Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-%C4%91i%E1%BB%81u-ki%E1%BB%87n-h%C3%ACnh-th%C3%A0nh-Khu-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-kinh-t%E1%BA%BF-qua-bi%C3%AAn-gi%E1%BB%9Bi-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-t%E1%BA%A1i-Cao-B%E1%BA%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Original Article

     

    Factors Needed to Establish Cross Border Economic Zones:

    Some Assessments for Cao Bang

     

    Nguyen Anh Thu*, Vu Thanh Huong

     

    VNU University of Economics and Business,

     

    144 Xuan Thuy Str., Cau Giay Dist., Hanoi, Vietnam

     

    Received 18 March 2019

    Revised 28 March 2019; Accepted 28 March 2019

     

    Abstract: In recent decades, border economic cooperation has developed under various forms. A cross-border economic zone (CBEZ) is a form that has been increasingly studied by academics as well as policymakers in Vietnam and neighbouring countries. This paper analizes the previously studied conditions to develop a CBEZ in the case of Lao Cai province so as to identify strengths and weaknesses and propose implications. It is found that in order to develop a CBEZ and to better faciliate trade and investment which is considered as an important chain to link with the market of China, Cao Bang province should focus on infrastructures, linkages and a harmonized mechanism of cooperation with China.

     

    Keywords: Cross border economic cooperation, cross-border economic zone, Cao Bang.

     

    *

     

     

    _______

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4208

    1

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới:

    Một số đánh giá tại Cao Bằng

     

    Nguyễn Anh Thu*, Vũ Thanh Hương

     

    Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 18 tháng 3 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 3 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Trong những thập kỷ gần đây, hợp tác kinh tế biên giới phát triển ngày càng đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau. Khu hợp tác kinh tế qua biên giới (CBEZ) là một hình thức được các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và các quốc gia láng giềng quan tâm nghiên cứu cũng như triển khai. Bài viết này sẽ vận dụng các điều kiện hình thành CBEZ được phát triển từ các nghiên cứu trước đây vào trường hợp của tỉnh Cao Bằng để tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu của tỉnh, từ đó đề xuất một số hàm ý. Bài viết chỉ ra rằng để có thể hiện thực hóa CBEZ, tiến tới thuận lợi hóa hơn nữa thương mại và đầu tư, phát triển khu vực biên giới như một mắt xích kết nối với thị trường Trung Quốc, hai điểm quan trọng mà Cao Bằng cần đầu tư là kết nối cơ sở hạ tầng và hệ thống cơ chế hợp tác hài hòa với Trung Quốc.

     

    Từ khóa: Hợp tác kinh tế biên giới, khu hợp tác kinh tế qua biên giới, Cao Bằng.

     

    1.   Mở đầu *

     

    Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên hơn 6.690km2, chiếm 2,12% diện tích của cả nước. Tỉnh Cao Bằng có 1 cửa khẩu quốc tế (Tạ Lùng), 3 cặp cửa khẩu quốc gia (Trà Lĩnh, Sóc Giang và Lý Vạn) và nhiều cặp cửa khẩu phụ, lối mở khác với Trung Quốc. Vị trí địa lý này đã đem lại cho Cao Bằng những lợi thế tiềm năng trong việc xây dựng CBEZ với Trung Quốc.

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

     

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4208

    Tuy nhiên, Cao Bằng là tỉnh còn nhiều khó khăn trong các điều kiện nội tại để phát triển kinh tế. Đây là tỉnh nông nghiệp khó khăn nhất cả nước với trên 90% dân số là người dân tộc thiểu số. Tỉnh còn phụ thuộc nhiều vào nguồn ngân sách và nguồn lực xã hội hóa chưa nhiều. Cơ sở hạ tầng của tỉnh còn kém phát triển và cho đến nay đường bộ là loại hình giao thông duy nhất trên địa bàn [1, 2]. Với những điều kiện tự nhiên, con người và nguồn tài chính như vậy, việc tìm được nguồn lực, nhất là nguồn nội lực tại địa phương để phát triển kinh tế – xã hội là rất khó khăn. Do đó, việc thành lập CBEZ được kỳ vọng sẽ mang lại cơ hội mới cho tỉnh để phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại và đầu tư.

     

    2

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    3

    Hiện nay, bức tranh hợp tác kinh tế biên giới rất đa dạng và các khu hợp tác kinh tế biên giới tồn tại dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau [3, 4]. Hơn thế nữa, các khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) hiện có chưa phát huy được vai trò phát triển kinh tế cho khu vực biên giới [5]. Việc xây dựng các CBEZ đóng vai trò quan trọng trong việc thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của toàn vùng và nâng cao hợp tác kinh tế biên giới lên mức độ cao hơn. Bài viết đưa ra các điều kiện hình thành CBEZ và tiến hành đánh giá từng điều kiện của tỉnh Cao Bằng, từ đó đưa ra một số hàm ý để hỗ trợ Cao Bằng hiện thực hóa CBEZ.

     

    2.   Điều kiện hình thành CBEZ và phương pháp đánh giá

     

    2.1. Điều kiện hình thành CBEZ

     

    Hiện nay đã có một số mô hình đề xuất về CBEZ, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất về một mô hình chuẩn. Các nghiên cứu của Lord và Tangtrongjita (2014), Lalkaka và cộng sự (2011) hay Wallack và cộng sự (2011) là các

     

    nghiên cứu tiêu biểu đã đề xuất các cấu phần của CBEZ [6-8]. Cốt lõi của CBEZ vẫn là một khu kinh tế nhằm mục tiêu thuận lợi hóa thương mại và đầu tư. Do đó, các cấu phần quan trọng của CBEZ sẽ bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng cứng như hệ thống giao thông vận tải, kho bãi, các khu thương mại và sản xuất; và hệ thống cơ sở hạ tầng mềm liên quan đến cơ chế chính sách quản lý khu; dịch vụ tài chính, thông tin.

     

    Bài viết này sử dụng mô hình CBEZ nền tảng, bao gồm 8 nhóm cấu phần cụ thể được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở các nghiên cứu của Lord và Tangtrongjita (2014), Lalkaka

     

    và cộng sự (2011), Wallack và cộng sự (2011) [6-8] và được phát triển trong nghiên cứu của Nguyễn Anh Thu và Nguyễn Thị Thanh Mai (2017) [9]. Tám cấu phần của mô hình bao gồm: (1) Điểm cửa khẩu tiên tiến; (2) Kết nối hạ tầng hiện đại; (3) Khu thương mại; (4) Khu doanh nghiệp; (5) Khu dịch vụ logistics; (6) Các chính sách ưu đãi; (7) Cơ chế quản lý hợp tác chung giữa hai nước; (8) Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị và mạng lưới liên kết vùng (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Các yếu tố cấu thành CBEZ

     

     

    Các yếu tố cấu thành

     
           
     

    Khu ngoại quan

    AB 1

     
           
     

    Kiểm tra một cửa (bao gồm hải quan, biên phòng, kiểm dịch, kiểm hóa)

    AB 2

     
           
     

    Hệ thống hải quan điện tử

    AB 3

     
           

    1. Điểm

    Thanh toán điện tử các khoản thuế, phí liên quan đến thương mại qua biên giới

    AB 4

     
         

    Yêu cầu về chứng từ cửa khẩu có sự hài hòa, thống nhất giữa các cơ quan quản lý

    AB 5

     

    cửa khẩu

    (CQQL) trong nước

       

    tiên tiến

       
         

    Yêu cầu về chứng từ cửa khẩu có sự hài hòa, thống nhất giữa các CQQL của Việt Nam

    AB 6

     

    (AB)

     

    và CQQL nước bạn

       
           
     

    Thống nhất, hài hòa hóa về thủ tục giữa Việt Nam và nước bạn ở các điểm cửa khẩu

    AB 7

     
           
     

    Thống nhất, hài hòa hóa về ngày và giờ làm việc giữa Việt Nam và nước bạn ở các

    AB 8

     
     

    điểm cửa khẩu

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường bộ giữa các tỉnh giáp biên với các trung tâm

    MC 1

     
     

    kinh tế trong nước

       
           

    2. Kết nối

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường bộ giữa các tỉnh giáp biên với các cảng biển

    MC 2

     

    hạ tầng

    trong nước

       

    hiện đại

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường sắt giữa các tỉnh giáp biên và các trung tâm

    MC 3

     

    (MC)

    kinh tế trong nước

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường sắt giữa các tỉnh giáp biên và các cảng biển

    MC 4

     
     

    trong nước

       
           
    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13
     

    Sự hoàn chỉnh của hệ thống giao thông nội bộ khu vực cửa khẩu

    MC 5

     
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường bộ của Việt Nam và các trung tâm kinh

    MC 6

     
     

    tế của nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường bộ của Việt Nam và các cảng biển của

    MC 7

     
     

    nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa hệ thống đường sắt của Việt Nam và các trung tâm kinh

    MC 8

     
     

    tế của nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường sắt của Việt Nam và các cảng biển của

    MC 9

     
     

    nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển của chợ thương mại biên giới

    TA 1

     
           

    3. Khu

    Sự phát triển của khu dịch vụ tài chính ngân hàng

    TA 2

     
         

    thương

    Sự phát triển của khu mua sắm hàng miễn thuế

    TA 3

     

    mại (TA)

         

    Sự phát triển của khu hội chợ, triển lãm quốc tế

    TA 4

     
     
           
     

    Sự phát triển của khu du lịch qua biên giới

    TA 5

     
           
     

    Sự phát triển của khu chế xuất

    EA 1

     
           

    5. Khu

    Sự phát triển của khu công nghiệp

    EA 2

     
         

    Sự phát triển của khu công nghệ cao

    EA 3

     

    dịch vụ

         

    Sự  phát  triển  của  vườn  ươm  doanh  nghiệp  (tập  trung  hỗ  trợ  doanh  nghiệp  mới

    EA 4

     

    logistics

    khởi nghiệp)

       

    (LA)

       
         
     

    Sự phát triển của khu dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (cấp vốn mạo hiểm; vốn hạt giống

    EA 5

     
     

    ban đầu; tư vấn kinh doanh, dịch vụ kế toán…)

       
           
     

    Giảm hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân với các ngành

    PP 1

     
     

    nghề ưu tiên

       
           
     

    Giảm hoặc miễn thuế quan, thuế VAT đối với một số hàng hóa trao đổi trong khu kinh

    PP 2

     

    6. Các

    tế qua biên giới

       
         

    Chính sách ưu đãi về xuất nhập cảnh

    PP 3

     

    chính sách

    ưu đãi (PP)

    Chính sách ưu đãi về đất đai, sử dụng kết cấu hạ tầng

    PP 4

     
           
     

    Chính sách khuyến khích, bảo hộ đầu tư

    PP 5

     
           
     

    Chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng

    PP 6

     
           
     

    Chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

    PP 7

     
           
     

    Cơ chế chính sách về thương mại của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 1

     
           
     

    Cơ chế chính sách về đầu tư của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 2

     
           
     

    Cơ chế chính sách về di chuyển lao động của Việt Nam và nước láng giềng có

    BC 3

     
     

    sự tương đồng

       
           

    7. Cơ chế

    Cơ chế chính sách về du lịch của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 4

     

    quản lý

         

    Thành lập một cơ quan qua biên giới để quản lý khu kinh tế qua biên giới

    BC 5

     

    hợp tác

         

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong kiểm tra xuất nhập cảnh

    BC 6

     

    chung giữa

         

    hai nước

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong kiểm tra biên phòng

    BC 7

     

    (BC)

         

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động hải quan

    BC 8

     
     
           
     

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động kiểm dịch

    BC 9

     
           
     

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động thanh toán

    BC 10

     
           
     

    Trao đổi thông tin, cơ sở dữ liệu điện tử về hải quan giữa hai bên

    BC 11

     
           

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    5

     
           

    8. Danh

    Sự liên kết của doanh nghiệp với các nhà cung cấp trong nước

    EP 1

     

    nghiệp

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với các nhà cung cấp nước ngoài

    EP 2

     

    tham gia

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với khách hàng tiêu thụ/phân phối trong nước

    EP 3

     

    vào chuỗi

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với khách hàng tiêu thụ/phân phối nước ngoài

    EP 4

     

    giá trị và

         

    mạng lưới

    Sự hợp tác của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực

    EP 5

     

    liên kết

       

    vùng (EP)

         
           

    Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng.

     

    2.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

     

    Sử dụng mô hình lý thuyết CBEZ đã xây dựng, việc thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua hoạt động phỏng vấn sâu, hỏi ý kiến chuyên gia và điều tra khảo sát đã được tiến hành. Dữ liệu sơ cấp chính là nguồn dữ liệu chủ yếu, quan trọng để phân tích nhu cầu xây dựng cũng như đánh giá điều kiện hình thành CBEZ mà nhóm tác giả đề xuất.

     

    Đối tượng khảo sát của nghiên cứu bao gồm: (i) các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có hoạt động tại khu vực biên giới được khảo sát và nằm trong danh sách được Bộ Công thương phê duyệt; (ii) các cán bộ quản lý cấp địa phương làm việc tại các Sở, ban ngành ở các tỉnh được khảo sát. Quy mô mẫu điều tra khảo sát tại Cao Bằng là 144 phiếu. Đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm: Cán bộ quản lý cấp Bộ, ngành Trung ương và cán bộ quản lý cấp địa phương (UBND tỉnh, Ban quản lý Khu kinh tế, Sở Công Thương, Cục Hải quan, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải, bộ đội biên phòng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Khoa học Công nghệ, Sở Ngoại vụ).

     

    Với dữ liệu thu thập được từ khảo sát, nhóm tác giả đã tiến hành mã hóa, làm sạch và nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS (cùng với số liệu của 5 tỉnh khác được khảo sát). Nhóm tác giả cũng đã tiến hành kiểm định để kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (Explanatory Factor Analysis – EFA) nhằm rút gọn các biến quan sát tạo thành một tập biến các nhân tố có ý nghĩa hơn. Điểm cho mỗi cấu phần được tính dựa theo đánh giá của các đối tượng được khảo sát và phỏng vấn. Các đối tượng khảo sát được yêu cầu đánh giá các cấu

    phần theo thang đo Likert 5 mức độ từ Rất không tốt (1) tới Rất tốt (5). Điểm của mỗi cấu phần sau đó được tính toán theo phương pháp trung bình giản đơn của tất cả các biến quan sát, thể hiện đánh giá của người được khảo sát về mức độ sẵn sàng của cấu phần đó trong việc hình thành CBEZ.

     

    3.   Đánh giá điều kiện hình thành CBEZ tại tỉnh Cao Bằng

     

    Tháng 6/2008, CBEZ Trà Lĩnh (Cao Bằng)

     

    • Long Bang (Quảng Tây) được hai nước đồng ý đưa vào quy hoạch 5 năm phát triển kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc. Trong đó, đối với tỉnh Cao Bằng, KKTCK Cao Bằng dự kiến sẽ trở thành một phần quan trọng của đề xuất CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. KKTCK Cao Bằng được thành lập vào năm 2014 và đã trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Ở KKTCK Cao Bằng, cửa khẩu Trà Lĩnh là một trung tâm kết nối các hoạt động thương mại của Cao Bằng và Quảng Tây. Trong những năm gần đây, Cao Bằng đã tích cực chuẩn bị cho việc thành lập CBEZ trong tương lai thông qua một loạt các hoạt động (Hình 1).

    Theo kết quả điều tra khảo sát, Cao Bằng đã có sự chuẩn bị tốt nhất cho “Khu dịch vụ logistics” với số điểm 3,67, tiếp theo là “Chính sách ưu đãi” và “Khu vực thương mại” với số điểm 3,66 cho mỗi nhóm điều kiện (Hình 1). Các doanh nghiệp tham gia điều tra khảo sát cũng đánh giá Cao Bằng đã thực hiện tương đối tốt với nhóm “Điểm cửa khẩu tiên tiến”. Trong khi đó, sự chuẩn bị của tỉnh Cao Bằng được đánh giá là thấp nhất đối với nhóm điều kiện

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    “Kết nối hạ tầng hiện đại”. Mức điểm chi tiết của từng nhóm yếu tố được thể hiện trong Bảng 2.

     

     

     

    Hình 1. Điểm đánh giá 8 nhóm điều kiện cụ thể của

    tỉnh Cao Bằng.

     

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát.

     

    Bảng 2. Điểm chi tiết 8 nhóm điều kiện cụ thể của tỉnh Cao Bằng

     

     

    Chỉ tiêu

    Điểm

     

    Điểm cửa khẩu tiên tiến (AB)

    3,64

     

    AB1

    3,51

     

    AB2

    3,66

     

    AB3

    3,63

     

    AB4

    3,49

     

    AB5

    3,65

     

    AB6

    3,60

     

    AB7

    3,78

     

    AB8

    3,82

     

    Kết nối hạ tầng hiện đại (MC)

    2,45

     

    MC1

    3,54

     

    MC2

    3,57

     

    MC3

    1,07

     

    MC4

    1,07

     

    MC5

    3,74

     

    MC6

    3,37

     

    MC7

    3,55

     

    MC8

    1,07

     

    MC9

    1,07

     

    Khu vực thương mại (TA)

    3,66

         
     

    TA1

    3,73

     

    TA2

    3,66

     

    TA3

    3,58

     

    TA4

    3,62

     

    TA5

    3,70

     

    Khu vực doanh nghiệp (EA)

    3,52

     

    EA1

    3,53

     

    EA2

    3,54

     

    EA3

    3,47

     

    EA4

    3,54

     

    EA5

    3,53

         
     

    Khu vực dịch vụ logistics (LA)

    3,67

         
     

    LA1

    3,72

     

    LA2

    3,76

     

    LA3

    3,84

     

    LA4

    3,47

     

    LA5

    3,62

     

    LA6

    3,60

         
     

    Các chính sách ưu đãi (PP)

    3,66

         
     

    PP1

    3,70

     

    PP2

    3,61

     

    PP3

    3,74

     

    PP4

    3,72

     

    PP5

    3,55

     

    PP6

    3,61

     

    PP7

    3,70

         
     

    Cơ chế quản lý hợp tác chung (BC)

    3,10

         
     

    BC1

    2,59

     

    BC2

    2,71

     

    BC3

    2,49

     

    BC4

    2,12

     

    BC5

    2,13

     

    BC6

    3,79

     

    BC7

    3,78

     

    BC8

    3,91

     

    BC9

    3,62

     

    BC10

    3,52

     

    BC11

    3,42

     

    Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi

    3,29

     

    giá trị và mạng lưới khu vực (EP)

     
     

    EP1

    3,15

     

    EP2

    3,21

     

    EP3

    3,34

     

    EP4

    3,31

     

    EP5

    3,45

         

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát.

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    7

    3.1. Điểm cửa khẩu tiên tiến

     

    Kết quả điều tra khảo sát cho thấy các doanh nghiệp tương đối hài lòng với hoạt động tại các cửa khẩu ở Cao Bằng (3,64 điểm). Đây là nhóm có điểm số đứng thứ 4 trong 8 nhóm yếu tố. Cục Hải quan Cao Bằng đã triển khai VNACCS/VCIS từ năm 2005, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm thời gian và thủ tục xuất nhập khẩu. Do đó, các doanh nghiệp hầu như không có vướng mắc về các thủ tục hải quan. Mục tiêu trong thời gian tới của tỉnh là đảm bảo hàng nhập khẩu thông quan dưới 41 giờ, hàng xuất khẩu dưới 36 giờ. Sự hài hòa giữa giờ làm việc và thủ tục hải quan giữa Việt Nam và Trung Quốc (AB8) cũng được các doanh nghiệp khảo sát đánh giá cao. Điểm thấp nhất trong nhóm yếu tố này là thanh toán điện tử (AB4) và kho ngoại quan (AB1).

     

    3.2. Kết nối hạ tầng hiện đại

     

    Mặc dù tỉnh Cao Bằng đã có nhiều nỗ lực để nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng, đây là nhóm điều kiện được đánh giá có điểm thấp nhất (2,45 điểm) trong 8 nhóm.

     

    Về cơ sở hạ tầng kết nối thông suốt giữa Cao Bằng và thị trường trong nước (từ MC1 đến MC5), tỉnh đã ưu tiên tập trung đầu tư 80% nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng KKTCK Trà Lĩnh. Tổng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng từ năm 2011 đến 2016 đạt trên 603 tỷ đồng và được bố trí cho 44 dự án. Một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng trọng điểm đã hoàn thành và đưa vào khai thác như đường tỉnh lộ 205 cũ (nay là Quốc lộ 34 kéo dài), hệ thống đường giao thông vào khu vực các cửa khẩu, đường vào lối mở Nà Đoỏng (cửa khẩu Trà Lĩnh). Với những nỗ lực trên, các doanh nghiệp đánh giá kết nối hạ tầng đường bộ giữa Cao Bằng với thị trường trong nước ở mức điểm cao nhất trong nhóm điều kiện Kết nối hạ tầng hiện đại với điểm tương ứng cho MC1, MC2 và MC5 tương ứng là 3,54; 3,57 và 3,74.

     

    Về cơ sở hạ tầng kết nối thông suốt giữa tỉnh Cao Bằng và thị trường của Trung Quốc (từ MC6 đến MC9), trong thời gian qua, tỉnh Cao Bằng và Khu tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc đã nỗ lực trao đổi, thảo luận

     

    về việc kết nối hạ tầng về giao thông giữa hai bên. Các nỗ lực được ghi nhận gồm: (i) Ngày 16/3/2011 tại thành phố Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc về thúc đẩy phát triển vận tải hàng hóa, hành khách đường bộ quốc tế; (ii) Ngày 27/6/2011 tại thị xã Cao Bằng nay là thành phố Cao Bằng, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về thông tuyến vận tải ô tô quốc tế song phương giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (iii) Ngày 01/3/2012 tại thành phố Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về vận tải đường bộ quốc tế giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (iv) Ngày 27/8/2012 tại thị xã Cao Bằng nay là thành phố Cao Bằng, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về việc thông tuyến vận tải ô tô quốc tế song phương giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (v) Ngày 08/7/2015, hai bên đã ký Biên bản ghi nhớ về vấn đề giao thông vận tải giữa Đoàn đại biểu Giao thông vận tải tỉnh Cao Bằng và Đoàn đại biểu Giao thông vận tải thành phố Bách Sắc. Trên thực tế, tỉnh Cao Bằng và phía Trung Quốc đã tổ chức thi công đấu nối trung tâm lưu thông trung chuyển hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc tại lối mở Nà Đoỏng. Đây là hạng mục kết nối đầu tư của CBEZ thí điểm Trà Lĩnh

     

    • Long Bang để thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu. Ngày 18/7/2013, hai bên đã hợp tác tổ chức Lễ thông tuyến vận tải hành khách, hàng hóa đường bộ quốc tế Cao Bằng, Việt Nam – Bách Sắc, Trung Quốc và tuyến du lịch biên giới Cao Bằng, Việt Nam – Tịnh Tây, Bách Sắc, Trung Quốc. Với những nỗ lực trên, các doanh nghiệp đã đánh giá kết nối giao thông đường bộ giữa Cao Bằng và Trung Quốc với số điểm là 3,37 cho MC6 và 3,55 cho MC7.

    Tuy nhiên, đây là nhóm điều kiện có điểm thấp nhất trong 8 nhóm, chỉ đạt 2,45. Trên thực tế, tiềm năng kết nối Cao Bằng với Quảng Tây và Bách Sắc nói riêng và với thị trường ASEAN nói chung là một trong những yếu tố quyết định chính thúc đẩy Việt Nam xây dựng thí điểm CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Hiện tại,

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới đường cao tốc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó có tuyến đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) – Trà Lĩnh (Cao Bằng). Khi đường cao tốc này hoàn thành kết hợp với CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang, hàng hóa từ thị trường nội địa của Việt Nam sẽ nhanh chóng tiếp cận thị trường Trung Quốc và ASEAN, tạo ra động lực mới cho sự phát triển kinh tế – xã hội của Cao Bằng nói riêng và Việt Nam nói chung cũng như hình thành kết nối sản xuất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, mặc dù với những tiềm năng và cơ hội do CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang mang lại như trên, kết nối cơ sở hạ tầng của tỉnh Cao Bằng với số điểm 2,45 được đánh giá là thấp nhất trong 8 nhóm điều điện. Kết quả khảo sát cho thấy do đặc điểm địa hình miền núi phức tạp, Cao Bằng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong kết nối giao thông không chỉ trong nội bộ tỉnh mà còn với cả nước, đặc biệt là các cảng lớn của đất nước. Mặc dù Cao Bằng dự kiến sẽ phát triển trở thành điểm trung chuyển, nhưng hiện tại kênh giao thông duy nhất giữa Cao Bằng và thị trường nội địa là đường bộ và hầu hết trong số đó là đường cấp thấp. Các tuyến đường kết nối giữa cửa khẩu Trà Lĩnh đến trung tâm Cao Bằng và các tỉnh quan trọng phía Bắc như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Nội và Lạng Sơn đang bị xuống cấp. Việc lưu thông các xe container trọng tải lớn từ Lạng Sơn đến Cao Bằng khó khăn và mất an toàn lưu thông. Toàn hệ thống quốc lộ trên địa bàn tỉnh có chất lượng mặt đường loại tốt 302,7km, chiếm 44,0%; khá và trung bình 386,0km, chiếm 56,0%. Chất lượng mạng lưới đường nội bộ của tỉnh còn thấp, nhìn chung chưa đạt chất lượng kỹ thuật vì trong quá trình thiết kế và thi công còn nhiều hạn chế về các yếu tố kỹ thuật. Diện tích đường nhỏ hẹp, kết cấu mặt đường xấu, nhiều tuyến đường chưa được nâng cấp rải nhựa hoặc xuống cấp nhiều. Việc giao thông liên vùng, chuyên chở hàng hóa khối lượng lớn, đặc biệt hàng hóa xuất nhập khẩu không hiệu quả, không tạo được sức hấp dẫn, thu hút hàng hóa đi/đến/chuyển tải qua khu vực. Do đó, kết nối cơ sở hạ tầng của tỉnh Cao Bằng còn kém phát triển và được các doanh nghiệp đánh giá là

     

    có chất lượng thấp nhất so với các tỉnh thí điểm CBEZ khác tại Việt Nam.

     

    Bên cạnh đó, việc kết nối hạ tầng cứng giữa Cao Bằng và phía Trung Quốc còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu mới có sự đầu tư vào hạ tầng giao thông từ phía Trung Quốc, dẫn đến sự bất đối xứng trong giao thông giữa cửa khẩu Việt Nam và Trung Quốc, từ đó cản trở dòng thương mại và đầu tư tại các cửa khẩu giữa hai bên. Trung Quốc là quốc gia có lợi thế về vốn đầu tư và khả năng tự chủ tài chính. Việc Chính phủ Trung Quốc thực hiện chiến lược đại khai phá miền Tây, thành lập và triển khai Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây là cơ hội đem đến cho Quảng Tây nguồn vốn đầu tư rất lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế. Do đó, đối với Khu cửa khẩu Long Bang (Bách Sắc, Quảng Tây), hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng cứng đã được đẩy nhanh. Trung Quốc đã khởi công xây dựng tuyến đường cao tốc nối từ huyện Tịnh Tây đến cửa khẩu Long Bang với chiều dài khoảng 30km và nối vào hệ thống đường cao tốc của quốc gia. Sau khi tuyến đường cao tốc này được hoàn thành thì từ cửa khẩu Long Bang (đối diện cửa khẩu Trà Lĩnh) đi các tỉnh, thành của Trung Quốc sẽ được kết nối thông qua hệ thống đường cao tốc. Đây sẽ là điều kiện rất thuận lợi cho việc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc qua cửa khẩu Trà Lĩnh, nhất là mặt hàng nông sản. Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục nghiên cứu để xây dựng thêm đường sắt nối đến cửa khẩu Long Bang. Hiện nay, Trung Quốc không chỉ bỏ vốn đầu tư đối với hành lang giao thông của Việt Nam, mà còn chú trọng đầu tư hành lang giao thông đường bộ và đường sắt với các nước tiểu vùng sông Mê Kông (GMS). Nếu Việt Nam không kết nối được với hệ thống giao thông của khu vực theo hướng Đông – Tây (bao gồm các tỉnh như Cao Bằng, Hà Giang đến cảng Hải Phòng hay nối trục với đường Hồ Chí Minh) thì với sự phát triển nhanh chóng của Myanmar, Lào, Thái Lan… sẽ làm giảm lợi thế của Việt Nam do các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Trung Quốc sẽ lựa chọn tuyến hành lang giao thông mới này để tiếp cận dễ dàng hơn với cảng biển, kéo theo việc giảm lượng hàng hóa đáng kể đi qua các

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    9

    cửa khẩu tại biên giới Việt Nam. Nếu tình huống đó xảy ra, Việt Nam có thể sẽ nằm ngoài mạng lưới giao thông mới do Trung Quốc và các nước GMS thiết lập; các tỉnh khó khăn như Cao Bằng sẽ bị “bỏ rơi” và lợi thế về cửa khẩu biên giới sẽ giảm sút đáng kể. Thực tế cho thấy kết nối hạ tầng giữa Cao Bằng với Trung Quốc vừa là điều kiện, vừa là yếu tố thúc đẩy hình thành CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Do đó, với những khó khăn trong kết nối cơ sở hạ tầng, thời gian tới Cao Bằng cần nỗ lực cải thiện nhóm yếu tố này.

     

    3.3. Khu vực thương mại

     

    Nhóm điều kiện “Khu vực thương mại” đạt được số điểm 3,66, trong đó các doanh nghiệp cho điểm cao nhất với tiêu chí “Chợ thương mại biên giới” (TA1) và “Phát triển du lịch qua biên giới” (TA5). Những thách thức đối với Cao Bằng trong việc phát triển khu thương mại nằm chủ yếu ở sự yếu kém của dịch vụ tài chính ngân hàng (TA2), hiệu quả hoạt động thấp của các cửa hàng miễn thuế (TA3) và trung tâm triển lãm quốc tế (TA4).

     

    Cao Bằng đã hoàn thành xây dựng trung tâm mua sắm Trà Lĩnh và ưu tiên phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại. Tuy nhiên, đa số các trung tâm thương mại, siêu thị trong KKTCK tỉnh Cao Bằng không đạt tiêu chuẩn xếp hạng và hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Hệ thống chợ trong toàn tỉnh, nhất là các chợ biên giới hầu như chưa đạt tiêu chí “chợ” trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Hoạt động dịch vụ tại KKTCK phát triển chậm. Tình trạng yếu kém của các nhà hàng, khách sạn, thiếu các dịch vụ tài chính, tín dụng, bưu chính viễn thông… làm cho hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế tại KKTCK chưa đáp ứng được yêu cầu.

     

    Một trong những thành tựu nổi bật của Cao Bằng là tích cực hợp tác với Quảng Tây để phát triển khu du lịch qua biên giới thông qua rất nhiều chương trình du lịch giữa hai tỉnh. Tháng 4/2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng đón Đoàn đại biểu Cục Du lịch thành phố Bách Sắc sang thăm, khảo sát, hội đàm và ký Bản ghi nhớ về hợp tác khai thông tuyến du lịch biên giới từ Tịnh Tây, Bách Sắc tới Cao Bằng.

     

    Hai bên thống nhất xây dựng chương trình tour du lịch biên giới 2 ngày, 1 đêm; chỉ định đơn vị lữ hành quốc tế có đủ năng lực tham gia “Liên minh Du lịch Quốc tế Cao Bằng, Việt Nam – Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc” là Công ty Cổ phần Du lịch Cao Bằng, Việt Nam và Liên minh Du lịch miền Tây, Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 18/7/2013, hai bên đã hợp tác tổ chức Lễ thông tuyến du lịch biên giới Cao Bằng, Việt Nam – Tịnh Tây, Bách Sắc, Trung Quốc. Ngày 26/4/2016, hai bên ký kết Bản ghi nhớ giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng và Huyện ủy Long Châu, Quảng Tây về hợp tác chương trình du lịch đỏ về xe tự lái từ Pác Bó, Cao Bằng, Việt Nam đến Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc. Hai bên cũng đã chủ động thúc đẩy các hoạt động triển khai Kế hoạch tổ chức thực hiện Hiệp định Hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (Việt Nam) – Đức Thiên (Trung Quốc), đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1806/QĐ-TTg. Tuy nhiên, mặc dù du lịch là một lợi thế của Cao Bằng, số lượng khách du lịch đến Cao Bằng vẫn còn ít, thời gian lưu trú của khách du lịch còn ngắn, tỷ lệ khách quay lại chưa cao do hạn chế về sản phẩm du lịch, cơ sở hạ tầng và giao thông kém.

     

    3.4. Khu vực doanh nghiệp

     

    “Khu vực doanh nghiệp” tại Cao Bằng bị đánh giá là kém phát triển, xếp thứ 5 trong 8 nhóm yếu tố và đạt 3,52 điểm. Trong nhóm điều kiện này, sự chuẩn bị thấp nhất của Cao Bằng nằm ở khía cạnh “Phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao” (EA3).

     

    Hiện nay, khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh là Khu công nghiệp Đề Thám. Khu công nghiệp này chủ yếu hoạt động về các lĩnh vực cơ khí như công nghiệp chế tạo cơ khí chính xác, công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, công nghiệp hàng tiêu dùng (dệt may, giày dép, gốm sứ…) và một số ngành công nghiệp khác như sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, bao bì, lắp ráp chế tạo phụ tùng ô tô xe máy, công nghiệp chế biến nông lâm sản. Tỉnh cũng đang đầu tư một dự án để phát triển Khu công nghiệp Chu Trinh với các hạng mục liên quan đến đường vào và khu xử lý nước thải đang được

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    triển khai [10]. Nhìn chung, tỉnh chưa chú trọng phát triển các khu doanh nghiệp, thiếu các vườn ươm doanh nghiệp và các khu công nghệ cao để thúc đẩy sự sáng tạo của doanh nghiệp.

     

    3.5. Khu vực dịch vụ logistics

     

    “Khu vực dịch vụ logistics” được các doanh nghiệp đánh giá là nhóm điều kiện phát triển nhất ở Cao Bằng hiện nay so với 7 nhóm điều kiện còn lại với số điểm là 3,67. Trong các chỉ số của nhóm điều kiện này, “Dịch vụ kho bãi” (LA3), “Dịch vụ hải quan” (LA1) và “Dịch vụ vận tải, bốc xếp hàng hóa tại cửa khẩu” (LA2) được xếp hạng cao nhất. “Dịch vụ logistics tích hợp tại cửa” (LA5) và “Hệ thống kho bãi” (LA4) có điểm thấp nhất.

     

    Trong những năm gần đây, Cao Bằng đã chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng kho bãi như kho hàng hóa, kho ngoại quan, kho đông lạnh và trung tâm lưu thông hàng hóa. Hiện tại Cao Bằng có 32 dự án đầu tư kho bãi tại các khu vực cửa khẩu, trong đó có 17 dự án đang hoạt động để cung ứng các loại hình dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu. Dự án kho ngoại quan, kho đông lạnh cũng đã được các doanh nghiệp đầu tư đồng bộ tại khu vực cửa khẩu và đi vào hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao nhận, lưu giữ hàng hóa tại cửa khẩu. Các dự án còn lại đang trong quá trình triển khai dự án đầu tư theo tiến độ đã cam kết. Tỉnh cũng đang tiếp tục triển khai hoàn thiện các dự án kho hàng hóa tại lối mở Nà Đoỏng, Nhà trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu và hệ thống hạ tầng cửa khẩu. Phía Long Bang (Trung Quốc) cũng đang xây dựng các khu kiểm dịch và kho chứa hàng đông lạnh cùng đội ngũ quản lý và điều hành. Riêng tại cửa khẩu Trà Lĩnh đã có 9 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký gần 1.000 tỷ đồng, đã có 4 dự án đi vào hoạt động gồm: Kho ngoại quan, Địa điểm kiểm tra hàng hóa biên giới, Kho tập kết hàng hóa và Chợ gia súc. Một số dự án đang làm thủ tục đầu tư như Cảng cạn quốc tế ICD (20 ha), Cấp nước sạch cửa khẩu Trà Lĩnh (theo hình thức PPP), Trung tâm trung chuyển hàng hóa.

     

    Tỉnh Cao Bằng đã tiến hành cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty Cổ phần Đầu tư vận tải biển và thương mại Sao Vàng (Việt Nam)

     

    đầu tư dự án Trung tâm trung chuyển hàng hóa thương mại và gia công chế biến nông, lâm, thủy hải sản xuất khẩu Sao Vàng tại KKTCK Trà Lĩnh với tổng mức đầu tư là 298,214 tỷ đồng, diện tích sử dụng đất khoảng 69 ha. Hiện nay, chủ đầu tư đang phối hợp với chính quyền địa phương đưa ra phương án giải phóng mặt bằng và triển khai lập quy hoạch chi tiết tổng mặt bằng dự án cũng như gấp rút đưa dự án đi vào triển khai. Khu trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu Trà Lĩnh được xây dựng để tập trung hàng hóa, giải quyết tình trạng ách tắc đối với hoạt động xuất – nhập tại cửa khẩu, nhất là đối với hàng hóa nông sản xuất khẩu. Tỉnh đề ra mục tiêu xây dựng Khu trung chuyển hàng hóa với hạ tầng đồng bộ, hiện đại đáp ứng được nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa là nông lâm sản, thủy hải sản qua cửa khẩu Trà Lĩnh; là trung tâm tiếp nhận, tái chế, đóng gói, bảo quản, giao dịch mua bán; là nơi kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu, thông quan các thủ tục về kiểm dịch, hải quan… Hàng hóa được hải quan kiểm tra một lần tại đây, được công nhận hải quan và giao hàng tại Bách Sắc. Ngoài ra, Khu trung chuyển hàng hóa còn gắn kết thêm các loại hình công trình dịch vụ để phục vụ các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa như: Khu nhà ở và văn phòng cho thuê, khu dịch vụ vận tải, khu giới thiệu sản phẩm…

     

    Về hệ thống cảng cạn, đến nay đã có 2 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư để thực hiện. Công ty Cổ phần Interserco VCI được cấp giấy chứng nhận đầu tư thực hiện dự án Xây dựng Trung tâm Logistics tại huyện Trà Lĩnh để phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa trong giai đoạn tới và góp phần hình thành cơ sở hạ tầng đồng bộ của CBEZ. Công ty Cổ phần Đầu tư thương mại và dịch vụ quốc tế được cấp giấy chứng nhận thực hiện dự án Xây dựng Khu trung chuyển dịch vụ xuất nhập khẩu tại huyện Trà Lĩnh. Mỗi dự án có vốn đăng ký khoảng 3,2 nghìn tỷ đồng, quy mô sử dụng đất khoảng trên 50 ha. Tỉnh còn có 2 dự án đầu tư xây dựng cảng cạn ICD vào giai đoạn 2 của dự án với khoản đầu tư mỗi dự án trên 2,2 nghìn tỷ đồng và hiện nay đã bắt đầu triển khai thi công.

     

    Với những nỗ lực trong việc phát triển các hoạt động logistics, nhóm điều kiện về Khu vực

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    11

    dịch vụ logistics của tỉnh Cao Bằng được các doanh nghiệp đánh giá cao nhất trong 8 nhóm. Tuy nhiên, theo phản hồi của các doanh nghiệp được khảo sát, dịch vụ logistics tại các cửa khẩu của tỉnh vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và hoạt động với chi phí cao. Chất lượng hoạt động dịch vụ logistics tại KKTCK còn thấp ở tất cả các khâu như nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng… Trên thực tế, thông tin về thị trường còn hạn chế, các hoạt động xúc tiến thương mại chưa chuyên nghiệp và việc phổ biến các chính sách phát triển kinh tế chưa được tỉnh quan tâm đúng mức, từ đó hạn chế thu hút các nhà đầu tư và doanh nghiệp kinh doanh trong KKTCK.

     

    3.6. Các chính sách ưu đãi

     

    “Các chính sách ưu đãi” được đánh giá cao thứ hai với số điểm là 3,66. Các doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ đã nhận được các ưu đãi khác nhau khi hoạt động tại KKTCK Cao Bằng như chính sách liên quan đến xuất nhập cảnh” (PP3), thuê đất (PP4), thuế thu nhập (PP1), thuế xuất nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (PP2), ưu đãi về tài chính tín dụng ( PP6).

     

    Hiện nay, do CBEZ nằm trong KKTCK của tỉnh theo Quyết định số 20/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập KKTCK Cao Bằng nên được áp dụng ưu đãi theo một số chính sách chủ yếu sau: (i) Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg ngày 26/11/2013 quy định cơ chế, chính sách tài chính đối với KKTCK; (ii) Chính sách ưu đãi về sử dụng đất đai theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật đầu tư; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

     

    • Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 14/8/2014 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên, theo đánh giá của các doanh nghiệp, vẫn còn thiếu các ưu đãi đặc thù cho các doanh nghiệp hoạt động tại CBEZ và có rất ít các ưu đãi riêng của tỉnh.

    3.7. Cơ chế quản lý hợp tác chung

     

    Xây dựng một cơ chế quản lý chung là thách thức lớn đối với Cao Bằng trong việc phát triển CBEZ. Nhóm điều kiện này đạt số điểm là 3,10, xếp thứ 7 trong số 8 nhóm điều kiện điều tra. Theo đánh giá của doanh nghiệp, Cao Bằng và Quảng Tây đã phát triển nhiều hoạt động hợp tác quản lý về hải quan (BC8), xuất nhập cảnh (BC6) và kiểm tra biên phòng (BC7). Tuy nhiên, sự hợp tác giữa hai bên còn yếu trong việc xây dựng các chính sách du lịch chung (BC4) và thành lập một cơ quan quản lý chung (BC5).

     

    Trong những năm qua, Cao Bằng và Quảng Tây luôn giữ mối quan hệ láng giềng hữu nghị, ổn định, hợp tác giao lưu trên nhiều lĩnh vực như: mở, xây dựng và nâng cấp các cặp cửa khẩu, cặp chợ biên giới; hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, nông lâm nghiệp, văn hóa, giáo dục, du lịch; tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng và kết nối giao thông, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm qua biên giới… Cao Bằng và Quảng Tây đã ký một số thỏa thuận khung để thúc đẩy thương mại, đầu tư, giao thông, du lịch, nông nghiệp và giáo dục. Đến năm 2015, hai bên đã ký 9 thỏa thuận về tăng cường thực hiện hợp tác toàn diện. Lãnh đạo Cao Bằng và Quảng Tây cũng đã có những hoạt động giao ban để tháo gỡ các khó khăn, tổ chức hội thảo quốc tế, hội nghị kết nối thương nhân giữa hai nước. Đặc biệt, từ năm 2015 đến nay, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng và Ban quản lý Khu thực nghiệm cải cách mở cửa dọc biên giới thành phố Bách Sắc đã duy trì cơ chế hội đàm định kỳ 4 lần/năm để thống nhất nội dung về quy hoạch các lĩnh vực đầu tư, đầu nối hạ tầng, công tác kiểm tra giám sát dịch vụ trong CBEZ.

     

    Tuy nhiên, việc thành lập CBEZ đòi hỏi sự nghiêm ngặt về các chính sách và cơ chế chung thay vì chỉ đơn thuần có những hoạt động hợp tác tại biên giới. Trên thực tế, do CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang chưa chính thức được phê duyệt ở cấp chính phủ nên thiếu khung pháp lý để Cao Bằng và Quảng Tây phát triển một cơ quan và chính sách chung để điều hành CBEZ trong tương lai. Một khó khăn khác là sự phối

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    hợp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc xây dựng CBEZ còn ở mức độ thấp, trong đó Cao Bằng dựa chủ yếu vào các chính sách của Trung Quốc và cố gắng theo kịp các thay đổi chính sách và trọng tâm phát triển của Quảng Tây, dẫn đến định hướng phát triển kinh tế không bền vững cho Cao Bằng. Ví dụ: Cửa khẩu Tà Lùng đã được công nhận là cửa khẩu quốc tế ở phía Việt Nam nhưng chưa được Chính phủ Trung Quốc công nhận. Đến năm 2010, Việt Nam lại xác định cửa khẩu Trà Lĩnh là trọng điểm chủ yếu do quan điểm từ phía Trung Quốc. Qua hội đàm, tỉnh Cao Bằng cũng đề nghị tạo điều kiện cho các mặt hàng của Việt Nam qua Trung Quốc nhưng Trung Quốc thường tránh không bàn đến vấn đề này.

