Category: Ôn Thi Vào 10

Tổng hợp các dạng bài tập ôn luyện để thi vào cấp ba

  • Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận Văn học lớp 9 có hiệu quả

    Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận Văn học lớp 9 có hiệu quả

    Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận Văn học lớp 9 có hiệu quả

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giúp học sinh lớp 9 viết đúng và hay phần mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận một tác phẩm Văn học


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận Văn học lớp 9 có hiệu quả

    Lời nói đầu

    Trong chương trình Ngữ văn THCS , phân môn Tập làm văn đối với học sinh vùng sâu vùng xa nói chung và những vùng tuy gọi là ở vùng giữa nhưng không có điều kiện vì xa trường, xa trung tâm xã đó là điều hết sức khó khăn cho học sinh có điều kiện hoàn cảnh như vậy.

    Nghị luận văn học nhằm hình thành, phát triển khả năng lập luận chặt chẽ, trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa giàu sức thuyết phục khi bày tỏ ý kiến bản thân về một tác phẩm văn học nào đó .

    Để viết được bài văn hay đòi hỏi học sinh cần phải có kiến thức văn học và kĩ năng cơ bản khi viết bài . Nhưng kiến thức và kĩ năng cơ bản đó có từ đâu? Đó chính là từ những bài giảng , từ sự hướng dẫn của giáo viên và từ cách cảm thụ của học sinh.

    Vì vậy, qua thực tế giảng dạy.Tôi mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm của bản thân trong việc rèn luyện cho học sinh viết bài văn nghị luận văn học lớp 9.

    A-Đặt vấn đề

    I- Lí do chọn đề tài

    Nghị luận văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phân môn tập làm văn nói chung. Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có năng lực phân tích , đánh giá từ khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về xã hội, về văn học, về lịch sử … và đặc biệt là kĩ năng trình bày .

    Nhưng đối với học sinh THCS đặc biệt là học sinh ở những vùng không được thuận lợi thì kĩ năng viết văn của các em còn nhiều hạn chế : Bài viết rời rạc, khô khan, dùng câu dùng từ chưa chính xác, bố cục chưa rõ ràng , lập luận chưa có sức thuyết phục , vốn từ nghèo nên diễn đạt lủng củng tối nghĩa ,dài dòng, không thoát ý, mắc nhiều lỗi chính tả.

    Từ thực trạng trên , tôi đã tìm tòi, học hỏi bạn bè, đồng nghiệp và mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm : Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài

    văn nghị luận văn học lớp 9 có hiệu quả

    II- Nhiệm vụ của đề tài

    Người giáo viên cần cung cấp giúp cho học sinh nắm chắc những kiến thức cơ bản về văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng. Từ đó hướng dẫn rèn luyện cho các em kĩ năng từ viết đúng, dần dần hướng tới bài viết hay, có ý tứ sâu xa, lời lẽ ngắn gọn, hàm súc, bài viết mạch lạc, gợi cảm và có sức thuyết phục .

    III- Đối tượng nghiên cứu

    Để thực hiện đề tài tôi đã chọn đối tượng học sinh lớp 9 do tôi trực tiếp giảng dạy và đứng lớp

    IV-Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp hướng dẫn thực hành , luyện viết là chủ yếu.

    B-Nội dung nghiên cứu

    I-Vài nét về đối tượng nghiên cứu

     

    Hai lớp 9 do tôi trực tiếp giảng dạy và đứng lớp gồm 73 em nhưng do điều kiện của một số em ở xa trường học ( đặc biệt là ở xóm An Lạc vùng xa nhất của xã Lộc Thủy), hoàn cảnh thì khó khăn mà lại xa trung tâm nên nhận thức của các em về việc học nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng còn nhiều hạn chế. Do đó việc cảm thụ về văn chương và kĩ năng viết văn còn rất nhiều khó khăn. Hầu hết học sinh rất ngại học môn Ngữ văn nhất là phân môn Tập làm văn. Theo các em đây là môn học ” Vừa khô , vừa khó, vừa khổ “. Bởi vì các học sinh có vốn từ quá yếu, quá thiếu , nhiều em còn ngại suy nghĩ, không chịu khó tham khảo sách báo nên để có một bài văn với nội dung phong phú, lập luận chặt chẽ, sắc sảo thì quả là rất khó đối với học sinh mà đặc biệt là các em có điều kiện hoàn cảnh như vậy.

    II- Những thuận lợi và khó khăn

    1. Thuận lợi

    * Giáo viên

    • Trong quá trình giảng dạy tôi luôn được Ban giám Hiệu nhà trường tạo điều kiện quan tâm giúp đỡ . Trường có đội ngũ giáo viên có năng lực trình

    độ vững vàng trong chuyên môn nghiệp vụ .

    • Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối ổn định.
    • Nhà trường đã trang cấp số máy vi tính cho phòng Tin học với 3 em/ máy.

    * Học sinh

    • Đa số các em ngoan ngoãn , có ý thức học hỏi và có sự cố gắng trong học tập.
    • Các em được cung cấp đủ sách giáo khoa vở viết.

    2.                 Khó khăn

    * Giáo viên :

    Tài liệu nghiên cứu ,tham khảo của bộ môn tuy là phong phú nhưng chưa đáp ứng được những nội dung đặc trưng bộ môn. Giáo viên có nhiều kinh nghiệm nhưng việc ứng dụng công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế.

    • Học sinh :

    Chủ yếu là học sinh con em trong địa bàn xã nhưng một số ở vùng xa trung tâm như ở xóm An Lạc, nghề chính của bố mẹ là đánh cá và làm nông nên thiếu nhận thức và ít quan tâm về việc học của con em mình, đời sống kinh tế còn hạn hẹp . Do vậy các em không có điều kiện để mua tài liệu tham khảo , trang bị kiến thức cho bài viết .

    Học sinh thường xuyên sử dụng tiếng địa phương trong giao tiếp hàng ngày nên vốn ngôn ngữ phổ thông rất hạn chế , kĩ năng diễn đạt còn yếu.

    • Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn. Cơ sở lí luận

     

    – Thể loại văn nghị luận là một trong những nội dung quan trọng của môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.

     

    – Bản chất của việc học thể loại nghị luận là người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng( giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng…) để

    từ đó giúp các em biết trình bày một cách có lí lẽ, hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình về một vấn đề văn học.

    • Học làm văn nghị luận cũng như mọi loại hình học tập khác là phải biết xây dựng từ sự hiểu biết cơ bản đến các mức độ cao.
    • Trong khi rèn luyện kĩ năng cách làm bài văn nghị luận văn học thì mỗi một giáo viên cần chú ý phát huy, động viên tích cực sự sáng tạo của từng học sinh chứ không được gò ép theo những khuôn mẫu.
    • Chúng ta cần xác định đây là tiết dạy học rèn luyện, rèn phương pháp, kĩ năng làm văn

    Chứ không phải là giảng văn. Vì thế cần tránh sa vào bình giảng và phân tích một tác phẩm cụ thể.

    2. Cơ sở thực tiễn

    Trước khi thực hiện phương pháp trên, tôi đã tiến hành kiểm tra tình hình, thực trạng của học sinh bằng bài kiểm tra, khảo sát chất lượng đầu năm, cụ thể kết quả như sau:

    Tổng số học Giỏi Khá Trung bình Yếu
    sinh 73 em 01/73 =1.4% 15/73 34/73 23/73
    =20.5% =46.6% =31.5%

    C- Tổ chức thực hiện

    Để học sinh có kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học yêu cầu người giáo viên cần phải truyền thụ đúng , đầy đủ, chính xác để học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về 2 kiểu bài: Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và Nghị luận về một đoạn thơ , bài thơ

    Trên cơ sở đó giáo viên tiếp tục hướng dẫn chi tiết cụ thể hơn cách khai thác chi tiết và phương thức diễn đạt cho học sinh để bài văn đạt kết quả tốt nhất .

    I- Những kiến thức cơ bản

    Nắm vững kiến thức cơ bản về khái niệm nghị luận văn học nói chung và nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích ) ; Nghị luận về một đoạn thơ ,bài thơ nói riêng .

    • Biết tìm hiểu đề ,tìm ý
    • Biết lập dàn ý từ đại cương đến chi tiết
    • Biết dựng đoạn và liên kết đoạn văn

    II- Hướng dẫn học sinh viết bài văn hay

    Muốn học sinh viết bài văn nghị luận từ đạt yêu cầu đến hay giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý thoả mãn các điều kiện sau:

    1.                 Xác định đúng nội dung yêu cầu của đề:

    Đối với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần xác định yêu cầu cụ thể của đề bài là loại bài gì? (bàn về nhân vật trong tác phẩm (hoặc đoạn trích) ; Bàn về nội dung của tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) bàn về nghệ thuật của tác phẩm (hoặc đoạn trích ) hay bàn về đề tài của tác phẩm (hoặc đoạn trích)

    Trên cơ sở đó mà tiến hành tiếp nội dung các bước sau:

    • Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phải xác định phạm vi đối tượng mà đề yêu cầu (Nghị luận về một bài thơ hay một đoạn thơ ) .Cần xác định được đề tài và nội dung của đề bài . Hướng nghị luận (do đề quy định hay do người viết lựa chọn )

    -Cần hiểu đúng ,đầy đủ nội dung yêu cầu của đề , tránh sai lạc ,xác định được giới hạn phạm vi yêu cầu của đề (chứng minh ,bình luận , giải thích hay phân tích…) Để từ đó lựa chọn lí lẽ ,dẫn chứng cụ thể ,tiêu biểu cho bài làm .

    -Đưa đối tượng phải bàn bạc (nhân vật , chủ đề , nội dung, nghệ thuật …..) gắn câu hỏi tìm ý để có những ý kiến cụ thể (Điều nổi bật nhất ,nét tiêu biểu cụ thể? Chi tiết nào biểu hiện ? ý nghĩa xã hội như thế nào ? Giá trị tiêu biểu ra sao ?

    -Đối với từng đối tượng phải bàn cần có thêm những dạng câu hỏi tìm ý phù hợp

    2.                 Hiểu rõ hoàn cảnh sáng tác tác phẩm

    Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm có vai trò rất quan trọng khi cần đánh giá

    nhận xét một tác phẩm văn học . Đặt tác phẩm vào hiện thực xã hội lúc đó , ta sẽ hiểu rõ và nhìn nhận đúng hơn về tâm trạng, hành động suy nghĩ của nhân vật trong một tác phẩm (hoặc đoạn trích ) hay tình cảm ,cảm xúc của nhân vật được thể hiện trong một bài thơ .Từ đó có thể làm rõ các vấn đề : Tại sao đối tượng lại có hành động ,suy nghĩ như vậy ? Hành động suy nghĩ đó bộc lộ tâm trạng cảm xúc như thế nào ? Tâm trạng cảm xúc đó nói lên phấm chất gì của đối tượng .

    VD: Khi làm bài văn nghị luận với đề : Những đặc sắc trong bài thơ “Viếng Lăng Bác” của Viễn Phương .

    Học sinh cần phải nắm rõ hoàn cảnh sáng tác bài thơ là : Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi ,đất nước thống nhất ,lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành,Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ .Bài thơ Viếng Lăng Bác được viết trong dịp đó và in trong tập ” Như mây mùa xuân ” (1978) . Để thấy được lòng thành kính , niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và tấm lòng của đồng bào miền Nam đối với Bác. Cùng với giọng điệu trang trọng và tha thiết , nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm ngôn ngữ bình dị mà cô đúc ta thấy được mong muốn của người con miền Nam là được ở gần Bác mãi mãi, muốn làm vui làm khuây , làm vợi nỗi vắng vẻ trong lăng của con người đã suốt đời hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ,con người lúc sinh thời đã dành trọn tình thương yêu cho mọi tầng lớp nhân dân , đặc biệt cho đồng bào miền Nam ruột thịt .

    1. Xác định luận điểm rõ ràng

    Có luận điểm rõ ràng, bài văn sạch sẽ mạch lạc, các ý trình bày không bị chồng chéo ,lủng củng .Khi triển khai các luận điểm sẽ dễ tìm luận cứ, luận chứng và lí lẽ. Để có luận điểm rõ ràng phải đọc kĩ yêu cầu của đề bài , xác định giới hạn phạm vi yêu cầu của đề và trả lời các câu hỏi tìm ý: Điều nổi

    bật nhất để có thể làm rõ vấn đề là gì ? Điều đó được biểu hiện qua những chi tiết cụ thể nào ?

    VD: Đề bài : Cảm nhận của em về đoạn trích Chiếc Lược Ngà của Nguyễn Quang Sáng

    • Luận điểm 1: Tình cảm của bé Thu đối với cha
    1. Lí lẽ 1 : Thái độ và tình cảm của bé Thu trong những ngày đầu chưa nhận cha : Kiên quyết cự tuyệt tình cảm của cha
    1. Lí lẽ 2 : Thái độ và hành động của bé Thu trong buổi chia tay : Tình cha con cảm động bị dồn nén bao lâu nay mới có dịp ùa dậy mãnh liệt sâu sắc .

    Luận điểm 2 . Tình cha con sâu nặng của ông Sáu

    1. Lí lẽ 1 : – Trong đợt nghỉ phép :
      • Đầu tiên là sự hụt hẫng , buồn khi thấy đứa con sợ hãi và bỏ chạy
      • Tiếp theo là sự kiên nhẫn cảm hoá , vỗ về để đứa con nhận cha
      • Đến phút chia tay : Có cảm nhận bất lực và buồn
      • Khi đứa con thét lên tiếng ” Ba ” thì hạnh phúc tột cùng
    2. Lí lẽ 2 : Sau đợt nghỉ phép :
      • Ân hận vì đã lỡ đánh con

    +Say sưa, tỉ mỉ làm chiếc lược ngà trên có khắc dòng chữ ” Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

    +Trước khi trút hơi thở cuối cùng ” Hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được ” trong trái tim của ông Sáu .

    -Luận điểm 3:

    • Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động nhất là các biến thái tình cảm và hành động của nhân vật bé Thu
    • Cốt truyện chặt chẽ , có những tình huống bất ngờ nhưng vì xảy ra trong hoàn cảnh thời chiến nên vẫn đảm bảo hợp lí trong vận động của cuộc sống thực tế
    • Ngôi kể thứ nhất cùng với ngôn ngữ giản dị , mang đậm màu sắc

    Nam Bộ

    4.                 Lựa chọn các chi tiết hình ảnh tiêu biểu

    Đối với bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích )cần lần lượt nghị luận từng luận điểm thông qua việc phân tích các chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm ( Trang phục ,hình dáng cử chỉ ,hành động .Lời nói ,suy nghĩ , tâm lí của nhân vật ; nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả …). Quan trọng nhất là phải biết phân tích những chứng cứ có giá trị để làm sáng tỏ luận điểm ( Nhận xét của người viết)

    VD: Khi phân tích tình cảm của bé Thu đối với cha cần chú ý các chi tiết cử chỉ , hành động của bé Thu :

    • Trước khi nhận ông Sáu là cha ” Nghe gọi con bé giật mình , tròn mắt nhìn , ngơ ngác lạ lùng … “Mặt nó bỗng tái đi …. vụt chạy ….kêu thét lên”

    +Trong buổi chia tay với cha : ” Kêu thét lên : – Ba….a…a…ba . Vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như sóc, thót lên, dang tay ôm chặt lấy cổ ba nó……

    Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ quan trọng nhất biết phân tích sự sáng tạo độc đáo các chi tiết , ngôn ngữ hình ảnh giọng điệu , đặc biệt là các yếu tố nghệ thuật để làm rõ từng luận điểm cụ thể

    VD: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ ” Đồng Chí ” của Chính Hữu .

    • Kết bài bằng 3 câu thơ dựng lên bức tranh đẹp về tình đồng chí trong chiến đấu . Biểu tượng đẹp về cuộc đời chiến sĩ : ba hình ảnh người lính, khẩu súng vầng trăng trong cảnh rừng hoang sương muối trong đêm phục kích đợi giặc . Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh đêm trăng mùa đông vô cùng lạnh giá trên trường .
    • Hình ảnh sáng tạo : ” Đầu súng trăng treo ” : đầy ấn tượng, cô đọng và gợi hình , gợi cảm . Ngoài hình ảnh còn có nhịp điệu như nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì đó lơ lửng, chông chênh, trong sự bát ngát .

    Khi phân tích chỉ phân tích một vài chi tiết chính còn lại có thể phân tích lướt để đảm bảo bài văn vừa có chỉnh thể, vừa có trọng tâm, có điểm sáng, gây được ấn tượng.

    5.                 Lựa chọn từ ngữ phù hợp

    Ngôn ngữ giọng điệu của lời văn có vai trò rất quan trọng trong việc diễn tả các trạng thái cảm xúc, thái độ của người viết .Vì vậy khi viết văn cần lựa chọn từ ngữ và sắp xếp lời vănn để đạt được hiệu quả diễn đạt cao nhất. Có thể sử dụng từ ngữ mang sắc thái trang trọng, dùng cách nói giảm, nói tránh, sử dụng từ ngữ có giá trị biểu cảm cao ( tượng thanh, tượng hình ) kết hợp sử dụng các cách nói tu từ ẩn dụ với cá điệp từ ,điệp ngữ, so sánh nhân hoá, đặc biệt lời văn phải gợi cảm, thể hiện sự rung động chân thành 6. Bố cục chặt chẽ hợp lí .

    Mở bài ,thân bài ,kết bài tách bạch rõ ràng .

    Trình bày các ý dứt khoát ,tránh lan man đi quá xa đề, trình tự các ý phải theo một lôgic hợp lí .

    Đối với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích ). Trình tự phân tích khác trình tự kể chuyện của tác phẩm, trình tự phân tích là theo mạch lập luận lí giải của người nghị luận .

    Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phân tích thẩm bình ( cảm thụ ) theo mạch cảm xúc của bài thơ , đoạn thơ…

    6.                 Kết hợp tốt các phương thức biểu đạt

    Biết kết hợp tốt các yếu tố tự sự, miêu tả , biểu cảm trong bài văn nghị luận văn học thì hiệu quả diễn đạt sẽ cao hơn , bài văn trở nên có hồn và hấp dẫn hơn.

    Bên cạnh đó cần biết kết hợp hài hoà giữa nêu ý kiến khái quát ( luận điểm ) với phân tích , giữa nhận xét một chi tiết với thẩm bình cụ thể để tạo sự mạch lạc trong bài viết .

    Có thể nói , phương pháp hướng dẫn để học sinh viết được một bài văn hay là vô cùng , hiểu được những vấn đề cơ bản trên sẽ giúp học sinh định hướng được cách nghĩ , cách

    làm để có đựơc những bài viết mạch lạc, rõ ràng với lập luận chặt chẽ nội dung cô đọng, súc tích.

    1. Kết quả đạt được .

    Với phương pháp hướng dẫn như trên, năm học qua tôi đã đạt được kết quả cụ thể như sau:

    Tổng số Loại giỏi Loại khá Loại Trung Loại yếu
    học sinh bình
    73 3/73=4.2% 39/73= 19/73=26.0% 12/73=16.4%
    53.4%
    Trung bình trở lên đạt : 84,0%
    1. Bài học kinh nghiệm

    * Đối với học sinh :

    Đọc tham khảo nhiều tài liệu , sách báo để bổ sung thêm kiến thức phổ thông và kiến thức xã hội

    Biết rút kinh nghiệm từ những bài văn trước để những bài văn sau đạt kết quả cao hơn .

    • Đối với giáo viên :
      • Người giáo viên cần phải có lòng yêu nghề, hết lòng vì học sinh.
      • Chuẩn bị bài chu đáo hệ thống câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, sát với mục tiêu của bài và phải phát huy được tính tích cực của học sinh.
    • Nghiên cứu , tham khảo tài liệu , sách báo để bổ sung kiến thức cho bản thân.
    • Tham khảo các bài dạy ở trang web của PGD và trên mạng internet để góp thêm tue liệu cho bài giảng của mình thêm sinh động hơn.

    -Thăm lớp dự giờ , học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để nâng cao tay nghề .

    • Cần quan tâm chú trọng đến từng đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém, có hoàn cảnh xa trung tâm vì kĩ năng viết văn của các em còn nhiều hạn chế

    -Truyền thụ đúng , đủ , chính xác , những kiến thức trọng tâm kết hợp lí thuyết với thực hành trong phân môn Tập làm văn.

    1. Kết luận

    Nói tóm lại qua đề tại này giúp mỗi giáo viên dạy bộ môn ngữ văn THCS thấy được rằng tầm quan trọng vủa việc rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận văn học lớp 9. Bởi ở các lớp dưới, học sinh được học về các kiểu văn bản cụ thể, chẳng hạn ở lớp 7 đã học về văn bản biểu cảm, về văn nghị luận, đến lớp 8 học tiếp khá kĩ về văn bản nghị luận về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm tự sự và miêu tả. Vì thế, cách làm bài văn nghị luận về văn học lớp 9 phải có sự kế thừa, nâng

    cao kiến thứcđã cung cấp, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước, sự kế thừa nâng cao này thể hiện rõ nhất ở việc nhấn mạnh tính tổng hợp của tri thức của kĩ năng và tăng cường hoạt động thực hành của học sinh.

    Đề tài này, bản thân dựa trên cơ sở thực tiễn của học sinh hiện nay,mục

    đích giúp các em có sự nhìn nhận đúng đắn hơn về nghị luận văn học nói

    riêng và yêu thích hơn về môn Ngữ văn nói chung, và giúp các đồng

    nghiệp dạy bộ môn Ngữ văn THCS có thêm tư liệu để giảng dạy. Tuy rất cố

    gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các đồng nghiệp

    góp ý bổ sung để đề tài này được hoàn thiện hơn.

    Chân thành cảm ơn.

    Lộc Thủy, ngày

    15/5/2011

    ý kiến HĐKH                                                                                                              Người viết

    Nguyễn Xuân Huy

  • Giúp học sinh lớp 9 viết đúng và hay phần mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận một tác phẩm Văn học

    Giúp học sinh lớp 9 viết đúng và hay phần mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận một tác phẩm Văn học

    Giúp học sinh lớp 9 viết đúng và hay phần mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận một tác phẩm Văn học

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giúp học sinh lớp 9 viết đúng và hay phần mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận một tác phẩm Văn học

    Giúp học sinh lớp 9 viết đúng và hay phần mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận một tác phẩm Văn học

    1.     Tìm hiểu thực trạng

    Trước thực trạng học sinh hôm nay còn yếu môn Ngữ văn nói chung, về phân môn tập làm văn nói riêng. Điều mà ai trong chúng ta cũng biết, phân môn tập làm văn đóng vai trò quan trọng trong việc cảm thụ, tiếp thu những kiến thức cơ bản về tác phẩm văn học, cung cấp các tri thức cơ bản về các kiểu văn bản, hình thành các kỹ năng nói, viết hiểu khái quát về văn bản và bố cục chung của nó. Biết cách liên kết các từ ngữ, cách dùng các biện pháp nghệ thuật, hiểu được các ý nghĩa của từ. Bản thân hoạt động của phân môn tập làm văn là một hoạt động tích hợp, tích hợp tri thức văn bản đọc – hiểu tiếng Việt vào việc tạo lập các văn bản mới.

    Chương trình tập làm văn đặt trọng tâm ở thực hành: xây dựng bài qua thực hành, thực hành nhận biết và thực hành làm văn bản. Thế nhưng học sinh chúng ta hiện nay lại yếu về khâu thực hành tạo lập một văn bản mới mặc dù đã là học sinh lớp 9 nhưng mỗi lần viết bài tập làm văn là vẫn còn cảm thấy khó khăn, lo lắng và có một số em cứ loay hoay mãi mà chẳng biết mở đầu như thế nào.

    Bản thân là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn luôn trăn trở trước thực trạng này. Chính vì thế, tôi mạnh dạn đưa ra một số định hướng cơ bản nhằm giúp học sinh phần nào trong quá trình học tập bộ môn, giúp các em một cách thức viết phần mở bài và kết bài cho một bài văn nghị luận đúng và hay.

    Nội dung của đề tài mang tính định hướng, tôi không dám nghĩ rằng đây là một phương pháp tối ưu, có thể xem đây là một cách gợi ý nhằm giúp học sinh trong quá trình dạy và học phân môn tập làm văn thuận lợi hơn.

    Những hạn chế trong bài viết của học sinh do nhiều nguyên nhân khác

    nhau:

    • Các em chưa đọc kỹ yêu cầu của đề bài.
    • Chưa có ý thức trong học tập.
    • Không nắm bố cục của một bài tập làm văn.
    • Chưa thấy tầm quan trọng của phần mở bài, thân bài…
    • Giáo viên truyền đạt chưa cặn kẽ.

    Từ những hạn chế ấy, bản nghĩ cần cải thiện bằng mọi cách, như:

    • Cả giáo viên và học sinh phải đọc nhiều lần các tác phẩm văn học.
    • Hiểu những nét cơ bản về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
    • Hiểu được giá trị nghệ thuật và nội dung chính của tác phẩm.
    • Nghị luận là thế nào? Nghị luận một tác phẩm văn học phải viết những

    gì?

    2. Thông tin cơ sở

     

    Căn cứ vào mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có của từng phân môn:văn, tiếng việt, tập làm văn của môn Ngữ văn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

    Lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục, thường xuyên nhắc nhở, sinh hoạt chuyên môn giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    Đa số gia đình đều quan tâm đến việc học tập của học sinh, luôn tạo điều kiện tốt để góp phần vào công tác giáo dục.

    Đoàn – Đội nhà trường hỗ trợ, quan tâm đến hoạt động dạy học .

    Học sinh chịu khó trong học tập, thái độ tinh thần học tập của các em trong lớp sôi nổi, tích cực xây dựng bài, cầu tiến.

    Môn học ngữ văn là môn học hình thành nhân cách, học làm người, nó liên quan thiết thực đến nhiều lĩnh vực đời sống nên các em rất chú trọng.

    Bản thân giáo viên bộ môn đa số giàu kinh nghiệm chuyên môn, đầy nhiệt tâm trong công tác giảng dạy.

    Tài liệu thao khảo cho giáo viên còn hạn chế. Học sinh ngại đọc sách giáo khoa để chuẩn bị bài, đa số các em không đọc tài liệu tham khảo.

    2.     Vấn đề nghiên cứu

    Phỏng vấn, điều tra chất lượng thí điểm đối với lớp 9C như sau:

    Kết quả Bài đạt 8 điểm trở lên Bài đạt 5- 6, 7điểm Bài dưới điểm 5
    Tổng số % Tổng số % Tổng số %
    Lớp 9C 7 17,5 21 52,5 12 30,0
    (40HS)

    a.      Cơ sở lý luận

    Đã từ lâu việc hướng dẫn học sinh phân môn tập làm văn là một việc khó khăn gây lúng túng cho cả giáp viên lẫn học sinh. Đặc biệt là khâu các em viết thành văn bản hoàn chỉnh, các em rất lúng túng không biết viết như thế nào cho đúng, cho hay nhất là phần mở bài và kết bài. Từ đó khi làm bài văn, các em thường trông cậy “vào bài văn mẫu”.

    Điều mà hiện nay ai trong chúng ta cũng biết việc đổi mới sách giáo khoa dẫn đến việc thay đổi phương pháp học. Việc đổi mới phương pháp học trong nhà trường hiện nay đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, khi áp dụng tôi gặp không ít khó khăn về phía học sinh. Bản thân là một giáo viên dạy bộ môn rất trăn trở trước những khó khăn ấy.

    Với kinh nghiệm của đồng nghiệp, của bản thân, tôi mạnh dạn đưa ra một số định hướng mang tính gợi ý với mong ước góp phần giúp các em dễ dàng hơn khi viết phần mở bài và kết bài của một bài văn nghị luận.

    b.     Mục tiêu của đề tài

     

    • Nhằm định hướng thao tác viết phần mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận đúng và hay.
    • Giúp học sinh hình thành kỹ năng cần thiết để làm một bài văn.
    • Giúp học sinh một phương pháp tự làm văn.
    • Hạn chế tối đa học sinh yếu trong việc xậy dựng hoàn chỉnh một văn bản nghị luận.
    • Từ đó giúp học sinh hình thành nhân cách tốt, biết yêu quí cái đẹp, hướng các em đi đến cái Chân – Thiện – Mỹ, học văn là học làm người.
    • Từng bước nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn trong nhà

    trường.

    c.      Nội dung, biện pháp thực hiện

    Phạm vi đề tài này, tôi chỉ giới thiệu cách xây dựng phần mở bài và kết bài sao cho đúng và hay.

    • Phần mở bài

    Mở bài là phần đầu tiên (vị trí của nó nhằm mở đầu của một văn bản) là phần trước nhất đến với người đọc, gây cho người đọc cảm giác, gây ấn tượng ban đầu về bài viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn bài văn.

    Phần này có một vai trò và tầm quan trọng khá đặc biệt vì một câu mở bài gọn gàng, hấp dẫn sẽ tạo được hứng thú ở người đọc và thường báo hiệu một nội dung tốt. Do đó mỗi bài thường rất khó viết. M.Gorki đã từng nói: “ khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu. Cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của các tác phẩm và người ta thường tìm nó rất lâu”.

    Mục đích của mở bài ai cũng biết rõ là nhằm giới thiệu vấn đề mà mình sẽ viết, sẽ trao đổi bàn bạc….trong bài. Vì thế khi viết mở bài, thực chất là trả lời câu hỏi: Anh ( chị) định viết, định bàn bạc… vấn đề gì ?

    Trả lời thẳng vào câu hỏi ấy người ta gọi là mở bài trực tiếp (còn gọi là trực khởi) . Nêu vấn đề sẽ bàn trong bài, sau khi dẫn ra một ý khác có liên quan gần gũi với vấn đề ấy, gọi là mở bài gián tiếp (còn gọi là lung khởi). Để bài viết có không khí tự nhiên và có chất văn, người ta thường mở bài theo kiểu gián tiếp. Có nhiều cách mở bài theo kiểu gián tiếp, nhưng cơ bản có 4 cách thường gặp:

    • Diễn dịch (suy diễn)
    • Quy nạp
    • Tương đồng
    • Tương phản (đối lập)
    • đây chúng tôi quan niệm rằng: mở bài là một đoạn văn hoàn chỉnh (đoạn mở đầu). Đoạn văn này có 3 phần; mở đầu đoạn, phần giữa đoạn và phần kết luận.
    • Phần kết bài

    Kết bài là phần cuối của văn bản. Nó cũng không kém phần quan trọng, bởi vì, nó phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài nên chỉ nêu những ý khái quát, có tính tổng kết đánh giá, không lan man hay lặp lại nguyên văn lời lẽ ở mở bài.

    3.     Tìm hiểu lịch sử đề tài

    Trường THCS Bình Trung, một trường học có một đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm đặc biệt là sự nhiệt tình, nỗ lực gương mẫu trong tất cả các hoạt động nhất là phong trào dạy và học. Đó chính là điều kiện mà các thầy không ngại khó khăn để giảng dạy với tinh thần trách nhiệm cao nhất.

    Giáo dục là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đều quan tâm,bởi vì “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” Để ngày mai,xã hội có những chủ nhân tốt,xã hội có những công dân tốt thì ngay từ hôm nay chúng ta phải đào tạo thế hệ trẻ có tri thức.

    Để dìu dắt các em trở thành con ngoan trò giỏi một học có đủ tri thức và cả nhân cách như mọi người mong muốn tất cả phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực và tình thương của thầy cô giáo người lái đò đưa các em đến tương lai.

    Từ tấm lòng nhiệt tình,yêu nghề mến trẻ của các thầy cô giáo các em cảm thấy tự tin hơn trong học tập.

    Các kế hoạch ,phương pháp đặt ra cho thầy cô là phải làm thế nào để giúp các em có một kết quả tốt nhất cho môn Ngữ văn đặc biệt là viết phần mở bài ,kết bài của bài viết: Nghị luận về một tác phẩm văn học.

    Các nghiên cứu của thầy cô giáo là tìm cách để có một mô hình một phương pháp giúp các em làm bài tốt nhất

    Tuy nhiên, việc hướng dẫn các em không phải là một việc làm mà chỉ một lần là tất cả các em đều đáp ứng được yêu cầu của thầy cô giáo vì không phải các em đều có khả năng tiếp thu bài như nhau, có thái độ, ý thức học tập như nhau và yêu các môn học như nhau. Đây là vấn đề mà chỉ có người trực tiếp

    giảng dạy mới cảm nhận sâu sắc nhất và người giảng dạy trực tiếp ấy mới hiểu các em cần gì nhất để có cách dạy các em tốt nhất .

    5. Phương pháp nghiên cứu

    Tôi thực hiện cách dạy với học sinh lớp 9C Trường THCS Bình Trung.

    Sau khi tìm hiểu chung về kiểu bài nghị luận, tôi tiến hành thực hiện.

    Những định hướng cụ thể khi viết phần mở bài và kết bài cho bài văn nghị

    luận.

    1. Phần mở bài
    1. Cấu tạo của mở bài
    • Về nội dung: Mở bài thường gồm những bộ phận nhỏ như sau: – Gợi mở vào đề ( mở bài lung khởi, gián tiếp).(mở bài đúng)

     

    + Nêu xuất xứ của đề, của một nhận định… + Nêu lí do đưa đến bài viết.

     

    + Đưa ra một mẫu chuyện, một so sánh, một liên tưởng, một danh ngôn,

    một câu tục ngữ hoặc một trích dẫn văn thơ…

    • Giới thiệu vấn đề: Đây là trọng tâm của mở bài có nhiệm vụ tạo nên tình huống có vấn đề mà ta sẽ giải quyết trong phần thân bài.

    + Giới thiệu nội dung vấn đề

    + Xác định phương hướng, phương pháp, phạm vi mức độ, giới hạn của vấn đề (nếu có)

    (Nếu mỗi bài chỉ có bộ phận này thì đây là kiểu mở bài trực khởi, trực

    tiếp).

    • Viết lại câu văn (câu thơ) …. Trích dẫn của đề (Bài làm văn trong nhà trường thường có bộ phận này).
    • Về hình thức: Một mở bài hay cần phải:
    • Dung lượng và độ dài của mở bài phải cân xứng với khuôn khổ của bài viết. Đặc biệt nó phải thể hiện mối liên hệ chặt chẽ và sự tương ứng cả về dung lượng lẫn phong cách diễn đạt với kết bài.
    • Ngắn gọn, khéo léo, có sức thu hút, gợi hứng thú, dẫn dắt thường vài ba câu, nêu vấn đề một vài câu và giới hạn vấn đề một câu.
    • Đầy đủ: Đọc xong mở bài, người đọc biết được bài viết bàn về vấn đề gì? Trong phạm vi tư liệu nào? Thao tác chính vận dụng ở đây là gì?
    • Độc đáo: mở bài phải gây được sự chú ý của người đọc với vấn đề mình sẽ viết. Muốn thế phải có cách nêu vấn đề khác lạ. Để tạo nên sự khác lạ “độc đáo” cần suy nghĩ dẫn dắt và câu nêu vấn đề phải tạo được sự bất ngờ.
    • Tự nhiên: Viết văn nói chung cần giản dị, tự nhiên. Mở bài và nhất là câu đầu chi phối giọng văn của toàn bài. Vì thế vào bài cần độc đáo, khác lạ, nhưng phải tự nhiên. Tránh làm văn một cách vụng về, gượng ép gây cho người đọc cảm giác khó chịu bởi sự giả tạo.

    * Mở bài hay cần tránh:

    • Tránh dẫn dắt vòng vo, qúa xa mãi mới gắn vào việc nêu vấn đề.

    -Tránh dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề sẽ nêu.

    • Tránh nêu vấn đề qúa dài dòng, chi tiết, có gì nói hết luôn rồi ,thân bài lại lặp lại những điều đã nói ỡ mở bài.
    1. Một số kiều mở bài và ví dụ cụ thể
    • Mở bài trực khởi (trực tiếp)
    • Giới thiệu thẳng với người đọc vấn đề sẽ trình bày.
    • Cách mở bài này nhanh, gọn, tự nhiên, giản dị, dễ tiếp nhận và thích hợp với những bài viết ngắn.
    • Nếu không khéo sử dụng thì sẽ dễ khô khan, ít hấp dẫn.

    Sau đây là một số kinh nghiệm dạy làm mở bài dành cho học sinh. Vì chỉ là kinh nghiệm của một giáo viên đứng lớp nên chắc chắn cần rất nhiều sự đóng góp của đồng nghiệp để hoàn thiện phương pháp này.

    Ta có thể viết mở bài với các yếu tố như sau:

    1.Giới thiệu tác phẩm:

    1. Giới thiệu tác giả
    1. Hoàn cảnh sáng tác
    1. Đánh giá sơ bộ nghệ thuật
    1. Đáng giá sơ bộ nội dung

    Với 5 yếu tố trên, chúng ta có thể viết được những kiểu mở bài như sau:

    1 2 3 / 4 5
    2 1 3 / 4 5
    3 2 1 / 4 5
    4 1 2 3 / 5
    5 3 1 2 / 4

    Ví dụ (Phụ lục 1)

    • Mở bài lung khởi (gián tiếp)

     

    Kiểu mở bài này:

     

    – Không đi thẳng trực tiếp vào vấn đề mà gợi mở vào đề bằng biện pháp

    so sánh, tương phản, nghi vấn, giả định… Bằng cách đưa ra:

    • Một hình ảnh tương phản, đối lập
    • Một hình ảnh so sánh
    • Một danh ngôn, một trích dẫn văn thơ, một câu tục ngữ, ca dao…
    • Một mẫu truyện ngắn gọn…
    • Mở bài luân khởi khéo léo sẽ rất sinh động gợi cảm, hấp dẫn, gây hứng thú cho người đọc.

    Ta có thể viết mở bài với các yếu tố như sau: 1. Giới thiệu tác phẩm

    1. Tác giả
    1. Hoàn cảnh sáng tác
    1. Đánh giá sơ bộ nghệ thuật
    1. Đáng giá sơ bộ nội dung
    • Từ những yếu tố trên, chúng ta có thể viết được những kiểu mở bài bài như sau:
    1. Gợi mở vào đề + 1 2 3 / 4 5
    1. Gợi mở vào đề + 2 1 3 / 4 5
    2. Gợi mở vào đề + 3 1 2 / 4 5
    3. Gợi mở vào đề + 4 1 2 3 / 5
    4. Gợi mở vào đề + 5 3 1 2 / 4

    Ví dụ (Phụ lục 2)

    1. Phần kết bài

     

    • Nắm vững nguyên tắc, thuần thục cách kết bài như sách giáo khoa đã nêu, chắc chắn các em sẽ thực hiện phần kết bài “ nhẹ nhàng”. Tuy nhiên như chúng tôi đã đặt vấn đề từ “đúng” đến “hay” là một khoảng cách. Vậy thế nào là một kết bài đúng ? cách kết bài như thế nào cho hay ?
    • Một kết bài hay trước hết phải là một kết bài đúng. Đúng nguyên tắc, đúng cách. Cho nên để có một kết bài hay chúng ta phải từ cái nền cơ bản “ đúng” ấy mà đi lên.
    • Kết bài là phần đánh giá chung tác phẩm (nghệ thuật và nội dung ) và rút ra bài học (hoặc mở rộng).

    Một kết bài thường có 4 yếu tố sau:

    1. Tác phẩm
    1. Tác giả
    1. Nghệ thuật
    1. Nội dung
    • Rút ra bài học (Tình cảm, hành động….)

    Với các yếu tố trên, ta có thể viết được các kiểu kết bài sau:

    – 1 2 3 4
    – 2 1 3 4
    3 2 1 4
    4 2 1 3

    + Rút ra bài học ( hoặc mỡ rộng )

    Sau đây một vài cách kết bài để tham khảo:

    Kết bài kiểu 1 2 3 4
    Các yếu tố 1 Bài thơ “ Đồng chí” của Chính Hữu là một bài thơ hay viết
    2 3 4 về anh bộ đội cụ Hồ từ các chi tiết cuộc sống đến cảm giác
    cuả tác giả đều rất thật,không một chút tô vẽ, không bình
    luận thuyết minh.Bài thơ thiên về khai thác nội tâm,tình
    cảm người lính.

