Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Vi-H%C3%A0nh-Nguy%E1%BB%85n-%C3%81i-Qu%E1%BB%91c.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu đến “vi hành” đấy): Cuộc trò chuyện của đôi trai gái trên chuyến tàu ngầm

    – Phần 2 (còn lại): Nhận định và thái độ mỉa mai đối với vua Khải Định

    Câu 1 (Trang 171 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Nghệ thuật trào phúng của truyện:

    – Tạo ra tình huống đặc sắc bất ngờ:

    + Đó là hai người khách nước ngoài tưởng nhân vật tôi là vua xứ Việt, và không biết nhân vật tôi biết tiếng Anh nên họ thản nhiên đưa ra phán xét

    + Từ những lời phán xét tác giả tố cáo bộ mặt thật của vua Khải Định: chỉ như trò hề, con rối, với chân dung được dựng lên cụ thể, ngộ nghĩnh

    – Sự trào phúng đó nằm ở: sự nhầm lẫn giữa hình thức với bản chất – sa đọa, bù nhìn trước việc làm của thực dân khi đưa Khải Định sang thăm Pháp.

    Câu 2 (trang 171 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tình huống truyện độc đáo:

    – Mở đầu với tình huống nhầm lẫn của cặp đôi người Pháp trong chuyến tàu điện ngầm

    + Nhìn người An Nam (nhân vật tôi) và nghĩ đó là vua Khải Định

    + Tình huống ngỡ như nhầm lẫn, vô lí nhưng thực chất lại có lí: người Tây không phân biệt được người da vàng

    + Tình huống nhầm lẫn vừa lột tả khách quan vừa hài hước, sâu cay khiến nhân vật tôi hiểu nhiều điều qua câu chuyện thầm tinh quái của họ.

    + Vua Khải Định xuất hiện trong truyện như sự tình cờ, ngẫu nhiên nhưng truyện dựng được chân dung hình ảnh y cụ thể, châm biếm

    Câu 3 (trang 171 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Hình tượng nhân vật Khải Định:

    – Ngoại hình:

    + da vàng bủng như chanh, mũi tẹt, mắt xếch

    + Trang phục lố lang như khoe của

    + Điệu bộ lấm lét, lúng túng như phường ăn cắp vụng trộm

    – Hành vi: nhút nhát, lén lút

    → Bản chất vua bù nhìn, vô dụng được hiện lên chân thực, khách quan: ông vua nhưng không khác thằng hề, con rối mua vui cho dân Pháp, sang Pháp để làm tay sai cho thực sân Pháp

    – Sức chiến đấu mạnh mẽ của tác phẩm:

    + Tố cáo chế độ chính sách dã man, bịp bợm của thực dân

    + Lên án chính sách ngu dân, đầu độc người dân bằng thuốc phiện, rượu

    + Bản chất của những tên thực dân lừa bịch, mang danh khai hóa nhưng thực chất cướp nước

    + Tố cáo chế độ nhà tù giam cầm người yêu nước trên khắp đất Pháp

    Câu 4: Đặc sắc nghệ thuật trong truyện Vi hành

    – Tác giả sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáo, đầy sáng tạo thể hiện là một người viết truyện ngăn già dặn.

    – Sáng tạo độc đáo nhất là hư cấu ra cuộc nhầm lẫn của đôi thanh niên nam nữ trong tàu điện ngầm ở Pa-ri để qua đó khách quan tố cáo, lên án tên vua bù nhìn Khải Định.

    – Các dựng cảnh sinh động, đối thoại tự nhiên, hợp lí, trần thuật chuyện linh hoạt.

    – Sử dụng hình thức bức thư gởi cô em họ để có thể dung nạp trong một truyện ngắn nhiều giọng điệu phong phú, nhiều liên tưởng thật thú vị…

    – Giọng điệu châm châm biến tự nhiên nhưng sâu cay, sắc sảo qua những chi tiết chọn lọc đắt giá, qua cách viết đa nghĩa gợi nhiều suy nghĩ lên tưởng cho người đọc, cách dùng ngôn từ hàm chứa nhiều ý nghĩa…

    – Giọng văn chế giễu thâm thúy, nhìn bề ngoài có vẻ nhẹ nhàng, hóm hỉnh, không hề có ý thoái mạ nhưng thực chất có sức mạnh đả kích rất quyết liệt An Nam Khải Định và chiêu bài khai hóa giả dối của thực dân Pháp.

  • Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Cha-Con-Ngh%C4%A9a-N%E1%BA%B7ng-H%E1%BB%93-Bi%E1%BB%83u-Ch%C3%A1nh.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Cha Con Nghĩa Nặng (Hồ Biểu Chánh)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … buồn rầu khổ cực nữa): tâm trạng của Trần Văn Sửu khi trên cầu Mê Tức

    – Phần 2 (tiếp … trở lại liền): cuộc gặp gỡ cảm động của hai cha con

    – Phần 3 (còn lại): cuộc đoàn tụ của hai cha con

    Câu 1 (trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Câu chuyện kể về người nông dân Trần Văn Sửu hiền lành, thương vợ, thương con. Một hôm anh bắt gặp vợ ngoại tình dù cả hai vợ chồng đã có với nhau 3 mặt con. Vợ anh là Hồ Thị Lựu hỗn láo và níu chồng để tình nhân chạy thoát. Anh vô tình đẩy xô vợ ngã, thị chết, anh bỏ chốn. Một thời gian sau, anh trở về thăm con nhưng sợ ảnh hưởng tới con nên anh định nhảy sông tự tử, nhưng thằng Tí đuổi theo cha. Hai cha con gặp nhau trên Mê Tức, nó khuyên cha trở về, Trần Văn Sửu được xóa án, cha con, gia đình đoàn tụ.

    Câu 2 (Trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tình cảm cha con trong bài:

    – Người cha đi biệt xứ vẫn nhớ tới con, lo lắng cho con

    + Không sợ nguy hiểm tới bản thân, không sợ liên lụy tới con nên vội trốn đi

    + Có ý định tự tử để bảo toàn sự an toàn cho con

    + Dù ở xa con nhưng vẫn dõi theo con từng ngày.

    → Người cha bao dung, nhân hậu hết lòng vì con cái, không màng tới sự an nguy của bản thân.

    Người bố sẵn sàng xa con, chịu cực khổ để con có cuộc sống yên bình.

    – Tình cảm của người con dành cho cha tha thiết, mãnh liệt:

    + Ban đầu Tí nghĩ cha đã chết, nên khi cha trở về nó bất ngờ khôn cùng

    + Khi nghe ông ngoại nói, Tí càng thêm thương cha, quý trọng cha

    + Gặp cha trên cầu Mê Tức nó nắm tay cha nó, ôm chặt cha nó nghẹn ngào

    → Đứa con thương cha, hiếu nghĩa, thấu hiểu nỗi khổ cha

    Câu 3 (Trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Để tạo ra tình huống giàu kịch tính tác giả tạo ra nhiều những mâu thuẫn:

    – Người cha muốn bỏ đi để con tìm hạnh phúc (vì không ai chịu gả con gái cho người con một người đi tù)

    – Tình huống truyện đặt ra căng thẳng, phức tạp khi cuộc gặp gỡ của hai cha con sau 11 năm nhưng bóng đen quá khứ vẫn ám ảnh

    → Cuộc đối thoại của hai cha con đi tới kết thúc tốt đẹp, người đọc cảm nhận được tình cảm cha con sâu nặng, người sống trong đạo lí bao giờ cũng có kết quả tốt đẹp.