     

    3.8. Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị và mạng lưới khu vực

     

    Sự tham gia của các doanh nghiệp hoạt động tại Cao Bằng vào chuỗi giá trị và mạng lưới khu vực ở mức thấp. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp và nhà cung cấp cũng như khách hàng đều rất yếu. Một trong những lý do lý giải cho sự tham gia thấp này là các doanh nghiệp ở Cao Bằng chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ với năng lực thấp về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực. Chỉ có một số doanh nghiệp hoạt động tại Cao Bằng có đóng góp về thuế cho địa phương. Hiện nay có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động thường xuyên trên địa bàn Cao Bằng nhưng cũng có chỉ có khoảng 30-50 doanh nghiệp của Cao Bằng, trong đó có khoảng 10 doanh nghiệp Cao Bằng đóng góp ngân sách thường xuyên cho tỉnh. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Cao Bằng với các doanh nghiệp trong cả nước để đẩy mạnh xuất khẩu còn nhiều hạn chế.

     

    4.   Kết luận

     

    Cao Bằng đã nỗ lực triển khai nhiều hoạt động để chuẩn bị cho sự hình thành CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Theo đánh giá, “Khu dịch vụ logistics” được chuẩn bị tốt nhất, tiếp theo là “Chính sách ưu đãi” và “Khu vực thương mại”. Ngược lại, doanh nghiệp đánh giá thấp nhất về

     

    sự chuẩn bị của Cao Bằng đối với nhóm điều kiện “Cơ chế quản lý hợp tác chung” và “Kết nối hạ tầng hiện đại”. Như vậy, để có thể hiện thực hóa CBEZ, tiến tới thuận lợi hóa hơn nữa thương mại và đầu tư, phát triển khu vực biên giới như một mắt xích kết nối với thị trường Trung Quốc, hai điểm quan trọng mà Cao Bằng cần đầu tư là cơ sở hạ tầng kết nối với trong và ngoài nước và hệ thống cơ chế hợp tác hài hòa với Trung Quốc.

     

    Trên thực tế, kết nối hạ tầng giao thông của Cao Bằng với nội địa còn khá khó khăn, tuy nhiên, kết nối từ Long Bang tới thành phố lớn của Trung Quốc là Bách Sắc lại rất thuận lợi. Định hướng của Trung Quốc là xây dựng thành phố Bách Sắc thành thành phố trọng điểm của Trung Quốc và ASEAN. Đây là thành phố có mạng lưới giao thông tốt, hàng ngày có khoảng 10-12 toa tàu vận chuyển hàng đông lạnh đi khắp Trung Quốc. Bách Sắc cũng có vị trí thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp khoảng 30% sản phẩm nông nghiệp cho Trung Quốc. Để kết nối với thành phố Bách Sắc thì đi qua Cao Bằng là ngắn nhất. Nếu Cao Bằng kết nối được với Bách Sắc thì sẽ giúp Cao Bằng trở thành nơi cung cấp hàng nông sản cho Bách Sắc, từ đó đi sang các nước ASEAN khác, giúp các doanh nghiệp Cao Bằng kết nối được với mạng lưới doanh nghiệp trong nước cũng như khu vực, đẩy mạnh sự tham gia vào chuỗi giá trị khu vực.

     

    Cơ chế hợp tác quản lý hài hòa với tỉnh biên giới nước láng giềng không chỉ được cần chú trọng ở Cao Bằng mà còn ở hầu hết các tỉnh khác có chung đường biên giới với Trung Quốc. Do đó, điều quan trọng là cần có sự triển khai hợp tác biên giới thông qua các thỏa thuận cụ thể và minh bạch, vừa hỗ trợ thúc đẩy thương mại và đầu tư, vừa hạn chế những hoạt động mang tính tự phát, gây bất ổn cho việc quản lý ở khu vực biên giới.

     

    Lời cảm ơn

     

    Bài viết nằm trong khuôn khổ Đề tài KX.01.09/16-20 “Luận cứ khoa học cho sự hình thành và phát triển các Khu kinh tế xuyên biên giới ở Việt Nam”.

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    13

    Tài liệu tham khảo

    Indonesia-Malaysia-Thailand   Growth

    Triangle

     

    (IMT-GT), 2014.

     
    • UBND Tỉnh Cao Bằng, Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2018, Cao Bằng: UBND Tỉnh Cao Bằng, 2008a.
    • UBND Tỉnh Cao Bằng, Tình hình kinh tế -xã hội, định hướng, chính sách phát triển tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng: UBND Tỉnh Cao Bằng, 2018b.
    • Nguyễn Anh Thu, Nguyễn Thị Minh Phương, Hợp tác thương mại biên giới: Kinh nghiệm của Mỹ – Mexico và một số gợi ý đối với Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Chiến lược. Số 6, 6(2018).
    • Nguyễn Kiên Cường, Bài trình bày tại Hội thảo quốc tế “Cơ sở lý thuyết cho việc hình thành và phát triển các Khu kinh tế qua biên giới tại Việt Nam”, Cao Bằng, tháng 10/2017.
    • Nguyễn Anh Thu, Vũ Thanh Hương, Sự phát triển của các Khu kinh tế cửa khẩu tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á. Số 7 (220) (2018) 30-38.
    • Lord, P. Tangtrongjita, Scoping Study for the Special Border Economic Zone (SBEZ) in the

    e

    e

     

    • Lalkaka, Nguyen Quan, Y. Xiaohui, Lộ trình Khu Kinh tế xuyên biên giới, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 7356-REG: Phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, ADB, 2011.
    • L. Wallack,  W.  Zhaohui,  Nguyen  Anh  Thu,

    Phát triển thể chế và Tăng cường năng lực, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 7356-REG: Phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt

     

    Nam, ADB, 2011.

     

    • Nguyễn Anh Thu, Nguyễn Thị Thanh Mai, Mô hình khu hợp tác kinh tế biên giới và một số gợi mở, Tạp chí những vấn đề Kinh tế chính trị thế giới. Số 6 (2017) 29-40.
    • Lô Minh Tuyên, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng tổ chức Hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp đầu xuân Mậu Tuất năm 2018, Truy cập

    ngày 10/9/2018 tại http://banqlkkt.caobang.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/ban-quan-ly-khu-kinh-te-tinh-cao-bang-to-chuc-hoi-nghi-gap-mat-cac-doanh-nghiep-dau-xuan-mau-tuat-nam-2018-144.html.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vi phạm cấm vận trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế – những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-N%C3%82NG-CAO-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-NH%C3%80-N%C6%AF%E1%BB%9AC-V%E1%BB%80-V%E1%BA%ACN-T%E1%BA%A2I-%C4%90A-PH%C6%AF%C6%A0NG-TH%E1%BB%A8C-TR%C3%8AN-H%C3%80NH-LANG-H%E1%BA%A2I-PH%C3%92NG-H%C3%80-N%E1%BB%98I-L%C3%80O-CAI-C%C3%94N-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

     

    SOME SOLUTIONS TO IMPROVE STATE ADMINISTRATION OF MULTIMODAL TRANSPORT ON THE CORRIDOR HAIPHONG – HANOI – LAOCAI – CONMINH

     

    PGS.TS. NGUYỄN HỒNG VÂN

    Khoa Kinh tế, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Vận tải đa phương thức (VTĐPT) ra đời mang lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia. Hành lang VTĐPT Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh (Trung Quốc) phù hợp cho việc áp dụng mô hình VTĐPT đường sắt – đường bộ – đường biển. Tuyến hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh là một bộ phận quan trọng trong khu vực tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN. Trong thời gian qua, mặc dù đã có một số chính sách cụ thể hóa (VTĐPT, logistics,…) của Nhà nước nhưng trong công tác triển khai vẫn còn chậm, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế đất nước. Với lý do trên, nghiên cứu Quản lý Nhà nước về VTĐPT trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh là cần thiết và cấp bách để phát triển VTĐPT ở các tỉnh Miền Bắc của nước ta.

     

    Abstract

     

    Multimodal Transport (VTĐPT) brings many benefits to the parties involved. The Haiphong – Hanoi – Lao Cai – ConMinh (China) Multimodal Transport Corridor is suitable for applying the mode of Multimodal Transport by rail – road – sea. This economic Corridor is an important part of a free trade area of China – ASEAN. In recent years, although there have been a number of specific Stage policies about Multimodal Transport, Logistics,….the work is still under slow deployment, policy mechanism is not

     

    synchronized, affecting the economic development of the country. For this reason, it is necessary and urgent to research State Administration of Multimodal Transport on the Haiphong – Hanoi – Lao Cai – ConMinh hallway to develop Multimodal Transport in the Northern provinces of Viet Nam.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Nhận thức về tầm quan trọng của tuyến vận tải trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai

     

    • Côn Minh, Đảng, Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc đã thống nhất tạo sự phát triển kinh tế của hai nước thông qua chủ trương hai hành lang – một vành đai kinh tế, trong đó có tuyến hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi và hạ tầng giao thông có sẵn, hành lang này có vai trò đặc biệt trong việc kết nối các tỉnh phía Tây Trung Quốc với các nước ASEAN theo con đường ngắn nhất, khai thác lợi thế của cảng biển Hải Phòng. Hiện nay, dịch vụ vận tải đã được kết nối từ Hải Phòng tới tận Côn Minh. Bên cạnh đó, hành lang này có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh vận tải hàng hoá quốc tế và trong nước. Tuyến hành lang kinh tế này cùng với vùng tam giác kinh tế trọng điểm Quảng Ninh – Hà Nội – Hải Phòng sẽ hoàn thiện để kết nối vào vùng kinh tế Bắc Bộ, thúc đẩy khu vực này cùng cả nước tăng trưởng mạnh mẽ. Như vậy cần có chính sách nâng cao hiệu quả quản lý trên tuyến vận tải này.

    2. Nội dung

     

    Cho đến thời điểm hiện nay, các lĩnh vực hoạt động hàng hải, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không thuộc ngành Giao thông vận tải đều được điều chỉnh bởi bộ luật hoặc các luật chuyên ngành như: Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Luật Hàng không dân dụng. Trong khi đó, loại hình vận tải đa phương thức này chưa có Luật riêng và chỉ mới chịu sự điều chỉnh của văn bản dưới luật, nên vẫn còn một số điểm hạn chế và bất cập. Chính vì vậy, việc làm cấp thiết hiện nay là hoàn thiện khung pháp lý và các cơ chế chính sách nhằm quản lý cũng như hỗ trợ tối đa cho các hoạt động kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc nói chung và trên tuyến vận tải Hải Phòng- Hà Nội-Lào Cai- Côn Minh nói riêng.

     

    Trong các luật chuyên ngành, duy nhất chỉ có Bộ luật Hàng hải Việt Nam có một Điều (Điều 119 – Hợp đồng vận tải đa phương thức) có quy định những nội dung liên quan đến

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               105

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    vận tải đa phương thức quốc tế. Tuy nhiên, nội dung chủ yếu của Điều luật này chỉ quy định về mối quan hệ, giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức vớ i người gửi hàng. Còn lại các luật chuyên ngành khác không có nội dung nào quy định về hoạt động vận tải đa phương thức, mà chỉ quy định các vấn đề liên quan đến an toàn, kết cấu hạ tầng đường bộ, phương tiện tham gia giao thông đường bộ…; quy hoạch, xây dựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường thủy nội địa…; quy hoạch, xây dựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường sắt, đường sắt đô thị…; quản lý Nhà nước về hàng không dân dụng, cảng hàng không dân dụng, bảo đảm an toàn hàng k hông… Như vậy, giữa Bộ luật Hàng hải Việt Nam và các luật chuyên ngành chưa có “tiếng nói chung” về hoạt động vận tải đa phương thức.

     

    Về văn bản dưới luật, ở Việt Nam nói chung cũng như trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh nói riêng, những vấn đề liên quan đến vận tải đa phương thức được quy định trong một số văn bản dưới luật sau: Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức thay thế Nghị định 125/2003/NĐ-CP về vận tải đa phương thức; Nghị định 89/2011/NĐ- CP sửa đổi bổ sung Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức; Văn bản hợp nhất 03/VBHN- BGTVT năm 2013 hợp nhất Nghị định về vận tải đa phương thức do Bộ Giao thông vận tải ban hành ngày 12 tháng 07 năm 2013; Thông tư 45/2011/TT-BTC về quy định thủ tục Hải quan đối với hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế; Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định thủ tục Hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát Hải quan, trong đó có Điều 17 hướng dẫn về thủ tục Hải quan đối với hàng hóa chuyển khẩu và Điều 19 hướng dẫn về thủ tục Hải quan đối với hàng hóa quá cảnh. Nghị định này sẽ được thay thế bằng Nghị định 08/2015/NĐ-CP Qui định chi tiết và biện pháp thi hành luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát, kiểm soát Hải quan (có hiệu lực từ 15.3.2015). Công văn 3038/TCHQ-GSQL thực hiện Thông tư 45/2011/TT-BTC; Thông tư số 08/2004/TTLT-BTM- BTC-BGTVT, ngày 17/12/2004 của 03 Bộ: Thương mại, Tài chính, Giao thông vận tải về việc hướng dẫn thực hiện dịch vụ trung chuyển hàng container tại các cảng biển Việt Nam. Thông tư này được xem là phù hợp với nhu cầu tất yếu, khách quan của thị trường và đáp ứng với nguyện vọng của các doanh nghiệp muốn tham gia kinh doanh loại hình dịch vụ này, bởi lẽ Thông tư áp dụng đối với các doanh nghiệp cảng biển và các tổ chức, cá nhân có liên quan, không giới hạn đối tượng áp dụng, mà chỉ quy định các điều kiện về cảng biển, hàng hóa, xử lý hàng hóa và thanh toán dịch vụ trung chuyển hàng container. Nếu doanh nghiệp nào, tổ chức cá nhân nào thấy đủ điều kiện là có quyền đăng ký kinh doanh dịch vụ trung chuyển hàng container tại cảng biển mà không cần phải xin phép. Đó là “tính mở” của Thông tư 08 đối với loại hình dịch vụ này mà trước đây bất cứ một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh dịch vụ trung chuyển hàng container đều phải xin giấy phép.

     

    Qua đánh giá các văn bản pháp quy liên quan đến vận tải đa phương thức hiện nay ở Việt Nam có thể thấy, nếu so sánh với Công ước vận tải đa phương thức quốc tế do Liên Hợp Quốc ban hành và Hiệp định khung của ASEAN về vận tải đa phương thức mà Việt Nam tham gia thì Nghị định 87/2009/NĐ-CP ở Việt Nam có qui định thêm hình thức vận tải đa phương thức nội địa. Tuy nhiên sự tách biệt giữa hai loại hình vận tải này vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi từ hai phía là doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, bởi sự tách biệt này đang gây ra một số khó khăn cho chính các doanh nghiệp vận tải trong nước so với các doanh nghiệp vận tải nước ngoài vì ngày 15/3/2010, Bộ Tài chính ban hành Công văn 3055/BTC-TCT về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với vận tải quốc tế. Theo Công văn này, các hợp đồng vận tải quốc tế, bao gồm cả chặng vận tải nội địa… đều được hưởng mức thuế GTGT là 0%. Trong khi hiện nay, tất cả các hợp đồng vận tải trong nước, kể cả theo hình thức đa phương thức, hiện đều phải chịu thuế GTGT 10%. Như vậy, về nguyên tắc, vận tải nội địa đã bị thiệt so với vận tải đa phương thức quốc tế.

     

    Mặt khác, nếu doanh nghiệp trong nước được thuê vận tải hàng hóa quốc tế chặng nội địa, thì đương nhiên thuế GTGT tại hóa đơn do doanh nghiệp vận tải trong nước xuất ra sẽ hoàn lại cho người thuê. Như vậy, không những doanh nghiệp có hợp đồng vận tải đa phương thức quốc tế đã không mất thuế GTGT, mà ngược lại còn được hoàn thuế cho những chặng vận tải thuộc nội địa.

     

    Thông tư 45/2011/TT-BTC về quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế còn rườm rà và yêu cầu nhiều chứng từ hơn đối với hàng hóa quá cảnh và chuyển khẩu thông thường.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               106

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    • Những hạn chế của quản lý Nhà nước về VTĐPT trên hành lang Hải Phòng- Hà Nội-Lào Cai – Côn Minh.

    Từ những phân tích ở trên, ta thấy những khó khăn, bất cập và nguyên nhân hạn chế của quản lý Nhà nước về VTĐPT gồm:

     

    • Nguyên nhân về chính sách quản lý để phát triển tuyến vận tải Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh là do sự bất cập về hệ thống luật pháp. Cho đến thời điểm hiện nay, các lĩnh vực hoạt động đường bộ, đường sắt,.. thuộc ngành Giao thông vận tải đều được điều chỉnh bởi bộ luật hoặc các luật chuyên ngành như Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt,… Trong khi đó, loại hình vận tải đa phương thức này chỉ mới chịu sự điều chỉnh của văn bản dưới luật, nên vẫn còn một số điểm hạn chế và bất cập.
    • Ngoài ra, tính ổn định của các văn bản về lĩnh vực vận tải không cao, các Nghị định, Thông tư thay đổi nhiều lần làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh vận tải của doanh nghiệp. Ví dụ như Nghị định 89/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều trong Nghị định số 87/2009/NĐ-CP liên quan đến quy định các đối tượng được kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế.

    Cho đến thời điểm này, tức là gần 4 năm thực hiện theo Nghị định sửa đổi đã phát sinh nhiều điều kiện vô tình gây thiệt hại cho các doanh nghiệp vận tải đa phương thức nội địa, do việc phân chia thành doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài (trong Nghị định) đã làm cho các doanh nghiệp vận tải nội địa phải chịu mức thuế giá trị gia tăng là 10%, trong khi các doanh nghiệp vận tải nước ngoài được hưởng mức thuế là 0%.

     

    Nghị định 87/ NĐ- CP 2009 mới chỉ qui định điều kiện kinh doanh và cấp giấy phép kinh doanh VTĐPT chứ không qui định chế tài đối với doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT mà không có giấy phép kinh doanh VTĐPT. Mặt khác, việc quản lý các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT nói chung và trên hành lang Hà Nội- Hải Phòng- Lào Cai- Côn Minh nói riêng còn buông lỏng, Bộ Giao thông vận tải chỉ quản lý các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT thông qua việc cấp giấy phép kinh doanh VTĐPT, xác nhận mẫu chứng từ VTĐPT mà không biết doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT trong quá trình thực hiện VTĐPT có gặp khó khăn gì không.

     

    Các quy định về vận tải hàng hóa còn thiếu nhiều nội dung, chưa được chặt chẽ, đặc biệt là đối với vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng. Gần đây nhất, Tổng cục đường bộ mới đề xuất đề án “Đổi mới quản lý vận tải đường bộ theo hướng hiện đại, hiệu quả theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải và giảm thiểu tai nạn giao thông”.

     

    • Các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn giao thông và chất lượng dịch vụ vận tải chưa được chi tiết cụ thể, chưa có quy định về một quy trình quản lý an toàn giao thông và chất lượng dịch vụ vận tải để có thể áp dụng toàn quốc.

    Tổ chức vận tải trong từng phương thức trên hành lang (vận tải bộ, sắt) được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên kết nối giữa các phương thức vận tải còn nhiều hạn chế. Quan trọng hơn là vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào để phối hợp hiệu quả vận tải đa phương thức trên hành lang này. Chính bởi vậy, các chính sách đề xuất từ phía các cơ quan địa phương còn mang tính manh mún.

     

    • Chưa có đủ các quy định để đẩy mạnh, khuyến khích việc áp dụng công nghệ tin học, phương pháp quản lý mới trong công tác quản lý.

    Từ số liệu dự báo Bảng 1, 2, 3 dưới đây, chúng ta thấy rằng số lượng hàng hóa vận chuyển trên các khu đoạn trên tuyến Hải Phòng – Lào Cai bằng đường bộ, đường sắt và khối lượng hàng XNK và quá cảnh chở bằng container trên tuyến đường sắt, đường bộ Hải Phòng- Lào Cai có xu hướng tăng theo các năm, điều này tạo thuận lợi cho việc phát triển VTĐPT trên hành lang này bằng đường sắt và đường bộ.

     

    Bảng 1. Dự báo khối lượng hàng hóa vận chuyển container trên các khu đoạn tuyến đường sắt Hải Phòng – Lào Cai (chưa kể hàng quá cảnh của Trung Quốc)

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2003

    2005

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Hải Phòng – Yên Viên

    7.3

    14

    36

    70

    130

    152

    191

    Yên Viên – Việt Trì

    6.2

    12

    31

    61

    114

    133

    168

    Việt Trì – Lào Cai

    3.5

    7

    19

    37

    70

    82

    103

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               107

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    Bảng 2. Dự báo tỉ lệ vận chuyển container trên các khu đoạn trên tuyến đường bộ Hải Phòng – Lào Cai (chưa kể hàng quá cảnh của Trung Quốc)

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2003

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Số lượng

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    339

    510

    699

    960

    1.097

    1.277

    Yên Viên – Việt Trì

    117

    175

    240

    330

    377

    439

    Việt Trì – Lào Cai

    20

    30

    41

    56

    64

    75

    Nhịp tăng

               

    Hải Phòng – Yên Viên

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Yên Viên – Việt Trì

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Việt Trì – Lào Cai

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    Bảng 3. Khối lượng hàng XNK và quá cảnh chở bằng container trên tuyến đường sắt, đường bộ Hải Phòng – Lào Cai.

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2005

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Đường sắt

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    20

    76

    138

    230

    289

    358

    Yên Viên – Việt Trì

    18

    71

    129

    214

    270

    334

    Việt Trì – Lào Cai

    12

    59

    105

    170

    217

    269

    Đường bộ

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    339

    510

    699

    960

    1.140

    1.345

    Yên Viên – Việt Trì

    117

    175

    240

    330

    392

    462

    Việt Trì – Lào Cai

    20

    30

    41

    56

    67

    78

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    1. Kết luận

    Qua khảo sát thực tế và kinh nghiệm của một số nước trong khu vực, việc phát triển và nâng cấp tuyến đường sắt từ Hà Nội và Hải Phòng có vai trò chiến lược quan trọng đối với sự phát triển của toàn hành lang. Ngoài ra, theo phương án đề xuất của Bộ giao thông vận tải là chuyển dịch thị phần vận chuyển container bằng đường bộ trên hành lang này sang vận chuyển bằng đường sắt, nhằm giảm tải cho mạng lưới giao thông đường bộ. Nếu phương án này được tổ chức thực hiện sẽ giảm đáng kể lượng xe container trên các quốc lộ 5 và 70. Để đạt được hiệu quả cân bằng cả về phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý, cần thiết có sự hỗ trợ Nhà nước trong việc nâng cấp cải tạo đường sắt trong các khu vực đầu mối như cảng Hải Phòng, cảng Chùa Vẽ, đóng mới toa xe, tiến tới giảm chi phí vận chuyển đường sắt. Song song với nó, cơ quan quản lý cũng cần có chế tài nghiêm để xử phạt vi ệc vận chuyển container loại 40 feet trở lên trên hành lang đường bộ từ Hà Nội – Hải Phòng.

     

    Tóm lại, các cơ chế chính sách quản lý để phát triển vận tải trên hành lang nên tập trung vào các vấn đề sau:

     

    Thứ nhất, đề xuất các giải pháp đồng bộ, tổng thể để tái cơ cấu lại thị phần đảm nhận của từng phương thức trên hành lang, cụ thể để tăng thị phần vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trên tuyến đường dài, giảm tỷ lệ vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               108

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    Thứ hai, xây dựng cơ chế chính sách mang tính chất kết nối các phương thức, liên hoàn trong khâu dịch vụ, tạo thuận lợi cho các chủ hàng, doanh nghiệp tham gia hoạt động trên hành lang.

     

    Cụ thể các biện pháp về cơ chế chính sách quản lý vận tải trên hành l ang này sẽ tập trung vào các nội dung sau:

     

    • Hoàn thiện chính sách và luật pháp nhằm phát triển có hiệu quả vận tải đa phương thức.

    Hiện phần lớn doanh nghiệp vận tải nước ta mới tham gia vận chuyển hàng hóa ở một vài công đoạn trong hoạt động VTĐPT, chỉ số ít doanh nghiệp có đủ năng lực vận chuyển hàng hóa theo VTĐPT quốc tế. Đây là vấn đề đáng lo cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Nếu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics không tiến tới VTĐPT quốc tế và dịch vụ logistics trọn gói sẽ rất khó cạnh tranh, khi năm 2014, doanh nghiệp nước ngoài được tham gia 100% vốn vào thị trường Việt Nam.

     

    Vì vậy, để các doanh nghiệp kinh doanh khai thác VTĐPT nói chung và khai thác VTĐPT nói riêng trên hành lang Hải Phòng- Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh mạnh lên, ngoài sự nỗ lực của các doanh nghiệp, cần có sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc:

     

    • Ban hành luật về kinh doanh VTĐPT. Trước mắt, cần chỉnh sửa hệ thống văn bản dưới Luật như bỏ khái niệm về VTĐPT trong Điều 2 và Qui định về kinh doanh VTĐPT nội địa (Điều 9) trong Nghị định 87/ 2009/NĐ- CP về vận tải đa phương thức cho phù hợp với thông lệ quốc tế vì không có định nghĩa VTĐPT nội địa trong các Công ước, qui tắc cũng như Hiệp định khung ASEAN về VTĐPT. Sửa đổi Điều 2, Điều 3 trong Thông tư 45/ TT- BTC 2011 hướng dẫn thủ tục Hải quan về hàng hóa VTĐPT là hàng hóa VTĐPT khi làm thủ tục Hải quan là doanh nghiệp chỉ cần xuất trình chứng từ chứng minh hàng hóa mình đang vận chuyển là hàng VTĐPT như: Nộp 01 bản photocopy từ bản chính Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế do Bộ Giao thông vận tải cấp (chỉ nộp lần đầu khi làm thủ tục hải quan tại một Chi cục Hải quan) và xuất trình bản chính để công chức hải quan kiểm tra, đối chiếu; Nộp 01 bản chính chứng từ vận tải đa phương thức quốc tế (theo mẫu đã được đăng ký với Bộ Giao thông vận tải) và nộp 01 bản chính bản khai hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế (bao gồm các tiêu chí sau: Số thứ tự, tên hàng, số lượng, trọng lượng, trị giá) mà không phải xuất trình thêm Bộ hồ sơ yêu cầu đối với thủ tục hàng hóa quá cảnh hay hàng chuyển cảng để tạo thuận lợi cho thủ tục hải quan đối với hàng hóa

    VTĐPT.

     

    • Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT thông qua việc tăng cường kiểm tra giám sát các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT. Cần có chế tài buộc các công ty kinh doanh giao nhận kho vận nói chung và kinh doanh VTĐPT nói riêng phải xin giấy phép kinh doanh VTĐPT, đăng ký mẫu vận đơn VTĐPT.
    • Có những chính sách khuyến khích cụ thể về thuế cho doanh nghiệp vận tải trong nước kinh doanh VTĐPT như giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống còn 5% để khuyến khích các doanh nghiệp vận tải nội địa nâng cao khả năng cạnh tranh của mình khi khai thác VTĐPT.
    • Hỗ trợ lãi suất, nguồn vốn để các doanh nghiệp Việt Nam liên kết, nâng cấp dịch vụ theo phương thức VTĐPT quốc tế để nâng cao sức cạnh tranh, giữ thị trường nội địa cho các doanh nghiệp Việt Nam.
    • Ngoài các cơ chế trên, cơ chế đặc thù cho tuyến này là việc việc quy định mức thu, quản lý và sử dụng phí sử dụng lề đường, bến bãi, mặt nước đối với các phương tiện vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu ra, vào bến, bãi chỉ nên áp dụng tại một điểm trên hành lang, nếu hàng vận chuyển chiều từ Hải Phòng đến Lào Cai thì chỉ nên thu phí sử dụng lề đường, bến bãi tại Hải Phòng, và chiều ngược lại, phí này nên chỉ thu tại Lào Cai, tránh trường hợp thu phí sử dụng lề đường, bến bãi cả hai đầu khiến cho chi phí vận chuyển hàng hóa tăng quá cao.
    • Cần bổ sung vào Nghị định thư đường sắt biên giới Việt Trung là Trung Quốc hỗ trợ Việt Nam trong việc nâng cấp tuyến đường sắt từ khổ đường 1000mm lên khổ 1435 mm để đẩy nhanh tiến độ nâng cấp đường sắt khổ rộng của Việt Nam từ Hải Phòng đi Lào Cai và nối với đường sắt khổ 1435mm tại Côn Minh (Trung quốc).

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               109

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    • Xây dựng khung chính sách phát triển vận tải đa phương thức, các chính sách khuyến khích phát triển Vận tải đa phương thức như sau:
    • Có chính sách khuyến khích đầu tư vốn phát triển kết cấu hạ tầng GTVT cho phương thức vận tải được ưu tiên và phương tiện vận tải tạo cơ sở vật chất cho Vậ n tải đa phương thức, tập trung cho lĩnh vực đường sắt, đường bộ trong VTĐPT hàng container.
    • Ban hành chính sách cho phép các nhà kinh doanh Vận tải đa phương thức của Việt Nam liên doanh với các nhà kinh doanh Vận tải đa phương thức có tiềm năng của nước ngoài để tìm thị trường cho dịch vụ Vận tải đa phương thức của ta. Hiện nay việc mở rộng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp nói chung chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp quy như Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài; hay Nghị định 121/2007/NĐ-CP ngày 25/7/2007 quy định về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của ngành dầu khí; Nghị định 17/2009/NĐ-CP về sửa đổi Nghị định 121/2007/NĐ-CP,….Thực tế thì chỉ có ngành dầu khí là đã xây dựng được bộ văn bản bao gồm quy định về cấp phép, quản lý hoạt động, chuyển vốn đầu tư, quản lý tài chính là tương đối đầy đủ. Điều này đã hỗ trợ tương đối tốt cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực dầu khí mở rộng địa bàn kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam. Như vậy về mặt dài hạn, kinh nghiệm của ngành dầu khí sẽ rất hữu ích để Bộ GTVT phối hợp Bộ Kế hoạch đầu tư nghiên cứu đề xuất các văn bản pháp quy tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp VTĐPT của Việt Nam tham gia hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
    • Ban hành chính sách bảo hộ ngành vận tải trong nước. Trong lĩnh vực vận tải quốc tế, nhiều nước đã có những quy định rất cụ thể nhằm khuyến khích việc chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng các phương tiện vận tải của quốc gia đó. Sự khuyến khích đó được thể hiện qua chính sách kinh tế, tài chính như: Ưu đãi về thuế, tài trợ đầu tư phương tiện, quản lý chặt sự tham gia thị trường vận tải của các doanh nghiệp nước ngoài. Để hướng tới mục tiêu tăng thị phần hàng hoá xuất nhập khẩu cho đội tàu biển quốc gia, nhà nước cần có những chính sách và biện pháp thiết thực để điều tiết thị trường vận tải, bảo hộ đội tàu nước ngoài mở thêm tuyến, đưa thêm tàu về khai thác thị trường Việt Nam khi các đội tàu Việt Nam có đủ năng lực đảm nhận, đặc biệt là vận tải container và vận tải nội địa. Ngoài ra để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, cần có sự quản lý của nước ta đối với những trường hợp các hãng tàu nước ngoài vi phạm các quy định về mở tuyến vận tải, đăng ký mức cước hoặc có những hành động cạnh tranh không lành mạnh khác để giảm thuế.
    • Cần tiến hành đổi mới toàn diện cơ chế chính sách, tạo động lực cho sự phát triển ngành vận tải hàng hoá đường bộ. Đối với ngành vận tải hàng hóa đường bộ trong giai đoạn hiện nay có những đặc trưng rất cơ bản đó là hạt nhân chính của ngành là khối kinh tế tư nhân. Để lực lượng này tham gia tích cực và đóng góp hiệu quả vào hoạt động vận tải, về phía Nhà nước cần tập trung vào các vấn đề như: Đơn giản hóa các thủ tục có liên quan đến vận tải và giao nhận hàng hóa; Xây dựng hệ thống pháp lý hoàn chỉnh, rõ ràng, minh bạch, nhất quán; Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được vận tải đa phương thức; Phối hợp chặt chẽ giữa các phương thức vận tải; Có chính sách khuyến khích đối với vận tải đa phương thức.

    Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, không cần phải tất cả các phương thức vận tải tham gia phục vụ chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế phải mạnh mới thực hiện quyền vận tải hàng hoá, mà trong quá trình mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại, phải coi trọng việc tăng cường liên kết các công ty vận tải giữa trong nước và quốc tế để cho thị trường vận tải được thông suốt. Việc liên kết Vận tải đa phương thức giúp cho người kinh doanh VTĐPT thâu tóm được tất cả mọi khâu của quá trình đưa hàng xuất nhập khẩu từ nơi sản xuất đến cơ sở của người mua.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Nghi ̣đi ̣nh số 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chinh́ phủvềvận tải đa phương thức, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2009.
    • Nghi ̣ đi ̣nh số 89/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011 của Chinh́ phủsửa đổi, bổsung một số điề u của Nghi ̣đinḥ số87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủvềvận tải đa phương thức, cóhiệu lực kểtừ ngày 25/11/2011.
    • Nghị định thư sửa đổi và thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 11/10/2011.
    • Công văn 3055/BTC-TCT của Bộ Tài chính về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với vận tải quốc tế 15/3/2010.

    Người phản biện: PGS.TS. Đặng Công Xưởng; TS. Nguyễn Hữu Hùng

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               110


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vi phạm cấm vận trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế – những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam

    Vi phạm cấm vận trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế – những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam

    Vi phạm cấm vận trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế – những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vi-ph%E1%BA%A1m-c%E1%BA%A5m-v%E1%BA%ADn-trong-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-v%C3%A0-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%B7t-ra-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-doanh-nghi%E1%BB%87p-xu%E1%BA%A5t-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u-v%C3%A0-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vi phạm cấm vận trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế – những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Vi phạm cấm vận trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế- những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    Nguyễn Thị Hồng Hải

     

    Ngày nhận: 10/04/2019                    Ngày nhận bản sửa: 13/05/2019                     Ngày duyệt đăng: 17/05/2019

     

    Thương mại và thanh toán quốc tế góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế quốc gia, tuy nhiên, những hoạt động này tiềm ẩn rủi ro cao. Bên cạnh việc phải tuân thủ những quy định pháp lí quốc tế, luật pháp của các quốc gia có liên quan, hoạt động này còn chịu sự giám sát của các tổ chức quốc tế trong nhiều lĩnh vực quản lí khác nhau. Vi phạm cấm vận có thể là một quá trình từ khi đàm phán kí kết hợp đồng, thuê phương tiện vận tải, lên lịch trình chuyên chở hàng hóa và thanh toán, tuy nhiên về cơ bản vi phạm cấm vận thường được các tổ chức tham gia giám sát phát hiện và trừng phạt một cách nặng nề vào giai đoạn thanh toán qua ngân hàng. Hậu quả của việc vi phạm cấm vận là rất lớn cả về kinh tế, giảm sút uy tín, gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) và ngân hàng thương mại (NHTM). Bài viết tập trung vào nội dung vi phạm cấm vận, hậu quả của vi phạm cấm vận, biện pháp phòng ngừa đối với doanh nghiệp và NHTM Việt Nam nhằm tránh sự trừng phạt từ những tổ chức trực tiếp giám sát chương trình cấm vận quốc tế, đặc biệt từ Văn phòng kiểm soát tài sản nước ngoài của Mỹ (OFAC), bởi Việt Nam có nhiều giao dịch là đối tượng giám sát của tổ chức này.

     

    Từ khóa: Cấm vận, thanh toán qua ngân hàng, trừng phạt ngân hàng vi phạm OFAC

     

     

    1.   Khái quát về cấm vận trong thương mại và thanh toán quốc tế

     

     

    © Học viện Ngân hàng

     

    ISSN 1859 – 011X

     

    1.1. Khái niệm cấm vận

     

    44

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

    Số 204- Tháng 5. 2019

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    ấm vận là các biện pháp trừng phạt do một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia áp dụng đối với cá nhân, tổ chức, quốc gia khác có nguy cơ đe doạ an ninh

     

    quốc gia hoặc khu vực hoặc đã vi phạm luật pháp quốc tế có liên quan đến những vấn đề về vũ khí, tài trợ khủng bố, buôn lậu, rửa tiền, ma túy (Decaux E., 2008; Carter, B. E., và cộng sự, 2012).

     

    Đối tượng của cấm vận khá đa dạng, có thể là một quốc gia; các tổ chức, cá nhân; phương tiện vận tải; và những hàng hóa đặc biệt đối với từng quốc gia.

     

    Khi một quốc gia là đối tượng của cấm vận thì tất cả các cá nhân, tổ chức và chính phủ tại quốc gia đó đều bị cấm vận. Về bản chất đây là cấm vận toàn bộ. Đối với trường hợp tổ chức và cá nhân ở bất kỳ nơi nào trên thế giới là đối tượng của cấm vận thì chỉ những giao dịch có liên quan đến họ mới bị cấm. Về bản chất, đây là trường hợp cấm vận từng phần. Phương tiện vận tải được đề cập ở đây bao gồm tàu, máy bay, hoặc bất cứ phương tiện vận tải nào khác tham gia vào quá trình chuyên chở hàng hóa xuất, nhập khẩu. Đối tượng cuối cùng của cấm vận là hàng hóa đặc biệt đối với từng quốc gia cụ thể. Về phía mình, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UN), Liên minh Châu Âu (EU) và OFAC công bố công khai đâu là những hàng hóa bị cấm, thuộc quốc gia nào. Ví dụ, đối với thị trường Nga, sẽ cấm đối với một tổ chức, các nhân cụ thể trong những giao dịch về vốn, vũ khí, chuyển giao công nghệ về dầu khí.

     

    1.2. Chương trình cấm vận quốc tế

     

    Theo Eaton, J. và cộng sự (1992), cấm vận là tổng hợp các biện pháp mà một hoặc một số bên sử dụng để gây ảnh hưởng đến người khác. Các biện pháp trừng phạt, hoặc đe dọa trừng phạt, đã được các chính phủ sử dụng để thay đổi nhân quyền, thương mại hoặc chính sách đối ngoại của một số chính phủ các nước.

     

    Các lệnh trừng phạt có thể được áp dụng bởi UN, EU và các quốc gia riêng lẻ, mà điển hình là Mỹ, dưới sự giám sát và thực hiện bởi OFAC. Chương trình cấm vận của UN được

     

    quy định trong các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, theo đó, đưa ra danh sách các cá nhân, tổ chức bị cấm vận. Phạm vi áp dụng chương trình cấm vận của UN bao gồm tất cả các nước thành viên của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Hình thức trừng phạt được UN áp dụng là đóng băng tài sản, cấm di chuyển, cấm vận vũ khí (Cameron, I., 2003).

     

    Chương trình cấm vận của EU được hình thành trên các căn cứ của EU. Những quốc gia trong nội bộ lãnh thổ EU, các tổ chức EU, người dân, người cư trú EU, hàng hóa, dịch vụ đến hoặc đi từ EU thuộc phạm vi áp dụng chương trình cấm vận EU. Hình thức trừng phạt của EU ở mức thấp hơn so với OFAC, cụ thể là đóng băng tài sản và cấm hỗ trợ tài chính cho đối tượng cấm vận (Eriksson, M., 2016).

     

    Cấm vận của OFAC là chương trình nghiêm khắc nhất. OFAC là Văn phòng kiểm soát tài sản nước ngoài được thành lập từ năm 1950, có trụ sở tại Washington, Hoa Kỳ. OFAC trực thuộc Bộ Tài chính Mỹ, là cơ quan đầu não hoạch định các biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ với các nước đối đầu. Chương trình cấm vận của OFAC được hình thành căn cứ trên quy định của Mỹ. Phạm vi hoạt động của OFAC bao gồm: lãnh thổ nước Mỹ; các tổ chức của Mỹ hoặc do Mỹ kiểm soát; người dân, người cư trú tại Mỹ; hàng hóa, dịch vụ đến Mỹ hoặc đi từ Mỹ; và đồng USD. Hình thức trừng phạt của OFAC bao gồm đóng băng tài sản, cấm đầu tư cung cấp dịch vụ. Bên cạnh đó, các nước vi phạm quy định cấm vận không được phép thực hiện giao dịch liên quan đến Mỹ và trong nhiều trường hợp phải nộp phạt rất cao.

     

    Trong ba tổ chức này, cần đặc biệt quan tâm đến OFAC vì những lí do khách quan và chủ quan. Về phía khách quan, đây là tổ chức áp dụng mức độ xử lí vi phạm rất nặng, khác nhiều so với EU và UN. Thông thường, khi tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của OFAC sẽ phải nộp phạt gấp nhiều lần so với giá trị giao dịch

     

    • phạm, để lại hậu quả nặng nề cho các chủ thể tham gia thương mại và thanh toán quốc tế, mà trong đó các NHTM sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Bên cạnh đó, về yếu tố chủ quan là do phần lớn các NHTM Việt Nam có quan hệ đại lý và quan hệ tài khoản với các ngân hàng Mỹ

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 45

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    và sử dụng chủ yếu đồng USD trong hoạt động xuất, nhập khẩu.

     

    1.3. Danh sách các quốc gia bị cấm vận

     

    Danh sách cấm vận của UN, EU và Mỹ hình

     

    thành trên cơ nghị quyết của Hội đồng Bảo

     

    an Liên Hợp Quốc, Liên minh Châu và Mỹ

     

    (Cameron, I., 2003). Số lượng quốc gia bị cấm

     

    vận hay được dỡ bỏ lệnh trừng phạt sẽ được

     

    công bố một cách công khai, rõ ràng bởi người

     

    đứng đầu của UN, EU và Mỹ. Ví dụ, năm 1994,

     

    cựu Tổng thống Mỹ Bill Cliton đã tuyên bố dỡ

     

    bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam,

     

    kể từ đó tất cả mọi hoạt động thương mại giữa

     

    Việt Nam và Hoa Kỳ không ngừng phát triển.

     

    Về cơ bản, danh sách các quốc gia bị cấm vận

     

    được chia làm hai loại, đó là cấm vận toàn bộ

     

    (comprehensive sanction) và cấm vận từng phần

     

    (selective sanction/ targeted sanction). Cấm

     

    vận toàn bộ là việc nghiêm cấm mọi hoạt động

     

    XNK trực tiếp hoặc gián tiếp, môi giới thương

     

    mại, tài trợ hoặc tạo điều kiện chống lại hầu hết

     

    hàng hóa, công nghệ và dịch vụ liên quan đến

     

    quốc gia đó, không phân biệt doanh nghiệp đó

     

    là ai, hàng hóa gì, đối tác cụ thể thế nào. Ngược

     

    lại, cấm vận từng phần là việc hạn chế đối với

     

    những cá nhân, doanh nghiệp, sản phẩm cụ thể

     

    hoặc dòng tài chính nhất định (Hufbauer, G. C.,

     

    và cộng sự, 2000).

     

    Xu hướng hiện nay là chuyển dần từ cấm vận toàn bộ sang cấm vận từng phần. Đây là tín hiệu tốt cho các thực thể trong danh sách cấm vận, tuy nhiên lại tạo ra những thách thức cho trong việc kiểm tra danh sách cấm vận của các nhà kinh doanh XNK và NHTM bởi công việc kiểm tra sẽ mất nhiều thời gian và công sức và mức độ phức tạp cũng vì thế mà gia tăng. Tính đến thời điểm hiện tại, danh sách cấm vận toàn bộ của OFAC, theo thống kê của Kho bạc Mỹ (tại https://www.treasury.gov) gồm có Iran, Sudan, Syria, Bắc Triều Tiên và Crimea, trong khi đó, cấm vận từng phần có số lượng quốc gia đông đảo, gồm có: Somalia; Libya; Iraq; Belarus; Lebanon; Afghanistan; Republic of Guinea; South Sudan; Central African Republic; Yemen; Eritrea; Republic of Congo; Ukraine; Guinea-Bissau; Balkans related

     

    (Serbia, Albania, Bosnia, Croatia, Macedonia, Kosovo); Haiti; Egypt; Russia; Tunisia; Venezuela và Cuba.

