Author: Nguyễn Huyền

  • Văn mẫu Quan niệm văn học của Cao Bá Quát

    Văn mẫu Quan niệm văn học của Cao Bá Quát

    Văn mẫu Quan niệm văn học của Cao Bá Quát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Quan niệm văn học của Cao Bá Quát

    Văn mẫu Quan niệm văn học của Cao Bá Quát

    BÀI LÀM

    Cao Bá Quát là nhà thơ lỗi lạc thời trung đại, chẳng những sáng tác hết sức dồi dào mà

    quan niệm về văn học cũng có nhiều điều mới mẻ so với thời đại của ông. Trong điều

    kiện tư liệu còn hạn chế, tập 2 Toàn tập Cao Bá Quát chưa xuất bản, chúng tôi xin đưa ra

    đôi điều nhận xét sơ bộ.

    Trước hết là quan niệm của ông về mối quan hệ giữa văn chương và quốc ngữ. Quốc ngữ

    là tiếng nói của dân tộc, còn văn chương là ngôn từ nghệ thuật, văn học, hai phạm vi khác

    nhau. Nói về quốc ngữ, quan điểm của Cao Bá Quát thực rõ ràng. Ông viết: “Sống ở đất

    này, có thể bỏ được tiếng quốc ngữ không? Không bỏ được. Đọc sách quốc ngữ, có thể

    bỏ được truyện Hoa tiên và Kim Vân Kiều không? Không bỏ được. Ôi, người xưa đã đem

    tâm chí đúc chuốt thành lời hay ý đẹp, cốt để chắp lòng nối cánh cho văn chương của ta,

    mà lại coi thường được sao?”(1).

    Sưu tầm

    Quốc ngữ không thể bỏ. Quốc ngữ lại được trau chuốt làm nền tảng cho văn chương

    nước nhà như Hoa tiên, Kim Vân Kiều là điều không thể phủ nhận, không ai phủ nhận.

    Vậy có thể lấy quốc ngữ làm văn chương được không? Câu trả lời tưởng đã có từ thời

    Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi, ai ngờ bây giờ lại được đặt ra lại. Quan điểm của

    Cao Bá Quát hình như còn có chỗ chưa dứt khoát. Một mặt ông thận trọng suy nghĩ:

    “Than ôi, lấy quốc ngữ làm văn chương thì ta chưa dám, nhưng lấy văn chương mà coi

    quốc ngữ thì ta có phần tán thành.” Ông chưa dám lấy quốc ngữ làm văn chương, Nhưng

    mặt khác ông đã thấy quá trình văn Nôm phát triển: “Nước ta từ sau Hàn Thuyên, các tác

    gia mọc lên như rừng: Ôn Như Hầu làm thơ cổ khuôn mẫu ngang với Thiếu Lăng; Bằng

    quận công(2) đặt điệu cung từ, giong ruỗi không nhường Hán Nguỵ; đến như văn hay của

    truyện khúc nay ta đã được thấy Hoa Tiên và Kim Vân Kiều. Như vậy chỉ coi quốc ngữ

    là quốc ngữ thì hai cuốn truyện này không có cũng được, nhưng nếu phải cần tiến lên, tìm

    cách làm cho rõ thế nào là văn chương của ta, thì các bạn cùng yêu văn với ta nghĩ sao

    đây?” thì có vẻ như ông còn lưỡng lự. Thế nghĩa là lấy văn chương mà đánh giá quốc ngữ

    thì ông có phần tán thành, bởi vì đã có Hoa Tiên và Kim Vân Kiều làm chứng. Nhưng lấy

    quốc ngữ làm văn chương thì ông vẫn hoài nghi. Vì sao lại chưa dám? Rõ ràng không

    phải quốc ngữ chưa đủ phẩm chất để làm văn chương. Lí do có lẽ là vì lúc này quốc ngữ

    chưa có những áng văn xuôi có thể sánh ngang với Hán văn. Xét về mặt này thì sự ngập

    ngừng của họ Cao có thể hiểu được, bởi vì phải đến đầu thế kỉ XX chúng ta mới có văn

    xuôi quốc ngữ dưới dạng quốc văn mới. Khi quốc ngữ chỉ mới có văn vần mà chưa có

    văn xuôi thì nó chưa thể làm được văn chương hoàn bị. Dù sao một sự ngập ngừng đã

    làm cho ở thế kỉ của Cao Bá Quát, một khẩu hiệu dùng quốc ngữ để sáng tác văn chương

    là chưa thể đề xuất ra được, phải đợi đến đầu thế kỉ XX. Cũng có thể vì thời nhà Nguyễn

    quá đề cao chữ Hán, độc tôn nho học. Phải chăng văn chương đây còn có nghĩa là văn

    bản dùng trong hệ thống nhà nước, trong thi cử, cho nên theo tác giả vẫn nên dùng chữ

    Hán tốt hơn. Thực tế thơ văn của ông cũng cho thấy, tuy sáng tác chữ Nôm rất hay,

    nhưng hầu hết sáng tác của Cao Bá Quát, bao gồm hàng nghìn bài đều làm bằng chữ Hán.

    Ông vẫn coi trọng chữ Hán hơn chữ Nôm. Quan niệm ấy đã hạn chế sáng tác chữ Nôm

    của ông, một nhà thơ tài hoa, không thể không lấy làm tiếc cho văn học nước nhà.

    Nhìn chung quan niệm văn chương của Cao Bá Quát về cơ bản là quan niệm văn học nho

    gia. Trong bài Đọc Kinh Thi ông tâm niệm: “Làm thơ Tang hổ để nghĩ đến người thiện,

    Hát chương Thấp linh vì nhớ đến người hiền. Ngìn năm sau, ai đã nối được âm điệu,

    Lòng những muốn trông làm khuôn mẫu”…

    Nhưng ông là người yêu tự do: “Chiếc nón nghênh ngang lẫn với đời, “Giang ngoại

    xuân” dạo hát thảnh thơi – Chịu sao nổi mái nhà thấp khúm núm cúi ngửa theo ý người”…

    Vì thế về nội dung văn học, Cao Bá Quát đã có quan niệm cởi mở. Ông phản đối những

    kẻ “khinh bạc”, xem Hoa Tiên là “lối văn dâm đãng, khúc hát lẳng lơ”, “thực đáng buồn

    cười”. Ông coi trọng chữ tình trong văn chương: “Xưa nay nỗi khổ của người ta không gì

    bằng chữ tình”, trong truyện Hoa Tiên “chữ tình được thể hiện sâu sắc, đến như tan hợp,

    buồn vui, vị trí cảnh ngộ thực éo le kì lạ, lời nói thì bi tráng, văn viết thì trầm hùng,

    những cái đó khác nào như bụi bặm, cám bã mà đem hun đúc thành gạch ngói, giúp đỡ

    các tác giả, khiến cho sau này truyện Kim Vân Kiều có thể xuất hiện”(3). Ở đây không

    thể không đánh giá cao quan điểm tiến bộ và quan điểm lịch sử của Cao Bá Quát.

    Điểm nổi bật nhất là Cao Bá Quát phê bình thơ đương thời thiếu cá tính sáng tạo, ý thức

    tự chủ còn thấp. Trong bài Tựa viết cho tập thơ của Miên Thẩm, ông viết: “Tôi nghĩ, thơ

    thật khó nói. Quốc công cũng biết rồi. Hiện nay cái học khoa cử in sâu vào người ta đã

    mấy trăm năm, tiếng vang của phong nhã hầu như đã tắt hẳn. Quốc triều ta trị giáo sáng

    sủa, các tác gia lại nối gót mà ra đời. Nhưng vì cái thói uỷ mị, yếu ớt còn rơi rớt lại, ít có

    người tự thoát ra được: người kém thì khổ vì nỗi làm theo mẫu, dễ dãi; người có hào khí

    thì mắc vào bệnh nuốt sống, bắt tươi. Có những người sức học gọi là dồi dào, hí hửng tự

    đắc, thì chỉ muốn vơ vét trăm nhà, thâu tóm mọi thể, thành ra mô phỏng quá nhiều mà

    phong cốt chưa cao, tô điểm có khéo, nhưng tinh thần còn thấp”(4).

    Trong bài thơ Văn tất kỉ xuất (Văn phải tự mình làm ra), ông càng phê bình gay gắt hơn

    khuyết điểm ấy và khẳng định mạnh mẽ tinh thần tự sáng tạo. Bài thơ viết: Đâu cần tài

    chạm khắc – Làm văn tế cá sông – Tu từ lòng thành thật – Màu sắc phải siêu quần – Đạo

    văn là cặn bả – Ý mới trong điển phần – Lời cũ diệt như cỏ – Tứ lạ vút từng không – Theo

    mẫu tự bôi bẩn – Tiền cũ chẳng ai cần – Lời thật nên tác giả – Ngòi bút quét nghìn quân –

    Tự đắc khác đồng đắc – Lời viết theo người khác – Chỉ đáng cúng quỷ thần – Dám gửi

    trọn ước mong(5).

    Ông đả kích mạnh mẽ: kẻ đạo văn chỉ là loại cặn bả; kẻ làm theo mẫu chỉ là tự bôi bẩn

    mình, văn ấy như đồng tiền cũ không ai dùng; lời cũ phải dẫy bỏ đi như cỏ, không đáng

    tiếc, có thế cái mới lạ mới có dịp được khẳng định; nói theo người khác răm rắp thì chỉ

    dùng làm đồ cúng. Chẳng phải lời cúng thì muôn người gần như nói giống nhau đó sao?

    Trong thời trung đại ý thức tác giả chưa cao, làm văn thơ thường hay vay mượn, sao

    chép, có ý tưởng như Cao Bá Quát thật là một tư tưởng mới mẻ, hiếm có, và cũng chưa

    có ai lên án tệ sao chép, dạo văn, ít sáng tạo mạnh mẽ như Cao Bá Quát.

    Ông chủ trương làm văn lòng phải thành thật, nảy sinh tự lòng mình. Tư tưởng này mới

    nhìn thì không mới, bởi từ xưa trong Kinh Dịch trong quẻ càn đã có câu: “Tu từ lập kì

    thành”. Nghĩa là lựa chọn từ ngữ biểu cảm phải đứng vững trên sự chân thành, lòng thành

    thực của người viết. Nhưng Cao Bá Quát đề ra yêu cầu cao hơn: Màu sắc phải siêu quần,

    tứ lạ vút tầng không. Cái “thành” đó phải dựa vào “tự đắc”có tính cá nhân, phân biệt với

    “đồng đắc”có tính chất tập thể (tức “cộng cảm”), có nghĩa là mỗi người phải có cái riêng

    (tức “độc cảm”) không lặp lại với người khác. Tất nhiên tự đắc không loại trừ “đồng

    đắc”, mà có liện hệ nội tại. Chúng ta bây giờ một thời gian dài hầu như chỉ nhấn mạnh tới

    “đồng đắc”, vẫn lấy quần chúng làm chuẩn, trong khi Cao Bá Quát chủ trương “siêu

    quần”, vượt lên đám đông bình quân chủ nghĩa. Ông lại chủ trương nói thật (chân) mới

    làm nên tác giả, có lẽ cái thật trong văn học là phát hiện riêng, “tự đắc” của mỗi người,

    không phải là cái thật chung chung, cái “đồng đắc”.

    Quan niệm văn phải tự mình nhà văn mà ra mới nhìn có nét tương đồng với quan niệm

    “văn như kì nhân” trong lí luận văn học cổ điển Trung Quốc hay “phong cách ấy là con

    người” của Buffon thế kỉ XVII nhưng xét ra Cao Bá Quát nói về tính độc sáng trong sáng

    tác. Văn như kì nhân nhấn mạnh đến văn của người ở lầu son gác tía thì khác với văn của

    người ở lều tranh cửa sài, văn của người chí ở miếu đường thì khác văn của người chí ở

    nơi điền dã. Phong cách ấy là con người thì khẳng định văn phong gắn với cách tư duy

    của mỗi người: người tư duy mạch lạc thì văn sáng sủa, người tư duy rối rắm thì văn tù

    mù. Còn vấn đề của Cao Bá Quát là văn phải tự mình viết ra, không được sao chép, vay

    mượn, đồ lại của người khác.

    Ông chủ trương làm thơ tự nhiên, không đẽo gọt. Trong bài thơ Đúng là mưa giục thơ,

    ông hình dung trận mưa gợi cho ông từ ý tứ tới nhịp điệu, ngôn ngữ: Đầy trời mưa đúng

    lúc – Giúp ta có hứng ngâm – Chèo thuyền giục tay bút – Đối khách thơ mới ra – Tinh thần

    tràn mặt giấy – Tí tách vó ngựa phi – Ngân hà tranh rửa bút – Tầm sét mượn tu từ – Khạc

    lời nghĩ theo gió – Ngọc nẩy kết ý hay – Rào rào tiếng vang dội – Lời chọn thấm đẫm tình

    – Chắc sớm tìm li châu – Chỉ sợ nâng chén muộn – Trong mắt chẳng ai hơn – Chỉ mơ

    màng ông Đỗ(6). Trong khi làm thơ các yếu tố của mưa đều gợi ra các khâu của việc làm

    thơ, chẳng hạn chèo thuyền gợi tay đưa bút nhẹ, nước chảy gợi tinh thần lai láng, tiếng tí

    tách gõ song gợi nhịp thơ như ngựa chạy, gió thổi như phóng tưởng, tầm sét ví như chọn

    lựa lời thơ, mưa thấm ướt ví như lời thấm thía. Nhà thơ để lòng hư không để cho tự nhiên

    vận hành trong tâm hồn. Bài thơ thể hiện “thi pháp tự nhiên”, nghĩa là thơ học theo phép

    của tự nhiên.

    Có lẽ do quan niệm thơ chân thành, tự nhiên, có cá tính sáng tạo, phản đối bắt chước mà

    Cao Bá Quát có cách lựa chọn hình thức thơ cho mình. Thơ tiếng Việt ông thích thể hát

    nói, thơ chữ Hán ông thích thơ ca, hành, cổ phong, những thể thơ tự do, ít làm thơ luật.

    Đây là điểm có khác Nguyễn Du. Thơ chữ Hán Nguyễn Du có 249 bài, trong đó có 22 bài

    ca hành, cổ phong, bằng 8,8%, trong khi đó thơ chữ Hán của Cao Bá Quát (Toàn tập, tập

    1) có 418 bài, trong đó có 77 bài cổ phong, ca hành, tương đương 18,4%, nhiều hơn gấp

    đôi.

    Có thể khẳng định rằng, mặc dù quan niệm hoài nghi văn chương chữ Nôm đã hạn chế

    sáng tác thơ Nôm của nhà thơ, song quan niệm thích tự do, trọng cá tính sáng tạo là nhân

    tố cơ bản làm nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ Cao Bá Quát.

  • Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    BÀI LÀM

    Nhà văn Hoài Thanh có nói: “Thơ Bác đầy trăng”. Thật vậy, Bác đã viết nhiều bài

    thơ trăng. Trong số đó, bài “Ngắm trăng” là bài thơ tuyệt tác, mang phong vị

    Đường thi, được nhiều

    người ưa thích.

    NGẮM TRĂNG

    “Trong tù không rượu cũng

    không hoa

    Cảnh đẹp đêm nay khó

    hững hờ.

    Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

    Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một

    hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn

    Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng

    trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết.

    Hai câu thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện. Đang sống trong nghịch cảnh,

    và đó cũng là sự thật “Trong tù không rượu cúng không hoa” thế mà Bác vẫn thấy

    lòng mình bối rối, vô cùng xúc động trước vầng tăng xuất hiện trước cửa ngục đêm

    nay. Một niềm vui chợt đến cho thi nhân bao cảm xúc, bồi hồi.Trăng, hoa, rượu là

    ba thú vui tao nhã của khách tài tử văn chương. Đêm nay trong tù, Bác thiếu hản

    rượu và hoa, nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào trước vẻ đẹp hữu tình của thiên

    nhiên.

    Câu thơ bình dị mà dồi dào cảm xúc. Bác vừa băn khoăn, vừa bối rối tự hỏi mình

    trước nghịch cảnh: Tâm hồn thì thơ mộng mà chân tay lại bị cùm trói, trăng đẹp thế

    mà chẳng có rượu, có hoa để thưởng trăng?

    “Trong tù không rượu cũng không hoa,

    Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”.

    Sự tự ý thức về cảnh ngộ đã tạo cho tư thế ngắm trăng của người tù một ý nghia

    sâu sắc hơn các cuộc ngắm trăng, thưởng trăng thường tình. Qua song sắt nhà tù,

    Bác ngắm vầng trăng đẹp. Người tù ngắm trăng với tất cả tình yêu trăng, với một

    tâm thế “vượt ngục” đích thực? Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh

    thần người tù có bản lĩnh phi thường như Bác:

    “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ”…

    Từ phòng giam tăm tối, Bác hướng tới vầng trăng, nhìn về ánh sáng, tâm hồn thêm

    thư thái. Song sắt nhà tù tỉnh Quảng Tây không thể nào ngăn cách được người tù

    và vầng trăng! Máu và bạo lực không thể nào dìm được chân lý, vì người tù là một

    thi nhân, một chiến sĩ vĩ đại tuy “thân thể ở trong lao” nhưng “tinh thần” ở ngoài

    lao”

    Câu thứ tư nói về vầng trăng. Trăng có nét mặt, có ánh mắt và tâm tư. Trăng được

    nhân hóa như một người bạn tri âm, tri kỷ từ viễn xứ đến chốn ngục tù tăm tối

    thăm Bác. Trăng ái ngại nhìn Bác, cảm động không nói nên lời, Trăng và Bác tri

    ngộ “đối diện đàm tâm”, cảm thông nhau qua ánh mắt. Hai câu 3 và 4 được cấu

    trúc đăng đối tạo nên sự cân xứng hài hoà giữa người và trăng, giữa ngôn từ, hình

    ảnh và ý thơ:

    “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

    Ta thấy: “Nhân, Nguyệt” rồi lại “Nguyệt, Thi gia” ở hai đầu câu thơ và cái song sắt

    nhà tù chắn ở giữa. Trăng và người tù tâm sự với nhau qua cái song sắt nhà tù đáng

    sợ ấy. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người xuất hiện một sự hóa

    thân kỳ diệu: “Tù nhân” đã biến thành thi gia. Lời thơ đẹp đầy ý vị. Nó biểu hiện

    một tư thế ngắm trăng hiếm thấy. Tư thế ấy chính là phong thái ung dung, tự tại,

    lạc quan yêu đời, yêu tự do. “Ngắm trăng” là một bài thơ trữ tình đặc sắc. Bài thơ

    không hề có một chữ “thép” nào mà vẫn sáng ngời chất “thép”. Trong gian khổ tù

    đầy, tâm hồn Bác vẫn có những giây phút thảnh thơi, tự do ngắm trăng, thưởng

    trăng.

    Bác không chỉ ngắm trăng trong tù. Bác còn có biết bao vần thơ đặc sắc nói về

    trăng và niềm vui ngắm trăng: Ngắm trăng trung thu, ngắm trăng ngàn Việt Bắc, đi

    thuyền ngắm trăng,… Túi thơ của Bác đầy trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ…”,

    “… Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền…”, “Sao đưa thuyền chạy, thuyền

    chờ trăng thưo…” Trăng tròn, trăg sáng… xuất hiện trong thơ Bác vì Bác là một

    nhà thơ giàu tình yêu thiên nhiên, vì Bác là một chiến sĩ giàu tình yêu đất nước quê

    hương. Bác đã tô điểm cho nền thi ca dân tộc một số bài thơ trăng đẹp.

    Đọc bài thơ tứ tuyệt “Ngắm trăng” này, ta được thưởng một thi phẩm mang vẻ đẹp

    cổ kính, hoa lệ. Bác đã kế thừa thơ ca dân tộc, những bài ca dao ói về trăng làng

    quê thôn dã, trăng thanh nơi Côn Sơn của Nguyễn Trãi, trăng thề nguyền, trăng

    chia ly, trăng đoàn tụ, trăng Truyện Kiều. “Song thưa để mặc bóng trăng vào”…

    của Tam Nguyên Yên Đổ, v.v….

    Uống rượu, ngắm trăng là cái thú thanh cao của các tao nhân mặc khách xưa, nay –

    “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén” (Nguyễn Trãi). Ngắm trăng, thưởng trăng

    đối với Bác Hồ là một nét đẹp của tâm hồn rất yêu đời và khát khao tự do. Tự do

    cho con người. Tự do để tận hưởng mọi vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương xứ sở.

    Đó là cảm nhận của nhiều người khi đọc bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh.

  • Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    BÀI LÀM

    Cuối cùng thì người cầm quyền cũng khôi phục lại uy quyền của mình sau hơn hai mươi năm đổi mới và cải cách. [Đoạn văn trên được rút ra từ cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của Victor Hugo Những người khốn khổ (1869)]. Đoạn trích giảng này từng được sử dụng trong sách giáo khoa trích giảng văn học cấp ba những năm tám mươi trở về trước, nay nó trở lại với bạn đọc học sinh trong một hoàn cảnh khác. Dĩ nhiên như một vòng tròn biện chứng, sự trở lại này sau hai mươi năm không hề là một sự lặp đơn thuần mà là có nâng cao thông qua cách hiểu, cách đọc mới cũng như theo yêu cầu của cách giảng dạy tích hợp mà người soạn sách dành cho học sinh. Sách giáo khoa đã sử dụng bản dịch duy nhất sau năm 1945 ở miền Bắc của nhóm dịch giả Lê Quý Đôn cho việc giảng dạy trong nhà trường. Đoạn văn trích trên nằm ở cuối phần thứ nhất, trọn vẹn chương 4 Người cầm quyền khôi phục uy quyền (l’autorité reprend ses droits) sau khi Giăng Van-giăng quyết định ra tự thú trước pháp luật để cứu một người bị Gia-ve bắt nhầm. Cảnh miêu tả cuộc gặp gỡ của ba người: Gia-ve, Giăng Van-giăng và Phăng-tin đang hấp hối dưới sự chứng kiến của bà xơ Xem-pli-xơ. Nhân vật bà xơ được nhắc đến một lần duy nhất trong cảnh không đóng vai trò đáng kể nào cho hành động kịch của cảnh truyện, nhưng giúp cho việc dẫn dắt cách diễn giải câu chuyện, định hướng người đọc.

    Đoạn văn dịch gồm bảy câu, trong đó có bốn câu hỏi, một câu trả lời trực tiếp, một câu phức mở rộng miêu tả mang giọng điệu trữ tình cảm thán. Trong số bốn câu hỏi, xét thực chất chỉ có một câu được láy đi láy lại với những biên độ, chiều kích mở rộng khác nhau mang dấu ấn phong cách tu từ học rất rõ và tiêu biểu của Hugo. Ông nói gì với chị, đó là nội dung câu hỏi duy nhất được đặt ra. Nhưng với cách sắp xếp các câu được lặp ý trong

    đoạn văn theo trật tự đan xen ngắn-dài, nên người đọc như nghe thấy nhịp điệu luyến láy của thuật hùng biện. Câu khẳng định Chẳng ai trên thế gian này nghe được vừa láy lại ý hai câu hỏi trước (nói cái gì), vừa chuyển hướng sang câu hỏi tu từ cuối cùng để làm đà bật lên câu văn trữ tình quen thuộc của Hugo (hiệu quả việc nghe như thế nào). Câu văn vừa mang tính triết lý, lại vừa có tính khoa trương hùng biện, vừa để trả lời lại vừa để suy tư thông qua phần miêu tả. Sự kết hợp của những hình ảnh tương phản trong câu văn: nụ cười và cái chết, nhợt nhạt và xa xăm, bà xơ (đại diện cho đức Chúa) và Phăng tin (từng làm nghề bán thân) đã làm cho câu văn mang giọng điệu tha thiết, buồn nhưng không đau xót. Nghệ thuật trữ tình hùng biện này, hẳn là Hugo học được trong các tác phẩm cổ đại, đã góp phần làm cho tác phẩm của ông mang âm vang sử thi.

    Các thao tác diễn giảng truyền thống như thế góp phần truyền cảm hứng đọc thông qua việc khám phá những thủ pháp nghệ thuật thiên về tu từ học. Thế mà có một câu hỏi bỗng được đặt ra: ai nói trong đoạn văn trên? Nói với ai? Cách đọc truyền thống sẽ trả lời rằng đó chính là Hugo. Theo cách nói mới hơn, người ta có thể trả lời rằng ở đây là chuyện giữa người kể chuyện (narrator/narrateur) và người nghe kể (narrataire). Trả lời câu hỏi này, chúng ta rẽ sang hướng nghiên cứu văn bản.

    Chính thực người kể chuyện toàn năng (narrateur omniprésent) – nhân vật thường gặp trong tiểu thuyết cổ điển, trong đó có Hugo – là kẻ dẫn chuyện duy nhất cho tác phẩm cũng như trong đoạn trích này. Người kể chuyện đó hiện ra với tư cách người biết hết, thông báo cho người nghe tất cả mọi chuyện. Kẻ ấy thâm nhập vào mọi ngóc ngách tâm

    hồn của tất thảy các nhân vật, để mách bảo cho người nghe chuyện, để báo trước cho người nghe. Ông ta có thể nói tất cả hay chỉ một phần nhằm phục vụ cho tiến trình kể chuyện của mình, lựa chọn những điều cần nói ở từng thời điểm sao cho câu chuyện trở nên hấp dẫn. Có thể hiểu một cách đơn giản, ít nhất là ở đoạn trích này, đó chính là tác giả. Mặc định là người kể toàn năng trong các tiểu thuyết cổ điển luôn có quyền lực dàn xếp tất thảy mọi thứ cho phù hợp với ý đồ riêng mình. Người nghe chuyện (narrataire) có thể hiểu một cách đơn giản chính là người đọc. Do thế, trong một số trường hợp khi nhân vật được bạn đọc yêu thích, họ có thể yêu cầu tác giả kéo dài tác phẩm để có được một kết quả như ý.

    Quay trở lại văn bản của Hugo, câu phỏng đoán có những ảo tưởng cảm động có thể là

    những sự thực cao cả có thể là của chính người kể Hugo. Nó thực ra là một lời khẳng

    định theo lối hàm ẩn những chuyện mà Giăng Van-giăng đã và sẽ làm cho Phăng-tin (cứu

    Cô-dét khỏi nhà Tê-nác-đi-ê và nuôi dạy cô bé thành người). Người kể chuyện này giữ

    quyền chi phối góc nhìn của ít nhất là toàn bộ đoạn văn này, và nói chung là của toàn bộ

    tiểu thuyết. Người kể chuyện ấy thuyết minh, lý giải, trình bày cho người nghe, định

    hướng cách hiểu cho người đọc, không cho phép hiểu sai. Trong tiểu thuyết của Hugo

    cũng như của những nhà văn đương thời, ta bắt gặp mẫu hình người kể chuyện toàn năng

    (hay toàn tri – tùy theo cách diễn đạt). Có thể lấy một ví dụ như câu văn sau của Hugo

    cũng ở trong đoạn trích:

    Chị không thể chịu đựng được bộ mặt gớm ghiếc ấy, chị thấy như chết lịm đi, chị lấy tay

    che mặt và kêu lên hãi hùng.

    Câu kể dường như miêu tả từ điểm nhìn của nhân vật với động từ thấy, chủ ngữ là chị (chỉ Phăng-tin), nhưng thực ra lại do người kể chuyện nhận xét với những tính từ gớm ghiếc, hãi hùng gắn với điểm nhìn từ bên ngoài. Chúng là lời định giá của người kể chuyện về cảm xúc, phản ứng của nhân vật chứ không thể là của nhân vật. Hãy hình dung, nếu là Phăng-tin, cô không thể diễn đạt một cách rõ ràng, minh bạch, và ngắn gọn những điều ấy đến như thế. Chính điều này lý giải vì sao tâm lý nhân vật của Hugo đơn giản, nguyên phiến. Tất cả các nhân vật đều chịu sự quản lý của một điểm nhìn, một giọng điệu duy nhất. Đơn giản là ông đã “chuyển mã” chúng theo một giọng điệu của chính mình. Giọng điệu của tiểu thuyết Hugo trở nên đơn thanh chứ không đa thanh như trong tiểu thuyết của Flaubert sau này. M. Bakhtine không xếp ông vào diện nhà văn đa thanh đã đành, mà ngay cả một nghiên cứu về phong cách và tính chất thực tại cuộc sống của E. Auerbach cũng không đặt ông vào dòng chảy các nhà văn hiện thực. Dù cho có sự xuất hiện nhiều loại ngôn ngữ xã hội khác nhau trong văn bản của ông thì không có nghĩa là ông với tư cách người kể đã chấp nhận chúng, cho phép chúng tồn tại một cách bình đẳng với mình. Giọng điệu của ông với tư cách người kể chuyện toàn năng luôn lấn át toàn bộ các giọng điệu khác, đồng hóa chúng, đưa tất cả về cùng một mặt phẳng, về cùng một góc nhìn và lập trường của người kể chuyện để đánh giá, phán xét mọi sự.

    Trong cảnh này, có những đoạn vẫn như được nhìn dưới góc độ của nhân vật của Phăng-tin qua nhiều cách diễn đạt: chị lấy tay che mặt; nghe thấy tiếng Gia-ve, Phăng tin lại mở

    mắt ra; chị thấy tên mật thám… Nhưng như chúng tôi vừa nói ở trên, thực ra đó là một cách tạo điểm nhìn giả của Hugo nhằm tạo kịch tính cho cảnh. Ông “giả vờ” mượn con mắt của Phăng-tin – một kẻ ngoài lề xã hội cũng đã bị thanh tra mật thám Gia-ve truy đuổi – để miêu tả cuộc chạm trán giữa Gia-ve và Giăng Van-giăng, một cuộc chạm trán nảy lửa giữa người tù khổ sai có những chiêu trốn chạy tuyệt kỹ và một thanh tra mật thám mẫn cán, tài giỏi nhưng cũng cực kỳ khắc nghiệt. Việc mượn điểm nhìn này về cơ bản sẽ diễn ra cho đến lúc Phăng-tin tắt thở, tức là hết lớp thứ ba. Cũng có những chỗ người kể chuyện trực tiếp tham gia việc bình luận cảm xúc nhân vật: Sự thật là Gia-ve run sợ. Lời bình luận ngắn gọn, ở đúng chỗ gay cấn nhằm chuẩn bị cho khoảng lặng sắp tới, của cuộc trò chuyện riêng tư giữa Giăng Van-giăng và Phăng-tin. Nó hé lộ cho bạn đọc một điều: Gia-ve không hẳn là con người của công việc và không bao giờ biết run sợ trước những kẻ khốn cùng. Lời trữ tình ngoại đề này sẽ chuẩn bị cho chi tiết Gia-ve phải lùi bước trước Giăng Van-giăng sẽ diễn ra ngay sau đó: nhường bước cho cuộc trò chuyện của người tù khổ sai và cô gái điếm. Nói cách khác, đó là một thuật kể chuyện kiểu Hugo nhằm làm lộ ra trong hoàn cảnh này, trong chương này, đứng trước con người nắm cán cân công lý của xã hội vốn không bao giờ biết nhân nhượng không hẳn là một tên tù khổ sai và một gái điếm, mà là những con người có tâm hồn lương thiện.

    Cách mượn điểm nhìn này gợi chúng ta nhớ đến nghệ thuật dựng kịch của Shakespeare trong vở Hamlet. Theo phân tích của Vygosky, người nghệ sĩ đã khéo léo đưa toàn bộ điểm nhìn của khán giả vào điểm nhìn của chính nhân vật Hamlet. Do thế đã diễn ra một sự va chạm giữa ba dòng thời gian: thời gian thực mà vở kịch diễn ra, thời gian quy ước

    mà nhân vật Hamlet có để đi từ chỗ biết sự thật đến chỗ quyết định hành động, và thời gian mà khán giả tự hình dung. Chính sự giao thoa ấy (Vygosky gọi là vòng cung nghệ thuật) đã khiến cho vở kịch này của Shakespeare trở nên đa nghĩa. Đoạn văn ngắn này của Hugo không thể có cái nghệ thuật được Shakespeare dồn toàn bộ tâm sức. Nhưng một so sánh như thế, có phần khập khiễng, cũng cho thấy sự dụng công trong nghệ thuật kể của Hugo. Toàn bộ cuộc chạm trán có thể chia thành bốn lớp, trong đó ba lớp đầu là qua cái nhìn của Phăng tin, còn lớp cuối là qua cái nhìn của một người khác mà chúng tôi sẽ nhắc tới ngay sau đây. Ba lớp đầu tiên thực ra cũng là ba mức phát triển của cuộc chạm trán qua tâm trạng Phăng-tin: lo sợ cầu cứu ông thị trưởng (từ đầu đến chị rùng mình), ngạc nhiên kinh hoảng khi chứng kiến sự đổi vai (ông thị trưởng bị túm áo cho tới khi Phăng tin run lên bần bật), và tuyệt vọng khi biết tin về đứa con. Cái chết của Phăng-tin được miêu tả trong đoạn văn kết thúc lớp thứ ba (kết thúc bằng câu văn đơn Phăng tin đã tắt thở) hết sức giản dị, chính xác với những mệnh đề đơn kế tiếp nhau. Bắt đầu từ đây là một điểm nhìn của một nhân vật khác: bà xơ Xem-plit-xơ. Nhưng dấu hiệu cho thấy cảnh được nhìn qua con mắt của bà xơ này, người đọc lại chỉ nhận ra ở những dòng gần cuối khi Giăng Van-giăng trò chuyện với người đã khuất.

    Có thể thấy dấu ấn của người kể chuyện qua lối miêu tả ám gợi (của chủ nghĩa lãng mạn) trong tình huống mà người đọc nhận ra. Chẳng hạn tư thế của nhân vật Gia-ve trước Giăng Van-giăng. Thoạt tiên là tiếng thét của Gia-ve đi kèm với lời bình của ngư¬ời kể chuyện: Không còn là tiếng ng¬ười nói mà là tiếng thú gầm. Hắn vừa gầm vừa như¬ thôi miên con mồi bằng động tác cứ đứng lì một chỗ, rồi phóng vào con mồi cặp mắt nhìn

    như¬ cái móc sắt. Sau đó hắn mới lao tới, tiến vào giữa phòng, ngoạm lấy cổ con mồi túm lấy cổ áo… Hắn đắc ý, phá lên cư¬ời, phô ra tất cả hai hàm răng. Thế là hình ảnh Gia-ve trong con mắt người kể chuyện, hay là của chính Phăng-tin, như gắn liền với hình ảnh con thú ăn thịt đang chuẩn bị vồ mồi. Hiệu quả đạt được như thế một phần là nhờ vào chính cách mượn điểm nhìn của Hugo. Thêm nữa, mượn điểm nhìn làm cho câu chuyện được kể thêm phần gay cấn. Người đọc được đẩy về phía tâm trạng của nhân vật nữ Phăng-tin, người đang quan sát tình thế truyện dường như liên quan đến chính số phận của mình. Cũng như thế với hình ảnh Giăng Van-giăng ở cuối đoạn trích trước cái chết của Phăng-tin. Ông ngăn cản Gia-ve một cách đầy uy quyền, rồi ông cúi xuống thì thầm với Phăng-tin làm cho cô như hé nụ cười trước khi bước vào cõi vĩnh hằng. Đó là một người bảo trợ, một Đấng cứu vớt đối với những người cùng khổ như Phăng-tin. Khuôn mặt rạng ngời của Phăng-tin tỏa sáng cùng lời bình (chết tức là đi vào bầu sáng vĩ đại) làm hình ảnh của Giăng Van-giăng giống hình ảnh Đức Chúa của Hugo trong tôn giáo Tình thương.

    Nhân vật bà xơ, như chúng tôi đã nói ở trên, gắn với lớp cảnh thứ tư và là nhân vật duy nhất trong truyện chứng kiến cảnh này, theo lời người kể chuyện. Bà chỉ được nhắc đến trong chương truyện sau khi Phăng-tin tắt thở. Trong lớp cuối cùng này, người ta chỉ còn thấy hai nhân vật, nhưng thực ra là một con người đang trò chuyện. Đó là Giăng Van-giăng. Như thế là người kể chuyện đã đột nhiên loại bỏ Gia-ve ra khỏi khung cảnh quan sát của mình. Nói cho chính xác thì nhân vật bà xơ cũng dường như đột nhiên hiện ra trong khung cảnh câu chuyện, và cũng sẽ đột nhiên bước ra khỏi cảnh không nguyên cớ.

    Dù rằng trước đó đã có hình ảnh chiếc giường dành cho các xơ trong những hôm trực đêm, nhưng chừng đó không đủ để cho thấy nhân vật này đã hiện diện một cách đầy đủ trong cảnh. Câu văn người duy nhất chứng kiến cảnh ấy như gợi ý cho ta một điều: phải chăng tất cả những cảnh vừa chứng kiến cũng được miêu tả qua con mắt của chính bà? Như vậy ở đây đã diễn ra một quá trình loại bỏ dần dần tất cả các nhân vật và điểm nhìn nhân vật. Quá trình đơn giản hóa ấy giúp tập trung điểm nhấn vào hai nhân vật như là hai võ sĩ đang thượng đài: Gia-ve và Giăng Van-giăng qua con mắt của Phăng-tin hoặc của bà xơ. Sự xuất hiện của bà xơ ở lớp cuối góp phần “chính danh hóa” cho những lời ngoại đề mà ngay sau đó người kể chuyện sẽ cất lên để ngợi ca hành động của Giăng Van-giăng. Sự xuất hiện bất ngờ này khiến cho lời ngợi ca mang âm hưởng thánh ca nhà thờ, như một lời rửa tội cho những kẻ nghèo khó vốn không bao giờ dám bước chân vào thánh đường, cho linh hồn người đàn bà phải bán thân để nuôi con được siêu thoát lên cùng Đức Chúa. Chính vì thế, Hugo mới hạ một câu kết cảnh, ngắn gọn nhưng cũng rất lãng mạn bởi tính chất tương phản trong bút pháp: chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại. “Điểm nhìn” của bà xơ thế là giúp người kể chuyện thơ hóa cái chết của nữ nhân vật. Cái chết không còn là điều gì nặng nề mà nhẹ nhàng, thanh thản đối với người phụ nữ này. Nó xua tan ám khí cho câu chuyện để chuẩn bị chuyển sang một cao trào mới ở cuối lớp kịch thứ tư.

    Chúng tôi nghĩ rằng đó là một thủ thuật kể của Hugo mà thôi, chứ không phải điều bắt buộc. Có những chỗ không thể tìm thấy ai để mượn điểm nhìn thì người kể chuyện “xông thẳng” vào không gian tiểu thuyết để trình bày cảm xúc trữ tình. Những chương về cống

    ngầm của Những người khốn khổ hay con bạch tuộc trong Những người lao động biển cả là những ví dụ tiêu biểu.

    Tới đây, người ta có thể tự hỏi, vậy bà xơ đã đi vào và biến mất khỏi cảnh truyện từ khi

    nào? Câu hỏi ấy thực ra không quan trọng nếu xét theo thỏa ước hư cấu mà đôi khi chúng

    ta vẫn nói với nhau: điều đó chỉ xảy ra trong truyện cổ tích/tiểu thuyết. Đặt câu hỏi như

    thế, người đọc đã chú ý tới chất có thực của sự kiện mà quên rằng mình từng tham gia

    vào một thỏa ước văn bản mà người kể chuyện đã chìa cho anh ta ngay từ những dòng

    đầu tiên: đừng cố đi tìm hiện thực có thật (bao gồm cả những trật tự tất yếu của cuộc

    sống) trong những văn bản hư cấu. Trong văn bản của Hugo, thỏa ước này còn một điều

    khoản đòi hỏi người đọc chấp nhận: tính chức năng của các nhân vật và hành động. Một

    loạt các yếu tố, cả con người lẫn đồ vật, đều chỉ mang tính chức năng. Thực chất, người

    kể chuyện của Hugo chỉ mượn họ, bà xơ hay Phăng-tin, như những bệ đỡ để đưa lên kính

    ngắm của mình. Họ chỉ có tính chất chức năng để cho diễn biến của cảnh, cuộc chạm trán

    giữa người tù khổ sai chạy trốn cả đời mình và người phục vụ pháp luật, diễn ra theo

    đúng ý đồ tác giả. Ngay cả hai nhân vật này rốt cục cũng chỉ mang tính chất chức năng.

    Vậy, tâm lý hay tính cách đều chỉ cần giản đơn mà thôi. Cứ theo trục ấy mà suy thì thực

    tế các nhân vật khác cũng đều chỉ là những nhân vật chức năng hoạt động trong một tổng

    thể kịch được sắp đặt của tiểu thuyết Hugo. Vì thế, không thể đòi hỏi ở họ những suy tư

    phức tạp, những ý nghĩa trừu tượng mang tính triết lý. Trừ phi chúng ta nói tới tính triết

    lý trong giọng điệu người kể chuyện của Hugo. Nhưng khi đó chúng ta lại bàn sang một

    loại không gian khác của văn bản. Đặc điểm nguyên phiến này quy định một loạt những

    đặc điểm khác trong tiểu thuyết của Hugo. Người ta không thể và không nên quy chiếu những điều được kể trong tiểu thuyết của ông vào thực tại đời sống đương thời, trừ phi tiến hành một nghiên cứu xã hội học văn học một cách có hệ thống. Mặc dù người kể chuyện miêu tả trong góc phòng có chiếc giường sắt đã ọp ẹp dùng để các bà xơ ngả lưng những hôm phải trực đêm, nhưng có lẽ chiếc giường ấy cũng không hiện thực hơn hình ảnh Phăng-tin hay Giăng Van-giăng. Nói như R. Barthes thì chiếc giường này không để nằm mà là để chứng minh sức khỏe của nhân vật Giăng Van-giăng, cũng như sẽ là một phương tiện để nhân vật này dùng cho việc đe dọa Gia-ve.

    Phần trữ tình ngoại đề giữa người kể và người nghe này rõ ràng là lộ liễu, nó cũng nhấn

    mạnh thêm vào tính “ảo tưởng” của thế giới văn bản. Sự hiện diện của đoạn trữ tình

    ngoại đề khẳng định sự hiện diện của người kể chuyện toàn năng mà giới phê bình

    phương Tây thích sử dụng khái niệm ẩn dụ – nhưng cũng thích hợp trong hoàn cảnh này –

    đấng tạo hóa toàn năng (Démiurge). Tất cả mọi nguyên nhân, kết quả, trình tự câu

    chuyện được người kể chuyện ấy quyết định, đều quy về một mối là người kể chuyện đó.

    Thế giới đó không quy chiếu vào đâu ngoài chính nó. Người kể chuyện luôn hiện ra khi

    cần để thêm thắt những lời bình luận có cánh. Trong toàn tác phẩm có lúc là cả những

    trường đoạn dài trọn vẹn một chương như chương Paris dưới cánh cú bay hay về cống

    ngầm Paris chẳng hạn chỉ dùng để phô diễn tài miêu tả và hùng biện của Hugo. Không

    phải không có lúc chúng làm người đọc mệt mỏi, nhưng phải thừa nhận rằng chúng là

    những áng tản văn rất hay, giàu sức quyến rũ. Đoạn trữ tình ngoại đề này, sau cả một quá

    trình xung đột căng thẳng giữa các nhân vật, có thể gợi cho ta nhớ đến đoạn trữ tình trong

    sử thi Odyssée của Hy Lạp cổ đại (Uy-lít-xơ trở về) mà học sinh đã được học ở lớp 10. Đoạn văn ấy miêu tả cảm xúc những người thủy thủ sau những cơn bão đã đặt chân được lên đất liền với một niềm hạnh phúc lớn lao.

    Nhưng có một sự khác nhau căn bản về nghệ thuật và ý thức về nghệ thuật trong việc sử dụng trữ tình ngoại đề. Nếu như nhà thơ Hy Lạp cổ đại miêu tả cảm xúc ấy như một cách nói ẩn dụ trực tiếp cho cảm xúc của chàng dũng sĩ Uy-lít-xơ thì nhà văn thế kỷ XIX lại sử dụng lối ẩn dụ nghệ thuật. Nếu Homère sử dụng đoạn ngoại đề như một phần tất yếu trong mạch thời gian của tác phẩm liên quan đến tư duy cổ đại, thì đối với Hugo lại là một thủ pháp nghệ thuật. Nếu với Homère, tất cả được trình lên cho người thưởng thức ở cùng một bình diện, thì với Hugo đó là một thủ pháp kéo giãn thời gian nhằm che giấu những điều khác(2). Có những điều đối với Homère là đích, thì với Hugo lại là phương tiện và ngược lại. Nói cách khác, trữ tình ngoại đề được Hugo sử dụng một cách có ý thức trong mối liên quan với lối tư duy duy lý, có tính nhất quán của thời hiện đại. Do thế, nó tạo ra được một hiệu quả mang tính thẩm mỹ: đó là sự chậm rãi, là khoảng lặng của thời gian kể sau một cao trào. Vai trò người kể-toàn năng tham dự vào việc điều tiết, giữ nhịp cho cảm nhận của người đọc thông qua sự phối hợp các dòng thời gian. Còn đối với Homère, ngoại đề là điều mà người kể chuyện hướng tới nhằm đưa người đọc, người nghe bước hoàn toàn vào trong không gian sử thi.

    Trên kia, chúng tôi vừa nói tới dấu ấn người kể chuyện trong việc tạo điểm nhìn kể. Vai trò người kể chuyện của Hugo cũng được thể hiện thông qua cách xây dựng các lớp cảnh

    trong đoạn trích.

    Trước tiên, mở đầu đoạn trích, người kể chuyện thông báo bằng câu “từ ngày ông thị trưởng gỡ cho Phăng tin thoát khỏi Gia-ve…”. Cách gọi này đặt một điểm nhìn từ phía một người dân thành phố với Giăng Van-giăng, ở đây có thể chính là Phăng-tin. Ngay sau đó, người kể chuyện đính chính và cho biết nên gọi ông là Giăng Van-giăng để trả nhân vật này trở về đúng vai của mình. Như thế là bằng cách thay đổi tên gọi, người kể chuyện đã thay đổi tình huống truyện đặt Giăng Van-giăng trở lại tình huống ban đầu của tiểu thuyết khi phải trốn chạy trước Gia-ve, chánh thanh tra mật thám. Với tư thế ấy, chúng ta bắt gặp lời lẽ đầy tự tôn, mà khiêm cung của Giăng Van-giăng với Gia-ve. Đó là lời lẽ của một tù khổ sai bỏ trốn trước ông thanh tra khét tiếng Gia-ve từng làm biết bao kẻ đầu trộm đuôi cướp phải khiếp sợ, người chưa bao giờ biết sợ trước bất kỳ những ai bị coi là vi phạm pháp luật. Thế mà lần này, ông ta lại run sợ. Trong lớp thứ ba, khi những lời van xin của Giăng Van-giăng với Gia-ve trở nên vô ích, thì những lời của Gia-ve với Giăng Van-giăng lại trở thành sự đe dọa với Phăng-tin dẫn tới việc Giăng Van-giăng vô tình làm lộ ra bí mật đối với Phăng-tin là chưa cứu được Cô-dét. Cái chết của chị khiến cho tình huống bất ngờ đảo ngược. Không còn van xin, khiêm cung mà là lời lẽ cứng rắn của Giăng Van-giăng với Gia-ve, của một người tù khổ sai hai mươi năm với ông chánh thanh tra đại diện cho chính quyền và luật pháp. Thêm vào đó là hành động mang đậm chất kịch của nhân vật khiến cho chính Gia-ve phải lùi bước. Giăng Van-giăng đã khôi phục lại quyền uy của mình trước Gia-ve, nhưng không phải nhờ vào chức thị trưởng mà do nghĩa vụ mà ông tự đặt với mình trước người đã khuất. Cái chết của Phăng-tin mang

    lại sức mạnh cho ông. Đến dòng cuối cùng của đoạn trích, khi Giăng Van-giăng đã hứa xong với người đã khuất, chúng ta lại chứng kiến một sự đảo ngược thú vị: Giăng Van-giăng tự giao nộp mình cho Gia-ve – người đại diện cho pháp luật. Đây chính là cao trào thứ hai của chương truyện và đoạn trích sau cao trào thứ nhất khi Phăng-tin chết và ông thanh tra bị tên tù khổ sai đe dọa. Người kể chuyện lần này không như thói thường thâm nhập vào đầu óc của nhân vật để mách bảo mọi thứ cho người nghe chuyện. Ông ta im lặng đúng ở cao trào. Lối dàn cảnh của người kể chuyện liên quan tới những lối tương phản đặc trưng trong thi pháp của Hugo. Việc lên tiếng mách bảo người đọc trong lúc dẫn chuyện tạo tình huống và im lặng trong những khoảng cao trào của người kể chuyện tạo nên nhiều dư âm trái ngược nhau cho người đọc(3). Nhưng các nhân vật của Hugo chắc chắn không phải là những con người đầy suy tư trong các tiểu thuyết của Stendhal, Flaubert hay Gide. Vì thực chất họ chỉ là những nhân vật chức năng.

    Người kể chuyện toàn năng này cũng thể hiện quyền uy của mình thông qua việc đặt tất cả các nhân vật trong truyện ở ngôi thứ ba. Chúng ta có thể so sánh một cách đơn giản với truyện kể của Daniel Defoe Robinson Crusoe đã được giới thiệu trong chương trình cấp hai. Người kể chuyện xuất hiện trong vai trò nhân vật chính, tức là giữ ngôi thứ nhất. Vì thế về mặt nguyên tắc anh ta cũng không biết những chuyện khác xảy ra mà không có mặt mình. Dĩ nhiên vì kể chuyện kiểu cổ điển luôn mang tính quy ước nên người ta mặc định với nhau là câu chuyện đã xảy ra. Tức là kết thúc chuyện đã hoàn thành một cách rõ ràng, dù nhân vật chính trong vai người kể chuyện có gặp nguy hiểm đến đâu thì cuối cùng anh ta cũng vượt qua bình an vô sự để ngày nay ngồi kể lại cho bạn đọc. Nhân đây

    chúng tôi nghĩ cũng có thể nói thêm vài lời về vai trò và sự hiện diện người dịch trong tư cách người kể chuyện toàn năng thứ hai của bản dịch, ở đó người kể chuyện dàn xếp hệ thống đại từ tiếng Việt dành cho các nhân vật. Trong tiếng Pháp, người kể chuyện đối xử bình đẳng với các nhân vật bằng hệ thống đại từ, vì khó mà nói tới sắc thái đánh giá nhân vật thông qua vẻn vẹn chỉ hai đại từ: il (ông ta) và elle (cô ta). Người dịch tiếng Việt, với tư cách người đọc mẫu, phải chuyển đổi hai đại từ đơn sắc ấy của tiếng Pháp sang một hệ thống cực kỳ phong phú, nhưng cũng phức tạp vô cùng của đại từ tiếng Việt. Hệ chuyển đổi đó tất yếu đã bao hàm một cách mặc định cách đánh giá, dẫn giải của người dịch định hướng cho độc giả. Chúng ta thấy, Giăng Van-giăng thì được dịch là ông, cũng đại từ đó (il) thay cho Gia-ve thì được dịch là hắn, nhân vật Phăng-tin được dịch là chị từ chữ elle có thể được dùng trong tiếng Pháp chỉ cả bà xơ Xem-pli-xơ. Hệ thống đại từ đó đã phân xuất một cách vô tình và hữu ý, theo cách đánh giá của các dịch giả, các nhân vật trong đoạn trích và tác phẩm thành hai nhóm: những kẻ độc ác và những người lương thiện. Nhưng biết đâu đó lại chưa hẳn là chủ ý của Hugo? Chúng ta hãy hình dung một bản dịch khác dùng chữ hắn để chỉ Giăng Van-giăng, thị hay ả để chỉ Phăng-tin, ông để chỉ Gia-ve; khi đó chắc người đọc sẽ lại có một dịp khác để xem xét cách hiểu của mình với câu chuyện rất hấp dẫn và lý thú này với những cảm giác tương phản mới trong người đọc.

    Cuối cùng, chúng ta chú ý tới tiêu đề đoạn trích. Người biên soạn giữ nguyên tên của chương sách dịch vốn thể hiện phong cách hùng biện độc đáo của Hugo, đồng thời thể hiện toàn bộ quá trình đảo ngược tình thế trong chương truyện. Là một nhà thơ thế kỷ XIX, ông ưa những lối diễn đạt giàu ý vị dựa trên sự lỏng lẻo, mơ hồ của kết cấu câu văn.

    Những dịch giả – có lẽ cũng là những trí thức nghệ sĩ – đã gắng truyền đạt điều ấy qua lối diễn đạt nhịp nhàng, mang âm hưởng biền ngẫu của thơ ca Việt Nam: l’autorité reprend ses droits được chuyển thành người cầm quyền khôi phục uy quyền. Chữ người cầm quyền ở số ít như trong trường hợp này còn có thể hiểu là người có uy tín, chứ không chỉ là nhà cầm quyền vốn luôn được dùng ở số nhiều (les autorités). Vậy ở đây có thể hiểu nó hướng một cách mơ hồ đến cả hai đối tượng, tùy theo sự lựa chọn của người đọc: Giăng Van-giăng và Gia-ve. Gia-ve trong những chương trước đã tự thấy xấu hổ vì dám “nghi ngờ” ông Ma-đơ-len. Sau khi đích thân Giăng Van-giăng ra tự thú thì ông ta thấy khả năng đánh hơi của mình không tồi. Thế là từ chỗ là chánh thanh tra mật thám nhưng cúi mình trước ông thị trưởng Ma-đơ-len, nay ông ta cảm thấy mãn nguyện vì đã giành lại quyền lực trước con mồi khổ sai trốn tù đã lẩn trốn mình trong bao năm. Đó là việc khôi phục uy quyền của ông ta được hiểu như là quyền lực nhà nước trong chữ droits. Mặt khác, như trên kia chúng ta đã thấy, có một sự chuyển đổi thế và lực giữa các cảnh trong truyện. Nhân vật Giăng Van-giăng trước tiên là một ông thị trưởng có uy tín trong những chương trước. Vì để cứu một người vô tội bị bắt oan mà ông ra tự thú trước tòa án. Bắt đầu chương truyện này, ông tự đặt mình vào vị trí tội phạm, không quyền lực, không sức mạnh. Trong cảnh hai và cảnh ba, ông từ chối sức mạnh của mình. Điều ấy được thể hiện thông qua lời khẩn cẩu chánh thanh tra mật thám Gia-ve. Nhưng cho đến cuối đoạn trích, ông lại trở thành người nắm giữ sự chủ động, với sức mạnh/quyền lực khiến chính Gia-ve

    • người chưa từng biết sợ ai và luôn khiến cho (theo lời người kể chuyện) mọi tên tội phạm hoảng sợ – phải lùi bước. Ông đã giành lại sức mạnh/quyền lực để làm những điều thuộc về nghĩa vụ mà ông tự đặt ra cho mình. Nghĩa vụ cứu và nuôi nấng cô bé Cô-dét,

    con của Phăng-tin. Chữ droits được dịch thành uy quyền còn có thể hiểu như là những nghĩa vụ tất yếu của một người trung thực như ông đã hứa trước người đã khuất. Chúng ta lại bắt gặp ở đây tính chất hùng biện, nghệ thuật tu từ thường gặp trong sáng tác của Hugo.

    1. Hugo – nhà văn dưới con mắt nhiều nhà nghiên cứu văn bản học hiện đại không có những cách tân độc đáo hướng đến hiện đại. Tuy nhiên phong cách với những thủ pháp kể chuyện khéo léo tới mức bậc thầy của ông – dấu ấn của lối kể dân gian trong tiểu thuyết báo chí đương thời – vẫn để lại những dư âm thú vị, mang đến sự say mê cho

    người đọc. Sự phối hợp những thủ pháp, kỹ thuật kể chuyện của Hugo chỉ có ý nghĩa với người đọc, chỉ vượt được biên giới các quốc gia khi nó được chỉ hướng bằng một tình cảm cao cả. Đó là lý tưởng nhân văn, trân trọng giá trị con người.

    Xúc cảm ấy đã thấm đẫm trong toàn tác phẩm, trong từng câu từng chữ, từng cách sắp xếp lớp cảnh. Những phân tích về mặt kỹ thuật như trên vẫn chỉ là một cách rất hạn chế, rất thô sơ để thấy rõ hơn xúc cảm và lý tưởng của ông mà thôi. Một bài đọc chi tiết, cẩn trọng toàn đoạn trích sẽ mang đến cho người đọc những xúc cảm không thể nói thành lời.

  • Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương

    Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương

    Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Câu hỏi trắc nghiệm môn Kinh tế phát triển


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương

    Văn mẫu: Văn học Việt Nam đại cương

    BẰNG SỰ HIỂU BIẾT VỀ THƠ,VĂN, ANH/CHỊ HÃY GIỚI THIỆU VỀ ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐẾN BẠN BÈ THẾ GIỚI.

    Bài mẫu 1

    Hỡi bạn bè khắp năm châu bốn bể hãy đến với chúng tôi, tôi tin chắc các bạn sẽ chẳng muốn về. Việt Nam là đất nước có nền lịch sử văn hiến từ rất lâu đời, chúng tôi tự hào vì nòi giống con rồng cháu tiên của mình. Trải qua bao thăng trầm biến cố của lịch sử Trung Quốc đô hộ 1000 năm, hàng trăm cuộc đời yên ổn ra đến khi Ngô Quyền xưng vương, mở đầu nền độc lập dân tộc. Rồi hơn 1000 năm phong kiến có thịnh có suy, một lần nữa, đất nước Việt Nam lại … Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng đã đẩy lùi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra một kỷ nguyên sáng láng, độc lập, tự do, hạnh phúc. Qua bao thăng trầm của lịch sử, dân tộc VN vẫn giữ được những nét truyền thống của mình. Hẳn khi đến bất cứ vùng trời nào…, khi nhìn thấy một người ăn trầu, búi tóc, răng đen thì đó chắc là người VN. Người VN lấy nhân nghĩa làm gốc, “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh là câu trau mình”. Họ sống vẫn nhớ về tổ tiên với những phong tục cổ truyền như đám giỗ ngày tết:

    Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ

    Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

    Đất nước VN tồn tại đến ngày nay bởi có những con người kiên cường bất khuất, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Hình ảnh Hai Bà Trưng cướp cờ khởi nghĩa mãi mãi sáng ngời trong thiên sử anh hùng dân tộc. Tiếng trống Mê Linh vang động đất trời khiến quân thù phải khiếp sợ đến ngày nay. Rồi Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, những con người kiệt xuất của dân tộc. Nguyễn Trãi nói không sai: “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có” (Trích Bình Ngô Đại Cáo).

    Họ chiến đấu vì nước quên thân, đến cả những người nông dân “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ” (Trích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) cũng đứng dậy đấu tranh khi người Tây xâm lược, người VN lại thề sống chết chiến đấu, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Từ cậu bé Lượm, đến những thanh niên như Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi. Những người phụ nữ hiên ngang, còn cái lai quần cũng đánh như chị Út Tịch, Tnú, bà bá hậu Giang, cả dân tộc đứng lên một lòng và sức mạnh nào cũng phải lui bước. Khi đất nước sạch bóng quân thù, họ lại trở về vui vẻ bên ánh lửa bập bùng, nơi nhà Rông, tiếng hát nghêu ngao trên những đoàn thuyền đánh cá, sáng chài lưới ta cùng nhau nhâm nhi chum rượu nếp ấm nồng, điệu hò, câu hát làm nên… nên thơ. Người VN lao động và biết tìm hạnh phúc trong cuộc sống lao động giản dị đời thường. Đến với VN, hẳn bạn bè trầm trồ với vẻ tạo hóa ban cho VN một cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời. Những người vợ nhớ chồng góp cho đất nước những hòn núi Vọng Phu, cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái (Trích Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm). Du khách sẽ có dịp ngẩn người khi nhìn thấy màu nước xanh biếc, những bóng màu trời của Vịnh Hạ Long, hay những tạo tác kỳ diệu của thiên nhiên trong Động Phong Nha, rồi những bờ biển trải dài với cát mịn, mặt trời lên Đảo Phú Quốc như thiên đàng. Tất cả tạo nên một bức tranh VN có đủ mây trời, non nước, phong cảnh hữu tình làm say đắm khách phương xa. Hãy đến với chúng tôi, một đất nước biển lúa mênh mông, những con sông dạt dào nước chảy

    Quê hương tôi có con sông xanh biếc,

    Nước gương trong soi tóc những hàng tre

    Tâm hồn tôi là những buổi trưa hè

    Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng

    (Trích Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh)

    Con người VN thật là hồn hậu. Họ sẵn sàng chào đón bạn với những nụ cười dễ thương và ẩm thực có hàng ngàn món ngon như bún bò Huế, cơm hến, bánh xèo, cá nướng trui. Chúng dân dã, bình dị, nhưng đậm đà cả linh hồn dân tộc, mặn vị mặn nước mắm Phú Quốc, ngọt vị ngọt đường mía lau.

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    (Trích ca dao)

    VN giờ đây đang chuyển mình hội nhập và phát triển như con rồng của khu vực. Những bàn tay cầm súng giờ đây đang miệt mài trong các nhà máy, hàng ngàn thanh niên đang hăng hái nghiên cứu khoa học để tạo ra những máy móc, thiết bị hiện đại cho sản xuất tiêu dùng. Bao công trình mọc lên như đại lộ Đông Tây, hầm Thủ Thiêm v.v… Tất cả thể hiện một sức sống đang căng tràn, tiềm năng tăng trưởng. Hãy đến với VN, đến với những con người nhỏ bé nhưng có sức mạnh phi thường. Chúng tôi dang tay đón chào các bạn.

    Bài mẫu 2

    ………..Việt Nam quê hương tươi đẹp, mang vẻ đẹp không thể diễn tả bằng lời. Nó được gửi gắm vào các câu thơ, bài văn, tình cảm của các nhà văn nhà thơ. Tổ quốc dân tộc cũng là đề tài quen thuộc của ca dao trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Tuy nhiên, cứ mỗi làn ra trận thì đề tài ấy lại sáng rực. Vốn dĩ bình thường, trong sâu thẳm mỗi người, điều ấy nó vẫn khuất đâu đó trong lời ru của mẹ, trong câu hát điệu hò. Ngày từ thuở dân tộc chưa có chữ viết, ta cũng đã quen với điều này qua thần thoại truyền thuyết, ca dao. Rồi đến thời kỳ văn học trung đại phong kiến, dân tộc trải qua bao thăng trầm, thì hình ảnh đất nước vẫn lồng lộng, hiên ngang chói sáng những ánh vàng, những chiến công vang dội gắn liền với tên tuổi trong lịch sử dân tộc Lý Trần Lê. Trong TK XX dân tộc ta trải qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Văn học VN cuối năm 75, ta bắt gặp nhịp cùng thời đại, nhịp cùng tổ quốc non sông trong nhịp bước song hành của lịch sử. Ghi lại những ngày tháng ấy, nhà thơ : “Đât nước của những đội quân song song cùng lịch sử, đi suốt thời gian đi suốt không gian, sừng sững giữa trời anh hùng anh dũng hiên ngang”. Đất nước là cả một cuộc kháng chiến trường kỳ máu lửa, khó khăn thử thách, nhưng cũng rất đáng tự hào với một niềm tin tưởng của đât nước đã thuộc về sở hữu của con người VN. Trong nhiều nhà thơ viết về đề tài này thì có lẽ Tố Hữu chưa bao giờ dừng lại. Ở đề tài này, Tổ quốc trong thơ anh hiện lên nhiều dáng vẻ, nhưng tựu chung lại thì góc độ nào, anh cũng muốn đồng bào miền Nam hát vang bài ca yêu tổ quốc.

    Việt Nam, ta lại gọi tên mình

    Hạnh phúc nào hơn được tái sinh

    Mát dạ ông cha nghìn thuở trước

    Cho đời, hai tiếng mới quang vinh!

    Lịch sử VN tôi hào hùng vậy đấy. Từ xa xưa hình ảnh thiên nhiên, VN hiển hiện trong câu ca dao, câu văn của các thi sĩ.

    Thừa Thiên cảnh đẹp đẹp ngời.

    Núi xanh khí phách, biển ngời sức xuân

    Ngày nay sau hơn 4000 năm lịch sử, thiên nhiên VN hiện lên một vẻ đẹp thơ mộng, hùng vĩ và tráng lệ. Con người biết sử dụng đôi bàn tay khéo léo của mình để uốn nắn…nhưng vẫn giữ nguyên vẻ đẹp non sông của nó, có Phong Nha Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long. Có rất nhiều bãi tắm đẹp như Nha Trang, Sầm Sơn, Phan Thiết, Phú Quốc v.v… Đi cùng năm tháng là những nét văn hóa độc đáo, những phong tục tập quán phong phú, lâu đời, gắn liền với bản sắc văn hóa riêng của 54 dân tộc anh em trải dài từ Bắc vào Nam. Mỗi mảnh đất đều mang dấu ấn đặc trưng khác nhau. Kìa là miền Trung thương nhớ, nhớ những con người thân thiện, lam lũ với cuộc sống mưu sinh; vùng đất khô cằn, vào những ngày đông giá lạnh, ngoài chén trà nóng trong tay, khách sẽ ấm lòng với vị cay xé lưỡi của ớt, tỏi, tiêu. Trong những món ăn dân tộc dân dã, nhiều người kể lại là những năm mất mùa, nhiều người nghèo miền Trung, họ ăn ớt thay cơm, đem cá kho mặn với ruốc rồi đem ớt ra ăn dần mỗi ngày, hầu như nhà nào cũng có hũ ớt ngâm để ăn trong những ngày mưa dầm. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng viết: “Biết ăn ớt để đánh lừa cái lũ, bởi trong đó là ẩn ý đánh lừa vị giác để quên đi sự đạm bạc khi thiếu thốn”. Kìa miền Bắc thân yêu, những cảnh khi mùa về mang tới miền Bắc có đủ 4 mùa xuân hạ thu đông. Xuân về mang tới sắc trời âm áp, rực rỡ sắc màu. Hạ về mang theo ánh nắng chói chang, nóng bức, đất đai khô cằn. Đông sang trời rét buốt, da cắt, yêu cái vị mặn mà trong bữa cơm gia đình. Về miền Nam nghe giọng hò ầu ơ mẹ ru con ngủ. Đi sâu vào trái tim mỗi người làm cho ta xao xuyến muốn về với tuổi thơ có lời ru ngọt ngào của mẹ. Miền Nam có 2 mùa mưa nắng đưa về với vị ngọt của các món ăn.

    VN quê hương tôi thế đấy. Mỗi vùng đất, con người khác nhau, nhưng mang đậm chất tình người, thân thiện có truyền thống gia đình, đẹp đẽ với tình cảm vợ chồng thương yêu

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Rồi tình anh em, tình đồng chí

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ,

    Đồng chí”

    VN có một nền văn hóa đặc sắc lâu đời, gắn liền với sự hình thành và phát triển của dân tộc. Người VN vốn thiết thực “ăn chắc mặc bền”, “có thực mới vực được đạo”. Các món ăn thì đa dạng phong phú… Trang phục nam giới phát triển, đóng khố, ở trần…………………

    VN quê hương tôi đẹp mãi như vậy. Dù đi đâu xa xôi trong trái tim mỗi người VN đều ấp ủ một hoài niệm được trở về với mảnh đất sinh ra và lớn lên này.

    ——————————————————————————————————————-

    – SO SÁNH TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN GIAN VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH VIẾT LẠI.

    So sánh truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích hiện đại?

     Định nghĩa truyện cổ tích, phân loại

    Truyện cổ tích là những truyện truyền miệng dân gian kể lại những câu chuyện tưởng tượng xoay quanh một số nhận vật quen thuộc như nhân vật tài giỏi, nhân vật dũng sĩ, người mồ cô, người em út, người con riêng, người nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như con người.

    Căn cứ vào các nhân vật chính và tính chất của sự việc được kể lại, có thể chia truyện cổ tích ra làm 3 loại: Truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích thế tục (cổ tích sinh hoạt). Căn cứ vào quan điểm lịch đại, và một số đặc điểm khác, người ta còn có các phân chia khác, chia truyện cổ tích ra thành 2 loại: truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích hiện đại.

    Nội dung so sánh:

    Truyện cố tích dân gian là những tác phẩm thường bằng văn xuôi truyền miệng, hư cấu với hình ảnh kỳ vĩ, có cấu trúc kết cấu truyện ổn định và hướng người nghe bằng hình thức kể chuyện. Truyện cổ tích hiện đại có hình thức truyện là tự sự, mang đặc điểm hư cấu được thừa nhận bởi tác giả và người nghe hoặc độc giả.

