Category: Ôn Thi Đại Học

Tổng hợp kiến thức ôn thi vào đại học

  • NHỮNG BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN

    NHỮNG BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN

    NHỮNG BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NHỮNG BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/NH%E1%BB%AENG-B%C3%80I-V%C4%82N-M%E1%BA%AAU-PH%C3%82N-T%C3%8DCH-B%C3%80I-TH%C6%A0-TR%C3%80NG-GIANG-C%E1%BB%A6A-HUY-C%E1%BA%ACN.pdf[/pdfviewer]

    NHỮNG BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN

    Mẫu 1

    Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: “Lửa thiêng”, “Vũ trụ ca”, Kinh cầu tự”. Nhưng sau Cách mạng tháng Tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: “Trời mỗi ngày lại sáng”, “Đất nở hoa”, “Bài thơ cuộc đời”… Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ “Tràng Giang”. Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Bài thơ được trích từ tập “Lửa thiêng”, được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc.

    Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài

    Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp

    ….

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

    Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. “Tràng giang” là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm “ang” đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ “tràng giang” mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng.

    Tứ thơ “Tràng giang” mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại.

    Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài”. Trước cảnh “trời rộng”, “sông dài” sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm “bâng khuâng” và nhớ. Từ láy “bâng khuâng” được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và con “sông dài”, nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc.

    Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế:

    Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

    Con thuyền xuôi mái nước song song.

    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

    Củi một cành khô lạc mấy dòng.

    Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng “điệp điệp”, nước “song song” ấy là một “con thuyền xuôi mái”, lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng “tràng giang” dài và rộng bao la không biết đến nhường nào.

    Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng

    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

    Củi một cành khô lạc mấy dòng.

    Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách “thuyền về nước lại”, nghe sao đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi “sầu trăm ngả”. Từ chỉ số nhiều “trăm” hô ứng cùng từ chỉ số “mấy” đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn.

    Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: “Củi một càng khô lạc mấy dòng”. Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. “Một” gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, “cành khô” gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, “lạc” mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên “mấy dòng” nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi.

    Nét đẹp cổ điển “tả cảnh ngụ tình” thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói “Củi một cành khô” thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng.

    Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:

    Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

    Hai từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. “Lơ thơ” gợi sự ít ỏi, bé nhỏ “đìu hiu” lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh “cồn nhỏ”, gió thì “đìu hiu”, một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi “đâu” như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là “đâu có”, một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên.

    Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:

    “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

    “Nắng xuống, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. “sâu chót vót” là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với “sông dài, trời rộng”, còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: “bến cô liêu”.

    Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với “vãn chợ chiều”, mọi thứ đã tan rã, chia lìa.

    Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:

    Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,

    Mênh mông không một chuyến đò ngang.

    Không cần gợi chút niềm thân mật,

    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

    Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là “hàng nối hàng”. Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là “bờ xanh tiếp bãi vàng” như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết:

    Mênh mông không một chuyến đò ngang

    Không cầu gợi chút niềm thân mật.

    Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. “…không…không” để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.

    Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

    Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

    Bút pháp chấm phá với “mây cao đùn núi bạc” thành “lớp lớp” đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:

    Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

    Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.

    Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng “cánh chim” và “bóng chiều”, vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.

    Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

    Lòng quê dợn dợn vời con nước,

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

    “Dợn dợn” là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước.

    Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” của Thôi Hiệu. Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đã sâu sắc lắm rồi. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay.

    Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim… Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường.

    Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như “sâu chót vót”, dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được.

    Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

     

     

    Mẫu 2:

    Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới (1930-1945) với những tác phẩm có sự kết hợp giữ yếu tố hiện đại và cổ điển. Phong cách sáng tác của ông có sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời điểm: trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Có thể nói đó là sự chuyển biến từ nỗi u sầu, buồn bã vì thời thế trước cách mạng cho đến không khí hào hứng vui tươi sau cách mạng gắn với công cuộc đổi mới. Bài thơ “Tràng giang” được viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh. Bài thơi để lại trong long người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.

    Ngay từ nhan đề bài thơ, tác giả đã có thể khái quát được tư tưởng và cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Hai chữ “Tràng giang” có thể nói là một con sông dài, mênh mông và bát ngát. Từ Hán việt này khiến người ta liên tưởng đến những bài thơ Đường của Trung quốc. Nhưng chính tràng giang này cũng gợi lên được tâm tư của người trong cuộc khi muốn nhắc tới những thân phận nổi trôi, bé nhỏ sống lênh đênh trên con sông dài tâm tưởng và sông của nỗi u uất như thế.

    Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” một lần nữa khái quát nên chủ đề của bài thơ chính là nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai khi đứng giữa trời đất mênh mông và bao la. Cả bài thơ toát lên được vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ điển, cũng là đặc trưng trong thơ của Huy Cận.

    Bước vào bài thơ, khổ thơ đầu tiên đã khiến người đọc liên tưởng đến một con sông chất chứa bao nỗi buồn sâu thẳm:

    Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

    Con thuyền xuôi mái nước song song

    Thuyền về nước lại sầu tram ngả

    Củi một cành khô lạc mấy dòng

    Với một loạt từ ngữ gợi buồn thê lương “buồn”, “xuôi mái”, “sầu tram ngả”, lạc mấy dòng” kết hợp với từ láy “điệp điệp”, “song song” dường như đã lột tả hết thần thái và nỗi buồn vô biên, vô tận của tác giả trong thời thế nhiều bất công như thế này. Ngay khổ thơ đầu, nét chấm phá của cổ điển đã hòa lẫn với nét hiện đại. Tác giả đã mượn hình ảnh con thuyền xuôi mái và hơn hết là hình ảnh “củi khô” trôi một mình, đơn lẻ trên dòng nước mênh mông, vô tận, vô đinh. Sức gợi tả của câu thơ thực sự đầy ám ảnh, môt con sông dài, một con sông mang nét đẹp u buồn, trầm tĩnh càng khiến người đọc thấy buồn và thê lương. Vốn dĩ thuyền và nước là hai thứ không thể tách rời nhau nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lại sầu tram ngả”, liệu rằng có uẩn khúc gì chăng, hay là sự chia lìa không báo trước, nghe xót xa và nghe quạnh long hiu hắt quá. Một nỗi buồn đến tận cùng, mênh mang cùng sông nước dập dềnh. Điểm nhấn của khổ thơ chính là ở câu thơ cuối với hình ảnh “củi” gợi lên sự đơn chiếc, bé nhỏ, mỏng manh, trôi dạt khắp nơi. Có thể nói câu thơ đã nói lên được tâm trạng của các nhà thơ mới nói chung ở thời kỳ đó, một kiếp người đa tài nhưng vẫn long đong, loay hoay giữa cuộc sống bộn bề chật chội như thế này.

    Đến khổ thơ thứ hai dường như nỗi hiu quạnh lại được tăng lên gấp bộ:

    Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

    Nắng xuống trời lên sâu chót vót

    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

    Hai câu thơ đầu phảng phất một khung cành buồn thiu, đìu hiu và vắng lặng của một làng quê thiếu sức sống. Đó có phải là quê hương của tác giả hay không. Hình ảnh “cồn nhỏ” nghe rất rõ tiếng gió đìu hiu đến tái lòng ở ven dòng sông dường như khoác lên mình một nỗi buồn mặc định. Ngay cả một tiếng ồn ào của phiên chợ chiều ở nơi xa cũng không thể nghe thấy, hay có chăng phiên chợ ấy cũng buồn đến hiu quạnh như thế này. Một câu hỏi tu từ gợi lên bao nỗi niềm chất chứa, hỏi người hay là tác giả đang tự hỏi bản thân mình. Từ “đâu” cất lên thật thê lương và không điểm tựa để bấu víu. Khung cảnh hoang sơ, tiêu điều nơi bến nước không có một bóng người, không có một tiếng động thật chua xót. Hai câu thơ cuối tác giả mượn hình ảnh trời và sông để đặc tả sự mênh mông vô đinh.Không phải trời “cao” mà là trời “sâu”, lấy chiều cao để đo chiều sâu thực sự là nét tài tình, tinh tế và độc đáo của Huy Cận. Hình ảnh sông nước mênh mông và một chữ “cô liêu” ở cuối đoạn dường như đã lột tả hết  nỗi buồn sâu thẳm không biết ngỏ cùng ai ấy. Ở khổ thơ thứ ba, tác giả muốn tìm thấy sự ấm áp nơi thiên nhiên hiu quạnh này nhưng dường như thiên nhiêu không như long người mong ngóng:

    Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

    Mênh mông không một chuyến đò ngang

    Không cầu gợi chút niềm thương nhớ

    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

    Sang khổ thơ thứ 3 dường như người đọc nhận ra một sự chuyển biến, sự vận động của thiên nhiên, không còn u buồn và tĩnh lặng đến thê lương như ở khổ thơ thứ hai nữa. Từ “dạt” đã diễn  tả thật tinh tế sự chuyển biến của vạn vật này. Tuy nhiên từ ngữ này gắn liền với hình ảnh “bèo” lại khiến cho tác giả thất vọng vì “bèo” vốn vô đinh, trôi nổi khắp nơi, không có nơi bấu víu cứ lặng lẽ dạt “về đâu”, chẳng biết dạt về đâu, cũng chẳng biết dạt được bao nhiêu lâu nữa. Mặt nước mênh mông không có một chuyến đò. Tác giả chỉ đợi chờ một chuyến đò để thấy được rằng sự sống đang tồn tại nhưng dường như điều này là không thể.

    Mong ngóng gửi niềm thương nỗi nhớ về quê hương nhưng tác giả nhận lại là sự im lặng của vạn vật quanh đây qua từ láy “lặng lẽ” đến thê lương và đìu hiu, ở khổ thơ cuối dường như bút pháp của tác giả được đẩy lên cao nhất, nét vẽ chấm phá dung rất đắc điệu:

    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

    Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

    Lòng quê dợn dợn vời con nước

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

    Có thể nói tư tưởng cũng như tâm tình của nhà thơ được gửi gắm qua khổ thơ này. Nét chấm phá “mây cao” và “núi bạc” giống như trong thơ Đường càng them sầu, them buồn hơn. Hình ảnh “chim nghiêng cánh” và “bóng chiều sa” là sự hữu hình hóa cái vô hình của tác giả. Bóng chiều làm sao có thể nhìn thấy được nhưng qua ngòi bút và con mắt của tác giả người ta đã hình dung ra được trời chiều đang dần buông xuống.

    Hai câu thơ cuối cùng chính là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả chẳng biết gủi vào đâu, chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim. Câu thơ của HUy Cận khiến chúng ta liên tưởng đến tứ thơ của Thôi HIệu:

    Trên sông khói sóng cho buồn long ai

    Là sóng của sông hay là sóng trong long người

    Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cổ điển đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận.

    Mẫu 3:

    Tràng Giang không chỉ là một bài thơ hay của Huy Cận mà con là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Đôi khi người ta thường hiểu Tràng Giang là một bài ihơ miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, nhưng đúng hơn đây là bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người ngay giữa quê hương mình.

    Tràng Giang in trong tập Lửa thiêng của Huy Cận, xuất bản năm 1940. Đúng như nhà thơ Huy Cận từng nói, bài thơ này được sông Hồng, quãng Chèm Vẽ và những con sông khác gợi tứ. nhưng nó là bài thơ nói về nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra, nên như kéo dài triền miên.

    Trước hết ta chú ý đầu đề bài thơ là Tràng giang chứ không phải “Trường giang”, để ta không lầm với sông Trường Giang (Trung Quốc), hay con sông dài nói chung. Trong Tiếng Việt “tràng giang” thường nằm trong thành ngữ “tràng giang đại hải”, chỉ một hiện tượng mênh mông bất tận mà trống rỗng khiến người ta chán chường.

    Mở đầu bài thơ đúng là một cảnh sông nước mênh mông bất tận:

    Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

    Con thuyền xuôi mái nước song song

    Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả    

    Củi một cành khô lạc mấy dòng.      

    Ngay câu đầu bài thơ không chỉ nói sông, mà nói buồn, nói về một nỗi buồn bất tận, bằng một hình ảnh ẩn dụ: sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, như nỗi buồn trùng trùng điệp điệp. Giữa tràng giang mà điểm nhìn nhà thơ tụ vào con sóng nhỏ, tuy rất nhiều, nhưng hiện ra rồi tan, muôn thuở. Con thuyền thường là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định, ở đây con thuyền buông mái chèo xuôi dòng nước, nhưng thuyền và nước chỉ “song song” với nhau chứ không gắn bó với nhau, bởi nước xuôi trăm ngả, thuyền theo ngả nào? Thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng. Câu thứ ba đã nói tới sự chia li. “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Thuyền buồn vì phải rẽ dòng. Nước buồn như không biết trôi về đâu. Câu cuối đoạn này càng thể hiện tập trung cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng, vô định: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Cái nhìn của nhà thơ vẫn tập trung vào các vật nhỏ: sóng, thuyền, củi khô.

    Tác giả lưu ý, không phải là cây gỗ, mà chỉ là “củi một cành khô”, một mảnh rơi gẫy, khô xác của thân cây.

    Cả khổ thơ đầu đã vẽ lên một không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Những đường nét: nước song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tan, xa vời. Trên con sông đó một con thuyền, một nhánh củi lênh đênh càng tỏ ra nhỏ nhoi, bất lực. Ở đây không chỉ thuyền buồn, cành củi khô buồn, mà cả sóng gợn, sông nước đều buồn.

    Khổ thứ hai tiếp tục cái mạch thơ khổ đầu:

    Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu         

    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều    

    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

    Một cái cồn nhỏ (lại nhỏ!) lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu, càng thêm vắng vẻ buồn bã hơn, như bị cuộc sống bỏ quên. Huy Cận nói, ông đã học được từ “đìu hiu” trong câu thơ Chinh phụ ngâm “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” cũng nói về cảnh vắng vẻ, không người. Âm thanh của cuộc sống náo động của các phiên chợ, của làng quê nghe rất xa vắng, chợ chiều làng xa mà lại đã càng tăng thêm cảm giác bị bỏ quên ở đây. Hai dòng cuối càng tô đậm thêm cảm giác lạc lõng: nắng xuống, trời lên không chỉ gợi ra khung cảnh nắng chiều mà bản thân hai hướng lên xuống như không ăn nhập với nhau, và sông dài, trời rộng càng tăng thêm cái vắng vẻ của bến sông. Cô liêu là vắng vẻ. Trong hai dòng này nhà thơ đã đem đặt bên nhau những yếu tố vốn không có gì là buồn để tạo nên một cảnh buồn. Giữa các yếu tố đó đều có đặt dấu phảy (,).

    loading…

    Khổ thơ thứ ba vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về sự hờ hững, mất hết liên lạc giữa các sự vật. Con mắt nhà thơ nhìn vào bèo, những sinh thể nhỏ nhoi, yếu đuối giữa mặt nước mênh mông.

    Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng            

    Mênh mông không một chuyến đò ngang

    Không cầu gợi chút niềm thân mật        

    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.             

    Vẫn các sự vật đặt bên nhau: bèo hàng nối hàng, bờ xanh tiếp bãi vàng hai bờ sông mênh mông không cầu, không đò ngang, tạo thành một thế giới không liên hệ . Từ sóng, thuyền, củi, dòng trôi, đến cồn nhỏ, làng xa chợ chiều, rồi nắng xuống, trời lên, sông dài, trời rộng, bến vắng… mọi vật có, nhưng không vật nào có ý tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau.

    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc             

    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

    Lòng quê dợn dợn vời con nước         

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.  

    Lớp lớp mây cao đùn ra thành từng núi bạc. Chữ “đùn” mượn từ thơ cổ của Đỗ Phủ, nói rằng mây trồi ra, lừng lững như núi trên trời có một vẻ đe doạ. Cánh chim bé nhỏ (lại bé nhỏ!) nghiêng nghiêng về tổ ấm được cảm nhận như chịu sức nặng của bóng chiều đè xuống. Bóng chiều mông lung bỗng trở thành hình có khối như có thể cảm nhận được bằng đôi cánh nhỏ. Và cánh chim bay đi đâu cho thoát khỏi cái bóng chiều đang đè nặng xuống mình?.

    Lòng quê là lòng nhớ quê hương, lấy từ hai chữ hương tâm, chứ không phải tấm lòng chất phác, quê mùa. Dợn là gợi lên, như ta nói sóng dợn chỉ một chất lỏng xao động chuyển động dâng lên, uốn xuống. Dợn dợn là thấp, ý nói hô ứng với mấy chữ “sóng gợn”, “điệp điệp” ở dòng đầu bài thơ. Chính vì vậy mà nhà thơ phiền lòng khi thấy người ta đọc chệch thành dờn dợn hay rờn rợn làm mất nghĩa câu thơ.

    Cả câu này có nghĩa là lòng nhớ quê hương dâng mãi lên khi phóng tầm mắt nhìn con nước. Chữ vời, cũng hay, ta cảm thấy như gặp ý câu Kiều:

    Bốn phương mây trắng một màu 

    Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?

    Lòng nhớ quê được gợi lên từ mây trắng, từ cánh chim chiều, nhưng mạnh hơn là từ con nước. Và nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Viết về câu thơ này chứng tỏ Huy Cận đã biết có câu thơ Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu do Tản Đà địch: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Nhà thơ dựa ý thơ Thôi Hiệu để nói ý mình.

    Nhiều người, kể cả nhà thơ, khi đọc đến câu này đều nói rằng Huv Cận buồn hơn Thôi Hiệu, bởi Thôi Hiệu trông “khói sóng” mới nhớ nhà, còn Huy Cận thì ngược lại, “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Thực ra, ai buồn hơn ai làm sao mà xác định được. Điều quan trọng là Huy Cận có một ý thơ khác. Xưa Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mờ mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi lên cảnh mù mịt mà sầu. Nay Huy Cận buồn trước không gian hoang vắng, sóng gợn tràng giang khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp. Xưa Thôi Hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thấy hư vô, lòng khát khao một cõi quê hương thực tại. Nay Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, dợn lên nỗi khát khao quê nhà ấm áp. Một đằng là ý thức về thực tại, một đằng là ý thức về tình người.

    Tràng giang là một bài thơ buồn, dòng nào cũng buồn. Cái buồn toát ra từ những vật bé mọn, như những kiếp người cô đơn, lạc lõng giữa không gian bao la. Nhưng Tràng giang là một bài thơ vẽ lên một phong cảnh đẹp, giàu màu sắc (núi bạc, bờ xanh, bãi vàng), nhiều đường nét hùng vĩ, mở ra vô tận (buồn điệp điệp, sâu chót vót, sông dài, trời rộng…), nhiều tương phản, nhiều động từ chỉ sức sống rộn ràng: sóng gợn, mây đùn, thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên… Cái buồn của bài thơ rõ ràng không phải do cảnh vật tàn phai, không gian chật hẹp tù túng mọi vật chết chóc, ngưng đọng. Cái buồn như toát ra từ cấu tạo của thế giới, từ cái đẹp thiếu tình người, từ một sự mất mát các mối liên hệ có tính phổ quát gây nên. Một cái buồn đậm màu triết lí. Nỗi buồn này cũng phản ánh sự đổi thay của đờí sống xã hội: xã hội cộng đồng truyền thống với vô vàn mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào một xã hội đô thị với những cái tôi rời rạc, bơ vơ.

