Category: Soạn Văn Lớp 11

  • [Soạn văn] Người trong bao (Sê-khốp)

    [Soạn văn] Người trong bao (Sê-khốp)

    Soạn văn lớp 11: Người trong bao (Sê-khốp)

    Tóm tắt: Người trong bao

    Bê-li-cốp là giáo viên trung học dạy tiếng Hi Lạp cổ. Ông nổi tiếng khắp thành phố nước Nga với phong cách ăn mặc đặc biệt. Tất cả những vật dụng của ông đều được để trong một cái bao. Ông khát khao thu mình vào trong một cái vỏ và tạo cho mình một cái bao để ngăn cách với bên ngoài. Ông luôn có những ý nghĩ không thực, luôn ngợi ca quá khứ, ca ngợi tiếng Hi lạp. Ngay cả ý nghĩ cũng được ông giấu kĩ vào bao. Ông có thói quen kì quặc là đi hết nhà các đồng nghiệp, kéo ghế ngồi rồi chẳng nói gì, chỉ nhìn xung quanh độ một giờ sau thì ra về khiến ai cũng sợ. Ông cũng nghĩ đến chuyện cưới Va-ren-cô làm vợ . Có người đã vẽ bức tranh châm biếm về ông và Va-ren-cô. Ngày chủ nhật hôm sau, ông chứng kiến cảnh hai chị em Va-ren-ca phóng xe vụt qua khiến ông ngạc nhiên và sửng sốt. Ông quyết định đến nhà Va-ren-ca để góp ý cho hai chị em. Ông và cô em gái Cô-va-len-cô đã cãi nhau. Bê-li-cốp đoạn sẽ báo cáo với hiệu trưởng nên Cô-va-len-cô đã túm áo và xô mạnh khiến Bê-li-cốp ngã xuống cầu thang. Vừa lúc đó, Va-ren-ca nhìn thấy, cười phá lên khiến Bê-li-cốp cảm thấy nhục nhã, lo sợ và vội vã về nhà. Một tháng sau, Bê- li- cốp qua đời. Mọi người ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng nhưng lâu sau họ lại cảm thấy nặng nề, mệt nhọc, vô vị. Bê- li- cốp qua đời nhưng trong thành phố hiện còn nhiều người trong bao. Trong tương lai cũng sẽ còn bao nhiêu người “trong bao” như thế nữa.

    Câu 1: Hình tượng “Người trong bao” – nhân vật Bê-li-cốp.

    a. Chân dung Bê-li-cốp

    – Cách ăn mặc: đi giày cao su, cầm ô khi trời đẹp, mặc áo bành tô, đeo kính râm, lỗ tai nhét bông …

    – Đặc điểm: Tất cả đều đề trong bao

    => kì quái, khác người, lập dị

    b. Tính cách Bê-li-cốp

    – Có khát vọng kì dị, mãnh liệt: Thu mình vào một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao để ngăn cách …

    – Nhút nhát, ghê sợ hiện tại nhưng lại ca ngợi tôn sùng quá khứ: say mê và ca ngợi tiếng Hi lạp.

    – Máy móc, giáo điều, rập khuôn: phản ứng việc đi xe đạp của 2 chị em Va-ren-ca, thói quen trong quan hệ đồng nghiệp.

    – Cô độc, luôn lo lắng và sợ hãi

    – Luôn luôn thoả mãn và hài lòng với lối sống cổ lỗ, hủ lậu, kì quái của mình

    => Hèn nhác, cô độc, máy móc, giáo điều, thu mình trong bao và cảm thấy an tâm sung sướng, mãn nguyện

    – Lối sống ảnh hưởng dai dẳng, mạnh mẽ đến lối sống và tinh thần của mọi người

    – Bê-li-cốp là điển hình cho một kiểu người, một hiện tượng xã hội đã và đang tồn tại trong cuộc sống của một bộ phận tri thức Nga cuối thế kỉ XIX. Hắn không phải là một cá nhân quái đản mà là con đẻ của chế độ phong kiến chuyên chế đang phát triển mạnh trên con đường tư bản hóa ở nước Nga cuối thế kỉ XIX.

    Câu 2: Cái chết của Bê-li-cốp bất ngờ nhưng tất yếu, hợp với tính cách hắn.

    Việc hắn bị Kô-va-len-cô đẩy ngã xuống cầu thang đã bị Va-ren-ca nhìn thấy (chẳng ra thể thống gì), Va-ren-ca còn “cười phá lên”, “cười âm vang, lảnh lót”. Điều kinh khủng nhất đối với hắn là sẽ biến thành trò cười cho thiên hạ mà trước hết là tiếng cười của Va-ren-ca. Hắn chết và hắn được nằm trong quan tài – “Cái bao” bền vững nhất, đó là khát vọng mãnh liệt – kì dị cả đời Bê-li-cốp.

    – Khi Bê-li-cốp còn sống mọi người sợ hãi, căm ghét, bị ám ảnh. Khi hắn chết mọi người cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng chưa được bao lâu cuộc sống lại diễn ra như cũ nặng nè, mệt nhọc, vô vị, tù túng.

    Từ đó nhà văn muốn nói đến tác động dai dẳng, nặng nề, của kiểu người Bê-li-cốp, đã ám ảnh đầu độc bầu không khí trong sạch, làm kìm hãm sự tiến bộ của xã hội nước Nga đương thời. Nhà văn muốn thức tỉnh mọi người “không thể sống như thế mãi được”.

    Câu 3: Ý nghĩa tư tưởng – nghệ thuật của hình ảnh “cái bao”.

    – Nghĩa đen: Vật dùng để đựng có hình túi hoặc hình hộp, là vật dụng quen dùng của Bê-li-cốp.

    – Nghĩa bóng: Lối sống và tính cách của nhân vật Bê-li-cốp.

    – Nghĩa biểu trưng: Lối sống thu mình, hèn nhác, ích kỉ cá nhân, hủ lậu … đã và đang tồn tại làm ảnh hưởng đến một bộ phận không nhỏ ở nước Nga => giá trị phê phán.

    – Ý nghĩa phổ quát: Cả xã hội Nga thời điểm đó cũng là cái bao khổng lồ trói buộc, ngăn chặn sự tự do của co người => sức mạnh tố cáo.

    => Cái bao là biểu tượng giàu ý nghĩa là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của tác giả.

    Câu 4: Những đặc sắc về nghệ thuật.

    – Ngôi kể: Nhân vật trong truyện đồng thời là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất (Pu-rơ-kin). Tác giả giữ ngôi thứ ba kể lại câu chuyện của Pu-rơ-kin. Tăng tính chân thật, khách quan cho câu chuyện.