    Vẻ đẹp của “Đồng chí”là vẻ đẹp của đời sống tâm hồn của người lính mà nơi phát ra ánh sáng lung linh nhất là mối tình đông đội đồng chí hòa quyện vào tình giai cấp.

    Rút ra bài học

    Kiểu 4 2 1 3

    Vẻ đẹp của “đồng chí” là vẻ đẹp của đời sống tâm hồn của tình đồng chí đồng đội của nhà thơ Chính Hữu.Người lính nông dân đã đi vào thơ ca bằng những hình ảnh chân thật và đẹp vô cùng. “ Đồng chi” không một chút tô vẽ,không bình luận thuyết minh.Có thể xem đây là một hình ảnh thơ đẹp nhất về người lính trong thơ ca kháng chiến

    Ngoài ra, chúng ta có thể nâng cao phần kết bài bằng các biện pháp so sánh, tương phản, câu hỏi tu từ …

    Ta có một vài kiểu kết bài n

    – So sánh + 1 2 3 4

    – Tương phản + 3 2 1 4

    • Câu hỏi tu từ + 1 2 3 4

    + Rút ra bài học (mở rộng)

    Ví dụ (Phụ lục 3)

    5.                 Phân tích và phân tích dữ liệu

    • Đề tài này tôi thực hiện ở học kỳ II, năm học 2010-2011 lớp 9C.
    • Học sinh có bước phát triển so với đầu năm.
    • Có thể đưa ra số liệu để so sánh.
    • Sau khi học xong các tiết lí thuyết và áp dụng ở lớp 9C ứng dụng đề tài nêu trên và hướng dẫn các em thực hiện viết một mở baì cụ thể theo sự hướng dẫn của cô giáo cho các em trao đổi baì của nhau và phát hiện những ưu khuyết điểm của từng bạn. Dưới sự hướng dẫn các em hoàn thiện phần mở bài và chuyển sang phần kết bài.
    • Giáo viên chấm theo thang điểm 10, so sánh kết quả và rút ra được:
    Kết quả Bài đạt 8 điểm trở lên Bài đạt 5- 6, 7điểm Bài dưới điểm 5
    Tổng số % Tổng số % Tổng số %
    Lớp 9C 13 32,5 23 57,5 4 10, 0
    (40HS)
    • Từ kết qủa trên, chúng tôi có thể khẳng định rằng hiệu qủa của đề tài đạt
    • mức độ khá tốt.

    6.                 Kết luận và khuyến nghị

    • Bản thân và giáo viên trong tổ ra sức học tập, để nghiên cứu đưa đề tài ứng dụng vào thực tiển giảng dạy, các thành viên trong tổ phối hợp một cách chặt chẽ, trao đổi, rút kinh nghiệm khi tổ chức thực hiện cho từng đối tượng học sinh. Hàng tháng họp chuyên môn đánh giá việc thực hiện có gì khó khăn nhằm khắc phục kịp thời, cũng như nhân rộng mặt thành công của đề tài.
    • Tuy nhiên khi thực hiện, chúng tôi gặp không ít khó khăn như: Vốn sống, kiến thức về tiếng Việt độ nhảy cảm … của học sinh còn yếu nên các em bước đầu rất lúng túng bở ngỡ khi tiếp cận.
    • Hướng tới sẽ tiếp tục thực hiện đề tài này, tuy nhiên có điều chỉnh sao cho phù hợp với từng đối tượng.
    • Bản thân phối hợp với đồng nghiệp với đề tài hoàn thiện hơn và phấn đấu nhiều hơn nữa để đạt kết qủa mĩ mãn.
    • Bản thân nhận thấy trên đây là những định hướng rất cơ bản và thiết thực, nó phục vụ tốt cho giáo viên và học sinh có cơ sở khi dạy và học nó định hướng cho học sinh những điều cơ bản khi viết một mở bài, một kết bài cho bài văn nghị luận.
    • Đây cũng là những định hướng cơ bản cần thực hiện và thực hiện có hiệu qủa giúp học sinh thích học môn ngữ văn hơn.
    • Tuy nhiên, đề tài không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Nó mang tính chất gợi ý cơ bản để định hướng cho giáo viên và học sinh tham khảo. Mong quý đồng nghiệp góp ý để đề tài hoàn thiện nhằm nâng cao phần nào chất lượng dạy – học môn ngữ văn.

    8. Tài liệu tham khảo       –

    -Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

    -Sách giáo khoa ngữ văn 9

    -Sách giáo viên ngữ văn 9

    -Nâng cao ngữ văn 9

    -Những bài văn hay lớp 9

    1. Phụ lục

    Phụ lục 1. Em hãy phân tích bài thơ “Đồng chí”của Chình Hữu

    Kiểu bài: 1 Mở bài trực khởi
    2 3 4 5
    Các yếu tố “ Đồng chí”là một bài thơ hay viết về anh bộ đội cụ Hồ của
    1 2 3 nhà thơ Chính Hữu,được sáng tác năm 1948 lúc cuộc kháng
    chiến diễn ra hết sức gay go ,quyết liệt .
    Đây là một bài thơ trữ tình mà tác giả tập trung thể hiện mối
    tình keo sơn gắn bó, ca ngợi tình đồng chí, đồng đội giữa
    Các yếu 4 5 những người lính trong những năm đầu của cuộc kháng chiến
    chống Pháp, gây nhiều xúc động cho người đọc người nghe.
    Kiểu 4 1 2 Kiểu bài trực khởi
    3 5
    Các yếu tố Nền văn học  hiện đại Việt Nam có những bài thơ trữ tình
    4 1 2 3 chứa chan tình cảm, gây xúc động cho mọi người, làm cho
    chúng ta nhớ mãi khi đã được một lần đọc qua. Một trong
    những bài thơ hay như thế, đó là bài “ Đồng chí” của Chính
    Hữu
    Bài thơ sắc sảo độc đáo mà rất Việt Nam này, đề cao vẻ đẹp
    của anh bộ đội cụ Hồ trong những năm đầu của cuộc kháng
    Các yếu tố chiến chống Pháp giữa những người đồng chí ,đồng đội với
    5 mối tình keo sơn gắn bó.

    Phụ lục 2. Phân tích 8 câu thơ cuối cùng trong đoạn trích “Kiều ờ lầu Ngưng Bích” của Nguyễn Du.

    Sau đây một vài cách mở bài lung khởi

    Gợi mở vào Mở bài lung khởi
    đề + 1 2 3 /
    4 5
    Gợi mở “ Đàn ông chớ kể phan Trần
    bằng câu Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thuý Kiều”.
    thơ so sánh Có một thời “ Truyện Kiều” bị những kẻ cổ hủ lạc hậu khinh
    tương phản chê, chỉ trích… nhưng thực ra đây là một áng văn tuyệt tác
    + các yếu của dân tộc ta. Tác phẩm bất hủ này đã được Nguyễn Du sáng
    tố 1 2 3 tác vào thời phong kiến suy tàn, thối nát cùng cực làm cho
    Các yếu tố nhân dân vô cùng khốn khổ, đặc biệt là những người phụ nữ.
    4 5 Đây là một tác phẩm trữ tình độc đáo, gây nhiều xúc động cho
    người đọc, người nghe trước số phận bi thảm của người con
    gái tài sắc vẹn toàn.Mà tiêu biểu là đoạn thơ vịnh cảnh ngụ
    tình như sau:
    “ Buồn trông cửa bể chiều hôm
    Viết lại Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
    đoạn thơ Buồn trông ngọn nước mới sa
    Hoa trôi man mát biết là về đâu ?
    Buồn trông nội cỏ dầu dầu
    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
    Kiểu 2 1 3 Mở bài lung khởi
    4 5
    Gợi mở “ Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
    bằng thơ + Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
    các yếu tố 2 ( kính gởi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)
    1 3 Nghìn năm sau, nhân dân ta vẫn luôn tưởng nhớ đến Nguyễn
    Du, một đại thi hào của nền văn học Việt Nam, một danh nhân
    của thế giới. Nhớ Tố Như, chúng ta sẽ nhớ ngay đến áng văn
    bất hủ “Truyện Kiều” được sáng tác vào thời kỳ chế độ phong
    kiến thối nát cùng cực, làm cho nhân dân vô cùng khốn khổ,
    đặc biệt là những người phụ nữ.
    Các yếu tố Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình độc đáo, nhà thơ đã làm sống
    4 5 dậy hình ảnh của một người con gái tài sắc vẹn toàn, nhưng
    cuộc đời bị vùi dập bi thảm, được diễn tả sinh động qua những
    câu thơ tuyệt tác:
    “ Buồn trông cửa bể chiều hôm
    …………………………………….
    Viết lại Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
    đoạn thơ
    Phụ lục 3. Kiểu so sánh + 1 2 3 4 + mở rộng

    Nếu chúng ta đã từng đọc “ Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương, truyện ngắn “ Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, thì ở đây chúng ta lại thưởng thức thêm “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du viết về người phụ nữ trông thời phong kiến. Đọc Truyện Kiều chúng ta được thưởng thức tài sử dụng ngôn ngữ sắc sảo, vừa giàu tình ý, vừa giàu tính nghệ thuật đã khơi dậy trong lòng người đọc một sự rung động ngọt ngào trước vẻ đẹp sắc sảo,mặn mà của người phụ nữ, một niềm cảm thương xót xa cho số phận truân chuyên,lên đênh,trôi nổi của Kiều.

    Tài năng và tấm lòng nhân đạo của thiên tài văn học Nguyễn Du là một tấm gương đáng cho chúng ta suy ngẫm, mình sẽ làm gì để cho ngòi bút văn

    chương vừa có tác dụng làm đẹp lòng người, vừa góp phần làm đẹp cuộc đời của người phụ nữ nói riêng, của cả dân tộc ta nói chung

    Bình Trung, ngày 5 tháng 10 năm 2011

    Người viết

    Phạm Thị Kim Huyền

  • Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

    Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

    Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia – Chuyên đề Văn nghị luận xã hội


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

    A-PHẦN MỞ ĐẦU

     

    I-LÝ DO TỔNG KẾT KINH NGHIỆM :

    1/Lí do khách quan :

    Dạy văn nói chung, dạy phân môn tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm văn

    học (phần truyện) nói riêng ở khối lớp Chín trường Trung học cơ sở là dạy cho các em

    học sinh lứa tuổi 14, 15 – lứa tuổi hồn nhiên, trong sáng, năng động và nhạy cảm… biết

    tìm tòi, khám phá ra thế giới văn chương nghệ thuật. Tác phẩm văn chương nghệ thuật là

    thành quả sáng tạo của nhà văn, nhà thơ . Mỗi tác phẩm văn thơ đều thuộc một thời kì

    văn học nhất định ( có thể cách xa thời đại mà các em sống hiện nay cả hàng thế kỉ , hàng

    thập niên …). Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất : là một câu tục ngữ, một bài ca dao,

    hay lớn hơn là một bài văn, một bài thơ, một truyện ngắn hay một bộ tiểu thuyết đều có

    giá trị về nội dung và nghệ thuật của nó. Làm thế nào để giáo viên giúp học sinh đồng

    cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệm vụ

    giảng dạy của GV dạy Ngữ Văn.

    Lep- Tôn-xTôi nói : “Vấn đề không phải biết là quả đất tròn mà là làm thế nào để biết được quả đất tròn?”. Chân lí là quý báu ! Nhưng cách tìm ra chân lí còn quý hơn nhiều. Vì thế, cái khó trong việc dạy văn, nhất là dạy Tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác truyện là làm sao hướng cho học sinh tìm ra cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm.

    Thực trạng trong những năm gần đây, học sinh khối lớp Chín viết bài tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện thường khô cứng, sáo rỗng, lúng túng và máy móc

    • Các em thường dựa vào văn mẫu hoặc dựa vào các ý trong đề cương hay trong dàn ý thầy cô cho sẵn mà viết lại nên rất hạn chế về mạch cảm xúc (không chân thật, còn gượng ép …). Rất ít học sinh chịu khó tìm tòi, khám phá ra các ý mới, ý riêng, ý sâu sắc, ý hay do chính bản thân các em cảm nhận, thật sự rung động với tác phẩm.

    Mặt khác, đa số các em học sinh thường không tìm hiểu kĩ đề bài và tìm ý trước khi bắt tay vào làm bài viết của mình nên thường lệch lạc kiểu bài, nhầm lẫn các dạng đề. Đề bài Nghị luận về tác phẩm truyện thường có các dạng đề mệnh lệnh và “ mở”. Các mệnh lệnh thường gặp là “suy nghĩ”(về nhân vật , tác phẩm….) , “cảm nhận của em” ( về nhân vật, tác phẩm……).Đối tượng nghị luận có thể là tác phẩm, nhân vật, tư tưởng hay những đổi thay trong số phận nhân vật …….) theo phạm vi vấn đề trong các bài đọc hiểu tác phẩm truyện ở SGK ) đòi hỏi các em phải có tư duy kiến thức , tích hợp , tổng hợp và phân tích mới đảm bảo được yêu cầu của từng đề bài văn cụ thể.

    Bên trên là những lí do khách quan thôi thúc tôi tổng kết kinh nghiệm hướng dẫn học sinh cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện.

    2 / Lí do chủ quan :

    Về phía giáo viên, không ít thầy cô còn e ngại khi dạy phân môn Tập làm văn. Qua nhiều năm theo dõi phong trào thi đua dạy giỏi các cấp và dạy tốt ở

    trường, giáo viên thường chỉ đăng kí dạy phân môn Giảng văn và Tiếng Việt. Bởi dạy phân môn Tập làm văn nhất là kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện , giáo viên phải tìm tòi nghiên cứu kĩ về tác phẩm, phải thực sự nhập tâm vào cốt truyện ,vào nhân vật ,phải đặt mình trong hoàn cảnh nhân vật sống , nhân vật suy nghĩ và hành động ….đòi hỏi GV

    phải vận dụng ,tổng hợp nhiều kiến thức , kể cả vốn sống, vốn tư tưởng tình cảm. Thế là GV phải tìm ra phương pháp tích hợp giữa văn và đời, giữa thực tại và hư cấu …….Có thực hiện được như thế, mới có thể đảm bảo được đặc trưng của phân môn : “Dạy văn –

    Dạy người”như nhà văn M. Gorki từng nói : “Văn học là nhân học”.

    Bản thân là GV nhiều năm dạy khối lớp Chín Trường THCS Phường 2 , tôi luôn

    tâm đắc câu nói của dân gian : “Cho cá không thích bằng nhận được cần câu”. Nếu ví bộ

    cần câu là phương pháp và cá ăn là kiến thức thì sự đánh giá về vai trò, tầm quan trọng

    của hoạt động dạy và học của GV và HS là phải tìm tòi và sáng tạo. Chính vì vậy, trong

    quá trình giảng dạy, tôi luôn trân trọng, đánh giá cao những bài làm có nét riêng, thể hiện

    được những cảm xúc chân thật, những nhận xét, phân tích tinh khôi , sáng tạo của các em

    đối với một tác phẩm, một nhân vật (một vấn đề hay một khía cạnh của vấn đề thể hiện

    trong tác phẩm…). Đó cũng chính là nguồn động viên không nhỏ giúp tôi đầu tư và

    quyết định tổng kết kinh nghiệm này, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của GV-

    1. Đồng thời qua đây, xin được góp một tiếng nói riêng, một ý kiến nho nhỏ cho phong

    trào “ Dạy Tốt – Học Tốt” của Trường THCS Phường 2 nói riêng và cho ngành Giáo Dục

    Thị xã Gò Công nói chung.

    B- PHẦN NỘI DUNG

    Chương I : Cơ sở lí luận

    Nghị luận tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm truyện nói riêng là một kiểu bài nghị luận văn học có vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp Chín. Thông qua việc đọc và học tác phẩm văn học, học sinh chẳng những đã có một vốn khá phong phú về kiến thức văn học (tác phẩm, thể loại …)và cũng đã được nâng cao dần về năng lực cảm thụ, phân tích, bình giá tác phẩm ….Đó là một thuận lợi. Nhưng mặt khác, cũng

    cần nắm vững yêu cầu và mức độ cần đạt của kiểu bài nghị luận về tác phẩm trong chương trình Tập làm văn chín để không đồng nhất yêu cầu và mức độ phân tích tác phẩm trong chương trình văn học và khi làm bài Tập làm văn ở lớp Chín.

    Tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tổng thể hoàn chỉnh giữa nội dung và

    phương thức biểu đạt, tức là nghệ thuật. Nghị luận một tác phẩm truyện là trình bày

    những nhận xét , đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một

    tác phẩm cụ thể.Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt

    truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết

    phát hiện và khái quát. Các nhận xét, đáng giá về tác phẩm truyện trong bài nghị luận

    phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục. bài nghị luận về tác phẩm

    truyện phải có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, có lồi văn chuẩn xác, gợi cảm. Như vậy,để đáp

    ứng yêu câu làm một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện,người GV cần cho HS hiểu rõ

    tính chất tổng hợp của kiểu bài nghị luận này.

    Giáo sư Lê Trí Viễn cũng có lời nhắn nhủ : “ Dạy văn lấy cảm làm đầu”. Người GV dạy HS phương pháp làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện không thể nghèo nàn cảm xúc . Bởi những trang truyện hay, những số phận của các nhân vật trong truyện đều có cuộc đời riêng, có tư tưởng, tình cảm, nội tâm ….phong phú và đa dạng . Cho nên trong

    hướng gợi ý HS trình bày những cảm nhận , đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề ….trong tác phẩm truyện phải xuất phát từ những rung cảm chân thật, thẩm mĩ. Đồng thời

    biết kết hợp linh hoạt nhiều phép lập luận (giải thích, chứng minh, phân tích,…).Trong cách hướng dẫn HS cách làm bài và luyện tập, GV cần chú ý phát huy, động viên tính tích cực, sáng tạo của từng HS chứ không gò ép theo những khuôn mẫu. Người GV phải biết khơi gợi những cảm xúc của HS, kích thích và nuôi dưỡng , phát triển ở HS những nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận thức cái mới qua hình tượng nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại,…..Vì vậy, nếu ai đó tự cho rằng mình đã gợi đầy đủ các ý tưởng của tác phẩm

    qua từng trang truyện thì chưa hẳn là một GVdạy tốt, nắm chắc phương pháp hướng dẫn HS cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện

    Dưới đây là một vài kinh nghiệm hướng dẫn HS cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện mà bản thân tôi- một GVtrực tiếp giảng dạy Ngữ văn 9 đã dúc kết được qua nhiều năm .

    Chương II : Phương pháp tổng kết một vài kinh nghiệm hướng dẫn HS cách làm bài Nghị luận về tác phẩm truyện

    I- Hướng dẫn HS phân tích đề :

    Một đề bài Tập làm văn còn được xem là một bài toán nghệ thuật ngôn từ.

    Bởi bao giờ trong một đề bài TLV cũng có những yêu cầu bắt buộc mà người thực hiện

    đề bài phải tìm ra phương pháp giải. Vì thế, bước phân tích đề được xem là khâu đầu

    tiên, có vai trò quyết định dẫn đường, chỉ lối cho người làm bài. Nếu phân tích đúng

    yêu cầu của đề bài thì sẽ tìm ra được hướng đi đúng. Ngược lại, nếu phân tích sai thì sẽ

    không đáp ứng được yêu cầu của đề ,đôi khi còn bị lệch đề , lạc đề . Chính vì thế mà

    người GV phải hướng dẫn HS phải biết phân tích kĩ đề .Một đề bài văn Nghị luận về tác

    phẩm truyện không bao giờ đồng nhất một dạng đề đơn điệu. Trái lại, nó có rất nhiều

    dạng, nhưng chủ yếu ỏ lớp 9 dạng thường gặp 3 dạng đề cơ bản sau đây :

    • Dạng đề I :Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh nhân vật, tác phẩm . Ví dụ như các đề bài :

    +Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn : Làng của Kim Lân (SGK Ngữ văn 9 tr 65)

    +Suy nghĩ của em về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao (SGK Ngữ văn 9 tr 66 )

    • Dạng đề II : Phân tích đặc điểm nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm. Ví dụ như các đề :

     

    • Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của Kim Lân (SGK Ngữ văn 9 tr 65)

     

    • Phân tích tâm trạng của Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều (SGK Ngữ văn 9 tr 66 )

    ÄDạng đề III : Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề .Ví dụ như các đề :

    +Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở truyện Người con gái Nam Xương

    (SGK Ngữ văn 9 tr 65)

    +Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua tuyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng (SGK Ngữ văn 9 tr 65)

    Tuỳ theo mỗi dạng đề bài mà GV hướng dẫn HS các thao tác làm bài khác nhau.

    • Đối với dạng đề I và dạng đề II Hs thường hay nhầm lẫn ,GVphải hướng dẫncho HS biết phân biệt rõ thế nào là suy nghĩ về nhân vật, về tác phẩm ?; thế nào là phân tích nhân vật, tác phẩm? .

    Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm là nghiên về cảm nhận chủ quan của người viết về nhân vật, tác phẩm hay một khía cạnh nào đó về nhân vật, tác phẩm (không nhất thiết phải phân tích đầy đủ từng đặc điểm của nhân vật hoặc đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có thể chọn những gì mình cảm nhận sâu sắc nhất mà thôi. Ví dụ đề bài :Suy nghĩ về nhân vật ông Hai tron truyện ngắn Làng của Kim Lân ,GVcó thể hướng HS cảm nhận, suy nghĩ về nét nổi bật của nhân vật này là tình yêu làng quyện với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến được bộc lộ trong tình huống nào ? Tình cảm ấy có đặc điểm gì ở hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ ? ( thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp?) Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động. thú vị tình yêu làng và lòng yêu nước ấy (về tâm trạng, cử chỉ , lời nói …) Trong khi đó yêu cầu của dạng đề II(phân tích nhân vật , tác phẩm hay một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm) là yêu cầu người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ từng đặc điểm nhân vật, từng giá trị nội dung,nghệ thuật của tác phẩm.

    • Đối với dạng đề III :Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề, người GV phải biết tích hợp các kiến thức chương trình Tập làm văn ở các lớp dưới để nâng cao yêu cầu giải quyết đề bài văn dạng này. Ví dụ đối với đề bài : “ Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua tuyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng” (SGK Ngữ văn 9 tr 65), HS không phải đơn thuần tập trung phân tích những biểu hiện cụ thể tình cảm cha con của hai nhân vật ông Sáu và bé Thu mà còn phải trình bày những cảm nhận của mình về tình cảm cha con hết sức cảm động trong hoàn cảnh éo le của thời chiến tranh : chịu đựng nhiều thiệt thòi mất mát …;khơi gợi nhiều xúc cảm cho người đọc niềm cảm động, khâm phục, quý mến ….Từ đó suy nghĩ về tình cảm cha con, tình cảm gia đình trong hoàn cảnh hiện tại : phải biết trân trọng, giữ gìn, vun đắp…

    Từ việc phân tích ba dạng đề nêu trên, GV giúp HS nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích , tìm hiểu đề và biết vận dụng thành thạo, linh hoạt để hình thành những thao tác và kĩ năng phân tích đề chính xác ,làm cơ sở cho việc tìm ý .Tuỳ theo yêu cầu của mỗi dạng đề (như nghị luận toàn bộ tác phẩm, ngị luận một vấn đề trong tác phẩm hay nghị luận có kết hợp giải quyết một vấn đề có liên quan )mà xác định nội dung

    và trình tự phân tích (khái quát – phân tích – tổng hợp ). Căn cứ vào nội dung và trình tự phân tích, đặt ra và trả lời những câu hỏi để có các ý lớn , ý nhỏ của bài văn.

    II- Hướng dẫn Học sinh tìm ý :

    Một bài nghị luận tác phẩm văn học nói chung và nghị luận về tác phẩm truyện nói riêng hay , trước hết phải có ý hay. Vậy ý hay là gì ? và thế nào là ý hay ? Làm thế nào để tìm ra được những ý hay cho bài .

    Theo định nghĩa của SGK Tiếng Việt Tám (nxb Giáo Dục ) trước đây thì ý là nội dung ta suy nghĩ, nhìn nhận, tìm hiểu, đánh giá …về sự vật, sự việc được phản ánh, bao gồm cả cách nhìn nhận sự vật, sự việc và tình cảm, cảm xúc, …Ý có thể diễn đạt thành nhiều lời .

    Còn ý hay thì theo đặc san văn học và tuổi trẻ (số 68 tháng 2/2002 ); Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng : “ý hay trước hết phải là ý đúng , ý sâu, ý mới, ý riêng. Ý đúng, ý sâu phải là ý của mình khám phá mới hay. Cho nên tìm ra ý mới, ý riêng, ý đúng, ý sâu là công việc quyết định nhất và tất nhiên cũng là khó khăn nhất”.

    Tác phẩm văn học nhất là tác phẩm truyện là tấm gương phản ánh hiện thực của

    cuộc sống muôn màu, muôn vẻ thông qua những hình tượng nhân vật với đầy đủ tư

    tưởng, tình cảm nội tâm phong phú , đặt trong những tình huống, hoàn cảnh có vấn đề

    mấu chốt, cụ thể, tiêu biểu …đại diện cho một từng lớp nào đó trong cuộc sống đời

    thường . Vì thế, muốn tìm được ý đúng, ý hay, ý sâu sắc, người GV phải hướng HS đọc

    hiểu tác phẩm truyện . Đọc hiểu trước hết là phải đọc kĩ tác phẩm để nắm cốt truyện, chủ

    đề, các ý chính , các chi tiết tiêu biểu của từng ý, các dẫn chứng thuyết phục…Không

    đọc kĩ tác phẩm, HS khó lòng nắm được ý đồ của tác giả ,dễ dàng bỏ qua những điểm

    đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm ; từ đó phân tích hời hợt, đánh giá

    chung chung . Bởi để viết ra được một tác phẩm, người nghệ sĩ đã phải trải qua những

    trăn trở , họ tự đặt ra những yêu cầu , những định hướng khắt khe : viết về vấn đề gì ?

    viết về đối tượng nào ? viết cho ai ? viết như thế nào ? Họ đã phải thay nghén tác phẩm

    truyện – đứa con tinh thần của họ – suốt bao tháng, bao năm . Họ đã phải chọn lựa từng

    hình ảnh có thực trong thực tế rồi khái quát lên thành nhân vật , dùng ngòi bút vẽ nên

    bức chân dung của xã hội sao cho phù hợp với từng thời điểm lịch sử . Họ phải nghiền

    ngẫm từng chi tiết , đắn đo từng câu, chữ , từng lời ăn tiếng nói , từng hành động của mỗi

    nhân vật ….đặt trong những tình huống cụ thể , mấu chốt của tác phẩm .

    Ví dụ với đề bài : Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân . Nếu HS không đọc kĩ tác phẩm này, thì không thể tìm ra được những ý hay,

    • đặc sắc . Các em sẽ dễ dàng rơi vào công thức chung chung , suy nghĩ hời hợt, không khám phá ra nét mới trong tình cảm đối với làng quê của nhân vật ông Hai . Đó là một trường hợp tiêu biểu cho những chuyển biến mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Tình cảm gắn bó sâu nặng

    với quê hương là một đặc điểm có tính truyền thống nhưng nét đăc sắc ở đây là nhà văn Kim Lân , bằng vốn sống, vốn am hiểu về tâm lí của người nông dân đã đặt ông Hai vào một tình huống gay cấn , thử thách lòng yêu nước tuyệt đối của nhân vật , để buộc nhân vật phải đấu tranh tư tưởng gay go, quyết liệt để chọn lựa một trong hai giữa tình yêu làng và tình yêu nước, trung thành với kháng chiến, với Bác Hồ. Nếu HS không đọc kĩ từng trang truyện , thì làm sao thấu hiểu được nỗi lòng của ông Hai với cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn, vật vã … để cuối cùng nhân vật mới đi đến quyết định dứt khoát : Làng thì yêu thât, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù” . Rõ ràng để có được những suy nghĩ và nhận xét sâu sắc về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng làm sao các em có thể không đọc kĩ tác phẩm . Có đọc kĩ tác phẩm các em mới cảm thụ hết những tình huống thú vị , các chi tiết hay trong tác phẩm . Từ đó ý tứ mới tuôn trào, suy nghĩ về nhân vật mới sâu sắc .

    Sau khi đọc kĩ tác phẩm truyện, khám phá ra được cái hay, cái đẹp ,cái đăc sắc trong từng yếu tố nội dung, nghệ thuật và nhân vật , HS tự đặt ra và trả lời những câu hỏi để có những ý lớn, ý nhỏ ….của bài văn .

    Dưới đây là các dạng câu hỏi gợi ý ,giúp HS tìm ý :

    • Câu hỏi tìm hiểu tác giả, xuất xứ , hoàn cảnh sáng tác :

    FTác giả của tác phẩm truyện sẽ nghị luận là ai ? Có những nét gì nổi bật trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác ? Sống trong thời kì nào ? Có nét riêng , nét độc đáo gì về phong cách cá nhân ? ( Chuyên sáng tác về mảng đề tài nào ? Sự nghiệp sáng tác ra sao ?

    FTác phẩm truyện trên được trích từ đâu ? Được sáng tác trong hoàn cảnh nào ? Tác phẩm được đánh giá như thế nào ? Có phải là tác phẩm tiêu biểu cho sự sáng tác văn chương của tác giả không ? …

    ? Câu hỏi tìm giá trị nội dung :

    FĐề bài gồm mấy ý ? Ý nghĩa cụ thể, ý nghĩa khái quát là gì ? Những ý nào tập trung biểu hiện chủ đề, tư tưởng của truyện ? Nội dung có thể hiện được những vấn đề lớn, bức xúc mà xã hội quan tâm hay không ? Có giá trị nhân văn như thế nào ?

    FNhân vật chính của truyện là ai ? Đại diện cho từng lớp con người nào trong xã hội ? Có những nét tính cách như thế nào ? Nét tính cách nào là tiêu biểu nhất ? Nét tính cách đó được thể hiện qua những chi tiết nào (diện mạo, cử chỉ, lời nói, hành động , tư tương tình cảm, nội tâm …? )

    ? Câu hỏi tìm giá trị nghệ thuật :

    FTác phẩm truyện được viết theo phong cách nào ? có nét gì sáng tạo riêng trong nghệ thuật tạo tình huống ? có hình tượng nghệ thuật nào độc đáo ? ngôn ngữ diễn đạt, cấu trúc bố cục của truyện có đặc sắc ?

    FTác phẩm truyện trên có tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả không

    • Có thể hiện được bản lĩnh sáng tạo của một nhà văn đầy tài năng và tâm huyết cho một thời đại , một trào lưu văn học không ?
      • Câu hỏi liên hệ,gợi mở những hướng xem xét khác :

    FCó thể so sánh, đối chiếu với những tác giả , tác phẩm nào để phân tích tác phẩm được sâu rộng, toàn diện hơn ?

    • Tác phẩm truyện có ảnh hưởng gì trong thời đại tác giả đương sống và đối với các thời đại sau này ? Tại sao tác phẩm được mọi người yêu thích ?

    Với ngần ấy câu hỏi, không thể nào GV giảng giải một cách cặn kẽ, tỉ mỉ trong quá trình phân tích một đề bài trên lớp. Do đó đòi hỏi người GVphải biết chọn lựa nhưng câu hỏi tìm ý cho phù hợp, có tác dụng khơi nguồn cảm xúc cho các em HS. Hay nói cách khác, người GV phải biết chọn điểm đột phá. Bởi mỗi tác phẩm truyện (dù là ngắn hay dài ) đều là một kho báu vừa lộ thiên vừa bí mật về nội dung và nghệ thuật. Nhiệm vụ của người GV là giúp cho các em HS biết cách khám phá và đột nhập kho báu ấy, nhất là phần sáng tạo kì công của tác giả .

    Nhưng bắt đầu từ đâu và như thế nào ? đây là vấn đề nghệ thuật giảng dạy . Nếu khéo léo khám phá sẽ có được nhiều cảm xúc , hứng thú gợi mở cho các em HS niềm yêu thích, tích cực tư duy làm bài . Bài nghị luận của các em sẽ sâu sắc, tinh tế và chân thật . Nếu không khéo sẽ làm cho các em nhàm chán và bài viết của các em trở nên lạc lỏng, hời hợt, tẻ nhạt.

    Sau đây là những việc làm cụ thể hướng dân HS tìm ý cho đề bài : “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện bgắn Làng của Kim Lân”

    Khi tìm ý cho đề văn trên , GV nên gợi cho HS suy nghĩ theo các câu hỏi sau :

    • Nhà văn Kim Lân có sở trường gì trong sáng tác truyện ngắn?
    • Làng là một truyện ngắn ra đời trong hoàn cảnh nào ? có những thành công gì về nội dung và nghệ thuật ?
    • Truyện có kết cấu ra sao ? Xoay quanh nhân vật nào ? Nhân vật có những đặc điểm gì nổi bật ? Tình yêu làng được biểu hiện như thế nào ? Tình yêu làng ,yêu nước của nhân vật ông Hai được bộc lộ trong tình huống nào ?

    Tình cảm ấy có đăc điểm gì mới so với vẻ đẹp trong nét tính cách truyền thống của người nông dân ? (cụ thể lúc bấy giờ – thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ) ? Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động, thú vị tình yêu làng và lòng yêu nước ấy ? ( về tâm trạng, cử chỉ, hành động, lời nói ….) ?

    • Em có nhận xét, đánh giá suy nghĩ gì về tư tưởng tình cảm của người nông dân trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp qua nhân vật Ông Hai ?( những nhận thức, tình cảm đúng đắn cao đẹp : sự nhiệt tình, hăng

    hái tham gia kháng chiến , lòng tin tưởng tuyệt đối vào kháng chiến vào lãnh tụ …)

    • Nhân vật ông Hai đã để lại những tình cảm gì trong lòng em ? (sự yêu mến,

    trân trọng và cảm phục, tự hào ….)

    Với những câu hỏi tìm ý gợi mở trên, ngưòi GV có thể yên tâm HS sẽ đảm bảo đáp ứng tốt nội dung đề bài . Tương tự như thế HS có thể tự tìm và trả lời các câu hỏi tìm ý cho bất kì đề bài văn nghị luận nào .

    Sau khi đã có được ý , bước kế tiếp GVphải hướng dẫn cho các em biết cách sắp xếp các ý ( luận điểm, luận chứng, luận cứ …..theo một trình tự hợp lí . Việc làm này gọi là lập dàn ý .

    III- Hướng dẫn Học sinh lập dàn ý :

    Như đã nói ở trên lập dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước tìm ý theo một trình tự thích hợp lí và xác định mức độ trinh bày mỗi ý theo tỉ lệ thoả đáng giữa các ý .

    Nếu một bài văn hoàn chỉnh được ví như một ngôi nhà thì dàn ý là cái sườn thiết kế nên ngôi nhà ấy. Viết một bài văn nghị luận cũng thế . Muốn có một bài văn nghị luận hay, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của đề bài một cách rõ ràng, chặt chẽ, có hệ thống, mạch lạc, lập luận thuyết phục …người GV phải hướng dẫn HS làm tốt bước lập dàn ý này

    . Có thể hướng dẫn HS sắp xếp các ý theo trình tự nội dung, nghệ thuật , rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân, nhưng có thể sắp xếp đan xen giữa nôi dung , nghệ thuật và nhận xét, đánh giá , suy nghĩ của bản thân . Cũng có khi việc sắp xếp không bị gò bó theo một trật tự cố định nào . Trong trường hợp này, đòi hỏi HS phải có bản lĩnh viết văn, phải có dụng ý nghệ thuật trong cách sắp xếp trình bày lập luận để đạt được mục đích yêu cấu của đề bài, làm sáng tỏ vấn đề .Thông thường dàn bài chung cho bài văn nghị luận về tác phẩm truyện theo một trình tự như sau :

    1/.Mở bài : Giới thiệu tác phẩm truyện hay một đoạn trích ( tuỳ theo yêu cầu cụ thể của đề bài )và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình .

    2/.Thân bài : Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác

    phẩm ; có phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực

    3/.Kết bài : Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện hoặc

    đoạn trích

    Điểm lưư ý trong cách làm bài văn nghị luận là trong bài văn không phải bao giờ các ý cũng được trình bày dàn đều nhau mà nên có chỗ đậm, chỗ nhạt, chỗ nói kĩ, chỗ nói lướt qua. Cho nên, ngay ở khâu lập dàn ý, sau khi sắp xếp ý , ta nên cân nhắc , định trước tỉ lệ dành cho mỗi ý trong bài để chủ động xạy dựng một bài văn cân đối, có chiều sâu, tạo được điểm nhấn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc . Thông thường ý được nói kĩ là trọng tâm . Ví như với đề bài :

    “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”, GV có thể hướng dẫn Hs lập dàn bài như sau :

    1/. Mở bài : Giới thiệu truyện ngắn Làng và nhân vật ông Hai – nhân vật chính của tác phẩm, một trong những nhân vật thành công bậc nhất của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp .

    2/. Thân bài :

    a)Triển khai các nhận định về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai và nghệ thuật đặc sắc của nhà văn

    *Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai là tình cảm nổi bật xuyên suốt toàn truyện

    +Chi tiết đi tản cư nhớ làng

    +Theo dõi tin tức kháng chiến

    +Tâm trạng khi nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây +Niềm vui tin đồn được cải chính

    *Nghệ thuật xây dựng nhân vật

    +Chọn tình huống tin đồn thất thiệt để thể hiện diễn biến tâm    trạng

    nhân vật

    +Các chi tiết miêu tả nhân vật

    • Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại …) b)Nhận xét, đánh giá về nhân vật :

    0 Nhân vật ông Hai đã có những chuyển biến mới trong tình cảm của

    người nông dân (những nhận thức mới, những tình cảm mới mẻ : sự nhiệt tình, hăng hái tham gia kháng chiến, lòng tin tưởng tuyệt đối vào kháng chiến, vào lãnh tụ …)

    • Tình yêu làng đã được nâng lên thành tình yêu nước, sẵn sàng hy sinh tình cảm riêng, của cải riêng ( nhà ông bị Tây đốt nhẵn ông vẫn vui sướng, tự hào )
    • Là nhân vật để lại nhiều tình cảm đẹp trong lòng người đọc : sự yêu mến , trân trong và cảm phục

    3/. Kết bài :

    Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật. Thành công của nhà văn khi xây dựng hình tượng nhân vật ông Hai

    Bên trên là một dàn ý tiêu biểy cho một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện , hoc sinh có thể dựa vào ý trên để thiết lập cho những bài văn cụ thể khác . Lưu ý khi lập dàn ý cần tránh các lỗi sau :

    • Lạc ý : là những ý không đúng với yêu cầu về nội dung và phương pháp nghị luận nêu trong đề bài . Vd: Yêu cầu của một bài văn nghị luận là những luận điểm luận cứ , luận chứng mà học sinh lại nêu ý miêu tả hoặc kể chuyện

     

    • Ý không phù hợp với nội dung : Vd: Đề yêu cầu nêu suy nghĩ về nhân vật mà dàn bài lại đưa ra ý phê phán thái độ của nhân vật hoặc đề ra phương hướng giải quyết khác như nêu quan niệm sống, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân tiêu cực hay sa vào bình luận về giá trị tác phẩm và những đóng góp của tác giả

     

    • Thiếu ý : có thể thiếu một số ý lớn so với yêu cầu đề bài hoặc một số ý nhỏ . Vd : tình yêu làng yêu nước của nhận vật ông Hai trong truyện ngắn làng của tác giả Kim Lân được triển khai thành bốn ý nhỏ mà dàn ý chỉ có ba hoặc hai .

     

    • Lặp ý : là ý sau lặp lại hoàn toàn ý trước . Vd : Với đề bài : “Suy nghĩ về tình cha con trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng nếu học sinh không khéo triển khai tình cảm của bé Thu với cha và ngược lại tình cảm của ông Sáu với bé Thu thì sẽ dễ lặp ý

     

    • Sắp xếp ý lộn xộn : Là sắp xếp không theo thứ tự nào, đảo lộn cả giá trị nội dung ,nghệ thuật .Đây là hiện tượng viết văn tuỳ tiện, gặp đâu nói đấy, không chuẩn bị kỹ dàn ý Khi đã có cái để viết, có dàn ý, bước kế tiếp,GV hướng dẫn HS chuyển sang phần luyện viết văn với mục đích để rèn kĩ năng diễn đạt của các em .

