), công đoạn bổ sung chất mang (5, 10 và 15% maltodextrin) và sấy phun (5 mức nhiệt độ và 4 tốc độ bơm) đến chất lượng sản phẩm bột Hồng trà hòa tan. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình trích ly. Điều kiện trích ly thích hợp là: nhiệt độ trích ly 85oC, thời gian trích ly 40 phút. Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10%. Tiến hành sấy phun ở nhiệt độ thích hợp là 170oC với tốc độ bơm nhập liệu là 30%. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có tính chất cảm quan tốt, sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô.

     

    Từ khóa: bột hồng trà hòa tan, polyphenol, sấy phun, trích ly.

     

    Nhận bài: 17/03/2019          Hoàn thành phản biện:  27/03/2019                  Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Trà hòa tan dạng bột được sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, trong đó phần lớn là từ các nguồn thảo dược (Nguyễn Văn Tặng, 2008). Trên thế giới, trà hòa tan chủ yếu được sản xuất từ trà khô để làm đồ uống (Clark và cs., 1984; Mehta và cs., 2001; Bavan và Bengal, 2009). Quá trình sản xuất bột trà hòa tan có các công đoạn chủ yếu là trích ly, cô đặc dịch và sấy phun. Sato và cs. (1984) đã sử dụng nước nóng để trích ly trà xanh, dịch trà được bổ sung maltodextrin và sấy phun để tạo bột hòa tan. Bavan (2005) cũng sử dụng nước nóng để trích ly trà đen và trà ô long, dịch trà sau đó được cô đặc, sấy phun để tạo bột trà. Lunder và Nestec (1997) dùng nước nóng để trích ly hỗn hợp chè xanh và chè đen để thu được dịch chè. Đã có nhiều công trình khác nghiên cứu quá trình trích ly polyphenol từ chè khô và sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm ở dạng bột, dịch lỏng hoặc dạng cao. Công trình nghiên cứu của Trịnh Xuân Ngọ (2009) sử dụng dung môi là nước nóng. Phạm Thành Quân và cs. (2005) trích ly polyphenol sử dụng dung môi là ethanol có hỗ trợ vi sóng. Nguyễn Trọng Điệp và cs. (2017) đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh.

     

    Việc nghiên cứu các thông số công nghệ trong quá trình chế biến bột Hồng trà hoà tan bằng các phương pháp đơn giản, dễ làm như tách chiết bằng dung môi nước, sử dụng maltodextrin làm chất mang trong quá trình sấy phun tạo sản phẩm…nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt là vấn đề có ý nghĩa thực tế và mang tính cấp thiết, bởi vì nó góp phần đa dạng hoá sản phẩm từ Hồng trà và hơn nữa có thể sử dụng được các thiết bị sẵn có ở các cơ sở chế biến nông sản trong quá trình chế biến sản phẩm bột trà. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của một số thông số công nghệ đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan bằng phương

     

    1217

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    pháp sấy phun nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao, phục vụ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm này

     

    • nước ta.

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Nguyên liệu

    Hồng trà loại OP do Công ty Cổ phần Long Đỉnh (thôn Phúc Tân, xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) cung cấp. Hồng trà hay còn gọi là trà đen là loại trà được lên men hiếu khí toàn phần 100% từ đọt chè. Chè khô đảm bảo độ ẩm ≤ 7%.

     

    Maltodextrin: dùng làm chất trợ sấy, được bổ sung vào dịch trà trước khi đem sấy phun. Sản phẩm nhập từ Pháp, dạng bột mịn, màu trắng, tan hoàn toàn trong nước, độ ẩm 6 – 7%, chỉ số DE là 12.

     

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.2.1. Phương pháp công nghệ

     

    Để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số công nghệ sản xuất bột trà hòa tan, chúng tôi chọn phương pháp công nghệ (Hình 1) theo nghiên cứu của Santo và cs. (2007) và dựa vào đặc điểm của máy sấy phun Mini B-290. Một số công đoạn chính trong quy trình công nghệ như sau: Chè khô sau khi vận chuyển về phòng thí nghiệm, được đóng gói chân không, bảo quản trong điều kiện cách ẩm và tránh ánh sáng. Nguyên liệu được nghiền mịn và rây qua rây 1 mm, đạt kích thước 0,8-0,9mm nhằm làm dập tế bào trong lá chè để các chất hòa tan thoát ra dễ dàng trong quá trình trích ly. Nguyên liệu sau khi nghiền được trích ly bằng dung môi là nước nóng với khối lượng mẫu là 10g nguyên liệu/lần). Trích ly một lần với tỷ lệ dung môi nước so với nguyên liệu là 1/10 (g/ml) được trích ly ở nhiệt độ và thời gian khác nhau. Dịch chè được lọc nhằm loại bỏ thành phần bã ra khỏi dịch chè, sau đó hòa trộn với tá dược maltodextrin trước khi sấy phun tạo bột trà hòa tan bằng máy sấy phun B-290 Buchi. Mỗi thí nghiệm tiến hành lặp lại 3 lần, 3 mẫu/nghiệm thức.

     

       

    Nguyên liệu

         
       

    Nghiền

         
         

    Nước

     

    Trích ly

         
         
       

    Lọc thô

         
         

    Maltodextrin

    Bổ sung tá dược

         
         
       

    Lọc tinh

         
         
       

    Sấy phun

         
    • Khảo sát nhiệt độ trích ly (75; 85; 95oC)
    • Thời gian trích ly (20; 30; 40; 50 phút)
    • Khảo sát tỷ lệ bổ sung maltodextrin theo tỷ lệ 5%; 10%; 15%
    • Khảo sát nhiệt độ sấy phun (150;160;170; 180; 190oC)
    • Khảo sát tốc độ bơm (25;

    30; 35; 40%)

     

    Sản phẩm trà hòa tan

     

    Hình 1. Phương pháp công nghệ sản xuất trà hòa tan quy mô phòng thí nghiệm.

     

    1218

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    2.2.2. Phương pháp phân tích

     

    • Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy đến khối lượng không đổi: Dùng hơi nóng làm bay hơi lượng nước trong chè. Cân khối lượng chè trước và sau khi sấy khô, từ đó tính ra phần trăm nước có trong mẫu chè (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định chất hoà tan theo phương pháp Voronsov: Dùng hơi nước để bốc hơi nước dịch chiết xuất, còn lại là chất khô hòa tan, sấy khô đến khối lượng không đổi, chất hòa tan được tính theo % khối lượng khô của mẫu. Đây là phương pháp thông dụng, đơn giản (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định khả năng hòa tan của bột trà sau khi sấy: Để xác định khả năng hòa tan trong nước của bột trà hòa tan. Thí nghiệm được thực hiện với 20ml nước và 0,1g bột chè ở

     

    nhiệt độ 90oC với số lần lặp lại 3 lần, để quan sát đánh giá khả năng hòa tan của các chất tan trong nước. Thí nghiệm được tiến hành bằng cách tính thời gian hòa tan.

     

    • Xác định polyphenol tổng số bằng phương pháp Folin – Denis: Phương pháp này được thực hiện dựa trên nguyên tắc các hợp chất polyphenol trong dung dịch phản ứng với thuốc thử Folin-Ciocalteau cho sản phẩm màu xanh lam, đo độ hấp thụ ở bước sóng 660 nm, lấy acid gallic làm chất chuẩn (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001)

     

    • Định lượng cafein trong chè bằng Na2S203: Khi dung dịch chứa cafein, nếu có mặt HCl thì dung dịch trong KI sẽ chuyển toàn bộ cafein thành chất kết tủa có công thức như sau: C6H10O2N4KI4. Sau đó dùng Na2S2O3 0,1N chuẩn lượng I2 dư sẽ biết được lượng I2 tham gia phản ứng, từ đó tính được lượng cafein trong dung dịch thí nghiệm (Hà Duyên Tư, 2001)

     

    2.2.3. Phương pháp đánh giá cảm quan

     

    Chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá cảm quan theo phép thử cho điểm thị hiếu về mức ưa thích (Hà Duyên Tư, 2016) để đánh giá chất lượng sản phẩm (theo thang điểm Hedonic).

     

    2.2.4. Phương pháp xử lý thống kê

     

    Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Microsoft Excel. Kết quả thí nghiệm được phân tích bằng ANOVA và kiểm định Turkey trên phần mềm Minitab 16.20 để so sánh các giá trị trung bình có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu

     

    Việc xác định thành phần hóa học của nguyên liệu ban đầu là cơ sở để đưa ra các thông số công nghệ trong quá trình nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần hóa học của Hồng trà (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà

     

    Chỉ tiêu

    Đơn vị

    Kết quả

    Độ ẩm

    (%)

    4,64 ± 0,44*

    Hàm lượng chất hòa tan

    (% chất khô)

    22,89 ±2,09

    Hàm lượng cafein

    (%chất khô)

    2,05 ±0,16

    Hàm lượng polyphenol

    (%chất khô)

    15,86 ±0,01

    Ghi chú *: Sai số của giá trị

     

    Số liệu thực nghiệm thu được ở Bảng 1 cho thấy: Hàm lượng ẩm của nguyên liệu Hồng trà chiếm 4,64% nằm trong giới hạn cho phép về hàm lượng ẩm trong trà khô, đảm bảo

     

    1219

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    độ ẩm ≤ 7%, đạt theo TCVN 1454:1993. Chất hòa tan là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất về chất lượng trà thành phẩm, chính là hàm lượng các chất chiết được. Hàm lượng chất hòa tan trong trà nguyên liệu chiếm khá cao đạt 22,89%. Hàm lượng cafein và polyphenol lần lượt chiếm 2,05% và 15,86%. Đây là những hoạt chất sinh học khá quan trọng. Nó là thành phần không thể thiếu của bất kỳ loại trà nào, giữ vai trò chủ yếu trong quá trình tạo màu sắc, hương vị cho sản phẩm, đồng thời có tác dụng gây cảm giác hưng phấn cho người sử dụng. Như vậy, kết quả khảo sát một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà cho thấy loại nguyên liệu này đảm bảo các yêu cầu cho việc tạo ra sản phẩm bột trà.

     

    3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly

     

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly dịch trà ở ba mức nhiệt độ: 75oC, 85oC, 95oC. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10, thời gian trích ly là 20 phút. Kết quả được thể hiện ở Hình 2.

     

    Hàm lượng (% ck)

    20

         

    18,05a

           
                 

    15

                   
         

    12,61a

     

    12,50b

     
               

    10

     

    8,33c

           

    9,34b

     
                 
       

    6,70c

               

    5

                   
                   

    0

                   

    75

    85

       

    95

     
           
           

    Nhiệt độ trích ly (oC)

       

     Chất hòa tan  Polyphenol

     

    Hình 2. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả ở Hình 2 cho thấy khả năng trích ly và khả năng khuếch tán của các chất hòa tan bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ trích ly. Ở các mức nhiệt độ biến thiên từ 75 – 95oC, hàm lượng chất hòa tan và polyphenol trích ly được có giá trị tăng dần theo nhiệt độ và đạt giá trị cao nhất

     

    • nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 18,05%, polyphenol là 12,61%). Nhưng khi đến nhiệt độ 95oC thì hàm lượng các chất giảm thấp hơn nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 12,50%, polyphenol là 9,34%). Trong quá trình trích ly nếu nhiệt độ quá thấp thì không đủ nhiệt để hòa tan các hợp chất cần chiết làm giảm hiệu quả trích ly nhưng nếu nhiệt độ quá cao lại làm tăng các phản

    ứng hóa học gây ra những biến đổi bất lợi cho hợp chất cần trích ly, làm giảm khả năng trích

     

    1. Mặt khác, dựa vào màu sắc dịch trích ly trà, chúng tôi thấy khi trích ly ở nhiệt độ thấp 70oC thì dịch trích ly có màu nhạt hơn so với nhiệt độ 85oC và 95oC. Vì vậy, chọn nhiệt độ trích ly
    • 85oC là thích hợp để thu được dịch trích ly có hàm lượng chất hòa tan và polyphenol cao.

    3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly

     

    Sự ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly được nghiên cứu khảo sát ở bốn mức: 20 phút, 30 phút, 40 phút, 50 phút. Các yếu tố cố định là nhiệt độ trích ly: 85oC (lấy từ nghiệm thức trước); tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình trích ly ảnh hưởng đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol được thể hiện ở Hình 3.

     

    1220

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Hàm lượng (% ck)

    30

                             
               

    25,00a

               

    25

                           
     

    18,05b

     

    20,83ab

           

    19,44b

     
                 

    20

                 
     

    12,61c

    14,02

    b

     

    15,74a

     

    14,20b

           

    15

                     

    Chất hòa tan

                     
                         

    10

                           

    Polyphenol

                           
                           
                             
                             

    5

                             
                             

    0

                             

    20

    30

     

    40

    50

           
               
           

    Thời gian trích ly (phút)

               

    Hình 3. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của thời gian trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả thí nghiệm cho thấy, thời gian trích ly ảnh hưởng nhiều đến quá trình trích ly. Khi thời gian trích ly tăng thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol tăng dần theo thời gian. Tại thời gian trích ly là 40 phút thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol đạt cao nhất (chất hòa tan là 25,00%, polyphenol là 15,74%). Ở thời gian trích ly 50 phút thì hàm lượng các chất giảm xuống so với thời gian 40 phút (chất hòa tan là 19,44% và polyphenol là 14,20%). Bởi vì các hoạt chất sinh học đều nhạy cảm với nhiệt độ cao, giữ trong thời gian dài sẽ dẫn đến sự phân hủy các hoạt chất sinh học tương tự như báo cáo của Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư (2009). Vì vậy, chúng tôi chọn thời gian trích ly thích hợp là 40 phút để nghiên cứu các công đoạn tiếp theo.

     

    3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung tá dược maltodextrin đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan

     

    Maltodextrin là một trong những tá dược (còn gọi là chất độn, chất trợ sấy) có ảnh hưởng lớn đến quá trình sấy phun và khả năng hòa tan của bột trà. Ảnh hưởng tỷ lệ maltodextrin bổ sung được khảo sát ở ba mức với tỷ lệ: 5%, 10%, 15%. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10 với thể tích dịch trà: 150ml, trích ly ở nhiệt độ 85oC nhiệt độ trong thời gian 40 phút, nhiệt độ sấy phun là 170oC; tốc độ bơm: 30%. Kết quả thể hiện ở Hình 4 và Bảng 2.

     

    Nghiên cứu của Kha Chấn Tuyền và cs. (2010) chỉ ra hàm lượng maltodextrin có ảnh hưởng rất lớn đến độ ẩm của bột. Kết quả ở hình 4 cho thấy, tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà càng tăng thì độ ẩm bột trà càng giảm. Bổ sung tỷ lệ maltodextrin càng cao thì nồng độ chất khô của dịch càng cao, khi đó hàm lượng nước trong dịch sấy thấp nên quá trình bốc hơi nước xảy ra nhanh hơn, độ ẩm của bột sẽ thấp hơn (với tỷ lệ maltodextrin là 5% thì độ ẩm đạt 5,48%, tỷ lệ 10% là 4,82%, tỷ lệ 15% là 4,28%). Ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 15%, lượng bột nhiều nhất (15,13 g) nhưng hàm lượng polyphenol là thấp nhất (6,85%). Do đó màu sắc của bột trà nhạt đi nên khi pha sẽ bị ảnh hưởng đến màu, mùi và vị sản phẩm (Bảng 2).

     

    Bảng 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến tính chất cảm quan nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tỷ lệ maltodextrin

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     
     

    (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    5

    Đỏ nâu đậm có viền vàng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    10

    Đỏ nâu sáng có viền vàng

    Thơm vừa

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    15

    Đỏ nâu nhạt có viền vàng

    Thơm nhẹ

    Vị hơi ngọt,

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

             

    1221

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    50

                   

    45,00a

     

    45

                       
                       

    40

                       
                       

    35

                       
                   

    26,67c 28,33b

     

    30

                   
                       

    25

                       
                       

    20

             

    15,13a

         

    15

             

    11,29b

     

    a

       

    10

    5,48

    a

    4,82

    b

    6,09

    c

     

    9,52 7,91b6,85c

       
     

    4,28c

             

    5

                       
                       

    0

                       

    Độ ẩm (%)

    Khối lượng bột

    Polyphenol

    Khả năng hòa

     
     
             

    thu được (g)

    (%ck)

    tan (s)

     
               

    5%

    10%

    15%

       

    Hình 4. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến độ ẩm, khối lượng thu hồi bột, hàm lượng polyphenol và khả năng hòa tan của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Hơn nữa các mức bổ sung maltodextrin khác nhau thì khả năng hòa tan bột trà khác nhau. Các kết quả nghiên cứu cho thấy ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 5% thì khả năng hòa tan tan nhanh hơn so với 10% và 15%. Trong khi tỷ lệ bổ sung maltodextrin ở 5% thì tan nhanh và ít bị vón cục. Bổ sung maltodextrin tỷ lệ 15% thì khả năng hòa tan chậm đi do lượng maltodextrin chiếm nhiều nên vón cục nhiều hơn nên khó tan hơn. Vì thế chúng tôi chọn công thức tỷ lệ bổ sung maltodextrin 10% vì khả năng hòa tan tốt trong nước pha trà. Đồng thời sản phẩm bột có kích thước và cảm quan tốt. Kết quả này hoàn toàn thích hợp với công bố của Zhang và cs. (2005).

     

    3.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến chất lượng bột trà

     

    Trong quá trình sấy phun, nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của bột trà. Nhiệt độ không khí đầu vào không nên vượt quá 180 – 190oC. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ sấy đến chất lượng bột ở các mức nhiệt độ khác nhau: 150oC, 160oC, 170oC, 180oC và 190oC. Các yếu tố cố định là tốc độ bơm nhập liệu: 35%; tốc độ gió 100%. Kết quả được thể hiện ở Hình 5 và Bảng 3.

     

    Kết quả nghiên cứu ở Hình 5 cho thấy độ ẩm của bột trà ở tất cả các công thức thí nghiệm đều nhỏ hơn 6% đạt tiêu chuẩn theo TCVN 9739:2013. Qua nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun thấy rằng, hàm lượng ẩm thấp nhất khi sấy ở nhiệt độ 180oC nhưng ở nhiệt độ này thì có một ít vật liệu sấy bị cháy, sản phẩm bột bám lên thành của buồng sấy, sản phẩm giảm mùi thơm, vị đắng hơn. Mặt khác sấy ở nhiệt độ 150oC thì bột tạo ra có độ ẩm cao, khả năng thoát ẩm kém, bột bám dính vào thành buồng sấy.

     

    Khi tăng nhiệt độ sấy phun, hoạt chất polyphenol đã bị tổn thất và có xu hướng giảm dần. Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều bất lợi cho sản phẩm bột trà. Đồng thời, quan sát trong quá trình sấy phun nhận thấy, ở nhiệt độ thấp (150 – 160oC) bột có độ ẩm cao, bám dính thành từng mảng ở thành buồng sấy. Ở nhiêt độ cao (180 – 190oC) thì bột có hiện tượng bị cháy bám

     

    1222

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    trên thành buồng sấy ảnh hưởng đến mùi và vị của bột. Còn ở nhiệt độ 170oC cho ra bột tơi, mịn có độ ẩm đạt 4,86% và hàm lượng polyphenol là 7,98%. Ở nhiệt độ này, bột ít bị bám dính và không bị cháy ở thành buồng sấy. Như vậy, mức nhiệt độ thích hợp là 170oC vì hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol cao và đảm bảo độ ẩm của trà thành phẩm (TCVN 5613:2007).

     

    9

     

    8,43a

     

    8,34a

     

    7,94b

     

    7,66c

               
                         

    8

                             
                       

    6,71d

    7

                       
           

    5,83a

                       

    6

     

    5,14

    ab

                         
           

    4,86abc

     

    4,30b

     

    4,72bc

    5

                 
                             

    Độ ẩm (%)

                             

    4

                               
                               

    Polyphenol (%ck)

                               

    3

                               
                                 
                                 

    2

                                 
                                 

    1

                                 
                                 

    0

                                 

    150

    160

    170

    180

     

    190 Nhiệt độ sấy phun (oC)

       

    Hình 5. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà hòa tan.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Ngoài hàm lượng polyphenol và độ ẩm, tính chất cảm quan của nước trà pha phản ảnh chất lượng cảm quan của bột trà hòa tan. Số liệu ở bảng 3 cho thấy ở nhiệt độ sấy phun thấp hơn 180oC, bột trà khi pha vẫn giữ được màu đỏ sáng và mùi thơm đặc trưng của Hồng trà. Khi nhiệt độ sấy phun trên 180oC, nước trà pha có màu đỏ nâu và mùi vị cũng kém dần đi.

    Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Nhiệt độ

     

    Tính chất cảm quan của nước trà

     
     

    sấy phun (oC)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    150

    Đỏ có

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    viền vàng

    đặc trưng

           
     

    160

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    170

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    180

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           
     

    190

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           

    Các kết quả trên cho thấy nhiệt độ sấy phun đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và màu sắc nước pha. Nhiệt độ phù hợp cho quá trình sấy phun là 170oC.

    3.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến chất lượng của bột trà

     

    Tốc độ bơm nhập liệu có ảnh hưởng lớn đến lưu lượng dòng nhập liệu, năng suất thiết bị, nhiệt độ không khí đầu ra của máy sấy phun. Vì hệ thống bơm nhập liệu của thiết bị nghiên cứu là bơm nhu động nên trong quá trình này, tốc độ bơm được nghiên cứu với các mức lần lượt là 25%, 30%, 35% và 40% thì tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu của máy sấy phun

     

    1223

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    B-290 Buchi thực tế là 8,3; 10,3; 12,3 và 14,3 (ml/phút). Các yếu tố được cố định là nhiệt độ sấy 170oC; tốc độ gió 100%. Kết quả nghiên cứu đươc thể hiện ở Hình 6 và Bảng 4.

