Category: Ôn Thi Đại Học

Tổng hợp kiến thức ôn thi vào đại học

  • Đề thi tuyển sinh Đại học môn Văn khối D năm 2009

    Đề thi tuyển sinh Đại học môn Văn khối D năm 2009

    Đề thi tuyển sinh Đại học môn Văn khối D năm 2009

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kinh nghiệm ôn học và ôn thi đại học môn văn


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề thi tuyển sinh Đại học môn Văn khối D năm 2009

     Đề thi tuyển sinh Đại học môn Văn khối D năm 2009

    PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

    Câu I (2,0 điểm)

    Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam t ừ năm 1945 đến năm 1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    Anh/chị hãy nêu những nét chính của đặc điểm trên.

    Câu II (3,0 điểm)

    Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau:

    Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa.

    (Theo sách Dám thành công – Nhiều tác giả, NXB Trẻ, 2008, tr. 90)

    PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)

    Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)

    Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

    Phân tích hình ảnh thiên nhiên và cái tôi trữ tình trong đoạn thơ sau:

    Tôi muốn tắt nắng đi

    Cho màu đừng nhạt mất;

    Tôi muốn buộc gió lại

    Cho hương đừng bay đi.

    Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

    Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

    Này đây lá của cành tơ phơ phất;

    Của yến anh này đây khúc tình si;

    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

    Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

    Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

    (Vội vàng – Xuân Diệu, Ngữ văn 11,

    Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 22)

    Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

    Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguy ễn Minh Châu.

    ———- Hết ———-

    Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

    Họ và tên thí sinh:………………………………………; Số báo danh…………………………..

  • Kinh nghiệm ôn học và ôn thi đại học môn văn

    Kinh nghiệm ôn học và ôn thi đại học môn văn

    Kinh nghiệm ôn học và ôn thi đại học môn văn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ôn thi đại học môn văn – Hướng dẫn ôn tập bài thơ Tây Tiến


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kinh nghiệm ôn học và ôn thi đại học môn văn

    Kinh nghiệm ôn học và ôn thi đại học môn văn

    Nhiều bạn học văn rất thích, nhưng ngược lại nhiều sĩ tử học văn là 1 cực hình, mấy năm nay thí sinh thi khối C, D vào các trường CD, DH khá đông, sau đây là kinh nghiệm ôn học và thi đại học môn văn của Tiến sĩ Nguyễn Quang Trung – Giáo viên Ngữ Văn, trường THPT chuyên ngữ – Đại học Ngoại Ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội muốn chia sẽ cùng các bạn:

    Tài liệu tham khảo ôn tập môn Văn hiện rất nhiều. Trong số đó, có những vấn đề còn gây tranh cãi như: Ngày sinh của nhà văn Nam Cao, vở kịch “Hồn trương Ba da hàng thịt” được viết năm nào… Nếu kiến thức chưa thống nhất, thí sinh nên sử dụng số liệu từ sách giáo khoa.

    Điểm quan trọng nhất của môn Văn là nhớ được kiến thức, chỉ cần dựa vào tác phẩm, nhớ tác phẩm là làm bài tốt.

    Học sinh có thể tham khảo phương pháp “rút xương cá”: Học Văn theo cách sơ đồ hóa. Mỗi bài, học sinh chỉ cần nhớ năm chữ và trong khoảng 10 phút có thể nhớ hết toàn bộ kiến thức môn Văn.

    Ví dụ1 ,

    khi phân tích tính sử thi của tác phẩm “Rừng xà nu”, theo tôi, các em chỉ cần nhớ bốn từ: Chủ – Cốt – Hình – Giọng (Chủ đề, cốt truyện, hình tượng và giọng điệu sử thi trong tác phẩm).

    Nếu vận dụng được phương pháp “rút xương cá” một cách hiệu quả, sẽ không bị mất các ý môn Văn và việc đạt điểm 8, hay 9 không phải “bất khả thi”.

    Ví dụ2 ,

    phân tích hình tượng sóng trong bài “Sóng” của Xuân Quỳnh, các em chỉ cần nhớ bốn chữ: “Phức – Trăn – Khắc – Khát” (tâm trạng phức tạp, trăn trở, khắc khoải và khát khao của người phụ nữa đang yêu). Từ đó, phát triển ý của bài văn.

    Thí sinh không nên dẫn dắt vòng vèo, lan man, mất thời gian và gây ức chế cho người chấm.

    Kinh nghiệm làm bài môn Văn

    Cô Nguyễn Thị Phương Liên, nguyên giáo viên chuyên Văn trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (Q.5, TP.HCM), hiện đang tham gia giảng dạy tại trường ĐH Kiến trúc TP.HCM:

    Không nên học tủ

    • Không nên căng thẳng quá và đặc biệt là không nên tin vào những tin đồn trên internet về đề thi, tránh học tủ, đoán mò, phải tập trung tinh thần để có cảm hứng viết bài. Ngoài ra, không nên loại trừ đề thi trong ba năm gần đây, không nghiêng hẳn về một thể loại văn xuôi hoặc thơ mà phải ôn tập cả hai.

    Đề thi có ba yêu cầu: nội dung, phương pháp và tư liệu. Khi cầm đề thi, TS phải chú ý yêu cầu phân tích của đề về tác phẩm, tránh viết lan man. Nhiều TS học rất nhiều, ôm đồm kiến thức mà không biết ứng dụng nó vào trường hợp thực tế, dẫn đến tình trạng làm bài dư thừa, dài dòng. Nhiều trường hợp TS biến bài phân tích một đoạn trích, một khía cạnh của tác phẩm thành bài phân tích cả tác phẩm. Những trường hợp “phăng” ý không có cơ sở và chép nguyên si bài giảng của thầy cô trong lớp về các tác phẩm thường bị dưới điểm trung bình vì không bám sát đề.

    Cấu trúc đề thi thường có ba câu bao gồm: phần lý thuyết và phần tự luận. Câu lý thuyết mang tính kiểm tra kiến thức, thường chiếm 2 điểm. Hai câu còn lại kiểm tra sự cảm thụ tác phẩm, cách lập luận và kỹ năng làm bài của TS. Yêu cầu chung với câu lý thuyết là trả lời đúng yêu cầu của đề thi, ngắn gọn, rõ ràng và đủ ý. Với những câu tự luận, TS nên trình bày đúng bố cục mở bài, thân bài, kết bài. Phần thân bài nên chú ý lập luận chặt chẽ, rõ ràng, nên viết ra giấy nháp dàn ý đề cương phần thân bài, chia các ý lớn theo trình tự lập luận.

    Về cách trình bày, nên chú ý những lỗi chính tả (dấu hỏi, dấu ngã, các âm cuối), lỗi viết hoa… Chẳng hạn cách viết bài thơ Thu Điếu, Tràng Giang là sai, mà phải là Thu điếu, Tràng giang.

    Một điều không kém phần quan trọng mà nhiều TS thường bị mất điểm là không biết cách đưa dẫn chứng vào bài làm. Dẫn chứng đưa vào bài phải chính xác (dẫn chứng đúng yêu cầu của luận điểm cần chứng minh, phân tích), gọn (làm nổi bật luận điểm vấn đề cần phân tích) và phải tiêu biểu. Đối với văn xuôi, TS có thể dẫn

    chứng nguyên văn hoặc tóm lược dẫn chứng, nhưng không được kể chuyện. Tốt nhất là xen kẽ tóm lược dẫn chứng với những lời bình luận, phân tích.

    Bí quyết “ăn điểm” môn Văn.

    1. Trích dẫn không được “sáng tạo”

    Đối với câu hỏi lý thuyết, không cần phải nhớ đúng và chính xác từng ly từng chữ hoặc từng con số như các công thức Toán học, bạn chỉ cần nắm những ý chính về phong cách nghệ thuật, ý nghĩa và nội dung tác phẩm. Riêng phần tiểu sử các tác giả, bạn cần nhớ chính xác quê quán, năm sinh năm mất một cách chính xác và tránh lầm lẫn tác giả này với tác giả khác.

    Đối với phần tập làm văn, khi trích dẫn thơ và dẫn chứng, bạn không được phép “sáng tạo” thêm những câu chữ khác vào đó. Từng câu, từng chữ đều phải chính xác. Do đó, khi phân tích truyện ngắn, bạn phải chắc chắn mình đã thuộc nằm lòng tất cả các dẫn chứng trong bài.

    1. Trình bày sạch sẽ, dễ nhìn

    Một bài văn được viết và trình bày sạch sẽ dễ gây cảm tình với người chấm hơn. Ngay cả khi chữ viết của bạn không được đẹp cho lắm thì bạn cũng nên chú ý đến cách trình bày, khi viết sai đừng lấy bút mà tô đen thùi lùi vào đấy, sẽ làm…mất mĩ quan bài viết của bạn, chỉ cần gạch một gạch ngang qua thôi là được rồi.

    1. Tránh phân tích lạc đề

    Đây là một lỗi mà thí sinh hay mắc phải khi đọc không kỹ đề. Thông thường, chúng ta thường nhầm lẫn giữa phân tích tác phẩm với phân tích nhân vật, giữa phân tích phong cách nghệ thuật và phân tích toàn bài thơ.

    1. Đừng ngại sáng tạo

    Sự sáng tạo trong các bài làm văn luôn được thầy cô đánh giá và cho điểm cao. Sáng tạo là phát hiện sâu hơn, mới hơn, soi sáng thêm chủ đề của tác phẩm. Nhưng những phát hiện ấy phải có cơ sở, lập luận chặt chẽ chứ không phải là tùy tiện phát biểu những cảm xúc của mình.

    Thạc sĩ Phạm Hữu Cường, giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội – chia sẻ một số bí quyết ôn và thi tốt môn Văn học trong kì thi đại học, cao đẳng.

    1. Chọn thầy học, chọn sách đọc

    Chỉ những người có năng lực đặc biệt xuất sắc mới có khả năng tự học và đạt hiệu quả như mong muốn. Hầu hết thí sinh dự thi đại học và cao đẳng không có được năng lực ấy.

    Vì vậy, các em cần sự hướng dẫn của những cuốn sách tốt, những thầy cô giỏi, có trách nhiệm và giàu kinh nghiệm. Hiện nay, tài liệu tham khảo và luyện thi tràn ngập thị trường. Để mua được sách tốt, các em nên nhờ thầy cô có uy tín giới thiệu. Khi đọc tài liệu tham khảo, các em nên ghi chép, suy nghĩ, tán thành, hoặc phản đối, bởi không phải mọi kiến thức trong sách vở đều đúng. Những thắc mắc, nghi ngờ, nên ghi lại để hỏi cho rõ. Tất nhiên, việc đọc tài liệu tham khảo là cần thiết, nhưng không thể thay thế được việc nghe giảng trên lớp. Nếu được thầy cô giỏi, tâm huyết giảng dạy và hướng dẫn, các em sẽ thấy văn học hấp dẫn và thú vị hơn, hiểu vấn đề sâu sắc hơn…

    Nếu học ở các trung tâm luyện thi, các em nên tìm học những người có khả năng trang bị một hệ thống phương pháp, kĩ năng, chứ không nên quá thiên về chi tiết bài giảng.

    1. Tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm

    Các em nên tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm chính thức và dự bị những năm trước của Bộ GD&ĐT. Nó sẽ giúp học sinh có một định hướng rõ ràng hơn trong việc ôn tập và làm bài thi.

    Khi đọc những tài liệu này, cần lưu ý đến điểm số dành cho từng ý; tại sao ý này điểm nhiều, ý kia điểm ít; cũng như trình tự sắp xếp các ý, phạm vi dẫn chứng…

    Các em cũng nên học hỏi cách làm bài, kiến thức, cách mở bài, kết bài, triển khai ý, cách chuyển ý, trình bày, diễn đạt… qua những bài văn đạt điểm cao trong các kì thi đại học trước đó, đồng thời so sánh các bài viết này với đáp án và biểu điểm của Bộ, xem bài làm thiếu ý nào, có ý nào mới hơn, tại sao lại được điểm cao như thế…

    Các em có thể tìm thấy các tài liệu này tại địa chỉ sau: http://ts.edu.net.vn của Bộ GD&ĐT.

    1. Không học tủ, nhưng cần có trọng tâm

    Đề thi môn Văn thường kiểm tra toàn diện kiến thức văn học sử (về giai đoạn văn học 1945 – 1975 và 5 tác giả), cũng như tác phẩm văn học cả trước và sau Cách mạng, cả thơ và văn, thậm chí cả kịch (như chương trình phân ban), đồng thời kiểm tra toàn diện các kĩ năng tóm tắt, bình giảng, phân tích, so sánh, giải thích, chứng minh…

    Trước đây, dung lượng kiến thức văn học lãng mạn và văn học hiện thực trước Cách mạng chỉ chiếm khoảng 30% (câu 3 điểm), nhưng trong đề thi của khối D, M các năm 2002 và 2007 đã chiếm tới 50% (câu 5 điểm).

    Vì vậy, các em nên cố gắng ôn tập đều ở tất cả các phần, các bài trong chương trình thi, không nên học tủ. Với cách ra đề phân thành nhiều câu, nhiều phần như chủ trương của Bộ, thì học tủ là rất nguy hiểm. Tuy vậy, các em vẫn nên ôn tập có trọng tâm, trọng điểm.

    Bên cạnh ôn tập kiến thức, cần rèn luyện kĩ năng làm các kiểu bài tóm tắt về tác giả, tác phẩm và giai đoạn văn học; kĩ năng phân tích văn xuôi và bình giảng thơ; kĩ năng phân tích đề, tìm ý, triển khai ý, mở bài, kết bài, chuyển đoạn, trình bày, diễn đạt…

    Cần bám sát chương trình của Bộ và sách giáo khoa, vì đó là văn bản pháp quy của nhà nước, mà đề thi không được nằm ngoài. Lưu ý rằng tất cả những gì có trong sách giáo khoa đều có thể thi.

    1. Khám phá tác phẩm trong các mối liên hệ

    * Các mối liên hệ bên ngoài:

    Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, nhưng cũng là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử, thời đại, là nơi ghi dấu ấn tâm hồn, tư tưởng, tài năng và tâm huyết nhà văn trong một thời điểm nhất định. Muốn nắm bắt, cần phải biết tác phẩm đó gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nào.

    • đây, môn văn gián tiếp đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức về lịch sử, nếu không khó mà phân tích đúng. Vì vậy, các em cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa nhan đề và kết cấu cảm hứng để hiểu sâu và chính xác về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật tác phẩm, đồng thời qua tác phẩm phải thấy được cả hiện thực thời đại mà nhà văn sống và sáng tác.

    “Qua nhà thơ, người ta tìm thấy tầm cỡ thời đại” (Jiri Worlker). Nếu không ra đời vào mùa xuân năm 1948, thời điểm mà vấn đề “nhận đường” (Nguyễn Đình Thi), vấn đề “lột xác” (Nguyễn Tuân) đang đặt ra một cách gay gắt đối với các văn nghệ sĩ trí thức tiểu tư sản lớp trước, thì “Đôi mắt” sẽ không phải là tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà văn đi theo kháng chiến như Nam Cao, Tô Hoài.

    Mặt khác, cần tránh xu hướng xã hội học dung tục, chỉ tìm thấy ở văn chương những ý nghĩa xã hội và đạo đức. Chẳng hạn, không nên hiểu dòng thơ “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc”(Chiều tối – Hồ Chí Minh) là “tố cáo chế độ Quốc dân đảng bóc lột sức lao động của trẻ em”, hoặc dòng thơ “Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san” (Giải đi sớm – Hồ Chí Minh ) là “nhân dân ủng hộ lãnh tụ” hay “bọn lính áp giải vây quanh người tù cô đơn nơi đất khách” như có người từng hiểu…

    Để hiểu sâu sắc và chính xác về tác phẩm, cần đặt nó trong mối liên hệ với quan điểm sáng tác, tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà văn. Chỉ khi liên hệ với quan niệm về người tài của Nguyễn Tuân, mới hiểu được tại sao Huấn Cao và ông lái đò sông Đà lại được nhà văn ngợi ca là những người tài hoa, nghệ sĩ hơn đời.

    “Thơ duyên” chính là hiện thân cho quan điểm “Để tâm hồn ràng buộc bởi muôn dây/ Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến” của Xuân Diệu, còn “Hai đứa trẻ” là sự thực thi thiên chức của một nhà văn luôn khát khao “nâng đỡ cái tốt đẹp để trong đời có nhiều công bằng hơn, yêu thương hơn”

    Khi tìm hiểu một tác phẩm cũng phải đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với giai đoạn văn học, trào lưu văn học, thời kì hoặc phương pháp sáng tác. Chẳng hạn, khi tìm hiểu các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và Thâm Tâm, cần đặt chúng trong đặc điểm tư tưởng nghệ thuật của phong trào Thơ Mới lãng mạn 1932 – 1945.

    Cần lưu ý các tác phẩm Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù…được sáng tác theo phương pháp lãng mạn nhưng vẫn có một cảm quan hiện thực sâu sắc.

    * Các mối liên hệ bên trong:

    Mỗi tác phẩm văn chương thường có hai phần nổi bật: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Hai phần này thường thống nhất với nhau. Tìm hiểu nội dung là nhằm chỉ ra tư tưởng và quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống, tìm hiểu hình thức là để chỉ ra tài năng nghệ thuật của nhà văn, cũng như sự thống nhất và phù hợp của hình thức với nội dung.

    Rất ít khi đề thi yêu cầu trực tiếp là làm rõ hai mặt này. Tuy nhiên, trên thực tế, để giải quyết vấn đề nào đó của đề thi, trong quá trình đi vào nội dung nhất thiết phải trình bày nội dung đó được biểu đạt bằng những phương tiện nghệ thuật nào, tìm sự hài hoà giữa nội dung và hình thức, giữa ý nghĩa tư tưởng và giá trị nghệ thuật.

    Nên từ hình thức tìm ra nội dung và tránh diễn xuôi tác phẩm, văn thơ. Để diễn tả những cung bậc của một tình yêu trong xa xôi cách trở với nỗi nhớ mong “cả trong mơ còn thức”, với niềm lo nghĩ, với tình cảm thủy chung, tha thiết, chân thành và cả niềm tin mãnh liệt vào sức mình trong việc vượt qua những xa xôi, cách trở, mất còn… để đến với người mình yêu, Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng xa bờ, nhớ bờ, đồng thời sử dụng thể thơ 5 chữ với lối ngắt nhịp cân đối, âm điệu hài hòa.

    Nhịp điệu của bài thơ chính là nhịp điệu của một cõi lòng đang bị con sóng tình yêu khuấy động.

    Thế giới nghệ thuật của tác phẩm là thế giới hình tượng do nhà văn sáng tạo ra, có quy luật riêng, thang bậc giá trị riêng, thời gian và không gian nghệ thuật riêng.

    Vì vậy khi tìm hiểu tác phẩm, không được đồng nhất nó với thế giới thực tại ngoài đời, ngay cả khi nhân vật được xây dựng từ một nguyên mẫu có thật như Hoàng đế An nam trong “Vi hành”, Hoàng trong “Đôi mắt”, Đào trong “Mùa lạc”, Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”…

    “Mọi chân lí sẽ trở nên sai lầm, nếu chúng ta cứ xét đoán nó trên cơ sở của những kinh nghiệm hàng ngày” (Ph. Ăngghen). Chân lí nghệ thuật trong tác phẩm văn học cũng vậy.

    Thế giới hình tượng trong tác phẩm được xây dựng nên từ các chi tiết nghệ thuật. Tìm hiểu tác phẩm phải luôn xuất phát từ chi tiết. Mỗi chi tiêt trong tác phẩm là một ô cửa mở ra cả một thế giới, là những “chi tiết mang thai” (Hêghen), bởi nó có khả năng sinh nở ra những ý nghĩa mới.

    Tài năng của một nhà văn lớn bao giờ cũng được làm nên từ những chi tiết nhỏ. Vì vậy, về văn xuôi, các em nhất định phải nắm được diễn biến câu chuyện, cách kể và giọng điệu của nhà văn, nhân vật trung tâm và những chi tiết, sự kiện xoay quanh nhân vật trung tâm đó.

    Về thơ, phải nắm được cảm hứng chủ đạo của nhà thơ, kết cấu cảm hứng của bài thơ, đoạn thơ, những chi tiết, hình ảnh mà nhà thơ sử dụng để bộc lộ cảm xúc.

    Về kịch, phải nắm được những mâu thuẫn, xung đột, các lời thoại quan trong…Từ các chi tiết nghệ thuật ấy, tìm ra tư tưởng và tình cảm mà nhà văn gửi gắm cũng như tài năng nghệ thuật của nhà văn.

    Chẳng hạn, “Đào đã đứng tựa cột bương, cả thân người trên bị mái gianh che tối” là một chi tiết thể hiện cái nhìn tinh tế và nhân ái của nhà văn. Nguyễn Khải đã dùng bóng tối của mái gianh để che đi cái xấu xí, thua thiệt trong ngoại hình của Đào, đồng thời làm nổi bật hơn vẻ đẹp của niềm khát khao hạnh phúc.

    Không nên bỏ qua các chi tiết quan trọng, cũng không nên quá sa đà vào phân tích chi tiết, để tránh tình trạng chỉ thấy cây mà không thấy rừng.

    Thực hiện phương châm tăng cường chất văn trong việc dạy và học văn, cũng cần bám sát văn bản ngôn từ và thế giới hình tượng của tác phẩm, chú ý giọng điệu, kết cấu tác phẩm.

    Chẳng hạn bài thơ “Đây thôn Vĩ dạ” của Hàn Mặc Tử được kết cấu toàn bằng những lời ướm hỏi, ba khổ thơ là ba câu hỏi liên tiếp, nên bài thơ sẽ chủ yếu thể hiện niềm băn khoăn day dứt của con người, khát vọng chủ quan của nhà thơ chứ không chỉ là vấn đề “vịnh cảnh hay tỏ tình”.

    1. Ôn tập theo vấn đề và nhóm tác phẩm

    Những tác phẩm trong nhóm thường phải có chung một hoặc một số điểm tương đồng, chẳng hạn cùng chung đề tài (về đất nước, về người lính, về người phụ nữ, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng…), chung thể loại (truyện ngắn, thơ…), chung giai đoạn sáng tác (từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945, từ năm 1945 đến 1975)…

    Ôn tập theo hướng này, các em sẽ có thể giải quyết tốt được cả hai dạng: đề đơn (đề cập tới một tác phẩm) và đề tổng hợp (đề cập tới nhiều tác phẩm).

    Các em nên tập trung vào các nhóm tác phẩm sau đây:

    5.1 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về đất nước: Tuyên ngôn độc lập, Bên kia sông Đuống, Tiếng hát con tàu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm…

    5.2 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về nhân dân: Tuyên ngôn độc lập, Đôi mắt, Việt Bắc, Tiếng hát con tàu, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm…

    5.3 Nhóm các tác phẩm thể hiện cảm hứng nhân đạo: Hai đứa trẻ, Chí Phèo, Đời thừa, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Mùa lạc, Các vị La Hán chùa Tây phương…

    5.4 Nhóm các tác phẩm thể hiện cảm hứng nhân văn: Chữ người tử tù, Người lái đò sông Đà…

    5.5 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về người lính: Tây Tiến, Rừng xà nu, Mảnh trăng cuối rừng, Những đứa con trong gia đình…

    Cần lưu ý là nhóm các tác phẩm này thường thể hiện rất nổi bật cảm hứng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    5.6 Nhóm các tác phẩm thể hiện bản lĩnh, khát vọng và vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản trong những hoàn cảnh thử thách khắc nghiệt của chốn ngục tù: Tâm tư trong tù, Mộ, Tảo giải… hoặc khi mới được trả tự do: Tân xuất ngục, học đăng sơn.

