Category: Soạn Văn Lớp 11

  • Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-V%C4%83n-B%C3%A0i-T%C3%ACnh-y%C3%AAu-v%C3%A0-th%C3%B9-h%E1%BA%ADn-Uy-li-am-S%E1%BA%BFch-xpia.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    Tóm tắt

    Rô-mê-ô và Giu-li-et là vở bi kịch nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của U.Sếch-xpia. ở thành Vêrôna nước ý có hai dòng họ phong kiến vốn có mối thù truyền kiếp với nhau là Mông-te-ghiu và Ca-piu-let. Chàng Rô-mê-ô là con trai họ Mông-ta-ghiu yêu Giu-li-et, con gái họ Ca-piu-let. Họ là một đôi trai tài gái sắc. Hai người làm lễ thành hôn thầm kín. Nhưng cùng trong ngày hôm đó, do một cuộc cãi lộn, Rô-mê-ô đâm chết Ti-bân, anh họ Giu-li-et và bị kết tội biệt xứ. Gia đình Giu-li-et ép nàng phải lấy bá tước Pa-rix. Nàng định tự sát, nhưng được tu sĩ Lô-rân giúp kế tránh cuộc hôn nhân đó: tu sĩ cho nàng một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết; sau khi gia đình đặt thi thể nàng vào hầm mộ, tu sĩ sẽ báo cho Rô-mê-ô đến cứu nàng trốn khỏi thành Vê-rô-na. Nhưng người của tu sĩ chưa kịp báo tin thì người nhà Môn-ta-ghiu lại đến trước báo cho Rô-mê-ô tin nàng Giu-li-et đã tự sát. Rô-mê-ô tưởng nàng đã chết, nên đã tự sát bên nàng. Giu-li-et tỉnh dậy, cũng tự sát theo. Và trước cái chết của hai người, hai họ đã quên mối thù truyền kiếp.

    Tác phẩm kết thúc bằng cái chết của hai nhân vật chính và sự hoà giải của hai dòng họ. Một kết thúc đầy bi kịch nhưng âm hưởng chung của tác phẩm lại thể hiện cái nhìn lạc quan của tác giả đối với sự chiến thắng của lí tưởng nhân văn chủ nghĩa. Tình yêu say đắm thuỷ chung của hai người trẻ tuổi đã xoá bỏ những tập tục thành kiến và thù địch của hai dòng họ suốt hàng trăm năm.

    Bố cục

    – Phần 1 (6 lời thoại đầu): sự độc thoại bộc lộ tình yêu thầm kín của Romeo và Juliet

    – Phần 2 (còn lại): cuộc đối thoại của Romeo và Juliet

    Câu 1 (trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Từ câu thoại 1-7: độc thoại, để hai nhân vật tự thổ lộ tình cảm của mình

    Từ câu 8-16: lời đối thoại giữa hai người, Romeo- Juliet có cơ hội bộc trực tình cảm với nhau

    + Các hình ảnh so sánh thể hiện miêu tả vẻ đẹp của Juliet

    + Vượt lên định kiến của gia đình, nàng Juliet dám nói lên chân thành say đắm

    + Lời hẹn thề chứng tỏ thành kiến của phong kiến dần mất tác dụng

    Câu 2 (trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    – Tình yêu của Ro-me-o và Giu-li-et diễn ra trong bối cảnh hai giọng thù địch:

    + Sự thù hận của hai dòng họ ngăn cách tình cảm của hai người

    + Nỗi ám ảnh thù hận xuất hiện ở nàng Giu-li-et nhiều hơn, nàng lo lắng cho mình và còn cả người yêu

    + Ro-me-o quyết liệt hơn, chàng sẵn sàng từ bỏ dòng họ chọn tình yêu, chàng sợ mất Giu-li-et

    → Cả hai đều hiểu, và nói tới thù hận để cùng vượt lên rào cản, xây dựng tình yêu

    Câu 3 (trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Diễn biến tâm trạng của Ro-me-o với hình thức so sánh liên tưởng

    + Thiên nhiên được nhìn qua điểm nhìn của người đang yêu vì thế thiên nhiên như cộng hưởng, trân quý.

    + Tâm trạng yêu thương nồng cháy, đam mê, ngỡ như không có gì ngăn cản được Ro-me-o trèo tường đến bên dưới phòng ngủ của Giu-li-et

    + Mạch suy nghĩ của chàng hướng tới đôi mắt lên tiếng, đôi môi lấp lánh của người yeu

    + Khát vọng yêu đương mãnh liệt

    → Cảm xúc Ro-me-o là sự lãng mạn và cháy bỏng của người đang yêu và được yêu

    Câu 4 (Trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tâm trạng Giu-li-et:

    + Thông qua lời độc thoại nội tâm

    + Nàng bộc lộ nỗi lòng của mình “hãy thề yêu em đi”, “chỉ có dòng họ chàng là thù địch của em”

    + Tình yêu thể hiện mãnh liệt, không giấu diếm

    + Nàng đối đáp với Ro-me-o chắc chắn tin vào tình yêu của chàng dành cho mình

    + Nỗi lo lắng giằng xé tâm can Giu-li-et

    + Chấp nhận tình yêu và hướng về Ro-me-o

    → Ngôn ngữ sống động đầy chất thơ, nhà văn thể hiện được diễn biến nội tâm phức tạp của người đang yêu

    Tình yêu mãnh liệt trong trắng vượt lên sự thù hận truyền kiếp của hai dòng họ

    Câu 5 (Trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tình yêu và thù hận được giải quyết trong mười sáu lời thoại:

    Vấn đề thù hận: thù hận không xuất hiện như một thế lực cản trở tình yêu, thù hận chỉ thể hiện qua dòng suy nghĩ các nhân vật, song đó không phải động lực chi phối hành động của nhân vật

    – Tình yêu của hai người vượt qua từ lời thoại 13- 15 trong đoạn trích

    → Tình yêu diễn ra trên cái nền thù hận, thù hận bị đẫy lũi chỉ còn tình đời, tình người bao la, giàu tư tưởng nhân văn

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tình yêu và thù hận “ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người”

    Tác giả thể hiện diễn biến tâm trạng, nỗi lòng bồi hồi yêu thương của hai nhân vật Romeo và Juliet tài tình qua dòng độc thoại nội tâm và đối thoại

    + Tác giả muốn khẳng định tình yêu là thứ tình cảm tốt đẹp, kì diệu của con người, là tình cảm thiêng liêng, thể hiện con người và tâm hồn con người một cách chính xác

    + Ca ngợi tình yêu chân chính có thể vượt qua mọi rào cản, thù hận

  • Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-V%C4%83n-B%C3%A0i-V%C4%A9nh-Bi%E1%BB%87t-C%E1%BB%ADu-Tr%C3%B9ng-%C4%90%C3%A0i-Nguy%E1%BB%85n-Huy-T%C6%B0%E1%BB%9Fng.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    Câu 1 (trang 193 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Mâu thuẫn thứ nhất: giữa phe nổi loạn với phe Lê Tương Dực:

    + Phe nổi loạn: dân chúng, thợ xây Cửu Trùng Đài

    + Phe đối lập trong triều đứng đầu là Trịnh Duy Sản

    + Đỉnh điểm mâu thuẫn trong hồi V được giải quyết.

    + Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và phá bỏ Cửu trùng đài

    – Mâu thuẫn thứ hai: mâu thuẫn quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần thúy muôn đời và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân

    + Mâu thuẫn này có nguồn gốc từ nguyên nhân sâu xa: người chiến sĩ thiên tài có khát vọng, hoài bão muốn mang cái đẹp đến cho đời, làm dân tộc tự hào vì trong một xã hội thối nát, người dân đói khổ triền miên trong lầm than

    + Hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thực hiện điều đó

    + Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm mượn uy quyền, tiền bạc của hôn quan Lê Tương Dực để thực hiện khát vọng xây dựng công trình nguy nga

    + Niềm khao khát sáng tạo, cống hiến lại đối nghịch với thực trạng lợi ích và mong muốn của nhân dân.

    → Các mâu thuẫn cơ bản trên tác động qua lại, có quan hệ mật thiết với nhau

    Câu 2 (Trang 193 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tính cách và diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô

    – Vũ Như Tô là kiến trúc sư thiên tài, hiện thân cho niềm khao khát, say mê và kiến tạo cái đẹp

    + Tài năng được thể hiện qua lời nhân vật khác nhận xét về ông: ngàn năm chưa dễ có một

    + Chỉ vẩy bút chim hoa hiện lên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công, sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân

    + Có thể dựng lâu đài cao cả, nóc vờn mây…

    – Là nghệ sĩ có nhân cách cao cả, chí lớn, có lý tưởng nghệ thuật

    + Dù bị dọa giết nhưng Vũ Như Tô vẫn vạch trần bộ mặt hôn quân của Lê Tương Dực và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài

    + Ông không phải người hám lợi

    + Ông có lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô chân chính, cao siêu

    + Nhưng ông không nhìn vào thực tế rằng Cửu Trùng Đài được xây bằng xương máu, nước mắt của nhân dân

    → Vũ Như Tô là nhân vật bi kịch, say mê khát vọng nhưng mâu thuẫn với hiện thực, suy nghĩ và hành động của ông có sự sai lầm

    – Đan Thiềm là người mê cái đẹp.

    + Bệnh Đan Thiềm là bệnh của người mê cái đẹp, sự siêu việt của người sáng tạo nghệ thuật và sáng tạo ra cái đẹp

    + Vì đam mê tài năng và cái đẹp mà nàng luôn động viên Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, sẵn sàng hi sinh bản thân mình để bảo vệ cái tài ấy

    + Đan Thiềm là người tri âm, tri kỉ của Vũ Như Tô

    + Đan Thiềm tỉnh táo, sáng xuất trong mọi trường hợp: biết chắc chắn việc xây Cửu Trùng Đài không thành nên Đan Thiềm nhiều lần giục Vũ Như Tô chạy trốn

    + Nàng sẵn sàng đổi mạng sống lấy sự an toàn của Vũ Như Tô

    → Đoạn trích cho thấy bi kịch của các nhân vật, qua đó làm nổi bật chủ đề tác phẩm.

    Câu 3 (trang 193 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn hôn quân bạo chúa cùng phe cánh của chúng được giải quyết triệt để theo quan niệm của nhân dân:

    + Lê Tương Dực bị giết, Nguyễn Vũ – tự sát, đám cung nữ kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ

    – Mâu thuẫn thứ hai quan điểm nghệ thuật cao siêu, thuần túy với lợi ích của nhân dân chưa được tác giả giải quyết triệt để:

    + Vũ Như Tô tới lúc chết cũng không nhận ra lỗi lầm của mình

    + Vũ Như Tô không đứng về phía hôn quân, nhưng lại muốn lợi dụng quyền uy, tiền bạc của hắn để thực hiện ước mơ của mình

    – Những câu hỏi không có đáp án:

    + Vũ Như Tô có công hay tội, ông đúng hay người giết ông đúng

    – Tác giả thể hiện tâm tư qua lời đề từ, cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm, điều này là cách lí giải hợp lí

    Câu 4 (trang 193 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Đặc sắc về nghệ thuật của vở kịch:

    – Thuộc thể loại bi kịch, tạo dựng được mâu thuẫn, nhưng không thể giải quyết được hết mâu thuẫn

    + Nhân vật anh hùng có khao khát lớn lao

    – Mâu thuẫn kịch tập trung dẫn tới cao trào, hành động kịch đẩy lên kịch tính

    – Ngôn ngữ điêu luyện, có tính tổng hợp cao

    – Xây dựng nhân vật kịch đặc sắc, có tính cách, tâm trạng thông qua ngôn ngữ

    – Cách chuyển hóa linh hoạt các lớp kịch tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.

    Luyện tập

    Phần đề từ của tác giả viết vào 6/2/ 1942 sau một năm viết xong tác phẩm

    Qua phần đề từ ta hiểu được những chân thành, sự băn khoăn của chính tác giả “Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô?

    – Chính ông cũng thú nhận “ta chẳng biết” nghĩa là không có lời giải đáp thỏa đáng. Qua vở kịch có thể nhận thấy lẽ phải, chân lí không thuộc hoàn toàn vào bên nào.

  • Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-V%C4%83n-B%C3%A0i-Tinh-Th%E1%BA%A7n-Th%E1%BB%83-D%E1%BB%A5c-Nguy%E1%BB%85n-C%C3%B4ng-Hoan.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    Câu 1 (trang 177 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    – Bố cục của văn bản có nét đặc biệt:

    + Phần 1 (từ đầu.. Lê Thăng): lệnh của quan trên qua trát quan tới làng

    + Phần 2 (tiếp… “vâng”): Những người bị bắt đi xem bóng van xin ông lí

    + Phần 3 (còn lại): Cảnh lùng sục, bắt người đi xem thể thao

    – Cách dựng tình huống và cốt truyện thể hiện được mâu thuẫn, tính trào phúng giữa nội dung và hình thức của phong trào thể dục thể thao do Pháp đề ra

    + Sự thúc ép, bắt bớ, hành hạ nhân dân để làm vừa lòng bọn thực dân

    + Xem bóng không trên tinh thần tự nguyện, mà bị bắt như tù binh

    + Bọn hương lí thừa cơ bòn rút, bóc lột tiền của của nhân dân

    + Tinh thần thể dục diễn ra trong cảnh tượng lộn xộn, nhố nhăng của xã hội thối nát với nhiều bi kịch

    → Tác giả muốn người đọc thấy cảnh đời éo le, số phận đáng thương của con người sống trong xã hội nực cười đó.