     

    Một quốc gia có thể là đối tượng đồng thời bị cấm vận của cả UN, EU và Mỹ, ngược lại, quốc gia đó có thể chỉ thuộc danh sách cấm vận của một trong các tổ chức đó mà thôi. Ví dụ, theo thống kê tại https://www.bscn.nl, tính đến ngày 7/5/2019, Afghanistan thuộc danh sách cấm vận của EU, trong khi đó quốc gia này không phải chịu cấm vận Mỹ; còn Belarus đều thuộc danh sách cấm vận của cả EU và Mỹ (https://www. treasury.gov).

     

    Danh sách các quốc gia bị cấm vận chỉ có giá trị ở thời điểm hiện tại và được thay đổi tùy thuộc vào quyết định của Hội đồng Bảo an UN, EU và Mỹ. Vì vậy, cần cập nhật để tránh những hệ quả của việc vi phạm. Có hai quốc gia trong danh sách trên cần được lưu ý, đó là Iran và Cuba. Mặc dù OFAC đã nới lỏng chương trình cấm vận với Iran từ 16/01/2016, tuy nhiên các định chế tài chính Mỹ vẫn chưa được phép thực hiện giao dịch liên quan đến quốc gia này. Hơn nữa, các định chế tài chính nước ngoài chưa thay đổi chính sách đối với các giao dịch có liên quan đến Iran. Trong khi đó, OFAC đã gỡ bỏ một phần cấm vận với Cuba, theo đó cho phép các ngân hàng (NH) Mỹ thực hiện thanh toán bằng đồng USD theo hình thức U-turn, tức là những giao dịch chuyển tiền có nguồn gốc và chấm dứt bên ngoài nước Mỹ, trong đó cả người khởi tạo và người thụ hưởng không phải là người chịu sự quản lý của Mỹ. Hiện tại Cuba không bị EU áp đặt cấm vận, nên những giao dịch bằng đồng EURO vẫn được giao dịch bình thường.

     

    1.4. Nội dung giao dịch thương mại và thanh toán quốc tế có yếu tố cấm vận

     

    Giao dịch thương mại và thanh toán quốc tế có yếu tố cấm vận là những giao dịch liên quan đến các đối tượng bị cấm vận và thuộc danh sách cấm vận của UN, EU và OFAC. Những giao dịch này bao gồm: Một trong các bên tham gia nằm trong danh sách cấm vận hoặc thuộc nước cấm vận; hàng hóa có nguồn gốc từ nước cấm vận; cảng xếp hàng, cảng dỡ hàng, cảng

     

    46 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    chuyển tải, cảng mà con tàu ghé qua nằm tại nước cấm vận; giao dịch cơ sở liên quan đến nước cấm vận; thuyền trưởng, người chuyên chở, đối tác xuất, nhập khẩu, bên thứ ba và tất cả các NHTM liên quan. Công việc này thực sự là thách thức đối với chủ thể tham gia thương mại và thanh toán quốc tế, đặc biệt đối với nhà XNK bởi có nhiều hạn chế về nhân lực, kiến thức và kinh nghiệm trong công tác kiểm tra cấm vận.

     

    Nguy cơ vi phạm cấm vận trong thương mại và thanh toán là rất lớn, có thể xuất phát từ khách hàng, hoặc từ NHTM hoặc đồng thời do cả hai chủ thể này.

     

    Về phía nhà XNK có thể kí kết và thực hiện hợp đồng thương mại mà trong đó các giao dịch có liên quan đến cấm vận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Giao dịch có yếu tố cấm vận rất đa dạng bởi số lượng các bên liên quan tham gia trực tiếp vào hoạt động thương mại rất nhiều và có thể ở bất kỳ quốc gia nào mà không đơn thuần chỉ có nước người mua và người bán. Ví dụ, con tầu chở hàng hóa từ Trung Quốc về Việt Nam có ghé qua một cảng của Bắc Triều Tiên, sẽ làm cho việc nhập khẩu này vi phạm cấm vận của Mỹ nếu lô hàng này được thanh toán bằng USD. Cơ sở để có kết luận này là do OFAC giám sát tất cả các giao dịch bằng USD trên toàn thế giới và Bắc Triều Tiên thuộc danh sách cấm vận toàn bộ do Mỹ công bố.

     

    Đối với NHTM, khi thực hiện thanh toán quốc tế cho những giao dịch của khách hàng XNK có yếu tố cấm vận như trình bày ở trên sẽ bị coi là vi phạm cấm vận. Nguy cơ vi phạm cấm vận của NHTM là không nhỏ, liên quan đến các giao dịch sau đây: Chuyển tiền; phát hành, sửa đổi thư tín dụng nhập khẩu (ILC- Import Letter of Credit); thông báo bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C – Letter of Credit) và nhờ thu nhập khẩu; thông báo chấp nhận bộ chứng từ trả chậm theo L/C, nhờ thu trả chậm hàng nhập (D/A- Documents Against Acceptance); thanh toán bộ chứng từ theo L/C; thông báo L/C xuất khẩu; gửi bộ chứng từ đi theo LC và nhờ thu xuất khẩu. Chính vì vậy, NHTM cần kiểm soát tất cả thông tin xuất hiện trên các điện giao dịch của mình bao gồm tất cả các chủ thể tham gia thương mại và tất cả các ngân hàng để tránh

     

    • phạm cấm vận. Chỉ cần một thực thể thuộc danh sách cấm vận, ví dụ ngân hàng trung gian sẽ làm cho NH chuyển tiền bị vi phạm cấm vận. Tóm lại, các nhà kinh doanh XNK và NHTM cần thận trọng nhằm tránh thực hiện các giao dịch có yếu tố cấm vận vì lợi ích của chính bản thân mình.

    1.5. Hậu quả của vi phạm cấm vận đối với nhà kinh doanh xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại

     

    1.5.1. Đối với nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Một khi vi phạm cấm vận, nhà kinh doanh XNK phải gánh chịu thiệt hại nặng nề từ các tổ chức giám sát cấm vận quốc tế, từ NHTM và từ đối tác trong quan hệ thương mại quốc tế.

     

    Trước hết, phải kể đến sự trừng phạt từ OFAC, EU, UN, tùy theo mức độ vi phạm và đối tượng

     

    • phạm mà sẽ chịu áp dụng mức độ xử lý khác nhau từ nhẹ đến nặng, bao gồm các hình phạt hình sự và dân sự. OFAC có thể áp dụng hình phạt hình sự bao gồm phạt tiền lên tới 1 triệu USD và, hoặc tối đa 20 năm tù cho mỗi lần vi phạm. Hình phạt dân sự bao gồm phạt tiền lên tới 55.000 USD cho mỗi lần vi phạm. Các hình phạt khác đối với vi phạm các quy định của OFAC bao gồm thu giữ, hoặc tịch thu hàng hóa liên quan, tạm dừng hoặc hủy giao dịch; phong tỏa, giữ lại khoản tiền giao dịch; và phạt tiền (Refinitiv, 2018; Lau, T. J. , 2004).

    Bên cạnh đó, khi nhà kinh doanh XNK vi phạm cấm vận còn gặp nhiều khó khăn từ phía NHTM, như bị hạ xếp hạng tín dụng, bị từ chối thực hiện những giao dịch tiếp theo. Ngoài ra, các chủ thể tham gia thương mại phải đối mặt với việc bị đánh mất uy tín đối ngoại, mất cơ hội kinh doanh từ phía các đối tác đã, đang và dự định hợp tác kinh doanh trong tương lai. Tóm lại, với tất cả những vấn đề nêu trên sẽ làm cho doanh nghiệp kinh doanh XNK không đủ năng lực tài chính và cơ hội để tiếp tục kinh doanh, nghiêm trọng hơn là bị phá sản và có thể phải ra hầu tòa do những vi phạm cấm vận trong thương mại quốc tế.

     

    1.5.2. Đối với ngân hàng thương mại

     

    Tương tự như các nhà kinh doanh XNK, NHTM

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 47

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    cũng bị tạm dừng giao dịch, hủy giao dịch, bị phong tỏa, giữ lại khoản tiền giao dịch một khi

     

    • phạm những quy định của OFAC, EU và UN (Refinitiv, 2018). Bên cạnh đó, NHTM còn bị đóng băng tài khoản tại các ngân hàng nước ngoài. Ngoài ra, NHTM còn đối diện với vấn đề trầm trọng hơn, đó là việc vi phạm quy định pháp luật và ngân hàng bị phạt tiền, thậm chí là rất nhiều tiền (Lau, T. J, 2004), đặc biệt đối với Mỹ- quốc gia có quy định chặt chẽ về gian lận, rửa tiền và cấm vận. Một khi đã vi phạm, thì số tiền phạt và bồi thường rất cao mà các ngân hàng phải trả cho nhiều tổ chức khác nhau với tổng số tiền nộp phạt lớn hơn nhiều lần so với trị giá giao dịch gian lận đã thực hiện. Cho dù là ngân hàng nào, ở đâu, của nước nào cũng đều phải chịu mức phạt theo quy định của UN, EU,

    OFAC.

     

    Một ví dụ sau đây cho thấy sự trừng phạt nặng nề một khi ngân hàng vi phạm pháp luật của Mỹ trong hoạt động chuyển tiền. Vào năm 2015, Commerzbank AG, một tổ chức tài chính toàn cầu có trụ sở tại Frankfurt, Đức và chi nhánh tại Hoa Kỳ, Commerzbank AG Chi nhánh New York (Commerz New York) đã phải chấp nhận một khoản tiền phạt khổng lồ, bao gồm 563 triệu USD liên quan đến những giao dịch gian lận, rửa tiền đã bị tịch thu, nộp phạt 79 triệu USD do vi phạm Quy định về Hành động quốc tế quyền hạn khẩn cấp kinh tế (IEEFA- International Emergency Economic Powers Act) và Hoạt động bảo mật ngân hàng (BSA- Bank Secrecy Act), nộp 200 triệu USD phạt dân sự và 610 triệu USD nộp phạt cho Phòng Dịch vụ tài chính (DFS- Department of Financial Services). Như vậy, tổng số tiền mà Commerzbank AGphải nộp phạt là trên 1,45 tỷ USD trên tổng số giao dịch gian lận là 563 triệu USD (Zagaris, B. I. 2015).

     

    Hậu quả tiếp theo đối với ngân hàng, đó là nguy cơ tham gia vào các hoạt động tội phạm. Vì lợi nhuận nên nhiều ngân hàng đã bỏ qua những cảnh báo đỏ, thậm chí cố tình che giấu hoặc làm sai lệch hồ sơ những giao dịch bị cấm theo luật trừng phạt của Mỹ, đặc biệt từ các quốc gia trong mức độ cấm vận loại một như Iran, Sudan, Syria, North Korea, mà điển hình là trường hợp vi phạm của BNP Paribas năm 2014

     

    (Raymond, N., 2015).

     

    Hệ quả tất yếu của việc thực hiện giao dịch bị cấm vận là ảnh hưởng uy tín của ngân hàng. Sẽ có hàng loạt động thái bất lợi cho ngân hàng như các NH nước ngoài đóng quan hệ đại lí, không thực hiện các giao dịch với NH vi phạm, do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động đối nội, đối ngoại của ngân hàng và dẫn đến tình trạng mất khách hàng, sụt giảm doanh số giao dịch.

     

    2.   Thực trạng và nguyên nhân vi phạm cấm vận trong thương mại và thanh toán quốc tế

     

    2.1. Thực trạng vi phạm cấm vận

     

    Vi phạm cấm vận là lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm mà dường như các chủ thể không muốn công khai số liệu, trừ những trường hợp đã bị tuyên bố phạt của UN, EU và OFAC. Kết quả của vi phạm cấm vận được thể hiện một cách rõ ràng ở giai đoạn thanh toán qua ngân hàng. Về phía các tổ chức giám sát cấm vận quốc tế, họ mong muốn phát hiện vi phạm cấm vận thông qua việc kiểm tra các giao dịch của NHTM bởi việc yêu cầu NHTM nộp phạt thay cho nhà kinh doanh XNK là cách làm thông minh và dễ thực hiện nhất.

     

    Đồng USD được sử dụng chủ yếu trong giao dịch thương mại toàn cầu. Hơn nữa, OFAC là tổ chức giám sát cấm vận áp dụng nhiều biện pháp trừng phạt nặng nề đối với các thực thể vi phạm. Ngoài ra, hoạt động thương mại của Việt Nam chủ yếu sử dụng đồng USD để thanh toán hàng hóa XNK và sử dụng dịch vụ qua các NH Mỹ. Vì những lí do đó, bài viết tập trung xem xét thực trạng vi phạm cấm vận chịu sự điều chỉnh của Mỹ, mà thực chất là OFAC. Theo công bố của OFAC, trong giai đoạn

     

    2010- 2018 có 25 ngân hàng vi phạm cấm vận với tổng lượt vi phạm là 31 lần, bao gồm: RBS; Barclays; Compass Bank; Wells Fargo; JP Morgan; Commerzbank; Societe Generale; Trans -Pacific National Bank; HSBC; SCB; ING; Bank of Tokyo Misubishi; National Bank of Abu Drabi; Intesa Sanpaolo; Bank of Guam; Deutsch Bank; BNP Paribas; Clearstream Banking; Bank of Moscow; Bank of America;

     

    48 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 1. Số tiền bị OFAC phạt trong giai đoạn 2010-2018

     

    Đơn vị: Triệu USD

     

     

     

    Nguồn: Refinitiv (2018). Fines for banks that breached U.S. OFACSanction

     

     

    Bảng 1. Số ngân hàng và quốc gia bị OFAC phạt trong giai đoạn 2010-2018

    Năm

    Số ngân

    Quốc gia

     

    hàng vi

     
     

    phạm

     

    2010

    4

    Anh và Mỹ

         

    2011

    4

    Anh, Đức, Pháp, Mỹ

         
       

    Anh, Hà Lan, Nhật Bản,

    2012

    5

    Các tiểu vương quốc Ả Rập

       

    thống nhất

    2013

    5

    Anh, Ý, Mỹ, Đức

         

    2014

    5

    Ý, Đức, Nga, Mỹ, Nhật Bản

         

    2015

    5

    Đức, Hà Lan, Mỹ

         

    2016

    1

    Anh

         

    2017

    1

    Canada

         

    2018

    2

    Mỹ và Pháp

         

    Nguồn: Refinitiv (2018). Fines for banks that breached U.S. OFACSanction

     

    Credit Agricole; Pay Pay; BancoDo Brasil; National Bank of Pakistan; và Toronto Dominion Bank PLC. Trong số đó có 6 ngân hàng vi phạm hai lần, bao gồm: RBS; Barclays; Compass Bank; JP Morgan; Commerzbank và Bank of Tokyo Misubishi (Refinitiv, 2018). Trong số này, có nhiều ngân hàng phải nộp phạt cho OFAC số tiền rất lớn, như BNP Parisbas, Commerzbank, HSBC với mức phạt lần lượt

    là 8,9 tỷ USD , 1,45 tỷ USD và 1,9 tỷ USD (Refinitiv, 2018).

     

    Thực trạng trên cho thấy, vi phạm cấm vận không chỉ xảy ra ở những ngân hàng nhỏ mà cả những ngân hàng lớn, thậm chí rất lớn. Số lượng ngân hàng vi phạm cấm vận và giá trị các khoản các ngân hàng bị nộp phạt do vi phạm cấm vận của OFAC trong giai đoạn 2010- 2018 thể hiện ở Hình 1 và Bảng 1.

     

    2.2. Nguyên nhân vi phạm cấm vận

     

    Vi phạm cấm vận liên tục xảy ra và nguyên nhân cũng vô cùng đa dạng. Vi phạm cấm vận có thể bắt nguồn từ các nhà kinh doanh XNK và NHTM. Tuy nhiên, NHTM là chủ thể giữ vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn các giao dịch cấm vận bởi họ là người kiểm soát cuối cùng trước khi quyết định có thực hiện hay không. Về cơ bản, có thể tổng hợp thành các nguyên nhân chính như sau:

     

    Thứ nhất, không rà soát kỹ các giao dịch có liên quan: Như đã trình bày ở trên, danh sách cấm vận thay đổi liên tục, đòi hỏi NHTM và nhà kinh doanh XNK dành sự cẩn thận thích đáng để kiểm tra đối tượng và danh sách cấm vận. Lý do sâu xa dẫn đến việc bỏ sót thông tin khá đa dạng, có thể do không đủ nguồn nhân lực, hoặc ý thức của những người có trách nhiệm kiểm tra, hoặc do chủ quan khi rà soát

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 49

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    các chủ thể quen thuộc, có lịch sử giao dịch tốt và không có bất kỳ vi phạm cấm vận nào trước đó, nên có tâm lý chủ quan, không kiểm tra kỹ lưỡng. Có thể minh chứng bằng trường hợp của ZTE, công ty nổi tiếng của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ điện tử, năm 2016 ZTE đã bị OFAC tuyên phạt 1,19 tỷ USD do vi phạm lệnh trừng phạt của Mỹ do đã xuất khẩu hàng hóa cho Iran, Sudan, Bắc Triều Tiên, Syria

     

    và Cu Ba (Valentino-DeVries, J, và cộng sự, 2018).

     

    Thứ hai, NHTM cố tình che giấu các giao dịch vi phạm cấm vận của khách hàng: Vì nhiều lí do khác nhau mà ngày càng nhiều NHTM cố tình che giấu cho khách hàng, như BNP, Barclays Bank, và đặc biệt là Standard Chartered Bank (SBC). Mặc dù SBC nhiều lần bị phát hiện vi phạm nhưng SCB chi nhánh New York vẫn cố tình lách luật trừng phạt của chính quyền Hoa Kỳ, đặc biệt đối với các giao dịch có liên quan tới Iran (https://www. trumpandtrade.com).

     

    Nhiều NHTM đã tiếp tay cho những hoạt động rửa tiền, tài trợ khủng bố nhưng đã bị phát hiện và phải chấp nhận trừng phạt của OFAC. Ví dụ, năm 2018, OFAC đã phạt JP Morgan Chase Bank NA với số tiền 5,26 triệu USD cho OFAC do có những giao dịch nhằm tài trợ khủng bố Thứ ba, NHTM chưa thực hiện tốt quy định về kiểm soát rửa tiền và cấm vận: Kết quả khảo sát được thực hiện bởi Cơ quan dịch vụ tài chính của Anh (FSA- Financial Services Authority) cho thấy hơn một nửa trong số 27 ngân hàng được kiểm tra chưa thực hiện tốt quy định về kiểm soát rửa tiền và cấm vận. Hơn nữa, nhiều NHTM chỉ tập trung vào việc xác định các giao dịch lớn và không xem xét đến những dấu hiệu cảnh báo khi đánh giá hoạt động của khách hàng (Authority, F. C., 2014).

     

    Thứ tư, cả khách hàng và ngân hàng có tâm lý

     

    • lại quá nhiều vào chương trình sàng lọc cấm vận đã được trang bị tại các NHTM. Giám sát giao dịch là không thể thiếu để xác định các giao dịch đáng ngờ. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh doanh XNK cho rằng đã có các NHTM kiểm soát cấm vận và NH có chương trình lọc cấm vận, vì vậy, họ đã không xem xét một cách kỹ lưỡng các thực thể trong giao dịch thương

    mại, hoặc không hợp tác với NH để truy xét đến cùng những thông tin đáng ngờ. Về phía NHTM, không phải mọi thông tin liên quan đến cấm vận đều kiểm tra được từ phần mềm lọc cấm vận. Thông thường, hệ thống giám sát của NHTM chỉ kiểm tra các thông tin xuất hiện trên các giao dịch mà NH gửi đi, vì vậy, khó kiểm soát được những thông tin chỉ liên quan đến giao dịch cơ sở. Ví dụ, thông tin cảng trung gian trên vận đơn đường biển. Đối với trường hợp này cần kết hợp cả hệ thống giám sát giao dịch tự động và thủ công mới đạt được hiệu quả của công tác kiểm tra cấm vận

     

    Thứ năm, chưa chú trọng công tác phòng chống cấm vận: Do kém hiểu biết hoặc chưa ý thức được mức độ nguy hiểm cũng như hậu quả của

     

    • phạm cấm vận nên nhiều chủ thể tham gia thương mại và thanh toán quốc tế, mà trong đó, đặc biệt là các nhà kinh doanh XNK chưa đầu tư, quan tâm thích đáng đến công tác phòng ngừa rủi ro cấm vận.

    3.   Một số gợi ý đối với nhà kinh doanh xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam

    3.1. Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhẩu khẩu

     

    Vi phạm quy định cấm vận và trừng phạt có thể bắt nguồn từ việc cố tình hoặc vô tình. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập tới biện pháp làm thế nào để các doanh nghiệp có thể ngăn chặn các hành vi vô tình vi phạm quy định của chương trình cấm vận của OFAC, EU và UN, cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, thực hiện rà soát đặc biệt từng giao dịch. Nhà kinh doanh nên rà soát kỹ càng và đầy đủ tất cả các giao dịch có khả năng vi phạm cấm vận. Lựa chọn biện pháp phù hợp để rà soát cho từng giao dịch, tránh áp dụng một cách máy móc cho tất cả giao dịch. Cân nhắc biện pháp cho phù hợp với từng loại thị trường, hàng hóa, người mua, người bán, nhà trung gian, mà trong đó đặc biệt lưu ý với những đối tác trong danh sách cấm vận toàn bộ, những mặt hàng có nguy cơ liên quan như nhựa đường, xăng dầu. Thứ hai, không ngừng đào tạo, nâng cao kiến

     

     

    50 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    thức cho người lao động của doanh nghiệp, đặc biệt là những người trực tiếp làm công tác XNK. Về cơ bản, doanh nghiệp cần nâng cao kiến thức về ngoại thương, kỹ năng phân tích và đánh giá rủi ro cho nhân viên. Trong hàng loạt kiến thức cần bổ sung, nên dành sự quan tâm thích đáng đến việc lựa chọn thị trường, kí kết hợp đồng thương mại, lựa chọn điều kiện cơ sở giao hàng, điều khoản thanh toán bao gồm phương thức, thời gian, chứng từ. Bên cạnh đó, chủ thể tham gia liên quan bao gồm tất cả các ngân hàng tham gia cũng là nội dung không được phép bỏ qua để khẳng định giao dịch không bị vi phạm cấm vận.

     

    Thứ ba, thực hiện tốt công tác lưu giữ hồ sơ: Lưu giữ hồ sơ đầy đủ và thường xuyên xem lại những giao dịch đã thực hiện nhằm loại trừ nguy cơ vi phạm quy định của các chương trình cấm vận.

     

    Thứ tư, lựa chọn ngân hàng có kinh nghiệm trong phòng chống rửa tiền, cấm vận. Phòng ngừa rủi ro có thể từ chính chất lượng dịch vụ của NHTM. Việc lựa chọn những ngân hàng nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, có chất lượng cao trong việc kiểm tra cấm vận và tư vấn tốt sẽ giảm thiếu tối đa rủi ro cho khách hàng. Hiện nay nhiều ngân hàng lớn như VCB, Vietinbank, BIDV và một số NHTM khác đã đầu tư phần mềm chất lượng cao, có khả năng kiểm soát tốt, đáp ứng được yêu cầu đa dạng hóa thị trường và khách hàng. Bên cạnh đó, việc lựa chọn đúng ngân hàng còn tạo cơ hội cho nhà kinh doanh XNK tham gia hội nghị khách hàng có chất lượng nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong phòng chống rửa tiền và cấm vận.

     

    Thứ năm, hình thành bộ phận chuyên nghiên cứu khách hàng có mức độ tiềm ẩn rủi ro cao trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Ví dụ, đối với hoạt động nhập khẩu thiết bị điện tử, thiết bị mạng và viễn thông, hiện nay Việt Nam nhập khá nhiều mặt hàng này từ Trung Quốc. Tuy nhiên, đây là thị trường có độ rủi ro cao, cần có nghiên cứu để tránh những trường hợp vi phạm đáng tiếc xảy ra bằng việc xây dựng danh sách khách hàng cần lưu ý mà Huawei là một ví dụ. Mặc dù hiện Huawei chưa bị đưa vào danh sách cấm vận,

     

    tuy nhiên cần phải lưu ý đến doanh nghiệp này, đặc biệt sau khi chính quyền Mỹ bắt giữ giám đốc tài chính của tập đoàn, bà Mạnh Văn Chu tại Vancouver, Canada vào ngày 01/12/2018.

     

    3.2. Đối với ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    Thứ nhất, đầu tư công nghệ phù hợp nhằm quản trị rủi ro. Công nghệ hiện đại đáp ứng yêu cầu kiểm soát rủi ro liên quan đến các giao dịch cấm vận không chỉ là cơ hội nâng cao chất lượng dịch vụ cho khách hàng mà còn tạo điều kiện phòng ngừa rủi ro cho chính bản thân ngân hàng. Đầu tư thích đáng những phần mềm có khả năng lọc thông tin tốt nhất, chính xác nhất là sự đầu tư thông minh trong điều kiện công nghê 4.0 hiện nay.

     

    Thứ hai, ngân hàng cần tuân thủ việc kiểm tra theo từng loại giao dịch, xác định loại chứng từ và nội dung phải rà soát để tránh vi phạm cấm vận. Những giao dịch cần phải kiểm tra, bao gồm: Chuyển tiền, Phát hành và sửa đổi L/C nhập khẩu; Thông báo bộ chứng từ theo L/C và nhờ thu nhập khẩu; Thông báo chấp nhận bộ chứng từ theo L/C trả chậm và D/A; Thanh toán bộ chứng từ theo L/C và Nhờ thu nhập khẩu; Thông báo LC xuất.

     

    Những chứng từ cần kiểm tra bao gồm điện, chứng từ giữa các ngân hàng. Đối với điện, các mẫu cần kiểm tra bao gồm: Điện chuyển tiền (giao dịch chuyển tiền); MT 103 hoặc MT202 (trong giao dịch thanh toán bộ chứng từ theo L/C và nhờ thu nhập khẩu); MT 700/MT707 (phát hành và sửa đổi L/C và thông báo L/C xuất); MT799 (trong giao dịch thông báo chấp nhận bộ chứng từ theo L/C trả chậm và D/A). Thư đòi tiền- Covering Letter là chứng từ giữa các ngân hàng cần được kiểm tra cấm vận đối với giao dịch thông báo bộ chứng từ theo L/C và nhờ thu nhập khẩu, giao dịch thông báo chấp nhận bộ chứng từ theo L/C trả chậm và D/A, giao dịch thanh toán bộ chứng từ theo L/C và nhờ thu nhập khẩu. Bên cạnh đó số lượng chứng từ cần kiểm tra để tránh vi phạm cấm vận xoay quanh những chứng từ sau đây: Hóa đơn; Hợp đồng thương mại trong trường hợp thông tin trên hóa đơn chưa đủ; B/L (nếu có); C/O và một số chứng từ khác tùy thuộc loại

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 51

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    giao dịch.

     

    Nội dung cần kiểm tra đối với các giao dịch và chứng từ trên gồm có: Người yêu cầu chuyển tiền hoặc người trả tiền; Người hưởng; Người gửi hàng; Ngân hàng của người hưởng hoặc ngân hàng gửi chứng từ; Nhà trung gian; Hãng tàu; Tên tàu; Thuyền trưởng và đại lý thuyền trưởng (nếu có); Bên được thông báo (Notify party); Tên hàng; Nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa. Ngoài ra, cần kiểm tra thêm thông tin ngân hàng phát hành, người thụ hưởng, người yêu cầu mở L/C, các bên trung gian (đối với giao dịch thông báo L/C xuất) và ngân hàng thu hộ trong thanh toán nhờ thu.

     

    Thứ ba, Tăng cường hỗ trợ cho khách hàng: NHTM Việt Nam hỗ trợ cho khách hàng nhiều hơn nữa bằng việc cung cấp dịch vụ kiểm tra cấm vận từ trước khi khách hàng kí hợp đồng chính thức. Như đã trình bày ở phần trên, mặc dù hiện nay có nhiều doanh nghiệp rất quan tâm đến việc có được những thông tin liên quan đến cấm vận để phòng ngừa rủi ro.Tuy nhiên, ở giai đoạn chưa kí hợp đồng, khách hàng không có cơ hội sử dụng dịch vụ chính thức của ngân hàng, mà chỉ bằng mối quan hệ cá nhân. Chính vì vậy, việc kiểm tra đối với giai đoạn này chỉ mang tính chất sơ bộ, không đảm bảo tất cả các thông tin liên quan cấm vận được kiểm tra một cách đầy đủ.

     

    Thứ tư, tổ chức hội nghị khách hàng thường xuyên ở tất cả các chi nhánh. Việc tổ chức hội nghị khách hàng cần được thực hiện một cách thường xuyên và ở tất cả các chi nhánh của NHTM thay vì chỉ tập trung ở một số chi nhánh

     

    Tài liệu tham khảo

     

    lớn nhằm tạo cơ hội cho khách hàng cập nhật thông tin hữu ích liên quan đến cấm vận, trừng phạt của các tổ chức quốc tế.

    Thứ năm, NHTM tư vấn cho khách hàng sử dụng đa dạng hóa loại ngoại tệ. Hiện nay Việt Nam phần lớn đang sử dụng USD làm đồng tiền thanh toán, điều này làm tăng nguy cơ rủi ro bởi sự giám sát của OFAC. Ngân hàng cần tư vấn cho khách hàng lựa chọn các đồng tiền khác thay vì việc quá tập trung vào USD. Việc không sử dụng USD sẽ giúp tránh những quy định nặng nề của OFAC, đặc biệt trong trường hợp vi phạm cấm vận xảy ra. NHTM nên áp dụng chính sách giảm trừ cho khách hàng nhập khẩu một phần phí thanh toán quốc tế khi sử dụng ngoại tệ khác ngoài USD trong hoạt động nhập khẩu.

     

    Kết luận

     

    Cấm vận là một vấn đề phức tạp, khó kiểm soát bởi sự đa dạng và thường xuyên thay đổi. Vi phạm cấm vận xuất phát từ những nguyên nhân khách quan chủ quan khác nhau và để lại những hậu quả nặng nề cả về uy tín và tài chính cho các chủ thể tham gia hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế. Từ đó, đòi hỏi các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu và NHTM không ngừng cập nhật thông tin về cấm vận, hoàn thiện, tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát đối với tất cả thực thể có liên quan đến giao dịch thương mại và thanh toán quốc tế để không vi phạm cấm vận và hướng tới sự phát triển bển vững, khẳng định uy tín trên thị trường thế giới ■

     

    1. Authority, F. C. (2014). H. w small banks manage money laundering and sanctions risk.

     

    1. Carter, B. E., & Farha, R. M. (2012). Overview and operation of us financial sanctions, including the example of Iran. Geo. J. Int’l L., 44, 903.
    2. Cameron, I. (2003). UN targeted sanctions, legal safeguards and the European Convention on Human Rights. Nordic Journal of International Law, 72(2), 159-214.
    3. Decaux, E. (2008). The definition of traditional sanctions: their scope and characteristics. International Review of the Red Cross, 90(870), 249-257.
    4. Eaton, J., & Engers, M. (1992). Sanctions. Journal of Political Economy, 100(5), 899-928

     

    1. Eland, I. (2018). Economic sanctions as tools of foreign policy. In Economic Sanctions (pp. 29-42). Routledge.

     

    1. Eriksson, M. (2016). Targeting peace: understanding UN and EU targeted sanctions. Routledge

     

    1. Hufbauer, G. C., & Oegg, B. (2000). Targeted sanctions: A policy alternative. Law & Pol’y Int’l Bus., 32, 11.

     

    1. John W. Boscariol, J. Patrick Briscoe, Laura El-Sabaawi, Steven C. Emme, Jahna M. Hartwig, Jack R. Hayes, Adam Klauder, Carlos Ramos-Mrosovsky, Cari N. Stinebower and Petra A. Vorwig, Export Controls and Economic Sanctions, Vol. 44, No. 1, International Legal Developments Year in Review: 2009 (SPRING 2010), pp. 25-44.

     

     

    52 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    1. Lau, T. J. (2004). Triggering Parent Company Liability Under United States Sanctions Regimes: The Troubling Implications of Prohibiting Approval and Facilitation. American Business Law Journal, 41(4), 413-457.
    2. Peter, L. Fitzgerald, (2007), The impact of economic sanctions, Vol. II: Evidence, second reports of session (Paper 96-II),

     

    1. Refinitiv (2018). Fines for banks that breached U.S. OFACSanctions

     

    1. Raymond, N. (2015). BNP Paribas sentenced in $8.9 billion accord over sanctions violations. Reuters, May, 1.

     

    1. Valentino-DeVries, J., Singer, N., Keller, M. H., & Krolik, A. (2018). Your apps know where you were last night, and they’re not keeping it secret. New York Times, 10.
    2. https://www.ft.com/content/9fe358f0-c8cf-11e4-8617-00144feab7de Zagaris, B. I. MONEY LAUNDERING AND ECONOMIC SANCTIONS Commerzbank AG Admits to Sanctions and Money
    3. Quy định số 2112/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố giai đoạn 2015-2020.
    4. https://www.refinitiv.com/content/dam/marketing/en_us/documents/infographics/fines-for-banks-that-breached-us-sanctions-infographic.pdf
    5. https://mdoronin.blogspot.com/2014/12/war-on-terror-finances-of-jihad-how.html?mBreaking the Banks, The Financial Consequences of Counterterorism, Tom Keatinge
    6. https://www.treasury.gov/resource-center/sanctions/Pages/default.aspx

     

    1. https://www.bscn.nl/sanctions-consulting/sanctions-list-countries;

     

    1. https://www.treasury.gov/resource-center/sanctions/CivPen/Documents/20170113_td_bank.pdf;

     

    1. https://www.trumpandtrade.com/2019/04/ofac-settles-with-standard-chartered-bank-over-violations-of-u-s-economic-sanctions
    2. https://www.trumpandtrade.com/2019/04/ofac-settles-with-standard-chartered-bank-over-violations-of-u-s-economic-sanctions
    3. https://sanctionssearch.ofac.treas.gov

    Thông tin tác giả

     

    Nguyễn Thị Hồng Hải, Tiến sĩ

     

    Khoa Kinh doanh Quốc tế, Học viện Ngân hàng

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    Sanction Violantions in International Trade and Payments- Critical Issues and Recommendations for Vietnamese Exporters, Importers and Commercial Banks

    International trade and payment contribute positively to the national economic development, however, these activities associate with high risks. In addition to complying with international regulations, the laws of the involved countries, these activities are also subject to the supervision of many international organizations in various management areas. Sanction violations may happen anytime during the process from contract negotiation, signing contracts for carriage, scheduling for transportation and making payment. However, sanction violations arebasically often recognized and heavily fined by supervising organizations at the payment stage through banks. The consequences of violating sanctions are huge in terms of economic aspects, deteriorating reputation and causing difficulties in business activities of import-export enterprises as well as commercial banks. The article focuses on contents of sanction violations, consequences of these violations and preventive measures for Vietnamese enterprises and commercial banks to avoid punishment from organizations which directly supervise the international sanctions, especially from OFAC due to the fact that Vietnam has many transactions that are subject to the supervision of this organization.

     

    Key words: Sanction, Bank Remittance, fines for banks that breached OFAC sanction

     

    Hai Thi Hong Nguyen, PhD.

     

    Faculty of International Business, Banking Academy of Vietnam

     

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 53


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

    Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

    Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-m%E1%BB%A9c-%C4%91%E1%BB%99-ti%E1%BA%BFp-c%E1%BA%ADn-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1-nh%C3%A2n-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%E1%BB%9F-%C4%91%E1%BB%8Ba-b%C3%A0n-n%C3%B4ng-th%C3%B4n-t%E1%BB%89nh-B%E1%BA%AFc-Ninh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ

     

    Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

     

    Thanh Kim Huệ

     

    Vương Thị Minh Đức

     

    Ngày nhận: 04/05/2019                    Ngày nhận bản sửa: 12/05/2019                     Ngày duyệt đăng: 17/05/2019

     

    Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội và là một trong tám tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Từ một tỉnh thuần nông, đến nay kinh tế Bắc Ninh đã phát triển theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đóng góp vào sự thay đổi đó có vai trò quan trọng của vốn tín dụng. Tuy nhiên, ở Bắc Ninh, vẫn còn một bộ phận khách hàng cá nhân hoạt động thương mại ở khu vực nông thôn chưa tiếp cận với nguồn tín dụng chính thức, đây là một trong những thách thức lớn trong phát triển kinh tế nông thôn. Vì vậy, nhóm nghiên cứu thực hiện điều tra bảng hỏi đối với 250 cá nhân có hoạt động thương mại tại địa bàn nông thôn ở các huyện trong tỉnh Bắc Ninh nhằm đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ tiếp cận tín dụng của các khách hàng này, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường tiếp cận tài chính, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế nông thôn.

     

    Từ khóa: cá nhân hoạt động thương mại, tiếp cận tín dụng, Bắc Ninh

     

    1. Giới thiệu

    2005, là hoạt động nhằm mục

    thể phải đăng ký kinh doanh

     

    đích sinh lợi, bao gồm mua

    (gọi đó là thương nhân) và có

    oạt động

    bán hàng hoá, cung ứng dịch

    thể không phải đăng ký kinh

    thương mại,

    vụ, đầu tư, xúc tiến thương

    doanh (không được coi là

    theo khoản 1

    mại và các hoạt động nhằm

    thương nhân).

    Điều 3 Luật

    mục đích sinh lợi khác. Cá

    Đối với cá nhân hoạt động

    Thương mại

    nhân hoạt động thương mại có

    thương mại không phải đăng

    © Học viện Ngân hàng

    24

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

    ISSN 1859 – 011X

    Số 204- Tháng 5. 2019

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    ký kinh doanh, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2007/ NĐ-CP quy định như sau: “Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại 2005. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:

     

    1. Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;
    1. Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;
    1. Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;
    1. Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ;

    đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh,

     

    chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định”

     

    Cá nhân hoạt động thương mại phải đăng ký kinh doanh (thương nhân) theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại 2005 được hiểu là các cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.

     

    Dịch vụ tài chính được xem là một hệ thống cấu thành của loại hình dịch vụ mang tính chất thương mại, nói cách khác, đây là loại hình kinh doanh có tính chất thị trường bao gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán, tư vấn đầu tư… Dịch vụ tài chính nông nghiệp nông thôn bao gồm việc cung cấp các sản phẩm tài chính tiết kiệm hoặc gửi tiền, thanh toán và chuyển tiền, tín dụng và bảo hiểm, trong đó hoạt động tín dụng phải giữ vai trò nòng cốt để tạo nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Hiên nay, hê thông tai chinh cung ứng vốn cho khu vưc nông thôn ở Viêt Nam co ba phân khuc chinh:

     

    Khu vưc tin dung chinh thưc: Cac tổ chưc tin dung (TCTD) chinh thưc đã ngay cang đươc mở rông bao gôm Ngân hang Nông nghiêp va Phat triên nông thôn Việt Nam (NHNo), Ngân hang Chinh sach xã hôi (NHCSXH), Ngân hàng Hợp tác xã̃ (NHHTX) và cac quỹ

     

    tin dung nhân dân (QTDND), tổ̉ chức tài chính vi mô, tổ chưc tai chinh quôc tê như Ngân hang Thê giơi (WB), Ngân hang phat triên Châu Á (ADB), Quỹ Tiên tê quôc tê (IMF), cac tổ chưc phi Chinh phu (NGOs). Trong đo, NHNo đươc coi la tổ̉ chức cung ứng vốn chủ yếu cho các hoạt động thương mại ở̉ nông thôn. Khu vưc ban chinh thưc: Cac khu vưc tin dung ban chinh thưc cung câp cac khoan

     

    vay thông qua cac đoan thê chinh tri- xã hôi ở khu vưc nông thôn, khu vưc nay la môt khu vưc co liên quan đên cac chương trinh ưu tiên cua Chinh phu, cac dich vu uy thac cua cac ngân hang va cac hoat đông cua công đoan. Khu vưc tin dung không chinh thưc: Cac hoat đông tin dung không chinh thưc bao gôm cho vay lẫn nhau giưa ban bè va hang xom, cac ca nhân chuyên cho vay tiên gôm ca chu tiêm câm đô, thương nhân cho vay băng tiên măt hoăc hiên vât…

     

    Co nhiêu nhân tô anh hưởng tơi sư phat triên cac hoat đông tai chinh cũng như anh hưởng đên khả năng tiêp cân tín dụng chính thức ở khu vưc nông thôn, tùy theo cac phân loai khac nhau song co thê xem xét cac nhân tô anh hưởng nay ở̉ hai khía cạnh: các nhân tô tư phia cung ứng vốn va các nhân tô tư phia câu vốn tín dụng ở khu vưc nông thôn. Cac nhân tô anh hưởng tư phia cung tín dụng gồm các yếu tố từ phía cac tổ chưc cung câp vốn cho cac khach hang như thủ tục vay vốn, địa điểm, lã̃i

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 25

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

    Hình 1. Kết quả huy động và cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

     

     

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi nhánh tỉnh Bắc Ninh

     

     

    suất, chính sách tín dụng…; các nhân tô thuôc vê phia câu dich vu tai chinh la nhưng nhân tô xuât phat tư chinh khach hang, nhưng ngươi co nhu câu vay vôn như tuổ̉i, trình độ học vấn, thu nhập… Các nhân tố này có ảnh hưở̉ng trực tiếp tới mức độ tiếp cận tín dụng chính thức của cá nhân hoạt động thương mại ở̉ khu vực nông thôn. Trong bài viết này, nhóm tác giả tìm hiểu các nhân tố xuất phát từ phía cầu dịch vụ tài chính, đó là cá nhân hoạt động thương mại ở̉ khu vực nông thôn của Tỉnh Bắc Ninh.

     

    2. Các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ tiếp cận tín dụng chính thức của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

     

    2.1. Sơ lược về các tổ chức cung ứng tín dụng chính thức trên địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

     

    Tính đến cuối năm 2018, Bắc Ninh có mạng lưới ngân hàng, TCTD đã̃ phát triển rộng khắp tỉnh với 36 tổ̉ chức

    trong đó có Chi nhánh Ngân hàng nhà nước (NHNN), các chi nhánh NHTM Nhà nước,

     

    NHTMCP, NHCSXH, NH Hợp tác xã̃, NH 100% vốn nước ngoài, Ngân hàng Phát triển, QTDND và tổ̉ chức tài chính vi mô, với hơn 1.000 điểm giao dịch, gồm cả các điểm giao dịch tự động ATM, POS. Ngoài mạng lưới ngân hàng và các TCTD ra thì trên địa bản tỉnh còn có các công ty bảo hiểm cung ứng các dịch vụ tài chính. Kết quả huy động vốn và cho vay giai đoạn 2016- 2018 của các tổ̉ chức tài chính trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được thể hiện qua Hình 1.

     

    Hình 1 cho thấy, hoạt động huy động vốn tăng từ 73.790 tỷ vào năm 2016 lên 100.029 tỷ vào năm 2018. Tương tự, hoạt động cho vay cũ̃ng tăng từ 56.647 tỷ vào năm 2016 lên 80.444 tỷ vào năm 2018. Kết quả hoat động huy động và cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có sự tăng trưở̉ng qua từng năm. Theo báo cáo của NHNN chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, các TCTD trên địa bàn thực hiện

    nghiêm túc các nhiệm vụ, giải pháp của ngành ngân hàng, đẩy mạnh các chương trình tín dụng, tập trung nguồn vốn tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên.

     

    • khu vực nông thôn Bắc Ninh hiện nay, các tổ̉ chức tài chính chính thức cung ứng vốn chủ yếu cho các cá nhân hoạt động thương mại gồm NHNo, NHCSXH, các QTDND, tổ̉ chức tài chính vi mô. NHNo tỉnh Bắc Ninh có hệ thống mạng lưới rộng khắp các địa bàn trong tỉnh, là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho các khách hàng ở̉ địa bàn nông thôn. NHCSXH với những chương trình cho vay được triển khai nhằm mục tiêu giảm nghè̀o và phát triển kinh tế xã̃ hội trên địa bàn tỉnh nói chung và khu vực nông thôn nói riêng. Theo số liệu thống kê từ NHCSXH, tính đến hết năm 2018, có gần 500 nghìn lượt hộ nghè̀o và đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH tỉnh Bắc Ninh, góp phần giúp trên 55 nghìn hộ vượt qua ngưỡng nghè̀o; thu hút, tạo việc làm mới cho trên 233 nghìn lao động, trong đó số lao động đi làm việc có

    26 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    thời hạn ở̉ nước ngoài là trên 1.300 lao động; hơn 60 nghìn lượt học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn để học tập; trên 2 nghìn hộ nghè̀o được hỗ trợ vốn để xây dựng nhà ở̉; xây dựng gần 256 nghìn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường

     

    ở̉ nông thôn, từng bước cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân tại vù̀ng nông thôn. Theo thống kê từ NHNN chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có hệ thống gồm

     

    26 QTDND, tổ̉ng nguồn vốn của hệ thống QTDND tại tỉnh tính đến hết năm 2018 đạt hơn 2.876 tỷ đồng; tổ̉ng dư nợ cho vay đạt 1.952 tỷ đồng.