  • Văn Mẫu Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Văn Mẫu Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Văn Mẫu Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-b%C3%A0i-th%C6%A1-Chi%E1%BB%81u-t%E1%BB%91i-c%E1%BB%A7a-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    BÀI VĂN MẪU LỚP 11

    Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Bị bắt tở Túc Vinh, Bác Hồ bị đưa đến nhà giam huyện Tĩnh Tây. Sau 42 ngày đêm bị hành hạ khốn khổ ở đây mà không được xét xử gì, đúng ngày “song thập” – quốc khánh nước Trung Hoa thời Quốc dân đảng – Bác bị chúng giải đi Thiên Bảo. Trong chặng đường từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, Bác làm 5 bài thơ, 5 lần ghi nhật kí. Qua những dòng “nhật kí” – thơ đó, có thể hình dung khá cụ thể tình cảnh của Người trong chuyến đi này. Bài thứ nhất Tầu lộ (Đi đường) cho biết đây là đường núi cheo leo vất vả, cứ đi qua hết dãy núi này lại tiếp những dãy núi khác. Vậy mà mỗi ngày Bác phải đi đến năm chục cây số “trèo núi qua truông”, “dầm mưa dãi nắng” như Trần Dân Tiên đã kể. Tối đến, dừng lại trong nhà giam xã nào đó thì cái đêm “nghỉ ngơi” sau một ngày hành trình gian khổ ấy mới hảm hại. Cái “đêm ngủ ở Long Tuyền” hai chân Bác bị cùm chéo lại còn bị rét, rệp “giáp kích” suốt đêm. Đêm đầu tiên đến Thiên Bảo cũng khổ không kém. Sau một ngày đi bộ năm mươi ba cây số “áo mũ dầm mưa rách hết giày” đến nơi nghỉ thì cái nhà lao tương đối lớn mà Bác phải đi mấy ngày trời mới tới này không có được một chỗ ngủ yên cho người tù và Người đã phải “Ngồi trên hố xí đợi ngày mai”!

    Mộ (chiều tối) là bai thơ thứ ba trong chùm thơ 5 bài sáng tác trong chặng đường Bác bị giải từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Khác những bài kia, Mộ không kể chi những nỗi dọc đường mà là một bài thơ tức cảnh, một bức tranh chấm phá về thiên nhiên Bác gặp trên đường đi: nhan đề bài thơ đã thuyết minh thời điểm sáng tác, cái thời điểm nhà thơ cảm nhận thế giới xung quanh, nảy ra thi hứng. Đó là lúc “chiều tối”, đã suốt ngày “tay bị trói”, “cổ đeo xích”, bị giải đi “qua núi qua truông”…mà vẫn chưa được nghỉ. Và khi nghỉ đêm thì chắc chắn cũng tay trói chân cùm trong xà lim, trên rạ bẩn với muỗi rệp…Tức là, ở thời điểm “Chiều tối” ấy, những đày đọa ban ngày cũng chưa qua và những đày đọa ban đêm sắp tới.

    I. Phân tích

    Bài thơ tứ tuyệt, như tên gọi, là một bức tranh vẽ cảnh chiều tối, một cảnh tối vùng núi. Bố cục bài thơ cũng là bố cục bức tranh, một bố cục có tính chất cổ điển: hai câu đầu là mấy nét chấm phá dựng nên bức phông lớn làm nền cho cảnh chiều, hai câu sau là những nét đậm nổi bật lên trên bình diện thứ nhất, là trung tâm của bức tranh.

    1.Hai câu đầu

    Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

    Cô vân mạn mạn độ thiên không.

    Trong thơ, trong tranh xưa, và nói chung, trong thế giới thẩm mĩ cổ điển phương Đông, hình ảnh cánh chim bay về rừng đã ít nhiều có ý nghĩa biểu tượng, ước lệ diễn tả cảnh chiều. “Phi yến thu tâm”, “quyện điểu quy lâm”, những nhóm từ ấy thường gặp trong thơ chữ Hán. “Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao), “Chim hôm thoi thóp về rừng” (Truyện Kiều), “Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan)…và bao nhiêu nữa, những câu thơ tiếng Việt xưa có cánh chim chiều. Dường như không có nét vờn vẽ mấy cánh chim xa xa, bức tranh chưa rõ là cảnh chiều. Thi sĩ Huy Cận, với cái nhìn rất thi sĩ cảm thấy bóng chiều tà như sa xuống từ cánh chim bay xa dần về phía chân trời và đã viết một câu thơ thật hay:

    Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

    Bài thơ của Bác Hồ mở đầu bằng cánh chim lấy từ thế giới nghệ thuật cổ điển phương Đông đó và chỉ với câu đầu, cái phong vị, cái không khí cổ thi đã khá rõ.

    Câu thứ hai “Cô vân mạn mạn độ thiên không” được dịch thành thơ: “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Như vậy là bỏ đi chữ “cô” không dịch, còn hai chữ điệp âm mạn mạn thì dịch là nhẹ. Về chữ “cô”, trong tiếng Việt, từ gốc Hán này thường kết hợp với một tiếng khác thành một từ mới mà ý nghĩa “lẻ loi cô độc” có phần đậm hơn vì nó đứng trong hệ thống từ vựng Hán ngữ: cô độc, cô đơn, cô quả, cô quạnh, thân cô thế cô…Do đó, “cô vân” chỉ dịch là “chòm mây” theo chúng tôi là hợp lí. Không nên làm đậm thêm ý lẻ loi cô độc của chữ “cô” vốn không có gì đậm trong câu thơ chữ Hán của Bác. Đáng tiếc ít nhiều chăng là ở chỗ này, “cô” là chữ được sử dụng đậm đặc trong thơ Đường và mang dấu ấn thơ Đường rất rõ, bỏ đi sẽ không khỏi làm nhạt đi chút sắc màu Đường của bài thơ. Bỏ đi hai chữ láy âm “mạn mạn” cũng có cái thiệt thòi ấy. “Mạn mạn” là một trong rất ít những từ láy âm đặc biệt thường xuất hiện với mật độ cao trong thơ Đường, cũng như du du, xứ xứ, mang mang…và mỗi từ ấy có một sắc thái ý nghĩa riêng chỉ có trong thơ Đường. Cho nên, có nhà nghiên cứu bảo rằng, chúng năm trong hệ từ vựng khép kín của Đường thi (Đọc Ngục trung nhật kí – Học tập phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhữ Thành). Thỉnh thoảng ta gặp du du, mạn mạn…trong thơ chữ Hán của Bác Hồ và đó là một dấu hiệu rõ rệt của chất Đường thi trong thơ của Bác. Câu thơ dịch không thể giữ lại được những từ ngữ có giá trị đánh dấu ấy cử thơ Đường khiến cho màu sắc Đường ít nhiều giảm đi trong bản dịch, song điều đó khó tránh được trong việc dịch thơ.

    Một đặc điểm quan trọng trong cấu trúc nghệ thuật thơ Đường mà nhà nghiên cứu gọi là mã nghệ thuật của nó là “quy sự vật ra thành một quan hệ xây dựng trên sự thống nhất lại bằng tư duy nhìn hiện tượng xét bên ngoài, về mặt giác quan, là mâu thuẫn” (thi (Đọc Ngục trung nhật kí – Học tập phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhữ Thành). Cho nên, thi nhân đời Đường thường lấy động tả tĩnh, lấy chậm tả nhanh, dùng điểm vễ diện, mượn sáng nói tối…Điều đó không chỉ thuộc về biện pháp thể hiện, bút pháp nghệ thuật mà còn như là thuộc về phương thức nghệ thuật, về tư duy thẩm mĩ, có cơ sở tiến triết học, lịch sử, xã hội của nó. Nói thơ Bác nhiều bài có dáng dấp thơ Đường, trước hết là ở chỗ này mà câu thơ đang nói đây là một biểu hiện rõ nhất.

    Bác cảm nghe cái không gian bao la yên tĩnh của cảnh chiều muộn nơi rừng núi diễn tả cái bao la yên tĩnh đó bằng hình ảnh chòm mây mọt mình đang chầm chậm trôi lờ lững ngang qua bầu trời. Bầu trời chiều phải thoáng đãng, cao rộng, phải trong trẻo và yên tĩnh đến thế nào thì mới làm nổi bật lên hình ảnh chòm mây lẻ loi lưng trời, và mới thấy được nó đang trôi chầm chậm (mạn mạn) ngang qua (độ) bầu không mênh mông như vậy. Không gian mênh mông vô tận, thời gian như dừng lại, lắng xuống. Phải có một tâm hồn êm ả thư thái như thế nào mới có thể theo dõi một chòm mây trôi lơ lửng thong thả giữa bầu trời như vậy.

    Chính những chữ “cô”, “mạn mạn” và bút pháp mượn điểm vẽ diện, lấy cái cực nhỏ diễn tả cái bao la, dùng cái di động thể hiện cái yên tĩnh làm cho câu thơ Bác trở nên rất Đường. Đường trong cấu trúc nghệ thuật, trong cả từ ngữ, chi tiết, hình tượng, âm điệu, tức là trong từng yếu tố. Do đó, chúng tôi chưa thấy có căn cứ để đồng ý với ý kiến cho rằng chỉ có “cấu trúc nghệ thuật của Bác lại rất Đường” (Nhữ Thành). Nhất là ý kiến đó không thật phù hợp với nhiều bài thơ, nhiều câu thơ của Bác, trong đó có những câu đang nói ở đây, đều đậm đặc những “yếu tố” Đường, đồng thời cũng rất tiêu biểu cho “cấu trúc thơ Đường”, mặc dì khi dịch ra câu thơ tiếng Việt chất Đường đã bị nhạt đi ít nhiều.

    Hai câu đầu bài Mộ rất cổ điển, đất Đường thi. Một cảnh trời chiều thật thi vị, vừa cổ kính, vừa quen thuộc, thân thiết.Liệu tình cảm thiên nhiên, sự giao hòa với tạo vật của Bác còn cần phải chứng minh? Đó cũng là một ýếu tố tinh thần truyền thống kết tinh vững bền trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng của thời đại.

    Song trong thẳm sâu tâm hồn, hồn thơ Hồ Chí Minh, đâu phải chỉ có tầm hồn nghệ sỹ cổ điển. Trong tranh xưa vẽ cảnh chiều – tranh bằng tranh và tranh bằng thơ – cánh chim thường chỉ là một nét vẽ thuần túy có ý nghĩa thẩm mĩ, một nét nên thơ, nên họa cần thiết thêm vào để gợi cảnh chiều, thế thôi. Cũng có khi nhìn kĩ, đọc kĩ, có thể thấy cái hồn, cái thần toát lên từ nhiều nét chấm phá sơ sài và gợi cảm trong bức tranh không gian rộng lớn đó: cảm giác về sự xa xăm, phiêu bạt, chia lìa…

    Hoàng Trung Thông khi thưởng thức một cách tâm đắc bài thơ Chiều tối của Bác Hồ, đã liên tưởng đến một bài thơ của Liễu Tông Nguyên đời Đường mà hai câu đầu là:

    Thiên sơn điểu phi tuyệt

    Vạn kính nhân tông diệt

    Dịch nghĩa:

    Nghìn non bóng chim bay đã tắt

    Muôn nẻo, dấu người mất

    Bài Độc tọa Kính Đình sơn của Lí Bạch cũng có hai câu trên là:

    Chúng điểu cao phi tận

    Cô vân độc khứ nhàn

    Dịch nghĩa

    Bầy chim cao bay hết

    Chòm mây một mình trôi

    Cả hai bài thơ đều là những nét chấm phá cổ điển gợi cảnh không gian bao la, với những cánh chim cao bay. Lí Bạch confcos chòm mây trôi nhàn nhã một mình lưng trời, cũng như trong bài thơ của Bác.

    Song, có phải những cánh chim trong hai bài cổ thi trên đây đều bay mãi vào chốn xa xăm, vô tận vô cùng. Đường bay của chúng là vô tận: càng bay càng mất hút trong cõi tuyệt mù của bầu trời mênh mông. Hai câu thơ của Lí Bạch và Liễu Tông Nguyên đều kết thúc bằng tận hoặc tuyệt. Thi nhân xưa nhìn theo cánh chim bay mất hút và như đã cảm nghe cái mênh mang vô tận vô cùng của trởi đất “Thiên địa chi du du” (Thơ Trần Tử Ngang)…

    Trở lại câu thơ Bác Hồ: “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ”. Cánh chim ở đây không chỉ là mấy nét vờn vẽ của một họa sĩ: dường như Bác không nhìn theo cánh chim bay về hướng rừng chỉ với cái nhìn thưởng thức thẩm mĩ của một người nghệ sĩ, mà nhiều hơn là với đôi mắt lưu luyến, trừu mến của một tấm lòng yêu thương, cảm thông đối với một biểu hiện của sự sống. Đây là những con chim có sự sống, có sinh hoạt nhịp nhàng hàng ngày của chúng. Chúng không “cao phi tận”, “phi tuyệt”, bay vào chốn vô cùng vô hạn để biến mất trong cõi hư không siêu hình, mà là những cánh chim “về rừng tìm chốn ngủ”, sau một ngày “lao động” chuyên cần mệt mỏi, ngủ để sáng hôm sau lại tiếp tục nhịp sống tuần tự của đời chim. Câu thơ 7 chữ mà có tới 4 động từ, trạng từ diễn tả hoạt động, trạng thái sinh hoạt của sinh mệnh chim (quyện, qui, tầm, túc). Đường bay, hoạt động bay ấy có mục tiêu cụ thể gần gũi: về rừng tìm cây để ngủ trong đêm. Câu thơ của Bác đã đưa cánh chim từ cõi hư không phảng phất ý vị siêu hình trở về với thế giới hiện thực sự sống hàng ngày, bình thường giản dị song bất diệt trên trái đất này.

    Bác Hồ đã nhận xét có tính chất phê phán: “Cổ thi thiên ái nhiên tuyệt mĩ – Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp”. Song chính Bác là người có tấm lòng, có mối giao hòa đặc biệt với thiên nhiên. Dường như Bác sinh ra để làm chuyện hòa hợp với suối rừng, sống ở căn nhà sàn mây vách gió, giữa tiếng chim rừng, bông hoa núi…Có điều, lắm khi lòng yêu thiên nhiên đặc biệt đó không phải chỉ vì thiên nhiên đẹp, mà còn có gì nữa thật sâu xa. Nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định kể lại:Có lần anh định bẻ một cành lá để khỏi vướng ống kính, Bác vội ngăn lại: Bác thương cành lá. Khu nhà sàn trong phủ Chủ tịch có cây bụt mọc bị bệnh lá vàng đang lụi chết, Bác thương cái cây, Bác tự tìm cách chữa cho nó và cây đã xanh trở lại. Đàn cá rô trong ao vườn Bác thường ríu rít rộn ràng mỗi khi Bác ra với chúng, vì: “hàng ngày Bác vẫn gọi rô luôn”…Xuân Diệu đã nhận xét sâu sắc: “Sự yêu thương của Bác đã thành tấm lòng tạo hóa: Bác sống như trời đất của ta”.

    Tình cảm thiên nhiên của Bác Hồ, trong chiều sâu chính là lòng yêu thương sự sống, cảm quan nghệ sĩ ở Bác chính là cảm quan nhân đạo. Cái đẹp là ở sự sống; phải chăng quan điểm thẩm mĩ ở Bác đã vượt xa thi nhân xưa? Người nghệ sĩ rất mực tài hoa đó trước hết là một con người. Và do đó là một nghệ sĩ lớn.

    Câu thơ trong bài Mộ “Cô vân mạn mạn độ thiên không” là câu thơ Đường hơn cả trong bài thơ đậm chất Đường thi này. Nếu tách nó khỏi bài thơ, thì đúng là “đặt vào giữa tập thơ Đường, Tống cũng khó nhận ra” (Và cây đời mãi mãi xanh tươi, Quách Mạt Nhược). Nó rất gần với câu thơ Lí Bạch đã dẫn ở trên: Cô vân độc khứ nhàn. Nó làm gợi nhớ đến câu thơ trong bài Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu: “Bạch vân thiên tải không du du”. Có gì có sức gợi cảm về cái bao la, trong trẻo, cái êm ả của trời thu hơn là hình ảnh chòm mây trắng trôi nhẹ giữa tầng không? “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – Nhà thơ Việt Nam Nguyễn Khuyến đã điểm trúng cái thần mùa thu ở câu thơ này. Ở thơ Bác, cũng chòm mây dường như muôn thuở ấy nhưng dù là “khó nhận ra”, thơ Bác nếu để lẫn trong thơ Đường thơ Tống thì cũng không thể nhận ra, ngay cả khi câu thơ của Bác bị cắt rời khỏi bài thơ, tập thơ của Người. Chòm mây trong thơ Bác vẫn có chỗ khác, không để ý thì khó thấy, mà thật ra là rất khác xa thơ xưa.

    Hình tượng áng mây trắng một mình giữa bầu không khí như là một mô típ nghệ thuật quen thuộc trong thơ xưa và ít nhiều mang một ý nghĩa biểu tượng riêng. Nó gợi nên cái cô độc thanh cao, cái đạo sống phiêu du thoát tục, đã từng hấp dẫn nhiều thế hệ nhà Nho xưa. Nhữ Thành còn cho biết, mấy chữ “không du du” trong thơ Đường có một ý nghĩa triết học không giống ý nghĩa thông thường của những chữ ấy: “Không du du: muốn đời lo lửng” (Nhữ Thành). Có lẽ cũng có thể nói như vậy về những chữ “bạch vân” (mà nhà thơ đại nho đại ẩn Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy làm bút hiệu, đạo hiệu…)

    Trong câu thơ của Bác chòm mây trôi một mình giữa trời không có sắc thái ý nghĩa ấy, cái sắc thái vốn đã khá đậm trong câu thơ Lí Bạch có dáng dấp, thần thái của một tâm hồn phiêu diêu nhàn tản, đi một mình bên trên cuộc đời, “độc thiện kì thân độc kì hành đạo” cái đạo lánh đời. Câu thơ Bác có chữ “cô” mà không có chữ “độc”. Và chòm mây trong câu thơ của Người cũng không phải là ánh mây trắng ngàn năm phiêu diêu lơ lửng giữa bầu không mênh mông, nhuốm ý vị triết học siêu hình, như mang nỗi khoắc khoải mơ hồ của con người trước cõi hư không…trong câu thơ Thôi Hiệu. Không có căn cứ gì để gán cho hình tượng chòm mây trong thơ Bác một ý nghĩa tượng trưng nào đó. Đây chỉ là chòm mây quen thuộc trên bầu trời thế thôi. Nó gợi cảm rất nhiều vì cái cao rộng, trong trẻo, êm ả của một chiều thu miền sơn dã.