    Câu 4 ( trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Nhân vật người con Trần Văn Tí có tính cách mạnh mẽ không chịu bó tay trước hoàn cảnh:

    + Tí đã đưa lối thoát cho tình huống tưởng như bế tắc, làm yên lòng mình, dịu được lòng cha, vẹn được nhiều bề dù còn khó khăn.

    + Bằng tình yêu thương, hiếu thảo với cha Tí đã giúp cha vượt qua khó khăn về tâm lý

    – Người cha trong truyện thương con vô hạn, sẵn sàng hi sinh tất cả vì hạnh phúc của con

    → Hai cha con thể hiện tính cách người Nam Bộ mạnh mẽ và kiên quyết.

    – Tình cảm của hai cha con chân thật, cảm động, thấm đẫm tình người.

    Câu 5 (trang 167 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Nghệ thuật kể chuyện:

    + Kể theo trình tự thời gian tạo người đọc dễ theo dõi, nắm được cốt truyện

    + Đoạn đối thoại giữa hai cha con lên tới cao trào, nhanh và cảm động

    + Cách miêu tả nhân vật giản dị, chân thật

    + Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ

    → Tác giả Hồ Biểu Chánh để lại ấn tượng với người đọc bởi cốt truyện cảm động, lời thoại nhân vật có chiều sâu của cảm xúc, có diễn biến tâm lý nhân vật

  • Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Ch%C3%AD-Ph%C3%A8o-Ph%E1%BA%A7n-2-Nam-Cao.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 2 (Nam Cao)

    Tóm tắt

    Chí Phèo vốn không cha không mẹ, được dân làng truyền tay nhau nuôi lớn. Rồi đến làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Bá Kiến ghen tuông nên đã đẩy anh vào tù. Bảy tám năm sau, Chí ra tù và trở về làng với bộ dạng của một tên lưu manh. Hắn chuyên uống rượu, rạch mặt ăn vạ. Cả làng lánh xa hắn, Chí bị Bá Kiến lợi dụng thành công cụ cho hắn.

    Chí gặp Thị Nở, hai người ăn nằm với nhau. Chí tỉnh rượu rồi ốm, được Thị Nở chăm sóc. Bát cháo hành và những cử chỉ chân thật của Thị Nở đã làm sống dậy khát vọng sống cuộc đời lương thiện của Chí. Nhưng bà cô Thị Nở ngăn cấm. Chí tuyệt vọng khi bị Thị Nở từ chối. Anh xách dao đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện. Anh đâm chết Bá Kiến và tự vẫn.

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … “mau lên“): Chí Phèo từ lúc sinh ra tới khi biến thành quỷ dữ làng Vũ Đại

    – Phần 2 (còn lại): khát vọng hoàn lương của Chí và bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

    Câu 1 (trang 155 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tác giả vào chuyện độc đáo, mang ý nghĩa sâu sắc từ tiếng chửi của Chí Phèo

    + Chí Phèo vừa đi vừa chửi, nhưng điều lạ lùng là không có người chửi và người nghe hắn chửi

    + Lời chửi của Chí nghe ghê gớm: chửi đời, chửi trời, đất, chửi làng Vũ Đại

    – Tiếng chửi là phản ứng của Chí với toàn bộ cuộc đời

    + Bộc lộ nội tâm của người bất mãn ý thức được con người ít nhiều ý thức được mình bị gạt ra khỏi xã hội lời người

    + Tiếng chửi thảm hại khi mà “đáp lại lời hắn chỉ có lũ chó cắn xôn xao trong xóm”

    ⇒ Tình cảnh xót xa của người nông dân bị tha hóa, đơn độc

    Câu 2 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Cuộc đời Chí có bước ngoặt khi gặp Thị Nở:

    + Ban đầu Chí gặp Thị và bị hấp dẫn đơn giản vì Chí là thằng say “ngứa ngáy” thịt da, hai người ân ái với nhau. Sau đó, Chí đau bụng rồi Thị dìu Chí vào nhà tìm manh chiếu rách đắp cho Chí

    + Chí tỉnh dậy sáng hôm sau và cảm thấy lòng “bâng khuâng”, “mơ hồ buồn” khi nghe thấy âm thanh quen thuộc của sự sống

    – Ý nghĩa trong cuộc gặp Chí Phèo- Thị Nở:

    + Đó là những giây phút Chí được trở lại “làm người”, mong được sống hạnh phúc

    + Sự săn sóc, quan tâm của người đàn bà xấu xí, khốn khổ khơi dậy bản chất lương thiện vốn bị chèn ép từ lâu trong con người Chí

    + Tác giả thể hiện được tư tưởng nhân đạo sâu sắc của mình đối với hình tượng người nông dân bị tha hóa khi sáng tạo ra chi tiết gặp gỡ của Chí Phèo với Thị Nở

    + Giúp Chí tỉnh táo nhìn lại cuộc đời trong quá khứ, hiện tại, tương lai, ước mơ có gia đình nhỏ, với cuộc sống giản dị

    + Chí ý thức được sự cô độc, bất hạnh của đời mình, và khát khao được sống cuộc đời của con người

    Câu 3 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Chí mong Thị trở thành chiếc cầu nối cho Chí hòa nhập với mọi người, chấm dứt đoạn đời thú vật để sống đúng với kiếp người.

    – Thị Nở từ chối Chí phèo do lời nói của bà cô thị, kiên quyết ngăn cản mối tình này:

    + Thị trút tất cả những lời cay độc lên Chí Phèo đang khát khao lương thiện, chờ được làm hòa với mọi người

    – Tâm trạng của Chí diễn biến phức tạp: thức tỉnh- hy vọng- thất vọng, đau xót- phẫn uất- tuyệt vọng

    + Chí rơi vào tuyệt vọng khi thấm thía bi kịch tinh thần sinh ra là người nhưng không được làm người.

    + Chí càng uống rượu càng tỉnh, Chí khóc rưng rức và ý thức được tội ác của kẻ cướp đi của mình cả bộ mặt và hồn người. Tiếng khóc của Chí là khóc thương cho thân phận.

    + Khi lòng sôi sục Chí đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình

    ⇒ Chí tuyệt vọng trước bi kịch bị cự tuyệt ước muốn làm người, nên đã kết liễu bản thân và kẻ thù. Cái chết của Chí có tác dụng tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy người nông dân lương thiện vào đường cùng, lưu manh hóa họ, đẩy họ vào chỗ chết

    Câu 4 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nghệ thuật điển hình hóa nhân vật của Nam Cao:

    + Chí Phèo là hiện tượng có tính quy luật trong xã hội đương thời của tình trạng bị đè nén, áp bức trước CM tháng Tám

    + Người lao động bị lưu manh hóa, từ những nhân vật hiền lành trở nên mất nhân tính

    + Tâm lý nhân vật được miêu tả sắc sảo, tinh tế, đi sâu vào bộc lộ nội tâm diễn tả những chuyển biến phức tạp trong cuộc sống

    + Xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo bị tha hóa, bị xã hội ruồng bỏ, tác giả muốn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, tấm lòng yêu thương, trân trọng con người khốn khổ

    + Chí Phèo là nhân vật hiện lên sắc nét, vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa hết sức sinh động, có trạng thái tâm lí phức tạp.