    Câu 2 (trang 177 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Mâu thuẫn trào phúng:

    + Mẫu thuẫn giữa chính quyền với người dân nghèo

    + Sự khuếch trương của quan lại thực dân phong kiến với mong muốn ở nhà lao động của người dân

    + Sự lùng sự ráo diết của thực dân >< sự trốn tránh đến cực nhục của người dân

    → Mâu thuẫn tạo ra sự hài hước, bộc lộ bản chất xảo trá, dã man của xã hội thực dân phong kiến

    Mâu thuẫn của các cảnh:

    – Anh Mịch thảm thiết lạy xin được ông Lí tha cho để đi làm trừ nợ cho ông Nghị nhưng không được chấp nhận

    Đáp lại là sự dọa dẫm, vô tình của ông Lí

    – Lệnh nghiêm ngặt oái oăm từ quan trên kéo theo sự khốn khổ của dân quê. Tinh thần thể dục vui vẻ tới mức nhiều người khốn khổ vì nó.

    – Bác Phô gái xin ông Lí tha cho chồng vì chồng còn đang ốm, nhưng đáp lại ông Lí “ ốm gần chết cũng phải đi… lấy cớ ốm yếu mà không đi thì người ta đá bóng cho chó xem à.”

    – Bà cụ Phó Bính hối cho quan ba hào bỏ túi, khiến cho bọn như ông Lí được dịp “đục nước béo cò”

    – Thằng Cò ốm trốn trong đống rơm cũng bị lôi ra với tình cảnh thảm thương, mai mất buổi làm thì tôi với cháu nhịn đói

    → Tất cả hoàn cảnh éo le, dở khóc dở cười tạo ra tiếng cười mỉa mai bọn chính quyền thực dân, phong kiến và tay sai. Nhà văn cảm thông với những người dân nghèo- nạn nhân của tinh thần thể dục lố bịch của bọn xâm lược

    Câu 3 (Trang 177 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Ý nghĩa phê phán:

    Xuất phát từ mâu thuẫn giữa việc phải đi cổ vũ cho “tinh thần thể dục” giả tạo với thái độ chống trả quyết liệt của người dân làm nổi bật tiếng cười hài hước, châm biếm bản chất giả tạo, bịp bợm, lố lăng của chính quyền thực dân phong kiến.

    Truyện lột trần được bản chất, âm mưu của thực dân khi chúng bày ra “phong trào thể thao”, “sức khỏe nòi giống” thực chất đánh lạc hướng tinh thần cứu nước.

  • Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Vi-H%C3%A0nh-Nguy%E1%BB%85n-%C3%81i-Qu%E1%BB%91c.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu đến “vi hành” đấy): Cuộc trò chuyện của đôi trai gái trên chuyến tàu ngầm

    – Phần 2 (còn lại): Nhận định và thái độ mỉa mai đối với vua Khải Định

    Câu 1 (Trang 171 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Nghệ thuật trào phúng của truyện:

    – Tạo ra tình huống đặc sắc bất ngờ:

    + Đó là hai người khách nước ngoài tưởng nhân vật tôi là vua xứ Việt, và không biết nhân vật tôi biết tiếng Anh nên họ thản nhiên đưa ra phán xét

    + Từ những lời phán xét tác giả tố cáo bộ mặt thật của vua Khải Định: chỉ như trò hề, con rối, với chân dung được dựng lên cụ thể, ngộ nghĩnh

    – Sự trào phúng đó nằm ở: sự nhầm lẫn giữa hình thức với bản chất – sa đọa, bù nhìn trước việc làm của thực dân khi đưa Khải Định sang thăm Pháp.

    Câu 2 (trang 171 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tình huống truyện độc đáo:

    – Mở đầu với tình huống nhầm lẫn của cặp đôi người Pháp trong chuyến tàu điện ngầm

    + Nhìn người An Nam (nhân vật tôi) và nghĩ đó là vua Khải Định

    + Tình huống ngỡ như nhầm lẫn, vô lí nhưng thực chất lại có lí: người Tây không phân biệt được người da vàng

    + Tình huống nhầm lẫn vừa lột tả khách quan vừa hài hước, sâu cay khiến nhân vật tôi hiểu nhiều điều qua câu chuyện thầm tinh quái của họ.

    + Vua Khải Định xuất hiện trong truyện như sự tình cờ, ngẫu nhiên nhưng truyện dựng được chân dung hình ảnh y cụ thể, châm biếm

    Câu 3 (trang 171 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Hình tượng nhân vật Khải Định:

    – Ngoại hình:

    + da vàng bủng như chanh, mũi tẹt, mắt xếch

    + Trang phục lố lang như khoe của

    + Điệu bộ lấm lét, lúng túng như phường ăn cắp vụng trộm

    – Hành vi: nhút nhát, lén lút

    → Bản chất vua bù nhìn, vô dụng được hiện lên chân thực, khách quan: ông vua nhưng không khác thằng hề, con rối mua vui cho dân Pháp, sang Pháp để làm tay sai cho thực sân Pháp

    – Sức chiến đấu mạnh mẽ của tác phẩm:

    + Tố cáo chế độ chính sách dã man, bịp bợm của thực dân

    + Lên án chính sách ngu dân, đầu độc người dân bằng thuốc phiện, rượu

    + Bản chất của những tên thực dân lừa bịch, mang danh khai hóa nhưng thực chất cướp nước

    + Tố cáo chế độ nhà tù giam cầm người yêu nước trên khắp đất Pháp

    Câu 4: Đặc sắc nghệ thuật trong truyện Vi hành

    – Tác giả sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáo, đầy sáng tạo thể hiện là một người viết truyện ngăn già dặn.

    – Sáng tạo độc đáo nhất là hư cấu ra cuộc nhầm lẫn của đôi thanh niên nam nữ trong tàu điện ngầm ở Pa-ri để qua đó khách quan tố cáo, lên án tên vua bù nhìn Khải Định.

    – Các dựng cảnh sinh động, đối thoại tự nhiên, hợp lí, trần thuật chuyện linh hoạt.

    – Sử dụng hình thức bức thư gởi cô em họ để có thể dung nạp trong một truyện ngắn nhiều giọng điệu phong phú, nhiều liên tưởng thật thú vị…

    – Giọng điệu châm châm biến tự nhiên nhưng sâu cay, sắc sảo qua những chi tiết chọn lọc đắt giá, qua cách viết đa nghĩa gợi nhiều suy nghĩ lên tưởng cho người đọc, cách dùng ngôn từ hàm chứa nhiều ý nghĩa…

    – Giọng văn chế giễu thâm thúy, nhìn bề ngoài có vẻ nhẹ nhàng, hóm hỉnh, không hề có ý thoái mạ nhưng thực chất có sức mạnh đả kích rất quyết liệt An Nam Khải Định và chiêu bài khai hóa giả dối của thực dân Pháp.

  • Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Cha-Con-Ngh%C4%A9a-N%E1%BA%B7ng-H%E1%BB%93-Bi%E1%BB%83u-Ch%C3%A1nh.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … buồn rầu khổ cực nữa): tâm trạng của Trần Văn Sửu khi trên cầu Mê Tức

    – Phần 2 (tiếp … trở lại liền): cuộc gặp gỡ cảm động của hai cha con

    – Phần 3 (còn lại): cuộc đoàn tụ của hai cha con

    Câu 1 (trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Câu chuyện kể về người nông dân Trần Văn Sửu hiền lành, thương vợ, thương con. Một hôm anh bắt gặp vợ ngoại tình dù cả hai vợ chồng đã có với nhau 3 mặt con. Vợ anh là Hồ Thị Lựu hỗn láo và níu chồng để tình nhân chạy thoát. Anh vô tình đẩy xô vợ ngã, thị chết, anh bỏ chốn. Một thời gian sau, anh trở về thăm con nhưng sợ ảnh hưởng tới con nên anh định nhảy sông tự tử, nhưng thằng Tí đuổi theo cha. Hai cha con gặp nhau trên Mê Tức, nó khuyên cha trở về, Trần Văn Sửu được xóa án, cha con, gia đình đoàn tụ.

    Câu 2 (Trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tình cảm cha con trong bài:

    – Người cha đi biệt xứ vẫn nhớ tới con, lo lắng cho con

    + Không sợ nguy hiểm tới bản thân, không sợ liên lụy tới con nên vội trốn đi

    + Có ý định tự tử để bảo toàn sự an toàn cho con

    + Dù ở xa con nhưng vẫn dõi theo con từng ngày.

    → Người cha bao dung, nhân hậu hết lòng vì con cái, không màng tới sự an nguy của bản thân.

    Người bố sẵn sàng xa con, chịu cực khổ để con có cuộc sống yên bình.

    – Tình cảm của người con dành cho cha tha thiết, mãnh liệt:

    + Ban đầu Tí nghĩ cha đã chết, nên khi cha trở về nó bất ngờ khôn cùng

    + Khi nghe ông ngoại nói, Tí càng thêm thương cha, quý trọng cha

    + Gặp cha trên cầu Mê Tức nó nắm tay cha nó, ôm chặt cha nó nghẹn ngào

    → Đứa con thương cha, hiếu nghĩa, thấu hiểu nỗi khổ cha

    Câu 3 (Trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Để tạo ra tình huống giàu kịch tính tác giả tạo ra nhiều những mâu thuẫn:

    – Người cha muốn bỏ đi để con tìm hạnh phúc (vì không ai chịu gả con gái cho người con một người đi tù)

    – Tình huống truyện đặt ra căng thẳng, phức tạp khi cuộc gặp gỡ của hai cha con sau 11 năm nhưng bóng đen quá khứ vẫn ám ảnh

    → Cuộc đối thoại của hai cha con đi tới kết thúc tốt đẹp, người đọc cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng, người sống trong đạo lí bao giờ cũng có kết quả tốt đẹp.

    Câu 4 ( trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Nhân vật người con Trần Văn Tí có tính cách mạnh mẽ không chịu bó tay trước hoàn cảnh:

    + Tí đã đưa lối thoát cho tình huống tưởng như bế tắc, làm yên lòng mình, dịu được lòng cha, vẹn được nhiều bề dù còn khó khăn.

    + Bằng tình yêu thương, hiếu thảo với cha Tí đã giúp cha vượt qua khó khăn về tâm lý

    – Người cha trong truyện thương con vô hạn, sẵn sàng hi sinh tất cả vì hạnh phúc của con

    → Hai cha con thể hiện tính cách người Nam Bộ mạnh mẽ và kiên quyết.

    – Tình cảm của hai cha con chân thật, cảm động, thấm đẫm tình người.

    Câu 5 (trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Nghệ thuật kể chuyện:

    + Kể theo trình tự thời gian tạo người đọc dễ theo dõi, nắm được cốt truyện

    + Đoạn đối thoại giữa hai cha con lên tới cao trào, nhanh và cảm động

    + Cách miêu tả nhân vật giản dị, chân thật

    + Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ

    → Tác giả Hồ Biểu Chánh để lại ấn tượng với người đọc bởi cốt truyện cảm động, lời thoại nhân vật có chiều sâu của cảm xúc, có diễn biến tâm lý nhân vật

  • Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Ch%C3%AD-Ph%C3%A8o-Ph%E1%BA%A7n-2-Nam-Cao.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    Tóm tắt

    Chí Phèo vốn không cha không mẹ, được dân làng truyền tay nhau nuôi lớn. Rồi đến làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Bá Kiến ghen tuông nên đã đẩy anh vào tù. Bảy tám năm sau, Chí ra tù và trở về làng với bộ dạng của một tên lưu manh. Hắn chuyên uống rượu, rạch mặt ăn vạ. Cả làng lánh xa hắn, Chí bị Bá Kiến lợi dụng thành công cụ cho hắn.

    Chí gặp Thị Nở, hai người ăn nằm với nhau. Chí tỉnh rượu rồi ốm, được Thị Nở chăm sóc. Bát cháo hành và những cử chỉ chân thật của Thị Nở đã làm sống dậy khát vọng sống cuộc đời lương thiện của Chí. Nhưng bà cô Thị Nở ngăn cấm. Chí tuyệt vọng khi bị Thị Nở từ chối. Anh xách dao đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện. Anh đâm chết Bá Kiến và tự vẫn.

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … “mau lên“): Chí Phèo từ lúc sinh ra tới khi biến thành quỷ dữ làng Vũ Đại

    – Phần 2 (còn lại): khát vọng hoàn lương của Chí và bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

    Câu 1 (trang 155 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tác giả vào chuyện độc đáo, mang ý nghĩa sâu sắc từ tiếng chửi của Chí Phèo

    + Chí Phèo vừa đi vừa chửi, nhưng điều lạ lùng là không có người chửi và người nghe hắn chửi

    + Lời chửi của Chí nghe ghê gớm: chửi đời, chửi trời, đất, chửi làng Vũ Đại

    – Tiếng chửi là phản ứng của Chí với toàn bộ cuộc đời

    + Bộc lộ nội tâm của người bất mãn ý thức được con người ít nhiều ý thức được mình bị gạt ra khỏi xã hội lời người

    + Tiếng chửi thảm hại khi mà “đáp lại lời hắn chỉ có lũ chó cắn xôn xao trong xóm”

    ⇒ Tình cảnh xót xa của người nông dân bị tha hóa, đơn độc

    Câu 2 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Cuộc đời Chí có bước ngoặt khi gặp Thị Nở:

    + Ban đầu Chí gặp Thị và bị hấp dẫn đơn giản vì Chí là thằng say “ngứa ngáy” thịt da, hai người ân ái với nhau. Sau đó, Chí đau bụng rồi Thị dìu Chí vào nhà tìm manh chiếu rách đắp cho Chí

    + Chí tỉnh dậy sáng hôm sau và cảm thấy lòng “bâng khuâng”, “mơ hồ buồn” khi nghe thấy âm thanh quen thuộc của sự sống

    – Ý nghĩa trong cuộc gặp Chí Phèo- Thị Nở:

    + Đó là những giây phút Chí được trở lại “làm người”, mong được sống hạnh phúc

    + Sự săn sóc, quan tâm của người đàn bà xấu xí, khốn khổ khơi dậy bản chất lương thiện vốn bị chèn ép từ lâu trong con người Chí

    + Tác giả thể hiện được tư tưởng nhân đạo sâu sắc của mình đối với hình tượng người nông dân bị tha hóa khi sáng tạo ra chi tiết gặp gỡ của Chí Phèo với Thị Nở

    + Giúp Chí tỉnh táo nhìn lại cuộc đời trong quá khứ, hiện tại, tương lai, ước mơ có gia đình nhỏ, với cuộc sống giản dị

    + Chí ý thức được sự cô độc, bất hạnh của đời mình, và khát khao được sống cuộc đời của con người

    Câu 3 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Chí mong Thị trở thành chiếc cầu nối cho Chí hòa nhập với mọi người, chấm dứt đoạn đời thú vật để sống đúng với kiếp người.

    – Thị Nở từ chối Chí phèo do lời nói của bà cô thị, kiên quyết ngăn cản mối tình này:

    + Thị trút tất cả những lời cay độc lên Chí Phèo đang khát khao lương thiện, chờ được làm hòa với mọi người

    – Tâm trạng của Chí diễn biến phức tạp: thức tỉnh- hy vọng- thất vọng, đau xót- phẫn uất- tuyệt vọng

    + Chí rơi vào tuyệt vọng khi thấm thía bi kịch tinh thần sinh ra là người nhưng không được làm người.

    + Chí càng uống rượu càng tỉnh, Chí khóc rưng rức và ý thức được tội ác của kẻ cướp đi của mình cả bộ mặt và hồn người. Tiếng khóc của Chí là khóc thương cho thân phận.

    + Khi lòng sôi sục Chí đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình

    ⇒ Chí tuyệt vọng trước bi kịch bị cự tuyệt ước muốn làm người, nên đã kết liễu bản thân và kẻ thù. Cái chết của Chí có tác dụng tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy người nông dân lương thiện vào đường cùng, lưu manh hóa họ, đẩy họ vào chỗ chết

    Câu 4 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nghệ thuật điển hình hóa nhân vật của Nam Cao:

    + Chí Phèo là hiện tượng có tính quy luật trong xã hội đương thời của tình trạng bị đè nén, áp bức trước CM tháng Tám

    + Người lao động bị lưu manh hóa, từ những nhân vật hiền lành trở nên mất nhân tính

    + Tâm lý nhân vật được miêu tả sắc sảo, tinh tế, đi sâu vào bộc lộ nội tâm diễn tả những chuyển biến phức tạp trong cuộc sống

    + Xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo bị tha hóa, bị xã hội ruồng bỏ, tác giả muốn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, tấm lòng yêu thương, trân trọng con người khốn khổ

    + Chí Phèo là nhân vật hiện lên sắc nét, vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa hết sức sinh động, có trạng thái tâm lí phức tạp.

    Câu 5 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Ngôn ngữ trong tác phẩm sống động, điêu luyện, nghệ thuật, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày

    + Giọng điệu của nhà văn biến hóa, đan xen lẫn nhau

    + Nhà văn có khả năng hòa nhập nhiều vai, chuyển đổi điểm nhìn của tác giả, trần thuật

    + Sự am hiểu về ngôn ngữ sống một cách chung chung, nắm vững dạng thức sống của từng loại ngôn ngữ

    + Tác giả sử dụng ngôn ngữ có cả khẩu khí, cú pháp lẫn “phong cách học” cả lối tu từ học của nó nữa.

    Câu 6 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao trong truyện ngắn này mới mẻ, sâu sắc:

    – Phát hiện và miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người lao động ngay khi họ bị xã hội tàn ác cướp mất bộ mặt, linh hồn người

    – Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp, bản chất thiện lương của con người

    Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao có những nét mới và sâu sắc riêng.

    Luyện tập

    Bài 1 (Trang 156 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    “Văn chương không cần đến người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho… những gì chưa từng có”

    – Ý kiến trên khẳng định yêu cầu quan trọng của tác phẩm nghệ thuật và nghệ sĩ đó là sáng tạo, khơi nguồn những cái mới

    – Tác giả phản ánh đúng bản chất của nghệ thuật, được nhiều người thừa nhận, diễn đạt theo những cách khác nhau.

    – Tác giả sử dụng biện pháp so sánh để diễn tả nhiệm vụ, bản chất cơ bản của văn chương. Soi tỏ vào sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

    – Những tác phẩm của ông là minh chứng rõ rệt nhất cho triết lý đó.

    + Tác phẩm viết về người nông dân ông đi theo lối riêng, khám phá sự tha hóa của những con người bị dồn tới đường cùng trở thành lưu manh

    + Con đường sáng tác của Nam Cao là con đường của người không bao giờ muốn lặp lại mình

    Bài 2 (trang 156 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tác phẩm Chí Phèo được coi là kiệt tác của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại:

    – Hệ giá trị tư tưởng sâu sắc, độc đáo, mới mẻ

    – Nam Cao là bậc thầy về ngôn ngữ, cách xây dựng nhân vật, lối kết cấu, xây dựng cốt truyện

    – Gía trị nhân đạo còn tồn tại mãi về sau, làm nên tên tuổi của nhà văn có trái tim nhân hậu, Nam Cao.

  • Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Ch%C3%AD-Ph%C3%A8o-Ph%E1%BA%A7n-1-Nam-Cao.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    Câu 1 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nam Cao tên thật: Trần Hữu Tri

    – Quê quán Lý Nhân, Hà Nam trong một gia đình trung nông, nghèo, đông con, gia đình tri thức nghèo.

    – Ông tham gia hoạt động cách mạng tích cực, với tư cách phóng viên, ông có mặt khắp các chiến trường.

    – Ông là người có tấm lòng đôn hậu, giàu nội tâm phong phú, ông va chạm với hiện thực tàn nhẫn, sống lay lắt, dẫn tới nhiều chuyển biến về nhận thức

    – Tâm trạng bất hòa với xã hội, nên tác phẩm của ông tố cáo những bất công, tàn bạo trong xã hội, bênh vực, thấu hiểu cho kẻ yếu thế

    – Tinh thần vượt lên khắc phục tâm lý, lối sống tiểu tư sản nhằm hoàn thiện nhân cách và có cuộc sống ý nghĩa

    Câu 2 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nam Cao là nhà văn tự giác về quan điểm có tính nguyên tắc của văn học hiện thực tiến bộ:

    + Ông không tập trung miêu tả cái đẹp, cái thơ mộng mà bám vào hiện thực và phản ánh chân thực hiện thực xã hội

    + Ông quan niệm văn chương phải viết về cuộc sống, văn chương vì con người, nhà văn chân chính là nhà văn có nhân cách, lòng nhân đạo

    + Văn chương chân chính thấm đượm tinh thần nhân đạo, mang nỗi đau nhân thế, tiếp sức mạnh cho con người vươn lên trong cuộc sống

    – Bản chất của văn chương là sáng tạo, không chấp nhận cái rập khuôn và sự dễ dãi

    + Người viết phải có lương tâm vì “sự cẩu thả trong văn chương là một sự đê tiện”

    Câu 3 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Các sáng tác trước CM tháng Tám của Nam Cao tập trung vào cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản, cuộc sống của người nông dân

    ⇒ Nỗi day dứt, đau đớn của tác giả trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, hủy hoại nhân cách trong xã hội

    Câu 4 (Trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

    – Nam Cao đặc biệt quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, có hứng thú khám phá con người trong con người

    – Khuynh hướng tìm hiểu, đi sâu khai thác nội tam nhân vật, phân tích, diễn tả tâm lý nhân vật

    – Cách tạo dựng đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm chân thật, sinh động

    – Giọng văn: buồn thương, chua chát, đau xót nhưng đầy thương cảm, thương yêu thân phận con người yếu đuối trong xã hội

  • Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-b%C3%A0i-H%E1%BA%A1nh-ph%C3%BAc-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-tang-gia-V%C5%A9-Tr%E1%BB%8Dng-Ph%E1%BB%A5ng.pdf[/pdfviewer]

    Soạn bài: Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … “gây ra cho Tuyết nhiều vậy“): sự vui mừng của cả gia đình Tuyết trước

    – Phần 2 (tiếp … “đám cứ đi“): cảnh lố bịch của đám ma kiểu mẫu

    – Phần 3 (còn lại): cảnh những người đi dự đám

    Câu 1 (trang 128 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Nhan đề tác phẩm chứa đựng nghịch lý khiến người đọc tò mò: Hạnh phúc một tang gia

    + Mâu thuẫn trào phúng nằm ở nhan đề, phản ánh đúng sự thật một cách mỉa mai, hài hước và đau xót: đám con cháu hạnh phúc trước cái chết của cụ cố Tổ bởi chúng đã đợi quá lâu để được hưởng thụ gia tài

    + Tác giả xây dựng bối cảnh bối rối, lo lắng, bận tâm của gia đình có tang nhưng cụ cố tổ mất có nghĩa là di chúc được thực hiện, vì vậy tất cả con cháu đều mong chờ và cảm thấy hạnh phúc, sung sướng khi cái chết đó diễn ra. Vũ Trọng Phụng liên tiếp tạo ra các mâu thuẫn trong tình huống truyện bộc lộ các mâu thuẫn, trào phúng khác.

    Câu 2 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Cụ cố tổ chết là niềm vui, niềm hạnh phúc của cả gia đình “đại bất hiếu”.

    – Tác giả miêu tả chi tiết cụ thể niềm vui, hạnh phúc riêng của từng thành viên, không ai giống ai

    + Cụ cố Hồng đại diện loại người ngu dốt, háo danh: nhắm nghiền mắt lại để nghĩ tới lúc được mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy, cho thiên hạ trầm trò khen

    + Văn Minh được dịp lăng xê những mốt y phục táo bạo nhất, lại được hưởng gia tài do là cháu đích tốn

    + Cô Tuyết được mặc bộ “ngây thơ”, là dịp để Tuyết trưng diện, phô bày sự hấp dẫn của cơ thể

    + Cậu Tú Tân được giải trí, chứng tỏ tài chụp ảnh

    + Ông Phán mọc sừng sung sướng vì cặp sừng của mình có giá trị khi làm cụ cố tổ chết

    + Xuân Tóc Đỏ danh giá, uy tín vì nhờ hắn mà cụ cố tổ chết

    – Đám tang còn lây lan hạnh phúc sang những người bên ngoài: cảnh sát Min Đơ, Min Toa, bạn bè trưởng giả của cụ cố Hồng

    Câu 3 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Đoạn tả đám tang từ nhà cụ cố Hồng ra đến huyệt cũng hài hước, tài tình

    + Đám ma như đám rước, lộn xộn, lố bịch khiến con người đau đớn trước cảnh tượng đó

    + Khung cảnh đám tang diễn ra nhộn nhịp, đông vui có cả trai gái chim chuột, đám ma cụ cố tổ trở thành hội tưng bừng, cạch cỡm ( Kèn Tây, kèn ta, người đi đưa đông đúc chim chuột nhau…)

    + Đám ma gương mẫu: đám ma được gia đình cụ cố diễn chuyên nghiệp của tất cả những kẻ trơ tráo, thất đức

    + “Thật là đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu

    ⇒ Đám ma diễn ra như tấn hài kịch, lố bịch của xã hội thương lưu đương thời rởm đời

    Câu 4 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Xã hội “thượng lưu” đương thời:

    + Xã hội suy tàn, chế độ thối nát

    + Hình ảnh được thể hiện chi tiết trong đoạn văn, biểu tượng cho một điều đó là đồng tiền làm lu mờ con người

    + Xã hội đó bát nháo, những kẻ bịp bợm, lẳng lơ lại hợp thời được thượng tôn

    Câu 5 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Số đỏ là tác phẩm xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại

    – Tác phẩm đả kích sâu sắc xã hội tư sản nhố nhăng, chạy theo lối sống đồi bại đương thời

    – Dùng tiếng cười làm vũ khí, tác giả vạch trần bản chất thối nát, rởm đời của tầng lớp thượng lưu

    – Tác giả mỉa mai, châm biếm phong trào “Âu hóa”, “thể thao”, “vui vẻ trẻ trung” của tầng lớp thống trị khuyến khích

    + Đoạn trích sử dụng thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa…

    + Sử dụng nghệ thuật mâu thuẫn, đối lập

    ⇒ Đoạn trích là đỉnh cao nghệ thuật trào phúng sâu cay của tác giả

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Đọc lại toàn bộ Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

    Bài 2 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Mâu thuẫn sự trào phúng:

    + Nguyên tắc gây cười phát hiện, thể hiện mâu thuẫn nghịch lý, những điều trái khoáy ngược đời bóc trần bản chất hiện tượng

    + Mâu thuẫn trào phúng qua nhan đề: tính chất ngược đời, lố lăng

    + Mâu thuẫn giữa giả và thật: giữa hình thức thể hiện của con cháu nhà cụ cố với thực trạng đau xót của một đám tang. Những kẻ rởm đời, lọc lõi lại được tôn vinh, ngợi ca. Những bức tranh biếm họa về nhân vật lần lượt hiện ra

    ⇒ Tác giả tái hiện được thực trạng xã hội thượng lưu với bản chất gian manh, lố bịch, rởm đời lúc bấy giờ.

  • Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Ch%E1%BB%AF-Ng%C6%B0%E1%BB%9Di-T%E1%BB%AD-T%C3%B9-Nguy%E1%BB%85n-Tu%C3%A2n.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … “rồi sẽ liệu“): Cuộc gặp giữa Huấn Cao và thầy quản ngục

    – Phần 2 (tiếp … “trong thiên hạ“): Quản ngục mong muốn được Huấn Cao cho chữ

    – Phần 3 (còn lại): Cảnh cho chữ trong ngục

    Câu 1 (trang 114 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tình huống truyện độc đáo:

    – Hai nhân vật Huấn Cao và quản ngục, bình diện xã hội đối lập nhau. Một người là tử tù một người là quan quản ngục- đại diện cho trật tự xã hội. Ở họ có chung tâm hồn nghệ sĩ, yêu cái đẹp nên họ trở thành tri kỉ, tri âm của nhau. Tạo dựng tình huống éo le khi để họ gặp nhau giữa chốn ngục tù, tối tăm nhơ bẩn, tác giả tạo nên cuộc kì ngộ đáng nhớ và kì lạ

    – Tác dụng:

    + Làm nổi bật trọn vẹn vẻ đẹp về nhân cách, tài năng của Huấn Cao

    + Làm sáng tỏ tấm lòng “biệt nhỡn nhân tài” của quản ngục

    + Chủ đề tác phẩm từ đó cũng được thể hiện

    Câu 2 (trang 114 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Huấn Cao có vẻ đẹp thể hiện qua phẩm chất:

    + Con người tài hoa, ưu việt, đầy quyền năng (tài viết chữ “đẹp và vuông lắm”, tiếng tăm nổi khắp tỉnh Sơn, khiến quan ngục muốn xin chữ)

    + Khí phách hiên ngang, gan dạ của Huấn Cao (Vẫn giữ được sự hiên ngang, khảng khái ngay cả trong tù)

    + Người có “thiên lương” trong sáng và cao đẹp (thái độ trọng cái đẹp, chia sẻ lời gan ruột với quản ngục)

    – Tác giả xây dựng hình tượng Huấn Cao với dụng ý nghệ thuật:

    + Bày tỏ quan niệm nghệ thuật về cái đẹp của tác giả

    + Cái tài phải đi đôi với cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời: quan niệm tiến bộ của tác giả

    Câu 3 (trang 114 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Phẩm chất của viên quản ngục:

    + Là người làm nghệ quan ngục nhưng lại có thú vui thanh cao, tao nhã – thú chơi chữ

    + Là người biết trân trọng những giá trị con người (hành động “biệt đãi” người tài như Huấn Cao)

    + Sở nguyện thanh cao muốn có chữ của Huấn Cao treo bất chấp nguy hiểm, thái độ hiên ngang bất khuất, coi thường cái chết và tiền bạc

    + Diễn biến nội tâm, hành động cách ứng xử của viên quản ngục cho thấy nhân cách đẹp, một “tấm lòng trong thiên hạ” tri kỉ, tri âm

    + “Một âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ

    ⇒ Quản ngục người biết giữ “thiên lương” biết trân trọng giá trị, tài năng, người có tâm hồn nghệ sĩ, yêu cái đẹp

    Câu 4 (trang 114 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Nguyễn Tuân dụng công miêu tả “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” làm nổi bật vẻ đẹp trang trọng, uy nghi, bất tử hình tượng Huấn Cao

    + Việc cho chữ- hoạt động nghệ thuật thanh cao diễn ra trong căn buồng tối tăm, chật hẹp, ẩm ướt, hôi hám

    + Cái đẹp tỏa sáng, người nghệ sĩ tô từng nét chữ không phải người được tự do mà là kẻ tử tù

    + Hình tượng người tử tù uy nghi, cao đẹp >< quản ngục, thơ lại là kẻ tự do

    + Trật tự trong nhà tù bị đảo ngược: người tù ban phát cái đẹp, răn dạy quản ngục

    ⇒ Sự chiến thắng của thiện lương, của ánh sáng nghệ thuật chân chính. Tô đậm nhân cách thanh cao, ngang tàng của Huấn Cao

    Câu 5 (trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Nghệ thuật xây dựng nhân vật: bằng bút pháp lý tưởng hóa

    – Cảnh cho chữ trong tác phẩm có nghệ thuật tương phản làm nổi bật cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, tính cách với hoàn cảnh

    + Thủ pháp đối lập cảnh tượng hiện lên đầy đủ vẻ uy nghi, rực rỡ của nó

    – Ngôn ngữ: giàu chất tạo hình, biểu cảm, gợi được không khí thời đại (cổ kính, thiêng liêng…)

    Luyện tập

    Nhân vật Huấn Cao:

    – Hình tượng nhân vật Huấn Cao có tính cuốn hút về nhân cách, tài năng, khí phách anh hùng ngang tàng, một con người mang nét đẹp của khí chất ngang tàng

    – Con người sống hiên ngang, đầy tự trọng

    + Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ

    + Những người chọc trời quấy nước chỉ đếm trên đầu ngón tay

    – Chí lớn không thành, coi thường cái chết, cường quyền

    + Chống lại triều đình, bị bắt giam nhưng không hề sợ cái chết

    + Có những suy nghĩ, hành vi thật phóng khoáng

    – Khinh bỉ kẻ đại diện cho cường quyền

    + Khí phách hiên ngang giữa ngục tù

    + Khinh bỉ những kẻ cầm quyền thị oai, tàn nhẫn

    – Là người yêu cái đẹp, tạo ra cái đẹp

    + Tài hoa khi viết thư pháp

    + Dành sự tài hoa cho người tri kỉ

    – Hình ảnh cao đẹp, uy nghi của Huấn Cao khi cho chữ quản ngục

    + Viết chữ vốn thanh cao

    + Hình ảnh kì vĩ của người tù đeo gông, chân vướng xiềng xích tô đậm nét chữ >< hình ảnh co ro của thầy thơ lại, run run bưng chậu mực khúm núm, tay vái tạ

    ⇒ Hình tượng Huấn Cao phản ánh tư tưởng nghệ thuật của tác giả về cái đẹp: thiên lương cao cả tỏa sáng chính nơi bóng tối và cái ác ngự trị.

  • Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Hai-%C4%90%E1%BB%A9a-Tr%E1%BA%BB-Th%E1%BA%A1ch-Lam.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu đến “cho chúng“): Cảnh chiều tàn và tâm trạng của Liên.

    – Phần 2 (tiếp … “cảm giác mơ hồ không hiểu nổi“): cảnh phố huyện lúc về đêm

    – Phần 3 (còn lại) cảnh chờ tàu của hai chị em Liên

    Câu 1 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Không gian và thời gian được miêu tả trong truyện:

    + Buổi chiều tà (phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây hồng như hòn than sắp tàn

    + Nền thiên nhiên của ngày tàn, đời sống phố huyện nghèo thu hẹp dần không gian

    + Quang cảnh phố huyện nghèo đói, nhỏ bé, phiên chợ tàn, góc chợ đơn xơ lụp xụp

    Câu 2 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Những kiếp người tàn nơi phố huyện được miêu tả chân thực:

    – Chị Tí ban ngày mò cua bắt ốc, tối dọn hàng nước, thắp ngọn đèn dầu leo lét (cũng chả kiếm được bao nhiêu)

    – Gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau để trước mặt, góp tiếng bằng tiếng đàn bầu bật trong yên lặng

    – Bà cụ Thi điên nghiện rượu, có tiếng cười khanh khách, ghê sợ, xiêu vẹo như bóng ma

    – Chị em Liên được miêu tả kĩ hơn:

    + Thầy Liên mất việc, gia đình phải chuyển về quê, mẹ Liên dọn cửa hàng tạp hóa để hai chị em bán thêm

    + Liên thương những đứa trẻ nghèo và suy nghĩ về gánh phở của bác Siêu như món quà xa xỉ

    + Cuộc sống khó khăn, eo hẹp của gia đình Liên

    ⇒ Tất cả chung sự buồn chán, mệt mỏi, cuộc sống tẻ nhạt, buồn chán lặp đi lặp lại một cách đơn điệu và quẩn quanh đáng xót thương

    Mặc dù thế họ vẫn hi vọng dù rất mơ hồ rằng cuộc sống của họ có sự thay đổi, niềm xót thương của tác giả dâng lên thể hiện kín đáo

    Câu 3 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tâm trạng của hai đứa trẻ trước khung cảnh thiên nhiên và bức tranh phố huyện được miêu tả khéo léo, tinh tế:

    + Chị em Liên cảm nhận về buổi chiều bằng những cảm giác riêng, vừa buồn, vừa gắn bó

    + Hòa hợp với thiên nhiên, hai đứa trẻ phát hiện ra biết bao biến thái tinh vi của nó (ngước mắt tìm dòng sông Ngân Hà)

    + Tâm trạng của hai đứa trẻ có sự giao cảm, hòa hợp với cỏ cây quê hương ( qua kẽ lá bàng…giấc mơ không hiểu)

    ⇒ Hai chị em lặng lẽ quan sát những điều diễn ra ở phố huyện với cảm giác buồn mênh mang, xót xa cảm thông với kiếp người nhỏ nhoi, lay lắt trong bóng tối cơ cực

    Câu 4 (Trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Hình ảnh đoàn tàu đêm xuất hiện trong sự chờ đợi háo hức của chị em Liên:

    + Liên “buồn ngủ ríu cả mắt” vẫn cố chờ chuyến tàu đêm, An dặn chị gọi dậy khi có đoàn tàu đi qua

    + Hai chị em cố thức không phải để bán hàng mà “muốn được nhìn chuyến tàu”

    + Con tàu với chị em Liên chính là thế giới khác

    – Tác giả tập trung miêu tả tỉ mỉ, kỹ lưỡng theo trình tự thời gian, tâm trạng chờ mong của nhân vật Liên và An

    – Ý nghĩa của chuyến tàu đêm đối với người dân phố huyện nghèo khổ:

    + Biểu tượng của sự sống mạnh mẽ, giàu sang, rực rỡ ánh sáng

    + Chuyến tàu gợi nhớ kỉ niệm đẹp đẽ, no đủ của chị em Liên khi thầy chưa mất việc

    + Người dân phố huyện chấm dứt hoạt động khi chuyến tàu đêm đi qua

    ⇒ Thông qua tâm trạng đợi tàu của Liên tác giả muốn lay tỉnh những con người đang sống nhàm chán, quẩn quanh

    Câu 5 (Trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nghệ thuật miêu tả và giọng văn của Thạch Lam:

    – Truyện ngắn miêu tả tinh tế biến thái của cảnh vật, diễn biến tâm trạng của nhân vật ⇒ Tạo không khí cho tác phẩm

    – Giọng văn nhẹ nhàng, điềm tĩnh, khách quan, chứa trong đó sự xót xa cho kiếp người nghèo khổ, quẩn quanh

    – Truyện ngắn giàu sắc thái trữ tình và đậm chất thơ

    Câu 6 (trang 101 ngữ văn 11 tập 1)

    – Thạch Lam muốn thể hiện nhẹ nhàng, thấm thía niềm xót thương đối với những kiếp người sống quẩn quanh ở phố huyện trước Cách mạng

    – Tác giả thể hiện sự trân trọng đối với ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp của họ

    – Truyện thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, trân trọng

    Luyện tập

    Câu 1 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Nhân vật gây ấn tượng sâu sắc nhất là Liên

    + Cô bé có tuổi thơ chìm trong sự héo úa, tàn tạ của cuộc sống đầy bóng tối

    + Liên là cô bé giàu lòng thương cảm với những kiếp người nghèo khó trong phố huyện

    + Liên có sự giao hòa tâm hồn với thiên nhiên

    + Khao khát cuộc sống tốt đẹp, mong muốn vượt thoát khỏi những tù túng, chật hẹp trong cuộc sống

    Câu 2 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn tiêu biểu phong cách nghệ thuật của Thạch Lam:

    – Những trang viết vừa đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn, nên thơ

    – Truyện tiêu biểu thể loại truyện tâm tình cảu Thạch Lam

    + Tình người chân chất nhẹ nhàng thấm vào truyện

    + Lối kể thủ thỉ tâm sự với người đọc