    Truyện cổ tích hiện đại ra đời sau, tuy mang nhiều đặc điểm tương đồng cơ bản với truyện cổ tích dân gian nhưng vẫn có một số nét riêng của cùng một thể loại văn học:

    Đặc điểm Truyện cổ tích dân gian Truyện cổ tích hiện đại
    Tác giả Là sản phẩm của nhiều thế hệ dân chúng (tức là không có tác giả cụ thể – khuyết danh) Là sáng tác của cá nhân, có tên tuổi cụ thể,…
    Phương thức lưu truyền Vốn lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng và về sau được ghi chép lại. Là thể loại được lưu truyền bằng văn bản
    Tồn tại Có nhiều dị bản khác nhau và hàng loạt môtip nghệ thuật có sẵn được lặp đi lặp lại nhiều lần. Là sáng tác duy nhất và không lặp lại, được thể hiện thông qua cá tính sáng tạo của nhà văn và phát triển theo quy luật sáng tạo văn học.
    Cốt truyện Để phù hợp với phương thức truyền miệng à cốt truyện thường đơn giản, ngắn gọn. Có đan xen cả cốt truyện từ đơn giản đến phức tạp; có trường hợp có tới 2-3 cốt truyện cố tích dân gian khác nhau được tác giả ghép nối vào nhau à truyện không phải để kể mà để đọc.
    Nhân vật Nặng về khái quát hóa, nhân vật mang đặc điểm loại tính nhiều hơn. Chủ yếu sử dụng những yếu tố có sẵn để miêu tả nhân vật theo con đường trừu tượng hóa, khái quát hóa. Nhân vật mang đặc điểm tâm lí và khắc họa chân dung ngắn gọn, được xây dựng chủ yếu qua con đường đối thoại và hành động. Nhân vật vừa có tính khái quát vùa có tính cá thể. Trong các truyện cổ tích hiện đại, việc đi sâu vào miêu tả tâm lí nhân vật bước đầu được chú ý hơn. Ít đặt nhân vật vào những hoàn cảnh có tính chất hoang đường mà tập trung vào bề sâu bên trong của con người đó.
    Triết lý, bình luận Truyện cổ tích dân gian không có bình luận, có chăng chỉ là những lời giải thích sự việc xuất hiện ở phần kết thúc câu chuyện. Trong truyện cổ tích hiện đại, lời bình luận, triết lí của tác giải không chỉ xuất hiện ở phần kết thúc mà nhiều khi được xen lẫn vào từng phần của câu chuyện. Sử dụng nhiều khái niệm mới, hiện đại.
    Thế giới quan Thể hiện quan niệm của con người về thiên nhiên, về thế giới xung quanh mình nhưng lại không phải biểu hiện nhận thức và sáng tạo nghệ thuật một cách có ý thức, không có phạm trù thế giới quan mà chỉ có phạm trù thẩm mĩ. Quan niệm về thế giới quan, nhiệm vụ tư tưởng thẩm mĩ của thời đại và quan hệ với phương pháp nghệ thuật của nhà văn.

    ——————————————————————————————————————-

    – PHÂN TÍCH “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO” CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” CỦA HỒ CHÍ MINH ĐỂ CHỈ RA SỰ KHÁC NHAU GIỮA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VÀ VĂN HỌC HIỆN ĐẠI.

    Điểm giống và khác nhau giữa 2 bản :tuyên ngôn độc lập và bình ngô đại cáo là gì?

    1/- Điểm giống nhau giữa “Tuyên ngôn độc lập” (Hồ Chí Minh) và “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi) :

    a- Về lịch sử : Cả hai tác phẩm đều được viết vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại của đất nước: là bản tổng kết kết thúc một thời kỳ đau khổ, tủi nhục bị ngoại xâm giày xéo ( “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là kết thúc 10 năm gian khổ kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam sơn; còn “Tuyên ngôn độc lập” của HCM là kết thúc thời kỳ nước ta bị “một cổ 2 tròng” dưới 2 tầng áp bức của thực dân Pháp và phát xít Nhật) , và mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên tự do, độc lập của đất nước !

    b- Về thể loại : Cả hai tác phẩm đều thuộc thể văn chính luận có bố cục chặt chẽ (3 phần) lập luận sắc sảo ; lý lẽ hùng hồn, mang tính luận chiến cao ; dẫn chứng rõ ràng cụ thể, chính xác ; tình cảm thiết tha,… . Hai tác phẩm đều có chung ý nghĩa “tuyên bố rộng rãi cho toàn thể nhân dân được biết về nền độc lập tự do của dân tôc”.

    c- Về nội dung : Cả hai tác phẩm đều có các nội dung cơ bản giống nhau, đều mang giá trị Văn học – nhân văn sâu sắc :

    * Hai bản tuyên ngôn đều xuất phát từ tư tưởng nhân đạo của dân tộc : “BNĐC” đứng trên lập trường Nhân nghĩa của dân tộc là “yên dân – trừ bạo” ; còn “TNĐL” thì đứng trên lập trường quan điểm về quyền sống, quyền tự do, độc lập của dân tộc

    * Hai bản “tuyên ngôn” đều có nội dung tố cáo tội ác “trời không dung đất không tha” của giặc
    * Hai bản “tuyên ngôn” đều có nội dung “lược thuật tóm tắt quá trình chiến đấu của nhân dân vì độc lập tự do”

    * Hai bản tuyên ngôn đều có lời tuyên bố hòa bình , mở ra một thời kỳ độc lập tự do cho đất nước và ý chí quyết tâm giữ gìn nền tự do độc lập đó

    2/- Điểm khác nhau :

    a- Về thời đại lịch sử :

    * “BNĐC” của NT ra đời vào cuối năm 1427 đầu năm 1428 sau khi chiến thắng quân Minh
    * “TNĐL” của HCM ra đời vào ngay khi cách mạng tháng Tám thành công 1945 – thời điểm nóng bỏng đến kết thúc của chiến tranh Thế giới thứ 2.

    b- Về thể loại : Cùng mang phong cách của văn chính luận, nhưng :

    * “BNĐC” của NT được viết bằng chữ Nôm theo lối văn Biền ngẫu với thể loại “Cáo” dùng để kết thúc chiến tranh (thuộc nền văn học Trung đại) .

    * “TNĐL” của HCM thì được viết theo lối văn hiện đại, bằng chữ Quốc ngữ (thuộc nền văn học Hiện đại)

    c- Về cơ sở pháp lý :

    * “BNĐC” của NT dựa trên lập trường “Nhân nghĩa” của dân tộc Việt Nam (yên dân, trừ bạo)
    * “TNĐL” của HCM đứng trên lập trường “quyền bình đẳng, quyền độc lập, tự do của các dân tộc” trên thế giới

    d- Về phạm vi ý nghĩa :

    * “BNĐC” của NT có phạm vi nội bộ trong nước Đại Việt, chỉ “xa gần bá cáo / Ai nấy đều hay” …
    * “TNĐL” của HCM ngoài việc tuyên bố trước toàn thể dân tộc Việt Nam, mà còn có ý nghĩa tuyên bố với toàn thế giới về độc lập chủ quyền của dân tộc Việt Nam và ngăn chận cả âm mưu tái xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp !

    Ở thời điểm này, tại biên giới phía Bắc, Mỹ đứng sau quân Tàu -Tưởng đang lăm le tràn vào nước ta núp dưới bóng của tổ chức Vệt Nam quốc dân Đảng. Tại phía Nam, lính viễn chinh Pháp đang núp sau quân đội Anh vào giải giáp vũ khí của Nhật . Thực dân Pháp lại tuyên bố rằng : Đông Dương là thuộc địa của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên thuộc quyền “bảo hộ” của người Pháp…”TNĐL” đã cương quyết bác bỏ luận điệu đó của Pháp !

     

     

     

    MỘT SỐ NÉT TƯƠNG ĐỒNG GIỮA NGUYỄN TRÃI VÀ HỒ CHÍ MINH TRONG VĂN CHƯƠNG

    16/01/2012
    _Đặng Minh Hải_ (Trường ĐH Sư phạm Tp. HCM)

    I. Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh – hai vị anh hùng dân tộc:

    Có nhà nghiên cứu đã nói rằng con người Nguyễn Trãi phải nhìn từ hai phía mới rõ: Một là, từ thời Lí Trần, một thời đại hào hùng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ nền độc lập tự chủ của chế dộ phong kiến nước ta. Trong giai đoạn này, đã xuất hiện bao chiến công oanh liệt, bao tấm lòng yêu nước thương dân cao vọi mà đặc biệt là thời nhà Trần với hào khí Đông A mạnh mẽ, với đôi tay vạm vỡ “sát Thát”. Nguyễn Trãi đã học ở đó bài học sức mạnh toàn dân, tinh thần yêu nước cao cả. Mà trực tiếp nhất là học tập qua người ông ngoại của mình là Trần Nguyên Đán, một trí thức uyên thâm. Chính việc học hỏi kinh nghiệm lịch sử cộng với tài trí của mình, Nguyễn Trãi đã có những phát triển vượt bậc, tiến xa thời đại Lí Trần về quan niệm dân, nước và sức mạnh của nhân dân lao động; Bên cạnh đó, từ thời đại của Nguyễn Trãi là thời cuối Trần, đầu Lê, giặc Minh xâm lược. Khắp chốn bao cảnh binh đao, chết chóc. Hai mươi năm giặc Minh đặt vó ngựa lên nước ta là hai mươi năm đen tối “trời không dung, đất không tha”. Đau đớn thay ! bao cảnh khốn cùng của nhân dân, nhục nhã thay ! đất nước đang tràn bóng giặc. Nguyễn Trãi đã bao đêm không ngủ, bao ngày quên ăn để tìm đường cứu dân, cứu nước. Hình ảnh Nguyễn Trãi đau đáu nỗi lòng dân, nước “Đêm ngày cuồn cuộn” thật đẹp đẽ và cao cả. Tất cả những điều vừa nêu, đã hun đúc và phát triển tấm lòng vì dân vì nước của Nguyễn Trãi đến đỉnh cao nhất, để cả đời Nguyễn Trãi dù gian nan, nguy hiểm đến mấy vẫn luôn kiên định với lí tưởng cao đẹp, thiêng liêng này.

    Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cách mạng chân chính, tiến bộ. Cả cuộc đời đã dành trọn cho giang sơn gấm vóc mà không gợn chút mảy may tư lợi. Cứ mỗi khi nhắc đến Hồ Chí Minh là trái tim, mạch máu con người Việt Nam như đập mạnh hơn, rạo rực hơn từng giây từng phút tưởng nhớ về vị cha già kính yêu của dân tộc. Cũng như Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh không nguôi nghĩ về dân, về nước. Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước mất tự do, giặc Pháp xâm lược, chế độ phong kiến thối ruỗng, nhân dân một cổ hai tròng khổ cực xiết bao. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã sớm có tư tưởng yêu nước và giải phóng dân tộc. Năm 1911, Hồ Chí Minh ra nước ngoài tìm con đường cho cách mạng Việt Nam. Người đã được làm việc, hoạt động trong môi trường công nhân các nước phương Tây. Người đã đi khắp năm châu bốn bể, qua các nước đế quốc, các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, tiếp xúc với mọi dân tộc mọi màu da, đã chứng kiến bao tiếng kêu thất thanh của những thân phận khốn khổ, của nô lệ khắp nơi trên thế giới. Điều đó hình thành nên tính nhân dân sâu sắc trong con ngưới Hồ Chí Minh gắn liền với tính đảng và giai cấp công nông thế giới. Mười năm Nguyễn Trãi lưu lạc (1407-1417) và ba mươi năm Hồ Chí Minh bôn ba (1911-1941) năm châu bốn bể đã giúp hai vị anh hùng tìm ra cho dân tộc những con đường cứu nước đi đến thắng lợi. Với Nguyễn Trãi là “mưu phạt”, “tâm công”, với Hồ Chí Minh là cách mạng vô sản. Cả cuộc đời Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để thực hiện hoài bão giải phóng dân tộc, mang lại hạnh phúc cho mọi người. Nguyễn Trãi có ước nguyện “Dân giàu đủ khắp đòi phương”, Hồ Chí Minh có ham muốn tột bậc “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Hai con người, hai thời đại khác nhau nhưng cùng chung một tấm lòng yêu nước, thương dân “bát ngát đại dương” như vậy quả thật hiếm có và đáng để chúng ta trân trọng, tôn kính.

    Tình yêu nước, thương dân của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh luôn gắn liền với hành động cụ thể. Mọi tư tưởng chính trị luôn chi phối một cách đúng đắn, sáng suốt trong suy nghĩ, chủ trương của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Và chưa bao giờ tư tưởng chính trị lại đóng vai trò chỉ đạo chặt chẽ và nhất quán như trong thơ văn Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh.

    II.Quan điểm về văn chương nghệ thuật của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh

    1. Quan điểm về văn chương nghệ thuật của Nguyễn Trãi

    a. Văn chương gắn liền với cuộc sống và hướng đến phục vụ nhân dân

    Với tư cách là nhà văn, nhà thơ, Nguyễn Trãi đã đem văn học phục vụ cho cuộc sống, chỉ có bắt nguồn từ cuộc đấu tranh của nhân dân giành lại độc lập, hạnh phúc thì văn nghệ mới có thể phát huy được tác dụng mạnh mẽ. Tác phẩm văn học của Nguyễn Trãi luôn gần gũi đối với thiên nhiên, đời sống đất nước và nhân dân. Với Nguyễn Trãi, văn chương phải là tiếng nói tinh thần của con người, phải lột tả cho hết được những cảm xúc sâu lắng của con người: “Say mùi đạo trà ba chén/ Tả lòng phiền thơ bốn câu” (Thuật hứng 13- Quốc âm thi tập). Hiện thực đời sống phong phú là cơ sơ của tác phẩm văn học. Vì vậy theo Nguyễn Trãi, nếu văn chương xuất phát từ cuộc sống thì con người ta có thể làm thơ, viết văn ở mọi lúc, mọi nơi: “Qua đòi cảnh chép câu đòi cảnh; Nhàn một ngày nên quyển một ngày” (Tự thán 5 – Quốc âm thi tập) hoặc như: “Nhàn lai vô sự bất thanh nga” (khi nhàn thì không gặp việc gì không ngâm nga). Mặt khác Nguyễn Trãi cũng đòi hỏi người nghệ sĩ phải là người nhạy cảm. Nhà văn, nhà thơ phải để cho lòng mình sẵn sàng rung động như sợi dây đàn, luôn có sự cảm ứng nhạy bén với ngoại cảnh:

                                    “ Nhãn để nhất thời thi liệu phú. Ngâm ông thùy dữ thế nhân đa”.

    (Hý đề – Ức Trai thi tâp)

    Nguyễn Trãi muốn văn học phải gắn bó mật thiết với cuộc sống của quảng đại quần chúng. Mà chính những tác phầm của Nguyễn Trãi đã được hình thành trên mối quan hệ giữa văn học và đời sống “Túi thơ chứa chất mọi giang sơn” (Tự thán 2 – Quốc âm thi tập). Ông đã cùng sống với nhân dân, cùng họ chiến thắng bọn xâm lược hung tàn. Bao nhiêu máu và nước mắt của nhân dân đổ xuống là bấy nhiêu nhát cắt vào tấm lòng Nguyễn Trãi. Từ đó, ông đã phả vào trong tác phẩm văn chương của mình một tinh thần nhân đạo, nhân văn cao cả. Văn chương của Nguyễn Trãi phục vụ nhân dân nghĩa là văn chương được dùng như một thứ vũ khí huyền diệu để đánh tan quân gian ác, lũ xâm lược, giải phóng con người đem lại hạnh phúc cho nhân dân

    b. “Văn chương là thứ khí giới thanh cao và đăc lực…để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”

    Qua thơ văn, Nguyễn Trãi tỏ rõ là một chiến sĩ kiên cường, tích cực đấu tranh cho nền ñoäc lập, hạnh phúc của nhân dân, của đất nước. Ông đã chứng minh văn học là một thứ vũ khí lợi hại. Bằng ngọn bút, bằng lí lẽ hùng hồn, Nguyễn Trãi đã uy hiếp tinh thần quân xâm lược góp phần giải phóng đất nước, giành lại độc lập đem lại hòa bình và tự do cho dân nhân ta

    Cả cuộc đời Nguyễn Trãi, tư tưởng yêu nước, thương dân luôn quán xuyến mọi hành động, suy nghĩ cũng như trong những sáng tác văn chương của ông. Văn chương trong thời chiến khác với văn chương trong thời bình, nó có sức mạnh trừ gian, trừ ác, giải phóng con người. Cứ đọc những bức thư Nguyễn Trãi gửi cho tướng giặc mà người đời sau gọi là Quân trung từ mệnh tập thì khắc rõ. Đó là giọng văn chính luận sắc bén, ngắn gọn và có sức mạnh bằng ngàn đội quân. Giọng điệu trong Quân trung từ mệnh tập lúc thì mềm dẻo, lúc thì cương quyết, làm cho tướng giặc vừa nể phục vừa khiếp đảm: “Các ngươi nếu biết kéo quân ra thành, cùng ta hòa hảo thân tình thì ta coi các ngươi như anh em ruột thịt…nếu không thế tùy các ngươi. Trong khoảng sớm tối, sẽ khắc thấy nhau, đến lúc bấy giờ hối cũng không kịp. Các ngươi hãy nên nghĩ đi” (Thư dụ thành Bắc Giang). Có thể thấy, Nguyễn Trãi đã coi văn chương là thứ vũ khí đắc lực nhất để xua đuổi quân thù, mang lại hạnh phúc cho con người vì “văn học là nhân học”

    Nguyễn Trãi còn coi văn chương là một hoạt động tinh thần có khả năng thanh lọc, cảm hóa con người và mang đến nhân nghĩa:

                    “Văn chương chép lấy đòi câu thánh

                    Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung

                    Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược

                    Có nhân, có trí, có anh hùng”

    (Bảo kính cảnh giới 5 – Quốc âm thi tập)

    Như vậy, với Nguyễn Trãi, văn chương là “thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn” (Thạch Lam)

    c. Văn chương phải giản dị, gần lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân

    Với vốn sống và vốn tri thức phong phú, sâu rộng, Nguyễn Trãi đã kết hợp văn học dân gian với văn học viết một cách nhuần nhuyễn, không chỉ ở ngôn ngữ nhân dân hàng ngày được ông nâng lên thành ngôn ngữ văn học có giá trị nghệ thuật cao mà còn ở phần nhân văn nhân đạo: trọng lao động, quý tục lệ ông bà, cách đối nhân xử thế.

    Nguyễn Trãi đã đưa khẩu ngữ hàng ngày của nhân dân vào thơ ca và tận dụng khả năng của những khẩu ngữ ấy để tả cảnh, tả người, tả vật:

    “ Nên thợ, nên thầy vì có học

    No ăn, no mặc bởi hay làm”.

    (Bảo kính cảnh giới 46)

    “ Co que thay bấy ruột ốc

    Khúc khuỷu làm chi trái hòe”.

    (Trần tình 8)

    Làm được điều này đòi hỏi cái tài của người người nghệ sĩ, thật khéo léo mà cũng thật tinh tế để làm cho tác phẩm của mình như là cuộc sống, hơi thở của con người. Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn sử dụng ngôn ngữ của văn học dân gian trên cơ sở gọt giũa và cách điệu hóa, sử dụng những hình tượng, kết cấu vốn đã được cô đúc trong ngôn ngữ văn học dân gian để diễn tả cái tình, cái ý một cách nhuần nhị:

    Từ câu tục ngữ “Con sâu làm rầu nồi canh”. Nguyễn Trãi viết:

    “Chẳng ngừa nhỏ, âu lên lớn

    Nếu có sâu thì bỏ canh”.

    (Bảo kính cảnh giới 21 – Quốc âm thi tập)

    Từ câu ca dao:

    “ Bể sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”.

    Nguyễn Trãi viết:

    “ Dễ thay ruột bể sâu cạn

    Khôn biết lòng người ngắn dài”.

    (Ngôn chí 6- Quốc âm thi tập)

    Tuy không nói ra, nhưng chúng có thể cảm nhận được niềm tự hào của Nguyễn Trãi với những giá trị bổ ích của văn học dân gian, đặc biệt là khả năng vận dụng ngôn ngữ của cha ông xưa trong việc diễn đạt tâm tư, tình cảm. Nguyễn Trãi đã học hỏi, sử dụng ngôn ngữ nhân dân để làm tăng sự sinh động và gần gũi cho tác phẩm của mình, đồng thời Nguyễn Trãi còn lưu giữ và phát triển sự sáng đẹp của ngôn ngữ dân tộc đã được nhân dân gọt giũa, chọn lọc từ lâu đời.

    2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn chương nghệ thuật:

    a. Văn chương phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ:

    Trong đường lối văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh, như chúng ta thấy, phục vụ cách mạng thống nhất với phục vụ nhân dân. Quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ chủ tịch, nói như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Đó là điều cốt yếu hơn hết trong sự nghiệp cách mạng của Hồ chủ tịch”. Người khuyên nhà văn, nhà thơ đi sâu vào cuộc sống để hiểu tâm tư, nguyện vọng, cuộc sống của nhân dân, sao cho “mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ao ước cúa quần chúng”. Muốn làm được vậy, Hồ Chí Minh chỉ rõ, người nghệ sĩ phải xuống nông thôn, vào nhà máy, vào bộ đội, cùng sống, chiến đấu và lao động với quần chúng, như thế mới biết được khó khăn, chí khí và nguyện vọng của nhân dân như thế nào ?

    Hồ Chí Minh đã nêu lên quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cuộc sống và tác phẩm, giữa người viết và người đọc, được cụ thể hóa trong hệ thống câu hỏi liên kết với nhau theo một trình tự chặt chẽ: “Viết cho ai ?”, “viết để làm gí ?”, “viết cái gì ?”, và “cách viết như thế nào ?”. Vấn đề đối tượng phục vụ, vấn đề “viết cho ai ?” được Hồ Chí Minh nêu bật hàng đầu như là xuất phát điểm, như là mục đích cụ thể quy định cả quá trình sáng tác. Văn học phục vụ nhân dân phải bắt nguồn tư hiện thực cuộc sống, phản ánh những sinh hoạt hàng ngày, những sự kiện trọng đại của dân tộc và cuộc sống. Chừng nào mà người nghệ sĩ chưa ý thức được rõ ràng mục đích và đối tượng phục vục chủ yếu của văn chương thì họ vẫn không thể có được một phương hướng sáng tác chính xác, vẫn dễ bị chập choạng và sáng tác của họ rất khó biến thành món ăn tinh thần của đông đảo nhân dân. Vì nhân dân bao giờ cũng là người đánh giá tác phẩm chính xác vá tinh tường nhất.

    b.“Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”

    Hồ Chí Minh nói một cách giản dị “rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn học muốn tự do thì phải tham gia cách mạng” hoặc “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”. Như vậy là, Người đặc biệt quan tâm đến tác dụng, chức năng của văn chương xem văn chương như hoạt động thực tiễn của con người, như một sức mạnh cải tạo cuộc sống.

    Năm 1947, trong thư gửi anh chị em văn hóa và trí thức Nam bộ, Hồ Chí Minh có viết rằng: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em tri thức và văn hóa cũng phải làm như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho tổ quốc”. Năm 1951, Hồ Chí Minh lại khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Như vậy, ý kiến của Bác là rất nhất quán, sáng sủa, dễ hiểu: văn nghệ là mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí. Nhà văn, nhà thơ không thể “vị nghệ thuật’ tùy hứng muốn viết gì thì viết, không thể là một người “thư kí” khách quan chủ nghĩa mà phải là một chiến sĩ, một người có tính đảng cao, sống và viết cho một mục đích xác định. Trong bài thơ Cảm tưởng đọc Thiên gia thi Bác viết:

                                    “Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp

                                    Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông

                                    Nay ở trong thơ nên có thép

                                    Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

    Thơ phải có “thép”, tức là phải có tính chiến đấu. “Thép” trong thơ văn nói chung là tính cách mạng triệt để. Đây là điểm mới mà chủ tịch Hồ Chí Minh đem lại cho văn chương, khác với quan điểm văn chương phù phiếm, văn chương thù tạc của giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản.

    Xác định mục đích của văn nghệ là phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân là hết sức đề cao văn chương nghệ thuật, gắn nó với những nguồn cảm hứng lớn lao nhất, bảo đảm cho nó một sự phát triển tự do và rực rỡ. Cũng như ở những lĩnh vực khác, ý kiến của Bác về văn nghệ bao giờ cũng thấm nhuần tinh thần thực tiễn cách mạng, có tính mục đích cao, nhưng đồng thời rất thiết thực, linh hoạt gắn liền với hánh động.

    c. Văn chương đừng như “dây cà, dây muống”

    Văn chương phải giản dị, gần gũi với sinh hoạt của nhân dân. Và Hồ Chí Minh cũng thấy được sức sáng tạo to lớn của quần chúng: “Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là sáng tác của quần chúng. Các sáng tác ấy rất hay mà lại gắn, chứ không trường thiên đại hải, dây cà dây muống…những sáng tác ấy là những viên ngọc quý”.

    Nhà văn phải chú ý đến hình thức thể hiện, tránh lối viết cầu kì, xa lạ, nặng nề. Hình thức tác phẩm phải trong sáng, hấp dẫn, ngôn từ phải chọn lọc. Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Theo Người tác phẩm văn chương phải thể hiện được tinh thần của dân tộc, của nhân dân và được nhân dân yêu thích.

    Văn chương xuất phát từ cuộc sống, văn chương lấy ngôn ngữ làm chất liệu tạo hình nên nó giúp ngôn ngữ đời sống ngày càng phát triển, còn ngôn ngữ văn học nhờ sự phong phú của ngôn ngữ đời sống nên cũng ngày càng sinh động, rực rỡ. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến hình thức giản dị, dễ hiểu, trong sáng, vui tươi của văn chương. Mặt khác Người cũng chống lại sự rập khuôn, đơn điệu, Người mong muốn “xây dựng văn nghệ ta ngày càng phong phú về tư tưởng và nghệ thuật”. Văn chương trong thời đại cách mạng gắn liền với chính trị, tuyên truyền cho đường lối của đảng, của cách mạng thì tác phẩm văn học phải thật giản dị, phải học lời ăn tiếng nói của nhân dân vì “cách nói của dân chúng rất đầy đủ, hoạt bát, rất thiết thực mà lại rất giản đơn”.

    III. Thơ Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh sáng ngời lòng yêu nước, thương dân, lo cho vận mệnh dân tộc

    Nguyễn Trãi khẳng định rằng: “Phúc chu, thủy tín dân do thủy” (lật thuyền mới thấy sức mạnh của dân như nước – Quan hải). Đây là cách nhìn mới mẻ, đầy sáng tạo và có sự trân trọng nhân dân đúng mực. Người làm vua, kẻ làm quan phải dựa vào dân trong đánh giặc cũng như xây dựng đất nước và luôn “chăm lo dân, khiến cho thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận, oán sầu”. Dù Nguyễn Trãi có gọi nhân dân là “dân đen “, “con đỏ” (Bình Ngô đại cáo) thì điều đó càng chứng tỏ tấm lòng chân thành của Nguyễn Trãi dành cho nhân dân. Trong kháng chiến chống quân Minh, sức mạnh của nhân dân đã được phát huy mạnh mẽ làm nên những chiến công vang dội nhất.

    Cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh cùng nhận thấy sức mạnh của nhân dân và luôn đề cao phẩm chất cao quý của họ. Nhưng đồng thời Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh cũng cảm nhận sâu sắc nỗi thống khổ của nhân dân.

    Khi lớn lên, Nguyễn Trãi sống với cha ở Nhị Khê hàng chục năm, rồi sau khi phải lưu lạc trong nhân dân, Nguyễn Trãi đã tự mình mắt thấy tai nghe muôn vàn khổ cực của dân dưới ách quân cướp nước và bán nước. Để rồi những vần thơ của Nguyễn Trãi như sống lên thành tiếng nói cảm thương sâu sắc, và ngược lại chính những vần thơ này càng giúp Nguyễn Trãi thấm thía hơn cuộc đời lam lũ, khốn khó, đau thương của nhân dân lao động, của người dân mất nước:

                                    “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

                                    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

    (Bình Ngô đại cáo)

    Trái tim người đọc có bao cảm xúc lạ thường vừa thương cảm với nỗi thống khổ của nhân dân vừa càng yêu mến Nguyễn Trãi. Bầu trời Việt Nam như tối tăm hơn khi giặc Minh xâm lươc. Đã bao đêm Nguyễn Trãi không ngủ để tìm đường cứu nước cứu dân, bao nhiêu nỗi cơ cực, mất mát của dân chúng là bấy nhiêu nỗi đau đớn trong tấm lòng tác giả.

    Sinh ra khi nước đã mất nhà đã tan và lại có ba mươi năm tìm hiểu lăm châu bốn bể, Hồ Chí Minh đã thực sự thấm thía nỗi cơ cực của mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động. Về cảnh khổ của công nhân, Người viết:

    “ Lại còn đánh chửi tân phiền

    Cúp lương tháng trước, phạt tiền hôm qua”.

    (Ca công nhân)

    Về nỗi khổ của nông dân, Hồ Chí Minh viết:

    “Thương ôi ! những bạn dân cày

    Chân bùn, tay lấm suốt ngày gian lao”.

    (Ca dân cày)

    Còn tuổi thơ của những em nhỏ cũng thật đáng thương:

    “Sức còn yếu, tuổi còn thơ

    Mà đã khó nhọc cũng như người già”

    (Kêu gọi thiếu nhi)

    Với tấm lòng cảm thươg sâu sắc, Hồ Chí Minh không chỉ thấy được nỗi khổ quằn quại, triền miên của nhân dân, mà còn thấy tiềm lực vô tận, bản chất anh hùng của nhân dân.

    Thơ văn Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh không gì hơn tấm lòng yêu nước, thương dân và dòng máu truyền thống dân tộc luôn cuộn chảy trong họ. Tuổi trẻ của Nguyễn Trãi đã mang trong mình hoài bão, lí tưởng, cống hiến hết mình cho dân, cho nước. Trải qua bao khó khăn, thăng trầm trong cuộc đời, lí tưởng ấy của Nguyễn Trãi càng mãnh liệt, khôn nguôi:

    “Bui một tấc lòng ưu ái cũ

    Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”

    (Thuật hứng 5 – Quốc âm thi tập)

    Cả cuộc đời Nguyễn Trãi “cật chưng hồ hải đặt chưa an” để suy nghĩ, để tìm câu trả lời: làm gì cho dân, những người dân lầm than, khổ cực. Chính vì vậy mà:

    “Còn có một lòng âu việc nước

    Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung”.

    (Thuật hứng 23 – Quốc âm thi tập)

    Rồi người đời càng cảm động hơn khi thấy một Nguyễn Trãi:

    “Bình sinh độc bão tiên ưu chí

    Tỏa ủng hàn khâm dạ bất miên”.

    (Suốt đời riêng ôm tấm lòng “lo trước”

    Ngồi quàng mảnh chăn lạnh, thâu đêm không sao ngủ được)

    (Hải khẩu dạ bạc hữu cảm 2- Ức Trai thi tập)

    Mỗi dòng thơ là một dòng tâm huyết, mỗi bài thơ là một tấm lòng trong sáng, đầy sức sống. Nguyễn Trãi hiện lên trong lòng người đọc đầy gần gũi mà luôn có sự kính phục, đầy yêu thương, tự hào. Cả cuộc đời Nguyễn Trãi quên ăn, quên ngủ cũng chỉ vì hai chữ dân, nước. Truyền thống yêu nước của dân tộc ta ngàn đời vẫn vậy. Và để rồi sau đó hơn năm thề kỉ cũng có một con người với tấm lòng như Nguyễn Trãi:
    “Một canh, hai canh lại ba canh

    Trằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thành

    Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

    Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

    ( Không ngủ được”- Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh )

    Với lòng yêu nước chân chính và lòng nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, Hồ Chí Minh không một giây phút nào rời xa tổ quốc dân tộc, ngay cả những ngày tháng gian lao nhất trong ngục tù đế quốc đến những ngày kháng chiến đầy sôi nổi nổi, ác liệt . Niềm lo âu việc nước luôn canh cánh bên lòng suốt đêm không ngủ:

    “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

    Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

    (Cảnh khuya)

    Giấc mộng hồn “sao vàng năm cánh” thật đẹp đẽ, thiêng liêng, là niềm tin sắt son vào thế chiến thắng của quân ta, biểu hiện bằng một hình tượng nghệ thuật mang tính thấm mĩ cao và cũng rất hiện thực, sáng ngời vẻ đẹp đất nước với cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới trên nền trời tổ quốc.

    Tấm lòng yêu nước đó xuyên suốt cả cuộc đời Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Sáu mươi tuổi, Nguyễn Trãi vui mừng khôn xiết viết Biểu tạ ơn vua vì lại được vời ra chăm lo việc nước:

    “Thương thần như ngựa đến tuổi già, còn kham rong ruổi

    Cho thần như thông qua năm hết càng dạn tuyết sương”

    (Biểu tạ ơn)

    Tuy tuổi đã cao nhưng Nguyễn Trãi vẫn giữ được nhiệt huyết của tuổi trẻ, của khát vọng và ước mơ suốt cả cuộc đời. Với tấm lòng tràn đầy trẻ trung, Nguyễn Trãi mong muốn cống hiến thật nhiều cho dân tộc không ngại chi tuổi tác, thời gian. Và nếu có để giải thích cho tinh thần sôi nổi ấy, ta liền nghĩ ngay đến câu thơ đầy hóm hỉnh, đầy hình ảnh của Nguyễn Trãi: “Đạo ta cậy bởi chân non khỏe” (Mạn thuật 1 – Quốc âm thi tập). “Đạo” của “ta” (đạo về dân, về nước) thật vững chắc, không gì lay chuyển, phá vỡ được, nó như chân núi sừng sững, cao vợi phía chân trời. Và nhìn về phía chân trời rộng lớn, xa thẳm ấy, vượt thời gian, chúng ta lại nhớ ngay đến bài thơ Sáu mươi tuổi đầy tươi vui, khỏe khoắn của Hồ Chí Minh:

    “Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán

    So với ông Bành vẫn thiếu niên

    Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe

    Trần mà như thế kém gì tiên”.

    Đó là mong ước phụng sự lâu dài cho dân tộc, cho nhân dân của Hồ Chí Minh. Giọng thơ hóm hỉnh, tươi vui nhưng lại rất sâu sắc. Tuy tuổi đã cao nhưng tinh thần Bác vẫn còn rất tráng kiện “còn xuân chán”, tâm hồn người cộng sản còn trẻ trung lắm!, còn làm được nhiều việc ích nước lợi dân. Hồ Chí Minh như đã vượt lên trên vòng xoay của thời gian, của tạo hóa để sống và cống hiến hết mình cho dân tộc.

    Tóm lại, tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong thơ ca. Tuy có khoảng cách về lịch sử, về thời đại nhưng Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều đúc kết được tấm lòng ấy trong những vần thơ trong sáng đầy nhiệt thành, vừa ngắn gọn, dễ hiểu vừa gần gũi, sâu sắc vô cùng. Chính điều này đã làm cho những áng thơ của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh có sức sống lâu bền, có sức cảm hóa và giáo dục rất lớn.

    IV. Hai áng “Thiên cổ hùng văn”: Bình Ngô đại cáo, ca khúc khải hoàn hùng tráng của dân tộc; Tuyên ngôn độc lập, bản anh hùng ca trong thời đại mới

    Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập được Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh viết trong tâm trạng “sảng khoái nhất”. Sau bao nhiêu năm trời nô lệ, hạnh phúc và tự do giờ đã tới đây. Cả dân tộc đang bước sang một thời vận mới – độc lập, tự do. Sau thắng giặc Minh, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo (1428). Sau cách mạng tháng Tám thành công (1945), Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập. Như vậy, Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập là những áng văn chính luận được viết vào những thời điểm lịch sử trọng đại của dân tộc nhằm tổng kết, khẳng định thắng lợi của dân tộc, quyền sống và chính nghĩa ở con người. Vì vậy, Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập có giá trị lớn trong lịch sử và nền văn học dân tộc.
    Giọng văn trong Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập đầy chất hùng tráng và niềm tự hào dân tộc. Âm hưởng của nó như được vút lên từ bầu trời đầy nắng, từ triệu trái tim con người Việt Nam. Nhưng qua giọng văn ấy, ta cũng thấy được thái độ của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Với nhân dân, giọng văn thật trìu mến: “Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phất phới; Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” (Bình Ngô đại cáo) hoặc như: “Hỡi đồng bào cả nước” (Tuyên ngôn độc lập). Còn với kẻ thù thì kiên quyết, khinh bỉ và căm ghét: “Thằng nhãi con Tuyên Đức”, “Thằng há miệng, đứa nhe răng máu mỡ bấy no nê chưa chán” (Bình Ngô đại cáo) và trong Tuyên ngôn độc lập thì “Những hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”, “chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, “thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”.

    Để khẳng định sự trường tồn và vị thế của dân tộc Nguyễn Trãi viết:

    “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”.

    Đây là thực tại khách quan mà không bè lũ xâm lược nào có thể bác bỏ được, là bảo đảm lịch sử rất cương quyết và cứng rắn cho cương vực, lãnh thổ và sự tồn tại vững bền của dân tộc. Đến thời đại Hồ Chí Minh, trong Tuyên ngôn độc lập, Người đã dùng chính những lời lẽ trong tuyên ngôn của Mỹ, Pháp mà đòi độc lập, tự do cho nhân dân, cho dân tộc. Người đã đặt ba cuộc cách mạng (cách mạng Mỹ-1776, cách mạng Pháp-1791, cách mạng Việt Nam-1945), ba bản tuyên ngôn ngang hàng nhau “như đang gợi lại nguồn tự hào của tác giả Bình Ngô đại cáo ngày xưa khi mở đầu tuyên ngôn bằng hai vế cân xứng để đặt ngang hàng triều Đinh, Lí, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Bắc quốc”. Đó là tấm lòng yêu nước cao cả, lớn lao được kết tinh trong những lời văn tâm huyết, trong cách lập luận chặp chẽ như ghi tạc vào trời xanh, vào lòng người.

    Tác phẩm Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập có được sự mạch lạch, gắn kết như vậy là nhờ vào việc sử dụng nhiều từ nối. Trong Bình Ngô đại cáo là: “cố” (vậy nên), “khoảnh” (vừa rối), “dư” (ta đây), “nại dĩ” (lại ngặt vì), “toại” (bởi thế), “đặc dĩ” (chỉ vì), “nhiên kì” (thế mà), “tốt năng” (trọn hay), trong Tuyên ngôn độc lập là: “Tuy vậy, sự thật là, bởi thế cho nên, vì những lẽ trên”. Chính những từ nối ấy đã làm nổi bật lên bố cục rõ ràng, diễn ra theo trật tự tiệm tiến của hai tác phẩm: nêu nhân nghĩa, tội ác của quân giặc, chiến đấu, chiến thắng và độc lập. Nó góp phần làm cho người đọc nhanh chong xác định được nội dung của tác phẩm một cách sâu sắc, hoàn thiện. Và việc sử dụng những từ nối ấy đã xây dựng Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập thành mội khối thống nhất, chặt chẽ, kín kẽ. Vậy nên, bọn xâm lược, bọn phản động không thể phản biện hay bác bỏ được điều gì. Bên cạnh đó, với cách viết ngắn gọn, xúc tích, liệt kê hàng loạt sự kiện lịch sử, hàng loạt tội ác dã man của quân thù cùng với bút pháp tả thực có chọn lọc, Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập đã làm quân giặc không thể ngẩng mặt lên, không thể chối cãi trước những chứng cứ xác đáng. Chính vì vậy Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập không chỉ là khắc tinh của quân thù mà còn là những áng văn chính luận tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam đáng lưu danh muôn thủa và học tập muôn đời.

    Nói về hình thức của Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập thì vô cùng giản dị nhưng lại sâu sắc, ngắn gọn mà hàm xúc, không cầu kì mà rất mạch lạc. Lời lẽ đanh thép, lập luận chặt chẽ, chính xác. Cả bài “Đại cáo” và “Tuyên ngôn” đều có kết cấu theo lối ta-địch: Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã đóng đinh kẻ thù trên đài dư luận, đánh đổ uy thế tinh thần quân giặc. Đồng thời ca ngợi chiến thắng, khẳng định quyền con người, quyền dân tộc. Cả Đại cáo cà Tuyên ngôn đều là thể văn chính luận nhưng bằng tài năng văn chương Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã phả vào nó những cảm xúc trữ tình sâu lắng, hấp dẫn tấm lòng người đọc.

    Qua Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập, người đọc thật xúc động trước tấm lòng yêu nước, thương dân, gần gũi với nhân dân của hai vị anh hùng dân tộc-Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Nguyễn Trãi đã cùng quân dân chia ngọt sẻ bùi, sát cánh bên nhau: “Nhân dân bốn cõi một nhà….Tướng sĩ một lòng phụ tử” cùng quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi. Hồ Chí Minh đã gọi to trong niềm vui khôn tả, trong niềm hạnh phúc vô bờ “Hỡi đồng bào cả nước”. Đặc biệt ở Tuyên ngôn độc lập có một câu ngoài văn bản “Tôi nói đồng bào nghe rõ không ?”. Câu hỏi đầy tình nghĩa, đầy xúc động. Nó đã gắn kết muôn triệu trái tim con người Việt Nam. Nhân dân và Hồ Chí Minh là một, đất nước và nhân dân là một. Tất cả đã lặng đi, đã trào nước mắt trước con người vĩ đại-Hồ Chí Minh, Bác gần gũi, thân thiết và đẹp đẽ quá !.
    Nếu như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là áng “Thiên cổ hùng văn” hào hùng, đầy khí phách, tự hào dân tộc thì bản Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh là áng “Thiên cổ hùng văn” hừng hực khí thế cách mạng tiến công trong thời đại mới. Và ẩn sau Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn được tổng kết trong một văn bản ngắn ngọn, trong sáng, khúc triết, kinh nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì nhân quyền của dân tộc và nhân loại. Chính vì vậy mà Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập mãi là những áng văn sáng ngời trong nền văn học Việt Nam.
    V .Kết luận

    Có rất nhiều những nét tương đồng giữa Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh trong văn chương cũng như trong cuộc đời. Điều đó chứng tỏ rằng ở Việt Nam nhân tài, “hào kiệt đời nào cũng có”, đây cũng chính là sự đồng điệu trong sáng tác và cảm thụ văn chương của hai con người Việt Nam vĩ đại: Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Những cống hiến lớn lao của hai vị anh hùng dân tộc này trong đó có văn chương thật đáng để người đời luôn trân trọng và học tập. Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã đem đến cho văn học Việt Nam sức sống mới, hướng đi mới: văn chương là hoạt động tinh thần, văn chương tham gia cách mạng và phục vụ con người.

    Dù vạn vật có đổi thay, thời gian có xoay vần thì danh tiếng, tâm hồn và tài năng văn chương của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh mãi mãi không phai mờ, không bị khỏa lấp bởi rêu xanh và cát bụi, luôn sống mãi trong mỗi con người Việt Nam. Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh giờ đã là người thiên cổ, đã về thế giới người “hiền”. Nhưng trong suốt cuộc đời của mình, mỗi người luôn đau đáu với nỗi niềm dân, nước, luôn suy nghĩ về vận mệnh dân tộc. Giờ đây khi ở trên cao, linh ứng được cảnh đất nước ngày nay yên bình, phát triển, nhân dân hạnh phúc thì Nguyễn Trãi đã có thể “cất chiếc nhà tranh nơi chân núi phủ mây, múc nước khe đun trà và nằm dài trên đá ngủ ngon một giấc”. Còn chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già kính yêu của dân tộc đã được thảnh thơi, tạm gác việc quân, việc nước “xách bương dắt trẻ ra vườn tưới rau”.
    (Đ.M.H)

    ———————————————————————————————————————

    BÀI CA DAO HOA SEN (TIẾNG VIỆT 2), 

    Bình giảng bài ca dao Hoa sen (Tv2)

    Ca ngợi vẻ đẹp của vạn vật, trên cơ sở đó, tạo liên tưởng về nét đẹp củaphẩm chất con người là một nội dung lớn của ca dao. Có thể nói, trong chiều hướng chung như vậy, bài ca dao quen thuộc ca ngợi vẻ đẹp tinh khiết, không lấm bùn của hoa sen, là một trong những bài hay về đề tài này. Đọc bài ca dao ta sẽ nhận ra sức thuyết phục của nó. Một sức thuyết phục rất riêng trong rất nhiều những hương cỏ lạ, rộ nở trong vườn hoa ca dao dân tộc.

    Mở đầu bài ca dao, sức thuyết phục của nó nằm trong tầng nghĩa thứ nhất. Tầng nghĩa này ẩn chứa vẻ đẹp của hoa sen. Việc đầu tiên, với một cách nhìn thẩm mĩ riêng, dân gian khẳng định: “Trong đầm gì đẹp bằng sen”. Lời khẳng định ngắn gọn mà chắc chắn, súc tích. Thật ra, theo tiêu chí thẩm mĩ chung, chưa chắc điều này đã được mọi người đồng ý, thế nhưng trong tất cả nét duyên dáng của hoa, sen thật là gần gũi với người nông dân chân lấm tay bùn, bởi điều kiện sống của nó. Không phải đã có một anh chàng trong ca dao đã giả vờ một cách khéo léo – giả vờ quên áo trên cành hoa sen – để làm quen cô gái đó sao ?

    Vì vậy, lời khẳng định vẻ đẹp của hoa sen ở đây tr­ớc hết là do cảm tính, sự gần gũi. Nh­ưng chỉ nói như­ vậy thì ch­ưa đủ đối với cái đẹp rất riêng của sen, sự phiến diện trong thẩm mĩ  thiên về cảm tính của ngư­ời nông dân. Nét đẹp không chỉ từ sự gần gũi, thân quen kiểu “Ao nhà vẫn hơn”. Đọc tiếp câu thứ hai, thứ ba: “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá xanh”, lời khẳng định ban đầu không chỉ là đơn thuần chuyện cảm tính, nét đẹp của sen còn là nét đẹp của một sự hài hoà gần như­ tuyệt đối. Đó là sự hài hoà về màu sắc. “Xanh – trắng – vàng”, “vàng – trắng – xanh”. Đó là sự hài hoà về chi tiết cấu tạo. “Lá – bông – nhị”, “nhị – bông – lá”. Tất cả tạo nên một chỉnh thể không thể tách rời, tôn tạo lẫn nhau, bổ sung lẫn nhau không thiếu, không thừa. Từ đó, câu ca dao đư­a ra yếu tố cuối cùng, quyết định tạo nên dáng vẻ riêng mà không phải loài hoa nào cũng có:

    “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

    Hoá ra, lời khẳng định đầu tiên có lí do của nó. Yêu vẻ đẹp của sen đồng thời là yêu cái phẩm chất tinh khiết của một loài hoa: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Phẩm chất đó của sen như­ biện hộ thêm giá trị của những người đang ngày đêm chân lấm tay bùn, đồng sâu, đồng cạn vẫn thể hiện đầy đủ nét đẹp chân quê.

    Từ tầng nghĩa thứ nhất ta tiếp xúc với tầng nghĩa thứ hai. Rõ ràng, ở đây không chỉ là nét đẹp của hoa sen. Tiềm ẩn, kín đáo, bóng bẩy, nét đẹp “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” của sen còn mang bóng dáng con người, những người không chịu khuất phục tr­ước hoàn cảnh. Họ vươn lên giữa bùn nhơ khẳng định chân giá trị của chính bản thân mình. Cái xấu đục của môi tr­ường, cuộc sống không vấy bẩn họ, trái lại, càng tôn thêm phần trong sạch, tinh khiết. Họ biến thành những tấm gương sáng về nghị lực, nhân cách.

    Ngời sáng phẩm chất này là hình ảnh Bác Hồ. Trong chốn tối tăm, mù mịt của chế độ lao tù T­ưởng Giới Thạch, Ng­ười vẫn dõng dạc tuyên bố:

    “Thân thể ở trong lao

    Tinh thần ở ngoài lao”.

    Người đã vươn lên như một đoá sen mọc thẳng, khẳng định sự thanh cao, một ý chí bất khuất trước hoàn cảnh tù đày.

    Như vậy, vẻ đẹp của bài ca dao là nét đẹp của những hình ảnh thực (hoa sen) cộng với hình ảnh tượng trưng (con người không khuất phục hoàn cảnh). Ngắm nhìn những đoá sen ấy ta bắt gặp sự sâu sắc trong suy nghĩ, thẩm mĩ của ngư­ời xưa. Nét đẹp trong đôi mắt của họ cần được hài hoà ở cả  hai khía cạnh: Khía cạnh nội dung và hình thức; vẻ đẹp bên ngoài và vẻ đẹp tâm hồn. Tâm hồn ấy, trước hết là tâm hồn của những người không khuất phục, biết vươn lên trước số phận như những đoá sen kia, tinh khiết, thanh cao giữa chốn bùn nhơ.

    Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng… Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quí (Hồ Chí Minh). Một viên ngọc quí ấy là bài ca dao về bông sen, một loài hoa đồng nội có dáng vẻ thanh nhã, màu sắc gợi cảm, hương thoang thoảng nhưng thơm lâu:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Nội dung ý nghĩa và đặc điểm nghệ thuật của bài ca dao như thế nào, hình ảnh hoa sen xuất hiện trong văn học ra sao?

    Trong đầm gì đẹp bằng sen Đây là lối so sánh hơn, hơn tuyệt đối. Không gì đẹp bằng sen, nhất là vào những ngày hè rực nắng. Người nông dân thăm đồng, cậu mục đồng hát nghêu ngao trên mình trâu, khách nhàn du lững thững dạo đường làng… tất cả đều dừng lại ngắm những đoá hoa đang khoe sắc màu, toả hương thơm ngát, rồi xúc cảm:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen.

    Màu xanh lá sen, màu trắng cánh hoa, màu vàng nhị hoa chen nhau:

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

    Nhị vàng giữa những cánh hoa trắng, hoa trắng vượt lên mặt nước phủ mấy chiếc lá xanh. Xanh, trắng, vàng hoà hợp, tôn vẻ đẹp của hoa như tự nhiên mà có, lại như do một bàn tay xếp đặt. Dáng vẻ nào, màu sắc ấy: lá rộng trải trên làn nước, cánh hoa trắng che quanh đốm nhị vàng. Chỉ bằng mấy lời thơ, hình ảnh của hoa hiện lên như một bức tranh, thật là thi trung hữu họa (trong thơ cò hoạ)

    Nhị vàng bông trắng lá xanh.

    Đây chính là ý thơ trong cặp lục bát trước, nhưng ở vị trí đáo ngữ của câu 2 và rút bớt lại hai từ lại, chen. Nhà thơ Huy cận đã có lần phân tích: Chính nhờ sự đảo ngược hình ảnh ấy mà chúng ta như thấy hiện lên bàn tay ai đó đang lật từng lá sen xanh, chỉ từng bông sen trắng, đếm từng nhị sen vàng…

    Nhịp thơ câu 3 trở nên dồn dập, xác định màu sắc của nhị hoa, của cánh hoa và của lá. Toàn thể đoá hoa như hiện ra trên lá xanh, xinh đẹp, thanh nhã, quyến rũ hơn.

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Từ mà chia câu thơ thành hai vế, gắn với hai ý đối lập bề ngoài nhưng thống nhất trong ý nghĩa: sen sống trong bùn nhưng chẳng nhuốm mùi bùn. Câu thơ khởi đầu gần bùn như bị coi thường, khinh rẻ. Nhưng phô bày không giấu giếm cái vẫn bị xem là thấp kém của bản thân cũng là một thái độ ngầm tranh luận và hàm ý tự khẳng định mình. Mà chẳng hôi tanh mùi bùn là không chấp nhận sự tầm thường trong phẩm chất. Giá trị của hoa sen được thể hiện bằng một lời phủ định chẳng hôi tanh như thẳng tay bác bỏ mọi cách nhìn hời hợt, sai lệch trong việc đánh giá và tự xác định mình là một loài hoa cao quí, đáng ca ngợi.

    Bài ca dao miêu tả một loài hoa quen thuộc của ruộng đồng thôn dã. Hoa gợi liên tưởng đến con người, con người tay lấm chân bùn nhưng tâm hồn trong sáng, thanh cao. Họ chính là người nông dân thường bị bọn địa chủ khinh thường, coi là hạng người hôi tanh mùi bùn. Cho nên bài ca dao như một khúc hát ngợi ca, đồng thời cũng là một tuyên ngôn của người nông dân về bản thân mình, về tầng lớp mình. Đây còn là lời phản kháng mọi sự xúc phạm, xác định phẩm chất trong sạch của mình:

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Chẳng những hoa chẳng hôi tanh mùi bùn mà còn toả hương thơm ngát. Nông dân làm ra lúa gạo, nuôi sống con người, không ăn bám, không bóc lột xấu xa. Họ gắn bó với quê hương, sống theo nền nếp đạo lí truyền thông, bảo vệ và phát huy mĩ tục thuần phong của dân tộc như hoa sen cao quí.

    Về mặt nghệ thuật ca dao thường được kết cấu theo các lối phú, tỉ, hứng. Nhưng hiếm có bài tổng hợp cả ba lối như trong bài này.

    Bông sen hiện ra trước mắt ta (phú):

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh.

    Nói về một loài hoa với một xúc động thẩm mĩ (hứng), cùng lúc sử dụng phép so sánh (tỉ):

    Trong đầm gì đẹp bằng sen.

    Còn 4 câu ca ngợi hoa sen cùng lúc ngụ ý ẩn dụ (tỉ) với người có phẩm chất thanh cao:

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Bài ca dao gồm bốn câu thơ lục bát. Bởi không ngụ ý nuối tiếc một duyên tình lỡ làng như Nụ tâm xuân, hoặc tỏ tình một cách ý nhị như Tát nước đầu đình, hay giãi bày một nỗi buồn mênh mang như Buồn trông, bài ca dao Bông sen chỉ miêu tả một loài hoa, nên bốn câu thơ là vừa đủ, ít hơn thì ngắn, mà nhiều hơn có thể dài chăng?

    Lục bát trong bài có vần luật uyển chuyển, biến đổi trong ba câu sau, vần cuối của câu bát (câu 2) không gieo vần cuối câu lục kế tiếp (câu 3) mà ở tiếng thứ hai:

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh.

    Hay là không cần gieo vần?

    Từ vần luật mà vượt lên vần luật, có thể mới đích thực là thơ. Ở đây sắc hương của hoa sen đã làm rung động lòng người, gợi cảm hứng dân tộc của người bình dân và vượt lên vần luật thông thường.

    Tiết tấu của bài ca dao giàu tính nhạc. Nhịp chẵn của câu lục 2-2-2, của câu 2 – 2 – 2 – 2 (câu 2) hoặc 2-6 (câu 4) thật giản dị nhưng không đơn điệu. Đặc biệt, số tiếng của câu 3 là rút lại từ câu 2, hay nói khác đi, câu 2 là dạng trải dài của câu 3 là rút lại từ câu 2, hay nói khác đi, câu 2 là dạng trải dài của câu 3, như láy đi láy lại âm hưởng của lời thơ. Rải ra thì chi tiết nào cũng hiện rõ, gộp lại là một loài hoa xinh đẹp, như những nốt nhạc hoà âm.

    Tiết tấu của bài ca dao như âm hưởng của một dòng suốt chảy êm đềm (câu 1, 2) chuyển mình qua những bậc đá (câu 3), rồi tiếp tục trôi xuôi. Mạch thơ uyển chuyển thông suốt, thanh thoát, êm đềm.

    Hoa sen là loài hoa được yêu thích. Trước hết vì hoa có dáng vẻ thanh lịch, màu sắc dễ cảm, hương thoảng thơm lâu. Văn chương vốn chuộng hoa sen. Đó là một loài hoa quí.

    Đời Tề (Trung Quốc) có Đông Hôn Hầu yêu dấu nàng họ Phan, cho đúc hoa sen vàng lát nền nhà để ngắm bước chân mĩ nhân bước đi, mà khen rằng: Mỗi bước nở một đoá sen. Từ đó có điển tích sen vàng, gót sen.

    Trong Truyện Kiều, sau một buổi thanh minh, đêm về Kiều nghĩ ngợi vẩn vơ, mơ màng thì hồn Đạm Tiên hiện lên báo mộng:

    Sương in mặt, tuyết pha than

    Sen vầng lãng đãng như gần như xa.

    Và khi Kiều sang nhà Kim Trọng để hò hẹn, thề bồi:

    Tiếng sen sẽ động giấc hoè

    Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần.

    Lí Bạch, nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường (Trung Quốc), có viết Thái liên khúc (Khúc hát hái sen) mà Tản Đà dịch rằng:

    Có cô gái nhà ai

    Hái sen chơi ở bên ngoài Nhược gia

    Mặt hoa cười cách đoá hoa,

    Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh

    Áo quần mặc mới trắng tinh

    Nắng soi đáy nước rung rinh bóng lồng

    Thơm tho vạt áo gió tung

    Bay lên phấp phới trong không ngọt ngào…

    Thiếu nữ đẹp như cười nói với hoa sen đẹp. Hương sen ngát toả lên y phục tinh khiết của người thiếu nữ. Sắc hoa, hương hoa hoà lẫn hương sắc giai nhân. Ca ngợi giai nhân hay ca ngợi hoa sen thanh quí thơm tho, hay ca ngợi cả hai?

    Trong một bài dân ca Trị Thiên. Mối tình thuỷ chung:

    Bèo dạt nhờ sen, nhờ khi sương sa ấm gốc.

    Sen lại nhờ bèo, nhờ khi nắng xốc mưa vùi

    Sen trách lòng bèo lại xin lui

    Để mình sen ở lại ngậm ngùi nhớ thương…

    Trong Truyện Kiều, suốt một năm dài Từ Hải ra đi lập nghiệp, Kiều ở nhà cô đơn thui thủi, lòng tràn ngập bao nỗi nhớ niềm thương: mong Từ Hải, nhớ cha mẹ già yếu, quê hương thân yêu xa cách đã mười năm…, rồi hoài tưởng cố nhân Kim Trọng:

    Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

    Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.

    Duyên nàng với Kim Trọng đã tan vỡ, nhưng lòng vẫn vương vấn tơ tình, như ngó sen tuy gãy nhưng tơ vẫn còn liền, ngẫu đoạn nhi ti liên.

    Đặc biệt, nhà thơ Nguyễn Trãi một anh hùng dân tộc có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, rồi tận lực góp sức xây dựng đất nước hoà bình, vẫn thường nặng ưu tư vì lòng người đố kị, thói đời vùi dập, nên gởi tâm sự qua câu thơ buồn:

    Liên tử hữu tâm tri độc khổ

    (Hạt sen có tim biết nỗi đắng cay riêng mình).

    Bài ca dao miêu tả hoa sen lại làm cho ta suy nghĩ bao điều về ý nghĩ nhân sinh. Đó là loại hoa tiêu biểu cho những con người có tâm hồn cao đẹp, phẩm chất thanh cao.

    Hơn nữa, sen là một loài hoa dân dã nhưng vương giả, thanh khiết. Sen là loài hoa thường gắn bó với sinh hoạt, tâm tình của những người lao động. Anh trai làng tỏ tình cùng cô thôn nữ, sao mà khéo chọn nơi để quên cái áo sứt chỉ đường ta của mình:

    Hôm qua tát nước đầu đình

    Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

    Xuất thân từ ruộng đồng nhưng hoa đượm mùi vương giả sang quí. Đời Trần Anh Tôn, Mạc Đĩnh Chi thi đậu Trạng Nguyên, nhà vui thấy ông hình dạng xấu xí, không muốn lấy đỗ đầu tiến sĩ. Như một cách trần tình, Mạc Đĩnh Chi làm bài Ngọc tĩnh liên phú (Bài phú hoa sen trong giếng ngọc), tự ví mình thanh cao như loài sen quí: Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật…

    Hơn nữa, hoa sen là loài hoa thuần khiết. Đức Phật ngồi trên toà sen. Hình ảnh này thấp thoáng trong một bài thơ cảm hoài triệu đại vàng son nhà Lê đã thành vang bóng:

    Mấy toà sen rớt mùi hương ngự,

    Năm thức mây phong nếp áo chầu

    Sóng lớp phế hưng xem đã rộn,

    Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.

    (Bà huyện Thanh Quan)

    Cuối cùng, sen cũng là một hình ảnh, hình tượng văn học thường được dùng tỏ bày tình cảm cho con người.

    Ở thời đại chúng ta, hoa sen được nhân dân Nam Bộ coi như một biểu tượng cao quí nhất dể tỏ lòng kính yêu đối với Bác Hồ:

    Tháp Mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

    Thu Huyền

    ———————————————————————————————————————-

    BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH(TIẾNG VIỆT 4), 

    BÌNH GIẢNG BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH CỦA PHẠM TIẾN DUẬT

    Trong chùm thơ bốn bài của Phạm Tiến Duật đoạt giải nhất cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ năm 1969, có ba bài viết về đường Trường Sơn, cụ thể là những chiến sĩ lái xe, thanh niên xung phong trên con đường huyền thoại ấy. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một trong ba bài ấy. Khi in lại bài thơ này, có nhà biên tập có ý muốn bỏ đi ba chữ đầu tiên, chỉ để lại “Tiểu đội xe không kính”, với lý luận rằng “ba chữ bài thơ về là thừa ra, vì ai đọc lên chẳng biết đây là bài thơ”. Như vậy là chưa hiểu được ý của tác giả. Ở bài thơ này, để nói sự lạc quan của lính vận tải trên đường Trường Sơn, tác giả nhìn thực tế bằng con mắt chiến sĩ lái xe: Mọi gian khổ, khó khăn chỉ là chuyện vặt, xe không có kính có cái hay, cái được mà xe có kính không có! Hay nói một cách khác, tác giả viết bài thơ này để ngợi ca tiểu đội xe không kính mà nội dung sự ngợi ca đó đã báo trước trong ba chữ bài thơ về nằm ở đầu đề. Để hiểu được hoàn cảnh ra đời của bài thơ này, chúng ta cùng nhắc lại một thực tế: Trong 16 năm, từ 1959 đến 1975, qua đường Trường Sơn chúng ta đã chở vào chiến trường miền Nam hơn một triệu tấn hàng và vũ khí nhưng cũng bị máy bay Mỹ đốt cháy và phá hủy mất 90 nghìn tấn hàng và 14.500 xe, máy. Chính Phạm Tiến Duật từng viết: “Mỗi trọng điểm là một nghĩa địa ô tô. Xác xe cháy ngổn ngang lưng đèo, đỉnh núi”. Biết bao chiếc xe đã được thu gom, chắp nhặt từ các nghĩa địa ô tô đó. Chỉ cần có bánh xe, máy nổ là coi như còn xe. Và tất nhiên, người ta phải chắp nhặt những bộ phận sót lại ở những chiếc xe khác nhau để làm nên một chiếc xe có thể chạy được. Đã có biết bao tiểu đội xe vận tải có những chiếc xe như thế chạy, chở hàng đã hoạt động trên đường Trường Sơn, thế thì mất kính có thấm tháp gì đâu ngoài việc tạo sự phóng túng cho lính lái:

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng.

    Thì ra chiến sĩ lái xe không hề bận tâm về việc xe mình không có kính, ngược lại, chính xe không có kính càng tạo cho anh cái thế ung dung ngồi trong buồng lái mà không có gì ngăn cách với thiên nhiên:

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa như ùa vào buồng lái.

    Sao trời và cánh chim là biểu tượng của ban đêm và ban ngày. Xe chạy không phân biệt ngày đêm, nhưng thực tế những năm tháng ấy, xe chạy đêm là chính để tránh máy bay Mỹ. Lòng yêu những con đường của người lái xe được tác giả mô tả bằng cảm giác khi xe chạy nhanh: “con đường chạy thẳng vào tim”, chạy thẳng được vì không có kính ngăn lại!

    Thế thì không có kính không đem lại những khó khăn gì hay sao? Có chứ, nhưng khó khăn xoàng không mảy may ảnh hưởng đến tinh thần người lính:

    Không có kính, ừ thì có bụi…

    Không có kính, ừ thì ướt áo…

    Điệp ngữ ừ thì thể hiện sự tất yếu đã biết, là một lẽ tất nhiên đã lường trước. Bụi chỉ làm trắng tóc lính trẻ, chỉ gây chuyện vui, chuyện buồn cười:

    Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

    Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

    Còn mưa ướt áo, ừ thì chuyện xoàng:

    Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

    Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.

    Chúng ta lưu ý rằng, cái gió lùa hong khô áo đó chính do xe không có kính mang lại!

    Qua hai khổ thơ coi chuyện khó khăn do việc xe không có kính mang lại là chuyện vặt, tác giả trở lại khai thác cái thuận lợi, cái được sinh ra từ xe không có kính, đó là việc thể hiện tình đồng đội, đồng chí, tình những người lính lái xe trên tuyến lửa:

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

    Động tác bắt tay nhau vồn vã này không thể làm được khi xe có kính! Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu thế hệ nhà thơ thời chiến tranh chống Mỹ, những người luôn khai thác ở lính tinh thần lạc quan, coi thường gian khổ, chắt lọc ngọt ngào từ cay đắng, tìm kiếm thuận lợi từ khó khăn. Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm của thế hệ nhà thơ này cũng luôn thường trực: Tất cả vì công cuộc giải phóng miền Nam. Đọc khổ cuối bài thơ này, chúng ta không chỉ biết được rằng tiểu đội xe không kính chỉ là một ví dụ, còn bao chiếc xe nữa thiếu nhiều thứ khác, mặc dù vũ khí và phương tiện là quan trọng, nhưng con người mới quyết định:

    Không có kính rồi không có đèn

    Không có mui xe, thùng xe có xước

    Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.

    Trong khổ thơ này có một chữ mà tác giả và bạn đọc đều chưa ưng ý, đó là chữ xước, bởi từ đó quá nhẹ, nên dùng cho những chiếc xe con sang trọng bị va quệt nhẹ tróc sơn, hơn là dùng cho những chiếc xe tải đã đi qua bom đạn mà có khi thùng xe chỉ còn lại vài thanh xơ tướp hoặc gẫy gập, cháy sém. Đã có lần chính tác giả muốn sửa lại từ này, nhưng lại thôi vì nghĩ nó đã nhập tâm vào bạn đọc rồi.

    Nói về ngôn ngữ của bài thơ này, nhà thơ Phạm Tiến Duật tâm sự: “Tôi không tự cho tôi cái quyền quy định phạm vi ngôn ngữ cho từng bài thơ. Mỗi bài thơ có một văn hóa riêng, ngôn ngữ riêng”. Và theo tôi, ngôn ngữ trong bài thơ này là ngôn ngữ của lính, chính xác hơn là ngôn ngữ của cánh lính lái xe rất phù hợp với nội dung coi thường gian khổ, hy sinh… trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi thứ và cái chết luôn cận kề khi thực thi nhiệm vụ của mình.

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

    “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…

    Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khoẻ, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng. “Bài thơ về tiểu đội không kính” (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó.

    Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió – hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo, mới lạ. Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá, tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm

    Tiến Duật. Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả “anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp” của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948), Phạm Tiến Duật đã ghi nhận, giải thích về “những chiếc xe không kính” thật đơn giản, tự nhiên :

    Không có kính không phải vì xe không có kính

    Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

    Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng : không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước. Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm, trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo, nghệ thuật.

    Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ.

    Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Đó là những con người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh.

    Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ :

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

    Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa như ùa vào buồng lái.

    Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh, vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. Các anh nhìn thấy từ “gió”,”con đường” đến cả “sao trời”, “cánh chim”. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng.

    Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp, tự tin, có tính cách ngang tàng:

    Không có kính, ừ thì có bụi,

    Bụi phun tóc trắng như người già

    Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

    Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

    Không có kính, ừ thì ướt áo

    Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

    Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

    Mưa ngừng, gió lùa khô, mau thôi.

    Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính, tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại “tiếng hát át tiếng bom”, họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm. Câu thơ “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy.

    Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính. Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình :

    Những chiếc xe từ trong bom rơi

    Đã về đây họp thành tiểu đội

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

    Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

    Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

    Võng mắc chông chênh đường xe chạy

    Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

    “Trời xanh thêm” vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. “Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc :

    Không có kính rồi xe không có đèn

    Không có mui xe, thùng xe có xước

    Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.

    Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra : xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước …

    Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom đạn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước. Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình ảnh “trong xe có một trái tim” .

    Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, kết đọng ở “trái tim” gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này. Ẩn sau ý nghĩa câu thơ “chỉ cần trong xe có một trái tim” là chân lý của thời đại chúng ta :sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, “con mắt của thơ”, làm bật lên chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ, nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi :

    Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí

    Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung

    Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng

    Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo

    “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 – 1975.

    ———————————————————————————————————————-

    BẦM ƠI (TIẾNG VIỆT 5), 

    Xã Gia Điền là một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ), là nơi mà người dân quê gọi mẹ là bầm, là bủ. Và ở chính mảnh đất nghĩa tình này, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bầm ơi” nổi tiếng.

    Vào những năm 1947, 1948, đoàn văn nghệ sỹ trong hành trình “nhận đường” đã chọn Gia Điền làm nơi dừng chân và hoạt động văn học nghệ thuật. Khi ấy, các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân đã ở lại thôn Gốc Gạo xã Gia Điền. Ngôi nhà mà các nhà văn chọn để ở trọ là nhà bà cụ Nguyễn Thị Gái. Khi các văn nghệ sỹ đến ở, bủ Gái đã dọn xuống bếp để nhường giường và không gian nhà trên cho khách. Cũng từ chính ngôi mà mái cọ bình yên này, vào khoảng thời gian ấy, bài thơ Bầm ơi được “khai sinh”.

    Một “lá thư” bằng thơ

    Theo lời kể của những người già trong thôn Gốc Gạo, ngày ấy, bủ Gái ban ngày lên nương trồng sắn, trồng đỗ hay xuống ruộng cấy lúa. Tối về, bủ dùng lá chuối khô bện lại làm đệm nằm cho đỡ lạnh. Nhưng cứ đêm đêm, các nhà thơ lại nghe tiếng khóc nhỏ của bủ Gái từ phía bếp. Đêm nào cũng như thế. Các nhà thơ lần hỏi mãi bủ Gái mới tâm sự rằng do bủ nhớ đứa con trai đi vệ quốc quân lâu ngày không thấy thư từ tin tức gì về. Bủ thương và lo cho nó quá. Biết vậy, các nhà văn, nhà thơ mới đề nghị nhà thơ Tố Hữu sáng tác một bài thơ và giả làm bức thư của con trai bủ Gái để an ủi lòng bủ. Nhà thơ Tố Hữu nhận lời và sáng tác liền bài thơ Bầm ơi với những câu từ đầu tiên như lời bức thư của đứa con gửi cho bầm của mình từ mặt trận: “Ai về thăm mẹ quê ta/Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm/Bầm ơi có rét không bầm/Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn…”. Khi bài thơ sáng tác xong, nhà thơ Tố Hữu đọc cho bủ Gái nghe và nói rằng đây chính là thư của con trai bủ gửi về chiến trường. Tin vậy, bủ Gái mừng lắm và cũng hết lo lắng cũng như khóc thầm vào mỗi đêm. Bủ Gái luôn mồm nói với nhà thơ Tố Hữu “anh thấy đấy, con tôi nó thương tôi thế đấy”. Ngày nào bà bủ Gái cũng nhờ nhà thơ Tố Hữu đọc lại bài thơ trên cho nghe ít nhất là một lần.