    IV – Hướng dẫn HS viết đoạn và liên kết đoạn :

    Từ dàn ý đã có sẵn, các em có thể viết thành đoạn, thành bài . Các em được GV hướng dẫn viết từng đoạn tiêu biểu : đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài

    • Đoạn mở bài :là đoạn văn khởi đầu của bất cứ bài văn nào . Nó là đoạn giới thiệu vấn đề được nghị luận trong bài văn , đồng thời khơi gợi, lôi cuốn người đọc sự chú ý đối với vấn đề đó .

     

    1. Nguyên tắc mở bài :

     

    • Cần nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề nài
    • Chỉ được phép nêu những ý khái quát (HS không

    được lấn sang phần thân bài : giảng giải, minh hoạ hay nhận xét , đánh giá ý kiến nêutrong đề bài

    b.Cách mở bài : Có rất nhiều cách mở bài . Tuỳ dụng ý của người làm mà có thể vận dụng một trong những cách sau đây :

    • Mở bài trực tiếp : Giới thiệu ngay vấn đề cần nghị luận (còn gọi là trực khởi )
    • Mở bài gián tiếp : Nêu ra những ý kiến có liên quan đến vấn đề cần nghị luận ( từ khái quát đến cụ thể, so sánh đối chiếu, tương đồng, tương phản…. )

    ÄSau đây là mấy cách mở bài tham khảo cho đề bài : “ Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân .

    8 Cách trực tiếp :

     

    Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là người nông dân có tinh yêu làng quyện với lòng yêu nước , trung thành với kháng chiến và lãnh tụ. Đó là nét mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc .

    • Cách gián tiếp 🙁 có thể giới thiệu cho HS nhiều cách gián tiếp , sau đây là hai cách cho HS tham khảo )

    Cách 1:

    Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một gương mặt độc đáo . Do hoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu sâu sắc sinh hoạt , tâm lý của người nông dân. Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Việt Nam với những vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “Làng” là một truyên ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân. Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người nông dân. Ai đến với “Làng”, chắc khó quên được ông Hai – một nhân vật nông dân mang những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc hoạ tài tình của Kim Lân.

    Cách 2:

    Tình yêu làng, sự gắn bó nơi chôn nhau cắt rốn là một tình cảm sâu nặng

    • con người Việt Nam nói chung, đặc biệt ở người nông dân nói riêng. Lịch sử văn học dân tộc từng xây dựng thành công nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những trường hợp như thế .

    Sau khi đã hướng dẫn cụ thể cho HS các cách mở bài trên, GV tiến hành cho HS rèn viết đoạn mở bài và tin chắc rằng HS sẽ viết tốt.

    Bước kế tiếp, GVsẽ hướng dẫn HS viết phần thân bài(gồm nhiều đoạn , GV có thể chọn cho HS viết một đoạn tiêu biểu)

    2) Đoạn thân bài :

    Trước hết, GV nên xác định vai trò của phần thân bài cho HS nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của nó trong một bài văn .Phần thân bài sẽ lần lượt trình bày, giải thích , nhận xét, đánh giá … các luận điểm của vấn đề được đặt ra trong đề bài ( thực hiện vừa đủ, không thiếu, không thừa các nhiệm vụ đã đề ra ỏơ phần mở bài ).

    • từng luận điểm , cần có sự phân tích, chứng minh cụ thể, chính xác bằng những dẫn chứng sinh động trong tác phẩm .

    Giữa các luận điểm, đoạn văn cần có sự liên kết, chuyển tiếp một cách linh hoạt , uyển chuyển, tránh gò bó, máy móc, công thức.

    Dưới đây là một trong những đoạn thân bài của đề bài : “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân” mà GV có thể giới thiệu cho HS tham khảo.

    Lòng yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai được thể hiện một cách cảm

    động qua diễn biến tâm trạng của ông . Tác giả đã sáng tạo ra một tình huống bất

    ngờ, đầy kịch tính thử thách tình yêu làng của ông Hai là có tin đồn về làng Chợ Dầu

    đã theo giặc . Ông Hai vô cùng đau xót : “cổ ông lão nghẹn ắng hẵn lại, da mặt tê rân

    rân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được …ông cúi gầm mặt xuống mà đi”.

    Về đến nhà, ông nằm vật ra giường không dám đi đâu . Ông buồn, ông xấu hổ . Ông

    tự tranh luận với mình, tự dằn vặt mình hoặc đâm cáu gắt với vợ ….Đêm, ông trằn

    trọc không sao ngủ được; ông hết trở mình bên này , lại trở mình bên kia thở dài ,….chân tay ông lão nhũn ra , ….Tin đồn loang xa, mụ chủ nhà hay được lại đuổi

    khéo gia đình ông. Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc. Ông có nghĩ đến việc trở về làng nhưng liền sau đó ông phản kháng lại ngay , ông phẫn uất nói : “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”.Thật là tuyệt đường sinh sống ! Ông quyết không trở về làng vì về làng là bỏ kháng chiến , bỏ cụ Hồ . Ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ. Qua những lời tâm sự mộc mạc, chân thật đầy cảm động với con, ta thấy được tấm lòng yêu nước cao đẹp của người nông dân này. Như nhà văn hào I-li-a Ê-ren-bua có nói : “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu nước”.Ông Hai đúng là một con người như thế – một con người thiết tha yêu làng, vì yêu làng nên ông yêu nước , kính yêu cụ Hồ ,quyết trung thành với kháng chiến. Đó chính là nét đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.

    Bên trên chỉ là một đoạn tiêu biểu của phần thân bài ( gồm nhiều đoạn),

    GV có thể hướng dẫn HS viết các đoạn khác nhau của các đề khác. Dù là đoạn văn nào

    thì GV cũng phải phân tích cho HS thấy rõ các cách trình bày nội dung một đoạn văn .

    Thế là phải tích hợp với kiến thức Tiếng Việt Tám ở lớp dưới . GV nhắc lại các cách

    trình bày tiêu biểu mà HS thường vận dụng viết đoạn văn nghị luận ( gồm bốn cách :

    diễn dịch, qui nạp, móc xích và song hành ) nhưng đôi khi để nhấn mạnh ý chính, ý khái

    quát của vấn đề cần phân tích , ta cũng có thể viết đoạn văn hỗn hợp như đoạn văn thân

    bài trên. Đoạn thân bài trên được phân tích cách trình bày như sau:

    Đoạn văn trên gồm 17 câu.

    Câu( 1) là câu diễn đạt ý chính của đoạn : nêu khái quát đặc điểm yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai .( Câu này còn gọi là câu chủ đề )

    Từ câu (2) đến câu (16) là các câu diễn giải cho ý chính ( lòng yêu nước của nhân vật ông Hai). Đó là những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, chính xác, sinh động .

    Câu (17)( câu cuối) là câu khẳng định lại và nâng cao lòng yêu nước của nhân vật ông Hai (là vẻ đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.

    Từ việc phân tích cách viết đoạn trên, GVcó thể minh hoạ bằng sơ đồ đoạn văn nghị luận như sau :

    KHÁI QUÁT

    PHÂN TÍCH

    Ý DIỄN GIẢI, DẪN CHỨNG TIÊU BIỂU

    TỔNG HỢP

    Mục đích của bài văn nghị luận về tác phẩm truyện là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện hay chủ đề, tư tưởng và nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể. Cho nên sau khi đã thực hiện được các nhiệm vụ đó ở phần thân bài, GV tiến hành hướng dẫn HS khẳng định lại vấn đề ở đoạn kết bài

    3) Đoạn kết bài :

    Đoạn kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài

    Chỉ nêu những ý nhận xét, đánh giá khái quát, không trình bày lan man hay lặp lại ý diễn giải, minh hoạ ,cụ thể, chi tiết. Cũng lhông nên lặp lại nguyên văn lời lẽ của phần mở bài . Khác với mở bài, phần kết bài thiên về đánh giá, tổng kết vấn đề .

    Có nhiều cách kết bài khác nhau, tuỳ theo dụng ý của người viết. Có khi kết bài là tóm tắt , khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Có khi kết bài là tổng

    hợp những cảm nhận sâu sắc về nhân vật, tác giả, tác phẩm . Có khi kết bài lại là liên tưởng đến các vấn đề khác có liên quan.

    Thế nên , để hướng dẫn HS viết được những kết bài sâu sắc , người GV cần phải giúp HS nhận thức được tầm quan trọng của đoạn kết bài (không chỉ khép lại ,hoàn chỉnh bài văn mà còn làm cho bài văn thêm khái quát, nâng cao về mọi mặt : tư tưởng , tình cảm , chủ đề , quan niệm sống tốt đẹp …

    Dưới đây là hai cách kết bài cho đề bài văn : Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân .

    Cách 1: Đánh giá nhân vật và khẳng định giá trị tác phẩm

    Ông Hai trong truyện ngắn Làng là một nhân vật tạo ấn tượng sâu sắc đối với người đọc. Qua truyện này , bằng những tình huống , chi tiết chân thật , thú vị

    • bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí sinh động, Kim Lân đã đem đến cho chúng ta một hình tượng hấp dẫn về người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình yêu thiết tha , sự gắn bó sâu năng với làng quê, đất nước của nhân vật ông Hai luôn luôn có ý nghĩa giáo dục thấm thía đối với các thế hệ bạn đọc.

    Cách 2: Cảm nhận sâu sắc về nhân vật và  tác giả, tác phẩm

    Trong số rất nhiều nhân vật nông dân từ những trang truyện đi vào lòng người đọc và đã chiếm được tình cảm yêu thương , quý mến , trân trọng nơi trái tim sâu kín của mỗi người , có thể nói người đọc khó có thể quên được nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của Kim Lân – một người nông dân thuần phác, yêu làng ,yêu nước chứa chan, sâu nặng ,một lòng trung thành với kháng chiến, với cụ Hồ – đã trở thành hình tượng nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp . Nhà văn Kim Lân đã diễn tả được diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật bằng chất liệu ngôn ngữ bình dị, mộc mạc , tạo được tình huống bất ngờ ,thú vị . Chính vì thế, nhà văn Kim Lân được đánh giá là cây bút hàng đầu về đề tài nông thôn và người nông dân .

    Có thể nói, hướng dẫn HS cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện tức là đi tìm và khám phá ra cái hay, cái đẹp trong văn chương nghệ thuật. Từ khâu phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý , viết đoạn và liên kết đoạn là cả một quá trình lao động nghệ thuật sáng tạo . Giúp các em hiểu ra chân lí ấy sẽ là con đường ngắn nhất hướng các em yêu thích văn chương và có hứng thú khi làm bài tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm truyện nói riêng.

    Chương III: Hiệu quả đạt được

    Với tâm huyết giảng dạy thực tốt kiểu bài phân tích tác phẩm truyện và qua tích luỹ một vài kinh nghiệm hướng dẫn HS phân tích đề, tìm ý , lập dàn ý , viết đoạn và liên kết đoạn , tôi đã giúp HS của các lớp do chính tôi trực tiếp giảng dạy đạt được kết quả tốt trong các kì kiểm tra học kì II và thi Tuyển vào lớp 10 luôn đảm bảo chỉ tiêu chất lượng từ 85% trở lên và chất lượng năm sau cao hơn năm trước.

    Đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề ; khai thác được ý hay, ý sâu sắc ; phân tích tinh tế, có cảm xúc , biết tìm tòi và sáng tạo mang phong cách riêng , không còn gượng ép, máy móc hay khuôn sáo.

    Rất ít bài làm sơ lược, ý nghèo nàn hoặc không tìm được ý.

    Theo dõi tỷ lệ HS làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện trong hai năm thi tuyển vào lớp 10 (2005-2006 ;2006-2007), tôi đã thống kê được chất lượng như sau :

    NĂM HỌC TỶ LỆ TB
    2005 -2006 87.6%
    2006 -2007 91.7%

    Chính hiệu quả đạt được trên, đã động viên, thôi thúc tôi hoàn thành kinh nghiệm giảng dạy này.

    C – PHẦN KẾT LUẬN

    Đối với thi sĩ, sáng tác được một câu thơ, một bài thơ hay là niềm hạnh phúc. Còn đối với người GV dạy Ngữ văn chúng tôi, việc nghiền ngẫm, trao đổi với nhau qua bao tháng năm trên bục giảng để hiểu được đúng, thấm được sâu từng trang truyện, từng nhân vật, từng yếu tố nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà nhà văn muốn gửi gắm vào đó một lời nhắn nhủ, một tư tưởng tình cảm mới mẻ, tốt đẹp ….là nguồn vui lớn, say mê với đời, với sự nghiệp dạy Văn. Và đối với tôi, việc tích luỹ một vài kinh nghiệm

    hướng dẫn HS cách làm tốt bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện là điều tôi tâm đắc.

    Dẫu còn không ít thiếu sót và vụng về trong cách trình bày, diễn đạt …nhưng tôi xin gởi

    trọn niềm tin yêu vào những gì mình đã viết, đã đúc kết được kinh nghiệm ở nơi này .

    Tôi xin ghi lại những chân thành trong nhiệt tình giảng dạy qua từng trang viết. Rất mong những ý kiến đóng góp, những lời chỉ bảo của bạn bè, của đồng nghiệp và của những ai có duyên nợ với nghề : dạy VĂN.

    TƯ LI ỆU THAM KHẢO

    F&

    1. Phương pháp làm bài Nghị luận tác phẩm Văn học 9 của Hoàng Đức ( nxb GD Thành phố Hồ Chí Minh )
    1. Hiểu Văn , dạy Văn của Nguyễn Thanh Hùng

    ( nxb GD Thành phố Hồ Chí Minh )

    1. Đọc Văn, học Văn của Trần Đình Sử ( nxb GD 2002)
    1. Để hiểu thêm một số tác giả và tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại của Nguyễn Ngọc Thu (nxb GD )
    1. Sách Ngữ văn 9 hiện hành (SGK & SGV)
    1. Tài liệu tham khảo soạn kĩ năng làm văn nghị luận của Vụ GD – TH
    1. Tiếp cận và đánh giá tác phẩm truyện sau Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Văn Long ( nxb GD )

    J

  • Văn mẫu Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện kiều

    Văn mẫu Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện kiều

    Văn mẫu Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện kiều

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Tìm hiểu một vài nét về nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều của Nguyễn Du


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện kiều

    Kiến thức lớp 10

    Truyện Kiều – Nguyễn Du-phần 4

    VẺ ĐẸP NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA

    NGUYỄN DU QUA MỘT SỐ ĐOẠN TRÍCH ĐÃ HỌC

    Xưa nay, nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều , người ta thường hay chú ý trước hết đế những chỗ dùng từ chính xác, từ hay , tinh tế thường được gọi là lối dùng từ đắt của Nguyễn Du ,cũng như cách dùng hư từ , khối lượng từ đồng nghĩa , từ có phong cách khẩu ngữ, từ mang phong vị ca dao , thành ngữ, tục ngữ …

    Ví như hai từ đầy đặn , nở nang trong câu thơ : Khuôn trăng đầy đặn / Nét ngài nở nang khi tác giả dùng để miêu tả Thuý Vân. Hai từ đó không chỉ đơn thuần là miêu tả khuôn mặt tròn trịa ,đầy đặn

    như mặt trăng đêm rằm của nàng Vân , cũng như cả cái nét ngài minh bạch ,rõ ràng , uốn cong thanh tú của nàng mà đó còn là sự đầy đặn, mỹ mãn của số phận , của cuộc đời nàng . Hai chữ thua , nhường trong câu thơ Mây thua nước tóc , tuyết nhường màu da dùng để chỉ thiên nhiên và cũng chính là tạo hoá sẽ chịu thua mái tóc mây, dài, xanh mượt, màu da trắng như tuyết để nhường bước cho nàng đi trên con đường bằng phẳng , không hề có chông gai .

    Hay như chữ thông minh trong câu Thông minh vốn sẵn tính trời dùng để nhấn mạnh trí tuệ thiên bẩm của nàng Kiều mà nhiều người cho rằng đó là một nhãn tự nhờ cách nhà thơ đưa từ này lên đầu câu , nó không chỉ nhằm khắc hoạ một tính cách mà là cả một nhân cách . Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà – Một vẻ đẹp vừa rực rỡ , vừa hấp dẫn , rất có hồn , điều đó đã quá rõ rồi. Nhưng Kiều chiếm được cảm tình nơi bạn đọc không phải vì cái vẻ sắc nước hương trời ,cùng tài năng hiếm có cuả nàng , mà chủ yếu là phẩm cách tuyệt vời và một trí tuệ hơn người . Trong tác phẩm

    Truyện Kiều , Nguyễn Du đã nhiều lần viết về tài hoa và trí tuệ theo kiểu ấy . Chẳng hạn như câu Anh minh phát tiết ra ngoài … Điều đó cho thấy ánh sáng trí tuệ chính là yếu tố nổi bật trong tài hoa của Thuý Kiều .

    Còn như từ não trong câu Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân . Ở đây , Nguyễn Du đã sử dụng từ não rất chính xác .Nội hàm ý nghĩa của từ này diễn đạt nỗi buồn đã có sẵn tự trong lòng . Nó không chỉ đơn thuần là sầu , buồn , là những từ diễn đạt nỗi buồn trên sắc diện con người mà là não (não lòng , não nuột) . Âm thanh của từ ngữ này dường như xoáy sâu vào tâm can người đọc . Bởi lẽ , khúc nhạc tiêu tao của thiên bạc mệnh ấy đã từng khiến cho biết bao người rung cảm, sầu não theo từng khúc nhạc não nề . Nó đã từng khiến cho Kim Trọng nao nao lòng người , Thúc Sinh phải tan nát lòng và cho cả trái tim vô tình, sắt đá của quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến cũng phải cảm thương mà rơi châu nhỏ lệ . Cung đàn bạc mệnh của Kiều đã trở thành một hình tượng nghệ thuật thể hiện tâm hồn đa sầu, đa cảm và

    số phận bi thương của Kiều là vì thế . Cả câu Não người cữ gió tuần mưa, thì từ não cũng được dùng với ý nghĩa như vậy .

    Nhiều người cho rằng Nguyễn Du sử dụng từ ngữ rất đắt . Đắt vì nhiều khi chỉ một chữ thôi đã có thể lột tả được bản chất bên trong của con người . Đó là trường hợp câu thơ Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao mà nhà thơ dùng để khắc hoạ nhân vật Mã Giám Sinh lúc đến hỏi Kiều về làm vợ . Một kẻ đã ngoài tứ tuần mà Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao thì thật nực cười và kỳ cục đến không thể chấp nhận được. Bởi nhẵn nhụi là từ ngữ người ta thường dùng để chỉ độ trơn , bóng , láng của đồ vật

    • chứ không phải dùng để chỉ tính chất trang nhã , lịch sự của con người . Còn từ bảnh bao thường dùng để khen trẻ em có quần áo đẹp lại dùng cho Mã Giám Sinh thì lại có ý chế giễu , mỉa mai .

    Một kẻ đã nhiều tuổi nhưng lại cố ý tô vẻ , tỉa tót thì lại trở nên kệch cỡm , giả tạo và có phần trai lơ , đàng điếm .

    Đặc sắc nhất vẫn là cách dùng từ trong câu Ghế trên ngồi tót sỗ

    sàng – một cử chỉ vội vàng , khiếm nhã khiến Nguyễn Du phải hạ ngay một từ sỗ sàng . Cử chỉ ấy không phù hợp với một người đi hỏi vợ và lại càng không đúng với phẩm cách văn hoá của một giám sinh . Nó qúa bất ngờ so với sự chờ đợi của người đọc, quá phi lý so với vai trò của một sinh viên trường Quốc Tử Giám . Cử chỉ này là tín hiệu đầu tiên để bước đầu khẳng định bản chất của Mã Giám Sinh . Tự định vị một cách vô lễ , trịch thượng, chướng mắt trên chiếc ghế của người bề trên ( những bậc cao niên ) càng cho thấy tính chất vô học và nhất là tâm lý hợm cúa của kẻ buôn người giàu có . Chỉ một chữ tót đã phủ nhận vai trò giám sinh của gã họ Mã .

    Như thế cũng chưa đủ . Cái cách cò kè thêm bớt đến cả một giờ lâu rồi mới ngã giá vàng ngoài bốn trăm thì Nguyễn Du đã lột tả được bộ mặt gớm ghiếc, giả dối của Mã Giám Sinh . Hắn đã hiện nguyên hình là một gã con buôn lọc lõi chỉ cần biết một điều là làm sao mua được món hàng với giá hời nhất , chỉ cần một vốn mà có đến bốn lời là được .Chỉ với một từ cò kè rất con buôn

    Nguyễn đã cho ta thấy được bộ mặt tàn ác, dơ bẩn nhất của bọn buôn thịt bán người mà Mã Giám Sinh là đại diện .

    Và trong đoạn đời đầu tiên của bước lưu lạc, lúc Kiều được đưa ra ở lầu Ngưng Bích . Nàng đã sống trong một tâm trạng buồn tủi , chua xót đến cực độ . Nàng đâu còn cơ hội khoá kín tuổi xuân của mình nữa . Nàng không còn giữ được chữ trinh đối với chàng Kim thì hai chữ khoá xuân lại đầy mỉa mai đối với nàng . Thực chất nàng đang bị Tú Bà giam lỏng để chờ ngày kén chồng tử tế , nhưng thực ra là mụ đang rắp tâm thực hiện một âm mưu mới .

    Trong cảnh vò võ cô đơn , trơ trọi nàng đã tưởng nhớ đến người yêu . Chỉ một từ tưởng mà nói được bao điều . Nếu mơ là luôn nghĩ đến những kỉ niệm , những điều tốt đẹp về nhau ; hay nhớ cũng là nghĩ đến những điều tốt đẹp nhưng lại có thêm ý mong mỏi có ngày gặp lại thì tưởng cũng là mơ là nhớ nhưng với Kiều chỉ là tưởng , chỉ xem mối tình đầu trong trắng, ngây thơ của mình là một kỉ niệm đẹp , không dám mơ tưởng những gì xa xôi

    lại càng không dám mong gì ngày gặp lại .

    Nhớ người yêu , Kiều cũng rất nhớ về cha mẹ . Nhưng Nguyễn Du không dùng thương hay nhớ mà lại dùng một chữ xót ở đầu câu thơ . Bởi xót đâu chỉ đơn thuần là nhớ , là thương mà còn bao hàm cả nỗi giận đời và trách mình .

    Ngay cả việc sử dụng điệp ngữ buồn trông ở cuối đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích ta càng thấy Nguyễn Du không hề vô tình khi đặt chữ buồn đứng trước chữ trông .Buồn mà trông ,buồn rồi mới trông là nỗi buồn thấm sâu tự đáy lòng Kiều để rồi trông vào mọi vật nàng chỉ thấy thấp thoáng mơ hồ , tàn tạ, héo uá như chính cuộc đời của nàng cùng với nỗi lo sợ hãi hùng về một tương lai mờ mịt . Thật đúng là Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ .

    Đọc Truyện Kiều ta còn bắt gặp được nhiều câu thơ , nhiều từ ngữ đặc sắc như thế . Chữ cậy em và chữ chịu lời trong câu 723 dùng thật khéo . Cụ Nguyễn Du dùng chữ cậy là tuyệt hay vì nếu

    thay chữ nhờ và chữ nghe lời vào thì câu thơ sẽ là Nhờ em em có nghe lời thành ra quá áp đặt , câu thơ trở nên tầm thường, nhạt nhẻo , không còn ý vị gì nữa . Vì điều Kiều sắp nói cho em biết thuộc về chữ tình nên chưa chắc em đã nhận lời cho . Do vậy , dùng cậy và chịu lời là hợp lý nhất .

    Chữ tốc dùng trong câu 1.133 Tú Bà tốc thẳng tới nơi lúc sở khanh đưa Kiều chạy trốn là tuyệt khéo . Chỉ mới nghe câu thơ ấy thôi cũng đủ biết rằng mụ Tú Bà giận dữ lắm , dáng bộ hung hăng, vội vàng lắm , mặc dù điều đó nằm trong âm mưu của mụ nó hoàn toàn khác cái vẻ thong dong khi mụ dạy Kiều nghề chơi. Một chữ tốc thôi nhưng có sức mạnh lạ thường .

    Như chỗ nàng Kiều vượt tường để trốn khỏi Quan Âm Các của nhà họ hoạn Cất mình qua ngọn tường hoa – câu 2.227 . Chữ cất dùng ở đấy thật tuyệt . Vì ý nó mơ hồ ,ta không thể biết được là nàng Kiều văng mình qua tường hay trèo qua tường để trốn đi .

    Hay như chữ chặn trong cặp câu thơ 3.181 , 3.182 trong màn Đoàn viên : Thân tàn chặn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta . Nguyễn Du dùng chặn mà không dùng gạn . Bởi vì từ chặn được dùng với nghĩa chặn dòng đục trong quá khứ của cuộc đời Kiều . Quả thật với hoàn cảnh Kiều lúc bấy giờ thì không thể gạn đục khơi trong được . Chữ chặn vì thế mà có giá trị biểu cảm cao .

    Nhìn chung, từ ngữ Truyện Kiều không chỉ hay mà còn rất đắt , rất độc đáo. Nhiều chữ được dùng đi, dùng lại rất nhiều lần nhưng với một nét nghĩa mới nên không thấy nhàm chán như 63 trường hợp sử dụng từ thân, 59 từ xuân, 14 từ ngựa , rất nhiều lần sử dụng chữ tâm và chữ tài . Ngay như chữ chút là một uyển ngữ rất khó dùng , thế mà Nguyễn Du sử dụng được 47 chữ như thế …

    1. Vấn đề sử dụng từ ngữ ước lệ trong Truyện Kiều :

     

    Là nhà thơ thiên tài của dân tộc , Nguyễn Du là người chiụ ảnh hưởng rất lớn thi pháp cổ điển về khắc hoạ , xây dựng hình tượng nhân vật . Vì thế ngôn từ ước lệ được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều . Cũng giống như người xưa , nhà thơ đã lấy vẻ đẹp của thiên nhiên như tuyết – mai , trăng – hoa, mây – tuyết , thu thuỷ – xuân sơn , hoa – liễu …Làm chuẩn mực , làm thước đo giá trị , vẻ đẹp của con người . Tác giả đã dùng bút pháp cực tả tuyệt đối hoá , lý tưởng hoá nhan sắc cốt cách hai chị em Kiều . Đó là Mai cốt cách , tuyết iình thần , khuôn trăng , nét ngài , hoa cười ngọc thốt , mây thua, tuyết nhường , làn thu thuỷ, nét xuân sơn , hoa ghen, liễu hờn …Để khắc hoạ cái cốt cách thanh tao , mảnh dẻ như mai ; tinh thần trong trắng như tuyết. Một vẻ đẹp mười phân vẹn mười nhưng mỗi người một vẻ của chị em Kiều .

    Tả nàng Vân kiều diễm Nguyễn Du dùng : khuôn trăng, nét ngài , hoa cười, ngọc thốt , mây thua , tuyết nhường cùng vơí một số từ nôm na như khác vời và những từ ngữ đầy đặn, nở nang vừa khắc hoạ được vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu của nàng Vân , vừa

    như dự báo được cuộc sống sau này rất bình lặng của nàng .

    Còn với Kiều , Nguyễn Du đã dùng vẻ đẹp của Thuý Vân để bẫy

    vẻ đẹp của Kiều . Nhà thơ đã dùng đến 12 câu thơ để khắc hoạ

    về Kiều . Điều đó chứng tỏ nhà thơ đã dành cho nhân vật chính

    của mình một tình cảm hết sức đặc biệt . Nhiều thi liệu cổ đã

    được huy động để khắc hoạ bức chân dung tuyệt mỹ của giai

    nhân như : Làn thu thuỷ , nét xuân sơn , hoa ghen , liễu hờn …

    Với bút pháp lý tưởng hoá , Kiều hiện ra trước mắt người đọc

    bằng hình ảnh một thiếu nữ có đôi mắt trong sáng , bình lặng như

    mặt nước hồ thu ; nét mày uốn cong thanh tú như dáng núi mùa

    xuân .Thật là một dung nhan rực rỡ , sắc sảo mặn mà , vừa có

    duyên, vừa có hồn . Nhưng đẹp đến độ sắc nước hương trời ,

    chim sa cá lặn , nước thành nghiêng đổ , hoa phải ghen , liễu

    phải hờn tất cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, đau khổ … Mười

    lăm năm lưu lạc chìm nổi của Kiều đã chứng minh rõ điều đó .

    Là một nghệ sĩ về ngôn từ , Nguyễn Du không sử dụng những thi

    liệu cổ ấy một cách máy móc rập khuôn mà sự sáng tạo của nhà thơ là rất lớn . Nói tới nỗi buồn của người đẹp , nhà thơ gắn với những thềm hoa ,lệ hoa , rồi nét buồn như cúc , điệu gầy như mai

    • Nói chung , qua việc sử dụng những thi liệu cổ nhà thơ đã tạo

    ra những từ ngữ rất riêng , rất Nguyễn Du , nhưng vẫn là ngôn ngữ dân tộc .

    1. Ngôn từ thiên nhiên (vũ trụ thi ca) của Truyện Kiều .

    Theo tác giả Đặng Tiến thì vũ trụ thi ca trong Truyện Kiều là một không gian với chân trời rộng . Ngoài thảm cỏ non phải xanh tận chân trời ( Cảnh ngày xuân) thì không gian còn là một vũ trụ rộng, trống,mờ xa tít tắp với vẻ non xa , tấm trăng gần ; với cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia (Kiều ở lầu Ngưng Bích). Đó là một vũ trụ từ chối cuộc sống, từ chối con người -một vũ trụ mà cảnh vật bốn bề bát ngát xa trông, bên thì cồn cát nhấp nhô như sóng lượn , bên thì bụi hồng trải dài khắp dặm xa mênh mông .

    Ngoài ra, trong Truyện Kiều Nguyễn Du còn sử dụng rất nhiều

    ngôn từ vũ trụ thi ca : Con đường khuya thì phải ngắt tạnh mù

    khơi , màu của rừng thu phải là màu quan san , khung trời

    thương nhớ phải gợn áng mây Tần xa xa , đến túp lều cỏ bên

    sôngTiền Đường cũng phải là Một gian nước biếc mây vàng chia

    đôi . Bên cạnh đó còn có những dặm vi lô hiu hắt , những bờ liễu

    loi thoi , những rừng phong quan tái . Rồi đến cảnh màu xanh tơ

    liễu bên cầu , gió cây trút lá , mấy ngàn dâu xanh xuất hiện trong

    Truyện Kiều những giờ phút chia phôi , những lúc bước chân

    ngập ngừng , những lúc tâm hồn phân tán … Dường như nhà thơ

    muốn thu nhận cả đất trời nhân loại bằng cái nhìn phơi trải trong

    hình ảnh non phơi bóng vàng , cái nhìn đo lường kích thước cuộc

    sống hằng ngày để xác định vị trí ,tầm sống của mình trước cuộc

    đời .

    4 . Về ngôn từ chỉ màu sắc trong Truyện Kiều :

     

    Truyện Kiều có nhiều từ ngữ chỉ màu sắc (có đến 119 lần) , với

    nhiều màu khác nhau. Nguyễn Du dùng từ chỉ màu sắc để tạo thành các hình tượng có nội dung khái quát, rộng lớn và giàu giá trị thẩm mỹ .

    Trước hết cần xét từ ngữ chỉ màu sắc trong các đoạn trích học ( sách Ngữ Văn 9 – tập 1) :

    Tả nàng Vân với mái tóc dài, mượt còn xanh hơn cả mây ; làn da trắng mịn hơn cả tuyết ( Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da ) . Ở đây Nguyễn Du dùng màu mây thay cho màu đen của mái tóc . Bởi trong Truyện Kiều chưa có màu đen có ý nghĩa đẹp cho nên tóc đen đẹp được gọi là tóc mây .

    Tả nàng Kiều với đôi môi đỏ thắm khiến hoa phải ghen vì thua thắm và mái tóc xanh mượt khiến liễu phải hờn ( Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh ) .

    Rồi đến màu cỏ non xanh tận chân trời , một màu xanh trải dài

    mênh mông tít tắp , mà nổi bật trên cái nền toàn cảnh màu xanh ấy là sự điểm xuyết của một vài bông hoa lê màu trắng . Những màu sắc có sự hài hoà tới mức tuyệt dịêu làm cho bức tranh thiên nhiên càng thêm tươi đẹp – những màu sắc tươi sáng, đầy sức sống .

    Không chỉ có màu trắng , màu xanh , Nguyễn Du còn đề cập đến màu vàng , màu hồng trong câu Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia . Đó không chỉ đơn thuần là sắc vàng của cồn cát nhấp nhô, sắc hồng của từng đám bụi cuốn lên từng dặm xa mênh mông mà còn là cát bụi của cuộc đời .

    Đó là màu vàng tàn tạ héo uá của nội cỏ dàu dàu / Chân mây mặt đất một màu xanh xanh – là những màu buồn ,ảm đạm, thiếu sức sống , màu của bế tắt, không lối thoát .

    Trong Truyện Kiều ,từ ngữ chỉ màu sắc ít có tính chất tả thực mà nặng về tính biểu trưng . Tác giả thường lấy màu của sự vật để tả

    cảnh, gợi tình. Ở đây có mặt sắt đen sì của Hồ Tôn Hiến , có lờn

    lợt màu da của mụ Tú Bà, mặt như chàm đổ của Thúc Sinh v.v… Màu cỏ cũng đa dạng : khi thì Cỏ non xanh tận chân trời , khi thì Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh khi thì cỏ lợt màu sương , khi thì cỏ áy bóng tà, khi thì Một vùng cỏ mọc xanh rì …

    Với Ngyuễn Du màu sắc là sản phẩm của cảnh vật và tâm lý . Màu cỏ non xanh gắn với bao cảm xúc bao la về viễn cảnh của cuộc đời , với vẻ thanh tân, trinh trắng của một vài bông hoa lê đầu mùa , Ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh như cuộc đời dang dở . Cỏ áy bóng tà – cỏ nhuốm ánh vàng của nắng chiều như có cái gì xốn xang, day dứt .

    Màu sắc trong Truyện Kiều còn là màu sắc của tình cảm . Đó là những màu quan san, màu quan tái , màu khơi trêu , màu của nỗi nhớ Bốn phương mây trắng một màu / Trông vời cố quốc biết đâu là nhà . Hay trời cao trông rộng một màu bao la . Có thể nói, Nguyễn Du không chỉ nắm bắt sắc màu của sự vật mà còn nắm

    bắt và diễn tả cả sắc màu tình cảm nhuốm đậm lên cảnh vật, không gian làm cho phong cảnh trở nên sinh động, có hồn …

    5.Về cách sử dụng hư từ :

    Theo ý kiến của nhiều người thì vấn đề dùng hư từ chỉ có Truyện Kiều của Nguyễn Du là dùng đúng nhất .Cụ thể là các chữ : bao, bấy được dùng một cách độc chiếc trong Truyện Kiều Trải bao thỏ lặn ác tà ; Quản bao tháng đợi năm chờ ; Trời Liêu non nước bao xa ; Biết bao duyên nợ thề bồi ; Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao . Năm chữ bao ấy đều dùng chữ bằng nào mà cắt nghĩa được cả : trải bằng nào ngày đêm ; đợi chờ đến bằng nào năm tháng ; xa bằng nào ; thề bồi bằng nào ; đội trên đầu bằng nào . Tất cả đều có ý hỏi để tỏ ra nghiã là nhiều không phải ít . Cũng vậy, chữ bấy được dùng độc chiếc như : Khéo vô duyên bấy là mình với ta ; Phủ phàng chi bấy hoá công ; Trời làm chi cực bấy trời ; Thân sao bướm chán , ong chường bấy thân ; Hoa sao hoa khéo đoạ đày bấy hoa . Năm chữ bấy ấy đều dùng bằng ấy mà

    cắt nghĩa được cả : vô duyên bằng ấy , phũ phàng bằng ấy , cực bằng ấy , chán chường bằng ấy , đoạ đày bằng ấy ; Đều có ý tỏ lòng thương tiếc hoặc trách móc .

    Rồi đến chữ bây , nhưng chữ này không thể dùng độc chiếc ( Lão kia có giở bài bây) .

    Nhà thơ Nguyễn Du đã đặt sau các chữ bao , bây , bấy một chữ để làm thành liên tự chỉ thời gian như : bao giờ , bây giờ , bấy giờ

    • Những hư từ này được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều

    Các liên từ : bao nhiêu , bấy nhiêu cũng được sử dụng một cách linh hoạt trong tác phẩm , cụ thể là 3 trường hợp sau :

    1. 1. Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường ; Bao nhiêu của , mấy ngày đường . Bao nhiêu dùng độc chiếc không đi đôi với bấy nhiêu.

     

    1. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên ; Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình , thì bấy nhiêu dùng độc nhất không đi với bao nhiêu .

     

     

     

    1. Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi; Bao nhiêu đi đôi với

    bấy nhiêu …

    6 . Sự sáng tạo của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật .

    a / Trước hết,cần nói đến từ ngữ mang phong vị ca dao , thành ngữ , tục ngữ .

    Ở đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Truyện Kiều xuất hiện một tứ thơ mang phong cách thành ngữ tục ngữ . Để diễn tả nỗi lòng tưởng nhớ người yêu , xót thương cha mẹ , Nguyễn Du đã biểu đạt tâm tư ấy qua chiều dài của thời gian và khoảng cách của không gian như : dưới nguỵêt chén đồng , rày trông mai chờ , tựa cửa hôm mai cách mấy nắng mưa , chân trời góc bể , tấm

    son gột rửa, hoa trôi man mác , nội cỏ dàu dàu, chân mây mặt đất , gió cuốn mặt duềnh ,ầm ầm tiếng sóng… Những từ ngữ này làm cho cách sử dụng ngôn từ trở nên gần gũi , dễ hiểu , mang đậm màu sắc dân tộc .

    b / Cách tạo từ mới đặc sắc trong Truyện Kiều .

    Nguyễn Du đã tạo ra hàng loạt ngôn từ không có trong thực tế , cũng không có trong từ điển thông thường ; mà theo ông Trần Đình Sử đó là những ngôn từ ý tượng (là hình ảnh chỉ nảy sinh trong tâm tưởng , không phải là hình ảnh sao chép thực tại ) có cấu tạo riêng , nói lên sự cảm thụ chủ quan của tác giả :

    Nói tới nước mắt thì nói giọt ngọc , giọt châu , giọt tương , giọt

    hồng , giọt tủi, giọt riêng …

    Nói đến giấc ngủ thì ông nói giấc xuân , giấc mai, giấc hoè , giấc tiên, giấc nồng …

    Nói tới mái tóc , không chỉ là tóc mây , tóc sương mà là mái sầu .

    Nói tới đường xa , ông nói thành dặm hồng , dặm xanh , dặm băng ,dặm khách , dặm phần …

    Nói tới chén rượu ông lại nói tới chén xuân , chén quỳnh , chén đưa, chén mời , chén khuyên chén đồng … mang đầy sắc thái khác nhau của tình huống .

    Nói tới cửa sổ ông cũng nói bằng những từ của riêng ông : song sa , song mai , song hồ , song mây , song trăng , song đào , song phi …

    Nói tới bóng trăng thì là bóng nga, bóng nguyệt …

    Nói tói tấm lòng thì ông gọi là tấm riêng , tấm yêu , tấm son ,tấm thành hoặc tấc cỏ ,tấc riêng , tấc son, tấc lòng …

    Cùng là gió mà có bao nhiêu thứ gió như : gió mưa , gió trăng , gió trúc mưa mai, gió tựa hoa kề , gió tủi mưa sầu …

    Những ngôn từ ý tượng này cũng là phương diện cơ bản của ngôn từ nghệ thuật Truyện Kiều . Nguyễn Du đã phá vỡ cách tạo từ thông thường để tạo từ mới gây hiệu quả lạ hoá .