    10

                             
     

    8,54a

     

    8,19b

     

    7,85d

     

    8,01c

             

    8

                     
                 

    5,16a

             

    6

     

    4,30b

     

    4,37b

     

    4,92a

             

    Độ ẩm (%)

    4

                       
                           
                             
                             

    2

                             
                             

    0

                       

    Tốc độ bơm

    25

    30

    35

    40

       
         
     

    nhập liệu (%)

                     
                               

    Hình 6. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Số liệu ở Hình 6 cho thấy, tốc độ bơm nhập liệu càng cao thì độ ẩm càng cao. Mẫu sản phẩm có tốc độ bơm thấp nhất (25%) đạt độ ẩm thấp nhất là 4,30% và ngược lại mẫu sản phẩm có tốc độ bơm cao nhất 40% thì đạt độ ẩm cao nhất là 5,16%. Tốc độ bơm nhập liệu tăng, đồng nghĩa với thời gian lưu của vật liệu sấy trong buồng sấy giảm, do đó hiệu quả sấy sẽ không cao độ ẩm sẽ tăng, phần hạt ẩm dính lại trong buồng sấy cũng tăng dẫn đến hiệu suất thu hồi sản phẩm sau quá trình sấy phun giảm. Tốc độ bơm nhập liệu càng tăng thì bột trà có hàm lượng polyphenol càng giảm. Hàm lượng polyphenol đạt giá trị cao nhất ở tốc độ bơm là 25% đạt 8,54% chất khô.

     

    Mặc dù ở tốc độ bơm 25% thì độ ẩm của bột sản phẩm tuy thấp hơn nhưng thời gian sấy dài. Đồng thời, với tốc độ bơm nhập liệu 30% tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu 10,3 ml/phút, hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol và độ ẩm đảm bảo chất lượng của bột trà hòa tan. Sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol là 8,19% chất khô.

     

    Bảng 4. Ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tốc độ bơm

     

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     

    nhập liệu (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    25

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    30

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    35

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    40

    Đỏ nâu sáng

    Thơm yếu,

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    kém đặc trưng

    kém đặc trưng

    Kết quả nghiên cứu (Bảng 4) cho thấy, khi tốc độ bơm nhập liệu từ 25 – 40%, màu sắc bột trà hòa tan vẫn đồng đều nhau, nước pha trà vẫn giữ được mùi thơm, vị đậm dịu, trong đồng nhất. Mùi vị sản phẩm giảm khi tốc độ bơm trên 35%. Tốc độ bơm thấp hơn 35% thì sản phẩm có mùi thơm dịu, đặc trưng, có hậu. Như vậy, tốc độ bơm nhập liệu đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và mùi vị nước pha (Bảng 4). Tốc độ bơm phù hợp cho quá trình sấy phun là 30%.

     

    1224

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    3.7. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng bột trà hòa tan

     

    Đánh giá chất lượng cảm quan tổng thể của một sản phẩm là một chỉ tiêu không thể thiếu được, nói lên mức độ ưa thích của người tiêu dùng và giới thiệu sản phẩm ra thị trường.

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi tiến hành chế biến mẫu sản phẩm bột Hồng trà hòa tan ở quy mô phòng thí nghiệm. Sản phẩm được tiến hành phân tích, kiểm nghiệm một số chỉ tiêu hóa lý và cảm quan. Kết quả được thể hiện ở bảng 5 và bảng 6 sau đây:

     

    Bảng 5. Kết quả kiểm nghiệm chỉ tiêu hóa lý sản phẩm bột trà hòa tan

     

    Chỉ tiêu

    Phương pháp thử

    Kết quả mẫu thí

    TCVN

     

    nghiệm

    9739:2013

     
       

    Độ ẩm (%)

    TCVN 5613:2007

    5,0

    ≤ 6

     

    Hàm lượng tro tổng số (%)

    TCVN 5611:2007

    0,9

    ≤ 20

     

    Số liệu ở Bảng 5 và 6 cho thấy sản phẩm Hồng trà hòa tan đạt được các chỉ tiêu chất lượng nằm trong giới hạn cho phép về độ ẩm và hàm lượng tro tổng số theo TCVN 9739:2013 về bột trà hòa tan. Sản phẩm có tính chất cảm quan và khả năng hòa tan tốt.

     

    Bảng 6. Kết quả đánh giá chỉ tiêu cảm quan của sản phẩm

     

     

    Chỉ tiêu

    Tính chất

     

    Trạng thái

    Dạng bột mịn, đồng nhất, không bị vón cục

     

    Màu sắc

    Sản phẩm bột trà có màu kem, khi pha ra nước có màu nâu đỏ

     

    Mùi

    Sản phẩm còn giữ được mùi thơm thoảng của hồng trà,

     

    không có mùi khét, mùi lạ

       
     

    Vị

    Vị chát nhẹ, khi pha nước có vị ngọt dịu

    4. KẾT LUẬN

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số kết luận như sau:

     

    Trong quá trình trích ly trà bằng dung môi nước, nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian trích ly 40 phút là phù hợp.

     

    Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10% khi nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian 40 phút.

    Sấy phun ở nhiệt độ 170oC với tốc độ bơm nhập liệu 30% cho sản phẩm có tính chất cảm quan tốt, bột chè thành phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có chất lượng tốt.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Tài liệu tiếng Việt

    Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Hoàng Hiệp và Trịnh Thanh Hùng. (2017). Đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh (Camellia sinensis L.). Tạp chí Y – Dược học Quân sự, 4.

     

    Trịnh Xuân Ngọ. (2009). Nghiên cứu quy trình sản xuất nước giải khát từ chè xanh, chè đen. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2.

     

    Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư. (2009). Nghiên cứu trích ly polyphenol từ chè xanh vụn – Phần 1: Các yếu tố ảnh hưởng quá trình trích ly polyphenol. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 47(1).

     

    Nguyễn Văn Tặng. (2008). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình sản xuất trà Actisô dạng viên sủi bọt. Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, 2.

     

    Vũ Thy Thư, Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Thị Gấm và Giang Trung Khoa. (2001). Các hợp chất hóa học có trong chè và một số phương pháp phân tích thông dụng trong sản xuất chè ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Nông Nghiệp.

     

    1225

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    Hà Duyên Tư. (2016). Kỹ thuật phân tích cảm quan thực phẩm. Hà Nội: NXB Khoa học và Kỹ thuật.

     

    Hà Duyên Tư. (2001). Quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

     

    Phạm Thành Quân, Tống Văn Hằng, Nguyễn Hải Hà, Đỗ Nguyễn Tuyết Anh và Trương Ngọc Tuyển (2005). Trích ly polyphenol từ trà xanh sử dụng phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng. Hội Nghị Khoa Học và Công Nghệ lần thứ 9.

     

    1. Tài liệu tiếng nước ngoài

    Bavan D. S. (2005). Hot water soluble tea. United States Patent Application Publication. US 2005/0884566 A1.

     

    Clark A. V. and Zientara F. J. (1984). Process for the production of a soluble tea product. United States Patent, 4, 472-441.

     

    Lunder T. L. (1997). Preparation of cold-water-soluble instant tea. United States Patent, 5.

     

    Mehta S. S., Sukumar V. and Virkar P. D. (2001). Process for producing tea concentrates. United States Patent, 6.

     

    Pandey R. K. and Manimehalai N. (2014). Production of Instant Tea Powder by Spray Drying.

    International Journal of Agriculture and Food Science Technology, 5(3), 197-202.

     

    Santo J., Kurusu T. and Kondo N. (2007). Process for the preparation of instant tea. United States Patent, 4.

     

    Tuyen Chau Kha, Minh Nguyen and Roach, P.D., (2010). Effects of sparay drying conditions on the physicochemical and antioxidant properties of Gac (Momordica cochinesis) fruit aril powder. Journal of Food Engineering, 90(3), 471-479.

     

    Zhang L.M, Zhou J. F. and Peter S. Hui. (2005). A comparative study on viscosity behavior of water-soluble chemically modified guar gum derivatives with different functionl lateral groups. Jounal of the Science of Food and Ariculture, 85, 2638-2644.

     

    EFFECTS OF SOME SPRAY DRYING PROCESS PARAMETERS ON THE QUALITY OF INSTANT BLACK TEA POWDER

     

    Nguyen Quoc Sinh1*, Nguyen Thi Diem Huong1, Nguyen Thanh Thuan2 1Hue University – University of Agriculture and Forestry; 2College of Food Industry, Da Nang

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Instant black tea power is presently manufactured by spray drying of the extracted liquor from fully fermented tea leaves. In this study, effects of some process parameters on the quality of instant black tea powder by spray drying method were determined. The results showed that the extraction in water was strongly influenced by the extraction time and temperature. The optimum extraction conditions were found to be 85oC for 40min. Spray-dry added substance was maltodextrin at 10%. The spray drying operating conditions including inlet air temperature (170°C), feed flow rate (30%) were used for production of instant black tea power had an excellent sensory quality. In the instant black tea power, some quality factors were determined: moisture content 4,37% and polyphenol content 8,19%.

     

    Key words: Black tea power, extraction, polyphenol, spray drying, temperature.

     

    Received: 17nd March 2019               Reviewed: 27th March 2019               Accepted: 30th March 2019

     

    1226


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thuyết minh thi công

    Thuyết minh thi công

    Thuyết minh thi công

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/thuyet_minh_thi_cong_duong_ky_anh_6306.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thuyết minh thi công

                       Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

                                 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     

                                                                             Hà Nội, ngày 01  tháng 12 năm 2013

     

    THUYẾT MINH THI CÔNG

     

    Công trình: Thi công tuyến cống đoạn Km 587-Km 592.

    Dự án : Đầu tư xây dựng công trình mở rộng quốc lộ 1

    Gói thầu số 07 : Km 587+00 – Km597+549

    Địa điểm: Xã Kỳ Nam – Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh

    Nhà thầu phụ :

    I – Các căn cứ.

    – Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công của dự án đã được duyệt

    – Yêu cầu kỹ thuật của dự án.

    – Các qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam hiện hành

    – Giá ca máy thi công  và nhân công theo giá thực tế tại địa bàn Xã Kỳ Nam – Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh

    – Khối lượng thi công dự kiến theo đúng khối lượng trong bản vẽ thiết kế đã được duyệt, khối lượng thanh toán theo nghiệm thu tại hiện trường

    – Kết quả kiểm tra thực tế mặt bằng hiện tại công trình

    – Năng lực thực tế về con người và thiết bị của  Công ty CP thiết bị và phát triển hạ tầng và Công ty TNHH xây dựng Thiên Long.

    II – Biện pháp thi công thực tế

            Toàn bộ tuyến cống trải dài từ Km587 đễn Km 592, các cống bản khẩu độ lớn có dòng nước chảy xiết và lưu lượng lớn. Công trình vừa thi công vừa phải đảm bảo giao thông an toàn trên quốc lộ1. Tiến độ thi công rất ngắn, yêu cầu kỹ thuật cao.

          Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và thực tế hiện trường hai Nhà thầu phụ đề xuất phương án thi công tuyến cống như sau :

          Để đáp ứng tiến độ chung, toàn bộ tuyến cống do hai đơn vị  thầu phụ chia làm hai mũi cùng thi công là

         Nhà thầu chính triển khai công tác chuẩn bị cho công trình, chịu trách nhiệm làm việc trực tiếp với Chủ Đầu Tư và Tư Vấn Giám Sát và chính quyền địa phương về mọi vấn đề của dự án. Hai nhà thầu phụ chính thức bắt đầu thi công sau khi công tác chuẩn bị đã xong và có yêu cầu chính thức của nhà thầu chính.

    1-Công tác chuẩn bị

         Sau khi ký hợp đồng, Nhà thầu phụ sẽ tập kết nhân lực và thiết bị thi công. Nhà cho công nhân và kho chứa thiết bị thi công nhỏ sẽ do Nhà thầu chính cung cấp. Dự kiến bố trí hai khu lán trại tạm cho 2 đội thi công cống, từ Km587 đến Km 589 bộ trí 1 khu lán trại, từ Km 590 đến Km 592 bố trí 1 khu lán trại. Mỗi khu lán trại đảm bảo chỗ ở cho 20 người. Tại các vị trí thi công cống có tập kết vật tư Nhà thầu phụ sẽ bố trí bảo vệ ban đêm. Cống sẽ được thi công dứt điểm cuốn chiếu từng cái một.

         Nguồn điện và nước thi công Nhà thầu phụ sẽ tự cung cấp, tuy vậy Nhà thầu chính sẽ cố gắng tối đa để có nguồn điện lưới 3 pha nhằm giảm giá thành chung. Bãi đúc cấu kiện sẽ do Nhà thầu chính chuẩn bị và giao cho Nhà thầu phụ thi công. Nhà thầu phụ sẽ tính toán yêu cầu vật tư chi tiết cho từng vị trí cống để Nhà thầu chính cung cấp. Công tác đảm bảo an toàn trên tuyến quốc lộ 1, công tác thí nghiệm vật liệu đầu vào, công tác đo đạc định vị công trình do Nhà thầu chính đảm nhiệm. Dự kiến có hai đội thi công cống đồng thời, công tác đúc sẵn tiến hành song song với công tác thi công cống.

    2-thiết bị thi công:

    Nhà thầu phụ sẽ sử dụng các loại thiết bị sau:

    + Máy đào……………………… 01 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Ôtô vận chuyển……………. 01 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Đầm cóc……………………… 02 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Cần cẩu bánh lốp 10 T…..01 cáI ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Máy bơm nước…………….. 02 cái

    + Máy hàn …………………….. 02 cái

    + Máy trộn bê tông 250l….. 02 cái

    + Nhân công ………………….. 20 người

    + Máy phát điện………………. 01 bộ

    + Đầm bàn + dầm dùi………04 bộ

    + Búa căn khí nén…………..01 bộ

    + Máy nén khí ……………..01 bộ

    + Máy phát điện…………….01 bộ

    + Các dụng cụ cầm tay khác như máy khoan bê tông, máy mài

     

    3- Trình tự thi công chung:

         Công tác giải phóng mặt bằng của cống nào xong sẽ  thi công ngay. Thi công thành hai mũi song song với công tác đúc sẵn tại bãi đúc. Thi công dứt điểm từng cống để phục vụ công tác đắp đất.

    a – Chuẩn bị thi công: Các ống cống và đế cống được mua tại các nhà cung cấp chuyên nghiệp và vận chuyển về tập kết tại từng vị trí thi công cống.

    b – Đúc các tấm đan cống bản và các cấu kiện đúc sẵn khác tại bãi đúc công trường

    c – Đảm bảo giao thông trên tuyến bằng cọc tiêu có phản quang. Định vị vị trí cống trên tuyến đường.

    d – Thi công cọc lasen chống sụt lở làn đường đang lưu thông

    e – Phá dỡ các tường cánh, sân cống cũ bằng búa căn khí nén kết hợp nhân lực

    f – Đào đất nền móng cống bằng máy đào kết hợp thủ công đào san sửa hố móng.

    g – Thi công đê vây và lắp ống nhựa D 200 thoát nước tạm để hướng dòng và bơm khô nước hố móng.

    h – Thi công móng cống, lắp đặt đế cống. Thi công tường cống bản

    i – Cẩu lắp đốt cống và thi công mối nối. Thi công bê tông tại chỗ cống hộp

    k – Lấp đất mang cống. Cẩu lắp tấm đan, đắp đất sau cống, thi công bản giảm tải cống bản

    l – Thi công thượng, hạ lưu cống.

    m – Thanh thải đê vây, tháo ống nhựa D 200 cống tạm. Hoàn trả dòng chảy. Nhổ cọc ván thép và hoàn trả mặt bằng để đắp đất khu vực cống.

    4- Biện pháp thi công chi tiết.

    –        Công tác đúc sẵn :

        Công tác đúc sẵn các dầm bản cống bản và các cấu kiện đúc sẵn khác đước tiến hành tại bãi đúc. Tại đây bố trí máy trộn bê tông 250 l và các thiết bị khác đảm bảo dây chuyền đúc sẵn. Bãi đúc được lu lèn và láng vữa xi măng để đảm bảo độ phẳng theo yêu cầu.

    –        Thi công cọc lasen chống sụt đất:

           Sau khi định vị chính xác vị trí cống  tiến hành thi công đóng cọc lasen L=6m bằng búa rung 45 KW hoặc máy ép cọc ván thủy lực không tiếng ồn. Công việc này Nhà thầu chính làm.

    –        Công tác phá dỡ kết cấu cũ và đào đất.

    Phá dỡ kết cấu cũ bằng búa căn khí nén. Vật liệu thải được chở đi tập kết tại vị

    trí đổ thải qui định bằng ô tô 12 T. Đào đất bằng máy đào gầu 0,6 m3, đất thải tập kết tại vị trí đổ thải bằng ô tô 12 T. Nhân lực đào san sửa kết hợp với máy đào. Phần đào đất bằng máy đào do nhà thầu chính làm.

    –        Đắp đê quai dẫn dòng:

        Đắp đê quai, dẫn dòng hợp lý bằng cống tạm bằng ống nhựa D 200 đối với các cống đang phục vụ tưới tiêu, thoát nước ngang. Tùy theo lưu lượng nước chảy của từng cống để đặt 1 hoặc nhiều ống thoát nước tạm D 200. Vị trí tim đê quai cách mép ngoài công trình thượng hạ lưu tối thiểu 3 m. Bơm khô nước, đào san sửa hố móng đạt cao độ và kích thước yêu cầu, định vị chính xác vị trí cống  để thi công móng cống. Khi hố móng được  TVGS kết luận là đạt tiêu chuẩn về kích thước hình học, cao độ, độ bằng phẳng, địa chất ổn định … thì tiến hành vệ sinh sạch sẽ đáy móng cống. Tiến hành nghiệm thu kích thước hình học của đáy hố móng.

    –        Thi công móng cống, tường cống bản

         Móng cống được thi công khi hố đào được nghiệm thu kích thước hình học. Thi công lớp đá dăm lót và bê tông lót M 100 có chiều dày 10cm dưới ống cống và đệm sân cống. Ván khuôn để đổ bê tông được lắp ghép đúng yêu cầu kỹ thuật, được chống ngang đảm bảo độ vững chắc, kích thước hình học. Bề mặt ván khuôn phẳng nhẵn. Tiến hành đổ bê tông móng phạm vi tường đầu, tường cánh, chân khay. Bê tông móng cống M150 và bê tông tường cống bản được trộn bằng máy trộn 250L, mỗi mẻ trộn đều được ghi lại các số liệu vật tư dùng trộn bê tông, so sánh với số liệu của mẫu thiết kế. Máy trộn được kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ nhất là bên trong thùng trộn, không để các vật liệu khác lẫn vào.

          Thực hiện bảo dưỡng bê tông trong 7 ngày. Các mặt ngoài của bê tông được tưới nước và giữ độ ẩm muộn nhất là bắt đầu từ 10-12 tiếng sau khi đổ bê tông xong. Phần móng cống BTCT M200 nằm trong phạm vi ống cống được thi công ở xưởng đúc và lắp ghép nhờ cẩu 10T. Tiến hành nghiệm thu móng bê tông đổ tại chỗ và lắp ghép trước khi lắp đặt ống cống.

    –        Thi công lắp đặt ống cống và đổ bê tông tại chỗ cống hộp

         Định vị lại chính xác vị trí cống: Bằng máy cao đạc và kinh vĩ, chuyển sang các mốc phụ ở hai đầu cống để tiện cho việc thi công cũng như kiểm tra. Được phép của TVGS và Chủ Đầu Tư, hạ chỉnh ống cống bằng cẩu 10T vào vị trí, kết hợp với máy cao đạc và máy kinh vĩ để đảm bảo độ chính xác và kích thước hình học, độ dốc dọc… theo yêu cầu. Thi công mối nối ống cống bằng vữa XM M100, đệm và chèn vữa bê tông. Thi công mối nối ống cống giữa hai đốt cống bằng mối nối xi măng. ống được đặt cẩn thận, ống nối ngoài ở trên, gờ đầu ống được đưa toàn bộ vào ống nối ngoài bên cạnh. Trước khi đặt các ống tiếp theo nửa dưới của ống nối ngoài của đoạn trước được trát bằng xi măng vào bên ngoài. Với dộ dày thích hợp đem lại bề mặt trong của ống tiếp giáp bằng phẳng và đều đặn. Đồng thời nửa trên của gờ đầu ống của ống tiếp theo được trát bằng vữa để tạo đường vân quanh mối nối. Bên trong mối nối được hoàn thiện nhẵn, được bảo dưỡng bằng bao tải và giữ độ ẩm để tránh cho các mối nối bị khô, dẫn đến hiện tượng nứt khe nối thấm qua khe nối làm ảnh hưởng đến chất lượng của cống.

         Thi công tường đầu, tường cánh, bê tông cống hộp tại chỗ, sân cống bằng bê tông xi măng mác 150, đá hộc xây vữa xi măng M 100 đổ tại chỗ. Thi công móng cống và sân cống: Đá dăm làm lớp đệm móng cống, sân cống được vận chuyển về vị trí thi công bằng xe tự đổ 12T. Lớp đá dăm đệm được san xuống hố móng bằng thủ công theo từng lớp dày 10cm – 15cm, kích thước theo đúng hồ sơ thiết kế, tưới nước đảm bảo độ ẩm theo qui định và dùng đầm cóc, đầm bàn chặt tới độ chặt yêu cầu. Lớp đệm móng bảo đảm đúng kích thước, cao độ độ chặt thiết kế, bề mặt nhẵn phẳng, đồng đều.