     

    Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh mới chỉ có 01 tổ̉ chức tài chính vi mô, đó là Tổ̉ chức Tài chính vi mô TNHH MTV Tình Thương (TYM). Quỹ̃ TYM Bắc Ninh được thành lập năm 2009 và là chi nhánh thứ 37 trên toàn quốc của Tổ̉

     

    chức TYM. Hiện nay, TYM Bắc Ninh có 01 chi nhánh Thành phố Bắc Ninh và 02 Phòng Giao dịch trực thuộc (Yên Phong và Quế Võ) . Sản phẩm dịch vụ TYM Bắc ninh cung ứng mới chỉ dừng lại ở̉ tín dụng và tiết kiệm, có đặc tính phù̀ hợp với các gia đình nghè̀o và thu nhập thấp: không cần tài sản thế chấp; hoàn trả dần theo tuần, tháng; thủ tục vay, trả đơn giản và duy trì kỷ luật tín dụng. Hầu hết thành viên và khách hàng của TYM vay vốn để phát triển kinh tế, dành cho các hoạt động kinh doanh như nông nghiệp, chăn nuôi, ngư nghiệp, lâm nghiệp và buôn bán nhỏ. Một phần để đáp ứng nhu cầu tiêu dù̀ng, sửa chữa nhà cửa hay đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

     

    Trong những năm qua, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn liên tục tăng trưở̉ng nhanh. Các chính sách tín dụng đối với nông

     

    nghiệp, nông thôn đã̃ góp phần đẩy mạnh triển khai các chương trình tín dụng đã̃ đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản và nhu cầu vốn phục vụ phát triển nông thôn. Khác với các doanh nghiệp và các tổ̉ chức kinh tế, khách hàng cá nhân tại khu vực nông thôn Bắc Ninh thường có số lượng lớn, nhu cầu vay vốn đa dạng song không thường xuyên và chịu ảnh hưở̉ng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa- xã̃ hội. Chính vì vậy, ở̉ mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân cũ̃ng rất khác nhau. Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các khoản cho vay khách hàng cá nhân có quy mô vốn thường nhỏ hơn cho vay

     

    đối tượng là doanh nghiệp, tổ̉ chức kinh tế. Nhưng với các NHTM hoạt động theo định hướng ngân hàng bán lẻ thường có số lượng các khoản vay khách hàng cá nhân chiếm

     

    Hình 2. Dư nợ tín dụng cá nhân của một số TCTD ở Bắc Ninh giai đoạn 2016- 2018

     

     

     

    Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu báo cáo tổng kết hàng năm của các tổ chức

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 27

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    tỉ trọng lớn. Căn cứ vào số liệu mà nhóm nghiên cứu thu thập được thì NHNo có dư nợ tín dụng cá nhân cao nhất so với 3 tổ̉ chức còn lại do mạng lưới của NHNo rộng khắp, đặc biệt là khu vực nông thôn. Ngoài NHNo Bắc Ninh có tỷ lệ cho vay cao thì đa số các ngân hàng đều có dư nợ cho vay cá nhân đối với lĩnh vực này thấp hơn.

     

    Hiện nay các mức lã̃i suất cho vay đối với lĩnh vực nông thôn thấp hơn so với lã̃i suất cho vay thông thường (Thông tư số 08/2014/TT -NHNN). Trước đó, những sự hỗ trợ về nguồn vốn đối với các TCTD cho vay nông nghiệp, nông thôn chưa được thể hiện rõ mà mới chỉ dừng lại ở̉ việc ban hành các thông tư hướng dẫ̃n thực hiện Nghị định của Chính phủ. Cho vay ngắn hạn vẫ̃n chiếm tỷ trọng lớn trong tín dụng nông nghiệp, nông thôn. Việc cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Bắc Ninh tập trung chủ yếu vào NHNo và NHCSXH. NHNo Bắc Ninh là ngân hàng đi đầu và có tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực này ở̉ mức cao nhất. Hoạt động tín dụng của các ngân hàng đã̃ kết hợp cho vay thông thường với cho vay theo các chương trình, dự án quan trọng được ưu đã̃i của Chính phủ, cho vay theo chính sách của Nhà nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở̉ địa phương, tạo công

     

    ăn việc làm, xóa đói, giảm nghè̀o.

     

    2.2. Các nhân tố ảnh hưởng

     

    28 Số 204- Tháng 5. 2019

     

    tới mức độ tiếp cận tín dụng chính thức của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

     

    Để đánh giá mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, nhóm nghiên cứu thực hiện điều tra bảng hỏi đối với 250 cá nhân có hoạt động thương mại tại địa bàn nông thôn ở̉ các huyện trong tỉnh Bắc Ninh. Số phiếu phát ra 250, số phiếu thu về 234 phiếu, số phiếu phù̀ hợp sử dụng để nghiên cứu 200 phiếu. Mục tiêu khảo sát nhằm đánh giá về các nhân tố ảnh hưở̉ng tới mức độ tiếp cận tín dụng của các khách hàng là cá nhân hoạt động thương mại ở̉ khu vực nông thôn Bắc Ninh. Thời gian khảo sát từ tháng 12/2018 đến tháng 01/2019. Các câu hỏi trong bảng hỏi được thiết kế gồm các câu hỏi liên quan đến độ tuổ̉i, nhóm ngành nghề của khách hàng, số tiền, mục đích, tổ̉ chức họ đã̃ vay vốn cũ̃ng như các vấn đề khách hàng quan tâm khi vay vốn ở̉ các TCTD (khoảng cách địa lý, thủ tục giấy tờ, sản phẩm, lã̃i suất). Thông tin được phân tích chủ yếu dựa vào phương pháp thống kê mô tả và so sánh dựa trên các chỉ tiêu cơ bản phản ánh mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn nông thôn tỉnh như tỷ trọng khách hàng được vay vốn từ các TCTD chính thức trong tổ̉ng số khách hàng được điều tra, tỷ lệ khách hàng có nhu cầu vay vốn ở̉ địa phương, số lượng vốn vay

     

    bình quân…

     

    Trong số 200 cá nhân hoạt động thương mại được phỏng vấn, có 73% là cá nhân hoạt động thương mại có đăng kí kinh doanh và 27% là cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh. Điều này hoàn toàn phù̀ hợp với đặc điểm khu vực nông thôn tỉnh Bắc Ninh, cù̀ng với sự phát triển của công nghiệp, khu vực nông thôn Bắc Ninh được đầu tư hệ thống hạ tầng có nhiều thay đổ̉i mạnh mẽ theo hướng văn minh, hiện đại, điều kiện sống cả vật chất và tinh thần của người dân khu vực nông thôn tỉnh Bắc Ninh được nâng cao, kéo theo đó là các dịch vụ thương mại ở̉ khu vực nông thôn của tỉnh cũ̃ng hết sức đa dạng, phong phú. Theo số liệu điều tra, trong số 200 cá nhân hoạt động thương mại thì chiếm tỷ trọng lớn là nữ, độ tuổ̉i phổ̉ biến là 30-49 tuổ̉i, đây cũ̃ng là lứa tuổ̉i trong độ tuổ̉i lao động tốt nhất, mặt khác, hầu hết các cá nhân này đều tốt nghiệp PTTH (189/200), cá biệt có một số trường hợp (11/200) chưa tốt nghiệp PTTH, chủ yếu với những cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh. Đây cũ̃ng là đặc điểm thuận lợi cho việc tiếp cận vốn từ các TCTD chính thức trên địa bàn.

     

    Theo số liệu khảo sát thu thập được có thể thấy nguồn thu nhập chủ yếu của cá nhân hoạt động thương mại ở̉ địa bàn nông thôn Bắc Ninh là từ hoạt động buôn bán. Là địa bàn nông thôn của tỉnh có nhiều khu công nghiệp, nguồn thu

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

    Bảng 1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

     

    Tiêu chí

    Số quan sát

    Tỷ trọng

    Đối tượng

       

    Cá nhân hoạt động thương mại có đăng kí kinh doanh

    146/200

    73%

         

    Cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh

    54/200

    27%

         

    Giới tính

       

    Nam

    74/200

    37%

    Nữ

    126/200

    63%

    Độ tuổi

       

    Dưới 30

    31/200

    15,5%

    Từ 30-50

    153/200

    76,5%

    Trên 50

    16/200

    8%

    Trình độ

       

    Chưa tốt nghiệp phổ thông trung học

    11/200

    5,5%

    Đã tốt nghiệp phổ thông trung học

    189/200

    94,5%

    Lĩnh vực kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại

       

    Sản xuất nông nghiệp, lâm sản, thủy sản

    16/200

    8%

    Công nghiệp, xây dựng, dịch vụ

    43/200

    21,5%

    Buôn bán

    125/200

    62,5%

    Khác

    16/200

    8%

    Nguồn: Số liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 01/2019

     

     

    nhập của các khách hàng ở̉ nhiều địa phương là từ việc buôn bán, cung cấp hàng hóa cho các đối tượng là người lao động tại các khu công nghiệp. Một số khách hàng khác kinh doanh nhỏ lẻ các mặt hàng nông sản và vật tư phục vụ nông nghiệp tại địa phương.

     

    Về các tổ chức cung ứng vốn: Qua khảo sát thực tế ở̉ trên địa bàn, trong số những cá nhân đã̃ vay vốn thì nguồn vốn vay chủ yếu là từ NHNo, sau đó là NHCSXH và QTDND. Các QTDND trên địa bàn đã gop thêm môt kênh cung câp vôn san xuât kinh doanh cho khu vưc kinh tê nông nghiêp- nông thôn; khẳng đinh đươc vai tro,

     

    • tri cua loai hinh kinh tê hơp tac trong linh vưc ngân hang trong công cuôc phat triên kinh tê nông nghiêp- nông

    thôn của tỉnh, tuy nhiên do đặc điểm các QTDND không phải địa bàn nông thôn nào cũ̃ng có, trong khi đó NHNo và NHCSXH với hệ thống phòng giao dịch, điểm giao dịch rộng khắp là kênh cung ứng vốn thuận tiện tới người dân trên địa bàn. NHNo đã̃ triển khai hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách và

     

    2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghè̀o bền vững, đối với cho vay xây dựng nông thôn mới. Theo Báo cáo tổ̉ng kết của NHNo năm 2018, NHNo triển khai đến 100% số xã̃ trên cả nước, đây là kênh cung ứng vốn quan trọng đối với khu vực nông thôn nói chung và đối với cá nhân hoạt động thương mại ở̉ nông thôn Bắc Ninh nói riêng.

    Về khả năng tiếp cận vốn: Theo kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu, lượng vốn vay mà các chủ thể có thể tiếp cận được về cơ bản đáp ứng được các nhu cầu của các chủ thể có nhu cầu về vốn, nhu cầu vay của các cá nhân hoạt động thương mại ở̉ địa bàn nông thôn Bắc Ninh không lớn, chủ yếu phục vụ nhu cầu kinh doanh nhỏ lẻ trên địa bàn. Mức vốn vay trung bình của cá nhân hoạt động thương mại có đăng kí kinh doanh là 89 triệu/món, trong khi đó với cá nhân hoạt động thương mại không đăng kí kinh doanh là 21 triệu/món. Kết quả khảo sát cũ̃ng cho thấy, khách hàng không có đăng kí kinh doanh gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay chính thức với những lý do chủ yếu như là không có tài

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 29

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

    Hình 3. Những vấn đề cá nhân hoạt động thương mại quan tâm khi vay vốn các TCTD

     

     

     

    Nguồn: Số liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 01/2019

     

     

    sản đảm bảo, việc cung cấp các giấy tờ xác nhận để hoàn thiện hồ sơ vay không đầy đủ…

     

    Trong các TCTD cung ứng vốn chủ yếu ở̉ nông thôn tỉnh Bắc Ninh là NHNo, NHCSXH, QTDND và Tổ̉ chức tài chính vi mô, khách hàng có nhu cầu vay tại NHNo và NHCSXH chiếm tỷ lệ cao hơn vì khi vay ở̉ NHNo và NHCSXH, khách hàng được sự hỗ trợ của các tổ̉ chức đoàn thể, được hưở̉ng lã̃i suất ưu đã̃i và những chương trình tín dụng hỗ trợ của nhà nước, trong khi đó, vay vốn ở̉ QTDND, khách hàng phải trả lã̃i tương đối cao hơn so với 3 tổ̉ chức còn lại. Trong tổ̉ng mẫ̃u điều tra thì 115/200 người trả lời ngoài các nguồn cung ứng tín dụng chính thức thì họ còn có khả năng vay từ các nguồn cung ứng tín dụng phi chính thức (chiếm 57,5%), hầu hết những khách hàng này họ có những điều kiện tốt để tiếp cận tín dụng như tài sản đảm bảo, thu nhập từ lương

    hưu, có nhiều người thân, người quen sống trên địa bàn, thời gian cư trú tại địa phương lâu dài…

     

    Bên cạnh những khách hàng tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính thức thì cũ̃ng có trường hợp khách hàng là cá nhân có hoạt động thương mại nhưng lại không tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính thức mà họ phải sử dụng các dịch vụ tài chính phi chính thức (15/200 khách hàng, chiếm 7,5%) , một số nguyên nhân chính đó là do khách hàng không đáp ứng được các điều kiện cần thiết về hồ sơ vay vốn (thiếu, mất một số giấy tờ pháp lý), không thuộc đối tượng vay chính sách của NHCSXH…

     

    Về các yếu tố ảnh hưởng tới tiếp cận vốn: Bằng việc đặt ra những câu hỏi phỏng vấn sâu về các điều kiện và thủ tục vay vốn, các yếu tố khách hàng nông thôn quan tâm tới khi vay vốn ở̉ các TCTD, nhóm nghiên cứu tập

    trung xem xét các yếu tố địa điểm, thủ tục, lã̃i suất và sản phẩm, kết quả cho thấy các cá nhân trong mẫ̃u khảo sát đặc biệt quan tâm tới địa điểm (182/200, chiếm 91%) và thủ tục vay (192/200, chiếm 96%), lã̃i suất (146/200, chiếm

     

    73%), trong khi đó sản phẩm (87/200 chiếm 43,5%) không phải là yếu tố được dành nhiều sự quan tâm. Điều này cũ̃ng dễ giải thích bở̉i lẽ đối với cá nhân hoạt động thương mại ở̉ khu vực nông thôn các sản phẩm vay chủ yếu là vay nhỏ lẻ, phục vụ hoạt động kinh doanh thường ngày với quy mô nhỏ.

     

    Trong các yếu tố ảnh hưở̉ng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các yếu tố có ảnh hưở̉ng lớn là đảm bảo tín dụng, thu nhập bình quân của gia đình, mối quan hệ thân quen và khả năng nắm bắt thông tin tín dụng. Yếu tố thân quen (có người quen làm việc ở̉ các ngân hàng, các

     

    30 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    QTDND, các tổ̉ chức hội ở̉ địa phương) được xem là có ảnh hưở̉ng lớn đến khả năng tiếp cận vốn và lượng vốn có thể vay từ các tổ̉ chức cung ứng vốn, khi có người quen, người thân làm việc trong các TCTD, các khách hàng có điều kiện nắm bắt thông tin về các chương trình vay ưu đã̃i nhanh hơn, việc có mối quan hệ quen biết cũ̃ng khiến cho các cán bộ ở̉ các TCTD rút ngắn được thời gian phân tích tín dụng, ra quyết định đối với khoản vay. Ngoài ra, đối với các khách hàng có bảo đảm tín dụng cũ̃ng có điều kiện tiếp cận vốn dễ dàng hơn, đặc biệt sự bảo lã̃nh từ các tổ̉ chức chính trị xã̃ hội đã̃ giúp một bộ phận không nhỏ khách hàng có hoạt động thương mại không đăng kí kinh doanh có thể tiếp cận vốn. Trong khi đó, những khách hàng có thu nhập bình quân gia đình ổ̉n định, chủ yếu cá nhân hoạt động thương mại có đăng kí kinh doanh có xu hướng dễ dàng vay vốn hơn bở̉i lẽ họ có vốn nên mạnh dạn đầu tư vào việc kinh doanh các sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp, cửa hiệu tạp hóa… với địa điểm cố định và có tài sản thế chấp khi vay vốn. Trên địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh, mặc dù̀ các kênh thông tin tín dụng tới người dân khá đa dạng như qua chính quyền địa phương, thông qua hệ thống phát thanh tại các xã̃, cán bộ phụ trách tại từng thôn… Tuy nhiên nhiều cá nhân được phỏng vấn chia sẻ rằng họ không tiếp cận được kịp thời các chương trình tín dụng,

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    không nắm được các quy định ưu đã̃i của nhà nước nên phải vay tạm thời từ các cá nhân, tổ̉ chức cung ứng vốn phi chính thức với chi phí vốn vay cao hơn rất nhiều. Mặt khác, nhiều trường hợp khách hàng đã̃ vay vốn từ các TCTD nhưng sử dụng vốn không đúng mục đích dẫ̃n đến tình trạng không hoàn trả hoặc hoàn trả vốn vay không đúng thời hạn cũ̃ng là nguyên nhân khiến họ khó tiếp cận vốn ở̉ những lần vay tiếp theo.

     

    Như vậy, tại địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh hiện nay, cá nhân hoạt động thương mại có điều kiện thuận lợi tiếp cận tín dụng chính thức, tuy nhiên bên cạnh đó vẫ̃n có một bộ phận không nhỏ khách hàng chưa có điều kiện vay vốn từ các TCTD. Việc đánh giá thực trạng là cơ sở̉ để nhóm tác giả đề xuất các giải pháp để tăng cường sự toàn diện tài chính trên địa bàn tỉnh.

     

    3. Một số đề xuất

     

    Trong Dự thảo chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đã̃ đưa ra mục tiêu tổ̉ng quát về tài chính toàn diện đó là “Mọi người dân và doanh nghiệp đều được tiếp cận và sử dụng thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù̀ hợp với nhu cầu, với chi phí hợp lý do các tổ̉ chức cung cấp dịch vụ tài chính cung ứng một cách có trách nhiệm và bền vững”. Xuất phát từ việc khảo sát thực trạng tiếp cận vốn tín dụng của các cá nhân có hoạt động thương mại tại địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh, để

     

    tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng của các cá nhân này, nhóm tác giả có một số đề xuất:

     

    Thứ nhất , các tổ̉ chức cung ứng dịch vụ tài chính chính thức trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cần nghiên cứu rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và đơn giản hóa thủ tục, phát triển mạng lưới để người dân có thể tiếp cận vốn một cách thuận lợi hơn, tăng cường sự phối hợp với các tổ̉ chức đoàn thể xã̃ hội ở̉ địa bàn nông thôn trong việc truyền tải các chính sách tín dụng ưu đã̃i tới người dân. Trong những năm qua, Chính phủ, NHNN đã̃ có những văn bản chỉ đạo hệ thống ngân hàng cân đối nguồn vốn, tăng cường đẩy mạnh hỗ trợ vốn phục vụ phát triển kinh tế nông thôn. Nghị định 116/2018/NĐ-CP của Chính phủ đã̃ sửa đổ̉i một số điều của nghị định số 55/2015/ NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, trong đó đã̃ quy định nâng mức cho vay không có tài sản đảm bảo tối đa đối với một số đối tượng khách hàng là cá nhân hộ gia đình lên mức 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn, 200 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn. Ngoài ra Nghị định 116/2018/NĐ-CP cũ̃ng bổ̉ sung quy định cho phép các TCTD được nhận tài sản hình thành từ vốn vay của những dự án, phương án sản xuất kinh doanh có ứng dụng công nghệ cao làm tài sản đảm

     

    Số 204- Tháng 5. 2019 31

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    bảo cho khoản vay của khách hàng. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để người dân ở̉ địa bàn nông thôn nói chung và cá nhân hoạt động thương mại ở̉ địa bàn nông thôn Bắc Ninh nói riêng có điều kiện tiếp cận tín dụng chính thức. Thứ hai, các cơ quan quản lý địa phương cần có sự hỗ trợ phối kết hợp chặt chẽ với các tổ̉ chức cung ứng để đảm bảo hỗ trợ tốt nhất tới người dân trong việc tiếp cận vốn tín dụng chính thức. Trên thực tế, trong nguồn vốn hoạt động của NHCSXH có một bộ phận vốn không nhỏ là nguồn vốn ủy thác từ Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện. Tại tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua, chính quyền rất chú trọng đến việc tăng cường nguồn vốn này. Lượng vốn ủy thác qua NHCSXH có xu hướng tăng trong những năm gần đây, theo Báo cáo kết quả hoạt động của NHCSXH tỉnh Bắc

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Ninh trong 3 năm gần đây (2016, 2017, 2018), nguồn vốn ủy thác từ ngân sách địa phương các năm 2016, 2017, 2018 lần lượt là 10.105 triệu đồng, 62.624 triệu đồng và 114. 924 triệu đồng. Để nguồn vốn được triển khai một cách hiệu quả tới người dân trên địa bàn nông thôn nói chung và cá nhân hoạt động thương mại nói riêng, cần tăng cường công tác truyền thông tới người dân và tăng cường cơ chế quản lý giám sát để vốn vay được sử dụng một cách hiệu quả, đúng đối tượng. Tỉnh Bắc Ninh cần tăng cường các hoạt động giáo dục tài chính cá nhân đối với người dân trên cơ sở̉ phối kết hợp với các trường đại học, các cơ sở̉ giáo dục trên địa bàn. Chiến lược tăng cường giáo dục tài chính cá nhân trên quy mô rộng khắp sẽ cải thiện được mức độ nhận thức về tài chính của người dân một cách nhanh chóng, chính điều

     

    này là điều kiện quan trọng để phát triển các sản phẩm tiết kiệm, tín dụng, thanh toán và bảo hiểm một cách rộng khắp đến mọi khu vực dân cư trong toàn tỉnh theo một lộ trình dài hạn nhằm phục vụ mục tiêu nâng cao hiểu biết tài chính cho cộng đồng.

     

    Thứ ba, các cá nhân hoạt động thương mại cần chủ động trong việc nắm bắt các thông tin về các tổ̉ chức cung ứng tín dụng chính thức trên địa bàn, trong quá trình sử dụng vốn, các khách hàng cần nghiên cứu kỹ̃ các nội dung quy định trong hợp đồng tín dụng, hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ trong quá trình vay vốn, sử dụng vốn đúng mục đích. Mặt khác khách hàng tranh thủ sự hỗ trợ từ các tổ̉ chức hội, các tổ̉ chức đoàn thể, các tổ̉ chức tín dụng để có thể tiếp cận và sử dụng, quản lý vốn một cách hiệu quả, phát triển hoạt động thương mại một cách chủ động, bền

     

    1. Chính phủ (2015), Nghị định 55/2015/NĐ-CP, Nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

     

    1. Chính phủ (2018), Nghị định 116/2018/NĐ-CP, Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn.
    2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư số 08/2014/TT-NHNN, Quy định lãi suất cho vay ngăn hạn bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế.
    3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2017), Sơ lược về tài chính toàn diện

     

    1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018), Dự thảo về chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
    2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi nhánh tỉnh Bắc Ninh (2016, 2017, 2018), Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng tỉnh Bắc Ninh
    3. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh tỉnh Bắc Ninh (2016, 2017, 2018),

     

    1. Ngân hàng chính sách xã hội, chi nhánh tỉnh Bắc Ninh (2016,2017,2018), Báo cáo kết quả hoat động

     

    1. Nguyễn Phượng Lê, Nguyễn Mậu Dũng (2011), Khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của hộ nông dân ngoại

     

    thành Hà Nội: nghiên cứu điển hình tại xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ, Tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 9, số 5: 844-

     

    1.  

     

    1. Nguyễn Văn Vũ An, Phạm Phi Hùng, Bùi Hoàng Nam (2016), Đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ tại xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, Tạp chí Kinh tế- Văn hóa- Giáo dục, số 22, tháng 7/2016.

    Thông tin tác giả

     

    32 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

    Thanhvững■Kim Huệ, Thạc sĩ

     

    Học viện Ngân hàng, Phân viện Bắc Ninh

     

    Email: [email protected]

     

    Vương Thị Minh Đức, Tiến sĩ

     

    Học viện Ngân hàng, Phân viện Bắc Ninh

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    Factors affecting the level of access to credit by individuals doing commercial activities in rural areas of Bac Ninh province

     

    Bac Ninh is a northern gateway province of Hanoi capital and is one of eight provinces in the Northern key economic region. From a purely agricultural province, Bac Ninh economy has developed in the direction of reducing the proportion of agriculture, increasing the proportion of industry-handicraft and trade villages, and developing agricultural production towards high-tech applications in order to improve added value and sustainable development. Contributing to that change has an important role of credit capital. However, in Bac Ninh, there is still a part of individual commercial customers in rural areas who have not yet access to formal credit, which is one of the major challenges in rural economic development. Therefore, the research team had a questionnaire survey for 250 individuals with commercial activities in rural areas in the districts of Bac Ninh province to assess the factors affecting the level of access to credit of these customers, on that basis, propose solutions to enhance access to finance, contributing to promoting sustainable rural economic development. Key words: individuals doing commercial activities, access to credit, Bac Ninh

     

    Hue Kim Thanh, MEc.

     

    Duc Thi Minh Vuong, PhD.

     

    Organization of all: Banking Academy of Vietnam, Bacninh Campus

     

    tiếp theo trang 23

     

    trong toàn hệ thống pháp luật.

     

    1. Kết luận

    Không thể phủ nhận sự cần thiết của sự ra đời Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 và một số văn bản hướng dẫ̃n thi hành như Nghị định số 87/2015 NĐ-CP về giám sát đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn Nhà nước; Nghị định số 10/2019/NĐ -CP về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở̉ hữu Nhà nước đã̃ góp phần tạo nên một hành

     

    lang pháp lý tương đối chuẩn mực, đảm bảo những điều kiện cần thiết cho hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp ở̉ Việt Nam. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng trên thực tế, những qui định điều chỉnh hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp cho thấy vẫ̃n còn những điểm chưa hợp lý và không phù̀ hợp với điều kiện hiện nay. Do đó những qui định này cần phải được tiếp tục hoàn thiện. Bài viết này dừng lại ở̉ việc nêu một vài những bất cập đó (theo quan điểm cá nhân của tác giả) nhằm giúp các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có cái nhìn toàn diện hơn về khung pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh

     

    nghiệp ở̉ Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất những kiến nghị để giải quyết những bất cập này ■

     

    tiếp theo trang 9

     

    nhanh và bền vững. Do đó, các nỗ lực tái cấu trúc kinh tế hiện nay, đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, phải được tiến hành một cách mạnh mẽ và dứt khoát hơn nếu muốn thoát khỏi mối lo đổ̉ vỡ của bong bóng nợ công và cả mối nguy của bẫ̃y thu nhập trung bình mà Việt Nam có thể sẽ mắc phải ■

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 33


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-d%E1%BB%AF-li%E1%BB%87u-l%E1%BB%9Bn-trong-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-quan-h%E1%BB%87-kh%C3%A1ch-h%C3%A0ng-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    Phan Thanh Đức

     

    Chu Thị Hồng Hải

     

    Đình Trọng Hiếu

     

    Chu Văn Huy

     

    Ngô Thùy Linh

     

    Ngày nhận: 21/03/2019                    Ngày nhận bản sửa: 01/04/2019                     Ngày duyệt đăng: 26/04/2019

     

    Sự xuất hiện của dữ liệu lớn (Big Data) trong bối cảnh hiện nay đang được các doanh nghiệp kỳ vọng như nguồn tài nguyên khổng lồ. Tuy nhiên việc ứng dụng Big Data ở đâu và như thế nào vẫn đang là bài toán chưa được giải quyết tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay. Bài báo đề cập đến việc ứng dụng Big Data vào hoạt động quản trị quan hệ khách hàng (CRM) tại các NHTM bằng việc đề xuất mô hình kiến trúc tổng thể cho hệ thống CRM-Big Data và đề cập việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật MDM, CDP, DMP nhằm giải quyết bài toán tích hợp dữ liệu có cấu trúc bên trong ngân hàng và dữ liệu phi cấu trúc trên Big Data.

     

    Từ khoá: Dữ liệu lớn (Big Data), quản trị quan hệ khách hàng (CRM), quản lý dữ liệu chủ (MDM), nền tảng dữ liệu khách hàng (CDP), nền tảng quản lý dữ liệu (DMP).

     

    1.  Đặt vấn đề

     

    35 tỷ USD vào năm 2023, với tốc độ tăng

       

    trưởng kép hàng năm (CAGR) trung bình xấp

    heo “Báo cáo nghiên cứu về thị

     

    xỉ 6% trong khoảng 2017- 2023. Các doanh

    trường phần mềm CRM- Dự

     

    nghiệp hướng tới việc triển khai các hệ thống

    báo toàn cầu đến 2023” của

     

    CRM với hy vọng chăm sóc và quản lý khách

    Market Research Future (Market

     

    hàng tốt hơn, bán hàng nhanh hơn, xây dựng

    Research Future, 2019), giá trị thị

     

    trải nghiệm khách hàng hấp dẫn hơn... Rõ ràng,

    trường CRM trên toàn thế giới đã đạt 27,16 tỷ

     

    quản trị mối quan hệ với khách hàng luôn là

    đô la năm 2017 và được dự báo sẽ đạt khoảng

     

    vấn đề được quan tâm đối với các doanh nghiệp

    © Học viện Ngân hàng

    50

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

    ISSN 1859 – 011X

    Số 203- Tháng 4. 2019

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    và đặc biệt là đối với các NHTM. Các hệ thống CRM đã giúp các NHTM tạo chiến lược cạnh tranh, đưa ra quyết định nhanh chóng, thiết lập mối quan hệ khách hàng, tối ưu hiệu quả kinh doanh trên nền tảng các dữ liệu thu thập được. Tuy nhiên, các hoạt động CRM trong các NHTM hiện nay liệu đã thực sự giúp NHTM hiểu đúng khách hàng của mình? Dữ liệu khách hàng là những thông tin và giao dịch nội bộ hay bao gồm cả các dữ liệu bên ngoài ngân hàng? Làm thế nào để có được các dữ liệu bên trong và bên ngoài chính xác, cập nhật và liên tục? Liệu ngân hàng đã có biện pháp tiếp cận đúng khách hàng, qua đúng kênh, đúng nhu cầu, đúng thời điểm để cải thiện trải nghiệm của khách hàng, nâng cao thương hiệu và tăng lợi nhuận?

     

    Kết quả khảo sát về hoạt động quản trị quan hệ khách hàng (CRM) tại 36 NHTM Việt Nam1 năm 2018 của Nhóm nghiên cứu cho thấy rằng, các hoạt động CRM mặc dù đã có những thay đổi vượt bậc nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để được vấn đề đã nêu ở trên. Trong thập kỷ qua, ngành Ngân hàng đã phát triển theo bước nhảy vọt từ hoạt động vận hành kinh doanh đến cung cấp dịch vụ. Nhưng thực tế, hầu hết các ngân hàng vẫn đang gặp khó khăn trong việc sử dụng, khai thác thông tin, dữ liệu từ các nguồn dữ liệu mà họ có được từ khách hàng và từ các chi nhánh, bộ phận của ngân hàng. Hiển nhiên, khi các ngân hàng ngày càng mở rộng dịch vụ, các tiện ích, hay phát triển thêm thị trường, thu hút thêm khách hàng thì cũng phải xây dựng một hệ thống hạ tầng để thu thập dữ liệu và tiến hành phân tích giúp tìm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Vậy ngân hàng có thể có được những lợi ích gì từ sự phát triển công nghệ trên thế giới hiện nay như Big Data?

     

    Cuộc cách mạng 4.0 với nền tảng IoT, công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đã đưa Big Data lên vai trò trung tâm của xã hội và doanh nghiệp. Dữ liệu trong Big Data đến từ nhiều nguồn: Giao dịch của khách hàng trên các kênh dịch vụ, tương tác khách hàng trên mạng viễn thông, sự di chuyển khách hàng, hành vi của khách hàng trên mạng xã hội… Nhờ các dữ

     

    • 36 là toàn bộ các Ngân hàng thương mại Nhà nước & Cổ phần Việt Nam

    liệu này trên Big Data, các NHTM có thể cá nhân hóa dịch vụ đến từng khách hàng, đáp ứng mong muốn khách hàng, hay xác định rủi ro ở mọi thời điểm. Các ngân hàng đều kỳ vọng từ nguồn Big Data có thể tạo ra các doanh thu mới và cung cấp những hệ sinh thái ứng dụng, dịch vụ và sản phẩm kỹ thuật số mới. Tuy nhiên, việc khai thác Big Data vẫn đặt ra nhiều thách thức cho mỗi nhà quản trị ngân hàng. Làm thế nào để có thể khai thác được các giá trị mới từ Big Data? Big Data có các đặc tính là không có cấu trúc, có dung lượng rất lớn, lưu trữ phân tán, yêu cầu tốc độ xử lý rất cao và thường xuyên thay đổi, vậy làm thế nào để tích hợp với các phân hệ nghiệp vụ vốn rất ổn định của ngân hàng. Và thực trạng dữ liệu tại các ngân hàng đang ở đâu, đã đủ lớn và có phù hợp để nghĩ đến việc tích hợp với Big Data?

     

    2. Thực trạng dữ liệu lớn và hoạt động CRM tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    2.1. Mức độ trưởng thành Dữ liệu lớn tại các ngân hàng thương mại

     

    Để xác định chính xác tính sẵn sàng, mức độ ứng dụng dữ liệu lớn, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp BDMM (Big Data Maturity Model) và mô hình Hortonworks (Hortonworks, 2019) để đo lường và giám sát trạng thái dữ liệu, xác định mức độ trưởng thành Big Data của các NHTM. Đối tượng được lựa chọn để tiến hành điều tra trong đề tài này là cán bộ quản lý bộ phận Nghiệp vụ, Công nghệ thông tin, Dữ liệu, Hạ tầng Công nghệ,… tại 36 NHTM. Từ các kết quả thu được, nhóm đưa

     

    ra đánh giá về thực trạng và khái quát thành những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình triển khai Big Data tại các NHTM, từ đó đề xuất các hoạt động cần thiết để hoàn thành mức độ hiện tại và để chuyển sang mức độ tiếp theo. Bộ câu hỏi được nhóm nghiên cứu sử dụng nhằm xác định mức độ trưởng thành dữ liệu lớn tại các NHTM Việt Nam gồm 5 phần chính: (1) Định hướng chiến lược, (2) Dữ liệu và Phân tích dữ liệu, (3) Công nghệ và Cơ sở hạ tầng, (4) Tổ chức và Kỹ năng & (5) Quản lý và Quy trình. Mỗi phân vùng là một tập các câu

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 51

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Bảng 1. Số lượng câu hỏi từng phân vùng đánh giá theo mô hình Hortonworks

     

    Phân vùng đánh giá

    Số lượng câu hỏi liên quan mức

    Số lượng câu hỏi liên quan mức

     

    độ triển khai ở thời điểm hiện tại

    độ triển khai ở thời điểm tương lai

       

    (2 năm tới)

    Định hướng chiến lược

    4

    4

         

    Dữ liệu và Phân tích dữ liệu

    4

    4

         

    Công nghệ và Cơ sở hạ tầng

    4

    4

         

    Tổ chức và Kỹ năng

    4

    4

         

    Quản lý và Quy trình

    4

    4

         

    Tổng

    16

    16

         

    Nguồn: Hortonworks, 2019

     

     

    hỏi, với tổng số lượng 16 câu chia thành 5 phân vùng được thiết kế và xây dựng trên giao diện Web tại địa chỉ http://igdata-crm.bav.edu.vn/ bigdata_question.

     

    Dựa trên phương pháp tính điểm trung bình, mô hình Hortonworks đưa ra sự đánh giá mức độ trưởng thành từng khía cạnh và tổng thể về ứng dụng dữ liệu lớn ở cả hai giai đoạn hiện tại và tương lai (trong hai năm tới). Kết quả được quy thành mức độ căn cứ theo điểm đánh giá cụ thể như sau:

     

    Mức độ 1- Nhận thức (0-1 điểm): Ngân hàng thể hiện sự quan tâm đến ứng dụng Big Data, bắt đầu có những nghiên cứu về phân tích dữ liệu, phân tích Big Data.

     

    Mức độ 2- Khai phá (1-2 điểm): Ngân hàng có

     

    những khám phá về hiệu quả những dự án thử nghiệm đầu tiên liên quan đến Big Data. Mức độ 3- Tối ưu (2- 3 điểm): Ngân hàng đã từng bước tổ chức tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, khả năng hỗ trợ gia quyết định ở các bộ phận nghiệp vụ thông qua Big Data,.

     

    Mức độ 4- Chuyển đổi (3-4 điểm): Big Data cho phép có được các thông tin dự đoán đáng tin cậy, được ngân hàng xem là nhân tố chính đem lại lợi thế cạnh tranh.

     

    Qua tổng hợp kết quả khảo sát thực hiện bởi 36 NHTM, 72% các NHTM (26 ngân hàng) đang dừng lại ở mức độ 1, 25% NHTM (9 ngân hàng) đã có mức độ trưởng thành dữ liệu lớn ở mức độ 2, 3% NHTM (1 ngân hàng) được đánh giá ở mức độ 3, mức độ 4 hiện chưa có NHTM nào đạt được.

     

    Hình 1. Mức độ trưởng thành Big Data tại các ngân hàng thương mại

     

    Việt Nam

     

     

     

    Nguồn: Kết quả khảo sát của Nhóm nghiên cứu

     

    52 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Dựa trên kết quả khảo sát về mức độ trưởng thành, mức độ sẵn sàng triển khai dữ liệu lớn tại các NHTM Việt Nam, nhóm nghiên cứu đưa ra một số nhận định chủ quan về mức độ sẵn sàng sử dụng dữ liệu lớn của các NHTM:

     

    Vấn đề 1. Chưa có chiến lược tổng thể trong thu thập, xử lý, quản trị và sử dụng các nguồn dữ liệu khác nhau; Thiếu những hướng dẫn cụ thể trong việc thực hiện thu thập, xử lý, quản trị và sử dụng các nguồn dữ liệu bán cấu trúc và phi cấu trúc tại các NHTM.

     

    Vấn đề 2. Chưa có một phương pháp tiếp cận phù hợp và toàn diện trong hoạt động điều hành, quản trị để duy trì quan hệ lâu dài với khách hàng; Chưa có giải pháp tổng thể cho việc kết hợp Big Data với bài toán CRM. Vấn đề 3. Các yếu tố pháp lý liên quan đến sở hữu, sử dụng các nguồn dữ liệu ngoài ngân hàng (từ các mạng xã hội, từ các bên thứ 3) chưa rõ ràng. Thiếu các hướng dẫn cụ thể về việc triển khai các hoạt động thuê ngoài dịch vụ, ứng dụng điện toán đám mây, mua bán dữ liệu…

     

    2.2. Thực trạng hoạt động CRM tại các ngân hàng thương mại

     

    Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và dựa trên cây vấn đề trình bày trong Hình 2 để phát triển các bảng hỏi phỏng vấn nhằm đánh giá thực tế hoạt động quản trị mối quan hệ khách hàng (CRM) tại các ngân hàng. Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận để phỏng vấn đối với lãnh đạo và nhân viên trực tiếp phụ trách công nghệ CRM của 25 NHTM Việt Nam. Căn cứ vào dữ liệu thu thập từ các cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng lựa chọn, Nhóm nghiên cứu đưa ra nhận định về 6 vấn đề đang tồn tại trong hoạt động CRM như sau:

     

    Vấn đề 1: Nguồn dữ liệu khách hàng chưa đầy đủ

     

    Các NHTM chưa quan tâm thích đáng đến dữ liệu và hành vi khách hàng trên các mạng xã hội. Các nguồn dữ liệu chính vẫn chủ yếu dựa trên các dữ liệu nội bộ, có cấu trúc từ các giao dịch của khách hàng. Một số ngân hàng đã bắt đầu thu thập dữ liệu hành vi người dùng trên mạng xã hội nhưng đang dừng ở mức độ xử lý khủng hoảng truyền thông, cải thiện và nâng cao hoạt động chăm sóc khách hàng.

     

    Hình 2.

     

    Cây vấn đề về CRM tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng

     

    tại các NHTM Việt Nam

     

                                 
                                 
           

    Dữ liệu

       

    Hoạt động quản trị

       
           

    khách hàng

       

    quan hệ khách hàng

       
                                 
                                 
           

    Nguồn dữ liệu

         

    Quy trình hoạt động

     
                 

    quản trị khách hàng

     
                         
                             
           

    Tổ chức lưu trữ dữ liệu

         

    Hệ thống phần mềm

     
                   
                               
                             
           

    Khai thác dữ liệu

           

    Kênh tương tác

     
                     
                                 
                 

    Nguồn: Đề xuất của Nhóm nghiên cứu

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

           

    Số 203- Tháng 4. 2019 53

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Vấn đề 2: Chưa có phương pháp đảm bảo tính nhất quán dữ liệu thông qua việc triển khai hệ thống Quản trị Dữ liệu chủ (Master Data Management-MDM)

     

    Các ngân hàng mặc dù bắt đầu ý thức đến việc đảm bảo chất lượng của một số dữ liệu quan trọng như khách hàng, sản phẩm, dịch vụ, kênh bán hàng… Tuy nhiên, trong số các NHTM được phỏng vấn, chỉ có 20% bắt đầu chú ý và quan tâm đến “Master Data – Dữ liệu chủ” và cũng mới chỉ có 10% có kế hoạch xây dựng giải pháp MDM.

     

    Vấn đề 3: Thiếu công cụ, cách thức tổ chức để xây dựng hình ảnh 3600 khách hàng

     

    Phần lớn các ngân hàng đang thiếu phương pháp tổ chức và công cụ để xây dựng được hồ sơ 3600 về khách hàng.

     

    Vấn đề 4: Các phân hệ CRM đang triển khai tại ngân hàng còn thiếu phân hệ “Phân tích dữ liệu” (Data Analytics)

     

    Một số ngân hàng đã và đang triển khai CRM, tuy nhiên có đến 80% các ngân hàng chưa triển khai được các phân hệ liên quan đến phân tích dữ liệu (Data Analytics) để tiếp cận khách hàng, tư vấn bán chéo cho khách hàng mua sản phẩm.

     

    Vấn đề 5: Chưa có quy trình chuẩn cho việc tích hợp dữ liệu giữa CRM và các hệ thống khác trong ngân hàng

     

    Với các ngân hàng đã triển khai hệ thống CRM (có thể đầy đủ các phân hệ hoặc chưa đầy đủ) thì vẫn thiếu quy trình chuẩn cho việc tích hợp với các phân hệ nghiệp vụ và hệ thống Core banking nhằm thu thập, lưu trữ đến quản trị dữ liệu khách hàng.

     

    Vấn đề 6: Cách thức lưu trữ tổ chức dữ liệu chưa đáp ứng cho việc kinh doanh đặc biệt là hoạt động marketing

     

    20% các ngân hàng đã xây dựng kho dữ liệu, số còn lại thì vẫn đang lưu trữ dữ liệu trong hệ thống Core, do đó khả năng truy xuất của các nghiệp vụ làm marketing rất hạn chế, thậm chí là không truy cập được. 80% các câu trả lời xác nhận việc chưa có dữ liệu phục vụ riêng cho nghiệp vụ kinh doanh, đặc biệt là nghiệp

     

    vụ marketing. Bên cạnh đó, đại đa số các ngân hàng đã có quy định cho việc phân khúc, phân hạng khách hàng doanh nghiệp. Các quy định này về cơ bản đáp ứng đủ cho việc thiết kế sản phẩm và xây dựng chính sách giá cho từng loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, 60% các ngân hàng được phỏng vấn chưa có quy định chính thức về việc phân khúc khách hàng bán lẻ. Điều này gây nhiều khó khăn cho hoạt động marketing đối với khách hàng cá nhân.