    Nhà thơ cũng đã phá vỡ nhiều cấu trúc cố định để tạo thành những kết hợp không đâu có . Chẳng hạn : ăn gió nằm mưa , bướm chán ong chường , bướm lả ong lơi, cười phấn cợt son ,dày gió dạn sương, gìn vàng giữ ngọc, gió gác trăng sân, gió thảm mưa sầu , gió trúc mưa mai , gió giục mây vần , hoa thải hương thừa , hồn rụng phách rời , lấy gió cành chim , tô lục chuốt hồng , tiếc lục tham hồng , liễu ép hoa nài , liễu chán hoa chê , ngày gió đêm trăng , nắng giữ mưa gìn …Các cấu tạo đặc biệt này diễn đạt một trạng thái sự vật có ý nghĩa phổ quát , diễn ra nhiều lần và chỉ hiểu được trong ngữ cảnh tác phẩm Truyện Kiều

    mà thôi .

    Nói tóm lại, trong văn học Tiếng Việt , chỉ đến Truyện Kiều của Nguyễn Du thì ngôn từ mới tự đứng lên biểu diễn như một nghệ thuật . Nói Nguyễn Du là nhà nghệ sĩ lớn về ngôn từ chính là nói đến cách ứng xử nghệ thuật của ông đối với ngôn ngữ dân tộc và hiệu quả của nó . Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với việc sáng tạo ngôn ngữ thi ca nói chung mà Nguyễn Du là một tấm gương tiêu biểu .

  • Văn mẫu Tìm hiểu một vài nét về nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

    Văn mẫu Tìm hiểu một vài nét về nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

    Văn mẫu Tìm hiểu một vài nét về nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Tìm hiểu một vài nét về nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

    A.   Phần mở đầu:

    I. Lý do chọn đề tài:

    1. Cơ sở khoa học:

    Văn học là bộ phận tinh tế nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng vươn tới các giá trị “chân, thiện, mü” của nhân dân. Nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp văn học là sáng tạo những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng nội dung và nghệ thuật, thÊm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ sâu sắc, có ý thức giáo dục, bồi dưỡng tinh thần, tình cảm, nhân cách và bản lĩnh cho các thế hệ công dân của đất nước.

    Trong hệ thống giáo dục phổ thông, môn văn có một vị trí quan trọng cả về hai mặt: “Bồi dưỡng văn hóa, khoa học, kỹ thuật”. Và “Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức xã hội.

    Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật thì phương pháp luận của khoa học nhân bản có những đổi mới. Việc đổi mới sách giáo khoa ngữ văn THCS nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực chủ yếu: năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực tự khẳng định. Đồng thời phát huy tính tích cực, tự giác, chủ đông, sáng tạo của học sinh.

    Văn học trung đại là một bộ phận của văn học viết. Dạy văn học trung đại là giúp học sinh tìm về thế giới của người xưa. Qua tác phẩm văn học trung đại giúp các em bồi dưỡng nhân cách, biết yêu quý các giá trị phi vật thể, yêu quê hương, yêu đất nước, yêu gia đình và tự hào dân tộc, có lý tưởng XHCN, lòng khoan dung,

    • thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, trí tiến thủ lập nghiệp không cam chịu nghèo nàn. Học văn học trung đại, học sinh phải nắm được các giá trị nhân văn và nghệ thuật của tác phẩm văn học. Do đó, chuyên đề này tôi muốn đề cập đến một mảng nhỏ khi tìm hiểu văn học trung đại đó là: khai thác một vài nét về nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều của NguyƠn Du.

    2. Cơ sở thực tiễn.

    Hiện nay, nền văn hóa của nước ta cũng nh­ các nước trên thế giới rất phát triển. Mạng lưới truyền thông cập nhật. Học sinh được tiếp thu, tiếp xúc với nhiều phương tiện nghe, nhìn: đài, báo, ti vi, mạng intenet, truyện tranh, phim hoạt hình,phim trực tuyến online. Các em không mÂy hứng thú khi ngồi nghe một giờ văn. Đặc biệt là văn học trung đại, lời tâm sự của người xưa gửi gắm vào các tác phẩm tưởng nh­ xa vời, là không có thực.

    Đứng trước tình hình nền văn hóa dân tộc có nguy cơ mai một, là một giáoviên, nhiệm vụ của chúng ta là phải giúp học sinh có được hứng thú trong giờ học văn, Giúp các em đồng cảm với nhân vật, với tác giả, từ đó cảm thông và yêuquý họ. Xây dựng hứng thú, thái độ nghiêm túc, khoa học trong việc học văn; có ý thức và biết cách ứng sử trong gia d×nh, trong trường học và ngoài xã hội một cách có văn hóa; khinh ghét những cái xấu xa, độc ác, giả dối ®­îcph¶n ánh trong các tác phẩm văn học. Đồng thời giúp các em giữ gìn được nền văn hóa dân tộc mà người nghệ sĩ đã gửi gắm lại qua nhiều thế hệ. Giáo viên cần dẫn dắt học sinh nắm được các hình thức nghệ thuật trong văn học trung đại, đặc biệt là các hình thức

    nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

    II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

    Trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn 9 hiện nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du có một vị trí không nhỏ. Có một bài giành riêng cho việc giới thiệu tác giả, tóm tắt tác phẩm, nêu giá trị tác phẩm và 5 đoạn trích. Qua thực tế giảng dạy và tham khảo các ý kiến về “Truyện Kiều”, tôi thấy: khi tìm hiểu “Truyện Kiều” có đồng chí thiên về phân tích các giá trị nội dung của các đoạn trích, còn việc tìm hiểu giá trị nghệ thuật thì vẫn chưa thực sự cho đây là một vấn đề quan trọng. Hơn nữa, đối với học sinh thì việc phân tích, tìm hiểu “Truyện Kiều” là một vấn đề tương đối khó, đòi hỏi phải có một kỹ năng học tập phù hợp, cụ thể với thực tiễn giảng dạy của đặc trưng bộ môn.

    Vì những lý do trên mà tôi quyết định chọn chuyên đề này. Trước hết là để tìm hiểu sâu sắc thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”.Hơn nữa, chuyên đề này sẽ đóng góp một phần nhỏ bé về kinh nghiệm giảng dạy “Truyện Kiều”, đồng thời giúp học sinh tìm hiểu, phân tích “Truyện Kiều” với cái nhìn toàn diện hơn.

    • Đối tượng – phạm vi nghiên cứu.

    1. Đối tượng nghiên cứu.

     

    – Một số nét nghệ thuật miêu tả trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

     

    – Chuyên đề này nhằm phục vụ bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 và vận dụng vào giảng dạy “Truyện Kiều” của Nguyễn Du trong chương trình lớp 9 THCS.

    2. Phạm vi nghiên cứu.

     

    Chuyên đề này tôi chỉ đề cập đến: Một vài nét sáng tạo về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và miêu tả nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.

     

    IV. Phương pháp nghiên cứu.

     

    Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

     

    1. Phương pháp thống kê:

     

    • Các bức tranh thiên nhiên trong “Truyện Kiều” chủ yếu tập trung ở đoạn trích: Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích.
    • Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều đa dạng sinh động,
    • đủ các loại người, chia làm hai tuyến nhân vật.
    • Tuyến nhân vật chính diện: Vương ông, Vương bà, Vương Quan, Thúy Kiều, Thúy Vân, Từ Hải…
    • Tuyến nhân vật phản diện: Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Bà, Hoạn Thư, Sở Khanh.
      • Nhân vật trung gian: Thúc Ông, Thúc Sinh.

    2.                 Phương pháp phân tích.

    Tôi tiến hành tìm hiểu các thủ pháp nghệ thuật được Nguyễn Du sử dụng qua việc phân tích tài năng miêu tả ngoại hình để khắc họa tính cách và số phận nhân vật; Khảo sát phân tích các bức tranh ngoại cảnh và bức tranh tâm cảnh qua các khía cạnh: cảnh vật, ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, dáng điệu, cử chỉ, nội tâm ở những nhân vật tiêu biểu.

    3. Phương pháp so sánh.

    Để làm nổi bật sáng tạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, tôi tiến hành so sánh bằng phương pháp tích hợp: bút pháp miêu tả, khắc họa các nhân vật chính diện và phản diện; bút pháp miêu tả thiên nhiên qua các thời điểm khác nhau; Truyện Kiều so sánh với Kim Vân Kiều truyện – tác phẩm văn học Trung Quốc mà Nguyễn Du đã dựa vào cốt truyện đó để sáng tạo Truyện Kiều.

    4. Phương pháp khái quát hóa.

    Để có cái nhìn đúng đắn về giá trị nghệ thuật “Truyện Kiều” trong lĩnh vực miêu tả bức tranh thiên nhiên và xây dựng nhân vật tôi sử dụng phương pháp khái quát hóa rót ra những kết luận cần thiết từ những biểu hiện cơ thể.

    B. Phần nội dung:

    I. Vài nét khái quát về tác phẩm Truyện Kiều

    1.     Vị trí.

    Trong đời sống nhân dân Việt nam, “Truyện Kiều” chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Nhiều nhân vật trong “Truyện Kiều” đã trở thành những mẫu người trong xã hội cũ, mang những tính cách tiêu biểu như: Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải..và đều đi vào thành ngữ Việt nam. Khả năng khái quát của nhiều cảnh tình, ngôn ngữ trong tác phẩm khiến cho quần chúng tìm đến “Truyện Kiều”, như tìm đến một điều dự báo. Bãi Kiều rất phổ biến trong quần chúng ngày xưa. Ca nhạc dân gian có dạng: lẩy Kiều, sân khấu dân gian có trò Kiều, tụng kiều, cải lương Kiều. Hội họa có nhiều tranh Kiều. Thơ vịnh Kiều nhiều không kể xiết. Giai thoại xung quanh cũng

    rất phong phú. Nhiều câu, nhiều ngữ trong “Truyện Kiều” đã lẫn vào kho tàng ca dao, tục ngữ. Từ x­a đến nay, “Truyện Kiều” đã là đề tài cho nhiều công trình nghiên cứu, bình luận và những cuộc bút chiến. Ngay khi Truyện Kiều được công bố( đầu thỊ kû XIX) ở nhiều trường học của các nho sĩ, nhiều văn đàn, thi xã đã có trao đổi về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Đầu thỊ kû XX, cuộc tranh luận về “Truyện Kiều” càng sôi nổi, quan trọng nhất là cuộc phê phán của các nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng phản đối phong trào cổ xúy “Truyện Kiều” do Phạm Quỳnh đề xướng (1924).

    Chính vì “Truyện Kiều” có vị trí quan trọng như vậy nên nó đã đạt được nhiều kỉ lục của thế giới và trong nước: 5 kỉ lục thế giới; 7 lØ lục Việt Nam.

    • kỷ lục thế giới

    1.Truyện Kiều là quyển sách duy nhất trên thế giới có được hiện tượng chắp nhặt những câu thơ ở các chỗ khác nhau để thành nhiều bài thơ mới.

    1. Là thi phẩm dài có nhiều bản dịch nhất ra cùng một ngoại ngữ.
    1. Là thi phẩm có nhiều người viết về phần tiếp theo nhất trên thế giới.
    1. Là cuốn sách duy nhất trên thế giới mà người ta có thể đọc ngược từ cuối lên đến đầu.
    1. Cuốn sách duy nhất trên thế giới tạo ra quanh nó cả một loạt những loại hình văn hoá.
    • kỷ lục Việt Nam.

     

    1. Là tác phẩm đã đưa một nhà thơ lên hàng danh nhân văn hoá thế giới.
    1. Là cuốn sách duy nhất không phải viết ra để bói mà người dân vẫn dùng bói, được ông Phạm Đan Quế trình bày riêng thành quyển: Bói Kiều như một nét văn hoá.
    1. Là quyển sách có được hiện tượng vịnh Kiều với hàng ngàn bài thơ vịnh.
    1. Bộ phim đầu tiên của Việt Nam ra đời năm 1924 tại Hà Nội mang tên Kim Vân Kiều.
    1. Thi phẩm có sách đề cập đến nhiều nhất với hàng trăm cuốn.
    1. Là quyển sách gây nhiều giai thoại nhất.
    1. Là cuốn sách được viết và đóng thành Truyện Kiều độc bản bằng chữ quốc ngữ nặng nhất ở VN do nhà thư pháp Nguyễn Đình thực hiện, nặng 50kg, trên khổ giấy 1m x 1,6m, hiện trưng bày tại Khu di tích Nguyễn Du huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
    • Năm 1965 Nguyễn Du chính thức được nhà nước làm lÔ kû niệm, Hội đồng hoà bình thế giới ghi tên ông trong danh sách những nhà văn hóa thế giới.

    2/ Nguồn gốc Truyện Kiều.

    Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được bản gốc “Truyện Kiều” viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Du. Tuy nhiên, họ đã tìm ra được rất nhiều bản dịch ở các thời điểm khác nhau của “Truyện Kiều”. Tất cả các nhà nghiên cứu đều cho rằng Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân- một tác giả Trung Quốc sống ở thỊ kû XV. Từ một tác phẩm văn xuôi chữ Hán, viết theo kiểu tiểu thuyết chương hồi, từ một câu chuyện tình bình thường, bằng tài năng nghệ thuật, qua lăng kính của người nghệ sĩ tài hoa, Nguyễn Du đã biến tác phẩm ấy trở thành một “Thiên cổ tình thư”. Ban đầu ông đặt tên cho nó là “Đoạn trường tân thanh”, sau này người ta quen gọi là “Truyện Kiều”.

    Có nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu về Truyện Kiều cho biết số lượng câu trong Truyện Kiều có bản là 3260 câu, có bản là 3259 câu. Trong chuyên đề này chúng ta theo SGK ngữ văn 9 : Truyện Kiều gồm 3254 câu(Vì chưa tìm được bản gốc nên chưa xác định được cụ thể, chính xác).

    3/ Giá trị của Truyện Kiều.

    Truyện Kiều đạt đến đỉnh cao cả về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật.

    Về giá trị nội dung: “Truyện Kiều” có hai giá trị lớn: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. “Truyện KØÒu” là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người nh­kh¸t vọng về quyền sống, khát vọng tự do công lý…

    Về giá trị nghệ thuật “Truyện Kiều” rất phong phú, xong đặc sắc nhất là ở hai phương diện chủ yếu:

    • Nghệ thuật ngôn ngữ: ngôn ngữ “Truyện Kiều” đạt đến mức trong sáng mẫu mực. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn hai tác phẩm ngôn ngữ: ngôn ngữ bình dân – ngôn ngữ ca dao, tục ngữ lời ăn tiếng nói của người dân; ngôn ngữ bác học mà chủ yếu là những lời Hán Việt mang đến cho “Truyện Kiều” thứ ngôn ngữ vừa hàm xúc, vừa trang nhã, vừa giản dị mà vẫn đẹp đẽ, giầu hình ảnh nhạc điệu. Vì thế người ta gọi “Truyện Kiều” là

    tòa lâu đài ngôn ngữ thơ ca” được kết lên từ những viên ngọc lấp lánh sáng trong.

    • Nghệ thuật miêu tả và xây dựng nhân vật: ở lĩnh vực này Nguyễn Du thành công ở tất cả các bút pháp (tả cảnh, tả tình, tả người). Ông được mệnh danh là một thiên tài bậc thầy của nền văn học dân tộc.

    II/ Vài nét về nghệ thuËt miêu tả trong Truyện Kiều Nguyễn Du.

    1. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên. 1- Miêu tả thiên nhiên trực tiếp.

    Nghệ thuật tả thiên nhiên của Nguyễn Du tuyệt vời đến nỗi giáo sư Nghiêm Toàn đã có nhận định như sau: “ Trong Đoạn trường tân thanh luôn luôn có những bức tranh nho nhá nh­ những hạt kim cương rải rác đính trên một tÂm thêu nhung” (Việt Nam Văn học sử trích yếu). Điều đó đã được thể hiện cụ thể rất rõ qua mỗi đoạn trích “Truyện Kiều” trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn 9 THCS.

     

    Hãy xem một cảnh xuân tươi mát trên đồng quê qua ngòi bút miêu tả thiên nhiên trực tiếp :

    “Ngày xuân con én đưa thoi,

    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

    Cá non xanh tận chân trời,

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

    (Cảnh ngày xuân )

    Bốn câu thơ trên Nguyễn Du đã mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc,

    hữu hương, nên thơ. Giữa bầu trời bao la, mªng mông là những cánh én bay qua bay lại như thoi đưa. Cánh én ngày xuân thân mật biết bao. Hai chữ “đưa thoi” rất gợi hình, gợi cảm. Nhà thơ miêu tả cánh én như con thoi vót qua, vót lại chao liệng như muốn nói thời gian đang trôi nhanh, mùa xuân đang trôi nhanh, ngày vui trôi rất nhanh.

    Sau cánh én “ đưa thoi” là ánh xuân, là “thiều quang” của mùa xuân khi mùa xuân đã bước sang tháng thứ ba. Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của các thi nhân xưa nay thật là hay và ý vị. Trong thơ cổ, nào là “ xuân hướng lão”, “xuân đã muộn”(Nguyễn Trãi). Sau này, trong các tác phẩm hiện đại của các thi nhân lãng mạn cũng đã xuất hiện nhiều hình ảnh thời gian nghệ thuật: Xuân Diệu có “ xuân hồng”, Hàn Mặc Tư có “ mùa xuân chín”, Nguyễn Bính có “ xuân xanh”. Với Nguyễn Du thì “thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” lúc này là cuối xuân, gợi cái đậm của sức xuân. ánh sáng của mùa xuân rực rỡ, ấm áp làm cho bức tranh mùa xuân thêm trong trẻo, tươi sáng.

    Nếu hai câu thơ trên là thời gian, không gian xuân thoáng đạt, thì hai câu dưới là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân:

    Cá non xanh tận chân trời,

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

    Vần cổ thi Trung Hoa được Tố Như vận dụng một cách sáng tạo:

    Phương thảo liên thiên bích

     

    Lê chi sổ điểm hoa”.

    Hai chữ “trắng điểm” là “nhãn tự”, cách chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ đẹp trong sáng tinh khôi của thiên nhiên cỏ hoa. Bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: thảm cá xanh m­ít bao la, trải rộng tới chân trời là gam màu nền cho bức tranh xuân. Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng tinh. Chỉ có hai màu xanh và trắng như nỗi thanh khiết của tâm hồn chị em Thúy Kiều đi dự lễ thanh minh. ở đây, cũng cần để ý tới lối đảo chữ tài tình của Nguyễn Du. Thay vì “Cành lê điểm một vài bông hoa trắng” thì Nguyễn Du đã viết: “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Có thể Nguyễn Du phải đảo chữ vì tôn trọng luật bằng, trắc trong thơ lục bát, nhưng phải công nhận đó là một lối đảo chữ tài tình mà không phải ai cũng làm được. Thật là một bức tranh màu sắc thanh nhã, hài hòa đến tuyệt diệu.

    Chỉ bằng hai mươi tư tiếng, Nguyễn Du đã phác họa lên trước mắt người đọc bức tranh mùa xuân có cả chiều cao, chiều rộng, mới mẻ, giàu sức sống. Đây là bức tranh xuân hoa lệ, là những vần thơ tuyệt bút mà Nguyễn Du trao tặng cho đời. 1.2. Tả cảnh ngô tình

    Với bút pháp này, đại thi hào Nguyễn Du được coi là điêu luyện, tuyệt bút. Nghệ thuật tả cảnh ngô tình của ông được người đời sau khen ngợi như “máu chảy ở đầu ngọn bút” và “thÊu nghìn đời”.

    Trong Truyện Kiều, cảnh vật bao giờ cũng bao hàm nỗi niềm tâm sự của nhân vật ẩn chứa trong đó. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” Nguyễn Du miêu tả cảnh chị em Thúy Kiều đi du xuân trở về khi chiều vừa ngả bóng hoàng hôn :

    Tà tà bóng ngả về tây,

    Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

    Bước lần theo ngọn tiểu khê,

    Lần xem phong cảnh có bỊ thanh thanh.

    Nao nao dòng nước uốn quanh,

    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghÌnh bắc ngang”.

    Nguyễn Du đã sử dụng lối dùng chữ trang nhã, bình dân trong tả cảnh. Bức tranh không còn tươi rãi, tinh khôi nữa mà cảnh được nhân hóa một cách tự nhiên nên dường như nhuốm màu tâm trạng. Hai chữ “tà tà” chỉ một hành động chậm rãi, có thể là chị em Thúy Kiều thong thả bước chân ra về “thơ thẩn” không có gì là vội vã, mà cũng có thể chỉ sự xuống chầm chậm của mặt trời chiều. Cảnh chuyển động nhẹ nhàng, thanh dịu. Cái không khí rộn ràng không còn nữa mà đang nhạt dần, lặng dần. Nguyễn Du thật khéo khi miêu tả thiên nhiên, vẫn cây cầu nhỏ, khe nước nhỏ, vẫn cái thanh, cái dịu của mùa xuân, nhưng ông đã tả chóng dưới góc nhìn khác nhau, một thời điểm khác, nên giữa cảnh và tình có sự giao hòa đồng điệu.

    Chúng ta đều biết: “nao nao” là từ láy diễn tả tâm trạng con người nhưng ở đây, Nguyễn Du lại dùng để chỉ dòng nước: “nao nao dòng nước uốn quanh”. Cảm giác về một ngày vui đang còn mà đã linh cảm thấy một điều gì đó không bình thường sắp xuất hiện, như dự báo về cảnh và người sắp gặp: nÊm mé Đạm Tiên và chàng Kim Trọng mà đây là những nốt nhạc dạo đầu.

    Các từ láy: tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ có giá trị gợi hình, gợi cảm cao. Cảnh được Nguyễn Du nhìn nhận qua tâm trạng xao xuyến, bâng khuâng, man mác một nỗi buồn vô cớ của chị em Thúy Kiều trên đường trở về sau một ngày du xuân.

    Nhiều khi, Nguyễn Du phô diễn lối tả cảnh tượng trưng. Nghĩa là chỉ bằng một vài nét chấm phá, thành nghệ thuật đã đạt đến mức uyển chuyển, tinh tế. Điều đó đã được thÓ hiện rõ nét trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”:

    “ Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân, Vẻ non xa tÂm trăng gần ở chung.

    Bốn bề bát ngát xa trông,

    Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

    Nửa tình nửa cảnh như chia tÂm lòng”

    Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã hơn một lần dùng từ “khóa xuân”(Một nền đồng tước khóa xuân hai Kiều). Từ “khóa xuân” trong hai câu thơ này lại mang một hàm ý mỉa mai. Thực chất là Kiều bị giam lỏng. ở trên lầu cao, với nỗi buồn vô vọng, nàng muốn kéo thiên nhiên lại gần để cùng trò chuyện, tâm sự “Vẻ non xa, tÂm trăng gần ở chung”. Hình ảnh thơ đã được Nguyễn Du miêu tả trái với quy luật tự nhiên, thực ra “non” phải ở gần “trăng” phải ở xa. Tuy nhiên, lại phù hợp với quy luật của cảm giác, vì những gì phát sáng ta cảm thấy nó ở gần hơn. Đó chính là sự cảm nhận tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm, là tài năng miêu tả thiên tài của Nguyễn Du.

    Kiều nhìn xung quanh, bốn bề bát ngát, mênh mông, trải dài ngót tầm mắt, với những “cát vàng”, “bụi hồng”, kéo dài ngàn dặm xa. Trong cảnh có màu vàng của trăng, của cát, màu xanh của nói, của biển, của trời, màu hồng của bôi. Cảnh trước lầu Ngưng Bích đẹp như một bức tranh sơn mài diễm lệ. Có mảng sáng, mảng tối, có cao, có thấp, các gam màu nóng tạo cho bức tranh phong cảnh đẹp rực rỡ. Tuy nhiên, qua các chỉ từ “nọ”, “kia” chỉ vị trí không gian không xác định, và các tính từ “xa”, “gần”chỉ khoảng cách giữa các vật. Ta thấy cảnh vật tuy đẹp nhưng không quần tụ, tách rời nhau như sự bối rối, ngổn ngang trăm nỗi trong lòng của cô gái họ Vương.

    Trước lầu Ngưng Bích, Thúy Kiều cảm thấy “bẽ bàng”, tủi hổ ª chỊ mỗi khi ngắm nhìn “mây sớm”, hay khi ngồi bên ngọn “đèn khuya”. Cảnh thiên nhiên đẹp nhưng Thúy Kiều không có tâm trạng nào để ngắm cảnh. Cho nên “Nửa tình nửa cảnh như chia tÂm lòng” là như vậy.

    Nhìn chung, cảnh thiên nhiên mênh mông, vắng lặng, trơ trọi, rợn ngợp ở lầu Ngưng Bích là để làm nổi bật tâm trạng, nỗi buồn, niềm cô đơn sầu tủi của nàng Kiều. Chính Nguyễn Du đã từng thú nhận sự chủ quan của mình trong lúc tả cảnh qua câu thơ:

    “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

    Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.”

    Trong khuynh hướng tả cảnh ngô tình, nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du vượt khác hẳn các thi nhân khác, kể cả những thi sĩ Tây Phương – vốn rất thiện nghệ trong lối tả cảnh ngô tình. Trong khi các thi sĩ này chỉ đi một chiều, nghĩa là chỉ tín những cảnh nào phù hợp với tâm trạng của con người thì mới ghi vào, còn Nguyễn Du thì vừa đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh tạo nên một sự giao hòa tuyệt vời hai chiều giữa cảnh và người. Giữa cái vô tri và cái tâm thức để tuy hai mà một, tuy một mà hai.

    Tám câu thơ cuối trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là tám câu thơ tuyệt bút. Nó không chỉ là bức tranh ngoại cảnh mà còn là một bức tranh tâm cảnh. Mỗi cảnh vật là một tâm trạng khác nhau của Kiều:

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là vÌ đâu?

    Buồn trông nội cỏ dầu dầu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”.

    Nhìn ra phía xa xa nơi “cửa bể chiều hôm”, nàng cảm thấy nhớ quê hương, nhớ nhà da diết. Không biết đến bao giờ nàng mới được trở về quê hương yêu dấu, nơi có bao người thân của nàng. Nguyễn Du đã vận dụng thời gian nghệ thuật trong văn thơ cổ, “chiều hôm” đó là buổi chiều tà, lúc hoàng hôn buông xuống, thời gian này thường gợi lên ý niệm nhớ nhung, hoài niệm hoặc tàn tạ, thê lương, là khoảng thời gian gợi buồn. Hình ảnh này ta đã bắt gặp trong ca dao:

    “Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”

     

    Cùng thời với Nguyễn Du, bà huyện Thanh Quan chỉ để lại khoảng sáu bài thơ nhưng trong đó có tới ba bài bà miêu tả thiên nhiên vào lúc chiều tà phù hợp với tâm trạng cô đơn nhớ nhà, thương nước , lẻ loi của bà như: “bóng tịch dương” – (Thăng Long thành hoài cổ); “bóng xế tà”- (Qua Đèo Ngang); “bóng hoàng hôn”-(Chiều hôm nhớ nhà). Đã hơn một lần Nguyễn Du sử dụng mô típ này như: “tà tà” trong (Tà tà bóng ngả về tây– Cảnh ngày xuân) để miêu tả tâm trạng bâng khuâng, nuối tiếc của chị em Thúy Kiều khi đi du xuân trở về.

    Trong bức tranh thứ nhất này, có thuyền, có người nhưng thuyền chỉ ở “thấp thoáng” nơi “xa xa”, không ở gần để xẻ chia tâm sự với nàng.

    Nhìn lên “ngọn nước mới sa” cánh hoa trôi nổi trên dòng nước, không biết sẽ về đâu. Thúy Kiều liên tưởng đến số phận của nàng sau này không biết sẽ thế nào. Thành ngữ “bèo dạt mây trôi” được Nguyễn Du vận dụng rất khéo léo, sáng tạo làm tăng ấn tượng về sự long đong, vô định của sự vật được miêu tả. ở đây là của Thúy Kiều hay là số phận chung của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến x­a.

    Nhìn xuống mặt đất, nơi “nội cỏ dầu dầu”. Nội cỏ chứa đầy tâm trạng. Không phải là: “cá xanh như khói bến xuân tươi” (Nguyễn Trãi); cũng không phải là: “Sóng cá xanh tươi gợn đến trời” (Hàn Mặc Tư). Nguyễn Du rất tài hoa khi miêu tả sự vật này. Trong mỗi cảnh, mỗi tình thì ngọn cỏ lại khác nhau: khi chị em Thúy Kiều náo nức đi chơi xuân thì “Cá non xanh tận chân trời”; khi gặp mé Đạm Tiên – một cô ca kĩ “hồng nhan bạc mệnh” thì ngọn cỏ lại “nửa vàng, nửa xanh”. Còn ở đây thì ngọn cỏ lại “dầu dầu” trải dài đến tận chân trời, tạo cảm giác rợn ngợp, tăng thêm sự lạnh lẽo, nhỏ bé, hiu quạnh và cô đơn của Thúy Kiều nơi đất khách quê người. Cảnh chứa đựng một nỗi buồn vô vọng.

    Nhìn xung quanh: “một cơn gió cuốn trên mặt duềnh” với tiếng sóng “ầm ầm”, “kêu” quanh ghế ngồi. Nghệ thuật nhân hóa sóng “kêu” chứ không phải sóng vỗ bê, xô bê, … Đó là tiếng gào thét điên khùng của sóng gió biển khơi đang thình lình nổi bão tố phong ba, nhưng cũng chính là tiếng thét gào nổi loạn và tuyệt vọng trong mặc cảm cô đơn thăng hoa cảm hứng nghệ sáng tạo của Vương Thúy Kiều, nàng Kiều trong mắt bão, trước phong ba. Phần nào, Kiều đã linh cảm thấy số phận long đong, phiêu dạt “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” mà nàng sắp phải trải qua.

    Điệp ngữ liên hoàn “buồn trông” được điệp lại bốn lần ở đầu các câu lục, nhằm nhấn mạnh nỗi buồn nhiều vẻ của Thúy Kiều. Bốn cảnh vật là bốn nỗi buồn khác nhau của nàng. Nỗi buồn bủa vây tứ phía không cho nàng lối thoát: nhìn ra xa nơi cửa bể; nhìn lên trên nơi ngọn nước mới sa; nhìn xuống dưới nơi nội cỏ dầu dầu; nhìn xung quanh với ầm ầm tiếng sóng kêu. Nguyễn Du đã theo sát từng bước chân của Kiều. Ông đã nhìn cảnh vật bằng chính cái nhìn của Kiều. Phủ lên cảnh

    vật bằng chính tâm trạng của Kiều. Chính vì vậy, ông đã được mệnh danh là nghệ sĩ bậc thầy về miêu tả thiên nhiên và tâm lÝ nhân vật. Ông đã dành cho nhân vật của mình sự cảm thông sâu sắc.

    Tóm lại, nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du thật phong phó, sinh động. Nghệ thuật ấy chẳng khác gì vẽ một bức tranh thủy mặc, nhiều khi chỉ một ánh hoàng hôn, một ánh trăng, một thảm cỏ, một bông hoa, một dòng nước chảy…cũng thành nhạc, thành thơ. Sự hòa phối màu sắc và cách sắp xếp cảnh vật gần – xa thật tài tình đã đủ lôi cuốn tâm hồn người đọc hòa chung vào cảnh vật. Một điều không thể chối cãi là Nguyễn Du rất yêu cảnh thiên nhiên nên đã thổi vào thiên nhiên một “hồn người” khiến cho không ai đọc thơ tả cảnh thiên nhiên của ông mà không bồi hồi tấc dạ. Giá trị văn chương tả cảnh của Nguyễn Du đã đạt tới mức tinh diệu. Chỉ riêng lĩnh vực tả cảnh không thôi, cũng đủ để Truyện Kiều xứng đáng là một tác phẩm văn chương hay nhất trong kho tàng văn học nước nhà. Học giả Đào Duy Anh nhận xét về “Truyện Kiều”: “Chúng ta sở dĩ yêu chuộng Truyện Kiều không phải nó có thể làm quyển sách luân lÝ cho đời, mà chỉ vì trong sách ấy, Nguyễn Du đã dùng những lời văn kì diệu để làm rung động hồn ta” (Khảo luận về Kim Vân Kiều).

    2.                 Nghệ thuật miêu tả nhân vật.

    Nhìn chung, Nguyễn Du đã xây dựng nhân vật của mình theo phương pháp truyền thống: chia nhân vật thành hai tuyến chính diện và phản diện. Nhân vật chính diện được miêu tả theo lối lý tưởng hóa, bằng phương pháp ước lệ tượng trưng. Còn nhân vật phản diện lại được khắc họa theo lối tả thực. Mỗi người đều đạt đến sự điển hình hóa cao độ. Vì thế nhiều nhân vật trong tác phẩm “Truyện Kiều” đã bước ra từ trong trang sách để sống với cuộc đời thực, trở thành chuẩn mực để người ta đánh giá con người. Dưới đây, tôi sẽ đề cập đến một số nghệ thuật miêu tả nhân vật theo hai tuyến như trên.

    2.1. Miêu tả nhân vật bằng bút pháp ước lệ tượng trưng.

    Trong văn thơ cổ người ta thường dùng các chuẩn mực có sẵn, có tính qui phạm, chữ nghĩa khuôn mẫu, dùng những hình ảnh thiên nhiên để miêu tả ngoại hình nhân vật. Những hình ảnh thiên nhiên này thường tượng trưng cho sự thanh cao, quý phái. Thông thường, người xưa lấy tứ quÝ về vật: Long – Ly – Qui – Phượng . Về cây : Tùng – Cúc – Trúc – Mai. VÌ người: Ngư – Tiều – Canh – Mục. Đối với Nguyễn Du ông đã vượt qua tính khuôn mẫu có sẵn, vận dụng sáng tạo hệ thống hình ảnh thiên nhiên vào tác phẩm của mình. Tiêu biểu trong các đoạn trích học ở THCS bút pháp ước lệ tượng trưng được Nguyễn Du vận dụng miêu tả nhân vật Thúy Kiều, Thúy Vân (Chị em Thúy Kiều); Chuyên đề này, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm hai nhân vật mà Nguyễn Du yêu mến nữa là Từ Hải và Kim Trọng.

    Trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều Nguyễn Du đã vận dụng triệt để bút pháp này để khắc họa vẻ đẹp toàn thiện, toàn mĩ trong cốt cách và trong phẩm cách của hai chị em:

    “Đầu lòng hai ¶ Tố Nga,

    Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.

    Mai cốt cách tuyết tinh thần,

    Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

    Tác giả miêu tả khái quát vẻ đẹp chung của hai chị em. Cả hai nàng đều rất xinh đẹp như “Tố nga”. Nhà thơ đã dùng hai hình ảnh “mai” để tượng trưng cho cốt cách thanh cao, dịu dàng. Hình ảnh“tuyết” tượng trưng cho sự trắng trong về tinh thần của họ. Cả hai đÌu có một vẻ đẹp hoàn hảo “mười phân vẹn mười”. Tuy nhiên ở mỗi người lại có một vẻ đẹp khác nhau.

    Khi giới thiệu hai cô gái, Nguyễn Du giới thiệu người chị “Thúy Kiều.” trước, cô em “Thúy Vân” sau theo trật tự lễ nghi phong kiến. Nhưng đây là chân dung nghệ thuật nên sau lời giới thiệu chung về hai chị em thì tác giả lại miêu tả Thúy Vân trước Thúy Kiều. Bởi đối với chân dung nghệ thuật, vấn đề hàng đầu là đường nét, màu sắc đậm hay nhạt, nổi bật hay lu mờ.

    Ân tượng bao trùm khi đọc các câu thơ miêu tả Thúy Vân là một vẻ đẹp hài hòa, cân đối:

    Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

    Thúy Vân có một vẻ đẹp trang trọng “ khác vời”, một vẻ đẹp quý phái, tướng của một mÔnh phụ phu nhân. Khuôn mặt nàng “khuôn trăng” đầy đặn tươi sáng như trăng rằm. Lông mày của nàng “nở nang”, thanh tú như “mày ngài”. Miệng nàng cười tươi xinh như hoa, một nụ cười duyên dáng. Miêu tả nụ cười này chúng ta cũng đã bắt gặp trong ca dao: “Miệng cười như thể hoa ngâu”, đó là một nét duyên thầm của người phụ nữ. Lời nói của nàng trong trẻo như tiếng ngọc “ngọc thốt”, một lời nói có chất lượng, có giá trị, đúng mực, vừa lòng người nghe. Thật khó có thể thay từ “ thốt” bằng một tị nào khác. Cử chỉ đoan trang, dịu dàng, hiền thục. Tác giả đã sử dụng từ ngữ đặc tả để miêu tả mái tóc của nàng “nước” tóc chứ không phải là “màu” tóc. Từ “nước” chỉ mái tóc suôn, mềm, óng ¶, mượt mà, chảy dài. “Mây” đã mềm nhưng vẫn phải thua “nước” tóc của Thúy Vân. “Tuyết” đã trắng, mịn màng nhưng vẫn phảinhường” màu da của nàng.

    Tác giả miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân rất chi tiết cụ thể từ: khuôn mặt, lông

    mày, miệng cười, nước tóc, màu da. Với hàng loạt các ẩn dụ tươi sáng: trăng, hoa,

     

    ngọc, mây, nước để chỉ người con gái đẹp. Chỉ bằng hai từ thua nhường cho thấy Thúy Vân không chỉ có một vẻ đẹp tươi tắn trẻ trung mà còn kiều diễm, phúc hậu, đoan trang, dự báo trước cuộc đời của Thúy Vân suôn sẻ, hạnh phúc đang mỉm cười dang tay chào đón nàng.

    Miêu tả vẻ đẹp Thúy Vân trước để làm đòn bẩy miêu tả vẻ đẹp Thúy Kiều. Thúy Kiều có vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà”, một vẻ đẹp tiềm ẩn vào bên trong,

    rất nữ tính. Chứng tỏ Kiều có một tâm hồn rất phong phú, nhạy cảm. Miêu tả Thúy Vân tác giả không miêu tả về tài. Còn về Thúy Kiều Nguyễn Du miêu tả cả “tài” và “sắc” cái gì cũng hơn Thúy Vân: “lại là phần hơn”.

    Thúy Kiều tác giả không miêu tả cụ thể, chi tiết như Thúy Vân mà chấm phá theo kiểu “điểm nhãn”, cốt nổi bật cái thần của vẻ đẹp Thúy Kiều, tập trung vào đôi mắt:

    Làn thu thủy nét xuân sơn,

    Hoa ghen thua thắm liễu hên kém xanh.”

    “Thu Thủy” (nước hồ mùa thu) tả vẻ đẹp đôi mắt của Thúy Kiều trong sáng, thăm thẳm, mơ màng, huyền diệu, dợn sóng như nước mùa thu có sức cuốn hút mạnh mẽ. Đôi mắt của nàng thể hiện sự tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Nhưng sâu thẳm bên trong đôi mắt ấy, ta vẫn thấy ẩn chứa trong đó một nỗi buồn mênh mang. Chính vì vậy, trong một câu thơ khác Nguyễn Du đã viết:

    “Anh hoa phát tiết ra ngoài,

    Tiếc công cha mẹ thiệt đời thông minh’’.

    “Xuân sơn” (dáng nói mùa xuân) đôi lông mày của nàng thanh tú trên gương mặt trẻ trung tràn đầy sức sống, càng thêm cái hài hòa kiều diễm của một trang tuyệt sắc giai nhân.

    Thúy Kiều đẹp hơn cả những gì thiên nhiên ban tặng khiến cho “hoa” phải “ghen” vì “thua” vẻ đằm thắm, xinh tươi của nàng;“liễu” phải “hờn” vì kém vẻ duyên dáng, tràn đầy sức sống của nàng. Thúy Kiều hiện lên là một cô gái có dung nhan rực rỡ, có hồn. Có những vẻ vẻ đẹp vô hồn chỉ có nhan sắc, còn riêng Thúy Kiều sắc đẹp của nàng càng làm đẹp thêm cho tâm hồn, trí tuệ. Chính vì vẻ đẹp ấy làm cho Thúy Kiều có sức quyến rũ lạ kỳ. Trời xanh đã ban cho nàng vẻ đẹp cả về tài và sắc thì trời xanh sẽ lại vùi dập nàng, bởi vì trời kia: “đâu có thiên vị người nào chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai”. Một lần nữa cho ta thấy tài miêu tả của Nguyễn Du trong việc sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, chỉ là miêu tả chân dung nhưng lại dự báo được cả số phận nhân vật.