    Tác giả bài Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác (Hoàng Trung Thông) dường như muốn từ vị trí, cảnh ngộ của Bác trên đường giải đi lúc đó để lĩnh hội ý thơ của người nên cho rằng, cũng như con chim đi xa mệt mỏi tìm chỗ ở, tác giả (Bác Hồ – NKTT) cũng thế thôi, giải đi chiều đến rồi cũng mong có chốn nghỉ: vậy thì “làn mây ch mặt trời” cũng uể oải (…) cũng muốn tìm chỗ trú ở chân trời. Mộ (Chiều tối) là lúc mặt trời lặn hoặc đang lặn vậy mà sao chòm mây lẻ đang trôi lơ lửng ngang qua bầu không gian bao la kia lại che khuất mặt trời đã trụt xuống chân trời được! Hẳn không phải vậy, mặt trời đã khuất (sau rừng), song những tia nắng cuối cùng vẫn lưu luyến trên bầu không và châm mây nhuốm nắng chiều bỗng nổi rõ trên bầu trời bao la. Bức tranh chiều ấy khoáng đãng, trong trẻo, nhẹ nhõm biết bao! Sao chòm mây một mình trôi lơ lửng lưng trời kia lại “uể oải”, “vội vã”, “nặng nề”. Câu thơ dịch không thể dịch từ kí âm “mạn mạn” – diễn tả sự di động rất thong thả trên bầu trời bao la yên ả mà thêm vào chữ “nhẹ: “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Câu thơ chữ Hán không có chữ nào có ý nghĩa nhẹ nhàng mà vẫn gợi lên cảm giác nhẹ nhõm thanh thoát, nguười dịch thêm vào chữ nhẹ là để truyền cái tình thần nhẹ nhõm này, cũng được thôi! Cố gắng từ vị trí, cảnh ngộ của Bác để hiểu thơ Bác là đúng, song hiểu đúng tâm trạng của Người để từ đó hiểu ý thơ, không suy diễn chù quan thật không dễ. Thơ của Hồ Chủ Tịch thường chứng tỏ một điều là niềm vui và nỗi buồn của Người kể cả những sâu kín riêng tư lại nhiều khi không thể giải thích bằng những lí do cá nhân cụ thể. Biêt bao vần thơ trong Nhật kí trong tù cho thấy tâm hồn Bác Hồ lắm khi không hề phụ thuộc vào cảnh ngộ của riêng Người. Chính sự quên mình một cách tự nhiên khi cho nhiều khi tứ thơ thêm bừng sáng, bốc dậy cả bài thơ, thật bất ngờ; nếu đối chiếu với hoàn cảnh sáng tác cụ thể thì thấy lạ lùng dường như không hiểu nổi:

    Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần

    Câu thơ “như một cánh chim loáng bạc bay sáng cả trời đất” (Đọc thơ Bác, Lưu Trọng Lư) đó là từ sau cái đêm “ngủ ở Long Tuyền” bị cùm chéo chân và rệp, rét hành hạ.

    Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng

    Bóng tối đêm tàn quét sạch không

    Hơi ấm bao la trùm vũ trụ…

    Cái tứ thơ rất khỏe, rất lớn, có giọng anh hùng ca, “một nguồn cảm hứng lớn khiến cảnh bình minh chung trong một ngày bỗng có cái khí thế của cảnh bình minh chung trong một thời đại” (Đọc Nhật Kí trong tù, Hoài Thanh) lại từ trên đường giải đi rất sớm, những trận gió thu lạnh lẽo tới tấp quất vào mặt…

    Nếu Bác nhìn theo cánh chim về rừng, chòm mây trôi lưng trời chỉ với đôi mắt người tù mệt mỏi mong được nghỉ ngơi làm sao có được những câu thơ “Thơ bay cánh hạc ung dung” nhường ấy! Hiểu như vậy e không đúng với tâm trạng Bác Hồ, cũng là chưa tới được chất người cộng sản Hồ Chí Minh và không hợp ý hợp tình, thần thái câu thơ. Hai câu đầu bài Mộ có cái bát ngát, cái trong trẻo, cái nhẹ nhõm êm ả mà không hề gợi cảm giác hoang vắng, quạnh hiu, càng không có màu sắc hu vô siêu hình. Đằng sau những câu thơ bình dị mà cao rộng khoáng đạt ấy là tâm hồn hết sức ung dung thanh thản của nhà thơ trữ tình. Làm sao những vần thơ đó lại không khkacs gì bài thơ Giang tuyết của Liễu Tông Nguyên, một bài thơ lẻ loi quá chừng, lạnh lẽo quá chừng (Hoàng Trung Thông)!

    Hai câu thơ thật đẹp, vừa giản dị vừa tinh tế, cái đẹp của sự trong sáng cổ điển. Song cái đẹp thật sự của thơ Bác lắm khi không thể tìm thấy ở câu chữ, tức là ở trong thơ, mà thường phải tìm ở ngoài thơ. Nếu không chú ý hoàn cảnh cụ thể nảy ra thi hứng, thi tứ thì những câu thơ ấy cũng như những câu thơ đẹp cổ điển khác nói cảnh trời thu, cảnh hoàng hôn mà thôi. Đây không phải là thơ của Lí Bạch, của một Thôi Hiệu hay một Nguyễn Khuyến nhàn dật buông cần câu trên mảnh ao thu, một Bà Huyện Thanh Quan “Êm ái chiều xuân tới khán đài”…mà là của một người tù đang trên đường bị giải, “Tay bị trói, cổ đeo xích”, đã suốt ngày dầm mưa dãi nắng trèo núi qua truông hàng năm chục cây số “vẫn chưa được nghỉ…, đến lúc nghỉ ngơi vẫn bị đày đọa trong nhà lao địa phương, chắc hẳn vẫn tay trói chân cùm trên sàn xà lim bẩn thỉu lạnh lẽo…”. Và đặt trong hoàn cảnh sáng tác cụ thể oái oăm như vậy, bức tranh chiều thu êm ả kia sẽ hiện ra trước người đọc một ánh sáng khác. Những câu thơ rất thơ, có cái vị cổ điển toát lên phong thái “nhẹ nhàng thanh tịch rất ung dung” kia chẳng phải là một biểu hiện của một bản lĩnh phi thường của người chiến sĩ kiên cường vĩ đại sao? Không có một nghị lực phi thường để vượt lên trên mọi dày vò thử thách, không có một tinh thần lạc quan kì diệu của con người hoàn toàn làm chủ bất kì hoàn cảnh nào dù cho khốc liệt đến mấy, để thực sự luôn luôn làm chủ bản thân, thật sự là người tự do, thì không có được những vần thơ bay bổng, trong trẻo ấm áp đến thế trong hoàn cảnh ấy. Đó chính là chất thép vĩ đại của con người cộng sản Hồ Chí Minh.

    1. Hai câu sau

    Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

    Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

    Như một bức chấm phá cổ điển, bức tranh chiều tối của Hồ Chủ tịch có bố cục hài hòa, với những mảng xa gần, đậm nhạt rõ rệt. Nếu như hai câu đầu dựng lên tấm phông làm nền thì hai câu này làm nổi lên hình tượng trung tâm ở cận cảnh, là bình diện thứ nhất của bức tranh.

    “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc” – Cô gái (bản dịch của Viện Văn học dịch là cô em làm cho câu thơ có giọng xa lạ với lời thơ của Bác trong nguyên tác) xóm núi xay ngô. Câu thơ thật giản dị, giản dị tới đơn sơ: 7 chữ song chỉ 4 từ, một câu trần thuật tối giản, một thông báo bình thường trong khẩu ngữ hàng ngày không miêu tả, lại dùng cả tiếng nói địa phương (bao túc: ngô, tiếng Quảng Tây). Điều mà phong cách cao quí của thơ cổ điển nói chung, thơ Đường nói riêng, rất kiêng kị.

    Thơ Bác là thế! Từ dáng dấp cổ điển của Đường thi chuyển hẳn sang bút pháp hiện thực rất gần văn xuôi hiện đại. Nhà nghiên cứu kĩ, tinh sẽ chỉ ra một điều khá độc đáo là lắm khi chỉ một bài thơ bát cú, thậm chí tứ tuyệt của Bác, có tới hai hoặc ba “phong cách”, bút pháp “màu sắc thẩm mĩ”…mà biến hóa phóng túng, thoải mái, linh hoạt làm sao! Điều lạ là câu thơ có vẻ ít giọng thơ mà gần như một câu văn xuôi trần trụi ấy lại rất đẹp, lấp lánh sinh động lạ thường. Phải chăng vì hai tiếng thiếu nữ tự nó bao hàm sắc thái ‎ nghĩa tươi mát trẻ trung? Vì âm điệu nhịp nhàng của câu thơ có láy âm sang câu sau, phù hợp với việc diễn tả xay ngô nhịp nhàng uyển chuyển?

    Trong một bài tứ tuyệt, câu thứ ba, có một vị trí rất đáng chú ý. Đó là câu chuyển. Trong kết cấu bài Cảnh khuya, câu đầu rất lãng mạn, rất hiện đại, lãng mạn hơn cả “thơ mới” của Thế Lữ (tiếng hát trong như nước ngọc tuyền). Câu thơ thứ hai bỗng lộng lẫy vẻ đẹp cổ kính như một tấm sơn mài (Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa). Câu 3 và câu 4 chuyển sang khẩu ngữ thân mật bình dị hàng ngày. Khai – Thừa – Chuyển – Hợp khá cố định trong thơ cổ điển, nó không liền vần với ba câu kia mà có tư thế tương đối độc lập nêu ra để làm nổi bật ý thơ. Và vì vậy hình tượng cô gái xay ngô đã hiện ra nổi bật để làm trung tâm bức tranh. Với nét vẽ đậm khỏe đó, Bác Hồ đã đặt người con gái lao động ở vị trí chủ thể của thiên nhiên tạo vật và đẩy lùi ra phía sau, nền trời với cánh chim, chòm mây…Từ bức tranh thiên nhiên trở thành bức tranh đời sống, bức tranh sinh hoạt, từ trời mây chim muông chuyển sang con người và lại là con người lao động. Đó là xu hướng vận động của cấu trúc bài thơ, là logich của hình tượng thơ, phản ánh cái logich lớn của tâm hồn nhà thơ trữ tình.

    Trong những bài thơ vịnh cảnh chiều nổi tiếng xưa cũng thấp thoáng bóng người:

    Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà

    …Gác mái ngư ông về viễn phố

    Gõ sùng mục tử lại cô thôn.

    Song đó chỉ là những chấm phá ước lệ, những ngư tiều, canh mục được điểm xuyết trên tranh, lẫn với chim chóc, cỏ cây, hoa lá, và ngàn mai gió cuốn, dạm liễu dương sa…

    Có con người mà không có sự sống, và thật ra cũng chính thiên nhiên đây thôi! Đằng sau cảnh trời chiều nhuốm màu sương, hoài cổ sầu muộn ấy là nỗi niềm cô đơn của một tấc lòng tổ quốc, của một lữ thứ tha hương…Lời thơ hay, song sao mà hoang vắng quạnh hiu.

    Bài Giang tuyết của Liễu Tông Nguyên dẫn ở trên cũng có bố cục giống như bài Mộ: hai câu sau cũng là hình ảnh con người ở trung tâm bức tranh:

    Cô chu suy lạp ông

    Độc điếu hàn giang tuyết

    Ông ngư mặc áo tơi, đội nón lá một mình ngồi câu trên chiếc thuyền lẻ loi giữa dòng sông tuyết lạnh! Hai câu thơ chỉ mười chữ mà có tới bốn chữ có nghĩa lẻ loi, lạnh lẽo (cô, độc, hàn, tuyết), kết thúc bài thơ là hàn giang tuyết, đọc xong còn để lại cai dư vị “lẻ loi lạnh lẽo quá chừng”! Bài thơ cũng có nói đến chim bay, dấu chân người, có vẽ nên cả con người, song chim thì bay hết, dấu chân người cũng mất, chỉ còn bóng ông già câu cá như một chấm đen chết giữa nền “sông tuyết lạnh”. Cái nét chấm phá lẻ loi ấy chỉ càng làm bức tranh “sông tuyết” thêm lạnh lẽo mà thôi!

    Từ chú tiều lom khom lẫn với cây cỏ dưới chân đèo Ngang, một ngư ông, một mục tử đang tìm về “cô thôn”, “viễn phố” để nhòa dần trong buổi chiều tối, hoặc “ông già” lẻ loi ngồi câu trên sông tuyết, đến cô gái xóm núi xay ngô sinh động, khỏe khoắn nổi bật giữa cảnh chiều, có sự khác nhau giữa hai phạm trù thẩm mĩ, hai thế giới quan của hai thời đại.

    Lê Trí Viễn có nhận xét khá tinh về bản dịch hai câu thơ cuối của bài thơ Mộ này: “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc” dịch thành “Cô em xóm núi xay ngô tối”. Trong chữ Hán không có chữ “tối” ấy, chỉ có “xay ngô”. Kể ra thì bài này tả cảnh chiều tối bên một xóm núi, sau khi tả cảnh chim bay về núi ngủ, cảnh mây trôi chầm chậm trên không, quay về xóm núi cô gái nhỏ xay ngô để chuẩn bị bữa tối mà thêm chữ “tối” vào, có gì là sai? Đúng là xay ngô tối nhưng đặt chữ tối mà tự nhiên nói đến, thời gian trôi dần theo cánh chim và lần này, theo những vòng xoay của cối ngô, quay quay mãi, “ma bao túc”, lò đã rực hồng, tức trời tối, trời tối thì rực lên, nhịp câu thơ thứ tư là 4 – 3, nhịp ba ngắn, chấm dứt cho cả một sự vận động, chuyển động đúng với cái tối lúc đến nhanh, thu dần vào cuộc sống bên lò than, rồi tỏa cái ấm ra theo âm thanh nồng ấm của chữ hồng. Tất cả cái đó, chữ “tối” trong câu 3 và nhịp điệu 2 – 5 của câu 4 làm đi nhiều tấm lòng nâng niu, trìu mến, chút reo vui trước cuộc sống bình thường, nghèo khổ nhưng bình yên của người làm thơ đang bị giải đi trên đường.

    Nói thêm về mấy chữ cuối câu thứ ba được lặp lại ở câu thứ tư: ma bao túc, bao túc ma…Thơ Bác, cả tiếng Việt, cả thơ chữ Hán không ít những trường hợp có láy âm. Ba âm tiết được láy trong bài Mộ vừa cho thấy sự tiết kiệm cao độ trong ngôn từ thi ca của Bác, một trong những biểu hiện có tính chất giản dị lạ lùng của thơ Người, vừa làm cho câu thơ có cái vòng quay của động tác xay ngô, cái nhịp nhàng uyển chuyển của cô gái lao động xóm núi. Và, kể cũng lạ, hai câu thơ đơn giản trần trụi kia lại như đã khắc họa nổi bật hình tượng người thiếu nữ lao động có một giá trị tạo hình, dường như có cả đường nét, hình khối, sáng tối…hẳn hoi, tất cả đều toát lên sự trẻ trung khỏe khoắn, sống động, đẹp và đáng yêu biết bao! Không phải là tưởng tượng chủ quan mà đó đúng là “một hình ảnh tuyệt đẹp về cuộc đời thiếu thốn vất vả mà vẫn ấm cúng, mà vẫn đáng quí, đáng yêu”.

    Đã có nhiều nhà nghiên cứu phát biểu tâm đắc về chữ hồng kết thúc bài thơ. Trong một bài Đường thi tứ tuyệt hàm súc, chữ cuối cùng này thường có một sức nặng truyền cảm đặc biệt, nó góp phần quan trọng tạo nên cái dư vị, cái âm hưởng vang ngân của bài thơ. Chữ hồng kết thức bài Mộ thật tự nhiên mà thật bất ngờ. Bếp lửa hồng lên, nghĩa là buổi chiều tàn êm ả mà thời gian tưởng như không trôi đã đến lúc kết thúc để bắt đầu vào tối đêm, song không phải đêm tối âm u mà là ngọn lừa hồng ấm áp, bừng sáng.

  • Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

    Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

    Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-B%C3%ACnh-Gi%E1%BA%A3ng-B%C3%A0i-Th%C6%A1-T%E1%BB%B1-T%C3%ACnh-C%E1%BB%A7a-H%E1%BB%93-Xu%C3%A2n-H%C6%B0%C6%A1ng-1.pdf[/pdfviewer]

    VĂN MẪU LỚP 11

    BÌNH GIẢNG BÀI THƠ TỰ TÌNH CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

    Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ tài ba với phong cách sáng tác thơ nôm tả cảnh ngụ tình

    sâu sắc cùng ý tứ chân thành nhằm giãi bày tâm sự lòng mình. Bà là một hiện tựơng khá

    độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam, đó là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng

    mà trữ tình. Nổi bật trong sáng tác của bà là tiếng nói thưong cảm đối với phụ nữ, là sự

    khẳng định đề cao vẻ đẹp và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt trong trái

    tim họ. Và một lần nữa ta bắt gặp điều đó qua những câu thơ rất đỗi chân thành trong bài

    thơ Tự tình 2 trong chùm thơ Tự tình được viết nên từ những cung bậc tình cảm dừơng

    như đang làm rối bời tâm trạng nhà thơ…

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

    Mảnh tình san sẻ tí con con Tình là gì ai biết không ? Tình là vầng dương, tình là ngàn

    sao hay tình chỉ là vầng trăng khuyết, câu hát vang lên bằng một câu hỏi tu từ hỏi đời

    rằng trên thế gian còn gì hạnh phúc bằng tình yêu hay có gì làm lòng người đau khổ bằng

    thất bại trong tình cảm, nỗi đau khổ đó không chỉ làm bão giông trong bao trái tim người

    đời và trong đó có trái tim hồ xuân hương, nỗi cô đơn đã dằn vặt làm thao thức tác giả

    trong cái yên ắng và lạnh lùng của đêm khuya.

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

    Trơ cái hồng nhan với nước non

    Trong cái tĩnh mịch u buồn của đêm giá lạnh thoáng nghe tiếng trống canh văng vẳng từ

    môt chòi canh xa vọng đến báo hiệu đã nữa đêm, tiếng trống mỗi lúc một dồn dập hơn xa

    đến gần càng lúc như nhanh hơn trôi theo từng khoảnh khắc của thời gian và rút ngắn

    tuổi đời của một ng phụ nữ “hồng nhan” nhưng “trơ” đi trước cuộc đời, trước cảnh vật

    tựa như gỗ đá đã bị mất hết cảm giác vì bao nỗi phiền muộn đợi chờ một thứ hạnh phúc

    mong manh, giọng thơ trĩu xuống tăng thêm nỗi chán chường và cái cô đơn đang bủa

    quanh tác giả. Cách sử dụng đão ngữ nhấn mạnh thêm sự trơ trọi bẽ bàng và tủi hổ.