    Câu 5 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Ngôn ngữ trong tác phẩm sống động, điêu luyện, nghệ thuật, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày

    + Giọng điệu của nhà văn biến hóa, đan xen lẫn nhau

    + Nhà văn có khả năng hòa nhập nhiều vai, chuyển đổi điểm nhìn của tác giả, trần thuật

    + Sự am hiểu về ngôn ngữ sống một cách chung chung, nắm vững dạng thức sống của từng loại ngôn ngữ

    + Tác giả sử dụng ngôn ngữ có cả khẩu khí, cú pháp lẫn “phong cách học” cả lối tu từ học của nó nữa.

    Câu 6 (trang 145 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao trong truyện ngắn này mới mẻ, sâu sắc:

    – Phát hiện và miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người lao động ngay khi họ bị xã hội tàn ác cướp mất bộ mặt, linh hồn người

    – Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp, bản chất thiện lương của con người

    Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao có những nét mới và sâu sắc riêng.

    Luyện tập

    Bài 1 (Trang 156 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    “Văn chương không cần đến người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho… những gì chưa từng có”

    – Ý kiến trên khẳng định yêu cầu quan trọng của tác phẩm nghệ thuật và nghệ sĩ đó là sáng tạo, khơi nguồn những cái mới

    – Tác giả phản ánh đúng bản chất của nghệ thuật, được nhiều người thừa nhận, diễn đạt theo những cách khác nhau.

    – Tác giả sử dụng biện pháp so sánh để diễn tả nhiệm vụ, bản chất cơ bản của văn chương. Soi tỏ vào sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

    – Những tác phẩm của ông là minh chứng rõ rệt nhất cho triết lý đó.

    + Tác phẩm viết về người nông dân ông đi theo lối riêng, khám phá sự tha hóa của những con người bị dồn tới đường cùng trở thành lưu manh

    + Con đường sáng tác của Nam Cao là con đường của người không bao giờ muốn lặp lại mình

    Bài 2 (trang 156 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tác phẩm Chí Phèo được coi là kiệt tác của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại:

    – Hệ giá trị tư tưởng sâu sắc, độc đáo, mới mẻ

    – Nam Cao là bậc thầy về ngôn ngữ, cách xây dựng nhân vật, lối kết cấu, xây dựng cốt truyện

    – Gía trị nhân đạo còn tồn tại mãi về sau, làm nên tên tuổi của nhà văn có trái tim nhân hậu, Nam Cao.

  • Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Ch%C3%AD-Ph%C3%A8o-Ph%E1%BA%A7n-1-Nam-Cao.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Chí Phèo Phần 1 (Nam Cao)

    Câu 1 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nam Cao tên thật: Trần Hữu Tri

    – Quê quán Lý Nhân, Hà Nam trong một gia đình trung nông, nghèo, đông con, gia đình tri thức nghèo.

    – Ông tham gia hoạt động cách mạng tích cực, với tư cách phóng viên, ông có mặt khắp các chiến trường.

    – Ông là người có tấm lòng đôn hậu, giàu nội tâm phong phú, ông va chạm với hiện thực tàn nhẫn, sống lay lắt, dẫn tới nhiều chuyển biến về nhận thức

    – Tâm trạng bất hòa với xã hội, nên tác phẩm của ông tố cáo những bất công, tàn bạo trong xã hội, bênh vực, thấu hiểu cho kẻ yếu thế

    – Tinh thần vượt lên khắc phục tâm lý, lối sống tiểu tư sản nhằm hoàn thiện nhân cách và có cuộc sống ý nghĩa

    Câu 2 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nam Cao là nhà văn tự giác về quan điểm có tính nguyên tắc của văn học hiện thực tiến bộ:

    + Ông không tập trung miêu tả cái đẹp, cái thơ mộng mà bám vào hiện thực và phản ánh chân thực hiện thực xã hội

    + Ông quan niệm văn chương phải viết về cuộc sống, văn chương vì con người, nhà văn chân chính là nhà văn có nhân cách, lòng nhân đạo

    + Văn chương chân chính thấm đượm tinh thần nhân đạo, mang nỗi đau nhân thế, tiếp sức mạnh cho con người vươn lên trong cuộc sống

    – Bản chất của văn chương là sáng tạo, không chấp nhận cái rập khuôn và sự dễ dãi

    + Người viết phải có lương tâm vì “sự cẩu thả trong văn chương là một sự đê tiện”

    Câu 3 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Các sáng tác trước CM tháng Tám của Nam Cao tập trung vào cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản, cuộc sống của người nông dân

    ⇒ Nỗi day dứt, đau đớn của tác giả trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, hủy hoại nhân cách trong xã hội

    Câu 4 (Trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

    – Nam Cao đặc biệt quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, có hứng thú khám phá con người trong con người

    – Khuynh hướng tìm hiểu, đi sâu khai thác nội tam nhân vật, phân tích, diễn tả tâm lý nhân vật

    – Cách tạo dựng đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm chân thật, sinh động

    – Giọng văn: buồn thương, chua chát, đau xót nhưng đầy thương cảm, thương yêu thân phận con người yếu đuối trong xã hội

  • Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-b%C3%A0i-H%E1%BA%A1nh-ph%C3%BAc-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-tang-gia-V%C5%A9-Tr%E1%BB%8Dng-Ph%E1%BB%A5ng.pdf[/pdfviewer]

    Soạn bài: Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … “gây ra cho Tuyết nhiều vậy“): sự vui mừng của cả gia đình Tuyết trước

    – Phần 2 (tiếp … “đám cứ đi“): cảnh lố bịch của đám ma kiểu mẫu

    – Phần 3 (còn lại): cảnh những người đi dự đám

    Câu 1 (trang 128 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Nhan đề tác phẩm chứa đựng nghịch lý khiến người đọc tò mò: Hạnh phúc một tang gia

    + Mâu thuẫn trào phúng nằm ở nhan đề, phản ánh đúng sự thật một cách mỉa mai, hài hước và đau xót: đám con cháu hạnh phúc trước cái chết của cụ cố Tổ bởi chúng đã đợi quá lâu để được hưởng thụ gia tài

    + Tác giả xây dựng bối cảnh bối rối, lo lắng, bận tâm của gia đình có tang nhưng cụ cố tổ mất có nghĩa là di chúc được thực hiện, vì vậy tất cả con cháu đều mong chờ và cảm thấy hạnh phúc, sung sướng khi cái chết đó diễn ra. Vũ Trọng Phụng liên tiếp tạo ra các mâu thuẫn trong tình huống truyện bộc lộ các mâu thuẫn, trào phúng khác.

    Câu 2 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Cụ cố tổ chết là niềm vui, niềm hạnh phúc của cả gia đình “đại bất hiếu”.

    – Tác giả miêu tả chi tiết cụ thể niềm vui, hạnh phúc riêng của từng thành viên, không ai giống ai

    + Cụ cố Hồng đại diện loại người ngu dốt, háo danh: nhắm nghiền mắt lại để nghĩ tới lúc được mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy, cho thiên hạ trầm trò khen

    + Văn Minh được dịp lăng xê những mốt y phục táo bạo nhất, lại được hưởng gia tài do là cháu đích tốn

    + Cô Tuyết được mặc bộ “ngây thơ”, là dịp để Tuyết trưng diện, phô bày sự hấp dẫn của cơ thể

    + Cậu Tú Tân được giải trí, chứng tỏ tài chụp ảnh

    + Ông Phán mọc sừng sung sướng vì cặp sừng của mình có giá trị khi làm cụ cố tổ chết

    + Xuân Tóc Đỏ danh giá, uy tín vì nhờ hắn mà cụ cố tổ chết

    – Đám tang còn lây lan hạnh phúc sang những người bên ngoài: cảnh sát Min Đơ, Min Toa, bạn bè trưởng giả của cụ cố Hồng

    Câu 3 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Đoạn tả đám tang từ nhà cụ cố Hồng ra đến huyệt cũng hài hước, tài tình

    + Đám ma như đám rước, lộn xộn, lố bịch khiến con người đau đớn trước cảnh tượng đó

    + Khung cảnh đám tang diễn ra nhộn nhịp, đông vui có cả trai gái chim chuột, đám ma cụ cố tổ trở thành hội tưng bừng, cạch cỡm ( Kèn Tây, kèn ta, người đi đưa đông đúc chim chuột nhau…)

    + Đám ma gương mẫu: đám ma được gia đình cụ cố diễn chuyên nghiệp của tất cả những kẻ trơ tráo, thất đức

    + “Thật là đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu

    ⇒ Đám ma diễn ra như tấn hài kịch, lố bịch của xã hội thương lưu đương thời rởm đời

    Câu 4 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Xã hội “thượng lưu” đương thời:

    + Xã hội suy tàn, chế độ thối nát

    + Hình ảnh được thể hiện chi tiết trong đoạn văn, biểu tượng cho một điều đó là đồng tiền làm lu mờ con người

    + Xã hội đó bát nháo, những kẻ bịp bợm, lẳng lơ lại hợp thời được thượng tôn

    Câu 5 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Số đỏ là tác phẩm xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại

    – Tác phẩm đả kích sâu sắc xã hội tư sản nhố nhăng, chạy theo lối sống đồi bại đương thời

    – Dùng tiếng cười làm vũ khí, tác giả vạch trần bản chất thối nát, rởm đời của tầng lớp thượng lưu

    – Tác giả mỉa mai, châm biếm phong trào “Âu hóa”, “thể thao”, “vui vẻ trẻ trung” của tầng lớp thống trị khuyến khích

    + Đoạn trích sử dụng thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa…

    + Sử dụng nghệ thuật mâu thuẫn, đối lập

    ⇒ Đoạn trích là đỉnh cao nghệ thuật trào phúng sâu cay của tác giả

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Đọc lại toàn bộ Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

    Bài 2 (trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Mâu thuẫn sự trào phúng:

    + Nguyên tắc gây cười phát hiện, thể hiện mâu thuẫn nghịch lý, những điều trái khoáy ngược đời bóc trần bản chất hiện tượng

    + Mâu thuẫn trào phúng qua nhan đề: tính chất ngược đời, lố lăng

    + Mâu thuẫn giữa giả và thật: giữa hình thức thể hiện của con cháu nhà cụ cố với thực trạng đau xót của một đám tang. Những kẻ rởm đời, lọc lõi lại được tôn vinh, ngợi ca. Những bức tranh biếm họa về nhân vật lần lượt hiện ra

    ⇒ Tác giả tái hiện được thực trạng xã hội thượng lưu với bản chất gian manh, lố bịch, rởm đời lúc bấy giờ.

  • Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Ch%E1%BB%AF-Ng%C6%B0%E1%BB%9Di-T%E1%BB%AD-T%C3%B9-Nguy%E1%BB%85n-Tu%C3%A2n.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Chữ Người Tử Tù (Nguyễn Tuân)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … “rồi sẽ liệu“): Cuộc gặp giữa Huấn Cao và thầy quản ngục

    – Phần 2 (tiếp … “trong thiên hạ“): Quản ngục mong muốn được Huấn Cao cho chữ

    – Phần 3 (còn lại): Cảnh cho chữ trong ngục

    Câu 1 (trang 114 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tình huống truyện độc đáo:

    – Hai nhân vật Huấn Cao và quản ngục, bình diện xã hội đối lập nhau. Một người là tử tù một người là quan quản ngục- đại diện cho trật tự xã hội. Ở họ có chung tâm hồn nghệ sĩ, yêu cái đẹp nên họ trở thành tri kỉ, tri âm của nhau. Tạo dựng tình huống éo le khi để họ gặp nhau giữa chốn ngục tù, tối tăm nhơ bẩn, tác giả tạo nên cuộc kì ngộ đáng nhớ và kì lạ

    – Tác dụng:

    + Làm nổi bật trọn vẹn vẻ đẹp về nhân cách, tài năng của Huấn Cao

    + Làm sáng tỏ tấm lòng “biệt nhỡn nhân tài” của quản ngục

    + Chủ đề tác phẩm từ đó cũng được thể hiện

    Câu 2 (trang 114 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Huấn Cao có vẻ đẹp thể hiện qua phẩm chất:

    + Con người tài hoa, ưu việt, đầy quyền năng (tài viết chữ “đẹp và vuông lắm”, tiếng tăm nổi khắp tỉnh Sơn, khiến quan ngục muốn xin chữ)

    + Khí phách hiên ngang, gan dạ của Huấn Cao (Vẫn giữ được sự hiên ngang, khảng khái ngay cả trong tù)

    + Người có “thiên lương” trong sáng và cao đẹp (thái độ trọng cái đẹp, chia sẻ lời gan ruột với quản ngục)

    – Tác giả xây dựng hình tượng Huấn Cao với dụng ý nghệ thuật:

    + Bày tỏ quan niệm nghệ thuật về cái đẹp của tác giả

    + Cái tài phải đi đôi với cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời: quan niệm tiến bộ của tác giả

    Câu 3 (trang 114 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Phẩm chất của viên quản ngục:

    + Là người làm nghệ quan ngục nhưng lại có thú vui thanh cao, tao nhã – thú chơi chữ

    + Là người biết trân trọng những giá trị con người (hành động “biệt đãi” người tài như Huấn Cao)

    + Sở nguyện thanh cao muốn có chữ của Huấn Cao treo bất chấp nguy hiểm, thái độ hiên ngang bất khuất, coi thường cái chết và tiền bạc

    + Diễn biến nội tâm, hành động cách ứng xử của viên quản ngục cho thấy nhân cách đẹp, một “tấm lòng trong thiên hạ” tri kỉ, tri âm

    + “Một âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ

    ⇒ Quản ngục người biết giữ “thiên lương” biết trân trọng giá trị, tài năng, người có tâm hồn nghệ sĩ, yêu cái đẹp

    Câu 4 (trang 114 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Nguyễn Tuân dụng công miêu tả “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” làm nổi bật vẻ đẹp trang trọng, uy nghi, bất tử hình tượng Huấn Cao

    + Việc cho chữ- hoạt động nghệ thuật thanh cao diễn ra trong căn buồng tối tăm, chật hẹp, ẩm ướt, hôi hám

    + Cái đẹp tỏa sáng, người nghệ sĩ tô từng nét chữ không phải người được tự do mà là kẻ tử tù

    + Hình tượng người tử tù uy nghi, cao đẹp >< quản ngục, thơ lại là kẻ tự do

    + Trật tự trong nhà tù bị đảo ngược: người tù ban phát cái đẹp, răn dạy quản ngục

    ⇒ Sự chiến thắng của thiện lương, của ánh sáng nghệ thuật chân chính. Tô đậm nhân cách thanh cao, ngang tàng của Huấn Cao

    Câu 5 (trang 116 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Nghệ thuật xây dựng nhân vật: bằng bút pháp lý tưởng hóa

    – Cảnh cho chữ trong tác phẩm có nghệ thuật tương phản làm nổi bật cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, tính cách với hoàn cảnh

    + Thủ pháp đối lập cảnh tượng hiện lên đầy đủ vẻ uy nghi, rực rỡ của nó

    – Ngôn ngữ: giàu chất tạo hình, biểu cảm, gợi được không khí thời đại (cổ kính, thiêng liêng…)

    Luyện tập

    Nhân vật Huấn Cao:

    – Hình tượng nhân vật Huấn Cao có tính cuốn hút về nhân cách, tài năng, khí phách anh hùng ngang tàng, một con người mang nét đẹp của khí chất ngang tàng

    – Con người sống hiên ngang, đầy tự trọng

    + Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ

    + Những người chọc trời quấy nước chỉ đếm trên đầu ngón tay

    – Chí lớn không thành, coi thường cái chết, cường quyền

    + Chống lại triều đình, bị bắt giam nhưng không hề sợ cái chết

    + Có những suy nghĩ, hành vi thật phóng khoáng

    – Khinh bỉ kẻ đại diện cho cường quyền

    + Khí phách hiên ngang giữa ngục tù

    + Khinh bỉ những kẻ cầm quyền thị oai, tàn nhẫn

    – Là người yêu cái đẹp, tạo ra cái đẹp

    + Tài hoa khi viết thư pháp

    + Dành sự tài hoa cho người tri kỉ

    – Hình ảnh cao đẹp, uy nghi của Huấn Cao khi cho chữ quản ngục

    + Viết chữ vốn thanh cao

    + Hình ảnh kì vĩ của người tù đeo gông, chân vướng xiềng xích tô đậm nét chữ >< hình ảnh co ro của thầy thơ lại, run run bưng chậu mực khúm núm, tay vái tạ

    ⇒ Hình tượng Huấn Cao phản ánh tư tưởng nghệ thuật của tác giả về cái đẹp: thiên lương cao cả tỏa sáng chính nơi bóng tối và cái ác ngự trị.

  • Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Hai-%C4%90%E1%BB%A9a-Tr%E1%BA%BB-Th%E1%BA%A1ch-Lam.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Thạch Lam)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu đến “cho chúng“): Cảnh chiều tàn và tâm trạng của Liên.

    – Phần 2 (tiếp … “cảm giác mơ hồ không hiểu nổi“): cảnh phố huyện lúc về đêm

    – Phần 3 (còn lại) cảnh chờ tàu của hai chị em Liên

    Câu 1 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Không gian và thời gian được miêu tả trong truyện:

    + Buổi chiều tà (phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây hồng như hòn than sắp tàn

    + Nền thiên nhiên của ngày tàn, đời sống phố huyện nghèo thu hẹp dần không gian

    + Quang cảnh phố huyện nghèo đói, nhỏ bé, phiên chợ tàn, góc chợ đơn xơ lụp xụp

    Câu 2 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Những kiếp người tàn nơi phố huyện được miêu tả chân thực:

    – Chị Tí ban ngày mò cua bắt ốc, tối dọn hàng nước, thắp ngọn đèn dầu leo lét (cũng chả kiếm được bao nhiêu)

    – Gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau để trước mặt, góp tiếng bằng tiếng đàn bầu bật trong yên lặng

    – Bà cụ Thi điên nghiện rượu, có tiếng cười khanh khách, ghê sợ, xiêu vẹo như bóng ma

    – Chị em Liên được miêu tả kĩ hơn:

    + Thầy Liên mất việc, gia đình phải chuyển về quê, mẹ Liên dọn cửa hàng tạp hóa để hai chị em bán thêm

    + Liên thương những đứa trẻ nghèo và suy nghĩ về gánh phở của bác Siêu như món quà xa xỉ

    + Cuộc sống khó khăn, eo hẹp của gia đình Liên

    ⇒ Tất cả chung sự buồn chán, mệt mỏi, cuộc sống tẻ nhạt, buồn chán lặp đi lặp lại một cách đơn điệu và quẩn quanh đáng xót thương

    Mặc dù thế họ vẫn hi vọng dù rất mơ hồ rằng cuộc sống của họ có sự thay đổi, niềm xót thương của tác giả dâng lên thể hiện kín đáo

    Câu 3 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tâm trạng của hai đứa trẻ trước khung cảnh thiên nhiên và bức tranh phố huyện được miêu tả khéo léo, tinh tế:

    + Chị em Liên cảm nhận về buổi chiều bằng những cảm giác riêng, vừa buồn, vừa gắn bó

    + Hòa hợp với thiên nhiên, hai đứa trẻ phát hiện ra biết bao biến thái tinh vi của nó (ngước mắt tìm dòng sông Ngân Hà)

    + Tâm trạng của hai đứa trẻ có sự giao cảm, hòa hợp với cỏ cây quê hương ( qua kẽ lá bàng…giấc mơ không hiểu)

    ⇒ Hai chị em lặng lẽ quan sát những điều diễn ra ở phố huyện với cảm giác buồn mênh mang, xót xa cảm thông với kiếp người nhỏ nhoi, lay lắt trong bóng tối cơ cực

    Câu 4 (Trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Hình ảnh đoàn tàu đêm xuất hiện trong sự chờ đợi háo hức của chị em Liên:

    + Liên “buồn ngủ ríu cả mắt” vẫn cố chờ chuyến tàu đêm, An dặn chị gọi dậy khi có đoàn tàu đi qua

    + Hai chị em cố thức không phải để bán hàng mà “muốn được nhìn chuyến tàu”

    + Con tàu với chị em Liên chính là thế giới khác

    – Tác giả tập trung miêu tả tỉ mỉ, kỹ lưỡng theo trình tự thời gian, tâm trạng chờ mong của nhân vật Liên và An

    – Ý nghĩa của chuyến tàu đêm đối với người dân phố huyện nghèo khổ:

    + Biểu tượng của sự sống mạnh mẽ, giàu sang, rực rỡ ánh sáng

    + Chuyến tàu gợi nhớ kỉ niệm đẹp đẽ, no đủ của chị em Liên khi thầy chưa mất việc

    + Người dân phố huyện chấm dứt hoạt động khi chuyến tàu đêm đi qua

    ⇒ Thông qua tâm trạng đợi tàu của Liên tác giả muốn lay tỉnh những con người đang sống nhàm chán, quẩn quanh

    Câu 5 (Trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nghệ thuật miêu tả và giọng văn của Thạch Lam:

    – Truyện ngắn miêu tả tinh tế biến thái của cảnh vật, diễn biến tâm trạng của nhân vật ⇒ Tạo không khí cho tác phẩm

    – Giọng văn nhẹ nhàng, điềm tĩnh, khách quan, chứa trong đó sự xót xa cho kiếp người nghèo khổ, quẩn quanh

    – Truyện ngắn giàu sắc thái trữ tình và đậm chất thơ

    Câu 6 (trang 101 ngữ văn 11 tập 1)

    – Thạch Lam muốn thể hiện nhẹ nhàng, thấm thía niềm xót thương đối với những kiếp người sống quẩn quanh ở phố huyện trước Cách mạng

    – Tác giả thể hiện sự trân trọng đối với ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp của họ

    – Truyện thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, trân trọng

    Luyện tập

    Câu 1 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Nhân vật gây ấn tượng sâu sắc nhất là Liên

    + Cô bé có tuổi thơ chìm trong sự héo úa, tàn tạ của cuộc sống đầy bóng tối

    + Liên là cô bé giàu lòng thương cảm với những kiếp người nghèo khó trong phố huyện

    + Liên có sự giao hòa tâm hồn với thiên nhiên

    + Khao khát cuộc sống tốt đẹp, mong muốn vượt thoát khỏi những tù túng, chật hẹp trong cuộc sống

    Câu 2 (trang 101 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn tiêu biểu phong cách nghệ thuật của Thạch Lam:

    – Những trang viết vừa đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn, nên thơ

    – Truyện tiêu biểu thể loại truyện tâm tình cảu Thạch Lam

    + Tình người chân chất nhẹ nhàng thấm vào truyện

    + Lối kể thủ thỉ tâm sự với người đọc

  • Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945

    Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945

    Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật ( Nguyễn Trường Tộ )


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-b%C3%A0i-Kh%C3%A1i-qu%C3%A1t-v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-Vi%E1%BB%87t-Nam-t%E1%BB%AB-%C4%91%E1%BA%A7u-th%E1%BA%BF-k%E1%BB%89-XX-%C4%91%E1%BA%BFn-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-th%C3%A1ng-T%C3%A1m-1945.pdf[/pdfviewer]

    Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945

     

    Câu 1 (trang 90 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Hiện đại hóa: quá trình làm cho văn học thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại, đổi mới theo hình thức văn học phương Tây

    Các nhân tố tạo điều kiện:

    + Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản đưa đất nước phát triển tiến bộ

    + Sự góp phần của báo chí, ngành xuất bản dần thay thế chữ Hán, Nôm tạo điều kiện nền văn học Việt Nam hình thành, phát triển

    – Qúa trình hiện đại hóa của văn học diễn ra:

    + Giai đoạn thứ nhất ( từ đầu TK XX tới năm 1920)

    + Giai đoạn thứ hai ( 1920 – 1930)

    + Giai đoạn thứ ba (1930- 1945)

    ⇒ Văn học giai đoạn đầu chịu nhiều ràng buộc của cái cũ, tạo nên tính chất giao thời văn học

    b, Sự phân hóa của văn học Việt Nam:

    + Chia thành hai bộ phận: công khai và không công khai

    + Do đặc điểm của nước thuộc địa, chịu sự ảnh hưởng, chi phối của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc

    + Văn học công khai chia nhỏ: văn học lãng mạn và văn học hiện thực

    + Văn học không công khai có văn thơ cách mạng của chiến sĩ và người tù yêu nước

    c, Nguyên nhân:

    – Sự thúc bách của yêu cầu thời đại

    – Chủ quan của nền văn học

    – Cái tôi thức tỉnh, trỗi dậy

    – Nhu cầu thưởng thức, văn chương trở thành hàng hóa

    Câu 2 (Trang 91 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Văn học có hai truyền thống: chủ nghĩa yêu nước và nhân đạo

    – Văn học giai đoạn đầu TK XX tới Cách mạng tháng Tám:

    + Quan tâm phản ánh mọi giai tầng, kể cả người dân lầm than

    + Tố cáo, thể hiện khát vọng mãnh liệt của cá nhân về vẻ đẹp hình thức, phẩm giá

    b, Các thể loại văn học mới: phóng sự, lí luận phê bình văn học

    + Tiểu thuyết cách tân xóa bỏ sự vay mượn đề tài, cốt truyện của văn học Trung Quốc, kết cấu chương hồi, cốt truyện li kì

    + Tiểu thuyết hiện đại trọng tính cách nhân vật, đi sâu vào thế giới nội tâm

    + Lối kể linh hoạt, kết thúc có hậu, gần với đời sống

    – Thơ: xóa bỏ tính quy phạm, ước lệ trong thơ cũ

    + Cái tôi Thơ Mới được giải phóng, giàu cảm xúc

    + Nhìn thế giới bằng đôi mắt háo hức, tích cực hơn

    Luyện tập

    Văn học (từ 1900 đến 1930) là văn học giao thời bởi:

    + Sự tồn tại song song hai nền văn học ( cũ và mới), hai lực lượng sáng tác

    + Sự đổi mới gặp phải nhiều rào cản

    + Sự níu kéo của những cái cũ

    + Văn học cũ tuy ở giai đoạn suy tàn nhưng vẫn chiếm giữ vị trí đáng kể trong nền văn học dân tộc

    + Giá trị văn học có tính giao thời giữa truyền thống và hiện đại

  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật ( Nguyễn Trường Tộ )

    Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật ( Nguyễn Trường Tộ )

    Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật ( Nguyễn Trường Tộ )

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật ( Nguyễn Trường Tộ )

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ – SỰ KẾT HỢP HÀI HOÀ GIỮA BÚT PHÁP LÃNG MẠN VỚI XU HƯỚNG HIỆN THỰC, NHÂN ĐẠO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Xin-L%E1%BA%ADp-Khoa-Lu%E1%BA%ADt-Nguy%E1%BB%85n-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-T%E1%BB%99-.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật ( Nguyễn Trường Tộ )

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … quốc dân giết): Nêu trách nhiệm, vị trí của luật pháp đối với xã hội

    – Phần 2 (tiếp … chất phác): Mối quan hệ của luật pháp với Nho giáo, văn chương

    – Phần 3 (còn lại): Mối quan hệ luật pháp với đạo đức

    Câu 1 (trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Theo Nguyễn Trường Tộ nội dung của Luật bao gồm: kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia

    Theo Nguyễn Trường Tộ luật bao gồm: “kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia, trong đó tam cường ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”

    – Đất nước muốn tồn tại cần có kỉ cương, nhà nước muốn cai trị được dân phải có uy quyền nhưng phải có chính lệnh

    – Ông giới thiệu việc thực hành luật ở các nước phương Tây

    – Tác giả đề cao luật, đề cao những người hiểu biết về luật và có khả năng dùng luật để điều khiển công việc quốc gia

    Câu 2 (trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Theo Nguyễn Trường Tộ, kỉ cương, uy quyền, chính lệnh để duy trì sự tồn tại của đất nước

    – Tác giả khẳng định: “ Bất luận quay hay dân mọi người đều phải học luật nước”

    – Luật đã bao trùm lên tất cả, nếu không có luật sẽ không thể duy trì được kỉ cương phép nước

    – Quan hay dân đều phải hiểu và làm theo luật, chân lý này đúng và đúng đến bây giờ.

    Câu 3 (Trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nho học không có truyền thống tôn trọng luật pháp.

    + Biết rằng đạo làm người không gì bằng trung hiếu, không cần thiết bằng lễ nghĩa

    + Sách Nho chỉ nói trên giấy suông, không làm cũng không ai phạt, có làm cũng không được thưởng

    + Nên xưa nay dù học nhiều chẳng mấy ai sửa đổi được tâm tính, sửa được lỗi lầm

    – Tác giả chỉ ra rằng: xưa nay, vua chúa nắm quyền thống trị cứu nước đều nhờ hiểu luật, còn sách vở khác chỉ ra phụ thuộc

    + Nếu trong nước không có luật dù có một nghìn quyển sách cũng không thể trị dân được

    Câu 4 (Trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Quan niệm của tác giả về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật:

    + Dù lời văn đề cao pháp luật, luật pháp và đạo đức gắn bó chặt chẽ với nhau

    + Tác giả khẳng định: “Nếu bảo luật chỉ tố cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi, thế là không biết rằng trái luật là tội, giữ đúng luật là đức”

    + Nếu tận dụng lẽ công bằng trong luật là có đạo đức, trọn vẹn đạo làm người.

    Câu 5 (Trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tác giả đưa ra quan niệm đạo luật của đạo Nho: “Từ tam cường ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”

    + Tam cương ngũ thường là luật bao trùm xã hội và gia đình dưới chế độ phong kiến, đó là trụ cột giữ kỉ cương của chế độ phong kiến

    + Tác giả phê pháp đạo Nho ở tính chất vô tích sự, nói suông không có tác dụng

    + Vì vậy cần có luật và luật phải gắn với thực tiễn hành động của con người, là làm theo luật

    – Tác giả trích dẫn lời nói của Khổng Tử bởi chính Khổng Tử cũng nhận ra hạn chế của giáo lý, đạo đức Nho giáo

    ⇒ Đây chính là biện pháp lập luận “gậy ông đập lưng ông” để tác động trực tiếp lên tâm lý của người nghe

  • VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ – SỰ KẾT HỢP HÀI HOÀ GIỮA BÚT PHÁP LÃNG MẠN VỚI XU HƯỚNG HIỆN THỰC, NHÂN ĐẠO

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ – SỰ KẾT HỢP HÀI HOÀ GIỮA BÚT PHÁP LÃNG MẠN VỚI XU HƯỚNG HIỆN THỰC, NHÂN ĐẠO

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ – SỰ KẾT HỢP HÀI HOÀ GIỮA BÚT PHÁP LÃNG MẠN VỚI XU HƯỚNG HIỆN THỰC, NHÂN ĐẠO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ – SỰ KẾT HỢP HÀI HOÀ GIỮA BÚT PHÁP LÃNG MẠN VỚI XU HƯỚNG HIỆN THỰC, NHÂN ĐẠO

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Chiếu Cầu Hiền (Ngô Thì Nhậm)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/V%C4%82N-M%E1%BA%AAU-PH%C3%82N-T%C3%8DCH-T%C3%81C-PH%E1%BA%A8M-HAI-%C4%90%E1%BB%A8A-TR%E1%BA%BA-S%E1%BB%B0-K%E1%BA%BET-H%E1%BB%A2P-H%C3%80I-HO%C3%80-GI%E1%BB%AEA-B%C3%9AT-PH%C3%81P-L%C3%83NG-M%E1%BA%A0N-V%E1%BB%9AI-XU-H%C6%AF%E1%BB%9ANG-HI%E1%BB%86N-TH%E1%BB%B0C-NH%C3%82N-%C4%90%E1%BA%A0O.pdf[/pdfviewer]

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ – SỰ KẾT HỢP HÀI HOÀ GIỮA BÚT PHÁP LÃNG MẠN VỚI XU HƯỚNG HIỆN THỰC, NHÂN ĐẠO

    Bài Làm

    “ Văn học là nhân học” ( M.Gorki). Trong văn học, do vậy, vẻ đẹp nhân bản của con người luôn luôn là một phương tiện thẩm mĩ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hoà quyện với nhau. Để làm rõ điều vừa nói, “hai đứa trẻ” của Thạch Lam sẽ là một dẫn chứng.

    “ Hai đứa trẻ” vừa là bức tranh hiện thực phố huyện nghèo, vừa như một bài thơ

    trữ tình đặc sắc. Tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn bâng khuâng day dứt về đời sống con người.

    Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo xơ xác và lại càng xơ xác, tiêu điều hơn từ cái nhìn của nhà văn. Đó là lúc hoàng hôn của một ngày tàn nơi miền quê “mặt trời đã lấp sau rặng tre, nhìn lên chỉ thấy khóm tre màu đen kịt trên nền trời phớt hồng” dàn nhạc của ếch nhái bắt đầu văng vẳng kêu ngòi đồng, thế cũng đủ làm thành cái buổi chiều êm như ru như bao chiều khác.

    Như một mô típ nghệ thuật, cái phố huyện hẻo lánh lại hiện ra trong khung cảnh chợ vãn của buổi chiều chỉ còn lèo tèo vài ba người bán hàng đang thu dọn gánh, vài đứa trẻ đi thu lượm các thứ lặt vặt… Cái bức tranh ấy đã một lần hiện lên trong “gió lạnh đầu mùa” nhưng sao nó vẫn nhuốm một nỗi buồn khó tả vào cái giờ khắc của ngày tàn trong “Hai đứa trẻ”.

    Song bức trang phố huyện ấy không chỉ là cảnh vật mà là bức tranh cuộc sống của con người. Một hiện thực nơi miền quê hẻo lánh, một chút của chốn kinh thành được mang tới từ con tàu đêm đêm. Cuộc sống phố huyện có gì? Đó là hoạt động kiếm sống của những người mang trong mắt Liên dường như quá quen thuộc,

    mỗi người đã có một thói quen. Như bác phở Siêu. chị Tí, bố con nhà hát sẩm, cụ Thi điên và ngay cả Liên. Việc chủ yếu cũng chỉ là nghe tiếng trống thu không thì đóng cửa quán mà đợi chờ. Hiện thực không làmta ngỡ ngàng đó là một phố huyện nghèo với những người cần cù lao động một cách lầm lũi đáng thương.

    Nhưng tất cả những hiện thực như thế đều đặt trong con mắt quan sát chất chứa trong chấ văn lãng mạn.Thời gian đi vào cuộc sống của phố huyện “ rõ ràng” không vụt nhanh hoặc tan vào đêm tối. Thời gian cứ chậm rãi đi từng bước phát triển của nội tâm. Từ “tiếng trống thu không” đến một câu văn nhẹ nhàng : “Chiều, chiều rồi” cất lên trong lòng, rồi trời nhá nhem tối đến không gian đã khuya không còn những “tạp âm”, của ban ngày chỉ còn “vòm trời với ngàn ngôi sao xanh ganh nhau lấp lánh”. Mỗi thời điểm lại có một cái nhìn cảnh vật khác nhau nhưng đều có phần thi vị hoá nhờ những câu văn tươi mát, uyển chuyển.

    Có buổi chiều nào êm như ru trong cách nhìn của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng? Chỉ cón tâm hồn lãng mạn Thạch Lam mới có cái mượt mà đượm chất thơ như thế. Sự tài tình chính là ở chổ nhà văn vừa hoà nhập hai tâm hồn quan sát là một. Hiểu là nhà văn quan sát cũng đúng mà hiểu cảnh vật diễn ra trong mắt của nhân vật Liên cũng chẳng sai. Ta thấy rõ điều đó qua cái giật mình của nhân vật. “Liên mãi ngồi quên mất! Bây giờ Liên vộivàng vào thắp đèn xếp những quả sơn đen lại”.

    “Trời bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng gió mát”. Nhưng câu văn như vậy có rất nhiều và được dùng một cách chính xác đạt đến mẫu mực. Phải chăng cảm nhận ấy xuất phát từ tâm hồn nhà văn hay chính là từ tâm hồn của Liên khi phố huyện đã chìm trong im lìm của vắng lặng. Trong con mắt “Dõi theo những bóng người về muộn từ từ trong đêm”.

    Nếu như đầu tối phố huyện còn được “trang hoàng” bằng những ánh đèn hắt ra từ những quán bên đường thì bây giờ chỉ còn là bóng đêm. Một vài tia sáng le lói từ kẻ cửa thành từng vệt. Con mắt thơ mộng đâu chỉ dừng ở những ánh sáng rất thực mà tìm đến cái mong manh của thứ đom đóm lập loè trong kẽ lá bàng lại càng gợi buồn khó tả. Ánh sáng hiếm hoi của thiên nhiên được nhà văn “ chớp” nhanh trong cái nhìn lãng mạn. Chất thơ chính là ở đó. Vừa có vài hiện thực vừa có sự bay bổng của người bút phác lên và đằm lại trên trang văn. Nhưng tất cả vẫn là cái thường nhật diễn ra trong cảnh sống vốn quẩn quanh lầm lũi.

    Ánh đèn của chị Tí đủ soi một khoảnh nhỏ. Nếu quan sát từ xa, ta sẽ thấy một bức tranh khá hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật với hai “gam màu” sáng tối. Khuônmặt người phụ nữ chân quê chất phát đã trải qua một ngày bươn bải với cuộc sống để kiếm cái ăn, manh áo. Cuộc sống gia đình bận rộn tối tăm. Nhưng tối nào chị cũng góp một ánh đèn như thế. Tuy để làm thêm thu nhập, nhưng hình như họ chỉ bán cho lấy lệ.

    Vậy thì cái gì đã làm cho họ ra đây? Phải chăng đó là nếp sống. Và phố huyện ban đêm là nơi để họ sống…Âm thanh của cuộc sống phát ra từ những lời đối thoại, những hoạt động của con người nơi đây. Mỗi người đều góp một thứ ánh sáng, một chút hương vị, âm thanh. Tất cả tạo nên một bức tranh phố nghèo.

    Chẳng có một nét chấm phá nào trong bức tranh nhưng tất cả những con người có mặt đã làm nên tổng thể củacảnh vật cuộc sống.

    Nếu như ở Nam Cao là những cảnh sống hiện thực khốn khổ với nước mắt của đói, miếng ăn và áp bức thì cuộc sống hiện thực trong văn Thạch Lam được “đo bằng” một đơn vị “lãng mạn” nhất định. Nét bút của ông đã phát hoạ một cách rất nhẹ nhàng uyển chuyển. Phố huyện nghèo và cũng có rất nhiều lý do để người dân phải lao vào cuộc bon chen giành dật sự sinh tồn. Nhưng ở đây là một không khí chan hoà thực sự, ấm áp tình người và mỗi người khi ra về chắc chắn vẫn giữ được sự ấm áp quen thân dù rất buồn.

    Sự hài hoà giữa hiện thực và lãng mạn đã giúp Thạch Lam có được chất văn nhẹ nhàng thanh thoát, ẩn hiện nhân cách tyệt vời của ông.

    Trở lại với cảnh sinh hoạt ban đêm nơi phố huyện, chất lãng mạn không dừng lại ở cảnh bao quát mà đắm lại ở những trang viết về chị em Liên. Đây chính lả điểm nhà văn đã tập trung khắc hoạ. Liên gây ấn tượng bởi nội tâm sâu sắc, xuất phát từ một con người đa cảm. Khi màn đêm đã bắt đầu buông xuống cũng chính là lúc Liên thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. Cảm giác buồn ấy gợi lên từ cảnh phố huyện xơ xác buồn trong tiếng trống thu không vang vọng như hút hồn người. Bất giác, một cảnh tượng làm chị không khỏi chạnh niềm thương: đó là những chú bé nheo nhóc nhớn nhác giữa chợ đã vãng từ lâu để nhặt những mẫu que kem và những gì còn có ích cho chúng. Ấn tượng đầu tiên là Liên có một tấm lòng chẳng trẻ con chút nào. Tư thế của một người chị còn bé hơn thế nữa, nỗi lòng buồn báo hiệu một sự “trưởng thành” về tâm sinh lí.

    Bức tranh phồ huyện nghèo hẻo lánh, ẩn khuất trong bóng tối hư vô của phố huyện. Cuộc sống phố huyện đã ăn sâu trong tâm trí Liên. Tưởng như nếu có thiếu một thứ gì của cảnh ngoài kìa, Liên đã thốt lên rồi. Nhưng tất cả vẫn thế, ngay cả

    tiếng cụ Thi đôi lúc làm cho Liên sợ. Nhưng cảm giác thân thuộc vẫn thấy cụ đáng yêu và đáng thương. Từng cảnh đời, cảnh sống của mỗi người lần lượt đi qua tâm hồn tưởng như non nớt của Liên.

    Cuộc sống của từng người đã góp nên thành cuộc sống của cả một quần thể người dân quê nghèo khó. Từ những mảnh đời cũng giống như Liên cùng chung môi trường sống , ta thấy một điểm chung rất rõ, đó là sự quanh quẩn chật hẹp của môi trường xã hội. Ngày lại ngày vẫn chỉ là cái chợ tiêu điều, vài dãy hàng quán với những khoảnh đất trống “Lá đa lác đác trước lều” và những “con người ấy” mà thôi.

    Nhưng ở Liên lại có một sự khác lạ mà trong số trên chẳng có ai. Một hành động tưởng như quái gở và vô nghĩa, đó là “đợi tàu”. Nếu mẹ Liên ở đó chắc không cho cô thức. Nhưng đó mới chính là chiều sâu của tác phẩm khi tác giả khắc hoạ hình ảnh Liên cùng em đợi tàu với một niềm háo hức rất trẻ con.

    Và con tàu đã đến đúng như sự mong mỏi, đợi chờ, như một thoáng niềm vui cũng chợt tắt. Tàu hôm nay không đông khách, ánh sáng của toa tàu cũng kém đi. Điều đó càng làm lòng Liên có một mỗi buồn vô hình xâm lấn. Con tàu vô cảm lầm lũi mang đến niềm vui duy nhất nhưng lại chợt gợi thêm nỗi buồn khó tả. Tiếng rầm rầm của tàu đã lẩn khuất sau màn đêm dáy đặc, không gian của phố huyện thoáng giao động rồi lại trở về như xưa. Tâm trạng của Liên bây giờ chẳng biết nên vui hay nên buồn. Vui có lẽ đúng hơn vì hàng ngày chuýên tàu vẫn là niềm mong mỏi của chị. Có người nói “chờ đợi là một điều khủng khiếp”; song, không có gì để chờ đợi lại càng khủng khiếp hơn. Với Liên điều khủng khiếp chính là niềm vui mà chị có thể tự tạo cho mình. Chất lãng mạn ngay trong cảnh đợi tàu. Cảnh đợi tàu ở đây

    tuy có khác với cảnh đợi tàu trên sân ga nhưng lại vẫn chung một nỗi niềm mong mỏi. Điều đáng nói hơn là duy chỉ một cô bé Liên đợi. Cuộc sống bon chen đã không làm chị chìm trong cảnh đời lầm lũi, thầm lặng. Vượt xa hơn là một tâm hồn khát khao niềm vui của cuộc sống. Tuy cuộc sống buồn nhưng vẫn tạo được nhiềm vui để mình sống có ý nghĩa hơn trong cõi đời. quả thực, tâm hồn Liên là một bài thơ có cấu tứ khá hoàn chỉnh; nhưng đó là một sự thật hiển nhiên mà Thạch Lam đem lại. Cho đến nay, chị vẫn sống với một niềm vui của chuyến tàu đem lại. “Liên” là mảng màu chủ đạo tạo nên chất hiện thực và chất lãng mạn trong thiên truyện. tạo nên bằng một cuộc đời. tạo nên như là người dẫn chuyện.

    Thành công của thạch Lam chính là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp lãng mạn với xu hướng hiện thực, nhân đạo. Tạo cho mỗi tác phẩm của ông một sức sống trường tồn cùng lòng người. Tình người của nhà văn với nhân vật đã đưa ý nghĩa truyện lên một tầng cao mới. Ai đó đã định nghĩa về thơ : “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời còn là thơ nữa” thì truyện ngắn “Hai đứa trẻ” và nhiều thiên truyện khác nữa của thạch lam có đầy đủ những yếu tố mang phong vị của một bài thơ trữ tình đặc sắc mà lại “cuộc đời” thật nhiều sâu sắc.