    Tác giả đã dùng những hình tượng thiên nhiên có vẻ đẹp đặc biệt , trong trắng, rực rỡ, vững bền như: tuyết- mai, trăng – hoa, mây – tuyết, thu thủy – xuân

     

    sơn, hoa – liễu… thể hiện bút pháp cực tả tuyệt đối hóa, lÝ tưởng hóa nhan sắc, cốt cách của hai chị em Thúy Kiều.

    Kim Trọng là một trong những nhân vật mà Nguyễn Du yêu mến. Khi miêu tả nhân vật này, khác với Mã Giám Sinh ông giới thiệu đầy đủ họ tên, gia thế, địa vị, học thức vẫn dùng nghệ thuật ước lệ tượng trưng:

    Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.

    Nền phó hậu bậc tài danh,

    Văn chương nỊt đất thông minh tính trời

    Phong tư tài mạo tót vời,

    Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.

    Nguyễn Du đã dành cho chàng những ngôn ngữ đẹp nhất, trang trọng nhất, những tình cảm ưu ái nhất khi nói về chàng. Chàng không những là người phong nhã, thanh lịch mà còn có một xuất thân quyền quý “nhà trâm anh, “nền phó hậu”, một người có sự phó bÈm rộng rãi của tạo hóa, sự phong phó về tài hoa, về trí tuệ. Phong tư tài mạo cũng như trong ứng xử tuyệt vời của chàng. Chàng được xây dựng như một người mẫu lý tưởng.

    Nhân vật Từ Hải xuất hiện trước mắt Thúy Kiều và mọi người với tầm vóc và dung mạo khác thường:

    Râu hùm hàm én mày ngài,

    Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.

    Ngôn ngữ miêu tả ngoại hình ở đây cũng không vượt ra ngoài tính chất công thức ước lệ, với những chi tiết đã được quan niệm thẩm mü phong kiến quy định cho kiểu nhân vật anh hùng. Nguyễn Du đã khắc họa nhân vật bằng những nét khỏe mạnh cao lớn, đường bệ, lẫm liệt đã nói lên vẻ phi phàm, vẻ khác người của Từ Hải:

    Đường đương một đấng anh hào,

    Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.”

    Vẻ đẹp của Từ Hải được Nguyễn Du miêu tả với những từ tôn xưng: đấng anh hào, những từ có khi mạnh mẽ: đường đường, hơn sức, gồm tài, đội trời, đạp đất, vẫy vùng

    Cũng như Kim Trọng, Từ Hải thiên về tính chất lÝ tưởng bởi chí khí, tài năng, kì tích phi thường của chàng. Nhưng bên cạnh bót pháp tả người mang ít nhiều tính ước lệ, công thức, hình tượng Từ Hải còn phảng phất tính sử thi. Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ có giá trị tôn vinh, nhịp điệu câu thơ mạnh mẽ khắc họa được đặc điểm phi thường cao đẹp trong phẩm cách lÝ tưởng, sự xuất chúng và một tâm hồn tình người bình dị của Từ Hải. Từ Hải chính là nhân vật lÝ tưởng cho

    khát khao ước mơ của Nguyễn Du về công bằng, tự do. Chàng chính là ánh sao băng rực sáng trên bầu trời đen tối.

    Nói tóm lại, cũng là bút pháp ước lệ tượng trưng nhưng ở mỗi nhân vật lại có những nét khác biệt trong tính cách: Thúy Vân đoan trang, phúc hâu; Thúy Kiều sắc sảo, mặn mà; Kim Trọng hào hoa, phong nhã; Từ Hải anh hùng, phi thường. Tất cả những nhân vật chính diện này Nguyễn Du đều dành cho họ những tình cảm trân trọng, quý mến, ông dùng những từ ngữ đẹp đẽ nhất để ca ngợi họ.

    2.2. Miêu tả nhân vật bằng bót pháp tả thực:

    Bút pháp này được sử dụng cho những nhân vật phản diện, đó là những nét vẽ chân thực, sinh động có tính cá thể, tạo nên những diện mạo đặc sắc: Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà, Hoạn Thư là những nhân vật tiêu biểu.

    Con người họ Mã là nhân vật phản diện xuất hiện trên chặng đường “Tai biến” của Thúy Kiều. Mã Giám Sinh tìm đến nhà Kiều với tư cách người giàu đi hỏi vợ thiếp. Đó là một sự việc bình thường trong xã hội xưa kia. Tuy nhiên, quá trình biến diễn cuộc mua bán là một quá trình bộc lộ logic tính cách của nhân vật hạ lưu và khả è này. Nguyễn Du không có lời lÊ trực tiếp bình luận đánh giá về nhân vật Mã Giám Sinh nhưng bằng ngôn ngữ nghệ thuật trực diện – Nguyễn Du để nhân vật dần dần bộc lộ bản chất con buôn qua quá trình mua bán. Mã Giám Sinh thuộc loại lái buôn đặc biệt nhất và dã man tàn bạo nhất, bởi loại người này buôn bán thể xác phụ nữ để “Đem về tiếp khách kiếm lời mà ăn.

    Trước hết, là việc tìm hiểu về lai lịch của kẻ mang danh đi hỏi vợ. Thông qua ngôn ngữ nói khi hắn đến làm lÔ vấn danh, hắn được giới thiệu là người “viễn khách” (khách ở xa). Lúc ra mắt thì hắn lại trả lời:

    Hỏi tên, rằng:Mã Giám Sinh,

    Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.

    Về lai lịch của Mã Giám Sinh thì chúng ta chỉ biết hắn họ Mã, còn “giám sinh” là học sinh trường Quốc Tư Giám hay là một chức quan trong triều đình x­a. Cách trả lời về tên của hắn mập mờ không rõ ràng, chúng ta thấy được sự mờ ám trong đó. Hắn ở “Lâm Tri” mà lại nói ở “Lâm Thanh” cũng gần. Không đàng hoàng trong cách trả lời, chúng ta còn thấy hắn là một kẻ lừa dối. Không chỉ có thỊ, lời ăn tiếng nói của hắn xấc xược, hỗn hào, cộc lốc, kém văn hóa. Đó không phải là con người tao nhã đi hỏi vợ. Nhưng có lúc con người này lại nói năng hoa mü, nhỏ nhẹ, ấy là lúc hắn đã hài lòng về món hàng ( Thúy Kiều):

    Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều,

    Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”.

    Trong cách miêu tả lêi ăn tiếng nói của Mã Giám Sinh, Nguyễn Du đã bộc lộ hàm ý mỉa mai, sự lịch thiệp của hắn chỉ là giả tạo nhằm che đậy mục đích xấu xa.

    Ngòi bút hiện thực còn được tác giả sử dụng khi miêu tả ngoại hình, diện mạo của tên họ Mã:

    Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

    Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”.

    Cách phục sức của hắn cố làm ra vẻ phong lưu lịch sự, nhưng bên trong đó đã phảng phất tính giả tạo có phần trai lơ, đàng điếm. Miêu tả ngoại hình anh chàng họ Mã nhưng không xác định được chính xác về dung mạo như Kim Trọng và Từ Hải. Miêu tả về Kim Trọng ông đã dùng những từ ngữ thật chính xác, ưu ái:

    Phong tư tài mạo tót vời,

    Râu hùm, hàm én, mày ngài

    Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”.

    Tác giả chỉ chú trọng miêu tả phục sức bề ngoài già mà cố tô cho thành trẻ, là con buôn nhưng lại mượn vẻ phong lưu của một công tư hào hoa đi hỏi vợ. Những từ “nhẵn nhơi, bảnh bao” dùng với hàm ý chế giễu mỉa mai, gợi lên một cái gì đó không lương thiện. Còn trong “Kim Vân Kiều truyện” Thanh Tâm Tài Nhân chỉ giới thiệu qua nhưng là một lời miêu tả khá ưu đãi với Mã Giám Sinh; “Mô Hàm nói xong đi ra, hồi lâu đưa mấy người đến, trong bọn có một người đẹp đẽ, bước tới chào và ngắm nghía Thúy Kiều mãi”.

    Nhân vật Tỉ Bà cùng phường với Mã Giám Sinh hiện lên trong tác phẩm là kẻ buôn thịt bán người tanh hôi, bẩn thỉu qua từ “ nhờn nhợt”:

    “Thoắt trông nhờn nhợt màu da,

    ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao?”

    “ nhờn nhợt” là từ láy miêu tả nước da không khỏe mạnh, nước da của kẻ chuyên ở trong bóng tối, làm điều mờ ám, thất nhân, thất đức của kẻ“ ngồi mát ăn bát vàng”, ăn bằng những đồng tiền nhơ bẩn mà các cô gái kiếm được sau các cuộc truy hoan.

    Hoạn Thư  lại hiện lên dưới vẻ mặt tươi cười của một tiểu thư khuê các gia

    giáo:

    “Bề ngoài thơn thớt nói cười,

    Mà trong nham hiểm giết người không dao.”

    Từ “thơn thớt” bóc trần bộ mặt giả dối, độc ác, tàn nhẫn, đã hành hạ Kiều để thỏa lòng ghen tức được che đậy trong vỏ bọc khá sang trọng (Hoạn Thư vốn dòng trâm anh, lại con một viên quan bộ lại).

    Nhân vật trong truyện chỉ hiện lên bằng lối phác họa nhưng nhân vật nào cũng thật sinh động, cụ thể và bộc lộ rõ nhất bản chất.

    2.3. Miêu tả nhân vật qua cử chỉ, hành động.

    So với thế giới nhân vật trong “Kim Vân Kiều truyện” hành động của các nhân vật trong Truyện Kiều chỉ được kể lại vắn tắt nhưng vẫn bộc lộ rõ bản chất từng nhân vật. Trong quá trình sáng tác, Nguyễn Du đã lược bỏ những cử chỉ, hành động không phù hợp với tính cách nhân vật, đồng thời ông cũng sáng tạo thêm nhiều những chi tiết mới để soi sáng cho tính cách.

    Mã Giám Sinh sau khi làm lÔ vấn danh được mô mối xun xoe rước vào “lầu trang” lúc này bản chất con người hắn dần dần được bộc lộ:

    Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,

    Một cử chỉ vội vàng khiến Nguyễn Du hạ ngay từ “sỗ sàng”. Một cô chỉ không phù hợp với người đi hái vợ. Theo lễ giáo phong kiến “ghế trên” thường là để dành cho các bậc “tiền bối” lớn tuổi, chủ nhà. Mã Giám Sinh lại ngồi “tót” ngay lên đó. Cử chỉ đó là tín hiệu khẳng định bản chất của Mã Giám Sinh. Tự định vị một cách vô lễ, chướng mắt như vậy chỉ có thể là một kẻ vô học và sự hợm mình của kẻ buôn người giàu có. Nguyễn Du đã giết chết Mã Giám Sinh qua từ “tót”. Hắn rõ ràng là một kẻ có học mà lại là vô học, đứng đắn mà khả nghi.

    Chân tướng Mã Giám Sinh qua việc mua bán được bóc trần hoàn toàn. Hắn rất khôn khéo, keo kiệt, bủn xỉn, sành sỏi, tô vẽ; biết người biết của. Hắn đã “Đắn đo cân sắc cân tài”. Hắn đã ước lượng, đo lường cả tài và sắc của Thúy Kiều: ngắm dáng vẻ, dung nhan, nghe đọc thơ, đánh đàn và càng thấy được giá trị món hàng này là đắt giá: “Một cười này hẳn nghìn vàng không ngoa”. Nhưng là một con buôn nên hắn không vồ vập

    Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu”. Đó là sự tính toán chi li, chặt chẽ. Vì vậy, hắn mới dùng từ hoa mü, lịch sự: “mua ngọc”, “sính nghi”.

    Lời lẽ của hắn càng hoa mü, màu mè bao nhiêu thì càng bộc lộ rõ bản chất bấy nhiêu. Hắn coi đây là việc nghiêm chỉnh đứng đắn nhưng khi động chạm đến đồng tiền thì thái độ ấy chấm dứt ngay: “Cò kè bớt một thêm hai”.

    Một lần nữa Nguyền Du laÞ vạch trần bản chất con buôn của Mã Giám Sinh qua từ “cò kè”. Hắn không còn là một con người chịu chơi, biết ăn chơi đi hỏi vợ mà chỉ còn là một con buôn chỉ biết “một vốn bốn lời”. Nguyễn Du còn sử dụng thêm thành ngữ “bớt một thêm hai” để cho ta thấy hắn là một con buôn lõi đời. Hắn thật tàn nhẫn khi đứng trước tâm trạng đau đớn của Thúy Kiều. Đối với hắn nàng chỉ là một món hàng không hơn, không kém.

    Nguyễn Du thể hiện thái độ khinh thường, mỉa mai đối với nhân vật Mã Giám Sinh, một nhân vật đại diện cho xã hội “kim tiền” đày đọa biết bao nhiêu số

    phận con người cùng khổ, trong đó có Thúy Kiều là người đại diện. Ông đã thốt lên:

    Trong tay sẵn có đồng tiền

    Dâu rằng đổi trắng thay đen khó gì?”

    Hay:

    “ Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong”

    Chỉ bằng một vài nét phác họa, Nguyễn Du đã đưa lên sân khấu một bộ mặt tàn ác, nhơ bẩn , một bộ mặt già đời, lọc lõi, vô học, hợm của, lạnh lùng, vô cảm mà xấu xa, đê tiện nhất trong Truyện Kiều.

    Nếu như Nguyễn Du đã giết chết Mã Giám Sinh bằng từ “tót”, “ cò kè” thì cũng vẫn với cách dùng từ sắc sảo ấy ông đã giết chỊt Sở Khanh qua từ “lẻn”:

    “Tường đông lay động bóng cành

    RÊ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”

    Hắn xuất hiện là một thư sinh, có vẻ như “ tình cờ” “lÈm nhÈm gật đầu” họa vần cùng Thúy Kiều, rồi nghe Kiều ân cần kể lể. Cử chỉ “lÈm nhÈm” của Sở Khanh có một cái gì đó rất ám muội, không được ngay thẳng nên nó mang dáng vẻ của một con người không tử tế.

    Đó là cử chỉ của loại người lưu manh, xảo trá. Còn Hồ Tôn Hiến một viên quan đại thần thì sao? H¾n vâng lệnh triều đình di đánh dẹp Từ Hải, hắn đã dung mưu chước hèn hạ để giết Từ Hải, và sau đó làm nhục và đày đọa Thúy Kiều tàn nhẫn:

    Nghe càng đắm, ngắm càng say,

    Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình.”

    Trước vẻ đẹp của Kiều, quan đại thần Hồ Tôn Hiến một tên “mặt sắt” cũng phải “ngây” vì tình. Hành động “ngây” đã bộc lộ rõ sự si mê thấp kém, bản chất xấu xa, bỉ ổi của hắn.Và ý nghĩa đại diện cho chính quyền phong kiến của Hồ Tôn Hiến chủ yếu là ở bản chất tráo trở, dâm «, tàn bạo.

    Ngoài những cử chỉ của loại người trên trong Truyện Kiều chúng ta còn thấy có cử chỉ “xăm xăm” “thoăn thoắt” của Thúy Kiều đến với Kim Trọng . Dịp gia đình Kiều về quê mừng thọ, là một thời cơ tốt để Kiều gặp Kim Trọng :

    Thời trân thức thức sẵn bày,

    Gót sen thoăn thoắt dạo ngang mái tường”.

    Còn Kiều, vì tình yêu, vì khao khát hạnh phúc, được tâm sự với người yêu, nàng đã:

    Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình

    Với cử chỉ “xăm xăm”, “thoăn thoắt” Kiều và Kim Trọng đã bộc lộ rõ họ là những người dám sống cho tình yêu, họ đã vượt khỏi lễ giáo phong kiến để hành

    động theo sự mách bảo của trái tim. Nguyễn Du đã thể hiện ước mơ đẹp đẽ của mình về một tình yêu đôi lứa tự do, hồn nhiên, trong sáng mà nhất mực thủy chung.

    Trong một xã hội mà quan niệm hôn nhân phong kiến còn đang hết sức khắc nghiệt, kìm hãm, trói buộc con người. Vì thế mối tình Kim – Kiều có thể xem như một bài ca tuyệt đẹp, một bản tình ca đầy trong sáng và thơ mộng, lần đầu tiên được thể hiện qua tác phẩm văn học dân tộc.

    Tóm lại, những từ “tót”, “lẻn”, “lÈm nhÈm”, “xăm xăm”, “thoăn thoắt”, là những từ rất chính xác, rất đắt chỉ có ở Truyện Kiều Nguyễn Du, chứ không có ở “Kim Vân Kiều truyện”. Nhờ thế, nhân vật trong Truyện Kiều mới hiện lên thật cụ thể, sinh động hơn nhiều so với nhân vật của Thanh Tâm Tài Nhân.

    2.4. Miêu tả nội tâm nhân vật.

    Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự là tái hiện những ý nghĩ, cảm xúc và diễn biến tâm trạng của nhân vật. Đó là biện pháp quan trọng để xây dựng nhân vật, làm cho nhân vật sinh động.

    Với Nguyễn Du, miêu tả nhân vật qua nội tâm, khám phá các trạng thái tâm lý của một con người đã trở thành một yếu tố đặc biệt quan trọng để xây dựng tính cách nhân vật và đã đạt được những thành tựu rực rì.

    1. Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ tự sự:
    • đoạn “Mã Giám Sinh mua Kiều” trong cảnh mua bán, Thúy Kiều là hiện thân của con người lương thiện bị chà đạp, của tài sắc bị dập vùi thảm thương. Nguyễn Du càng căm ghét tên buôn người Mã Giám Sinh bao nhiêu thì càng cảm thương sâu sắc trước nỗi đau xót nhục nhã ª chỊ của cô gái tài hoa bấy nhiêu. Kiều đường đường là một trang quốc sắc thiên hương, vậy mà bị đem ra mua bán như một món hàng ngoài chợ. Nguyễn Du kĨ mà như nhập vào nhân vật cũng đau xót với nhân vật:

    Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, ThÒm hoa một bước lệ hoa mÂy hàng! Ngại ngùng dợn gió e sương, Ngừng hoa bóng thÍn trông gương mặt dày. Mối càng vén tóc bắt tay, Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”.

    Sáu dòng thơ mô tả nỗi uất ức tủi nhục của một trang tuyệt sắc giai nhân trước sự mua bán trơ trẽn của bọn mua thịt bán người. “ Nỗi mình” là nỗi đau của Kiều khi phải từ bỏ mối tình đầu vừa chím nô với Kim Trọng. Mới hôm nào nàng và chàng còn bên nhau uống chén rượu thề nguyền, thế mà bây giờ nàng phải bán mình chuộc cha. “ Nỗi nhà” là nỗi đau đớn xót xa khi gia đình bị mắc oan. Mỗi bước đi của nàng là hàng hàng nước mắt tuôn rơi. Nguyễn Du đã theo từng bước

    chân Kiều nên hiểu được tâm trạng của nàng lúc bấy giờ: “Ngại ngùng dÝn gió e sương.”

    Tác g¶i đã dùng từ “ngại ngùng” kết hợp với nghệ thuật đối : “Ngừng hoa bóng thÍn” với “ trông gương mặt dày”. Thúy Kiều rất xấu hổ khi phải đi ra trước những người không quen biết để cho họ nhìn, ngắm, xem xét. Vì nàng đang sống trong cảnh “ Êm đềm trướng rủ màn che”. Càng đau đớn, xấu hổ hơn khi “ Mối càng vén tóc bắt tay” , vì là hàng hóa nên Kiều cũng bị đối xử chẳng khác gì hàng hóa. Tác giả dùng hình ảnh ước lệ tượng trưng “ cúc”, “mai” để diễn tả nỗi buồn đến mức khô héo của Kiều.

    Trong toàn bộ đoạn thơ, Nguyễn Du đã đối lập sự câm lặng đau khổ của Kiều với sự hoạt động năng nổ của bọn buôn người, đối lập giữa giá trị đẹp đẽ vô song của Thúy kiều với giá cả mua bán. Từ đầu đến cuối Kiều không hề nói một lời, mà chỉ có nỗi buồn hiện ra từng bước chân nét mặt. ở đoạn này trong “Kim Vân Kiều truyện” Thanh Tâm Tài Nhân để Thúy Kiều lên tiếng năm lần, trong đó có hai lần tham gia vào mặc cả như sau:

    Thúy Kiều nói:

    • Bán mình mà không được việc thì bán để làm gì?

     

    Người ấy nói:

     

    • Thôi xin đưa bốn trăm lạng.
    • Không phải năm trăm lạng là không được.

    Rõ ràng sự câm lặng, những giọt nước mắt lặng lẽ của Thúy Kiều, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh và tâm trạng bi kịch, với tính cách của nàng. Như vậy, với bút pháp tự sự bậc thầy, Nguyễn Du đã xây dựng lên chân dung Thúy Kiều không chỉ tuyệt thỊ giai nhân mà còn có thế giới nội tâm phong phú, sinh động, khiến nàng trở nên gần gũi với đời thực hơn – điều này chỉ có ở Nguyễn Du chứ không thể có trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân – Trung Quốc.

    1. Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại.

    Có nhiều cách miêu tả, nhưng người ta có thể miêu tả nội tâm trực tiếp bằng cách diễn tả những ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm của nhân vật.

    • đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” Nguyễn Du thành công khi sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để bộc lộ t­ tưởng, tình cảm con người.

    Trải qua những sóng gió đầu đời, Thúy Kiều không nghĩ đến mình mà nàng lại nhớ về người yêu và lo lắng cho cha mẹ, đủ thấy nàng là người con gái giàu đức hi sinh.

    Nhớ người yêu:

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ. Bên trời góc bÓ bơ vơ,

    TÂm son gột r­¶ bao giờ cho phai.

    Nhớ đến Kim Trọng, nàng luôn mặc cảm mình là người có tội. Nàng nhớ đến lời thề nguyền với chàng. Vừa mới hôm nào “dưới trăng” hai người cùng nguyện ước:

    Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

    Đinh ninh hai miệng một lời song song”.

    Vầng trăng như vẫn còn kia, chén rượu thề nguyền còn chưa ráo trên môi. Thế mà giờ đây, nàng đã phải bơ vơ, trơ trọi nơi “góc bÓ chân trời” một mình. Nàng lo lắng xót xa, day dứt, thương chàng Kim vì không biết chàng đã hay biết nàng bán mình hay chưa? Hay vẫn ngày đêm trông ngóng tin tức của nàng. Nàng không thể nào quên được mối tình đầu say đắm, cháy báng với Kim Trọng. Nàng vẫn luôn nghĩ tới chàng với tấm lòng thương nhớ khôn nguôi: “ TÂm son gột rửa bao giờ cho phai”.

    Như vậy ta có thể thấy Thúy Kiều nhớ đến Kim Trọng với một tâm trạng đau đớn xót xa, nàng đúng là một người tình chung thủy.

    Nhớ đến cha mẹ Thúy Kiều cảm thấy lo lắng xót xa:

    Xót người tựa cửa hôm mai

    Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

    Sân Lai cách mÂy nắng mưa

    Có khi gốc tư đã vừa người ôm”.

    Mới xa cách hai tháng mà nàng cảm thấy thời gian trôi qua thật lâu. Nàng tưởng như cha mẹ đã già, yếu lắm rồi. Nàng day dứt khôn nguôi là giờ đây ai là người ngày đêm phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ lúc ốm đau? Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng điển cố “Sân Lai”, “gốc tư” để nói về tÂm lòng hiếu thảo với cha mẹ của Kiều. Chỉ bốn câu thơ độc thoại nội tâm, Nguyễn Du đã khắc họa được tấm lòng của con cái đối với cha mẹ.

    Nguyễn Du đã cho Thúy Kiều nhớ đến người yêu trước, nhớ đến cha mẹ sau là trái với lễ giáo phong kiến nhưng lại phù hợp với sự phát triển tâm lý của nhân vật. Vì đối với cha mẹ, Kiều đã bán mình để cứu cha và em khi gia đình gặp tai biến nên phần nào đã báo được chữ hiếu. Còn đối với Kim Trọng, đó là mối tình đầu trong trắng vừa mới chím nô. Có thể nói Nguyễn Du đã rất yêu nhân vật, hiểu rõ nhân vật (đặc biệt là tuổi trẻ) nên ông mới miêu tả phù hợp với tâm lý nhân vật như vậy. Qua đó, ta hiểu thái độ trân trọng cùng với tÂm lòng nhân hậu, sự đồng

    cảm của ông đối với Thúy Kiều nói riêng và người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung.

    Suốt mười lăm năm đoạn trường lưu lạc, Nguyễn Du đã nhiều lần để Kiều độc thoại để từ đó bộc lộ chính mình. Có lúc nàng đau đớn dằn vặt, xót xa sau những đêm b­ím lả, ong lơi và cuộc say đầy tháng:

    “ Khi tỉnh dậy lúc tàn canh,

    Giật mình mình lại thương mình xót xa”.

    Khi nàng khuyên Từ Hải ra hàng, ngôn ngữ độc thoại đã bộc lộ rõ những nét tâm lý rất thực của một cô gái nửa đời nếm trải đủ mùi cay đắng:

    “ Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,

    Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân.

    Bằng tay chịu tiếng vương thần,

    Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì!

    Công tư vÍn cả hai bỊ,

    Dần già thì cũng liệu về cố hương.

    Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,

    Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha…”

    Qua đoạn thơ, ta thấy tâm lý của Kiều hiện lên rất thực: Nàng biết khi Tị Hải ra hàng thì phải chịu thiệt thòi, phải mang tiếng vương thần, song bên cạnh đó là cả một tương lai tươi sáng, rực rỡ nói lên nhiều điều lợi, dù sao Kiều chỉ là một nạn nhân, mà nguyện vọng duy nhất là được sống yên ổn, lương thiện và trong sạch.

    Với ngôn ngữ độc thoại như trên, Kiều hiện lên như một người trần tục với tất cả những tình cảm suy nghĩ, lo toan rất thực, rất đời thường, nàng trở nên gần gũi với người đọc hơn. Đạt được điều đó phải chăng đó là trình độ bậc thầy của Nguyễn Du trong việc khám phá thế giới nội tâm con người, đặc biệt là những người phụ nữ?

    1. Miêu tả nội tâm qua ngôn ngữ đối thoại.

    Để nhân vật của mình được hiện lên toàn diện, đầy đủ, Nguyễn Du đã miêu tả họ với cái nhìn nhiều chiều, có khi là miêu tả ngoại hình, có khi là miêu tả néi tâm, có khi lại thông qua ngôn ngữ đối thoại của họ để thấy được tính cách sinh động của mỗi nhân vật.

    Trong đoạn trích “Kiều báo ân báo oán” ngôn ngữ đối thoại được bộc lộ rõ ràng hơn cả. Có hai cuộc đối thoại: đối thoại giữa Kiều và Thúc Sinh và đối thoại giữa Kiều với Hoạn Thư.

    Sau khi được Từ Hải chuộc ra khỏi l©ï xanh, Thúy Kiều đã được Từ Hải đưa lên ngôi cao của hạnh phúc. Chàng lại giúp nàng báo ân, báo oán. Trong phiên tòa Thúy Kiều đã cho gọi những người từng có ân, có oán với nàng đến.

    Người đầu tiên được mời đến là Thúc Sinh, thấy Thúc sinh run rẩy, tội nghiệp nàng đã lên tiếng:

    “Nàng rằng: Nghĩa nặng nghìn non,

    Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

    Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,

    Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”

    Rõ ràng là Kiều vẫn nhớ tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh dành cho nàng trong cơn hoạn nạn. Nàng gọi đó là: “ Nghĩa nặng nghìn non”, Nghĩa là vẫn nhớ đến công ơn của Thúc Sinh đã đem lại một cuộc sống gia đình êm Âm, cho dù là ngắn ngủi.

    Trong ngôn ngữ đối thoại này, Nguyễn Du đã dùng những từ Hán Việt, điền cố. Từ ngữ có tính chất ước lệ, công thức: “Sâm, Thương”,

    nghi· trọng nghìn non”…Sự đảo ngữ “Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không”, cách dùng từ đồng nghĩa: “ người cũ, cố nhân”…. Tất cả những yếu tố đó đã biến lỡi lÊ mới nghe tưởng như hoa mĩ, công thức ấy thành đằm thắm thiết tha, biểu hiện được chân tình của Thúy Kiều. Phê hợp chàng thư sinh họ Thúc và biểu lộ được tÂm lòng biết ơn chân thành của nàng.

    Nếu nói với Thúc Sinh, Kiều nói bằng một ngôn ngữ trang trọng, thì nói về Hoạn Thư, Kiều lại nói bằng một ngôn ngữ hết sức nôm na bình dị, Kiều sử dụng những thành ngữ quen thuộc, đó là lời ăn tiếng nói của nhân dân: quØ quái tinh ma; kẻ cắp bà già; kiến bò miệng chén; mưu sâu trả nghĩa sâu…. Đây là triết lÝ: “Vỏ quýt dày, móng tay nhọn”, một quan niệm xử thế rất công bằng để đối xử lại với xã hội đầy áp bức, bất công xưa.

    Qua ngôn ngữ đối thoại Kiều với Thúc Sinh, ta thấy tính cách của nàng bộc lộ khá rõ ràng, nàng sử đúng người đúng tội, báo ân đối với người đáng báo, đồng thời thấy được nàng là người sống có tình, có nghĩa có trước, có sau.

    Sau khi trả ơn Thúc Sinh bà quản gia nhà họ Hoạn Thúy Kiều mới bước vào cuộc báo thù.

    Kiều đã cất tiếng chào mỉa mai đối với Hoạn Thư: “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!”. Thúy Kiều đã dùng đúng cách mà Hoạn Thư đã đối xử với nàng khi trước:

    “Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không dao.”

    Thúy Kiều nói cho bõ khi bị Hoạn Thư giày vò, đau đớn. Nàng thừa nhận Hoạn Thư là một người đàn bà hiếm có: “ Đàn bà dễ có mÂy tay,” đều là phụ nữ cả mà sao chị (Hoạn Thư) lại thâm độc thỊ. Thúy Kiều trì triết, đay nghiến dự báo một cuộc trả thù dữ dội và quyết liệt:

    “Dễ dàng là thói hồng nhan,

    Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”

    Hoạn Thư lúc đầu “ hồn lạc phách xiêu” nhưng vốn con quan bộ lại, thông minh (so với Thúy Kiều thì người tám lạng, kẻ nửa cân) nên Hoạn Thư đã lập luận đưa ra bốn luận điểm để biện minh, gỡ tội cho mình:

    “Rằng tôi chút phận đàn bà

    Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.”

    Thứ nhất: Hoạn Thư cho rằng đó là chuyện “ thường tình” (lẽ thường) vì là đàn bà thì ai mà chả ghen tuông. Chị Kiều ơi “ ít nào mà ít chả cay, gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng” hả chị? Tôi có yêu chồng thì tôi mới ghen chồng có phải không chị Kiều? Lẽ thường này đâu chỉ tôi mới có, mà ở tất cả mọi người – kể cả chị, chắc chị cũng không ngoài qui luật ấy?

    Thứ hai: Hoạn Thư kể công với Kiều: Tôi đã đối sử tốt với chị cho ở gác viết kinh, khi chị bỏ trốn khái nhà tôi, đem theo nhiều vàng bạc tôi còng không đuổi theo, truy cứu chị:

    “Nghĩ cho khi gác viết kinh,

    Với khi khái cửa dứt tình chẳng theo.”

    Thứ ba: Hoạn Thư nói: tôi với chị đều trong cảnh chồng chung – chắc gì ai dã nhường cho ai:

    “Lòng riêng riêng những kính yêu,

    Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai.”

    Thứ tư: Hoạn Thư nhận tội, đề cao, tâng bốc Kiều: nhưng dù sao tôi cũng đã trót gây ra đau khổ cho chị, nên bây giờ tôi chỉ còn biết chờ vào tÂm lòng khoan dung rộng lượng của chị thôi:

    “Trót đà gây việc chông gai,

    Còn chờ lượng bÓ thương bài nào chăng.”

    Hoạn Thư đã dồn Thúy Kiều vào chỗ: đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại. Thành ra, Thúy Kiều rất bối rối. Lúc đầu, nàng có ý định trừng phạt Hoạn Thư thật nặng: “Dưới cờ gươm tuốt nắp ra. Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư”. Nhưng bây giờ thì biết xử sao đây? Nếu như ta cố tình giết Hoạn Thư thì ra ta là người đàn bà nhỏ nhen sao? Chẳng phải đức Phật từ bi đã từng dạy: “ Lấy oán trả oán thì đời đời thù oán, lấy ân trả oán thì cởi bỏ oán thù?” Suy nghĩ như vậy nên nàng quyết định tha bổng cho Hoạn Thư. Còn trong “ Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân thì khác. Thúy Kiều đã sai cuốn Hoạn Thư lại và thiêu cháy như một ngọn đuốc, khiến mọi người khiếp sợ.

    Thúy Kiều tha bổng cho Hoạn Thư là bộc lộ tÂm lòng bao dung, nhân hậu của nàng. Bởi chính nàng đã trải qua biết bao đau khổ, đắng cay. Và cũng bởi nàng hiểu rằng: mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác.

    Cảnh báo ân, báo oán đã thể hiện những quan niệm triết lÝ, qua thái độ, cử chỉ, hành động và đặc biệt là qua ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật, Nguyễn Du đã vẽ lên một bức tranh rất sinh động về cuộc sống của con người x­a. Ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn người quỷ quái tinh ma. Đồng thời ta thấy một tinh thần nhân đạo sâu sắc, một ước mơ khát vọng công lÝ trong xã hội lúc bấy giờ.

    1. Phần kết luận.

    Tôi còn nhí nh­ in một ý kiến nhận xét về giá trị của tác phẩm văn học: “ Văn chương có loại đáng thê và không đáng thê. Loại không đáng thê là loại chỉ chuyên chỉ về về văn chương. Loại đáng thê là loại chuyên chỉ ở con người” (Nguyễn Văn Siêu, 1799- 1782). Nhận xét này có lẽ chỉ đúng vào một thời điểm văn học, với một số tác phẩm còn đối với Truyện Kiều thì quả là phiến diện. Vì Truyện Kiều đã làm tròn sứ mạng của nó cả về việc “ chuyên chú về con người”, và việc “chuyên chú về văn chương”.

    Về con người: Truyện Kiều là tuyên ngôn về quyền sống của con người, với những khát vọng về tình yêu công lý tự do. Truyện Kiều cũng là bản cáo trạng bằng thơ lên án chế độ phong kiến mục ruỗng thối nát, xấu xa tàn bạo đã chà đạp lên nhân cách con người, dập tắt mọi mơ ước đẹp đẽ của họ.

    Về văn chương: Nguyễn Du đã kết hợp được cả hai lối hành văn bác học và bình dân một cách tài tình nên Truyện Kiều đã được tất cả mọi giai tầng trong xã hội đón nhận thưởng thức một cách nhiệt thành. Những chữ mộc mạc, bình dân đã chứng tỏ một bước tiến của nền văn chương Việt Nam trên con đường xa dần ảnh hưởng của chữ Hán, chữ Nôm mà Nguyễn Du đã tiên phong dẫn trước. Giá trị tuyệt hảo của Truyện Kiều là một điều khẳng định mà trong đó giá trị văn chương lại giữ một địa vị cao.

    Như vậy, bằng quá trình lao động nghệ thuật công phu, đầy sáng tạo, với cái nhìn sắc sảo về cuộc sống, Nguyễn Du đã xây dựng được những nét tính cách đa dạng, hoàn chỉnh và rõ nét. Nhân vật trong “Truyện Kiều” là nhân vật của cuộc đời hiểu theo ý nghĩa xã hội sâu sắc, đúng đắn đó không phải là những con người “nhất thành bất biến” đơn giản một chiều chịu sự chi phối của quan niệm chủ quan. Bên cạnh cái “cốt lõi” của mỗi con người, ta bắt gặp những biến thiên phong phú của những tính cách đa dạng. Qua tìm hiểu “Truyện Kiều” chúng ta càng thấy trân trọng tài năng của Nguyễn Du. Nhiệm vụ của chúng ta là phải giữ gìn nền văn hóa phi vật

    thể mà Nguyễn Du để lại. Cơ Nguyễn Du ơi! Cơ hãy ngậm cười nơi chín suối, tiếng lòng mà cơ gửi lại đã tìm được sự đồng cảm của các thế hệ mai sau.

    • GV lưu ý học sinh: sự phân biệt giữa miêu tả cảnh sắc thªn nhiên và miêu tả nội tâm chỉ là tương đối, bởi trong miêu tả cảnh thiên nhiên đã gửi gắm tình cảm và trong miêu tả nội tâm cũng có những yếu tố ngoại cảnh đan xen.

    Hương Canh, ngày 26 tháng 10 năm 2009.

    Người viết

    Nguyễn Thị Hoàng

    Tài liệu nghiên cứu.

    • SGK, SGV, thiết kế bài giảng Ngữ văn 9 – Nhà xuất bản giáo dục.
    • Truyện Kiều (bản dịch)…
    • Kim Vân Kiều Truyện – Thanh Tâm Tài Nhân.
    • 105 bài văn mẫu- Tạ Đức Hiền.
    • 100 bài văn mẫu- THCS.
    • Ngữ văn 9 nâng cao- Tạ Đức Hiền.
    • Từ điển giáo khoa Tiếng Việt của nhóm tác giả Nguyễn Như ý, Đào Thần, Nguyễn Đức Tổn.
    • Giảng văn Truyện Kiều – Đặng Thanh Lê.
    • Tham khảo ý kiến đồng nghÖp và các tư liệu tham khảo khác….

    Cấu trúc đề tài

    1. Phần mở đầu
    1. LÝ do chọn đề tài
    1. cơ sở khoa học
    1. Cơ sở thực tiễn
    1. Mục đích, nhiệm vônghiªn cứu III. Đối tượng – phạm vi nghiên cứu.
    1. Đối tượng nghiên cứu
    1. Phạm vi nghªn cứu
    1. Phương pháp nghiên cứu
    1. Phương pháp thống kê
    1. Phương pháp phân tích
    1. Phương pháp so sánh.
    1. Phương pháp khái quát hóa.
    1. Phần nội dung.
    1. Vài nét khái quát về Truyện Kiều
    1. Vị trí của Truyện Kiều
    1. Nguồn gốc của Truyện Kiều.
    1. Giá trị của Truyện Kiều
    1. Vài nét về nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều.
    1. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên.

    1.1.Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trực tiếp.

    1.2.Nghệ thuật tả cảnh ngô tình.

    1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật.

    2.1.Miêu tả nhân vật bằng bút pháp ước lệ tượng trưng.

    2.2. Miêu tả nhân vật bằng bút pháp tả thực.

    2.3. Miêu tả nhân vật qua cử chỉ, hành động.

    2.3. Miêu tả nội tâm nhân vật

    1. Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ tự sự
    1. Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại c. Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại
  • Văn mẫu Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử

    Văn mẫu Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử

    Văn mẫu Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Techno Delta NV


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử

    Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử và giới hạn của những cách đọc

    Thi pháp truyện Kiều [1] của Trần Đình Sử là một chuyên luận dày dặn, công phu. Bốn trăm trang sách được chia thành 6 chương, mỗi chương gồm nhiều mục, nhiều tiết, và hầu như chương nào, tiết nào cũng có một cái gì đó mới mẻ khiến người đọc phải chăm chú theo dõi.(Lã Nguyên)

    Cái mới của một công trình khoa học không chỉ là ở những nhận xét, kết luận giàu

    sức thuyết phục mà trước hết là ở cách thức, ở con đường dẫn tác giả tới những kết luận,

    những nhận xét ấy. Nền tảng mang lại giá trị khoa học cho chuyên luận của Trần Đình Sử

    là ở cách đọc, ở hướng tiếp cận tác phẩm, ở phương pháp nghiên cứu, ở tư tưởng khoa

    học định hướng cho việc khám phá đối tượng, ở hệ thống khái niệm, phạm trù mà ông

    hoàn thiện để chuyển tải những khám phá, phát hiện sắc sảo, đích đáng về một thế giới

    nghệ thuật mà theo ông là “kết tinh văn hoá tinh thần của một đất nước, phô bày vẻ đẹp của một thứ tiếng, biểu hiện tài hoa của một dân tộc”.