    Trước cuộc đời, trước duyên phận hẩm hiu người phụ nữ ấy chua xót cho chính mình,

    thân phận lẻ loi mong manh giữa bao vùi dập của cái xã hội đầy bất công thị phi ngang

    trái. Thân phận hồng nhan bây giờ phải trải qua những đêm dài cay đắng cho tấm lòng

    thủy chung vì cuộc tình dang dở.Tiếng thở dài ngao ngán và ý nguyện muốn thoát khỏi

    nỗi sầu muộn dấy lên trong lòng nhưng cuối cùng cũng rơi vào bế tắc, dừong như nghịch

    cảnh khôg buông tha cho người phụ nữ ấy, mựợn rựou quên đi nhưng lại càng nhớ:

    Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

    Chén rượu cầm hững hờ trên tay mặc cho hương nồng của rựơu phả vào mặt xộc vào

    mũi, tác giả mong rượu có thể giải tỏa hộ nỗi lòng của mình, mong cơn say mau tìm đến

    để đưa ng đến một nơi yên bình dù trong thời gian ngắn ngủi cũng đỡ hơn khi phải một

    mình đối diện nỗi cô đơn đang giày xéo tâm can.Nhưng say rồi lại tỉnh cứ chập chờn

    chập chờn mơ hồ trong cái vòng lẩn quẩn.Thời gian thì cứ trôi tác giả lúc thì tỉnh để nhận

    ra cái éo le của cuộc đời lúc thì chìm vào cơn say quên đi bao tuyệt vọng, mong mỏi phút

    giây nào đếy có thể gạt dc tất cả qua một bên để sống với những khao khát của chính

    mình nhưng mong ứơc bé nhỏ ấy cũng bị cuốn phăng đi vô tình. Nỗi buồn tủi bắt đầu

    xâm chiếm, bao đêm dài thao thức đợi chờ nhưng vô vọng, chờ nhiều đợi nhiều mà hạnh

    phúc chẵng bao nhiêu trong khi cái xuân thì ngày càng rời xa tác giả.

    Vầng trăng xuất hiện để làm chứng nhân cho bao cuộc tình mà sao khi tác giả thấy trăng

    thì lại không dc tròn đầy mà là hình ảnh đối lập là khuyết, phải chăng cuộc tình này cũng

    thế chẳng bao giờ có một cái kết trọn vẹn. Đến bao giờ thì trăng mới tròn đến khi nào thì

    hạnh phúc mới trong tầm tay và bao lâu nữa thì nỗi cô đơn này thôi xuất hiện làm xót

    lòng. Tác giả khao khát và mong chờ, nỗi niềm đó nhân lên theo ngày tháng, nhưng càng

    hi vọng thì càng đau khổ, bi kịch có bao giờ được kết thúc cho những người phụ nữ quá

    lứa lỡ thì cùng tình duyên ngang trái trong cái XHPK ngày xưa. Nỗi buồn dâng đầy trong

    lòng rồi lan tỏa ra không gian khắp bốn bề, khẽ đưa mắt nhìn ra khoảng trống trước mặt

    những hình ảnh thiên nhiên đập vào mắt và như hòa vào tâm trạng nhuốm nỗi buồn phiền

    của tác giả.

    Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

    Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

    Câu thơ tả cảnh với cấu trúc tương phản hình ảnh những đám “rêu” bé nhỏ yếu ớt với sức

    mạnh “xiên ngang” cả lớp đất dày vưon lên với sức sống mãnh liệt hay “đá mấy hòn”

    nhưng lại có khả năng đâm toạc chân mây trứoc mắt. Thái độ phản ứng khá mạnh mẽ

    trứoc duyên tình lận đận thể hiện qua cả gịong thơ ngang ngạnh phản kháng và ấm ức.

    Thiên nhiên trong mắt nhà thơ tiềm ẩn một sức sống đang bị đè nén và đang vươn lên

    mãnh liệt. Ta thấy rõ được tác dụng của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình ở hai câu thơ này,

    dừơng như có một điểm giống nhau giữa tâm hồn thơ và những hình ảnh thiên nhiên

    ấy. Rêu và đá bé nhỏ là thế nhưng chúng giống nhau ở sức sống mạnh mẽ vô cùng và

    nhà thơ cũng vậy.

    Dù trong hoàn cảnh xót xa nhưng tâm hồn lúc nào cũng tràn đầy một niềm hy vọng, bi

    kịch dẫu đắng cay nhưng bằng cả nghị lực tác giả vẫn cố gắng gựơng mong chờ vựơt qua

    để đến bến bờ bình yên cho mình. Hai câu thơ hay ẩn dụ được khát vọng rất lớn không

    chỉ của riêng Hồ Xuân Hương mà là tiếng lòng chung của bao số phận hồng nhan hẩm

    hiu về một cuộc đời hạnh phúc hơn. Dâng tràn trong họ là tất cả hy vọng mong chờ bằng

    cả niềm tin dù bao nghịch cảnh. Nhưng đáng buồn thay vòng xoay cuộc đời một lần nữa

    làm người rơi vào bế tắc.

    Cuộc đời nhà thơ là những thắng ngày buồn tủi không chỉ một mà đến hai lần người đều

    là vợ lẽ và âu cũng vì vậy mà bao phẫn uất kết tụ đến hồi bộc phát khi thực tại vẫn là bao

    chua xót não nề. Khao khát được yêu thương được sống hạnh phúc như những người

    phụ nữ bình thường nhưng càng vô vọng, đêm đã khuya mà nhà thơ vẫn còn trằn trọc

    thao thức ưu tư, nỗi đau bị dồn tụ khi tác giả nhìn lại chính mình thì cũng là lúc nỗi cô

    đơn đâng đầy hơn bao giờ hết trong tâm trạng chán chừờng và mệt mỏi thậm chí là thất

    vọng với sự thực trước mắt

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

    Mảnh tình san sẻ tí con con

    Tiếng lòng than thở của nhà thơ vang lên qua từ “ngán” được rõ nét hơn.Mùa xuân có đi

    rồi cũng đến ngày sẽ quay về với thiên nhiên nhưng còn tình duyên thì mới bao giờ trở

    lại với con tim chung tình đang chịu nỗi đau.Tuổi xuân người phụ nữ trôi nhanh nhưng

    cũng không bằng cuộc tình dang dở, hạnh phúc ngắn ngủi để rồi bây giờ chỉ còn nhà thơ

    quạnh hiu trong nỗi cô đơn đang ngấm buốt tê lòng. Tình duyên lỡ làng tan vỡ như mảnh

    vụn chỉ dành nhà thơ được một chút nhưng lại phải “san sẻ” để còn trong nhà thơ là “tí

    con con”. Buộc lòng cam chịu cảnh ngộ đơn chiếc đang ngày đêm trải qua sự đợi chờ

    mỏi mòn. Nỗi đau như thế chưa đủ hay sao mà còn tình cảm nhận được chẳng những quá

    ít mà còn quá vô tình, quá hờ hững.

    Câu thơ tả thực nỗi chua chát ngấm từ trong lòng. Nỗi trống trải cô đơn làm tác giả chán

    nản nới những mong chờ mà đáp lại chỉ là sự lành lùng tàn nhẫn. Mổi từ như một giọt

    nước mắt rưng rưng chỉ chực trào ra theo những tủi hờn trách móc. Có mấy ai hiểu được

    những gì đang hành hạ tâm hồn mỏng manh của người, thấu chăng nơi đây đang có bóng

    hình chờ và đợi. Đau lắm nhưng cũng phải tự nén lòng và nuốt nghẹn đắng vào trong.

    Cuộc đời thì cứ đùa cợt trêu đùa với những người làm vợ lẽ, phải chịu bao phân biệt và

    bất công có ai thấu hiểu dùm.

    Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng

    Cầm lòng làm mướn mướn không công

    Cả bài thơ là muôn vàn sắc thái tình cảm của nhà thơ có buồn có hờn có giận có chua

    chát có lúc phản kháng dữ dội nhưng rồi chán chường vì thất vọng. Tiếng thơ táo bạo

    chân thành thễ hiện khát vọng mưu cầu hạnh phúc lứa đôi của bao hồng nhan trong xã

    hội phong kiến bấy giờ, qua đó đã dẫn dắt cho người đọc đi vào thế giới tâm hồn đa dạng

    của họ và có cơ hội cảm thông với bao nỗi buồn mà họ phải gánh chịu .Ngôn ngữ thơ

    mang đậm chất dân gian được sử dụng khéo léo giàu sức biểu cảm tinh tế. Tài thơ nôm

    của Hồ Xuân Hương còn thể hiện qua việc viết thơ đường luật bằng tiếng Việt thật tài

    tình, quả không hổ danh là bà chúa thơ nôm.

     

  • Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

    Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

    Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Báo cáo bài tập lớn Kĩ thuật phần mềm và ứng dụng: Quản lý tiền điện

    ——————

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-Ph%C3%A2n-T%C3%ADch-B%C3%A0i-Th%C6%A1-V%E1%BB%99i-V%C3%A0ng-C%E1%BB%A7a-Xu%C3%A2n-Di%E1%BB%87u.pdf[/pdfviewer]

    VĂN MẪU LỚP 11

    ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU

    A.    SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý

     

     

     

    B.     DÀN BÀI CHI TIẾT

    1.      Mở bài

    • Giới thiệu về tác giả Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng
    • Dẫn dắt vào vấn đề

    2.      Thân bài

    • Khái quát chung
    • Xuất xứ: Trích trong tập “Thơ-Thơ” (1938).
    • Bố cục: Ba phần:
      • Câu 1-11: Tâm trạng reo vui trước vẻ đẹp thiên nhiên.
      • Câu 12-30: Tâm trạng u buồn, hoài
      • Câu 31-40: Lòng yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt.
    • Phân tích
      • Tiếng reo vui trước vẻ đẹp thiên nhiên mùa xuân (Câu 1-11)
        • “Tôi muốn – tắt nắng đi” ,“Tôi muốn – buộc gió lại”: Điệp ngữ dùng động từ mạnh

    => Biểu hiện niềm khao khát, say mê muốn níu giữ, đoạt quyền tạo hóa.

    • Thiên nhiên: Là khu vườn xuân đầy cảnh sắc:
      • ong bướm tuần tháng mật” Bức tranh đẹp, mơn mởn, tươi tắn
      • Này đây hoa đồng nội”, ” lá cành tơ” => dạt dào nhựa sống.
      • yến anh khúc tình si”: âm thanh rộ rã
      • Giọng thơ dồn dập, biểu hiện tâm trạng vui sướng, say đắm trước cảnh thiên nhiên muôn sắc màu, phong phú, bất tận.
      • Ánh sáng chớp hàng mi” => hình ảnh thơ độc đáo, mới lạ, giàu cảm xúc.
      • Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” à Mùa xuân đẹp, phép so sánhà

    ngọt ngào, đầy sức sống tươi thắm

    => Diễn đạt độc đáo, táo bạo, dùng hình ảnh con người để diễn tả thiên nhiên (lấy cái đẹp của con người làm chuẩn mực để đánh giá, so sánh) => cho thấy: lòng khao khát sống đến cuồng nhiệt (quan điểm sống tích cực) => sống hết mình vì cuộc sống.

    • Tâm trạng u buồn, lo sợ, hốt hoảng, hoài nghi (câu12-30):
      • Tôi vui sướng. Nhưng vội vàng…” => Dấu chấm => câu ngắn => bất thường: Vui, vội vàng.
      • “Tôi không chờ…” => gấp gáp: Trong sự đam mê cuộc sống xen lẫn nỗi lo âu, hốt hoảng, sợ tuổi trẻ qua đi.
      • Ý thức được sự hữu hạn của thời gian:
        • “Xuân đang tới nghĩa là… qua
        • Xuân còn non nghĩa là… sẽ già
        • Mà xuân hết nghĩa là… mất.”

    => Giọng thơ khô khan, lời thơ ngắn => tâm trạng lo lắng, sợ hãi, hốt hoảng vì thấy đã

    mất trong cái đang có.

    • Ý thức được sự đối kháng: thiên nhiên > < con người:
      • Lòng tôi …rộng >< lượng trời chật
      • Tuổi trẻ chẳng 2 lần>< xuân vẫn tuần hoàn
      • Chẳng còn tôi mãi >< còn trời đất

    è Đời người hữu hạn Thiên nhiên vĩnh hằng

    => là qui luật tất yếu, tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng, khao khát sống mãi với cuộc đời.

    • Thiên nhiên nhuốm màu buồn bã trước thời gian: Những từ ngữ, hình ảnh: “Tôi tiếc, chia phôi, tiễn biệt, đứt tiếng, phai tàn…” => kết lại ở câu “Chẳng bao giờ!…” kết hợp các câu có dấu chấm hỏi, chấm than, các cặp vần chân gieo liên tiếp => Tâm trạng chán nản, đau khổ, nuối tiếc.
    • Tình yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt: Khát vọng sống cao độ thể hiện sự giao cảm với cuộc sống:
      • Ta muốn riết”, ôm, say, thâu, chếnh choáng: Điệp ngữ, nhịp thơ dồn dập, sôi nổi, nồng nàn, giọng thơ cuống quýt, khao khát sống, muốn tận hưởng trọn vẹn hương vị tình yêu, hương vị của cuộc đời ==>Yêu cuộc sống đến độ nồng nàn, sống hết mình, tận hưởng cái đẹp ==>cuộc sống với tâm trạng sảng khoái.
      • Câu thơ “Hỡi… muốn cắn...”: diễn đạt táo bạo, rất mới lạ => mùa xuân quá hấp dẫn => niềm ham sống mà chưa toại nguyện, khát khao muốn giữ lấy cái vui, cái đẹp của cuộc đời.

    3.      Kết bài:

    • Những nhận xét, cảm nhận chung về bài thơ Vội vàng
    • Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân

    C.    BÀI VĂN MẪU

     

    Xuân Diệu Được coi là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới.Ông là nhà thơ trữ tình lãng mạn, luôn khát khao giao cảm với đời đến cuống quýt, cuồng nhiệt. Bài thơ Vội vàng tập trung cao nhất cái khát vọng mãnh liệt ấy. Xuân Diệu đặt khát vọng giao cảm

    giữa tuổi trẻ và xuân tình, qua đó bộc lộ một xúc cảm triết học, một quan niệm nhân sinh

    mới mẻ, hiện đại.

    Xuân Diệu yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp đến mãnh liệt đến cường tráng nhưng bên

    trong những vần thơ của ông vẫn gây cho người đọc một cảm giác chênh vênh, hụt hẫng

    . Bởi tình yêu luôn gắn với nỗi đau, niềm vui song song với nỗi buồn, bởi niềm vui đó rồi cũng phải hết, không thể tồn tại vĩnh hằng được. Bằng cái nhìn mổ xẻ, ta cũng thấy lòng khát sống, ham đời trong Vội vàng bị chẻ đôi thành hai tầng bậc: Một cách cảm thụ thế giới mang tính bi kịch và một cách ứng xử trước thế giới mang tính tích cực.

    Nhà thơ cảm thấy yêu cuộc sống này lắm, muốn níu giữ nhưng nhìn lại, tác giả lại nhận thấy một bi kịch sự sống. Trong sự cảm thụ thế giới của Xuân Diệu, cuộc sống được phát hiện ở tính bi kịch. Bi kịch nay là sự giằng xé giữa tình yêu và nỗi đau, giữa cảm xúc và nhận thức.

    Tình yêu cuộc sống này tràn ngập trong huyết mạch của nhà thơ, nhà thơ nhận thấy cuộc sống nơi mình đang song như một thiên đường. Có một câu hỏi lớn từng thôi thúc loài người tìm lời giải đáp: Vẻ đẹp cuộc sống ở đâu? Đạo Thiên Chúa tìm vẻ đẹp ở thiên đường cao cả. Đạo Phật tìm vẻ đẹp ở cõi Niết bàn bình an. Còn Xuân Diệu, thiên đường nằm ngay trên mặt đất:

    Cửa ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì

    Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa

    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

    Cuộc sống thật tươi đẹp, thật đáng sống biết bao khi mỗi buổi sáng thần Vui hằng gõ cửa. Điệp ngữ: “Này đây” lặp bốn lần là tiếng reo vui đầy kinh ngạc của tác giả vì liên tiếp phát hiện ra những vẻ đẹp kì lạ của cuộc sống. Sau mỗi tiếng reo vui, cuộc sống hiện ra, giản dị mà đắm say: cái đắm say tình tứ của ong bướm, yến anh; cái đắm say bát ngát sắc

    xanh của đồng nội; cái đắm say non tơ của cành lá… Từ những hình ảnh cụ thể, tiếng reo vọt trào lên một cảm xúc tổng hợp và lạ lùng trước thiên nhiên:

    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

     

    Đây được coi là câu thơ có một không hai trong thơ ca Việt Nam, tác giả đã dùng cái vật nhìn thấy để so sanh với cái vô hạn của thời gian. Câu thơ đặc sắc lấp lánh ba vẻ đẹp độc đáo. “Tháng giêng” là khởi đầu của một năm, khởi đầu của mùa xuân – mùa xuân tươi non mơn mởn là biểu tượng vẻ đẹp cuộc sống. Hình ảnh “cặp môi gần” gợi làn môi tươi hồng của thiếu nữ đang hé mở đợi chờ. Phép so sánh đã hội tụ mùa xuân với tuổi trẻ thành vẻ đẹp tổng hợp của cuộc sống. Quan niệm thẩm mỹ mới mẻ của Xuân Diệu đã đưa cặp môi thiếu nữ vào trung tâm vũ trụ, con người thành chuẩn mực vẻ đẹp của thiên nhiên. Một Xuân Diệu táo bạo, mới lạ nữa xuất hiện trong từ “ngon” đầy cảm giác nhục thể, tình yêu cuộc sống được huy động cả linh hồn lẫn thể xác. Vẻ đẹp của khổ thơ thật trẻ, thật nồng.

    Thơ Xuân Diệu không bao giờ bình yên vì tình yêu luôn vấp phải nỗi đau. Mạch thơ vui đang dào dạt chảy bỗng vấp phải một dấu chấm cắt giữa câu thơ:

    Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa.

     

    Cuộc sống tươi đẹp, ý nghĩa bao nhiêu thì nhà thơ lại cảm thấy minh rơi vào tấn bi kịch bấy nhiêuBi kịch cuộc sống dồn tụ trong câu thơ. Bi kịch xuất phát từ một phát hiện triết học về thời gian:

    Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

    Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

     

    Đây là quan niệm chưa từng có trong cái nhìn truyền thông. Thời gian trung đại vốn được quan niệm là thời gian tuần hoàn, thời gian lặp lại tuần tự (Tháng chạp là tháng trồng khoai – tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà). Nhịp thời gian muôn đời không đổi tạo nên thế quân bình nội tâm khiến con người ung dung, bình tĩnh đến chậm chạp. Thời gian hiện đại khác hẳn, là thời gian tuyến tính (một đi không trở lại), nên thời gian tự hủy diệt trong lẽ tồn vong ngắn ngủi, gấp gáp. Nhận thức ấy được Xuân Diệu thể hiện

    bằng những cặp từ tới – qua, non – già… cuộc sống vận động phát triển trong quá trình vừa khẳng định vừa phủ định, cái phủ định nằm ngay trong cái đang khẳng định. Đây là những nghiền ngẫm triết học tinh tế và có chiều sâu, thỏa mãn phần nào nhu cầu trí tuệ của người đọc (nhất là người đọc trẻ tuổi ham hiểu biết thơ Xuân Diệu). Chỗ bất cập của Xuân Diệu là thi sĩ quá nghiêng về cái “qua”, cái “già” (tức là cái phủ định) nên quan niệm sống của Xuân Diệu có phần thiếu bình tĩnh, ổn định mà hơi ngả về phía “vội vàng” đến hốt hoảng, cuống quít, tạo nên hơi thở gấp gáp rất riêng trong thơ Xuân Diệu.

    Vì vậy, bi kịch trong nhận thức tràn vào tâm hồn, Xuân Diệu nhìn đâu cũng thấy mất

    mát, cũng thấy chia li:

    Mùi tháng năm đang rớm vị chia phôi

     

    Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.

     

    Nôi đau thấm cả vào cơn gió, tiếng chim, nhưng đau nhất là tuổi trẻ nhạy cảm đang khát sống:

    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

     

    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

     

    Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi.

     

    Nhìn tổng thể, nỗi đau vừa tương phản với tình yêu để tạo thành bi kịch, vừa là kết quả của tình yêu. Bởi vì, nếu không biết yêu cuộc sống thiết tha, sâu sắc đến thế, làm sao biết xót đau khi hiểu rằng thời gian luôn chảy trôi, không có gì bền vững, nhất là sự hữu hạn của mùa xuân, tuổi trẻ, kiếp người. Cho nên, vội vàng là nỗi đau lớn của một tình yêu lớn.

    Bốn câu thơ ở khổ 1 là một khát vọng chống lại quy luật tự nhiên:

    “Tôi muốn tắt nắng đi

     

    Cho màu đừng nhạt mất

     

    Tôi muốn buộc gió lại

     

    Cho hương đừng bay đi”.

    Đây là khổ thơ duy nhất Xụân Diệu dùng thể ngũ ngôn để tạo một giọng điệu gọn, chắc, thể hiện ý chí mạnh mẽ muốn chặn đứng bước chân thời gian. Nhưng ý chí chủ quan sao thắng được quy luật khách quan. Vì thế, hơi thơ mạnh mà bên trong vẫn hẫng hụt, bất lực…

    Nhưng Xuân Diệu đâu có chịu bó tay. Phải tìm một cách khác: hãy tận hưởng cuộc sống. Đó là nội dung chủ yếu của đoạn kết:

    “Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn, Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

    Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng

    Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi

    Hỡi xuân hồng, ta muôn cắn nào ngươi!”

     

    Hệ thống từ: ôm, riết, say, thâu, cắn là một trường cảm xúc ngày một dâng trào, bộc lộ một khát vọng sống mãnh liệt và cường tráng. Trái tim yêu của Xuân Diệu như muốn càng ra chứa hết vũ trụ. Câu kết bài thơ đẹp rực rỡ. Cuộc sống mơn mởn, tròn căng hấp dẫn như trái xuân hồng. Thi sĩ ước vọng được “cắn” vào quả đời ấy để tận hưởng một cách nhục cảm, hết mình mọi hương vị cuộc sống. Chỉ có Xuân Diệu mới tạo ra kiểu cảm xúc táo bạo, mới lạ mà tinh khiết như thế.

    Nhờ trí tưởng tượng táo bạo, mới mẻ, của Xuân Diệu mà nhiều người trong chúng ta muốn trở lại tuổi trẻ của mình, để sống hết mình với thiên nhiên tươi đẹp, với chốn thiên đường hiện hữu ngay trên mặt đất này. Không chỉ ca ngợi cảnh đep nhà thơ muốn đưa ra một lời khuyên cho thế hệ trẻ đùng để tuổi trẻ của mình trôi đi một cách phí hoài, hãy sống để có ích cho bản thân và cho xã hội, sống để được hưởng trọn vẹn vẻ đẹp của cuộc đời.

    Sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, sống ích kỉ trong hưởng thụ. “Vội vàng” thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yêu; tình yêu lứa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm ấy đã thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỉ sau bài thơ “Vội vàng” ra đời, nhiều câu thơ của Xuân Diệu vẫn còn làm cho không ít người ngỡ ngàng! Xuân Diệu đã sống “Vội vàng” như vậy. Với hơn 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã góp phần làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại.

    Nhà thơ Xuân Diệu đã đi vào thế giới vĩnh hằng những tao nhân mặc khách, nhưng

    ta vẫn cảm thấy ông đang hiện diện giữa cuộc đời và hát ca:

    • “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

     

    • “Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ Em, em ơi! Tình non sắp già rồi…”

    Bài thơ “Vội vàng” cho thấy một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, rất nhân văn, một giọng thơ sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp dẫn. Có chất xúc giác trong thơ. Có cách dùng từ rất bạo, cách cấu trúc câu thơ, đoạn thơ rất tài hoa. “Vội vàng” tiêu biểu nhất cho “Thơ mới”, thơ lãng mạn 1932-194.

  • [Văn Nghị luận Mẫu] “Bạn sinh ra là một nguyên bản, đừng chết như một bản sao”.

    [Văn Nghị luận Mẫu] “Bạn sinh ra là một nguyên bản, đừng chết như một bản sao”.

    “Bạn sinh ra là một nguyên bản, đừng chết như một bản sao”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    1. DÀN Ý:

    2. Mở bài: Giới thiệu vấn đề
    3. Thân bài:
    4. a) Giải thích:

    – Triết lí sống là gì: Nguyên bản, bản gốc, bản đầu tiên.

    – Mỗi người sinh ra là một nguyên bản: Mỗi người sinh ra là một cá thể riêng biệt, duy nhất, độc đáo.

    – Đừng chết như một bản sao: đừng lặp lại, bắt chước, nói theo, nghĩ theo để trở thành bản sao của người khác.

    – Ý nghĩa câu nói: cần giữ được bản sắc riêng của mình trong suốt hành trình cuộc sống.

    1. b) Bàn luận:

    – Trời sinh ra con người không ai giống ai. Vì vậy chúng ta phải giữ gìn những nét riêng của mình. “Sinh ra là duy nhất, đừng sống là bản sao”.

    – Nếu mọi người đều nói đều nghĩ giống nhau thì cuộc sống sẽ mất đi sự phong phú, đa dạng và trở nên buồn tẻ, đơn điệu.

    – Phê phán những người chạy theo thời đại mà đánh mất bản sắc của mình và những người chưa biết cách thể hiện cái riêng của mình.

    – Tuy nhiên giữ gìn nét riêng không có nghĩa là cố gắng tỏ ra nổi bật hơn thiên hạ bằng những hành động lố lăng, quá khích, cũng không thể vì cái riêng của mình mà ảnh hưởng đến cái chung của mọi người.

    1. c) Bài học nhận thức:

    – Mỗi người cần xác định lối sống đúng đắn để vừa dung hòa với cộng đồng vừa giữ được cá tính của mình.

    – Chân thành với bản thân và mọi người xung quanh – đó chính là cách vừa giữ gìn cái riêng vừa tạo nên những mối quan hệ.

    1. Kết bài: Kết thúc vấn đề.

    “Bạn sinh ra là một nguyên bản, đừng chết như một bản sao”. Văn Nghị Luận Mẫu

     

    1. BÀI LÀM: 

    Chơi vơi giữa dòng nước lũ tôi cần một khúc gỗ để bám víu, một mình giữa hoang mạc rộng lớn tôi cần một ngụm nước để tồn tại, còn nếu lạc giữa rừng sâu tôi cần một chiếc la bàn để tìm ra phương hướng. Người ta bảo rằng nước lũ, hoang mạc, rừng sâu chính là những khó khăn trong cuộc sống mà con người ta hay vấp phải; còn khúc gỗ, ngụm nước, la bàn chính là kim chỉ nam, là triết lí sống con người cần có để vượt qua những khó khăn ấy. Vậy triết lí sống của bạn là gì? Riêng tôi, tôi chọn câu nói của John Mason làm triết lí sống cho mình: “Bạn sinh ra là một nguyên bản, đừng chết như một bản sao”.

    Có thể hiểu triết lí sống là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận điều gì là nguồn cội tâm thế, giá trị tinh thần, sức mạnh ứng xử được phát biểu ngắn gọn, xúc tích như một tín điều, làm kim chỉ nam cho cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng. Còn “nguyên bản” là bản gốc, bản đầu tiên. “Mỗi người sinh ra là một nguyên bản” có nghĩa là mỗi người sinh ra là một cá thể riêng biệt, duy nhất độc đáo. Bản sao là theo bản gốc mà sao ra. “Đừng chết như một bản sao” là đừng lặp lại, bắt chước, nói theo, nghĩ theo để trở thành bản sao của người khác. Ý nghĩa câu nói của John Mason là mỗi người sinh ra trên đời cần giữ được bản sắc riêng của mình trong suốt hành trình cuộc sống.

    Trời sinh ra không ai giống ai. Mập ốm, lùn cao, vịt, thiên nga không phải là vấn đề. Bởi lẽ vịt có giá của vịt cũng như thiên nga có giá của thiên nga. Tôi sinh ra không xinh đẹp, tài năng nhưng tôi luôn tìm cách để hoàn thiện bản thân mình. Không phải là thiên tài hay bác học nên không thể đóng góp cho nhân loại nhũng tri thúc mới, những phát kiến sáng tạo độc đáo, nhưng hằng ngày, hằng giờ tôi vẫn sống và tiếp thu những tri thức ấy một cách có hiệu quả. Không phải là một nghệ sĩ tài hoa nên chẳng thể đem giọng hát của mình góp vui cho nhân loại, hay dùng đôi tay này để vẽ nên những bức họa ngàn đời sinh động, nhưng tôi vẫn luôn sống vui vẻ và chăm chỉ thưởng thức những tác phẩm ấy và đánh giá chúng. Giống như Everett Hale từng nói: “Tôi chỉ là một, nhưng tôi vẫn là một người. Tôi không thể làm tất cả mọi thứ, nhưng chí ít tôi cũng làm được một việc nào đó, và vì tôi không thể là tất cả mọi việc, nên tôi sẽ chẳng từ chối làm những gì mình có thể”. Vì vậy mỗi người trong chúng ta cần giữ được nét riêng của mình. “Sinh ra là duy nhất, đừng sống là bản sao”.

    Những ngày còn bé, tôi mê tít các nhân vật trong truyện Đoremon. Đặc biệt là những tập truyện dài Đoremon cùng những người bạn là Nobita, Chaien, Xuka và Xeko phiêu lưu đến những thế giới khác ngoài Trái Đất và gặp những nhân vật có những đặc điểm rất giống với Đoremon, Nobita, Chaien, Xuka và Xeko ngoài đời thực. Nhưng tính cách thì không phải vậy, mỗi nhân vật có một tính cách đặc trưng: hung dữ, hiền lành, nhu mì,…Đọc những câu chuyện hay ấy tôi lại càng thấm câu nói của John Mason hơn. Cứ thử nghĩ xem nếu mọi người đều nói và nghĩ giống nhau thì há chẳng phải cuộc sống sẽ mất đi sự phong phú, đa dạng và dần trở nên đơn điệu, buồn tẻ hay sao?

    Tương truyền rằng Chúa trời tạo ra con người với những hình hài khác nhau, tính cách khác nhau cũng bởi vì muốn cuộc đời thêm phong phú và đa sắc màu. Ví như hai người cùng đứng trước phong cảnh núi Phú Sĩ hùng vĩ và tráng lệ. Người thứ nhất khi nhìn thấy cảnh đẹp ấy thì vỗ tay hoan hô. Còn người thứ hai khi nhìn thấy cảnh ấy thì chỉ nói: “Thì ra là vậy.” rồi quay mặt bỏ đi. Nhiều người cho rằng người thứ hai vô tâm, không có khiếu thẩm mĩ. Nhưng tôi lại nghĩ khác, tôi cho rằng người thứ hai hoàn toàn bình thường. Việc anh ấy không reo hò như người thứ nhất bởi lẽ rất đơn giản vì đối với anh ấy phong cảnh núi Phú Sĩ không đẹp như những phong cảnh mà anh ấy từng thấy hoặc chưa thấy. Cùng đứng trước một sự vật, nhưng có đến hai cách nhìn, hai cách phản ứng khác nhau. Thái độ của hai người trước cảnh núi Phú sĩ của Nhật Bản cho ta thấy phần nào tính cách của hai con người ấy. Mà nói theo John Mason thì đó chính là “nguyên bản”. Phần gốc rễ mà con người cần gìn giữ để không bị nhầm lần trong guồng quay cuộc sống.

    Tuy nhiên, giữ gìn nét riêng không có nghĩa là cố gắng tỏ ra nổi bật hơn thiên hạ bằng những hành động lố lăng, quá khích, ăn mặc quá “khác người” để bị xem là dị nhân. Giữ được cá tính của mình là không sai nhưng việc gì cũng có giới hạn của nó, cần có điểm dừng cho mọi suy nghĩ và hành động. Chẳng hạn như trong một cuộc họp cổ đông quan trọng, mọi người đưa ra chiến lược phát triển kinh tế. Trong những trường hợp thế này thì việc bộc lộ cá tính là điều cần thiết. Tự tin đưa ra sáng kiến mà mình đã dày công chuẩn bị chứ không ngồi yên một chỗ làm con lật đật ai nói gì, làm gì cũng gật. Thế nhưng nếu ở trường hợp ngược lại, sáng kiến của ta không mấy khả thi, nếu đưa vào thực hiện có thể sẽ lỗ vốn rất lớn thì nên rút lui và nhường chỗ cho các sáng kiến khác hay hơn. Không nên cố chấp giữ khư khư cái của mình và gạt bỏ ý kiến của mọi người. Đến khi mọi việc đổ vỡ thì lại đổ trách nhiệm cho “nguyên bản”. Làm người thì phải có cái riêng, cái mới để không bị nhầm lẫn nhưng cái riêng của mình nhất thiết không nên để ảnh hưởng đến mọi người. Sống cho mình là không sai nhưng còn cần sống cho gia đình, xã hội. Vì có gia đình, xã hội thì cái riêng của ta mới được bộc lộ và phát triển mạnh mẽ.

    Cuộc sống xã hội ngày càng phát triển, nền văn hóa giữa các quốc gia trên thế giới có sự giao thoa sâu sắc. Đó là một biểu hiện tích cực cho việc học hỏi và mở mang tri thức, gắn kết tình thân ái và xây dựng mối quan hệ hòa bình hữu nghị lâu dài giữa các quốc gia. Cũng như con dao hai lưỡi, bên cạnh các mặt tích cực còn có một số mặt tiêu cực cần tránh xa. Điều đầu tiên phải nói đến chính là làn sóng thần tượng tràn lan, phong cách ăn mặc “ngôi sao” lên ngôi. Cái mà nhiều bạn trẻ Việt ngày nay gọi là “mốt”, là xu hướng. Họ dần đánh mất “nguyên bản” và chấp nhận trở thành “bản sao” của người khác. Những cỗ máy photocopy thời @ ra đời. Từ đầu tóc, quần áo đến giày dép đều rất giống nhau. Đi ra đường không thể phân biệt nổi ai lớn hơn ai, ai nhỏ hơn ai. Vì lẽ tất cả đều là bản sao của nhau. Tôi tự hỏi họ được gì khi làm vậy. Sự nổi tiếng chăng? Không. Vì họ chẳng hề tài năng. Nhiều tiền bạc? Không. Vì khi để giống thần tượng của mình họ phải chi một khoảng không nhỏ cho các tiệm làm tóc và các shop thời trang danh giá. Thế thì là cảm giác thỏa mãn. Vâng, cái này thì đúng. Cảm giác thỏa mãn cho những thú vui xa xỉ và vô bổ. Nhưng rồi thời gian trôi qua, giống như một cơn sóng lớn, sau đỉnh điểm hào nhoáng tất cả lại lắng xuống và trở thành bọt biển lăn tăn. Cái gì quá nhiều thì dễ nhàm chán. Cơn bão đi qua con người sực tỉnh và tự hỏi mình là ai? Là “nguyên bản” hay “bản sao”?

    Có được nét riêng là điều tốt nhưng làm thế nào để giữ cho nét riêng ấy không bị lu mờ theo thời gian là điều mà mọi người trong chúng ta luôn trăn trở. Tôi có quen một anh bạn có thú vui nhiếp ảnh, hiện nay đã và đang công tác tại một công ty dược phẩm. Công việc tuy bận rộn nhưng không vì thế mà anh từ bỏ thú vui của mình, nhiều hôm vì mãi vui chơi với chiếc máy ảnh mà anh suýt bị mất việc. Gia đình và bạn bè khuyên anh nên từ bỏ hoặc chuyển sang thú vui khác ít tốn thời gian hơn nhưng anh vẫn bỏ ngoài tai tất cả, vẫn giữ thói quen thức khuya, dạo khắp thành phố để tìm cho mình một góc ảnh đẹp. Và tôi gọi đấy là nét riêng. Nét riêng anh vẫn cố giữ cho riêng mình mặc lời qua tiếng lại, mặc dòng đời chảy trôi.

    Trong cuộc sống với quá nhiều thách thức như hiện nay, khi mà xã hội dân chủ đề cao cái tôi và chủ nghĩa cá nhân, việc giữ được nét riêng là bộ mặt đầu tiên để tiếp cận với mọi vấn đề, giúp con người ta tin tưởng vào khả năng của bản thân, từ đó sống hữu ích và đóng góp cho xã hội. Nét riêng của bản thân còn là động lực cần thiết giúp con người có thêm niềm tin và nghị lực để bước tiếp ở mỗi lần do dự và vấp ngã. Mỗi người cần xác định lối sống đúng đắn để vừa dung hòa với cộng đồng vừa giữ được cá tính của mình. Cần sống chân thành với bản thân và mọi người xung quanh, biết yêu thương và sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn và quan trọng hơn là luôn tự tin với những gì mình nghĩ, mình làm. Không ba phải ai nói gì cũng nghe theo, làm theo. Chỉ có sống hết mình thì mới có thể vừa giữ gìn cái riêng vừa tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp.

    “Nguyên bản” hay cá tính đều là những tính từ hay và đẹp mà con người luôn muốn được nhắc đến khi nói về mình. Nhưng để có được hai cụm từ ấy không hề đơn giản. Sống và giữ “nguyên bản” luôn nổi bật là điều không phải riêng gì tôi mà ai trong chúng ta cũng mong muốn đạt được. Là thế hệ thanh niên trẻ mang trên mình nhiều hoài bão và ao ước tôi hiểu thế nào là sự quan trọng của “nguyên bản” và tác hại ghê gớm của những “bản sao”. Đó là lí do vì sao tôi chọn câu nói của John Mason làm triết lí sống cho riêng mình.

     

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Đi về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn

    [Văn Nghị luận Mẫu] Đi về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn

    “Đi về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn” (Whitman)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    1. DÀN Ý:

    2. Mở bài:

    Giới thiệu khái quát về vấn đề, đưa ra triết lí sống của bản thân: “Đi về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn” (Whitman).

    1. Thân bài:
    2. a) Giải thích:

    -Triết lí sống là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận cuộc sống. Triết lý sống là chính cuộc sống, là những suy tư về cuộc sống, để sống cho khôn ngoan, sáng suốt và hạnh phúc. Triết lí sống là kim chỉ nam cho cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng.

    – Khi ta nhìn về phía mặt trời, bóng tối sẽ không còn hiện hữu, khuất sau lưng ta.
    – Mượn hiện tượng đó, Whitman muốn thể hiện một ý tưởng mang tính triết lí:

    + Mặt trời tượng trưng cho sự sống, sức sống, vẻ đẹp rực rỡ. Còn bóng tối là những gì u ám, ảm đạm, khó khăn.
    + Nhìn về ánh mặt trời là nhìn về ánh sáng của sự sống, sức sống, vẻ đẹp rực rỡ – nhìn và hướng đến những điều tốt đẹp, tích cực. Khi ta nhìn và hướng đến những điều ấy thì chắc chắn bóng tối, khó khăn, ảm đạm, sẽ khuất dần lại sau mỗi chúng ta.

    1. b) Bàn luận:

    – Câu nói của Whitman là một triết lí, một chân lí hiển nhiên, cho chúng ta một lời khuyên quý giá về thái độ sống tích cực, lạc quan. Khi hướng đến những điều tốt đẹp thì bản thân mỗi người có thêm động lực, niềm vui, niềm tin, sức mạnh để hoàn thành công việc, ý nguyện. Những suy nghĩ ảm đạm, tiêu cực thậm chí cả sự thất bại sẽ bị đẩy lùi, không còn trở thành một thế lực cản trở ta trên con đường tiến lên phía trước.

    – Thái độ sống lạc quan, kiên trì là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công. Cuộc sống ai chẳng thất bại đôi ba lần, quan trọng là cách ứng xử của ta trước thất bại: bỏ cuộc hay chấp nhận nó mà đứng lên. Con đường đến với thành công, với hạnh phúc thì rất chông gai, trắc trở thậm chí có cả khổ đau, nhưng có niềm tin, sự lạc quan, biết đứng lên sau vấp ngã thì mới có thể đến đích.

    – Hướng về điều tốt đẹp, tích cực không đồng nghĩa với nhìn mọi vấn đề một cách hời hợt, dễ dãi, chỉ thấy sự thuận lợi mà không thấy hết khó khăn.
    – Cách suy nghĩ, cách sống chỉ nhìn về phía bóng tối, phía u ám, phía bi quan của sự việc và cuộc đời chỉ dễ làm con người nản lòng, hoài nghi, ủ dột, không dám tiến bước về phía “mặt trời”.

    1. c) Bài học nhận thức: Chúng ta cần có cách nhìn toàn diện về cuộc sống, thấy được những sai trái, mặt tiêu cực để tránh, nhìn ra những mặt tích cực để có con đường đi đúng.
    2. Kết bài:

    – Nêu ý nghĩa, bài học nhận thức và hành động:

    – Lời khuyên của Whitman mang tính đúng đắn, hàm chứa một triết lí sống, một quan niệm sống tích cực và yêu đời. Cần phải biết nhìn mọi việc đang diễn ra dưới góc độ lạc quan, tích cực nhất thì chúng ta sẽ vượt qua tất cả trở ngại, hoặc đau buồn…

    “Đi về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn” (Whitman) Văn nghị luận mẫu

     BÀI LÀM:

    Bạn sẽ làm gì khi mà khó khăn dường như lấp kín hết đời bạn, khi mà thần may mắn không còn mỉm cười, những gì xung quanh bạn toàn những tai tiếng và nỗi nhục nhã, ê chề, những hoài nghi và cả sự thất bại bủa vây,…? Dũng cảm đối mặt với thử thách đó hay đầu hàng, phó mặc cho số phận đã an bài? Nếu là tôi, chắc chắn tôi sẽ tiếp tục đương đầu với những khó khăn đó, vì tôi luôn tin vào câu danh ngôn nổi tiếng của nhà văn Nam Phi Whitman: “Đi về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau bạn”. Câu nói ấy là một triết lí sống đẹp giúp tôi vượt qua những thử thách, khó khăn của cuộc đời, nhắc nhở tôi phải biết sống lạc quan, vững tin vào cuộc sống.

    Triết lí sống là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận cuộc sống. Triết lý sống là chính cuộc sống, là những suy tư về cuộc sống, để sống cho khôn ngoan, sáng suốt và hạnh phúc. Nó là kim chỉ nam cho cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng. Triết lí sống là kết tinh của những nỗ lực tìm ra chân lí cuộc sống, nó rất đa dạng và không bao giờ chấm hết được, vì không bao giờ người ta khám phá được chân lý toàn diện về cuộc đời cả. Mỗi người muốn thành công cần phải có một triết lí sống cho riêng mình, với tôi đó là câu nói của Whitman: “Đi về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau bạn”.

    Khi ta nhìn về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất dần sau lưng ta. Mượn hiện tượng đó, Whitman muốn thể hiện một ý tưởng mang tính triết lí giúp chúng ta biết tin yêu cuộc sống này hơn. Mặt trời tượng trưng cho sức sống, vẻ đẹp rực rỡ. Còn bóng tối là những gì u ám, ảm đạm, khó khăn. Nhìn về ánh mặt trời là nhìn về ánh sáng của sự sống, cái đẹp rạng ngời – nhìn và hướng đến những điều tốt đẹp, rạng rỡ, tích cực. Khi ta nhìn và hướng đến chúng – chắc chắn bóng tối, khó khăn, điều không vui, sẽ mất dần sau lưng. Câu nói đem đến cho chúng ta bức thông điệp về chân lí cuộc đời: con người phải có niềm tin, thái độ sống lạc quan, biết hướng về phía trước thì mọi khó khăn, u ám cũng sẽ bị bỏ lại sau lưng.

    Câu nói của Whitman là một triết lí, một chân lí hiển nhiên, cho chúng ta một lời khuyên quý giá về thái độ sống tích cực, lạc quan. Khi hướng đến những điều tốt đẹp và tích cực, bản thân mỗi người có thêm động lực, niềm vui, niềm tin, sức mạnh để hoàn thành công việc, ý nguyện. Những suy nghĩ ảm đạm, tiêu cực thậm chí cả sự thất bại sẽ bị đẩy lùi, không còn trở thành một thế lực cản trở ta trên con đường tiến lên phía trước. “ Phía cuối đường hầm là ánh sáng”, sau cơn giông bão là trời quang mây tạnh, khi băng tuyết tan mùa xuân sẽ đến, ánh sáng sẽ xua tan đêm tối, khổ đau bất hạnh rồi sẽ đi qua và một tương lai tươi sáng đang chào đón bạn nếu bạn biết hướng đến nó. Tôi đã tin vào điều đó, không ai sinh ra chỉ toàn là bất hạnh, không cuộc đời nào chỉ toàn là hạnh phúc. “Cuộc đời là một phương trình cân bằng” nên ta phải biết tin váo cuộc sống, tin vào chính bản thân mình. Đôi khi trong cuộc sống có những thời điểm mà mọi thứ dường như chống lại bạn, mọi cố gắng đều phí hoài, những hoài nghi, những khó khăn, thất bại cứ bủa vây, bóp nghẹt đến nỗi cảm tưởng mình không thể chịu đựng thêm giây phút nào nữa, chỉ muốn buông xuôi, trốn chạy tất cả. Áp lực cuộc sống là điều không tránh khỏi, rồi lại áp lực học tập, áp lực gia đình,… khiến tôi thực sự mệt mỏi, không còn chút sức lực để hít thở, để tồn tại, nhưng thiết nghĩ ai chẳng phải trải qua, có người vượt qua được, có người thành công tại sao lại không. Mỗi lần nghĩ đến câu nói ấy như có một niềm tin vùng dậy khiến tôi phải nỗ lực nhiều hơn nữa. Chúng ta luôn phải sống cùng chúng, thích nghi với chúng để không phải hoang mang, để tìm cách giải quyết, suy nghĩ theo chiếu hướng tích cực hơn: chúng làm cuộc sống bạn bận rộn và đầy sắc màu chứ không phải là một con đường bằng phẳng, nhàm chán, vô vị. “Để trở thành một kẻ bi quan thì rất dễ, nhưng để làm một người lạc quan, hiểu rõ giá trị và ý nghĩa cuộc sống thì lại là điều không dễ dàng. Bởi lẽ, kẻ bi quan thường không có hy vọng, không tin mọi thứ có thể thay đổi được, và nhất là không bao giờ dám làm điều gì để thay đổi.” – M. J. Ryan. Có những nỗi đau tưởng không bao giờ có thể nguôi ngoai…Có những vết thương lòng chỉ tạm lắng xuống mà không thể nào thôi xót xa…Có những giây phút chìm đắm trong bế tắc, tuyệt vọng mà nào biết ánh sáng đang le lói phía cuối con đường…Cuộc sống vốn là như thế!- là những mắc xích niềm vui – nỗi buồn, hạnh phúc – khổ đau, may mắn – bất hạnh đan xen trên tấm lưới cuộc đời.

    Thái độ sống lạc quan, kiên trì là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công. Cuộc sống ai chẳng thất bại đôi ba lần, quan trọng là cách ứng xử của ta trước thất bại: bỏ cuộc hay chấp nhận thất bại mà đứng lên, như Tom Cruise đã từng nói: “ Khi cuộc sống nhấn chìm bạn nơi dòng xoáy hung dữ, bạn chỉ có hai con đường: Buông xuôi để rồi chìm dần xuống đáy, hoặc sẽ hít một hơi dài và dũng cảm bơi tiếp”. Có lẽ, bất kỳ ai trong chúng ta đều đã từng một lần trải qua thất bại hoặc đổ vỡ. Đứng trước chọn lựa khó khăn của cuộc sống, một số người sẽ đầu hàng hoàn toàn trước số phận nhưng một số khác biết đứng lên, và bằng cách này hay cách khác, đã thoát ra khỏi bóng tối của nghịch cảnh. Vấn đề nằm ở thái độ, cách nhìn nhận của chúng ta về cuộc sống. Con đường đến với thành công, với hạnh phúc thì rất chông gai, trắc trở thậm chí có cả khổ đau, nhưng có niềm tin, sự lạc quan, biết đứng lên sau vấp ngã thì mới đến đích. Marilyn V.Savant đã từng nói: “Bị đánh bại chỉ là tình trạng nhất thời, bỏ cuộc mới là sự thất bại vĩnh viễn”. Bỏ cuộc là từ bỏ mục đích, buông xuôi, không chiến đấu nữa mới là sự thất bại vĩnh viễn. “ Thất bại là mẹ thành công”, có cay đắng, khổ đau thì mới có hạnh phúc, ngọt ngào ; hạnh phúc sẽ càng ý nghĩa hơn khi nó được đánh đổi băng chính nước mắt, khổ đau của mình. Hơn ba nghìn lần làm thí nghiệm thất bại cuối cũng Êđitxơn cũng tìm ra vật liệu làm sợi tóc bóng đèn, liệu sẽ có ai nữa chịu đựng được sự thất vọng, buồn đau trong ba nghìn lần thất bại mà vẫn không từ bỏ mục đích. Êđixơn là một tấm gương cho chúng ta học hỏi về niềm tin và sự lạc quan trong cuộc sống: mỗi lần thất bại là một lần bạn bước gần hơn đến thành công. Con đường đến với thành công, với hạnh phúc rất trắc trở thậm chí có cả khổ đau. Nhưng ai có niềm tin, lạc quan để biết đứng lên sau vấp ngã, thất bại thì người đó mới có thể chạm đến cái đích thật sự của sự thành công.

    Hướng về điều tốt đẹp, tích cực không đồng nghĩa với nhìn mọi vấn đề một cách hời hợt, dễ dãi, chỉ thấy sự thuận lợi mà không thấy hết khó khăn. Chúng ta cần có cách nhìn toàn diện về cuộc sống, thấy được những sai trái, mặt tiêu cực để tránh, nhìn ra những mặt tích cực để có con đường đi đúng.

    Cách suy nghĩ, cách sống chỉ nhìn về phía bóng tối, phía u ám, phía bi quan của sự việc và cuộc đời chỉ dễ làm con người nản lòng, hoài nghi, ủ dột, không dám tiến bước về phía “mặt trời”. Họ là những con người dễ bị nhấn chìm trong bóng đêm của sự thất vọng, sợ hãi, trì trệ. Họ là những người dễ nản lòng trước khó khăn, thử thách. Ở những con người như thế, bóng tối sẽ luôn bủa vây. Họ không biết cách hướng về ánh sáng diệu kì của mặt trời cũng như bình tĩnh tìm cho mình những giải pháp hợp lí để giải quyết vấn đề. Thật đáng thất vọng thay, số đông người như thế lại thuộc về giới trẻ chúng ta. Có những cô, những cậu quý tử được sinh ra trong một gia đình khá giả, quen được chiều chuộng, suốt ngày chơi bời, phá phách. Hễ bị bố mẹ mắng mỏ, nạt nộ là lại đùng đùng khăn gói bỏ nhà ra đi. Hay nhiều học sinh sau khi biết mình thi trượt đại học lại có cảm giác như bị mất đi tất cả, bị thất bại thảm hại, vội tìm đến cái chết để kết thúc cuộc đời một cách ngu xuẩn. Có nhiều người vì bị đuổi việc, thất nghiệp, nợ nần, phá sản … dẫn đến hoang mang, mất lí trí không làm chủ được bản thân, xa đọa, vướng vào tệ nạn xã hội, tự hủy họa bản than lúc nào không hay,…Đó đều là những con người không có niềm tin, ý chí vào cuộc sống.

    Lời khuyên của Whitman mang tính đúng đắn, hàm chứa một triết lí sống, một quan niệm sống tích cực và yêu đời. Biết hi vọng và tin tưởng vào những điều tốt đẹp là phương thuốc nhiệm màu giúp chúng ta mạnh mẽ, tự tin hơn trong cuộc sống. Có niềm tin chúng ta sẽ tìm thấy sự chia sẻ, nâng đỡ và tình yêu thương giữa cuộc sống đời thường khó khăn, thử thách này. Tôi sẽ sống như loài hoa hướng dương, chúng là hình ảnh rõ ràng nhất cách hướng về phía mặt trời. Dù cho rễ cây bám sâu vào lòng đất, dù cho con người trồng chúng ở vị trí tối tăm nào thì chúng vẫn luôn sống thẳng, vươn tới nơi có ánh sáng mặt trời để hấp thụ tinh hoa của sự sống. Quan trọng hơn chúng ta cần phải biết nhìn mọi việc đang diễn ra dưới góc độ lạc quan, tích cực nhất , và nó sẽ đưa ta vượt qua tất cả trở ngại, khó khăn.

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Sống là không chờ đợi

    [Văn Nghị luận Mẫu] Sống là không chờ đợi

    Sống là không chờ đợi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    DÀN Ý:

    Mở bài: Trong bức tranh tổng thể đa màu sắc của cuộc đời đã có bao lần bạn tự nhìn lại, xem cách phối màu của mình thế nào? Cái bạn nhận thấy được đó chính là triết lí sống…Vậy triết lí sống của bạn là gì? Riêng với tôi, “ sống là không chờ đợi”.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    Triết lí sống là những quan điểm, quan niệm tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Nó được đặt ra như một kim chỉ nam để hướng con người đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. Hay nói cách khác triết lí sống chính là bệ phóng, là nền tảng để mỗi chúng ta dựa vào tìm cách sống, cách ứng xử sao cho hợp lẽ, khôn ngoan nhất.

    b)Bàn luận:

    – Sống để thành công (cá nhân).

    – Sống để yêu thương ( tập thể).

    – Sống là không chờ đợi không phải là sống nhanh, sống hối hả để rồi quên đi những giá trị thực của cuộc sống.

    – Sống là không chờ đợi thúc đẩy được năng lực của mỗi người, giúp bản thân sống năng động, tự tin hơn, làm chủ được mọi tình thế. Nó thể hiện được cá tính mạnh mẽ, bản lĩnh và dám đương đầu với thách thức; khát khao được hòa nhập với đời, khát khao thực hiện ước mơ, hoài bão.

    c)Bài học nhận thức: Nhìn vấn đề theo một chiều hướng khác, đôi khi chờ đợi cũng là một điều tốt.

    Kết bài: Bailey có câu: “Khi bạn sinh ra, bạn khóc còn mọi người xung quanh cười. Hãy sống sao cho khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn cười.” Cuộc đời là một chuỗi những chông gai, thử thách đang chờ đợi con người ở phía trước. Vì vậy việc xác định cho riêng mình một triết lí sống là điều đầu tiên ta nên làm khi muốn vươn đến thành công.

    Sống là không chờ đợi. Văn Nghị luận Mẫu

    BÀI LÀM:

    Cuộc sống là một đường chạy marathon dài vô tận, nếu ta không cố gắng thì sẽ mãi bị bỏ lại ở phía sau và không bao giờ tới đích.

    Trong nhịp sống ồn ã, náo động của phố thị, giữa những xô bồ tranh chấp của người với người trong cuộc đời; đôi lúc con người ta lại dành cho riêng mình những khoảng lặng để suy ngẫm. Suy ngẫm về những gì đã qua, những chuyện đang làm và hướng đến tương lai. Giống như một bản nhạc có nốt thăng, nốt trầm, đời người cũng vậy. Được sinh ra với những chuỗi ngày bất tận của niềm vui, nỗi buồn… mọi thứ cứ lần lượt đan xen nhau tạo thành một bức tranh tổng thể đa màu sắc. Ngắm nhìn bức tranh ấy, đã bao lần bạn tự hỏi: “ Nó có ý nghĩa gì?”, “Giá trị thật sự nằm ở đâu?”, “Làm thế nào để bức tranh ấy hoàn hảo nhất?”…Câu trả lời chính là ở triết lí sống của mỗi người hay nói cách khác đó chính là nguyên liệu, là màu tô mà bạn sử dụng để vẽ.  Dù có yêu thương, lạc quan hay cố gắng thì theo tôi tất cả đều chỉ nằm vỏn vẹn trong duy nhất một từ “SỐNG”. Sống trọn vẹn để yêu thương, sống can đảm để thành công…vì bởi “sống là không chờ đợi”.

    Ngạn ngữ Anh có câu: “Triết lí sống là một cánh buồm, còn cuộc đời là một con tàu. Không có buồm tàu sẽ lênh đênh trôi dạt vô bờ bến”. Câu nói ấy phần nào đã khẳng định được ý nghĩa quan trọng và vai trò to lớn của việc xác định triết lí sống đối với mỗi người. Vậy thế nào được gọi là triết lí sống? Triết lí sống là những quan điểm, quan niệm tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Nó được đặt ra như một kim chỉ nam để hướng con người đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. Hay nói cách khác triết lí sống chính là bệ phóng, là nền tảng để mỗi chúng ta dựa vào tìm cách  sống, cách ứng xử sao cho hợp lẽ, khôn ngoan nhất.

    Cuộc đời là một bức tranh đa sắc màu và hiển nhiên ý nghĩ, suy tư cũng khác nhau. Vậy triết lí sống của bạn là gì? Riêng tôi, triết lí sống chính là ở thời gian, ở cách sắp xếp mọi thứ trong cuộc sống này. Giữa xã hội bộn bề với đủ mọi lo toan, con người khác nào một quay luôn bị xoay vần. Ta muốn thành công, ta muốn thành đạt vì thế mồ hôi, công sức bỏ ra đâu phải dễ. Mà thời gian thì vô hạn, cuộc đời hữu hạn, nên những ý nghĩ, sự sáng tạo làm thế nào để thực hiện hết. Chỉ có cách duy nhất, đó là SỐNG! Sống trọn từng giây, từng khoảnh khắc, từng ngày. Từ khi còn bé tôi đã được bà dạy rằng: cuộc sống sẽ chẳng có gì là dễ dàng, mọi thành công sẽ không bao giờ tự đến mà tất cả đều do con người nắm bắt lấy. “Sống là không chờ đợi”. Hôm nay, ta còn được vui cười, hạnh phúc bên người thân nhưng chắc gì ngày mai ta còn hiện hữu trên cõi đời này. Mỗi lần nghĩ như thế, tôi lại bất giác rùng mình, cơ thể như được tiêm vào một liều thuốc để sống sao cho tích cực hơn, có ý nghĩa hơn. Chẳng bởi thế, khi học thơ Xuân Diệu bản thân nhận thấy có một phần hồn của mình ở đâu đó:

    “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

    Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

    Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

    Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật”

    Đã có nhiều lúc tôi thắc mắc: “Những gì ta có thể làm được trong hôm nay tại sao cứ phải chần chừ, để dành cho ngày mai?” Cuộc sống là một bữa tiệc với hàng loạt những trải nghiệm, những món ăn chờ đợi con người thưởng thức. Hết ngày này đến tháng kia, mỗi ngày đối với bản thân tôi đều mang một hương vị mới, một mùi thơm riêng. Tại sao một năm không phải có 1 ngày mà đến tận 365? Đó là bởi tạo hóa, bởi chúa Trời muốn con người lần lượt nếm đủ các vị đắng, cay, ngọt, bùi; trải qua đầy đủ mọi cảm giác cơ bản của loài người hỉ, nộ, ái, ố…Vì thế, mỗi ngày là một trang mới, là một món quà mang những đặc trưng riêng mà chúng ta lại chẳng có cớ gì từ chối món quà đặc biệt ấy cả. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, thoăn thoắt chẳng chờ đợi ai. Còn mỗi cá thể là một bông hoa, vì thế chúng ta phải biết trân trọng, biết tận dụng để “cháy” hết mình, bung tỏa sao cho đẹp nhất.

    Có ai đã từng nói: “Hãy mơ những gì bạn muốn mơ, tới những nơi bạn muốn tới; trở thành con người tốt nhất mà bạn muốn trở thành; vì bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả những điều bạn muốn làm.” Vâng! Chỉ có một cuộc sống và một cơ hội. Đó chính là tất cả của một đời người. Đã gọi là  “mơ” thì chẳng có ai ngăn cản nhưng hơn hết ta hãy tìm cách biến ước mơ ấy thành hiện thực, mang giá trị của mình đóng góp cho đời, ghi dấu ấn của bản thân trên cuộc sống này. Có thể nói thành công được tạo nên từ nhiều yếu tố khác nhau nhưng một trong số đó là phải biết nắm bắt cơ hội. Cơ hội chợt đến rồi vụt đi chỉ trong chớp mắt – chớp mắt của sự thành công, chớp mắt để thực hiện ước mơ. Trì hoãn đồng nghĩa với thất bại bởi không ai lấy được thời gian đã mất – dù chỉ một giây. Suy nghĩ kĩ rồi đưa ra một quyết định nhanh chóng nhất bởi cuộc đời sẽ không cho ta lần thứ hai, đừng để phải hối hận tiếc nuối khi nhìn lại.

    “Sống là không chờ đợi” còn là cách để ta biết yêu thương, quan tâm mọi người hơn. Trong cuộc sống, chúng ta lại thỉnh thoảng bắt gặp trường hợp ai đó cứ chần chừ, trì hoãn để rồi lại đánh mất đi điều đáng quý. Chẳng hạn như việc bạn phải lòng một cô gái lớp bên. Bạn muốn cô ấy biết tình cảm của mình nhưng lại dè dặt không dám nói?…..Vâng! Điều ấy theo tôi chẳng có gì đáng sợ và lời khuyên dành cho bạn là tại sao không thử bắt chuyện, làm quen với cô ấy. Bởi biết đâu, tình yêu sẽ đến với bạn thật sự. Cuộc sống đã dạy cho tôi biết rằng: khi có một ngọn đồi chắn ngang trước mặt, đừng nghĩ rằng việc chờ đợi sẽ làm nó nhỏ lại….Đã có bao giờ bạn chạy đến ôm mẹ và nói rằng “con yêu mẹ”? Đã có mấy lần bạn khen món ăn mẹ làm thật ngon? Và phải chăng đã rất lâu rồi bạn không tỉ tê thật lòng với tụi bạn: “ Cảm ơn tụi mày đã ở bên khi tao cần nhất” chỉ vì ngượng…Còn tỉ tỉ điều chúng ta vẫn thường tự nhủ rằng “có dịp hẳn nói” hay “một ngày nào đó”. Và rồi kết quả liệu có phải ai trong tất cả chúng ta cũng có thể chờ được đến ngày đó? Bạn có thể chờ được nhưng mẹ không thể. Bạn có thể chờ được nhưng tụi bạn đã mỗi người một nơi. Vậy tại sao chúng ta không sống ngay cho hiện tại? Tại sao không thay đổi thứ ngôn ngữ kiểu “tôi hi vọng, tôi muốn, tôi mong sao….thành tôi phải hoàn tất công việc ngay bây giờ”?

    Có lẽ khi gặp vấn đề này, nhiều ý kiến trái chiều sẽ nổi lên, cho rằng “Sống là không chờ đợi” là sống nhanh, sống hối hả, con người sẽ dần quên đi những giá trị thật sự tồn tại quanh mình. Nhưng không, nếu ai có ý nghĩ như vậy thì thật sai lầm! Nếu như “căn bệnh trì hoãn” làm  ta chậm phát triển, lãng phí thời gian, làm bản thân tụt hậu so với thời đại thì quan niệm “sống là không chờ đợi” sẽ phần nào thúc đẩy được năng lực của mỗi người, giúp bản thân sống năng động, tự tin hơn, làm chủ được mọi tình thế. Nó thể hiện được cá tính mạnh mẽ, bản lĩnh và dám đương đầu với thách thức; khát khao được hòa nhập với đời, khát khao thực hiện ước mơ, hoài bão. Nhìn đi cũng phải nói lại bởi đôi khi chờ đợi cũng là một điều tốt, là dấu hiệu đầu tiên của những người có văn hóa, của kẻ khôn ngoan…Nhưng tôi xin lưu ý rằng: “chờ đợi” khác “trì hoãn”. Và hiển nhiên điều ấy cũng chỉ đúng trong một số trường hợp, bởi trên đời này chẳng có gì là tuyệt đối. Điều đó lí giải tại sao “bút chì lại có tẩy”…

    Liệu có bao giờ ta tự đặt tay lên tim mình và hỏi: “Nếu chủ còn một ngày để sống, mình có hối tiếc điều gì chưa kịp làm, chưa dám làm, có nên làm điều ấy ngay lúc này ?”. Là một trong những thế hệ thanh niên, tôi thấy tiếc cho cuộc đời của những bạn trẻ đã sống hoài, sống phí, lao mình vào con đường ăn chơi. Tại sao chúng ta không sống cho thực tại? Tại sao lại không sống tốt với bản thân mình? Hạnh phúc là đâu? Không phải danh vọng, tiền bạc mà đó chính là gia đình, là người thân xung quanh, là những điều tưởng chừng giản đơn hiện ra hằng ngày trong cuộc sống. Ta vẫn thường nghĩ đến “ngày mai” như một khái niệm diễn ra hết sức bình thường : “đương nhiên ngày mai sẽ đến”, “ngày mai đi, tất nhiên rồi”, nhưng cuộc đời, số phận chẳng ai báo trước được điều gì. Vậy thì cứ sống, cứ nuôi nhiệt huyết cho những đam mê bởi cuộc đời còn lắm những chông gai, thách thức. Sống để “Khi bạn sinh ra, bạn khóc còn mọi người xung quanh cười. Hãy sống sao cho khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn cười.” (Bailey) Mong sao mỗi người hãy mạnh dạn tô màu cho bức tranh cuộc đời mình thêm sinh động, tươi tắn. Nào, hãy đứng dậy và hành động ngay đi!

     

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Hãy cố gắng!

    [Văn Nghị luận Mẫu] Hãy cố gắng!

    Hãy cố gắng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    DÀN Ý

    Mở bài: Giới thiệu triết lí sống của mình : “ Hãy cố gắng !”.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Triết lý sống là gì?

    – Như thế nào là cố gắng?

    1. b) Bàn luận:

    Tôi luôn phải cố gắng cho cuộc sống của mình:

    – Cố gắng sống có ích.

    – Cố gắng sống biết hưởng thụ.

    – Cố gắng sống yêu thương

    – Cố gắng đạt được những gì mình muốn.

    1. c) Bài học nhận thức: Sống có ích, sống biết hưởng thụ, sống biết yêu thương, và sống có những gì mình đạt được bằng chính năng lực mình.

    Kết bài: Tôi sẽ là người hạnh phúc với quan niệm sống của mình: Hãy cố gắng!

    Hãy cố gắng. Văn Nghị luận Mẫu

    BÀI LÀM:

    “Cuộc đời là một phương trình cân bằng, giá trị bạn nhận được bằng giá trị bạn đóng góp cho đời này.”

    “Hãy luôn đồng hành cùng với những người cùng đẳng cấp với bạn, là học trò của người thành đạt, và là thầy của những người kém hơn bạn.”

    “Thất bại chỉ là một phép thử để tôi tìm ra điều mình muốn.”

    Sống ở đời, con người ta cần có một mục tiêu sống, một quan niệm sống. Nó giúp chúng ta tìm thấy lối đi của chính mình. Tôi cũng vậy, tôi cũng có quan niệm sống cho riêng mình. Đó là: Hãy cố gắng! Tôi luôn phải cố gắng. Cuộc sống tôi từ khi sinh ra đến giờ luôn gắn liền với hai từ “Cố gắng”. Tôi cố gắng sống có ích, cố gắng sống hưởng thụ, cố gắng sống yêu thương và cố gắng đạt được những gì mình muốn.

    Đã là người, ai cũng có ít nhất một lần thất bại. Thất bại của tôi thì nhiều. Hậu quả của nó có khi còn làm liên lụy đến mọi người. Tôi từng cảm thấy rất buồn. Thế nhưng không gì ngăn được ước muốn làm người có ích trong tôi. Tôi biết thành công bao giờ cũng bắt đầu từ những điều nhỏ bé. Vì vậy, tôi quyết định bắt đầu giúp mọi người từ những việc vặt. Nhưng chắc chắn công cuộc làm người tốt của tôi sẽ không dừng lại ở đó. Tôi sẽ cố gắng làm những việc lớn hơn nữa để giúp mọi người.

    Lúc đầu, tôi có ý nghĩ giúp mọi người vì muốn sau này mình cũng được giúp lại như vậy. Suy cho cùng tôi giúp người khác là vì bản thân. Nhưng thấy họ vui khi được giúp làm tôi cũng cảm thấy vui. Và tôi không cần sự đáp trả nữa. Tôi giúp mọi người vì tôi thấy vui và sẽ cố gắng để có ích hơn nữa.

    Tôi từng được tìm hiểu khá kĩ về Nguyễn Tuân- một nhà văn lớn của nước ta. Tôi thấy ông rất biết sống hưởng thụ. Ông thích món ăn đẹp hơn là ngon, ông thà đi dạo bộ còn hơn đi dạo trên chiếc xe đạp tồi tàn. Tôi thấy sống như vậy thật thú vị. Tôi nghĩ cái gì cũng nên cần có tính thẩm mỹ. Ví dụ, ta có thể sống trong mọi ngôi nhà có đủ mái và tường. Nhưng ta lại thích xây nhà đẹp hơn, sẵn sàng chi tiền để có được nhà đẹp. Tôi cũng muốn sống một cuộc sống đẹp và biết hưởng thụ. Hưởng thụ với tôi chẳng cần phải xa hoa gì. Chỉ là những điều đơn giản, nhỏ nhoi mà thôi. Đôi khi đó là nụ cười của mọi người khi tôi làm họ vui, tôi hưởng thụ niềm vui đó là thấy lòng hạnh phúc. Đôi khi đó là những sắc màu tươi tắn của những đóa hoa mà mẹ yêu cắm. Hay đó là những tia nắng mỏng manh nhảy nhót trên bàn tay, trên mặt sau những ngày mưa dài…Tự nhiên những khi ấy tôi thấy yêu đời lạ.

    Người ta thường quá bận rộn bởi những tẹp nhẹp của cuộc sống áo cơm mà quên mất niềm vui, hạnh phúc xung quanh. Sống thật sự đã khó, hưởng thụ cuộc sống càng khó hơn. Thế nên tôi sẽ cố gắng sống biết hưởng thụ !

    Theo tôi, sống có ích và sống biết hưởng thụ là chưa đủ, cần phải biết sống yêu thương nữa. Sống càng lâu, ta càng thấy nhiều chuyện lạ. Ngày nay xuất hiện một căn bệnh quái lạ, khó chữa. Đó là bệnh vô cảm. Tôi phát sợ khi đọc những biểu hiện của bệnh đó và sợ khi nghĩ đến một ngày mình sẽ bị vô cảm. Thật là kinh khủng. Một con người mất hết tình thương là con người đáng sợ. Vì vậy, tôi quyết định bồi bổ cho trái tim mình bằng những ý nghĩ yêu thương. Yêu thương những gì mình yêu thương và cố gắng yêu thương những người mình thấy ghét. Con người ai cũng có mặt tốt , mặt xấu. Người ta bị thấy là người xấu bởi lẽ người khác chỉ mới nhìn thấy cái xấu của họ, hoặc là cái xấu của họ nhiều hơn cái xấu mà thôi. Tôi vẫn tin vào cái tốt của họ, nên dù ai đó có làm điều gì không tốt với tôi, tôi vẫn sẽ cố gắng tha thứ và cố gắng yêu quý họ như trước.

    Đôi khi tình yêu không xuất phát từ cái tự nhiên, từ trái tim. Nhưng nếu cố gắng yêu thương, có lẽ sau này ta sẽ yêu thương họ thật sự. Cố gắng sống yêu thương làm tôi thanh thản và hạnh phúc.

    Những cố gắng trên là cố gắng cho đời. Và đây là cố gắng cho mình của tôi: “Cố gắng đạt đước những điều mình muốn”. Đôi khi tôi thấy hơi ghen tị với bọn bạn. Bởi lẽ chúng có tài năng, có điều kiện tốt để phát tiển tài năng, tương lai chúng nó sao mà sáng lạng quá. Mà dù chúng nó không có tài năng, ba má của chúng nó cũng chẳng để chúng nó khổ. Tôi thì không được như vậy. Nhưng tôi sẽ không lấy đó là lý do cho sự thất bại của mình. Tôi sẽ cố gắng ! Cố gắng để thấy được ánh sáng của tương lai. Trước giờ chẳng có gì đến với tôi như “của trời cho” cả. Đã vậy đôi khi tôi thấy mình hơi bị xui xẻo. Dẫu biết tại mình nên mình mới bị những điều không hay. Nhưng đa số mức độ hậu quả những điều không hay đó nặng hơn những người cũng làm điều không hay giống tôi. Nhưng tôi sẽ không để xui xẻo đó đánh gục mình. Tôi sẽ không chịu thua đâu, và sẽ cố gắng ! Cố gắng để đạt được những điều mình muốn. Tôi thấy mình đạt được khá nhiều những mục tiêu đặt ra trước đó. Và bây giờ tôi cũng có một ước muốn cho tương lai. Ước muốn đó với tôi bây giờ có lẽ thật xa vời. Nhưng tôi sẽ cố gắng làm khoảng cách đó gần lại.

    Có ai đã từng hỏi thiên đường ở nơi đâu chưa? Với tôi, thiên đường nơi chính trần gian này. Bởi lẽ, thiên đường là nơi tràn ngập yêu thương và hạnh phúc, mà theo tôi thấy, nơi nào có yêu thương chắc hẳn sẽ có đau khổ, thù hằn, ghen ghét và đố kị. Thế thì thiên đường đó khác gì nơi trần thế này. Tôi sẽ không như bao người trông chờ vào một thế giới tốt đẹp hơn sau khi mất để rồi sống cuộc sống không hại ai, phận mình mình sống. Như vậy có phải ngốc nghếch lắm không? Có ai biết có gì ở thế giới  bên kia đâu chứ. Mà cũng chưa hẳn là có thế giới bên kia thật. Tôi sẽ sống hết mình với thế giới này, sống thật hạnh phúc. Con người luôn hướng tới cuộc sống hạnh phúc. Với tôi, sống hạnh phúc là sống có ích, sống biết hưởng thụ, sống biết yêu thương, và sống có những gì mình đạt được bằng chính năng lực mình.

    Với quan niệm s ống của mình, tôi tin tôi sẽ là người hạnh phúc. Hãy cố gắng !!!

  • [Văn Nghị Luận Mẫu] Hãy là chính mình và đừng bao giờ từ bỏ ước mơ.

    [Văn Nghị Luận Mẫu] Hãy là chính mình và đừng bao giờ từ bỏ ước mơ.

    Hãy là chính mình và đừng bao giờ từ bỏ ước mơ.

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


        DÀN Ý Văn Nghị Luận Mẫu: 

    1. Mở bài: Giới thiệu triết lý sống: Hãy là chính mình và đừng bao giờ từ bỏ ước mơ
    1. Thân bài: 
    2. a) Giải thích: Câu nói như một lời nhắn nhủ, nhắc nhở con người phải luôn giữ vững cái tôi và ước mơ của mình khi đứng trước giông bão cuộc đời.
    3. b) Bàn luận:

    – Cuộc sống vốn có nhiều khó khăn thử thách như những đám mây đen làm mờ đi ước mơ của bạn.

    – Nhưng chính những trải nghiệm cay đắng ấy mới giúp bạn trưởng thành và mạnh mẽ hơn.

    – Tự đáy lòng mỗi người luôn tồn tại khát vọng được là chính mình để thực hiện ước mơ.

    – Cuộc sống chúng ta như thế nào đều tùy thuộc vào cách nhìn nhận, suy nghĩ của bạn.

    – Dung hòa cả hai thứ: ước mơ và cái tôi để đạt được cái đích mà bạn mong muốn.

    – Mở rộng:

    + Trong cuộc sống hiện tại, thật khó để được là chính mình theo đuổi giấc mơ.

    + Thế nhưng khi đạt được rồi bạn mới nhận ra bản thân mạnh mẽ đến nhường nào.

    1. c) Bài học nhận thức: Đừng nên quá chú tâm vào cái đích mà quên nình lại con đường mà mình đang đi.
    2. Kết bài: Khẳng định lại giá trị bền vững của câu châm ngôn.
    3. Hãy là chính mình và đừng bao giờ từ bỏ ước mơ. Văn Nghị Luận Mẫu
    4. BÀI LÀM:

    Sống và chết có gì khác nhau? Khi chúng ta được sinh ra đời, người vui mừng không phải là bản thân chúng ta, mà là cha mẹ, người thân cuả chúng ta. Sau khi chúng ta chết, người khóc lóc cũng không phải là bản thân chúng ta, mà là con cái, người thân. Bản thân không vui sướng vì khi ra đời chưa không biết sướng vui; chúng ta không khóc lóc vì khi không còn tồn tại sẽ không còn cảm giác.

    Mỗi người không có cách gì phát biểu cho cuộc sống, vì khi đó ta đã được sinh ra rồi, bất luận được trong một hoàn cảnh như thế nào, chúng ta đều không có tư cách quyết định. Chúng ta mở đầu cuộc hành trình bằng tiếng khóc của bản thân, rồi lại kết thúc trong tiếng khóc của người xung quanh. Chúng ta rời khỏi cơ thể mẹ mà ra đời, rồi lại rời khỏi thế giới này mà chết đi. Chúng ta được đẩy lên sân khấu cuộc đời, rồi laị bị kéo xuống. Ta  tựa hồ không hề có một quyền lực can thiệp nào vào hai vấn đề lớn nhất của cuộc đời, là sự sống và cái chết..

    May thay, trong vấn đề này, chúng ta vẫn có hành vi để khiến bản thân sinh ra bình thường, nhưng có thể chết vĩ đại. Ra đời trong cơn đau của một mình người mẹ, nhưng  có thể từ bỏ thế gian này trong tiếng khóc đau thương của hàng triệu con người. Và tôi cũng muốn là một người như thế, có thể để lại chút dấu ấn gì đó trong cuộc đời lớn của nhân loại. Mang trong mình suy nghĩ đó, tôi đã tìm thấy triết lý cho hành trình sống của mình: “Hãy là chính mình và đừng bao giờ từ bỏ ước mơ”.

    Chắc hẳn mọi người đều nghĩ ai ai đang sống đều mang trong mình một giấc mơ để theo đuổi. Thế nhưng sự thật không hẳn là vậy. Có những con người sống không mục đích, không ước muốn, không cầu tiến. Những con người ấy phần vì cảm thấy cuộc sống mình đã rất đầy đủ (hoặc chí ít là họ nghĩ như vậy), họ bằng lòng với những gì mình đang có, thượng đế đã cho họ quá nhiều đến nỗi tưởng chừng như vốn dĩ những thứ ấy vốn là của họ vậy. Đối với những con người như thế, ước mơ dường như là thứ gì đó quá xa vời, quá viển vông còn cuộc đời mà họ đang sống lại chỉ cần bình lặng, yên ổn. Những gì mà tôi đang nói trên đây chắc hẳn chẳng có gì xa lạ đối vời một thành phần giời trẻ hiện nay và trong đó có lẽ có cả tôi trước đây. Tôi sống trong một gia đình thuần nông nhưng không nghèo khó như cái cách mà một số người miêu tả. Bởi dù không phải có nhà lầu xe hơi, nhưng ba mẹ vẫn cho tôi có một cuộc sống bằng bạn bằng bè. Vì thế tôi bình yên lớn lên trong sự chăm sóc của ba mẹ, an ổn học tập và lựa chọn con đường như đã vạch sẵn: làm kinh tế. Anh tôi cũng vậy, chị tôi cũng vậy, những người xung quanh tôi cũng thế, cho nên đối với tôi, ước mơ là cái gì đó quá xa, quá lạ, con đường đi của tôi chỉ là duy nhất, không có sự chọn lựa, và tôi cũng không muốn chọn lựa. Có lẽ tôi vẫn sẽ sống một cuộc sống chỉ biết dựa vào ước mơ, vào sự sắp xếp của người khác như thế nếu không có một ngày, tôi rời khỏi quê vào thành phố. Thay đổi môi trường sống, môi trường học tập, môi trường cạnh tranh, tôi bây giờ không phải là đứa nhỏ luôn đứng nhất nhì trường mà không cần cố gắng, tôi đã khác, đã thay đổi trong cách suy nghĩ, cách hành động. Thực tế ấy đã buộc tôi phải có một mục đích, một động lực để tiếp tục, để cố gắng. Chính vì vậy chỉ khi sống theo ước mơ, theo hoài bão tôi mới được là chính mình.

    Thế nhưng phải biết rằng, con đường đi đến ước mơ không hề bằng phẳng. Bao khó khăn, trở ngại và cả bất hạnh có thể xảy ra vào những lúc không mong chờ nhất như để thử thách lòng dũng cảm của con người. Đôi khi có nhưng việc xảy ra dường như thật đau đớn và quá sức chịu đựng. Phải đợi đến lúc ấy, tôi mới nhận ra rằng bản thân mình không mạnh mẽ như tưởng tượng. Mọi người xung quanh đều cố gắng giúp đỡ, kéo tôi ra khỏi hố sâu ấy nhưng dần dần tôi nhận ra rằng, có những khó khăn mà chỉ có bản thân mới tự giúp đỡ mình vượt qua được. Hành trình ấy như một đường hầm tối tăm mà chính tôi cũng không nhận ra bản thân, ngay cả ở cuối con đường cũng không le lói chút tia hy vọng nào. Tuyệt vọng, gục ngã nhưng ước mơ và người thân đã vực tôi dậy, động viên tôi đi tiếp con đường của mình. Khi đã vượt qua rồi, mới nhận ra rằng nếu không có những biến cố đó, bản thân đã không trưởng thành hơn và biết được sức mạnh của chính mình.

    Đôi khi những trải nghiệm cay đắng sẽ giúp ta chiêm nghiệm cuộc sống của mình một cách rõ ràng và chính xác hơn. Một thất bại luôn chứa một niềm hy vọng. Một cái kết thúc sẽ đi liền với một sự khỏi đầu. Ai đó đã nói rằng: “Nếu thượng đế đóng lại trước mắt bạn một cánh cửa thì sẽ mở ra một cánh cửa khác cho bạn”. Nhưng người ta thường chú ý đến cánh cửa đang đóng chứ không biết rằng một cánh cửa hoàn toán mới đang mở ra sau lưng mình.

    Thế nhưng, bất kể là ai, tự đáy lòng của mỗi con người đều tồn tại một khát vọng mãnh liệt  – đó là khát vọng sống và được luôn là chính mình. Chính khát vọng ấy đã khiến bao trái tim trăn trở, thao thức tìm cho mình một cách nghĩ, một sức mạnh tinh thần, một hướng đi để theo đuổi những hoài bão, ước mơ của mình.

    Trong cuộc sống hiện đại, thật khó để dung hòa cả hai thứ: ước mơ và bản thân. Tôi đã từng thấy những người vì theo đuổi ước mơ mà khom lưng trước những thế lực khác, từ bỏ con người thật để đạt được mục đích. Thế nhưng khi ngồi lên đỉnh vinh quang, lại nhận ra đã đánh mất nhiều thứ hơn là những gì mình đạt được. Cũng có những người giữ vững lập trường cá nhân, đi đứng hiên ngang với đời. Nhưng cuộc sống của họ lại không đạt được như ý nguyện.

    Sống thật với chính bản thân mình để theo đuổi ước mơ dù không dễ dàng nhưng khi đạt được, ta mới nhận ra bản thân có sức mạnh lớn đến nhường nào. Tôi luôn tự nhủ với bản thân rằng, con đường thực hiện ước mơ thì nhiều lắm nhưng cái tôi của bản thân thì chỉ có một. Đừng nên quá chú tâm vào cái đích mà quên nình lại con đường mà mình đang đi.

    Có thể câu triết lý trên hoàn thiện hơn những gì tôi đang suy nghĩ và thực hiện. Thế nên tôi mới phải suy ngẫm lâu hơn và cố gắng hơn trên con đường mình đã chọn. Câu châm ngôn ấy là hành trang tôi mang theo khi bước vào ngưỡng của cuộc đời. Sống thật một cá tính để không chìm giữa biển người vô tận. Đi theo một ước mơ để thấy mình còn đang sống.

     

  • [Văn Nghị luận Mẫu] “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”

    [Văn Nghị luận Mẫu] “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    DÀN Ý:

    Mở bài: Giới thiệu triết lí sống “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” hay cụ thể chính là tấm lòng yêu thương giữa con người với con người.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Là những điều được rút tỉa, chắt lọc bởi những trải nghiệm trong cuộc sống, làm nền tảng cho tinh thần con người. Triết lí sống liên quan mật thiết đến những định hướng sống của con người như lí tưởng sống, niềm vui, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc, thiện – ác.

    – “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” đó là tiêu chuẩn đánh giá tư cách làm người.

    – Tình thương: là tấm lòng yêu thương chân thành và trong sáng, là tình cảm chỉ trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, không toan tính. Có thể nói, tình thương là một thứ tình cảm đẹp đẽ luôn tồn tại trong bản chất của mỗi con người.

    1. b) Bàn luận:

    – Trao đi yêu thương một cách tự nhiên, chúng ta sẽ nhận lại hạnh phúc xứng đáng. Bởi: khổ đau được san sẻ sẽ vơi đi còn hạnh phúc được sẻ chia sẽ nhân đôi.

    – Tình yêu thương cũng không nằm ngoài định luật bảo toàn năng lượng của ngành vật lí: nó ví như một dạng năng lượng bất biến, tình yêu thương chỉ  truyền từ nơi này sang nơi khác, chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi. Những người trao tặng và đón nhận tình yêu thương cũng đang làm một sứ mệnh chuyển giao như thế. Người trao tặng yêu thương và ban phát tình thương nhận về mình niềm vui, niềm hạnh phúc khi được cảm thông, thấu hiểu, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình, đó có thể không phải là sự giúp đỡ về vật chất mà là những giá trị về tinh thần, điều còn quý giá hơn gấp bội.

    – Chuyện xúc động kể lại cuộc đời của một người đàn ông có tên là Mark. Câu chuyện đó được in trong cuốn “hạt giống tâm hồn” của Martin Luther king, như một bài thánh ca cho sự hiện hữu của tình thương luôn tràn ngập.

    – Nhà tỷ phú Bill Gate hiến toàn bộ gia tài của mình làm từ thiện.

    1. c) Bài học nhận thức: Học cách yêu thương từ những điều đơn giản xung quanh ta; trân trọng tình yêu thương mà ta nhận được từ mọi người.

    Kết bài: tình thương làm đẹp cuộc sống, làm đẹp con người.

    Văn Nghị luận Mẫu “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng"

    BÀI LÀM:

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…” . Lời bài hát với âm điệu du dương của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nhẹ nhàng đi vào lòng người như một lời nhắc nhở đầy chân thành và ấm áp, cái ấm áp của tình người, tình đời… Đối với tôi, lời nhắc nhở ấy chính là một quan niệm sống, một triết lí sống quý báu.

    Tôi cho rằng triết lý sống là những điều được rút tỉa, chắt lọc bởi những trải nghiệm trong cuộc sống, nó làm nền tảng cho tinh thần con người. Triết lí sống liên quan mật thiết đến những định hướng sống của con người như lí tưởng sống, niềm vui, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc thiện ác.

    Mỗi con người sinh ra trên thế gian này đã là một niềm hạnh phúc lớn lao. Nhưng sinh ra để sống trong vô nghĩa thì cái diễm phúc lớn lao kia lại trở thành một thứ bi kịch chua xót. Ý nghĩa cuộc sống – điều làm nên hạnh phúc thực sự, để hạnh phúc tồn tại lâu bền nhất lại chỉ vang lên nhịp đập của nó khi được nuôi dưỡng bởi suối nguồn của tình yêu thương. Dường như quy luật ấy đã trở thành muôn thuở và là chân lý của cuộc sống. Cũng bởi thế mà đã có ý kiến cho rằng: “Tình thương là hạnh phúc của con người.”

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” đó là tiêu chuẩn đánh giá tư cách làm người.Yêu thương ở đây nghĩa là sống phải có tình thương. Dù mơ hồ hay rõ ràng, tôi nghĩ rằng ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra tình thương là những tình cảm đẹp đẽ và nồng nhiệt của con người, gắn kết những trái tim đồng cảm. Nó có thể là tình cảm lứa đôi, tình cảm gia đình, bè bạn và cao hơn cả là tình người nói chung. Đó có thể là những tình cảm bình dị nhất, gần gũi nhất từ sự quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống đến những tình cảm lớn lao hơn mang tính cộng đồng.

    Tình thương là tấm lòng yêu thương chân thành và trong sáng, là tình cảm chỉ trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, không toan tính.Có thể nói, tình thương là một thứ tình cảm đẹp đẽ luôn tồn tại trong bản chất của mỗi con người. Tình thương mang lại một sức mạnh kì diệu và nhiệm màu, nó được ví như loại thảo dược mọc ở tất cả nơi đâu có dấu chân con người, một cây nấm linh chi quý giá và bổ dưỡng cho tất cả mọi can bệnh nan y, một củ nhân sâm khó tìm giữa cuộc đời vốn bao quanh là đầy rẫy những củ nhân sâm hình người giả. Và kết quả của sự yêu thương đó là sự thỏa mãn của con tim: cái được gọi là niềm hạnh phúc. Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản và bình dị thế thôi.

    Trao đi yêu thương một cách tự nhiên, chúng ta sẽ nhận lại hạnh phúc xứng đáng. Bởi: khổ đau được san sẻ sẽ vơi đi còn hạnh phúc được sẻ chia sẽ nhân đôi. Đúng vậy, được yêu thương là một hạnh phúc, nhưng yêu thương người khác còn là một hạnh phúc lớn hơn. Tình yêu thương cũng không nằm ngoài định luật bảo toàn năng lượng của ngành vật lí: nó ví như một dạng năng lượng bất biến, tình yêu thương chỉ  truyền từ nơi này sang nơi khác, chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi. Những người trao tặng và đón nhận tình yêu thương cũng đang làm một sứ mệnh chuyển giao như thế. Người trao tặng yêu thương và ban phát tình thương nhận về minh niềm vui, niềm hạnh phúc khi được cảm thông, thấu hiểu, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình, đó có thể không phải là sự giúp đỡ về vật chất mà là những giá trị về tinh thần, điều còn quý gia hơn gấp bội.

    Tôi đã từng đọc một câu chuyện xúc động kể lại cuộc đời của một người đàn ông có tên là Mark. Câu chuyện đó được in trong cuốn “hạt giống tâm hồn” của Martin Luther king, nó như một bài thánh ca cho sự hiện hữu của tình thương luôn tràn ngập. “Trong một đêm mưa tầm tã, Mark đã quyết định chấm dứt cuộc đời mình. Mark không có vợ, chưa từng tìm thấy niềm hạnh phúc bên cạnh gia đình, làm một công việc bất đắt dĩ và dường như trên thế gian này không còn ai quan tâm đến sự tồn tại của ông nữa. Mark đi dọc những con phố, thẫn thờ đến nỗi không để ý đến một câu bé đang cầm tờ hai đô la đứng bên một hàng truyện. Cậu bé ngay cả đến sau nay Mark cũng không biết tên, nhìn thấy ông ướt sũng và khuôn mặt buồn rầu đang thất thần đi tới giữa ngã tư. Cậu bé bối rối nhìn Mark một chặp rồi từ bỏ ý định mua truyện để thay vào đó dùng một đô la mua một cây viết. Cậu bé chạy lại bên ông già Mark khốn khổ và đặt vào lòng bàn tay ông một đô la còn lại của mình và ôm Mark một cái thật nhanh. Cậu bé bỏ đi mà không biết rằng cuộc đời Mark đã thay đổi từ đó. Thật khó tin những điều đơn giản ấy thôi lại có thể thay đổi được cả cuộc đời của một con người đã sống trong sự cô đơn gần suốt hai mươi năm qua. Trên tờ một đô la ấy là dòng chữ nguệch ngoạc của cậu bé kì lạ “còn có ai đó yêu thương ông mà”. Martin Luther King đã nói đúng, mỗi người đều có thể trở nên vĩ đại, chỉ cần trái tim chan chứa lòng khoan dung và tâm hồn luôn tràn ngập một tình yêu thương. Cậu bé với trái tim bằng vàng là một ánh cầu vồng phản chiếu bản năng yêu thương có sẵn của con người. Bản năng ấy cứu vớt cuộc đời, đưa những người trao tặng yêu thương đến một thế giới của tâm hồn đẹp và cũng mở ra cho những con người đón nhận tình yêu thương một chân trời mới không còn sự cô đơn và lạc lõng.

    Còn nhiều lắm những con người mong muốn đem đến hạnh phúc cho mọi người. “Tôi không cần được nhớ đến” đó là câu nói của tỷ phú Mỹ Bill Gate, người đã đem hết của cải kếch xù của mình để làm từ thiện. Ông muốn đem đến cho những con người nghèo khổ, bệnh tật đang ngày ngày đấu tranh giành giật cuộc sống với tử thần một cuộc sống tốt đẹp hơn…

    Nơi đánh mất tình thương, đó là một địa ngục. Nơi chất chứa tình yêu, một thiên đường đã mở ra trước mắt. Nếu cuộc sống với những hạnh phúc và khổ đau làm nên hai bến bờ thì chính tình yêu thương là cầu nối hai bến bờ ấy, để hạnh phúc kia xoá tan mọi đau khổ và hiềm khích.