    Về sau, bài thơ Bầm ơi được truyền đi khắp các chiến trường và các chiến sỹ đã chép bài thơ này vào lá thư gửi cho người mẹ của mình ở quê nhà như một lời báo tin rằng ở chiến trường họ vẫn bình yên.

    Sau khi rời Việt Bắc, rời mảnh đất Gia Điền về Hà Nội công tác, nhà thơ Tố Hữu và các văn nghệ sỹ luôn nhắc tới kỷ niệm sâu nặng và đáng nhớ này. Năm 1981, khi nhà thơ Tố Hữu đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội con trai bà bủ Gái đến thăm. Anh đại tá tỏ lòng cảm ơn nhà thơ đã sáng tác ra bài Bầm ơi để động viên, an ủi cho mẹ anh được yên tâm khi xa anh. Dịp ấy, nhà thơ đã lấy 3 m lụa làm quà gửi anh đại tá đem về may áo cho bủ Gái. 3 m lụa này là của Bác Hồ tặng cho con gái đầu lòng của nhà thơ khi cháu mới ra đời. 4 năm sau anh đại tá con trai bà bủ Gái lại đến chơi và báo tin cho nhà thơ biết mẹ anh mới qua đời. Trước khi mất cụ dặn người nhà phải mặc cho mình tấm áo lụa quý giá để cụ yên lòng sang thế giới bên kia.

    “Gia tài” người chiến sĩ

    Bài thơ Bầm ơi không còn là tình cảm riêng tư của người con trai nơi chiến trường với bủ Gái ngày nào nơi Gốc Gạo mà những dòng thơ đầy ân tình ấy đã có sức lan tỏa, trở thành tình cảm chung đầy sâu nặng của những người chiến sỹ nơi mặt trận dành cho người mẹ già đang ngồi ở quê nhà ngóng trông. Trong bài thơ, hình ảnh người mẹ trung du hiện lên thật bình dị với tình yêu thương sâu nặng dành cho những đứa con đang ngày đêm cầm súng canh giữ sự bình yên của Tổ quốc.

    Hình ảnh bà bầm hiện lên thật xúc động: “Bầm ra ruộng cấy bầm run/Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non/Mạ non bầm cấy mấy đon/Ruột gan bầm lại thương con mấy lần/Mưa phùn ướt áo tứ thân/Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu !”. Từng chi tiết, từng hình ảnh trong mỗi dòng thơ làm sống lại bà mẹ trung du nghèo, lam lũ và khó nhọc. Trong mỗi buổi chiều sương mưa phùn nơi xóm núi, tay mẹ run rẩy cắm từng rảnh mạ xuống bùn mà lòng xót xa, quặn đau khi đứa con nơi chiến trường bặt vô âm tín. Lời thơ như lời hỏi thăm của đứa con xa về bầm: “Bầm ơi có rét không bầm”; “Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu”. Người con muốn khuyên nhủ bầm xin bớt đi những lo toan, xin bớt đi những tiếng khóc thầm vào mỗi đêm khuya. Bởi một lẽ, những khó nhọc, chông gai mà con phải vượt qua nơi chiến trường ác liệt không thể đo được những nhọc nhằn của đời bầm, không thể đổi lại tình yêu thương của bầm với con: “Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều/Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe !/Con đi trăm núi ngàn khe/Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm/Con đi đánh giặc mười năm/Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”.

    Từ tình cảm yêu thương, dõi theo mỗi bước chân mà bầm dành cho con, khi đến những phương trời xa, người chiến sỹ đã nhận được tình cảm ấy từ biết bao bà mẹ “từ tâm”, họ chăm sóc, nuôi dưỡng và chở che cho người chiến sỹ như những đứa con. Bởi vậy, gia tài mà người chiến sỹ có được khi đi chiến trường là có biết bao bà mẹ tuy không đẻ nhưng luôn dành cho họ những tình cảm nồng ấm như bầm đã dành cho con: “Con đi mỗi bước gian lao/Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm !/Bao bà cụ từ tâm như mẹ/Yêu quý con như đẻ con ra/Cho con nào áo nào quà/Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi”. Tình yêu nước, tình đồng chí, tình hậu phương đã hòa làm một để tạo nên tình cảm lớn giúp người chiến sỹ vượt qua mọi thử thách chông gai để đi đến ngày thắng lợi: “Con ra tiền tuyến xa xôi/Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền/Nhớ thương con bầm yên tâm nhé/Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân/Con đi xa cũng như gần/Anh em đồng chí quây quần là con/Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí/Bầm quý con, bầm quý anh em/Bầm ơi, liền khúc ruột mềm/Có con có mẹ, còn thêm đồng bào”. Trong bài thơ, xen kẽ những lời thơ về hình ảnh bà bầm trung du là những lời thủ thỉ tâm tình và an ủi vỗ về của người con dành cho bầm: “Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe !”; “Nhớ thương con bầm yên tâm nhé”; “Nhớ con, bầm nhé đừng buồn”. Đó là những câu thơ thể hiện sự quyết tâm của những người chiến sỹ sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi một lẽ, phía sau lưng họ có bà bầm, bà bủ luôn dõi theo để động viên và dành trọn tình yêu thương.

    Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh bầm hết sức chân thực và gần gũi: “Mẹ già tóc bạc hoa râm/Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…”. Đó là một biểu tượng đẹp không thể nào phai mờ trong tâm hồn người chiến sỹ dù ở phương trời nào.

    Bài & ảnh:Nguyễn Thế Lượng

    *

    GIỚI THIỆU BÀI THƠ BẦM ƠI – TỐ HỮU

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn…

    Những câu thơ quá quen thuộc trên như mở ra một chân trời nhỏ, một góc bình yên riêng tư để chàng trai lính thả lời tâm sự về nơi quê nhà với Bầm, bà mẹ. Lời bài thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ, rủ rỉ giống như một bức thư viết vội cho mẹ của một cậu trai làng đi lính xa nhà, xa mẹ, xa quê …Rồi trong nỗi nhớ thương, lo lắng cứ vơi đầy, lòng yêu thương cứ lên xuống theo đà thổ lộ cứ tuôn ra, tuôn ra như nước tràn …Cả bài thơ là những câu thơ chân chất địa phương, mang tính vùng miền với những câu từ giản dị, ngôn từ dễ nhớ dễ thuộc như những câu nói bình thường, nhưng lại được sắp xếp, đưa đẩy để câu chữ ngôn từ thấm sâu, và đi vào lòng người đến thế. Chính sự giản dị đó đã đưa bài thơ mau đến được và ở lại trong lòng người đọc thơ bao thế hệ qua, và thật khó kiếm ra người đọc nào không yêu bài thơ Bầm Ơi này.

    Bài thơ thể lục bát làm chủ đạo, phần sau chen thêm vài câu thơ thể song thất (2 câu 7 chữ). Nói thật lòng thì tôi không hiểu tác giả, nhà thơ Tố Hữu chen mấy câu song thất vào lục bát để làm gì. Song thất lục bát thì thật khó để có một bài thơ bình thường về ngôn từ nhưng cách gieo vần bỏ chữ rất đắc địa như bài thơ vốn có.

    Theo tôi thì có thể bài thơ này được hoàn thành trong một thời gian dài,với những khoảng bỏ trống, rồi sự thêm thắt vào tùy theo tinh hình hoặc theo hồn thơ chi phối. Chính vì vậy lối viết bổ sung như thế, tức là cứ có một cái nền rộng rãi rồi thong thả viết, câu thơ nào hay thì chép vào bài. Có thể bài thơ không liền lạc, ngắt mạch cảm xúc, với các kết nối rời rạc, nhưng lại vô cùng đắc dụng bởi mạch cảm xúc cùng các ngữ nghĩa của bài thơ luôn được chuyên chở và thăng hoa. Chưa kể người viết theo lối này sẽ còn chờ đợi ngày hồn thơ về nhập nội để chỉnh sửa bài thơ, khiến nó trở nên hoàn hảo,không tỳ vết của một bài thơ lục bát viết về người mẹ.

    Xin giới thiệu tác giả Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành. Tố Hữu đến với thi ca khá sớm, từ năm 18 tuổi. Cùng năm đó, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Rồi ông bị tù, vượt ngục. Cách mạng tháng Tám, Tố Hữu làm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Huế.

    Những năm sau Tố Hữu là một cán bộ chính trị quan trọng của chính quyền và ông phải chịu trách nhiệm về việc trấn áp những nhà văn, nhà thơ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Lịch sử sẽ phán xét ông chứ không phải chúng ta, bởi chúng ta không nhiều thì ít đều yêu những bài thơ của ông. Và dù chúng ta có phán xét ông thì cũng không vứt bở những bài thơ hay của ông. Hãy đọc vài đoạn bài thơ Việt Bắc :

    Mình về mình có nhớ ta?

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. 

    Mình về mình có nhớ không? 

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

    Tiếng ai tha thiết bên cồn 

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi 

    Áo chàm đưa buổi phân ly 

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

    Những bài thơ của Tố Hữu phần lớn đều giản dị, đời thường và không trau truốt khoa ngôn. Ông thường đưa các thành ngữ vùng miền, câu chữ địa phương bình thường như văn nói vào thơ cùa mình. Thơ của ông giản di, mạnh mẽ, tha thiết và giàu tính chiến đấu của một nhà thơ CM. Bởi ông là một nhà thơ lãng mạn CM xuất sắc nhất trong thể thơ này.

    Trở lại bài thơ Bầm Ơi thì đây cũng là một bài thơ tuyên truyền, lãng mạn CM với các thủ thuật của việc tuyên truyền ấy. Nhưng ta sẽ rút được nhiều điều tuyệt vời, giông giống như với lá thư của người con, chàng Vệ Quốc quân gửi mẹ :

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm..

    Bài thơ này rất khó lấy ra những câu thật hay, hoặc khổ thơ hay nhất để minh họa. Bởi nếu chúng đứng riêng thì đều bình bình, không nổi trội, nhưng khi đứng chung toàn bài thơ thì lại là một đường đi điệu đàng của những câu chữ đơn giản và bình thường nhưng đắc địa để thăng hoa bay bổng. Chỉ một đến hai lần đọc bài thơ, thì cái hay của bài thơ được phát lộ bởi một tay cao thủ về thơ, tức nhà thơ Tố Hữu sắp đặt câu chữ khiến bài thơ hiện ra rõ ràng, chân phương và hay tuyệt.

    Cũng xin nói thêm là bài thơ Bầm Ơi này, cũng như một số bài khác như Việt Bắc, Điện Biên Phủ, Mẹ Suốt…là do tác giả có một vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền nên thơ của ông được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường.khiến cho thơ ông như càng được bay bổng hơn.

    Đọc xong thơ ông, không thể không thốt ra lời ngợi khen. Thơ hay tuyệt. Hay đến thế là cùng. Tiên sư anh Tố Hữu…

    MTA

    Bầm Ơi

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Con ra tiền tuyến xa xôi

    Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

    Nhớ thương con bầm yên tâm nhé

    Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

    Con đi xa cũng như gần

    Anh em đồng chí quây quần là con.

    Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

    Bầm quý con, bầm quý anh em.

    Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

    Có con có mẹ, còn thêm đồng bào

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Cho con nào áo nào quà

    Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

    Con đi, con lớn lên rồi

    Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!

    Nhớ con, bầm nhé đừng buồn

    Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

    Mẹ già tóc bạc hoa râm

    Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…

    1948

    TỐ HỮU

    —————————————————————————————

    AC HÃY PHÂN TÍCH VÀ CM NHẬN ĐỊNH “VH VIẾT VN PHÁT TRIỂN TRÊN TINH THẦN VIỆT HÓA YẾU TỐ NGOẠI LAI”

    Văn học Việt Nam là sản phẩm tinh thần của Việt Nam. Bên cạnh những điểm chung của nền văn học nước nhà, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc điểm bản sắc riêng tạo nên một nền văn học thống nhất mà đa dạng. Văn học Việt Nam được hợp thành từ hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết. Trong đó, nền văn học viết Việt Nam phát triển gắn liền với quá trình lịch sử- chính trị-văn hóa- xã hội của đất nước. Có ý kiến cho rằng “Văn học viết Việt Nam phát triển trên tinh thần Việt hóa yếu tố ngoại lai”. Nhận định này xuất phát từ đâu? Chúng ta hãy cùng đi vào phân tích.

    Văn học viết Việt Nam bắt đầu xuất hiện và hình thành từ thế kỷ 10 khi dân tộc ta giành được độc lập từ các thế lực phương Bắc. Trải qua 3 thời kỳ phát triển: thời trung đại từ TK 10 đến hết TK 19, thời kỳ từ đầu TK 20 đến CMT8 1945 và thời kỳ sau CMT8 1945 đến hết TK 20.

    Trong thời kỳ trung đại văn học viết nước ta được hình thành trên nền văn hóa lịch sử của khu vực Đông Á, có quan hệ giao lưu với các nền văn học khu vực. Đặc biệt là nền văn học Trung quốc nên chịu ảnh hưởng nhiều của học thuyết Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo; tiếp nhận một phần hệ thống thể loại và thi pháp văn học cổ – trung đại Trung Quốc. Giai đoạn này văn học viết tồn tại dưới 2 dạng chữ viết là chữ Hán và chữ Nôm. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ trung đại này văn học chữ Hán được sử dụng rộng rãi và có nhiều thành tựu rực rỡ như các tác phẩm Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn),… Tuy nhiên bắt đầu từ TK 15 và đỉnh cao là TK 18, văn học chữ Nôm phát triển rất mạnh mẽ. Chữ Nôm là kết quả phát triển của văn học dân tộc, là minh chứng hùng hồn cho ý chí xây dựng một nên văn hiến độc lập của dân tộc. Bằng chữ Nôm ông cha ta đã tiếp thu một cách chủ động sáng tạo các thể thơ nước ngoài và tạo nên các thể thơ riêng của dân tộc như lục bát, song thất lục bát. Nhờ có chữ Nôm, các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ trở nên gần gũi với đời sống người dân lao động hơn. So với chữ Hán thì chữ Nôm tiếp nhận ảnh hưởng văn học dân gian toàn diện, sâu sắc hơn. Các tác phẩm tiêu biểu thời kì này như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), thơ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,… Như vậy, ngay từ những ngày đầu hình thành, văn học viết VN đã cũng đã tiếp thu những cái hay của văn học các nước phương Đông và chủ yếu là Trung Quốc nhưng tiếp thu một cách sáng tạo theo cách của mình để dần Việt hóa văn hóa ngoại lai.

    Đến giai đoạn từ đầu TK 20 đến nay (thời kỳ văn học hiện đại) văn học viết phát triển trong bối cảnh giao lưu văn hóa, văn học ngày càng mở rộng.”Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”(Hoài Thanh). Từ chỗ chỉ tiếp xúc, giao lưu với văn học các nước trong khu vực, văn học Việt Nam đã tiếp nhận thêm tinh hoa của nhiều nền văn học trên thế giới để đổi mới. Văn học thời kì này chủ yếu được viết bằng chữ quốc ngữ. Số lượng tác giả, tác phẩm và người đọc tăng nhanh. Đời sống văn học sôi động hơn nhờ có báo chí và kĩ thuật in ấn hiện đại. Lối viết hiện thực lấn át lối viết ước lệ; cái tôi cá nhân dần được khẳng định; nhiều thể loại văn học mới ra đời thay thế hệ thống thể loại cũ. Trong quá trình phát triển, do nhu cầu đổi mới và hiện đại hóa nền văn học, các văn nghệ sĩ của nước ta tiếp thu văn học nước ngoài ở cả hai phương diện: nội dung và hình thức. Quá trình tiếp nhận này diễn ra rất phức tạp trong những bối cảnh lịch sử, xã hội khác nhau với các trào lưu, các nền văn học khác nhau. Quá trình văn học phương Tây ảnh hưởng đến văn học Việt Nam diễn ra ngay từ những thập niên đầu thế kỉ XX và kéo dài suốt thế kỉ này. Chính từ những sự tiếp nhận đó, trên cơ sở một xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến, nền văn học Việt Nam đã từng bước đi vào con đường hiện đại hóa, hội nhập với văn học khu vực và sau này là văn học thế giới. Đặc biệt, vào những thập niên cuối của thế kỉ XX, khi Đảng và Nhà nước chủ trương hội nhập, mở cửa với các nước trên thế giới, đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ nhằm xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh văn minh thì việc tiếp thu văn học nước ngoài càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Trong nửa đầu của thế kỉ XX, văn học Pháp được giới thiệu ở Việt Nam với một khối lượng tác phẩm khá lớn. Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, các vở kịch Trưởng giả học làm sang, tiểu thuyết Ba người ngự lâm pháo thủ (A. Dumas), Những người khốn khổ (V. Hugo)… đã lần lượt được đăng trên các tờ Nam phong tạp chí, Đông dương tạp chí và nhà xuất bản Âu Tây tư tưởng đóng một vai trò quan trọng. Các nhà văn lớn thời kì này phần lớn được đào tạo từ các trường Pháp-Việt và một số đã du học từ Pháp trở về như Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Liên, Khái Hưng, Chế Lan Viên, Nhất Linh, Nguyễn Mạnh Tường… Đội ngũ này một mặt chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ tư tưởng Tây học, mặt khác là lực lượng cơ bản góp phần quảng bá văn học Pháp ở Việt Nam đầu thế kỉ. Vào những năm đầu của thế kỉ XX, trong văn học Việt Nam, văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực và phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc văn học phương Tây. Các nhà thơ mới và các nhà văn Tự lực văn đoàn là những người tiên phong đổi mới theo tư tưởng phương Tây trong nhận thức và phản ánh. Văn xuôi lãng mạn đã đưa vào văn học Việt Nam những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây. Đó là tư tưởng chống phong kiến, đề cao ý thức cá nhân. Từ những tiếp thu đối với văn học phương Tây, văn học lãng mạn Việt Nam đã có những bước chuyển biến mới trong kết cấu, cốt truyện và các hình thức phản ánh khác. Các nhà văn trong Tự lực văn đoàn như Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ đã “đem phương pháp Thái Tây ứng dụng vào văn chương An Nam”. Trong sáng tác của họ, dấu ấn của V. Hugo, Lamartine,…thể hiện khá rõ. Bên cạnh văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực trong những thập niên đầu thế kỷ XX đã tiếp thu văn học phương Tây để hiện đại hóa thể loại tự sự. Trong một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng in rõ dấu ấn phong cách tự nhiên chủ nghĩa của E.Zola. Nhà văn Nam Cao đã chịu ảnh hưởng phong cách phân tích tâm lý nhân vật và trong Truyện người hàng xóm (Nam Cao) có nhiều nét tương đồng với truyện Ghi chép dưới nhà hầm của Đôxtôiepxki. Trong việc tiếp thu văn học phương Tây để đổi mới văn học nước nhà, trường hợp những sáng tác của Hồ Biểu Chánh là một hiện tượng khá đặc biệt. Theo Vũ Ngọc Phan, Hồ Biểu Chánh (1885- 1958) là “một nhà tiểu thuyết nổi tiếng”, một nhà văn bình dân nhất Nam Kỳ. Những tác phẩm của ông góp phần hình thành thể loại tiểu thuyết Việt Nam trên chặng đường phôi thai. Khi sử dụng chữ quốc ngữ để sáng tác, Hồ Biểu Chánh đã tiếp thu mạnh mẽ những tác phẩm văn học phương Tây. Một số tác phẩm của ông thường phóng tác theo các tác phẩm phương Tây nhằm thể hiện những nội dung mới của đời sống xã hội Việt Nam trên con đường vận động và biến đổi. Đó là trường hợp các tiểu thuyết như: Chúa Tàu Kim Quy (phóng tác theo Bá tước Monte-Cristo của A.Dumas), Cay đắng mùi đời (phỏng theo Không gia đình của H. Malot), Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những người khốn khổ của V.Hugo). Những tác phẩm trên nổi bật về xu hướng đạo đức xã hội, ngợi ca cái đẹp, cái tốt, cái thiện và lên án, chống lại cái ác. Việc phóng tác của Hồ Biểu Chánh đối với một số tác phẩm văn học phương Tây như trên là nhắm tiếp thu kinh nghiệm văn học nước ngoài để đổi mới thể loại tự sự mới hình thành và phát triển trong những năm đầu của thế kỷ XX. Ở đây, khi phóng tác, nhà văn không “chuyển dịch” như một số tác giả khác, mà biến thành riêng của mình để thể hiện cuộc sống và con người phức tạp của vùng Nam Bộ. Một số tác giả tiếp nhận khung cảnh tự sự của văn học nước ngoài để đưa vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam. Như vậy, việc tiếp nhận không chỉ dừng lại ở hình thức như đã dẫn chứng ở trên mà còn thể hiện ở nội dung và quan niệm nghệ thuật. Trong lĩnh vực này, Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp… là những ví dụ tiêu biểu. Cái triết lí “không có chúa thì mọi cái đều được phép làm” của Đôxtôiepxki trong Anh em nhà Karamadôp được Nguyễn Huy Thiệp chuyển thành triết lí “không có vua thì mọi cái đều được tự do” trong Không có vua. Phạm Thị Hoài đã lấy một chủ đề mang khung cảnh tự sự là mê cung của F. Kapkađể đặt tên cho một tác phẩm của mình là Mê lộ. Phản ánh sự tha hóa của con người và sự phi lí của cuộc sống xã hội hiện đại là một vấn đề nổi bật trong văn học phương Tây. Tác giả Phạm Thị Hoài cũng khai thác các vấn đề trên trong các tác phẩm của mình. Nếu nhân vật Menrsalt trong Kẻ xa lạ của văn học hiện đại chối từ kiểu sống theo những lề thói xã hội đã hằn sâu trong mỗi con người thì hai mẹ con cô Liễu trong Tổ khúc bốn mùa của Phạm Thị Hoài sống tách biệt với lối sống “giống nhau từ cái ngậm tăm, xỏ đôi dép đến những ước mơ quẩn quanh tội nghiệp… và mất khả năng ý thức về mọi sự”. Việc có cách viết giống nhau của các nhà văn Việt Nam và các tác giả văn học phương Tây chủ yếu do sự giao lưu và tiếp nhận. Nhưng cũng không loại trừ trường hợp trong những điều kiện lịch sử xã hội giống nhau, không trực tiếp chịu ảnh hưởng nhưng vẫn có sự gần gũi nhau đối với một số tác giả, tác phẩm.

    Mặc dù còn một số hạn chế trong tư tưởng khi tiếp thu nội dung và hình thức văn học phương Tây, nhưng rõ ràng nhờ quá trình tiếp xúc này các nhà thơ nhà văn Việt Nam đã mang vào thơ một luồng gió mới tạo ra sự biến đổi nhiều mặt trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong quá trình phát triển và hiện đại hóa, nền văn học Việt Nam đã không ngừng tiếp thu và chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây. Dấu ấn của văn học nước ngoài đối với văn học Việt Nam tuy từng giai đoạn có mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng đã tác động mạnh mẽ đến nền văn học Việt Nam hiện đại. Các nhà văn nhà thơ Việt Nam đã tiếp thu và chuyển hóa văn học phương Tây thành văn học bình dị, dễ hiễu và dễ tiếp cận hơn cho người Việt Nam. Chính vì vậy có ý kiến cho rằng “Văn học viết Việt Nam phát triển trên tin thần Việt hóa yếu tố ngoại lai”

    ———————————————————————————————————————

     

    ĐÁNH GIÁ VỀ VHDGVN, CÙ HUY CẬN ĐÃ TỪNG VIẾT: “VĂN NGHỆ DG (FOLKLORE) LÀ VĂN NGHỆ GỐC. QUA VĂN NGHỆ DG, NHÂN DÂN TRƯỚC HẾT LÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TỰ BIỂU HIỆN MÌNH, TỰ PHẢN ÁNH CUỘC SỐNG CỦA MÌNH. CHÍNH TRONG VĂN NGHỆ DG, TA TÌM THẤY NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN NHẤT CỦA BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC, MÀ BẢN SẮC VĂN HÓA LẠI LÀ CỐT LÕI CỦA BẢN SẮC DÂN TỘC. ĐIỀU NÀY VÔ CÙNG QUAN TRỌNG”. AC HÃY PT VÀ CM NHẬN ĐỊNH TRÊN

    Một tác phẩm “tiếng làng” của nhạc sĩ Minh Sơn, một bài thơ “Chân quê” của Nguyễn Bính, một “Bà tôi” của nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến, một tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi, một điệu múa hầu trăng (Ngắm mình dưới trăng) của nghệ sĩ Linh Nga; người thưởng thức đều nhận thấy từ nó rất chung của chúng là âm hưởng ngọt ngào từ ảnh hưởng của Văn nghệ dân gian. Có thể nói, nếu không có văn nghệ dân gian sẽ không có nền văn học nghệ thuật hiện đại và đương đại. Văn nghệ dân gian là khởi nguồn của nghệ thuật, phản ánh bức tranh vật chất và tinh thần của người lao động và kho tàng ẩn chứa bản sắc văn hóa dân tộc. Đánh giá về kho tàng văn học DG VN, Cù Huy Cận đã từng viết “Văn nghệ DG (Folklore) là văn nghệ gốc. Qua văn nghệ DG, nhân dân trước hết là nhân dân lao động tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình. Chính trong văn nghệ DG, ta tìm thấy những điều cơ bản nhất của bản sắc văn hóa của dân tộc, mà bản sắc văn hóa lại là cốt lõi của bản sắc dân tộc. Điều này vô cùng quan trọng”.

    Như chúng ta đã biết văn nghệ DG là sản phẩm truyền thống bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân. Văn nghệ DG bao gồm kiến trúc DG, hội họa DG, trang trí DG, âm nhạc DG… Từ khi bắt đầu có sự sống là bắt đầu có văn nghệ DG. Ban đầu, có thể chỉ là những tiếng hò dô, hay những hình vẽ trên cành cây, vách đá; sau đó, là những câu chuyện kể, những lời ru, những trò chơi. Như vậy, văn nghệ DG có trước VHDG. Vậy tại sao nói VNDG là văn nghệ gốc, ta có thể giải thích rằng VNDG là cội nguồn của mọi thứ Văn nghệ. Sau này, VNDG là thứ văn nghệ khai sinh đầu tiên, được con người sáng tạo ra đầu tiên. VNDG phản ánh cuộc sống của nhân dân lao động, tức là tác giả người sáng tạo nên VNDG là nhân dân lao động, và nội dung phản ánh trong VNDG là bức tranh cuộc sống sinh động của nhân dân lao động. Thật vậy, VNDG là khởi nguồn của văn nghệ xuất phát từ hoàn cảnh ra đời của VNDG xã hội nguyên thủy chưa có chữ viết, con người trong quá trình lao động sản xuất đã đạt tới một trình độ nhất định với những dạng quan hệ sản xuất nhất định. Đi kèm theo đó là sự nảy sinh và phát triển của những cảm xúc thẩm mỹ của con người. Nói cách khác, sự ra đời của sáng tác truyền miệng đánh dấu sự ra đời thực sự của nghệ thuật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của nhân loại. Ta thấy trong VNDG có những cảnh sinh hoạt lao động sản xuất, đó chính là phản ánh cuộc sống của nhân dân, hình ảnh này ta có thể dễ dàng bắt gặp trong những bức tranh dân gian Đông Hồ, như cây dừa, đấu vật, thầy đồ; hay ca dao:

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

    VNDG còn phản ánh tâm tư tình cảm của người lao động, tình yêu quê hương đất nước thì có bài:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Tình yêu đôi lứa

    Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

    Nỗi bất hạnh của người phụ nữ phong kiến thì có câu ca dao

    Thân em như lá từ bi

    Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương

    VNDG còn phản ánh triết lý nhân sinh, truyện cổ tích trí khôn của ta đây, tấm cám, cây khế, truyện ngụ ngôn

    Về ý nghĩa sản xuất, thì tục ngữ có rất nhiều câu, như:

    Trăng quầng thời hạn, trăng tán trời mưa

    Hay ca dao có câu

    Tháng giêng là tháng ăn chơi

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    VNDG phản ánh đời sống tinh thần, bản sắc văn hóa. Như phản ánh tinh thần đoàn kết có truyền thuyết Thánh Gióng, Hai Bà Trưng. Tín ngưỡng tâm linh có chiều rộng từ thánh Gióng, trâu vàng. Phong tục tập quán qua bánh chưng bánh dày, trầu cau. Như vậy, VNDG mang bản sắc văn hóa dân tộc phản ánh đời sống tinh thần của dân tộc, phản ánh phong tục tập quán, tín ngưỡng tâm linh, nếp nghĩ của người Việt. Chính trong VNDG ta tìm thấy những điều cơ bản nhất của bản sắc văn hóa của dân tộc, mà bản sắc văn hóa lại là cốt lõi của bản sắc dân tộc. Điều này vô cùng quan trọng. Quan trọng nhất là văn học DG đã nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi người dân Việt, từ đó sinh ra những nghệ sĩ làm nên nghệ thuật của văn nghệ sĩ cổ điển, hiện đại và đương đại. Để CM ta có thể kể đến đại thi hào Nguyễn Du với Truyện Kiều, hay bức tranh “Chơi ô ăn quan” của Nguyễn Văn Chánh, bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Trải qua bao biến thiên thăng trầm của thời gian, những sáng tác tập thể dân gian vẫn luôn có được vị trí quan trọng trong văn hóa tinh thần của bao người. Cho tới nay, VNDG vẫn có sức sống mãnh liệt và ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống, những ước mơ, khao khát, mong muốn kể chuyện quá khứ, đời sống hiện tại và nhìn về tương lai.

    ———————————————————————————————————————-

    HÃY CHỈ RA SỰ KHÁC NHAU CỦA NHÂN VẬT TRUNG TÂM TRONG CÁC THỂ LOẠI TỰ SỰ DÂN GIAN?

    CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN

    Văn học dân gian là một kho chứa khổng lồ và quý giá các tư liệu về cách tư duy cổ xưa của con người và cách nhìn nhận, cách đánh giá và giải thích về tự nhiên và chính bản thân con người trong thế gới ấy. Ở đó còn bảo tồn một cách nguyên vẹn nền văn hóa Việt đậm chất nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc của nòi giống Rồng, Tiên, của cộng đồng cư dân làm nông nghiệp lúa nước. Từ buổi sơ sinh của thời cổ đại, con người trên khắp thế giới đã có ý thức nghiên cứu Folklore nói chung và thi pháp học Folklore nói riêng. Chính họ nhận ra những giá trị quan trọng từ công việc đậm chất khoa học và rất phức tạp này. Người có công đầu trong lĩnh vực này là Aristote, người Hi Lạp (384-322 TCN) với công trình nghiên cứu dài 26 chương, mang tên Peotics (Nghệ thuật thi ca). Đây là cánh cửa đầu tiên và hết sức mới mẻ được mở ra không những cho khoa học nghiên cứu văn học mà còn là cánh cửa cho mĩ học và triết học. Sau Aristote đến lượt Viecgin người La Mã cổ đại (70-19 TCN) đã phân chia ngôn ngữ thi ca dân gian thành ba loại: loại mang phong cách cao quý, loại mang phong cách vừa phải và loại mang phong cách thấp và đương nhiên mỗi phong cách khác nhau sẽ có đặc điểm khác nhau và phục vụ một đối tượng khác nhau. Ở Trung Hoa thời cổ đại cũng xuất hiện nhiều công trình nổi tiếng, nghiên cứu về thi pháp học như: Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Thư gửi Nguyên Chuẩn của Bạch Cư Dị, Tùy viên thi thoại của Viên Mai. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu Folklore và thi pháp Folklore muộn hơn với công trình mang tên Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn (1726-1784) là dấu ấn quan trọng mở đầu cho ngành khoa học hấp dẫn này ở Đất nước hoa Sen – một dân tộc có nền Văn học dân gian phát triển. Càng về sau khoa học này càng thu hút sự say mê nghiên cứu và cống hiến của các nhà khoa học Folklore. Những công trình nghiên cứu của họ, khi được công bố là ánh đèn soi rọi, làm bừng sáng cả một kho tàng kiến thức vô giá về mọi mặt cuộc sống và cả về văn hóa.

    Để phân chia các loại nhân vật trong tác phẩm văn học nói chung và truyện kể dân gian nói riêng, ta dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Mỗi tiêu chí khác nhau sẽ cho ta một cách phân loại và được các kiểu nhân vật khác nhau. Dựa trên cơ sở đánh giá vai trò của nhân vật trong việc triển khai cốt truyện, ta có thể chia nhân vật thành các loại sau:

    – Nhân vật chính, nhân vật chính đóng vai trò chủ đạo xuất hiện nhiều trong tác phẩm, trong câu chuyện liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm là cơ sở để tác giả triển khai đề tài của mình.

    – Nhân vật trung tâm là các nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm về mặt ý nghĩa, nó là nơi quy tụ mọi mâu thuẫn của tác phẩm thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm ấy.

    – Nhân vật phụ, là những nhân vật thể hiện tính cách hoặc chỉ thấp thoáng trong tác phẩm để làm nổi bật nhân vật chính.

    Căn cứ vào tác động của nhân vật đối với sự phát triển của xã hội gắn với những đối kháng mâu thuẫn trong tác phẩm ta có các kiểu nhân vật sau:

    – Nhân vật chính diện, nhân vật mang vẻ đẹp lý tưởng, quan điểm tư tưởng đạo đức tốt đẹp được khẳng định, được đề cao như một tấm gương về phẩm chất cao đẹp của con người.

    – Nhân vật phản diện, là nhân vật có tính cách xấu đáng bị lên án, đáng phủ nhận và triệt tiêu.

    Nếu lấy cấu trúc nhân vật làm tiêu chí, ta có các kiểu nhân vật sau:

    – Nhân vật chức năng, là loại nhân vật không có đời sống nội tâm đặc điểm cố định từ đầu đến cuối tác phẩm. Nó tồn tại trong tác phẩm chỉ nhằm một số chức năng nhất định nào đó mà thôi.

    – Nhân vật loại hình, là kiểu nhân vật tập trung những phẩm chất, đặc điểm của một loại người tiêu biểu nhằm khái quát chung về tính cách điển hình.

    – Nhân vật bản thể, là kiểu nhân vật phức tạp có cá tính nổi bật, thường có những mâu thuẫn nội tại có những chuyển biến phức tạp. Nó vừa đáng ghét, vừa đáng thương, vừa lương thiện lại cũng vừa độc ác…

    Sau đây, chúng tôi đi vào nghiên cứu các kiểu nhân vật theo quan điểm của khoa học nghiên cứu thi pháp Folklore.

    1. Kiểu nhân vật thần thoại

    Nhân vật trong thần thoại là thần, hầu hết có nguồn gốc từ thiên nhiên. Họ là “lời giải thích” cho chính nguồn gốc mà họ sinh ra. Thần trụ Trời giải thích về sự hình thành của trời đất. Thần Mặt Trăng giải thích tại sao mặt trăng lại mát dịu hơn mặt trời. Thần Mưa, Thần Gió giải thích tại sao lại có hiện tượng mưa, gió. Thần Sông giải thích cho sự hình thành của sông…Đây là những nhân vật thần thoại đầu tiên có trong những câu truyện cổ tích đầu tiên về tự nhiên. Chính vì thế người ta gọi kiểu nhân vật này là nhân vật suy nguyên trong thần thoại suy nguyên.

    Nhân vật thần thoại có tầm vóc và hành động phi thường mang tầm cỡ vũ trụ. Để xây dựng típ nhân vật này, tác giả dân gian đã tận dụng tuyệt đối trí tưởng tượng bay bổng của mình và sử dụng biện pháp nghệ thuật thần thánh hóa và nhân cách hóa các hiện tượng tự nhiên. Đây là biện pháp nghệ thuật bắt nguồn từ thế giới tâm linh hoàn toàn biệt lập với những quy luật và kiến thức khoa học tự nhiên cho nên nó mang tính “vô thức” một cách thuần khiết. Người ta cho rằng tất cả mọi thứ, mọi sự vật trong thiên nhiên đều có thần, có hồn, có ý thức và có một khả năng phi phàm hơn hẳn cong người. (Không phải thần thánh sinh ra con người mà con người đã sáng tạo ra thần thánh bằng chí tưởng tương ngây thơ của mình).

    Câc nhân vật có nguồn gốc thiên nhiên, vũ trụ không có hình hài rõ ràng, vô hạn định, hành động của thần thì biến hóa khôn lường, đi mây về gió, thoắt biến, thoắt hiện, hành động của thần là nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên. Hành động đó vừa có yếu tố thực vừa có yếu tố hoang đường. Yếu tố thực lấy từ các hoạt động của con người, yếu tố hoang đường là màu sắc thần thánh là cách lý giải ngây thơ về các hiện tượng tự nhiên, xã hội” (TS. Lê Đức Luận).

    Hệ thống nhân vật thần thoại được nhấn chìm trong không gian huyền thoại, cổ kính và thiêng liêng với các tên gọi mang tầm vóc vũ trụ bao la như: Thần Mặt Trời, Thần Biển, Thần Núi…hoặc các tên goi đã được Hán hóa hoặc Nho giáo hóa như: Ngọc Hoàng, Nữ Hoàng…Hệ thống nhân vật thần thoại với những đặc điểm kỳ ảo mãi mãi là sự quyến rũ mạnh mẽ, sự kích thích khám phá trong say đắm của thế giới tuổi thơ nói riêng và sự tìm hiểu say mê của con người nói chung.

    2.Nhân vật truyền thuyết.

    Tìm hiểu nhân vật truyền thuyết, ta thấy cách xây đựng nhân vật có sự chuyển biến dần từ thần sang người. Điều này có thể được bắt nguồn từ cách nhìn nhận về tự nhiên và con người đã có sự thay đổi, bước đầu phát hiện ra bản chất và khoa học hơn. Nhân vật chính trong truyền thuyết chủ yếu là người và nhân vật bán thần (Nửa thần), nhân vật phụ có thể là người, là thần, bán thần vô cùng đa dạng và phong phú. Để tiện lợi trong việc tìm hiểu và theo dõi, có thể chia nhân vật truyền thuyết thành các tiểu loại sau:

    1. Tiểu loại nhân vật truyền thuyết khởi nguyên và anh hùng văn hóa

    Nhân vật khởi nguyên giải thích về nguồn gốc và quá trình hình thành các thị tộc, bộ tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng xã, các thủy tổ của các làng nghề thủ công truyền thống. Tiến sĩ Lê Đức Luận cho rằng: “Đặc điểm loại nhân vật này là nhân vật bán thần trong truyền thuyết “Lạc Long Quân và Âu Cơ”, “Sơn Tinh Thủy Tinh” đây là hai nhân vật không rõ hình hài, tính cách thì người nhưng hành động thì thần. Đây là nhân vật mang ảnh hưởng của kiểu nhân vật thần thoại. Nhân vật trong thần thoại sử thi được kết cấu trong hệ thống môtip: 1. Môtip hồng thủy: Mưa, lụt – Đôi trai gái sống sót sinh đẻ (Đẻ đất đẻ nước), lũ lụt – đôi Nam, Nữ đẻ ra các dân tộc (Quả bầu mẹ). 2. Môtip người khổng lồ kiến tạo: Cây – Người – Trời đất hoặc cây – Người khổng lồ – Chim – Trứng – Nhiều người. 3. Môtip cây vũ trụ: Sự xuất hiện (Sự chết – Sự phục hồi (Đẻ đất đẻ nước)). Đây là môtip thuộc bộ phận truyền thuyết suy nguyên về nguồn gốc loài người và bộ lạc. Lớp truyền thuyết suy nguyên về nguồn gốc con người và các tộc người. Đó là Tô Tem Giáo và Bái Vật Giáo, đối với người Việt vật tổ là con rồng (Long), con Nêga của người Khơme, con NaGaRy của người Chăm, con Ngược của người Thái…Đây là hình thức sơ khai của tôn giáo nguyên thủy về thần và vật linh, vật tổ. Nhân bản người rồi thần thánh hóa con người là con đường nghệ thuật của truyền thyết suy nguyên”.

    Đối với nhân vật anh hùng văn hóa trong truyền thuyết, E. M. Meletinsky cho rằng: “Việc diệt trừ quái vật, yêu ma, việc tạo ra con người, dậy nghề và nghệ thuật cho họ, tạo ra các phong tục, trật tự các sông ngòi, biển cả, tạo ra khí hậu…đã thuộc vào những hoạt động quan trọng nhất của anh hùng văn hóa”. Thông qua nhân vật anh hùng văn hóa, huyền thoại giải thích những cái trước đây chưa hề có, xa lạ với con người hoặc những thứ mà con người chưa đủ khả năng để giải thích về nó. Các nhân vật trong truyền thuyết có khả năng điều chỉnh môi trường tự nhiên và xã hội.

    Trong truyền thuyết của dân tộc việt, tiêu biểu cho kiểu anh hùng văn hóa là Lạc Long Quân, Âu cơ…họ là những nhân vật khai sáng, là thủy tổ của loài người. Mẹ Âu Cơ sinh ra đồng bào ta trong bọc trứng, Lạc Long Quân tiêu diệt Ngư Tinh, Mộc Tinh…cứu sống con người và dạy cho họ biết cách làm ăn, sinh sống.

    1. Tiểu loại nhân vật anh hùng lịch sử

    Nhân vật anh hùng lịch sử trong truyền thuyết là những con người có thật trong lịch sử. Họ là những con người tự bản thân không có sức mạnh phi thường như thần linh nhưng họ có sức mạnh từ thần linh, được thần linh trợ giúp như: Lê Lợi, An Dương Vương. Bên cạnh các nhân vật là người như: Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, An Dương Vương thì Thánh Gióng là nhân vật đậm màu sắc huyền thoại. Gióng mang trong mình sức mạnh phi thường của thần linh.

    Các nhân vật lịch sử được xây đựng trước thời đại Hùng Vương còn xa lạ với đời sống con người nhưng càng về sau này, họ càng được xây dựng một cách gần gũi với nhân dân hơn, đời thường hơn. Công trạng của họ cũng là một phần công trạng của nhân dân, họ được nhân dân yêu mến, gần gũi, kính trọng và bảo vệ mỗi khi gặp nguy hiểm. Tiểu hệ thống nhân vật này được xây đựng trên cơ sở thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên và con người. Nhân vật có khi là thần như Thánh Gióng, có khi là vật thần như Ngựa Sắt, Thần Kim Quy, có khi là con người nhưng đã được thần thánh hóa như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Sơn Tinh, Thủy Tinh…

    Với những đặc điểm như đã trình bày, ta thấy nhân vật truyền thuyết đã gần gũi với con người hơn, người hơn và đậm đà tính nhân văn hơn.

    1. Nhân vật sử thi

    Nhân vật chính trong sử thi được xây đựng trên nguyên tắc triệt tiêu tuyệt đối những đặc điểm cá thể, tính cách cá nhân. Họ là những nhân vật tiêu biểu cho cả cộng đồng, bộ lạc, bộ tộc. Họ chính là hình tượng thể hiện những ước mơ, khát vọng của cộng đồng, ở họ là sự tập hợp tất cả những gì tốt đẹp nhất, ưu việt nhất. Điều này thể hiện mơ ước của bộ lạc, bộ tộc có được người đứng đầu người lãnh đạo xứng đáng để dìu dắt họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và trong đấu tranh trống lại kẻ thù. Biện pháp khái quát hóa, lý tưởng hóa được sử dụng triệt để trong việc xây đựng nhân vật sử thi. Nhân vật trung tâm trong sử thi là nhân vật anh hùng, anh hùng văn hóa, anh hùng chiến trận. Trong các sử thi lớn, thường có một hệ thống nhân vật “hoành tráng” với nhiều lớp người, nhiều thế hệ trùng điệp. Tiêu biểu nhất là sử thi thần thoại “Đẻ đất đẻ nước” có đến sáu thế hệ, mỗi thế hệ là một lớp nhân vật.

    Xem sơ đồ sau:

    Thế hệ 1:

    Thế hệ hỗn mang
    Ông Thu Tha + Bà Thu Thiên

    Thế hệ 2:

    Thế hệ thiên sinh
    Dạ Dần

    Thế hệ 3:

    Con của Dạ Dần
    Bướm Bạc và Bướm Bồ

    Thế hệ 4:

    Con của Bướm Bạc, Bướm Bồ + Tiên
    Cun
    Khủng
    Lăng
    Cun
    Khủng
    Tập
    Cun
    Khủng
    Tồi
    Trứng
    ChimTùng
    Chim Tót

    Thế hệ 5:

    Con của chim trống và chim mái
    Thần Chớp, Mây, muôn vật trần gian Người nói tiếng các dân tộc
    ( Dịt Dàng, Lăng Cun Khủng, Lang Cun Cần)

    Thế hệ 6:

    Con của Lang Cung Cần
    Cun Tồi Cun Tàng Cung Khủng Tóng
    Ín

    Theo giáo sư Phan Đăng Nhật: “Phương pháp hiện thực theo tổng loại, một phương pháp phổ biến của Folklore, khác với phương pháp điển hình hóa cá thể là phương pháp của chủ nghĩa hiện thực trong văn học thời cận hiện đại”. Điều này làm cho nhân vật chính trong các sử thi anh hùng chiến trận được xây dựng với “những phẩm chất cao quý là lòng dũng cảm, xã thân vì cộng đồng trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù và chinh phục thiên nhiên. Con người anh hùng có vẻ cường tráng của thể chất. Nhân vật anh hùng là hiện thân của ý chí và sức mạnh cộng đồng. Đó là hình tượng khái quát hóa và trìu tượng hóa”.

    Đặc điểm chung của nhân vật anh hùng trong sử thi là đẹp đẽ, dũng cảm, oai hùng, sang giàu, có sức mạnh phi thường và có những hành động không thể ngờ tới như: bắt Nữ Thần Mặt Trời, buộc ông Trời phải làm theo ý mình, chặt cây thần… Trong số nhiều anh hùng thường xuất hiện một anh hùng kiệt xuất hơn cả. Đó là người anh hùng có thể làm được một cách rất dễ dàng những việc mà người anh hùng khác không làm được hoặc làm được một cách vất vả trong một thời gian dài hay phải nhờ sụ trợ giúp từ thần linh, từ cộng đồng. Điều này thể hiện sự phân cấp, tài năng và thứ bậc của các anh hùng không đựa vào tuổi tác, cương vị trong gia đình mà phụ thuộc vào chính những khả năn tự bản thân của mỗi người anh hùng.

    Trong sử thi còn có các nhân vật là nữ và nhân vật thần. Họ không phải là nhân vật chính mà thường là nhân vật phụ. Các nhân vật này có một vai trò nhất định trong tiến trình phát triển của cốt truyện và của nhân vật chính. Nhân vật nữ thường là những cô gái đẹp và giàu sang, họ là nguyên nhân của những cuộc chiến tranh giành người đẹp giữa các bộ lạc, bộ tộc, cộng đồng. Người anh hùng nào giành được người đẹp thì càng trở nên có quyền lực, hùng mạnh, giàu sang hơn. Nhân vật thần thường sống lẫn lộn và gần gũi với con người, thường xuất hiện và giúp đỡ con người khi gặp phải những khó khăn, nguy hiểm trong cuộc sống và trong chiến đấu.

    Cũng cần chú ý rằng, hệ thống nhân vật trong sử thi anh hùng có một vài khác biệt so với nhânh vật sử thi thần thoại (Sử thi lịch sử). Nhân vật trong sử thi anh hùng không có nhiều lớp người, nhiều thế hệ người so với trong sử thi thần thoại. Tuy vậy lại có một tập thể người đông đảo trong cùng một cộng đồng, một làng bản cùng gánh vác gánh nặng với nhân vật anh hùng. Nhân vật trung tâm là anh hùng chiến đấu và anh hùng lao động.

    1. Nhân vật cổ tích

    Trong truyện cổ tích, hệ thống nhân vật đa dạng, phức tạp và mang tính hiện thực rõ rệt hơn so với nhân vật thần thoại và truyền thuyết. E. M. Melelinsky cho rằng: “Nhân vật trong truyện cổ tích không có sức mạnh ma thuật vốn có ở nhân vật huyền thoại. Nhân vật có sức mạnh nhờ sự bảo trợ đặc biệt của các thần. Về sau các sức mạnh thần kỳ đó nói chung như đã bị loại khỏi nhân vật và ở mức độ nhất định, chúng hoạt động thay cho nhân vật”. (Thi pháp huyền thoại – Trần Nho Thìn dịch) Nhân vật trong các kiểu truyện cổ tích khác nhau được xây dựng khác nhau.

    1. Nhân vật cổ tích thần kỳ

    Tùy thuộc vào cách kết thúc khác nhau của mỗi câu truyện cổ tích thần kỳ mà có các kiểu nhân vật khác nhau. Loại nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ kết thúc có hậu theo lý tưởng đổi đời của nhân vật chính với nhiều môtip khác nhau:

    – Môtip nhân vật có tài lạ.

    – Môtip nhân vật mồ côi ở với gì ghẻ và em cùng cha khác mẹ (Truyện Tấm cám).

    – Môtip nhân vật mồ côi ở với anh hoặc chú (Cây Khế).

    – Môtip nhân vật nghèo khổ đi làm thuê cho địa chủ hoặc phú ông (Cây tre trăm đốt, Sự tích con khỉ).

    – Môtip nhân vật mồ côi là dạng nhân vật tráng sĩ (Thạch Sanh).

    – Môtip nhân vật mồ côi có hình dạng xấu xí (Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc, Lấy chồng Dê).

    Nhân vât cổ tích thần kỳ có sự phân biệt rõ ràng thành hai tuyến đối lập nhau. Tuyến thiện (Tuyến chính nghĩa, Tuyến tốt) Tuyến ác (Tuyến gian tà, Tuyến xấu). Các nhân vật ở hai tuyến được xây dựng một chiều, đã tôt là tốt tuyệt đối từ đầu cho đến cuối. Ngược lại đã xấu là xấu một cách độc địa từ lúc đầu cho đến mãi khi kết thúc, “không biết đến sự thay đổi, sự phát triễn của tính cách nhân vật. Nhân vật xuất hiện trong truyện cổ tích từ bắt đầu bằng những nhân cách nào thì nó sẽ tồn tai đến cuối truyện với những nhân cách đó”. Nhân vật thường không có tính cách cá nhân, các nhân vật trong cùng tuyến có bản chất giống nhau, tính cách gần giống nhau và có số phận cũng như kết cục gần giống nhau. Nhân vật cổ tích thần kỳ là nhân vật chức năng, chúng được sắp xếp theo một mạch cốt truyện để thực hiện chức năng chuyển tải một thông điệp nào đó. Tuy nhiên, đối với những truyện cổ tích trung gian thì nhân vật không được xây dựng theo hai tuyến thiện – ác rõ ràng.

    Trong truyện cổ tích thần kỳ có kiểu nhân vật kỳ diệu hoặc vật kỳ diệu. Họ là Tiên, Bụt, Giàng, Rùa Vàng, Ngựa Sắt…luôn đứng về tuyến nhân vật thiện để che chở, giúp đỡ mỗi khi họ gặp khó khăn hay nguy hiểm.

    1. Nhân vật cổ tích hiện thực(Cổ tích sinh hoạt)

    Nhân vật cổ tích hiện thực không có sự đối lập giữa hai tuyến thiện và ác. Không có sự đối kháng, loại trừ nhau mà chỉ là sự đối lập về tính cách, về trí tuệ giữa một bên là người ngờ nghệch, ngốc nghếch, đần độn (Thường là người chồng) với một bên là người quá thông minh, nhanh nhẹn (Thường là người vợ). Kết thúc truyện thường dẫn đến cái chết của nhân vật ngốc nghếch với những nguyên nhân rất buồn cười như chết đuối, trâu húc, ngã cây…Cũng có thể nhân vật ngốc nghếch được dạy dỗ, (được vợ dạy dỗ) hay vì một sự may mắn ngẫu nhiên nào đó mà nên người.

    Nhân vật cổ tích hiện thực thường được xây dựng với các típ sau:

    – Nhân vật tài năng nhưng bất hạnh (Trương Chi).

    – Nhân vật đức hạnh có người vợ hoặc người chồng tình nghĩa (Gái ngoan dạy chồng, Giết chó khuyên chồng, Mài dao dạy vợ).

    – Nhân vật đức hạnh có người bạn tốt, người dân trung thực (Trọng nghĩa khinh tài, Người ăn mía và người chủ vườn).

    -Nhân vật xấu xa và người vợ hoặc người chồng bất nghĩa hay đứa con bất hiếu, kẻ lừa đảo (Đồng tiền Vạn Lịch, Tiếc gà chôn mẹ, Dì phải thằng chết trôi tôi phải đôi sấu sành).

    1. Nhân vật cổ tích sự tích

    Nghệ thuật xây dựng nhân vật cổ tích sự tích là nghệ thuật lý tưởng hóa như đã thấy ở truyện cổ tích thần kỳ. Điều thú vị là ở truyện cổ tích thần kỳ thì nhân vật chỉ được xây dựng ở những đặc điểm chung nhất, tiêu biểu nhất cho cả cộng đồng mà triệt tiêu những đặc điểm cá nhân. Ngược lại nhân vật trong truyện cổ tích lại là những nhân vật cá thể với những đặc điểm riêng, tính cách riêng. Ở họ là những sinh hoạt rất đời thường, những sai lầm và cách xử sự trước cuộc sống và con người cũng rất đời thường.

    Nhân vật cổ tích sự tích không có sự phân tuyến thiện ác, giữa họ là các mối quan hệ ràng buộc và ứng xử với nhau nhưng không có nhân vật tốt cũng không có nhân vật xấu, các nhân vật đều có những sai lầm và những điều rất đáng yêu, đáng quý, cảm động và đáng trân trọng. Cách xây đựng nhân vật này rất giống với cách xây dựng nhân vật trong văn học hiện đại, các nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ giống với kiểu nhân vật bản thể trong văn học hiện đại. Họ là những nhân vật giống như những con người thực ngoài đời sống thực. Ở họ vừa có sự dữ tợn lại vừa là người hiền lành yếu đuối, vừa nhẫn tâm lại vừa lương thiện, vừa thông minh cũng lại vừa ngu dốt, vừa đáng ghét lại vừa đáng thương.

    Nhân vật cổ tích sự tích được xây đựng để ngợi ca, để phê phán. Thông qua các nhân vật trong Sự tích Trầu Cau và Vôi, Sự tích con Sam ca ngợi tình cảm thủy chung, son sắc của vợ chồng và tình cảm anh em thắm thiết yêu thương. Sự tích chim Quốc ca ngợi tình bạn gắn bó bền chặt. Các Truyện Sự tích con muỗi, Sự tích Dã Tràng phê phán thói bạc tình, phản trắc của người vợ. Sự tích chim Đa Đa phê phán những người làm cha, làm mẹ nhưng độc ác, nhẫn tâm…

    Khi kết thúc, nhân vật chính đều dẫn hoặc bị dẫn đến cái chết và hóa thân. Những nhân vật tốt khi chết được tự hóa thân, nhân vật xấu bị hóa thân, đây là một cách trừng phạt cho những hành động xấu của nhân vật. Tuy vậy cũng có nhiều nhân vật hóa thân không phải tự hóa thân hay bị trừng phạt phải hóa thân mà vì hoàn cảnh, vì những khó khăn, bất lợi tác động đến, dẫn đến sự hóa thân. Nhân vật cổ tích sự tích được cho là tốt hay xấu phải “xét trên quan hệ ứng xử và tiêu chuẩn đạo đức truyền thống chứ không phải là trên phương diện khái quát thành bản chất giai cấp như truyện cổ tích thần kỳ. Nhân vật tốt hoàn toàn không được lý tưởng hóa, nghĩa là không tốt tuyệt đối và hoàn hảo như nhân vật trong cổ tích thần kỳ. Họ có những sai lầm nào đó mà chính điều đó lại dẫn đến cái chết thương tâm….Ngay những nhân vật xấu, họ cũng không xấu đến tàn ác” (TS. Lê Đức Luận).

    1. Nhân vật cổ tích loài vật

    Thế gới nhân vật trong truyện cổ tích loài vật chỉ là những con vật trong đó có cả những con vật đã được con người thuần hóa và những con vật hoang dã. Chúng được xây dựng trên cơ sở của sự nhân cách hóa lài vật nhằm lý giải những đặc điểm sinh vật và thói quen trong sinh hoạt của chúng. Nhưng vấn đề không dừng lại ở đây, nói về loài vật nhưng không đơn thuần là dừng lại ở loài vật mà dùng loài vật để nói chuyện của loài người, cách ứng xử trong đời sống và xã hội của loài người.

    Theo Lê Trường Phát: “Hình ảnh các con vật cùng mối quan hệ giữa chúng vừa phải giống chúng tồn tại ngoài đời thưc, nghĩa là trong cái thế giới hoang dã của chúng, vừa mang theo đặc tính của con người và mối quan hệ giữa người với người”. Điều này làm cho các nhân vật chính trong truyện cổ tích loài vật có tính chất hai mặt: mặt “tự nhiên” tức là giống những con vật thật ngoài đời (Vật nuôi), ngoài tự nhiên (vật hoang dã), lại vừa mang tính “xã hội” nghĩa là lại vừa giống với những bản chất khác nhau của các hạng người trong xã hội.

    Tìm hiểu nhân vật cổ tích là một công việc thú vị và hấp dẫn, thông qua hệ thống nhân vật này, ta thấy cách xây đựng nhân vật trong truyện cổ tích có nhiều phát triễn tiến bộ. Hình tượng nhân vật người hơn, đời hơn nên nhân văn hơn. Cách xây dựng nhân vật mang tính chất đa diện là một biểu hiện rõ nhất của điều này, làm cho nhân vật vừa tốt lại vừ xấu, vừa tích cực lại cũng vừa tiêu cực như chính bản thân cuộc sống vậy.

    1. Nhân vật truyện thơ

    Nhân vật truyện thơ được xây dựng bằng bút pháp hiện thực, hình ảnh tính cách và những tình huống ứng xử, những xung đột của các nhân vật đều được lấy từ hiện thực cuộc sống chứ không phải được tưởng tượng ra theo bút pháp lãng mạn, thần thánh hóa. Nhân vật truyện thơ có tính cách, có lai lịch và tên tuổi rõ ràng như một con người đang tồn tại thực ở đâu đó trong cuộc sống.

    Theo Tến sĩ Lê Đức Luận: “Nhân vật trong truyện thơ có hai dạng. Dạng thứ nhất là nhân vật tự bạch. Ngôi thứ nhất, cái tôi trữ tình và dạng thứ hai là ngôi thứ ba nhân vật được nhắc đến của người kể chuyện. Dạng thứ nhất nhân vật trữ tình tự bạch là dạng nhân vật tâm trạng. Trong truyện thơ Vượt Biển (Còn có tên là Pha Thuyền), tác giả dân gian để cho nhân vật tự kể về đời mình”:

    “Tôi thấy cay cho phận tôi lắm

    Tôi thấy đắng cho phận tôi nhiều”…

    Dạng thứ hai là nhân vật qua lời kể của tác giả. Dạng này có hai loại, loại thứ nhất là nhân vật tâm trạng – trữ tình. Tác giả nhập thân vào hai nhân vật nam và nữ để thể hiện vai giao tiếp. Đây là lời chàng trai nói với người yêu đi lấy chồng trong “Tiễn dặn người yêu”:

    “Xin hãy cho anh kề vóc mảnh

    Quấn quanh vai ủ lấy hương người

    Cho mai sau lửa xác đượm hơi

    Một lát bên em thay lời tiễn dặm”…

    Loại thứ hai là nhân vật tự sự – trữ tình. Đây là nhóm truyện thơ thừa kế truyện cổ dân gian. Nhân vật được phản ánh với nhiều mối quan hệ, với nhiều nhân vật chứ không phải như loại nhân vật trữ tình- tâm trạng chỉ xoay quanh quan hệ với người yêu là chủ yếu.

    1. Nhân vật ngụ ngôn

    Nhân vật ngụ ngôn phần nhiều là loài vật như nhân vật cổ tích nhưng cách xây đựng nhân vật cũng như bản chất của nhân vật ngụ ngôn thì hoàn toàn khác hẳn so với nhân vật cổ tích. Nhân vật ngụ ngôn là nhân vật được xây đựng bằng phương pháp giả tưởng, chúng được dựng lên từ đặc tính riêng của mỗi loài vật hoặc từ tính cách, đặc điểm, hoàn cảnh của một nhóm người, một hạng người nào đó trong xã hội. Nhân vật ngụ ngôn là vật, cũng có khi là người nhưng dù là vật hay là người thì nó cũng chỉ được xây đựng nên nhằm mục đích truyền tải, phản ánh một ý đồ một thông điệp đã được định sẵn của tác giả dân gian chứ hoàn toàn không hề có ý nói lên đặc điểm cấu tạo hay thói quen trong sinh hoạt của loài vật hay xây dựng chân dung một con người.

    Tác giả dân gian luôn gán cho mỗi nhân vật ngụ ngôn một tính cách hoàn toàn xa lạ với sự thật, với bản chất của nó mà nó phải nhận về mình một đặc điểm, một tính cách, một bản chất của một loại người nào đó trong xã hôi. Khi xây đựng nhân vât ngụ ngôn, tác giả dân gian luôn phải chịu sự chi phối của một yêu cầu là những đặc điểm những tính cách của con vật phải được mọi người từ trước đến nay đều biết đến và đều công nhận nó. Tức là phải dựa trên những quan niệm chung của con người về đặc điểm của các loài vật như :

    – Cọp thì dữ dằn, độc ác, nhẫn tâm.

    – Cáo thì xảo quyệt, gian manh.

    – Khỉ thì thông minh, lanh lợi.

    – Thỏ thì nhút nhát.

    – Chuột thì hôi thối, bẩn thỉu.

    – Cá Sấu thì đạo đức giả.

    Truyện ngụ ngôn là truyện kể có tính chất thế sự, dùng cách ẩn dụ để thuyết minh cho một chủ đề luân lý, triết lý một quan niệm nhân sinh hay một nhận xét về thưc tế xã hội. Nhân vật ngụ ngôn được xây đựng để phục vụ cho những mục đích ấy. Điều này làm cho nhân vật ngụ ngôn có những đặc điểm khác biệt hoàn toàn so với nhân vật cổ tích.

    1. Nhân vật truyện cười và giai thoại
    2. Nhân vật truyện cười

    Nhân vật truyện cười thường không được xây dựng với những đặc điểm ngoại hình, tính cách rõ ràng, cụ thể như các kiểu nhân vật khác. Tác giả dân gian chỉ tập trung vào khai thác những chi tiết, những hành động, lời nói tiêu biểu nhằm mục đích gây cười. Đó có thể là một lời nói một hành động, một hành vi ứng xử, một thói hư hay cũng có thể là một đặc điểm ngoại hình. Truyện cười nhằm mục đích đen tới cho người đọc tiếng cười sảng khoái để quên đi những giờ phút lao động mệt nhọc, hoặc những lo toan hằng ngày trong cuộc sống. Thông qua cái cười, tiếng cười mà đã kích, lên án những thói hư tật xấu của con người.

    Nhân vật truyện cười được chia thành hai loại. Loại nhân vật hài hước và loại nhân vật châm biếm, đã kích. Tuy vậy không thể phân biệt được một cách rõ ràng nhân vật hài hước và nhân vật châm biếm.

    1. Nhân vật giai thoại

    Trong giai thoại không có một hệ thống nhân vật đông đảo phong phú như trong các thể loại khác. Ở đó có rất ít nhân vật, thường là chỉ một hai nhân vật mà thôi. Giai thoại tập trung xây dựng nhân vật trung tâm, nhân vật chính, họ không phải là đối tượng để cười như nhân vật truyện cười mà họ đóng vai trò là người chủ động đặt tình thế cho đối tượng cười và cái cười phải bật ra. Họ là những con người thông minh, hóm hỉnh và giảo hoạt. Họ được xây dựng từ những nguyên mẫu có thật với lai lịch rõ ràng như tên, tuổi, quê quán, vợ con, quá trình học hành…

    Hệ thống nhân vật trong truyện kể dân gian vô cùng đa dạng và phong phú cả về số lượng, chủng loại (Thần, vật thần, bán thần, người, vật), bản chất (Tốt, xấu, bản thể). Thế giới nhân vật là yếu tố quan trọng nhất chi phối toàn bộ cốt truyện và quá trình diễn biến của truyện, là linh hồn của những câu truyện kể dân gian. Nghiên cứu về hệ thống nhân vật là công việc quan trọng và cần thiết của bộ môn Thi pháp văn học dân gian. Thông qua hệ thống nhân vật ta thấy được sự trưởng thành trong nhận thức của người xưa về tự nhiên, xã hội cũng như chính bản thân của con người. Nhận thức của họ có sự chuyển biến rõ rệt từ cái nhìn hiện tượng chuyển dần vào bản chất của tự nhiên và đời sống, đồng thời ngày càng mang tính nhân văn sâu sắc. Từ cái nhìn siêu hình của thế giới tâm linh đến cái nhìn khoa học hơn.

    Cách xây dựng nhân vật cũng có những thay đổi lớn, từ những nhân vật thần thánh xa vời với cuộc sống con người đến các nhân vật bán thần rồi cuối cùng đến nhân vật là con người với những đặc điểm sinh học, tính cách, hành động, sinh hoạt và lý lịch rất đời thường. Thông qua quá trình nghiên cứu thế gới nhân vật trong truyện kể dân gian giúp chúng ta thấy được những quan niệm, nhận thức của người xưa về tự nhiên, con người và xã hội. Hiểu được thế giới tâm hồn, những mong muốn, khát khao được giửi gắm qua nhân vật, ở đó ta cũng tìm thấy cả một tâm hồn Việt đậm đà bản sắc và giàu tính nhân văn. Nghiên cứu nhân vật trong truyện kể dân gian nói riêng và thi pháp văn học dân gian nói chung cho ta nhiều kiền thức thiết thực, nhiều bài học và kinh nghiệm đáng quý. Thiết nghĩ đây là một khoa học cần thiết và quan trọng cần được quan tâm, đầu tư, nghiên cứu nhiều hơn nữa.

    Nguyễn Thị Mỹ Liên

    (Xã Điện Phương – huyện Điện Bàn – tỉnh Quảng Nam)

    ———————————————————————————————————————

    – ANH/CHỊ HÃY PHÂN TÍCH CÁC BÀI THƠ “NAM QUỐC SƠN HÀ” CỦA LÝ THƯỜNG KIỆT, “HỊCH TƯỚNG SĨ ” CỦA TRẦN QUỐC TUẤN VÀ “ ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ” CỦA NGUYỄN TRÃI ĐỂ LÀM RÕ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XV.

    Tư tưởng yêu nước Việt Nam – bảo bối của giữ nước và dựng nước

    Cách đây hơn 40 năm, Ủy ban khoa học xã hội có mở một cuộc hội thảo về đề tài “Tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam”.

    TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM

    MỘT BẢO BỐI CỦA SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC VÀ DỰNG NƯỚC

    1. Trần Văn Giàu(1)

    Đánh giặc 10 năm, bây giờ gác súng, thảo luận triết lý của lịch sử ai lại chẳng ham ?, người tham dự đông. Số tham luận nhiều. Chỉ vài bài hơi lạc lõng, còn tất cả đều bảo rằng tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam suốt thời kỳ lịch sử là tư tưởng yêu nước.

    Lịch sử Việt Nam dài nhiều nghìn năm, chủ yếu là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc. Cho nên tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam là tư tưởng yêu nước xuyên suốt lịch sử, cổ kim. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng yêu nước đi đôi với sự hình thành và phát triển của quốc gia dân tộc. Lịch sử Việt Nam trải qua bao nhiêu thời đại thịnh suy thì tư tưởng yêu nước có bấy nhiêu hồi tiến lên hay suy thoái rồi quật khởi, lúc nào thực tế cũng chứng minh rằng tư tưởng yêu nước không phải chỉ là một triết lý để nhàm chán, nó là kim chỉ nam cho hành động, là một tiêu chuẩn để nhận định đúng –sai; tốt – xấu; nên – chăng. Vận nước suy hay thịnh, mất hay còn, nhục hay vinh, phần rất quan trọng này là tùy thuộc ở chỗ ta ứng dụng và phát huy hay ta quên lãng và chôn vùi món vũ khí tinh thần ấy mà tất cả các thế hệ tổ tiên, ông cha đều có công góp cả xương máu để rèn luyện.

    … Ta có thể hiểu tại sao, một ngàn năm hơn bị đè dưới Ngũ Hành Sơn, dân tộc Văn Lang không chết mất, quốc gia Văn Lang lại được khôi phục trên một tầng phát triển cao hơn, tầng Đại Việt; Bài thuốc trường sinh bất tử ấy, bài thuốc cải tử hoàn sinh ấy, xét cho cùng là một hệ thống tư tưởng yêu nước được sơ khỏi hình thành trên đất tổ Hùng Vương, khiến cho lúc còn phải ăn sương, uống tuyết để mà sống, người Việt Nam – người Văn Lang – không bị động chờ hóa kiếp, mà chủ động phát huy các giá trị tinh thần của tổ tiên để lại, cuối cùng tự mình lật đổ Ngũ Hành Sơn. Gương ông Gióng mãi mãi sáng; gương hai bà Trưng mãi mãi sáng. Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng trở về đóng đô ở Cổ Loa thành thiên cổ “Nước đi ra bể lại mưa về nguồn, nước non hội ngộ còn luôn” là vậy.