    1.     Bài tựa Kim Vân Kiều án của Nguyễn Văn Thắng có đoạn viết: “Từng nghe:

    Truyện Kim Vân Kiều nôm, xưa kia vốn là một bản thực lục, nhà Ngũ vân lâu ở Trung Quốc đem khắc in, truyền mãi đến nay ai cũng biết. Khi vào nước ta, quan Đông các (tức Nguyễn Du, năm 1806 làm Đông các học sĩ.- LN) đã đem diễn ra quốc âm, truyền khắp mọi nơi. Ai được nghe truyện cũng như thấy truyện. Không chỉ bậc văn nhân tài tử đọc truyện lòng vui sướng, trí thảnh thơi, mà ngay đến cả những người ngu phu bỉ phụ truyền miệng nhau đọc cũng thích thú, vui vẻ, hoa tay, múa chân”. Ta biết, Nguyễn Văn Thắng soạn Kim Vân Kiều án vào năm 1830. Nghĩa là hai trăm năm nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành bộ phận không thể tách rời trong đời sống tâm hồn Việt Nam nói chung và đời sống văn học nói riêng. Nhiều người Việt Nam thuộc lòng Truyện Kiều. Người ta “kể Kiều”, “tập Kiều”, “đố Kiều”, “lẩy Kiều”. Đã có vô số những công trình nghiên cứu dành cho kiệt tác của Nguyễn Du. Không ít người xem việc nghiên cứu Truyện Kiều là sự nghiệp đời mình. Cho nên, ngày nay, muốn góp thêm một tiếng nói mới vào khoa “Kiều học”, người nghiên cứu dứt khoát phải có một cách đọc, một hướng tiếp cận mới. Hướng tiếp cận mới của Trần Đình Sử được thể hiện ngay ở nhan đề cuốn sách.

    Thực ra, tiếp cận văn học theo hướng thi pháp không phải là cái gì xa lạ đối với người Việt Nam. Bởi vì nghiên cứu thi pháp chẳng qua là nghiên cứu các bình diện hình thức nghệ thuật của sáng tạo ngôn từ. Khi phân tích tác phẩm văn chương, liệu có nhà nghiên cứu, phê bình nào dám bỏ qua các bình diện hình thức và nội dung ? Dĩ nhiên không phải bất kì sự nghiên cứu nào về hình thức nghệ thuật đều có thể gọi là nghiên cứu thi pháp. Cũng không ai ngây thơ nghĩ rằng, hễ tiếp cận văn học theo hướng thi pháp là lập tức phát hiện được một cái gì hay ho mới mẻ. Đã có nhiều hồi chuông được gióng lên cảnh báo về tình trạng lạc hậu của nền nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam. Một trong những nguyên nhân của tình trạng lạc hậu ấy, theo tôi, chẳng phải vì các nhà khoa học chưa biết tiếp cận văn học theo hướng thi pháp, mà chủ yếu là do cho đến nay, nền nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc quá chặt chẽ và nặng nề của hệ thống thi pháp học truyền thống.

    Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử là một trong những cuốn sách rất hiếm hoi ở Việt Nam đã tiếp cận kiệt tác của Nguyễn Du từ góc độ thi pháp học hiện đại. Theo hướng tiếp cận này, trước chuyên luận của Trần Đình Sử, ta chỉ có thể tìm thêm cuốn sách ra đời cách đây đã hai mươi năm của Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. [2]

    Trên phạm vi toàn thế giới, từ thế kỉ XVII trở về trước, mọi hệ thống thi pháp học của cả phương Đông lẫn phương Tây đều thuộc phạm trù truyền thống. Thế kỉ XVIII mở ra thời đại của thi pháp học hiện đại và đến thế kỉ XX thì các khuynh hướng, trường phái của nó thi nhau xuất hiện rầm rộ. Tuy vậy, những nguyên tắc cắt nghĩa của thi pháp học truyền thống vẫn tiếp tục phát huy tác dụng và lặn rất sâu vào các tầng vỉa của tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học, nhất là ở những nơi có nền khoa học nhân văn chậm phát triển. Đặc điểm cơ bản của thi pháp học truyền thống là tính quy phạm. Nó không biết tới tác phẩm, càng không biết tới văn bản như phương thức tồn tại khách quan của nghệ thuật. Nó quan tâm nhiều hơn tới những vấn đề nhận thức luận nghệ thuật, mà không mấy để ý tới vấn đề bản thể luận. Trọng tâm lí thuyết của nó được dồn vào các phạm trù ngoài văn học, như “đạo”, “tự nhiên”, “hiện thực xã hội”, “ý niệm tuyệt đối”, thế giới “vô thức”, “tình cảm”, “thế giới quan”, “quan điểm xã hội”…Dựa vào kinh nghiệm, vào nguyên lí có tính chất tiên nghiệm từ những phạm trù ngoài văn học, thi pháp học truyền thống có tham vọng lập pháp cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Ta hiểu vì sao thi pháp học truyền thống sử dụng rất thoải mái hệ thống khái niệm, phạm trù của triết học, chính trị học, đạo đức học, hoặc xã hội học và nó có vẻ như không mấy quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống khái niệm, phạm trù mang tính đặc thù của một khoa học về nghệ thuật. Nó cân đo các sinh mệnh nghệ thuật sống động bằng những chuẩn mực quy phạm muôn đời. Thay vì phân tích cấu trúc nội tại của tác phẩm, nó dồn toàn bộ nhiệt tình vào việc khám phá cái thế giới nằm ngoài phạm vi văn học. Bởi vậy, dù muốn hay không, thi pháp học truyền thống đã dành một mảnh đất rộng rãi làm chỗ đứng cho kiểu bình tán dựa vào sự cảm thụ chủ quan nhiều khi rất phản khoa học, nhưng hiện đang hết sức phổ biến trong hoạt động phê bình văn học của chúng ta. Chẳng những thế, nó còn dành chỗ rộng rãi cho kiểu nghiên cứu, phê bình mang tính công thức, giáo điều, hết sức xơ cứng.

    Thi pháp học truyền thống có sức mạnh và giới hạn riêng của nó. Nó thường phân tích nội dung và hình thức của văn học trong một quan hệ cơ học, nên nhìn chung không

    có khả năng nắm bắt cái nội dung và hình thức đích thực trong tác phẩm. Nó rất nhạy cảm với cái hay, vẻ đẹp phù hợp với những chuẩn mực quy phạm, nhưng nhiều khi tỏ ra thù địch với những cách tân nghệ thuật chân chính. Cho nên, thi pháp học truyền thống mang tính quy phạm tất yếu phải nhường chỗ cho thi pháp học hiện đại, và cũng vì thế, sự xuất hiện của thi pháp học hiện đại trở thành cuộc cách mạng trong nghiên cứu, phê bình văn học.

    Nghiên cứu văn học suy cho đến cùng là sự giải thích, cắt nghĩa tác phẩm văn học. Muốn cắt nghĩa, dĩ nhiên phải đọc. Quá trình đọc là quá trình thâm nhập vào tác phẩm. Mức độ khoa học của sự cắt nghĩa phụ thuộc nhiều vào sự thâm nhập này. Theo hướng thi pháp học hiện đại, Trần Đình Sử thâm nhập vào Truyện Kiều như thâm nhập vào một hiện tượng tinh thần vừa tồn tại khách quan, vừa thấm đẫm ý thức sáng tạo của chủ thể. Ông xem tác phẩm văn học là một hệ thống biểu hiện cụ thể gồm nhiều phương thức, phương tiện nghệ thuật. Hệ thống phương thức, phương tiện nghệ thuật được sáng tạo ra, được lựa chọn, sử dụng, được tổ chức lại nhằm biểu hiện ý thức chủ thể, làm cho ý thức chủ thể hiện lên một cách cụ thể, sống động. Chính sự thống nhất của hệ thống phương thức, phương tiện nghệ thuật theo nhiều tầng bậc, lớp lang phù hợp với một ý thức chủ thể là nền tảng tạo nên diện mạo độc đáo của tác phẩm, làm nên gương mặt nghệ sĩ của một chủ thể văn hoá. Đọc Truyện Kiều là thâm nhập vào cái hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện cụ thể ấy để phát hiện, xác nhận sự sáng tạo của Nguyễn Du trong quy mô tổng thể và trong tính chỉnh thể của tác phẩm. Nguyên tắc đọc tác phẩm bắt đầu từ bản thể của nghệ thuật đặt nhà nghiên cứu Trần Đình Sử vào một tâm thế, đúng hơn, một tư thế đọc kiểu mới phù hợp với tinh thần của thi pháp học hiện đại. Đó không phải là cách đọc triết học đi tìm trong tác phẩm lập trường duy vật hay duy tâm, tôn giáo của nhà văn. Đó không phải là cách đọc của nhà đạo đức học chăm chắm tìm trong tác phẩm bài học và những tấm gương. Đó không phải là cách đọc chính trị học hy vọng tìm thấy trong sáng tác văn chương bài học thành công hay thất bại của một cuộc cách mạng. Đó cũng không phải là cách đọc xã hội học đi tìm các sự thực xã hội trong tác phẩm, càng không phải là cách đọc của một cán bộ tổ chức, quản lí, đổ công dốc sức vào việc lập hồ sơ nhà văn và phát hiện lí lịch của nhân vật. Cách đọc theo hướng thi pháp học hiện đại của Trần Đình Sử là cách đọc văn hoá. Diễn đạt theo cách của các nhà thi pháp học hiện đại, ta có thể nói, tinh thần toát lên từ cách đọc Truyện Kiều của Trần Đình

    Sử là nhiệt tình “giải mã văn hoá”, nhằm “khám phá các giá trị văn hoá của quá khứ văn học”.

    1. Cách đọc văn hoá đòi hỏi nhà nghiên cứu phải sử dụng một hệ thống thao tác, phương pháp tương ứng. Phương pháp là cái “tương đồng” với đối tượng. Truyện Kiều

    của Nguyễn Du là kiệt tác vô song được sáng tạo trên cơ sở cốt truyện và nhân vật của Thanh Tâm tài nhân. Nghiên cứu một đối tượng như thế, nhà nghiên cứu không thể thiếu một nhãn quan văn học so sánh. Với Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử, nghiên cứu văn học so sánh thực sự mở ra một giai đoạn mới. Chưa thấy bất kì một công trình nghiên cứu Truyện Kiều nào mở rộng phạm vi so sánh như chuyên luận của Trần Đình Sử. Trước đây, các nhà nghiên cứu thường giới hạn việc so sánh ở những yếu tố riêng lẻ. Phạm vi so sánh của nhiều công trình chủ yếu là so sánh tay đôi giữa Truyện KiềuKim Vân Kiều truyện. Khi so sánh tay đôi như thế, cốt truyện bao giờ cũng là yếu tố được ưu tiên hàng đầu. Nhiều nhà nghiên cứu soi ngắm rất kĩ lưỡng để chỉ ra, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thêm bớt những gì so với cốt truyện của Thanh Tâm tài nhân. Trần Đình Sử đặt vấn đề so sánh Truyện Kiều theo nguyên tắc của cách đọc văn hoá. Thời Nguyễn Du, tiến trình văn học Việt Nam chưa nhập vào tiến trình văn học thế giới. Nhưng trong quan niệm của Trần Đình Sử, Truyện Kiều vẫn là sản phẩm của hành vi sáng tạo có bối cảnh văn hoá rộng lớn. Sự vay mượn và sáng tạo của Nguyễn Du nằm trong quỹ đạo của các kiểu sáng tác văn học và các nền văn hoá bao bọc xung quanh. Vì thế, nghiên cứu so sánh Truyện Kiều không thể đóng khung trong phạm vi so sánh tay đôi giữa hai tác phẩm Truyện Kiều Kim Vân Kiều truyện. Trần Đình Sử so sánh Truyện Kiều với văn hoá và truyền thống văn học Trung Quốc. Ông khảo sát mối quan hệ giữa Truyện Kiều với Phật giáo, chỉ ra sự vênh lệch giữa những tuyên ngôn dưới dạng bình luận, trữ tình ngoại đề, kiểu như “Tu là cõi phúc, tình là dây oan” với quan niệm đầy tinh thần nhân ái của Nguyễn Du về con người. Ông hoàn toàn có cơ sở để khẳng định đạo Phật đã khúc xạ khi đi vào Truyện Kiều và tính chất dung hợp Nho – Phật đã làm nhạt nhoè tư tưởng Phật giáo trong sáng tác của Nguyễn Du. Về điểm này, ý kiến cảu Trần Đình Sử là sự đối thoại, bổ sung, tu chính cho kết luận của nhiều học giả từ Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, cho tới Cao Huy Đỉnh… Tính đến sự pha trộn Nho – Phật trong tư tưởng của Nguyễn Du, Trần Đình Sử không thể không khảo sát mối quan hệ giữa Nho giáo với Truyện Kiều. Trần Đình Sử đặt vấn đề mở rộng phạm vi nghiên cứu các bình diện hợp thành tư tưởng Nho

    giáo, từ tư tưởng thiên mệnh, ý thức bảo tồn gia đình, đến tư tưởng nhân ái, coi trọng lòng trắc ẩn, coi nhân loại là nhất thể… Ông không xem Nho giáo là cái gì nhất thành bất biến. Là nhà nho, dĩ nhiên, Nguyễn Du tiếp nhận Nho giáo. Nhưng Trần Đình Sử cho rằng, Nho giáo mà Nguyễn Du tiếp thu không phải là Nho giáo cổ xưa, mà là Nho Minh, Thanh. Qua nghiên cứu so sánh, Trần Đình Sử kết luận: “…Tâm học đời Minh – Thanh đã ảnh hưởng tới quan niệm con người của Nguyễn Du, một con người “dĩ tâm vi bản”, văn chương chẳng qua là tâm học, tâm thống soái tính linh” (tr.56).

    Như đã nói, thi pháp học hiện đại xuất phát từ bản thể của nghệ thuật để cắt nghĩa tác phẩm văn học. Cho nên nghiên cứu bối cảnh ảnh hưởng của văn hoá và truyền thống văn học Trung Quốc đối với Truyện Kiều, Trần Đình Sử đặc biệt chú ý tới sự lựa chọn về thể loại của Nguyễn Du. Ông tìm ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi đối với việc miêu tả chân dung những nhân vật như Từ Hải, hoặc ảnh hưởng của lối giới thiệu nhân vật trong sử truyện đối với cách giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Ông đặc biệt quan tâm tới quan hệ giữa Truyện Kiều và tiểu thuyết tài tử giai nhân, một chi nhỏ của tiểu thuyết thế tình có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học Việt Nam, nhưng ở Trung Quốc thì hầu như bị lãng quên, mà ở Việt Nam cũng chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu. Ông khảo sát ảnh hưởng của thơ cổ điển Trung Quốc tới nhãn quan nghệ thuật của Nguyễn Du và chứng minh Truyện Kiều là kết tinh của sự tiếp nhận và sáng tạo từ nền văn thơ cổ điển ấy. Trong nghiên cứu văn học so sánh về Truyện Kiều thì việc so sánh với Kim Vân Kiều truyện có ý nghĩa trực tiếp, vì Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện, nhân vật và cả tình tiết của nó. Nhưng ngay cả khi so sánh tay đôi giữa hai tác phẩm, chuyên luận của Trần Đình Sử cũng mở ra rất nhiều bình diện thuộc những cấp độ khác nhau trong cấu trúc tác phẩm văn học. Ông đã nghiên cứu so sánh về chủ đề, về cốt truyện, về nhân vật, về phong cách học…

    Việc so sánh mối quan hệ giữa Truyện Kiều với nhiều cấp độ, nhiều bình diện của văn hoá và truyền thống văn học Trung Quốc được triển khai trong suốt cả chuyên luận Thi pháp Truyện Kiều. Cho nên, nghiên cứu văn học so sánh không chỉ là một phần, một bộ phận tạo nên nội dung khoa học của một vài chương nào đó trong cuốn sách này. Người đọc có thể tìm thấy ở chuyên luận của Trần Đình Sử một công trình khoa học biến nghiên cứu văn học so sánh thành một hệ thống thao tác và nguyên tắc phương pháp luận đọc văn học, cắt nghĩa tác phẩm. Ta dễ dàng nhận ra hai nguyên tắc cơ bản trong phương

    pháp nghiên cứu văn học so sánh của Trần Đình Sử. Thứ nhất: so sánh văn học trên mọi cấp độ, ở mọi bình diện, bao giờ cũng là so sánh loại hình của các hiện tượng nghệ thuật. Có thể nói, nghiên cứu so sánh loại hình chính là nền tảng của nghiên cứu văn học so sánh. Với Trần Đình Sử, so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện là so sánh hai “thế giới nghệ thuật”, hai “mô hình tự sự”, hai hệ thống phương thức biểu hiện chịu sự chi phối của hai ý thức chủ thể khác nhau. Ngay cả khi so sánh cốt truyện của Nguyễn Du và của Thanh Tâm tài nhân, cái mà Trần Đình Sử chú ý trước tiên là hệ thống điểm nhìn trần thuật khiến cho Truyện Kiều trở thành mô hình tự sự thể hiện sự sáng tạo của tác giả, đánh dấu những cách tân quan trọng của tác phẩm về phương diện thể loại theo hướng hiện đại hoá. Thứ hai: linh hồn của nghiên cứu so sánh văn học trong chuyên luận của Trần Đình Sử là quan điểm lịch sử. Quan điểm lịch sử thấm nhuần trong mục đích của nghiên cứu văn học so sánh được triển khai trong suốt cả chuyên luận Thi pháp Truyện Kiều. Không thấy có chỗ nào Trần Đình Sử tiến hành so sánh các hiện tượng văn học chỉ nhằm mục đích chứng minh sự hơn thua. Đọc Thi pháp Truyện Kiều, ta thấy Trần Đình Sử như đang lần tìm về mọi nguồn cội gần xa để theo dõi, phát hiện sinh mệnh lịch sử của một hiện tượng nghệ thuật trong quá trình hình thành, vận động và tiến hoá của nó. Ta hiểu vì sao, chuyên luận của Trần Đình Sử được mở đầu bằng câu chuyện: “Truyện Kiều – Từ sự thật lịch sử đến sáng tạo nghệ thuật” – và sau câu chuyện ấy, các cấp độ, các bình diện của nghiên cứu văn học so sánh được tác giả mở rộng tưởng như không còn giới hạn nào nữa. Trần Đình Sử không chỉ so sánh Truyện Kiều với truyền thống văn hoá, văn học Trung Quốc, mà còn đặt tác phẩm của Nguyễn Du vào tiến trình văn học Việt Nam, vào văn mạch dân tộc. Quan điểm lịch sử giúp tác giả Thi pháp truyện Kiều khắc phục thái độ cực đoan của nhiều nhà nghiên cứu trước đây. Trần Đình Sử đã chứng minh hết sức thuyết phục, rằng Kim Vân Kiều truyện đã cung cấp cho Nguyễn Du một mô hình cốt truyện lắm tai, nhiều biến, tiểu thuyết tài tử giai nhân của Trung Quốc gợi dậy ở Nguyễn Du cảm hứng khẳng định con người cá nhân, tình yêu đôi lứa, cảm hứng quý phái, sang trọng và văn thơ Trung Quốc cung cấp cho Nguyễn Du một hệ thống điển cố, điển tích, những câu thơ sẵn và một nhãn quan thi ca cổ điên. Mặt khác, những sáng tác của tác gia Việt Nam đã khơi dòng cảm hứng cho văn học thời đại để theo văn mạch đó, Truyện Kiều đạt tới đỉnh cao. Truyện Nôm và các ngâm khúc Việt Nam còn chuẩn bị

    trước cho Truyện Kiều về cấu trúc tự sự và giọng điệu, để đến lượt mình, Nguyễn Du đã tạo ra một chất lượng mới về mọi mặt.

    Thi pháp Truyện Kiều trước hết là công trình thi pháp học lịch sử. Nhưng mọi sự phân tích của Trần Đình Sử bao giờ cũng hướng tới những khái quát lý thuyết. Cho nên, chuyên luận thi pháp học lịch sử của ông cũng đồng thời là công trình lý thuyết về lịch sử văn học. Cuốn sách có được giá trị khoa học như thế là nhờ tác giả luôn luôn nhất quán trong phương pháp đọc tác phẩm, phương pháp nghiên cứu văn học so sánh: kết hợp quan đểm lịch sử vơi phương pháp loại hình.

    1. Những chặng đường nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều là chương mở đầu cho

    chuyên luận của Trần Đình Sử. Công trình nghiên cứu được khép lại bằng chương: Sức sống của Trtuyện Kiều. Bố cục ấy ngầm khẳng định Truyện Kiều là một hệ thống mở, trong đó, cái bản thể của nghệ thuật không ngừng vận động và lớn lên cùng thời gian. Đúng như lời khẳng định cuối sách của Trần Đình Sử: Truyện Kiều nói mãi không cùng. Kiệt tác của Nguyễn Du mãi mãi là sự thách đố đầy hấp dẫn của các thế hệ độc giả cùng những cách đọc khác nhau.

    Chương IV và chương V là hai chương quan trọng nhất trong cuốn sách 6 chương của Trần Đình Sử. Đây chính là hai chương tập trung khảo sát ý thức chủ thể của Nguyễn Du được bộc lộ trong tác phẩm để xác nhận tính sáng tạo toàn vẹn của Truyện Kiều và lý giải vì sao một sáng tác dựa vào cốt truyện và nhân vật của Kim Vân Kiều truyện lại có thể trở thành một kiệt tác vô song. Qua hai chương này, ta nhận ra rõ nhất hướng tiếp cận, hệ thống thao tác, phương pháp chiếm lĩnh đối tượng, hệ thống khái niệm, phạm trù được sử dụng tương ứng với một tư tưởng khoa học bao trùm trong cách đọc Truyện Kiều của Trần Đình Sử. Nhà nghiên cứu đọc tác phẩm theo các lớp lang của nó. Ông phân tích cắt nghĩa các lớp lang ấy theo hai “bước đọc” cơ bản. Chương IV là bước đọc thứ nhất. Chương V là bước đọc thứ hai. Phải chia thành hai bước như thế vì nhà nghiên cứu muốn đi từ cái vĩ mô đến cái vi tế, nhìn rừng rồi mới ngắm cây, lúc đầu tầm mắt tạm xa rời những câu thần, chữ đắt, những hình ảnh, chân dung, tính cách, lời nói nhân vật, tức là tạm lùi xa, lướt qua cái tiểu tiết để đọc tác phẩm trong thể toàn vẹn như một mô hình nghệ thuật.

    Trong cuốn Phê bình văn học là văn học (Leningrad, 1976), B.I. Burxov, nhà nghiên cứu văn học người Nga nói thế này: “Nhà văn đến với nghề bằng tài năng. Nhà

    khoa học đến với nghề bằng sự hiểu biết”. Nói như thế cũng có phần đúng, nhưng chưa đủ. Bởi vì sự hiểu biết và tài năng chỉ là điều kiện ban đầu để người ta đến với nghề. Khoa học và nghệ thuật là những lĩnh vực rất xa nhau, nhưng từ trong bản chất sâu xa, chúng vẫn có chỗ gần nhau, ấy là sự sáng tạo. Muốn sáng tạo, người nghiên cứu phải có tư tưởng khoa học. Đó là nhân tố định hướng để nhà khoa học triển khai công trình nghiên cứu của mình. Hướng tiếp cận tác phẩm, thao tác và phương pháp nghiên cứu, sự hiểu biết và vốn tri thức uyên bác… là những gì mà ai cũng có thể có được thông qua con đường học tập và rèn luyện. Nhưng tư tưởng khoa học là phạm trù khác, thuộc chủ thể sáng tạo, không thể vay mượn của nhau. Cho nên, người ta thường nói tới tầm cỡ của nhà khoa học. Tôi cho rằng, chính khả năng đề xuất tư tưởng và tầm cỡ của những tư tưởng khoa học được đề xuất là nền tảng quan trọng nhất quyết định tầm cỡ của một công trình nghiên cứu cũng như tác giả của nó.

    Mỗi công trình nghiên cứu đích thực bao giờ cũng có một diện mạo riêng được tạo thành bởi sự thống nhất của hệ thống khái niệm, phạm trù biểu đạt phù hợp với tư tưởng khoa học được nó đề xuất và triển khai. Đọc những công trình nghiên cứu thi pháp của những tên tuổi lẫy lừng như R. Jakobson, B.V. Tomashevski, V. Shklovski, B. Eikhenbaum, M. Bakhtin, T.S. Eliot, I.A. Richards…, thấy hoá ra, hệ thống khái niệm, phạm trù của thi pháp học hiện đại không phải là kho từ vựng có sẵn trong các pho từ điển, hễ cần là chỉ việc mang ra dùng. Nhắc tới các tên tuổi lẫy lừng ấy, ta nhớ ngay tới những khái niệm, phạm trù công cụ rất riêng mà mỗi người trong số họ đã tự tạo ra cho mình. Từ một phạm trù then chốt, phạm trù “cái”, nhà nghiên cứu tổ chức cả một hệ thống khái niệm để triển khai các tư tưởng khoa học, trình bày những khám phá, phát hiện của quá trình đọc phù hợp với một quan niệm về cấu trúc tác phẩm, về bản thể của nghệ thuật trong sáng tác văn học. Chẳng hạn, mỗi nhà thi pháp học thuộc trường phái hình thức Nga đều cố gắng đưa ra một khái niệm công cụ nhằm khắc phục tình trạng tách nội dung khỏi hình thức khi phân tích tác phẩm. Khái niệm công cụ để phân tích thơ của Eikhenbaum là “cú pháp giọng điệu”. Trong công trình nổi tiếng: Giọng điệu câu thơ Nga (St. Peterburg, 1922), dựa vào khái niệm “cú pháp giọng điệu”, Eikhenbaum đã phân tích sáng tác của nhiều nhà thơ, theo dõi lịch sử phát triển của câu thơ Nga theo ba điệu thức cơ bản: điệu ca, điệu ngâm và điệu nói. B. Tomashevski sử dụng khái niệm “motif” để phân tích tác phẩm truyện. Cuốn Lý luậnv văn học. Thi pháp học (in năm 1925, tái bản

    nhiều lần) của ông có một chương đặt nhan đề là Hệ chủ đề. Ông cho rằng tác phẩm truyện bao giờ cũng có một chủ đề bao trùm, một tư tưởng chung. Chủ đề chung, tư tưởng bào trùm chính là nguyên tắc thống nhất của kết cấu tiểu thuyết. Trong quan niệm của ông, “motif” là đơn vị vật liệu xây dựng vừa kiến tạo chủ đề, vừa tổ chức cốt truyện và truyện kể. Cốt truyện là tổng hợp các motif được sắp xếp theo trật tự thời gian – nhân quả, còn truyện kể là trật tự motif được sắp xếp theo trật tự trình bày, trần thuật. “Độc thoại” và “đối thoại”, “độc điệu” và “phức điệu”, “một giọng” và “đa thanh” là cặp phạm trù then chốt được M.Bakhtin sử dụng để khảo sát cuộc dấu tranh lâu dài giữa hai nguyên tắc thế giới quan, thế giới quan sử thi và thế giới quan tiểu thuyết để cuối cùng, bước sang thời hiện đại, tiểu thuyết hoàn toàn giành thế ưu thắng. Thiết nghĩ, người nghiên cứu có thể viết vài chục cuốn sách, rải chữ lên hàng mấy nghìn trang giấy, nhưng nếu chưa đề xuất được một tư tưởng khoa học khả thủ, chưa tạo ra được một khái niệm công cụ cho riêng mình, anh ta vẫn chưa xứng được gọi là nhà khoa học với ý nghĩa đích thực của danh hiệu ấy.

    Xuyên suốt tất cả các công trình đã công bố trong vài chục năm nay của Trần Đình Sử, ta thấy ông không ngừng hoàn thiện cho mình một khái niệm công cụ, ấy là “quan niệm nghệ thuật về con người”. Khái niệm “quan niệm nghệ thuật về con người” với một nội hàm cụ thể, lần đầu tiên được ông đề xuất trong cuốn Thi pháp Tố Hữu, in năm 1987 [3]. Trong cuốn sách này, phù hợp với nhiệm vụ phân tích thi pháp, Trần Đình Sử đưa ra khái niệm “hình thức quan niệm” và nêu yêu cầu hết sức quan trọng về sự cần thiết phải phân biệt “hình thức quan niệm” với hình thức cụ thể, cảm tính. Phạm trù “quan niệm nghệ thuật” và hệ thống khái niệm công cụ thường được sử dụng trong các công trình của Trần Đình Sử tự chúng nói lên một tư tưởng khoa học có tính chất bao trùm. Hơn hai mươi năm nay, nhà nghiên cứu thuỷ chung với quan niệm cho rằng, mọi cách tân nghệ thuật suy cho đến cùng đều gắn liền với sự cách tân trong quan niệm nghệ thuật về con người. Quan niệm nghệ thuật về con người chi phối cách lựa chọn đề tài, chủ đề, cách tổ chức hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện trong sáng tác của một nhà văn. Cuốn Thi pháp Truyện Kiều cũng toát lên tinh thần ấy.

    Các chương II và chương III của cuốn sách như ngầm nói với người đọc, chính ý thức chủ thể mà nền tảng là quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Du về con người và cuộc đời là nhân tố định hướng trong việc tiếp nhận của nhà thơ đối với văn học của thời đại

    mình và truyền thống văn hoá, văn học Trung Hoa. Chương IV có nhan đề: Truyện Kiều Thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du. Trần Đình Sử phác hoạ 5 nét lớn tạo nên thế giới nghệ thuật ấy: 1). Tư tưởng, nhân vật và cách kể chuyện của Nguyễn Du; 2). Cái nhìn nghệ thuật về con người; 3). Không gian nghệ thuật của Truyện Kiều; 4). Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều; 5). Hình tượng tác giả Truyện Kiều. Thực ra, cũng có thể gọi chương V là chương khám phá quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du. Quan niệm nghệ thuật về con người vừa là nội dung, vừa là nền tảng mang lại diện mạo độc đáo cho thế giới nghệ thuật của Truyện Kiều. Quan niệm nghệ thuật thể hiện nội dung nhân bản mới mẻ, lấy chữ “tâm” và chữ “thân” của con người phổ quát làm cội rễ buộc Nguyễn Du phải nhào nặn lại Kim Vân Kiều truyện để thể hiện một tư tưởng khác, một tư tưởng mới. Truyện Kiều “có thể nói là truyện được sáng tạo ra chủ yếu để thử thách cái tâm con người. Và thực sự đó là tiểu thuyết về chữ tâm” (tr.111). Một trong những chủ đề quan trọng của Truyện Kiều hoá ra là vấn đề “thân – mệnh tương đố”, chứ không phải là “tài – mệnh tương đố” như kết luận của một số nhà nghiên cứu. Xuất phát từ chữ “tâm”, Nguyễn Du đã sáng tạo ra một thế giới nhân vật của những “tấm lòng”. Nguyễn Du đã sáng tạo ra hình tượng không gian “lưu lạc”, không gian “giam hãm” và hình tượng thời gian “định mệnh” đặt con người vào trạng thái “vội vàng” đầy những lo âu, phấp phỏng. Phù hợp với quan niệm về con người, Nguyễn Du đổi mới cách kể chuyện, “không đặt trọng tâm ở “việc”, mà ở “khúc đoạn trường”, “làm cho tấm lòng nhân vật nổi lên ở bình diện thứ nhất và đồng thời lược bỏ bớt chi tiết” (tr.120). Cuối cùng, quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du cũng là nền tảng tạo nên diện mạo của hình tượng tác giả trong Truyện Kiều.

    Chương V khảo sát “Mô hình tự sự và ngôn ngữ nghệ thuật” của Truyện Kiều. Tác giả chuyên luận đặc biệt chú ý tới hình thức tự sự, mô hình cốt truyện, bản chất thể loại, vai trò của độc thoại nội tâm và sự đổi mới cấu trúc tự sự của tác phẩm. Ông đặt vấn đề về khuynh hướng cảm thương chủ nghĩa, phân tích chất trữ tình và giọng điệu nghệ thuật cảm thương trong Truyện Kiều. Ông bàn về màu sắc trong Truyện Kiều như một loại ngôn ngữ nghệ thuật, một phương tiện được Nguyễn Du sử dụng để “nói”, qua đó ta có thể đọc được cách cảm nhận đời sống của Nguyễn Du. Ông phân tích hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện bằng ngôn từ, như phép sóng đôi, đối ngẫu, ẩn dụ trong Truyện Kiều. Ngay ở đây, khảo sát hệ thống phương tiện biểu đạt ở tầng ngôn bản

    và kết cấu tác phẩm của Truyện Kiều, Trần Đình Sử vẫn không quên đặt chúng trong mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du.

    Tôi không có ý định liệt kê, và cũng không thể nào liệt kê hết những kết luận mang tính chất phát hiện ở hai chương sách quan trọng nhất của cuốn Thi pháp Truyện Kiều. Bởi vì, như đã nói ở đầu bài viết, cuốn sách của Trần Đình Sử đầy những phát hiện; phát hiện nào cũng sâu sắc góp phần nâng sự hiểu biết và trình độ cảm thụ của người đọc đối với Truyện Kiều lên một tầm cao mới. Điều cốt lõi mà tôi muốn nói ở đây là thế này: bằng những phát hiện như thế, chuyên luận của Trần Đình Sử góp phần cấu tạo ra một Truyện Kiều tồn tại trong ý thức nhà nghiên cứu, ý thức của chủ thể tiếp nhận. Trần Đình Sử gọi Truyện Kiều của Nguyễn Du là một “mô hình nghệ thuật”. Truyện Kiều trong ý thức tiếp nhận của Trần Đình Sử vừa phản ánh cái logíc của mô hình nghệ thuật ấy, lại vừa thể hiện lôgíc của một “mô hình đọc”. Nền tảng của “mô hình đọc” này là “quan niệm nghệ thuật về con người”. Xuất phát từ phạm trù then chốt là quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du, Trần Đình Sử đã sử dụng cả một hệ thống khái niệm của thi pháp học hiện đại kết hợp với các thao tác của ngữ học, tự sự học, phong cách học tạo ra một “mô hình đọc” nhằm xác nhận tính sáng tạo của Truyện Kiều trong chỉnh thể toàn vẹn của nó. Tôi sử dụng “mô hình đọc” ở đây với một ý nghĩa khoa học xác định. Trong cuốn Phản ánh và hành động, nhà nghiên cứu văn học Horst Rederker nói rằng: “Trong khoa học, những mô hình được sáng tạo trước tiên không phải để chứng minh cái đã biết mà cốt là để thông qua mô hình nhận thức cái khó tiếp cận ở nguyên tác” [4]. Được chiếu rọi qua cái mô hình đọc theo hướng thi pháp học hiện đại của Trần Đình Sử, Truyện Kiều của Nguyễn Du bỗng ánh lên những vẻ đẹp mới, ý nghĩa mới mà trước kia, bằng những cách đọc cũ, ta chưa thể phát hiện, không thể nhìn thấy./

    [1]: Trần Đình Sử.- Thi pháp Truyện Kiều. Nxb Giáo dục, 2002.

    [2]: Xem: Phan Ngọc.- Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb KHXH, Hà Nội, 1987.

    [3]: Xem: Trần Đình Sử.- Thi pháp thơ Tố Hữu. Nxb Tác phẩm mới, 1987

    [4]: Horst Redeker.- Phản ánh và hành động- Phép biện chứng của chủ nghĩa hiện thực trong sáng tạo nghệ thuật (bản dịch tiếng Nga). M., 1971, tr.127. Chữ “nguyên tác” ở đây có thể hiểu là đối tượng nhận thức, đối tượng nghiên cứu trong thực tế.

  • TỔNG HỢP 5 BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH TRAO DUYÊN TRONG TRUYỆN KIỀU

    TỔNG HỢP 5 BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH TRAO DUYÊN TRONG TRUYỆN KIỀU

    TỔNG HỢP 5 BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH TRAO DUYÊN TRONG TRUYỆN KIỀU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tuyển tập gợi ý các bài văn nghị luận xã hội Ngữ văn 9


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TỔNG HỢP 5 BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH TRAO DUYÊN TRONG TRUYỆN KIỀU

    TỔNG HỢP 5 BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH “TRAO DUYÊN” TRONG TRUYỆN KIỀU

    Mẫu 1:

    Duyên phận là của trời cho, không được cưỡng cầu và càng không nên ép buộc, nhờ vả. Thế nhưng Thúy Kiều trong đoạn trích “Trao duyên” (Truyện Kiều) của Nguyễn Du đã cho mình cái đặc quyền đị “nhờ”, “cậy” duyên như vậy. Tác giả đã phân tích thành công tâm trạng chua xót, đầy đơn đau của Thúy Kiều khi phải trao mối duyên đầu với Kim Trọng cho em gái là Thúy Vân. Một nghịch cảnh trớ trêu, bất hạnh.

    Đã gọi là duyên thì đến rất tự nhiên, đi tìm cũng không được, duyên đến thì giữ, duyên đi thì buông tay. Đó là duyên phận của mỗi người, mỗi cuộc đời khi gặp gỡ nhau. Trong tình yêu thì chữ „duyên” này càng lớn lao và quan trọng. Nhưng Thúy Kiều trong đoạn trích “Trao duyên” đã phải mang chữ duyên của mình gởi nhờ một người khác.

    Nguyễn Du đã chua xót khi khắc họa tâm trạng của Thúy Kiều lúc này:

    Cậy em em có chịu lời

    Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

    Chỉ với hai câu thơ nhưng biết bao chua xót và dằn vặt, biết bao nước mắt và đau đớn. Từ “cậy” được đặt lên đầu câu diễn tả hoàn cảnh ngặt nghèo, khó thưa, khó gửi của Thúy Kiều. Vốn dĩ Thúy Kiều là chi, sẽ không có chuyện “thưa”, “lạy” Thúy Vân bất cứ việc gì; nhưng trong hoàn cảnh này, nàng đã phải làm những việc tưởng chừng như nghịch lý như vậy. Mối duyên với chàng Kim là mối duyên trời cho, nhưng số phận của Thúy Kiều giờ nổi trôi, bấp bênh, nàng không muốn phụ chàng, nên đã muốn cậy nhờ em gái nối tiếp mối duyên dở dang ấy. Câu thơ như cứa vào lòng người đọc nỗi chua xót cùng cực. Từ “cậy” là điểm nhấn, là sự thành công về mặt ngôn ngữ của Nguyễn Du.

    Thúy Kiều bắt đầu giãi bày nỗi lòng của mình bằng những câu thơ như dao cắt:

    Giữa đường dứt gánh tương tư

    Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em

    Kể từ khi gặp chàng Kim

    Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề

    Sự đâu sóng gió bất kì

    Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

    Đến đây thì người đọc đã thực sự hiểu hết ý nghĩa của từ „cậy”, nó không còn là nhờ nữa mà mang tính chất ép buôc, bắt buộc phải làm. Thúy Kiều hiểu được hoàn cảnh, hiểu được nỗi đau của bản thân mình. Nàng đã hi sinh chữ tình vì chữ hiếu, quyết phụ chàng Kim, chứ không thể phụ cha mẹ. Một người con gái yếu đuối, mỏng mang nhưng rất mực hiếu thảo. “Gánh tương tư” đã đứt gánh, mối duyên đã vỡ, nhưng Kiều không muốn chàng Kim đau lòng, nàng chỉ mong Thúy Vân có thể nối lại mối duyên này. Mặc dù “trao duyên” cho em gái nhưng lòng nàng đau

    hư cắt. Những hẹn ước, những mong chờ, những kỉ niệm cứ như xát muối vào trong trái tim người con gái mỏng manh ấy.

    Thúy Kiều đã rất khéo léo khi „cậy” duyên em gái, đã đem chuyện mãu mủ để ép Thúy Vân nên

    Thúy Vân không thể từ chối được:

    Ngày xuân em hãy còn dài

    Xót tình máu mủ thay lời nước non

    Chị dù thịt nát xương tan

    Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây

    Thúy Kiều và Thúy vân đều đang “đến tuổi cập kề‟ nhưng nàng lại nhắn nhủ với Thúy Vân “ngày xuân em còn dài”, có thể gánh tiếp mối duyên với chàng Kim, với người mà Kiều yêu thương. Một sự chua xót đến đau lòng khi Kiều nhắc đến cái chết, một dự liệu chẳng lành hay là một cuộc đời sẽ chẳng bình an mà nàng sắp phải mang. Thúy vân có thể giúp đỡ thì dù mai này có chết Kiều vẫn “ngậm cười chín suối”. Qua đây chúng ta thấy được tấm lòng, sự lương thiện, sống và yêu hết lòng mình.

