Category: Ôn Thi Vào 10

Tổng hợp các dạng bài tập ôn luyện để thi vào cấp ba

  • Văn mẫu Cảm nghĩ về bài “Bếp lửa” của Bằng Việt

    Văn mẫu Cảm nghĩ về bài “Bếp lửa” của Bằng Việt

    Văn mẫu Cảm nghĩ về bài “Bếp lửa” của Bằng Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích bài đồng chí


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nghĩ về bài “Bếp lửa” của Bằng Việt

    Văn mẫu Cảm nghĩ về bài “Bếp lửa” của Bằng Việt

    ĐỀ BÀI: Cảm nghĩ về bài “Bếp lửa” của Bằng Việt

     

    BÀI LÀM

    Đọc “Bếp lửa” của Bằng Việt tôi đã mường tượng ra cảnh một chàng lưu học sinh trẻ tuổi trong cái giá lạnh của mùa đông Ki-ép ở đất nước U-crai-na xa xôi đương cặm cụi sưởi ấm những nguồn thương qua từng chữ, từng câu thơ mà thắp lên ngọn lửa đượm đà của một thời ấu thơ đẹp đẽ sống bên người bà yêu dấu …

    Đến nay đã hơn bốn thập kỉ kể từ khi bài thơ ra đời ta thực khó rõ đã có bao nhiêu trái tim rung cảm mỗi khi đến với “Bếp lửa”. Chỉ biết đằng sau mạch cảm xúc dạt dào của hoài niệm kia sẽ là gì nếu không phải một tình yêu lan toả với cái nóng, cái nồng đượm của “Bếp lửa quê nhà”, với sự ấm áp, ấp iu của “ngọn lửa lòng người”.

    Có lẽ khi nhắc về quá khứ, nhất là những thời điểm đẹp đẽ, người ta vẫn thường kể nhiều hơn. Với “Bếp lửa”, nhà thơ Bằng Việt thực đã dắt dẫn người đọc vào sâu trong mạch kể, mạch hồi tưởng của ông. Hồi ức đẹp một đi không trở lại của tuổi thơ được tái hiện không phải bằng một trí nhớ lan man, chắp vá. Trái lại, ở sâu trong tiềm thức của tác giả, hình ảnh “bếp lửa” và “người bà” lúc nào cũng toả sáng lạ kì – trở thành một điểm đi về trong cõi nhớ. Dòng suy tưởng và hoài niệm của người cháu xa quê nhà có lẽ đều được khơi nguồn từ những hình ảnh ấy – giản dị mà thân thương, ấm áp vô cùng.

    Việc đồng hiện hình ảnh “bếp lửa” và “người bà” trong bài thơ thực dễ khiến cho người ta có một sự liên tưởng về mối quan hệ lạ kì, thiêng liêng. Từ bếp lửa của củi rơm đến “Bếp Lửa” của lòng người (với hai chữ viết hoa

    !) có lẽ hơn bao giờ hết con người cảm nhận thật rõ về tình bà cháu, tình quê

    nồng ấm

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

    Cái “nỗi nhớ về bếp lửa” được nói trực tiếp song không vì thế mà giảm đi phần sâu lắng, tinh tế. Hình ảnh “bếp lửa” gợi nhớ bằng nhiều giác quan, bằng trí tưởng tượng. Thị giác (chờn vờn sương sớm), cảm giác (ấp iu nồng đượm) và khứu giác (sống mũi còn cay) rồi xúc giác (hun nhèm mắt cháu). Tác giả hướng mọi giác quan để quay về sống lại kỉ niệm trong trí tưởng tượng. Dường như không còn khoảng cách của thời gian ở đây nữa, mọi hình ảnh gắn với bếp lửa đã tái hiện chân thật, rõ ràng từ một thời kí ức xa xôi ! Hình ảnh bếp lửa còn gắn với người bà đầy thân thương. Tuy không trực tiếp nói ra song người đọc hình dung được công việc của người bà : “nhóm bếp”. Tuổi thơ của cháu gắn với bếp lửa, với mùi khói cay nhèm và cũng gắn chặt với người bà ấy. Phải chăng hình ảnh : “Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” chính là hoá thân của tình cảm bà dành cho cháu. Vì vậy có lẽ tìm về với bếp lửa quê nhà cũng là tìm về tuổi thơ sống bên bà, trong sự chở che, nâng niu đầy trìu mến. Trong cảm nhận, nỗi nhớ đầu tiên của đứa cháu

    phương xa : “bếp lửa củi rơm” và “tình bà” cũng hiện lên với cái ấm áp, đượm đà, gắn bó đã sưởi ấm suốt thời thơ ấu của cháu. Sự tương đồng đẹp đẽ ấy dễ thường mấy ai nhận ra. Chỉ có Bằng Việt với khoảng thời gian đầu đời trong sáng được gắn bó bên bà mới có thể “cảm” sâu sắc đến thế cái tưởng chừng quá ư bình dị, mộc mạc. Ngụp lặn trong dòng hồi ức tươi mát của tác giả, chúng ta cũng muốn tìm đến với những tình thương yêu nồng hậu như thế :

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc.

    Cái ấm áp của “Bếp lửa” và “tình bà” trong sự tương đồng, ta đã biết. Đằng sau đó dường như còn có một sự tương đồng nữa. Bếp lửa và người bà đều là những gì gắn bó, thân thương nhất với kỉ niệm của cháu. Nếu “bếp lửa củi rơm” gắn với cảm nhận của cháu về : “mùi khói” với kỉ niệm “khói hun nhèm mắt cháu”, với dư âm : “sống mũi còn cay” thì người bà gắn với tuổi thơ cháu vừa như một người chăm sóc, vừa như một người bạn lớn. Những kí ức như ùa về trong tâm tưởng cháu. Đó là từ năm : “lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói”, lại cả những năm : “đói mòn đói mỏi”, những lúc : “Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế”, những khi : “giặc đốt làng cháy tàn, cháy rụi” … Tự lúc nào tuổi thơ nhỏ bé của cháu đã được truyền hơi ấm từ bếp lửa, từ bà ! Một điều nhông thể ngẫu nhiên là : mỗi khi nhắc về bếp lửa lại thấy xuất hiện người bà và mỗi khi xuất hiện người bà lại thấy công việc của bà xoay quanh bếp lửa.

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc.

    Không nói mà tình vẫn dạt dào, không hô hào, bồng bột mà người ta vẫn không thể làm ngơ trước sự chân thành. Đó có lẽ là những gì BằngViệt đã làm khi dựng lên hai hình ảnh song song mà hoà hợp với nhau giữa : “bếp lửa” và “người bà”. Trong kỉ niệm, trong xúc cảm của một nỗi nhớ, lí trí đã nhường chỗ cho tình cảm và cái rõ ràng, minh bạch đã nhoè đi để được thêm những cái mơ màng, chập chờn của hồi ức. Hình ảnh bà và bếp lửa qua tâm trạng ấy đã đồng nhất, hoà quyện với nhau. Tuy một mà hai, tuy hai mà một để chỉ còn hiện lên trong tâm tưởng người cháu một cái gì thật ấp iu, nồng

    đượm.

    Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ xét cho kĩ thì chính là điểm gợi hứng, là cầu nối để đứa cháu phương xa ngàn dặm gửi tình thương, nỗi nhớ về bà, về quê hương. Nhưng qua dòng hồi tưởng nhẹ nhàng, tươi mát của cháu, “bếp lửa của củi rơm” kia cũng không còn là “bếp lửa” bình thường như cái nhìn trước đó. Nó trở thành một hình ảnh cứ trở đi trở lại trong bài thơ, trong tâm trí người cháu và không lần nào cái bếp lửa bình dị ấy không gắn với hình ảnh người bà tảo tần, đầy thân thương. Và vì lẽ đó người ta có cảm giác bếp lửa kia chính là tình cảm người bà đôn hậu.

    Nếu có một bếp lửa quê nhà vẫn “chờn vờn sương sớm” thì cũng có một ngọn lửa tình bà “ấp iu nồng đượm”. Có lúc hai thứ lửa ấy như tách ra, lại có khi như hợp cùng nhau. Khi tách ra nó gợi về những kỉ niệm : kỉ niệm về bếp lửa củi rơm (“khói hun nhèm mắt cháu”, “sống mũi còn cay”), kỉ niệm về bếp lửa tình bà (“Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế”; “Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”). Nhưng khi đã hoà hợp vào nhau nó trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, kì lạ biết bao trong cái bình dị. Sống mũi còn cay

    là thực của ngày xưa ngồi cạnh bếp lửa , bên bà và là thực của hôm nay ( và

    chắc là mãi mãi ) của tình cháu.

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

    Ôi kì lạ và thiêng liêng – Bếp lửa.

    Trong cái hoà hợp tuyệt vời người ta thấy cái nóng, cái đượm của bếp lửa củi rơm cũng như cả cái nồng, cái ấm áp của bếp lửa lòng người. “Bếp lửa” kì kạ, thiêng liêng ấy nhóm “khoai sắn ngọt bùi”, “nồi xôi gạo mới” cũng dành nhóm cả : “niềm yêu thương”, “tâm tình tuổi thơ” thì mới thực sự diệu kì. Tại sao nói đoạn thơ trên là một trong những đoạn hay nhất của bài thơ, câu trả lời có lẽ nằm ở cái tình ấm lửa trong đó mà lúc nào cũng được ấp ủ:

    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.

    Tình cảm của bà rõ ràng đã được tượng trưng hoá với : “ngọn lửa”. Nếu nói “bếp lửa” e chưa thật trúng, còn nói “ngọn lửa” thì người ta cảm thấy cái linh hồn, tình cảm đã nằm ngay ở đó. Ngọn lửa ấy phải chăng là tâm huyết, nhiệt huyết (“chứa niềm tin dai dẳng”), phải chăng là tình yêu (“lòng bà luôn

    • sẵn”). Từ “Bếp lửa” đến “ngọn lửa” có lẽ hành trình từ cái đơn sơ, giản dị đến cái thiêng liêng, cao cả, từ cái thực đến cái linh hồn. Một lần nữa hình ảnh “bếp lửa” hay “ngọn lửa” đã tiếp tục tôn cao thêm tấm lòng chân chất, tình thương giản dị mà sâu sắc, đôn hậu của bà. Có thể chấp nhận được

    chăng khi ta hình dung “bếp lửa” trong kí ức tuổi thơ của tác giả chính là hiện hữu của một tình yêu nồng nàn, đượm đà bà dành cho Bằng Việt ? Cái chính là lòng bà lúc nào cũng ấp ủ một ngọn lửa vô hình song “dai dẳng”, “thiêng liêng” để lúc nào cũng vậy hễ nhắc tới “bếp lửa” cả tác giả và người đọc đều thấy thấp thoáng bóng bà đang hiển hiện.

    Chẳng phải vô tình mà trong suốt bài thơ, hình ảnh “bếp lửa” cứ ám ảnh tâm trí Bằng Việt như vậy. Không dưới mười lần tác giả nhắc tới hình ảnh đó và lần nào cũng kèm theo sự xuất hiện của bà. Tác giả đang làm cái công việc của người đi so sánh, tỉ dụ hai giá trị hai vẻ đẹp : “bếp lửa” và “người bà” chăng ? Không hẳn như vậy ! Đọc kĩ lại ta thấy Bằng Việt đã làm một mĩ từ pháp có hiệu quả cao nhất : ẩn dụ. Hình ảnh bếp lửa là ẩn dụ của tình cảm nồng hậu nơi người bà, và tình cảm người bà chính là ẩn dụ của ngọn lửa – một thứ tình yêu cao cả nhất. Ta đã biết “người bà” và “bếp lửa” là hai giá trị chẳng thể nào tách rời trong hồi ức của tác giả thì lẽ nào tác giả lại đi làm cái công việc trái ngược kia : phân tách hai hình ảnh để so sánh ? “Bếp lửa” tượng trưng cho cái đơn sơ, khiêm nhường – đã bao giờ chúng ta nghĩ về bếp lửa nhà mình như thế này chưa : nó giản dị, đơn sơ (chỉ vài que củi, một ôm rơm, một cái kiềng là thành một “bếp lửa” nhỏ bé thôi !), nó cũng thật khép nép khi thu mình trong góc bếp chật chội ? Nhưng bếp lửa cũng là một cái gì đó rất ấm áp, nồng đượm (- những ngày đông lạnh thấu da thịt được ngồi bên bếp lửa sưởi ấm có lẽ là hạnh phúc lớn nhất !). Người bà cũng vậy : thật chân chất, mộc mạc, dân dã, quê kiểng song ẩn chứa tình yêu vô bờ, thiết tha, chan chứa. Qua con mắt nhà thơ, bếp lửa và bà đều là những gì tuy thật bình dị song ẩn giấu điều cao quí, thiêng liêng. Lấy hình ảnh của bếp lửa để nói về tình cảm của bà dành cho mình, thiết tưởng Bằng Việt phải nặng lòng với bà, với quê hương lắm lắm !

    Một đứa con xa quê hương, một đứa cháu xa bà luôn thường trực trong tim nỗi nhớ về “bếp lửa” – về tình yêu ấm nồng tưởng như cái lạnh, cái cô đơn ở quê người cũng đôi chút vợi đi vậy … Nhưng nhớ về bếp lửa phải chăng cũng đồng nghĩa với nhớ về quê nhà, nhớ về bà đồng nghĩa với nhớ về tổ ấm gia đình với niềm vui sum họp. Cái ẩn nghĩa cao nhất có lẽ là tình cảm về đất nước, quê hương mà chung qui vẫn kết tụ ở “bếp lửa” :

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà. Niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở

    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ? …

    Trong tình cảm của bà có tình cảm của đất nước, tác giả nhớ đến tình bà cũng là nhớ yêu đất nước, quê hương. Có người từng nói : “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Nói như vậy có nghĩa tình cảm của bà là một ẩn dụ của tình cảm đất nước dành cho những người con xa. Và có nên chăng khi ta coi : “bếp lửa” ấy cũng là một ảnh hình của quê nhà, đất nước ? Từ tình cảm với “bếp lửa”, với bà, tình đất nước, quê hương đã biểu hiện. Như vậy có nghĩa trong suốt cả bài thơ ta đã đi theo một hành trình cao cả : từ bếp lửa của củi rơm đậm vị mùi quê nhà, tới bếp lửa, ngọn lửa của lòng bà đậm đà, ấm áp và cuối cùng là đến lửa của quê hương, của tình cảm với Tổ Quốc … Hành trình từ bếp lửa đến Bếp lửa tựa như hành trình của những giọt nước hoà vào suối, suối đổ vào sông, sông ra biển vậy… Càng ngày càng thiêng liêng, cao cả!

    “Bếp lửa” là một dòng hồi tưởng song mang nhiều lớp lang, cấu trúc đa tầng

    nghĩa. Nó còn “chờn vờn”, “nồng đượm”, rực sáng mãi không thôi trong

    lòng những người dù chỉ đến với nó một lần.

    … Đọc “Bếp lửa” của Bằng Việt, tôi vẫn mường tượng ra cảnh một chàng lưu học sinh trẻ tuổi trong cái giá lạnh của mùa đông Ki-ép đương cặm cụi nhen nhóm ngọn lửa lòng ấm áp, nồng nàn, nóng bỏng. Sống lại tuổi ấu thơ cảm động bên người bà yêu dấu với tình thương bao la, sâu đậm ở một miền quê còn nhiều gian khổ của đất nước chúng ta một thời …

    Một ngọn lửa mãnh liệt như vậy liệu có bao giờ lụi tắt được chăng ? !

  • Văn mẫu Phân tích bài đồng chí

    Văn mẫu Phân tích bài đồng chí

    Văn mẫu Phân tích bài đồng chí

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích bài đồng chí

    Phân tích bài đồng chí

    Đề : hình ảnh nguời lính nông dân hiện lên chân thực trong bài thơ Đồng Chí của chính hữu. háy phân tích bài thơ để làm sáng tỏ điều đó

    MB :

    người lính nông dân đi vào thơ ca mang tất cả vẻ đẹp có thật của họ làm cảm động lòng người mà ta tưng gặp trong ngôi ” dều thiêng ” ” văn tế nghĩa sỉ cần giuộc ” của nguyễn đình chiểu , trong ” nhớ ” của hồng Nguyên ….. Nhưng còn có bài

    thơ khác đã khắc họa hết sức sống động nét mộc mạc chân thật, đáng yêu và giau lòng yêu nước của người lính nông dân đó là ” đồng chí ” của nhà thơ Chính Hữu

    TB :

    Cuộc kháng chiến chống pháp điểm gặp gỡ của bao người dân yêu nước . Chính họ mới đây thôi đã ” rù bùn đứng dậy sáng lòa ” Bằng cuộc cách mạng tháng 8 . Giờ đây hjọ lại sát cánh bên nhau thề quyết tử cho tổ quốc , quyến sinh . Hòan cảnh lịch sử mới đã khai sinh một tình cảnh mới . mội quan hệ mới mà trước đo họ chưa hề được biết ” tình đồng chí ” Chính Hữu đã ghi lại tình cảm cao quý và mới mẻ ấy b ằng những dòng thơ mộc mạc chân thành . Bài thơ mở ra bằng những câu thơ mang vẻ tâm tình

    • quê hương anh nước mặn đồng chua làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

    anh với tôi đôi người xa lạ

    tựa phương trời chẳng hẹn quen nhau

    Đúng vạy nếu không có cuộc chiến tranh này nhữung người lính làm gì có thể gặp dược nhau . Mỗi người mỗi cảnh mỗi vùng quê khác nhau họ là nhưng người xa lạ . Ấy thế mà dẫu chẳng hẹn nhưng họ lại gặp nhau cùng một đội ngũ , cùng một chiến hào . Họ đến với nhau bằng những lời giơiứ thiệu về quê hương minh . Đối với người việt kiểu thăm hỏi giới thiệu này giúp ta tự nhiên hơn gần gũi nhau hơn . tác giả tuy giới thiệu rõ địa danh nơi cư ngụ của tunừg ngu ười nhưng hình ảnh ” nước mặt đồng chua ” gọi đến một vùng đất ven biển ngập rừng quanh năm ., còn lòng tôi” đất cày lên sỏi đá ” là vùng trung dung khô cằn đất đai thiếu màu mỡ . Tuy nhiên dù là miền xuôi hay miên ngu ược thì những người nông dân mặc áo linh náy đe èu có chung 1 cái nghèo . Chính vì cũng nghèo cùng cơ cực mà họ dễ cảm thông mà chia sẻ buồn vui cho nhau song việc họ có mật đòan vệ quốc dân không phải do cái nghèo mà do tình yêu nước sâu sắc . Ông cha ta đã mang trong mình dòng máu yêu nước đến lượt họ . Tổ quốc có xâm lăng tình thần yêu nước lại nồng nàn mạnh mẽ hơn bao giờ hết .Khiến học đến bên nhau ghép thành một sức mạnh nhấn chìm bọn cưới nước và bán nước . Hòan cảnh sinh hoạt và chiến đấu đã làm cho tình bản của họ nảy sinh

    Súng bên súng đầu sát bên đầu

    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

    Đồng chi!

    Hình ảnh đêm rét chung chăn làm ta nhớ đến motọ bài ca dao vui về người chính sĩ trong những ngày đấu chống pháp . ” 3 thằng 1 cái chăn bông … ” ” đêm Việt Bắc thì quá rét mà chăn bông thì quá nhỏ nên 3 chàng cứ loay hoay mà mà chã đủ ấm

    . Đắp được chân thì hơ đầu đặp được bên này thì hở bên kìa . Cuối cùng ” cái khó ló cái không ” ” 3 thằng quặt chặt gió lùa vào đầu ” chính trong những nàgy thiếu thốn khó khăn ấy , từ ” xa lạ ” họ đa trỏ thành chiến hữ của nhau . Tri kỹ thật tự nhiên thật cảm đồng . Từ trong tâm cảm của hộ bỗng bật thôts lên 2 từ ” đồng chí ” . Ai mà chã biết đồng chí là cùng chung chi hướng cùng mục đích . CÙng lí tưởng nhưng tình cảm ấy một khi có được thì cái cốt lõi là tình ” tri kỷ ” lại được thử thách . được rèn luyện trong khó khăn thì mới thật sự bền vững . Phía sau những câu thơ nói về gió , về rét , lặng lẽ chảy một ngọn lửa ấm nóng của tình đồng chí đồng đội . Nói rộng ra 2 tiếng ” đồng chí ” còn có ý nghĩa của 1 tiếng liên thàm vi trong tận cùng gian khổ ý nghĩa đích thức của tình cảm này mới được bộc lộ một cách đầy đủ nhất . Có thể liệu từ ” đồng chí ” đứng tác ra như 1 khổ thơ riêng . Nó là sự kết tinh của cảm xúc dâng trào của những câu thơ thước và khởi đầu cho những câu thơ tiếp theo

    Ruộng đồng nương tôi gửi bạn thân cày

    Gian nhà riêng mặt kệ gió lung lay

    Giếng nước gốc đa nhớ người đi lính

    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

    Sót run người vầng tráng ướt mồ hôi

    Áo anh rách vai

    Quần tôi có vài mảnh vá

    Miền cười buồn giá

    Thân không giày

    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

    ĐỌc bài thơ là sự sống đôi của hình tượng ” anh và tôi ” cái tình tri kỷ cái hứoi âm đồng chí được bắt qua sự sống đôi có ý nghĩa bổ sung ấy . Từ những câu thơ nói về gia cảnh về cảnh ngộ đến đây ta lại bắt gặp motọ sự thay đổi lớn lao trong quan niệm của người chiên sĩ . Họ để lại sau lưng mảnh đời quê hương với những băn khoăn trăn chở để cùng ” ra lính ” ” ruộng nương ” đã tạm gởi cho bạn thân cày ” gian nhà không ” tài sản nghèo đơn sơ ấy để mặc cho ” gió lung lay ” siêu vẹo . Lên đuờng đi chiến đấu , người lính chấp nhận sự hi sinh , tam gác sang 1 bên những tính toán riêng tư là đứa con của quê hương , thời bình các anh cầm cuốc cầm cày xây dựng cuộc sống , còn thời chiến thì cầm súng để bảo vệ tuổi quốc quê hương . Hay theo mùa xuân nho nhỏ của tố hữu thì đó chính là lộc của họ . CHo nên không phải ngẫu nhiên mà ” giếng nước gốc đa nhớ người ra lính ” Làng xóm quê hương hậu phưuơng nhứo các anh là truyền thêm sức mạnh để các anh ” chân cứng đã mềm ” Đây là câu thơ liền nổi bật 2 chiếu ” tiền tuyến nhớ hậu phương . hậu phương phó tiền tuyến ” Như vậy tình đồng chsi đã được tiếp thêm sức mạnh với tình yêu đất nước . CÒn trong hiên tại đang có chung kry niệm còn sốt rét nơu rừng sâu . Cùng chịu chung sự thiếu thốn ” áo anh rác vai ” ” quần tôi có vài mảnh vá ” ” chân không giày .. ” Tất cả những khso khăn gian khổ được tái hiện bằng nhữung chi tiết hết sức chân thật không một chút tô vẻ . Ngày đầu của cuộc kháng chiến quân đội cụ hộ mới được thành lập nên còn thiếu thôn trăm bề . Hìn hảnh người lính của chính hữ trong một bài thơ khác

    • ngày về ” làm ta chao lòng
    • Rach ta tới rồi đôi giày vạn dặm Bụi trưởng dinh phai bạc áo hào hoa Tẩm lăng kề mãi đến khi già

    Phơi gió vui với muôn ngàn cơ hội

    Có thời có người đã cho những người coi như câu trên là ủy mị nhưng thực ra nó mang vẻ đẹp lãng mạn chân thật về những người lính dám xả thân vì nghĩa lớn Thế nhưng nó lại không có sức lay động người đọc bằng cái thật trog baì đồng chí . Cùng hướng về 1 lí tưởng cùng nếm sự khắc nghiệt của chiến tranh , người lính chia sẻ cho nhau tình thưonưg yêu ở mức tột cùng ” thương nhau tay nắm lấy bàn tay ” những bàn tay đã tìm đến nhau truyền thêm sức mạnh vào niềm tin cho nhau đã làm rạng rỡ lên nụ cười lạc quan dẫu rằng gió buốt lạng . Nhà thơ đã phát hiện rất tinh tế các nội lực tinh thần ấy trên cơ sở cảm thông và thấu hiểu sâu sắc lẫn nhau để tạo nên chiều sâu và sự bền vững của thứ tình cảm thầm lặng nhưng rất dỗi thiêng liêng này

    Những câu thơ cuối bài đã hoàn chỉnh 1 cách xuất sắc bức chân dung người chiến sĩ mộc mạc giản dị mà khỏe khoắn , can trường

    • đêm nay rừng hoàng sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo

    Đó là những câu thơ có giá trị tạo hình rất cao vẫn là ” rừng hoang sương muối

    cái gió rét cứ đeo đủôi người chiên sĩ nhunưg không cản dược họ đứng cạnh bên nhau . Tư thế chờ giặc tới ” là tư thế hòan tòan chủ động . Trong khung cảnh ấy đột nhiên một từ thơ lạ độc đáo hiện lên ” đầu súng trăng treo ” trong bài thơ xưa đã từng có cảnh trăng treo đầu nuối

    • Non kỳ quanh quê trăng treo Bến phì gío thổi đìu hiu mấy gò ” ( chinh phụ ngâm )

    Trăng đầy núi đầy nhưng sao mà thê lương ảm đảm đén mức ” quạnh quê ” ” đìu hiu ” Thơ chính hữu hòan toàn khác Biểu tượng ” đầu súng trăng treo ” là một biểu tượng đậm chất lãng mạn và khỏe khoắn . Cái ảo và cái thực hòa ghép với nhau tạo nên một liên tưởng bất ngờ kỳ thú . Câu thơ kiểu 4 chữ nhưng hết sức lay động . Cây súng trong tay người chiến sĩ tượng trung cho hòa bình ngừơi lính cầm súng là bảo vệ cho quê hương ” cho giếng nước gốc đa ” của tổ quốc và cho cả vầng trăng thơ mộng kia nữa. Từ 2 hình ảnh ” trăng ” và ” súng” tưởng như đối lập nhau nhưng qua cái ảo để ở bên nhau 1 cách hợp lí không hề viễn tưởng . Vẻ đẹp của tình thana chiến đất , chất thơ của chính hữu hội tù hài hòa trong 1 biểu tượng thật đẹp đẽ . có lẽ đó là lý do mà nhà thơ đã đặt tên cho nhân đề tập thơ đầu tiên của mình là ” Đầu súng trăng treo ”

    KB :

    Đồng chí mang vẻ đẹp riêng của người lính nông dân đó là vẻ đẹp mộc mạc giản dị nhưng hết sức thiêng liêng gắn bó sâu sắc giữa số phận cá nhân với số phận chung của dân tộc . Bài thơ hòa thêm với dàn đồng ca vang đời của văn học thơi kỳ là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng .Bài thơ cũng đã góp phần tô điểm thêm vườn thơ Việt Nam thêm 1 đóa hoa mộc mạc mà cao đẹp quá

    Nhớ

    • lũ chúng tôi bọn người tứ xứ

    gặp nhau hồi chưa biết chữ quen nhau từ buổi 1 2 Hồng Thương

    Lấy ý chí thắng thiên nhiên

    Gập đâu ôm chẳng thuốc men cũng xòang

    Tố hữu

    Đêm mưa rình giặc ta thao thức

    Mùa lạnh mùa rét nhức xương

    Nguyễn Đình Thi

    Người đi đâu không ngoảnh lại

    Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

    Cảm nghĩ về đoạn 1 của bài đồng chí

    Đoạn thở mở đầu giới thiệu làng quê của 2 người lính xuất thân từ nông dân khiến em bồi hồi xúc động Trước hết đó là sự xúc động trước cảnh nghèo khó của những mảnh đời cơ cực không phải chỉ riêng 2 người lính mà còn là cuộc đời chung của bao nhiêu dân cày Nông dân chúng ta phải 1 nắng 2 sương nên những cảnh động ngập mặn . Phải đổ mồ hôi vì đất cày sỏi đã không màu mỡ thiếu phì phiêu Thế nhưng cuộc sống cơ cực không làm nghèo đi tình yêu nước Từ những phương trời xa lạ họ đã có chung 1 lí tưởng chiến đấu và nhất là có tình đồng chí sưởi ấm những đêm rét mướt nơi chiến trường Những ngày chiến đấu gian khổ đối mặt với quân thù Dòng thơ gồm 2 từ ” Đồng chí ! ” đựợc dùng làm điểm nhân trong bài thơ đã vang lên trong tâm hồn em tình cảm thương yêu thắm thiết đối với những người bồ đội cụ hồ trong những năm đầu kháng chiến chống pháp

    Cảm nghĩ về đoạn 2

    Đoạn thơ thứ 2 khiến em suy nghĩ nhiều về những người bảo vệ tổ quốc trong giao đoạn 9 năm kháng chiến chông pháo . Ai cũng có 1 quê hương với hình ảnh ruộng đồng thân thương với gian nhà tổ ấm của gia đình với giếng nước gốc đa đã từng in sâu bao kỉ niệm . Những người lính trong bài ” Đồng chí ” cũng yêu làng quê

    biết bao . Thế nhưng mà họ để lại tất cả ở quê nhà mà lên đuwofng giết giặc . Tình cảm yêu nước thiết tha khiên em vô cùng kính phục và tự hào vì tổ quỗc đã có những nguời con bình thường giản dị biết đặt quyền lợ tổ quốc lên trên tình cảm riêng tư. Cuộc sống mới chiến trường phải đối mặt với quana thù lại còn chống chọi với từng cơn sốt rét . Với sự thiếu thốn quan quân trang quân dụng ” áo rách vài , quần có vài mảnh vá , chân không giày ” Hiếm khi đọc lại những dòng thơ này ai trong chúng ta cũng dâng trài xúc động . Không còn hình ảnh nào tôn vinh và ca ngợi hơn

    Cảm nghĩ về đoạn 3

    Càng về cuối bài thơ tình cảm cua tác giả dành cho người chiến sĩ được dâng lên 1 cách trọn vẹn đầy đủ nhất ” Đêm nay rừng hoang sương muối ” Có thể hiểu rằng không phải chi đêm nay mà từng đêm biết bao nhiêu đêm người lính phải chịu đựng rét buốt với áo vải mong manh . Họ đứng sát cạnh nhau không rời bỏ vị vui chiến đấu

    . Vì ai mà họ phải vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ ? phải thực hiện nhiệm vụ chờ giặc đến . Đó là vì quê hương dân tộc Em thất sự xúc động trước hình ảnh kết thúc bài thơ . Hơn nữa hình ảnh ” Đầu súng trăng treo ” lại gợi cho em cảm xúc dẹp đầy chất lãng mạng bay bổng của người lính . Chính Hữu là 1 cây bút tài năng đã để lại cho văn học việt nam 1 b ài thơ xúc động tình người và 1 hình tượng đẹp tồn tại trong thơ ca đó là hình tượng “đầu súng trăng treo”

  • Văn mẫu Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm hứng nhân đạo trong truyện Kiều của Nguyễn Du


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Đề bài: Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    BÀI LÀM

    Tương đồng với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều trên phương diện khẳng

    định những giá trị nhân văn và phản ánh số phận người phụ nữ cũng như khả năng vận

    dụng nhuần nhuyễn thể loại ngâm khúc và thể thơ song thất lục bát, song bản diễn Nôm

    Chinh phụ ngâm lại có phần giản lược những suy tưởng triết lý cao siêu và hướng nhiều

    hơn tới cuộc sống đời thường. Tâm tình người chinh phụ tiêu biểu cho nỗi nhớ mong

    chồng, khát khao cuộc sống gia đình bình dị và ước mong về một ngày đoàn tụ vợ chồng.

    Đặt trong tương quan chung, ước mơ của người chinh phụ cũng hiền hoà, dung dị, gần

    gũi hơn so với người cung nữ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cho thấy

    rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc

    thầy của hai tác giả Đặng – Đoàn, trong đó phải kể đến nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt

    xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.

    Tâm trạng nổi bật trong đoạn trích gồm 36 câu thơ trong tổng số 408 câu của toàn tác phẩm là sự thể hiện nỗi đơn côi, trống vắng của người chinh phụ. Trước hết đó là sự ý thức về con người cá nhân chiếu ứng trong các quan hệ với cảnh vật và con người, đặt trong tương quan với thời gian và không gian. Nhân vật chủ thể trữ tình – người chinh phụ xuất hiện như có như không, vừa tỉnh thức trong từng bước đi, từng động tác buông thả tấm rèm nhưng liền đó lại quên tất thảy, thờ ơ với tất thảy:

    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

    Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

    Trong khổ thơ mở đầu (từ câu 1 – 16) có hai hình ảnh quan trọng được tô đậm, nhấn

    mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn. Người chinh phụ “ngồi rèm thưa” mà trông ra

    ngoài ngóng đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu. Cuộc sống nơi “trong rèm” chính là sự

    bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng. Câu thơ chuyển tiếp Trong

    rèm dường đã có đèn biết chăng càng tôn thêm vẻ vắng lặng, đơn côi, một mình chinh

    phụ đối diện với bóng mình, đối diện với người bạn vô tri vô giác Đèn có biết dường

    bằng chẳng biết và đi đến kết cuộc Hoa đèn kia với bóng người khá thương… Rõ ràng

    cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người đã bị “vật hoá” tựa như

    tàn đèn cháy đỏ kết lại đầu sợi bấc, con người bây giờ chỉ còn là “bóng người” trống trải,

    vừa đối xứng vừa đồng dạng và là hiện thân của chính kiếp hoa đèn tàn lụi. Ngay đến

    cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, chập chờn bất định,

    không dễ nắm bắt với những “gà eo óc gáy sương”, “hoè phất phơ rủ bóng”… Bên cạnh

    đó, dòng thời gian tâm lý cũng chuyển hoá thành sự đợi chờ mòn mỏi, thời gian đầy ắp

    tâm trạng đơn côi nhưng không có sự sống, không sự kiện, không thấy đâu bóng dáng

    hoạt động của con người:

    Khắc chờ đằng đẵng như niên,

    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

    Trong sự chờ đợi, người chinh phụ thấy một khoảng thời gian ngắn mà dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang. Những trạng từ “đằng đẵng”, “dằng dặc” tạo nên âm điệu buồn thương, ngân xa như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm

    đắm chờ chồng. Rút cuộc, hình bóng người chinh phụ có xuất hiện trở lại thì trước sau

    vẫn là nỗi chán chường, buông xuôi, vui gượng “Hương gượng đốt”, “Gương gượng soi”, “Sắt cầm gượng gảy” mà không sao che đậy nổi một hiện thực bất như ý “hồn đà mê mải”, “lệ lại châu chan” và “Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”…

    đoạn thơ tiếp theo (câu 17 – 28) là sự phản ánh nỗi lòng chinh phụ khi nhớ về người

    chồng. Có điều, nếu hình ảnh người chồng hiện diện như một ý niệm xa mờ thì bản thân nỗi nhớ mong cũng chỉ như một ảo giác. Sự gặp gỡ là điều không thể bởi tin tức mịt mờ, bởi khoảng cách về không gian, về địa danh có tính phiếm chỉ, biểu tượng của miền “non Yên”, “đường lên bằng trời”, “xa vời khôn thấu”… Các từ “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha” gợi nhớ gợi thương, day đi dứt lại trong tâm can người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ tăng tiến, rộng mở từ những suy tưởng dõi theo người chồng nơi phương xa đến sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa, đắng cay nối dài bất tận:

    • Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
    • Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

    Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên:

    Cảnh buồn người thiết tha lòng,

    Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

    Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,

    Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.

