Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

    Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

    Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-C%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-h%C3%ACnh-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh-T%C3%A2y-Ti%E1%BA%BFn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

    Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn: ” Tây

     

    Tiến đoàn binh không mọc tóc ….. Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

     

     

    Tìm hiểu đề

     

    • Đề bài thuộc dạng phân tích tác phẩm văn học. Cụ thể là phân tích một đoạn thơ.
    • Để có thể phân tích sâu sắc đoạn thơ này, cần phải có cái nhìn tổng quát về cả bài thơ

    Tây Tiến. Bài thơ có hai đặc điểm nổi bật, bao trùm : cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi

    tráng. Cả hai đặc điểm ấy đều được thể hiện rất rõ trong đoạn thơ cần phân tích.

    • Đoạn thơ này, về thực chất khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến. Vì thế, khi phân tích, cần phải làm sáng tỏ vẻ đẹp của hình tượng này.

    Gợi ý làm bài

    I. Đặt vấn đề :

     

    • Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng

    viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

    • Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên.
    • Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang Dũng đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.

    II. Giải quyết vấn đề :

    1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến :

    Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn

    với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập để tác

    động mạnh vào cảm quan người đọc, kích thích trí tưởng tượng phong phú của người

    đọc.

    • Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị cho sự xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này. Trên cái nền hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ,

    thơ mộng của Tây Bắc (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh những người lính Tây

    Tiến trực tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ :

    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    … Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    • Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát những gương mặt chung của cả đoàn quân. Qua

    ngòi bút của ông, những người lính Tây Tiến hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác

    thường. Thực tế gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ

    trụi cả tóc. Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn

    lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều

    tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút lãng mạn của ông đã biến

    họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét

    của những người lính, qua cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ

    nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện quan ánh mắt giận dữ

    (mắt trừng gửi mộng) của họ …

    • Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong bốn

    câu thơ trên, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến

    không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bề ngoài mà con thể hiện được cả thế

    giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.

    1. Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến :

    – Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết, sự hi sinh

    nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm hứng lãng mạn đã khiến ngòi bút

    ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết như là những chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang

    chất bi hùng:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    ….Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    – Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm

    người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương

    lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà

    hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước

    lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cái sự thật bi thảm những người

    lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân, qua cái nhìn của

    nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át

    hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã :

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật trang trọng.

    Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên. Và dòng sông Mã đã trân

    trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng.

    • Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.

    III. Kết thúc vấn đề :

    • Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, miêu tả

    được vẻ đẹp tinh thần của những con người tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không

    trở lại.

    – Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người lính. Và Quang

    Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào viện bảo tàng hình ảnh những

    người lính đó bức chân dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của mình.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-TUY%E1%BB%82N-CH%E1%BB%8CN-5-B%C3%80I-V%C4%82N-M%E1%BA%AAU-%E2%80%9CPH%C3%82N-T%C3%8DCH-B%C3%80I-TH%C6%A0-T%C3%82Y-TI%E1%BA%BEN-C%E1%BB%A6A-QUANG-D%C5%A8NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    VĂN MẪU LỚP 12: TÂY TIẾN – QUANG DŨNG

    TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG

    DŨNG”

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Mở bài:

    Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh, nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc họa một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Và “Tây Tiến” là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian

    “Sông Mã xa rồi TâyTiến ơi!

    *****

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Thân bài:

    Nhắc đến nhà thơ Quang Dũng, chúng ta nghĩ ngay đến tác phẩm để đời của ông – Tây Tiến. Bởi lẽ nó đã gắn bó 1 thời sâu sắc với nhà thơ. Tây Tiến là 1 đơn vị bộ đội thời kháng chiến chống Pháp được thành lập năm 1947 làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao sinh lực địch ở vùng Thượng Lào, trấn giữ 1 vùng rộng lớn ở Tây Bắc nước ta và biên giới Việt Lào. Quang Dũng từng là đại đội trưởng cuả binh đoàn Tây Tiến nhưng đến đầu năm 1948 vì yêu cầu nhiệm vụ ông chuyển sang đơn vị khác. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 khi nhà thơ đóng quân ở Phù Lưu Chanh_ 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là “Nhớ Tây Tiến” nhưng về sau đổi lại thành “Tây Tiến” vì cả bài thơ đã là một nỗi nhớ và chỉ với 2 từ “Tây Tiến” cũng đủ gợi lên nỗi nhớ – cảm hứng chủ đạo trong toàn bộ bài thơ.

    Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, sống và chiến đấu nơi núi rừng gian khổ nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng nhà thơ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng đội, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bồi hồi, xúc động khi nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức cuả nhà thơ.

    “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

    Câu thơ như tiếng gọi chân thành , tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán và thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở nên đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko đơn thuần là 1 con sông – nơi đã từng là địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến – mà nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao

    Truy cập we

    nỗi vui_buồn, được_mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị bộ đội mà nó đã trở thành 1 người bạn ” tri âm tri kỉ” để nhà thơ giãi bày tâm sự.

    Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. Tính từ “chơi vơi” – biểu cảm một nỗi nhớ nhẹ và rất sâu – kết hợp với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của nhà thơ. Và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. Có lẽ Quang Dũng đã học tập cách diễn đạt nỗi nhớ trong ca dao:

    “Ra về nhớ bạn chơi vơi

    Nhớ chiếu bạn trải

    Nhớ chăn bạn nằm”

    2 câu đầu với cách dùng từ chọn lọc, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ.

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông…- địa bàn hoạt động cuả binh đoàn Tây Tiến – những cái tên mang âm hưởng của rừng núi hoang vu và mang dại. Núi rừng Tây Bắc đẹp hùng vĩ mà dữ dội, một vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, nơi rừng thiêng nước độc. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì Tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở nên kiên cường, bất khuất hơn. Quang Dũng đã rất tài tình khi đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ rõ hơn sự khắc nghiệt cuả núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng miêu tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:

    “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

    Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”

    Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm đến mây trời. Quang Dũng đã khéo léo sử dụng từ “thăm thẳm” mà ko dùng từ “chót vót”. Bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu cuả nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có ai có thể hình dung được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, nhà thơ đã làm cho người đọc cảm nhận được cái hoang sơ, dữ dội cuả núi rừng Tây Bắc. Hình ảnh nhân hoá, ẩn dụ “ súng ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính, cho ta thấy bên cạnh thiên nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế oai phong

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 2

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang thiên nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở. Đứng trên đỉnh dốc núi cao, họ nhìn xuống con đường hiểm trở vừa vượt qua và con đường gấp khúc sẽ đi xuống. Đường lên dốc và đường xuống dốc đều thăm thẳm, hun hút. Hình ảnh thơ thật đối xứng, câu thơ như một đường thẳng bị bẻ gấp lại:

    “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

    Điệp từ “ngàn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ.

    Bên cạnh cái hiểm trở, hoang sơ ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:

    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Xa xa , lẫn trong màn mưa núi sương rừng, bản làng mờ ảo, thấp thoáng trong thung lũng, lúc ẩn lúc hiện. Có những cơn mưa rừng chợt đến đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút cuả Quang Dũng, nó trở nên lãng mạn, trữ tình hơn. Nhà thơ đã thông minh , sáng tạo khi nói đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kì bí, hoang sơ giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 với 7 thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở cuả núi rừng và mở ra 1 bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. Những câu thơ Tây Tiến giàu chất tạo hình hôm nay gợi nhớ những dòng thơ trong “Chinh phụ ngâm khúc”

    “Hình khe thế núi gần xa

    Đứt thôi lại nổi, thấp đà lại cao

    Sương đầu núi buổi chiều như dữ dội

    Nước lòng khe nẻo suối còn sâu”

    8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng đội Tây Tiến. Qua những chi tiết đặc tả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí nhà thơ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt cuả người lính Tây Tiến nói riêng và cuả những người lính nói chung.

    Hình ảnh người lính Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế hiên ngang, khí phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng mạn, đẹp đẽ. Nhưng thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực ngòi bút thơ Quang Dũng dám nhìn thẳng vào những tổn thất tất yếu của con người trong cuộc chiến tranh tàn khốc. Hình ảnh người lính Tây Tiến có những phút giây mệt mỏi:

    “Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

    Chữ “dãi dầu” đã lột tả được hết sự khốc liệt của cuộc chiến đấu. Bao nhiêu sóng gió, hiểm nguy, gian khổ phủ lên đầu người lính nên mệt mỏi, dãi dầu là những phút giây đương nhiên. Người lính Tây Tiến không rũ bỏ, quay lưng lại với kháng chiến, phải chăng phút giây phó mặc, bất cần, đầy ngạo nghễ của người lính cũng là điều tất yếu đó sao. Các anh đã không bước tiếp được nữa trên con đường hành quân đầy gian khổ. Có những người bạn của Quang Dũng ngục lên súng ngủ. “Ngục” là một động từ miêu tả động thái rất nhanh,biểu thị không còn sức chịu đựng được nữa. Các anh cố gượng dậy bước tiếp nhưng không còn sức. Câu thơ: “ngục lên súng mũ bỏ quên đời” tả một giấc ngủ ngàn thu, cực tả những gian khổ và hy sinh.

    Cũng có người hiểu câu thơ này tả một giấc ngủ tranh thủ của người lính để lấy sức tiếp tục đường hành quân. Nhưng câu thơ dẫu viết theo nghĩa nào cũng đều nói về sự gian khổ tột cùng.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 3

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Nhưng nhiều người hiểu theocách ở trên bởi nó phù hợp với chất bi tráng của cuộc đời chiến binh Tây Tiến: chết rồi mà vẫn ngang tàng, khí phách. Ba chữ cuối: “bỏ quên đời” thể hiện tinh thần, thái độ của người lính trước cái chết, xem như đó là điều hiển nhiên, nhẹ tựa lông hồng. Các anh lên đường, đến với núi rừng miền Tây và biết rằng: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi” (xưa nay chinh chiến mấy ai trở về)

    Nếu ở mấy câu đầu tác giả mở rộng thiên nhiên miền Tây Bắc mênh mông qua không gian hùng vĩ, thơ mộng của những cơn mưa rừng với độ cao chạm đến cả mây trời của đỉnh núi Tây Bắc. Thì đến với hai câu thơ sau đây thiên nhiên lại được khám phá theo chiều thời gian với hai từ láy “chiều chiều” và “đêm đêm”

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

    Người ta hay nói đến rừng thiêng nước độc, lam sơn chướng khí. Với rừng núi Tây Bắc, cứ mỗi buổi chiều tà lại nghe tiếng thác gầm thét đổ xuống từ trên cao và cứ mỗi đêm sâu lại nghe tiếng cọp gầm. Âm thanh nào cũng ghê rợn. Quang Dũng bằng tài thẩm âm của mình đã cụ thể hóa và làm sống động hóa những nhận xét của người đời. Vậy chỉ với hai câu thơ, Quang Dũng đã phát huy tối đa trí tưởng tượng để cực tả vẻ hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng, miền đất ấy còn chứa nhiều điều hoang sơ và huyền bí của miền rừng núi Tây Bắc. Những hiểm nguy vẫn rình rập đâu đó, những nét dữ dội quyết liệt mà đoàn binh Tây Tiến đã một thời vượt qua.

    “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

    Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

    Chiến binh Tây Tiến hào hùng mà cũng rất đỗi hào hoa, rất nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên và sự đằm thắm tình người. Hai câu thơ không có cảnh thiên nhiên miền Tây, chỉ có cảnh sinh hoạt đời sống thường ngày. Sau những câu thơ rất dữ dội và gân guốc là một cảm xúc thơ đằm thắm, thiết tha. Câu cảm thán gợi nỗi bâng khuâng khi hồi tưởng lại những kỉ niệm ấm áp: lúc đoàn binh dừng lại sau một đoạn đường hành quân vất vả, lều trại được dựng lên ở một bản làng, một bếp lửa ánh đỏ hồng, một nồi xôi hương bay ngào ngạt, khói bếp khói cơm bay lên hòa quyện vào khói lam chiều. Đồng đội lại quây quần bên nhau, quên đi bao vất vả, gian khổ. Chiến tranh lùi lại vào một góc khuất nào đó nhường chỗ cho một cảnh sinh hoạt tưoi vui.

    • đoạn hai, thiên nhiên và con người Tây Bắc lại được mở ra với một vẻ đẹp mới, khác với đoạn đầu. Anh hùng trong chiến đấu nhưng người lính Tây Tiến cũng say mê, lãng mạn trong đêm hội:

    “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 4

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Những câu thơ đầy ánh sáng và âm thanh, có thơ và có nhạc, đối lập hoàn toàn với những con đường hành quân gian lao, nguy hiểm, với những thiếu thốn, nhọc nhằn… Điệu nhạc hồn thơ như thăng hoa cho tâm hồn người chiến sĩ cất cánh, hòa nhịp vào những điệu khèn, câu hát say mê. Không gian Tây Bắc chơi vơi trong một miền tâm thức, với dáng người trên độc mộc, với dòng nước lũ hoa đong đưa, khắc sâu, ghi tạc trong tâm hồn người chiến sĩ. Những câu hỏi tu từ dịu nhẹ, bâng khuâng làm không gian núi rừng thêm chơi vơi, bảng lảng trong sương, trong khói. Ngòi bút tả thực của Quang Dũng đến đây trở nên mềm mại và uyển chuyển, chứa đựng cái tình sâu lắng, thiết tha.

    Qdũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân. Qdũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh, để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dân tộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ:

    “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    Rải rác bên cương mồ viển xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào tay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong: ” Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình các nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của qdũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc. Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù. Cái giỏi của qdũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ:

    “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”

    Với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như “tiến”, “mọc tóc” đã làmâm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn binh. Hai chữ “đoàn binh” – âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng. Thủ pháp tương phản mà qdũng sử dụng

    • câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. ở đây, nhà thơ muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ: “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu – Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu”. Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết:“Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu – Thể diện sài long xâm lược quân“

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 5

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Có thể nói qdũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông á.

    Người lính Tây Tiến mạnh mẽ, rắn rỏi trong chiến đấu, nhưng cũng hết sức lãng mạn, say mê trong những giây phút thơ mộng. ở đây, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư chất của một anh hùng và phong cách của một trí thức lãng mạn. Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng trở nên rất đẹp khi qdũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ:

    “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Bao nhiêu yêu thương, nhớ mong, mộng ước của họ được gửi gắm, dồn tụ ở hình ảnh “mắt trừng”. Hình ảnh ấy không chỉ gợi một nỗi niềm đau đáu khôn nguôi mà còn chất chứa bao khắc khoải, mong chờ. Bên giới & Hà Nội hoa lệ có một khoảng cách rất xa xôi, người lính Tây Tiến muốn thông qua những mộng đẹp, những khát vọng diệt thù để làm cầu nối thu gắn không gian, kéo hẹp khoảng cách. “Dáng kiều thơm” và một Hà Nội phồn hoa xa xôi chính là nguyên do của nỗi niềm mong nhớ ấy. Đó không phải là một bóng dáng nào cụ thể nào, cũng không chỉ bó hẹp trong một tình yêu đôi lứa, niềm nhớ thương dâng trào của người lính cao hơn là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về Hà Nội. Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Đã một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. Quang Dũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ thuở mang gươm đi mở nước

    – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”

    Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ. Quang Dũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.

    “Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Ngay chính trong cái chết, người lính Tây Tiến vẫn thể hiện, khẳng định được khí phách anh hùng, tư thế ngạo nghễ của mình. Người ta có thể rùng mình ghê sợ trước cái lạnh lẽo, hoang vu của những “mồ viễn xứ” nhưng không khỏi tự hào, kiêu hãnh trước sự hi sinh bất khuất anh hùng của đoàn binh. Những từ Hán Việt “biên cương, chiến trường, viễn xứ, độc hành” được sử dụng trang trọng giống như những nén tâm hương trước họ. Ngày xưa, nhà vua vẫn thường ban tặng áo bào cho

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 6

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    các tráng sĩ thắng trận trở về, nhưng ở thời của người lính Tây Tiến thì làm gì có chiếc áo bào nào. Vậy mà Quang Dũng vẫn gọi những manh áo lính với một cách kiêu hãnh là “áo bào”. Những người trong cuộc kể lại rằng ngày ấy lúc đầu có quan tài và bài niệm nhưng sau đó lính Tây Tiến hi sinh nhiều, người bản xứ đã cho những manh chiếu quấn thân, nhưng rồi chiếu cũng hết, họ đã mặc nguyên những chiếc áo lính để trở về với đất mẹ. Quang Dũng muốn tránh đi sự thật đau lòng nên đã gọi đó là chiếc áo bào. Đó là một cách nói sang trọng, an ủi người ra đi và cũng đỡ tủi lòng người đưa tiễn. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Với hai lần xuất hiện trong bài thơ, sông Mã đã luôn gắn liền và dõi theo con đường hành quân, đẩu tranh gian khổ của đoàn binh. Sự ra đi của người lính Tây Tiến là một hiện thực tất yếu của chiến tranh và thiên nhiên hòa cùng nỗi đau với con người. Sông Mã gào thét, vang vọng lên “khúc độc hành” giống như một khúc tráng ca tiễn đưa người anh hùng về với đất mẹ. Sự hi sinh ấy được đặt giữa đất trời, thiên nhiên, có đất mẹ dang tay đón đợi, có dòng sông Mã anh hùng dạo lên khúc tráng ca, đó là sự hi sinh cao đẹp, cao quý nhẩt.

    Qua bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, hình ảnh người lính hiện lên chân thực, lãng mạn, đa tình, đa cảm đồng thời cũng rất hào hùng. Với nhiều từ ngữ mang sắc thái cổ điển, trang trọng tác giả tạo được không khí thiêng liêng, làm cho cái chết bi tráng của người lính vang động cả thiên nhiên. Âm hưởng bốn câu thơ cuối làm cho hơi thơ cứ vọng dài thăm thẳm không dứt, hòa với bước đường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì đất nước.

    “Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Kết bài:

    Hơn năm mươi năm qua, bài thơ Tây Tiến vẫn còn sức quyến rũ với người đọc hôm nay, gợi về những năm tháng không thể nào quên trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Bằng bút pháp vừa hiện thực vừa lãng mạn, Quang Dũng diễn đạt tài tình nỗi gian khổ trên những con đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến, dựng lên được hình tượng vô cùng đẹp đẽ về người lính với hào khí ngất trời trong chiến đấu và nét hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn. Bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 7

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn không thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm hội tụ của muôn triệu tấm lòng yêu nước môi trường thử thách tinh thần chiến đấu ngoan cường, bất khuất của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm nảy sinh biết bao hình ảnh đẹp mà đẹp nhất là hình ảnh người lính.

    Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng một thời như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên…, Tây Tiến của Quang Dũng là một thi phẩm đặc sắc Đoàn quân Tây Tiến quy tụ một lực lượng đông đảo đủ mọi tầng lớp thanh niên từ khắp phố phường Hà Nội. Có nhiều thanh niên học sinh thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản vừa rời trang sách nhà trường để tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc. Tất cả những con người ấy ra đi với lí tưởng chung của dân tộc chiến đâu bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ ra đi không hẹn ngày trở về chiến đấu với mục đích “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Cái ảnh thần ấy là hào khí của cả một thế hệ, đã từng được phản ánh trong một bài hát thời đó:

    Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi,

    Nào có sá chi đâu ngày trở về.

    Trong đoàn người nô nức lên đường đi chiến đấu, trong hàng ngũ những thanh niên trí thức ngày hôm qua có khi là những tự vệ chiến đấu trên phố phường, chiến lũy Hà Nội, mà hôm nay đã có mặt trong đoàn quân Tây Tiến, thấp hoáng xuất hiện một khuôn mặt: Quang Dũng, tác giả của bài thơ. Như bao thanh niên trí thức của Hà Nội ngày ấy, Quang Dũng cũng háo hức gia nhập đoàn quân Tây Tiến với một niềm say mê của tuổi trẻ và một chút lãng mạn của những người thanh niên “nho sĩ quỵ tộc” ảnh hưởng trong Chinh phụ ngâm:

    Giã nhà đeo bức chiến bào hay Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Cũng chính vì thế mà những thanh niên như Quang Dũng sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, hi sinh để chiến đấu đến ngày thắng lợi cuối cùng. Vào Tây Tiến, Quang Dũng cùng sống và chiến đấu một thời gian với đơn vị này và sau đó chuyển sang đơn vị khác. Một ngày ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về những người đồng đội, nhớ về những tháng ngày chiến đâu gian nan nhưng hào hùng, nhớ đơn vị cũ, nhớ những con đường hành quân mà ông cùng đơn vị từng đi qua. Nỗi nhớ ấy dần lớn lên trong Quang Dũng, bật ra thành hai câu thơ:

    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.

    Cuộc sống chiến đấu của Tây Tiến cùng những nơi mà đơn vị đã đi qua hẳn là những kỉ niệm hết sức sâu đậm trong tâm hồn nhà thơ. Hẳn một phần quãng đời Quang Dũng gắn bó với Tây Tiến là cuộc sống hoạt động trong vùng rừng núi. Bởi thế, nhà thơ nhớ về Tây Tiến là nhớ ngay về sông Mã, nhớ về rừng núi với bao kỉ niệm vui buồn, ấn tượng về một miền rừng núi khắc nghiệt đã để lại trong tâm hồn nhà thơ dấu ẩn chẳng phai mờ. Vì thế, Quang Dũng nhớ về những tháng ngày đã qua với một tình cảm yêu thương lắm nhưng chẳng biết gọi lên chính xác nỗi nhớ ây. Nhớ chơi vơi! hai liếng chơi vơi dùng ở đây thật là đắc địa. diễn tả một nỗi nhớ không có hình, không có lượng nhưng hình như rất nặng và mênh mang đầy ắp. Cái tâm trạng nhớ ấy ta đã bắt gặp không chỉ một lần trong ca dao: Ra về nhớ bạn chơi vơi, hoặc:

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 8

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.

    Quang Dũng lấy nỗi nhớ trong ca dao để tượng trứng thêm cho nỗi nhớ chơi vơi của mình, thật là chi tiết đắt giá! Ngay từ đầu bài thơ, ông đã miêu tả vùng rừng núi ấy thiết tha như thế làm cho người đọc chú ý ngay. Nhớ Tây Tiến, nhớ về sông Mã và núi rừng trùng điệp, nhớ con đường hành quân:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của mỗi vùng rừng biên ải. Đọc đoạn thơ, chưa cẩn suy ngẫm nội dung bên trong, chúng ta đã có thể hình dung ra con đường mà Quang Dũng miêu tả. Kết câu đoan thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miên man, vô tận như con đường xa thẳm khấp khểnh. Nhạc điệu êm ả, triền miên. Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng, tất cả lung linh trong lớp sương khói mờ ảo, như thực, như mộng. Thế nhưng, mỗi địa danh đều gợi lên trong người đọc về hình ảnh của một xứ lạ, phương xa; nếu ta chỉ thử thay Sài Khao bằng một tên gọi khác là lớp sương huyền ảo ấy lan biến ngay. Đoàn quân Tây Tiến cất bước , trên con đường xa vạn dặm, với cái trắc trở, gập ghềnh của con đường. Đã dốc lên khúc khuỷu mà còn dốc thăm thẳm, đã ngàn thước lên cao rồi lại ngàn thước xuống thì đúng là đến độ cao chất ngất, ngoằn ngoèo khó đi. Tất cả những đặc điểm ấy diễn tả nổi khó khăn của đoàn quân Tây Tiến khi hành quân. Nó ghi lại ấn tượng về một miền rừng núi thật là dữ dội và khắc nghiệt Quang Dũng có những cách dùng từ rất tinh tế mà cũng hết sức tinh nghịch: núi cao chạm mây nổi thành cồn heo hút, và để diễn tả chiều cao của núi thì chỉ ba chữ súng ngửi trời nghe thật ngộ nghĩnh. Phải chăng đó là cách gọi của lính mà Quang Dũng ghi lại với tư cách một người trong cuộc? Dù sao, qua những từ ngữ, chi tiết và cách kết hợp thanh điệu của đoạn thơ cũng đã vẽ lên trước mát ta hình ảnh một miền rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến đã từng đi qua. Có những câu thơ dùng toàn vần bằng rất hay:

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    Sau khi ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống người chiến sĩ Tây Tiến như đứng trên nùi cao mà nhìn xuống thung lũng phủ kín trong màn mưa. Những ngôi nhà như đang trôi bồng bềnh trong làn mưa trắng. Thanh bằng của từng chữ trải ra, mênh mang, diễn tả cái màn mưa phủ giăng thung lũng. Rừng núi trùng, ấn tượng về miền rừng núi cũng thật là khắc nghiệt và dữ dội:

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

    Chỉ hai câu thơ thôi mà gieo vào lòng ta tất cả những sự khắc nghiệt của miền rừng núi này – một miền núi rừng âm u với thú dữ đe doạ con người. Hai chữ Mường Hịch đi với nhau nghe nặng như chân cọp. Có một điều kì lạ là nếu ta thay địa danh này bằng hai chữ khác như Châu Thuận chẳng hạn, thì hiệu lực câu thơ sẽ giảm sút ngay. Qua sự miêu tả của Quang Dũng, một vùng núi rừng biên ải hiện lên với tất cả sự khắc nghiệt, dữ dội của thiên nhiên. Đó là những khó khăn mà người chiến sĩ

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 9

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Tây Tiến phải vượt qua trên con đường hành quân. Cái trắc trở, gian lao cùa con đường Tây Tiến chợt làm chúng ta nhớ đến câu thơ của Lí Bạch:

    Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên.

    (Đường xứ Thục khó đi, khó hơn lên tận trời xanh).

    Đó là tất cả những gian khổ, nguy hiểm do thiên nhiên đem đến mà người chiến sĩ Tây Tiến phải chịu đựng.

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ, bỏ quên đời!

    Quang Dũng nói cái thực trên con đường Tây Tiến. Bao người chiến sĩ đã nằm lại trên con đường hành quân. Có một điều lạ làm toả sáng cả ý thơ là người lính Tây Tiến đến lúc gục xuống vẫn cố gắng trong tư thế của người lính, chết rồi nhưng súng mũ vẫn còn đó, hành trang của người chiến sĩ vẫn còn trong tư thế tiếp tục cuộc hành trình. Bao cảnh gian khổ khó khăn, khắc nghiệt dữ dội của con đường hành quân, của thiên nhiến xứ lạ đã thử thách người chiến sĩ Tây Tiến một cách ghê gớm. Có những người lính đã vượt qua được, và cũng không ít những người phải nằm lại phía sau. Người lính dãi dầu qua mưa nắng, đi từ khó khăn này đến gian khổ khác, chịu hết thử thách này đến thử thách thác mà dường như vẫn chẳng nể hà; đến khi kiệt sức phải gục xuống thì cũng cố gắng gục xuống trong tư thế của người chiến sĩ.