    “Trao” đi mối duyên mà bản thân nâng niu, trân trọng là điều đau đớn, chua xót mà Kiều phải gánh chịu. Nhưng đây là con đường Kiều phải chọn để di, vì không còn lựa chọn nào khác nữa. Kiều mong em gái có thể giữ lấy mối duyên mà cô phải buông bỏ, để không phụ tấm lòng của Kim Trọng.

    Và dường như cái chết càng hiển rõ nét trong những lời nói của Kiều:

    Mai sau dù có bao giờ

    Đốt lò hương ấy so tơ phím này

    Trông ra ngọn cỏ lá cây

    Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

    Hồn còn mang nặng lời thề

    Nát thân bồ liễu đèn nghì trúc mai

    Dạ đài cách mặt khuất lời

    Rảy xin chén nước cho người thác oan.

    Sống trong xã hội nhiều bất công, những người đáng lẽ ra phải được hưởng một cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn lại phải lựa chọn con đường đi nhiều nước mắt. Cái chết không phải là kết thúc đối với Kiều, vì nàng còn mang nặng món nợ lớn với đời, với Kim Trọng. Thúy Kiều chỉ có thể bất lực với tình yêu của mình, mong Kim Trọng có thể hiểu được. Sự bế tắc và đau khổ trong lòng Thúy Kiều dường như chồng chất và đè nén không thể thoát ra được. Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ có sát khí mạnh, cứa vào lòng người đọc một nỗi đau tận trái tim. Thương cho cô gái yếu đuối, với trái tim yêu chân thành nhưng lại rơi vào bế tắc cùng cực như vậy.

    Đoạn trích “Trao duyên” thực sự khiến người đọc không kìm được cảm xúc khi nghĩ đến thân phận và nỗi đau mà người con gái hiếu thảo ấy phải gánh chịu. Xã hội bất công, lòng người bạc

    bẽo đã đẩy những phận người thấp cổ bé họng vào con đường không lối. Thúy Kiều và mối tình đứt gánh ấy là minh chứng cho điều đó.

    Mẫu 2:

    Con người khi đứng trước sự lựa chọn của bên nghĩa bên tình thì rất khó lựa chọn. Tuy nhiên thì công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả vậy cho nên nếu là một người con hiếu thảo yêu thương cha mẹ của mình thì dẫu cho tình yêu kia có đẹp đến mấy thì vẫn quyết định chọn chữ nghĩa để trả ơn bố mẹ. kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã chọn chữ “nghĩa” lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn vù đắp cho tình cảm kia của mình. Vì thế nàng quyết định trao duyên cho em gái là Thúy Vân. Đoạn trích trao duyên thể hiện được tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên của mình cho nàng Thúy Vân.

    Duyên là một thứ để cho con người ta gặp gỡ, để mà yêu nhau và nếu có phận thì sẽ có thể bên nhau đến trọn đời. Và đặc biệt cái duyên cái nợ là do ông tơ bà nguyệt se tơ kết tóc nối duyên. Thế nhưng ở đây Thúy Kiều đã như đoạt lấy cái quyền hành ấy mà để nối duyên của mình cho em. Nàng có duyên với chàng Kim Trọng nhưng lại không có phận vì thế cho nên nàng muốn nối duyên cho em. Vì trong thâm tâm nàng đó như một cái để nàng đền đáp những ân tình của chàng Kim mà chàng đã trao cho nàng. Trao duyên đi lòng nàng không khỏi đau xót vì tình yêu duy nhất và đầu tiên của nàng đã không thành. Phải chăng tình đầu là dang dở.

    Với hai câu thơ đầu ta thấy được những hành động của Thúy kiều thật khác bình thường. Nàng như đang hạ thấp bản thân mình để cầu xin em, trao duyên nhưng cũng là cầu xin em giúp chị và chấp nhận:

    “Cậy em em có chịu lời.

    Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

    Là một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế nhưng ở đây

    Kiều trao duyên hay chính là đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm chân tình với Kim

    Trọng. Những từ “cậy”, “ngồi lên”, “lạy”, “thưa” là những từ để chỉ thái độ kính trọng của người

    dưới đối với người trên thế mà ở đây bị xáo trộn. Thúy Kiều là chị nhưng lại phải lạy em cậy

    nhờ. Cái “cậy” kia mang ý nghĩa ép buộc Thúy Vân phải làm nhiều hơn là nhờ.

    Nói là nhờ thì lại rất bình thường nhưng nói là cậy thì cái nhờ vả kia lại nặng hơn gấp bội. Dùng ngôn ngữ như thế tác giả có ý muốn nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều. Nàng thành khẩn giống như cầu xin em mình để đền đáp tình cảm cho chàng Kim.

    Nàng cậy nhờ rồi nàng nói lên những lời tâm tư tình cảm của bản thân mình. Đó là những tâm sự tận sâu trong đáy lòng của nàng:

    “Giữa đường đứt gánh tương tư

    Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em

    Kể từ khi gặp chàng Kim

    Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề

    Sự đâu sóng gió bất kì,

    Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai. ”

    Nàng như thể hiên được cái nỗi đau xót của bản thân mình khi tình duyên lỡ dở. Chính vì chữ hiếu mà nàng hi sinh chữ tình phụ chàng Kim. Và có lẽ thế nàng vừa đau xót cho thân mình vừa

    đau đớn cho cuộc tình dang dở. Chàng Kim ấy vẫn đang chịu tang nơi quê nhà không hề hay biết những chuyện nơi đây. Nàng chỉ mong Vân có thể nối duyên bù đắp những gì của mình vẫn còn dang dở. Chính vì thế mà Kiều mong Vân chấp nhận sự cậy nhờ của mình mà chắp mối tơ loan với chàng Kim Trọng. Sự ngậm ngùi ấy được phát ra từ những câu thơ trên. Dù cho là chị em nữa nhưng phải gượng ép trao đi thứ mình không muốn trao và thứ mà người ta không muốn nhận thì chẳng khác nào mất đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy Kiều cậy nhờ mình chứ nào đâu hiểu hết được “ Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Vốn dĩ chữ tình và chữ hiếu không thể đặt lên bàn mà cân cho được.

    Thúy Kiều vịn vào tình cảnh của gia đình hiện tại và thêm nữa là tình máu mủ ruột già. Điều đó càng làm cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được:

    “Ngày xuân em hãy còn dài

    Xót tình máu mủ thay lời nước non

    Chị dù thịt nát xương mòn

    Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!”

    Rõ ràng cả hai chị em cùng đến tuổi xuân xanh đang tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân, tuổi biết yêu thương lấy một người nào đó. Vậy mà Kiều lại nói là tuổi xuân của Thúy Vân còn dài trong khi mình thì nào có khác đâu. Nói như thế để cho thấy Kiều như đã xác định được con đường mà nàng sắp phải đặt chân đến, không yên bình như những ngày tháng trước đây nữa mà sóng gió có thể mang cô đi bất cứ lúc nào. Kiều mong vân xót tình chị em máu mủ ruột già mà hãy chấp nhận lời thay chi làm trọn lời hẹn thề với chàng Kim. Nếu được như thế thì ngay cả khi những sóng gió kia bủa vây lấy nàng cướp nàng đi khỏi thế gian này. Mặc cho sang thế giới bên kia không còn nguyên vẹn thì Kiều cũng cảm thấy thơm lây cái sự hi sinh của em gái cho mình.

    Khi đã trao duyên xong nàng như cảm thấy được những tâm trạng đang bủa vây đến nàng. Nàng đã hoàn thành xong cái đền đáp ơn nghĩa với Kim Trọng nhưng lòng lại thấy buồn vì vừa trao đi, mất đi một tình yêu đầu êm đềm dịu ngọt. Hơn nữa tình yêu ấy mới bắt đầu:

    “Chiếc vành với bức tờ mây

    Duyên này thì giữ vật này của chung

    Dù em nên vợ nên chồng

    Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên

    Mất người còn chút của tin

    Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”

    Chiếc vành với tờ mây kia chính là những kỉ vật tình yêu của hai người. họ đã cùng nhau thề nguyền sống chết, họ đã có với nhau những ngày tháng hạnh phúc những niềm vui tràn ngập vậy mà giờ đây cái xã hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu mà hi sinh chữ tình. Nàng chỉ mong mai này khi chàng Kim và em của nàng có thành duyên vợ chồng rồi thì mong họ hãy nhớ đến nàng. Những kỉ vật tình yêu của nàng với chàng Kim chỉ mong tham lam giữ thành của chung của ba người. Dẫu đã trao cho Thúy Vân những kỉ vật ấy nhưng nàng vẫn luyến tiếc và mong rằng nó sẽ là của chung. Nguyễn Du không đặt những kỉ vật ấy vào trong cùng một câu thơ mà lại chia ra

    thành mấy câu thơ. Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn của nàng

    Kiều khi phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái mình. Nàng như cố níu

    giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình phải đưa cho Vân những kỉ vật ấy

    nếu không thì sẽ không thể nào mà đền đáp tấm ân tình của chàng Kim trọng được. Có thể nói

    qua những câu thơ trên tâm trang của thúy Kiều được hiện thật sự rất rõ nét. Đó chính là tâm

    trạng mong muốn trở lại những ngày tháng trước đây. Đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình

    yêu ấy.

    Kiều đau đớn như nghĩ đến cái chết, có lẽ là nàng tưởng tượng ra cảnh mai này Kim và vân sống hạnh phúc mà nàng phải chứng kiến cảnh yêu thương của họ thì nàng sống không bằng chết. Hay từ khi xác định bán thân nàng đã quyết định chọn cái chết để kết thúc cuộc đời này. Tuy vậy nàng vẫn mong rằng:

    “Mai sau dù có bao giờ

    Đốt lò hương ấy so tơ phím này

    Trông ra ngọn cỏ lá cây

    Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

    Hồn còn mang nặng lời thề

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

    Dạ đài cách mặt khuất lời

    Rảy xin chén nước cho người thác oan”

    Sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật sự đau

    oan khuất mà cứ vấn vương trên cõi trần không thể siêu thoát. Mai sau nếu thấy hiu hiu gió thì có

    thể cảm nhận là nàng đang về. Cơn gió kia thể hiện sự vương vấn cõi trần này của nàng. Lời thề

    với chàng Kim thì dẫu cho Kiều có nát thân liễu yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho

    chàng Kim. Khi ấy chỉ mong kim và Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan là Thúy

    Kiều. Có thể nói cuộc sống của con người ai mà chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi

    trong họ thật sự cảm thấy rất đau khổ không thể nào có thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám

    nghĩ đến. kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con dường mà nàng sắp đi

    khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào.

    Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư của nàng Thúy kiều. Tình đầu là thứ tình cảm thiêng liêng đẹp đẽ nhất, duyên phận vốn trớ trêu với con người. Chính vì thế chữ tình kia không trọn cho phận má đào. Cô không muốn chàng Kim đợi chờ mình mà mong rằng Thúy Vân em cô sẽ giúp cho anh có một cuộc sống hạnh phúc. Dẫu biết vậy nhưng nàng không khỏi đau khổ khi trao duyên.

    Mẫu 3:

    Cuộc đời của con người tài sắc Thuý Kiều từ khi gia đình có tai biến đã trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn được ghi dấu bằng một niềm đau. Trong Truyện Kiều, có thể nói “trao duyên” là niềm đau lớn nhất. Bởi với Thuý Kiều, trao duyên – dù cho chính em gái mình – cũng nghĩa là hết. Phải chọn tình hay hiếu, Thuý Kiều có băn khoăn nhưng không oán hờn bởi nàng biết và nàng hiểu “làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nhưng khi phải từ bỏ lời thề vàng đá, Thuý Kiều đã day dứt và day dứt suốt đời.

    Trong Truyện Kiều, đoạn Trao duyên có vai trò như một cái bản lề khép mở hai phần đời đối lập của Kiều : hạnh phúc và đau khổ. Không những thương, Vân còn rất hiểu lòng Kiều. Có lẽ vì vậy mà sau đó, chuyện tình duyên khó trao, khó nhận nhưng Vân đã bằng lòng với nỗi niềm cảm thông mà chẳng nói thêm gì (có ý kiến cho rằng : Thuý Vân chỉ biết bằng lòng vì lời nói rất đỗi thuyết phục của Thuý Kiều).

    Chỉ chờ có vậy, Thuý Kiều đã mở đầu câu chuyện mà đáng lí ra chẳng ai nói đến bao giờ :

    “Cậy em em có chịu lời,

    Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

    Nghe xong Thuý Vân chắc sẽ rất bất ngờ. Lời chị khẩn khoản, thiết tha chắc không thể chỉ là chuyện bình thường. Trong nhóm các từ biểu đạt sự nhờ vả, Nguyễn Du đã chọn được hai từ đắt nhất và cũng hợp với hoàn cảnh nhất : cậy và chịu. Cậy không chỉ là nhờ. Cậy còn là trông đợi và tin tưởng. Cũng vậy, chịu không chỉ là nhận lời, chịu còn là nài ép. Chuyện chưa nói ra nhưng Kiều biết người nhận không dễ dàng chịu nhận nên nàng đã chủ động đưa Vân vào thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan. Lời xưng hô nghiêm cẩn và trang trọng của Thuý Kiều lại càng có tác dụng gây áp lực đối với Thuý Vân.

    “Chọn” và “đặt vấn đề” một cách nhanh chóng và kĩ càng, Thuý Kiều dường như ngay lập tức tiếp lời như nếu để lâu sẽ không thể nào nói được :

    “Giữa đường đứt gánh tương tư,

    Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

    Vậy là cái điều tưởng như khó nhất, Thuý Kiều đã nói. Thuý Vân hết sức ngỡ ngàng nhưng cũng nhanh chóng hiểu nỗi niềm của chị. Đoạn thơ ngắn gọn, hướng vào những chuyện riêng tư. Tình yêu dở dang, tan vỡ được thông tin ngắn gọn trong một thành ngữ nặng nề, chắc nịch (đứt gánh tương tư). Câu thơ thứ 4 lại hay ở hai chữ tơ thừa. Với Thuý Kiều, tình yêu chưa thể coi là đã đủ mặn mà nhưng với em (Thuý Vân) nó chỉ là sự nối tiếp. Lời Kiều sâu sắc và cũng thật xót xa.

    Những câu thơ tiếp điểm qua những biến cố đời Kiều. Những biến cố ấy, Thuý Vân đều chứng kiến, thấu hiểu và cảm thông “khi gặp gỡ chàng Kim” và cả “khi sóng gió bất kì”.

    Tám câu thơ đầu, ngoài lời trao duyên, Thuý Kiều chủ yếu nói về những bất hạnh của mình. Nh-ng để trao duyên, Thuý Kiều còn phải chọn những lời lẽ thuyết phục :

    “Ngày xuân em hãy còn dài,

    Xót tình máu mủ thay lời nước non.

    Chị dù thịt nát xương mòn,

    Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

    Đoạn thơ sử dụng nhiều thành ngữ, lời lẽ ý vị, kín đáo, vẹn tình. Người “nhận” có ba lí do để không thể khước từ. Trước hết, không cách nhau nhiều về tuổi tác nhưng phải nhắc đến hai chữ ngày xuân với Kiều sao giờ quá nặng nề. Rõ ràng xét về ngày xuân (hiểu là sự trong trắng tinh khôi) thì giờ đây Thuý Kiều đâu thể xứng đáng với Kim Trọng bằng Thuý Vân. Kiều dù sao cũng mang danh là đã có chồng. Lí do thứ hai lại càng thuyết phục hơn. Kiều đang nhờ Vân một điều mà chẳng ai nhờ vả bao giờ. Đã khó nhờ, khó nhận thì vả chăng chỉ có là tình chị em máu mủ mới dễ đồng cảm, để rồi “chấp nhận” cho nhau. Lí do thứ ba nghe sao như một lời khẩn cầu đầy chua xót:

    “Chị dù thịt nát xuơng mòn,

    Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

    Không hẳn là lí do nhưng lại hoàn toàn hợp lí. Câu thơ khẩn cầu như một lời trăng trối. Và có ai lại đang tâm từ chối ước nguyện của người thân sắp phải thuộc về hoàn cảnh bấp bênh, khôn lường bất trắc ? Người ta nói Nguyễn Du là người sâu sắc nước đời là ở những chỗ như vậy.

    Duyên đã được trao, người “nhận” cũng không có lí do gì để từ chối. Thuý Kiều trao kỉ vật cho em :

    “Chiếc vành với bức tờ mây,

    Duyên này thì giữ, vật này của chung”

    Thuý Kiều mất bao công sức để thuyết phục Thuý Vân nhưng chính lúc Thuý Vân chấp nhận thì cũng là lúc Thuý Kiều bắt đầu chới với để cố níu mình lại với tình yêu. Duyên đã khó trao, tình làm sao trao được ? Tìm về với những kỉ vật thiêng liêng (chiếc vành, bức tờ mây, mảnh hương nguyền) cũng là để được về với tình yêu của nàng. Những kỉ vật đẹp đẽ đó gắn liền với những ngày đẹp nhất đời Kiều. Nó thiêng liêng khi nó chỉ là của riêng nàng và Kim Trọng. Tình yêu không có người thứ ba, khi có người thứ ba, sự thiêng liêng bắt đầu đổ vỡ. Câu thơ “Duyên này thì giữ vật này của chung” thể hiện tâm trạng của Kiều xiết bao đau đớn. Tình yêu và niềm tin đối với Thuý Kiều giờ đây đã hoàn toàn trượt mất.

    Cố níu kéo tình yêu bằng kỉ vật (dù chỉ trong tâm tưởng), Thuý Kiều đành ngậm ngùi đau xót nghĩ về tương lai :

    “Mai sau dù có bao giờ,

    Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

    Trông ra ngọn cỏ lá cây,

    Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”

    Thuý Kiều như chìm trong tê dại, mê man trong cảm giác xót xa. Nhưng ngay trong lúc tưởng chừng như đã hoàn toàn cách biệt âm dương thì lời thề vàng đá của Kiều vẫn không hề thay đổi :

    “Hồn còn mang nặng lời thề,

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”

    Tìm về tình yêu bằng cảm giác từ cõi tâm linh, Thuý Kiều vẫn không quên nghĩ về sự tủi hổ, bất hạnh của mình :

    “Dạ đài cách mặt khuất lời,

    Rảy xin chén nước cho người thác oan”.

    Đoạn thơ cuối là cảm giác trở về của Thuý Kiều từ cõi hư không. Thời gian không còn là thời gian tâm trạng, nó là thời gian khách thể. Trở về với hiện thực, Thuý Kiều xót xa chấp nhận sự phũ phàng của định mệnh, chấp nhận “trâm gãy bình tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”. Đoạn thơ dùng nhiều thành ngữ để nói tới cái “nhất thành bất biến” không thể thay đổi, chuyển dời. ý thức về hiện tại, Kiều chỉ còn biết thương mình, oán hờn số phận. Ngay trong lúc tưởng chừng Kiều sẽ buông xuôi, thì suy nghĩ của nhân vật lại rẽ sang hướng khác :

    “Ôi Kim lang ! Hỡi Kim lang

    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

    Câu thơ thực chất là tiếng kêu thảng thốt, là tiếng nấc nghẹn ngào của người con gái đã hoàn toàn tuyệt vọng.

    Thuý Kiều sau đó xa cách Kim Trọng mười lăm năm nhưng trong mười lăm năm ấy không lúc nào nàng nguôi nhớ đến mối tình đầu. Song có lẽ không cần phải đợi đến mười lăm năm. Ngay trong ngày phải đau đớn “trao duyên”, người đọc có thể thấy tình yêu trong lòng người con gái ấy không gì có thể chia cắt nổi.

    Đoạn trích bộc lộ nỗi đau, tình yêu và số phận bi kịch của Kiều. Qua nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình của Nguyễn Du, nỗi đau và vẻ đẹp tâm hồn của nàng Kiều – người con gái tài sắc, tình nghĩa vẹn toàn – đã được thể hiện một cách tinh tế và toả sáng lấp lánh.

    Mẫu 4:

    Nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du ta không thể không nhắc đến tuyệt tác của ông: Truyện Kiều, một tác phẩm mang giá trị nhân đạo, giá trị nhân văn sâu sắc. Song tác phẩm này còn thành công

    • giá trị nghệ thuật, nghệ thuật trong thơ đã lên đến đỉnh cao. Đặc biệt là nghệ thuật dẫn diễn tả tâm trạng nhân vật. Một trong những đoạn trích đặc sắc nhất về cuộc độc thoại nội tâm là Trao duyên. Đây là đoạn thơ diễn tả nỗi đau khổ của Thúy Kiều khi trao duyên cho em gái là Thúy

    Vân, để nhờ Thuý Vân trả nghĩa cho Kim Trọng, người yêu của mình.

    Cậy em, em có chịu lời,

    Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

    Không phải nhờ mà là cậy, chị nhờ em giúp chị với tất cả lòng tin của chị. Nhờ em nhưng cũng là gửi gắm vào em. Bao nhiêu tin tưởng bao nhiêu thiêng liêng đặt cả vào từ cậy ấy! Cũng không phải chỉ nói mà là thưa, kèm với lạy. Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự “thay bậc đổi ngôi” giữa hai chị em như thế. Nguyễn Du thật tài tình, như đọc thấu tất cả nỗi lòng nhân vật. Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật, nói hết với em, phải giãi bày tất cả. Bởi vì không có cách nào khác là phải nhờ em. Gánh tương tư đâu có nhẹ nhàng gì, thế mà vì mình giờ đây bỗng giữa đường đứt gánh, ai mà không đau khổ. Nhưng, gánh nặng vật chất thì san sẻ được, nhờ người khác giúp đỡ được, còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều hiếm thấy xưa nay. Vì vậy, Kiều mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa, vì nàng hiểu nỗi khó khăn, sự tế nhị của gánh nặng này. Rõ ràng, Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu của mình để giúp chị. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Tuy nhiên, Thúy Vân vốn là cô gái vô tư, thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay, Thúy Kiều phải giành cho mình phần hi sinh lớn hơn; không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha, cứu em.

    Mối tình giữa Kim Trọng và Thúy Kiều là một mối tình trong sáng và đẹp đẽ nhất. Vậy nên Thúy Kiều khó lòng chia tay Kim Trọng. Nàng đã rất đau khổ, rất xót xa khi phải trao duyên cho Thúy Vân. Đây là nỗi đau đớn dằn vặt, đau đớn cho cuộc tình tan vỡ đồng thời cũng là nỗi xót xa, xót xa cho thân phận của chính mình. Nếu ta coi truyện Kiều là một bi kịch đằng đẵng về cuộc đời Kiều thì đoạn này thể hiện bi kịch đầu tiên ấy.

    Trước khi nàng phải từ bỏ tất cả theo Mã Giám Sinh để có thể chuộc cha, thì nàng đã phải dùng mọi lời lẽ để nhờ Thúy Vân giúp mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Nàng dùng lời an ủi, động viên Vân bằng những lời rất thiết tha.

    Ngày xuân em hãy còn dài

    Xót tình máu mủ thay lời nước non

    Nàng đã nhắc đến tình màu mủ, ruột thịt, mối quan hệ huyết thống mong có thể đền đáp, trả nghĩa cho tình đôi lứa, tình “non nước”. Nàng an ủi Vân cũng chính là an ủi mình đã chọn con đường đúng, mình đã bỏ qua chữ tình để giữ trọn chữ “hiếu”. Tuy đây là lời an ủi, động viên song là nỗi day dứt, xót xa trong Kiều. Kiếu tuy trao duyên chứ không thể trao tình được.

    Nàng đã rối loạn rồi, nàng đã nghĩ đến cái chết:

    Chị dù thịt nát xương mòn

    Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây

    Rồi nàng lại gợi những kỉ niệm cũ, những kỉ vật đẹp đẽ của mối tình dang dở:

    Chiếc vành với bức tờ mây

    Duyên này thì giữ, vật này của chung

    “Chiếc vành” và “bức tờ mây” vốn là những vật đẹp đẽ, quen thuộc gắn bó giữa hai người nay

    lại là “của chung” của cả ba người Kim Trọng, Thúy Vân và Thúy Kiều. Kiều đã vô cùng xót xa khi dùng từ “của chung”. Lòng Kiều như xát muối, Kiều sao chịu được nỗi đau này, tình cảm sao có thể chia sẻ được đây? Kiều đã khéo léo dành chữ “duyên” giữ lại cho Vân, còn chữ tình thì vẫn giữ lại cho mình. Càng chứng minh rằng tình cảm của Kiều thật thiết tha, nồng cháy. Song càng nồng cháy bao nhiêu thì khi phải chia sẻ tình cảm Kiều lại càng đau đớn bấy nhiêu. Trong Kiều như càng ngày càng bì giằng xé, Kiều rối bời, đau xót cho thực tại phũ phàng.

    Nhưng thật trớ trêu, Kiều càng giải bày tâm sự thì lời nói của Kiều lại càng đau xót hơn:

    Mất người còn chút của tin

    Phím đàn với mảnh hương huyền ngày xưa

    Nàng không còn bình tĩnh nữa mà cũng không còn vui vẻ, tươi cười như ngày nào, nàng đã nhận ra và ý thức được thân phận của mình, thân phận tài hoa mà bạc mệnh. Vì tình cảm không thể chấm dứt nên cứ dai dẳng mãi khiến Kiều lại tiếp tục nhắc đến các kỉ vật “phím đàn”, “mảnh gương nguyền” và “chút của tin”. Đây không chỉ là các kỉ vật tượng trưng cho tình yêu hai người nữa mà chúng còn gợi ra sự xót xa cay đắng trong lòng tâm hồn Kiều:

    Nàng lại một lần nữa nghĩ tới cái chết:

    Hồn còn mang nặng lời thề

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

    Dạ đài cách mặt khuất lời

    Rảy xin chén nước cho người thác oan

    Kiều quả là người chung thủy, tuy đã trao duyên cho Vân rồi, tuy ngay cả khi nàng chết chăng nữa, nhưng nàng vẫn luôn mang theo lời thề đã trao cho Kim Trọng. Trong nỗi đau đớn của mình, nàng đã nhận mình là người thác oan. Qua đây, ta thấy rằng Kiều ý thức sâu sắc về thân phận bạc bẽo của mình. Nàng xót xa, hay chính tác giả cũng phải xót xa trước con người tài hoa, bạc mệnh. Qua đoạn này, Nguyễn Du đã tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến đương thời, xã hội đã chà đạp lên cuộc đời của con người, khiến họ đến bế tắc, đến đường cùng.

    Kiều vô cùng day dứt, nối tiếc dĩ vãng đã xa, nàng cũng đau đớn trước thực tại cũng rất lo lắng, sợ hãi và bế tắc cho tương lai của chính mình: “mảnh gương nguyền ngày xưa”, “bây giờ trâm gãy bình tan”, “mai sau dù có bao giờ”. Một cuộc đời đầy những bất hạnh, và bi kịch, mọi thứ điều đen tối, đen tối cho cuộc đời nàng, cho tiền đồ của nàng:

    Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

    Nàng quay sang nói với Kim Trọng, hay chỉ là bóng của Kim Trọng. Nguyễn Du đã dùng hình ảnh ước lệ thể hiện nỗi đau đột ngột, cái hạnh phúc của con người bỗng chốc đã bị tan vỡ, càng nhấn mạnh được cuộc đời bi kịch của nàng. Câu thơ giống như tiếng than xé lòng, một tiếng than não ruột về thân phận chính mình. Đối với người phụ nữ, đặc biệt là với Kiều, hạnh phúc quá mong manh, Kiều chưa kịp hưởng trọn hạnh phúc thì nó đã vụt mất. Nàng chưa kịp có một gia đình bên người mình yêu thì tai họa đã đến. Ta cảm nhận được nỗi tái tê, sự bế tắc trong lòng Kiều:

    Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi…

    Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng

    Kìều tê tái nhận ra thân phận bi kịch của mình qua từ đã đành ấy, “ấy thôi”,

    Phận sao phận bạc như vôi

    Trong cùng một câu thơ mà từ “phận” đã được nhắc đến hai lần, như nhấn mạnh thêm số phận nhỏ bé của những con người tài hoa bạc mệnh, như khẳng định sự đau xót bẽ bàng của Kiều. Đặc biệt “đã đành” như nói lên tâm trạng ngậm ngùi, tủi hổ có mang cả nét buông xuôi, chấp nhận của nàng.

    Câu thơ như thấm cả nước mắt chua chát của chính Kiều

    Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang

    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây

    Câu thơ như vỡ òa trong nước mắt cay đắng của cuộc đời Kiều. Tuy đoạn thơ đã kết thúc trong tiếng gọi của Kiều với Kim Trọng vẫn còn nồng nàn, tha thiết.

    Đoạn trích này là một bi kịch đầu tiên trong cuộc đời Kiều “từ đây “một lần nữa đánh dấu mốc thời gian cay đắng của cuộc đời Kiều. Ta như xót xa thay tấm lòng của nàng.

    Mẫu 5:

    Đoạn thơ Trao duyên trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du là cái mốc đánh dấu sự mở ra

    một chặng đường đầy biến cố và đau thương của nàng Kiều với chuỗi ngày sống không bằng

    chết trong chốn nhơ nhuốc, hỗn loạn..Trao duyên chủ yếu thể hiện diễn biến tâm trạng của Thúy

    Kiều từ mâu thuẫn dẫn đến chỗ ý thức được bi kịch. Đồng thời đoạn trích cho ta thấy rõ tấm lòng

    cũng như tài năng của Nguyễn Du trong việc miêu tả tâm lí nhân vật ở Truyện Kiều.

    Ta có thể chia đoạn trích thành hai phần nhỏ nhằm thuận lợi trong việc phân tích và lam nổi bật diễn biến tâm trạng của “cô Kiều” đáng thương. Phần thứ nhất từ đầu đến câu: “Duyên này thì giữ, vật này của chung.” Phần thứ hai là phần còn lại.

    Mở đầu đoạn thơ, người đọc bắt gặp cái băn khoăn, vướng mắc mà nàng Kiều đang rất bối rối, e ngại. Và rồi đó là sự thổn thức trong lòng buộc nàng phải thốt ra những lời mà ngay cả người đọc cũng cảm thấy mủi lòng huống hồ là em gái ngoan Thúy Vân của nàng…

    Cậy em, em có chịu lời,

    Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

    Không thể chối cãi tài năng về ngôn từ của Nguyễn Du. Trong vốn từ vựng giàu có và đồ sộ của dân tộc ta, thật quá tài tình để chọn được một động từ diễn tả trọn vẹn cả ý và tình như từ “cậy” và “lạy” trong câu thơ này. Có rất nhiều băn khoăn rằng nên chăng Kiều chỉ cần “nhờ” em thôi, bởi từ “cậy” nó hơi “thái quá” khi Kiều là chị ruột Vân? Nhưng quả thật, trong trường hợp này của Kiều, việc nàng “cậy” em nó không chỉ đơn thuần là sự nhờ vả giúp đỡ nữa mà còn là sự tin tưởng, tin cậy đến mức tối đa mới có thể gửi duyên, trao phận được. Bởi Kiều tự thân ý thức được em mình cũng sẽ ngạc nhiên và khó có thể chấp nhận được việc mình sắp “cậy” nên nàng đã cương quyết, dứt khoát một lời rằng em có “chịu lời” thì “ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”

    Đương nhiên là Thúy Vân không thể không “nhượng bộ” chị mình rồi. Kiều bắt đầu kể lại sự tình cho em nghe.

    Giữa đường đứt gánh tương tư,

    Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em

    Kể từ khi gặp chàng Kim ,

    Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

    Sự đâu sòng gió bất kỳ,

    Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?

    Từng mộng cảnh, từng phút giây thần tiên khi nao bên Kim Trọng cứ chập chờn xuất hiện cùng với những nghẹn ngào khi nàng kể lại cho em gái tường mối “keo loan” mà nàng và Kim Trọng đã thề nguyền chắp kết… Chính bởi Kiều là người con gái hiếu thảo và hiểu chuyện nên sự mâu thuẫn “bên tình bên hiếu, bên nào trọng hơn” trong lòng nàng mới đạt mức đại như vậy. Ta có thể hình dung được khung cảnh hai nàng Kiều nghẹn ngào trong đêm. Họ thật đáng thương, cả kẻ nhận duyên lẫn người trao duyên. Hoàn cảnh gia đình khắc nghiệt bởi cơn tai họa bất ngờ đã đẩy hai phận “liễu yếu đào tơ” đang độ “xuân xanh đến tuổi cập kê” đến bờ khốn khổ mà đặc

    biệt là người chị cả Thúy Kiều. Những bộc bạch từ đáy lòng của Thúy Kiều khiến ta không khỏi xót xa:

    Ngày xuân em hãy còn dài,

    Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

    Chị dù thịt nát xương mòn,

    Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

    Chiếc thoa với bức tờ mây

    Duyên này thì giữ, vật này của chung.

    “Ngày xuân em hãy còn dài”, thật mâu thuẫn ở đây bởi hai chị em cùng xuân xanh vậy mà lời của Kiều như của một bà lão! Thực chất, Kiều đã dự đoán được phần nào sự khốn khổ, trái ngang của con đường phía trước đang đợi mình: thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối. Cười nơi chin suối mà phải thầm kín “ngậm cười” với sự “thơm lây” của duyên em cùng chàng nơi trần thế. Sự bình tĩnh khi kể về quãng thời gian êm đẹp cùng Kim Trọng bao nhiêu thì đến lúc trao kỉ vật cho Thúy Vân , Kiều lại tức tưởi, không đành lòng bấy nhiêu.

    Chiếc thoa với bức tờ mây

    Duyên này thì giữ, vật này của chung

    Kiều thật tội nghiệp biết bao!

    Mâu thuẫn trong lòng Kiều dần chuyển sang sự ngậm ngùi chấp nhận sự thật khắc nghiệt. Phần hai khắc họa rõ sự ý thức bi kịch ấy của Kiều. Càng nói càng lắm tâm sự, dường như màn đêm không dứt với hai chị em, muốn kéo dài để cho Kiều được nói cho thỏa nỗi lòng nàng, những tâm sự ngổn ngang cùng với sự lưu luyến dư âm mối tình đẹp tựa ngàn hoa. Kiều nghẹn ngào trong từng tiếng nấc:

    Dù em nên vợ nên chồng,

    Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!

    Mất người còn chút của tin,

    Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

    Mai sau dù có bao giờ,

    Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.

    Trông ra ngọn cỏ gió cây,

    Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.

    Hồn còn mang nặng lời thề,

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

    Dạ đài cách mặt, khuất lời,

    Rảy xin chén nước cho người thác oan.

    Bây giờ trâm gãy bình tan,

    Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

    Trong phần thơ này, người đọc có thể cảm nhận được ngay cái u uất, buồn trĩu lòng của Thúy Kiều. Cái hình ảnh: người bạc mệnh, hồn mang nặng lời thề, nát thân bồ liễu mà Kiều dung để ám chỉ chính bản thân mình cho thấy nỗi tuyệt vọng trong lòng nàng về tình yêu với chàng Kim. Có một sự mâu thuẫn với lời trước: “ Chị dù thịt nát xương mòn. Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.” vậy mà ngay sau đó, Kiều đã tự họa cho mình những thảm cảnh trong tương lai… Chính bở diễn biến tâm lí của nàng đã dẫn đến sự tưởng như mâu thuẫn mà lại rất hợp tình ấy. Vẫn biết là báo hiếu cha mẹ nhưng làm sao có thể bắt một cô gái đương độ xuân xanh chặt đứt những mầm yêu đương mà không hề oán thán, than trách được? Kiều cũng đâu đổ lỗi tại ai đâu? Nàng tự thương cho cái mệnh bạc của mình đấy chứ!

    Ta cũng có thể tách sau câu thơ sau thành một phần, nó không chỉ là lời thảng thốt của Kiều với em trong đêm thâu mà còn là một tiếng nấc nghẹn gọi Kim Trọng, chăng chối với chàng:

    Trăm nghìn gửi lạy tình quân

    Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

    Phân sao phận bạc như vôi?

    Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

    Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!

    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

    Đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, Kiều tự cho mình đã “phụ chàng” Kim bởi dù có là một cơn “gió hiu hiu” nhưng hồn nàng vẫn mãi mang nặng một lời thề nguyền với chàng. Tâm trạng tôi lỗi đã khiến Kiều ngất đi trong tiếng than thấu tận trời xanh:

    Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!

    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

    Người biên soạn sách giáo khoa thật tài tình trong việc đặt nhan đề cho trích đoạn này bởi cái

    cảnh Trao duyên nó nào được diễn ra trong không khí lãng mạn, phấn khởi , vui tươi, tràn trề hi vọng vào một tương lai gắn bó như trong các câu ca dao ngọt ngào hay trong các lễ hội tưng bừng? Sự trao ở đây với Thúy Kiều đồng nghĩa với việc nàng phải chấp nhận từ bỏ mối duyên đầu bao đắm say với Kim Trọng để cứu cha và em… Nhường lại tình yêu đó cho em gái, xót xa thay cho Thúy Kiều, người đời “ Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên…” vậy mà nàng phải nhường em tình yêu! Đoạn thơ là một cuộc khủng hoảng tinh thần tưởng như có thể vỡ tan tành trái tim bé bỏng của nàng Kiều. Tài năng và tấm lòng Nguyễn Du đã được thể hiện phần nào trong trích đoạn cảm động tình thân, tình yêu này.

  • Tuyển tập gợi ý các bài văn nghị luận xã hội Ngữ văn 9

    Tuyển tập gợi ý các bài văn nghị luận xã hội Ngữ văn 9

    Tuyển tập gợi ý các bài văn nghị luận xã hội Ngữ văn 9

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tuyển tập gợi ý các bài văn nghị luận xã hội Ngữ văn 9

    Tuyển tập gợi ý các bài văn nghị luận xã hội Ngữ văn 9

    Bài viết số 1

    Viết một văn bản nghị luận ( không quá một trang giấy thi ) trình bày suy nghĩ về đức hi sinh.

    Gợi ý

    Bàn về phẩm chất của con người thì đức hi sinh là biểu hiện cao nhất của lòng nhân ái, tình yêu thương giữa con người với con người. Bởi đức hi sinh bao gồm trong đó lòng nhân ái và tình yêu thương, tinh thần nhân đạo của con người. Nhưng đức hi sinh đòi hỏi con người phải biết san sẻ cuộc sống tinh thần và vật chất của mình cho người khác, cho đồng loại để họ có thể vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

    Lịch sử của mọi tôn giáo trên thế giới, từ Gia tô giáo, Ki tô giáo, đạo Islam…đạo Phật đều khuyên con người hãy sống nhân hậu, giữ gìn lòng nhân ái. Đạo Phật đề cao đức tính “ từ bi hỉ xả” là đề cao đức hi sinh của con người. Con người sẵn sàng xả thân vì người khác. Xả thân vì người khác là một cách tự nguyện và lấy đó làm niềm vui không một tính toán vụ lợi. Hi sinh vì người khác, xả thân vì người khác cũng có khi là một hành động không vô tư mà có tính vụ lợi, vị kỉ tức là nhằm cầu lợi cho mình. Đạo Nho cũng đề cao tinh thần vị tha, tức là hi sinh vì người khác, đề cao đức hi sinh vì người khác.

    Ngày nay, nói đến đức hi sinh, không phải chỉ nói tới một hành động hi sinh cụ thể nào vì một con người cụ thể nào mà là nói tới phẩm chất đạo đức của con người. Phải xây dựng đức hi sinh thành một thái độ sống, luôn quan tâm, sẻ chia, thậm chí xả thân vì người khác. Xây dựng đức hi sinh thành một quan niệm sống, lẽ sống của con người. Xây dựng đức hi sinh ở mỗi con người phải là cả một quá trình lâu dài từ lúc tấm bé đến lúc lớn lên, trưởng thành, từ việc nhỏ thường ngày đến việc lớn trong cuộc sống, từ một hành vi nhường nhịn bạn bè đến việc hi sinh bản thân mình cho đất nước, nhân dân..

    Nếu trong xã hội ai cũng biết sống nhân ái, có đức hi sinh thì cuộc đời sẽ đẹp biết bao!