        – Đắp đất quanh thân cống và hai bên cống:

         Đắp đất thành từng lớp có chiều dày 15 – 20 cm sau đó dùng đầm cóc kết hợp nhân công đầm chặt  đến K=0,95. Các lớp đất đắp được thi công song song ở hai bên mang cống. Đặc biệt quan tâm đến kỹ thuật lu lèn vật liệu đắp bù dưới lớp vòm cống. Đắp đất mang tường cánh, đầu cống chỉ được tiến hành khi kết cấu cống bê tông và khối xây đã đủ cường độ cho phép .

          Cẩu lắp dầm bản cống bản bằng cần cẩu 10 T. Sau khi thi công xong thanh chống phía dưới và lắp xong dầm bản tiến hành đắp đất sau mố cống bản và đổ bê tông bản quá độ.

    –        Thi công hoàn chỉnh thượng, hạ lưu cống:

          Cao độ, kết cấu của tường đầu, tường cánh cống được xác định chính xác bằng các loại máy cao đạc, bằng hồ sơ thiết kế và bản vẽ thi công đã lập. Chi tiết các kết cấu được xác định riêng cho từng cống. Đổ đá dăm đệm, xây đá hộc vữa XM 100, lát khan đã hộc và hoàn thiện thượng, hạ lưu cống theo đúng yêu cầu thiết kế.

    – Hoàn thiện cống và nghiệm thu công trình.

         Tiến hành thanh thải đê quai, thông dòng, tháo dỡ cống tạm, đắp trả lu lèn K95 theo bản vẽ thiết kế. Nhổ cọc ván thép lasen, thanh thải mặt bằng. Tiến hành vệ sinh xung quang cống. Nghiệm thu cống để đắp đất nền đường.

     

    5- Kỹ thuật thi công chi tiết

      a- Công tác ván khuôn – đà giáo

         Ván khuôn dùng cho đổ bê tông là ván khuôn thép được chế tạo sẵn. Các bản vẽ ván khuôn – đà giáo bằng thép dùng để đổ bê tông cống được Nhà thầu chính  trình lên  TVGS phê duyệt. Các kết cấu   đảm bảo vững chắc, ổn định, thuận tiện cho việc tháo lắp và sử dụng luân chuyển được nhiều lần.

          Trước khi đưa vào đổ bê tông kiểm tra kỹ bề mặt, đảm bảo bề mặt ván khuôn thép phẳng nhẵn, đảm bảo kín khít và không bị mất nước trong quá trình đổ bê tông.

          Các độ võng, độ lún của đà giáo và ván khuôn được tính trước và được chỉ ra trong bản vẽ, các thông số này phù hợp và đảm bảo yêu cầu cho phép.

          Khi lắp dựng xong ván khuôn, tiến hành nghiệm thu việc gia công lắp đặt với Kỹ sư TVGS nhà thầu chính, khi được chấp thuận mới được chuyển các công việc tiếp theo.

          Ván khuôn và đà giáo khi tháo dỡ được bắt đầu khi bê tông đã thành hình và đạt được cường độ cho phép như Quy trình ký thuật của Dự án và được sự chấp thuận của Kỹ sư Tư vấn giám sát.

    1. Công tác gia công lắp dựng cốt thép

          Căn cứ vào hồ sơ thiết kế nhà thầu sẽ gia công các loại cốt thép tại xưởng ngoài công trường, trước khi xuất xưởng sẽ sắp xếp cốt thép của từng lô theo chủng loại riêng biệt để phân biệt cho dễ.

          Các loại cốt thép mua về đều được sự chấp thuận của Kỹ sư TVGS cho phép sử dụng loại thép đó mới tiến hành tập kết về công trường và gia công.

          Cốt thép được lưu giữ và bảo quản trong nhà kho kín, tránh tiếp xúc với ánh sáng và thời tiết bên ngoài gây rỉ sét.

          Cấu kiện cốt thép được gia công xong, khi chưa sử dụng tới được bảo quản kỹ càng và cẩn thận tại kho có nền cao ráo, không bị ngập nước, không bị ẩm ướt, có mái che chắn để không bị mưa gió làm ảnh hưởng đến chất lượng cốt thép.

          Việc lắp dựng cốt thép sẽ tuân thủ theo đúng bản vẽ thiết kế, các bộ phận nào lắp trước, bộ phận nào lắp sau. Công tác cốt thép được thực hiện bởi công nhân có tay nghề cao dưới sự giám sát của kỹ sư hiện trường.

         Độ chính xác của việc gia công và lắp đặt cốt thép tuân thủ và đảm bảo đúng các quy định trong quy trình thi công cầu cống hiện hành.

    Kết thúc công tác cốt thép có biên bản nghiệm thu mới được tiến hành đổ bê tông.

    1. Công tác bê tông

           Bê tông được trộn bằng máy trộn 250L ngay, mỗi mẻ trộn đều được ghi lại các số liệu vật tư dùng trộn bê tông, so sánh với số liệu của mẫu thiết kế. Máy trộn được kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ nhất là bên trong thùng trộn , không để các vật liệu khác lẫn vào.

          Trước khi đổ bê tông, ván khuôn được làm sạch bôi trơn, chống dính và làm nhẵn bề mặt khi ván khuôn tiếp xúc với bê tông.

         Trước khi trộn cần lấy mẫu cốt liệu để kiểm tra độ ẩm thực tế nhằm khống chế lượng nước một cách thích hợp.

          Thực hiện đổ bê tông bằng máng rót và đầm bằng đầm dùi. Dùng thủ công gõ cạnh ván khuôn để đảm bảo độ nhẵn mịn phía ngoài thành. Bê tông được đổ vào máng từ phễu trộn đảm bảo độ rơi tự do không quá 1,00m.

         Trong điều kiện có mưa, việc đổ bê tông tạm dừng lại trừ khi có các biện pháp thích hợp như che bạt.

    1. Công tác xây đá hộc

           Đá hộc sử dụng xây trong công tác phải có nguồn gốc rõ ràng, đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định của Dự án và được TVGS đồng ý, cho phép sử dụng. Làm sạch tất cả các viên đá một cách kỹ lưỡng và làm ẩm trước khi xây. Vệ sinh bề mặt thi công sạch sẽ. Chiều dày vữa nền và mạch xây giữa các viên đá được tuân theo đúng  quy định kỹ thuật của Dự án. Đặt các viên đá phải được sao cho chúng tạo nên đường song song theo từng lớp. Các viên đá được xếp sao cho bề mặt lộ ra ngoài phải tuơng đối bằng phẳng.

          Trong quá trình thi công chú ý bịt các mối nối với các kết cấu liền kề để tránh hiện tượng xói và tạo thoát nước. Tại các nơi phải bố trí các mối nối xiên, đổ thẳng vữa vào các mối lộ và nền đến chiều sâu yêu cầu. Làm sạch bề mặt đá hộc xây khi vữa còn ướt.

    III – Thuyết minh tính toán đơn giá

        Khối lượng chào thầu theo đúng khối lượng trong bản vẽ thiết kế đã được duyệt, khối lượng thanh toán theo khối lượng nghiệm thu tại hiện trường.

            Đơn giá chào thầu được lập trên cơ sở định mức dự toán hiện hành có tham khảo đơn giá thực tế khoán nhân công và máy hiện nay trong ngành xây dựng cầu đường.

       Đơn giá chào thầu chỉ bao gồm chi phí nhân công và máy ( Chi phí trực tiếp ) không có chi phí vật tư chính và vật tư phụ và chưa có thuế VAT 10 %.

    • Đơn giá đắp đất, cẩu lắp cấu kiện: Nhà thầu chính cung cấp đầm cóc và cần cẩu 10 T nên trong đơn giá không tính chi phí máy.
    • Đơn giá gia công thép tròn : Nhà thầu chính cấp thép tròn, que hàn, giây buộc.
    • Công tác đào đất bằng máy do nhà thầu chính thực hiện, Nhà thầu phụ chỉ đào san sửa thủ công và chịu trách nhiệm đắp đê vây, lắp ống nhựa D 200 dẫn dòng và bơm nước, nhà thầu chính cấp ống nhựa D 200.
    • Trong công tác đổ bê tông nhà thầu phụ chịu trách nhiệm máy trộn, máy hàn, máy đầm, máy cắt uốn thép và ván khuôn.
    • Trong quá trình thi công Nhà thầu chính có yêu cầu bổ sung khối lượng hai bên sẽ thống nhất đơn giá bổ sung bằng phụ lục hợp đồng trước khi thi công.
    • Đơn giá nhân công công nhật cho công việc giản đơn sử dụng thợ phụ ( Bậc 3/7 ) là : 220.000 đ/ ngày.
    • Đơn giá bốc vật tư lên xuống ô tô từ kho : 120.000 đ/ tấn
    • Chi phí bảo vệ hiện trường tại vị trí thi công cống Nhà thầu phụ chịu trách nhiệm.
    • Lán trại thi công của mình do Nhà thầu phụ chịu trách nhiệm. Nhà thầu phụ tự chịu trách nhiệm tổ chức bếp ăn tập thể và sinh hoạt hàng ngày.
    • Chi phí chuyển quân, thiết bị do nhà thầu phụ lo.
    • Bãi đúc cấu kiện do Nhà thầu chính cấp vật tư và thuê nhà thầu phụ thi công.
    • Nhà thầu chính giao mặt bằng, cấp hồ sơ kỹ thuật, đo đạc định vị công trình. Nhà thầu chính cho nhà thầu phụ mượn máy thủy bình tự kiểm tra cao độ trong quá trình thi công.
    • Hồ sơ công trình, thí nghiệm vật liệu…vv do Nhà thầu chính làm, Nhà thầu phụ chỉ có trách nhiệm triển khai thi công trên cơ sở hồ sơ thiết kế, nghiệm thu công việc với Kỹ sư của Nhà thầu chính, Nhà thầu chính có trách nhiệm nghiệm thu với tư vấn giám sát và ban A và chịu các chi phí quan hệ khác.
    • Ngoài công việc của mình, Kỹ sư của nhà thầu phụ sẽ hỗ trợ tối đa các công việc khác trên hiện trường cũng như nội nghiệp theo yêu cầu của Nhà thầu chính. Hai bên sẽ kết hợp tối ưu trong công việc nhằm phục vụ công việc chung của Dự án.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-K%E1%BA%BET-C%E1%BA%A4U-V%C3%80-V%E1%BA%ACT-LI%E1%BB%86U-T%E1%BA%A0O-T%E1%BA%A4M-H%E1%BA%A4P-PH%E1%BB%A4-%C4%90%E1%BA%BEN-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-NHI%E1%BB%86T-C%E1%BB%A6A-B%E1%BB%98-THU-N%C4%82NG-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-M%E1%BA%B6T-TR%E1%BB%9CI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

     

    Đỗ Minh Cường*, Nguyễn Thị Ngọc, Trần Đức Hạnh, Đặng Duy Phước Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

     

    Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu khả năng nâng nhiệt của bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời với kết cấu và vật liệu khác nhau là hết sức quan trọng để có cơ sở khoa học tính toán lựa chọn vật liệu và kết cấu bộ thu hợp lý cho các thiết bị ứng dụng nhiệt năng lượng mặt trời. Với mục đích này, ba thí nghiệm đã được thiết lập: thí nghiệm 1 xác định ảnh hưởng các góc nghiêng (20, 30 và 40o); thí nghiệm 2 xác định ảnh hưởng các vật liệu (tôn sống V sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và tấm fibro ximăng màu xám không sơn); và thí nghiệm 3 xác định ảnh hưởng độ cao lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu năng lượng mặt trời. Các dụng cụ đo được sử dụng để xác định sự biến thiên nhiệt độ tại các vị trí xác định khi kết cấu và vật liệu thay đổi. Kết quả chỉ ra rằng trong bộ thu nhiệt không khí đối lưu tự nhiên, với cùng một diện tích thu nhiệt, kết cấu và vật liệu khác nhau cho khả năng thu nhiệt khác nhau: nhiệt độ không khí sau bộ thu tăng 3oC khi góc nghiêng lắp đặt bộ thu tăng từ 20o đến 40 o; Nhiệt độ không khí sau bộ thu sử dụng tấm hấp thụ là vật liệu tôn sống V sơn đen và tấm fibro sơn đen sai khác nhau không lớn và luôn cao hơn trường hợp sử dụng tấm fibro không sơn đen đến 17oC; Khả năng nâng nhiệt không khí của bộ thu tăng khi tăng chiều cao lắp đặt. Những kết quả này cần được chú ý khi ứng dụng các bộ thu nhiệt phẳng năng lượng mặt trời.

     

    Từ khóa: Bộ thu nhiệt, tấm fibro, năng lượng mặt trời, tôn sơn đen.

     

    Nhận bài: 18/03/2019        Hoàn thành phản biện:  26/03/2019                    Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Năng lượng mặt trời (NLMT) là nguồn năng lượng sạch, miễn phí và vô tận. Nó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sản xuất và ứng dụng nguồn nhiệt từ NLMT đã được ứng dụng từ lâu và đang là kỹ thuật đầy hứa hẹn nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng trên thế giới trong khi các nguồn năng lượng nhiệt khác đang ngày càng cạn kiệt.

     

    Hiện tại, đã có nhiều bộ thu nhiệt NLMT được nghiên cứu lắp đặt với nhiều lĩnh vực ứng dụng như bộ thu nhiệt cho hệ thống sấy hay sưởi ấm, bộ gia nhiệt nước nóng… trong đó bộ thu phẳng được ứng dụng rộng rãi bởi nó có cấu tạo đơn giản, tuy nhiên hiệu suất thu nhiệt thấp, được ứng dụng trong trường hợp cần nhiệt độ trung bình hoặc thấp, năng lượng từ bức xạ mặt trời làm nóng dòng khí hoặc dung dịch lỏng qua bộ thu được đưa đến các bộ trao đổi nhiệt khác (Garg và Adhikari, 1999; Belusko và cs., 2007).

     

    Nhiều nghiên cứu đã triển khai để nâng cao hiệu suất bộ thu như thay đổi vật liệu hấp thụ, tăng diện tích truyền nhiệt (Yeh và Ting, 1986; Khawagianh và cs., 2011; Goldstein và Sparrow, 1976; Gao và cs., 2000; Chaube và cs., 2005), thay đổi chiều dòng khí và sử dụng nhiều vách ngăn (Yeh và cs., 2000), hay thay đổi số kênh dẫn khí (Naphon, 2005); thay đổi vật liệu tấm hấp thụ (Singh và cs., 1982) để đo lường các thông số nhiệt, đặc biệt là nhiệt độ dòng khí sau bộ thu.

     

    1209

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    Hiện nay ở vùng nông thôn Việt Nam, tấm lợp fibro ximăng đang được sử dụng phổ biến bởi đây là tấm lợp có nhiều ưu điểm như bền với môi trường kiềm và axit, chịu mưa nắng tốt, không bắt cháy, không ồn và giá thành rất rẻ… Trong nghiên cứu này, tấm fibro ximăng được sử dụng để làm tấm hấp thụ trong bộ thu nhiệt, để so sánh với vật liệu tấm hấp thụ khác; kết cấu bộ thu cũng được thay đổi để đánh giá khả năng nâng nhiệt của nó, kết quả được phân tích, so sánh và đánh giá bằng thực nghiệm.

     

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Vật liệu nghiên cứu

    Ba bộ thu nhiệt (kích thước 1,0 x 0,5 x 0,1m) được chế tạo và lắp đặt để tiến hành thí nghiệm. Vật liệu chế tạo bộ thu gồm khung thép V liên kết hàn; cách nhiệt sử dụng xốp dày 0,05m; vật liệu tấm hấp thụ sử dụng tôn sống V sơn đen, tấm fibro sơn đen và không sơn; tấm đậy trong suốt sử dụng kính xây dựng dày 5mm. Mô hình thí nghiệm thể hiện trên hình 1a.

     

     

     

    Hình 1. Hệ thống thí nghiệm: a) Hình ảnh mô hình thí nghiệm; b) Các thiết bị đo lường.

     

    1. Tấm hấp thụ; 2. Tấm đậy trong suốt là kính xây dựng.

    2.2. Bố trí thí nghiệm

     

    Các thí nghiệm được tiến hành tại Trường Đại học Nông Lâm Huế, toạ độ địa lý là 107°31′ – 107°38′ kinh Ðông và 16°30′-16°24′ vĩ Bắc; Thời gian bắt đầu thí nghiệm vào lúc 9h00 đến 16h30 từ ngày 22 – 24 tháng 8 năm 2018.

     

    Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của góc nghiêng đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức ứng với 3 góc nghiêng (20, 30 và 40o) và 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

     

    Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các vật liệu khác nhau đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức ứng với 3 loại vật liệu (tôn sống

     

    • sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và tấm fibro ximăng màu xám không sơn) với 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

    Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng các chiều cao khác nhau đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức ứng với 3 chiều cao (0,2; 0,6 và 1,0m) với 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

     

    1210

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Bộ thu được đặt nghiêng theo hướng Nam. Khoảng thời gian mỗi lần đo là 30 phút; Sử dụng thiết bị đo nhiệt độ để đo nhiệt độ không khí đầu ra của bộ thu, nhiệt độ mặt kính và nhiệt độ mặt tấm hấp thụ, đo cường độ bức xạ mặt trời khi kết cấu và vật liệu của bộ thu được thay đổi.

     

    Trong quá trình thí nghiệm, cường độ bức xạ mặt trời, nhiệt độ, tốc độ không khí được xác định sử dụng các thiết bị (hình 1b) để đo cường độ bức xạ mặt trời Tenmars TN-206 – Đài Loan (độ chính xác 0,1 W.m-2); Thiết bị đo vi khí hậu EN100 – Đài Loan (độ chính xác 1,2oC); Thiết bị đo đa năng ADD81 để đo nhiệt độ qua cảm biến nhiệt (độ chính xác 0,1oC); Thiết bị đo nhiệt độ lazer Sealey VS905 – Anh (độ chính xác 0,1oC).

    2.3. Xử lý số liệu

     

    Số liệu thu thập được xử lý và thể hiện trên các biểu đồ sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel 2013, các kết quả được phân tích, so sánh, đánh giá.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1 Ảnh hưởng của góc nghiêng lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Các thí nghiệm được bắt đầu vào lúc 9h00 đến 16h30, khoảng thời gian mỗi lần đo là 30 phút; nhiệt độ không khí tự nhiên khoảng 30oC, trời nắng. Kết quả biến thiên nhiệt độ theo kết cấu bộ thu và cường độ bức xạ mặt trời thể hiện trên Hình 2, 3, 4.

     

     

    Hình 2. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ không khí sau bộ thu theo thời gian.

     

    Hình 2 cho thấy, cường độ bức xạ mặt trời tăng liên tục và nhanh từ 9h00 đến 12h30 và bắt đầu giảm dần từ 13h00 đến 16h30, cường độ bức xạ đạt cao nhất là 945W/m2. Kết quả thí nghiệm cho thấy biến thiên nhiệt độ không khí thu được sau bộ thu phụ thuộc vào góc nghiêng lắp đặt: góc nghiêng lắp đặt là 30o cho nhiệt độ cao nhất xác định từ 9h00 đến 11h30, tuy nhiên từ 12h00 đến chiều, nhiệt độ không khí sau bộ thu đạt cao nhất ở bộ thu có góc nghiêng lắp đặt là 40o; nhiệt độ không khí sau bộ thu thấp nhất (cả ngày) cho bộ thu có góc nghiêng là 20o so sánh với 30 và 40o nghiêng của bộ thu.

     

    Nhiệt độ không khí tự nhiên đo được cũng cho thấy tăng từ 9h00 đến 13h00, giảm từ 13h30 đến 16h30, trung bình cả ngày khoảng 30oC. Tốc độ gió tự nhiên rất thấp và thay đổi liên tục, tốc độ trung bình là 0,2 m/s.

     

    Nhiệt độ đo được tại mặt kính cũng biến thiên theo cường độ bức xạ mặt trời trong ngày (Hình 3). Kết quả cho thấy nhiệt độ mặt kính cao nhất khi góc nghiêng lắp đặt bộ thu là 20o và giảm dần khi góc lắp đặt tăng. Tuy nhiên sự sai khác này là không lớn, đặc biệt là lúc sáng sớm và chiều muộn.

     

    1211

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

     

     

    Hình 3. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian.

     

    Thí nghiệm cũng tiến hành đo nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ của bộ thu nhiệt. Kết quả cho thấy nhiệt độ cao nhất đo được là 78,2oC, cao hơn nhiệt độ không khí tự nhiên đến hơn 45oC. Có sự sai khác nhiệt độ giữa các tấm hấp thụ, tuy nhiên không lớn (khoảng 5oC) xác định tại thời điểm 12h30 và sự sai khác này giảm dần khi cường độ bức xạ giảm dần. Nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ của bộ thu nghiêng 20o cao nhất và thấp nhất với bộ thu có góc nghiêng 40o. Điều này chỉ ra rằng, khi có sự trao đổi nhiệt lớn hơn giữa dòng khí và bề mặt tấm hấp thụ do tốc độ đối lưu tự nhiên lớn hơn (bộ thu có góc nghiêng 40o) thì thu được nhiệt độ dòng khí cao hơn làm cho nhiệt độ tấm hấp thụ giảm; đối với bộ thu có góc nghiêng lắp đặt 20o cho nhiệt độ tấm hấp thụ cao hơn bởi tốc độ dòng khí đối lưu tự nhiên thấp dẫn đến sự trao đổi nhiệt giữa không khí và tấm hấp thụ hạn chế. Sự sai khác này không đáng kể khi sáng sớm và chiều muộn.

     

    Mặt khác góc nghiêng lắp đặt bộ thu có ảnh hưởng đến góc tới tia tới trực xạ BXMT đến bề mặt bộ thu, làm ảnh hưởng đến các thông số nhiệt của bộ thu.

     

     

    Hình 4. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ mặt tấm hấp thụ theo thời gian.