    Có người bảo: Hán mạt, Đường tàn thì các dân tộc bị đô hộ thì gặp cơ may tự tháo cổng, chớ Việt Nam sức mấy tài gì? thời cơ thuận lợi thì đúng là có đấy, nhưng nếu tài thiển, sức mọn thì làm sao tháo cổng? mà dù xông ra được, hùm thiêng vị tất đã có thể tung hoành ở rừng xưa, chủ trại còn đó sẽ có ngày lại bắt. Việt Nam không phải như thế, Sau Hán, Đường là Tống, Nguyên, Minh, Thanh, tất cả các triều đại của ông khổng lồ Bắc quốc đều một, hai hay ba lần ra sức đánh chiếm Việt Nam mà tất cả đều bị thất bại thê thảm, thì đó là “cơ may” hay “cơ rủi” ? Đó chẳng phải là Việt Nam giành lại và giữ được độc lập dân tộc bằng tài sức của chính mình thì nhờ đâu. Nhưng thắc mắc của người đọc sử như thế cũng chưa được giải đáp trọn vẹn; Người ta còn hỏi về sức thì họ hơn, họ đông hơn Việt Nam 10, 15, 20 lần, về tài họ có truyền thống tôn tử, Ngô Khởi, Đức Mạnh ai bì? họ không phải không có lý do để khinh thị Việt Nam nhỏ như “ngón tay”, “cái đấu” thì sao tiến công xâm lược, họ thua luôn? Hay là bên cạnh những cách giải thích thông thường, ta còn có thể tìm nguyên nhân chiến thắng của ta ở lãnh vực tư tưởng, tinh thần đặc biệt cao cả của các tướng sĩ, của binh sĩ nhất là của toàn dân, của mỗi người dân ?.

    Trong thời Đại Việt, dân tộc Việt Nam có nhiều người hay chữ, chữ hán và chữ nôm. Trước, trong và sau mỗi lần chiến thắng, đều thấy nảy nở những áng văn hay, sâu, viết trên giấy, khắc trên đá. Tất nhiên tôi vẫn dựa trên các sự kiện lịch sử, song ở đây, tôi chủ yếu dựa vào các áng văn đó để ghi lại những đặc trưng của tư tưởng yêu nước thời Đại Việt, nói cho gọn, đoạn này của bản tham luận nhằm ghi lại mấy đóng góp chính của thời Đại Việt vào chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam.

    LÝ THƯỜNG KIỆT – “NAM QUỐC SƠN HÀ”

    Tư tưởng yêu nước thì thời Văn Lang đã sinh nở. Trong thời Bắc thuộc, tư tưởng yêu nước không bị tàn lụi vì cuộc đô hộ lâu dài, trái lại, tư tưởng yêu nước chẳng những được duy trì, mà lại có cơ hội phát triển với sự phát triển của phong trào dân tộc giải phóng. Nhưng phải đợi đến khi độc lập được khôi phục thì văn học yêu nước mới hình thành, văn học yêu nước bắt đầu với các nhà sư triều (tiền) Lê, và phải đợi đến triều Lý đầu thế kỷ XI mới có những áng văn đem lại những nguyên lý mới làm phong phú thêm chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Nổi tiếng nhất, ảnh hưởng nhất tới trăm đời về sau là bài thơ bốn câu 28 chữ của Lý Thường Kiệt, Phát súng thần trên chuyến tuyến sông Như Nguyệt giữa quân Việt Nam với quân Tống. Từ đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hác, tướng của Triệu Việt Vương Quang Phục, đêm đêm vang lên mỗi bài thơ làm phấn chấn thêm tinh thần đã cao của quân Việt, làm nản chí quân xâm lăng. Sau đó nhiều trận quyết chiến đã buộc 20 vạn quân Tống phải rút về nước. Khiến hai ông Á Thánh Tống Nho phải ngậm ngùi tiếc rẻ sao chỉ còn 30 dặm đường vào Thăng Long, mà  không vào nổi! bài thờ thần trên dòng sông Như Nguyệt chỉ bốn câu mà nói lên hai nguyên lý trọng đại của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam.

    “Nam quốc sơn hà, nam đế cư

     Tiệt nhiên định phận tại thiên thu”

    Núi sông nước Nam thì Hoàng đế nước Nam ở. Tức lãnh thổ Việt Nam thì dân tộc Việt Nam làm chủ. Cương giới đã ghi rành trên sách trời, tức là quyền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam không ai tranh chấp được, không ai bôi bỏ được. Hai câu này đồng nội dung ý với câu “Tạo hóa sinh ra con người tự do và bình đẳng” của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: với câu “các dân tộc đều có quyền độc lập tự do” của Tuyên ngôn độc lập Mỹ. Có khác một điều là Tuyên ngôn của Triều Lý Việt Nam xuất hiện trước hai Tuyên ngôn kia đến mấy trăm năm, ở đây, thì “Thiên thu”, ở đó thì “Tạo hóa”, khác gì mấy ?.

    “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

     Cớ sao lũ giặc dám tới xâm phạm ?, chúng bây hãy chờ xem, thế nào chúng bây cũng chuốc lấy bại vong! Đó là cách của thần nói rằng, bảo rằng ta nhất định thắng, địch nhất định thua.

    Bảy tám trăm năm sau, ta còn nghe lời thề quyết tâm ấy khi kháng Pháp, kháng Mỹ. Người sau cách mạng Tháng tám năm 1945 có lý khi cho rằng bài thơ thần trên chuyến tuyến sông Như Nguyệt là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của Việt Nam.

    TRẦN HƯNG ĐẠO – HỊCH TƯỚNG SĨ VÀ DI CHÚC

    Thiện chiến và tàn bạo của quân Thát Đát, còn góc trời Âu – Á đâu không biết? nay Thát Đát đã diệt tống rồi, vua tôi nhà Tống đã ôm nhau nhảy xuống biển rồi; đế quốc Nguyên Mông đã dựng lên rồi, thì số phận của nước Đại Việt “Nhỏ như cái đấu”, ở sát hà nước Nguyên, giống như quả chuông treo bằng một sợi chỉ, như một trái chín treo trước miệng kẻ háo ăn. Nay quân Nguyên Mông sắp vào Đại Việt  nói là mượn đường vào Đông – Nam Á, thì triều đình nhà Trần tất phải lo đối phó. Đối phó cách nào? Không cách nào khác ngoài cách chính mình: chuẩn bị về quân lực và chuẩn bị về tinh thần, về việc trọng đại mà sau này ta gọi là “Công tác tư tưởng” thì lịch sử ghi lại hai cuộc Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than cốt để cho ý thức “Sát Thát” trở thành ý thức chung của toàn dân, từ vua quan, vương hầu đến tất cả đồng bào ở đồng bằng và miền núi. Đối đầu với một kẻ địch đông nhất và  mạnh nhất thế giới thì “mưu cao, mẹo giỏi” không đủ để chiến thắng, tướng giỏi, binh khỏe không đủ để cứu nước. Nhà Trần huy động các bậc bộ lão để cùng nhau quyết định “đánh!” truyền quyết tâm ấy cho toàn dân. Và trong “công tác tư tưởng” năm 1284 thì bài Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo có tầm quan trọng quyết định tới việc rèn luyện một quân đội tuyệt đỉnh anh hùng. Hai cuộc Hội nghị và một bài Hịch đã đem những  nguyên lý gì góp vào chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ?.

    1. Quân địch thiện chiến, tàn bạo và đông đúc nhất trên đời, trước nay chưa từng có, nhưng ta quyết không sợ địch, ta đem sức của toàn quân, toàn dân mà kháng chiến thì chắc chắn sẽ được “Bêu đầu Hốt Tất Liệt ở Cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai”.

    Đánh tan tư tưởng sợ địch, phát huy tư tưởng quyết chiến, quyết thắng, trong tình thế này hẳn không phải là chuyện dễ, vì quân Mộng- Thát chưa hề thua ai trên chiến trường Trung – Tây Á, Đông Âu, Trung Âu và cả Đông Á, họ đánh bại tất cả, họ được xem như thiên thần; kỵ binh họ tới lui nhanh như chớp giật, họ đánh mạnh như sấm sét từ Giáo hoàng ở La Mã tới Vua Tống ở Biện Kinh đều tán đởm kinh tâm. chỉ có quân Việt Nam đời Trần mới không sợ. Mà không sợ địch mới có thể quyết chiến quyết thắng được. Lại phải đem hết lực lượng toàn dân nhất trí đánh giặc thì mới cản được, đuổi được giặc Mông Thát.

    1. Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo nhận thấy rằng sau cuộc quân ta đánh bại Vân Nam Vương thì trong một thời gian không ngắn, nước ta có hòa bình, nên trong quân ta phát sinh tư tưởng tự mãn; tự mãn sinh ra thờ ơ, thờ ơ sinh ra một cái họa đắm đuối trong một lối sống hưởng lạc. Cho nên làm “công tác tư tưởng”; Trần Hưng Đạo đòi hỏi ở các tướng sĩ:
    2. a) Phải chú tâm bảo vệ danh dự của nước nhà và của chính mình; phải “biết thẹn”, khi nước mình, dân mình bị nhục, khi thấy sứ giả Nguyên tại Thăng long nghênh ngang bắt nạt tể phụ; bọn chúng kiêu căng nhục mạ vô nhân như vậy mà các tướng sĩ thản nhiên không tức giận không căm hờn vì nước bị lăng nhục. Hịch tướng sĩ đã đánh vào cái chai lì và không biết thẹn đó.
    3. b) Không một phút thờ ơ với vận nước, phải tránh cái lối sống hưởng lạc: “Giặc Nguyên Mông tràn vào thì cựa gà không đâm thủng áo giáp, mẹo cờ bạc không thể làm mưu lược nhà binh, chó săn giỏi không đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai”.
    4. c) Phải bồi dưỡng tinh thấn thượng võ cho thật cao. “Hãy ra sức huấn luyện binh sĩ tập dượt cung tên khiến cho người người là Bàng Mông nhà nhà là hậu nghệ”. Có như vậy mới “bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết” được.

    NGUYỄN TRÃI – ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ _ TÂU VUA LÊ

    Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng. Năm 1428 “Đại cáo bình Ngô” ra đời. Đại cáo bình Ngô được viết cho đồng bào Việt Nam, đồng thời cũng cho nhà Minh đọc. Chắc là đối với Thiên triều bài Đại cáo này thấm thía khá sâu.; Sau đó 300 năm mới thấy thiện triều Mãn Thanh trở qua Việt Nam để nhận thêm bài học Đống Đa. Còn người Việt Nam thì từ thủa ấy, ai lớn lên, đi học, mà không thuộc lòng vài đoạn của “thiên cổ hùng  văn” này. Đại cáo bình Ngô đã đem vào kho tàng chủ nghĩa yêu nước những tư tưởng lớn nào ?.

    1. Quốc gia dân tộc Việt Nam được khẳng định là một nước Văn Hiến lâu đời, chớ đâu phải một nước man di như các triều đại Bắc Phương kiêu căng xếp loại; Cũng được khẳng định là một dân tộc anh hùng; Từ đời nọ qua đới kia Việt Nam đối đầu với Hán, Đường, Tống, Nguyên “Mỗi bên hùng cứ một phương tuy mạnh yếu nhiều lúc khác nhau mà hào kiệt thời nào cũng có” Nếu không phải “Từ trước vốn xưng nền văn hiến đã lâu”  thì sao có thể chống lại nổi cái tử nạn Hán hóa sao có thể làm cho Việt hóa thắng Hán hóa. Nếu không phải “Hào kiệt đời nào cũng có”, không phải là anh hùng thì sao có thể đánh bại được kẻ xâm lược to lớn hơn mình hàng chục lần, đánh lại họ không phải chỉ một lần mà liên tiếp các lần họ xâm lược, các bại tướng của họ Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã Nhi hay Vương Thông, Mã Anh đều là nhân chứng rõ ràng.

    Nguyễn Trãi và Đại cáo bình Ngô nói lên được ý thức tự hào dân tộc- một cơ sở chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước phải làm nảy sinh chủ nghĩa anh hùng thì quốc gia dân tộc mới sống còn danh dự được, nhất là khi đất nước ở một vị trí địa dư chính trị đặc biệt như Việt Nam.

    1. Chống xâm lược là việc chính nghĩa; cứu nước, cứu dân là việc đại nghĩa; chính nghĩa thắng phi nghĩa, đại nghĩa thắng cường bạo. Đó là triết lý chính trị của Đại cáo bình Ngô, đó là lòng tin sắt đá của dân tộc Việt Nam.

    “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

    Lấy trí nhân để thay cường bạo”

    1. Yêu nước là yêu dân, cứu nước là cứu dân. Một tư tưởng lớn của Đại cáo bình Ngô. Trong một lần đánh bại Nam Hán, hai lần đánh bại quân Tống, ba lần đánh bại quân Mông Nguyên, bên phía ta phải huy động sức mạnh của toàn dân, chớ không phải chỉ dùng quân lực, thì mới có thể “Lấy ít địch nhiều”, “Lấy yếu chống mạnh ” được. Trong cuộc kháng Nguyên của nhà Trần thì đã rõ ràng rồi. Nhưng phải đến Đại cáo bình Ngô thì mục đích cứu nước và cứu dân thì mới quyện lại thành một mối, phải đến đây, vai trò cứu nước của nhân dân mới được chính thức tuyên dương xứng đáng
    2. a) Đại cáo bình Ngô là “bản án chủ nghĩa thực dân” thống thiết cụ thể nhất, đầy đủ nhất làm cho những người đương thời mà cả người đời sau sôi sục căm thù quân Minh cường bạo: “Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội, dơ bẩn thay nước Nam Hải không  rửa hết mùi” Lê Lợi khởi nghĩa, cuộc khỏi nghĩa nhằm cứu nước và cứu nước cũng là cứu dân, “cứu nước dân để dạ, chí háo hức muốn về đông
    3. b) Đặc điểm của Đại cáo bình Ngô là, chiến thắng rồi mà vẫn tuyên dương sức mạnh của nhân dân lao khổ như là sức mạnh đầu tiên xung phong đánh giặc Minh. Lúc khởi nghĩa Lam Sơn còn trong trứng nước “Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu” mà nhân dân lao động khổ đã sẵn sàng “dựng gậy làm cờ, tụ họp bốn phương manh lệ”.Manh Lệ là ai? là nô tì ở các điền trang, là quần chúng lao khổ nhất. Không tụ họp được bốn phương manh lệ thì không thể đánh đuổi quân Minh. Ở thời khác, ở nơi khác, các ông chủ nhất là đặng chim bẻ ná, đặng cá quên cơm. Còn ở Việt Nam thời Lam Sơn, khởi nghĩa toàn thắng, khi non sông sạch bóng quân thù rồi thì Đại cáo bình Ngô hãy còn trân trọng ghi công cho quần chúng vô danh, chứ không phải chỉ ghi công cho trời thần, danh tướng. Đại cáo bình Ngô sở dĩ đã đem được cho chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam một tính chất nhân dân vốn đậm nét của toàn cuộc kháng Minh. Người dân lao khổ đi đánh giặc suốt mười năm, tự nhiên mang trên đầu giáo, mũi gươm những nguyện vọng của giai tầng mình. Và những người lãnh đạo kháng chiến đã từng “hòa rượu với nước” cùng uống với nhân dân, cũng tự nguyện không thể làm ngơ với nguyện vọng ấy.
    4. Thần vũ không giết, ta thể lòng hiếu sinh.Tư tưởng yêu nước Việt Nam cốt giành độc lập tự do, không cốt trả hận rửa thù bằng cách giết địch nhiều nhất. Ta hiếu sinh, không hiếu sát. Cho nên khi đánh thì quyết chiến, quyết thắng, không sợ tốn xương máu, “Nổi gió to quét sạch lá khô”, nhưng khi “quân giặc các  thành khốn đốn, cởi giáp ra ra hàng; tướng quân giặc cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng” thì “thần vũ chẳng  giết hại, thề lòng trồi ta mở đường hiếu sinh”, “Ta lấy toàn quân làm hơn để nhân dân nghỉ sức”. Bình Định Vương lại còn cấp cho Mã Kỳ 500 chiếc thuyền, cấp cho Vương Thông vài nghìn cỗ ngựa để họ về nước, họ về nước rồi mà còn “Ngực đập, chân run”. Quyết chiến là được độc lập và để có hòa bình; Độc lập, hòa bình mới là mục đích của Việt Nam.

    “Càn khôn hết bỉ lại thái,

    Nhật nguyệt hết mờ lại tỏ,

    Mở thái bình muôn thủa

    Rửa sạch mối sỉ nhục ngàn thu”

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không phải là chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi càng không phải là chủ nghĩa chủng tộc.

    1. Cho thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận oán sầu. Thời gian trôi qua, bốn biển thái bình rồi thì những nhà cầm quyền lần lần xa dân, sa vào lối sống hưởng lạc, triều đình lo việc xây dựng cung điện, định lễ nhạc, người Trãi được lệnh chỉ đạo việc định lễ nhạc đó. Dịp này, Người Trãi đệ trình một lời tâu, lời tâu này đời sau xem như một biểu hiện nguyên lý của chủ nghĩa yêu nước thực tế đó là lời cảnh cáo của vua.

    “Đời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn” ngày nay định ra lễ nhạc là đúng lúc. Song, không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần phụng chiểu định ra âm nhạc, không dâm không gắng hết tâm lực; song học vấn sơ sài,nông cạn, sợ trong âm thanh luật khó làm được hài hòa. Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân, Khiến trong thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là cái gốc của nhạc vậy”. Hẳn việc làm cho “Thôn cùng xóm vắng bặt tiếng hờn giận, oán sấu” không chỉ cái gốc của nhạc, mà cũng là cái gốc cho mọi chính sách của nhà nước độc lập để bảo vệ nền độc lập.

    Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đến Lam Sơn khởi nghĩa toàn thắng đã mang tính chất nhân dân khá sâu sắc, nhưng chưa có ai, kể cả Nguyễn Trãi đi đến khái niệm “dân giàu nước mạnh”. Phải đợi đến 300 năm nữa khái niệm ấy mới đến tâm trí của người yêu nước. Còn bây giờ đây chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Trãi mới yêu cầu “vua Nghiệu Thuấn dường ấy ta đà phỉ sở Nguyên” và trong lúc các quan đều nói “ăn lộc mang ơn vua” thì Nguyễn Trãi viết “ăn lộc mang ơn kẻ cấy cày”. Nhà nho, dù là nho kháng chiến không ngó thẳng tới trước, chỉ ngó ngoái ra sau. Tuy vậy, các đại văn hào của trường phái yêu nước thân dân do Nguyễn Trãi đứng đầu đã dám nói lên những ước mơ không tưởng mà táo bạo, Nguyễn Mộng Tuần, Lý Tử Tấn, Nguyễn Trực đồng ca ngợi, mong chờ một xã hội “duy tân”.

    Dân ở trong cày yên ổn vui tươi

    Vật sinh nơi đó, dong chơi hớn hở

    Cày ruộng, đào giếng, mặc ấm, ăn no

    Già nua lụm cụm mà không thui, không lụi

    Ngày làm đêm nghỉ không biết  nhọc nhằn..

    Một Lý tưởng xã hội mọc lên với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thắng lợi.

    ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN HUỆ – NGƯỜI “ANH HÙNG ÁO VẢI CỜ ĐÀO” CHO HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM

    Nguyễn Huệ không để lại một bài viết nào, một di chúc nào. Ông chết đột ngột. Nhưng thành tích của người anh hùng “áo vải cờ đào” này là cả một pho sách. Phần đóng góp của Nguyễn Huệ  vào chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có hai trọng điểm, hai nguyên lý lớn là :

    1. Thứ nhất là luôn sẵn sáng chiến đấu. Lịch sử chép rằng khi Nguyễn Ánh rước hai vạn quân Xiêm với 300 chiến thuyền của họ thình lình đổ bộ lên Hà Tiên, nhằm Gia Định mà tiến, thì tướng Tây Sơn ở Nam liệu sức không cản nổi, liền phi báo cho Nguyễn Huệ ở Quy Nhơn. Đường Hà Tiên –  Gia Định bằng một phần ba đường Quy Nhơn – Gia Định. Vậy mà khi hai vạn quân Xiêm và tàn quân Nguyễn Ánh mới mò lên tới Tiền Giang, thì bị quân Nguyễn Huệ tiêu diệt ở Rạch Gầm gần toàn bộ trong nửa buổi sáng.

    Lấy cớ đưa vua Lê Chiêu Thống về , 250.000 quân Thanh vào Lang Sơn nhằm  Thăng Long mà tiến; Tướng Tây Sơn ở Bắc liệu sức không cản nổi, liền phi báo cho Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Đường Phú Xuân – Thăng Long hơn năm lần xa hơn đường Lạng Sơn – Thăng Long. Vậy khi mà đại quân Thanh vừa hạ trại bên bờ Sông Hồng đang lo vui tết, thì đại quân Nguyễn Huệ đã tới núi Tam Điệp, thong thả ăn tết sớm, rồi trong trận đánh liên tục kéo dài trong năm ngày đêm, toàn bộ 250.000 quân Thanh bị đánh tan tành, chủ tướng Tôn Sĩ Nghị chạy bỏ cả ấn tín !

    Có mấy ai, có đời nào sẵn sàng chiến đấu hơn? quyết chiền thắng hơn? cắt nghĩa chiến thắng bằng thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ là đúng mà không đủ. Còn phải tìm nguyên nhân sâu xa hơn nữa với chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam được phát huy cao độ bởi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ít nhiều tính chất chống  vua chúa áp bức.

    1. Phần đóng góp của Nguyễn Huệ vào hệ thống tư tưởng yêu nước Việt Nam là ý thức và sự nghiệp thống nhất nước nhà. Vấn đề lớn này ở triều Đinh được đặt ra lần thứ nhất và Đinh Bộ Lĩnh đã giải quyết bằng cách đánh dẹp Thập Nhị sứ quân. Đến thời Lý Trần và Lê sơ không có vấn đề này. Nước Việt Nam khi ấy là Đại Việt vốn là một nước thống nhất.Nhưng từ 1527, Đại việt bị phân liệt, tình trạng phân liệt kéo dài đến gần cuối thế kỷ XVIII, hơn 200 năm. Bắt đầu là phân liệt Bắc Nam triều giữa Lê và Mạc, kế đó là Trịnh – Nguyễn phân tranh. Phân liệt phân, tranh thì yếu. Yếu thì dễ xâm lược. Trong vài trăm năm, Trịnh – Nguyễn đánh nhau tới bảy lần. Mạc, Trịnh, Nguyễn không ai có tư tưởng thống nhất nước, tất cả họ chỉ có ý đồ xâm chiếm lẫn nhau. Cứ như thế thì cái họa bị xâm lăng ắt khó tránh. Nội chiến chỉ chấm dứt khi khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi, lần lượt đánh đổ cả hai chúa Nguyễn, chúa Trịnh, đánh đổ luôn vua Lê;  Trong Nam thì đuổi quân Xiêm, ngoài Bắc thì đánh đuổi quân Thanh; lãnh tụ Tây Sơn đường đường chánh chánh lên ngôi Hoàng Đế, vua Càn Long nhà Thanh dù mới đại bại (hay là vì đại bại) mà phải công nhận Quang Trung là vua nước Việt Nam. Thời gian thống nhất Việt Nam dưới cờ Quang Trung, tiếc thay quá ngắn! Quang Trung băng hà quá sớm, đột ngột, người nối nghiệp bất tài. Đại nghĩa tự nó không đủ  tạo ra đại nghiệp, còn phải có người đại tài. Quang Trung chết sớm, chết tức là một sự kiện ngẫu nhiên. Sau đó  thiếu gì những ngẫu nhiên khác. Các ngẫu nhiên kết lại, nối ra thành cái tất yếu. Đất đã được dọn thì sự thống nhất không thể không đến “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Trong việc lập lại sự thống nhất sau thời gian phân biệt lâu dài thời Lê mạt thì người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ là vĩ nhân đã khởi xướng và bắt đầu thực hiện sự nghiệp ấy.
    2. Vậy là từ khi Ngô Quyền tiêu diệt quân Nam Hán đến khi Nguyễn Huệ đánh bại quân Mãn Thanh trong hơn tám thể kỷ, Việt Nam đã đại thắng tám lần. Một nước “nhỏ bằng ngón tay”, “nhỏ như cái đấu” đã liên tiếp đuổi được quân cướp nước. Còn ai có thể nói đó là “cơ may” nữa? Nhưng trừ ra lần diệt quân Nam Hán, tất cả các lần đánh bại Tống, Nguyên, Minh, Thanh xong rồi, Việt Nam đều chiếu theo nguyên lý của chủ nghĩa yêu nước truyền thống là chiến thắng để có hòa bình lâu dài, biết rằng một nước nhỏ ở cạnh một đế quốc phong kiến khổng lồ, nên Việt Nam lần nào cũng phải nhún nhường để cho nước lớn chấm dứt binh đao, lợi cho hai bên mà cũng lợi cho họ, lợi cho tất cả các dân tộc gần xa.

    ________________■

    (1). Tham luận tại Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất, tổ chức tại Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 17-7-1996

    Đề bài: Nhận xét giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV có ý kiến cho rằng: Các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của văn học giai đoạn này, bất luận là nhà nho hay nhà sư, hầu hết là những người có tham gia cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, và tác phẩm tiêu biểu của họ cũng là những tác phẩm viết về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm… Bằng sự hiểu biết của em về thơ văn giai đoạn này, hãy chứng minh ý kiến trên.

    Với tư cách là những người trực tiếp nơi đầu sống ngọn gió để bảo vệ chủ quyền dân tộc, chống ngoại xâm phương Bắc, những nhà văn nhà thơ của giai đoạn văn học từ thế X đến thế kỉ XV đã lấy đề tài chống ngoại xâm như một đề tài chủ yếu trong những tác phẩm của họ. Cảm hứng thời đại của hào khí Đông A, của một thời Lam Sơn khởi nghĩa là chất men say, nguồn hiện thực giúp họ sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ cửa mọi thời đại. Rõ ràng nói đến giai đoạn văn học thời kì này, không thể không nhắc đến bài thơ thần của Lí Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi…, thơ Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, Trương Hán Siêu, Động Dung… tất cả đã tái dựng không khí anh hùng của một thời đại anh hùng, những anh hùng bất khuất chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước.

    Mở đầu cho cảm hứng này là bài thơ thần của danh tướng Lí Thường Kiệt. Đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, khẳng định sức mạnh của đất nước Đại Việt, ở đây, với sức mạnh của quân và dân nhà Lí, chiến thắng trên sông Như Nguyệt là một nguồn thi hứng mãnh liệt làm tiền đề cho bản tuyên ngôn đầu tiên.

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư

    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    Nhữ đáng hành khan thu bại hư.

    Có hiểu được nỗi khổ nhục của một ngàn năm Bắc thuộc mới hiểu hết được sự sảng khoái, niềm tự hào của bài thơ:

    Núi sông Nam Việt, vua Nam ở

    Vằng vặc sách trời chia xứ sở.

    Giặc dữ cớ sao phạm đến đây

    Chúng mày nhất định phải tan vỡ

    (Lê Thước – Nam Trân dịch)

    Hùng khí của bài thơ vút lên tận trời, nó không chỉ làm hoảng kinh kẻ thù mà còn là một niềm động viên, cố vũ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ.

    Ở Hịch tướng sĩ, sức mạnh càng được nhân lên gấp bội phần. Hiện thực lớn lao của ba lần kháng chiến đánh tan Nguyên – Mông đã được tái hiện. Hiện thực đó là bức tranh toàn cảnh toàn cảnh tác động lớn lao đến quân dân nhà Trần. Nó biến thành lòng căm thù quân cướp nước.

    Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối… chỉ căm tức chưa được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác ta gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.

    Không có sức mạnh của trận Bạch Đằng sấm vang chớp giật không thể có một âm điệu như thế trong Hịch tướng sĩ. Nên nhớ là mục đích của bài Hịch nhằm khích lệ tinh thần tướng sĩ nhà Trần. Cơ sở của sự khích lệ vẫn là sức mạnh long trời lở đất của những chiến thắng trước. Đó cũng là cơ sở để Trần Quốc Tuấn gọi sứ giả của cường địch phương Bắc là cú diều, dê chó.

    Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem tấm thân dê chó mà bắt nạt tể phụ.

    Có hiểu được tương quan lực lượng, binh mã giữa ta với kẻ thù, tầm vóc của quân đội nhà Nguyên với thế giới mới thất hết giá trị của những từ xưng hô đầy khinh miệt, mang tính chiến đấu cao của Hịch tướng sĩ.

    Sức mạnh của lời động viên, khích lệ kia đã thành hiện thực. Quân đội nhà Trần đánh tan quân Nguyên lần thứ ba. Tràn ngập trong văn thơ giai đoạn này là cảm hứng tự hào về sức mạnh của một thời đại anh hùng chống ngoại xâm.

    Mở đầu cho bản đại hùng ca này là: Bạch Đằng Giang phú của Trương Hán Siêu. Có thể nối rằng đó là một bản tổng kết vĩ đại về sức mạnh chiến thắng của quân dân ta vớí kẻ thừ xâm lược.

    Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã

    Cũng là bãi đất xưa Ngô chúa phá Hoằng Thao

    Đương khi ấy:

    Thuyền bè muôn đời

    Tinh kì phấp phới

    Tì hô ba quân

    Giáo gươm sáng chói.

    Lời phú sảng khoái mà tha thiết, rực lửa chiến thắng mà vẫn chứa chan nhản nghĩa. Đó cũng là sức mạnh chiến thắng, lí tưởng sáng ngời của một đất nước luôn luôn bất khuất chống ngoại xâm.

    Trong âm diệu đó, những danh tướng đời Trần như Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải vừa rời tay gươm, đã không ngăn cảm xúc, cầm bút hoà chung vào bản hợp xướng vĩ đại của đất nước. Trong Tụng giá hoàn kinh sư, Trần Quang Khải viết:

    Đoạt sáo Chương Dương độ

    Cầm hồ Hàm Tư quan

    Thái bình tu trí lực

    Vạn cô thứ giang sơn.

    Hay như Phạm Ngũ Lão, từ những chiến thắng, từ hình ảnh những người anh hùng thời dại, ông đã khắc tạc trong thơ tượng đài kì vĩ của người nam nhi mang lí tưởng chống giặc ngoại xâm:

    Hoành sóc giang san cáp kỉ thu 

    Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

    Nam nhi vị liễu công danh trái 

    Tu thỉnh nhân gan thuyết Vũ Hầu.

    Tự hào và vĩ đại biết bao hình ảnh:

    Múa giáo non sông trai mấy thu 

    Ba quân khí mạnh át sao Ngưu.

    Có thể nói rằng đó là hình ảnh chung của con người Việt Nam trên con đường gian khổ để giữ gìn giang san gấm vóc. Hình ảnh này tiêu biểu cho vẻ đẹp thời đại. Nó có giá trị khởi đầu để sau đó xuất hiện những hình ảnh kế tục mà nổi bật hơn cả là hình ảnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

    Mười năm trường kì gian khổ, nếm mật nằm gai, mười năm ngẫm thù lớn há đội trời chung đã hun đúc nên sức mạnh long trởỉ lở đất của nghĩa quân Lam Sơn trước quân cuồng Minh. Nếu Nam quốc sơn hà là bản tuyên ngôn độc lập thì bài Cáo bình Ngô là bản tổng kết mười năm anh dũng, gian khổ chống giặc, mở ra một kỉ nguyên mới cho tương lai đất nước. Hiện thực đã thổi vào thơ văn những luồng gió làm bùng sáng ngọn lửa tiêu diệt kẻ thù:

    Đánh một trận sạch không kình ngạc,

    Đánh hai trận tan tác chim muông.

    Để rồi:

    Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng,

    Thần vũ chăng giết hại, thế lòng trời ta mở đường hiếu sinh.

    Quả là trong Đại cáo bình Ngô niềm tự hào và tinh thần dân tộc đã lên đên đỉnh cao. Cùng với những áng thơ văn chiến đấu đời Lí, Trần, tác phẩm là một tập đại thành cho phép chúng ta nghĩ rằng âm điệu chiến đấu và chiến thắng là âm điệu chủ yếu của giai đoạn văn học thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XV. Đây là một thời đại mà mọi tác phẩm, trước hiện thực lớn lao của đất nước, đã hoà chung một điệu, tạo nên một khúc anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng của một thời đại anh hùng.

    ĐẶNG PHƯỚC THẢO VI 

    PTTH Chuyên Lê Hồng Phong, TP. Hồ Chí Minh.

    Read more: http://taplamvan.edu.vn/tac-pham-tieu-bieu-cua-nha-van-nha-tho-tu-the-ki-x-den-xv-deu-la-nhung-tac-pham-viet-ve-cuoc-dau-tranh-chong-ngoai-xam/#ixzz4MStKgFZz

    ———————————————————————————————————————

    – VIỆC GIẢNG DẠY TRUYỆN CỔ TÍCH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC CÓ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN NHƯ THẾ NÀO? TÌM HIỂU KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA MỘT GIÁO VIÊN TIỂU HỌC.

    TẠI SAO TRUYỆN CỔ TÍCH LẠI RẤT HẤP DẪN THẾ GIỚI TUỔI THƠ?

    Xem file pdf

    A/ PHẦN MỞ ĐẦU

    I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Nói đến văn học dân gian cùng với những giá trị vĩnh hằng của nó không thể không nhắc đến truyện cổ tích. Đây là một thể loại tự sự dân gian, sử dụng phương thức hư cấu để lưu giữ những yếu tố thần kì và kiến tạo nên một thế giới lung linh, huyền ảo sắc màu, âm vang bao niềm thương cảm.

    Học sinh Tiểu học được chúng ta âu yếm gọi bằng một cái tên khác đầy ý nghĩa: “lứa tuổi cổ tích”. Ở lứa tuổi này, các em nhìn đời bằng đôi mắt trong veo và tin cậy, “suy nghĩ bằng hình ảnh”, sống với thế giới của cái Đẹp, của viễn tưởng và sáng tạo. Trẻ cũng rất ưa thích sự phiêu lưu để khám phá và ngạc nhiên trước những bí mật của cuộc sống…Tất cả những điều đó đã đưa các em đến gần với cổ tích, thả mình bay bổng cùng với các nhân vật của truyện để cho trí tưởng tượng trẻ thơ có cơ hội du ngoạn đến những xứ sở lạ kì. Quả thực rất khó tìm thấy một thế giới tràn đầy cái Đẹp, lung linh những biểu tượng đượm màu sắc thần thoại như trong truyện cổ tích. Đến với cổ tích chính là cơ hội cho trẻ nuôi dưỡng, phát triển cảm xúc thẩm mĩ và phát huy trí tưởng tượng, đồng thời giúp chúng tìm tòi lẽ sống, làm phong phú tình cảm, đem đến cho ta niềm vui, giúp con người sống tốt hơn, nhân ái hơn . Như thế chính là trẻ đã được phát triển về mặt tâm hồn-một trong hai mục đích chính của giáo dục trẻ ở bậc Tiểu học.

    Đây cũng là lứa tuổi đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cần được thụ hưởng những giá trị văn học, xây dựng những hình tượng đẹp, tốt, tích cực (vì trẻ em hay có sự bắt chước). Do vậy mà không phải ngẫu nhiên trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, các nhà làm sách giáo khoa đã ưu tiên khai thác tương đối sâu thể loại truyện cổ tích. một thể loại gắn bó mật thiết với các em, là “món ăn tình thần” bổ ích cho các em. Truyện cổ tích vang lên trong giờ tập đọc, giờ kể chuyện thổi vào tâm hồn trẻ thơ những cảm xúc, ước mơ, trí tưởng tượng và niềm vui thích.

    Quan trọng, ý nghĩa là vậy nhưng thực tế hiện nay cùng với sự phát triển của rất nhiều loại hình văn hoá hiện đại thì niềm đam mê của các em đối với truyện cổ tích không còn mạnh mẽ như trước nữa. Các em có xu hướng thiên về các loại truyện tranh với nhiều hình ảnh sinh động nhưng trên thực tế một số tác phẩm mang tính thực dụng, thị trường nên giá trị văn học không cao, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển trí tuệ của trẻ. Vậy nên trước tình hình đó, người thầy phải làm gì để khơi dậy hứng thú đọc truyện cổ tích trong các em? Mong muốn góp phần giải quyết thực tế đó tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển hứng thú đọc truyện cổ tích cho học sinh Tiểu học”

    II/ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI: Vì thời gian và trình độ của bản thân có hạn nên đề tài sáng kiến kinh nghiệm chỉ hướng tới hai nhiệm vụ trọng tâm :

    1/ Phân tích, khẳng định vai trò của truyện cổ tích đối với trẻ.

    2/ Khảo sát thực trạng và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hứng thú đọc truyện cổ tích cho học sinh Tiểu học.

    III/ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

    Đề tài được thực hiện khảo sát trên đối tượng học sinh lớp 1,2,3 trường Tiểu học Lê Văn Tám xã Pơng Đrang huyện Krông Búk tỉnh Đăk Lăk. Đây là một trường đóng trên địa bàn tương đối phức tạp về dân cư, tuy 98% là học sinh người Kinh nhưng trình độ dân trí thuộc khu vực này tương đối thấp, đa số là nông dân nên điều kiện chăm lo đến việc học tập của con em còn hạn chế nên trên thực tế việc được tiếp cận với truyện cổ tích đối với các em chủ yếu là ở trường.

            IV/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Để thực hiện có kết quả đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

    – Phương pháp điều tra giúp khảo sát thực trạng hứng thú đọc truyện cổ tích trong học sinh Tiểu học hiện nay.

    – Phương pháp thống kê giúp tổng hợp số liệu.

    – Phương pháp mô tả phân tích giúp làm rõ các nộ dung của đề tài.

    – Phương pháp so sánh giúp làm rõ vị trí, nét đặc sắc của các tác phẩm truyện cổ tích.

    – Phương pháp tổng hợp giúp bao quát, đánh giá tổng thể vấn đề nghiên cứu.

    B /NỘI DUNG CHÍNH

    I/ VAI TRÒ CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH ĐỐI VỚI TRẺ EM

    1/ Khái niệm truyện cổ tích:

    Truyện cổ tích là một thể loại tự sự dân gian tiêu biểu, có vị trí đặc biệt quan trọng trong mỗi nền văn học. Nó xuất hiện trong xã hội có đấu tranh giai cấp, hướng tới phản ánh hiện thực cuộc sống đó. Khác với nhiều thể loại, truyện cổ tích tiếp cận hiện thực đấu tranh giai cấp đó từ góc độ đạo đức. Cho nên, cảm hứng trung tâm của truyện cổ tích chính là vấn đề Thiện – Ác trong cuộc đời.

    2/ Vai trò của truyện cổ tích đối với trẻ em:

    Đầu tiên tôi xin mượn lời của của nhà giáo dục học lỗi lạc người Nga V.A Xu Khom lin Xki để nói đến vai trò của truyện cổ tích đối với sự phát triển nhân cách của trẻ em: “Truyện cổ tích là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, là ngọn gió tươi mát thổi bùng lên ngọn lửa tư duy và ngôn ngữ của trẻ”. Vậy vì sao truyện cổ tích có vai trò quan trọng như vậy?

    2.1.Sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thiếu nhi:

    Có lẽ đối với trẻ thơ, không có món quà nào hấp dẫn bằng truyện cổ tích. Từ em bé nhút nhát yếu đuối nhất đến những em được coi là ngỗ nghịch, bướng bỉnh nhất truyện cổ tích đều làm cho chúng say mê. Đối với trẻ đến với truyện cổ tích là đến với ngững giấc mơ thần tiên một cách tự nhiên nhẹ nhàng và đầy thích thú. Trên thực tế nếu tiết dạy kể chuyện được giáo viên quan tâm đúng mức ta sẽ thấy được những khuông mặt hồ hởi, say mê của các em khi đến giờ kể chuyện mà đặc biệt là kể truyện cổ tích. Các em sống cùng với diến biến của câu chuyện như thể mình là một nhân vật trong câu chuyện đó: lo lắng, căng thẳng, hồi hộp vui sướng, hả hê… dường như mọi cung bậc tình cảm được các em thể hiện không dấu diếm khi nghe truyện cổ tích. Các em được sống đúng với tuổi thơ của mình trong thế giới của truyện cổ tích. Mỗi khi đến với truyện cổ tích các em như lạc vào một thế giới khác thế giới mà trong đó có những có những con thú biết nói, những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng hoàng tử thông minh, dũng cảm, những bà tiên ông bụt giàu phép biến hoá, tốt bụng và luôn luôn giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn hoạn nạn, những mụ phù thuỷ độc ác cuối cùng sẽ bị trừng trị… các em tự do hoà mình vào nhân vật, vui buồn cùng nhân vật trong chuyện và tự nhận mình là hoàng tử, công chúa…

    Như vậy rõ ràng truyện cổ tích có những yếu tố đáp ứng được nhiều nhu cầu tinh thần của trẻ và là món ăn không thể thiếu được của trẻ.

    Nhân vật chính diện trong truyện cổ tích đều trung thực, biết yêu thương và vị tha vô hạn. Đó là một thứ tình thương dành cho những người đồng cảnh ngộ. Ta có thể hiểu vì sao cô Tấm chỉ đến ở với bà lão trong hàng nước cô đơn, vì sao Sọ Dừa lại đầu thai vào một nhà nghèo khổ, cô gái nhỏ giấu cơm đưa cho ông lão qua đường mà được ban thưởng sắc đẹp, chàng nông dân cứu giúp con chó, con mèo mà được giúp đỡ trở nên giàu có, người nông dân là có thực nhưng anh ta có thể phục sinh người chết bằng cách cho ăn lá cây đa thần là yếu tố kì ảo…Chính những yếu tố đó làm cho truyện cổ tích có sức hấp dẫn kì lạ đối với trẻ thơ.

    Như vậy, có thể nói nghe kể chuyện là một nhu cầu thực sự của trẻ em. Dường như trong mỗi em bé có cái mà ta có thể gọi đó là nhu cầu “bản năng” về sự huyền diệu và kì lạ. Mà điều này truyện cổ tích có thể thỏa mãn cái nhu cầu rất tự nhiên và cũng rất khẩn thiết đó của trẻ thơ bởi những yếu tố kì ảo, thần diệu của nó

    2.2.Tính giáo dục:

    Lứa tuổi thiếu nhi là một giai đoạn phát triển phức tạp và có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống con người. Cùng với sự hoàn thiện dần về thể chất, lứa tuổi thiếu nhi có những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt, tư duy hình tượng cụ thể chiếm ưu thế, giàu cảm xúc, thích tìm tòi khám phá ham hiểu biết. Nhân cách của các em đang trong giai đoạn phát triển và chịu sự chi phối tác động của nhiều yếu tố, các em dễ bắt chước. Việc in những dấu hằn đầu tiên về cái đẹp vào tâm trí các em có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành những cảm xúc và quan niệm thẩm mỹ, lòng nhân ái của các em sau này. Chính lẽ đó mà truyện cổ tích đã trở thành một phương tiện giáo dục rất hiệu nghiệm đối với trẻ thơ. Mỗi câu chuyện là một bài học sống động về những phẩm chất đạo đức, về cách xử trí tinh khôn cần có để giúp trẻ biết sống đẹp với đời, biết ứng xử tốt với những người xung quanh và nhiều khi còn giúp trẻ cảm nhận một cách nhạy bén đối với cái thiêng liêng nhất, cao đẹp nhất trong tình cảm con người như: người mẹ vì thương nhớ con mà ốm đến chết. Vậy mà khi chết đi rồi bà vẫn hoá thành cây vú sữa chắt những giọt sữa tinh khiết nhất của mình cho con “Sự tích cây vú sữa – lớp 1”. Cô bé đã không quản đường xa giá rét đi tìm bông hoa cúc trắng đem về chữa bệnh cho mẹ, khi hái được bông hoa cô gái nghe văng vẳng lời bà cụ nói: “mỗi cánh hoa sẽ là một ngày mẹ cháu được sống” và cô bé đã kêu lên “Trời! Mẹ chỉ còn sống được hai mươi ngày nữa!” cô bé đã xé những cánh hoa ra nhiều sợi để mẹ được sống nhiều hơn. Truyện ca ngợi tình yêu mẹ, lòng hiếu thảo của cô bé trong truyện đã làm cho trời đất cảm thông, giúp cô chữa khỏi bệnh cho mẹ.

    Tóm lại vai trò của truyện cổ tích có tác động mạnh mẽ trong việc bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, đem đến cho trẻ những ước mơ bay bổng, những xúc cảm thẩm mĩ về một thế giới huyền ảo, kích thích và phát triển trí tưởng tượng của các em, mở cánh cửa sổ cho tâm hồn các em hướng vào những ước mơ đẹp đẽ, kích thích những khát vọng của các em muốn hiểu biết, muốn vươn lên những tầm cao của tư tưởng, tình cảm và trí tuệ sau này.

    II/ TRUYỆN CỔ TÍCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC HIỆN NAY.

    Nhận xét :

    Trong chương trình giáo dục bậc Tiểu học thì việc dạy học truyện cổ tích chủ yếu do phân môn Tập đọc và Kể chuyện đảm nhiệm. Cùng với sự thay đổi chương trình sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp với nguyên tắc đồng tâm thì Tập đọc và Kể chuyện đã gắn kết chặt chẽ với nhau. Các văn bản sử dụng trong tiết Kể chuyện là những văn bản đã được luyện đọc và tìm hiểu khá kĩ ở tiết Tập đọc. Chính từ những thuận lợi này mà đòi hỏi giáo viên phải điều chỉnh phương pháp dạy học cổ tích cho phù hợp với từng phân môn, tránh sự trùng lặp về nội dung giảng dạy. Làm được điều đó là cả một nghệ thuật của nhà sư phạm.

    1. Kết quả thống kê cho thấy: Số lượng tác phẩm truyện cổ tích được sử dụng nhiều cả trong sách Tiếng Việt lẫn Truyện đọc lớp 1,2,3. Gần hai mươi truyện trong năm năm học của cấp học này- đó quả là con số biết nói. Mặt khác, các nhà soạn sách cũng đã quan tâm đáng kể đến mảng truyện cổ tích nước ngoài. Như đã phân tích, truyện cổ tích vốn thích hợp với lứa tuổi nhi đồng. Cho nên, sự hiện diện với một mật độ dày như vậy là điều dễ hiểu.

    Tuy nhiên, để cho truyện cổ tích hoàn toàn vắng bóng ở chương trình  lớp 5, xét thấy đó là điều chưa hợp lí. Bởi thực ra cho đến lúc này và cả ở những bậc học cao hơn nữa thì học sinh chưa thể thoát khỏi ước muốn được khơi nguồn cảm xúc, trí tuệ, trí tưởng tượng từ những câu chuyện cổ thần kì

    1. Về nội dung: Hệ thống tác phẩm truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học với những chủ đề, đề tài đa dạng, nội dung phong phú với những nhân vật, những màu sắc, dáng vẻ bút pháp khác nhau của chúng nhìn chung đều hướng về và xoay quanh đạo đức cho các em: lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, yêu thương con người, tình cảm mẹ con, anh em bạn bè, ý thức tập thể, học tập lao động và rèn luyện các đức tính thật thà, dũng cảm, yêu điều thiện, ghét điều ác. Mười tám câu chuyện cổ là mười tám góc nhìn cuộc đời với những thanh âm trong trẻo về phẩm chất và tình người. Với những rung động chân thành từ chính trái tim, trẻ đã hình thành những biểu tượng đầu tiên về chính nghĩa lẫn mặt trái của nhân cách…Bên cạnh những bài học đạo đức là những khả năng tưởng tượng của các em “ảo giác êm đẹp” đầy quyến rũ từ những trang cổ tích.

    Tuy nhiên ở khối lớp 1,2,3 do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, tư duy còn thấp, chủ yếu dựa vào môi trường xung quanh nên người ta thường đưa vào chương trình những câu chuyện cổ tích có nội dung tương đối đơn giản, dễ hiểu và gắn liền với chủ đề chủ điểm của bài học.

    1. Nghệ thuật: Nghệ thuật nhân hóa – so sánh – hư cấu là thủ pháp sáng tạo trong hệ thống truyện cổ tích và đồng thoại, làm cho nó vừa giàu màu sắc cảm xúc vừa giàu tính ước mơ nên được các em tiếp nhận dễ dàng tự nhiên đi vào cuộc sống của bản thân tạo nên một sức mạnh nội tâm độc đáo vốn đuợc tình yêu và trí tưởng tượng cộng hưởng mà thành. Nghệ thuật quan sát và miêu tả trong cổ tích đã làm nên sự giàu có và nhận thức trong tâm hồn của trẻ thơ. Lời văn giản dị, mộc mạc, trong sáng, giàu hình tượng, giàu cảm xúc,kết cấu câu chuyện mạch lạc dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của học sinh Tiểu học.

    C . KHÁO SÁT THỰC TẾ

    –  Khảo sát đối với học sinh lớp 1,2 3 trường TH Lê Văn Tám các nội dung sau:

    1/ Hình thức khảo sát:

    1. Phiếu khảo sát:

    Phiếu khảo sát: ( mẫu 1)

    Họ và tên

    Lớp

    Em có thích truyện cổ tích không?

    Rất thích

    thích

    Không thích

    Khảo sát: ( mẫu 2)

    Họ và tên

    Lớp

    Em thích truyện cổ tích Việt Nam hay nước ngoài?
    Việt Nam Nước ngoài

    Kết quả thu được như sau:

    1. Phiếu khảo sát: ( mẫu 1)
    Lớp 1 Lớp 2 Lớp3
    TS :54em TS :62em TS :67em
    Rất thích Thích Không thích Rất thích thích Không thích Rất thích Thích Không thích
    41 12 1 47 14 1 41 23 3

    Nhận xét:

    • Từ kết quả trên cho thấy đa số các em rất yêu thích đọc, học truyện cổ tích. Khi được hỏi vì sao em thích, đa số các em cho rằng vì truyện cổ tích rất hấp dẫn có các nhân vật có thể biến hoá được, những người hiền lành luôn luôn được giúp đỡ còn những ai độc ác đều bị trừng trị.các nhân vật chính trong truyện cổ tích thường rất đẹp, hiền lành, thông minh, nhân hậu…
    • Một số em không thích truyện cổ tích thì cho rằng em thích đọc truyện tranh như Conan, Đường dẫn đến khung thành, Đô rê mon ….hơn vì những truyện này ít chữ đọc nhanh, không mỏi mắt. Khi được hỏi: “Vì sao em không chọn các sách truyện cổ tích có minh hoạ bằng tranh?”thì các em nói truyện cổ tích không hấp dẫn bằng các truyện em đang đọc. Phải chăng đây là sự dễ dãi trong việc lựa chọn sách cho con em mình của các bậc phụ huynh hay thực sự truyện cổ tích không hấp dẫn như lời một số ít em đã nói.
    Lớp 1 Lớp 2 Lớp3
    TS :54em TS :62em TS :67em
    Việt Nam Nước ngoài Việt Nam Nước ngoài Việt Nam Nước ngoài
    17 37 25 37 32 35

    – Các em thích truyện cổ tích nước ngoài đưa ra lí do chủ yếu là truyện cổ tích nước ngoài li kì , hấp dẫn hơn truyện cổ tích Việt Nam. Khi đọc dễ thu hút  hơn vì có những tình tiết và kết truyện rất bất ngờ. Còn các em thích truyện cổ tích Việt Nam thì cho rằng vì nó ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu

    1. Phỏng vấn trực tiếp

    –  Qua cuộc phỏng vấn nhanh 18 em trong độ tuổi từ 7 đến 11 tại nhà sách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột ngày 25 tháng 6 vừa qua với nội dung “ Em chọn sách nào để đọc trong dịp hè” kết quả thu được như sau:

    * 9 em chọn truyện cổ tích,

    * 4 em chọn sách khoa học

    * 2 em chọn truyện tranh nhật bản

    * 3 em chọn các loại sách khác

    -Kết quả khảo sát ý kiến độc giả trên VN Express từ ngày 3/6 đến ngày 6/7 /2009 như sau:

    2540/6229 (40,8 %) truyện cổ tích vẫn là sự lựa chọn phổ biến của các bậc phụ huynh dành cho con em mình trong bối cảnh thị trường sách thiếu nhi phong phú như hiện nay.

    Qua kết quả trên, ta nhận thấy rằng tuy truyện cổ tích vẫn là lựa chọn của số đông phụ huynh và học sinh nhưng không phải là lựa chọn duy nhất.

    Tiến hành phỏng vấn học sinh tại Trường Tiểu học Lê Văn Tám những nội dung sau:

    Câu hỏi 1: Em thích đọc loại hình truyện cổ tích nào?( Truyện kênh chữ hay vừa kênh hình vừa kênh chữ.) Vì sao?

    Với câu hỏi này thì các kết quả ở các khối lớp là khác nhau. ở lớp 1 100% các em được hỏi thích truyện cổ tích có minh hoạ, 95,6% ở lớp 2 và 87% ở lớp 3. Kết quả hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lí ở trẻ. Ở lứa tuổi Tiểu học nói chung các em tư duy chủ yếu dựa vào trực quan bằng hình ảnh tuy nhiên nếu quá phụ thuộc vào hình ảnh các em sẽ giảm khả năng tưởng tượng.

    Câu hỏi 2 : Em có thích tiết học kể chuyện không ? Vì sao ?

    Đa số các em được hỏi câu này đều có ý kiến giống nhau là rất thích. Một số em không thích vì thường tiết học này diễn ra rất nhanh, có khi không học mà chuyển thời gian đó vào nội dung ôn tập các tiết khác.

    Khi được hỏi vì sao không thích học tiết kể chuyện truyện cổ tích em Hồ Hải Anh học sinh lớp 4 nói rằng “Vì những truyện trong chương trình em đọc hết rồi. đọc đi đọc lại chán lắm, còn những truyện khác ngoài sách thì dài quá, đọc mệt”.

    Câu hỏi 3: Em có nhận xét gì về kết thúc câu chuyện Tấm Cám?( đây là câu hỏi dành cho học sinh lớp 5) có rất nhiều ý kiến khác nhau:

    • em Nguyễn Thị Yến Nhi lớp 5a1 nói: “ Em không muốn cô Tấm làm như vậy vì như vậy em thấy độc ác quá”.
    • Em Nguyễn Hữu Thịnh lại nói: “ Em thấy bình thường vì mẹ con Cám cũng phải bị đền tội cho những tội ác mà mình gây ra”
    • “Giá mà để cho người khác xử tội mẹ con cám thì thích hơn” em Trần Như Quỳnh phát biểu.

    D/ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

    Từ thực tế khảo sát trên chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau:

    1/   Bản thân người giáo viên phải phải đánh giá cao vai trò của tiết kể chuyện trong chương trình vì có như thế mới có sự đầu tư đúng mức cho phân môn này. Một nguyên nhân dẫn đến việc các em ít hứng thú nghe truyện cổ tích là một số ít giáo viên chưa sử dụng đúng mục đích của giờ kể chuyện ( căn cứ vào kết quả khảo sát và thực tế giảng dạy ở một số trường) tiết kể chuyện thường được dạy qua loa đại khái hoặc được sử dụng vào mục đích khác như ôn tập một số môn học được cho là quan trọng hơn học giải toán hoặc các em tự học… thực tế qua kháo sát em Bùi Khắc Định cho rằng : “Ở trên lớp cô đọc cho nghe có một lần rồi bảo về nhà tự đọc lại, nhiều chuyện em đọc mà chưa hiểu gì về nội dung cả”

    2/  Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tạo tâm thế tiếp nhận cho cho học sinh tức là phải tạo một không khí lớp học thật phù hợp với nội dung truyện kể. đồng thời phải giúp học sinh tiếp nhận nội dung truyện cũng như sự tác động của truyện một cách tự nhiên tránh hiện tượng gò ép

    3/   Một trong những nguyên nhân đưa đến thành công của tiết kể chuyện đó là giọng đọc giọng kể của giáo viên chính vì vậy giọng đọc giọng kể phải thường xuyên được luyện tập.

    4/  Trong quá trình của tiết học các lệnh của giáo viên đưa ra phải được mềm hoá.

    5/  Sử dụng hợp lí kênh hình:

    Nếu kênh hình được sử dụng một cách hợp lí sẽ là sự hỗ trợ tích cực cho hứng thú học, đọc truyện cổ tích cho học sinh. Đồng thời giúp hạn chế được tình trạng mỏi mắt ở trẻ. Tuy nhiên nếu quá lạm dụng kênh hình thì vô tình chúng ta làm giảm khả năng tưởng tượng của trẻ hay nói cách khác các hình ảnh có trong truyện là khuôn mẫu. Ví dụ hình ảnh cô Tấm xinh đẹp, hiền diệu sẽ mãi mãi là một cô gái mặc áo tứ thân, đội nón quai thao, mặt hoa da phấn trong các bìa minh hoạ truyện Tấm Cám hiện nay và vô hình chung các em đóng khung cô Tấm là cô gái vùng quan họ Bắc Ninh. Mặc khác nếu khi đọc truyện chỉ toàn những hình ảnh rối rắm, chất lượng in kém, câu từ sử dụng đơn điệu, bừa bãi, cộc lốc lâu dần sẽ hình thành ở các em thói quen xấu trong giao tiếp cũng như trong quá trình viết văn.

    Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên cũng phải linh hoạt sử dụng kênh hình sao cho kênh hình vừa mang tính chất hỗ trợ vừa là chất xúc tác giúp học sinh hứng thú với bài học

    Điều đáng mừng là hiện nay trên thị trường sách cho thiếu nhi đã được quan tâm đúng mức, rất nhiều đầu sách được thiết kế với mẫu mã đẹp, chất lượng giấy tốt, nội dung hay thu hút được nhiều độc giả.

    6/ Đa dạng hoá hoạt động học tập, tổ chức hoạt động ngoại khoá liên quan đến truyện cổ tích như :

    + Tổ chức thi sáng tác những kết bài khác cho truyện cổ tích.

    + Tổ chức thi vẽ tranh cho truyện cổ tích.

    + Thi thể hiện truyện cổ tích bằng cách đóng vai,diễn kịch.

    + Tổ chức thi sáng tác truyện cổ tích hiện đại.

    + Tổ chức cho học sinh xem phim cổ tích….

    Tôi nghĩ rằng qua các cuộc thi như thế ta sẽ thấy được hàng trăm hình ảnh cô Tấm, chàng Thạch Sanh khác nhau. Cũng như rất nhiều kết truyện bất ngờ thú vị mà với người lớn chúng ta khó mà nghĩ ra. Đơn cử trong cuộc thi viết lại kết truyện cho các câu chuyện cổ tích mà em yêu thích được tổ chức tại trường tiểu học Lê Văn Tám- xã Pơng Đrang- huyện Krông Búk trong năm học vừa qua em Nguyễn Mạnh Quân lớp 4a1viết lại kết chuyện cho truyện “Tấm Cám” như sau: “Thấy Tấm trẻ đẹp trắng trẻo, Cám cảm thấy ghen tức. Cám tức giận liền đi thẩm mĩ viện để sửa sắc đẹp sao cho giống y hệt Tấm rồi về nhà với sự sung sướng và tự hào về sắc đẹp của mình. Bà dì ghẻ tưởng Cám là Tấm nên đã hãm hại Cám.Về sau,dì ghẻ biết chính tay mình đã giết chết con gái nên tăng huyết áp chết ngay tại chỗ!”

    Hay em Võ Lê Như Quỳnh viết: “Sau khi biết chuyện, nhà vua bèn hạ lệnh chém đầu hai mẹ con Cám. Nhưng với lòng nhân hậu, Tấm xin vua tha tội hai người. Nhà vua y lời. Mẹ con Cám lạy tạ Tấm rồi rời khỏi hoàng cung. Quá xấu hổ cả hai không trở về làng cũ mà xuống thuyền định sang xứ khác. Nhưng, trời bất dung gian, thuyền trôi đến giữa sông, trời đang yên bỗng dưng nổi gió. Mây kéo đen mịt cả một góc trời, bão táp dâng lên ầm ĩ. Mẹ con Cám hoảng hốt hét vang:

    – Tấp vào bờ ngay đi!

    Nhưng tiếng la vừa dứt, sóng đã vỗ gãy lái thuyền, buồm rách toác, cột gãy làm đôi, thuyền tròng trành quay. Mẹ con Cám ngước mắt lên trời than:

    – Ngày xưa ta đã làm nhiều điều ác, nay trời phạt ta còn mong gì sống sót.

    Một tiếng sét nổ tung, hai mẹ con Cám văng ra khỏi mạn thuyền, sóng biển ào tới dập vào xác họ. Hai mẹ con Cám chới với một lúc rồi chìm nghỉm.”…

    7/ Giáo viên nên mạnh dạn đưa vào giới thiệu cho học sinh những tác phẩm mới vì lứa tuổi Tiểu học là lứa tuổi ưa thích cái mới  mà thực tế những truyện trong sách giáo khoa khi vừa mới mua về các em đã đọc thậm chí nhiều em thuộc cả truyện. Tất nhiên khi đưa vào giảng dạy những tác phẩm mới cần có sự quản lí của cấp trên.

    1. KẾT LUẬN

    – Với vị trí và vai trò của truyện cổ tích như đã nêu trên. cổ tích là thể loại văn học có khả năng thực hiên tốt trên hai phương diện giáo dục và giải trí. Nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, phù hợp với sự nhận thức của lứa tuổi thiếu nhi.Vì lứa tuổi thiếu nhi là lứa tuổi mà các em có nhiều ước mơ, nhiều hoài bão mong muốn được khám phá, được tìm tòi, được hiểu biết thế giới xung quanh. Bằng một ngôn ngữ giàu hình tượng, giàu cảm xúc, nhân hóa, hư cấu, bằng giọng văn trong sáng, dễ hiểu truyện cổ tích ngấm sâu vào thế giới cảm xúc của trẻ thơ, nhen lên trong trái tim non trẻ của em những tình cảm trong sáng, nhân hậu, làm cho các em biết tôn trọng, yêu thương, biết điều hay lẽ phải, biết tin yêu vào cuộc đời, khao khát khám phá hiểu biết, đưa những ước mơ bay bổng, bay cao, bay xa…Bằng cách đó, truyện cổ tích đã chuyển quá trình giáo dục thành tự giáo dục.  Chỉ cần mỗi người lớn chúng ta sưu tầm nhiều truyện cổ tích hay và dành cho cho trẻ chút thời gian là ta đã mang lại niềm vui lớn cho trẻ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Văn học dân gian Việt Nam – Lê Nhật Kí – Châu Minh Hùng

    – SGK, SGV Tiếng Việt lớp 1,2,3,4,5

    – Sách truyện đọc lớp 1,2,3,4,5

    – Báo “khoa học và đời sống” số 37(1999)

    – Giáo trình văn học dân gian Việt Nam- Lê Chí Quế ( chủ biên )

    – Truyện cổ tích thần kì với trẻ em – Chu Thị Hà Thanh.

    ———————————————————————————————————————-

    AC HÃY PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH Ý KIẾN SAU: “HỌC VHDG LÀ ĐỂ TỰ BỒI DƯỠNG NHÂN CÁCH, ĐẠO ĐỨC, TÌNH CẢM, QUAN NIỆM THẨM MỸ VÀ TRAU DỒI TIẾNG MẸ ĐẺ”

    Văn học là nhân học, là dòng sông chở đầy hương vị của cuộc đời, mà văn hóa là một trong những yếu tố đã kết tinh nên hương sắc ấy, như …… đã từng nói: “Văn hóa đó là hồn thiêng của một dân tộc, của quốc gia là những gì làm nên bản sắc của dân tộc và quốc gia”. Và biện minh cho sự tồn tại của dân tộc đó, sức sống và sự kỳ diệu của văn học dân tộc được ươm mầm trên mảnh đất sâu thẳm của văn hóa VN. Mà sâu hơn là trong chính trái tim người VN. Vì lẽ đó mới có ý kiến cho rằng: “Học VHDG là để tự bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, tình cảm, quan niệm thẩm mỹ và trau dồi tiếng mẹ đẻ”

    VHDG là bộ phận văn học của người dân sáng tác và lưu truyền  bằng hình thức truyền miệng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của bình dân. Dưới chế độ phong kiến, người dân chiếm số đông và thuộc giai cấp bình dị nên không có điều kiện học chữ, để đọc văn, học viết. Họ tự sáng tác văn học cho mình và để lại cho nền văn học dân tộc kho tàng VHDG tinh anh đồ sộ với 12 thể loại khác nhau. VHDG không chỉ thỏa mãn nhu cầu giải trí của người bình dân mà còn chứa đựng những bài học quý về đạo lý làm người. Người dân gửi gắm vấn đề này vào các sáng tác văn chương để nhắc nhở nhau bảo ban con cháu sống đôn hậu, hài hòa với cộng đồng, với người dân. Văn học là tinh hoa văn hóa của dân tộc. Ở đó hiện lên vẻ đẹp, nhân cách thanh tao của con người VN. Cho nên VHDG là để học làm người, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, thẩm mỹ. Qua văn học, ta kế thừa được kho tàng tri thức của dân tộc trên tất cả các lĩnh vực tự nhiên xã hội và con người. Nhờ các câu tục ngữ ta có thêm những kinh nghiệm sống, những bài học quý giá về lao động  sản xuất,  về các hiện tượng tự nhiên, về cách ứng xử với cộng đồng trong xã hội và với mọi người xung quanh:

    “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng”

    “Chớp đằng đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”

    “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”

    Qua đó, ta còn học được cách sống hay, sống đẹp của cha ông ta ngày trước, phải yêu tổ quốc, yêu dân tộc, yêu non sông đất nước, phải đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau. Có thể khẳng định rằng, văn học đã hướng thiện, đã dạy chúng ta cách sống, cách làm người:

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Không chỉ vậy, văn học còn là cuốn lịch sử bằng thơ. Thông qua văn học, ta còn nhận thức được tinh thần đấu tranh ngoan cường, bất khuất của cha ông về một đất nước tự do yên bình, về một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Như vậy, VHDG là văn học dân tộc, qua ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, phong phú dễ đi vào lòng người, dạy cho ta những bài học thú vị. Qua VHDG, ta còn để tấm lòng rung cảm với những số phận bất hạnh, lên án các thế lực xấu xa, đã chà đạp lên quyền sống của con người, ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, yêu lao động, những câu truyện cổ tích như  Tấm Cám, Sọ Dừa phản ánh sự chiến đấu không khoan nhượng giữa các thiện và cái ác, khẳng định vẻ đẹp và sức mạnh của con người gửi gắm nhiều ước mơ về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Đồng thời, những câu truyện trên còn cho ta bài học quý về cách lựa chọn lối sống phù hợp để trở thành người tốt, được hưởng phúc hậu, tránh hại mình hại người. Một số câu truyện cổ tích khác cũng nhằm mục đích trực diện, như những truyện ngụ ý giáo dục lòng yêu thương, khinh ghét, thưởng phạt phúc của ………… dạy chúng ta bài học luận lý một cách gián tiếp của những tật xấu, những tính ý đáng chê cười: lanh chanh……hoặc những câu chuyện về loài vật hay loài người, ta thấy việc làm đó là dại dột, hành động nào đó không phù hợp với lương tri; chẳng hạn như anh chàng đẽo cày giữa đường, con cò con trai giành nhau để chúng chài được lợi. Những câu chuyện vừa khôi hài, tiếu lâm nhằm chế giễu thói hư tật xấu, giúp con người biết đề phòng cảnh giác, bồi dưỡng lòng lạc quan yêu đời, căm ghét khinh bỉ bọn người ăn bám. Chính vì vậy, trong VHDG, ta hiểu hơn về con người VN, về đất nước VN, ta thêm tự hào khi mình là người Việt được kế thừa những truyền thống tinh hoa ấy. Ngược dòng thời gian tìm hiểu về văn học VN, ta mới thấm thía  hết vẻ đẹp ấy. Trải qua những biến động của lịch sử, văn học dân tộc vẫn tỏa sáng …văn học là chiếc nôi êm ấm, là dòng sữa ngọt ngào, là lời mẹ ru, đã thấm sâu vào tâm hồn người VN. Mẹ ru con bên nôi, trai gái tự tình bên gối gạo. Những người lái đò hát với đêm trăng, họ đã truyền từ đời này qua đời khác những câu hát tuyệt vời của họ. Ngoài ra, VHDG còn mang lại cho chúng ta sự hưởng thụ lành mạnh, bổ ích cho tâm hồn. Đặc điểm của hưởng thụ thẩm mỹ là nâng cao tâm hồn con người lên trên những dục vọng lợi ích vật chất tầm thường, giúp người đọc chia sẻ những buồn vui sướng khổ với nhân vật. Chẳng hạn đọc Tấm Cám, ta vui mừng khi Tấm được bụt giúp đỡ và Cám đã bị hại. Học VHDG, ta biết yêu kẻ này, ghét kẻ kia, hoàn toàn không dính dáng gì đến lợi ích vật chất ngoài đời. Những giờ phút sống với tác phẩm là những giờ phút tâm hồn trong sáng, thanh thản nhất. Do đó VHDG mang đến cho con người một niềm vui tinh thần hoàn toàn vô tư nhưng không bàng quan, vô trách nhiệm. VHDG còn thỏa mãn thị hiếu thẩm mỹ của người đọc bằng vẻ đẹp ngôn từ vần điệu, bằng kết cấu khéo léo, lôi cuốn của từng tác phẩm đã làm cho tâm hồn ta rung động trước những hình tượng nhân vật điển hình, trước cách cảm cách nghĩ của nhà văn về con người và cuộc đời. Những điều đó có tác dụng rất lớn trong quá trình cảm thụ, hướng tới những giá trị chân thiện mỹ của con người mà VHDG đã đúc kết được. Học VHDG làm cho tầm vóc con người lớn hơn, đời sống tinh thần phong phú trong sáng hơn. Ca dao có câu:

    Hoa tàn vì bởi mất sương

    Xanh xao vì bởi quá thương miệng cười.