     

    Kết hợp kết quả khảo sát về mức độ trưởng thành dữ liệu lớn và hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các NHTM, Nhóm nghiên cứu nhận định một số bài toán cần giải quyết để có thể ứng dụng, phát huy hiệu quả của Big Data cho hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các NHTM.

     

    Bài toán 1: Cần có một kiến trúc tổng thể cho việc ứng dụng Big Data vào hoạt động CRM tại các NHTM

     

    Kiến trúc tổng thể cần thể hiện được phương pháp nào để thu thập và tích hợp các nguồn dữ liệu bên ngoài vào mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin ngân hàng, đầu vào và đầu ra của mỗi hệ thống thông tin. Đặc biệt cần làm rõ mối quan hệ giữa các hệ thống CRM truyền thống của các ngân hàng với Big Data. Bài toán này sẽ giải quyết được các vấn đề 1, 5 và 6 đối với hoạt động quản trị hoạt động quan hệ khách hàng.

     

    Bài toán 2: Cần có các phương pháp, kỹ thuật cho việc thu thập và xử lý dữ liệu

     

    Để có được các chính sách khách hàng phù hợp, ngân hàng cần có được hồ sơ đầy đủ 360o về khách hàng. Muốn vậy ngoài dữ liệu về các giao dịch của khách hàng, cần có các dữ liệu tương tác, hành vi và cảm xúc của khách hàng để có thể kịp thời đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng vào đúng thời điểm. Do vậy cần có các kỹ thuật và phương pháp:

     

    Thu thập dữ liệu không cấu trúc và bán cấu trúc từ các nguồn dữ liệu bên ngoài ngân hàng.

     

    Cần có một nền tảng dữ liệu khách hàng thống nhất tích hợp và lưu trữ các dữ liệu bên trong và bên ngoài nhằm cung cấp một hồ sơ khách hàng 360o.

     

    Bài toán này nhằm giải quyết các vấn đề 2, 3 và là cơ sở giải quyết vấn đề số 4.

     

    54 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Bài toán 3: Cần có một khung pháp lý đầy đủ cho việc sở hữu, sử dụng các nguồn dữ liệu ngoài ngân hàng (từ các mạng xã hội, từ các bên thứ 3)

     

    Trên thực tế, các bài toán công nghệ không đủ để có thể giải quyết được những tồn tại trong thực tế hoạt động kinh doanh ngân hàng. Ở Việt Nam, yếu tố pháp lý liên quan đến sở hữu, sử dụng các nguồn dữ liệu ngoài ngân hàng (từ mạng xã hội, từ bên thứ 3) chưa rõ ràng. Và do thiếu các hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan Nhà nước nên mỗi ngân hàng phải chủ động bỏ nguồn lực đi tìm các nguồn dữ liệu khác nhau (Telco, mạng di động, mạng xã hội,…) để đưa vào phân tích, chắt lọc các thông tin mong muốn phục vụ hoạt động nghiệp vụ; hay các giải pháp của nước ngoài rất tốt nhưng không thể triển khai tại Việt Nam do những vướng mắc liên quan đến địa điểm đặt dữ liệu/xử lý trên nền tảng điện toán đám mây…

     

    3. Đề xuất giải pháp ứng dụng Big Data trong hoạt động CRM tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    CRM được coi như một công cụ được sử dụng để quản lý liên hệ, bán hàng, sản phẩm, marketing, chăm sóc khách hàng và được kỳ vọng sẽ giúp các ngân hàng cải thiện quan hệ với khách hàng. Khi triển khai CRM, các ngân hàng thường chú trọng vào các nhân tố quy trình, chính sách, nhân lực, chiến lược và công nghệ. Tuy nhiên, nền tảng cho tất cả các nhân tố trên vẫn phải là một hệ thống dữ liệu đầy đủ, có chất lượng và có khả năng truy xuất khi cần. Đối với các hệ thống CRM, các nguồn dữ liệu phải đặt khách hàng ở vị trí trung tâm. Dữ liệu khách hàng phải bao gồm đầy đủ tất cả dữ liệu, từ các dữ liệu có cấu trúc và các dữ liệu không có cấu trúc từ nhiều nguồn khác nhau. CRM tỷ lệ thuận với 3V trong Big Data: độ lớn, tốc độ truy cập và sự đa dạng của dữ liệu. Để có được một cái nhìn đơn giản và chính xác về khách hàng, dữ liệu cần được thống nhất trên tất cả các nguồn và phải là dữ liệu sạch. Như vậy bức tranh toàn cảnh cho việc ứng dụng Big Data trong CRM là cần phải có một phương pháp luận rõ ràng, cách tiếp cận phù hợp và công

     

    cụ thích hợp để có thể tập hợp các nguồn dữ liệu lớn, đa dạng, và có khả năng truy cập kịp thời vào một nguồn thống nhất tại ngân hàng. Để thực hiện điều này, các ngân hàng cần phải có: (i) Một mô hình quản lý, khai thác dữ liệu thống nhất toàn ngân hàng, cũng như có (ii) phương pháp và công cụ để thu thập, xử lý dữ liệu về khách hàng từ nhiều nguồn khác nhau: dữ liệu nội bộ (hệ thống tác nghiệp, kho dữ liệu), từ các nhà cung cấp dữ liệu (bên thứ 3), các dữ liệu về hành vi của khách hàng, mạng xã hội (dữ liệu lớn)… và (iii) một kiến trúc hệ thống tổng thể của CRM cho phép kết hợp được các mô hình, phương pháp, kỹ thuật, công cụ ở trên.

     

    3.1. Phương pháp luận “lấy khách hàng là trung tâm” trong trong các hoạt động ngân hàng

     

    Cách tiếp cận “lấy khách hàng làm trung tâm” không hoàn toàn mới, nhưng ngày càng trở nên quan trọng trong thời đại ngày nay, khi các ngân hàng đang thực hiện chuyển đổi số, tạo văn hóa khách hàng là trung tâm và quản lý trải nghiệm khách hàng. Lấy khách hàng làm trung tâm cần phải trở thành một tư duy trong toàn ngân hàng với tất cả các bộ phận liên quan, bởi vì tất cả các bộ phận cần phải làm việc theo quan điểm lấy khách hàng làm trung tâm (thay vì quan điểm lấy sản phẩm làm trung tâm) để đạt lợi nhuận từ những khách hàng có giá trị nhất. Nhưng để thực hiện cách tiếp cận “lấy khách hàng làm trung tâm”, không chỉ đơn giản cứ đặt khẩu hiệu “đặt khách hàng lên hàng đầu” là đủ. Các ngân hàng thực sự lấy “khách hàng làm trung tâm” cần biết đâu là khách hàng có giá trị nhất của họ và đảm bảo sự hài lòng của những khách hàng này. Ngân hàng cũng cần biết từng mong muốn và kỳ vọng của từng phân khúc khách hàng để quyết định làm những gì phù hợp với mong muốn của họ. Ngay đối với những khách hàng chưa hài lòng, ngân hàng cũng cần biết chính xác những dịch vụ nào chưa tốt để và cần phải thay đổi. Và để có thể làm được tất cả những điều này, ngân hàng bắt buộc phải có phương pháp thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu khách hàng từ nhiều nguồn, nhiều

     

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 55

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 3: Mô hình kiến trúc tổng thể ứng dụng Big Data cho CRM trong ngân hàng

     

     

     

     

    kênh, nhiều thời điểm để hướng tới mục tiêu hiểu được từng khách hàng, có cơ sở để phân chia những phân khúc khách hàng chính xác nhất. Dựa trên các thông tin khách hàng, ngân hàng sẽ phải cung cấp những trải nghiệm thông qua các dịch vụ và ứng dụng phù hợp, tiếp tục thu thập dữ liệu từ những trải nghiệm của khách hàng và các hoạt động này được thực hiện theo những chu kỳ nhằm tạo ra được hồ sơ khách hàng một cách đầy đủ và cập nhật.

     

    Các ngân hàng lấy khách hàng làm trung tâm không quá tập trung vào khách hàng trung bình, không cố gắng để có được hoặc giữ chân khách hàng chất lượng thấp hoặc chi tiêu quá ít để tập trung vào khách hàng chất lượng cao. Thay vào đó, các ngân hàng lấy khách hàng làm trung tâm có các đặc điểm sau:

     

    Sử dụng dữ liệu khách hàng từ cả nguồn bên trong và bên ngoài để xây dựng hồ sơ 360o cho từng khách hàng, cần thực hiện phân tích để nhận biết khách hàng trên tất cả các kênh giao tiếp, hiểu rõ từng khách hàng và tiến hành phân khúc dựa trên giá trị trọn đời của khách hàng. Dựa trên hồ sơ 360o để xác định những khách hàng giá trị nhất. Khách hàng giá trị có thể đến từ những khách hàng ít hoặc thậm chí chưa sử

     

     

     

    Nguồn: Đề xuất của Nhóm nghiên cứu

     

    dụng dịch vụ tại ngân hàng. Do vậy, đừng chỉ phụ thuộc vào lịch sử giao dịch tại ngân hàng mình để quyết định danh sách những khách hàng giá trị nhất.

     

    Tập trung vào các sản phẩm và dịch vụ cho các khách hàng giá trị nhất. Ngân hàng cần xác định không có ngân hàng nào là tốt nhất cho tất cả mọi người. Do vậy đừng cố đáp ứng được nhu cầu sản phẩm và dịch vụ cho tất cả mọi người mà cần thiết kế quy trình sản phẩm và chính sách dịch vụ theo quan điểm của khách hàng.

     

    Ngân hàng cần thiết kế một dịch vụ tổng thể với khách hàng, có cam kết về sự thành công của khách hàng, tương tác với khách hàng ngay từ đầu, thể hiện cam kết của khách hàng từ cấp cao nhất trở xuống, có công cụ để đo lường những gì quan trọng với khách hàng và đối với nhân viên cần nuôi dưỡng văn hóa lấy khách hàng làm trung tâm trong toàn ngân hàng. Tóm lại, có thể khẳng định việc xây dựng một ngân hàng lấy khách hàng làm trung tâm nói riêng là lựa chọn tốt hơn việc lấy sản phẩm/ dịch vụ làm trung tâm. Mấu chốt của cách tiếp cận này là hệ thống CRM của ngân hàng cần phải có đủ dữ liệu để hiểu rõ khách hàng của

     

    56 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 4. Kiến trúc MDM

     

     

     

     

    mình (KYC) hay nói cách khác là cung cấp được cái nhìn đầy đủ, toàn diện về khách hàng (360o khách hàng) cho các bộ phận phân tích và hoạt động nghiệp vụ khác của ngân hàng.

     

    3.2. Mô hình kiến trúc tổng thể giải pháp ứng dụng Big Data cho CRM trong ngân hàng

     

    Cần lưu ý rằng không phải cứ có nguồn dữ liệu lớn là cần dự án Big Data. Để xây dựng lên một hệ thống Big Data, ngân hàng cần phải xác định nhiều vấn đề: nguồn dữ liệu, chuẩn định dạng, các kỹ thuật khai phá và phân tích, việc sử dụng kết quả… Tuy nhiên, vấn đề đầu tiên cần giải quyết là hệ thống sẽ thu thập dữ liệu như thế nào? Ở một khía cạnh khác, với cách tiếp cận lấy khách hàng làm trung tâm, các ngân hàng phải thực sự hiểu khách hàng của mình và biết tất cả các khía cạnh về họ- hành vi, cảm xúc, thói quen, sở thích. Các ngân hàng phải có đầy đủ dữ liệu, không chỉ các dữ liệu định danh, có cấu trúc mà còn cả các dữ liệu về hành vi, cảm xúc để có thể tiếp cận đúng khách hàng, qua đúng kênh, đúng nội dung, đúng thời điểm để cải thiện trải nghiệm của khách hàng, nâng cao lòng trung thành thương hiệu và tăng giá trị khách hàng. Lý thuyết khách hàng làm trung tâm nghe có vẻ đơn giản, nhưng cũng rất khó để

     

     

     

    Nguồn: Dan Wolfson, 2014

     

    hình dung. Và trong trường hợp này, một kiến trúc tổng thể biểu diễn ngữ cảnh là cần thiết để xác định các mối quan hệ giữa các giải pháp công nghệ MDM, CDP, DMP và CRM. Trong đó CDP- nền tảng dữ liệu khách hàng đóng vai trò trung tâm của kiến trúc.

     

    Kiến trúc tổng thể được đề xuất là mô hình tham chiếu cho việc triển khai các dự án Big Data dành các hoạt động kinh doanh, tiếp thị dựa trên dữ liệu khách hàng. Kiến trúc tổng thể được chia thành 4 khối, tương tác với nhau thông qua các web services. Các ngân hàng lựa chọn việc triển khai khi cần một kho lưu trữ dữ liệu 360° hoạt động nhằm quản lý và phục vụ một số lượng đáng kể các thuộc tính căn cứ trên nhiều dữ liệu chi tiết của khách hàng trong các trường hợp:

     

    Xử lý khối lượng công việc tương tác lớn (ví dụ> 200 truy vấn/giây) trong khi vẫn phải thường xuyên cập nhật hồ sơ dựa trên các tương tác thường xuyên với từng khách hàng.

     

    Khi ngân hàng có các tập dữ liệu lớn dùng chung trong toàn hệ thống (100 nghìn đến hàng triệu khách hàng và có mỗi khách hàng có trung bình 10-20 tương tác hàng tuần).

     

    Khi ngân hàng muốn triển khai các mô hình tính điểm theo thời gian thực để phản ánh chính xác hiện trạng theo thời gian thực của khách

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 57

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    hàng.

     

    3.2.1. Quản lý dữ liệu chủ (MDM)

     

    Hệ thống MDM sẽ cung cấp công cụ và quy trình quản lý dữ liệu chủ, cho phép ngân hàng đạt được mục tiêu hoạt động chính như: Dữ liệu chủ không chỉ nhất quán mà còn chính xác đảm bảo rằng mỗi bộ phận sử dụng cùng một tên gọi thống nhất về khách hàng hoặc cùng một mô tả về sản phẩm. Dữ liệu chủ được điều chỉnh để được cập nhật hoặc thay đổi theo chính sách kinh doanh và có sẵn, đồng nhất ở bất cứ bộ phận phòng ban nào cần đến dữ liệu đó. Ngoài việc quản lý dữ liệu từ các miền: khách hàng, sản phẩm, các đại lý…, MDM còn quản lý thông tin về mối quan hệ giữa các miền này. Hệ thống MDM sử dụng một tập các dịch vụ, các thành phần và kho lưu trữ để nhận dữ liệu chủ từ các hệ thống khác nhau và sau đó chuẩn hóa dữ liệu để cung cấp dữ liệu nhất quán cho các ứng dụng. Một số thành phần của MDM bao gồm (Dan Wolfson, 2014):

     

    Giao diện dịch vụ (Interface Service): Sử dụng các giao thức và giao diện lập trình để truy vấn và cập nhật vào hệ thống MDM như: các dịch vụ web, các RESTful, các giao diện nhắn tin, các quy trình xử lý hàng loạt, cũng như các giao thức tùy chỉnh để cho phép truy cập nhất quán vào MDM.

     

    Các dịch vụ quản lý vòng đời (Lifecycle Management Services): Dịch vụ quản lý vòng đời kiểm soát cách thức dữ liệu chủ được phát triển theo thời gian. Cụ thể thông qua các dịch vụ này các đối tượng dữ liệu chủ được tạo ra, được hợp nhất, được cập nhật, được xác nhận tính đúng đắn, được phân phối, được tạo ra các phiên bản và được huỷ bỏ.

     

    Quản lý các mối quan hệ và phân cấp (Hierarchy and Relationship Management): Các dịch vụ phân cấp và mối quan hệ được sử dụng để tổ chức dữ liệu chủ trong các mối quan hệ khác nhau. Chẳng hạn, nhân viên thuộc về các phòng ban, các phòng ban thuộc về các tổ chức… Đó là một hệ thống phân cấp điển hình. Các loại mối quan hệ khác có thể được phân lớp trên dữ liệu chủ: ví dụ mô tả ở trên cho thấy ông An là chồng của bà Mai. Tất cả điều này được quản lý thông qua Dịch vụ phân cấp và

     

    mối quan hệ.

     

    Các dịch vụ quản lý sự kiện (Event Management Services): Dịch vụ quản lý sự kiện cho phép hệ thống MDM và người dùng nhận thông tin về những thay đổi trong dữ liệu chủ và cập nhật theo thông tin đó. Hệ thống có thể đăng ký cập nhật dữ liệu cá nhân (một người cụ thể), các kiểu dữ liệu (người, sản phẩm, tài khoản…) và nhận thông báo khi các mục đó được cập nhật. Điều này thường được sử dụng cho các sự kiện quản trị (như hạn chế thay đổi tài khoản hoặc các báo cáo cho một đối tượng bị trùng lặp) hoặc các sự kiện dựa trên một số quy tắc kinh doanh hoặc hoạt động khác và cho phép người nhận thực thi chính sách hoặc thông báo cho người quản trị dữ liệu.

     

    Các dịch vụ uỷ quyền (Authoring Services): Dịch vụ uỷ quyền là một trong các dịch vụ của “Dịch vụ quản lý vòng đời” được sử dụng bởi một hệ cộng tác tạo ra dữ liệu chủ, chẳng hạn hệ thống cho phép tạo ra các dữ liệu chủ về sản phẩm và các phân cấp của nó.

     

    Các dịch vụ quản lý chất lượng (Data Quality Management Services): Dịch vụ quản lý chất lượng là những dịch vụ được sử dụng để chuẩn hoá (ví dụ viết “Phố Chùa Bộc” thay vì viết “Chùa Bộc”), định dạng, hợp nhất dữ liệu chủ và những quy định phải có những thuộc tính quan trọng. Ví dụ tất cả các khách hàng phải khai báo “Họ” khi khai báo “Tên” của mình. Vũ Văn An và An Vũ Văn đều là một khách hàng với hai cách gọi tên khác nhau, dịch vụ này sẽ cho phép tích hợp hai thông tin này vào một bản ghi duy nhất trong MDM với một cách gọi duy nhất và chính xác nhất.

     

    Các dịch vụ cơ bản (Base Services): Các dịch vụ cơ bản bao gồm bảo mật, quyền riêng tư, lưu trữ và truy xuất dữ liệu, quy tắc kinh doanh và các dịch vụ khác mà MDM sử dụng để cung cấp dữ liệu chủ nhất quán, an toàn.

     

    3.2.2. Nền tảng dữ liệu khách hàng CDP

     

    Để quản lý được “dữ liệu chủ về khách hàng” cần thu thập được tất cả các nguồn dữ liệu liên quan đến khách hàng vào MDM. Để thực hiện nhiệm vụ đó cần đến “nền tảng quản lý dữ liệu khách hàng” CDP (Customer Data Platform). CDP cho phép tạo ra cơ sở dữ liệu về khách

     

    58 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 5. Kiến trúc CDP

     

     

     

     

    hàng, bao gồm dữ liệu về lịch sử giao dịch và dữ liệu hành vi của khách hàng. Với cách thức này CDP cho phép hình thành một cái nhìn toàn diện về khách hàng, để hiểu rõ hơn và đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo thời gian thực. CDP là nền tảng cho phép thu thập dữ liệu khách hàng từ các nguồn bên trong và bên ngoài của tổ chức, dữ liệu có cấu trúc, bán cấu trúc, dữ liệu phi cấu trúc, dữ liệu trực tuyến. Cụ thể được lấy từ cơ sở dữ liệu trong các phân hệ nghiệp vụ của các hệ thống, CRM, các hành vi, các giao dịch trên website liên quan đến thương mại điện tử, trên các ứng dụng hoặc hệ thống giao dịch, các điểm bán hàng … Sau khi tích hợp các nguồn dữ liệu này vào “một nền tảng” (platform) hay “một cơ sở dữ liệu duy nhất” (a single database) với một “thông tin định danh khách hàng” (personally identifiable information), ngân hàng có thể sử dụng thông tin đó để lên kế hoạch quảng cáo, khuyến mãi, gửi tin nhắn và tùy chỉnh email gửi tới khách hàng. CDP cũng có thể được sử dụng để tuỳ chỉnh nội dung tương tác với khách hàng trên web khi khách hàng đăng nhập vào website.

     

    3.2.3. Nền tảng quản lý dữ liệu DMP

     

    DMP (Data Management Platform) là một nền tảng thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau

     

     

     

    Nguồn: Garry Lee, 2018

     

    cho phép lưu trữ, xử lý, phân tích, phân loại dữ liệu để hỗ trợ các nhà tiếp thị và quảng cáo có thể hướng tới các nhóm khách hàng mục tiêu.

     

    DMP không chỉ theo dõi các đối tượng, khách hàng đã đăng ký thông tin của họ trên các “phương tiện truyền thông và quảng cáo kỹ thuật số” (thư điện tử quảng cáo, quảng cáo trả cho mỗi lần nhấp, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, quảng cáo hiển thị, tiếp thị truyền thông xã hội, tiếp thị nội dung, tiếp thị liên kết…) mà còn theo dõi cả các khách hàng chưa đăng ký. Chính vì vậy DMP có thể tạo ra bộ hồ sơ người dùng lớn hơn CRM. Cụ thể DMP thu thập khách hàng “chưa đăng ký” hay còn gọi là “khách hàng ẩn danh” qua các “thẻ ẩn danh” như địa chỉ IP2, thiết bị và cookie3. DMP gắn thẻ các website để theo dõi thông tin về người dùng đã truy cập vào website đó và thời gian họ truy cập là bao nhiêu lâu. Sau đó DMP cho phép phân nhóm khách hàng dựa vào các đặc điểm hành vi của họ (A.Cross, 2018).

     

    Mối quan hệ giữa CDP – DMP và CRM

     

    2 Địa chỉ IP (IP là viết tắt của từ tiếng Anh: Internet Protocol- giao thức Internet) là một địa chỉ mà những thiết bị điện tử hiện nay đang sử dụng để nhận diện và liên lạc với nhau trên mạng máy tính bằng cách sử dụng giao thức Internet.

     

    • Cookie là một dạng bản ghi được tạo ra và lưu lại trên trình duyệt khi người dùng truy cập một website.

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 59

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 6: Quá trình phát triển CRM, DMP, CDP

     

     

     

    Khi CDP thu thập và tích hợp dữ liệu từ DMP, CRM,… đã tạo ra một hồ sơ khách hàng liên tục và cung cấp cái nhìn toàn diện 3600 khách hàng. Mục đích của CDP là tập hợp tất cả dữ liệu khách hàng và gắn dữ liệu lại với nhau thành hồ sơ khách hàng thống nhất. Vì vậy, bộ phận tiếp thị có thể dễ dàng làm việc với hệ thống này. Có thể hình dung sự phát triển của CRM, DMP, CDP qua hình vẽ dưới đây:

     

    4. Minh họa và kết luận

     

    4.1. Minh họa

     

    Để minh hoạ rõ nét về cách thức thu thập sử dụng phương pháp DMP và lưu trữ dữ liệu của nền tảng dữ liệu khách hàng CDP, Nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Công ty Mobio (http://mobio.vn) triển khai hoạt động mô phỏng lấy dữ liệu khách hàng từ các kênh khác nhau và kết hợp với dữ liệu của khách hàng đã được lưu trữ trong CRM để tạo ra “cơ sở dữ liệu tổng thể về khách hàng”. Giải pháp CDP trên thực tế được thể hiện ở mô hình vật lý dưới đây (Hình 7).

     

    Mô hình CDP ở đây không chỉ lấy dữ liệu trong (Inside) các phân hệ nghiệp vụ và hệ thống Core của ngân hàng mà còn thu thập từ bên thứ 3 (Outside) như: Telco, các website thương mại điện tử…

     

    Sau khi thu thập dữ liệu từ bên thứ 3 và các chiến dịch marketing thì dữ liệu sẽ được đổ về Cassandra, đây là cơ sở dữ liệu lưu trữ các sự kiện, mọi tương tác và dữ liệu phi cấu trúc. Dữ

     

     

    Nguồn: Safa, 2018

     

    liệu ở cơ sở dữ liệu Cassandra sẽ được tổng hợp phân tích thành dữ liệu có ý nghĩa được đưa về MongoDB, nơi lưu trữ Profiles, dữ liệu chắt lọc và có ý nghĩa trong việc phân tích dữ liệu. Còn các dữ liệu báo cáo, phục vụ nhanh truy vấn cho các lãnh đạo của ngân hàng sẽ được ghi lại trong My SQL.

     

    Các khách hàng sau khi được chấm điểm sẽ được phân loại và gửi thông tin sang hệ thống CRM để chăm sóc khách hàng. Kết quả của quá trình này sẽ được gửi ngược lại cho DMP để làm báo cáo, chạy tiếp thị lại (remarketing) và tinh chỉnh lại mô hình. Các báo cáo sẽ được tự động lưu trữ vào cơ sở dữ liệu MySQL, phục vụ báo cáo theo từng nghiệp vụ của ngân hàng. Như vậy với mô hình CDP như triển khai ở trên sẽ hợp nhất hồ sơ khách hàng thành một cơ sở dữ liệu khách hàng duy nhất. CDP có tính linh hoạt khi thu thập dữ liệu mức độ sự kiện thô mà không cần xác định trước các trường. Điều này cho phép truy vấn dữ liệu đã xác định trước. Thực nghiệm đã khằng định CDP là một hệ thống cho phép tạo ra cơ sở dữ liệu khách hàng bền vững và thống nhất. Hệ thống này có thể tiếp nhận dữ liệu từ các nguồn dữ liệu khác nhau và cung cấp quyền truy cập tới các hệ thống khác trong khi vẫn là trung tâm tiếp thị (marketer-centric).

     

    4.2. Kết luận

     

    CRM là hệ thống thông tin đóng vai trò quyết định trong hoạt động quản trị mối quan hệ khách hàng đối với các NHTM. Để có thể phát

     

    60 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 7: Mô hình thu thập và lưu trữ dữ liệu của CDP

     

     

     

     

     

     

     

     

    huy được vai trò CRM, các dữ liệu cần được tổ chức theo định hướng khách hàng với các nguồn dữ liệu được tích hợp, phân tích, tổ chức và lưu trữ từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau

     

     

     

     

     

     

     

    Nguồn: Mobio, 2019

     

    từ bên trong và bên ngoài ngân hàng. Các dữ liệu bên trong thường là những dữ liệu có cấu trúc đến từ các hệ thống Core-banking và các phân hệ nghiệp vụ khác. Các dữ liệu bên ngoài

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 61

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    thường là các dữ liệu bán cấu trúc hoặc phi cấu trúc đến từ các mạng xã hội, các thiết bị IoT, mạng viễn thông hoặc các nhà cung cấp dịch vụ. Để tích hợp và tổ chức lại được các nguồn dữ liệu này, các ngân hàng cần có: (1) một phương pháp luận phù hợp với việc quản trị dữ liệu khách hàng; (2) một kiến trúc tổng thể cho hệ thống thông tin có khả năng tích hợp

     

    Tài liệu tham khảo

     

    với Big Data; và (3) các công cụ, phương pháp cách thức tổ chức để xây dựng hồ sơ 360o khách hàng. Tuy nhiên, để có thể ứng dụng Big Data vào CRM, cần phải các hướng dẫn cụ thể trong hoạt động triển khai trên nền tảng điện toán đám mây, và đặc biệt, cần hoàn thiện các khung pháp lý trong việc đảm bảo an toàn dữ liệu và tính riêng tư dữ liệu khách hàng ■

     

    1. Cross, 2018, “CDP vs. DMP: What’s the Difference?”, NGDATA.

     

    1. Dan Wolfson, Scott Schumacher, Ivan Milman, Eberhard Hechler, Martin Oberhofer, 2014, “Beyond Big Data: Using Social MDM to Drive Deep Customer Insight, IBM Press”.
    2. Garry Lee, 2018, “Why a Customer Data Platform (CDP) Will Be the Next Evolution of Your Marketing Automation”, truy cập từ: https://www.emailvendorselection.com/customer-data-platform-cdp-evolution-marketing-automation
    3. Hortonworks, 2019, “Data Strategy Scorecard Survey”

     

    1. Mobio, 2019, “Mô hình thu thập và lưu trữ dữ liệu của CDP”

     

    1. Market Research Future, 2019, “CRM Software Market Research Report – Global Forecast to 2023”, MRFR/ICT/3512-

     

    HCRR

     

    1. Safa, 2018, “The evolution of customer data management: DMP vs. CDP”, TREASURE DATA

    Thông tin tác giả

     

    Phan Thanh Đức, Tiến sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Chu Thị Hồng Hải, Tiến sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Đinh Trọng Hiếu, Tiến sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Chu Văn Huy, Thạc sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Ngô Thùy Linh, Thạc sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Khoa Hệ thống thông tin quản lý, Học viện Ngân hàng

     

    Summary

     

    Application of big data in customer relationship management for Vienamese Commercial Banks

     

    “Data is the new oil” and big data is expected as a huge resource for business. But how to take advantage of big data is still an problem for many Vietnamese commercial banks today. In this article, we consider the application of Big Data in customer relationship management (CRM) activities. We propose an architectural model of “Big Data – CRM” system in using a combination of MDM, CDP and DMP to integrate the unstructured data from multi chanels like social networks, mobile applications, webs… with structured data in banking information systems.

     

    Keywords: Big data, Customer relationship management (CRM), Master Data Management (MDM), Customer Data Platform (CDP), Data Management Platform (DMP)

     

    Duc Thanh Phan, PhD.

     

    Hai Thi Hong Chu, PhD.

     

    Hieu Trong Dinh, PhD.

     

    Huy Van Chu, MEc.

     

    Linh Thuy Ngo, MEc.

     

    Organization of all: Banking Academy of Vietnam

     

    62 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

    Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

    Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đánh giá sự mài mòn xéc măng trong quá trình hoạt động của động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ngu%E1%BB%93n-lu%E1%BA%ADt-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-gi%E1%BA%A3i-quy%E1%BA%BFt-tranh-ch%E1%BA%A5p-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    • Abknowitz, M.A, Lectures on ship hydrodynamics steering and manoeuvrability, Hya report no. hy- 5, 1964.
    • Nomoto, K., Analysis of Kempf’s Standard Maneuver Test and Proposed Steering Quality

    Indices, Proceedings of 1st Symposium on ShipManoeuvrability, (1960), pp.275- 304.

     

    • Hamamoto, M. : MMG report II, Bulletin of the society of Naval Architects of Japan, No. 577, pp. 322-329, July 1997.

    Người phản biện: TS. Nguyễn Kim Phương; TS. Nguyễn Công Vịnh

     

    NGUỒN LUẬT ÁP DỤNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNG HẢI

    SOURCE OF LAW FOR MARITIME DISPUTE RESOLUTION

     

    1. NGUYỄN KIM PHƯƠNG CN.LS. PHẠM THANH TÂN Khoa Hàng hải, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

    Tóm tắt

     

    Bài báo giới thiệu một nghiên cứu về nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải, một sự kiện pháp lý phức tạp nảy sinh trong hoạt động thương mại hàng hải. Qua đó, nghiên cứu cho thấy tổng quan những quy định áp dụng luật để giải quyết tranh chấp hàng hải ở phạm

     

    • quốc tế và Việt Nam.

     

    Abstract

     

    This paper presents a study of the applicable sources of law for resolving maritime dispute that arises in commercial maritime operations.Thereby, an overview of the legal provisions which are applicable to the maritime dispute resolution in international scope and Vietnam is shown.

    1.   Đặt vấn đề

     

    Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005, Chương XVII, Điều 258 quy định rằng “Tranh chấp hàng hải là các tranh chấp phát sinh liên quan đến hoạt động hàng hải”. Đặc điểm đặc trưng của tranh chấp hàng hải là tranh chấp đa dạng, phức tạp, thường xuyên nảy sinh trong thực tiễn hàng hải quốc tế. Trong hoạt động hàng hải có thể phát sinh hai loại tranh chấp: tranh chấp trong hợp đồng và tranh chấp ngoài hợp đồng. Ngoài ra, theo đối tượng liên quan đến tranh chấp, lĩnh vực hoạt động của tàu biển, tranh chấp hàng hải có thể phân loại thành các dạng như: Tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa; Tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý; Tranh chấp liên quan đến các dịch vụ hàng hải; Tranh chấp về tai nạn va chạm tàu; Tranh chấp liên quan đến thuyền viên;…

     

    Khi tranh chấp xảy ra, nếu bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu thì phải giải quyết tranh chấp. Việc giải quyết các tranh chấp là khâu cuối cùng của cả một quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng trong hàng hải thương mại. Trên thực tế giải quyết các tranh chấp hàng hải có thể được thể hiện bằng các phương thức khác nhau: Thương lượng, hòa giải hoặc đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài hoặc tòa án [1]. Trong tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp, vấn đề áp dụng luật nào để phán quyết là điểm mấu chốt mà thực tiễn hàng hải đang đặt ra.

     

    Vấn đề tranh chấp hàng hải đã được một số tác giả nước ngoài và trong nước đề cập đến trong các tài liệu như: Maritime Law, 2004 (Chistopher Hill); Resolving Maritime Disputes, 2010 (Marilyn Raia); International Commercial and Marine Arbitration, 2008 (Georgios I. Zekos); Các tài liệu [1], [2], [3] và [4]. Tuy nhiên, các công trình này mới chủ yếu tập trung vào việc làm rõ khái niệm tranh chấp hàng hải và phương thức giải quyết tranh chấp. Do đó, việc đi sâu nghiên cứu để có cái nhìn đầy đủ và chi tiết về nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

     

    2.   Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

     

    • Nguồn luật quốc tế

    Loại hình đầu tiên cần kể đến là các điều ước đa phương như Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển năm 1924 (Quy tắc Hague), Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số qui tắc về vận đơn đường biển thường được gọi là Nghị định thư 1968 hay Qui tắc Visby (ký 23/2/1968, hiệu lực 23/6/1977), Công ước của Liên Hợp Quốc về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế năm 1978 (Công ước Hamburg), Công ước của Liên hợp quốc về Bộ luật hành vi đối với các Công hội tàu chợ năm 1974, Công ước quốc tế về

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               48

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    giới hạn trách nhiệm của chủ tàu biển năm 1957, Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc liên quan đến việc bắt giữ tàu biển năm 1952,…

     

    Ví dụ, vụ tranh chấp về khả năng đi biển của tàu giữa công ty thuê chở hàng Australia (nguyên đơn) và công ty vận tải đường biển Trung Quốc (bị đơn) vào năm 1982 đã được giải quyết tại trọng tài với nguồn luật áp dụng để giải quyết là Điều 4, Qui tắc Hague [5].

     

    Bên cạnh các điều ước quốc tế đa phương, còn tồn tại nhiều điều ước quốc tế song phương dưới dạng các Hiệp định hàng hải. Hiệp định hàng hải được chia làm hai loại là Hiệp định chung và Hiệp định đặc thù (chứa các điều khoản cụ thể như định nghĩa tàu, điều khoản tự do ra vào, điều khoản vận chuyển hàng hoá,…). Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế về hàng hải như Công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển (1952, 1999), Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường và thống nhất hành động khi có sự cố, các Hiệp định hàng hải song phương với Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Brunei,…

     

    Bên cạnh các Công ước và các Điều ước quốc tế chính thức khác, trong những năm qua Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đã thông qua nhiều Luật, Khuyến cáo, Hướng dẫn,… IMO đã soạn thảo, ban hành trên 30 Công ước và Nghị định thư, khoảng 600 các Luật và Khuyến cáo,… Các Khuyến cáo không ràng buộc các Chính phủ, nhưng có tác dụng hướng dẫn, tạo cơ sở cho các quy tắc, quy phạm pháp luật của các quốc gia [2].

     

    2.2. Nguồn luật quốc gia

     

    Bên cạnh các điều ước quốc tế, các nước đã ban hành các luật về hàng hải, trong đó nổi bật là các luật chuyên chở bằng đường biển hoặc luật hàng hải. Ở Hoa Kỳ tồn tại ba đạo luật liên bang là Luật Harter năm 1893, Luật Pomerene năm 1916 điều chỉnh về vận đơn đường biển và Luật chuyên chở hàng hoá năm 1936. Pháp luật hàng hải ở Anh về cơ bản dựa trên Luật chuyên chở hàng hoá bằng đường biển năm 1924 (được thay bằng Luật chuyên chở hàng hoá bằng đường biển năm 1971). Tuy nhiên, Luật 1924 vẫn có hiệu lực đối với các vận đơn được ký phát trước ngày 23/6/1977 (ngày có hiệu lực của Luật 1977). Ở Trung Quốc, Bộ luật Hàng hải năm 1992 điều chỉnh các vấn đề liên quan tới tàu biển và vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, bảo vệ quyền và lợi ích các bên liên quan đến hoạt động hàng hải. Nhiều nước Bắc Âu cũng áp dụng Bộ luật Hàng hải. Điểm đặc biệt của bốn nước Bắc Âu là họ chấp nhận một Bộ luật Hàng hải chung, có hiệu lực vào ngày 1/10/1994. Ở một số quốc gia khác như Nhật Bản, Philíppin,… các quy định về hàng hải lại nằm trong Bộ luật Thương mại [2].

     

    2.3. Tập quán hàng hải quốc tế

     

    Một nguồn luật quan trọng khác cũng cần nhắc tới là tập quán hàng hải quốc tế – là những phong tục, thói quen phổ biến về hàng hải được nhiều nước công nhận và áp dụng thường xuyên đến mức trở thành các quy tắc được các bên mặc nhiên tuân thủ. Tập quán hàng hải sẽ được áp dụng trong hợp đồng vận tải khi không có quy định về luật áp dụng hoặc có luật nhưng chưa được quy định đầy đủ. Ví dụ, việc ném hàng xuống biển để cứu tàu, hàng hoá và sinh mạng thuyền viên và hành khách trên tàu để tránh một thảm họa thực sự là một tập quán hàng hải lâu đời được xã hội thừa nhận [2].

     

    3.   Nguồn luật Việt nam áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

     

    • Bộ luật Hàng hải Việt Nam

    Năm 1990 Việt Nam đã ban hành Bộ luật Hàng hải và hiện nay là Bộ luật Hàng hải năm 2005 nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện pháp luật quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế. Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 đã xây dựng được một hệ thống quy phạm làm cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp hàng hải với việc làm rõ tranh chấp hàng hải, thẩm quyền giải quyết tranh chấp hàng hải, tranh chấp hàng hải có yếu tố nước ngoài, thời hiệu giải quyết các tranh chấp hàng hải,…[2].

     

    Theo quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2005, các bên tham gia trong hợp đồng liên quan đến hoạt động hàng hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thì có quyền thoả thuận áp dụng tập quán hàng hải quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn trọng tài, toà án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ ba để giải quyết tranh chấp [3]. Khi giải quyết các tranh chấp hàng hải tại các cơ quan tài phán Việt Nam thì vấn đề vận dụng pháp luật để điều chỉnh và giải quyết các tranh chấp đó được dựa trên cơ sở các bên đương sự hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận chọn nguồn luật áp dụng cho mối quan hệ hợp đồng của mình (Khoản 2, Điều 4, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005). Nguồn luật đó có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế về hàng hải, về thương mại, tập quán hàng hải quốc tế thậm chí cả án lệ. Song, điều quan trọng là

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               49

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    • chỗ nên chọn nguồn luật nào, làm thế nào để chọn nguồn luật thích hợp nhất để bảo vệ quyền lợi của mình, vấn đề này thật không đơn giản. Điều 1, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 quy định phạm vi áp dụng các quy định của Bộ luật này như sau:

    “Bộ luật này quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển,…

     

    Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam với quy định của luật khác về cùng một nội dung liên quan đến hoạt động hàng hải thì áp dụng quy định của Bộ luật này”.

     

    Trong trường hợp có xung đột pháp luật thì việc chọn luật để áp dụng được xác định theo các nguyên tắc sau đây (Điều 2 và Điều 3, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005):

     

    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến các quyền sở hữu tài sản trên tàu; Hợp đồng cho thuê tàu; Hợp đồng thuê thuyền viên; Hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý; chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và và thuyền bộ của tàu cứu hộ; trục vớt tài sản chìm đắm ở biển cả; các vụ việc xảy ra trên tàu khi tàu đang ở biển cả thì luật được chọn là luật của quốc gia mà tàu mang cờ.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung, thì luật được chọn là luật nơi tàu ghé vào ngay sau khi xảy ra tổn thất chung đó.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va, tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở biển, xảy ra tại nội thủy hoặc lãnh hải của quốc gia nào thì luật được chọn là luật của quốc gia đó.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở biển cả thì luật được chọn là luật của quốc gia mà trọng tài hoặc tòa án của quốc gia đầu tiên đã thụ lý giải quyết tranh chấp. Trường hợp tai nạn đâm va xảy ra ở biển cả hoặc trong nội thủy, lãnh hải của quốc gia khác giữa các tàu biển cùng quốc tịch thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa thì luật được chọn là luật quốc gia nơi hàng hóa được trả theo hợp đồng.
    • Nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này thì áp dụng điều ước quốc tế.

    Ví dụ năm 2002 xảy ra vụ tranh chấp giữa 3 doanh nghiệp Việt Nam nhập hàng điện tử từ Mỹ về theo hợp đồng vận chuyển với hãng tàu OOC (đại diện OOC tại Thành phố Hồ Chí Minh). Tàu Matt V0175 bị chìm trên đường vận chuyển về Việt Nam mang theo toàn bộ số hàng. Chủ hàng đã khiếu nại và khởi kiện OOC tại tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo Điều 5 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990 (nay là Điều 3 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005) [4].

     

    3.2. Bộ luật Dân sự Việt Nam

     

    Điều 759 Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng có những quy định tương tự như Bộ luật Hàng hải Việt Nam. Tuy nhiên, khoản 4 của Điều 759 quy định:“Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự mà các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nhà nước Việt Nam dành cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sự bảo hộ pháp lý bình đẳng như cá nhân, tổ chức Việt Nam. Khoản 2 điều 761 và khoản 2 điều 765 Bộ luật Dân sự quy định: “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”; “Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngoài việc được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân, pháp nhân Việt Nam trong lĩnh vực tố tụng, pháp nhân, cá nhân nước ngoài còn được quyền tiến hành tố tụng ở tòa án thông qua người đại diện, trong đó có cơ quan lãnh sự ở nước ta. Vấn đề này đã được ghi nhận trong các hiệp định về lãnh sự và hiệp định tương trợ tư pháp của Việt Nam với nước ngoài.

     

    Các tranh chấp hàng hải thông thường phát sinh từ hai cơ sở pháp lý khác nhau đó là những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và các tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng (bồi thường

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               50

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    thiệt hại ngoài hợp đồng). Vì có sự phát sinh tranh chấp từ hai cơ sở pháp lý khác nhau như vậy nên quá trình giải quyết xung đột pháp luật của mỗi loại tranh chấp cũng khác nhau.

     

    Các tranh chấp hàng hải phát sinh từ hợp đồng thường xảy ra trong các trường hợp:

     

    • Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng có quốc tịch khác nhau;
    • Hợp đồng được các bên tham gia ký kết ở nước này nhưng lại được thực hiện ở nước khác, nên cùng một lúc các quan hệ phát sinh từ hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật: Luật nơi ký kết hợp đồng và luật nơi thực hiện hợp đồng;
    • Đối tượng của hợp đồng ở một nước khác, mặc dù các bên tham gia ký kết có cùng quốc tịch và hợp đồng đó được thực hiện ngay trên lãnh thổ mà các bên mang quốc tịch. Như vậy, trường hợp này chịu sự điều chỉnh của luật quốc tịch của các bên chủ thể và luật nơi tồn tại đối tượng của hợp đồng.