     

    3.2 Ảnh hưởng của vật liệu chế tạo tấm hấp thụ đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Thí nghiệm được tiến hành với 03 bộ thu có vật liệu tấm hấp thụ khác nhau (tôn sống

     

    • sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và không sơn), cùng góc nghiêng là 30o, cường độ BXMT cao nhất đạt 980 W.m-2, nhiệt độ không khí tự nhiên khoảng 30oC, tốc độ gió tự nhiên thấp và thay đổi liên tục. Kết quả thấy rằng nhiệt độ không khí sau bộ thu đo được biến thiên theo cường độ bức xạ mặt trời, có sự sai khác rõ rệt nhiệt độ không khí sau bộ thu khi vật liệu tấm hấp thụ khác nhau (hình 5). Đối với bộ thu sử dụng tấm hấp thụ là tôn sống V sơn đen và tấm

    1212

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    fibro ximăng sơn đen, sự sai khác nhiệt độ không khí sau bộ thu không lớn (4o) trong khi chênh lệch nhiệt độ không khí sau bộ thu giữa tấm hấp thụ fibro ximăng sơn đen (hay tôn sơn đen) và tấm fibro không sơn đen là rõ rệt (8oC). Kết quả cũng cho thấy sau 13h00, nhiệt độ dòng khí sau bộ thu sử dụng tấm hấp thụ tấm fibro ximăng sơn đen cao hơn tôn sống V, chỉ ra rằng khả năng lưu nhiệt của tấm fibro ximăng. Những kết quả này khẳng định rằng tấm lợp fibro ximăng có thể được ứng dụng trong chế tạo bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời, đặc biệt vật liệu này luôn có sẵn, giá thành rẻ, bền khi sử dụng với bức xạ mặt trời.

     

     

    Hình 5. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ không khí tại sau bộ thu theo thời gian.

     

    Khi đo nhiệt độ mặt kính theo thời gian trong ngày (hình 6), với bộ thu sử dụng tấm fibro ximăng sơn đen cho thấy nhiệt độ kính cao nhất và nhiệt độ thấp nhất khi tấm hấp thụ là fibro ximăng không sơn. Tuy nhiên, sự sai khác này là không lớn (4oC).

     

     

    Hình 6. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian trong ngày.

     

    Trong khi đó, chênh lệch khá lớn nhiệt độ mặt tấm hấp thụ cũng biến thiên theo thời gian trong ngày (hình 7) khi thay đổi vật liệu chế tạo tấm hấp thụ. Nhiệt độ cao nhất với tấm hấp thụ tôn sống V sơn đen (78oC) và thấp nhất với tấm fibro không sơn (57 oC). Khi cường độ bức xạ mặt trời giảm nhanh, nhiệt độ tấm fibro sơn đen cao hơn tôn sống V sơn đen và tấm fibro không sơn, điều này là bởi vì tấm fibro có thể lưu nhiệt lâu hơn tôn kẽm, kết quả này có thể phải được chú ý khi sử dụng bộ thu tấm fibro ximăng cho các thiết bị gia nhiệt không khí (thiết bị sấy), thời gian gia nhiệt (thời gian sấy) có thể được kéo dài khi mà cường độ bức xạ mặt trời giảm dần.

     

    1213

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

     

    Hình 7. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ mặt hấp thụ theo thời gian.

     

    3.3 Ảnh hưởng của chiều cao lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu, nhiệt độ dòng khí sau bộ thu, nhiệt độ mặt kính và mặt tấm hấp thụ được xác định. Kết quả thể hiện trên hình 8, 9 10.

     

     

    Hình 8. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ không khí tại sau bộ thu theo thời gian.

     

    Hình 8 cho thấy rằng khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu, nhiệt độ không khí sau bộ thu thay đổi theo. Tuy nhiên, sự thay đổi này không lớn khi sáng sớm và chiều muộn. Nhiệt độ không khí cao nhất thu được sau bộ thu khi chiều cao lắp đặt bộ thu 1,0m, và thấp nhất khi chiều cao lắp đặt bộ thu 0,2m. Trong thực tiễn, chiều cao lắp đặt bộ thu thường chi hai nhóm: nhóm bộ thu lắp đặt thấp dùng cho các thiết bị sử dụng nhiệt BXMT kiểu đối lưu tự nhiên, để giảm chiều cao thiết bị; và nhóm bộ thu lắp đặt cao ở trên thiết bị (thường lớn hơn 1,0 m) dùng cho các thiết bị sử dụng nhiệt BXMT kiểu đối lưu cưỡng bức. Nghiên cứu này chỉ ra tăng chiều cao lắp đặt bộ thu nhiệt cho nhiệt độ dòng khí sau bộ thu cao hơn. Kết quả này cần được chú ý khi thiết kế, chế tạo và lắp đặt hệ thống bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời.

     

     

    Hình 9. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian.

     

    1214

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Nhiệt độ tại mặt kính khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu chênh lệch không lớn, nhiệt độ cao nhất quan sát được khi chiều cao lắp đặt 0,2m, trong khi sự sai khác nhiệt độ tại mặt kính trong trường hợp chiều cao lắp đặt 0,6 và 1,0m không rõ rệt.

     

     

    Hình 10. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ tấm hấp thụ theo thời gian.

     

    Khi xác định nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ cho thấy rằng nhiệt độ thấp nhất quan sát được khi chiều cao lắp đặt bộ thu là 0,2m, trong khi nhiệt độ cao nhất ở trường hợp chiều cao lắp đặt bộ thu là 1,0m, sự sai khác nhiệt độ giữa trường hợp chiều cao lắp đặt 0,6 và 1,0m là không đáng kể.

     

    4. KẾT LUẬN

     

    Trong giới hạn hệ thống thí nghiệm đã được thiết lập, nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của góc nghiêng, vật liệu chế tạo và chiều cao lắp đặt bộ thu đến các thông số nhiệt độ của bộ thu. Kết quả chỉ ra rằng, khi thay đổi góc nghiêng bộ thu, nhiệt độ không khí đo được sau bộ thu tăng khi góc nghiêng tăng, tuy nhiên nhiệt độ tấm hấp thụ có chiều hướng ngược lại. Trong khi nhiệt độ tại mặt kính sai khác nhau không lớn. Tốc độ dòng khí không ổn định do tốc độ dòng khí tự nhiên không ổn định.

     

    Khi thay đổi vật liệu tấm hấp thụ, cho thấy rằng nhiệt độ không khí đo được sau bộ thu tôn kẽm cao nhất trong khi bộ thu tấm fibro xi măng không sơn có nhiệt độ không khí thấp nhất. Nhiệt độ tại mặt tôn tương tự, tuy nhiên nhiệt độ tại mặt kính đo được cho thấy nhiệt độ thấp nhất cho trường hợp bộ thu fibro xi măng không sơn đen. Thời gian lưu nhiệt của mặt hấp thụ tấm fibro ximăng lâu hơn.

     

    Khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu nhiệt, cho thấy nhiệt độ không khí sau bộ thu cao hơn khi tăng chiều cao lắp đặt bộ thu. Nhiệt độ kính sai khác nhau không lớn trong khi nhiệt độ mặt hấp thụ thấp nhất khi chiều cao lắp đặt thấp nhất.

     

    Có thể kết luận, đối với các bộ thu nhiệt không khí kiểu đối lưu tự nhiên, nên tăng góc nghiêng lắp đặt bộ thu (40o, theo kết quả trong nghiên cứu), tăng chiều cao lắp đặt và cần sơn đen tấm hấp thụ để nâng cao hiệu suất thu nhiệt của bộ thu; kết quả cũng chỉ ra có thể sử dụng tấm fibro xi măng là vật liệu hấp thụ trong các bộ thu nhiệt không khí. Những kết quả này phải được chú ý khi thiết kế, chế tạo bộ thu nhiệt không khí ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.

     

     

    1215

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGYISSN 2588-1256

    Vol. 3(2) – 2019

       

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Belusko M., Saman W. and Bruno F. (2008). Performance of jet impingement in unglazed air collectors. Solar Energy, 82, 389-398. doi: 10.1016/j.solener.2007.10.005

     

    Chaube A., Sahoo P. K. and Solanki S. C. (2006). Analysis of Heat Transfer Augmentation and Flow Characteristics Due to Rib Roughness over Absorber. Renewable Energy, 31, 317-331. doi:10.1016/j.renene.2005.01.012.

     

    El-khawajah M. F., Aldabbagh L. B. Y., Egelioglu F. (2011). The effect of using transverse fins on a double pass flow solar air heater using wire mesh as an absorber. Solar Energy, 85, 1479-1487. doi: org/10.1016/j.solener.2011.04.004.

     

    Gao W. F., Lin W. X. and Lu E. R. (2000). Numerical Study on Natural Convection Inside the Channel between the Flat-Plate Cover and Sine-Wave Absorber of a Cross-Corrugated Solar Air-Heater. Energy Conversation Management, 41, 145-151. doi: 10.1016/S0196-8904(99)00098-9.

     

    Garg H. P. and Adhikari R. S. (1999). Performance evaluation of a single solar air heater with n-subcollectors connected in different combinations. International Journal of Energy Research, 23, 403-414. doi:10.1002/(SICI)1099-114X(199904)23:5 <403::AID-ER488>3.0.CO;2-F

     

    Heat-Exchanger Configuration. ASME Journal of Heat Transfer, 98, 26-34. doi: 10.1115/1.3450464

     

    Naphon P. (2005). On the Performance and Entropy Generation of the Double-Pass Solar Air Heater with Longitudinal Fins. Renewable Energy, 30, 1345- 1357. doi: 10.1016/j.renene.2004.10.014

     

    Singh D., Bharadwaj S. S., and Bansal N. K. (1982). Thermal performance of a matrix air heater, 6, 103-110. doi: org/10.1002/er.4440060202

     

    Yeh H. M. and Ting Y. C. (1986). Effects of Free Convection on Collector Efficiencies of Solar Air Heaters. Applied Energy, 22(2), 145-155. doi: 10.1016/0306-2619(86)90078-4

     

    Yeh H. M., Ho C. D. and Lin C. Y. (2000). Effect of Collector Aspect Ratio on the Collector Efficiency of Upward Type Baffled Solar Air Heaters, Energy Conversation and Management, 41(9), 971- 981. doi:10.1016/S0196-8904(99)00148-X.

     

    EFFECTS OF STRUCTURE AND ABSORBER PLATE MATERIALS TO THERMAL PARAMETERS OF SOLAR AIR COLLECTOR

     

    Do Minh Cuong*, Nguyen Thi Ngoc, Tran Duc Hanh, Dang Duy Phuoc Hue University – University of Agriculture and Forestry

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Study on thermal parameters of air solar collectors with different structures and materials is very important to have a scientific basis for design solar devices. For these purposes, an experimental system has been set up, measuring devices are used to determine the temperature variation at certain locations in collector when structures and materials were changed. The results show that with the same air collector area, changing structure and materials of solar collector can be effected to the thermal parameter of solar collector as hot air temperature, glass temperature and absorber plate temperature. The results also show black fibro sheet can be used as good absorber material in design of the solar air collector. These results should be taken into account when applying air flat solar heat collectors.

     

    Key words: Solar air collector, fibro sheet, solar energy, black iron tole

     

    Received: 18th March 2019              Reviewed: 26th March 2019                    Accepted: 30th March 2019

     

    1216

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-T%C3%8DCH-B%C3%80I-TH%C6%A0-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-L%C3%81I-%C4%90%C3%92-S%C3%94NG-%C4%90%C3%80-C%E1%BB%A6A-NGUY%E1%BB%84N-TU%C3%82N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

     

    NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

     

    Bài làm

     

    Cái nhan đề Người lái đò sông Đà ùa vào ta một liên tưởng kép: Nguyễn Tuân xưng tụng ông lái đò tài hoa trí dũng trên dòng sông thiên nhiên bạo liệt, còn ngôn ngữ Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông lái bậc thầy con thuyền chữ trên một dải sông văn không kém thác ghềnh. Bài ca lao động và bài ca ngôn từ song hành trong một áng kí lạ. Thì chính Nguyễn Tuân đã hạ bút ngay từ khúc dạo đầu: “Chúng thuỷ giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu” (Mọi con sông đều chảy về đông, chỉ có sông Đà ngược bắc).

     

    Câu đề từ của Nguyễn Tuân vừa thâu tóm lấy cái thần sông Đà, vừa tóm luôn cái thần chữ của mình. Một mặt bắc lưu là sự cưỡng lại đông tẩu, cái riêng độc đáo là sự cưỡng lại sức xói mòn của cái chung nhàm cũ. Mặt khác, bắc lưu chỉ tồn tại trước đông tẩu, cái riêng độc đáo chỉ tồn tại trước cái chung khi nó đồng nghĩa với cái cao hơn sự khác lạ là cái sáng tạo (tức là cái độc đáo phải trở thành cái riêng mang giá trị). Phi giá trị, cái riêng hóa trò chơi duy mĩ. Đó là nguyên tắc của phép lạ hóa văn chương, để vừa chối bỏ sự nhàm lặp của cái chung, vừa hội nhập với cái chung mang giá trị văn chương bền vững. Còn nguyên tắc riêng của phép lạ hóa ngôn ngữ Nguyễn Tuân? Trong kho từ vị Việt, ngôn ngữ mang bản tính nguyên thủy của một vật liệu tĩnh, lạnh, khá ổn định. Tài năng nghệ sĩ là biết vung cây gậy thần biến nó thành chất liệu động và nóng, phập phồng sự sống. Nổi trội trong các tài năng, văn Nguyễn Tuân là thứ ngôn từ nóng giẫy sự sống. Có thể coi bài kí sông Đà này là cuộc thí nghiệm tâm đắc của ngôn ngữ nóng Nguyễn Tuân. Đầu tiên, sức nóng ngôn ngữ Nguyễn Tuân cũng tìm được một đối tượng “nóng”: sông Đà. Con sông độc lạ ấy thật thích hợp với một ngòi bút độc lạ. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy, tưới linh hồn vào nó, và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào đó: “hung bạo và trữ tình”. Nếu chỉ có một vế, con sông sẽ lười nhác trong đơn giản. Tính cách sông Đà phải là một hệ thống những phẩm chất đối chọi nhau như nước với lửa, và phải từ những nghịch lí nghịch âm ấy, con sông mới có điều kiện phô bày hết vẻ phức tạp phong phú, đầy hấp dẫn của mình. Đầu tiên là con thác – tâm điểm dữ dội của sông Đà. Nước dữ, đã đành. Đá cũng dữ. Đúng ra là do đá dữ mà nước dữ. Vậy thì cần phải dựng đá dậy cho lộ bản chất của nó ra. Và Nguyễn Tuân hạ một so sánh đắc địa: “Một hòn (đá) ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến”. Trong công thức A = B của so sánh, cái độc lạ của Nguyễn Tuân chủ yếu tỏa sắc ở vế B. Trong câu văn trên, ông chêm động từ hất hàm vào B để mang đến cho nó một năng lượng sống, đủ khả năng truyền hồn vào đá vô tri, rọi một cái nhìn đậm tính điêu khắc vào thói du côn của thiên nhiên man dại. Nhưng gây cảm giác “chết người” nhất là cái hút nước. Nguyễn Tuân tả hình ảnh những cái thuyền bị dòng sông nuốt vào bụng, gợi cảm giác

     

    lạnh người: “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác

     

    • khuỷnh sông dưới”. Người ta nói văn Nguyễn Tuân là thứ văn ham cảm giác mạnh, có lẽ vì thế mà cái hút nước hiểm nguy kia trở thành một đam mê dưới ngòi bút của ông. Ông tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh người đọc bằng cách bắt họ phải tự “chiêm nghiệm” cái cảm giác lạ lùng này: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà, – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre- plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đành phèn”. Hình ảnh những cái thuyền bị cái hút nước nuốt chửng, hình ảnh cái hút nước như một cái giếng xây bằng nước sông đang xoay tít… tạo nên ở người đọc một cảm giác hình hết sức mạnh mẽ. Họ bị đặt vào trong cuộc, và cảm thấy bối rối vì khó bứt thoát khỏi những ám ảnh đầy ma lực mà ngôn từ Nguyễn Tuân truyền tới họ. Và đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần, gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hàng bao thế kỉ.

     

    Cảm giác hình gắn với cảm giác âm nên ám ảnh của văn Nguyễn Tuân càng mạnh. Ở đây, người đọc lại hứng khởi nhận ra một đặc điểm khác của văn Nguyễn Tuân: những câu văn của ông thường liên kết trong một tính liên hoàn giàu giá trị thẩm mĩ, có khả năng thôi miên người đọc trong một chuỗi dây chuyền liên tưởng ngỡ như vô tận. Tả cái thác nước, Nguyễn Tuân viết: “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Đúng là một cảnh tượng man rợ như thời tiền sử. Để dò hết năng lượng thẩm mĩ của câu văn, liên tưởng của người đọc phải nối nhau trong cơ chế ba chặng: tiếng thác (rống) – tiếng trâu mộng (lồng lộn) – tiếng rừng lửa (gầm thét). Liên tưởng của Nguyễn Tuân rất lạ: âm thanh thác được động vật hóa thành tiếng gầm “trâu mộng”, nhưng cao tay nhất là lấy tháclửa (hỏa) gây một bất ngờ thẩm mĩ. Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Nguyễn Tuân còn chạm bút tới cái hút nước một lần nữa: “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Hai chữ “ặc ặc” mô phỏng rất tài thứ âm thanh quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại. (thủy) so sánh với Mặt thứ hai của sông Đà là trữ tình. Để lột tả đặc tính này của sông Đà, Nguyễn Tuân rất tâm đắc với những so sánh.

     

    Mỗi so sánh chứa đựng một góc nhìn độc đáo, đầy tính phát hiện của nhà văn trước đối tượng thẩm mĩ của mình. Sông Đà như loài thủy quái với những nanh vuốt nơi mặt ghềnh, hút nước và thạch trận dữ hiểm, được nhà văn ví như “kẻ thù số một” của con người. Song những so sánh đam mê nhất của Nguyễn Tuân là dành cho một Đà giang trữ tình: “Cái dây thừng ngoằn ngoèo” dưới chân người ngồi trên tàu bay nhìn xuống, cái “áng tóc trữ tình

     

    • ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”; rồi lại “như một cố nhân” trong nỗi niềm du khách, như “cái miếng sáng lóe lên” trong trò chiếu gương con trẻ, như “một bờ tiền sử”, như “một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”… Những so sánh biến hóa không trùng lặp, luôn gây men bằng những đột ngột, người đọc sửng sốt vì những so sánh lạ lẫm, gây đứt quãng liên tưởng, để rồi thán phục nhận ra không thể so sánh hay hơn, đúng hơn, và cứ thế bị thôi miên vào mê hồn trận của những so sánh ăm ắp tràn bờ… Vẻ đẹp ngôn ngữ Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho. Nhà văn phải lao động cật lực, trong đó có khổ công quan sát. Liệu đã mấy ai đủ công phu quan sát những biến đổi tinh vi đến thế của sông Đà, với mùa xuân thì “dòng xanh ngọc bích” mùa thu thì “lừ lừ chín đỏ”, giữa hai mùa ấy là cái “màu nắng tháng ba Đường thi”… Sông Đà giàu ám ảnh trở thành nỗi nhớ thật da diết của con người. Một sông Đà góc cạnh như thế ắt cần một đối tượng giao tiếp tương xứng cỡ ông lái đò. Hình như Nguyễn Tuân tô đậm sức hấp dẫn của sông Đà là để ngầm đề cao chính ông lái đó tài ba, nghệ sĩ này chăng. Để tiếp ông khách không vừa này, sông Đà “bày thạch trận trên sông” với một thế trận bài bản theo kiểu binh pháp Tôn Tử: nào là cửa tử, cửa sinh, đánh vu hồi, đánh du kích, đánh mai phục, đánh giáp lá cà…

     

    Sông Đà còn lắm mưu nhiều kế bày bao nhiêu mẹo lược và sự nham hiểm để sẵn sàng bóp chết con người. Ông lái đò thì nhỏ bé nhưng lại sừng sững hiện lên như một viên tướng trí dũng song toàn trước con thủy quái khổng lồ kia, với tư thế của kẻ đã nắm chắc “binh pháp của thần sông thần đá”. Để miêu ta cuộc giao tranh giữa người và thác dữ, Nguyễn Tuân có ngón chơi động từ độc đáo. Trong dăm trang kí, ông tốc tới ngót 300 động từ để đủ sức ganh tài cùng con nước cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường. Tần số động từ đậm đặc nhất là ở trường đoạn hỗn chiến giữa người và sông nước, khiến người đọc nghẹt thở. Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn thịnh nộ sông Đà: “rống lên, nhổm cả dậy, vồ lấy, đánh khuýp, reo hò, thúc, đội, túm, lật ngửa, bóp chặt… Phía ông lái, động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡi hổ tung hoành: nắm chặt, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh, lái miết, đè sấn, chặt đôi, phóng thẳng, chọc thủng… Hai hệ thống động từ đối chọi, tương phản gay gắt, nhưng đọc kĩ, vẫn thấy nổi lên thế chủ động, thế lấn lướt của ông lái đò. Hãy xem tiếp động từ phát huy sức mạnh như thế nào trong đoạn văn sau đây của Nguyễn Tuân: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghi cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải

     

    nước bên bờ liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn mày, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến…”. Quả là một bức tranh chiến trận hào hùng, ngôn ngữ Nguyễn Tuân hả hê tụng ca con người trong cuộc quyết đấu với thiên nhiên để giành sự sống. Văn Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp của sự tổng hòa văn hóa. Nàng văn của ông thật quảng giao đón du khách từ bốn phương trời kiến thức: lịch sử, địa lí, quân sự, võ thuật, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… Những kiến thức liên ngành đa dạng ấy tạo bề dày uyên bác trong vốn tri thức của nhà văn, nâng cho đôi cánh tài hoa bay bổng. Có thể coi Nguyễn Tuân là người đã nắm vững “binh pháp của ngôn ngữ”. Với một ý thức ngôn từ mới mẻ, hiện đại, Nguyễn Tuân đã truyền hồn cho chữ, chữ truyền hồn cho dòng sông, và dòng sông truyền xúc cảm vào người đọc. Song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn. Nhiều người từng than phiền văn Nguyễn Tuân cầu kì, rắc rối. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân tự nhận xét: “Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng. Đọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng. Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được” (Đôi tri kỉ gượng). Nay ngôn ngữ Nguyễn Tuân là ngôn ngữ của một công dân đầy trách nhiệm trước một nước Việt Nam mới. Ông lái Nguyễn Tuân đã chở con đò chữ không chỉ bằng bàn tay khéo dùng từ, đặt câu mà còn bằng tình yêu tha thiết thiên nhiên và con người lao động xây dựng cuộc đời. Xin chiêm ngưỡng tấm lòng thơ của nhà văn ẩn trong câu văn òa ập nỗi niễm này: “Nói chuyện với người lái đò, như càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước”.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ngh%E1%BB%8B-lu%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-tu%E1%BB%95i-tr%E1%BA%BB-v%C3%A0-t%C6%B0%C6%A1ng-lai-%C4%91%E1%BA%A5t-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

    Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước

     

     

     

    Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng biết rằng tuổi trẻ là một thành phần, yếu tố quan trọng , ảnh hưởng đến tương lai đất nước, vì thế mà Bác đã căn dặn:

     

    “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt nam có bước đến đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em”. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước.