    Cái liếc mắt, cái miệng cười làm cho cơ thể con người không còn chỉ là một thân xác, một sinh thể, mà trở thành một đối tượng thẩm mỹ. Thành cái đẹp và thị hiếu thẩm mỹ không phải ngẫu nhiên mà trong ca dao khi nhắc về người đẹp, chúng ta thấy nổi lên hình tượng miệng cười và cách ăn nói.

    Người bao nhiêu tuổi hỡi người

    Người bao nhiêu tuổi miệng cười nở hoa.

    Những câu ca dao ấy đã làm nên hồn người đọc bởi cái miệng cười xinh tươi của cô gái thôn quê thật thà, chất phác. VHDG như là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn người VN qua bao thế hệ. Từ thuở còn nằm nôi, chúng ta đã được nghe những làn điệu dân gian ngọt ngào đằm thắm qua lời ru của bà của mẹ. Vì thế, có thể nói ca dao có một sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với người VN bởi nó rất gần gũi với suy  nghĩ, lời nói hằng ngày của người lao động. Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao trữ tình là nơi thể hiện rõ nhất điệu hồn của 1 dân tộc. Chính vì khả năng dễ nói, dễ tiếp thu, ca dao đã đi vào đời sống nhân dân một cách tự nhiên và trong mọi hoàn cảnh. Trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê. Quê hương là cánh đồng lúa thơm mát, lũy tre xanh trải dài, dọc bờ đê là những hình ảnh thân thương nhất với mỗi con người.

    Lứa tuổi học sinh tiểu học rất cần VHDG. Và VHDG cũng rất cần cho họ. Đó là 2 mặt, 2 chiều, có quan hệ với nhau mật thiết. Trong điều kiện trước đây, khi nông thôn chưa có trường học và hầu hết trẻ em không được đi học thì tác phẩm VHDG chính là hoạt động học tập chủ yếu của họ. Đến độ vừa được đến trường, vốn ngôn ngữ và sự hiểu biết về thiên nhiên xã hội của các em đã khá, và do đó, các em có điều kiện học về VHDG nhiều hơn. Ngoài các câu đồng dao, các em còn mở rộng sự tiếp thu với nhiều thể loại VHDG khác như tục ngữ, câu đố, truyện kể đặc biệt là truyện cổ tích. Ngoài việc tiếp nhận thụ động qua lời hát, lời kể của người lớn, các em còn tham gia sinh hoạt VHDG qua kể chuyện, hát v.v… Cứ như thế, vốn VHDG của các em ngày một tăng lên, khả năng nhận thức, cảm thụ VHDG của các em ngày càng phát triển, VHDG làm cho các em phát triển vốn ngôn ngữ, tăng thêm tính tư duy, bồi dưỡng sự hiểu biết về mọi mặt. Ngày nay, các em độ tuổi tiểu học đã được đến trường. Học VHDG không còn là tài liệu giáo khoa truyền miệng duy nhất đối với các em nữa. Nhưng để đào tạo bồi dưỡng các em thành những công dân VN chân chính, phát triển toàn diện, cân đối, trong đó có một số sẽ là nhân tài của đất nước. Vì lẽ đó, nhà thi hào Macxim Gocki đã nhận định: Con người không thể sống mà không có chữ được, bởi vậy ca dao DG là  sản phẩm văn hóa tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, mỗi con người, là thần dược quý giá để con người biết sống, trở về với cội nguồn của chính mình. Đó chính là tài sản vô giá mà VHDG đã đem đến cho chúng ta.

     

    HÌNH ẢNH THIÊN NHIÊN, ĐẤT NƯỚC QUA THỂ LOẠI CA DAO, ĐỒNG DAO, THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VHVN ĐƯỢC DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

    Sách giáo khoa Tiếng Việt bậc tiểu học đã được các nhà biên soạn làm ra với những hình ảnh, những bài thơ với sức thu hút, dễ đọc, dễ hiểu dành cho lứa tuổi măng  non. Đặc biệt, một đề tài nhiều màu sắc nhất, có lẽ là đề tài về non sông đất nước Việt Nam. Có không ít bài thơ trong sách giáo khoa tiểu học đã “đi qua” 2 thậm chí 3 thế hệ trong một gia đình. Những bậc làm ông làm bà, làm cha làm mẹ, vừa vui, vừa ngạc nhiên khi gặp lại trong bài học của con, cháu mình bài thơ ngày xưa mình đã học. Ðấy là những bài thơ gần gũi với tâm hồn, với cách nghĩ của trẻ, những bài thơ đuợc viết từ nỗi rung cảm, từ tình yêu thương trẻ nhỏ của nhà thơ. Không giới hạn ở chức nang chuyển tải những bài học nhân sinh, mà cả những kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp, những kĩ năng đọc văn bản, viết chính tả, dùng từ viết câu, tập làm văn,… cùng đuợc thơ vẫn gồng gánh trên dôi vai của mình mang đến cho học sinh những bài học, những cảm xúc tươi mới,…

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    (Trích Việt Nam thân yêu – Nguyễn Đình Thi- Tiếng Việt 1, tập 2)

    Mảnh đất chữ S mang tên Việt Nam đã được mẹ thiên nhiên ưu ái dành tặng nhiều vẻ đẹp đáng trân trọng, quý giá. Từ khi cái ý niệm về thẩm mỹ xuất hiện, con người Việt Nam đã nhận ra nơi mảnh đất mình sinh sống những vẻ đẹp không thể diễn tả hết bằng lời. Những vẻ đẹp ấy không chỉ được cảm bằng ánh mắt, nhưng nó còn làm cho tâm hồn, làm trái tim của bao người phải rung động. Cách đặc biệt, vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước Việt Nam đã trở nên nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn, nhà thơ trải qua bao nhiêu thế kỷ. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã miêu tả những gì họ đã thấy, đã nghe và đã cảm bằng chính cuộc sống của mình. Những tác phẩm ấy được lưu truyền mãi cho đến ngày nay, chia sẻ cho lớp thế hệ ngày nay niềm tự hào về đất nước tươi đẹp mà chúng ta đang sinh sống. Người ta nói: “Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở hãy còn thơ ngây”. Chính vì thế, nền giáo dục Việt Nam chọn ra những tác phẩm đầy màu sắc, phù hợp để đưa vào chương trình tiểu học. Với mục đích tạo nên trong trí óc non nớt ngây thơ của các em một hình ảnh đất nước thật tươi sáng, rực rỡ. Cũng từ đó, giáo dục cho các em lòng tự hào, và nhiều bài học quý giá thông qua những cảm nghiệm từ thiên nhiên.

    Đã là con người, ai ai cũng có một quê hương. Chắc hẳn, ông bà ta sẽ có dịp tự hào vui thú khi kể cho con cháu mình nghe những ngày tháng năm xưa, về tuổi thơ của mình, về quê hương được nhớ đến là những chùm trái chín ngọt, là những buổi thả diều trên bầu trời xanh trong, là những đêm trăng sáng dưới mái hiên nhà. Nơi quê hương ấy, con người được  lớn lên cả về nhân cách lẫn tri thức. Có thể nói, quê hương giống như một người mẹ ấp ủ nuôi dưỡng con mình, để rồi, ai đi đâu cũng phải nhớ về:

    Quê hương mỗi người chỉ một

    Như là chỉ một mẹ thôi

    Quê hương nếu ai không nhớ

    Sẽ không lớn nổi thành người

    (Trích Quê hương – Đỗ Trung Quân)

    Hay như bài ca dao:

    Tiếng dừa làm dịu nắng trưa

    Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo

    Trời trong đầy tiếng rì rào

    Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra

    (Tiếng Việt lớp 1, tập 2)

    Thiên nhiên Việt Nam còn có những dòng sông êm ả, hiền hòa, mà như nhà thơ Hoài Vũ đã miêu tả tựa như dòng sữa mẹ – thật đáng yêu, đáng mến biết bao

    Đây con sông như dòng sữa mẹ

    Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây

    Và ăm ắp như lòng người mẹ

    Chở tình thương trang trải đêm ngày

    (Trích Vàm cỏ Đông – Hoài Vũ – TV3, tập 1)

    Ở đây, hình ảnh thiên nhiên Việt Nam hiện lên thật êm đềm, nhẹ nhàng, giàu tình thương mến.

    Đất nước Việt Nam dù ở phương trời nào cũng mang những nét đẹp rất riêng, rất thơ mộng. Chẳng hạn, ở Huế, có cảnh sông núi tráng lệ, hùng vĩ, hữu tình, nên thơ, gợi lên niềm tự hào về giang sơn gấm vóc, về quê hương đất nước kì thú, xinh đẹp, mến yêu

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

    (Ca dao – TV3, tập 1)

    Đường vào xứ Nghệ nước non nhộm màu xanh tươi mát, còn đường vào miền Nam là sông nước mở rộng mênh mang:

    “Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”

    (Ca dao – TV3, tập 1)

    Mỗi địa danh, mỗi dòng sông, mỗi cánh đồng, ngọn núi đã in đạm bóng hình trong trái tim người Việt Nam. Người ta gắn bó với quê hương bằng một tình yêu sâu đậm, nồng nàn và ca dao chính là bức thông điệp dể gửi gắm những tình cảm thiết tha, nồng nàn đó.

    Nơi kinh thành Thăng Long – miền bắc nước ta- lại có một bức tranh tuyệt đẹp về cảnh mùa thu vào buổi sáng sớm. Cảnh đẹp thật gợi cảm, gợi tình trong khí thu mát mẻ trong lành. Câu thơ có màu xanh của trúc, khe khẽ của gió, và đương nhiên khí thu, tiết thu, bầu trời khoáng đạt, những cánh diều vi vu trên không, đằng sau những cành trúc la đà là tiếng oanh vàng thánh thót.

    Gió đưa cành trúc la đà,

    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.

    Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

    (Ca dao – TV 3, tập 1)

    Một hình ảnh khác không thể không nhắc đến khi nói đến Việt Nam, đó là hình ảnh về một loài hoa trinh khiết, dịu dàng, nó còn mang đến cho con người bài học về nhân cách con người. Làm người phải có nhân bản, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người cũng phải làm sao để tỏa ngát hương thơm nhân đức, tựa như loài hoa “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” trong bài ca dao “Hoa sen”

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng

    Nhụy vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

    (TV1, tập 2)

    Đúng vậy, hoa sen chẳng ở nơi thanh cao. Nó mọc và sống ở nơi đầm lầy, nhưng vẫn giữ được mùi thơm nhè nhẹ, quyến rũ lòng người. Còn những loài hoa khác, chẳng hạn như hoa đào, hoa mai. Chúng lại có một nét đặc trưng khác. Chúng làm cho cảnh sắc thiên nhiên, đất trời Việt Nam thêm hương sắc mới khi mỗi dịp xuân về:

    Hoa đào ưa rét

    Lấm tấm mưa bay

    Hoa mai chỉ say

    Nắng pha chút gió

    Hoa đào thắm đỏ

    Hoa mai dát vàng

    (TV1, tập 2)

    Tất cả những bài thơ, bài ca dao ấy mang đầy màu sắc, tạo cho tuổi thơ học trò các em được tô điểm thêm dưới cái nhìn trẻ thơ.

    Tuy được mẹ thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh sắc là thế. Nhưng không phải là đất nước Việt Nam không phải gánh chịu những khắc nghiệt của thiên nhiên: những cơn lũ, những đợt gió lốc, hay những cái nắng đến cháy da. Như địa danh Phan Rang đã được người dân đọc trại ra để nói về cái khắc nghiệt của khí hậu nơi đây rằng: “gió như phang, nắng như rang”

    Mưa tháng 7 gãy cành trâm

    Nắng tháng 8 rám trái bòng

    Đất nước Việt Nam là thế: có đầy đủ những cái nắng, những cơn mưa; những khi dịu dàng, nhưng cũng có khi bão tố. Dù thế nào đi nữa, con người Việt Nam vẫn yêu lắm mảnh đất thân thương – nơi mình đang sinh sống. Bởi mảnh đất ấy đã gắn bó cùng con người đi qua biết bao gian khổ, hào hùng của dân tộc. Qua bao biến cố thăng trầm, thiên nhiên vẫn cùng với con người chiến đấu đến cùng

    Đất nghèo nuôi những anh hùng

    Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên

    Đạp quân thù xuống đất đen

    Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa

    (Trích Việt Nam thân yêu – Nguyễn Đình Thi)

    Mảnh đất ấy đã nuôi lớn bao thế hệ anh hùng. Con người đã đổ máu mình ra để bảo vệ mảnh đất quê hương, và chính mảnh đất ấy cũng đã hy sinh, đã lưu giữ lại biết bao dấu tích anh hùng. Có thể nói, thiên nhiên Việt Nam tuy mang nhiều nét đẹp dịu dàng, thanh thoát. Nhưng trong những cuộc chiến đấu, thiên nhiên cũng cùng nổi dậy đấu tranh như có câu: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”

    Tre xanh

    Xanh tự bao giờ?

    Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh

    Thân gầy guộc, lá mong manh

    Mà sao nên lũy nên thành tre ơi

    (Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy – TV4, tập 1)

    Vâng, tre xanh nơi thôn quê hiền hòa là thế. Vào những buổi chiều, trong cơn gió nhẹ, tre chỉ reo lên những tiếng xào xạc, hoặc ngân lên những giai điệu ngọt ngào theo điệu hát từ những cây sáo trúc. Trông bề ngoài, tre mảnh mai, mong manh là thế. Nhưng tre đã trở nên mạnh mẽ biết bao trong kháng chiến. Hơn thế nữa, tre cũng để lại cho thế hệ sau của mình là những búp măng non nhiệt huyết của chính mình. Tre vẫn giữ mãi màu xanh, luôn vươn mình đứng vững dù qua bao thế hệ.

    Măng non là búp măng non

    Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre

    Năm qua đi, tháng qua đi

    Tre già măng mọc có gì lạ đâu

    (Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

    Tre và măng đã truyền lửa cho con người. Bài thơ Tre Việt Nam được đưa vào chương trình tiểu học như để nhắc nhớ cho con người Việt Nam và đặc biệt các thế hệ măng non về lịch sử hào hùng của dân tộc, và như muốn nói với các em học sinh rằng: hãy luôn luôn giữ mãi những nét đẹp ấy đến muôn đời.

    Mai sau,

    Mai sau,

    Mai sau,

    Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh

    (Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

    Thật khó có thể hình dung được, nếu trong chương trình giáo dục tiểu học lại thiếu đi những câu ca dao, đồng dao, thơ miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên, đất nước. Bởi cùng với sự hướng dẫn của thầy cô giáo, những câu ca dao, đồng dao ấy thật cần thiết, và cũng thật phù hợp với ngôn ngữ của lứa tuổi ấy, nhằm giáo dục cho các em về thẩm mỹ, đạo đức, về tri thức, và cả về niềm tự hào để các em có thể phát triển toàn diện, trở thành những người tài đức vẹn toàn giúp ích cho tương lai nước nhà.

    ———————————————————————————————————————

    CĂN CỨ VÀO ĐÂU ĐỂ CHIA LỊCH SỬ VĂN HỌC VIẾT VN THÀNH 2 THỜI KỲ LỚN:VH TRUNG ĐẠI VÀ VH HIỆN ĐẠI? SỰ KHÁC BIỆT CƠ BẢN CỦA HAI THỜI KỲ VĂN HỌC? VẼ SƠ ĐỒ PHÂN KỲ CỦA VĂN HỌC VIẾT VN?

    1. Căn cứ:
    • Phân kỳ vừa theo vương triều vừa theo thời đại.
    • Phân kỳ theo thời gian bằng cách dựa trên chặng đường lịch sử, sự kiện lịch sử.
    • Phân kỳ theo chặng đường phát triển của chính văn học
    • Phân kỳ theo các thời kỳ lớn gắn với các hình thái xã hội trong lịch sử dân tộc
    • Về mặt khoa học, thì có 2 phương diện liên quan đến sự phân kỳ
    • Sự chi phối của xã hội, của lịch sử đối với sự tồn tại, phát triển của văn học.
    • Bản thân sự vận động của chính văn học theo thời gian
    1. So sánh

    Giống nhau:

    – Nội dung: – cùng thể hiện tình cảm, tư tưởng của tác giả ( nói lý luận văn học; tp là tiếng nói tư tưởng, tình cảm của tác giả, là đứa con tinh thầm, vậy nên nó luôn chứa đựng …)

    – Bao gồm ba nội dung chính nhân đạo ,hiện thực, yêu nước

    – Nghệ thuật: cùng có nhiều thể loại đa dạng

    Khác nhau:

    Tiêu chí so sánh Văn học trung đại VH hiện đại
    Nội dung Văn học trung đại là một cách gọi tên mang tính qui uớc, đó là một giai đoạn mà văn học hình thành và phát triển trong khuôn khổ của nhà nuớc phong kiến Việt Nam (Văn học thời phong kiến, văn học cổ) duợc xác dịnh từ thế kỷ X (dấu mốc cho sự ra đời của nhà nước phong kiến Việt Nam dầu tiên) đến hết thế kỷ XIX.

    – Văn học trung đại có vai trò vị trí rất quan trọng bởi đây là mốc đầu tiên, chặng đuờng đầu tiên của văn học. Về sau này các đặc tính của văn học hiện đại dều bắt nguồn từ văn học trung đại.

    – Nội dung tư tuởng của văn học trung đại có tính chất bao trùm nên nền van học dân tộc như phản ánh lòng yêu nuớc, lòng căm thù giặc, đòi quyền sống, quyền làm nguời… Sau này văn học hiện đại đều phản ánh rất sâu sắc những nội dung trên, tuy nhiên do tư duy của hai thời kỳ khác nhau, nhu cầu phản ánh khác nhau nên phương thức biểu đạt cũng khác nhau.

    Nội dung của văn học hiện đại đa dạng hơn văn học trung đại do có sự bùng nổ của cái tôi cá nhân từ 1930-1945 và sự giác ngộ lý tưởng từ sau cách mạng. Nó không chỉ dùng để tỏ chí, tỏ lòng (vhtđ) mà còn diễn tả nhiều góc khuất, khía cạnh của cuộc sống mà văn học trung đại không hoặc không được phép đề cập tới (bị kìm kẹp). có những tp đôi khi chỉ là một lát cắt rất nhỏ của cuộc sống như tản văn, thứ mà đôi khi bị cho cho là vô nghĩa trong xhpk. vhhđ đi sâu vào diễn tả nội tâm con người, thế giới bên trong,nhìn những giá trị cũ bằng một con mắt và từ một góc nhìn khác
    Nghệ thuật – Mang tính ước lệ tượng trưng, có các điển tích điển cố…=> phong cách cổ,cũ, tuân theo cái truyền thống, những cái được định sẵn(khác với vhhđ)

    -Mang tính qui phạm( tức là qui củ ấy), bó buộc: thể hiện ở các thể loại có vần luật chặt chẽ như thơ đường, thất ngôn tứ tuyệt, hịch, cáo, chiếu, biểu…

    Quan điểm nt ở vhhđ có cái nhìn rộng mở, phóng khoáng hơn, không bị ràng buộc bởi lễ giáo, qui củ. Các tg chủ trương thể hiện cái tôi cá nhân của mình một cách trực tiếp, điều ít thấy ở xhpk
    Thể loại Các thể loại chặt chẽ như đã nêu trên, các thể loại truyền thống như ca dao, tục ngữ, các dạng văn như lục bát, song thất lục bát=> tạo ra dấu ấn riêng cho vh việt nam

    Các thể loại văn vần như hịch cáo chiếu biểu cũng mang nhiều quy phạm với câu văn dài, có vần như thơ, đối xứng, có các hình ảnh ước lệ, tượng trưng

    Đa dạng hơn, có thêm truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, tuỳ bút… giúp nhà văn tự do thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình
    thơ có nhiều phá cách về vần luật, số lượng câu chữ, hình ảnh, nhiều thể thơ mới ra đời, đặc biệt là thơ tự do mang phong cách hoàn toàn mới.

    Truyện thay đổi về dung lượng (có thể rất ngắn hoặc rất dài), phong cách viết,cách dùng văn. câu văn không còn dài như trước, có các hình ảnh hiện đại .

    Quan niệm văn chương Viết văn nhằm thể hiện đạo lý. Sáng tác thơ để nói rõ ý chí Văn chương là nghệ thuật, đi tìm và sáng tạo cái đẹp
    Quan niệm thẩm mỹ Hướng về cái đẹp quá khứ, thiên về cái đẹp cao cả, tao nhã Hướng về cuộc sống hiện tại, đề cao vẻ đẹp con người
    Đội ngũ sáng tác Các nhà nho Tri thức tây học mang tính chuyên nghiệp
    Hình thức chữ viết Viết bằng chữ Hán, chữ Nôm Viết bằng chữ quốc ngữ
    Minh chứng bằng tác giả, tác phẩm, thời gian ra đời Nguyễn Trãi – Nam quốc sơn hà

    Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    Nam Cao, Chí Phèo

    Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

    1. Sơ đồ phân kỳ

    Văn học trung đại                    văn học hiện đại

    TK X                                       1900        1930        1945        1975

    ———————————————————————————————————————

    SO SÁNH VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC VIẾT

    VHDG VHV
    Giống nhau – Cà VHDG và VHV đều là 2 bộ phận hợp thành của Văn học Việt Nam
    – VHDG và VHV đều là sản phẩm tinh thần của con người Việt nam xây dựng nên
    – VHDG và VH viết đều có những thể thơ giống nhau và cùng có 2 nội dung lớn: Yêu nước và Nhân đạo
    Khác nhau Nguồn gốc Có từ rất lâu đời, có trước VH viết Có từ thế kỷ thứ X , sau VHDG
    Lực lượng sáng tác Tập thể nhân dân lao động (không có tên tác giả) Đội ngũ trí thức mang tính cá nhân (Có tên tác giả)
    Hình thức lưu truyền Truyền miệng. Quá trình truyền miệng vẫn tiếp tục kể cả khi tác phẩm VHDG đã được ghi chép lại Chữ viết (Hán, Nôm, Quốc ngữ)
    Nội dung Là kho tàng tri thức (tự nhiên, xã hội), là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm đối nhân xử thế… của ông cha ta “Thi dĩ ngôn chí, văn dãi tải đạo” (Làm thơ là để nói lên cái chí , viết văn là để chở đạo lý làm người)
    Thể loại Chia làm 4 nhóm:

    – Truyện dân gian (Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn,…)

    – Câu nói dân gian (tục ngữ)

    – Thơ ca dân gian (ca dao, vè)

    – Sân khấu dân gian (chèo).

    Phong phú và đa dạng hơn VHDG :

    + VH Trung đại : có các thể loại : Chiếu, chỉ, cáo, hịch, tấu, sớ, văn bia, văn tế, hành, hát nói, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, tiểu thuyết chương hồi, thơ Đường luật (thất ngôn, ngũ ngôn,…)….

    + VH hiện đại : ngoài 1 số thể thơ của VH Trung đại còn hiện hành thì VH Hiện đại có các thể loại : TỰ SỰ (truyện ngắn , truyện dài, tiểu thuyết, ký sự, bút ký, phóng sự, tản văn, điếu văn….) ; TRỮ TÌNH (thơ ca các loại : lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn, Thơ Mới, thơ tự do, thơ văn xuôi,…) ; KỊCH (bi kịch, hài kịch, kịch lịch sử)

    Ví dụ Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Hoặc:

    Muốn sang thì bắc cầu Kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

    (TV5, tập 2, trang 92)

    Bài Tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật (TV4)

    ———————————————————————————————————————-

    NX VỀ CÁCH SẮP XẾP VHVN TRONG CHƯƠNG TRÌNH SGK TIẾNG VIỆT CHƯƠNG TRÌNH BẬC TIỂU HỌC

    Văn học có tác dụng tích cực trong việc làm giàu tâm hồn, phong phú hoá tình cảm, rèn luyện tính cách, nhân cách con người, có ý nghĩa giáo dục rất lớn về thẩm mĩ, về lòng yêu con người, yêu quê hương đất nước… Tác phẩm văn học có tác dụng giáo dục rất lớn trong việc hình thành nhân cách, tâm hồn trẻ, có vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ thơ nói chung và dạy học ở tiểu học nói riêng. Chúng mang lại cho các em những bài học nhân sinh nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng cũng không kém phần tế nhị, sâu sắc, hơn rất nhiều so với những lời giáo huấn khô khan, khiên cưỡng. Chính vì lý do đó mà các tác phẩm VHVN đã được chọn lọc và đưa vào chương trình giáo dục tiểu học

    – Những tác phẩm được dạy trong chương trình tiếng Việt tiểu học thường là tác phẩm trọn vẹn hoặc trích đoạn (chiếm đa số) của các tác giả Việt Nam và thế giới. Độ dài tác phẩm từ 70 tiếng (lớp 1) đến 10 trang (truyện kể dân gian ở lớp 5).

    – Đa phần đều mang phong cách trẻ thơ, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của độc giả nhỏ tuổi nhằm giáo dục cho các em các giá trị nhân văn, tinh thần hướng thiện, lòng say mê cái đẹp, những hiểu biết về văn hoá xã hội… thông qua con đường tiếp thu lẫn phê phán.

    – Tác phẩm vừa đến với các em một cách trực tiếp (khi các em tự đọc), vừa gián tiếp, tích cực: thông qua vai trò trung gian, qua sự phân tích, hướng dẫn, gợi ý, gợi mở của người giáo viên.

    – Văn, thơ trong nhà trường tiểu học là một trong những công cụ giáo dục đặc biệt với sự tác động của môi trường đặc thù (trường học, lớp học) và dưới sự dẫn dắt của giáo viên, sự khống chế về thời gian (tiết học) và sự quy định chặt chẽ của tính chất văn bản – tác phẩm (có giờ học thơ, có giờ học truyện, kịch…) Đó vừa là phương tiện, công cụ nhận thức, vừa là đối tượng thẩm mĩ của những độc giả đặc biệt – học sinh.

    – Thường xoay quanh các chủ điểm: gia đình, nhà trường, quê hương, đất nước, măng non, Bác Hồ kính yêu,…

    – Sự đa dạng về thể loại, đề tài, nội dung phản ánh…

    => Đặc trưng của một tác phẩm văn học thiếu nhi trong nhà trường tiểu học:

    – Vừa đáp ứng được cả phần văn, vừa phải là công cụ để các em học tập phần tiếng, vừa phải là một văn bản mẫu mực, vừa là sự gợi mở để các em tiếp tục sáng tạo theo sự hiểu biết của mình.

    – Mở mang kiến thức, sự hiểu biết của trẻ về tự nhiên và xã hội, xây dựng cho các em những tình cảm đẹp, lối sống đẹp, cách cư xử, quan hệ trong đời thường và trong các mối quan hệ xã hội khác.

    – Góp phần nâng cao khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ, phát triển vốn ngôn ngữ mà còn góp phần tạo ra chất văn cho các em.

    – Vừa phải đảm bảo tính sư phạm, vừa phải đảm bảo tính khoa học, vừa phải là “văn mẫu” vừa là cơ sở để các em tưởng tượng, sáng tạo theo trình độ, vốn sống, sự hiểu biết của mình.

    => Có thể nói, văn học thiếu nhi trong nhà trường tiểu học là cuốn bách khoa toàn thư, giúp các em có chiếc chìa khóa phù hợp nhất mở cánh cửa cuộc đời và bước vào một cách tự nhiên. Phần lớn chúng đều thấm đượm sâu sắc chủ nghĩa nhân văn, tinh thần nhân đạo, có tác dụng quan trọng trong việc hình thành nên bản sắc của con người Việt Nam trong thời đại mới.

    Đối với chương trình của học sinh lớp 1. Các em chỉ mới làm quen với những chữ cái, tập đọc những cụm từ ngắn gọn. Những bài ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, thơ hoặc đoạn trích thơ có minh họa; văn xuôi hoặc đoạn trích có minh họa (độ dài khoảng 70 tiếng); truyện cổ dân gian (cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn…) (độ dài từ 1 đến 2 trang) vui, giản dị, dễ hiểu của dân tộc và thế giới viết về thiên nhiên, con vật, nhà trường, gia đình, thiếu nhi, đất nước… có tác dụng giáo dục nhân cách và cung cấp những hiểu biết thú vị về đời sống.

    Ví dụ:

    *Tháng chạp là tháng trồng khoai

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà

    Tháng ba cày vỡ ruộng ra

    Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng

    * Khôn ngoan đối đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    *Đồng dao: Cái Bống

    Cái Bống là cái bống bang

    Khéo sảy, khéo sàng cho mẹ nấu cơm

    Mẹ Bống đi chợ đường trơn

    Bống ra gánh đỡ chạy cơn mưa ròng

    *Ca dao: Hoa sen

    *Câu đố:

    Con gì bé tí

    Chăm chỉ suốt ngày

    Bay khắp vườn cây

    Tìm hoa tìm mật?

    *Truyện ngụ ngôn: Con quạ thông minh (Laphongten)

    *Thơ: Ngôi nhà (Tô Hà)

    Em yêu ngôi nhà

    Gỗ, tre mộc mạc

    Như yêu đất nước

    Bốn mùa chim ca

    Lớn lên thêm 1 năm nữa. Khi bước vào lớp 2, các học sinh học ca dao, đồng dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, thơ hoặc đoạn trích (có minh họa); các bài văn hoặc đoạn trích (có minh họa) (khoảng 150 tiếng); các truyện kể dân gian (độ dài từ 2 đến 3 trang)…

    *Truyện Ông Mạnh thắng thần Gió (Phỏng theo A-nhông, Hoàng Ánh dịch)

    *Thơ: mưa bóng mây – Tô Đông Hải

    Cơn mưa nào lạ thế

    Thoáng qua rồi tạnh ngay

    Em về nhà hỏi mẹ

    Mẹ cười: “Mưa bóng mây”.

    *Vè dân gian: Vè chim

    Hay chạy lon xon

    Là gà mới nở

    Vừa đi vừa nhảy

    Là em sáo xinh

    Hay nói linh tinh

    Là con liếu điếu

    Hay nghịch hay tếu

    Là cậu chìa vôi hay chao đớp mồi

    Là chim chèo bẻo

    Tính hay mách lẻo

    Thím khách trước nhà

    Hay nhặt lân la

    Là bà chim sẻ

    Có tình có nghĩa

    Là mẹ chim sâu

    Giục hè đến mau

    Là cô tu hú

    Nhấp nhem buồn ngủ

    Là bác cú mèo…

    *Truyện: Cò và Cuốc (Theo Nguyễn Đình Quảng)

    *Ca dao:

    Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

    Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu

    *Truyện cổ tích: Chuyện quả bầu (Truyện cổ Khơ-mú)

    Ở lớp 3, học sinh học các tác phẩm văn học dân gian, những đoạn trích hay những bài văn, thơ trọn vẹn của dân tộc và thế giới, có độ dài khoảng 200 tiếng – với bài văn xuôi, 2 đến 6 trang với các truyện đọc. Ý nghĩa của bài học tuy vẫn được nói rõ ra, nhưng so với văn bản lớp 2  đã phức tạp hơn.

    *Truyện cổ VN: Cậu bé thông minh

    *Truyện nước ngoài: Ai có lỗi (Theo Amixi, hoàng Thiếu Sơn dịch)

    *Ca dao:

    Gió đưa cành trúc la đà,

    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.

    Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

    Người trí thức yêu nước (Theo Đức Hoài –nói về Đặng Văn Ngừ)

    Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử

    Ngọn lửa Olympic (những mẩu chuyện lịch sử thế giới)

    Trong chương trình lớp 4, học sinh đọc những đoạn trích hay tác phẩm trọn vẹn của văn học dân tộc và thế giới, độ dài khoảng 250 tiếng, có nội dung phong phú và phức tạp hơn các lớp 1, 2, 3.

    VD: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu (Tô Hoài) (TV4- tập 1)

    Người ăn xin (Tuốc ghê nhép)

    Tre Việt Nam (Nguyễn Duy – TV4, tập 1)

    Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật – TV4, tập 2)

    Lên lớp 5, các em đã trở thành những anh chị của khối tiểu học. Các em đã có được vốn từ khá, có suy nghĩ, hiểu biết hơn. Nên do đó, các em cũng cần được học rộng hơn về những tác phẩm dài hơn, phức tạp hơn và tinh tế hơn, các thể loại có nội dung như lớp 4. Chú ý hơn đến các tác phẩm vui, hài hước. Bổ sung thể loại kịch với 1, 2 tác phẩm đơn giản. Độ dài văn bản khoảng 300 tiếng với bài tập đọc, 3 đến 10 trang với các truyện kể dân gian, hiện đại.

    VD: Kịch: Lòng dân (TV5, tập 1)

    Người gác rừng tí hon (TV5, tập 1)

    Thầy thuốc như mẹ hiền (TV5, tạp 1)

    Luật tục xưa của người Ede (TV5, tập 2)

    Thơ: Đất nước (Nguyễn Đình Thi- TV5, tập 2)

    Có thể nói, văn học Việt Nam là một bộ phận cấu thành sách giáo khoa tiếng Việt của bậc tiểu học. Văn học Việt Nam gồm 2 bộ phận chính là văn học dân gian và văn học viết. Và văn học viết được chia thành 2 phân kỳ, là phân kỳ văn học trung đại và văn học hiện đại. Do hạn chế về suy nghĩ, nhìn nhận và nhất là ngôn ngữ của học sinh tiểu học, nên chương trình văn học Việt Nam khi đưa vào bậc tiểu học, đa số chỉ được chọn lọc từ các tác phẩm dân gian và trong giai đoạn văn học hiện đại, chứ không có tác phẩm văn học trung đại. Nhưng thiết nghĩ, từng ấy cũng đã đủ để qua các tác phẩm, dưới sự dẫn dắt của thầy cô giáo, các em được lớn lên về nhân cách, đạo đức, được giáo dục về tính thẩm mỹ, kinh nghiệm sống, quan điểm, và giúp các em trau dồi tiếng mẹ đẻ.

    ——————————————————————————————————————–

    AC HÃY PT VÀ CMR VHVN ĐÃ SÁNG TẠO CÁI ĐẸP MANG BẢN SẮC RIÊNG CỦA DÂN TỘC VN

    Đề bài Dùng hiểu biết của mình để làm sáng tỏ nhận định: Văn học Việt Nam đã thể hiện chân thực, sâu sắc đời sống tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng.
    A.Mở bài

    Không hiểu vì sao cứ mỗi lần nghĩ đến đất nước và con người VN ,chúng ta lại nghe vang vọng trong tâm trí mình những câu thơ của Huy Cận :

    “ Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững

    Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa

    Trong và thực , sang hai bờ suy tưởng

    Sống hiên ngang mà nhân ái, bao dung.”

    Sảng khoái biết bao! Tự hào biết bao! Trong tâm trí ta bỗng cuồn cuộn đổ về dòng lịch sử hang ngàn năm của dân tộc. Bừng sang trong tâm hồn của cha ông ta là công cuộc lao động , là chiến công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc , là trời bể ân tình thủy chung như nhất , yêu thương đùm bọc lẫn nhau của những người quen đứng đầu song ngọn gió , chống mọi thế lực thù địch. Qua bao phong ba của lịch sử , dân tộc ta đã thể hiện một sức sống mãnh liệt “ Lưng đeo gươm , tay mềm mại bút hoa” .Quả thật văn học dtộc là một thứ máu của Tổ quốc . Dòng máu văn học ấy chảy và thắm vào tâm hồn chúng ta hôm nay với một sức sống rạo rực mãnh liệt . Yêu biết bao nền văn học ấy , nền văn học mà nội dung cũng như hình thức đều phản ánh chân thực , sâu sắc tư tưởng , tình cảm và sức sống , sự vươn lên của con người VN trong nhiều mối quan hệ đa dạng.

    B.Thân bài 

    1.Văn học trong quan hệ với thế giới tự nhiên

    Sức sống ấy bắt đầu bằng mối quan hệ gần gũi,gắn bó với thế giới tự nhiên vô cùng chân thực , sinh động và độc đáo.Mỗi mảnh đất quê hương chúng ta đều mang hơi thở cuộc sống của những ngày cha ông gian khổ khẩn hoang vỡ đất để xây dựng non sông đất nước tươi đẹp và tích lũy nhiều hiểu biết phong phú , sâu sắc về thiên nhiên. Dưới hình thức của tư duy huyền thoại , các tác phẩm dân gian đã vô tình trở thành cây đàn muôn điệu của tâm hồn nhân dân , nhất là những người lao động VN. Con người VN đổ mồ hôi , xương máu gắn chặt tâm hồn mình với mảnh đất thiêng liêng ấy. Thiên nhiên đất nước giàu đẹp nhưng cũng lắm thử thách , hăm họa rình rập theo mỗi bước đi lên của con người VN . Mặc dù vậy , cái tình ta yêu đời , cái tình ta yêu cuộc sống , gian khổ mấy cũng vui được , cái vui vừa ngời chói , vừa trong sang lạ lùng .Với quy mô hoành tráng , sử thi thần thoại “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường đã tái hiện lại những hồi ức thô sơ nhưng hấp dẫn về một cộng đồng người trong quá khứ xa xưa vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển . Hay câu chuyện truyền thuyết “ Sơn Tinh- Thủy Tinh” ngàn năm rồi vẫn sống trong long dân tộc , âm vang dữ dội , phản ánh những cố gắng không mệt mỏi của người Việt cổ để chiến thắng nạn lũ lụt ở đồng bằng Bắc Bộ . Truyện đề cao sức sống mạnh mẽ của loài người và phần nào giải thích hiện tượng lũ lụt hang năm. Ngoài ra , nhân dân lao động cũng tích lũy được khá sâu sắc về tự nhiên , thiên nhiên dưới hình thức những câu nói cô đúc . Những triết lí , trí tuệ trong tục ngữ bắt rễ từ cuộc sống sinh động phong phú nên nội dung cũng như hình thức của tục ngữ không khô khan mà nó vẫn như cây đời xanh tươi . Tục ngữ VN có rất nhiều chủ đề trong đó nổi bật là những câu tục ngữ về thiên nhiên , lao động sản xuất , về con người và xã hội :

    “ Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang

    Bao nhiêu tấc đất , tấc vàng bấy nhiêu.”

    Hay

    “ Nhất nước , nhì phân , tam cần , tứ giống”

    Do điều kiện nền kinh tế nông nghiệp trồng cây lúa nước nên nhân dân ta hiểu rõ được giá trị của đất . Nói “tấc đất , tấc vàng” là vì sao? Vì đất là nơi ta ở , nơi ta sản xuất. Qua bàn tay và trí tuệ , tinh thần lao động , từ một mảnh đất cỏn con , chúng ta có thể làm ra lúa gạo , làm ra của cải , đem lại cuộc sống ấm no . Do đó , đất chính là vàng , một loại vàng sinh sôi và phát triển . Cùng với cách nhìn nhận , đánh giá giá trị của đất , cha ông ta cũng đã đúc kết bốn khâu quan trọng nhất trong quá trình làm ra cây lúa , hạt gạo trên đồng ruộng VN .Với con người Vn từ thuở xa xưa , thiên nhiên còn là người bạn thân thiết , Tình yêu thiên nhiên là một nội dung quan trọng của văn học VN . Trong ca dao , dân ca hiện lên những hình ảnh tươi đẹp , đáng yêu của thiên nhiên VN với đồng lúa , cánh cò , cây đa , bến nước , ánh trăng……

    “ Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.”

    Dưới hình thức ca dao tỏ tình , ví ghẹo , con người giãi bày tâm sự của mình với quê hương , đất nước .Vẻ đẹp của thiên nhiên , vẻ đẹp của lòng người quyện vào nhau trong câu ca dao mượt mà , khơi lên và chảy đằm thắm trong long ta một sức sống vừa bền bỉ ,vừa rạo rực ,mãnh liệt . Con người VN yêu lao động , biết quý vô cùng những giot mồ hôi mình đổ ra để chắt chịu xây dựng cuộc sống . Hình ảnh ấy ở mỗi miền quê lại có vẻ đẹp riêng say đắm long người . Nó không phải là riêng của ai mà nó là tiếng hát của tất cả mọi người đang sống ,đang ngày đêm lao động. Đến với văn thơ thời trung đại (từ thế kỉ 10 đến hết thế kỉ 19) , hình ảnh thiên nhiên đã có bước phát triển mới , nó không chỉ gắn liền với những gì gần gũi , thân thuộc của thế giới xung quanh mà còn gắn với lí tưởng đạo đức , thẩm mĩ . Hình tượng những cây tùng , trúc , cúc,mai tượng trưng cho khí tiết thanh cao của nhà nho chân chính .Còn với những bậc hiền nhân đó là:

    “ Trong ghềnh thông mọc như nêm,

    Tìm nơi bong mát ta lên ta nằm.

    Trong rừng có bóng trúc râm,

    Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn .

    ( Côn Sơn ca – Nguyễn Trãi)

    Hình ảnh những am mây , rừng cây , suối vắng (chốn lâm tuyền) ,rừng thông , núi trúc……thể hiện lí tưởng ẩn dật , thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường . Trong văn học hiện đại , tình yêu thiên nhiên thể hiện ở sự gắn bó với quê hương ,đất nước , ở tình yêu cuộc sống đặc biệt ở tình yêu lứa đôi . Tình yêu thiên nhiên trong VH có ý nghĩa biểu hiện nhân cách , thấm nhuần một tinh thần nhân văn cao quý.ư
    2.Văn học trong lịch sử dân tộc

    Rồi cũng bước qua những ngày tháng chống thiên nhiên hung dữ , văn học cùng cha ông ta bước vào thời kì bảo vệ Tổ quốc , chống giặc ngoại xâm . Lịch sử dân tộc ta là lịch sử của những năm tháng con người VN đem xương máu của mình bảo vệ độc lập của dân tộc . Con người VN được tôi luyện và lớn lên không ngừng với cuộc chiến đấu chống ngoại xâm dai dẳng và quyết liệt . Buổi cha ông dựng nước cũng chính là buổi cha ông giữ nước . Những bàn tay biết cầm quốc , cái cày vỡ đất ấy cũng chính là những bàn tay vô cùng kiên quyết , dữ dội biết cầm vũ khí đánh giặc để bảo vệ vững chắc thành quả lao động của mình . Câu chuyện “ Thánh Gióng “ làm sống mãi trong tâm tư mỗi con người VN ý chí quyết chiến , quyết thắng quân xâm lược . Từ lòng yêu nước , con người VN này sinh long căm thù , giặc cướp nước . Đến một độ nào đó long căm thù ấy bùng lên , con người VN vụt trở mình lớn dậy cùng với hình tượng Thánh Gióng , cùng cây tre quê hương xung phong diệt giặt . Sức mạnh của long yêu nước , của ý chí căm thù là sức mạnh vô địch . Sức mạnh ấy bắt nguồn từ Thánh Gióng xa xưa và đã cuồn cuộn chảy trong mạch nguồn dân tộc ,làm nên một sức mạnh nội tại mãnh liệt không ngừng tăng lên , lớn lên mãi . Lịch sử những cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đã sớm hình thành trong tâm trí con người VN một sự thống nhất tuyệt đẹp. Thống nhất là sự sống , là sức sống của Tổ quốc ta . Truyền thuyết đẹp về chín mươi chín voi quay đầu về mộ tổ vua Hùng , một con không chịu chầu liền bị chém cụt đầu đã chứng minh hung hồn chân lí đó. VH dân gian chúng ta có một ngạn ngữ được coi là phương châm sống : “ Giặc đến nhà ,đàn bà cũng đánh”. Ý chí đánh giặc đã sớm nhập tâm và dường như đã trở thành cái phần bẩm sinh trong mỗi con người VN.Cha ông chúng ta mỗi khi thấy vó ngựa của quân thù khua ngoài biên ải thì “ tới bữa quên ăn , nửa đêm vỗ gối , ruột đau như cắt , nước mắt đầm đìa ,chỉ căm tức rằng chưa xã thịt lột da nuốt gan , uống máu quân thù” ( Hịch tướng sĩ- Trần Quốc Tuấn) ngày đêm canh cánh ý chí giết giặc. Núi sông ta cũng đã từng rung chuyển bởi tiếng hô “ quyết đánh” của hội nghị Diên Hồng và ý chí “ Sát Thát” của hào khí Đông A vang động chiều dài lịch sử dân tộc . Tiếp đó là hình ảnh những nghĩa sĩ trong những ngày đầu tiên chiến đấu chống Pháp ở đất Nam Bộ được nhà thơ mù lòa ,thiết tha yêu nước Nguyễn Đình Chiểu khắc họa thành công trong tác phẩm nổi tiếng là “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”:

    “Ngoài cật có một manh áo vải , nào đợi mang bao tấu ,bầu ngòi

    Trong tay cầm một ngọn tầm vông ,chi nài sắm dao tu , nón gõ

    Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi , cũng đất xong nhà dạy đạo kia

    Gươm đeo dung bằng lưỡi dao phay , cũng chém rớt đầu hai nọ.”

    Qua VH , sức sống người Việt còn rung lên mãnh liệt ,sảng khoái .Từ trong đêm đen nô lệ ,Đảng đã ra đời chói ngời ánh sang chân lí với một sức mạnh mới mẻ .Chủ nghĩa yêu nước trong VH hiện đại cũng ra đời trong hoàn cảnh đó. Khi gặp được chủ nghĩa Mác-Lê-nin ,Bác đã thắp lên triệu triệu niềm tin cho đồng bào . Bác đã chiến thắng mọi gian nguy , “ mặt trời chân lí chói qua tim” đốt nóng long người cuồn cuộn sinh lực vào ngày Cách mạng tháng 8 thành công. “ Tuyên ngôn độc lập “của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành lời tuyên bố dõng dạc của dân tộc VN kiêu hãnh.

    Tình yêu lớn ấy đối với đất nước , những đồng cam cộng khổ vất vả hang ngày cũng như chiến đấu đã sớm gắn bó con người VN thành một khối yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong tình nhân ái cao cả . Cha ông ta đã tự dặn mình và dạy con cháu :

    “ Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.”

    Tình thương ấy là một trong những cội nguồn của sức sống con người VN .VH dân tộc đã ghi chép lại thật cụ thể khát vọng nhân đạo của con người qua hai khía cạnh chủ yếu . Một là văn học cật lực tố cáo , phê phán các thế lực áp bức , chà đạp lên quyền sống chính đáng của con người và bày tỏ lòng thương cảm với những con người bị áp bức , đau khổ . Trước hết là trong VH dân gian :

    “ Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.”

    Hay

    “ Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.”

    Trong xã hội phong kiến , người phụ nữ không được tự quyết định cuộc đời mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Họ dù xinh đẹp , tài hoa đến mấy thì cuộc đời vẫn xô đẩy , chà đạp không thương tiếc . Còn đối với Hồ Xuân Hương , tính đả kích XH lại được đẩy lên thật mạnh mẽ khi mà hang ngàn năm trôi qua mà người phụ nữ vẫn vậy . Đặc biệt , văn học hiện thực giai đoạn 1930-1945 cũng đã lên tiếng phê phán gay gắt , quyết liệt chế độ thực dân nửa PK , phản ánh cuộc sống tối tăm , thê thảm của người dân cày xứ thuộc địa . Ta bắt gặp chị Dậu trong cảnh sưu thuế đè nặng lên đôi vai làng Đông Xá , cái ngột ngạt trong tiếng mõ , tiếng tù và , tiếng quát tháo , đánh đập của bọn tay sai PK . Cúng giống như chị Dậu , anh Pha và Chí Phèo cũng vấp phải hoàn cảnh tương tự mặc dù trước đó họ lương thiện và tốt bụng biết bao. Liệu trong đời thực sẽ còn bao nhiêu Nghị lịa , Bá Kiến ức hiếp dành nữa? Song song với việc tốt cáo XH tàn nhẫn bất công , VH hiện thực VN đã khẳng định mạnh mẽ những phẩm chất tốt đẹp từ ngàn xưa . Ngay trong giờ phút khó khăn đen tối nhất của cuộc sống , những phẩm chất đó lại càng sáng ngời hơn bao giờ hết , Hai là , VH thể hiện ước mơ tha thiết về một XH công bằng , nhân đạo đối với con người . Trong VH dân gian , mỗi truyện cổ tích là một giấc mơ đẹp , người xưa mơ ước ở hiền gặp lành , ước mơ đổi đời , điều đó làm cho truyện cổ tích kết thúc có hậu . Ca dao ca ngợi tình nghĩa giữa con người với người . Các tác giả trung đại như Nguyễn Du lại hướng đến tư tưởng nhân đạo cao cả . Những vần thơ lục bát của dân tộc VN vượt qua mọi phong ba của lịch sử , vượt qua mọi sự tấn công của các thể thơ Trung Quốc vẫn giữ được nét uyển chuyển đáng yêu của con người VN . Kiều là một nạn nhân song Từ Hải lại là người anh hung chiến đấu cho chính nghĩa . Chính nghĩa đi từ nước này sang nước khác không có giấy thông hành , VH chân chính không có biên giới . Nhiều nhân vật trong VH chống Pháp , chống Mĩ xâm lược tiêu biểu cho lí tưởng anh hung CM . Ta tìm về với mẹ Tơm , mẹ Suốt , người mẹ giành cơm nuôi đồng chí , nuôi dưỡng và bảo vệ Đảng bằng buồng tim mình . Phản ánh con người và cuộc sống trong các mỗi quan hệ XH đã hình thành chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo trong VHVN.
    3.Văn học với ý thức bản thân con người

    Trong lịch sử và thực tiễn cuộc sống , con người luôn phải giải quyết mối quan hệ giữa tư tưởng vị kỉ và tư tưởng vị tha giữa ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng . Không phải bằng nguyên lí triết học mà bằng con đường riêng của nghệ thuật , VHVN đã phản ánh quá trình lựa chọn , đấu tranh để khẳng định đạo lí làm người quý báu của dân tộc VN trong sự kết hợp hài hòa hai phương diện đó. Trong những hoàn cảnh nghiệt ngã quyết liệt như đấu tranh chống giặc ngoại xâm , đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt , con người VN buộc phải đề cao ý thức cộng đồng hơn ý thức cá nhân . Vì thế đôi khi con người ta phải hi sinh “ cái tôi “ cá nhân , coi thường mọi cám dỗ để bảo vệ đạo nghĩa và lí tưởng:

    “Nếu mai đây có chết một thân lôi

    Hai mươi tuổi tim đang dào dạt máu

    Hai mươi tuổi hồn quay trong gió bão.”Cái chết đó là cái chết cho cách mạng . Một cái chết mà như một du kích Pháp trước khi bị phát xít treo cổ nói : “ Tôi chết đi như chiếc lá rơi xuống , cho đất thêm màu , cho cây thêm tốt .” Đọc , ngta suy nghĩ . Một chân trời mới hiện ra , lí tưởng cộng sản chủ nghĩa vĩ đại . Ngta hiểu được long một người cộng sản . Nhưng trong hoàn cảnh khác ,như giai đoạn 1930-1945 hoặc từ sau 1986 đến nay , con người cá nhân thức tỉnh và được đề cao . Con người trong văn học các giai đoạn này đã suy ngẫm ý nghĩa cuộc sống trần thế , nghĩ đến quyền sống cá nhân , quyền hưởng tình yêu , hạnh phúc.Thể hiện “cái tôi” cá nhân cần khẳng định và Xuân Diệu đã làm được điều đó :

    “Ta là Một , là Riêng , là thứ Nhất

    Không có chi bè bạn nổi cùng ta.”

    Nhìn chung , trong quá trình phát triển , VHVN cố gắng vun đắp xây dựng một đạo lí làm người với nhiều phẩm chất tốt đẹp như nhân ái , thủy chung , tình nghĩa , vị tha , giáu đức hi sinh vì sự nghiệp chính nghĩa, đấu tranh chống chủ nghĩa khắc kỉ đề cao quyền sống của con người cá nhân nhưng không chấp nhận chủ nghĩa cá nhân cực đoan.

    C.Kết bài 

    Cuộc sống lên men ngây ngất . Những con người cầm sung “xung kích” dành giật từng mảnh đất với giặc lại lao vào cuộc chiến công hòa bình và văn học lại là chiếc máy quay nhỏ quay lại toàn cảnh xã hội . Văn học là nhân học , là tiếng nói của con người , là tấm gương phản chiếu thời đại . Đảng ta rất coi trọng văn học , cói nó như là một vũ khí đấu tranh sắc bén vì nó “ đã thể hiện chân thực , sâu sắc đời sống tư tưởng , tình cảm của con người VN trong nhiều mối quan hệ đa dạng “. VH có khả năng mang chính trị vào nhân dân như sức mạnh vật chất vậy . Chúng ta yêu cuộc sống của chúng ta , chúng ta yêu VH của chúng ta , một nền VH vì dân , do dân . Chúng ta không tiếc sức lực nhỏ bé của mình góp phần vào lực lượng mạnh mẽ đó . VH là sông mà mỗi người chúng ta phải là làn sóng nhỏ . Chúng ta vô cùng tán đồng với M.Gorki: “ Văn học là nhân học” . Một nền khoa học về con người thúc đẩy con người đi lên.

    ——————————————————————————————————————–

     – VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC. TÁC DỤNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN ĐỐI VỚI HỌC SINH TIỂU HỌC.

    NÊU NHẬN XÉT VỀ THỊ HIẾU CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC ĐỐI VỚI CA DAO (ĐA SỐ CÁC EM THÍCH LOẠI CA DAO NÀO? VÌ SAO?).

    THỂ LOẠI CÂU ĐỐ VÀ CÂU ĐỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC;

    Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, trong chương trình đổi mới SGK Tiếng Việt Tiểu học và sách Truyện đọc Tiểu học được biên soạn với nội dung chương trình phong phú. Trong đó, truyện dân gian cũng chiếm một số lượng tương đối lớn được phân bố rải rác từ lớp 1 đến lớp 5. Trong sách Tiếng Việt Tiểu học và sách Truyện đọc Tiểu học các thể loại truyện dân gian được biên soạn đan xen với nhau. Theo thống kê trong SGK Tiếng Việt Tiểu học và sách Truyện đọc Tiểu học, chúng tôi thu được kết quả như sau:

    Lớp Số lượng tác phẩm Tỉ lệ
    1 34 26%
    2 28 22%
    3 23 18%
    4 33 25%
    5 12 9%

    Như vậy ta thấy truyện dân gian trong chương trình Tiểu học chủ yếu phân bố ở các lớp 1, 2, 3, 4 còn lớp 5 chiếm số lượng ít hơn. Điều này cũng là dụng ý nghệ thuật của người biên soạn chương trình. Ở những lứa tuổi càng nhỏ thì những câu chuyện với các giá trị giáo dục lại càng cần thiết hơn.

    Đề bài: Hãy khảo sát trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 đến lớp 5 các tác phẩm truyện dân gian, và văn vần dân gian.

    Bài làm.

    STT Lớp Tuần/Chủ điểm Nội dung Thể loại Tập Trang

    1.

    2

    1 – Em là học sinh Có công mài sắt có ngày nên kim Truyện ngụ ngôn 1 4
    2. 2 8 – Thầy cô Đổi giày. Truyện cười 1 68
    3. 2 10 – Ông bà Lên non mới biết non cao

    Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy.

    Tục ngữ 1 85
    4. 2 11 – Ông bà Đi chợ. Truyện cười 1 92

    5.

    2

    11 – Ông bà

    – Nhà sạch thì mát

    Bát sạch ngon cơm.

    –    Cây xanh thì lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

    – Thương người như thể thương thân.

    –     Cá không  ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

    Tục ngữ

    1

    93

    6. 2 13 – Cha mẹ Há miệng chờ sung. Truyện cười 1 109

    7.

    2

    13 – Cha mẹ

    – Dung dăng dung giẻ

    Dắt trẻ đi chơi

    Đến ngõ nhà trời

    Lạy cậu, lạy mợ

    Cho cháu về quê

    Cho dê đi học.

    Đồng dao

    1

    110

    8.

    2

    13 – Cha mẹ

    –      Làng tôi có lũy tre xanh.

    Có sông Tô Lịch chảy quanh xóm làng.

    Trên bờ vải nhãn hai hàng.

    Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.

    –          Ta về ta tắm ao ta

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

    Ca dao

    1

    110

    9.

    2

    14 – Anh em

    Câu chuyện bó đũa.

    Tryện ngụ ngôn

    1

    112

    10. 2 16 – Bạn trong nhà Trâu ơi. Ca dao 1 136

    11.

    2

    18 – Ôn tập cuối năm Cò và Vạc. Tuyện cổ dân gian 1 151

    12.

    2

    19 – Bốn mùa

    – Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa.

    – Kiến cánh vỡ tổ bay ra

    Bão táp mưa sa gần tới.

    –     Muốn cho lúa nảy bông to

    Cày sâu, bừa kĩ, phân gio cho nhiều.

    Tục ngữ

    2

    7

    13.

    2

    21 – Chim chóc

    –        Chân gì ở tít tắp xa

    Gọi là chân đấy nhưng mà không chân?

    –     Có sắc để uống hoặc tiêm

    Thay sắc bằng nặng là em nhớ bài?

    Câu đố

    2

    26

    14. 2 21 – Chim chóc Vè chim. 2 28
    15. 2 25 – Sông biển Sơn tinh, Thủy tinh.

    Truyện cổ DG

    2 60
    16. 2 28 – Cây cối Kho báu. Tuyện ngụ ngôn 2 83

    17.

    2

    28 – Cây cối

    –   Ơn trời mưa nắng phải thì

    Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu

    Công lênh chẳng quản bao lâu

    Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng.

    Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất, tác vàng bấy nhiêu.

    –     Tò vò mà nuôi con nhện

    Đến khi nó lớn, nó quyện nhau đi

    Tò vò ngồi khóc tỉ ti

    Nhện ơi, nhện hỡi, nhện đi đằng nào?

    Ca dao

    2

    85

    18.

    2

    28 – Cây cối

    Cái gì cao lướn lênh khênh

    Đứng mà không tựa ngã kềnh ra ngay?

    Câu đố

    2

    85

    19. 2 32 – Nhân dân Chuyện quả bầu. Tuyện cổ DG 2 116

    20.

    2

    32 – Nhân dân

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây

    Thong thả như chúng em đây

    Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào quàng.

    Ca dao

    2

    118

    21.

    2

    32 – Nhân dân

    –   Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    –   Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.

    Tục ngữ

    2

    122

    22.

    2

    33 – Nhân dân

    – Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa.

    – Tham thì thâm.

    – Tiên học lễ, hậu học văn.

    Tục ngữ

    2

    127

    23.

    2

    33 – Nhân dân

    Con công hay mua

    Nó múa làm sao?

    Nó rụt cổ vào

    Nó xòe cánh ra

    Đồng dao 2 127

    24.

    2

    33 – Nhân dân

    Con cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

    Ông ơi ông vớt tôi vào

    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

    Có xáo thì xáo nước trong

    Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

    Ca dao

    2

    127

    25.

    2

    34 – Nhân dân

    Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn

    Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?

    Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng

    Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn?

    Ca dao

    2

    135

    26. 3 1 – Măng non Cậu bé thông minh. Truyện cổ DG 1 4
    27. 3 1 – Măng non Anh em như thể tay chân Ca dao 1 8
    28. 3 2 – Măng non Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

    Tục ngữ 1 17

    29.

    3

    3 – Mái ấm

    –      Vừa dài mà lại vừa vuông

    Giúp nhau kẻ chỉ, vạch đường thẳng băng?

    – Tên nghe nặng trịch

    Lòng dạ thẳng băng

    Vành tai thợ mộc nằm ngang

    Anh đi học vẽ sẵn sàng đi theo?

    Câu đố

    1

    22

    30.

    3

    3 – Mái ấm

    Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    Ca dao

    1

    25

    31.

    3

    4 – Mái ấm

    –      Hòn gì bằng đất nặn ra

    Xếp vào lò lửa nung ba bốn ngày

    Khi ra, da đỏ hây hây

    Thân hình vuông vắn đem xây cửa nhà?

    – Trắng phau cày thửa ruộng đen

    Bao nhiêu cây trắng mọc lên thành hàng?

    Câu đố

    1

    31

    32.

    3

    4 – Mái ấm

    – Con có cha như nhà có nóc.

    – Con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ.

    – Anh em như thể chân tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Ca dao

    1

    33

    33.

    3

    4 – Mái ấm

    Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Ca dao

    1

    34

    34. 3 5 – Tới trường Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe.

    Ca dao 1 43
    35. 3 6 – Tới trường Dao có mài mới sắc, người có học mới khôn. Tục ngữ 1 51

    36.

    3

    7 – Cộng đồng

    – Mình tròn mũi nhọn

    Chẳng phải bò, trâu

    Uống nước ao sâu

    Lên cày ruộng cạn?

    –   Trên trời có giếng nước trong

    Con kiến chẳng lọt, con ong chẳng vào.

    Câu đố

    1

    56

    37. 3 7 – Cộng đồng Em thuận anh hòa là nhà có phúc Ca dao 1 59

    38.

    3

    8 – Cộng đồng

    Khôn ngoan đối đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    Tục ngữ

    1

    66

    39.

    3

    10 – Quê hương

    –    Đẻ nguyên ai cũng lặc lè

    Bỏ nặng, thêm sắc – ngày hè chói chang?

    –       Có sắc mọc ở xa gần

    Có huyền, vuốt thẳng áo quần cho em?

    –    Để nguyên giữa đầu và mình

    Đổi sang dấu ngã sẽ thành bữa ngon?

    –    Không dấu trời rét nằm cong

    Thêm huyền bay lả trên đồng quê ta

    Có hỏi xanh tươi mượt mà

    Trâu bò vui gặm nhẩn nha từng đàn?

    Câu đố

    1

    82

    40.

    3

    12 – Bắc, Trung, Nam

    –   Để nguyên – giúp bác nhà nông

    Thêm huyền ám miệng cụ ông, cụ bà

    Thêm sắc từ lúa mà ra

    Đố bạn đoán được đó là chữ chi?

    – Quen gọi là hạt

    Chẳng nở thành cây

    Nhà cao nhà đẹp

    Dùng tôi để xây?

    Câu đố

    1

    96

    41. 3 12 – Bắc, Trung, Nam

    Cảnh đẹp non sông.

    Ca dao 1 87

    42.

    3

    13 – Bắc, Trung, Nam

    – Vừa bằng hạt đỗ, ăn giỗ cả làng?

    –  Sông không đến, bến không vào

    Lơ lửng giữa trời làm sao có nước?

    –   Vừa bằng cái nong

    Cả làng đong chẳng hết?

    –      Con gì nhảy nhót leo trèo

    Mình đầy lông lá, nhăn nheo làm trò?

    – Trong nhà có bà hay quét?

    – Tên em không thiếu, chẳng thừa

    Chín vàng ngon ngọt rất vừa lòng anh?

    Câu đố

    1

    105

    43. 3 13 – Bắc, Trung, Nam Ít chắt chiu hơn nhiều phung phí Tục ngữ 1 108

    44.

    3

    14 – Anh em

    một nhà

    – Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.

    – Nhai kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa.

    – Chim có tổ, người có tông.

    – Kiến tha lâu cũng đầy tổ.

    – Tiên học lễ, hậu học văn.

    Tục ngữ

    1

    120

    45. 3 15 – Anh em một nhà Hũ bạc của người cha. Cổ tích

    Chăm

    1

    121

    46.

    3

    15 – Anh em một nhà –    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

    – Một điều nhịn, chín điều lành

    – Không thầy đố mày làm nên.

    Tục ngữ

    1

    127

    47. 3 16 – Thành thị và nông thôn Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Ca dao 1 135

    48.

    3

    16 – Thành  thị và nông thôn

    –      Công cha nhu núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

    –       Con người có tổ có tông

    Như cây có cội, như sông có nguồn.

    Ca dao

    1

    137

    49.

    3

    16 – Thành thị và nông thôn Ba điều ước. Truyện cổ tích Bana

    1

    136

    50.

    3

    16 – Thành thị và nông thôn

    –     Cái gì mà lưỡi bằng gang

    Xới lên mặt đất những hàng thẳng băng

    Giúp nhà có gạo để ăn

    Siêng làm thì lưỡi sáng bằng mặt gương?

    –      Thuở bé em có hai sừng

    Đến tuổi nửa chừng mặt đẹp như hoa

    Ngoài hai mươi tuổi đã già

    Gần ba mươi lại mọc ra hai sừng?

    Câu đố

    1

    138

    51.

    3

    17 – Thành thị và nông thôn

    Mồ côi xử kiện.

    Truyện cổ tích Nùng

    1

    139

    52.

    3

    17 – Thành thị và nông thôn

    –     Cây gì gai mọc đầy mình

    Tên gọi như thể bồng bềnh bay lên

    Vừa thanh, vừa dẻo, lại bền

    Làm ra bàn ghế, đẹp duyên bao người?

    – Cây gì hoa đỏ như son

    Tên gọi như thể thổi cơm ăn liền

    Tháng ba đàn sáo huyên thuyên

    Ríu ran đến đậu đầy cành?

    Câu đố

    1

    142

    53.

    3

    17 – Thành thị và nông thôn

    – Tháng chạp thì mắc trồng khoai

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà

    Tháng ba cày vỡ ruộng ra

    Tháng tư bắc mạ, thuận hòa mọi nơi

    Tháng năm gặt hái vừa rồi

    Bước sang tháng sáu, nước trôi đầy đồng.

    – Đèo cao thì mặc đèo cao

    Trèo lên đến đỉnh ta cao hơn đèo

    Đường lên, hoa lá vẫy theo

    Ngắt hoa cài mũ tai bèo ta đi.

    Ca dao

    1

    143

    54.

    3

    17 – Thành thị và nông thôn Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

    Ca dao

    1

    145

    55. 3 17 – Thành thị và nông thôn Người nhát nhất. Truyện cười 1 150
    56. 3 19 – Bảo vệ tổ quốc Hai bà trưng. Truyền thuyết 2 4

    57.

    3

    19 – Bảo vệ tổ quốc

    –      Đúng là một cặp sinh đôi

    Anh thì lóe sáng, anh thời ầm vang

    Anh làm rung động không gian

    Anh xẹt một cái , rạch ngang bầu trời.

    – Miệng dưới biển, đầu trên non

    Thân dài uốn lượn như sóng

    Bụng đầy những nước trắng ngần

    Nuốt tôm cá, nuốt cả thân tàu bè

    Câu  đố

    2

    15

    58. 3 19 – Bảo vệ tổ quốc Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.

    Ca dao 2 18

    59.

    3

    22 – Sáng tạo

    –      Mặt tròn mặt lại đỏ ngay

    Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao

    Suốt ngày lơ lửng trên cao

    Đêm về đi ngủ chui vào nơi đâu?

    –     Cánh gì mà chẳng biết bay

    Chim hay sà xuống nơi đây kiếm mồi

    Đổi ngàn vạn giọt mồ hôi

    Bát cơm trắng dẻo, đĩa xôi thơm bùi?

    Câu đố

    2

    34

    60.

    3

    24 – Nghệ thuật

    Rủ nhau đi cấy đi cày

    Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.

    Ca dao

    2

    54

    61. 3 26 – Lễ hội Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử Cổ tích 2 65

    62.

    3

    26 – Lễ hội

    Dù ai đi ngược về xuôi

    Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba.

    Ca dao

    2

    70

    63. 3 30 – Ngôi nhà chung Uốn cây từ thuở còn non

    Dạy con từ thưở con còn bi bô

    Ca dao 2 103

    64.

    3

    31 – Ngôi nhà chung

    – Dáng hình không thấy, chỉ nghe

    Chỉ nghe xào xạc vo ve trên cành

    Vừa ào ào giữa rừng xanh

    Đã về bên cửa rung mành leng keng?

    –      Giọt gì từ biển, từ sông

    Bay lên lơ lửng mênh mông lưng trời

    Cõi tiên thơ thẩn rong chơi

    Gặp miền giá rét lại rơi xuống liền?

    Câu đố

    2

    108

    65. 3 33 – Bầu trời và mặt đất Cóc kiện trời. Truyện cổ DG 2 122
    66. 3 33 – Bầu trời và mặt đất Yêu trẻ, trẻ hay đến nhà

    Kính già, già để tuổi cho

    Ca dao 2 127

    67.

    3

    33 – Bầu trời và mặt đất

    –     Nhà xanh lại đóng đố xanh

    Tra đỗ, trồng hành, thả lợn vào trong?

    – Lòng chảo mà chẳng nấu kho

    Lại có đàn bò gặm cỏ ở trong

    Chảo gì mà rộng mênh mông

    Giữa hai sườn núi, cánh đồng cò bay?

    Câu đố

    2

    129

    68.

    3

    34 – Bầu trời và mặt đất Sự tích chú cuội cung trăng. Truyện cổ DG

    2

    131

    69.

    3

    34 – Bầu trời và mặt đất – Lưng đằng trước, bụng đằng sau

    Con mắt ở dưới, cái đầu ở trên?

    –     Một ông cầm hai cây sào

    Đuổi đàn cò trắng chạy vào trong hang?

    Câu đố

    2

    133

    70. 3 34 – Bầu trời và mặt đất Tháp mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

    Ca dao 2 135

    71.