    5.7 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về thân phận, khát vọng và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ: Đời thừa, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Mùa lạc, Sóng…

    5.8 Nhóm các tác phẩm thể hiện nỗi nhớ và thái độ ân tình ân nghĩa với quá khứ: Tây Tiến, Bên kia sông Đuống, Việt Bắc, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Tiếng hát con tàu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi.

    5.9 Nhóm các tác phẩm thể hiện sức mạnh của tiếng cười châm biếm trào phúng:

    Vi hành và trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia.

    5.10 Nhóm các tác phẩm thể hiện tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn: Đời thừa, Đôi mắt, Tiếng hát con tàu, Vũ Như Tô, Chiếc thuyền ngoài xa…

    5.11 Nhóm các tác phẩm xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo, giàu ý nghĩa: Chữ người tử tù, Vi hành, Vợ nhặt, Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc thuyền ngoài xa…

    5.12 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về Tây Bắc: Tây Tiến, Vợ chồng A Phủ, Tiếng hát con tàu, Mùa lạc, Người lái đò sông Đà…

    5.13 Nhóm các tác phẩm thể hiện tâm trạng và khát vọng của cái Tôi Thơ Mới: Đây mùa thu tới, Vội vàng, Thơ duyên, Tràng giang, Đây thôn Vĩ dạ, Tống biệt hành…

    • các tác phẩm này cũng như các tác phẩm văn học lãng mạn khác, cần lưu ý “nỗi đau khổ của người dân mất nước, sự quằn quại của tâm hồn bị bóp nghẹt, lòng khao khát một cuộc sống chân thật, tự do”( Trường Chinh – Bài nói tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 năm 1957), và lòng yêu nước kín đáo, tinh thần dân tộc thấm thía được biểu hiện qua lòng yêu tiếng mẹ đẻ:

    “Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu Tiếng Việt. Tiếng Việt, họ nghĩ , là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng”( Hoài Thanh – Thi nhân Việt nam – 1941) .

    Sau khi tập hợp các tác phẩm thành từng nhóm, cần phải phát hiện được:

    • Những nét độc đáo của tác phẩm này so với tác phẩm khác.
    • Những nét chung của tác phẩm trong nhóm.

    Chẳng hạn, cùng viết về đất nước quê hương nhưng “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm vẫn có những khám phá, cảm nhận và thể hiện riêng, với những sắc thái tình cảm riêng.

    Hoàng Cầm đau đớn, nhớ tiếc, “xót xa như rụng bàn tay” trước một miền quê cụ thể có vẻ đẹp cổ kính và truyền thống văn hóa nghệ thuật lâu đời đang bị kẻ thù chiếm đóng, hủy hoại;

    Nguyễn Đình Thi tự hào, hãnh diện trước một đất nước mới hồi sinh tự do “tươi thắm vô ngần”, sau khi trải qua những ngày nô lệ, đau thương;

    Nguyễn Khoa Điềm lại tự hào về một đất nước “của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại”, một đất nước do những người “không ai nhớ mặt đặt tên” hóa thân mà thành, do nhân dân vô danh gìn giữ, dựng xây và truyền lại cho các thế hệ sau.

    Một số đề chung cho các nhóm tác phẩm trên thường được nêu ở những trang cuối cùng của sách giáo khoa cải cách giáo dục, trong phần Hướng dẫn ôn tập cuối năm, hoặc phần bài tập nâng cao ở cuối mỗi bài học trong sách giáo khoa phân ban.

    1. Học văn theo ý, kết hợp tư duy và tái hiện

    Bài văn hay, đạt điểm cao, thậm chí điểm tuyệt đối là bài văn có một hệ thống ý đầy đủ, sáng tạo, chặt chẽ, đáp ứng toàn diện yêu cầu của đề, được thể hiện qua một hình thức trình bày và diễn đạt chính xác, trong sáng, rõ ràng, tinh tế, khéo léo, có hình ảnh và cảm xúc.

    Các giám khảo chấm bài thi cũng phải so sánh giữa hệ thống ý của bài văn và hệ thống ý mà Bộ GD&ĐT đề ra trong đáp án và biểu điểm chấm thi để cho điểm. Vì vậy, khi học văn, các em cần tránh học vẹt, mà nên học theo ý (theo luận điểm).

    Cần nhớ số lượng ý lớn, ý nhỏ trong từng bài, từng đề, rồi mới nhớ nội dung của từng ý, từng luận điểm. Học theo ý, mới có thể dễ nhớ, nhớ lâu và sâu sắc.

    Khi làm bài, các em nên diễn đạt lại những ý đó theo cách của mình. Những bài văn mẫu, những bài giảng các thầy, các cô cho ghi, dù hay đến đâu, cũng chỉ nên coi như 1 tài liệu tham khảo cách diễn đạt. hoặc xem lại ý khi quên.

    Nói như người xưa, ý là“bột”, bài văn là“hồ”, còn quá trình diễn đạt ý thành bài là “gột”. “Có bột mới gột nên hồ”.

    Giống như quá trình tư duy, quá trình nhận thức của con người, khi học và làm văn, cũng cần qua 3 bước là HIỂU – NHỚ – VẬN DỤNG. Muốn vận dụng được kiến thức đã học vào bài làm văn, cần phải nhớ và hiểu được những kiến thức ấy.

    Muốn nhớ được kiến thức thì trước hết phải hiểu nó. Muốn hiểu thì phải chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, đọc tài liệu tham khảo, chăm chú nghe giảng bằng tất cả niềm say mê, tâm huyết của mình, giống như niềm đam mê của nhân vật Hộ trong “Đời thừa” của Nam Cao: “Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán!”…

    Học văn không phải là cắm đầu ghi cho đầy vở, mà là phải hiểu, nhớ và ghi lại các

    • hay, các luận điểm quan trọng. Nếu tìm được thầy dạy giỏi, hay, hấp dẫn, tâm huyết…các em có thể nhớ được ít nhất 90% kiến thức ngay trên lớp, về nhà chỉ cần học thêm khoảng 10% và xem lại những kiến thức nắm chưa thật chắc.

    Gặp những vấn đề chưa hiểu, các em cứ mạnh dạn hỏi, chắc chắn không thầy cô nào từ chối, dù họ có bận và mệt đến đâu.

    Kiến thức càng sắp xếp khoa học, chặt chẽ, rành mạch bao nhiêu, càng dễ nhớ bấy nhiêu. Để tránh học vẹt, khi học văn, các em không nên cầm sách học thuộc lòng, mà nên học theo phương pháp tái hiện.

    Sau giờ học trên lớp, hãy dành thời gian tĩnh tâm (khoảng 20 – 30 phút) để nhớ lại kiến thức vừa học, nhất là hệ thống ý lớn, ý nhỏ. Sau đó mới mở sách ra kiểm tra lại. ý nào mình chưa nhớ được thì cần phải học ngay.

    Học theo cách này, các em có thể học ở bất kì đâu, thậm chí không cần sách vở. Nếu có bạn cùng học, hai người kiểm tra kiến thức cho nhau là tốt nhất. Việc hệ thống kiến thức theo các bảng, theo các nhánh cây, các mô hình, và việc liên hệ giữa văn học với cuộc sống, nhất là cuộc sống của bản thân cũng giúp các em nhớ kiến thức lâu và sâu sắc.

    Sau khi đã hiểu và nhớ kiến thức, cần vận dụng lại kiến thức bằng cách làm bài tập, hoặc giải đề thi thử, giải lại một đề đã thi… Dù có học văn – tiếng Việt 12 năm, nhưng cuối cùng của việc thi đại học, cao đẳng vẫn chỉ là viết 3 bài văn nhỏ theo yêu cầu của 1 đề thi trong vòng 180 phút. Vì vậy không gì tốt hơn là tập viết bài theo yêu cầu của đề thi đại học. Các em có thể tự xây dựng đáp án, biểu điểm, tự chấm bài cho nhau, hoặc nhờ ai đó chấm.

    Để dễ nhớ dẫn chứng và học văn đạt kết quả tốt, cần đọc tác phẩm. Các em nên đọc trước khi bài được học trên lớp, khi chưa hề nghe giảng, đọc bằng một văn bản hoàn toàn mới, chưa hề có ai đánh dấu.

    Điều này rất quan trọng, bởi những ấn tượng ban đầu của các em khi tiếp xúc với tác phẩm sẽ được nhớ rất lâu, và giúp định hướng hiểu tác phẩm.

    Các em nên đọc tác phẩm và học văn vào sáng sớm, khi đọc, nên đánh dấu lại những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ mà mình cho là quan trọng, hoặc thấy hay, thấy có

    • nghĩa và xúc động, đồng thời ghi nhớ luôn các chi tiết ấy vào não để vận dụng lại vào bài viết sau này.

    Nhìn chung, để học văn đạt hiệu quả cao, các em phải học văn bằng chính cái đầu và trái tim của mình, tự tìm một con đường đi cho riêng mình. Giáo viên là người hướng dẫn, dìu dắt, đồng thời đánh giá, thẩm định kết quả, chứ không làm thay, học thay, nghĩ hộ các em được.

    Nếu tuân thủ tốt các “tuyệt chiêu” dưới đây, các em sẽ có được một bài thi đại học môn văn đạt kết quả rất cao, thậm chí đạt điểm tuyệt đối.

    Một bài văn thực sự đạt kết quả tốt, cần đáp ứng được các yêu cầu về nội dung của đề bài (như kiểu bài, các kĩ năng và thao tác nghị luận, kiến thức, phạm vi dẫn chứng…) và yêu cầu về hình thức (trình bày, diễn đạt…).

    1. Nắm vững cấu trúc và mức độ của đề thi

    Trong tài liệu phục vụ việc ra đề thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, ở phần II – Về cấu trúc và mức độ yêu cầu của đề thi – Bộ GD&ĐT có khuyến nghị:

    “Nên chia đề thi thành nhiều phần để tiện kiểm tra về kiến thức và kĩ năng được rộng hơn và nhất là để việc chấm thi được chính xác và thuận lợi hơn. Đề thi cần ghi rõ số điểm dành cho từng phần.

    Ngoài những đề yêu cầu trình bày sự cảm nhận, phân tích… liên quan đến một tác phẩm (hoặc một khía cạnh, một đoạn trích… của tác phẩm), cần có những đề tổng hợp yêu cầu vận dụng sự hiểu biết về nhiều tác phẩm.

    Không nên ra những đề quá khó và nhất là cần tránh những đề thí sinh có thể sao chép tài liệu một cách dễ dàng” (trang 74).

    Kì thi đại học, cao đẳng năm 2008, đối với môn Văn, Bộ GD&ĐT chủ trương vẫn tiếp tục thi đề tự luận. Việc chia nhỏ đề thi thành nhiều câu nhằm kiểm tra được nhiều phạm vi kiến thức và nhiều kĩ năng hơn.

    Đề thi tuyển sinh (đề chung) vào các trường đại học và cao đẳng môn văn, theo lộ trình đổi mới giáo dục và cải tiến thi cử, đánh giá của Bộ GD&ĐT, năm 2008, về cơ bản, có kết cấu gồm 2 phần với 3 câu hỏi.

    Phần chung cho tất cả thí sinh, gồm câu I và câu II. Phần tự chọn gồm câu IIIa dành cho chương trình chưa phân ban và câu IIIb dành cho chương trình phân ban thí điểm.

    Thí sinh chỉ được chọn làm một trong hai câu này, không nhất thiết phải theo đúng ban mình đã theo học, nhưng không được làm cả hai câu. Trường hợp làm cả hai câu, sẽ bị hủy phần bài làm này,

    1. Câu I, thường 2 điểm, nhằm kiểm tra kiến thức cơ bản, phổ thông và khái quát nhất như:
    • Trình bày ngắn gọn, hoặc tóm tắt những đặc điểm chính về con người, cuộc đời của một nhà văn.
    • Trình bày ngắn gọn, hoặc tóm tắt sự nghiệp văn học của một tác giả.
    • Trình bày ngắn gọn, hoặc tóm tắt quan điểm sáng tác văn học (quan điểm nghệ thuật) của một tác giả (chỉ có ở 2 tác giả Nam Cao và Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí

    Minh).

    • Trình bày những nét chính trong phong cách nghệ thuật của một tác giả (chỉ có ở

    3 tác giả Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân và Tố Hữu).

    • Trình bày ngắn gọn, hoặc tóm tắt hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm.
    • Giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm.
    • Khái quát ngắn gọn giá trị tư tưởng nghệ thuật, nhất là giá trị nhân đạo, của một tác phẩm.
    • Nêu hoặc phân tích ngắn gọn nhưng đặc điểm và thành tựu chính của giai đoạn văn học 1945 – 1975.
    • câu này, mấy năm trước, đáp án của Bộ cho phép thí sinh trả lời theo hình thức gạch đầu dòng. Nhưng tôi khuyên các em không nên viết theo cách ấy vì tâm lý người chấm thi môn văn đánh giá rất thấp kiểu viết gạch đầu dòng.
    1. Câu II, thường 5 điểm, hay kiểm tra năng lực cảm thụ văn xuôi, phân tích nhân vật, tác phẩm văn xuôi hoặc một vấn đề văn học sử hay lí luận văn học nào đó.

    Ví dụ câu 2 đề khối D năm 2007, yêu cầu phân tích vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ Tràng giang (Huy Cận).

    1. Câu IIIa và IIIb, thường 3 điểm, nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ thơ, phân tích hoặc bình giảng 1 khổ hoặc 1 đoạn thơ ngắn, như câu 3 đề khối C năm 2007,

    yêu cầu cảm thụ 10 dòng đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm.

    Cũng có thể yêu cầu phân tích một hình tượng nhỏ như hình tượng ánh trăng, hình tượng rừng xà nu, cây xà nu trong Rừng xà nu.

    Nếu làm tốt, các em có thể đạt điểm tuyệt đối ở câu I, nhưng để đạt được số điểm trọn vẹn ở câu II và câu IIIa, IIIb thì vô cùng khó, nếu như không muốn nói là không thể, trừ số ít thí sinh rất xuất sắc.

    Ngoài ra, không loại trừ trường hợp đề thi sẽ bớt điểm số ở câu 2 hoặc câu 3 để có thêm một câu hỏi (câu 4, làm trong thời gian 18 phút) khoảng 1 điểm, nhằm phân hóa trình độ thí sinh.

    Câu hỏi này sẽ khó hơn, đòi hỏi thí sinh phải có năng lực tư duy và diễn đạt. Chẳng hạn: So với trước Cách mạng, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân sau Cách mạng có biến đổi nào đáng chú ý? Vì sao Nguyễn Tuân lại tìm đến thể loại tùy bút như một điều tất yếu.

    1. Xác định đầy đủ, chính xác yêu cầu của đề

    Trước khi làm bài, các em cần đọc kĩ đề và xác định đầy đủ yêu cầu của đề thi về các phương diện như kiểu bài: xác định xem đề bài yêu cầu sử dụng kĩ năng nghị luận nào: trình bày, giải thích, chứng minh, bình giảng, phân tích, so sánh hay kiểu bài tổng hợp đòi hỏi kết hợp nhiều kĩ năng nghị luận);

    Đối tượng và nội dung nghị luận: Đề bài yêu cầu giải quyết vấn đề gì?;

    Phạm vi kiến thức và dẫn chứng: Để giải quyết vấn đề đó, cần huy động và sử dụng những kiến thức và dẫn chứng nào cho phù hợp và có sức thuyết phục cao nhất);

    Đồng thời, các em xác định nội dung và hình thức trình bày bài viết. Điều này sẽ giúp bài văn không bị lạc đề, xa đề.

    Các em nên xác định yêu cầu của đề thi trong thời gian nhanh nhất, để dành thời gian làm bài. Phải cố gắng làm hết tất cả các câu trong yêu cầu của đề bài, không được bỏ sót ý nào, dù là nhỏ nhất.

    Nếu bỏ 1 câu, thì 2 câu còn lại có làm tốt đến đâu đi nữa, điểm số của bài vẫn thấp hơn khi làm đủ 3 câu, dù các câu làm chưa thật tốt, thậm chí còn sơ sài.

    Trong biểu điểm của Bộ GD&ĐT, trước khi phân tích, bình giảng, ngay phần giới thiệu tác phẩm và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm cũng được 0,25 điểm, mà phần này chỉ cần viết vài dòng. Các em hãy chắt chiu từng chút điểm nhỏ như thế, bởi một bài văn có điểm cao bao giờ cũng được làm nên từ những điểm số nhỏ trong từng ý, từng câu như thế.

    1. Vận dụng chính xác, linh hoạt, nhuần nhuyễn các kiểu bài, các kĩ năng và thao tác nghị luận

    Để bài văn đạt kết quả cao, cần vận dụng chính xác, linh hoạt, nhuần nhuyễn các kiểu bài, các kĩ năng và thao tác nghị luận. Các em nên tập trung rèn luyện năng lực trình bày tóm tắt 1 vấn đề văn học, năng lực cảm thụ văn học và các kiểu bài so sánh, phân tích, bình giảng văn học (nhất là phân tích văn xuôi và bình giảng thơ).

    Đây là những kiểu bài thể hiện chất văn chương rõ nét nhất, và thường hay thi nhiều nhất. Các em cũng cần vận dụng nhuần nhuyễn các kiểu bài sau:

    • Phương pháp làm các kiểu bài trình bày tóm tắt một vấn đề văn học.
    • Phân tích văn học là kiểu bài nghị luận đem một hiện tượng văn học (tác phẩm, vấn đề) chia nhỏ ra thành từng bộ phận hay phương diện để xem xét từng phần rồi đem kết quả tổng hợp lại trong một kết luận chung.

    Phân tích văn học là chỉ ra các giá trị nội dung, nghệ thuật qua các chi tiết cụ thể. Không cần và không thể phân tích mọi chi tiết. Chỉ cần chọn phân tích những chi tiết tiêu biểu nhất, nói lên tư tưởng quan trọng của nhà văn, phù hợp với chủ đề phân tích của đề bài.

    Các kiểu bài phân tích văn học thường có trong đề thi là: Phân tích tác phẩm hoặc một đoạn tác phẩm, phân tích hình tượng nhân vật, phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật, phân tích các vấn đề văn học, phân tích chi tiết nghệ thuật và nhan đề tác phẩm.

    • Bình giảng văn học (đề thi thường chỉ yêu cầu bình giảng thơ): là giảng giải, đánh giá, bình phẩm về nghĩa lí, ý tứ của bài văn, lời văn, giúp cho người đọc cảm thụ và đánh giá tác phẩm văn học một cách toàn vẹn.

    Bình giảng văn học chỉ khám phá những điểm nút, những từ ngữ chìa khoá, những thi nhãn, những mạch ngầm để mở đường thưởng thức văn bản, chứ không che lấp hay thay thế văn bản nghệ thuật.

    Khi bình giảng, cần chú ý tới những chỗ trống, chỗ lạ hoá, khác thường trong văn bản, đặc biệt là cách cấu tạo hình tượng, các chi tiết giàu ý nghĩa, các từ ngữ dùng đắt hoặc kết hợp đặc biệt.

    Từ chỗ độc đáo đặc thù đó, tìm đến mạch lạc bên trong của bài thơ, bài văn, khám phá mối liên hệ không gian, thời gian, cách cảm nhận riêng của tác giả cũng như cấu tứ, bố cục của tác phẩm.

    Khi bình giảng thơ, để hệ thống ý của bài văn được chặt chẽ, điều quan trọng nhất là phải hiện ra cấu trúc của đoạn thơ, bài thơ. Đối với các bài thơ, đoạn thơ có sử dụng hình thức lặp cấu trúc, liệt kê, điệp từ như Tâm tư trong tù, Việt Bắc, Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm thì khi bình giảng, để tránh bài viết lặp lại một cách nhàm chán, tuyệt đối không được bình từng dòng, mà phải nhóm các chi tiết, hình ảnh thành một hệ thống, rồi mới giảng và bình về hệ thống ấy.

    Chẳng hạn 9 dòng đầu của đoạn thơ Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), có sự lặp đi, lặp lại của điệp khúc“Đất Nước đã có…”, “Đất Nước có trong…”, “Đất Nước bắt đầu…”, “Đất Nước lớn lên…”, “Đất Nước có từ…” cho thấy nhà thơ trầm tư suy ngẫm về thời điểm ra đời của Đất Nước (gồm các dòng 1,3,9), quá trình lớn lên (dòng 4) và phạm vi tồn tại của Đất Nước (dòng 2).

    Vì vậy, khi bình giảng đoạn thơ này, cần chú ý nhóm các dòng thơ 1,3,9 thành một ý, dòng 4 là một ý và dòng 2 là một ý. Từ “ngày đó” là phép thế đại từ có ý nghĩa thay thế cho các dòng 5,6,7,8, nên để hiểu được ý nghĩa dòng thơ thứ 9, cần hiểu được các dòng thơ trước đó.

    1. Mở bài và kết bài nhanh, ngắn

    Đã là bài văn, dù dài hay ngắn, đều phải có mở và kết bài. Cần tập trung rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài để có thể mở bài thật nhanh, kết bài thật ấn tượng.

    Không nên mất quá nhiều thời gian vào việc mở và kết bài, bởi mở bài giống như một chút rượu khai vị trước bữa ăn, còn kết bài giống một món tráng miệng, thân bài mới là bữa tiệc chính cần thưởng thức.

    Nên mở và kết bài ngắn, tránh dài như bài làm văn học sinh giỏi, vì bài thi đại học gần với bài thi tốt nghiệp THPT hơn là bài thi học sinh giỏi.

    Trong một bài thi đại học, với đề 3 câu, các em cần phải viết đủ 3 mở bài, 3 kết bài. Ở câu 2 điểm, nên mở và kết bài khoảng 2 – 3 dòng; câu 5 điểm, nên mở và kết khoảng 5 – 7 dòng; câu 3 điểm, nên mở và kết khoảng 3 – 4 dòng. Mỗi câu, nên mở và kết bài theo một cách riêng.

    Có nhiều cách mở và kết bài, nhưng các cách mở bài gián tiếp thường hay hơn, nên mang lại điểm số cao hơn. Ví dụ, với đề văn phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ, có thể có nhiều cách để mở và kết bài:

    • Mở bài 1: Vốn có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, truyện ngắn “Vợ nhặt” kết tinh tài năng phân tích tâm lí đặc sắc của Kim Lân, nhất là khi nhà văn thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ.

    Kết bài 1: Thể hiện thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ , Kim Lân đã bộc lộ tài năng nghệ thuật độc đáo và tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, cảm động của mình.

    • Mở bài 2: Suốt một đời cầm bút, Kim Lân chỉ để lại vẻn vẹn có 2 tập truyện ngắn là “Con chó xấu xí” và “Nên vợ nên chồng”. Nhưng trong văn chương, “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, nên chỉ riêng truyện ngắn “Vợ nhặt” đã là niềm ao ước của nhiều người cầm bút.
    • thiên truyện này, diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ được nhà văn khắc họa vô cùng tinh tế và giàu ý nghĩa.
    • Kết bài 2: Với tâm hồn của một nhà văn “thuần hậu”, “nguyên thủy”, “một lòng đi về với đất, với người” (Nguyên Hồng), Kim Lân đã thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ vô cùng tinh tế, chân thực, và sâu sắc. Thành công ấy vừa chứng tỏ tài năng và bản lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn, vừa góp phần giúp cho “Vợ nhặt” trở thành niềm ao ước của nhiều người cầm bút.
    • Mở bài 3: “Vũ trụ có nhiều kì quan, nhưng kì quan tuyệt diệu nhất vẫn là trái tim người mẹ” (B.Sô). Vẻ đẹp lớn lao kì vĩ của trái tim người mẹ và tình mẫu tử thắm thiết thiêng liêng cũng ngời lên trọn vẹn và sâu sắc qua diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
    • Kết bài 3: Kim Lân đã thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ với tất cả nỗi nghẹn ngào, tình yêu thương và lòng mong mỏi của một người mẹ nhân từ, đồng thời thức tỉnh nơi tâm hồn mỗi người sức mạnh của tình nghĩa và đạo lí, cũng như ý nghĩa hạnh phúc lớn lao của tình mẫu tử thiêng liêng, đúng như một nhà văn từng khẳng định: “Sung sướng thay cho những ai có một bà mẹ nhân từ”.

    Các mở và kết bài 1 là trực tiếp, mở và kết bài 2, 3 là gián tiếp. Phần in đậm và nghiêng chính là vấn đề, là nội dung mà đề bài yêu cầu phải giải quyết.

    Chỉ cần bám sát yêu cầu của đề bài, cùng với cách diễn đạt khéo léo và một vài câu danh ngôn ý nghĩa, là các em có thể viết nên một mở bài theo kiểu gián tiếp vừa nhanh, ngắn, lại vừa đúng và hay.

    Trong trường hợp quá bí, các em có thể lấy ngay việc nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm làm mở bài, tất nhiên phải nêu một cách thật khéo léo và tinh tế.

    Quan trọng nhất là mở bài phải bám sát được yêu cầu của đề, giới hạn được nội dung và phạm vi của vấn đề cần giải quyết; kết bài cần phải khái quát lại và phát triển, nâng cao hơn vấn đề đã giải quyết ở thân bài. Không làm được điều đó, thì dù mở và kết bài có ngắn, nhanh và khéo léo đến đâu chăng nữa cũng trở nên vô ích.

    1. Tìm ý (luận điểm) nhanh, đúng, đủ và sắp xếp triển khai ý hợp lý

    Bài văn hay, đạt điểm cao, thậm chí điểm tuyệt đối là bài văn có một hệ thống ý đầy đủ, sáng tạo, chặt chẽ, đáp ứng toàn diện yêu cầu của đề, được thể hiện qua một hình thức trình bày và diễn đạt chính xác, trong sáng, rõ ràng, tinh tế, khéo léo, có hình ảnh và cảm xúc.

    Các giám khảo chấm văn cũng phải so sánh giữa hệ thống ý của bài văn và hệ thống ý mà Bộ đề ra trong đáp án và biểu điểm chấm thi để cho điểm. Vì vậy, khi giải quyết một đề văn, điều quan trọng nhất là phải tìm ra ý.

    Thí sinh nào tìm được hệ thống ý đầy đủ hơn, sâu sắc và mới mẻ hơn, sắp xếp và trình bày ý mạch lạc, chặt chẽ hơn, thì bài làm của thí sinh đó có điểm số cao hơn.

    Quá trình tìm ý (luận điểm) cho bài văn, thực chất là đi ngược lại quá trình sáng tác của nhà văn. Khi sáng tác, trước hết nhà văn có ý tưởng trong đầu, sau đó thể hiện

    • tưởng ấy qua hệ thống hình tượng và thế giới nghệ thuật của tác phẩm, mà hệ thống hình tượng và thế giới nghệ thuật này lại được xây dựng từ các chi tiết nghệ thuật.

    Ngược lại, khi làm văn, các em nên xuất phát từ chi tiết nghệ thuật để phân tích hệ thống hình tượng và thế giới nghệ thuật của tác phẩm, từ đó tìm ra ý (luận điểm) theo yêu cầu của đề bài. Khác với nhà văn, sau khi tìm ra ý, các em còn phải diễn đạt hệ thống ý đó thành một bài văn hoàn chỉnh.

    Để tìm ra ý cần dựa vào yêu cầu của đề bài, kết hợp với kiến thức mà các em đã học, hoặc đã đọc. Sau khi đã tìm ra các ý, cần xác định xem ý nào là ý chính, có vai trò quan trọng, để tiến hành phân tích kĩ lưỡng; ý nào là ý phụ, chỉ cần phân

    tích ngắn gọn hoặc lướt qua; cũng như mối quan hệ qua lại giữa các ý trong hệ thống, đồng thời sắp xếp ý theo một trình tự hợp lí và có ý nghĩa nhất.

    Chẳng hạn khi phân tích nhân vật Huân trong “Mùa lạc”, cần làm nổi bật các ý và trình tự sắp xếp các ý như sau:

    • Vẻ đẹp ngoại hình với nhiều nét hoàn mĩ tới lí tưởng.
    • Tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, tài hoa (thổi tiêu, vẽ tranh, “tay hề đại tài”)
    • Đẹp trai, có tài, nhưng Huân không kiêu ngạo, mà có tâm hồn nhân hậu, biết yêu thương, chia sẻ, cảm thông.
    • Trải qua năm tháng, chiến tranh, gian khổ, Huân có một tâm hồn trong sáng, nghị lực phi thường và lí tưởng sống cao đẹp.
    • Không chỉ cao đẹp trong lí tưởng chung, nhiệm vụ chung, Huân còn hiện lên rất cao đẹp trong tình yêu riêng tư.
    • Qua nhân vật Huân, Nguyễn Khải đã gửi gắm nhiều quan niệm riêng về con người và cuộc sống.

    Xin nhắc lại rằng, nói như người xưa, ý là “bột”, bài văn là “hồ”, còn quá trình diễn đạt ý thành bài là “gột”. “Có bột mới gột nên hồ”.

    1. Tư duy sắc, cảm nhận tinh tế

    Năng lực tư duy sắc sảo, cảm nhận văn chương tinh tế và trình độ kiến thức chuẩn mực là điều kiện quan trọng để làm nên bài văn cao điểm.

    • Tư duy trong bài văn phải rành mạch, trong sáng, chính xác, rõ ràng, tránh lan man dây cà ra dây muống (thể hiện ở cách triển khai hệ thống ý và cách kết cấu bài viết).

    Tư duy phải sắc sảo, thông minh. Để bài văn đạt kết quả cao, rất cần người viết khẳng định được bản lĩnh riêng, cá tính riêng, giọng điệu riêng của mình trước vấn đề mà đề bài yêu cầu giải quyết.

    Ví dụ, các em hoàn toàn có quyền không tán thành với cách dùng từ “chưa” trong câu thơ “Nước những người chưa bao giờ khuất” của Nguyễn Đình Thi, bởi từ “chưa” chỉ bao quát được quá khứ và hiện tại, không bao quát được tương lai. Tất

    nhiên, những suy nghĩ và cảm nhận riêng trong bài văn đều phải có căn cứ khoa học.

    • Người viết phải tỏ ra nhạy cảm, sâu sắc và tinh tế trong năng lực cảm nhận văn chương. Hãy cảm nhận mỗi chi tiết, hình ảnh, ngôn từ của tác phẩm bằng tất cả trí tuệ, tình cảm, sự say mê và niềm tâm huyết của mình.

    Chỉ những người học văn tầm thường mới hiểu chi tiết “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát” là hành động uống rượu đơn thuần. Người học văn sâu sắc và nhạy cảm sẽ nhận ra rằng, cứ mỗi bát rượu, Mị như uống theo vào trong tâm hồn đau khổ của mình bao nhiêu nỗi tủi hờn, uất ức của cảnh làm dâu…

    • Người làm văn phải biết cách huy động kiến thức, tài liệu vào một bài viết cụ thể. Kiến thức trong bài văn phải chuẩn mực, chính xác, đúng trọng tâm.

    Kiến thức uyên bác, phong phú, có chọn lọc, mới mẻ, nhiều sáng tạo, có ý kiến riêng, thể hiện bản lĩnh và năng lực của người viết sẽ giúp cho bài văn có điểm số cao hơn.

    Nên nhớ, “mỗi tác phẩm nghệ thuật, nhất là nghệ thuật ngôn từ, bao giờ cũng là một phát hiện về nội dung và một khám phá về hình thức”( Lêônít Lêônốp). Văn học là lĩnh vực của cái riêng, độc đáo, không lặp lại, phải “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao)… nên cần chỉ ra cái mới mẻ hoặc nét riêng độc đáo của tác phẩm, tác giả, của một giai đoạn, trào lưu, hay nền văn học.

    Bài viết phải toát lên một năng lực riêng, bản lĩnh riêng của người viết. Trong văn chương, không có gì buồn hơn là lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Khi làm văn, tuyệt đối không nên sao chép.

    1. Tư duy lịch sử và so sánh

    Tăng cường tư duy lịch sử và tư duy so sánh, liên tưởng để bài văn độc đáo và sâu sắc.

    • Tư duy lịch sử thể hiện chủ yếu ở việc thấy được sự nối tiếp, kế thừa và sáng tạo của người đi sau đối với người đi trước, ngay khi viết về cùng một đề tài.

    Chẳng hạn, cần chỉ ra sự kế thừa và sáng tạo của Xuân Diệu khi thể hiện đề tài và hình tượng mùa thu trong “Đây mùa thu tới” so với thơ ca truyền thống. Kiến thức

    có hệ thống, sắp xếp theo đúng tiến trình lịch sử văn học cũng là một biểu hiện của tư duy lịch sử.

    • Tư duy so sánh không chỉ thể hiện ở cái nhìn so sánh lịch đại mà còn ở việc so sánh tương đồng, tương phản, so sánh đồng đại. Chỉ có so sánh mới chỉ ra được sự khác biệt, nét độc đáo của tác phẩm văn học này so với tác phẩm văn học khác, nhân vật này so với nhân vật khác, tác giả này so với tác giả khác, cũng như sự kế thừa và sáng tạo trong văn học, thậm chí cả sự ổn định và biến đổi trong phong cách nghệ thuật của nhà văn.

    Những so sánh tinh tế, sâu sắc và có cơ sở sẽ giúp bài văn có điểm cao hơn. Sau đây là một vài ví dụ so sánh của chúng tôi:

    • Cùng chạy trốn trong một đêm tối trời tối đất, nhưng nếu chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố lâm vào bước đường cùng, thì nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài lại có sự thay đổi số phận theo chiều hướng tươi sáng và tốt đẹp hơn. Đó là cái nhìn nhân đạo mà chỉ văn học sau cách mạng mới đạt được.
    • Nếu lúc ngày tàn, tiếng trống thu không còn “vang xa để gọi buổi chiều”, thì trong đêm tối, tiếng trống cầm canh chỉ “đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối”. Thạch Lam đã cho thấy cái uy lực ghê gớm của một thứ bóng tối đang dựng thành hình khối, ngăn cản cả âm thanh…
    • Trước Cách mạng, Nam Cao chỉ thấy người nông dân là những nạn nhân khốn khổ, đáng thương của hoàn cảnh (Lão Hạc…), hoặc vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân (Chí Phèo), thì đến “Đôi mắt”, nhà văn đã phát hiện ra sức mạnh to lớn và tầm vóc lịch sử của người nông dân, khi thấy họ là động lực của cách mạng và lịch sử, là chủ nhân của hoàn cảnh, chủ nhân của đời mình.
    • Tư duy lịch sử và tư duy so sánh, liên tưởng đòi hỏi tầm văn hoá, tầm kiến thức uyên bác về văn học, lịch sử, xã hội, địa lí, đời sống… của người học, và giúp tìm ra những khám phá, những sáng tạo mới mẻ trong văn học..
    1. Tăng cường chiều sâu tư tưởng và lí luận

    Để tăng cường chiều sâu tư tưởng cho bài văn, cần chú trọng khám phá những lớp

    • nghĩa sâu sắc hơn, chìm lấp của văn bản nghệ thuật.

    Mỗi tác phẩm văn học là cả một hệ thống ý nghĩa sâu sắc, mà chỉ những người có năng lực cảm thụ tinh tế, sắc sảo và vốn văn hóa sâu rộng mới có thể nhận ra.

    Người học văn cần hiểu hết bảy phần chìm của “Tảng băng trôi” như O.Hemingway từng nói. Chẳng hạn, tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” không chỉ ca ngợi những “vẻ đẹp vàng mười nơi tâm hồn con người vùng Tây bắc”, mà còn là bài ca về tư thế tự do và niềm tin vào khả năng chiến thắng của Con Người trong cuộc đọ sức muôn thuở với thiên nhiên, một thiên nhiên vừa là “cố nhân”, là bầu bạn, vừa như “kẻ thù số một” của con người.

    Tác phẩm cũng góp phần giải phóng ý thức của con người khỏi “nỗi khiếp đảm vũ trụ, nỗi sợ thiên nhiên” như M.Bakhtin từng lưu ý. Tương tự như thế, cần thấy được chiều sâu ý nghĩa của các tác phẩm Ông già và biển cả, Hăm lét, Truyện Kiều…Đó là xu hướng học văn có chiều sâu, rất được đề cao hiện nay.

    Lí luận văn học tồn tại dưới hai hình thức cơ bản:

    • Lí luận nguyên lí là các khái niệm, nguyên lí, các vấn đề văn học được khái quát, đúc rút từ thực tiễn sáng tác văn học và các tác phẩm văn học. Người học văn cần nắm vững các nguyên lí lí luận văn học để việc phân tích, cảm nhận văn học được tinh tế, sâu sắc, chính xác và đáng tin cậy hơn.
    • Lí luận vận dụng: Vận dụng các tri thức lí luận để khám phá tác phẩm văn học, các vấn đề văn học. Đây là hướng tiếp cận văn học rất có ưu thế của thi pháp học hiện đại.

    Để bài viết có chiều sâu lí luận, không nhất thiết cứ phải trích dẫn những lời lẽ của các nhà văn, hay nhà lí luận. Chiều sâu lí luận của bài viết còn thể hiện ở sự am hiểu của người viết về các đặc trưng và quy luật của văn học.

    Chẳng hạn, khi phân tích nghệ thuật tả tượng La Hán của Huy Cận, phải chú ý đến giới hạn của chất liệu ngôn từ, để từ đó chỉ ra điểm mạnh của tài năng Huy Cận.

    Hay khi viết về sự thể hiện tư tưởng “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” trong “Rừng xà nu”, chỉ cần nêu được luận điểm: trong văn học, mọi tư tưởng dù lớn lao sâu sắc đến đâu cũng phải hóa thân thành hình tượng nghệ thuật bão hòa cảm xúc.

    Viết về cách sử dụng chi tiết nghệ thuật của Nam Cao, Thạch Lam, Tô Hoài, mà nêu được ý: Tài năng của một nhà văn lớn bao giờ cũng được làm nên từ những chi tiết nhỏ… thì bài viết đã có chiều sâu lí luận hơn nhiều.

    1. Tăng cường tính chính xác và tư duy khoa học

    Chỉ những người không hiểu gì về văn học và việc làm văn mới cho là văn chương lai láng, mơ mộng, càng dài càng tốt, muốn viết thế nào thì viết, thậm chí bịa ra văn.

    Thực ra, một bài văn đạt điểm cao, là một bài viết kết hợp được tư duy khoa học chặt chẽ (như của một nhà toán học) với năng lực cảm thụ nghệ thuật tinh tế (như của một nhà phê bình tài hoa).

    Văn học là một môn khoa học về nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy, cần kết hợp vừa tăng cường chất văn vừa tăng cường tính chính xác trong bài văn, nhất là trong việc trích dẫn kiến thức và dẫn chứng. Lời răn của cụ Tú Xương ngày trước vẫn còn nguyên ý nghĩa: “Văn chương nào phải là đơn thuốc/Chớ có khuyên xằng, chết bỏ bu!”

    Bên cạnh đó, việc hiểu rõ, nắm vững và sử dụng chính xác các khái niệm, các thuật ngữ văn học cũng giúp tăng cường tính chính xác của bài văn. Các em không nên sử dụng khái niệm, nếu như chưa hiểu rõ về nó.

    Các em cần hiểu, phân biệt, và sử dụng chính xác các khái niệm: nhân đạo, nhân văn, nhân bản, nhân ái. Các em nên tìm hiểu, nắm vững và sử dụng thành thạo thêm các khái niệm: lãng mạn, hiện thực, tính dân tộc, tình huống truyện, thể thơ lục bát, hình thức lẩy “Kiều”, lối thơ vắt dòng, giọng điệu văn chương, nhân vật trữ tình, tính sử thi…, cũng như phân biệt chính xác giữa tác giả lời nói với chủ thể lời nói, cảm hứng sáng tác và cảm hứng tư tưởng, nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình…

    1. Xây dựng đoạn văn chặt chẽ và chuyển ý khéo léo

    Khi đã có “bột” (hệ thống luận điểm hay còn gọi là hệ thống ý trong bài văn), các em cần “gột” (diễn đạt) nó thành “hồ” (bài văn). Mỗi ý lớn cần được triển khai thành nhiều ý nhỏ, có phân tích, giảng giải, chứng minh, và được tổ chức thành một đoạn văn, sao cho khi các đoạn văn kết hợp với nhau sẽ tạo thành một bài viết hoàn chỉnh, đáp ứng toàn diện yêu cầu của đề bài.

    Vì vậy, các em nên tự rèn luyện kĩ năng viết 1 ý thành đoạn văn, dưới nhiều hình thức như quy nạp, diễn dịch, tổng – phân – hợp… Sự kết hợp luân phiên của các đoạn văn với các hình thức khác nhau như thế, sẽ tránh cho bài văn khỏi sự lặp lại nhàm chán, đơn điệu.

    Cũng cần xác định mức độ trình bày đối với mỗi ý. Trong bài văn đạt điểm cao, không phải mọi ý đều được trình bày với độ dài ngắn như nhau. Trái lại, ý nào

    quan trọng, cần viết dài hơn, để triển khai kĩ lưỡng hơn; ý nào phụ, có thể trình bày ngắn gọn, bằng cách lướt qua, hoặc nêu tóm tắt.

    Khi hết một ý, chuyển sang ý khác, cần có câu chuyển ý (chuyển đoạn). Câu chuyển ý rất quan trọng, đảm bảo cho ý văn liền mạch, thống nhất và nhuần nhuyễn, giống như các khớp xương nối các phần cơ thể với nhau.

    Câu chuyển ý có chức năng khép lại ý đã viết xong và mở ra một ý mới, nên cần diễn đạt khéo léo.

    Chẳng hạn, sau khi phân tích thân phận và cảnh ngộ khốn khổ của Mị, để chuyển sang phân tích diễn biến tâm trạng và sức sống tiềm tàng của Mị khi mùa xuân đến, có thể chuyển ý như sau:

    “Một nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sêkhốp). Tấm lòng nhân đạo khiến Tô Hoài không thể nhẫn tâm dìm mãi cuộc đời Mị trong cái tăm tối, khốn cùng của một kiếp trâu, kiếp ngựa, kiếp rùa…, mà còn thôi thúc nhà văn thiết tha hướng về phía ánh sáng, phía sự sống để khơi lên niềm khát khao ham sống, ham hạnh phúc, tự do, và để khẳng định sức sống tiềm tàng nơi tâm hồn Mị.

    1. Dẫn chứng hợp lý, bình dẫn chứng tinh tế

    Bài văn đạt điểm cao không chỉ cần đủ ý, với các đoạn văn được xây dựng chặt chẽ, diễn đạt khéo léo…, mà còn cần có các dẫn chứng được trích dẫn chính xác, tiêu biểu, có chọn lọc, giàu sức thuyết phục, góp phần làm sáng tỏ và nổi bật hơn hệ thống ý của bài văn…

    Không thể làm văn không có dẫn chứng, tuy vậy, không nên lạm dụng dẫn chứng, mà phải sử dụng một cách hợp lý, có chừng mực.

    Bài văn không phải là sự liệt kê các dẫn chứng, hay liệt kê các chi tiết, hình ảnh từ tác phẩm. Cần tránh việc biến bài văn thành nơi kể lại tác phẩm một cách dở hơn nhiều so với những gì tác giả từng viết trong tác phẩm.

    Trước khi nêu dẫn chứng, cần có lời dẫn, nghĩa là một lời giới thiệu khéo léo về dẫn chứng. Lời dẫn này nên kết hợp với lời bình, với cảm nhận của các em về dẫn chứng, để làm nổi bật ý của bài văn.

    Chẳng hạn, có thể giới thiệu dẫn chứng như sau: Mị nhận ra âm thanh tiếng sáo gọi

    bạn yêu khi tiếng sáo còn ở rất xa: “Đầu núi đã lấp ló có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi

    chơi”, nhưng cũng có thể giới thiệu hay hơn, khéo léo và tinh tế hơn khi viết: Khi tiếng sáo gọi bạn yêu “lấp ló” ở “đầu núi” cũng là khi khát vọng tình yêu, hạnh phúc, tự do đã “lấp ló” nơi tâm hồn Mị: “Đầu núi đã lấp ló có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”.

    Cũng có thể phân tích và bình giảng sau khi đã trích dẫn chứng, miễn là làm nổi bật được ý văn cần thể hiện. Năng lực tư duy và cảm thụ văn học của người viết, sự tinh tế, sâu sắc và điểm số của bài văn phụ thuộc rất nhiều vào việc phân tích chi tiết, hình ảnh và cảm nhận dẫn chứng của người viết.

    Khi bình về dẫn chứng “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng, bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”, tùy theo năng lực mà người làm văn có thể chỉ ra 1, 2, hoặc 3, 4

    • nghĩa sau:
    • Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm làm dâu, Mị có ý định thắp sáng thêm căn phòng u tối của mình.
    • Người con dâu khốn khổ ấy như đã lấy chính ánh sáng của niềm khát khao ham sống, khát khao hạnh phúc tình yêu vừa bừng lên trong tâm hồn mình để tiếp thêm ánh sáng cho ngọn đèn le lói ở góc phòng.
    • Đó cũng là hành động của sự tự thức tỉnh, khát khao thắp sáng cuộc đời mình.
    • Nó gợi nhớ chi tiết nhân vật Tràng giơ cái chai dầu con con lên khoe với tất cả niềm hãnh diện, ngay giữa những ngày tối sầm lại vì đói khát trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.

    Hóa ra, ngay trong hoàn cảnh khốn cùng nhất, những người nông dân như Mị, như Tràng vẫn khát khao thắp lên ánh sáng của sự sống, của hi vọng, của niềm tin.

    1. Tuân thủ nghiêm các nguyên tắc

    Để đạt điểm cao, bài văn phải được trình bày sáng sủa, sạch đẹp. Vì vậy, trong quá trình triển khai ý làm bài, các em nên trình bày mỗi ý thành một đoạn văn, được phân biệt với nhau bởi các dấu chấm xuống dòng.

    Khi xuống dòng, cũng nên viết chữ đầu tiên lùi vào 1/5 – 1/4 trang giấy, tính từ lề. Cách trình bày như thế vừa giúp bài văn sạch đẹp hơn, gây được thiện cảm của người chấm, các ý trong bài nổi bật hơn, người chấm không thể bỏ sót ý, nên bài văn có lợi hơn về điểm số.

    Cần hết sức tránh việc dập xóa, để tránh cho bài làm không bị xấu và bẩn. Trong trường hợp bất khả kháng, bắt buộc phải bỏ phần vừa viết, cách tốt nhất và duy nhất là dùng thước kẻ gạch đè lên để bỏ đi, rồi viết tiếp. Chỉ gạch một nét, với độ đậm mực vừa phải, không ấn bút vì dễ làm rách giấy, hoặc làm xấu bài thi.

    Các em tuyệt đối không được dùng bút xóa, vì dễ bị nghi là đánh dấu bài. Cũng không nên gạch bằng tay, không nên dùng các móc ngoặc để đánh dấu đoạn văn bỏ đi, và viết thêm chữ “sai” hay “bỏ” ở bên cạnh như các em quen làm.

    Diễn đạt là quá trình vô cùng quan trọng, sánh ngang với việc tìm ý cho bài văn. Nếu “gột” không khéo, không đúng, thì dù “bột” đã được chuẩn bị tốt đến đâu, cũng có nguy cơ trở thành “bánh đúc”, thậm chí “cám lợn” chứ không phải thành “hồ” như mong muốn.

    Không có ý, thì không có gì để viết, nhưng có ý đầy trong đầu, mà không biết cách nói ra, thì ý dù hay và sâu sắc đến đâu cũng trở nên vô nghĩa. Diễn đạt là quá trình “gột” để “bột” thành “hồ”, quá trình làm cho những ý tưởng trừu tượng, lớn lao biến thành lời văn cụ thể, tràn đầy hình ảnh và cảm xúc, nghĩa là biến bộ xương ý tưởng thành một cơ thể sống động, có da có thịt ,có sự sống, có linh hồn.

    Do thói quen xấu và do không được uốn nắn, sửa chữa từ các cấp dưới, nhiều thí sinh dự thi đại học vẫn viết sai chính tả, vẫn viết câu văn què cụt, không có chủ ngữ, vị ngữ, hoặc nhầm lẫn giữa các thành phần câu, nghĩa là chưa nói thông viết thạo tiếng Việt. Đây là lỗi thường bị trừ điểm rất nặng trong các bài văn.

    Cũng cần tránh các kiểu diễn đạt mập mờ, dễ gây hiểu nhầm cho người đọc, kiểu “Chị Dậu bảo với người nhà lí trưởng: Mày đánh chồng bà đi, bà cho mày xem. Rồi chị cho chúng nó xem thật!”.

    Vì vậy, trước hết, các em cần phải rèn luyện cho mình một cách diễn đạt đúng, nghĩa là nói và viết đúng ngữ pháp. Nếu chưa giỏi diễn đạt, hãy viết các câu văn ngắn, giản dị, ít thành phần câu, tránh cầu kì, rườm rà vì dễ mắc lỗi ngữ pháp.

    Khi đã diễn đạt đúng, mới tiến dần lên tập luyện để diễn đạt hay hơn, khéo léo, tinh tế hơn. Kĩ năng diễn đạt này sẽ rất cần thiết cho các em trong cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ, giao tiếp, kể cả các giao dịch kinh tế sau này.

    Ngồi sau xe môtô của một chàng trai đang phóng rất nhanh trên đường, một cô gái diễn đạt tầm thường sẽ nói: “Sao anh đi như thằng điên thế?”, một cô gái diễn đạt khéo hơn có thể nói “Chậm thôi anh, đi nhanh thế, em sợ lắm”, còn một cô gái

    luôn lo lắng cho chàng trai và diễn đạt tinh tế hơn sẽ nói: “Chậm thôi anh, đi nhanh thế, nhỡ ra anh bị làm sao, thì em sống làm sao nổi?”

    Qua một ví dụ đời thường như thế, chắc các em đủ hiểu về tầm quan trọng và hiệu quả của kĩ năng diễn đạt, cũng như ý nghĩa của môn văn trong việc rèn luyện kĩ năng sống cho mỗi người. Giống như mọi ngành nghệ thuật khác, văn học cũng cần phải diễn đạt hay, cần sử dụng linh hoạt các kiểu câu khi diễn đạt, sử dụng linh hoạt các hình ảnh, các phép tu từ, chuyển nghĩa để lời văn có cảm xúc và chất văn. Lời văn phải trau chuốt, uyển chuyển, có giọng điệu riêng. Nhiều khi chỉ thay đi vài chữ là câu văn đã hay hơn, sâu sắc hơn.

    Chẳng hạn, thay cho cách viết “Bài thơ Các vị La Hán chùa Tây phương được in trong tập Bài thơ cuộc đời của Huy Cận” , hãy viết “Bài thơ Các vị La Hán chùa Tây phương là một trong những Bài thơ cuộc đời của Huy Cận”. Cách viết thứ hai không chỉ nêu được xuất xứ mà còn đánh giá được tầm vóc và vị trí của bài thơ đối với đời thơ Huy Cận.

    Thay cho cách diễn đạt “Sức sống của Mị hồi sinh mạnh mẽ khi mùa xuân đến”, hãy tìm một cách diễn đạt có hình ảnh và cảm xúc hơn, chẳng hạn “Như một mầm cây ngủ quên lâu ngày trong đất, gặp hơi ấm của mùa xuân, sức sống nơi tâm hồn Mị bỗng cựa mình tỉnh giấc và vươn mình trỗi dậy”.

    Các em nên học cách diễn đạt của nhà phê bình Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”. Nói về chất cổ điển của “Tràng giang”, ông viết: “Huy Cận đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”. Diễn đạt đúng ngữ pháp, khéo léo, tinh tế, có hình ảnh và cảm xúc sẽ giúp bài văn có chất văn và đạt điểm cao.

    Chữ viết đẹp, rành mạch, sáng sủa, đúng chuẩn mực chính tả cũng là một lợi thế để bài văn có điểm cao hơn. Các em nên rèn luyện chữ viết của mình, nếu không được đẹp, cũng cần phải viết cho rõ ràng, ngay ngắn, đúng chính tả.

    Tuyệt đối không được viết tắt, viết thiếu nét, thiếu dấu, viết hoa tự do (chỉ viết hoa tên riêng, hoặc sau khi chấm câu), viết ngọng (như nhầm lẫn giữa l và n, x và s, ch và tr…).

    Chỉ cần 5 lỗi chính tả hoặc 1 lỗi chính tả lặp lại 5 lần, bài làm có thể đã bị trừ mất 0,5 điểm.

    1. Phân bố thời gian làm bài hợp lý

    Theo yêu cầu của đề thi đại học, cao đẳng, cũng như thi tốt nghiệp hiện nay, trong thời gian 180 phút, các em phải viết 3 bài văn nhỏ, đáp ứng được đầy đủ, toàn diện, sâu sắc và tinh tế yêu cầu của 3 câu hỏi trong đề thi.

    Trong thực tế, nhiều em có kiến thức tốt, vẫn không đủ thời gian để làm bài. Vì vậy, việc sử dụng và phân bố thời gian làm bài thông minh và hợp lý là điều có ý nghĩa rất quan trọng.

    Các em nên tận dụng thời gian làm bài ngay khi nhận được đề thi mà không nên chờ đến khi cỏ trống tính thời gian làm bài, đồng thời phải tận dụng thời gian làm bài đến tận phút cuối cùng. Chỉ cần bỏ phí khoảng 10 phút, có thể các em đã nhường lại cơ hội vào đại học cho người khác.

    Các em cần hết sức lưu ý đến điểm số của từng câu (hoặc từng phần) được ghi trong đề thi, để từ đó, chủ động phân chia thời lượng, giấy mực… cho từng câu một cách hợp lí.

    Tránh tình trạng đầu tư quá nhiều thời gian và sức lực cho câu có điểm tối đa thấp.

    Cần tận dụng từng giây phút, tránh tình trạng không đủ thời gian để làm bài.

    Khi làm bài, câu I, thường 2 điểm, các em chỉ được làm trong khoảng thời gian tối đa 36 phút, câu II, thường 5 điểm, làm trong khoảng thời gian 90 phút, câu IIIa và IIIb, thường 3 điểm làm trong khoảng thời gian 54 phút.

    Nhưng tôi khuyên các em chỉ nên làm câu I trong khoảng thời gian 20 phút, vì câu này thường đơn giản, chỉ cần nắm chắc kiến thức cơ bản là có thể giải quyết đầy đủ và đạt điểm tối đa. Số thời gian còn lại, nên dành thêm cho câu II, vì trong thực tế, câu này thường khá khó và dài, phần lớn thí sinh không thể làm trọn vẹn trong 90 phút.

    Phần mở và kết bài cho từng câu cũng cần được viết trong khoảng thời gian thật ngắn. Trong thực tế, nhiều thí sinh ngồi cắn bút đến 15 – 20 phút, thậm chí nhiều hơn, vẫn chưa viết xong mở bài, vậy thì đối với ngay cả câu 5 điểm (thời gian cho phép làm bài là 90 phút), cũng làm sao đủ thời gian để viết mở bài và kết luận?

    Các em nên luyện tập để có thể mở bài, kết bài cho từng câu trong khoảng thời gian từ 5 – 7 phút. Như thế mới có đủ thời gian để triển khai ý sâu sắc và đầy đủ cho phần thân bài.

    Cũng không nên viết nháp bài văn rồi chép lại, vì như thế sẽ không bao giờ đủ thời gian. Các em chỉ nên vạch ra các ý chính thông qua các gạch đầu dòng, hoặc theo

    hình nhánh cây, và cân nhắc trình tự sắp xếp các ý cho chặt chẽ, rồi lựa chọn cách diễn đạt và viết ngay thành lời văn vào giấy thi.

    Trong trường hợp có chỗ nào sai, nên dùng thước kẻ gạch đè lên để bỏ đi, rồi viết tiếp, mà không nên thay giấy thi (nếu không phải là những dòng đầu tiên của bài làm, hoặc của tờ giấy thi), vì việc điền lại các thông tin cá nhân trên phách và chép lại phần bài đã làm sẽ mất rất nhiều thời gian.

    Nên dành khoảng 4 – 5 phút cuối cùng của 180 phút làm bài thi, để đọc lại bài làm, rà soát các lỗi sai, nhất là lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp…, sau đó hãy nộp bài.

    1. Rèn luyện để tăng tốc độ viết

    Như các em đã thấy, dù cấu trúc như nhau, nhưng mức độ của đề thi đại học khó hơn nhiều so với đề thi tốt nghiệp. Về cơ bản, bài văn thi đại học có thể làm tương tự như bài thi tốt nghiệp, nhưng mức độ và chất lượng phải cao hơn, kiến thức phải sâu hơn, tư duy chặt chẽ hơn và diễn đạt cũng phải tinh tế, uyển chuyển hơn.

    Mọi yêu cầu của đề đều cần giải quyết trong vòng 180 phút, nên nhiều thí sinh không đủ thời gian để làm bài. Mặt khác, đề thi cũng ngày một dài hơn.

    Trước đây, câu 3 điểm (làm trong 54 phút), thường chỉ yêu cầu bình giảng 4 dòng thơ, nhưng đề thi khối C, năm 2007, yêu cầu bình giảng tới 10 dòng. Câu 3 điểm trong đề khối D, năm 2007, trước đây thường được cho với yêu cầu 5 điểm (làm trong 90 phút). Vì vậy việc tăng tốc độ viết để có đủ thời gian làm bài là điều rất cần thiết.

    Những thí sinh viết nhanh, viết đẹp… rõ ràng có lợi thế hơn. Các em nên luyện tập ngón tay và khuỷu tay, để tránh bị mỏi tay khi viết bài, đồng thời luyện viết thường xuyên để viết nhanh, chữ viết rõ ràng, sạch đẹp hơn.

    Các em có thể lấy 1 đề văn thi đại học bất kì, trung thực và nghiêm túc làm bài trong 180 phút, không dùng bất cứ tài liệu nào, tự kiểm tra xem khả năng làm bài và tốc độ viết của mình đã hợp lí chưa, để có phương án điều chỉnh.

    Cần lưu ý rằng, điều kiện đầu tiên để tốc độ viết văn nhanh hơn là các em phải luôn làm chủ kĩ năng và kiến thức, phải chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ kiến thức trong đầu.

    Trình bày những điều trên đây, chúng tôi hi vọng ít nhiều giúp ích cho các em trong quá trình ôn tập và làm bài. Hãy luôn nhớ rằng trên con đường thành công

    không có bước chân của kẻ lười biếng và “tất cả những gì tốt đẹp nhất, chỉ có thể có được khi chúng ta chịu trả giá bằng một nỗi đau khổ vĩ đại” (Côlin Măc Calâu).

    Nếu kiên nhẫn rèn luyện, nỗ lực học tập một cách thông minh và có phương pháp, chỉ cần một thời gian ngắn, chắc chắn các em sẽ có bài văn đạt điểm cao trong kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng.

    Chúc các em thành công!

  • Ôn thi đại học môn văn – Hướng dẫn ôn tập bài thơ Tây Tiến

    Ôn thi đại học môn văn – Hướng dẫn ôn tập bài thơ Tây Tiến

    Ôn thi đại học môn văn – Hướng dẫn ôn tập bài thơ Tây Tiến

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ôn thi đại học môn văn – Hướng dẫn ôn tập bài thơ Tây Tiến

    Ôn thi đại học môn văn

    Hướng dẫn ôn tập bài thơ “Tây Tiến”

    Đề 3: Phân tích hình tượng người lính trong đoạn thơ sau đây:

    “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc …Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. (Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng)

    DÀN BÀI

    1. Mở bài:
    • Quang Dũng thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp.
    • Tây tiến” là sự hồi tưởng của nhà thơ về đoàn quân Tây Tiến, về cảnh vật và con người Tây Bắc một thời gian khổ và oai hùng. Tất cả được thể hiện qua một hồn thơ lãng mạn, một bút pháp tài

    hoa và độc đáo.

    • Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên trong bài thơ vừa hào hùng, vừa hào hoa:
    • Trích dẫn thơ.
    1. Thân bài:

     

     

     

     

     

    1. Khái quát:
    • Giới thiệu ngắn gọn về đoàn quân Tây Tiến và hoàn cảnh ra đời của bài thơ (đề 1).
    • Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của người lính Tây Tiến để tạo nên bức tượng đài tập thể. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài, tạo nên vẻ đẹp bi tráng của đoàn quân Tây Tiến.
    1. Phân tích:
    1. Hình ảnh người lính (4 câu đầu):

    – Với những chi tiết rất thực, hình ảnh so sánh, tương phản, nhà thơ đã khắc họa sống động, cụ thể bức chân dung của người lính Tây Tiến.

    “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

    • Thơ ca thời kì kháng chiến khi viết về người lính thường viết về căn bệnh sốt rét ác nghiệt. Nhà thơ Chính Hữu trong bài “Đồng

    chí” đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy:

    “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

    Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”..

    Quang Dũng trong “Tây Tiến” cũng nói lên những gian khổ, khó khăn, những căn bệnh khiến những người lính “không mọc tóc”, “da xanh màu lá”.

    • Cái vẻ xanh xao vì đói rét, bệnh tật ấy của người lính Tây Tiến, qua cái nhìn của Quang Dũng vẫn toát lên vẻ oai phong, dữ dằn của những con hổ nơi rừng thiêng: “dữ oai hùm”.
    • Hai chữ “đoàn binh” gợi hình ảnh một đoàn chiến binh có vũ

    khí, có khí thế xung trận, át đi cái vẻ ốm yếu của bệnh tật.

    – Vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến:

    “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

    • Hình ảnh “mắt trừng” thể hiện ý chí quyết tâm của người lính Tây Tiến trong nhiệm vụ bảo vệ biên cương, nghĩa vụ quốc tế

    của mình.

    + Hình ảnh lạ, sáng tạo độc đáo “Đêm mơ Hà Hội dáng kiều thơm” . Bên trong cái dữ dằn, oai hùng của người lính là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khao khát yêu thương

    Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh đoàn quân Tây Tiến, từ dáng điệu bên ngoài đến vẻ đẹp tâm hồn bên trong, bộc lộ nét đẹp tâm hồn, tính cách của những người lính ra đi từ thủ đô. Bệnh tật và lao khổ của cuộc chiến tranh đã phải bó tay trước những chàng trai đa tình, lãng mạn này.

    1. Sự hi sinh của người lính (4 câu sau):

     

    • “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”
    • Sự bi thương được gợi lên qua hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo.
    • Câu thơ phần lớn là từ Hán Việt: “biên cương – mồ – viễn xứ” gợi không khí thiêng liêng, đượm chút ngậm ngùi.
    • Câu thơ tiếp theo vang lên như một lời thề “Chiến trường đi

    chẳng tiếc đời xanh”. Đó cũng chính là lí tưởng quên mình, xả thân vì Tổ quốc của những chàng trai đô thành này.

    “Áo bào thay chiếu anh về đất”.

    • Câu thơ nhắc đến một sự thật đau thương của cuộc chiến tranh: những người lính ngã xuống không có một manh chiếu bọc thân, chỉ có chiếc áo các anh đang mặc trên người theo “anh về

    đất”.

    • Hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ để tái tạo ở đây một vẻ đẹp tráng sĩ, làm mờ thực trạng thiếu thốn, khốc liệt của chiến trường.
    • Chữ “về” thể hiện thái độ ngạo nghễ, thanh thản, nhẹ nhõm của

    người lính khi đón nhận cái chết.

    – Đoạn thơ kết thúc bằng hình ảnh dòng sông Mã “gầm lên khúc độc hành”. Sự hi sinh của người lính Tây Tiến còn lay động đến cả đất trời, khiến dòng sông Mã gầm lên đau đớn, tiếc thương.

    Trong âm hưởng hào hùng và dữ dội của thiên nhiên, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi lụy mà thấm đẫm tinh thần bi tráng.

    Tây Tiến xứng đáng được xem là một tượng đài kỉ niệm bằng thi ca về đoàn quân Tây Tiến nói riêng về con người Việt Nam nói chung của một thời đại đầy gian lao mà anh dũng”.

    III. Kết bài:

    – Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên tính chất sử thi đặc biệt của bài thơ “Tây Tiến”.

    • Hồn thơ Quang Dũng đã làm ngời sáng lên hình ảnh đẹp nhất của một thời: hình ảnh người lính “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
  • Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay

    Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay

    Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề thi Đại học môn Văn năm 2011


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay

    Ôn thi đại học môn văn

    Đề 23: Trong tác phẩm ” nhìn về vốn văn hoá dân tộc” của Trần Đình Hượu viết “con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự sáng tạo mà còn trong cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên mình.” Anh chị trình bày uy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay.

    Bài làm

    Vượt hành trình gian nan để đổ về đại dương, dòng sông luôn khởi khởi nguồn từ đất liền, chảy qua bao vùng miền để hoà vào biển lớn. Dòng sông văn hoá Việt Nam cũng khởi nguồn từ quá khứ 4000 năm lịch sử, chảy trong thời gian qua các miền văn hoá kế thừa và sáng tạo kết tụ lại thành những giá trị văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.Nhưng “ con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá ko chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh,khả

    năng đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài”- quan điểm đó của Trần Đình Hượu đã đặt ra trong lòng độc giả những trăn trở, đặc biệt trong hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay.

    Văn hoá Việt Nam hình thành sớm, xuất hiện từ những ngày công xã nguyên thuỷ, phát triển qua nền văn minh lúa nước, hình thành những loại hình văn hoá dân gian từ sự chạm khắc của miền truyền thuyết ,ca dao, cổ tích với những tập tục ăn trầu, búi tóc từ thủa cổ xưa.

    “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

    Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể

    Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

    Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

    Tóc mẹ thì bới sau đầu….”

    Và cùng với sự ra đời của nhà nước quân chủ chuyên chế, xã hội phong kiến đã mang đến cho nền văn hoá Việt nam những dấu

    ấn đặc sắc mang đậm tính chất Á Đông. Người Việt Nam có quyền tự hào về vốn văn hoá đậm đà thuần Việt cả trong những lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội hoạ , điêu khắc…Với nền văn học dân gian phong phú thể loại (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, thơ nôm, sử thi….) mà đỉnh cao là thể thơ

    lục bát, vẫn được sử dụng đến ngày nay. Kiến trúc Việt Nam với những mái đình cổ kính, thấp thoáng ẩn hiện dưới những gốc đa, sau những rặng tre xanh, bến nước, sân đình…Các làn điệu dân ca như ca trù, quan họ, cải lương….hay những nghệ thuật hội

    hoạ dân gian Đông Hồ….có thể coi là những thành quả đã có làm

    cơ sở xây dựng một nền văn hoá phong phú đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc VN.

    Nhưng “con đường hình thành bản sắc dân tộc đâu chỉ trông cậy vào khả năng tạo tác ” tức là sáng tác,kế thừa và phát huy những gì đã có mà còn phải “ trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài”. Phải chăng, hành trình phát triển văn hoá từ sông ra biển chính là sự đồng hành của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá- cũng chính là khả

    năng đồng biến và chiếm lĩnh những giá trị văn hoá bên ngoài? Khả năng chiếm lĩnh và đồng hoá phải chăng là khả năng tiếp thu hội nhập nhiều nền văn hoá, khả năng đón nhận những ảnh hưởng của nền văn minh văn hoá lớn, khả năng tiếp thu chủ động, biến những cái ngoại lai thành cái của mình và có sàng lọc. Do bối cảnh của lịch sử với bao thăng trầm, trwocs những dòng chủ lưu về văn hoá ồ ạt theo con đường cai trị của phong kiến thực dân xâm nhập vào văn hoá Việt Nam một cách có hệ thống thì việc “chiếm lĩnh” và” đồng hoá” để ko bị chiếm lĩnh và đồng hoá lại là vô cùng cần thiết, nó quyết định tới sự tồn tại riêng rẽ của một nền Văn hoá Việt ko thể hoà lẫn. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng là một cách tiếp thu có chọn lọc những giá trị của văn học trung hoa từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân để trở thành đỉnh cao của văn học dân tộc, sự chuyển thể từ thể loại truyện sang truyện thơ ( Nôm) là một sự đồng hóa hết sức sáng tạo và tích cực của đại thi hào Nguyễn Du. Các thể thơ nôm đường luật cũng là hệ quả của quá trình tiếp thu và lĩnh hội có chọn lọc như thế. Kiến truc văn hoá đình chùa ảnh hưởng

    từ Phật giáo từ Trung Quốc hay Ấn Độ nhưng vẫn mang dáng vẻ

    kiến trúc Việt Nam cũng là một tminh chứng diệu kì cho khả

    năng” chiếm lĩnh” và” đồng hoá” những giá trị Văn hoá bên ngoài.

    Cùng với sự đổi thay của lịch sử, bước sang kỉ nguyên hội nhập

    với bao thay đổi của nền kinh tế thị trường, trước ngưỡng cửa

    của sự xâm nhập văn hoá với quy mô toàn cầu thì nhận định của

    Giáo sư Trần Đình Hượu đặt ra bao suy tư cho giới trẻ về trách

    nhiệm của bản thân trong thời đại mới. Trước dòng chảy xâm

    nhập ào ạt của nền văn hoá ngoại lai từ các nền văn minh trên

    thế giới, một bộ phận thanh niên Việt Nam đã biết nắm bắt lấy

    thời cơ, phát triển nền văn hoá dân tộc vốn đã giàu đẹp ngày

    càng văn minh và tiến bộ hơn, Sự tiếp thu có hệ thống các hệ tư

    tưởng văn hoá tây phương với những phong cách nghệ thuật thơ

    văn của Pháp, Italia, Anh, hay Đức, các công trình kiến trúc đậm

    dấu ấn cổ điển hay hiện đại của những quốc gia này cũng được

    tiếp thu và thiết kế bài bản. Chính sự năng động và sáng tạo đó

    đã góp phần làm văn minh hơn, giàu có hơn cho bản sắc văn hoá

    Việt Nam, tạo nên sự phối trộn hài hoà giữa cũ và mới, cổ điển và

    hiện đại, truyền thống và cách tân. Sự giao lưu và tiếp biến được coi là “nguồn gen tiến hoá” cho sự phát triển của văn hoá dân tộc trong giai đoạn giao lưu và hội nhập. Nền văn hoá Internet, văn hoá Online, văn hoá Game, hay sự thay đổi của trào trào lưu thời trang trên thế giới góp phần lột xác hình ảnh đất nước Việt Nam vốn vẫn được biết đến là nền văn hoá nông nghiệp với hình ảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau”. Để làm đwocj điều đó, không chỉ đòi hỏi người thanh niên Việt Nam ph ải năng động sáng tạo biết nắm bắt du nhập một cách có chọn lọc mà còn đặt ra vấn đề về sự bảo tồn những nét văn hoá truyền thống cũ, hoà nhập nhưng ko hoà tan- đó cũng là một thách thức đầy khó khăn, là những chướng ngại vật trong hành trình dòng chảy tiếp biến, hội nhập. Bởi bên cạnh những cá nhân, tập thể tích cực cũng tồn tại không ít những thanh niên sống thiếu lí tưởng, ko có MĐ rõ ràng, du nhập văn hoá một cách tràn lan máy móc, cả những nền văn hoá vốn ko mang nhiều giá trị nhân văn thẩm mĩ chỉ để thoả mãn nhu cầu sống gấp, sống sành điệu của một bộ phận giơí trẻ ngày nay. Đó là bộ phận có biểu hiện sống ngoại lai mất gốc, xa rời

    văn hoá truyền thống dân tộc, bị hoà tan một cách hoàn toàn trong dòng lũ hội nhập mà tự đánh mất chính mình. Một số khác lại có tư tưởng bảo thủ, không chiêm slĩnh, đồng hoá văn hoá ngoại lai, chỉ khư khư chăm chút cho cái vốn văn hoá xưa của dân tộc, không chịu du nhập, đổi mới, Bất giác, ở họ gợi lên hình ảnh về biển Chết, suốt đời chỉ khư khư khép mình, ko nhận nước từ bất kì dòng chảy nào nên chưa ở đâu sự sống của các loài sinh vật lại nghèo nàn đến thế.Có thể nói, cả 2 đối tượng trên đều có ảnh hưởng tiêu cực, là bước cản trở trên con đường xây dựng một nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

    • thức được trách nhiệm và sứ mệnh của bản thân đòi hỏi mỗi

    thanh niên của thời đại mới cần có thái độ và nhận thức đúng đắn về trách nhiệm, xác định lập trường tư tưởng vững vàng, để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt còn thiếu sót củavăn hoá dân tộc, tích cực quảng bá văn hoá dân tộc tới bạn bè quốc tế, có thái độ tôn trọng đúng mực và chiếm lĩnh đồng hoá hiệu quả nền văn hoá ngoại lai, Điều đó là một ẩn số chỉ được giải quyết bằng bất đẳng thức hành động của mỗi con người.

    Có một câu hỏi khá phổ biến khi ta đặt chân lên xứ người” Bạn

    đến từ đâu”. Hãy tự hào trả lời 2 tiếng” Việt Nam” và giới thiệu

    cho họ về đất nước hình chữ S- khi bạn đã tự tin về nền văn hoá

    đậm đà bản sắc của mình!

  • Đề thi Đại học môn Văn năm 2011

    Đề thi Đại học môn Văn năm 2011

    Đề thi Đại học môn Văn năm 2011

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề thi Đại học môn Văn năm 2011

    ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2011

    Môn: NGỮ VĂN; Khối: C

    Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề

    PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

    Câu I. (2,0 điểm)

    Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn nào? Việc trích dẫn đó có ý nghĩa gì?

    Câu II. (3,0 điểm)

    Biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng biết xấu hổ còn quan trọng hơn.

    Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

    PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)

    Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)

    Câu III.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

    Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân.

    Câu III.b. Theo Chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

                Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

                Cặp vợ chồng yêu thương nhau góp nên hòn Trống Mái

                Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

                Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

                Những con rồng năm im góp dòng sông xanh thẳm

                Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên

                Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

                Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

                Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

                Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

                Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

                Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…

                            (Đất Nước – Trích trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm)

    Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 117 – 118)

    Phân tích đoạn thơ trên để làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.

    BÀI GIẢI GỢI Ý

    Câu I. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần nêu được những nội dung cơ bản sau :

    1. Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn :

    – Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776.

    – Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

    1. Ý nghĩa của việc trích dẫn:

    – Tác giả tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho bản tuyên ngôn để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam là “một lẽ phải không ai chối cãi được”, đồng thời tạo tiền đề cho lập luận nêu ở phần sau.

    – Tác giả thể hiện thái độ trân trọng tinh hoa văn hóa nhân loại, đề cao truyền thống bình đẳng, nhân đạo, tư tưởng dân chủ tiến bộ của hai nước Pháp và Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.

    – Tác giả muốn từ vấn đề nhân quyền để “suy rộng ra” và phát triển thành quyền dân tộc. Đây là đóng góp lớn về tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

    – Tác giả cũng chỉ ra cho thực dân Pháp thấy rõ: nếu chúng âm mưu tái chiếm nước ta là xúc phạm đến nguyên lý về quyền độc lập tự do mà chính tổ tiên của chúng đã nêu ra trước kia. Đây là lối tranh luận “lấy gậy ông đập lưng ông” thể hiện thái độ vừa kiên quyết vừa khôn khéo của tác giả. Mặt khác, khi đặt ba bản tuyên ngôn ngang nhau, tác giả còn bộc lộ sâu sắc niềm tự hào dân tộc.

    Câu II: Thí sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của câu hỏi: Viết bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến: biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng xấu hổ còn quan trọng hơn.

    Thí sinh có thể trình bày bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý :

    – Giới thiệu ý kiến của đề bài: biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng xấu hổ còn quan trọng hơn.

    – Giải thích :

    + Tự hào : lấy làm hài lòng, hãnh diện về cái tốt đẹp mà mình có.

    + Xấu hổ : cảm thấy hổ thẹn khi thấy mình có lỗi hoặc kém cỏi trước người khác.

    + Ý kiến : thể hiện quan điểm của người phát biểu về quan hệ của tự hào với xấu hổ : tự hào thì cần thiết, xấu hổ quan trọng hơn.

    – Phân tích, chứng minh :

    + Tự hào là cần thiết :

    × Người tự hào thường là người hiểu rõ bản thân, nhất là sở trường, các tốt đẹp của bản thân. Do đó cũng dễ là người có thái độ tự tin.

    × Tự hào thường mang lại những cảm xúc tích cực. Nó giúp người ta dễ phấn khởi trong hành động. Do đó cuộc sống dễ đạt được những thành công.

    + Biết xấu hổ còn quan trọng hơn :

    × Biết xấu hổ, người ta dễ tránh những lỗi lầm sai trái.

    × Biết xấu hổ, người ta dễ nổ lực vươn lên để khắc phục những kém cỏi của bản thân.

    × Biết xấu hổ, người ta dễ có lòng khiêm tốn, có tinh thần trách nhiệm, có lương tâm.

    × Biết xấu hổ là một trong những biểu hiện của lòng tự trọng, của nhận thức về phẩm giá con người.

    × Biết xấu hổ, người ta cũng dễ biết kiềm chế bản thân trước các tình huống.

    – Phê phán : Trong thực tế, có những người không biết tự hào, cũng chẳng tự trọng, vô cảm với mình, với người. Nguyên nhân thường do thiếu nhận thức, thiếu kỹ năng sống.

    – Bình luận : Tự hào, tự trọng (mà biết xấu hổ là một biểu hiện của nó) là những phẩm chất đáng quý mà mỗi người cần có, trong đó cần nhận thức tự hào là cần thiết nhưng tự trọng thì quan trọng hơn.

    – Làm sao để có lòng tự hào và tự trọng :

    + Cần có hiểu biết và ý thức về giá trị con người và cuộc sống.

    + Cần có hiểu biết về ý nghĩa quan trọng của phẩm giá cá nhân.

    + Cần nỗ lực phấn đấu rèn luyện trau dồi những phẩm chất và kỹ năng sống cần thiết để sống tốt.

    Câu III.a:

    1. Yêu cầu về kĩ năng:

    _ Biết cách làm một bài nghị luận văn học để cảm nhận tác phẩm về nội dung, nghệ thuật

    _ Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ

    1. Yêu cầu về kiến thức:

    Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh trình bày theo nhiều cách nhưng cần nêu được những ý chính sau:

    1. Tác giả, tác phẩm:
    • Tác giả: Nguyễn Tuân là nhà văn mang phong cách tài hoa, uyên bác
    • Tác phẩm: “Chữ người tử tù” rút ra từ tập “Vang bóng một thời” (1940), không chỉ thành công về nội dung mà còn có những nghệ thuật đặc sắc, nhất là tạo tình huống truyện độc đáo.
    1. Phân tích cụ thể:
    • Tìm hiểu về tình huống truyện trong tác phẩm tự sự, trong “Chữ người tử tù”

    + Sự gặp gỡ giữa những tâm hồn yêu cái đẹp trong hoàn cảnh éo le, đầy kịch tính.

    + Quản ngục, thơ lại là người có quyền trong nhà tù – Huấn Cao, phạm nhân đều hướng về cái đẹp của nghệ thuật thư pháp

    • Khai thác tình huống truyện xoay quanh hai tuyến nhân vật:

    + Huấn Cao:

    • Tài viết chữ đẹp hấp dẫn quản ngục, ông xem việc có được chữ của ông Huấn là có báu vật trên đời
    • Tâm: yêu nước, hiên ngang, bất khuất của người có tài, “biệt nhỡn liên tài” để tìm người giữ chữ cho đời (chọn dẫn chứng và phân tích để làm bật lên những ý trên)

    + Quản ngục, thơ lại:

    • Hai nhân vật này hợp lại để xin và giữ chữ bằng cái tâm hướng về cái đẹp
    • Yêu cái đẹp đến độ dám chơi chữ với tử tù (chọn dẫn chứng và phân tích)

    + Và kết thúc của tình huống truyện là “cảnh cho chữ lạ lùng chưa từng có”:

    • Cho chữ ở nhà ngục tử tù bật lên sự tồn tại vĩnh hằng của thư pháp ngay chốn tử tù
    • Sự thay bậc đổi ngôi: người tù thì đứng, dù cổ mang gông, chân vướng xiềng vẫn ung dung cho chữ, còn thơ lại, quản ngục run run, khúm núm.
    • Nhà tù tối tăm, hôi hám, dơ bẩn nhưng sáng rực với bó đuốc soi rọi trên ba cái đầu chụm vào nhau cùng hướng về tấm lụa bạch và mùi thơm của thoi mực.
    • Sức mạnh của thư pháp cảm hứng kẻ lầm đường lạc lối về với nẻo chính đường ngay (minh họa và phân tích)
    • Cảm nhận chung: Nghệ thuật tạo tình huống truyện trong “Chữ người tử tù” làm bật lên tư tưởng, nội dung của tác phẩm “Chữ người tử tù”.
    1. Đánh giá tác giả, nghệ thuật tạo tình huống truyện của tác phẩm.

    Câu III.b.

    1) Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích :

    – Trường ca Mặt đường khát vọng viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm ở miền Nam: nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Đoạn thơ trích thuộc phần đầu của chương V.

    – Tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” được thể hiện tập trung qua đoạn thơ :

    Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

    Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.”

    chi phối cách cảm nhận của nhà thơ về các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá … của đất nước.

    2) Phân tích đoạn thơ :

    1. Tám câu đầu: Tác giả cảm nhận Đất Nước qua những địa danh, thắng cảnh. Những địa danh, thắng cảnh ấy gắn với cuộc sống, số phận, tính cách của nhân dân, được cảm thụ qua tâm hồn nhân dân. Chú ý khả năng gợi cảm nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng của các hình ảnh, cảnh vật: tình nghĩa thuỷ chung, thắm thiết (hình ảnh núi Vọng Phu, hòn Trống Mái); sức mạnh bất khuất (chuyện Thánh Gióng); cội nguồn thiêng liêng (hướng về đất Tổ Hùng Vương); truyền thống hiếu học (cách cảm nhận về núi Bút non Nghiên); Đất Nước tươi đẹp (cách nhìn dân dã về núi Con Cóc, Con Gà, về dòng sông Cửu Long gợi dáng những con rồng)vv… Đất Nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng.
    2. Bốn câu cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát: sự hoá thân của Nhân Dân vào bóng hình Đất Nước. Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, miền đất này.
    3. Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng rất nhiều địa danh quen thuộc, những chất liệu văn hoá dân gian để nói về Đất Nước. Theo Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước được hình thành từ công sức của nhân dân, của những con người lao động bình dị. Đây cũng là biểu hiện chiều sâu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” trong cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.

    3) Đánh giá chung :

    – Đoạn thơ đã làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm: không thiêng liêng hóa Đất Nước như trong thơ xưa, mà bằng những hình ảnh thơ rất cụ thể, đời thường, thấm đẫm chất liệu văn hóa dân gian nên Đất Nước gần gũi, gắn liền với mọi con người Việt Nam hôm nay.

    – Ra đời trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả nước đang ác liệt, bài thơ có tác dụng như một sự thức tỉnh đối với tuổi trẻ các thành thị miền Nam về tình yêu quê hương đất nước, ý chí đấu tranh bảo vệ độc lập tự do.

    Nguyễn Hữu Dương, Hà Phương Minh

    (TT Luyện thi Đại học Vĩnh Viễn – TP.HCM)

  • Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối D


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Ôn thi đại học môn văn

    Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    BÀI LÀM

    Người đọc bản tuyên ngôn độc lập (cũng là tác giả) cất lời là vào

    ngay vấn đề, nhằm thẳng mục tiêu; xác định một chân lý, nghĩa là

    khẳng định một chủ quyền.

    Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Chân lý bao giờ cũng

    giản dị đối với người sáng suốt, có thiện chí muốn tiếp thu nó.

    Còn đối với những kẻ có tà tâm bị lợi lộc ích kỷ làm cho mù, cho

    điếc, không còn muốn thấy sự thật, muốn nghe lẽ phải thì rất khó

    tiếp thu. Phải giải thích. Tốt nhất là dựa vào những lý lẽ có uy thế

    từ lâu.

    Đối tượng được nghe trước hết là một triệu đồng bào trong cuộc

    biểu tình, là hai mươi lăm triệu nhân dân cả nước đang hướng về

    Thủ đô Cách mạng…Tất nhiên chúng ta hiểu được nước ta là

    của ta. Ta hiểu từ lâu rồi, từ bốn nghìn năm dựng nước và giữ

    nước. Ta đã khẳng định như thế nhiều lần, “Nam quốc sơn hà

    Nam đế cư” hoặc:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

    Núi sông bờ cõi đã chia

    Phong tục Bắc Nam cũng khác.”

    (Bình Ngô đại cáo)

     

    Nhưng trong hai mươi lăm triệu tất cũng có người còn ngơ ngác

    bàng hoàng vì cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi quá nhanh, chưa kịp

    tĩnh tâm để xóa được ngay những luận điệu xảo trá tung ra liên

    tục tám chục năm qua. Và, có hiểu rồi, nhắc lại cũng không sao.

    Có những sự thật nghe hàng nghìn lần vẫn thấy sảng khoái.

    Mặt khác, đối tượng nghe đâu phải chỉ có Việt Nam.

    Còn có “Đồng Minh”, có Mỹ, tên trùm tư bản quốc tế, đã trở thành

    tên đế quốc đầu sỏ sau đại chiến. Có Pháp đang hí hửng giơ

    vuốt, nhe nanh. Hồ Chí Minh hôm nay, Nguyễn Ái Quốc hôm qua

    còn lạ gì bụng dạ chúng. Lấy ngay lời nói của chính các bậc tiền

    bối của chúng, những lời tuyên bố trịnh trọng trong những hoàn

    cảnh lịch sử vĩ đại mà chúng không thể biết. Chúng cố tình quên

    thì nhắc lại. Nhắc lại những lời chí lý của những người Mỹ cách

    đấy chỉ gần hai trăm năm cũng có hoàn cảnh bị áp bức, bị làm

    nhục như Việt Nam. Câu nói của tên thủ tướng Anh Uy – Liêm

    như còn văng vẳng bên tai: “Hễ Mỹ làm ra dù chỉ một sợi len, một

    miếng sắt móng ngựa là bản chức sẽ cho lính sang đóng đầy xứ

    ngay lập tức.”

    Mười lăm năm sau bản Tuyên ngôn của Mỹ là bản Tuyên ngôn

    của Pháp, của những người Pháp không chịu được cái phải cõng

    trên lưng, đội trên đầu mấy chú quý tộc, mấy anh tăng lữ, không

    chịu được câu nói hống hách vô nghĩa của mấy tên vua: “Trẫm

    muốn, ấy là pháp luật”.

    Hồ Chủ Tịch khổng chỉ lấy lại lời nói hay của người xưa mà còn

    giải thích, bình luận, khái quát, nâng lên một tầm vóc cao hơn,

    rộng hơn, mới hơn. Từ hạnh phúc cá nhân, người nâng lên vấn

    đề “quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do” của các dân

    tộc. Không chỉ một cá nhân có quyền bình đẳng về quyền lợi với

    một cá nhân khác mà các dân tộc đều sinh ra bình đẳng với nhau

    về mọi mặt, nghĩa là một dân tộc dù nhỏ bé, dù thuộc chủng tộc

    da đen, da vàng cũng có quyền bình đẳng với một dân tộc lớn

    thuộc chủng tộc da trắng của nước tiên tiến nhất Âu, Mĩ. Cuộc

    tranh đấu ấy cũng là mục tiêu lớn, nội dung lớn của thời đại

    chúng ta, thời đại mở cửa đầu của Cách mạng tháng Mười, thời

    đại mà tính chất sẽ được khẳng định trong hội nghị 81 họp năm

    1960 tại Ma-xcơ-va. Thực tế cách mạng đã xác định tính thiên tài

    trong cách nhìn, cách nghĩ của vị lãnh tụ đã từng là đại biểu của

    các dân tộc thuộc địa và bênh vực họ không biết mệt mỏi trong

    các hội nghị quốc tế.

    Đoạn văn mở đầu hết sức gọn, súc tích. Hai câu trích bổ sung

    cho nhau. Một lời bình luận, một câu kết thúc, gói lại thật chặt,

    thật vững.

    “Thế mà…”

    Chỉ một lớp chuyển tiếp là đủ mở ra hết nội dung của đoạn sau.

    Nó như một tiếng thở dài uất hận, một lời phê phán nghiêm khắc

    những kẻ muối mặt, cố tình làm bậy. Và thế là Bản án chế độ

    thực dân Pháp đã từng được đưa ra trước tòa án lịch sử cách

    đấy hai mươi năm lại được tóm tắt đưa ra lần nữa trước công

    luận Việt Nam và thế giới.

    Vẫn là lập trường dân tộc rộng rãi của người viết, vẫn là lòng căm

    giận quân cướp nước thể hiện bằng những lời lẽ súc tích, đanh

    thép. Những động từ, tính từ, trạng từ đều hết sức nặng để miêu

    tả bản chất bọn chúng (thẳng tay chém giết, ràng buộc dư luận,

    cướp không ruộng đất, hàng trăm thứ thuế vô lý…) Vẫn lòng xót

    xa đối với đất nước lầm than ở tính trữ tình và câu văn giàu hình

    ảnh (khiến dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều,

    chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu). Vẫn cái

    giọng châm biếm, đả kích sắc sảo, trí tuệ (thế là chẳng những

    chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại trong năm năm, chúng bán

    nước ta hai lần cho Nhật).

    Bản tuyên ngôn này chỉ khái quát hai loại tội ác về chính trị và

    kinh tế, đủ nhắc nhở đồng bào tăng cường cảnh giác và để dùng

    làm một luận cứ cho lí lẽ của bản Tuyên ngôn: Pháp không có

    quyền nói đến chuyện “bảo hộ” Việt Nam.

    Hết tội xa đến tội gần.

    Bọn thực dân Pháp cũng như mọi kẻ áp bức, lúc còn quyền hành

    thì hống hách, hung bạo, lúc thất thế thì đê hèn, mất hết, mất hết

    liêm sỉ, giẫm lên nhân phẩm để bám lấy chút sống thừa. Quỳ gối

    đầu hàng Nhật, chúng gây bao nhiêu tội ác. Đối với nhân dân Việt

    Nam mà chúng vẫn rêu rao được chúng “bảo hộ”, “khai hóa”,

    chúng quàng thêm một ách lên đầu. Kết quả thảm hại, cụ thể mà

    lịch sử Việt Nam và nhân loại ghi bằng chữ máu không thể phai

    mờ với thời gian là hai triệu người đã chết đói “chỉ riêng từ Quảng

    Trị đến Bắc Kì”.

    Đối với Đồng minh là phe của chúng, chúng phản bội, chúng biến

    Việt Minh là những người đứng về phe Đồng Minh thành kẻ thù

    chính, và “thẳng tay khủng bố”.

    Nhiều động từ miêu tả được dùng để vẽ lên hình ảnh thảm bại

    của chúng: quỳ gối đầu hàng, mở cửa rước Nhật, bỏ

    chạy…Trong sự việc nêu ở câu cuối của đoạn văn mỗi chữ dùng,

    mỗi nét phác họa đều có ý nghĩa (thậm chí, nhẫn tâm, giết nốt số

    đông tù chính trị…).

    Đối lập với cái ti tiện, cái dã man của chúng là lượng hải hà, là

    những hành động văn minh của nhân dân ta. Cũng chỉ là những

    hiện tượng lịch sử. Nhưng đặt vào đây nó có tác dụng như một

    thủ pháp nghệ thuật làm nổi bật lên cái khác nhau về bản chất

    giữa ta và địch, khẳng định thêm về chất nhân đạo của dân ta.

    Đối với kẻ tay còn đẫm máu Việt Nam, nhân dân và cách mạng

    Việt Nam vẫn giúp họ, cứu họ, bảo vệ họ. Ba động từ biểu hiện

    ba hình thái tương quan với kẻ thù, ba trạng thái cụ thể của lòng

    nhân đạo Việt Nam. Giúp là đối với kẻ còn chủ động, muốn vượt

    biên giới tránh cái họa của chủ nghĩa phát xít Nhật. Ta thêm cho

    họ một cái đẩy tay giúp họ vượt được ranh giới giữa mong muốn

    và hiện thực. Cứu là đối với những kẻ bất lực, trong một tình thế

    nguy nan tuyệt vọng, những kẻ bị giam trong nhà tù Nhật, chỉ chờ

    ngày tận số…Ta phá cũi sổ lồng, cứu những con mồi của thần

    chết. Bảo vệ là đối với những con người đang còn bị đe dọa. Ta

    cứu họ rồi lại còn tiếp tục bảo vệ, không chỉ tính mạng mà còn cả

    tài sản nữa. Cái chu đáo của lòng nhân đạo Việt Nam là như thế.

    Vậy thì giữa những người Việt Nam như thế và những người

    Pháp như trên, ai bảo hộ ai? Và người Pháp có quyền gì đối với

    Việt Nam nữa không?

    Việc tính sổ trên đã có thể giải đáp rõ ràng.

    Thêm vào đó là một sự thực rành rành: từ tháng 9 – 1940 khi

    Nhật tràn qua Lạng Sơn vào Việt Nam, Pháp đã đầu hàng Nhật,

    đã bán chủ quyền nước ta cho Nhật. Về mặt pháp lý, một vật đã

    bán cho người khác tất thuộc quyền sở hữu của người đó. Và ta

    đã lấy lại vật ta đã mất từ tay Nhật. Như thế là về mọi mặt, dứt

    khoát Pháp không còn quan hệ gì với Việt Nam nữa. Bản tuyên

    ngôn có thể dõng dạc tuyên bố “thoát li hẳn quan hệ với Pháp”.

    Những từ, những ý lập lại (Sự thật là mùa thu…Sự thật là dân

    ta…) những ý phủ định thèm vào song song tạ các vế để nhấn

    mạnh (của Nhật, chứ không phải của Pháp) như chồng chất thêm

    những tầng lớp cản, ngăn cách dứt khoát mọi thứ bắt mối ảo

    tưởng về chủ quyền của người Pháp trên đất Việt Nam. Những

    trạng từ dùng trong quan hệ với Pháp: thoát li hẳn, xóa bỏ hết,

    xóa bỏ tất cả, như những nhát gươm sắc chém ngọt vào sợi dây

    dợ còn dính díu.

    Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không phải là một sự

    thật ngẫu nhiên. Đó là bước phát triển của chủ nghĩa anh hùng

    Việt Nam vĩ đại. Chủ nghĩa anh hùng đó đã “đánh đổ chế độ quân

    chủ mấy mươi thế kỷ” bằng vô vàn những cuộc khởi nghĩa quật

    đổ những ngai vàng mà cuối cùng là của vương triều nhà Nguyễn

    mục nát. Bảo Đại buộc phải thoái vị để làm một người nông dân.

    Chủ nghĩa anh hùng đó đã “đánh đổ các xiềng xích thực dân gần

    một trăm năm nay “bằng gươm súng, bằng máu xương của

    những Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và của

    những chiến sỹ vô sản bất khuất kiên cường.

    “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Một câu trong

    những câu hiếm của văn chương, cô đúc bao sự kiện lịch sử.

    Cảnh về chiều của các tầng lớp thống trị thật buồn, mà những

    động tác gợi ra ở những điên viên lịch sử trên sân khấu Việt Nam

    thì thật ngoạn mục. Một kẻ chạy thục mạng đâm đầu xuống hố

    diệt vong. Một kẻ giơ tay nhận lấy phận đầu hàng. Một kẻ tụt từ

    trên ngai xuống, hai tay run rẩy nộp ấn, kiếm.

    Động từ từ nhanh đến chậm. Nhịp câu văn từ nhanh, chậm lại, rồi

    ngừng như một chuyến tàu vét lịch sử lao từ xa tới, chậm lại để

    ngừng vĩnh viễn.

    Ách thực dân, họa phát xít, tệ quân quyền, những rác rưởi ấy bị

    quét sạch, dọn chỗ đón một quốc gia mới, một chế độ mới. Nước

    Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân

    đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời.

    Những lẽ phải không ai chống cãi được, những lẽ phải mà Đồng

    minh đã công nhận trong các văn kiện còn chưa ráo mực ở hội

    nghị quốc tế Tê-hê-ran và Cự Kim Sơn, những hành động gan

    góc mấy năm qua cũng nhằm mục tiêu như Đồng minh: tiêu diệt

    chủ nghĩa phát xít, củng cố cái quyền tồn tại của nước Việt Nam

    mới.

    Nhưng trên hết và cơ bản nhất là quyết tâm vững như bàn thạch

    của cả một dân tộc có bốn nghìn năm bất khuất nói lên qua tiếng

    nói của vị Chủ tịch đâu tiên của mình: “Nước Việt Nam có quyền

    hưởng tự do độc lập”.

    Ba đoạn cuối của bản tuyên ngôn độc lập là những đoạn văn

    thép: chất thép của ý chí Hồ Chí Minh, của ý chí Việt Nam.

    Chất thép trong lập luận buộc Đồng minh phải công nhận quyền

    độc lập của dân Việt Nam, lấy lời của họ để ràng buộc họ.

    “Chúng tôi tin rằng…”. Tin có ý nghĩa tu từ. Mềm đấy, mà rắn đấy.

    Tin là tỏ vẻ tôn trọng họ, giá định phẩm chất tốt đẹp của họ. Đó là

    cách buộc họ phải tự trọng, nghĩa là buộc họ không được có sự

    bất nhất giữa lời nói và việc làm, “Không thể khong công nhận”

    quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. “Không thể không” hai phủ

    định nghe vẫn chắc chắn hơn một khẳng định.

    Chất thép trong câu tiếp ở cái kết luận tất yếu của một thứ tam

    đoạn luận độc đáo vì có một vế ẩn mà lại rất rõ. Một dân tộc

    không chịu khuất phục, đã liên tục chiến đấu chống mọi ách nô lệ

    Pháp cũng như Nhật, dân tộc đó phải được độc lập. Phe Đồng

    minh gồm toàn những nước tự do. Một nước đứng về phe Đồng

    minh, cùng lí tưởng, cùng chiến đấu. Nước đó phải được tự do.

    Dân tộc đó là dân tộc Việt Nam. Vậy dân tộc Việt Nam phải được

    độc lập, nước Việt Nam phải được tự do.

    Dân tộc, tự do, độc lập. Những từ thiêng liêng đó trở lại cùng với

    những tính từ gan góc, những trạng ngữ: 80 năm nay, mấy năm

    nay, những khẳng định: phải được nhưng hùng dũng gõ nhịp

    trong một điệp khúc của một bài hùng ca đòi quyền sống.

    Chất thép trong đoạn cuối cùng là ở tính chất trịnh trọng của bản

    tuyên bố về một sự thực, về quyết tâm bảo vệ bằng bất cứ giá

    nào sự thực đó. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc

    lập…Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực

    lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập

    ấy”. Mỗi từ, mỗi từ đều có sức nặng và sau đó những lời thề

    thiêng liêng thét lên từ cửa miệng của một triệu người, trên cái

    âm vang của làn sóng bốn nghìn năm bất khuất càng thêm vững

    chắc. Bản tuyên ngôn kết thúc dứt khoát ngoan cường như một

    lời thách thức. Những kẻ thù của Việt nam mù quáng vì lòng

    tham, không đủ khôn ngoan sáng suốt lần lượt lao đầu vào chất

    thép Việt Nam và sẽ nghiệm thấy thấm thía cái ghê gớm trong lời

    cảnh báo của một Hồ Chí Minh, cảu một Việt Nam dân chủ cộng

    hòa.

  • Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối D

    Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối D

    Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối D

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối C


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối D

    Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối D

    PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

    Câu I (2,0 điểm)

    Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam t ừ năm 1945 đến năm 1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    Anh/chị hãy nêu những nét chính của đặc điểm trên.

    Câu II (3,0 điểm)

    Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau:

    Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa.

    (Theo sách Dám thành công – Nhiều tác giả, NXB Trẻ, 2008, tr. 90)

    PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)

    Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)

    Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

    Phân tích hình ảnh thiên nhiên và cái tôi trữ tình trong đoạn thơ sau:

    Tôi muốn tắt nắng đi

    Cho màu đừng nhạt mất;

    Tôi muốn buộc gió lại

    Cho hương đừng bay đi.

    Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

    Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

    Này đây lá của cành tơ phơ phất;

    Của yến anh này đây khúc tình si;

    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

    Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

    Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

    (Vội vàng – Xuân Diệu, Ngữ văn 11,

    Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 22)

    Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

    Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguy ễn Minh Châu.

    ———- Hết ———-

    Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

    Họ và tên thí sinh:………………………………………; Số báo danh…………………………..

  • Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối C

    Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối C

    Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối C

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ôn thi đại học môn Hóa học – Chuyên đề 11 Bài tập đại cương về kim loại


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối C

    Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối C

    PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

    Câu I (2,0 điểm)

    Anh/chị hãy nêu những nét chính về tình cảm nhân đạo và bút pháp nghệ thuật của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.

    Câu II (3,0 điểm)

    Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, T ổng thống Mĩ A. Lin-côn (1809 – 1865) viết: “xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi.” (Theo Ngữ văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục, 2006, tr. 135).

    Từ ý ki ến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống.

    PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)

    Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)

    Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

    Cảm nhận của anh/chị về nh ững vẻ đẹp khuất lấp củ a nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặ t – Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu).

    Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

    Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

    Một người chín nhớ mười mong một người.

    Gió mưa là bệnh của giời,

    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

    (Tương tư – Nguyễn Bính, Ngữ văn 11 Nâng cao,

    Tập hai, NXB Giáo dục, 2007, tr. 55)

    Nhớ gì như nhớ người yêu

    Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

    Nhớ từng bản khói cùng sương

    Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

    (Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12 Nâng cao,

    Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr. 84)

    ———- Hết ———-

    Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

    Họ và tên thí sinh:………………………………………; Số báo danh…………………………..

  • Ôn thi đại học môn Hóa học – Chuyên đề 11 Bài tập đại cương về kim loại

    Ôn thi đại học môn Hóa học – Chuyên đề 11 Bài tập đại cương về kim loại

    Ôn thi đại học môn Hóa học – Chuyên đề 11 Bài tập đại cương về kim loại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề thi Đại học môn Hóa học khối A năm 2014


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ôn thi đại học môn Hóa học – Chuyên đề 11 Bài tập đại cương về kim loại

     

    Ôn thi đại học môn Hóa học

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    Câu 1. Liên kết kim loại là liên kết được hình thành do:

    1. Sự góp chung electron của các nguyên tử
    2. Các electron tự do trong kim loại phản xạ tốt những tia sáng tới
    3. Đa số kim loại đều giữ tia sáng tới trên bề mặt kim loại
    4. Tất cả các kim loại đều có cấu tạo tinh thể
    1. Kim loại hấp thụ được tất cả các tia sáng tới
    2. Các electron tự do trong kim loại phản xạ tốt những tia sáng tới
    3. Đa số kim loại đều giữ tia sáng tới trên bề mặt kim loại
    4. Tất cả các kim loại đều có cấu tạo tinh thể

    Câu 3. Kim loại có tính chất vật lí chung là dẫn điện, dẫn nhiệt, dẻo và có ánh kim. Nguyên nhân của những tính chất vật lí chung của kim loại là do:

    1. Trong tinh thể kim loại có nhiều electron độc thân.
    1. Trong tinh thể kim loại có các ion dương chuyển động tự do.

    Câu 4. Kim loại khác nhau có độ dẫn điện, dẫn nhiệt khác nhau. Sự khác nhau đó được quyết định bởi

    1. Khối lượng riêng kim loại
    2. Kiểu mạng tinh thể khác nhau
    3. Mật độ electron khác nhau
    4. Mật độ ion dương khác nhau
    1. Các kim loại hoạt động mạnh như Ca, Na, Al
    2. Các kim loại hoạt động yếu
    3. C. Các kim loại hoạt động trung bình
    1. Các kim loại hoạt động trung bình và yếu

    Câu 6. Cho các kim loại Mg, Al, Pb, Cu, Ag. Các lim loại đẩy được Fe ra khỏi Fe(NO3)3

    A. Mg, Pb và Cu B. Al, Cu và Ag C. Pb và Al D. Mg và Al

    Câu 7. Trong số các kim loại sau : Fe, Ni, Cu, Zn, Na, Ba, Ag, Sn, Al số kim loại tác

    dụng được với các dung dịch HCl và dung dịch H2SO4 loãng nhiều nhất là
    A. 5 B. 6 C. 7 D. 8

    Câu 8. Trong số các kim loại sau: Fe, Ni, Cu, Zn, Na, Ba, Ag, Pb, Al số kim loại tác

    dụng được với dung dịch Ba(OH)2 nhiều nhất là
    A. 8 B. 6 C. 4 D. 5

    Câu 9. Cho 3,45g một kim loại tác dụng với H2O sinh ra 1,68lít H2

    (đktc). Kim loại đó có thể là kim loại nào trong các

    kim loại sau:
    A. Li B. Na C. K D. Rb

    Câu 10. Clo và axit HCl tác dụng với kim loại nào thì cùng tạo ra một hợp chất?

    A. Fe B. Cu C. Ag D. Zn

    Câu 11. Nhúng một lá Fe nhỏ vào dung dịch dư chứa một trong những chất sau

    FeCl3, AlCl3, CuSO4, Pb(NO3)2, NaCl, HNO3, H2SO4  (đặc, nóng), NH4NO3. Số
    trường hợp phản ứng chỉ tạo ra muối Fe(II) là
    A. 3 B. 4 C. 5 D. 6

    Câu 12. Dung dịch X chứa 5 loại ion Mg2+, Ba2+, Ca2+ và 0,2 mol Cl  và 0,2mol NO3. Thêm dần V lít dung dịch K2CO3

    1M vào dung dịch X đến khi được lượng kết tủa lớn nhất, V có giá trị là

    1. 150ml B. 200ml C. 250ml                             D. 300ml

    Câu 13. Magie có thể cháy trong khí CO2, tạo ra một chất bột màu đen. Công thức

     

    hoá học của chất này là

    1. C B. MgO C. Mg2C                               D. MgCO3

    Câu 14. Hoà tan hoàn toàn 7,8g hỗn hợp gồm Mg và Al vào dung dịch HCl dư. Sau phản ứng thấy

    tăng lên 7,0g. Số mol axit HCl đã tham gia phản ứng trên là

    khối lượng dung dịch

    Luyenthithukhoa.vn

    – 1 –

     

    thu được 4,48lít khí NO (đktc). Cho NaOH dư vào dung

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    1. 0,8mol B. 0,08mol C. 0,04mol                         D. 0,4mol

    Câu 15. Cho Al từ từ đến dư vào dung dịch hỗn hợp Cu(NO3)2, AgNO3, Mg(NO3)2, Fe(NO3)3 thì thứ tự các ion bị khử là

    A.  Fe3+, Ag+, Cu2+, Mg2+ B. Ag+, Cu2+, Fe3+, Mg2+
    C. Ag+, Fe3+, Cu2+, Fe2+ D.  Ag+, Fe3+, Cu2+, Mg2+

    Câu 16. Hoà tan 20g hỗn hợp gồm hai kim loại Fe và Cu vào dung dịch HCl dư. Sau phản ứng, cô cạn dung dịch được 27,1g chất rắn. Thể tích chất khí thoát ra ở đktc là

    1. 8,96lít B. 4,48lít C. 2,24lít                             D. 1,12lít

    Câu 17. Kim loại M phản ứng được với: dung dịch HCl, dung dịch Cu(NO3)2, dung dịch HNO3 (đặc, nguội). Kim loại M là

    1. Fe B. Al C. Zn                                    D. Ag

    Câu 18. Hoà tan hoàn toàn 4,68g hỗn hợp muối cacbonat của hai kim loại X và Y kế tiếp nhau trong nhóm IIA vào dung dịch HCl thu được 1,12lit CO2 ở đktc. Kim loại X và Y là

    1. Be và Mg B. Mg và Ca C. Ca và Sr                        D. Sr và Ba

    Câu 19. Hoà tan hoàn toàn 28,3g hỗn hoàn gồm một muối cacbonat của một kim loại hoá tri I và một muối cacbonat kim loại hoá trị II trong axit HCl dư thì tạo thành 4,48lít khí (đktc) và dung dịch X. Cô cạn dung dịch X thì thu được bao nhiêu gam muối khan?

    A. 26,1g B. 28,6g C. 29,4 g D. 30,5g

    Câu 20. Kẽm tác dụng với dung dịch H2SO4

    loãng, thêm vào đó vài giọt dung dịch

    CuSO4. Lựa chọn hiện tượng bản chất trong các hiện tượng sau:
    A. Ăn mòn kim loại B. Ăn mòn điện hoá học
    C. Hiđro thoát ra mạnh hơn D. Màu xanh biến mất

    Câu 21. Cho 21,6g một kim loại chưa biết hoá trị tác dụng hết với dung dịch HNO3 thu được 6,72 lít N2O (đktc). Kim loại đó là

    1. Na
    1. Zn
    1. Mg
    1. Al

    Câu 22.

    Khí CO và H2

    không thể dùng làm chất khử để điều chế kim loại nào sau đây

    1. Fe
    1. Cu
    1. Al
    1. Sn

    Câu 23. Hoà tan hết 38,60g hỗn hợp gồm Fe và kim loại M trong dung dịch HCl dư thấy thoát ra 14,56lít khí H2(đktc).

    Khối lượng hỗn hợp muối clorua khan thu được là
    A. 48,75g B. 84,75g C. 74,85g D. 78,45g

    Câu 24. Hoà tan hết hỗn hợp bột gồm m gam Cu và 4,64 gam Fe3O4 vào dung dịch H2SO4 loãng, dư, sau phản ứng hoàn toàn thu được dung dịch X. Dung dịch X làm mất màu vừa đủ 100 ml dung dịch KMnO4 0,1M. Giá trị của m là

    1. 1,24 gam
    1. 0,64 gam
    1. 0,96 gam
    1. 3,2 gam

    Câu 25. Có thể dung dung dịch nào sau đây để tách Ag ra khỏi hỗn hợp chất rắn gồm:

    Fe, Pb, Cu, Ag mà không làm thay đổi khối lượng Ag?

    1. HCl B. NaOH C. AgNO3                          D. Fe(NO3)3

    Câu 26. Cho 19,2g kim loại M tác dụng hết với dung dịch HNO3

    dịch thu được, lọc lấy kết tủa nung đến khối lượng không đổi thu được m gam chất rắn.Giá trị của m là

    1. 24,0g B. 24,3g C. 48,0g                              D. 30,6g

    Câu 27. Điện phân dung dịch hỗn hợp AgNO3, Cu(NO3)2, Fe(NO3)2. Các kim loại lần lượt xuất hiện tại catot theo thứ tự :

    1. Cu – Ag – Fe
    2. Fe – Cu – Ag
    1. Ag – Cu – Fe
    1. Ag – Fe – Cu

    Luyenthithukhoa.vn

    – 2 –

     

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    Câu 28. Hoà tan 4,59g Al bằng dung dịch HNO3  thu được hỗn hợp khí NO và N2O có tỉ khối hơi đối với hiđro bằng 16,75.

    Thể tích NO và N2O thu được là

    1. 2,24lít và 6,72lít
    2. 0,672lít và 2,016lít
    1. 2,016lít và 0,672lít
    1. 1,972 lít và 0,448lít

    Câu 29. Cho các chất sau : Cl2(1), I2(2) dung dịch HNO3 loãng (3), dung dịch H2SO4 đậm đặc nguội(4), dd AgNO3(5), dd NH4NO3(6). Với hoá chất nào trong các hoá chất trên thì Fe tác dụng tạo ra sản phẩm là hợp chất Fe(III)?

    A. (1), (2), (3), (5), (6) B. (1), (3), (4), (5)
    C. (1), (3), (5) D. (1), (2), (4), (6)
    Câu 30. Để điều chế Ca từ CaCl2  người ta sử dụng phương pháp nào sau đây
    A. Nhiệt luyện B. Thuỷ luyện
    C. Điện phân nóng chảy D. Điện phân dung dịch
    Câu 31. Kim loại có nhiệt độ nóng chảy cao nhất là
    A. Au B. Ag C. W D. Cs
    Câu 32. Hoà tan 9,14g hỗn hợp Cu, Mg, Fe bằng một lượng dư dung dịch HCl thu được 7,84lít khí A (đktc), 2,54g chất
    rắn B và dung dịch C. Cô cạn dung dịch C thu được m gam muối, m có giá trị là
    A. 31,45 B.40,59 C. 18,92 D. 28,19
    Câu 33. Cho 14,5g hỗn hợp Mg, Fe tác dụng dung dịch H2SO4 loãng, dư thoát ra 6,72lít H2  (đktc). Cô cạn dung dịch
    sau phản ứng thu được m (g) muối khan. m có giá trị là
    A. 34,3g B. 43,3g C. 33,4g D. 33,8g

    Câu 34. Cho a mol Fe vào dung dịch chứa b mol AgNO3, a và b có giá trị như thế nào để thu được Fe(NO3)3 sau phản ứng?

    1. a = 2b B. 3a > b C. b ³ 3a                           D, a < 2b

    Câu 35. Để tách riêng các chất khỏi hỗn hợp gồm Fe, Cu, Al cần phải dùng các hoá chất nào sau đây là thích hợp nhất:

    1. dung dịch HCl và HNO3 B. NaOH và HCl
    1. HCl và CuCl2
    1. H2O và H2SO4

    Câu 36. Cho từ từ bột sắt vào 50ml dung dịch CuSO4 0,2M, khuấy nhẹ cho tới khi dung dịch mất màu xanh. Lượng mạt sắt đã dùng là

    1. 1.6g B. 0,056g C. 0,56g                              D. 6,4g

    Câu 37. Một mẫu Na được tạo nên từ 1,204.1023 tế bào cơ sở của mạng tinh thể lập phương tâm khối, khối lượng của mẫu Na đó là

    A. 4,6g B. 64,4g C. 36,8g D. 41,4g
    Câu 38. Mệnh đề nào sau đây là sai ?
    1. Trong một chu kì, bán kính của các nguyên tử kim loại lớn hơn bán kính các nguyên tử phi kim
    2. Cu, Zn, Fe đều có thể điều chế được từ nguyên liệu oxit bằng phương pháp nhiệt luyện
    3. Các kim loại chỉ có số oxit hoá +1, +2, +3
    4. Các kim loại chiếm phần lớn các nguyên tố trong HTTH

    Câu 39. Cho 1,35g hỗn hợp gồm Cu, Mg, Al tác dụng hết với dung dịch HNO3 thu được hỗn hợp khí gồm 0,01 mol NO và 0,04 mol NO2. Khối lượng muối tạo ra trong dung dịch phản ứng là

    1. 5,69g B. 3,79g C. 8,53g                              D. 9,48g

    Câu 40. Cho m gam Al tan hoàn toàn trong dung dịch HNO3  thì thấy thoát ra 11,2lít (ở đktc) hỗn hợp khí A gồm 3 khí N2,

    NO, N2O có tỷ lệ số mol tương ứng là 2:1:2. Giá trị m là
    A. 2,7g B. 16,8g C. 3,51g D. 35,1g
    Luyenthithukhoa.vn – 3 –

     

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI
    Câu 41. Hoà tan m gam hỗn hợp X gồm Mg, Al vào HNO    đặc nguội, dư thì thu được 0,336 lít NO 2 (ở 00C, 2atm).
    3

    Cũng m gam hỗn hợp X trên khi hoà tan trong HNO3 loãng dư, thì thu được 0,168 lít NO (ở 00C, 4atm). Giá trị của m là

    A. 0,855gam B. 0,765gam C. 0,900gam D. 1,020gam
    Câu 42. Nguyên tố nào là kim loại trong các nguyên tố có cấu hình e như sau:
    X1 : [Ar]3d34s2 ; X2 : [Ne]3s23p5 ; X3 : [Ar]4s1 ; X4 : [Kr]4d105s25p5
    X5: [Ar]3d84s2
    A. Cả 5 nguyên tố B. X1, X4, X3
    C. X1, X3, X5 D. X3

    Câu 43. Hoà tan hết 7,44g hỗn hợp Al và Mg trong thể tích vừa đủ là 500ml dung dịch HNO3  loãng thu được dung

    dịch A và 3,136lít (ở đktc) hỗn hợp hai khí (tỉ lệ mol 1:1) có khối lượng 5,18g, trong đó có một khí bị hoá nâu trong không khí.

    Thành phần phần trăm theo khối lượng của Al và Mg lần lượt là

    A. 18,2% và 81,8% B. 35,5% và 64,5%
    C. 72,58% và 27,42% D. 96,3% và 3,7%
    Câu 44. Phản ứng nào sai trong các phản ứng sau ?
    Ba + dd FeSO4  → BaSO4  + Fe (I)
    Fe + 3AgNO3 → Fe(NO3)3  + 3Ag (II)
    3Mg + 2AlCl3  → 3MgCl2  + 2Al (III)
    Cu + Fe2(SO4)3  → CuSO4  + 2FeSO4 (IV)
    6Ag + O3 → Ag2O (V)
    2Ag + Cl2   → 2AgCl (VI)
    A.(II)(V)(VI) B. (I), (II), (III), (V)
    C. (I), (III) D. (I), (IV), (V)

    Câu 45. Cho 27,4g Ba vào 500g dung dịch hỗn hợp (NH4)2SO4 1,32% và CuSO4 2% rồi đun nóng để đuổi hết NH3. Sau khi kết thúc tất cả các phản ứng ta thu được khí A, kết tủa B và dung dịch C. Thể tích khí A (ở đktc)

    A. 6,72lít B. 2,24lít C. 4,48lít D. 3,36lít
    Câu 46. Cho các chất Na2O,  Fe2O3, Cr2O3, Al2O3, CuO.  Số oxit bị H2  khử khi nung nóng là
    A.  4 B.  3 C.  1 D.  2
    Câu 47. Cho các muối Cu(NO3)2,  AgNO3, NH4NO3, KNO3  số muối bị nhiệt phân tạo ra khí NO2 
    A.  1 B.  2 C.  3 D.  4
    Câu 48. Nhúng một lá sắt nặng 8g vào 500ml dung dịch CuSO4 2M. Sau một thời gian lấy lá sắt ra cân lại thấy nặng
    8,8g. Xem thể tích dung dịch không thay đổi thì nồng độ mol/lít của CuSO4 trong dung dịch sau phản ứng là
    A. 1M B. 1,8M C. 1,725M D. 1,25M

    Câu 49. Quá trình sau không xẩy ra sự  ăn mòn điện hoá

    1. Vật bằng Al – Cu để trong không khí ẩm
    2. Cho vật bằng Fe vào dung dịch H2SO4 loãng cho thêm vài giọt dung dịch CuSO4
    3. Phần vỏ tàu bằng Fe nối với tấm Zn để trong nước biển
    4. Nung vật bằng Fe rồi nhúng vào H2O

    Câu 50. Các nguyên tử kim loại có một electron độc thân ở trạng thái cơ bản là

    1. Cu, Na, Al B. Al, Ca, K C. Na, Fe, Al                     D. H, Na, K

    Câu 51. Hoà tan hoàn toàn 9,28g hỗn hợp X gồm Mg, Al, Zn với số mol bằng nhau trong một lượng vừa đủ H2SO4 đặc, nóng thu được dung dịch Y và 0,07mol một sản phẩm A duy nhất chứa lưu huỳnh. A là

    A. H2S B. S C. SO3 D. SO2
    Luyenthithukhoa.vn – 4 –

     

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    Câu 52. Hoà tan 19,2g kim loại M trong H2SO4    đặc, nóng dư thu được SO2. Cho khí nay hấp thụ trong 1lít dung dịch

    NaOH 0,7M, Sau phản ứng đem cô cạn dung dịch thu được 41,8g chất rắn. M là

    1. Ca B. Fe                                     C. Cu                                    D. Mg

    Câu 53. Đun nóng lá bạc cho vào bình khí ozon. Sau một thời gian thấy khối lượng lá bạc tăng lên 2,4g. Khối lượng O3 đã phản ứng với lá bạc là

    1. Nhỏ hơn 2,4g
    1. Bằng 2,4g
    1. Lớn hơn 2,4g
    1. A và C đúng

    Câu 54. Nhúng thanh Cu vào dung dịch chứa 0,02mol Fe(NO3)3. Khi Fe(NO3)3 phản ứng hết thì khối lượng thanh Cu thay đổi là

    1. Không đổi B. tăng 0,64g C. giảm 0,64g                   D. giảm 1,2g

    Câu 55. Lần lượt cho từng kim loại Mg, Ag, Fe và Cu (có số mol bằng nhau), tác dụng với lượng dư dung dịch H2SO4

     

    đặc nóng. Khi phản ứng hoàn toàn thì thể tích SO2

    thoát ra ít nhất (trong cùng đk) là từ kim loại :

    1. Mg
    1. Ag
    1. Fe
    1. Cu

    Câu 56. Hoà tan hết hỗn hợp hai kim loại A, B trong dung dịch HCl dư, thêm tiếp vào đó lượng dư NH3. Lọc tách kết tủa, nhiệt phân kết tủa rồi điện phân nóng chảy chất rắn thì thu được kim loại A. Thêm H2SO4 vừa đủ vào dung dịch nước lọc, rồi điện phân dung dịch thu được thì sinh ra kim loại B. A và B là cặp kim loại:

    1. Al và Fe B. Ag và Zn C. Zn và Cu                       D. Al và Zn

    Câu 57. Hoà tan hết 1,08g hỗn hợp Cr và Fe trong dung dịch HCl loãng, nóng thu được 448ml khí (đktc). Khối lượng Cr có trong hỗn hợp là

    1. 0,52g B. 0,258g C. 0,56g                              D. 0,75g

    Câu 58. Hoà tan hết 7,3g hỗn hợp Na, Al (dạng bột) cho vào nước chỉ thu được dung dịch nước lọc và 0,25 mol H2. Số mol Na trong hỗn hợp là

    1. 0,125mol
    1. 0,2mol
    1. 0,25mol
    1. 0,1mol

    Câu 59.   Điện phân dung dịch chứa a mol NaCl và b mol CuSO4     với điện cực trơ màng ngăn xốp đến khi H2O đều bị

    điện phân ở 2 cực thì dừng lại, dung dịch thu được làm xanh quỳ tím. Vậy:

    1. a = b B.  a = 2b                            C.  a < 2b                            D.  a > 2b

    Câu 60 : Hoà tan hoàn toàn 14,8g hỗn hợp kim loại Fe và Cu vào lượng dư dung dịch hỗn hợp HNO3 và H2SO4  đặc,

    nóng. Sau phản ứng thu được 10,08 lít khí NO2

    và 2,24 lít khí SO2(đktc). Khối lượng Fe trong hỗn hợp ban đầu là

    1. 8,4g
    1. 4,8g
    1. 5,6g
    1. 6,4g

    Câu 61. Cho hỗn hợp gồm ba kim loại A, B, C có khối lượng 2,17g tác dụng hết với dung dịch HCl tạo ra 1,68lít khí H2

    (đktc). Khối lượng muối clorua trong dung dịch sau phản ứng là
    A. 7,495g B. 7,945g C. 4,833g D. 7,459g

    Câu 62. Trong số các kim loại Ag, Hg, Cu, Pb, Au, Pt thì những kim loại nào không tác dụng với O2

     

    1. Ag, Hg, Cu, Pb, Au, Pt
    2. Ag, Hg, Pt, Pb, Au
    1. Au, Pt
    1. Ag, Hg, Au, Pt

    Câu 63. Một hỗn hợp X gồm Na và Ba có khối lượng là 32g. X tan hết trong nước cho ra 6,72 lít khí H2 (đktc). Khối lượng Na và Ba có trong hỗn hợp lần lượt là

    1. 4,6g và 27,4g
    1. 2,7g và 29,3g
    1. 2,3g và 29,7g
    1. 2,8g và 29,2g

    Câu 64. Cho các kim loại sau: Al, Ag, Cu, Zn, Ni. Số kim loại đẩy được Fe ra khỏi muối Fe(III) là

    1. 2 B. 3 C. 4                                    D. 5

    Câu 65. Để điều chế Al kim loại ta có thể dùng phương pháp nào trong các phương pháp sau đây :

    Luyenthithukhoa.vn – 5 –

     

    B và chất rắn C. Cho C tác dụng với HCl dư sinh ra 0,224lít khí H2

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    1. Dùng Mg đẩy AlCl3 ra khỏi muối
    2. Dùng CO khử Al2O3
    1. Điện phân nóng chảy Al2O3
    2. Điện phân dung dịch AlCl3

    Câu 66. Ngâm một lá kẽm trong dung dịch có hoà tan 8,32g CdSO4. Phản ứng xong, khối lượng lá kẽm tăng 2,35%. Khối

    lượng lá Zn trước khi tham gia phản ứng là
    A. 80,0g B. 130,0g C. 32,5g D. 18,8g

    Câu 67. Ngâm một lá sắt trong dung dịch CuSO4. Nêú biết khối lượng Cu bám trên lá sắt là 9,6g thì khối lượng lá sắt sau khi ngâm tăng thêm bao nhiêu gam so với ban đầu?

    1. 1,2g B. 8,4g C. 6,4g                                  D. 9,6g

    Câu 68. Nhúng một thanh kẽm nặng m gam vào dung dịch CuBr2. Sau một thời gian, lấy thanh kẽm ra, rửa nhẹ sấy khô, cân lại thấy khối lượng thanh giảm 0,28g, còn lại 7,8g kẽm và dung dịch phai màu. Giá trị m là

    1. 13,0g B.26,0g C. 51,2g                                 D. 18,2g

    Câu 69. Cho 150ml dung dịch NaOH 7M vào 100ml dung dịch Al2(SO4)3 1M, Số mol các chất trong dung dịch thu được sau phản ứng là

    1. 0,2mol NaAlO2; 0,3mol Na2SO4 ;0,25mol NaOH
    1. 0,1mol Al2(SO4); 0,45 mol Na2SO4; 0,2 mol NaAlO2
    2. 0,2 mol NaOH ; 0,2 mol NaAlO2; 0,45 mol Na2SO4
    3. 0,2mol Al(OH)3; 0,3mol Na2SO4 ;0,45mol NaOH

    Câu 70. Cho m (g) kim loại Na vào 200g dung dịch Al2(SO4)3          1,71%. Sau khi phản ứng xong thu được 0,78g kết tủa.

    Giá trị m là
    A. 0,69g hoặc 1,61g B. 6,9g hoặc 1,61g
    C. 0,69g D. 1,61g
    Câu 71. Khi điện phân dung dịch hỗn hợp MgCl2, FeCl3, CuCl2   thì thứ tự bị khử tại catốt là
    A.  Cu2+, Fe3+, Mg2+, H2O B. Fe3+, Cu2+, Mg2+, H2O
    C.  Fe3+, Cu2+, Fe2+, H2O D. Fe3+, Cu2+, Fe2+, Mg2+

    Câu 72. Cho dư hỗn hợp Na, Mg vào 73,6g dung dịch H2SO4  26,63% thì thể tích khí H2  thoát ra (ở đktc )là

    1. 33,60lít B. 4,57lít C. 4,48lít                      D. 38,08 lit

    Câu 73. Nồng độ phần trăm của dung dịch thu được sau khi hoàn toàn hết 34,5g Na trong 150g nước là

    1. 27,90% B. 32,79% C. 28,27%                   D, 32,52%

    Câu 74. Cho hỗn hợp A gồm Al, Zn, Mg. Đem oxi hoá hoàn toàn 28,6g A bằng oxi dư được 44,6g hỗn hợp oxit B. Hoàn toàn hết B trong dung dịch HCl được dung dịch D. Cô cạn D được lượng muối khan là

    1. 99,6g B. 49,8g C. 64,1 g                     D. 73,2g.

    Câu 75. Cho 11,3g hỗn hợp A gồm Mg, Zn tan hết trong 600ml dung dịch HCl 1M(vừa đủ) thì thu được dung dịch D. Cho từ từ dung dịch NaOH vào dung dịch D để được lượng kết tủa lớn nhất. Lọc lấy kết tủa đem nung ở nhiệt độ cao đến khối lượng không đổi, được m(g) chất rắn khan giá trị m là

    1. 18,4g B. 27,6g C. 23,2g                                     D. 16,1g

    Câu 76. Cho 2,55g hỗn hợp bột X gồm Al, Fe, Cu phản ứng với dung dịch NaOH dư, thu được 1,68lít H2  (đktc), dung dịch (đktc), dung dịch E và chất rắn F. Phần trăm về khối

    lượng của Al, Fe, Cu trong dung dịch X lần lược là

    1. 21,1%; 59,2%; 19,7% B. 52,94%; 21,1%; 25,96% C. 25,96%; 21,1%; 52,94% D. 25,96%;

    52,94%; 21,1%

    Luyenthithukhoa.vn                                                                                                                                            – 6 –

     

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    Câu 77. Đốt m gam bột Al trong bình kín chứa đầy khí Cl2 dư. Phản ứng xong thấy khối lượng chất rắn trong bình tăng 106,5g. Khối lượng Al đã tham gia phản ứng là

    1. 21,60g B. 21,54g
    1. 27,00g
    1. 81,00g

    Câu 78. Hoàn toàn hỗn hợp A gồm 13,7 g Ba và 8,1 g Al vào một lượng nước có dư hì thể tích khí thoát ra ở đktc là A. 12,32 lít B. 8,96 lít C. 2,24 lít D. 15,68 lít.

    Câu 79. Cho hỗn hợp A gồm a mol Al và 0,2 mol Al2O3 thu được với dung dịch NaOH dư thu được dung dịch B. Dẫn khí CO2 dư vào dung dịch B thu được kết tủa D. Lọc lấy kết tủa D rồi đem nung đen khối lượng không đổi thu được 40,8g chất rắn E. Giá trị của a là

    1. 0,4 mol B. 0,2 mol
    1. 0,1 mol
    1. 0,8 mol.

    Câu 80. Hoàn toàn m gam bột Al vào dung dịch HNO3 dư thu được 6,72 lít ( đktc), hỗn hợp 2 khí A, B không màu, không hoá nâu ngoài không khí (biết MA > MB), có tỉ lệ thể tích tương ứng là 2:1. Giá trị m là

    1. 8,1g B, 24,3g C. 23,4g                                 D. 14,4g.

    Câu 81. Cho 2,16g bột nhôm tan hết trong dung dịch HNO3 loãng lạnh thì thu được ,448 lít N2 đktc và một dung dịch B. Khối lượng muối nitrat tạo ra trong dung ịch B là

    1. 17,44gam B. 14,78gam C. 11,36 gam                    D. 17,04 gam.

    Câu 82. Cho một lượng dung NH3 vào dung dịch X chứa hai muối AlCl3 và FeSO4 được kết tủa A. Nung A được chất rắn B. Cho khí H2 dư đi qua B nung nóng được chất rắn C. Thành phần chất rắn C gồm

    1. Al và Fe
    1. Fe, FeO, Fe2O3, Fe3O4
    1. Al2O3 và Fe
    1. Al2O3, FeO

    Câu 83. Điện phân (với điện cực Pt) 200ml dung dịch Cu(NO3)2 đến khi bắt đầu có khí thoát ra ở catot thì dừng lại. Để yên cho đến khi khối lượng của catot không đổi thấy khối lượng catot tăng 3,2g so với lúc trước điện phân. Nồng độ mol/lít Cu(NO3)2 trước điện phân là

    1. 0,1M
    1. 0,25M
    1. 0,5M
    1. 1,0M

    Câu 84. Điện phân (với điện cực Pt) 100ml dung dịch Cu(NO3)2 2M đến khi bắt đầu có khí thoát ra ở catot thì dừng lại.

    Để yên cho đến khi khối lượng của catot không đổi thì khối lượng catot thay đổi như thế nào ?

    1. tăng 3,2g B. tăng 6,4g C. tăng 12,8g                     D. tăng 9,6 gam

    Câu 85. Điện phân dung dịch CuSO4  0,1M thì pH của dung dịch sẽ thay đổi :

    1. Ban đầu tăng sau đó giảm
    1. Ban đầu giảm sau đó không đổi
    2. Ban đầu giảm nhanh sau đó giảm chậm
    1. Ban đầu không đổi sau đó giảm chậm

    Câu 86. Điện phân có màng ngăn dung dịch gồm NaCl, HCl có thêm một ít quỳ tím hì hiện tượng khi điện phân là

    1. Ban đầu quỳ màu tím xanh đỏ
    2. Ban đầu quỳ màu đỏ tím xanh
    3. Ban đầu quỳ màu xanh tím xanh
    4. Ban đầu quỳ màu đỏ tím đỏ

    Câu 87. Khi cho bột Zn (dư) vào dung dịch HNO3 thu được hỗn hợp khí A gồm N2O và N2. Khi phản ứng kết thúc, cho thêm NaOH vào lại thấy giải phóng hỗn hợp khí B. Hỗn hợp khí B là

    1. H2, NO2 B. H2, NH3 C. N2, N2O                           D. NO, NO2

    Câu 88. Hai nguyên tố X và Y đứng kế tiếp nhau trong một chu kì có tổng số hạt mang điện trong hai hạt nhân là 25. Vị trí của X và Y trong Bảng tuần hoàn là

    1. Chu kì 3 và các nhóm IA và IIA (phân nhóm chính nhóm I và II)
    2. Chu kì 2 và các nhóm IIA và IIIA (phân nhóm chính nhóm II và III)
    Luyenthithukhoa.vn – 7 –

     

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    1. Chu kì 3 và các nhóm IIIA và IVA (phân nhóm chính nhóm III và IV)
    1. Chu kì 3 và các nhóm IIA và IIIA (phân nhóm chính nhóm II và III)

    Câu 89. Tiến hành bốn thí nghiệm sau

    • Thí nghiệm 1: Nhúng thanh Fe vào dung dịch FeCl3
    • Thí nghiệm 2: Nhúng thanh Fe vào dung dịch CuSO4
    • Thí nghiệm 3: Nhúng thanh Cu vào dung dịch FeCl3
    • Thí nghiệm 4: Cho thanh Fe tiếp xúc với thanh Cu rồi nhúng vào dung dịch HCl Số trường hợp xuất hiện ăn mòn điện hoá là
    A. 1 B. 2 C. 4 D. 3
    Câu 90. Xét ba nguyên tố có cấu hình electron lần lượt là
    X: 1s22s22p63s1 ;  Y: 1s22s22p63s2   ; Z: 1s22s22p63s23p1
    Hiđroxit của X, Y, Z xếp theo thứ tự tăng dần tính bazơ là
    A. XOH < Y(OH)2 < Z(OH)3 B. Y(OH)2  < Z(OH)3 < XOH
    C. Z(OH)3 < Y(OH)2  < XOH D. Z(OH)2 < Y(OH)3  < XOH
    Câu 91. Một hỗn hợp X gồm M và oxit MO của kim loại ấy. X tan vừa đủ trong 0,2
    lít dung dịch H2SO4 0,5M cho ra 1,12 lít H2 (đktc). Biết khối lượng của M trong hỗn hợp X bằng 0,6 lần khối lượng
    của MO trong hỗn hợp ấy. Kim loại M, khối lượng M và MO trong X là
    A. Mg; 1,2 gam Mg và 2 gam MgO B. Ca; 2 gam Ca và 2,8 gam CaO
    C. Ba; 6,85 gam Ba và 7,65 gam BaO D. Cu; 3,2 gam Cu và 4 gam CuO

    Câu 92. Điện phân 200ml dung dịch CuCl2 sau một thời gian người ta thu được 1,12 lít khí (đktc) ở anot. Ngâm đinh sắt sạch trong dung dịch còn lại sau khi điện phân, phản ứng xong thấy khối lượng đinh sắt tăng 1,2 gam. Nồng độ mol/lit

    ban đầu của dung dịch CuCl2
    A. 1,2M B. 1,5M C. 1,0M D. 0,75M

    Câu 93. Hoà tan 45,9 gam kim loại M bằng dung dịch HNO3 loãng thu được hỗn hợp khí gồm 0,3 mol N2O và 0,9 mol NO. Kim loại M là

    1. Mg B. Fe C. Al                                          D. Zn

    Câu 94. Dẫn hai luồng khí clo đi qua hai dung dịch KOH: dung dịch I loãng và nguội, dung dịch II đặc, đun nóng tới 80oC. Nếu lượng muối KCl sinh ra trong hai dung dịch bằng nhau thì tỉ lệ thể tích khí clo đi qua hai dung dịch KOH I và II

    A. 5/6 B. 6/3 C. 10/3 D. 5/3
    Câu 95. Phương pháp thuỷ luyện dùng để tách vàng, đó sử dụng các hóa chất nào ?
    A. HNO3đặc nóng, Zn B. H2SO4đặc nóng , Zn
    C. Dung dịch NaCN, Zn và H2SO4 loãng D. Hỗn hợp (H2SO4 và HNO3), Zn

    Câu 96. Cho a mol kim loại Mg phản ứng vừa đủ với dung dịch chứa b mol HNO3 thu được dung dịch chứa hai muối và

    không thấy khí thoát ra. Vậy a, b có mối quan hệ với nhau là
    A.  5a = 2b B. 2a = 5b C. 8a = 3b D. 4a = 3b
    Câu 97. Những ion nào dưới đây có thể tồn tại trong cùng một dung dịch?
    A. Na+, Mg2+, OH, NO3 B. Ag+, H+, Cl, SO42-
    C. HSO4, Na+, Ca2+, CO32- D. OH, Na+, Ba2+, Cl
    Câu 98. Cho c mol Mg vào dd chứa đồng thời a mol Zn(NO3)2 và b mol AgNO3.

    Điều kiện cần và đủ để dung dịch sau phản ứng chỉ chứa một muối là

    Luyenthithukhoa.vn                                                                                                                                            – 8 –

     

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI
    A. 2c> b + 2a B. 2c ≥ a + 2b C. c ³ b + a D. c ³ a + b
    2

    Luyenthithukhoa.vn                                                                                                                                              – 9 –

     

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    Câu 99. Dãy  sắp xếp  các  cặp oxi  hóa  khử:  Fe2+/Fe (1),  Zn2+/Zn  (2),  Cu2+/Cu (3), Ag+/Ag  (4),

    Fe3+/Fe2+ (5) theo chiều tăng dần tính oxi hoá của dạng oxi hoá và giảm dần tính khử của dạng khử là

    1. (1), (3), (2), (4), (5) B. (3), (1), (2) , (4), (5) C. (4), (5), (2), (3), (1) D. (2),

    (1), (3), (5), (4)

    Câu 100. Khi vật bằng gang, thép bị ăn mòn điện hoá trong không khí ẩm, nhận định nào sau đây đúng?

    1. Tinh thể sắt là cực dương, xảy ra quá trình khử.
    2. Tinh thể sắt là cực âm, xảy ra quá trình oxi hoá
    3. Tinh thể cacbon là cực dương, xảy ra quá trình oxi hoá
    4. Tinh thể cacbon là cực âm, xảy ra quá trình oxi hoá

    Câu 101. Có hai bình điện phân mắc nối tiếp, điện cực trơ :

    Bình 1 đựng dung dịch AgNO3, bình 2 đựng dung dịch KCl(có màng ngăn). Sau

    một thời gian điện phân, trong mỗi bình muối vẫn còn dư, ở catot bình 1 thoát ra

    10,8gam Ag thì ở anot bình 1 và anot bình 2 thoát ra các khí với thể tích tương ứng (đktc) là

    A. O2 (0,56 lít) và Cl2 (1,12 lít) B. O2 (1,12 lít) và Cl2 (0,56 lít) C. O2 (5,6 lít) và Cl2
    (11,2 lít) D. O2 (0,56 lít) và H2 (1,12 lít)
    Câu 102. Để bảo vệ vỏ tàu biển làm bằng thép, phần vỏ tàu ngâm trong nước biển thường được người
    ta gắn chặt những tấm kim loại:
    A. Zn B. Pb C. Cu D. Fe
    Câu 103. Kết luận nào sau đây không đúng?
    1. Các thiết bị máy móc bằng kim loại tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao có khả năng bị ăn mòn hoá học.
    1. Nối thành kẽm với vỏ tàu thuỷ bằng thép thì vỏ tàu thuỷ được bảo vệ
    2. Để đồ vật bằng thép ra ngoài không khí ẩm thì đồ vật đó bị ăn mòn điện hoá.
    3. Một miếng vỏ đồ hộp làm bằng sắt tây (sắt tráng thiếc) bị xây xát bên trong, để

    trong không khí ẩm thì thiếc sẽ bị ăn mòn trước.

    Câu 104. Cho các chất rắn Cu, Fe, Ag và các dung dịch CuSO4, FeSO4. Fe(NO3)3. Số

    cặp xảy ra phản ứng là
    A. 1. B. 2. C. 3. D. 4.

    Câu 105. Trong các chất Na, Al2O3, CaO, Fe, Fe3O4 số chất tác dụng được với H2O ở nhiệt độ thường là

    1. 1 B. 2                                      C. 3                                       D. 4

    Câu 106. Cho các chất: Fe, Al, dung dịch AgNO3, dung dịch NaOH lần lượt tác dụng với nhau, có nhiều nhất bao nhiêu phản ứng oxi hoá – khử xảy ra?

    1. 3 B. 5 C. 6                                       D. 4

    Câu 107. Cho dãy ion sau: Fe2+, Fe 3+, Cu2+, H+, Ag+, I . Các ion được sắp xếp theo chiều tính oxi hoá giảm dần từ trái sang phải là

    A. I , Ag+, Fe 3+, Cu2+, H+, Fe2+ B. Ag+, Fe 3+, Cu2+, H+, Fe2+, I
    C. Ag+, Cu2+, Fe 3+, H+, Fe2+, I D. Ag+, Fe 3+, Cu2+, I , H+, Fe2+
    Câu 108. Nhiệt phân hoàn toàn hỗn hợp gồm x mol AgNO3 và y mol Cu(NO3)2  được
    hỗn hợp khí có M = 42,5 u. Tỷ số x/y bằng:
    A. 1 B. 2 C. 3 D. 4.
    Câu 109. Trong các nhận định sau, nhận định nào là sai?
    Luyenthithukhoa.vn – 10 –

     

    CHUYÊN ĐỀ 11: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    1. Tất cả các nguyên tố khối d là kim loại
    1. Một số nguyên tố khối p là phi kim
    2. Tất cả các nguyên tố khối s là kim loại
    3. Tất cả các nguyên tố khối f là kim loại

    Câu 110. Điểm giống nhau giữa ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá là:

    1. Đều có sự trao đổi electron nên phát sinh dòng điện
    2. Đều chỉ xảy ra với kim loại nguyên chất
    3. Đều bị tác dụng của O2 không khí
    4. Đều xảy ra phản ứng oxi hoá – khử

    Luyenthithukhoa.vn                                                                                                                                         – 11 –

  • Đề thi Đại học môn Hóa học khối A năm 2014

    Đề thi Đại học môn Hóa học khối A năm 2014

    Đề thi Đại học môn Hóa học khối A năm 2014

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề luyện thi đại học môn hóa học 2019 khối A_3


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề thi Đại học môn Hóa học khối A năm 2014

    Đề thi Đại học môn Hóa học khối A năm 2014

    Cho biết nguyên tử khối của các nguyên tố:

    H = 1; C = 12; N = 14; O = 16; Na = 23; Mg = 24; Al = 27; P = 31; S = 32; Cl = 35,5; K = 39; Ca = 40; Fe = 56; Cu = 64; Br = 80; Ag = 108; Ba = 137.

    Câu 1: Polime nào sau đây trong thành phầ n chứa nguyên tố nitơ? A. Poli(vinyl clorua). B. Polibutađien. C. Nilon-6,6.

    1. Polietilen.

    Câu 2: Cho các chất: axit glutamic, saccarozơ, metylamoni clorua, vinyl axetat, phenol, glixerol, Gly-Gly.

    Số chất tác dụng với dung dịch NaOH loãng, nóng là
    A. 6. B. 3. C. 5. D. 4.

    Câu 3: Phát biểu nào sau đây là sai?

    1. Các kim loại kiềm có bán kính nguyên tử lớn hơn so với các kim loại cùng chu kì.
    2. Các kim loại kiềm có màu trắng bạc và có ánh kim.
    3. Các kim loại kiềm có nhiệt độ nóng chảy tăng dần từ Li đến Cs.
    4. Các kim loại kiềm đều là kim loại nhẹ.

    Câu 4: Dẫn hỗn hợp khí gồm CO2, O2, N2 và H2 qua dung dịch NaOH. Khí bị hấp thụ là

    1. CO2. B. O2. C. H2.                                      D. N2.

    Câu 5: Khí X làm đục nước vôi trong và được dùng làm chất tẩy trắng bột gỗ trong công nghiệp giấy. Chất X là

    1. NH3. B. CO2. C. SO2.                                   D. O3.

    Câu 6: Có ba dung dịch riêng biệt: H2SO4 1M; KNO3 1M; HNO3 1M được đánh số ngẫu nhiên là (1), (2), (3).

    • Trộn 5 ml dung dịch (1) với 5 ml dung dịch (2), thêm bột Cu dư, thu được V1 lít khí NO.
    • Trộn 5 ml dung dịch (1) với 5 ml dung dịch (3), thêm bột Cu dư, thu được 2V1 lít khí NO.
    • Trộn 5 ml dung dịch (2) với 5 ml dung dịch (3), thêm bột Cu dư, thu được V2 lít khí NO.

    Bi ết các phản ứng xảy ra hoàn toàn, NO là sản phẩm khử duy nhất, các thể tích khí đo ở cùng điều kiện. So sánh nào sau đây đúng?

    A. V2 = V1. B. V2 = 3V1. C. V2 = 2V1. D. 2V2 = V1.

    Câu 7: Chất tác dụng với H2 tạo thành sobitol là

    C. tinh bột.

    D. glucozơ.

    A. saccarozơ. B. xenlulozơ.

    Câu 8: Phản ứng nào dưới đây thuộc loại phản ứng oxi hóa – khử?

    1. AgNO3 + HCl → AgCl + HNO3.
    2. NaOH + HCl → NaCl + H2O.
    3. 2NO2 + 2NaOH → NaNO3 + NaNO2 + H2O.
    4. CaO + CO2 → CaCO3.

    Câu 9: Cho 0,02 mol α-amino axit X tác dụng vừa đủ với dung dịch chứa 0,04 mol NaOH. Mặt khác 0,02 mol X tác dụng vừa đủ với dung dịch chứa 0,02 mol HCl, thu được 3,67 gam muối. Công thức của X là

    1. HOOC-CH2CH(NH2)-COOH.
    1. HOOC-CH2CH2CH(NH2)-COOH.
    1. CH3CH(NH2)-COOH.
    1. H2N-CH2CH(NH2)-COOH.

    Trang 1/5 – Mã đề 259

    Câu 10: Cho anđehit no, mạch hở, có công thức CnHmO2. Mối quan hệ giữa n với m là

    1. m = 2n + 1. B. m = 2n. C. m = 2n – 2.                      D. m = 2n + 2.

    Câu 11: Thủy phân hoàn toàn 4,34 gam tripeptit mạ ch hở X (đượ c tạo nên từ hai α-amino axit có công thức dạng H2NCxHyCOOH) bằng dung dịch NaOH dư, thu được 6,38 gam muối. Mặ t khác thủy phân hoàn toàn 4,34 gam X bằng dung dịch HCl dư, thu được m gam muối. Giá trị của m là

    1. 6,53. B. 7,25. C. 8,25.                                   D. 5,06.

    Câu 12: Cho các phản ứng xảy ra theo sơ đồ sau:

    X1  + H2O               ®iÖn ph©n  →  X2  + X3↑  + H2

    cã mµng ng¨n

    X2  + X4        →  BaCO3↓  + K2CO3  + H2O

    Hai chất X2, X4 lần lượt là:

    1. NaOH, Ba(HCO3)2. B. KOH, Ba(HCO3)2. C. KHCO3, Ba(OH)2.    D. NaHCO3, Ba(OH)2.

    Câu 13: Hỗn hợp X gồm Al, Fe3O4 và CuO, trong đó oxi chiếm 25% khối lượ ng hỗn hợp. Cho 1,344 lít khí CO (đktc) đi qua m gam X nung nóng, sau một thời gian thu được chất rắn Y và hỗn hợp khí Z có t ỉ khối so với H2 bằng 18. Hoà tan hoàn toàn Y trong dung dịch HNO3 loãng (dư), thu được dung dịch chứa 3,08m gam muối và 0,896 lít khí NO (ở đktc, là sản phẩm khử duy nhất). Giá trị m gần giá trị nào nhất sau đây?

    1. 9,0. B. 9,5. C. 8,0.                                      D. 8,5.

    Câu 14: Để trung hòa 20 ml dung dịch HCl 0,1M cần 10 ml dung dịch NaOH nồng độ x mol/l. Giá trị

    của x là
    A. 0,3. B. 0,4. C. 0,1. D. 0,2.

    Câu 15: Từ 6,2 kg photpho điều chế được bao nhiêu lít dung dịch H3PO4 2M (hiệu suất toàn bộ quá trình điều chế là 80%)?

    1. 64 lít. B. 40 lít. C. 100 lít.                               D. 80 lít.

    Câu 16: Ancol X no, mạch hở, có không quá 3 nguyên tử cacbon trong phân tử. Biết X không tác dụng

    với Cu(OH)2 ở điều kiện thường. Số công thức cấu tạo bền phù hợp với X là
    A. 4. B. 2. C. 3. D. 5.

    Câu 17: Cho hỗn hợp gồm 1 mol chất X và 1 mol chất Y tác dụng hết với dung dịch H2SO4 đặc, nóng

     

    (dư), tạo ra 1 mol khí SO2 (sản phẩm khử duy nhất). Hai chất X, Y là:

    1. Fe, Fe2O3. B. FeO, Fe3O4. C. Fe3O4, Fe2O3.
    1. Fe, FeO.

    Câu 18: Phát biểu nào sau đây là sai?

    1. Dung dịch glyxin không làm đổi màu quỳ tím.
    1. Anilin tác dụng với nước brom tạo thành kết tủa trắng.

     

    1. Dung dịch lysin làm xanh quỳ tím.

     

    1. Cho Cu(OH)2 vào dung dịch lòng trắng trứng thấy xuất hiện màu vàng.

    Câu 19: Thủy phân chất X bằng dung dịch NaOH, thu được hai chất Y và Z đều có phản ứng tráng bạc, Z tác dụng được với Na sinh ra khí H2. Chất X là

    1. CH3COO-CH=CH2. B. HCOO-CH2CHO.
    1. HCOO-CH=CH2. D. HCOO-CH=CHCH3.

    Câu 20: Hỗn hợp X gồm axit axetic, propan-2-ol. Cho một lượng X phản ứng vừa đủ với Na, thu được

    0,448 lít khí H2 (đktc) và m gam chất rắn Y. Giá trị của m là
    A. 3,28. B. 2,40. C. 3,32. D. 2,36.

    Câu 21: Thủy phân 37 gam hai este cùng công thức phân tử C3H6O2 bằng dung dịch NaOH dư. Chưng cất dung dịch sau phản ứng thu được hỗn hợp ancol Y và chất rắn khan Z. Đun nóng Y với H2SO4 đặc

    • 140oC, thu được 14,3 gam hỗn hợp các ete. Biết các phản ứng xảy ra hoàn toàn. Khối lượng muối trong Z là
    1. 42,2 gam. B. 40,0 gam. C. 34,2 gam.                         D. 38,2 gam.

    Trang 2/5 – Mã đề 259

    Câu 22: Đốt cháy 4,16 gam hỗn hợp gồm Mg và Fe trong khí O2, thu được 5,92 gam hỗn hợp X chỉ gồm các oxit. Hòa tan hoàn toàn X trong dung dịch HCl vừa đủ, thu được dung dịch Y. Cho dung dịch NaOH dư vào Y, thu được kết tủa Z. Nung Z trong không khí đến khối lượng không đổi, thu được

    • gam chất rắn. Mặt khác cho Y tác dụng với dung dịch AgNO3 dư, thu được m gam kết tủa. Giá trị của m là
    1. 32,65. B. 10,80. C. 32,11.                                D. 31,57.

    Câu 23: Đốt cháy hoàn toàn 13,36 gam hỗn hợp X gồm axit metacrylic, axit ađipic, axit axetic và glixerol (trong đó số mol axit metacrylic bằng số mol axit axetic) bằng O2 dư, thu được hỗn hợp Y gồm khí và hơi. Dẫn Y vào dung dịch chứa 0,38 mol Ba(OH)2, thu được 49,25 gam kết tủa và dung dịch Z. Đun nóng Z lại xuất hiện kết tủa. Cho 13,36 gam hỗn hợp X tác dụng với 140 ml dung dịch KOH 1M, sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, cô cạn dung dịch thu được chất rắn khan có khối lượng là

    1. 14,44 gam. B. 18,68 gam. C. 13,32 gam.                      D. 19,04 gam.

    Câu 24: Điện phân dung dịch X chứa a mol CuSO4 và 0,2 mol KCl (điện cực trơ, màng ngăn xốp, cường độ dòng điện không đổi) trong thời gian t giây, thu được 2,464 lít khí ở anot (đktc). Nếu thời gian điện phân là 2t giây thì tổng thể tích khí thu được ở cả hai điện cực là 5,824 lít (đktc). Biết hiệu suất điện phân 100%, các khí sinh ra không tan trong dung dịch. Giá trị của a là

    A. 0,15. B. 0,24. C. 0,26. D. 0,18.

    Câu 25: Kim loại nào sau đây không tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng?

    D. Cu.

    A. Na. B. Al. C. Mg.

    Câu 26: Axit cacboxylic nào dưới đây có mạch cacbon phân nhánh, làm mất màu dung dịch brom?

    1. Axit propanoic. B. Axit 2-metylpropanoic.
    2. Axit metacrylic. D. Axit acrylic.

    Câu 27: Cho 0,1 mol anđehit X phản ứng tối đa với 0,3 mol H2, thu được 9 gam ancol Y. Mặt khác 2,1 gam X tác dụng hết với lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, thu được m gam Ag. Giá trị của m là

    1. 10,8. B. 16,2. C. 21,6.                                   D. 5,4.

    Câu 28: Hỗn hợp khí X gồm 0,1 mol C2H2; 0,2 mol C2H4 và 0,3 mol H2. Đun nóng X với xúc tác Ni, sau một thời gian thu được hỗn hợp khí Y có tỉ khối so với H2 bằng 11. Hỗn hợp Y phản ứng tối đa với a mol Br2 trong dung dịch. Giá trị của a là

    1. 0,1. B. 0,3. C. 0,4. D. 0,2. Câu 29: Phát biểu nào sau đây là sai?
    1. Trong môi trường kiềm, Br2 oxi hóa CrO2 thành CrO24 .
    2. Cr(OH)3 tan được trong dung dịch NaOH.

     

    1. CrO3 là một oxit axit.
    2. Cr phản ứng với axit H2SO4 loãng tạo thành Cr3+.

    Câu 30: Chất X có công thức: CH3-CH(CH3)-CH=CH2. Tên thay thế của X là

    1. 3-metylbut-1-in. B. 3-metylbut-1-en. C. 2-metylbut-3-en. D. 2-metylbut-3-in. Câu 31: Cho lá Al vào dung dịch HCl, có khí thoát ra. Thêm vài giọt dung dịch CuSO4 vào thì
    1. tốc độ thoát khí tăng. B. tốc độ thoát khí không đổi.
    2. phản ứng ngừng lại. D. tốc độ thoát khí giảm.

    Câu 32: Chất khí nào sau đây được tạo ra từ bình chữa cháy và dùng để sản xuất thuốc giảm đau dạ dày?

    A. CO2. B. N2. C. CO. D. CH4.

    Câu 33: Cho phản ứng:

    to

    + HX(khí).

    NaX(rắn) + H2SO4(đặc)    →  NaHSO4
    Các hiđro halogenua (HX) có thể điều chế theo phản ứng trên là
    A. HCl, HBr và HI. B. HF và HCl.
    C. HBr và HI. D. HF, HCl, HBr và HI.

    Trang 3/5 – Mã đề 259

    Câu 34: Khi nhỏ từ từ đến dư dung dịch NaOH vào dung dịch hỗn hợp gồm a mol HCl và b mol

    AlCl3, kết quả thí nghiệm được biểu diễn trên đồ thị sau:

    số mol Al(OH)3
    0,4
    số mol NaOH
    0 0,8 2,0 2,8
    Tỉ lệ a : b là
    A. 4 : 3. B. 2 : 1. C. 1 : 1. D. 2 : 3.

    Câu 35: Hệ cân bằng sau được thực hiện trong bình kín:

    CO (k) + H O (k → CO (k) + H (k) ; ∆H < 0
    2 2 2
    Cân bằng trên chuyển dịch theo chiều thuận khi
    A. tăng áp suất chung của hệ. B. cho chất xúc tác vào hệ.
    C. thêm khí H2 vào hệ. D. giảm nhiệt độ của hệ.

    Câu 36: Dung dịch X chứa 0,1 mol Ca2+; 0,3 mol Mg2+; 0,4 mol Cl- và a mol HCO3− . Đun dung dịch X đến cạn thu được muối khan có khối lượng là

    1. 49,4 gam. B. 23,2 gam. C. 37,4 gam.                         D. 28,6 gam.

    Câu 37: Có bao nhiêu amin bậc ba là đồng phân cấu tạo của nhau ứng với công thức phân tử C5H13N?

     

    1. 4.
    1. 2. C. 5. D. 3.

    Câu 38: Liên kết hóa học giữa các nguyên tử trong phân tử NH3 là liên kết

    1. cộng hóa trị không cực. B. cộng hóa trị phân cực.
    2. ion. D. hi đro.

    Câu 39: Cho hình vẽ mô tả thí nghiệm điều chế khí Y từ dung dịch X:

    Hình vẽ trên minh họa phản ứng nào sau đây?

    to

    1. NH4Cl + NaOH → NaCl + NH3 + H2O.

    to

    1. NaCl(rắn) + H2SO4(đặc)    →  NaHSO4  + HCl.
      • SO ®Æc,to
    2. C2H5OH2 4 →  C2H4  + H2

    CaO, to

    1. CH3COONa(rắn) + NaOH(rắn)     →  Na2CO3  + CH4.

    Câu 40: Nh ỏ từ t ừ đế n dư dung dịch NaOH loãng vào mỗi dung dị ch sau: FeCl3, CuCl2, AlCl3, FeSO4. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, số trường hợp thu được kết tủa là

    1. 1. B. 2. C. 4.                                          D. 3.

    Câu 41: Cho X, Y là hai chất thuộc dãy đồng đẳng của axit acrylic và MX < MY; Z là ancol có cùng số nguyên tử cacbon với X; T là este hai chức tạo bởi X, Y và Z. Đốt cháy hoàn toàn 11,16 gam hỗn hợp

    • gồm X, Y, Z, T cần vừa đủ 13,216 lít khí O2 (đktc), thu được khí CO2 và 9,36 gam nước. Mặt khác 11,16 gam E tác dụng tối đa với dung dịch chứa 0,04 mol Br2. Khối lượng muối thu được khi cho cùng lượng E trên tác dụng hết với dung dịch KOH dư là
    1. 4,68 gam. B. 5,04 gam. C. 5,44 gam.                         D. 5,80 gam.

    Trang 4/5 – Mã đề 259

    Câu 42: Cho ba mẫu đá vôi (100% CaCO3) có cùng khối lượng: mẫu 1 dạng khối, mẫu 2 dạng viên nhỏ, mẫu 3 dạng bột mịn vào ba cốc đựng cùng thể tích dung dịch HCl (dư, cùng nồng độ, ở điều kiện thường). Thời gian để đá vôi tan hết trong ba cốc tương ứng là t1, t2, t3 giây. So sánh nào sau đây đúng?

    1. t1 < t2 < t3. B. t1 = t2 = t3. C. t3 < t2 < t1.                     D. t2 < t1 < t3.

    Câu 43: Cấu hình electron ở trạ ng thái cơ bản của nguyên tử nguyên tố X có tổng số electron trong các phân lớp p là 8. Nguyên tố X là

    1. Si (Z=14). B. O (Z=8).
    1. Al (Z=13).
    1. Cl (Z=17).

    Câu 44: Phenol (C6H5OH) không phản ứng với chất nào sau đây? A. Na. B. NaHCO3. C. Br2.

    1. NaOH.

    Câu 45: Hỗn hợp khí X gồ m etilen và propin. Cho a mol X tác d ụng với lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3, thu được 17,64 gam kết tủa. Mặt khác a mol X phản ứng tối đa với 0,34 mol H2. Giá trị của a là

    1. 0,32. B. 0,34. C. 0,46.                                   D. 0,22.

    Câu 46: Đốt cháy hoàn toàn 1 mol chấ t béo, thu được l ượng CO2 và H2O hơn kém nhau 6 mol. Mặt khác a mol chất béo trên tác dụng tối đa với 600 ml dung dịch Br2 1M. Giá trị của a là

    1. 0,15. B. 0,18. C. 0,30.                                   D. 0,20.

    Câu 47: Cho m gam hỗn hợp gồm Al và Na vào nước dư, sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu

    được 2,24 lít khí H2 (đktc) và 2,35 gam chất rắn không tan. Giá trị của m là D. 6,95.
    A. 3,70. B. 4,85. C. 4,35.

    Câu 48: Thực hiệ n phản ứng nhi ệt nhôm hỗn hợp gồm Al và m gam hai oxit sắt trong khí trơ, thu được hỗn hợp r ắn X. Cho X vào dung dịch NaOH dư, thu đượ c dung dịch Y, chất không tan Z và 0,672 lít khí H2 ( đktc). Sục khí CO2 dư vào Y, thu được 7,8 gam kế t tủa. Cho Z tan hết vào dung dịch H2SO4, thu được dung dịch chứa 15,6 gam muối sunfat và 2,464 lít khí SO2 (ở đktc, là sản phẩm khử

    duy nhất của H2SO4). Biết các phản ứng xảy ra hoàn toàn. Giá trị của m là D. 6,29.
    A. 6,48. B. 5,04. C. 6,96.

    Câu 49: Trung hòa 10,4 gam axit cacboxylic X bằng dung dịch NaOH, thu được 14,8 gam muối. Công thức của X là

    1. C3H7COOH.
    1. HOOC-COOH.
    1. HOOC-CH2-COOH.
    1. C2H5COOH.

    Câu 50: Hòa tan hết 1,69 gam oleum có công thức H2SO4.3SO3 vào nước dư. Trung hòa dung dịch thu được cần V ml dung dịch KOH 1M. Giá trị của V là

    A. 10. B. 40. C. 30. D. 20.
    ———- HẾT ———-

    Trang 5/5 – Mã đề 259