Category: Soạn Văn Lớp 11

  • SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-B%C3%80I-V%E1%BB%8ANH-KHOA-THI-H%C6%AF%C6%A0NG-TR%E1%BA%A6N-T%E1%BA%BE-X%C6%AF%C6%A0NG.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    Bố cục

    – Hai câu đề: Giới thiệu về kì thi

    – Hai câu thực: Cảnh tượng khi đi thi

    – Hai câu luận: Những ông to bà lớn đến trường thi

    – Hai câu kết: Thái độ phê bình của nhà thơ với kì thi

    Câu 1 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    Kì thi có điều khác thường là trường Nam thi lẫn với trường Hà. Từ “lẫn”: lẫn lộn, báo hiệu điều gì thiếu nghiêm túc, ô hợp, láo nháo trong kì thi.

    Câu 2 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Hình ảnh:

    + Sĩ tử: lôi thôi, vai đeo lọ → dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

    + Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa → ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.

    – Nghệ thuật:

    + Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, lôi thôi.

    + Đối: lôi thôi sĩ tử >< ậm ọe quan trường.

    + Đảo ngữ: Đảo trật tự cú pháp “lôi thôi sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

    ⇒ Sự láo nháo, lộn xộn, ô hợp của trường thi, mặc dù đây là một kì thi Hương quan trong của nhà nước

    ⇒ Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.

    Câu 3 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Hình ảnh:

    + Quan sứ: Viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cái trị của tỉnh Nam Định được tiếp đón trọng thể.

    + Mụ đầm: vợ quan sứ, ăn mặc diêm dúa, điệu đà.

    ⇒ Sự phô trương, hình thức, không đúng nghi lễ của một kì thi.

    – Nghệ thuật đối: Lọng >< váy, trời >< đất, quan sứ >< mụ đầm → Thái độ mỉa mai, châm biếm hạ nhục bọn quan lại, thực dân.

    ⇒ Tất cả báo hiệu về một sự sa sút về chất lượng thi cử, bản chất của xã hội thực dân phong kiến.

    Câu 4 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Ngao ngán, xót xa trước sự sa sút của đất nước. Thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông.

    – Hai câu cuối như một lời nhắn nhủ các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Nhà thơ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.

  • SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Cảm nhận về bài Vội vàng của Xuân Diệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-KH%C3%93C-D%C6%AF%C6%A0NG-KHU%C3%8A-NGUY%E1%BB%84N-KHUY%E1%BA%BEN.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    Bố cục

    – Đoạn 1 (hai câu đầu): Giới thiệu về sự ra đi đột ngột của Dương Khuê

    – Đoạn 2 (từ câu 3 đến câu 22): Nhớ lại những kỷ niệm giữa hai người và thể hiện tâm trạng thời cuộc của nhà thơ.

    – Đoạn 3 (phần còn lại): Nỗi đau mất bạn và tâm sự cô đơn vì thiếu tri kỷ.

    Câu 1 (trang 32 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bài thơ có thể chia thành ba đoạn:

    – Đoạn 1 (hai câu đầu): Giới thiệu về sự ra đi đột ngột của Dương Khuê

    – Đoạn 2 (từ câu 3 đến câu 22): Nhớ lại những kỷ niệm giữa hai người và thể hiện tâm trạng thời cuộc của nhà thơ.

    – Đoạn 3 (phần còn lại): Nỗi đau mất bạn và tâm sự cô đơn vì thiếu tri kỷ.

    Câu 2 (trang 32 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): *Kỉ niệm của tác giả với người bạn của mình

    – Cùng nhau thi đỗ làm quan

    – Cùng nhau dong chơi khắp chốn non nước

    – Cùng ngân nga hát ả đào

    – Cùng nhau uống rượu và bình luận thơ văn

    – Cùng nhau trải qua những buổi hoạn nạn, vật đổi sao rời

    * Nỗi đau, trống vắng khi mất bạn

    – Chân tay rụng rời khi nghe tin bạn mất

    – Rượu ngon không có bạn hiền

    – Câu thơ hay không có người bình luận

    – Đàn kia gảy cũng không ai thấu hiểu

    ⇒ Cho thấy tình cảm thắm thiết giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê. CÙng với tâm trạng lúc đột ngột, lúc ngậm ngùi, luyến tiếc, lúc lắng đọng thấm sâu chi phối tuổi già của tác giả. Hai câu kết là nỗi đau không nước mắt, nỗi đau như dồn vào lòng.

    Câu 3 (trang 32 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Nghệ thuật nói giảm nói tránh “Bác Dương thôi đã thôi rồi”

    – Nghệ thuật sử dụng các câu hỏi tu từ trong đoạn cuối bài thơ. Hàng loạt các câu thơ như: Làm sao bác vội về ngay; Vội vàng sao đã mải lên tiên, … Để rồi lắng đọng trong những câu thơ hụt hẫng, chơi vơi

    – Điệp từ không dùng rất hợp hoàn cảnh và đặc sắc. Chỉ một cặp lục bát mà chồng xếp 5 chữ không diễn tả thật đúng cái trống vắng khi mất bạn. Để rồi kết đọng trong tiếng khóc đáng thương của người bạn già tri kỉ. Câu thơ cuối buông nhẹ mà khơi gợi, xót đau, hờn tủi.

  • SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: VĂN MẪU NGHỊ LUẬN BÀI THƠ THƯƠNG VỢ CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG

    ——————————————–

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-TH%C6%AF%C6%A0NG-V%E1%BB%A2-TR%E1%BA%A6N-T%C3%9A-X%C6%AF%C6%A0NG.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    Bố cục

    – Có thể chia thành: Đề, thực, luận, kết

    – Hoặc chia như sau:

    + 6 câu thơ đầu: Hình ảnh bà Tú

    + 2 câu cuối: Nỗi lòng của tác giả

    Câu 1: Hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu

    – Côn việc: Buôn bán

    – Địa điểm: ở mom sông

    – “Quanh năm”: Suốt cả năm, từ năm nay đến năm khác, không trừ ngày nào, dù mưa hay nắng.