    4

    1 – Thương người như thể thương thân

    –   Muốn tìm Nam, Bắc, Đông, Tây

    Nhìn mặt tôi, sẽ biết ngay hướng nào?

    –       Hoa gì trắng xóa núi đồi

    Bản làng thêm đẹp khi trời vào xuân?

    –      Để nguyên, lấp lánh trên trời

    Bớt đầu, thành chỗ cá bơi hàng ngày.

    Câu đố

    1

    6+7

    72.

    4

    1 – Thương người như thể thương thân Bớt đầu thì bé nhất nhà

    Đầu đuôi bỏ hết hóa ra béo tròn

    Để nguyên, mình lại thon thon

    Cùng cậu trò nhỏ lon ton tới trường?

    Câu đố

    1

    12

    73.

    4

    1 – Thương

    người như thể thương thân

    – Để nguyên tên một loài chim

    Bỏ sắc thường thấy ban đêm trên trời?

    – Để nguyên vằng vặc trời đêm

    Thêm sắc màu phấn cùng em tới trường?

    Câu đố

    1

    17

    74.

    4

    2 – Thương người như thể thương thân –  Ở hiền gặp lành.

    –  Trâu buộc ghét trâu ăn.

    Tục ngữ

    1

    17

    75.

    4

    2 – Thương người như thể thương thân – Môi hở răng lạnh.

    – Máu chảy ruột mềm.

    – Nhường cơm sẻ áo.

    – La lành đùm lá rách.

    Tục ngữ

    1

    34

    76.

    4 4 – Măng mọc thẳng Những hạt thóc giống. Truyện DG 1 46

    77.

    4

    4 – Măng mọc thẳng

    –     Mẹ thì sống ở trên bờ

    Con sinh ra lại sống nhờ dưới ao.

    Có đuôi bơi lội lao xao

    Mất đuôi tức khắc nhảy nhao lên bờ?

    –      Chim gì lượn tựa con thoi

    Báo mùa xuân đẹp giữa trời say xưa?

    Câu đố

    1

    48

    78.

    4

    5 – Măng mọc thẳng

    – Thẳng như ruột ngựa.

    – Giấy rách phải giữ lấy lề.

    – Thuốc đắng dã tật.

    – Cây ngay không sợ chết đứng.

    – Đói cho sạch, rách cho thơm.

    Tục ngữ

    1

    49

    79.

    4

    7 – Trên đôi

    cánh ước mơ

    – Rủ nhau chơi khắp Long Thành

    Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:

    Hàng bồ, hàng bạc, hàng gai

    Hàng buồm, hàng thiếc, hàng hài, hàng Khay

    Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng giày

    Hàng Lờ, hàng cót, hàng mây, hàng Đàn

    Phố Mới, phúc kiến, hàng Than

    Hàng mã, hàng mắm, hàng Nang, hàng Đồng

    Hàng muối, hàng nón, Cầu Đông

    Hàng hòm, hàng đậu, hàng bông, hàng bè

    Hàng thùng, hàng bát, hàng tre

    Hàng The, hàng giấy, hàng Gà

    Quanh quanh về đến hàng Da

    Trải xem phường phố thật là đẹp xinh.

    –      Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày.

    – Má ơi đừng đánh con đau

    Để con bắt ốc, hái rau má nhờ.

    –       Đi cho biết dó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.

    Ca dao

    1

    74

    80. 4 11 – Có chí thì nên Ông trạng thả diều. Truyền thuyết 1 104

    81.

    4

    11 – Có chí thì nên

    – Có công mài sắt, có ngày nên kim.

    –       Ai ơi đã quyết thì hành

    Đã đan thì lận tròn vành mới thôi!

    – Thua keo này, bày keo khác.

    – Người có chí thì nên

    Nhà có nền thì vững.

    – Hãy lo bền chí câu cua

    Dù ai câu chạch, câu rùa mặc ai!

    – Chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo.

    – Thất bại là mẹ thành công.

    Tục ngữ

    1

    108

    82.

    4

    12 – Có chí thì nên

    Rùa và Thỏ.

    Truyện ngụ ngôn

    1

    112

    83.

    4

    12 – Có chí thì nên

    – Lửa thử vàng, gian nan thử sức

    –         Nước lã mà vã nên hồ

    Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

    –        Có vất vả mới thanh nhàn

    Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.

    Tục ngữ

    1

    118

    84.

    4

    16 – Tiếng sáo diều

    – Chơi với lửa.

    – Ở chọn nơi, chơi chọn bạn.

    – Chơi diều đứt dây.

    – Chơi dao có ngày đứt tay.

    Tục ngữ

    1

    157

    85. 4 19 – Người ta là hoa đất Bốn anh tài. Truyện cổ DG 2 4

    86.

    4

    19 – Người ta là hoa đất

    – Người ta là hoa đất.

    – Chuông có đánh mới kêu

    Đèn có khêu mới tỏ.

    Tục ngữ

    2

    11

    87. 4 20 – Người ta là hoa đất Ăn được ngủ được là tiên

    Không ăn không ngủ mất tiền thêm lo.

    Tục ngữ 2 19

    88.

    4

    23 – Vẻ đẹp muôn màu

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

    – Cái nết đánh chết cái đẹp.

    – Trông mặt mà bắt hình dong

    Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

    – Vỏ quýt dày có móng tay nhọn.

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

    – Có học phải có hành.

    Tục ngữ

    2

    52

    89.

    4

    24 – Vẻ đẹp muôn màu

    – Để nguyên loại quả thơm ngon

    Thêm hỏi – co lại chỉ còn bé thôi?

    – Thêm nặng mới thật lạ đời

    Bỗng nhiên thành vết xoong nồi nhọ nhem?

    – Bình thường dùng gọi chân tay

    Muốn có bút vẽ thêm ngay dấu huyền.

    Thêm hỏi làm bạn với kim

    Có dấu nặng, đúng người trên mình rồi?

    Câu đố

    2

    57

    90.

    4

    25 – Những người quả cảm Cái gì cao lướn lênh khênh

    Đứng mà không tựa ngã kềnh ra ngay?

    Câu đố

    2

    69

    91.

    4

    29 – Khám phá thế giới

    – Sông gì đỏ nặng phù sa?

    – Sông gì lại hóa được ra chín rồng?

    – Làng quan họ có con sông

    Hỏi dòng sông ấy tên gì?

    – Sông tên xanh biếc sông chi?

    – Sông gì tiếng vó ngựa phi ngang trời?

    –   Sông gì chẳng thể nổi lên

    Bởi tên của nó gắn liền dưới sâu?

    – Hai dòng sông trước sông sau

    Hỏi hai sông ấy ở đâu, sông nào?

    –      Sông nào nơi ấy sóng trào

    Vạn quân Nam Hán tâ đào mồ chôn?

    Câu đố

    2

    105

    92. 4 34 – Tình yêu và cuộc sống Nói ngược. Vè DG 2 154
    93. 4 34 – Tình yêu cuộc sống Ăn mầm đá. Truyện DG 2 158

    94.

    5

    3 – Việt Nam tổ quốc em

    – Chịu thương chịu khó.

    – Dám nghĩ dám làm.

    – Muôn người như một.

    – Trọng nghĩa khinh tài.

    – Uống nước nhớ nguồn.

    Tục ngữ

    1

    27

    95.

    5

    3 – Việt Nam tổ quốc em

    – Cáo chết ba năm quay đầu về núi.

    – Lá rụng về cội.

    – Trâu bảy năm còn nhớ chuồng.

    Tục ngữ

    1

    33

    96.

    5

    4 – Cánh chim hòa bình

    – Chết vinh còn hơn sống nhục.

    – Gạn đục khơi trong.

    – Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

    – Anh em như thể tay chân

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Tục ngữ

    1

    39

    97.

    5

    4 – Cánh chim hòa bình – Ăn ít ngon nhiều.

    – Ba chìm bảy nổi.

    – Nắng chóng trưa, mưa chóng tối.

    Tục ngữ

    1

    43

    98.

    5

    5 – Cánh chim hòa bình

    –     Trùng trục như con chó thui

    Chín mắt, chín mũi, chín đuôi, chín đầu?

    –     Hai cây cùng có một tên

    Cây xòe mặt nước, cây trên chiến trường?

    Cây này bảo vệ quê hương

    Cây kia hoa nở soi gương mặt hồ?

    Câu đố

    1

    52

    99.

    5

    6 – Cánh chim hòa bình

    – Cầu được ước thấy.

    – Năm nắng, mười mưa.

    – Nước chảy đá mòn.

    Tục ngữ

    1

    56

    100.

    5

    8 – Con người với thiên nhiên – Lên thác xuống ghềnh.

    – Góp gió thành bão.

    – Khoai đất lạ, mạ đất non.

    Tục ngữ, thành ngữ

    1

    78

    101.

    5

    9 – Con người với thiên nhiên

    Cái cò, cái vạc, cái nông

    Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò?

    Không không, tôi đứng trên bờ

    Mẹ con cái diệc đổ ngờ cho tôi

    Chẳng tin ông đến mà coi,

    Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia.

    Ca dao

    1

    93

    102.

    5

    9 – Con người với thiên nhiên

    Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng

    Đèn ra trước gió còn chăng, hỡi đèn?

    Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn

    Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?

    Ca dao

    1

    94

    103.

    5

    10 – Ôn tập học kì I

    –       Nói lời phải giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

    –       Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

    Tục ngữ

    1

    98

    104.

    5

    17 – Vì hạnh phúc con người – Có mới nới cũ.

    – Xấu gỗ, tôt nước sơn.

    – Mạnh dùng sức, yếu dùng mưu.

    Tục ngữ

    1

    167

    105. 5 17 – Vì hạnh phúc con người Ca dao về lao động sản xuất Ca dao 1 168
    106. 5 19 – Người công dân Làm việc cho cả ba thời Truyện vui DG 2 7

    107.

    5

    19 – Người công dân

    –     Hoa gì đơm lửa rực hồng

    Lớn lên hạt ngọt đầy tràn bị vàng?

    – Hoa nở trên mặt nước

    Lại mang hạt trong mình

    Hương bay qua hồ rộ

    Lá đội đầu mướt xanh?

    Câu đố

    2

    7

    108. 5 20 – Người công dân Giữa cơn hoạn nạn. Truyện vui DG 2 17
    109. 5 21 – Người công dân Bởi chưng bác mẹ tôi nghèo

    Cho nên tôi phải băm bèo, thái khoai.

    Ca dao 2 33

    110.

    5

    7 – Nhớ nguồn

    –      Muốn sang thì bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

    –     Núi cao bởi có đất bồi

    Núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu?

    –     Con có cha như nhà có nóc

    Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

    –     Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.

    –        Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người.

    –     Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

    – Trách người một, trách ta mười

    Bởi ta tệ trước nên người tệ sau.

    –          Có làm thì mới có ăn

    Ngồi không ai dễ đen phần tới cho.

    Ca dao,

    Tục ngữ

    2

    91

    111.

    5

    31 – Nam và nữ

    – Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

    – Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi.

    – Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh.

    – Trên kính dưới nhường.

    – Kính lão đắc thọ.

    – Kiến tha lâu cũng đầy tổ.

    – Chọn bạn mà chơi.

    – Mật ngọt chết ruồi.

    – Tre già măng mọc.

    – Một con sâu làm giàu nồi canh.

    – Nhập gia tùy tục.

    – Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

    Tục ngữ

    2

    129

    ———————————————————————————————————————

    – THẠCH LAM VÀ TÁC PHẨM CỦA ÔNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC

    Thạch Lam là tên tuổi nổi bật của nền van học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945. Với độc giả, ba tác giả này khá quen thuộc và gần gui bởi từ lâu những sáng tác của họ đã in đậm dấu ấn trong tâm thức nhiều thế hệ.

    Trong số những ñại diện xuất sắc của nền van học Việt Nam truớc Cách mạng tháng Tám, ngoài Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, những nguời viết về những vấn ñề liên quan ñến trẻ em không

    nhiều. Ðây là ba cây bút có nhiều “duyên nợ” với thế giới trẻ tho. Không giống nhu nhiều tên tuổi khác trong giai ñoạn van học 1930 -1945 thuờng huớng ñến ñề tài nguời nông dân bị tha hoá, bần cùng hoá, nguời trí thức nghèo hay những kẻ luu manh ở ñô thị, ba tác giả này còn có một mảng riêng, ghi ñuợc dấu ấn trong lòng nguời ñọc: mảng sáng tác về ñề tài trẻ em – ñối tuợng cần ñuợc quan tâm, yêu thuong và bảo vệ. Nhờ họ, nguời ñọc có ñiều kiện hiểu sâu hon về những số phận khốn cùng, những bi kịch và thân phận con nguời trong xã hội thực dân phong kiến. Chính vì vậy, mảng truyện này ñã hấp dẫn nhiều ñộc giả, nhất là trẻ em, bởi nhờ thế, nguời ñọc nhỏ tuổi có thể tìm thấy bóng dáng mình ở ñấy và nguời lớn nhu ñuợc quay về với thế giới tuổi tho của mình.

    Ở Việt Nam, truớc Cách mạng tháng Tám, van học thiếu nhi rất ít ñuợc coi trọng. Từ những nam 20 của thế kỉ truớc, van học cho trẻ em mới bắt ñầu ñuợc chú ý thông qua những cuộc cách tân van học theo xu huớng hiện ñại hoá do chịu ảnh huởng của van học phuong Tây. Ðến những nam 30, van học viết cho trẻ em trở nên phong phú hon. Nhóm Tự lực van ñoàn cho xuất bản các loại sách: Sách Hồng, Hoa Mai, Hoa Xuân, Học Sinh, Tuổi Xanh, Truyền Bá… Các nhà van thuộc xu huớng hiện thực nhu Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Tú Mỡ… ñã có ý thức viết cho các em lành mạnh hon. Những trang viết của họ chứa chan tinh thần nhân ñạo và thấm ñẫm khuynh huớng hiện thực.

    Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tuờng Vinh, sau ñổi thành Nguyễn Tuờng Lân, sinh nam 1909. Thạch Lam bắt ñầu hoạt ñộng van học từ 1932, thành viên của Tự lực van ñoàn. Ông tham gia biên tập các tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay. Ông  mất vì bệnh lao ngày 26-2- 1942 tại Yên Phụ – Hà Nội.  Mặc dù trên van ñàn van học Việt Nam truớc Cách mạng tháng Tám, Thạch Lam chua ñuợc xếp ở vị trí số một nhung cung là một tên tuổi rất ñáng coi trọng và khẳng ñịnh, bởi ông ñã có nhiều ñóng góp vào sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam, trong ñó có

    mảng van học viết cho thiếu nhi. Về bút pháp, Thạch Lam là nhà van mở ñầu cho một giọng ñiệu riêng – giọng ñiệu trữ tình trong truyện ngắn. Truyện của Thạch

    Lam thuờng không có cốt truyện (hoặc cốt truyện rất ñon giản) nhung lại chan chứa tình cảm. Ông có biệt tài ñi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm giác, cảm xúc mo hồ, mongmanh, tinh tế. Hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình luôn ñan cài, xen kẽ, tạo nên nét ñặc thù khó lẫn trong phong cách nghệ thuật của Thạch Lam.

    Các nhân vật trẻ em trong nhiều truyện ngắn của Thạch Lam  dù bị vùi dập, nguợc ñãi, ñày ñọa nhung vẫn giữ ñuợc sự trong sáng, thanh khiết vốn có của mình. Bên cạnh những mảnh ñời lấm láp, truyện của Thạch Lam cung suởi ấm nguời ñọc bằng những tâm hồn trẻ tho thanh khiết, trong sáng và giàu lòng nhân ái. Ðó là hình ảnh cậu bé Son trong Gió lanh ñầu mùa. Hay những rung ñộng sâu xa trong lòng cô bé Liên ñối với những ñứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ. – Bên cạnh một hiện thực u ám, ñói nghèo, nguời ñọc còn nhận thấy bi kịch trẻ tho trong sáng tác Thạch Nam còn ñến từ sự tàn héo, cũ mòn của cái “ao đời bằng phẳng”. Hai đứa trẻ là một minh chứng. Xây dựng hình tuợng những ñứa trẻ bất hạnh – nạn nhân trực tiếp của hoàn cảnh gia ñình và xã hội, Thạch Lam, muốn gióng lên một hồi chuông khẩn thiết: Trẻ con cần phải khôn lớn, cần phải ñuợc yêu thuong, cần phải biết uớc mo và khát vọng khám phá thế giới kì diệu xung quanh, nhất là tìm ñuợc mục ñích sống cho riêng mình. – Ngòi bút Thạch Lam trân trọng và tinh tế khi phát hiện những uớc mo thầm kín trong thế giới trẻ tho. Liên, An trong Hai ñứa trẻ luôn uớc mo, khao khát ñuợc vuon tới một cuộc sống tốt ñẹp hon, có ý nghia hon.

    Vốn tinh tế nhẹ nhàng, Thạch Lam cung ñã tạo ấn tuợng với độc giả bằng những tình huống truyện mang đậm phong cách của nguời viết. Tình huống truyện ngắn của Thạch Lam guợng nhẹ hon rất nhiều so với những nhà van cùng thời nhung vẫn gợi ñuợc những rung ñộng sâu xa trong lòng nguời ñọc về vẻ ñẹp trong sáng, tâm hồn thanh khiết của những ñứa trẻ bị cuộc ñời vùi dập, ñọa ñầy.

    – Thạch Lam thuờng không miêu tả những bùng vỡ từ mốixung ñột gay gắt của sự kiện, mà từ việc sử dụng tài tình các chi tiết, sự kiện ñó cứ lúc lại nhói lên với sự hắt hiu, mòi mỏi của những nỗi niềm bất trắc, những nếp u ẩn, khuất lấp trong tâm hồn của từng số phận. Sự kiện trong truyện Thạch Lam là những sự thực khêu gợi cảm giác, tự nhận thức.

    -Ngôn ngữ trần thuật trong những sáng tác của Thạch Lam giản dị mà tinh tế, nhẹ nhàng mà giàu hình ảnh, cảm xúc và nhiều khi “rất đậm chất thơ”.

    ————————————————————————————————

    HÃY PT TRUYỆN TẤM CÁM ĐỂ CMR VHDG LÀ SỰ KẾT HỢP ĐAN XEM NHIỀU LOẠI HÌNH THÁI Ý THỨC (THẨM MỸ, TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO, TRIẾT HỌC, KHOA HỌC SƠ KHAI)

    Tính triết lý trong tấm cám

    1. Mở đầu

    Trong nhiều quy luật đời sống, quy luật nhân quả bao trùm tất cả mọi quy luật. Từ triết học cổ đại như Bà-la-môn giáo, Phật giáo, Đạo giáo đến triết học Mac-Lê-nin đều thừa nhận quy luật nhân quả. Quy luật này chi phối mọi hoạt động đời sống, có nhân ắt có quả. Ngay trong lĩnh vực tự nhiên cũng tuân theo quy luật này. Lomonosov trong định luật bảo toàn năng lượng đã phát biểu: Năng lượng không tự sinh ra cũng không tự mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác hay chuyền từ vật này sang vật khác. Trong văn học, ở thể loại truyện cổ tích, triết lý nhân quả là bộ xương sống xuyên suốt, chi phối kết cấu, nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của truyện. Mỗi câu chuyện trong truyện cổ tích là một bài học đầy ý nghĩa, mang đậm tính triết lý nhân sinh. Truyện cổ tích Tấm Cám là một trong những tác phẩm tiêu biểu của tuyện cổ tích, mang triết lý nhân quả sâu sắc.

    1. Giới thuyết thuật ngữ

    Để đi vào vấn đề nghiên cứu, trước hết cần làm rõ một số thuật ngữ trong đề tài này.

            “Triết lý” là một thuật ngữcó nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ là philosophia, nghĩa là con đường, hướng đi. Martin Heidegger, nhà triết học Đức định nghĩa triết lý là suy lý, suy tưởng. Còn theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, Từ điển bách khoa, 2010), triết lý có nghĩa là lý luận. Triết lý, theo nghĩa rộng là quan điểm, phương hướng tư duy của con người về một đối tượng, vấn đề nào đó.

    “Nhân quả”, theo nghĩa chiết tự, nhân là hạt (hột), quả là trái. Nghĩa khái quát, nhân quả là cặp phạm trù chỉ mối quan hệ sản sinh của các sự vật hiện tượng, hiện tượng trong hiện thực khách quan, chỉ mối liên hệ tất yếu, phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng. Trong đó, cái sản sinh là nguyên nhân, cái được sản sinh là kết quả.

    Truyện cổ tích:một thể loại của văn học dân gian, phản ảnh mâu thuẫn trong xã hội có có cấp, thông qua xung đột giữa cái thiện và cái ác. Qua đó, phản ánh khát vọng dân chủ, công bằng, hạnh phúc của nhân dân lao động.

    “Tấm Cám” là một truyện cổ tích thần kỳ, tiêu biểu cho thể loại cổ tích*, mang đậm đặc trưng của thể loại cổ tích. Nét đặc biệt ở Tấm Cám là triết lý nhân quả biểu hiện rất sâu sắc, vừa mang nét chung của truyện cổ tích, vừa có nét độc đáo, sáng tạo riêng.

    III. Thực trạng vấn đề triết lý nhân quả trong truyện cổ tích

    Truyện cổ tích gắn bó máu thịt với đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, được lưu truyền qua bao thế hệ. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử với bao biến đổi thăng trầm, truyện cổ tích được sàng lọc qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian. Những giá trị của truyện cổ tích được lưu truyền đến ngày nay đã khẳng định sức sống lâu bền của nó trong dòng lịch sử dân tộc. Vậy điều gì đã tạo nên sức sống bất diệt của truyện cổ tích ? Phải chăng đó là giá trị nhận thức, giá trị giáo dục và giá trị thẩm mỹ của nó. Những giá trị đó lồng giá trị văn hóa, ẩn trong tiềm thức, thấm trong máu thịt của con người trong đối nhân xử thế nhau hằng ngày. Tất cả các truyện cổ tích đều cùng một bản chất, chung một quy luật, đó là nhân quả. Đọc truyện cổ tích mà không thấy được bài học nhân quả, đó là điều thật đáng tiếc. Do sống trong thời “bão mạng”, thiếu niên ngày nay ít đọc sách, truyện cổ tích càng ít đọc. Trong chương trình Văn học ở trường phổ thông, một số truyện cổ tích được chọn lọc để đưa vào giảng dạy, tuy nhiên cách tiếp cận của giáo viên đâu đó còn hời hợt, chưa khái quát được đặc điểm quy luật của truyện cổ tích qua các tác phẩm. Trong khi đó, học sinh chỉ tiếp nhận những đơn vị kiến thức rời rạc, thiếu hệ thống, không rút ra được bài học ứng xử cần thiết của mình trong cuộc sống, đó là quy luật nhân quả. Nhiều người nghĩ nhân quả là duy tâm, thực ra nó hoàn toàn khoa học. Trộm cắp, bạo lực, giết hại, lừa gạt, giả dối, tàn phá môi trường … đều do mơ hồ, “vô minh” về nhân quả mà gây ra. Đừng nói “xưa như cổ tích”. Bài học nhân quả trong truyện cổ tích nói chung, truyện cổ tích “Tấm Cám” nói riêng, ngày nay cần thiết được nhận thức hơn bao giờ hết.

    1. Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích nói chung

            Triết lý nhân quả chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của truyện cổ tích về nhiều mặt : đề tài, chủ đề, xây dựng cốt truyện, nhân vật … Nếu thiếu nó thì truyện cổ tích thần kỳ không đứng vững hoặc không còn là nó nữa.

    Theo quan niệm dân gian, triết lý nhân quả chính là triết lý “Ở hiền gặp lành”, “Ở ác gặp dữ”, đây là niềm tin và mơ ước của nhân dân về lẽ công bình. Đối với các nhân vật chính diện như Sọ Dừa, Thạch Sanh, người em trong truyện “Cây khế” tác giả dân gian không chỉ dừng lại ở sự phản ánh và cảm thông với với nỗi đau khổ, đắng cay, oan ức của họ mà còn đặc biệt quan tâm, tìm cách để tìm đường giải thoát cho họ, để họ được đền bù xứng đáng. Nhờ vậy mà nhân vật chính diện trong truyện cổ tích được đổi đời, làm cho người kể lẫn người nghe đều hả hê, sung sướng (Sọ Dừa thi đỗ trạng nguyên và lấy được con gái phú ông, Thạch Sanh lấy công chúa và lên làm vua…).

    Đối với các nhân vật phản diện (Lý Thông, người anh tham lam trong truyện Cây khế …) thì tác giả dân gian không chỉ phản ánh, tố cáo, lên án sự tham lam, ích kỷ, độc ác, dã man của chúng mà còn tìm cách loại trừ, tiêu diệt chúng để cho người lương thiện được sống yên vui. Vì thế hầu hết các nhân vật phản diện trong truyện cổ tích đều dẫn đến kết cục bi thảm và bị trừng phạt đích đáng.

    Mức độ thưởng, phạt (quả) đối với các nhân vật được thực hiện có phân biệt, tương ứng vớitài đức, tội trạng (nhân) của từng nhân vật. Thạch sanh có tài năng, đức độ, có nhiều công tích được lấy công chúa và làm vua, Sọ Dừa thì đỗ trạng. Người em (trong truyện Cây khế) là người nghèo khổ, hiền lành, thật thà nhưng không có tài năng, công tích gì đặc biệt nên chỉ được chim thần cho vàng (vừa đầy túi ba gang) để trở thành giàu có mà thôi. Đối với các nhân vật phản diện, sự trừng phạt cũng có sự phân biệt rõ rệt, Lý Thông tham của, tham sắc, tham danh vọng, địa vị, vong ân bội nghĩa, lợi dụng, lừa gạt, cướp công và hãm hại Thạch Sanh thì bị trời đánh hóa thành kiếp bọ hung, đời đời chui rúc nơi hôi hám. Người anh trong truyện cây khế ích kỷ tham lam thì chim thần cũng chiều theo tham vọng của hắn để cho hắn phải tự chuốc lấy cái chết nhục nhã.

    Vậy, sự thưởng phạt trong truyện cổ tích đối với các nhân vật tuân theo triết lý nhân quả : nhân nào quả ấy. Triết lý nhân quả có mục đích giáo dục đạo lý làm người, khẳng định niềm tin và ước mơ của nhân dân vào công lý, chính nghĩa. Về phương diện nghệ thuật, triết lý nhân quả có vai trò tạo nên mạch logic để xây dựng cốt truyện, cũng như có tác dụng liên kết các tình tiết, sự việc trong truyện cổ tích.

    1. Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám

    Truyện cổ tích Tấm Cám có sự kết hợp, hòa trộn giữa niềm tin và triết lý truyền thống “Ở hiền gặp lành” của nhân dân và thuyết luân hồi quả báo (thiện giả thiện báo, ác giả ác báo) của đạo Phật. Vì vậy triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám có sự đặc biệt hơn với nhiều truyện cổ tích khác.

    1/ Quan hệ nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám

    1.1/ Tấm hiền lành, lương thiện nên được Bụt giúp đỡ đắc lực :

    Bản chất của Tấm là hiền lành, thật thà, chăm chỉ, chịu thương chịu khó, hiếu thảo. Đây là cái “nhân” tốt để Tấm nhận “quả” lành. Điều này thật rõ ràng và dễ dàng nhận thấy qua việc Tấm luôn nhận được sự giúp đỡ của Bụt trong những hoàn cảnh khó khăn, đau khổ, bế tắc. Tại sao Bụt giúp Tấm ? Vì Tấm hiền lành, lương thiện nhưng bị mẹ con dì ghẻ chèn ép, đày đọa. Bụt đứng về cái thiện, bênh vực, ủng hộ cái thiện nên Bụt giúp đỡ Tấm trong bất kỳ tình huống khó khăn, đau khổ, bế tắc nào. Bụt xuất hiện rất nhanh, bất ngờ, đúng lúc và giúp đỡ Tấm một cách hoàn toàn vô tư, sẵn lòng – điều mà Tấm không ngờ tới, không nghĩ đến chuyện cầu cứu ở Bụt. Tấm bị Cám lừa trút mất giỏ tôm tép, Bụt cho Tấm con cá bống (và thần chú) để Tấm có người bạn an ủi. Mẹ con Cám giết bống ăn thịt, Bụt bày cho Tấm cách chôn xương bống, chứa đựng phép màu mà Tấm không ngờ tới. Mụ dì ghẻ bày việc trộn chung một đấu gạo và một đấu thóc rồi bắt Tấm nhặt để không cho Tấm đi xem hội, Bụt sai chim sẻ giúp Tấm.

            1.2/ Tấm biết vực dậy đấu tranh đến cùng để chống lại cái ác, cái xấu nên Tấm mới có được hạnh phúc đích thực và bền vững  :

    Trong truyện cổ tích, nhân vật thần kỳ có vai trò “mở nút” cho sự bế tắc của nhân vật chính. Nếu không có nhân vật thần kỳ, nhân vật chính – người hiền lành, lương thiện mà yếu đuối, thân cô thế cô – sẽ hoàn toàn bế tắc, không có lối thoát. Nếu thế, câu chuyện sẽ không được tiếp tục phát triển, đi đến kết thúc nhanh chóng, không có kịch tính, thiếu hấp dẫn và mối quan hệ nhân quả sẽ không xảy ra.

    Truyện Tấm Cám vừa tuân theo đặc điểm thi pháp này, vừa có sự dị biệt so với những truyện cổ tích khác (Thạch Sanh, Sọ Dừa, Cây khế…) ở chỗ nhân vật thần kỳ chỉ có vai trò hỗ trợ chứ không có vai trò quyết định. Không thể phủ nhận vai trò rất quan trọng của Bụt trong truyện Tấm Cám, nhưng ở truyện này Bụt không quyết định được sự đổi thay cuộc đời, số phận, hạnh phúc của Tấm.

    Trong thời kỳ sống chung với mẹ con Cám, Tấm hiền lành tới mức yếu đuối, cam chịu và hoàn toàn thụ động – Tấm chỉ biết khóc, khóc và khóc trước sự đối xử bất công, tàn nhẫn của mẹ con Cám. Bị Cám lừa trút hết giỏ tôm tép, Tấm ngồi khóc. Khi biết mẹ con Cám giết bống ăn thịt, Tấm “ôm mặt khóc rưng rức”. Bị mụ dì ghẻ tìm cớ không cho đi xem hội, Tấm lại khóc. Quần áo rách rưới, không thể đi xem hội, Tấm cũng chỉ biết khóc.

    Khi trở thành hoàng hậu, Tấm vẫn thể hiện bản chất của mình. Tấm không quên ngày giỗ cha. Khi dì ghẻ bảo Tấm trèo hái cau để cúng cha, Tấm vâng lời ngay. Mụ dì ghẻ chặt gốc cau để hại Tấm, Tấm hỏi, mụ bảo đập kiến để khỏi cắn Tấm, Tấm cũng tin, không một chút mảy may nghi ngờ hành động của dì ghẻ.

    Nhưng từ khi bị mẹ con Cám giết hại (chặt gốc cau để Tấm ngã xuống ao chết), từ một cô Tấm yếu đuối, cam chịu, thụ động, Tấm đã biết vực dậy để đấu tranh cho chính mình. Khi là chim vàng anh, Tấm cảnh báo với Cám sự có mặt của mình với lời lẽ cứng cỏi : “Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao”. Khi biến thành khung cửi, Tấm nguyền rủa và đe dọa Cám : “Cót ca cót két, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”. Khi Tấm trở lại kiếp người, Cám thấy Tấm trở về trẻ đẹp như xưa, Cám hỏi Tấm “làm thế nào mà đẹp thế ?”, nhân cơ hội này Tấm đã trả thù Cám. Cái chết của Cám kéo theo cái chết của mụ dì ghẻ độc ác đã kết thúc quá trình đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng của Tấm đối kẻ thù để giành lấy hạnh phúc chính đáng của bản thân.

            Như vậy, để đòi lại công bằng, giành lại hạnh phúc, Tấm phải tự mình đấu tranh với mẹ con Cám. Ở chặng này, Bụt không xuất hiện nữa, còn việc Tấm hóa từ kiếp này sang kiếp khác chẳng qua là sự hiện thân của Tấm, tức là sự hiện thân của cái thiện – không bao giờ bị tiêu diệt, không bao giờ chịu đầu hàng trước cái ác, cái xấu.

    1.3/ Mẹ con Cám độc ác, tàn nhẫn nên cuối cùng chịu kết cục thê thảm

    Trước hết là hành động Cám lừa trút hết giỏ tôm tép của Tấm :

    Từ chỗ lười biếng, ỷ lại được mẹ cưng chiều, Cám lừa trút hết giỏ tôm tép của Tấm. Hành động này của Cám là hành động cướp công, cướp sức lao động của người khác. Mụ dì ghẻ không nhúng tay vào việc này, nhưng mụ đã tiếp tay cho Cám, tạo nên sự bất công giữa con đẻ và con chồng.

    Hành động lừa Tấm đi chăn trâu đồng xa để ở nhà giết bống ăn thịt của mẹ con Cám là hành động tàn nhẫn. Họ đã cướp đi “người bạn” của Tấm, lấy đi niềm vui, niềm an ủi tinh thần duy nhất của Tấm.

    Nếu hai hành động trên mang tính lừa lọc, che đậy thì hành động trộn chung một đấu gạo và một đấu thóc rồi bắt Tấm nhặt của mụ dì ghẻ là hành động trắng trợn, hành hạ, dày dọa Tấm. Hành động này vừa độc ác vừa tàn nhẫn.

    Khi Tấm trở thành hoàng hậu, mẹ con mụ dì ghẻ càng ganh ghét, đó kỵ với Tấm. Cùng với đó là lòng tham, muốn Cám, con đẻ của mình trở thành hoàng hậu, nên mụ dì ghẻ đã dã tâm giết Tấm trong ngày giỗ cha Tấm. Thậm chí khi biết Tấm chết, hóa thân thành kiếp những khác nhau, rất nhỏ bé, yếu đuối và vô hại như chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, Cám cũng không chịu buông tha cho Tấm. Tất cả vì lòng ganh ghét, đố kỵ và độc ác của Cám.

    Điều này giải thích vì sao Tấm trả thù Cám một cách quyết liệt, mạnh mẽ đến như vậy (Tấm sai quân hầu đào một hố sâu, Tấm lừa Cám xuống đó, rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố cho Cám chết). Sở dĩ Tấm phải hành động mạnh mẽ như vậy vì mẹ con dì ghẻ quá tàn nhẫn và độc ác, họ không từ bỏ một dã tâm nào để hãm hại Tấm, quyết hãm hại Tấm đến cùng. Ngày nào họ còn tồn tại thì ngày đó họ còn hãm hại Tấm, họ dồn Tấm vào đường cùng. Chính vì thế Tấm không có sự lựa chọn nào khác. Có ý kiến cho rằng, hành động trả thù của Tấm là khác lạ với bản chất hiền lành của cô, nhưng đa số ý kiến cho rằng Tấm hành động như vậy là hợp lý và cũng là cách duy nhất để bảo vệ mình.

    Cách kết thúc của truyện Tấm Cám khác với cách kết thúc trong những truyện cổ tích khác. Thông thường trong truyện cổ tích, nhân vật chính diện không trực tiếp trả thù nhân vật phản diện. Thạch Sanh hoàn toàn tha bổng cho mẹ con Lý Thông; người em trong truyện Cây khế không hề phàn nàn, oán trách người anh tham lam; Sọ Dừa và vợ chàng không hề đả động gì đến tội trạng của hai người chị gái (con phú ông)… Việc trừng phạt các nhân vật phản diện trong cổ tích phần lớn do các nhân vật thần kỳ (trời, Phật, thần linh…) thực hiện, hoặc do bản thân các nhân vật phản diện tự chuốc lấy. Trái lại, ở truyện cổ tích Tấm Cám, tác giả dân gian để cho Tấm trả thù và trả thù một cách quyết liệt, dữ dội. Truyện Tấm Cám dù kết thúc không có hậu, nhưng nó vẫn tuân theo đúng quan niệm dân gian trong các thành ngữ  “Tức nước vớ bờ”, “Con giun xéo lắm cũng quằn”. Còn về mối quan hệ nhân – quả, tất nhiên là quá rõ ràng,  nhân nào quả ấy, “gieo gió gặt bão”, “ác giả ác báo”, kết cục thê thảm của mẹ con Cám tương xứng với tội ác của mẹ con mụ hành xử với Cám.

    1. Ý nghĩa của triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám

    2.1/ Thể hiện niềm tin, ước mơ công lý của nhân dân vào lẽ công bằng, vào cuộc đấu tranh và chiến thắng của cái thiện đối với cái xấu, cái ác

    Cũng như truyện cổ tích nói chung, truyện Tấm Cám phản ánh sự xung đột giữa cái thiện và cái ác. Đó là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt, nói theo ngôn ngữ triết học là không thể điều hòa mâu thuẫn. Cái thiện và cái ác là hai đối cực. Cái ác không có lý do để tồn tại vì tính phi nhân đạo, phản nhân văn của nó, vì thế, muốn tồn tại nó phải tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để triệt tiêu cái thiện. Truyện Tấm Cám thể hiện rất rõ điều này qua hành vi độc ác, tàn nhẫn của mẹ con Cám. Sự tấn công của cái ác vào cái thiện bao giờ cũng chủ động, lấn lướt, trấn áp, nhất là đối với cái thiện (nhân vật lương thiện) bị thân cô, thế cô, bất hạnh (người mồ côi, người em út, người nghèo khổ, người có ngoại hình xấu xí…). Trong hoàn cảnh ấy, cái thiện yếu đuối vô cùng, vì vậy truyện cổ tích mới có nhân vật thần kỳ (tiên Bụt, thần, thánh…) hoặc vật thần kỳ (chim thần, sách ước, đàn thần…) để bảo vệ, bênh vực cho cái thiện. Ở truyện Tấm Cám, nhân vật Bụt nhiều lần xuất hiện để giúp đỡ Tấm vượt qua những bế tắc, đó chính là ước mơ cái thiện được bảo vệ, được ủng hộ của nhân dân ta xưa, vì mỗi khi xã hội còn bất công, người hiền không dễ gì sống yên ổn với điều lành, thậm chí có nơi có lúc cái thiện, cái đúng, cái lẽ phải bị cô lập, bơ vơ trước phường “giá áo túi cơm” cơ hội, thực dụng, xu thời hoặc trước hạng người an phận thủ thường, ích kỷ, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh.

    Sự chiến thắng của Tấm đối với mẹ con Cám thể hiện niềm tin vào công lý, vào lẽ công bằng của nhân dân ta. Một cô Tấm hiền lành, chịu thương chịu khó, đẹp người, đẹp nết hoàn toàn xứng đáng trở thành hoàng hậu, sống hạnh phúc. Hai mẹ con mụ dì ghẻ vô lương, tàn độc, ích kỷ hại nhân nên cuối cùng đi đến kết cục bi thảm. Nhân dân ta gửi gắm niềm tin vào cuộc đấu tranh và chiến thắng của cái thiện đối với cái xấu, cái ác rất sâu sắc qua truyện cổ tích Tấm Cám.

    2.2/ Khẳng định triết lý nhân quả “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão” của nhân dân ta

    Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cámkhông chỉ thể hiện niềm tin, ước mơ của nhân dân vào công lý, mà còn khẳng định triết lý nhân – quả như một quy luật trong cuộc đời. Người “ở hiền” sẽ “gặp lành”, kẻ “gieo gió” ắt “gặt bão” – nhân dân ta luôn khẳng định điều đó như một lẽ tất yếu. Đấy không phải là tư tưởng duy tâm, siêu hình mà là quy luật thực sự. Từ triết học Bà-la-môn giáo, Phật giáo, Khổng giáo đến triết học Mác-Lênin đều khẳng định quan hệ nhân – quả mang tính quy luật.

    Bằng hình tượng nhân vật chính diện và phản diện sinh động, tác giả dân gian truyện cổ tích Tấm Cám đã khẳng định chân lý nhân – quả đó. Nhân vật Tấm biết bao nhiêu lần bị mẹ con Cám hãm hại, biết bao nhiêu lần Tấm đau khổ, bế tắc nhưng cuối cùng Tấm đã giành chiến thắng. Mẹ con mụ dì ghẻ không từ bỏ một dã tâm nào để bóc lột, đày đọa, hành hạ, tiêu diệt Tấm nhưng cuối cùng kẻ thất bại thê thảm chính là họ. Vậy thất bại của cái thiện chỉ là cái nhất thời, thất bại của cái ác mới là tất yếu. Do đó, có thể nói, “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão” là sự khẳng định của nhân dân ta về triết lý nhân quả.

            2.3/ Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám có ý nghĩa giáo dục đạo đức con người vô cùng sâu sắc

            Phật giáo khẳng định rằng : nhân – quả là chân lý, sớm muộn gì cũng xảy ra. Đừng vì lý do mau chậm của quả mà vội vàng hấp tấp, mà cho rằng cái luật nhân quả không hoàn toàn đúng, khi thấy có những cái nhân chưa phát sinh ra quả. Luật nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn vật, không có một vật gì, sự gì thoát ra ngoài luật nhân quả được.

    Triết lý dân gian Việt Nam chắc chắn chịu ảnh hưởng của thuyết luân hồi, quả báo (thiện giả thiện báo, ác giả ác báo) của Phật giáo, nhưng nó không cao siêu, lý luận trừu tượng mà rất cụ thể, sinh động. Ông cha ta xưa sáng tạo nên những câu chuyện cổ tích với triết lý nhân quả “Ở hiền gặp lành”như truyện Tấm Cám để giáo dục đạo đức, đạo lý làm người một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc. Những câu chuyện cổ tích hồn nhiên, hấp dẫn, đẹp nên thơ như cô Tấm bước ra từ quả thị thơm tho sẽ in đậm dấu ấn khó phai mờ trong tâm hồn trẻ thơ. Để rồi từ đó cùng với nền nếp gia phong, luân lý xã hội, giáo dục của nhà trường, các em lớn lên trở thành những công dân tốt, những con người hiền lành lương thiện, biết tin vào cái thiện và điều nhân nghĩa.

    2.4/ Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám là bài học đấu tranh để bảo vệ cái thiện, cái chính nghĩa

    Nét độc đáo, sáng tạo trong truyện cổ tích Tấm Cám, là bài học đấu tranh. Nhân vật chính diện phải đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với kẻ thù để tự bảo vệ hạnh phúc của chính mình. Nhân vật thần kỳ chỉ xuất hiện ở nửa đầu truyện với vai trò phụ trợ. Nửa sau tác phẩm (từ khi Tấm trở thành hoàng hậu), nhân vật Bụt không xuất hiện nữa, dù tồn tại dưới nhiều hình thức biến hóa nhưng Tấm luôn chủ động đấu tranh với Cám để giành lấy hạnh phúc. Vậy, ý nghĩa của triết lý nhân quả trong đấu tranh là : trong cuộc đấu tranh với cái ác, cái thiện không thể cam chịu, thụ động ngồi chờ sự trợ giúp nào bên ngoài mà phải tự mình đứng lên đấu tranh. Có ý chí đấu tranh (tư tưởng), hành động đấu tranh và phương pháp đấu tranh (nhân) thì mới có thắng lợi (quả). Ngược lại, chỉ tin rằng thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà mà không đấu tranh (cam chịu hoặc thỏa hiệp) thì thắng lợi chỉ là ảo tưởng, khi đó triết lý nhân – quả chỉ là duy tâm, siêu hình. Cuộc đấu tranh với cái ác, cái xấu có tính mất còn nên cái thiện, cái tốt phải kiên trì, quyết liệt đấu tranh đến cùng. Vì sao ? Vì cái ác, cái xấu có bao giờ chịu nhường bước, nhượng bộ cái thiện, cái tốt đâu ! Hành động xấu xa, độc ác của mẹ con Cám đối với Tấm là minh chứng cụ thể và sinh động cho điều đó.

    1. Kết luận

    Maxim Gorki từng nói “Văn học là nhân học”. Văn học góp phần phát triển nhân cách con người. Văn học xuất phát từ con người, dù nó sâu xa, thăng hoa đến đâu cũng hướng đến con người. Trách nhiệm của người giáo viên dạy văn là qua những bài giảng phải làm cho học sinh thấy được ý nghĩa, lợi ích, giá trị đích thực của việc học văn. Theo tôi, một trong những hướng đi đó là qua mỗi bài học học sinh phải rút ra được ý nghĩa tác phẩm và biết liên hệ bài học đối với bản thân. Nói cách khác, học sinh phải rèn luyện được kỹ năng tự nhận thức. Học văn cũng là một hình thức “học sống”.

    Tài liệu “Giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông” đã định hướng những kỹ năng sống cơ bản mà học sinh rèn luyện qua bài Tấm Cám là : Tự nhận thức, xác định giá trị của cái tốt, cái thiện và có ý thức đấu tranh bảo vệ cái tốt, cái thiện, chống cái, cái xấu trong cuộc sống …

    Vận dụng đề tài nghiên cứu trên vào bài dạy sẽ giúp học sinh nhận thức được rằng “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão”, “Ác giả ác báo” không phải là chuyện chỉ có trong cổ tích hay “xưa như cổ tích” (ngoài đời làm gì có; ai cũng biết, không có gì để nói). Triết học Phật giáo cũng như triết học Mác – Lê-nin đều khẳng định mối quan hệ nhân – quả là quy luật có tính tất yếu, tức nó là chân lý của cuộc sống. Không có nhân nào không sinh ra quả, và không có quả nào không do nhân nào đó tạo thành. Nhân – quả mang tính biện chứng. Không tin vào nhân –  quả là tư tưởng hết sức chủ quan, phi logic, phi khoa học. Đề cập đến triết lý nhân quả trong trường hợp này sẽ giúp học sinh củng cố niềm tin (tức kỹ năng thể hiện sự tự tin) thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà khi mà ngoài đời các em thấy cái thiện, sự chính nghĩa có lúc thua thiệt, bị cái ác, cái phi nghĩa lấn lướt. Khi hiểu được tính nhân – quả, các em sẽ thấy điều đó chỉ là nhất thời, không đánh mất niềm tin trước giá trị của cái tốt, cái thiện.

    Mặt khác, như đã phân tích ở trên “Tấm Cám” là bài học đấu tranh để bảo vệ cái thiện, cái chính nghĩa. Bảo vệ cái tốt, cái thiện là phải đấu tranh chống cái ác, cái xấu, chứ không phải thụ động ngồi chờ, không phải chỉ tin là được. Nếu chỉ dừng lại ở nhận thức và niềm tin mà không hành động thì “nhân – quả” dễ rơi  vào duy tâm, siêu hình, không mang tính tích_cực.

    Từ bài học lớn đối với học sinh là kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng tự điều chỉnh hành vi. Không chỉ trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện – cái ác mới có quan hệ nhân – quả, mà quan hệ nhân – quả có mặt khắp trong cuộc sống chúng ta. Mỗi khi suy nghĩ, hành động nếu nghĩ đến mối quan hệ nhân – quả, ta sẽ điều chỉnh, kiểm soát được hành vi của mình, tránh được lối nghĩ bừa, làm ẩu – nguyên nhân của kết cục xấu. Vậy, với nhận thức về mối quan hệ nhân quả (qua truyện cổ tích Tấm Cám), học sinh sẽ biết hành động theo hướng tạo nhân tốt, tích cực để cóquả tốt đẹptránh gieo nhân xấu, tiêu cực để khỏi rơi vào kết cục xấu, thất bại. Bài học này đơn giản mà sâu sắc, là “hành trang” đầy ý nghĩa theo suốt cuộc đời các em, nếu các em biết ý thức về nó./.

    LÊ XUÂN CHIẾN (Quảng Nam)

    – Từ việc phân tích bài thơ “Tương tư chiều” của Xuân Diệu và “Nhớ ” của Nguyễn Đình Thi, anh/chị hãy chỉ rõ sự khác nhau của văn học lãng mạn và văn học cách mạng.

    – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và thơ văn của Người dành cho thiếu nhi;

    Quà đồng nội (Tiếng Việt 3),

    Quang cảnh làng mạc ngày mùa (Tiếng Việt 5)…

  • Câu hỏi trắc nghiệm môn Kinh tế phát triển

    Câu hỏi trắc nghiệm môn Kinh tế phát triển

    Câu hỏi trắc nghiệm môn Kinh tế phát triển

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ KIỂM TRA MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/C%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-tr%E1%BA%AFc-nghi%E1%BB%87m-m%C3%B4n-Kinh-t%E1%BA%BF-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Câu hỏi trắc nghiệm môn Kinh tế phát triển 

    Câu hỏi trắc nghiệm đúng sai môn Kinh tế phát triển (4)

    1. Mô hình cổ điển cho rằng đất đai là yếu tố quan trọng của tăng trưởng đồng thời là yếu tố giới hạn của tăng trưởng (D)
    2. Theo Mác: đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kĩ thuật là những nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế, trong đó vai trò của các yếu tố tiến bộ kĩ thuật là quan trọng nhất (S)
    3. Mô hình J.Keynes cho rằng nền kinh tế có thể tự điều chỉnh đi đến điểm cân bằng ở mức sản lượng tiềm năng (S)
    4. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với mô hình kinh tế tân cổ điển về cách thức phối hợp các yếu tố đầu vào (S)
    5. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với mô hình tân cổ điển về việc xác định yếu tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế.(D)
    6. Nội dung chính của qụy luật tiêu dùng sản phẩm của Engels đề cập tới mối quan hệ giữa thu nhập và sự biến đổi cơ cấu kinh tế (S)
    7. Một trong những tiến bộ do công nghiệp hoá đưa lại là sự thay đổi trong cơ cấu dân cư và thu nhập (D)
    8. Trong lý thuyết về các giai đoạn phát triển cảu Rostow, một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo cho giai đoạn cất cánh là tỉ lệ đầu tư cao trong sản xuất nông nghiệp để bổ sung cho sự tăng trưởng trong sản xuất công nghiệp (S)
    9. Mô hình 2 khu vực của Lewis cho rằng mức tiền công tối thiểu trong nông nghiệp bằng sản phẩm cận biên của lao động trong nông nghiệp (S)
    10. Mô hình 2 khu vực của Lewis cho rằng khi đường cầu lao động trong khu vực công nghiệp chuyển dần sang phải thì tiền lương lao động sẽ tăng (S)
    11. Mô hình 2 khu vực của tân cổ điển cho rằng tiêề công trong nông nghiệp luôn bằng sản phẩm cận biên của lao động trong nông nghiệp (S)
    12. Mô hình 2 khu vực của trường phái tân cổ điển cho rằng: khi lao động trong khu vực nông nghiệp chuyển sang khu vực coôg nghiệp, họ sẽ nhận mức tiền công cao hơn sản phẩm cận biên của lao động (S)
    13. Trong mô hình của Lewis, khi lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp được tận dụng hết, đường cung lao động trong khu vực công nghiệp sẽ dịch chuyển sang phải (S)
    14. Mô hình hai khu vực của tân cổ điển và Lewis đều dựa vào luận điểm cho rằng lao động dư thừa trong nông nghiệp và giữa hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp phải có sự tác động với nhau ngay từ đầu (S)
    15. Theo quan điểm của Oshima, sự bất bình đẳng trong xã hội có thể được hạn chế ngay từ đầu (D)
    16. Mô hình chữ U ngược của Kuznets đã khẳng định rằng sự tăng trưởng kinh tế và mức công bằng xã hội luôn là hai đại lượng đồng biến với nhau (S)
    17. Theo số liệu thống kê của WB thì các nước đang phát triển thu nhập thấp có hệ số Gini cao hơn các nước công nghiệp phát triển thu nhập cao (D)
    18. Quan điểm của Lewis và Oshima đều cho rằng: mối quan hễ giữa tăng trưởng kinh tế và bình đẳng xã hội được vận động theo dạng chữ U ngược (S)
     
    1. Thất nghiệp vô hình bao gồm những công nhân không có việc làm và có việc làm nhưng với mức lương rất thấp. (S) Tất nghiệp vô hình bao gồm những người có việc làm nhưng việc làm có thu nhập thấp, thời gian làm việc ít.
    2. Ricardo cho rằng đất đai và vốn là những nhân tố làm hạn chế sự tăng trưởng của nền kinh tế (S) Chỉ có đất đai là hạn chế sự tăng trưởng khi sản xuất nông nghiệp trên những đất đai kém màu mỡ-chi phí sản xuất-lợi nhuận làm hạn chế tăng trưởng kinh tế
    3. Sự khác nhau giữa mô hình tân cổ điển và mô hình hiện đại là lý thuyết về việc kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất (vốn và lao động) (S) ngoài sự khác nhau về sự kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất nó còn khác nhau về vai trò của chính phủ trong từng mô hình
    4. Từ các hệ số Gini đã có vơi Đài Loan (0.331) và Phillipinnes (0,459) người ta có thể thấy rằng thu nhập được phân phối công bằng hơn ở Đài Loan (D) Đài Loan có hệ số Gini nhỏ hơn của Phillippines, do vậy thu nhập phân phối công bằng hơn ở Đài Loan
    5. Tiết kiệm trong nước của tư nhân có hai nguồn là tiết kiệm của các công ty và tiết kiệm của hộ gia đình (S) Ngoài nguồn trên còn có nguồn từ nước ngoài về
    6. Khi nền kinh tế trong hai năm liền sản xuất khối lượng hàng hoá nhưng giá năm sau lớn hơn giá năm trước 10%. Vậy GDP năm sau lớn hơn GDP năm trước 10%, vậy nền kinh tế có sự tăng trưởng (S) Tăng trưởng là sự gia tăng về quy mô sản lượng, ở đây sản lượng sản xuất bằng nhau, chỉ có giá là khác.
    7. Phát triển kinh tế xảy ra khi tỉ lệ tiết kiệm GDP tăng (S) Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên về nhiều mặt của nền kinh tế trong mỗi thời kì nhất định. Trong đó bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu KTXH
    8. Điều kiện để thu hút có hiệu quả FDI là hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội (D) Đầu tư của các tư nhân nước ngoài đối với các nước phát triển có hạ tầng tốt là điều kiện của các nhà đầu tư.
    9. GDP là tổng sản phẩm xã hội theo quan điểm của Mark là chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập (S) vì theo quan điểm của Mark tổng sản phẩm xã hội bằng tổng C+V+m , thu nhập quốc dân thì chỉ bằng v+m, tức là chỉ có khu vực sản xuất vật chát mới sáng tạo ra của cải cho xã hội.
    10. Chiến lược thay thế nhập khẩu và chiến lược xuất khẩu hoá phải phù hợp với nhau (S) Chiến lược thay thế nhập khẩu là đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp trong nước nhằm sản xuất sản phẩm nội địa thay thế các sản phẩm nhập khẩu, còn chiến luợc xuất khẩu là việc tận dụng các nguồn lực trong nước và các lợi thế để sản xuất hàng hoá cho xuất khẩu nhằm phát triển tổng thu nhập quốc dân.
    11. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò đối với sự phát triển (S) Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố của thiên nhiên mà con người có thể sử dụng khai thác và chế biến để cho ra sản phẩm cho xã hội, tài nguyên thiên nhiên không phải là động lực mạnh để phát triển kinh tế
    12. Phát triển kinh tế là nâng cao thu nhập đầu người (S) Phát triển kinh tế là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong thời kì nhất định trong đó bao gồm cả sự tăng thêm vè quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội
    13. Kinh tế cổ điển vai trò của nhà nước có tính quyết định phát triển kinh tế (S) Phát triển kinh tế ngoài công nghiệp hoá còn phải hiện đại hoá đất nước
    14. Tiền lương trong thị trường sức lao động khu vực nông thôn và thị trường phi chính thức là như nhau vì cùng được xây dựng tại điểm cân bằng trên thị trường.l(S) W ở khu vực nông thôn và thành thị đều xây ở điểm cân bằng song W ở nông thôn thấp hơn khu thị thành phi chính thức
    15. Phát triển kinh tế là quá trình công nghiệp hóa đất nước (S) Ngoài công nghiệp hoá còn phải hiện đại hoá
    16. Tất cả các nước có nền kinh tế thị trưòng phát triển đều không coi trọng công tác kế hoạch hoá vĩ mô nền kinh tế (S) mỗi cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước kế hoạch hoá đuợc tiến hành theo hai cách : vĩ mô và vi mô: Vĩ mô là kế hoạch định hướng phát triển kinh tế xã hội ở tầm quốc gia, Vi mô là kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
    17. Lợi nhuận thu đuợc từ mỏ tài nguyên có chát lượng cao hơn và chi phí sản xuất thấp hơn gọi là lợi nhuận thông thường (S) Địa tô chênh lệch
    18. HDI là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các nhu cầu cơ bản nÍât của con người vì nó bao gồm các chỉ tiêu như trình độ giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và thu nhập (D) Cấu thành của HDI bao gồm : GNP / người, tuổi thọ trung bình và trình độ văn hoá
    19. Nếu hai nước có cùng tỉ lệ đầu tư và cùng mức ICCR thì 2 nước đó sẽ có cùng tăng trưởng của thu nhập bình quân đầu người. (S) s=s, k=k, g=g, nhưng tăng trưởng htu nhập bình quân = g- tốc độ tăng dân số
    20. Khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên , tỷ lệ đâu tư từ nguồn tiết kiệm ngoài nước sẽ tăng lên (S) Khi thu nhập bình quân đầu người tăng dẫn đến tích luỹ nội bộ tăng (tiết kiệm trong nước tăng)
    21. Khi lãi suất đầu tư giảm thì tiền lương (GDP) và mức giá (PL) sẽ thay đổi do được tổng cung dịch chuyển sang bên trái và bên phía trên (S) khi lãi suất đầu tư giảm, vốn đầu tư tăng lên làm cho được AD chuyển sang phía phải (lên trên). Sản lượng tăng làm GDP tăng, Giá PL tăng
    22. Khu vực thành thị phi chính thức ở hầu hết các nước đang phát triển luôn có số người lao động xếp hàng chờ việc làm ở mức tiền lương cao hơn mức tiền lương cân bằng trên thị trường (S) Đa số những người làm việc ở khu vực thành thị phi chính thức là những người thành thị không có trình độ chuyên môn, chỉ với một số vốn nhỏ người ta có thể bán rong… hoặc làm thuê cho người khác: khối lượng lớn việc làm với mức tiền lương thấp
    23. Chính sách bảo hộ thực tế của chính phủ bằng thuế có nghĩa là chính phủ đánh thuế vào hàng tiêu dùng nhập có sức cạnh tranh với hàng sản xuất trong nước (S) đây mới chỉ là bảo hộ danh nghĩa còn bảo hộ thực tế ngoài việc đánh thuế vào hàng nhập để tăng giá còn đánh vào nguyên vật liệu nhập
    24. Lý thuyết lợi thế só sánh đề cập đến những sự khác nhau giữa các nước về chi phí sản xuất hàng hoá (S) đó là lợi thế tuyệt đối, còn lợi thế so sánh đưa vào chi phí so sánh
    25. Những khoản tiết kiệm từ ngân sách của chính phủ các nước đang phát triển không phải nguồn vốn đầu tư cơ bản (D) ngân sách chính phủ =tổng thu-tổng chi. Trong tổng chi có phần chi cho đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển một số ngành mũi nhọn
    26. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng mức tăng thêm tuyệt đối về tổng sản phẩm trong nước. (S) mức tăng tương đối so với năm gốc
    27. Theo định nghĩa về thất nghiệp, tất cả những người có việc làm trong khu vực thành thị không chính thức đều được tính là thất nghiệp
    28. Việc phát triển những ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất thường là mục tiêu ban đầu của chiến lược thay thế hàng nhập khẩu. (S) sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ thị trường trong nước.

    Hệ số trao đổi hàng hoá thực tế phản ánh điều kiện thương mại, thu nhập và được xác định bởi

    1. Tỉ số giữa thu nhập từ xuất khẩu và giá hàng hoá bình quân nhập khẩu
    2. Tỉ số giữa giá bình quân nhập khẩu và giá bình quân xuất khẩu
    3. Tỉ số thu nhập xuất khẩu và số lượng xuất khẩu
    4. Tỉ số giữa giá bình quân xuất khẩu và giá bình quân nhập khẩu

    Thu nhập của các nước xuất khẩu sản phẩm thô giảm là do các nguyên nhân sau đây, ngoại trừ:

    1. Nhu cầu về lương thực, thực phẩm giảm khi thu nhập tăng
    2. Tíên bộ khoa học kĩ thuật làm cho các cơ sở sản xuất ngày càng giảm định mức sử dụng nguyên vật lilệu và sử dụng vật liệu thay thế
    3. Nhu cầu tích luỹ vốn trong các nước đang phát triển ngày càng tăng do đó họ có xu hướng tăng cung xuất khẩu sản phẩm thô
    4. Các nước phát triển không muốn mua nguyên vật liệu của các nước đang phát triển vì họ có thể sản xuất ra chúng với chi phí thấp hơn

    Biện pháp nào trong số những can thiệp sau đây vào thị trường là biện pháp thích hợp nhát để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hướng ngoại

    1. Trợ cấp tạm thời cho những nhà xuất khẩu
    2. Đaán thuế bảo hộ cao với những ngành công nghiệp được ưu tiên
    3. Hạn chế về số lượng hàng nhập cạnh tranh
    4. Tỉ giá hối đoái quá cao

    Trong những hoạt động dưới đây của chính phủ, hoạt động nào được xem là cơ bản tác động tới sự phát triển kinh tế

    1. Hoạt động để tăng thu ngân sách để đầu tư
    2. Hoạt động vay vốn nước ngoài để đầu tư
    3. Hoạt động nhằm huy động tiết kiệm của tư nhân để đầu tư
    4. Trợ cấp cho các doanh nghiệp công cộng

    Hàm tiêu dùng của Keynes khi thu nhập tăng quá mức thu nhập giao tiêu dùng

    1. Tiết kiệm của hộ gia đình lớn hơn so với tiêu dùng
    2. Tiết kiệm của hộ gia đình là dương
    3. Tiêu dùng của hộ gia đình bắt đầu vượt quá mức cần thiết
    4. Tổng lượng tiết kiệm trong nước là dương

    Trong các nước đang phát triển, tỉ suất sinh có xu hướng

    1. Cao hơn khi việc học cấp phổ thông cơ sở là bắt buộc
    2. Cao hơn khi thu nhập của gia đình cao hơn
    3. Thấp hơn khi phụ nữ có các cơ hội tốt hơn để làm việc ngoài gia đình
    4. Thấp hơn khi tỉ lệ sống sót của trẻ em thấp

    Hình thức nào trong số sau đây không được coi là viện trợ chính thức hay viện trợ nước ngoài

    1. Giúp đỡ kĩ thuạt
    2. Viện trợ lương thực, thực phẩm
    3. Những khoản vay của các tổ chức chính thức theo các điều khoản thương mại
    4. Viện trợ đa phương

    Sự thay đổi nào dưới đây, nhìn chung không phải là sự thay đổi cơ cấu kèm theo sự phát triển

    1. Nghèo đói tăng lên ở các vùng nông thôn
    2. Tăng tỉ lệ sản lượng công nghiệp trong GDP
    3. Dân cư phi nông nghiệp tăng
    4. Tất cả những thay đổi trên

    Ba thành phần của HDI là:

    1. Tuổi thọ, chăm sóc sức khoẻ và sthu nhập
    2. Tuổi thọ, trình độ giáo dục và thu nhập
    3. Trình độ giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và thu nhập
    4. Dinh dưỡng phân phối thu nhập và tuỏi thọ

    Để khuyến khích có hiệu quả các ngành công nghiêp trong nước, các chính sách bảo hộ thay thế về hàng nhập khẩu phải

    1. Không bao gồm các hạn ngạch nhập khẩu
    2. Luôn mang tính tạm thời
    3. Tập trung vào các ngành sản xuất hàng tiêu dùng công nghiệp
    4. Tất cả a và b

    Để tính hệ số GNP cho đưòng cong Lorenz, người ta tính tỉ lệ

    1. A/(A+B)
    2. B/(A+B)
    3. C/(A+B)
    4. A/B

    Tác động nào dưới đây có ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế

    1. Giảm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
    2. Đối mới chính sách kinh tế vĩ mô
    3. Bố trí cơ cấu kinh tế hợp lý
    4. Đầu tư đổi mới công nghệ và kĩ thuật sản xuất

    Trong các nước phát triển, nguồn tiết kiệm để tích luỹ chủ yếu là:

    1. Tiết kiệm từ ngân sách nhà nước
    2. Tiết kiệm của dân cư
    3. Tiết kiệm của các xí nghiệp kinh doanh
    4. Tất cả các nguồn trên

     

    Yếu tố nào trong các yếu tố sau không tác động đến xu hướng giảm mức thu nhập của các nước xuất khẩu sản phẩm thô

    1. Cung xuất khẩu sản phẩm thô giảm
    2. Cầu xuất khẩu sản phẩm thô giảm
    3. Cung xuất khẩu sản phẩm thô tăng
    4. Tất cả các yếu tố trên

     

    Nhân tố nào duới đây là nhân tố trực tiếp quyết định sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia

    1. Phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
    2. Tăng quy mô tiết kiệm và đầu tư trong nước
    3. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
    4. Cả a vàb

    Khi đường đồng sản lượng có dạng hình chữ L hàm sản xuất là

    1. Tân cổ điển
    2. Hệ số cố dịnh
    3. Tổng quát
    4. Mac

    Sự khác biệt chủ yếu giữa việc sử dụng thuế quan bảo hộ và hạn ngạch nhập khẩu là

    1. Chính phủ không thu được tiền bằng cách cấp hạn ngạch
    2. Cách thức xác định lượng bằng nhập khẩu

    Chiến lược thay thế bằng nhập khẩu thường dẫn tới mặt hạn chế nào sau đây:

    1. Tạo ra những ngành có chi phí sản xuất cao và không có khả năng cạnh tranh
    2. Làm tăng số thiếu hụt ngoại tệ
    3. Hạn chế sự tạo thành cơ cấu công nghệip đa dạng trong nước
    4. Tất cả những điều trên

    Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế cho rằng

    1. Tiền công và giá cả luôn phản ứng lại một cách nhanh chóng trạng thái mất cân bằng của nền kinh tế
    2. Chính phủ có thể tác động đến AD để giảm thất nghiệp
    3. Khoa học kĩ thuật là yếu tố quan trọng nhất tác động đến tăng trưởng
    4. Tất cả những điều kể trên

    Để xếp loại các nứoc nghèo, ngân hàng thế giới đưa vào các tiêu thức sau đây, ngoại trừ

    1. Tài sản được sản xuất ra như máy móc, các nhà máy, đường xá, cá cơ sở hạ tầng khác
    2. Tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người
    3. Tài nguyên thiên nhiên bao gồm đất đai, khoáng sản và môi trưòng
    4. Sức mạnh con nguời như mức dinh dưỡng và trình độ giáo dục

     

     

    Những mục nào dưới đây sẽ không tính vào mục chi tiêu dùng của chính phủ

    1. Chi tiêu của chính phủ để mua vũ khí quân sự
    2. Chi tiêu của chính phủ cho công trình thuỷ lợi
    3. Chi lương cho giáo viên
    4. Không có nhu cầu nào kể trên

    Với điều kiẹn cách thức khác không thay đổi, mức bảo hộ với ngành giầy da sẽ càng cao

    1. Nếu mức thuế nhập khẩu đánh vào giá nhân công thấp
    2. Nếu giá trị tăng của ngành giầy cao
    3. Nếu mức thuế nhập khẩu đánh vào giầy càng cao
    4. Nếu xảy ra tất cả các điều kiện kể trên

    Hệ số trao đổi hàng hoá thực tế phản ánh điều kiện thương mại theo thu nhập và được xác định bởi

    1. Tỉ số giữa thu nhập từ xuất khẩu và giá bình quân hàng hoá nhập khẩu
    2. tỉ số giữa giá bình quân nhập khẩu và giá bình quân xuất khẩu
    3. Tỉ số giữa thu nhập xuất khẩu và số lượng xuất khẩu
    4. Tỉ số giữa giá bình quân xuất khẩu và giá bình quân nhập khẩu

    Kết quả của một phát minh sáng chế dẫn đến tăng sản lượng đầu vào, lao động không đổi thì đó là kết quả của

    1. Thay đổi công nghệ của tiết kiệm vốn
    2. Thay đổi công nghệ tăng lao dộng
    3. Thay đổi của công nghệ tăng vốn
    4. Thay đổi công nghệ tiết kiệm lao động

    Mệnh đề nào trong số các mệnh đề sau đây không là một chính sách áp dụng ở nước đang phát triển để hi vọng giảm tỉ lệ tăng dân số

    1. Cố gắng thuyết phục dân chúng có quy mô gia đình nhỏ hơn thông qua cá phương tiện thông tin và quá trình giáo dục
    2. Cố gắng bắt mọi người phải có quy mô gia đình nhỏ hơn thông qua sức mạnh của nhà nước và các hình phạt
    3. Sự sử dụng các đòn bẩy kinh tế như giảm hoặc loại bỏ chi phí trường học
    4. Đề cao vai trò xã hội và kinh tế của phụ nữ

    Sự chênh lệch giá bán và chi phí khai thác tài nguyên là

    1. Lợi nhuận thông thường
    2. Chi phí công
    3. Thực doanh thu
    4. Địa tô

    Chỉ tiêu nào trong số sau được coi là yếu tố cấu thành vốn sản xuất

    1. Giá trị khấu hao máy móc thiết bị
    2. Khối lượng tiền trong sử dụng lưu thông
    3. Giá trị máy móc thếit bị đang hoạt động sản xuất
    4. Giá trị nguyên vật liệu được sử dụng cho hoạt động sản xuất

    Đặc điểm nào dưới đây không phải là đặc điểm của thương mại quốc tế

    1. Thực hiện chuyên môn hoá
    2. Cải tiến sự phân phối về của cải và thu nhập
    3. Tăng sự phụ thuộc của một quốc gia vào thị trường
    4. Cả hai bên cùng có lợi

    Chỉ số nào trong số sau đây đánh giá sự phát triển thực sự của một quốc gia

    1. Thu nhập bình quân đầu người
    2. Tổng sản phẩm quốc nội
    3. Chỉ số phát triển nhân lực
    4. Mức tài sản quốc gia tính bình quân đầu người
    1. Mô hình cổ điển cho rằng đất đai là yếu tố quan trọng của tăng trưởng, đồng thời là yếu tố giới hạn của tăng trưởng (D)
    2. Theo Mác, đất đai, lao động, vốn, tiến bộ khoa học kĩ thuật là những nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, trong đó vai trò của tiến bộ kĩ thuật là quan trọng nhất (S)
    3. Keynes cho rằng nền kinh tế có thể tự điều chỉnh đi đến điểm cân bằng ở mức sản lượng tiềm năng (S)
    4. Lý thuyết ttkt hiện đại thống nhất với mô hình tân cổ đin về việc xây dựng yếu tố quan trọng nhất tác động đến ttkt (D)
    5. Ở các nước đang phát triển, tất cả những người chưa có việc làm ở khu vực thành thị phi chính thức đều được coi là thất nghiệp trá hình (S)
    6. ttkt và vấn đề cải thiện đời sống quảng đại quần chúng là 2 đại lượng đồng biến với nhau (S)
    7. Chỉ tiêu ADI của UNDP là chỉ tiêu đánh giá tổng các nhu cầu cơ bản của con người (S)
    8. Nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của nhà nước và có khả năng tham gia vào lao động (S)
    9. Những nguời trong độ tuổi lao động là những người tạo ra thu nhập cho đất nước (S)
    10. Thất nghiệp theo khái niệm là phản ánh đúng tình trạng chưa sử dụng hết lao động của các nước đang phát triển (S)
    11. Theo mô hình 2 khu vực của trường phái tân cổ điển , một khu vực nông nghiệp trì trệ  sẽ làm cho mức tiền lương trong công nghiệp tăng nhanh (D)
    12. Theo mô hình Harod Domar, nếu 2 nước có cùng hệ số gia tăng vốn sản lượng, có cùng mức tích luỹ sẽ có cùng tốc độ tăng trưởng (S)
    13. Vốn đầu tư và vốn sản xuất sẽ tác động đến sự tăng trưởng kinh tế thông qua kích thích tổng cầu (S)
    14. Thuế quan bảo hộ thực tế là thuế đánh với tỉ lệ thuế suất cao vào hàng hoá tiêu dùng cuối cùgn và tỉ lệ thấp vào hàng hoá tiêu dùng trung gian (D)
    15. Một trong những hạn chế chiến lược thay thế hàng nhập khẩu là giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước (D)
    16. Trong điều kiện cầu cafe trên thế giới tăng chậm thì việc mở rộng sản xuất cung ứng sẽ dẫn đến làm giảm thu nhập (D)
    17. Theo số liệu thống kê của WB thì các nước đang phát triển thu nhập có hệ số Gini cao hơn các nước phát triển
    18. Quyết định của Lewis và Oshima đều cho rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng xã hội đều theo dạng chữ U ngược (S)
    19. Trong mô hình 2 khu vực của Lewis, khi lao động dư thừa, thì khu vực nông nghiệp được tận dụng hết đường cung lao động trong khu vực công nghiệp dịch chuyển sang phải (S)
    20. Mô hình 2 khu vực của Lewis và tân cổ điển đều dựa vaà quan điểm cho rằng có lao động dư thừa trong nông nghiệp và giữa 2 khu vực công nghiệp, nông nghiệp phải có sự tác động qua lại lẫn nhau ngay từ đầu (S)

    CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

    Jun 7, 2007 in Socio_Xã hội

    Để nghiên cứu kinh tế, các nhà kinh tế học thường sử dụng mô hình hay học thuyết.