     

    Tuổi trẻ là những công dân ở lứa thành niên, thanh niên… là thế hệ măng đã sắp thành tre, là người đã đủ điều kiện, đủ ý thức để nhận biết vai trò của mình đối với bản thân, xã hội.

     

    Tuổi trẻ của mỗi thời đại là niềm tự hào dân tộc, là lớp người tiên phong trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước.

     

    Tương lai đất nước là vận mệnh, là số phận của đất nước mà mỗi công dân sẽ góp phần xây dựng, phát triển, trong đó quan trọng nhất là thế hệ trẻ. Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá kinh tế, đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì đòi hỏi sự chung sức đồng lòng của tất cả mọi người mà lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ. Bởi đó là lực lượng nồng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho non sông Tổ quốc. Tuổi trẻ hôm nay là tôi, là bạn, là những anh chị đang có mặt trên giảng đường đại học,đang hoạt động bằng cả tâm huyết để cống hiến sức trẻ với những đam mê cùng lòng nhiệt tình bốc lửa. Tuổi trẻ tốt thì xã hội tốt, còn xã hội tốt sẽ tạo điều kiện cho tầng lớp trẻ phát triển toàn diện, sinh ra những người con có ích cho đất nước, đó là điều tất yếu, hiển nhiên mà ai cũng biết.

     

     

     

     

    Mỗi người chúng ta cũng đi qua thời tuổi trẻ- tuổi của sức mạnh phi thường, của cái tuổi không chịu khuất phục trước khó khăn và sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Sức mạnh vô sông của tuổi trẻ “ sông kia phải chuyển, núi kia phải dời”. Chúng ta chỉ có một lần trong đời là tuổi trẻ vì vậy cần phải nắm bắt, cần đóng góp sức lực cho đất nước.

     

    Việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của mọi người, mọi công dân chứ không phải của riêng ai. Nhưng với số lượng đông đảo hàng chục triệu người thì lẽ nào tuổi trẻ lại không thể xây dựng đất nước. Chẳng lẽ chúng ta để cho những cụ già đi khuân vác, lao động nặng, những phụ nữ phải ngày đêm làm việc trong các nhà xưởng đầy khói bụi, những trẻ em phải phụ giúp gia đình ngay còn nhỏ mà “quên” đi việc học hành, lúc đó chúng ta sẽ “làm” gì? Chẳng lẽ ngồi không như một “người bị liệt”. Vì vậy chúng ta phải cố gắng xây dựng đất nứơc như lời dặn của Bác: “ Các vua Hùng đã có công dựng nước, thì Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

     

    Sinh ra ở đời ai cũng khao khát được sống hạnh phúc, sung sướng. Mỗi người luôn tìm cho mình một lẽ sống hay nói đúng hơn là lý tưởng sống. Là chủ nhân tương lai thì chúng ta phải xác định cho mình lý tưởng sống phù hợp, đúng đắn. Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá như hiện nay thì tuổi trẻ chúng ta lại đứng trước một câu hỏi lớn : “ Sống như thế nào là đúng đắn là có ích cho xã hội?” Vì lý tưởng sống của chúng ta là động lực thúc đẩy đất nước phát triển.

     

    Và thời nào cũng vậy, thế hệ trẻ luôn là lực lượng tiên phong, xong pha vào những nơi gian khổ mà không ngại khó.Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong thời kì kháng chiến. Những người con đất nước như: Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám… đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc.Đây là những thanh niên của hơn 40 năm trước còn lớp thanh niên ngày nay thì sao?

     

     

     

     

    Vâng. Cách bạn ạ! Chúng ta nên biết một điều: những thế hệ trước đã dâng hiến xương máu để ngày sau độc lập thì chúng ta phải biết “ cùng nhau giữ nước” và nối tiếp , kế thừa truyền thống cao đẹp đó. Và một điều quan trọng là các bạn đừng nghĩ đó là nghĩa vụ để rồi miễn cưỡng thực hiện. Chúng ta phải hiểu rằng: được sinh ra là một hạnh phúc và sống tự do, no đủ là một món quà quý báu, vô giá mà quê hương xã hội đã ban tặng. Hạnh phúc không tự nhiên mà có mà đó xương máu, tâm huyết của biết bao người con của đất nước.Mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh lịch sử mà thanh niên nuôi dưỡng những ước vọng, suy nghĩ riêng. Chúng ta không được bác bỏ, phũ nhận quá khứ hay công sức của những anh hùng dân tộc. Đơn giản là vì mỗi thế hệ đều có sứ mệnh riêng, nhận thức riêng mà chúng ta không nên so bì, tính toán. Vì vậy: “Không có chuyện lớp trẻ ngày nay quay lưng với quá khứ” (như tổng bí thư Đỗ Mười nói)

     

    Nhưng tuổi trẻ chúng ta có điều kiện gì để xây dựng đất nước? Vâng, đó chính là học tập. Nói đến tuổi trẻ hôm nay là nói đến việc học hành.. Trong cuộc sống ta gặp không ít trường hợp xem việc học là việc khổ sai chỉ do cha mẹ, thầy cô thúc ép, chứ không ham học. Họ xem đi học như một hình thúc giải khuây cho vui nên không cần học tập, coi học học tập là một nỗi nhọc nhằn.Có người lại coi việc học là để ứng phó với đời, để không xấu hổ với mọi người, để có “bằng cấp” mà hãnh diện với đời, dù đó chỉ là “hàng giả” mà thực lực không làm được.Chúng chẳng những không đưa nước ta “sánh kịp với cường quốc năm châu” mà còn đưa nước ta về lạc hậu, lụn bại. Cách duy nhất là phải học chân chính, học bằng khả năng của mình.Bước vào thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì ai nắm được tri thức thì mới có thể xây dựng đất nước, lèo lái chiếc thuyền số phận của non sông Tổ quốc.Và nhiệm vụ của chúng ta phải học, học nũa, học mãi. Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để chúng ta dễ dàng tiếp cận tri thức thì tương lai dân tộc

     

     

     

     

    mới sáng lạn, lấp lánh hào quang.

     

    Tóm lại, tuổi trẻ là người sẽ quyết định tương lai đất nước sau này.Tuổi trẻ nước ta đầy rẫy nhân tài sẽ góp phần cho dáng hình sứ sở. Ngay từ hôm nay, tôi, bạn và tất cả mọi người phải cố gắng học tập để sau này có thể giúp nước ta tiến nhanh trên con đường xây dựng và phát triển nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

     

     

    * Chú ý:

     

    -Trong bài còn nhiều chỗ thiếu sót, trùng lấp cần lựa chọn cho phù hợp

     

    -Nhấn mạnh mối quan hệ tương tác của tuổi trẻ và tương lai ( tuổi tẻ tốt thì xã hội tốt, xã hội tốt tạo điều kiện cho tuổi trẻ phát triển toàn diện) -Thêm 1 số ý sáng tạo

     

    + Định hướng phát triển của giới trẻ là phải học

     

    +Làm thế nào để thật sự giúp ích cho đất nước, là người hữu dụng +Nhận đinh về từng phương diện ( học tập, lao động, kinh tế, điện ảnh, an ninh- quốc phòng …)

     

     

     

     

     

    Dựa theo văn bản “Chiếu dời đô” & “Hịch tướng sĩ” nêu vai trò người

    lãnh đạo.

     

     

     

     

    Đất nước ta có những triều đại vững bền và phát triển, là nhờ vị vua như Lý Công uẩn nười đã sáng lập ra vương triều nhà Lý và tướng Trần Quốc Tuấn, vị tướng tài giỏi hai lần chỉ huy nhân dân ta chiến thắng quân Mông Nguyên. Vì vậy văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ” đã nói lên vai trò quan trọng của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công Uẩn và Trần Quốc

     

     

     

     

    Tuấn đối với vận mệnh đất nước

     

     

     

    Vậy thế nào là vị lãnh đạo anh minh? Vị lãnh đạo anh minh là những vị vua, vị tướng yêu nước thương dân, hết lòng chăm lo cho vận mệnh đất nước, cuộc sống của muôn dân, những vị vua, vị tướng thông minh tài gỏi, nhìn xa trông rông, có tài lãnh đạo, điều binh khiển tướng.

     

     

    Lý Công Uẩn là vị vua anh minh vì ông là vị vua yêu nước thương dân.

     

     

     

    Sau khi lên ngôi vua, việc đâu tiên mà ông nghĩ đến là việc dời đô. Vì theo sử sách nhà Chu, nhà Thương, vhua Bàn canh nhiều vần dời đô cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Đó chính là việc làm của vị vua yêu nước thương dân.

     

     

    Khi nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, không dời đô cho nên triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ hao tốn, điều đó đã khiến Lý Công uẩn rất đau xót. Đó là tấm lòng yêu nước của Lý Công Uẩn, đau xót trước vận mệnh ngắn ngủi của những triều đại đã qua.

     

     

    Lý Công Uẩn là vị vua anh minh vì ông là một vị vua thông minh tài giỏi.

     

     

     

    Ông thông minh tài hỏi nên ông có thể xìn thấy được thành Đại La hội đủ yếu tố, xứng đáng một kinh đô bậc nhất, đế vương muôn đời. Thành Đại La

     

    • vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng nơi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà bằng phẳng đất cao mà tháng…. Quả là Lý Công Uẩn có cái nhìn thật sáng suốt.

     

     

     

     

    Ông thông minh tài giỏi nên ông được tôn lên làm vua, ông là người sáng lập nên vương triều nhà Lí.

     

    Trần Quốc Tuấn là vị tướng anh minh vì ông là vị tướng yêu nước thương nhân.

     

    Khi bọn giặc sang xâm lược, cướp bóc, bắt nạt tể phụ, ông vô cùng căm ghét, ông quyết tâm giết giặc:”Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm nằm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước bắt đầm đìa, chỉ tước chưa được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thì. Dẫu cho trâmthan6 này phơi ngoài nội cỏ, ngìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng.”

     

     

    Trần Quốc Tuấn là vị tướng giỏi nên ông nêu ra những tấm gương trung thần nghĩa sĩ để khúc lệ tướng sĩ xả thân vì nước.

     

    Sự tài giỏi của ông thể hiện ở khi ông nhìn thấy và phân tích cho tướng sĩ thấy lối sống sai hưởng thụ của các tướng sĩ sẽ dẫn đến mất nước, để tướng sĩ từ và và theo ông học binh thư yếu lược và rèn luyện võ nghệ, chiến thắng kẻ thù xâm lược.

     

     

    Qua hai văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ” đã nêu lên vai trò quan trọng của những người lãnh đạp anh minh như Lý Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn. Họ là những vị vua, vị tướng đánh kính, đáng tự hào.

     

     

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-V%C3%80I-V%C3%8D-D%E1%BB%A4-V%E1%BB%80-PH%C3%82N-T%C3%8DCH-V%C4%82N-H%E1%BB%8CC.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Ví dụ thứ nhất: Phân tích bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện

    Thanh Quan.

    – “Những bài làm văn mẫu lớp 11”, mở bài viết:

     

    “Hoài cổ” là nhớ xưa. “Thăng Long thành hoài cổ” là trước cảnh thành Thăng Long nhớ về xưa. Nguyễn thị Hinh quen gọi là Bà Huyện Thanh Quan, quê làng Nghi Tàm ven Hồ Tây, là người Thăng Long, đất kinh kỳ bao đời. Bà lại có học thức và lịch duyệt. Trước những thăng trầm của đất nước ở thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, nhìn cảnh Thăng Long, bà động lòng nhớ cổ thương kim là chuyện dĩ nhiên và dễ hiểu:

     

    “Tạo hóa gây chi cuộc hý trường,

     

    Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.

     

    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

     

    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

     

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

     

    Nước còn cau mặt với tang thương.

     

    Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

     

    Cảnh đến người đây luống đoạn trương”.

     

    Chữ nghĩa bài thơ đã khái quát cả thời đại non một kiếp người. Sự suy thoái của chế độ phong kiến Đàng ngoài lẫn Đàng Trong đã đến tận cùng: bế tắc, phản động,

     

    sụp đổ. Sụp đổ rồi gượng dậy, để đi đến phản động hơn và cuối cùng là đầu hàng, mất nước.

     

    • Bài “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan, chỉ đọc qua một lần, nhưng cái điệu thơ, hồn thơ làm ta bâng khuâng mãi:

     

    “Tạo hóa gây chi cuộc hý trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

     

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

    Cảnh đất người đây luống đoạn trường”.

     

    Nữ sĩ sống trong nửa đầu thế kỷ 19 ở nước ta. Bà chỉ để lại khoảng 6 bài thơ Nôm, thể thất ngôn bát cú Đường luật. “Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Thăng Long thành hoài cổ”, “Chùa Trấn Bắc”… là những bài thơ tuyệt bút. Ngôn ngữ trang nhã, giọng thơ du dương, điệu thơ chậm và buồn, màu sắc cổ kính, tài hoa… là phong cách thơ của nữ sĩ.

    Làng Nghi Tàm ven Hồ Tây là quê cha đất tổ của Bà Huyện Thanh Quan: xuất thân trong một gia đình quý tộc đời Lê, nên Thăng Long mãi mãi đẻ lại trong tâm hồn nữ sĩ những tình cảm vô cùng sâu sắc. Đầu thế kỷ 19, Phú Xuân trở thành kinh đô cảu triều Nguyễn, Thăng Long được đổi thành Hà Nội. Nôi niềm tâm sự nhớ xưa kinh thành Thăng Long là nỗi niềm của người đi xa. Có thể Bà Huyện Thanh Quan viết bài

     

    thơ này trong thời gian làm nữ quan “Cung trung giáo tập” tại Phú Xuân, những tháng ngày xa cố hương, xa nơi nghìn năm văn vật(?)”.

     

    • Tác giả bài số 32 cuốn “Giảng văn văn học Việt Nam” đã viết mở bài như sau: “Lại một bức tranh thuỷ mặc với mấy nét chấm phá không phải về một buổi trời

     

    chiều mà là về một bức tranh cổ: Thành Thăng Long xưa. Nếu gọi “Chiều hôm nhớ nhà” mang nặng tình non nước là có phần chưa thật thoả đáng thì với “Thăng Long thành hoài cổ” chúng ta được chứng kiến cái thế giới hoài cổ của nữ sĩ khi viết bài này. Ai cũng đều biết: đế đô Thăng Long từ triều Lý đến triều Hậu Lê đã ngót 800 năm lịch sử bi hùng. Lúc Gia Long lên ngôi (1802) lấy Huế làm kinh đô và đến triều Minh Mệnh thì đổi tên cựu đô Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Chưa biết lúc Bà Huyện Thanh Quan vào tân đô nhận chức Cung trung giáo tập dưới thời Minh Mệnh thì Thăng Long đã đổi thành Hà Nội chưa? Chắc chắn bài thơ này ghi lại sự kieenj trọng đại kể trên đã làm xúc động các cựu thần củ a tiên triều và nhân dân cả nước. Quả thật, “Thăng Long thành hoài cổ” (Nhớ Thăng Long xưa) là một tác phẩm nổi tiếng của Bà Huyện Quan, bởi vì nó tiêu biểu đầy đủ nội dung biểu đạt và hình thức thể hiện của chùm thơ bà”.

     

    2.                 Minh họa phân tích một phần trong thân bài

     

    • Ví dụ: Phân tích hai câu 5, 6 trong phần luận bài thơ “Đất Vị Hoàng” của Tú Xươ

     

    – Tác giả bài 49 cuốn “Giảng văn văn học Việt Nam” viết: “Keo cú người đâu như cứt sắt,

     

    Tham lam chuyện thở những hơi đồng”.

     

    Tính “keo cú”, tính “tham lam” vốn là sản phẩm của những mặt tiêu cực của cuộc sống đô thị hóa; con người hà tiện, keo cú để tích luỹ vốn liếng: con người sống trong môi trường kinh tế hàng hóa, thị trường, chạy theo đồng tiền, tham lam. Lối so sánh “keo cú như cứt sắt” ta vẫn gặp trong lời nói hằng ngày của nhân dân. “Tham lam chuyện thở những hơi đồng”, cách nói này ta cũng đã gặp trong “Truyện Kiều”: “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê”. Tú Xương đã sử dụng những hình ảnh so sánh, hình ảnh ẩn dụ có trong truyền thống văn hóa cổ truyền để vạch trần những nét tiêu cực của tính cách con người trong thời đô thi hóa ở làng Vị Hoàng buổi ấy”.

     

    – “Sổ tay văn học lớp 11” đã phân tích:

     

    “Hai câu trong phần luận mở rộng ý thơ trong phần thực, làm cho bức tranh “Đất Vị Hoàng” được tô đậm sắc màu hiện thực. Không còn ước lệ nữa. Hai nét vẽ về cảnh đời đáng buồn, đáng thương hại đối nhau. Một bộ tứ bình biếm họa hoàn chỉnh.

     

    • cái đất Vị Hoàng thuở ấy nhan nhản những loại người “tham lam” và “keo cú”. “Keo cú” đến bần tiện, ghê tởm và hôi hám. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: “người đâu như cứt sắt” sao mà đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là chuyện thở rặt hơi đồng”. “Thở” là nhãn tự, rất linh diệu; nếu thay bằng chữ “nói” hay một từ nào khác thì không lột tả được bản chất loại người tham lam, đê tiện này. Vì đã “thở” phải đi liền với “hơi” – “hơi đồng”, tiền bạc. “Truyện Kiều” cũng có câu: “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê!”. Chỉ vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. “Rặt” là từ cổ, là nói cách dân gian, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngữ rất có giá trị thẩm mỹ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc, lên án loại người tham lam, keo cú mất hết nhân tính:

     

    “Keo cú // người dâu như cứt sắt,

     

    Tham lam// chuyện thở rặt hơi đồng”.

     

    • Ví dụ: Phân tích một đoạn thơ trong bài “Tây Tiến của Quang Dũng: “Sài Khao sương lấp… Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

     

    – Thái Văn Vinh, lớp 12 chuyên Bình Định viết:

     

    “Ngay từ đầu bài thơ, ông đã miêu tả vùng rừng núi ấy, nhớ về rừng núi ấy thiết tha như thẻ làm cho người đọc chú ý ngay. Nhớ Tây Tiến, nhớ về sông Mã và núi rừng trùng điệp, nhớ con đường hành quân:

     

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

     

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

     

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

     

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

     

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

     

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

     

    Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của một vùng rừng núi biên ải. Đọc đoạn thơ, chưa cần suy ngẫm cái nội dung bên trong chúng ta đã có thể hình dung ra cái con đường mà Quang Dũng miêu tả qua thanh luật của đoạn thơ. Kết cấu của đoạn thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miên man, vô tận như con đường xa thẳm khấp khiễng. Nhạc điệu êm ả, triền miên. Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng… Tất cả chỉ lung linh trong lớp sương khói mờ ảo, như thực, như mộng. Thế nhưng mỗi địa danh gắn liền với một đặc điểm của địa vật: nếu ta chỉ thay “Sài Khao” bằng một tên gọi khác là lớp sương huyền ảo ấy tan biến ngay. Đoàn quân Tây Tiến cất bước trên con đường xa vạn dặm,

     

    với cái trắc trở gập ghềnh của con đường. Đã “dốc len khúc khuỷu” mà lại còn “dốc thăm thẳm”, thì đúng là độ cao chất ngất, ngoằn ngoèo khó đi. Đã “ngàn thước lên cao” rồi lại “ngàn thước xuống”, tất cả những đặc điểm ấy diễn tả nỗi khó khăn của đoàn Tây Tiến khi hành quân. Nó có ghi lại một ấn tượng về một miền rừng núi thật là dữ dội và khắc nghiệt. Quang Dũng có những cách dùng từ rất tinh tế mà cũng hết sức tinh nghịch: núi cao chạm mây nối thành cồn “heo hút”, và để diễn tả chiều cao của núi thì chỉ ba chữ “súng ngửi trời” là đủ đưa ta đến tuyệt đỉnh cao vời. “Súng ngửi trời” nghe thật ngộ nghĩnh. Phải chăng đó là cách gọi của lính mà Quang Dũng ghi lại với tư cách một người trong cuộc. Dù sao, qua những từ ngữ, chi tiết và cách kết cấu âm của đoạn thơ cũng đã đủ vẽ lên trước mắt ta hình ảnh một miền rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến đã từng đi qua. Có những câu thơ dùng toàn thanh bằng rất hay, rất đắt:

     

    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

     

    Sau khi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, người chiến sĩ Tây Tiến như đứng trước đỉnh núi cao nhìn xuống thung lũng phủ kín trong màn mưa. Những ngôi nhà như đang trôi bồng bềnh trong màn mưa trắng. Thanh bằng của từng chữ trải ra, mênh mang, diễn tả cái màn mưa phủ giăng thung lũng”.

     

    (Trích bài thi Giải nhi 16 điểm, thi học sinh giỏi Văn toàn quốc)

     

    – Nguyễn Thị Minh Tâm, lớp 12 trường PTTH Đồng Hới, Quảng Bình đã phân

     

    tích:

     

    “(…) Nỗi nhớ dẫn tác giả trở về với những kỷ niệm khó quên. Đó là những vất vả, gian nan mà người lính đã trải qua:

     

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

     

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

     

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

     

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

     

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

     

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

     

    Người lính hay nhớ đến những đêm dài hành quân, bởi đời lính thường gắn với những cuộc hành quân. Nói đến người lính là nói đến những cuộc hành quân dài, vất vả, gian khổ, mệt nhọc mà vẫn thắm đẹp chất oai hùng. Quang Dũng cũng nói đến những cuộc hành quân như vậy:

     

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”

     

    Ta chợt thấy lạ! Ít ai nói như Quang Dũng: “đoàn quân mỏi”. Nhưng đâu có sai, mỏi chứ, những cuộc hành quân suốt ngày đêm; vượt qua hàng chục cây số đèo dốc thì “mỏi” là đúng. Đưa hình ảnh “đoàn quân mỏi” vào đây mà lại hay, hay ở chính cái thực của nó. Và hay bởi vì còn xó câu thơ tiếp theo:

     

    “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

     

    “Đoàn quân mỏi” nhưng tâm hồn, ý chí của họ không “mỏi”. Cho nên tâm hồn của họ vẫn biết hướng vào cái đẹp, vẫn nghĩ đến những cái còn cao hơn, đẹp hơn những gian khổ mà họ đã trải qua: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Lại những thanh bằng tạo nên trong lòng ta một cảm giác thật nhẹ nhàng, nó cân bằng, trung hòa với những gì mà câu thơ tạo ra. Có như thế, những câu thơ mạnh mẽ, gãy khúc, nhịp thơ ngắn, nặng lại đi với những câu thơ nhẹ nhàng, mênh mang:

     

    “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

     

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

     

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

     

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

     

    Có thực sự sống trong cuộc kháng chiến như Quang Dũng, thì mới có những câu thơ thực và đúng về những gian khổ của người lính như thế. Những câu thơ làm cho ta tưởng như được thấy, được trải qua gian khổ đó. Đã “dốc lên khúc khuỷu” rồi lại còn “dốc thăm thẳm” nữa. Chỉ hai từ “thăm thẳm” thôi mà vẽ lên trong ta một hình ảnh rõ nét, tạo cho ta cảm giác choáng ngợp: “thăm thẳm” là cao, lại là sâu. Không phải là “cao chót vót” mà là “thăm thẳm” thì mịt mù lắm, cao lắm, nó vượt ra khỏi tầm mắt của ta. Cũng vì có từ “thăm thẳm” cho nên mới “heo hút”, chứ “chót vót” thì không thể “heo hút” được. Cái tài của Quang Dũng là đó. Và chợt ta bắt gặp hình ảnh “súng ngửi trời”. Phải là “súng ngửi trời” thì mới nói hết độ cao của dốc, của gian khổ. Nhưng cũng vì có hình ảnh “súng ngửi trời” mà câu thơ viết về gian khổ lại không mang chút bi quan mà phảng phất chút dí dỏm. Đã dốc “khúc khuỷu”, đã “thăm thẳm”, “heo hút” rồi lại còn “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” nữa mới thật rõ cái gian khổ, vất vả của người lính. Nhưng từ đỉnh cao “ngàn thước” đó, tâm hồn người lính lại mở ra, phóng tầm mắt ra giữa ngút ngàn trời đất:

     

    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

     

    Vẫn là một câu thơ rất nhẹ với những thanh bằng, với vần “ơi” mênh mang, tạo nên trong ta một cảm giác mênh mông, dàn trải, lại vừa gợi lên một màn mưa lưa thưa, mờ mờ. Đó chính là nét thi sĩ trong tâm hồn người lính – học sinh. Câu thơ như thoảng một chút mơ màng, một chút mộng mơ rất đáng yeu”.

     

    (Những bài văn đựoc điểm cao)

     

    3. Minh họa phần kết bài

     

    • Với đề bài văn “Phân tích những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuânthể hiện trong bài ký “Người lái đò Sông Đà” có những cách viết kết bài sau:

     

    – Tác giả cuốn “99 bài văn” viết:

     

    Đọc “Người lái đò Sông Đà” ta biết thêm một Nguyễn Tuân uyên bác, tài hoa, độc đáo. Tả cảnh thì biến hoá, trong bốn mùa, trong mọi thời gian, đa thanh và phức diệu lúc nói về thác, ghềnh… Bao liên tưởng đầy thi vị, với bao cảm giác mạnh đầy mầu sắc và góc cạnh với một kho chữ nghĩa giàu có. Văn của Nguyễn Tuân đúng là những giọt mật của con ong yêu hoa; cần mẫn và sáng tạo, đem thơm thảo cho đời. Câu văn xuôi tài hoa, lúc thì vang vọng âm ba của thác ghềnh, lúc thì mênh mang dư vị của hương nguồn hoa núi.

     

    Đọc “Người lái đò Sông Đà”, ta yêu thêm con người Việt Nam dũng cảm, cần cù và tài hoa; ta tự hào về núi sông Tổ quốc nguy nga, tráng lệ. Sông Đà quả là quà tặng của thiên nhiên:

     

    …“Ôi những dòng sông bắt đầu từ đâu

     

    Mà khi về Đất nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đo, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”.

    (“Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm) (Tr 563-564)

     

    – Phan Huy Dũng, trong cuốn “Để viết hay bài làm văn lớp 12”, đã kết bài để văn trên như sau:

     

    “Người lái đò Sông Đà” cho thấy một số nét đặc sắc của phong cách Nguyễn Tuân, nổi bật nhất là ở cái nhìn sắc sảo, tài hoa cảu một nghệ sĩ bậc thầy luôn phát

     

    hiện ra những điều mới lạ của sự vật, con người và thể hiện chúng thật độc đáo; độc đáo trong dùng từ tạo câu, độc đáo trong lựa chọn hình ảnh, ví von, so sánh. Và cả ở niềm say mê thiên nhiên, núi sông Tổ quốc đi liền với sự hiểu biết cặn kẽ, sâu sắc và phong phú về những gì nhà văn miêu tả lên mỗi trang viêt. Bút ký này cho chúng ta hiểu và thêm quý trọng tài năng và phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân”. (Tr. 114)

     

    Trên đây, chúng tôi đã đưa ra một số “mẫu” để minh hoạ cho độc giả tham khảo, dàn ý phân tích văn và một vài thao tác như mở bài, kết bài, phân tích một chi tiết, một khía cạnh, một phần của tác phẩm. Văn chương cần sáng tạo; người sáng tác thơ văn tất sáng tạo để vươn lên, tiếp cận cái đẹp. Người học sinh làm một bài văn trên lớp trong phòng thi – cũng phải sáng tạo. Học tập và đọc sách là để sáng tạo, chứ không để sao chép; xin giới thiệu một vài ý kiến xa, gần:

     

    • Đỗ Phủ viết: “Độc thư phá vạn quyển Hạ bút như hữu thần”. (Đọc sách phá vạn quyển, Hạ bút (viết) như có thần).

    Ông lại nói:

     

    “Rất trọng (cái hay trong thơ) của người đời nay, nhưng cũng rất quý (cái hay trong thơ) của cổ nhân. Câu hay lời đẹp của họ ta đều yêu mến cả. Trộm mong được kề vai sát cánh cùng đi với Khuất Nguyên, Tống Ngọc, chứ không muốn đi theo cái mặt trái (uỷ mỵ, yếu đuối của thơ ca) đời Tề, Lương.

     

    Chưa bằng được các bậc tiền hiền càng không nghi ngờ, rồi đây biết lấy ai là người khôi phục thuật lại được người xưa. Cắt phăng những cái giả tạo, hư nguy, lập

     

    nên vẻ phong nhã mới, học tập cái hay của những người khác, biến thành cái hay của mình”.

     

    Viết văn đòi hỏi một cuộc sống phong phú, đồng thời đòi hỏi phải đọc sách. Học văn cũng vậy. Có đọc sách (sách tốt) mới có thể mở rộng tầm nhìn, tích luỹ tri thức, năng lực tưởng tượng được phong phú hơn và năng lực biểu đạt cũng được tăng thêm. Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long” cũng có chỉ rõ: “Kiến văn rộng là lương thực để giải cứu sự nghèo nàn” (Bác kiến vi quỹ bần chi lương).

     

    Không đọc sách theo lối “ăn sống nuốt tươi:, sao chép, bắt chước sách vở một cách tuỷ tiện, trở thành “cái hòm đựng sách”. Người học văn cũng như “Người làm thơ vốn là người đọc sách, mà chẳng dùng một chữ nào ở trong sách” (Tác thi nguyên thị độc thư nhân, bất dụng thư trung nhất cả tự).

     

    Viên Mai trong “Tuỳ viên thi thoại” có nhắc:

     

    “ Tằm ăn lá dâu nhưng nhả ra tơ chư không phải nhả ra lá râu.Ong hút nhụy hoa mà gây thành mật,chư không phải gây thành nhụy hoa.Dọc sách như ăn cơm vậy, kẻ “khéo ăn”, tinh thần sẽ lớn lên, kẻ không khéo ăn “ sinh ra đởm, bướu”.

     

    Học văn mà không đọc sách, ít đọc sách, đọc sách mà thiếu phương pháp, hoặc thiếu ý thức học tập cái tinh hoa của người thì khó mà đến hai chữ văn chương.Lỗ Tấn, văn hào Trung quốc từng nhắc nhũ các nhà văn trẻ:

    “Không nên đọc riêng tác phẩm của mọi người, để đề phòng họ bị trói chặt chân tay mình, mà phải học tập rộng ở nhiều người, tiếp thu những cái hay ở họ, chỉ có như vậy thì về sau mói đứng độc lập được”.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu

    Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu

    Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-b%C3%A0i-v%C4%83n-m%E1%BA%ABu-C%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-b%C3%A0i-th%C6%A1-Vi%E1%BB%87t-B%E1%BA%AFc-v%C3%A0-nh%C3%A0-th%C6%A1-T%E1%BB%91-H%E1%BB%AFu.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu

    Cảm nhận của bản thân về Việt Bắc và

     

    nhà thơ Tố Hữu

     

    Mở bài

     

     

    • Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng, nhắc đến mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình – nơi đã in sâu bao kỉ niệm của một thời kì cách mạng gian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến khi chia xa, lòng ta sao khỏi xuyến xao bồi hồi.

     

    Cứ thế sợi nhớ, sợi thương cứ thế mà đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi “Ta – mình” của đôi lứa yêu nhau. Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết ” Khi ta ở đất chỉ là nơi ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Vâng! Việt Bắc đã hóa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời thơ như tiếng nhạc ngân nga, với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình có bao giờ quên được.

     

    “Ta về mình có nhớ ta

     

     

    ………………………….

     

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

     

     

    Thân Bài

     

    Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông diễn tả những tình cảm cách mạng thật nhẹ nhàng mà cũng thật đậm sâu. Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã

     

    “Thủ đô gió ngàn” về với “Thủ đô Hoa vàng nắng Ba Đình”.

     

     

    Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Nhưng có lẽ để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong bài ca Việt Bắc có lẽ là đoạn thơ về bức tranh tứ bình với bốn mùa xuân – hạ – thu – đông. Mở đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ:

     

    “Ta về mình có nhớ ta

     

     

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

     

    • Câu thơ đầu tiên sử dụng câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta”, câu thơ thứ hai là tự trả lời, điệp từ “ta” lặp lại bốn lần cùng với âm “a” là âm mở khiến câu thơ mang âm hưởng ngân xa, tha thiết nồng nàn.

     

    • Với Tố Hữu, người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”, mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của Hoa cùng Người.

     

    • Ở đây, hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc.

     

    • Con người là con người Việt Bắc với tấm áo chàm nghèo khổ nhưng đậm đà lòng son. Hoa và Người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt,

    độc đáo của vùng đất này.

     

    Chính điều ấy đã tạo nên cái cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ.Trong bốn cặp lục bát còn lại câu sáu dành cho nhớ hoa, nhớ cảnh, câu tám dành cho nhớ người.Cảnh và Người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn.

     

    • Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ đến cái lạnh thấu xương da, cái ảm đạm của những ngày mưa phùn gió bấc, cái buồn bã của khí trời u uất. Nhưng đến với Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thì thật lạ. Mùa đông bỗng ấm áp lạ thường:

     

    “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.

     

     

    • Điểm xuyết trên cái nền màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng, là màu hoa chuối đỏ tươi đang nở rộ lung linh dưới ánh nắng mặt trời.

     

    • Cái màu “đỏ tươi” – gam màu nóng của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống,

     

    xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng. Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:

     

    “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

     

     

    Hồng liên trì đã tịn mùi hương”.

     

     

    => Từ liên tưởng ấy ta thấy, mùa đông trong thơ Tố Hữu cũng lan tỏa hơi ấm của mùa hè chứ không lạnh lẽo hoang sơ bởi màu đỏ của hoa chuối cũng như đang phun trào từ giữa màu xanh của núi rừng.

     

    + Cùng hiện lên với cái lung linh của hoa chuối ấy là con người của vùng chiến khu lên núi làm nương, phát rẫy sản xuất ra nhiều lúa khoai cung cấp cho kháng chiến “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.

     

    • Trước thiên nhiên bao la, con người dường như càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng hơn.

     

    • Ở đây nhà thơ không khắc họa gương mặt mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất. Đó

     

    là ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng.

     

     

    + Ở đây câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ nhưng lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một vị trí, một tư thế đẹp nhất – “đèo cao”. Con người đang chiếm lĩnh đỉnh cao, chiếm lĩnh núi rừng, tự do ” Núi rừng đây là của chúng ta/ Trời xanh đây là của chúng ta”.

     

    => Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi: Giữa núi và nắng, giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang. Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc.

     

    Đông qua, xuân lại tới. Nhắc đến mùa xuân ta liên tưởng ngay đến sức sống mới của cỏ cây, hoa lá, của trăm loài đang cựa mình thức dậy sau mùa đông dài. Mùa xuân Việt bắc cũng vậy:

     

    “Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

     

     

    + Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng:

     

    “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”. “trắng rừng” được viết theo phép đảo ngữ và từ “trắng” được dùng như động từ có tác dụng nhấn mạnh vào màu sắc, màu trắng dường như lấn át tất cả mọi màu xanh của lá, và làm bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu dàng của hoa mơ . Động từ “nở” làm sức sống mùa xuân lan tỏa và tràn trề nhựa sống.

     

    • Mùa xuân càng trở nên tươi tắn hơn nữa bởi sự xuất hiện của hình ảnh con người với hoạt động ” chuốt từng sợi giang”.

     

    • Con người đẹp tự nhiên trong những công việc hằng ngày. Từ “chuốt” và hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay của con người lao động: cần mẫn, tỉ mẩn, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút đó cũng chính là phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc.

     

    • Mùa hè đến trong âm thanh rộn rã của tiếng ve, bức tranh Việt Bắc lại sống động hơn

     

    bao giờ hết:

     

    “Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

     

     

    • Thời điểm ve kêu cũng là thời điểm rừng phách đổ vàng. Động từ “đổ” là động từ mạnh, diễn tả sự vàng lên đồng loạt của hoa phách đầu hè.

     

    • Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả

     

    tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh.Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật.

     

    • Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây Phách ngả sang màu vàng rực rỡ.

     

    => Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc.

     

     

    • Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy, là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội kháng chiến: “Nhớ cô em gái hái

     

    măng một mình”.

     

     

    + Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương

     

    tha thiết. Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả.

     

    • Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu dàng:

     

    “Rừng thu trăng rọi hòa bình

     

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

     

     

    • Không gian bao la tràn ngập ánh trăng, đó là ánh trăng của tự do, của hòa bình dọi sáng niềm vui lên từng núi rừng, từng bản làng Việt Bắc. Ta cũng từng biết đến mùa

     

    thu đầy ánh trăng trong thơ của Bác khi còn ở chiến khu:

     

    “Trăng vào cửa sổ đòi thơ

     

     

    Việc quân đang bận xin chờ hôm sau Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu Ấy tin thắng trận liên khu báo về”.

     

    • Ở đây không có tiếng chuông báo thắng trận nhưng lại vang lên tiếng hát.

     

    • Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình.

     

    Đây cũng chính là tiếng hát của Việt Bắc của núi rừng của tình cảm mười lăm năm gắn bó thiết tha mặn nồng.

     

    Vâng! Bức tranh mùa thu Việt Bắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng và khép lại đoạn thơ bằng tiếng hát “ân tình thủy chung” gợi cho người về và cả người đọc những rung động sâu xa của tình yêu quê hương đất nước.

    Kết bài

     

    • Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố

     

    Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc.

     

    • Cảnh và người hòa hợp với nhau tô điểm cho nhau, làm cho bức tranh trở nên gần gũi

     

    thân quen, sống động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi.

     

    Đề bài: Cảm nhận về Bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu

     

    Bài làm:

     

    Tố Hữu là một nhà thơ tiêu biểu cho nền văn Việt Nam hiện đại. Ông là một nhà thơ với tư tưởng cộng sản, một nhà thơ lớn, thơ ông gắn liền với cách mạng. Tố Hữu còn gắn bó với dân sâu sắc. Vì vậy mà trong các tác phẩm của ông luôn gần gũi với nhân dân. Ông để lại một sự nghiệp văn chương phong phú, giàu giá trị với phong các trữ tình – chính trị sâu sắc đậm đà bản sắc dân tộc. Tiêu biểu là bài Việt Bắc. Có thể nói, kết tinh của tác phẩm được lắng đọng trong mười câu thơ diễn tả nỗi nhớ của người về xuôi với cảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc hòa quyện thành bức tranh tứ bình.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    “Ta về, mình có nhớ ta

     

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

     

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

     

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

     

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

     

    Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tahnsg 10 năm 1954 ngay sau khi cuộc kháng chiến

     

    chống thực dân Pháp thắng lợi, các cơ quant rung ương Đảng và chính quyền từ Việt Bắc về

     

    lại thủ đô Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong những cán bộ sống gắn bó với Việt Bắc nhiều

     

    năm, nay từ biệt chiến khu để về xuôi. Bài thơ như được viết trong buổi chia tay lưu luyến ấy.

     

    Và có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ Việt Bắc là những ấn tượng không phai về sự hòa quyện của

     

    người dân với thiên nhiên núi rừng cao đẹp.

     

    “Ta về, mình có nhớ ta

     

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

     

    Mở đầu đoạn thơ là câu hỏi tu từ. Nhưng hỏi chỉ là cái cớ để thể hiện tâm tư tình cảm, nhấn mạnh nỗi nhớ da diết của người về Thủ đô. Hai câu đầu là lời hỏi đáp của ta của người cán bộ kháng chiến về xuôi. Ta hỏi mình có nhớ ta. Người cách mạng về xuôi hỏi người Việt Bắc để bộc lộ tâm trạng của mình là dù có ở nơi xa xôi , dù có xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bó với Việt Bắc. Chữ “ta” và “nhớ” được điệp đi điệp lại thể hiện lòng thủy chung son sắc. Nỗi nhớ hướng về “những hoa cùng người” hướng về thiên nhiên , núi rừng và con người Việt Bắc. “Hoa” là sự kết tinh của hương sắc, còn “người” là kết tinh của đời sống xã hội. Xét cho cùng, “người ta là hoa của đất”. Hoa và người được đặt cạnh nhau càng làm tôn lên vẻ đẹp cho nhau, làm sáng lên cả không gian núi rừng, Việt Bắc trùng điệp.

     

    Những câu thơ tiếp theo tái hiện cụ thể, chân thực vẻ đẹp bốn mùa của chiến khu. Cảnh và người hòa quyện đan xen vào nhau. Cứ một câu thơ lục tả cảnh thì lại có một câu thơ bát tả người. Mỗi mùa có một vẻ đẹp nét đặc trưng riêng tạo thành một bức trannh tứ bình ngập tràn ánh sáng , màu sắc , đường nét âm thanh vui tươi, ấm áp. “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

     

    Mở đầu cho bức tranh tứ bình lại là khung cảnh mùa Đông. Chúng ta vẫn luôn thắc mắc rằng tại sao tác giả không diễn tả mùa theo trật tự quy luật tự nhiên là Xuân, Hạ, Thu, Đông lại là

     

    mùa Đông trước. có lẽ vì, thời điểm tác giả sáng tác bài thơ này là vào tháng 10 năm 1954, đó là thời điểm của mùa đông nên khung cảnh mùa đông việt bắc tạo cảm hứng để ông viết về mùa đông trước.

     

    Nhớ về mùa đông Việt Bắc, tác gủa không nhớ về cái giá buốt, lạnh lẽo, âm u. Tố Hữu nhớ đến những ngày màu đông rực rỡ, nắng ấm. Màu xanh bạt ngàn của núi rừng Việt Bắc. nó giống như màu nên flamf nổi bật lên màu đỏ tươi của hoa chuối. Hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”

     

    – hình ảnh đặc trưng của rừng núi Việt Bắc vào mùa đông, nó giống như ngọn đuốc, đốm lửa rực rỡ thắp sáng bức tranh mùa đông, xua tan đi cái u tối, lạnh lẽo của núi rừng nơi đây. Cả không gian như được sưởi ấm. Tô điểm thêm nét đẹp đặc trưng của mùa Đông Việt Bắc. Đằng

     

    sau bức tranh mùa đông ấy, ẩn hiên lên hình ảnh người nông dân lao động leo lên đèo cao để đi làm nương rẫy. Một hình ảnh khỏe khoắn của người lao động như được tỏa sáng, rực rỡ hơn. Tố Hữu sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, ông không dùng “ánh nắng” là một danh từ mà lại dùng “nắng ánh” – một động từ, nhằm làm cho hình ảnh người lao động đẹp và rực rỡ hơn.