    Khi xuất hiện một tranh chấp hàng hải phát sinh từ hợp đồng, người ta thường căn cứ vào hợp đồng làm cơ sở để giải quyết xung đột pháp luật, vì thực chất hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên tham gia ký kết đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ nên nó phải là cơ sở pháp lý cơ bản và chủ yếu để giải quyết các tranh chấp đó. Về vấn đề này Khoản 1, Điều 770, Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định như sau: “Hình thức của hợp đồng dân sự phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật nước đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam”. Khoản 1 Điều 769 quy định về hợp đồng dân sự như sau: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác. Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng cũng phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

     

    Trong thực tiễn giao lưu thương mại hàng hải quốc tế có không ít những tranh chấp phát sinh từ những sự kiện pháp lý ngoài hợp đồng. Ví dụ như việc gây ra thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, liên quan đến con tàu đang hoạt động, tai nạn đâm va, cứu hộ, tổn thất chung,… rõ ràng những sự kiện pháp lý này xảy ra hoàn toàn ngoài dự kiến của các bên nhưng nó lại làm nảy sinh mối quan hệ pháp lý mà ở đó các bên liên quan có trách nhiệm với nhau. Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có hai chủ thể là người bị thiệt hại và người gây thiệt hại. Nó hàm chứa hai yếu tố: Các bên tham gia quan hệ (người bị thiệt hại và người gây thiệt hại) có quốc tịch khác nhau và sẽ được điều chỉnh cùng một lúc bởi vì hệ thống pháp luật theo dấu hiệu quốc tịch của hai bên đương sự; Hành vi gây thiệt hại xảy ra ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật quốc tịch của đương sự và hệ thống pháp luật nơi xảy ra hành vi thiệt hại.

     

    Các trường hợp tranh chấp hàng hải phát sinh ngoài hợp đồng được Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định tại Điều 773 “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” như sau:

     

    “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại do tàu bay, tàu biển gây ra ở không phận quốc tế hoặc nơi biển cả được xác định theo pháp luật của nước mà tàu bay, tàu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác. Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại xảy ra ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

     

    4.   Kết luận

     

    Từ những vấn đề đã được trình bày ở trên, cho thấy việc áp dụng luật để điều chỉnh các tranh chấp hàng hải đã được pháp luật quốc tế quy định khá đầy đủ và toàn diện. Đối với Việt Nam, vấn đề này cũng đã được quy định tương đối cụ thể và hoàn chỉnh trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hàng hải, các pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, pháp lệnh thi hành các bản án dân sự, pháp lệnh công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài… Dựa vào đó, các cơ quan tòa án của Việt Nam vận dụng các quy phạm pháp luật thích hợp cho từng quan hệ pháp luật cụ thể, nhằm thừa nhận hoặc bác bỏ quyền và nghĩa vụ dân sự, kinh tế, hàng hải, thương mại… và ra các quyết định chế tài trong các trường hợp cần thiết.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đánh giá sự mài mòn xéc măng trong quá trình hoạt động của động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn

    Đánh giá sự mài mòn xéc măng trong quá trình hoạt động của động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn

    Đánh giá sự mài mòn xéc măng trong quá trình hoạt động của động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-s%E1%BB%B1-m%C3%A0i-m%C3%B2n-x%C3%A9c-m%C4%83ng-trong-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BB%99ng-c%C6%A1-diesel-t%C3%A0u-th%E1%BB%A7y-c%E1%BB%A1-l%E1%BB%9Bn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đánh giá sự mài mòn xéc măng trong quá trình hoạt động của động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    [3].  Richard L. Lehman(2000, Materials, Magazine of Rutgen University

    • Mark Jakiela (2000), Engineering Design, Magazine of Massachusetts Institute of Technology
    • А.И. Дукельский (1988), Справочник по кранам, Машиностроение – Ленинград

    [6] Tyler G.Hicks (1997) Handbook of Mechanical Engineering Calculations, McGraw- Hill Phản biện: TS. Vũ Văn Duy; TS. Lê Anh Tuấn

     

    ĐÁNH GIÁ SỰ MÀI MÒN XÉC MĂNG TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG CƠ DIESEL TÀU THỦY CỠ LỚN

     

    OPERATIONAL EVALUATION OF PISTON RING WEAR IN LARGE MARINE DIESEL ENGINES

    1. TRƯƠNG VĂN ĐẠO

    Khoa Máy tàu biển, Trường ĐHHH

     

    Tóm tắt

     

    Bài báo giới thiệu về việc đánh giá mài mòn xéc măng của động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn bằng kiểm tra thông qua cửa quét trên sơ mi xy lanh. Bài báo mô tả các phương pháp kiểm tra xéc măng dựa trên đánh giá bằng mắt thường, đo các khe hở của xéc măng trong rãnh xéc măng. Từ kết quả đo đạc các khe hở của xéc măng, cho phép đánh giá độ mài mòn của xéc măng và tính toán số giờ làm việc của nó được xem như một thông số để tham khảo trong lần kiểm tra tiếp theo và đánh giá được chiều hướng mài mòn.

     

    Abstract

     

    This article presents operational evaluation of piston ring wear in large marine diesel engines based on inspection through cylinder liner scavenge ports. It contains a description of verification methods of piston rings based on visual inspections, clearance measurement of piston rings in piston grooves and piston rings gap measurement. Moreover, it is indicated that piston ring gap measurements can lead to an evaluation of piston ring wear and running hour calculation can be treated as a reference parameter for the next inspections and a parameter assessment for wear trends.

     

    1.   Giới thiệu

     

    Sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự tăng giá không ngừng của nhiên liệu đã buộc các chủ tàu tìm cách giảm chi phí khai thác. Điều đó có thể đạt được bằng cách giảm tốc độ tàu xuống tốc độ kinh tế. Tuy nhiên, việc giảm tốc độ tàu cũng đồng thời giảm tải của động cơ dẫn đến sự hoạt động bất lợi cho động cơ như: Làm tăng sự mài mòn của sơ mi xy lanh và xéc măng. Do tác động của nhiều yếu tố, trong phạm vi bài báo tác giả giới hạn vấn đề này là hoạt động đánh giá mài mòn và tình trạng kỹ thuật của xéc măng động cơ diesel chính tàu thủy cỡ lớn có công suất trung bình 6000 kW trên một xy lanh. Đánh giá sự mài mòn xéc măng theo phương pháp truyền thống chỉ thực hiện khi rút pison động cơ. Việc đánh giá sự mài mòn hiện tại trong quá trình chạy tàu (không rút piston) giúp cho người khai thác đưa ra chu kỳ bảo dưỡng sửa chữa phù hợp. Điều này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế trong việc khai thác tàu.

     

    2.   Các phương pháp hiệu quả đánh giá mài mòn xéc măng trong khai thác

     

    1. Đánh giá bằng quan sát sự mài mòn và tình trạng của xéc măng qua cửa quét trên sơ my xy lanh của động cơ

     

    Bước đầu tiên trong việc đánh giá mài mòn và tình trạng của xéc măng bằng việc kiểm tra bằng mắt thông qua cửa quét thì các vấn đề sẽ được đánh giá như sau:

     

    Lượng cáu các bon ở phần đỉnh piston và phần dẫn hướng. Độ đàn hồi của xéc măng (nếu không bị gãy) và sự tiếp xúc tốt với sơ mi xy lanh (nếu không bị cháy thổi). Sự linh động của xéc măng trong rãnh xéc măng khi piston đi từ điểm chết trên ( ĐCT) đến điểm chết dưới (ĐCD). Tình trạng của các bề mặt làm việc xéc măng được thể hiện trên hình 1.

     

    Hình 1. Kiểm tra tình trạng bề mặt xéc măng thông qua cửa quét

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               16

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    Bề mặt làm việc của xéc măng cho biết tình trạng của sơ mi xy lanh nói chung. “Bề mặt gương sơ mi sau một khoảng thời gian làm việc vẫn bóng”, sạch, không có vết xước là tình trạng làm việc tốt được thể hiện trên hình 1a & 2a. Bề mặt làm việc của xéc măng có các vết xước theo chiều dọc do cạnh sắc, hạt mài rắn có trong nhiên liệu và trong không khí như là cát chẳng hạn, nó được minh họa như trên hình 1b. Khi các hạt này đi qua khe hở miệng xuống dưới và vượt qua được một xéc măng thì gây lên hiện tượng “phun cát”, ảnh hưởng đến mặt trên của xéc măng bên dưới, phần lộ ra trên rãnh xéc măng và những vết xước có hình “ chiếc kèn trum-pet” trên bề mặt làm việc của xéc măng được thể hiện trên hình 1c & d.

     

    Lớp mạ crom là một lớp mạ có độ bền rất cao. Tuy nhiên, sự mài mòn thực tế phụ thuộc vào điều kiện làm việc của piston. Sự mài mòn một phần lớp mạ crom không có nghĩa là xéc măng phải thay thế ngay lập tức. Nếu lớp mạ crom vẫn còn nguyên vẹn, nó vẫn còn có thể tiếp tục làm việc như hình 4a. Tất nhiên khả năng chịu mài mòn của xéc măng sẽ giảm đi tương ứng. Nếu lớp mạ bị hư hỏng, vỡ ra từng mảnh, hoặc các lớp vá bị tróc ra như hình 2b, 2c và 4d thì xéc măng phải được thay thế.

     

    a

    b

    c

    d

     

    Hình 2. Hình ảnh xéc măng bị hư hỏng

     

    1. Tính toán lượng mài mòn của xéc măng bằng việc đo các khe hở của xéc măng

    Trong khi kiểm tra xéc măng qua cửa quét, việc đo đạc mài mòn của xéc măng có thể được tiến hành như sau: Đo độ mài mòn theo hướng kính của xéc măng được thực hiện bởi đo khe hở miệng của xéc măng. Đo đạc mài mòn theo phương hướng trục của xéc măng được thực hiện bằng đo khe hở của xéc măng với rãnh xéc măng.

     

    Phương pháp này được xem như một căn cứ gần đúng để quyết định thay xéc măng hay không. Với piston được via xuống gần ĐCD, thì khe hở miệng (t) của xéc măng được đo qua cửa quét của sơ my xi lanh. Vì đường kính sơ mi xy lanh gần cửa quét (d) được đo lần gần nhất hoặc đường kính ban đầu trong lí lịch của động cơ khi xuất xưởng. Thay các số liệu trên vào công thức (1) thì cho ta lượng mài mòn xéc măng(h):

    ℎ =

     −[

    0+  ( −  )]

       

    (1)

       
       

    • Lượng mài mòn tính toán của xéc măng theo phương hướng kính (mm);
    • Khe hở miệng đo được của xéc măng sau một thời gian làm việc;

    to: Khe hở miệng ban đầu của xéc măng (đặc điểm kỹ thuật trong sách hướng dẫn, ví dụ trong bảng 1) (mm);

     

    • Đường kính sơ mi xy lanh gần cửa quét (mm);

    D: Đường kính sơ mi xy lanh (đường kính danh nghĩa) (mm).

     

    Bảng 1. Số liệu của khe hở miệng ban đầu của xéc măng và lượng mài mòn cho phép

     

    Loại động cơ

    Đường

    kính

    Khoảng cách khe

    Độ dầy xéc

    Giới hạn lượng

     

    danh nghĩa của

    hở miệng ban đầu

    măng b (mm)

    mài mòn(mm)

     

    xy lanh (mm)

    xéc măng (mm)

       

    Wartsila RTA 84

    840

     

    6,18

    26,5 +/- 0,2

    5,3

    B&W MC-C 80

    800

     

    9,4

    25,2

    4,2

    UEC 85LS II

    850

     

    7,0

    27,2

    4,7

    Khe hở miệng của xéc măng có thể được lấy bằng phương pháp “lấy dấu vân tay” sau đó đo bằng thước hoặc được đo bằng thước cặp chuyên dụng. Bước tiếp theo, từ kết quả đo của khe hở miệng xéc măng được đưa vào bảng với công thức để tính toán bao gồm lượng mài mòn và tốc độ mài mòn trên số giờ làm việc. Tiếp theo kết quả phải được phân tích bởi việc so sánh kết

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               17

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    quả trước đó và phải tính toán tốc độ mài mòn được thể hiện như hình 3, với động cơ MAN B&W 6S90MC-C (sau1000 giờ làm việc, độ sâu 2 mm của rãnh xéc măng).

     

    Clearance

    Cylinder ӿ 5 Piston Ring 1

    Clearance

    Cylinder ӿ 5 Piston Ring 2

     

    Crown hours: 15090

     

    Crown hours: 15090

    (mm)

    (mm)

       
         

    0,30

     

    0,30

       

    0,40

     

    0,40

       

    0,50

     

    0,50

       

    0,60

     

    0,60

       

    0,70

     

    0,70

       

    0,80

     

    0,80

       

    0,90

     

    0,90

       

    1,00

     

    1,00

       

    1,10

     

    1,10

       
       

    Depth (mm)

    Depth (mm)

     

    Hình 3. Báo cáo tình trạng kỹ thuật của xy lanh và xéc măng sau 1000 giờ làm việc

     

    1. Đánh giá độ mài mòn của xéc măng dựa trên lớp mạ chống mài mòn

    Các phương pháp khác trong đánh giá tình trạng và mài mòn của xéc măng là dựa vào lớp mạ chạy rà trên bề mặt công tác. Ngày nay thì các lớp mạ sau đang được áp dụng cho động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn: Lớp mạ ngoài cùng cho đặc tính chạy rà và có sức chịu mài mòn cao, lớp mạ ion hóa graphite, đồng, hoặc thiếc để giảm thời gian chạy rà. Sau 500 giờ làm việc thì lớp mạ này bị mòn hết và có thể được đánh giá bằng mắt. Lớp mạ bên dưới để tăng khả năng chống mài mòn lớp mạ ion Mo/NiCr/Cr-C – lớp mạ chống mài mòn có thể được đo bằng các phương pháp tế vi, điện-từ (trên cơ sở đo đạc lớp có từ tính)

     

     

    Hình 4. Đo chiều dày lớp mạ Crom của xéc măng theo số giờ làm việc

     

    Chiều dày lớp mạ chống mài mòn giảm dần theo thời gian công tác của xéc măng. Các kết quả đo được trên máy Mitsubishi được miêu tả trên hình 4.a. Số đo các máy Mitsui B&W thể hiện hình 4.b được lấy trước và sau khi tàu lên đà khi tất cả các xéc măng được thay mới. Yêu cầu hiện nay của việc bảo trì tình trạng kỹ thuật của máy chính dẫn đến việc cần phải kéo dài thời gian làm việc tin cậy giữa các lần đại tu trên nhà máy. Cơ sở của việc đại tu chính là chiều hướng thay đổi các thông số kỹ thuật, thông số hoạt động đo đạc được của máy chính. Trong trường hợp như thế, vai trò của việc kiểm tra theo chu kỳ, trong đó việc đo đạc khe hở xéc măng và lượng mài mòn xéc măng càng trở lên quan trọng. Đánh giá bằng mắt thông qua cửa quét đủ để quyết định có cần phải đại tu trên nhà máy hay không. Sự quyết định này phụ thuộc vào:

     

    Mài mòn của xéc măng (tăng khe hở miệng, kích thước của rãnh giảm áp đạt đến giá trị tới hạn); Khe hở rãnh xéc măng đạt đến giá trị lớn nhất; Xéc măng bị nứt, gãy, kẹt; Xéc măng bị cháy thổi ; Có các vết xước, mài mòn sâu trên bề mặt công tác của xéc măng lớn hơn ¼ chu vi xéc măng; Xéc măng bị mòn hết lớp mạ Crom; Chiều cao xéc măng giảm một nửa so với ban đầu.

     

    Dựa trên kết quả thực nghiệm đối với động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn, các phương pháp kết cấu và khai thác dưới đây được áp dụng để cải thiện khả năng làm việc của bộ đôi ma sát sơ mi xy lanh – xéc măng, để đối phó với điều kiện làm việc bất lợi của xéc măng/sơ mi xy lanh và hướng đến mục tiêu khai thác an toàn kinh tế [3]:

     

    Sử dụng các vành trên cùng để hạn chế tác động bất lợi từ áp suất khí cháy (vòng giảm áp) để giảm sự rò lọt khí cháy từ khe hở miệng xéc măng; Sử dụng rãnh cản nhiệt để cải thiện sự biến dạng do nhiệt đối với 2 đầu của xéc măng và tăng hiệu quả làm kín khí cháy; Sử dụng các vòng

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               18


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế

    Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế

    Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-ph%C3%A1i-sinh-ngo%E1%BA%A1i-h%E1%BB%91i-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-tr%C3%AAn-%C4%91%E1%BB%8Ba-b%C3%A0n-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-Hu%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ

     

    DEVELOPING FOREIGN EXCHANGE DERIVATIVES AT COMMERCIAL BANKS IN HUE CITY

     

    Trần Thị Khánh Trâm1

     

    Ngày nhận: 29/5/2018             Ngày nhận bản sửa: 17/7/2018              Ngày đăng: 5/10/2018

     

    Tóm tắt

     

    Việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối ngày càng được quan tâm tại các ngân hàng thương mại (NHTM). Dựa trên cơ sở lý luận về nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, số liệu được cung cấp tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016 và số liệu điều tra, nghiên cứu đã phân tích, đánh giá được thực trạng và xác định các nguyên nhân cản trở việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế đã được đề xuất.

     

    Từ khóa: công cụ phái sinh, FXD, ngân hàng thương mại, phái sinh ngoại hối.

     

    Abstract

     

    The development of derivative products is increasingly interested in commercial banks. Based on the theory of foreign exchange derivatives, data will be provided at branches of commercial banks in Hue city for the period from 2014 to 2016 and survey data, the study has analyzed and assessed the situation and identified the reasons that hindered the development of foreign exchange derivatives business in the branches of commercial banks in Hue city. Based on the research results, a number of solutions to develop foreign exchange derivatives at commercial banks in Hue city have been proposed.

     

    Keywords: commercial banks, derivatives, foreign exchange derivatives, FXD.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Ngày 02/10/2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 15/2015/TT

     

    • NHNN hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối. Đây là xu hướng tất yếu, phản ánh sự hội nhập quốc tế và xu hướng tự do hóa thị trường tài chính Việt Nam. Các sản

    phẩm phái sinh ngoại hối không còn xa lạ gì với các thị trường phát triển, tuy nhiên, sản phẩm này còn nhiều mới mẻ đối với hầu hết các thành viên tham gia thị trường ở Việt Nam. Hai nghiệp vụ ra đời sớm nhất cũng như được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là giao dịch ngoại hối kỳ hạn và giao dịch ngoại hối hoán đổi. Giao dịch ngoại hối quyền chọn ra đời muộn hơn nhưng đang

     

    __________________________________________

     

    • Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Huế

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    từng bước phát triển mạnh mẽ. Giao dịch phái sinh ngoại hối ngày càng mang lại nhiều nguồn lợi nhuận đáng kể cho nhiều NHTM ở Việt Nam, chẳng hạn theo báo cáo kinh doanh 2016 của HSBC Việt Nam công bố vào tháng 4 năm 2017, lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng này là 252 tỷ đồng, gồm 142 tỷ đồng từ kinh doanh ngoại hối giao ngay và 110 tỷ đồng từ các hợp đồng phái sinh, tăng gấp 3 lần so với năm 2015. Doanh số giao dịch ngoại hối phái sinh hằng ngày ở Việt Nam vào khoảng 200 – 300 triệu USD/ ngày (2015)1. Con số này được đánh giá là tăng đáng kể so với cùng thời điểm năm 2013 (150 triệu USD/ngày)2. Quy mô giao dịch thị trường ngoại hối phái sinh ở Việt Nam từ 2011 – 2015 tăng đáng kể do cơ chế điểu chỉnh tỷ giá “thả nổi có quản lý” của Nhà nước. Tuy nhiên, so với thế giới, mức độ phát triển của giao dịch phái sinh ở Việt Nam hoàn toàn chỉ đang

     

    • giai đoạn đầu, với các công cụ cơ bản chưa có sự khác biệt sản phẩm về loại tiền giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch, chủ thể ký kết hợp đồng, mức ký quỹ…

    Trên địa bàn thành phố Huế, các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối vẫn còn sơ khai, kém phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấp, thậm chí ở một số ngân hàng thương mại mặc dù đã triển khai nghiệp vụ phái sinh ngoại hối nhưng không có giao dịch. Chính vì vậy, việc phát triển nghiệp vụ này tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế là cần thiết. Thông qua nghiên cứu này, nhóm tác giả hy vọng sẽ giải quyết các vấn đề của yêu cầu đặt ra.

     

    • http://vneconomy.vn/tai-chinh/mo-thi-truong-phai-sinh-ty-gia-cho-ngoai-hoi-them-sinh-dong-2016010608472720.htm
    • Đinh Thị Thanh Long (2014), Thực trạng giao dịch ngoại hối phái sinh ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng, số 151 – tháng 12/2014

    2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

     

    • Tổng quan nghiên cứu

     

    Chandra Thapa, Suman Neupane, Andrew Marshall (2016), các công cụ phái sinh ngoại hối (FXD) là những công cụ quan trọng để phòng ngừa rủi ro ngoại hối và tăng lợi nhuận của danh mục đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, khả năng sử dụng FXD có thể bị hạn chế bởi chi phí giao dịch cao hơn và rủi ro thanh khoản của FXD ở các thị trường hoặc các loại tiền tệ khác nhau giữa các quốc gia. Nhóm tác giả đã sử dụng một tập dữ liệu rộng lớn của 40 quốc gia và một số thông số kỹ thuật thay thế để khảo sát xem rủi ro thanh khoản thị trường của các công cụ phái sinh ngoại hối có liên quan đến quyết định phân bổ danh mục vốn cổ phần đa quốc gia. Nghiên cứu cho thấy rằng các nhà đầu tư có khuynh hướng phân bổ đầu tư vào các nước có thanh khoản FXD cao và có hiệu quả về chi phí để sử dụng FXD, cải cách quy định nhằm phát triển thị trường FXD có thể là một biện pháp chính sách tiềm năng để thu hút cao hơn mức đầu tư danh mục cổ phiếu đầu tư nước ngoài.

     

    Lee C.Adkins, David A.Carter, and W. Gary Simpson (2007), nghiên cứu kiểm tra tác động của bồi thường quản lý và quyền sở hữu đối với việc sử dụng các công cụ phái sinh ngoại hối của các công ty nắm giữ ngân hàng tại Mỹ. Nghiên cứu điều tra thực nghiệm với mẫu là 252 công ty lớn nắm giữ ngân hàng tại Mỹ, sử dụng mô hình kinh tế lượng để tách quyết định liệu có nên sử dụng các FXD từ quyết định mức độ chúng được sử dụng rộng rãi như thế nào. Kết quả cho thấy rằng bồi thường quản lý và quyền sử hữu là những yếu tố quan trọng trong các quyết định bảo hiểm rủi ro của các công ty ngân hàng, quyền sở hữu đối với việc sử dụng FXD khuyến khích các nhà quản lý các công ty lớn để phòng ngừa rủi ro.

     

    52

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Stephen D. Makar, Stephen P. Huffman (2001), nghiên cứu này xem xét về công cụ phái sinh ngoại hối, thay đổi tỷ giá và giá trị của công ty: việc sử dụng các công cụ tài chính ngắn hạn của các công ty đa quốc gia Mỹ để quản trị rủi ro tiền tệ. Nghiên cứu cho thấy những thay đổi tỷ giá ở nước ngoài liên quan đến việc sử dụng công cụ phái sinh ngoại hối ngắn hạn có ảnh hưởng đến giá trị của các công ty đa quốc gia Mỹ. Sự thay đổi tỷ giá góp phần giải thích lợi ích bất thường của người sử dụng FXD thấp, bất kể quy mô công ty hay mức độ tham gia của nước ngoài.

     

    Chris Adcock, Xiuping Hua, Khelifa Mazouz & Shuxing Yin (2014), nghiên cứu này khảo sát tác động của các hoạt động phái sinh của các ngân hàng Trung Quốc có ảnh hưởng đến lãi suất và thay đổi lãi suất. Dữ liệu nghiên cứu là tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lãi suất cho 16 ngân hàng Trung Quốc được liệt kê trong thời gian từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 12 năm 2012. Kết quả cho thấy rằng các ngân hàng Trung Quốc đang phải đối mặt với biến động tỷ giá hối đoái và lãi suất không phải là không đổi theo thời gian. Mô hình đa biến dựa trên GARCH với các thông số thay đổi theo thời gian, tất cả các ngân hàng mẫu đều có ít nhất là một lần quan trọng hàng năm tiếp xúc với thay đổi tỷ giá hối đoái và lãi suất. Nhóm tác giả thấy rằng việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh làm giảm rủi ro về ngoại hối của các ngân hàng nhưng không ảnh hưởng đến rủi ro lãi suất; các sản phẩm phái sinh có thể được sử dụng như một phần của hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng, do đó giúp ổn định hệ thống ngân hàng.

     

    Nguyễn Phước Kinh Kha (2015), luận án đã trình bày tổng thể các điều kiện để phát triển giao dịch phái sinh hàng hóa tại Việt Nam, thực trạng hoạt động các sàn giao dịch hàng hóa tại

    Việt Nam, khảo sát nhà cung cấp sản phẩm phái sinh hàng hóa và phía có nhu cầu cũng như các chuyên gia. Luận án đã đề xuất được các giải pháp toàn diện để phát triển giao dịch phái sinh hàng hóa phi tài chính tại Việt Nam.

    Ngô Thị Thùy Linh (2015), nghiên cứu phân tích thực trạng sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam trong phòng ngừa rủi ro, chỉ ra được các nguyên nhân cản trở việc sử dụng sản phẩm phái sinh từ phía các doanh nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi.

     

    Đinh Thị Thanh Long (2013), trình bày bức tranh toàn cảnh phân tích thực trạng giao dịch ngoại hối phái sinh ở Việt Nam, nhưng tìm ra được các nguyên nhân, do đó chưa đề xuất được các giải pháp cụ thể để phát triển giao dịch ngoại hối phái sinh ở Việt Nam.

    Nguyễn Thị Loan (2013) đã đánh giá thực tế về sự phát triển các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại các NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất được các biện pháp cụ thể góp phần thúc đẩy sự phát triển của các công cụ này tại Việt Nam.

     

    Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy đã có không ít đề tài nghiên cứu về công cụ phái sinh và phái sinh ngoại hối, tuy nhiên đây là một vấn đề lớn và khá mới mẻ nên các nghiên cứu trên chỉ đi vào nghiên cứu tổng thể về công cụ phái sinh và phái sinh ngoại hối nói chung. Đặc biệt, cho đến nay, trên địa bàn thành phố Huế chưa từng có công trình khoa học nào nghiên cứu cụ thể và đầy đủ về việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết và rất có ý nghĩa về mặt thực tiễn.

     

    2.2. Cơ sở lý thuyết

     

    Theo Don M. Chance và Robert Brooks trong “An introduction to derivatives and risk management”, tất cả các công cụ phái sinh đều dựa trên thành quả ngẫu nhiên của một tài sản nào đó. Điều này lý giải tại sao sử dụng thuật

     

    53

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    ngữ phái sinh là thích hợp. Công cụ phái sinh chuyển hóa giá trị của mình từ thành quả của một tài sản khác. Tài sản khác này thường được xem là tài sản cơ sở. Ví dụ, tài sản cơ sở có thể là cổ phiếu, trái phiếu, tiền, hàng hóa,…

    Công cụ phái sinh ngoại hối là một công cụ tài chính, bắt nguồn từ một tài sản cơ sở (ngoại hối) đã có từ trước đó. Các công cụ phái sinh ngoại hối gồm: hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hợp đồng ngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối quyền chọn và hợp đồng ngoại hối tương lai.

     

    Các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại ngân hàng thương mại:

     

    • Nghiệp vụ hối đoái có kỳ hạn (Forward Operation): là nghiệp vụ trong đó hai bên cam kết mua, bán với nhau một khoản ngoại tệ nhất định theo một mức tỷ giá được xác định ngay khi hợp đồng được ký kết, song việc chuyển giao ngoại tệ sẽ được thực hiện vào một thời điểm trong tương lai đã được xác định trước.

     

    • Nghiệp vụ hoán đổi ( Swaps Operation): bao gồm hoán đổi tiền tệ và hoán đổi lãi suất.

    Giao dịch hoán đổi tiền tệ (hay giao dịch hoán đổi ngoại hối) là sự kết hợp của một giao dịch trao ngay với một giao dịch kỳ hạn – đổi một lượng cố định ngoại tệ này lấy một lượng biến đổi ngoại tệ khác trong thời gian xác định bằng cách cùng một lúc ký hai hợp đồng: một hợp đồng ký mua – bán giao ngay và một hợp đồng bán – mua kỳ hạn tương ứng.

    Giao dịch hoán đổi lãi suất là một thỏa thuận trao đổi tiền lãi dựa trên khoản vốn gốc cho một khoản thời gian nhất định. Đây là công cụ phái sinh phổ biến nhất để quản lý rủi ro lãi suất.

     

    • Nghiệp vụ quyền chọn (Options operation): là một công cụ tài chính mà cho phép người mua có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua (call) hay bán (put) một số lượng tiền tệ ở

    một mức giá và thời hạn được xác định trước.

     

    • Nghiệp vụ tương lai (Futures operation): là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá cố định tại một thời điểm cố định được xác định bởi trung tâm giao dịch.

     

    Dựa trên khái niệm phát triển của phép biện chứng duy vật và đồng quan điểm của Bùi Thụy Nam (2010) có thể hiểu: “Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại chính là quá trình đưa dần những công cụ phái sinh ngoại hối vào giao dịch tại các ngân hàng thương mại nhằm phòng ngừa rủi ro, tìm kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư; song hành với việc đưa công cụ phái sinh ngoại hối vào giao dịch đó là việc tăng trưởng quy mô giao dịch thông qua số lượng hợp đồng giao dịch, giá trị hợp đồng, số lượng thành viên tham gia vào các giáo dịch phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại tăng lên,… Trên cơ sở đó cũng tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm của các NHTM đáp ứng nhu cầu đầu tư của xã hội, của nền kinh tế”.

     

    Nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu các nguyên nhân cản trở việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế dựa trên các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phước Kinh Kha và Ngô Thị Thùy Linh, để từ đó đề xuất các giải pháp cho việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối trên địa bàn thành phố Huế.

     

    Về phía nhà cung cấp dịch vụ phái sinh ngoại hối, các nhóm nguyên nhân cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh mà tác giả Nguyễn Phước Kinh Kha đã khảo sát từ phía các nhà cung cấp giao dịch phái sinh đó là: “Cơ sở pháp lý chưa đảm bảo giao dịch, sản phẩm phái sinh chưa có lợi cho người tham gia, trình độ hiểu biết về hoạt động phái sinh còn kém, không có nhu cầu về sản phẩm phái sinh, khó tham gia

     

    54

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    giao dịch”. Về phía khách hàng, các nguyên nhân được xác định cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh từ phía các doanh nghiệp ở Việt Nam trong nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Thùy Linh đó là: “Doanh nghiệp chưa am hiểu; biến động lãi suất, tỷ giá không đủ lớn; tâm lý ngại trách nhiệm; doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về sản phẩm phái sinh; sản phẩm không đáp ứng nhu cầu; quy định hoạch toán thuế bất lợi; pháp lý chưa rõ ràng”.

     

    Kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước, hai mẫu bảng hỏi được thiết kế riêng, phù hợp với 2 nhóm đối tượng trên, bao gồm nhiều câu hỏi nhỏ và câu hỏi mở, tập trung khai thác thông tin nhằm xác định đâu là các nguyên nhân cản trở và thúc đẩy đối với việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các NHTM ở thành phố Huế.

     

    2.3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Cách tiếp cận: Nghiên cứu này tập trung vào việc thu thập và khai thác ý kiến đánh giá từ các đối tượng liên quan đến nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế.

    Phương pháp nghiên cứu:

     

    • Số liệu thứ cấp: số liệu được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế, bài đăng tạp chí, các nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước liên quan đến việc phát triển nghiệp vụ ngoại hối phái sinh tại các ngân hàng thương mại.
    • Số liệu sơ cấp: được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với 2 mẫu điều tra:

    Mẫu 1: Điều tra cán bộ ngân hàng chịu trách nhiệm mảng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối hoặc có biết đến nghiệp vụ này tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế.

     

    Mẫu 2: Điều tra khách hàng là các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế. Đối tượng điều tra được xác định theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện.

    • Sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối nhằm đề xuất các giải pháp có tính khả thi giúp phát triển các giao dịch phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế.

    3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

     

    3.1. Thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế

    • Về công cụ giao dịch

    Hiện nay, các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế đã triển khai các sản phẩm phái sinh theo sự điều hành của Hội sở chính. Các sản phẩm phái sinh đang áp dụng tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn bao gồm các công cụ phái sinh cơ bản: hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và quyền chọn.

     

    Các sản phẩm phái sinh ngoại hối chưa có sự khác biệt sản phẩm về loại tiền giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch, chủ thể ký kết hợp đồng, mức ký quỹ thực hiện hợp đồng,… Sự khác biệt chủ yếu là số lượng ngoại tệ giao dịch tối thiểu trong hợp đồng quyền chọn tiền tệ.

     

     

    55

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bảng 1. Một số quy định về công cụ phái sinh ngoại hối đang áp dụng tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế tính đến 31/12/2016

    Tiêu chí

    Kỳ hạn

    Hoán đổi

    Quyền chọn

    Khách hàng

    – Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp

    – Doanh nghiệp

     

    – Doanh nghiệp và

     

    – Doanh nghiệp và cá nhân: (Eximbank,

     

    cá nhân: (Eximbank,

     

    ACB, Sacombank, Maritimebank)

     

    ACB,  Sacombank,

       
     

    Maritimebank)

       

    Loại tiền giao dịch

    7 ngoại tệ mạnh AUD, GBP, JPY,

    7 ngoại tệ mạnh AUD, GBP, JPY,

     

    CAD, EUR, CHF, USD với VND

    CAD, EUR, CHF, USD. Không bao

         

    gồm quyền chọn giữa USD và VND

           

    Số lượng ngoại tệ

    Không quy định

     

    Giá trị hợp đồng tối thiểu là 100.000

    giao dịch

       

    USD   (Eximbank);   50.000   USD

         

    (Maritime Bank, ACB); tương đương

         

    10.000  USD  hoặc  100  triệu VND

         

    (Techcombank)

           

    Thời   hạn   hợp

    Từ 3 đến 365 ngày

       

    đồng

         

    Mức ký quỹ

    – Từ 0 – 10% trị giá hợp đồng

    – Tính theo tỷ lệ % trị giá hợp đồng

     

    – Tính theo tỷ lệ % trị giá hợp đồng

     
     

    (Sacombank)

       
             

    Nguồn: Các chi nhánh NHTM ở Huế́

    Các sản phẩm phái sinh ngoại hối đang áp

    – Về doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối

    dụng ở các ngân hàng đang ở giai đoạn đầu,

    Mặc dù tất cả các chi nhánh NHTM ở thành

    chưa có tính phức tạp. Các chi nhánh chủ yếu

    phố Huế đều có sản phẩm phái sinh ngoại hối,

    sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối để làm

    tuy nhiên hầu hết các ngân hàng đều không

    quen với sản phẩm, học hỏi kinh nghiệm, vừa

    có phát sinh giao dịch, chỉ trừ một vài ngân

    kiếm lời chút ít bởi nền kinh tế của tỉnh kém sôi

    hàng như: Vietcombank Huế, ACB Huế và

    động, hoạt động xuất nhập khẩu chưa phát triển

    Maritimebank Huế.

         

    so với các tỉnh thành khác.

                 

    Bảng 2. Doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối của các chi nhánh NHTM

     
     

    trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn 2014 – 2016

       
                 

    Đơn vị̣ tính: nghìn USD

    Chỉ tiêu

     

    Năm 2014

    Năm 2015

    Năm 2016

    2015/2014

    2016/2015

             
     

    +/-

    %

    +/-

    %

               
                       

    Vietcombank Huế

     

    2.950

    2.800

    3.000

     

    150

    -5,08

    200

    7,14

                       

    Maritimebank Huế

     

    1.750

    2.600

    3.100

     

    850

    48,57

    500

    19,23

                       

    ACB Huế

     

    950

    1.200

    1.100

     

    250

    26,32

    -100

    8,33

                       

    Nguồn: Các chi nhánh NHTM ở Huế́

     

     

    56

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối tại Maritimebank tăng dần qua các, năm tuy nhiên về tốc độ tăng trưởng thì lại giảm, trong khi đó Vietcombank Huế và ACB Huế tăng giảm qua các năm, riêng ACB Huế đang có xu hướng giảm trở lại. Năm 2016, Maritimebank vươn lên vị trí dẫn đầu về doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối. Nhìn chung, hoạt động phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM ở Huế đang kém phát triển, tổng doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối chưa đến 7% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ (theo chi nhánh NHNN Huế).

     

    3.2. Khảo sát các nhân viên ngân hàng Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát các chi

     

    nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế và đã thu về được 41 phiếu trả lời trong đó có 35 phiếu hợp lệ. Bằng phương pháp thống kê mô tả giá trị trung bình (mean) của các nhân tố nhằm mục tiêu cuối cùng tìm hiểu xem nhân tố nào cản trở việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, đồng thời có căn cứ để đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi.

     

    Theo thống kê, đa số nhân viên được hỏi đều làm việc khá lâu năm trong ngân hàng, thời gian làm việc trên 5 năm chiếm hơn 55% số phiếu được hỏi, về trình độ học vấn của

    nhân viên được hỏi chủ yếu là trình độ đại học (60%) và trên đại học (37,14%). Nhìn chung, nhóm nhân viên này thường là những người có trình độ, kinh nghiệm làm việc, từ đó có thể đưa ra các ý kiến đánh giá phù hợp và có tính tin cậy cao.

    Mặc dù đối tượng điều tra là các nhân viên ngân hàng chịu trách nhiệm mảng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối hoặc có biết đến nghiệp vụ này, nhưng trên địa bàn chỉ có một số ít thực sự am hiểu về nghiệp vụ này. Thống kê về mức độ hiểu biết về sản phẩm phái sinh ngoại hối của nhân viên ngân hàng thì giá trị trung bình đều dưới 2,34 cho thấy hầu hết các nhân viên ngân hàng vẫn chưa am hiểu về sản phẩm phái sinh ngoại hối, chưa hiểu rõ lợi ích cũng như cách sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối, điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc quảng bá sản phẩm đến với khách hàng. Đồng thời cũng cho thấy các ngân hàng chưa thật sự quan tâm và đầu tư đúng mức để triển khai có hiệu quả các công cụ phái sinh ngoại hối. Để phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, việc đào tạo về sản phẩm một cách bài bản, thường xuyên cho các nhân viên, cán bộ trong ngân hàng là điều hết sức cần thiết.

     

    Hình 1. Mức độ hiểu biết về sản phẩm phái sinh ngoại hối của ngân hàng

     

     

     

    Nguồn: Kế́t quả xử lý́ số liệ̣u điều tra

     

     

    57

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Về các nguyên nhân cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại ở thành phố Huế

    Theo phân tích trên, hầu hết ý kiến cho rằng sản phẩm phái sinh ngoại hối chưa thu hút được nhiều người tham gia. Điều này được lý giải phần nào thông qua việc phân tích nguyên nhân

    cản trở việc phát triển phái sinh ngoại hối tại thành phố Huế.

     

    Hình 2 cho thấy nguyên nhân hàng đầu cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại ngân hàng theo khảo sát chính là do trình độ hiểu biết của khách hàng về sản phẩm phái sinh ngoại hối còn hạn chế (với mean 2,91) và chưa có nhu cầu của khách hàng về hoạt động này tại địa bàn (với mean 2,66).

     

    Hình 2. Các nguyên nhân cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế

     

     

     

     

    Hầu hết ý kiến điều không đồng ý sản phẩm phái sinh ngoại hối chưa có lợi cho khách hàng tham gia (với mean 1,60). Như vậy, sản phẩm phái sinh ngoại hối về cơ bản đã đã có lợi cho khách hàng tham gia vậy làm sao để thu hút khách hàng tiềm năng, điều này đòi hỏi phía cung phải xác định rõ đối tượng khách hàng và có các biện pháp quảng bá, thu hút khách hàng.

     

    Về mức độ đồng ý của nhân viên ngân hàng với những đề xuất nhằm phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn.

     

     

     

     

    Nguồn: Kế́t quả xử lý́ số liệ̣u điều tra

     

    Thông qua việc phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia và tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước, nhóm tác giả đã tập hợp các đề xuất nhằm phát triển các sản phẩm phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn. Qua khảo sát ý kiến các nhân viên ngân hàng trực tiếp tham gia mảng phái sinh ngoại hối và có liên quan hoặc biết đến sản phẩm này, hầu hết đều đồng ý với 7 đề xuất mà nghiên cứu đã đề ra với mean đều đạt trên 2,34, chỉ duy nhất việc hoàn thiện cơ sở pháp lý lại ít được đồng ý hơn cả với mean chỉ đạt 2,29.

     

    58

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Hình 3. Mức độ đồng ý với những đề xuất nhằm phát triển

     

    sản phẩm phái sinh ngoại hối tại ngân hàng

     

     

     

     

     

     

    Qua khảo sát, có thể thấy có 2 đề xuất được đông đảo nhân viên ngân hàng đồng ý để phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại ngân hàng là tăng cường hoạt động marketing về sản phẩm (mean 2,97) và tăng cường đào tạo về sản phẩm (mean 2,94), các chi nhánh nên lưu ý để triển khai thực hiện.

     

    3.3. Khảo sát khách hàng

     

    Nhóm tác giả tiến hành khảo sát các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại hối trên địa bàn thành phố Huế và thu được 25 phiếu hợp lệ, với 64% (tương ứng với 16 doanh nghiệp) thuộc lĩnh vực thương mại dịch vụ, 28% kinh doanh xuất nhập khẩu và 8%

     

     

     

     

     

    Nguồn: Kế́t quả xử lý́ số liệ̣u điều tra

     

    còn lại hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản, có 24 doanh nghiệp (tức 96%) trả lời hoạt động của họ có liên quan đến ngoại hối. Mặc dù gần 100% số doanh nghiệp được điều tra đều hoạt động có liên quan đến ngoại hối nhưng khi được hỏi về rủi ro tỷ giá thì chỉ có 12 doanh nghiệp (48%) trả lời rằng họ nhận thức được rủi ro tỷ giá thực sự, trong khi đó có 44% doanh nghiệp không quan tâm và có 8% doanh nghiệp còn chưa từng biết đến loại rủi ro này, điều này cho thấy các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn chưa thấy được tầm quan trọng của việc bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối.

     

    59

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bảng 3. Nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối

     

    Điều kiện sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối

     

    Trả lời

    Tỷ trọng

    %

       

    trong mẫu

         

    Tổ chức hội thảo, hội nghị giới thiệu sản phẩm

    17

     

    28.8%

    77.3%

    Doanh nghiệp có được sự lựa chọn tỷ giá mong muốn

    9

     

    15.3%

    40.9%

    Giảm mức ký quỹ/phí

    15

     

    25.4%

    68.2%

    Nhân viên ngân hàng tư vấn

    18

     

    30.5%

    81.8%

    Tổng

    59

     

    100.0%

    268.2%

     

     

    Qua Bảng 3 cho thấy, muốn doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại hối thì có đến 18 doanh nghiệp (tương ứng chiếm 81,8% doanh nghiệp) cho là họ cần nhân viên ngân hàng tư vấn nhiều hơn nữa. Điều này là dễ hiểu bởi vì các sản phẩm này thực sự phức tạp và doanh nghiệp không thể sử dụng khi mà họ chưa am hiểu về nó. Do đó, các ngân hàng cần chú trọng hơn nữa vấn đề này khi giới thiệu sản phẩm đến cho các doanh nghiệp trên địa bàn. Nhân tố thứ hai được các doanh nghiệp đánh giá là cần ngân hàng thực hiện đó là tổ chức các hội thảo, hội nghị để giới thiệu sản phẩm này (có 17 doanh nghiệp

    Nguồn: Kế́t quả tổng hợp từ xử lý́ SPSS

     

    yêu cầu chiếm 77,3%). Hiện nay, với xu hướng hội nhập sâu vào thương mại thế giới thì các doanh nghiệp cũng hết sức năng động trong kinh doanh, ngân hàng là người luôn sát cánh cùng doanh nghiệp trong nhiều hoạt động nên rất cần những hội thảo như vậy để giúp doanh nghiệp tự tin hơn khi hội nhập. Ngoài ra, một số doanh nghiệp cũng yêu cầu được giảm mức ký quỹ và phí khi thực hiện các giao dịch này để tiết giảm chi phí cho họ (68,2% doanh nghiệp). Cũng từ kết quả cho thấy việc được lựa chọn tỷ giá mong muốn cũng được các doanh nghiệp khá quan tâm nhưng không đáng kể.