    – Hình ảnh ẩn dụ “thân cò”, trong không gian thời gian “khi quãng vắng”, tính chất công việc “lặn lội”: Gợi nên không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy âu lo, nguy hiểm và nỗi vất vả đơn chiếc của bà Tú.

    – Từ “eo sèo”, “đò đông” gợi cảnh chen chúc, bươn trải trên sông nước của những người bán hàng nhỏ. Sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau, lời qua tiếng lại với nhau. Hình ảnh “đò đông” còn ẩn chứa những sự bất trắc không ngờ.

    ⇒ Hoàn cảnh kiếm sống lam lũ, vất vả với một không gian sinh tồn bấp bênh, khó khăn. Sự vất vả, đơn chiếc, bươn trải trong cảnh chen chúc làm ăn của bà Tú

    Câu 2: Đức tính cao đẹp của bà Tú

    – Bà Tú là người đảm đang tháo vát, chu đáo với chồng con “Nuôi đủ năm con với một chồng”

    – Bà Tú là người giàu đức hi sinh, chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con: “Năm nắng mười mưa dám quản công”

    Câu 3:

    – Lời chửi trong hai câu cuối là lời của nhà thơ Tú Xương

    – Ý nghĩa của lời chửi là tác giả thầm trách bản thân mình một cách thẳng thắn, nhận ra sự vô dụng của bản thân mình. Nhưng đó lại là một lẽ thường tình trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Tú Xương dám thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”, dám tự nhận khuyết điểm của mình. Từ đó cho thấy ông là một người có nhân cách đẹp

    Câu 4 :Nỗi lòng của nhà thơ

    – Tình cảm yêu thương, quý trọng những nỗi vất vả, hi sinh của người vợ dành cho mình

    – Tự trách mình là một người chồng nhưng lại “ăn lương vợ”. Trong câu “nuôi đủ năm con với một chồng” cho thấy người khong không khác gì một đứa con dại, vẫn phải nuôi lớn, chăm nom.

    – Lời chửi trong hai câu kết là Tú Xương đang tự chửi mát mình nhưng lại mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ông chửi “thói đời”, đã khiến bà Tú phải khổ. Từ đó cho thấy tình cảm sâu nặng của ông với người vợ của mình

    Luyện tập

    – Về hình ảnh: Tú Xương đã vận dụng hình ảnh “con cò” trong ca dao thành hình ảnh “thân cò” có phần xót xa, tội nghiệp hơn. Hình ảnh “thân cò” còn có tác dụng nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú và nỗi đau thân phận.

    – Về từ ngữ: thành ngữ “năm nắng mười mưa” được vận dụng một cách rất sáng tạo. Cụm từ “nắng mưa” chỉ sự vất vả. Các từ năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra rồi kết hợp với “nắng, mưa” tạo nên một thành ngữ chéo. Hiệu quả của nó vừa nói lên sự vất vả, gian lao, vừa thể hiện đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú.

  • SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NHỮNG BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-C%C3%82U-C%C3%81-M%C3%99A-THU-THU-%C4%90I%E1%BA%BEU-C%E1%BB%A6A-NGUY%E1%BB%84N-KHUY%E1%BA%BEN.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    Bố cục

    – Cách chia 1:

    + Hai câu đề: Quang cảnh mùa thu

    + Hai câu thực: Những chuyển động nhẹ nhàng của mùa thu

    + Hai câu luận: Bầu trời và không gian làng quê

    + Hai câu kết: Tâm trạng của nhà thơ

    – Cách chia 2:

    + Phần 1 (6 câu thơ đầu): Cảnh mùa thu ở vùng quê Bắc bộ

    + Phần 2 (2 câu thơ cuối): Tình thu

    Câu 1 : Điểm nhìn của tác giả

    – Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần: từ chiếc thuyền câu nhìn mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu.

    – Điểm nhìn ấy giúp nhà thơ bao quát được toàn cảnh mùa thu, từ bầu trời đến con nước, cảnh vật, cuộc sống ở làng quê vào mùa thu

    Câu 2 :Nét riêng của cảnh sắc mùa thu

    – Sự dịu nhẹ thanh sơ của cảnh vật:

    + Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắ, lá vàng. Tạo nên các điệu xanh: Ao xanh, bờ xanh, sóng xanh, tre xanh, bèo xanh, một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi.

    + Đường nét chuyển động nhẹ nhàng: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng …

    – Hình ảnh bình dị, thân thuộc: ao thơ, thuyền câu, ngõ trúc …

    ⇒ Một bức tranh mùa thu trong trẻo, tĩnh lặng, vắng người, vắng tiếng của làng quê đồng bằng Bắc Bộ.

    Câu 3 :

    – Không gian rộng, sâu của bầu trời đối lập với mặt ao hẹp với ngõ trúc

    – Không gian hiu quạnh, tĩnh lặng, thoáng buồn, vắng tiếng, vắng người được thể hiện qua hình ảnh “ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Không gian tĩnh lặng đến độ người câu cá có thể nghe thấy tiếng “cá đâu đớp động dưới chân bèo”.

    ⇒ Thể hiện nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn tác giả. Qua hoàn cảnh chúng ta có thể hiểu đó là nỗi lòng non nước, nỗi lòng thời thế của nhà nho có lòng tự trọng và lòng yêu quê hương đất nước như Nguyễn Khuyến.

    Câu 4 :

    – Cách gieo vần “eo” – tử vận, oái oăm, khó làm, được Nguyễn Khuyến sử dụng rất tài tình.

    – Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng uẩn khúc của thi nhân.

    Câu 5 :

    Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được ở Nguyễn Khuyến một tâm hồn gắn bó tha thiết với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc.

    Luyện tập (trang 22 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

    Câu 1 :

    Cái hay của nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài thơ: dùng từ ngữ gợi cảnh để diễn tả tâm trạng

    – Cảnh thanh sơ, dịu nhẹ được gợi lên qua các từ: trong veo, biếc, xanh ngắt, các cụm động từ: gợn tí, khẽ đưa, lơ lửng

    – Từ “vèo” trong câu thơ “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” nói lên tâm sự thời thế của nhà thơ

    – Vần “eo” được tác gải sử dụng rát tài tình. Trong bài thơ, vần “eo” giúp diễn tả không gian dần thu nhỏ, vắng lặng, hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của tác giả

    Câu 2 :

    Học thuộc và đọc diễn cảm bài thơ.

  • SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-V%C3%80O-PH%E1%BB%A6-CH%C3%9AA-TR%E1%BB%8ANH.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    Tóm tắt

    Vào sáng sớm tinh mơ ngày 1 tháng 2, tôi được lệnh triệu vào phủ chúa. Tôi nhanh chóng được điệu đi trên một cái cáng chạy như ngựa lồng. Tôi đi vào từ cửa sau, nhìn quanh tôi thấy cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua thắm. Qua mấy lần cửa, các hành lang dài quanh co tôi được đưa tới một ngôi nhà thật lớn gọi là phòng trà. Đồ đạc trong phòng đều được sơn son thếp vàng. Lúc đó thánh thượng đang ngự phòng thuốc cùng các phi tần nên tôi không thể yết kiến. Tôi được thiết đãi bữa sáng mĩ vị với đồ dùng toàn bằng vàng, bạc. Ăn xong tôi được đưa đến yết kiến ở Đông Cung và khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Thế tử vì “ăn quá no, mặc quá ấm” mà sinh bệnh. Nửa sợ bị cuốn vào vòng danh lợi, nửa vì chịu ơn của nước. Cuối cùng, tôi dốc lòng kê đơn cho thế tử, rồi từ giã lên cáng trở về kinh Trung Kiền chờ thánh chỉ. Bạn bè ai ai trong cung cũng đến thăm hỏi.

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu đến không có dịp): Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh.

    – Phần 2 (tiếp đến phòng chè ngồi): Thực trạng trong phủ chúa, hình ảnh Trịnh Cán ốm yếu.

    – Phần 3 (còn lại): Tâm trạng, cảm nghĩ của Lê Hữu Trác

    Câu 1 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    * Quang cảnh trong phủ Chúa

    – Phải đi qua nhiều lần cửa, với những dãy hành lang dài quanh co nối nhau liên tiếp, ở mỗi cửa đều có lính canh gác, ai muốn vào phải có thẻ.

    – Vườn hoa trong phủ Chúa cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa cỏ thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương

    – Bên trong phủ là nhà Đại đường, Quyển bổng, Gác tía với kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng ơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy.

    – Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng chén bạc

    – Đến nội cung phải đi qua 5, 6 lần trướng gấm

    – Phòng thắp nến, sập thếp vàng, ghế rồng sơn son, nệm gấm mà che

    ⇒ Quang cảnh ở phủ chúa cực kì tráng lệ lộng lẫy, không đâu sánh bằng

    * Cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

    – Khi đi thì có tên đầy tớ chạy trước hét đường

    – Trong phủ người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi

    – Lời lẽ nhắc đến thế tử đều hết mực cung kính, lễ độ tránh phạm úy.

    – Chúa Trịnh luôn cho phi tần chầu chực xung quanh. Tác gải không được thấy mặt Chúa

    – Thế tử bệnh có 7, 8 người thầy thuốc tục chực, phục dịch

    – Tác giả phải quỳ lạy 4 lần lúc đến và 4 lần lúc về

    ⇒ Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa với những lễ nghi, khuôn phép, cách nói năng, người hầu kẻ hạ cho thấy sự cao sáng, quyền uy, cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cực điểm và sự lộng quyền của nhà chúa.

    * Cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống trong phủ

    – Lê Hữu Trác mặc dù khen cái đẹp, cái sang nơi phủ Chúa những tác giả tỏ vẻ dửng dưng trước những thứ vật chất xa hoa và không đồng tình với cuộc sống quá xa xỉ, thừa thãi, hưởng lạc nhưng thiếu khí trời và tự do như ở trong phủ Chúa

    Câu 2 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Chi tiết được cho là đắt nhất

    – “Một đứa bé độ 5, 6 tuổi ngồi chễm chệ trên sập vàng để cho thầy thuốc già cúi lạy bốn lần rồi cười và ban một lời khen “ông này lạy khéo”. Khi đi đi qua độ 5, 6 lần trướng gấm tối om như vậy là một khung cảnh vàng son nhưng tù hãm, thiếu sinh khí của thế tử. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt mấy người hầu cận đứng xúm xít.

    – Qua chi ấy cho thấy cuộc sống ăn chơi hưởng lạc trong phủ Chúa. Thế tử được mọi người chăm sóc, hầu cận đến phát bệnh. Không gian ngột ngạt, tù túng, thiếu sinh khí trong phủ Chúa.

    Câu 3 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Cách chẩn đoán bệnh của Lê Hưu Trác cho thấy ông là một người thầy thuốc giỏi, giàu kinh nghiệm

    – Ông là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ

    – Đặc biệt ông còn có những phẩm chất cao quý: khinh thường danh lợi, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị

    Câu 4 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bút pháp đặc sắc trong truyện

    – Sự quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực những gì đã nhìn thấy

    – Tả cảnh sinh động

    – Kể diễn biến sự việc một cách khéo léo, lôi cuốn người đọc

    Luyện tập (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

    So sánh hai đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” (Lê Hữu Trác) với “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Phạm Đình Hổ)

    * Giống nhau: Đều phán ánh hiện thực cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh

    * Khác nhau:

    Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh – Phạm Đình Hổ

    + Phản ánh sự nhũng nhiễu của quan lại đối với nhân dân

    + Các sự kiện được kể một cách tản mạn, ghép nối

    + Thể hiện thái độ phê phán gay gắt của tác giả đối với Chúa và quan lại

    Vào phủ chúa Trịnh – Lê Hữu Trác

    + Ghi chép sự việc theo trình tự thời gian một cách tỉ mỉ và trung thực

    + Thể hiện thái độ phê phán một cách kín đáo

    + Thể hiện thái độ dửng dưng, coi thường vinh hóa phú quý và tấm lòng y đức của Lê Hữu Trác

  • [Soạn văn] Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)

    [Soạn văn] Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)

    Soạn văn lớp 11: Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)

    Tóm tắt: Một thời đại trong thi ca

    Trong tiểu luận này, Hoài Thanh đã nêu một vấn đề quan trọng là đi tìm tinh thần thơ Mới. Tác giả đã đưa ra nguyên tắc nhận diện tinh thần thơ Mới: Không căn cứ vào cục bộ và bài dở, phải căn cứ vào đại thể và bài hay. Xác định tinh thần thơ Mới là chữ “tôi” trong thơ Mới đối lập với chữ “ta” trong thơ cũ và cho thấy bi kịch của cái Tôi trong thơ Mới. Cuối cùng chỉ ra sự vận động của cái “tôi” và việc giải quyết bi kịch thời đại của nó bằng cách gửi cả vào tình yêu tiếng Việt.

    Câu 1:

    – Cái khó trong việc tìm ra tinh thần thơ mới là ranh giới giữa thơ cũ và thơ mới không phải rạch ròi dễ nhận ra.

    – Các nhận diện:

    + Không thể căn cứ vào những bài thơ dở, thời nào chả có mà phải so sánh bài hay với bài hay.

    + Vả chăng cái mới và cái cũ vẫn tiếp nối qua lại cho nên phải so sánh trên đại thể.

    Câu 2:

    Điều cốt lõi mà nhà thơ mới đưa đến cho thi đàn Việt Nam lúc giờ là “chữ tôi” với một quan niệm trước đó chưa từng có: quan niệm cá nhân (sự tự ý thức về bản thân, khát vọng được thành thực). Đồng thời “chữ tôi” cũng nói lên bi kịch ngấm ngầm trong hồn người thanh niên lúc bấy giờ.

    Câu 3:

    Vì “cái tôi” đã đem đến cho tâm hồn họ nỗi buồn lạnh, bơ vơ, muốn thoát nhưng không được. Họ là những thi nhân đang sống trong cuộc đời mong mỏi, tù túng của thân phận mất nước, mang trong mình “cái tôi” cô đơn, bé nhỏ nên họ thật đáng thương.

    – Tương phản giữa khát vọng thoát thân và thực tế tù túng, bế tắc để thấy bi kịch của thi sĩ lãng mạn.

    – Thoát lên trên – Đồng tiền đã khép.

    – Phiêu lưu trong trường tình – Tình yêu không bền.

    – Điên cuồng – Điên cuồng rồi tỉnh.

    – Đắm say – Say đắm vẫn bơ vơ.

    Câu 4:

    Các nhà thơ lãng mạn cũng như “người thanh niên” bấy giờ đã giải tỏa bi kịch đời mình bằng cách gửi bi kịch ấy vào trong tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương trong tình yêu Tiếng Việt, lấy tinh thần nòi giống, tìm về dĩ vãng để làm chỗ dựa tinh thần (chú ý điệp cấu trúc ở đoạn cuối “chưa bao giờ như bây giờ…” thể hiện giọng điệu thiết tha và hi vọng giải thoát khỏi bi kịch của thu sĩ lãng mạn.

    Câu 5: Nghệ thuật của bài tiểu luận thể hiện qua đoạn trích:

    – Đặt vấn đề rõ, gọn.

    – Dẫn dắt vấn đề khoa học, khéo léo và dễ hiểu, đảm bảo sự liền mạch trong hệ thống luận điểm, luận cứ, sự liên kết, chuyển tiếp giữa các ý, các đoạn trong bài một cách thống nhất.

    – Câu văn nghị luận giàu chất thơ có sức gợi cảm xúc và gây hứng thú cho người đọc.

    – Nghệ thuật lí luận chặt chẽ, thấu đáo, khoa học.

    – Khi phân tích đặc điểm thơ mới, tác giả luôn phân tích “cái tôi” trong nhiều quan hệ với ta “cái ta” để tìm chỗ giống nhau và khác nhau.

    + Khi tìm cái mới của thơ mới và các nhà thơ mới tác giả nhìn vấn đề trong mối quan hệ với thời đại với tâm lí người thi nhân đương thời là thấu đáo, sâu sắc.

    + Lí luận gắn bó chặt chẽ giữa những nhân định, luận điểm có tính khái quát những ví vụ cụ thể, đa dạng, giàu sức thuyết phục.

    + Có cái nhìn thấu đáo về “cái tôi“, “cái ta“, có sự so sánh giữa các câu thơ và nhà thơ cũ, mới trong diễn biến lịch sử.

    II. Luyện tập

    Câu 1: Theo quan niệm của Hoài Thanh, chữ tôi và ta trong thơ mới và thơ cũ có gì khác nhau?

    – Chữ tôi và chữ ta đều thể hiện ý thức về bản thân mình. Chữ tôi với cái nghĩa tuyệt đối của nó.

    – Chữ ta trong thơ cũ là cá nhân ý thức gắn với cộng đồng, đoàn thể (lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình).

    Câu 2:

    Lòng yêu nước của các nhà thơ mới biểu hiện ở sự thiết tha với những giá trị, sự nỗi lực sáng tạo ra những giá trị văn hóa. Các nhà thơ mới yêu tiếng Việt; qua thơ mình, họ muốn làm cho tiếng Việt giàu đẹp hơn. Lòng yêu nước của họ còn thể hiện ở sự trân trọng tinh thần giống nòi, tâm trạng những vẻ đẹp của quá khứ dân tộc.

  • [Soạn văn] Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)

    [Soạn văn] Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)

    Soạn văn lớp 11: Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)

    Tóm tắt: Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác

    Văn bản là bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ Mác. Trong đó ông giới thiệu về khoảnh khắc Mác – một trong số những nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại đã đi vào giấc ngủ ngàn thu. Ăng-ghen đã khẳng định ba cống hiến vĩ đại của Mác với cuộc sống của nhân loại: Tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người; Tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra; Cống hiến vĩ đại nhất là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, biến lý thuyết cách mạng khoa học thành hành động cách mạng. Qua đó Ăng–Ghen đã thể hiện niềm tiếc thương vô hạn đối với sự ra đi của Mác.

    Câu 1: Bài điếu văn có thể chia làm 3 phần:

    – Phần 1 (đoạn 1 và 2): Thông báo sự qua đời của Các Mác, một sự tổn thất lớn của nhân loại.

    – Phần 2 (đoạn 3, 4, 5, 6): Đánh giá những cống hiến vĩ đại của Các Mác.

    – Phần 3 (đoạn 7 và câu kết): Bày tỏ sự tiếc thương – khẳng định sự bất tử của Các Mác.

    Câu 2:

    – Các Mác là người tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người qua các thời kì lịch sử, mà bản chất của quy luật đó là cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội.

    – Các Mác đã tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó để ra. Đó là quy luật về giá trị thặng dư.

    – Các Mác đã kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, biến các lí thuyết cách mạng khoa học thành hành động cách mạng.

    Với những cống hiến đó, Các Mác đã trở thành một nhà khoa học, một nhà cách mạng lỗi lạc và là người tiên phong trong sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại. Ngoài ra, ông còn là người sáng lập ra hội Liên hiệp công nhân quốc tế. Tất cả những cống hiến và đóng góp đó, Các Mác đã trở thành “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong các nhà tư tưởng hiện đại“.

    Câu 3: Để làm nổi bật tầm vóc vĩ đại của Các Mác, Ăng-ghen đã sử dụng biện pháp so sánh kết hợp kết cấu tầng bậc (tăng tiến):

    So sánh vượt trội:

    – So sánh tương đồng:

    + Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ.

    + Các Mác tìm ra quy luật phát triển lịch sử loài người.

    – Tăng tiến:

    + Nhưng không chỉ có thế thôi (Các Mác còn phát hiện ra giá trị thặng dư…)

    + Nhưng đấy hoàn toàn không phải là điều chủ yếu ở Các Mác (trước hết Các Mác là một nhà cách mạng…)

    -> Hiệu quả biểu đạt: Các Mác được so sánh với các đỉnh cao cùng thời (so sánh với các vĩ nhân, so sánh với những phát minh nổi tiếng không phải ai cũng làm được) không những thế, Các Mác còn vượt qua những đỉnh cao ấy. Cách lập luận đó đã làm nổi bật tầm vóc vĩ đại của Các Mác và sự kính trọng, tiếc thương của Ăng-ghen và nhân loại trước sự ra đi của ông (Các Mác là đỉnh cao của mọi đỉnh cao).

    Câu 4: Niềm tiếc thương và kính trọng đối với Các mác:

    – Thái độ: đề cao, ca ngợi.

    – Tình cảm: tiếc thương xuất phát tự đáy lòng.

    Trong việc trình bày công lao: trình bày các phát hiện của Các Mác đã có sự kết hợp ca ngợi công lao. Đồng thời ca ngợi và khẳng định thể hiện sự thương tiếc của Ăng-ghen đối với Các Mác.

  • [Soạn văn] Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)

    [Soạn văn] Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)

    Soạn văn lớp 11: Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Câu 1:

    Ông phê phán những kiểu học đòi “Tây hoá“:

    – Bập bẹ xem vài ba tiếng Tây trong lời nói: làm tổn thương tiếng mẹ đẻ và tự bộc lộ là người kém văn hoá.

    – Lối sống lai căng từ kiến trúc đến lời ăn tiếng nói. Đó là biểu hiện từ bỏ văn hoá dấu hiệu mất gốc => mất nước.

    – Ông phê phán quan niệm sai lầm cho rằng tiếng nước mình nghèo nàn nhưng vẫn khuyến khích giới trí thức học tiếng nước ngoài.

    Câu 2:

    – Tiếng nói rất quan trọng với vận mệnh dân tộc.

    tiếng nói … thống trị

    tiếng nói là tinh thần của dân tộc … từ chối quyền tự do

    => Tiếng nói được bảo tồn và phát triển thì nó là nhịp cầu tri thức giúp tiếp xúc nền văn minh, khoa học thế giới, mở mang dân trí.

    – Dẫn chứng để chứng tỏ tiếng nước mình không nghèo nàn:

    + Ngôn ngữ của Nguyễn Du giàu hay nghèo.

    + Tại sao dịch những tác phẩm Trung Quốc mà không viết tác phẩm tương tự.

    => Ngôn ngữ nghèo hay người dùng bất tài.

    Câu 3:

    Tác giả đưa ra 3 dẫn chứng để khẳng định rằng tiếng nước mình không nghèo nàn:

    – “Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?“. Tác giả đặt ra một câu hỏi mang tính khẳng định. Ngôn ngữ của Nguyễn Du là ngôn ngữ nổi bật trong Truyện Kiều một kiệt tác văn chương được đánh giá là đã thể hiện được một cách sâu sắc và phong phú nhiều mặt của đời sống con người nhất là đời sống nội tâm.

    – Tác giả tiếp tục đưa ra câu hỏi mang tính khẳng định: “Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?“. Một sự suy luận rất logic và hoàn toàn có lí.

    – Dẫn chứng thứ 3: “Ở An Nam cũng như mọi nơi khacsm đều có thể ứng dụng nguyên tắc này: Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra“.

    Câu 4:

    Nguyễn An Ninh không phủ nhận ngôn ngữ nước ngoài, thậm chí còn khuyến khích việc “để cho đồng bào họ cũng phải được thông phần nữa“. Việc biết thêm ngôn ngữ nước ngoài là sự cần thiết nhưng không kéo theo việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Việc học ngôn ngữ nước ngoài phải làm giàu cho ngôn ngữ nước mình.

    Câu 5:

    Trong hoàn cảnh nước nhà đang bị thực dân thống trị thì câu nói “Nếu người An Nam hãnh diện … vấn đề thời gian” có lí, nhưng không hoàn toàn đúng. Bởi vì nói như vậy là đặt tiếng nói lên một vị trí quá cao, tách rời khỏi nhiều yếu tố quan trọng khác trong sự kiện cách mạng giải phóng dân tộc như đường lối cách mạng, sức mạnh tự cường, vai trò lãnh đạo của Đảng.

  • [Soạn văn] Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)

    [Soạn văn] Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)

    Soạn văn lớp 11: Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)

    Tóm tắt: Về luân lí xã hội ở nước ta

    Luân lí xã hội ở nước ta tuyệt không ai biết đến. Sở dĩ thiếu luân lý xã hội là bởi người nước ta không biết cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người, không biết nghĩa vụ của mỗi người trong nước đối với nhau, dẫn đến tình trạng ai sống chết mặc ai, người này không biết quan tâm đến người khác. Đó là do thiếu ý thức đoàn thể, chưa biết giữ quyền lợi chung, chưa biết bênh vực nhau. Xưa dân ta cũng đã có ý thức đoàn thể nhưng nay đã xa sút. Nước ta chưa có luân lý xã hội còn do bọn vua quan chỉ biết quyền lợi ích kỷ của chúng, chỉ biết mua quan bán tước, dân càng nô lệ thì ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý. Nay nước Việt Nam muốn được tự do, độc lập thì trước hết dân ta phải có đoàn thể. Mà muốn có đoàn thể thì phải tuyên truyền XHCN.

    Câu 1: Cấu trúc đoạn trích gồm có 3 phần:

    – Phần 1: Khẳng định nước ta chưa có luân lí xã hội.

    – Phần 2: Sự thua kém về luân lí xã hội của ta so với phương Tây.

    – Phần 3: Chủ trương truyền bá XHCN cho người Việt nam.

    Chủ đề tư tưởng của đoạn trích: Cần truyền bá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam để gây dựng đoàn thể nhằm hướng tới mục đích giành độc lập, tự do.

    Câu 2:

    Phần 1: Tác giả đã chọn cách vào đề trực tiếp, thẳng thắn, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người nghe.

    – Phủ định tuyệt đối: Nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến xã hội luân lí.

    – Tác giả còn phủ nhận sự ngộ nhận, sự xuyên tạc vấn đề của không ít người.

    + Một tiếng bè bạn không thể cho thay xã hội luân lí được.

    + Những người học ra làm quan thường nhắc câu “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” nhưng mấy ai hiểu đúng bản chất của vấn đề “bình thiên hạ”.

    – Sự sống động trong tư duy, sự nhảy cảm trong quan hệ giao tiếp của tác giả thể hiện ở phần đầu đã khẳng định uy lực lời nói, tạo ấn tượng mạnh mẽ.

    Câu 3:

    Phần 2: Hai đoạn đầu tác giả đã so sánh bên châu Âu, bên Pháp với bên mình về những điều:

    – Ý thức nghĩa vụ giữa người với người (là giữa người này với người kia, mỗi người với mọi người, cá nhân với cộng đồng):

    + Xã hội ở Châu Âu: đề cao dân chủ, coi trọng sự bình đẳng của con người, không chỉ quan tâm đến từng gia đình, quốc gia mà còn cả thế giới. Dẫn chứng cụ thể: “Bên Pháp, mỗi người khi người có quyền thế, hoặc Chính phỉ, lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của mỗi người hay một hội nào, thì người ta hoặc kêu nài, hoặc chống cự, hoặc thị sai, vận động kì cho đến được công bình mới nghe“. Nguyên nhân vì người ta có đoàn thể, có công đức, ý thức sẵn sàng làm việc chung, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng quyền lợi của nhau.

    + Ở ta thì “Người nước ta không hiểu cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người“, không biết cái nghĩa vụ của mỗi người đối với nhau, dẫn đến tình trạng ai sống ai chết mặc ai, người này không biết quan tâm đến người khác. Dẫn chứng cụ thể là: “Đi đường gặp người bị tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ấy không can thiệp gì đến mình“. Có hiện tượng ấy là do “người nước mình” thiếu ý thức đoàn thể?

    Câu 4: Nguyên nhân của việc dân không biết đoàn thể, không trọng công ích:

    – Hồi cổ sơ ông cha ta đã có ý thức đoàn thể, cũng biết đến công đức.

    – Lũ vua quan phản động, thối nát, “ham quyền tước, ham bả vinh hoa“, “muốn giữ túi tham của mình được đầy mãi” nên đã tìm cách “phá tan tành đoàn thể của quốc dân“.

    – Tác giả hướng mũi nhọn đả kích vào bản chất phản động, thối nát của bọn vua quan:

    + Không quan tâm đến cuộc sống của dân.

    + Muốn dân tối tăm, khốn khổ để chúng dễ dàng thống trị, vơ vét.

    + “rút tỉa của dân” để trở nên giàu sang, phú quí.

    + Dân không có đoàn thể nên chúng mặc sức lộng hành mà không có ai lên tiếng, tố cáo, đánh đổ.

    + Quan lại chỉ toàn là bọn người xấu chạy chức, chạy quyền.

    – Tác giả dùng những từ ngữ, hình ảnh gợi tả, lối so sánh ví von sắc bén thể hiện thái độ căm ghét cao độ đối với chế độ vua quan chuyên chế.

    + “bọn học trò“, “bọn thượng lưu“, “kẻ mang đai đội mũ“, “kẻ áo rộng khăn đen“, “bọn quan lại“, “ngất ngưởng ngồi tin“, “lúc nhúc lạy dưới“…

    => Thể hiện tấm lòng của một người có tình yêu đất nước thiết tha, xót xa trước tình cảnh khốn khổ của người dân, luôn quan tâm đến vận mệnh của dân tộc, căm ghét bọn quan lại xấu xa thối nát. Dưới mắt tác giả, chế độ vua quan chuyên chế thật vô cùng tồi tệ, cần phải xoá bỏ triệt để.

    Câu 5: Cách kết hợp yếu tố biểu cảm với yếu tố nghị luận trong đoạn trích:

    – Yếu tố nghị luận thể hiện ở hệ thống luận điểm gắn bó chặt chẽ giữa các phần; lí lẽ; dẫn chứng; tranh luận; bày tỏ chính kiến….

    – Yếu tố biểu cảm: câu cảm thán, câu hỏi tu từ, hình ảnh ví von… Yếu tố biểu cảm góp phần làm cho lí lẽ của bài diễn thuyết tăng thêm sức thuyết phục. Người nghe cảm thấy tác giả không chỉ nói bằng lí trí tỉnh táo mà còn bằng trái tim đầy xót xa trước tình trạng trì trệ thê thảm của xã hội Việt Nam.

    II. Luyện tập

    Câu 1:

    Phần tiểu dẫn đã nói rõ Phan Châu Trinh chủ trương cứu nước bằng cách lợi dụng thực dân Pháp, hủy bỏ chế độ Nam triêu, cải cách đổi mới (duy tân) mọi mặt làm cho dân giàu, nước mạnh, trên cơ sở đó tạo nền độc lập quốc gia. Trong bài diễn thuyết này, cùng với việc thúc đẩy gây dựng tinh thần đoàn thể vì sự tiến bộ, Phan Châu Trinh vạch trần sự xấu xa, thối nát của chế dộ vua quan chuyên chế là nhằm mục đích ấy. Có thể hình dung tâm trạng Phan Châu Trinh khi viết đoạn trích này là căm ghét bọn quan lại phong kiến, thương xót đồng bào, lo lắng cho đất nước, hi vọng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

    Câu 2:

    Phan Châu Trinh là một người có tình yêu đất nước thiết tha, quan tâm đến vận mệnh của dân tộc, xót xa thương cảm trước tình cảnh khốn khổ của nhân dân, hết sức căm ghét bọn quan lại xấu xa, thối nát. Đoạn trích cũng cho thấy tầm nhìn xa rộng, sắc sảo của ông. Ông thấy được mối quan hệ mật thiết giữa truyền bá xã hội chủ nghĩa, gây dựng tinh thần đoàn thể với sự nghiệp dành tự do, độc lập. Tất nhiên, cái đích cuối cùng là giành độc lập, tự do nhưng lựa chọn bước đi phải tỉnh táo. Phan Châu Trinh nhận thấy dân trí nước ta quá thấp, ý thức đoàn thể quá kém, cho nên ông kêu gọi gây dựng đoàn thể. Nhưng muốn thế phải có tư tưởng mới, tư tưởng xã hội chủ nghĩa, vì thế phải “truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này“.

    Câu 3: Chủ trương gây dựng nền luân lí xã hội ở Việt Nam của Phan Châu Trinh đến nay vẫn còn có ý nghĩa thời sự:

    – Cảnh báo nguy cơ tiêu vong các quan hệ xã hội tốt đẹp do lũ người “ham quyền tước, ham bả vinh hoa” (Thời nào cũng có) gây nên.

    – Khơi dậy niềm lo âu vì sự chậm tiến của đất nước do ý thức dân chủ chưa được phát huy cao.

    – Nhắc nhở tầm quan trọng của đoàn thể trong đời sống cộng đồng.

  • [Soạn văn] Người cầm quyền khôi phục uy quyền (V.Huy-Gô)

    [Soạn văn] Người cầm quyền khôi phục uy quyền (V.Huy-Gô)

    Soạn văn lớp 11: Người cầm quyền khôi phục uy quyền (V.Huy-Gô)

    Tóm tắt: Người cầm quyền khôi phục uy quyền

    Phăng tin bị Gia-ve bắt bỏ tù, nhờ có Giăng Van-giăng chị mới thoát nạn rồi được đưa vào bệnh xá. Trong lúc đang hết lòng cứu giúp Phăng Tin, Giăng Van-giăng lại quyết định ra tòa tự thú vì muốn cứu một nạn nhân bị Gia-ve bắt oan. Đoạn trích kể lại tình huống tên Gia-ve dẫn lính đến bắt Giăng Van-giăng khi ông đến thăm Phăng-tin ở bệnh xá. Khi Gia-ve đến, Phăng-tin nghĩ hắn đến bắt mình nên vô cùng sợ hãi. Vì không muốn dập tắt niềm hi vọng của Phăng-tin nên Giăng Van-giăng hạ mình cầu xin Gia-ve cho ông ba ngày để tìm ra con gái của chị. Nhưng Gia-ve vẫn tàn nhẫn tuyên bố Giăng Van-giăng là một tên tù khổ sai vượt ngục, hắn sẽ bắt ông. Nghe xong những lời lẽ ấy Phăng-tin đã tuyệt vọng tắt thở. Căm phẫn trước sự tàn nhẫn của Gia-ve, Giăng Van-giăng khôi phục uy quyền khiến Gia-ve phải run sợ. Giăng Van-giăng đến chỗ Phăng- tin nói những lời cuối với chị rồi đứng dậy quay về phía Gia-ve và nói “giờ thì tôi thuộc về anh”.

    Bố cục của tác phẩm Những người khốn khổ: 5 phần

    – Phần 1: Phăng-tin ;        Phần 2: Cô-dét

    – Phần 3: Mari-uýt ;         Phần 4: Tình ca phố

    – Phần 5: Giăng Van-giăng

    Đoạn trích: “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” thuộc phần cuối của phần 1 có bố cục gồm 2 phần:

    + Phần 1 (từ đầu đến Phăng tin tắt thở): Gia-ve biết thân phận của ông thị trưởng Ma-đơ-len chính là tên tù khổ sai Giăng Van-giăng đến bắt ông và gây nên cái chết của Phăng-tin

    + Phần 2 (còn lại): Giăng Van-giăng tìm lại uy quyền của mình

    Nhan đề: thể hiện chủ đề tư tưởng của truyện, “người cầm quyền” ở đây chính là Giăng Van-giăng và đến cuối cùng chính anh đã “khôi phục uy quyền của mình“.

    Câu 1: Nghệ thuật đối lập hai nhân vật Giăng Văn-giăng và Gia-ve qua đối thoại, qua hành động.

    Người cầm quyền khôi phục uy quyền

    – Ý nghĩa của thủ pháp tương phản nhằm làm nổi bật sự đối lập giữa thiện-ác, tốt-xấu, yêu thương-tàn bạo. Từ những hình ảnh tương phản trên tác giả muốn gửi tới người đọc thông điệp. Trong hoàn cảnh bất công và tuyệt vọng, con người chân chính vẫn có thể bằng ánh sáng của tình thương đẩy lùi bóng tối của cường quyền và nhen nhóm niềm tin vào tương lai.

    Câu 2:

    Ở Gia-ve tác giả đã sử dụng một loạt chi tiết nhằm quy chiếu về một ẩn dụ: Hình tượng con ác thú Gia-ve.

    – Bộ dạng, ngôn ngữ, hành động của hắn như con ác thú đang chuẩn bị vồ mồi (Tiếng thét “Mau lên” nghe như tiếng “thú gầm”; “phóng vào Giăng Van-giăng cặp mắt nhìn như cái móc sắt“; hành động “túm lấy cổ áo…“; “hắn cười phá lên, cái cười ghê tởm phô ra tất cả hai hàm răng“…)

    – Hắn mang dã tâm của loài thú (quát tháo Phăng-tin khi cô đang bệnh nặng, nói những lời kích động mạnh khiến Phăn-tin đột tử).

    Ở Giăng Van-giăng ta không tìm thấy một hệ thống hình ảnh so sánh quy về ẩn dụ như Gia-ve. Tuy nhiên, qua diễn biến tình tiết dẫn tới đoạn kết, những chi tiết về Giăng Van-giăng có thể quy chiếu về hình ảnh: Một con người chân chính – con người của tình yêu thương.

    – Để cứu một nạn nhân bị Gia-ve bắt oan, Giăng Van-giăng buộc phải tự thú.

    – Khi Phăng-tin chết “trong nét mặt và dáng điệu ông cho thất một nỗi thương xót khôn tả“.

    – Lời thì thầm bên tai người đã chết là những lời hứa (về sau ông đã thực hiện được lời hứa đó).

    Câu 3:

    Đoạn văn từ câu “Ông nói gì với chị?” đến câu “có thể là những sự thực cao cả” là phát ngôn của nhà văn. Thuật ngữ văn học dùng để chỉ tên loại ngôn ngữ này là: Bình luận ngoại đề (hay “Trữ tình ngoại đề“). Khái niệm này được giải thích như sau:

    “Trữ tình ngoại đề chỉ một trong những yếu tố ngoài cốt truyện trong tác phẩm tự sự, là những đoạn văn đoạn thơ mà tác giả hay người kể chuyện trực tiếp bộc lộ những tình cảm, ý nghĩ, quan niệm của mình đối với nhân vật, đối với cuộc sống thể hiện trọng tác phẩm …

    … Trữ tình ngoại đề góp phần bộc lộ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm, làm sáng tỏ thêm hình tượng nhân vật. Nếu xuất phát từ tư tưởng tiển bộ, từ những thể nghiệm sâu sắc về cuộc sống, những đoạn trữ tình ngoại đề có ý nghĩa giáo dục lớn đối với người đọc …

    Trong tác phẩm tự sự, tính cách thông qua cốt truyện thể hiện nội dung của tác phẩm. Quá lạm dụng trữ tình ngoại đề sẽ làm cho tác phẩm tản mạn. Những đoạn trữ tình ngoại đề sai lệch về tư tưởng, thiếu kinh nghiệm sống, ảnh hưởng lớn đến chất lượng tác phẩm”.

    Câu 4: Những dấu hiệu của nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa qua đoạn trích:

    – Phăng-tin đã chết rồi mà khi nghe những lời thì thầm của Giăng Van-giăng trên đôi môi nhợt nhạt của chị hiện lên “nụ cười không sao tả được“.

    – Khi Giăng Van-giăng sửa sang thi thể Phăng-tin như “một người mẹ sửa sang cho con” thì “gương mặt Phăng-tin như sáng rỡ lên một cách lạ thường“.

    Có thể đó chỉ là ảo tưởng do người khác (bà Xơ Xem-phích và tác giả) quá xúc động trước cử chỉ, hành động của Giăng Van-giăng. Bút pháp lãng mạn giúp nhà văn làm nổi bật vẻ đẹp trong tâm hồn đầy yêu thương của Giăng Van-giăng.