    Các mô hình là khuôn mẫu để tổ chức phương pháp tư duy về một vấn đề. Các mô hình được đơn giảm hoá bằng cách bỏ qua một vài chi tiết của thế giới hiện thực, qua đó tập trung vào các điểm chính yếu, từ đó giúp chúng ta triêể khai phân tích xem nền kinh tế hoạt động thế nào. Trong khi lập mô hình, chúng ta có quyền bỏ qua những chi tiết không quan trọng của hiện thực, nhưng nếu chúng ta lập quá đơn giản, bỏ qua những chi tiết quan trọng thì mô hình sẽ không có tác dụng, và sẽ không phù hợp với thế giới hiện thực.

    Giữa mô hình kinh tế và số liệu thực tế có mối quan hệ chặt chẽ, các số liệu tương tác với mô hình theo hai hướng: số liệu giúp lượng hoá các quan hệ mà mô hình lý thuyết quan tâm; số liệu giúp ta kiểm nghiệm mô hình.

    Như vậy, để tiến hành xây dựng mô hình kinh tế, người ta phải bắt đầu bằng việc thu thập các số liệu để tìm mối quan hệ logic giữa các yếu tố của nền kinh tế, sau đó sử dụng các kết quả đã phân tích để xây dựng mô hình quan hệ kinh tế. Cuối cùng, dù muốn ủng hộ lý thuyết nào chăng nữa, chúng ta vẫn phải kiểm nghiệm bằng số liệu thực tế.

    Vậy, mô hình kinh tế chính là cách thức diễn đạt những con đưòng, hình thái, nội dung phát triển kinh tế của các quốc gia thông qua các biến số, các nhân tố kinh tế trong quan hệ chặt chẽ với các điều kiện chính trị, xã hội. Các mô hình có thể được diễn đạt dưới dạng lời văn, biểu đồ, đồ thị hoặc phương trình toán học

    Mô hình cổ điển

    Được hình thành cách đây 200 năm bởi Adam Smith và Ricardo, mô hình này có những nội dung căn bản sau:

    Yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn. Trong ba yếu tố trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, là giới hạn của sự tăng trưởng.

    Phân chia xã hội thành 3 nhóm người: địa chủ, tư bản và công nhân. Sự pâhn phối thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền sở hữu của họ đối với các yếu tố sản xuất. Địa chủ có đất thì nhận địa tô, tư bản có vốn thì nhận lợi nhuận, công nhân có sức lao0 động thì nhận tiền công. Cách phân phôis này đuợc họ cho là hợp lý. Vậy, thu nhập xã hội=địa tô+lợi nhuận+tiền công

    Trong 3 nhóm người này, thì nhà tư bản giữ vai trò quan trọng trong cả sản xuất, tích luỹ và phân phối. Họ đứng ra tổ chức sản xuất, giành lại một phần lợi nhuận để tích luỹ và chủ động trong quá trình phân phối.

    Các nhà kinh tế học cổ điển còn cho rằng, hoạt động của các chủ thể kinh tế bị chi phối bởi bàn tay vô hình-cơ chế thị trường, phủ nhận vai trò của nhà nước, cho rằng đây là cản trở cho phát triển kinh tế.

    Mô hình của Các-Mác

    Theo Mác, các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, vốn, tiến bộ kĩ thuật

    Mác đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong quá trình tạo ra giá trị thặng dư. Theo Mác, sức lao động đối với nhà tư bản là một loại hàng hoá đặc biệt. Trong quá trình nhà tư bản sử dụng lao động, hàng hoá sức lao động tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động dành cho bản thân người lao động, cộng với giá trị thặng dư dành cho tư bản và địa chủ.

    Về yếu tố vốn và tiến bộ kĩ thuật, Mác cho rằng mục đích của các nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư, tuy nhiên, việc tăng sức lao động cơ bắp cảu người công nhân cần dựa vào cải tiến kĩ thuật. Tiến bộ kĩ thuật làm tăng số máy móc và dụng cụ lao động, nghĩa là cấu tạo hữu cơ của tư bản C/V có xu hướng tăng lên. Do đó, các nhà tư bản cần nhiều tiền vốn hơn để mua máy móc, trang thiết bị, ứng dụng công nghệ mới. Cách duy nhất để gia tăng vốn là tiết kiệm. Vì vậy, các nhà tư bản chia giá trị thặng dư ra hai phần: một phần để tiêu dùng, một phần tích luỹ phát triển sản xuâts. Đó là nguyên lý tích luỹ của chủ nghĩa tư bản.

    Cũng như các nhà kinh tế học cổ điển, Mác cho rằng khu vực saả xuất ra của cải vật chất cho xã hội gồm 3 nhóm: địa chủ, tư bản, công nhân. Tương ứng, thu nhập của họ là địa tô, lợi nhuận và tiền công. Tuy nhiên, sự phân phối này mang tính bóc lột: thực chất là 2 giai cấp: bóc lột và bị bóc lột.

    Các nhà kinh tế trước Mác chỉ phân biệt rõ hai thuộc tính có mâu thuẫn của hàng hoá: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Trái lại, Mác khẳng định rằng hàng hoá là sự thống nhất biện chứng của hai mặt: giá trị sử dụng và giá trị. Mác là người đầu tiên đưa ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá và xây dựng lý luận về tư bản bất biến, tư bản khả biến, hoàn thiện việc phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động.

    Về mặt giá trị: Mác đã phân chia sản phẩm xã hội thành 3 phần c+v+m , trên cơ sở đó, Mác cho rằng :

    Tổng sản phẩm xã hội=c+v+m

    Tổng thu nhập quốc dân=v+m

    C: tư bản bất biến

    V: tư bản khả biến

    M: giá trị thặng dư

    Về mặt hiện vật, Mác chia làm hai khu vực:

    Khu vực 1: sản xuất ra tư liệu sản xuất

    Khu vực 2: sản xuất ra tư liệu tiêu dùng

    Về quan hệ cung cầu và vai trò của nhà nước: trong khi phân tích chu kì kinh doanh và khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản, Mác cho rằng, khủng hoảng thừa do thiếu số cầu tiêu thụ, đây là biểu hiện của mức tiền công giảm và mức tiêu dùng của cá nhân nhà tư bản cũng viảm vì khát vọng tăng tích luỹ. Muốn giải thoát khỏi khủng hoảng, nhà nước phải có những biện pháp kích cầu nền kinh tế.

    Như vậy, Mác đã đặt nền tảng đầu tiên cho xác định vai trò của nhà nước trong điều tiết cung cầu kinh tế

    Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế

    Vào cuối thế kỉ 19, cùng với sự tiến bộ của kho học và công nghệ , trường phái kinh tế tân cổ điển ra đời. Bên cạnh một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế tương đồng cùng trường phái cổ điển nhưu sự tự điều tiết của bàn tay vô hình, mô hình này có các quan điểm mới sau:

    Đối với các nguồn lực về tăng trưởng kinh tế, mô hình nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của vốn. Từ đó họ đưa ra hai khái niệm:

    Phát triển kinh tế theo chiều sâu: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động

    Phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng vốn tương ứng với sự gia tăng lao động

    Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglass Y=F(k,l,r,t)

    Sau khi biến đổi, Cobb-Douglass thiết lập mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng các biến số: g=t+ak+bl+cr

    Trong đó:

    G: tốc độ tăng trưởng GDP

    K,l,r: tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên

    T phần dư còn lại, phản ánh tác động khoa học kĩ thuật

    A, b, c: các hệ số, phản ánh tỉ trọng của các yếu tố đầu vào trong tổng sản phẩm: a+b+c=1

    Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế

    Nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trong xác định sản lượng của nền kinh tế: sau khi phân tích các xu hướng biến đổi của tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, và ảnh hưởng của chúng đến tổng cầu , khẳng định cần thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao tổng cầu và việc làm trong xã hội

    Nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế. Những chính sách làm tăng tiêu dùng: tác động vào tổng cầu nhưu: sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp, giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư, đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế, công trái nhà nước để bổ sung ngân sách, tăng đầu tư của nhà nước vào các công trình công cộng và một số biện pháp hỗ trợ khác khi đầu tư tư nhân giảm sút

    Phát triển tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 của thế kỉ 20, hai nhà kinh tế học là Harod nguời Anh và Domar người Mĩ đưa ra mô hình xem xét mối quan hệ tăng trưởng với các nhu cầu về vốn g=s/k=i/k

    Trong đó:

    G: tốc độ tăng trưởng

    S: tỉ lệ tiế kiệm

    I: tỉ lệ đầu tư

    K: hệ số ICOR: hệ số gia tăng tư bản- đầu ra

    hệ số ICOR phản ánh trình độ kĩ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư (để tăng 1 đồng tổng sản phẩm cần k đồng vốn)

    Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại của P.A. Samuelson-hỗn hợp

    Sau một thời gian áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy của Keynes, quá nhấn mạnh tới vai trò bàn tay hữu hình của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, hạn chế bàn tay vô hình, tạo trở ngại cho quá trình tăng trưởng. Các nhà kinh tế học của trườgn phái hỗn hợp ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp. Trên thực tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụn mô hình kinh tế hỗn hợp ở những mức độ khác nhau, vì thế , đây được coi là mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại, nội dung cơ bản của nó là:

    Giống mô hình của Keynes, quan niệm sự cân bằng của kinh tế xác định tại giao AS và AD

    Thống nhất với mô hình kinh tế tân cổ dđển, mô hình kinh tế học hiện đại cho rằng, tổng mức cung của nên kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đó là tài nguyên, lao động, vốn, khoa học công nghệ. Thống nhất với kiểu phân tích của hàm sản xuât Cobb-Douglass về sự tác động của các yếu tố trên với tăng trưởng.

    Các nhà kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với mô hình Harrod-Domar về vai trò tiết kiệm và vốn đầu tư trong tăng trưỏng kinh tế.

    Chính vì thế , nhiều người cho rằng mô hình kinh tế hỗn hợp là sự xích lại gần nhau của học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây 


  • ĐỀ KIỂM TRA MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

    ĐỀ KIỂM TRA MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

    ĐỀ KIỂM TRA MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%80-KI%E1%BB%82M-TRA-M%C3%94N-KINH-T%E1%BA%BE-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ KIỂM TRA MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

    ĐỀ KIỂM TRA MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

    Theo số liệu thống kê của Việt Nam năm 2006: GDP theo giá hiện hành đạt 71 tỷ USD; Tổng mức tiết kiệm đạt 29,465 tỷ USD trong số 20,625 tỷ USD là tiết kiệm trong nước; Tỷ lệ huy động tiết kiệm trong nước vào đầu tư là 73%; còn tỷ lệ huy động tiết kiệm từ nước ngoài vào đầu tư là 100%; Hệ số trễ của vốn đầu tư là 0,15.

    1. Năm 2007; Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế là 7,5%. Hãy sử dụng mô hình tăng trưởng Harrod- Domar để bình luận mục tiêu tăng trưởng nói trên với hệ số ICOR năm 2007 là 4.

    Tiết kiệm nước ngoài năm 2006 là:

    SNN = S2006 – S2006 (TN)

    SNN = 29,465  – 20,625 = 8,84 ( tỷ USD)

    Tổng đầu tư huy động từ tiết kiệm nước ngoài năm 2006 là:

    I2006(NN) =  m2006(NN) x S2006(NN)

    I2006(NN)  = 100% x 8,84 = 8,84( tỷ USD)

    Tổng đầu tư huy động từ tiết kiệm trong nước năm 2006 là:

    I2006(TN) =  m2006(TN) x S2006(TN)

    I2006(TN) 73% x 20,625 = 15,05625 (tỷ USD)

    Tổng vốn đầu tư huy năm 2006 là:

    8,84 + 15,05625 = 23,89629 ( tỷ USD)

    Hệ số huy động của tiết kiệm vào đầu tư năm 2006 là:

    ms = I2006/S2006 = 23,89629/ 15,05625 = 81,1%

    Theo mô hình tăng trưởng Harrod- Domar, tốc độ tăng trưởng theo kế hoạch là:

    g = {so x ms x (1-  mi)}/k2007

    so là tỷ lệ tiết kiệm đầu tư năm 2007 là:

    29,465 : 71 = 41,5%

    Vậy g={41,5% x 81,1% x (1-15%)}:4=7,15%

    Từ những số liệu trên có thể thấy rằng mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam năm 2007 là 7,5% cao hơn so với khả năng tăng trưởng của nền kinh tế là 7,15%.

    Theo số liệu thống kê năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 8,5% .Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa chủ yếu vào sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư. Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2004 đến nay đều đã vượt qua mốc 40% (năm 2004 đạt 40,7%, năm 2005 đạt 40,9%, năm 2006 đạt 41%, ước năm 2007 đạt 40,4%), kế hoạch năm 2008 còn cao hơn, lên đến 42%.

    Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện còn dựa một phần quan trọng vào yếu tố số lượng lao động, sự quan trọng này được xét trên hai mặt. Một mặt, do nguồn lao động hàng năm vẫn còn tăng khoảng 2%, tức là trên 1 triệu người mỗi năm. Mặt khác, do tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao.

    Ở nước ta, tỷ lệ của vốn và lao động đóng góp vào tăng trưởng là 71,8%, sự đóng góp của yếu tố TFP (yếu tố năng suất tổng hợp) là 28,2%, chứng tỏ VN phát triển kinh tế theo chiều rộng, chưa chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu.

     

    1. Sử dụng ý tưởng của mô hình Harrod – Domar có thể đề xuất 2 phương án giải quyết nhằm thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế đặt ra: (1) tăng cường khai thác huy động thêm các nguồn vốn đầu tư; (2) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động. Những gì sẽ xảy ra khi sử dụng một trong hai hướng giải quyết trên đối với thị trường các yếu tố nguồn lực liên quan? Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2007 sẽ như thế nào? với giả thiết các yếu tố khác không đổi. (Sử dụng các đồ thị minh hoạ).

    Với mục tiêu tốc độ tăng trưởng g = 7,5%

    Nhu cầu vốn đầu tư cần có là:

    s2006 = kk x gk =4  x 7,5%= 30%

    s2006 (điều chỉnh) = so : {ms x (1- mi)}

    s2006 (điều chỉnh)  = 0,3: {0,81 x (1- 0,15)}=0,4352

    Ta thấy nhu cầu vốn đầu tư lớn hơn khả năng, vì vậy để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế đặt ra có thể đề xuất 2 phương án: (1) tăng cường khai thác huy động thêm các nguồn vốn đầu tư; (2) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động.

    • (1) tăng cường khai thác huy động thêm các nguồn vốn đầu tư

    s (nhu cầu) = so : {ms x (1- mi)}

    Từ công thức trên ta thấy nếu muốn giảm nhu cầu vốn cần phải tăng ms tức là hệ số huy động tiết kiệm phải được tăng lên.

    Phương án được lựa chọn là không chỉ tăng đầu tư, mà còn phải tập trung nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Việt Nam sẽ vẫn phải tiếp tục thực hiện một số biện pháp sau để huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn:

    – Cải cách thủ tục, chính sách, các quy định pháp lý để sớm khắc phục những ách tắc trong giải ngân vốn đầu tư, trong việc phát triển doanh nghiệp; giảm bớt gánh nặng chi phí bất hợp lý trong kinh doanh, tạo môi trường làm ăn thông thoáng, minh bạch cho mọi thành phần kinh tế. Do vậy, nhà nước cần giảm bớt những dự án đầu tư không hiệu quả và chuyển dần từ đầu tư của nhà nước sang đầu tư tư nhân. Việc xã hội hoá đầu tư không chỉ làm gia tăng hiệu quả vốn đầu tư mà còn làm giảm nợ chính phủ.

    – Việt Nam cần cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, đặc biệt là khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân (Hiện tại đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân ở mức khoảng 30% tổng mức đầu tư của toàn xã hội, thấp hơn rất nhiều so với đầu tư của nhà nước.

    – Cần có cơ chế thông thoáng hơn để thu hút nguồn kiều hối. Trong những năm qua nguồn kiều hối không ngừng gia tăng làm giảm đáng kể giữa tiết kiệm và đầu tư ở Việt Nam.

    • (2) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động.
    1. Khi cần phải quyết định hướng đầu tư phát triển cho Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh nhưng lại chịu sức ép lớn về vấn đê giải quyết việc làm, quan điểm của anh, chị như thế nào? Lập luận cho quan điểm đó.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây 


  • Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước

    Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước

    Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh tế công cộng – thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, giải pháp khắc phục


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-L%C3%BD-lu%E1%BA%ADn-vai-tr%C3%B2-kinh-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước

    Lời mở đầu

    Như chúng ta đã biết nền kinh tế đã phải trải qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn khác nhau hưng thịnh có, khủng hoảng có. Để khắc phục những hạn chế và đưa nền kinh tế phát triển thì mỗi trường phái mỗi nhà kinh tế học lại đưa ra quan điểm của riêng mình. Có người thì coi trọng vai trò của nhà nước, có người lại không.Vậy để làm rõ hơn ”vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế” nhóm tôi  thảo luận về chủ đề này. Bài thảo luận của chung tôi gồm 3 phần:

    +Phần I: Nói về nguồn gốc, bản chất và sự phát triển của nhà nước.

    +Phần II: Lý luận vai trò của nhà nước đối với đi nền kinh tế theo quan điểm của từng trường phái.

    +Phần III: Vai trò của nhà nước đối với nước ta hiện nay.

    Mặc dù đã hết sức cố gắng hoàn thành bài thảo luận nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài thảo luận của chúng tôi được hoàn thiện hơn.

    I. Nguồn gốc nhà nước

    a, Nguồn gốc nhà nước

    Nhà nước là một phạm trù lịch sử, chỉ ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa. Trong xã hội nguyên thủy, do kinh tế còn thấp kém, chưa có điều kiện khách quan để dẫn đến sự phân hóa giai cấp nên nhà nước chưa xuất hiện. Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là những tộc trưởng do nhân dân bầu ra; việc điều chỉnh các quan hệ xã hội được thực hiện bằng các quy tắc chung không cần đến các công cụ cưỡng bức đặc biệt.

    Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự ra đời của chế độ tư hữu. Đó là cơ sở kinh tế khách quan dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được xuất hiện. Để các giai cấp không tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội thì một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời. Đó là nhà nước do giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế lập ra. Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ, sau đó là nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản.

    Theo quan điểm của Lênin, nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được.

    b. Bản chất của nhà nước

    Theo Ph. Ăngghen, về bản chất thì “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác.” Không có nhà nước đứng trên các giai cấp hoặc nhà nước chung cho mọi giai cấp. Nhà nước chính là một bộ máy do giai cấp thống trị về kinh tế thiết lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức của chúng đối với quần chúng lao động. Giai cấp thống trị sử dụng bộ máy nhà nước để đàn áp, cưỡng bức các giai cấp khác trong khuôn khổ lợi ích của giai cấp thống trị.

    Theo bản chất đó, nhà nước không thể là lực lượng điều hòa sự xung đột giai cấp, mà trái lại nó lại làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt. Nhà nước là bộ phận quan trọng nhất trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp. Tất cả những hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội do nhà nước tiến hành, xét đến cùng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị.

    c, Sự phát triển của nhà nước

    Hình thức nhà nước bị quy định bởi giai cấp của nhà nước , bởi tương quan lực lượng giữa các giai cấp , bởi cơ cấu giai cấp – xã hội , bởi đăc điểm truyền thống chính trị của đất nước …

    Tương ứng với ba chế độ xã có đói kháng giai cấp trong lịch sử là hinh thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ , hình thái kinh tế – xã hội phong kiến và hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa là ba kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ , nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản . Tùy theo tình hình kinh tế xã hội cụ thể của mỗi nước  mà mỗi kiểu nhà nước được tổ chức theo những hình thức nhất định . Nhà nước XHCN mang bản chất “giai cấp vô sản” nhưng lại là một kiểu nhà nước đặc biệt.

    Nhà nước chiếm hữu nô lệ: Đây là nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ đại mà tiêu biểu là các hình thức lịch sử nhà nước chủ nô ở Hi Lạp và La Mã cổ đại như chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa, chính thể quý rộc và chính thể dân chủ. Các hình thức này chỉ khác nhau về cách thức và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước, còn bản chất của chúng đều là nhà nước của giai cấp chủ nô, nhằm thực hiện sự chuyên chính đối với nô lệ.

     Nhà nước phong kiến: Đây là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến. Nhà nước phong kiến cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Nói chung, ở phương tây, hình thức quân chủ phân quyền là hình thức nhà nước phổ biến. Quyền lực nhà nước được chia thành quyền lực độc lập, địa phương phân tán. Mỗi chúa phong kiến là một ông vua trên lãnh thổ của mình. Mối liên hệ thực sự giữa các chúa phong kiến châu âu chủ yếu được thiết lập bằng các hình thức liên minh của các nhà nước cát cứ, trong đó Thiên Chúa giáo trở thành mối liên hệ tinh thần thiêng liêng giữa các tiểu vương quốc phong kiến.

    Nhà nước tư sản: Nhà nước tư sản cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng nói chung, chỉ có 2 hình thức cơ bản nhất là hình thức cộng hòa và hình thức quân chủ lập hiến. Hình thức cộng hòa lại được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống trong đó hình thức cộng hòa Đại nghị là hình thức điển hình và phổ biến nhất . Trong thực tế , nhằm thích ứng với điều kiện lịch sự cụ thể của mỗi quốc gia , các hình thức cụ thể của nhà nước tư sản hiện đại lại có sự khác nhau lớn , về chế độ bầu cự , chế độ tổ chức một viện hay hai viện , về nhiệm kỳ tổng thống , về sự phân chia quyến lực giữa tổng thống và nội các .

    Hình thức của nhà nước tư bản là rất phong phú nhưng không làn thay đổi bản chất của nó –  đó là công cụ của giai cấp tư sản dùng để áp bức thống trị giai cấp vô sản và quần chúng lao động để bảo vệ lợi ích và quyền thống trị của giai cấp tư sản. Đúng như V.I.Lênin đã chỉ ra ” Những hình thức của nhà nước tư bản thì hết sức khác nhau, nhưng thực chất là một : chung quy lại thì tất cả những nhà nươc ấy, vô luận thế nào, cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản ”

    Nhà nước vô sản: Là một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử .Tính chất đặc biệt của nó trước hết là ở chỗ nó chỉ tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản , nó là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử của xã hội loài người . C.Mác khẳng định : “ Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia .Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá quá độ chính trị , và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”

    Sự tồn tại của nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ này là tất yếu vì trong thời kỳ quá độ xã hội còn tồn tại các giai cấp bóc lột và các lực lượng xã hội, chúng chống lại sự nghiệp xây dựng XHCN khiến giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải trấn áp chúng bằng bạo lực . Hơn nữa trong thời kỳ quá độ còn có các giai cấp tầng lớp trung gian khác . Do địa vị kinh tế xã hội của mình họ dễ dao động giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản họ không thể tự mình tiến lên XHCN. Giai cấp vô sản phải tìm mọi cách thu hút lực lượng lao động về phía mình.

    II. Vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế

    1. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trước Mác

    Theo quan điểm của trường phái trọng thương

    Chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai trò của tiền, tiền được coi là tiêu chuẩn căn bản của của cải, do đó mục đích chính trong chính sách kinh tế của mỗi nước là phải làm gia tăng khối lượng tiền tệ. Chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai trò của thương mại đặc biệt là ngoại thương. Chủ nghĩa trọng thương xuất phát từ chỗ cho rằng tiền tệ (vàng bạc) chỉ có thể gia tăng qua các hoạt động thương nghiệp, do đó phải bảo vệ tiền không cho ra nước ngoài đồng thời thu hồi tiền của nước ngoài về nước mình. Các đại biểu của chủ nghĩa trọng thương đòi hỏi nhà nước:

    – Phải có các biện pháp nhằm bảo vệ thị trường nội địa tránh sự xâm nhập, cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài; chủ trương tìm mọi cách để bảo vệ vàng bạc nước mình không chảy ra nước ngoài.

    – Chủ nghĩa trọng thương ủng hộ chính sách thuế quan, chính sách bảo hộ mậu dịch có lợi cho những hoạt động ngoại thương.

    – Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển tốt đẹp nếu như có sự điều chỉnh và quản lý của nhà nước, khuyến khích sự độc quyền trong ngoại thương. Vai trò của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế được chủ nghĩa trọng thương đề cao và cho rằng: Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển có hiệu quả nếu chịu sự chi phối, quản lý của nhà nước. Thương nhân cần dựa vào nhà nước và nhà nước phối hợp bảo vệ thương nhân.

    Theo quan điểm của trường phái tư sản cổ điển

    Cuối thế kỉ XVII, các nhà tư bản bắt đầu để ý tới việc sản xuất. Sản xuất ở các nước Anh, Pháp phát triển rất mạnh. Khi sản xuất phát triển, đã đưa vị thế của giai cấp tư sản lên rất nhiều. Họ đã nắm nhiều tiền cùng đồng thời nắm giữ nhiều quyền lực trong bộ máy nhà nước. Nên nhà nước mang đậm tính chất của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.

    Người đầu tiên đưa ra nghiên cứu đầu tiên mới về kinh tế là W.Petty. Đối với nhà nước ông đề kiến:

    – Phát hành tiền vàng, chủ trương chế độ đơn kim (một loại tiền)

    Đồng thời với học thuyết của W.Petty là chủ nghĩa trọng nông ở Pháp. Sau một thời kì khủng hoảng sau chủ nghĩa trọng thương. Nông nghiệp bị suy sụt nặng nề. Cần chính sách của nhà nước để bảo vệ cho nông nghiệp:

    – Kiến nghị nhà nước khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, cho phép chủ trại được tự do lựa chọn ngành kinh doanh, lựa chọn súc vật chăn nuôi.

    – Đề nghị sửa chữa các chính sách về nông nghiệp như giảm thuế, miễn thuế… nên ưu dãi cho nông nghiệp, nông dân và chủ trại

    – Phải có chính sách giá cả và chính sách lương thực đúng đắn. Nếu giá cả lương thực quá thấp thì nông dân sẽ bỏ ruộng

    – Đề nghị mở mang giao thông, đầu tư cho đường xá cầu cống.

    Theo quan điểm của A.Smith, ông cho rằng có một bàn tay vô hình nào đó đang điều tiết con người kinh tế. Theo ông, điều kiện cần thiết để các quy luật kinh tế khách quan phát triển là:

    – Nhất định phải có sự tồn tại và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá

    -Nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở tự do kinh tế tự do mậu dịch, tự do sản xuất kinh doanh những gì họ mong muốn

    Theo ông trong xã hội luôn có sự điều tiết tự nhiên giữa lợi ích của mỗi cá nhân với lợi ích chung của toàn xã hội. Mỗi cá nhân luôn có khuynh hướng cải thiện số phận của mình do động lực xuất phát từ lợi cá nhân của họ. Và chính sự cố gắng của cá nhân đó sẽ làm xuất hiện sự hòa nhập trong xã hội.

    Ông coi hệ thống các quy luật khách quan là “trật tự tự nhiên” và phải có những điều kiện nhất định. Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, phải có tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch.

    A.Smith cho rằng cần phải tôn trọng trật tự tự nhiên, tôn trọng“bàn tay vô hình”. Theo A.Smith, thì có một “bàn tay vô hình” thúc đẩy sự vận hành của nền kinh tế thị trường theo quy luật cung cầu và quy luật giá trị, biến những tính toán riêng về lợi ích của từng người thành những lợi ích chung cho xã hội.

    Hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá được pháttriển theo sự điều tiết của bàn tay vô hình. Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế.

    A.Smith tin tưởng rằng sự tăng trưởng trong năng lực sản xuất được
    khuyến khích tốt nhất trong một môi trường mà tại đó con người tự do
    theo đuổi lợi ích riêng tư của họ. Lợi ích cá nhân là chất xúc tác và cạnh
    tranh là cơ chế tự điều chỉnh.

    Ông thấy rằng nhu cầu kiểm soát của nhà nước về nền kinh tế ít hơn. Ông
    nhấn mạnh rằng, một chính sách không can thiệp của nhà nước sẽ là tốt
    nhất để cung cấp môi trường gia tăng sự giàu có của quốc gia.

    Vai trò hợp lí của nhà nước cần nhận thức rằng thị trường phải được tự do
    hoá để thực hiện chức năng của nó mà không theo một cơ chế ràng buộc
    nào bởi việc tháo gỡ những hàng rào ngăn cản để cho hoạt động của bàn
    tay vô hình của thị trường có hiệu quả.

    Theo ông, chỉ có chủ nghĩa tư bản mới làm xã  hội có những điều kiện như vậy.Vì thế, chủ nghĩa tư bản là một xã hội bình thường, được xây dựng trên cơ sở quy luật tự nhiên, còn các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến là xã hội không bình thường. Từ đó, ông cho rằng, nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế.

    Theo ông, trong nền kinh tế nhà nước có chức năng là bảo vệ quyền sở hữu tư bản đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài, chống phần tử tội phạm trong nước. Ngoài ra nhà nước có nhiệm vụ kinh tế khi nhiệm vụ này vượt quá sức của một doanh nghiệp như xây dựng đường xá, cầu cống, đào sông, xây dưng các công trình lớn khác.

    Tóm lại, ông muốn xã hội giàu có thì phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do.

    Theo quan điểm của D.Ricardo, ông ủng hộ qui luật ”tiền lương sắt” của W.Petty, ông phản đối viêc nhà nước can thiệp vào hoạt động của thị trường lao động, phê phán sự giúp đỡ của nhà nước đối với người nghèo, vì theo ông làm như vậy sẽ ngăn cản hoạt động của qui luật tự nhiên.

    Theo quan điểm của T.R.Malthus:

    Ông ủng hộ tầng lớp tư bản kinh doanh ruộng đất, đồng thời bảo vệ lợi ích của tư sản. Theo ông do tốc độ tăng dân số nhanh hơn tốc độ phát triển tư liệu sinh hoạt nên nạn khan hiếm tư liệu sinh hoạt là tất yếu, sự bần cùng đói rét có tính chất phổ biến cho mọi xã hội. Để khắc phục tình trạng này ông đề ra nhiều biện pháp hạn chế như lao động quá sức,nạn đói, bệnh tật, chết chóc, chiến tranh để hạn chế tốc độ sinh, không cho thanh niên lập gia đình sớm, hạn chế sinh đẻ.theo ông, nhà nước cần khuyến khích việc cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển lưu thông hàng hoá tự do, ban hành chế độ tự do xuất nhập khẩu thực phẩm khuyến khích hướng dẫn dân cư sang vùng đất mới giàu tài nguyên nhưng chưa được khai thác. Mục đích của Malthus muốn đưa ra một xu hướng có tính quy luật là nhân khẩu tăng nhanh hơn tư liệu sinh hoạt.Biện pháp mà ông đưa ra đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển.

    Theo quan điểm của J.Sismondi:

    Ông là người đại diện cho cả hai trường phái là trường phái tiểu tư sản và trường phái cổ điển. Ông bảo vệ cho giai cấp công nhân, ông cho rằng tiền lương của công nhân phải được trả xứng đáng với toàn bộ giá trị sản phẩm  lao động của người công nhân bỏ ra.Ông ủng hộ quan điểm của Malthus về việc gia tăng của cải và dân số.J.Sismondi là người đầu tiên đi nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế. Ban đầu ông ủng hộ quan điểm của A.Smith về tự do kinh tế không có sự can thiệp của nhà nước. Sau đó ông thấy những hậu quả của cuộc cách mạng công nghiệp, các tệ nạn của chủ nghĩa tư bản như khủng hoảng, thất nghiệ. J.Sismondi yêu cầu nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế nhằm bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ sản xuất nhỏ, bảo vệ ”người thứ 3” (giai cấp tiểu tư sản những người thợ thủ công, nông dân cá thể, tiểu thương), không cho sản xuất, tập trung sự giàu có, duy trì các phân xưởng thủ công, chế độ tư hữu ruộng đất nhỏ, thực hiện chính sách thuế quan bảo hộ.Ông coi nhà nước tư sản biểu hiện lợi ích của tất cả các giai cấp.Ông phủ nhận tính chất giai cấp của nhà nước. Theo ông nhà nước tư sản đối lập với sản xuất lớn.Nó có thể đạt được lợi ích chung, sự hài hoà xã hội và phúc lợi chung

    Theo quan điểm của trường phái xã hội không tưởng

    Trường phái xã hội không tưởng có 3 đại biểu chính là S.Simon, C.Fourie và R.Owen. Họ hy vong về một xã hội tương lai sẽ do nhà nước_ những người có tri thức  quản lý. Nền tảng kinh tế  xã hội mới  dựa trên tư hữu (sở hữu tư nhân),còn nền tảng của sản xuất  trong tương lai thì dựa vào đại công nghiệp cơ khí, máy móc nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.Theo Saint simon, xã hội tương lai có thể đảm bảo được phúc lợi cho con người. Con đường để tạo ra phúc lợi là khoa học, nghệ thuật và công nghiệp. Chính quyền hành chính sẽ do các nhà khoa học, nghệ sĩ và nhà công nghiệp điều khiển, lãnh đạo và để đạt tới phồn vinh, những nhiệm vụ cũng phải giao cho những con người có năng lực làm theo mục tiêu chung của khối liên hiệp.

    Học thuyết Saint simon là học thuyết chưa chín muồi,còn mang tính chất không tưởng và sắc thái tôn giáo.

    2. Theo quan điểm của K.Marx

    Theo ông, Nhà nước có vai trò kinh tế đặc biệt. Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, nhà nước không còn là ăn bám trên quá trình sản xuất. Nó phải chuyển sang tổ chức thực hiện chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kể cả đời sống kinh tế, chính trị và văn hoá của nhân dân lao động.Nhà nước phải dựa vào công cụ kế hoạch hoá tập trung để thống nhất quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm, kiểm tra chặt chẽ mức độ lao động và mức độ tiêu dùng.

    Chủ nghĩa Mác Lê nin xem xét nền kinh tế dưới góc độ vĩ mô  từ hiện tượng

    đến bản chất. Chủ nghĩa Mác Lê nin cho rằng trong một nền kinh tế thì cần phải có

    sự can thiệp của Nhà nước. Một nền kinh tế khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường

    có rất nhiều khuyết tật. Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn chế tối đa

    những khuyết tật và phát huy cao độ  những mặt tích cực của kinh tế phát triển.

    Theo Mác nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì nền kinh tế không hoạt động

    bình thường được, nó sẽ trở nên rối ren mất cân đối một cách nghiêm trọng.

    Dưới chủ nghĩa Mác, Nhà nước không những chỉ có vai trò quản lý kinh tế mà

    còn có vai trò điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô  đảm bảo sự phát triển ổn định về

    nền kinh tế, chống lạm phát và khuynh hướng tạo ra sự cân đối giữa các ngành nghề

    và duy trì sự cân bằng đó Nhà nước kết nối giữa hai ngành nghề, cân đối giữa cung

    và cầu, điều tiết sự lưu thông hàng hoá và tiền tệ.

    Nhà nước đảm bảo tính hiệu quả cho sự phát triển, Nhà nước dùng các chính

    sách tiền tệ, tài chính, tài khoá… và các biện pháp đưa Khoa học kỹ thuật công nghệ

    vào nền kinh tế thúc đẩy sự nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Với công cụ là hệ

    thống luật pháp, Nhà nước sử dụng  nhằm điều chỉnh nền kinh tế phát triển đúng

    hướng, bảo đảm sự ổn định ngăn chặn những hiện tượng xấu không đáng có.

    Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin là đúng đắn nhất.Trong bất

    kỳ một quốc gia nào đều nhất thiết phải có sự tham gia điều tiết của Nhà nước. Nhà

    nước  điều chỉnh và duy trì xã hội thích nghi với những  điều kiện mới và tạo ra

    những điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế. Việt Nam ta theo quan  điểm của chủ

    nghĩa Mác – Lênin đã và đang xây dựng củng cố vai trò Nhà nước CHXHCNVN

    trong nền kinh tế.

    3.Theo quan điểm của trường phái sau K.Marx

    Theo quan điểm cuả trường phái cổ điển mới

    Trường phái cổ điển mới phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Nó giữ vai trò thống trị vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và dược chia thành 2 giai đoạn phát triển. Thời kỳ đầu, cuối thế kỷ XIX các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển mới cung giống như các nhà kinh tế thuộc trường phái cổ điển- họ ủng hộ tự do kinh doanh chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Họ tin tưởng chác chán rằng, cơ chế thị trường tự phát sẽ bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bình thường, tránh được khủng hoảng kinh tế.

    Thời kỳ sau là vào đầu thế kỷ XX, lúc này phương Tây đang ở vào thời kỳ đầu của chủ nghia tư bản độc quyền. Độc quyền ra đời tự do cạnh tranh, nhưng lại không loại bỏ cạnh tranh mà tồn tại cung cạnh tranh, thống trị cạnh tranh ngày càng đa dạng phong phú và phức tạp. Trong khi chưa khôi phục lại những chấn động do cuộc đại chiến thế giới thứ nhất gây ra, chủ nghĩa tư bản lại lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế có phạm vi thế giới với mức độ nặng nề và thơi gian dài nhất từ trước tới nay, khiến cho nền  kinh  tế phương Tây lâm vào những khó khăn chua từng có. Đặc biệt là sự xuất hiện của xã hội chủ nghĩa đầu tiên, do kết quả của cuộc cách mạng T10 Nga mang lại, là một đòn nặng nề giáng vào thế giới tư bản chủ nghĩa. Nó bắt đầu một thời kỳ phát triển mới, trong đó nền kinh tế không còn là thuần nhất tư bản chủ nghĩa nữa.

    Các học thuyết kinh tế trong thời kỳ này không những chỉ đi sâu vào việc phân tích những vấn đề cung cầu, giá cả trong điều kiện cạnh tranh mà còn chú ý tới các vấn đề cạnh tranh độc quyền, khủng hoảng, thất nghiệp, phúc lợi kinh tế, thuyết số lượng về tiền đặc biệt là các học thuyết kinh tế của họ ít nhiều có sắc thái về tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế và phân tích vĩ mô.

    Theo quan điểm của Keneys

    Lý thuyết sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế

    Nhà nước phải có chương trình kinh tế đấu tư trên quy mô lớn và thông qua đó mà thực hiện sự can thiệp trong quá trình kinh tế. Keneys cho rằng để đảm bảo sự công bằng của nền kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự phát mà phải cần sự can thiệp của nhà nước. Thông qua sự hỗ trợ của nhà nhà nước như là biện pháp để duy trì cầu đầu tư thông qua những hỗ trợ tín dụng hổ trợ từ ngân sách nhà nước thông qua hệ thống các đơn đặt hàng của nhà nước hệ thống thu mua của nhà nước. Mục đích để ổn định về môi trường kinh doanh ổn định thị trường. Rồi từ đó ổn định về lợi nhuận cho các công ti

    Sử dụng hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiên tệ. ở trong lý thuyết của keyness chúng cũng là những công cụ quan trọng. Mục đích để kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tư của các doanh nhân. Để đạt được mục đích này  ông chủ trương tăng thêm khối lượng tiền đưa vào lưu thông tăng gía cả hàng hóa (nếu các yếu tố đầu vào chưa kịp điều chỉnh giá) sẽ là tăng phần lời triển vọng tăng hiệu quả giới hạn của tủ bản tăng giới hạn đầu tư tư bản. Khi khối lượng tiền đưa vào lưu thông tăng lên cũng dẫn tới lạm phát. Tuy nhiên lạm phát lúc nào cũng có hại nhà nước có thể chủ động tạo ra lạm phát nếu kiểm soát được làm phát sẽ làm giảm lãi suất tăng giới hạn đầu tư tư bản

    +Để trang trảng những khoản chi tiêu của nhà nước bù đắp những khoản thâm hụt của nhà nước và mở rộng đầu tư của nhà nước. Keynes chủ trương in thêm tiền giấy

    +Để thực hiện sự điều tiết kinh tế keynes chủ trương tăng thuế đối với người lao động để làm giảm đi phần tiết kiện của dân cư. Thực chất nhà nước đã giúp họ chuyển khoản tiết kiệm sang đầu tư. Nhưng vấn đề là phải làm sự phản ứng của dân chúng ông chủ trương tăng việc làm.

    +Để nâng cao tổng cầu và việc làm keynes chủ trương mở rộng đầu tư theo ông đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt miễn tạo ra việc làm và tăng thu  nhập. Kể cả những hoạt động đầu tư cho sản xuất vũ khí, chạy đua vũ trang quân sự hóa nền kinh tế để tăng thu nhập vì vậy ông bị nhiều phê phán

    Keynes chủ trương khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với mọi tầng lớp kể cả người lao động, doanh nhân nhà, tư bản. Những biện pháp đó của ông không đạt được mục đích vì tăng thuế, chính sách ‘‘ướp lạnh tiền lương’’,tăng gía cả.

    Theo quan điểm của trường phái chính hiện đại

    Chính phủ có 4 chức năng chính:

    Chức năng thứ nhất là thiết lập khuôn khổ pháp luật.Chính phủ đề ra quy tắc trò chơi kinh tế mà các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả bản thân chính phủ cũng phải tuân thủ. Điều này bao gồm quy định về tài sản, các quy tắc về hợp đồng và hoạt động kinh doanh,các trách nhiệm tương hỗ của liên đoàn lao động, ban quản lý và nhiều luật lệ để xác định môi trường kinh tế.

    Các luật lệ đưa ra nhằm đáp ứng những giá trị và quan điểm được đồng tình rộng rãi về sự công bằng hơn là qua một sự phân tích kinh tế được mài dũa cẩn thận về chi phí và lợi lộc. Nhưng khuôn khổ pháp luật có thể tác đông sâu sắc tới các ứng xử kinh tế của con người.

    Chức năng thứ hai là sửa chữa những thất bại của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả

    Trước hết, những thất bại mà thị trường gặp phải làm cho hoạt động của nó không có hiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền. Cần phải nói rằng, lợi dụng ưu thế của mình, các tổ chưc độc quyền có thể quy định giá cả đẻ thu lợi nhuận và do vậy, phá vỡ ưu thế của cạnh tranh hoàn hảo. Vì vâỵ, cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ để hạn chế độc quyền, đảm bảo tính hiệu quả của cạnh tanh thị trường.

    Thứ hai, những tác động bên ngoài cũng dẫn đến tính không hiệu quả của hoạt động thị trường và đòi hỏi nhà nước phải can thiệp.Chính phủ phải sử dụng đến luật lệ để điều hành kinh tế như là một phương pháp để ngăn chặn những tác động bên ngoài như ô nhiễm nước và không khí, khai thác đến cạn kiệ, khoáng sản, chất gây nguy hiểm cho thức ăn, đồ uống, thiếu an toàn về chất phóng xạ…

    Thứ ba, chính phủ phải đảm nhận việc sản xuất các hàng hoá công cộng. Theo các nhà kinh tế, hàng hoá tư nhân là một loại hàng hoá mà nếu như một người đã dùng thì người khác không thể dùng được nữa. Còn hàng công cộng là một loại hàng hoá mà khi một người đã dùng thì người khác vẫn có thể dùng được.

    Thứ tư là thuế. Trên thực tế, phần chi phí của chính phủ phải được trả bằng tiền thuế thu được. Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế. Chính phủ phải can thiệp vào thị trường để nâng cao hiệu quả của thị trường. Chính phủ đề ra luật lệ đi đường và mua hàng công cộng như đường sá, do đó, tạo điều kiện dễ dàng cho tư doanh hoạt động trôi chảy, năn cản sự lạm dung của các doanh nghiệp, khi họ trở thành những kẻ tham lam, độc quyền chiếm đường và kiềm chế hoạt động của các doanh nghiệp khác

    Chức năng thứ ba là đảm bảo sự công bằng. Chính phủ cần phải thông qua những chính sách để phân phối thu nhập.Ngoai ra chính phủ cần phải hỗ trợ thu nhập để giúp cho người già, người mù, người tàn tật, người phải nuôi con và bảo hiểm thất nghiệp cho những người không có công ăn việc làm. Cuối cùng nhà nước phải trợ cấp tiêu dùng cho những nhóm có thu nhập thấp bằng cách phát tem phiếu thực phẩm, trợ cấp y tế cho thuê nhà rẻ…

    Chức năng thứ tư là ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ sử dụng các chính sách tiền tệ, tài chính tác dộng tới chu kỳ kinh doanh, giải quyết nạn thất nghiệp, chống trì trệ, lạm phát,…Chính phủ sử dụng hai quyền lực chính của mình là quyền lực về tài chính (quyền đánh thuế và chi tiêu), quyền lực về tiền tệ (quyền điều tiết về tiền tệ và hệ thống ngân hàng) để tác động tới công ăn việc làm và giá cả.

    Tóm lại chính phủ thực hiện các chức năng trên thông qua ba công cụ là các loại thuế, các khoản chi tiêu, lãi suất, thanh toán chuyển nhượng, những khối tiền tệ và  những quy định hay kiểm soát. Thông qua công cụ thuế chính phủ điều tiết tiêu dùng, đầu tư của tư nhân khuyến khích hoặc chế hoạt động kinh doanh của doanh nhân. Các khoản chi tiêu của chinh phủ sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp hay công nhân sản xuất ra một số hàng hoá hay dịch vụ và những khoản tiền trợ cấp thu nhập.Theo quan điểm của trường phái hiện đại thì nhà nước có vai trò quan trọng.

    III.Vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế nước ta hiện nay

    Ở Việt Nam hiện nay, nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng.Nền kinh tế của nước ta phát triển dựa vào đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của  ĐCS Việt Nam.Song những đường lối, quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hoá thành hệ thống pháp luật, chương trình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và được triển khai bằng nhà nước, thông qua nhà nước và dưới sự quản lý của nhà nước. Do vậy, nhà nước tác động trực tiếp tới sự vận động của nền kinh tế thị trường. Nhà nước ta ưu tiên bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động trên cả 3 lĩnh vực:

    Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước, hình thức sở hữu tập thể, hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật, đòn bẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhà nước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

    Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách… tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp.

    Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh tế do mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực – trực tiếp là bộ phận kinh tế nhà nước – để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa…

    Đặc biệt, trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế.

    Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội, bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Có chính sách xã hội hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngày một gia tăng.

    Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường được thể hiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển, như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất, lưu thông hàng hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành, nghề, vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, ngành và nhu cầu chung của xã hội… Là chủ thể trực tiếp sở hữu hoặc quản lý, khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia, nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, đối tác kinh tế, thời điểm thực hiện các giao dịch kinh tế, cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình…

    Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nhà nước góp phần khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế. Đại diện cho đất nước tham gia vào các quá trình soạn thảo và thông qua chuẩn mực luật pháp kinh tế, các hiệp định kinh tế, các nghị định thư…, Nhà nước ta góp phần tạo cho chủ thể kinh tế của đất nước vị trí có lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế như tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

    Nhà nước ta đã đầu tư cho giáo dục- y tế như xây dựng tu bổ cơ sở hạ tầng tạo điều kiện tốt nhất cho công tác giảng dạy và chữa bệnh.Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đào tạo lao đông có trình độ tay nghề và sức khỏe tốt.

    Nhà nước ta lấy hệ tư tưởng cách mạng khoa học( chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) làm 1 trong những cơ sở quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế.

    Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới cho thấy, Nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này. Việc từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách về chế độ sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch theo hướng tạo động lực và điều kiện thuận lợi hơn cho khai thác các tiềm năng trong và ngoài nước để phát triển kinh tế- xã hội. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhìn chung, không ngừng được nâng cao: thời kỳ 1986 – 1990, tăng trưởng GDP bình quân đạt 4,5%/năm; 1996 – 2000: 7%/năm; 2001 – 2005: 7,5%/năm; năm 2007 đạt 8,48%. Năm 2008, dù phải đối mặt với không ít khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6,23%.

    Nhà nước đã có nhiều chính sách phát huy vai trò các nhân tố nội lực, coi trọng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Trong năng lực nội sinh, chúng ta coi trọng trước hết nhân tố con người. Do vậy, Nhà nước đã có nhiều chính sách về giáo dục – đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học từ 13,5% năm 1996 tăng lên 19,7% năm 2005. Năm 1996 mới có 12,31% lực lượng lao động được đào tạo, đến nay, tỷ lệ này đạt 31%. Về nỗ lực nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế: năm 1990, tỷ lệ tích lũy so với GDP mới đạt 2,9%, năm 2004 là 35,15% và những năm gần đây đều có xu hướng tăng lên…

    Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực, biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện Luật Đầu tư, thu hút được nhiều vốn ODA, FDI,… Từ năm 1988 đến hết năm 2006, có hơn 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD. Năm 2006, khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế; xuất khẩu của khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2,5 triệu người; đào tạo được 8.000 cán bộ quản lý, 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm 2007, nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn 40 tỉ USD, trong đó, 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008, dù kinh tế thế giới suy thoái, nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỉ USD.

    Nhờ vào chính sách đúng đắn của nhà nước mà thu nhập của nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể. Năm 1995, GDP bình quân đầu người mới đạt 289 USD; năm 2005: 639 USD; năm 2007: 835 USD. Năm 2008, GDP bình quân theo đầu người đã đạt trên 1.000 USD. Với mức thu nhập này, Việt Nam vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp

    Vai trò của Nhà nước ta có vai trò quan trọng trong việc khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế gần đây. Trên cơ sở tiên định những diễn biến xấu có thể xảy ra, Nhà nước đã đưa ra 8 nhóm giải pháp cấp bách, và bằng việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp đó, Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0,18%, tháng 10 giảm 0,19%, tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%. Kinh tế vĩ mô ổn định: thu chi ngân sách được cân đối; tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả năm, tăng 26,3% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, vượt kế hoạch đề ra; kim ngạch nhập khẩu đạt 80,4 tỉ USD, tăng 28% so với năm 2007. Những thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế công cộng – thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, giải pháp khắc phục

    Tiểu luận Kinh tế công cộng – thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, giải pháp khắc phục

    Tiểu luận Kinh tế công cộng – thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, giải pháp khắc phục

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề và đáp án môn Kinh tế công cộng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-c%C3%B4ng-c%E1%BB%99ng-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C3%B4-nhi%E1%BB%85m-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-khu-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-kh%E1%BA%AFc-ph%E1%BB%A5c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế công cộng – thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, giải pháp khắc phục

    A. MỞ ĐẦU

    Tính đến tháng 10 năm 2009, toàn quốc đã có 223 KCN được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, 171 KCN đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích đất 57.264 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy trung bình khoảng 46%.

    Các KCN đã có nhiều đóng góp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống người dân. Riêng năm 2008, các KCN đã tạo giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 33 tỷ USD (chiếm 38% GDP cả nước); giá trị xuất khẩu đạt trên 16 tỷ USD (chiếm gần 26% tổng giá trị xuất khẩu cả nước); nộp ngân sách khoảng 2,6 tỷ USD, tạo công ăn việc làm cho gần 1,2 triệu lao động.

    Phát triển các KCN với mục tiêu tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng, tập trung các nguồn phát thải ô nhiễm vào các khu vực nhất định, nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả quản lý nguồn thải và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, quá trình phát triển KCN đã bộc lộ một số khiếm khuyết trong việc xử lý chất thải và đảm bảo chất lượng môi trường. Trong thời gian tới, việc phát triển các KCN sẽ làm gia tăng lượng thải và các chất gây ô nhiễm môi trường

    Ô nhiễm môi trường tại các KCN là một trong những ngoại ứng tiêu cực phát sinh trong quá trình sản xuất. Chúng gây tổn hại lâu dài cho sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất những người dân trong khu vực xung quanh KCN nhưng không được xử lý và đền bù thỏa đáng. Ngoại ứng tiêu cực này gây tổn hại phúc lợi chung của xã hội, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững, đòi hỏi phải có sự can thiệp của chính phủ. Bài tiểu luận đặt mục tiêu nêu rõ thực trạng ô nhiễm tại các KCN, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp chính phủ cho việc cải thiên môi trường KCN.

    B. NỘI DUNG

    I. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

    1. Ô nhiễm nước mặt do nước thải khu công nghiệp:

    • Đặc trưng nước thải KCN:

    Sự gia tăng nước thải từ các KCN trong những năm gần đây là rất lớn. Tốc độ gia tăng này cao hơn nhiều so với sự gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc .

    Tỷ lệ gia tăng lượng nước thải từ các KCN và tỷ lệ gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc

    Nguồn: TCMT tổng hợp, 2009

    Thành phần nước thải của các KCN chủ yếu bao gồm các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng (biểu hiện bằng hàm lượng tổng Nitơ và tổng Phốtpho) và kim loại nặng .

    Chất lượng nước thải đầu ra của các KCN phụ thuộc rất nhiều vào việc nước thải có được xử lý hay không. Hiện nay, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43%, rất nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này. Nhiều KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp. Nhiều nơi doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưng không vận hành hoặc vận hành không hiệu quả. Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy chuẩn Việt Nam(QCVN).

    Hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải KCN thường xuyên vượt ngưỡng cho phép. Kết quả phân tích mẫu nước thải từ các KCN cho thấy, nước thải các KCN có hàm lượng các chất lơ lửng (SS) cao hơn QCVN từ 2 lần (KCN Hòa Khánh) đến hàng chục lần (KCN Điện Nam– Điện Ngọc), thậm chí có nơi đến hàng trăm lần.

    Hàm lượng cặn lơ lửng (SS) trong nước thải của một số KCN miền Trung qua các năm

    Giá trị các thông số BOD5  tại cống xả của các KCN thường ở mức khá cao. Một số KCN khi lắp đặt hệ thống xử lý nước thải tập trung, các thông số này đã giảm đi đáng kể (KCN Tiên Sơn, Bắc Ninh). Tuy nhiên, với các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, các thông số này không đạt yêu cầu QCVN (KCN Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng)

    Hàm lượng BOD5 trong nước thải của một số KCN năm 2008

    Nguồn: TCMT, 2009

     

     

     

     

    Các kết quả khảo sát cho thấy hàm lượng Coliform trong nước thải từ các KCN rất cao, có nơi vượt QCVN rất nhiều lần .

    Hàm lượng Coliform trong nước thải một số KCN năm 2008

    Nguồn: TCMT, 2008

     

    • Ô nhiễm nước mặt do nước thải KCN:

    Cùng với nước thải sinh hoạt, nước thải từ các KCN đã góp phần làm cho tình trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch trở nên trầm trọng hơn. Những nơi tiếp nhận nước thải của các KCN đã bị ô nhiễm nặng nề, nhiều nơi nguồn nước không thể sử dụng được cho bất kỳ mục đích nào. Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu các con sông mà lan lên tới cả phần thượng lưu theo sự phát triển của các KCN. Kết quả quan trắc chất lượng nước cả 3 lưu vực sông Đồng Nai, Nhuệ – Đáy và Cầu đều cho thấy bên cạnh nguyên nhân do tiếp nhận nước thải sinh hoạt từ các đô thị trong lưu vực, những khu vực chịu tác động của nước thải KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD, NH4+, tổng N, tổng P đều cao hơn QCVN nhiều lần.

    Hệ thống sông Đồng Nai:

    Ô nhiễm nước mặt tập trung chủ yếu dọc các đoạn sông chảy qua các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Nam nơi các KCN phát triển mạnh.

    Tần suất số lần đo vượt TCVN của một số thông số tại sông Đồng Nai đoạn qua Tp. Biên Hoà

    Nguồn: Sở TN&MT Đồng Nai, 2008

     

     

    Lưu vực sông Cầu

    Nhiều đoạn sông thuộc LVS Cầu đã bị ô nhiễm nặng. Ô nhiễm cao nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải của Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, Khu Gang thép Thái Nguyên,…

     

    Hàm lượng NH4+  trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái Nguyên năm 2008

    Lưu vực sông Nhuệ – Đáy

    Hiện tại, nước của trục sông chính thuộc lưu vực sông Nhuệ – sông Đáy đã bị ô nhiễm ở những mức độ khác nhau. Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặt trên LVS là nước thải từ các KCN và các cơ sở sản xuất không qua xử lý xả thải thẳng ra môi trường hoà với nước thải sinh hoạt.

    Diễn biến ô nhiễm nước sông Nhuệ đoạn qua Hà Đông

    Nguồn: TCMT, 2009

     

     

    2.Ô nhiễm không khí do khí thải khu công nghiệp:

    • Đặc trưng khí thải khu công nghiệp:

    Mỗi ngành sản xuất phát sinh các chất gây ô nhiễm không khí đặc trưng theo từng loại hình công nghệ. Rất khó xác định tất cả các loại khí này, nhưng có thể kể ra một số loại điển hình như:bụi,CO. SO2, NO2,Clo, NH3,H2S,…

    Hiện nay, vấn đề ô nhiễm không khí chủ yếu do hoạt động của các nhà máy thuộc các KCN cũ, vận hành với công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường bên ngoài, vì vậy hầu hết các thông số quan trắc như bụi, CO và SO2 không đạt QCVN.

    Nồng độ khí SO2 trong khí thải một số nhà máy tại KCN Bắc Thăng Long (Hà Nội), KCN Tiên Sơn (Bắc Ninh) năm 2006 – 2008

    • Ô nhiễm không khí do khí thải khu công nghiệp:

    Chất lượng môi trường không khí tại các KCN, đặc biệt các KCN cũ, tập trung các nhà máy có công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải, đã và đang bị suy giảm. Ô nhiễm không khí tại KCN chủ yếu bởi bụi, một số KCN có biểu hiện ô nhiễm CO, SO2 và tiếng ồn. Các KCN mới với các cơ sở có đầu tư công nghệ hiện đại và hệ thống quản lý tốt thường có hệ thống xử lý khí thải trước khi xả ra môi trường nên thường ít gặp các vấn đề về ô nhiễm không khí hơn.

    -Ô nhiễm bụi – dạng ô nhiễm phổ biến nhất ở các KCN: Tình trạng ô nhiễm bụi ở các KCN diễn ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô và đối với các KCN đang trong quá trình xây dựng. Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh của các KCN qua các năm đều vượt QCVN.

    Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh một số KCN miền Bắc và miền Trung từ năm 2006 – 2008

    -Ô nhiễm CO, SO2 và NO2 chỉ diễn ra cục bộ tại một số KCN. Nhìn chung, nồng độ khí CO, SO2 và NO2 trong không khí xung quanh các KCN hầu hết đều nằm trong giới hạn cho phép

    Nồng độ CO trong không khí xung quanh các KCN tỉnh Đồng Nai năm 2008

    Nguồn: Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Đồng Nai, 2009

    -Ô nhiễm các khí khác – đặc thù cho các loại hình sản xuất

    Tại các KCN, bên cạnh những ô nhiễm thông thường như bụi, SO2, NO2, CO, còn cần quan tâm đến một số khí ô nhiễm đặc thù do loại hình sản xuất sinh ra như hơi axit, hơi kiềm, NH3, H2S, VOC… Nhìn chung những khí này vẫn nằm trong ngưỡng cho phép.

    Nồng độ NH3 trong không khí xung quanh KCN Bắc Thăng Long (Hà Nội) năm 2006 – 2008

    Nguồn: TCMT, 2009

     

     

    3. Chất thải rắn tại các KCN:

    • Lượng chất thải rắn phát sinh tại các khu công nghiệp:

    Tổng lượng chất thải rắn trung bình của cả nước đã tăng từ 25.000 tấn/ngày (năm 1999) lên khoảng 30.000 tấn/ngày (năm 2005), trong đó lượng chất thải rắn từ hoạt động công nghiệp cũng có xu hướng gia tăng, phần lớn tập trung tại các KCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và vùng KTTĐ phía Nam. Trong những năm gần đây, cùng với sự mở rộng của các KCN, lượng chất thải rắn từ các KCN đã tăng đáng kể, trong đó, lượng chất thải nguy hại gia tăng với mức độ khá cao.

    Ước tính khối lượng chất thải rắn phát sinh tại các KCN. Nguồn: Viện Hóa học công nghiệp, Bộ Công thương, 2009

     

     

    Ước tính khối lượng chất thải nguy hại phát sinh tại các KCN

    Nguồn: Viện Hóa học công nghiệp, Bộ Công thương, 2009

     

     

     

    Phần lớn chất thải nguy hại được phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp. Tổng lượng chất thải nguy hại do Công ty Môi trường đô thị URENCO Hà Nội thu gom trong 1 tháng (của năm 2009) là khoảng 2.700 tấn/tháng, trong đó số lượng chất thải nguy hại có nguồn gốc từ các  hoạt động sản xuất công nghiệp (dầu thải, dung môi, bùn thải, dung dịch tẩy rửa, bao bì hóa chất, giẻ dầu, pin, acquy, thùng phi…) đã là 2.100 tấn/tháng. Điều đó chứng tỏ tỷ lệ chất thải nguy hại phát sinh từ sản xuất công nghiệp (các ngành điện tử, sản xuất hóa chất, lắp ráp thiết bị cao cấp…) cao hơn nhiều so với các ngành lĩnh vực khác.

    • Thực trạng việc thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn tại các KCN:

    Theo quy hoạch được duyệt, tất cả các KCN phải có khu vực phân loại và trung chuyển chất thải rắn. Tuy nhiên, rất ít KCN triển khai hạng mục này. Điều này đã khiến cho công tác quản lý chất thải rắn ở các KCN gặp không ít khó khăn. Do hầu hết các KCN chưa có điểm tập trung thu gom chất thải rắn nên các doanh nghiệp trong KCN thường hợp đồng với các Công ty môi trường đô thị tại địa phương, hoặc một số doanh nghiệp có giấy phép hành nghề để thu gom và xử lý chất thải rắn. Việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cũng do các doanh nghiệp chủ động đăng ký với Sở TN&MT cấp tỉnh.

    Việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại từ các KCN của các doanh nghiệp đã được cấp giấy phép hành nghề vẫn còn nhiều vấn đề. Nhiều doanh nghiệp có chức năng thu gom và xử lý chất thải nguy hại đã triển khai các hoạt động tái chế thu lại tài nguyên có giá trị sử dụng từ những chất thải này. Mục tiêu của những hoạt động tái chế này có thể là thu hồi nhiệt từ các chất thải có nhiệt trị cao,thu hồi kim loại màu (Ni, Cu, Zn, Pb…), nhựa, dầu thải, dung môi, một số hóa chất… Tuy nhiên do công nghệ chưa hoàn chỉnh, trong một số trường hợp là chưa phù hợp, nên hiệu quả thu hồi và tái chế chưa cao, có trường hợp gây ô nhiễm thứ cấp, đặc biệt đối với dầu và dung môi. Nghiêm trọng hơn một số doanh nghiệp không thực hiện xử lý chất thải nguy hại mà sau khi thu gom lại đổ lẫn vào cùng chất thải thông thường hoặc lén lút đổ xả ra môi trường .

    II-TÁC HẠI CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHU CÔNG NGHIỆP:

    1.     Tổn thất tới hệ sinh thái, năng suất cây trồng nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản:

    Sông suối là nguồn tiếp nhận và vận chuyển các chất ô nhiễm trong nước thải từ các KCN và các cơ sở sản xuất kinh doanh. Nước thải chứa chất hữu cơ vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng, làm giảm lượng ôxy trong nước, các loài thủy sinh bị thiếu ôxy dẫn đến một số loài bị chết hàng loạt. Sự xuất hiện các độc chất như dầu mỡ, kim loại nặng, các loại hóa chất trong nước sẽ tác động đến động thực vật thủy sinh và đi vào chuỗi thức ăn trong hệ thống sinh tồn của các loài sinh vật, cuối cùng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

    Ô nhiễm nước sông Thị Vải là một trong những điển hình về ô nhiễm môi trường công nghiệp gây tác động trực tiếp tới hệ sinh thái trong nước sông, gây những tổn hại đáng kể đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Việc xả thải chất ô nhiễm có nồng độ cao và lưu lượng lớn vào môi trường nước sông, tại các khu vực trung lưu và hạ lưu sông (nơi tập trung 10 KCN thuộc tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu) không thể kiểm soát được, đã gây ô nhiễm nặng môi trường. Theo ước tính, tổng diện tích nông nghiệp bị thiệt hại là 1.438,5 ha, phần lớn là ao nuôi thủy sản, 29,5 ha là đất sản xuất nông nghiệp. Tính từ năm 2005, do ảnh hưởng bởi nước và khí thải từ nhà máy, hoa màu của các hộ dân khu vực xung quanh cho năng suất, chất lượng rất kém (lúa bị lép hạt, hoa cảnh, cây trái bị cháy xém)… Theo phản ánh của nhiều hộ nông dân, trước khi Vedan chưa thành lập thì nông dân nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả cao, các hộ nuôi quảng canh mỗi một ha thu hoạch khoảng 50 triệu đồng, nay chỉ thu hoạch chừng 20 triệu đồng.

    Mặc dù chưa có nghiên cứu và thống kê chính thức, nhưng với tỷ lệ các KCN chưa lắp đặt hệ thống xử lý nước thải tập trung còn cao như hiện nay, thiệt hại đối với nông nghiệp và thuỷ sản chịu ảnh hưởng của nước thải từ các KCN là một con số còn lớn hơn nhiều lần.