     

    Kết thúc mùa đông lạnh giá, Tố Hữu đưa chúng ta đến với mùa Xuân ấm ấp vui hơn “Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

     

    Mùa xuân – hình ảnh bông hoa “mơ nở trắng rừng” là loài hoa đặc trưng của mùa xuân nơi

     

    Việt Bắc. Hoa nở trắng xóa cả khu rừng. Màu không phải màu trăngs điểm như trong bài

     

    Truyện Kiều của Nguyễn Du “cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Đó là màu trắng tinh

     

    khiết, tinh khôi khoác lên cho núi rừng Việt Bắc. Và đằng sau mùa xuân tinh khiết, nhẹ nhàng,

     

    thơ mộng ấy. Nhà thơ nhớ đến những người đan nón. Hình ảnh “người chuốt từng sợi giang”

     

    đã làm nổi bật đức tính cần cù, tỉ mĩ, khéo léo, tài hoa của những con người nơi đây. Họ đã

     

    làm ra những sợi giang nõn nà để đan thành những chiếc nón. Đó là vật để che nắng che mưa

     

    không thể thiếu của người dân nơi đây và đó cũng có thể là thứ quà tặng dành cho những

     

    người mà họ yêu thương.

     

    “Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình”

     

    Khi âm thanh của tiếng ve vang lên, đó là âm thanh đặc trưng của mùa hè. Rừng phách đột ngột đổ vàng. Đó là sự chuyển biến đột ngột làm cho người ta có cảm giác khi tiếng ve vang lên thì những lá cây của cây phách từ lá màu xanh chuyển sang màu vàng. Cả không gian Việt Bắc như được nhuộm sắc vàng rực rỡ. Thời gian mang đến cho ta màu sắc và ẩn sâu trong cái sắc vàng rực rỡ ấy là hình ảnh cô em hái măng . Ở đó, toát lên được sự cần mẫn, cần cùm siêng năng , chăm chỉ . Măng là thứ rau để nuôi sống bộ đội cách mạng. Và hình ảnh cô gái hái măng một mình cho thấy được sự yên tĩnh, thư thái. Câu thơ làm ta liên tưởng đến câu: “Trám bùi để rụng , măng mai để già”

     

    Nếu như đặc trưng của mùa đông là hoa mơ, mùa xuân là hoa chuối, mùa hè là hoa phách vàng. Vậy còn mùa thu là hoa gì? Mùa thu không có hoa mà mùa thu có người. mà con người là loài hoa đẹp nhất. “Người ta là hoa của đất”.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Khác với nền văn học trung đại, một nền văn học mà các nhà văn lấy thiên nhiên làm tiêu chuẩn cho cái đẹp thì nền văn học hiện đại lại lấy con người làm tiêu chuẩn cho cái đẹp. Điều này được thể hiện rất rõ ở câu thơ tả mùa thu của Tố Hữu.

     

    “Rừng thu trăng rọi hoà bình

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

     

    Nếu câu thơ lục là câu thơ tả hình ảnh ánh trăng thì câu thơ bát có “tiếng hát ân tình”. Cặp đôi “trăng – nhạc” góp phần tạo nên vẻ đẹp lung linh, lãng mạn. Đất nước ta lúc ấy đang trong thời kì kháng chiến khốc liệt nhưng ở nhwunxg câu thơ của Tố Hữu ta chỉ thấy được sự bình yên, hòa bình, êm ả và ân tình thủy chung

     

    Đoạn thơ dạt dào tình thương, tha thiết nỗi nhớ bồi hồi thấm sâu vào cảnh và người. Kẻ ở người về thì “ta nhớ mình” “mình nhớ ta”. Tình cảm ấy vô cùng tha thiết, thiêng liêng, biết bao ân tình thủy chung. Năm tháng đi qua nhưng ân tình thủy chung cách mạng giữa Việt Bắc vớ con người về xuôi vẫn luôn thủy chung son sắc, in đậm trong lòng người.

     

    Tóm lại, với 10 câu thơ , Tố Hữu đã hài hòa trong câu lục tả cảnh , câu bát tả người, Và sự hài hòa ấy tạo nên một bức tranh tứ bình tuyệt đẹp , đầy màu sắc. Qua đó, Tố Hữu bộc bạch được tình cảm của mình với thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và sự thủy chung son sắc với những con người chất phát, hiền hòa nơi đây. Sự yêu mến và tự hào của Tố Hữu với Việt Bắc . Và ở mỗi bản thân chúng ta, cần phải biết đến những địa danh của Đất Nước mình, yêu mến và luôn tự hào về vẻ đẹp diệu kì của nó. Điều quan trọng hơn hết, chúng ta cần ghi nhớ công ơn to lớn của những chiến sĩ đã hi sinh ra sức chiến đấu dựng xây khiến chúng ta có được một đất nước yên bình , xinh đẹp như ngày hôm nay.

     

    Đề bài: Cảm Nhận 10 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc

     

     

    I. CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ:

     

     

    Cách A:1. Văn chương kết tinh vẻ đẹp của thời đại. Âm vang của lịch sử dường như đọng lại đẹp nhất, rực rỡ nhất trên những trang thơ. Mỗi câu chữ, hình ảnh thơ ngưng tụ hồn sông núi, ghi nhận ấn tượng sâu sắc cảm động nhất của một đời người. Hạnh phúc nhất của người cầm bút có lẽ là lúc tạo được dấu ấn nghệ thuật không phai mờ trong tâm trí người đọc mọi thế hệ.

     

    1. Việt Bắc của Tố Hữu là một trường ca tuyệt đẹp về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp. Bài thơ đi vào lòng người bằng giọng điệu ân tình chung thuỷ như ca dao, khắc hoạ sâu sắc nỗi niềm của những người con rời “thủ đô kháng chiến”, thâm tâm đầy ắp kỷ niệm nhớ thương.

     

    1. Trong tâm trạng kẻ ở – người đi, hình bóng của núi rừng – con người Việt Bắc vẹn nguyên cùng ký ức, với bao hình ảnh đơn sơ mà cảm động. Để hôm nay, những câu thơ còn rung động lòng người với những sắc màu, âm thanh tươi rói hơi thở của núi rừng chiến khu, hơi ấm của tình người lan toả: “Ta về … ân tình thuỷ chung”.

     

    Cách B: 1. Là người, ai cũng có một miền đời để nhớ để thương. Có những mảnh đất tuy không phải nơi chôn nhau cắt rốn nhưng vẫn không bao giờ phai mờ trong tâm khảm. Bởi đó là máu thịt, là nơi ghi lại kỷ niệm đẹp nhất của một đời người. Như Chế Lan Viên đã từng triết lý: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”

     

    1. Việt Bắc – quê hương của kháng chiến, cách mạng trong những ngày đầu tiên của nền dân chủ cộng hoà đã trở thành biểu tượng của tấm lòng gắn bó thuỷ chung với cách mạng, dân tộc. Nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại mối tình sắt son đậm đà “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” trong bài thơ Việt Bắc, bằng tất cả cảm xúc nồng nàn của một hồn thơ đằm thắm thuỷ chung.

     

    1. Qua bao năm tháng, biến động của lịch sử, tiếng nói thiết tha ấy vẫn rung cảm lòng người, Việt Bắc của ngày xưa vẫn nguyên vẹn trong lòng người hôm nay: “Ta về … ân tình thuỷ chung”. Tiếng lòng ân tình thuỷ chung ngày ấy phải chăng đã thấm sâu vào mạch ân tình

     

    chung thuỷ của thi ca dân tộc, cho nên khoảng cách thời gian không làm nhạt nhoà ấn tượng về một vùng rừng núi chiến khu xưa hùng vĩ nên thơ?

     

    Tìm hiểu chi tiết nội dung phần Phân tích 12 câu trong đoạn 3 bài thơ Việt Bắc để học tốt môn Ngữ Văn 12 hơn.

     

    II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

     

     

    1. Cảm nhận chung:

     

     

    1. Điều làm nên sức sống diệu kỳ của bài thơ Việt Bắc nói chung và đoạn thơ nói riêng là giọng điệu thơ ngọt ngào, dân dã đậm sắc màu ca dao. Mạch tình cảm như suối ngầm ẩn tàng trong tâm hồn người Việt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản của phong cách thơ Tố hữu – luôn đậm đà tính dân tộc.

     

    1. Tâm tình lại gắn với hình ảnh quê hương – với những nét gợi thương gợi nhớ – là mạch tâm linh chảy suốt chiều dài lịch sử, chạm vào sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam “Anh đi anh nhớ quê nhà…”

     

    1. Cảm hứng chính trị xuyên suốt một đời thơ Tố Hữu. Với tâm tình, lẽ sống của nhà thơ, Việt Bắc là kết tinh của tình cảm riêng – chung. Hoà điệu tự nhiên của hai luồng tình cảm: dân tộc và cách mạng. tiếng nói của nhân vật trữ tình nhập vai cũng chính là những suy ngẫm, tình cảm của nhà thơ. Thật khó tách bạch chủ thể và nhân vật. Ở đó là một cái tôi gắn với phẩm chất và tình cảm dân tộc, tiếng nói riêng tư “mình – ta” đã nói hộ tấm lòng của nhân dân và những người con cách mạng. Chất tự sự – trữ tình chính trị như những lời thầm thì tâm sự cùng mọi người, thuyết phục lòng người.

     

    1. Phân tích chi tiết:

     

     

    1. Nỗi nhớ:

     

     

    1. Là cảm xúc chủ đạo của toàn bộ bài thơ, gắn với “ta – mình”, “mình – ta”, là cung bậc thiết tha của tình cảm, là miền ký ức không phai mờ của người ra đi.

     

    1. Nỗi nhớ ở đây mượn nguyên màu sắc ca dao, là sự nối tiếp, là khía cạnh tinh vi trong quan hệ khắng khít: hoa – người. Quê hương hiện hình trong vẻ đẹp cụ thể: vẻ đẹp tinh tuý của thiên nhiên (hoa) hoà hợp với vẻ đẹp và sức sống của con người.

     

    1. Mỗi một hình ảnh “hoa cùng nguời” như đem lại ấn tượng riêng biệt về nét đẹp núi rừng Việt Bắc. Sự nối tiếp, đan xen sắc màu làm nên mạch cảm xúc của đoạn thơ, nỗi nhớ qua từng câu càng đậm đà và mãnh liệt hơn. Trên cơ sở đó, nhà thơ hướng toàn bộ tâm tư về con người

     

    • nhân dân với những phẩm chất bình thường mà vĩ đại.

     

     

    1. Bức vẽ quê hương:

     

     

    1. Tố Hữu đã khéo léo vận dụng thành công đặc trưng tái hiện không gian vô cực của thi ca – gói trọn bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông trong những sắc màu đẹp nhất, hài hoà nhất. Bước luân chuyển của thời gian được tác giả chọn ở những thời điểm nên thơ, tạo ấn tượng không phai mờ trong ký ức. Nhớ cảnh để nhớ người.

     

    1. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

     

     

    Nét son của bức tranh núi rừng ở đây là màu đỏ tươi của hoa chuối. Chấm phá của tranh thuỷ mặc điểm một sắc đỏ trong không gian xanh bao la, không gian mang sức sống mãnh liệt. Ở đấy là cách nhìn của thi nhân Á Đông, người đọc có thể nhớ đến một cảm xúc quen thuộc trong thơ Nguyễn Trãi:

     

    Hoè lục đùn đùn tán rợp trương

     

     

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ…

     

     

    (Bảo kính cảnh giới 43)

     

     

    Mùa đông trong câu thơ Tố Hữu cũng lan toả hơi ấm của mùa hè, không hề có cảm giác lạnh lẽo, bởi sắc đỏ hoa chuối cũng như phun trào từ giữa màu xanh của rừng.

     

    Bên cạnh nét đẹp của hoa là nét đẹp của người thật khoẻ khoắn “Nắng ánh dao gài thắt lưng” là hình ảnh người dân miền sơn cước. Cách hoán dụ không phải tình cờ ngẫu nhiên mà chọn con dao đi rừng – vật bất ly thân của người miền núi – nét đặc trưng của cuộc sống Việt Bắc. Con người nổi bật trong không gian đèo cao, càng nổi bật trong ánh nắng , thành một điểm sáng giữa khung cảnh mùa đông, mang trong mình nét hiên ngang hùng vĩ kiêu hãnh của núi rừng.

     

    1. Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     

     

    Không gian mùa xuân bừng sáng trong sắc hoa mơ. Sức sống mùa xuân lan toả khắp núi rừng Việt Bắc. Giữa nền trắng hoa mơ, nổi bật hình ảnh “người đan nón”. Nỗi nhớ ở đây cụ thể đến từng chi tiết “chuốt từng sợi giang”. Người Việt Bắc hiện lên ở nét đẹp cần mẫn, chịu thương chịu khó. Trong cách tả không có một âm vang nào của núi rừng, nhưng vẻ đẹp của mùa xuân vẫn sinh động nhờ hoạt động của con người. Sợi nhớ, sợi thương đan dày trong tâm tưởng, con người đẹp tự nhiên trong những công việc tỉ mẩn hàng ngày.

     

    1. Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

     

    Không gian nỗi nhớ hình như rõ nét nhất, đậm đà nhất trong bức tranh mùa hạ. Và cũng đọng lại hình ảnh ngọt ngào thân thương nhất của “cô em gái hái măng”. Câu thơ tả cảnh giàu sức biểu cảm, tiếng ve ran gọi màu vàng tràn ngập không gian. Không gian lung linh hơn khi sắc vàng đổ xuống. Ấn tượng màu vàng đẹp như bức vẽ tả thực vừa làm xao xuyến lòng người trong tiếng ve dóng dả gọi hè, như gọi cả màu vàng đất trời về phủ kín cánh rừng.

     

    Nổi bật giữa khung cảnh là hình ảnh “cô em gái”. Cách gọi biểu lộ niềm thân thương trìu mến của con người. Câu thơ gợi nhớ vẻ đẹp nên thơ của một “cô hái mơ” trong thơ Nguyễn Bính (Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ). Nhưng ở đây cô gái Việt Bắc mang vẻ đẹp khoẻ khoắn mộc mạc hơn. Một mình nhưng không tạo cảm giác cô đơn hiu quạnh, vì cả không gian nhuộm rực ánh vàng.

     

    • Rừng thu trăng dọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

     

    Không gian chuyển về đêm. Như hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng Việt Bắc. Đêm thu và ánh trăng như lan toả vào màu xanh của núi rừng. Vẻ đẹp của khu rừng dưới ánh trăng gợi lên vẻ huyền ảo. Khung cảnh gọi hồn thơ.

     

    Nỗi nhớ cũng mênh mang như ánh trăng, thành “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Nhớ không cụ thể một đối tượng nào. Như ca dao:

     

    Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

     

     

    Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai

     

     

    Tình người bâng khuâng trong câu thơ gợi cảm xúc đồng điệu giữa kẻ ở – người đi. Đọng lại trong nỗi nhớ là “ân tình thuỷ chung” dào dạt.

     

    C. Tóm ý:

     

    Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh của núi rừng Việt Bắc. Mỗi mùa mang một sắc màu riêng và bốn mùa hoà chung màu sắc đa dạng, làm nên vẻ hấp dẫn cho bức tranh phong cảnh trữ tình.

     

    Thời gian diễn tả tuần tự, nhưng thời gian không làm phai nỗi nhớ. Mỗi mùa đi qua có một khoảnh khắc đáng nhớ – đó là khi trái tim nhà thơ bắt nhịp cùng không gian – cảnh vật.

     

    Đó là tình yêu đích thực, rung động chân thành của trái tim nhà thơ. Cũng là tấm lòng của những người con kháng chiến sâu năng với thủ đô kháng chiến.

     

    Bài Mẫu số 1: Phân Tích Nỗi Nhớ Của Người Cán Bộ Cách Mạng Về Xuôi Đối Với Việt Bắc Trong Bài Việt Bắc, Tố Hữu

     

    Bài thơ Việt Bắc là bài thơ được trích trong tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954) của Tố Hữu. Tên bài thơ đã trở thành tên chung của cả tập thơ vì bài thơ đã thể hiện được những tình cảm tiêu biểu cho cả tập thơ. Bài thơ đã bộc lộ những tình cảm thiết tha, mặn nồng, gắn bó, thủy chung, son sắt của Việt Bắc đối với người cán bộ về xuôi và ngược lại người cán bộ cách mạng về xuôi cũng bộc lộ những tình cảm ấy đối với Việt Bắc trong buổi chia li bằng sự khẳng định nỗi nhớ của mình đối với Việt Bắc.

     

    Mở đầu bài thơ, Việt Bắc đã hỏi người cán bộ cách mạng về xuôi:

     

     

    Mình về, mình có nhớ ta

     

     

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

     

     

    Câu hỏi này của Việt Bắc có nghĩa là: Anh về anh có nhớ tôi không? Nhớ anh và tôi đã gắn bó thiết tha mặn nồng suốt mười lăm năm ở Việt Bắc không? Và sau đó là hàng loại câu hỏi của Việt Bắc cũng mang nội dung này:

     

    Mình đi có nhớ nhưng ngày

     

     

    Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

     

     

    Mình về có nhớ chiến khu

     

     

    Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai

     

     

    Mình về rừng núi nhớ ai

     

     

    Trám bùi để rụng măng mai để già

     

    Mình đi có nhớ những nhà

     

     

    Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

     

     

    Mình về còn nhớ núi non

     

     

    Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh Việt Bắc cứ sợ người cán bộ cách mạng về xuôi quên mình nên cứ gợi lại những hình ảnh ở Việt Bắc, với bao hình ảnh thân thương đậm đà tình nghĩa. Việt Bắc vừa bộc lộ yêu thương vừa

     

    khao khát được yêu thương, nên cứ hỏi: “Mình đi có nhớ…”, “mình về có nhớ… “Mình về còn nhớ…?”…

     

    Để trả lời cho những câu hỏi này của Việt Bắc, người cán bộ cách mạng về xuôi đã khẳng định với Việt Bắc một điều thật chắc chắn rằng sẽ không bao giờ quên Việt Bắc, vẫn trước sau như một, không bao giờ thay đổi:

     

    Ta với mình, mình với ta

     

     

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

     

     

    Mình đi mình lại nhớ mình

     

     

    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

     

     

    “Ta” với “mình” gắn bó, xoắn xuýt, quyện chặt vào nhau làm nồng ấm cả một mối tình. Lòng người cán bộ cách mạng về xuôi đã chan chứa bao nhiêu tình cảm với Việt Bắc. Câu thơ “nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” đã nói lên tất cả điều ấy.

     

    Để làm nổi bật nỗi nhớ da diết của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc nhà thơ đã sử dụng điệp từ “nhớ” lặp đi, lặp lại rất nhiều lần và đặc biệt là nhà thơ đã so sánh nỗi nhớ ấy như nỗi nhớ trong tình yêu “Nhớ gì như nhớ người yêu”. Đây là một sự so sánh thật độc

     

    đáo của Tố Hữu, bởi trong muôn ngàn nỗi nhớ của con người trên cuộc đời, có lẽ nỗi nhớ trong tình yêu là nỗi nhớ ray rứt nhất quay quắt nhất. Ông cha ta ngày trước cũng đã bộc lộ khá độc đáo tâm trạng này:

     

    Đêm nằm lưng chẳng tới giường

     

     

    Trông trời mau sáng ra đường gặp em

     

     

    (Ca dao)

     

     

    Hay:

     

     

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

     

     

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than

     

     

    (Ca dao)

     

     

    Cho nên, ở đây nhà thơ chỉ có mượn nỗi nhớ trong tình yêu mới nói hết được nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc. Hình ảnh cảnh vật ở Việt Bắc và con người Việt Bắc cứ sống dậy mãnh liệt trong tâm hồn kẻ ra đi. Nỗi nhớ Việt Bắc của người cán bộ cách mạng hiện lên trong từng màu sắc, từng hình ảnh của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Những hình ảnh này như hòa quyện vào nhau, cảnh Việt Bắc đẹp và con người Việt Bắc cũng đẹp.

     

    Cảnh vật Việt Bắc và con người Việt Bắc hiện lên trong nỗi nhớ của người cán bộ qua bốn mùa. Mùa nào cũng đẹp, cũng nên thơ, cũng sinh động và dạt dào sức sống:

     

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

     

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     

     

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

     

     

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

     

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

     

     

    Hình ảnh Việt Bắc trong trí nhớ của người cán bộ về xuôi còn là một thiên nhiên hùng vĩ. Thiên nhiên ấy đã trở thành một nhân vật che chở cho bộ đội, đã vây lá quân thù, cùng nhân dân đánh giặc, trở thành một vùng chiến khu mênh mông:

     

    Nhớ khi giặc đến, giặc lùng

     

     

    Rừng cây, núi đá ta cùng đánh Tây

     

     

    Núi giăng thành lũy sắt dày

     

     

    Rừng che bội đội, rừng vây quân thù

     

     

    Mênh mông bốn mặt sương mù

     

     

    Đất trời ta cả chiến khu một lòng

     

     

    Càng nhớ Việt Bắc, người ra đi càng tự hào về Việt Bắc, bởi chính Việt Bắc là nơi ghi nhận những hình ảnh hào hùng của quân và dân ta trong thời kì kháng chiến chống Pháp:

     

    Những đường Việt Bắc của ta

     

     

    Đêm đêm rầm rập như là đất rung

     

    Quân đi điệp điệp trùng trùng

     

     

    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

     

     

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn

     

     

    Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay

     

     

    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

     

     

    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

     

     

    Việt Bắc còn là nơi ghi dấu, mở ra nhiều chiến công của quân và dân ta, đem lại bao niềm vui chiến thắng của dân tộc ta:

     

    Tin vui chiến thắng trăm miền

     

     

    Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

     

     

    Vui từ Đồng Tháp, An Khê

     

     

    Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng

     

     

    Người ra đi nhớ Việt Bắc cũng chính là nhớ nơi ghi dấu bao hoạt động của Trung ương Đảng và Chính phủ:

     

    Ai về ai có nhớ không

     

     

    Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang

     

     

    Nắng trưa rực rỡ sao vàng

     

     

    Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

     

    Điều quân chiến dịch thu đông

     

     

    Nông thôn phát động giao thông mở đường

     

     

    Giữ đê phòng hạn thu lương

     

     

    Gửi dao miền ngược thêm trường các khu

     

     

    Người cán bộ cách mạng về xuôi nhớ Việt Bắc không những chỉ nhớ thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc mà còn nhớ những con người Việt Bắc chân chất, đậm đà tình nghĩa, cần cù trong lao động và rất thủy chung, son sắt.