     

    Bảng 4. Các nguyên nhân cản trở doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối

     

    Nguyên nhân

    Giá trị

       

    Biến động lãi suất, tỷ giá không đủ lớn

    20

       

    Tâm lý ngại trách nhiệm

    9

       

    Doanh nghiệp chưa nhận thức đủ về sản phẩm

    22

       

    Sản phẩm không đáp ứng nhu cầu

    6

       

    Quy định pháp lý chưa rõ ràng

    5

       

    Quy định hạch toán thuế bất lợi cho doanh nghiệp

    5

       

    Thiếu dịch vụ hỗ trợ từ phía ngân hàng

    21

       

    Chưa có nhu cầu bảo hiểm biến động tỷ giá

    6

       

    Sản phẩm quá phức tạp, khó tham gia

    16

       

    Lý do khác

    0

       

    Nguồn: Kế́t quả tổng hợp từ xử lý́ SPSS

     

     

    60

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bảng 4 cho thấy nguyên nhân được lựa chọn nhiều nhất là “Doanh nghiệp chưa nhận thức đủ về sản phẩm” (22 doanh nghiệp) và “Thiếu dịch vụ hỗ trợ từ phía ngân hàng” được 21 doanh nghiệp lựa chọn. 20 doanh nghiệp cho rằng “Biến động lãi suất, tỷ giá không đủ lớn”. 16 doanh nghiệp cho rằng “Sản phẩm quá phức tạp, khó tham gia”. Các nguyên nhân còn lại không được lựa chọn nhiều, chứng tỏ các nguyên nhân nói trên có ảnh hưởng nhiều nhất đến việc sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối của các doanh nghiệp trên địa bàn.

     

    Như vậy, một số kết quả đạt được trong việc triển khai các công cụ tài chính tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế như: tổng doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối có xu hướng tăng dần qua các năm từ 2014 đến 2016, có nhiều loại sản phẩm phái sinh được đưa vào triển khai áp dụng với mức ký quỹ và phí hợp lý, sản phẩm phái sinh đã góp phần bảo hiểm rủi ro tỷ giá và giúp nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận. Bên cạnh đó, thực trạng phát triển sản phẩm này tại địa bàn vẫn còn gặp không ít trở ngại, bất cập, cản trở sự phát triển của nó trên địa bàn đó là:

     

    • Các giao dịch mua bán ngoại tệ tại các chi nhánh đều chủ yếu là giao dịch giao ngay, còn giao dịch phái sinh chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (chưa đến 7% tổng giao dịch).
    • Các sản phẩm phái sinh ngoại hối mới ở giai đoạn ban đầu, còn giản đơn, hơn nữa, các quy định chặt chẽ của NHNN, các sản phẩm ngoại hối phái sinh chưa có sự khác biệt sản phẩm về loại tiền giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch, chủ thể ký kết hợp đồng, mức ký quỹ thực hiện hợp đồng,… Sự khác biệt chủ yếu là

    số lượng ngoại tệ giao dịch tối thiểu trong hợp đồng quyền chọn tiền tệ.

    • Việc hoạch định tỷ giá, mức ký quỹ, phí,… điều do Hội sở chính của từng NHTM đảm nhận, chi nhánh chỉ thực hiện theo và hầu hết không tự điều chỉnh được.
    • Phần lớn các chi nhánh đều chưa quan tâm

    và đầu tư đúng mức để triển khai có hiệu quả các công cụ phái sinh ngoại hối nên chưa thu hút được khách hàng tham gia.

     

    • Hầu hết nhân viên ngân hàng và khách hàng đều chưa có sự am hiểu về nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, chưa biết cách thức giao dịch.

    4. Kết luận

     

    Tóm lại, giao dịch phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế mới chỉ ở giai đoạn sơ khai, đơn giản nhất. Từ kết quả phân tích và thảo luận ở trên, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn như sau:

     

    • Tăng cường hoạt động marketing quảng bá về sản phẩm phái sinh ngoại hối, không chỉ hướng đến khách hàng doanh nghiệp mà cả khách hàng cá nhân có nhu cầu đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận.
    • Tăng cường đào tạo về sản phẩm phái sinh ngoại hối cho cả phía các nhân viên tại ngân hàng và cả khách hàng.
    • Xây dựng hệ thống thông tin về sản phẩm.
    • Tạo điều kiện để khách hàng dễ dàng tham gia giao dịch.
    • Hoàn thiện cơ chế hoạt động và cơ chế giao dịch
    • Phát triển hạ tầng công nghệ.
    • Đa dạng hóa sản phẩm phái sinh ngoại hối, tạo nhiều tiện ích hấp dẫn cho khách hàng.

     

    61

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Anh:

     

    Chandra Thapa, Suman Neupane, Andrew Marshall (2016), Market liquidity risks of foreign exchange derivatives and cross-country equity portfolio allocations, J. of Multi. Fin. Manag. 34 (2016) 46–64.

    Chris Adcock, Xiuping Hua, Khelifa Mazouz & Shuxing Yin (2014), Derivative activities and Chinese banks’ exposures to exchange rate and interest rate movements, The European Journal of Finance.

    Don M.Chance, Robert Brooks Anintroduction to Derivatives and Risk management, 9th edition, 2013, South-Western, Cengage Learning.

     

    Lee C.Adkins, David A.Carter, and W. Gary Simpson (2007), Managerial incentives and the use of foreign-exchange derivatives by banks, The Journal of Financial ressearch, vol.30.No.3, pages 399-413, fall 2007.

    Stephen D. Makar, Stephen P. Huffman, Foreign exchange derivatives, exchange rate changes, and the value of the firm: U.S. multinationals’ use of shortterm financial instruments to manage currency risk, Journal of Economics and Business 53 (2001) 421–437

     

    Tiếng Việt:

     

    Đinh Thị Thanh Long (2014), Thực trạng giao dị̣ch ngoại hối phái sinh ở Việ̣t Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng, số 151 – tháng 12/2014.

     

    Báo cáo kết quả kinh doanh của các Chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế qua 3 năm từ 2014 đến 2016.

     

    Bùi Thụy Nam (2010), Phát triể̉n công cụ phái sinh trên thị̣ trườ̀ng chứng khoán Việ̣t Nam, Đại học Đà Nẵng.

     

    Ngô Thị Thùy Linh (2015), Thực trạng sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việ̣t Nam trong phòng ngừa rủi ro, Khoa Kinh tế

     

    Nguyễn Phước Kinh Kha (2015), Phát triển giao dịch phái sinh hàng hóa phi tài chính tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Nguyễn Thị Loan (2013), Phát triể̉n công cụ tài chính phái sinh tiền tệ̣ tại các ngân hàng thương mại Việ̣t Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng

     

     

     

    62


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-r%E1%BB%A7i-ro-thanh-kho%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

     

    THE IMPACT OF LIQUIDITY RISK ON BANK PERFORMANCE EFFICIENCY: EMPIRICAL EVIDENCE IN VIETNAM

     

    Trầm Thị Xuân Hương1, Trần Thị Thanh Nga2

     

    Ngày nhận: 24/1/2018             Ngày nhận bản sửa: 23/8/2018              Ngày đăng: 5/10/2018

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu sử dụng dữ liệu Bankscope và phương pháp SGMM nhằm phân tích tác động của rủi ro thanh khoản (RRTK) đến hiêu qua hoat đông kinh doanh (HQHĐKD) ngân hang, trường hợp Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng, trường hợp tại Việt Nam. Bên cạnh đó, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng tác động ngược chiều đến HQHĐKD ngân hàng, rủi ro tín dụng tác động ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng, HQHĐKD ngân hàng khá nhạy cảm với biến động của cấu trúc tài sản và HQHĐKD ngân hàng trường hợp tại Việt Nam không chịu tác động bởi yếu tố khủng hoảng tài chính. Điều này gợi mở hàm ý chính sách quan trọng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam để kiểm soát RRTK nhằm ổn định hoạt động ngân hàng.

     

    Tư khoa: rủi ro thanh khoan, hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngân hàng.

     

    Abstract

     

    Bankscope data and Generalized Method of Moments (SGMM) method were used to analyze the impact of liquidity risk on bank performance efficiency, in the case of Vietnam in the period 2004-2015. We also considered another factors impact on bank performance besides liquidity risk. Results show that bank’s performance efficiency depends positively on liquidity risk, on share of own bank’s capital of the bank’s total assets, on change in GDP, on change in inflation and negatively on size of banks, credit risk. In another hand, the results of the study did not find statistically evidence of the impact of financial crisis on bank performance efficiency in Viet Nam. This suggests an important policy implication for commercial banks in Vietnam to control liquidity risk in order to stabilize banking operations.

     

    Keywords: liquidity risk, performance efficiency, bank.

     

    1. Giới thiệu

     

    Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất trong các rủi ro của ngân hàng, không chỉ đe dọa sự an toàn của từng ngân hàng thương mại, mà

     

    __________________________________________

    còn liên quan đến ổn định của cả hệ thống ngân hàng (Eichberger, Jürgen và Martin Summer, 2005). Cac nghiên cưu vê RRTK đươc xem la môt trong cac loai rui ro ngân hang như rui ro tin

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    dung hoăc la môt trong những yêu tô tac đông đên hiệu qua hoat đông kinh doanh ngân hang (Bourke,1989; Shen và cộng sự, 2009). Các nghiên cưu tiếp cận nguyên nhân gây ra RRTK (Bonfim và Kim, 2014; Bunda và Desquilbet, 2008; Gibilaro, Giannotti, và Mattarocci, 2010; Vodova, 2011) nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK.

     

    Có khá nhiều nghiên cưu thưc nghiêm liên quan đến mối liên hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng. Một số nghiên cứu ở khu vực châu Phi (Sayedi, S. N.,2014; Athanasoglou va công sư, 2006; Ajibike, John O. và Aremu, Olusegun S.,2015); khu vực châu Á (Shen va công sư,2009); khu vực châu Âu (Bourke,1989; Poposka và Trpkoski,2013; Goddard và cộng sự,2004; Kosmidou và cộng sự, 2005) cho thấy mối tương quan cùng chiều giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng. Một số nghiên cứu khác

     

    • khu vực châu Á (Chen và cộng sự,2001, Lee và Hsieh,2013); khu vực châu Phi (Kutsienyo, 2011; Bassey và Moses, 2015) lại cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa RRTK và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Một số nghiên cứu (Roman và Sargu,2015; Almumani, 2013; Ayaydin và Karakaya, 2014) không cho thấy mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng hoặc mối quan hệ này có ý nghĩa nhưng chiều hướng tác động phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế và mô hình sử dụng như nghiên cứu (Naceur và Kandil, 2009; Ferrouhi, 2014). Đôi vơi Viêt Nam, đa phần các nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đo lường các yếu tố tac đông đên HQHĐKD ngân hàng (Liễu Thu Truc và Võ Thành danh, 2012) sử dụng phương pháp phân tích tổng năng suất nhân tố và phương pháp phân tích bao dữ liệu để chỉ ra kết quả rằng hiệu quả kinh doanh NHTM Việt Nam là do yếu tố phi hiệu quả về mặt công nghệ, quy mô ngân hàng lớn hay nhỏ và sự tiêu tốn một cách lãng phí các yếu tố đầu vào: lao động, vốn, công nghệ,… Nghiên cứu của (Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà, 2012) về hiệu quả

    hoạt động của các ngân hàng khu vực Đông Nam Á. Cac nghiên cưu vê cac nhân tô tac đông đên hoat đông kinh doanh ngân hang như hoat đông cho vay thông qua chi tiêu dư nơ cho vay trên tông tai san (Nguyên Viêt Hung, 2008), hoat đông huy đông vôn thông qua chi tiêu huy đông vôn trên tông cho vay (Nguyên Thi Loan

     

    • Trân Thi Ngoc Hanh, 2013; Nguyên Viêt Hung, 2008); Quy mô vôn chu sơ hưu (Nguyên Thi Loan & Trân Thi Ngoc Hanh, 2013; Nguyên Viêt Hung, 2008); Quy mô vôn tai san (Nguyên Viêt Hung, 2008); Tôc đô tăng trương kinh tê (Nguyên Minh Sang, 2013); Ty lê lam phat (Nguyên Minh Sang, 2013). Có thể thấy, cac nghiên cưu tiếp cận riêng vê tac đông cua RRTK đên HQHĐKD ngân hang chưa đươc tim thây trong cac nghiên cưu trươc đây.

    Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, nghiên cứu thực nghiệm này thể hiện sự đóng góp trên các khía cạnh khác nhau: Thứ nhất, đóng góp nhất định về lý thuyết liên quan đến RRTK va HQHĐKD ngân hang. Thứ hai, bổ sung kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng Việt Nam. Thứ ba, đề xuất các gợi ý chính sách kiểm soát RRTK và đảm bảo HQHĐKD ngân hàng.

    2.           Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm

    • Các lý thuyết về rủi ro thanh khoản

     

    Theo Rudolf Duttweiler1, thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn, liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ, nếu ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản. Dưới góc độ ngân hàng, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Khi tình trạng thiếu

     

    • Rudolf Duttweiler: “Quản lý thanh khoản trong

    ngân hàng: Phương pháp tiếp cận từ trên xuống”, NXB Tổng hợp TPHCM, tr.23

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    thanh khoản kéo dài sẽ dẫn đến RRTK. Bonfim và Kim (2012) cho răng sự phức tạp của vai tro trung gian tai chinh của ngân hàng lam phat sinh rui ro nguy hiêm đo la RRTK. Các ngân hàng sử dụng các nguồn lực han chê của mình trong việc cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng đê tài trợ thanh khoản nhăm đap ưng nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của họ. Hơn nưa, phần lớn các nguồn lực được sử dụng bởi các ngân hàng này thường được gắn liền với nghia vu nơ phai tra trong các hình thức nhân tiền gửi. Sư không phu hơp vê ky han đa dân đên rui ro thanh khoan cho cac ngân hang (Diamond và Dybvig, 1983). Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) cho răng RRTK la rui ro ma ngân hang không co kha năng gia tăng quy trong tai san hoăc nghia vu nơ vơi chi phi thâp nhât. Brunnermeier (2009) nhân manh răng nêu cac ngân hang không quản lý RRTK phu hơp, chăc chăn các ngân hàng phải đối mặt với một cú sốc thanh khoản, phai thường xuyên bán tháo tài sản thanh khoản tích trữ và giảm cho vay đối với nền kinh tế. Những hành động này se lam gia tăng khả năng gián đoạn thị trường và ngân hang phai đôi măt vơi các cú sốc thanh khoản, dẫn đến một sự suy giảm kéo dài trong thanh khoản thị trường, điêu nay ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế thực. Có thể thấy rằng, vấn đề RRTK của từng NHTM cũng như RRTK hệ thống của toàn hệ thống ngân hàng ít nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản trị ngân hàng cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009 xảy ra. Chính vì vậy, việc đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng là cần thiết và có giá trị thực tiễn.

     

    2.2. Các lý thuyết về mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng

     

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng thường được đo lường bằng khả năng sinh lợi.

    Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng hay khả năng sinh lợi của ngân hàng cơ bản dựa trên 2 lý thuyết: lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power) và ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – efficient structure).

     

    2.2.1. Lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power)

     

    Lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power) có hai hướng tiếp cận chính: lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP, Structure-Conduct-Performance) và lý thuyết Quyền lực thị trường tương đối (RMP – Relative market power). Lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP, Structure – Conduct – Performance) cho rằng cấu trúc của thị trường quyết định hành

     

    • của công ty và hành vi quyết định kết quả của thị trường, chẳng hạn như khả năng sinh lợi, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng. Đặc biệt nhiều ngành có sự tập trung cao tạo ra những hành
    • dẫn đến kết quả nền kinh tế nghèo nàn, đặc biệt là làm giảm sản lượng và hình thành giá cả độc quyền (Bain, J. S.,1951). Lập luận theo lý thuyết SCP, thị trường ngân hàng càng tập trung thì lãi suất cho vay càng cao và lãi suất huy động càng thấp vì mức độ cạnh tranh thấp đi. Trong khi đó, lý thuyết RMP (Relative market power) gợi ý rằng, các công ty có thị phần lớn và có các sản phẩm khác biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và kiếm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995b). Chẳng hạn một số ngân hàng lớn với ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm của mình có thể tăng giá sản phẩm và dịch vụ để thu được nhiều lợi nhuận hơn. Ly thuyêt hàm ý linh vưc nao cang co thi trương tâp trung thi kha năng sinh lơi cang cao do lơi ich tư sưc manh thi trương mang lai. Do

    đo, tôn tai môi quan hê tương quan dương giưa lơi nhuân va quyền lực thi trương (Maudos và de Guevara, 2007), gia thuyêt ham y quyền lực thi trương gia tăng thông qua hiêu qua quy mô lam tăng hiêu qua cua cac ngân hang. Hay noi

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    cach khac, quy mô cang tăng lam tăng lơi nhuân cua cac ngân hang.

    2.2.2. Lý thuyết Cấu trúc – Hiệu qua (ES – efficient structure)

     

    Ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – efficient structure), đươc đê xuât bởi Demsetz (1973) cho răng cac ngân hang hiêu qua nhât gianh đươc ca lơi nhuân va thi phân cao hơn; cac ngân hang tăng kha năng sinh lơi la kêt qua gian tiêp cua viêc cai thiên hiêu qua quan tri ngân hang chư không phai sưc manh tư lơi ich thi trương. Ly thuyêt này hàm ý rằng, mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu suất công ty được xác định bởi hiệu suất công ty hay nói cách khác hiệu suất công ty tạo nên cấu trúc thị trường. Theo đó, các ngân hàng lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn (Olweny và Shipho, 2011), ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – Efficient structure) thường được đề xuất theo 2 hướng tiếp cận khác nhau, tùy thuộc vào loại hiệu suất được xem xét. Ở hướng tiếp cận theo hiệu quả X – (X – Efficiency), các công ty hiệu quả cao hơn thường đạt thị phần lớn và lợi nhuận cao hơn, bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào (Al – Muharrami, 2009). Đối với hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale – Efficiency), mối quan hệ được mô tả ở trên được giải thích dựa theo quy mô. Các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn là nhờ tính kinh tế theo quy mô (Olweny và Shipho, 2011).

     

    Như vậy, có thể thấy lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – Market power) cho rằng, khả năng sinh lợi của ngân hàng là một hàm theo yếu tố thị trường, trong khi lý thuyết cấu trúc (ES – Efficient structure) cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng của hiệu quả nội bộ và các quyết định quản trị, tức là các yếu tố bên trong. Theo đó, nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào lý thuyết trên để giới thiệu một số biến hữu

    ích đưa vào mô hình đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng và phần lớn đều thừa nhận rằng khả năng sinh lợi của ngân hàng là một hàm theo cả các yếu tố bên trong và bên ngoài (Olweny và Shipho, 2011).

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu được thực hiện với dữ liệu bảng từ 26 ngân hàng trong giai đoạn 2004 – 2015 tại Việt Nam. Dữ liệu được lấy từ 2 nguồn: (i) dữ liệu cấp độ ngân hàng từ cơ sở dữ liệu của Bankscope, (ii) dữ liệu thông tin vĩ mô từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Trên cơ sơ cac dư liêu nghiên cứu, đề tài xác định cac biên nghiên cưu va mô hinh nghiên cưu tac đông đến RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp Việt Nam. Do han chê cua mô hinh Pool OLS trong ươc lương dư liêu bang (Kiviet, 1995), do đo ươc lương FEM va REM co thê đươc sư dung đê xư ly cac hiêu ưng ca nhân ( Individual Effects); tuy nhiên vi FEM va REM không xư ly đươc hiên tương nôi sinh (Ahn & Schmidt, 1995), do đo ky thuât ươc lương SGMM đươc sư dung đê xư ly cac vân đê nêu trên (Arellano & Bond, 1991; Hansen, 1982; Hansen, Heaton, & Yaron, 1996). Phương pháp SGMM cho ra các hệ số ước lượng vững, phân phối chuẩn và hiệu quả. Phần mềm Stata phiên bản 12 được sử dụng để xác định các kết quả nghiên cứu này.

     

    Bài báo dựa trên cách tiếp cận của Ferrouhi (2014) để xây dựng mô hình đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng và có bổ sung biến đo lường RRTK theo phương pháp khe hở tài trợ (dư nợ tín dụng – huy động vốn)/tổng tài sản nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu.

     

    Mô hinh:

     

    Pt = f(α, Pt-1, LIQUIDITY RISKit, CONTROLit, u)

     

    Trong đó: Biến phụ thuộc, Pit(NIM, ROA, ROE). Biến độc lập gồm: LIQUIDITY RISK: FGAP (khe hở tài trợ), NLTA (Dư nợ tín dụng/ Tổng tài sản), NLST (Dư nợ tín dụng/Tổng

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    nguồn vốn huy động ngắn hạn). Các biến kiểm soát gồm: Quy mô ngân hàng (SIZEit); Bình phương quy mô ngân hàng (SIZEit^2 ); Chất lượng tài sản thanh khoản gồm các biến: LIAit (Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản), LLRit (Tài sản thanh khoản/Tông dư nơ tin dung), LADSit (Tài sản thanh khoản/Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn); Cấu trúc vốn (ETAit); Dự phòng rủi ro tín dụng (LLPit); Tăng trưởng kinh tế (GDPit); Biến động của lạm phát (INFit); Cung tiền (M2it); D_CRIS: khủng hoảng tài chính.

     

    Trong đó: α (hệ số chặn), i (ngân hàng), t (năm), u (phần dư mô hình).

    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả

     

    Để đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD của các ngân hàng, nghiên cứu sử dụng các mô hình ước lượng khác nhau được thực hiện cho 3 thang đo ROA, ROE và NIM trong đó mỗi mô hình được ước lượng theo OLS, REM, FEM, GMM. Các ước lượng đều có ý nghĩa thống kê (Prob > F) của mô hình đều rất nhỏ (Prob > F = 0,0000). Kế tiếp là sử dụng các kiểm định (test) như: F, LM, Hausman test để chọn mô hình thích hợp cho phân tích. Đó là các lựa chọn giữa mô hình OLS hay FEM; chọn OLS hay REM và REM hay FEM. Tỷ lệ VIF đều nhỏ hơn 20, nên mô hình không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Các F test, LM test, cho thấy các P-value của F, LM test đều nhỏ hơn 5% (< 0,05), có bằng chứng để bác bỏ các giả thuyết. Kiểm định Hausman cho kết quả p-value (Prob > F) của mô hình đều nhỏ hơn 0.05, đều này cho thấy mô hình FEM là phù hợp hơn REM. Và kiểm định LM cho kết quả REM là phù hợp hơn Pooled OLS. Như vậy giữa phương pháp REM và FEM thì FEM là phương pháp phù hợp nhất. Tuy nhiên kiểm định Wooldridge

    và Wald có P-value (< 0,05) cho thấy tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan trong FEM, điều này khiến cho kết quả của các hệ số hồi quy sẽ không hiệu quả. Hơn nữa, theo cơ sở lập luận phương pháp nghiên cứu ở trên do xuất hiện hiện tượng nội sinh trong mô hình, nên tác giả se hồi quy theo phương pháp hệ thống (S–GMM). Phương pháp S–GMM để loại bỏ các vấn đề của phương sai thay đổi, tự tương quan hay nội sinh nên kết quả ước lượng sẽ hiệu quả và vững. Sau đó, sử dụng kiểm định Sargan Test để kiểm định tính over-identifying của các biến công cụ. Các kết quả tìm thấy được trong mô hình là vững và hoàn toàn có thể phân tích được.

     

    Xét về tương quan, tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, nghiên cứu trường hợp Việt Nam phù hợp với những dự đoán trên cơ sở khoa học. Nghiên cứu tìm thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều đến HQHĐKD ngân hàng (ROE, NIM) đều ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này khá tương đồng với các nghiên cứu trước (Lee và Kim, 2013; Sufian và Chong, 2008; Almumani, 2013; Ayaydin và Karakaya, 2014; Demirgüç-Kunt và cộng sự, 2003). Điều này hàm ý rằng các ngân hàng có HQHĐKD có xu hướng gia tăng đều chứa đựng RRTK cao hơn. Ngoài ra, nghiên cứu tìm thấy biến trễ của các biến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng (ROE, NIM) có tương quan cùng chiềuvới HQHĐKD ngân hàng ở mức ý nghĩa 1%, kết quả hoàn toàn tương với kết quả các nghiên cứu trước (Ayaydin và Karakaya, 2014; Lee và Kim, 2013). Điều đó cho thấy HQHĐKD ngân hàng có tác động lẫn nhau và tương quan giữa các thời kỳ.

     

     

    18

     

     

     

    19

    Bảng 1. Tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, nghiên cứu trường hợp Việt Nam

     

    Biến phụ thuộc: P (NIM, ROA, ROE) đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Biến độc lập: Pt-1 – Biến trễ hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng;

     

    LIQUIDITYRISK­- Rủi ro thanh khoản (FGAP, NLTA, NLST), CONTROL_Các biến kiểm soát gồm: SIZE – Quy mô ngân hàng; SIZE^2 – Bình phương quy mô ngân hàng; LIA- Chất lượng tài sản thanh khoản; LLR- chất lượng tài sản thanh khoản, LADS- chất lượng tài sản thanh khoản; ETA – vốn; LLP-rủi ro tín dụng; NIM -Thu nhập lãi cận biên. Các biến số kinh tế vĩ mô: GDP – Tăng trưởng GDP, M2 – Cung tiền, INFL – Lạm phát, D_cris – Biến giả khủng hoảng 2008. Giai đoạn nghiên cứu 2004 – 2015, Phương pháp ước lượng OSL, FEM, REM và SGMM. Mô hình hồi quy (2): Pt = f(α, Pt-1, LIQUIDITY RISK it, CONTROLit, u)

     

    Model

    OLS

    FEM

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    Variable

     

    ROA

       

    ROE

         

    NIM

       

    L.roa

    0.358***

    0.215***

    0.358***

    0.199

                       
     

    [7.25]

    [3.89]

    [7.25]

    [1.19]

                       

    L.roe

           

    0.455***

    0.221***

     

    0.455***

    0.134**

             
             

    [8.53]

    [3.39]

     

    [8.53]

    [2.21]

             

    L.nim

                     

    0.589***

    0.391***

     

    0.589***

    0.349***

                       

    [12.86]

    [7.41]

     

    [12.86]

    [4.88]

    fgap

    .

    .

     

    1.924**

    .

    .

       

    -15.12

    .

    .

       

    1.505**

     

    .

    .

     

    [1.88]

    .

    .

       

    [-1.53]

    .

    .

       

    [1.25]

    nlst

    0.00191

    0.00154

    0.00191

    0.00509**

    0.00546

    0.0347

     

    0.00546

    0.00371**

    -0.00295

    0.00373

     

    -0.00295

    0.00634*

     

    [0.63]

    [0.26]

    [0.63]

    [0.50]

    [0.19]

    [0.62]

     

    [0.19]

    [0.06]

    [-0.84]

    [0.56]

     

    [-0.84]

    [0.23]

    nlta

    -0.00749

    -0.00458

    -0.0267**

    0.00957

    -0.105*

    -0.0645

     

    0.0464

    0.103

    0.0209***

    0.0194*

     

    0.00589

    0.0335**

     

    [-1.16]

    [-0.43]

    [-2.06]

    [0.70]

    [-1.74]

    [-0.65]

     

    [0.38]

    [0.70]

    [2.83]

    [1.65]

     

    [0.40]

    [0.92]

    size

    0.534

    -0.322

    0.534

    1.149

    4.458

    -6.136

     

    4.458

    -6.214***

    -0.357

    -0.494

     

    -0.357

    2.972

     

    [1.11]

    [-0.41]

    [1.11]

    [0.88]

    [0.98]

    [-0.83]

     

    [0.98]

    [-0.34]

    [-0.65]

    [-0.57]

     

    [-0.65]

    [0.87]

    size2

    -0.0392

    0.103*

    -0.0392

    0.00787

    -0.311

    1.258**

     

    -0.311

    1.295

    0.0288

    0.0771

     

    0.0288

    -0.205

     

    [-1.09]

    [1.71]

    [-1.09]

    [0.06]

    [-0.92]

    [2.17]

     

    [-0.92]

    [0.70]

    [0.70]

    [1.16]

     

    [0.70]

    [-0.75]

    lia

    6.172***

    6.602***

    6.172***

    1.118***

    53.11***

    82.21***

     

    53.11***

    50.1***

    2.355

    0.768

     

    2.355

    -6.364

     

    [3.12]

    [2.83]

    [3.12]

    [0.19]

    [2.87]

    [3.72]

     

    [2.87]

    [0.92]

    [1.04]

    [0.30]

     

    [1.04]

    [-0.37]

    llr

    -0.0117***

    -0.0124***

    -0.0117***

    -0.0108**

    -0.137***

    -0.151***

     

    -0.137***

    -0.0687

    -0.00144

    0.00188

     

    -0.00144

    0.00202

     

    [-4.90]

    [-4.74]

    [-4.90]

    [-1.97]

    [-6.11]

    [-6.14]

     

    [-6.11]

    [-0.75]

    [-0.53]

    [0.65]

     

    [-0.53]

    [0.38]

    lads

    -0.0237

    -0.0212

    -0.0237*

    0.0166

    -0.122

    -0.24

     

    -0.122

    -0.0523

    -0.0123

    -0.00861

     

    -0.0123

    0.0433

     

    [-1.65]

    [-1.28]

    [-1.65]

    [0.43]

    [-0.91]

    [-1.53]

     

    [-0.91]

    [-0.19]

    [-0.75]

    [-0.47]

     

    [-0.75]

    [0.39]

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

     

    20

    Model

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

     

    Variable

     

    ROA

         

    ROE

         

    NIM

         

    eta

    0.0192*

    0.0525***

     

    .

    0.0399***

    -0.151

    0.106

     

    .

    0.00481

    0.0151

    0.024

     

    .

    -0.000787

     
     

    [1.88]

    [3.93]

     

    .

    [2.81]

    [-1.53]

    [0.85]

     

    .

    [0.02]

    [1.25]

    [1.60]

     

    .

    [-0.02]

     

    llp

    -0.331***

    -0.397***

     

    -0.331***

    -0.327***

    -0.69

    -0.915*

     

    -0.69

    -1.061

    0.0271

    0.0232

     

    0.0271

    0.159**

     
     

    [-6.78]

    [-7.20]

     

    [-6.78]

    [-4.26]

    [-1.54]

    [-1.77]

     

    [-1.54]

    [-0.78]

    [0.50]

    [0.38]

     

    [0.50]

    [1.97]

     

    gdp

    0.0205

    0.037

     

    0.0205

    0.0821

    1.271

    1.441

     

    1.271

    1.533***

    0.233**

    0.147

     

    0.233**

    0.0756

     
     

    [0.20]

    [0.36]

     

    [0.20]

    [1.48]

    [1.30]

    [1.51]

     

    [1.30]

    [2.74]

    [1.95]

    [1.30]

     

    [1.95]

    [0.53]

     

    infl

    -0.0131

    -0.0101

     

    -0.0131

    0.00181

    -0.145

    -0.0746

     

    -0.145

    -0.0223

    0.0218*

    0.0186

     

    0.0218*

    0.0231**

     
     

    [-1.24]

    [-0.99]

     

    [-1.24]

    [0.24]

    [-1.47]

    [-0.77]

     

    [-1.47]

    [-0.59]

    [1.82]

    [1.64]

     

    [1.82]

    [2.29]

     

    d_cris

    0.276

    0.219

     

    0.276

    -0.0015

    3.09

    3.008

     

    3.09

    3.005

    0.242

    0.0876

     

    0.242

    -0.368

     
     

    [1.04]

    [0.82]

     

    [1.04]

    [-0.01]

    [1.25]

    [1.21]

     

    [1.25]

    [1.60]

    [0.81]

    [0.30]

     

    [0.81]

    [-0.82]

     

    _cons

    -0.404

    -0.678

     

    1.519

    -6.207

    -6.609

    -6.759

     

    -21.73

    -15.74

    -0.858

    -0.668

     

    0.648

    -9.848

     
     

    [-0.21]

    [-0.23]

     

    [0.94]

    [-1.62]

    [-0.36]

    [-0.24]

     

    [-1.43]

    [-0.33]

    [-0.38]

    [-0.20]

     

    [0.34]

    [-1.10]

     

    N

    234

    234

     

    234

    205

    234

    234

     

    234

    205

    234

    234

     

    234

    205

     

    R-sq

    0.566

    0.552

         

    0.538

    0.46

         

    0.586

    0.323

           

    M. VIF

     

    9.

    42

         

    9.

    38

         

    9.

    37

         

    White’s

    Ho: homoskedasticity

       

    Ho: homoskedasticity

       

    Ho: homoskedasticity

         

    chi2(116) = 227.42

       

    chi2(116) = 225.79

       

    chi2(116) = 141.31

         

    test

                 

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0276

         
                   
                               
           

    F test that all u_i=0:

         

    F test that all u_i=0:

         

    F test that all u_i=0:

     

    F-test

         

    F(25, 194) = 1.93

         

    F(25, 194) = 1.81

         

    F(25, 194) = 2.52

     
           

    Prob > F = 0.0000

         

    Prob > F = 0.0000

         

    Prob > F = 0.0000

     
             

    Hausman

    Ho: difference in coefficients not systematic

    Ho: difference in coefficients not systematic

    Ho: difference in coefficients not systematic

     

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 56.38

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 53.46

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 87.87

     

    test

     

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       
                   
                         

    Bresh-

    Test: Var(u) = 0

       

    Test: Var(u) = 0

       

    Test: Var(u) = 0

         

    Pagan

    chibar2(01) = 0.00

       

    chibar2(01) = 0.00

       

    chibar2(01) = 0.00

         

    test

    Prob > chibar2 = 1.0000

       

    Prob > chibar2 = 1.0000

       

    Prob > chibar2 = 1.0000

         
                   

    Sargan

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     
         

    chi2(54) = 12.90214

         

    chi2(54) = 12.72445

         

    chi2(54) = 16.01853

     

    test

                     
         

    Prob > chi2 = 1.0000

         

    Prob > chi2 = 0.0002

         

    Prob > chi2 = 1.0000

     
                       
                         

    Arellano-

    H0: no autocorrelation

       

    H0: no autocorrelation

       

    H0: no autocorrelation

         

    Bond test

    Prob > z = 0.2853

       

    Prob > z = 0.3740

       

    Prob > z = 0.4068

         
                                     

    Ghi chú́: Các ký́ hiệ̣u (***), (**), (*) cho biế́t mức ý́ nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5%, 10%

     

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa yếu tố cấu trúc tài sản (LIA) với HQHĐ ngân hàng (ROA) đều ở mức ky nghĩa 1%. Kết quả cho thấy, các ngân hàng nắm giữ các tài sản thanh khoản cao, rủi ro tài chính thấp hơn, HQHĐKD sẽ được kiểm soát tốt trong thời kỳ có cú sốc thanh khoản. Cấu trúc tài sản được đo lường với biến LLR (Tài sản thanh khoản/Tổng dư nợ) đều cho thấy có tác động ngược chiều với HQHĐ ngân hàng (ROA, ROE) với mức ý nghĩa thống kê 1%. Qua đó, cho thấy rằng nếu ngân hàng nắm giữ tỷ lệ tài sản thanh khoản cao sẽ làm gia tăng tỷ suất sinh lời nhưng đến một lúc nào đó, do gia tăng dư nợ tín dụng, điều này làm gia tăng rủi ro cho ngân hàng vì gia tăng chi phí, hiệu quả hoạt động ngân hàng có xu hướng giảm. Điều này hàm ý HQHĐ ngân hàng nhạy cảm với các biến động của tài sản. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì lợi nhuận ngân hàng không chỉ có được từ hoạt danh tiếng, cơ hội kinh doanh, mà một phần lớn sinh lợi từ quản trị rủi ro kỳ hạn của tài sản. Khi thị trường biến động, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế biến động tốt, khả năng thanh khoản và giá trị tài sản của ngân hàng sẽ tăng giá, các khoản đầu tư thu hồi nhanh hơn, sẽ góp phần tăng hiệu quả ngân hàng.

     

    Đồng thời, nghiên cứu tìm thấy quy mô ngân hàng (SIZE) tác động ngược chiều với HQHĐ ngân hàng (ROE) ở mức y nghĩa 1%, cho thấy quy mô tăng lên nhưng HQHĐKD ngân hàng giảm. Điều này là phù hợp thực tế Việt Nam, nguyên nhân dẫn đến sự tương quan ngược chiều là do những thay đổi trong chính sách quá nhanh của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong giai đoạn nghiên cứu. Trong giai đoạn 2008 – 2010, Chính phủ đã thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất làm cho hoạt động tín dụng tăng trưởng mạnh, nguồn thu từ lãi của các ngân hàng tăng cao kéo theo khả năng sinh lời của các ngân

    hàng tăng mạnh. Tuy nhiên, khi kiềm chế lạm phát, tốc độ tăng trưởng bắt đầu có dấu hiệu phục hồi thì hoạt động của các NHTM lại bộc lộ những hạn chế yếu kém, buộc phải tập trung vào nâng cao chất lượng hoạt động, xử lý nợ xấu, khó mở rộng quy mô hoạt động nên làm cho các hoạt động ngân hàng giảm sút, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Làn sóng mua bán, sáp nhập, tái cấu trúc diễn ra hàng loạt theo chủ trương của NHNN, với hy vọng ngân hàng sau sáp nhập tăng trưởng vượt bậc về quy mô, cộng hưởng thế mạnh của cả hai nhằm giảm thiểu chi phí. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là hiệu quả không được phát huy khi ngân hàng tái cấu trúc.

     

    Rủi ro tín dụng được đo lường bằng thang đo LLP (Dự phòng rủi ro tín dụng/Cho vay ròng) tương quan ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng với mức ý nghĩa 1%. Điều này cho thấy tác động của hoạt động tín dụng đến HQHĐKD ngân hàng là khá rõ nét và phù hợp với thực tiễn. Kết quả hàm ý rằng, yếu tố rủi ro tín dụng tác động gián tiếp đến RRTK từ đó tác động đến HQHĐKD ngân hàng. Điều đó, cho thấy trong giai đoạn tái cơ cấu, xử lý nợ xấu có vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng sinh lời.

     

    Đối với các biến vĩ mô, nghiên cứu tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa tăng trưởng kinh tế GDP và HQHĐ ngân hàng (ROE) ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này khá tương đồng với các nghiên cứu trước (Goddard và cộng sự, 2004, Chen và cộng sự, 2001, Shen và cộng sự, 2009). Điều này hàm ý rằng, tăng trưởng kinh tế sẽ tác động làm gia tang HQHĐKD ngân hàng, trong điều kiện nền kinh tế suy thoái thì HQHĐKD ngân hàng có xu hướng giảm, điều này được giải thích là do khi kinh tế tăng trưởng giảm, các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân

     

    21

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    hàng, làm giảm lợi nhuận NHTM. Biến động lạm phát tương quan cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng (NIM) ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước (Shen và cộng sự, 2009; Sufian và Chong, 2008).

     

    Bên cạnh đó, HQHĐKD ngân hàng Việt Nam không chịu tác động bởi yếu tố khủng hoảng tài chính có thể do thị trường tài chính Việt Nam chưa hội nhập sâu nhưng rất nhạy cảm với các biến động thị trường. Việc Chính phủ theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát hay tăng trưởng đều có tác động đến HQHĐKD ngân hàng.

     

    5. Kết luận và hàm ý chính sách

     

    Như vậy, bài viết kiểm định tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp ViệtNam có thể rút ra một số hàm ý như sau:

     

    Thứ nhấ́t, kết quả nghiên cứu cho thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng. Điều này hàm ý, các ngân hàng có HQHĐKD có xu hướng gia tăng đều chứa đựng RRTK cao hơn. Thứ hai, HQHĐKD ngân hàng khá nhạy cảm với các biến động của cấu trúc tài sản. Chất lượng tài sản thanh khoản càng cao, HQHĐKD ngân hàng càng cao. Điều này là do các ngân hàng thường dự trữ tài sản thanh khoản ở mức tối ưu để đảm bảo hoạt động kinh doanh nếu có các cú sốc xảy ra. Nếu như các ngân hàng dự trữ tài sản thanh khoản vượt quá mức tối ưu thì sẽ tác động làm giảm HQHĐKD do chi phí tăng nhanh hơn so với doanh thu (Akhavein

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Anh:

    và cộng sự, 1997). Thứ ba, quy mô tác động ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng, trường hợp tại Việt Nam. Điều này cho thấy, quy mô ngân hàng tăng nhưng HQHĐKD không tăng. Các nhà quản trị ngân hàng tại Việt Nam cần chú ý thận trọng, kiểm soát kế hoạch tăng quy mô của các ngân hàng để đảm bảo HQHĐKD ngân hàng. Điều này, góp phần các hàm ý cho các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam.

     

    Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là mẫu dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2004 – 2015 là khá ngắn so với các nước đang phát triển và chỉ mới sử dụng thang đo tỷ số là ROA, ROE, NIM. Nguồn thông tin này mang tính thời điểm và cho rằng thông tin HQHĐKD ngân hàng đã được điều chỉnh theo chiến lược kinh doanh của ngân hàng.

     

    Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xem xét tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng giữa các nhóm ngân hàng lớn, vừa và nhỏ và chưa đánh giá tính tương đồng của kết quả nghiên cứu so với các quốc gia có nền kinh tế phát triển trong khu vực và các quốc gia phát triển ngoài khu vực để gia tăng tính tin cậy của kết quả nghiên cứu. Nếu như bộ dữ liệu có quy mô lớn hơn thì sẽ hỗ trợ cho việc xem xét vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết hơn. Nhóm tác giả kỳ vọng sẽ có những nghiên cứu tiếp theo để khắc phục những hạn chế khách quan của nghiên cứu này.

     

    Abdullah, A., & Khan, A. Q. (2012). Liquidity risk management: a comparative study between domestic and foreign banks in Pakistan. Journal of Managerial Sciences Volume VI Number, 1, 62.

     

    Ahn, S. C., & Schmidt, P. (1995). Efficient estimation of models for dynamic panel data. Journal of econometrics, 68(1), 5-27.

     

    22

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Akhavein, J. D., Berger, A. N., & Humphrey, D. B. (1997). The effects of megamergers on efficiency and prices: Evidence from a bank profit function. Review of industrial Organization, 12(1), 95-139.

    Ajibike, J. O., & Aremu, O. S. (2015). The impact ofliquidity on Nigeria bank performance; a dynamic panel approach. Journal of African Macroeconiomic Review, 5 (2): 316, 24.

     

    Allen, F., & Gale, D. (2004). Financial intermediaries and markets. Econometrica, 72(4), 1023-1061.

     

    Al-Muharrami, S. (2009). The competition and market structure in the Saudi Arabia banking. Journal of Economic Studies, 36(5), 446-460.

     

    Athanasoglou, P. P., Brissimis, S. N., & Delis, M. D. (2008). Bank-specific, industry-specific and macroeconomic determinants of bank profitability. Journal of international financial Markets, Institutions and Money, 18(2), 121-136.

    Almumani, M. A. (2013). Impact of managerial factors on commercial bank profitability: Empirical evidence from Jordan. International Journal of Academic Research in Accounting, Finance and Management Sciences, 3(3), 298-310.

    Anbar, A., & Alper, D. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: Empirical evidence from Turkey. Business and Economics Research Journal, 2(2), 139-152.

     

    Anyanwaokoro, M. (1996). Banking Methods and Processes. Enugu: Hosanna Publications.

     

    Aspachs, O., Nier, E. W., & Tiesset, M. (2005). Liquidity, banking regulation and the macroeconomy.

     

    Available at SSRN 673883.

     

    Ayaydin, H., & Karakaya, A. (2014). The effect of bank capital on profitability and risk in Turkish banking. International Journal of Business and Social Science, 5(1).

     

    Anbar, A., & Alper, D. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: Empirical evidence from Turkey.

     

    Arellano, M., & Bond, S. (1991). Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. The review of economic studies, 58(2), 277-297.

     

    Berger, A. N., & Bouwman, C. H. (2013). How does capital affect bank performance during financial crises? Journal of Financial Economics, 109(1), 146-176.

     

    Berger, A. N., Herring, R. J., & Szegö, G. P. (1995). The role of capital in financial institutions. Journal of Banking & Finance, 19(3), 393-430.

     

    Bonfiim, D., & Kim, M. (2011). Liquidity risk in banking: is there herding?

     

    Bordeleau, É., & Graham, C. (2010). The impact of liquidity on bank profitability: Bank of Canada.

     

    Bain, J. S. (1951). Relation of profit rate to industry concentration: American manufacturing, 1936–1940. The Quarterly Journal of Economics, 65(3), 293-324.

     

    Brunnermeier, M. K. (2009). Deciphering the liquidity and credit crunch 2007–2008. The Journal of economic perspectives, 23(1), 77-100.

     

    Bourke, P. (1989). Concentration and other determinants of bank profitability in Europe, North America and Australia. Journal of Banking & Finance, 13(1), 65-79.

     

    23

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bunda, I., & Desquilbet, J.-B. (2008). The bank liquidity smile across exchange rate regimes.

     

    International Economic Journal, 22(3), 361-386.

     

    Chen, H.­J.; Kuo, C.J­.; Shen, C.­H. 2001. Determinants of net interest margins in Taiwan banking industry, Journal of Financial Studies 9: 47–83.

     

    Cucinelli, D. (2013). The determinants of bank liquidity risk within the context of euro area.

     

    Interdisciplinary Journal of Research in Business, 2(10), 51-64.

     

    Demsetz, H. (1973). Industry structure, market rivalry, and public policy. The Journal of Law & Economics, 16(1), 1-9.

     

    DeYoung, R., & Jang, K. Y. (2016). Do banks actively manage their liquidity? Journal of Banking & Finance, 66, 143-161.

     

    Diamond, D. W., & Rajan, R. G. (2001). Banks and liquidity. The American Economic Review, 91(2), 422-425.

     

    Demirguc-Kunt, A., Laeven, L., & Levine, R. (2003). Regulations, market structure, institutions, and the cost of financial intermediation (No. w9890). National Bureau of Economic Research.

     

    Eichberger, Jürgen, & Martin Summer. (2005). Bank capital, liquidity, and systemic risk. Journal of the European Economic Association, 3(2-3), 547-555.

     

    Fadare, S. O. (2011). Banking sector liquidity and financial crisis in Nigeria. International Journal of Economics and Finance, 3(5), 3.

     

    Fan, L., & Shaffer, S. (2004). Efficiency versus risk in large domestic US banks. Managerial Finance, 30(9), 1-19.

     

    Ferrouhi, E. M. (2014). Moroccan Banks analysis using camel model. International Journal of Economics and Financial Issues, 4(3), 622-627.

     

    Gibilaro, L., Giannotti, C., & Mattarocci, G. (2010). Liquidity Risk Exposure For Specialized And Unspecialized Real Estate Banks: Evidences From The Italian Market: European Real Estate Society (ERES).

    Goddard, J., Molyneux, P., & Wilson, J. O. (2004). The profitability of European banks: a cross‐ sectional and dynamic panel analysis. The Manchester School, 72(3), 363-381.

     

    Gorton, G. B., & Winton, A. (2014). Liquidity provision, bank capital, and the macroeconomy.

     

    Bank Capital, and the Macroeconomy (January 25, 2014).

     

    Hackethal, A., Rauch, C., Steffen, S., & Tyrell, M. (2010). Determinants of bank liquidity creation Working paper.

     

    Horváth, R., Seidler, J., & Weill, L. (2012). Bank capital and liquidity creation: Granger-causality evidence.

     

    Hansen, L. P. (1982). Large sample properties of generalized method of moments estimators.

     

    Econometrica: Journal of the Econometric Society, 1029-1054.

     

    Hansen, L. P., Heaton, J., & Yaron, A. (1996). Finite-sample properties of some alternative GMM estimators. Journal of Business & Economic Statistics, 14(3), 262-280.

     

    Kiviet, J. F. (1995). On bias, inconsistency, and efficiency of various estimators in dynamic panel data models. Journal of econometrics, 68(1), 53-78.

     

    24

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Kosmidou, K., Tanna, S., & Pasiouras, F. (2005). Determinants of profitability of domestic UK commercial banks: panel evidence from the period 1995-2002. Paper presented at the Money Macro and Finance (MMF) Research Group Conference.

    Kutsienyo, L. (2011). The determinant of profitability of banks in Ghana (Doctoral dissertation). Lee, J. Y., & Kim, D. (2013). Bank performance and its determinants in Korea. Japan and the

     

    World Economy, 27, 83-94.

     

    J Eichberger M Summer (2005). Journal of the European Economic Association, Volume 3, Issue 2-3, 1 May 2005, Pages 547–555.

     

    Moulton, H. G. (1918). Commercial banking and capital formation: III. The Journal of Political Economy, 705-731.

     

    Maudos, J., & de Guevara, J. F. (2007). The cost of market power in banking: Social welfare loss vs. cost inefficiency. Journal of Banking & Finance, 31(7), 2103-2125.

     

    Naceur, S. B., & Kandil, M. (2009). The impact of capital requirements on banks’ cost of intermediation and performance: The case of Egypt. Journal of Economics and Business, 61(1), 70-89.

     

    Olweny, T., & Shipho, T. M. (2011). Effects of banking sectoral factors on the profitability of commercial banks in Kenya. Economics and Finance Review, 1(5), 1-30.

     

    Poposka, K., & Trpkoski, M. (2013). Secondary Model for Bank Profitability Management–Test on the Case of Macedonian Banking Sector. Research Journal of Finance and Accounting, 4(6), 216-225.

     

    Roman, A., & Sargu, A. C. (2015). The Impact of Bank-specific Factors on the Commercial Banks Liquidity: Empirical Evidence from CEE Countries. Procedia Economics and Finance, 20, 571-579.

     

    Sayedi, S. (2014). Impacts of internal and external factors on profitability of banks in Nigeria.

     

    International Journal of Social Sciences and Entrepreneurship Vol, 1, 1-21.

     

    Shen C., Chen Y., Kao L. & Yeh C. (2009). Bank Liquidity Risk and Performance. SSRN. Skully, M. T., & Perera, S. (2012). Bank Market Power and Liquidity: Evidence from 113 Developed

     

    and Developing Countries. Paper presented at the 25th Australasian Finance and Banking Conference.

     

    Sufian, F., & Chong, R. R. (2008). Determinants of bank profitability in a developing economy: Empirical evidence from the Philippines. Asian academy of management journal of accounting and finance, 4(2), 91-112.

     

    Siaw, S. (2013). Liquidity risk and bank profitability. University of Ghana (Thesis).

     

    Saunders A. and Cornett M.M (2006), “Financial Institutions Management”, 5th edition, McGraw-Hill/Irwin, New York.

    Vodova, P. (2011). Liquidity of Czech commercial banks and its determinants. International Journal of Mathematical Models and Methods in Applied Sciences, 5(6), 1060-1067.

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Tiếng Việt:

     

    Nguyễn Công Tâm, & Nguyễn Minh Hà. (2012). Hiêu qua hoat đông cua ngân hang tai cac nươc Đông Nam A va bai hoc kinh nghiêm cho Viêt Nam. Kinh tế va chinh trị thế giới, 111(199), 17-30.

    Nguyên Minh Sang. (2013). Phân tich nhân tô tac đông đên hiêu qua sư dung nguôn lưc cua cac ngân hang thương mai trên đia ban TP.HCM. Phat triển & Hội Nhập, 11(21), 10-15.

     

    Nguyên Thi Loan, & Trân Thi Ngoc Hanh. (2013). Hiêu qua hoat đông tai cac NHTM Viêt Nam.

     

    Phat triển kinh tế, 270, 12-25.

     

    Nguyên Viêt Hung. (2008). Phân tich cac nhân tô anh hương đên hiêu qua hoat đông cua cac ngân hang thương mai ơ Viêt Nam. Trương Đai hoc kinh tê Quôc dân.

     

    Liễu Thu Truc, & Võ Thành danh. (2012). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần việt nam giai đoạn 2006-2009. Tạp chí Khoa học Trườ̀ng Đại học Cần Thơ, 21, 148-157.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-th%E1%BB%83-ch%E1%BA%BF-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-B%E1%BA%B1ng-ch%E1%BB%A9ng-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-qu%E1%BB%91c-gia-%C4%91ang-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-ch%C3%A2u-%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN TẠI CHÂU Á

     

    QUALITY OF INSTITUTIONS AND FINANCIAL DEVELOPMENT:

     

    EVIDENCE FROM DEVELOPING ASIAN COUNTRIES

     

    Nguyễn Thị Mỹ Linh1

     

    Ngày nhận: 24/7/2018             Ngày nhận bản sửa: 7/9/2018              Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Các nghiên cứu về phát triển tài chính đã nhận định chất lượng thể chế là yếu tố tạo nên sự khác biệt về phát triển tài chính giữa các quốc gia. Bài viết này đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, độ mở tài chính và chất lượng thể chế đến phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á bằng phương pháp thực nghiệm. Bài viết sử dụng kỹ thuật ước lượng GMM cho dữ liệu bảng từ 18 quốc gia trong giai đoạn 2000–2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại có tác động âm có ý nghĩa tới phát triển tài chính. Trong khi đó độ mở tài chính không có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính tồn tại mối quan hệ phi tuyến có hình chữ U. Các phát hiện này đưa đến một số hàm ý chính sách cho Chính phủ các quốc gia đang phát triển tại khu vực này. Từ khóa: Chất lượng thể chế, phát triển tài chính, GMM.

     

    Abstract

     

    Recent studies of financial development have confirmed that the quality of institutions was the crucial element of financial development difference among various countries. This paper focus on investigating the effect of economic growth, trade openness, financial opennes and institutional quality on financial development in developing Asian countries. Using Generalized Method of Moments (GMM) to analyse a panel data of 18 countries spanning from 2000 to 2015, we find that economic growth and trade openness have significantly negative influences on financial development. Meanwhile, financial openness has no statistical significance. Especially, there’s U-shaped relationship between financial development and quality of institutions. Our results have several significant contributions to policy makers of these countries. Keywords: Quality of Institutions, financial development, GMM.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các lý thuyết kinh tế tài chính trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng gia tăng của hệ thống

    __________________________________________

    tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng. Các lý thuyết đó cũng hướng tới việc cung cấp câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số quốc gia lại phát triển tài chính hơn những quốc gia khác. Trong

     

    • Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Tài chính – Marketing; Email: [email protected]

    11

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bối cảnh này, một sự hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn gốc của sự phát triển thị trường tài chính ngày càng trở nên cần thiết hơn cho việc thiết kế các chính sách để thúc đẩy sự phát triển tài chính, bởi phát triển tài chính sẽ̃ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, mà các nghiên cứu thực nghiệm rộng rãi đã minh chứng.

     

    Gần đây, một số lượng lớn các nghiên cứu đã xác định rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng và phát triển tài chính của một quốc gia liên quan đến các đặc điểm thể chế của nó, bao gồm khung pháp lý (Arestis và Demetriades, 1996). Claessens và Leaven (2003) chỉ ra rằng việc phân bổ tài sản được cải thiện do bảo vệ quyền sở hữu tài sản tốt hơn có ảnh hưởng đến tăng trưởng do nó làm gia tăng giá trị ngành nghề tương đương với sự cải thiện khả năng tiếp cận tài chính phát sinh từ sự phát triển tài chính mạnh mẽ̃ hơn. Garretsen và cộng sự (2004) cũng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn xã hội và văn hóa giúp giải thích sự khác biệt trong phát triển tài chính xuyên quốc gia. Demetriades và Andrianova (2004) cho rằng sức mạnh của các thể chế, như quy định tài chính và tuân thủ pháp luật, có thể quyết định sự thành công hay thất bại của cải cách tài chính. Chinn và Ito (2006) cho rằng các hệ thống tài chính có mức độ phát triển pháp lý/thể chế cao hơn thường có lợi ích nhiều hơn từ tự do hóa tài chính so với các hệ thống tài chính có mức độ phát triển thấp hơn. Như vậy thể chế mang một tầm ảnh hưởng nhất định đến phát triển tài chính. Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính dựa trên phân tích dữ liệu bảng thu thập cho các quốc gia đang phát triển tại Châu Á. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng động để ước lượng mối quan hệ tuyến tính và phi tuyến của các biến trong mô hình. Trong đó, thước đo chất lượng thể chế sử dụng trong

    nghiên cứu được xây dựng bởi Kaufmann và cộng sự (2008) bao gồm một tập hợp các biến khác nhau, có thể đánh giá một cách đa chiều ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính.

     

    2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    Cơ sở lý luận giải thích cho sự phát triển tài chính xuất phát từ bốn giả thuyết bao gồm giả thuyết cung ứng vốn, giả thuyết luật và tài chính, giả thuyết mở cửa đồng bộ và giả thuyết thể chế kinh tế.

    Giả thuyết cung ứng vốn (The endowment hypothesis) của Acemoglu và cộng sự (2001) xác nhận tầm quan trọng của một thể chế vững mạnh đến sự phát triển tài chính và cho rằng chất lượng thể chế khác nhau giữa các quốc gia là do sự thay đổi cung ứng vốn ban đầu. Nói một cách đơn giản, giả thuyết này cho rằng môi trường không thuận lợi do các cường quốc thuộc địa châu Âu gây ra trong nhiều thế kỷ ở quá khứ là nhân tố chính làm chậm lại sự thành lập các thể chế có thể thúc đẩy sự thịnh vượng trong dài hạn. Vì vậy, giả thuyết cho rằng các cường quốc thuộc địa châu Âu đã thành lập nên các thể chế khai thác không phù hợp, không tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng trong dài hạn.

     

    Giả thuyết luật và tài chính (The law and finance hypothesis) của La Porta và cộng sự (1997) đưa ra ý tưởng về các hệ thống dựa trên nền tảng luật thông thường, có nguồn gốc từ luật pháp Anh là tốt hơn các hệ thống dựa trên luật dân sự cho sự phát triển của thị trường vốn. Điều này là bởi luật pháp Anh được hình thành để bảo vệ tài sản tư nhân từ Chính phủ các quốc gia quân chủ chuyên chế. Trong khi đó, luật pháp Pháp được phát triển với mục tiêu giải quyết tham nhũng của bộ máy tư pháp và gia tăng quyền lực của Nhà nước. Qua thời gian,

     

    12

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    điều này cho thấy luật pháp Anh bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ tốt hơn nhiều so với luật pháp Pháp, được cho rằng có lợi hơn cho sự phát triển của thị trường vốn.

    Giả thuyết mở cửa đồng bộ (The simultaneous openness hypothesis) được đưa ra bởi Rajan và Zingales (2003) cho rằng các nhóm lợi ích, đặc biệt là những người giữ chức vụ trong ngành công nghiệp và tài chính thường bị mất đi ích lợi do phát triển tài chính, bởi mở cửa sẽ̃ tạo ra cạnh tranh làm xói mòn đặc quyền của họ. Giả thuyết cho rằng sự kháng nghị của các cán bộ đương nhiệm sẽ̃ trở nên yếu hơn khi nền kinh tế mở cửa cho cả dòng chảy thương mại và vốn. Do đó, sự mở cửa đồng bộ đối với tài khoản thương mại và vốn chính là chìa khóa cho sự phát triển tài chính thành công. Điều này không chỉ bởi vì độ mở thương mại và tài chính làm giới hạn khả năng của cán bộ đương nhiệm ngăn chặn sự phát triển của thị trường tài chính mà còn bởi những cơ hội mới được tạo ra từ mở cửa, làm sản sinh đủ lợi nhuận mới cho họ có giá trị hơn những ảnh hưởng tiêu cực của cạnh tranh gia tăng.

     

    Giả thuyết thể chế kinh tế (The economic institutions hypothesis) gần nhất được đưa ra bởi Acemoglu và cộng sự (2004), được xây dựng trên giả thuyết cung ứng vốn, đề xuất về một khung kinh tế chính trị năng động mà trong đó sự khác biệt về kinh tế trong các thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự phát triển kinh tế khác nhau. Các thể chế kinh tế trong đó xác định các động lực khuyến khích và kiềm hãm các chủ thể kinh tế. Các thể chế chính trị và phân phối thu nhập là các lực lượng động kết hợp với nhau hình thành nên các thể chế kinh tế và kết quả đầu ra. Các lập luận cho rằng tăng trưởng thúc đẩy các thể chế kinh tế khi các thể chế chính trị (i) phân bổ quyền lực cho các nhóm có lợi ích trong việc thực thi quyền sở

    hữu tài sản rộng rãi, (ii) tạo ra các hạn chế hiệu quả đối với người nắm giữ quyền lực và khi có ít đặc lợi chiếm giữ bởi người cầm quyền.

    Hai giả thuyết đầu nhấn mạnh yếu tố lịch sử bất biến theo thời gian có thể chỉ giải thích một phần nhất định cho sự thay đổi của phát triển tài chính xuyên quốc gia. Giả thuyết thứ ba và thứ tư có thể giải thích cho sự phát triển tài chính xuyên quốc gia và cả sự thay đổi của phát triển tài chính qua thời gian, bởi chúng đều có tính chất động, trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố biến đổi qua thời gian. Mặc dù cả hai giả thuyết đều xác nhận tầm quan trọng của các tinh hoa chính trị, nhưng nó vẫn nhấn mạnh các cơ chế khác nhau của phát triển tài chính. Giả thuyết thứ ba nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và như vậy mang đến một hàm ý chính sách đương đại rõ ràng. Giả thuyết thứ tư cho thấy mặc dù các cơ chế chính trị phức tạp có ở công sở (bao gồm cả xung đột xã hội phát sinh từ việc thay đổi lực lượng chính trị như sự gia tăng dân chủ đại chúng và những thay đổi trong phân phối thu nhập), nhưng giả thuyết thể chế kinh tế này đã cung cấp lập luận hữu ích giúp định hình cho phát triển kinh tế tại bất kỳ thời điểm nào.

     

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Levine (2001) xem xét mối liên kết giữa môi trường pháp lý và phát triển tài chính, sau đó truy xuất mối liên kết này thông qua tăng trưởng kinh tế dài hạn. Thứ nhất nghiên cứu cho rằng môi trường pháp lý và luật lệ có vai trò quan trọng đối với phát triển tài chính. Các quốc gia với hệ thống pháp lý và quy định ưu tiên cho các chủ nợ nhận được giá trị hiện tại đầy đủ của các khoản cho vay đối với các tập đoàn, có chức năng trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia nơi hệ thống pháp lý cung cấp sự hỗ trợ yếu ớt cho các chủ nợ. Thứ hai, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc thực thi hợp

     

    13

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    đồng là rất quan trọng quyết định đến sự phát triển tài chính. Các quốc gia áp đặt sự tuân thủ pháp luật một cách hiệu quả và thực thi các hợp đồng bao gồm cả những hợp đồng của Chính phủ có xu hướng phát triển các định chế tài chính trung gian tốt hơn nhiều so với các quốc gia mà việc tuân thủ lỏng lẻo hơn. Cuối cùng, nghiên cứu phát hiện ra rằng việc tiết lộ thông tin cũng đóng một vai trò quan trọng quyết định phát triển tài chính. Chẳng hạn tại các quốc gia nơi mà các công ty công bố báo cáo tài chính tương đối toàn diện và chính xác thì phát triển các trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia mà việc công bố thông tin kém tin cậy hơn.

     

    Baltagi và cộng sự (2007) cung cấp bằng chứng về đóng góp của độ mở thương mại và thể chế kinh tế đến phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia cho các mẫu các quốc gia đang phát triển với khoảng thời gian nghiên cứu từ 1980–2003. Kết quả cho thấy cả hai yếu tố đều mang tác động quan trọng tiềm tàng đến các mức độ phát triển tài chính. Tuy nhiên độ mở thương mại có hiệu quả đáng kể hơn là độ mở tài chính trong việc thúc đẩy phát triển tài chính cho các quốc gia.

     

    Law và Azman – Saini (2008) sử dụng phương pháp ước lượng GMM cho dữ liệu bảng động thu thập từ các quốc gia phát triển và đang phát triển và kết luận chất lượng thể chế làm gia tăng sự phát triển tài chính, đặc biệt là sự phát triển của khu vực ngân hàng trong đó chỉ tiêu tín dụng khu vực tư được sử dụng trong phân tích. Mặc dầu vậy một số dẫn xuất của thể chế có tầm ảnh hưởng hơn một số dẫn xuất còn lại. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện rằng tuân thủ pháp luật, sự ổn định chính trị và hiệu quả của Chính phủ đóng vai trò cơ bản đối với sự phát triển của khu vực ngân hàng. Bên cạnh đó, GDP thực bình quân đầu người cũng là yếu tố quyết định đến phát triển tài chính. Tuy nhiên

    độ mở tài chính lại làm suy yếu sự phát triển của thị trường này. Trong sáu chỉ số phản ánh chất lượng thể chế, chỉ số chất lượng quản lý cho thấy tồn tại mối quan hệ có hình dạng chữ U với phát triển tài chính.

    Như vậy các giả thuyết và nghiên cứu ngoài nước trên cho rằng tự do hóa tài chính, hệ thống pháp luật, nền kinh tế chính trị, độ mở thương mại là nguồn gốc của phát triển tài chính. Trong đó, tầm quan trọng của chất lượng thể chế đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế trong nhiều lĩnh vực. North (1990) định nghĩa các thể chế là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội. Thể chế bao gồm các thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi Nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa. Khi các quy tắc thay đổi liên tục hoặc không được tôn trọng, tham nhũng phổ biến, việc thực thi quy tắc còn mong manh hoặc khi quyền đối với tài sản không được xác định rõ ràng, thì đó vấn đề về chất lượng thể chế. Vai trò của thể chế là làm giảm tính bất định và rủi ro của các giao dịch kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua trao đổi, tăng kinh tế quy mô và tăng cường phân công lao động xã hội. Ảnh hưởng khác của thể chế lên tăng trưởng kinh tế là một cấu trúc thể chế sẽ̃ tạo ra một cấu trúc khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ tài nguyên theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế. Baumol (1990, 1993) cho rằng khi cơ cấu thể chế không khuyến khích tài năng kinh doanh sáng tạo mà chỉ khuyến khích tái phân phối, tìm kiếm đặc lợi thì tăng trưởng kinh tế sẽ̃ thấp đi. Các vấn đề liên quan đến chất lượng thể chế dẫn đến sự gia tăng tính không chắc chắn, gửi tín hiệu gây

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    hiểu lầm đến thị trường, do đó ảnh hưởng đến năng suất và tăng trưởng kinh tế.

    3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng

     

    • Mô hình nghiên cứu

     

    Trên cơ sở lý thuyết, nền tảng của các nghiên cứu trước và của Law và Saini (2008), mô hình thực nghiệm được thể hiện như sau:

     

    (FD)it = β0 + β1(FD)(it-1)  + β2(GDPG)it + β3(INS)

     

    it  + β4(TO)it + β5(FO)it + εit     (3.1)

     

    Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính có thể là phi tuyến. Cải cách thể

    chế nhìn chung có tác động tích cực đến phát triển tài chính. Tuy nhiên độ lớn của tác động có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ của phát triển kinh tế. Nghiên cứu giả thiết rằng tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính là chưa rõ ràng tại mức phát triển thấp trong khi nó sẽ̃ trở nên tích cực bởi tiến trình phát triển hay đây chính là mối quan hệ có hình dạng chữ U giữa hai yếu tố này. Để xem xét mối quan hệ phi tuyến trên, biến thể chế bình phương được đưa vào phương trình (3.1) và vì vậy mô hình hồi quy được viết lại như sau:

     

    (FD)it = β

    0

    + β

    (FD)

    it-1

    + β

    (GDPG)

    it

    + β

    (INS)

    it

    + β (INS2)

    it

    + β

    (TO)

    it

    + β

    (FO)

    it

    + ε

    it

    (3.2.)

     

    1

     

    2

     

    3

     

    4

    5

     

    6

         

    với kỳ vọng β3 < 0 và β4 > 0.

                                 
               

    Bảng 1. Mô tả biến và nguồn dữ liệu

                 

    Ký hiệu biến

    Mô tả

                           

    Nguồn

       
             

    FD

       

    Sự phát triển tài chính, đo bằng tín dụng nội địa được

    World Development

         

    cung ứng bởi khu vực tài chính/GDP

             

    Indicator – WDI

    GDPG

       

    Tốc độ tăng trưởng GDP

                   

    WDI

         

    INS

       

    Chất lượng thể chế, sử dụng chỉ số đánh giá trong bộ chỉ

    World

    Governance

         

    số Quản trị công toàn cầu với giá trị xấp xỉ từ – 2,5 đến 2,5

    Indicator – WGI

    TO

       

    Độ mở thương mại, bằng Xuất khẩu + Nhập khẩu/GDP

    WDI

         

    FO

       

    Độ mở tài chính, sử dụng chỉ số Chinn – Ito

           

    Chinn-Ito website

    Dữ liệu được thu thập cho 18 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực châu Á giai đoạn 2000– 2015 bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc, Armenia, Bhutan, Kyrgyz, Mông Cổ, Nepal, và Georgia. Trong đó, chỉ tiêu tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng để đo lường mức độ phát triển tài chính của các quốc gia. Do tính chất nguồn dữ liệu có giới hạn số liệu không được cập nhật nên bài nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất chỉ tiêu này. Đây cũng là thước đo được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến phát triển tài chính. Bên cạnh đó, chỉ tiêu đánh giá chất lượng thể chế sử dụng trong nghiên cứu là bộ chỉ số “Quản trị công toàn cầu” do

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    WB công bố với sáu biến đo lường gồm: tham nhũng; hiệu quả Chính phủ; ổn định chính trị; chất lượng quản lý; tuân thủ luật pháp; tiếng nói và trách nhiệm giải trình. Đây được xem là một đánh giá khá đầy đủ về chất lượng thể chế của một quốc gia và cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Law và Saini (2008). Đối với chỉ số Chinn-Ito (Kaopen) là chỉ số đo mức độ mở tài khoản vốn của một quốc gia. Chỉ số này ban đầu được giới thiệu trong Chinn và Ito (Tạp chí Journal of Development Economics, 2006). Kaopen được xác định dựa trên các biến giả nhị phân mã hóa hạn chế về giao dịch tài chính xuyên biên giới được báo cáo trong Báo cáo thường niên của IMF về các thỏa thuận giao dịch và hạn chế giao dịch.

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3.2. Phương pháp ước lượng

     

    Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng GMM do một số vấn đề sau đây có thể phát sinh và dẫn đến các kết quả ước lượng phương trình (3.1) bị chệch:

     

    • Do tính chất của các biến nghiên cứu đều là các biến số vĩ mô, thường có tác động hai chiều, ví dụ như biến GDPG có thể là biến nội sinh khi nó tác động tới phát triển tài chính và ngược lại phát triển tài chính cũng tác động tới phát triển kinh tế. Điều này cũng tương tự với biến FO. Vì thế, việc hồi qui các biến này có thể dẫn đến sự tương quan với sai số và một số biến khác có thể có những thuộc tính tương tự.
    • Các đặc tính quốc gia, bất biến theo thời gian như là địa lý, văn hóa và nhân chủng học, có thể tương quan với các biến giải thích (các tác động cố định). Các tác động cố định này hiện diện trong đại lượng sai số của các phương trình thực nghiệm.
    • Sự hiện diện của biến trễ của biến phụ thuộc FDit-1 đưa đến khả năng tự tương quan cao.

    Các vấn đề nêu trên có thể khiến hồi quy OLS không nhất quán và ước lượng bị chệch, hay vấn đề nội sinh của các biến chưa thể xử lý triệt để bằng các phương pháp như FE, RE, 2SLS. Phương pháp hồi quy GMM sai phân được phát triển bởi Arellano và Bond (1991) có thể xử lý tốt hơn các vấn đề trên. Tính phù hợp của các biến công cụ trong ước lượng GMM sai phân dữ liệu bảng được đánh giá thông qua thống kê Sargan và thống kê Arellano-Bond. Kiểm định Sargan với giả thuyết H0: biến công cụ có tính ngoại sinh, nghĩa là nó không tương quan với sai số. Vì thế p-value của thống kê Sargan càng lớn càng tốt. Kiểm định Arellano-Bond được dùng để phát hiện tự tương quan chuỗi ở sai phân bậc 1. Vì thế, kết quả kiểm định tương quan chuỗi bậc một AR(1) không cần quan tâm trong khi tự tương quan chuỗi bậc hai AR(2) được kiểm định dựa trên chuỗi sai phân bậc 1 của sai số để phát hiện hiện tượng tự tương quan bậc 1 của nó.

     

    4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

     

     

    Bảng 2. Thống kê mô tả giá trị của các biến trong mô hình

     

    Các biến

    Obs

    Mean

    Std.Dev.

    Min

    Max

    FD

    283

    56.37612

    42.37533

    2.942829

    193.4096

    GDPG

    288

    6.121962

    3.199587

    -14.14999

    17.92582

    FO

    288

    -0.1772923

    1.16868

    -1.90359

    2.374419

    TO

    288

    86.15815

    42.05665

    26.27484

    220.4073

    COR

    288

    -0.5388194

    0.5470128

    -1.5

    1.28

    POS

    288

    -0.6288889

    0.866287

    -2.81

    1.28

    RUL

    288

    -0.4327431

    0.4815948

    -1.37

    0.59

    VOI

    288

    -0.5435417

    0.6074961

    -1.78

    0.47

    GEF

    288

    -0.2013889

    0.5165398

    -1.21

    1.27

    REG

    288

    -0.3154514

    0.4845701

    -1.41

    1.29

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

     

    Ghi chú: FD = Financial Development (Phát triển tài chính), GDPG = GDP Growth (Tăng trưởng

     

    GDP), FO = Financial Openness (Độ mở tài chính), TO = Trade Opennes (Độ mở thương mại),

     

    COR = Control of Corruption (Kiểm soát tham nhũng), POS = Political Stability (Ổn định chính

     

    trị), RUL = Rule of Law (Tuân thủ pháp luật), VOI = Voice and Accountability (Tiếng nói và trách

     

    nhiệm), GEF = Government effectiveness (Hiệu quả Chính phủ), REG = Regulatory quality (Chất

     

    lượng quản lý)

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu

     

     

    FD

    GDPG

    FO

    TO

    COR

    POS

    RUL

    VOI

    GEF

    REG

    FD

    1.0000

                     

    GDPG

    -0.0423

    1.0000

                   

    FO

    -0.3367

    0.0009

    1.0000

                 

    TO

    0.2617

    0.0212

    0.2471

    1.0000

               

    COR

    0.3093

    0.0598

    -0.1025

    0.2862

    1.0000

             

    POS

    0.0563

    0.2388

    0.2302

    0.5479

    0.4886

    1.0000

           

    RUL

    0.4341

    0.0040

    -0.0857

    0.2863

    0.8429

    0.4082

    1.0000

         

    VOI

    -0.1451

    -0.1461

    0.2925

    -0.0191

    0.1796

    -0.0871

    0.3894

    1.0000

       

    GEF

    0.5292

    -0.0222

    -0.0081

    0.4638

    0.7572

    0.3720

    0.7705

    0.1921

    1.0000

     

    REG

    0.3658

    -0.0959

    0.4001

    0.4033

    0.3840

    0.1626

    0.5269

    0.3385

    0.6621

    1.0000

     

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

    Bảng 2 thể hiện giá trị các biến trong mô

    GDPG, FO, VOI và có tương quan thuận với

    hình nghiên cứu, qua đó tỷ lệ tín dụng nội địa

    tất cả các biến còn lại trong mô hình. Điều này

    được cung ứng bởi khu vực tài chính trung bình

    cho thấy đa số các biến thể chế thực sự có tương

    ở các quốc gia trong mẫu đạt giá trị dương 56.3.

    quan dương với phát triển tài chính. Tuy nhiên,

    Chỉ số đánh giá chất lượng thể chế ở các quốc

    kết quả với FO và VOI không như mong đợi

    gia này còn thấp khi mà giá trị trung bình của

    theo lý thuyết tiêu chuẩn, dù vậy đây không

    các chỉ số đều mang dấu âm. Bảng 3 chỉ ra sự

    phải là nghiên cứu đầu tiên có kết quả này.

    phát triển tài chính có tương quan nghịch với

     

    Bảng 4. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình tuyến tính, phương trình 3.1)

     

                 

    Các biến

    Mô hình 1a

    Mô hình 2a

    Mô hình 3a

    Mô hình 4a

    Mô hình 5a

    Mô hình 6a

    FD (-1)

    0.708***

    0.643***

    0.746***

    0.787***

    0.788***

    0.751***

     

    (0.096)

    (0.107)

    (0.096)

    (0.093)

    (0.083)

    (0.100)

    GDPG

    -0.615*

    -0.576*

    -0.763**

    -0.646*

    -0.752**

    -0.689*

     

    (0.344)

    (0.341)

    (0.360)

    (0.353)

    (0.358)

    (0.352)

    FO

    0.509

    0.963

    1.472

    1.934

    1.094

    1.784

     

    (2.627)

    (2.509)

    (2.564)

    (2.546)

    (2.649)

    (2.562)

    TO

    -0.333***

    -0.364***

    -0.287***

    -0.293***

    -0.258***

    -0.287***

     

    (0.094)

    (0.096)

    (0.091)

    (0.101)

    (0.093)

    (0.092)

    COR

    15.703*

             
     

    (8.914)

             

    POS

     

    9.098**

           
       

    (4.176)

           

    RUL

       

    11.394

         
         

    (10.844)

         

    VOI

         

    1.850

       
           

    (7.258)

       

    GEF

           

    9.660

     
             

    (8.701)

     

    REG

             

    9.611

               

    (11.247)

    AR (2) test

    0.26

    0.41

    0.35

    0.38

    0.27

    0.22

    Sargan test

    0.46

    0.49

    0.39

    0.36

    0.42

    0.42

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là sai số chuẩn.

     

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng tại Bảng 4 kết quả thực nghiệm của mô hình tuyến tính (phương trình 3.1) bằng phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng động GMM, với các mô hình từ 1a đến 6a lần lượt từng biến thể chế được đưa vào. Biến trễ phụ thuộc FD(-1) có ý nghĩa thống kê, ngụ ý rằng GMM là một phương pháp ước lượng thích hợp và có thể dựa vào kết quả thực nghiệm để thực hiện suy luận thống kê. Trong đó, hai biến thể chế COR và POS mang tác động dương còn GDPG và TO mang tác động âm có ý nghĩa thống kê tới phát triển tài chính. Kết quả về sự tác động nghịch chiều của tăng trưởng kinh tế đến phát triển tài chính tuy ngược với kỳ vọng nhưng tương đồng với nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2007) và có thể được giải thích thông qua tính nghịch chu kỳ của chính sách tiền tệ. Thực vậy các tử số của biến phụ thuộc là tín dụng nội địa thường được các ngân hàng trung ương lựa chọn là mục tiêu trung gian rõ ràng hoặc ngầm định của chính sách tiền tệ, kết hợp với sự tịnh tiến của mẫu số là GDP. Do đó, mối quan hệ nghịch chiều giữa GDP và các chỉ số ngân hàng về phát triển tài chính không là sự bất thường, đặc biệt là ở tần suất hàng năm, trùng với các hoạt động của chính sách tiền tệ. Tương tự, độ mở thương mại cũng tác động âm có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính. Trên khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính cho kết quả rất khác nhau. Anutechia (2010) không phát hiện ảnh hưởng của độ mở thương mại đến phát triển tài chính. Hu và Iyke (2018) kết luận độ mở thương mại làm gia tăng phát triển tài chính trong dài hạn, tuy nhiên xét trong ngắn hạn, tác động của nó đến phát triển tài chính là không rõ ràng và có xu hướng ảnh hưởng nghịch chiều đến phát triển tài chính. Khi các quốc gia được phân chia thành hai nhóm có thu nhập thấp và thu nhập trung bình

    thì độ mở tài chính có tác động tích cực đến phát triển tài chính đối với nhóm trước trong khi đó lại nó tác động bất lợi cho phát triển tài chính đối với nhóm sau. Bayar (2017) cho rằng chất lượng thể chế và quy định là cần thiết cho sự tương tác tích cực giữa sự mở cửa thương mại và sự phát triển của tài chính. Do đó, sự tương tác không đáng kể hay tiêu cực giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính là kết quả của sự phát triển không đầy đủ của thể chế. Trong khi đó, với sáu biến dẫn xuất cho vấn đề thể chế lần lượt được đưa vào mô hình, có hai biến là tham nhũng và sự ổn định chính trị tác động dương có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính, phù hợp với giả thuyết thể chế kinh tế của Acemoglu và cộng sự (2004). Kết quả về sự ảnh hưởng của ổn định chính trị đến phát triển tài chính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Roe và Siegel (2008) cho rằng bất ổn chính trị cản trở phát triển tài chính, ổn định chính trị chính là yếu tố then chốt giải thích cho sự phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng của phương trình (3.2), kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa phát triển tài chính và thể chế. Việc bổ sung thêm yếu tố thể chế được bình phương cho phép hình thành chuyển động có dạng U của yếu tố này. Kết quả thực nghiệm cho thấy ngoại trừ hai dẫn xuất VOI và GEF không có

     

    • nghĩa thống kê, bốn dẫn xuất còn lại đều có mối quan hệ phi tuyến với tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính. Các hệ số của thể chế và thể chế bình phương lần lượt là âm và dương. Điều này cho thấy tồn tại một mối quan hệ hình chữ U về chất lượng thể chế phát triển tài chính. Điều này tương đồng với nghiên cứu của Law và Saini (2008). Giá trị ngưỡng của chất lượng thể chế là các biến COR, POS, RUL, REG cũng được xác định cho các quốc gia trong mẫu nhằm làm sáng tỏ hơn về mặt

    18

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    định lượng tầm quan trọng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính, theo đó giá trị của chúng lần lượt là 0.37, 0.26, 0.54 và 0.62. Điều này có nghĩa là trong bối cảnh chất lượng thể chế của các quốc gia thấp hơn hay bằng mức ngưỡng, chất lượng thể chế có tác động tiêu

    cực đến phát triển tài chính, tức là phát triển tài chính bị suy giảm khi chất lượng thể chế được cải thiện. Tuy nhiên, khi chất lượng thể chế vượt ngưỡng, tác động của chất lượng thể chế đến sẽ̃ trở nên tích cực. Nói cách khác, việc cải cách thể chế dẫn đến phát triển tài chính.

     

    Bảng 5. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình phi tuyến tính, phương trình 3.2)

     

    Các biến

    Mô hình 1b

    Mô hình 2b

    Mô hình 3b

    Mô hình 4b

    Mô hình 5b

    Mô hình 6b

    FD (-1)

    1.150***

    1.096***

    0.924***

    1.089***

    1.036***

    1.082***

     

    (0.066)

    (0.063)

    (0.080)

    (0.067)

    (0.077)

    (0.063)

    GDPG

    -0.022

    -0.738**

    -0.097

    -0.029

    0.048

    -0.431

     

    (0.231)

    (0.344)

    (0.317)

    (0.232)

    (0.184)

    (0.320)

    FO

    1.981

    0.631

    3.044

    1.503

    -1.416

    -1.830

     

    (3.095)

    (3.227)

    (3.142)

    (2.935)

    (1.608)

    (1.771)

    TO

    -0.067

    -0.020

    -0.269**

    -0.273**

    -0.069

    -0.078

     

    (0.081)

    (0.088)

    (0.115)

    (0.116)

    (0.072)

    (0.084)

    COR

    -43.586**

             
     

    (22.180)

             

    COR2

    32.993**

             
     

    (16.510)

             

    POS

     

    -23.682**

           
       

    (11.932)

           

    POS2

     

    12.227*

           
       

    (6.378)

           

    RUL

       

    -48.128***

         
         

    (15.814)

         

    RUL2

       

    51.589***

         
         

    (17.012)

         

    VOI

         

    -12.957

       
           

    (12.753)

       

    VOI2

         

    9.816

       
           

    (11.145)

       

    GEF

           

    37.091**

     
             

    (18.215)

     

    GEF2

           

    -29.983

     
             

    (18.860)

     

    REG

             

    -39.638*

               

    (23.783)

    REG2

             

    48.951**

               

    (23.280)

    AR (2) test

    0.83

    0.71

    0.93

    0.70

    0.70

    0.49

    Sargan test

    0.21

    0.50

    0.60

    0.18

    0.21

    0.65

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là

     

    sai số chuẩn.

     

     

    19

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    5. Kết luận và hàm ý chính sách

     

    Cả hai nhân tố phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đều là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế (Law và Azman-Saini, 2008). Trong đó, nghiên cứu này xem xét vai trò của chất lượng thể chế ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 2000–2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy chất lượng thể chế mà đặc biệt là yếu tố tham nhũng là sự ổn định chính trị làm gia tăng đáng kể sự phát triển tài chính mà yếu tố tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng trong phân tích. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại cũng là hai yếu tố có tầm quan trọng về mặt thống kê đối với phát triển tài chính, tuy nhiên tác động của chúng đến phát triển tài chính là nghịch chiều. Nghiên cứu cũng phát hiện rằng tác động của chất lượng thể

     

    Tài liệu tham khảo

    chế đến phát triển tài chính không đơn điệu và phụ thuộc vào các dẫn xuất của thể chế. Trong số sáu chỉ số chất lượng thể chế, chỉ số tham nhũng, sự ổn định chính trị, tuân thủ pháp luật và chất lượng quản lý có mối quan hệ hình chữ U với sự phát triển tài chính. Kết quả này cho thấy chất lượng thể chế đóng góp vào phát triển tài chính khi mà nó vượt mức ngưỡng. Do đó việc cải thiện chất lượng thể chế hơn nữa có vai trò then chốt nhằm phát triển thị trường tài chính hơn nữa tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á. Chính phủ của các nền kinh tế này nên áp dụng các chính sách quản lý hoạt động thị trường tài chính cho khu vực tư nhân một cách có kỷ luật và tăng cường cơ sở hạ tầng thể chế nhằm khai thác các khía cạnh có lợi của các thể chế cụ thể, khuyến khích sự phát triển của thị trường tài chính.

     

    Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2004). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. NBER Working paper 10481.

     

    Demetriades, P., & Andrianova, S. (2004). Finance and growth: what we know and what we need to know. In Financial development and economic growth (pp. 38-65). Palgrave Macmillan, London.

    Anutechia, A. S. (2010). Linkages between Financial Development and Openness: panel evidence from developing countries. MPRA paper no. 26926.

     

    Arestis, P., & Demetriades, P. (1997). Financial development and economic growth: assessing the evidence. The economic journal, 107(442), 783-799.

     

    Baltagi, B. H., Demetriades, P. O., & Law, S. H. (2009). Financial development and openness:

     

    Evidence from panel data. Journal of development economics, 89(2), 285-296.

     

    Baumol, W. (1993). Entrepreneurship, Management and the Structure of Payoffs. London: The MIT Press.

     

    Bayar, Y., Akyuz, F., & Erem, I. (2017). Openness and Financial Development in Central and Eastern European Countries. Studies in Business and Economics, 12(3), 5-16.

     

    Chinn, M. D., & Ito, H. (2002). Capital account liberalization, institutions and financial development: cross country evidence (No. w8967). National Bureau of Economic Research.

     

    Claessens, S., & Leaven, L. (2003). What Drives Bank Competition, Some International Evidence World Bank Policy, Working Paper 3113.

     

    20

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Garretsen, H., Lensink, R., & Sterken, E. (2004). Growth, financial development, societal norms and legal institutions. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 14(2), 165-183.

    Ho, S. Y., & Njindan Iyke, B. (2018). Short-and Long-term Impact of Trade Openness on Financial Development in Sub-Saharan Africa. MPRA Working Paper 84272.

     

    Kaufman, D. (10). Myths about Governance and Corruption,”. Finance and Development, 42(3), 2005.

     

    La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., Shleifer, A., & Vishny, R. W. (1997). Legal determinants of external finance. The journal of finance, 52(3), 1131-1150.

     

    Law, S. H., & Azman-Saini, W. N. W. (2008). The quality of institutions and financial development.

     

    MPRA paper no. 12107.

     

    Levine, R. (2001). International financial liberalization and economic growth. Review of international Economics, 9(4), 688-702.

     

    North, D. C. (1991). Institutions. Journal of economic perspectives, 5(1), 97-112.

     

    Rajan, R. G., & Zingales, L. (2003). The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century. Journal of financial economics, 69(1), 5-50.

     

    Roe, M. J., & Siegel, J. I. (2009). Finance and politics: A review essay based on Kenneth Dam’s analysis of legal traditions in the law-growth nexus. Journal of Economic Literature, 47(3), 781-800.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]