    2. Gia tăng gánh nặng bênh tật:

    • Một số bệnh tật do ô nhiễm môi trường khu công nghiệp:

    -Ô nhiễm nguồn nước, đất và những tác hại đến sức khỏe:

    Nước thải từ các KCN không được xử lý gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước cấp và có thể thông qua chuỗi thức ăn gây ảnh hướng xấu tới sức khỏe con người. Các bệnh chủ yếu liên quan đến chất lượng nuớc là bệnh đường ruột, các bệnh do ký sinh trùng, vi khuẩn, virus, nấm mốc.., các bệnh do côn trùng trung gian và các bệnh do vi yếu tố và các chất khác trong nước (bệnh bướu cổ địa phương, bệnh về răng do thiếu hoặc thừa fluor, bệnh do nitrat cao trong nước,…

    Một nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất tại khu chế biến kim loại màu Thái Nguyên đến sức khỏe dân cư sống xung quanh đã cho thấy hàm lượng chì trong nước thải tại ao thải vượt TCCP nhiều lần; hàm lượng chì và arsen trong đất ở vùng nghiên cứu cao hơn 1,2 – 2,5 lần, trong nước sinh hoạt cao hơn 1,5 – 6 lần và thực phẩm từ 6 – 12 lần so với vùng đối chứng. Các xét nghiệm máu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sống liên tục ở khu vực nghiên cứu từ 5 năm trở lên đã cho thấy hàm lượng chì và arsen trong máu cũng cao hơn vùng đối chứng 3 – 80 lần.

    -Ô nhiễm không khí và những tác hại đến sức khỏe:

    Người lao động là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp khi môi trường trong các KCN bị ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm không khí, tiếng ồn. Ngoài ra, người lao động còn phải chịu tác động của các yếu tố khác của điều kiện lao động như nhiệt độ cao (hoặc thấp), ánh sáng kém, bức xạ, rung động và các loại gánh nặng lao động thể lực và thần kinh khác.Con số thống kê số người mắc bệnh nghề nghiệp không ngừng tăng lên trong những năm qua:

    Số người mắc bệnh nghề nghiệp từ năm 1976 đến 2010

     

    Theo số liệu năm 2010, trong số 5 nhóm bệnh nghề nghiệp được giám định, nhóm bệnh bụi phổi và phế quản có tỷ lệ cao nhất (75,5%), sau đó là nhóm bệnh do các yếu tố vật lý (15,6%), bệnh nhiễm độc nghề nghiệp (5,08%) bệnh ngoài da nghề nghiệp (2,35%) và bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp (1,47%).

    Ô nhiễm không khí từ các KCN không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà còn ảnh hưởng tới cộng đồng dân cư sống ở các khu vực xung quanh. Một số nghiên cứu y tế đối chứng đã cho thấy các bệnh hô hấp cả cấp tính và mãn tính ở các vùng gần KCN cao hơn rõ rệt so với các vùng nông thôn. Ngoài ra các bệnh về mắt, bệnh tim mạch, hội chứng dạ dày, thiếu máu, rối loạn thần kinh ở vùng ô nhiễm cũng cao hơn.

    Bệnh và triệu chứng bệnh hô hấp cấp tính và mãn tính ở phường Thọ Sơn (chịu tác động)và Gia Cẩm(đối chứng)(TP Việt Trì, Phú Thọ)

    • Tổn thất kinh tế do gia tăng gánh nặng bệnh tật

    Theo báo cáo của trung tâm bảo vệ sức khoẻ lao động và môi trường TP.HCM, hiện chỉ có 41% trong tổng số 98 doanh nghiệp có yếu tố nguy cơ bệnh nghề nghiệp khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Luật lao động quy định, các doanh nghiệp phải tổ chức khám bệnh cho người lao động ở những nơi có nguy cơ về bệnh nghề nghiệp sáu tháng một lần. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp hầu như không quan tâm trong khi không có cơ quan nào giám sát, kiểm tra. Chỉ 4/13 KCN có phòng khám. Có doanh nghiệp tổ chức cho công nhân khám ở cơ sở ngoài nhưng cũng chỉ là qua loa, đối phó. Kể cả khi đã người lao động phát hiện bệnh nghề nghiệp thì các doanh nghiệp hoặc “làm ngơ”, hoặc chậm trả tiền trợ cấp khiến phần lớn người lao động thường phải tự bỏ tiền túi ra để chữa bệnh. Theo con số thống kê, tổng số tiền chi cho trợ cấp bệnh nghề nghiệp từ 2000 -2004 là hơn 50 tỷ đồng. Thiết nghĩ con số này vẫn là rất nhỏ bé so với tổng thiệt hại kinh tế do gia tăng bệnh tật ở người lao động.

    Ô nhiễm môi trường khu công nghiệp còn gây ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe cho người dân sống ở khu vực lân cận, từ đó gây ra tổn thất kinh tế cho khám chữa bệnh và các thiệt hại thu nhập do bị bệnh. Thiệt hại kinh tế trung bình cho mỗi người dân trong một năm ở vùng chịu tác động của các nhà máy (phường Thọ Sơn, Tp. Việt Trì) cao gấp 3,5 lần so với vùng không chịu tác động (phường Gia Cẩm, Tp. Việt Trì).

    Thiệt hại kinh tế do bệnh tật tại phường Thọ Sơn và Gia Cẩm (Tp. Việt Trì , Phú Thọ).

    Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2007

     

    III.NGUYÊN NHÂN

    Qua những số liệu ở chương I, ta đã thấy được tình trạng đáng báo động về hiện trạng môi trường ở các KCN. Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ thực tế yếu kém trong quản lý môi trường KCN. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đầy đủ, việc phân cấp trách nhiệm đối với các đơn vị liên quan trong bảo vệ môi trường KCN còn một số bất cập, chức năng của các đơn vị tham gia quản lý còn chồng chéo, tuy đã có kế hoạch phát triển KCN nhưng chưa thống nhất, thiếu khoa học; việc triển khai các công cụ quản ký chưa thực sự hiệu quả; nhân lực cho công tác bảo vệ môi trường KCN còn yếu, ý thức bảo vệ môi trường của chủ đầu tư và doanh nghiệp còn chưa tốt. Trong đó những vấn đề chính cần quan tâm là:

    • Chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý môi trường của các KCN.
    • Hệ thống quản lý môi trường KCN.
    • Quy hoạch KCN gắn với bảo vệ môi trường.
    • Áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong bảo vệ môi trường KCN
    • Tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý bảo vệ môi trường ở các KCN
    • Tài chính và nhân lực trong công tác bảo vệ môi trường KCN

    Trong các vấn đề trên đều có những mặt yếu kém cần cải thiện. Chính chúng là nguyên nhân của thực trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở trong và xung quanh các KCN.

    1.     Chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý môi trường ở các KCN.

    Trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, vấn đề môi trường luôn được đảng và nhà nước ta coi trọng. Năm 2005, luật bảo vệ môi trường mới nhất được ban hành, hệ thống văn bản pháp luật về môi trường vẫn đang được sửa đổi , bổ sung và hoàn thiện. So với các nước phát triển, lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn khá mới và chỉ được đặc biệt quan tâm trong khoảng 5 năm trở lại đây do yêu cầu quản lý môi trường trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển nóng. Vì vậy, ý thức chấp hành pháp luật môi trường trong các DN và người dân còn hạn chế. Việc xử lý hành chính đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường còn chưa kiên quyết và triệt để, chưa có vụ xử lý hình sự nào được thực hiện đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường. Đảng và nhà nước đang rất cố gắng hạn chế những bật cập trong hệ thống pháp luật, để chúng thực sự có tác dụng trong các vụ việc thực tế phát sinh. Đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường ở các KCN

    Các văn bản về quản lý môi trường KCN đã ban hành có số lượng không phải nhỏ. Tuy vậy còn nhiều vấn đề trong việc áp dụng những văn bản pháp lý này vào thực tiễn. Ví dụ:

    – Quyết định  62/QĐ-BKHCNMT chưa nhất quán trong các quy định và nội dung của quản lý tập trung, chưa coi KCN như một thực thể độc lập có tổ chức, chưa có những quy định gắn với tổ chức, hỗ trợ cho hoạt động tổ chức, các quy định chưa sát với thực tiễn triển khai.

    Tại nhiều KCN, doanh nghiệp dựa vào lý do công nghệ xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường, tự thoả thuận với cơ quan quản lý để đấu nối riêng mà không kết nối chung vào hệ thống thu gom nước thải của KCN. Hậu quả là một KCN có nhiều đầu ra nước thải, không thể kiểm soát được và không dễ khắc phục khi chuyển đổi sang quản lý tập trung. Thực tế đã cho thấy không đảm bảo rằng công nghệ xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường được duy trì liên tục trong thời gian dài, hoặc doanh nghiệp không gian dối trong việc xả thẳng

    nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, như trường hợp VEDAN đã bị phát hiện. Kết nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung chính là một cách giám

    sát rất hiệu quả nhưng đã không trở thành quy định bắt buộc trong Quyết định này.(Nguồn: Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp, Bộ Công thương, 2009)

    – Nghị định 21/2008/NĐ-CP của chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 80/2008/NĐ-CP và tiếp đến là nghị định 29/2008/NĐ-CP về KCN/KCX và khu kinh tế đã quy định BQL các KCN, KCX, KKT có nhiệm vụ và quyền tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo đầu tư mới đối  với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của UBND cấp tỉnh trong KCN, KKT. Thực hiện những nghị định  trên nhiều địa phương đã ủy quyền cho một phần chức năng quản lý môi trường KCN từ sở TN&MT sang cho ban quản lý KCN. Tuy nhiên diễn biến quá trình này phát sinh nhiều vấn đề. BQL chưa thực sự triển khai được chức năng quyền hạn mới; bộ máy tổ chức chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số BQL ở các KCN còn chưa có bộ phận chuyên trách về môi trường: bộ máy, nhân sự, kinh phí không được quy định rõ ràng trong các văn bản.

    Nhìn chung chưa có sự thống nhất trong hệ thống các văn bản đã đã ban hành. Các chế tài quy định cũng như xử lý vi phạm còn chưa rõ ràng, chỉ tập trung vào những vấn đề như cải thiện môi trường đầu tư, còn hành lang pháp lý về quản lý môi trường KCN chậm ban hành. Nếu có vi phạm từ các KCN cũng không có sự xỷ lý cương quyết. Đây là một trong những nguyên nhân chính các KCN xả thải ra môi trường không qua xử lý trong thời gian dài.

    2.     Hệ thống quản lý môi trường KCN

    Các đơn vị có liên quan đến quản lý môi trường ở các KCN là: Bộ TN&MT ( đối với các KCN và dự án các KCN có quy mô lớn), UBND tỉnh, UBND huyện và một số bộ ngành khác (đối với dự án có tính đặc thù). Ngoài ra còn có ban quản lý KCN, chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN , các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ của KCN. Tuy có nhiều bộ phận ban ngành tham gia quản lý với phân cấp cụ thể nhưng hệ thống quản lý vẫn còn những mặt hạn chế là:

    • Ban quản lý KCN chưa đủ điều kiện thực hiện chức năng đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm quản lý môi trường KCN.

    Tồn tại lớn nhất trong vấn đề quản lý môi trường KCN là thiếu chủ thể quản lý thực sự chịu trách nhiệm và giải quyết các vấn đề môi trường KCN, đầu mối thực sự triển khai các nội dung quy định về bảo vệ môi trường KCN. Việc phân cấp không rõ ràng giữa Sở TN&MT với BQL các KCN đã dẫn đến việc né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giữa các đơn vị. Chính vì vậy mà việc bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất vẫn không được các BQL quan tâm đúng mức.

    • Chưa triển khai triệt để việc phân công trách nhiệm giữa cơ quan quản lý và đơn vị thực hiện.

    Theo phân cấp, sở TN&MT đóng vai trò của cơ quan quản lý, là bên ban hành quy định, còn bên BQL là bên thực hiện các quy định đó, dảm bảo chất thải đầu ra của toàn bộ KCN đạt tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu quy định.

    Mặc dù đã có quy định và hướng dẫn thực hiện việc ủy quyền một số chức năng quản lý nôi trường của BQL các KCN, nhưng hiện tại, tại một số địa phương, Sở TN&MT vẫn đang làm vai trò đơn vị thực hiện. Đó gồm chức năng kiểm tra và giám sát quá trình thực hiện các quy định của luật bảo vệ môi trường trong KCN như xử lý nội bộ doanh nghiệp, kết nối hệ thống…Chính vì vậy trong khi BQL các KCN chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà KCN, chưa thực hiện công tác chăm lo bảo vệ môi trường, thì cơ quan ban ngành cấp trên lại ôm đồm quá nhiều mà không thể trực tiếp quản lý thực tiễn.

    • Trách nhiệm của các bên về bảo vệ môi trường bên trong KCN còn nhiều bất cập.

    Theo quy định, ngoài BQL các KCN và sở TN&MT, những bên có liên quan trực tiếp đến hoạt động bảo vệ môi trường KCN còn có Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN và các doanh nghiệp trong KCN

    Tuy nhiên đây đều là các đơn vị coi trọng lợi nhuận từ kinh doanh, muốn giảm chi phí nên luôn muốn cắt bỏ chi phí cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như lắp đặt các thiết bị phục vụ cho hoạt động xử lý chất thải. Các chế tài quy định trách nhiệm của 2 đầu mối nay còn thiếu: một mặt thì lỏng lẻo trong việc bắt buộc phải thực hiện các công tác bảo vệ môi trường,  một mặt không rõ ràng, dễ bị lợi dụng và làm tăng chi phí quản lý.

    • Quy định về quản lý môi trường chưa được phổ biến: chưa nâng cao ý thức từ những người công nhân làm việc đến ban quản lý.

    Chính vì những yếu kém, chồng chéo, luật định không rõ ràng trên mà công tác quản lý giám sát hoạt động của doanh nghiệp ( vấn đề bảo vệ môi trường)  không hiệu quả. Có nhiều trường hợp việc gây ô nhiễm kéo dài hàng năm trời mà không bị các cơ quan chức năng phát hiện. Ví dụ như các vụ Công ty Vedan Việt Nam tại Đồng Nai, Công ty Miwon tại Phú Thọ, Công ty Huyndai Vinashin tại Khánh Hoà…

    3.     Quy hoạch KCN gắn với bảo vệ môi trường.

    Quy hoạch KCN phù hợp với sự phát triển KCN của cả nước trong tổng thể chung và phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở từng địa phương, gắn phát triển KCN với phát triển các khu thương mại, dịch vụ đô thị với cơ sở hạ tầng ổn định. Đây là điều kiện bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ( khai thác tốt nguồn lực của doanh ngiệp, sử dụng hợp lý tài nguyên…).

    Tuy nhiên vấn đề quy hoạch và phát triển KCN hiện tại không tuân theo một quy tắc chung thống nhất, một số nơi thiếu cơ sở khoa học. Điều này khiến cho quy trình xử lý các chất thải từ hoạt động sản xuất gặp khó khăn. Nhiều KCN được xây dựng trên hệ thống song khiến cho việc xả thải trực tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong vùng. Đây là biểu hiện của việc quy hoạch các khu vực kinh tế còn thiếu hợp lý.

    Một số điển hình khu công nghiệp thiếu cơ sở khoa học  là ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Hai thành phố này là điển hình của việc quy hoạch khu công nghiệp theo kiểu phân tán, tạo thành vành đai KCN bao vây tứ phía thành phố. Hậu quả khó giải quyết là vấn đề môi trường trong tương lai, hiệu quả kinh tế của KCN lại không cao.

    Một ví dụ khác là việc quy hoạch KCN trên lưu vực sông Thị Vải đã không thực hiện một cách khoa học là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm trong cho sông Thị Vải.

    4.     Áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong bảo vệ môi trường KCN

    Việc áp dụng các máy móc, quy trình hiện đại để xử lý chất thải trong sản xuất chưa được quan tâm đúng mức cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường xung quanh: Nhiều vụ việc các doanh nghiệp đã trực tiếp xả thải chưa qua xử lý ra môi trường gây hậu quả nghiêm trọng.

    • Đã triển khai xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các KCN, tuy nhiên tỷ lệ còn thấp và chưa hiệu quả.

    Đến năm 2009, có tới 57% KCN đang hoạt động không có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

    Trong ba năm gần đây, mặc dù số KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung có tăng lên, nhưng xét trên tổng số KCN, tỷ lệ KCN có hệ thống tăng lên không đáng kể. Một số KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng lại hoạt động không hiệu quả, mang tính đối phó. Theo đánh giá sơ bộ chỉ có 50% các hệ thong xử lý nước thải tập trung hiện tại đạt tiêu chuẩn. Nhiều khu công nghiệp còn tìm cách kéo dài hoặc trì hoãn việc đầu tư cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường nói chung và hệ thống xử lý nước thải tập trung nói riêng.

    Việc áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện với môi trường tại các doanh nghiệp trong KCN còn không được coi trọng.

    Chỉnh phủ luôn khuyến khích và đưa ra các kế hoạch áp dụng kỹ thuật trong sản xuất sạch hơn. Tuy vậy vẫn có nhiều KCN không áp dụng hoặc vẫn đang sử dụng kỹ thuật sản xuất lạc hậu không thân thiện với môi trường.

    – KCN Phố Nối A, Hưng Yên: Hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN này được xây dựng từ năm 2008, có công suất 3.000 m3/ngày đêm, trong khi đó theo phê duyệt hệ thống xử lý nước thải phải có công suất 10.200 m3/ngày đêm mới đáp ứng nhu cầu thực tế. Do công suất chưa đạt tiêu chuẩn nên Công ty quản lý khai thác hạ tầng KCN Phố Nối A chưa hoàn thành các thủ tục cấp phép xả nước thải ra môi trường. Đến năm 2009, còn 29 doanh nghiệp chưa đấu nối hệ thống nước thải với nhà máy xử lý nước thải tập trung, mà được xử lý riêng rồi trực tiếp xả ra môi trường và không có sự kiểm soát.

    – KCN Lê Minh Xuân, Tp. Hồ Chí Minh: Kết quả kiểm tra của BQL các KCN-KCX Tp. Hồ Chí Minh tại 108 doanh nghiệp đang hoạt động trong KCN này cho thấy, tình hình vi phạm các quy định về BVMT rất phổ biến, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp này đã không tuân thủ báo cáo định kỳ về môi trường, vi phạm việc xả nước thải, đấu nối hệ thống thoát nước không đúng quy định, không đăng ký chủ nguồn thải đối với chất thải nguy hại.

    • Chưa triển khai mô hình KCN sinh thái

    Trên thế giới mô hình này đang được nghiên cứu và đã ứng dụng vào thực tế. Ở Việt Nam đây vẫn là vấn đề khá mới mẻ mới đang trong vấn đề tìm hiểu và đề xuất qua một số dự án.

    5.     Tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý bảo vệ môi trường trong KCN

    • Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường của KCN chưa thực sự phát huy hiệu quả

    Các đợt thanh tra, kiểm tra tăng lên về số lượng nhưng còn hạn chế trong việc làm rõ hành vi ô nhiễm, mức độ gây ô nhiễm của các doanh nghiệp trong KCN. Từ đó dẫn đén việc tiến hành xử phạt chưa thực sự răn đe.

    Các bộ ngành hoạt động không hiệu quả trong việc phối hợp cho hoạt động thanh tra, kiểm tra. Nhiều địa phương chưa thành lập ban thanh tra, kiểm tra hoạt động xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, công tác giám sát nguồn thải chưa được triển khai.

    • Công cụ kinh tế chưa phát huy hiệu quả

    Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải. Tuy nhiên hình thức thu phí chưa hợp lý. Trong khi ở các KCN chất thải được gom lại và xử lý tập trung thì việc thu phí lại áp dụng với tứng doanh nghiệp độc lập, mức phí vẫn thấp so với chi phi xử lý chất thải. Các doanh nghiệp chưa có ý thức trong việc kê khai nộp thuế và nhà nước cũng chưa có biện pháp quản lý hiệu quả. Chế tài xử phạt kém, bất cập về mức phí bảo vệ môi trường.

    Năm 2008, Đồng Nai có 583 doanh nghiệp thuộc đối tượng phải nộp phí (nhiều doanh nghiệp trong số này thuộc các KCN), đã có 463 cơ sở đã thực hiện việc kê khai với tổng số phí phải nộp là 7.567.922.846 đồng. Ngoài ra, có 80 đơn vị chưa nộp phí với tổng số tiền hơn 2,1 tỷ đồng, một số đơn vị có số phí nợ lớn như Công ty cổ phần Gạch men Thanh Thanh, Công ty Gạch men Y Mỹ, Công ty cao su Đồng Nai…

    Ngoài ra còn một số bất cập khác như việc cung cấp thông tin không hiệu quả, nhà nước không nắm được tình hình xả thải của doanh nghiệp cũng như người dân không được cung cấp đầy đủ thông tin để dung sức mạnh của mình tạo sức ép lên hoạt động xả thải của doanh nghiệp.

    6.     Tài chính và nguồn nhân lực cho công tác bảo vệ môi trường.

    Tuy vốn đầu tư vào các khu công nghiệp tương đối lớn nhưng phần vốn bỏ ra cho hoạt động xử lý chất thỉ ở các khu công nghiệp chưa tương xứng và chưa được chú trọng. nguyên nhân chính là do ý thức bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp chưa cao. Trong khi đó cán bộ của công tác bảo vệ môi trường lại yếu về chất lượng và chất lượng chưa cao.

    Phân tích trên đã cho thấy rõ những mặt yếu kém của công tác bảo vệ môi trường ở các KCN. Từ chính những mặt này mà tình trạng ô nhiễm ngày một nghiêm trọng, chở thành một ngoại ứng gây tác hại đến cả xã hội.

    IV. GIẢI PHÁP

     

    Có 4 nhóm giải pháp chủ yếu để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở các KCN.

    • Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hệ thống quản lý môi trường các KCN, từ việc phân cấp và phân công trách nhiệm đến việc tăng cường năng lực cán bộ và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các đơn vị liên quan
    • Rà soát, bổ sung các văn bản chính sách pháp luật, tăng cường các biện pháp thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường KCN.
    • Đẩy mạnh việc triển khai công tác bảo vệ môi trường của chính các KCN, chú trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung, thực hiện nghiêm túc chế độ tự quan trắc và báo cáo môi trường.
    • Thực hiện quy hoạch KCN gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường và một số giải pháp khuyến khích bảo vệ môi trường tại các KCN.

    1.     Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hệ thống quản lý môi trường ở các KCN

    1. Phân cấp và phân công trách nhiễm rõ ràng cụ thể theo hướng tổ chức quản lý tập trung.

    Ban quản lý KCN cần được các cấp các ngành ủy quyền để trở thành một chủ thể đầy đủ, được giao đủ thẩm quyền và trách nhiệm liên quan đến bảo vệ môi trường bên trong KCN . Đây là đơn vị chủ trì thực hiện những việc như:

    Thẩm định và phê duyệt báo cáo đầu tư mới, xác nhận cam kết bảo vệ môi trường của các dự án;

    – Kiểm tra, xác nhận kết quả các công trình xử lý chất thải ở các KCN;

    – Tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cho các chủ đầu tư và doanh nghiệp

    – Tiếp nhận và giải quyết các tranh chấp , kiến nghị giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh trong KCN;

    Sở TN&MT, cần thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về môi trường tại địa phương, chịu trách nhiệm:

    – Xây dựng, trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý môi trường KCN trong phạm vi quyền hạn.

    – Thẩm định tổ chức thu phí bảo vệ môi trường các KCN.

    – Phối hợp và hỗ trợ BQL các KCN thực hiện các nhiệm vụ do ban quản lý các KCN chủ trì thực hiện.

    1. Tăng cường năng lực cán bộ phụ trách công tác bảo vệ môi trường

    Cần tập trung nâng cao năng lực trình độ và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định thành lập KCN đặc biệt là thẩm định các yếu tố môi trường cũng như công tác thanh tra kiểm tra giám sát đảm bảo thi hành các quy định về bảo vệ môi trường các KCN

    1. Tăng cường phối hợp giữa các đơn vị có liên quan

    Tăng cường sự phối hợp giữa trung ương và địa phương ( bộ TN&MT, sở TN&MT ban quản lý các khi công nghiệp) trong việc triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường khu công nghiệp

    Tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý có liên quan gồm sở TN&MT, cảnh sát môi trường, ủy ban nhân dân các quận huyện với BQL các KCN trong việc giám sát, kiểm tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong KCN

    2.     Rà soát, bổ sung các văn bản chính sách pháp luật, tăng cường các biện pháp thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường KCN.

    1. Rà soát, bổ sung các văn bản chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường KCN

    Rà soát điều chỉnh lại các văn bản đã ban hành liên quan đến việc phân cấp quản lý môi trường KCN nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo hướng phân cấp và phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể. Trong đó đặc biệt chú ý đến các việc như rà soát, sửa đổi luật bảo vệ môi trường, các nghị định liên quan đến phân cấp và phân chia trách nhiệm, các văn bản cần đẩy mạnh việc phân cấp, giao trách nhiệm cho BQL các KCN và nhấn mạnh rõ trách nhiệm của chủ đầu tư và các doanh nghiệp trong KCN.

    Tạo hành lanh pháp lý hoàn thiện cho công tác bảo vệ môi trường KCN với những hành động như xây dựng chế tài có tính bắt buộc cao đối với các chủ đầu tư trong việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải, rà soát các văn bản hướng dẫn kỹ thuật trong hoạt động bảo vệ môi trường KCN.

    1. Tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường KCN.

    Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường KCN, mà trước hết là tăng cường chất lượng các báo cáo đánh giá tác động môi trường tại các KCN, cần giám sát các nguồn thải các KCN.

    Tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế với chi phí hợp lý trong quản lý môi trường KCN như thu phí bảo vệ môi trường, giấy phép xả thải, các biện pháp kí quỹ. Cần nghiên cứu đưa ra mức thu phí chính xác, đánh giá điều chỉnh và hướng dẫn cụ thể các quy định trong việc thu phí bảo vệ môi trường

    Cần có mức xử phạt nghiêm khắc đối với các hoạt động gây ô nhiễm môi trường của các KCN, tạo các khoản trợ cấp và các hình thức ưu đãi đối với các dự án đầu tư bảo vệ môi trường trong KCN

    1. Tăng cường công cụ thông tin trong bảo vệ môi trường KCN

    Cần khẩn trương thực hiện việc công bố thông tin và dân chủ cở sở liên quan đến bảo vệ môi trường KCN. Tăng cường cung cấp thông tin đảm bảo được thông tin chính xác đầy đủ và cập nhật thường xuyên để xây dựng cơ sở dữ liệu đáng tin cậy phục vụ công tác giám sát kiểm tra.

    Tuyên truyền phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường, kịp thời cập nhật những quy định mới, những điều khoản đã sửa đổi cho các doanh nghiệp, các KCN

    3.     Đẩy mạnh việc triển khai công tác bảo vệ môi trường của chính các KCN.

    1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải KCN.

    Chủ đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN cần xây dựng và hoàn thiện các hệ thống nước thải tập trung với các hạng mục được thiết kế đúng và phù hợp với điều kiện thực tế; xây dựng lắp đặt đúng thiết kế; đảm bảo hoạt động ổn định và hiệu quả trong suốt quá trình hoạt động của KCN.

    Thường xuyên giám sát hoạt động của những công trình trên thông qua lượng điện tiêu thụ, sổ nhật ký vận hành, hóa đơn, phiếu xuất nhập khẩu hóa chất.

    Cần xây dựng khu vực lưu giữ chất thải tạm thời trong KCN.

    1. Các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc việc xử lý chất thải.

    Các doanh nghiệp phải xử lý sơ bộ nước thải cho phù hợp với tiêu chuẩn đầu vào của hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi thải vào hệ thống thu gom nước thải của KCN.

    Các doanh nghiệp phải có hệ thống xử lý các chất thải từ hoạt động của mình hoặc có hợp đồng thuê các đơn vị có chức năng và đủ năng lực để thu gom và xử lý đúng cách

    1. Thực hiện nghiêm túc chế độ tự quan trắc và báo cáo môi trường.

    Chủ đầu tư và các doanh nghiệp trong KCN cần thực hiện nghiêm túc việc tự quan trắc theo đúng cam kết và tuân thủ chế độ báo cáo cho các cơ quan có thẩm quyền theo quy định

    Yêu cầu bắt buộc các tra, xử lý nước thải tập trung của KCN phải có hệ thống quan trắc tự động giám sát chất lượng nước thải. Số liệu được truyền tự động và liên tục về cơ quan quản lý môi trường quốc gia và địa phương,

    1. Tuyên truyền , phổ biến pháp luật các mô hình công nghệ thân thiện với môi trường

    Thực hiện tổ chức tập huấn, hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp, chủ đầu tư và ban quản lý các KCN.

    Tăng cường tuyên truyền phổ biến các mục tiêu, chỉ tiêu bảo vệ môi trường KCN và các mô hình mới sản xuất sạch hơn.

    4.     Quy hoạch KCN gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường.

    Trước hết cần phải bổ sung công tác xây dựng và thẩm định đánh giá môi trường chiến lược đối với với quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Quy hoạch KCN gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Cần xem xét phân tích tác động qua lại giữa quy hoạch phát triển KCN của một vùng kinh tế với quy hoạch phát triển các ngành kinh tế – xã hội khác trong vùng: phải phù hợp với điều kiện tài nguyên, đặc điểm kinh tế xã hội, triển vọng thị trường thế giới…

    Chính phủ và chính quyền các địa phương cần cân nhắc trong phê duyệt quy hoạch phát triển KCN, có những điều chỉnh phù hợp với những quy hoạch đã được phê duyệt.

    Cần khẩn trương nghiên cứu việc chuyển đổi các KCN hiện nay thành các KCN thân thiện với môi trường, tiến tới xây dựng các KCN sinh thái.

    5.     Một số giải pháp khuyến khích.

    Quản lý bảo vệ môi trường các KCN gắn với định hướng phát triển bền vững, chú trọng phát triển nhanh nền kinh tế và giải quyết thỏa đáng các vấn đề xã hội ở địa phương.

    Khuyến khích áp dụng sản xuất sạch hơn, công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, công nghệ xử lý chất thải tại các KCN.

    Thu hút vốn đầu tư và đa đạng hóa nguồn vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường: vay vốn ưu đãi nhà nước….

    Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường: khuyến khích xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, công bố và phổ biến thông tin cho cộng đồng khu vực xung quanh KCN.

    C. KẾT LUẬN

    Thực trạng môi trường xung quanh các KCN thật sự đáng báo động. Từ môi trường nước, không khí đến môi trường đất đều bị suy giảm nặng nề. Hiện trạng này không những gây ra thiệt hại về kinh tế mà còn thiệt hại lâu dài đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của người dân. Là một ngoại ứng tiêu cực trong sản xuất, ô nhiễm môi trường gây ra rất nhiều chi phí cho người dân xung quanh KCN, những chi phí này không được phản ánh vào giá cũng như không có sự đền bù thỏa đáng cho người dân.

    Nguyên nhân của thực trạng ô nhiễm môi trường xung quanh KCN xuất phát từ sự yếu kém trong tất cả các mặt, từ khâu phân cấp hệ thống quản lý, ban hành  và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường KCN đến việc thanh tra, giám sát hoạt động xả thải của doanh nghiệp. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là ý thức bảo vệ môi trường của chính các doanh nghiệp và chủ đầu tư xây dựng trong KCN. Việc chạy theo lợi nhuận đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững kinh tế- xã hôi.

    Từ nguyên nhân, chính phủ đề ra nhiều giải pháp để khắc phục hiện trạng ô nhiễm môi trường, hạn chế những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Trong những giải pháp này, những hoạt động của chính phủ đóng vai trò quan trọng để hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Cần sớm triển khai những giải pháp này một cách khoa học để chúng thực sự phát huy tác dụng trong việc cải thiện môi trường trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    Tài liệu tham khảo

    1. Giáo trình Kinh tế công cộng- Trường ĐH Kinh tế quốc dân(NXB Thống kê Hà Nội).
    2. Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009:Môi trường khu công nghiệp Việt nam-Bộ tài nguyên và môi trường-1/6/2010
    3. Bài viết : ‘‘Gần 27 nghìn người mắc bệnh nghề nghiệp”-D.Hải-25/2/2011(http://www.baomoi.com. )
    4. Bài viết “Hàng chục ngàn người mắc bệnh nghề nghiệp do ô nhiễm môi trường”-H.C-28/10/2006(http://www.vietbao.vn )
    5. Bài viết “ Những bất cập trong luật môi trường Việt Nam”-Lê Thanh Ly -19/9/2010(http://yeumoitruong.com ).
    6. Bài viết : ‘‘Giải quyết ô nhiễm môi trường KCN,KCX ở đồng bằng sông Cửu Long”- Chu Thế Thành-Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh(http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn).
    7. Báo cáo công tác quản lý Nhà nước về môi trường-Bộ tài nguyên và môi trường.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đề và đáp án môn Kinh tế công cộng

    Đề và đáp án môn Kinh tế công cộng

    Đề và đáp án môn Kinh tế công cộng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Các câu hỏi và đáp án bộ môn Kinh tế công cộng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%81-v%C3%A0-%C4%91%C3%A1p-%C3%A1n-m%C3%B4n-Kinh-t%E1%BA%BF-c%C3%B4ng-c%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề và đáp án môn Kinh tế công cộng

    Đề và đáp án môn Kinh tế công cộng

    câu 1: có mấy học thuyết về phân phối lại thu nhập.
    câu 2: trả lời đ, s và giải thích ngắn gọn
    1. khi đường cầu càng ít co giãn thì gánh nặng thuế thuộc về nhà sản xuất.
    2. trong ngoại ứng tích cực, mức trợ cấp hiệu quả bằng mức lợi ích ngoại ứng biên tạo ra tại mức sản lượng tối ưu thị trường.
    3. trong việc cung cấp công cộng HHCN,khi cầu càng co giãn thì đánh thuế là phương pháp hiệu quả để hạn chế việc tiêu dùng quá mức.
    4. đường giới hạn khả năng sản xuất là đường tồng hợp các điểm đạt hiệu quả trong phân phối
    câu 3.
    một hãng độc quyền đối mặt với đường cầu: Pd = 160 – 2Q
    TC = 0.5 Q^2 + 5Q
    a. tính mức sản lượng và giá tại điểm cân bằng.
    b. chính phủ đánh thuế đơn vị là T = 5/ dvsp. Tính gánh nặng thuế đối với nhà sản xuất, người tiêu dùng và doanh thu thuế.
    c. tính tổn thất PLXH do thuế gây ra.

    Tớ nghĩ câu 2 thì mức trợ cấp bằng hiệu của mức lợi ích biên tạo ra tại mức sl tối ưu của xã hội và tại mức sản lượng tối ưu của thị trường chứ vì mức trợ cấp bằng lợi ích ngoại ứng biên

    câu 3 đúng vì khi cc hh cá nhân 1 cách công cộng, xu hướng tiêu dùng quá mức xảy ra => cần hạn chế tiêu dùng. khi đường cầu càng giảm thì 1 khoản thuế càng làm giảm mạnh sản lượng, => đánh thuế là hiệu quá

    câu 4 đúng vì theo lời Mrs Yen: PPF là tập hợp các điểm đạt hiệu quả Pareto trong phân phối,PPF là hiệu quả trong sx, còn hiệu quả trong phân phối là đường g.hạn khả năng thỏa dụng

    câu 2,
    1, khi đường cầu càng ít co giãn thì gánh nặng thuế thuộc về NSX
    sai:
    cầu ít co giãn, cung co giãn nhiều thì NSX chịu thuế ít hơn, ngừoi tiêu dùng chịu thuế nhiều hơn

    câu 2, 4 đuòng giới hạn khả năng SX là đường tổng hợp các điểm đạt hiệu quả trong phân phối
    sai vì đường giới hạn khả năng SX là đg tổng hợp các điểm đạt hiệu quả trong SX

    câu 2
    2,sai
    vì mức trợ cấp phải bằng lợi ích biên ngoại ứng tại sản lượng tối ưu xã hội

    1. Đường cầu càng ít co giãn thì gánh nặng thuế thuộc về người sản xuất. => Sai. Cầu ít co giãn, người tiêu dùng chịu gánh nặng thuế
      2. Trong ngoại ứng tích cực, mức trợ cấp hiệu quả bằng mức lợi ích biên tạo ra tại mức sản lượng
      tối ưu của thị trường. => Chả hiểu câu hỏi lắm. Có vẻ là sai
      3. Trong việc cung cấp công cộng hàng hóa cá nhân, cầu càng co giãn thì đánh thuế là phương
      pháp hiệu quả để hạn chế tiêu dùng quá mức. => Đúng. Cầu càng co giãn, cứ thong thả tăng thuế là cầu giảm ầm ầm
      4. Đường PPF là đường tổng hợp các điểm đạt hiệu quả trong phân phối. => đang nghiên cứu tiếp

    câu1. S (giải thik như trg béo )
    câu2. S (tại mức sl tối ưu của xã hội)
    câu3. Đ (ko bit giải thik ntn, hehe)
    câu4. S (trong sx)

    Đề kiểm tra KTCC cô Yên [updated]

    Yêu cầu: lựa chọn đúng, sai, không cần giải thích.

    1. Vì thuế trong môi trường độc quyền luôn làm giá tăng nên người tiêu dùng luôn phải chịu toàn bộ gánh nặng thuế.
    2. Người nộp thuế trực thu luôn tìm cách chuyển bớt gánh nặng thuế cho người khác.
    3. Phương pháp đường cong Lorenz luôn luôn cho phép ta so sánh được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa hai nước bất kì.
    4. Người theo thuyết Rawlas chấp nhận một chính sách làm lợi cho tất cả mọi thành viên trong xã hội nhưng trong đó người giàu được hưởng lợi ích tăng thêm nhiều hơn người nghèo.
    5. Trận đấu bóng là hàng hóa công cộng.
    6. Thuế trực thu là thuế đánh vào phần chi tiêu dành cho hàng hóa và dịch vụ.
    7. Hàng hóa công cộng là hàng hóa mà xã hội nghĩ rằng mọi người nên có, bất kể họ muốn hay không.
    8. Công bằng theo chiều ngang là cách đối xử khác nhau đối với những người khác nhau, nhằm giảm bớt hậu quả của những điểm khác nhau bẩm sinh đó.
    9. Nếu hàm lợi ích của các cá nhân như nhau thì thuyết vị lợi cho rằng phúc lợi xã hội sẽ đạt tối đa nếu sự phân phối thu nhập đạt đến sự bình đẳng tuyệt đối (tức là thu nhập của mọi người bằng nhau).
    10. Đường cầu co giãn nhiều, đường cung co giãn ít người bán sẽ chịu phần lớn gánh nặng thuế.
    11. Chi tiêu công cộng hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ chi phí cho hoạt động công cộng thông qua ngân sách nhà nước.

    1.sai vì thuế trực thu không làm ảnh hưởng tới giá => nhà độc quyền chịu toàn bộ khoản thuế
    còn khi nhà độc quyền buộc phải tăng giá, họ sẽ chuyển bớt gánh nặng sang cho ng tiêu dùng chứ ko chuyển hết
    2. Sai vì thuế trực thu thì ng chịu và nộp thuế là 1, ko làm thay đổi giá cả, nên ko đẩy bớt gánh năgnj thuế sang cho ng khác đc
    3.Sai vì đường cong lorenz chỉ định tính, ko định lượng, mặt khác còn tùy thuộc vào độ mở của đường cong lorenz
    4. Đúng ( theo nguồn tin của trường béo) vì họ chỉ quan tâm là làm tăng cho ng nghèo nhất, ko cần biết ng giàu tăng hay ko tăng

    theo thuyết Rawls, PLXH chỉ phụ thuộc vào lợi ích của người nghèo nhất, thế nên ng theo thuyết này sẵn sàng chấp nhận 1 chính sách làm lợi cho tất cả mọi người (vì tăng lợi ích của người nghèo) bất chấp chính sách này làm người giàu tăng lợi ích nhiều hơn
    5.Sai – hh cá nhân
    6.đúng
    * Thuế trực thu là thuế mà người, hoạt động, đồ vật chịu thuế và nộp thuế là một.
    * Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một. Chẳng hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ: thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt…
    7. sai – cphu chi cc hh cc khi xhoi có nhu cầu
    8.sai – đối xử giống nhau vs những ng có địa vị ban đầu giống nhau
    9.đúng – khi đó điểm đạt công bằng sẽ nằm ở chính giữa
    10.đúng – vẽ hình
    11.sai – đây là chi tiêu công cộng theo nghĩa hẹp

    1. Chính phủ phải xác định quy mô và công nghệ sản xuất các sẳn phẩm để đem lại lợi nhuận tối đa khi quyết định trả lời câu hỏi sản xuất như thế nào?
    2. Nếu tất cả mọi thị trường trong nền kinh tế là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, trừ một thị trường, thì sự cân bằng kết hợp trong cả nền kinh tế là đạt hiệu quả Pareto.
    3. Một chiếc đài bán dẫn trên một bãi tắm ồn ào là một ví dụ về ngoại ứng.
    4. Tất cả những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng lợi ích đều là những điểm đạt hiệu quả Pareto trong phân bố nguồn lực.
    5. Công viên là hàng hóa công cộng.
    6. Hàng hóa cá nhân chỉ được cung cấp công cộng trong trường hợp tổng chi phí giao dịch với lợi ích tăng thêm nếu cung cấp công cộng lớn hơn tổn thất do tiêu dùng quá mức.
    7. Định lý 2 của nền kinh tế phúc lợi phát biểu là: nếu người sản xuất và người tiêu dùng đều là những người chấp nhận giá thì tự thị trường sẽ đẫn đến phân bổ đạt hiệu quả Pareto.
    8. Muốn biết ai là người thực sự chịu thuế trước hết cần xác định xem thuế đó đánh vào bên cung hay bên cầu.
    9. Sử dụng hàng rào thuế quan để bảo vệ thị trường trong nước. Chính sách đó là tương hợp với thị trường.

    Đáp án cuối cùng: Các câu 4, 6, 9 ,10 ,17 đúng.        

    Ý kiến câu 6 đv hộ gđ thì thuế trực thu đánh vào thu nhập gồm phần chi tiêu và tiết kiệm nên ảnh hưởng đến tiêu dùng hh và dv, còn đánh vào doanh nghiệp thì ảnh hưởng đến lợi nhuận => tđộng đến qtrinh tái đầu tư ( chi mua hàng hóa nguyên vật liệu đầu vào or dịch vụ vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm)

    12-sai – xđịnh công nghệ sx để tối đa hóa lợi ích
    CP ko ko quan tâm đến lợi nhuận khi sx HHCC mà là quan tâm đến lợi ích tối đa

    13.sai – hqua pareto yêu cầu mọi thị trường trong nkte phải là tt cạnh tranh hh

    14.đúng – có tích cực: nhiều ng thư giãn – có tiêu cực: 1 số ngừoi thấy khó chịu vì ồn ào

    15.sai – đạt hqua pareto trong pp nguồn lực là các điểm trên PPF

    16.sai – 1 vd: công viên vui chơi – thu phí ( loại trừ) – chen nhau dùng làm tắc nghẽn ( cạnh tranh)

    Công viên là hàng hóa Cá nhân vì nó không có đủ 2 thuộc tính của hàng hóa công cộng.
    1.Không có tính phi loại trừ do vấn đề thu tiền vào cửa.
    2.Không có tính phi cạnh tranh do vấn đề khi có thêm người vào công viên sẽ làm giảm lợi ích của những người ở trong công viên từ trước.
    chú ý: sự phân biệt giữa hàng hóa cá nhân và hàng hóa công cộng là không rõ ràng

    17. Đúng – cp giao dịch cua tư nhân > cp cc cc cua chính phủ

    18.sai – đây là định lý 1

    19.sai – đánh vào bên nào cũng được, phân chia thuế ko thay đổi

    20.sai – đánh thuế làm giảm tính cạnh tranh của thị trường, vd thuế nhập khẩu => giảm cạnh tranh => ko tương hợp

    Đề Ktra KTCC lần 2 – Dự Báo

    1. Đường cong Lorenz có thể nằm dưới or trên or trùng đường 45 độ
      2. hàng hóa khuyến dụng là hàng hóa công cộng không thuần túy
      3. Việc cá nhân thay đổi hành vi sau khi có bảo hiểm là lựa chọn ngược
      4. Chính phủ là nguy cơ cho cạnh tranh và sở hữu cá nhân
      5. Thuế là biện pháp tốt nhất chống độc quyền
      6. Tiêm chủng mở rộng là chính sách thể hiện công bằng dọc
      7. Can thiệp của Chính Phủ làm thị trường hoạt động hiệu quả hơn
      8. Hệ số Gini tăng phản ánh nghèo đói cao
      9. Đường Lorenz là công cụ để so sánh tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các quốc gia khác nhau, có thể lồi, lõm or phẳng
      10. Truyền hình cable là hhcc có thể loại trừ
    1. Sai. Nếu trùng với đườn 45 độ thì G = 1. Phi thực tế.
      2. Sai. Hàng hóa khuyến dụng có thể là hàng hóa cá nhân.
      3.
      4. Đúng. Chính phủ có thể gây nguy hại cho cạnh tranh hoặc sở hữu cá nhân bằng cách trợ cấp cho các doanh nghiệp yếu kém hay tước đoạt bằng luật …
      5. Sai. Thuế chỉ có tác dụng giảm bất bình đẳng thu nhập, đôi khi còn làm thị trường tồi tệ hơn vì nhà độc quyền sẽ cắt giảm sản lượng.
      6. Tiểm chủng mở rộng là kí rì
      7. Đúng
      8. Sai. Bất bình đẳng thôi Chắc j` thu nhập đã thấp
      9. Sai. Như câu 1.
      10. đúng.

    câu 1 : sai do đường lozent ko nằm trên
    câu 2 sai hhkd là hhcn
    câu 3 sai do xảy ra trước chứ ko phải sau khi bảo hiểm
    câu 4: đúng do các chính sách trợ cấp cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ giảm cạnh tranh.các chính sách tước đoạt tài sản tư nhân theo luật pháp=> nguy cơ sở hữu tư nhân

    câu 9 có khi giải thích đường lorenz ko dùng để so sánh giữa 2 quốc gia đc nhờ


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây


  • Các câu hỏi và đáp án bộ môn Kinh tế công cộng

    Các câu hỏi và đáp án bộ môn Kinh tế công cộng

    Các câu hỏi và đáp án bộ môn Kinh tế công cộng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Lý thuyết và bài tập ôn tập môn Kinh tế công cộng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/C%C3%A1c-c%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-v%C3%A0-%C4%91%C3%A1p-%C3%A1n-b%E1%BB%99-m%C3%B4n-Kinh-t%E1%BA%BF-c%C3%B4ng-c%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các câu hỏi và đáp án bộ môn Kinh tế công cộng

    Các câu hỏi và đáp án bộ môn Kinh tế công cộng

    Câu 1: Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế có sự điều tiết của cả 2 bàn tay vô hình của thị trường và hữu hình của chính phủ, nhưng bàn tay của chính phủ mạnh hơn.

     Sai vìà  

    + nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế có sự điều tiết của cả 2 bàn tay vô hình của thị trường và hữu hình của chính phủ tuy nhiên sự can thiệp của chính phủ chỉ nhằm mục địch  

    – giải quyết các thất bại của thị trường như độc quyền, ngoại ứng , thong tin không đối xứng, hang hóa công cộng  

    – phân bổ nguồn lực hợp lý  

    – giải quyết vấn đề công bằng xã hội  

    Không thể nói rằng sự điều tiết của bàn tay vô hình của thị trường mạnh hơn hay bàn tay hữu hình của chính phủ mạnh hơn vì sự can thiệp này ở mỗi nền kinh tế là khác nhau

    Câu 2: Vì KVCC là khu vực của chính phủ nên chính phủ cần có những chính sách ưu đãi cho khu vực này để cạnh tranh thắng thế KVTN

     Sai vì việc đầu tư phát triển KVCC hay KVTT là do tính toán đến tổng phúc lợi xã hội chứ không ưu đãi cho bất cứ khu vực nàoà

    Câu 3: Trong điều kiện nền kinh tế ko ổn định thì phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường ko đảm bảo đạt được hiệu quả Pareto

     Đúng vìà  

    + Hiệu quả pareto: Một sự phân bổ nguồn lực được gọi là đạt hiệu quả Pareto nếu như không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm cho ít nhất một người được lợi hơn mà không làm thiệt hại đến bất kỳ ai khác  

    + Nếu nền kinh tế vận hành hoàn hảo thì phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường sẽ đạt hiệu quả pareto  

    +Nếu nền kinh tế không ổn định ( độc quyền , ngoại ứng …) thì việc phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường sẽ làm cho tổng lợi ích xã hội giảm.( vd như mất không do độc quyền hay ngoại ứng gây ra ).Lúc đó cần sự can thiệp của chính phủ nhằm làm tăng tổng phúc lợi xã hội, điều tiết nền kinh tế đạt hiệu quả pareto

    Câu 4: Chính sách ưu đãi tín dụng cho các doanh nghiệp tư nhân đang thua lỗ để duy trì công ăn việc làm cho người lao động là một chính sách tương hợp với cơ chế thị trường

     Sai vì đây là chính sách trợ cấp cho doanh nghiệpà

    Câu 5: Bản thân chính phủ cũng là một nguy cơ đe doạ cạnh tranh và sở hữu tư nhân

    Sai vì chính phủ có vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ môà  

    Câu 6: Một phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto luôn hoàn thiện hơn một phân bổ khác chưa hiệu quả

     Đúng vìà  

    + Hiệu quả pareto: Một sự phân bổ nguồn lực được gọi là đạt hiệu quả Pareto nếu như không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm cho ít nhất một người được lợi hơn mà không làm thiệt hại đến bất kỳ ai khác  

    + khi đạt hiệu quả Pareto thì nguồn lực được sử dụng hoàn toàn

    Câu 7: Chương trình “Tấm lòng vàng” giúp đỡ người nghèo gặp hoàn cảnh khó khăn là một hoàn thiện Pareto

     Đúng vì khi này người được chương trình “tấm lòng vàng” giúp đỡ sẽ được lợi hơn mà không làm thiệt hại đến bất kì aià

    Câu 8: Câu “Nạn dịch SARS đã làm lượng khách du lịch đến nhiều nước châu Á trong năm 2003 giảm mạnh” là một nhận định thực chứng.

    Đúng vì quan sát thực tếà

    Câu 9: Khi trả lời sản xuất cái gì trong KVCC, chính phủ chỉ dựa vào những quyết định chủ quan của mình chứ ko căn cứ và quy luật Cung-Cầu.

     Sai vì khi quyết định sản xuất cái gì trong KVCC, chính phủ dựa vàoà  

    – nhu cầu cơ bản của XH  

    – cung-cầu

    Câu 10: Nguyên tắc hỗ trợ yêu cầu chính phủ can thiệp vào nền kinh tế khi đảm bảo chắc chắn rằng sự can thiệp đó hiệu quả hơn so với sự điều tiết của thị trường

     Đúng vì mục tiêu can thiệp của chính phủ là làm hạn chế thất bại của thị trường và đảm bảo nền kt vận hành ổn định hơnà

    Câu 11: Vì độc quyền gây tổn thất PLXH nên chính phủ cần có những chính sách xoá bỏ độc quyền

     Sai vìà  

    + độc quyền tự nhiên là không thể xóa bỏ  

    + có một số ngành hình thành nên độc quyền là do nhà nước nhượng quyền sản xuất

    Câu 12: Việc định giá bằng chi phí trung bình sẽ khiến lợi nhuận siêu ngạch của thị trường độc quyền tự nhiên bằng 0

     Đúng vìà  

    + Nều để cho nền kinh tế vận hành hoàn hảo thì thị trường sẽ sản xuất (P*;Q*) ở mức sản lượng P=MC  

    + khi có độc quyền thì nhà độc quyền chọn sản xuất (P0;Q0) ở mức  làm cho giá cả tăng lên P0àMR=MC >P* và sản lượng giảm xuống Q0<Q* để thu lợi nhuận siêu ngạch  

    + khi định giá bằng Chi phí trung bình sẽ làm khoản chênh lệch lợi nhuận siêu ngạch của thị trường độc quyền tựàtrên không còn nữa nhiên bằng 0

    Câu 13: Ngoại ứng gây ra tổn thất PLXH là vì doanh nghiệp gây ra ngoại ứng đã sản xuất mức sản lượng mà tại đó lợi ích xã hội biên nhỏ hơn chi phí xã hội biên

     Sai vì Có 2 loại ngoại ứng là ngoại ứng tiêu cực và ngoại ứng tích cựcà  

    + Ngoại ứng tiêu cực gây tổn thất PLXH là do sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp sản xuất quá mức  

     

    Q1>Qo và tổn thất PLXH là ABC  

    + Ngoại ứng tích cực gây tổn thất PLXH là do doanh nghiệp sẽ sản xuất ít hơn mức sản lượng tối ưu của thị trường  

     

    Q1<Q0 và tổn thất PLXH là ZUV

    Câu 14: Giải pháp trợ cấp ngoại ứng tích cực sẽ ko hiệu quả nếu số tiền chính phủ phải chi ra để trợ cấp lớn hơn tổn thất PLXH tiết kiệm được

     

     Đúng vì khi chính phủ trợ cấp một lượng s sẽ làm cho đường MPB dịch chuyển lên trênà  

     MPB+s )à( MPB  và lúc này sản lượng trên thị trường sẽ là Qo  

    Tuy nhiên do gánh nặng thuế gây ra thì tổn thất PLXH do thuế sẽ là MNTV. Nếu phần này lớn hơn phần mất không do ngoại ứng tích cực ZUV thì chính sách trợ cấp không hiệu quả

    Câu 15: Đã là HHCC thì ko thể cung cấp cá nhân

     Sai vì vẫn có trường hợp HHCC được cung cấp cá nhân ( VD nhưà HHCC có tính loại trừ thì có thể cung cấp cá nhân loại hàng hóa này )

    Câu 16: Mọi HHCC đều tạo ra ngoại ứng tích cực

     Sai vìà  

    + Khi hành động của một đối tượng (có thể là cá nhân hoặc hãng) có ảnh hưởng tốt đến phúc lợi của một đối tượng khác và làm cho đối tượng đó được hưởng lợi nhưng những ảnh hưởng đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường thì ảnh hưởng đó được gọi là ngoại ứng tích cực  

    + Nếu như HHCC đó không có thuộc tính không loại trừ và được cung cấp cá nhân thì sẽ không gây ra ngoại ứng

    Câu 17: Định suất đồng đều khắc phục được hiện tượng tiêu dùng quá mức một HHCC, vì thế đây là một giải pháp hiệu quả

     Sai vìà  

    + Định suất đồng đều là hình thức cung cấp một lượng HHCN như nhau cho tất cả mọi người, không căn cứ vào cầu cụ thể của họ vì vậy mà khi dùng biện pháp này sẽ dẫn đến việc đối với người này có thể định xuất lớn hơn nhu cầu và đối với người khác thì định xuất nhỏ hơn nhu  khôngàcầu. Cả 2 trường hợp trên đều dẫn đến phúc lợi xã hội bị tổn thất hiệu quả

    Câu 18: Vấn đề kẻ ăn ko chí xuất hiện đối với HHCC thuần tuý

     Sai vì Kẻ ăn không là những người tìm cách hưởng thụ lợi íchà của HHCC mà không đóng góp một đồng nào cho chi phí sản xuất và cung cấp HHCC đó  

    Vấn đề “kẻ ăn không” không chỉ xuất hiện đối với HHCC thuần túy mà còn xuất hiện đối với HHCC không có tính cạnh tranh

    Câu 19: Mức sản lượng tối ưu thị trường lớn hơn mức sản lượng tối ưu xã hội trong ngoại ứng tiêu cực và nhỏ hơn trong ngoại ứng tích cực

     Đúng vìà  

     

    Ngoại ứng tiêu cực dẫn đến mức sản lượng tối ưu của xã hội Q0 < mức sản lượng tối ưu của thị trường Q1 ( Qo<Q1)  

     

    Ngoại ứng tích cực làm cho Q1<Qo

    Câu 20: Thông tin ko đối xứng được coi là một dạng thất bại thị trường vì thông tin có các tính chất giống như một hàng hoá công cộng

    Sai vì thông tin không đối xứng được coi là một dạng thất bạià ngoài đặc điểm Thông tin mang tính chất của HHCC nên thất bại giống mọi HHCC khác còn thất bại về thông tin không đối xứng hay tình trạng xuất hiện trên thị trường khi một bên nào đó tham gia giao dịch thị trường có được thông tin đầy đủ hơn bên kia về các đặc tính của sản phẩm

    Câu 21: Giáo viên cho điểm cao đối với bài làm tốt và cho điểm xấu đối với bài làm kém là cách đối xử theo nguyên tắc công bằng ngang

     sai vìà  

    +Công bằng ngang là sự đối xử như nhau đối với những người có vị trí ban đầu như nhau trong xã hội  

    + nếu là công bằng ngang thì trong trường hợp này giáo viên phải cho điểm như nhau vì vị trí xã hội ban đâu đều là học sinh

    Câu 22: Chương trình trợ cấp cho các đối tượng thuộc diện nghèo đói ở các vùng sâu vùng xa là nhằm thực hiện nguyên tắc công bằng dọc

     Đúng vìà  

    + công bằng dọc là sự phân biệt đối xử giữa những người có vị trí khác nhau nhằm giảm bớt sự khác biệt sẵn có  

    + chương trình trợ cấp cho đối tượng nghèo đói ở vùng sâu vùng xa nhằm mục đích giảm bớt nghèo đói và nâng cao mức sống. Sau chương trình khoảng cách của những người nghèo đói ở vùng sau vùng xa và những người khá giả ở thành thị sẽ được thu hẹp

    Câu 23: Do đặt trọng số người giàu và người nghèo như nhau nên thuyết vị lơi ko chấp nhận phân phối lại từ người giàu sang người nghèo vì điều đó ko làm thay đổi tổng thu nhập

     Sai vì nội dung của thuyết vị lợi là phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân trong XHà  

    Theo giả định của thuyết vị lợi là  

    – Hàm thoả dụng của các cá nhân là như nhau.  

    – Các cá nhân đều tuân theo qui luật độ thoả dụng biên giảm dần.  

    – Tổng thu nhập không thay đổi trong quá trình phân phối lại  

    Do tổng thu nhập không thay đổi nên việc phân phối lại thu nhập sẽ làm giảm bớt khoảng cách giữa các cá nhân trong xã hội, tao sự bình đẳng mà tổng thu nhập không đổi

    Câu 24: Đường Lorenz có thể nằm bên trên, trùng hoặc bên dưới đường phân giác

     Sai vìà  

    Đường cong LORENZ luôn nằm bên dưới đường phân giác ( đường 45 ) và bên trên đương mất cân bằng hoàn toàn

    Câu 25: Nếu hệ số GINI của khu vực thành thị là 0.35, khu vực nông thôn là 0.32 thì của cả nước (Gồm cả thành thị và nông thôn) sẽ là 0.67

     Sai vì hệ số GINI không phân tách sự bất bình đẳng chung thành các nguyên nhân gây khác nhau gây ra sự BBĐ đóà

    Câu 26: Chỉ số Theil L cho phép phân tích tình trạng bất bình đẳng chung theo các yếu tố cấu thành nên sự bất bình đẳng đó

     Đúng vì chỉ số Theil L khắc phúc được nhược điểm này của hệ số GINIà

    Câu 27: Từ năm 2000, ngưỡng nghèo của Việt Nam đã được điều chỉnh lên ngang bằng ngưỡng nghèo quốc tế do NHTG xác định

     

    Câu 28: Nếu 2 nước có ngưỡng nghèo như nhau và tỉ lệ đói nghèo bằng nhau thì khoảng cách nghèo cũng sẽ bằng nhau

     Sai vì ở các nước khác nhau nền kinh tế là khác nhau thì ngưỡng nghèo sẽ khác nhau nên không thể dùng chỉ số này để so sánhà

    Câu 29: Phân phối theo nhập theo thuyết Rawls là cách phân tích tối ưu nhất vì nó luôn đưa đến kết cục cuối cùng là tình trạng bình đẳng hoàn toàn về phúc lợi dân cư

    Sai vìà  

    + Thuyết này dễ dẫn đến chủ nghĩa bình quân làm giảm động lực phấn đấu ở nhóm người nghèo và giảm động cơ làm việc ở nhóm người có năng lực, do đó làm giảm năng suất lao động xã hội.

    + Thuyết này vẫn chấp nhận cách phân phối làm cho lợi ích của người giàu tăng nhiều hơn lợi ích của người nghèo

    Câu 30: Hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất thì đói nghèo là tình trạng cá nhân ko có đủ thu nhập để đảm bảo mức sống tối thiểu.

     Đúng vìà  

    Ngưỡng nghèo là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo  

    +Ngưỡng nghèo tuyệt đối: là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khoẻ mạnh.  

    +Ngưỡng nghèo tương đối: được xác định theo phân phối thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng Vậy những người sống với mức thu nhập dưới mức thu nhập tối thiểu ( tức là không đủ để đảm bảo mức sống tối thiểu ) thì được coi là nghèo đói cần được trợ cấp

    Câu 31: Quy định về giá trần ko phải lúc nào cũng bảo vệ được lợi ích của người tiêu dùng như ý đồ chính sách đặt ra

     Đúng vì có 2 lý do gây thất bại của việc định giá trầnà  

    + giá trần đặt cao hơn giá cân bằng của thị trường  

    + làm giảm phúc lợi xã hội do phần mất không lớn hơn ban đầu

    Câu 32: Kết hợp giữa chính sách đặt giá sàn và hạn chế định lượng sẽ khắc phục được tất cả tổn thất PLXH

     sai vì cả 2 biện pháp này đều gây ra tổn thất PLXHà

    Câu 33: Vì thuế trong môi trường độc quyền luôn làm giá tăng nên người tiêu dùng luôn phải chịu toàn bộ gánh nặng thuế.

     Sai vì khi đánh thuế vào môi trường độc quyền thì gánh nặng thuế sẽ được phân chiaà  

    +Nếu đường MC ít co giãn hoặc độ co giãn nhỏ thì người sản xuất chịu phần lớn gánh nặng thuế. Nếu độ co giãn bằng 0 thì toàn bộ gánh nặng thuế người sản xuất chịu  

    + Nếu đường MC nằm ngang  

    – đường cầu tuyến tính thì người tiêu dùng chịu ½ gánh nặng thuế  

    -Nếu đường cầu cong thì người tiêu dùng chịu 100% gánh nặng thuế  

    + thông thường gánh nặng thuế cả người tiêu dùng và nhà độc quyền chịu

    Câu 34: Người nộp thuế trực thu luôn tìm cách chuyển bớt gánh nặng thuế cho người khác

     Sai vì thuế trực thu là loại thuế mà Người nộp thuế đồng thờià là người thực sự trả thuế vd như thuế thu nhập, thuế lợi tức. Do đó mà người nộp thuế buộc phải nộp những khoản thuế trên mà ko thể chuyển gánh nặng thuế cho bất cứ một cá nhân nào khác

    Câu 35: Phương pháp đường cong Lorenz luôn luôn cho phép ta so sánh được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa hai nước bất kì.

     sai vì khi 2 đường cong lorenz cắt nhau thì không thể so sánh đượcà  

    Câu 36: Người theo thuyết Rawlas chấp nhận một chính sách làm lợi cho tất cả mọi thành viên trong xã hội nhưng trong đó người giàu được hưởng lợi ích tăng thêm nhiều hơn người nghèo.

     Đúng vìà  

    + thuyết cực đại thấp nhất: FLXH chỉ phụ thuộc vào lợi ích của người nghèo nhất. Vì vậy, muốn có FLXH đạt tối đa thì phải cực đại hóa độ thỏa dụng của người nghèo nhất  

    + Kết quả cuối cùng phân phối tối ưu xã hội sẽ đạt được khi:UA = UB  

    +Thuyết này vẫn chấp nhận cách phân phối làm cho lợi ích của người giàu tăng nhiều hơn lợi ích của người nghèo

    Câu 37: Trận đấu bóng là hàng hóa công cộng

     Sai vì trân bóng đá khi được xem ở sân vận động và bán vé thì không có 2 đặc tính của HHCCà  

    + có tính loại trừ : bán vé là hành động loại trừ người tiêu dùng hàng hóa này

    + có tính cạnh tranh :người này xem thì người khác sẽ không được xem vì số lượng ghế trong sân vận động là có hạn

    Câu 38: Thuế trực thu là thuế đánh vào phần chi tiêu dành cho hàng hóa và dịch vụ.

     Đúng vìà  

    + thuế trực thu là thuế mà người nộp thuế đồng thời là người  chi mua hàng hóa dịch vụà thu nhập của dân cư giảm àthực sự trả thuế giảm

    Câu 39: Hàng hóa công cộng là hàng hóa mà xã hội nghĩ rằng mọi người nên có, bất kể họ muốn hay không

     sai vì HHCCà

    Câu 40: Công bằng theo chiều ngang là cách đối xử khác nhau đối với những người khác nhau, nhằm giảm bớt hậu quả của những điểm khác nhau bẩm sinh đó

     sai vì công bằng ngang là sự đối xử như nhau với những người có vị trí ban đầu như nhau trong xã hộià

    Câu 41: Nếu hàm lợi ích của các cá nhân như nhau thì thuyết vị lợi cho rằng phúc lợi xã hội sẽ đạt tối đa nếu sự phân phối thu nhập đạt đến sự bình đẳng tuyệt đối (tức là thu nhập của mọi người bằng nhau).

    Đúng vìà  

    + thuyết vị lợi cho rằng PLXH suy cho cùng chỉ là độ thỏa dụng của các cá nhân.PLXH là tổng đại số mức độ thỏa dụng của tất cả các thành viên trong xã hội  

    + giả định của thuyết vị lợi cho rằng tổng thu nhập là không đổi trong quá trình phân phối, nên sau khi phân phối lại thu nhập sẽ không làm giảm tổng thu nhập mà làm tăng PLXH  

    + PLXH sẽ đạt tối đa nếu có sự phân phối thu nhập đến mức bình đẳng tuyệt đối MUA = MUB

    Câu 42: Đường cầu co giãn nhiều, đường cung co giãn ít người bán sẽ chịu phần lớn gánh nặng thuế.

     Đúngà

    Câu 43: Chi tiêu công cộng hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ chi phí cho hoạt động công cộng thông qua ngân sách nhà nước.

     Sai vì đây là chi tiêu công cộng theo nghĩa hẹpà

    Câu 44: Chính phủ phải xác định quy mô và công nghệ sản xuất các sản phẩm để đem lại lợi nhuận tối đa khi quyết định trả lời câu hỏi sản xuất như thế nào?

     sai vì khi trả lời câu hỏi sản xuất như thế nào chính phủ phảià đạt được mục tiêu là tối đa hóa phúc lợi xã hội chứ hông phải đem lại lợi nhuận tối đa

    Câu 45: Nếu tất cả mọi thị trường trong nền kinh tế là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, trừ một thị trường, thì sự cân bằng kết hợp trong cả nền kinh tế là đạt hiệu quả Pareto.

     Sai vì đã là thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì sự cân bằngà kết hợp trong nên kinh tế ( P=MC ) luôn đạt hiệu quả pareto mà không trừ một thị trường nào

    Câu 46: Một chiếc đài bán dẫn trên một bãi tắm ồn ào là một ví dụ về ngoại ứng.

     Sai vìà  

    +Khi hành động của một đối tượng (có thể là cá nhân hoặc hãng) có ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của một đối tượng khác, nhưng những ảnh hưởng đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường thì ảnh hưởng đó được gọi là các ngoại ứng.  

    +ở bãi biển ồn ào thì một chiếc đài sẽ không làm ảnh hưởng tốt hay xấu đến bất kì một cá nhân nào

    Câu 47: Tất cả những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng lợi ích đều là những điểm đạt hiệu quả Pareto trong phân bố nguồn lực.

     Sai vì tất cả những điểm nằm trên đường PPF ( chứ không phảià đường giới hạn khả năng lợi ích ) là những điểm đạt hiểu quả Pareto trong phân bố nguồn lực

    Câu 48: Hàng hóa cá nhân chỉ được cung cấp công cộng trong trường hợp tổng chi phí giao dịch với lợi ích tăng thêm nếu cung cấp công cộng lớn hơn tổn thất do tiêu dùng quá mức.

     Đúng vì khi hàng hóa cá nhân được cung cấp cong cộng thì sẽ dẫn đến tình trạng tiêu dùng quá mức.nếu….à

    Câu 49: Định lý 2 của nền kinh tế phúc lợi phát biểu là: nếu người sản xuất và người tiêu dùng đều là những người chấp nhận giá thì tự thị trường sẽ đẫn đến phân bổ đạt hiệu quả Pareto.

    Sai vì người sản xuất và người tiêu dung đều là những người chấp nhận giá và thị trường đó phải là thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì mới dẫn đến phân bổ đạt hiệu quả Pareto

    Câu 50: Muốn biết ai là người thực sự chịu thuế trước hết cần xác định xem thuế đó đánh vào bên cung hay bên cầu.
     sai vì muốn xác định xem ai là người thực sự chịu thuế cần xácà định loại thuế là thuế gì và độ co giãn của đường cung, đường cầu

    Câu 51: Sử dụng hàng rào thuế quan để bảo vệ thị trường trong nước. Chính sách đó là tương hợp với thị trường.
     Sai vì khi sử dụng hàng rào thuế quan sẽ làmà
    + giảm lượng cầu về mặt hàng hóa đó do giá trong nước cao hơ
    n giá thế giới
    + làm cho các doanh nghiệp trong nước trở nên ỷ lại, ko đầu tư
    phát triển kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành

    Câu 52 : công viên là hàng hóa công công
     Sai vì công viên là hàng hóa cá nhânà


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây