Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-qua-m%E1%BA%A1ng-Internet.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    48

       

    NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG

    QUA MẠNG INTERNET

     

    Dương Thị Phương Chi

    Renaissance International School Saigon

     

    Tóm tắt:

     

    Trình bày khái quát về hoạt động nghiên cứu thị trường qua mạng internet. Giới thiệu tiêu chí đánh giá, phương thức tăng cường ứng dụng nghiên cứu thị trường qua mạng trong hoạt động thư viện – thông tin.

     

    1. Nghiên cứu thị trường qua mạng: hình thức và phương pháp thực hiện

     

    Nghiên cứu thị trường qua mạng là quá trình khảo sát để tìm hiểu cơ hội kinh doanh của một sản phẩm, dịch vụ trong những khoảng thời gian nhất định, ở những thời điểm nhất định nhằm tìm ra phương hướng, chiến lược kinh doanh thích hợp với thị trường và mang lại hiệu quả cao cho tổ chức thông qua mạng internet. Quá trình nghiên cứu thị trường này thực chất là quá trình thu thập số liệu, thông tin có liên quan đến thị trường như đâu là thị trường tiềm năng của tổ chức, sản phẩm/dịch vụ nào của tổ chức cần có những thích ứng gì đối với đòi hỏi của thị trường, phương thức cung cấp nào là phù hợp với loại thị trường này, đối thủ cạnh tranh của tổ chức là những ai trên thị trường,… để phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm rút ra những kết luận khoa học giúp cho tổ chức hoạt động đúng hướng, hoạt động có hiệu quả cao trước mọi biến động của thị trường.

     

    Hình thức nghiên cứu thị trường qua mạng gồm có:

     

    –  Sử dụng các bảng câu hỏi tích hợp vào các website để thu thập thông tin;

     

    – Thực hiện phỏng vấn sâu theo nhóm qua mạng trong các forum, chatroom hoặc netmeeting;

     

    –  Trực tiếp thu nhận ý kiến khách hàng thông qua các mẫu phản hồi thông tin

    (feedback form) đặt trên website của tổ chức;

     

    – Tìm hiểu hành vi của khách hàng qua các giao dịch thông qua các phần mềm theo dõi quá trình khách hàng duyệt website của tổ chức.

     

    Trong nghiên cứu thị trường truyền thống có ba phương pháp cơ bản là phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm và điều tra sử dụng bảng câu hỏi. Cả ba phương pháp này đều có thể sử dụng internet để triển khai hiệu quả và thuận tiện hơn.

     

    –  Phỏng vấn nhóm (Focus group): việc phỏng vấn được tiến hành qua mạng thông qua các forum, chatroom hoặc netmeeting. Hình thức phỏng vấn nhóm khách hàng qua mạng khắc phục được các nhược điểm của hình thức phỏng

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    49

    vấn nhóm kiểu truyền thống vì người tham gia không còn bị phụ thuộc vào người điều khiển, tránh khả năng gặp mặt trực tiếp nên tăng sự tự do khi đưa ra

     

    • kiến,…

     Ưu điểm:

     

     Thời gian thực hiện phỏng vấn linh hoạt vì người được phỏng vấn tham gia qua mạng;

     

     Địa điểm thực hiện phỏng vấn linh hoạt, thuận tiện, người tham gia không phải di chuyển đến một địa điểm nhất định để phỏng vấn như trước đây;

     

     Thông tin thu thập được nhiều hơn do các thành viên tham gia có thể suy nghĩ độc lập khi phỏng vấn.

     

     Hạn chế:

     

     Khó theo dõi được tính chân thật của thông tin được đưa ra trong phỏng vấn do người phỏng vấn và người được phỏng vấn không trực tiếp đối mặt;

     

     Cần có các yêu cầu kỹ thuật như phần mềm ứng dụng chuyên dụng để hỗ trợ như hội thảo trực tuyến (video conferencing), diễn đàn (forum), hoặc giao tiếp qua mạng (message chat, voice chat);

     

     Tiến độ thực hiện phỏng vấn chậm hơn do không có tác động và điều khiển trực tiếp của người phỏng vấn đến các thành viên tham gia phỏng vấn.

     

    – Phỏng vấn chuyên gia (Indepth interview): với phương pháp này các chuyên gia được mời phỏng vấn qua mạng. Người phỏng vấn đưa ra các câu hỏi qua mạng cho các chuyên gia và nhận được lời giải đáp cũng qua mạng. Hình thức này có thể triển khai qua các ứng dụng như nhóm thư điện tử (email group), chatroom hoặc họp trực tuyến (netmeeting). Với các ứng dụng qua mạng, hình thức nghiên cứu thị trường này có những ưu điểm như:

     

     Tập trung được nhiều câu hỏi từ phỏng vấn viên và người theo dõi,  Có thể kết hợp để phỏng vấn được đồng thời nhiều chuyên gia,

     

     Thông tin chi tiết do các chuyên gia có thời gian suy nghĩ trong quá trình phỏng vấn và được tham khảo nhiều ý kiến của các chuyên gia khác.

     

    – Điều tra bằng bảng hỏi qua mạng: điều tra bằng bảng hỏi truyền thống thường gặp một số hạn chế về đi lại, phân phối bảng câu hỏi, nhập dữ liệu nhưng ứng dụng điều tra bằng bảng câu hỏi qua mạng góp phần hạn chế được các nhược điểm này, cụ thể là:

     

     Việc gửi bảng câu hỏi qua mạng nhanh hơn, tiết kiệm thời gian,

     

    Việc sử dụng website thu thập dữ liệu giảm chi phí nhập dữ liệu trước

    đây,

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    50

     Phạm vi điều tra rộng do người được phỏng vấn có thể truy cập bảng câu hỏi qua internet.

     

    Tuy nhiên, việc điều tra bằng bảng hỏi qua mạng có một hạn chế là mức độ phản hồi thấp nếu không có các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích và động viên người được phỏng vấn tham gia.

     

    2. Ứng dụng nghiên cứu thị trường qua mạng trong các thư viện/cơ quan thông tin

     

    Hiện nay, nhiều thư viện/cơ quan thông tin (gọi tắt là thư viện) trên thế giới đã sử dụng mạng internet và các công cụ hỗ trợ để nghiên cứu người sử dụng thư viện (gọi tắt là NSD). Để thu thập các số liệu, thông tin có liên quan đến nhu cầu của NSD rất nhiều thư viện hiện đã tích hợp bảng khảo sát NSD vào website thư viện (như The national library of Finland hay Mälardalen University Library,…); trực tiếp thu nhận

     

    • kiến của NSD bằng các mẫu phản hồi thông tin trên website (như Explore the

    British Library feedback form của British Library hay Website user feedback của

    National Taiwan University Library,…). Bên cạnh đó, các thư viện như Binghamton

    University  Libraries,  Texas  A&M  University  Libraries  sử  dụng  tin  nhắn  nhanh

    (Instant messaging) trên internet như Yahoo, Google talk, MSN messenger,… để trao

     

    đổi, nhận ý kiến phản hồi và tìm hiểu nhu cầu tin, xây dựng quan hệ giữa cán bộ thư viện và NSD thư viện. Ở Việt Nam, một số thư viện cũng đã dùng các mẫu phản hồi hoặc tin nhắn nhanh trên website thư viện để tìm hiểu, tiếp nhận góp ý của NSD như Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐHQGHN, Thư viện Trung tâm ĐHQGTPHCM hay Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM…

     

    Hoạt động nghiên cứu NSD qua mạng được đánh giá dựa trên số lượng và chất lượng thông tin về các vấn đề có liên quan đến hoạt động marketing mà thư viện thu thập được. Đó chính là:

     

    – Số liệu thống kê về số lượng NSD trả lời các phiếu khảo sát, số lượng các câu hỏi được trả lời hay số lượng các mẫu phản hồi (feedback) thu được, số liệu thống kê hành vi của NSD khi họ duyệt website thư viện;

     

    – Mức độ đầy đủ, chính xác của dữ liệu thu được từ phiếu khảo sát hay mẫu phản hồi. Kết quả tổng hợp, phân tích các thông tin này có giúp thư viện đo lường, phân khúc, so sánh các nhóm NSD không? có xác định yếu tố thúc đẩy NSD sử dụng thư viện là gì không? có đánh giá được nhu cầu của NSD và tình hình thực tế của thư viện để từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp trong tương lai không?

     

    Nghiên cứu NSD qua mạng ngày càng trở nên phổ biến và thông dụng vì ngoại trừ đặc thù về mặt kỹ thuật thì gần như không có sự khác biệt giữa nghiên cứu NSD qua mạng so với phương pháp nghiên cứu truyền thống. Tuy nhiên, nghiên cứu qua mạng không mất nhiều chi phí thực hiện và cho ra kết quả nhanh hơn do dữ liệu được phân tích, thống kê tự động. Do đó, các thư viện nên xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai và phát triển hoạt động nghiên cứu NSD qua mạng.

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    51

    • Về nội dung nghiên cứu

    Để thu thập đầy đủ thông tin chính xác nhằm xác định NSD cần gì và điều gì làm họ hài lòng thì thư viện cần tập trung vào nhu cầu thường xuyên và cả nhu cầu đột xuất của NSD, đo lường được mức độ thỏa mãn các nhu cầu về SP/DV TT-TV mà thư viện cung cấp, kể cả việc phục vụ NSD như thái độ, chất lượng phục vụ, xây dựng mới quan hệ chặt chẽ và thường xuyên với NSD để nắm bắt những nhu cầu mới phát sinh để có biện pháp điều chỉnh kịp thời các hoạt động nghiệp vụ và công tác phục vụ trong thư viện.

     

    Thư viện nên tạo hồ sơ NSD với các thông tin về tuổi, nghề nghiệp, nhu cầu tin, thói quen khai thác thông tin,… những thông tin này sẽ giúp thư viện biết cách làm thế nào để để tiếp cận, thỏa mãn nhu cầu NSD trong tương lai.

    • Về hình thức nghiên cứu

    Sử dụng phiếu khảo sát trực tuyến, để đảm bảo việc khảo sát bằng phiếu khảo sát thực sự hiệu quả thì thư viện nên chú ý các vấn đề dưới đây khi tạo một phiếu khảo sát:

     

     Xác định rõ mục đích của việc khảo sát và những thông tin mà thư viện muốn NSD cung cấp,

     

    Tạo ra khuyến khích để NSD cảm thấy có lý do để tham gia khảo sát,

     

    Trình bày câu hỏi trong phiếu khảo sát đơn giản, dễ hiểu và không nên sử dụng thuật ngữ chuyên môn để đảm bảo rằng NSD hiểu được câu hỏi,

     Thiết kế câu hỏi nên đi vào cụ thể vấn đề, thư viện không nên đặt ra quá nhiều câu hỏi mở và nên đưa ra câu hỏi với nhiều câu trả lời để NSD lựa chọn,

     Tiến hành khảo sát thử nghiệm để biết được thời gian cần thiết để trả lời bảng khảo sát hoặc các câu hỏi có gây ra sự lúng túng cho NSD không để có sự điều chỉnh kịp thời trước khi tiến hành khảo sát thực sự.

     

    Sau khi hoàn thành phiếu khảo sát trực tuyến, thư viện có hai phương thức phân phối phiếu khảo sát là chia sẻ liên kết (link) đến phiếu khảo sát lên website thư viện, mạng xã hội hoặc gửi phiếu khảo sát đến email của NSD, bằng cách như sau:

     

     Dùng các website có cung cấp dịch vụ làm khảo sát trực tuyến để tạo các phiếu khảo sát trực tuyến, sau đó đăng liên kết (link) đến phiếu khảo sát trên website hoặc gửi trực tiếp phiếu khảo sát trực tuyến đến email NSD,

     

     Tạo phiếu khảo sát dưới dạng văn bản (.doc) và gửi kèm (attached file) đến email NSD để họ có thể tải (download) và gửi lại theo email hoặc fax.

     

    Sử dụng các mẫu phản hồi thông tin (feedback), một hình thức thu thập thông tin hoặc nhận ý kiến đóng góp từ NSD mà thư viện nên sử dụng là tích hợp các mẫu phản hồi thông tin trên website thư viện. Tuy nhiên, các mẫu phản hồi này chỉ phù hợp khi thư viện cần khảo sát những câu hỏi nhanh, ngắn gọn.

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    52

    Phỏng vấn qua mạng thông qua các diễn đàn trên web hoặc trên các mạng xã hội hay cộng đồng mạng. Đây là các hình thức trao đổi thông tin hiệu quả trên mạng internet và cũng là một trong những phương thức tìm hiểu NSD trên internet nở rộ trong những năm gần đây. Thư viện nên xây dựng diễn đàn trên website thư viện hoặc tham gia vào các diễn đàn theo các chủ đề phù hợp với lĩnh vực hoạt động của thư viện và xem đây là kênh trao đổi giữa thư viện và NSD. Trên các diễn đàn này, NSD có thể gặp gỡ, trao đổi thông tin về những chủ đề mình quan tâm, đưa ra nhận xét, đánh giá, ý kiến đề xuất của mình về tất cả các hoạt động của thư viện hoặc đưa ra những câu hỏi, thắc mắc,…. Đối với thư viện, thông qua diễn đàn thư viện sẽ tư vấn thông tin, trả lời/giải đáp thắc mắc, thu nhận được những thông tin phản hồi từ NSD để cải thiện và đẩy mạnh các hoạt động của mình ngày một hiệu quả hơn.

     

    –  Phân tích thói quen, hành vi của NSD bằng cách sử dụng các phần mềm theo dõi hoặc các công cụ phân tích website như Google Analytics, ClickHeat, ClickTale… để theo dõi NSD khi họ truy cập website thư viện. Đặc biệt khi quyết định tiến hành hoạt động marketing trực tuyến, thư viện cần biết về số lượng người truy cập website, số trang (site) được xem, thời gian NSD ở lại trên website, nguồn truy cập vào website… tất cả những thông tin này sẽ ảnh hưởng tới cách thiết kế website thư viện và các giải pháp thu hút NSD truy cập

     

    đến website thư viện.

     

    Tóm lại, kết quả nghiên cứu NSD qua mạng sẽ giúp thư viện biết được nhiều tham số về nhu cầu, đánh giá và mong muốn của NSD đối với thư viện, SP/DV TT-TV,… để từ đó đưa ra kế hoạch, chiến lược tiếp theo nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Brian Halligan, Dharmesh Shah; Tống Liên Anh dịch. Tiếp thị trực tuyến trong kỹ nguyên mới, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh, 2011.
    1. Davis John. Đo lường tiếp thị : 103 công cụ đo lường thiết yếu cho các chuyên gia marketing, Nhà xuất bản Tổng hợp, Tp.Hồ Chí Minh, 2011.
    1. Dinesh Gupta Marketing libraries in a Web 2.0 World, De Gruyter Saur, Berlin ; New York , 2011.
    1. Ian Chaston. E-Marketing strategy, McGraw-Hill, Singapore, 2001.
    1. Phi Chương, Nguyên Hằng, Lan Thảo, “Xây dựng chiến dịch online marketing”, Tạp chí Marketing Việt Nam, Số 53(2009), trang 35.
    1. Rogers, C.R. Social media, libraries, Web 2.0: How American libraries are using new tools for public relation and to attract new users // http://themwordblog.blogspot.com

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/5-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-ti%E1%BA%BFp-th%E1%BB%8B-tr%C3%AAn-facebook-%C4%91%C3%A3-thay-%C4%91%E1%BB%95i-l%C3%A0m-th%E1%BA%BF-n%C3%A0o-%C4%91%E1%BB%83-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-trong-n%C4%83m-2018.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

     

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Tôi muốn đưa bạn trở về năm 2013.

     

    Khi đó, tôi bắt đầu viết blog chuyên nghiệp. Obama là tổng thống, Snowden chưa tiết lộ với thế giới bất kỳ điều gì kinh khủng và truyền thông trên mạng xã hội cho doanh nghiệp chưa có nhiều việc để làm.

     

    Thuật toán của Facebook vẫn chưa đưa ra một sự khó khăn nào trong việc hạn chế khả năng tiếp cận tự nhiên. Các quảng cáo trên Facebook chưa chiến ưu thế trong News Feeds.

     

    Đó là những ngày tươi đẹp.

     

    Bài viết này sẽ lướt qua những thay đổi mà chúng ta đã thấy trên Facebook trong vài năm gần đây, và những cơ hội nào còn lại mà bạn có thể tận dụng cho doanh nghiệp của mình.

     

    1.   Bạn còn có thể tiếp cận được người hâm mộ của mình?

     

    Lượt tiếp cận tự nhiên (Organic reach) đã từng chiếm 15-20% đối với hầu hết các trang trên Facebook. Tuy nhiên, trong vài năm qua lượng tiếp cận này đã sụt giảm đáng kể. Điều này không có gì bất ngờ đối với các marketer.

     

    Vậy, trong năm 2018 này có những cách nào để tăng khả năng tiếp cận. Nó bao gồm:

     

    • Thể hiện phong cách riêng của bạn
    • Đặt những câu hỏi
    • Sử dụng hình ảnh (kích thích, trend, chế…)
    • Cung cấp một cái nhìn bên trong
    • Đo lường và lặp lại các bước trên
    • Chia sẻ nội dung của Fan. (Mục đích nói rằng bất kỳ người nào là thành viên của trang đều đáng được trân trọng)
    • Trình bày bài viết đơn giản
    • Sử dụng thông điệp nhất quán và nội dung thực sự có ích
    • Trân trọng và đánh giá cao những Fan của mình
    • Luôn vui vẻ trong mọi hoàn cảnh. (Đừng cung cấp nội dung gì hay làm gì để trang của mình thành nơi công kích lẫn nhau)

    Để thành công trên Facebook năm 2018, bạn sẽ phải làm tất cả những điều này và nhiều hơn nữa. Khi nói đến “nhiều hơn”, có 2 chiến lược chính mà bạn cần đặc biệt quan tâm. Đó là Livestream Facebook và Video được biên tập và tải lên Facebook.

     

    2.   Facebook Live Video (hay còn gọi là Livestream Facebook)

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Snapchat, Youtube Live, Periscope và tất cả các nền tảng video trực tiếp khác. Do đó, Facebook khuyến khích, và ưu tiên người dùng sử dụng nền tảng này theo nhiều cách khác nhau.

     

    Chúng tôi đã nghe tin đồn về điều này vào đầu năm 2017, và cho phép thử nghiệm vào tháng 5. Đây là hoạt động của các bài đăng trên Facebook của chúng tôi từ ngày 22 đến 30 tháng 5 năm 2017.

     

    5 cách để video Live của bạn nhiều người xem

     

     

    • Giới thiệu chủ đề của video, giới thiệu bạn, nhiều lần và đừng quên chào những người tham gia video live của bạn.
    • Tạo không khí vui vẻ. (biểu cảm khuôn mặt, các động tác cơ thể…)
    • Trò chuyện nhiều hơn với khán giả, cố gắng kéo dài thời gian trước khi bắt đầu nội dung chính. Nếu bạn bắt đầu những thứ hấp dẫn nhất của buổi live thì những người vào sau sẽ không biết điều gì đã xảy ra cả.
    • Thường xuyên yêu cầu người xem chia sẻ, like và bình luận video trực tiếp của bạn để tăng lượt xem video. Đặc biệt là khi mới bắt đầu.

    3.       Video được quay lại bằng Facebook

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Youtube. Do đó mỗi video được tải lên trực tiếp bằng nền tảng của họ sẽ thấy nó được “đánh dấu” nếu video đó được tải lên qua Youtube.

     

    Vào tháng 3/2016, nền tảng phân tích phương tiện truyền thông xã hội Quintly phân tích 6,2 triệu bài viết bởi 167.000 người trên Facebook. Kết quả đúng như họ dự đoán, các video gốc trên Facebook được sự chia sẻ nhiều hơn với mức tăng 478%.

     

    Nhưng vào tháng 12 năm 2016, các video gốc của Facebook đột nhiên nhận được tỷ lệ chia sẻ trung bình cao hơn 1055,41% so với các video trên Youtube. Rõ ràng Facebook đã cập nhật thuật toán của mình. Và dĩ nhiên là họ ưu tiên con đẻ của mình hơn rồi.

     

    Biết được giá trị của một Fan (người hâm một, 1 lượt like)

     

    Trước kia, mục tiêu của một doanh nghiệp khi truyền thông trên mạng xã hội chỉ đơn thuần là lượt like, like và like.

     

    Là một công ty quảng cáo truyền thông xã hội (Social media), điều này thật dễ dàng với chúng tôi. Nền tảng của chúng tôi được xây dựng xung quanh việc khuyến khích người dùng trở thành 1 Fan (chính xác hơn là làm mọi cách để nhiều người like trang càng tốt)

     

    Tuy nhiên, khi sự tiếp cận tự giảm mạnh và các doanh nghiệp bắt đầu thực sự đo lường giá trị

     

    giữa số tiền họ bỏ ra (mua like) và kết quả thu được. Toàn bộ ngành công nghiệp đã phải thay đổi.

     

    Hãy làm một phép toán nhanh để bạn hình dung những gì tôi đang nói:

     

    Giả sử bạn có 10.000 người hâm mộ (like, follows)

     

    Khi bạn đăng một bài viết, có thể bạn sẽ đạt được 6,5% lượt tiếp cận tự nhiên. Tức là khoảng 650 người trong tổng số 10.000 người.

     

    Bây giờ, vào trình quản lý quảng cáo, bạn sẽ thấy các thông số chi tiết ví dụ như:

     

    Bài đăng của bạn có 650 tiếp cận (nhìn thấy), tỉ lệ nhấp chuột là 5%. Như vậy bạn thực chất chỉ có 33 người xem bài viết của bạn.

     

    Thế nhưng 50% trong số đó đã là khách hàng của bạn, vậy bạn chỉ còn lại 16 người. Tỉ lệ chuyển đổi là 5% (mức trung bình) và thật không may, chúng tôi đã ở dưới mức 1%.

     

    Như vậy cơ hội chuyển 1 trong 10.000 người like thành khách hàng thông qua Facebook ít hơn 0.01%.

     

    Vậy phải làm gì?

     

    Chuyển người hâm mộ (like, follows) thành khách hàng tiềm năng bằng cách.

     

    • Tạo quảng cáo “chỉ dành cho người hâm mộ”. Yêu cầu họ cung cấp địa chỉ email để tham gia và có cơ hội giành được giải thưởng của bạn.

    Đây là chiến lược hoàn chỉnh:

     

    • Sử dụng các cuộc thi trên Facebook để khuyến khích người hâm mộ cung cấp cho bạn địa chỉ của họ.
    • Phân loại khách hàng tiềm năng của bạn dựa trên sản phẩm mà họ muốn nhận được khi chiến thắng.
    • Nhắc nhở họ chia sẻ cuộc thi trên trang của họ, gắn thẻ bạn bè… để có thêm cơ hội giành chiến thắng.
    • Thông báo người chiến thắng giải thưởng lớn và chắc chắn rằng bạn sẽ trao cho tất cả người trúng thưởng các giải thưởng mà họ trúng như đã hứa. Đồng thời cũng tặng cho tất cả người chơi phiếu giảm giá (mang thương hiệu của cuộc thi) 10% hoặc miễn phí vận chuyển… khi mua hàng của bạn. Tạo mã giảm giá của bạn trong khoảng thời gian nhất định.
    • Gửi email nhắc nhở 48h trước khi phiếu giảm giá hết hạn. Và cho họ thêm 2h nữa để mua hàng. Khi đó nhấn mạnh với họ rằng: Vì bạn tham gia cuộc chơi nên mới có ưu đãi về thời gian như thế.
    • Khi bạn tiếp tục chạy bán hoặc quảng bá sản phẩm có liên quan đến dữ liệu khách hàng của cuộc thi kể trên, hãy chắc chắn gửi cho họ một thông báo bằng email.

    Bạn có phải trả tiền để chơi cuộc chơi này?

     

    Một trong những thay đổi lớn nhất của Facebook là cái gọi là cấu trúc “trả tiền để chơi”. Điều này làm ảnh hưởng trầm trọng đến nhiều marketer.

     

    Thế thì bạn có phải trả tiền để tham gia cuộc chơi?

     

    Câu trả lời là có, nhưng không phải quá nhiều như google hay những nền tảng khác.

     

    Quảng cáo Facebook thực sự mang lại một lựa chọn tốt hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp so với việc sử dụng cách tiếp cận thông thường.

     

    Tôi muốn mọi nhà tiếp thị về Social media ngừng suy nghĩ về Quảng cáo trên Facebook như là một giải pháp thay thế cho phạm vi tiếp cận tự nhiên.

     

    Việc tăng số lượng bài viết là rất tốt, nhưng tại sao bạn phải trả tiền để nhắm tới mục tiêu là

     

    những người đã biết. Trong khi bạn hoàn toàn có thể dùng nó để nhắm tới mục tiêu khách hàng mới.

     

    Hãy bắt đầu suy nghĩ về quảng cáo trên Facebook như là sự thay thế cho Quảng cáo Google, nếu bạn làm điều đó bạn sẽ sớm vui vẻ như tôi.

     

    Quảng cáo Facebook cung cấp tính năng nhắm mục tiêu đến đối tượng chính xác và giá mỗi lần nhất chuột được hiển thị rất trực quan và ấn tượng.

     

    Giả sử bạn là một nhiếp ảnh gia ở Victoria, Canada và bạn đang điều hành chương trình khuyến mại trong mùa thu dành cho đối tượng gia đình.

     

    Bạn sẽ chụp ảnh toàn bộ gia đình với giá 450 đô la. Bạn tạo tài khoản Facebook Business Manager và truy cập vào phần quản lý quảng cáo của Facebook.

     

    Bước 1: Chọn mục tiêu quảng cáo của bạn (để thu hút lưu lượng truy cập đến trang chiến dịch của bạn, tôi sẽ chọn Traffic)

     

    Bước 2: Chọn vị trí đối tượng của bạn

     

    Bước 3: Chọn đối tượng cụ thể của đối tượng của bạn

     

    Bước 4: Chọn ngân sách của bạn.

     

    Bước 5: Tạo hình ảnh quảng cáo của bạn. Bạn có thể tự thiết kế hoặc thiết kế bằng các công cụ hỗ trợ online.

     

    Bước 6: Xuất bản quảng cáo của bạn.

     

    Chú thích:

     

    Đây chỉ là một hướng dẫn rất cơ bản cách quảng cáo trên Facebook. Có hàng chục cách để tối ưu hóa và cải thiện kết quả của chiến dịch quảng cáo. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều hướng dẫn chi tiết bằng cách search.

     

    1. Sử dụng Facebook cho việc tương tác với khách hàng.

    Dịch vụ khách hàng

     

    Rất nhiều công cụ trợ giúp đã được Facebook tích hợp, điều đó đồng nghĩa với việc nhân viên hỗ trợ khách hàng của bạn có thể phản hồi các tin nhắn trên Facebook thông qua rất nhiều hình thức khác nhau.

     

    Facebook đã thực sự trở thành một phần mở rộng trong hệ thống website của bạn. Là nơi bạn đăng các sản phẩm hoặc dịch vụ mới. Là nơi bạn giới thiệu phong cách thương hiệu của bạn, giới thiệu nhân sự mới, chia sẻ cuộc họp và là nơi trả lời các câu hỏi từ khách hàng, người hâm mộ.

     

    Dịch vụ khách hàng trên Facebook chỉ là một trong nhiều điều mà các doanh nghiệp đã rời khỏi Facebook bỏ lỡ. Sự sụt giảm trong phạm vi tiếp cận tự nhiên có thể khiến bạn bực bội và từ bỏ cuộc chơi. Nhưng nền tảng “trả tiền để chơi” cũng có rất nhiều điều tích cực và hay ho nếu bạn chịu khó khám phá.

     

    Có một điều ai cũng thấy và nó không thay đổi với Facebook kể từ năm 2012 đó là: Facebook là nơi khách hàng, và khách hàng tiềm năng của bạn xuất hiện nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới.

     

    Phản hồi của khách hàng

     

    Hãy cân nhắc việc hỏi những người hâm mộ, theo dõi bạn về:

     

    • Sản phẩm mà họ yêu thích
    • Điều gì ở doanh nghiệp của bạn (sản phẩm, dịch vụ) làm cho họ phiền toái nhất.
    • Tên của sản phẩm mới, danh mục sản phẩm, tính năng sản phẩm…
    • Thông tin của họ

    Trong một nỗ lực để thúc đẩy việc sử dụng một số tính năng ít được biết đến của họ, Facebook có xu hướng ưu tiên hiển thị cho các cuộc thăm dò (và các câu đố) trong thuật toán tin tức của họ.

     

    Mặc dù không phải tất cả người hâm mộ của bạn sẽ nhìn thấy nó, nhưng tỷ lệ xuất hiện sẽ cao hơn nhiều so với hầu hết các loại bài đăng khác và chắc chẳn đủ để bạn có được cái nhìn sâu sắc hơn về khách hàng và người hâm mộ của mình.

     

    Tổng kết lại

     

    Tính đến tháng 6 năm 2017, Facebook đã có hơn 2 tỷ người dùng. Một con số ấn tượng nhưng đó là kết quả của cả một chặng đường dài.

     

    Một số người trong chúng ta sẽ nhớ lại vào năm 2005, khi mà chúng ta phải có một email đại học để có thể tạo được 1 tài khoản.

     

    Tôi nhớ khi quảng cáo lần đầu tiên xuất hiện trên Newsfeed và khi nút Like được giới thiệu. Tôi nhớ được sự huyền diệu khi lần đầu viết bài về tiếp thị trên Facebook.

     

    Vì vậy, từ năm 2013 Facebook dù không phải là nền tảng duy nhất nhưng nó vẫn là một nền tảng rất có khả năng để phát triển việc kinh doanh trực tuyến của bạn.

     

    Bạn có sử dụng Facebook cho việc sáng tạo hay bất kỳ việc gì khác trong năm qua?

     

    Bạn cảm thấy thất vọng bởi những gì bạn thấy trong Facebook marketing hoặc có câu hỏi về quảng cáo?

     

    Hãy để lại trong mục bình luận bên dưới để chúng ta cùng trao đổi nhé!

     

    Tác giả: James Scherer

     

    Dịch bởi: Chiasekhoahoc.net

     

    Bài viết gốc: https://www.postplanner.com/blog/ways-marketing-on-facebook-has-changed-how-to-use-it-2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BB%A9ng-hi%E1%BB%87u-%E1%BB%A9ng-k%E1%BB%B7-lu%E1%BA%ADt-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ng%C3%A0nh-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Nghiên cứu này vận dụng số liệu của 21 NHTM (NHTM) VN từ năm 2003 – 2008, xem xét liên hệ giữa chi phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, và giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi hàng năm với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, để phản ánh được hiện trạng kỷ luật thị trường ngành

     

     

    ngân hàng (NH) VN giai đoạn 2003-2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy kỷ luật thị trường ngành NH VN có tồn tại nhưng rất yếu. Ngoài ta tác giả cũng tiến hành phân tích kỷ luật thị trường (KLTT) từng loại hình NHTM – NHTM nhà nước (NHTMNN) và NHTM cổ phần (NHTMCP), để làm rõ thêm một số nguyên nhân gây ra hiện tượng trên. Cuối cùng tác giả gợi

     

    • một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu ứng KLTT [1] ngành NH VN – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát tài chính NH.

    Sự cần thiết của nghiên cứu

     

    Trong bản thảo năm 2001 với việc thảo luận hiệp định Basel mới, tác dụng KLTT đã được nhấn mạnh. KLTT, các yêu cầu vốn tối thiểu và quá trình kiểm tra giám sát được phối hợp với nhau, cùng nhau thành một trong ba trụ cột của cấu trúc khung hiệp ước mới. Một trong những hình thức biểu hiện cụ thể của KLTT chính là nhấn mạnh sự công khai minh bạch thông tin kinh doanh của các NHTM. Trong

    thực tế, cơ chế KLTT trong thực tiễn kinh doanh và trong hệ thống giám sát NH trước khi Basel II ra đời đã tồn tại: ví dụ như, nếu những người có lợi ích liên quan cho rằng rủi ro kinh doanh của một NHTM khá cao, người gởi tiền và người nắm giữ trái phiếu NH đó sẽ yêu cầu NH trả lãi suất tiền gởi cao hơn hay là sẽ rút tiền gởi ra khỏi NH

     

     

    đó, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh và lực cạnh tranh của NH. Ở tình huống thông thường, khi KLTT tồn tại người gởi tiền yêu cầu NH có độ rủi ro cao sẽ phải chi trả tiền lãi cao, nếu không thì người gởi tiền sẽ rút tiền gởi của mình từ NH có độ rủi ro cao chuyển sang NH có độ rủi ro thấp.

     

    Trụ cột 3 – KLTT bổ sung cho các yêu cầu vốn tối thiểu (trụ cột 1) và quá trình kiểm tra giám sát (trụ cột 2). Ủy ban Basel khuyến khích nguyên tắc thị trường bằng việc phát triển một bộ các yêu cầu minh bạch, cho phép người tham gia thị trường đánh giá các thông tin chủ chốt, đánh giá độ rủi ro của các NHTM. KLTT có thể góp phần cho môi trường hoạt động NH an toàn và lành mạnh, các tổ chức giám sát NH có thể yêu cầu các NHTM phải cung cấp thông tin cho thị trường, điều này giúp cho các chủ thể liên quan giám sát hoạt động NHTM – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát NH (Hệ thống giám sát ngân hàng gồm yếu tố cấu thành

    sau: cơ quan giám sát của nhà nước, cơ chế kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, KLTT, cơ chế hợp tác giám sát quốc tế; và các thành phần khác như: tổ chức bảo hiểm tiền gởi, hai ngành tài chính NH, các tổ chức đánh giá tín nhiệm,…

     

    • KLTT cũng đã được Ông Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia trong

     

    NGUYỄN CHÍ ĐỨC & HOÀNG TRỌNG

     

    khuyến nghị về tái cấu trúc hệ thống giám sát tài chính nhắc đến. Ông cho rằng “thế kiềng ba chân” (1. Quản trị doanh nghiệp tốt; 2. Cơ chế kỷ luật thị trường phát huy tác dụng đầy đủ; 3. Các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả) cần được phát triển cân bằng.

     

    Trong lĩnh vực nghiên cứu KLTT, các nhà nghiên cứu nước ngoài trong ngành NH đã nghiên cứu rất sâu và đạt được nhiều thành tựu, đồng thời đại đa số là nghiên cứu thực chứng người gởi tiền thực hiện KLTT. So sánh ở VN, chỉ vài năm gần đây cùng với việc ra đời Basel II, và việc cam kết thực hiện giám sát NH theo hiệp ước Basel II năm 2004, chúng ta mới biết đến KLTT như là một trong ba trụ cột của hiệp ước Basel II. Do vậy việc nghiên cứu KLTT ở khía cạnh định tính cũng như định lượng còn chưa phát triển. Đây là lý do chủ yếu tác giả muốn nghiên cứu hiện trạng KLTT ngành NH VN hiện nay trên

     

    26             PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    cơ sở phân tích định lượng.

     

    Mô hình, định nghĩa biến, và xử lý số liệu

     

    Mô hình

     

    Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Huizinga (1999 và 2004). Thông qua kiểm nghiệm mối quan hệ tương quan giữa lãi suất huy động thực tế của NHTM (chi phí trả lãi tiền gởi I) và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi (G) với rủi ro của NHTM (X) để khảo sát tình hình KLTT ngành ngân hàng của một quốc gia. Để tiến hành phân tích, phương pháp khá nổi tiếng

     

    Biến số

    Định nghĩa

     

    Dự đoán hệ số

       

    Ij,t (biến phụ

    lãi suất huy động của NH tại thời điểm t (tỷ lệ

             

    tổng chi phí trả lãi thực tế j mỗi năm và tổng nợ

             

    thuộc)

    phải trả.)

             
               

    Gj,t (biến phụ

    tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của NHj tại thời điểm

             

    t (tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động của khách

             

    thuộc)

    hàng.)

             
               

    GQj.t-1

    tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản

    Âm đối với Ij,t

    với

     

    Dương

    đối

     
         

    Gj,t

         

    LDj.t-1

    tỷ lệ lưu động (tỷ lệ giữa tài sản lưu động trên

    – Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    – Dương đối với Gj,t

     

    LRj.t-1

    tỷ lệ lợi nhuận (tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế trên

    Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    Dương

    đối

    với

     
         

    Gj,t

         

    Dj.t

    bảo hiểm tiền gởi

    Âm đối với Ij,t

       

    NHTMNN là 1, NHTMCP là 0

    Dương

    đối

    với

     
       

    Gj,t

    đối

    với

     
       

    Dương

     

    Yj.t

    Tỷ lệ lạm phát

    Ij,t

         
       

    Âm đối với Gj,t

     
           

    này nhìn từ hai góc độ: NHTM có độ rủi ro cao có phải gánh chịu chi phí huy động vốn cao, và NHTM có độ rủi ro cao sẽ thu hút số lượng tiền gởi ít hơn hay không. Tác giả áp dụng mô hình này để phân tích tình hình VN. Phương trình tính toán như sau:

     

    B j.t =α + β X j.t1 + γ Y j.t  + δ

     

    • Bj,t: Ij,t lãi suất huy động tiền gởi (chi phí trả lãi thực tế) của

    ngân hàng j

     

    • Bj,t: Gj,t tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của ngân hàng j
    • Xj,t-1: biểu thị biến số trạng thái rủi ro ở thời kỳ t-1của ngân hàng j
    • GQj,t-1 (tỷ lệ vốn trên tài sản)
    • LDj,t-1 (tỷ lệ lưu động)
    • LRj,t-1 (tỷ lệ lợi nhuận)
    • Yj,t : biến kinh tế vĩ mô, lấy chỉ số tỷ lệ lạm phát
    • Dj,t : bảo hiểm tiền gởi (BHTG) [3] là biến nhị phân.
    • Dj,t × Xj,t-1: là tích của hai biến Dj,t và Xj,t-1
    • εj,t : là phần dư của mô hình.

    Giải thích các biến và lựa chọn:

     

    Tác giả áp dụng mô hình tính toán trên với một số điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của VN, tình hình số liệu mà tác giả đã thu thập được, và một số lý do khác. Cụ thể, việc lựa chọn các biến số và định nghĩa các biến số

     

    D j.t D j.t X j.t−1 + ε j.t

     

    có một số thay đổi như sau:

     

    • Tác giả không sử dụng chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (căn cứ để tính tỷ lệ này có chỉ tiêu tổng tài sản được điều chỉnh theo rủi ro) vì tác giả nhận thấy số liệu báo cáo của các NHTM về các chỉ tiêu trên chưa đảm bảo độ tin cậy.
    • BHTG ở đây tác giả muốn nhấn mạnh sự bảo đảm tín dụng của Nhà nước đối với hoạt động của các NHTMNN, để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế VN khi hệ thống NHTMNN vẫn tồn tại và chiếm vai trò chủ yếu, đồng thời Công ty bảo hiểm tiền gởi VN vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng bản chất của nó trong nền kinh tế. Vì vậy tác

    giả gọi BHTG tại VN là BHTG ẩn.

     

    • Công chúng biết kết quả kinh doanh các NHTM thường có độ trễ, giả định là một kỳ. Chúng ta thêm một biến chỉ tiêu vĩ mô, chọn tỷ lệ lạm phát thể hiện rủi ro hệ thống.

    Định nghĩa các biến

     

    – Tác giả cho rằng các NHTM sau: VCB (NHTMNN cổ phần hóa); Vietinbank (NHTMNN cổ phần hóa); BIDV; Agribank; MHB là NHTMNN.

     

    Nguồn số liệu

     

    Để tính toán các chỉ tiêu trên, tất nhiên cần phải tiến hành thu thập và chỉnh lý số liệu, tác giả sử dụng số liệu tổng hợp có liên quan từ năm 2003 – 2008 của 21 NHTM, trong đó có 5 NHTMNN và 16

     

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát tác giả tham khảo từ báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước.
    • Các chỉ tiêu Ij,t ; Gj,t ; GQt-1 ; LDj.t-1 ; LRj.t-1 ; Dj.t tác giả tự tính trên cơ sở tập hợp các báo cáo tài chính của 21 NHTM VN từ năm 2003 đến năm 2008. (VCB; Vietinbank; BIDV; Agrib-ank; MHB; ACB; STB; EIB;

    Số 10 – Tháng 3/2011  PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP

     

    27

     
           
           

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB) (Nguyễn Chí Đức, Hoàng Trọng 2009).

     

    Tất cả các số liệu tác giả đề cập đều được tính toán và lựa chọn phù hợp nên có tính tin cậy, và sử dụng được cho phân tích.

     

    Kết quả tính toán và phân tích kết quả

     

    Sau khi xây dựng bảng dữ liệu, tác giả sử dụng chương trình máy tính SPSS kiểm nghiệm mô hình. Các kết quả lần lượt được trình bày trong các phần tiếp theo (chú ý: những con số trong dấu ngoặc là hệ số hồi qui đã chuẩn hóa; * và ** là có ý nghĩa thống kê ở mức 10% và 5%).

     

    1. Kiểm định mối quan hệ tương quan giữa chí phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM.

     

    1a. Mẫu là toàn bộ các NHTM

     

    Các phương trình từ (1) đến (6)

    kiểm nghiệm ảnh hưởng tình hình rủi ro của NHTM và BHTG ẩn đến chi phí trả lãi thực tế của ngân hàng.

     

    • Trong các phương trình từ (1) đến (3), chúng ta lần lượt dùng 3 biến rủi ro tính toán ảnh hưởng đối với lãi suất huy động, áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (GLS) tiến hành tính

    toán. Kết quả cả LDj.t-1, LRj.t-1 đều có hệ số hồi qui âm, biểu thị

     

    LDj.t-1, LRj.t-1 cao sẽ làm giảm lãi suất huy động thực tế. Nhưng

     

    cả hai đều không là thể hiện rõ vì ý nghĩa thống kê kém. Còn

     

    GQj.t-1 có hệ số hồi qui dương, tương phản với dự đoán.

     

    • Các phương trình từ (4) đến
    • ứng với 3 biến rủi ro là GQt-1, LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi qui chúng ta đồng thời lấy các biến

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1 nạp vào trong mô hình. Kết quả là

     

    cả 3 biến rủi ro đều có hệ số âm phù hợp với dự đoán, nhưng đều

    có ý nghĩa thống kê kém. Trong tất

     

    cả các lần hồi qui, Yj.t đều có hệ số dương cùng dấu với dự đoán,

     

    và có ý nghĩa thống kê, thể hiện rõ ràng là khi lạm phát tăng thì lãi suất huy động tăng. Trong tất cả các lần hồi qui, giả định (4) và (5)

     

    Dj.t có hệ số âm cùng dấu với dự đoán, và (4) thể hiện rõ rệt, trong

     

    khi (6) Dj.t có hệ số dương ngược dấu với dự đoán nhưng không có ý

     

    nghĩa thống kê. Đây có thể là biểu thị của việc BHTG ẩn, sự bảo đảm của Nhà nước, làm giảm lãi suất huy động đối với các NHTMNN là có, nhưng không quá rõ ràng. Vậy chúng ta cũng sẽ phải đặt câu hỏi là cơ chế BHTG ẩn này có bao gồm tất cả các NHTM hay không.

     

    Từ những phân tích trên có thể nhận xét là KLTT có tồn tại nhưng

     

    rất yếu, qua đó hai chỉ tiêu LDj.t-1 (tỷ lệ thanh khoản), LRj.t-1 (tỷ lệ

     

    lợi nhuận), có ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn. Chỉ tiêu lạm phát Yj.t rõ ràng ảnh hưởng đến lãi suất huy động, đúng với lý thuyết

     

    Bảng 1: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

         

    Các phương trình

         

    Biến số

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

    (6)

     
                   

    GQj.t-1

    0.043

       

    -0.008

         

    (0.087)

       

    (-0.015)

         

    LDj.t-1

     

    -0.058

       

    -0.098

       
     

    (-0.077)

       

    (-0.131)

       

    LRj.t-1

       

    -0.014

       

    -0.008

     
       

    (-0.137)

       

    (-0.078)

     

    Dj.t

         

    -0.023 (**)

    -0.005

    0.005

     
         

    (-0.351)

    (-0.069)

    (0.072)

     

    Yj.t

         

    0.329 (**)

    0.328 (**)

    0.34 (**)

     
         

    (0.547)

    (0.544)

    (0.565)

     

    Dj.t * Xj.t-1

         

    0.302

    -0.113

    -0.086 (**)

     
         

    (0.229)

    (-0.111)

    (-0.315)

     

    Tổng quan

    104

    104

    104

    104

    104

    104

     

    sát

                 

    R2

    -0.002

    -0.004

    0.009

    0.295

    0.302

    0.338

     
                   

    F

    0.789

    0.612

    1.975

    11.875

    12.255

    14.263

     
                   

    tài chính tiền tệ.

     

    1b. Mẫu là từng nhóm NHTM Tiến thêm một bước, chúng ta

     

    loại bỏ Dj.t ra khỏi phương trình, để so sánh sự thay đổi của lãi suất huy động của hai nhóm NHTM có bị tác động ảnh hưởng của một số nhân tố giống nhau hay không, ví dụ như kết quả kinh doanh của NHTM và nhận thức của người gởi tiền đối với rủi ro NH. Người gởi tiền có sự phân biệt giữa NHTMNN và NHTMCP hay không, hay nói cách khác BHTG ẩn hiện nay bao trùm lên toàn bộ hệ thống NHTM, hay Nhà nước chỉ bảo đảm tín dụng đối với nhóm NHTMNN. Trong các phương trình hồi qui từ (7) đến (12), chúng ta tiến hành tính toán cho từng nhóm NHTM. Cách tính toán đối với mỗi nhóm ngân hàng là giống nhau, tức là lần lượt

     

    28           PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

                                         

    (18) có 3

    biến rủi

    ro: GQj.t-1,

    Bảng 2: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả

     
     

    LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi

    NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

       
       

    qui chúng ta đồng thời đưa biến

           

    NHTMNN

                 

    NHTMCP

       

    Biến

                           

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1

     

    (7)

     

    (8)

    (9)

         

    (10)

       

    (11)

       

    (12)

         
                                         

    vào trong mô hình. Kết quả là:

       

    0.265 (*)

               

    -0.009

                     

    GQj.t-1

                                   

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

     

    (0.327)

               

    (-0.017)

                   
                                         

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    LDj.t-1

         

    -0.203

                 

    -0.102

             
         

    (0.247)

                 

    (-0.138)

           

    kê, còn LRj.t-1 có hệ số âm, ngược

             

    -0.093

                   

    -0.008

       

    với dự đoán. Yj.t trong tất cả các

    LR

           

    (**)

                         

    j.t-1

           

    (-0.651)

                 

    (-0.843)

     

    phương trình có được 1 dấu hiệu rõ

       

    0.267

     

    0.236

    0.331

       

    0.347

       

    0.356

     

    0.342

       

    ràng, cho thấy Yj.t có tác dụng ảnh

    Yj.t

     

    (**)

     

    (**)

    (**)

         

    (**)

       

    (**)

       

    (**)

         
                           

    hưởng giảm thấp tăng trưởng tiền

       

    (0.619)

     

    (0.548)

    (0.767)

       

    (0.546)

     

    (0.56)

     

    (0.537)

     

    gởi. Dj.t có 1 phương trình có hệ

    Tổng

                                       

    quan

     

    24

     

    24

    24

         

    79

       

    79

       

    79

         

    số dương, 2 mô hình hệ số âm, và

    sát

                                       

    trong đó 1 mô hình là có ý nghĩa

    R2

     

    0.331

     

    0.288

    0.625

         

    0.279

       

    0.298

       

    0.285

         
                           

    thống kê ngược dấu với dự đoán.

                                         

    F

     

    6.939

     

    5.855

    20.963

       

    16.252

       

    17.737

     

    16.734

       

    − Qua phân tích chúng ta có thể

                                         

    nhận thấy thị trường quan tâm đến

               

    2a. Kiểm nghiệm toàn bộ các

    áp dụng GQj.t-1, LDj.t-1, LRj.t-1

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1

    (tỷ lệ vốn tự

    là biến rủi ro, lấy Yj.t là biến kiểm

    NHTM

                   

    có trên tổng tài sản), KLTT có tồn

    soát khi hồi qui.

           

    − Trong các phương trình (13)

    tại.

           

    − Trong các phương trình (7)

    (14) (15), chúng ta lần lượt xem

    2b. Mẫu là từng nhóm NHTM

    (8) (9), tiến hành hồi qui 3 lần đối

    xét ảnh hưởng của 3 biến rủi ro

    Tiến thêm một bước nghiên

    với NHTMNN. Kết quả là GQj.t-1

    đối với tăng trưởng tiền gởi, áp

    cứu, chúng ta loại bỏ Dj.t ra khỏi

    có hệ số dương, có ý nghĩa thống

    dụng phương pháp bình phương

    phương trình, so sánh  tỷ lệ tăng

    kê, ngược với dự đoán; LDj.t-1

    nhỏ nhất thông thường. Kết quả là:

    trưởng tiền gởi của 2 nhóm NHTM

    và LRj.t-1

    có hệ số âm, trong đó

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

    có bị tác động ảnh hưởng của một

    LRj.t-1 có ý nghĩa thống kê.

     

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    số nhân tố giống nhau hay không.

    − Trong các phương trình (10)

    kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược với

    Nếu chỉ số thống kê của nhóm

    (11) (12) tiến hành hồi qui 3 lần đối

    dự đoán.

                   

    NHTMNN đối sự với ảnh hưởng

    với NHTMCP. Kết quả là GQj.t-1,

       

    − Các phương trình (16) (17)

    đến chỉ tiêu tăng trưởng tiền gởi

    LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm

                                         

    phù hợp với dự đoán, nên phần nào

           

    Bảng 3: Kết quả tính toán đối với tất cả NHTM

    cũng phản ánh được một kỷ luật

               

    (Biến phụ thuộc là tăng trưởng tiền gởi)

       

    thị trường có hoạt động ở nhóm

     

    Biến số

     

    (13)

     

    (14)

     

    (15)

     

    (16)

     

    (17)

     

    (18)

    NHTMCP

    này,  tuy

    yếu  nhưng

             

    6 . 6 0 3

                 

    6.512 (**)

           
     

    GQj.t-1

     

    (**)

                         

    mạnh hơn kỷ luật thị trường ở

                     

    (0.434)

           
             

    (0.44)

                         

    nhóm NHTMNN.

         

    LDj.t-1

           

    (0.119)

               

    (0.136)

       
                               

    2.718

               

    3.113

       

    − Trong cả 6 phương trình ở 2

                                         
                         

    -0.208

             

    -0.29

    nhóm NHTM, thì Yj.t đều có hệ số

     

    LRj.t-1

                           
                   

    (-0.065)

           

    (-0.091)

    dương có ý nghĩa thống kê, phản

                                         
     

    Dj.t

                         

    0.06

     

    -0.134

     

    -0.504 (*)

    ánh được một cơ chế lãi suất hình

                           

    (0.03)

     

    (-0.067)

     

    (-0.25)

    thành trên nền kinh tế thị trường

     

    Yj.t

                         

    -2.743 (*)

     

    -2.566

     

    -2.451

                           

    (-0.15)

     

    (-0.141)

     

    (-0.134)

    đang được phản ánh rất rõ nét.

                                           
       

    Dj.t x Xj.t-1

                       

    -4.861

     

    -5.085

     

    0.182

                                         

    2. Kiểm định mối quan hệ tương

                         

    (-0.121)

     

    (-0.164)

     

    (0.022)

    quan giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền

     

    Tổng quan

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    sát

                 

    gởi hàng năm với mức độ rủi ro

                                     
     

    R2

       

    0.186

     

    0.005

     

    -0.005

     

    0.192

     

    0.049

     

    0.039

    trong hoạt động của các NHTM.

                                         
     

    F

       

    24.767

     

    1.476

     

    0.438

     

    7.195

     

    2.327

     

    2.048

                               
                                                     

    Số 10 – Tháng 3/2011    PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP         29

     

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Bảng 4: Kết quả tính toán đối với 2 nhóm NHTM

    (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực)

     

    Biến

     

    NHTMNN

       

    NHTMCP

       

    (19)

    (20)

    (21)

    (22)

    (23)

    (24)

     
     
     

    2 . 6 6 6

       

    6 . 5 4 7

         

    GQj.t-1

    (**)

       

    (**)

         
     

    (0.543)

       

    (0.408)

         
       

    – 2 . 1 3 0

       

    3.180

       

    LDj.t-1

     

    (**)

           
         

    (0.135)

       
       

    (-0.428)

             
         

    – 0 . 3 2 3

       

    -0.297

     

    LRj.t-1

       

    (*)

       
           

    (-0.92)

     
         

    (-0.373)

           

    Yj.t

    -0.617

    -0.922 (*)

    -0.631

    -3.367

    -3.085

    -2.952

     

    (-0.236)

    (-0.353)

    (-0.241)

    (-0.166)

    (-0.152)

    (-0.145)

     

    Số quan

    24

    24

    24

    79

    79

    79

     

    sát

                 

    R2

    0.363

    0.261

    0.194

    0.163

    0.012

    0.002

     

    F

    7.84

    5.249

    3.895

    8.7

    1.468

    1.075

     

    chỉ tiêu rủi ro của các NHTMNN (tất nhiên còn nhiều lý do khác như người gởi tiền có qua ít con đường để đầu tư). Còn đối với các NHTMCP, là các doanh nghiệp thực sự, tự chịu trách nhiệm kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận, nhận sự bảo đảm tín dụng và giúp đỡ của nhà nước có giới hạn, đã từng có những NHTMCP nhỏ sụp đổ, đóng cửa, hay sáp nhập, vì vậy người dân sẽ phải quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro. Nhưng xét trên tổng thể mà nói, KLTT của ngành NH VN trong một nền kinh tế toàn cầu là còn rất yếu, chưa thể xem đó là một

     

    không rõ ràng, trong khi nhóm NHTMCP mà rõ ràng hơn, thì ít nhất chúng ta có thể xác định được KLTT đối với nhóm NHTMCP phản ứng mạnh hơn. Như vậy một sự lý giải hợp lý cho việc KLTT của nhóm NHTMNN yếu hơn chính là chế độ BHTG ẩn, sự bảo đảm tín dụng của nhà nước đối với NHTMNN, khiến cho người gởi tiền phản ứng một cách không rõ ràng đối với các chỉ tiêu rủi ro NH, hay cũng có thể nói họ không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro này. Còn đối với nhóm NHTMCP không có được chế độ BHTG ẩn, hay nếu có thì bị giới hạn, vì vậy người dân không thể không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro, hay chí ít là có quan tâm mạnh hơn so với nhóm NHTMNN, để từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.

     

    Trong các phương trình (19),

     

    • và (21), GQt-1 có hệ số dương cùng dấu với dự đoán và

    có ý nghĩa thống kê rõ ràng. Trong

     

    khi 2 biến rủi ro còn lại LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm, ngược dấu dự đoán và cũng có ý nghĩa thống

     

    kê. Từ phân tích trên ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMNN rất yếu hay có thể nói

    là hầu như không có.

     

    • Trong các phương trình (22),
    • và (24), GQt-1 và LDj.t-1 có hệ số dương, trong đó GQj.t-1 phản

    ứng có ý nghĩa thống kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược dấu với hệ số dự

     

    báo nhưng không có ý nghĩa thống kê. Từ đó ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMCP cũng không phải là mạnh nhưng so với nhóm NHTMNN thì phản ứng có rõ ràng hơn.

     

    • Cả 6 giả định thì Yt đều có hệ số âm, cùng dấu với hệ số dự

    báo.

     

    • Thị trường quan tâm đến

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1 (tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản), nên khiến

     

    cho chỉ tiêu rủi ro này phản ứng tác động đến biến tăng trưởng tiến gởi, người dân có quan tâm đến chỉ tiêu này ở ngành NH VN.

     

    Như vậy quan điểm của người dân về quy tắc Too big to fail (NH lớn không thể chết) ở VN vẫn đang tồn tại. Nhà nước vì xã hội và sự ổn định nền kinh tế sẽ không để cho các NHTMNN sụp đổ. Quan điểm này đã thấm sâu vào trong suy nghĩ của mọi người, vì vậy loại BHTG ẩn này đã làm cho người gởi tiền hầu như không quan tâm đến các

    bộ phận cấu thành trong hệ thống giám sát tài chính NH VN.

     

    Kết luận và thảo luận

     

    Từ hai góc độ phân tích là lãi suất huy động và tăng trưởng tiền gởi của các NHTM, thì chúng ta có kết quả tương đồng về KLTT

     

    • ngành NH VN, và đối với từng nhóm NHTM.
    • KLTT đã bắt đầu hình thành trong ngành NH VN, nhưng hoạt động còn yếu.
    • KLTT của nhóm NHTMNN hoạt động yếu hơn so với nhóm

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát quan hệ rất chặt chẽ với lãi suất huy động vốn và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi theo đúng với lý thuyết tài chính tiền tệ, từ đó chúng ta có thể cho thấy được phần nào các quy luật tài chính tiền tệ đang hoạt động có hiệu quả tại VN.
    • Cũng nên thừa nhận, trong hơn 20 năm, BHTG ẩn của Nhà nước ở một mức độ nhất định đã duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng, nhưng cùng với sự cải cách không ngừng của ngành NH, Chính phủ không nên tiếp tục duy trì việc bảo hộ che chở cho các NHTM (NHTMNN hay

    30            PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    NHTMCP), cần xây dựng chế độ BHTG phù hợp với nguyên tắc thị trường thay thế chế độ BHTG ẩn

     

    – đó là 1 chế độ BHTG hiệu quả và mạng lưới an toàn tài chính với cơ chế người cho vay cuối cùng là NHNN làm nội dung chủ yếu. Vì vậy xây dựng chế độ BHTG hiệu quả nên trở thành một bước đi quan trọng trong việc cải cách sâu rộng ngành NH nước ta.

     

    • Đồng thời tiếp tục tăng cường giám sát ngân hàng, kiểm soát nội bộ, tăng cường minh bạch thông tin tài chính của các tổ chức tín dụng.
    • Phải nâng cao trình độ và chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác báo chí, làm sao cho người dân hiểu và tin cậy thông tin của các tổ chức truyền thông đưa ra, tổ chức truyền thống này đang bảo vệ họ, chứ không phải đang bảo vệ cho một số cá nhân có thế lực nào đó.
    • Đặc biệt là phải làm sao nâng cao trình độ hiểu biết của nhà đầu tư về lĩnh vực tài chính NH (vì theo tác giả, hiện nay đại bộ phận người gởi tiền xem không hiểu các báo cáo mà NHTM công bố, cho nên họ cũng không quan tâm đến các chỉ tiêu tài chính, thông tin tài chính của NHTM, đây cũng là một lý do KLTT ngành ngân hàng hoạt động rất yếu).
    • Tất cả các vấn đề trên không phải là một sớm một chiều có thể giải quyết được. Vì vậy việc quá đề cao kỷ luật tự thân của thị trường (bàn tay vô hình) hay quá dựa dẫm vào hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp trong khi lại không chú trọng đúng mức tới vai trò điều tiết và giám sát của Nhà nước là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới khủng hoảng, đổ vỡ nền tài chính (bài học ở Mỹ năm 2008) (Nguyễn

    Chí Đức, Hoàng Trọng 2009). Đây cũng là một bài học cho hệ thống tài chính NH VN, khi mà nền kinh tế thị trường còn rất non trẻ và chưa hoàn hảo, thì chắc chắn bàn tay vô hình chưa phát huy được tác dụng vốn có của nó, thì hiển nhiên vai trò thanh tra giám sát của các cơ quan nhà nước phải được đề cao và chú trọng, phải là một khâu mấu chốt của Hệ thống thanh tra giám sát tài chính ngân hàng VN giai đoạn hiện nay. Đây là một vấn đề không cần phải tranh luận.

     

    Cụ thể vừa qua Chính phủ thông qua Quyết định Số 34/2008/QĐ-TTg ngày 03 tháng 03 năm 2008 Về việc thành lập Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN. (Việc thành lập Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách cơ cấu tổ chức NHNN với mục tiêu nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế). Quyết định số 398/1999/ QĐ-NHNN3 về hoạt động giám sát từ xa, quyết định số 06/2008/ QĐ-NHNN về xếp loại NHTM cổ phần, Quyết định số 457/2005/ QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, và nhiều văn bản pháp luật khác liên quan đến vấn đề tổ chức cơ cấu và nghiệp vụ thanh tra giám sát ngành ngân hàng, tăng cường công tác thanh tra giám sát các TCTD là rất phù hợp và cần thiếtl

     

    • Market discipline
    • Theo kết cấu luận văn “Xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng VN và bài học từ Trung quốc” của NCS Nguyễn Chí Đức, Trường Đại học Đồng Tế, Thượng Hải, Trung Quốc.
    • Deposit Insurance

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà Nước VN
    1. Báo cáo tài chính của 21 NHTM: VCB; Vietinbank; BIDV; Agribank; MHB; ACB; STB; EIB; TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) “Market discipline and financial safety net design”, Finance, Policy Research Working Paper, Development Research Group, The World Bank.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (2004) “Market discipline and deposit insurance” Journal of Monetary Economics, 51, 2004.
    1. Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2009) “Phân tích hệ thống giám sát tài chính ngân hàng VN”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng tháng 12 năm 2009.
    1. Quyết định số 34/2008/QĐ-TTg ngày
    • tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
    1. Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh Tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN.

    Số 10 – Tháng 3/2011   PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP          31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-t%C3%ADnh-v%E1%BB%8B-ch%E1%BB%A7ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-uy-t%C3%ADn-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t-v%C3%A0-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-c%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C4%91i%E1%BB%87n-tho%E1%BA%A1i-th%C3%B4ng-minh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

     

    • Trƣơng Mỹ Ngọc
    • Lê Nguyễn Hậu

    Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG HCM – Email: [email protected]

     

    (Bài nhận ngày 31 tháng 10 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 12 tháng 12 năm 2016)

     

    TÓM TẮT

     

     

    Bài viết này khám phá vai trò của tính vị chủng tiêu dùng trong việc tạo nên cảm nhận về uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, công nghệ cao, đa giá trị mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Dựa trên kiểm nghiệm mô hình cấu trúc với bộ dữ liệu thu thập từ 259 khách hàng, kết quả cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận về uy tín thương hiệu, dẫn đến lượng giá

    sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng. Bên cạnh ý nghĩa lý thuyết, kết quả này gợi cách tạo uy tín cho các thương hiệu mới của điện thoại thông minh Việt nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu dựa trên tính vị chủng tiêu dùng.

     

     

    Từ khóa: Tính vị chủng, uy tín thương hiệu, giá trị cảm nhận, sẵn lòng mua, điện thoại thông minh, thương hiệu Việt.

     

     

    1.   GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, những chiếc điện thoại thông minh đang thật sự trở thành tâm điểm của thế giới công nghệ. Với việc ngày càng được tích hợp nhiều ứng dụng tiên tiến, điện thoại thông minh giờ đây không chỉ đơn thuần là thiết bị để nghe, gọi hoặc nhắn tin mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng của máy tính, máy ảnh, máy nghe nhạc, v.v… Vì vậy, điện thoại thông minh đang dần thay thế các sản phẩm công nghệ cao khác mang lại nhiều loại giá trị cho con người.

     

    Trong những năm gần đây, thị trường điện

     

    thoại thông minh ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng lớn nhất khu vực Đông Nam Á (Phan Tuấn, 2015). Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng sẽ là 10% – 15% đến năm 2019 (Trần Nghĩa, 2015). Về phía cung, gần như tất cả các thương hiệu danh tiếng thế giới như: Sony, Samsung, LG, HTC và mới đây là Huawei, Oppo,… đều đã có mặt và đang chiếm được phần to của “miếng bánh”. Ở phần còn lại, từ năm 2008 đã xuất hiện các thương hiệu Việt như Q – Mobile, Mobiistar, F – Mobile, Avio, Q – Smart và gần đây là Bphone của Bkav. Mặc dù đã góp mặt trong mọi phân khúc từ thấp đến cao cấp, nhưng gần như chưa có một thương hiệu điện

     

    Trang 68

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    thoại Việt nào đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm điện thoại thông minh của nước ngoài. Trong báo cáo gần đây của IDC cho biết trong quý II năm 2015, thị phần điện thoại thông minh của các thương hiệu Việt đã giảm xuống chỉ còn 7%, so với 10% của cùng kỳ năm 2014 (Phan Tuấn, 2015). Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý và nghiên cứu là ở giai đoạn đầu chưa có nhiều tương tác với thị trường để tích lũy uy tín thì làm cách nào để smartphone Việt tạo dựng uy tín thương hiệu và giá trị cảm nhận cho người tiêu dùng Việt?

     

    Trong bối cảnh đó, bài báo này được hình thành dựa trên ý tưởng “có thể có sản phẩm hay thương hiệu toàn cầu, nhưng động cơ mua thì không toàn cầu” (De Mooij, 2013) và quan điểm văn hoá đa dạng trong phạm vi quốc gia (Henderson & ctg, 2013). Theo đó, những đặc thù riêng của dân tộc, xã hội và văn hoá của mỗi thị trường và mỗi cá nhân có thể có vai trò khác nhau đối với thái độ và hành vi người tiêu dùng v.v. Trong đó, nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu vai trò của tính vị chủng của người tiêu dùng Việt đối với trường hợp sản phẩm điện thoại thông minh. Lược khảo sơ bộ cho thấy đã có một vài nghiên cứu trước đây ở Việt nam về chủ đề tính vị chủng (Nguyen & ctg, 2008; Le & ctg., 2011, 2013). Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tính vị chủng và cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu thì chưa được khám phá.

     

    Mục tiêu của bài báo này là tìm hiểu tác động của tính vị chủng lên cảm nhận về uy tín thương hiệu, từ đó dẫn đến sự lượng giá và cảm nhận giá trị sản phẩm và sự sẵn lòng mua của người tiêu dung Việt đối với chiếc điện thoại thông minh Việt nam. Bên cạnh hàm ý lý thuyết về vai trò của tính vị chủng trong hành

     

    • mua, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các nhà sản xuất điện thoại thông minh Việt nam xây dựng chiến lược phát triển uy tín thương

    hiệu trong giai đoạn khó khăn mới thâm nhập thị trường.

     

    2.   CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ THUYẾT

     

    2.1. Các khái niệm nghiên cứu

     

    Tính vị chủng tiêu dùng (consumer ethnocentrism): Khái niệm tính vị chủng tiêu dùng có xuất sứ từ khái niệm tính vị chủng, vốn là một khái niệm tâm lý – xã hội nhằm diễn tả tính cách của một cá nhân trong một bối cảnh văn hoá – xã hội (Sumner, 1906; Levine & Campbell, 1972). Khái niệm tính vị chủng được định nghĩa là khuynh hướng của một người xem cộng đồng văn hoá của họ là trung tâm của vũ trụ, là quy chiếu cho các cộng đồng khác. Họ có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn mực của các nhóm cộng đồng văn hoá khác và đánh giá cao, tự hào một cách mù quáng các giá trị, chuẩn mực và con người thuộc nhóm văn hoá của mình (Booth 1979; Worchel and Cooper, 1979).

     

    Từ đó, khái niệm tính vị chủng tiêu dùng là sự vận dụng khái niệm tính vị chủng vào môi trường kinh tế để biểu thị tính vị chủng trong hành vi tiêu dùng (Chryssochoidis & ctg., 2007). Tính vị chủng tiêu dùng được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về sự đúng đắn về đạo lý (moral appropriateness) trong việc mua các sản phẩm nước ngoài. Theo đó, người có tính vị chủng tiêu dùng cao sẽ cho rằng việc mua sản phẩm nước ngoài là sai trái; điều đó sẽ gây tác hại cho sản xuất trong nước, gây mất công ăn việc làm trong nước, là không yêu nước (Shimp & Sharma, 1987; Spillan, 2008).

     

    Uy tín thƣơng hiệu (brand credibility):

     

    Uy tín thương hiệu được định nghĩa là mức độ đáng tin của các tín hiệu hàm chứa trong một thương hiệu (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm hoặc định vị thương hiệu) trong mối tương quan với thị trường và người tiêu dùng

     

    Trang 69

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    (Erdem & Swait, 2004). Khái niện này được cấu thành bởi hai thành phần là sự đáng tin (trustworthiness) và năng lực (capability) của thương hiệu trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng (Erdem & Swait, 1998).

     

    Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu là kết quả tích lũy lâu dài của sự tương tác giữa thương hiệu và thị trường nói chung, thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008). Đối với mỗi cá nhân khách hàng (đặc biệt là khách hàng mới) trong điều kiện thông tin bất đối xứng (doanh nghiệp hiểu rõ về sản phẩm hơn khách hàng rất nhiều), thì uy tín thương hiệu là tín hiệu quan trọng để họ xem xét và lựa chọn thương hiệu (Erdem & Swait, 2004; Wernerfelt, 1988).

     

    Lƣợng giá sản phẩm (product judgement)

     

    được định nghĩa là đánh giá chung của người tiêu dùng về sự đáng giá của một sản phẩm dựa trên cảm nhận của họ về sự công bằng về giá và cảm nhận về chất lượng (Hansen, 2005). Nói cách khác, lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc hai (second-order reflective construct), được hình thành bởi hai thành tố là chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Chất lượng cảm nhận của sản phẩm gồm một tập hợp các thuộc tính của một sản phẩm tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu tường minh và tiềm ẩn của khách hàng (Zeithaml, 1988). Theo Lee (1996), Monroe & Krishnan (1985) cho rằng chất lượng cảm nhận là đánh giá của khách hàng về khả năng sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu và tạo ra sự hài lòng cho họ. Mặt khác, cảm nhận sự công bằng về giá hay giá cảm nhận phản ánh cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng về mức độ hợp lý hay sự tương xứng giữa sản phẩm với giá bán của nó (Agrawal & ctg, 2007; Jacoby & Olson, 1977).

     

    Giá trị cảm nhận (perceived value): Giá

     

    trị cảm nhận được xem là đánh giá tổng thể của người tiêu dùng đối với những lợi ích mà sản phẩm mang lại so với những gì mà họ bỏ ra (Zeithaml, 1988; Treacy & Wiersema, 1995). Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ thì giá trị cảm nhận có thể khác nhau đối với mỗi người, tuỳ vào tính cách, hoàn cảnh, vào nhận định về mức độ quan trọng của lợi ích và chi phí mà họ phải bỏ ra (Le & ctg., 2013). Đã có nhiều nghiên cứu về các thành phần của giá trị cảm nhận. Đối với điện thoại thông minh, Bakon và Hassan (2013) đề nghị bốn thành phần biểu hiện là giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức. Giá trị chức năng đề cập đến chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Do nghiên cứu này đã xem xét riêng 2 thành phần này trong khái niệm lượng giá sản phẩm nên chỉ xét ba biểu hiện còn lại của giá trị cảm nhận.

     

    Giá trị xã hội gồm những lợi ích từ khả năng một sản phẩm giúp đề cao cảm nhận cá nhân về mặt xã hội (Sweeney & Soutar, 2001; Le & ctg., 2013). Giá trị cảm xúc liên quan đến những trải nghiệm tích cực về tình cảm hay cảm xúc mà một sản phẩm mang lại (Sweeney

     

    • Soutar, 2001). Giá trị tri thức là giá trị có được dựa trên sự đổi mới, tính hiếu kỳ hoặc mới lạ, bởi người tiêu dùng cảm thấy quá quen với những sản phẩm hiện tại (Seth & ctg, 1991). Sự phát triển không ngừng của công nghệ đã kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng về sự đổi mới liên tục các chức năng của điện thoại thông minh (Krajaluoto & ctg., 2005; You & ctg., 2011; Khan & Hyunwoo, 2009).

    Sẵn lòng mua (Willingness to buy): Theo Ajzen (1991), một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó. Quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng ý định và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán hành

     

    1. Ý định được thừa nhận là động cơ dẫn đến hành vi, là dấu hiệu của mức độ sẵn sàng mua. Như vậy, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng

    Trang 70

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    lên hành vi là ý định hay khuynh hướng hành

     

    1. Nghiên cứu này sử dụng cụm từ sẵn lòng mua để biểu thị cho khuynh hướng mua như trong nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng. Sẵn lòng mua được nói đến cả trong khuynh hướng mua (Lumpkin & ctg., 1985) và khuynh hướng mua lại (Hossain, 2006).

    2.2. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

     

    Tính vị chủng và uy tín thƣơng hiệu

     

    Như đã đề cập, uy tín thương hiệu thể hiện lòng tin của khách hàng về các tín hiệu hàm chứa trong thương hiệu và về năng lực thực hiện sự cam kết của thương hiệu với khách hàng. Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu được tích lũy dần thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008).

     

    Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, như đã nêu trong phần giới thiệu đề tài, do còn mới trên thị trường, lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu chưa được tích lũy qua quá trình tương tác trong quá khứ theo cách tiếp cận duy lý nêu trên. Ngược lại, nó được phát triển theo cách tiếp cận xã hội và cảm xúc, dựa vào lòng tin và lòng tự tôn của những người trong cùng một cộng đồng, nghĩa là theo tính vị chủng của họ. Vì người có tính vị chủng cao thường xem cộng đồng của họ là trung tâm, là mẫu mực (Sumner, 1906; Shimp

     

    • Sharma, 1987), nên họ sẽ có xu hướng tin tưởng, nâng cao giá trị và sản phẩm do con người thuộc nhóm của mình tạo ra

    (Chryssochoidis & ctg., 2005). Nghiên cứu thực nghiệm Obradovic (2013) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao sẽ đánh giá thương hiệu nội địa thuận lợi hơn thương hiệu nước ngoài về chất lượng thương hiệu, uy tín thương hiệu và dự định mua. Do đó, giả thuyết

     

    được đặt ra như sau:

     

    H1: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và cảm nhận về uy tín của các thương hiệu điện thoại thông minh Việt Nam.

     

    Tính vị chủng và giá trị cảm nhận

     

    Những khám phá của Shimp & Sharma (1987), Steenkamp & ctg. (2003), Vida và Reardon (2008) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao thường có thái độ yêu thích và hướng đến các thương hiệu nội địa hơn là những thương hiệu nước ngoài, ngay cả khi các thương hiệu nước ngoài có chất lượng cao hơn (Shimp & Sharma, 1987). Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cho thấy tác động của tính vị chủng của khách hàng lên việc hình thành thái độ của họ (e.g., Batra & ctg., 2000; Pharr, 2005; Vida & Reardon, 2008). Dimitrovic & ctg. (2009) đã chỉ ra rằng tính vị chủng của khách hàng có hàm ý quan trọng đối với nhận thức của họ về giá trị sản phẩm. Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, nghiên cứu này kỳ vọng tính vị chủng của khách hàng tạo nên một ảnh hưởng tích cực vào nhận thức của họ về giá trị của sản phẩm, dựa trên khía cạnh phi vật chất của nó (tức là giá trị cảm xúc, giá trị xã hội và giá trị trí thức). Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được đề nghị như sau:

     

    H2: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và giá trị cảm nhận của họ đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Uy tín thƣơng hiệu và lƣợng giá sản phẩm

     

    Uy tín thương hiệu được xem là có mối quan hệ trực tiếp với lượng giá sản phẩm với hai biểu hiện chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận (công bằng giá). Vigneron và Johnson (1999) đã chứng minh rằng khách hàng đánh

     

    Trang 71

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    giá chất lượng của một sản phẩm thông qua uy tín thương hiệu. Các nghiên cứu của Baek & ctg. (2010); Hanzaee & Taghipourian (2012) cũng đều cho thấy uy tín thương hiệu có ảnh hưởng tích cực lên chất lượng cảm nhận. Nghĩa là uy tín thương hiệu chính là dấu hiệu tổng quát quan trọng về sự cam kết chất lượng và khả năng tạo ra chất lượng sản phẩm (Grunert

     

    • , 2001; Jeddiand & Imed, 2010). Mặt khác, uy tín thương hiệu còn thể hiện sự đáng tin (trustworthiness) của thương hiệu đối với khách hàng. Ở đây là sự đáng tin về giá bán sản phẩm. Nghĩa là, một khi khách hàng đánh giá uy tín thương hiệu càng cao thì họ càng yên tâm về sự công bằng trong giá bán trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm. Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được phát biểu như sau:

    H3: Có mối quan hệ đồng biến giữa cảm nhận về uy tín thương hiệu và lượng giá sản phẩm của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Lƣợng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận

     

    Mối quan hệ giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận được biện giải dựa trên lý thuyết mục đích – phương tiện MEC (Gutman

     

    • Alden, 1985; Zeithaml, 1988). Theo đó, chất lượng và giá trong lượng giá sản phẩm là những yếu tố cụ thể được khách hàng cân nhắc trước khi mua xem liệu sản phẩm có mang lại những giá trị mà họ mong muốn hay không (Reynolds & Gutman, 1984). Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy khi khách hàng

    đánh giá cao về chất lượng sản phẩm hoặc công bằng về giá thì họ sẽ cảm nhận tốt về giá trị sản phẩm mà họ sử dụng (Hu & ctg., 2009; Chen, 2008). Một vài học giả khác cho rằng lượng giá sản phẩm bao gồm cảm nhận chất lượng và cảm nhận công bằng về giá có tương quan mạnh với giá trị chức năng của sản phẩm (Chen

     

    • Hu, 2010), một yếu tố làm nền tảng cho cảm nhận về các giá trị khác như giá trị xã hội và

    giá trị cảm xúc (Rust & ctg., 2000). Ở Việt nam, Le & ctg (2013) cũng đã cho thấy lượng giá cảm nhận có tác động tích cực lên giá trị cảm nhận. Vì vậy, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:

     

    H4: Có mối quan hệ đồng biến giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Giá trị cảm nhận (kỳ vọng) và sự sẵn lòng mua

     

    Giá trị cảm nhận được nhiều học giả xác định là khái niệm có khả năng dự đoán tốt hơn sự hài lòng về các hành vi sau mua trong tiếp thị (Egger & Ulaga, 2002; Whittaker & ctg., 2007). Hơn nữa, giá trị cảm nhận có thể hình thành (kỳ vọng) trước khi mua và sử dụng sản phẩm (Gronroos, 2008). Theo đó, giá trị kỳ vọng có vai trò dẫn dắt thái độ và hành vi tiêu dùng (Sweeney & Soutar, 2001) trong đó có sự sẵn lòng mua. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá trị cảm nhận của một sản phẩm/ thương hiệu dẫn đến ý định hành vi đối với sản phẩm/ thương hiệu đó (Nguyen & ctg., 2008). Tương tự, Flynn & ctg. (2013) cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giá trị cảm nhận và sự sẵn lòng mua. Vì vậy, trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

     

    H5: Có mối quan hệ đồng biến giữa giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt và sự sẵn lòng mua của họ.

     

    Mô hình nghiên cứu

     

    Với năm giả thuyết được hình thành và biện luận ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng như trong Hình 1. Theo đó, tính vị chủng tiêu dùng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng về uy tín thương hiệu (H1), đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị

     

    Trang 72

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    cảm nhận đối với sản phẩm (H2). Tiếp đến, uy tín thương hiệu được giả thuyết là có tác động tích cực đến lượng giá sản phẩm (H3). Lượng giá sẽ được kiểm định mối quan hệ với giá trị cảm nhận (H4), yếu tố được xem là tiền đề quan trọng cho sự sẳn lòng mua của khách hàng đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt (H5).

     

    Trong mô hình nghiên cứu này (hình 1), khái niệm lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc 2 được cấu thành bởi Chất lượng cảm nhận và Công bằng về giá. Tương tự như vậy, Giá trị cảm nhận cũng là một khái niệm tiềm ẩn bậc 2 bao gồm ba thành phần là giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức.

     

                             

    Chat luong

     

    UY TIN

       

    H3+

       

    LUONG GIA

       

    cam nhan

     
                       

    THUONG HIEU

             

    SAN PHAM

               
             

    Cong bang

     
                               
                               

    ve gia

     
                             

    H1+

                 

    H4+

           
                                 
                                   
                                     

    TINH

       

    H2+

       

    GIA TRI

    H5+

     

    SAN LONG MUA

    VI CHUNG

               

    CAM NHAN

         
                           
                                   
                           
                                     
           

    Gia tri xa hoi

       

    Gia tri cam xuc

     

    Gia tri tri thuc

     
                               
       

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

               

    3.   PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Mô hình và các giả thuyết được kiểm định dựa trên bộ dữ liệu có kích thước 259 cases. Mẫu được thu thập qua một cuộc khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng Việt Nam có độ tuổi từ 18 tuổi đến dưới 50 tuổi (nhóm khách hàng chính của điện thoại thông minh). Họ là nhưng người đã/ đang sử dụng điện thoại thông minh và đã biết đến điện thoại thông minh thương hiệu Việt (được nhận dạng thông qua câu hỏi gạn lọc). Phương pháp tiếp cận là phỏng vấn trực tiếp tại nơi làm việc, học tập, tại nhà hoặc nơi thuận tiện khác.

     

    Nội dung các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước, có hiệu chỉnh thông qua bước phỏng vấn sơ bộ (xem Bảng 2). Theo đó, thang đo Tính vị chủng gồm 4 biến quan sát (Keilor & Hult, 1999), Uy tín thương hiệu gồm 4 biến quan sát (Baek & ctg, 2010), thang đo Lượng giá sản phẩm gồm 2 thành phần Cảm

     

    nhận công bằng về giá (4 biến quan sát) và Chất lượng cảm nhận (6 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001, trong đó có 3 biến bổ sung từ phỏng vấn định tính), thang đo Giá trị cảm nhận gồm 3 thành phần là Giá trị cảm xúc (3 biến quan sát), Giá trị xã hội (4 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001) và Giá trị tri thức (4 biến quan sát) (Almakrami, 2013). Thang đo Sẵn lòng mua gồm 3 biến quan sát (Sweeney & Soutar, 2001). Các thang đo có dạng Likert 7 điểm.

     

    1. KẾT QUẢ Mô tả mẫu

    Như trình bày trong Bảng 1, mẫu dữ liệu được thu thập từ 259 người tiêu dùng đã biết đến smartphone thương hiệu Việt như Bphone, Mobiistar, Q – Smart, Viettel, Hkphone, F – Mobile, Masstel, Vivas và Avio. Về giới tính, mẫu gồm 152 nam (58,7%) và 107 nữ (41,3%);

     

    • người thuộc độ tuổi 18 – 34 chiếm 70,7% và 76 người 35 – dưới 50 tuổi (29,3%). Phân bố

    Trang 73

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    thu nhập chủ yếu ở mực trung bình và khá, cụ thể là 4 – 9 trđ/th (45,2%) và 9 – 20 trđ/th (36,7%). Qua đó cho thấy mẫu khảo sát là đủ

     

    đa dạng cho các phân tích thống kê và phản ánh nhóm khách hàng tiềm năng của loại sản phẩm này.

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu (n = 259)

     

     

    Tần số

    Tỷ lệ

     

    Tần số

    Tỷ lệ

    Thương hiệu được biết:

     

    Độ tuổi:

     

    Bphone (Bkav)

    84

    32,4

    18-34 tuổi

    183

    70,7

    Mobiistar

    53

    20,5

    35-49 tuổi

    76

    29,3

    Q-Smart (Q-Mobile)

    46

    17,8

    Tổng

    259

    100

    Viettel

    23

    8,9

    Thu nhập (trđ/th):

       

    HKphone (ROVI)

    22

    8,5

    Dưới 4

    17

    6,6

    F-Mobile (FPT)

    19

    7,3

    Từ 4 – dưới 9

    117

    45,2

    Masstel, Vivas, Avio

    12

    4,6

    Từ 9 – dưới 20

    95

    36,7

    Tổng

    259

    100%

    Từ 20  trở lên

    30

    11,5

    Giới tính:

       

    Tổng

    259

    100

    Nam

    152

    58,7

         

    Nữ

    107

    41,3

         

    Tổng

    259

    100

         

    Đánh giá và gạn lọc thang đo

     

    Các thang đo được đánh giá sơ bộ bằng phân tích nhân tố khám phá EFA và độ tin cậy Cronbach’s alpha. Với 32 biến ban đầu, sau khi loại 6 biến (đo uy tín thương hiệu, chất lượng

     

    cảm nhận, tính vị chủng, giá trị xã hội và giá trị tri thức) do hệ số tải nhân tố thấp (< 0.4) hoặc có hệ số tải cao trên 2 nhân tố, các thang đo với

     

    • biến còn lại được đưa vào kiểm định chính thức với phân tích CFA.

    ảng 2. Kết quả đánh giá thang đo

     

     

    Hệ số tải

    Thang đo và biến quan sát

    chuẩn

     

    hóa

    Uy tín thƣơng hiệu: Cronbach’s Alpha = 0,845; CR = 0,846; AVE = 0,649

     

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại có uy tín

    0,838

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại cao cấp

    0,683

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại được nhiều người tin dùng

    0,882

    Tôi nghĩ thương hiệu X luôn thực hiện đúng những cam kết như đã hứa

    *

    Lƣợng giá sản phẩm (2 thành phần):

     

    + Cảm nhận giá: Cronbach’s Alpha = 0,946; CR = 0,948; AVE = 0,820

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá hợp lý

    0,873

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X mang lại những lợi ích tương xứng với giá bán

    0,956

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tương xứng với giá bán

    0,944

    Trang 74

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá phù hợp với mong muốn chi trả của tôi

     

    0,846

    + Chất lƣợng cảm nhận: Cronbach’s Alpha = 0,899; CR = 0,859; AVE = 0,672

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tốt

     

    0,881

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X đáng tin cậy

     

    0,883

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có độ bền cao

     

    0,679

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có những tính năng đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    **

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có cấu hình đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có thời lượng pin đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tính vị chủng: Cronbach’s Alpha = 0,834; CR = 0,841; AVE = 0,639

       

    Tôi nghĩ người Việt Nam chân chính thì luôn ủng hộ các thương hiệu Việt

     

    *

    Mua điện thoại nước ngoài là góp phần làm cho một số người VN bị mất việc

     

    0,856

    Tôi nghĩ mua điện thoại nước ngoài sẽ gây tổn hại cho các thương hiệu điện thoại VN

     

    0,802

    Tôi nghĩ mua điện thoại thông minh thương hiệu Việt là thể hiện lòng yêu nước

     

    0,735

    Giá trị cảm nhận (3 thành phần):

       

    + Giá trị cảm xúc: Cronbach’s Alpha = 0,923; CR = 0,896; AVE = 0,812

     

    Tôi sẽ cảm thấy sung sướng khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,868

    Tôi sẽ cảm thấy thích thú khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,933

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X sẽ mang lại cho tôi sự hài lòng

     

    **

    + Giá trị xã hội: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,916; AVE = 0,784

     

    Sử dụng điện thoại X giúp tôi duy trì mối quan hệ với người thân/bạn bè/đồng nghiệp

     

    *

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi được nhiều người tôn trọng

     

    0,868

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi thể hiện vị trí xã hội của tôi

     

    0,902

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ tạo được ấn tượng với người khác

     

    0,887

    + Giá trị trí thức: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,924; AVE = 0,801

     

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ thỏa mãn tính hiếu kỳ của tôi về công nghệ

     

    0,865

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi nhiều kiến thức về công nghệ mới

     

    0,949

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ khơi dậy tính sáng tạo của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi những trải nghiệm về công nghệ mới

     

    0,869

    Sẵn lòng mua: Cronbach’s Alpha = 0,856; CR = 0,872; AVE = 0,699

       

    Nếu có ý định mua điện thoại thông minh, tôi sẽ mua thương hiệu X

     

    0,966

    Tôi sẽ mua điện thoại thông minh thương hiệu X trong tương lai gần

     

    0,855

    Tôi sẽ mua điện thoại X ngay cả khi có một điện thoại nước ngoài khác cùng chất lượng

     

    0,657

    và giá

       

    Ghi chú: * loại qua EFA;   ** loại qua CFA

     

    Tám thang đo đơn hướng được đưa vào phân tích CFA. Kết quả cho thấy các biến quan sát có giá trị Skewness từ -0,82 đến -0,07 và Kurtosis từ -0,68 đến +0,98 nên được xem là không vi phạm đáng kể về phân phối chuẩn.

     

    Tiếp tục loại thêm 2 biến (đo chất lượng cảm nhận và giá trị cảm xúc) do tương quan giữa các sai số cao, kết quả cho thấy mô hình thang đo với 24 biến quan sát đạt độ phù hợp với dữ liệu thực tế. Cụ thể, ước lượng ML cho kết quả

     

    Trang 75

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    như sau: Chi-square = 253,4; df = 224; p = 0,086; Chi-square/df = 1,13, GFI = 0,926, CFI = 0,994, TLI = 0,992 và RMSEA = 0,023.

     

    Như thể hiện trên Bảng 2, hệ số tải chuẩn hoá của các biến dao động từ 0,66 đến 0,97, đồng thời phương sai trích của các thang đo AVE = 0,64 – 0,82 nên các thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy tổng hợp Composite reliability (CR) từ 0,84 đến 0,95 nên các thang đo đạt độ tin cậy. Tương quan giữa các khái niệm dao động từ 0,28 tới 0,64, thấp xa đáng kể với 1 (với p = 0,05) nên các thang đo đạt độ giá trị phân biệt.

     

    Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

    Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình này có 242 bậc tự do, giá trị Chi – square = 276,21, Chi – square/df = 1,14, p = 0,06; các chỉ tiêu khác là GFI = 0,919, TLI = 0,992, CFI = 0,993 đều lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,023. Như vậy, có thể kết luận là mô hình này phù hợp tốt với dữ liệu thu thập

     

    được từ thực tiễn và 60% phương sai của yếu tố Sẵn lòng mua được giải thích bởi các yếu tố có trong mô hình nghiên cứu.

     

    Kết quả ước lượng (Bảng 3) cho thấy các mối quan hệ kiểm định đều có hệ số hồi quy chuẩn hoá dương và có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05), do đó các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được ủng hộ.

     

    Đồng thời, kết quả còn cho thấy các khái niệm bậc 2 là Giá trị cảm nhận được phản ánh bởi ba khái niệm bậc 1 là Giá trị cảm xúc (l = 0,80), Giá trị xã hội (l = 0,72) và Giá trị tri thức (l = 0,82); còn Lượng giá sản phẩm được phản ánh bởi Cảm nhận giá (l = 0.62) và chất lượng cảm nhận (l = 0.77). Ngoài ra, phân tích cấu trúc đa nhóm cũng đã được thực hiện với các nhóm thu nhập khác nhau. Tuy nhiên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thu nhập về các mối quan hệ được kiểm định trong mô hình.

     

    ảng 3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

     

    Mối quan hệ

    Hệ số chuẩn

    p

    Kiểm định

     

    hóa

    giả thuyết

           

    Tính vị chủng

    Uy tín thương hiệu

    0,50

    0,007

    Ủng hộ H1

    Tính vị chủng

    Giá trị cảm nhận

    0,38

    0,005

    Ủng hộ H2

    Uy tín thương hiệu

    Lượng giá sản phẩm

    0,74

    0,003

    Ủng hộ H3

    Lượng giá sản phẩm →

    Giá trị cảm nhận

    0,69

    0,005

    Ủng hộ H4

    Giá trị cảm nhận

    Sẵn lòng mua

    0,77

    0,004

    Ủng hộ H5

    Giá trị cảm nhận → Giá trị cảm xúc

    0,80

    0,004

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị xã hội

    0,72

    0,002

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị trí thức

    0,82

    0,003

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận chất lượng

    0,77

    0,004

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận giá

    0,62

    0,004

     

    5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ

     

    Thông qua trường hợp của sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, bài viết này tìm hiểu vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu

     

    đối với những loại sản phẩm tiêu dùng công nghệ cao, đa giá trị và được sản xuất trong nước trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong bối cảnh như vậy thì việc tạo được uy tín trên thị

     

    Trang 76

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    trường và sự chấp nhận mua của người tiêu dùng là một thách thức rất khó vượt qua của các thương hiệu mới nổi của Việt nam.

     

    Với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, việc tạo dựng uy tín thương hiệu bằng cách thức tích lũy dần lòng tin của người tiêu dùng nói riêng và thị trường nói chung thông qua tương tác kinh tế – xã hội như con đường truyền thống đã được đề cập nhiều trong các tài liệu là quan trọng, nhưng cần có nhiều thời gian và phải đầu tư nguồn lực thì mới đạt được mục đích. Trước mắt, khi mà uy tín thương hiệu còn thấp, cần phải có cách tiếp cận khác. Đó chính là cách tiếp cận dựa trên các giá trị xã hội, cộng đồng được chia sẻ thông qua khái niệm tính vị chủng tiêu dùng.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng của người tiêu dùng là yếu tố có tác động mạnh đến cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu. Do đó, yếu tố này là cơ sở rất tiềm năng cho vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu Việt. Mặt khác, tính vị chủng Việt còn có tác động trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thông minh thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của họ. Với tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua uy tín thương hiệu), tính vị chủng tiêu dùng có khả năng tác động mạnh (std. total effect = 0,64; p

     

    • 0,003) đến cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm, trong đó bao gồm giá trị chức năng (lượng giá sản phẩm) và giá trị phi chức năng (xã hội, cảm xúc và tri thức).

    Tiếp đến, kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của uy tín thương hiệu đối với việc người tiêu dùng lượng giá sản phẩm (β = 0.74; p = 0.003). Trong điều kiện khách hàng khó có thể đánh giá chính xác chất lượng sản phẩm điện thoại thông minh Việt (do đặc điểm công nghệ của sản phẩm) thì uy tín thương hiệu chính là yếu tố đại diện để xem xét sản phẩm. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu cũng cung

     

    cấp một cứ liệu thực nghiệm khẳng định quan điểm rằng với những sản phẩm thiết yếu có mức giá trung bình thì giá trị chức năng đóng vai trò cơ bản, làm tiền đề (β = 0,69; p = 0,005) cho các dạng giá trị xã hội, cảm xúc và tri thức.

     

    Như vậy, đóng góp đáng chú ý của bài báo này là tìm ra ảnh hưởng quan trọng (trực tiếp và gián tiếp) của tính vị chủng đến uy tín thương hiệu và cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường, chưa được nhiều người biết đến. Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín thương hiệu cho điện thoại thông minh thương hiệu Việt trong việc thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm. Kết quả này cũng gợi ý tổng quát cho những sản phẩm thương hiệu Việt có tính chất tương tự như đa giá trị (chức năng, cảm xúc, xã hội, tri thức) và uy tín thương hiệu là chỉ báo cho chất lượng sản phẩm.

     

    Về hàm ý quản trị, con đường khả dĩ để bắt đầu xây dựng uy tín thương hiệu Việt chính là thông qua tín vị chủng. Quá trình này tập trung vào việc chọn nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng có tính vị chủng cao (thường là lớn tuổi hơn) và xây dựng chiến lược và nội dung truyền thông phù hợp.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Bài viết này tập trung vào việc khám phá vai trò của tính vị chủng trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, có công nghệ cao, đa giá trị được sản xuất trong nước và mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến uy tín thương hiệu, lượng giá sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt.

     

    Trang 77

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Kết quả này gợi ý một phương án dành cho các thương hiệu điện thoại thông minh mới nổi của Việt Nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu. Đó là dựa trên tính vị chủng tiêu dùng, dựa trên sự tự hào, tự tôn dân tộc, trên những chuẩn mực giá trị được chia sẻ trong cộng đồng.

     

    Như những nghiên cứu khác, bài viết cũng còn một số hạn chế. Bên cạnh việc không tìm thấy sự khác biệt trong kết quả giữa các nhóm

     

    nhu nhập, có thể có sự khác biệt liên quan đến yếu tố khác như nhóm tuổi, hoặc trình độ học vấn. Thêm vào đó, các nghiên cứu tiếp theo cũng có thể mở rộng ra những sản phẩm tương tự. Đồng thời tiếp tục tìm hiểu hiện trạng và vai trò của tính vị chủng của Việt trong thái độ và hành vi tiêu dùng của họ đối với các nhóm sản phẩm khác nhau trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 78

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    The effects of consumer ethnocentrism on Vietnamese brand credibility and perceived value – A Study of Vietnamese branded smartphone

     

    • Truong My Ngoc
    • Le Nguyen Hau

    University of Technology, VNU HCM – Email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    This   study   investigated   the   role   of

    value. Ethnocentrism also has a direct impact

    consumer ethnocentrism on the perception of

    on the perceived value of Vietnamese branded

    brand  credibility  in  the  case  of  Vietnamese

    smartphone, resulting in the willingess-to-buy.

    branded  smartphone –  a  high-tech, multiple-

    Besides contributing to the current literature,

    value  product  being  manufactured  locally.

    the findings also provide suggestions for new

    Based  on  a  survey  of  259  consumers,  the

    Vietnamese  smartphone  brands  to  develop

    analysis revealed that ethnocentrism exerts a

    brand  credibility  on  the  basis  of  consumer

    strong impact on brand credibility which leads

    ethnocentrism

    to  positive  product  judgement  and  perceived

     

    Keyword: Ethnocentrism, brand credibility, perceived value, willingess-to-buy, smartphone, Vietnamese brand.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    • Agarwal, N. K., Wang, Z., Xu, Y., & Poo,
    1. C. C. Factor affecting 3G adoption: An empirical study. Proceeding of 11th Pacific-Asia Conference on Information System (PACIS), 256-270 (2007).
    • Ajzen, I. The Theory of Planned Behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50, 179-211 (1991).
    • AlMakrami, A. H. An investigation into brand value dimensionality and its effects on loyalty: evidence from the high-tech brandscape in Saudi Arabia (Doctoral dissertation, Brunel University) (2013).
    • Baek, T. H., Kim, J., & Yu, J. H. The differential roles of brand credibility and brand prestige in consumer brand choice. Psychology & Marketing, 27(7), 662-678 (2010).
    • Batra, R., Ramaswamy, V., Steenkamp, J. B., & Ramachander, S. Effects of brand local and nonlocal origin on consumer attitudes in developing countries. Journal of Consumer Psychology, 9(2), 83-95 (2000).
    • Chen, C.F., Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction and behavioral

    Trang 79

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    intentions for air passengers: evidence from Taiwan, Transportation Research Part A: Policy and Practice, Vol. 42, pp. 709-717 (2008).

     

    • Chen, P. and Hu, H., How determinant attributes of service quality influence customer-perceived value: an empirical investigation of the Australian coffee outlet

    industry, International Journal of Contemporary Hospitality Management, Vol. 22 No. 4, pp. 535-551 (2010).

     

    • Chryssochoidis, G., Krystallis, A., & Perreas, P. Ethnocentrism beliefs and country-of-origin (COO) effect: Impact of country, product and product attributes on Greek consumers’ evaluation of food products. European Journal of Marketing, 41(11), 1518-1544 (2007).
    • De Mooij,    Global  marketing  and

    advertising: Understanding cultural paradoxes. Sage Publications (2013).

     

    • Dimitrovic, T., Vida, I., & Reardon, J. Purchase behavior in favor of domestic products in the West Balkans. International Business Review, 18(5), 523-535 (2009).
    • Eggert, A., & Ulaga, W. Customer perceived value: A substitute for satisfaction in business markets. Journal of Business & Industrial Marketing, 17(2/3), 107-118 (2002).
    • Erdem, T., & Swait, J. Brand credibility, brand consideration, and choice. Journal of consumer research, 31(1), 191-198 (2004).
    • Flynn, J., Greig, T., & Mukaiwa, M. The influence of perceived product quality, relative price and risk on customer value and willingness to buy: A study of private label merchandise. Journal of Product & Brand Management, 22(3), 218-228 (2013).
    • Grönroos, C. Service logic revisited: who

    creates value? And who co-creates?. European business review, 20(4), 298-314 (2008).

     

    • Grunert, K. G., Lahteenmaki, L., Niellsen, N. A., Poulsen, J. B., Ueland, O., & Astrom, A. Consumer perception of food products involving genetic modification:

    Results from a qualitative study in four nordic countries. Food Quality and Preference, 12(8), 527-542 (2001).

     

    • Gutman, J., & Alden, S. D. Adolescents’ cognitive structures of retail stores and fashion consumption: a means-end chain analysis of quality. Perceived quality: how

    consumers view stores and merchandise/edited by Jacob Jacoby, Jerry C. Olson (1985).

     

    • Hansen,    Perspectives   on   consumer

    decisionmaking:Anintegrated

     

    approach. Journal           of            Consumer

     

    Behaviour, 4(6), 420-437 (2005).

     

    • Hanzaee, K. H., & Taghipourian, M. J. The effects of brand credibility and prestige on consumers purchase intention in low and high product involvement. Journal of Basic and Applied Scientific Research, 2(2), 1281-1291 (2012).
    • Henderson, G.R., Guzman, F., Huff, L. and Motley, C.M., “The Ian’s pizza tribe: reconceptualzing cross-cultural research in the digital age”,Journal of Business

    Research, Vol. 66, pp. 283-287 (2013).

     

    • Hossain, P. A relational study on perceived value, brand preference, customer satisfaction, and repurchase intention in context of Akij Textile Mills LTD in Bangladesh. Bangladesh: Independent University (2006).
    • Hu, H.H., Kandampully, J. and Juwaheer, T.D., Relationships and impacts of service

    quality, perceived value, customer satisfaction, and image: and empirical study, The Service Industries Journal, Vol. 29 No. 2, pp. 111-125 (2009).

     

    • Jacoby, J., & Olson, J. C. Consumer response to price: An attitudinal information processing perspective. In Wind, Y., & Greenberg, P. (Eds), Moving ahead with attitude research (pp. 73-86). Chicago: American Marketing Association (1977).
    • Jeddiand, N., & Imed, Z. The impact of label perception on the consumer’s purchase intention: An application on food

    Trang 80

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    products. IBIMA Business Review, 20, 1-14 (2010).

     

    • Karjaluoto, H., Karvonen, J., Kesti, M., Koivumaki, T., Manninen, M., Pakola, J., Ristola, A., & Salo, J. Factors affecting consumer choice of mobile phones: Two studies from Finland. Journal of Euromarketing, 14(3), 59-82 (2005).
    • Keillor, B.D. and Hult, G.T.M., A five-country study on national identity: implications for international marketing research and practice, International Marketing Review, Vol. 16 No. 1, pp. 65-82 (1999).
    • Khan, K., & Hyunwoo, K. Factor affecting consumer resistance to innovation – A study of Smartphone (Master’s thesis). Sweden: Jonkoping International Business School (2009). Retrieved from http://hj.diva-portal.org.
    • Lê Nguyễn Hậu, Trần Trúc Quỳnh & Lê Đức Anh Người Việt dùng hàng Việt: Vai trò của tính vị chủng và lượng giá đối với sự sẵn lòng mua hàng Việt Nam. Science & Technology, 14(3), 56-67 (2011).
    • Le, N. H., Nguyen, T. H. M., & Nguyen V. T. National identity and the perceived values of foreign products with local brands

    – The case of local wine in Vietnam. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 25(5), 765-783 (2013).

     

    • Lee, D. B. S. H. E. The relationship between price and objective apprarel quality: A comparison between the United States market and Korean market (Master’s thesis). Texas: Texas Tech University (1996).
    • Lumpkin, J. R. Shopping orientation segmentation of the elderly consumer. Journal of Academy of Marketing Science, 13, 271-289 (1985).
    • Monroe, B, K., & Krishnan, R. The effect of price on subjective product evaluations. In Jacoby, J., & Obson, C. J. (Eds),

    Perceived Quality (pp. 210-231). Lexington, MA: D. C. Health and Company (1985).

     

    • Nguyen, D. T., Nguyen, T. T. M., & Barrett, N. Consumer ethnocentrism, cultural sentivity, and intention to purchase local product – Evidence from Vietnam. Journal of Consumer Behavior, 7, 88-100 (2008).
    • Nguyen, T. T. M., & Smith, K. The impact of status orientations on purchase preference for foreign products in Vietnam, and implications for policy and society. Journal of Macromarketing, 32(1), 52-60 (2012).
    • Obradovic, J. Consumer perspective: Does brand globalness really matter? (Master of Science). Vienna: University of Vienna (2013).
    • Phan Tuấn. 5 điểm nhấn của thị trường di

    động Việt trong năm 2015. Báo Dân trí.

     

    Khai thác từ http://dantri.com.vn (27/12/2015).

     

    • Pharr, J. M. Synthesizing country-of-origin research from the last decade: Is the concept still salient in an era of global brands?. Journal of Marketing Theory and Practice, 13(4), 34-44 (2005).
    • Reardon, J., Miller, C., Vida, I., & Kim, I. The effect of ethnocentrism and economic development on the formation of brand and ad attitudes in transitional economies. European Journal of Marketing, 39(7/8), 737-754 (2005).
    • Reynolds, T. J., & Gutman, J. Laddering: Extending the repertory grid methodology to construct attribute-consequence-value hierarchies. Personal values and consumer psychology, 2, 155-167 (1984).
    • Rust, R.T., Zeithaml, V.A. and Lemon, K.N., Driving Customer Equity, The Free Press, New York, NY (2000).
    • Shimp, T. A., & Sharma, S. Consumer ethnocentrism: Construction and validation of the CETSCALE. Journal of Marketing Research, 24(3), 280-289 (1987).
    • Spillan, J. E., Kucukemiroglu, O., & de Mayolo, C. A. Profiling Peruvian consumers’ lifestyles, market segmentation,

    Trang 81

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    and ethnocentrism. Latin American Business Review, 8(4), 38-59 (2008).

     

    • Steenkamp, J. B. E. M., Batra, R., & Alden, D. L. How perceived brand globalness

    creates brand value. Journal of International Business Studies, 34, 53-65 (2003).

     

    • Sumner, G. W. Folkways: The Sociological Importance of Usage, Manner, Custom, Mores, and Morals. Boston: Ginn and Co (1906).
    • Sweeney, J. C., & Soutar, G. N. Consumer perceived value: The development of a multiple item scale. Journal of Retailing, 77(2), 203-220 (2001).
    • Sweeney, ,  &  Swait,  J.  The  effects  of

    brand credibility on customer loyalty. Journal of retailing and consumer services, 15(3), 179-193 (2008).

     

    • Trần Nghĩa Smartphone Việt “teo tóp”. Báo Nhịp Cầu Đầu Tư. Khai thác từ http://nhipcaudautu.vn (08/12/2015).
    • Treacy, M., & Wiersema F. The Discipline of Market Leader. United States: Addison-Wesley (1995).
    • Vida, I., & Reardon, J. Domestic consumption: Rational, affective or normative choice?. Journal of Consumer Marketing, 25(1), 34-44 (2008).
    • Vigneron, F., & Johnson, L. W. A review and a conceptual framework of prestige-seeking consumer behavior. Psychology & Marketing, 21, 487-508 (1999).
    • Wernerfelt, B. Umbrella branding as a signal of new product quality: An example of signalling by posting a bond. The RAND Journal of Economics, 458-466 (1988).
    • Whittaker, G., Ledden, L., & Kalafatis, S. P. A re-examination of the relationship between value, satisfaction and intention in business services. Journal of Services Marketing, 21(5), 345-357 (2007).
    • You, J. H., Le, J. H., & Park, C. Factors affecting adoption and post-adoption of Smartphone. 2011 International Conference on Software and Computer Applications, 9, 108-112 (2011).
    • Zeithaml, V. A. Consumer perceptions of price, quality, and value: A means-end model and synthesis of evidence. The Journal of Marketing, 52(3), 2-22 (1988).

     

     

     

    Trang 82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

    Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

    Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-phi%E1%BA%BFu-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-facebook-theo-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-%C4%91%E1%BB%83-t%C4%83ng-g%E1%BA%A5p-%C4%91%C3%B4i-doanh-s%E1%BB%91.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

     

    Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

    Đây là chiến lược bán hàng facebook hiệu quả giúp bạn nhanh chóng tăng gấp đôi doanh số bán hàng…

     

    Bạn có thấy rất nhiều người đang làm giàu từ việc bán hàng facebook?

     

    Bạn cũng muốn bán hàng trên facebook?

     

    Facebook hiện tại là mạng xã hội lớn nhất.

     

    Facebook có khoảng 1,86 tỷ người sử dụng mỗi tháng.

     

    Số lượng tài khoản, số lượng người truy cập vào facebook ngày càng tăng lên và không có dấu hiệu gì của việc đi xuống trong nhiều năm tới.

     

    Cùng nhìn vào biểu đồ dưới đây:

     

     

    3

     

     

    Điều này có nghĩa rằng cơ hội marketing rất phong phú. Đừng lo ngại việc có quá nhiều người đang bán hàng trên Facebook. Bạn vẫn có nhiều cơ hội.

     

    Theo tôi thấy, hiện nay, Facebook là kênh dẫn traffic tốt nhất, hiệu quả nhất.

     

    Có thể bạn đã biết về quảng cáo Facebook và Google, hãy so sánh chi phí trên một lượt click (CPC) của Facebook và trả tiền theo mỗi lượt click PPC của Google Adwords.

     

    CPC trung bình trên mạng tìm kiếm Adwords là $2.32.

     

    4

     

     

    Vậy Facebook thì sao?

     

    CPC trung bình trên Facebook chỉ là $0.64! Nếu bạn làm nhiều và có kinh nghiệm thì con số này sẽ giảm rất nhiều!

     

    Điều đó lý giải tại sao nó trở nên hấp dẫn đối với hầu hết những người làm marketing.

     

    Một điều nữa mà tôi yêu thích về quảng cáo trên Facebook là sự đa dạng về những lựa chọn sẵn có.

     

    5

     

    Ví dụ, bạn có thể xây dựng sự nhận biết thương hiệu, tăng số lượng tương tác, lựa chọn đưa độc giả đến website của bạn để chuyển đổi hoặc bán hàng luôn cho họ.

     

    Nó thực sự chỉ phụ thuộc vào các mục tiêu cụ thể của bạn và cái mà bạn đang cố gắng thực hiện.

     

    Hãy nhìn vào tất cả các mục tiêu marketing khác nhau mà bạn có thể lựa chọn.

     

     

    Nhưng điều tuyệt vời hơn cả là…

     

    Facebook là một kênh khác với những trang quảng cáo trả tiền truyền thống như Adwords.

     

    6

     

    Nói cách khác, Facebook không chỉ là mua lượt click hay tạo sự ấn tượng. Nếu được sử dụng đúng cách, Facebook sở hữu một phiễu bán hàng vô cùng mạnh mẽ.

     

    Tôi sẽ giải thích cho bạn.

     

    Tiếp cận theo một góc nhìn khác

     

    Hãy để tôi hỏi bạn một câu hỏi.

     

    Mục đích bạn đăng nhập vào tài khoản Facebook của mình là gì?

     

    Có phải để đọc những tin tức mới của bạn bè, bình luận những bức ảnh và nói chung là xem điều gì đang xảy ra trong network của bạn?

     

    Hay bạn đăng nhập để tìm kiếm sản phẩm và để mua hàng?

     

    Facebook là nơi để kết bạn, không phải để tiêu tiền.

     

    7

     

    Đây là một biểu đồ của AaronZakowski.com chỉ ra hầu hết những người sử dụng Facebook dùng nó vào việc gì.

     

     

     

    Bạn có thấy rằng, Facebook nghiêng về giao lưu nhiều hơn là nơi để mua bán?

     

    Rất hiếm khi một người quyết định mua hàng khi họ đang lướt facebook của mình.

     

    8

     

    Điều này có nghĩa là về tổng quan thì xu hướng mua hàng trên Facebook là rất thấp. Có phải sẽ thật ngớ ngẩn khi cố gắng bán hàng trên kênh này?

     

    Vâng, đối với một số người, đúng là như vậy. Và kết quả là, rất nhiều người đã nhận thất bại khi ROI quá thấp.

     

    Có thể họ đang có nhiều người theo dõi hơn, tạo

     

    nhiều tương tác hơn, và rất nhiều thứ khác, nhưng nó không dẫn đến việc mua hàng thực sự.

     

    Vấn đề không phải tại Facebook. Mà vấn đề nằm ở cách thức các marketer tiếp cận và “đưa ra lời chào hàng”( hành động quá sớm). Hầu hết mọi người thất bại khi bán hàng là do họ mang đến trước mặt đối tượng của mình một thứ mà họ không thích.

     

    Và điều đó khiến khách hàng tiềm năng không thể ngay lập tức rút thẻ ra và thanh toán cho bạn. Họ không có ý định mua nó…

     

    9

     

    Bạn đã từng nhìn thấy vòng tròn dưới đây chưa?

     

     

     

    Bạn phải đối mặt với nó. Nếu ai đó đang trong giai đoạn” Nhận diện cơ hội”, họ có thể sẽ không rút thẻ credit card ra để mua hàng.

     

    Nhưng không phải bạn sẽ mất tất cả. Vì có nhiều khách hàng đã sẵn sàng để mua hàng. Đa số người dùng Facebook đều không có ý định mua hàng, nhưng vẫn có cách để khiến họ mua hàng.

     

    Vậy làm cách nào?

     

    10

     

    Chìa khóa đầu tiên để thành công với quảng cáo trên Facebook là xây dựng một phễu bán hàng.

     

    Bạn phải thực sự nhạy bén, logic, và cân nhắc kĩ thực tế rằng hầu hết người dùng Facebook không hề có ý định “mua hàng ngay”.

     

    Như đã đề cập ở trên, tôi sẽ hướng dẫn bạn các bước để tạo một phễu bán hàng Facebook.

     

    Chúng ta sẽ cùng bắt đầu.

     

    Bước 1 Tạo nội dung phân đoạn

     

    Để bắt đầu bạn cần phải xây dựng được các form optin.

     

    Bắt buộc phải xây dựng chúng trên trang web của bạn.

     

     

    11

     

    Đưa thông tin, hình ảnh, video… liên quan đến sản phẩm muốn bán với chất lượng cao nhất lên trang web đó.

     

    Ví dụ, tôi có thể sử dụng các bài blog post từ successoceans.com.

     

    Bạn sẽ cần có nhiều form nội dung khác nhau để có thể tiếp cận được những phân khúc khách hàng khác nhau.

     

    Một số khách hàng thờ ơ có thể không quan tâm lắm đến việc mua hàng qua facebook, đơn giản chỉ là họ đang tìm kiếm thứ gì đó khác.

     

    Còn một số khách hàng quan tâm và nghiêm túc xem xét việc mua hàng ngay lập tức.

     

    Nếu Content của bạn đa dạng thì việc tương tác sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

     

    12

     

    Và một khi họ tiếp xúc với nội dung của bạn, họ đã nằm trong phễu của bạn.

     

    Thật tuyệt vời đúng không?

     

    Bước 2 Quảng cáo nội dung đến với những “khách hàng quan tâm”

     

    Cái mà tôi khuyên bạn làm đầu tiên là quảng cáo nội dung của bạn đến với những người đang thực sự “quan tâm”.

     

    Bằng cách này, ý tôi là những người đã từng tiếp xúc với thương hiệu của bạn và những người đã có ấn tượng với bạn.

     

    Họ sẽ là những người đầu tiên theo dõi fanpage của bạn

     

     

    13

     

    Cái mà bạn cần làm là tập trung vào mức độ tương tác và xác định nội dung nào đang giúp bạn bán được nhiều hàng nhất.

     

    Điều thú vị là, những người quan tâm đến bạn phản ứng một cách tích cực thì các khách hàng thờ ơ cũng sẽ dần yêu thích chúng ta.

     

    Mục tiêu “lookalike audiences – đối tượng tương tự”

     

    Facebook có một thuật ngữ mà họ đặt tên

     

    lookalike audiences, là “Những người giống với những khách hàng hiện tại của bạn, khách thăm website của bạn hoặc fanpage.”

     

    Nói cách khác, họ là những cá thể với những sở thích, thói quen, hành vi tương tự với những khách hàng cốt lõi hiện tại của bạn.

     

    14

     

    Bạn có thể hình dung về họ là một khách hàng thờ ơ nhưng có thể dễ dàng thuyết phục để trở thành khách hàng tiềm năng.

     

    Do đó, đây là những khách hàng mà bạn muốn nhắm đến.

     

    Để thực hiện được điều này, bạn sẽ cần đến Audiences section của Facebook ads.

     

    Giờ hãy click vào “Tạo Đối tượng tương tự.”

     

     

     

    Đây là cái bạn sẽ nhìn thấy

     

    15

     

     

    Bắt đầu bằng cách lựa chọn nguồn của bạn. Nhập vào bất cứ thông tin nào phù hợp.

     

    Sau đó chọn một địa điểm và Quy mô đối tượng nằm trong khoảng từ 1% đến 10% tổng dân số của đất nước hoặc những quốc gia mà bạn lựa chọn.

     

    Luôn nhớ rằng tỷ lệ Quy mô đối tượng càng nhỏ, tỷ lệ lookalike audience càng tiến gần hơn với khách hàng hiện có của bạn.

     

    Sau đó chọn “Tạo đối tượng”

     

    16

     

     

    Lookalike audience sẽ trở thành một phần của khách hàng chưa quan tâm cần phải được làm nóng lên.

     

    Quảng cáo nội dung tốt nhất

     

    Hãy chọn nội dung tốt nhất cho khách hàng quan tâm đến bạn.

     

    Bây giờ bạn hãy lấy nội dung đó và để những khách hàng chưa quan tâm tiếp xúc với nó.

     

    17

     

    Bạn có thể quảng cáo nội dung bằng video, blog post, hội thảo trên web hoặc bất cứ hình thức nào.

     

    Lý tưởng hơn, bạn sẽ có khả năng chuyển một phần rất lớn số lượng khách hàng chưa quan tâm vào sâu trong phễu bán hàng trên Facebook do đó họ trở thành một trong những khách hàng quan tâm của bạn.

     

    Tại thời điểm này, họ sẽ nhận thức được thương hiệu của bạn và ít nhất cũng xem xét đến khả năng mua hàng.

     

    Remarketing hiệu quả

     

    Đây là một cách quảng cáo trên Facebook.

     

    Bạn không thể nào ngay lập tức chuyển đổi tất cả khách hàng chưa quan tâm thành khách hàng tiềm năng được.

     

    18

     

    Trong hầu hết các trường hợp, khách hàng chưa quan tâm sẽ cần được tiếp xúc với thương hiệu của bạn nhiều lần trước khi họ thực sự mua hàng.

     

    Vậy làm thế nào để thu hút họ một cách hiệu quả và đưa họ vào phễu?

     

    Chỉ một từ — remarketing.

     

    Và Facebook là một môi trường hoàn hảo để thực hiện nó.

     

    Sử dụng pixel Facebook

     

    Một trong những yếu tố mà tôi thích nhất ở Facebook Ads là pixel.

     

    Các bước để sử dụng pixel Facebook

     

    1. Bạn tạo ra một pixel Facebook
    1. Bạn thêm pixel vào mã trang web của bạn

    19

     

    1. Bạn sử dụng nó để remarketing và đưa khách hàng quay lại trang web và tiếp tục mua hàng.

    Chú ý: Chúng tôi đã có bài hướng dẫn chi tiết cách setup để có được pixel Facebook trong bài

     

     

    Remarketing với một video

     

    Hiện tại có rất nhiều phương pháp remarketing khác nhau.

     

    Cụ thể khi nói đến Facebook, chúng tôi thường sẽ sử dụng video để thu hút được nhiều khách hàng vào phễu bán hàng của mình.

     

    Bạn thậm chí có thể nhìn thấy một số video của chúng tôi hiện xung quanh Facebook.

     

    20

     

    Có ai đó đã vào xem video, hình ảnh, đọc bài viết của chúng tôi.

     

    Họ đã được tiếp xúc với thương hiệu của chúng tôi và có thể đã thực sự quan tâm ở một mức độ nào đó.

     

    Điều mà chúng tôi muốn làm là quảng cáo cho họ một video, để họ vào xem và đến trang web của chúng tôi..

     

    Tôi có thể nói một cái gì đó kiểu như, “Cảm ơn bạn đã xem video [X], nhưng bạn đang bỏ lỡ một số thông tin quan trọng đã có sẵn trên landing page của tôi.”

     

    Chú ý: Tôi không ép họ thực hiện mua hàng ngay lập tức.

     

    Tôi chỉ đơn giản là khuyến khích họ nghiên cứu kỹ một cách sâu hơn và tìm hiểu thêm.

     

    21

     

    Tôi thấy đây là một cách hiệu quả để khiến khách hàng tiến sâu hơn vào phễu hoặc landing page của tôi mà không bị làm phiền quá nhiều vì bán hàng.

     

    Tiếp tục Remarketing

     

    Tại thời điểm này, bạn sẽ tạo ra một số chuyển đổi. Nhưng tất nhiên, không phải tất cả khách hàng sẽ thực hiện “chuyển đổi”.

     

    Vậy bạn phải làm gì?

     

    Tôi khuyên bạn nên tạo ra một quảng cáo remarketing khác để tiếp cận với những ai không chuyển đổi và khuyến khích họ opt-in vào danh sách email của bạn.

     

    Ví dụ, quảng cáo của bạn có thể nói một cái gì đó như: “Cảm ơn bạn vì đã xem [trang X], nhưng bạn chưa đăng ký để [dùng thử nghiệm, ebook miễn phí, hoặc bất cứ điều gì] của chúng tôi.

     

    22

     

    Miễn là bạn đã có một lời đề nghị tuyệt vời, may mắn một phần nhỏ của những lead đã không chuyển đổi sẽ opt in.

     

    Sau đó, bạn đã có họ trong danh sách email của bạn, vì vậy bạn có thể làm họ nóng lên cho đến khi họ sẵn sàng để mua..

     

    Hãy thu hút khách hàng tiềm năng của bạn nhiều hơn

     

    Vậy bạn đã thu hút được một phần đối tượng của bạn opt in.

     

    Thật là tuyệt vời, nhưng chưa đủ.

     

    Thực sự thì sẽ chỉ có khoảng 25 % những người opt in mở email của bạn, vì vậy bạn vẫn đang bỏ lỡ khoảng 75 % khách hàng tiềm năng có thể bán hàng cho họ.

     

    23

     

    Vì vậy, giả sử rằng có ai đó đã truy cập trang dùng thử miễn phí hoặc trang ebook của bạn nhưng họ không chuyển đổi.

     

    Tôi khuyên bạn nên thiết lập một quảng cáo nêu lên toàn bộ lợi ích của sản phẩm cho họ để giảm bớt tất cả những thắc mắc hoặc hoài nghi của họ.

     

    Đưa ra lời chứng thực, giải thích thêm về các tính năng của sản phẩm, đưa ra các con số đáng chú ý hoặc những thương hiệu đã sử dụng sản phẩm của bạn…

     

    Chỉ cần làm bất cứ điều gì có ý nghĩa để tạo uy tín hơn cho thương hiệu của bạn và khiến mọi người tin tưởng rằng sản phẩm của bạn sẽ thực sự đáp ứng được những điều mà họ mong muốn.

     

    Những người không chịu mua hàng

     

    24

     

    Cần thêm một bước nữa liên quan đến phễu bán hàng trên Facebook.

     

    Có những người đã dùng thử sản phẩm, tải ebook của bạn… nhưng họ vẫn chưa mua hàng. Chúng ta cần phải làm gì với những người này?

     

    Tôi nhận thấy rằng cách tiếp cận tốt nhất cho phân khúc khách hàng này là thiết lập một quảng cáo video được cá nhân hoá có nội dung kiểu như “Cảm ơn bạn đã xem nội dung [X] nhưng vì một lý do nào đó bạn chưa mua [Sản phẩm X].”

     

    Sau đó, đến phần bán hàng với một lời chào hàng hấp dẫn.

     

    Đến thời điểm, bạn cần phải làm cho tất cả các lead biết về thương hiệu của bạn và khiến họ thích sản phẩm của bạn hết mức có thể.

     

    Họ đang được tác động và sẵn sàng mua hàng

     

    25

     

    Tóm tắt

     

    Tôi hiểu rằng mình đã đưa ra rất nhiều thông tin và đầu của bạn có thể đang quay cuồng.

     

    Nhưng hãy để tôi tóm tắt lại:

     

    1. Bắt đầu bằng cách tạo nhiều loại nội dung cho “khách hàng quan tâm” hiện tại của bạn để xem thứ khiến họ phản ứng tốt nhất.
    1. Tạo một lookalike audience (khách hàng chưa quan tâm), bao gồm những người có cùng sở thích với các khán giả nhiệt tình của bạn.
    2. Quảng cáo nội dung hay nhất cho khách hàng chưa quan tâm của bạn.
    3. Một phần khách hàng sẽ trở thành khách hàng quan tâm và sẽ mua sản phẩm của bạn.
    1. Sử dụng Pixel Facebook cho các mục đích tiếp thị lại hướng tới những người chưa mua hàng.

    26

     

    1. Hoàn thành bốn giai đoạn tiếp thị lại mà mục tiêu của bạn là nhắm đến những người ban đầu không chuyển đổi.
    1. Tối đa hóa chuyển đổi.

    Khi thực hiện đúng cách, bạn sẽ dần dần có nhiều triển vọng hơn thông qua kênh bán hàng trên Facebook.

     

    Với từng giai đoạn, họ sẽ có cảm tình với thương hiệu và quan tâm tới sản phẩm của bạn.

     

    Điều này rất quan trọng bởi vì hầu hết mọi người đều không sẵn sàng mua sản phẩm của bạn trong thời gian đầu.

     

    Trong thực tế, nó ảnh hưởng đáng kể tới thương hiệu và sản phẩm của bạn trong một khoảng thời gian trước khi họ đủ niềm tin ở bạn để mua hàng.

     

    Hiệu quả thông qua tự động hóa

     

    27

     

    Điều tuyệt vời khi thiết lập loại kênh bán hàng này chính là phần lớn nó tự động.

     

    Sau khi bạn đã tạo một vài quảng cáo tiếp thị lại khác cho các cá nhân ở các giai đoạn khác nhau trên facebook, thì bạn sẽ có nhiều thời gian rảnh.

     

    Điều này rất hữu ích bởi bạn có thời gian chỉnh sửa nội dung hiện có và viết thêm nội dung mới, điều đó góp phần thu hút nhiều người hơn vào kênh bán hàng trên Facebook của bạn.

     

    Từ đó trở đi, bạn chỉ cần tối ưu hoá chiến dịch của bạn và tối đa hóa tỉ lệ chuyển đổi.

     

    Kết luận

     

    Theo tôi, Facebook là một trong những công cụ hàng đầu cho việc quảng bá thương hiệu của bạn và là cách cực kỳ hiệu quả để tăng doanh số bán hàng.

     

    28

     

    Nhưng để làm điều này, trước tiên bạn phải hiểu được tâm lý học sau khi tiếp cận người dùng Facebook.

     

    Bạn cần phải hiểu rằng để có một ai đó mua hàng của bạn là một quá trình và phải mất thời gian.

     

    Khi bạn tạo một kênh bán hàng trên Facebook, bạn có thể tiếp cận các khách hàng tiềm năng theo từng bước thông qua quá trình mua hàng và cung cấp tất cả thông tin cần thiết giúp họ đưa ra quyết định mua hàng thông minh.

     

    Chỉ là vấn đề chờ đợi và cho phép Facebook thực hiện công việc của mình.

     

    Phần tốt nhất là mức độ tự động hóa khi bạn đã tạo lại các nội dung cơ bản của mình và tiếp tục quảng cáo.

     

    Chúc bạn thành công!

     

    29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%8CM-HI%E1%BB%82U-V%E1%BB%80-T%C3%8CNH-H%C3%8CNH-GAME-TRUNG-QU%E1%BB%90C-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

     

    Phạm Thùy Dương*

     

    Tóm tắt

     

    Trò chơi trực tuyến (game online) là một trong ngành công nghiệp mới nổi của Trung Quốc, nhưng nó đã tác động mạnh tới thị trường quốc tế thông qua việc nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường quốc tế và khu vực. Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Các nhà phát hành game Trung Quốc không những rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra quốc tế, mà còn đưa sản phẩm của mình chiếm lĩnh thị phần lớn ở một số nước, trong đó đáng chú ý là Việt Nam. Hiện nay, hơn 80% thị phần game ở Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông người chơi game Việt. Sự xâm nhập

     

    • ạt các sản phẩm game Trung Quốc vào Việt Nam đã đem lại nhiều cơ hội giải trí cho người dân Việt, tạo điều kiện phát triển ngành game Việt, nhưng cũng gây ra không ít tác động tiêu cực.

    Từ khóa: game Trung Quốc, nguyên nhân, tác động, thị trường.

     

    Mã số: 321. Ngày nhận bài:       . Ngày hoàn thành biên tập:         . Ngày duyệt đăng:             .

     

    Abstract

     

    Though online games has only been an emerging industry in China recently, it has drawn a significant influence upon the world market through its quick domination in both international and regional one. In the Top 100 highly industrialized countries of the world, China has taken the 2nd place, only after the United States. Chinese online games publishers not only succeeds in expanding their products and reputation to other parts of the world, but it also takes a high proportion in the market share of the target markets, especially Vietnam. Nowadays, more than 80% of Vietnam online games market share belongs to Chinese products, which become the number one choice for the majority of Vietnamese gamers. The massive market penetration of Chinese online games has brought numbers of entertainment opportunities for Vietnam, facilitating the advancement of Vietnam online games industry, however, this has still imposed some negative effects.

     

    Key words: Chinese online games, market, causes, consequences.

     

    Paper No. 321. Date of receipt:        . Date of revision:            . Date of approval:                .

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Từ một quốc gia chưa có tên trong ngành công nghiệp văn hóa thế giới vào những năm 90 thế kỷ XX, bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Trung Quốc đã vươn lên đứng hàng thứ 5 trong những quốc gia xuất nhập khẩu văn hóa lớn nhất thế giới. Đồng thời, ngành công nghiệp không khói này

     

    cũng đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Hiện, tỉ lệ đóng góp của ngành thương mại xuất khẩu trong nền kinh tế Trung Quốc khoảng 20%, trong đó các sản phẩm văn hóa có tỉ lệ đóng góp không nhỏ. Nếu như năm 2010, xuất khẩu công nghiệp văn hóa Trung Quốc đạt 11.67 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2009, thì đến năm

     

    *

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 113

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    2012, xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25.9 tỷ USD, tăng 38.5% so với cùng kỳ năm 2011. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25,13 tỷ USD, tăng 2,6% so với năm 20061. Năm 2015, giá trị gia tăng của công nghiệp văn hóa Trung Quốc là 2723,5 tỷ NDT, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2014, chiếm 3,97% GDP, tăng 0,16% so với năm 20142. Chính bởi vậy, phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành một trong ba chiến lược quan trọng quốc gia của Trung Quốc: chiến lược “làm giàu kinh tế”; chiến lược “sáng tạo khoa học kỹ thuật”; chiến lược “phát triển sản nghiệp văn hóa”. Cùng với làn sóng mở cửa của toàn nền kinh tế, công nghiệp văn hóa Trung Quốc đã bước đầu thể hiện năng lực cạnh tranh quốc tế với các đối thủ mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc khi tác động tới các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút mạnh nguồn vốn quốc tế đầu tư vào thị trường nội địa, đặc biệt thể hiện nổi bật ở lĩnh vực mới game online trong những năm gần đây. Chính phủ Trung Quốc hiện đang rất chú trọng đầu tư cho ngành game, với mong muốn chuyển đổi từ một Trung Quốc “chế tạo ” sang Trung Quốc “sáng tạo”, và qua 10 năm, ngành game của Trung Quốc đã có bước đột phá đáng kinh ngạc, “xâm lấn” hầu hết thị trường các nước trên thế giới, thậm chí tại số một số nước, game Trung Quốc chiếm thị phần rất lớn và có ảnh hưởng nhất định, trong đó có thị trường Việt Nam.

     

    2. Tình hình thị trường game Trung Quốc hiện nay

    10 năm trước đây, khi làng game Việt bắt đầu hình thành, các game thủ Việt Nam hầu hết chỉ quen thuộc với các game có xuất xứ từ Hàn Quốc; ngay cả tại Trung Quốc Đại lục, các sản phẩm game xứ Hàn cũng chiếm thị phần lớn. Tuy nhiên, chỉ mấy năm sau, giai đoạn 2005-2006, ngành game Trung Quốc phát triển một cách ngoạn mục, không chỉ giành vị trí đầu tiên trong làng game trong nước, game Trung Quốc còn dần xâm lấn sang các thị trường các nước có nền công nghiệp game tiên tiến khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay của IESHerpa năm 2014, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ3. Các nhà phát hành game Trung Quốc cũng rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra các nước trên thế giới. Nếu như doanh thu từ việc xuất khẩu game ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2010 chỉ đạt 230 triệu USD, thì đến năm 2012 con số này đã đạt 570 triệu USD, năm 2013 là 1,82 tỷ USD tăng 219,30% so với năm 2012, năm 2014 là 3,07 tỷ USD, tăng 69,02% so với năm 20134.

     

    Mặc dù hiện nay game Trung Quốc có mặt trên hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng sự phân bố thị trường của cường quốc game này có sự chênh lệch khá rõ nét.

     

    • Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/content_2530048. htm.
    • Năm 2015, công nghiệp văn hóa Trung Quốc tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml.
    • Theo thống kê của Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74.
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf

    114         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

     

    120

     

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

     

    4%

    12%

     

    Các nước khác

         
         

    27%

         

    Châu Âu

         
         
     

    9%

     

    Bắc Mỹ

       
       
       

    3%

     

    Nam Mỹ

         
         

    19%

       

    Đông Nam Á

    26%

       
       
       

    Đông Á

         
           
           

    Nội địa

           
           

    Hình 1: Tình hình phân bố thị trường game Trung Quốc năm 2012

     

                               

    Nguồn: GPC và IDC 20125

                     

    110

    113

     
                       
                           

    79

         
                                 

    50

                             
                             

    23

     

    37

                         
                       
         

    11

                     
                           
                                 
                       
                                       
                                       

    Các nước Châu Âu  Bắc Mỹ  Nam Mỹ

     

    Đông

    Đông Á  Nội địa

     

    khác

    Nam Á

               

    Hình 2: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu đến các nước trên thế giới năm 2012

     

    Nguồn: GPC và IDC 20126

     

     

    Theo tổng kết báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, ngoài thị trường nội địa chiếm 27% thị phần, khu vực Đông Nam Á là các nước đứng thứ hai trên thế giới trong bảng thị trường game của Trung Quốc với 26% thị phần, kế tiếp là các nước Đông Á chiếm 19%, châu Âu 12%, Bắc Mỹ 9%, Nam Mỹ 3% và các nước khác

     

    4%. Cũng theo bảng báo cáo, vào năm 2012, Trung Quốc đã xuất khẩu 110 đầu game vào thị trường Đông Nam Á, hơn 31 đầu game so với thị trường các nước Đông Á. Điều đó cho thấy, ngành công nghiệp game Trung Quốc đã tác động mạnh và chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á.Trong thị trường Đông Nam Á, Việt Nam và Malayxia là hai quốc gia nhập khẩu nhiều game Trung Quốc nhất.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 115

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

                                                 
                                                 
       

    2%

    7%

                             
                                         
                                         
                                           

    Brunei

         
                 

    21%

         

    2%

                       
                                     
                                               

    Phillipin

         
                                                     
                                                     
                                               

    Lào

         
                                                     
                                                     
                                 

    21%

             

    Malayxia

       
                                               
                                               
                                           

    Indonexia

       
                                         
                                                   
                                               

    Myanma

         
                                                     
                                                     

    17%

                             

    Thái Lan

         
                                   
                                   
                             

    tViNam

         
                                                     
                                                     
               

    2%

     

    11%

                     
                                       
                                           

    Hình 3: Tình hình xuất khẩu game Trung Quốc vào các nước khu vực

                     

    Đông Nam Á năm 2012

                 
                                       

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20127

    70

                                                       

    61

                 

    62

                             
                                             

    60

    50

         

    51

                                       

    50

                                             
                                                       

    40

                             

    32

                       
                                                   

    30

                   

    20

                                   
                                                   

    20

                                                 
                                   

    6

             

    6

       
                                                 

    10

                                   

    5

         

    0

                                                       

    Singapore   Malayxia

       

    Thái LanPhillipin

    Việt Nam   Indonexia   Myanma

       

    Lào

    Brunei

             

    Hình 4: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu vào các nước khu vực

     

    Đông Nam Á năm 2012

     

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20128

     

     

    Theo Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, Việt Nam và Malayxia đều chiếm 21% thị phần game Trung Quốc tại thị trường Đông Nam Á, Trung Quốc đã xuất khẩu 62 sản phẩm game vào thị trường Việt Nam trong năm 2012, hơn thị trường Malayxia

     

    1 sản phẩm game. Điều đó cho thấy, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn đầy tiềm năng của ngành công nghiệp Trung Quốc không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà trên toàn thế giới. 10 năm sau khi các công ty đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu xâm nhập vào thị trường Việt Nam như: công ty Kim Sơn, công ty Cự Nhân,

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    116         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    hiện nay, hơn 80% thị phần thị trường game

     

    • Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông cộng đồng người chơi game Việt9.

    3.           Nguyên nhân game Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

     

    Khi theo dõi các bài viết trên trang mạng xã hội và các diễn đàn game, chúng tôi nhận thấy đa số người chơi game Việt không ủng hộ các trò chơi game có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng tại sao các sản phẩm game Trung Quốc lại chiếm thị phần lớn như vậy?. Điều này có thể được lý giải từ phía nhà phân phối và phía người chơi.

     

    Đối với các nhà phân phối game: Nhìn khắp thị trường game Việt Nam hiện nay ta có thể thấy, những sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vẫn đã và đang được phát hành một cách liên tục do những lợi thế rất đặc biệt. Lý do các nhà phân phối Việt ưa chuộng game Trung Quốc bao gồm:

     

    Thứ nhất, sản phẩm game Trung Quốc rất đa dạng cả về số lượng và nội dung. Như ở trên đã đề cập tới, chỉ trong năm 2012, Trung Quốc đã tung ra 113 sản phẩm game phục vụ cho thị trường trong nước, 110 sản phẩm game xuất sang các nước Đông Nam Á, và 62 sản phẩm game đã xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Đây là con số chính thức nhập khẩu chính ngạch được tổng kết qua báo cáo cụ thể, chưa kể đến các sản phẩm game được nhập lậu. Với một lượng doanh nghiệp game khổng lồ, ngành công nghiệp game Trung Quốc có năng lực cung lớn hơn bất cứ quốc

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    gia nào trên thế giới. Ở mỗi thể loại game, từ nội dung cho đến chất lượng, dù là game PC hay webgame, các tựa game Trung Quốc đều rất phong phú, biến động không ngừng, đáp ứng được mọi nhu cầu do các nhà phân phối game đặt ra. Theo một nhà phát hành game: “Khi cần một webgame hoàn toàn mới cũng có thể được đối tác làm game Trung Quốc hoàn tất ngay trong vài tuần. Họ có cả một đội ngũ làm tiếng Việt, hệ thống đồ họa đầy đủ, khiến người mua game hài lòng với mức giá hợp lý nhất có thể. Với các lợi thế thể hiện và cạnh trạnh ấy, rõ ràng mạng lưới game Trung Quốc có thể lan tỏa và lấn chiếm mọi ngóc ngánh thị phần game Việt là điều dễ hiểu. Cho dù có phản đối, không thích, nhưng người chơi game cũng không thể dễ dàng quay đầu phủ nhận sức hấp dẫn khó giải thích của muôn hình game Trung Quốc10”.

     

    Thứ hai, một game online của Trung Quốc có giá mua thấp hơn rất nhiều so với những game cùng loại của Hàn Quốc hay Âu Mỹ. Được biết, các webgame (mà khi về Việt Nam nhiều gamer đánh giá là “game rác”) được định giá 15.000USD- dưới 35.000 USD là sản phẩm của các nhà sản xuất mới hoặc hạng trung của Trung Quốc sản xuất. Phân khúc game chất lượng cao hơn giá tầm 100.000USD. Chưa kể tới các sản phẩm game “bom tấn” mức giá sẽ bị đẩy cáo do các nhà phân phối cạnh tranh mua game11. Trong khi đó, đa số các nhà phân phối game hiện nay

     

    • Việt Nam đều là các nhà phân phối vừa và nhỏ, vốn không nhiều, định hướng chính của các nhà phân phối này là phát hành các game phân khúc dưới để dễ dàng thu hồi vốn cũng
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf.
    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                  117

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    như tăng doanh thu một cách nhanh chóng, nếu mua những sản phẩm game giá cao, thu hồi vốn chậm hơn, đồng nghĩa với rủi ro mà họ phải chịu là cao hơn. Đó là lý do tại sao game Trung Quốc với ưu thế về giá luôn là lựa chọn số một cho các nhà phân phối này.

     

    Thứ ba, Các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Một số doanh nghiệp phát hành game Việt Nam thừa nhận, gần như mọi yêu cầu sửa đổi sản phẩm, bổ sung tính năng, cập nhật tiện ích cho người chơi…, khi nêu ra, đều sẽ được nhà sản xuất Trung Quốc thỏa mãn trong thời gian nhanh nhất có thể12. Điều này thuận tiện hơn rất nhiều so với các sản phẩm game Hàn Quốc hay Âu Mỹ, họ thường yêu cầu tổng hợp các lỗi, bản chỉnh sửa…rồi mới tiến hành xử lý cho khách hàng.

     

    Về phía người chơi: Người chơi game Việt Nam thường chê game Trung Quốc nghèo nàn về cách chơi, lặp đi lặp lại các loại hình quen thuộc, nhưng game Trung Quốc vẫn phát triển không ngừng và thu hút được số lượng lớn người chơi. Đó là do các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đánh đúng thị hiếu khách hàng.

     

    Thứ nhất, lối chơi đơn giản, dễ hiểu: Khi bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp game, các game online của Trung Quốc tuy lấy đề tài chủ yếu là kiếm hiệp nhưng cách chơi của game có nhiều nét giống với game Hàn Quốc. Nhưng, càng ngày, họ càng lược bớt những phần phức tạp để hướng tới đại đa số game thủ bình thường, đồng thời để bắt nhịp tốt với xu thế thời đại là chơi game chủ yếu để giải trỉ. Đặc biệt trong xã hội đầy áp lực như hiện nay, nhu cầu giải trí của con người ngày càng

     

    tăng, phần lớn thời gian mọi người dành cho học tập, công việc, nghiên cứu, thời gian giải trí rất hãn hữu. Do vậy, nếu chơi các game có tính năng khó, đòi hỏi sự tìm tòi, suy nghĩ, sẽ khiến người chơi rất dễ nản chí. Dù cách chơi và cách thức game của các sản phẩm game Trung Quốc rất hạn chế, lối chơi đơn giản, không đòi hỏi nhiều tư duy, nhưng chính đặc điểm này lại giúp cho nhiều game thủ tìm được thú vui giải trí.

     

    Thứ hai, do tác động của các sản phẩm văn hóa công nghiệp khác. Bên cạnh ngành công nghiệp game, từ rất sớm, Trung Quốc đã xuất khẩu nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh và sách, tiểu thuyết vào thị trường Việt Nam. Các tập truyện kiếm hiệp như Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Anh hùng xạ điêu, Thiên Long bát bộ…đã được rất nhiều thế hệ Việt Nam tiếp nhận, đi kèm với nó là các bộ phim dài tập chiếu liên tục trên truyền hình và được phát hành dưới hình thức băng đĩa. Chính yếu tố “kiếm hiệp” này đã một phần tạo nên thành công cho game Trung Quốc tại Việt Nam. Các game online nhập vai kiếm hiệp luôn tạo được một lợi thế nhất định cho riêng mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Từ bối cảnh, tên môn phái cho tới các chiêu thức…tất cả vốn đã quen thuộc với người chơi, nay càng trở nên cuốn hút hơn. Theo Báo cáo số liệu điều tra tác động của công nghiệp văn hóa từ các nước Đông Bắc Á tới Việt Nam, 37,6% người được điều tra đã chọn lý do thích game Trung Quốc do nội dung hấp dẫn13.

     

    Thứ ba, do giá của các game Trung Quốc hợp lý, phù hợp với thu nhập của người Việt Nam. Hiện nay, GDP bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực- đó là nhận định trong báo cáo Năng suất Việt Nam 2014 do Viện Năng suất Việt Nam

     

    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế, truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia

    118         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    (VNPI) biên soạn14. Cũng theo báo cáo, năm 2013, GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đứng hàng thứ 7 trong các nước Asean, đạt 1911 USD, trong khi GDP bình quân đầu người của Phillippin là 2765 USD, Indonexia 3475 USD, Thái Lan 5779 USD, Malayxia 10538 USD và Singapore là 55182 USD. Thu nhập bình quân đầu người thấp, nhưng tỷ lệ người chơi game lại nhiều nhất khu vực Đông Nam Á, đó là do hầu hết các game thủ Việt Nam lựa chọn game Trung Quốc với chi phí rẻ, phù hợp với thu nhập của bản thân.

     

    4.           Tác động của game Trung Quốc tới Việt Nam

     

    Tác động tích cực: Ở Việt Nam, game bắt đầu xuất hiện vào năm 2004-2005 và phát triển mạnh mẽ, nhưng công nghiệp trong nước lại phát triển rất hạn chế. Chúng ta mới chỉ có game Flapy bird gần đây là một sự đột phá, trong khi nhiều nước đào tạo hàng nghìn người để sản xuất game, thị trường game Việt Nam chủ yếu vẫn là game nước ngoài. Cách đây 10 năm, Trung Quốc chủ yếu cũng nhập khẩu game từ nước ngoài, nhưng khi nhận thấy lợi ích của ngành game, chính phủ Trung Quốc đã đưa game vào chương trình nghiên cứu phát triển công nghệ cao. Năm 2004, dự án phát triển 100 game trực tuyến trong 5 năm được hưởng thuế ưu đãi, vốn… Đến năm 2009, Trung Quốc đã hình thành công nghiệp game phát triển mạnh mẽ15. Sự xâm nhập ồ ạt của game Trung Quốc đã khiến cho ngành game Việt Nam trở nên sôi động hơn, chính phủ Việt Nam có thể tham khảo các chính sách Trung Quốc đã từng áp dụng để đẩy mạnh ngành công nghiệp game, các công ty sản xuất

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    game Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ khâu sản xuất ra sản phẩm game, khâu tiếp thị quảng cáo game và dịch vụ hậu mãi của các công ty game Trung Quốc. Sự xuất hiện của các sản phẩm game Trung Quốc cũng đã góp phần làm phát triển ngành công nghiệp giải trí của Việt Nam, đem lại doanh thu nhất định cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao động. Theo Bộ trưởng Nguyễn Bắc Sơn, năm 2012, doanh thu từ game của Việt Nam là khoảng 5000 tỷ, tạo việc làm cho khoảng 7500 người. Và trên đà phát triển, mới đây, Chính phủ cũng ban hành một Nghi định, trong đó đưa game vào là một trong nhưng dịch vụ nội dung số để khuyến khích góp phần phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam16.

     

    Hiện nay, khi cuộc sống ngày càng nhiều lo toan, áp lực, mọi người luôn tìm cho mình một phương thức giải trí để tránh căng thẳng, tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống. Đó là lý do tại sao ở những nước có nền kinh tế càng phát triển, ngành công nghiệp giải trí cũng càng được chú trọng và không ngừng được mở rộng quy mô. Trong thời đại công nghệ thông tin như ngày nay, game online đã trở thành ngành chính trong nền công nghiệp giải trí. Khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, game Trung Quốc với những ưu điểm riêng đã đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người chơi game Việt Nam, đem lại cho họ thêm sự lựa chọn giải trí. Việt Nam có khoảng hơn 20 triệu người sử dụng internet, 50% số đó có sử dụng dịch vụ game, và trở thành thị trường game lớn thứ 4 trên thế giới. Điều đó cho thấy số lượng người chọn game để giải trí rất cao.

     

    Tác động tiêu cực: các doanh nghiệp Trung

     

    • GDP bình quân đầu người Việt Nam thua xa Phillipin (2015), truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016, từ http:// vn/vn/kinh-doanh/277585/gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-thua-xa-philippines.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http:// vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 119

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Quốc phát hành game không phép ngày một nhiều tại Việt Nam đã làm cho môi trường kinh doanh nước ta không lành mạnh. Theo thông tư số 24/2014/TT-BTTTT của Bộ TT&TT quy định rõ, đối với trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau đồng thời qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (trò chơi G1), phải có thông tin trụ sở chính với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục đề nghị cấp giấy phép cung ứng dịch vụ hoặc thủ tục cấp chứng nhận đăng ký cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử tương ứng với mỗi loại trò chơi. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều game Trung Quốc lại được nhập vào Việt Nam qua con đường không phép, và được gọi là “game lậu”, “game rác”, “game không phép”. Những game lậu này đã thu từ các game thủ Việt Nam một khoản tiền không nhỏ. Ví dụ: các cơ quan chức năng đã truy quét 3 cổng game lậu: Koramgame, Myw. vn, Gaubay.vn là những cổng game rất mạnh của nhà phát hành đến từ Trung Quốc. “Một ngày KoramGame thu được từ các game thủ Việt Nam 1,3-1,5 tỷ đồng”17. Một vụ game lậu điển hình gần đây nhất là vụ game Lục Long Tam Quốc 3D sau một thời gian liên tục đăng tin quảng bá trên các trang thông tin điện tử, đã chính thức ra mắt thị trường vào ngày 8/6/2016, tuy nhiên không có bất kỳ thông tin nào liên quan đến nhà phát hành game này18. Trong khi các doanh nghiệp trong nước phải chịu sự chi phối của nhiều Nghị định, thông tư cũng như tuân thủ các quy định về phát hành trò chơi điện tử có phép theo luật pháp Việt Nam thì các doanh nghiệp Trung Quốc lại bằng các thủ đoạn khác nhau để phát hành trái phép,

     

    thu lợi bất chính. Cho đến giữa năm 2015, nước ta chỉ mới có 26 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh trò chơi điện tử G1, con số quá ít ỏi so với thực tiễn phát triển không ngừng của thị trường game online. Mặc dù được cấp phép kinh doanh, điều đó không có nghĩa toàn bộ sản phẩm của những doanh nghiệp này đã có giấy phép phát hành, mà vẫn phải trải qua quy trình theo đúng quy định, mới nhất là Thông tư 24 của Bộ Thông tin – Truyền thông. Trong khi đó, gần như pháp luật nước ta chưa có quy định liên quan để quản lý, thu thuế đối với các đối tượng nước ngoài kinh doanh phát hành game tại nước ta. Do vậy, việc game không phép tràn lan đã làm cho môi trường kinh doanh của ngành game trong nước chưa được công bằng và lành mạnh, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nước ta còn chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu; ngoài ra còn cản trở sự phát triển của các nhà phát hành game Việt kinh doanh lành mạnh, gây thiệt hại cho doanh thu của nhà nước.

     

    Trung Quốc hiện đang chú trọng phát triển ngành công nghiệp game với mục đích thu được khoản lợi nhuận cao, và hơn thế nữa là quảng bá hình ảnh Trung Quốc ra thế giới. Theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Sơn, nhà nước Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu tất cả các game của Trung Quốc phải sản xuất theo thuần phong mỹ tục của Trung Quốc và để tuyên truyền lịch sử của Trung Quốc. Nên, họ khuyến khích game Trung Quốc phát triển ra nước ngoài với điều kiện tất cả những game này phải đảm bảo các yếu tố đó, đưa văn hóa của Trung Quốc ra nước ngoài19. Thị trường

     

    • Không thể tin vào game rác của Trung Quốc (2014), truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016 từ http://www.baomoi. com/khong-the-tin-vao-game-rac-cua-trung-quoc/c/13283246.epi
    • Điệp Lưu (2016), Lục Long Tam Quốc 3D – Game lậu núp bóng Trung Quốc hoành hành làng game Việt, truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016 http://infogame.vn/game-online/luc-long-tam-quoc-3d-game-lau-nup-bong-trung-quoc-hoanh-hanh-lang-game-viet-27884.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

    120         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    xuất khẩu game lớn nhất của Trung Quốc là Việt Nam. Phần lớn người chơi game Việt ở độ tuổi thanh thiếu niên, đây là lứa tuổi còn đang dần phát triển cả về tâm sinh lý, nhận thức và định hướng trong cuộc sống. Việc tiếp nhận và chơi các game Trung Quốc trong một thời gian dài, vô hình chung sẽ có ảnh hưởng nhất định. Hơn nữa, bên cạnh các sản phẩm game phát hành lành mạnh, các game lậu phát hành chui vào Việt Nam đều là những sản phẩm chưa được kiểm duyệt nội dung, những đầu game này sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực đối với thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam.

     

    Hiện nay, đa số các game Trung Quốc phát hành tại Việt Nam đều là các game kiếm hiệp, ví dụ: Game Thần long huyết kiếm lấy bối cảnh Trung Quốc đầu thế kỷ 20 với nhiều trường phái võ hiệp như kiếm, đao, quyền, cước, pháp bảo cùng với các loại vũ khí hiện đại như sung (hỏa thương), trảo…, trong tháng 7/2016 có sự ra mắt của game Ngự kiếm hồng trần, lấy bối cảnh chính ở đời Thịnh Đường Võ Hoàng, đưa người chơi khám phá một thế giới quan rộng lớn, phiêu lưu mạo hiểm, giàu tính chiến thuật…Các nhà phát hành game Trung Quốc đã rất dày công sáng tạo ra các sản phẩm game để tái hiện lại các chiêu thức nổi tiếng trong các cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng của nhà văn Kim Dung, Cổ Long… Người chơi game khi chơi sẽ hóa thân vào các nhân vật, cùng tham gia phiêu lưu, và chiến đấu với các đối thủ. Đây cũng chính là mặt trái của game Trung Quốc, khi người chơi quá đắm chìm trong thế giới ảo, mất cân bằng với thế giới thực, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và công việc. Hơn thế, rất nhiều sự việc và vụ án đau lòng đã xảy ra do game online gây ra, nhiều người gọi đó là tình trạng xuống cấp hay suy thoái đạo đức thậm chí băng hoại đạo đức do game online.

     

    5. Kết luận

     

    Trong những năm gần đây, ngành công

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    nghiệp văn hóa của Trung Quốc có những những bước tiến đột phá, do được chính phủ Trung Quốc đặc biệt quan tâm và đầu tư thích đáng nên quy mô ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc không ngừng được mở rộng bao gồm cả ngành truyền thống như điện ảnh, xuất bản…,cũng như các ngành công nghiệp văn hóa kiểu mới có xu thế phát triển mạnh như game. Chỉ trong khoảng thời gian 10 năm, ngành game của Trung Quốc không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, mà còn xâm lấn thị trường các nước lớn như Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, và vươn lên trở thành thị trường game lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, Việt Nam luôn là điểm đến đầu tiên của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc tại khu vực này. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn của ngành công nghiệp game Trung Quốc. Không thể phủ nhận ngành game của Trung Quốc đã đem lại nhiều cơ hội việc làm và giải trí cho người Việt Nam, tạo điều kiện cho các công ty phát hành game của Việt Nam học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên, tình hình game lậu đã gây thất thoát về kinh tế cho chính phủ Việt Nam, gây khó khăn trong cạnh tranh lành mạnh cho các công ty game Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình an ninh, xã hội Việt Nam khi nội dung của các game lậu không được thông qua kiểm duyệt. Do vậy, đã đến lúc các cơ quan có thẩm quyền hãy siết chặt công tác quản lý để ngăn chặn các game lậu có nội dung không lành mạnh xâm nhập vào Việt Nam. Đồng thời, các nhà phát hành game Việt cũng cùng liên kết sáng tạo ra các sản phẩm game Việt, mang đậm thuần phong mỹ tục của người Việt và dấu ấn lịch sử Việt Nam, góp phần lành mạnh hóa thị trường game và phát triển ngành công nghệ thông tin nước nhà.q

     

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 121

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/ htm

     

    1. Cải cách thể chế văn hóa Trung Quốc đã giành được những thành tựu mang tính lịch sử (2013), truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016 , từ http://news.xinhuanet.com/zgjx/2013-06/14/c_132453952.htm

     

    1. Công nghiệp văn hóa Trung Quốc năm 2015 tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml

     

    1. Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_market_15.04.23F.pdf
    1. Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74,
    2. Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

     

    1. Nguyễn Văn Hy (2013): Tìm hiểu thêm về công nghiệp sáng tạo và công nghiệp văn hóa, tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 3, tr.54-59
    2. Nguyên Thi Thu Phương (chủ biên), 2013: Sư trôi dây cua sưc manh mêm Trung Quôc 2011-2020 va nhưng vân đê đăt ra cho Viêt Nam, Nxb. Tư điên Bach khoa, Ha Nôi.
    3. Nguyên Thi Thu Phương (2012): Văn hoa trong tiên trinh trôi dây cua Trung Quôc, Tap chi Nghiên cưu Trung Quôc, sô 9
    4. TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
    1. Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu.vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html
    1. Trương Văn Tịnh:Công nghiệp văn hóa Trung Quốc đang trong thời cơ phát triển (2013),truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016, từ
    1. http://www.chinadaily.com.cn/hqgj/jryw/2013-09-08/content_10063874.html

    122         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-marketing-lan-t%E1%BB%8Fa-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-h%C3%A0nh-vi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-t%E1%BA%A1i-Th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG MARKETING LAN TỎA ĐỐI VỚI HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    Nguyễn Xuân Minh*

     

    Nguyên Nư Thuân Giang

     

    Tóm tắt

     

    Viral marketing (marketing lan tỏa) là hình thức marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng. Thông qua kết quả khảo sát, có thể thấy ảnh hưởng của viral marketing đến thái độ, hành vi của người tiêu dùng là khá lớn. Tuy co thê tao nên lơi thê canh tranh to lơn cho doanh nghiêp so vơi cac đôi thu trên thi trương băng những chiên dich marketing ân tương, ca tinh, đôc đao, mang ban săc riêng ma vân tiêt kiêm đươc chi phi nhưng viral marketing cung co thê bi ap dung sai hay lam dung qua mưc, gây kho chiu cho ngươi tiêu dung, tao nên những phan ưng tiêu cưc đôi vơi cac san phâm/ dich vu cua doanh nghiêp. Do đo, môt khi quyêt đinh ap dung viral marketing, trươc tiên cac doanh nghiêp cân phai tim hiêu, nghiên cưu thật sư ki vê hinh thưc nay với nhữ̃ng giải pháp phù hợp tùy vào đặc điểm của ngành hàng và khách hàng mục tiêu mà doanh nghiệp đang muốn hướng đến.

     

    Từ khóa: marketing lan tỏa, viral marketing, hành vi người tiêu dùng.

     

    Mã số:102.031214. Ngày nhận bài: 13/12/2014. Ngày hoàn thành biên tập:15/02/2015. Ngày duyệt đăng: 12/04/2015.

     

    Summary

     

    Viral marketing is a form of marketing activities utilizing the spreading effects of social networks and the Internet in order to promote companies’ messages about products and services to consumers. By the survey results, it can be noted that viral marketing can influence consumers’ attitudes and behaviour so significantly. Viral marketing can help companies to create meaningful competitive advantage over their competitors by impressive and unique marketing campaigns with saved budgets. However, it can be abused or utilized in a wrong way, which causes unpleasant feelings or negative behaviour. Companies should carefully consider characteristics of relevant industries and targeted customers as well as this form of marketing itself so as to choose suitable and effective solutions.

     

    Key words: viral marketing, consumers’ behaviour

     

    Paper No.102.031214. Date of receipt: 13/12/2014. Date of revision:15/02/2015. Date of approval: 12/04/2015.

     

     

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với không chỉ các công ty nội địa mà còn với các công ty nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia. Trước tình hình đó, nhiều

     

    doanh nghiệp trong nước đã nỗ lực đầu tư cho hoạt động marketing nhằm mở rộng thị trường, nâng cao khả năng nhận biết của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ. Việc tận dụng sức mạnh lan truyền thông tin thông

     

    * PGS, TS. Trường Đại học Ngoại thương; Email: [email protected]

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       61

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    qua mạng lưới Internet thực sự mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp đã áp dụng phương pháp marketing lan tỏa (tạm dịch từ “viral marketing”), bởi đây là một hoạt động marketing vừa tiết kiệm chi phí vừa đảm bảo truyền được thông điệp mà doanh nghiệp muốn gửi gắm tới khách hàng tiềm năng của mình.

     

    Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó rút ra các tác động tích cực, tiêu cực của hình thức này nhằm giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể đưa ra các chiến lược truyền thông phù hợp. Người viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng bảng khảo sát nhằm thu thập nguồn thông tin sơ cấp cho việc phân tích thực trạng và ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh.

     

    1. Tổng quan về viral marketing

     

    Viral marketing, hay còn gọi là marketing lan tỏa có nguồn gốc từ hình thức marketing truyền miệng (word-of-mouth marketing). Marketing truyền miệng sử dụng nguyên lý truyền thông tự phát của con người trong cuộc sống hàng ngày, sử dụng những câu chuyện có sức ảnh hưởng để tạo nên sự lan truyền những mẫu quảng cáo sản phẩm/ dịch vụ hay tin đồn nào đó (Mindcomet Corporation, 2008). Theo Cruz, D. and Fill, C. (2008) thì có nhiều nguyên nhân khiến người tiêu dùng thích nói về những sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã sử dụng, có thể là do mong muốn chia sẻ kinh nghiệm mua sắm của mình với những người tiêu dùng khác hay đơn giản là họ muốn bàn tán về những vấn đề liên quan đến uy tín của một thương hiệu (Cruz, D. and Fill, C., 2008). Cũng chính vì chủ yếu sử dụng hình

     

    thức truyền miệng giữa người với người nên marketing truyền miệng bị giới hạn ở tốc độ truyền thông tin. Do đó, hình thức này đòi hỏi phải tốn khá nhiều thời gian để thông điệp bao phủ khắp nơi. Dù có nhược điểm như vậy nhưng trong một số trường hợp nhất định, hình thức marketing truyền miệng lại có sức ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng lớn hơn nhiều so với những hình thức quảng cáo trên các tạp chí, đài phát thanh hay các kênh bán hàng cá nhân (Engel et al,1969) vốn chủ yếu được sử dụng khi Internet chưa thực sự phát triển.

     

    Thuật ngữ “viral marketing” được Steve Juvertson và Tim Draper dùng vào năm 1997 để mô tả cách thức dịch vụ email (thư điện tử) miễn phí- hotmail được quảng bá, xúc tiến. Cụ thể, dòng chữ ký của tất cả các email được gửi thông qua hotmail- đại lý email miễn phí trực tuyến đầu tiên, đều ghi một lời mời để người dùng tạo ra một tài khoản hotmail.com miễn phí. Phương pháp xúc tiến thương mại này được coi là “viral” (lan tỏa), bởi thông điệp đã được truyền đi bởi chính người dùng tới những người dùng khác. Từ “viral” bắt nguồn từ từ “virus”, nó tượng trưng cho cách thức mà thông điệp lây lan nhanh chóng như những con vi-rút, hoàn toàn không mang ý nghĩa tiêu cực (Rodić, N. & Koivisto, E., 2012). Theo Rodić, N. & Koivisto, E. (2012), có một số thuật ngữ được sử dụng để mô tả hình thức marketing này như: “Word-of-mouth”- marketing truyền miệng (Goldenberg et al.2001), “Referral Marketing”- Marketing đề cử (De Bruyn and Lilien, 2004),…

     

    Cruz, D. and Fill, C. (2008) cho rằng marketing lan tỏa liên quan đến việc trao đổi thông tin về một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể bằng hệ thống mạng đồng đẳng, nơi người dùng có thể dễ dàng và thường xuyên trao đổi

     

    62            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    thông tin với nhau. Bên cạnh đó, họ cũng cho rằng không nên dùng các công cụ tài chính để điều khiển sự lan truyền của thông điệp bởi marketing lan tỏa không phải là một dạng của quảng cáo. (Cruz, D. and Fill, C.,2008). Chính vì vậy, cần để người tiêu dùng tự nguyện lan truyền thông điệp về các sản phẩm hay dịch vụ với nhau.

     

    Mặc dù có nhiều khái niệm và khác biệt khi nghiên cứu sâu về tính chất, đặc điểm của hoạt động viral marketing nhưng các tác giả trên đều thống nhất về một điểm, đó chính là sự lan tỏa- yếu tố quyết định của hình thức marketing này.

     

    Dựa trên những định nghĩa trên, tác giả đưa ra khái niệm về hoạt động viral marketing như sau: “viral marketing (marketing lan tỏa) là hình thức marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng.”

     

    Đặc điểm của viral marketing

     

    Có thể thấy, hoạt động viral marketing rất đa dạng, nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: email (thư điện tử), blog (trang web chia sẻ thông tin cá nhân trực tuyến), chatroom (thảo luận trực tiếp trên Internet), diễn đàn người dùng, forum seeding (gieo mầm thông tin trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội, …), mạng xã hội, video … (Xavier, L. and Summer, G., 2009).

     

    Theo Ralph F. Wilson (2000), những đặc điểm của một hoạt động viral marketing hiệu quả là cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ “miễn phí”, truyền tải thông tin một cách dễ dàng, lây lan, tạo hiệu ứng lan truyền nhanh chóng, tận dụng được những động cơ và hành vi thông thường, sử dụng hiệu quả các mạng

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    truyền thông hiện có, tạo được sự liên kết giữa các kênh truyền thông.

     

    Khi áp dụng hoạt động viral marketing thì doanh nghiệp có thể có những thuận lợi như:

     

    • Tiết kiệm một khoản tiền đáng kể khi so sánh với các hình thức marketing truyền thống (Fairbank, 2008).
    • Bỏ qua các hình thức hỗn loạn của marketing truyền thống, cho phép các doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng hiệu quả hơn (Mindcomet Corporation, 2008).
    • Chiến dịch viral marketing không yêu cầu sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp phải thực sự xuất sắc hay nổi bật. Thay vào đó, yếu tố thực sự cần phải xuất sắc và nổi bật chính là chiến dịch marketing đó (Mindcomet Corporation, 2008). Vì vậy, một doanh nghiệp tuy có sản phẩm, dịch vụ với chất lượng trung bình, không quá nổi bật vẫn hoàn toàn có thể thu được lợi nhuận bằng một chiến dịch viral marketing hiệu quả.
    • Được người tiêu dùng tiếp nhận, bất luận kết quả cuối cùng là doanh nghiệp sẽ nhận được phản ứng tiêu cực hay tích cực (Mindcomet Corporation, 2008). Điều này có nghĩa, khi được ai đó giới thiệu, chia sẻ về đường dẫn tới một trang web, một đoạn video ấn tượng, một chủ đề thảo luận trên mạng … người tiêu dùng có thể vì tò mò mà nhấn vào đường dẫn đó. Dù người tiêu dùng đó thích hay không thích nội dung của trang web, đoạn video … đó thì hoạt động viral marketing cũng đã gây được hiệu ứng lan truyền.

    Bên cạnh đó, viral marketing cũng gặp phải những bất lợi như:

     

    • Thứ nhất, việc để thông điệp tự lan truyền rủi ro hơn so với marketing truyền thống

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      63

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    bởi nếu không được thực hiện đúng, viral marketing có thể phản tác dụng và tạo tin đồn tiêu cực (Mindcomet Corporation, 2008). Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp bắt đầu kiểm soát thông điệp trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội thì người tiêu dùng lại cho rằng những thông tin đó là giả tạo và không đáng tin cậy. (Scott, D., 2007)

     

    • Thứ hai, viral marketing có thể gây khó chịu cho người tiêu dùng. Nếu những hình thức khuyến mại như: “Chỉ cần gửi tin nhắn này cho 5 người bạn của bạn, bạn sẽ được hưởng ưu đãi khi mua sắm tại đây” sẽ khuyến khích người tiêu dùng gửi thư rác (spam email) tới bạn bè của mình (Fairbank, 2008). Loại email này thường gây khó chịu cho người nhận vì họ nhấn vào đường dẫn mà chẳng nhận được thông tin bổ ích gì (Chaffey, D., 2003).
    • Thứ ba, các doanh nghiệp không thể kiểm soát số lượng người có thể tiếp cận chiến dịch marketing của mình (Fairbank, 2008). Bởi nếu số người xem quá đông, nhu cầu về một mặt hàng hay dịch vụ tăng đột biến, mà doanh nghiệp lại không đủ khả năng đáp ứng thì sẽ gây tác động xấu đến uy tín của doanh nghiệp.

    Có thể thấy, hoạt động viral marketing là một hoạt động rất phong phú, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau bao gồm email, blog, chatroom, diễn đàn trực tuyến, các trang mạng xã hội, clip, video… Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích các hình thức phổ biến nhất của hoạt động viral marketing tại Việt Nam, cụ thể là: email, social network (trang mạng xã hội), video, forum (diễn đàn trực tuyến).

     

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành vi người

     

    tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh

     

    2.1. Phương pháp khảo sát

     

    Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi qua email và điều tra trực tiếp với 350 người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Địa bàn khảo sát là 5 quận trung tâm thành phố Hồ Chí Minh (Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4 và Quận 5), mỗi quận 100 phiếu trả lời được thu thập tại trung tâm mua sắm (25 phiếu), trường học (25 phiếu) và khu dân cư (25 phiếu) và các địa điểm khác (25 phiếu) theo sự lựa chọn tùy ý của điều tra viên. Nếu người được khảo sát sẵn sàng dành thời gian trả lời trực tiếp, điều tra viên phát phiếu khảo sát trực tiếp và lấy thông tin đầy đủ. Nếu người được khảo sát bày tỏ

     

    • kiến sẵn sàng trả lời nhưng không có đủ thời gian trả lời, điều tra viên thu thập thông tin về địa chỉ email và gửi phiếu khảo sát qua email để người được khảo sát trả lời trực tuyến. Kết quả thu được 150 phiếu trả lời trực tiếp có đầy đủ thông tin, phiếu khảo sát điện tử bằng ứng dụng Google Docs được gửi đến 200 người tiêu dùng qua email và có 100 người tiêu dùng trả lời. Tổng cộng có 250 phiếu khảo sát được thu về, sau khi loại bỏ những phiếu không hợp lệ (không điền đầy đủ thông tin) thì có 236 phiếu khảo sát được sử dụng để phân tích dữ liệu.Dữ liệu được thống kê và xử lý bằng phần mềm

    SPSS.

     

    2.2. Mô tả bảng câu hỏi khảo sát

     

    Các vấn đề trọng tâm được khảo sát bao gồm:

     

    -Ả̉nh hưởng của viral marketing đến khả năng nhận biết nhãn hiệu của người tiêu dùng.

     

    -Mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối

     

    64            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    với các hình thức viral marketing phổ biến hiện nay.

     

    -Thái độ tiêu cực của tiêu dùng đối với thông điệp được lan truyền bằng hoạt động viral marketing.

     

    -Ả̉nh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành động của người tiêu dùng.

     

    Bảng khảo sát được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ.Thang đánh giá này sẽ cung cấp thông tin về mức độ ảnh hưởng của viral marketing đến người tiêu dùng. Bảng khảo sát được thiết kế gồm 16 câu hỏi chính, tương ứng với 16 biến khảo sát được đánh giá là có tác động đến hành vi của người tiêu dùng đối với viral marketing.

     

    Các biến nhân khẩu sử dụng trong nghiên cứu là giới tính, tuổi, mức thu nhập, trình độ học vấn. Cơ cấu mẫu quan sát được thể hiện trong bảng dưới đây.

     

    Bảng 1. Thông tin nhân khẩu của mẫu khảo sát

     

    Yếu tố

    Phân loại

    Số lượng

    Tỷ lệ

     

    (Người)

    (%)

     
       

    Giới

    Nam

    113

    47,88

     

    Nữ

    123

    52,12

     

    tính

    Tổng

    236

    100

     
     
     

    Dưới 18 tuổi

    38

    16,1

     
     

    Từ 18- 25 tuổi

    143

    60,59

     

    Tuổi

    Từ 25-35 tuổi

    41

    17,37

     

    Từ 35- 50 tuổi

    11

    4,66

     
     
     

    Trên 50 tuổi

    3

    1,27

     
     

    Tổng

    236

    100

     

    Mức

    Dưới 3 triệu

    139

    58,9

     

    thu

           

    Từ 3-10 triệu

    65

    27,54

     

    nhập

           

    Từ 10-20 triệu

    28

    11,86

     

    hàng

    Trên 20 triệu

    4

    1,69

     

    tháng

    Tổng

    236

    100

     

    (VND)

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

    THPT trở

    36

    15,25

     
     

    xuống

    Trình

         

    Cao đẳng

    43

    18,22

     

    độ học

    Đại học

    142

    60,17

     

    vấn

    Sau đại học

    15

    6,36

     
     
     

    Tổng

    236

    100

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát tháng 10/2014)

    2.3. Phân tích kết quả khảo sát – Về mức độ sử dụng Internet

     

    Kết quả khảo sát phản ánh khá sát với thực trạng hiện nay: có đến 69,07% số người khảo sát sử dụng mạng Internet tất cả các ngày trong tuần, và 16,53% sử dụng từ 5-6 ngày. Trong đó, khoảng thời gian mỗi ngày để sử dụng Internet đa số là từ 4-6 giờ (chiếm 45,76%) và từ 1-3 giờ (chiếm 33,47%). Đây là những con số khá lớn so với một đất nước đang phát triển như Việt Nam. Qua những số liệu này, có thể thấy đối với thành phố Hồ Chí Minh có thể phát triển các chiến dịch viral marketing- các chiến dịch xúc tiến thương mại tận dụng sự lan truyền thông tin nhanh chóng trên mạng Internet ngày nay.

     

    • Về mức độ sử dụng các hình thức phổ biến trong viral marketing

    Người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu sử dụng các trang mạng xã hội với 69,07% số người được khảo sát sử dụng từ 1-3 giờ/ngày, 13,56% sử dụng từ 4-6 giờ/ngày. Đối với các video, có 39,83% sử dụng ít hơn 1 giờ/ngày và 38,14% sử dụng từ 1-3 giờ/ngày. Trong khi đó, hình thức thư điện tử (email) được sử dụng khá ít với 73,31% số người được khảo sát trả lời chỉ dành ít hơn 1 giờ/ngày để sử dụng. Tuy nhiên, hình thức ít được sử dụng nhất là các diễn đàn trực tuyến (forum). Số lượng người

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      65

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    không sử dụng forum lên đến 30,08%, cao nhất trong cả 4 hình thức. Nhìn chung, do người tiêu dùng chủ yếu là giới trẻ có độ tuổi từ 18-25 nên ta có thể dễ dàng hiểu được nguyên nhân vì sao các trang mạng xã hội như Facebook, Zing Me,… với giao diện bắt mắt lại được ưa chuộng nhất trong khi các diễn đàn trực tuyến như Webtretho, Voz forum, Vn-zoom,… mặc dù là nơi trao đổi, chia sẻ thông tin khá hữu ích nhưng lại không được quan tâm do giao diện khá thô cứng, không đẹp mắt.

     

    • Về tầm quan trọng của việc lắng nghe kinh nghiệm, chia sẻ trên mạng của nhữ̃ng người tiêu dùng khác trước khi mua một sản phẩm hay dịch vụ

    47,03% người tiêu dùng đồng ý rằng việc tìm hiểu thông tin, kinh nghiệm trên Internet của những người tiêu dùng khác là quan trọng và 23,73% lại thấy đây là một việc rất quan trọng. Điều này chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của những thông tin, kinh nghiệm được chia sẻ, lan truyền trên mạng Internet đến tâm

     

    lý, hành vi của người tiêu dùng trước quyết định mua bất kì một sản phẩm, dịch vụ nào là cực kì lớn. Cũng chính những thông tin này sẽ giúp người tiêu dùng biết đến những sản phẩm, dịch vụ mới đang được ưa chuộng và ảnh hưởng đến thái độ, cách nhìn nhận tiêu cực hay tích cực của người tiêu dùng đối với một sản phẩm, dịch vụ nào đó dù chưa từng sử dụng.

     

    • Về khả năng nhậ̣n biết nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn nhờ nhữ̃ng thông tin, quảng cáo được chia sẻ, lan truyền trên Internet

    Trước thực trạng người tiêu dùng không chú ý đến những mẫu quảng cáo phát trên truyền hình, đài phát thanh, in trên các báo, tạp chí, phớt lờ những biển hiệu bắt mắt hay những tờ rơi được phát tận tay thì việc có đến 52,97% người được khảo sát đồng ý và 19,49% người rất đồng ý rằng mình có thể nhận biết nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn nhờ những thông tin, quảng cáo được chia sẻ, lan truyền trên Internet đã thực sự chứng minh

     

     

     

    Hình 1.Tác dụng củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm/dịch vụ bằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên Internet (Đơn vị tính: %)

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

     

    66            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    hiệu quả của hoạt động viral marketing-một hoạt động marketing có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và nguồn nhân lực. Đây được coi là một trong những lợi thế ưu việt của các chiến dịch viral marketing do có thể giúp doanh nghiệp nâng cao khả nhận biết thương hiệu với nguồn chi phí hạn hẹp trong tình hình kinh tế còn khó khăn như hiện nay.

     

    Có đến 75% người tiêu dùng (44,92% đồng ý và 30,08% rất đồng ý) cho rằng họ có thể ghi nhớ một nhãn hiệu tốt hơn nhờ những thông tin hay quảng cáo ý nghĩa, ấn tượng, độc đáo, hài hước,…. Qua đó có thể

     

    thấy tầm quan trọng về mặt nội dung của những thông điệp được lan truyền. Thay vì những thông tin, quảng cáo có nội dung hời hợt, tương đồng nhau, không có sự khác biệt tràn lan của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì những thông tin, quảng cáo có giá trị về nội dung, mang một ý nghĩa sâu sắc, cảm động, mới lạ hay có tính giải trí cao sẽ giúp người tiêu dùng nhớ đến sản phẩm, dịch vụ đó tốt hơn rất nhiều.

     

    • Về tác dụng củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm / dịch vụ bằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên Internet

    Kết quả khảo sát phản ánh khá chính xác tâm lý của khách hàng trong thực tiễn: chỉ có 25,42% (20,34% người đồng ý và 5,08% người rất đồng ý) cho rằng các hoạt động viral marketing củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm/ dịch vụ, 47,88% giữ ý kiến trung lập và 26,69% (22,88% không đồng ý và 3,81% rất không đồng ý) cho rằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên mạng không tác động tới niềm tin của họ đối với các sản phẩm/ dịch vụ. Điều này chứng tỏ mức độ tin tưởng của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh dành cho hình thức viral marketing chưa thực sự cao.

     

    • Về thái độ tiêu cực của tiêu dùng đối với thông điệp được lan truyền bằng hoạt động viral marketing.

    Người tiêu dùng cảm thấy khó chịu với những email quảng cáo tràn ngập trong hộp thư điện tử của mình. Họ thường không quan tâm đến nội dung của các email này và xóa chúng mà không hề đọc tiêu đề. Trái ngược lại với hình thức viral marketing bằng email, những thông tin, quảng cáo được thảo luận, chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến như vozforums.com, Vn-zoom.com, webtretho. com, lamchame.com,… nhận được phản hồi

     

    Bảng 2. Mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối với các hình thức Viral Marketing (Đơn vị tính: %)

     

    Mức độ

    Rất không

    Không

    Bình

    Đồng ý

    Rất đồng

    Tổng

     

    Hình thức

    đồng ý

    đồng ý

    thường

    ý

         
                   

    Email

    20,76

    40,25

    33,90

    2,97

    2,12

    100

     
                   

    Trang mạng xã hội

    10,59

    30,51

    43,22

    13,14

    2,54

    100

     
                   

    Video

    11,44

    27,12

    38,98

    15,25

    7,20

    100

     
                   

    Diễn đàn trực tuyến

    5,93

    14,41

    27,12

    42,37

    10,17

    100

     
                   

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       67

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    khá tích cực. Người tiêu dùng không hề cho rằng đây là những thông điệp rác mà coi đó là nguồn thông tin khá hữu ích để tham khảo trước khi quyết định mua một sản phẩm/ dịch vụ.

     

    Trong các hình thức phổ biến của hoạt động viral marketing phổ biến tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, hình thức lan truyền, phát tán thông tin bằng email (thư điện tử) nhận được ít sự tin tưởng nhất khi có đến 40,25% người cho rằng nội dung của những email quảng cáo từ bạn bè hay các doanh nghiệp là không đáng tin và 20,76% cho rằng nó không chỉ không đáng tin mà là rất không đáng tin. Bên cạnh đó, 30,51% cho rằng các thông điệp lan truyền trên mạng xã hội (Facebook, Zing Me,…) là không đáng tin cậy và 10,59% cho rằng nó rất không đáng tin. Hình thức viral marketing bằng video có mức độ tin cậy ở vị trí thứ hai khi có 22,45% (15,25% đồng ý và 7,2% rất đồng ý) cho rằng đây những thông tin, quảng cáo bằng video có thể tin cậy được. Có thể thấy, những thông tin, quảng cáo về kinh nghiệm mua, sử dụng sản phẩm/ dịch vụ được chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến chiếm được lòng tin của người tiêu dùng nhiều nhất. Có 52,54% (42,37% đồng

     

    • và 10,17% rất đồng ý) tin tưởng những gì mình xem được trên các forum mặc dù có đến 30,08% người được hỏi không sử dụng các diễn đàn này khi truy cập Internet.
    • Về ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành vi của người tiêu dùng.

    Sau khi tiếp nhận thông tin từ các hình thức của viral marketing, người tiêu dùng có thể bày tỏ ý kiến về thông tin, về sản phẩm, về doanh nghiệp hoặc chia sẻ những điều đó với

     

    người khác. Họ cũng có thể tiến hành mua thử sản phẩm.

    Qua khảo sát, tổng cộng có đến 55,09% người được khảo sát (35,17% đồng ý và 19,92% rất đồng ý) cho biết họ đã chia sẻ/ gửi đường link của một thông tin hay quảng cáo tới bạn bè, người thân vì nó ấn tượng, hài hước, hoặc vì sẽ được khuyến mãi. Chỉ có 4,66% rất không đồng ý và 18,64% không đồng ý. Chính việc người tiêu dùng tự truyền thông tin cho nhau sẽ tạo cơ hội rất lớn cho việc phát tán thông tin, quảng cáo, tạo nên làn sóng lan tỏa cho hoạt động viral marketing.

     

    Tuy nhiên, tỷ lệ người tiêu dùng đã thực sự mua một sản phẩm/ dịch vụ sau khi biết đến nó từ một hoạt động viral marketing chỉ chiếm 29,24% (21,61% đồng ý và 7,63% rất đồng ý). Đây là con số khá khiêm tốn so với số lượng người tiếp xúc với các hoạt động viral marketing.

     

    Có thể thấy, người tiêu dùng sẵn sàng trở thành một mắc xích trong dây chuyền lan tỏa thông điệp của các chiến dịch viral marketing vì họ cảm thấy thích thú trước nội dung mới lạ, độc đáo, có ý nghĩa, quan trọng của marketing lan tỏa và họ muốn chia sẻ với bạn bè, người thân hay vì họ sẽ nhận được những ưu đãi khi gửi đi những thông tin, quảng cáo đó. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ sẵn lòng chi trả một khoản tiền cá nhân để mua những sản phẩm/ dịch vụ đó.

    3. Một số vấn đề lưu ý đối với doanh nghiệp

     

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy các doanh nghiệp cần lưu ý những vấn đề sau đây trong hoạt động marketing:

     

    68            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    Thứ nhất, tỷ lệ người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh sử dụng các trang mạng xã hội với thời gian từ 1-3 giờ/ngày chiếm tỷ lệ cao là cơ hội để các doanh nghiệp sử dụng kênh thông tin này để quảng bá sản phẩm, tiếp cận người tiêu dùng bằng viral marketing. Kênh truyền thông này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi vì mạng xã hội là cách tiếp cận khách hàng với chi phí thấp hơn so với các hình thức marketing truyền thống khác với tốc độ lây lan thông tin nhanh chóng và tiếp cận người tiêu dùng một cách dễ dàng.

     

    Thứ hai, những thông tin, kinh nghiệm được chia sẻ, lan truyền trên mạng Internet có ảnh hưởng đến đến tâm lý, hành vi của người tiêu dùng trước quyết định mua hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng các kênh thông tin quảng bá sản phẩm trên Internet, đặc biệt là đội ngũ chuyên viên quảng bá, tư vấn về sản phẩm trên các diễn đàn trực tuyến thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng để kịp thời đưa ra các nhận xét, bình luận tích cực về sản phẩm và tư vấn cho người tiêu dùng về lựa chọn sản phẩm. Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu khi đa số người tiêu dùng được khảo sát cho rằng những thông tin, quảng cáo về kinh nghiệm mua, sử dụng sản phẩm/ dịch vụ được chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến chiếm được lòng tin của người tiêu dùng nhiều nhất.

     

    Thứ ba, những ý kiến tích cực tác động không mạnh mẽ đến người tiêu dùng nhưng những ý kiến tiêu cực về sản phẩm được lan truyền trên mạng Internet có ảnh hưởng đáng kể đến thái độ, hành vi của người tiêu dùng. Do vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng các phương án đối phó với khủng hoảng truyền

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    thông, giảm thiểu tối đa các thông tin tiêu cực lan tràn trên môi trường mạng. Doanh nghiệp cần mở rộng các kênh thông tin và hướng dẫn cụ thể khách hàng về cách thức tiếp cận, phản hồi thông tin cho doanh nghiệp khi sản phẩm gặp vấn đề về chất lượng hoặc khi gặp phải các rắc rối, phiền toái phát sinh đối với khách hàng trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Từ đó, doanh nghiệp có thể có được phản hồi của khách hàng để liên hệ và xử lý kịp thời các lỗi kỹ thuật của sản phẩm hoặc giải thích cho khách hàng hiểu rõ các vấn đề kỹ thuật của sản phẩm cho đến khi đạt được sự đồng thuận, hài lòng của khách hàng.

     

    Thứ tư, tuy hoạt động viral marketing có thể gây hiệu ứng lan truyền rất mạnh mẽ giữa cộng đồng mạng Internet nhưng hình thức này vẫn chưa thực sự hiệu quả trong việc tác động đến quyết định mua hàng cuối cùng của người tiêu dùng. Lý giải cho vấn đề này, có thể thấy do mức độ tin tưởng của người tiêu dùng vào nội dung của các thông tin, quảng cáo được phát tán trên mạng Internet chưa cao. Vì vậy, chiến dịch viral marketing của doanh nghiệp không chỉ nhắm đến việc làm sao để tạo nên một chiến dịch quảng cáo thật ấn tượng, độc đáo, mới lạ mà cần chú

     

    • đến những vấn đề người tiêu dùng muốn biết thông qua những đoạn quảng cáo là cách thức sử dụng, tác dụng, hiệu quả hay chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

    Tóm lại, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc áp dụng hoạt động viral marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng là một xu thế tất yếu cho sự phát triển và mở rộng của các doanh nghiệp trong

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      69

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    hiện tại và tương lai. Các doanh nghiệp cần có kế hoạch xây dựng chiến lược marketing lan tỏa của mình tùy theo đặc điểm ngành hàng và khách hàng mục tiêu để có thể khai thác tốt

     

    nhất những mặt mạnh và hạn chế các mặt tiêu cực của marketing lan tỏa để có thể tối ưu hóa kết quả hoạt động marketing trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. q

     

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bruyn, D. A., & Lilien, G. L. (2008). A Multi-Stage Model of Word of Mouth Through Viral Marketing, International Journal of Research in Marketing, Vol. 25, No.3, pp.143-225.
    1. Chaffey, D., 2003, Total E-Mail Marketing, Oxford: Butterworth-Heinemann.
    1. Cruz, D. and Fill, C., 2008, Evaluating viral marketing: Isolating the key criteria,

    Emerald Insight, Vol.6, No.7, pp.743-758.

     

    1. Engel et al, 1969, How information is used to adopt an innovation, Journal of Advertising Research, Vol.9, pp.3-8.
    1. Fairbank, V., 2008, A Study into the Effectiveness of Viral Marketing over the Internet, University of Gloucestershire.
    1. Goldenberg, J., Libai, B. & Muller, E., 2001, Talk the network: a complex systems look at the underlying process of word-of-mouth, Marketing Letters, 12, No.3, pp.211-23.
    1. Juvertson, S. and Draper, T., 1997, Viral Marketing: Viral Marketing phenomenon explained, Investor Reports.
    1. Mindcomet Corporation – white paper. (2008), Viral marketing: Understanding the concepts and benefits of viral marketing. Retrieved from http://cmginteractive. com/uploads/viral_marketing.pdf
    1. Rodić, N. & Koivisto, E., 2012, Best Practices in Viral Marketing, Aalto University school of Economics.
    1. Wilson, R.F., 2000, The six simple principles of viral marketing, Marketing Today Vol.70, pp.1–4.
    1. Xavier, L. J. W. &Summer, G. Y. S., 2009, Viral Marketing Communication: The Internet Word-of-Mouth, School of Management Blekinge Institute of

    70            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-gi%C3%A0y-d%C3%A9p-cao-su-m%C3%A0u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    JSLHU   JOURNAL OF SCIENCE

    http://tapchikhdt.lhu.edu.vn

    OF LAC HONG UNIVERSITY

    T p chí Khoa h c L c H ng         

    VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

     

    Application of activity based cost method at Casum Shoes Joint Stock Company

     

    Nguyễn Văn Hải1,*, Nguyễn Ngọc Quý2

    1                                            2

    [email protected], [email protected]

     

    TÓM TẮT. Bài báo tiến hành nghiên cứu việc vận dụng phương pháp ABC nhằm quản lý tốt nhất chi phí tại các dây chuyền sản xuất. Quản trị chi phí sản xuất tốt sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá nguồn lực tiêu hao tại các nhà máy sản xuất. Vận dụng phương pháp ABC nhằm cung cấp cho nhà quản lý một cái nhìn sâu sắc để quản lý nhiều vấn đề trong quá trình sản xuất, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm giảm chi phí sản xuất và sáng kiến cải tiến quy trình sản xuất.

     

    TỪ KHÓA: Quản trị chi phí; ABC; Công ty cổ phần giày dép cao su màu

     

    ABSTRACT. The article performed ABC (Activity-Based Costing Management) method application study in order to manage costs best on production lines best. If production cost is managed well, it will help appraise resources consumption in the factory. ABC method application will supply insight for managers to control issues in production process, make right decisions to reduce cost and invent to improve manufactoring process.

     

    KEYWORDS: Cost management; ABC; Casum shoes joint stock company

     

    1. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP ABC

     

    Theo Horngren (2000) phương pháp ABC là sự cải tiến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thể như là các đối tượng chi phí cơ bản. Hệ thống ABC tập hợp chi phí cho từng hoạt động và phân bổ chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên hoạt động được tiêu dùng bởi sản phẩm hay dịch vụ đó. Theo Maher (2001) cho rằng ABC là công cụ quản trị dựa trên hoạt động, trước hết, chi phí được phân bổ cho các hoạt động, sau đó sẽ phân bổ cho từng sản phẩm, dịch vụ dựa trên các hoạt động mà sản phẩm hay dịch vụ đã tiêu dùng. Quản trị dựa trên hoạt động sẽ tìm kiếm sự cải tiến không ngừng. ABC cung cấp thông tin về hoạt động và nguồn lực cần thiết để thực hiện chúng. Vì thế, ABC không chỉ đơn thuần là quá trình phân bổ chi phí. ABC: Phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động được nghiên cứu và ứng dụng nhằm để khắc phục những hạn chế của phương pháp tính giá truền thống trong việc phân bổ chi phí sản xuất chung (thường chỉ lựa chọn một hoặc một vài tiêu thức phân bổ chung), hạn chế trong việc cung cấp thông tin về chi phí gia tăng ở khâu nào, do nguyên nhân nào trong quá trình sản xuất để các nhà quản trị có cách nhìn đúng đắn trong việc hoàn thiện và thiết kế lại quá trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí.

     

    Ta có thể thấy rằng mỗi học giả có khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động là phương pháp tính giá mà việc phân bổ các chi phí gián tiếp cho các sản phẩm, dịch vụ dựa trên mức độ hoạt động của chúng. Phương pháp ABC là tập hợp toán bộ chi phí gián tiếp trong quá trình sản xuất theo từng loại hoạt động hoặc các nhóm hoạt động tương tự nhau, sau đó phân bổ các chi phí gián tiếp đó cho từng sản phẩm theo mức độ sử dụng hoạt động cảu sản phẩm, phương pháp này tính giá khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tính giá truyền thống.

     

    1. ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY VÀ NGÀNH SẢN XUẤT GIÀY DÉP

    Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Giày Dép Cao Su Màu.

     

    Tên tiếng Anh: CASUM SHOES JOINT STOCK COMPANY.

     

    Địa chỉ: đường Bùi Hữu Nghĩa, xã Hoá An, TP.Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

     

    E-mail: [email protected] / [email protected]

     

    Website: www.casum.com.vn

    Công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu tiền thân là Công ty Cao Su Màu thành lập năm 1990 với hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước chuyên sản xuất các mặt hàng liên quan đến Cao su như vỏ xe, ruột xe… Đến năm 2008 công ty Cổ phần hóa và lấy tên đầy đủ là Công ty Cổ phần Giày dép Cao Su Màu chuyên sản xuất các loại giày dép xuất khẩu.

     

    Từ chỗ chỉ có một xưởng sản xuất ở Hóa An với 300 công nhân, sau quá trình phát triển Casum hiện tại đang sở hữu 2 nhà máy sản xuất. Trong đó, một nhà máy sản xuất hoàn chỉnh tại Hóa An và một Nhà máy chuyên đặt may gia công tại Trị An với hơn 800 công nhân.

     

    Trong thời gian tới công ty sẽ tiếp tục mở rộng bằng việc đầu tư một nhà máy thứ 3 tại Tân Phú để đáp ứng nhu cầu phát triển của công ty ra các thị trường mới.

     

    Về vai trò ngành nghề sản xuất giày dép cao su màu: Việt Nam có mặt trong bảng xếp hạng 10 quốc gia xuất khẩu hằng đầu trong thị trường giày da quốc tế hiện nay, đặc biệt là EU. Việt Nam đứng thứ hai sau Trung Quốc. Ngành da giày Việt Nam là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng GDP của quốc gia.

     

    Từ một ngành công nghiệp – kỹ thuật khiêm tốn, non trẻ, đến nay giày da Việt Nam đã lớn mạnh và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng giả trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu cho cả nước.

     

    1. THỰC TRẠNG TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

    Về máy móc thiết bị: có 02 dây chuyền sản xuất giày thời trang và 01 dây chuyền sản xuất dép, công nghệ sản xuất của

    Received: June, 6th, 2018

    st

    Accepted: July, 21 , 2018

    *Corresponding author.

     

    Tp chí Khoa h c L c H ng    97

     

    Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Quý

     

    Ý và Hàn Quốc, đội ngũ công nhân đầy kinh nghiệm và tay

    qua nhiều công đoạn nhưng Công ty không tập hợp chi phí

     

    nghề cao.

    sản xuất theo từng công đoạn.

       

    Quy trình sản xuất sản phẩm tại công ty

    Công ty chưa tổ chức khoa học các báo cáo về chi phí sản

     

    Quy trình sản xuất mũ giày

    xuất và giá thành sản phẩm, chưa phân tích sự biến động về

     

    chi phí phục vụ quản trị Công ty.

       
         

    Thiết kế và tách chi tiết

    § Điều này gây ra những mặt hạn chế như sau:

     
     

    Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản

     
     

    phẩm ở Công ty CP giày dép cao su màu tuy đã có nhiều thay

     

    Cắt chi tiết

    đổi cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh,

     

    nhưng còn có một số hạn chế cần khắc phục.

     
     

    Nhìn chung, công tác hạch toán và phân bổ chi phí sản

     
     

    xuất ở công ty theo quy trình của kế toán tài chính. Quy trình

     

    Dãy chi tiết

    chung này có thể tóm lược như sau: Đối tượng chi phí được

     

    xác định là các loại sản phẩm do Công ty sản xuất ra; Tiêu

     
     
     

    thức phân bổ chi phí nguyên vật liệu theo định mức từng sản

     
     

    phẩm, chi phí nhân công theo sản lượng, phân bổ chi phí sản

     

    May chi tiết

    xuất chung theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

     

    Như vậy có thể kết luận rằng mục đích phân bổ chi phí sản

     
     
     

    xuất chung tại Công ty nhằm để tính giá thành sản phẩm,

     
     

    cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính. Các mục

     

    Hoàn thiện chi tiết

    đích khác như phân bổ chi phí sản xuất chung để phục vụ cho

     
     

    việc lập kế hoạch và ra quyết định kinh doanh, kiểm soát và

     

    Quy trình hoàn tất giày

    đánh giá hiệu quả không được các nhà quản lý đặt ra.

     

    Nhiều khoản chi phí chưa được phản ánh hợp lý, kết quả

     
     
     

    là giá thành sản phẩm sẽ không phản ánh hợp lý giá phí của

     

    Làm sạch

    sản phẩm tại các bộ phận trong Công ty. Chẳng hạn chi phí

     
     

    tiền điện phân bổ theo định mức nhưng lại chưa có đồng hồ

     
     

    chi tiết cho từng bộ phận: các khoản chi phí chung khác được

     
     

    phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nên chưa phản

     

    Chất nền

    ánh chính xác mức chi phí mỗi sản phẩm gánh chịu. Đây là

     

    một hạn chế gây khó khăn và mất đi tính chính xác tuyệt đối

     
     
     

    trong công tác phân bổ chi phí, như vậy sẽ không phản ánh

     
     

    đúng bản chất của nó.

       

    Các lớp phủ ngoài

    Ngoài ra, với cách phân bổ chi phí và tính giá thành hiện

     

    tại của Công ty khiến cho thông tin về chi phí sản xuất và giá

     

    (Nguồn: Công ty Cổ phần Giày dép cao su màu)

    thành sản phẩm không phản ánh đúng bản chất, do đó việc ra

     

    quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp chưa được chính

     
     

    Qua thực tế tính giá thành tại công ty, nhóm tác giả thấy

    xác.

         

    việc phân bổ chi phí gián tiếp theo chi phí nguyên vật liệu

    4. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ABC VÀO CÔNG TY

     

    trực tiếp của từng sản phẩm chưa chính xác. Điều này dẫn

     

    CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

     

    đến các sản phẩm có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cao thì

           

    gánh chịu nhiều chi phí gián tiếp nhưng chi phí sản xuất thực

    Bảng 1. Bảng so sánh giá thành theo phương pháp truyền thống

     

    tế sử dụng cho sản phẩm lại thấp chẳng hạn: Các chi phí gián

    và phương pháp ABC tại công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu

     

    tiếp phục vụ cho sản xuất không liên quan đến khối lượng

    Nội dung

    PP truyền thống

    PP ABC

     

    cũng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân viên

    Giày trẻ em

     

    11.457.546.896

     

    phân xưởng, chi phí khấu hao…

    11.466.127.297

    Doanh nghiệp đã lập kế hoạch, dự toán nhưng khi có sự

    Giày dép nữ

    15.430.981.246

    15.421.671.233

     

    chênh lệch về số liệu chi phí sản xuất thì lại chưa nêu ra

    Giày dép nam

     

    9.190.555.720

     

    nguyên nhân, kỹ thuật phân tích số liệu và biện pháp xử lý

    9.194.425.476

    chỉ mang tích chất phục vụ báo cáo tài chinh hàng năm là

    Khác

    596.995.615

    596.832.294

     

    chính. Các dự toán, kế hoạch chủ yếu theo các khoản mục

    Tổng cộng

    36.688.529.634

    36.666.606.143

     

    chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân

           

    công trực tiếp và chi phí sản xuất chung không phân loại theo

     

    (Nguồn: tính toán của nhóm tác giả)

     

    biến phí, định phí như vậy sẽ rất khó khăn cho việc đánh giá

    Sau khi áp dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt

     

    kiểm soát chi phí và đưa ra quyết định về định giá bán phù

    động, giá thành tất cả các sản phẩm giày dép sản xuất ra đều

     

    hợp.

    thấp hơn so với các tính truyền thống của công ty. Việc áp

     

    Doanh nghiệp nhận thức kế toán là công cụ phục vụ quản

    dụng tính gía thành theo phương pháp ABC sẽ tính toán được

     

    lý nhưng chỉ quan tâm ở gốc độ kế toán tài chính, chưa chủ

    Zsp sản xuất chính xác và hợp lý hơn so với phương pháp

     

    động tổ chức kế toán quản trị. Doanh nghiệp chưa nhận thức

    truyền thống mà công ty cao su màu đang áp dụng, phần chi

     

    được vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin kinh

    phí dôi ra sẽ được hạch toán vào TK 642, 632 và các tài

     

    tế tài chính của doanh nghiệp.

    khoản khác có liên quan theo quy định, qua đó đây là cơ sở

     

    Đặc điểm về qui trình sản xuất sản phẩm tại Công ty trải

    để nhà quản lý có những giải pháp cắt giảm chi phí.

     

    98        Tp chí Khoa h c L c H ng

     

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại Công ty Cổ phần Giày dép Cao su màu

     

    CP

    CP

    CP

    CP

    CP

    Để áp dụng thành công phương pháp ABC đòi hỏi phải có

     

    sự hợp tác giữa các phòng ban trong đơn vị cũng như tinh

     

    nhân

    điện

    khấu

    phục

    khác

    viên

    hao

    vụ sản

    thần làm việc nhóm trong phân xưởng, chẳng hạn như phân

     
       

    PX

       

    xuất

     

    xưởng lắp ráp giày dép có sự hỗ trợ cho các phân xưởng khác

     
             

    như PX dập, PX cắt…. Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ

     
             

    ra rằng sự kết hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, các nhóm

     
             

    làm việc góp phần thúc đẩy sự thành công khi áp dụng

     
             

    phương pháp ABC, có thể kể ra một sốtác giả như Landry

     

    Thời

    Số

    Chi

    NL

    Nguồn

    (1997), Gering (1999), Drake et al. (2001), Baird et al.

     

    (2007). Như vậy, để ứng dụng được ABC thì bản thân nội bộ

     

    gian

    KW

    tiết

    khác

    phát

    doanh nghiệp phải hợp tác và ủng hộ nếu không có sự ủng

     

    lao

    điện

    hoạt

    phục

    sinh

    hộ từ các bộ phận khác thì ABC khó ứng dụng thành công

     

    động

    CP

    động

    sử

    vụ

    trong tổ chức. Đây cũng chính là vấn đề thuộc về cơ cấu tổ

     
       
             

    chức cũng như văn hóa trong công ty.

     
             

    Thứ hai: Giải pháp nguồn nhân lực

     
             

    ABC không phải là một mô hình cứng ngắt, trong quá trình

     
             

    ứng dụng cũng có sự thay đổi về mối quan hệ của các tiêu

     

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    thức phân bổ chi phí, các trung tâm chi phí vì vậy đòi hỏi

     

    động

    động

    động

    động

    động

    người sử dụng phải có kiến thức sâu về phương pháp ABC

     

    chặt,

    cắt

    may

    lắp

    hoàn

    và kiến thức về kế toán quản trị. Theo TS Trần Phước (2011),

     

    ép

    dán

     

    ráp

    thiện,

    khảo sát kết quả kiến thức đào tạo chuyên ngành kế toán,

     
           

    kiểm toán thì có tới 50% câu trả lời là ít và đã đưa ra các giải

     
             
             

    pháp phát triển nguồn nhân lực ngành kế toán kiểm toán ở

     
             

    Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội

     
             

    nhập quốc tế. Như vậy, hiện nay chúng ta đang thiếu hụt kế

     

    Giày

    Giày

    Giày

    Giày

    ……

    toán viên có đủ trình độ để tiếp cận phương pháp mới, ví dụ

     

    như phương pháp ABC. Đối với các phương pháp, kỹ thuật

     

    dép

    dép

    dép

    dép

    ……

    cũng như yêu cầu của ABC, trường đại học cũng như các cơ

     

    trẻ

    nữ

    nam

    khác

    .

    sở đào tạo phải có những dự án cụ thể để cho sinh viên thực

     

    em

           
           

    hành và phân tích những thuận lợi cũng như những khó khăn

     
             
             

    khi áp dụng ABC vào trong doanh nghiệp. Chính phủ cũng

     
             

    như những trung tâm nghiên cứu ứng dụng kế toán của Việt

     
             

    Nam cũng phải có những dự án ứng dụng cụ thể: ứng dụng

     
     

    Chi phí nguyên vật lệu trực tiếp, chi phí

     

    ABC cho hầu hết các PX tại công ty, đánh giá so sánh hiệu

     
       

    quả giữa phương pháp tính giá hiện tại và ABC. Có thể lựa

     
       

    nhân công trực tiếp

       
           

    chọn ứng dụng thí điểm tại PX cắt và PX dập để có đủ điều

     
             

    kiện áp dụng ABC sau đó công bố kết quả ứng dụng cho các

     

    Hình 1. Mô hình tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại công

    công ty khác học hỏi và ứng dụng.

     
     

    ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu

     

    Thứ ba: Thay đổi quan điểm của nhà quản lý

     
       

    (Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất)

    Các nhà quản lý doanh nghiệp cần thay đổi thái độ trong

     

    Qua việc tính toán và phân tích giữa hai phương pháp ta

    quá trình điều hành và quản lý doanh nghiệp. Tâm lý hiện

     

    có thể thấy sự khác biệt này là do lựa chọn tiêu thức phân bổ

    nay của rất nhiều nhà quản lý là trông chờ vào sự hướng dẫn

     

    chi phí sản xuất chung của hai phương pháp. Với quy trình

    hay sự bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền mà bản thân họ

     

    sản xuất đã trình bày, hầu hết các sản phẩm phải đi qua nhiều

    không chủ động áp dụng những phương pháp quản lý mới.

     

    công đoạn và cũng tiêu hao nhiều nguồn lực. Đối với các chi

    Một phần là do thiếu hụt về kiến thức quản lý, một phần là

     

    phí: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí công cụ dụng

    tâm lý sợ thay đổi, sợ thất bại trong quá trình áp dụng cái

     

    cụ, chi phí tiền nước, chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí

    mới. Ví dụ như sau khi thấy được sự thay đổi về chi phí sản

     

    tiền điện… Các chi phí này có nguồn phát sinh chi phí khác

    xuất, thì nhà quản lý sẽ có cái nhìn đúng hơn về việc cắt giảm

     

    nhau. Vì vậy khi phân bổ chi phí ta không chỉ dựa vào một

    chi phí nào và thay đổi loại chi phí nào ngay tại Công ty.

     

    tiêu thức chung để phân bổ cho các hoạt động chẳng hạn chi

    Thứ tư: Áp dụng phương pháp ABC phải gắn với nội lực

     

    phí nguyên vật liệu trực tiếp, mà còn phải dựa vào nhiêu tiêu

    doanh nghiệp và yêu cầu thực tế

     

    thức phân bổ khác để đảm bảo tính chính xác giá thành cho

    ABC không có một tiêu chuẩn nào cho mỗi doanh nghiệp,

     

    từng loại sản phẩm. Điều này chứng tỏ nếu vận dụng phương

    vì vậy khi áp dụng ABC phải gắn liền với tình hình thực tế

     

    pháp tính giá ABC sẽ cho kết quả chính xác hơn.

     

    của doanh nghiệp mình, không nên chạy theo phong trào

     

    Tóm lại, việc tính giá dựa trên cơ sở hoạt động sẽ cung cấp

    cũng không nên coi là mốt để rồi áp dụng không hiệu quả.

     

    thông tin về giá thành chính xác hơn và cạnh tranh hơn. Để

    Ngày nay, với sự cạnh tranh gay gắt và thông tin đòi hỏi ngày

     

    từ đó các nhà quản lý có những quyết định chính xác nhất

    càng đa dạng, bản thân ABC cũng có nhược điểm vì vậy cần

     

    5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

    kết hợp phương pháp tính giá thành ABC với các phương

     

    pháp khác như ABC kết hợp với phân tích biến phí, định phí;

     

    PHƯƠNG PHÁP ABC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

    ABC kết hợp với chi phí định mức; ABC kết hợp với BSC

     

    GIÀY DÉP CAO SU MÀU

       
       

    (Balanced Scorecard). Ngay tại Công ty Cổ phần Giày dép

     

    Thứ nhất: Sự hợp tác giữa các bộ phận, các nhóm làm

    Cao su màu, yêu cầu này khá cao, do số lượng sản phẩm sản

     

    việc

           

    xuất khá nhiều, số lượng sản phẩm cần thiết cho nhu cầu của

     

    Tp chí Khoa h c L c H ng    99

     

    Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Quý

     

    người tiêu dùng, cho nên việc áp dụng phương pháp tính giá ABC tại Công ty là rất cần thiết.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát triển cũng như phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp ngày càng phải cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường. Phương pháp tính giá ABC là phương pháp tính mới, việc áp dụng phương pháp tính giá này là cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu nói riêng.

     

    Việc vận dụng phương pháp tính giá ABC tại công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu giúp công ty tính giá thành một cách chính xác hơn so với phương pháp tính giá hiện tại của công ty. Với phương pháp tính giá hiện tại của công ty, công ty chỉ chọn một tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất gián tiếp là theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, làm cho việc phân bổ khoản chi phí này vào từng sản phẩm không được chính xác. Vì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không phải là nguyên nhân gây ra tất cả chi phí gián tiếp, điều này làm cho giá thành một số sản phẩm cao hơn so với chi phí thực tế và một số sản phẩm giá thành lại thấp hơn so với chi phí thực tế. Do đó, có thể có những quyết định sai lầm trong việc định giá bán sản phẩm. Ngược lại, phương pháp tính giá ABC phân bổ chi phí gián tiếp cho các đối tượng chi phí dựa trên hoạt động tiêu dùng nguồn lực của đối tượng chi phí đó. Vì thế, hệ thống tính giá ABC làm tăng tính chính xác của giá thành

    sản phẩm hơn phương pháp tính giá truyền thống, từ đó giúp cho nhà quản trị có những quyết định đúng đắn

     

    1. CÁM ƠN

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu cùng với các anh chị Phòng kế toán và các anh chị phòng ban khác đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài báo này.

     

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO
    • Blocher, Chen, Cokins and Lin. Cost management – A strategic emphasis, 3nd Edition. Mc Graw Hill Irwin, UK, 2005.
    • Drake et al. Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh của ngành kinh tế, 2001.
    • Horngren Bjornenak, Trond and Mitchell, Falconer. The Development of Activity Based Costing. Journal Literature 1987-2000. European Accounting Review, 2002, vol. 11, no. 3.
    • Nguyễn Việt. Lợi ích của việc tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động ABC. Tạp chí Phát triển Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, 1997, số 82, tháng 08/1997.
    • Rober S.Kaplan, Robin Cooper. Cost and Effect. Havard Business School Press, 1998.
    • Trần Phước. Giáo trình Nguyên lý Kế toán. Nhà xuất bản: Phương Đông 2011.

     

     

     

     

     

    100      Tp chí Khoa h c L c H ng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-marketing-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-trong-vi%E1%BB%87c-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-t%E1%BA%A1i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%90%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-H%E1%BB%93ng-%C4%90%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    VẬN DỤNG MARKETING DỊCH VỤ TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

     

    Lê Quang Hiếu1

     

    TÓM TẮT

     

    Trường Đại học Hồng Đức là trường đại học địa phương đầu tiên ở Việt Nam, được thành lập từ năm 1997, đến nay có quy mô đào tạo hơn 16.000 sinh viên. Xét trên phương diện kinh tế, trường đại học cũng là một tổ chức cung cấp dịch vụ vì vậy việc vận dụng marketing để thỏa mãn nhu cầu khách hàng là một điều tất yếu. Bài viết này sẽ dựa trên mô hình 7Ps của Marketing dịch vụ để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của trường Đại học Hồng Đức từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường.

     

    Từ khóa: Marketing dịch vụ, chất lượng đào tạo đại học, trường Đại học Hồng Đức

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, giáo dục đại học có vị trí then chốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất lƣợng cao. Nhìn lại chặng đƣờng hơn một thập kỷ qua, kể từ ngày thành lập, ngày 24 tháng 09 năm 1997, trƣờng Đại học Hồng Đức đang từng bƣớc khẳng định đƣợc vị trí và đã đạt đƣợc những thành quả bƣớc đầu đáng khích lệ trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế và đã có những đóng góp tích cực vào thành tích chung của giáo dục đại học Việt Nam. Mặc dù vậy, nếu xét trên nhiều phƣơng diện trƣờng Đại học Hồng Đức cũng đang phải chịu nhiều áp lực trong việc đáp ứng nhu cầu của xã hội. Với mục đích hƣớng đến là trong tƣơng lai gần 100% sinh viên ra trƣờng tìm đƣợc việc làm đúng ngành học, đáp ứng đƣợc nhu cầu xã hội trong bối cảnh mở cửa và hội nhập thế giới trong đào tạo nguồn nhân lực nhƣ hiện nay, việc phải tìm ra cho mình những hƣớng đi phù hợp nhằm hạn chế điểm yếu và phát huy thế mạnh để có thể đón đƣợc những cơ hội cũng nhƣ vƣợt qua đƣợc những thách thức từ bên ngoài mang lại, qua đó góp phần xây dựng và phát triển bền vững là vấn đề hết sức cấp thiết đối với trƣờng Đại học Hồng Đức.

     

    Mặt khác, theo cách tiếp cận của WTO, giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là một loại hình cung cấp dịch vụ mà ở đó khách hàng là những ngƣời học, những ngƣời sử dụng lao động,… với những nhu cầu hết sức phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó, lý thuyết marketing dịch vụ và các khái niệm đã có hiệu quả trong kinh doanh, đang dần đƣợc áp dụng bởi nhiều trƣờng đại học nhằm mục đích đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh. Khái niệm marketing – mix đã đƣợc đƣa ra và công nhận trong lý thuyết marketing dịch vụ nhƣ là

     

    • Phó trưởng khoa KTQTKD, Trường Đại học Hồng Đức

    29

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    thiết lập các công cụ marketing mà tổ chức sử dụng để theo đuổi các mục tiêu marketing của mình trong thị trƣờng mục tiêu, chịu ảnh hƣởng bởi các biến số môi trƣờng cụ thể. Công cụ 7Ps đƣợc nhiều nhà quản trị thừa nhận và vận dụng trong lĩnh vực dịch vụ gồm: P1: Sản phẩm (product), P2: Giá cả (price), P3: Phân phối (place), P4: Xúc tiến- khuếch trƣơng (Promotion) P5: Con ngƣời (People), P6: Quá trình dịch vụ (Process of services) và P7: Các yếu tố và bằng chứng vật chất của dịch vụ (physical evidences).

     

    Bài viết này đứng trên quan điểm của marketing dịch vụ nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển của trƣờng Đại học Hồng Đức từ đó đƣa ra một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng.

     

    2.   THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC THEO QUAN ĐIỂM MARKETING DỊCH VỤ

     

    2.1. Chính sách sản phẩm

     

    Về ngành, nghề đào tạo: Nhà trƣờng tiến hành đa dạng hóa cơ cấu và điều chỉnh ngành, chuyên ngành đào tạo theo hƣớng đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phƣơng và đất nƣớc.

     

    Hiện nay, nhà trƣờng đang đào tạo 7 chuyên ngành sau đại học, 29 ngành bậc đại học, 21 ngành bậc cao đẳng. Cùng với đào tạo hệ chính quy, Nhà trƣờng đang đào tạo các hình thức vừa làm vừa học, liên thông, văn bằng đại học thứ 2 và bồi dƣỡng ngắn hạn để đáp ứng tối đa nhu cầu của ngƣời học. Quy mô đào tạo của Nhà trƣờng hiện nay là gần 16.000 học sinh, sinh viên. Từ năm 2008, nhà trƣờng từng bƣớc thực hiện chuyển đổi phƣơng thức đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Bên cạnh đó, Nhà trƣờng đã và đang liên kết với các trƣờng đại học để đào tạo các ngành, chuyên ngành đại học và sau đại học.

     

    • Đào tạo trình độ thạc sĩ: Đại học Hồng Đức là trƣờng đại học đầu tiên trong khối các trƣờng đại học địa phƣơng đƣợc phép tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ. Sau gần 16 năm thành lập, trƣờng đã đƣợc Bộ cho phép tự đào tạo 6 chuyên ngành gồm: Khoa học cây trồng, Ngôn ngữ Việt Nam, Lý luận và phƣơng pháp dạy học Văn- Tiếng Việt, Văn học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Vật lý lý thuyết và Vật lý Toán và Toán giải tích.
    • Đào tạo trình độ đại học và cao đẳng tƣơng đối ổn định về số lƣợng trong những năm gần đây, tuy nhiên xét về cơ cấu thì có những thay đổi về ngành đào tạo, một số ngành không đáp ứng nhu cầu xã hội, khó tuyển sinh nhà trƣờng tạm thời đóng và mở ra những ngành mới có khả năng đáp ứng yêu cầu xã hội.

    Cơ cấu ngành, chuyên ngành đào tạo đƣợc điều chỉnh phù hợp với nhu cầu:

     

    + Từ hai khối ngành (sƣ phạm và kỹ thuật nông nghiệp) năm học 1998 – 1999 lên bốn khối ngành gồm sƣ phạm, kinh tế, nông-lâm-ngƣ nghiệp và kỹ thuật – công nghệ;

     

    + Giảm bớt một số chuyên ngành không phù hợp với nhu cầu sử dụng nhƣ chuyên ngành ngữ văn, nuôi trồng thủy sản, kỹ nghệ hoa viên, mở các ngành đào tạo mới đáp ứng nhu cầu của xã hội; liên kết đào tạo chính quy và vừa làm vừa học;

     

    30

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Về mục tiêu, nội dung chương trình. Chƣơng trình giáo dục, kiểm tra đánh giá, thời khóa biểu, lịch thi đƣợc Nhà trƣờng hƣớng dẫn cụ thể, chi tiết; quy chế đào tạo và rèn luyện của Bộ Giáo dục & Đào tạo đƣợc cụ thể hóa và triển khai thực hiện.

     

    Chƣơng trình giáo dục đào tạo có mục tiêu đƣợc xác định cụ thể, rõ ràng về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, tác phong đối với ngƣời học. Nội dung, chƣơng trình đào tạo bám sát khung chƣơng trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và đƣợc cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung thƣờng xuyên theo hƣớng đáp ứng nhu cầu của ngƣời học và xã hội. Sinh viên tốt nghiệp ra trƣờng đảm bảo về trình độ kiến thức cơ bản, kỹ năng nghiệp vụ, có khả năng thích ứng nhanh với thị trƣờng lao động. Kết quả học tập của sinh viên hệ chính quy nhà trƣờng không ngừng đƣợc nâng lên đáp ứng đƣợc nhu cầu nguồn nhân lực trong quá trình phát triển của địa phƣơng và các tỉnh lân cận.

     

    Về sinh viên (sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội):

     

    Đã có sự điều chỉnh về bậc học một cách mạnh mẽ, chủ yếu tăng đào tạo đại học, giảm và tiến tới không đào tạo hệ trung cấp: Đến năm 2011, quy mô hệ đại học chính quy tăng 26 lần (từ 250 lên 6.600 sinh viên); sinh viên cao đẳng chính quy giảm 1,7 lần (từ 3.250 xuống còn 1.900 sinh viên).

     

    Thay đổi một cách thích hợp về quy mô đào tạo ở các khối ngành, đáp ứng với thực tế khách quan của nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực:

     

    • Chuyển đổi một phần đào tạo giáo viên trung học phổ thông sang đào tạo giáo viên trung học cơ sở hai môn có trình độ đại học, mở các ngành đào tạo cử nhân khoa học, tăng dần các chuyên ngành đào tạo kỹ thuật – công nghệ;
    • Chuyển hƣớng từ chỗ chỉ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh là chủ yếu sang đáp ứng một phần nhu cầu nguồn nhân lực của các tỉnh lân cận.

    Về hình thức đào tạo

     

    Qui mô đào tạo theo hình thức VLVH tăng nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu của

     

    xã hội:

     

    – Số HSSV hệ VLVH chiếm 46,5% năm 2009 (tự đào tạo);

     

    – Đào tạo liên thông từ cao đẳng lên đại học (12 chuyên ngành), chiếm 20% so với chính quy năm 2009;

     

    Công tác đào tạo của nhà trƣờng đã đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển; quy mô đào tạo của nhà trƣờng ngày một tăng; hình thức, cơ cấu ngành, nghề tƣơng đối hợp lý, đáp ứng nhu cầu và phù hợp với khả năng của trƣờng, chất lƣợng đào tạo ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội.

     

    Về sản phẩm khoa học công nghệ

     

    Theo số liệu thống kê đến hết năm 2012 cán bộ, giảng viên nhà trƣờng đã thực hiện đƣợc 574 đề tài (dự án) khoa học các cấp, trong đó có 5 đề tài cấp Nhà nƣớc, 35 đề tài cấp Bộ, 48 đề tài cấp tỉnh và 486 đề tài cấp cơ sở; sinh viên toàn trƣờng đã thực hiện đƣợc 1.899 đề tài khoa học, có 328 đề tài đạt giải cấp trƣờng và 32 đề tài đạt giải trong các cuộc

     

    31

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    thi “Tài năng khoa học trẻ”, 4 giải thƣởng sáng tạo kỹ thuật Việt Nam. Số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nƣớc (890), quốc tế và tuyển tập báo cáo tại các hội nghị khoa học (64). Ngoài ra, Nhà trƣờng đã chủ trì phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, tổ chức khoa học trong ngoài tỉnh tổ chức nhiều hội thảo khoa học thu hút đông đảo các nhà khoa học tham gia.

     

    Kết quả NCKH đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng, mở rộng quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo; đổi mới nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp dạy học, kiểm tra đánh giá; xây dựng cơ sở thực hành, thực tập, rèn nghề; gắn đề tài NCKH với đề tài luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ để nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên; đổi mới công tác quản lý; phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hoá.

     

    2.2. Chính sách giá cả

     

    Trƣờng Đại học Hồng Đức là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động. Hơn nữa, là trƣờng đa ngành, đa cấp, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, tạo nguồn nhân lực cho xã hội nói chung và cho tỉnh Thanh Hóa nói riêng. Vì vậy, Nhà trƣờng đã có những giải pháp và kế hoạch tự chủ tài chính để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Cụ thể, hiện nay trƣờng có 2 nguồn thu nhƣ sau: Nguồn kinh phí Nhà nƣớc cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: thu từ học phí đào tạo, từ hoạt động nghiên cứu khoa học và thu từ hoạt động dịch vụ.

     

    Trong thời gian tới, trƣờng sẽ tiếp tục củng cố các hoạt động tài chính theo hƣớng minh bạch, công khai và có kế hoạch, phấn đấu đƣa quản lý tài chính là một động lực nâng cao chất lƣợng đào tạo và nghiên cứu khoa học, tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên nhà trƣờng.

     

    Về các khoản thu từ ngƣời học nhƣ: học phí cho HSSV đào tạo theo tín chỉ của Nhà trƣờng từ 80.000 – 93.000đ/tín chỉ (Đại học) hoặc 60.000-68.000đ/tín chỉ (Cao đẳng); Phí nội trú từ 60.000-70.000 ngƣời/tháng. Có thể nói rằng trƣờng Đại học Hồng Đức áp dụng chính sách giá thấp và linh hoạt cho các đối tƣợng.

     

    2.3. Chính sách phân phối

     

    Trƣờng Đại học Hồng Đức thực hiện chính sách phân phối hết sức linh hoạt cho từng đối tƣợng ngƣời học có nhu cầu. Đối tƣợng tuyển sinh của trƣờng là tất cả các cá nhân, tổ chức có nhu cầu và đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cả nƣớc.

     

    Về địa điểm tổ chức đào tạo: Đối với ngƣời học dài hạn thực hiện việc đào tạo và học tập tại các cơ sở của nhà trƣờng. Hiện tại nhà trƣờng có 3 cơ sở đào tạo đƣợc đặt trong thành phố Thanh Hóa: Cơ sở chính là nơi đặt trụ sở chính nhà điều hành và phục vụ đào tạo cho học sinh sinh viên thuộc các khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh, Kỹ thuật công nghệ, Công nghệ thông tin và truyền thông và Nông – lâm – ngƣ nghiệp; Cơ sở 2 phục vụ đào tạo cho sinh viên các khoa khối ngành sƣ phạm và xã hội nhƣ: Khoa Khoa học tự nhiên, khoa Mầm non, Khoa Ngoại ngữ…; Cơ sở 3 là Trung tâm Giáo dục quốc phòng chuyên phục vụ đào tạo về chƣơng trình giáo dục quốc phòng cho sinh viên toàn trƣờng. Tại cơ sở chính và cơ sở 2 đều có các khu nội trú và các sân bãi tập luyện thể dục thể thao tạo điều kiện đáp

     

    32

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    ứng nhu cầu của ngƣời học. Đối với những chƣơng trình bồi dƣỡng ngắn hạn có thể tổ chức ngay tại các địa điểm theo yêu cầu của đối tác.

     

    Về thời gian phục vụ: Nhà trƣờng thực hiện linh hoạt thời gian học tập theo nhu cầu của từng đối tƣợng ngƣời học. Thời gian học tất cả các ngày trong tuần từ thứ 2- chủ nhật, đƣợc chia thành 13 tiết/ngày (trừ thứ 7 và chủ nhật là không quá 10 tiết)

     

    2.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp

     

    Xúc tiến hỗn hợp cung cấp các thông tin về các chƣơng trình học, những thay đổi và phát triển trong chƣơng trình, những thông tin về cơ sở đào tạo, học phí… do đó giúp họ hiểu biết hơn về chƣơng trình, về cơ sở đào tạo… giúp họ tăng cơ hội lựa chọn trƣớc khi tham gia một khoá đào tạo cụ thể. Các thông tin này giúp họ tiết kiệm thời gian, tiền bạc khi quyết định về việc mình nên bổ sung kiến thức, kỹ năng gì, góp phần bảo vệ các học viên ở một mức độ nhất định.

     

    Ngay từ khi mới thành lập, lãnh đạo nhà trƣờng luôn tâm niệm mỗi ngƣời học, mỗi cán bộ của nhà trƣờng sẽ là những tuyên truyền viên tốt nhất về hình ảnh của nhà trƣờng, do đó hàng năm nhà trƣờng thƣờng tổ chức các buổi thông tin tuyên truyền tuyển sinh trƣớc hết cho cán bộ và HSSV đang theo học tại trƣờng. Ngoài ra việc gửi các tờ rơi, thông tin trên các phƣơng tiện truyền thông nhƣ báo đài cũng đƣợc nhà trƣờng hết sức quan tâm.

     

    Công cụ quan hệ công chúng bằng cách tổ chức các sự kiện cũng đƣợc nhà trƣờng thƣờng xuyên tổ chức và đầu tƣ. Thông qua Đoàn trƣờng Đại học Hồng Đức, Hội sinh viên trƣờng và các tổ chức đoàn thể trong trƣờng đã có khá nhiều các sự kiện đƣợc tổ chức thành công thu hút sự chú ý của sinh viên trong trƣờng, sinh viên ngoài trƣờng và tổ chức truyền thông đại chúng.

     

    Bên cạnh đó việc cung cấp các thông tin cho ngƣời học tại trƣờng đƣợc xem là một nội dung quan trọng của Nhà trƣờng. Trƣờng Đại học Hồng Đức là một trong số ít trƣờng mà hệ thống internet wifi miễn phí đƣợc phủ sóng rộng khắp cả trƣờng, từ khu làm việc, các giảng đƣờng đến các khu nội trú dành cho sinh viên. Website của Nhà trƣờng cũng luôn đƣợc đầu tƣ nâng cấp và cập nhật các thông tin mới nhất, đầy đủ nhất cho các đối tƣợng quan tâm.

     

    2.5. Chính sách về con ngƣời

     

    Qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển trình độ đội ngũ của nhà trƣờng đã có những bƣớc tiến rõ rệt nhƣ: số lƣợng giảng viên có trình độ sau đại học, đặc biệt là trình độ tiến sĩ tăng nhanh; cơ cấu trình độ giảng viên các chuyên ngành từng bƣớc đáp ứng yêu cầu đào tạo; chất lƣợng đội ngũ đƣợc nâng cao một cách đáng kể; trên cơ sở quy hoạch đã từng bƣớc trẻ hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy.

     

    Số cán bộ giảng viên có trình độ chuyên môn cao tăng lên theo thời gian:

     

    • GS, PGS tăng tƣ̀0,2% (năm 1997) lên 0,4% (năm 2010) và gần 1% từ cuối năm 2013.
    • TS tăng từ 1,98% (năm 1997) lên 7,93% (năm 2010) và gần 10% năm 2013.
    • ThS tăng từ 24,15% (năm 1997) lên 48,7% (năm 2010).

    33

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Cơ cấu chất lƣợng đội ngũ thời điểm năm 2006 và năm 2010.

     

       

    Tổng số

     

    Chia theo trình độ chuyên môn

       

    TT

    Loại hình

    Tiến sĩ

    Thạc sĩ

    Đại học

     

    Dƣới ĐH

         
       

    2006

    2010

    2006

    2010

    2006

    2010

    2006

    2010

     

    2006

    2010

    1

    Biên chế

    678

    544

    25

    49

    189

    240

    328

    217

     

    136

    38

    1.1

    Giảng viên

    432

    361

    18

    39

    173

    206

    241

    116

         

    1.2

    GVTH, PTTN, Giáo vụ,

                         

    Quản sinh

    31

    22

         

    1

    3

    13

     

    28

    8

             

    1.3

    Cán bộ hành chính

    55

    86

    7

    10

    16

    33

    13

    29

     

    19

    14

    1.4

    Nhân viên thừa hành

    160

    75

           

    71

    59

     

    89

    16

    2

    Hợp đồng ngoài biên chế

    39

    193

    0

    0

    3

    27

    31

    144

     

    5

    21

    2.1

    Giảng viên

    6

    100

       

    1

    24

    5

    76

         

    2.2

    GVTH, PTTN, Giáo vụ,

                         

    Quản sinh

    16

    33

         

    1

    15

    25

     

    1

    7

             

    2.3

    Cán bộ hành chính

    7

    23

       

    2

    2

    5

    21

         

    2.4

    Nhân viên thừa hành

    10

    36

           

    6

    22

     

    4

    14

     

    Tổng cộng

    717

    737

    25

    49

    192

    267

    359

    351

     

    141

    60

    (Nguồn: Phòng TCCB)

     

    Nhà trƣờng đã thực hiện các chính sách đãi ngộ của tỉnh đối với CBGV có trình độ TS ở ngoài tỉnh về công tác tại trƣờng và chính sách hỗ trợ cho Thạc sỹ, tiến sỹ giảng dạy ở bậc Đại học.

     

    Mời các GS và các nhà khoa học đầu ngành trong nƣớc giảng dạy các chuyên đề (cho giảng viên) và những học phần mới (cho sinh viên), thông qua đó để đào tạo giảng viên của trƣờng.

     

    Cán bộ, giảng viên tham gia Đề án Liên kết đào tạo đại học và sau đại học với các trƣờng đại học nƣớc ngoài: 80 ngƣời. Số CBGV học đại học tiếng Anh (văn bằng 2): 56 ngƣời. Thực hiện các chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng ngoại ngữ khác (Đề án 165, Dự án Việt – Bỉ) 7 ngƣời.

     

    Công tác quy hoạch và đào tạo đội ngũ đƣợc đặc biệt quan tâm và thƣờng xuyên đƣợc rà soát, điều chỉnh nhằm chuẩn bị đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu trƣớc mắt và lâu dài. Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của trƣờng đã đƣợc rèn luyện, trƣởng thành trong quá trình xây dựng nhà trƣờng, có phẩm chất đạo đức tốt, là nhân tố đảm bảo giữ vững và từng bƣớc nâng cao chất lƣợng đào tạo.

     

    2.6. Chính sách về quy trình hoạt động

     

    Trong những năm qua, trƣờng Đại học Hồng Đức đã không ngừng củng cố và hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của từng bộ phận và cá nhân, tăng cƣờng sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, quản lý của chuyên môn, sự phối, kết hợp đồng bộ của các tổ chức đoàn thể trong các hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà trƣờng, tranh thủ sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động VN và Bộ Giáo dục – Đào tạo, chủ động xây dựng các chiến lƣợc và kế hoạch phát triển Nhà trƣờng.

     

    34

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Từ năm học 2007-2008, nhà trƣờng đã vận hành quy trình quản lý theo hệ thống quản lý chất lƣợng ISO: 9001-2000 và đến năm 2010 đã chuyển đổi và vận hành qui trình quản lý chất lƣợng ISO 9001:2008, đã ban hành các quy trình hoạt động, xây dựng hệ thống thông tin phản hồi về hoạt động cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo tại trƣờng, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo, hiệu quả công tác quản lý, điều hành hoạt động trong nhà trƣờng.

     

    2.7. Chính sách về cơ sở hạ tầng

     

    Dự án đầu tƣ cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Cơ sở chính; cải tạo nâng cấp Cơ sở II đƣợc phê duyệt với tổng kinh phí 493 tỷ đồng, tổng diện tích xây dựng khoảng: 56.400m2. Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Thanh Hoá trực thuộc ĐHHĐ đã có quyết định đầu tƣ (98 tỷ đồng).

     

    Trong 10 năm mới thành lập, đã đầu tƣ mới, sửa chữa nâng cấp và đƣa vào sử dụng với số kinh phí 175 tỷ đồng: Khu giảng đƣờng 4 tầng (30.000 m2 sàn), 3 nhà ký túc xá sinh viên cơ sở 3 (138 phòng, 1.100 chỗ ở); 2 khu nhà ký túc xá cơ sở 1 (4.220 m2); đầu tƣ công trình hạ tầng với tổng số vốn đầu tƣ hơn 150 tỷ đồng. Đầu tƣ chiều sâu 26 phòng thí nghiệm, 8 phòng vi tính, hệ thống mạng thông tin (có dây và không dây), Trung tâm Thông tin – Thƣ viện, cơ sở hỗ trợ học tập KLF, trang thiết bị dạy và học, thiết bị văn phòng với giá trị hơn 25 tỷ đồng.

     

    Đầu tƣ mua sắm mới giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy với 5.250 đầu sách (132.313 cuốn tiếng Việt, 3.777 cuốn ngoại văn), 48.155 số báo tiếng Việt, 4.900 số báo ngoại văn, 162 đĩa CD cơ sở dữ liệu trong và ngoài nƣớc trị giá 2 tỷ đồng.

     

    Có thể thấy rằng cơ sở vật chất của trƣờng đƣợc đầu tƣ đáng kể, cơ bản đã đƣợc kiên cố hoá, đặc biệt là hệ thống giảng đƣờng và nhà làm việc, trang thiết bị phục vụ dạy- học. Tuy vậy, hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin, thƣ viện chƣa đáp ứng kịp với yêu cầu đổi mới giáo dục đại học trƣớc mắt và lâu dài. Cơ sở vật chất kỹ thuật chƣa đáp ứng yêu cầu để giáo dục toàn diện với sinh viên (giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, thực hành, thí nghiệm)

     

    3.   GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

     

    3.1. Nâng cao chất lƣợng chƣơng trình đào tạo, gắn với thực tiễn

     

    Để nâng cao chất lƣợng dịch vụ giáo dục, cần nâng cao chƣơng trình, gắn đào tạo với thực tiễn để khách hàng – học viên có đƣợc kiến thức cần thiết, thực hiện đƣợc những nhiệm vụ đƣợc giao trong đúng ngành nghề mà họ đƣợc đào tạo.

     

    Hoạt động kiểm định chất lượng, đƣợc coi nhƣ là một trong các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lƣợng của trƣờng. Dựa vào khung đảm bảo chất lƣợng và cơ chế đảm bảo chất lƣợng, trƣờng cần xây dựng mô hình chất lƣợng cho trƣờng mình. Tuy nhiên, công việc này trên thực tế là khó khăn và cái đã làm đƣợc chƣa phải là nhiều và chƣa làm hài lòng những ai quan tâm.

     

    35

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Cần nhấn mạnh tính đáp ứng và năng động nhà trường đối với nhu cầu của nền kinh tế đang chuyển đổi. Trong khi nạn thất nghiệp vẫn là mối đe dọa đối với sinh viên tốt nghiệp thì các doanh nghiệp vẫn khó khăn trong tuyển dụng lao động có tay nghề cao, có khả năng linh hoạt, nhanh nhạy, năng động và sáng tạo, có trình độ tin học và ngoại ngữ.

     

    Bên cạnh đó, việc tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn lực cũng là một yêu cầu tất yếu trong xác định và quản lý chƣơng trình đào tạo.

     

    Hơn nữa, không thể chỉ nhà nƣớc lo vấn đề đào tạo đại học mà phải gắn với doanh nghiệp. Cần đẩy mạnh mô hình các doanh nghiệp tham gia vào việc đào tạo, tạo điều kiện thực tập cho sinh viên. Nhà trƣờng nên “bắt tay” với các doanh nghiệp tạo cơ hội việc làm cho sinh viên khi ra trƣờng, đây cũng là cách tốt nhất tự giải thoát mình khỏi bế tắc đầu ra, nhằm tăng cƣờng tính gắn kết giữa đào tạo và sử dụng, giữa nhà trƣờng và thị trƣờng lao động nói riêng, giữa nhà trƣờng và xã hội nói chung.

     

    3.2. Nâng cao chất lƣợng giảng viên và hệ thống cán bộ nhân viên hỗ trợ công tác giảng dạy

     

    Giảng viên, ngƣời truyền đạt không chỉ kiến thức mà cả niềm say mê nghề nghiệp cho sinh viên, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng đào tạo.

     

    Thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng giảng viên về chuyên môn, ngoại ngữ; tiêu chuẩn hóa cán bộ quản lý phù hợp với chức danh và nhiệm vụ đƣợc phân công. Ƣu tiên đặc biệt đối với những ngành đào tạo chƣa có giảng viên trình độ tiến sỹ.

     

    Thực hiện qui hoạch đào tạo bồi dƣỡng đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp và chuyên gia đầu ngành, đội ngũ giảng viên, nhân viên kỹ thuật; đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm định chất lƣợng từ trƣờng đến khoa.

     

    Quy định chính sách khuyến khích động viên để sớm có một tỷ lệ nhất định giảng viên đƣợc phong học hàm. Phát triển tổ chức làm nhiệm vụ tạo nguồn cho đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ phục vụ chiến lƣợc đào tạo cán bộ sau đại học trong và ngoài nƣớc.

     

    Tuyển dụng cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn cao, sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi về trƣờng.

     

    Hợp tác trao đổi giảng viên giữa nhà trƣờng với các trƣờng đại học nƣớc ngoài. Tăng cƣờng mời chuyên gia, cán bộ khoa học trình độ cao ở các trƣờng đại học, viện nghiên cứu trong nƣớc về giảng dạy các chuyên ngành còn thiếu giảng viên.

     

    Tổ chức cam kết trách nhiệm giữa cán bộ, giảng viên với nhà trƣờng về nghĩa vụ, quyền lợi, kịp thời tôn vinh những ngƣời có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và có đóng góp lớn đối với nhà trƣờng.

     

    3.3. Đổi mới quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục Đại học

     

    Việc này sẽ khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào quá trình cung cấp dịch vụ giáo dục, qua đó thay đổi cách đánh giá chất lƣợng giáo dục.

     

    Quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục đại học ở trƣờng còn nhiều bất cập. Điều đó

     

    36

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    ảnh hƣởng tới chất lƣợng cũng nhƣ hiệu quả của đầu tƣ cho giáo dục. Quy trình cung cấp dịch vụ đại học chắc chắn phải thay đổi. Sự thay đổi này hƣớng tới việc đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên.

     

    Sơ đồ 3.1. Quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục

     

    Nhu cầu của thị

    Khả

    năng

    cung

    cấp

    dịch  vụ

    trƣờng lao động về

     

    giáo dục của các trƣờng

    kiến thức và kỹ năng

    Khả

    năng

    cung

    cấp

    dịch  vụ

       

    của các địa phƣơng, ngành

       
    • Lƣợng cầu dịch vụ giáo dục ở

    Nhu cầu, khả năng

    các địa phƣơng/ngành

    của học sinh và định

    –  Yêu cầu về  các  kỹ năng và

    hƣớng của gia đình

    kiến thức bổ trợ

    Cung cấp

     

    dịch vụ

     

    Kiểm tra

     

    và đánh giá

     

    dịch vụ

     

    Thiết kế chƣơng trình và giáo trình

     

    Điều

    Xác định địa điểm đào tạo, thời gian, thời lƣợng đào tạo

     

    chỉnh

    Lựa chọn, đào tạo và bồi dƣỡng giảng viên

     

    dịch vụ

    Xác định học phí, mức đóng góp, cơ cấu, học bổng

     

    và quá

     

    trình nếu

    Thiết kế các chƣơng trình truyền thông giáo dục, định hƣớng

     
     

    cần thiết

     

    nghề nghiệp

     
         
           

    Bên cạnh đó, việc thay đổi phƣơng pháp giáo dục chất lƣợng dịch vụ giáo dục là cần thiết. Việc đánh giá chất lƣợng giáo dục không nên chỉ một chiều: giáo viên đánh giá sinh viên mà cần thiết phải có đánh giá của sinh viên về giáo viên. Dƣới góc nhìn của dịch vụ, sinh viên là khách hàng và họ có quyền đánh giá chất lƣợng dịch vụ thông qua trình độ, thái độ và khả năng của giáo viên.

     

    Nên thiết lập chế độ thƣởng theo thành tích, thƣởng và ghi nhận các giáo viên có những cải tiến trong công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Giáo viên nên đƣợc đánh giá thƣờng xuyên bởi chính sinh viên, đồng nghiệp, cấp trên và các tổ chức chuyên đánh giá chất lƣợng độc lập đƣợc mời từ bên ngoài trên các mặt nhƣ sự chuẩn bị bài giảng, phƣơng pháp giảng dạy và những đóng góp cho sự phát triển của khoa, trƣờng.

     

    3.4. Thực hiện các chương trình truyền thông giáo dục từ các cấp học phổ thông

     

    Thị trƣờng lao động ngày càng có nhiều cơ hội việc làm cho ngƣời lao động trẻ nhƣng cũng hàm chứa trong đó không ít thách thức với không chỉ ngƣời lao động mà cả các cơ sở đào tạo cung cấp ngƣời lao động. Việc thực hiện các chƣơng trình truyền thông nhằm định hƣớng nghề nghiệp theo khả năng và sở thích của học sinh cần đƣợc xem nhƣ là một trong những cách giúp ngƣời lao động và các cơ sở đào tạo tránh lãng phí nguồn lực hữu

     

    37

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    hạn của mình mà đạt đƣợc những mục tiêu mong muốn.

     

    Các phƣơng tiện truyền thông đại chúng, trong các diễn đàn và tại các trƣờng phổ thông, việc định hƣớng nghề cho học sinh cần đƣợc chú trọng hơn với nhiều hoạt động nhƣ tƣ vấn nghề nghiệp, chọn ngành, chọn nghề hợp với sở thích, năng lực của các em và góp phần làm thay đổi cách nghĩ của nhiều bậc phụ huynh về những suy nghĩ trái chiều.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo (số 760/BC- BGDĐT ngày 29/10/2009 của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT).
    • Trƣờng Đại học Hồng Đức- Chương trình Fulbright tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Mô hình trường đại học trực thuộc địa phương ở Việt Nam”, 04-05/12/2008 tại

    Thanh Hóa.

     

    • Trƣờng Đại học Hồng Đức- Chƣơng trình Fulbright tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Quản trị trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam”, 05-06/3/2010 tại

    Thanh Hóa.

     

    • Nguyễn Văn Bảo (2006), Trường đại học trực thuộc địa phương, Trường cao đẳng Cộng đồng – mô hình mới đào tạo nguồn nhân lực, Tạp chí kinh tế và phát triển, Hà Nội.
    • Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (1997), Về loại hình Trường cộng đồng trong điều kiện Việt Nam, Phát triển giáo dục, (4/1997), Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội
    • Tài liệu từ phòng Tổ chức cán bộ, phòng Đào tạo, phòng Công tác HSSV

    APPLYING SERVICE MARKETING TO IMPROVE THE

     

    TRAINING QUALITY AT HONG DUC UVIVERSITY

     

    Le Quang Hieu

     

    ABSTRACT

     

    Hong Duc University, which was established in 1997, is the fisrt local university in Việt Nam. Up to now, the scale of education of this university becomes larger with more than 16,000 students. From economic viewpoint, the university is also a service organization. Therefore applying marketing to satify customer’s needs is essential. This article focus on assessing factors which influence on the quality education of Hong Duc university based on 7P’s model of Marketing Services, and we finally propose some solutions in order to increase quality of the university.

     

    Key words: Marketing Services, quality of university education, Hong Duc University.

     

    Ngƣời phản biện: PGS.TS. Trần Hùng; Ngày nhận bài: 10/1/2014; Ngày thông qua

     

    phản biện: 20/1/2014; Ngày duyệt đăng: 18/3/2014

     

    38


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-4.0-%C4%90%E1%BA%BEN-QUY%E1%BA%BET-%C4%90%E1%BB%8ANH-KH%E1%BB%9EI-NGHI%E1%BB%86P-KINH-DOANH-ONLINE-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-TH%C3%80NH-PH%E1%BB%90-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    EFFECTING OF INDUSTRY 4.0 TO DECIDE TO START DOING BUSINESS ONLINE OF UNIVERSITIES’ STUDENTS IN HO CHI MINH CITY

     

    Nguyễn Thị Liễu Điền1, Nguyễn Xuân Trường1

     

    Ngày nhận bài: 05/11/2018      Ngày chấp nhận đăng: 23/11/2018        Ngày đăng: 05/4/2019

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục đích xem xét ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định kinh doanh online của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (SEE), thuyết hành động hợp lý TRA, mô hình hành vi dự định TPB, mô hình chấp nhận công nghệ TAM, mô hình nghiên cứu của Krueger – Brazeal, mô hình nghiên cứu của Shapero – Sokol và các nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài để xác định mô hình nghiên cứu gồm 9 yếu tố. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp đã được áp dụng, trong đó nghiên cứu chính thức tiến hành với phương pháp khảo sát cắt ngang (cross-sectional) bằng bảng khảo sát (questionnaire). Phương pháp lấy mẫu thuận tiện đã được áp dụng. Kết quả thu được 503 bảng khảo sát hợp lệ của 503 đáp viên. Kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), nhân tố xác định (CFA) và phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) bằng phần mền ứng dụng SPSS 22 và AMOS 20. Kết quả cho thấy các yếu tố: Mong đợi khởi nghiệp kinh doanh online; Sự tự tin với kinh doanh online và Xu hướng công nghệ có ảnh hưởng đến Ý định kinh doanh online của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng các yếu tố: Chuẩn chủ quan; Thông tin về kinh doanh online trên Internet; Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 và Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có tác động cùng chiều đến Sự mong đợi khởi nghiệp kinh doanh online và yếu tố Sự tự tin khi kinh doanh online.

     

    Từ khóa: Công nghệ 4.0, khởi nghiệp, kinh doanh online, quyết định kinh doanh.

     

    JEL Classification Code: M31, M37, M39.

     

    Abstract

     

    This study was conducted to examine the impact of technology 4.0 on the online business decision of students in Ho Chi Minh City. Based on the theory of entrepreneurial start-ups – SEE, Theory of Reasoned Action – TRA, Theory of Planned Behavior – TPB, Technology Acceptance Model – TAM, Research Model of Krueger-Brazeal, Research Model of Shapero-Sokol and previous

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    50

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    studies related to the topic, the team developed a proposed model of nine factors including the “Business Decision” factor. The study of 503 validated samples, using EFA, CFA, and SEM, indicated that the expectation factor for starting an online business, Confidence factor for online business and Technological Trends influence the Intent of Online Business of Students. In addition, the study also confirmed that Subjective norms, Information about online business on the Internet, Knowledge platform 4.0 technology, and the 4.0 Technology experience have a positive impact on Expectation factor and Confidence factor in Online Business.

     

    Key words: Technology 4.0, startup, online business, business decision.

     

    1. Giới thiệu

     

    Khởi nghiệp kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư hay còn gọi là cuộc cách mạng 4.0 đã tạo nên sự thay đổi lớn. Các công nghệ được nhắc đến trong cuộc cách mạng 4.0 hiện nay không hề mới, nhưng những năm gần đây, đặc biệt trong năm 2017 các công nghệ này hội tụ với nhau và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động marketing trên toàn thế giới, xu hướng marketing sẽ dịch chuyển từ truyền thống sang công nghệ số để kịp thích nghi với những thay đổi của hành vi khách hàng trong thời đại công nghệ số. Tác động dễ thấy nhất của cuộc cách mạng 4.0 chính là sự bùng nổ của mạng Internet, thương mại điện tử và cách thức tiếp thị của các doanh nghiệp, chính sự thay đổi này đã tạo nên nhiều cơ hội kinh doanh trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Cách thức tiếp thị thời đại 4.0 chủ yếu được phát triển dựa trên nền tảng Internet, đây cũng là động lực để thúc đẩy các cá nhân, nhóm quyết định khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về các chỉ số về tinh thần khởi nghiệp và đứng thứ 2 về thái độ tích cực đối với khởi nghiệp là kết quả khảo sát của tập đoàn Amway kết hợp cùng đại học Technische Univeritat Minchen và công ty Nghiên cứu thị trường Gft. Đó là về tinh

     

    thần khởi nghiệp, nhưng theo báo cáo về chỉ số khởi nghiệp của Theo diễn đàn Khởi nghiệp Việt Nam 2015, cứ 100 người Việt Nam thì có 18 người có ý định khởi nghiệp nhưng chỉ có 2 trong số đó là người triển khai ý định khởi nghiệp trên thực tế. Các doanh nghiệp startup chủ yếu hoạt động theo hình thức kinh doanh online. Hình thức này bùng nổ trong 5 năm trở lại đây và trở thành xu hướng khởi nghiệp của giới trẻ. Khởi nghiệp kinh doanh đã có lịch sử lâu đời nên theo sau đó cũng đã có nhiều lý thuyết và mô hình nghiên cứu về vấn đề khởi nghiệp xuất hiện. Tuy vậy các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc khai thác các yếu tố tác động đến ý định/mong muốn/quyết định kinh doanh online, nhưng chưa khai thác sâu vào những vấn đề đặt trong bối cảnh cùng cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư (hay còn gọi là cách mạng 4.0).

     

    Trước thực tiễn nêu trên, đề tài nghiên cứu

     

    “Ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm đo lường ảnh hưởng của chúng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    2. Cơ sở lý thuyết

     

    2.1. Khái niệm công nghiệp (công nghệ) 4.0

     

    Cách mạng Công nghiệp 4.0 bắt đầu từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013. “Industrie 4.0” kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong. (Gartner, 2015).

     

    Theo Klaus Schwab, cách mạng Công nghiệp 4.0 diễn ra trên 3 lĩnh vực gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI); Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và Dữ liệu lớn (Big Data).

     

    Trong nghiên cứu này, Công nghệ 4.0 được đề cập ở lĩnh vực kĩ thuật được ứng dụng trong kinh doanh online.

     

    2.2. Khái miệm quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Theo Neil Blumenthal, đồng giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫn trên tạp chí Forbes thì: “A startup is a company working to solve a problem where the solution is not obvious and success is not guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo).

     

    Còn Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” – một cuốn sách được coi là “cẩm nang gối đầu giường” của mọi công ty startup, thì: A startup is “A human institution designed to create new products and services under conditions of

    extreme uncertainty” (tạm dịch: startup “là một định chế/tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn”).

     

    Trong bài nghiên cứu này, khởi nghiệp được hiểu là một động từ biểu thị cho hoạt động bắt đầu của một doanh nghiệp, kinh doanh một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó.

     

    Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online: là một chuỗi các bước thực hiện, bắt đầu từ việc đưa ra thông tin, phân tích và cụ thể là lựa chọn bắt đầu kinh doanh trên những nền tảng được phát triển trên mạng Internet.

     

    2.3. Các lý thuyết nền tảng liên quan đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    • Các lý thuyết khoa học hành vi:

    Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý hành vi (Olson&Zanna, 1993).

     

    Theo học thuyết TRA của Ajzen & Fishben,

     

    • định hành vi (Behavior Intention – BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi. Ý định hành vi chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Thái độ cá nhân (Attitude Toward Behavior – AB) và Chuẩn chủ quan (Subjective Norm – SN). Đến năm 1991, Ajzen đề xuất Thuyết hành vi dự định – TPB (Theory of Planed Behavior) bằng cách bổ sung thêm các yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” vào mô hình gốc ban đầu để dự đoán hành vi của con người. Yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” là việc mà các nhân cảm thấy dễ dàng hay khó khăn để thực hiện hành động dựa trên các nguồn lực và cơ hội có sẵn. Lý thuyết hành động hợp lý TRA và lý thuyết hành vi dự định TPB được chứng minh khác nhau của các cá nhân (Sheppard&ctg, 1998).

    52

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model):

    Trong nửa cuối thế kỉ 20, nhiều lý thuyết đã được hình thành và được kiểm nghiệm nhằm nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ của người sử dụng. Năm 1986, Davis đã đề xuất mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model). Lý thuyết này được công nhận là công cụ hữu ích trong việc dự đoán thái độ của người sử dụng. Đặc biệt, TAM được công nhận rộng rãi là một mô hình đáng tin cậy và mạnh trong việc mô hình hóa việc chấp nhận IT của người sử dụng. Mô hình TAM bao gồm, nhận thức sự hữu ích là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ (Davis 1989, tr320), nhận thức tính dễ sử dụng, là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực (Davis 1989, tr320) và thái độ hướng đến việc sử dụng là cảm giác tích cực hay tiêu cực có tính ước lượng về việc thực hiện hành vi vì mục tiêu (Fishbein và zen 1975, tr 216). Định nghĩa này lấy từ thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action).

    2.4. Các nghiên cứu đã thực hiện về ý định và quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Nhìn chung, số lượng nghiên cứu về ý định và quyết định khởi nghiệp của sinh viên vẫn còn khá hạn chế. Một số nghiên cứu tiêu biểu về chủ đề này được trình bày ở bảng 1.

     

    2.5. Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Dựa vào các đề tài nghiên cứu tham khảo và nhân tố tác động làm cơ sở để xây dựng các biến cho mô hình đề xuất, gồm:

     

    • Chuẩn chủ quan, (2) Thông tin về kinh doanh online, (3) Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online, (4) Xu hướng công nghệ, (5) Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, (6) Trải nghiệm công nghệ 4.0, (7) Sự tự tin khi kinh doanh online, (8) Ý định kinh doanh. Trong đó, biến độc lập là các biến Chuẩn chủ quan, Thông tin về kinh doanh online trên Internet, Xu hướng công nghệ, Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, Trải nghiệm công nghệ 4.0. Biến trung gian là: Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online, Sự tự tin khi kinh doanh online, Ý định kinh doanh online. Biến phụ thuộc là Quyết định kinh doanh online.

     

     

     

    53

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Bảng 1. Một số nghiên cứu về ý định khởi nghiệp kinh doanh và

     

    quyết định khởi nghiệp kinh doanh trong và ngoài nước

     

    STT

    Phạm

    Hướng tiếp cận

    Các yếu tố ảnh hưởng được xác định

    Nguồn tham

     
     

    vi

           

    khảo

         

    1

     

    Những yếu tố có thể lôi

    (1) (1) Cảm nhận sự khao khát, (2) Xu

    Shapero & Sokol

     
     

    kéo thúc đẩy cá nhân đi

    hướng hành động, (3) Cảm nhận tính

       

    (1982)

     
       

    đến ý định khởi nghiệp

    khả thi.

       
                   
                 

    2

     

    Tiềm năng để tạo ra một

    (2) (1) Sự khao khát, (2) Tính khả thi, (3)

     

    Krueger &

     
     

    công ty mới

    Xu hướng hành động.

    Brazeal (1994)

     
       
                       

    3

     

    Ý định khởi nghiệp của

    (3) (1) Cảm nhận sự khát khao, (2) Cảm

    Linan (2004)

     

    nước

    sinh viên

    nhận tính khả thi, (3) Chuẩn mực xã hội.

                 
                     
     

    Tác nhân khuyến khích ý

    (4) (1) Cảm nhận môi trường giáo dục đại

    Luthje & Franke

     
     

    Ngoài

    4

    định khởi nghiệp

    học, (2) Điều kiện thị trường và tài

    (2004)

         
         

    chính, (3) Tính cách cá nhân.

               
         

    (5) (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3)

    See Kwong Goh

     

    5

     

    Mô hình TPB

    & Manjit Singh

     
         

    Nhận thức kiểm soát hành vi.

    Sandhu (2012)

     
           
               
       

    Mô hình TPB& 2 yếu tố

    (6) (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3)

    See Kwong Goh

     

    6

     

    cảm xúc cha nhân (niềm

    Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Niềm

    & Manjit Singh

     
       

    tin, sự cam kết)

    tin tình cảm, (5) Cam kết cảm xúc.

    Sandhu (2013)

     
                       
       

    Các yếu tố ảnh hưởng đến

    (7) (1) Chuẩn mực xã hội, (2) Cảm nhận sự

               
       

    ý định khởi nghiệp của

    khát khao, (3) Cảm nhận tính khả thi, (4)

     

    Hoàng Thị

     

    7

     

    Cảm nhận môi trường giáo dục đại học,

     
     

    sinh viên trường Đại học

    Thương (2014)

     
       

    (5) Điều kiện thị trường và tài chính, (6)

       

    Lao động – Xã hội

               
       

    Tính cách cá nhân.

               
                     
                       
       

    Các nhân tố ảnh hưởng

     

    Nguyễn

     

    Quốc

     
       

    đến ý định khởi sự doanh

    (8) (1) Thái độ và sự đam mê đối với khởi

     
       

    Nghi,

     

    Thị

     

    8

     

    nghiệp của sinh viên khối

    sự kinh doanh, (2) Nguồn vốn, (3) Sự

    Diệu

    Hiền,

    Mai

     
       

    ngành quản trị kinh doanh

    sẵn sàng kinh doanh, (4) kinh nghiệm

    Ngọc

    Thanh

     
       

    tại các trường đại học/cao

    làm việc, (5) Chuẩn chủ quan, giáo dục.

    (2016)

         
     

    nước

    đẳng ở TPHCM

                 
     

    Các nhân tố ảnh hưởng

    (9) (1) Thái độ và sự hiệu quả có ảnh

               
                   
     

    Trong

    đến ý định khởi sự doanh

    Phan Anh Tú và

     
     

    nghiệp: Trường hợp sinh

    hưởng nhiều nhất, (2) Giáo dục và thời

       

    9

     

    cơ khởi nghiệp, (3) Nguồn vốn, (4)

    Giang  Thị

     

    Cẩm

     
     

    viên khoa kinh tế và quản

     
       

    Quy chuẩn chủ quan, (5) Nhận thức

    Tiên (2015)

       
       

    trị kinh doanh trường đại

       
       

    kiểm soát hành vi.

               
       

    học Cần Thơ

               
                     
               
         

    (10) (1)Sự ham muốn kinh doanh, (2) Khả

    Các nhân tố ảnh

     
       

    Các nhân tố ảnh hưởng

    năng tài chính, (3) Khả năng tự chủ, (4)

    hưởng đến ý định

     
       

    Tính sáng tạo, (5) Tính bền bỉ, (5) Tư

    khởi

    sự

    doanh

     
       

    đến ý định khởi sự doanh

       

    duy làm chủ, (6) Khuynh hướng chấp

    nghiệp  của

    sinh

     

    10

     

    nghiệp của sinh viên kinh

     

    nhận rủi ro, (7) Tính tự tin, (8) Nhu cầu

    viên

    kinh

     

    tế  đã

     
       

    tế đã tốt nghiệp trên địa

     
       

    thành đạt, (9) Nền tảng gia đình, (10)

    tốt

    nghiệp

    trên

     
       

    bàn thành phố Cần Thơ

       

    Giáo dục, (11) Chính sách Chính phủ

    địa bàn thành phố

     
         
         

    và địa phương.

    Cần Thơ (2015)

     
                       

    54

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    2.6. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu Giả thuyết

     

    • Chuẩn chủ quan

    Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) được phát hiện và nghiên cứu bởi Fishbein (1967), áp dụng cho các nghiên cứu về thái độ và hành vi. Trong thuyết này, ý định hành vi là yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng và ý định hành vi bị tác động bởi hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan. Chuẩn chủ quan là người khác cảm thấy như thế nào khi bạn thực hiện hành vi đó (gia đình, bạn bè,…). Thuyết hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) được Ajzen (1991) nghiên cứu, Đây là sự mở rộng của thuyết hành động hợp lý (TRA). Trong thuyết này, Ajzen đã ra thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức là lòng tin của cá nhân về khả năng thực hiện hành vi, dự định thực hiện hành vi chịu tác động bởi 3 yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi và nhận thức. Với những lập luận trên, giả thuyết được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H1: Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Thông tin về kinh doanh online trên Internet

    Thông tin về kinh doanh online trên Internet trong nghiên cứu này được hiểu như là những dữ kiện và tin tức, tri thức có liên quan, phục vụ cho hoạt động kinh doanh online được truyền và cập nhật trên Internet.

     

    Biến Thông tin về kinh doanh online được phát triển dựa trên lý thuyết về mô hình TPB, ở biến kiểm soát hành vi cảm nhận tác động đến ý định.

    Với những lập luận trên giả thuyết về thông tin khởi nghiệp kinh doanh được đề xuất như sau:

    Giả thuyết H2: Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Xu hướng công nghệ

    Yếu tố Xu hướng công nghệ ảnh hưởng đến

     

    • định tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh. Những yếu tố hoàn cảnh có thể hỗ trợ hoặc ngăn cản quá trình khởi sự kinh doanh. Tầm quan trọng của yếu tố bên ngoài trong các quyết định khởi nghiệp được nhấn mạnh trong các mô hình của Bird (1993), Martin(1984), và mô hình SEE của Shapero & Sokol (1982) đề xuất. Xu hướng công nghệ 4.0 được đề cập trong bài là những xu hướng công nghệ mới 4.0 xuất phát từ môi trường bên ngoài. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Reynolds

    – 1995, khi chứng minh rằng điều kiện môi trường, xu hướng của xã hội không chỉ là động lực giúp cá nhân khởi nghiệp kinh doanh, mà nó còn ảnh hưởng tích cực đến ý định cũng như quyết định khởi nghiệp của một người. Biến Xu hướng công nghệ 4.0 được phát triển dựa trên lý thuyết về mô hình TPB, ở biến kiểm soát hành vi cảm nhận tác động đến ý định. Với những lập luận trên 2 giả thuyết về xu hướng công nghệ được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H3a: Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Giả thuyết H3b: Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    55

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0

    Các nghiên cứu về yếu tố giáo dục được công bố là nghiên cứu của Schwarz & cs (2009) và Turker & Selcuk (2009) đánh giá yếu tố “môi trường giáo dục” là xem xét môi trường giáo dục nói chung có khuyến khích ý tưởng, sáng kiến khởi nghiệp của sinh viên hay không hoặc kiến thức, nội dung của môn học mang lại

     

    • tưởng khởi nghiệp và kỹ năng cho sinh viên. Kết quả trong nghiên cứu mô hình của nhóm nghiên cứu Vương Thanh Tuyền (2017); Phan Anh Tú (2015) cũng khẳng định điều đó. Với những nghiên cứu trên giả thuyết được đề xuất về nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 như sau:

    Giả thuyết H4: Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến dến sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Trải nghiệm công nghệ 4.0

    Các hoạt động, công việc đã làm trước đây, đặc biệt các trải nghiệm liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp kinh doanh có thể tạo ra cho các cá nhân vốn xã hội – một tài sản vô hình của doanh nhân giúp cung cấp, hỗ trợ cần thiết khi khởi nghiệp nên tác động tích cực đến sự tự tin của cá nhân về tính khả thi khởi nghiệp (Greve, A., & Salaff, J.W, 2003). Điều này cũng được chứng minh qua nghiên cứu về tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học do Nguyễn Thu Thủy thực hiện, kinh nghiệm lãnh đạo và kinh nghiệm thương mại ảnh hưởng rất lớn đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên.

     

    Dựa trên các nghiên cứu trước về các trải nghiệm liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp kinh doanh có thể tạo ra cho các cá nhân vốn xã hội – một tài sản vô hình của doanh nhân giúp cung cấp, hỗ trợ cần thiết khi khởi nghiệp kinh doanh (Greve, A., & Salaff, J. W, 2003)

    để phát triển thang đo. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh (2016) cũng đề cập đến yếu tố này. Từ các lập luận trên giả thuyết về trải nghiệp công nghệ 4.0 của bản thân được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H5: Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Mong đợi lợi ích từ khởi nghiệp kinh doanh online

    Yếu tố Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online được tham khảo từ kết quả của nghiên cứu của Alderson và Martin (1965) và ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh Đại học Cần Thơ của nhóm nghiên cứu Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015). Từ các lập luận trên giả thuyết về mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất:

     

    Giả thuyết H6: Mong đợi lợi ích khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh

     

    online

     

    Shapero cho rằng sự tự tin khởi nghiệp liên quan đến nhận thức của con người về khả năng, năng lực của mình khi quyết định khởi nghiệp và cũng tương tự khái niệm “nhận thức kiểm soát hành vi” của Ajzen – 1991. Bên cạnh đó, nó cũng phản ánh niềm tin về khả năng thành công khi khởi nghiệp (Krueger N. &., 1994). Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Công nghệ ở Malaysia (MTU) do Amran Rasli và Bernard Wong – 2008 cho thấy có mối tương quan giữa tính khả thi khi khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên trường này. Điều đó cũng được chứng minh qua

     

    56

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    cuộc nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách cá nhân đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên do Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự thực hiện năm 2011.

     

    Shapero cho rằng sự tự tin khởi nghiệp liên quan đến nhận thức của con người về khả năng, năng lực của mình khi quyết định khởi nghiệp và cũng tương tự khái niệm “nhận thức kiểm soát hành vi” của Ajzen – 1991. Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh – SEE cho thấy có mối tương quan giữa tính khả thi khi khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp của sinh viên và nghiên cứu tại Việt Nam của nhóm nghiên cứu Phan Anh Tú, Nguyễn Thanh Sơn (2015). Từ các lập luận trên giả thuyết về sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H7: Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Ý định khởi nghiệp kinh doanh online
    • định khởi nghiệp là trạng thái của tâm trí để thúc đẩy sự sáng tạo kinh doanh hoặc liên doanh mới. Nghiên cứu về các yếu tố tác động

    đến ý định có các thuyết hành động hợp lý (TRA), thuyết dự định hành vi (TPB), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM). Gần đây nhất, có thêm một nghiên cứu của Kautomen 2015 đã xác nhận rằng, ý định khởi nghiệp dự đoán được hành vi trong hoạt động khởi nghiệp của con người. Trong đề tài này, ý định khởi nghiệp có thể được hiểu như là một dự định khám phá và phát triển những cơ hội kinh doanh để sản xuất ra những sản phẩm dịch vụ trong tương lai bằng việc thành lập một tổ chức kinh doanh/ công ty mới (Venkataraman, 1997). Trong nước các đề tài nghiên cứu về ý định có nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Lao động – Xã hội (2014) của Hoàng Thị Thương; Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên. Từ các lập luận trên giả thuyết về

     

    • định khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất như sau:

    Giả thuyết H8: Ý định khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng biến với quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

     

     

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

     

    57

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Từ mô hình đề xuất, áp dụng phương pháp hỗn hợp, thực hiện hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức để kiểm định mô hình và các giả thuyết.

     

    Đề tài được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Từ mô hình đề xuất, áp dụng phương pháp hỗn hợp, thực hiện hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính

    thức để kiểm định lại mô hình nghiên cứu và các giả thuyết trong mô hình.

     

    3.1. Quy trình nghiên cứu

     

    3.1.1. Nghiên cứu sơ bộ

     

    • Xây dựng thang đo

    Thang đo được sử dụng cho 39 biến quan sát định lượng là thang đo Likert 5 điểm, thay đổi từ 1 là “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 là “Hoàn toàn đồng ý”, và bao gồm 10 thành phần sau đây: Chuẩn chủ quan (5 biến quan sát); Thông tin về kinh doanh online trên Internet (4 biến quan sát); Xu hướng công nghệ 4.0 (3 biến quan sát).

     

     

    Nghiên cứu sơ bộ

             
                 
     

    Cơ sở lý thuyết

       

    Mô hình nghiên cứu

     
         
               

    Mô hình nghiên cứu

     

    Thảo luận nhóm (n = 9)

       

    hoàn chỉnh

     
       
               
                   

    Phỏng vấn chuyên sâu

     

    (n = 33)

     

    Bảng câu hỏi

     

    sơ bộ

     

    Nghiên cứu định lượng

     

    sơ bộ (n = 50)

     

    Cronbach’s Alpha

     

    Bảng câu hỏi

     

    chính thức

     

    Hoàn chỉnh biến quan sát

    thang đo sơ bộ

     

    Kiểm tra hệ số Cronbach’s

    Alpha và tương quan biến tổng

     

    Nghiên cứu định lượng

     

    chính thức (n = 500)

     

    Cronbach’s Alpha

     

    EFA

     

    CFA

     

    SEM

     

    Kiểm định Bootstrap

     

    và giả thuyết

     

    Nghiên cứu định

     

    lượng chính thức

    Kiểm tra hệ số Cronbach’s  Alpha và tương quan biến tổng

     

    Kiểm tra trọng số EFA, nhân tố  khám phá và phương sai trích

     

    Loại biến có trọng số EFA nhỏ

     

    Kiểm định sự phù hợp của mô

    hình với thị trường

     

    Kiểm tra giá trị hội tụ, giá trị

     

    phân biệt, tính đơn hướng.

     

    Kiểm tra độ thích hợp của mô

    hình và giá trị liên hệ lý thuyết.

     

    Hình 2. Sơ đồ quy trình nghiên cứu

     

     

    58

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 (4 biến quan sát); Trải nghiệm của bản thân về công nghệ 4.0 (5 biến quan sát); Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (3 biến quan sát); Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (4 biến quan sát); Ý định khởi nghiệp kinh doanh online (6 biến quan sát); và biến phụ thuộc Quyết định khởi nghiệp (5 câu hỏi).

     

    • Nghiên cứu định tính

    Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn chuyên sâu.

     

    • Nghiên cứu định lượng

    Nghiên cứu định lượng sơ bộ được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu cắt lát.

     

    Dựa vào kết quả trả về nhờ kĩ thuật phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha, không bỏ đi biến quan sát nào.

     

    Thang đo chính thức được hình thành với 9 yếu tố và 39 biến quan sát.

     

    3.1.2. Nghiên cứu định lượng chính thức

     

    Đề tài sử dụng hai phần mềm phân tích thống kê SPSS (Statictical Package for the Social Sciences) và AMOS (Analysis of Moment Structures) để phân tích dữ liệu.

     

    Tiến hành phân tích dữ liệu thực hiện qua các bước sau: (1) Chuẩn bị thông tin, thu nhận các bảng câu hỏi, tiến hành làm sạch thông tin, mã hóa các thông tin trong bảng trả lời, nhập liệu vào phần mềm SPSS; (2) Thực hiện nghiên cứu thống kê mô tả, tiến hành thống kê mô tả dữ liệu thu nhập được về các điều kiện nhân khẩu học và mức độ cảm nhận của các đối tượng khảo sát về các phát biểu; (3) Đánh giá độ tin cậy của thang đo, tiến hành đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; (4) Thực hiện phân tích nhân tố khám phá, phân tích

    các khái niệm đo lường bằng phân tích nhân tố khám phá EFA; (5) Kiểm định tính hội tụ, phân biệt, tính đơn nguyên và mức độ phù hợp của dữ liệu bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA; (6) Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định độ thích hợp của mô hình;

     

    • Phân tích cấu trúc đa nhóm giữa các nhóm.

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

     

    Qua kết quả của kiểm định Cronbach’s Alpha trên ta thấy 8 thang đo bao gồm đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 và hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0.3. Vì vậy, rút ra kết luận rằng các biến quan sát của thang đo đều đạt yêu cầu và không loại biến quan sát nào cả.

     

    4.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA

     

    Phân tích EFA cho kết quả hệ số KMO = 0.882 nên dữ liệu phù hợp để phân tích EFA, kiểm định Barlett’s đạt mức ý nghĩa là 0,000, vì vậy các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên phạm vi tổng thể. Có 8 nhân tố được rút trích, giải thích được 71.884% sự biến thiên của dữ liệu. Các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5. Kết luận được rằng thang đo được chấp nhận. Dữ liệu từ bảng Pattern Matrix được sử dụng. 8 nhân tố được rút trích đó là: Chuẩn chủ quan (CQ) được đo lường bởi các biến quan sát CQ1, CQ, CQ3, CQ4, CQ5. Thông tin về kinh doanh online trên Internet (TT) được đo lường bởi các biến quan sát TT1, TT2, TT3, TT4. Xu hướng công nghệ 4.0 (XH) được đo lường bởi các biến quan sát XH1, XH2, XH3. Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 (KT) đo lường bởi các biến quan sát KT1, KT2, KT3.

     

    Trải nghiệm công nghệ 4.0 (TN) được đo lường bởi các biến quan sát TN1, TN2, TN3, TN4, TN5. Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (MD) được đo lường bởi các biến

     

    59

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    quan sát MD1, MD2, MD3. Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (STT) được đo lường bởi các biến quan sát STT1, STT2, STT3, STT4. Ý định khởi nghiệp kinh doanh online (YD): YD1, YD3,YD4,YD5,YD6.

     

    4.3. Đánh giá độ phù hợp của mô hình

     

    Tiến hành kiểm định nhân tố khám phá (CFA) để kiểm định xem mô hình đo lường này có đạt được yêu cầu chưa. Kết quả CFA cho thấy rằng các giá trị đều thỏa điều kiện nên mô hình phù hợp với dữ liệu.

     

    4.4. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

     

    Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình có giá trị thống kê Chi-square là 1082.180 (p = 0,000); Chi-square/df = 1.804; GFI = 0.895; CFI = 0.959; TLI = 0.963; RMSEA= 0.040. Theo Hair và cộng sự (2006) trong một số trường hợp 0.8 < GFI < 0.9 vẫn có thể chấp nhận khi phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, như vậy các chỉ tiêu đánh giá mức độ đều phù hợp với dữ liệu thị trường trong mức cho phép, có ý nghĩa thống kê vì P-value bé hơn 0,05.

     

    Kết quả cho thấy các trọng số đều mang dấu dương, điều này có ý nghĩa như sau:

     

    Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Trải nghiệm công nghệ có mối tương quan đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là nhân tố có tác động mạnh mẽ nhất đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh. (0.505)

     

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • định khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đối với nhân tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online thì Chuẩn chủ quan có tác động mạnh hơn là Thông tin về kinh doanh online (0.616 > 0.114).

     

    Đối với nhân tố Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online thì yếu tố tác động xếp thứ tự từ mạnh đến yếu lần lượt là Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, Trải nghiệm công nghệ 4.0 và Xu hướng công nghệ 4.0 (0.43 > 0.233 > 0.011).

     

    Trong các yếu tố tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online thì yếu tố Sự tự tin tác động mạnh mẽ nhất (0.505).

     

    60

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

     

     

    Hình 3. Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyến định

     

    khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại TP.HCM sau khi chạy SEM

     

     

    4.5. Kiểm định mô hình

     

    Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA và

    phân tích mô hình hồi quy tuyến tính SEM, các giả thuyết ban đầu nhóm đưa ra đã hiện chỉ còn 8 nhân tố và được tóm tắt như bảng sau đây:

     

    Bảng 2. Kết quả kiểm định mô hình

     

    Ký hiệu

    Giả thuyết

    Kiểm định

     
           

    H1

    Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi

    Chấp nhận

     
     

    nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

       

    H2

    Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến đến Mong đợi

    Chấp nhận

     
     

    khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh

       

    H3a

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với Sự tự tin khi

    Bác bỏ

     

    khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

         

    H3b

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi

    Chấp nhận

     
     

    nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh

       

    H4

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến dến Sự

    Bác bỏ

     

    tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online

         

    H5

    Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với

    Chấp nhận

     
     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online

       

    H6

    Mong đợi lợi ích khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan

    Chấp nhận

     
     

    đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online

       
     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan

       

    H7

    đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành

    Chấp nhận

     
     

    phố Hồ Chí Minh

       
     

    Ý định khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng

       

    H8

    biến với Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành

    Chấp nhận

     
     

    phố Hồ Chí Minh

       

    61

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    4.6. Phân tích cấu trúc đa nhóm

     

    • Kiểm định sự khác biệt theo giới tính

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của mong đợi, sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa sinh viên nam và sinh viên nữ.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng AMOS, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm nam và nhóm nữ như sau: Nhóm nam, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet có tác động đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value = 0.063 (gần bằng 0.05). Ngược lại nhóm nữ thì gần như yếu tố này lại không ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên nữ, P-value = 0.727 ( >> 0.05).

     

    • cả 2 nhóm giới tính, yếu tố Trải nghiệm tác động đến Sự tự tin của sinh viên khi khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng ở nhóm nam sự ảnh hưởng này không mạnh bằng nhóm nữ vì P-value = 0.023 ( < 0.05), trong khi nhóm nữ P-value bé hơn 0.05 nhiều.

    Cả 2 nhóm nam và nhóm nữ, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 đều không ảnh hưởng nhiều đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online ( P- value đều > 0.05. Lần lượt P value của nhóm nam, nhóm nữ là 0.245 và 0.332.

     

    Cả 2 nhóm đều cho thấy rằng Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online có ảnh hưởng mạnh đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value nhỏ hơn 0.05 nhiều.

     

    Yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online ảnh hưởng như nhau ở cả 2 nhóm do P-value = 0.002 (< 0.05 ).

    • Kiểm định sự khác nhau theo ngành học

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên khối ngành kinh tế và nhóm sinh viên không phải khối ngành kinh tế.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng AMOS, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên khối ngành kinh tế và nhóm sinh viên thuộc các khối ngành khác như sau:

     

    Nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế và nhóm không thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Chuẩn chủ quan đều tác động nhiều đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value đều < 0.05.

     

    • nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet không ảnh hưởng đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value = 0.475 (> 0.05). Nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh tế thì ngược lại, yếu tố Thông tin tác động mạnh đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online P-value = 0.005 (< 0.05).
    • cả 2 nhóm sinh viên, trải nghiệm công nghệ 4.0 đều không tác động đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value < 0.05. Nhưng ở nhóm sinh viên khối ngành kinh tế sự ảnh hưởng này không mạnh mẽ bằng ở nhóm cìn lại vì P-value = 0.013.

    Cả 2 nhóm, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 đều không tác động đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value đều > 0.05.

     

    • cả 2 nhóm, yếu tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh đều tác động mạnh đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh, do P-value đều

    62

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • 05. Tuy nhiên, ở nhóm sinh viên khối ngành kinh tế có vẻ như tác động mạnh hơn vì P-value nhóm này bé hơn nhóm còn lại.
    • nhóm sinh viên khối ngành kinh tế, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online do P-value < 0.05, ở nhóm sinh viên không thuộc khối ngành khác thì yếu tố Xu hướng hoàn toàn không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online do P-value = 0.329 (>> 0.05).
    • Kiểm định sự khác biệt theo năm học

     

    hiện tại

     

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên năm 1&2 và nhóm sinh viên năm 3&4.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng Amos, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên năm 1 & năm 2 và nhóm sinh viên năm 3

     

    • năm 4 khác như sau: Nhóm sinh viên năm 3
    • năm 4, yếu tố Chủ quan ảnh hưởng mạnh đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online do P-value << 0.05. Nhóm sinh viên năm 1 & năm 2, ảnh hưởng của Chuẩn chủ quan đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online không lớn, P-value = 0.054 (xấp xỉ 0.05).
    • nhóm sinh viên năm 1 & năm 2, Thông tin về kinh doanh online không ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value = 0.344 ( > 0.05). Nhóm sinh viên năm 3 năm & năm 4 thì thông tin có ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value = 0.046 (< 0.05).

    Yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 hoàn toàn không ảnh hưởng đến Sự tự tin khi khởi nghiệp

    kinh doanh của 2 nhóm sinh viên năm 3 & năm 4, P-value = 0.941 ( >>0.05).

     

    • cả 2 nhóm sinh viên, yếu tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh đều ảnh hưởng đến
    • định khởi nghiệp kinh doanh, do P-value < 0.05. Nhưng ở nhóm sinh viên năm 1 & năm 2 thì yếu tố mong đợi ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online yếu hơn, do P-value = 0.02. Ở nhóm sinh viên năm 3 & năm 4 thì yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, P-value < 0.05. Ở nhóm còn lại thì Xu hướng công nghệ 4.0 không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online P-value = 0.146 ( > 0.05).
    • Kiểm định sự khác biệt theo thu nhập

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu hàng tháng và nhóm sinh viên có thu nhập trên 3 triệu hàng tháng. Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng Amos, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu và nhóm sinh viên có thu nhập trên 3 triệu như sau:

     

    • 2 nhóm này, yếu tố Thông tin về khởi nghiệp kinh doanh online đều không ảnh hưởng do P-value đều lớn hơn 0.05. Nhóm có thu nhập trên 3 triệu, trải nghiệm công nghệ 4.0 có ảnh hưởng đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng không mạnh mẽ bằng nhóm có thu nhập thấp.
    • cả 2 nhóm, yếu tố Xu hướng công nghệ đều không tác động đến Sự tự tin, do P-value lớn hơn 0.05.

    63

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • nhóm thu nhập nhận cao hơn, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 có tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng ở nhóm thu nhâp thấp lại không có sự ảnh hưởng nêu trên do P-value = 0.63 ( > 0.05)

    5. Kết luận và hàm ý quản trị

     

    Kinh doanh online đang là xu hướng vì đây là mô hình kinh doanh hạn chế được nhiều chi phí cho những người bắt đầu khởi nghiệp, đồng thời mô hình kinh doanh online cũng đã có những đóng góp nhất định đến nền kinh tế. Xu hướng kinh doanh online mang ý nghĩa rất quan trọng, nếu doanh nghiệp không xuất hiện trên Internet thì xem như doanh nghiệp đánh mất lợi thế so với đối thủ. Vì vậy, vấn đề khởi nghiệp kinh doanh online đang được rất nhiều cơ quan nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 đã giúp phát triển nhiều ngành trong nền kinh tế, chẳng hạn như ngành lẻ, vận chuyển, giáo dục, sức khỏe, tương tác xã hội…

     

    Công nghệ 4.0 dần trở thành một khái niệm quen thuộc, với tầm quan trọng trong tương lai, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống cũng như các hoạt động kinh doanh trên toàn cầu.

     

    Ngày càng có nhiều doanh nghiệp startup thành công do áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất và vận hành, tạo nên sự khác biệt mạnh mẽ. Không chỉ xuất hiện ở các công ty công nghệ mới, xu hướng công nghệ 4.0 cũng lan tỏa sâu rộng đến những công ty sản xuất truyền thống đơn thuần, họ áp dụng thành tựu của nền công nghệ 4.0 vào hoạt động sản xuất và marketing. Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh là một nghiên cứu cần thiết.

    Dự án được thiết kế dựa trên kết quả nghiên cứu của nhóm. Dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn của đề tài cung cấp những số liệu khoa học cụ thể, trong tất cả những yếu tố tác động đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, yếu tố Chuẩn chủ quan ảnh hưởng mạnh đến biến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (0.616), yếu tố Nền tảng kiến thức công nghệ 4.0 ảnh hưởng mạnh đến biến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (0.43). Và yếu tố Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online với trị số cao (0.505).

     

    Theo kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa sinh viên nam và sinh viên nữ về những yếu tố tác động đến Ý định và Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online, yếu tố Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, vì vậy phải thiết kế chương trình mang đặc thù riêng cho từng giới. Nhóm nam, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet tác động đến biến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn. Ở cả 2 nhóm giới tính, yếu tố Trải nghiệm tác động đến sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online. Sinh viên khối ngành kinh tế và không thuộc ngành kinh tế: Sự khác biệt trong việc tiếp cận kiến thức, ảnh hưởng từ giảng đường đại học, vì vậy hành

     

    • khởi nghiệp kinh doanh online cũng khác nhau. Theo kết quả khảo sát, có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online. Ở nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Trải nghiệm công nghệ 4.0 tác động Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh tế. Ở nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh

    64

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    tế, yếu tố Thông tin công nghệ 4.0 tác động đến Mong đợi từ khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn nhóm còn lại. Ngoài ra còn thiết kế chương trình phù hợp với từng đối tượng sinh

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Việt

    viên: sinh viên năm nhất, năm hai và sinh viên năm ba, năm tư. Ở mỗi cấp sẽ có sự khác biệt rõ nét.

     

    Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi. (2013). “Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP.HCM”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 271.

     

    Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang. (2007). Nghiên cứu khoa học Marketing- Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM.

     

    Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền và Mai Võ Ngọc Thanh. (2016). Nghiên cứu khoa học – Các nhân tố ảnh hưởng đến đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành quản trị kinh doanh tại các trường Đại học, Cao đẳng ở Thành phố Cần Thơ.

     

    Nguyễn Thị Yến và cộng tác viên. (2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ĐHQG TP.HCM – Đề tài nghiên cứu Khoa học Euréka.

     

    Nguyễn Thu Thủy. (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học. Trong Luận án tiến sĩ kinh tế. Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.

     

    Dư Thị Chung. Bài giảng Nghiên cứu Marketing- chương trình đào tạo chất lượng cao và đặc biệt.

     

    Trường Đại học Tài chính- Marketing.

     

    Trần Thị Bích Đào. (2017). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ tại TP HCM.

     

    Tiếng Anh

     

    Ajzen. (1991). The theory of planned behaviour: Organizational behavior and human decision processes. 50(2), 179-211.

     

    Ajzen, I. &. (1975). Belief, Attitude, Intention and behaviour: An introduction to theory and research. 70-87.

     

    Benhardt, I. (1994). Comparative advantage in self-employment and paid work. Canadian Journal of Economics, 273-289.

     

    Dawson, C.Henley, A. & Latreille, P. (2009). Why do individuals choose self-employment? Institute for study of Labor (IZA), 3974.

     

    Garavan, T. N., O’Cinneide, B., (1994). Entrepreneurship education and training programs: a review and evaluation – Part 1. Journal of European Industrial Training, 18(8), 3-12.

     

    Galloway, L., Brown, W. (2002). Entrepreneurship education at university: a driver in the creation of high growth firms. Education Training, 44(8-9).

    Krueger. (1993). The impact of prior entrepreneurial exposure on perceptions of new venture feasibility and desirability. Entrepreneurship: Theory and practice, 18(1), pp.5-22.

     

    65

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Krueger, N. &. (1994). Entreupreneurial Potential and Potential Entreupreneurial. Entrepreneurship theory and practice, 18, 91-104.

    Mueller, S.(2011). Increasing entrepreneurial intention: Effective entrepreneurship course characteristics. International Journal of Entrepreneurship and Small Business, 13(1), 55–74.

     

    Shapero, A., & Sokol. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. Encyclopedia of entrepreneurship, 72 – 79.

    Link website

     

    Nguyễn Thu Thủy. (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học, Truy cập ngày 28/04/2018. <https://www.slideshare.net/garmentspace/nghin-cu-cc-nhn-t-nh-hng-n-tim-nng-khi-s-kinh-doanh-ca-sinh-vin-i-hc>.

     

    Hoàng Thị Thương. (2014). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Lao động – Xã hội, Truy cập ngày 29/04/2018 <https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/ Luan-van-thac-si–Cac-yeu-to-anh-huong-den-y-dinh-khoi-nghiep-cua-sinh-vien-truong-Dai-hoc-Lao-dong–xa-hoi-10723/>.

     

    Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Văn Long. (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi khởi sự doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Truy cập ngày 29/04/2018. <http:// tapchikhcn.udn.vn/View.aspx?idbb=Cac_yeu_to_anh_huong_den_hanh_vi_khoi_su_doanh_ nghiep_vua_va_nho_tren_dia_ban_thanh_pho_Da_Nang-5859&Nam=2013&id=87>.

     

    ThS. Đỗ Thị Xuân Lan. (2014). Lý thuyết ra quyết định, Truy cập ngày 01/05/2018.

     

    <https://tailieu.vn/doc/bai-giang-chuong-1-ly-thuyet-ra-quyet-dinh-ths-do-thi-xuan-lan-1662657.

     

    html>.

     

    John T.Roger. (2016). Thuyết dự định hành vi TPB (Theory Plan of Behavior) của Aijen (1991), Truy cập ngày 01/05/2018 <https://vneconomics.com/thuyet-du-dinh-hanh-vi-tpb-theory-plan-behavior-cua-aijen-1991/>.

     

    Phan Anh Tú, Nguyễn Thanh Sơn. (2015). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Truy cập ngày 02/05/2018 <https://123doc.org/document/3435581-cac-nhan-to-anh-huong-den-y-dinh-khoi-su-doanh-nghiep-cua-sinh-vien-kinh-te-da-tot-nghiep-tren-dia-ban-thanh-pho-can-tho.htm>.

     

    Sven Ove Hansson. (2015). Decision Theory, Truy cập ngày 02/05/201.

     

     

     

    66


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]