    Bài văn số 2

    Mùa hè là mùa thú vị nhất đối với lứa tuổi học trò. Em sẽ làm gì để có được một mùa hè thực sự vui tươi bổ ích. ( Viết thành một đoạn văn hoặc một bài văn ngắn

    khôn quá 20 dòng ) Gợi ý

    Người học trò nào cũng náo nức đợi mùa hè đến từ khi những bông phượng đỏ mới thấp thoáng thắp lửa trên vòm xanh của cây lá và bầu trời, đây đó có tiếng chim chuyền ríu rít như mời gọi. Sau tiếng trống tan trường cuối cùng của một năm học, trên khắp đất nước, hàng triệu học trò đủ mọi cấp học, lớp học, như những cánh chim được sổ lồng tung bay. Tất cả như muốn cất lên tiếng hát thật to, thật vang, thật vui “ bài ca mùa hè ”. Mùa hè đem đến cho tuổi học trò bao điều thú vị, nhưng chính học trò cũng làm cho mùa hè thêm tươi vui, rộn rã, nồng nhiệt hơn, tưng bừng hơn. Đối với tôi, một học sinh lớp 9, mùa hè này vừa thú vị, vừa

    có những biến đổi quan trọng. Các bạn học sinh khác có thể nghỉ ngơi, đi thăm quan, đi thăm ông bà nội ngoại, tham gia các câu lạc bộ… Còn trước mắt , những ngày mới vào hè này, chúng tôi đang phải dồn sức lực và tâm trí vào kì thi “ vượt vũ môn” nho nhỏ trong đời của mình, kì kiểm tra xét tốt nghiệp Trung học cơ sở vừa qua thì kì thi tuyển sinh vào Trung học phổ thông lại tới. Gác lại mọi dự định, với tôi trước mắt là kì thi. Tôi tin là mình sẽ vượt qua kì thi một cách tốt đẹp. Đó sẽ là món quà mà tôi tặng các thầy cô đã hết lòng dạy dỗ tôi trong suốt những năm học Trung học cơ sở. Món quà tặng bố mẹ, ông bà những người thân yêu nhất đã nuôi nấng, dạy dỗ và kì vọng vào tôi.

    Bài viết số 3

    Viết một văn bản ngắn trình bày suy nghĩ của em về việc thanh niên chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, trong đó có câu chứa thành phần phụ chú.

    Gợi ý

    Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân vĩnh cửu của nhân loại và tuổi trẻ bao giờ cũng hướng tới tương lai. Tương lai – đó là những gì chưa có trong hôm nay, nhưng chính vì thế mà nó lại có sức hấp dẫn ghê gớm đối với con người, nếu không nói rằng nhờ có niềm hi vọng vào tương lai mà con người có thể vượt qua mọi khó khăn trở ngại để tiếp tục sống một cách có ích hơn. Con người ta, nhất là thanh niên không thể thụ động chờ đợi tương lai, càng không thể đi tới tương lai với hai bàn tay trắng, nghĩa là phải chuẩn bị cho mình một hành trang cần thiết, đặc biệt là hành trang tinh thần để có thể vững bước tới tương lai. Hành trang – đó là tri thức, kĩ năng, thói quen, được coi là điều kiện cần và đủ để thanh niên có thể tự tin trước sự phát triển của khoa học kĩ thuật, của sự hội nhập kinh tế thế giới với tính kỉ luật và cường độ lao động cao.

    Muốn có hành trang như vậy để bước vào thế kỉ mới, thì hơn bao giờ hết thanh niên phải là những người đi tiên phong trong học tập, học tập có hiệu quả. Nhanh chóng nắm vững tri thức và kịp thời vận dụng các tri thức ấy vào sự nghiệp cộng hoá, hiện đại hoá đất nước. Chỉ có như vậy thì đất nước chúng ta mới nhanh chóng thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu để hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới một cách bình đẳng, phát triển đất nước một cách bền vững. Và cũng chỉ có như vậy, thanh niên mới xứng đáng là những người chủ tương lai của đất nước.

    Bài viết số 4

    Viết một văn bản ngắn nội dung nói về hậu quả xấu của việc gia tăng nhanh dân số của nước ta

    Gợi ý

    Trong mấy thập kỉ qua, dân số thế giới đã tăng một cách kinh khủng. Việt Nam của chúng ta cũng nằm trong số đó.

    Năm 1976, dân số nước ta chỉ có trên 30 triệu người. Hai mươi năm sau, dân số nước ta đã đã lên tới 74 triệu người. Nhiều gia đình ở miền núi và nông thôn có từ 4 đến 5 con. Sự bùng nổ về dân số là một trong những nguyên nhân chủ

    yếu gây ra khủng hoảng về kinh tế và xã hội của nước ta trong nhiều năm qua. Việt Nam thuộc diện những nước nghèo và kém phát triển. Thu nhập quốc dân tính theo đầu người còn rất thấp. Thiếu trường học, nhất là ở miền núi và nông thôn trẻ em phải học “ ca ba”, phải học trong những phòng học dột nát thiếu an toàn. Bệnh viện xuống cấp, thiếu thuốc điều trị, thiếu giường bệnh nên gặp khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh chưa được đảm bảo nhất là ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Đất đai canh tác bị thu hẹp dần để làm nhà ở. Hàng triệu thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm, gây nên nhiều hậu quả xấu về mặt an ninh xã hội.

    Sự gia tăng dân số ở nước ta có nhiều nguyên nhân. Nhận thức của người dân trong công tác dân số còn hạn chế. Đặc biệt là ở miền núi người dân còn chưa hiểu thế nào là kế hoạch hoá gia đình. Đất nước ta còn nghèo, công tác vận động tuyên truyền dân số của các cấp các nghành chưa được thường xuyên cụ thể, thiếu các hình thức tuyên truyền sinh động lôi cuốn. Các qui định của pháp luật chưa đủ mạnh để giáo dục và răn đe.

    Hơn bao giờ hết, mọi người, mọi nhà và toàn xã hội phải tự giác thực hiện công tác kế hoạch hoá gia đình một cách nghiêm túc. Có như thế thì mục tiêu “ dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” mới sớm trở thành hiện thực.

    Bài viết số 5

    Sách là tài sản quí giá, là bạn tốt của con người. Em hãy viết một văn bản ngắn để nói lên vai trò quan trọng của sách trong cuộc sống.

    Gợi ý

    *Yêu cầu về hình thức: Bài viết cần kết hợp nghị luận giải thích với bình luận, chứng minh để tăng thêm tính thuyết phục. Lí lẽ, lập luận cần chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu.

    *Nội dung: Cần vận dụng những hiểu biết của mình về tác dụng của sách đối với đời sống con người để lập luận.

    • Sách là sản phẩm trí tuệ của con người, do con người sáng tạo ra từ xa xưa.
    • Sách là tài sản vô cùng quí giá:
    • Lưu giữ kiến thức phong phú.
    • Giúp con người cập nhật thông tin một cách đơn giản, nhanh nhất và hiệu quả nhất.
    • Sách đưa ta đến những chân trời kiến thức vô tận, mở rộng tầm hiểu biết của ta ở mọi lĩnh vực khác nhau trong đời sống, là chìa khoá mở ra cánh cửa tri thức.
    • Đưa ta đến những cảm xúc lãng mạn, những tình cảm tốt đẹp, giáo dục ta thành người tốt.

    – Dẫn chứng: nhiều người thành đạt nổi tiếng trên thế giới đều đạt nhiều thành

    công trong sự nghiệp nhờ đọc sách: Êđixơn, Bác Hồ, Lê nin…

    – Sách là người bạn tốt, luôn cần thiết cho mọi người dù cho khoa học kĩ thuật có phát triển cao. Phải biết nâng niu, giữ gìn để sách mãi mãi là người bạn quí.

    Trong cuộc sống của con người sách có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sách là tài sản quí giá, là bạn tốt của con người trong suốt cuộc hành trình dài rộng để chiếm lĩnh tri thức, làm cho tâm hồn con người phong phú hơn.

    Sách là sản phẩm trí tuệ của con người, do con người sáng tạo từ rất xa xưa. Sách là tài sản vô cùng quí giá, nơi lưu giữ kiến thức phong phú của nhân loại từ xưa tới nay. Giúp con người cập nhật thông tin một cách đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả nhất. Sách đưa ta đến những chân trời kiến thức vô tận, mở rộng tầm hiểu biết của ta ở mọi lĩnh vực khác nhau trong đời sống, là chìa khoá mở ra cánh cửa tri thức. Đưa ta đến những cảm xúc lãng mạn, những tình cảm tốt đẹp, giáo dục ta thành người tốt. Sách mở ra trước mắt chúng ta những chân trời mới lạ. Có tập thơ bồi đắp tâm hồn ta, cho chúng ta cảm xúc đẹp về tình yêu và lẽ sống. Có quyển sách dẫn chúng ta đi cùng các nhân vật phiêu lưu, ru hồn ta lạc vào bao mộng tưởng kì diệu. Sách giáo khoa là người bạn thân thiết của lứa tuổi học trò. Cuộc đời sẽ vô vị biết bao nếu thiếu hoa thơm và thiếu sách, nhưng sách phải hay, phải đẹp và tốt mới có giá trị và bổ ích. Nhà văn M.Gorki đã từng nói : “ Sách làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời càng trở nên rực rỡ, có ý nghĩa hơn…sách làm cho khắp trái đất tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn

    Trong cuộc sống, nhiều bậc vĩ nhân, nhiều người thành đạt nổi tiếng trên thế giới đã thành công trong sự nghiệp một phần là nhờ đọc sách: nhà bác học vĩ đại Êđixơn, Bác Hồ kính yêu, lãnh tụ Cộng sản quốc tế và của nhân dân Liên Xô – Lên nin…

    Hãy yêu sách! Nó là nguồn kiến thức. Chỉ có kiến thức mới là con đường sống, chỉ có nó mới có thể làm cho chúng ta trở thành những người cương nghị, chính trực, khôn ngoan, có khả năng thành thật yêu mến con người, tôn trọng lao động của con người và thành tâm khâm phục những thành quả tuyệt vời do công trình lao động vĩ đại, liên tục của con người làm nên.

    Trong tất cả những gì mà con người đã và đang làm ra, trong mỗi đồ vật đều chứa đựng tâm hồn con người, cái tâm hồn thuần khiết và cao quí ấy có nhiều trong khoa học, nghệ thuật, nó lên tiếng hùng hồn nhất và dễ hiểu nhất, trong sách.

    Bài văn số 6

    Hiện nay có một số học sinh học qua loa, đối phó, không học thật sự. Em hãy viết một văn bản ngắn phân tích bản chất của lối học đối phó để nêu lên những tác hại của nó.

    Gợi ý

    1.Thế nào là học qua loa, đối phó?

    a.Học qua loa có các biểu hiện sau: Học không có đầu có đuôi, không đến nơi đến chốn, cái gì cũng biết một tí nhưng không có kiến thức cơ bản, hệ thống sâu sắc. Học cốt là để khoe mẽ có bằng nọ bằng kia, nhưng thực ra đầu óc trống rỗng, chỉ quen “ nghe lỏm, học mót, nói dựa, ăn theo ” người khác, không dám bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề có liên quan đến học thuật.

    b.Học đối phó có những biểu hiện sau: Học chỉ cốt để thầy cô không quở trách, cha mẹ không rầy la, chỉ lo giải quyết việc trước mắt như thi cử, kiểm tra không bị

    điểm kém. Học đối phó thì kiến thức nông cạn, hời hợt. Nếu cứ lặp đi lặp lại kiểu học này thì người học ngày càng trở nên dốt nát, trí trá, hư hỏng, vừa lừa dối người khác, vừa tự huyễn hoặc mình. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng “ tiến sĩ giấy” đang bị xã hội lên án gay gắt.

    2.Tác hại của lối học qua loa, đối phó.

    • Đối với xã hội: những kẻ học đối phó sẽ trở thành gánh nặng lâu dài cho xã hội về nhiều mặt như kinh tế, tư tưởng, đạo đức, lối sống…
    • Đối với bản thân: những kẻ học đối phó sẽ không có hứng thú trong học tập và do đó hiệu quả học tập ngày càng thấp.

    Bài văn số 7

    Dựa vào văn bản Phong cách Hồ Chí Minh của Lê Anh Trà hãy viết một văn bản ngắn nêu những suy nghĩ của em về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Gợi ý

    *Nội dung cần đạt được:

    • Cuộc đời và sự nghiệp của Bác có gì đặc biệt? Vẻ đẹp và ý nghĩa của cuộc đời , sự nghiệp ấy là gì ?
    • Cuộc đời và sự nghiệp của Bác gợi cho em những suy nghĩ sâu sắc gì về lí tưởng, đạo đức, lối sống, …?
    • Bài học cho bản thân em nói riêng và thế hệ trẻ nói chung từ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    *Dàn ý chi tiết.

    Có một con người mà khi nhắc đến tên, những người Việt Nam đều vô cùng kính yêu và ngưỡng mộ, đó là Hồ Chí Minh: vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới .

    Trước hết ta thấy Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường đi và tương lai cho đất nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người đã dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi đói nghèo, đi lên xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp. Tư tưởng của Người có giá trị vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Người đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập tự do của dân tộc, Người yêu nước thương dân sâu sắc, bởi vậy triệu triệu người dân Việt Nam đều là con cháu của Người. Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước nhưng cách đối xử của Bác đối với cá nhân từng người vô cùng thân mật và gần gũi:

    “ Bác ơi tim Bác mênh mông thế Ôm cả non sông mọi kiếp người .” ( Tố Hữu )

    Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc Việt Nam lại có một vị lãnh tụ giản dị và gần gũi với mọi người như thế: Sống trong ngôi nhà sàn nhỏ, ăn những món ăn dân dã, mặc áo bà ba nâu và tư trang chỉ là một chiếc rương nhỏ và mấy bộ quần

    áo bạc màu …Có lẽ bởi vậy mà với người Việt Nam, Bác Hồ không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ vĩ đại được mọi người dân Việt Nam kính yêu và ngưỡng vọng .

    Bác Hồ còn được biết đến ở cương vị một danh nhân văn hoá thế giới. Bác đã từng là chủ bút tờ báo “ Người cùng khổ ” ở Pháp, đã từng viết “ Bản án chế độ thực dân Pháp” gây tiếng vang lớn. Người còn là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam với những tập truyện ký bằng tiếng Pháp, “ Tuyên ngôn độc lập” và “ Nhật ký trong tù ” cùng rất nhiều những vần thơ khác nữa…Bác Hồ đã từng đi khắp các châu lục trên thế giới, thông thạo nhiều thứ tiếng, am hiểu nền văn hoá của nhiều dân tộc. Bác đã rèn giũa và tạo dựng cho mình một phong cách riêng, kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, thanh cao và giản dị, giữa tinh hoa văn hoá nhân loại và tinh hoa văn hoá Việt Nam.

    Mặc dù Bác đã đi xa nhưng trong lòng mọi người dân Việt Nam Bác vẫn là người đẹp nhất:

    Tháp Mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ .

    Càng tìm hiểu về cuộc đời vĩ đại và cao đẹp của Bác, em càng kính yêu và tự hào về Bác hơn. Điều đó khơi dậy trong em mong muốn học tập, phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện để trở thành con người có ích cho xã hội .

    Bác là tinh hoa khí phách của dân tộc, cuộc đời của Bác là một tấm gương sáng. Bởi vậy mà chúng ta cần “ Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại ”.

    Bài viết số 8

    Suy nghĩ của em về tấm gương một người không chịu khuất phục số phận Gợi ý

    A.Mở bài: Giới thiệu nhân vật chính của bài văn. ( Đó là ai ? Người ấy có gì đặc biệt về nghị lực vượt khó ?…)

    B.Thân bài:

    Nêu những suy nghĩ của em về con người không chịu thua số phận được giới thiệu khái quát ở phần mở bài

    • Nêu những sự việc thể hiện phẩm chất và nghị lực phi thường vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn của con người đó.
    • Nêu suy nghĩ của em về những phẩm chất và nghị lực của con người được giới thiệu.
    • Nêu những bài học rút ra từ tấm gương con người vượt lên số phận.

    C.Kết bài: Nêu khái quát ý nghĩa và tác động của những tấm gương quyết tâm vượt lên số phận đối với cuộc sống, con người và bản thân em.

    Mỗi trang đời đều là một điều kỳ diệu ” M.Gorki đã từng nói như thế và điều đó thật sự khiến chúng ta cảm động khi lật giở những trang đời của những con người không chịu thua số phận như anh Nguyễn Ngọc Ký, Trần Văn Thước, Nguyễn

    Công Hùng …

    Trước hết ta phải hiểu thế nào là “ không chịu thua số phận ”? Đó là những con người không chấp nhận mình mãi là người tàn phế, vô dụng, không học tập, không đóng góp gì cho xã hội .

    Vào năm 2005 cả nước biết đến một Nguyễn Công Hùng (xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, Nghệ An ). Từ khi sinh ra đã mắc chứng bại liệt. Anh còn bị căn bệnh viêm phổi hành hạ làm cho sức khoẻ suy kiệt. Vậy mà anh đã không gục ngã. Chàng trai 23 tuổi bại liệt, chân tay teo tóp, trọng lượng chỉ 12kg và gần như mất hoàn toàn khả năng vận động đã trở thành một chuyên gia tin học và được tôn vinh là Hiệp sỹ công nghệ thông tin năm 2005 vì những đóng góp không vụ lợi của mình cho cộng đồng. Tháng 5 -2005 anh được trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đưa vào “ Danh mục kỷ lục Việt Nam ” về người khuyết tật bị bại liệt toàn thân đầu tiên làm giám đốc cơ sở đào tạo tin học và ngoại ngữ nhân đạo…

    Điều gì khiến những con người tật nguyền ấy có thể vượt qua bệnh tật và khẳng định được bản thân mình? Họ đã tạo dựng cuộc sống từ muôn vàn khó khăn, gian khổ, thử thách bằng sự kiên trì, nhẫn nại và quyết tâm chiến thắng số phận của mình. Họ đã không mất đi niềm tin yêu vào cuộc sống, không gục ngã trước những đau đớn, họ dũng cảm, tự tin đứng lên để sống bằng nghị lực, ý chí , khát vọng và sức sống tinh thần mạnh mẽ của họ. Song bên cạnh đó còn có những nguyên nhân khác. Đó chính là sự động viên, khích lệ , giúp đỡ của bạn bè, của người thân, là khát khao không muốn người thân của mình đau khổ, thất vọng và còn nhờ dòng máu kiên cường và truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam .

    Những con người vượt lên số phận đứng lên bằng nghị lực, khát vọng và ý chí của mình khiến em vô cùng khâm phục. Chính những tấm gương về họ đã xây đắp những ước mơ, hoài bão trong em, dạy em phải biết vượt qua những khó khăn trong cuộc sống để thực hiện những khát khao của mình .

    Những người không chịu thua số phận, những con người tàn mà không phế thực sự là những tấm gương cho lứa tuổi học sinh chúng em, khích lệ bản thân mỗi người cố gắng phấn đấu học tập, rèn luyện để trở thành những con người có ích cho xã hội .

    Bài viết số 9

    Chất độc màu da cam mà đế quốc Mĩ đã rải xuống các cánh rừng miền Nam thời chiến tranh đã để lại di hoạ nặng nề cho hàng chục vạn gia đình. Hàng chục vạn người đã chết. Hàng vạn trẻ em chịu tật nguyền suốt đời. Cả nước lập quĩ giúp đỡ các nạn nhân nhằm phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau của họ. Em hãy nếu suy nghĩ của mình về các sự kiện đó Gợi ý

    Chiến tranh đã lùi xa nhưng di hoạ mà nó để lại vẫn hàng ngày hàng giờ làm bao người Việt Nam đau đớn. Trước tình hình ấy, cả nước đã lập quỹ giúp đỡ các nạn nhân chất độc màu da cam nhằm phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau của họ .

    Chất độc màu da cam mà Đế quốc Mỹ đã rải xuống các cánh rừng miền Nam thời chiến tranh đã tạo nên nỗi kinh hoàng cho thế hệ sau của những người

    đã từng sống ở những khu vực đó. Những đứa trẻ vô tôi, tật nguyền,dị dạng,vừa chào đời đã phải lìa đời hoặc nếu sống được thì sức khoẻ, trí tuệ thậm chí cả hình hài đều không bình thường…Những sinh linh vô tội ấy trở thành nỗi ám ảnh, đau đớn đến tê tái của người thân, gia đình và của toàn xã hội

    Trước tình hình đó nhiều chương trình ủng hộ những nạn nhân chất độc màu da cam đã được tổ chức. Biết bao người đã khóc thương cho những số phận bất hạnh, biết bao chữ ký đã được thu thập để ủng hộ cuộc đấu tranh đòi bồi thường cho các nạn nhân chiến tranh.

    Ngày đầu tiên Mỹ rải chất độc chết người này xuống Việt Nam: 10-8-1961 đã trở thành ngày “ Vì nạn nhân chất độc màu da cam”. Cả nước Việt Nam đã lập quĩ giúp đỡ các nạn nhân khốn khổ. Đó là việc làm cần thiết để giúp đỡ họ phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau. Nhiều em bé tật nguyền, côi cút đã được chăm sóc, nhiều tổ chức chính quyền,doanh nghiệp, cá nhân đã xây dựng nhà tình nghĩa, tặng xe lăn, tiền, quà ,thăm hỏi và giúp đỡ các nạn nhân. Nhiều nhóm tình nguyện viên được thành lập để làm việc tại các trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc màu da cam…Dẫu biết rằng tất cả những giúp đỡ đó không thể bù đắp được những mất mát đau đớn của họ song đó thực sự là hành động đền ơn đáp nghĩa, phù hợp với truyền thống“ tương thân tương ái ”,“ uống nước nhớ nguồn ” của dân tộc Việt Nam ta .

    Việt Nam đã cố gắng để xoa dịu nỗi đau chiến tranh, song “ơn phải trả, oán phải đền”. Chính phủ Mỹ và 37 công ty hoá chất đã cung cấp chất độc này cho quân đội Mỹ cũng phải chịu trách nhiệm về sự vô nhân đạo của mình .

    Nỗi đau của những nạn nhân da cam là một nỗi ám ảnh dai dẳng, việc giúp đỡ họ cần phải làm thường xuyên và liên tục. Bởi vậy mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc về vấn đề và , tích cực học tập, phấn đấu xây dựng xã hội tốt đẹp mà ở đó mọi người đều được đảm bảo quyền sống và quyền hạnh phúc .

    Bài viết số 10

    Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mải chơi mà sao nhãng học tập và còn vi phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó.

    Gợi ý

    1. Trò chơi điện tử đang là món tiêu khiển dẫn tới nhiều hậu quả khó lường

     

    – Trò chơi điện tử có mặt ở mọi nơi từ thành phố đến thôn quê. – Số lượng cửa hàng dịch vụ trò chơi điện tử rất nhiều.

     

    – Học sinh ham chơi điện tử quên cả học hành, kết quả giảm sút.

     

    – Mải chơi điện tử nên cần tiền sinh ra trộm cắp, quen với bạn xấu qua mạng bị rủ rê dễ mắc tệ nạn xã hội…

     

    1. Nguyên nhân của những hiện tượng trên ?
    • Bản thân trò chơi điện tử rất hấp dẫn, dễ bị mê mải đến quên thời gian.
    • Ý thức tự giác của các bạn học sinh chưa cao, chưa nhận ra cái tích cực cũng như mặt trái của trò chơi này.
    • Nhiều gia đình quản lí và giáo dục con chưa tốt.
    1. Phương hướng giải quyết hiện tượng trên.
    • Mỗi bạn học sinh phải tự giác thực hiện qui định của gia đình về thời gian dành cho việc vui chơi, không để ảnh hưởng đến học tập. Cần tránh những trò chơi xấu không phù hợp với lứa tuổi.
    • Chính quyền cần quản lí chặt chẽ hơn các điểm dịch vụ điện tử.
    • Nhà trường, các tổ chức đoàn thể xã hội cần tổ chức nhiều sinh hoạt tập thể bổ

    ích cho các bạn trẻ.

    Trò chơi điện tử vốn là một trò giải trí lành mạnh song hiện tượng đam mê trò chơi này mà sao nhãng học hành và gây nhiều hậu quả tại hại đã trở thành một vấn đề bức xúc ở lứa tuổi học sinh .

    Có thể thấy ở khắp các phố phường và các nẻo đường thôn ngõ xóm những quán Intenet. Học sinh đến đó không phải để truy cập thông tin phục vụ cho việc học mà để chơi điện tử. Nhiều bạn ngồi hàng giờ, hàng ngày trước màn hình vi tính, mê mẩn với những trò chơi trên máy, quên thời gian thậm chí bỏ học để chơi, trong đầu lúc nào cũng chỉ nghĩ đến các trò chơi và ham muốn chinh phục khám phá nó khiến gương mặt ngơ ngẩn như mất hồn…

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó. Do bố mẹ không quan tâm , do buồn, do bạn bè rủ rê, do không tự chủ được bản thân …Song dù lý do nào đi nữa, ham mê trò chơi điện tử cũng là một điều tai hại. Trước hết ngồi quá gần màn hình vi tính trong một thời gian dài có thể làm cho mắt bị cận thị, người mệt mỏi, sức khoẻ bị tổn hại. Không chỉ có thế, ham mê trò chơi điện tử còn dẫn đến sao nhãng nhiệm vụ chính của người học sinh là học tập. Mải chơi, bỏ tiết, trốn học, không hiểu bài, không làm bài tập, học tập sút kém dẫn đến chán học . Như vậy vô tình sự ham chơi nhất thời có thể tự huỷ hoại tương lai của chính bản thân mình. Trò chơi điện tử còn khiến tâm hồn bị đầu độc bởi bạo lực, chém giết, bắn phá, cuốn con người vào một thế giới ảo đầy những mưu mô, thủ đoạn. Hơn nữa ham chơi điện tử còn tiêu tốn tiền bạc một cách vô ích, có khi còn làm thay đổi nhân cách con người. Để có tiền chơi điện tử nhiều thói hư tật xấu bắt đầu nảy sinh như dối trá, thủ đoạn, trộm cắp tiền bạc, tài sản của gia đình, bạn bè …Và không ai có thể lường trước được những hậu quả tai hại khác nếu niềm đam mê kia vẫn còn tiếp diễn .

    Trò chơi điện tử tai hại như vậy, làm thế nào để ngăn chặn nó? Đây thực sự là một việc khó song không phải là không làm được. Quan trọng nhất là bản thân phải xác định nhiệm vụ chính của mình là học tập, rèn luyện,tu dưỡng, không lãng phí thời gian, sức lực, tiền bạc vào những việc vô bổ, thậm chí là có hại. Chỉ coi trò chơi điện tử như một trò giải trí, tiếp xúc với nó có chừng mực, biết chế ngự và làm chủ bản thân, không để bản thân bị tác động bởi những trò chơi và sự rủ rê của những người bạn xấu. Bên cạnh đó cũng cần có sự quan tâm thường xuyên và sự quản lý chặt chẽ của gia đình nhằm giúp con em mình tránh xa những đam mê tai hại. Nhà trường và xã hội cũng cần có sự phối hợp giáo dục thế hệ trẻ, tạo ra những hoạt động bổ ích, những sân chơi vui tươi lành mạnh để mọi học sinh đều

    được tham gia. Có như vậy vấn nạn học sinh say mê trò chơi điện tử mới được giải quyết triệt để.

    Ham chơi điện tử – ham muốn nhất thời mà tác hại không lường hết được. Bởi vậy vì tương lai của chính mình,chúng ta đừng để bản thân vướng vào đam mê chết người đó.

  • Văn mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

    Văn mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

    Văn mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Những bài văn hay cảm nghĩ về mẹ của em


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

    Suy nghĩ của em về bài thơ Đoàn thuyền

    đánh cá của Huy Cận

    BÀI LÀM

    Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới .Sau cách mạng ông nhanh chóng hoà nhập vào công cuộc kháng chiến vĩ đại và trường kì của dân tộc .Hoà bình lập lại ,từng trang thơ Huy Cận ấm áp hơi thở của cuộc sống đang lên . Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”được sáng tác ở Hòn Gai năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế dài ngày . Bài thơ thực sư là một bài ca ca ngợi cuộc sống của những con người lao động mới .

    Với đôi mắt quan sát sắc sảo ,trí tưởng tượng phong phú ,trái tim nhạy cảm và tài năng nghệ thuật điêu luyện ,nhà thơ đã vẽ lên trước mắt chúng ta khung cảnh lao động hăng say trên biển .Cả bài thơ như một bức tranh sơn mài lộng lẫy những sắc màu huyền ảo ,cuốn hút vô cùng :

    Mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đã cài then đêm sập cửa

    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm với gió khơi .

    Đoàn thyền đánh cá rời bến vào lúc hoàng hôn ,mặt trời như hòn lửa đỏ rực đang lặn dần vào lòng đại dương mênh mông , màn đêm buông xuống ,kết thúc một ngày .Biển kín đáo như một gian phòng lớn của thiên nhiên bởi cách nói thật riêng biệt “sóng đã cài then đêm sập cửa”.Chính vào thời điểm ấy, ngư dân bắt tay vào công việc quen thuộc của mình : Ra khơi đánh cá !Mặt biển đêm không lạnh lẽo mà ấm áp hẳn lên bởi tiếng hát âm vang, náo nức, thể hiện niềm vui to lớn của người lao động được giải phóng , tiếng hát hoà cùng gió, thổi căng buồm đưa đoàn thuyền ra khơi

    .Lời hát ca ngợi sự giàu có và hào phóng của biển cả cùng vẻ đẹp lung linh, diệu kì của nó trong đêm :

    Hát rằng cá bạc biển đông lặng

    Cá thu biển đông như đoàn thoi

    Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

    Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!

    Sự say mê vẻ đẹp của biển đã làm giảm bớt bao nỗi nhọc nhằn vất vả trong việc đánh cá,đem lại niềm vui và sức mạnh cho ngư dân . Cảnh đánh cá trong đêm

    được nhà thơ miêu tả bằng cảm hứng trữ tình mãnh liệt . Tác giả như nhập thân vào thiên nhiên , công việc ,và con người :

    Thuyền ta lái gió với buồm trăng

    Lướt giữa mây cao với biển bằng

    Ra đậu dặm xa dò bụng biển

    Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

    Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ, khổng lồ hoà nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên, vũ trụ. Con thuyền đó

    đang bay giữa không gian trong một đêm thuỷ tinh tuyệt đẹp.Những hình ảnh “lái gió”, “buồm trăng”, “ mây cao”, “ biển bằng ”phảng phất phong vị thơ cổ điển nhưng vẫn đậm chất hiện thực .Chuyến ra khơi đánh cá cũng giống như một trận đánh thật sự hào hùng .Cũng thăm dò ,cũng dàn đan thế trận và bủa vây bằng…lưới! Đã bao đời nay ,ngư dân có quan hệ chặt chẽ với biển cả .Họ thuộc biển như lòng bàn tay , bao loài cá họ thuộc tên ,thuộc dáng và thuộc cả thói quen của chúng :

    Cá nhụ cá chim cùng cá đé

    Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

    Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé

    Đêm thở sao lùa nước Hạ Long .

    Trên mặt biển đêm ,ánh trăng lung linh dát bạc ,cá quẫy đuôi sóng sánh trăng vàng ,tiếng “em” bật lên tự nhiên, trìu mến .Bài ca gọi cá vẫn tiếp tục ngân vang : lúc náo nức ,lúc lại thật tha thiết.Trăng thức cùng ngư dân ,trăng cùng sóng dập dờn bên mạn thuyền như gõ nhịp phụ hoạ cho tiếng hát ,trăng chiếu sáng cho ngư dân kéo được những mẻ cá đầy …Với ngư dân, biển cả bao la “như lòng mẹ”,bởi vậy thiên nhiên và con người thật hoà hợp,nhịp nhàng .Nhịp điệu công việc càng khẩn trương ,sôi nổi khi bóng đêm dần tàn ,ngày đang đến :

    Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

    Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

    Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông

    Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng .

    Bao công lao vất vả đã được đền bù ,dáng người ngư dân đang choãi chân, nghiêng người dồn tất cả sức mạnh vào đôi tay cuồn cuộn để kéo lên những mẻ lưới

    nặng trĩu mới đẹp làm sao!Màu sắc phong phú ,lấp lánh vẩy bạc, đuôi vàng của bao loài cá càng khiến cho cảnh rạng đông thêm rực rỡ .Nhịp điệu câu thơ “lưới xếp buồm lên đón nắng hồng ”chậm rãi, gợi cảm giác thanh thản, vui tươi, phán ánh tâm trạng hài lòng của ngư dân trước những kết quả tốt đẹp của chuyến ra khơi.

    Khổ thơ cuối cùng miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:

    Câu hát căng buồm với gió khơi

    Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

    Mặt trời đội biển nhô màu mới

    Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

    Vẫn là tiếng hát khoẻ khoắn của ngư dân dạn dày sông nước đang vươn lên làm chủ cuộc đời .Tiếng hát hoà trong gió ,thổi căng buồm đưa đoàn người ra khơi đêm trước nay lại cùng đoàn thuyền đầy ắp cá hân hoan về bến . Hình ảnh “đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” rất thực mà cũng rất hào hùng .Nó phản ánh một thói quen lâu đời của ngư dân là đưa cá về bến trước khi trời sáng đồng thời cũng hàm ý nói lên khí thế đi lên mạnh mẽ của họ trong công cuộc xây dựng đất nước. Hoà cùng niềm vui to lớn của mọi người ,nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của mình bay bổng

    .Đoàn thuyền đi trên biển ,giữa màu hồng rạng rỡ tinh khôi và ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt cá khiến nhà thơ liên tưởng đến hàng ngàn những mặt trời nhỏ xíu đang toả rạng nềm vui .Đến đây bức tranh biển cả ngập tràn màu sắc tươi sáng và ăm ắp chất sống trong từng dáng hình ,từng đường nét của cảnh, của người .

    “Đoàn thuyền đánh cá” là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng .Bài ca ấy dành cho biển hào phóng ,cho những con người cần cù, gan góc đang làm giàu cho đất nước .Cảm hứng trữ tình và nghệ thuật điêu luyện được tác giả sử dụng trong bài thơ

    đã cuốn hút người đọc thật sự .Chúng ta cùng chia sẻ niềm vui to lớn với nhà thơ ,với

    tất cả những người lao động mới đang kiêu hãnh ngẩng cao đầu trên con đường đi tới

    tương lai tươi sáng .

  • Văn mẫu Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu

    Văn mẫu Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu

    Văn mẫu Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Hướng dẫn nghị luận về vấn đề tự học


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu

    Văn mẫu lớp 9

    Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu

    BÀI LÀM

    Xuân Diệu (1916-1985) – một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn của dân tộc,

    đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác thật lớn lao và rất có giá trị. Hơn

    năm mươi năm lao động miệt mài trong thế giới nghệ thuật ấy, con người và

    thơ văn của Xuân Diệu đã có sự chuyển biến rõ nét từ một nhà thơ lãng mạn

    thành nhà thơ cách mạng. Đó là bước chuyển tất yếu của một trí thức yêu

    nước, một tài năng nghệ sĩ. Thơ văn Xuân Diệu có đóng góp lớn vào quá

    trình phát triển của văn học Việt Nam.

    Có thể tìm hiểu sự nghiệp văn học của nhà thơ qua thơ và văn xuôi:

    Về lĩnh vực thơ ca, chúng ta có thể tìm hiểu qua hai giai đoạn chính, trước và

    sau cách mạng tháng Tám. Trước cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu là một

    nhà thơ lãng mạn.

    Các tác phẩm chính: tập thơ “Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió”

    (1945).

    Nội dung của thơ Xuân Diệu trong thời kỳ này là: Niềm say mê ngoại giới,

    khát khao giao cảm trực tiếp, cháy bỏng, mãnh liệt với cuộc đời (“Vội vàng”,

    “Giục giã”). Nỗi cô đơn rợn ngợp của cái tôi bé nhỏ giữa dòng thời gian vô

    biên, giữa không gian vô tận (Lời kỹ nữ). Nỗi ám ảnh về thời gian khiến nhà

    thơ nảy sinh một triết lý về nhân sinh: lẽ sống vội vàng (“Vội vàng”). Nỗi

    khát khao đến chảy bỏng được đắm mình trọn vẹn giữa cuộc đời đầy hương

    sắc và thể hiện nỗi đau đớn, xót xa trước khát vọng bị lãng quên thật phũ

    phàng trước cuộc đời (“Dại khờ”, “Nước đổ lá khoai”).

    Sau cách mạng, thơ Xuân Diệu đã vươn tới chân trời nghệ thuật mới, nhà thơ

    đã đi từ “cái tôi bé nhỏ đến cái ta chung của mọi người” (P.Eluya). Xuân

    Diệu giờ đây đã trở thành một nhà thơ cách mạng say mê, hăng say hoạt động

    và ông đã có thơ hay ngay trong giai đoạn đầu. Xuân Diệu chào mừng cách

    mạng với “Ngọn quốc kỳ” (1945) và “Hội nghị non sông” (1946) với tấm

    lòng tràn đầy hân hoan trước lẽ sống lớn, niềm vui lớn của cách mạng.

    Cùng với sự đổi mới của đất nước, Xuân Diệu có nhiều biến chuyển trong

    tâm hồn và thơ

    1. Ý thức của cái Tôi công dân, của một nghệ sĩ, một trí thức yêu nước trước

    thực tế cuộc sống. Đất nước đã đem đến cho ông những nguồn mạch mới

    trong cảm hứng sáng tác. Nhà thơ hăng say viết về Đảng, về Bác Hồ, về Tổ

    quốc Việt Nam, về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc và công

    cuộc thống nhất nước nhà. Các tác phẩm tiêu biểu: tập “Riêng chung” (1960),

    “Hai đợt sóng” (1967), “tập “Hồn tôi đôi cánh” (1976)…

    Từ những năm sáu mươi trở đi, Xuân Diệu tiếp tục viết thơ tình. Thơ tình

    Xuân Diệu lúc này không vơi cạn mà lại có những nguồn mạch, cảm hứng

    mới. Trước cách mạng, tình yêu trong thơ ông hầu hết là những cuộc tình xa

    cách, cô đơn, chia li, tan vỡ…

    Nhưng sau cách mạng, tình yêu của hai con người ấy không còn là hai vũ trụ

    bé nhỏ nữa mà đã có sự hòa điệu cùng mọi người. Tình cảm lứa đôi đã hòa

    quyện cùng tình yêu tổ quốc. Xuân Diệu nhắc nhiều đến tình cảm thủy chung

    gắn bó, hạnh phúc, sum vầy chứ không lẻ loi, đơn côi nữa (Dấu nằm”,

    “Biển”, “Giọng nói”, “Đứng chờ em”).

    Về lĩnh vực văn xuôi có thể nói Xuân Diệu quả thật tài tình. Bên cạnh tố chất

    thơ ca bẩm sinh như thế, Xuân Diệu còn rất thành công trong lĩnh vực văn

    xuôi.

    Các tác phẩm chính: “Trường ca” (1939) và “Phấn thông vàng” (1945). Các

    tác phẩm này được Xuân Diệu viết theo bút pháp lãng mạn nhưng đôi khi

    ngòi bút lại hướng sang chủ nghĩa hiện thực (“Cái hỏa lò”, “Tỏa nhị Kiều”).

    Ngoài ra, Xuân Diệu còn rất tài tình trong việc phê bình văn học, dịch thuật

    thơ nước ngoài. Các tác phẩm tiêu biểu: “Kí sự thăm nước Hung”, “Triều

    lên”, “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”, “Dao có mài mới sắc”.

    Dù ở phương diện nào, Xuân Diệu cũng có đóng góp rất to lớn với sự nghiệp

    văn học Việt Nam.

    Vũ Ngọc Phan từng nhận xét “Xuân Diệu là người đem nhiều cái mới nhất

    cho thơ ca hiện đại Việt Nam”. Sự đóng góp của Xuân Diệu diễn ra đều đặn

    và trọn vẹn trong các thể loại và các giai đoạn lịch sử của dân tộc.

    Chính vì thế có thể nói rằng Xuân Diệu xứng đáng là một nhà thơ lớn, nhà

    văn hóa lớn.