    Cho dù Quang Dũng có nói sự thực về một vùng rừng núi che lấp con người, nhưng chính những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ đã đưa họ bay lên, vượt lên trên cái gian khổ và thiếu thốn. Quang Dũng là một người trong cuộc, rừng là chiến sĩ Tây Tiến, chính vì vậy mà nhà thơ viết về cuộc sống gian khổ của người chiến sĩ Tây Tiến một cách hết sức cảm động. Cái khắc nghiệt, khổ và dữ dội của một miền biên ải, những gian truân mà người chiến sĩ Tiến phải chịu đựng và những ấn tượng không thể nào quên. Quang Dũng về người lính Tây Tiến không như những nhà thơ khác; ông nói thật về sự khổ, hi sinh của người lính một thời. Thế nhưng, hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến không vì thế mà trở nên uỷ mị, ngược lại càng thêm cao đẹp hơn. Miêu tả nét chiến sĩ với cái bi, nhưng là “bi tráng”. Nói cái gian khổ để đề cao chiến thắng nói hi sinh để nâng hình ảnh người lính lên một tầm cao thời đại cũng là một cách “vẽ mây nảy trăng” trong hội hoạ vậy. Bởi chiến thắng có giá trị gì khi chiến thắng dễ dàng, không có hi sinh? Và hình ảnh người lính sẽ không thật cao đẹp nếu họ không trải qua những thử thách gian truân của cuộc sống chiến đấu khắc nghiệt.

    Lao xao sóng vỗ ngọn tùng

    Gian nan là nợ anh hùng phải vay.

    Đó là một lời đúc kết kinh nghiệm về giá trị cùa chiến thắng, giá trị cả phẩm chất con người.

    Giữa bao cái gian khổ, khắc nghiệt đã thành ấn tượng niềm vui, dù ít ỏi, càng đáng nhớ hơn:

    Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói ….

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

    Dường như để trả trạng thái tâm hồn chúng ta về thế cân bằng sau khi chùng xuống trước cuộc sống chiến đấu cùa người chiến sĩ Tây Tiến, Quang Dũng hồi tưởng lại nhiều hình ảnh vui, ấm áp. Khói bếp, mùi thơm cơm nếp gợi cái ấm cúng của cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Sức nóng của nó đủ làm tâm hổn dần ấm lại sau những phút giây chứng kiến những gian khổ của người lính, đuốc hoa là hình ảnh có sức khơi gợi, gợi cho ta cái cảm giác tươi vui như đang chứng kiến lễ hội

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 10

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    đông vui. Hai liếng kìa em vừa ngỡ ngàng, vừa sung sưc nó diễn cả tâm hồn của người chiến sĩ Tây Tiến. Trong cả đoạn thơ dìu dặt thành tiếng nhạc, tiếng khèn, phảng phất hình ảnh vui tươi của cuộc sống ) bình như chẳng biết đến chiến ưanh. Hình ảnh nhạc về Viên Chăn xây hồn là hình ảnh đẹp, thơ mộng, diễn tả tâm hồn phong phú của người lính Tây Tiến . Họ tổ chức hội vui, sau bao thử thách khắc nghiệt của núi rừng dữ dội. Và mặc dù biết rằng sẽ còn liếp tục chịu đựng những gian truân, hi sinh, người lính Tây Tiến vẫn múa hát, đùa vui, vẫn lạc quan yêu đời. Có thể chỉ ngày hôm sau một người nào đó trong số họ phải nằm lại nơi núi rừng u tịch, nhưng hôm nay làm hồn họ vẫn mộng mơ, mơ đến những hình ảnh đẹp của thi và hoạ, xây hồn thơ. Và như vậy, họ sẵn sàng đón nhận mọi thử thách tiếp theo, coi đó như một việc bình thường mà đời lính phải chấp nhận. Không lên gân, không khiên cưỡng, mọi gian khổ hi sinh đối với người lính là chuyện binh thường và tất yếu, vì vậy mà họ vẫn lạc quan, vẫn yêu đời, vẫn sống với lâm hồn trẻ trung, tươi mát. Cũng vậy mà người lính Tây Tiến có thể vẫn nhớ một dáng thuyền độc mộc, hoặc một bông hoa trên dòng nước lũ. Những hình ảnh rất binh thường ấy, ngỡ rằng sau bao sự thử thách về tinh thần, người lính sẽ quên đi. Nhưng không, họ vẫn nhớ. Những hình ảnh ấy in sâu vàu tâm hồn ngựời lính Tây Tiến, là nguồn động viên thúc giục họ chiến đấu, dù tiếp tục đón nhận những thử thách mới:

    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. li ”àn quân không mọc tóc! Có cách nói nào lại khơi dậy nhiều cảm xúc đến thế! Như vậy thì hình ảnh của anh bộ đội Tây Tiến có trở nên quái đản không? Không đâu! Đó chính là hình ảnh oai hùng của anh “Vệ trọc” nổi tiếng một thời rét nên tóc rụng vả lại, cái cách nói đoàn quân không mọc tóc ấy phần nào cũng dựng nên hình ảnh người tráng sĩ với dáng dấp thật hùng dũng và hiên Quân không mọc tóc, quân lại xanh màu lá, màu xanh ấy có thể do cành lá trang, nhưng chủ yếu là do sốt rét rừng. Những cơn sốt rét ghê gớm đã để lại ấn tượng sâu sắc cho người chiến sĩ. Ta cảm động trước hình ảnh người sĩ Tây Tiến, và chợi nhớ đến hình ảnh người chiến sĩ trong một số bài thơ đương thời:

    Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật,

    Đâu còn tươi nữa những ngày qua.

    Người lính Tây Tiến cũng chịu đựng những cơn sốt rét ghê gớm ấy, thế nhưng, nó không làm nhụt đi ý chí của người chiến sĩ mà ngược lại họ càng chiến đấu dũng cảm hơn, kiên cường hơn, quân xanh màu lá nhưng vẫn dữ oai Cái khí phách hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến được ghi lại bằng sự so sánh cân bằng. Nếu ở khổ thơ trên, người lính chịu sự đe doạ của cọp thì họ cũng chiến đấu với tinh thần dũng cảm của một chúa sơn lâm như thế. Câu thơ sau nâng đỡ câu thơ trước vút bay lên như ánh hào quang của phẩm chất người lính Tây Tiến. Miêu tả khí thế chiến đấu hào hùng của người chiến thắng một sự so sánh như thế, Quang Dũng thực sự đã hiểu người lính và đã hòa đồng với họ. Chiến đâu dũng mãnh như thế, nhưng người lính Tây Tiến vẫn có đời sống tâm Hà Nội hết sức tinh tế:

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

    Người chiến sĩ ra đi từ những mái trường, chiến đấu nhưng vẫn không quên hậu phương. Phía trước là trận đánh, tình cảm thể hiện qua giấc mộng, có thực, có mơ. Dáng kiều thơm gợi nên

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 11

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    cái dáng vẻ yêu kiều của người con gái Thủ đô chữ thơm được dùng với nghĩa như “sắc nước hương trời” vậy! Người chiến sĩ của Quang Dũng ra đi, mang theo cả phong thái hào hoa của người thanh niên trí thức, cái phong thái đã giúp người chiến sĩ sống bằng đời sống tâm ít phong phú sau mỗi trận đánh ác liệt.

    Cái cuộc sống tâm hồn ây là nguồn động lực giúp người lính tiếp tục chiến đâu để giành lây độc lập, tự do cho Tổ quốc thân thương. Và cũng vì thế, người chiến sĩ chấp nhận sự hi sinh:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc ười xanh.

    Cứ thử làm công việc tách hai câu thơ thành từng câu một. Ôi! Cái ấn tượng bi thảm đên vô cùng mà câu thơ đầu mang đến thật mạnh mẽ. Không hiểusao, cứ mỗi lần đọc đên câu thơ này là tôi lại chìm vào trong suy tưởng và nước mắt cứ rưng rưng! Trên con đường gập ghềnh xa thẳm của miền núi rừng biên giới đoàn quân Tây Tiến cứ đi và thỉnh thoảng có những con người phải tách ra khỏi đội hình. Những nấm mộ của người chiến sĩ mọc lên. Câu thơ thật là bi thảm. Nhưng câu thơ sau như một lực nâng vô hình, đã đưa câu thơ đầu lên cao, cái thảm giờ đây đã trở thành bi tráng. Nó bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng nói được một điều cốt lõi trong nhân cách của người lính: biết hi sinh, biết gian khổ nhưng vẫn cứ ra đi giải phóng quê nhà. Họ ra đi chẳng tiếc đời xanh, bởi quãng đời tươi đẹp ấy đã hiến dâng cho một lí tưỏng cao đẹp: chiến đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản không một chút vướng bận, cái chết được xem nhẹ lựa lông hồng:

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    Cách dùng từ áo bào của Quang Dũng làm cho câu thơ trở nên cổ kính, áo bào chứ không phải chiến bào; người chiến sĩ như những danh tướng thời xưa da ngựa bọc thây là một điều vinh quang. Cũng như thế, người lính coi việc hi sinh trên chiến trường là một nghĩa vụ thiêng liêng. Người chiến sĩ Tây Tiến ngã xuống và thanh thản về đất. Đất sinh ra anh và lại đón nhận anh về sau khi làm tròn nghĩa vụ. Anh về đất như một hành động tựu nghĩa của những anh hùng. Mở đầu bài thơ là hình ảnh sông Mã, kết thúc bài thơ vẫn là tiếng gầm thét của dòng sông này. Dòng sông tiễn anh ra đi chiến đấu lại đón anh về:

    Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

    Quang Dũng khẳng định lại một lần nữa cái ý chí nhất khứ bất phục phản ra đi là không trở lại). Đó cũng là ý chí quyết tâm của cả một thế hệ, của một thời đại.

    Những gian khổ, hi sinh của cuộc kháng chiến là những kỉ niệm không thể quên. Sẽ không bao giờ còn có lại thời kì gian khổ đến mức ấy và cũng hào hung đến mức ấy. Và cũng khó có thể có được bài thơ Tây Tiến thứ hai.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 12

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 3:

    Chiến tranh, người lính luôn là đề tài không bai giờ cũ đối với những nghệ sỹ thời chiến. Chúng ta bắt gặp hình ảnh những người lính trong “Đồng chí” của Chính Hữu, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. Nhưng có lẽ ấn tượng, trữ tình và chân thực là hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng. Với cách khắc họa hình tượng người lính thành công, người đọc đã không thể quên được hình ảnh những người lính cụ hồ thời kì kháng chiến chống pháp.

    Bài thơ cũng chính là nỗi nhớ của chính tác giả về những năm tháng chiến tranh ác liệt nơi chiến trường xưa. Bài thơ được mở đầu bằng một tiếng gọi tha thiết:

    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

    Phù Lao Chanh là mảnh đất mà trước đây đoàn quân đã từng đi qua. Quang Dũng cùng rất nhiều thanh niên khác ở Hà Thành đã xếp bút nghiên lên đường ra chiến trường theo tiếng gọi của tổ quốc. Câu thơ cất lên như một tiếng gọi tha thiết về quá khứ từng trải qua. Sông Mã là con sông lớn, in dấu nhiều cuộc chiến tranh đổ lửa cũng như để lại bao nhiêu hoài niệm thời xa vắng của tác giả. Nỗi nhớ trong lòng tác giả là một nỗi nhớ “chơi vơi”. Một từ ngữ rất nhẹ nhưng dường như lại khiến cho nỗi nhớ thêm đầy, không thể nào vơi đi bớt.

    Quang Dũng đã cụ thể hóa nỗi nhớ đó bằng những hình ảnh còn đọng lại trong ký ức về vùng đất chiến tranh ác liệt này:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    Với những địa danh quen thuộc như “Sài Khao” và “Mường Lát” gợi nhớ về những năm tháng chiến tranh đó. Hai câu thơ với giọng rất êm, hình ảnh rất thi vị, nhẹ nhàng khiến cho người đọc cảm nhận đươc sự thi vị và lắng sâu. Đoàn quân Tây Tiến hành quân trong khói sương mù mịt, cái lạnh dường như len lỏi vào sâu trong tim. Một khung cảnh lãnh mạn, trữ tình giữa chiến tranh ác liệt thật khiến nhiều người ngưỡng mộ. Đó chính là một sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc về thiên nhiên giữa núi rừng thăm thẳm.

    Giữa thiên nhiên thơ mộng, trữ tình, hình ảnh kì vĩ, bao la của thiên nhiên và đất trời được phác họa qua nét bút của tác giả khiến cho người đọc cảm nhận được cuộc sống gian khổ, cuộc chiến khó khăn của đoàn quân. Từ ngữ “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” đã phần nào diễn tả được sự gồ ghề, khó khăn, khập khiễng của núi rừng. Có cảm giác như đoàn quân phải vượt qua bao nhiêu ngọn núi, đối mặt với bao nhiêu hiểm nguy mới có thể giành được chiến thắng.

    Có một hình ảnh rất đẹp, rất lãng mạn hiện lên “súng ngửi trời”. Thật thi vị và trữ tình. Hình ảnh “súng ngửi trời” là một hình ảnh mang tính chất nghệ thuật cao, gợi nên khung cảnh thật nên thơ. Nó hoàn toàn đối lập với cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt ở ngoài kia.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 13

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Chiến địa ác liệt, thiên nhiên hùng vĩ và nguy hiểm là những thử thách mà đoàn quân Tây Tiến cần vượt qua để chiến thắng được kẻ thù. Dù trong mưa bom bão đạn nhưng đoàn quân vẫn luôn lạc quan.

    Câu thơ cuối cùng dường như lắng lại, bình dị, êm đềm:

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    Một câu thơ toàn vần bằng gợi lên những lúc nỗi lòng của đoàn quân không vướng bận bất cứ điều gì. Câu thơ diễn tả trận mưa rơi nhẹ tênh, phủ trắng xóa giữa núi rừng. Màn mưa ấy che kín lối đi, phủ kín những con đường mà đoàn quân đi qua.

    Sự tàn khốc ác liệt của thiên nhiên còn được diễn tả một cách gân guốc:

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục bên súng mũ bỏ quên đời

    Thiên nhiên giữa núi rừng qua nét bút của Quang Dũng đã phần nào gợi lên sự khắc nghiệt, khó khăn, gian khổ, đầy những hiểm ngụy. Và có rất nhiều chiến sỹ, nhiều đồng đội đã phải bỏ mình nơi đó, tuổi trẻ dở dang ước mơ dở dang. Sự trầm lắng của câu thơ tạo cho cả bài thơ sự thành kính và thiêng liêng đối với những người đã khuất.

    Nối tiếp dòng cảm xúc đó là nỗi nhớ về những năm tháng êm đềm, với những con người bình dị, nghĩa tình nơi đấy. Những kỉ niệm khó lòng quên được:

    Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa…

    Hình ảnh những mái nhà tranh khi chiều muộn về có những làn khói trắng lan tỏa ra tạo thành từng lớp trắng lảng bảng ở trên núi. Nhớ mùa nếp xôi ấm lòng, gần gũi biết bao nhiêu. Những thước phim đó cứ cuồn cuộn, chảy mãi trong lòng người lính Tây Tiến.

    Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện lên ngày càng rõ nét và chân thưc:

    Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ hà nội dáng kiều thơm.

    Một nét vẽ thật táo bạo, chân thực về lính Tây Tiến. Sự gian khổ, sự khắc nghiệt của thời tiết đã khiến cho những thanh niên Hà Thành trai tráng trở nên mạnh mẽ, chai lì. Mặc dù “không mọc tóc” nhưng nét dữ dằn cũng khiến cho quân giặc phát sợ. Họ vẫn hiên ngang, mạnh mẽ chống chọi lại với quân thù và thời tiết khắc nghiệt/. Dù cuộc chiến có đầy bão giông thì vẫn không khiến cho những người lính thôi mơ mộng, Họ từng là những thanh niên Hà Thành xếp bút nghiên lên đường đi đánh trận, ở nơi xa vẫn có những bóng dáng để họ nhớ, họ mong, làm động lực để họ bước tiếp. Đây là điều đáng trân trọng đối với những người lính.

    Quang Dũng nhận ra sự khắc nghiệt của chiến tranh, những mất mát phải đánh đổi, những hi sinh phải đối mặt:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 14

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    Có lẽ đây là đoạn thơ hào hùng, mang âm hưởng bi tránh nhất bài thơ. Những người chiến sỹ đã anh dũng nằm lại với đồng đội, với đất mẹ. Tuổi xuân của họ còn đó nhưng vì đất nước mà hi sinh thì “chẳng tiếc”. Những con người vô danh nhưng họ luôn sống mãi trong lòng người ở lại.

    Họ ra đi nhưng lời hẹn ước hòa bình ngày xưa sẽ để những người còn ở lại tiếp bước mà chiến đấu và cống hiến hết mình.

    Bài thơ “Tây Tiến” của Quang DŨng thực sự gieo vào lòng người nhiều cảm xúc. Là sự ngưỡng mộ, khâm phục cũng như xót xa cho những gì đã xảy ra trong chiến tranh.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 15

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 4:

    Quang Dũng là nhà thơ tiêu biểu của chùm thơ chiến sĩ. Với lời thơ hào hùng, lãng mạn những sáng tác của ông đều để lại âm vang trong lòng người đọc cho đến tận ngày nay. Và “Tây Tiến” là một trong những tác phẩm như thế.

    Tây Tiến là tên của một đoàn quân với đa số là những chàng trai sinh viên hà thành. Đoàn quân được thành lập đầu năm 1947 và đại đội trưởng không ai khác chính là Quang Dũng. Cuối 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Tại làng Phù Lưu Chanh, ông viết bài thơ” Nhớ Tây Tiến” sau in trong “Mây đầu ô” đổi tên thành Tây Tiến. Nổi bật của tác phẩm là cảm hứng lãng mạn và bi tráng của từng câu thơ. Mở đầu tác phẩm là nỗi nhớ miên man trải dài.

    “Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

    Tác giả gọi tên dòng sông Mã- một nhân chứng theo suốt bước chân hành quân của đoàn quân. Quang Dũng nhớ về đồng đội, “nhớ về rừng núi”. Nỗi nhớ ấy cứ cồn cào, da diết để rồi bật lên thành tiếng gọi “Tây Tiến ơi”. Đặc sắc nghệ thuật của hai câu thơ đầu chính là cách gieo vần “ơi” và từ láy “chơi vơi”. Bằng sự thành công của đặc sắc ấy, nhà thơ đã diễn tả hết được nỗi lòng của mình. Nỗi nhớ của ông cứ miên man, cồn cào,da diết khôn nguôi. Nỗi nhớ từ tận đáy lòng rồi bật lên vang vọng.

    Nhớ về Tây Tiến là nhớ đến những khó khăn gian khổ suốt chặng đường hành quân. Một loạt các địa danh được nhà thơ nhắc đến ở những câu tiếp: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu. Đây đều là những địa danh heo hút, hoang vu, là những minh chứng cho chặng đường đầy gian khổ của người lính Tây Tiến.

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

    Hai câu thơ này thể hiện rất rõ cảm hứng lãng mạn trong thơ của Quang Dũng. Trong đêm lạnh

    • vùng cao, sương giăng phủ kín, mặc dù đã “mỏi” nhưng con đường hành quân hiện ra vẫn đẹp, vẫn thơ mộng “hoa về trong đêm hơi”. Những câu thơ tiếp theo thể hiện rõ sự khắc nghiệt của thiên nhiên trên đường hành quân. Một loạt các từ ngữ diễn tả sự gập ghềnh của hành trình ấy đã diễn tả một cách chân thực về thiên nhiên hoang sơ nơi rừng núi:” dốc lên khúc khuỷu, dốc xuống thăm thẳm đường đi heo hút”. Câu thơ “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” như bị chặt đôi đã diễn tả thật rõ sự gập ghềnh của núi, của chặng đường đi. Điều đó càng được tăng lên gấp bội nhờ “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Chặng đường ấy cứ trùng trùng điệp điệp nối tiếp nhau. Thế nhưng trước thiên nhiên hoang sơ kĩ vĩ ấy là hình ảnh “súng ngửi trời”. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp, lãng mạn của chàng lính Tây Tiến. Giữa núi rừng thiên nhiên hùng vĩ, người chiến sĩ vác súng trên vai. Câu thơ giúp người đọc cảm thấy như mũi súng có thể chạm đến đỉnh trời. Hình ảnh này khẳng định ý chí quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới ” khó khăn nào cũng vượt qua- kẻ thù nào cũng đánh thắng”.Giữa thiên nhiên hoang sơ ấy, tinh thần người chiến sĩ vẫn rất vững vàng:
    • Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 16

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Bằng ngòi bút chân thực, Quang Dũng đã tái hiện sự thật đau thương của cuộc hành quân. Đã biết bao người đã ra đi “anh bạn dãi dầu không bước nữa”. Nhưng hình ảnh ấy qua lời thơ Quang Dũng không hề bi thương mà hào hùng “gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Người chiến sĩ hào hùng hi sinh bên súng mũ trong tư thế hiên ngang “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Hình ảnh người chiến sĩ hi sinh đã đi sâu vào lòng người đọc cho đến tận ngày nay. Quả đúng không ngoa “tượng đài tự do được xây bằng máu và nước mắt”. Những khó khăn mới lại đến với đoàn quân. Đó là hiểm nguy rừng núi, chốn hoang sơ luôn rình rập “cọp trêu người”, “thác gầm thét”. Nhưng không vì thế mà người lính Tây Tiến nao núng. Trái lại họ còn lạc quan nhớ đến sự ấm áp của con người nơi đây ” nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói-Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Cặp từ sáng tạo “mùa em” đã chứa bao tình thương nỗi nhớ của tác giả.

    Thơ Quang Dũng đâu chỉ có hiện thực khắc nghiệt mà còn có phút lãng mạn, vui tươi:

    ” Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có thấy dáng người trên Độc Mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    Đoạn thơ này làm thay đổi không khí của toàn bài. Với âm hưởng vui tươi lạc quan, tác giả đã cho người đọc thấy sự hào hoa của người lính Tây Tiến. Đêm liên hoan văn nghệ thắm đượm tình dân quân đã in hằn trong tâm trí Quang Dũng khiến ông không thể nào quên. Hình ảnh những cô gái Thái xinh đẹp trong xiêm áo, e ấp trong điệu nhạc tiếng khèn, đã khiến người lính phải ngỡ ngàng ” kìa em”. Bằng tâm hồn lãng mạn, nhà thơ đã vẽ lên viễn cảnh mơ mộng của Châu Mộc trong chiều sương với “hồn lau”, “hoa đong đưa”. Phải chăng bông hoa ấy chính là hình ảnh cô lái đò trên dòng nước lũ? Nét duyên dáng thơ ngây của con người và cảnh vật đã được vẽ thành bức họa tuyệt trần qua thơ của Quang Dũng.

    Nối tiếp mạch thơ là hình ảnh người lính Tây Tiến với vẻ đẹp kì dị, lạ lùng:

    • Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Bút pháp tả thực lại một lần nữa được Quang Dũng thực hiện triệt để. “Đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” là kết quả của những trận sốt rét rừng. Thời kì này, chiến sĩ của ta chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, thiếu thốn lương thực, thuốc men, ngay cả trang bị chiến đấu “áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá’, ” chân không dày”… Chiến sĩ ta nhiều khi chết bệnh còn hơn chết trận. Nhưng dù với dáng vẻ như vậy, người lính Tây Tiến vẫn hiên ngang, uy hùng không hề yếu ớt ” dữ oai hùm”, “mắt trừng”. Đoạn thơ thể hiện rõ cảm hứng lãng mạn và bi tráng của nhà thơ. Quyết tâm giết giặc “gửi mộng qua biên giới” không làm giảm sự lãng mạn của người lính. Họ vẫn nhớ về quê hương, vẫn nhớ về người con gái Hà thành.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 17

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    • Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Một mùi chết chóc sực lên ở đoạn thơ này. Một màu sắc ảm đạm, u uất bao trùm khổ thơ. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó hiện lên bi tráng mà không bi lụy. Cái chí khí của người lính đã được bộc lộ rõ ràng. Họ quyết tâm đi “chẳng tiếc đời xanh” để đem lại nền độc lập cho dân tộc. Họ ngã xuống nhưng vẫn mang trong mình bầu máu nóng nhiệt huyết. “Áo bào thay chiếu anh về đất” như một cách nói giảm nói tránh. Người chiến sĩ ngã xuống là về với đất mẹ bao la. Một lần nữa, hình ảnh sông Mã lại hiện lên như tiễn đưa linh hồn người lính.

    • Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường đi thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Quang Dũng một lần nữa khẳng định ý chí sắt đá của người lính Tây Tiến. Họ ra đi không hề “hẹn ước”. Họ đã ra đi không hẹn ngày trở về, họ quyết tâm dành lại độc lập cho dân tộc. Tinh thần ” một đi không trở lại” của người lính Tây Tiến cũng như những anh bộ đội cụ Hồ lúc bấy giờ.

    Bằng bút pháp nghệ thuật tả thực cùng cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã tạo ra một thi phẩm tuyệt vời. Chân dung người lính Tây Tiến đã được khắc họa rất rõ qua lời thơ và nỗi nhớ của tác giả dành cho tiểu đội của mình. Quả thực, “Tây Tiến” xứng đáng là bản anh hùng ca của chùm thơ cách mạng Việt Nam thời bấy giờ.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 18

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 5:

    Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm (tên thường gọi là Dậu), sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, tổng Đại Hoàng (tục gọi là tổng Phùng), huyện Đan Phượng, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).

    Tốt nghiệp trường Sư phạm nhưng Quang Dũng không đi dạy học mà theo anh em đàn hát cho một gánh hát ở Hà Nội. Quang Dũng có nhiều năng khiếu về thơ ca, nhạc, họa và tính tình rất hào hoa. ông tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân ngày 19-8-1945. Cuối xuân 1947, sau khi học lớp bổ túc quân sự ở Sơn Tây, Quang Dũng từ giã vợ trẻ, con thơ để gia nhập đoàn quân Tây Tiến và được đề bạt chức vụ Đại đội trưởng.

    Sau thời gian chiến đấu ở biên giới Việt – Lào, ông được điều về làm trưởng ban văn nghệ Phòng chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu III. Hòa bình lập lại, ông là biên tập viên Nhà xuất bản Văn học. Ông mất năm 1988 vì bệnh tật. Năm 2001, Quang Dũng được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    Quang Dũng đã sống một cuộc đời vô cùng sôi nổi, ông đi nhiều, viết nhiều. Các tác phẩm thể hiện cá tính và phong cách nghệ sĩ độc đáo của ông. Một số tác phẩm đã được xuất bản và giới thiệu ở nước ngoài.