    Hình ảnh so sánh “sương như búa”, “tuyết dường cưa” là sự cực tả những xao động của thế giới bên ngoài thông qua cách hình dung của chinh phụ, khi nàng bất chợt không còn chịu đựng nổi ngay cả vẻ bình dị đời thường và bột phát thành những ám ảnh dị thường. Đó là những tâm trạng khác biệt nhau cùng tồn tại trong một con người, sự phân thân trong cách cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống. Trong bản chất, chính tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã tạo nên những xung đột tình cảm khác biệt nhau và phổ vào thế giới tự nhiên tất cả những trái ngang, những thất vọng và cả niềm hy vọng mong manh, những giây lát yên tĩnh nhất thời và những cơn bão lòng dường như không thể nguôi khuây.

    Bước vào đoạn cuối (câu 29 – 36), người chinh phụ vươn tới không gian thoáng rộng hơn với những hàng hiên, ngọn gió, bóng hoa, ánh trăng nhưng đó cũng chỉ là thiên nhiên lạnh lùng, thiếu hẳn niềm tin và hơi thở ấm áp của sự sống. Cảnh vật như tách khỏi con người và không thấy đâu hoạt động của con người. Tất cả chỉ đơn thuần là cảnh vật và vì thế càng tôn thêm vẻ lạnh lùng, đối lập với tâm tư con người và hình ảnh nhân vật chinh phụ đang khuất lấp, ẩn chìm đâu đó:

    Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,

    Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.

    Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,

    Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!

    Đến hai câu thơ cuối bắt đầu hé mở tâm trạng so sánh. Người chinh phụ nhìn cảnh hoa nguyệt mà trạnh lòng bâng khuâng xót xa cho thân phận mình, tủi phận mình lẻ loi trước cảnh nguyệt hoa. Từ đây có thể nói tới những dự cảm về ý thức cá nhân của người chinh phụ và xa gần liên hệ tới quyền sống, quyền hưởng niềm vui, hạnh phúc lứa đôi giữa chốn nhân gian.

    Trên phương diện nghệ thuật, thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối và câu thơ lục bát truyền thống giàu âm điệu, gợi cảnh gợi tình đã tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác, nối dài không dứt. Quan sát kỹ có thể thấy từng bốn câu thơ đi liền nhau tạo thành một tiết đoạn, trong đó hai câu thất ngôn đóng vai trò khơi dẫn ý tứ, hai câu lục bát tiếp theo hướng tới luận bình, khai triển, mở rộng. Cứ như thế, các ý thơ, khổ thơ tiếp tục luân chuyển, nối tiếp nhau như những ngọn sóng cảm xúc đang trào dâng. Ngay trong từng câu thơ cũng xuất hiện những tiểu đối tạo nên tính chất hô ứng, đăng đối, tạo ấn tượng và sự nhấn mạnh:

    • Dây uyên kinh đứt/ phím loan ngại chùng
    • Cành cây sương đượm/ tiếng trùng mưa phun

    – Sâu tường kêu vắng/ chuông chùa nện khơi

    Thêm nữa, tác phẩm diễn Nôm bên cạnh việc giữ lại và Việt hoá được cả hệ thống điển tích và từ Hán Việt (non Yên, sắt cầm, dây uyên, phím loan, gió đông…) thì nhiều ý tứ trong nguyên tác đã được chuyển dịch, nâng cấp thành lời thơ thật sự giàu chất thơ.

    Chẳng hạn, với câu Sầu tự hải – Khắc như niên (nguyên ý nghĩa chỉ là Sầu tựa biển – Khắc như năm) đã được chuyển dịch thành câu thơ mang sắc thái nội tâm hoá, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương:

    Khắc chờ đằng đẵng như niên,

    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

    Đoạn trích nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cũng như toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm là tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng, nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa. Tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng vây bủa bốn bề và cuộc sống hoá thành vô vị, mất hết sinh khí. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và hệ quả tiếp theo là bao nhiêu số phận chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác xác nhận nhu cầu nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Không có gì khác hơn, đó chính là khả năng mở rộng diện đề tài, khai thác sâu sắc hơn thế giới tâm hồn con người, xác định nguồn cảm xúc tươi mới và khẳng định

    những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành

    vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong tiến trình phát triển chung của nền

    văn học dân tộc.

  • Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích đoạn trích Trao Duyên – Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    BÀI VĂN MẪU LỚP 9

    Đề bài: Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    BÀI LÀM

    Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu . Ở các quốc gia tiên tiến , vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường rất được chú trọng nên việc xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa. Người dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp. Đáng buồn thay, ở nước ta, hiện tượng vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng , không giữ gìn vệ sinh đường phố rất phổ biến. Việc làm này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về hiện tượng này.

    Hiện tượng không giữ gìn vệ sinh đường phố có rất nhiều biểu hiện nhưng phổ biến nhất là vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng . Ăn xong một que kem hay một chiếc kẹo , người ta vứt que, vứt giấy xuống đất . Uống xong một lon nước ngọt hay một chai nước suối , vứt lon , vứt chai ngay tại chỗ vừa ngồi mặc dù thùng rác để cách đó rất gần. Thậm chí khi ăn xong một tép kẹo cao su, họ cũng không mang đến thùng rác mà vo tròn rồi trét lên ghế đá và cứ thế bỏ đi chỗ khác. Công viên, nơi được xem là có bầu không khí trong lành, sạch đẹp, giúp con người thư giản, hay chùa chiền, vốn là nơi tôn nghiêm cũng không tránh khỏi hiện tượng này. Bến tàu, nhà ga, kênh rạch đâu đâu cũng có rác. Một biểu hiện phổ biến khác là một số tài xế chở gạch,đá phế thải ở các công trinh xây dựng đem đổ khắp nơi và cả trên dưới phố. Con người ta còn vô ý thức đến mức mang xác súc vật chết như chó, mèo, chuột, gia cầm như gà, vịt ném xuống hồ ,ao, sông rạch và ra đường. Ở một số hàng, quán bán trên vỉa hè người ta đổ tất cả đồ ăn dư thừa, nước rửa chén, bát xuống cống khiến cho nước thải bị ứ đọng ,cống bị tắt nghẽn. Thế nhưng hiện tượng xả rác đó còn lan sâu vào một tầng lớp trí thức trẻ ngày nay. Biểu hiện cụ thể ở một số sinh viên làm gia sư. Họ thường đứng ở các ngã ba, ngã tư đường để phát tờ rơi quảng cáo nhóm gia sư của mình một cách bừa bãi khiến khắp đường phố rải rác đầy những tờ rơi. Trong lớp học, sân học, học sinh cũng ngang nhiên xả rác ở hộc bàn, góc lớp, hành lang,… Nguy hiểm hơn cả là tình trạng bệnh viện chôn rác xuồng lòng đất ngay bên cạnh khu dân cư, hay mới đây là vụ nhà máy bột ngọt Vedan đã thải nước xuống dòng sông Thị Vãi mấy chục năm biến dòng sông thành dòng sông chết.

    Vậy do đâu mà hiện tượng xả rác bừa bãi lại tràn làn như vậy? nguyên nhân Đầu tiên là do những thói quen xấu lười biếng và lối sống lạc hậu ích kỷ chĩ nghĩ đến quyền lợi cá nhân của một số người . Họ sống theo kiểu

    “Của mình thì giữ bo bo 

    Của người thì thả cho bò nó ăn ”

    Họ nghĩ đơn giản rằng chỉ cần nhà mình sạch thì được còn bẩn thì ai bẩn mặc ai . Những nơi công cộng không phải là của mình , vậy thì việc gì mà phải mất công gìn giữ. Cứ ném rác vội ra là xong, đã có đội vệ sinh lo dọn dẹp. Cách nghĩ như thế thật là thiểu cận và nguy hại làm sao. Nguyên nhân tiếp theo là do thói quen đã có từ lâu, khó sửa đổi, phải có sự nhắc nhở thì người ta mới không xả rác bừa bãi. Ở các lớp học, hằng ngày, các thầy cô và ban cán sự lớp phải thường xuyên nhắc nhở thì mới giữ cho lớp học sạch đẹp. Nhưng xã hội là một phạm vị rộng lớn hơn lớp học rất nhiều. Mọi người đều bận rộn với công việc của mình và không một ai có đủ thời gian để đi nhắc nhở từng người một . Không được nhắc nhở , con người ta lại quay về với thói quen trước kia . Việc giáo dục ý thức giữ gìn , bảo vệ môi trường sống chưa được quan tâm đúng mức , chưa được tổ chức thường xuyên . Mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có những chương trình kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường của con người nhưng chúng quá ít ỏi , không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và học hòi của người dân . Do đó mà trình độ hiểu biết của người dân còn thấp dẫn đến thái độ tuân thủ nội quy nơi công cộng chưa đi vào nề nếp. Một phần là do sự quản lý, kiểm soát của các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, kém hiệu quả, …chưa có hình thức xử lý nghiêm khắc những cá nhân, đơn vị, công ty vi phạm, hay nói cách khác là biết mà làm ngơ. Cứ thử phạt thật nặng một người nào đó xả rác ra đường phố làm gương, thì còn ai dám xả rác nữa.

    Với tình hình vứt rác bừa bãi hiện nay, thì những hậu quả kéo theo nó cũng không phải nhỏ. Trước tiên là gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Rác bị xả bừa bãi liên tục, ngày càng nhiều nếu không được thu dọn sẽ bốc mùi, gây ô nhiễm môi trường không khí. Nguồn nước bị ô nhiễm nặng do dân cư ven các con sông thải chất thải sinh hoạt xuống sông, tệ hại hơn, họ còn ném xác gia cầm bị H5N1 xuống sông. Người dân chẳng may sử dụng phải nguồn nước nay, hay sống gần những bải rác sẽ dễ mắc các bệnh về đường ruột, bệnh ngoài da, ệnh đau mắt hột…Đặc biệt gần đây ở nước ta có nhiều người tử vong vì bị tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn tả từ nước bị ô nhiễm. Về vấn đề kinh tế mà nói, ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất là ngành nuôi trồng thủy sản. Do môi trường sinh thái bị ô nhiễm, cá tôm chết nhiều hoặc bị bệnh tác hại nghiêm trọng đến sản lượng, kinh tế người dân và tốn kém nhiều tiền bạc trong việc cải tạo môi trường. Rác trong lớp học, sân trường, nếu không thu dọn kịp thời sẽ bốc mùi hôi thối khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự tiếp thu bài của học sinh, sự truyền đạt kiến thức của giáo viên và còn làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của ngôi trường. Và độc hại hơn cả, là rác thải y tế với những mầm bệnh ung thư, nước nhiễm chì, nhiễm bẩn. Rác tồn đọng, ứ lại trên các kênh rạch, cống rãnh gây nên ngập lụt vào mùa mưa gây ảnh hưởng đến đời ống của người dân, nhà nước, địa phương phải tốn thêm một khoản chi phí không nhỏ để thuê nhân công thu dọn, nạo vét, khai thông cống rãnh, ao hồ, kênh rạch. Và một thiệt thòi đối với nước ta nếu hiện tượng xả rác còn tràn lan là sẽ để lại ấn tượng không tốt đẹp cho khách du lịch. Thử hỏi còn ai dám đến tham quan một đất nước đầy rác ngoài phố, mùi hôi khó chịu, mất vệ sinh!!? Lúc ấy, chúng ta sẽ mất một nguồn lợi khá lớn về du lịch.

    Vậy làm thế nào để giảm thiểu được hiện tượng xả rác này. Nhà trường phối hợp với các ban ngành thướng xuyên nhắc nhở, tuyên truyền, kiểm tra ý thức tự giác của mọi người về việc giữ gìn vệ sinh. Nên có những hình thức khiển trách đúng mức đối với những học sinh có thói quen vứt rác bừa bãi. Đối với người dân vi phạm thì họp tổ dân phố kiểm điểm. Còn công ty nào vi phạm thì . Tốt nhất là các cơ quan nhà nước thẳng tay phạt nặng, rút giấy phép hoạt động cần đưa ra những bộ luật thật cụ thể về vấn đề xâm hại môi trường.

    Hành vi xả rác nơi công cộng đang là vấn đề đau đầu của các cơ quan chức năng bởi mức hiệt . Bảo vệ môi trường là bảo vệ sự sống của mọi người, vì tác hại của nó đối với XH, vậy mỗi người chúng ta cần có ý thức, góp phần chung tay xây dựng một môi trường xanh-sạch-đẹp.

    Đề : Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng.Ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng,người ta cũng tiện tay vứt rác xuống.em hãy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình.

    Bài làm
    Rác – tác nhân hủy hoại môi trường!

    Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta có rất nhiều hiện tượng làm ảnh hưởng đến môi trường va đặc biệt là mỹ quan đường phố. Đó chính là hiện tượng vút rác bừa bãi. Vậy chúng ta cần làm gì để ngăn chặn hiện tượng trên.
    Vâng! Quả đúng như vậy,như chúng ta đã biết vứt rác ra nơi công cộng là chính chúng ta đã góp phân làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sự sống của con người. những bãi rác chính là đầu mối gây ra các mùi hôi thối, khó chịu. nó còn là ổ dịch truyền nhiễm thông qua nững con côn trùng như hiện tượng bùng nổ dịch cúm gia cầm H5N1, một số người dân khi thấy gà, vịt chết hàng loạt đã không báo cho cơ quan thú y xử lí ma họ đã tự ném xác chúng xuống ao, hồ. đó quả là một việc làm vô cùng nguy hiểm vì lỡ nếu con gà hay vịt ấy mang trong mình mầm bệnh thì dịch bệnh sẽ phát tán trên cả khu vực rộng lớn, do nước từ các ao, hồ này chảy ra sông – nguồn nước sinh hoạt của nhiều hộ gia đình…
    Không chỉ vậy, mà việc vứt rác còn ảnh hưởng to lớn đến cảnh quan môi trường như: thành phố Nha Trang là một trong những thành phố đang có tiềm năng du lịch, hiện tại là thời kì mở cửa thu hút nhiều khách du lịch tham quan. Nếu việc vứt rác bừa bãi của chúng ta sẽ khiến cho khách du lịch có cái nhìn không tốt về nơi đây, đặc biệt là người dân đang sinh sống, học tập, làm việc nơi đây. Họ sẽ đánh giá ngay đây là một thành phố kém văn hóa và không có lịch sự. vậy liệu họ còn dám đến đây tham quan nghĩ ngơi nữa không.chúng ta hãy đặt ra những câu hỏi như vậy và hãy tự trả lời trước những hành động và việc làm của mỉnh. Để xem rẳng việc vứt rác là hành động như thế nào?
    Những người vứt rác ra nơi công cộng là những con người thiếu ý thức về việc bảo vệ môi trường, không chỉ do trình đô dân trí của họ thấp mà là do họ mang một căn bệnh khó chữa. họ chỉ biết cái lợi cho riêng mình mà quên đi cái lợi tập thể, cộng đồng. hơn thế nữa họ còn quên cái môi trường mà hằng ngày, hằng giờ họ dang sống và làm việc phải hít thở không khí từ môi trường ấy. họ quả là những con người không có trách nhiệm, đáng bị xã hội lên án và phê phán.
    Vậy trước những tình trạng trên chúng ta cần làm gì để bảo vệ môi trường. là học sinhđang còn ngồi trên ghế nhà trường chúng ta hãy tự rèn cho mình một ý thức bảo vệ môi trường thật tốt vì môi trường bị ô nhiễm thì mọi người đều phải chịu ảnh hưởng trong đó có cả mình, gia đình và bạn bè. Chúng ta hãy nghĩ thử xem, nếu chúng ta là người vứt rác thì không chỉ chúng ta chịu ảnh hường mà còn là người gây ra hậu quả, việc làm đáng bị xã hội và người đời lên án.vì vậy, chúng ta cần tuyên truyền cho mọi người cùng tham gia, học tập và đề ra những biện pháp thiết thực nhất để bảo vệ môi trường. như tổ chức các phong trào “ mùa hè xanh”, quét dọn dường phố, làm sạch sân trường,…. Và đề ra những quy định chung như: dổ rác đúng nơi quy định để giữ cho môi trường xanh – sạch – đẹp
    Có lẽ rằng ai trong chúng ta cũng cần có một cuộc sống thật tốt, một môi trường thật trong lành, ở mọi nơi dù trong nhà hay ngoài ngõ, dù trên cạn hay dưới sông dều cần có một môi trường sống tốt đẹp cho chính bản thân mình và còn cho mọi người. đứng trước xu thế hiện nay làm thế nào để vươn ra biển lớn, để hòa nhập với bạn bè bốn phương. Thiết nghĩ cần nhất là một gương mặt, một diện mạo mới của đất nước. một con đường sạch đẹp ở thành phố luôn tạo cho mọi người, nhất là các khách du lịch quốc tế một cảm giác thật thoải mái. Hãy làm cho mình đẹp hơn dưới con mắt cũa mọi người.
    Qua đây, cho ta thấy được môi trường rất cần thiết đối với chúng ta, vì vậy chúng ta không nên vứt rác ra đường. đồng thời em muốn gửi tới tất cả mọi người một thông điệp theo tinh thần cao đẹp: “ mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Và hi vọng rằng với việc nhỏ nhoi đó sẽ làm cho đất nước ta đẹp hơn và ngày càng phát triển hơn.

  • Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    BÀI LÀM

    Nhà văn Hoài Thanh có nói: “Thơ Bác đầy trăng”. Thật vậy, Bác đã viết nhiều bài

    thơ trăng. Trong số đó, bài “Ngắm trăng” là bài thơ tuyệt tác, mang phong vị

    Đường thi, được nhiều

    người ưa thích.

    NGẮM TRĂNG

    “Trong tù không rượu cũng

    không hoa

    Cảnh đẹp đêm nay khó

    hững hờ.

    Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

    Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một

    hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn

    Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng

    trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết.

    Hai câu thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện. Đang sống trong nghịch cảnh,

    và đó cũng là sự thật “Trong tù không rượu cúng không hoa” thế mà Bác vẫn thấy

    lòng mình bối rối, vô cùng xúc động trước vầng tăng xuất hiện trước cửa ngục đêm

    nay. Một niềm vui chợt đến cho thi nhân bao cảm xúc, bồi hồi.Trăng, hoa, rượu là

    ba thú vui tao nhã của khách tài tử văn chương. Đêm nay trong tù, Bác thiếu hản

    rượu và hoa, nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào trước vẻ đẹp hữu tình của thiên

    nhiên.

    Câu thơ bình dị mà dồi dào cảm xúc. Bác vừa băn khoăn, vừa bối rối tự hỏi mình

    trước nghịch cảnh: Tâm hồn thì thơ mộng mà chân tay lại bị cùm trói, trăng đẹp thế

    mà chẳng có rượu, có hoa để thưởng trăng?

    “Trong tù không rượu cũng không hoa,

    Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”.

    Sự tự ý thức về cảnh ngộ đã tạo cho tư thế ngắm trăng của người tù một ý nghia

    sâu sắc hơn các cuộc ngắm trăng, thưởng trăng thường tình. Qua song sắt nhà tù,

    Bác ngắm vầng trăng đẹp. Người tù ngắm trăng với tất cả tình yêu trăng, với một

    tâm thế “vượt ngục” đích thực? Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh

    thần người tù có bản lĩnh phi thường như Bác:

    “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ”…

    Từ phòng giam tăm tối, Bác hướng tới vầng trăng, nhìn về ánh sáng, tâm hồn thêm

    thư thái. Song sắt nhà tù tỉnh Quảng Tây không thể nào ngăn cách được người tù

    và vầng trăng! Máu và bạo lực không thể nào dìm được chân lý, vì người tù là một

    thi nhân, một chiến sĩ vĩ đại tuy “thân thể ở trong lao” nhưng “tinh thần” ở ngoài

    lao”

    Câu thứ tư nói về vầng trăng. Trăng có nét mặt, có ánh mắt và tâm tư. Trăng được

    nhân hóa như một người bạn tri âm, tri kỷ từ viễn xứ đến chốn ngục tù tăm tối

    thăm Bác. Trăng ái ngại nhìn Bác, cảm động không nói nên lời, Trăng và Bác tri

    ngộ “đối diện đàm tâm”, cảm thông nhau qua ánh mắt. Hai câu 3 và 4 được cấu

    trúc đăng đối tạo nên sự cân xứng hài hoà giữa người và trăng, giữa ngôn từ, hình

    ảnh và ý thơ:

    “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

    Ta thấy: “Nhân, Nguyệt” rồi lại “Nguyệt, Thi gia” ở hai đầu câu thơ và cái song sắt

    nhà tù chắn ở giữa. Trăng và người tù tâm sự với nhau qua cái song sắt nhà tù đáng

    sợ ấy. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người xuất hiện một sự hóa

    thân kỳ diệu: “Tù nhân” đã biến thành thi gia. Lời thơ đẹp đầy ý vị. Nó biểu hiện

    một tư thế ngắm trăng hiếm thấy. Tư thế ấy chính là phong thái ung dung, tự tại,

    lạc quan yêu đời, yêu tự do. “Ngắm trăng” là một bài thơ trữ tình đặc sắc. Bài thơ

    không hề có một chữ “thép” nào mà vẫn sáng ngời chất “thép”. Trong gian khổ tù

    đầy, tâm hồn Bác vẫn có những giây phút thảnh thơi, tự do ngắm trăng, thưởng

    trăng.

    Bác không chỉ ngắm trăng trong tù. Bác còn có biết bao vần thơ đặc sắc nói về

    trăng và niềm vui ngắm trăng: Ngắm trăng trung thu, ngắm trăng ngàn Việt Bắc, đi

    thuyền ngắm trăng,… Túi thơ của Bác đầy trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ…”,

    “… Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền…”, “Sao đưa thuyền chạy, thuyền

    chờ trăng thưo…” Trăng tròn, trăg sáng… xuất hiện trong thơ Bác vì Bác là một

    nhà thơ giàu tình yêu thiên nhiên, vì Bác là một chiến sĩ giàu tình yêu đất nước quê

    hương. Bác đã tô điểm cho nền thi ca dân tộc một số bài thơ trăng đẹp.

    Đọc bài thơ tứ tuyệt “Ngắm trăng” này, ta được thưởng một thi phẩm mang vẻ đẹp

    cổ kính, hoa lệ. Bác đã kế thừa thơ ca dân tộc, những bài ca dao ói về trăng làng

    quê thôn dã, trăng thanh nơi Côn Sơn của Nguyễn Trãi, trăng thề nguyền, trăng

    chia ly, trăng đoàn tụ, trăng Truyện Kiều. “Song thưa để mặc bóng trăng vào”…

    của Tam Nguyên Yên Đổ, v.v….

    Uống rượu, ngắm trăng là cái thú thanh cao của các tao nhân mặc khách xưa, nay –

    “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén” (Nguyễn Trãi). Ngắm trăng, thưởng trăng

    đối với Bác Hồ là một nét đẹp của tâm hồn rất yêu đời và khát khao tự do. Tự do

    cho con người. Tự do để tận hưởng mọi vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương xứ sở.

    Đó là cảm nhận của nhiều người khi đọc bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh.

  • Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN MÔN THỦY LỰC ĐẠI CƯƠNG


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Bài văn mẫu: Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    BÀI LÀM

    Nhắc đến khoảng trời Trường Sơn là nhắc đến biết bao sự hy sinh mất mát, nơi mà lính Mỹ đã thả bom dồn dập nhằm ngăn cản bước tiền dũng mãnh của các đoàn quân tiến về Sài Gòn giải phóng miền Nam. Nhưng Trường Sơn đâu chỉ mang trong mình bao sự thương đau, Trường Sơn con là nơi ghi dấu của những tâm hồn tự nhiên, lạc quan của những người chiến sĩ lái xe không kính, những chàng trai cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh tuổi trẻ để cống hiến cho đất nước. Là một người đã từng gắn bó với khoảng trời bom đạn ấy, nhà văn Lê Minh Khuê đã khai thác đề tài quen thuộc đã làm nên nhiều tên tuổi lớn trân văn đàn chống Mỹ nhưng cùng với sự sáng tạo và một chút lãng mạn của mình, “Những ngôi sao xa xôi” của bà, đã khắc họa hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong, mà tiêu biểu là nhân vật Phương Định với những vẻ đẹp hồn nhiên vốn có của tuổi trẻ Việt Nam trong thời chống Mỹ.

    Câu chuyện kể về ba cô gái, ba cô gái thanh niên xung phong Nho, Thao và

    Phương Định, sống trên một cao điểm giữa mênh mông khói bụi Trường Sơn, nơi

    mà “màu đất đỏ, trắng lẫn lộn”. Công việc của họ là “ngôi đây”,”khi có bom nổ thì

    chạy lên, đo khối lượng đất lấp vào hồ bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá

    bom”. Trong lúc đơn vị thường làm việc khi mặt trời lặn, thì tổ trinh sát lại làm

    việc ban ngày, khi thần chết luôn “lẩn trong ruột những quả bom”, khi mà lính Mỹ

    thả bom nhiều nhất và cái chết luôn theo sát ba cô gái ấy. Công việc của họ là công

    việc quan trọng và cũng đầy gian khổ hy sinh, đòi hỏi tinh thần dũng cảm, sự nhạy

    bén quyết đoán và sự nhanh nhẹn. Trong hoàn cảnh ấy, ta mới thấy sáng ngời lên

    là những phẩm chất cao đẹp của ba nhân vật, và đặc biệt là Phương Định, nhân vật

    chính của truyện.

    Phương Định là một cô gái Hà Nội, “một cô gái khá”, chỉ vừa mới bước ra khỏi cuộc đời hồn nhiên vô tư lự của mình. Cô có vẻ bề ngoài đáng yêu trẻ trung và xinh xắn, “ hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”, còn đôi mặt thì có “cái nhìn sao mà xa xăm”. Những nét đẹp của cô đã được những anh lái xe để ý đến, bằng chứng là những bức thư dài gửi đường dây mặc dù có thể chào nhau hằng ngày, nhưng Phương Định cũng không săn sóc vồn vã, cô gái vẫn hay đứng ra xa, khoanh tay trước mặt và nhìn đi nơi khác mỗi khi một đám con gái xúm lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy. Một hành động đó thôi đã làm Phương Định trở nên thật kiêu kì, cái điệu của cô thật đáng yêu và cũng thật phù hợp với một người con gái như vậy.

    Tâm hồn cô giữa khoảng trời Trường Sơn thật làm cho người ta thật ngạc nhiên. Cô mê hát, “thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát”, lời cô bịa lộn xộn ngớ, ngẩn ngởn đến không ngờ, đôi lúc nó cũng làm cho cô bò ra mà cười một mình, cô thích “những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận”, cô thích “dân ca quan họ mềm mại dịu dàng” và kể cả “Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô”, “ ngồi bó gối mơ màng: “Về đây khi mái tóc còn xanh xanh””. Và Phương Định hát khi có sự im lặng không bình thường, “tiếng máy bay

    trinh sát rè rè”, cô hát để cổ động viên hai người đồng đội Nho, Thao và cũng là

    hát để động viên chính bản thân mình. Chính những lúc mê hát ấy đã làm cô quên

    đi cái sự buồn chán của cuộc sống Trường Sơn, quên đi mùi khói bom đạn mà cô

    vẫn tiếp xúc hằng ngày, và đó cũng là bước đà để cô có được một tâm hồn mơ

    mộng khi cơn mưa đá vừa ập đến. Mang theo tuổi trẻ của mình vào Trường Sơn,

    Phương Định còn mang theo cả những kỉ niệm đẹp về góc phố Hà Nội của mình,

    đó là hình ảnh người mẹ, cái cửa sổ, tiếng rao của bà bán xôi có cái mủng đội trên

    đầu, kể cả những cú sút vô tội vạ của bọn trẻ con trong một góc phố. Cơn mưa đá

    đi nhanh cũng như lúc nó vừa đến, nhưng lại mang những dòng kí ức tuổi thơ về

    cho Phương Định, và tất cả như xoáy mạnh trong tâm trí cô. Có lẽ chính những

    điều ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho cô gái, để cô luôn nghĩ rằng, gia đình, bạn thân

    và cả những kỉ niệm kia sẽ luôn theo cô trong suốt quãng đời ở Trường Sơn.

    Tâm hồn, tính cách của Phương Định hồn nhiên như thế, nhưng nổi bật lên trên tất cả vẫn là tinh thần dũng cảm, vượt lên trên hiểm nguy luôn ẩn chứa trong thân hình nhỏ bé của cô gái Hà Nội kia. Đó là những lúc mà bom của giặc Mỹ vẫn còn chưa nổ, và cô phải làm nhiệm vụ của mình, còn thần chết thì có vẻ vẫn đang “lẩn trong ruột những quả bom” chờ đợi cô. Tuy vậy, Phương Định vẫn tỏ ra thật bình thản, cái chết thì cô có nghĩ đến nhưng lại là “một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”, mà

    cô quan tâm nhất là liệu bom có nổ hay không, không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai, cô luôn đặt nhiệm vụ của mình lên hàng đầu. Và trong những lúc phá bom như vậy, ta vẫn còn thấy thấp thoáng cái sự nhạy cảm, tinh tế trong cảm xúc của cô, “một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! ! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành.”, phải là một người bình tĩnh mới có dược những cảm nhận chân thực như vậy. Chính những lúc đó, ta mới thấy được cái sự dũng cảm của cô gái. Công việc không có một chút gì là an toàn, nhưng do “quen rồi”, ngày nào cũng phải phá bom đến năm lần, ngày nào ít thì ba lần, mà Phương Định luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình.

    Và trong cái sự dũng cảm ấy, ta vẫn thấy Phương Định luôn thường trực một tình

    cảm đồng chí đồng đội nồng ấm và chân thành. Đó là tấm lòng vị tha với mọi

    người mà cô quan tâm, cô lo lắng khi Thao lên cao điểm chưa về, cô tận tình, vỗ về

    chăm sóc Nho khi cô ấy bị thương lúc phá bom. Ngược lại, chính tình cảm đồng

    chí đồng đội, đã làm cho Phương Định thêm một chút tự tin, ấm lòng khi được

    sống giữa tình yêu thương của mọi người. Hiểu được công việc của mình là gian

    khổ, nhưng Phương Định vẫn luôn ngưỡng mộ “những người mặc quân phục, có

    ngôi sao trên mũ” bởi họ là những đẹp nhất, thông mình, can đảm và cao thượng

    nhất. Những lúc chạy đi phá bom, vẫn mang một chút lo sợ trong người, nhưng nhờ những cái nhìn của những người chiến sĩ, đã dập tan đi nỗi sợ trong cô và chỉ còn một mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ, “ cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi mà có thể đàng hoàng mà bước tới”.

    Trong truyện ngắn, nhân vật kể chuyện cũng là nhân vật chính, điều đó giúp cho tác phẩm càng trở nên chân thực, những cảm xúc, thế giới nội tâm của nhân vật đều được thể hiện tự nhiên rõ nét, vẽ lên một khoảng trời mộng mơ ngay giữa Trường Sơn mênh mông và ác liệt.

    Mang trong mình những phẩm chất cao đẹp, Phương Định xứng đáng là biểu tượng của những cô gái thanh niên thời chồng Mỹ, là hình tượng người con gái Việt Nam trong thời gian chiến đấu, là đại diện của thế hệ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ. Cũng giống như tựa đề “Những ngôi sao xa xôi”, những con người được ví như vì sao lấp lánh giữa bầu trời đêm, mang trong mình những phẩm chất đáng quý, “xa xôi” là bởi vì phải ngắm nhìn thật kỹ thì mới có thể thấy được những tâm hồn cao đẹp ấy

    Nguồn: http://langsao.vn/ (sưu tầm)

  • Chiến thuật viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ đạt điểm tối đa

    Chiến thuật viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ đạt điểm tối đa

    Chiến thuật viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ đạt điểm tối đa

    Cấu trúc đề thi môn Ngữ văn trong kỳ thi thpt quốc gia có nhiều thay đổi. Thời gian thi từ 180 phút giảm xuống còn vẻn vẹn 120 phút, dung lượng bài viết nghị luận xã hội rút gọn từ 600 chữ còn 200 chữ viết sao cho đủ ý, bố cục rõ ràng không lan man tránh  mất điểm. Đề đọc hiểu và nghị luận xã hội có sự tích hợp theo hướng vận dụng cao. Điều này gây ra không ít lo lắng băn khoăn trong khi làm bài của các em học sinh.

    Thầy Trịnh Quỳnh – tác giả của bộ ba chiến thuật ôn thi thpt Quốc gia đã chia sẻ những bí quyết trên cả tuyệt vời để đọc nhanh viết gọn.

    Đề bài:

    Anh/chị có niềm tin vào những món quà của bất ngờ của cuộc sống như những trò xổ số may rủi?

    Hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị.

     

    Hướng dẫn làm bài:

    Bước 1:

    Xác định vấn đề cần nghị luận.

    Chiến thuật viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ đạt điểm tối đa

    Bước 2:

    Hoàn thành sơ đồ tư duy trống với 4 luận điểm chính (giải thích, phân tích, bàn luận, bài học), có thể đặt ra các câu hỏi trong chiến thuật 5W1H (What? Why? Who? How?)

    Chiến thuật viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ đạt điểm tối đa

    Bước 3:

    Bổ sung ý hoàn thiện sơ đồ cá nhân. Sử dụng lời văn, có thể thêm 1 dẫn chứng để bài làm giàu hình ảnh và thuyết phục hơn.

    Sơ đồ tư duy nghị luận xã hội ngắn gọn vừa vặn 200 chữ theo yêu cầu đề bài là cách thức tối ưu để viết ngắn gọn mà vẫn đủ ý, không lặp ý, bố cục rõ ràng, tách bạch các thao tác lập luận.

    Hình ảnh minh họa trong sơ đồ đặc biệt sinh động, mang tính biểu tượng, khơi gợi tư duy 2 bán cầu não, không chỉ tối ưu khả năng ghi nhớ mà còn giúp tìm ý hệ thống ý logic.

    Học sinh có thể trình bày lại đoạn văn bằng miệng, thuyết trình trước lớp, trao đổi theo cặp hoặc tự trình bày cá nhân. Với sơ đồ tư duy mỗi bạn học sinh sẽ có một đoạn văn theo phong cách riêng không giống nhau nhưng vẫn đảm bảo những yêu cầu nội dung, kỹ năng của đề bài