    – Giọng kể trầm tĩnh, bình thản, khách quan nhưng bên trong đầy trăng trở, bức xúc.

    – Xây dựng nhân vật vừa cụ thể vừa khái quát, tính cách nhân vật kì quái mà vẫn chân thực.

    – Hình ảnh “cái bao”, câu nói lặp đi lặp lại của nhân vật “Nhỡ lại xảy ra việc gì thì sao”. Có giá trị nghệ thuật cao.

    Câu 5: Trao đổi, thảo luận về ý nghĩa thời sự của truyện “Người trong bao”.

    – Lối sống trong bao vẫn tồn tại trong xã hội ngày nay trong học đường (ở một số cá nhân): hèn nhát, ích kỉ, giáo điều, hèn hạ trước quyền lực.

    – Các bạn cần bày tỏ thái độ, tình cảm:

    + Phê phán, chỉ trích, không đồng tình với lối sống đó.

    + Xác định lối sống lành mạnh, chan hòa với mọi người, sống theo chuẩn mực văn hóa, đạo đức của cộng đồng hiện đại.

    II. Luyện tập

    Câu 1: HS tự nhập vai Bê-li-cốp để kể lại truyện ngắn Người trong bao bằng cách xưng “tôi”.

    Câu 2: không nên thay nhan đề Người trong bao bằng các nhan đề đã cho, vì nhan đề này giàu hình ảnh, vừa mang tính khái quát lại vừa gây ấn tượng sâu sắc.

    Câu 3:

    Con ốc nằm co.

    Nhát như thỏ đế.

    Rùa rụt cổ.

    Co vòi rụt cổ.

    – …

  • [Soạn văn] Bài thơ số 28 (Ta-go)

    [Soạn văn] Bài thơ số 28 (Ta-go)

    Soạn văn lớp 11: Bài thơ số 28 (Ta-go)

    Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (từ đầu đến … không biết gì tất cả về anh): khát vọng hòa hợp trong tình yêu.

    – Phần 2 (tiếp đến … em có biết gì về biên giới của nó đâu): khát vọng dâng hiến trong tình yêu.

    – Phần 3 (còn lại đến hết): sự vô cùng của cuộc đời – trái tim – tình yêu.

    Cuối mỗi phần đều có câu chuyển ý Em chẳng thể biết tất cả về anh.)

    Câu 1: Hình tượng so sánh trong câu thơ mở đầu:

    Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng anh

    Như trăng kia muốn vào sâu biển cả

    Thể hiện niềm khát khao hòa hợp, hiểu biết nhau trong tình yêu. (Đôi mắt như ánh sáng lung linh diệu huyền muốn rọi sáng tận đáy sâu trái tim người yêu. Khát khao thấu hiểu người mình yêu là chính đáng nhưng vô vọng bởi chiều sâu tâm tưởng anh là vô cùng như chiều sâu biển cả).

    Câu 2:

    Lối cấu trúc đưa ra giả định rồi phủ định để đi đến kết luận, được sử dụng trùng điệp trong bài thơ nhằm thể hiện triết lí của Tago về trái tim, tình yêu.

    – Nếu đời anh là viên ngọc (quý giá), đóa hoa (đẹp đẽ) thì anh sẵn sàng dâng tặng tất cả cho em, để em xinh đẹp và đáng yêu hơn. Nghĩa là Ta-go muốn hiến dâng trọng vẹn cho người yêu nếu có thể được. Nhưng nhà thơ đành phải thừa nhận “đời anh là trái tim, nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó“. Nó là thế giới bí ẩn, thăm thẳm vô biên, làm sao dâng hiến trọn vẹn một lần.

    – Nếu trái tim anh chỉ là một trái tim bình thường, đơn điệu ít lạc thú, ít khổ đau thì em sẽ cảm nhận rất dễ dàng nhưng “trái tim anh lại là tình yêu, nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên” nên “chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu“. Tago muốn cho người yêu biết rằng trái tim tình yêu không đơn giản. Niềm khát khao lạc thú cũng như nỗi đau khổ, buồn bã trong tình yêu là vô biên, những người yêu nhau phải hiểu điều đó để cùng chia sẽ, tận hưởng hoặc cùng chịu đựng, vượt qua.

    Câu 3: Cách nói nghịch lý:

    Anh không giấu em một điều gì

    Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh

    Không chỉ xuất hiện ở đoạn đầu mà còn được sử dụng khá nhiều lần trong bài thơ. Cách nói ấy thể hiện một điều kì diệu trong tình yêu, đó là những cái bề ngoài thì dễ nắm bắt còn sự phong phú, phức tạp của trái tim thì không dễ dâu nắm bắt được. Cái quý giá nhất của cuộc đời chàng trai là một trái tim – một thế giới tinh thần bí ẩn, vô biên, một vương quốc mà em là nữ hoàng, là người làm chủ nó mà cũng không thể biết được biên giới của nó xa gần, rộng hẹp đến đâu. Đây chính là một khoảng cách không bao giờ phá nổi, một đỉnh cao không bao giờ bị chinh phục của tình yêu. Niềm hòa hợp, đồng cảm dù đẹp đẽ đến đâu cũng không bao giờ trọn vẹn bởi đặc tính này của trái tim con người.

    Bài thơ được kết cấu theo tầng bậc. Ý một: Anh xin dâng hiến trọn vẹn cuộc đời anh cho em. Ý hai: nhưng không bao giờ em có thể chiếm lĩnh trọn vẹn trái tim anh. Hai ý này ngày càng được bổ sung ở mức độ cao hơn trong những lập luận của toàn bài.

    Sự đối lập giữa khát vọng giãi bày, dâng hiến, chan hòa vào tâm hồn người yêu và cái bí ấn không gì khám phá nổi của trái tim là những đối lập tồn tại mãi mãi trong tình yêu. Sự hòa hợp trọn vẹn trong tình yêu là điều không thể đến, nhưng tình yêu luôn là niềm khao khát cái trọn vẹn ấy.

  • [Soạn văn] Tôi yêu em (Pu-Skin)

    [Soạn văn] Tôi yêu em (Pu-Skin)

    Soạn văn lớp 11: Tôi yêu em (Pu-Skin)

    Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (bốn câu đầu): những tâm trạng dằn xé trong tâm trạng của nhà thơ.

    – Phần 2 (hai câu tiếp): khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình.

    – Phần 3 (còn lại): sự cao thượng chân thành của nhân vật trữ tình.

    Câu 1:

    Điệp khúc “tôi yêu em” làm nổi bật cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Tám dòng thơ mà có đến ba lần điệp khúc tôi yêu em được láy đi láy lại ở dòng 1, 5, 7 và từng dòng thơ để nhấn mạnh ý. Điệp khúc tôi yêu em là giọng điệu chủ đạo của bài thơ, nó vang lên như tiếng lòng say đắm, mãnh liệt, vững bền của tình yêu thi sĩ đối với người yêu.

    Bài thơ dường như là lời từ giã cho một mối tình không thành. Đúng là như vậy, Pu-skin đã yêu một thiếu nữ đẹp tên là A. A. Ô-lê-nhi-a, và mùa hè năm 1828, nhà thơ ngỏ lời cầu hôn nhưng không được chấp nhận. Và bài thơ tôi yêu em ra đời năm 1829 là lời từ giả cho mối tình vô vọng ấy. Đây là lời từ giã của cả lí trí và tình cảm của nhà thơ.

    Nếu bốn câu thơ đầu, cảm xúc bị ghìm nén do lí trí chi phối, thì ở bốn câu thơ sau,mạch cảm xúc lại tuôn trào, không tuân theo mệnh lệnh của lí trí để khẳng định mộttình yêu mãnh liệt không che giấu của nhà thơ. Lời từ giã thấm đượm nỗi buồn của mối tình vô vọng nhưng vẫn đầy ắp một tình yêu nồng cháy, đằm thắm vang lên trong điệp khúc tôi yêu em tha thiết, vững bền. Vậy là từ giã mà vẫn yêu, càng yêu mãnh liệt, nhưng phải từ giã để không làm phiền muộn đến người mình yêu, và nhất là để cầu mong cho người yêu được hạnh phúc trong tình yêu. Bởi thế tuy có buồn nhưng đây là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành mãnh liệt, nhân hậu, vị tha. Trong lời từ giã này có cái điềm tĩnh, đúng đắn của lí trí và cả cái cao thượng, đẹp đẽ của tình cảm. Một lời từ giã như vậy, không chỉ cao đẹp cho riêng nhà thơ, mà nó còn vươn tới những giá trị tinh thần cao cả của loài người.

    Câu 2:

    Diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện tinh tế qua sự chuyển biến của giọng điệu trữ tình trong bài thơ:

    – Từ hai câu 1-2 sang hai câu 3-4:

    Tôi yêu em: đến nay chừng có thể

    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;

    Nhưng, không để em bận lòng thêm nữa,

    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

    Chú ý sẽ thấy hai cặp thơ diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đây có sự “đấu tranh” giữa tình cảm và lí trí. Hai câu 1-2, giọng thơ có chút gì như cân nhắc, dè dặt (chừng có thể, chưa hẳn) nhưng vẫn là một sự khẳng định trong tình cảm của nhà thơ. Mạch thơ chuyển đột ngột:

    Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,

    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

    Rõ ràng ở đây đã có sự can thiệp của lí trí khiến cảm xúc phải ghìm nén lại. Nguyên văn ghi rõ: “Nhưng mong sao nó không làm em băn khoăn thêm nữa, tôi chẳng muốnlàm em buồn vì bất cứ lẽ gì” nói lên một điều dứt khoát trong suy nghĩ của nhân vật trữ tình: cần phải dập tắt ngọn lửa tình yêu (dù chỉ là âm thầm, dai dẳng) để tránh cho em phải bận lòng và chẳng muốn làm em buồn. Điều quan trọng không phải là tình yêu của nhà thơ mà là sự yên tĩnh, thanh thản của “hồn em”, của người mình yêu: đó mới là cái cao thượng trong tình yêu của tác giả.

    – Từ hai câu 5-6 sang hai câu 7-8:

    Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng,

    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,

    Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,

    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

    Ở khổ thơ này, mạch cảm xúc lại tuôn trào, không bị dồn nén như ở khổ đầu. Điệp khúc tôi yêu em được láy lại ba lần thì khổ này chiếm hết hai chính là vì thế! Hai câu 5-6 bộc lộ rõ mối tình đơn phương của nhà thơ: một tình yêu âm thầm, không hi vọng. Đó là tình yêu “rất con người” với mọi sắc thái muôn thuở: có nỗi đau khổ âm thầm, có niềm tuyệt vọng chua xót, và nhất là cũng rụt rè, ghen tuông như mọi người đàn ông khác. Nhân vật trữ tình không ngại ngần mà chân thành bày tỏ, thú nhận những cái “đời thường” trong tình yêu mà ai cũng có, cũng bị giày vò. Câu thơ dịch khá đạt “khi hậm hực lòng ghen“, nhưng ý thơ trong nguyên tác còn rõ hơn.

    – Dù nó chỉ là mối tình đơn phương của nhà thơ – trong hai chữ: chân thành, đằm thắm. Đó là một nét đẹp cần ghi nhận. Nhưng còn đẹp hơn nừa là lời cầu mong tha thiết, đầy vị tha của thi nhân đối với người mình yêu mà không được đền đáp:

    Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thẳm.

    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em

    Cái đẹp nằm trong mối liên hệ của hai câu thơ: chính vì yêu em chân thành, đằm thắm nên mới cầu mong em có được một người yêu em cũng chân thành, đằm thắm như mình. Mọi suy nghĩ của nhà thơ đều hướng về người yêu, mong người yêu được hạnh phúc. Điều này không dễ ai cũng có được như Pu-skin trong mối tình vô vọng đó.

    Câu 3:

    Hai câu kết bất ngờ hàm chứa nhiều ý vị:

    Bởi lẽ thông thường khi yêu người ta ích kỉ. Yêu nhau càng thiết tha thì khi chia tay càng hậm hực, nhỏ nhen… hận thù: Pu-skin đã vượt được thói ích kĩ tầm thường trong tình yêu bằng một sự ứng xử rất đẹp: yêu là trân trọng người mình yêu, mong muốn người yêu được hạnh phúc.

    Câu 4: Tâm hồn Pu-skin qua bài thơ.

    Bài thơ thấm đượm nỗi buồn của mối tình vô vọng nhưng là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành, mãnh liệt, nhân hậu, vị tha.

  • [Soạn văn] Chiều xuân (Anh Thơ)

    [Soạn văn] Chiều xuân (Anh Thơ)

    Soạn văn lớp 11: Chiều xuân (Anh Thơ)

    Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (khổ 1): cảnh xuân trên bến vắng.

    – Phần 2 (khổ 2): cảnh xuân trên đường đê.

    – Phần 3 (khổ 3): cảnh xuân trong ruộng lúa.

    Câu 1:

    Bài thơ là một bức tranh mùa xuân vào buổi chiều tà – tiêu biểu cho cảnh xuân nơi đồng quê miền Bắc nước ta. Bài thơ mạnh ở lối tả. Không tả tỉ mỉ chi tiết mà quan sát rộng, mặc dù thế vẫn muốn thâu tóm từ linh hồn của cảnh. Có thể nhận xét chung rằng bức tranh buổi chiều xuân khá yên ả. Thậm chí có phần hơi vằng lặng nữa.

    Buổi chiều xuân rất đặc trưng trước hết chính là ở cảnh mưa: mưa bụi, mưa xuân thưa thớt bay. Mưa gọi những mầm non thức dậy. Cảnh đầu tiên lọt vào tầm quan sát của tác giả là cảnh bến đò. Nhưng như đã nói, bức tranh không được chụp vào lúc đông vui nhộn nhịp, nên như hòa vào cái yên ả của buổi chiều xuân kia, con đò cũng “biếng lười nằm mặc nước sông trôi“. Điểm xuyết liên tục thêm vào bức tranh ấy là quán tranh vắng, là những chùm hoa xoan tím “rụng tơi bời”.

    Cảnh từ gần được mở rộng thêm, ca và xa hơn. Nhưng vẫn là nét đặc trưng của mùa xuân đồng bằng Bắc Bộ: cỏ non tràn biếc cỏ, đàn sáo đen, những cánh bướm rập rờn, … Khổ thứ hai có một hình ảnh thơ thật độc đáo và xuất sắc:

    Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

    Ba khổ thơ gần như chỉ là những câu thơ tả cảnh. Có thể nói cả bài thơ hợp thành một bức tranh quê giản dị, mộc mạc, thanh nhã, hơi gợi buồn vì cảnh vắng quá, yên tĩnh quá.

    Câu 2:

    Bài thơ tả cảnh nhưng lại gợi ra rất rõ cái không khí và nhịp sống muôn đời ở nông thôn nước ta thời trước, đó là sự bình yên. Con đò nằm biếng lười, quán vắng, những cánh bướm rập rờn, những đàn trâu thong thả, … tất cả đều có dáng khoan thai. Phải chờ đợi đến hai câu cuối của bài thơ, người đọc mới thấy xuất hiện hình ảnh con người. Nhưng con người sao cũng thụ động quá:

    Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,

    Làm giật mình một cô nàng yếm thắm

    Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa

    Câu thơ chụp vội đúng cái thời khắc lao động của người thiếu nữ. Một cô thôn nữ chăm chỉ trong một buổi chiều quê tĩnh lặng. Câu thơ tả động nhưng thực ra là để nói cái tĩnh. Và nói cái tĩnh tất nhiên cũng lại để tiếp tục nhấn mạnh vào cái nhịp sống rất bình yên của một vùng quê mà dường như tất cả vẫn còn rất nguyên sơ.

    Câu 3:

    Trong bài thi sĩ đã dùng rất nhiều từ láy để dựng cảnh, hay nói đúng hơn là để gợi cái trạng thái tinh thần của cảnh: mưa thì êm êm, quán tranh đứng im lìm, hoa xoan rụng tơi bời, đàn sáo mổ vu vơ, mấy cánh bướm rập rờn, những trâu bò thong thả, … . Trong các từ láy đã nêu, trừ từ tơi bời, các từ láy còn lại đều là những từ láy có tính chất giảm nhẹ: êm êm, vu vơ, rập rờn, thong thả, … và hoặc thì diễn tả trạng thái thụ động hoặc thì diễn tả trạng thái đều đều của chủ thể. Rõ ràng trong tổng thể bài thơ, chính sự kết hợp của những từ láy này đã giúp thể hiện nổi bật vẻ dịu dàng, yên ả, thanh bình của cảnh chiều xuân cũng như của nhịp sống khoan thai nơi đồng quê của tác giả.

  • [Soạn văn] Tương tư (Nguyễn Bính)

    [Soạn văn] Tương tư (Nguyễn Bính)

    Soạn văn lớp 11: Tương tư (Nguyễn Bính)

    Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (4 câu thơ đầu): khởi nguồn cho tâm trạng tương tư

    – Phần 2 (12 câu tiếp theo): giãi bày tâm sự tương tư

    – Phần 3 (còn lại): ước mơ muôn đời của tình yêu đôi lứa

    Câu 1: Nỗi nhớ mong và những lời kể lệ, trách móc, mơ tưởng, ước vọng xa xôi của chàng trai.

    – Nhớ nhung da diết thành bệnh tương tư:Thành ngữ “chín nhớ mười mong” chỉ sợ nhớ nhung rất nhiều.

    – Kể lệ, trách móc cũng chỉ là để bộc lộ nỗi tương tư của mình. Những câu hỏi tu từ xoáy vào lòng người nghe: Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này? – Có xa xôi mấy mà tình xa xôi? Âm điệu câu hỏi biến thành lời than.

    – Tâm trạng chờ đợi mòn mỏi, sốt ruột:

    Ngày qua ngày lại qua ngày

    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

    + Câu thơ “Ngày qua ngày lại qua ngày” ngắt nhịp 3/3, chữ “lại” trở thành điểm nhấn của ngữ điệu diễn tả nhịp thời gian cứ trôi mà sự trông chờ càng vô vọng, chán ngán.

    + Lấy sự chuyển đổi màu sắc cây lá “lá xanh” đã thành “lá vàng” để chỉ thời gian chờ đợi. Ở câu trên còn tính từng ngày, câu dưới đã thấy những mùa đi qua. Thời gian chờ đợi dài theo nỗi tương tư nên héo mòn,vô vọng, vô vàng. Cách diễn tả thật tinh tế và giàu ý nghĩa nhưng vẫn dễ cảm nhận.

    – Mơ tưởng, ước vọng xa xôi:

    Bao giờ bến mới gặp đò?

    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

    + Trong ao ước đã có mầm vô vọng: hình ảnh bến, hoa (cố định) – đò, bướm (di chuyển) thật khó mà “gặp” được nhau.

    + Chàng trai quê sống trong nỗi tương tư nhưng vẫn gửi theo gió nỗi niềm ước vọng xa xôi:

    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

    Lẽ ra phải nói “cau thôn Đoài” nhớ “trầu thôn Đông” nhưng không dám chắc, đành nói lệch đi. Nhưng nỗi lòng nhớ nhung thì từ đầu đến cuối bài thơ đều không thay đổi.

    Nỗi nhớ da diết của nhân vật trữ tình trải suốt bài thơ nhưng đến tận cuối bài thơ vẫn chưa được đền đáp. Chính vì thế nó tạo nên cái cớ cho dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ một cách tha thiết và sâu sắc.

    Câu 2: Cách bày tỏ tình yêu, giọng điệu thơ, cách so sánh ví von ở bài thơ này có những điểm đáng lưu ý.

    – Giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, chân thành.

    – Hình ảnh ví von, ẩn dụ, chất liệu ngôn từ chân quê đậm màu sắc dân gian: thôn Đoài, thôn Đông, bến, đò, hoa, bướm, trầu – cau.

    – Cách bày tỏ tình yêu tự nhiên kín đáo, ý nhị và có ý vị chân thành mộc mạc của tâm hồn chàng trai quê.

    Câu 3:

    Trong thơ Nguyễn Bính “có hồn xưa đất nước” (Hoài Thanh). Điều đó được thể hiện ở cách biểu hiện cảm xúc, cách dùng ngôn ngữ, chất liệu đậm màu sắc dân gian, giàu chất “chân quê”.

  • [Soạn văn] Nhớ đồng (Tố Hữu)

    [Soạn văn] Nhớ đồng (Tố Hữu)

    Soạn văn lớp 11: Nhớ đồng (Tố Hữu)

    Bố cục: 3 phần:

    – Phần 1 (9 khổ thơ đầu): khát khao và nỗi nhớ của người tù cộng sản với cuộc sống tư do bên ngoài.

    – Phần 2 (2 khổ tiếp): nhớ những ngày còn ở ngoài tự do.

    – Phần 3 (còn lại): thực tại phòng giam ngột ngạt.

    Câu 1:

    – Tiếng hò vang lên lẻ loi, đơn độc giữa trưa yên tĩnh, sâu lắng, gợi cảm giác buồn, hiu quạnh, đồng điệu với cảnh ngộ và tâm trạng người tù.

    – Tiếng hò gợi dậy tất cả những gì của thế giới bên ngoài. Đó là âm thanh của cuộc sống bên ngoài đến được với nhà tù, âm thanh tiêu biểu của xứ Huế, gợi nỗi nhớ đồng quê, nhớ người dân quê da diết.

    Câu 2:

    Trong bài thơ Tố Hữu dùng khá nhiều phép điệp, nhất là điệp khúc: Gì sâu bằng những trưa thương nhớ, Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh và điệp từ “đâu“. Việc lặp lại như vậy tạo được hiểu quả nghệ thuật cao, tác dụng như một điệp khúc, nhấn mạnh tô đậm cảm xúc của cả bài thơ:

    – Nỗi hiu quạnh: Hiu quạnh trong âm thanh tiếng hò não nùng, hiu quạnh của trưa vắng, hòa điệu cùng nỗi hiu quạnh của người tù một mình đối diện với bốn bức tường giam hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài.

    – Nỗi thương nhớ: được khơi gợi từ tiếng hò, từ sự quạnh hiu. Thương nhớ đồng quê (từ cảnh sắc đến người dân quê).

    – Bao trùm là âm điệu tiếng than về nỗi quạnh hiu cùng cực của một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời.

    Câu 3:

    – Hình ảnh đồng quê được hình dung rõ ràng, cụ thể, không chỉ bằng đường nét, màu sắc mà còn có cả hương vị, hơi mát … . Tất cả đều là những cảnh sắc đơn sơ, quen thuộc mà rất đỗi thân thương (màu sắc: ô mạ xanh; không khí yên bình; ruồng tre mát, thở yên vui; hương vị: gió cồn thơm, khoai ngọt sắn bùi; âm thanh: lúa xao xác, tiếng xe lùa nước hòa tiếng hò não nùng – những âm thanh buồn nhưng lại thể hiện được hồn quê).

    – Bao trùm là âm điệu tiếng than về nỗi quạnh hiu cùng cực của một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời.

    Câu 4:

    Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi


    Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

    Đoạn thơ tạo hai hình ảnh đối lập: hình ảnh của nhà thơ trước khi gặp lí tưởng cách mạng được tái hiện trong kí ức (những ngày xưa tôi nhớ tôi) và hình ảnh sau khi đến với lí tưởng cách mạng:

    – Trước khi gặp lí tưởng cách mạng: băn khoăn, vẩn vơ, quanh quẩn, tâm hồn bế tắc, chán nản.

    – Sau khi gặp lí tưởng cách mạng: như cánh chim vui say, bay liệng trong không gian bao la, bát ngát. Tâm hồn được giải phóng, rộng mở, hòa nhập với cuộc đời.

    – Từ hai hình ảnh đối lập, nhà thơ quay về với thực tại: cánh chim buồn nhớ gió mây. Hình ảnh con chim tự do ngày nào giờ đây trong cảnh giam cầm, nhớ gió mây gợi niềm say mê lí tưởng, khao khát được hoạt động, được cùng đồng chí, đồng bào chiến đấu.

    Câu 5:

    Nhận xét chung về tâm trạng tác giả thể hiện trong bài thơ:

    Bài thơ không dùng lại nỗi thương nhớ đồng quê mà còn là thương nhớ cuộc sống, thương nhớ đồng bào, kháo khát tự do, bất bình với thực tại tù đày.

  • [Soạn văn] Lai tân (Hồ Chí Minh)

    [Soạn văn] Lai tân (Hồ Chí Minh)

    Soạn văn lớp 11: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    Bố cục: 2 phần

    – Phần 1 (3 câu đầu): là 3 câu tự sự nói về hành vi thường thấy ở 3 viên quan ở Lai Tân.

    – Phần 2 (câu cuối): là một lời kết luận, một nhận xét, đánh giá của tác giả.

    Câu 1: Bộ máy quan lại ở Lai Tân đã được miêu tả trong ba câu thơ đầu:

    Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc

    Giải người canh trưởng kiếm ăn quanh

    Chong đèn, huyện trưởng làm công việc

    Trời đất Lai Tân vẫn thái bình“.

    – Tác giả nhằm vào những người đứng đầu ở mỗi cương vị của bộ máy nhà nước:

    + Ban trưởng nhà lao thường xuyên đánh bạc (Đánh bạc làm phạm pháp – Người đánh bạc ở ngoài thì bị bắt vào nhà giam nhưng trưởng ban nhà lao lại đánh bạc nhiều hơn ai hết).

    + Cảnh trưởng tham lam ăn tiền của phạm nhân bị giải.

    + Huyện trưởng chong đèn làm công việc. Nếu theo nghĩa huyện trưởng chăm chỉ làm việc thì cũng ngụ ý mỉa mai bởi lẽ không biết ông làm việc gì mà cấp dưới ăn chơi, ăn chặn quan vẫn không biết. Còn nếu hiểu theo nghĩa chong đèn hút thuốc phiện thì hợp logic phê phán, châm biếm từ câu 1 và câu 2.

    – Ở câu 1 và câu 2 tác giả nói thẳng sự việc, để sự việc tự lên tiếng. Câu 3, thủ pháp châm biếm kín đáo, sâu sắc. Ban trưởng, cảnh trưởng, huyện trưởng, từ bé đến lớn đều không làm đúng. Chức năng người đại diện cho pháp luật. Từ đó cho thấy bộ máy cai trị của chính quyền Tưởng Giới Thạch từ trên xuống dưới đều hết sức thối nát, xấu xa. Quan trên lo hưởng lạc, quan liêu, vô trách nhiệm. Quan dưới tham nhũng, ăn chơi.

    Câu 2:

    – Tưởng rằng kết bài sẽ là một lời buộc tội gay gắt nhưng câu thơ cuối buông ra lại quá nhẹ nhàng, mát mẻ. Đại loạn thế, thối nát thế mà “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình“.

    – “Thái bình” là nhãn tự, là trục hút châm biếm của cả bài thơ. Hoá ra tình trạng ấy là chuyện bình thường, chuyện bản chất của guồng máy cai trị nơi đây. Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự “thái bình” dối trá nhưng thực sự là “đại loạn bên trong”.

    – Không “đao to búa lớn” mà theo như cách dân gian thường nói là “Mát nước thối cỏ”, lối châm biếm nhẹ nhàng, mát mẻ của HCM đã có tác dụng lật tẩy bản chất của cả bộ máy nhà nước ở Lai Tân.Qủa là một đòn đã kích độc đáo và bất ngờ.

    Câu 3:

    Bài thơ có một cách cấu tứ bất ngờ. Như trên đã nói, ba câu thơ đầu chỉ thuần kể việc. Điểm nút chính là câu thơ thứ tư. Nó làm bật ra toàn bộ tư tưởng của bài. Nó làm bung vỡ tất cả cái ý châm biếm mỉa mai hướng đến sự thối nát đến tận xương tủy của cái xã hội Tưởng Giới Thạch.

    Bài thơ cũng in đậm cái bút pháp chấm phá của thơ Đường. Lời thơ ngắn gọn, súc tích. Không cầu kì câu chữ, nhưng có thể nói: chỉ với bốn câu thơ ngắn, nhà thơ đã vẽ nên cái bản chất của cả chế độ xã hội mục nát đến vô cùng. Sức chiến đấu, chất “thép” của bài thơ nhẹ nhàng mà quyết liệt chính là ở đó.

  • [Soạn văn] Từ ấy (Tố Hữu)

    [Soạn văn] Từ ấy (Tố Hữu)

    Soạn văn lớp 11: Từ ấy (Tố Hữu)

    Câu 1: Tố Hữu đã dùng những hình ảnh nào để chỉ lí lưởng và biểu hiện niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng?

    – Từ ấy được mở đầu câu thơ thể hiện sự đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời của nhà thơ.

    – “nắng hạ” -> ánh nắng chói chang nhất, mạnh mẽ nhất -> lý tưởng cách mạng có sức mạnh soi sáng rất lớn đối với nhà thơ.

    – Động từ “bừng” -> sáng soi.

    – “mặt trời chân lý” -> biện pháp nghệ thuật ẩn dụ lý tưởng cách mạng giống như là ánh mặt trời kết hợp với động từ “chói” thể hiện sức mạnh chiếu sáng thức tỉnh của lý tưởng cách mạng.

    – “một vườn hoa lá”, “đậm hương”, “rộn tiếng chim” -> nhà thơ được kết nạp vào Đảng vui sướng tràn ngập, hồn đầy màu sắc của hoa lá, lại ngan ngát hương thơm và rộn rã âm thanh.

    -> Khổ thơ đầu nhà thơ thể hiện niềm vui sướng của mình khi được kết nạp vào Đảng. Sự kiện ấy đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời nhà thơ, đó là chặng đường của chiến sĩ cách mạng.

    Câu 2: Khi có ánh sáng của lí tưởng Cách mạng soi rọi, nhà thơ đã có những nhận thức về lẽ sống như thế nào?

    – Suy nghĩ: Tôi buộc lòng tôi với mọi người biểu hiện cho sự tự nguyện gắn “cái tôi” cá nhân vào “cái ta” chung của mọi người.

    – Để tình trang trải với trăm nơi biểu hiện cho một tâm hồn trải rộng với cộng đồng, tạo khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể.

    – Hồn tôi gắn với bao hồn khổ: tình hữu ái giai cấp, ông đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ.

    – Hình ảnh: “Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời” mang tính ẩn dụ để chỉ đông đảo người cùng chung cảnh ngộ đoàn kết với nhau vì mục tiêu chung.

    => Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm của những trái tim. Quan niệm về lẽ sống của ông là sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi người.

    Câu 3: Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của nhà thơ được thể hiện như thế nào ở khổ cuối bài thơ?

    – Nhà thơ tự dùng những từ thân mật như “anh, em, con” thể hiện sự thân thiết gần gũi như một gia đình.

    – Và quả thật không chỉ có gia đình nhỏ của mình nhà thơ còn nhận ra gia đình Việt Nam to lớn.

    – Nhà thơ đã là con của vạn nhà, là em của những kiếp phôi pha, những người anh đi trước đã hiến thân cho cách mang, và là anh của những em nhỏ không áo cơm cù bất cù bơ.

    -> Có thể nói nhà thơ thức tỉnh và thật sự đang hướng tới cái ta chung, niềm vui lớn, lý tưởng lớn, lẽ sống lớn.

    Câu 4: Một số nét nghệ thuật.

    – Đây là một bài thơ giàu nhạc điệu (cách ngắt nhịp thay đổi liên tục theo cảm xúc, vẫn có sức ngân vang).

    – Các biện pháp tu từ gợi cảm: ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ.

    – Hình ảnh tươi sáng, rực rỡ.

  • [Soạn văn] Chiều tối (Hồ Chí Minh)

    [Soạn văn] Chiều tối (Hồ Chí Minh)

    Soạn văn lớp 11: Chiều tối (Hồ Chí Minh)

    Bố cục: 2 phần.

    – Phần 1 (hai câu đầu): bức tranh thiên nhiên chiều tối.

    – Phần 2 (còn lại): bức tranh sinh hoạt lao động.

    I. Hoàn cảnh sáng tác

    Câu 1: So sánh bản dịch thơ với bản dịch nghĩa, tìm những chỗ chưa sát với nguyên tác.

    – Câu thơ 1: dịch khá sát

    – Câu thơ 2:

    + Bản dịch chưa dịch chữ “” trong “cô vân“, dịch thơ là “chòm mây” thì chưa nói được sự lẻ loi, cô đơn.

    + “Mạn mạn” nghĩa là “trôi lững lờ” dịch thơ là “trôi nhẹ” chưa thể hiện được sự mệt mỏi, không muốn trôi, trôi một cách chậm chạp của chòm mây.

    – Câu thơ 3:

    + Dịch thơ chưa phù hợp: “Thiếu nữ” dịch là “Cô em” không hợp với cách nói của Bác.

    + Dịch thơ dư từ “tối” làm mất đi sự hàm súc của câu thơ (không cần nói tối mà vẫn biết trời đã vào đêm – nhờ hình ảnh lò than rực hồng).

    – Câu thơ 4 dịch tương đối thoát ý.

    Câu 2: Bức tranh thiên nhiên trong hai câu đầu:

    Cảnh núi rừng khi chiều tối và tâm trạng của nhà thơ:

    – Cảnh:

    + “Chim mỏi” -> đây chính là cánh chim cổ điển, hình ảnh cánh chim trong thơ xưa đều xuất hiện vào khung cảnh buổi chiều.

    + Cánh chim nhỏ kia về rừng tìm chốn ngủ, đây là hoạt động kết thúc một ngày. Trong thời gian ấy cánh chim kia đã được bay về nơi trú ngụ của nó còn nhà thơ thì vẫn phải hành xác trên con đường đầy gian khổ để đến nhà lao mới.

    + Ở câu hai phần dịch không sát với bản chính “cô vân” gợi sự lẻ loi một mình cô độc, còn phần dịch nghĩa lại là “chòm mây” không gợi lên được sự cô độc, đồng điệu với nhà thơ cũng đang cảm thấy khi hành trình gian khổ chỉ có một mình.

    => cảnh thiên nhiên hiện lên thật đẹp, đó là mộ buổi chiều với mây trôi bảng lảng, cánh chim trở buổi chiều về, những hành động đang đi vào trạng thái tĩnh.

    – Tình

    + Qua bức tranh thiên nhiên ta thấy được tâm trạng của Bác, tình yêu thiên nhiên luôn tìm đến sự hòa hợp với thiên nhiên.

    + Cảnh được nhìn bằng tâm trạng nên cũng nhuốm màu tâm trạng: chim thì về nghỉ còn bác thì vẫn phải đi, cô vân kia giống như một mình Bác trên đường chuyển lao cô đơn.

    + Tâm hồn Bác luôn hướng về sự sống: cánh chim chỉ về ngủ để bắt đầu sáng mai lại hành trình kiếm ăn chứ không bay vào cõi vĩnh hằng “Chim bầy vút bay hết – mây lẻ đi một mình“.

    + Đó còn là một tâm hồn luôn hướng về đất nước, vì đất nước Bác cô gắng đi hết con đường chuyển lao chờ ngày tự do hoạt động cách mạng. Đó chính là tinh thần thép của Bác.

    Câu 3: Bức tranh đời sống trong hai câu cuối:

    Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

    Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

    (Cô em xóm núi xay ngô tối

    Xay hết lò than đã rực hồng)

    – Hình ảnh thiếu nữ xay ngô là trung tâm của bức tranh, thu hút sự chú ý của người tù. Đó là một vẻ đẹp khỏe khoắc của người lao động. Sự xuất hiện của “thiếu nữ xay ngô” khiến cho bài thơ có một bước phát triển mới:

    + Nếu như ở hai câu đầu, thiên nhiên đã đi vào sự nghỉ ngơi thì con người vẫn gợi lên nhịp sống dẻo dai.

    + Cảnh ở hai câu đầu rất tĩnh thì đến đây nhờ hoạt động xay ngô của thiếu nữ mà trở nên sinh động hơn.

    + Đặc biệt là lò than rực hồng được bàn tay thiếu nữ nhen nhóm lên. Một chút sáng trong đêm tối cũng nhen nhóm được niềm vui, niềm lạc quan. Một chút ấm từ màu hồng của lò than, cũng xóa bớt cảm giác lạnh lẽo, cô đơn trong lòng người tù, xa xứ. Chữ “hồng” cuối bài thơ có thể gọi là thi nhân.

    -> Hai câu cuối miêu tả cảnh bằng tinh thần hiện đại:

    • Hình tượng thơ có sự vận động tích cực.
    • Bài thơ kết thúc ở màu hồng.
    • Đằng sau cặp mắt quan sát cảnh là tâm hồn của một người chiến sĩ cộng sản luôn hướng tới cuộc sống để tìm niềm vui, tăng niềm lạc quan tin tưởng để bước tiếp trên con đường chuyển lao gian khổ.

    Câu 4:

    Nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của bài thơ:

    – Nghệt thuật tả cảnh vừa có những nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thi liệu cũ) vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thực sinh động với những hình ảnh dân dã, đời thường). Bài thơ chủ yếu là gợi tả chứ không phải là miêu tả, vì thế mà có thể cảm nhận được tính chất hàm súc của thơ rất cao.

    – Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng rất linh hoạt và sáng tạo. Một số từ ngữ vừa gợi tả lại vừa gợi cảm (quyện điểu, cô vân). Biện pháp láy âm vắt dòng ở câu 3 và câu 4 tạo nhịp thơ khỏe khoắn. Ngoài ra bài thơ có những chữ rất quan trọng, có thể làm “sáng” lên cả bài thơ, ví như chữ “hồng” trong câu thơ cuối chẳng hạn.

    II. Luyện tập

    Câu 1:

    Cảnh chiều tối thật buồn nhưng nó vẫn có điểm sáng gợi một chút vui tương. Trong bức tranh chiều tối nổi bật lên một gam màu rực rỡ, ấy là ánh sáng hồng của lò than soi tỏ hình ảnh của một cô gái xóm núi đang xay ngô để chuẩn bị cho bữa cơm chiều. Nó không thực sự gợi ra niềm vui, nhưng nó gợi ra hơi ấm và một chút nào đó niềm tin. Ở hai câu đầu là tâm trạng buồn – cảnh buồn người cũng không vui. Vui sao được khi Người đang phải chịu cảnh tù đày oan ức nơi đất khách quê người. Thế nhưng ở hai câu thơ sau, ánh sáng và niềm vui bỗng ánh lên theo ánh lửa hồng. Cái mệt mỏi, cô quạnh cũng vơi đi. Thế mới biết, một phần lẽ sống đáng quý của Bác ấy là sự lạc quan.

    Câu 2:

    Hình ảnh thể hiện tập trung vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh trong bài có thể nói là hình ảnh cô gái xay ngô tối và bếp lửa hồng. Nó toát lên vẻ gần gũi, giản dị, trẻ trung, khỏe mạnh, sống động của cuộc sống lao động bình dị.

    Câu 3: Thép và tình trong bài “Chiều tối

    – Chất thép: Tinh thần Chiến sĩ chủ động, bình tĩnh trước gian khổ, biết vượt lên hoàn cảnh bằng niềm lạc quan.

    – Chất tình: Tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống bình dị của người lao động.

  • [Soạn văn] Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử)

    [Soạn văn] Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử)

    Soạn văn lớp 11: Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử)

    Câu 1: Tâm trạng tác giả trong khổ thơ đầu (qua hồi tưởng về Cảnh và người thôn Vĩ)

    – Bao trùm khổ thơ là niềm thích thú, say sưa, lòng yêu mến, tán thưởng vẻ đẹp của cảnh và người thôn Vĩ. Có lẽ tấm thiếp của người thôn Vĩ là một tìn hiệu tình cảm tác động mạnh tới vùng kỉ niệm đẹp trong tâm hồn Hàn Mặc Tử. Vì vậy mà hàng loạt hình ảnh, về thôn Vĩ hiện lên rất rõ và thực, tưởng như thi sĩ đang đứng trước cảnh sắc thôn Vĩ mà nhìn ngắm, nâng niu.

    + Hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” ở thôn Vĩ mang một vẻ đẹp lấp lánh, tinh khiết. Được nhìn nắng mới, trên những lá cau non là khoảnh khắc khó quên.

    + Cảnh vườn tược “mướt“, “xanh như ngọc” cũng là một nét độc đáo của những khu biệt thự nhà vườn thôn Vĩ. Cây cảnh nên được chăm sóc kĩ càng, không chỉ xanh mà còn mỡ màng, óng ả. Lại thêm một vẻ đẹp thanh khiết.

    Từ cảm thán “mướt quá” bộc lộ trực tiếp sự trầm trồ của thi sĩ. Chứng tỏ Hàn Mặc Tử đang say sưa trong dòng hồi tưởng. Vậy mới biết, xa thôn Vĩ nhưng tình đối với thôn Vĩ vẫn tràn đầy. Đại từ “ai” (vườn ai) phiếm chỉ nhưng vẫn mang ý nghĩa hướng về một “ai” đó xác định trong tâm tưởng của nhà thơ.

    + Người thôn Vĩ chỉ hiện lên chưa đầy nửa câu thơ, không trực diện, nguyên hình mà chi một nét thấp thoáng lá trúc. Khuôn mặt chữ điền phúc hậu càng có ấn tượng trong sự kín đáo, duyên dáng.

    => Cảnh và người thôn Vĩ thật đẹp nhưng cũng chỉ là hoài niệm.

    Câu 2: Khổ 2

    – Hình ảnh thơ:

    + Gió, mây: đi ngược lại với quy luật của thiên nhiên: chia lìa, phân li.

    + Dòng nước: buồn thiu. Dòng sông lặng lờ như bất động, không muốn chảy như đánh mất đi sự sống của mình.

    + Hoa bắp lay: sự lay động khẽ khàng.

    => Không chỉ cái buồn của cảnh vật mà còn là cái buồn của con người.

    – Sông trăng, con thuyền: lung linh, kì ảo.

    + Bút pháp tượng trưng thể hiện sự khát khao hạnh phúc.

    + Câu hỏi: thể hiện sự mong ngóng, hi vọng và cả nỗi đau thương, tuyệt vọng.

    => Câu thơ đẹp, gợi cảm. Gợi cảm giác bâng khuâng, xót xa.

    Câu 3: Tâm trạng của Hàn Mặc Tử ở khổ thơ thứ 3.

    Mơ khách đường xa, khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà?

    – Thiết tha hướng về người thôn Vĩ nhưng cảm thấy xa vời, khó tiếp cận.

    + Điệp ngữ “khách đường xa” (Huế và Quy Nhơn không quá xa về không gian địa lí. Đây là không gian tâm trạng. Đối với Hàn Mặc Tử, Huế và Quy Nhơn là hai thế giới cách biệt).

    + Các từ: Xa, trắng quá, sương khó, mờ, ảnh … càng tăng cảm giác khó nắm bắt.

    – Chỉ còn biết mơ tưởng.

    – Lòng đầy hoài nghi (Làm sao biết “tình ai có đậm đà“).

    Câu 4:

    – Tứ thơ là ý chính, ý lớn bao quát bài thơ, là điểm tựa cho sự vận động cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng toàn bài thơ. Ở bài thơ này, tứ thơ bắt đầu với cảnh đẹp thôn Vĩ bên dòng sông Hương, từ đó là khơi gợi liên tưởng thực – ảo và mở ra bao nhiêu nỗi niềm cảm xúc, suy tư về cảnh và người xứ Huế với phấp phỏng những mặc cảm, uẩn khúc, niềm hi vọng, niềm tin yêu.

    – Bút pháp của nhà thơ sử dụng trong bài thơ này kết hợp hài hòa điệu tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình. Cảnh đẹp xứ Huế đậm nét tả thực mà lại có tầm cao tượng trưng. Sự mơ mộng làm tăng thêm sắc thái lãng mạn. Nét chân thực của cảm xúc làm đậm thêm chất trữ tình.

    II. Luyện tập

    Câu 1: Tìm hiểu ý nghĩa các câu hỏi trong bài thơ.

    – Đây không phải là những câu hỏi vấn đáp. Hỏi đề bày tỏ tâm trạng. Các câu hỏi xuất hiện ở cả ba khổ thơ kết nối cảm xúc toàn bài thơ. Cụ thể:

    + Khổ 1: Câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?“.

    + Khổ 2: Câu hỏi: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay?

    + Khổ 3. Câu hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?

    Những câu hỏi trên đều không hướng tới một đối tượng nào cụ thể, vì không phải là những câu hỏi kiểu vấn đáp mà chỉ là những hình thức tỏ nỗi niềm, tâm trạng.

    Câu 2:

    Nội dung bài thơ thể hiện nỗi buồn, niềm khao khát của một con người tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, yêu con người. Bài thơ đẹp như thế, trên thực tế lại được tác giả sáng tác trong một hoàn cảnh thật tối tăm, tuyệt vọng (bệnh tật giày vò, nỗi ám ảnh về cái chết, về sự xa lành của người đời). Điều đó khiến người ta thêm thương xót và cảm thông với số phận của tác giả, thêm cảm phục một con người đầy tài năng và nghị lực, con người đã dũng cảm vượt lên trên hoàn cảnh nghiệt ngã để sáng tác ra một bài thơ tài hoa về tình đời, tình người.

    Câu 3: Đây là bài thơ về tình yêu hay tình quê?

    Hai tình cảm này có trong từng khổ thơ mang mức độ khác nhau.

    – Bài thơ này làm hiện lên những vẻ đẹp về cảnh và người xứ Huế qua đó cho thấy được tình yêu thiết tha, đằm thắm của tác giả đối với quê hương đất nước.

    – Ẩn trong lớp câu ngữ, bài thơ còn thể hiện tình cảm của Hàn Mặc Tử hướng về người thôn Vĩ: nhớ mong, khắc khoải, hoài nghi, vô vọng.