    Bài thơ Tây Tiến ra đời trong những tháng năm không thể nào quên của đất nước và cuộc đời Quang Dũng. Tây Tiến là tên một đơn vị bộ đội được thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang Lào bảo vệ biên giới và đánh tiêu hao quân Pháp ở vùng Thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam. Các chiến sĩ trong đơn vị đa số là thanh niên Hà Nội, gồm đủ các thành phần trí thức, học sinh, thợ thuyền… Họ sống và gắn bó với nhau nơi rừng sâu nước độc. Đói rét, bệnh tật liên miên, kẻ thù cùng với cái chết luôn rình rập, đe dọa ; song tất cả vẫn hào hứng dấn thân vào cuộc chiến tranh cứu nước.

    Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Trong Đại hội toàn quân Liên khu III tổ chức tại làng Phù Lưu Chanh (thuộc tỉnh Hà Đông cũ), nhớ đơn vị, ông đã xúc động viết nên bài thơ Nhớ Tây Tiến và đọc trước Đại hội, được hoan nghênh nhiệt liệt. Các chiến sĩ đã chuyền tay nhau chép và học thuộc. Có thể nói Quang Dũng đã gia nhập làng thơ Việt Nam từ bài thơ này. Đặt bài thơ vào đúng hoàn cảnh ra đời và tưởng tượng lại không khí buổi đầu kháng chiến thì chúng ta mới thấy hết giá trị của nó. Hơn nửa thế kỉ đã qua mà bài thơ vẫn còn truyền lại nguyên vẹn tình cảm nồng nhiệt của lớp người ra trận thời ấy.

    Thông qua nỗi nhớ về một miền đất dữ dội và một quãng đời chiến đấu gian khổ cùng đồng đội sống chết có nhau, bài thơ dã ghi lại hào khí lãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp.

    Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng, cảm hứng lãng mạn thể hiện ở “cái tôi” tràn đầy cảm xúc và trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ ; ở sự ca ngợi lí tưởng cao cả, lòng yêu nước thiết tha và tinh thần sẵn sàng hi sinh bảo vệ Tổ quốc của chiến sĩ ta. Tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật cường điệu, đối lập để tô đậm tính chất phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về sự hùng vĩ, dữ dội của thiên nhiên và hình ảnh kiên cường, anh dũng của đoàn quân Tây Tiến.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 19

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Trong bài thơ Tây Tiến, tác giả không hề có ý định che giấu cái bi bởi bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng giọng điệu, âm hưởng hào hùng. Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

    Có thể chia bài thơ thành bốn đoạn như sau:

    Đoạn 1 (14 câu đầu): Qua nỗi nhớ da diết của tác giả, hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện ra trong những cuộc hành quân gian khổ trên cái nền của thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội.

    Đoạn 2 (từ câu 15 đến câu 22) : Những kỉ niệm tuyệt đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và vẻ đẹp thơ mộng của núi rừng.

    Đoạn 3 (từ câu 23 đến câu 30): Khắc họa chân dung người lính Tây Tiến và sự hi sinh bi tráng của họ.

    Đoạn 4 (4 câu cuối) : Xa đơn vị, nhà thơ gửi nỗi nhớ thương và tình cảm gắn bó sâu sắc tới đoàn quân Tây Tiến và biên giới miền Tây Tổ quốc.

    Liên kết giữa các đoạn thơ là mạch cảm xúc dạt dào tuôn chảy trong tâm tưởng nhà thơ. Bài thơ được viết trong nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, thơ mộng. Bài thơ là hồi ức của Quang Dũng về Tây Tiến. Những kỉ niệm tự nhiên hiện lên, kỉ niệm này khơi dậy kỉ niệm khác, giống như những đợt sóng nối tiếp nhau. Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng đã làm cho những kỉ niệm vui buồn trở nên sống động, khiến người đọc có cảm tưởng đang cùng nhà thơ đắm mình trong dòng hồi tưởng.

    Mở đầu bài thơ là tiếng gọi thiết tha như bật thốt tự đáy lòng:

    Sống Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vợi

    Nhớ chơi vơi là nỗi nhớ cồn cào, ám ảnh. Nhớ Tây Tiến là nhớ sông Mã, nhớ quãng đời đầy ắp kỉ niệm khó phai. Nay xa nó, tác giả cảm thấy nỗi trống vắng, hụt hẫng hiện lên trong lòng không gì khỏa lấp được. Âm hưởng câu thơ ngân dài, lan tỏa bởi vần ơi lặp lại tới ba lần, như tiếng vọng vào vách đá, vang xa, xa mãi. Tiếng gọi Tây Tiến ơi tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Sau tiếng gọi ấy, bao nhiêu hình ảnh của quãng đời chiến đấu gian khổ đã qua hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ như những thước phim quay chậm:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    Bài thơ được làm theo loại cổ phong bảy chữ thể hành với sự chuyển đổi linh hoạt về nhịp điệu nên rất giàu khả năng biểu đạt. Trong đoạn thơ này, cảnh rừng núi miền Tây hiện ra thật sinh động dưới ngòi bút tả thực sắc sảo của nhà thơ. Quy luật miêu tả ở đây có cận cảnh, viễn cảnh, có hiện thực và hư ảo. Đoạn thơ là một thế giới của quá khứ chưa xa hiện lên lung linh trong nỗi nhớ với nét đẹp dữ dội, hoang sơ xen lẫn vẻ tươi mát, thơ mộng của thiên nhiên.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 20

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Nhớ Tây Tiến là nhớ về rừng núi, nơi đây rừng tiếp rừng, núi tiếp núi, gây ấn tượng sâu đậm trong tâm trí người đi xa. Rừng núi với những dốc cao vời vợi lẫn vào trong sương mù. Sương che lấp bóng dáng đoàn chiến sĩ đang hành quân vượt dốc: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi. Những làng bản xa xa thấp thoáng trong màn sương: Mường Lát hoa về trong đêm hơi. Câu thơ: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm có tới năm thanh trắc, đặc tả đường hành quân vất vả, khó nhọc của đoàn quân Tây Tiến qua dốc qua đèo, lúc lên thì khúc khuỷu, gập ghềnh, lúc xuống thì thăm thẳm như dẫn xuống vực sâu. Đỉnh núi cao ngất bốn mùa mây phủ. Leo lên đến đỉnh, đầu chiến sĩ ta chạm trời cao và mũi súng dường như cũng ngửi trời. Cụ thể hóa độ cao đáng sợ ấy là hình ảnh đối sánh: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống vẽ ra hai chặng đường hành quân. Hết lên lại xuống, xuống lại lên, dốc nối dốc, đèo nối đèo, trập trùng, hiểm trở.

    Tất cả đều là những thử thách ghê gớm, đáng sợ. Tuy thế, đoàn quân nhỏ bé vẫn ngày qua ngày đối mặt với thiên nhiên, nhẫn nại xuyên rừng mở lối, tiến về phía trước. Uy lực thiên nhiên bị giảm xuống và ý chí con người được nâng lên cao hẳn. Nhạc điệu trong từng câu và trong cả đoạn chuyển đổi hết sức linh hoạt, lúc gập ghềnh, trúc trắc, dồn nén, lúc lại dàn trải, êm đềm, ngân nga: Bắt đầu là Dốc lên / khúc khuỷu / dốc / thăm thẳm (5 thanh trắc) rồi đến Nhà ai / Pha Luông / mưa / xa khơi (7 thanh bằng) khiến cho người đọc có cảm giác như đang ở trạng thái căng thẳng tột cùng bỗng được trở về với sự cân bằng, yên tĩnh của tâm hồn.

    • đoạn này, ngốn ngữ thơ Quang Dũng là thứ ngốn ngữ đa thanh, đa nghĩa, giàu tính hình tượng. Tác giả có những sáng tạo độc đáo, mới lạ. Nói về độ cao mà lại dùng tính từ chỉ độ sâu: Heo hút cồn mây. Núi cao tưởng chừng chạm tới trời, mây nổi thành từng cồn. Đặc biệt thành công là hình ảnh súng ngửi trời. Nó làm tăng thêm độ cao đáng sợ của núi non như ngạo nghễ thách thức con người, đồng thời khẳng định tư thế, tầm vóc hiên ngang sánh với trời đất của chiến sĩ ta. Có một chút ngang tàng, hóm hỉnh trong hình ảnh ấy. Người lính trèo lên những ngọn núi cao, tưởng như đang đi trong mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống như bẻ làm đôi, diễn tả dốc núi vút lên rồi đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên thì cao chót vót, nhìn xuống thì sâu thăm thẳm. Câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi giúp người đọc hình dung ra cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển mây.

    Bốn câu thơ phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét bút mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng màu sắc trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu cả bức tranh. Đoạn thơ hàm chứa ý nghĩa : cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của quân dân ta gian nan tột bực mà cũng hào hùng tột bực.

    Tác giả nêu hàng loạt địa danh của vùng biên giới phía Tây với dụng ý tạo sự liên tưởng mạnh cho người đọc: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… Toàn là những cái tên chỉ mới nghe qua đã gợi liên tưởng đến vùng đất hoang dã, bí hiểm và xa lạ. Nó hoàn toàn khác hẳn với thôn Đông, thôn Đoài, xóm Thượng, xóm Hạ… quen thuộc, hiền lành xưa nay. Nó gợi trí tò mò và háo hức tìm hiểu của người đọc đối với những nơi heo hút, thâm sâu cùng cốc, ma thiêng nước độc – những chuyện đường rừng làm toát mồ hôi lạnh. Đây cũng là nét mới lạ của bài thơ Tây Tiên.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 21

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Những cuộc hành quân liên miên trong hoàn cảnh gian khổ, khắc nghiệt khiến chiến sĩ ta kiệt sức và không ít người đã ngã xuống trên đường hành quân. Ngòi bút của Quang Dũng không bỏ qua hiện thực khốc liệt ấy:

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

    Trong cuộc hành quân, chiến sĩ ta cứ đi, cứ đi cho tới khi nào kiệt sức tàn hơi thì không bước nữa và Gục lên súng mũ bỏ quên đời. Bỏ quên đời chứ không phải là chết. Nhẹ nhàng lắm, thanh thản lắm! Mạng sống con người là cái đáng quý nhất, ấy thế mà chiến sĩ ta bỏ quên đời như bỏ quên vật gì tầm thường vậy. Cái chết đến nhẹ nhàng như một cơn buồn ngủ. Mệt quá thì chợt thiếp rồi đi luôn, không một lời trăng trối. Con người không khuất phục trước gian nan, thử thách; có chết cũng chết trên đường hành quân tới đích. Đây cũng là một nét kiêu hùng của người lính Tây Tiến.

    Có thể hiểu câu thơ tả thực những người lính kiệt sức, gục ngã trên đường hành quân; nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây chỉ là hình ảnh về sự mệt mỏi với những giây phút bất chợt thiếp đi của người lính giữa các chặng đường hành quân. Dù hiểu cách nào thì câu thơ cũng phân ánh mức độ gian nạn, vất vả tưởng chừng khó vượt qua. Tuy nhiên giọng điệu và từ ngữ ở hai câu thơ này dù thoáng chút xót xa, ngậm ngùi nhưng vẫn có cái cứng cỏi, ngang tàng rất lính.

    Thiên nhiên hùng vĩ, hoang dã đầy đe dọa với núi cao, vực thẳm, thác gầm, thú dữ… tưởng chừng như nuốt chửng, đè bẹp những ai muốn đối đầu với nó:

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét,

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

    Vẻ hoang sơ, dữ dội, chứa đầy bí ẩn của núi rừng miền Tây được nhà thơ tiếp tục khai thác không chỉ theo chiều không gian mà còn được khám phá ở chiều thời gian. Nó luôn luôn là mối nguy hiểm đáng sợ đối với con người.

    Hai câu cuối đoạn: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi gợi cảm giác tươi mát, ngọt ngào về cuộc sống thanh bình thoáng bắt gặp trên đường hành quân. Bát xôi nóng bốc hơi nghi ngút thơm mùi nếp mới Mai Châu, được nhận từ tay em trao đã làm ấm lòng chiến sĩ và trở thành một kỉ niệm đẹp trong kí ức nhà thơ. Mùa em là từ sáng tạo hoàn toàn của Quang Dũng, nó làm cho câu thơ uyển chuyển, mềm mại và ấm áp thêm nhiều.

    Nhớ Tây Tiến, nhà thơ không chỉ nhớ tới cái khốc liệt, dữ dội mà nhớ cả những nét đẹp đẽ, tươi mát, thân thương của con người và thiên nhiên miền Tây:

    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 22

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Đoạn thơ lung linh, rộn rã với đuốc, hoa, với nếp xiêm áo dịu dàng của các cô gái vùng cao dang uốn lượn theo tiếng Khèn dìu dặt, bổng trầm như mang hồn rừng sâu núi thẳm : khèn man điệu. Câu thơ Kìa em xiêm áo tự bao giờ như một tiếng reo vui đầy ngạc nhiên, thích thú. Những đêm liên hoan văn nghệ thắm thiết tình quân dân cá nước dã làm giảm đi cái chất gian khổ của đời lính, đem lại niềm vui, niềm tin cho tuổi trẻ.

    Xa Tây Tiến, nhà thơ không bao giờ quên những nét đặc trưng của cảnh, của người. Những chiều sương bảng lảng hoàng hôn, bạt ngàn sắc trắng hoa lau, những ngọn lau phơ phất như bàn tay vẫy gọi dáng người trên độc mộc (độc mộc là loại thuyền được đẽo từ một thân cây lớn, loại phương tiện di chuyển rất thích hợp với sông suối vùng cao lắm thác ghềnh), những bông hoa rừng đong đưa bên dòng nước lũ…

    • đoạn này, bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, tiếng nhạc cất lên từ tâm hồn ngây ngất say mê của người lính Tây Tiến, bốn câu thơ sau là cảnh Châu Mộc với vẻ đẹp thơ mộng, mơ màng

    trong chiều sương được vẽ bằng nét bút tài hoa của Quang Dũng.

    Phải yêu mến cảnh vật đến say mê thì nhà thơ mới có cách cảm nhận và nhớ nhung sâu sắc như vậy. Thiên nhiên, con người miền biên giới phía Tây không còn xa lạ nữa mà trở nên thân thuộc, bình dị và đượm hồn kháng chiến.

    Nếu ở đoạn một, nhà thơ nói tới cái hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng thì đến đoạn hai tác giả lại tập trung thể hiện nét duyên dáng, thơ mộng của con người và cảnh vật. Ở đoạn ba, hình ảnh những người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp lạ lùng:

    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    Bài thơ làm sống dậy hình ảnh của một đoàn quân Vệ quốc. Bước chân họ in trên khắp các nẻo đường đất nước. Họ tình nguyện dấn thân vào cuộc kháng chiến. Gian khổ lắm lúc vượt quá sức chịu đựng của những chàng trai Thủ đô mới từ giã mái trường, góc phố.

    Cách tả cảnh của Quang Dũng đã lạ, cách tả người lại càng lạ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Không ít ý kiến bàn luận về hình ảnh này, khen có, chê có. Hình ảnh người chiến sĩ ở đây quả cũng có nét kì dị, khác thường song phải ghi nhận rằng đó là sự thật – một sự thật trần trụi và khắc khổ về người lính chiến thời ấy. Họ sống và chiến đấu nơi rừng sâu núi thẳm, thiếu ăn, thiếu thuốc, sốt rét liên miên đến rụng tóc, trọc đầu. Quang Dũng chỉ phản ánh lại hiện thực chứ không hề cường điệu. Ẩn chứa trong cái vẻ ngoài kì dị ấy là một phẩm chất vô cùng đẹp đẽ, kiêu hùng của anh bộ đội Cụ Hồ.

    Hình ảnh đoàn binh không mọc tóc chẳng xa lạ gì với những anh “Vệ trọc” thời kì đầu kháng chiến. Cạo bỏ mái tóc xanh đi, để đầu trọc cho gọn, tiện, thích hợp với đời sống chiến đấu – đồng thời đây cũng là một cách bày tỏ quyết tâm đánh giặc.

    Quân xanh màu lá đặc tả một chi tiết thực là màu da của các chiến sĩ Tây Tiến xanh xao vì đói ăn, vì sốt rét rừng, vì trăm ngàn gian khổ khác, thế nhưng họ vẫn bừng bừng khí thế dữ oai hùm khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Đấy mới là nét nổi bật của đoàn quân toát ra từ hình thức không lấy gì làm đẹp. Phải chăng ở đây, tác giả cố ý lấy cái xấu làm nền để tôn thêm cái đẹp như các nhà thơ xưa đã từng làm?

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 23

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Trong đoạn thơ, chất bi tráng, hào hùng hòa quyện với nhau, tạo nên không khí rất riêng của Tây Tiến và cũng rất chung của thời kì đầu nhân dân ta đánh giặc Pháp với hai bàn tay trắng.

    Quyết tâm giết giặc, gian khổ đói rét không làm giảm chất lãng mạn vốn có trong từng chiến sĩ. Giữa những cuộc hành quân, chiến đấu, họ vẫn dành riêng cho mình dăm ba phút để nhớ về quê hương, nhớ về những bóng dáng thân yêu: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

    Mắt trừng là mắt quắc lên vẻ dữ tợn, đe dọa ; gửi mộng là mộng ước giết giặc, quyết tâm giết giặc. Dữ dội như vậy nhưng vẫn không vơi lãng mạn : Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (kiều thơm: ý chỉ người con gái đẹp).

    Có lẽ ở thời ấy, không mấy chàng trai Thủ đô ra trận lại không mang theo trong tim bóng dáng một “nàng Kiều”. Hà Nội với dáng kiều thơm là quá khứ thơ mộng, đẹp đẽ, là hành trang không thể thiếu của mỗi anh lính mới xa nhà để lên đường tham gia kháng chiến. Nhớ để mà vui, mà tin, mà thêm sức mạnh chứ không phải để thối chí, nản lòng. Nét đẹp tâm hồn này bổ sung và làm phong phú thêm vẻ đẹp chung của chiến sĩ Tây Tiến.

    Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ qua những câu thơ đậm đà chất trữ tình.

    Đã có nhiều bài thơ kháng chiến viết về sự hi sinh của người lính nhưng Tây Tiến là một trong số ít bài thơ nói về điều đó một cách thấm thìa bằng cảm hứng bi tráng :

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

    Nếu tách riêng câu Rải rác biên cương mồ viễn xứ ra khỏi đoạn thì câu thơ như một bức tranh với màu sắc ảm đạm, u uất. Song, nếu tìm hiểu kĩ nó trong mối quan hệ nội tại chung với các câu thơ trong đoạn thì ý nghĩa của nó lại khác. Nó có sức gợi rất lớn: Rải rác nơi biên cương là những nấm mổ viễn xứ (mồ của những kẻ chết xa quê), không một vòng hoa, một nén hương tưởng niệm. Lạnh lẽo và thê lương lắm chứ! Nhưng chiến sĩ ta ngay từ lúc bước chân ra đi đã sẵn sàng chấp nhận cái chết như vậy. Câu thơ đó làm nền cho những câu tiếp theo:

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Đời xanh là tuổi trẻ với bao nhiêu hoa mộng. Đẹp là thế, hứa hẹn nhiều là thế nhưng các chiến sĩ ta chẳng tiếc mà nhiệt thành hiến dâng cho Tổ quốc. Hỏi có sự hi sinh nào cao quý hơn, đáng ca ngợi hơn ?

    Phảng phất đâu đây chí khí của Tráng sĩ một đi không trở lại, của bậc trượng phu Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Ý thơ cũ nhưng cái tình thì lại rất mới, rất thật. Những ngày đầu kháng chiến, bao thanh niên học sinh xếp bút nghiên lên đường chiến đấu chống xâm lăng, bảo vệ đất nước. Một trong những động cơ thôi thúc họ là hình ảnh người anh hùng da ngựa bọc thây chốn sa trường mà họ tiếp thu được qua văn chương. Họ hăm hở lên đường chiến đấu với nhiệt tình cháy bỏng và một đam mê trong sáng pha chút lãng mạn.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 24

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Ngày xưa, người tráng sĩ chọn cái chết hiên ngang nơi trận mạc với da ngựa bọc thây và coi đó là vinh quang tột đỉnh, còn chiến sĩ Tây Tiến thì; Áo bào / thay chiếu / anh / về / đất. Nhịp điệu câu thơ chậm rãi và trang trọng. Một chi tiết rất thực được nhắc đến trong câu thơ thấp thoáng phong vị cổ này là hình ảnh áo bào thay chiếu, tức là lấy chiếu thay cho áo bào để khâm liệm các chiến sĩ hi sinh. Xuất phát từ chuyện có thật do chính tác giả kể lại là trước lúc hành quân sang đất bạn, nhân dân địa phương nơi trú quân tặng chiến sĩ ta mỗi người một chiếc chiếu cá nhân. Sống thì nằm, chết dùng để liệm. Nhất cử lưỡng tiện. Hình ảnh đẹp đẽ, rực rỡ của chiếc chiến bào trong câu: Áo chàng đỏ tựa ráng pha (Chinh phụ ngâm) giờ được thay bằng chiếc chiếu. Sơ sài thế, tầm thường thế mà vẫn sang trọng, oai vệ như tấm áo bào của các chiến tướng thuở nào. Thay từ chết bằng từ về đất, cách nói này làm giảm nhẹ sự mất mát, đau thương. Bao ý nghĩa lớn lao hàm chứa trong hai từ giản dị, mộc mạc đó. Thanh thản biết mấy là cái chết của những người đã làm xong nghĩa lớn đối với quê hương xứ sở. Anh về đất là hóa thân vào non sống đất nước. Cái chết của các anh trở thành bất tử. Đồng đội, đồng bào, non sông đất nước mãi mãi yêu thương trân trọng và nhớ ơn các anh :

    Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

    Người ngã xuống âm thầm, lặng lẽ về với đất. Riêng dòng sông Mã vẫn cất cao khúc độc hành (khúc hát của người đi xa một mình) bằng cái giọng thác ghềnh của nó. Tiếng hát hùng tráng, dữ dội của dòng sống cũng chính là tiếng lòng, là quyết tâm của chiến sĩ ta.

    Đoạn thơ thấm đẫm chất bi tráng. Tác giả có nhắc tới mất mát mà không đau thương, bi lụy bởi đã dùng cái bi để làm bật lên cái tráng.

    Xuyên suốt bài thơ là tình cảm, là trách nhiệm công dân của người chiến sĩ trước vận mệnh đất nước. Tự nguyện dấn thân, chấp nhận gian khổ, hi sinh… là những nét nổi bật trong phẩm chất chiến sĩ ta. Ở khổ thơ cuối bài, Quang Dũng khẳng định thêm một lần nữa cái chí nam nhi rất đáng quý đó:

    Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường đi thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nưa chẳng về xuôi.

    Đã ra đi là không ước hẹn ngày về, đã ra đi là quyết tâm tới đích. Cái tinh thần “một đi không trở lại ” thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm của cả đoàn quân Tây Tiến. Không vấn vương, bịn rịn chuyện riêng tư, tất cả cho nhiệm vụ cứu nước. Xác định dứt khoát đến quyết liệt như thế thì mọi chuyện gian khổ hi sinh đều trở nên nhẹ nhàng đối với mọi người. Tây Tiến mùa xuân ấy đã trở thành thời điểm có một không hai. Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại cái thời thơ mộng, lãng mạn hào hùng đến nhường ấy trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy. Tinh thần ấy cho đến nay vẫn là bài học nhân sinh thiết thực và bổ ích cho mọi người.

    Tây Tiến là cuộc sống, là tấm lòng, là cảm xúc chân thành của Quang Dũng. Bài thơ có nhạc, có họa. Bên cạnh cái dữ dội là cái tươi mát, bên cạnh cái bi thương là cái hào hùng. Tây Tiến là một phần bức tranh hoành tráng về cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ và vĩ đại của dân tộc ta. Tây Tiến là cột mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Quang Dũng. Nhắc đến nhà thơ, người đọc nhớ ngay đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại. Thơ Quang Dũng nói với chúng ta về cái thật, cái đẹp và cái tốt của cuộc đời ; vì thế mà nó sống mãi với thời gian.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-T%C3%93M-T%E1%BA%AET-T%C3%81C-PH%E1%BA%A8M-V%C4%82N-XU%C3%94I-L%E1%BB%9AP-12.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài ( in trong tập Truyện Tây Bắc,

    1953) :

    Vợ chồng A phủ kể về đôi vợ chồng người H’ Mông ở vùng Tây Bắc. Mỵ là một cô gái xinh đẹp có tài thổi sáo. Trai bản nhiều người mê và Mỵ đã có người yêu . Dù cha Mị nợ thống lí Pá Tra một món tiền lớn, chưa trả nổi, hằng năm phải trả lãi cả một nương ngô nhưng Mị kiên quyết không lấy A Sử -con trai thống lý Pá Tra- để xoá nợ. Nhưng một đêm xuân, Mị bị A Sử lừa, bắt về trình ma nhà nó. Tiếng gọi là làm vợ A Sử nhưng Mị bị đối xử thậm tệ.

    Ban đầu, Mị định tự tử nhưng vì thương cha đành cam chịu sống trong đau khổ, câm lặng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.

    *

    Ngày Tết lại về, Mị lén uống rượu một mình. Không khí vui nhộn, nhất là tiếng sáo gọi bạn tình đã giúp Mị nhớ lại những ngày trước, khơi dậy ở Mị khát vọng tình yêu hạnh phúc. Mị vào buồng, định thay váy áo đi chơi thì bị A Sử bắt trói đứng vào cột nhà, bằng cả thúng dây đay, cả tóc Mị. Trong cơn chập chờn mê tỉnh, Mị vẫn thả hồn theo các cuộc chơi. Đến lúc thích chí vùng bước đi mới biết toàn thân bị trói chặt, đau buốt.

    Cũng đêm đó, A Phủ, một thanh niên mồ côi nhưng khoẻ mạnh, can trường, đã đánh A Sử, vì bất bình trước trò xấc xược của hắn ta. A Phủ bị làng bắt về xử tội và trở thành người ở trong nhà Pá Tra để trừ nợ.

    *

    Một mùa đông giá rét, rừng đói, hổ báo từng đàn ra phá nương, bắt bò ngựa . A Phủ vì mải mê bẫy nhím nên đã để hổ bắt mất một con bò. A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đứng vào một cây cột, suốt mấy ngày đêm- chờ khi nào A Sử bắn được hổ mới tha.

    Lúc ấy, tuy Mị đã trở thành một con người đờ đẫn, vô cảm nhưng khi nhìn thấy hai dòng nước mắt của A Phủ lặng lẽ rơi trên hai hóm má xám đen vì kiệt sức, tuyệt vọng, Mị động lòng thương người cùng cảnh ngộ. Sau một hồi suy nghĩ, Mỵ đã cắt dây trói cho A Phủ. Rồi, Mị vụt chạy theo anh ta.

    *

    Cả hai băng rừng sang Phiềng Sa, trở thành vợ chồng. Quân Pháp tràn tới, dân làng hoang mang lo sợ. A Châu, cán bộ Đảng đã tìm đến xây dựng phong trào và kết nghĩa anh em với A Phủ. A Phủ đã trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng với Mị và đồng đội tích cực tham gia chống Pháp và tay sai bảo vệ quê hương .

    Tóm tắt VỢ NHẶT (1955) – Kim Lân (in trong tập Con có xấu xí, 1962)

    Giữa lúc xóm ngụ cư xơ xác, tiêu điều trong nạn đói đầu năm 1945, vào một buổi chiều tà, Tràng- một người nông dân nghèo, luống tuổi, thô kệch, lại dở hơi- dẫn một người phụ nữ về nhà.

    Vì đang lâm cảnh ngộ đói rách cùng đường nên chỉ qua vài lần gặp gỡ với một vài câu nói đùa, rồi cắm đầu ăn một chặp hết bốn bát bánh đúc do Tràng “chiêu đãi”, người phụ nữ này ưng thuận theo không anh về nhà

    Mẹ Tràng (bà cụ Tứ) đón nhận người con dâu trong tâm trạng vừa buồn vừa mừng, vừa lo âu, vừa hi vọng nhưng không hề tỏ ra rẻ rúng người phụ nữ đã theo không con mình.

    Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không khí chết chóc, tủi sầu từ xóm ngụ cư vọng tới

    Sáng hôm sau, một buổi sáng mùa hạ, nắng chói lói. Bà cụ Tứ và cô dâu mới xăm xắn dọn dẹp, quét tước trong ngoài. Trước cảnh ấy, Tràng cảm thấy mình gắn bó và có trách nhiệm với cái nhà của mình và thấy mình nên người, trông người vợ đúng là một người phụ nữ hiền hậu đúng mực, không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như lần đầu gặp nhau. Bà cụ Tứ hồ hởi đãi hai con vài bát cháo loãng và một nồi chè cám.

    Qua lời kể của người vợ, Tràng dần dần hiểu được Việt Minh và trong óc Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói kéo nhau đi phá kho thóc Nhật, phía trước là một lá cờ đỏ bay phất phới.

    Tóm tắt RỪNG XÀ NU ( 1965)- Nguyễn Trung Thành

    Truyện kể về một làng ở Tây Nguyên- làng Xô Man- nằm giữa cánh rừng xà nu bạt ngàn, đang từng ngày hứng chịu những trận những trận đại bác của đồn giặc.

    Chuyện chính thức bắt đầu bằng việc Tnú trở về thăm làng sau ba năm tham gia lực lượng Giải phóng quân. Thằng bé Heng dẫn đường cho Tnú vì đường vào làng nay đã bố phòng nghiêm ngặt: hầm chông, hố chông, dàn thò chằng chịt….

    Đêm đó, Tnú ăn cơm và ở lại nhà cụ Mết. Cả làng tụ họp, Dít kiểm tra giấy phép xong, cụ Mết tự hào kể lại cho mọi người nghe trang sử đấu tranh đồng khởi của làng, gắn bó sâu sắc với cuộc đời Tnú.

    *

    Hồi ấy, Mỹ- Diệm khủng bố dữ dội, nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ (anh Quyết). Tuy còn nhỏ tuổi, Tnú và Mai được giao làm liên lạc cho anh Quyết, rồi được anh Quyết dạy chữ.

    Một lần, trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện, Tnú bị địch phục bắt, bị tra tấn nhưng anh nhất quyết không khai báo. Ở tù ba năm, Tnú vượt ngục trở về làng thay anh Quyết lãnh đạo buôn làng tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và kết hôn cùng Mai.

    Tin làng Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai giặc. Thằng Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp. Cụ Mết, Tnú, cùng thanh niên lánh vào rừng. Không bắt được Tnú, bọn giặc bắt Mai với đứa con nhỏ chưa đầy tháng của hai người đánh đập dã man.

    Từ vị trí ẩn nấp, Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị giặc hành hạ, Tnú nhảy xổ vào cứu vợ con, rồi bị chúng bắt, Mai và đứa con chết. Bọn giặc tẩm nhựa Xà nu đốt mười đầu ngón tay anh để khủng bố tinh thần dân làng.

    Tnú kiên cường chịu đựng quyết không kêu la. Có tiếng động chung quanh, Tnú thét lên một tiếng, dân làng đồng thanh, nhất tề nổi dậy, thằng Dục và tiểu đội ác ôn đã bị cụ Mết và thanh niên diệt gọn. Làng Xô Man đồng khởi thắng lợi. Tnú gia nhập Giải phóng quân. Anh dũng cảm lập chiến công, được cấp chỉ huy cho về phép thăm làng một đêm.

    Sáng hôm sau, Cụ Mết, Dít tiến anh lên đường . Họ chia tay nhau ở đồi xà nu, cạnh con nước lớn.

    Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi (2/1966)

    Chuyện kể về hai chị em Chiến – Việt, những đứa con trong một gia đình có nhiều mất mát, đau thương: cha bị Pháp chặt đầu hồi chín năm, mẹ vừa bị đại bác Mĩ bắn chết. Khi hai chị em Chiến – Việt trưởng thành, cả hai đều giành nhau tòng quân. Nhờ sự đồng tình của chú Năm, cả hai đều được nhập ngũ và ra trận.

    Trong trận đánh ác liệt tại một khu rừng cao su, Việt diệt được một xe bọc thép đầy Mĩ và sáu tên Mĩ lẻ nhưng anh cũng bị thương nặng, lạc đồng đội, một mình nằm lại chiến trường khi còn ngổn ngang dấu vết của đạn bom và chết chóc. Việt ngất đi, tỉnh lại nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại, Việt hồi tưởng về gia đình, về những người thân yêu như mẹ, Chú Năm, chị Chiến… .

    Đoạn trích thể hiện lần tỉnh dậy thứ tư của Việt trong đêm thứ hai. Tuy mắt không nhìn thấy gì, tay chân đau buốt, tê cứng nhưng Việt vẫn trong tư thế sẵn sàng

    chiến đấu và cố gắng từng tí một lê về phía có tiếng súng của quân ta vì phía đó “là sự sống”.

    Việt hồi tưởng lại những sự việc xảy ra từ sau ngày má mất. Cả hai chị em đều háo hức tòng quân, nhưng Chị Chiến nhất định giành đi trước vì cho rằng Việt chưa đủ 18 tuổi. Đến đêm mít tin, Việt nhanh nhảu ghi tên mình trước. Chị Chiến chậm chân và “bật mí” chuyện Việt chưa đầy 18 tuổi. Nhờ chú Năm đứng ra xin giúp, Việt mới được tòng quân. Đêm hôm ấy, chị Chiến bàn bạc với Việt về mọi việc trong nhà. Việt răm rắp chấp nhận mọi sự sắp đặt của chị Chiến, vì Việt thấy chị Chiến nói giống má quá chừng.

    Sáng hôm sau, hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm. Việt cảm thấy lòng mình “thương chị lạ”.

    Sau ba ngày đêm, đơn vị đã tìm thấy Việt. Anh được đưa về điều trị tại một bệnh viện dã chiến; sức khoẻ hồi phục dần. Anh Tánh giục Việt viết thư cho chị kể lại chiến công của mình. Việt rất nhớ chị, muốn viết thư nhưng không biết viết như thế nào vì Việt cảm thấy chiến công của mình chưa thấm gì so với thành tích của đơn vị và mong ước của má.

    TÓM  TẮT  CỐT  TRUYỆN  CHIẾC  THUYỀN  NGOÀI  XA  (1983,

    NGUYỄN MINH CHÂU)

    Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi anh từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một

    cảnh đắt trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã ngạc nhiên đến sững sờ khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh người chồng vũ phu đánh đập vợ một cách dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình.

    Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp . . . Theo lời mời của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng) người đàn bà hàng chài đã đến toà án huyện. Tại đây, người đàn bà ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ bước ra từ tấm ảnh.

    HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT – 1981 (Lưu Quang Vũ)

    Trương Ba, gần 60 tuổi- là một người làm vườn tốt bụng, đặc biệt rất cao cờ. Do tắc trách, Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba, khiến ông phải chết oan. Vợ Trương Ba lên Thiên đình kiện. Theo gợi ý của Đế Thích, để sửa sai, Nam Tào cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ở làng bên vừa mới chết, mới ngoài 30 tuổi, để được sống lại, ,.

    Trú nhờ thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái : lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng; gia đình Trương Ba ngày càng lủng củng. Đặc

    biệt, sống bằng thân xác hàng thịt, Trương Ba dần dà tiêm nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn xa lạ với ông. Gay nhất là chị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải là người đàn ông thực sự của chị. Lí trưởng nhân đấy sách nhiễu vòi tiền; con trai Trương Ba ngày càng đắc ý, lấn lướt, coi thường bố. Ngược lại, vợ, con dâu, cháu nội Trương Ba không thể chịu nổi và dần dần xa lánh. Trương Ba vô đau khổ.

    Trước nghịch cảnh ấy, Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt, cũng không chấp nhận nhập vào xác cu Tị , kiên quyết chấp nhận cái chết.

    Tóm tắt phần trích giảng truyện ngắn Số phận con người (1957) của Sô-lô-

    khốp

    Chiến tranh kết thúc, Xô-cô- lôp giải ngũ nhưng không muốn trở lại quê nhà. Anh đến chỗ của một đồng đội cũ, xin làm lái xe cho một đội vận tải. Tình cờ anh gặp chú bé Va-ni-a mồ côi, không nơi nương tựa vì bố mẹ em đều đã chết trong chiến tranh. Ngay lập tức, anh quyết định nhận Va-ni-a làm con. Chú bé ngây thơ tin rằng Xô-cô-lốp là bố đẻ của mình. Xô-cô-lôp yêu thương, chăm sóc chú bé thật chu đáo và xem nó là niềm vui lớn, niềm an ủi của mình. Tuy nhiên, anh vẫn bị ảm ảnh bởi những mất mát quá lớn trong chiến tranh. Hằng đêm anh vẫn mơ thấy vợ và các con của mình, « thức giấc thì gối đẫm nước mắt ».

    Rồi một chuyện rủi ro xảy ra : xe anh đụng phải con bò và anh bị thu hồi bằng lái, phải chuyển sang làm thợ mộc để kiếm sống. Theo lời mời của một người bạn khác, ở Ka-sa-rư, anh dẫn bé Va-ni-a đến đó với hi vọng chừng nửa năm sau anh được cấp lại bằng lái mới. Dù thế, anh vẫn cố trấn tĩnh, vì không muốn để bé Va-ni-a biết được tâm trạng đau buồn của mình.

    Tóm tắt cốt truyện truyện ngắn Thuốc (1919) của Lỗ Tấn

     

    • Chương I: Vợ chồng Hoa Thuyên- chủ một quán trà nghèo- có đứa con trai độc nhất mắc bệnh lao rất nặng. Nhờ có người mách, vào một đêm thu lúc trời chưa sáng hẳn, lão Hoa Thuyên tìm tới pháp trường để mua chiếc bánh bao tẩm máu người vừa chịu án chém về cho con ăn vì cho rằng ăn như thế nó sẽ khỏi bệnh.
    • Chương II: Vợ chồng Hoa Thuyên cho bé Thuyên ăn thuốc. Thằng bé thật tiều tuỵ, đáng thương. Vợ chồng Hoa Thuyên đặt hết niềm tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của phương thuốc này.
    • Chương III: Trời vừa sáng, lúc bé Thuyên ăn thuốc xong, quán trà nhà lão Hoa Thuyên dần đông khách. Câu chuyện của khách xoay quanh hai sự việc. Sự việc thứ nhất là tất thảy bọn họ đều tin tưởng vào công hiệu của phương thuốc bánh bao tẩm máu tươi mà thằng bé vừa ăn . Hai là họ bàn tán về người tù bị chém sáng nay. Qua lời của Cả Khang thì người bị chém tên là Hạ Du người trong địa phương. Hạ Du theo đuổi lí tưởng đánh đổ nhà Mãn Thanh, giành chủ quyền cho người Trung Quốc (Thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta). Hạ Du bị bắt vì người bà con tố giác. Trong tù Hạ Du vẫn tuyên truyền tư tưởng cách mạng. Tuy nhiên, tất cả những người có mặt trong quán trà hôm đó không một ai hiểu đúng về Hạ Du. Bọn họ cho Hạ Du là điên, là thằng khốn nạn.
    • Chương IV: Vào một buổi sáng Thanh minh năm sau, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên cùng đến nghĩa địa (dành cho người nghèo, người tù và người bị chém) viếng mộ con. Hai người mẹ đau khổ bước đầu có sự đồng cảm . Họ rất ngạc nhiên khi thấy

    trên mộ Hạ Du có một vòng hoa. Mẹ Hạ Du đã bắt đầu hiểu ra việc làm của con bà và tin tưởng những kẻ giết hại Hạ Du nhất định sẽ bị quả báo.

    Tóm tắt truyện Ông già và biển cả (1952)của Hê-minh-uê

    Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Xan-ti-a-gô -một “ông già” đánh cá người Cuba, 74 tuổi .

    Suốt 84 ngày liền, ông lão không bắt được một mống cá nào, dân làng chài cho rằng lão đã “đi đứt” vì vận rủi. Cậu bé Ma-nô-lin cũng bị cha mẹ không cho đi câu chung với lão nữa.

    Vào ngày thứ 85, lão quyết định ra khơi trước khi trời sáng. Lần này lão đi thật xa, đến tận vùng Giếng Lớn. Khoảng trưa, một con cá lớn cắn câu, kéo thuyền về hướng tây bắc.

    Sáng ngày thứ hai, con cá nhảy lên . Đó là một con cá kiếm, lớn đến nỗi trước đây lão chưa từng nhìn thấy. Con cá lại lặn xuống, kéo thuyền chạy về hướng đông.

    Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Dù đã kiệt sức, lão kiên trì thu ngắn dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền dong về. Nhưng chẳng bao lâu nhiều đàn cá mập đánh hơi được đã lăn xả tới. Từ đó đến đêm, lão lại đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập- phóng lao, vung chày, thậm chí dùng cả mái chèo để đánh- giết được nhiều con, đuổi được chúng đi, nhưng lão biết con cá kiếm của mình chỉ còn trơ lại một bộ xương.

    Đến khuya, đưa được thuyền vào cảng, về đến lều, lão vật người xuống giường và chìm vào giấc ngủ , rồi mơ về những con sư tử

    TÓM TẮT TRÍCH ĐOẠN ĐỌC HIỂU TRONG SÁCH GIÁO KHOA

    Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Bằng tất cả kinh nghiệm và sự khéo léo lão thận trọng thu dây câu nhưng lão biết vòng tròn còn khá lớn, con cá hãy còn xa tầm tay của lão. Từng tí một lão cố gắng thu hẹp vòng lượn của con cá và phát hiện rằng con cá đã thấm mệt nên liên tục ngoi lên trong lúc bơi.

    Sau cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây, lão sợ con cá nhảy lên có thể làm văng mất lưỡi câu. Nhưng con cá không nhảy lên mà bắt đầu lượn vòng chầm chậm. Lão cho đó là cơ hội lí tưởng để mình nghỉ ngơi dưỡng sức .

    Đến vòng lượn thứ ba, lần đầu tiên lão thấy con cá như một cái bóng đen lướt qua dưới con thuyền, rồi trông thấy rõ hơn khi nó mấp mé mặt nước. Đến vòng lượn tiếp theo, lão trông thấy lưng cá nhưng nó vẫn còn ở xa thuyền. Lão chuẩn bị lao, và thu dần dây câu.Đến mấy vòng lượn sau con cá tiến gần mạn thuyền . Dù đã kiệt sức, lão vẫn giẫm chân giữ dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm vào chỗ hiểm giết chết được con cá. Máu cá loang ra nhuộm sẫm cả vùng nước chung quanh. Con cá chết thẳng đơ, trắng bạc và bồng bềnh theo sóng.

    Không thể đưa con cá lên thuyền vì nó quá lớn, lão cẩn thận buộc nó dọc theo mạn thuyền, giương buồm về bến. Lão thật sự hài lòng và tự hào với thành quả lao động của mình.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong Những đứa con trong gia đình

    Văn Mẫu Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong Những đứa con trong gia đình

    Văn Mẫu Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong Những đứa con trong gia đình

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-nh%C3%A2n-v%E1%BA%ADt-Vi%E1%BB%87t-v%C3%A0-Chi%E1%BA%BFn-trong-Nh%E1%BB%AFng-%C4%91%E1%BB%A9a-con-trong-gia-%C4%91%C3%ACnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong Những đứa con trong gia đình

    Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong Những đứa con trong gia đình

    Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những

    ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những

    đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống

    của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm

    chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê

    hương, trung thành với cách mạng.

    Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân

    binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình –

    quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm

    tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp

    xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em

    Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có

    những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một

    vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm

    chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc,

    giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng

    chiến chống Mỹ.

    Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê

    hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt. Chiến đấu giữa

    bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã

    nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn

    sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người

    trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ

    yêu thương và căm thù: chị Chiến, má, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là

    những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.

    Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác

    mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương,

    những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã

    đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ

    thế hệ đi trước, chú Năm và má, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát

    được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và má được khắc hoạ với

    những nét riêng độc đáo.

    Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất

    phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời

    làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời

    gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai

    phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to,

    mọng nước.Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho

    con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu. Nét đặc biệt độc đáo ở

    người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những chuyện

    thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đoócòn là

    những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như

    một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ

    cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ

    chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm

    lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.

    Má của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng

    trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật

    này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con

    ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng má đã vượt lên đau

    thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với

    họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước

    đôi mắt của người vượt sông vượt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, má là hiện thân

    của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm,

    tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn

    người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy

    sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.

    Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước,

    tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha má,

    cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải

    ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị

    chặt đầu, má bị trái cà nông quân thù sát hại. Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến

    đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương,

    sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình!

    Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong

    xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú

    Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý

    thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.

    Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị

    1. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống má, gan góc, chăm chỉ, đảm

    đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những

    lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra

    chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành,

    nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương

    nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị

    em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để

    chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị

    Chiến giống in như má, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.

    Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai

    chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ má qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho

    người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những

    đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả

    được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước vẹn toàn, lời động viên của

    chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

    Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm.

    Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà

    xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh

    giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động. Bản tính hồn nhiên của một cậu bé

    mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là

    tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những

    lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có

    thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành

    công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người

    đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết

    tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn bó với người thân và sau này là tình cảm chan

    hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.

    Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ

    anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am

    hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con

    người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người

    thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và

    nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa

    con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện sâu sắc về sự trưởng thành của

    thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng

    Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí

    còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi theo.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: VĂN MẪU 5 BÀI “PHÂN TÍCH KHỔ THƠ CUỐI TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-chi-ti%E1%BA%BFt-b%C3%A0i-th%C6%A1-%C4%90%E1%BA%A5t-N%C6%B0%E1%BB%9Bc-c%E1%BB%A7a-Nguy%E1%BB%85n-Khoa-%C4%90i%E1%BB%81m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Nhà thơ nhà văn Nguyễn Khoa Điềm không có nhiều tác phẩm nhưng những tập thơ của

    ông luôn được độc giả đón nhận và yêu thích. Trong đó không thể không nhắc đến trường

    ca “Mặt đường khát vọng” vô cùng nổi tiếng mà ta thường biết đến thông qua bài thơ

    “Đất Nước”. Bài thơ này được trích từ chương V của trường ca.Đây đuợc xem là chương

    hay và sâu sắc nhất. Tác giả chia đoạn thơ thành 5 khổ, mỗi khổ ứng với một luận điểm,

    nhưng đều nhằm một mục đích đó là làm sáng tỏ tư tưởng: “Đất nước này là Đất Nước

    Nhân dân”. Chính luồng tư tưởng này đã thôi thúc tuổi trẻ các tỉnh Miền Nam tham gia

    chiến đấu giành độc lập cho nước nhà.Không những thế, nó đã khơi dậy niềm tự hào dân

    tộc của nhân dân ta.Bên cạnh đó, Nguyễn Khoa Điềm trình bày rất nghệ thuật nhiều cảm

    nhận, lý giải mới về đất nước. Từ đó, ta hiểu thêm tính chính luận – trữ tình của thơ ông

    nói riêng và thơ chống Mỹ nói chung.

    Câu thơ đầu của đoạn rất đỗi nhẹ nhàng,bình dị nhưng lại vô cùng hàm súc:

    “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

    Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..”mẹ thường hay kể”

    Bốn từ “ngày xửa ngaỳ xưa” sao quá đỗi quen thuộc với chúng ta. Nó xuất hiện trong

    những câu chuyện cổ tích bà kể,trong những lời ru tha thiết của mẹ mỗi khi đêm về. Từ

    lâu nó đã như là một yếu tố không thể thiếu dể tạo nên không gian riêng của nàng

    Tấm,Hoàng Tử,của Mai An Tiêm… Nay, nó đã đi vào văn chương Việt Nam tạo nên một

    định nghĩa rất bất ngờ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Trong Nam Quốc Sơn Hà của Lý

    Thường Kiệt, đất nước hiện ra thông qua hình ảnh “Vua chúa” và “sách trời”:

    “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư

    Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư”

    (Nam Quốc Sơn Hà)

    Hay như trong “Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” của nhà thơ Nguyễn Đỉnh Chiểu:

    “Một mối xa thư đồ sộ,há để ai chém rắn đuổi hươu;hai vầng nhật nguyệt chói loà đâu

    dung lũ treo dê bán chó”

    (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

    Những từ như “ mối xa thư đồ sộ” hay “ hai vầng nhật nguyệt chói loà” đã trang trọng

    hoá đất nước.Nó thể hiện sự kì vĩ và cao cả nhưng cũng tạo một khoảng cách thiêng liêng

    của con người đối với Đất Nước. Nhưng với Nhuyễn Khoa Điềm thì lại khác. Nhà thơ đã

    xoá bỏ khoảng cách đó.Đất nước đã hoá thân vào những câu chuyện cổ tích hay những

    câu ca dao rất đỗi quen thuộc và hiện ra thật bình dị và gần gũi.

    “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

    Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

    Tứ thơ này làm sống lại nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương, tình

    nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ mình và có

    thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa. Và Đất Nước cứ lớn dần lên

    cùng các truyền thống như trồng tre,trồng lúa,đánh đuổi giặc ngoại xâm.

    “Tóc mẹ thì bới sau đầu

    Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

    Cái kèo cái cột thành tên

    Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

    Tác giả đã dành một lời ngợi ca ,một sự trân trọng đối với tình nghĩa vợ chồng khi nói

    đến “cha mẹ”. Sự thuỷ chung son sắt trải bao gian khó nhọc nhằn được ông đề cao.Vì

    cuộc sống bấp bênh, đủ mọi khó khăn vất vả, chỉ có “gừng cay” và “muối mặn” chứ ít khi

    ngọt ngào. Tuy nhiên “cha mẹ” vẫn dành cho nhau sự yêu thương là một điều rất đáng

    quý. Ở câu thơ này,thay vì dùng chữ “yêu” tác giả lại chọn từ “thương” để đưa vào. Bởi

    vì ông muốn thơ của mình giản dị và gần với văn học bình dân hơn,gần với nhân dân

    hơn. Cũng như tác giả mượn hình ảnh “gừng cay muối mặn” từ câu ca dao:

    “Tay nâng chén muối đĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

    để thể hịên tình cảm vợ chồng.

    Rồi đến khi “Cái kèo cái cột thành tên” thì dân tộc ta đã bước sang một sự phát triển mới.

    Ngành nông nghiệp lúa nước ra đời giúp cho cuộc sống nhân dân bớt cơ cực mặc dù cũng

    phải “một nắng hai sương” theo từng hạt gạo.

    Câu cuối của khổ thơ này, tác giả đúc kết và khẳng định lại một lần nữa về sự ra đời cùa

    Đất Nước:

    “Đất Nước có từ ngày đó…”

    Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác và sử dựng triệt để vốn văn hoá dân gian sẵn

    có,sáng tạo lại khiến cho người đọc cảm thấy rất gần gũi và bất ngờ. Trong suốt quá trình

    phát triển của Đất Nước, ta dều thấy bóng dáng của những con người. Đó là cơ sở vững

    chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất Nước Nhân dân ở 3 khổ

    thơ sau.

    Một không gian khác được tác giả mở ra vô cùng khéo léo khi ông tách đôi 2 âm tiết “Đất

    Nước”.

    “Đất là nơi anh đến trường

    Nước là nơi em tắm

    Đất Nước là nơi ta hò hẹn

    Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

    Trình tự “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, tưởng như tình cờ mà không sao đảo

    ngược. Nếu thay đổi dưới dạng: Đất là nơi em đến trường, Nước là nơi anh tắm, cảm

    hứng thơ sẽ tan biến. Dòng viết trên thành một câu văn xuôi rất đỗi bình thường.

    Văn hoá dân gian là của nhân dân. Để khẳng định tư tưởng của mình tác giả đã vận dụng

    chất liệu dân gian vào trong văn thơ của mình. ”Đất nước là của nhân dân” nên việc đưa

    chất trữ tình của dân gian tạo được hiệu quả cao trong việc xây dựng hình tượng đất

    nước,qua đó ta thấy được sự sáng tạo cũng như độc đáo trong thơ của Nguyễn Khoa

    Điềm. Câu thơ :” Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” là một ví

    dụ. Hẳn ta chưa quên câu ca dao rất đỗi ngọt ngào:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn chùi nước mắt…”

    Vận dụng ý từ câu ca dao trên,tác giả đã viết nên dòng thơ đậm chất dân gian nhưng

    không kém phần độc đáo, tạo nên một phong cách rất riêng của nhà thơ.

    Hai câu thơ tiếp theo hình tượng Đất Nước được biến hoá vô cùng sinh động:

    “Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

    Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

    Con chim phượng hoàng và cá ngư ông là hai con vật linh thiêng được nhân dân ta thờ

    phụng, nay đưa vào trong văn thơ của Nguyễn Khoa Điềm rất gần gũi. Giữa người và

    thần dường như không hề có sự ngăn cách, tất cả như hoà vào nhau bình đẳng. Một lần

    nữa, nhà thơ đã đưa Đất Nước từ của thần linh trở thành Đất Nước của nhân dân. Và

    chính tư tưởng đó đã giúp tác giả khám phá Đất Nước trên những khía cạnh khác

    nhau.Mở đầu là “Thời gian đằng đẵng”. Xuôi theo dòng lịch sử, Nguyễn Khoa Điềm ghi

    lại những truyền thuyết, phong tục dân gian vốn rất quen thuộc với chúng ta.

    “Đất là nơi Chim về

    Nước là nơi Rồng ở

    Lạc Long Quân và Âu Cơ

    Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

    Những ai đã khuất

    Những ai bây giờ

    Yêu nhau và sinh con đẻ cái

    Gánh vác phần người đi trước để lại

    Dặn dò con cháu chuyện mai sau

    Hàng năm ăn đâu ở đâu

    Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”

    Song song với quá trình tách – hợp, là sự hài hòa trong mối quan hệ: “anh” – “em” thành

    “ta” và “Chim về”, “Rồng ở” tạo nên mối tình Lạc Long Quân – Âu Cơ. Qua các câu thơ,

    tác giả cho ta thấy: đất nước bắt đầu hình thành, “lớn lên” như những mối tình thân thiết,

    yêu thương. Đây là quãng thời gian thấm đẫm cội nguồn,thể hiện ước muốn ngược dòng

    thời gian trở về cội nguồn, lịch sử hình thành Đất Nước. Nó khoác lên “Đất Nước” một

    vẻ đẹp lạ lùng, lấp lánh chất huyền thoại.Đất Nước không đơn thuần chỉ là núi song. Đó

    là nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ yêu nhau,đó là nơi dân mình được sinh ra và đoàn tụ. Từ

    đó, đất nước thành không gian của mọi người, của cộng đồng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • VĂN MẪU 5 BÀI “PHÂN TÍCH KHỔ THƠ CUỐI TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG”

    VĂN MẪU 5 BÀI “PHÂN TÍCH KHỔ THƠ CUỐI TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG”

    VĂN MẪU 5 BÀI “PHÂN TÍCH KHỔ THƠ CUỐI TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CHỨNG KHOÁN TRẮC NGHIỆM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%82N-M%E1%BA%AAU-5-B%C3%80I-%E2%80%9CPH%C3%82N-T%C3%8DCH-KH%E1%BB%94-TH%C6%A0-CU%E1%BB%90I-TRONG-B%C3%80I-TH%C6%A0-T%C3%82Y-TI%E1%BA%BEN-C%E1%BB%A6A-QUANG-D%C5%A8NG%E2%80%9D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU 5 BÀI “PHÂN TÍCH KHỔ THƠ CUỐI TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG”

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    VĂN MẪU LỚP 12: TÂY TIẾN – QUANG DŨNG

    5 BÀI “PHÂN TÍCH KHỔ THƠ CUỐI TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Khổ cuối bài thơ, âm điệu trở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi. Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm. Biết bao thương nhớ khôn nguôi:

    “Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

    Mùa xuân ấy, khi “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông” (Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân. Họ đã tiến ra sa trường với lời hẹn ước: “Nhất khứ bất phục hoàn”. Đó là lời thề, là quyết tâm của cả một thế hệ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.Các anh đã giã biệt quê hương.Những ai còn ai mất sau những tháng ngày đầy máu lửa? Bạn bè, đồng đội thân yêu, những ai đó “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Nhưng quê hương vẫn đời đời ôm ấp bóng hình anh, người chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến.Bài thơ đã khép lại mà âm điệu của nó vẫn bồi hồi vang vọng trong tâm hồn ta.

    Có những bài thơ một thời nhưng cũng có một số bài thơ mãi mãi. Thơ hay không có tuổi cũng như mùa xuân không ngày tháng. Đó là “Đèo Cả” của Hữu Loan, là “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Đồng chí” của Chính Hữu, “Tây Tiến” của Quang Dũng, và…

    “Tây Tiến” là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Với bút pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa, phong độ hào hùng của nhà thơ – chiến sĩ, Quang Dũng đã khắc chạm vào thời gian, vào thơ ca và lòng người hình ảnh người chiến sĩ vô danh Thăng Long – Hà Nội, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Trước linh hồn người liệt sĩ, ta thắp lên nén tâm hương, nghiêng mình với tình cảm biết ơn và kính phục nhà thơ và những chiến sĩ vinh quang trong đoàn binh Tây Tiến.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    1. Mở bài:
    • Giới thiệu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời.
    • Qua nỗi nhớ da diết của nhà thơ về đồn quân Tây Tiến, ta thấy hiện lên hình ảnh người chiến sĩ: gan dạ, dũng cảm, không sờn lòng trước những khó khăn gian khổ; chiến đấu kiên cường, bất khuất, sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng và lúc nào cũng phơi phới lạc quan.
    • Đây là bốn câu kết bài thơ (ghi bốn câu thơ) được viết theo những dòng chữ ghi vào mộ chí. Đó cũng là lời thề quyết tâm của các chiến sĩ Tây Tiến “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
    1. Thân bài:
    1. Hai câu đầu: “Tây Tiến người đi….. chia phôi”
    • Người chiến sĩ ra đi với quyết tâm sắc đá, có chí lớn, quyết lập được chiến công như người chiến sĩ trong bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

    “Li khách! Li Khách con đường nhỏ

    Chí nhớn chưa về bàn tay không

    Thì không bao giớ nói trở lại

    Ba năm mẹ già cũng đừng mong”

    • “Không hẹn ước”, rồi lại “thăm thẳm một chia phôi”, Quang Dũng khẳng định cái ý niệm “Nhất khứ bất phục hòan” trong hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến cũng là cái ý niệm của chung cả một thời kì, một thế hệ con người. Đã nói nhiều đến Tây Tiến, đã nhắc lại nhiều kỉ niệm Tây Tiến, nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu sắc nhất bền vững nhất về Tây Tiến vẫn là cái tinh thần ấy, Giọng thơ trầm, chậm, hơi buồn nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng.
    1. Câu 3 “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”.

    Mùa xuân:

    • Thời điểm thành lập đòan quân Tây Tiến
    • Mùa xuân của đất nước
    • Mùa xuân (của tuổi trẻ) đời của các chiến sĩ đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở và thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy.
    1. Câu 4 : “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”:

    – “Chẳng về xuôi” nghĩa là bỏ mình trên đường hành quân.

    • “Hồn về Sầm Nứa” chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến với quân dân Lào chống Pháp, họ quyết tâm thực hiện lí tưởng ấy đến cùng. Cho nên, dù ngã xuống trên đường hành quân, nhưng hương hồn (anh linh) vẫn đi cùng đồng đội, sống trong lòng đồng đội. Tứ thơ này nâng chất sử thi của bài thơ.
    1. Kết bài: Đó là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ, dũng cảm, không sờn lòng…. Đến lúc chết vẫn giữ lời thề, họ là những người đau thương mà không bi lụy, mất mát mà vẫn tràn đầy niềm tin.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 2

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Bốn câu thơ kết thúc đ¬ược viết như¬ những dòng chữ ghi vào mộ chí. Những dòng sông ấy cũng chính là lời thề của các chiến sĩ vệ quốc quân.

    “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”

    “Mùa xuân” có thể đ¬ược dùng nhiều nghĩa: thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân 1947), mùa xuân của đất n¬ước, mùa xuân (tuổi thanh xuân) của đời các chiến sĩ.

    Hình ảnh “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, “chẳng về xuôi” bỏ mình trên đư¬ờng hành quân “Hồn về Sầm Nứa”: chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến với quân tình nguyện Lào chống thực dân Pháp, thực hiện lý t¬ưởng đến cùng. Bởi vậy dù đã ngã xuống trên đ¬ường hành quân hồn (tinh thần của các anh) vẫn đi cùng với đồng đội, vẫn sống trong lòng đồng đội: Vang vọng âm h¬ửơng văn tế của Nguyễn Đình Chiểu: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 3

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 3:

    Bài thơ “Tây Tiến” là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Quang Dũng mà người đọc ấn tượng nhất. Bài thơ viết năm 1948. Cảm xúc bao trùm tòan bộ bài thơ là một nỗi nhớ. Qua nỗi nhớ ấy, hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ hiểm trở và dữ dội hịên lên như một bức tranh hòanh tráng. Và trong bài thơ, ông cũng không quên lột tả trần trụi những gian khổ hi sinh của người lính Tây Tiến. Chỉ có điều nó thể hiện bằng một ngòi bút lãng mạn. Qua cái nhìn của nhà thơ, cái bi bỗng trở trở thành cái hùng tráng. Khổ cuối bài thơ cũng rất đặc sắc, gói gọn tình cảm của nhà thơ vào những câu chữ:

    “Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Thật vậy, đòan binh Tây Tiến mang trên mình xứ mệnh bảo vệ quê hương tổ quốc. Họ luôn dốc toàn bộ sức lực của mình. Họ hàng ngày vẫn phải chiến đấu ác liệt với kẻ thù nguy hiểm, họ còn phải quật cường trước thiên nhiên hiểm trở với những căn bệnh sốt rét, đói nhưng họ vẫn oai nghiêm hùng dũng vượt lên trên tất cả. Họ là bức tượng cho tinh thần yêu nước vĩ đại, quyết chiến quyết thắng. Trước khi lên đường tham gia chiến đấu, họ chỉ là những cô cậu sinh viên hà thành với tuổi đời còn rất trẻ, họ có hoài bão ước mơ. Khi tổ quốc gọi, họ sẵn sàng bỏ lại sau lưng tất cả lên đường cầm súng chiến đấu với tinh thần quả cảm. Họ biết ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như sợi chỉ có thể biến mất bất cứ lúc nào. Họ lên đường chiến đấu, ra đi không hẹn ngày trở về. Họ trao mạng sống của mình cho Tổ quốc – nơi đã sinh ra họ.

    • nơi rừng thiêng nước độc, mỗi bước chân hành quân của họ đều rất khó khăn, nhiều gian truân. Họ vẫn đi, họ vượt qua dốc đèo hiểm trở, họ bỏ lại những bản làng khuất dần sau rặng tre:

    “Đường lên thăm thẳm một chia phôi”

    Do hòan cảnh chiến đấu khắc nghiệt có bao nhiêu gian khổ thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần nên hành trình chiến đấu của họ dai dẳng không có hồi kết. Vì vậy một tia hi vọng trở về là rất mong manh, ngày càng xa xôi khó nắm bắt được trong vô vọng. Trong bối cảnh lịch sử là cuộc chiến tranh kháng chiến chống Pháp, với sự đơn sơ về vũ khí của ta, sự nghèo nàn về vật chất khác nào lấy trứng chọi với đá. Vì vậy sự hi sinh là không thể tránh khỏi. Họ phải vì nước quên thân vì dân phục vụ, hi sinh tính mạng mình để đổi lấy độc lập tự do cho dân tộc. Bao nhiêu thế hệ trẻ cầm súng lên đường chiến đấu chỉ với khẩu hiệu giản dị “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Họ cống hiến, họ hi sinh thầm lặng cho Tổ quốc không một lời kêu ca hay phàn nàn mà đó là bổn phận, là trách nhiệm nghĩa vụ của một người công dân yêu nước nồng nàn, có ý chí chiến đấu tinh thần thép cao cả. Hai câu thơ đã lột tả ý chí chiến đấu quật cường ấy, làm nổi bật lên phẩm chất yêu nước anh hùng của họ.

    Với nghệ thuật dùng từ “không hẹn ước”, “chia phôi” kết hợp với giọng điệu chậm rãi nhẹ nhàng, Quang Dũng như lần nữa khắc họa sự hi sinh thầm lặng mà cao cả của đòan quân Tây Tiến

    Nỗi nhớ trào dâng trong lòng nhà thơ để ông tiếp tục chắp bút tô vẽ nên:

    “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 4

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Có thể thấy “mùa xuân” có nhiều nghĩa. Đó là mùa đẹp nhất trong năm. Đây cũng là thời điểm thành lập đòan quân Tây Tiến. Mùa xuân còn là mùa của đất nước. Nó cũng ẩn dụ cho tuổi trẻ của người chiến sĩ đã một đi không trở lại. Họ mang theo sức trẻ nhiệt huyết cháy bỏng của mình lên đường hành quân chiến đấu. Tuy nhiên, họ đã hi sinh nhưng hồn của họ không về quê hương vội mà vẫn còn lượn lờ sang nước bạn hợp lực tác chiến với quân dân Lào chống Pháp. Họ quyết tâm tâm thực hiện lí tưởng đến cùng nên kể cả khi họ đã ngã xuống nhưng hồn của họ vẫn chiến đấu tới cùng, vẫn đi cùng đồng đội, sống trong lòng họ mãi mãi. Đó cũng mang tính sử thi cao. Cả tuổi trẻ của họ chỉ với mục tiêu chiến đấu bảo vệ tổ quốc. họ vẫn rong ruổi chiến đấu trên suốt cuộc hành trình khó khăn ấy của mình. Phải chăng tình yêu quê hương đất nước của họ sâu đậm thấm nhuần vào máu thịt đến nhường nào mới có thể bất diệt như vậy?

    Tóm lại, với giọng điệu trữ tình đằm thắm da diết, bốn câu thơ cuối được viết như những dòng chữ tạc trên bia mộ của những người chiến sĩ gan dạ Tây Tiến. Đó là hình ảnh những người chiến sĩ dũng cảm, nhiệt huyết, đến lúc ngã xuống vẫn giữ trọn lời thề với quê hương tổ quốc. Họ là những con người đau thương nhưng không bi lụy, tràn đầy niềm tin và tinh thần sôi sục nhiệt huyết căng tràn sức sống của tuổi trẻ. Tây Tiến xứng đáng là bài thơ tuyệt vời của Quang Dũng góp nhặt để lại cho thế hệ sau.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 5

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 4:

    MỞ BÀI:

    Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc tạc một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. ở trong thơ Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian

    “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc – Quân xanh màu lá dữ oai hùm – Mắt trừng gửi mộng qua biên giới – Đêm mơ Hànội dáng kiều thơm – Rải rác biên cương mồ viễn xứ – Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh – áo bào thay chiếu anh về đất – Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    THÂN BÀI

    “Tây Tiến” của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về những đồng đội của nhà thơ, những người đã từng sống, từng chiến đấu nhưng cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ yêu thương, nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên cương hay miền viễn xứ. Chính vì thế QDũng không chỉ dựng lại cả một hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành quân gian khổ hy sinh mà “đời vẫn cứ tươi” như ở 14 dòng thơ đầu tiên. Và QDũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân. QDũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dtộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ

    “Tây Tiến đoàn quân ….. khúc độc hành”

    Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc hoạ lên từ những đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn quân mỏi trong câu:

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”

    hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của QDũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ dũng mãnh như hổ báo, hùm beo. Cái giỏi của QDũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như “tiến”, “mọc tóc”. Nhờ những

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 6

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    thanh trắc ấy mà âm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn binh. 2 chữ “đoàn binh” âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng. Và đặc biệt hai chữ “Tây Tiến” mở đầu câu thơ không chỉ còn là tên gọi của đoàn binh nữa, nó gợi ra hình ảnh một đoàn binh dù đầu không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước về phía Tây. Thủ pháp tương phản mà QDũng sử dụng ở câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. ở đây, nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm, không phải muốn “động vật hoá” người lính Tây Tiến mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ

    “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu – Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu”

    Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết

    “Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu – Thể diện sài long xâm lược quân”

    Có thể nói QDũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông á.

    Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi QDũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ

    “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới – Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về HNội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:

    “Từ thuở mang gươm đi mở nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”

    Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Đã một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. QuDũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đsống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.

    Bức tượng đài người lính Tây Tiến đã được khắc tạc bằng những nguồn ánh sáng tương phản lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từng đường nét đều như nổi bật và tạo được những ấn tượng mạnh mẽ. Đây cũng là đặc trưng của thơ QDũng.

    Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ. Nếu chỉ đọc từng câu thơ, chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc lập, người ta dễ cảm nhận một cách bi luỵ về cái chết của người lính mà thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến. Bởi thơ ca kháng chiến phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến cái bi. Nhưng nếu đặt các hình ảnh, các câu thơ vào trong chỉnh thể của nó, ta sẽ hiểu QDũng đã mô tả một cách chân thực sự hy

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 7

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.

    Có thể thấy câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nếu tách riêng ra rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết, về nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi “viễn xứ”. Từng chữ từng chữ dường như mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ. Chẳng phải thế sao? Nói về những nấm mồ, lại là những nấm mồ “rải rác” dễ gợi sự hoang lạnh, lại là “rải rác” nơi “viễn xứ”, những nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. QDũng muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội

    “Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

    Trong Chinh phụ ngâm:

    “Hồn tử sĩ gió về ù ù thổi – Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi – Chinh phu tử sĩ mấy người – Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn”

    Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân, của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người con anh dung

    “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

    Đồng thời cũng chính câu thơ thứ 2 đã làm cho những nấm mồ rải rác kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ QDũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh như vậy.

    Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ “áo bào thay chiếu anh về đất”

    Bao nhiêu thương yêu của QDũng trong một câu thơ như vậy về một đồng đội của mình. Ai bảo QDũng không xót thương những người đồng đội của mình ra đi trong cách tiễn đưa ấy, cảnh tiễn đưa với bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa người chết không có cả một chiếc quan tài. Hoàng Lộc trong “Viếng bạn” cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như thế

    “ở đây không manh ván – Chôn anh bằng tấm chăn – Của đồng bào Cứa Ngàn – Tặng tôi ngày sơ tán”

    Chỉ có điều câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải thấy QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước, với núi sông. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca

    “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    KẾT BÀI

    Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, QDũng đã dựng lên bức chân dung , một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 8

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của QDũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 9

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 5:

    I.Mở bài: Quang Dũng (1921-1988 ) là nghệ sĩ đa tài, có hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về những người lính Tây Tiến và xứ Đoài quê mình. – Tây Tiến là bài thơ xuất sắc nhất, tiêu biểu cho đời thơ, phong cách sáng tác của ông. – Bài thơ bằng bút pháp lãng mạn, sự sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đã bộc lộ một nỗi nhớ sâu sắc da diết của tác giả về những người lính Tây Tiến anh dũng hào hoa và núi rừng miền Tây hùng vĩ, mĩ lệ . Có thể nói, nỗi nhớ da diết những người đồng đội Tây Tiến của Quang Dũng được lắng đọng trong tám câu thơ khắc hoạ bức chân dung người lính Tây Tiến : Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới. Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    1. Thân bài
    1. Giới thiệu Bài thơ Tây Tiến được in trong tập thơ “ Mây đầu ô” ( xuất bản năm 1986 ) nhưng trước đó đã được bao thế hệ người yêu thơ truyền tay tìm đọc. Tác giả sáng tác bài thơ này từ năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh khi ông đã rời khỏi đoàn quân Tây Tiến chuyển sang hoạt động tại một đơn vị khác. Đơn vị quân đội Tây Tiến được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào, đánh tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miền Tây Bắc bộ Việt Nam. Địa bàn hoạt động của đoàn quânTây Tiến khá rộng; chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, có nhiều học sinh, sinh viên, trong đó có Quang Dũng. Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc quan và chiến đấu anh dũng. Hoạt động được hơn một năm thì đơn vị Tây Tiến trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52. Lúc đầu, nhà thơ đặt tên tác phẩm là Nhớ Tây Tiến, nhưng sau đó lại đổi lại là Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác dựa trên nỗi nhớ, hồi ức, kỉ niệm của Quang Dũng về đơn vị cũ. Thế nên toàn bài thơ là một nỗi nhớ cồn cào, tha thiết. Bài thơ được tác giả chia thành 4 đoạn. Đoạn 1 bộc lộ nỗi nhớ những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội , hoang sơ. Đoạn 2 là những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong những đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng. Đoạn 3 tái hiện lại chân dung người lính Tây Tiến . Đoạn 4 là lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây. Toàn bài thơ in đậm dấu ấn tài hoa , lãng mạn , phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng. Với tài năng và tâm hồn ấy, Quang Dũng đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ , dữ dội, mĩ lệ .
    1. Phân tích chân dung người lính Tây Tiến . Nhớ Tây Tiến, Quang Dũng không chỉ nhớ núi rừng mà còn nhớ những người đồng đội cùng trèo đèo lội suối, vượt qua muôn ngàn thử thách, vào sinh ra tử. Nhà thơ đã hồi tưởng và vẽ lại bức chân dung của họ với vẻ đẹp đậm chất bi tráng. Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể, khái quát được gương mặt chung của cả đoàn quân. Người lính ấy phải sống trong điều kiện sinh hoạt, chiến đấu thiếu thốn nên : “ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm” Hai câu thơ đã đề cập đến một hiện thực, đó là căn bệnh sốt rét hiểm nghèo mà người lính thường mắc phải . Nhà thơ Chính Hữu trong bài Đồng chí cũng đề cập đến căn bệnh này : “ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh-Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” . Quang Dũng trong bài thơ cũng không che giấu những gian khổ, khó khăn, căn bệnh quái ác đó và sự hi sinh lớn lao của người lính tây tiến,

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 10

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    nhưng hiện thực nghiệt ngã ấy lại được nhìn qua một tâm hồn lãng mạn. Những cái đầu cạo trọc để thuận lợi cho việc đánh giáp lá cà, nhữnh cái đầu bị rụng tóc, vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính qua cái nhìn của Quang Dũng lại trở nên oai phong, dữ dằn, lẫm liệt như những con hổ chốn rừng thiêng. Những người lính ấy một mặt đầy oai hùng, một mặt lại rạo rực tình yêu thương

    • “ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Các chàng trai Tây Tiến với đôi mắt thao thức “trừng” lên quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ nhưng trái tim vẫn để dành chỗ cho những dáng kiều thơm chốn Hà thành, những người em, những người bạn gái thân thương quê nhà. Quang Dũng với cái nhìn nhiều chiều, đã khắc hoạ chân dung người lính không chỉ ở dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được thế giới nội tâm, tâm hồn mộng mơ lãng mạn, phong phú của họ . Trong chiến tranh, mất mát hi sinh là không tránh khỏi.Quang Dũng đã nêu lên hiện thực này không che giấu theo cách riêng của ông : “ Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: “ biên cương” , “ mồ” , “viễn xứ” , “ chiến trường” kết hợp với từ láy “ rải rác” đã làm giảm nhẹ yếu tố bi thương, làm những đau thương vì mất mát lắng xuống. Điều nổi bật lên là vẻ đẹp lãng mạn của lí tưởng quên mình, xả thân vì Tổ quốc của những người lính Tây Tiến. Cách nói “ chẳng tiếc đời xanh” vang lên khảng khái khẳng định vẻ đẹp hào hùng của các chàng trai Tây Tiến. Hai câu thơ : “ Áo bào

    thay chiếu anh về đát Sông Mã gầm lên khúc độc hành” . Nhắc đến một sự thật bi thảm: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường hành quân chiến đấu không có đến cả manh chiếu bó thân, qua cái nhìn của Quang Dũng lại được bọc trong những tấm áo bào sang trọng mang dáng dấp của những tráng sĩ oai hùng thuở xưa, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Cách nói giảm “ anh về đất” làm vợi đi cái bi thương, rồi cái bi ấy bị lấn át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của sông Mã . Quang Dũng đã mượn âm thanh của dòng sông, của thiên nhiên, của hồn thiêng Tây Bắc để nói lời từ biệt, lời biết ơn ngợi ca đồng đội. Câu thơ mang âm hưởng vừa dữ dội , vừa hào hùng khiến cho sự hi sinh của người lính không hề bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ có nhịp điệu chậm, giọng thơ buồn, nhưng linh hồn của đoạn thơ vẫn toát lên vẻ hào hùng. Quang Dũng và cả đoàn quân Tây Tiến nguyện thề “ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” thể hiện quyết tâm gắn bó máu thịt với những ngày những nơi mà đoàn quân đã đi qua. Tây Tiến mùa xuân ấy đã trở thành một thời điểm một đi không trở lại của lịch sử. Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại cái thời mơ mộng, lãng mạn hào hùng đến nhường ấy trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy .

    • Kết bài Đoạn thơ thứ ba có giọng điệu chủ đạo là trang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hy sinh của đồng đội. Đoạn thơ với, cảm hứng lãng mạn, ngòi bút sắc sảo, táo bạo, trên nền hiện thực nghiệt ngã đã chạm khắc chân dung tập thể những người lính Tây tiến đậm chất bi tráng. Quang Dũng qua khổ thơ này đã bộc lộ sâu sắc sự gắn bó, ám ảnh, ghi nhớ hình ảnh về đồng đội những ngày gian khổ nơi núi rừng miền tây.

    Sưu tầm: Mod Ngữ văn HỌC247

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 11


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn

    Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn

    Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-Thi-T%E1%BB%91t-Nghi%E1%BB%87p-%C4%90%E1%BA%A1i-H%E1%BB%8Dc-M%C3%B4n-Ng%E1%BB%AF-V%C4%83n.pdf[/pdfviewer]

    SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG THÁP

    TRƯỜNG THPT CAO LÃNH 2

    ***

    ĐỀ CƯƠNG

    ÔN TẬP TỐT NGHIỆP THPT MÔN NGỮ VĂN

    Năm học 2010 – 2011

     

     DẠNG CÂU HỎI GIÁO KHOA: (2điểm)

                A.Văn học Việt Nam:

                1. Nêu sơ lược những nét chính về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong VHVN giai đoạn 1945-1975.

    Trả lời:

    VHVN giai đoạn 1945 – 1975 chủ yếu phản ánh đời sống của cả dân tộc trong một thời kì đầy hào hùng. Do vậy nó mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    Khuynh hướng sử thi : là những bài ca ca ngợi phẩm chất anh hùng của cộng đồng, dân tộc thông qua những đại diện ưu tú nhất, tiêu biểu nhất. Nó được thể hiện qua 3 điểm:

    + Đề tài sáng tác: Đó là những vấn đề lịch sử có tính chất toàn dân tộc như đè tài kháng chiến chống xâm lược, đề tài đất nước, nhân dân.

    + Nhân vật chính, nhân vật trung tâm: Đó là nhưng con người đại diện cho phẩm chất, ý chí, lý tưởng của cả dân tộc, cộng đồng. (anh bộ đội, mẹ chiến sĩ, chị dân quân, anh công nhân,..)

     + Giọng điệu văn chương: Đó là giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng.

    – Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng thể hiện cái “tôi” đầy tình cảm, cảm xúc, hướng tới cái cao cả, lớn lao, kì diệu, đẹp đẽ khác thường của người sáng tác. Đẹp nhất là lý tưởng xây dựng cuộc sống mới, con người mới XHCN, lí tưởng anh hùng cách mạng. Trân trọng, ngưỡng mộ, ngợi ca người tốt, việc tốt là cảm hứng của hầu hết nhà văn giai đoạn này.

                2. Nêu sơ lược các đặc điểm cơ bản của VHVN giai đoạn 1945-1975.

    Trả lời:

    – Nền VH chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.

    – Nền VH hướng về đại chúng.

    – Nền VH chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

                3. Những thành tựu và hạn chế của VHVN giai đoạn 1945-1975.

    Trả lời:

    a.Thành tựu:

    – VHVN từ 1945-1975 thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lịch sử: Tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu, hi sinh của nhân dân.

    – VHVN từ 1945-1975 đã nối tiếp và phát huy những truyền thống tư tưởng lớn của VH dân tộc như truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo.

    – VHVN từ 1945-1975 phát triển cân đối, toàn diện về mặt thể loại. Trong đó thơ và truyện ngắn đạt nhiều thành tựu hơn cả.

    1. Hạn chế:

    VHVN 1945-1975 còn nhiều tác phẩm miêu tả cuộc sống, con người một cách đơn giản, phiến diện; cá tính, phong cách nhà văn được phát huy mạnh mẽ; yêu cầu về phẩm chất nghệ thuật của tác phẩm nhiều khi bị hạ thấp; phê bình văn học ít chú ý đến những khám phá về nghệ thuật.

    4. Nêu những nét đổi mới của VHVN từ 1975 đến hết tk XX.

    Trả lời:

    1. Đổi mới về nội dung:

    – Trước 1975 VH thiên về ngợi ca, cổ vũ, hướng tới con người đại chúng, đại diện tiêu biểu cho công đồng dân tộc.

    – Sau 1975 VH vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản và nhân văn, hướng tới con người cá thể. Nhân vật VH là nhưng con người đời thường được nhìn nhận ở tính nhân loại và phương diện tự nhiên, ở nhu cầu manhg tính bản năng, phương diện tâm linh. Các tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Một người Hà Nội”,.. đã đem đến cho người đọc cái nhìn mới về đời sống con người đương thời.

    1. Đổi mới về nghệ thuật:

    – Trước 1975 VH thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    – Sau 1975 VH thiên về cảm hứng thế sự, quan tâm đến con người cá thể. Vì thế bút pháp mạnh mẽ hướng nội, khai thác không gian đời tư, thời gian tâm lí. Cá tính sáng tạo của nhà văn được phát huy, hình thành những giọng điệu văn chương mới lạ, nhưng lối miêu tả, trần thuật mang tính khám phá. “Đàn ghita của Lorca, Ai đa đặt tên cho dòng sông?, đã đem đến những cảm nhận mới mẽ.

                5.  Người ta thường nói : Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh  là một tác giả đa phong cách. Anh (chị) nhận xét như thế noà về điều đó?

    – Đa phong cách là ộmt nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của tác giả Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh . Người sáng tác nihều thể loại và mỗi thể loại đều tạo được những nét riêng độc đáo và hấp dẫn.

    + Văn chính luận : ngắn gọn, súc tích, lập luận chặct chẽ, bằng chứng giàu sức thuyết phục và đa dạng về bút pháp.

    + Truyện và kí : hiện đại, có tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén.

    + Thơ : có sự hoà hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và hiện đại; giữa chất trữ tình và chất thép; giữa trong sáng, giản dị và sự hàm súc, sâu sắc.

    – Lí giải: Hồ Chí Minh quan niệm văn chương là vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự ngihệp cách mạng. Khi cầm bút Người bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung, hình thức của tác phẩm. Cho nên, tuỳ trường hợp cụ thể, Người đã tạo ra những tác phẩm văn chương không chỉ có nội dung tư tưởng sâu sắc mà còn có hình thức nghệ thuật sinh động, đa dạng, tạo nên một phong cách riêng độc đáo.

                6. Quan điểm sáng tác văn học của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh .

                – HCM xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng ; nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng, góp phần đấu tranh cho sự phát triển xã hội :

    Nay ở torng thơ nên có thép

                            Nhà thơ cũng phải biết xung phong

    (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”)

    – HCM luôn chú chú trọng đến tính dân tộc và tính chân thật : Người yêu cầu người nghệ sĩ phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn những đề tài phong phú của hiện thực cách mạng.

    – Trước khi cầm bút, bao giờ Người luôn xác định đối tượng và mục đích sáng tác rồi sau đó mới lựa chọn nội dung và hình thức cho phù hợp (Viết cho ai? Viết để làm gì? Viiết cái gì? Và Viết như thế nào?).

    7. Hãy cho biết hoàn cảnh và mục đích ra đời của Tuyên ngôn độc lập.

    Trả lời:

    1. Hoàn cảnh ra đời:

    – Ngày 19.8.1945 Cách mạng tháng Tám thắng lợi ở Hà Nội. 26/8/195 Chủ tịch HCM từ chiến khu Việt Bắc về tới HN. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản TNĐL. Ngày 2/9/1945, trên quảng trường Ba Đình, HN, Người thay mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản TNĐL trước hàng chục vạn đồng bào.

    – HCM viết và đọc bản TNĐL khi đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta. Dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật; Quân Quốc dân đảng tiến vào từ phía Bắc; quân đội Anh tiến vào từ phía Nam; thực dân Pháp theo quân đồng minh tuyên bố : Đông Dương là đất “bảo hộ” của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương phải thuộc quyền người Pháp.

    1. Mục đích:

    – Tuyên bố với nhân dân Việt Nam và nhân dân trên thế giới về nền độc lập dân tộc mà Việt Nam vừa giành được.

    – Bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân Pháp khi chúng âm mưu trở lại tái chiếm nước ta.

    – Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

                8. Tuyên ngôn độc lập đã vạch rõ bản chất đen tối, xảo quyệt của thực dân Pháp bằng những lí lẽ và sự thật lịch sử nào?

    Trả lời:

    Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng tuyên bố là làm nhiệm vụ “bảo hộ”, “khai hóa”, nhưng thực chất chúng hành động trái với nhân đạo và chính nghĩa. Người đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta và với phe đồng minh. HCM đã tố cáo thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái gây bao nhiêu tội ác với nhân dân ta. Cụ thể: về chính trị, chúng tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do, dân chủ nào, chúng thi hành luật pháp dã man, lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thực hiện chính sách ngu dân; về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, chúng kìm hãm các nhà tư sản dân tộc, bóc lột công nhân vô cùng tàn nhân. Chúng còn hèn nhát bán nước ta cho Nhật, khủng bố việt Minh chống Nhật.

                9. Vì sao Hồ Chí Minh lại mở đầu “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam bằng cách trích dẫn “Tuyên ngôn độc lập” của Mĩ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền” của Pháp?

    Trả lời:

    HCM mở đầu bản TNĐL của VN bằng việc trích dẫn “TNĐL” của Mĩ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền” của Pháp để làm căn cứ cho bản TNĐL của VN. Đó là những bản tuyên ngôn tiến bộ, được cả thế giới thừa nhận. Mặt khác, Người trích Tuyên ngôn của Mĩ là để tranh thủ sự ủng hộ của Mĩ và phe Đồng minh. Người trích Tuyên ngôn của Pháp để sau đó buộc tộ Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cước nước ta, làm trái với tinh thần tiến bộ của chính bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp.

                10. Cái tâm của Phạm Văn Đồng ở bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc”?

    Trả lời:

    Cái tâm của Phạm văn Đồng ở bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc” chính là tấm lòng, tâm huyết của một người cầm bút, một vị nguyên thủ quốc gia.

    – Phạm Văn Đồng muốn thông qua bài viết này để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ VN lúc bấy giờ. Đó là thời điểm khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mi (1963). Phong trào đấu tranh chống Mĩ nổi lên mạnh mẽ, tiêu biểu là phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre. Ngay từ đầu, tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa thời sự của việc nêu tấm gương của Nguyễn Đình Chiểu : “Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu…đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ dân tộc nhất là trong lúc này”.

    – Phạm Văn Đồng muốn thông qua bài viết này để tưởng nhớ và tri ân Nguyễn Đình Chiểu, một “con người quang vinh của dân tộc” nhân kỉ niệm lần thứ 75 ngày ất (3/7/1888-3/7/1963) – Có thể xem bài viết này như một nén tâm nhang được Phạm Văn Đồng thắp lên trong ngày giỗ Đồ Chiểu.

                11. Cho biết những thông tin có tính định hướng về hoàn cảnh sáng tác để học tốt bài “Tây Tiến” của Quang Dũng.

    Trả lời:

    – Tây Tiến là tên bài thơ, đồng thời là tên một đơn vị quân đội được thành lập từ đầu năm 1947, có nhiệm vụ ngược sông Mã, vượt rừng núi Tây Bắc, bắt liên lạc với bộ đội Lào để giải phóng vùng Thượng Lào.

    – Phần đông bộ đội Tây Tiến là thanh niên, học sinh, sinh viên gốc Hà Nội  mới lần đầu tiên vào bộ đội. Quang Dũng là đại đội trưởng của đơn vị Tây Tiến.

    – Đến khoảng cuối năm 1948, Quang Dũng được lệnh chuyển sang đơn vị khác, ông không nguôi nỗi nhớ và viết “Nhớ Tây Tiến”. Tựa đề bài thơ sau đó chỉ giữ lại hai từ “Tây Tiến”.

                12. Bút pháp chủ yếu của Quang Dũng ở bài “Tây Tiến” là gì? Điểm nhìn thiên nhiên và con người của tác giả ra sao?

    Trả lời:

    – Bút pháp chủ yếu của bài thơ “Tây Tiến” là bút pháp lãng mạn. Nhà thơ đã miêu tả những hình ảnh lớn lao, kỳ vĩ của núi rừng Tây Bắc, đồng thời phát hiện ra vẻ đẹp lãng mạn, nên thơ của con người miền Tây, của người lính Tây Tiến.

    – Điểm nhìn của Quang  Dũng ở bài thơ “Tây Tiến” là điểm nhìn mang tính sáng tạo nghệ thuật – Ông nhìn thiên nhiên ở nhiều điểm nhìn khác nhau, khi gần, khi xa, khi rợn ngợp (trước cái dữ dội, hoang vu), khi tình tứ (trước cái thơ mộng, gợi cảm). Ông nhìn con người khi với tinh thần chia sẻ (thấy tổn thương cả hình hài), khi với tấm lòng ngưỡng mộ (thấy trẻ trung, hào hoa).

                13. Câu thơ nào trong bài “Tây Tiến” tác giả sử dụng mĩ tự (từ ngữ đẹp)? Hiệu quả nghệ thuật của việc dùng mĩ tự ra sao?

    Trả lời:

    – Mĩ tự chính là từ áo bào”, là cách nói cho sang, cho đẹp để giảm nhẹ sự đau thương, để gia tăng sự trân trọng. Thực tế chẳng có áo bào nào cả, người lính hy sinh, thi hài được bọc trong tấm áo lính đơn sơ, chôn cất tạm bên đường hành quân, giữa rừng già.

    “Anh về đất” là cách nói tránh để chỉ sự hi sinh. Hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc giao, các anh lại về với đất mẹ, nằm trong lòng đất mẹ.

                14. Nêu hoàn cảnh sáng tác và giá trị tư tưởng của bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu.

    Trả lời:

    – Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, miền Bắc nước ta được giải phóng. Lịch sử đất nước bước sang trang mới. Tháng 10/195, các cơ quan trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    – Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ cách mạng Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm được chia làm 2 phần:

    + Phần đầu tái hiện giai đoạn gian khổ nhưng vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỉ niệm sâu nặng trong lòng người cán bộ kháng chiến.

    + Phần sau nói lên sự gắn bó giưa miền ngược với miền xuôi trong viên cảnh đất nước hòa bình và kết thúc là lời ngợi ca công ơn của Bác, của Đảng đối với dân tộc.

                15. Trong bài thơ “Việt Bắc”, Tố Hữu viết “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, anh (chị) hãy xác định :”Mười lăm năm ấy” là khoảng thời gian nào, gắn với sự kiện lịch sử nào của cách mạng Việt Nam? Cái gì “thiết tha mặn nồng”?

    Trả lời:

    – “Mười lăm năm ấy” là khoảng thời gian từ năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn, mở đầu cuộc kháng chiến chống Nhật đến năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc kháng chiến chống thực dân Pháp.

    “thiết tha mặn nồng” là cụm từ chỉ tình cảm gắn bó thủy chung giữa cán bộ chính phủ và người dân Việt Bắc trong 15 năm chung sống.

                16. Trình bày những nét chính trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

    Trả lời:

    1. Về nội dung: Thơ Tố Hữu mang phong cách trữ tình chính trị sâu sắc.

    – Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung.

    – Trong việc miêu tả đời sống thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi.

    – Những điều đó được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình, đằm thắm, chân thành.

    1. Về nghệ thuật: Thơ Tố Hữu mang phong cách dân tộc rất đậm đà.

    Thể thơ: Vận dụng thành công thể thơ lục bát của dân tộc; thể thất ngôn trang trọng mà tự nhiên.

    Ngôn ngữ: dùng từ ngữ và cách nói dân gian, phát huy tính nhạc phong phú của tiếng Việt.

                17. Tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được thể hiện ở những điểm nào?

    Trả lời:

    Tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được thể hiện sinh động, phong phú qua hai phương diện nội dung và nghệ thuật:

    Về nội dung: Viết về cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì gian khổ nhưng rất đỗi anh hùng của dân tộc. Tái hiện rõ nét thiên nhiên và con người đậm đà màu sắc dân tộc. Làm rõ tình cảm giữa người cán bộ và nhân dân, một tình cảm cách mạng có tính cội nguồn là tình cảm yêu nước, ân tình, thủy chung trong truyền thống đạo lý dân tộc.

    Về nghệ thuật: sử dụng thể thơ dân tộc (lục bát). Sử dụng lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca truyền thống. sử dụng cách xưng hô quen thuộc trong ca dao “ta – mình”. Sử dụng hình thức so sánh, ẩn dụ, ước lệ, ..trong ca dao.

                18. Trong chương thơ “Đất Nước” (trường ca Mặt đường khát vọng), Nguyễn Khoa Điềm viết “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Cho biết nét khác nhau giữa hình ảnh “gừng, muối” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và hình ảnh “gừng, muối” trong ca dao?

    Trả lời:

    – Trong ca dao, hình ảnh “muối – gừng” là hình ảnh tượng trưng cho tình yêu đôi lứa mặn nồng, lâu bền :

    Muối ba năm muối dang còn mặn

    Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

    Đôi ta nghia nặng tình dày

    Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn chín ngàn ngày mới xa”

                Hay:

    “Tay bưng chén muối dĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

    – Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, hình ảnh “muối – gừng” là một tứ thơ thể hiện cái ý thơ ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của dân tộc. Một dân tộc trọng nghĩa, trọng tình:

    “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

                – Do có sự khác nhau về ý tưởng nên giọng điệu cũng khác nhau. Giọng điệu bài ca dao là giọng điệu trao duyên, thề nguyền ngọt ngào, đằm thắm.Giọng điệu trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là giọng hồi tưởng, có sắc thái trang trọng, kính ngưỡng.

                19. Đọc chương thơ “Đất Nước” (trường ca Mặt đường khát vọng) thấy vừa lạ vừa quen – xác định cái “lạ” và cái “quen” ấy trong chương thơ.

    Trả lời:

    – Quen là bởi tác giả sử dụng chất liệu văn hóa dân gian khá đậm đặc trong chương thơ. Có phong tực, lối sống, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (cái giần, cái sàn, cái kèo, cái cột,..), có ca dao, truyền thuyết, cổ tích,..có khi dẫn nguyên văn, có khi chỉ gợi ra một vài chữ, một hình ảnh chi tiết (miếng trầu, cây tre,…)

    – Lạ là bởi tác giả đã biến nhưng chất liệu văn hóa dân gian thành thi liệu để tạo ra những tứ thơ mang ý tưởng khác với dân gian. Chẳng hạn, cùng là hình ảnh “muối – gừng” nhưng trong ca dao là thể hiện tình yêu đôi lứa, trong thơ Nguyễn Khoa Điềm lại thể hiện đạo lí dân tộc.

                20. Dấu ấn nghệ thuật riêng trong câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm ở chương thơ Đất Nước (trường ca Mặt đường khát vọng) là gì? Dẫn ra hai câu thơ mang dấu ấn riêng ấy?

    Trả lời:

    – Dấu ấn nghệ thuật rõ nhất là câu thơ điệu nói. Rất nhiều câu thơ tự nhiên như lời nói cửa miệng “tóc mẹ thì bới sau đầu”, “cái kèo cái cột thành tên”. “Đất Nước có từ ngày đó”,..

    – Với câu thơ trữ tình điệu nói Nguyễn Khoa Điềm đã tìm được một lối diễn đạt rất gần gũi, quen thuộc cho người đọc. Lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân được đưa vào thơ một cách tự nhiên, hồn nhiên, không hề đẽo gọt gì cả.

                21.Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh sóng và mối quan hệ giữa hai hình tượng sóng và em trong bài thơ sóng của Xuân Quỳnh.

    Trả lời:

    – “Sóng” là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hóa thân, phân thân của nhân vật trữ tình.

    – “Sóng” là “em” và “em” cũng là “Sóng”. Hai hình tượng này tuy hai mà một, có lúc tách đôi ra để soi chiếu cho nhau, có lúc lại hòa nhập vào nhau để tạo ra sự cộng hưởng. Hai hình tượng ấy đan cài, quấn quýt với nhau như hình với bóng.

    – Tác giả mượn hình ảnh “sóng” để thể hiện nhưng cảm xúc, cung bậc tình cảm của một trái tim khao khát yêu đương.

                22. Câu thơ, khổ thơ nào trong bài “Sóng” của Xuân Quỳnh mà anh (chị) thích nhất? Chỉ ra ý tưởng của nhà thơ ở câu thơ, đoạn thơ ấy?

    Trả lời:

    Trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh có không ít nhưng câu thơ, khổ thơ người đọc thích. Bởi vì nó bất ngờ, thú vị đối với người đọc ở sự phát hiện và suy ngâm cuả tác giả về tình yêu đôi lứa, hạnh phúc đời thường. Chẳng hạn:

    “Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau”

    Làm sao biết được. Vì tình yêu lạ lùng, bí ẩn vô cùng. Và bởi lạ lùng, bí ẩn nên con người mới có cái khát khao đợi chờ, tìm kiếm. Muôn đời vẫn thế.

                23. Cho biết thể thơ, nhịp điệu và âm hưởng chung của bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh?

    Trả lời:

    – Nhịp điệu bài thơ được hình thành từ khổ thơ 5 chữ với cách ngắt nhịp, hòa âm linh hoạt : khi dịu êm, khi khoan thai, khi dồn dập, dữ dội.

    – Âm hưởng bài thơ là âm hưởng của những “con sóng lòng” của tác giả được khơi dậy khi đứng trước biển. Nó triền miên, thao thức, dạt dào vỗ mãi như những con sóng biển vô hạn, vô hồi.

    24.Khổ thơ “Sóng”, Xuân Quỳnh viết:

    “Làm sao được tan ra

                                        Thành trăm con sóng nhỏ

                                        Giữa biển lớn tình yêu

                                        Để ngàn năm còn vỗ”

                Anh (chị) cho biết “Biển lớn tình yêu” mà Xuân Quỳnh nói tới trong khổ thơ là gì?

    Trả lời:

    Biển lớn tình yêu” mà Xuân Quỳnh nói tới trong khổ thơ trên đó chính là tình yêu – một tình yêu sâu rộng tựa như biển lớn, là sự trường tồn vĩnh hằng của tình yêu. Cuộc đời ngắn ngủi (hữu hạn) , mọi thứ rồi sẽ đi qua, làm sao để giữ tình yêu mãi mãi là một khát vọng rất đẹp, rất nữ tính của nữ sĩ Xuân Quỳnh.

                25. Những đặc điểm nào về thân thế sự nghiệp của Lor ca đã giúp cho anh (chị) hiểu sâu sắc về bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca”.

                – Lor- ca (1898 – 1936) là một trong những tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha. Từ nhỏ, ông được coi là thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều lĩnh vực của nghệ thuật : thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, sân khấu,.. Tốt nghiệp đại học Luật, ông lên thủ đô tham gia vào đời sống nghệ thuật, vừa khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật.

    Sự xuất hiện của Lorca và nhiều tài năng nghệ thuật khác cùng hoạt động nghệ thuật nhân đạo của họ lúc bấy giờ đã khiến cho đời sống tinh thần của Tây Ban Nha và cả một vùng rộng lớn thuộc khu vực Tây Âu trở nên sôi động. Đây là nguyên nhân khiến ông bị bắt và bị giết bởi chế độ phát xít Phrăng – cô. Cái chết của Lor – ca đã làm dâng lên một làn sóng mạnh mẽ trên thế giới phản đối chế độ cai trị độc tài lúc bấy giờ. Tên tuổi của ông trở thành một biểu tượng, thành nọgc cờ tập hợp các nhà văn hoá Tây Ban Nha và thế giới chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ nền văn hoá dnâ tộc và văn minh nhân loại.

                26. Trong bài “Đàn ghita của Lor-ca”, Thanh Thảo chọn một câu thơ nổi tiếng của Lor-ca để làm đề từ “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”, anh (chị) hiểu Lor-ca muốn nói gì qua câu nói ấy?

    Trả lời:

    – Đây là câu thơ nổi tiếng của Lorca trong bài “Ghi nhớ” (“Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”), câu thơ được xem là lời di chúc của Lorca.

    – Lời di chúc của Lorca không đơn thuần nói lên tình yêu của Lorca đối với nghệ thuật, đối với xứ sở Tây Ban cầm. Mà sâu hơn nữa, đó còn là lời căn dặn của thiên tài đối với các thế hệ sau : Nhưng người đến sau hãy vượt qua tôi, quên tôi để bước tới. Đừng vì ngưỡng mộ tôi mà để cho cuộc cách tân nghệ thuật dừng lại.

                27. Hoàn cảnh sáng tác và chủ đề của tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân.

                – HCST: Người lái đò sông Đà là kết quả của nhiều dịp đến với Tây Bắc của nhà văn, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Đây là một trong số 15 bài tuỳ bút của Nguyễn Tuân in trong tập Sông Đà xuất bản năm 1960. Lần đầu xuất bản, bài này có tên là Sông Đà, năm 1982 khi cho in lại trong tuyển tập Nguyễn Tuân, tác giả có sửa đổi tên bài thành Người lái đò sông Đà .

    Chủ đề: Qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và thơ mộng, ngưòi lái đò bình dị mà dũng cảm, tài hoa, Nguyễn Tuân ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc của Tổ quốc.

                28. Trong Người lái đò sông Đà, NT đã phát hiện ra những đặc điểm nào của sông Đà? Những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc được NT vận dụng để làm nổi bật những phát hiện của mình?

                – Viết về Sông Đà, NT có nhiều phát hiện. Ông thấy mọi con sông đều chảy về phía đông, riêng con sông Đà chảy một mình lên phía bắc và hai nét nổi bật của sông Đà là hung bạo và trữ tình.

    – Dể làm nổi bật tính chất hung bạo và trữ tình của con sông, tác giả đã vận dụng kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật :

    + Nhân hoá : Đá trên thác sông Đà mai phục, hung dữ bày thạch trận để tiêu diệt bất cứ con thuyền nào dám vượt thác. Nước cũng vậy, chúng thở, kêu rống lên. Nước hùa với đá để đánh những miếng đòn “hiểm độc nhất”.

    + Nghệ thuật trùng điệp và miêu tả : thể hiệm rõ nét chất thơ mộng, trữ tình của con sông “tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Con sông còn đẹp với mùa xuân nước xanh ngọc bích, mùa thu về thì nước lừ lừ chín đỏ.

    + Ngoài ra tác giả còn sử dụng nhiều cách so sánh những hình ảnh của đá, của nước, của thác với con thuyền, người lái đò, cuộc vượt thác như một trận thuỷ chiến.

                29. Nêu ngắn gọn những hiểu biết của mình về phong cách nghệ thuật và cảm hứng chủ đạo trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân.

    Trả lời:

    – Là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm ra những câu chữ xác đáng nhất.

    – Cho thấy một diện mạo mới của Nguyễn Tuân sau cách mạng, luôn khát khao được hòa nhịp với đất nước, với cuộc đời (không giống Nguyễn Tuân trước cách mạng, con người chỉ muốn “xê dịch” cho khuây cảm giác “thiếu quê hương”.

    – Cảm hứng chủ đạo: Nhiệt tình ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi nhân dân của một nhà văn mà trái tim đang tràn đầy niềm hứng khởi khi thấy nay mình đã có đất nước, mình đã không còn “thiếu quê hương”.

                30. Anh Chị hãy dịch nghĩa câu thơ của Nguyễn Quang Bích mà Nguyễn Tuân dẫn ra để làm đề từ cho bài kí “Người lái đò sông Đà”:

    “Chúng thủy giai đông tẩu

                                        Đà giang độc bắc lưu”

    Trả lời:

                – Câu thơ có nghĩa như sau: Mọi con sông đều chảy về hướng đông, riêng một mình sông Đà lại ngược lên phía bắc trước khi trở ra biển.

    – Chính cái nghịch dòng đó đa tạo ra nét riêng của sông Đà: lắm thác, nhiều ghềnh, đá bày thạch trận, hang động kì thú ở thượng nguồn.

                31. Phóng túng và bay bổng là một nét riêng trong cách viết của Nguyễn Tuân. Anh (chị) hãy trích dẫn một câu văn trong bài kí “Người lái đò sông Đà” nói lên nét đẹp trữ tình của con sông.

    Trả lời:

    Phóng túng và bay bổng là một nét riêng trong cách viết của Nguyễn Tuân. Trong bài tùy bút “Người lái đò sông Đà”có rất nhiều câu rất phóng túng và bay bổng. Chẳng hạn, để miêu tả nét đẹp trữ tình của con sông Nguyễn Tuân viết:

    “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

                32.Nguyễn Tuân đã phát hiện ra nhưng đặc điểm nào của sông Đà? Nhưng thủ pháp nghệ thuật đặc sắc được Nguyễn Tuân vận dụng để làm nổi bật những phát hiện của mình.

    Trả lời:

    – Viết về sông Đà, Nguyễn Tuân có nhiều phát hiện. Ông thấy mọi con sông đều chảy về phía đông, riêng một mình sông Đà lại ngược lên phía bắc trước khi trở ra biển và hai nét nổi bật nhất của sông Đà là hung bạo và trữ tình.

    – Để làm nổi bật hai tính chất hung bạo và trữ tình của con sông, tác giả đã vận dụng kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật:

    + Đầu tiên, phải kể đến biện pháp nhân hóa. Đá và thác sông Đà mai phục, hung dữ bày thạch trận để tiêu diệt bất cứ con thuyền nào dám vượt thác. Nước cũng vậy, chúng thở, kêu rống lên. Nước cũng vào hùa với đá để đánh những miếng đòn “hiểm độc nhất”.

    + Tiếp theo, nghệ thuật trùng điệp và miêu tả đã giúp Nguyễn Tuân thể hiện rõ nét trữ tình, thơ mộng của con sông “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài …núi Mèo đốt nương xuân”. Con sông còn đẹp với mùa xuân nước xanh màu ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ.

    + Nhà văn còn sử dụng nhiều cách so sánh, ngôn ngữ của các ngành quân sự, điện ảnh, thủy điện,.. để miêu tả những hình ảnh của đá, của nước, của thác với con thuyền, người lái đò, cuộc vượt thác như một trận thủy chiến,…

    è Tất cả làm cho bài tùy bút sống động và hấp dẫn.

                33. Con sông Đà đã được người thời nay sử dụng làm thủy điện để phát triển kinh tế đất nước. Anh (chị) hãy viết vài dòng chia sẻ với Nguyễn Tuân để cố nhà văn thân yêu của chúng ta đỡ buồn ở thế giới thần tiên.

    Trả lời:

    Có thể viết theo ý riêng củ mình, nhưng phải thể hiện được 2 ý: thương nhớ, tiếc nuối con sông hùng vĩ, thơ mộng một thời và chia sẻ một thoáng buồn với cố nhà văn Nguyễn Tuân. Sau đây là vìa dòng mang tính gợi ý:

    “ Thưa nhà văn Nguyễn Tuân, Người tình muôn đời của sông Đà! Nhìn khói nhà máy thủy điện và nghe tiếng ầm ầm của những tuốc-bin hơi nước, tôi lại ngẩn ngơ tiếc nuối con sông Đà thơ mộng hùng vĩ của một thời….”

                34. Đa tình và mê đắm là một nét riêng trong cách viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh (chị) hãy dẫn ra hai chỗ tác giả ví von khi tả sông Hương ở thượng nguồn và sông Hương chảy qua thành phố Huế ở bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

    Trả lời:

    Đa tình và mê đắm là một nét riêng trong cách viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường.Ta thử lắng nghe tác giả ví von khi tả sông Hương ở thượng nguồn và sông Hương chảy qua thành phố Huế ở bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

    – “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại.(Thượng nguồn).

    “Giáp mặt thành phố ….sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ …dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu” (khi vào thành phố).

                35.  Bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”của Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc giai đoạn văn học nào? Đóng góp rõ nét nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở tác phẩm này là gì?

    Trả lời:

    – Bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”của Hoàng Phủ Ngọc Tường được viết năm 1981,thuộc giai đoạn văn học từ sau 1975 đến hết thế kỉ XX.

    – Đóng góp rõ nét nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở tác phẩm này là:

    + Tạo ra một lối hành văn hướng nội, tài hoa, súc tích, mê đắm trong cách nhìn, cách cảm nhận và cách tả sự vật hiện tượng.

    + Phát huy mạnh nẽ cá tính sáng tạo riêng của người cầm bút, đem đến cho người đọc cái nhìn mới lạ về một con sông dường như đã quá quen thuộc với nhiều người.

                36. Anh (chị) hiểu như thế nào là “lối hành văn hướng nội”? Lối hành văn đó ra sao trong bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

    Trả lời:

    “Nội” ở đây là “nội cảm” là cái cảm nhận riêng của người viết. “Lối hành văn hướng nội” là lối viết hướng vào cái cảm nhận riêng của từng tác giả. “Nội” còn được hiểu là cái bề sâu bên trong của sự việc, hiện tượng. Người viết cố gắng phát hiện cho ra cái bề sâu bên trong của sự việc, hiện tượng là “lối hành văn hướng nội”.

    -Ở bài kí này, HPNT đã thể hiện mội lối hành văn hướng nội rất rõ:

    + Đó là sự đào sâu “cái tôi” của nhà văn. Một “cái tôi” vừa tài hoa vừa mê đắm cái đẹp.

    + Đó là sự tìm tòi, phát hiện riêng rất sâu về sông Hương từ nhiều góc nhìn khác nhau: địa lí, lịch sử, văn hóa, …

                37. Cách tiếp cận sông Đà của Nguyễn Tuân và sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường có những điểm tương đồng và khác biệt gì? Hãy chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt đó.

    Trả lời:

    a.Giống nhau:

    – Cùng viết tùy bút về một dòng sông.

    – Huy động nhiều vốn kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa,..

    – Thể hiện rõ rệt “cái tôi” tài hoa, độc đáo.

    1. Khác nhau:
    Nguyễn Tuân với sông Đà Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương
    – Khai thác hai mặt hung bạo và trữ tình của dòng sông.

    – Qua dòng sông, ca ngợi con người lao động, chất vàng mười của vùng Tây Bắc.

    – Sử dụng các kiến thức của điện ảnh, hội họa, quân sự, thủy điện, ..

    – Khai thác các vẻ đẹp khác nhau của dòng sông.

    – Ca ngơi dòng sông, ca ngơi Huế, ca ngợi quê hương đất nước.

    – Khai thác chiều sâu lịch sử và văn hóa.

     

                38. Trình bày hoàn cảnh sáng tác của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.

    Trả lời:

    Truyện Vợ chồng A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc – tập truyện được trao giải nhất về truyện, kí – Giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam 1954-1955. Truyện Tây Bắc là kết quả của chuyến thâm nhập thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952). Trong chuyến đi này, Tô Hoài đã sống và gắn bó nghĩa tình với đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mông,..Và chính cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi đã khơi nguồn cảm hứng sáng tạo để Tô Hoài hoàn thành ba truyện ngắn : Cứu đất cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ.

                39. Tóm tắt truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.

    – Hai chị em Chiến, Việt sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng và có mối thù sâu nặng với bọn Đế quốc và phong kiến.

    – Cả hai chị em cùng xin đi bộ đội để trả thù nhà nợ nước.

    – Trong một trận đánh lớn, Việt phá được một xe tăng bọc thép của Mĩ, anh bị thương và lạc đồng đội suốt ba ngày đêm.

    – Anh bị mê sảng, sau ngiều lần ngất đi rổi tỉnh lại dòng hồi ức về gia đình chợt hiện về (Chú Năm, má, chị Chiến,..).

    – Anh Tánh cùng đồng đội tìm thấy Việt và đưa về đơn vị.

    – Khi vết thương sắp lành, anh Tánh nhắc Việt viết thư cho chị Chiến.

                40. Nêu ý nghĩa nhan đề Những đứa con trong gia đình và chủ đề của thiên truyện ngắn này của Nguyễn Thi.

    Trả lời:

    1. Ý nghĩa nhan đề: Nhan đề Những đứa con trong gia đình không chỉ có giá trị thông báo về vị trí thế hệ của hai nhân vật chính mà gợi nhiều ý nghĩa:

    – Đó là những con người được nuôi dưỡng và trưởng thành trong gia đình có truyền thống tốt đẹp, đáng tự hào.

    – Họ là những con người đã tiếp nối xứng đáng truyền thống cách mạng của gia đình.

    – Khẳng định, ngợi ca mối liên kết bền chặt, thiêng liêng giữa các thế hệ trong gia đình, giữa con người với gia đình.

    1. Chủ đề: Qua hồi ức của Việt khi bị thương về những thành viên trong gia đình, tác giả ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình cũng là của nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mĩ xâm lược.

                41. Nêu những đặc sắc về nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Thi trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình.

    – Về nghệ thuật tạo tình huống truyện : nhân vật Việt rơi vào một tình huống đặc biệt (trong một trận đánh bị thương nặng phải nằm lại ở chiến trường, bị lạc đồng đội, nhiều lần  ngất đi rồi tỉnh lại).

    – Về nghệ thuật trần thuật : theo cách kể tự giấu mình, nhưng cách nhìn và lời kể lại theo ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật (lời kể nửa trực tiếp).

    – Về nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật : miêu tả tâm lí nhnâ vật sắc sảo, đậm tính cách Nam Bộ.

    – Ngôn ngữ phong phú, giàu giá trị tạo hình, góc cạnh và đậm chất Nam Bộ.

                42. Những người trong gia đình của Việt gắn bó với nhau như thế nào? (giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc).

    Trả lời:

    – Những người trong gia đình của Việt gắn bó với nhau bằng tình ruột thịt, nhưng còn gắn bó với nhau bởi truyền thống gia đình, bởi tình yêu nước và lòng trung thành với cách mạng.

    – Không phải ngẫu nhiên mà những thành viên trong gia đình đều có một lòng căm thù giặc sâu sắc, một quyết tâm đánh giặc cứu nước. Trong cái chung đó, mỗi người lại thể hiện tình yêu nước theo kiểu riêng của mình (Chú Năm với cuốn sổ gia phả, Việt, Chiến tranh đi bộ đội,…).

    è Một gia đình yêu thương, đùm bọc, lo lắng cho nhau, đồng thời quyết tâm theo cách mạng đến cùng.

                43. Trong Những đứa con trong gia đình, chuyện được thuật lại chủ yếu qua dòng hồi tưởng của nhân vật nào? Sự thuật lại như vậy có tác dụng thế nào với kết cấu truyện và đối với việc thể hiện các nhân vật, tình tiết.

    Trả lời:

    – Chuyện được thuật lại chủ yếu qua dòng hồi tưởng của nhân vật Việt. Lúc này Việt bị thương nặng. Dòng hồi ức của Việt đứt nối sau những lần ngất đi, tỉnh lại.

    –  Lối kết cấu dựa vào dòng hồi tưởng như thế làm cho truyện giàu cảm xúc, diễn biến linh hoạt, không phụ thuộc vào thời gian. Mỗi lần liên tưởng, một số sự kiện được chấp nối và các thành viên trong gia đình lần lượt hiện ra, được tô đậm dần dần. Đồng thời bản thân người hồi tưởng cũng dần dần thể hiện được bản lĩnh và tính cách của mình, đặc biệt là trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình.

                44. Trình bày hoàn cảnh sáng tác của Truyện ngắn Vợ nhặt.

    Trả lời:

    Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” viết ngay sau cách mạng tháng Tám nhưng bị mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại năm 1954, tác giả dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

    Truyện ngắn Vợ nhặt được lấy bối cảnh từ nạn đói khủng khiếp miền Bắc năm 1945.

                45. Nêu ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt.

    Trả lời:

    Vợ nhặt : tạo được sự chú ý cho người đọc. Đây không phải là cảnh lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi, cưới xin theo phong tục truyền thống của người Việt, mà chỉ là “nhặt được vợ”.

    -Ý nghĩa:

    + Tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 (hơn 2 triệu người chết đói). Trong hoàn cảnh đói khát ấy à giá trị con người thật rẻ rúng.

    + Ca ngợi những con người nghèo khổ nhưng có tấm lòng yêu thương, đùm bọc con người.

    46. Từ những tình tiết chính và tên truyện Vợ nhặt, anh (chị) nhận xét gì về số phận người phụ nữ nông thôn trước Cách mạng qua nhân vật vợ Tràng?

    Trả lời:

    – Anh Tràng có vợ gây ngạc nhiên cho hàng xóm. Họ ngạc nhiên vì một người nghèo như Tràng bỗng nhiên có được vợ, nhất là trong hoàn cảnh nạn đói đang đe dọa đến từng kiếp người.

    – Người đàn bà nhận lời làm vợ Tràng là một người đàn bà không tên, không rõ nguồn gốc. Chị không có công ăn việc làm, ngồi vêu ở cửa nhà kho, tính khí lại cong cớn, táo bạo.

    – Chỉ gặp hai lần, chị đã không khách khí ăn liền một lúc bốn bát bánh đúc, rồi theo câu gợi ý của Tràng, chị đồng ý theo Tràng làm vợ. Đúng là anh ta đã nhặt được chị – nhặt được vợ ở ngoài chợ, như người ta nhặt được một đồ vật vô chủ rơi vãi.

    – Từ một con người chao chát, chỏng lỏn, cong cớn, chị trở nên rụt rè, hiền hậu đúng mực. Đấy là số phận bi thảm của con người trong bước đường cùng. Nhưng dù thế nào người đàn bà ấy vẫn khao khát có một gia đình.

                47. Hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

    Trả lời:

    Mùa hè năm 1962 Nguyễn Trung thành trở lại chiến trường miền Nam vừa chiến đấu vừa sáng tác. Mùa hè năm 1965, đế quốc Mĩ bắt đầu đổ quân ào ạt vào chiến trường miền Nam, các chiến dịch càn quét được tổ chức quy mô và rầm rộ hơn. Trong hoàn cảnh ấy, nhà văn viết Rừng xà nu như một biểu tượng cho tinh thần bất khuất kiên cường của đồng bào Tây Nguyên nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

                48. Nhận xét sự tài tình của Nguyễn Trung Thành trong việc miêu tả cảnh rừng xà nu nằm trong tầm đại bác.

    Trả lời:

    – Đây là những dòng tả cảnh hiếm có, được làm nên bởi một ngòi bút biết dùng con chữ để hòa hợp các sắc màu, chạm khắc thành hình khối, tạo nên mùi hương, tạo nên ánh sáng và sức nóng,…Tác giả đã viết nhiều câu văn đẹp lạ lùng, có sức gây ấn tượng thật khó quên trong lòng người đọc; ví dụ như: “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”,  hay “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”.

    – Những câu văn như thế không chỉ góp phần đem lạo cho tác phẩm một thứ hương vị kì thú của Tây Nguyên, mà còn có khả năng làm cho chúng ta được cùng với tác giả  thấy ngây ngất khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước.

                49. Các tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi đều viết về chủ đề anh hùng cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, song mỗi tác phẩm lại có những khám phá, sáng tạo riêng trong việc thể hiện chủ đề chung đó. Cho biết nét sáng tạo đó là gì?

    Trả lời:

    – “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là tác phẩm khơi gợi rõ nhất âm hưởng sử thi. Qua câu chuyện về cuộc đời bi tráng của Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man, tác phẩm nói lên một chân lí tất yếu đối với cách mạng miền Nam lúc đó : phải lấy bạo lực cách mạng để trấn áp bạo lực phản cách mạng.

    – “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi lại biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng dưới một cách tiếp cận khác – đó là cách tiếp cận truyền thống lịch sử, truyền thống từ mỗi gia đình. Khai thác truyền thống đánh giặc trong gia đình của Chiến và Việt, Nguyễn Thi đã nói lên vẻ đẹp của sự hy sinh thầm lặng và cao cả của mỗi người, mỗi gia đình trong chiến tranh. Cuộc chiến đấu thần kì của dân tộc thắng lợi được chính là nhờ nhưng hạt nhân như thế.

    50. Nêu xuất xứ và chủ đề của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

    Trả lời:

    1. Xuất xứ: Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1983 là truyện ngắn in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu. Với ngôn từ dung dị, đời thường, truyện kể lại chuyế đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời.
    2. Chủ đề: Bằng tài năng của một cây bút giàu bản lĩnh, qua tác phẩm Nguyễn Minh Châu đã thể hiện tình yêu tha thiết đối với những cảnh đời, thân phận trớ trêu của con người và gửi gắm chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật. Nghệ thuật chân chính phải luôn luôn gắn với cuộc đời và vì cuộc đời; người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách đơn giản, cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều.

                51. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. Anh (chị) hãy làm rõ điều đó.

    Trả lời:

    -Nghệ sĩ Phùng đến ven biển miền Trung chụp tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau, anh thấy cảnh đẹp như tranh vẽ. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh lại chứng kiến cảnh người chồng đánh đập vợ, những ngày tiếp theo cảnh ấy vẫn tiếp diễn. Anh nhận ra đó là nghịch lí giữa nghệ thuật với cuộc đời.

    – Tình huống truyện mang ý nghĩa sâu sắc, thấm thía, nhấn mạnh mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.

                 52.  Nêu xuất xứ và chủ đề của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

    Chiếc thuyền ngoài xa được Nguyễn Minh Châu sáng tác vào tháng 8 năm 1983, in trong tập truyện ngắn cùng tên, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1987.

    – Truyện kể về người đàn bà hàng chài với nhiều nỗi đau buồn qua sự chứng kiến của người nghệ sĩ nhiếp ảnh tên Phùng. Tác phẩm không chỉ nói lên mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực mà qua đó còn là sự khám phá của tác giả về con người và cuộc sống xung quanh ta.

                53. Cho biết ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.

    Trả lời:

    – Nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa là một ẩn dụ về mối quan giữa cuộc đời và nghệ thuật. Đó là chiếc thuyền có thật trong cuộc đời, là không gian sinh hoạt của gia đình người đàn bà hàng chài. Ở đó, ngoài vợ chồng họ còn có cả một đàn con. Cuộc sống khó khăn đói kém, nơi ở chật chội,.. làm con người thay đổi tâm tính. Trước đây, anh là một người hiền lành, lấy chị – một người đàn bà xấu xí nhưng hết sức chăm lo cho cuộc sống gia đình; đông con, khó kiếm ăn, cuộc sống túng quẫn là nguyên  nhân làm cho người chồng trở nên cục cằn, thô lỗ và biến vợ thành đối tượng của những trận đòn. Những cảnh tượng đó, những thân phận đó nếu nhìn từ xa, ở ngoài xa thì sẽ không thấy được.

    – Nhưng cũng chính vì ở ngoài xa nên con thuyền mới đơn độc. Đó là sự đơn độc của con thuyền nghệ thuật  trên đại dương cuộc sống, đơn độc của con người trong cuộc đời. Chính sự thiếu gần gũi, chia sẻ ấy là nguyên nhân cuả bế tắc và lầm lạc. Phùng đã chụp được cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm- một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, một chân lí của sự toàn thiện.. Chiếc thuyền là biểu tượng cho sự toàn mĩ mà chiêm ngưỡng nó, anh thấy tâm hồn mình trong ngần. Nhưng khi chiếc thuyền đâm thẳng vào bờ, chứng kiến cảnh đánh vợ của người đàn ông kia, anh đã kinh ngạc…và vứt chiếc máy ảnh xuống đất. Anh nhận ra rằng, cái đẹp ngoài xa kia cũng ẩn chứa nhiều oái oăm, ngang trái và nghịch lý. Nếu ko đến gần thì chẳng bao giờ anh phát hiện ra. Xa và gần, bên ngoài và thẳm sâu…đó cũng chính là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ thuật chân chính.

                54. Hoàn cảnh ra đời của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

    Trả lời:

    Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch gây được nhiều tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ. Vở kịch được viết từ năm 1981, nhưng đến năm 1984 mới lần đầu ra mắt công chúng. Nhanh chóng tạo được nhiều thiện cảm với người xem, Hồn Trương Ba, da hàng thịt đã được công diễn nhiều lần trên các sân khấu trong và ngoài nước.

    Đoạn được học trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, diễn tả sự đau khổ, dằn vặt và quyết định cuối cùng vô cùng cao thượng của Hồn Trương Ba.

                55. Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt. của Lưu Quang Vũ.

    Trả lời:

    Cuộc sống của con người thật quý giá, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình muốn và theo đuổi còn quý giá hơn. Cuộc sống hỉ thực dự có ý nghĩa khi người ta được sống tự nhiên với sự hài hòa giửa tâm hồn và thể xác. Không thể đem lắp những mảng ghép khập khiễng hòng tạo nên những giá trị đích thực của cuộc sống. Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

                56. Anh (chị) suy nghĩ gì về câu nói của Hồn Trương Ba “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn”.

    Trả lời:

    – Trương Ba ý thức rõ về cảnh ngộ trớ trêu của mình. Anh ta thấm thía nỗi đau khổ vì nhận ra tình trạng vênh lệch giữa hồn và xác. Sống trong tình trạng bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo  Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với người thân. Hồn Trương Ba không muốn sống nhờ thân xác người khác, anh muốn rời thân xác kềnh càng, thô lỗ.

    – Có lẽ Lưu Quang Vũ muốn nhắn gửi tới ta thông điệp : không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục, tội lỗi. Nếu phải sống gửi, sống nhờ, sống chắp vá thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa, và đầy tính bi hài.

                57. Trong đoạn đối thoại giữa  hồn  Trương Ba và xác hàng thịt trích cảnh VII của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt thể hiện ý nghĩa gì?

    – Với những lí lẽ đầy cám dỗ của xác hàng thịt, hồn Trương Ba đã có những lúc xao động, rồi kế đó là những nỗi dằn vặt, tean8 trở về cuộc sống ngang trái của mình. Mọi thứ như nghẹn lại, đẩy hồn Trương Ba rơi vào sự bế tắc hoặc sống mà chấp nhận sự giỡn đùa của tạo hóa hoặc chết để được là chính bản thân mình.

    – Đoạn đối thoại khẳng định ý nghĩa của sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tính cách và ngoại hình. Đây là một vấn đề có tính chất khái quát cao, bao trùm nhiều mặt của đời sống xã hội.

                58. Ý nghĩa nha đề vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

    – Nhan đề cho thấy tình cảnh trớ trêu, mâu thuẫn, đau khổ của nhân vật Trương Ba khi tâm hồn thanh cao, nhân hậu phải ẩn trong thân xác hàng thịt thô lỗ, phàm tục.

    – Đặt ra vấn đề : con người phải được sống là mình với những phẩm chất tốt đẹp, sống trong sự hài hoà giữa thể xác và tâm hồn.

                B. Văn học nước ngoài:

                1. Nêu ngắn gọn hoàn cảnh sống của nhân vật Anđrây Xô –cô- lôp (trong truyện ngắn Số phận con người) sau chiến tranh.

    Trả lời:                                                            

    – Sau chiến tranh, Xô-cô-lốp trở về với nôi đau mất mát lớn : gia đình thân yêu của anh bị chiến tranh cướp đi tất cả, anh trở nên trơ trọi, cô độc và luôn phải sống trong giày vò đau đớn về tinh thần cũng như những khó khăn về cuộc sống hiện tại (không nhà cử, không người thân thích,..)

    – Vượt lên cảnh ngộ đó, Xô-cô-lốp vẫn làm việc để kiếm sống, để vơi đi nỗi đau tinh thần và không trở thành gánh nặng cho xã hội.

                2. Nêu hoàn cảnh sáng tác và chủ đề của truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khôp.

    Trả lời:

    Hoàn cảnh : Truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khôp được công bố lần đầu trên báo sự thật, số ra ngày 31.12.1956 và 1.1.1957. Truyện có ý nghĩa khá quan trọng đối với toàn bộ sự phát triển của nền văn xuôi Xô viết suốt giai đoạn sau này. Bởi, người ta có thể tìm thấy ở tác phẩm này những tìm tòi chủ yếu của văn học Xô viết hiện đại. Đây là tác phẩm đầu tiên trong văn học Xô viết, nhà văn tập trung thể hiện hình tượng con người bất hạnh sau chiến tranh, nhìn cuộc sống và chiến tranh một cách toàn diện, chân thực. Về sau, truyện được in trong tập Truyện Sông Đông.

    – Chủ đề: Số phận con người tập trung khám phá nỗi bất hạnh của con người sau chiến tranh. Song tuy viết về nhưng đau thương, mất mát mà chiến tranh gây ra, tác giả vẫn giữ vững niềm tin ở tính cách Nga kiên cường cung như lòng tin ở cuộc sống bao dung.

    3. Ý nghĩa tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khôp.

    Trả lời:

    1. Ý nghĩa tư tưởng:

    – Đoạn trích khẳng định sức mạnh tiềm ẩn và những cống hiến của nhân dân Nga nói chung trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đồng thời thể hiện lòng khâm phục và tin tưởng ở tính cách Nga kiên cường và nhân hậu, đồng cảm trước vô vàn khó khăn trở ngại mà con người phải vượt qua trên con đường vươn tới tương lai, hạnh phúc.

    – Nhân vật trung tâm của tác phẩm là một người lính dũng cảm trong chiến đấu trước kẻ thù, một người lao động có trách nhiệm cao cả và nghị lực phi thường trong cuộc sống đời thường. Đặt nhân vật vào nhiều mối quan hệ với dân tộc, nhân dân, thời đại, gia đình,.. nhà văn đã nâng nhân vật lên tầm vóc sử thi. Nhân vật chính vừa là biểu tượng  của nhân dân Nga, vừa là một số phận cá nhân với những cảnh ngộ, sự từng trải và bước đường đời rất riêng.

    1. Đặc sắc nghệ thuật:

    – Tác phẩm được kề theo ngôi thứ nhất, kết cấu theo trình tự thời gian. Số phận con người mang âm hưởng anh hùng ca về lòng dũng cảm, về tinh thần chịu đựng và sức mạnh tinh thần của con người Nga, tính cách Nga.

    – Truyện được viết theo kiểu truyện lồng trong truyện ; nhân vật tôi (tác giả) thuật lại câu chuyện anh nghe được từ Xô-cô-lốp. Tác phẩm có hai người kể chuyện : tác giả và nhân vật; nhà văn tạo được nhiều tình huống nghệ thuật đặc sắc để thử thách, khám phá chiều sâu tính cách Nga, con người Nga.

    4. Nêu nhưng hiểu biết của mình về cuộc đời nhà văn Sô-lô-khốp.

    Trả lời:

    – M. Sô-lô-khốp (1905 -1984) sinh tại một thị trấn của vùng sông Đông.

    – Là nhà văn Xô viết lỗi lạc tham gia cách mạng khá sớm.

    – Từng làm nhiều nghề để kiếm sống và luôn tự học.

    – Trong thế chiến thứ hai ông là phóng viên mặt trận, rong ruổi khắp các chiến trường và viết nhiều bài chính luận, bài kí nổi tiếng.

    – Ông được vinh dự nhận giải Nôben về văn học năm 1965.

    -Các tác phẩm tiêu biểu:

    + Số phận con người

    + Sông Đông êm đềm.

    + Đất vỡ hoang

    + Họ đã chiến đấu vì Tổ quốc,..

    – Các tác phẩm của Sô- lô – khốp phản ánh một cách toàn diện về cuộc sống và con người trong chiến tranh.

                5. Lòng nhân hậu của nhân vật Anđrây Xô –cô- lôp được thể hiện thế nào trong truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khôp.

    Trả lời:

    – Anđrây Xô-cô-lốp đau khổ vô hạn vì những mát lớn lao trong chiến tranh.

    – anh nhận bé Va-ni-a mồ côi làm con, anh yêu thương, chăm sóc chú bé như con đẻ của mình.

    – Anh giấu chưa cho chú bé biết nhiều sự thật vì không muốn chú bé buồn.

                6. Nêu những hiểu biết của mình về cuộc đời nhà văn Hê min uê.

    Trả lời:

    – Ơ nit Hê min uê (1899-1961) sinh tại bang Ilinoi trong một gia đình trí thức ở Mĩ.

    – Sau khi tốt nghiệp ông đi làm phóng viên chiến tranh. Bị thương ở chiến trường Italia, ông trở về Hoa kì.

    – Thất vọng về xã hội đương thời, tự nhận mình thuộc thế hệ mất mát, không hòa nhập được với cuộc sống đương thời và đi tìm bình yên trong men rượu và tình yêu.

    – Năm 1926 cho ra đời tiểu thuyết Mặt trời vẫn mọc và trở nên nổi tiếng.

    – Là nhà văn vĩ đại nhất của nước Mĩ thế kỉ XX. Ông khai sinh lối văn kiệm lời, kiệm cảm xúc,..(nguyên lý tảng băng trôi).

    – Dù viết về đề tài gì, ông cũng đều nhằm mục đích “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”.

    – Nhận giải Nô- ben về văn học 1954.

    – 1961 nhà văn tự sát.

    – Các tác phẩm: Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, Ông già và biển cả,..

                7. Anh (chị) hiểu như thế nào về nguyên lí “tảng băng trôi” của Hê min uê?

    Thông qua hình ảnh ông già quật cường, bằng kĩ thuật điêu luyện, đã chiến thắng con cá kiếm to lớn và hung dữ trong truyện  Ông già và biển cả, nhà văn muốn gửi đến người đọc điều gì?

    Trả lời:

    “Tảng băng trôi” : dựa vào tự nhiên trong thực tế, tảng băng trên mặt nước chỉ có ba phần nổi, bảy phần chìm. Nhà văn sáng tạo theo nguyên lí đó:

    – Nhà văn nhấn mạnh vào yếu tố hàm xúc, ngụ ý trong mạch ngầm văn bản, tạo ra được ý tại ngôn ngoạivà khẳng định hiệu quả của cách viết ấy. Tác giả phải hiểu biết cặn kẽ những điều mình muốn viết, sau đó lược bỏ những chi tiết không cần thiết, giữ lại phần cốt lõi, sắp xếp lại để người đọc khi tiếp xúc với chúng vẫn có thể hiểu được những gì đã lược đi.

    – Nhiệm vụ của người đọc là phải đồng sáng tạo mới có thể hiểu được “bảy phần chìm”, những hình tượng, hình ảnh,… giàu tính tượng trưng đa tầng nghĩa; phải vận dụng kinh nghiệm và nhưng hiểu biết để lấp đầy khoảng trống mà nhà văn cố tình tạo ra trong tác phẩm.

    Thông qua hình ảnh ông già quật cường, bằng kĩ thuật điêu luyện, đã chiến thắng con cá kiếm to lớn và hung dữ trong truyện  Ông già và biển cả, nhà văn muốn gửi đến người đọc thông điệp : Hãy tin vào con người, “con người có thể bị huỷ diệt chứ không thể bị đánh bại”, “con người được sinh ra không phải dành cho thất bại”.

                8. Hãy tìm trong đoạn trích một vài câu văn có nhiều “khoảng trống” để chứng minh cho lối viết văn kiệm lời, kiệm cảm xúc của nhà văn Hê-min-uê.

    Trả lời:

                – Sau ba ngày đêm ròng rả chiến đấu với con cá kiếm trên biển, nhà văn để nhân vật thốt lên: “Ta đã di chuyển được nó”, ông lão nói. “Ta đã di chuyển được nó rồi”. Không một lời dẫn rõ ràng, khôn có một cụm từ giải thích về thái độ như mừng rỡ, phấn khởi,..Tuy nhiên, người đọc vẫn thấy được sắc thái hào hứng, sự vui mừng được toát lên từ cách nói, kết quả hành động của ông lão. Nếu cần lấp đầy khoảng trống, người đọc có thể thêm từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất,..vào câu văn đó.

    – Hay như câu độc thoại : “Con cá là vận may của ta” đã tạo khoảng trống cho độc giả. Người đọc phải hiểu được, ông lão đã 84 ngày chưa câu được một con cá nào, và mọi người xung quanh cho rằng ông lão đang bị vận đen đeo bám. Ngay cả Ma-nô-lin, cậu bé thân thiết nhất của Xanh-ti-a-gô cũng bị cha mẹ cấm không cho theo ông nữa. Nếu hiểu đầy đủ, câu văn này phải là : con cá là vận may của ta và việc ta bắt được nó đã chứng minh rằng ta đã vượt qua được vận rủi.

    9. Đoạn trích truyện Ông già và biển cả của Hê-min-uê kể lại sự việc gì? Nhân vật Xan-tia-go là người như thế nào qua sự việc ấy?

    – Sự việc : Ông lão đánh cá Xan-ti-a-go vất vả săn bắt con cá kiếm.

    – Xan-ti-a-go là một ngư phủ lành nghề, là người dũng cảm, mưu trí, kiên trì, giàu ý chí, nghị lực, giàu khát vọng,…

    10. Hình ảnh con cá kiếm trong Ông già và biển cả của Hê-min-uê gợi cho anh chị suy nghĩ gì?

    – Hình ảnh con cá kiếm trong đoạn trích được miêu tả đấy là hình ảnh đẹp, cao quý; quan hệ của của nó đối với ông lão Xa-ti-a-go cũng là một quan hệ khác thường (ông lão xem con có như một con người, thậm chí là một đối thủ hay một người bạn tâm tình).

    – Chính điều này đã gợi ra cho người đọc nhiều suy nghĩ : nó là hình ảnh của ước mơ, của lí tưởng mà mỗi con người thường theo đuổi trong đời.

    11. Cảm nhận của ông lão về con cá kiếm trong Ông già và biển cả của Hê-min-uê được miêu tả như thế nào?

    – Diễn tả sự cảm nhận của ông lão về con cá kiếm diễn ra đúng như sự việc xảy ra trong cuộc sống. Đầu tiên chỉ nhìn thấy từng bộ phận, rồi nhìn thấy toàn thể; tiếp theo cảm nhận nó bằng xúc giác, thị giác (sợi dây, những vòng lượn,..)

    – Cảm nhận về con cá kiếm càng lúc càng mãnh liệt.

    12. Trình bày ngắn gọn những hiểu biết của mình về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Lỗ Tấn.

    Trả lời:

    – Lỗ Tấn (1881 -1936) là nhà văn cách mạng Trung Quốc.

    – Xuất thân trong một gia đình quan lại sa sút, có điều kiện thấy rõ những điều xấu xa, lạc hậu của chế độ phong kiến Trung Quốc, sớm có lòng yêu nước, thương dân.

    – Thời trẻ, ông đã đổi nghề nhiều lần : hàng hải, khai mỏ, nghề y, cuối cùng chuyển sang viết văn để thức tỉnh quốc dân đồng bào.

    – Tác phẩm chính : Gào thét, Bàng hoàng, AQ chính truyện, Thuốc,…

    – Làm văn nghệ, Lỗ Tấn dùng ngòi bút của mình để phanh phui căn bệnh tinh thần của người Trung Quốc, mong muốn thức tỉnh họ thoát khỏi những u mê, lạc hậu, kêu gọi nhân dân đoàn kết để đánh đổ ngoại tộc giành độc lập tự do cho dân tộc.

                13. Tóm tắt ngắn gọn truyện ngắn Thuốc.

    Trả lời:

    – Sáng sớm mùa thu, lão Hoa, chủ quán trà đến pháp trường mua thuốc chữa bệnh lao cho con. Thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu của người chiến sĩ cách mạng Hạ Du.

    – Bà Hoa cho con an chiếc bánh với niềm tin chắc chắn con sẽ khỏi bệnh.

    – Những người khách trong quán trà bàn về thuốc, về Hạ Du và cho là anh ta điên.

    – Buổi sáng thanh minh năm sau, bà Hoa và bà mẹ Hạ Du cùng đến thăm mộ con, họ đồng cảm và ngạc nhiên khi thấy vòng hoa trên mộ Hạ Du.

                14. Hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn Thuốc.

    Trả lời:

    – Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Trung Quốc bị các nước đế quốc xâu xé. Xã hội Trung Quốc biến thành nửa phong kiến nửa thuộc địa, thế nhưng nhân dân lại cam chịu nhục. Đó là căn bệnh đớn hèn, tự thỏa mãn, cản trở nghiêm trọng con đường giải phóng dân tộc. Thuốc ra đời đúng vào hoàn cảnh ấy như một lời cảnh tỉnh những ai còn đang ngơ ngác trước thời cuộc, chỉ ra cho họ thấy rằng Trung Quốc đang là con bệnh trầm kha, chỉ có tiêu diệt hết thứ vi rút đớn hèn mới có cơ hội cứu được con bệnh thập tử nhất sinh ấy.

    – Lỗ Tấn viết Thuốc ngày 25-4-1919 rồi đăng trên tạp chí Tân thanh niên đúng vào dịp phong trào ngũ tứ nổ ra.

                15. Thuốc là một nhan đề đa nghĩa. Anh (chị) hãy giải thích ý nghĩa nhan đề đó?

    Trả lời:

    – Trước hết nó được hiểu đúng theo nghĩa đen, ấy là thứ thuốc chữa bệnh lao cho người Trung Quốc lạc hậu, u mê. Một cách chữa bệnh đầy mê tín – lấy máu người để chữa bệnh lao. Ruốt cuộc, con bệnh vẫn chết. Chết trong cái không khí ẩm mốc hôi tanh mùi máu của nước Trung Hoa lạc hậu.

    Nhưng không chí có vậy, Thuốc còn đề cập đến một vấn đề khác sâu xa hơn và khái quát hơn, đó là sự u mê, đớn hèn, mông muội về chính trị – xã hội của quần chúng và bi kịch không được hiểu, không được ủng hộ của những người cách mạng tiên phong.

                16. Trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, khách trong quán trà của lão Hoa đã bàn về những chuyện gì? Hãy cho biết điều mà nhà văn muốn nói qua truyện ấy.

    Trả lời:

    Khách trong quán trà của lão Hoa đã bàn về những chuyện:

    – Chuyện bánh bao tẩm máu tử tù.

    – Chuyện người tù họ Hạ bị chém.

    Điều nhà văn muốn nói:

    – Phản ánh và phê phán sự ngu muội, thiếu hiểu biết của người dân Trung Quốc đương thời về cách chữa bệnh lao.

    – Phản ánh và phê phán sự ngu muội, thiếu hiểu biết của người dân Trung Quốc đương thời về cách mạng.

    Chúc tất cả thành công!

  • Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-V%C4%83n-B%C3%A0i-T%C3%ACnh-y%C3%AAu-v%C3%A0-th%C3%B9-h%E1%BA%ADn-Uy-li-am-S%E1%BA%BFch-xpia.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Văn Bài Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    Tóm tắt

    Rô-mê-ô và Giu-li-et là vở bi kịch nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của U.Sếch-xpia. ở thành Vêrôna nước ý có hai dòng họ phong kiến vốn có mối thù truyền kiếp với nhau là Mông-te-ghiu và Ca-piu-let. Chàng Rô-mê-ô là con trai họ Mông-ta-ghiu yêu Giu-li-et, con gái họ Ca-piu-let. Họ là một đôi trai tài gái sắc. Hai người làm lễ thành hôn thầm kín. Nhưng cùng trong ngày hôm đó, do một cuộc cãi lộn, Rô-mê-ô đâm chết Ti-bân, anh họ Giu-li-et và bị kết tội biệt xứ. Gia đình Giu-li-et ép nàng phải lấy bá tước Pa-rix. Nàng định tự sát, nhưng được tu sĩ Lô-rân giúp kế tránh cuộc hôn nhân đó: tu sĩ cho nàng một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết; sau khi gia đình đặt thi thể nàng vào hầm mộ, tu sĩ sẽ báo cho Rô-mê-ô đến cứu nàng trốn khỏi thành Vê-rô-na. Nhưng người của tu sĩ chưa kịp báo tin thì người nhà Môn-ta-ghiu lại đến trước báo cho Rô-mê-ô tin nàng Giu-li-et đã tự sát. Rô-mê-ô tưởng nàng đã chết, nên đã tự sát bên nàng. Giu-li-et tỉnh dậy, cũng tự sát theo. Và trước cái chết của hai người, hai họ đã quên mối thù truyền kiếp.

    Tác phẩm kết thúc bằng cái chết của hai nhân vật chính và sự hoà giải của hai dòng họ. Một kết thúc đầy bi kịch nhưng âm hưởng chung của tác phẩm lại thể hiện cái nhìn lạc quan của tác giả đối với sự chiến thắng của lí tưởng nhân văn chủ nghĩa. Tình yêu say đắm thuỷ chung của hai người trẻ tuổi đã xoá bỏ những tập tục thành kiến và thù địch của hai dòng họ suốt hàng trăm năm.

    Bố cục

    – Phần 1 (6 lời thoại đầu): sự độc thoại bộc lộ tình yêu thầm kín của Romeo và Juliet

    – Phần 2 (còn lại): cuộc đối thoại của Romeo và Juliet

    Câu 1 (trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Từ câu thoại 1-7: độc thoại, để hai nhân vật tự thổ lộ tình cảm của mình

    Từ câu 8-16: lời đối thoại giữa hai người, Romeo- Juliet có cơ hội bộc trực tình cảm với nhau

    + Các hình ảnh so sánh thể hiện miêu tả vẻ đẹp của Juliet

    + Vượt lên định kiến của gia đình, nàng Juliet dám nói lên chân thành say đắm

    + Lời hẹn thề chứng tỏ thành kiến của phong kiến dần mất tác dụng

    Câu 2 (trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    – Tình yêu của Ro-me-o và Giu-li-et diễn ra trong bối cảnh hai giọng thù địch:

    + Sự thù hận của hai dòng họ ngăn cách tình cảm của hai người

    + Nỗi ám ảnh thù hận xuất hiện ở nàng Giu-li-et nhiều hơn, nàng lo lắng cho mình và còn cả người yêu

    + Ro-me-o quyết liệt hơn, chàng sẵn sàng từ bỏ dòng họ chọn tình yêu, chàng sợ mất Giu-li-et

    → Cả hai đều hiểu, và nói tới thù hận để cùng vượt lên rào cản, xây dựng tình yêu

    Câu 3 (trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Diễn biến tâm trạng của Ro-me-o với hình thức so sánh liên tưởng

    + Thiên nhiên được nhìn qua điểm nhìn của người đang yêu vì thế thiên nhiên như cộng hưởng, trân quý.

    + Tâm trạng yêu thương nồng cháy, đam mê, ngỡ như không có gì ngăn cản được Ro-me-o trèo tường đến bên dưới phòng ngủ của Giu-li-et

    + Mạch suy nghĩ của chàng hướng tới đôi mắt lên tiếng, đôi môi lấp lánh của người yeu

    + Khát vọng yêu đương mãnh liệt

    → Cảm xúc Ro-me-o là sự lãng mạn và cháy bỏng của người đang yêu và được yêu

    Câu 4 (Trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tâm trạng Giu-li-et:

    + Thông qua lời độc thoại nội tâm

    + Nàng bộc lộ nỗi lòng của mình “hãy thề yêu em đi”, “chỉ có dòng họ chàng là thù địch của em”

    + Tình yêu thể hiện mãnh liệt, không giấu diếm

    + Nàng đối đáp với Ro-me-o chắc chắn tin vào tình yêu của chàng dành cho mình

    + Nỗi lo lắng giằng xé tâm can Giu-li-et

    + Chấp nhận tình yêu và hướng về Ro-me-o

    → Ngôn ngữ sống động đầy chất thơ, nhà văn thể hiện được diễn biến nội tâm phức tạp của người đang yêu

    Tình yêu mãnh liệt trong trắng vượt lên sự thù hận truyền kiếp của hai dòng họ

    Câu 5 (Trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tình yêu và thù hận được giải quyết trong mười sáu lời thoại:

    Vấn đề thù hận: thù hận không xuất hiện như một thế lực cản trở tình yêu, thù hận chỉ thể hiện qua dòng suy nghĩ các nhân vật, song đó không phải động lực chi phối hành động của nhân vật

    – Tình yêu của hai người vượt qua từ lời thoại 13- 15 trong đoạn trích

    → Tình yêu diễn ra trên cái nền thù hận, thù hận bị đẫy lũi chỉ còn tình đời, tình người bao la, giàu tư tưởng nhân văn

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 201 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Tình yêu và thù hận “ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người”

    Tác giả thể hiện diễn biến tâm trạng, nỗi lòng bồi hồi yêu thương của hai nhân vật Romeo và Juliet tài tình qua dòng độc thoại nội tâm và đối thoại

    + Tác giả muốn khẳng định tình yêu là thứ tình cảm tốt đẹp, kì diệu của con người, là tình cảm thiêng liêng, thể hiện con người và tâm hồn con người một cách chính xác

    + Ca ngợi tình yêu chân chính có thể vượt qua mọi rào cản, thù hận

  • Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-V%C4%83n-B%C3%A0i-V%C4%A9nh-Bi%E1%BB%87t-C%E1%BB%ADu-Tr%C3%B9ng-%C4%90%C3%A0i-Nguy%E1%BB%85n-Huy-T%C6%B0%E1%BB%9Fng.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Văn Bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

    Câu 1 (trang 193 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Mâu thuẫn thứ nhất: giữa phe nổi loạn với phe Lê Tương Dực:

    + Phe nổi loạn: dân chúng, thợ xây Cửu Trùng Đài

    + Phe đối lập trong triều đứng đầu là Trịnh Duy Sản

    + Đỉnh điểm mâu thuẫn trong hồi V được giải quyết.

    + Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và phá bỏ Cửu trùng đài

    – Mâu thuẫn thứ hai: mâu thuẫn quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần thúy muôn đời và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân

    + Mâu thuẫn này có nguồn gốc từ nguyên nhân sâu xa: người chiến sĩ thiên tài có khát vọng, hoài bão muốn mang cái đẹp đến cho đời, làm dân tộc tự hào vì trong một xã hội thối nát, người dân đói khổ triền miên trong lầm than

    + Hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thực hiện điều đó

    + Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm mượn uy quyền, tiền bạc của hôn quan Lê Tương Dực để thực hiện khát vọng xây dựng công trình nguy nga

    + Niềm khao khát sáng tạo, cống hiến lại đối nghịch với thực trạng lợi ích và mong muốn của nhân dân.

    → Các mâu thuẫn cơ bản trên tác động qua lại, có quan hệ mật thiết với nhau

    Câu 2 (Trang 193 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tính cách và diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô

    – Vũ Như Tô là kiến trúc sư thiên tài, hiện thân cho niềm khao khát, say mê và kiến tạo cái đẹp

    + Tài năng được thể hiện qua lời nhân vật khác nhận xét về ông: ngàn năm chưa dễ có một

    + Chỉ vẩy bút chim hoa hiện lên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công, sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân

    + Có thể dựng lâu đài cao cả, nóc vờn mây…

    – Là nghệ sĩ có nhân cách cao cả, chí lớn, có lý tưởng nghệ thuật

    + Dù bị dọa giết nhưng Vũ Như Tô vẫn vạch trần bộ mặt hôn quân của Lê Tương Dực và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài

    + Ông không phải người hám lợi

    + Ông có lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô chân chính, cao siêu

    + Nhưng ông không nhìn vào thực tế rằng Cửu Trùng Đài được xây bằng xương máu, nước mắt của nhân dân

    → Vũ Như Tô là nhân vật bi kịch, say mê khát vọng nhưng mâu thuẫn với hiện thực, suy nghĩ và hành động của ông có sự sai lầm

    – Đan Thiềm là người mê cái đẹp.

    + Bệnh Đan Thiềm là bệnh của người mê cái đẹp, sự siêu việt của người sáng tạo nghệ thuật và sáng tạo ra cái đẹp

    + Vì đam mê tài năng và cái đẹp mà nàng luôn động viên Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, sẵn sàng hi sinh bản thân mình để bảo vệ cái tài ấy

    + Đan Thiềm là người tri âm, tri kỉ của Vũ Như Tô

    + Đan Thiềm tỉnh táo, sáng xuất trong mọi trường hợp: biết chắc chắn việc xây Cửu Trùng Đài không thành nên Đan Thiềm nhiều lần giục Vũ Như Tô chạy trốn

    + Nàng sẵn sàng đổi mạng sống lấy sự an toàn của Vũ Như Tô

    → Đoạn trích cho thấy bi kịch của các nhân vật, qua đó làm nổi bật chủ đề tác phẩm.

    Câu 3 (trang 193 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn hôn quân bạo chúa cùng phe cánh của chúng được giải quyết triệt để theo quan niệm của nhân dân:

    + Lê Tương Dực bị giết, Nguyễn Vũ – tự sát, đám cung nữ kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ

    – Mâu thuẫn thứ hai quan điểm nghệ thuật cao siêu, thuần túy với lợi ích của nhân dân chưa được tác giả giải quyết triệt để:

    + Vũ Như Tô tới lúc chết cũng không nhận ra lỗi lầm của mình

    + Vũ Như Tô không đứng về phía hôn quân, nhưng lại muốn lợi dụng quyền uy, tiền bạc của hắn để thực hiện ước mơ của mình

    – Những câu hỏi không có đáp án:

    + Vũ Như Tô có công hay tội, ông đúng hay người giết ông đúng

    – Tác giả thể hiện tâm tư qua lời đề từ, cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm, điều này là cách lí giải hợp lí

    Câu 4 (trang 193 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Đặc sắc về nghệ thuật của vở kịch:

    – Thuộc thể loại bi kịch, tạo dựng được mâu thuẫn, nhưng không thể giải quyết được hết mâu thuẫn

    + Nhân vật anh hùng có khao khát lớn lao

    – Mâu thuẫn kịch tập trung dẫn tới cao trào, hành động kịch đẩy lên kịch tính

    – Ngôn ngữ điêu luyện, có tính tổng hợp cao

    – Xây dựng nhân vật kịch đặc sắc, có tính cách, tâm trạng thông qua ngôn ngữ

    – Cách chuyển hóa linh hoạt các lớp kịch tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.

    Luyện tập

    Phần đề từ của tác giả viết vào 6/2/ 1942 sau một năm viết xong tác phẩm

    Qua phần đề từ ta hiểu được những chân thành, sự băn khoăn của chính tác giả “Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô?

    – Chính ông cũng thú nhận “ta chẳng biết” nghĩa là không có lời giải đáp thỏa đáng. Qua vở kịch có thể nhận thấy lẽ phải, chân lí không thuộc hoàn toàn vào bên nào.

  • Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Soạn Bài Vi Hành (Nguyễn Ái Quốc)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-V%C4%83n-B%C3%A0i-Tinh-Th%E1%BA%A7n-Th%E1%BB%83-D%E1%BB%A5c-Nguy%E1%BB%85n-C%C3%B4ng-Hoan.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Văn Bài Tinh Thần Thể Dục (Nguyễn Công Hoan)

    Câu 1 (trang 177 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    – Bố cục của văn bản có nét đặc biệt:

    + Phần 1 (từ đầu.. Lê Thăng): lệnh của quan trên qua trát quan tới làng

    + Phần 2 (tiếp… “vâng”): Những người bị bắt đi xem bóng van xin ông lí

    + Phần 3 (còn lại): Cảnh lùng sục, bắt người đi xem thể thao

    – Cách dựng tình huống và cốt truyện thể hiện được mâu thuẫn, tính trào phúng giữa nội dung và hình thức của phong trào thể dục thể thao do Pháp đề ra

    + Sự thúc ép, bắt bớ, hành hạ nhân dân để làm vừa lòng bọn thực dân

    + Xem bóng không trên tinh thần tự nguyện, mà bị bắt như tù binh

    + Bọn hương lí thừa cơ bòn rút, bóc lột tiền của của nhân dân

    + Tinh thần thể dục diễn ra trong cảnh tượng lộn xộn, nhố nhăng của xã hội thối nát với nhiều bi kịch

    → Tác giả muốn người đọc thấy cảnh đời éo le, số phận đáng thương của con người sống trong xã hội nực cười đó.

    Câu 2 (trang 177 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Mâu thuẫn trào phúng:

    + Mẫu thuẫn giữa chính quyền với người dân nghèo

    + Sự khuếch trương của quan lại thực dân phong kiến với mong muốn ở nhà lao động của người dân

    + Sự lùng sự ráo diết của thực dân >< sự trốn tránh đến cực nhục của người dân

    → Mâu thuẫn tạo ra sự hài hước, bộc lộ bản chất xảo trá, dã man của xã hội thực dân phong kiến

    Mâu thuẫn của các cảnh:

    – Anh Mịch thảm thiết lạy xin được ông Lí tha cho để đi làm trừ nợ cho ông Nghị nhưng không được chấp nhận

    Đáp lại là sự dọa dẫm, vô tình của ông Lí

    – Lệnh nghiêm ngặt oái oăm từ quan trên kéo theo sự khốn khổ của dân quê. Tinh thần thể dục vui vẻ tới mức nhiều người khốn khổ vì nó.

    – Bác Phô gái xin ông Lí tha cho chồng vì chồng còn đang ốm, nhưng đáp lại ông Lí “ ốm gần chết cũng phải đi… lấy cớ ốm yếu mà không đi thì người ta đá bóng cho chó xem à.”

    – Bà cụ Phó Bính hối cho quan ba hào bỏ túi, khiến cho bọn như ông Lí được dịp “đục nước béo cò”

    – Thằng Cò ốm trốn trong đống rơm cũng bị lôi ra với tình cảnh thảm thương, mai mất buổi làm thì tôi với cháu nhịn đói

    → Tất cả hoàn cảnh éo le, dở khóc dở cười tạo ra tiếng cười mỉa mai bọn chính quyền thực dân, phong kiến và tay sai. Nhà văn cảm thông với những người dân nghèo- nạn nhân của tinh thần thể dục lố bịch của bọn xâm lược

    Câu 3 (Trang 177 sgk ngữ văn 11 tập 1):

    Ý nghĩa phê phán:

    Xuất phát từ mâu thuẫn giữa việc phải đi cổ vũ cho “tinh thần thể dục” giả tạo với thái độ chống trả quyết liệt của người dân làm nổi bật tiếng cười hài hước, châm biếm bản chất giả tạo, bịp bợm, lố lăng của chính quyền thực dân phong kiến.

    Truyện lột trần được bản chất, âm mưu của thực dân khi chúng bày ra “phong trào thể thao”, “sức khỏe nòi giống” thực chất đánh lạc hướng tinh thần cứu nước.