     

    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

     

     

    Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

     

     

    Nhớ Việt Bắc, người cán bộ về xuôi không thể nào quên hình ảnh của Bác Hồ trong những năm tháng Người sống nơi đây, bởi Người là ánh sáng, là niềm tin của cả dân tộc.

     

    Ở đâu u ám quân thù

     

     

    Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

     

     

    Ở đâu đau đớn giống nòi

     

     

    Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

     

     

    Mười lăm năm ấy ai quên

     

     

    Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa

     

     

    Tóm lại, nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi qua nghệ thuật diễn đạt của nhà thơ đó là một nỗi nhớ ray rứt, quay quắt như nỗi nhớ trong tình yêu, một nỗi nhớ có nhiều tầng, nhiều

     

    lớp, nhiều góc độ khác nhau. Nỗi nhớ ấy là cả một tấm lòng yêu thương, gắn bó, thủy chung, son sắt của người cán bộ cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc. Mối quan hệ tình cảm thắm thiết này đã nói lên được những tình cảm cách mạng cao đẹp của con người Việt Nam.

     

    Như vậy chúng tôi đã gợi ý Phân tích nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc trong bài Việt Bắc bài tiếp theo, các em chuẩn bị cho phần Bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc và cùng với phần Tính dân tộc qua bài Việt Bắc để có thể hiểu rõ hơn về nội dung này.

     

    Bài Mẫu Số 2: Phân Tích Nỗi Nhớ Của Người Cán Bộ Cách Mạng Về Xuôi Đối Với Việt Bắc Trong Bài Việt Bắc, Tố Hữu

     

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng và tháng 10 năm 1945 các cơ quan của Trung ương Đảng và Chính phủ về chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

     

    Việt Bắc gồm hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước khi hòa bình lập lại và ngợi ca công ơn của Đảng của bác Hồ với dân tộc. Đoạn trích thuộc phần đầu của bài thơ.

     

    Nội dung chính diễn tả những tình cảm cách mạng cao quý của nhân dân ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tố Hữu đã dùng lối hát giao duyên đối đáp giữa nam và nữ trong các hội hè đình đám ở miền Bắc nước ta. Trong ca dao, motip cặp từ mình ta rất phổ biến:

     

    • Mình về có nhớ ta chăng

     

     

    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười

     

     

    • Mình về ta chẳng cho về Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ

     

    • Mình về mình có nhớ chăng

     

     

    Ta về như lạt buộc khăn nhớ mình.

     

     

    • Ta về ta cũng nhớ mình

     

     

    Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao.

     

     

    Tố hữu thay vào nội dung tình yêu đôi lứa của dân ca bằng tình nghĩa cách mạng, tấm lòng son sắt thủy chung với Đảng, với nhân dân, qua cách nói cách xưng hô Mình – Ta. Tình cảm cao quý đó trở nên gần gũi, thắm thiết hơn:

     

    • Mình về mình có nhớ ta?

     

     

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

     

     

    Mình về mình có nhớ không?

     

     

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

     

     

    • Mình đi, có nhớ những ngày

     

     

    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

     

     

    • Ta với mình, mình với ta

     

     

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

     

     

    Mình đi, mình lại nhớ mình

     

     

    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

     

     

    Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người cán bộ cách mạng về xuôi. Họ là tượng trưng cho dân tộc kinh và người dân Việt Bắc, tượng trưng cho dân tộc miền ngược. Do đó tình cảm cách

     

    mạng ở đây còn là tình đoàn kết gắn bó giữa hai vùng miền xuôi- miền ngược, thể hiện chính sách dân tộc của Đảng ta và nhà nước ta.

     

    Hai mươi câu thơ đầu là lời trao gởi ân tình thắm thiết của Việt Bắc đối với cán bộ cách mạng về xuôi. Một loạt câu hỏi tu từ và điệp kiểu câu:

     

    • Mình về mình có nhớ ta?

     

     

    • Mình về mình có nhớ không?

     

     

    • Tiếng ai tha thiết bên cồn?

     

     

    • Mình đi, có nhớ những ngày?

     

     

    Tác giả gửi cho người đọc cảm nhận được tình cảm lưu luyến không muốn rời trong buổi chia tay người đi kẻ ở. Nhớ Việt Bắc là nhớ quê hương cách mạng, nhớ ngọn nguồn cách mạng, nơi để bao bọc những người cán bộ, chiến sĩ cách mạng trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều sóng gió:

     

    • Mình về mình có nhớ ta?

     

     

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

     

     

    Hình ảnh mười lăm năm ấy là một hình ảnh cụ thể, nhắc nhở thời kỳ đầu thành lập lực lượng vũ trang, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, cho đến ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Cả một thời gian dài gian khổ, đắng cay ấy, Việt Bắc đã ân tình, ơn nghĩa với cách mạng như thế, cho nên: nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

     

    Người ra đi làm sao tránh khỏi tâm trạng xao xuyến, bâng khuâng? Hai tính từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” cùng hiện diện trong câu thơ đổi ý càng khắc họa đậm nét tâm trạng ấy:

     

    Tiếng ai tha thiết bên cồn

     

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

     

     

    Áo chàm đưa buổi phân ly

     

     

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

     

     

    Niềm vui nỗi buồn của những tháng ngày cùng nhau vào sinh ra tử gửi lại miền đất. Nhưng sự ghi nhớ công ơn cưu mang của đồng bào Việt Bắc mãi mãi sẽ còn ở trong trái tim của người cách mạng khi về xuôi. Những câu hỏi của của người ở lại cũng là lời tự nhắc nhỏ mình của người đi:

     

    Mình đi, có nhớ những ngày

     

     

    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

     

     

    Mình về, có nhớ chiến khu

     

     

    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

     

     

    Nhớ Việt Bắc còn là những kỷ niệm gian khổ, khó khăn trong thời kỳ kháng chiến. Câu thơ thơ liệt kê “mưa nguồn suối lũ” được nhấn mạnh thêm bằng từ ngữ, cùng “những mây cùng mù” để tạo một loạt, nhấn mạnh thêm ý gian khổ, vất vả của cuộc kháng chiến. Hình ảnh “miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” có sức khái quát cao. Ý thơ nói lên tình đoàn kết chiến đấu, chia sẻ gian lao giữa hai vùng miền xuôi miền ngược là thấm thía, là sâu sắc, bền chặt.

     

    Nhớ Việt Bắc cũng là nhớ tình nghĩa đồng bào. Bằng cách nói mộc mạc, diễn tả tình cảm kín đáo mà tha thiết, tác giả bộc lộ niềm thương nhớ nỗi nhớ của người ở lại:

     

    Mình về, rừng núi nhớ ai

     

     

    Trám bùi để rụng, măng mai để già

     

    Mình đi, có nhớ những nhà

     

     

    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

     

     

    Mình về, còn nhớ núi non

     

     

    Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

     

     

    Mình đi, mình có nhớ mình

     

     

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

     

     

    Trám bụi để rụng, măng mai để già là cách nói bình dị mà sâu sắc vô cùng. Trám và măng là đặc sản quen thuộc của Việt Bắc. Đặc sản ấy từng là nguồn thức ăn của nhân dân và bộ đội trong những ngày kháng chiến. Ngày nay, qua rồi thời kỳ đói khổ, khó khăn, nhắc nhở những sản phẩm này với tấm lòng thiết tha trìu mến đối với Việt Bắc; xem đó là kỷ niệm sâu sắc trong đời. Qua đó làm nổi bật tấm lòng son sắt, thủy chung của người miền ngược và người miền xuôi.

     

    Đoạn sau là lời đáp tiếp theo tình nghĩa của cán bộ cách mạng trước lúc chia tay. Tó Hữu đã tái hiện thành công cảnh và người Việt Bắc bằng những chi tiết tiêu biểu nhất, đẹp đẽ nhất:

     

    Ta với mình, mình với ta

     

     

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

     

     

    Mình đi, mình lại nhớ mình

     

     

    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

     

     

    Nhớ gì như nhớ người yêu

     

     

    Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

     

    Nhớ từng bản khói cùng sương

     

     

    Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

     

     

    Nhớ từng rừng nứa bờ tre

     

     

    Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

     

     

    Ta đi, ta nhớ những ngày

     

     

    Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

     

     

    Thương nhau, chia củ sắn lùi

     

     

    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

     

     

    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

     

     

    Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

     

     

    Nhớ sao lớp học i tờ

     

     

    Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

     

     

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

     

     

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

     

     

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

     

     

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

     

     

    Tuy thiếu thốn, gian khổ nhưng cảnh và người Việt Bắc đẹp và tình nghĩa chan hòa. Tình nghĩa sâu đậm ấy thể hiện qua hình ảnh tượng trưng “chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui

     

    đắp cùng” kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa chia sẻ. Cách dùng từ mượt mà diễn tả được mối tình cảm chia ngọt sẻ bùi giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng. Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong “củ sắn”, “bát cơm”, “chăn sui” mà người cán bộ cách mạng đã chịu ơn Việt Bắc

     

    Hình ảnh thơ được chọn lọc kĩ lưỡng khi nói về nỗi vất vả và hi sinh của con người Việt Bắc đối với cách mạng. Hình ảnh người mẹ nắng cháy lưng gợi cho người đọc liên tưởng đến sự tảo tần chắt chiu, sự cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ Việt Nam trong kháng chiến đã đùm bọc,cưu mang chiến sĩ, cán bộ cách mạng. Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong ký ức của người về xuôi.

     

    Đoạn thơ còn lại dựng lên những khung cảnh quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh theo suất tiêu biểu cho sinh hoạt trong kháng chiến ở Việt Bắc. Câu thơ đối ý về nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ, chiến sĩ cách mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khăn:

     

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

     

     

    Âm thanh tiếng “mõ rừng chiều” và “chày đêm nện cối đều đều suối xa” là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc, phản ánh sinh hoạt yên ả, bình dị nơi núi rừng, gợi nhớ một thời đã qua.

     

    Đặc sắc nhất là đoạn thơ hồi ức về cảnh đẹp rừng núi Tây Bắc qua bốn mùa trong năm tươi xanh:

     

    Ta về, mình có nhớ ta

     

     

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

     

     

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

     

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     

     

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

     

     

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

     

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

     

     

    Một loạt từ chỉ màu sắc: xanh, đỏ tươi, trắng, vàng tạo một cảm giác tươi mát, vui mắt các bức tranh phong cảnh. Mùa xuân với hoa mai nở trắng rừng. Mùa hè với âm thanh ra kêu tạo thành một bạn học tới của rừng xanh. Mùa thu với ánh trăng hòa bình êm đềm trong sáng. Giữa cây cỏ thiên nhiên, con người Việt Bắc xuất hiện với sự hiền hòa, nhân hậu, trong tư thế lao động cần cù, tự tin. Hình ảnh “dao gài thắt lương”, “đan nón chuốt từng sợi giang”, “hái măng một mình” mang sức sống mạnh mẽ, khiến bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động và có ý nghĩa hơn.

     

    Việt Bắc còn nghi lại những chiến công của bộ đội, nhân dân ta trong kháng chiến chống

     

    Pháp. Đoạn thơ toát lên vẻ đẹp hào hùng của dân quân ta:

     

     

    Những đường Việt Bắc của ta

     

     

    Đêm đêm rầm rập như là đất rung

     

     

    Quân đi điệp điệp trùng trùng

     

     

    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

     

    Bằng những điệp từ điệp điệp, trùng trùng và từ ngữ láy phụ âm đầu rầm rập diễn tả được hào khí ngút trời của bộ đội, dân công trên đường ra mặt trận. Với lối nói thậm xưng, bước chân nát đá tác giả cũng muốn nhấn mạnh sự lớn dậy và kiên cường, bất khuất của bộ đội ta thời kì này. Họ bước đi trong ánh sáng của lý tưởng yêu nước và cách mạng dẫn đường. Họ đưa dân tộc bước đến tương lai tươi sáng. “Ánh sao đầu súng” là mọt hình ảnh tuyệt đẹp. Nó khiến ta nhớ đến hình ảnh “đầu súng trăng treo” trong bài thơ đồng chí của Chính Hữu khi nói về người lính thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Cũng là ánh sáng ấy, nhưng giờ đay nó lớn mạnh và rực rỡ vô cùng.

     

    Quê hương Việt Bắc còn là đầu não của cuộc kháng chiến toàn quốc, là niềm tin vững chắc của nhân dân về lãnh tụ:

     

    Ở đâu u ám quân thù

     

     

    Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

     

     

    Ở đâu đau đớn giống nòi

     

     

    Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

     

     

    Mười lăm năm ấy ai quên

     

     

    Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà

     

     

    Đoạn thơ nhấn mạnh uy tín của Bác, của Đảng đối với toàn dân, toàn quân trong thời kỳ kháng chiến gian khổ.

     

    Việt Bắc là bài thơ thành công của Tố Hữu và của nền thơ cách mạng Việt Nam. Bằng thể thơ lục bát mang âm hưởng ngọt ngào, thiết tha của ca dao dân ca, Tố Hữu đã ghi lại những lời giao đối, những câu hỏi da diết, những tiếng vọng thủy chung của người đi kẻ ở trong một cuộc chia tay đầy lưu luyến. Từ lẽ sống và tình cảm lớn lao đến giọng điệu tâm tình ngọt

     

    ngào, từ những bút pháp nghệ thuật đậm đà tính dân tộc cho đến những thi liệu, thi tứ phảng phất âm hưởng của ca dao dân ca hết sức chân tình. Tình nghĩa của người cán bộ và đồng bào Việt Bắc với cách mạng, kháng chiến, với Bác Hồ là những tình cảm cách mạng sâu sắc của thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập và tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%C4%A8-N%C4%82NG-L%C3%80M-B%C3%80I-V%C4%82N-NGH%E1%BB%8A-LU%E1%BA%ACN-X%C3%83-H%E1%BB%98I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    A/Điểm chung

     

    I/Loại:

    Cả 3 dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học đều thuộc loại bài nghị luận xã hội.

     

    II/Thao tác:

    Các dạng bài NLXH đều vận dụng chung các thao tác lập luận là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Ba thao tác cơ bản nhất là giải thích, chứng minh, bình luận.

     

    1/Giải thích

     

    a/Mục đích: Hiểu

     

     

    b/Các bước:

     

    -Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề. Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là một câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng do người ra đề đề xuất, người viết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ ngữ. Nếu vấn đề là một hiện tượng đời sống, người viết cần cho biết đó là hiện tượng gì, hiện tượng đó biểu hiện ra sao, dưới các hình thức nào (miêu tả, nhận diện)…

     

    Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết.

     

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi LÀ GÌ.

     

    -Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu có vấn đề đó). Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù của thao tác giải thích. Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng.

     

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi TẠI SAO.

     

    -Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn cuộc sống như thế nào. Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như thế nào.

     

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi NHƯ THẾ NÀO.

     

    **Lưu ý:

     

    -Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn. Mục đích đặt câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn. Cũng có thể không cần đặt trực tiếp ba câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận điểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó. -Tuỳ

     

    theo thực tế của đề và thực tế bài làm, bước NHƯ THẾ NÀO có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt buộc.

     

    2/Chứng minh

     

    a/Mục đích: Tin

     

     

    b/Các bước:

     

    -Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.

     

     

    -Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.

     

    3/Bình luận

     

    a/Mục đích: Đồng tình

     

     

    b/Các bước:

     

     

    • Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.

     

    • Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai). Làm tốt phần này chính là đã bước đầu đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.

     

    • Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn.

     

    • Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại.

     

    B/Nét riêng

     

     

     

    I.Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

     

    1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

     

    2.Đề tài:

     

     

    Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…).

     

    Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lư cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ…).

     

    Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…).

     

     

    Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).

     

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

     

    -Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (hiểu vấn đề cần nghị luận là gì).

     

     

    -Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luậ

     

    -Nêu ý nghĩa của vấn đề (bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí).

     

    4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:

     

     

    • Tình thương là hạnh phúc của con người.

     

    • “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”

     

     

    • kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy n học tập của bản thân?

     

    • Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học đ chung sống, học để tự khẳng định mình”.

     

    • Suy nghĩ của em về triết lí sau: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học cách làm c

     

    • Trả lời câu hỏi điều tra của nhà bác học Hantơn, nhà bác học Đacuyn nói về kinh nghiệm

     

    sau: “Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có giá trị một chút, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học.”

     

    Bình luận câu nói trên. Anh, chị có suy nghĩ gì về con đường học tập sắp tới của mình?

     

     

    • “Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của nguời bạn, người hoặc của bất cứ một đồng bào nào mà em gặp, nếu đứa trẻ không biết đọc trong mắt người khác đ tim người đó thì đứa trẻ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính.”

     

    Em hãy bày tỏ ý kiến của mình về nhận định trên của nhà sư phạm Xukhômlinxki.

     

     

    • Bình luận danh ngôn: “Tiền mua được tất cả, trừ hạnh phúc.”

     

    • Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng cả nước nhân dịp Tết 1946, Bác Hồ viết:

     

     

    “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã Hãy giải thích và nêu suy nghĩ của em về lời dạy của Bác.

     

    • Giải thích câu nói của Gorki: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.”

     

     

    • Đồng chí Lê Duẩn có nói: “Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái.”

     

     

     

     

     

    • Nhà thơ Pháp La Phôngten (La Fontaine) có nói :

     

    • Tính ích kỉ là thuốc độc giết chết tình bạn. » Hãy bình luận câu nói trên.

     

    • Suy nghĩ của em về câu danh ngôn: “Một người bạn chân thành là một người bạn tốt”.

     

    • Một nhà giáo dục đã nêu một quan niệm như sau:

     

     

    Con đường từ nhà đến trường của mỗi người học sinh tuy khác nhau nhưng nơi đến ở cu giống nhau: ở đó, có một ngôi trường đầy tình thân và sự san sẻ.

     

    Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó.

     

    -Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi

     

     

    Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

     

    • Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói:

     

     

    “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” (

     

    • Phải chăng, “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi.”?

     

    • “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên đ hướng thì không có cuộc sống.” (Lép Tôn-xtôi)

     

    Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng c

     

     

    • Phải chăng “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát l hồn tàn lụi ngay khi còn sống.”? (Noóc-man Ku-sin, theo “Những vòng tay âu yếm – NXB Trẻ, 200

     

    • Tiền tài và hạnh phúc.

     

    • “Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ.”

     

     

    Anh, chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó?

     

    II/Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống

     

    1/Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

     

     

    2.Đề tài: Những hiện tượng tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm.

     

     

    -Chấp hành luật giao thông ở nông thôn.

     

     

    -Hiến máu nhân đạo

     

    -Nạn bạo hành trong giao đình

     

    -Phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi

     

    -Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn

     

     

    -Cuộc đấu tranh chống nạn phá rừng

     

    -Những tấm gương người tốt việc tốt

     

     

    -Nhiều bạn trẻ quên nói lời xin lỗi khi mắc lỗi

     

    -Nhiều bạn trẻ quên nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ

     

    -…

     

     

    **Lưu ý:

     

    Nên quy thành từng cụm đề tài nhỏ như dạng bài NLVMTT, ĐL để dễ nhận diện:

     

     

    Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…).

     

    Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lư cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ…).

     

    Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…).

     

    Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).

     

     

     

     

     

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

     

    -Nêu rõ hiện tượng.

     

    -Nêu nguyên nhân. Phân tích các mặt đúng-sai, lợi-hại.

     

    -Bày tỏ thái độ, ý kiến về hiện tượng xã hội đó.

     

     

     

    4.Một số đề tham khảo:

     

    • Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang t thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươ đẹp.

     

    Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.

     

    • Về hiện tượng ngày càng có nhiều người rời bỏ quê hương để đổ xô về các thành phố lớn.

     

     

    • Về hiện tượng nhiều người trong lớp trẻ hôm nay lạnh nhạt với âm nhạc truyền thống.

     

     

    -…

     

    III/Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

     

    1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

     

    2.Đề tài:

     

    Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học, *Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học.

     

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

     

    a/Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện).

     

    b/Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện).

     

     

    4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:

     

    -Từ đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ, nghĩ

     

    về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người.

     

    -Đọc văn bản “Hoa hồng tặng mẹ”:

     

     

     

     

    Nêu suy nghĩ của anh (chị) từ ý nghĩa của câu chuyện “Hoa hồng tặng

     

    mẹ”.

     

     

     

    “Con cò mà đi ăn đêm,

     

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.

     

    Ông ơi, ông vớt tôi nao!

     

     

    Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.

     

    Có xáo thì xáo nước trong,

     

     

    Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con”

     

    Từ bài ca dao, hãy bàn về vấn đề lẽ sống của con người Việt Nam.

     

    -Từ tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng, hãy bàn về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội.

     

    -Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nghĩ thêm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây