Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/u-Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-kh%E1%BA%AFc-ph%E1%BB%A5c-b%E1%BB%99i-chi-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    A.  LỜI MỞ ĐẦU

    Như chúng ta đã biết ,bội chi ngân sách là một vấn đề mà các quốc gia  đều gặp phải .Việc Xử lý bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy mỗi quốc gia đều có những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đua bội chi đến một mức nhất định .Chính phủ Việt Nam  cũng không phải là một ngoại lệ . Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng  tài chính  tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam. Vậy xử lý bội chi NSNN như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? các giải pháp khắc phục bội chi ngân  sách nhà nước Việt Nam hiên nay  là gì ? Những ưu nhược điểm của các giải pháp đó đối với sự pháp triển  kinh tế Việt Nam hiên nay ?

     

    Các bạn hãy cùng nhóm 11 chúng tôi tim hiểu nội dung đề tài phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay để trả lời cho những câu hỏi đó .

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  

     

     

     

    .NỘI DUNG

    PHẦN 1 :NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1,  NGÂN SÁCH NHÀ  NƯỚC

    – Ngân sách nhà  nước là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội trong quá trình tập trung và sử dụng  nguồn lực tài chính quốc gia ,để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm  thực hiên các chức năng nhiện vụ của mình .

    -Vai trò của ngân sách nhà nước :

    Ngân sách nhà nước là công cụ huy động các nguồn lực tài chính quóc gia để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của nhà  nước và thực hiên sự cân đối thu chi của nhà nước .

    Ngân sách nhà nước có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế

    Ngấn sách nhà nước là công cụ để điều tiết thu nhập ,góp phần giải quyết nhũng vấn đề xã hội , đảm bảo công bằng xã hội quan

    – Ngân sách nhà nước gồm 2 hoạt động thu và chi ngân sách

    Thu ngan sách nhà nước : chính phủ dùng quyền lực chính trị của mình để huy động các ngồn lực taì chính trong xã hội ,hình thành   nên quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của mình nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước .

    Chi ngân sách nhà nước là quá trình  phân phối ,sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm trang trải  các chi phí cho sự tồn tại ,hoạt đọng của bộ máy nhà nước và thực hiên các chức năng và nhiêm vụ của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định

    2. BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC LÀ GÌ ?

    Tình trạng mất cân đối của ngân sách nhà nước khi mà thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất định gọi là bội chi ngân sách nhà nước . Nhưng thu gồm những khoản nào, chi gồm những khoản gì? Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:

    Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm

    Thu Chi
    A. Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí).

     

    B. Thu về  vốn (bán tài sản nhà nước).

    C. Bù  đắp thâm hụt.

    –  Viện trợ.

    –  Lấy từ nguồn dự trữ.

    Vay thuần (= vay mới – trả nợ gốc).

    D. Chi thường xuyên.

     

    E. Chi đầu tư.

    F. Cho vay thuần

    (= cho vay mới – thu nợ gốc).

    A + B +C = D + E + F

          Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau:

    Bội chi NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C

    Bội chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ (1 năm ,một chu kỳ kinh tế )là số chênh lệch giũa chi  > thu của th ời kỳ đó

    1. 3. NGUYÊN NHÂN CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH

    Có  2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN:

    – Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.

    – Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà  nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.

    Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,…), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNS

      4. ẢNH HƯỞNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH TỚI NỀN KINH TẾ

    Bội chi ngân sách là một ăn bệnh tác hạị đến sự phát triển kinh tế nếu biên pháp sử lý bội chi không đúng đắn ,cho dù bội chi ngân sách từ nguyên nhân nào đi chăng nữa .bội chi ngân sách là một căn bệnh không chỉ dành riêng cho bất kỳ một quốc gia nào .Một nguyên nhân mang tính phổ biến tồn tại ở khắp các quốc gia trên thế giới ,từ những nước chưa phát triển đến những nước có nền kinh tế phát triển , đó là nhu cầu chi tiêu và thực tế của nhà nước không thể cắt giảm mà ngày càng tăng lên , trong khi đó việc tăng thu ngân sách bằng công cụ thuế sẽ dẫn đến  sự phản hồi từ phía dân cư và các tổ chức kinh tế -xã hội,và hậu quả nhận được là kìm hãm tốc độ tích tụy vốn cho sản xuất , hạn chế  tiêu dùng  dẫn đến khả năng suy thoái nền kinh tế cao .Còn đối với các nước đang phát triển , đặc biệt là các nước nghèo thì bội chi ngân sách là không thể tránh khỏi .Bởi tình trạng thu nhập bình quân đầu người quá thấp không cho phép chính phủ tăng tỷ lệ đông viên từ GDP vào ngân sách nhà nước ,trong khi đó nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên nhất là khi nhà nước thực hiện chương trình đầu tư nhằm cải thiện cơ cấu kinh tế và hướng dẩn sự tăng trưởng .

    Thực tế cho thấy ,bội chi ngân sách không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn tới lạm phát ,gây tác hại xấu đối với nền kinh tế cũng như đời sống xã hội .Nếu bội chi ngân sach được bù đắp bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông sẽ dẫn đến bùng nổ lạm phát

    Bội chi ngân sách không phải là hoàn toàn tiêu cực . Nếu bội chi ở một mức nhất định ( dưới 5% so với tổng chi ngân sách trong năm )thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển .Vì thế ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao nhà  nước vẫn chỉ cố gắng thu hẹp bội chi ngân sách chứ không loại trừ nó hoàn toàn .Nhưng cho dù bôi chi ngân sách ở mức độ nào thì mọi chính phủ đều phải có biện pháp để kiểm soát và kiềm chế bội chi ngân sách

    PHẦN 2 : THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIÊN NAY .

             Chỉ tiêu năm 2007 năm 2008 năm2009
    Tổng thu cân đối NSNN 281900 323000 389900
    Thu kết chuyển từ năm trước sang 19000 9080 14100
    Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 357400 398980 481300
    Bội chi ngân sách nhà nước 56500 66900 873090
    Tỷ lệ bội chi NSNN  so với GDP 5% 5% 4,82%

     

    Thực tế trong những năm qua chúng ta đã kiểm soát được mức độ chi ngân sách nhà nước ở mức giới hạn cho phép ( không quá 5% GDP trên năm) và nguồn vay chủ yếu là chi cho đầu tư phát triển. Ngoài ra chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế ,phí, lệ phí, chi đầu tư phát triển. Đây là những thành công bước đầu đáng ghi nhận trong công tác quản lí cân đối ngân sách nhà nước cũng như kiểm soát vấn đề bội chi ngân sách nhà nước.

    Dưới đây chúng tôi xin đưa các số liệu về cân đối dự toán ngân sách nhà nước trong những năm gần đây (từ năm 2007 đến 2009 )

    Bảng cân đôidự toán ngân sách nhà nước năm 2007

    Cân đối dự toán ngân sách nhà nước 2007
    (28/11/2006 16:17)
           
        Đơn vị tính: Tỷ đồng
    STT CHỈ TIÊU DỰ TOÁN
    NĂM 2007
    A TỔNG THU CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 281.900
    1 THU NỘI ĐỊA (KHÔNG KỂ THU TỪ DẦU THÔ) 151.800
    2 THU TỪ DẦU THÔ 71.700
    3 THU CÂN ĐỐI TỪ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 55.400
    4 THU VIỆN TRỢ KHÔNG HOÀN LẠI 3.000
    B THU KẾT CHUYỂN TỪ NĂM TRƯỚC SANG 19.000
    C TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 357.400
    1 CHI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 99.450
    2 CHI TRẢ NỢ VÀ VIỆN TRỢ 49.160
    3 CHI PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP KINH TẾ – XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH, QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, ĐẢNG, ĐOÀN THỂ (1) 174.550
    4 CHI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG DÔI DƯ 500
    5 CHI CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG (2) 24.600
    6 CHI BỔ SUNG QUỸ DỰ TRỮ TÀI CHÍNH 100
    7 DỰ PHÒNG 9.040
    D BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 56.500
      TỶ LỆ BỘI CHI SO GDP 5%
      NGUỒN BÙ ĐẮP BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC  
    1 VAY TRONG NƯỚC 43.000
    2 VAY NGOÀI NƯỚC 13.500
         

    Dự toán thu ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 281900 tỉ đồng; phấn đấu cả năm ước đạt 287900 tỉ đổng, vượt 2,1% (6000 tỉ đồng). So với dự toán, tăng 11,6% so với thực hiện năm 2006. Trong điều kiện dự toán năm 2007 được xây dựng ở mức cao, quá trình điều hành phát sinh nhiều khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách như sản lượng dầu thô, thanh toán giảm lớn so với dự toán, thực hiện điều chỉnh giảm thuế để bình ổn giá cả thị trường… thì kết quả thu như vậy là tích cực. Dự toán chi quốc hội quyết định là 357400 tỉ đồng, bao gồm cả nhiệm vụ chi từ số thu kết chuyển năm 2006 sang năm 2007 (19000 tỉ đồng); ước cả năm đạt 368340 tỉ đồng, tăng 3,1% (10940 tỉ đồng) so với dự toán bằng 32,3% tăng 14,6% so với thực hiện năm 2006.

    Bộ chi ngân sách năm 2007 được quốc hội quyết định là 56500 tỉ đồng ước cả năm là 56500 tỉ đồng, chiếm 4,95% GDP (tính theo thống kê tài chính CP-GFS là 1,7% GDP bằng mức quốc hội quyết định, được đảm bảo bằng các nguồn vay bù đắp bộ chi đúng với dự toán năm.)

    Thực hiện nghị quyết của quốc hội trong chỉ đạo điều hành ngân sách nhà nước năm 2007 dự kiến sẽ dành 9080 tỉ đồng (ngân sách trung ương 7000 tỉ đồng, ngân sách địa phương 2080 tỉ đồng) kết chuyển sang năm 2008 để thực hiện cải cách tiền lương. Đến 31/12/2007 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 35,9% GDP dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 30,4% GDP, trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.

    Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2008

         
      Tỷ đồng – In billions of dong  
    Stt
    No
    Chỉ tiêu – Items Dự toán
    Plan 2008
    A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước
    Total state budget balancing revenues
    323,000
    1 Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô)
    Domestic revenue (excluding oil revenues)
    189,300
    2 Thu dầu thô – Oil revenues 65,600
    3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
    Revenues from import-export, net
    64,500
    4 Thu viện trợ không hoàn lại – Grants 3,600
    B Thu kết chuyển từ năm trước sang
    Brought forward revenues
    9,080
    C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước
    Total state budget balancing expenditures
    398,980
    1 Chi đầu tư phát triển
    Development investment expenditures
    99,730
    2 Chi trả nợ và viện trợ
    Repayment of debt and provision of aids
    51,200
    3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể
    Expenditure on socio-economics, defense, public security, public administration, party and unions
    208,850
    4 Chi cải cách tiền lương
    Salary reform expenditure
    28,400
    5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
    Transfer to financial reserve fund
    100
    6 Dự phòng – Contingencies 10,700
    D Bội chi ngân sách nhà nước – State budget deficit 66,900
      Tỷ lệ bội chi so GDP – Budget deficit as share of GDP 5%
      Nguồn bù đắp bội chi – Deficit financing  
    1 Vay trong nước – Domestic borrowings 51,900
    2 Vay ngoài nước – External borrowings 15,000

    Dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2008 là 323000 tỉ đồng phấn đấu cả năm đạt 399000 tỉ đồng, vượt 23,5% (76000 tỉ đồng so với dự toán, tăng 26,3% so với thực hiện năm 2007, đạt tỉ lệ động viên 26,8% GDP, trong đó từ thuế và phí đạt 24,9% GDP, ;loại trừ yếu tố tăng thu do tăng giá dầu thô thì đạt tỉ lệ động viên 23,5% GDP (thuế và phí đạt 21,6% GDP) chính phủ tập trung chỉ đạo tăng cường công tác quản lý thu ngân sách năm 2008.

    Dự toán chi cân đối ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 398900 tỉ đồng ước thực hiện cả năm đạt 474280 tỉ đồng vượt 18,9% so với dự toán, tăng 22,3% so với thực hiện năm 2007.

    Bộ chi ngân sách nhà nước năm 2008 quốc hội quyết định là 66900 tỉ đồng. Ước cả năm bộ chi ngân sách thực hiện là 66200 tỉ đồng bằng 4,95% GDP khi xây dựng kiểm toán. Đến ngày 31/12/2008 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 33,5% GDP dư nợ ngoài nước của quốc gia bằng 27,2% GDP trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.

    Công tác tài chính ngân sách năm 2008 còn những khó khăn tồn tại.

    Thu ngân sách tăng nhưng chưa vững chắc chủ yếu là do giá dầu thô và thuế xuất nhập khẩu .Thu ngân sách những tháng cuối năm có chiều hướng giảm do sản xuất kinh doanh gặp khó khăn

    Các bộ ,ngành ,địa phương đã bám sát điều hành dự toán ngân sách nhà nước được giao nhưng triển khai vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn trái phiếu chính phủ còn chậm

    Quản lý chi tiêu ngân sách đã được tăng cường nhưng vẫn còn tình trạng lãng phí ,kém hiệu quả ,một số nơi chưa thật sự quán triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước .

    Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2009

         
         
      Đơn vị tính: Tỷ đồng  
    STT Chỉ tiêu Dự toán
    năm 2009
    A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 389,900
    1 Thu nội địa 233,000
    2 Thu từ dầu thô 63,700
    3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 88,200
    4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
    B Thu kết chuyển từ năm trước sang 14,100
    C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 491,300
    1 Chi đầu tư phát triển 112,800
    2 Chi trả nợ và viện trợ 58,800
    3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 269,300
    4 Chi cải cách tiền lương 36,600
    5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
    6 Dự phòng 13,700
    D Bội chi ngân sách nhà nước 87,300
      Tỷ lệ bội chi so GDP 4.82%
    E Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 87,300
    1 Vay trong nước 71,300
    2 Vay ngoài nước 16,000
         

    Dự toán thu ngân sách nhà nước : dự toán tổng thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2009 là 389900 tỉ đồng,đạt tỷ lệ động viên 23%GDP trong đó từ thuế phí và lệ phí là 21,5% GDP là mức động viên ích cực .

    Về cơ cấu thu năm 2009 dự toán thu nội địa chiếm 59,8% tông thu ngân sách nhà nước ,thu dầu thô chiếm 16,3%, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 22,6% tông thu cân đối ngân sách nhà nước

    Dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2009 được xây dựng trên cơ sở cơ cấu lại chi ngân sách  mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát ổn định vĩ mô ,đảm bảo các nguyên tắc :

    -Tếp tục cơ cấu lại ngân sách ,dảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và điêu chỉnh tiền lương ,các khoản tăng chi theo tiền lương

    – bố trí tăng chi dự phòng ,dự trữ quốc gia để đảm bảo an ninh lương thực và chủ động  phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai dịch bệnh ,bố trí đảm bảo chi trả nợ theo đúng cam kết

    – bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục -đào tạo -dạy nghề y tế ,khoa học -công nghệ ,văn  hoá thông tin ,bảo vệ môi trường ,nông nghiệp nông thôn …theo nghị quyết của đảng ,quốc hội

    -đáp ứng nhu cầu chi cho các nhiệm vụ khác trên tinh thần triệt để  tiết kiệm ,tiếp tục rà soát thắt chặt chi  xây dưng ,bố trí dự toán chi thường xuyên cho các bộ các cơ quan trung ương và các địa phương cơ bản không tăng so với năm 2008 ,giảm mức bội chi ngân sách nhà nước dưới 5%GDP

    Dự toán chi ngân sách năm 2009 là 491300 tỉ đồng ,tăng 23,1% so với dự toán năm 2008: số tăng  chi này tập trung cho các  nhiệm vụ chính

    Về chi ngân sách nhà nước đã bố trí theo hướng cơ cấu lại các khoản chi tập trung chi cho an sinh xã hội ,đầu tư phát triển con người thông qua giáo dục ,y tế ,khoa học công nghệ ,đồng thời thực hiện điều chỉnh tiền lương ở mức cao hơn so với lộ trình  đã được duyệt

    Được xây dựng trong bối cảnh cơ sở dự báo tình hình kinh tế vãn còn khó khăn ,diễn biến thất thường của thị trường và các biện pháp kiềm chế lạm phát vẫn tiếp tục thực hiện ,việc điều chỉnh chính sách thuế tạo thuận lợi hơn cho sản xuất kinh doanh nhưng bước đầu làm giảm thu ngân sách nhà nước

    Về cân đối ngân sách nhà nước

    Bội chi ngân sách nhà nước ở mức 4,82% GDP (giảm 3700 tỉ đồng so với tính bội chi ở mức 5%) để góp phần kiềm chế lạm phát

    Những vấn đề cần có giải pháp khắc phục trong tổ chức thực hiện :

    Về thu ngân sách nhà nước : dự toán xây dựng vẫn còn chứa đựng các yếu tố rủi ro ,chưa lường hết ,trong đó :thu nội địa từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát lạm phát ,bình ổn kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất kinh doanh . thu dầu thô phụ thuộc vào yếu tố sản lượng  và đặc biệt là yếu tố giá dâng có biến động khó lường .

    Dự toán chi ngân sách nhà nước da thực hiện cơ cấu lại để tăng cường  an sinh xã  hội , nhưng vẫn còn khó khăn : dự toán chi đầu tư phát triển NSTW bố trí tăng 10,1% so với dự toán năm 2008 ,nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu ,đòi hỏi phải rà soát ,lựa chọn công trình ,dự án quan trọng  để triển khai thực hiện . đồng thời phải tăng cường huy động nguồn lực đầu vào tư từ các thành phần kinh tế khác để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế

    • một số nhu cầu chi chưa có khả năng bố trí đủ theo yêu cầu ,như chi bù chênh lệch lãi suất tín dụng ưu đãi ,chi thu hồi vốn ứng theo kế hoạch …trong quá trình điều hành ,trường hợp có tang thêm thu NSTW sẽ bổ sung nguồn xử lý
    • để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm  phát  , đã  bố trí giảm bội chi ngân sách nhà nước , nhưng mức giảm chưa nhiều do nhu cầu an sinh xã hội và đầu tư phát triển còn lớn . nếu giảm tiếp mức bội chi ngân sách thì sẽ phải giảm chi đầu tư phát triển ,hiện dang rất khó khăn .
    • Dự toán chi thường xuyen bố trí cho cac bộ ,cơ quan trung ương ,các địa phương ngoài các khoản tăng chi theo chính sách ,chế độ và nhiệm vụ mới phát sinh ,các khoản chi còn lại không tăng so với dự toán năm 2008 trong khi giá cả tawng là khó khăn lớn ,đòi hỏi các bộ ,cơ quan trung ương phải tiếp tục thực hiện triệt để các biện pháp sử dụng hiệu quả kinh phí và tiết kiệm chi

    Dự phòng ngân sách nhà nước  bố trí đạt 2,8% tổng chi ngân sách nha nước ,trong đó dự phòng NSĐP bằng 3,5% ,đảm bảo dự phong của c địa phương ở mức 3-4%, dự phòng NSTW 2,4% tổng chi NSTW , mức bố trí này là raat mỏng so với yêu cầu chủ động phòng chống thiên tai dịch bệnh  và sử lý các nhiệm vụ đột xuất khác phát sinh trong năm .

    PHẦN 3 :CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIÊT NAM HIỆN NAY

    Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm , bởi nó không chỉ tác động trước mắt tới nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia .Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như : giá dầu tăng cao .khủng hoảng  tái chính tại mỹ ,tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới,vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở việt nam .Vậy xử lý bội chi ngan sách  như thế nào đẻ ỏn định vĩ mô ,thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế -xã hội ,tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay ?

    Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường lam các nhà chính trị gia đau  đầu giữa một bên là phát triển bền vững ,duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực có hạn .Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai .Từ sự lưa chọn đó họ đưa ra mức bọi chi hợp lý ,bảo đảm nhu cầu tài trợ  cho tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế ,đòng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý .Bội chi ngân sách nhà nước được hiểu một cách chung nhất là là sự vượt trọi về chi tiêu so với tiền thu được trong năm tài khóa hoặc thâm hụt ngân sách do sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiên chính sách kinh tế vĩ mô . Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế ,phí ,lệ phí ; giảm chi ngân sách ;vay nợ trong nước ,vay nợ nước ngoài ;phát hành thêm tiền để phù đắp chi tiêu ;…Sử dụng phương pháp nào ,nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia .

    Bội chi ngân sách tác động đến nền kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm bù đắp bội chi ngân sách .Mỗi giải pháp bù đắp đều  làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô .Chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu một số giải pháp cơ bản mà chính phủ viêt nam sử dụng để kiềm chế  bội chi ngân sách hiên nay .

       1.TĂNG THU GIẢM CHI

    Đây là biện pháp cơ bản nhất mà chính phủ thương dùng để giảm hộ chi ngân sách .Bằng quyền lực và nghĩa vụ của mình chính phủ tính toán để tăng các khoản thu  và cắt giảm chi tiêu .

    Tăng thu và giảm chi là biện pháp cổ tryền nhưng không phải bao giờ cũng thực hiện thành công được bởi vì ở đây xả ra  hai nghịch lí khó giải quyết .Một là: trong bối cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP chưa  lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng  ở khu vực tư nhân bị hạn chế ,tức giảm động lực phát triển kinh tế .Hai là: khả năng giảm chi cũng có giới hạn nhất định ,nếu giảm chi vượt quá giới hạn thì cũng ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển xã hội

    Chính vì thế vấn đề đặt ra là chính phủ  pohai tính toán phí tăng thu và giảm chi như thế nào để  gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế

    TĂNG THU

    Công tác thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo mức động viên vào ngân sách nhà nước hợp lý tăng nhanh tỉ trọng nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước tập trung thực hiện thu đúng,đủ ,kịp thời theo các luật thuế nhằm động viên hợp lý ,khuyến khích sản cuất kinh doanh  phát triển và đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quan trọng phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế chủ động ứng phó với cấc tác động của thị trường giá cả trong và ngoài nước ;đồng thời đẩy mạnh thực hiện cải các thủ tục hành chính ,hải quan và mổ rộng cơ chế tự khai tự nộp tăng trách nhiệm người nộp thuế và cơ quan thu ;tăng cường kiểm tra chống thất thu ,nợ đọng tạo môi trường thuận lợi  bình đẳng trong  mọi doanh nghiệp của các thành phần kinh tế .Có cơ chế khuyến khích các cấp tăng thu được hưởng hợp lý kết quả tăng thu so với nhiệm vụ nhà nước giao theo quy định pháp luật .Hiện nay tình trạng nợ đọng thuế chưa được kiểm soát chặt chẽ .Vì vậy chính phủ cần phải có giải pháp kiên quyết hơn trong việc kiểm soát nguồn thu từ thuế ,có biện pháp kiểm soát hiệu quả thì sẽ góp phần tăng thu ngân sách nhà nước như :Đẩy  mạnh tuyên truyền giáo dục để nâng cao hiểu biết và tự giác thực hiện nghĩ vụ thuế ;đẩy mạnh kiểm tra ,thanh tra phát hiện và xủ lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng ,không đủ số thuế phải nộp để tăng thu tiền thuế cho ngân sách nhà nước

    Chính phủ cũng cần phải caỉ thiện các nguồn thu ngân sách này tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40% vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay ) Cải cách thuế đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% ngân sách nhà nước của Việt Nam, trong khi con số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Áp dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững trong ngân sách nhà nước, đồng thời giúp nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng vì quốc tế nhân sinh.

    Chính phủ điều chỉnh tăng mức thuế xuất, thuế nhập bằng trần tối đa theo cam kết trong WTO của năm 2008 đối với các hàng hóa tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu ( ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng mô tô, một số mặt hàng điện tử điện lạnh…) ; điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hang thiết thực phục vụ sản xuất (clinke một số mặt hang sản xuất thức ăn chăn nuôi, giấy in báo…) để góp phần bình ổn giá điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với hang hóa là tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản (dầu thô,than đá, quặng kim loại…) điều chỉnh tăng lệ phí trước bạ đối với ô tô con nguyên chiếc dưới 10 chỗ ngồi; thực hiện biện pháp kéo dài, giãn thời hạn nộp thuế và giảm thuế đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoạt động chế biến và xuất khẩu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn do giá đầu vào tăng cao, duy trì và tăng sản xuất xuất khẩu.

    GIẢM CHI

    Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước . Đây là một giải pháp tuy mang  tính tình thế ,nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi sảy ra bội chi ngân sách và xuất hiện lạm phát .triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chi đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo , hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế _xã hội ,đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm ,thậm chí không đầu tư .Mặt khác bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản thu đầu tư công ,những khoản chi thường xuyên của nhưng cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết

    Một trong những giải pháp quan trọng được quốc hội thông qua là cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho an sinh xã hội; tăng chi có trọng điểm cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và những vùng khó khăn, nhất là 61 huyện có tỉ lệ nghèo cao.

    Quốc hội quyết định: cần rà soát kĩ nguồn vốn nhà nước bố trí cho các dự án, công trình thuộc trách nhiệm đầu tư của ngân sách nhà nước sao cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện. Không bố trí vốn ngân sách nhà nước cho các dự án công trình không thuộc lĩnh vực ngân sách nhà nước đầu tư.

    Chính phủ việt nam vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách tài khóa của chính phủ trong thời gian vừa qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên ) và qua đó giảm tổng  cầu .Cụ thể chính phủ chỉ định :

    – Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước

    -Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước

    -Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp

    Tổng đầu tư nhà nước (từ ngân sách ,tín dụng nhà nước thông qua doanh nghiệp nhà nước ) luôn chiếm trên 50% tổng đầu tư của toàn xã hội .Vì vậy không nghi ngờ gì ,nếu nhà nước có thể cắt giảm một số hạng mục đầu tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ nhẹ đi .Cũng tương tự vậy ,lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi tiêu thường xuyên (chiếm 56% tổng chi ngân sách năm 2007)

    Mặc dù việc cắt giảm chi tiêu là hoàn toàn đúng đắn , song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu còn chưa chắc chắn vì ít nhất có 4 lý do :

    -thứ nhất việc cắt giảm ,thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không hề dễ dàng , nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập các cấp quyết định ,dã dược đưa vào quy định của các bộ ,ngành địa phương ,đã được triển khai , và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơ quan liên quan đến dự án

    -thứ 2 :nhà nước hầu như không thể kiểm soát  các khoản đầu tư của các DNNN một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư ,và mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng

    – thứ 3 : Với tốc độ lạm phát nhanh như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng ức đầu tư công theo đúng dự toán cũng được coi  là một thành tích đáng kể

    -thứ 4 : kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng việc giảmchi thường xuyên rất khó khăn nên đây là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm . Hơn thế với thực tế ở việt nam  thì phạm vi chi thường xuyên có thể cắt giảm không nhiều . Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương ( chiếm khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên ),sau đó trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất lương ,chi chính sách chế độ ,tiền đóng  niêm liễn cho các tổ chức quốc te, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện …

    Theo ước lượng của bộ kế hoạch và đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì sẽ giảm được khoảng 3000 tỷ đồng chi hội họp và mua sắm xe ,tức giảm được khoảng 0,8 tổng chi ngân sách nhà nước .

    2. BIỆN PHÁP VAY NỢ

    a, Vay nợ trong nước  

    Sự thiếu hụt ngân sách do nhu cầu vốn tài trợ cho sự phát triển nền kinh tế quá lớn đòi hỏi phải đi vay để bù đắp . Điều này được thể hiện qua việc chúng ta chỉ vay để đầu tư phat triển kết cáu ha tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển đất nước . Nhưng trên thực tế số tiền vay ,đặc biệt của nước ngoài chưa được quản lý chặt chẽ .Tình trạng đâu tư dân trải ở các địa phương vẫn chưa đươc khắc phục triệt để tiến độthi công nhưng dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả .Chính vì vậy các khoản đầu tư phát triển lấy từ nguồn vốn nay cả trong và ngoài nước cần đảm bảo các quy định của ngân sách nhà nước và mức bội chi cho phép hằng năm do quốc hội quyêt định

    Tập trung các khoản vay do trung ương đảm nhận các nhu cầu đầu tư của địa phương cần được xem xét và thực hiện bổ xung từ ngân sách cấp trên thực hiện như vậy ,tránh được đầu tư tràn lan kém hiệu quả va để tồn ngân sách quá lớn quản lý chặt chẽ số bội chi ngân sách nhà nước .Hiên tại chúng ta đang đưng rước mâu thuẫn giưa nhu cầu vốn cho vay đầu tư với nguồn nhân lực hạn hẹp . Nếu thực hiên thắt chặt ,hạn chế vay để đầu tư sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đang có nhu cầu vay vốn rất cao .Nhưng nếu chung ta không kiểm soát chặt chẽ các khoản vay của ngân sách nhà nước ,nhất là vay vốn của ngân sách địa phương thi nguy cơ ảnh hưởng tới nên an ninh tài chính quốc gia ,sự bền vững của ngan sách nhà nước .Thực hiên đầu tư tập trung cũng có lợi là bảo đảm phát triển hài hòa cân đối giưa các vùng miền trong toàn quốc . khi các địa phương  vay vốn  để đầu tư sẽ kien quyết không bố trí nguồn chi thường xuyên cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu ,bả dưỡng các công trình ,làm giảm hiệu quả đầu tư . Có như vậy các địa phương phải tự cân đói nguồn kinh phí này chứ không thể yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách nhà nước

    Vay trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái ,trái phiếu .Công trái ,trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà nước ,là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các dân cư ,các tổ chức kinh tế xã hội vầccs ngân hàng .Ở việt nam chính phủ thường ủy nhiệm  cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình

                    NĂM SỐ TIỀN VAY TRONG NƯỚC (tỷ đồng)
    2007 43000
    2006 36000
    2005 32420
    2004 27450
    2003 22895
    2002 18382

      Ưu điểm :Đây là biện pháp cho phép chính phủ có thể giảm bội chi  ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dư trữ quốc tê . Vì vậy ,biện pháp  này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát

    Nhược điểm : viêc khắc phục bội chi ngân sách bằng nợ tuy không gây ra lạm phát trước mắt nhưng nó lại  có thể làm tăng áp lực lạm phát trong tương lai nếu như tỷ lệ  nợ trong GDP liên tục tăng . Thứ nữa ,viêc vay từ dâ trực tiếp sẽ làm giảm khả năng khu vực tư nhân trong việc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước

    Đặc biệt ,ở những nước trải qua giai đoạn lạm phat cao (như nước ta hiên nay) , giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng ,làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn .Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu ,.Tuy nhiên ,nếu việc làm này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghieem trọng đến uy tín của chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau .

    Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ trong nước : hằng năm ngan hàng phải huy động một khoản tền nhàn rỗi trong nước tương đói lớn để bù đắp bội chi ngân sách .để việc huy đông vốn không ảnh hưởng lớn đến thị trường tiền tệ ,đến lãi suất ,Bộ tài chính thực hiện chính sách trước hết thực hiện vay vốn nhàn rỗi từ các quỹ tài chính nhà nước như : quỹ bảo hiểm xã hội ,quỹ tích lũy trả nợ ..phần còn thiếu sẽ thực hiện phát hành trái phiếu và tín phiếu chính phủ .Đối với tín phiếu (loại thời hạn 1 năm) ,thực hiện phối hợp với ngân hàng nhà nước đấu thầu (đấu thầu về lãi suất ) qua ngân hàng nhà nước ,đây là biện pháp vừa để đảm bảo nguồn bù đắp bội chi cho ngân sách nhà nước ,đồng thời cũng tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có nguồn vốn nhàn rỗi ,chưa cho vay được thực hiện mua trái phiếu này (kết quả cho thấy trong năm qua nhiều tổ chức tín dụng đã mua tín phiếu kho bạc )

    b, Vay nợ nước ngoài

    Chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước nước ngoài ,các định chế tài chính thế giới như ngân hàng thế giới(WB), Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF) ,Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),các tổ chức liên chính phủ ,toor chức quốc tế …

    Viên trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ ,các tổ chức nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA

    Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dướicác hình thức :phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài ,vay bằng hình thức tín dụng …

    NĂM SỐ TiỀN VAY NƯỚC NGOÀI (tỷ đồng)
    2007 13500
    2006 12500
    2005 8326
    2004 7253
    2003 7041
    2002 7125

      Ưu điểm :nó là một biện pháp giảm bội chi ngân sách hữu hiệu ,có thể bù đắp được các khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm pháp cho nền kinh tế .Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước ,góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội

    Nhược điểm : Nó sẽ khiến chi gánh nặng nợ nần ,nghĩa vụ trả nợ tăng lên ,giảm khả năng chi tiêu cho chính phủ .Đông thời ,nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài .Thậm chí ,nhiều khoản vay ,khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị ,quân sự ,kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều .

    Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ nước ngoài ,thực hiện  chính sách chỉ vay ưu đãi nước ngoài ,không vay thương mại nước ngoài cho đàu tư phát triển .Đối với những khoản vay thương mại nước ngoài và nợ quá hạn trước đây đã được xử lý qua câu lạc bộ Pari và câu lạc bộ luân đôn . thực hiện xử lý nợ với Nga ,Angiêri … Nhờ thực hiện tốt quá trình cơ cấu lại nợ ,cũng như chính sách vay mới mà dư nợ Chính phủ hiện nay ở mức 35% GDP vào năm 2005 ,mức an toàn ,đảm bảo an ninh tài chính quốc gia .

    3.VAY NGÂN HÀNG (IN TIỀN )

    Chính phủ khi bị thâm hụt ngân hàng sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù đắp .đáp ứng nhu cầu này ,tất nhiên ,ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền .Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ .Chính vì vậy ,nó được gọi là tiền tệ hóa thâm hụt

    Ưu điểm :của biện pháp này là nhu cầu tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được dáp ứng một cá nhanh chóng ,không phải trả lãi ,không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần

    Nhược điểm :của biện pháp này là lại lớn hơn rát nhiều lần .Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền . nó đẩy cho việc lạm phat trở nên không thể kiểm soát nổi .Viêt nam từ năm1988 trở về trước bội chi ngân  sách được nhà nước bù đắp chủ yếu bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông dẫn đến tốc độ lạm phát rất cao ,năm 1986 là 774,7% ,năm 1987 là 223,1% ,1988 là 393,8% ;nhưmg từ năm1991 mặc dù bôi chi ngân sách còn ở mức lớn ,đô bù đắp bằng các biện pháp tích cực khác nên lạm phát đã giảm nhanh và đã được kiểm soát ở mức một con số cho đến nay .Chính vì những hậu quả đó ,biện pháp này rất ít khi được sử dụng . Và từ năm 1992 ,nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

     4, TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

    Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả ,ổn định chính sách  kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế .Để thực hiện vai trò của mình ,nhà nước sư dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển ,tác động vào đời sống kinh tế _xã hội ,nhằm giải quyêt các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội ,nhất là mối quan hệ tăng trưởng và công bằng xã hội .giưa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn mội trường v.v..Đặc biệt trong điều kiện hiện nay ,khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới ,vấn đề tăng cường vai trò quản lý của các nước trên thế giới ,vấn đề tăng cường vai trò vai trò quản lý của nhà nước đối với quản lý ngân sách nhà nước nói chung và xử lý bội chi ngân sách nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết

     

    C.KẾT LUẬN

    Có nhiều cách để chính phủ bù đắp bội chi ngân sách nhà nước ,nhưng phải sử dụng cách nào ,nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế ,chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia , bởi mỗi giải pháp bù bắp đều có những ưu nhược điểm làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô .Vì vậy,chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp bù đưa phù hợp với thực trạng hiện nay ,khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ,nền tài chính quốc gia cũng được đổi mới .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính

    Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính

    Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-H%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-l%E1%BA%ADp-b%C3%A1o-c%C3%A1o-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính

    I. QUY ĐỊNH CHUNG

    Báo cáo tài chính giữa niên độ gồm 2 loại: Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược. Doanh nghiệp lập báo cáo tài chính theo dạng đầy đủ thì áp dụng Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” và một số quy định tại chuẩn mực kế toán số 27 “Báo cáo tài chính giữa niên độ”. Doanh nghiệp lập báo cáo tài chính theo dạng tóm lược  thì áp dụng Chuẩn mực kế toán số 27 “ Báo cáo tài chính giữa niên độ”  và hướng dẫn tại phần này.Mẫu biểu và các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính giữa niên độ thực hiện theo mẫu biểu và các chỉ tiêu trong chế độ báo cáo tài chính năm ban hành theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính).

    Doanh nghiệp nhà nước phải lập báo cáo tài chính quý dạng đầy đủ khi nộp BCTC cho các cơ quan quản lý nhà nước. Các DN khác khi tự nguyện lập BCTC quý dạng đầy đủ hoặc tóm lược thì thực hiện theo phần hướng dẫn có liên quan của Thông tư này. Các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán khi thực hiện báo cáo tài chính giữa niên độ thực hiện theo phần hướng dẫn có liên quan của thông tư này và các quy định khác theo pháp luật về thị trường chứng khoán; Công ty mẹ niêm yết trên thị trường chứng khoán thì lập báo cáo tài chính quý của công ty mẹ và báo cáo tài chính tổng hợp quý của công ty mẹ và các công ty con. Từ báo cáo tài chính năm công ty mẹ phải lập báo cáo hợp nhất.

    Hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ bao gồm:

    + Bảng cân đối kế toán (đầy đủ, tóm lược)

    + Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (đầy đủ, tóm lược)

    + Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( đầy đủ, tóm lược)

    + Bản Thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc

    Kỳ lập báo cáo tài chính giữa niên độ là cuối mỗi quý của năm tài chính (không bao gồm quý IV)

    Báo cáo tài chính giữa niên độ phải lập đúng hình thức, nội dung, phương pháp và trình bày phải nhất quán giữa các kỳ kế toán, nếu có nội dung khác thì phải giải thích ở Bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Các nội dung trình bày trên mỗi báo cáo tài chính giữa niên độ tối thiểu phải bao gồm các đề mục và các số cộng chi tiết được trình bày trong mỗi Báo cáo tài chính  năm gần nhất tương ứng, và Bảng thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc.

    Việc lập và trình bày Báo cáo tài chính giữa niên độ cũng phải tuân thủ các yêu cầu và nguyên tắc quy định ngắn hạn.

    Khi điều chỉnh Báo cáo tài chính giữa niên độ doanh nghiệp phải áp dụng chính sách kế toán nhất quán cho một loại giao dịch cụ thể. Trường hợp doanh nghiệp tự nguyện thay đổi chính sách kế toán vào giữa năm tài chính thì doanh nghiệp phải áp dụng phương pháp hồi tố, tức là phải điều chỉnh lại báo cáo tài chính các quý trước.

    Doanh nghiệp lập báo cáo tài chính giữa niên độ cũng phải thực hiện công khai Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật.

    II. Hướng dẫn lập và trình bày BCTC giữa niên độ:

    1. Lập và trình bày Bảng cân đối kế toán giữa niên độ:

    1.1. Nguyên tắc lập và trình bày:

    Việc lập và trình bày Bảng cân đối kế toán giữa niên độ phải tuân thủ các quy định chung về lập và trình bày BCTC, cũng như các nguyên tắc riêng đối với Bảng cân đối kế toán năm, được quy định trong BCTC doanh nghiệp hiện hành.

    Ngoài ra khi lập BC này doanh nghiệp cũng phải tuân thủ các quy định sau

    -Áp dụng các chính sách kế toán về ghi nhận và đánh giá tài sản, nợ phải trả tương tự như đối với Bảng cân đối kế toán năm

    -Nội dung tối thiểu cần trình bày trong Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng tóm lược) gồm các khoản mục tổng hợp, mà mỗi khoản mục này là tổng của các khoản mục chi tiết ở Bảng cân đối kế toán năm gần nhất và các số liệu về các sự kiện, các hoạt động mới phát sinh từ cuối niên độ kế toán năm trước gần nhất đến cuối quý BC này.

    -Phải trình bày số liệu từ đầu niên độ đến hết ngày kết thúc mỗi quý BC và số liệu so sánh từng chỉ tiêu tương ứng được lập vào cuối kỳ kế toán năm trước gần nhất (số đầu năm)

    1.2. Kết cấu và nội dung bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng tóm lược)

    Căn cứ vào các nguyên tắc trình bày nêu trên, bảng cân đối kế toán tóm lược từng quý gồm tối thiểu các khoản mục chủ yếu được sắp xếp theo kết cấu quy định tại Chế  độ kế toán Doanh nghiệp (Mẫu số B 01b-DN) ban hành kèm theo quyết định số 15/2006/QD-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài Chính, gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

    Phần tài sản:

    Các chỉ tiêu ở phần “tài sản” phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại ngày kết thúc kỳ kế toán quý theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, gồm :

    A . Tài sản ngắn hạn

    1. Tài sản dài hạn

    Phần nguồn vốn:

    Các chỉ tiêu ở phần “nguồn vốn” phản ánh nguồn hình thành tài sản có của doanh nghiệp tại ngày kết thúc quý. Các chie tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang sử dụng và quản lý ở doanh nghiệp, gồm:

    1. Nợ phải trả
    2. Vốn chủ sở hữu

    Mỗi phần của bảng cân đối kế toán đều phản ánh theo 4 cột:

    +Mã số

    +Thuyết minh

    +Số cuối quý

    +Số đầu năm

    Sau đây là mẫu bảng:

    Mẫu số B 01 b-DN

    Đơn vị báo cáo:…

    Địa chỉ:….

    BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN GIỮA NIÊN ĐỘ

    (Dạng tóm lược)

    Quý …năm…

    Tại ngày…tháng …năm…

    Đơn vị tính:….

    TÀI SẢN Mã số Thuyết
    minh
    Số cuối
    quý
    Số đầu năm
    1 2 3 4 5
    A-   TÀI SẢN NGẮN HẠN

     

    (100=110+120+130+140+150)

    I. Tiền và các khoản tương đương tiền

    II. Các khoản phải thu tài chính ngắn hạn

    III. Các khoản phải thu ngắn hạn

    IV. Hàng tồn kho

    V.Tài sản ngắn hạn khác

    100

     

    110

    120

    130

    140

    150

         
    B-    TÀI SẢN DÀI HẠN

     

    (200=210+220+240+250)

    I. Các khoản phải thu dài hạn

    II. Tài sản cố định

    III. Bất động sản đầu tư

    IV. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

    V.Tài sản dài hạn khác

    200

     

    210

    220

    240

    250

    260

         
    TỔNG CỘNG TÀI SẢN

     

    (270=100+200)

    270      
    NGUỒN VỐN        
    A-   NỢ PHẢI TRẢ

     

    (300=310+330)

    I. Nợ ngắn hạn

    II. Nợ dài hạn

    300

     

    310

    330

         
    B-    VỐN CHỦ SỞ HỮU

     

    (400=410+430)

    I. Vốn chủ sở hữu

    II. Nguồn kinh phí và quỹ khác

    400

     

    410

    430

         

    Lập, ngày…tháng …năm…

    Người lập biểu                                  Kế toán trưởng                      Giám đốc

    (ký, họ tên)                                        (ký, họ tên)                 (ký, họ tên, đóng dấu)

     III. Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu:

    1.Bảng cấn đối kế toán giữa niên độ( dạng tóm lược) (Mẫu số B-01b-DN)

    • “Mã số” ghi ở cột 2 dùng để cộng khi lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất.
    • Số hiệu ghi ở cột 3 “thuyết minh” của báo cáo này dùng cho người đọc báo cáo tham chiếu số liệu chi tiết của chỉ tiêu này trong bảng thuyết minh bao cáo tài chính chọn lọc.
    • Số liệu ghi ở cột 5 “số đầu năm” của báo cáo này tại ngày kết thúc quý báo cáo được căn cứ vào số liệu của từng chỉ tiêu tương ứng được lập vào cuối kỳ kế toán năm trước.
    • Số liệu ghi ở cột 4 “ số cuối quý” của báo cáo nay tại ngày kết thúc quý được thực hiện theo hướng dẫn như đối với bảng cân đối kế toán năm ( mẫu số B01 – DN)

     

    PHẦN TÀI SẢN

    • TÀI SẢN NGẮN HẠN (Mã số 100)

    Bao gồm: Tiền, các khoản tương đương tiền, giá trị thuần của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.

    Mã số 100 = Mã số 110 + Mã số 120 + Mã số 130 + Mã số 140 + Mã số 150.

    • Tiền và các khoản tương đương tiền (Mã số 110)

    Số liệu để ghi vào chi tiết này là tổng số dư nợ của các tài khoản: TK 111, TK112, TK113 và chi tiết TK 121, có thời hạn không quá 3 tháng kể từ ngày mua trên Sổ cái hoặc Nhật ky –  sổ cái tại ngày kết thúc báo cáo.

    • Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn ( Mã 120)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn  (sau khi trừ đi dự phòng giam giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn) hiện có tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi chỉ tiêu này la tổng số dư Nợ của các tài khoản: TK 121 và TK 128 trên sổ cái hoặc nhật ký sổ cái tại ngày kết thúc quý báo cáo sau khi trừ đi số dư. Có của TK 129.

    • Các khoản phải thu ngắn hạn ( Mã số 130)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu từ khách hàng ( sau khi trừ đi dự phòng phải thu khó đòi), khoản trả trước cho người bán , phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác tại ngày kết thúc quý báo cáo, có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Nợ tại ngày kết thúc quý báo cáo của các tài khoản: TK 131, TK 331, TK 1368, TK 337 và ghi dư nợ chi tiết của các TK 138, 338, 141, 144 theo từng đối tượng phải thu trên sổ kế toán chi tiết, sau khi trừ chi tiết số dư Có của TK 139 “dự phòng phải thu khó đòi” tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Hàng tồn kho ( Mã 140)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị thuần hiện có các loại hàng tồn kho dự trữ trong quá trinh sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu là tổng số dư nợ của các tài khoản: TK 151, TK 152, TK 153, TK 154, TK 155, TK 156, TK 157, TK 158, sau khi trừ số dư có TK 159, trên sổ cái hoặc nhật ký – sổ cái tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Tài sản ngắn hạn khác ( Mã 150)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng các khản chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước và tài sản ngắn hạn khác tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư nợ của các tài khoản: TK 133 và chi tiết số dư tài khoản 333, TK 1381, TK 141, TK 142, và TK 144 trên sổ cái hoặc Nhật ký – Sổ cái tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • TÀI SẢN DÀI HẠN (Mã số 200)

    Phản ánh tổng giá trị thuần của các loại tài sản không được phản ánh trong chỉ tiêu tài sản ngắn hạn tại ngày kết thúc quý báo cáo gồm giá trị thuần các khoản phải thu dài hạn, tái sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác có đến ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Các khoản phải thu dài hạn (Mã số 210)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị thuần của các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn  và các khoản phải thu dài hạn khác tại ngày kết thúc quý báo cáo, có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm.

    Số hiệu để ghi vào chỉ tiêu nay là tổng số dư nợ chi tiết phải thu dài hạn của các tài khoản: Chi tiết TK 131, TK 1361, TK 1368, và các TK 138, 338, 244, sau khi trừ đi chi tiết số dư có TK 139 tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Tài sản cố định (220)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại  của các loại tài sản cố định  và chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang hiện có, tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư nợ của các tài khoản: TK 211, TK 212, TK 213, sau khi trừ tổng số dư có của các tài khoản phản ánh giá trị hao mòn: TK 2141, 2142, 2143, và số dư nợ của TK 214 trên sổ cái hoặc Nhật ký – số cái  tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Bất động sản đầu tư ( Mã số 240)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của các loại bất động sản đầu tư hiện có tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để phản ánh vào chỉ tiêu này lá số dư nợ của TK 217, sau khi trừ số dư có của TK 2147 trên Sổ Cái hoặc Nhật Ký – Sổ Cái tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Các khoản đầu tư tài chính dài hạn ( Mã số 250)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị thuần các khoản đầu tư tài chính  dài hạn hiện có tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Nợ của các tài khoản: TK 221, 222, 223, 228, trên sổ cái hoặc nhật ký – sổ cái tại ngày kết thúc quý báo cáo, sau khi trừ số dư có TK 229.

    • Tài sản dài hạn khác ( Mã số 260)

    Là chỉ tiêu tổng hợp  phản ánh tổng số chi phí trả trước dài hạn nhưng chưa phân bổ vào chi phí sản xuất, kinh doanh, tài sản thuế thu nhập hoãn lại, các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn và tài sản khác tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để phản ánh vào chỉ tiêu này được căn cứ vào tổng số dư Nợ của các TK 242, 243, 244 và các TK khác có liên quan trên Sổ Cái hoặc Nhật ký – sổ cái.

    • TỔNG CỘNG TÀI SẢN (Mã số 270)

    Phản ánh tổng giá trị tài sản thuần hiện có của doanh nghiệp hiện có tại thời điểm báo cáo, bao gồm các loại thuộc các loại tài sản ngan han và tài sản dài hạn.

    Mã số 270 = Mã số 100 + Mã số 200

    NGUỒN VỐN

    • NỢ PHẢI TRẢ (Mã số 300)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ có của doanh nghiệp hiện có tại thời điểm báo cáo, bao gồm các  khac sế thu nhập hoãn lại, số phải trả tại thời điểm báo cáo, gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn

    Mã số 300 = Mã số 310 + Mã số 330

    • Nợ ngắn hạn (Mã số 310)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ còn  phải trả có thời hạn thanh toán dưới 1 năm hoặc dưới 1 chu kỳ kinh doanh , các khoản vay ngắn hạn, và giá trị các khoản chi phí phải trả, tài sản thừa chờ xử lý, các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn và các khoản phải trả, phai nộp khác tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vào chi tiết này là tổng số dư có của các khoản phải trả ngắn hạn của các TK 311, TK 315, TK 331, TK 131, 333, 334, 335, 336, 338, 138, 337, và TK 351, 352 trên sổ kế toán chi tiết các tài khoản liên quan và Sổ cái hoặc Nhật ký – sổ cái  các TK 311, 315, 337 tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Nợ dài hạn ( Mã số 330)

    Là tổng chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ phải trả dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán ban đầu trên 1 năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh: khoản phải trả cho người bán, phải trả dài hạn, phải trả dài hạn nội bộ, vay và nợ dài hạn, thuế rthu nhập hoãn lại phải trả và các khoản phải trả dài hạn khác tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vao chỉ tiêu này là tổng số dư Có chi tiết các khoản phải trả dài hạn của các tài khoản: TK 331, 336, 338, 341, 342, 335, 343, 344, 347, 351, và TK 352 trên sổ kế toán chi tiết các TK 331, 336, 338, 351, 352 và sổ cái hoặc Nhật ký – sổ cái các TK 341, 342, 343, 344, 347 tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • VỐN CHỦ SỞ HỮU (Mã số 400):
    • Vốn chủ sở hữu (410)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ vốn thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp và các quỹ của doanh nghiệp, bao gồm: vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác, cổ phiếu quỹ, chênh lệch đánh giá lại tài sản và chênh lệch tỷ giá hối đoái, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối và nguồn vốn đầu tư XDCB tại ngày kết thúc quý BC.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Có của Tài khoản 411 “Nguồn vốn kinh doanh”, TK 419 “Cổ phiếu quỹ”, TK 412 “Chênh lệch đánh giá lại tài sản”, TK 413 “Chênh lệch tỷ giá hối đoái”, TK 414 “Quỹ đầu tư phát triển”, TK 415 “Quỹ dự phòng tài chính”, TK 418 “Các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu”, TK 421 “Lợi nhuận chưa phân phối”, TK 441 “Nguồn vốn đầu tư XDCB”, trên Sổ Cái hoặc Nhật ký –Sổ Cái tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Trường hợp các tài khoản: TK412, TK413, TK419, TK421 có số dư nợ thì số liệu này được gi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…)

    • Nguồn kinh phí và quỹ khác(Mã số 420)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị quỹ khen thưởng, phúc lợi, nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án được cấp để chi tiêu cho các hoạt động sự nghiệp, dự án (sau khi trừ các khoản chi bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, dự án)và nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ tại ngày kết thúcquý BC.

    Tổng cộng nguồn vốn(Mã số 440)

    Phản ánh tổng số các nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại ngày kết thúc quay báo cáo.

    Mã số 440 = Mã số 300 + Mã số 400

    Chỉ tiêu “Tổng cộng tài sản”(MS 270)=Chỉ tiêu “Tổng cộng nguồn vốn”(MS 440).

     

     

    VÍ DỤ MINH HOẠ:

     

    CÔNG TY CỔ PHẦN BIBICA

    Địa chỉ: Khu công nghiệp Biên Hòa 1, TP Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
    BÁO CÁO TÀI CHÍNH

    BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN GIỮA NIÊN ĐỘ

    Tại ngày 31 tháng 03 năm 2008

    Đơn vị tính: VND

    TÀI SẢN Mã số Thuyết

     

    Minh

    Số cuối quý Số đầu năm
    A-TÀI SẢN NGẮN HẠN (100=110+120+130+140+150) 100   397,937,657,494 179,079,163,900
    I.Tiền và các khoản tương đương tiền 110   8,541,815,905 44,423,027,953
    II.Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 120   255,055,000,000 14,055,000,000
    III.Các khoản phải thu ngắn hạn 130   46,448,601,458 30,318,114,546
    IV.Hàng tồn kho 140   83,424,103,959 86,850,781,794
    V.Tài sản ngắn hạn khác 150   4,468,136,172 3,432,239,607
    B-TÀI SẢN DÀI HẠN (200=210+220+240+250+260) 200   204,526,140,048 200,093,292,261
    I.Các khoản phải thu dài hạn 210                              –                         –
    II.Tài sản cố định 220   150,248,402,234 149,434,543,395
    III.Bất động sản đầu tư 240                           –
    IV.Các khoản dầu tư tài chính dài hạn 250   42,168,075,855 38,499,423,011
    V.Tài sản dài hạn khác 260   12,109,661,959 12,159,325,855
    TỔNG CỘNG TÀI SẢN (270=100+200) 270   602,463,797,542 379,172,456,161
    NGUỒN VỐN        
    A-NỢ PHẢI TRẢ 300   114,907,676,616 172,176,511,837
    I.Nợ ngắn hạn 310   99,812,346,876 141,006,182,097
    II.Nợ dài hạn 330   15,095,329,740 31,170,329,740
    B-NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 400   487,556,120,926 206,995,944,324
    I.Vốn chủ sở hữu 410   484,792,542,743 205,372,248,941
    II.Nguồn kinh phí và quỹ khác 430   2,763,578,183 1,623,695,383
    TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN (440=300+400) 440   602,463,797,542 379,172,456,161

    Đồng Nai, ngày 22  tháng 04 năm 2008   Người lập biểu                                    Kế toán trưởng                                Giám đốc 

    Doãn Thị Vân                          Nguyễn Quang Hiến                      Trương Phú Chiến

     

     PHÂN TÍCH

    1. Tài sản:

    – Tổng tài sản:

    Nhìn vào bảng cân đối ta thấy, tổng tài sản tại thời điểm báo cáo tăng 224 tỷ VND (tương đương 59%) so với đầu kỳ chủ yếu là từ phần tăng của tài sản ngắn hạn tăng 219 tỷ VND (tương đương 122%), trong khi đó tài sản dài hạn gần như không thay đổi.

    – Tài sản ngắn hạn: Chiếm 66% trong cơ cấu tài sản, tỷ trọng tăng so với thời điểm đầu năm (47,3%).

    Tại thời điểm cuối tháng 3/2009, tài sản ngắn hạn tăng 122%, nguyên nhân là do các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn khác tăng mạnh đến 241 tỷ VND gấp 18 lần số dư đầu năm, trong khi đó số dư tiền mặt giảm sút mạnh (giảm 35,9 tỷ VND tương đương 81%) tuy nhiên đây không phải là những khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn và số dư lập dự phòng giảm giá bằng 0 rủi ro rất ít chứng tỏ đơn vị không để tiền mặt tại quỹ quá nhiều mà đưa vào đầu tư tài chính hứa hẹn khả năng sinh lời trong tương lai gần.

    Các khoản phải thu tăng 53%, chủ yếu là trả trước cho người bán tăng 12 lần, trong khi phải thu của khách hàng giảm 40% cho thấy đơn vị đang chuẩn bị kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh khá lớn, tuy nhiên doanh thu của đơn vị trong thời gian tới có thể giảm do phải thu khách hàng giảm.

    Hàng tồn kho không thay đổi nhiều so với thời điểm đầu năm cho thấy đơn vị có kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu, sản xuất kinh doanh khá ổn định.

    – Tài sản dài hạn: Chiếm 34% cơ cấu tổng tài sản, tỷ trọng giảm so với thời điểm đầu năm (52,7%).

    Như phân tích ở trên, tài sản dài hạn của đơn vị gần như không thay đổi, đơn vị gần như không trang bị thêm tài sản cố định trong quý, trong khi đó chi phí xây dựng dở dang tăng nhẹ 1,3% chủ yếu là do tăng chi phí xây dựng khu công nghiệp Mỹ Phước.

    Các khoản đâu tư tài chính dài hạn tăng 10,5%, đây là những khoản đầu tư chứng khoán dài hạn, tại thời điểm lập báo cáo, đơn vị đã trích lập dự phòng rủi ro giảm giá cho thấy giá trị thị trường thời điểm lập báo cáo thấp hơn giá gốc 1,7%. Các khoản đầu tư chứng khoán dài hạn chiếm 19,6% cơ cấu tài sản dài hạn và có xu hướng tăng so với thời điểm đầu năm. Xu hướng này có thể đưa đến rủi ro cho đơn vị, do đầu tư chứng khoán dài hạn không phải là lĩnh vực kinh doanh chính của đơn vị mặt khác thị trường chứng khoán đang có xu hướng giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới.

    Nhận xét: Tổng tài sản của đơn vị tăng mạnh trong quý qua, tuy nhiên mức tăng chủ yếu là từ tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn gần như không thay đổi cho thấy trong thời gian ngắn đơn vị chủ yếu tập trung vào hoạt động tài chính (đầu tư ngắn hạn tăng mạnh), hoạt động sản xuất kinh doanh đơn vị diễn ra bình thường, tuy nhiên, đơn vị cũng tăng mạnh phải trả người bán cho thấy đơn vị đang chuẩn bị cho kế hoạch sản xuất kinh doanh quý tới, cũng do trong thời gian ngắn nên đơn vị chưa tập trung vào hoạt động đầu tư tài sản dài hạn, nếu không có sự thay đổi trong thời gian tới có thể lâu dài sẽ ảnh hưởng đến năng lực sản xuất của đơn vị (do không đầu tư trang bị máy móc mới, tiên tiến để nâng cao năng lực sản xuất) từ đó ảnh hưởng tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị trong dài hạn.

    Cơ cấu tài sản của đơn vị có sự chuyển đổi không hợp lý, đơn vị hoạt động trong ngành sản xuất công nghiệp, đòi hỏi tỷ trọng tài sản dài hạn chiếm phần lớn tuy nhiên tại thời điểm báo cáo tỷ trọng tài sản dài hạn có xu hướng giảm, đơn vị cần cải thiện trong thời gian tới.

    1. Nguồn vốn:

    – Tổng nguồn vốn: Tổng nguồn vốn của đơn vị tăng mạnh, tương ứng với mức tăng tổng tài sản. Chủ yếu là do trong kỳ đơn vị thực hiện tăng vốn chủ sở hữu 279 tỷ VND. Trong khi đó nợ phải trả của đơn vị giảm 57 tỷ VND (-33%) chủ yếu là do đơn vị trả nợ các khoản vay ngắn và phải trả dài hạn khác giảm mạnh.

    – Nợ phải trả: Tại thời điểm báo cáo, cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn của đơn vị cùng giảm trong đó nợ ngắn hạn giảm 29%, nợ dài hạn giảm 51,6% dẫn đến nợ phải trả của đơn vị giảm 34% so với thời điểm cuối năm trước.

    Nợ ngắn hạn của đơn vị giảm 29% chủ yếu là do trong kỳ đơn vị tập trung trả nợ ngân hàng nên dư nợ vay ngắn hạn giảm 26,2 tỷ (-47%), chiếm dụng người bán giảm 16 tỷ VND (-22,2%) do đơn vị tăng trả trước cho người bán 22 tỷ VND tăng 12 lần so với thời điểm đầu kỳ.

    Nợ dài hạn: Tại thời điểm 31/3/2009, nợ dài hạn của đơn vị giảm 51,6%, tuy nhiên không phải do đơn vị tập trung trả nợ dài hạn mà chủ yếu là các khoản phải trả dài hạn khác giảm mạnh -95% tuy nhiên tài sản cố định gần như không tăng, chi phí xây dựng dở dang không biến đổi nhiều cho thấy nguồn vốn dài hạn này đã hình thành nên tài sản ngắn hạn, cho thấy cách sử dụng nguồn vốn dài hạn của đơn vị chưa hiệu quả.

    Trong kỳ, đơn vị tiếp tục giải ngân vốn vay dài hạn để đầu tư cho các dự án xây dựng đang dở dang, cụ thể nợ vay dài hạn tăng 12 tỷ VND gấp 16 lần số dư đầu kỳ.

    – Vốn chủ sở hữu: Trong kỳ đơn vị thực hiện tăng vốn chủ sở hữu thêm 279 tỷ VND nên nguồn chủ sở hữu tăng 280 tỷ VND (135%), năng lực tài chính của đơn vị được cải thiện.

    – Hệ số nợ của đơn vị: nợ phải trả/tổng nguồn vốn

    01/01/2008: 45,3%

    31/01/2008: 19,1%.

    Hệ số nợ của đơn vị giảm so với thời điểm đầu năm, chủ yếu là do đơn vị bổ sung thêm vốn chủ sở hữu, tập trung trả nợ ngắn hạn và giảm mạnh phải trả người bán dài hạn. Cho thấy cơ cấu tài chính của đơn vị đã được cải thiện rõ rệt theo hướng an toàn hơn, năng lực tài chính lành mạnh, tuy nhiên hệ số nợ thấp chưa hẳn đã tối ưu, đơn vị sẽ không sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả và do đó hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sẽ không cao.

    1. Cấu trúc tài chính:

    Vốn lưu động ròng của đơn vị: VCSH + Nợ dài hạn – Ts dài hạn.

    01/01/2008:  + 38 tỷ VND

    31/03/2008: +298 tỷ VND.

    Cho thấy cấu trúc tài chính của đơn vị khá an toàn, vốn dài hạn dự thừa khá nhiều tuy nhiên khả năng sinh lời trong tương lai của đơn vị sẽ không cao, trong thời gian tới, với nguồn vốn chủ sở hữu vừa bổ sung đơn vị cần tập trung đầu tư vào tài sản dài hạn, máy móc thiết bị để cải thiện năng lực sản xuất, tăng cường vay vốn ngắn hạn tài trợ vốn lưu động sản xuất kinh doanh để có cấu trúc tài chính hiệu quả hơn.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam

    Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam

    Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-doanh-nghi%E1%BB%87p-v%C3%A0-nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-n%C3%A2ng-cao-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-c%E1%BB%A7a-T%E1%BB%95ng-c%C3%B4ng-ty-ch%C3%A8-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam

    I.   Lời mở đầu

    –µ—

    Như ta đã biết, nhận thức- quyết định và hành động là bộ ba biện chứng của quản lý khoa học, có hiệu quả toàn bộ cá hoạt động kinh tế trong đó nhận thức giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu và sau đó là các nhiệm vụ cần đạt tới trong tương lai. Như vậy nếu nhận thức đúng, người ta sẽ có các quyết định đúng và tổ chức thực hiện kịp thời các quyết định đó đương nhiên sẽ thu được những kết quả như mong muốn. Ngược lại, nếu nhận thức sai sẽ dẫn tới các quyết định sai và nếu thực hiện các quyết định sai đó thì hậu qủa sẽ không thể lường trước được.

    Vì vậy phân tích tình hình tài chính là đánh giá đúng đắn nhất những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triết để những điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu.

    Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, người cho vay, Nhà nước và người lao động. Qua đó họ sẽ thấy được thực trạng thực tế của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh, và tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh. Thông qua phân tích họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp và tạo điều kiện naang cao khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    Là một sinh viên ĐH Thương Mại, chuẩn bị bước vào môi trường kinh doanh, em nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, kết hợp với quá trình thực tập tại Tổng công ty chè Việt nam càng giúp em khẳng định rõ điều đó. Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo- Tiến sĩ Nguyễn Quang Hùng- người thầy đã khuyến khích sở thích lâu dài của em trong việc nghiên cứu môn phân tích hoạt động kinh doanh, nên em chọn đề tài:

    Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp góp phần nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt nam” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.

    Thực hiện đề tài này với mục đích dựa vào tình hình thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty để phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hợp lý trong việc quản trị tài chính, để sử dụng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp một cách có hiệu quả.

    Luận văn của em trình bày thành 3 phần chính như sau:

    Phần I: Cơ sở lý luận của hoạt động phân tích tình hình tài chính.

    Phần II: Phân tích tình hình tài chính của Tổng công ty chè Việt nam.

    Phần III: những giải pháp góp phần nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty.  

     

    II.   Lời cảm ơn

    Trong bản luận văn này, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo -Tiến sĩ Nguyễn Quang Hùng-người thầy đã luôn ở bên cạnh và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài tốt nghiệp của mình.

    Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, các cô giáo trường ĐH Thương Mại, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Kế toán Tài Chính- những người đã dạy dỗ, hướng dẫn em trong những năm tháng học tập tại trường.

    Em xin chân trọng cảm ơn các cô, các chú Phòng Kế toán- Tài chính của Tổng công ty chè Việt nam đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc cung  cấp những thông tin có liên quan đến tài chính của Tổng công ty, cũng như góp ý kiến, tạo điều kiện cho em hoàn thành bản luận văn này.

    Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè là chỗ dựa giúp em hoàn thành tốt việc học tập nghiên cứu của mình trong suốt bốn năm học tập vừa qua.

    •                                      Em xin chân thành cảm ơn

     

    IV.   Phần I

    V.   Cơ sở lý luận của hoạt động phân tích

    VI.   tình hình tài chính doanh nghiệp

    I / Bản chất chức năng tài chính doanh nghiệp.

    1 / Bản chất, vai trò của tài chính doanh nghiệp.

    1.1/ Bản chất của tài chính doanh nghiệp.

    1.1.1/Nội dung của các mối quan hệ tài chính.

    Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Nó có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tế khác. Mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động gắn bó thường xuyên giữa phân phối sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Phân phối vừa phản ánh kết quả của sản xuất và trao đổi, lại vừa là điều kiện cho sản xuất và trao đổi có thể tiến hành bình thường và liên tục.

    Tài chính doanh nghiệp là tài chính của các tổ chức sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân và là một khâu tài chính cơ sở trong hệ thống tài chính. Vì tại đây diễn ra quá trình tạo lập và chu chuyển vốn gắn liền với qua trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và phân phối.

    Tài chính- thoạt nhìn chúng ta lại hiểu là tiền tệ, như một doanh nghiệp sẽ phải trích một khoản tiền lương để trả cho cán bộ công nhân viên. Khi tiền lương tham gia phân phối giữa các loại lao động có trình độ nghề nghiệp khác nhau và điều kiện làm việc khác nhau. Tài chính tham gia phân phối sản phẩm quốc dân cho người lao động thông qua quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền lương và các quỹ phúc lợi công cộng khác. Do vậy giữa tài chính và tiền là hai phạm trù kinh tế khác nhau.

    Tài chính cũng không phải là tiền tệ, và cũng không phải là quỹ tiền tệ. Nhưng thực chất tiền tệ và quỹ tiền tệ chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính, còn bên trong nó là những quan hệ kinh tế đa dạng. Nhân loại đã có những phát minh vĩ đại trong đó phải kể đến việc phát minh ra tiền, mà nhờ đó người ta có thể quy mọi hoạt động khác nhau về một đơn vị đo thống nhất, và trên cơ sở đó có thể so sánh, tính toán được với nhau. Như vậy tiền chỉ là phương tiện cho hoạt động tài chính nói chung và hoạt động tài chính doanh nghiệp nói riêng. Thông qua phương tiện này, các doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau trong mọi lĩnh vực, nếu như chúng ta chỉ nhìn bề ngoài thì chỉ thấy các hoạt động đó hoạt động tách riêng nhau, nhưng thật ra lại gắn bó với nhau trong sự vận động và chu chuyển vốn, chúng được tính toán và so sánh với nhau bằng tiền.

    Do vậy toàn bộ các quan hệ kinh tế được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong doanh nghiệp thể hiện nội dung của tài chính doanh nghiệp. Nó bao gồm các quan hệ tài chính sau:

    + Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp.

    Xuất phát từ mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như những mối quan hệ về phân phối và phân phối lại dưới hình thức giá trị của cải vật chất sử dụng và sáng tạo ra ở các doanh nghiệp.

    Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: đó là những quan hệ về phân phối, điều hoà cơ cấu thành phần vốn kinh doanh, phân phối thu nhập giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp; các quan hệ về thanh toán hợp đồng lao động giữa chủ doanh nghiệp và công nhân viên chức.

    Các mối quan hệ này đều thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở doanh nghiệp như: vốn cố định, vốn lưu động, quỹ tiền lương, quỹ khấu hao, quỹ dự trữ tài chính… nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

    + Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước.

    Thể hiện trong việc các doanh nghiệp nộp thuế cho chính phủ và sự tài trợ của chính phủ trong một số trường hợp cần thiết để thực hiện vai trò can thiệp vào kinh tế của mình.

    ở nước ta do còn thành phần kinh tế quốc doanh nên sự tài trợ của nhà nước được thể hiện rõ bằng việc bảo đảm một phần vốn pháp định cho các doanh nghiệp.Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả và nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đất nước sẽ được nhà nước chú trọng đầu tư vốn nhằm giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn. Cũng trong quá trình hoạt động kinh doanh này, các doanh nghiệp nhà nước phải nộp các khoản thuế, phí, lệ phí như các doanh nghiệp khác và còn phải nộp thuế sử dụng vốn cho ngân sách nhà nước. Khoản thu này chiếm tỉ trọng lớn trong thu ngân sách giúp nhà nước có nguồn để phục vụ cho quốc kế dân sinh nói chung và tạo hành lang pháp lý để bảo vệ nền kinh tế cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế và hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp.

    Đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc không hoạt động ở những then chốt, nhà nước sẽ cho cổ phần hoá. Nghĩa là toàn bộ số vốn của doanh nghiệp theo dạng này sẽ bao gồm : Cổ phần của nhà nước, cổ phần của doanh nghiệp và cổ phần của ngân hàng. Nếu doanh nghiệp bán cổ phần của mình cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp thì lúc đó sẽ có các cổ phần của cán bộ công nhân viên. ở một chừng mực nào đó, khi thị trường chứng khoán Việt Nam vận hành thì cổ phần đó sẽ được mua đi bán lại trên thị trường và nảy sinh ra cổ phần xã hội. Trong điều kiện đó mối quan hệ giữa ngân sách nhà nước với doanh nghiệp cũng có sự thay đổi đáng kể. Nhà nước còn tham gia vào nền kinh tế với tư cách là một cổ đông.

    + Quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức tài chính trung gian.

    Hiện nay các tổ chức tài chính trung gian ở nước ta mới chỉ hiện rõ nét bằng hoạt động của các ngân hàng thương mại và của công ty bảo hiểm. Nhưng để có một nền kinh tế thị trường phát triển tất yếu phải có sự thiết lập các hình thức phong phú, đa dạng trong lĩnh vực môi giới về vốn. Nhằm biến những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức khác thành những nguồn vốn dành để đầu tư cho kinh tế.

    + Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhau.

    Mối quan hệ này phát sinh trong quá trình thanh toán các sản phẩm và dịch vụ, trong việc góp vốn liên doanh, vốn cổ phần và chia lợi nhuận do vốn liên doanh cổ phần mang lại.

    Cùng với sự phát triển của các yếu tố cấu thành trong nền kinh tế thị trường, các mối quan hệ về kinh tế giữa các doanh nghiệp có xu thế ngày càng tăng lên. Các hoạt động đó đan xen vào nhau và tự điều chỉnh theo các quan hệ cung cầu về vốn tiền tệ và khả năng thu hút lợi nhuận.

    + Quan hệ giữa các doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế nước ngoài phát sinh trong quá trình vay, cho vay, trả nợ và đầu tư với giữa doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế trên thế giới. Nền kinh tế thị trường gắn liền với chính sách mở cửa, các hoạt động giữa các doanh nghiệp trong nước và các tổ chức kinh tế nước ngoài ngày càng có xu thế hoà nhập lẫn nhau, hợp tác với nhau để phát huy hết khả năng và thế mạnh của mình trong việc khai thác các nguồn vốn đưa vào sản xuất kinh doanh để có chi phí ít nhất với hiệu quả kinh tế cao nhất.

    1.1.2 Bản chất của tài chính doanh nghiệp.

    Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội.

    Hay, tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh.

    1.2 / Vai trò của tài chính doanh nghiệp.

    Vai trò của tài chính doanh nghiệp được ví như những tế bào có khả năng tái tạo, hay còn được coi như “ cái gốc của nền tài chính”. Sự phát triển hay suy thoái của sản xuất- kinh doanh gắn liền với sự mở rộng hay thu hẹp nguồn lực tài chính. Vì vậy vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động, thậm chí có thể là tiêu cực đối với kinh doanh trước hết phụ thuộc vào khả năng, trình độ của người quản lý ; sau đó nó còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, phụ thuộc vào cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.

    Song song với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước đã hoạch định hàng loạt chính sách đổi mới nhằm xác lập cơ chế quản lý năng động như các chính sách khuyến khích đầu tư kinh doanh, mở rộng khuyến khích giao lưu vốn. .. Trong điều kiện như vậy, tài chính doanh nghiệp có vai trò sau:

    1.2.1/ Tài chính doanh nghiệp- một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh.

    Để thực hiện mọi quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có một yếu tố tiền đề – đó là vốn kinh doanh.

    Trong cơ chế quản lý hành chính bao cấp trước đây, vốn của các doanh nghiệp nghiệp nhà nước được nhà nước tài trợ hầu hết. Vì thế vai trò khai thác, thu hút vốn không được đạt ra như một nhu cầu cấp bách, có tính sống còn với doanh nghiệp.

    Chuyển sang nền kinh tế thị trường đa thành phần, các doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận cùng song song tồn tại trong cạnh tranh, cho việc đầu tư phát triển những ngành nghề mới nhằm thu hút được lợi nhuận cao… đã trở thành động lực và là một đòi hỏi bức bách đối với tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, khi đã có nhu cầu về vốn, thì nảy sinh vấn đề cung ứng vốn. Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp có đầy đủ điều kiện và khả năng để chủ động khai thác thu hút các nguồn vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và phát triển của mình.

    1..2..2/ Tài chíh doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả.

    Cũng như đảm bảo vốn, việc tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra trước mọi doanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khe khắt; sản xuất không phải với bất kỳ giá nào. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được phản ánh bằng các chỉ tiêu giá trị, chỉ tiêu tài chính, bằng các số liệu của kế toán và bảng tổng kết tài sản. Với đặc điểm này, người cán bộ tài chính có khả năng phân tích, giám sát các hoạt động kinh doanh để một mặt phải bảo toàn được vốn, mặt khác phải sử dụng các biện pháp tăng nhanh vòng quay vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh.

    1.2.3/ Tài chính doanh nghiệp có vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết sản xuất kinh doanh.

    Khác với nền kinh tế tập trung, trong nền kinh tế thị trường các quan hệ tài chính doanh nghiệp được mở ra trên một phạm vi rộng lớn. Đó là những quan hệ với hệ thống ngân hàng thương mại, với các tổ chức tài chính trung gian khác, các thành viên góp vốn đầu tư liên doanh và những quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp…Những quan hệ tài chính trên đây chỉ có thể được diễn ra khi cả hai bên cùng có lợi và trong khuôn khổ của pháp luật. Dựa vào khả năng này, nhà quản lý có thể sử dụng các công cụ tài chính như đầu tư, xác định lãi suất, tiền lương, tiền thưởng để kích thích tăng năng suất lao động, kích thích tiêu dùng, kích thích thu hút vốn nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh.

    1.2.4/ Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Tình hình tài chính doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Thông qua các chỉ tiêu tài chính như: hệ số nợ, hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu các thành phần vốn…có thể dễ dàng nhận biết chính xác thực trạng tốt, xấu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.

    Để sử dụng có hiệu quả công cụ kiểm tra tài chính, đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, xây dựnghệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính và duy trì nề nếp chế độ phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.

    2./ Chức năng của tài chính doanh nghiệp.

    2.1/ Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn.

    Một doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh được thì cần phải có vốn và quyền sử dụng nguồn vốn bằng tiền của mình một cách chủ động. Tuy nhiên cũng cần phảI làm rõ một vấn đề là: Các nguồn vốn được lấy ở đâu ? Làm thế nào để có thể huy động được vốn ?

    Trước đây trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung ngân sách nhà nước cấp toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc thiết lập các xí nghiệp quốc doanh. Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự hoạt động của các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế khác nhau, nhiều xí nghiệp quốc doanh đã tỏ ra sự yếu kém của mình. Thực trạng đó đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế nói chung và các nhà quản lý tài chính nói riêng một vấn đề là: làm thế nào để đưa các xí nghiệp làm ăn thua lỗ đó thoát khỏi tình trạng hiện nay ? Chính sự bất ổn định này đã tạo ra một sự chưa được nhất quán trong việc định hình các nguồn vốn cho các doanh nghiệp ở nước ta.

    Tuy nhiên, dù thay đổi cụ thể như thế nào chăng nữa thì mọi doanh nghiệp với mọi hình thức sở hữu trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ đều có thể huy động được vốn từ các nguồn sau:

    -Vốn do ngân sách nhà nước cấp hoặc cấp trên cấp đối với doanh nghiệp nhà nước được xác định trên cơ sở biên bản giao nhận vốn mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn giao đó. Khi mới thành lập nhà nước hoặc cấp trên cấp vốn đầu tư ban đầu để công ty thực hiện sản xuất kinh doanh phù hợp với quy mô và ngành nghề. Số vốn này thường bằng hoặc lớn hơn số vốn pháp định. Sau quá trình hoạt động nếu thấy cần thiết, nhà nước sẽ cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp để phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh.

    • Vốn tự bổ sung: là vốn nội bộ của doanh nghiệp bao gồm:

    + Phần vốn khấu hao cơ bản để lại doanh nghiệp

    + Phần lợi nhuận sau khi đã nộp thuế

    + Phần tiền nhượng bán tài sản (nếu có)

    -Vốn liên doanh liên kết : đó là sự góp tiền hoặc góp tài sản của các doanh nghiệp khác để cùng với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

    – Vốn vay: chủ yếu là vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Ngoài các loại vốn nói trên, các doanh nghiệp còn có thể huy động vốn của cán bộ công nhân viên và doanh nghiệp sẽ trả lãi cho số vốn vay đó theo lãi suất ngân hàng.

    Qua đó ta hình dung ra được, quá trình thành lập doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn đầu tư tối thiểu. Đối với doanh nghiệp nhà nước số vốn này do ngân sách nhà nước cấp có thể là 100% hoặc tối thiểu là 51%. Còn đối với các Công ty cổ phần, Công ty TNHH thì số vốn đầu tư ban đầu được hình thành từ việc đóng góp vốn  hoặc hùn vốn của các cổ đông dưới hình thức cổ phần. Mức vay vốn được quy định theo từng doanh nghiệp.

    Để tồn tại và phát triển kinh doanh, trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục đầu tư trung và dài hạn vì vậy doanh nghiệp có thể huy động vốn bên trong doanh nghiệp như vốn tự tài trợ. Nếu như nguồn tự tài trợ mà nhu cầu đầu tư dài hạn  vẫn không đáp ứng được thì doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài như các hình thức đã nêu ở trên.

    Với chức năng tổ chức vốn, tài chính doanh nghiệp không  đơn thuần chỉ thực hiện việc huy động vốn mà còn phải tiến hành phân phối vốn sao cho với số vốn pháp định, vốn tự có và các nguồn vốn huy động, doanh nghiệp có thể sử dụng chúng một cách có hiệu quả. Muốn vậy, trong từng thời kỳ kinh doanh doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu về vốn là bao nhiêu và kết cấu như thế nào là hợp lý.

     2.2/ Chức năng phân phối.

    Sau khi huy động vốn và đã sử dụng nguồn vốn đó sẽ thu được kết quả là việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp tiến hành phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

    ở nước ta, do tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, hình thức sở hữu khác nhau, cho nên quy mô và phương thức phân phối ở các loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau. Sau mỗi kỳ kinh doanh, số tiền mà doanh nghiệp thu được bao gồm cả giá vốn và chi phí phát sinh. Do vậy các doanh nghiệp có thể phân phối theo dạng chung như sau:

    • Bù đắp chi phí phân bổ cho hàng hoá đã tiêu thụ bao gồm:

    + Trị giá vốn hàng hoá.

    + Chi phí lưu thông và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã đã bỏ ra như  lãi vay ngân hàng, chi phí giao dịch, lợi tức trái phiếu.

    + Khấu hao máy móc.

    – Phần còn lại sau khi bù đắp các chi phí được gọi là lợi nhuận của doanh nghiệp. Phần lợi nhuận này, một phần phải nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức thuế, phần còn lại tuỳ thuộc vào quy định của từng doanh nghiệp mà tiến hành chia lãi liên doanh, trả lợi tức cổ phần, trích lập các quỹ doanh nghiệp.

    2.3 / Chức năng giám đốc.

    Đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính làm công cụ kiểm tra, giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước đo giá trịvà phương tiện thanh toán của tiền tệ. Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong quá trình thực hiện chức năng phân phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: xem xét tính cần thiết, quy mô của việc phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc phân phối qua các quỹ tiền tệ.

    Giám đốc tài chính mang tính chất tổng hợp toàn diện, tự thân và diễn ra thường xuyên vì giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhằm phát hiện những ưu điểm để phát huy, tồn tại để khác phục.

    Hoạt động tài chính diễn ra trên mọi lĩnh vực của quá trình tái sản xuất xã hội trên tầm vĩ mô và vi mô. Trong các hoạt động đó tài chính không chỉ phản ánh kết quả sản xuất mà còn thúc đẩy phát triển. Động lực để thúc đẩy nhanh nền sản xuất xã hội không chỉ phụ thuộc vào sự phân phối cân bằng, hợp lý và cân đối giữa các bộ phận mà còn trực tiếp phụ thuộc vào sự kiểm tra, kiểm soát nghiêm nghặt mọi hoạt động tài chính.

    Nội dung giám đốc tài chính là giám đốc sự vận động và chu chuyển của nguồn vốn tiền tệ với hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc việc lập và chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, giám đốc quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, quá trình hạch toán kinh tế và giám đốc việc chấp hành các chính sách về tài chính.

    Thực hiện quản lý tài chính đã khẳng định, để thực hiện triệt để và có hiệu quả việc giám đốc tài chính cần phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính phù hợp với cơ chế chính sách quản lý kinh tế và thực tiễn sản xuất kinh doanh. Thông qua đó giúp cho việc thực hiện các giải pháp tối ưu nhằm làm lành mạnh tình hình tài chính và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    II/ Khái niệm và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp.

    1/ Khái niệm và mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

    1.1/ Khái niệm.

    Trước hết ta tìm hiểu xem phân tích như thế nào ?

    Phân tích trong lĩnh vực tự nhiên được hiểu là sự chia nhỏ sự vật hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tượng đó như phân tích các chất hoá học bằng những phản ứng, phân tích các vi sinh vật bằng kính hiển vi.

    Còn trong lĩnh vực kinh tế xã hội, các hiện tượng cần phân tích chỉ tồn tại bằng những khái niệm trừu tượng. Do đó việc phân tích phải bằng những phương pháp trừu tượng. C Mác đã chỉ ra rằng:

    ” Khi phân tích các hình thái kinh tế xã hội thì không thể sử dụng hoặc kính hiển vi, hoặc những phản ứng hoá học. Lực lượng của trừu tượng phải thay thế cái này hoặc cái kia”.

    (Mác- Ănghen toàn tập, tập 23- NXB ” Tác phẩm chính trị” Matscova 1951 trang 6).

    Phân tích kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó, bằng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triềncủa các hiện tượng nghiên cứu. Phân tích kinh doanh gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất kinh doanh chưa phát triển, yêu cầu thông tin cho quản lý chưa nhiều, chưa phức tạp, công việc phân tích cũng được tiến hành chỉ là những phép tính cộng trừ giản đơn. Khi nền kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý nền kinh tế quốc dân không ngừng tăng lên. Để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích kinh doanh được hình thành và ngày càng hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập. Quá trình đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển các bộ môn khoa học. F Ănghen đã chỉ rõ:

    “Nếu một hình thái vận động là do một hình thái vận động khác phát triển lên những phản ánh của nó, tức là những ngành khoa học khác cũng phải từ ngành này phát triển ra một ngành khác một cách tất yếu”.

     ( F Ănghen : Phương pháp biện chứng tự nhiên NXB Sự thật 1963 trang 401-402).

    Là một môn khoa học độc lập, phân tích kinh doanh có đối tượng nghiên cứu riêng. Nói chung, lĩnh vực nghiên cứu của phân tích kinh doanh không ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh như là một hiện tượng kinh tế, xã hội đặc biệt: Để phân chia tổng hợp và đánh giá các hiện tượng của hoạt động kinh doanh, đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh doanh là những kết quả kinh doanh cụ thể, được thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, với sự tác động của các tác nhân kinh tế.

    Kết quả kinh doanh thuộc đối tượng phân tích có thể là kết quả riêng biệt của từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh như mua hàng, bán hàng, sản xuất ra hàng hoá, hoặc có thể là kết quả tổng hợp của cả một quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp.

    Vậy thế nào là phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp ? Và mục đích của việc phân tích này ra sao ?

    Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.

    1.2/ Mục đích.

    Như chúng ta đã biết mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằm trong thể tác động liên hoàn với nhau. Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng. Trên cơ sở đó, nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu- biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tài chính của doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đều bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp đều có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp.. .Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau. Song nhìn chung, họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa. Bởi vậy phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu sau:

    -Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự. Thông tin phải dễ hiểu đối với những người có một trình độ tương đối về kinh doanh và về các hoạt động kinh tế mà muốn nghiên cứu các thông tin này.

    -Phân tích tình hình tài chính cũng nhằm cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi. Vì các dòng tiền của các nhà đầu tư liên quan với các dòng tiền của doanh nghiệp nên quá trình phân tích phải cung cấp thông tin để giúp họ đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của các dòng tiền thu thuần dự kiến của doanh nghiệp.

    -Phân tích tình hình tài chính cũng phải cung cấp tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp. Đồng thời qua đó cho biết thêm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lực này và các tác động của những nghiệp vụ kinh tế, giúp cho chủ doanh nghiệp dự đoán chính xác quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai.

    Qua đó cho thấy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu số liệu, so sánh số liệu về tài chính thực có của doanh nghiệp với quá khứ để định hướng trong tương lai. Từ đó, có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp và tìm ra các biện pháp sát thực để tăng cường các hoạt động kinh tế và còn là căn cứ quan trọng phục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    2/ ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính.

    Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp.

    2.1/ Đối với nhà quản trị doanh nghiệp.

    Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ. Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành. Do đó thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất. Vì vậy nhà quản trị doanh nghiệp còn phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục tiêu này khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ.

    Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần.

    2.2/ Đối với các nhà đầu tư.

    Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro. Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý. Những điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư.

    2.3 / Đối với các nhà cho vay.

    Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.

    Giả sử chúng ta đặt mình vào trường hợp là người cho vay thì điều đầutiên chúng ta chú ý cũng sẽ là số vốn chủ sở hữu, nếu như ta thấy không chắc chắn khoản cho vay của mình sẽ đựoc thanh toán thì trong trường hợp doanh nghiệp đó gặp rủi ro sẽ không có số vốn bảo hiểm cho họ. Đồng thời ta cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì đó chính là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay.

    2.4 / Đối với cơ quan nhà nước và người làm công.

    Đối với cơ quan quản lý nhà nước, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không.

    Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư… người lao động có nhu cầu thông tin cơ bản giống họ bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ.

    Sơ đồ 1: Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng
    khác nhau.

    Đối tượng sử dụng thông tin Cần quyết định cho các mục tiêu Yếu tố cần dự đoán cho tương lai Các câu hỏi trả lời nhận được từ các thông tin có dạng câu hỏi  
    Nhà quản trị doanh nghiệp Điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh -Lập kế hoạch cho tương lai.

     

    -Đầu tư dài hạn

    -Chiến lược sản phẩm và thị trường

        -Chọn phương án nào sẽ có hiệu quả cao nhất ?

     

    -Nên huy động nguồn đầu tư nào ?

     
     
       
    Nhà đầu tư  Có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không ? -Giá trị đầu tư nào sẽ thu được trong tương lai.

     

    -Các lợi ích khác có thể thu được.

      -Năng lực của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh và huy động vốn đầu tư như thế nào ?  
     
       
    Nhà cho vay Có nên cho doanh nghiệp vay vốn hay không ? -Doanh nghiệp có khả năng trả nợ theo đúng hợp đồng hay không ?

     

    -Các lợi ích khác đối với các nhà cho vay

      -Tình hình công nợ của doanh nghiệp.

     

    -Lợi tức có được chủ yếu từ hoạt động nào ?

    -Tình hình và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp.

     
     
     
     
    Cơ quan nhà nước và người làm công Các khoản đóng góp cho nhà nước

     

    Có nên tiếp tục hợp đồng hay không

    -Hoạt động của doanh nghiệp có thích hợp và hợp pháp không?

     

    -Doanh nghiệp có thể tăng thêm thu nhập cho người làm công không?

      – Có thể có biến động gì về vốn và thu nhập trong tương lai ?  
     
     
     
     
     

    Qua sơ đồ trên cho thấy doanh nghiệp là một tế bào của một nền kinh tế nên hoạt động của chúng phản ánh tình hình phát triển hay suy thoái của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Qua đó sẽ giúp cho các nhà quản lý tài chính ở tầm vĩ mô thấy được thực trạng của nền kinh tế quốc gia, xây dựng kế hoạch và các chính sách phù hợp nhằm làm cho tình hình tài chính doanh nghiệp nói riêng và tình hình tài chính quốc gia nói chung ngày càng có sự tăng trưởng.

    Kết luận: Phân tích tình hình tài chính có thể ứng dụng theo nhiều chiều khác nhau như với mục đích tác nghiệp ( chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục đích thông tin (trong hoặc ngoài doanh nghiệp ). Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh /

    Qua đó thấy được ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp mà công việc này ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý, các tổ chức công cộng. Nhất là, thị trường vốn ngày càng phát triển đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính thực sự có ích và cần thiết trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    III/ Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

    1/Phương pháp chung.

    Là phương pháp xác định trình tự bước đivà những nguyên tắc cần phải quán triệt khi tiến hành phân tích một chỉ tiêu kinh tế nào đó.

    Với phương pháp này là sự kết hợp triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác- LêNin làm cơ sở. Đồng thời phải dựa vào các chủ trương, chính sách của Đảng trong từng thời kỳ. Phải phân tích đi từ chung đến riêngvà phải đo lường được sự ảnh hưởng và phân loại ảnh hưởng.

    Tất cả các điểm trên phương pháp chung nêu trên chỉ được thực hiện khi kết hợp nó với việc sử dụng một phương pháp cụ thể. Ngược lại các phương pháp cụ thể muốn phát huy tác dụng phải quán triệt yêu cầu của phương pháp chung.

    2/ Các phương pháp cụ thể.

    Đó là những phương pháp phải sử dụng những cách thức tính toán nhất định. Trong phân tích tình hình tài chính, cũng như phạm vi nghiên cứu của luận văn, em xin được đề cập một số phương pháp sau:

    2.1/ Phương pháp so sánh.

    So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính. Như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán. Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.

    -Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước ) và có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.

    -Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch.

    -Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian.

    Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:

    + So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp.

    +So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp được hay chưa được.

    +So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng và về tỷ lệ của các khoản mục theo thời gian.

    2.2/ Phương pháp cân đối.

    Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn tại mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng.

    Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp người phân tích có được đánh giá toàn diện về tình hình tài chính.

    Phương pháp cân đối là cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các loại tài sản trong doanh nghiệp. Do đó sự cân bằng về lượng dẫn đến sự cân bằng về sức biến động về lượng giữa các yếu tố và quá trình kinh doanh.

    2.3 / Phương pháp phân tích tỷ lệ.

    Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.

    Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:

    + Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.

    + Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.

    + Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.

    + Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp.

    Kết luận: Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích. chúng ta sẽ sử dụng kết hợp và sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác như phương pháp liên hệ phương pháp loại trừ nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để thực hiện mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất.

    IV/ Nhiệm vụ, nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

    1/Nhiệm vụ phân tích .

    Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính là trên cơ sở các nguyên tắc về tài chính doanh nghiệp và phương pháp phân tích mà tiến hành phân tích đánh giá thực trạng của hoạt động tài chính, vạch rõ những mặt tích cực và tiêu cực của việc thu chi tiền tệ, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Từ đó đề ra các biện pháp tích cực nhằm nâng cao hơn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    2/ Nội dung của phân tích.

    Xuất phát từ các nhiệm vụ trên ta thấy sự phát triển của một doanh nghiệp dựa vào nhiều yếu tố như:

    +Các yếu tố bên trong : Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, tính chất của sản phẩm, quy trình công nghệ, khả năng tài trợ cho tăng trưởng.

    + Các yếu tố bên ngoài: Sự tăng trưởng của nền kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chính sách tiền tệ, chính sách thuế.

    Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trườngcó sự quản lý vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đều được bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh. Đối với mỗi doanh nghiệp, ngoài chủ doanh nghiệp quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp còn có các đối tượng khác quan tâm đến như các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, các nhà cho vay… Chính vậy mà việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thông tin nắm được thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh.

    Từ những lý luận trên nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ đánh giá đầy đủ nhất và là bức tranh toàn cảnh khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp.

    2.1/ Đánh giá khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp.

    ở phần này, bao gồm các vấn đề sau:

    • Phân tích tình hình biến động tài sản.
    • Phân tích tình hình biến động nguồn vốn.
    • Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.

    2.2/ Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

    2.3/ Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

    • Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản lưu động.
    • Phân tích hiệu quả tài sản lưu động.
    • Phân tích tình hình quản lý hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

    2.4/ Phân tích tình hình quản lý và sử dụng nguồn vốn.

    • Phân tích tình hình công nợ phải trả.
    • Phân tích tình hình và khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu.

    Toàn bộ các nội dung trên sẽ được nghiên cứu và trình bày một cách cụ thể ở phần II của luận văn.

    V / Cơ sở nguồn tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

    Tài liệu quan trọng nhất được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là các báo cáo tài chính như : Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành vốn, tình hình tài chính, cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trong hệ thống báo cáo tài chính, Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một tư liệu cốt yếu trong hệ thống thông tin về các doanh nghiệp.

                1. Bảng cân đối kế toán.

    Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định ( thời điểm lập báo cáo).

    Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguôn vốn và cơ cấu vốn hình thành các tài sản đó.

    Thông qua bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp sẽ có rất nhiều đối tượng qua tâm với mỗi đối tượng sẽ quan tâm tới một mục đích khác nhau. Tuy nhiên để đưa ra quyết định hợp lý, phù hợp với mục đích của mình cần phải xem xét tất cả những gì cần phải thông qua bảng cân đối kế toán để định hướng cho việc nghiên cứu tiếp theo.

    Bảng cân đối kế toán được trình bày thành hai phần: Phần tài sản và phần nguồn vốn. Kết cấu của bảng cân đối kế toán tối thiểu gồm ba cột: Chỉ tiêu, số đầu năm, số cuối kỳ. Hai phần tài sản và nguồn vốn có thể được bố trí hai bên hoặc hai phần, cho nên tổng tài sản luôn bằng tổng nguồn vốn. Nếu cụ thể hoá ta có:

    Tổng tài sản  = Tổng nguồn vốn

    •               Hoặc                                                 
    VIII.   Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn IX.   + X.   Tài sản cố định và đầu tư dài hạn XI.   = XII.   Nợ phải trả XIII.   + XIV.   Nguồn vốn chủ sở hữu
    1. <+> Phần tài sản.

    Phản ánh toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    -Về mặt kinh tế: Phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các tài sản của doanh nghiệp đang tồn tại dưới mọi hình thức: Tài sản vật chất như tài sản cố định hữu hình, tồn kho, tài sản cố định vô hình như giá trị bằng phát minh sáng chế, hay tài sản chính thức như các khoản đầu tư, khoản phải thu, tiền mặt. Qua xem xét phần này cho phép đánh giá tổng quát năng lực sản xuất và quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của doanh nghiệp.

    – Về mặt pháp lý: Số tiền “tài sản” thể hiện số vốn thuộc quyền quản lý và sử dụng lâu dài của doanh nghiệp.

    Tài sản chia thành hai loại:

    + Loại A: Tài sản lưu động và vốn đầu tư ngắn hạn- Đây là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.

    + Loại B: tài sản cố định và đầu tư dài hạn: Phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, các khoản ký quỹ, ký cược của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo.

    <+>Phần nguồn vốn

    Phản ánh những nguồn vốn mà doanh nghiệp quản lý và đang sử dụng vào thời điểm lập báo cáo.

    – Về mặt kinh tế: Khi xem xét nguồn vốn các nhà quản trị doanh nghiệp thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng.

    – Về mặt pháp lý: Các nhà quản lý doanh nghiệp thấy được trách nhiệm của mình về tổng số vốn được hình thành từ các nguồn khác nhau như vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng và các đối tượng khác, các khoản nợ phải trả, các khoản nộp vào ngân sách. Các khoản phải thanh toán với công nhân viên.

    Các nguồn vốn:

    + Loại A: Nợ phải trả: Đây là số vốn mà doanh nghiệp vay ngắn hạn hay dài hạn. Loại vốn này, doanh nghiệp chỉ được dùng trong một thời kỳ nhất định, tới kỳ hạn phải trả lại cho chủ nợ.

    + Loại B: Vốn chủ sở hữu: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, các quỹ doanh nghiệp và phần kinh phí sự nghiệp được ngân sách nhà nước cấp.

    B¶ng c©n ®èi kƠ to¸n cña mét doanh nghiÖp nh­ sau

                                                    Mẫu số B01-DN

    Tài sản Nguồn vốn
    XVI.   A/. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

     

    XVII.   I. Tiền

    XVIII.   II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

    XIX.   III. Các khoản phải thu

    IV. Hàng tồn kho

    V. Tài sản lưu động khác

    B/. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn

    I. Tài sản cố định

    II. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

    III. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang

    IV. Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn

    A/. Nợ phải trả

     

    I. Nợ ngắn hạn

    II. Nợ dài hạn

    III. Nợ khác

    B/. Nguồn vốn chủ sở hữu

    I. Nguồn vốn- quỹ

    II. Nguồn kinh phí

    Tổng tài sản Tổng nguồn vốn

    2) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

    Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được chi tiết theo hoạt động sản xuất kinh doanh chính, phụ, các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động bất thường phát sinh trong kỳ báo cáo. Ngoài ra còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.

    Cũng qua số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh người ta có thể nhận biết sự dịch chuyển của tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Đồng thời nó cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp.Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh là lãi hay lỗ trong năm. Ngoài ra, nó còn giúp nhà phân tích so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp và xu hướng vận động nhằm đưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính phù hợp.

    Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh được chia làm 3 phần

    + Phần I: Báo cáo lãi, lỗ.

    Phần này phân tích kết quả hoạt động kinh doanh và có thể khái quát phần lãi, lỗ qua sơ đồ sau:

    < trang bên>

    + Phần II. Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.

    Phần này bao gồm các chỉ tiêu phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với nhà nước về các khảon như: nộp thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn…

    Các chỉ tiêu phản ánh trong phần này theo dõi số còn phải nộp kỳ trước chuyển sang; số phải nộp phát sinh trong kỳ, số còn phải nộp chuyển sang kỳ sau theo cột tương ứng. Trong đó:

    Số còn phải nộp chuyển sang kỳ sau = Số còn phải nộp kỳ trước chuyển sang + Số phải nộp trong kỳ Số đã nộp trong kỳ
    1.  
    • +Phần III. Thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm

    Phần này gồm các chỉ tiêu phảnánh số thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ vf còn được khấu trừ; số thuế GTGT được hoàn lại, đã hoàn lại và còn được hoàn lại; số thuế GTGT được miễn giảm, đã miễn giảm và còn được miễn giảm.

    Tóm lại, do những thông tin mà bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp phục vụ đắc lực cho công tác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp nên đây là những tài liệu chủ yếu được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Ngoài ra, để việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp chính xác, sát với tình hình thực tế chungcủa nền kinh tế người phân tích cần kết hợp sử dụng các thông tin trong các tài liệu khác như:

    + Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

    + Báo cáo chi tiết về các khoản công nợ phải thu và phải trả theo các đối tượng

    + Báo cáo giải trình và tình hình tăng giảm tài sản, nguồn vốn.

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-B%C3%A1nh-K%E1%BA%B9o-Bi%C3%AAn-H%C3%B2a-Bibica.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Li m đầu

    Phân tích hoạt động kinh doanh nói chung hiện nay càng trở thành nhu cầu của doanh nghiệp nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO. Có thể nói hầu hết nhưng quyết định trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính có hiệu quả đều xuất phát từ các phân tích khoa học và khách quan vì vậy hoạt động phân tích kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng.

    Nhiệm vụ chính của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh thông qua hệ thống chỉ tiêu đã được xây dựng, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình và kết quả kinh hoạt động kinh doanh. Từ đó các số liệu phân tích trên sẽ đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể, chi tiết phù hợp với thực tế của doanh nghiệp để có thể khai thác các tiềm năng và khắc phục yếu kém. Bên cạnh đó dựa vào kết quả phân tích còn có thể hoạch định phương án kinh doanh và dự báo kinh doanh.

    Nhóm chúng tôi chọn Công ty Cổ phần Bánh kẹo Biên Hòa để phân tích là vì:

     

    Công Ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica) được người tiêu dùng bình chọn là doanh nghiệp nằm trong danh sách năm Công ty hàng đầu của ngành bánh kẹo Việt Nam. Bibica đã 10 năm liên tiếp đạt được danh hiệu ” Hàng Việt Nam chất lượng cao ” (từ 1997-2006). Công ty có một hệ thống sản phẩm rất đa dạng và phong phú gồm các chủng loại chính : Bánh quy, bánh cookies, bánh layer cake, chocolate, kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo dẻo, snack, bột ngũ cốc dinh dưỡng, bánh trung thu, mạch nha… Ngày 17/12/2001 Bibica chính thức niêm yết cổ phiếu tại trung tâm chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) với mã chứng khoán là BBC.

    Chúng tôi hy vọng rằng phân tích hoạt động kinh doanh của  Công Ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa trong 3 năm 2005, 2006, 2007 sẽ phần nào giúp chúng ta  thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, sự phát triển của Bibica trong những năm qua cũng như tiềm năng của công ty.

     

    I. Giới thiệu khái quát:

    1.Giới thiệu chung về công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa Bibica:

    1.1. Quá trình hình thành:

    Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa có tiền thân là phân xưởng kẹo của nhà máy Đường Biên Hòa( nay là công ty Cổ Phần Đường Biên Hòa) được thành lập từ năm 1990, Tháng 12/1998,theo quyếnt định số 234/1998/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, phân xưởng Bánh- Kẹo-Nha được chuyển thành Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa. Với năng lực sản xuất lúc mới thành lập là 5 tấn kẹo/ ngày Công ty đã dần dần mở rộng hoạt động, nâng công suất và đa dạng hóa sản phẩm. Hiện nay, Công ty là một trong những đơn vị sản xuất bánh kẹo lớn nhât Việt Nam với công suất thiết kế là 18 tấn bánh/ ngày, 18 tấn nha/ ngày và 29.5 tấn kẹo/ ngày.

    1.2. Chức năng hoạt động:

    – Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước trong các lĩnh vực về công nghệ chế biến bánh-kẹo-nha.

    – Xuất khẩu các sản phẩm bánh -kẹo-nha và các loại hàng hóa khác.

    – Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của công ty.

    1.3. Quá trình phát triển của Công ty có những nét chính như sau:

    – Giai đoạn 1990-1993,phân xưởng bánh được thành lập và mở rộng dần đến năng suất 5 tấn/ ngày.

    – Năm 1994 phân xưởng bánh được thành lập với dây chuyền sản xuất bánh bích quy hiện đại đồng bộ nhập từ Anh quốc có năng suất 8 tấn/ ngày.

    – Năm 1995 đầu tư mới cho phân xưởng sản xuất mạch nha năng suất 18 tấn/ ngày, với công nghệ tiên tiến thủy phân tinh bột bằng enzym, nhắm chủ động nguồn nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất bánh kẹo, ngoài ra còn cung cấp cho thị trường loại mạch nha chất lượng cao.

    – Năm 1996: Phân xưởng bánh kẹo được đầu tư mở rộng nâng năng suất lên đến 21 tấn/ ngày. Để phù hợp với yêu cầu về quản lý, phân xưởng kẹo được tách thành 2 phân xưởng: phân xưởng kẹo cứng 12 tấn/ ngày, phân xưởng kẹo mềm 9 tấn/ ngày.

    – Năm 1997:

    + Đầu tư mới dây chuyền sản xuất kẹo dẻo theo công nghệ hiện đại của Úc với năng suất 2 tấn/ ngày.

    + Đầu tư mở rộng nâng năng lực sản xuất phân xưởng kẹo cứng đến 16 tấn/ ngày.

    – Ngày 01/12/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 234/1998 QĐ-TTg, phê duyệt phương án cổ phần hóa và chuyển phân xưởng bánh kẹo và nha của Công ty Đường Biên Hòa tử một bộ phận của doanh nghiệp nhà nước thành Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa.

    – Năm 1999:

    + Ngày 09/01/1999, đại hội cổ đông của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa đã tiến hành, thông qua “ Điệu lệ tổ chức và hoạt động” của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa.

    + Đầu tư mở rộng phân xưởng bánh kẹo mềm nâng  cao công suất lên đến 11 tấn/ ngày

    + Đầu tư mới dây chuyền sản xuất thùng carton và dây chuyến sản xuất khay nhựa, nhằm chủ động cung cấp một phần bao bì cho sản xuất bánh kẹo

    – Năm 2000:

    + Tháng 02/2000 Công ty Bibica đã vinh dự là công ty bánh kẹo đầu tiên của Việt Nam chính thức nhận giáy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO9002 của tổ chức BVQI_Anh quốc.

    +Đầu tư mới dây chuyền sản xuất snack với công suất 2 tấn/ ngày

    – Năm 2001

    + Tháng 3/2001, đại hội cổ đông nhất trí tăng vốn điều lệ từ 25 tỷ đồng lên 35 tỷ dồng từ vốn tích lũy có được sau hơn 2 năm hoạt động  dưới pháp nhân công ty cổ phần.

    +Tháng 7/2001, Công ty gọi thêm vốn cổ dông , nâng vốn điều lệ của Công ty lên con số 56 tỷ đồng để chủ dộng nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh, tạo thêm sức mạnh về tài chính, dông thời dáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho việc đổi mới công nghệ nhà máy hiện có như đầu tư thiết bị dây chuyền bánh cake, dây chuyền socola, thiết bị sản xuất bánh Trung thi và bánh cooloes nhân, thiết bị đóng gói bánh… với tổng đầu tư 40,8 tỷ đồng và đầu tư  xây dựng thêm một nhà máy mới ở Hà Nội với tổng đầu tư trị giá 13,3 tỷ đồng. Những thành tích đạt được trong các năm qua:

    -Bằng khen của Bộ Tài Chính, UBND tỉnh Đồng Nai về việc nộp ngân sách cho nhà nước.

    -Năm năm liền được người tiêu dùng bình chọn “ Hàng Việt Nam chất lượng cao”

    -Giấy chứng nhận ISO9002 do tổ chức BVQI-Vương Quôc Anh cấp

    -Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho giám đốc Công ty.

    1.4. Thị phần của Bibica:

    Sản phẩm của công ty được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường trong nước. Doanh thu tiêu thụ trong nước chiếm 96-97% tổng doanh thu của Công ty, doanh thu từ xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 3%-4% tổng doanh thu với sản phẩm xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm nha. Trong thời gian sắp đến Công ty tiếp tục đinh hướng phát triển theo hướng khai thác , mở rộng thị trường nội địa.

    Với doanh thu tiêu thụ năm 2000 đạt 187,26 tỷ đồng, công ty hiện chiếm khoảng 7% thị trường bánh kẹo được sản xuất trong nước.

    Với hệ thống phân phối được xáy dựng từ năm 1994 và được mở rộng dần, Công ty hiện có 108 nhà phân phối, trong đó 13 nhà phân phối tại khu vực đồng bắng sông Cửu Long, 42 nhà phân phối tại khu vực Đông Nam Bộ, 23 nhà phân phối tại khu vực miền Trung, 30 nhà phân phối tại khu vực miền Bắc. Đến nay, sản phẩm của Công ty đã đựợc tiêu thụ trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, thị trường chính của Công ty là khu vực miền Nam, chiếm 70% doanh thu của Công ty . Khu vực miền Trung-Cao nguyên và khu vực miền Bắc có tỷ trọng doanh thu ngang nhau, mỗi khu vực chiếm 15% doanh thu của Công ty. Bên cạnh đó thị trường tại các tỉnh thành phố, công ty đã đưa được sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng ở các vùng nông thôn. Doanh thu từ khu vực nông thôn đã vượt xa khu vực thành thị.

    Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu của Công ty là thành phố Hô Chí Minh, chiếm 27,36% tổng doanh thu. Kế tiếp là Đồng Nai, 8,77% và Hà Nội 5,28% tổng doanh thu. Một số khu vực thị trường lớn của Công ty được trình bày trong bảng dưới đây:

      Số NPP-ĐL Doanh thu Tỷ trọng
    TPHCM * 25 51.237 27,36%
    Đồng Nai * 14 16.426 8,77%
    Hà Nội 9 9.896 5,28%
    Đà Nẵng 2 6.146 3,28%
    Cần Thơ 2 5.048 2,70%
    Đắc Lắc 1 4.823 2,58%

    (*) Bao gồm cả cửa hàng giới thiệu sản phẩm của Công ty

    Theo kế hoạch tài chính, doanh thu năm2001 của Công ty là 181 tỷ đồng, giảm 3,4% so với năm 2000. Tuy nhiên, theo dự kiến sang năm 2002 doanh thu của  Công ty sẽ  phục hồi và tăng lên 327 tỷ đồng nhờ vào các dây chuyền đầu tư mới đưa vào sản xuât. Song song với việc phát triển sản phẩm mới thì  Công ty còn đẩy mạnh công tác tiếp thị và mở rộng phân phối để đạt mục tiêu tăng trưởng như trên.

    2. Tổng quan về thị trường và một số đối thủ cạnh tranh:

    2.1. Tổng quan thị trường:

    Hiện nay Việt Nam tiêu thụ khoảng 100.000 tấn bánh kẹo một năm bình quân khoảng 1,25kg/người/năm. Với khối lượng tiêu thụ như trên tồng giá trị của thị trường bánh kẹo Việt Nam vào khoảng 3.800 tỷ đồng…

    Trước giai đọan đổi mới, các cơ sở sản xuất bánh kẹo lớn trong cả nước chủ yếu là các đơn vị kinh tế quốc doanh, với hai loại sản phẩm chính là kẹo cứng không nhân và bánh bích quy.Giai đoạn đổi mới bắt đầu kéo theo việc nhập khẩu nhiều loại bánh kẹo từ bên ngoài do năng lực sản xuất trong nước không đáp ứng được  nhu cầu tăng lên nhanh chóng từ việc cải thiện thu nhập người dân. Sản phẩm bánh kẹo đa dạng dần. Tuy nhiên, đến những năm cuối của thập kỷ 90, sản phẩm trong nước đã giành lại đa số thị phần đã mất và hiện chiếm khoảng trên 70% giá thị trường.

    Tham gia  thị trường hiện nay có khoảng trên 30 DN sản xuất bánh kẹo có tên tuổi trên thị trường, Số lượng các cơ sở sản xuất bánh kẹo nhỏ không có thống kê chính xác, với sản phẩm là bánh kẹo có phẩm chất thấp, được tiêu thụ tại các địa phương riêng lẻ. Các cơ sở này ước tính chiếm khoảng 35%-40% thị phần bánh kẹo cả nước.

    2.2. Một số đối thủ cạnh tranh:

    2.2.1. Đối thủ cạnh tranh trong nước:

    – Công ty Xây Dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô(Kinh Đô): cạnh tranh với Công ty về các sản phẩm bánh cracker tại các tỉnh phía Nam. Với hệ thống phân phối gồm 130 đại lý, sản phẩm của Kinh Đô được phân phối trên khắp thị trường Việt Nam, đặc biệt tại thành phố HCM. Kinh Đô rất chú trọng đến các hoạt động tiếp thị với nhiều  biện pháp như quảng cáo, khuyến mãi, tỷ lệ  chiết khấu cho các đại lý cao và đặc biệt là thiết lập hệ thống các bakery tại thành phố HCM, thị trường chính của Công ty. Kinh Đô cũng đang tiến hành xây dựng hệ thống các Bakery tại Hà Nội. Tháng 9 năm 2001, nhà máy sản xuất tại Hưng Yên của Kinh Đô bắt đầu đi vào sản xuất,. phục vụ cho thị trường miền Bắc và Bắc Trung Bộ, Tuy nhiên, giá bán sản phẩm của công ty Kinh Đô ở mức trung bình đến khá cao so với các sản phẩm của các công ty khác trên thị trường, Hiện nay, Kinh Đô chiếm khoảng 10% thị trường bánh kẹo trong nước.

    -Công ty Bánh Kẹo Hải Hà sản xuất các sản phẩm ở cả năm nhóm cookies, bánh quy, kẹo cứng, kẹo mềm và kẹo dẻo nhưng có thế mạnh chủ yếu ở các sản phẩm kẹo. Sản phẩm của Hải Hà phục vụ cho thị trường bình dân với mức giá trung bình thấp. Với hơn 100 đại lý, Hải Hà đã thiết lập được một hệ thống phân phối ở 34 tỉnh thành trong cả nước, tập trung chủ yếu ở các khu vực miền Bắc và miền Trung. Chủ trương của Hải Hà là đa dạng hóa sản phẩm đặc biệt là những sản phẩm mang hương vị đặc trưng của hoa quả miền Bắc như kẹo chanh, mận…đồng thời bảo đảm ổn định chất lượng sản phẩm hiện hành, Về chiến lược tiếp thị của Công ty chiếm khoảng 6,5% thị trường bánh kẹo trong nước.

    – Công ty Bánh Kẹo Hải Châu: cũng tương tự như Hải Hà, thị trường chính của Hải Châu là các tỉnh phía Bắc, sản phẩm phục vụ cho thị trường bình dân với giá bán trung bình và thấp, Hải Châu đang chiếm khoảng 3% thị trường bánh kẹo,

    – Công ty Đường Quảng Ngãi: bắt đầu tham gia vào thị trường bánh kẹo từ năm 1994, đến nay Công ty đã có hơn 60 sản phẩm bánh kẹo các loại. Thị trường chính của các sản phẩm bánh kẹo của công ty là khu vực miền Trung, Tuy nhiên, do bánh kẹo chỉ là một trong nhiều ngành hàng của Công ty Đường Quảng Ngãi, mức độ tập trung đầu tư cho bánh kẹo không lớn. Thị phần của Công ty Đường Quảng Ngãi vào khoảng 2,5 %

    – Ngoài ra còn có Công ty Đường Lam Sơn, Xí nghiệp bánh Lubico, Công ty Bánh kẹo Tràng An…

    2.2.2 Đối thủ cạnh tranh nước ngoài :

    Là các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài như Công ty Liên doanh Vinabico-Kotobuki, Công ty Liên doanh sản xuất Kẹo perfetti… các doanh nghiệp này đều có lợi thế về công nghệ do mới được thành lập khoảng bốn năm trở lại đây,

    Trong đó Công ty Liên doanh Vinaco-Kotobuki được thành lập ngày 12/11/1992 với vốn đăng kí kinh doanh là 3.740.000 USD, tập trung vào sản xuất các loại bánh cookies và bánh bích quy. Tuy nhiên, do thị trường chính của Vinabico-Kotobuki là thị trường xuất nhập khẩu nên công ty ít đầu tư, không quảng cáo để mở rộng thị phần trong nước. Vinabico-Kotobuki chỉ chiếm khoảng 1% thị trường bánh kẹo trong nước.

    Công ty Liên doanh Sản xuất Kẹo Perfetti- Việt Nam được hình thành vào ngày 22/8/1995 với vốn đăng ký kinh doanh là 5.600.000 USD, tập trung sản xuất các lọai kẹo cứng cao cấp Perfetti tập trung vào công tác tiếp thị và phân phố . Sản phẩm của Perfetti được ổn định chất lượng ở mức cao, Perfetti đang chiếm khoảng 60% thị trường bánh kẹo sản xuất trong nước.

    Bên cạnh các công ty sản xuất lớn, các cơ sở sản xuất bánh kẹo nhở chiếm một thì phần lớn, khoảng 35%-40% tổng sản lượng bánh kẹo sản xuất trong nước.

    Sản phẩm nhập khẩu chiếm 30% thị phần ( bao gồm chính thức và chưa chính thức) chủ yế từ Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông và Trung Quốc… Một số sản phẩm bánh kẹo nhập khẩu hiện nay các đơn vị trong nước vẫn chưa sản xuất được

     

    Bảng cân đối kế toán

    Đơn vị tính: VNĐ

      31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007
    Tài sản      
    A. Tài sản ngắn hạn 100.830.486.720 156.306.589.247 179.079.163.900
    I. Tiền và các khoản tương đương tiền 11.158.972.479 22.569.254.239 44.423.027.953
    II. Các khoản ĐT tài chính ngắn hạn 35.000.000.000 14.055.000.000
    III. Các khoản phải thu 27.896.506.491 33.166.654.300 30.318.114.546
    IV. Hàng tồn kho 61.414.409.410 63.822.664.865 86.850.781.794
    1. Hàng tồn kho 61.749.553.063 64.157.808.518 86.850.781.794
    2. Dự phòng giảm giá HTK (335.143.653) (335.143.653) 0
    V. Tài sản ngắn hạn khác 360.598.340 1.748.015.843 3.432.239.607
    B. Tài sản dài hạn 77.821.142.178 86.670.014.998 200.623.326.337
    I. Tài sản cố định 65.831.998.937 64.626.860.632 149.255.710.813
    1. Tài sản cố định hữu hình 63.905.528.141 58.548.317.000 81.826.656.838
    2. Tài sản cố định vô hình 538.934.796 1.098.989.728 921.324760
    3. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 1.387.536.000 4.979.553.904 66.507.729.215
    II. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 3.719.805.000 9.753.219.388 39.208.289.669
    1. Đầu tư vào công ty con
    2. Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh
    3. Đầu tư dài hạn khác 3.719.805.000 10.319.224.388 39.208.289.669
    4. Dự phòng giảm giá ĐT dài hạn (566.005.000)
    IV. Tài sản dài hạn khác 8.269.338.241 12.289.934.978 12.159.325.855
    Tổng cộng tài sản 178.651.626.898 242.976.604.245 379.702.490.237
    Nguồn vốn      
    A. Nợ phải trả 86.886.793.280 59.617.754.851 172.154.628.620
    I. Nợ ngắn hạn 83.286.318.749 56.438.880.320 141.006.261.516
    II. Nợ dài hạn 3.600.474.531 3.178.874.531 31.570.329.740
    B. Nguồn vốn chủ sở hữu 91.764.835.618 183.358.849.394 207.547.861.617
    I. Vốn chủ sở hữu 90.184.590.235 182.493.104.011 205.924.166.234
    1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 56.000.000.000 89.900.000.000 107.707.820.000
    2. Thặng dư vốn cổ phần 27.382.833.351 70.258.833.351 70.226.583.351
    3. Quỹ đầu tư phát triển 5.539.809.276 5.539.809.276 7.458.322.848
    4. Quỹ dự phòng tài chính 1.110.231.382 1.110.231.382 2.069.231.382
    5. Quỹ khác thuộc VCSH
    6. Lợi nhuận chưa phân phối 151.716.226 15.684.230.002 18.040.246.016
    II. Nguồn kinh phí và quỹ khác 1.580.245.383 865.745.383 1.623.695.383
    Tổng cộng nguồn vốn 178.651.628.898 242.976.604.245 379.702.490.237

     

     

    Báo cáo kết quả kinh doanh

    Đơn vị tính: VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. DT bán hàng và cung cấp DV 287.091.873.695 343.061.150.267 456.850.115.543
    2. Các khoản giảm trừ 1.729.630.268 1.730.500.189 2.874.617.047
    3. DTT bán hàng và cung cấp DV 285.362.243.427 341.330.650.078 453.975.498.496
    4. GVHB 216.296.053.953 254.908.885.176 335.662.124.255
    5. Lợi nhuận gộp 69.066.189.474 86.421.764.902 118.313.374.241
    6. DT từ hoạt động tài chính 219.830.271 9.011.374.278 14.189.899.449
    7. Chi phí tài chính 3.152.731.691 3.323.504.266 3.717.954.055
    Trong đó: chi phí lãi vay 3.094.576.229 2.478.137.604 3.297.174.121
    8. Chi phí bán hàng 35.855.608.472 51.307.969.400 74.254.015.306
    9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 14.356.957.577 16.092.048.926 21.060.872.607
    10. LNT từ hoạt động KD 15.920.722.005 24.709.616.588 33.470.431.722
    11. Thu nhập khác 560.727.081 1.160.267.499 1.222.964.533
    12. Chi phí khác 390.346.920 538.102.347 659.430.628
    13. Lợi nhuận khác 170.380.161 622.165.152 563.533.905
    14. Tổng lợi nhuận trước thuế 16.091.102.166 25.331.781.740 34.033.965.627
    15. Thuế thu nhập DN 3.772.985.317 6.149.268.168 9.038.734.795
    16. Lợi nhuận sau thuế 12.318.116.849 19.182.513.572 24.995.221.832
    17. Lãi cơ bản trên cổ phiếu 1.989 2.593 2.541

     

    II. Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica):

    1. Phân tích doanh thu của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT TL ST TT TL
    Tổng DT 55,969,276,572   19.50 113,788,965,276   33.17
    Các khoản giảm trừ 869,921 (0.10) 0.05 1,144,116,858 0.12 66.11
    DT thuần 55,968,406,651 0.10 19.61 112,644,848,418 (0.12) 33.00

    (trích bảng phân tích biến động doanh thu năm 2006-2005 và 2007-2006)

    Năm 2005, doanh thu của công ty đạt 287 tỷ đồng, năm 2006 đạt hơn 343 tỷ đồng, tăng 19,5%, tương ứng với khoảng 56 tỷ đồng. Năm 2007, doanh thu đột nhiên tăng cao hơn gần gấp rưỡi, khoảng 456 tỷ đồng, tăng 33,17% so với năm 2006, tương ứng với 113 tỷ đồng.

    Có thể nói, doanh thu của công ty có sự tăng trưởng tương đối nhanh. Điều đó chứng tỏ công ty đã không ngừng nỗ lực đàm phán, tìm kiếm mở rộng các mối quan hệ kinh tế nhằm làm tăng doanh thu, đồng thời cũng thể hiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo dựng được uy tín trên thị trường. Năm 2005, doanh thu của công ty là 287,091,873,695 triệu đồng. Đây là năm Bibica hoàn tất các công việc chuẩn bị và chính thức xuất khẩu lô hàng bánh trung thu đầu tiên sang thị trường Mỹ. Việc xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Mỹ, một thị trường nổi tiếng khắt khe về yêu cầu chất lượng cũng như đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm một lần nữa khẳng định uy tín về chất lượng sản phẩm của Bibica. Nhờ bước tiến về mặt xuất khẩu này, doanh thu của Bibica sang năm 2006 đã tăng 19,5%. Thêm một lý do nữa khiến doanh thu không ngừng tăng trường là do Bibica rất chịu khó nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng để tung ra các sản phẩm mới vào các ngày lễ đặc biệt. Không những thế, các sản phẩm của Bibica cũng không ngừng đổi mới về mẫu mã nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Valentine năm 2006, công ty Bibica lần đầu tiên đưa ra thị trường Việt Nam sản phẩm Choco Bella Light sử dụng đường Isomalt thay thế hoàn toàn cho đường Sacharose bình thường, nhờ đó nhắm tới được đối tượng khách hàng là những người ăn kiêng, người e ngại thừa cân béo phì – những người tưởng chừng không bao giờ chạm tới thỏi socola.  Thị trường Socola phục vụ cho nhu cầu dịp Valentine day’s những năm qua cho thấy thương hiệu Choco Bella của Bibica luôn là sự lựa chọn ưu tiên của người tiêu dùng do đảm bảo được chất lượng, mẫu mã đẹp, sang trọng, phù hợp thị hiếu thẩm mĩ. Ngày Tết thiếu nhi 01/06, Bibica cũng tung ra thị trường sản phẩm mới, đón nhu cầu mua sắm của các hộ gia đình, các cơ quan tổ chức chăm lo cho trẻ em. Có thể nói, Bibica đã chịu khó cung cấp nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng ở mọi độ tuổi, giúp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, đem lại doanh thu ngày càng lớn.

    Nhắc đến những nguyên nhân khiến doanh thu của công ty không ngừng tăng, còn phải kể đến nỗ lực vươn ra ngoài biên giới Việt Nam của Bibica. Đã 2 lần được tín nhiệm chọn làm nhãn hàng bánh kẹo phục vụ các hội nghị quốc tế : ASEM 5 ( năm 2004) và gần đây nhất là hội nghị APEC 2006. Sản phẩm bánh kẹo Bibica phục vụ cho hội nghị APEC là những sản phẩm có chất lượng cao đã được người tiêu dùng tín nhiệm bình chọn hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền. Đồng thời với việc quảng bá hình ảnh cho bạn bè quốc tế, Bibica cũng rất chịu khó tạo dựng uy tín và củng cố hình ảnh một doanh nghiệp thành đạt vì cộng đồng ở trong nước. Điều này được thể hiện bằng một loạt các hoạt động xã hội có sự tham gia của Bibica như: Tài trợ sản phẩm dinh dưỡng cho bệnh nhân nghèo bị bão số 6 ; Bibica với chương trình “ Trái tim nhân ái”; các hoạt động tài trợ cho dịp tết Trung Thu; hay tài trợ 70 triệu đồng cho trẻ em bị teo hóa cơ Delta…Tất cả những hoạt động xã hội nay giúp Bibica không ngừng củng cố thương hiệu và uy tín của mình, trở thành doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo hàng đầu tại Việt Nam, tạo dựng được sự tín nhiệm đối với khách hàng, giúp tăng doanh thu.

    Năm 2007, doanh thu của công ty là 456,850,115,543 VNĐ, tăng hơn 113 tỷtương ứng với 33,17%. Lý giải điều này, bên cạnh những lý do đã nêu trên, còn phải kể đến việc Bibica chính thức khởi công xây dựng nhà máy Bibica Bình Dương vào ngày 22/01/07. Dự án Nhà máy Bibica Bình Dương trên diện tích 40.000 m2, trong đó gồm 79 tỷ đồng là tổng vốn đầu tư giai đoạn 1, gồm xây dựng nhà xưởng và đầu tư dây chuyền sản xuất bánh bông lan kem cao cấp từ Ý, Châu Âu có năng suất 2.500 tấn sản phẩm/năm. Việc đầu tư giai đoạn 1 Nhà máy Bibica Bình Dương dự kiến sẽ góp phần tăng thêm doanh thu bình quân hàng năm của Bibica hơn 90 tỷ đồng/năm và thực tế là doanh thu năm 2007 đã tăng thêm tới hơn 113 tỷ so với năm 2006.

    2. Phân tích chi phí của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL TT Tsf ST TL TT Tsf
    Doanh thu 55,968,406,651 19.61     112,644,848,418 33.00    
    Tổng CPKD 17,187,452,277 34.23   2.15 27,914,869,587 41.42   1.25
    CP bán hàng 15,452,360,928 43.10 4.72 2.47 22,946,045,906 44.72 1.78 1.32
    CP quản lý 1,735,091,349 12.09 (4.72) (0.32) 4,968,823,681 30.88 (1.78) (0.08)

    (trích bảng phân tích chi phí doanh thu năm 2006-2005 và 2007-2006)

    Qua bảng phân tích trên ta nhận thấy, tổng chi phí kinh doanh của công ty tăng tương đối nhanh, năm 2005 chỉ là 50 tỷ, chiếm 17,6 % tổng doanh thu nhưng năm 2006 đã là 67,4 tỷ, chiếm 19,75% tổng doanh thu, biến động 2005-2006 là 34,23% tương ứng với gần 17, 2 tỷ đồng. Năm 2007, tổng chi phí kinh doanh của công ty là 95,3 tỷ đồng, chiếm tới 21 % tổng doanh thu, biến động 2006 – 2007 là 41,42 %,tương ứng với gần 28 tỷ. Cụ thể biến động về chi phí bán hàng và chi phí quản lí như sau:

    – Chi phí bán hàng:

    Trong giai đoạn 2005 – 2007: tỉ trọng chi phí bán hàng trong tổng doanh thu tăng liên tục. Năm 2005 chi phí bán hàng là 35,8 tỷ đồng, chiếm 12,56 % doanh thu, năm 2006 chiếm 76,12% tổng chi phí kinh doanh. Năm 2007, chi phí bán hàng xấp xỉ 74, 2 tỷ, chiếm 77,9% tổng chi phí kinh doanh. Biến động chi phí bán hàng 2005 – 2006 là 43,10%, tương ứng với 15, 45 tỷ đồng. Biến động chi phí bán hàng năm 2006 – 2007 là 44,72 %, tương ứng với xấp xỉ 23 tỷ đồng. Tuy chi phí bán hàng tăng, nhưng tỉ suất phí lại giảm.

    – Chi phí quản lí:

    Năm 2005, chi phí quản lí đạt 14, 35 tỷ đồng, chiếm 28,59% tổng chi phí kinh doanh. Năm 2006, chi phí quản lí chiếm 23,88 % tổng chi phí kinh doanh và năm 2007 chiếm 22,1% tổng chi phí kinh doanh. Biến động 2005 – 2006 là 12,09%, tương ứng với 1, 73 tỷ. Biến động 2006 – 2007 là 30,88%, tương ứng với xấp xỉ 5 tỷ. Tương tự như chi phí bán hàng, dù chi phí quản lí qua các năm là tăng, nhưng tỉ suất phí vẫn giảm.

    Để lý giải điều này, phải nhìn vào thực tế là công ty đã không ngừng cải thiện để nâng cao doanh thu, do đó lượng hàng bán ra ngày càng nhiều, nên chi phí bán hàng tăng. Kể từ năm 2005, Bibica đã trở thành doanh nghiệp sản xuất Socola đi đầu của Việt Nam, doanh số bán hàng bán ra tăng không ngừng với đủ các loại mẫu mã, điều này lý giải cho việc chi phí bán hàng không ngừng tăng từ năm 2005 đến năm 2007.

    Chi phí quản lý năm 2006 chỉ tăng so với năm 2005 là 1, 73 tỷ, nhưng đến năm 2007 đã vọt tăng gấp 4 lần con số này, xấp xỉ 5 tỷ. Đó là do đầu năm 2007, công ty khởi công xây dựng nhà máy Bibica Bình Dương, một dự án lớn cầu đầu tư cả vốn và nhân lực, do đó công tác quản lý phải được đẩy mạnh. Chính vì vậy mà chi phí quản lý tăng cao.

    Tuy nhiên, mặc dù chi phí bán hàng, chi phí quản lý và tổng chi phí kinh doanh tăng, nhưng tỷ suất phí vẫn giảm. Đó là do năm 2006, công ty đạt giải thưởng Sao khuê của Hiệp hội Phần Mềm Việt Nam VINASA nhờ sự quyết tâm trong ứng dụng và ứng dụng có hiệu quả giả pháp phần mềm ERP ( phần mềm giúp hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp). Công ty đã ứng dụng đầy đủ các tính năng của bộ phần mềm bao gồm : Quản lý Tài Chính Kế toán, Quản lý bán hàng, Quản lý mua hàng, Quản lý kho, Quản Lý sản xuất. Điều này giúp Bibica quản lý hoạt động doanh nghiệp khoa học hơn. Do vậy, tuy chi phí bán hàng và chi phí quản lý vẫn tăng nhưng công ty quản lý tốt nên tỷ suất phí qua các năm vẫn giảm.

    3. Phân tích tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL TT ST TL TT
    Tổng LN

     

    trước thuế

    9,240,679,574 57.43   8,702,183,887 34.35  
    LNT từ HĐ

     

    SXKD

    8,788,894,583 55.20 (1.40) 8,760,815,134 35.46 0.80
    LN khác 451,784,991 265.16 1.40 (58,631,247) (9.42) (0.80)

    (trích bảng phân tích biến động lợi nhuận theo kết cấu năm 2005-2006 và 2006-2007)

    Năm 2005, tổng lợi nhuận trước thuế của Bibica đạt 16 tỷ đồng. Năm 2006, con số này đã đạt trên 25 tỷ đồng và tăng 57.43% so với năm 2005. Từ năm 2006 đến 2007  tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp có tốc độ tăng chậm hơn giai đoạn 2005-2006 (34.35%) nhưng vẫn đạt mức cao, 34 tỷ đồng.

    Nhìn chung cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp không có nhiều biến động đáng kể. Năm 2005 lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỉ trọng 98.94% và lợi nhuận khác chiếm 1.06% tổng lợi nhuận trước thuế. Năm 2005 tỷ trọng của lợi nhuận khác tăng 1.4% lên mức 2.46%, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh giảm xuống còn 97.57%. Tuy nhiên đến năm 2007 mức tỷ trọng của lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác lại gần giống với năm 2005, là 98.34% và 1.66%.

    Giai đoạn 2005-2006 lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng gần 8.8 tỷ đồng tương đương 55.20%. Bên cạnh đó lợi nhuận khác tăng 265.16% từ hơn 170 triệu đồng lên đến hơn 622 triệu đồng. Tuy nhiên vì chiếm tỷ trọn nhỏ trong tổng lợi nhuận nên con số này dù lớn nhưng cũng không ảnh hưởng nhiều đến sức tăng của tổng lợi nhuận.

    Từ năm 2006 đến 2007 lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn tăng, tuy mức độ có chậm hơn 35.46%. Ngược lại, lợi nhuận khác lại giảm hơn 58 triệu đồng (9.42%) tương đương với mức giảm tỷ trọng là 0.8%.

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL ST TL
    1. DTT bán hàng và cung cấp DV 55,968,406,651 19.61 112,644,848,418 33.00
    2. GVHB 38,612,831,223 17.85 80,753,239,079 31.68
    3. LN gộp bán hàng và cung cấp DV 17,355,275,428 25.13 31,891,609,339 36.90
    4. Tỷ lệ LNG/DTT   1.12   0.74
    5. Chi phí bán hàng 15,452,360,928 43.10 22,946,045,906 44.72
    6. Chi phí quản lý 1,705,091,349 11.88 4,998,823,681 31.12
    7. Tỷ suất phí CFBH        
    8. Tỷ suất phí CFQL        
    9. LNT hoạt động bán hàng, cung cấp DV 8,788,894,583 55.20 8,760,815,134 35.46
    10. Tỷ lệ LNT/DTT   1.66   0.13
    11. Tỷ lệ LNT/GVĐĐ   1.69   0.10
    12. Thuế TNDN phải nộp 2,376,528,255 62.99 2,889,221,223 46.98
    13. Lợi nhuận sau thuế 6,864,396,723 55.73 5,812,708,260 30.30

    (trích bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần năm 2005-2006 và 2006-2007)

    Doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp tăng dần qua các năm từ 2005 đến 2007. Năm 2005 doanh thu thuần là hơn 285 tỷ thì đến năm 2006 con số này đã tăng lên mức hơn 341 tỷ và gần 453 tỷ vào năm 2007. So với năm 2005 doanh thu thuần năm 2006 tăng gần 55 tỷ tương đương với 19.61%. Năm 2007 so với năm 2006 mức tăng lên tới hơn 112 tỷ đồng (33.00%). Nhìn vào các con số trên ta có thể thấy rõ hoạt động sản xuất kinh doanh của Bibica có sự tăng trưởng rất ấn tượng: biến động doanh thu thuần 07/06 gấp đôi so với 06/05.

    Lợi nhận gộp hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2006 cao hơn năm 2005 hơn 38 tỷ tương ứng với mức tăng 25.13%. Biến động lợi nhuận gộp năm 2007-2006 ở mức lớn hơn hẳn so với năm 2006-2005: 36.90%. Điều này có thể lý giải qua sự gia tăng của doanh thu thuần năm 2007 so với năm 2006.

    Năm 2005, 100 đồng doanh thu thu về có 24.20 đồng là lợi nhuận gộp. Tỷ lệ LNG/DTT này tăng nhẹ trong 2 năm 2006 và 2007. Cho đến năm 2007, 100 đồng doanh thu thu về đã có tới 26.06 đồng lợi nhuận gộp. Tỷ lệ này cho thấy kết quả kinh doanh của Bibica trên cơ sở giá vốn hàng bán cũng như hiệu quả của việc điều chỉnh giá và quản lý giá vốn hàng bán của doanh nghiệp đều tăng.

    Chi phí bán hàng năm 2006 so với năm 2005 tăng 43.10%. Năm 2007 mức tăng này không có sự thay đổi đáng kể và đạt mức 44.72% nhưng chi phí quản lý lại có sự gia tăng đột biến. Biến động chi phí quản lý 07/06 cao gấp 2.6 lần so với biến động 06/05. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới mức tăng của lợi nhuận thuần. Tăng trưởng lợi nhuận thần giai đoạn 2005-2006 đạt 55.20% nhưng đến thời kì 2006-2007 lại chỉ ở mức 35.46%. Tuy nhiên nếu nhìn vào tỷ suất phí chi phí quản lý ta lại thấy tỷ suất phí giảm từ 5.03% (2005) xuống 4.64% (2007). Tăng chi phí quản lý, mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng Bibica cũng đồng thời nâng cao được hiệu quả quản lý. Đó là do Bibica đã ứng dụng có hiệu quả giải pháp phần mềm ERP ( Enterprise Resources Planning- Hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp) trong quản lý các khâu mua hàng, bán hàng sản xuất…

    Bên cạnh đó, tỷ lệ LNT/DTT và tỷ lệ LNT/GVĐĐ từ năm 2005 đến 2007 đều tăng. Năm 2005, 1 đồng chi phí bỏ ra thu được 5.97 đồng lợi nhuận thuần trong khi năm 2007, 1 đồng chi phí bỏ ra thu về được 7.77 đồng lợi nhuận thuần. 2 tỷ lệ trên cho thấy hoạt động sản suất kinh doanh nói chung cũng như khả năng kiểm soát của chủ doanh nghiệp đối với toàn bộ hoạt động này và hiệu quả sử dụng đồng vốn đều được nâng cao.

    Với mức lợi nhuận thuần trên trong năm 2007 Bibica đã lọt vào top 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam theo lợi nhuận với vị trí thứ 78 (Theo www.vnr500.com.vn).  Trong các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận thuần thì doanh thu thuần là nhân tố có ảnh hưởng tích cực nhất tới lợi nhuận thuần. Mức tăng 33% của doanh thu thuần năm 2007 so với 2006 nhờ việc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, cải tiến mẫu mã sản phẩm… ảnh hưởng lớn nhất tới việc gia tăng lợi nhuận thuần. Bên cạnh đó, việc chi phí quản lý tăng nhanh lại là ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận thuần do đó Bibica cần phải có những biện pháp để giảm chi phí này.

    4. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

    4.1. Phân tích khái quát tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất đầu tư 0.37 0.27 0.39 0.29 0.28 0.14 0.31 0.26 0.41
    Tỷ suất tự tài trợ 0.50 0.75 0.54 0.65 0.63 0.80 0.40 0.44 0.51
    TSLĐ/NNH 1.35 3.16 1.63 2.68 2.23 5.70 1.49 1.61 1.45
    TSCĐ/NVTX 1.90 1.31 1.60 0.40 0.41 0.51 0.58 0.47 0.68

    4.1.1. Tỷ suất đầu tư:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất đầu tư 0.37 0.27 0.39 0.29 0.28 0.14 0.31 0.26 0.41

    Tỷ suất đầu tư của Bibica năm 2005 là 0.37, năm 2006 đã giảm 37% tức là ở mức 0.27 nhưng sang năm 2007 lại tăng lên 0.39. Như vậy là qua năm tỷ suất đầu tư vào tài sản cố định của Bibica đă tăng 5.4%, trong khi đó tài sản lưu động của doanh nghiệp đã không ngừng tăng chứng tỏ nhìn chung qua 3 năm thì doanh nghiệp đã đầu tư ngày càng nhiều hơn vào nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc… và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tăng lên nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Trong số hai doanh nghiệp cùng ngành thì Hải hà có diễn biến về tỷ suất đầu tư qua 3 năm cũng khá là giống với Bibica, Kinh Đô thì lại có tỷ suất đầu tư giảm dần trong 3 năm và ở mức thấp hơn nhiều so với Bibica cũng như là Hải Hà.

    4.1.2. Tỷ suất tự tài trợ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất tự tài trợ 0.50 0.75 0.54 0.65 0.63 0.80 0.40 0.44 0.51

    Tỷ suất tự tài trợ của Bibica năm 2007 là 0.54, nghĩa là vốn chủ sở hữu chiếm 54% tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, mặc dù so với năm 2006 thì chỉ số này đã giảm tới 0.39% nhưng mặt khác do tỷ lệ Nợ/VCSH của Bibica năm 2007 là 0.84 chứng tỏ nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp vẫn đủ khả năng thanh toán các khoản nợ và vì thế doanh nghiệp vẫn có khả năng kiểm soát được mức độ rủi ro trong kinh doanh. Nếu so cả 3 doanh nghiệp cùng ngành với nhau thì Hải Hà có khả năng tự chủ về tài chính là thấp nhất và cũng bởi vì tỷ lệ nợ/VCSH (năm 2007) là 0.96 (cao hơn so với Bibica) cho nên mức độ rủi ro trong kinh doanh của Hải Hà là lớn hơn so với Bibica. Nhưng nhìn chung cơ cấu nguồn vốn của cả 3 doanh nghiệp đều ở mức chấp nhận được (vốn chủ sở hữu chiếm 30-70% tổng nguồn vốn) và vì thế mức độ rủi ro trong kinh doanh là hoàn toàn có thể kiểm soát được.

    4.1.3. Hệ số đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    TSLĐ/NNH 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40
    TSCĐ/NVTX 0.70 0.35 0.63 0.40 0.41 0.18 0.58 0.47 0.68

    Nhìn vào các chỉ tiêu trên của Bibica, ta thấy rằng qua 3 năm thì tỷ lệ TSLĐ/NNH đều lớn hơn 1 và tỷ lệ TSCĐ/NVTX đều nhỏ hơn 1 vì vậy trong quá trình kinh doanh trong suốt 3 năm qua thì vốn lưu động ròng của Bibica đều dương (vì VLĐR=TSLĐ-NNH=NVTX-TSCĐ) cho nên doanh nghiệp có khả năng tài trợ tốt cho các hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn cũng như có khả năng thanh toán trong ngắn hạn. Tương tự như Bibica, Kinh Đô và Hải Hà đều có những con số khả quan như vậy. Ngoài ra thì vốn chủ sở hữu của cả 3 doanh nghiệp đều tăng đều đặn qua 3 năm nên ta cũng thấy được mức độ bền vững trong việc tăng vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp.

    4.2. Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Hệ số thanh ngắn hạn 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40
    Hệ số thanh toán nợ nhanh 0.47 1.37 0.53 1.25 0.81 2.37 0.60 0.7 0.70
    Hệ số thanh tức thời 0.13 0.86 0.32 0.22 0.17 1.15 0.20 0.30 0.30
    Hệ số thanh toán toàn bộ 2.06 4.08 2.21 2.91 2.67 5.22 1.67 1.77 2.04
    Hệ số nợ 0.50 0.25 0.45 0.34 0.37 0.19 0.60 0.57 0.49

    4.2.1. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTNH 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40

    Năm 2005 hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica là 1.21, năm 2006 là 2.32 tức là tăng 1.92 lần nhưng năm 2007 giảm xuống mức 1.27. Cả 3 năm hệ số thanh toán đều lớn hơn 1 cho thấy tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt các khoản nợ ngắn hạn.

    Năm 2006, mỗi 1 VNĐ nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 2.32 VNĐ tài sản ngắn hạn. Hệ số thanh toán ngắn hạn cao như vậy là bởi vì tài sản ngắn hạn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng tài sản là 64.33%. Trong khi đó Kinh Đô có hệ số thanh toán ngắn hạn là 1.52 do tài sản ngắn hạn chỉ chiếm 49.15% tổng tài sản. hệ số này của Hải Hà là 1.60 mặc dù tài sản ngắn hạn chiếm tới 72% tổng tài sản nhưng con số nợ ngắn hạn của Hải hà là khá cao, cao nhất trong 3 năm.

    Năm 2007, hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica giảm chỉ còn 1.27 cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của Bibica đã giảm rõ rệt. Điều này có thể được giải thích là do khoản nợ ngắn hạn đã tăng tới 2.50 lần trong khi đó tài sản ngắn hạn chỉ tăng 1.15 lần.

     

    4.2.2. Hệ số thanh toán nhanh:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTN 0.47 1.37 0.53 1.25 0.81 2.37 0.60 0.7 0.70

    Hệ số thanh toán nhanh của Bibica năm 2005 là 0.47 thấp hơn rất nhiều so với Kinh đô là 1.25 và cũng thấp hơn Hải Hà là 0.60 điều này cho biết rằng Bibica cũng như Hải hà đều không đủ khả năng thanh toán những khoản nợ ngắn hạn nếu không vay thêm và bán hàng tồn kho. Trong ba doanh nghiệp ngành bánh kẹo này thì chỉ có Kinh Đô là đủ khẳ năng làm được điều này.

    Tuy nhiên, sang năm 2006 thì hệ số thanh toán nhanh của Bibica lại tăng rất mạnh lên 1.37. Đó là vì khoản mục tiền và các khoản phải thu đã tăng rất mạnh trong khi nợ ngắn hạn lại giảm rõ rệt. Như vậy là trong năm 2006, Bibica luôn có 1.37 VNĐ nằm trong khoản mục tiền và các khoản phải thu  để sẵn sàng đáp ứng cho 1 VNĐ tài sản ngắn hạn. Trong khi đó chỉ số này của Kinh đô là 0.81 và Hải hà là 0.7, chứng tỏ tổng số tiền mặt, khoản đương tương tiền và các khoản phải thu của 2 doanh nghiệp này đều không đủ trang trải số nợ ngắn hạn.

    Đến năm 2007 thì diễn biến lại trở lại như năm 2005, hệ số thanh toán nhanh của Bibica lại giảm xuống chỉ còn 0.53, Hải Hà là 0.70, còn Kinh Đô thì lại tăng vọt lên mức 2.37. Sở dĩ hệ số này của Bibica giảm xuống thấp như vậy là vì nợ ngắn hạn tăng 2.89 lần trong khi tiền, các khoản tương đương tiền và khoản phải thu lại tăng không đáng kể. Như vậy là qua 3 năm thì chỉ có năm 2006 là Bibica có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải vay thêm cũng như là bán hàng tồn kho.

    4.2.3. Hệ số thanh toán tức thời:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTTT 0.13 0.86 0.32 0.22 0.17 1.15 0.20 0.30 0.30

    Trong 3 năm liên tiếp, hệ số thanh toán tức thời của Bibica cũng như là Hải Hà đều thấp hơn 1 chứng tỏ trong suốt 3 năm 2 doanh nghiệp này đều không có khả năng thanh toán những khoản nợ ngắn hạn bằng tiền và các khoản tương đương tiền. Doanh nghiệp Kinh đô cũng chỉ có năm 2007 là đủ khả năng dùng tiền và các khoản tương đương tiền để trả các khoản nợ ngắn hạn. Qua đó ta thấy được rằng lượng tiền mặt cũng như là các khoản tương đương tiền (có tính thanh khoản cao nhất) ở các doanh nghiệp ngành bánh kẹo luôn ở mức thấp hơn nhiều so với những khoản nợ ngắn hạn và họ gần như không đủ khả năng thanh toán trong nếu không sử dụng đến các biện pháp đi vay, bán hàng tồn kho hay đi thu các khoản phải thu.

    4.2.4. Hệ số thanh toán toàn bộ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Hệ số

     

    thanh toán toàn bộ

    2.06 4.08 2.21 2.91 2.67 5.22 1.67 1.77 2.04

    Qua 3 năm ta thấy hệ số thanh toán toàn bộ của cả 3 doanh nghiệp đều ở mức lớn hơn 1, điều này cho ta thấy được rằng cả 3 doanh nghiệp đều có khả năng thanh toán trong dài hạn tức là đều có thể mở rộng hoạt động sản xuất & kinh doanh trong tương lai. Năm 2006, hệ số thanh toán toàn bộ của Bibica là 4.08 cao hơn rất nhiều so với Kinh Đô và Hải Hà cho nên khả năng thanh toán toàn bộ của Bibica cũng tốt hơn hơn tương ứng. Nhưng đến năm 2007 thì hệ số này của Bibica lại giảm xuống chỉ còn 2.21, Hải Hà là 2.04 trong khi của Kinh Đô lại tăng lên 5.22 và cũng vì thế mà khả năng thanh toán toàn bộ của Kinh Đô là tốt hơn cả.

    4.2.5. Hệ số nợ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    hệ số nợ 0.50 0.25 0.45 0.34 0.37 0.19 0.60 0.57 0.49

    Nhìn chung ta thấy hệ số nợ của Bibica và Hải Hà luôn ở mức cao hơn so với Kinh đô, mặc dù năm 2006 hệ số nợ của Bibica có giảm xuống mức thấp là 0.25 nhưng trong năm 2007 đã tăng lên 0.45 trước khi ở mức cao là 0.50 năm 2005. Điều này cho thấy  trong năm 2005 và 2007 thì các khoản nợ chiếm một tỷ lệ cao trên tổng tài sản của Bibica và Hải Hà, cao hơn rất nhiều so với trung bình ngành năm 2007 là 0.24 vì thế dẫn đến những rủi ro trong khả năng thanh toán trong dài hạn và thanh khoản trong ngắn hạn của Bibica cũng như là Hải Hà là lớn hơn so với Kinh Đô và ngành Bánh kẹo nói chung. Ngược lại với hệ số nợ cao giúp cho 2 doanh nghiệp này có thể tận dụng được đòn bẩy tài chính nói chung để gia tăng khả năng sinh lời cho các cổ đông.

    4.3. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TSCĐ 4.42 5.71 3.04 3.51 3.87 0.94 6.82 7.02 4.03
    Vòng quay TTS 1.60 1.40 1.20 1.02 1.07 0.40 2.1 2.0 1.8
    Vòng quay KPT 10.20 10.41 18.0 11.21 13.23 15.65 4.3 4.3 5.01
    Vòng quay HTK 3.50 4.02 3.91 8.63 5.95 5.87 12.82 9.31 14.63

    4.3.1. Vòng quay tài sản cố định:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TSCĐ 4.42 5.71 3.04 3.51 3.87 0.94 6.82 7.02 4.03

    Nhìn chung vòng quay tài sản cố định của 3 công ty đều lớn hơn 1 qua các năm (chỉ có công ty Kinh đô có chỉ số này là 0.94 vào năm 2007), điều này có nghĩa là với cả 3 công ty thì 1 VNĐ tài sản cố định đều có thể tạo ra nhiều hơn 1 đồng doanh thu. Đây có thể coi là một điểm đặc trưng của ngành bánh kẹo, bởi vì tài sản cố định chỉ chiếm một tỷ lệ thấp trên tổng tài sản và doanh thu thì luôn cao hơn rất nhiều so với tài sản cố định, tài sản cố định luôn được sử dụng với cường độ rất cao.

    4.3.2. Vòng quay tổng tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TTS 1.60 1.40 1.20 1.02 1.07 0.40 2.1 2.0 1.8

    Cũng giống như vòng quay tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản qua các năm của các doanh nghiệp đều ở mức lớn hơn 1 (duy nhất chỉ có Kinh Đô là 0.40 vào năm 2007). Có nghĩa là gần như với cả 3 doanh nghiệp thì 1 VNĐ tổng tài sản đều có thể tạo ra hơn 1 VNĐ doanh thu. Mặc dù chỉ số này của Bibica qua 3 năm đang có xu hướng giảm xuống, từ 1.6 năm 2005 giảm xuống 1.40 năm 2006 và sau đó là 1.20 năm 2007 nhưng vẫn cao hơn 1 chứng tỏ 1 VNĐ tổng tài sản của Bibica vẫn có khả năng sinh ra hơn 1 VNĐ doanh thu, so với chỉ số trung bình ngành thì năm 2007 Bibica có khả năng tạo ra doanh thu từ tổng tài sản là ngang bằng (đều ở mức 1.20). Qua đó ta có thể nhận xét rằng, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành bánh kẹo đều có  số vòng quay tài sản khá cao. Các doanh nghiệp này đều hoạt động với công suất cao và muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì phải đầu tư thêm vốn.

    4.3.3. Vòng quay khoản phải thu:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay KPT 10.20 10.41 18.01 11.21 13.23 15.65 4.3 4.3 5.01

    Trong 2 năm 2005 và 2006 thì vòng quay khoản phải thu của Bibica đều ở mức ngang nhau là 10.20 và 10.41 nhưng đến năm 2007 thì đã tăng vọt lên 18.01. Mặc dù khoản phải thu của Bibica tăng là không đáng kể nhưng do doanh thu bán chịu đã không ngừng tăng lên, đặc biệt là trong năm 2007 doanh thu bán chịu đã tăng 58,06% so với năm 2006 trong khi khoản phải thu lại giảm 0.09%. So sánh với con số trung bình ngành năm 2007 là 13.33 thì Bibica có vòng quay khoản phải thu cao hơn rất nhiều điều này cho thấy việc thu hồi công nợ của Bibica có hiệu quả cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành ( của Hải Hà chỉ là 5.01).

     

    4.3.4. Vòng quay hàng tồn kho:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay HTK 3.50 4.02 3.91 8.63 5.95 5.87 12.82 9.31 14.63

    Nhìn vào bảng số vòng quay hàng tồn kho trong 3 năm của 3 công ty ta có thể thấy rằng, số vòng quay hàng tồn kho của công ty Bibica luôn thấp hơn là Kinh Đô và Hải Hà, điều này cũng có nghĩa là số ngày hàng hoá được lưu kho của Bibica cũng lâu hơn. Bibica phải mất thời gian lâu hơn để tiêu thụ hàng hoá so với 2 doanh nghiệp còn lại.

    Nhìn chung qua 3 năm thì số vòng quay hàng tồn kho của Bibica không có biến động nhiều, năm 2005 là 3.50, năm 2006 tăng lên 4.02, năm 2007 lại tụt xuống 3.91. Như vậy là so với năm 2005 thì năm 2007 số vòng quay hàng tồn kho của Bibica đã tăng lên, nhưng so với năm 2006 thì lại giảm đi 0.11. Trong khi đó trong năm 2007 thì số vòng quay hàng tồn kho trung bình của ngành là 4.93, cao hơn rất nhiều so với Bibica. Vì thế mà hàng hoá của Bibica được lưu kho lâu hơn, Bibica có khả năng giải phóng hàng tồn kho chậm hơn hầu hết các doanh nghiệp cùng ngành.

    4.4. Phân tích chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROA(%) 6.90 7.90 6.67 12.65 17.60 7.86 9.40 9.00 10.10
    ROE(%) 13.42 11.10 11.35 19.20 29.16 9.80 23.30 20.60 19.90

     

    4.4.1. Tỷ suất sinh lời của tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROA(%) 6.90 7.90 6.67 12.65 17.60 7.86 9.40 9.00 10.10

    Nhìn chung thì suất sinh lời của tài sản của công ty Bibica trong 3 năm là không có những thay đổi đáng kể. Năm 2006, công ty có suất sinh lời của tài sản cao nhất là 7.90% nhưng so với Hải Hà (9.00%) là nhất là Kinh Đô (17.60%) thì vẫn còn thấp hơn rất nhiều. Đến năm 2007 thì tỷ suất này của Bibica còn giảm xuống mức 6.67%, vẫn thấp hơn so với Kinh Đô (7.86%) và Hải Hà (10.10%), trong khi đó trung bình của ngành là 14.6%. Qua đó ta thấy được rằng tỷ suất sinh lời trên tài sản của Doanh nghiệp Bibica là rất thấp so với các doanh nghiệp cùng ngành. Mặc dù số vòng quay tài sản của Bibica là tương đương với trung bình ngành nhưng tỷ suất lợi nhuận ròng của Bibica là quá thấp, tức là khả năng tạo ra 1 VNĐ của doanh thu là thấp hơn hẳn so với các doanh nghiệp cùng ngành. Qua đó ta có thể thấy rằng hiệu quả của việc quản lý nguồn vốn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của Bibica là kém hơn rất nhiều so với ngành.

    4.4.2. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROE(%) 13.42 11.10 11.35 19.20 29.16 9.80 23.30 20.60 19.90

    Năm 2005, sau khi chào sàn giao dịch chứng khoán Sài gòn được 4 năm ROE của Bibica là 13.42%, thấp hơn nhiều so với Kinh Đô là 19.20% và Hải Hà là 23.30%. Trong năm tiếp theo, tình hình vẫn không có gì thay đổi, ROE của Bibica vẫn ở mức rất thấp so với Kinh Đô và Hải Hà. Năm 2007, chỉ số này của Bibica có cao hơn một chút so với Kinh Đô nhưng vẫn rất thấp so với Hải Hà, cũng như là so với trung bình ngành bánh kẹo là 20.2%. Điều này có thể giải thích là bởi vì tỷ suất sinh lời của tài sản và đòn bẩy tài chính của Bibica thấp hơn các doanh nghiệp trong ngành. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của các cổ đông trong công ty vẫn chưa được hiệu quả, vì thế trong những năm tới Bibica cần có những biện pháp để khắc phục được tình trạng chỉ số ROE quá thấp so với ngành nhằm đáp ứng được kỳ vọng của các cổ đông của công ty.

    III. Kết luận:

     

    1. Kết luận:

     

    Bằng việc phân tích doanh thu, chi phí, lợi nhuận và tình hình tài chính của công ty cổ phần Bánh Kẹo Bibica, chúng ta đã thấy được toàn bọ những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh của công ty.

    1.1. Điểm mạnh:

    – Doanh thu của công ty có sự tăng trưởng tương đối nhanh trong giai đoạn 2005-2006 là do công ty chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm , tạo dựng được thương hiệu trên thị trường. Một phần nữa đó là vì công ty đã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng để tung ra các sản phẩm mới vào các ngày lễ đặc biệt và quan tâm tới nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng ở mọi độ tuổi.

    – Bibica cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và đạt được hiệu quả cao khi ứng dụng có giải pháp phần mềm ERP ( phần mềm giúp hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp).

    – Công ty đầu tư ngày càng nhiều hơn vào nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc… để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tăng lên nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

    – Trong suốt 3 năm từ 2005 đến 2007, vốn lưu động ròng của Bibica đều dương, doanh nghiệp có khả năng tài trợ tốt cho các hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn cũng như có khả năng thanh toán trong ngắn hạn

    – Việc thu hồi công nợ của Bibica có hiệu quả cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành.

    1.2. Điểm yếu:

    – Nhìn chung khả năng thanh toán của công ty là không mấy sáng sủa. Năm 2007, hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica giảm chỉ còn 1.27 cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của Bibica đã giảm rõ rệt. Trong khi đó hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán tức thời của Bibica cũng đều thấp hơn 1 chứng cho thấy lượng tiền mặt cũng như là các khoản tương đương tiền (có tính thanh khoản cao nhất) luôn ở mức thấp hơn nhiều so với những khoản nợ ngắn hạn và công ty gần như không đủ khả năng thanh toán trong nếu không sử dụng đến các biện pháp đi vay, bán hàng tồn kho hay đi thu các khoản phải thu.

    – Trong khi đó các khoản nợ lại chiếm một tỷ lệ cao trên tổng tài sản của Bibica , cao hơn rất nhiều so với trung bình ngành năm 2007 là 0.24 vì thế dẫn đến những rủi ro trong khả năng thanh toán trong dài hạn và thanh khoản trong ngắn hạn của Bibica là khá lớn.

    – Vòng quay hàng tồn kho thấp, hàng hoá của Bibica được lưu kho lâu hơn, so với các doanh nghiệp cùng ngành Bibica có khả năng giải phóng hàng tồn kho chậm hơn hẳn.

    – Tỷ suất sinh lời của tài sản và vốn chủ sở hữu Bibica đều thấp hơn mức chung bình ngành, tức là khả năng tạo ra 1 VNĐ của doanh thu là thấp hơn hẳn so với các doanh nghiệp khác, đông thời việc  sử dụng vốn chủ sở hữu của các cổ đông trong công ty vẫn chưa có hiệu quả.

    2. Đề xuất:

    Công ty cần cải thiện hơn nữa tình hình thanh toán và khả năng thanh toán, nhất là khả năng thanh toán bằng tiền. Để làm được điều đó công ty cần quản trị tốt tiền mặt và các khoản phải thu. Việc quản trị tốt các khoản mục này một mặt giúp công ty giảm lượng vốn bị ứ đọng, vốn bị chiếm dụng, mặt khác có thể tận dụng các khoản vốn này một cách hiệu quả hơn vào kinh doanh hoặc dùng để đáp ứng kịp thời việc thoanh toán tránh tình trạng thanh toán chậm chậm trễ.

    – Quản trị khoản phải thu:

    Để quản trị tốt các khoản phải thu công ty cần có chính sách tín dụng tốt, chính sách tín dụng liên quan đến mức độ, chất lượng và rủi ro của doanh thu. Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố: tiêu chuẩn bán chịu, thời hạn bán chịu, thời hạn chiết khấu, tỷ lệ chiết khấu. Việc hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu hoặc mở rộng thời hạn bán chịu, hay tăng tỉ lệ chiết khấu đều có thể làm doanh thu và lợi nhuận tăng, đồng thời kéo theo các khoản phải thu, cùng với những chi phí đi kèm các khoản phải thu này cũng tăng và có nguy cơ phát sinh nợ khó đòi. Do đó công ty khi quyết định thay đổi một yếu tố nào cũng cần cân nhắc, so sánh giữa lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể có được với mức rủi ro gia tăng nợ không thể thu hồi mà doanh nghiệp cần đối mặt để có thể đưa ra chính sách tín dụng phù hợp. Theo dõi các khoản phải thu thường xuyên để xác định đúng thực trạng của chúng và đánh giá tính hữu hiệu của các chính sách thu tiền. Nhận diện các khoản tín dụng có vấn đề và thu thập những tín hiệu để quản lý các khoản hoa hụt

    – Quản trị tiền mặt:

    Áp dụng chính sách  chiết khấu với các khoản thanh toán trước hay đúng hạn vì nợ được thanh toán tốt thì tiền đưa vào càng nhanh. Lập lịch trình luân chuyển tiền mặt để luân chuyển tiền mặt có hiệu quả giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Đầu tư các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi bằng cách mua chứng khoán ngắn hạn cho tới khi tiền được huy động vào hoạt động kinh doanh.

    Bên cạnh đố công ty cũng cần mở rộng hệ thống phân phối của mình rộng khắp cả nước. Tính đến nay Bibica mới chỉ có hơn 108 đại lý phân phối, còn rất khiêm tốn so với con số 200 đại lý của Kinh Đô. Nếu như việc cải tiến chất lượng, mẫu mã sản phẩm giúp công ty có được niềm tin từ người tiêu dùng thì việc mở rộng đại lí sẽ tăng thị phần cho công ty. Đồng thời hiện nay, thị trường chính của Công ty là khu vực miền Nam, chiếm 70% doanh thu của Công ty. Khu vực miền Trung-Cao nguyên và khu vực miền Bắc có tỷ trọng doanh thu ngang nhau, mỗi khu vực chiếm 15% doanh thu của Công ty nên Bibica cũng cần tập trung hơn nữa để phát triển các đại lý ở khu vực miền Trung và miền Bắc, mở rộng thị trường.

     

    Tài liệu tham khảo

    1. Phân tích hoạt động kinh doanh, Nguyễn Tấn Bình, năm 2006, xuất bản lần thứ 6, Nhà xuất bản Thống kê.
    1. Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nguyễn Hải Sản, năm 2001, Nhà xuất bản Thống kê.

    Các số liệu và thông tin trên các trang web:

    http://www.chungkhoananphat.vn/congty_show.php?mnu=2&ctid=472#

    http://www.bibica.com.vn/dsp_introduction.aspx?CategoryID={0}

    http://www.kinhdofood.com/default_vn.asp

    http://www.haihaco.com.vn/

    http://www.sbsc.com.vn/viewCompare.do?symbol=BBC

    Phụ lục

     

     

    Bảng 1: Bảng phân tích biến động doanh thu năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT ST TT ST TT ST TT TL ST TT TL
    Tổng DT 287,091,873,695   343,061,150,267   456,850,115,543   55,969,276,572   19.50 113,788,965,276   33.17
    Các khoản giảm trừ 1,729,630,268 0.60 1,730,500,189 0.50 2,874,617,047 0.63 869,921 (0.10) 0.05 1,144,116,858 0.12 66.11
    DT thuần 285,362,243,427 99.40 341,330,650,078 99.50 453,975,498,496 99.37 55,968,406,651 0.10 19.61 112,644,848,418 (0.12) 33.00

     

     

     

     

    Bảng2: Bảng phân tích biến động chi phí năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT Tsf ST TT Tsf ST TT Tsf ST TL TT Tsf ST TL TT Tsf
    Doanh thu 285,362,243,427     341,330,650,078     453,975,498,496     55,968,406,651 19.61     112,644,848,418 33.00    
    Tổng CPKD 50,212,566,049   17.60 67,400,018,326   19.75 95,314,887,913   21.00 17,187,452,277 34.23   2.15 27,914,869,587 41.42   1.25
    CP bán hàng 35,855,608,472 71.41 12.56 51,307,969,400 76.12 15.03 74,254,015,306 77.90 16.36 15,452,360,928 43.10 4.72 2.47 22,946,045,906 44.72 1.78 1.32
    CP quản lí 14,356,957,577 28.59 5.03 16,092,048,926 23.88 4.71 21,060,872,607 22.10 4.64 1,735,091,349 12.09 (4.72) (0.32) 4,968,823,681 30.88 (1.78) (0.08)

     

     

    Bảng 3: Bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL ST TL
    1. DTT bán hàng và cung cấp DV 285,362,243,427 341,330,650,078 453,975,498,496 55,968,406,651 19.61 112,644,848,418 33.00
    2. GVHB 216,296,053,953 254,908,885,176 335,662,124,255 38,612,831,223 17.85 80,753,239,079 31.68
    3. LN gộp BH,cung cấp DV 69,066,489,474 86,421,764,902 118,313,374,241 17,355,275,428 25.13 31,891,609,339 36.90
    4. Tỷ lệ LNG/DTT 24.20 25.32 26.06   1.12   0.74
    5. Chi phí bán hàng 35,855,608,472 51,307,969,400 74,254,015,306 15,452,360,928 43.10 22,946,045,906 44.72
    6. Chi phí quản lý 14,356,957,577 16,062,048,926 21,060,872,607 1,705,091,349 11.88 4,998,823,681 31.12
    7. Tỷ suất phí CFBH 12.56 15.03 16.36        
    8. Tỷ suất phí CFQL 5.03 4.71 4.64        
    9. LNT hoạt động BH, cung cấp DV 15,920,722,005 24,709,616,588 33,470,431,722 8,788,894,583 55.20 8,760,815,134 35.46
    10. Tỷ lệ LNT/DTT 5.58 7.24 7.37   1.66   0.13
    11. Tỷ lệ LNT/GVĐĐ 5.97 7.67 7.77   1.69   0.10
    12. Thuế TNDN phải nộp 3,772,985,317 6,149,513,572 9,038,734,795 2,376,528,255 62.99 2,889,221,223 46.98
    13. Lợi nhuận sau thuế 12,318,116,849 19,182,513,572 24,995,221,832 6,864,396,723 55.73 5,812,708,260 30.30

     

     

    Bảng 4: Bảng phân tích biến động lợi nhuận theo kết cấu năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT ST TT ST TT ST TL TT ST TL TT
    Tổng LN trước thuế 16,091,102,166   25,331,781,740   34,033,965,627   9,240,679,574 57.43   8,702,183,887 34.35  
    LNT từ HĐ SXKD 15,920,722,005 98.94 24,709,616,588 97.54 33,470,431,722 98.34 8,788,894,583 55.20 (1.40) 8,760,815,134 35.46 0.80
    LN khác 170,380,161 1.06 622,165,152 2.46 563,533,905 1.66 451,784,991 265.16 1.40 (58,631,247) (9.42) (0.80)

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán

    Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán

    Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/H%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-chuy%C3%AAn-ng%C3%A0nh-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán

    TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

    KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN

    BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

    Đề tài:

    Kế toán . . . . . . . . . . . . . .

    . . . . . . . . . . . . . . . . . (*)

    Đơn vị thực tập :

    Công ty __________________

    SV (HS) thực hiện: ___________

    Lớp: ______________________

    Giáo viên hướng dẫn: Phạm Vũ Điểm

    Năm: 200x

    ________________________________________________________________________

    (*) Mẫu trang bìa, mang tính gợi ý, nhớ thay đổi tên đề tài phù hợp với đề tài đã đăng ký với giáo viên hướng dẫn.

    NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP

    NHẬN XÉT CỦA GIÁOVIÊN HƯỚNG DẪN

    LỜI CẢM ƠN

    Gợi ý: Cảm ơn các thầy cô trong nhà trườ ng đã truy ền đạt kiến thức, cảm ơn Ban Giám đốc Công ty đã tiếp nhận cho em được đến thực tập , cảm ơ n các anh chị trong Phòng kế toán đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành Bản Báo cáo thực tập tốt nghiệp này, vân vân …

     

    MỤC LỤC

    Lời nói đầu Trang
     
    Phần I. Giới thiệu đơn vị thực tập
    I. Lịch sửhình thành và phát triển
    II. …
    (…)
    Phần II. Giới thiệu bộ máy kế toán của công ty …
    I. Tổ chứcbộ máy kế toán
    1. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán
    2. …
    (…)
    II. …
    (…)
    Phần III. Chuyên đề Kế toán …
    A. Cơ sở lý luận
    (…)
    B. Thực tế của công tác kế toán … tại công ty ….
    (…)
    Phần IV. Nhận xét và kiến nghị
    I. Nhận xét
    II. Kiến nghị
    III. Kết luận

    LỜI NÓI ĐẦU

    Gợi ý: Nhắc qua về th ời gian được đào tạo vừa qua trong nhà trường, nay đã đế n giai đoạn hoàn t ất chương trình đào t ạo, đượ c phân công đi tham gia thực tập tại … để tìm hiểu thực tế của công tác kế toán tại các đơn vị.

    Sau đó kết hợp trình bày lý do tại sao lại chọn đề tài thực tập tốt nghiệp là …(nêu lên sự quan trọng, sự cần thiết của đề tài đó trong thực tế công tác của các đơn vị)

    Chú ý: Cho dù số liệu ghi chép trong báo cáo là số liệu thực tế do kế toán c ủa Công ty cung cấp, trong phần Lờ i nói đầu cũng vẫn nên nói rằng “ các số li ệu nêu trong Bản Báo cáo thực tập này đều là số liệu giả định để minh hoạ cho nội dung của đề tài, không phải là số liệu thực tế” (để tránh tình trạng thỉnh thoảng đã xảy ra trong quá trình thực tập t ốt nghiệ p, Bản Báo cáo thực tập sau khi làm xong, khi đưa đến Giám đốc ký tên bị Giám đốc giữ lại vì cho rằng số liệu kế toán của doanh nghiệp không được phép đưa ra bên ngoài)

    Bắt đầu đánh số 1
    thứ tự trang từ

    đây

    PHẦN I:

    GIỚI THIỆU ĐƠN VỊ THỰC TẬP

    I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    Gợi ý:

    Công ty … thành lập theo Quyết định số … ngày …do … ký; từ ngày thành lập đến nay công ty đã thay đổi và phát triển như thế nào, cơ ngơi sản xuất được mở rộng đến đâu, vân vân …

    II. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU

    Gợi ý:

    Ghi theo nội dung của Quyết định thành lập Công ty (hay Giấy phép đăng ký kinh doanh)

    III. QUY MÔ HOẠT ĐỘNG HIỆN TẠI

    Gợi ý:

    Công ty hiện nay có bao nhiêu nhà xưởng, cửa hàng (kể ra); tổng số

    lượng lao động là bao nhiêu người (gồm bao nhiêu trực tiếp, bao nhiêu gián tiếp

    (kể ra); Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá hiện nay là bao nhiêu đồng / năm;

    mức nộp ngân sách hàng năm là bao nhiêu đồng; thị phần (hay phạm vi hoạt

    động) của công ty hiện nay bao gồm những địa phương nào, những quốc gia hay

    vùng lãnh thổ nào ? vân vân … (Có được cái gì thì ghi cái đó)

    IV. TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ

    1. Sơ đồ tổ chức

    Gợi ý:

    Vẽ sơ đồ tổ chức đến các Phòng, Ban, bộ

    bộ máy quản lý của Công ty, từ Ban Giám đốc trở xuống phận trực thuộc

     

    1. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận

    Gợi ý:

    Trình bày chức năng nhiệm vụ chủ yếu của từng bộ phận được nêu tên trong s ơ đồ tổ chức nói trên (Chức năng nhiệm vụ của Ban Giám Đốc, của từng phòng, ban, bộ phận trực thuộc)

    V. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

    Gợi ý:

    Vẽ s ơ đồ quy trình công nghệ của quá trình s ản xuất chế biến c ủa công ty, nếu công ty sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau có quy trình công nghệ khác nhau thì chỉ cần nêu quy trình công nghệ của 1 loại sản phẩm chính của công ty;

    riêng trường hợp Báo cáo thự c tập chọn chuyên đề Kế toán chi phí và tính giá thành s ản phẩm thì phải nêu quy trình công nghệ của sản phẩm mà mình mô tả cách thức hạch toán chi phí và tính giá thành trong chuyên đề.

     

    2

    Giải thích bằng lời trình tự của sơ đồ công nghệ đó.

    Nếu đơn vị thực tập là tổ chức kinh doanh thương mại chỉ có ho ạt động mua, bán hàng hoá hay thực hiện dịch vụ thì không thực hiện mục này.

    VI. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY

    Gợi ý:

    Nêu lên các thuận lợi và khó khăn hiện nay c ủa công ty (có thể do các nguyên nhân: thị tr ường, giá cả, chính sách kinh tế, chính sách thuế khoá của Nhà nước, vân vân …) Sau đó nêu lên hướng khai thác thuận lợi, khắc phục khó khăn hay đề xuất Nhà nước có các biện pháp giải quyết cho công ty.

     

    3

    PHẦN II:

    GIỚI THIỆU BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA

    CÔNG TY ….

    I. HÌNH THỨC TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN

    Gợi ý:

    Nêu lên bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức gì : tập trung ? phân tán ? vừa tập trung vừa phân tán ? (cần xem lại lý thuyết, bài “Tổ chức bộ máy kế toán” của môn học Kế toán tài chính, để nắm lại nhưng khái niệm này); cho biết tại sao lại biết rằng công ty đã tổ chức bộ máy kế toán theo các hình thức đó?

    Ví dụ: “Công ty t ổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung, vì toàn bộ các công việc kế toán (gồm phân loại và xử lý chứng từ, ghi sổ chi tiết, ghi sổ tổng hợ p, lập báo cáo tài chính, …) đều được thực hiện tập trung tại phòng kế toán “;

    Hay “Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức v ừa t ập trung v ừa phân tán vì toàn bộ các phần hành kế toán (t ừ xử lý chứng t ừ , ghi sổ chi tiết , ghi sổ t ổng hợ p và lập báo cáo tài chính,…) đều được giao cho các XN. A1, A2, … (là các đơn vị trực thuộc) thực hiện; còn đối với XN.A3, A4, … chỉ được giao thực hiện các công việc … (nêu tên công vi ệc) còn các công việc còn lại (nêu tên công việc) được đưa về thực hiện tại phòng kế toán chính của công ty”;

    Vân vân …

    II. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC NHÂN SỰ PHÒNG KẾ TOÁN

    Gợi ý:

    Vẽ sơ đồ t ổ chức nhân sự phòng kế toán của đơn vị , từ kế toán trưởng trở xuống đến các tổ kế toán ở các đơn vị tr ực thuộc hay các nhân viên trực thuộc; Sau đó nêu (bằng lời) chức năng nhiệm vụ chủ yếu của từng tổ kế toán hay của từng nhân viên kế toán

    Nếu không có được sơ đồ tổ chức nhân sự phòng kế toán,thì đề mục II này có thể đổi là “II. Tổ chức nhân sự phòng kế toán”; sau đó nêu (bằng lời) chức năng nhiệm vụ của từng nhân viên trong phòng kế toán, ví dụ:

    “Phòng kế toán của công ty …. có tất cả … anh chị; bao gồm:

    • 1 Kế toán trưởng, phụ trách ….
    • 1 nhân viên kế toán phụ trách ….
    • 1 nhân viên kế toán phụ trách …
    • 1 Thủ quỹ phụ trách … ”

    Vân vân …

     

    4

    III. HÌNH THỨC KẾ TOÁN

    1/ Hình thức kế toán:

    Gợi ý: Cho biết hình thức kế toán đang được công ty sử dụng trong ghi

    chép kế toán là hình thức gì : Nhật ký – Sổ cái ? Chứng từ ghi sổ ? Nhật ký chung

    • Nhật ký chứng từ ? Hình thức kế toán trên máy tính ?; (cần xem lại lý thuyết đã học hoặc Sách “Chế độ Kế toán doanh nghiệp” ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính để nắm lại những hình thức này).

    Nhắc nhở: Sai lầm hay mắc phải khi làm báo cáo là nhầm lẫn giữa hình thức kế toán (còn gọi là hình thức sổ kế toán) nói ở đây và hình thức tổ chức bộ máy kế toán trình bày ở mục I ở trên.

    2/ Đặc trưng cơ bản: Cho biết đặc trưng cơ bản của hình thức đó? Ví dụ:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức Nhật ký – Sổ cái là “Sử dụng Sổ Nhật ký – Sổ cái làm sổ kế toán tổng hợp duy nhất để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian kết hợp với ghi chép theo tài khoản kế toán”

    Hoặc:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức Chứng từ ghi sổ là “Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được ghi nhận vào chứng từ ghi sổ trước khi sử dụng chứng từ ghi sổ làm căn cứ trực tiếp để ghi chép vào sổ tổng hợp theo trình tự thời gian và theo tài khoản kế toán theo 2 quá trình ghi chép tách rời nhau”

    Hoặc:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức Nhật ký chung là “Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được tập trung phản ánh vào các sổ Nhật ký ( mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung) theo trình tự thời gian kết hợp với theo hệ thống tài khoản trước khi sử dụng số liệu từ các sổ Nhật ký này làm căn cứ trực tiếp ghi chép vào Sổ Cái.

    Hoặc:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức Nhật ký chứng từ là “tập trung phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của các tài khoản kết hợp với việc phân tích theo các tài khoản đối ứng Nợ theo trình tự thời gian kết hợp với theo tài khoản kế toán trên các tờ sổ Nhật ký chứng từ trước khi sử dụng các tờ sổ Nhật ký chứng từ này làm căn cứ trực tiếp để ghi chép vào Sổ Cái.

    Hoặc:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán đưc thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính. Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong 4 hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức đó. Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định.

    (Từ nội dung các đặc trưng cơ bản này để xác định xem đơn vị sử dụng hình thức kế toán nào, và chỉ cần trình bày trong báo cáo đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán mà đơn vị đang sử dụng )

     

    5

    3/ Sơ đồ trình tự ghi chép:

    Gợi ý: Vẽ sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán đó (có đủ trong lý thuyết đã học, hoặc Sách “Chế độ Kế toán doanh nghi ệp” ban hành theo Quy ết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính); và giải thích ( bằng lời ) trình tự ghi chép của sơ đồ đó.

    Sau đó, đối chi ếu với thực tế ghi chép tại đơ n vị thực tập để nêu lên rằng thực tế giống hay khác với lý thuyết, và nếu khác thì khác ở những điểm nào ?

    Ví dụ: Sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái

    Chöùng töø goác

      Baûng toång hôïp     Caùc soå keá toaùn
      CTG cuøng loaïi     chi tieát
                   
             
    Nhaät Kyù – Soå Caùi     Baûng toång hôïp chi tieát  
                   

    Baûng caân ñoái soá phaùt sinh

    Baùo caùo Thueá + Baùo caùo Taøi chính

    Ghi haøng ngaøy

    Ghi vaøo cuoái thaùng

    Ghi theo ñònh kyø

    Ñoái chieáu soá lieäu vaøo cuoái thaùng

    1. Hàng ngày: (làm cái gì ?)

     

    1. Định kỳ: (làm cái gì ?)
    2. Cuối tháng: (làm cái gì ?)

     

    Ví dụ: Sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ:

    Chöùng töø goác

    Baûng toång hôïp   Caùc soå keá toaùn
    CTG cuøng loaïi   chi tieát
         
    Soå Ñaêng kyù CTGS   Chöùng töø ghi soå
         
    Soå Caùi   Baûng toång hôïp chi tieát
         

    Baûng caân ñoái soá phaùt sinh

    Baùo caùo Thueá + Baùo caùo Taøi chính

    Ghi haøng ngaøy

    Ghi vaøo cuoái thaùng

    Ghi theo ñònh kyø

    Ñoái chieáu soá lieäu vaøo cuoái thaùng

    1. Hàng ngày: (làm cái gì ?)

     

    1. Định kỳ: (làm cái gì ?)

     

    1. Cuối tháng: (làm cái gì ?)

     

    Ví dụ: Sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán Nhật ký chung:

    Chöùng töø goác

    Caùc Soå Nhaät kyù ñaëc bieät   Nhaät Kyù Chung   Caùc Soå keá toaùn chi tieát
             
    Soå Caùi   Baûng toång hôïp
        chi tieát
       
         

    Baûng caân ñoái soá phaùt sinh

    Baùo caùo Thueá + Baùo caùo Taøi chính

    Ghi haøng ngaøy

    Ghi theo ñònh kyø

    Ghi vaøo cuoái thaùng

    Ñoái chieáu soá lieäu vaøo cuoái thaùng

    1. Hàng ngày: (làm cái gì ?)

     

    1. Định kỳ: (làm cái gì ?)
    2. Cuối tháng: (làm cái gì ?)

     

    Ví dụ: Sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán trên máy vi tính:

        PHAÀN MEÀM            
              SOÅ KEÁ TOAÙN    
    Chöùng töø goác
      KEÁ TOAÙN       – Soå toång hôïp  
             
       
                – Soå chi tieát  
                     
                     

    Baùo caùo Taøi chính

    Baûng toång hôïp

    chöùng töø goác                                      MAÙY VI TÍNH

    cuøng loai

    Nhaäp soá lieäu haøng ngaøy                                   Ñoái chieáu, kieåm tra

    In soå saùch, baùo caùo vaøo cuoái thaùng, cuoái naêm

    4/ Mẫu biểu số sách sử dụng:

    Gợi ý: Minh hoạ mẫu bi ểu của các sổ sách nêu trong sơ đồ vừa v ẽ. (Các mẫu bi ểu này có đủ trong trong lý thuyết đã học, hoặc Sách “Chế độ Kế toán doanh nghiệp” ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

    Ví dụ:

    Đối với hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái thì minh hoạ mẫu Nhật ký – Sổ cái, mẫu Bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại.

    Đối với hình thức Chứng t ừ ghi sổ thì minh hoạ mẫu Chứng từ ghi sổ; mẫu Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ, và mẫu Sổ cái.

    Đối v ới hình thức Nhật ký chung thì minh hoạ mẫu sổ Nhật ký chung, các mẫu sổ Nhật ký đặc biệt được sử dụng tại đơn vị, và mẫu Sổ cái.

    Đối với hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ thì minh ho ạ các mẫu sổ Nhật ký chứng t ừ được sử dụng tại đơn vị (như Nhật ký chứng từ số 1; số 2, vân vân …), và mẫu Sổ cái.

    Đối với hình thức kế toán trên máy tính thì minh hoạ các mẫu sổ tài khoản, sổ chi tiết tài khoản do máy in ra.

    Lưu ý: Khi minh hoạ các mẫu sổ, nên trình bày làm 2 lần: 1 l ần trình bày theo mẫu in trong chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành; 1 lần trình bày theo mẫu thực tế của đơn vị (nếu photo copy được mẫu sổ thực tế của đơn vị thì càng tốt); sau đó nêu lên sự khác biệt giữa mẫu sổ theo lý thuyết và theo thực tế và có thể đưa ra nhận định riêng của bản thân về s ự khác biệt đó (hay hơn ? dở hơn ?). Trường hợp mẫu sổ theo thực tế giống như mẫu in trong sách giáo khoa thì chỉ cần minh hoạ mẫu bi ểu theo thực t ế và cho biết “mẫu biểu sổ sách trong thực tế giống như mẫu biểu sổ sách được Nhà nước quy định theo chế độ kế toán !”

    IV. PHƯƠNG TIỆN GHI CHÉP KẾ TOÁN

    Gợi ý:

    Cho biết đơn vị ghi chép kế toán bằng tay, bằng tay có kết hợp sử dụng các phần mềm ứng dụng c ủa máy tính (như Excel, Accsess) hay hoàn toàn tự động bằng các phần mềm kế toán chuyên dụng ?

    Nếu ghi chép bằng tay có kết hợp sử dụng các phần mềm ứng dụng Excel. Accsess thì nêu lên các phần mềm này hỗ trợ cho công tác kế toán trong những công việc cụ thể nào ?

    Nếu ghi chép bằng phần mềm kế toán chuyên dụng thì cho biết tên và quốc tịch của phần mềm đó ?

    V.                 CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN ÁP DỤNG TẠI ĐƠN VỊ

    • Đơn vị tiền tệ ghi sổ ? (thường là tiền Đồng Việt nam)
    • Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày ….; kết thúc vào ngày … (thường là bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 cùng năm)
    • Phương pháp kế toán tổng hợp hàng tồn kho ? (là phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ ?)
    • Phương pháp đánh giá hàng tồn kho ? (FIFO ? LIFO? Bình quân gia quyền liên hoàn ? Bình quân gia quyền cố định ?)
    • Phương pháp khấu hao tài sản cố định ? (Đường thẳng ? Số giảm

    dần? Số dư giảm dần có điều chỉnh ?Khấu hao theo sản lượng ?)

     

    PHẦN III:

    CHUYÊN ĐỀ

    KẾ TOÁN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    TẠI CÔNG TY …. (*)

    • Giáo viên hướng dẫn sẽ góp ý cụ thể về dàn bài chi tiết của phần này sau khi sinh viên đăng ký đề tài thực tập tốt nghiệp)

    (*) Nhớ thay đổi tên đề tài phù hợp với tên đề tài đã đăng ký với giáo viên hướng

     

    dẫn

     

    PHẦN IV:

    NHẬN XÉT – KIẾN NGHỊ – KẾT LUẬN

    VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN ………………………… TẠI … (*)

    I. NHẬN XÉT

    Gợi ý:

    Nêu lên các sự khác biệt giữa thực tế ghi nhận được của doanh nghiệ p (xoay quanh đề tài thực tập t ốt nghiệp, không nói lạc qua đề tài khác ) với lý thuyết đã học ở nhà tr ường ; đưa ra nhận định riêng của bản thân về sự khác biệt đó (hay hơn ? dở hơn ?), vân vân …

    II. KIẾN NGHỊ

    Gợi ý:

    Đề xuất các kiến nghị (thêm cái này ? bỏ cái kia ?) của bản thân để có thể hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tại đơn vị (chỉ xoay quanh đề tài thực t ập tốt nghiệp, không nói lạc qua đề tài khác), nêu lên lý do ra đời của các đề xuất đó.

    III. KẾT LUẬN

    Gợi ý:

    Nêu lên các vấn đề mang tính tổng kết cho toàn bộ các nội dung đã nói ở phần chuyên đề; Trình bày ngắn gọn, đi thẳng vào nội dung đề tài.

    Ví dụ: (Giả sử đề tài thực tập tốt nghiệp là “Kế toán Nguyên vật liệu và Công cụ dụng cụ” )

    “Đối với một doanh nghiệp may mà tính chất sản phẩm đòi hỏi phải sử

    dụng rất nhiều loại vật tư, phụ liệu thì việc tổ chức tốt công tác kế toán nguyên

    vật liệu là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản; thế nhưng công ty … đã làm rất

    tốt công việc này,cách thức thu thập, xử lý chứng từ kế toán cũng như cách thức

    ghi chép chi tiết và tổng hợp đã đảm bảo được yêu cầu chính xác, kịp thời và rõ

    ràng của kế toán; tuy nhiên, trong một số phần việc cụ thể thì … vân vân …”

    Lưu ý chung:

    Cần sử dụng câu chữ cho khéo léo, tế nhị, nếu nhận xét tốt về công ty thì thôi, nhưng nếu muốn nhận xét về những điều mà mình nghĩ rằng chưa tốt (về nghiệp v ụ kế toán ) thì cần trao đổi riêng với giáo viên hướng dẫn trước khi đưa vào bản báo cáo.

    ________________________________________________

    (*) Nhớ thay đổi tên đề tài phù hợp với đề tài đã đăng ký với giáo viên hướng dẫn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Luận văn Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Luận văn Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Luận văn Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Báo cáo nghiên cứu khoa học: ” TẬP ĐOÀN KINH TẾ: ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-v%C3%A0-x%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-b%C3%A1n-h%C3%A0ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Lời nói đầu

     

    Nền kinh tế nước ta chuyển dần từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường là thách thức lớn với mọi thành phần kinh tế. Bởi vậy muốn tồn tại một doanh nghiệp đứng vững trong thị trường kinh doanh hiện nay tuỳ thuộc vào kết quả quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mà cụ thể là các chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi nhuận.

    Với doanh nghiệp vừa mang tính chất thương mại, tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình kinh doanh, nó có tính chất quyết định tới thành công hay thất bại của doanh nghiệp, giải quyết tốt khâu tiêu thụ thì doanh nghiệp mới thực sự thực hiện được chức năng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Điều đó cho thấy công tác hạch toán nói chung và công tác hạch toán xác định kết quả kinh doanh nói riêng là khâu vô cùng quan trọng không thể thiếu với mỗi doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này doanh nghiệp phải lựa chọn kinh doanh mặt hàng nào có lợi nhất, các phương thức tiêu thụ để làm sao bán được nhiều mặt hàng nhất. Doanh nghiệp nên tiếp tục đầu tư hay chuyển sang hướng khác. Do vậy việc tổ chức tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh như thế nào để có thể cung cấp thông tin nhanh nhất kịp thời cho các nhà quản lý, phân tích đánh giá lựa chọn phương thức kinh doanh thích hợp nhất. Em thấy để có thể tồn tại và phát triển, các nhà doanh nghiệp phải xây dựng cho mình chiến lược cụ thể nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và đặc biệt là thúc đẩy công tác tiêu thụ tìm đầu ra cho sản phẩm của doanh nghiệp mình. Đây là nhiệm vụ sống còn của mỗi doanh nghiệp hiện nay, bởi vậy thông qua việc tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp mới có vốn để tiến hành tái mở rộng, tăng tốc độ lưu chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Xuất phát từ đó em đã chọn đề tài “Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng”.

    Nội dung chia làm ba phần:

    Phần I: Một số vấn đề về lý luận kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.

    Phần II: Thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty.

    Phần III: Đánh giá thực trạng và phương pháp hoàn thiện kế kế toán bán hàng tại công ty.

    CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    1. Khái niệm bán hàng

    Bán hàng là quá trình các doanh nghiệp thực hiện chuyển hóa vốn sản xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ và hình thành kết quả tiêu thụ.

    2. Đặc điểm của quá trình tiêu thụ hàng hóa

    Đó là sự trao đổi mua bán có thỏa thuận, doanh nghiệp đồng ý bán và khách hàng đồng ý mua đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán có sự chuyển đổi quyền sở hữu hàng hóa từ doanh nghiệp sang khách hàng. Doanh nghiệp giao hàng hóa co khách hàng và nhận được từ họ một khoản tiền hay một khoản nợ tương ứng, khoản tiền này được gọi là doanh thu tiêu thụ dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Căn cứ trên số tiền hay khoản nợ, mà khách hàng chấp nhận thanh toán dể hạch toán kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.

    3. Vai trò của quá trình bán hàng

    Tiêu thụ là khâu quan trọng của hoạt động thương mai doanh nghiệp, nó thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng đó là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Tiêu thụ hàng hóa là khâu trung gian là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.

    Qua tiêu thụ mới khẳng định được năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Sau tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi được tổng chi phí bỏ ra mà còn thực hiện được một phần chi phí thặng dư. Phần thặng dư này chính là phần quan trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước mở rộng quy mô kinh doanh.

    Cũng như các quá trình khác, quá trình tiêu thụ hàng hóa cũng chịu sự thay đổi và quản lý của nhà nước, của người có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp đó là chủ, doanh nghiệp, các cổ đông, bạn hàng, nhà tài trợ, các cơ quan quản lý nước…Với chức năng thu thập số liệu, xủ lý và cung cấp thông tin, kế toán được coi là một trong những công cụ góp phần giải quyết những vấn đề phát sinh trong doanh nghiệp. Cụ thể kế toán đã theo rõi số lượng, chất lượng, giá trị của tổng lô hàng từ khâu mua đến khâu tiêu thụ. Từ đó doanh nghiệp mới điều chỉnh đưa ra những phương án, các kế hoạch tiêu thụ hàng hóa nhằm thu được hiệu quả cao nhất.

    4. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Để đáp ứng được yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm và xác định kết quả tiêu thụ sản phẩm kế toán có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

    Phản ánh tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế về têu thụ và xác định kết quả tiêu thụ như mức bán ra, doanh thu tiêu thụ, mà quan trọng nhất là lãi thuần của hoạt động tiêu thụ. Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp chi tiết sự biến động của hàng hóa ở tất cả các trạng thái: hàng đi đường, hàng nhập kho…nhằm đăm bảo an toàn cho hàng hóa.

    Tính toán chính xác giá vốn, chi phí khối lượng tiêu thụ hàng hóa, hàng trả lại…

    Phản ánh chính xác, kịp thời doanh thu tiêu thụ để xác định kết quả đảm bảo thu đủ và kịp thời tiền bán hàng tránh sự chiếm dụng vốn.

    Phản ánh và giám sát tình hình thực hiện kết quả tiêu thụ, cung cấp số liệu lập báo cáo tài chính và lập quyết toán đày đủ để đánh giá đúng hieuj quả tiêu thụ.

    II. CÁC PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    1.các phương thức bán hàng

    Hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng một số phương thức tiêu thụ sau:

    1.1 Phương thức bán buôn

               Bán buôn hàng hóa được hiểu là hình thức bán hàng cho người mua trung gian để họ tiếp tục chuyển bán hoặc bán cho các nhà sản xuất. Trong bán buôn thì có hai phương thức:

    Bán buôn qua kho: Là  hàng hóa được xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp.

    Bán buôn vận chuyển thẳng: Là hình thức mà các doanh nghiệp thương mại sau khi tiến hành mua hàng hóa không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng đến cho bên mua.

    1.2 Phương thức bán lẻ

    Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng.

    1.3 Phương thức hàng đổi hàng

    Là phương thức tiêu thụ mà trong đó người bán đem vật tư, hàng hóa, sản phẩm của mình để đổi lấy vật tư, hàng hóa, sản phẩm của người mua.

    1.4 Phươgn thức bán đại lý

    Là phương thức mà bên chủ hàng xuất hàng giao cho bên nhận đại lý để bán. Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý  dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.

    1.5 Phương thức bán hàng trả góp

    Khi giao cho người mua thì hàng hóa được coi là tiêu thụ. Người mua được trả tiền mua hàng nhiều lần. Ngoài số tiền bán hàng doanh nghiệp còn được hưởng thêm ở người mua một khoản  lãi vì trả chậm.

    2 Kế toán bán hàng

    Kế toán tiêu thụ hàng hóa được thực hiện như sau:

    2.1 Giá vốn hàng bán

    Là giá trị vốn thành phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kỳ. Đối với doanh nghiệp sản xuất đó là giá trị thực tế thành phẩm suất kho. Đối với doanh nghiệp thương mại giá vốn hàng bán bao gồm giá trị mua của hàng và chi phí mua hàng.

    Kế toán phản ánh giá vốn trên tài khoản 632 Giá vốn hàng bán

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng  các tài khoản liên quan khác: TK156, TK 611

    2.2 Chi phí bán hàng

    Chi phí bán hàng là những khoản chi phí phát sinh co liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong kỳ như chi phí nhân viên bán hàng, chi phí thuê kho bãi, …

    Kế toán sử dụng TK 641 – Chi phí bán hàng để phản ánh

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan như: TK 111, TK 112, … 2.3 Chi 2.3 phí quản lý doanh nghiệp

    Chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí có liên quan đến toàn bộ hoạt động cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra được cho bất kỳ một hoạt động nào. Chi

    quản lý doanh nghiệp bao gồm: Chi phí khấu hao TSCĐ, quản lý hành chính và chi phí chung khác.

    Kế toán sử dụng TK 642 để phản ánh chi phí quản lý doanh nghiệp.

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan khác như: TK 111, TK 112,…

    2.4 Doanh thu bán hàng

    Là số tiền doanh nghiệp thu được từ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng. Giá trị hàng hóa được thỏa thuận như trên hợp đồng kinh tế về mua bán và cung cấp các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, lao vụ đã được ghi trên hóa đơn bán hàng.

    Để phản ánh doanh thu kế toán sử dụng TK 511 – Doanh thu bán hàng và TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan: TK 111.TK 112,TK 131,TK 531

    2.5 Các khoản giảm trừ doanh thu

    Hàng bán bị trả lại: Là giá rị của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ ,lao vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do nhưng nguyên nhân bị vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế: Hàng hóa bị kém phẩm chất, không đúng chủng loại quy cách.

    Kế toán sử dụng TK 531 – Hàng bán bị trả lại

    Giảm giá hàng bán là: khoản giảm trừ được người bán chấp nhận một cách đặc biệt do hàng hóa kém phẩm chất, không đúng quy cách quy định trên hợp đồng

    KT 532 – Giảm giá hàng bán

    Riêng khoản triêt khấu bán hàng không được coi là khoản giảm trừ doanh thu thu mà tính vào chi phí hoạt độngt tài chính( TK 811 – Số tiền triết khấu cho khách hàng )

    2.6 Cách xác định kết quả bán hàng

    Kết quả bán hàng là kết quả bán hàng cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng số tiền lãi hoặc lỗ.

    Kết quả hoạt động tiêu thụ hàng hóa (lãi thuần) được tính bàng cách so sánh giữa một bên là doanh thu thuần vứi một bên là giá vốn hàng bán cho phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp biểu hiện qua chi tiêu lỗ(lãi ) về tiêu thụ.

    Kết quả bán hàng là việc so sánh giữa một bên là doanh thu thần của hoạt động tiêu thụ với một bên là giá bán hàng tiêu thụ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng bán ra.

    Việc xác định kết quả tiêu thụ được tiến hành vào cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng đơn vị.

    Kế toán sử dụng TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh – Không có số dư cuối kỳ.

    CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRỰC TIẾP TẠI CÔNG TY

    A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CÔNG TY

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    Công ty cổ phần Kim Sơn thành lập ngày 8/4/2007 do Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp giấy đăng  ký kinh doanh số 0104304411. Trụ sở giao dịch chính của doanh nghiệp hiện nay đóng tại số 144 đường Lê Lai, Phường Nguyễn Trãi – Hà Đông – Hà Nội.

    Trong đó ngành nghề kinh doanh bao gồm:

    – Khai thác và kinh doanh than

    – Chế biến và kinh doanh chất đốt từ than

    – Kinh doanh vật liệu xây dựng

    – Suất nhập khẩu sản phẩm vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất, các mặt hàng công ty được phép sản xuất.

    Địa bàn hoạt động khắp các tỉnh trong cả nước

    II. TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY

    1.Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty

    Mô hình tổ chức được sắp sếp như sau:

     Giám đốc

     

           
     
       Phòng

     

    kế

    hoạch

     
       Phòng

     

    kế

    toán

    1. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty:

    Chức năng nhiệm vụ của phòng tài chính kế toán như sau:

    – Kế toán trưởng: Giúp giám đốc công ty tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính, kế toán, thống kê,…..

    – Kế toán tổng hợp: kiểm tra toàn bộ hoạt động kế toán của đơn vị vào sổ tổng hợp, lập báo cáo kế toán định kỳ theo chế độ quy định.

    – Kế toán viên: lập các chứng từ kế toán phát sinh,thanh toán đủ tiền lương BHXH cho nhân viên, kiểm tra chứng từ suất nhập kho, theo dõi cập nhật theo dõi về nợ phải thu, nợ phải trả,….

    – Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm quản lý tiền mặt Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý và các giấy tờ khác như: trái phiếu, cổ phiếu… của công ty.

    III. TÌNH HÌNH VỐN VÀ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

    Về mặt cơ sở vật chất kỹ thuật hàng năn doanh nghiệp đã không ngừng đổi mới, cải tạo lại các văn phòng, đầu tư các trang thiết bị máy móc phục vụ cho việc kinh doanh của doanh nghiệp. Để đầu tư thêm cho quá trình hoạt động kinh doanh ngòai số vốn tự có của mình, doanh nghiệp còn đi vay thêm của ngân hàng để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.

    Với số vốn ban đầu của doanh nghiệp là: 55 000 000 000 đ

    Trong đó:   Vốn cố định là: 35 000 000 000 đ

    Vốn lưu động là: 20 000 000 000 đ

    Qua hai năm hoạt động kinh doanh đến nay ( 1/6/2009 ) tổng số vốn của doanh nghiệp đã tăng lên là: 90 000 000 000 đ

    Trong đó: Vốn cố định là:   55 000 000 000 đ

    Vốn lưu động là: 35 000 000 000 đ

    Nhìn vào vốn kinh doanh của doanh nghiệp ta thấy tổng số vốn tăng so với ban đầu là: 35 000 000 000 đ trong đó:

    Vốn cố định tăng là:   20 000 000 000 đ

    Vốn lưu động tăng là: 15 000 000 000 đ

    B TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG CỦA CÔNG TY

    Để thuận tiện cho việc phận công nhiệm vụ và phù hợp với đặc điểm kinh doanh công ty sử dụng hình thức “ Sổ nhật ký chung”. Công ty áp dụng “Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên” và “Nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ”

    Chứng từ sổ sách liên quan đến bán hàng bao gồm: Hóa đơn thuế GTGT, phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập, phiếu xuất…giấy báo nợ, báo có của ngân hàng. Hệ thống sổ sách bao gồm: Sổ nhật ký chung ,sổ thu chi tiền mặt,sổ nhật biên tiền gửi ngân hàng, sổ cái các tài khoản, các sổ kế toán chi tiết,….

    Trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng: Căn cứ vào hợp đồng mua bán hoặc nhu cầu của khách hàng kế toán lập hóa đơn GTGT. Hóa đơn GTGT được chia làm 3 liên: Liên 1 lưu chứng từ gốc, liên 2 giao khách hàng, liên 3 để thanh toán.

    Kế toán căn cứ vào hóa đơn để xác định doanh thu và xác lập công nợ với người mua, xác định giá vốn hàng bán. Quá trình này được theo dõi trên sổ nhật ký bán hàng vá sổ cái TK 511 – Doanh thu bán hàng và sổ chi tiết các tài khoản có liên quan.

    I. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY

    Hiện nay trong nền kinh tế thị trường công ty phải tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh, tự mình tìm khách hàng để tiêu thụ hàng hóa.Thi trường tiêu thụ của công ty khá rộng, có lượng khách hàng lớn.

    Phương tức thanh toán chủ yếu băng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản.

    1. TÌNH HÌNH THỰC TẾ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY

    1.Phương thức tiêu thụ

    Bán hàng là một trong những hoạt động chính có vai trò quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh tại công ty. Bởi vậy công ty luôn chú trọng tới việc tổ chức bán hàng giúp hạn chế ứ đọng vốn và đem lại lợi nhuận cao . Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức bán hàng: Bán buôn, bán lẻ.

    2.Kế toán giá vốn hàng bán

    Giá vốn hàng bán là giá trị thực tế của hàng hóa mua vào hoặc nhập về. Công ty quản lý hàng nhập kho theo từng lô hàng. Do vậy giá vốn thực tế nhập xuất được tính theo giá vốn đích danh.

    Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng tài khoản: TK632 – Giá vốn hàng bán, TK 156 – Hàng hóa, TK 911 –Xác định kết quả kinh doanh.

    Phương pháp tính giá vốn hàng bán:

    Giá trị vốn                               Đơn giá nhập kho của số                            Số lượng hàng

    –                                                                          x

    hàng bán                            hàng bán ra trong kỳ                                   bán ra

    VD: Trong tháng 12/2008 Công ty nhập kho một số hàng hóa như sau:

    Nhập 7.000 tấn than lọai cám với đơn giá 220.000đ/tấn

    5.000 tấn than loại cục 6 với đơn giá 250.000đ/tấn

    10.000 tấn than loại cám 6a với đơn giá 240.000đ/tấn

    Vậy tổng số vốn hàng bán ra:

    4500 x 220.000 + 1700 x 250.000 + 6000x 240.000 = 2.855.000.000đ

    Căn cứ “Phiếu nhậpkho” kế toán hoạch toán nhập kho hàng hóa

    Nợ TK 156: 5.190.000.000đ

    Nợ TK 1331:  259.500.000đ

    Có TK331: 5.449.500.000đ

    Hạch toán giá vốn hàng xuất bán:

    Nợ TK 632: 2.855.000.000đ

    Có TK 156: 2.855.000.000đ

    Kết chuyển giá vốn hàng bán:

    Nợ TK 911: 2.855.000.000đ

    Có TK : 2.855.000.000đ

    1. Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

    Công ty gộp chung chi phí quản lý doanh nghiệp vào chi phí bán hàng:

    Nội dung: Chi phí bán hàng bao gồm: Chi phí tiền lương, các khoản trích theo lương của cán bộ công nhân viên, chi phí vật liệu quản lý, chi phí công cụ dụng , đồ dùng văn phòng, chi phí điện, nước…chi phí khấu hao TSCĐ, thuế , phí…,chi phí bằng tiền khác.

    Tài khoản sủ dụng: Chi phí bán hàng được phản ánh trên TK 641 “Chi phí bán hàng” được chia thanh các TK cấp 2 sau:

    TK 6411 – Chi phí nhân viên

    TK 6412 – Chi phí vật liệu bao bì

    TK 6413 – Chi phí dụng cụ đồ dùng

    TK 6414 – Chi phí KH TSCĐ

    TK 6417 – Chi phí dịch vụ mua ngoài

    TK 6418 – TK chi phí bằng tiền khác

    Ngoài ra Công ty còn sử dụng các tài khoản đối ứng: TK 111, TK 112, TK 331, TK 911

    Trình tự kế toán:  Hàng ngày khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh liện quan đến chi phí bán hàng, dựa trên cơ sở chứng  từ hợp pháp như hóa đơn thuế GTGT, bảng thanh toán tiền lương, bảng khấu hao TSCĐ.. kế toán sẽ lập phiếu chi (nếu thanh toán bằng tiền mặt), lập ủy nhiệm chi (nếu thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng), lập chứng từ ghi sổ (đối với những TK chưa thanh toán), kế toán tập hợp phân loại chứng từ, vào sổ chi tiết tài khoản 641 – Chi phí bán hàng để theo dõi cuối kỳ kết chuyển sang TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh.

    Chế độ trả lương cho nhân viên tính theo thời gian trả theo tháng.

    Mức lương phải trả  =  thời gian làm việc  x  mức lươnng thời gian/ ngày

    Trong đó: Mức lương thời gian:

    Lương cơ bản  x  hệ số

    Số ngày theo chế độ

    Và các khoản tính vào thu nhập của nhân viên như thưởng, phụ cấp.

    Còn các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) Công ty áp dụng theo đúng quy định

    VD: Căn cứ vào bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục, lương cơ bản là 112.315.423đ để tính BHXH kế toán áp dụng theo đúng quy định của Công ty các khoản trích theo lương:

    BHXH =  15%  x  lương cơ bản.

    BHXH =  15%  x  112.315.423  =  16.847.313,45 đ

    BHYT =   2%   x  112.315.423  =  2.246.308,46   đ

    KPCĐ =   2%   x   202.087.242 =  4.041.744,84   đ

    Theo số liệu trên kế toán hạch toán:

    Nợ TK 6411: 337.538.031,8đ

    Có TK 334:  314.402.665đ

    Có TK 3383: 16.847.313,45 đ

    Có TK 3384: 2.246.308,46   đ

    Có TK 3382: 4.041.744,84   đ

    VD: Căn cứ vào phiếu chi số 178 ngày 30/12/2009 thanh toán tiền phí gửi bưu phẩm là: 3.750.864đ, thuế GTGT 10%. Kế toán hạch toán:

    Nợ TK 6412: 3.750.864 đ

    Nợ TK 133:  375.086,4  đ

    Có TK 111: 4.125.950,4 đ

    Cách tính khấu hao TSCĐ: Kê toán dùng phương pháp tính khấu hao trung bình theo phương pháp này thì số tiền khấu hao được tính cho mỗi thời kỳ trong thời gian hữu ích của tài sản là như nhau.

    Số khấu hao                   Số khấu hao                   Số khấu hao                   Số khấu hao

    TSCĐ phải     =      TS phải trích    +       TSCĐ tăng       –     TSCĐ giảm

    trích trong kỳ                     kỳ trước                           trong kỳ               trong kỳ

    VD: Căn cứ vao số khấu hao TSCĐ trong bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục với số tiền là: 61.834.489đ kế toán hạch toán như sau:

    Nợ TK 6414:         61.834.489 đ

    Có TK 2141: 61.834.489 đ

    Dựa vào bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục ta tổng hợp chi phí bán hàng:

    Nợ TK 641: 707.460.798,8  đ

    Nợ TK 1331: 70.746.079,88 đ

    Có TK 131: 778.206.878,68  đ

    Cuối kỳ kết chuyển chi phí bán hàng:

    Nợ TK 911:  707.460.798,8  đ

    Có TK 641: 707.460.798,8  đ

    1. Kế toán doanh thu bán hàng

    Nội dung: Doanh thu bán hàng là doanh thu ghi trên hóa đơn GTGT xuất cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán.

    Tài khoản sử dụng: Để phản ánh tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ kế toán sủ dụng TK 511 – Doanh thu bán hàng và một số TK đối ứng như TK 111, TK 112, TK 131, TK911.

    Chứng từ kế toán sử dụng: Hợp đồng mua bán, hóa đơn GTGT, phiếu suất kho.

    Trình tự kế toán: Căn cứ vào hợp đồng mua bán với người mua hoặc nhu cầu khách hàng, kế toán lập hóa đơn thuế GTGT, hóa đơn được lập thành 3 liên: Liên 1 lưu sổ kế toán, liên 2 giao cho khách hàng, liên 3 dùng để thanh toán. Kế toán sẽ căn cứ hóa đơn bán hàng để ghi nhận doanh thu và xác lập công nợ với người mua đồng thời xác định giá vốn của hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp. Quá trình này được theo dõi trên sổ cái TK 511.

    Phương pháp tiêu thụ tại Công ty: Công ty bán hàng theo phương pháp trực tiếp.

    Trường hợp bán hàng thu tiền ngay: Phương pháp bán hàng này áp dụng cho những khách hàng mua với số lượng ít và Công ty bán lẻ.

    VD: Ngày 17/ 12/2009 Công ty bán cho anh Hoàng 1700 tấn than cucjv[í đơn giá 340.000đ/tấn, thuế suất thuế GTGT là 5%. Theo hợp đồng GTGT 00915. Kế toán hạch toán như sau:

    Nợ TK 131: 2.079.000.000 đ

    Có TK 511: 1.980.000.000 đ

    Có TK 3331:    99.000.000 đ

    1. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu.

    Công ty không có các khoản giảm doanh thu như: Giảm giá hàng bán, hàng hóa bị trả lại, triết khấu thương mại, thuế tiêu thụ đặc biệt. Do vậy doanh thu thuần được xác định chính là doanh thu ban hàng thu được.

    1. Kế toán xác định kết quả bán hàng.

    Tài khoản sủ dụng: Để xác định kết quả bán hàng trong kỳ kế toán sử dụng tài khoản 911 – xác định kết quả bán hàng – và các TK đối ứng như TK 632, TK 641, TK 511, TK 421.

    Cuối tháng khi xác định được doanh thu thuần, các khoản giảm trừ doanh thu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp kế toán tiến hành kết chuyển, để xác định kết quả bán hàng.

    Kết quả kinh doanh của Công ty trong tháng 12/ 2009

    • Giá vốn bán hàng: 2.855.000.000đ
    • Chi phí bán hàng: 707.460.798,8đ
    • Tổng doanh thu bán hàng: 3.953.000.000đ
    • Các khoản giảm trừ doanh thu :0
    • Doanh thu thuần: 3.953.000.000đ

    Kế toán tiến hành kết chuyển xác định kết quả bán hàng

    1. Kết chuyển giá vốn:

    Nợ TK 911: 2.855.000.000đ

    Có TK 632: 2.855.000.000đ

    1. Kết chuyển chi phí bán hàng:

    Nợ TK 911: 707.460.798,8đ

    Có TK 641: 707.460.798,8đ

    1. Kết chuyển doanh thu thuần:

    Nợ TK 511: 3.953.000.000đ

    Có TK 911: 3.953.000.000đ

    1. Kết chuyển lãi:

    Nợ TK 911:  390.539.201,2đ

    Có TK 421:  390.539.201,2đ

    Nhận xét: Vì Công ty hạch toán phụ thuộc lên không hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp riêng mà Công ty gộp chung chi phí quản lý doanh nghieepjvaf chi phí bán hàng gây khó khăn trong hạch toán chi tiết. Vì TK 641 – Chi phí bán hàng – chỉ phản ánh các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hóa. Mà không thể phản ánh hết các khoản chi phí phát sinh ở bộ phận văn phòng Công ty và các chi phí liên quan đến tất cả các hoạt động kinh doanh của Công ty. Công ty nên mở thêm TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp – Để hạch toán dược rễ dàng hơn.

     

    CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY

    1. Đánh giá thực trạng kế toán bán hàng tại Công ty


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam

    Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam

    Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Kinh-T%E1%BA%BF-V%C4%A9-M%C3%B4-V%E1%BA%A5n-%C4%90%E1%BB%81-Th%E1%BA%A5t-Nghi%E1%BB%87p-%E1%BB%9E-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam

    1. Lời mở đầu

    Sau hai thập kỷ chuyển đổi cơ chế kinh tế, Việt Nam đã tiến một bước dài trên con đường phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Nền kinh tế nước ta đang chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Sự nghiệp đổi mới kinh tế đòi hỏi phải nhanh chóng tiếp cận những lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế của nhiều nước trên thế giới.

    Kinh tế học vĩ mô là một môn kinh tế cơ sở, đề cập đến cơ sở lý thuyết và các phương pháp phân tích sự vận động của nền kinh tế tổng thể, làm nền tảng cho các phân tích chuyên ngành kinh tế khác.

    Như đã biết, nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều thị trường có liên quan mật thiết với nhau. Mỗi biến động trong một thị trường đều tác động đến cân bằng trong các thị trường khác và cân bằng  của cả nền kinh tế, kinh tế học vĩ mô sẽ quan tâm đến những mối quan hệ này nhằm phát hiện, phân tích và mô tả bản chất của các biến đổi kinh tế, tìm ra những nguyên nhân gây nên sự mất ổn định, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung của toàn bộ nền kinh tế. Cũng từ đó, kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các chính sách và công cụ chính sách kinh tế hướng tới mục tiêu ổn định nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế.

    Trong phần này, chúng ta sẽ đi xem xét, tìm hiểu về vấn đề thất nghiệp ở Việt Nam thời kì 2004 -2008 và các chính sách vĩ mô thích ứng. Các nhân tố và xu hướng tác động đến thị trường hàng hóa đặc biệt này – hiện tại và tương lai

     

     

     

     

     

     

    2. Nội dung chính:

    Chương 1:  Thất nghiệp và các chính sách kinh tế vĩ mô chống thất nghiệp.

    Câu 1: Giới thiệu môn học, vị trí môn học trong chương trình học đại học :

    1. Giới thiệu môn học:

     Kinh tế học vĩ mô

    Kinh tế học vĩ mô – một phân nghành của kinh tế học – nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 

    Trong kinh tế học vĩ mô chúng ta tìm cách giải quyết hai vấn đề. Thứ nhất, chúng ta tìm cách nắm bắt phương thức hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Thứ hai, chúng ta tìm cách giải đáp câu hỏi là liệu chính phủ có thể làm điều gì để cải thiện thành tựu chung của toàn bộ nền kinh tế. Tức là chúng ta quan tâm đến cả giải thích và khuyến nghị về chính sách.

    Giải thích liên quan đến nỗ lực để hiểu hành vi của nền kinh tế trên bốn phương diện cơ bản: sản lượng và tăng trưởng kinh tế; việc làm và thất nghiệp; sự biến động của mức giá chung; và thu nhập ròng nhận được từ thương mại và tài chính quốc tế. Kinh tế học vĩ mô tìm cách giải thích điều gì quyết định đến các biến số đó, tại sao chúng lại biến động theo thời gian và mối quan hệ giữa chúng.

    Trong kinh tế học vĩ mô chúng ta tìm hiểu phương thức hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên chúng ta không thể xem xét mọi giao dịch cá nhân trên tất cả các thị trường trong nền kinh tế. Trái lại cúng ta cần phải đơn giản hóa, trừu tượng hóa thế giới hiện thực. Chúng ta sử dụng phương pháp trừu tượng hóa để giảm bớt các chi tiết phức tạp của nền kinh tế, nhằm tập trung phân tích những mối quan hệ kinh tế then chốt, qua đó dễ dàng phân tích, đánh giá và dự báo hành vi của các biến số quan trọng. Quyết định nghiên cứu các biến số tổng hợp, chứ không phải nghiên cứu các biến số đơn lẻ cũng là một sự trừu tượng hóa. Đặc biệt trong những năm gần đây và dự đoán trong nhiều năm tới, các mô hình kinh tế lượng  vĩ mô sẽ chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong các lý thuyết kinh tế học vĩ mô hiện tại.

    Một quốc gia, có thể có những lực chọn khác nhau tuỳ thuộc vào các ràng buộc của họ về các nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị xã hội. Song sự lựa chọn đúng đắn nào cũng cần đến những hiểu biết sâu sắc về hoạt động mang tính khách quan của hệ thống kinh tế. Kinh tế học vĩ mô sẽ cung cấp những kiến thức và công cụ phân tích kinh tế đó. Ngày nay, những kiến thức và công cụ phân tích này càng được hoàn thiện thêm để có thể mô tả chính xác hơn đời sống kinh tế vô cùng phức tạp của chúng ta.

    1. Vị trí của môn học trong chương trình học đại học:

    Kinh tế học vĩ mô là một trong những chủ đề quan trọng nhất đối với sinh viên vì tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của sinh viên. Mức việc làm và mức thất nghiệp chung sẽ quyết định khả năng tìm kiếm việc làm sau của chúng ta sau khi tốt nghiệp, khả năng thay đổi công việc và khả năng thăng tiến trong tương lai. Mức lạm phát sẽ ảnh hưởng đến lãi suất mà chúng ta có thể nhận được từ khoản tiết kiệm của chúng ta trong tương lai.

    Kinh tế vĩ mô sẽ giúp cung cấp cho chúng ta những nguyên lý cần thiết để hiểu rõ tình hình kinh tế của đất nước, đánh giá các chính sách kinh tế mà Chính phủ đang thực hiện và dự đoán các tác động của những chính sách đó tới đời sống của chúng ta như thế nào?

    Trong bối cảnh nền kinh tế Viêt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, trong đó tất cả hàng hóa và dịch vụ được lưu chuyển  qua biên giới các quốc gia.Lần đàu tiên mọi người đều chơi theo một luật chơi chung “ Luật chơi của kinh tế thị trường toàn cầu “ Đây là một thách thức rất lớn. Người thắng sẽ có lợi nhuận ,thu nhập cao, thành đạt trong cuộc sống và kẻ thua cuộc sẽ tụt lại đằng sau nhiều khi còn dẫn đến phá sản. Vì vậy , vị trí bộ môn kinh tế trong các trường đại học có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về kinh tế học. về kinh tế vi mô hay kinh tế vĩ mô. Nó giúp cho sinh viên làm quen với các khái niệm kinh tế

    Câu 2: Phân tích các vấn đề thất nghiệp: khái niệm, cách tính tỷ lệ thất nghiệp, phân loại thất nghiệp, tác hại của thất nghiệp.

    Trong thị trường lao động luôn có một dòng người lao động có/ mất việc làm, gia nhập/ thoát ra khỏi lượng lực lao động. Hình1 dưới đây cho chúng ta thấy những luồng cơ bản chảy ra và chảy vào thị trường lao động.

    Hình1: Các dòng trong thị trương lao động:

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Những dòng lao động  này luôn tồn tại, thậm chí là trong thị trường kinh tế bung nổ. Phần chính của dòng lao động trên là những người thay đổi công việc, những người không bị thất nghiệp trong bất kỳ khoảng thời gian nào. Tuy nhiên cũng có người đi ra và tham gia lực lượng lao động, những người đôi khi mất việc làm. Những người này tạo ra mức thất nghiệp tự nhiên.

    • Thế nào là thất nghiệp?
    1. Vài khái niệm:

    Để có cơ sở xác định thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp cần phân biệt một vài khái niệm sau:

    • Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi và quyền lợi lao động theo quy định đã ghi trong Hiến pháp.
    • Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang tim kiếm việc làm.
    • Người có việc là những người đang làm cho các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội …
    • Người thất nghiệp là người hiện chưa có việc nhưng mong muốn và đang tìm kiếm việc làm.
    • Ngoài những người có việc và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động được coi là người không nằm trong lực lượng lao động, bao gồm người đi học, nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật… và một bộ phận không muốn tìm việc làm với những lý do khác nhau.

    Hình 2 dưới đây có thể giúp ta hình dung rõ ràng hơn những khái niệm trên:

    Dân số Trong độ tuổi lao động Lực lượng lao động Có việc
    Thất nghiệp
    Ngoài lực lượng lao động (ốm đau, nội trợ, không muốn tìm việc làm)  
    Ngoài độ tuổi lao động  
    1. Tỷ lệ thất nghiệp:

    Theo quan niệm nêu trên, tình trạng của nền kinh tế được đánh giá bằng chỉ tiêu “Tỷ lệ thất nghiệp”. Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực lượng lao động.

    Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia. Cũng vì thế còn có những quan niệm khác nhau về nội dung và phương pháp tính toán, để có khả năng biểu hiện đúng và đầy đủ đặc điểm nhiều vẻ tình trạng thất nghiệp thực tế, đặc biệt ở các nước đang phát triển.

    Trên cơ sở đó các nhà thống kê đã tính toán:

    Lực lượng lao động  = Số người có việc làm + Số người thất nghiệp

    Tỷ lệ thất nghiệp      =  100% x Số người không có việc làm
    Tổng số lao động xã hội
    • Các lọai thất nghiệp:

    Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại đẻ hiểu rõ về nó. Có thể chia thành các loại như sau:

    1. Phân theo loại hình thất nghiệp

    Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào… Cần biết những điều đó để hiểu rõ ràng về đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiêp trong thực tế. Với mục đích đó, có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây;

    • Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ)
    • Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi – nghề)
    • Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn…)
    • Thất nghiệp chia theo ngành nghề (ngành kinh tế, ngành hàng, nghề nghiệp).
    • Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc…
    1. Phân loại theo lý do thất nghiệp

    Có thể chia thành mấy loại:

    • Bỏ việc: Tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng lương thấp, không hợp nghề, hợp vùng…
    • Mất việc: Các hãng cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh…
    • Mới vào: Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm (thanh niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công tác…)
    • Quay lại: Những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại làm việc, nhưng chưa tìm được việc làm.

    Kết cục của người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn. Có những người (bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó được trở lại làm việc, nhưng có một số người không có khả năng đó và phải ra khỏi lực lượng lao động do bản thân không có điều kiện phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, hoặc do mất hẳn sự hứng thú làm việc, hay có thể còn nguyên nhân khác.Như vậy số người thất nghiệp là con số mang tính thời điểm. Nó luôn biến động không ngừng theo thời gian. Thất nghiệp là quá trình vận động từ có việc, mới trưởng thành trở nên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó. Vì thế việc nghiên cứu dong luân chuyển thất nghiệp rất có ý nghĩa.

    Nếu ta coi thất nghiệp như một bể chứa những người không có việc làm, thì đầu vào của dòng thất nghiệp là những người gia nhập đội quân này và đầu ra là những người rời khỏi thất nghiệp. trong cùng thời kỳ, khi dòng vào lớn hơn dòng ra thì quy mô thất nghiệp sẽ tăng lên và ngược lại, quy mô thất nghiêp giảm xuống. Khi dòng thất nghiệp cân bằng thì quy mô thất nghiệp sẽ không đổi, tỷ lệ thất nghiệp tương đối ổn định. Dòng thất nghiệp nói trên cũng đồng thời phản ánh sự vận động hoặc những biến động của thị trường lao động. Quy mô thất nghiệp còn gắn với khoảng thời gian thất nghiệp trung bình. Khoảng thời gian thất nghiệp trung bình là độ dài bình quân thời gian thất nghiệp của toàn bộ người số thất nghiệp trong cùng một thời kỳ. Độ dài thời gian này có sự khác nhau giữa các cá nhân.

    Ví dụ: Giả sử một người bị thất nghiệp 6 tháng, 4 người bị thất nghiệp một tháng thì khoảng thời gian thất nghiệp trung bình sẽ là :

    Trong đó:      = Khoảng thời gian thất nghiệp trung bình

    N = Số người thất nghiệp trong mỗi loại

    t  = Thời gian thất nghiệp của mỗi loại

    Khi dòng vào cân bằng với dòng ra, tỷ lệ thất nghiệp không đổi. Nhưng nếu khoảng thời gian thất nghiệp trung bình lại rút ngắn thì cường độ (quy mô) của dòng vận chuyển thất nghiệp tăng lên, thị trường lao động biến động mạnh, việc tìm kiếm sắp xếp việc làm trở nên khó khănvà phức tạp hơn. Nếu hoạt động của thị trường lao động yếu kém thì thời gian thất nghiệp sẽ tăng và tỷ lệ thất nghiệp cũng gia tăng.

    Khi dòng vào lớn hơn dòng ra, số người thất nghiệp và thời gian thất nghiệp đều kéo dài, xã hội sẽ có đông đảo người thất nghiệp dài hạn. Thất nghiệp cao và dài hạn thường xảy ra trong trời kỳ kinh tế khủng hoảng. Tuy nhiên thất nghiệp dài hạn cũng có thể xảy ra khi xã hội có nhiều công ăn việc làm. Trong trường hợp đó, lý do chủ yếu thường nằm trong sự thiếu hoàn hảo của việc tổ chức thị trường lao động (đào tạo, môi giới, chính sách tuyển dụng, tiền lương…)

    1. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp:

    Tìm hiểu nguồn gốc thất nghiệp có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất nghiệp, từ đó tìm ra hướng giải quyết. Có thể chia thành 4 loại;

    • Thất nghiệp tạm thời:

    Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi ở tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng (lương cao hơn, gần nhà hơn…) hoặc những người mới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc làm hoặc chờ đợi đi làm… Mọi xã hội  trong bất kỳ thời điểm nào đều tồn tại loại thất nghiệp này. Chỉ có sự khác nhau về quy mô người và thời gian thất nghiệp.

     Xem xét một nền kinh tế bắt đầu với cân bằng việc làm đầy đủ trong hình 3a dưới đây, với mức thất nghiệp tự nhiên và mức lương thực tế

    Bây giờ, giả sử rằng xảy ra suy thoái, và AD giảm, như trong hình 3b.

    Trong ngắn hạn, mức lương thực tế được cố định tại W0. Do đó, khi tổng cầu giảm xuống làm giảm mức giá, chúng ta có mức lương thực tế tăng lên. Trong ngắn hạn, thị trường lao động không ở trong cân bằng tại LD = LS

    Hình 3:

                                

     

     

     

     

     

                   
             
     
     
    (a)
     
    (b)

     

     

     

    → Với mức lương thực tế tăng lên, doanh nghiệp thuê ít lao động đi – chúng ta di chuyển đường LD trong hình 4a, với L1 lao động được thuê. Số việc làm giảm đi có nghĩa là sản xuất giảm xuống thể hiện qua hàm tổng sản xuất – điều này có nghĩa là GDP thực tế cung ứng ra thấp hơn – đây là sự dịch chuyển xuống đường SAS như trong hình 4b.

    Doanh nghiệp thuê ít lao động hơn có nghĩa là thất nghiệp tăng lên – tổng thất nghiệp tăng lên, qua sự tăng lên trong thất nghiệp chu kỳ chúng ta có thể thấy được trên đồ thị.

     Chú ý rằng thất nghiệp chu kỳ xảy ra là do trên thực tế cung lao động lớn hơn cầu lao động.

    • Thất nghiệp cơ cấu:

    Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các loại lao động (giữa các ngành nghề, khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường lao động (tổ chức đào tạo lại, môi giới…). Khi sự biến động này mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn.

    • Thất nghiệp do thiếu cầu:

    Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống. Nguồn gốc chính là ở sự suy giảm tổng cầu. Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ, bởi ở các  nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề.

    • Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường:

    Loại thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ tới sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ tới mức sống tối thiểu; nên sự không linh hoạt của tiền lương dẫn đến một bộ phận lao động mất viịec làm hoặc khó tìm việc làm.

    Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động. Thất nghiệp thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thị trường lao động xã hội bị mất cân bằng (đường cầu lao động dịch trái). Còn thất nghiệp theo cổ điển do các yếu tố xã hội, chính trị tác động

    * Ngoài ra theo cách phân tích hiện đại có một phân loại mới là thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện :

    Thất nghiệp tự nguyện chỉ những người “tự nguyện” không muốn làm việc, do việc làm và mức lương tương ứng chưa hòa hợp với mong muón của mình. Giả thiết này là cơ sở để xây dựng hai đường cung: một đường cung lao động nói chungchỉ ra quy mô của lực lượng lao động xã hội tương ứng với ccs mức lương của thị trường lao động; một đường cung chỉ ra bộ phận lao động chấp nhận việc làm với các mức lương tương ứng của thị trường lao động. Khoảng cách giữa hai đường cung biểu thị con số thất nghiệp tự nguyện (Hình 4)

    Hình 4:

    • Đường LD là đường cầu lao động, do nhu cầu của các doanh nghiệp quyết định.
    • Đường LS là đường cung lực lượng lao động xã hội.
    • Đường LS’ là đường cung bộ phận lao động sẵn sàng chấp nhận việc làm tương ứng với mức lương của thị trường lao động. EF hoặc BC là con số thất nghiệp tự nhiên.

    Nếu xã hội ở mức lương tối thiểu W1 > W* là mức lương cân bằng của thị trường lao động thì:

    • Cung lao động LS’ lớn hơn cầu lao động LD một đoạn AB

    (AB chính là số người thất nghiệp tự nguyện)

    • Tổng số thất nghiệp tự nguyện là đoạn AC bao gồm thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển

    Thất nghiệp không tự nguyện là loại thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi tổng cầu suy giảm, sản xuất đình trệ, công nhân mất việc…

    • Tác hại của thất nghiệp:

    Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường, cho dù quốc gia đó ở trình độ kém phát triển hoặc phát triển cao.

    Khi thất nghiệp ở mức cao, sản xuất sút kém, tài nguyên không được sử dụng hết, thu nhập của dân cư giảm sút. Khó khăn kinh tế tràn sang lĩnh vực xã hội. Nhiều hiện tượng tiêu cực phát triển. Tác hại của thất nghiệp là rất rõ ràng. Người ta có thể tính toán được sự thiệt hại kinh tế. Đó là sự giảm sút to lớn về sản lượng và đôi khi còn kéo theo nạn lạm phát to lớn. sự thiệt hại lớn về kinh tế do thất nghiệp mang lại ở nhiều nước đến mức không thể nào so sánh với thiệt hại do tính không hiệu quả của bất cứ hoạt động kinh tế vĩ mô nào khác. những kết quả điều tra xã hội học cũng cho thấy rằng, thất nghiệp phát triển luôn gắn với sự tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp…, làm xói mòn nếp sống lành mạnh, có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, gây tổn thương về mặt tâm lý và niềm tin của nhiều người.

    *Thiệt thòi cá nhân:

    Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vụ nghĩa, áp lực tâm lý và tất nhiên là không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu dùng. Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh. Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ tội phạm, tỷ lệ tự tử, và suy giảm chất lượng sức khỏe.

    Theo một số quan điểm, người lao động nhiều khi phải chọn công việc thu nhập thấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảo hiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó. Về phía người sử dụng lao động thì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công cho mình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao, trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến …).

    Cái giá khác của thất nghiệp còn là, khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợi xã hội, cá nhân buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực. Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng. Với ý nghĩa này, thì trợ cấp thất nghiệp là cần thiết.

    Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uất, suy yếu ảnh hưởng của công đoàn, công nhân lao động vất vả hơn, chấp nhận thù lao ít ỏi hơn và sau cùng là chủ nghĩa bảo hộ việc làm. Chủ nghĩa này đặt ra những rào cản với người muốn gia nhập công việc, hạn chế di dân, và hạn chế cạnh tranh quốc tế. Cuối cùng, tình trạng thất nghiệp sẽ khiến cán cân đàm phán điều kiện lao động nghiêng về giới chủ, tăng chi phí khi rời công việc và giảm các lợi ích của việc tìm cơ hội thu nhập khác.

    * Chi phí cho doanh nghiệp và giảm tăng trưởng kinh tế:

    Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ.

    Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô.

    Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn.

    Câu 3: Phân tích các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm làm giảm tỷ lệ thất nghiệp:

    1. a) Đối với thất nghiệp tự nhiên :
    2. Muốn giảm bớt thất nghiệp xã hội cần phải có thêm nhiều việc làm, đa dạng hơn và có mức tiền công tốt hơn, đồng thời phải đổi mới, hoàn thiện thị trường lao động để đáp ứng kịp thời nhanh chóng cả yêu cầu của doanh nghiệp và người lao động.
    3. Do yêu cầu cạnh tranh mạnh mẽ của cơ chế thị trường, việc mở rộng sản xuất tạo ra nhiều việc làm tốt, thu nhập khá và ổn định luôn gắn liền với năng suất ngày càng cao. Ở mỗi mức tiền công sẽ thu hút nhiều lao động hơn. Trong những điều kiện đó, cầu về lao động sẽ tăng lên và khoảng thời gian thất nghiệp cũng sẽ giảm xuống.

    Để thúc đẩy quá trình này cần có các chính sách khuyến khích đầu tư, thay đổi công nghệ sản xuất. Điều này lại liên quan đến các chính sách tiền tệ (lãi xuất), xuất nhập khẩu, giá cả (tư liệu lao động…), thuế thu nhập…

    Ở những nước đang phát triển có lao động dư thừa nhiều, nhưng thiếu vốn, có thể tạo ra nhiều việc làm với các doanh nghiệp nhỏ (cá thể hoặc nhỏ về vốn nhưng dùng nhiều lao động) bằng sự hỗ trợ vốn của Nhà nước hoặc của tổ chức kinh tế, xã hội thông qua các “dự án việc làm”

    1. Tăng cường và hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại và tổ chức tôt thị trường lao động sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm, có thể rút ngắn được thời gian tìm việc bởi cơ cấu và trình độ của người tìm việc ngày càng sát hơn với cơ cấu kinh tế và sự đòi hỏi của doanh nghiệp
    2. b) Đối với thất nghiệp chu kỳ:

    Thất nghiệp chu kỳ thường là một thảm hoạ vì nó xảy ra trên quy mô lớn. Tổng cầu và sản lượng suy giảm, đời sống người lao động bị thất nghiệp gặp khó khăn. Gánh nặng này thường lại dồn vào những người nghèo nhất (lao động giản đơn), bất công xã hội do vậy lại tăng lên.

    Các biện pháp của thị trường cho thất nghiệp chu kỳ bao gồm việc đàm phán lại mức lương cuối cùng ở một mức thấp hơn. Nhiều nhà kinh tế cho rằng sự khôi phục nền kinh tế quá chậm nên cần các biện pháp can thiệp của chính phủ, bằng cách tăng chi tiêu của chính phủ nên hiệu ứng số nhân sẽ dẫn đến tăng nhu cầu về lao động. Chính phủ cũng cần thực hiện chính sách tài chính ngược chu kỳ và chính sách tiền tệ ngược chu kỳ để dịch chuyển đường tổng cầu AD sang phải, và làm giảm mức lương thực tế bằng cách tăng giá lên.

    Các chính sách mở rộng tài chính và tiền tệ nhằm tăng tổng mức cầu sẽ dẫn đến việc phục hồi về kinh tế, giảm thất nghiệp loại này.

    1. c) Đối với thất nghiệp tạm thời:

    Thất nghiệp tạm thời dường như gắn với các phiên thất nghiệp ngắn. Nó phát sinh do công nhân cần có thời gian để tìm việc làm. Nếu như công nhân khác nhau ở ký năng và sở thích, thì việc làm cũng có đặc tính khác nhau. Hơn nữa thông tin về việc làm được quảng bá một cách chậm chạp. Do đó người tìm việc và việc làm còn trống cần có thời gian để khớp nhau. Thất nghiệp tạm thời phát sinh từ chính thời gian tìm việc này.

    Người ta có thể cắt giảm mức thất nghiệp tạm thời bằng cách cải thiện điều kiện thông tin về việc làm còn trống, chẳng hạn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, TV, internet) hoặc cacs trung tâm giới thiệu việc làm. Chính phủ có thể giảm mức thất nghiệp tạm thời thông qua việc tham gia vào các hoạt động làm rút ngắn thời gian tìm việc. Hai chương trình như vậy là tổ chức ra các cơ quan hỗ trợ cho công nhân và việc làm tiếp xúc nhau và tổ chức đào tạo lại những công nhân mất việc ở những khu vực suy giảm.

    Các tổ chức bảo hiểm thất nghiệp trả cho công nhân mất việc một phần tiền lương gốc của họ trong một thời gian nhất định. Bảo hiểm thất nghiệp làm tăng thất nghiệp tạm thời vì công nhân thất nghiệp dường như: ít nỗ lực làm việc hơn, bỏ qua việc làm không hấp dẫn và ít quan tâm đến sự đảm bảo việc làm lâu dài. Điều này không có nghĩa là bảo hiểm thất nghiệp không tốt. Bảo hiểm thất nghiệp bảo vệ công nhân, làm giảm những khó khăn về tài chính do tình trạng mất việc gây ra. Nó góp phần nâng cao hiệu quả của thị trường lao động thông qua việc cho phép công nhân tìm việc lâu hơn để tìm được việc làm phù hợp nhất với năng lực của họ.

    Câu 4: Trình bày ảnh hưởng của các chính sách trên đối với nền kinh tế:

    Các chính sách trên đã góp phần hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp, tạo việc làm cho một cộng đồng dân cư (có thể đó là việc làm tốt hơn so với việc làm cũ do họ có thời gian tìm việc và tiếp cận với thông tin từ thị trường lao động nhanh hơn), tăng thu nhập cho người dân, xoá đói giảm nghèo, tăng lực lượng lao động, giảm lạm phát; từ đó thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển.

    Lao động có vai trò là động lực quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác vì nó có vai trò 2 mặt:

    Trước hết lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế. Với vai trò này, lao động luôn được xem xét ở cả hai khía cạnh: chi phí và lợi ích. Lao động là yếu tố đầu vào, nó có ảnh hưởng tới chi phí tương tự như việc sử dụng các yếu tố sản xuất khác. Lao động cũng bao hàm những lợi ích tiềm tàng theo nghĩa: góp phần vào tăng thu nhập, cải thiện đời sống và giảm nghèo đói thông qua chính sách (tạo việc làm, tổ chức lao động có hiệu quả, áp dụng công nghệ phù hợp)

    Vai trò của lao động cũng còn thể hiện ở khía cạnh thứ hai, đó là lao động – một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụ lợi ích của qua trình phát triển. Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển”. Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, hầu hết các nước đều đặt trọng tâm vào chiến lược phát triển con người.

    Việc nâng cao năng lực cơ bản của các cá nhân, của người lao động sẽ giúp họ có nhiều cơ hội việc làm hơn. Khi thu nhập từ việc làm tăng, họ sẽ có điều kiện cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống. Kết quả là tăng nhu cầu xã hội, đồng thời tác động đến hiệu quả sản xuất trong điều kiện năng suất lao động tăng.

    Khi lao động tăng thì những nhu cầu về xã hội sẽ dần tăng theo vì thế những hàng hóa và dịch vụ sẽ được sản xuất nhiều hơn, chất lượng và giá cả ngày một nâng cao khiến cho đầu tư sẽ nhiều hơn, quy mô sản xuất được mở rộng, góp phần làm tăng GDP. Mặt khác, khi những người thất nghiệp có việc làm thì những khoản trợ cấp thất nghiệp từ chính phủ cho họ sẽ được dùng vào việc phát triển kinh tế – xã hội khác, thu lợi cho xã hội được nhiều hơn.

    Chính phủ giải quyết được nạn thất nghiệp cũng đồng nghĩa giải quyết được phần nào chất lượng lao động cho người lao động, từ đó cải thiện được nguồn lao động, tăng tính cạnh tranh quốc tế; ngoài ra cũng hạn chế được vấn đề di dân, đảm bảo tính hài hoà dân cư trong lãnh thổ (thành thị – nông thôn)

     

    Chương 2: Đánh giá mức nhân dụng của Việt Nam thời kỳ 2004÷2008:

    Câu1: Nhận xét chung về tình hình kinh tế – xã hội ở Việt Nam:

    1.Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam năm 2004

    Tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 7,6% so với năm 2003, trong đó khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,3%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%, khu vực dịch vụ tăng 7,3%. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,9% so với năm 2003; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,6%; giá trị các ngành dịch vụ tăng khoảng 8%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD, tăng gần 24%. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 166,9 nghìn tỷ đồng, vượt 11,8% dự toán năm, bằng 23,5% GDP và tăng 17,4% so với thực hiện năm 2003; tổng chi ngân sách nhà nước cả năm 2004 ước đạt 206,05 nghìn tỷ đồng, vượt 9,8% so với dự toán năm; bội chi ngân sách nhà nước là 5% GDP, bằng dự toán đề ra. Vốn đầu tư toàn xã hội đạt 35,4% GDP. Giá hàng tiêu dùng tăng khoảng 9,5%. Tạo việc làm và bổ sung việc làm mới cho 1,55 triệu người. Số học sinh học nghề tuyển mới tăng 7%. Tỷ lệ hộ đói nghèo còn 8,3%. Tỷ lệ sinh giảm 0,037%. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 26%…

    Khó khăn và thách thức:

    • Tăng trưởng GDP mới đạt ở mức thấp của mục tiêu đề ra, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa có chuyển biến rõ nét; cơ cấu kinh tế chưa có bước chuyển dịch mạnh theo hướng hiện đại hóa.
    • Triển khai thực hiện vốn đầu tư phát triển còn chậm; tỷ lệ giải ngân đạt thấp.
    • Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao so với nhiều năm trước đây đã tác động xấu đến nhiều ngành sản xuất và đời sống nhân dân.
    • Công tác xã hội hóa các lĩnh vực xã hội còn chậm và còn nhiều lúng túng, chưa có các đề án và kế hoạch triển khai cụ thể. Nhiều vấn đề xã hội rất bức xúc, nhất là tình trạng nghiện hút, ma túy, cờ bạc, mại dâm chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…
    • Cải cách hành chính chưa đạt được kết quả như mong muốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới.
    • Ngoài ra, dịch cúm gà lan rộng, giá cả một số mặt hàng tăng cao đã tác động xấu đến sản xuất, kinh doanh và ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ đề ra, làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế.
    1. Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam năm 2005

    Toàn cảnh bức tranh kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2005 được thể hiện rõ nhất trong sự tăng trưởng liên tục. Tốc độ tăng trưởng  tổng sản phẩm trong nước( GDP) đạt 8,4%. Đó là một năm vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt con số kỷ lục: xấp xỉ 5,5 tỷ USD, phủ khắp 64 tỉnh thành trong cả nước, đưa tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả tăng vốn) từ năm 1998 đến nay lên 50 tỷ USD.

    Đáng chú ý là,  những dự án lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong năm đều gia tăng, nhóm ngành dịch vụ tăng, chiếm 50,9%. Nhiều tỉnh miền núi như Tuyên Quang, Lạng Sơn và đặc biệt là Điện Biên cũng đã có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.  Đầu tư nước ngoài tăng mạnh không những đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng ngày càng cao ở trong nước mà còn thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đạt con số kỷ lục khoảng 32 tỷ USD, trong đó nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như dầu thô, gạo, dệt may và đồ gỗ…

    Việc mở cửa thị trường đã giúp các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển mạnh. Doanh nghiệp nhà nước không những được sắp xếp lại mà còn đa dạng hoá sở hữu với các hình thức cổ phần hoá, bán, giao khoán, cho thuê. Tập đoàn kinh tế mạnh đã hình thành như Tập đoàn than, Tập đoàn dệt may và sắp tới là tập đoàn Bưu chính viễn thông…đã khẳng định tính đa dạng, bền vững của nền kinh tế Việt Nam. Cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp, kinh tế tập thể bước đầu ra khỏi tình trạng khó khăn và có xu hướng phát triển tích cực. Kinh tế tư nhân phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao, góp phần quan trọng vào các thành tựu kinh tế xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo.

    Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển khá, đóng góp ngày càng nhiều vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Nếu như năm 2000 khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 12,7% GDP thì đến năm 2005 đã tăng lên 15,5%. Cùng với việc  góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực đầu tư nước ngoài cũng thu hút trên 860.000 lao động trực tiếp và trên 2 triệu lao động gián tiếp. Năm 2005, Việt Nam cũng nhận được trên  3,7 tỷ USD vốn ODA, mức cao kỷ lục từ trước đến nay. Điều đó chứng minh rằng các nhà tài trợ ủng hộ những cải cách và công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam.

    Cùng với lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ, 31/64 tỉnh, thành đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Công tác phòng chống dịch bệnh, nhất là phòng chống dịch cúm gia cầm đạt những hiệu quả khả quan. Những thành tựu về văn hoá tô đẹp thêm bức tranh đổi mới của Việt Nam. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam năm 2005 được xếp vị trí 108 trên 177 nước,  tuổi thọ đựơc nâng lên 71,3 tuổi. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Chính phủ vẫn coi công cuộc xoá đói giảm nghèo là một bộ phận cấu thành  của chiến lược phát triển kinh tế nên đã chú trọng đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở cho vùng nghèo, địa bàn khó khăn kinh tế chậm phát triển, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

    1. Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam năm 2006

    Năm 2006, kinh tế nước ta phát triển trong điều kiện trong nước và thế giới có những sự kiện nổi bật: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghị APEC 2006 tại Hà Nội thành công tốt đẹp, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Bên cạnh đó, cũng có không ít các yếu tố khó khăn tác động không thuận đến sản xuất và đời sống dân cư: Ở trong nước là ảnh hưởng của bão số 1, bão số 6, bão số 9 và các bất thường về thời tiết khác; dịch bệnh trong nông nghiệp…, trên thị trường quốc tế, giá cả nói chung, đặc biệt là giá xăng dầu diễn biến phức tạp và có chiều hướng tăng. Tuy nhiên, nhờ có sự chỉ đạo và điều hành sát sao của Chính phủ thông qua các chính sách phù hợp, kịp thời, cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế tiếp tục phát triển, chính trị, xã hội ổn định.

    + Tình hình kinh tế

    Tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo giá so sánh ước tính tăng 8,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch vụ tăng 8,29%. Trong 8,17% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,67 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,16 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,34 điểm phần trăm.

    Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%, thấp hơn mức tăng 4% của năm 2005, chủ yếu do tốc độ tăng của ngành nông nghiệp và thuỷ sản chậm lại vì ảnh hưởng của thời tiết bất thường và dịch bệnh. Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng trưởng thấp hơn mức tăng của năm ngoái do sản xuất công nghiệp giảm (dầu thô khai thác đạt 17 triệu tấn, thấp hơn mức 18,5 triệu tấn của năm 2005; công nghiệp chế biến và điện, nước, ga cũng giảm so với mức tăng trưởng năm trước. Khu vực dịch vụ tăng cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó một số ngành có tỷ trọng lớn duy trì được mức độ tăng cao như thương nghiệp; vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch; khách sạn, nhà hàng; tài chính ngân hàng, bảo hiểm.

    Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 40,97% năm 2005 lên 41,52% trong năm nay; khu vực dịch vụ tăng từ 38,01% lên 38,08%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 21,02% xuống còn 20,40%.

    Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2006 ước tính bằng 110,2% dự toán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 103%; thu từ dầu thô bằng 126%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 106,3%; thu viện trợ bằng 148%. Chi ngân sách Nhà nước năm 2006 bằng 108,4% dự toán cả năm, bảo đảm được các kế hoạch chi cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Bội chi ngân sách Nhà nước cả năm bằng mức dự toán cả năm, trong đó 74,2% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 25,8% từ nguồn vay nước ngoài.

    + Các vấn đề xã hội

    Quy mô dân số cả nước năm 2006 ước tính 84,11 triệu người, tăng 1,21% so với dân số năm 2005 (năm 2005 tăng 1,31%), trong đó dân số nam 41,33 triệu, nữ 42,78 triệu. Dân số thành thị 22,82 triệu người, tăng nhanh do tốc độ đô thị hoá những năm gần đây và chiếm 27,1% số dân năm 2006; dân số nông thôn 61,29 triệu người.

    Theo điều tra biến động dân số, kế hoạch hoá gia đình 1/4/2006, mức sinh đã giảm mạnh trong vòng một năm trước thời điểm điều tra (tính từ 1/4/2005 đến 31/3/2006) và đã đạt mức bình quân một phụ nữ sinh 2,1 con. Tỷ suất sinh thô chỉ còn 17,4%0 là mức thấp nhất từ trước đến nay. Tỷ suất chết thô là 5,3 phần nghìn, có giao động trong các vùng địa lý kinh tế và theo cơ cấu dân số theo độ tuổi.

    Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm 1/7/2006 ước tính là 43,44 triệu người, tăng 2,1% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ trọng lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục giảm từ 57,2% trong năm 2005 xuống 55,7% trong năm 2006 để chuyển dịch sang các khu vực có năng suất lao động cao hơn, phù hợp với chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tương ứng, tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng tiếp tục tăng từ 18,3% lên 19,1% và khu vực dịch vụ từ 24,5% lên 25,2%. Trong các thành phần kinh tế, lao động thuộc khu vực nhà nước vẫn tăng nhẹ so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu vực thành thị tiếp tục giảm, đạt 4,4%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp của nam là 4,8%, của nữ là 3,9%.

    Đời sống dân cư nhìn chung ổn định. Đời sống của cán bộ, viên chức và người hưởng lương đã được cải thiện đáng kể nhờ tăng lương theo các Nghị định của Chính phủ. Ở nông thôn, đời sống đại đa số nông dân ổn định và từng bước được cải thiện do sản xuất phát triển và giá nhiều loại nông sản, thực phẩm tăng. Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước và nhiều địa phương tiếp tục giảm, tình trạng thiếu đói giáp hạt giảm đáng kể so với năm 2005. Tuy nhiên, thu nhập của người lao động giữa các ngành, các địa phương không đồng đều, cùng với giá cả một số mặt hàng tiêu dùng tăng đã ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận người lao động có thu nhập thấp và người dân ở các vùng bị thiên tai, dịch bệnh cây trồng vật nuôi còn gặp nhiều khó khăn.

    Khái quát lại, mặc dù năm 2006 có nhiều khó khăn và thách thức, nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng cao và phát triển. Các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế và các lĩnh vực then chốt đều đạt kết quả cao hơn so với năm trước. Tổng sản phẩm trong nước tăng 8,17%, với xu hướng tốc độ tăng của quí sau cao hơn quí trước và có sự gia tăng của cả ba khu vực sản xuất và dịch vụ. Sản xuất tăng và giá tiêu dùng tăng thấp hơn mức tăng trưởng nên đời sống dân cư được cải thiện. Xuất khẩu tăng trưởng cao và tăng nhanh hơn tốc độ tăng nhập khẩu nên đã giảm dần được nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu. Đầu tư từ nguồn trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Tỷ giá tăng thấp góp phần ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Tình hình xã hội ổn định, văn hoá, y tế, giáo dục tiếp tục phát triển.

    Là năm đầu của kế hoạch 5 năm, mức tăng trưởng năm nay tuy đạt thấp hơn năm 2005 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng 6,89% của năm 2001, là năm đầu của kế hoạch 5 năm trước và các kết quả đạt được sẽ là sự khởi đầu tốt đẹp cho thực hiện kế hoạch 2006-2010. Tuy nhiên, việc nước ta chính thức gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO từ tháng 11/2006 và ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới vừa là thuận lợi và vừa là thách thức đòi hỏi nền kinh tế nước ta phải có sự chuyển đổi thích hợp và mạnh mẽ cả về cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm, đồng thời cần nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả đầu tư và tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm Việt không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay cả trên thị trường trong nước.

    1. Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam 2007

    Mặc dù gặp những tác động bất lợi của kinh tế thế giới và thiên tai, dịch bệnh ở trong nước, nhưng kinh tế-xã hội Việt Nam đã có nhiều thành tích đáng khích lệ về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút vốn đầu tư, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, thị trường chứng khoán, vị thế quốc tế, giảm nghèo…; đồng thời cũng còn một số hạn chế, bất cập.

    Thành tích nổi bật là tăng trưởng kinh tế cao nhất so với tốc độ tăng của 12 năm trước đó, đạt được mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần làm cho quy mô kinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình quân đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839 USD/người! Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được mục tiêu thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm tới.

    Cùng với tăng trưởng kinh tế cao là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Theo nhóm ngành kinh tế, nông, lâm nghiệp-thủy sản vốn tăng thấp, năm nay lại gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh lớn nên tăng thấp và tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành này tiếp tục giảm (hiện chỉ còn dưới 20%). Công nghiệp-xây dựng tiếp tục tăng hai chữ số, cao nhất trong ba nhóm ngành, nên tỷ trọng trong GDP tiếp tục tăng (hiện đạt gần 42%), phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dịch vụ được mở cửa rộng hơn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nên đã tăng cao hơn tốc độ chung, nhờ đó đã chặn được sự sút giảm trong tỷ trọng GDP của nhóm ngành này trong thời kỳ 1995 – 2004 và cao hơn năm trước. Theo thành phần kinh tế, kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là kinh tế tự nhiên, tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng của khu vực này trong GDP đã cao lên và hiện đã đạt cao hơn khu vực nhà nước (46% so với dưới 37%). Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng trong GDP cũng cao lên (hiện đạt trên 17%). Khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tổng tỷ trọng trong GDP cao hơn, lại có tốc độ tăng cao hơn khu vực nhà nước, nên đã trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế chung, phù hợp với đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập.

    Tăng trưởng kinh tế cao đạt được do sự tác động của cả hai yếu tố đầu vào và đầu ra.

    Ở đầu vào, vốn đầu tư phát triển so với GDP đạt 40,6%, là tỷ lệ thuộc loại cao nhất từ trước tới nay, cũng thuộc loại cao nhất so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới (có chăng chỉ thấp thua tỷ lệ trên 44% của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – tỷ lệ góp phần làm cho kinh tế nước này liên tục trong nhiều năm tăng trưởng hai chữ số). Đáng lưu ý, trong khi tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước trong tổng vốn đầu tư phát triển tiếp tục giảm xuống, thì tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng lên (đạt 38%); hiệu quả đầu tư của khu vực này lại cao gấp đôi khu vực kinh tế nhà nước. Vốn đầu tư nước ngoài đạt kỷ lục mới ở cả ba nguồn. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp đạt được sự vượt trội cả về tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung (20,3 tỉ); cả về quy mô bình quân một dự án (trên 14 triệu USD/dự án); cả về cơ cấu đầu tư vào nhóm ngành dịch vụ; cả về lượng vốn thực hiện (4,6 tỉ USD). Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cuối năm 2006 (cam kết cho năm 2007) đạt mức kỷ lục (4,4 tỉ USD); cuối năm 2007 (cam kết cho năm 2008) còn đạt kỷ lục cao hơn (trên 5,4 tỉ USD). Lượng vốn giải ngân năm nay đạt 2 tỉ USD, vừa vượt kế hoạch, vừa đạt cao nhất từ trước tới nay. Nguồn vốn đầu tư gián tiếp năm nay ước đạt 5,6 tỉ USD, cao gấp 4,3 lần năm trước.

    Ở đầu ra, cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng tới gần 23%; nếu loại trừ yếu tố tăng giá bình quân năm nay so với năm trước (8,3%), thì vẫn còn cao gấp 1,6 lần tốc độ tăng GDP (13,7% so với 8,48%). Dung lượng thị trường ước đạt gần 45 tỉ USD, với dân số đông mà hằng năm vẫn còn tăng cao, tiêu dùng của dân cư vừa tăng về số lượng, vừa đa dạng về mẫu mã, chủng loại, vừa cao hơn về chất lượng và tỷ lệ tiêu dùng thông qua việc mua và bán trên thị trường tăng nhanh, vừa là động lực của tăng trưởng kinh tế trong nước, vừa có tác động “mời gọi” các nhà đầu tư nước ngoài. Xuất khẩu đạt sự vượt trội cả về quy mô (48,4 tỉ USD, bằng trên 68% so với GDP), cả về tốc độ tăng (21,5%, vượt kế hoạch, cao gấp 2,3 lần tốc độ tăng GDP).

    Tăng trưởng kinh tế cao nên chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được nhiều sự vượt trội. HDI tăng lên qua các năm (1985 mới đạt 0,590, năm 1990 đạt 0,620, năm 1995 đạt 0,672, năm 2000 đạt 0,711, năm 2005 đạt 0,733, khả năng năm 2007 đạt trên 0,75%). Thứ bậc về HDI tăng lên trong khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Thứ bậc trên thế giới về HDI cao hơn thứ bậc về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương (105 so với 123), cao hơn hàng chục nước có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam, phù hợp với nền kinh tế thị trường mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường theo định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tỷ lệ nghèo đã giảm (từ 17,8% xuống còn 14,8%).

    Vị trí quốc tế của Việt Nam gia tăng với việc chính thức trở thành thành viên WTO, được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc,…

    Bên cạnh những thành tích trên, tình hình kinh tế – xã hội năm 2007 cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Ngoài những hạn chế, bất cập tồn tại từ những năm trước, thì năm nay cũng nổi lên ba vấn đề lớn. Giá tiêu dùng tăng cao nhất so với 11 năm trước đó và cao hơn tốc độ tăng GDP. Nhập siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỷ lệ nhập siêu. Ách tắc và tai nạn giao thông nghiêm trọng,…

    1. Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam 2008

    Báo cáo của Chính phủ nêu rõ các kết quả đạt được chủ yếu năm 2008 là: Việc kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đạt được kết quả bước đầu quan trọng; Nền kinh tế duy trì được mức tăng trưởng khá trong điều kiện lạm phát cao (Tăng trưởng GDP cả năm ước đạt khoảng 6,5 – 7%) ; An sinh xã hội được quan tâm và triển khai thực hiện có hiệu quả; Các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thông tin và bảo vệ môi trường được chú trọng; Cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có những chuyển biến tích cực;  Hoạt động đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế đạt được nhiều kết quả;  Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm

    Trong khi khẳng định những chuyển biến tích cực bước đầu quan trọng nêu trên, Chính phủ nhận rõ những hạn chế, yếu kém nổi lên là:Lạm phát cao, nhập siêu lớn, cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc; Hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng kinh tế khó đạt chỉ tiêu đề ra; Đời sống nhân dân, nhất là người có thu nhập thấp, người nghèo và đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai còn nhiều khó khăn; Việc giải quyết một số vấn đề xã hội bức xúc còn chậm, kết quả còn hạn chế; Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu là khâu đột phá; kết quả phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn thấp; An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số địa bàn vẫn còn phức tạp; Quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện tuy có bước tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu.

     

    Câu2: Thu thập và trình bày các số liệu về tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam thời kỳ 2002÷2008:

    Tình hình thất nghiệp ở thành thị :

      2004 2005 2006 2007 2008
    Cả nước 5.76 5.31 4.82 4.64 4.9
    Phân theo vùng          
    Đồng bằng sông Hồng 6.03 5.61 6.42 5.74 6.2
    Đông Bắc 5.45 5.12 4.32 3.97 Đang cập nhật
    Tây Bắc 5.30 4.91 3.89 3.42 Đang cập nhật
    Bắc Trung Bộ 5.35 4.98 5.50 4.92 Đang cập nhật
    Duyên hải Nam Trung Bộ 5.70 5.52 5.63 4.99 Đang cập nhật
    Tây Nguyên 4.53 4.23 2.38 2.11 Đang cập nhật
    Đông Nam Bộ 5.92 5.62 5.47 4.83 Đang cập nhật
    Đồng bằng sông Cửu Long 5.03 4.87 4.52 4.03 Đang cập nhật

    Mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,2 triệu người đến tuổi lao động và được bổ sung vào lực lượng lao động. Trong khi đó, nhà nước thường đặt ra chỉ tiêu tạo công an việc làm nhỉnh hơn con số đó 1 chút.Vd, năm 2006, Quốc hội đặt ra mục tiêu giải quyết việc làm cho khoảng 1,6 triệu người, xuất khẩu khoảng 80.000 lao động và chuyên gia,giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị còn 5.4%.Như vậy,chưa kể đến lực lượng trong độ tuổi lao động nhưng đang thất nghiệp từ trước.Mỗi năm xã hội phải gánh them một lượng không nhỏ dân số không có việc làm. Qua các số liệu trên, ta thấy tỉ lệ thất nghiệp được phân chia qua từng vùng với khoảng cách giữa từng vùng miền là khá cao.Chính vì thế, những chủ trương chính sách của Chính phủ trong tương lai rất quan trọng nhằm giải quyết việc làm, tăng phúc lợi an sinh xã hội

    Câu 3: Thu thập thong tin về các chính sách mà chính phủ Việt Nam đã sử dụng để chống thất nghiệp và ổn định thị trường lao động

     

    Các chính sách của Chính phủ đã sử dụng để chống thất nghiệp và ổn định thị trường lao động là:

    Chính Phủ đã ra nghị quyết (120/HDBT ngày 11/04/1992) về “ Những chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tới”. Theo nghị quyết này, chương trình quốc gia xúc tiến việc làm được hoạch định và đưa vào hoạt động. Nội dung chính của chương trình xúc tiến việc làm là cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp cho người lao động để họ có thể tự tạo việc làm mới hoặc để hỗ trợ cho họat động đào tạo nghề nghiệp. Đối với khu vực nông thôn, chương trình này hướng vào việc cho vay phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào nông thôn, nuôi trồng hải sản, khai thác tiềm năng các vùng đất đai đồi núi, ven biển và tiềm năng của từng địa phương. Quỹ quốc gia giải quyết việc làm hiện có số vốn khoảng 2000 tỉ đồng, trong đó 1350 tỉ từ ngân sách nhà nước. Doanh số cho vay là 4000 tỉ đồng, thu hút khoảng 3 triệu lao động. với khoảng 1,4 triệu người có việc làm mới và 1,6 triệu người có việc làm thêm

    1. Chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước

    Để phát triển kinh tế và tạo nhiều việc làm, nhà nước chủ trương khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh, động viên mọi nguồn lực trong nhân dân và doanh nghiệp. Luật khuyến khích đầu tư trong nước đã quy định cụ thể các ưu đãi đối với các dự án tạo được nhiều việc làm cho người lao động, và là cơ sở pháp lý giúp các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư kinh doanh làm tăng của cải và tạo them việc làm cho xã hội. Nhờ đó, đã có bước tiến nhanh chóng trong lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là khu vực tư nhân. Riêng ngành công nghiệp trong những năm qua đã tạo việc làm cho hằng trăm ngàn người lao động từ nông thôn. Điều này cho thấy chính sách khuyến khích đầu tư trong nước đã góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy phát triển thị trường lao động, thông qua việc tạo cơ hội dễ dàng hơn cho người lao động tìm kiếm việc làm.

    Chính sách mở cửa của nhà nước cùng với việc ban hành luật đầu tư nước ngoài đã thúc đẩy tăng đầu tư nước ngoài, góp phần thu hút lao động và các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Các quan hệ lao động theo hợp đồng đặc biệt phát triển nhanh trong các cơ sở kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

    1. Chính sách phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn

    Thực tế cho thấy phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ thu hút khác nhiều lao động ở nông thôn. Hiện nay, các họat động này thu hút khoảng 29.5% lực lượng lao động nông thôn. Bình quân mỗi cơ sở chuyên nghề tạo việc làm thường xuyên cho 27 lao động và cho 8-19 lao động thời vụ, mỗi họ chuyên ngành nghề tương ứng với 3-4 lao động. Đây chính là những đơn vị tiên phong trong việc phát trỉển các quan hệ thuê mướn nhân công, tức là các quan hệ thị trường lao động ở nông thôn nước ta hiện nay.

    1. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho người lao động

    Phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi người lao động phải có trong tay trình độ tay nghề nhất định. Nhận ra yêu cầu bức bách này, trong những năm gần đây. Nhà nước ngày càng chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho người lao động. Điều này có thể nhận thấy được qua những biến đổi của các cơ cấu các nghề được đào tạo: nếu như trước đây chỉ chú trọng đào tạo các nghề như cơ khí chế tạo, mộc, nề, sửa chữa dân dụng… thì ngày nay, họat động đào tạo được mở rộng sang các ngành nghề mới như điện tử, tin học, tài chính, quản trị kinh doanh, các ngành nghề truyền thống dân tộc… Các họat động dạy và học nghề được thực hiện không chỉ ở các trường, các lớp mà còn ở các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được khuyến khích đào tạo lao động tại chỗ, hoặc gửi người học trong các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước.

    Nhà nước có chính sách miễn giảm thuế cho các cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số, đối tượng tệ nạn xã hội, miễn giảm thuế cho các cơ sở dạy nghề có dưới 10 học viên, dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà (miễn thuế doanh thu, lợi tức). Ngoài ra, nhà nước còn giảm 50% thuế doanh thu cho các cơ sở  dạy nghề truyền thống, trạm trổ, khảm trai, sơn mài, mây tre, gốm sứ, dệt lụa tơ tằm. Bên cạnh đó, Chính phủ còn chỉ đạo việc hoàn thiện và tăng cường công tác dạy nghề nhằm làm cho công tác dạy nghề gắn với lao động và việc làm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn tới.

    Về mặt lí thuyết, đào tạo bồi dưỡng, nâng cao kĩ năng, tay nghề vốn được coi là một trong những chính sách phát triển thị trường lao động chủ động quan trọng nhất. Việc nhà nước ta chú trọng chính sách đào tạo là điều kiện thuận lợi để thị trường này có thể phát triển trong tương lai.

    Nói tóm lại, mặc dù mới được công nhận và bước đầu đi vào họat động, thị trường lao động ở nước ta đã có những bước phát triển đáng ghi nhận. Do đây là thị trường của hàng hóa lao động đặc biệt –  hàng hóa sức lao động, và do còn đang trong giai đoạn hình thành, nên bên cạnh những tiến bộ bước đầu, thị trường lao động ở nước ta vẫn còn tiềm ẩn trong mình nhiều hạn chế và khiếm khuyết.

    Câu 4: Phân tích số liệu và các chính sách thích ứng đồng thời trình bày quan điểm của mình về thực trạng thị trường lao động ở Việt Nam

    Với sự tăng trưởng kinh tế một cách ấn tượng (trung bình khoảng 8%/năm) trong thời gian qua, Việt Nam đang tạo ra sự hấp dẫn và lôi cuốn mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu. Sức hút đối với các nhà sản xuất và đầu tư quốc tế bắt nguồn từ chính giá trị nội tại và tương lai tươi sáng của VN. Lực lượng lao động trẻ từ 18 – 34 tuổi chiếm 45% và hàng năm tiếp tục được bổ sung mới thêm khoảng 1,5 triệu người.

    Việt Nam hiện có khoảng 45 triệu người trong độ tuổi lao động. Sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế và đi cùng với nó là sự gia tăng số lượng các DN mới – khoảng 30.000 DN mỗi năm – đã làm giảm đáng kể số người thất nghiệp. Theo thống kê chính thức, số lượng người thất nghiệp, tính chung cho toàn quốc vào khoảng 5.3% – số liệu thực tế có thể cao hơn chút ít. Khoảng 10% số người lao động đang công tác trong các cơ quan, đoàn thể nhà nước, 88% trong các DN ngoài quốc doanh và 2% trong các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Lĩnh vực nông nghiệp vẫn đang thu hút nhiều lao động nhất (57%), tiếp đến là dịch vụ (25%), công nghiệp (17%).

    Tuy vậy, thị trường lao động Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều bất cập. Về mặt số lượng, các nhà đầu tư có quá nhiều lựa chọn đối với công nhân hay nhân viên văn phòng, nhưng chất lượng của họ không phải lúc nào cũng đáp ứng. Đặc biệt, nhân sự cao cấp, các chuyên gia có kinh nghiệm và khả năng quản lý đang ở trong tình trạng cung thấp xa so với cầu. Lĩnh vực thiếu hụt nhân sự nghiêm trọng nhất là công nghệ thông tin, tài chính, kiểm toán, luật cũng như các chuyên gia thực thụ trong hầu hết các ngành công nghiệp. Ngoài ra, nhiều người lao động chưa có trình độ ngoại ngữ đủ để làm việc. Trên thực tế, tình trạng này thời gian qua đã có những tiến bộ nhất định thông qua việc ngày càng có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam và ngày càng có nhiều người Việt Nam ở nước ngoài trở lại quê hương. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà khủng hoảng tài chính và lạm phát ảnh hưởng nghiệm trọng tới nền kinh tế toàn cầu, cả người lao động lẫn DN đều có cơ hội chọn lựa công việc cũng như ứng viên mới. Để đảm bảo lợi nhuận, giảm chi phí đầu vào, nhiều DN phải cơ cấu lại sản xuất, trong đó có việc thanh lọc đội ngũ lao động, nhân sự theo hướng tinh gọn. Vì thế, họ phải cho nghỉ việc những đối tượng không phù hợp và tuyển mới nhân viên có năng lực. Một số DN khác đứng trước nguy cơ phá sản, phải  thu hẹp sản xuất để đối phó với khó khăn về tài chính, giá nguyên liệu nhập khẩu gia tăng, thay đổi công nghệ. Chính vì thế, tồn tại một bộ phận không nhỏ những người đang trong độ tuổi lao động nhưng lại không kiếm được việc làm

    Để ổn định thị trường lao động, nhà nước đã đưa ra một loạt các chính sách và giải pháp để giải quyết khâu việc làm, bao gồm phân loại lao động, đào tạo lại lao động trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp; thực hiện các giải pháp vĩ mô để điều chỉnh cơ cấu lao động trong hệ thống DN. Đồng thời điều chỉnh quy hoạch về đầu tư cho phù hợp với khả năng cung ứng nhân lực theo đặc điểm của từng vùng, địa phương cụ thể. Tập trung phát triển nguồn nhân lực. Nhân công lao động rẻ không còn là thế mạnh và hướng đi của Việt Nam nữa. Chất lượng lao động thấp sẽ có tác động xấu tới khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi đó, với lực lượng lao động giản đơn quá lớn sẽ tạo áp lực rất cao cho vấn đề giải quyết việc làm. Một bộ phận lớn lao động ở các khu vực mới đô thị hóa, lao động chuyển dịch từ nông thôn không có tay nghề, lại thiếu cả ý thức, tác phong, thái độ làm việc… càng làm cho mâu thuẫn giữa “thừa” và “thiếu” thêm gay gắt. Vô hình chung nó đẩy một bộ phận những người lao động phổ thông không có việc để làm. Chính vì thế, để giải quyết bài toán thất nghiệp, cần một chiến lược quốc gia theo lộ trình cụ thể

     

    3. Kết luận.

    Thế kỷ 21 đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chưa đựng rất nhiều thách thức. Sau gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh lên nhiều. Chúng ta có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định. Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tiếp tục tạo điều kiện để Việt Nam phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn.

    Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam không ngừng ổn định và phát triển thị trường lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp, nâng cao mức an sinh xã hội trong nhân dân

    Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, khoảng cách về địa lý và thời gian đã không còn khoảng cách như trước, giải quyết vấn đề việc làm và thất nghiệp đã và đang trở thành mục tiêu quan trọng của Đảng và nhà nước Việt Nam

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại

    Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại

    Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Kinh-T%E1%BA%BF-V%C4%A9-M%C3%B4-Ch%C3%ADnh-S%C3%A1ch-Kinh-T%E1%BA%BF-%C4%90%E1%BB%91i-Ngo%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Kinh Tế Vĩ Mô Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại

    Nội dung yêu cầu

    I. Lời mở đầu

    Những cải cách kinh tế mạnh mẽ trong gần hai thập kỷ đổi mới vừa qua đã mang lại cho Việt Nam những thành quả bước đầu rất đáng phấn khởi. Việt Nam đã tạo ra được 1 môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động hơn bao giờ hết. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được khuyến khích phát triển, tạo nên tính hiệu quả trong việc huy động các nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêm một số lĩnh vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu lao động, tiếp nhận kiều hối…

    Sự phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển và sự phát triển các quan hệ kinh tế trong nước tạo đà cho sự phát triển của lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Việc phát triển mạnh của lĩnh vực kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế đất nước trở thành một mắt khâu quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu và do đó, sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu làm tăng giá trị nền kinh tế. Động lực phát triển kinh tế toàn cầu, lúc đó, sẽ trở thành động lực tăng trưởng trực tiếp của nền kinh tế.

    II.               Nội dung chính

     

    Chương 1: Lý thuyết về chính sách kinh tế đối ngoại

     

    a. Giới thiệu môn học, vị trí môn học trong chương trình học đại học.

    Việc quản lí nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính khan hiếm. Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức sử dụng các nguồn lực khan hiếm nhằm thỏa mãn các nhu cầu không có giới hạn của chúng ta một cách tốt nhất có thể.

    Chi phí cơ hội của việc thực hiện một hành động là phương án thay thế tốt nhất, hay có giá trị nhất, mà bạn phải từ bỏ để thực hiện hành động đó.

    Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học, nghiên cứu về cách ứng xử nói chung của mọi thành phần kinh tế, cùng với kết quả cộng hưởng của các quyết định cá nhân trong nền kinh tế đó. Loại hình này tương phản với kinh tế học vi mô chỉ nghiên cứu về cách ứng xử kinh tế của cá nhân người tiêu dùng, nhà máy, hoặc một loại hình công nghiệp nào đó.

    Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao gồm mức sản xuất, thất nghiệp, mức giá chung và cán cân thương mại của một nền kinh tế. Phân tích kinh tế học vĩ mô hướng vào giải đáp các câu hỏi như: Điều gì quyết định giá trị hiện tại của các biến số này? Điều gì quy định những thay đổi của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn?

    Một trong những thước đo quan trọng nhất về thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia là tổng sản phẩm trong nước (GDP). GDP đo lường tổng sản lượng và tổng thu nhập của một quốc gia. Phần lớn các nước trên thế giới đều có tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Các nhà kinh tế vĩ mô tìm cách giải thích sự tăng trưởng này. Mặc dù tăng trưởng kinh tế là một hiện tượng phổ biến trong dài hạn, nhưng sự tăng trưởng này có thể không ổn định giữa các năm. Trên thực tế, GDP có thể giảm trong một số thời kì. Những biến động ngắn hạn của GDP được gọi là chu kì kinh doanh. Hiểu biết về chu kì kinh doanh là một mục tiêu chính của kinh tế học vĩ mô. Tại sao các chu kì kinh doanh lại xuất hiện? Các lực lượng kinh tế nào gây ra sự suy giảm tạm thời trong mức sản xuất, các lực lượng nào làm cho nền kinh tế phục hồi? Phải chăng các chu kì kinh doanh gây ra bởi các sự kiện không dự tính được hay chúng bắt nguồn từ các lực lượng nội tại có thể dự tính trước được? Liệu chính sách của chính phủ có thể sử dụng để làm dịu bớt hay triệt tiêu những biến động ngắn hạn trong nền kinh tế hay không? Đây là những vấn đề lớn đã được đưa ra và ít nhất cũng đã được giải đáp một phần bởi kinh tế học vĩ mô hiện đại.

    Tỷ lệ thất nghiệp, 1 thước đo cơ bản về cơ hội tìm việc làm và hiện trạng của thị trường lao động, cho chúng ta một thước đo khác về hoạt động của nền kinh tế. Sự biến động ngắn hạn của tỉ lệ thất nghiệp liên quan đến những dao động theo chu kì kinh doanh. Những thời kì sản lượng giảm thường đi kèm với tăng thất nghiệp và ngược lại. Một mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản đối với mọi quốc gia là đảm bảo trạng thái đầy đủ việc làm, sao cho mọi lao động sẵn sàng và có khả năng làm việc tại mức tiền lương hiện hành đều có việc làm.

    Biến số then chốt thứ ba mà các nhà kinh tế vĩ mô đề cập đến là lạm phát. Lạm phát là hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới trong những thập kỉ gần đây. Vấn đề đặt ra là điều gì quyết định tỉ lệ lạm phát dài hạn và những dao động ngắn hạn của lạm phát trong một nền kinh tế? Sự thay đổi tỉ lệ lạm phát có liên quan như thé nào đến chu kì kinh doanh? Lạm phát có tác động đến nền kinh tế như thế nào và phải chăng ngân hàng trung ương nên theo đuổi mục tiêu lạm phát bằng không?

    Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế qua, làm cho việc trao đổi hàng hóa, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kĩ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, một vấn đề được kinh tế học vĩ mô hiện đại quan tâm nghiên cứu là cán cân thương mại. Để hiểu cán cân thương mại vấn đề then chốt cần nhận thức là mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với dòng chu chuyển vốn quốc tế. Như vậy, nghiên cứu về mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với việc xem xét tại sao các công dân một nước lại đi vay hoặc cho vay các công dân nước khác vay tiền.

    Cũng như các lĩnh vực nghiên cứu khác, kinh tế học nói chung và kinh tế học vĩ mô nói riêng có những cách nói và tư duy riêng. Điều cần thiết là phải học được các thuật ngữ của kinh tế học bởi vì nắm dược các thuật ngữ này sẽ giúp cho bạn trao đổi với những người khác về các vấn đề kinh tế một cách chính xác. Việc nghiên cứu kinh tế học có một đóng góp rất lớn vào nhận thức của bạn về thế giới và nhiều vấn đề xã hội của nó. Tiếp cận nghiên cứu với một tư duy mở sẽ giúp bạn hiểu được các sự kiện mà bạn chưa từng biết trước đó.

     

     

    b. Phân tích chính sách kinh tế đối ngoại dưới góc độ lý thuyết kinh tế học.

    Có nhiều khái niệm khác nhau về ngoại thương. Song xét về đặc trưng thì ngoại thương được định nghĩa là việc mua, bán hàng hoá và dich vụ qua biên giới quốc gia (tức vai trò của nó như chiếc cầu nối cung, cầu hàng hoá và dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước về số lượng và thời gian sản xuất). Các nhà kinh tế học còn dùng định nghĩa ngoại thương như là 1 công nghệ khác để sản xuất hàng hoá và dịch vụ (như là 1 quá trình sản xuất gián tiếp).

    Trong hoạt động ngoại thương: xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoài, nhập khẩu là việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài. Mục tiêu chính của ngoại thương là xuất khẩu. Xuất khẩu là để nhập khẩu; nhập khẩu là nguồn lợi chính từ ngoại thương.

    Điều kiện để ngoại thương sinh ra, tồn tại và phát triển là:

    1. Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá – tiền tệ kèm theo đó là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp;
    2. Sự ra đời của Nhà nước và sự phát triển của phân công lao động quốc tế giữa các nước.

    Kinh tế ngoại thương là 1 môn kinh tế ngành. Khái niệm ngành kinh tế ngoại thương còn được hiểu là 1 tổ hợp cơ cấu tổ chức thực hiện chức năng mở rộng, giao lưu hàng hoá, dịch vụ với nước ngoài.

    Đối tượng nghiên cứu của kinh tế ngoại thương là các quan hệ kinh tế trong lĩnh vực buôn bán của 1 nước với các nước khác. Cụ thể, nó nghiên cứu sự hình thành, cơ chế vận động, quy luật và xu hướng phát triển của hoạt động ngoại thương. Từ đó, xây dựng cơ sở khoa học cho việc tổ chức quản lí và kích thích sự phát triển ngoại thương phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

    Chính sách kinh tế được xây dựng trên cơ sở nhận thức các quy luật kinh tế. Nó là sản phẩm chủ quan. Nếu các chính sách kinh tế giải quyết đúng đắn các lợi ích kinh tế thì chúng phát huy tác dụng tích cực đến toàn bộ quá trình tái sản xuất, cũng như mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Ngược lại, chúng sẽ kìm hãm sự phát triển.

    Cơ sở lí luận của kinh tế ngoại thương là kinh tế chính trị học Mác-Lênin, các lí thuyết về thương mại và phát triển.

    Kinh tế ngoại thương là khoa học kinh tế; là khoa học về sự lựa chọn các cách thức hoạt động phù hợp với các quy luật kinh tế, với xu hướng phát triển của thời đại nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội tối ưu.

    Phương pháp nghiên cứu: quan sát các hiện tượng, trừu tượng hoá, có quan điểm hệ thống và toàn diện, có quan điểm lịch sử trong nghiên cứu, xây dựng phương án, thực nghiệm kinh tế, ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại….

    c. Phân tích cơ chế xác định tỷ giá hối đoái.

    Tỷ giá hối đoái được quyết định bởi các lực lượng cung và cầu.

    Đường cầu về 1 loại tiền là hàm của tỷ giá hối đoái của nó dốc xuống phía bên phải; tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá của nước ấy càng trở nên đắt hơn đối với những người nước ngoài và càng ít hàng hoá được xuất khẩu hơn.

    Đường cầu về tiền là 1 hàm của tỷ giá hối đoái của nó, dóc lên trên về phía phải. Tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá nước ngoài càng rẻ và hàng hoá ngoại nhập vào nước ấy càng nhiều.

    Các tỷ giá hối đoái được xác định chủ yếu thông qua các lực lượng thị trường của cung và cầu. Bất kì cái gì làm tăng cầu về 1 đồng tiền trên thị trường ngoạ hối hoặc làm giảm cung của nó đều có xu hướng làm cho tỷ giá hối đoái của nó tăng lên. Bất kì cái gì làm giảm cầu về 1 đồng tiền hoặc làm tăng cung đồng tiền ấy trên các thị trường ngoại hối sẽ hướng tới làm cho giá trị trao đổi của nó giảm xuống.

         e

     

    (USD/đ)

    e0

    Thị trường ngoại hối của đồng Việt Nam với đồng đô-la Mỹ

     

    Các nguyên nhân của sự dich chuyển các đường cung và cầu trên thị trường ngoại hối:

    • Cán cân thương mại: trong các điều kiện khác không đổi, nếu nhập khẩu của 1 nước tăng thì đường cung về tiền tệ của nước ấy sẽ dich chuyển sang phía phải.
    • Tỷ lệ lạm phát tương đối: nếu tỷ lệ lạm phát của 1 nước cao hơn tỷ lệ lạm phát của 1 nước khác thì nước đó sẽ cần nhiều tiền hơn để mua 1 lượng tiền nhất định của nước kia. Điều này làm cho đường cung dịch chuyển sang phải và tỷ giá hối đoái giảm xuống.
    • Sự vận động của vốn: khi người nước ngoài mua tài sản tài chính, lãi suất có ảnh hưởng mạnh. Khi lãi suất của 1 nước tăng lên 1 cách tương đối so với nước khác, thì các tài sản của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn và có nhiều người dân nước ngoài muốn mua tài sản ấy. Điều này làm cho đương cầu về tiền của nước đó dịch sang phải và làm tăng tỷ giá hối đoái của nó. Đây là 1 trong những ảnh hưởng quan trong nhất tới tỷ giá hối đoái ở các nước phát triển cao.
    • Dự trữ và đầu cơ ngoại tệ: đều có thể làm dịch chuyển các đương cung và cầu ngoại tệ. Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về tiền. Cầu về 1 loại tài sản phụ thuộc vào mức giá kì vọng mà tài sản đó có thể bán được trong tương lai.

    Cung và cầu về ngoại tệ được quyết đinh bởi xuất khẩu và nhập khẩu, cầu của người nước ngoài muốn đầu tư vào nước đó, cầu của người nứơc đó muốn đầu tư ra nước ngoài, và bởi các nhà đầu cơ có nhu cầu về các loại tiền khác nhau dựa trên kỳ vọng về sự thay đổi tỷ giá hối đoái.

    0
    E1
    EVNĐ/USD
    0

    a.Sự dịch chuyển đường cầu

    b.Sự dich chuyển đường cung

    Sự thay đổi tỷ giá hối đoái của đòng tiền Việt Nam và đồng đô-la Mỹ

     

    d. Trình bày ảnh hưởng của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý đến các hoạt động kinh tế vĩ mô

    Xác định tỷ giá hối đoái trong hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi:

                                 Xác định tỷ giá hối đoái

              Giả sử mức giá đôla hiện tại là quá thấp (E1). Khi đó lượng cầu về đôla vượt quá cung. Do đôla khan hiếm, 1 số công ty cần đôla để thanh toán các hợp đồng nhập khẩu không mua được đôla, và họ sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn để mua được đủ số đôla cần thiết. Những hành động như vậy sẽ đẩy giá đôla tăng lên (E­0). Ngược lại, nếu hiện tại giá đôla quá cao (E2). Khi đó lượng đôla có nhu cầu thấp hơn lượng đôla cung ứng. Nhiều người cần bán đôla sẽ không bán được và họ sẽ sẵn sàng hạ giá để bán được đủ số đôla cần thiết. Chỉ tại mức tỷ giá E0 thì quá trình điều chỉnh mới dừng lại. Khi đó, lượng cầu về đôla đúng bằng lượng đôla cung ứng. E0 :tỷ giá hối đoái cân bằng.

    Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lí: Không cho tỷ giá hoàn toàn thả nổi theo các lực lượng cung và cầu như trong hệ thống tỷ giá thả nổi, các ngan hàng trung ương đều có những can thiệp nhất định vào thị trường ngoại hối. Các nhà kinh tế thường gọi đó là hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lí. Mục đích của sự can thiệp của ngân hàng trung ương rong hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lí là hạn chế hoặc thu hẹp biên độ dao động của tỷ giá hối đoái.

    Như vậy, hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lí chính là sự kết hợp tỷ giá hối đoái thả nổi với sự can thiệp của ngân hàng trung ương. Chính vì vậy sử dụng hệ thống này có thể phát huy được những điểm mạnh và hạn chế được những yếu điểm của 2 hệ thống: thả nổi và cố định. Hệ thống này cũng thường được coi là sự mô tả tốt nhất về chế đọ tỷ giá hối đoái mà hiện tại đa số các quốc gia đang theo đuổi.

     

    Chương 2: Đánh giá việc thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam thời kì 2002 – 2007

     

    a.     Nhận xét chung tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam

    Thứ nhất, nước ta đang trong quá trình từ 1 nền sản xuất nhỏ phổ biến đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Đặc điểm này một mặt nói lên khó khăn của ta trong việc tham gia vào phân công lao động quốc tế, ảnh hưởng đến cung, cầu về hàng hoá, mặt khác nói lên tính cấp thiết, tất yếu của mở rộng ngoại thương và tham gia thị trường thế giới để tạo tiền đề cho phát triển sản xuất hàng hoá ở nước ta.

    Thứ hai, nền kinh tế nước ta là 1 nền kinh tế có nhiều thành phần tham gia như quốc doanh, tư nhân …và hợp tác giữa các thành phần đó. Sự hoạt động của các thành phần kinh tế trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá đương nhiên diễn ra sự cạnh tranh & cả sự hợp tác trên thị trường trong và ngoài nước. Điều này đòi hỏi phải có hình thức tổ chức quản lí và chính sách phù hợp với sự phát triển của các mối quan hệ đó.

                1)Tình hình kinh tế xã hội năm 2002

    Tổng sản phẩm trong nước năm 2002 tăng 7,04% so với 2001, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,44%, khu vực dịch vụ tăng 6,54%. Trong 7,04% tăng trưởng GDP, khu vực Công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,45%, khu vực dịch vụ 2,68%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 0,91%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Tỷ trọng ngành lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 25,43% năm 1999 xuống còn 22,99% năm 2002; các con số tơng ứng của khu vực công nghiệp và xây dựng là 34,49% và 38,55%; của khu vực dịch vụ là 40,08% và 38,46%.
    2)Tình hình kinh tế xã hội năm 2003

    1. a) Kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối cao và cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

    Năm 2003 tổng sản phẩm trong nước tăng 7,24%, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,42%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,08%; khu vực dịch vụ tăng 6,37%.

    b)Vốn đầu tư phát triển và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế đã tăng lên đáng kể

    Tổng số vốn đầu tư phát triển 3 năm 2001-2003 theo giá thực tế đã đạt 564928 tỷ đồng, bằng 95,8% tổng số vốn đầu tư phát triển huy động được trong kế hoạch 5 năm 1996-2000. Tính ra, vốn đầu tư phát triển bình quân mỗi năm trong 3 năm 2001-2003 đạt 188295 tỷ đồng, bằng 159,7% mức bình quân mỗi năm trong kế hoạch 5 năm 1996-2000.

    1. c) Đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện và xoá đói giảm nghèo đạt kết quả quan trọng

    Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối khá, giá cả ổn định và việc điều chỉnh mức lương tối thiểu từ 180 nghìn đồng cuối năm 2000 lên 290 nghìn đồng đầu năm 2003 cùng với việc triển khai nhiều chương trình xoá đói giảm nghèo nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung tiếp tục được cải thiện.

    Thành tựu về mức sống kết hợp với thành tựu về giáo dục và y tế được thể hiện rõ trong chỉ tiêu chất lượng tổng hợp HDI. Theo tính toán của UNDP thì chỉ số này của nước ta đã tăng từ 0,583 năm 1985 lên 0,605 năm 1990; 0,649 năm 1995 và 0,688 năm 2003. Nếu xếp thứ tự theo chỉ số này thì nước ta từ vị trí thứ 122/174 nước năm 1995 lên vị trí 113/174 nước năm 1998; 110/174 nước năm 1999 và 109/175 nước năm 2003.

    3)Tình hình kinh tế xã hội năm 2004

     Năm 2004,VN đã đạt được những kết quả đáng kể, tăng trưởng kinh tế GDP khá và ổn định, năm sau cao hơn năm trước (năm 2002 tăng 7,1%, năm 2003 tăng 7,3%, ước tính năm 2004 là 7,6%).

    Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, từng bước gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu. Tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp đã giảm từ 21,8% năm 2003 xuống còn 20,4% năm 2004. Trong khi đó, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng, dự kiến đạt 41,1%, tăng 1,1% so với năm 2003. Đặc biệt tỷ trọng ngành dịch vụ sau 3 năm liên tục giảm thì năm 2004 đã có xu hướng phục hồi, dự kiến đạt 38,5% (năm 2003 là 38,2%). Giá trị công nghiệp tăng 15,6%, trong đó giá trị tăng thêm đạt 10,6%, cao nhất từ nhiều năm nay đã góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

    4)Tình hình kinh tế xã hội năm 2005

    Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á-Thái Bình Dương (ESCAP), với tốc độ tăng trưởng 8,4%, mức cao kỷ lục trong vòng 5 năm trở lại đây, là một con số biết nói lên tất cả, Việt Nam là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ở khu vực Đông Nam Á trong năm 2005. Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam giảm từ 77 xuống 81, chỉ số năng lực cạnh tranh doanh nghiệp từ 79 xuống 80. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam năm 2005 tăng 4 bậc, lên mức 108.

    Kết quả điều tra kinh tế xã hội trong khu vực của ESCAP cho thấy, ngành sản xuất là động lực chủ yếu của nền kinh tế và tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp được ghi nhận ở mức 10,6%. Ngành dịch vụ cũng tăng trưởng mạnh với tốc độ 8,4%; trong khi ngành nông nghiệp tăng 4%.
    Về hoạt động thương mại, xuất khẩu của Việt Nam ước tính tăng khoảng 20% trong năm ngoái, nhập khẩu tăng 22,5%. Thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai đã giảm từ mức -2% GDP trong năm 2004 xuống còn -0,9% GDP trong năm 2005.

    Tăng trưởng kinh tế cũng được tiếp sức bởi mức đầu tư cao (21 tỷ USD), chiếm 38,9% GDP (cao nhất trong những năm gần đây).

    Đầu tư từ khu vực tư nhân (chiếm hơn 32% tổng vốn) có tốc độ phát triển nhanh nhất, tăng 28%. Đầu tư của khu vực tư nhân có hiệu quả cao hơn so với khu vực nhà nước và giúp tạo ra nhiều việc làm cho nền kinh tế. Vốn đầu tư tăng trong khu vực này là một dấu hiệu đáng mừng, cho thấy tiềm lực trong nước đang tăng lên và môi trường kinh doanh đang được cải thiện.

    Vốn FDI năm nay đã tăng gần 40%, đạt 5,8 tỷ USD, mức cao nhất trong 10 năm (trong đó, đầu tư mới là 4 tỷ USD, đầu tư bổ sung là 1,9 tỷ USD). Có thể nhận thấy rằng năm 2005 đã khởi đầu cho một làn sóng đầu tư FDI mới (sau khi suy giảm từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á)

     5) Tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2006

     Thành tựu:

    • Việt-Nam gảm thuế đối với tất cả những hàng nhập cảng từ tất cả 10 thành viên của khối AFTA xuống còn 0-5% kể từ ngày 01.01.2006.
    • Việt-Nam đã hoàn thành trách nhiệm tổ chức một hội nghị lớn nhất từ trước đến nay đó là Hội Nghị APEC vào giữa tháng 11, quy tụ nguyên thủ và đại diện của 21 quốc gia và lãnh thổ.
    • Việt-Nam đã được Hoa-Kỳ chấp thuận cho hưởng quy chế PNTR. Kết qủa là kể từ nay việc buôn bán giữa Hoa-kỳ với Việt-Nam sẽ không còn phải được cứu xét lại hàng năm như trước đây.
    • WTO đã nhận Việt-Nam là thành viên thứ 150 của tổ chức WTO.Quy chế này bắt đầu có hiệu quả vào ngày 11.01.2007.

    – Tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả năm ước tăng 8,2% (kế hoạch là 8%). GDP bình quân đầu người đạt trên 11,5 triệu đồng, tương đương 720 USD (năm 2005 đạt trên 10 triệu đồng, tương đương 640 USD)

    – Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4 – 3,5% (kế hoạch là 3,8%); ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,4 – 10,5% (kế hoạch là 10,2%); ngành dịch vụ tăng 8,2 – 8,3% (kế hoạch là 8%);

    – Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 20% (kế hoạch là 16,4%);

    – Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 41% GDP (kế hoạch là 38,6%);

    – Tốc độ tăng giá tiêu dùng khoảng 7 – 7,5% (kế hoạch là thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế);

    – Tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 258 nghìn tỷ đồng (dự toán là 237,9 nghìn tỷ đồng), tăng 19%; tổng chi ngân sách nhà nước đạt trên 315 nghìn tỷ đồng (dự toán là 294,4 nghìn tỷ đồng), tăng 20%; bội chi ngân sách nhà nước trong mức 5% GDP (dự toán là 5%);

    Yếu kém:

    Tốc độ tăng GDP vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Chất lượng của sự tăng trưởng, nhất là sức cạnh tranh của nền kinh tế vẫn còn nhiều yếu kém. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm. Việc phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực của nhà nước và xã hội còn kém hiệu quả. Các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, sự phát triển của KH – CN, GD – ĐT, bảo vệ – cải thiện môi trường, chăm sóc sức khoẻ nhân dân vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều trở ngại. Đời sống nhân dân nhiều nơi ở nông thôn, nhất là miền núi, vùng bị thiên tai còn nhiều khó khăn. Cải cách hành chính vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí tuy có được những kết quả, nhưng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng. Tai nạn giao thông vẫn ở mức cao.  Lạm phát cao là một trong những rủi ro cho sự phát triển kinh tế.

     6) Tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2007

    Thành tựu:

    – Tăng trưởng kinh tế cao nhất so với tốc độ tăng của 12 năm trước đó, đạt được mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần làm cho quy mô kinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình quân đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839 USD/người

    – Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Theo nhóm ngành kinh tế, nông, lâm nghiệp-thủy sản vốn tăng thấp, năm nay lại gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh lớn nên tăng thấp và tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành này tiếp tục giảm (hiện chỉ còn dưới 20%). Công nghiệp-xây dựng tiếp tục tăng hai chữ số, cao nhất trong ba nhóm ngành, nên tỷ trọng trong GDP tiếp tục tăng (hiện đạt gần 42%), phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo thành phần kinh tế, kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là kinh tế tự nhiên, tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng của khu vực này trong GDP đã cao lên và hiện đã đạt cao hơn khu vực nhà nước (46% so với dưới 37%). Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng trong GDP cũng cao lên (hiện đạt trên 17%).

    – Tăng trưởng kinh tế cao nên chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được nhiều sự vượt trội. HDI tăng lên qua các năm (1985 mới đạt 0,590, năm 1990 đạt 0,620, năm 1995 đạt 0,672, năm 2000 đạt 0,711, năm 2005 đạt 0,733, khả năng năm 2007 đạt trên 0,75%). Tỷ lệ nghèo đã giảm (từ 17,8% xuống còn 14,8%).

    – Vị trí quốc tế của Việt Nam gia tăng với việc chính thức trở thành thành viên WTO, được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

    Yếu kém:

    Giá tiêu dùng tăng cao nhất so với 11 năm trước đó và cao hơn tốc độ tăng GDP. Nhập siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỷ lệ nhập siêu. Ách tắc và tai nạn giao thông nghiêm trọng…

    Nhận xét chung về tình hình kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2002-2007: Về cơ bản thì tình hình kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này tương đối ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, chỉ số phát triển con người không ngừng được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người ngày một cải thiện và từ đó đời sống của nhân dân ngày một đi lên. Vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới. Gia nhập vào sân chơi toàn cầu này đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển, để đuổi kịp với sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới nhưng cũng đem lại cho Việt Nam những thách thức không nhỏ. Việt Nam hiện nay được đánh giá là một điểm đến cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi vì Việt Nam có một môi trường kinh doanh ổn đinh…..

    b. Trình bày mục tiêu của chính sách kinh tế đối ngoại thời kì 2002 – 2007

     Hoạt động ngoại giao của mọi quốc gia luôn nhằm thực hiện ba mục tiêu cơ bản, đó là: (1) bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; (2) tranh thủ và tạo những điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước; và (3) nâng cao vị thế và mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế. Ba mục tiêu này liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại, tạo nên một thể thống nhất, trong đó nhiệm vụ phát triển kinh tế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Ở nước ta, sau hàng chục năm chiến đấu anh dũng và thắng lợi để bảo vệ tổ quốc, lần đầu tiên, đất nước ta có điều kiện hoà bình, ổn định để phát triển. Trước xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ mới hiện nay, việc triển khai các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), tận dụng tối đa những cơ hội phát triển và khắc phục nguy cơ tụt hậu là yêu cầu cấp thiết đối với đất nước ta.

    HNKTQT là xu thế tất yếu. HNKTQT là quá trình từng bước xây dựng một nền kinh tế mở, gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực và thế giới, là xu thế khách quan không một quốc gia nào có thể đứng ngoài cuộc. Hội nhập không phải là một hiện tượng mới. HNKTQT được thúc đẩy bởi những nhân tố chính sau:

    • Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin;
    • Hoạt động thương mại, tài chính-tiền tệ và đầu tư quốc tế gia tăng mạnh mẽ theo xu hướng tự do hoá;
    • Thương mại hàng hóa, dịch vụ ngày càng gia tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của các nước;
    • Các công ty xuyên quốc gia (TNC) ngày càng lớn mạnh đóng vai trò tiên phong của quá trình toàn cầu hóa;
    • Sự thay đổi cơ bản về khái niệm an ninh, lấy phát triển kinh tế là cách thức hữu hiệu để bảo đảm an ninh cho mỗi quốc gia.

    Bất cứ một nền kinh tế nào muốn không bị gạt ra ngoài lề của dòng chảy phát triển, đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, điều chỉnh chính sách, mở cửa thị trường thông qua cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ rào cản phi quan thuế, làm cho việc trao đổi hàng hóa, luân chuyển vốn, lao động, công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi thế giới ngày càng tự do, thông thoáng hơn.

                Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta

    Đại hội Đảng VI (1986) đề ra chính sách đổi mới và các kỳ Đại hội Đảng VII (1991), Hội nghị Trung ương 3 (khóaVII), Đại hội VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa với phương châm “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” nhằm mục tiêu “giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc“. Đại hội Đảng IX đã đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường“.

    Để cụ thể hóa chủ trương này, tháng 11/2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 07 NQ/TW về HNKTQT, trong đó nêu rõ mục tiêu, các quan điểm chỉ đạo cũng như những nhiệm vụ cụ thể trong tiến trình HNKTQT và khu vực. Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX (01/2004) cũng chỉ rõ nhiệm vụ trong nửa nhiệm kỳ còn lại của Đại hội IX về HNKTQT là “chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đa phương, song phương nước ta đã ký và chuẩn bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)” .

    Từ lâu, nhiều nước trên thế giới đã xây dựng một nền ngoại giao lấy nội dung phục vụ phát triển kinh tế làm trọng tâm trong các hoạt động đối ngoại. Ở nước ta, ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế đã và đang trở thành một yêu cầu cấp thiết, một nhiệm vụ quan trọng. Trước xu thế toàn cầu hóa và HNKTQT, ngoại giao Việt Nam lại mang trên mình một trọng trách mới, đó là từng bước đưa đất nước ta hội nhập ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới nhằm tận dụng tối đa các nguồn ngoại lực để cùng với nội lực, đẩy nhanh, mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, đưa đất nước ta vươn tới trình độ phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới.

    c. Thu thập các thông tin về chính sách kinh tế đối ngoại của chính phủ

    Trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã liên tiếp đề ra và phát triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa với phương châm “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” nhằm mục tiêu “giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
    Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam diễn ra cùng một lúc trên 4 mặt :

    Một là, tạo dựng và củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

                Hai là, ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi góp phần vào công cuộc phát triển đất nước, mở rộng hợp tác kinh tế. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới.

                Ba là, nâng cao vị thế nước nhà trên trường quốc tế.

                Bốn là, chủ động tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

     Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

                 Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

    Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

    Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền.

    Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”. Tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới. Tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế – xã hội.

    Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.

    Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất.

    Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á – Thái Bình Dương… Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược; khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

    Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, rà soát lại các văn bản pháp quy, sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch. Cải thiện môi trường đầu tư; thu hút các nguồn vốn FDI, ODA, đầu tư gián tiếp, tín dụng thương mại và các nguồn vốn khác. Xác định đúng mục tiêu sử dụng và đẩy nhanh việc giải ngân nguồn vốn ODA, cải tiến phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng và có kế hoạch trả nợ đúng hạn; duy trì tỉ lệ vay nợ nước ngoài hợp lý, an toàn. Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế. Cải thiện môi trường đầu tư, chú trọng cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, tạo lập những điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh vốn đầu tư quốc tế. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được đối xử bình đẳng như doanh nghiệp Việt Nam. Phấn đấu để vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả nguồn FDI. Tiếp tục tranh thủ nguồn vốn ODA, đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng, kiểm soát chặt chẽ, chống thất thoát và có kế hoạch đảm bảo trả nợ. Từng bước mở rộng đầu tư gián tiếp của nước ngoài. Có chính sách thu hút mạnh kiều hối vào phát triển kinh tế, xã hội.

    Phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới và thương hiệu mới. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài.

    Đẩy mạnh công tác văn hoá – thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước.

    Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng về chính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất tốt.

    Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về đối ngoại với sự tham gia và phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học. Ðẩy mạnh xuất khẩu, tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị tăng thêm cao, giàu hàm lượng công nghệ, tạo thêm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực, hạn chế và tiến tới chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản chưa qua chế biến. Bằng các biện pháp ổn định và mở rộng thị trường xuất khẩu, phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới lên hơn hai lần 5 năm trước. Chủ động về nhập khẩu, kiềm chế và thu hẹp dần nhập siêu.

    Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốc phòng và an ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trong nước.

    Thùc hiÖn môc tiªu chiÕn l­îc ph¸t triÓn kinh tÕ – x· héi cña n­íc ta ®Õn n¨m 2010, tÇm nh×n 2020, chÝnh s¸ch nhËp khÈu cña Nhµ n­íc ta trong nh÷ng n¨m tíi lµ:

    -Tr­íc m¾t dµnh 1 l­îng ngo¹i tÖ nhËp khÈu nguyªn nhiªn vËt liÖu phôc vô s¶n xuÊt trong n­íc. VÒ l©u dµi, 1 sè nguyªn liÖu cã thÓ tù lùc cung cÊp b»ng nguån trong n­íc nh­ x¨ng dÇu, ph©n bãn, b«ng sîi…

    -¦u tiªn nhËp khÈu m¸y mãc thiÕt bÞ c«ng nghÖ míi phôc vô cho viÖc thùc hiÖn nh÷ng môc tiªu cña c«ng nghiÖp ho¸, hiÖn ®¹i ho¸ ®Êt n­íc, cho t¨ng tr­ëng xuÊt khÈu. Chó ý nhËp khÈu dông cô phô ting thay thÕ ®óng chñng lo¹i.

    -TiÕt kiÖm ngo¹i tÖ, chØ nhËp khÈu vËt t­ phôc vô cho s¶n xuÊt hµng xuÊt khÈu vµ s¶n xuÊt hµng tiªu ding ®Ó gi¶m thiÓu nhu cÇu nhËp kh¶u.

    -Dµnh 1 tØ lÖ ngo¹i tÖ thÝch hîp ®Ó nhËp khÈu t­ liÖu tiªu dïng thiÕt yÕu.

    -B¸o c¸o chÝnh ®¸ng s¶n xuÊt néi ®Þa.

    Bước vào thế kỷ 21, Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế theo phương châm “Việt nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển“. Nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại trong thời gian tới là tiếp tục tạo môi trường và điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Việt Nam sẽ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.

    d. Phân tích và đánh giá dựa trên cơ sở thông tin thu thập được

              Việc giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nối lại quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, ký Hiệp định khung với với Liên minh châu Âu, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, củng cố và mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển ở châu á, Trung Đông, châu Phi, Mỹ La-tinh và các nước công nghiệp phát triển trên thế giới… việc Việt Nam gia nhập ASEAN góp phần phá thế bị bao vây, cô lập, tạo ra môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi hơn cho sự nghiệp xây dựng đất nước, đưa Việt Nam hội nhập về kinh tế với khu vực và quốc tế. Hoạt động đối ngoại cũng đã góp phần kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và hành động lợi dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ” và “tự do tín ngưỡng” để can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam. Toàn bộ các hoạt động trên đã góp phần quan trọng và thiết thực vào việc tạo dựng môi trường khu vực tương đối ổn định và thuận lợi cho đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    Nhờ những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới và chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam đã làm thất bại chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và đồng minh, mở rộng và đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại song phương với hơn 130 nước và lãnh thổ, đón nhận nguồn đầu tư trên 36 tỷ USD của hơn 60 nước và lãnh thổ, tranh thủ hơn 13 tỷ USD từ nguồn viện trợ ưu đãi chính thức của các chính phủ và các tổ chức quốc tế và hàng tỷ USD viện trợ không hoàn lại của nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ. Việc tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình, tăng cường hợp tác, mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước cũng là sự đóng góp trực tiếp và thiết thực cho yêu cầu bảo đảm an ninh.

    Dưới tác động của cuộc cách mạng KH – CN, lực lượng sản xuất phát triển nhanh và quốc tế hóa cao độ, đẩy nhanh xu thế toàn cầu hóa. Trong bối cảnh đó, các nước đều tìm cách giành cho mình một vị thế xứng đáng trong phân công lao động quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý để phát triển, đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình. Việt Nam cũng đã đàm phán và ký Hiệp định Thương mại với Mỹ và đang đàm phán về việc gia nhập WTO, mức hội nhập cao nhất, rộng nhất, có ý nghĩa quan trọng đối với việc thiết lập môi trường buôn bán và quan hệ hợp tác kinh tế với toàn bộ thế giới.

    Các hoạt động đối ngoại phong phú, đa dạng cả theo đường Đảng lẫn Nhà nước và các hoạt động quốc tế nhân dân đã góp phần duy trì và củng cố quan hệ đoàn kết hữu nghị với các đảng phái chính trị, trước hết là các Đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức tiến bộ đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, từ đó tranh thủ sự hỗ trợ về chính trị có lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Cả nền kinh tế, các ngành sản xuất, các doanh nghiệp và các loại hàng hoá và dịch vụ Việt Nam đều phải đương đầu với sức ép cạnh tranh cực kỳ gay gắt. Lĩnh vực kinh tế đối ngoại Việt Nam, một lĩnh vực hết sức đa dạng, thường xuyên biến động và là động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển theo hướng hội nhập hiện nay, đang chịu những tác động trực tiếp và hết sức to lớn của quá trình này

    Hoạt động đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ

    Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mà đặc biệt là đầu tư trực tiếp có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây do thực hiện những cải thiện quan trọng của môi trường đầu tư trong nước đã làm tăng mức hấp dẫn trong thu hút đầu tư nước ngoài đặc biệt là việc loại bỏ dần các rào cản trong đầu tư như cam kết có liên quan đến Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ, Hiệp định tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt-Nhật, mở cửa thị trường, sự thay đổi trong chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nướcn goài và những thay đổi trong quan hệ quốc tế trong khu vực…Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định tránh đánh thuế trùng, hiệp định bảo hộ đầu tư với nhiều quốc gia đối tác quan trọng trong đầu tư của Việt Nam…Các hoạt động đầu tư nước ngoài đang dần dần có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và là khu vực đi tiên phong trong cạnh tranh quốc tế so với các lĩnh vực khác của kinh tế đối ngoại. Khả năng gia tăng của dòng vốn đầu tư trực tiếp này còn rất lớn trong thời gian tới vì những cơ hội thị trường đầu tư của Việt Nam còn rất lớn, nhiều hình thức đầu tư mới đã được pháp luật Việt Nam cho phép vận hành sáp nhập và mua lại (M & A), đầu tư gián tiếp, cho phép việc mua cổ phần, việc mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, mạng lưới phân phối. Điều đặc biệt là Việt Nam đã có các quy định pháp luật rõ ràng về đầu tư nước ngoài- dấu hiệu khẳng định sự trưởng thành của các doanh nghiệp Việt Nam. Việt Nam đã tiếp nhận đáng kể nguồn vốn đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nhà đầu tư nước ngoài, phục vụ trực tiếp cho quá trình đổi mới kinh tế, giải quyết gần 1 triệu việc làm trực tiếp và thúc đẩy xuất khẩu. Pháp luật bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp được hoàn thiện dần, nhiều hình thức chuyển giao công nghệ đã được áp dụng và có xu hướng thúc đẩy sự phát triển của thị trường công nghệ Việt Nam. Hình thức cấp giấy phép, nhượng quyền thương mại, đấu thầu quốc tế, các hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm và dịch vụ đang có xu hướng phát triển mạnh. Hoạt động chuyển giao công nghệ thông qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được thực hiện. Các công nghệ lắp ráp, sửa chữa ô tô, xe máy,các sản phẩm cơ khí, điện tử…đang được chuyển giao sang phía Việt Nam. Tuy nhiên, có thể thấy đây là những công nghệ đơn giản, Việt Nam vẫn thiếu công nghệ nguồn và bí quyết công nghệ là yếu tố kiến tạo thế mạnh cốt lõi và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Việc phát triển doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài làm giảm khả năng học hỏi và tiếp nhận bí quyết công nghệ. Tình trạng vi phạm bản quyền, nạn hàng giả, buôn lậu…cũng là yếu tố cản trở khá lớn hoạt động chuyển giao công nghệ..

    Tình hình kinh tế đối ngoại năm 2002
               Năm 2002, Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế theo phương châm Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế và đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Quan hệ hợp tác với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực đều được thúc đẩy cả về lượng và chất. Các nước và các đối tác đều đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam, đặc biệt là sự ổn định và an ninh ở Việt Nam, mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam.

    Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống và nông sản khác tuy kim ngạch không lớn nhưng đạt tăng trưởng cao cả về lượng và kim ngạch xuất khẩu năm 2002 tăng hơn 2001 do một số nguyên nhân sau:
    (a) Mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Tính đến cuối tháng 10 hàng xuất khẩu của nước ta đã có mặt trên 200 nước và khu vực lãnh thổ;
    (b) Giá một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đã dần phục hồi, giá gạo và dầu thô tăng đáng kể
    (c) Trong những tháng cuối năm cơ chế, chính sách có liên quan đến xuất khẩu tiếp tục được cải thiện như giảm tỷ lệ khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng nông, lâm và thủy sản; ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu làm hàng xuất khẩu…

    Về phương hướng hoạt động đối ngoại năm 2003:

    Tiếp tục đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và tăng cường chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo môi trường quốc tế hòa bình, ổn định để phát triển, tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài và không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; Tiếp tục thúc đẩy hoạt động đối ngoại trên mọi lĩnh vực theo hướng nâng cao hiệu quả thiết thực phục vụ phát triển kinh tế, tăng cường trao đổi văn hóa, khoa học công nghệ , giáo dục, tạo dựng khuôn khổ quan hệ hữu nghị và hợp tác ổn định, xây dựng quan hệ đối tác tin cậy, lâu dài với các nước; Tiếp tục chủ động hội nhập tham gia hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, năng động tìm kiếm, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và hỗ trợ phát triển.
    Tình hình kinh tế đối ngoại năm 2004:

    Hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong năm 2004 đã được triển khai đồng bộ dưới những hình thức đa dạng và phong phú, góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước, tích cực thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

    Hoạt động đối ngoại của Ðảng và Nhà nước ta đã được triển khai rất chủ động, có trọng tâm và ưu tiên hợp lý, xử lý đúng đắn và kịp thời các vấn đề đối ngoại nảy sinh, đạt được nhiều thành tựu khích lệ, góp phần thiết thực vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Sự đan xen về quan hệ, ràng buộc về lợi ích với tất cả các đối tác quan trọng, đặc biệt là các nước láng giềng khu vực và các nước lớn đã góp phần tạo ra những chuyển biến về chất trong quan hệ với các đối tác này. Công tác hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã được đẩy mạnh, qua đó góp phần nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tranh thủ hợp tác nhất là hợp tác về kinh tế thương mại, đầu tư và du lịch… Công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế đã có bước chuyển rõ rệt, giúp duy trì và mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại, du lịch, đầu tư với các nước, tích cực tham gia giải quyết những tranh chấp nảy sinh. Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Việc tổ chức Trại hè 2004 cho con em Việt kiều được đánh giá thành công, có tác dụng thiết thực đối với việc giáo dục các thế hệ Việt kiều hướng về Tổ quốc. Sự phối hợp giữa hoạt động đối ngoại của Nhà nước với hoạt động đối ngoại của Ðảng, Quốc hội và đối ngoại nhân dân được tăng cường, tạo sự đan xen nhiều tầng nấc về quan hệ và lợi ích, mở rộng giao lưu giữa các tổ chức và nhân dân Việt Nam với các nước trên thế giới, qua đó góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước. Hoạt động đối ngoại của các ngành, các cấp đã được coi trọng và thúc đẩy. Công tác ngoại vụ địa phương của các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhất là các tỉnh biên giới với các nước láng giềng đã được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tác động thiết thực tới việc thúc đẩy quan hệ nhiều mặt với các đối tác.

                Tình hình kinh tế đối ngoại năm 2005

    Năm qua, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, đưa lại những thuận lợi, đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức, khó khăn đối với an ninh và phát triển của nước ta. Tăng trưởng kinh tế thế giới đang có xu hướng giảm dần, giá nguyên liệu và đặc biệt là giá dầu thường xuyên biến động ở mức cao; trong khi đó, xu hướng bảo hộ mậu dịch ở các nước phát triển cũng đang có chiều hướng gia tăng.

    Tuy nhiên, nước ta có những thuận lợi rất cơ bản đó là môi trường chính trị, an ninh tiếp tục giữ được ổn định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao, từng bước tăng cường tiềm lực của đất nước, các nước lớn và khu vực đều coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác với ta. Trên thế giới, hòa bình và hợp tác để phát triển vẫn là xu thế lớn. Chúng ta mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế cả về bề rộng lẫn bề sâu, góp phần quan trọng vào việc tiếp tục giữ vững và củng cố môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, tạo những điều kiện quốc tế ngày càng thuận lợi để bảo vệ vững chắc an ninh, chủ quyền; tranh thủ được nhiều hơn hợp tác quốc tế, nhất là trong các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, tạo thêm tiềm lực phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế.

    Số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam năm 2005 đã vượt mốc 5 tỷ USD là con số cao nhất trong vòng gần 10 năm trở lại đây. Số vốn ODA các nhà tài trợ vừa cam kết dành cho Việt Nam trong năm tới là 3,74 tỷ USD, một con số kỷ lục từ trước đến nay, phản ánh lòng tin của cộng đồng quốc tế vào sự thành công của Việt Nam trong quá trình đổi mới và phát triển. Ngoài ra, chúng ta cũng tranh thủ được sự giúp đỡ và hợp tác của các nước trong việc khống chế và đối phó với dịch cúm gia cầm.

    Công tác thông tin đối ngoại tiếp tục được cải tiến, đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, định hướng dư luận, giải tỏa những ý kiến không thuận và đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc.

      Thuận lợi:

    -Nền kinh tế tăng trưởng mạnh, trong khi vẫn duy trì được những nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc (tỷ lệ nợ thấp, lạm phát ở mức có thể chấp nhận được, tỷ lệ tiết kiệm cao và sự phân hoá giầu nghèo thấp).

    -Môi trường chính trị và xã hội ổn định: là một quốc gia yên bình, không có nạn khủng bố, không nằm trong khu vực nhiều thiên tai và chi phí nhân công thấp.

    -Nền kinh tế đang dần hội nhập với kinh tế thế giới. Việt Nam dự đoán sẽ trở thành thành viên của WTO trong năm 2006 và đang nỗ lực đẩy mạnh việc mở rộng thị trường trên phạm vi lớn (gồm các ngành dịch vụ nhạy cảm, ngân hàng và tài chính).

    Khó khăn:

    -Giá xăng dầu và nguyên liệu đầu vào tăng cao, thiếu hụt điện do hạn hán gây ra.

    -Giá dầu thô dao động ở mức cao trong năm cũng gây ra nhiều xáo động

    -Ngoài các vấn đề an ninh năng lượng, sản xuất công nghiệp sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế khốc liệt hơn trong năm 2006, khi Việt Nam dự kiến sẽ gia nhập WTO, và cũng sẽ tham gia đầy đủ vào Chương trình Ưu đãi Thuế quan có Hiệu lực chung (CEPT) của Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), (theo đó thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu của ASEAN sẽ được giảm xuống 0-5%). Những áp lực cạnh tranh này trong khi khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất nội địa nhìn chung vẫn còn rất thấp, sẽ đặt ra thách thức lớn đối với nền kinh tế trong những năm tới. Bên cạnh đó, giá cả của các nguyên liệu đầu vào quan trọng như than, điện, xăng dầu vốn được nhà nước trợ giá rất có khả năng sẽ tăng lên gần mức quốc tế, tạo thêm gánh nặng đối với các nhà sản xuất trong nước.

    -Cúm gia cầm vẫn là nhân tố rủi ro cao nhất đối với nền kinh tế

                Tình hình kinh tế đối ngoại năm 2006

    Trong các thành tựu to lớn về hoạt động đối ngoại năm 2006, nổi bật nhất là việc chúng ta tổ chức thành công Hội nghị các nhà lãnh đạo các nền kinh tế thành viên APEC 14 và tuần lễ APEC 2006, nước ta đã được kết nạp vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và được các nước trong khu vực nhất trí đề cử là ứng cử viên duy nhất của châu Á vào ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009. Thành công của Hội nghị Cấp cao APEC 14 đã để lại trong lòng nhân dân thế giới hình ảnh một nước Việt Nam hòa bình, năng động, cởi mở và mến khách, một Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế. Việc tổ chức thành công Tuần lễ APEC 2006 diễn ra cùng lúc Việt Nam được công nhận là thành viên thứ 150 của WTO và được cả châu Á đề cử là ứng cử viên chính thức vào Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 đánh dấu sự hội nhập hoàn toàn của nước ta vào nền kinh tế và chính trị thế giới với tư cách là một thành viên có trách nhiệm, đối tác tin cậy trong việc cùng cộng đồng quốc tế phấn đấu xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, công bằng, dân chủ, hài hòa và phát triển thịnh vượng.

    Năm 2006, quan hệ ngoại giao song phương giữa Việt Nam và các nước cũng đã có những chuyển biến quan trọng. Quan hệ hợp tác song phương, nhất là với các đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, do đó chúng ta đã tranh thủ mở rộng hơn sự hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại, tranh thủ đầu tư, xử lý tốt các vấn đề tồn tại hoặc mới nảy sinh trong quan hệ giữa ta và các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Việt Nam luôn coi trọng việc củng cố và tăng cường với các nước bạn bè truyền thống cũng như tất cả các nước đang phát triển.

    Hoạt động ngoại giao nhân dân trong năm qua được triển khai tích cực theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả” nhằm tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho công cuộc xây dựng đất nước và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các nước trong cuộc đấu tranh nhằm chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, tích cực vận động bạn bè quốc tế ủng hộ nạn nhân chất độc da cam và giải quyết các vấn đề gây ra do hậu quả của chiến tranh.

    Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục thu được những kết quả tốt. Chúng ta tiếp tục triển khai và cụ thể hóa Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị bằng những chính sách và biện pháp cụ thể để tạo điều kiện thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của bà con Việt kiều hướng về xây dựng đất nước.

    Nhìn tổng quát, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt mức Quốc hội đề ra. Nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các cân đối lớn được bảo đảm và ổn định được kinh tế vĩ mô. Các lĩnh vực về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, dạy nghề, y tế, thể dục thể thao và nhiều lĩnh vực xã hội khác cũng có chuyển biến tích cực.

                Tình hình kinh tế đối ngoại năm 2007

    Năm 2007 để lại trong mỗi người dân Việt Nam niềm phấn khởi và tự hào về những bước tiến quan trọng của đất nước trên con đường phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

                Th ứ nhất, thành tựu trước hết là chúng ta đã đưa khuôn khổ quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, nhất là các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, lên tầm cao mới và mở ra nhiều cơ hội hợp tác với các đối tác tiềm năng khác. Đối ngoại đã góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, đấu tranh có hiệu quả chống mọi âm mưu can thiệp, chống phá Tổ quốc Việt Nam XHCN.

                Thứ hai, công tác ngoại giao phục vụ kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào việc đạt kỷ lục về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI, viện trợ phát triển (ODA), thương mại, du lịch, lao động và kiều hối… mở ra những cơ hội phát triển kinh tế nước ta trong những năm tới.

                Thứ ba, hoạt động ngoại giao đa phương tiếp tục được triển khai tích cực, nổi bật trong năm qua là việc Việt Nam được bầu vào vị trí Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 với số phiếu rất cao.

                Thứ tư, công tác bảo hộ công dân và vận động người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục thu được những kết quả quan trọng qua những chính sách và biện pháp cụ thể như Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài; bảo vệ các quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt, lợi ích của doanh nghiệp, doanh nhân, lao động, công dân Việt Nam ở nước ngoài; hỗ trợ cứu nạn bà con ngư dân ta bị thiên tai, bão lụt…

                Thứ năm, công tác thông tin tuyên truyền và văn hoá đối ngoại tiếp tục đổi mới, phát huy tính chủ động, sáng tạo, quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam năng động, đổi mới, thân thiện, thuỷ chung và là một điểm đến an toàn của thế giới.

    Yêu cầu đặt ra hiện nay và trong những năm tới là cần tiếp tục đổi mới tư duy, quán triệt sâu sắc nội dung, nhiệm vụ của đường lối, chính sách mà Đại hội X của Đảng đề ra; tăng cường tính chủ động, sáng tạo và hiệu quả trong hoạt động đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa chính trị, kinh tế và văn hoá; phối hợp chặt chẽ đối ngoại với các lĩnh vực khác như quốc phòng, an ninh, ngoại giao nhân dân… để tạo ra sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Trên cơ sở đó, hoạt động đối ngoại thời gian tới sẽ tập trung vào một số hướng chính sau:

    • Tiếp tục củng cố, hoàn thiện và nâng cao khuôn khổ quan hệ hợp tác với các nước; phát huy vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc; tham gia tích cực hơn nữa trong các diễn đàn đa phương ở khu vực và trên thế giới; chủ động tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, nhằm nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam.
    • Đẩy mạnh công tác ngoại giao phục vụ kinh tế; triển khai mạnh mẽ Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện N/Q TW 4 khóa X về việc đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững; thúc đẩy hợp tác đa chiều trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, KH – CN…
    • Tập trung hoàn thành việc phân giới, cắm mốc với các nước láng giềng trong năm 2008; kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh về biên giới lãnh thổ trên bộ cũng như trên biển với các nước, góp phần vào việc tạo môi trường thuận lợi cho phát triển và bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
    • Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới; tăng cường công tác bảo hộ công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào hội nhập thành công vào đời sống nước sở tại và đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
    • Đẩy mạnh đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền và văn hoá đối ngoại, phối hợp và phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại.

    Công tác Ngoại giao kinh tế đã nhận được sự hỗ trợ và phối hợp tích cực của nhiều bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, nhờ vậy ngành Ngoại giao đã làm tốt Năm Ngoại giao kinh tế, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển đất nước.

    Về phương hướng đối ngoại và hội nhập trong 5 năm tới, trên cơ sở đánh giá sâu sắc những cơ hội và thách thức, Đại hội X khẳng định phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn, bền vững hơn nhằm sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hoá theo hướng hiện đại. Nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững và củng cố môi trường hoà bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa cho công cuộc đổi mới. Tiếp tục giương cao hơn nữa ngọn cờ hoà bình, hợp tác và phát triển; Việt Nam là bạn là đối tác tin cậy của các nước. Tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố và hoàn thiện khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với các nước nhất là những nước láng giềng khu vực, các nước lớn và các đối tác quan trọng khác. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương sau khi gia nhập WTO; cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút FDI, ODA, thúc đẩy mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, mở rộng thị trường với các nước, các tổ chức quốc tế. Xây dựng và củng cố đường biên giới hòa bình, hợp tác phát triển với các nước láng giềng. Đại hội X tiếp tục khẳng định, đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước. Để đưa hình ảnh Việt Nam ra quốc tế, nhấn mạnh đến công tác thông tin tuyên truyền và văn hóa đối ngoại, nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, sự hợp tác và tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, góp phần làm cho bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về công cuộc đổi mới, về đất nước, con người Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển.

    e. Liên hệ chính sách kinh tế đối ngoại mà chính phủ Việt Nam đang theo đuổi với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO

              Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đây là một quá trình vận động quan trọng mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và buộc Việt Nam phải đối mặt với những áp lực điều chỉnh cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý với những thách thức to lớn và tất yếu.
    Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu, chiếm hơn 90% thương mại thế giới. Hoạt động của tổ chức này được điều tiết bởi 16 hiệp định chính. Đó là Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT 1947), Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định về thương mại hàng dệt – may, Hiệp định thực thi Điều VII về trị giá tính thuế hải quan, Hiệp định về quy tắc xuất xứ, Hiệp định thực thi Điều VI về chống bán phá giá và thuế đối kháng, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng và Điều XVI của GATT, Hiệp định về các biện pháp tự vệ và Điều XIX của GATT, Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan thương mại (TRIMS), Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịch động, thực vật, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, Hiệp định về giám định hàng hóa trước khi xếp hàng, Hiệp định về cấp phép nhập khẩu và Điều VIII của GATT, Hiệp định về mua sắm của chính phủ, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan thương mại (TRIPS).

    Ðối với kinh tế đối ngoại và vị thế quốc tế của Việt Nam, cùng với việc trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008 – 2009, việc gia nhập WTO góp phần nâng cao đáng kể vị thế của ta trên trường quốc tế và khẳng định với thế giới về chính sách đối ngoại chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam. Với tư cách là thành viên WTO, ta có điều kiện để tham gia tích cực và tăng cường vai trò trong hệ thống thương mại đa phương, góp phần bảo vệ hiệu quả và mở rộng các lợi ích của đất nước, thể hiện cụ thể trên các khía cạnh sau:

    • Thông qua việc chủ động và tích cực tham gia đàm phán tại Vòng Ðô-ha, nhất là trong khuôn khổ Nhóm RAMs, ta có điều kiện cùng các nước đang phát triển đấu tranh nhằm thiết lập một hệ thống thương mại đa phương công bằng, cân bằng hơn và tính đến lợi ích của các nước đang và kém phát triển. Tiến trình này đến nay đã đạt kết quả bước đầu: nhiều khả năng Việt Nam, cùng một số thành viên mới gia nhập khác, sẽ được miễn trừ các nghĩa vụ mới về mở cửa thị trường khi Vòng Ðô-ha kết thúc.
    • Với tư cách thành viên WTO, ta có điều kiện chủ động yêu cầu đàm phán song phương với một số đối tác xin gia nhập WTO, qua đó góp phần giải quyết các vướng mắc trong quan hệ kinh tế – thương mại của ta với các đối tác này.
    • Sau khi ta gia nhập WTO, nhiều đối tác kinh tế – thương mại chủ chốt, trong đó có Mỹ, EU, Nhật Bản, Ca-na-đa v.v., ngày càng nhìn nhận Việt Nam như một đối tác giàu tiềm năng và quan trọng tại khu vực Ðông – Nam Á. Ta cũng tận dụng các mối quan hệ mở rộng để đẩy mạnh triển khai liên kết kinh tế song phương và khu vực. Theo đó, ta đã ký và thực hiện Hiệp định khung về thương mại và đầu tư với Mỹ (TIFA), hoàn tất đàm phán Hiệp định Ðối tác Kinh tế (EPA) với Nhật Bản; đang đàm phán Hiệp định Mậu dịch Tự do (FTA) với Chi-lê, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương (FIPA) với Ca-na-đa, Hiệp định Ðối tác và Hợp tác (PCA) với EU; dự kiến sẽ khởi động đàm phán Hiệp định đầu tư song phương (BIT) với Mỹ…

    Tuy nhiên, việc gia nhập WTO và hội nhập sâu rộng cũng đặt ra những thách thức cho kinh tế đối ngoại của ta. Trong cam kết gia nhập WTO, ta phải chấp nhận thời hạn 12 năm trước khi được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ. Ðiều này tạo ra sự phân biệt đối xử với các doanh nghiệp và ngành kinh tế của ta khi xảy ra các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp do các đối tác nước ngoài khởi xướng. Do vậy, việc vận động các nước sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam là một ưu tiên của ta sau khi gia nhập WTO. Bên cạnh đó, việc tham gia hàng loạt các tiến trình liên kết kinh tế song phương và khu vực trong thời gian qua cũng hàm chứa không ít thách thức, đặc biệt về nguồn lực đàm phán và khả năng tranh thủ các lợi ích do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại.

    Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có những đột biến khó lường, tiếp tục tác động không thuận đến kinh tế trong nước, để tăng cường hiệu quả việc thực thi các cam kết với WTO trong thời gian tới, qua đó phục vụ đắc lực sự phát triển bền vững của đất nước, cần tập trung vào một số định hướng sau:

                Thứ nhất, để sớm ổn định kinh tế vĩ mô, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ, đẩy mạnh việc thực hiện tám nhóm giải pháp kinh tế nhằm sớm kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, đồng thời triển khai những đối sách thích hợp để hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay. Các biện pháp áp dụng cần phù hợp các tiêu chuẩn quốc tế và quy định của WTO.

                Thứ hai, tiếp tục thực hiện đầy đủ các cam kết gia nhập WTO, đi đôi với chủ động, tích cực tham gia đàm phán thương mại đa phương, nỗ lực cùng các thành viên WTO sớm kết thúc Vòng Ðô-ha với những kết quả công bằng, cân bằng và vì mục tiêu phát triển.

                Thứ ba, sớm xây dựng và hoàn thiện chiến lược hội nhập kinh tế tổng thể trong giai đoạn tới với những trọng tâm, ưu tiên rõ ràng và phù hợp điều kiện phát triển của Việt Nam, trong đó thống nhất định hướng tham gia chủ động, tích cực và cân bằng vào hội nhập đa phương và liên kết khu vực, song phương. Chiến lược này cần bảo đảm các điều kiện thuận lợi nhất cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội bền vững ở trong nước, điều hòa được mối quan hệ phức tạp, đan xen giữa các cam kết quốc tế của Việt Nam nhằm tăng cường tác động bổ trợ lẫn nhau giữa các cam kết này, đồng thời nâng vai trò của Việt Nam trong quá trình hoạch định chính sách thương mại toàn cầu.

                Thứ tư, đẩy mạnh việc vận động chính trị và đàm phán kỹ thuật với các đối tác về quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, góp phần giảm thiểu sự phân biệt đối xử và tác động tiêu cực của các tranh chấp thương mại do các đối tác nước ngoài khởi kiện nhằm vào các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.

    Thứ năm, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của giai đoạn hội nhập sâu rộng; đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến thông tin để nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và của toàn xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ khi Việt Nam là thành viên WTO. Kinh tế Việt-Nam phát triển khả quan nhờ những yếu tố bên ngoài thuận lợi và chính sách vĩ mô thận trọng. Trong khi đó những trở ngại bên trong đã và đang làm giảm bớt tốc độ phát triển. Một nguy cơ Việt-Nam đang phải đối phó là sự phát triển thiếu quân bình giữa các vùng và giữa hai giới giầu nghèo. Việc gia nhập WTO sẽ giúp kinh tế phát triển thêm nhưng đồng thời sẽ làm cho sự phân hoá xã hội ngày càng trầm trọng nếu Việt-Nam không sẵn sàng đáp ứng với những xáo trộn do sự hội nhập kinh tế toàn cầu tạo ra. Việc gia nhập WTO đánh dấu một giai đoạn đổi mới thực sự. Nó đòi hỏi Việt-Nam thực hiện những cải tổ kinh tế sâu rộng và khó khăn hơn những gì đã làm trong hai thập niên vừa qua. Việt-Nam cần phải chú trọng hơn về sự phát triển hạ tầng cơ sở và chất lượng của sự phát triển thay vì chỉ máy móc nhắm vào những chỉ tiêu. Với đà phát triển hiện nay, Việt-Nam vẫn không có cơ may để thoát khỏi tình trạng tụt hậu và tham nhũng so với những nước láng giềng, dù mức độ phát triển của những nước này thua kém Việt-Nam.

    Việc gia nhập WTO đã đánh dấu quá trình tham gia sâu rộng của nền kinh tế nước ta vào hệ thống kinh tế quốc tế, với những cơ hội và thách thức, những tác động cả thuận và không thuận đối với công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ðặc biệt, quá trình này diễn ra trong bối cảnh kinh tế khu vực và kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường và tác động sâu rộng đến các nền kinh tế trên thế giới. Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới kinh tế – xã hội của đất nước trong hơn hai thập kỷ qua, cùng với cam kết mạnh mẽ của Ðảng và Nhà nước ta tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, như đã được khẳng định tại Ðại hội X của Ðảng (tháng 4-2006), cũng như sự chủ động và quyết tâm của Chính phủ và của toàn xã hội trong việc tận dụng tối đa các cơ hội và vượt qua các thách thức, là cơ sở vững chắc để chúng ta tin tưởng vào những bước phát triển mới của đất nước trong thời gian tới.

    Kết luận

     

    Thế kỷ 21 đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chưa đựng rất nhiều thách thức. Sau gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh lên nhiều. Chúng ta có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định. Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tiếp tục tạo điều kiện để Việt Nam phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn.

    Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.*

    Chủ động hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan trọng trong đường lối và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra rất mạnh mẽ hiện nay. Trong tiến trình hội nhập này, Việt Nam đặt ưu tiên cao cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng và đa dạng hoá thị trường, tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiên cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nhất là đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam thì ngành Nông nghiệp lại càng có vị trí quan trọng hơn nữa. Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp, bảo vệ môi trường… và quan trọng hơn là tạo việc làm cho hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và làm nông nghiệp ở nước ta.

    Trong ngành nông nghiệp thì trồng trọt nói chung và trồng lúa nói riêng chiếm vị trí rất quan trọng. Để trồng lúa đạt năng suất cao thì một trong các yếu tố quan trọng là có nguồn phân bón tốt, nhất là phân NPK, là loại phân được sử dụng phổ biến hiện nay. Tuy nhiên nhu cầu sử dụng phân NPK của các hộ lại không giống nhau, phụ thuộc vào thu nhập của hộ, giá phân, diện tích trồng lúa.

    Vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài: nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố thu nhập của hộ nông dân, giá phân NPK, diện tích trồng lúa đến cầu của phân NPK.

    II.               PHƯƠNG PHÁP

    2.1. Phương pháp thu thập số liệu

    – Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn

    – Thông tin điều tra:

    Cầu và giá phân NPK cho lúa, thu nhập hộ nông dân, diện tích trồng lúa của hộ điều tra.

    • Chọn hộ điều tra:

    Trong xã có tỷ lệ hộ nghèo, hộ trung bình, hộ khá- giàu như sau: hộ nghèo: 16.2 %, hộ trung bình: 52.1 %, hộ khá – giàu: 31.7 % nên tôi chọn số hộ điều tra là 25 hộ, gồm 4 hộ nghèo, 13 hộ trung bình, 8 hộ khá- giàu.

    2.2. Phương pháp phân tích:

    Tôi sử dụng mô hình hồi quy để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố trên đến cầu phân NPK.

    Gọi:      Yi là cầu về phân NPK của các hộ điều tra ( kg)

    X1 là thu nhập của hộ điều tra ( triệu đồng / năm)

    X2 là giá phân NPK ( nghìn đồng / kg)

    X3 là diện tích trồng lúa của hộ điều tra ( sào)

    Ta có mô hình tổng quát:

    Yi = β0 + β1 X1 + β X2 + β3 X3 + Ui

    III.           KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    3.1.         Tình hình chung

    Sau khi trực tiếp điều tra, nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy:

    Cầu về phân NPK trung bình là 14.32 kg, thu nhập trung bình của các hộ nghiên cứu là 8.132 triệu đồng/ năm, giá phân NPK trung bình là 3.5 nghìn đồng/ kg.

    3.2.         Kết quả và giải thích mô hình

    Bảng 3.1 Các thông tin điều tra được

    STT Yi X1 X2 X3
    1 9.4 4.3 4.7 4.2
    2 9.7 5.2 4.5 4.6
    3 10.3 5.6 4.6 5.2
    4 10.5 4.9 4.4 5.5
    5 10.9 6.4 4.3 5.8
    6 11.7 6.8 4 6
    7 12.1 6.5 4.1 6.2
    8 12.4 7 4.2 6.3
    9 12.2 7.2 3.9 6.1
    10 12.9 7.5 3.6 6.4
    11 13.4 7.8 3.8 6.9
    12 13.7 7.6 3.7 7
    13 13.9 8.1 3.5 7.2
    14 14.9 8.3 3.4 7.6
    15 14.2 8.6 3.3 7.4
    16 15.3 8.9 3.1 7.9
    17 15.8 9.3 3.2 8.2
    18 16.3 9.7 2.9 8.6
    19 17.5 9.5 3 9.1
    20 16.9 9.8 2.8 8.9
    21 18.7 10.2 2.3 9.5
    22 18.1 10.5 2.6 9.1
    23 18.6 10.8 2.5 9.4
    24 18.9 11.2 2.7 9.8
    25 19.7 11.6 2.4 10.2

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

    Regression Statistics
    Multiple R 0.9957504
    R Square 0.9915188
    Adjusted R Square 0.9903072
    Standard Error 0.3095768
    Observations 25

    ANOVA

      df SS MS F Significance F
    Regression 3 235.2874062 78.4291354 818.35283 6.68667E-22
    Residual 21 2.012593808 0.0958378    
    Total 24 237.3      
      Coefficients Standard Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0%
    Intercept 6.9449215 2.711499803 2.561284161 0.0181912 1.306048988 12.58379401 1.306048988 12.58379401
    X1 0.0532633 0.187956968 0.283380083 0.7796603 -0.33761465 0.444141173 -0.33761465 0.444141173
    X2 -0.9242324 0.413411223 -2.23562481 0.0363651 -1.783968087 -0.064496687 -1.78396809 -0.06449669
    X3 1.3895078 0.229648716 6.050579381 5.272E-06 0.911927138 1.867088432 0.911927138 1.867088432

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

    Regression Statistics
    Multiple R 0.9957504
    R Square 0.9915188
    Adjusted R Square 0.9903072
    Standard Error 0.3095768
    Observations 25

    ANOVA

      df SS MS F Significance F
    Regression 3 235.2874062 78.4291354 818.35283 6.68667E-22
    Residual 21 2.012593808 0.0958378    
    Total 24 237.3      

    Nhìn vào kết quả chạy mô hình trên excel ta có mô hình:

    Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    * Thống kê hồi quy

    – Hệ số tương quan của mô hình: R2 = 0.9915188 dần tiến tới + 1 ta có thể nói mô hình có độ chặt chẽ cao.

    – Sai số chuẩn của mô hình: Se = 0.3095768 là nhỏ, chứng tỏ sự tác động của các yếu tố khác ngoài các biến của mô hình tới cầu phân NPK là nhỏ.

    * Bảng phân tích phương sai

    –           Giả thuyết H0 : mô hình không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Giả thuyết H1 : mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Ta có Fqs = 818.35283

    F= 3.072

    Ta có Fqs > Fc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Kiểm định các hệ số của mô hình

    – Kiểm định β0

    Giả thuyết H0 : hệ số β0  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β0 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 2.561

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β0 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β1

    Giả thuyết H0 : hệ số β1  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β1 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 0.283

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd < Tc chấp nhận giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1

    Vậy, β1 không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β2

    Giả thuyết H0 : hệ số β2  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β2 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = | – 2.236| = 2.236

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β2 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β3

    Giả thuyết H0 : hệ số β3  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β3 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 6.051

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β3 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Giải thích ý nghĩa các tham số của mô hình

    Mô hình hồi quy: Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    Ta có   β0 = 6.945 nghĩa là các yếu tố bên ngoài không được đưa vào mô hình có ảnh hưởng tới mức cầu phân NPK.

    β 2 = – 0.924 nghĩa là khi giá phân NPK tăng lên 1 nghìn đồng/ kg thì cầu về phân NPK của hộ giảm đi 0.924 kg.

    β 3 = 1.389 nghĩa là khi diện tích trồng lúa của hộ điều tra tăng lên 1 sào thì cầu về phân NPK của hộ tăng lên 1.389 kg.

    IV.            KẾT LUẬN

    Qua kết quả nghiên cứu đề tài ta thấy diện tích trồng lúa của hộ nông dân là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất, thu nhập của hộ là yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến cầu về phân NPK. Hộ nào có diện tích trồng lúa càng nhiều thì cầu về phân NPK sẽ càng cao, tuy nhiên, hộ có thu nhập cao thì cầu về phân NPK cũng không tăng hơn nhiều so với hộ có thu nhập thấp hơn.

    Tuy nhiên, khi sử dụng phân NPK cần chú ý sử dụng hợp lý, tránh sử dụng lãng phí phân bón, vừa làm tăng chi phí sản xuất vừa làm ô nhiễm môi trường.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN NGHIÊN CỨU VỀ “CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT” CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ANH NĂM 2011-2015


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-KINH-T%E1%BA%BE-L%C6%AF%E1%BB%A2NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

     

    Đề bài

    Cho các biến K,L FDI,GDP

    Xây dựng mô hình    GDP=A. . . . (1)

    Đơn vị:+GDP,A,K là tỷ USD

    +L là triệu người

    Từ mô hình (1) ta chuyển đổi về dạng đơn giản hơn như sau:

    lnGDP=lnA+ .lnK+ .lnL+ .lnFDI+Ui (2)

    Yêu cầu

    1. Chạy phần mềm eview để đưa ra mô hình hồi quy mẫu của (1) và (2). Nêu ý nghĩa của các hệ số.
    2. Mô hình (2) có đa cộng tuyến hay không?
    3. Mô hình (2) có phương sai sai số không?
    4. Mô hình (2) có tự tương quan hay không?
    5. Mô hình (2) có thiếu biến hay thừa biến không?

    Bảng số liệu như sau:

    K L FDI GDP
    12.68300 11.85000 1.169000 57.65000
    24.99720 2.230000 63.12000 112.6000
    47.46720 2.900000 138.4000 204.6000
    54.33880 2.670000 189.7000 222.7000
    71.63640 50.13000 31.66000 294.8000
    72.29580 10.91000 77.70000 357.9000
    85.09000 12.50000 45.40000 335.0000
    86.82240 4.940000 41.32000 326.4000
    89.00000 45.73000 29.23000 222.5000
    94.15420 22.49000 37.66000 431.9000
    98.19600 20.49000 90.40000 467.6000
    115.2140 16.10000 60.04000 523.7000
    127.1411 7.500000 450.9000 638.9000
    142.4500 37.12000 69.06000 519.9000
    199.5616 108.0000 21.91000 845.6000
    211.6368 10.90000 246.2000 766.8000
    280.2800 17.90000 398.4000 1274.000
    290.8950 45.38000 236.2000 1353.000
    329.0020 99.47000 214.3000 1838.000
    335.2680 23.99000 133.0000 1206.000
    370.8000 24.86000 294.8000 1800.000
    392.9010 30.71000 1135.000 2147.000
    402.7440 75.10000 271.6000 2076.000
    419.4960 22.01000 439.4000 1362.000
    427.8690 27.76000 697.4000 2067.000
    521.2720 43.63000 763.9000 2833.000
    942.8700 516.4000 67.72000 2965.000
    1064.497 66.70000 88.62000 4417.000
    2162.160 146.1000 1818.000 13860.00
    2972.146 803.3000 758.9000 7043.000

    BÀI LÀM

     

    1.Xét hàm hồi quy mẫu

    i= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+ 4.lnFDIi

    Với 1=lnA

    2=

    3=

    4=

    Bước 1 Nhập số liệu vào eview.

    Bước 2 Tại ô gõ câu lệnh LS log(GDP) C log(K) log(L) log(FDI)

    Sau đó ta có kết quả bảng eview:

    Suy ra MHHQ mẫu:

    i=1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi

    Suy ra mô hình (2) :

    • lnGDP =1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi +Ui

    Từ kết quả trên ta được lnA=1,479245 => A= =4.38963

    =0,908368

    =0,008015

    =0,087486

    Suy ra mô hình (1):

    GDP=4.38963. . . .

    * Ý nghĩa của các hệ số

    – 2: khi vốn tăng lên 1 tỷ USD,các yếu tố khác không thay đổi thì GDP tăng lên 0,908368 tỷ USD.

    3: khi số lượng lao động tăng lên 1 triệu người,các yếu tố khác không đổi thì GDP tăng lên 0,008015 tỷ USD.

    4: khi vốn đầu từ trực tiếp từ nước ngoài tăng lên 1 tỷ USD,các yếu tố khác không đổi thì GDP tăng lên 0,087486 USD.

    2.Phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến

    a.Phương pháp R2 cao và ttn thấp

    Từ kết quả mô hình hồi quy thu được ở trên khi chạy eview ta thấy như sau:

    R2=0,973080>0,8àR2 cao

    Các ttn lần lượt là 9.095672 ;0.122274 và 1.615056 đem so sánh với  = =2.056 à Các ttn không đồng thời nhỏ hơn  nên chưa thể kết luận mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không.

    b.Phương pháp hệ số tương quan cặp cao

    Từ cửa sổ chính eview chọn quick/group statistics/correlations. Cửa sổ series list xuất hiện sau đó đưa vào danh sách các biến của ma trận tương quan.

    Ta có kết qủa hiển thị ma trận tương quan như sau:

    Nếu hệ số tương quan cặp giữa các biến giải thích cao ( >0.8) thì có khả năng tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến.

    Nhìn vào bảng trên thì ta thấy  nhưng lại <0.8.Suy ra chưa thể kết luận được mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không.

    c.Phương pháp hồi quy phụ:

    Hồi quy lần lượt các biến giải thích theo các biến giải thích còn lại.

    Giả sử hồi quy biến FDI theo biến K và L.

    Suy ra mô hình hồi quy lnFDIi= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+vi

    Chạy kết quả eview bằng cách viết công thức vào màn hinh chính

    Ls log(FDI) C log(K) log(L)

    Mô hình hồi quy:

    lnFDIi= + .lnKi .lnLi thu được R2=0.753507.

    Có =0.05 cần kiểm định giả thiết  Ho: R2=0

    H1: R2  0

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: F=

    Nếu Ho đúng thì F F(k-1,n-k)

    Ta thấy P-value của thống kê F =0<  .Vậy nên bác bỏ giả thiết cho rằng không có hiện tượng đa cộng tuyến.

    Kết luận:Với mức ý nghĩa   =5% có thể nói rằng  mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.

    3.Phát hiện hiện tượng phương sai sai số

    a.Phương pháp dựa trên biến phụ thuộc

    Bước 1: Ước lượng mô hình ban đầu

    i=1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi

    Bước 2: Ước lượng mô hình = 1+ 2ln i2+vi

    Tạo biến , ta được bảng kết quả

    Sử dụng phần mềm tạo lnGDP: vào forecast -> tích vào log(GDP) và điền YF vào forecast name.

    Chạy eview:

    Tại cửa sổ chính vào Quick -> estimate equation -> hiện bảng nhập Ei2 c yf

    Kiểm định giả thuyết:    Ho: R2=0(không có phương sai sai số thay đổi)

    H1: R2  0(có phương sai sai số thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: F= 2 .Nếu H0 đúng thì F F(1,n-2)

    Nhìn vào bảng eview thấy p-value của ftn=0.038260<0.05 suy ra bác bỏ H0,chấp nhận H1

    Kết luận với =0.05 thì mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

    1. Kiểm định park

    -Hồi quy mô hình gốc thu được phần dư ei.

    + Ước lượng mô hình hồ quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(Ki)+vi

    Từ cửa sổ chính Eviews, chọn Quick/ Estimate Equation

    Tại cửa sổ Equation Specification nhập tên các biến của mô hình như sau:

    Log(Ei^2) C Log(log(K))àOK

    Chạy eview ta thu được kết quả:

    Suy ra mô hình hồi quy: Lnei2= + .ln(ln(Ki)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

    H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.2293>0.05àchấp nhận Ho, bác bỏ H1

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 có thể nói mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

    + Ước lượng mô hình hồi quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(Li)+vi

    Tương tự

    Từ cửa sổ chính Eviews, chọn Quick/ Estimate Equation

    Tại cửa sổ Equation Specification nhập tên các biến của mô hình như sau:

    Log(Ei^2) C Log(log(L))àOK

    Suy ra mô hình hồi quy: Lnei2= + .ln(ln(Li)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

    H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.1903>0.05àchấp nhận Ho,bác bỏ H1

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 có thể nói mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    + Ước lượng mô hình hồi quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(FDIi)+vi

    Tương tự chạy eview thu được kết quả:

    Suy ra mô hình hồi quy:Ln ei2= -0.239734.ln(ln(FDIi)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

    H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.6867>0.05àchấp nhận Ho,bác bỏ H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    => Kết luận chung Với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình có xuật hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    1. Kiểm định glejser

    Ta đã tạo được phần dư e ở trên nên chỉ phải ước lượng mô hình

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(Ki)+ vi để ước lượng

    Tại vị trí gõ lệnh, ta gõ cú pháp sau: ABS(Ei) C log(K)

    Chạy eview thu được bảng

    Suy ra mô hình hồi quy:|ei| = -0.059054 + 0.040758ln(Ki)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

    H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value=0.0292<0.05 nên suy ra bác bỏ H0 chấp nhận H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 mô hình có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(Li)+ vi để ước lượng

    Chạy eview ta thu được:

    Suy ra mô hình hồi quy: |ei| = 0.007808 + 0.045048ln(Li)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

    H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value= 0.0059<0.05 nên suy ra bác bỏ H0 chấp nhận H1.

    Vậy với mức ý nghĩa mô hình có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(FDIi)+ vi để ước lượng

    Chạy eview ta thu được:

    Suy ra mô hình hồi quy: |ei| = 0.098770 + 0.011792ln(FDIi)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

    H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value=0.465119>0.05 suy ra chấp nhận H0 bác bỏ H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    àKết luận chung:Với mức ý nghĩa 0.05 thì chúng ta chưa thể kết luận mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi hay không.

    1. Kiểm định White:

    Ước lượng mô hình hồi quy:ei2= 1+  2ln(K) +  3ln(L) +  4ln(FDI) +  5ln2(K) +  6ln2(L) +  7ln2(FDI) +  8ln(K).ln(L) +  9ln(L).ln(FDI) +  10ln(K).ln(FDI) + ui

     

    Chạy eview thu được kết quả:

    Suy ra mô hình: ei2=0.448595 -0.240865 ln(K) + 0.088626ln(L) + 0.005712ln(FDI) + 0.024483ln2(K) + 0.031051ln2(L) -0.019771ln2(FDI) -0.056395ln(K).ln(L) + 0.003875ln(L).ln(FDI) + 0.034515ln(K).ln(FDI) + ui

    Kiểm định giả thiết:   Ho:R2=0(không có phương sai sai số thay đổi)

    H1:R2  0(có phương sai sai số thay đổi)

    Xây dựng tiêu chuẩn kiểm định:

    Nếu  đúng thì

    Nhìn vào bảng ta thấy P-value=0.0485<0.05 suy ra bác bỏ H0,chấp nhận H1.

    Kết luận với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình có xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    4.Phát hiện hiện tượng tự tương quan

    1. Kiểm định d.Durbin – Watson

    Bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất, ta có bảng kết quả sau:

     

    Mô hình hồi quy gốc

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Bài toán kiểm định:

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Thay số suy ra:

    Với

    Ta có các khoảng sau:

    0     (1)      dL       (2)        dU       (3)    4-dU       (4)     4-dL         (5)               4

    0                                                2.35                   2.786                    4

    Từ bảng Eview, ta có  nên mô hình không có tự tương quan.

    b.Kiểm định Breush – Godfrey (BG)

    Kiểm định tự tương quan bậc 1

    Từ bảng kết quả eview ta suy ra mô hình hồi quy gốc từ ý 1:

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Giả sử có hiện tượng

    Ước lượng mô hình sau đây bằng phương pháp OLS:

    Chạy lại eview bằng cách:

    Từ cửa sổ equation,chọn views/residual test/serial correlation LM test

    Cửa sổ Lag specificationànhập số thời kì p cho biến trễ .kết quả xuất hiện bảng như sau:

    Bài toán kiểm định

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Nếu

    Nhìn vào bảng eview có P-value=0.1361>0.05àchấp nhận H0.

    Vậy mô hình không có tự tương quan bậc 1.

    -Kiểm định tự tương quan bậc 2.

    Làm tương tự như trên ta có kết quả eview

    Mô hình hồi quy gốc:

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Ước lượng mô hình

    Suy ra

    Bài toán kiểm định

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Nếu

    Từ bảng kết quả Eview, ta thấy  nên chấp nhận H0,  bác bỏ H1

    Vậy mô hình không có tự tương quan bậc 2.

    1. Mô hình thừa biến hay thiếu biến

    a.Kiểm định sự thừa biến

    Bước 1: Ước lượng mô hình (2)

    Log(GDP) C Log(K) Log(L) Log(FDI)

    Từ bảng kết quả ta có mô hình hồi quy

    LnGDP = 1.479245 + 0.908368  + 0.008015 + 0.087486

    • Kiểm định thừa biến Ln(K)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(K) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết               Ho: 2=0 (biến Log(K) là không cần thiết)

    H1: 2≠0 (biến Log(K) là cần thiết)

    Ta thấy Prob(F-Statistic ) = 0 <α = 0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận biến log(K) là biến cần thiết trong mô hình

    • Kiểm định thừa biến Ln(L)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(L) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết           Ho: 3=0 (biến Log(L) là không cần thiết)

    H1: 3≠0 (biến Log(L) là cần thiết)

    Ta thấy Prob( F-Statistic)= 0 < α =0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận Biến Log(L) là cần thiết cho mô hình

    • Kiểm định thừa biến Ln(FDI)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(FDI) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết           Ho: 4=0 (biến Log(FDI) là không cần thiết)

    H1: 4≠0 (biến Log(FDI) là cần thiết)

    Ta thấy Prob( F-Statistic)= 0 < α =0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận Biến Log(FDI) là cần thiết cho mô hình

    Kết luận chung: Với α= 0.05 mô hình (2) không thừa biến

    1. Mô hình thiếu biến

    –  Bước 1 Sử dụng phần mềm Eviews ta được bảng kết quả

    Hồi quy mô hình(2) ta được mô hình sau:

    LnGDP = 1.479245 + 0.908368  + 0.008015 + 0.087486

    • = 0.973080
    • Bước 2 Hồi quy mô hình

    LnGDP= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+ 4.lnFDIi +  + Vi

    Từ cửa sổ equation => stability test => Ramsey reset test

    Ta được bảng kết quả

    Từ bảng kết quả ta thu được mô hinh

    LnGDP=1.528175+).882845.lnKi+0.007223.lnLi+0.085943.lnFDIi +  

    • = 0.973091
    •  

    Tiêu chuẩn kiểm định

    F= .

    Từ bảng kết quả ta có

    Prob(F-Statistic)=0<  =0.05 nên bác bỏ Ho

    • Chấp nhận Ho, bác bỏ H1
    • Kết luận Với α=0.05 mô hình không thiếu biến

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]