Category: Đề cương Đại Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Đề cương đại học. Đội nhóm chúng mình dành nhiều tâm sức sưu tầm đề cương từ các đại học khác nhau. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

[caption id="attachment_18595" align="aligncenter" width="800"]Đề cương đại học miễn phí De cuong dai hoc mien phi (Ảnh sưu tầm – Báo Nghệ An)[/caption]
  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ án nền & móng: Thiết kế móng cọc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-C%C6%AF%C6%A0NG-%C3%94N-T%E1%BA%ACP-M%C3%94N-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP

    MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    Câu 1: Trình bày nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh?

    1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp giữa yếu tố khách quan (thực tiễn và tư tưởng, văn hoá) với yếu tố chủ quan (những phẩm chất của Hồ Chí Minh).

    1. a) Truyền thống tư tưởng và văn hoá Việt Nam.

    UNESCO khẳng định: tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh truyền thống văn hoá hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam.

    Trước tiên, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Đây là truyền thống tư tưởng quý báu nhất, nguồn gốc sức mạnh lớn nhất trong đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Điều đó được phản ánh từ văn hoá dân gian đến văn hoá bác học, từ những nhân vật truyền thuyết như Thánh Gióng, đến các anh hùng thời xa xưa như Thục Phán, Hai Bà Trưng, Bà Triệu… đến những anh hùng nổi tiếng thời phong kiến như Ngô Quyền, Phùng Hưng, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… Chủ nghĩa yêu nước là giá trị văn hoá cao nhất, đứng đầu bảng giá trị văn hoá tinh thần Việt Nam, nó làm thành dòng chảy chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc, tạo thành cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiếp thu những giá trị văn hoá từ bên ngoài làm phong phú văn hoá dân tộc và không ngừng phát triển.

    Thứ hai là tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm là rách” trong hoạn nạn, khó khăn. Điều kiện địa lý và chính trị đã đưa nhân dân ta tạo dựng truyền thống này ngay từ buổi bình minh của dân tộc. Các thế hệ Việt Nam đều trao truyền cho nhau:

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.

    Ba mươi năm bôn ba hải ngoại, năm 1941 vừa về nước, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở nhân dân ta: “Dân ta phải biết sử ta”. “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do”. Người căn dặn: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”.

    Thứ ba là truyền thống lạc quan yêu đời của dân tộc ta được kết tinh qua hàng ngàn năm nhân dân ta vượt qua muôn nguy, ngàn khó, lạc quan tin tưởng vào tiền đồ dân tộc, tin tưởng vào chính mình. Hồ Chí Minh là điểm kết tinh rực rỡ của truyền thống lạc quan yêu đời của dân tộc đã tạo cho mình một sức mạnh phi thường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đi đến chiến thắng.

    Thứ tư là nhân dân ta có truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu, đồng thời ham học hỏi và không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hoá nhân loại. Dân tộc ta trụ vững trên mảnh đất nối liền Nam-Bắc, Đông-Tây, từ rất sớm người Việt Nam đã xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan. Mà trên cơ sở giữ vững bản sắc dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp từ bên ngoài và biến nó thành cái thuần tuý Việt Nam.

    1. b) Tinh hoa văn hoá nhân loại

    Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được tiếp thu văn hoá phương Đông. Lớn lên Người bôn ba khắp thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây. Trí tuệ miễn tiệp, ham học hỏi nên ở Người đã có vốn hiểu biết văn hoá Đông-Tây kim cổ uyên bác.

    1. c) Tư tưởng văn hoá phương Đông

    Về Nho giáo, Hồ Chí Minh được tiếp thu Nho giáo từ nhỏ, Người hiểu sâu sắc về Nho giáo. Người nhận xét về cụ Khổng Tử, người sáng lập ra Nho giáo tuy là phong kiến nhưng Cụ có những cái hay thì phải học lấy. Cái phong kiến lạc hậu của Nho giáo là duy tâm, đẳng cấp nặng nề, khinh thường lao động chân tay, coi khinh phụ nữ… thì Hồ Chí Minh phê phán triệt để. Nhưng những yếu tố tích cực của Nho giáo như triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời; lý tưởng về một xã hội bình trị, một “thế giới đại đồng”; triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính; tư tưởng đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học… đã được Hồ Chí Minh khai thác để phục vụ nhiệm vụ cách mạng.

    Về Phật giáo: Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm. Trải qua hàng trăm năm ảnh hưởng, Phật giáo đã đi vào văn hoá Việt Nam, từ tư tưởng, tình cảm, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống… Phật giáo là tôn giáo. Hồ Chí Minh nhận xét: tôn giáo là duy tâm… Nhưng Người cũng chỉ ra nhiều điều hay của Phật giáo mà nó đã đi vào tư duy, hành động, cách ứng xử của người Việt Nam. Đó là những điều cần được khai thác để góp vào việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng như tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân, một tình yêu bao la đến cả chim muông, cỏ cây. Phật giáo dạy con người nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện. Phật giáo có tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác, chống lại mọi phân biệt đẳng cấp. Hoặc như Phật giáo Thiền tông đề ra luật “Chấp tác”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”, đề cao lao động, chống lười biếng. Đặc biệt là từ truyền thống yêu nước của dân tộc đã làm nảy sinh nên Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, chủ trương không xa đời mà sống gắn bó với nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc.

    Ngoài ra, còn thấy Hồ Chí Minh bàn đến các giá trị văn hoá phương Đông khác như Lão tử, Mặc tử, Quản tử… cũng như về chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn mà Người tìm thấy “những điều thích hợp với nước ta”.

    1. d) Tư tưởng và văn hoá phương Tây.

    Ngay khi còn học ở trong nước, Nguyễn Tất Thành đã làm quen với văn hoá Pháp, đặc biệt là ham mê môn lịch sử và muốn tìm hiểu về cách mạng Pháp 1789. Ba mươi năm liên tục ở nước ngoài, sống chủ yếu ở Châu Âu, nên Nguyễn ái Quốc cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng của phương Tây.

    Hồ Chí Minh thường nói tới ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người trong Tuyên ngôn độc lập, 1776 của Mỹ. Khi ở Anh, Người gia nhập công đoàn thuỷ thủ và cùng giai cấp công nhân Anh tham gia các cuộc biểu tình, đình công bên bờ sông Thêmđơ… Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, sống tại Pari-trung tâm chính trị văn hoá-nghệ thuật của châu Âu. Người gắn mình với phong trào công nhân Pháp và tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng như Vonte, Rutxô, Môngtetxkiơ… Tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Nguyễn ái Quốc. Từ đó mà hình thành phong cách dân chủ, cách làm việc dân chủ ở Người.

    Có thể thấy, trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn ái Quốc đã biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.

    1. e) Chủ nghĩa Mác-Lênin

    Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm được cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng của mình. Nhờ vậy Người đã hấp thụ và chuyển hoá được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống dân tộc cũng như của tư tưởng văn hoá nhân loại tạo nên hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác-Lênin; đồng thời nó còn là sự vận dụng và phát triển làm phong phú chủ nghĩa Mác-Lênin ở thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập tự do, xây dựng đời sống mới.

    1. g) Những nhân tố thuộc về phẩm chất của Nguyễn ái Quốc

    Trong cùng những điều kiện như trên mà chỉ có Hồ Chí Minh được UNESCO công nhận là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất. Rõ ràng yếu tố chủ quan ở Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành tư tưởng của Người.

    Trước hết, ở Nguyễn ái Quốc-Hồ Chí Minh có một tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu những tinh hoa tư tưởng, văn hoá và cách mạng cả trên thế giới và trong nước.

    Hai là, sự khổ công học tập của Nguyễn ái Quốc đã chiếm lĩnh được vốn tri thức phong phú của thời đại, với kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để có thể tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin khoa học và cách mạng.

    Ba là, Nguyễn ái Quốc-Hồ Chí Minh có tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu những người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng những hy sinh cao nhất vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào.

    Những phẩm chất cá nhân hiếm có đó đã giúp Nguyễn ái Quốc tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hoá phát triển tinh hoa dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình.

    2. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm về cách mạng Việt Nam không thể hình thành ngay trong một lúc mà trải qua một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện, gắn liền với quá trình phát triển lớn mạnh của Đảng ta và cách mạng Việt Nam. Quá trình đó diễn ra qua các thời kỳ chính như sau:

    1. a) Từ 1890 đến 1911: Là thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng.

    Thời kỳ này Nguyễn Sinh Cung-Nguyễn Tất Thành tiếp nhận truyền thống yêu nước và nhân nghĩa của dân tộc, hấp thụ vốn văn hoá Quốc học, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây; chứng kiến thân phận nô lệ đoạ đầy của nhân dân ta và tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, hình thành hoài bão cứu nước. Nhờ vậy chí hướng cách mạng của Nguyễn Tất Thành ngay từ đầu đã đi đúng hướng, đúng đích, đúng cách.

    1. b) Từ 1911 đến 1920: Thời kỳ tìm tòi, khảo nghiệm.

    Là thời kỳ Nguyễn Tất Thành thực hiện một cuộc khảo nghiệm toàn diện, sâu rộng trên bình diện toàn thế giới.

    Đi đến cùng, Người đã gặp chủ nghĩa Mác-Lênin (qua việc tiếp xúc với Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa). Nguyễn ái Quốc đã đi đến quyết định tham gia Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập  Đảng Cộng sản Pháp. Đây là sự chuyển biến về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước thành người cộng sản và tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc.

    1. c) Từ 1921 đến 1930: Thời kỳ hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về Con đường cách mạng Việt Nam.

    Là thời kỳ hoạt động lý luận và thực tiễn cực kỳ sôi nổi của Nguyễn ái Quốc. Người hoạt động tích cực trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa, xuất bản báo Le Paria nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào các nước thuộc địa. Tham gia trong các tổ chức của Quốc tế Cộng sản tại Matxcơva. Cuối 1924, Nguyễn ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) tổ chức ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ra báo Thanh niên, mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Đầu xuân 1930, Người tổ chức ra Đảng Cộng sản Việt Nam và trực tiếp thảo ra Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Văn kiện này cùng các tác phẩm Người xuất bản trước đó là Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927) đã đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam.

    1. d) Từ 1930 đến 1941: Là thời kỳ vượt qua thử thách kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam.

    Do những hạn chế về hiểu biết thực tiễn Việt Nam, lại bị quan điểm “tả khuynh” chi phối nên Quốc tế Cộng sản đã phê phán, chủ trích đường lối của Nguyễn ái Quốc ở Hội nghị thành lập Đảng đầu xuân 1930. Dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị tháng 10-1930 của Đảng đi tới nghị quyết thủ tiêu Chánh cương, Sách lược vắn tắt và điều lệ của Đảng được thông qua ở Hội nghị thành lập Đảng.

    Thực tiễn cách mạng nước ta đã hoàn thiện đường lối của Đảng và sự hoàn thiện đó đã trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX.

    Từ 1941 đến 1969: Thời kỳ phát triển và thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Ngày 28-1-1941, sau 30 năm hoạt động của cách mạng trên thế giới, Nguyễn ái Quốc về nước cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5-1941, Người triệu tập, chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Đảng, hoàn thành việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng. Cách mạng Việt Nam vận động mạnh mẽ theo đường lối của Đảng thông qua ở Hội nghị Trung ương 8, đã dẫn đến thắng lợi của cách mạng Tháng Tám 1945-thắng lợi đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thời kỳ này tư tưởng Hồ Chí Minh được bổ sung, phát triển và hoàn thiện trên một loạt vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam: Về chiến tranh nhân dân: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước vốn là thuộc địa nửaphong kiến, quá độ lên xã hội chủ nghĩa không trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong điều kiện đất nước bị chia cắt và có chiến tranh; về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền: về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về củng cố và tăng cường sự nhất trí trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế…

    Vĩnh biệt Đảng, dân tộc, Hồ Chí Minh để lại Di chúc thiêng liêng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước và dân tộc sau khi kháng chiến thắng lợi.

    Thấm thía giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, đi vào sự nghiệp đổi mới, tại Đại hội VII (1991) Đảng ta khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động.

    Đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO- tiến sĩ M.Ahmed đã cho rằng: Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này.

    Câu2 : Điều kiện xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh? Vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp lãnh đạo của Đảng với thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 77 năm qua?

    1. Điều kiện xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng giống như tư tưởng của nhiều vĩ nhân khác được hình thành dưới tác động, ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử-xã hội nhất định của dân tộc và thời đại mà nhà tư tưởng đã sống. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu cầu khách quan và là sự giải đáp thiên tài của Hồ Chí Minh về những nhu cầu bức thiết đó của cách mạng Việt Nam đặt ra từ đầu thế kỷ XX tới ngày nay. Những điều kiện lịch sử-xã hội tác động, ảnh hưởng tới sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh có thể khái quát những vấn đề chính như sau:

    Điều kiện lịch sử-xã hội Việt Nam

    Cho đến năm 1958, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam thì nước ta vẫn là một xã hội phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, trì trệ. Khi thực dân Pháp xâm lược, lúc đầu triều đình nhà Nguyễn có chống cự yếu ớt, sau đã từng bước nhân nhượng, cầu hoà và cuối cùng là cam chịu đầu hàng để giữ lấy ngai vàng và lợi ích riêng của hoàng tộc. Nhân dân ta lâm vào hoàn cảnh khó khăn chưa bao giờ có là cùng một lúc phải chống “cả Triều lẫn Tây”.

    Từ năm 1958 đến cuối thế kỷ XIX, dưới ngọn cờ phong kiến, phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp bởi tinh thần yêu nước nhiệt thành và chí căm thù giặc sôi sục đã rầm rộ bùng lên, dâng cao và lan rộng trong cả nước: từ Trương Định, Nguyễn Trung Trực… ở Nam Bộ: Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng… ở miền Trung đến Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích… ở miền Bắc. Nhưng đường lối kháng chiến chưa rõ ràng nên trước sau đều thất bại. Rõ ràng ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đã bất lực trước đòi hỏi giành lại độc lập của dân tộc.

    Sang đầu thế kỷ XX trước chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam bắt đầu có sự biến chuyển và phân hoá, các tầng lớp tiểu tư sản và mầm mống giai cấp tư sản bắt đầu xuất hiện. Đồng thời các “tân thư” và ảnh hưởng của cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu từ Trung Quốc vào Việt Nam. Phong trào chống Pháp của nhân dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản với sự xuất hiện của các phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Việt Nam Quang phục hội… Các phong trào chưa lôi cuốn lớp nhân dân và chủ yếu vẫn do các sĩ phu phong kiến cựu học dẫn dắt nên có rất nhiều hạn chế và cuối cùng cũng lần lượt bị dập tắt.

    Cuối thập niên đầu của thế kỷ XX, khi Nguyễn Tất Thành lớn lên, phong trào cứu nước đang ở vào thời kỳ khó khăn nhất. Muốn giành thắng lợi, phong trào cứu nước của nhân dân ta phải đi theo một con đường mới.

    Gia đình và quê hương

    Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, gần gũi với nhân dân. Thân phụ của Người là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc-một nhà nho cấptiến, có lòng yêu nước thương dân sâu sắc, có ý chí kiên cường vượt qua gian khổ, khó khăn, đặc biệt có tư tưởng thương dân, chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị-xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành. Tiếp thu tư tưởng trên của người cha, sau này Nguyễn ái Quốc nâng lên thành tư tưởng cốt lõi trong đường lối chính trị của mình.

    Quê hương của Hồ Chí Minh là Nghệ Tĩnh, một miền quê giàu truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, xuất hiện nhiều anh hùng như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu… Ngay mảnh đất Kim Liên đã thấm máu anh hùng của bao liệt sĩ như Vương Thúc Mậu, Nguyễn Sinh Quyến… Anh chị của Nguyễn Tất Thành cũng hoạt động yêu nước, bị thực dân Pháp bắt giam cầm và lưu đầy hàng chục năm.

    Quê hương, gia đình, đất nước đã chuẩn bị cho Nguyễn Tất thành nhiều mặt và có vinh dự đã sinh ra vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà tư tưởng, nhà văn hoá kiệt xuất.

    Điều kiện thời đại

    Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chúng vừa tranh giành xâu xé thuộc địa vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng kìm kẹp thuộc địa của chúng. Bởi vậy, cuộc đấu tranh giải phóng thuộc địa đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế.

    Khi còn ở trong nước, Nguyễn Tất Thành chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại. Tuy vậy, Người cũng thấy rõ con đường cứu nước của các bậc cha anh là cũ kỹ, không thể có kết quả. Nguyễn Tất Thành xác định phải đi ra nước ngoài, đi tìm một con đường mới. Nguyễn Tất Thành đã vượt ba đại dương, bốn châu lục, tới gần 30 nước-quan sát nghiên cứu các nước thuộc địa và các nước tư bản. Nguyễn Tất Thành trở thành người đi nhiều nhất, có vốn hiểu biết phong phú nhất.

    Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh về sống và hoạt động ở Pari-thủ đô nước Pháp. Gắn bó với phong trào lao động Pháp, với những người Việt Nam, với những nhà cách mạng từ các thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành đã đến với những người phái tả của cách mạng Pháp và sau đó gia nhập Đảng xã hội Pháp (1919)- một chính đảng duy nhất của Pháp bênh vực các dân tộc thuộc địa.

    Năm 1919, Hội nghị hoà bình được khai mạc ở Vécxây, Nguyễn ái Quốc đã có hoạt động mang nhiều ý nghĩa. Người đã nhân danh những người Việt Nam yêu nước gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nước ta. Bản yêu sách đã không được chấp nhận. Từ đó, Nguyễn ái Quốc đã rút ra kết luận: Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình.

    Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra và giành thắng lợi đã mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

    Trước sự phân hoá về đường lối trong các Đảng Dân chủ Xã hội- Quốc tế II, tháng 3-1919, Lênin sáng lập ra Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III)- là tổ chức có sứ mệnh bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới, và dẫn dắt phong trào cách mạng thế giới. Quốc tế Cộng sản ra đời có ý nghĩa và tác động to lớn tới phong trào cách mạng trên thế giới.

    Trên hành trình tìm đường cứu nước, đến giữa năm 1920, Nguyễn ái Quốc đã có những nhận thức kế cận với những quan điểm của chủ nghĩa Lênin. Nguyễn ái Quốc đã nhận thức về quan hệ áp bức dân tộc đến nhận thức về quan hệ áp bức giai cấp; từ quyền của các dân tộc đến quyền của con người; từ xác định rõ kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc đến nhận rõ bạn đồng minh là nhân dân lao động ở các nước chính quốc và thuộc địa. Bởi vậy, giữa tháng 7-1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Nguyễn ái Quốc thấy những điều mình nung nấu bấy nay được Lênin diễn đạt một cách đầy đủ và sâu sắc. Từ đây Người hoàn toàn tin tưởng theo Lênin.

    Nguyễn ái Quốc cùng các đảng viên khác trong Đảng xã hội Pháp tham gia vào cuộc tranh luạn về đường lối chiến lược, sách lược của Đảng. Đến Đại hội lần thứ 18 Đảng xã hội Pháp (12-1920) kết thúc cuộc tranh luận kéo dài này đã đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn ái Quốc: từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc mình trong trào lưu cách mạng thế giới.

    Như vậy, trong điều kiện lịch sử Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX, với trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh đã trở thành hợp điểm gặp gỡ quan trọng của trí tuệ Việt Nam và trí tuệ thời đại, giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa Mác-Lênin, hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.

    2. Vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp lãnh đạo của Đảng với thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 77 năm qua?

    Câu 3: Trình bày những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc? Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay?

    1. Những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc.

    Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Trước dân tộc là những tổ chức cộng đồng tiền dân tộc như thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự ra đời của các nhà nước dân tộc tư bản chủ nghĩa. Khi chủ nghĩa đế quốc ra đời đã đi xâm chiếm và thống trị các dân tộc nhược tiểu, từ đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa. Khái niệm dân tộc trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh là khái niệm dân tộc quốc gia, dân tộc thuộc địa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc có những nội dung chính là:

    – Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Theo Hồ Chí Minh:

    + Độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân là thiêng liêng nhất. Người đã từng khẳng định: Cái mà tôi cần nhất trên đời này là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập. Khi thành lập Đảng năm 1930, Người xác định cách mạng Việt Nam: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến để làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập. Năm 1941, về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người viết thư Kính cáo đồng bào và chỉ rõ: Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Bởi vậy, năm 1945 khi thời cơ cách mạng chín muối, Người khẳng định quyết tâm: Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho được độc lập.

    Độc lập- thống nhất- chủ quyền- toàn vẹn lãnh thổ là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một dân tộc. Bởi vâyk khi giành được độc lập dân tộc năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thất đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Nhưng ngay sau đó 21 ngày, thực dân Pháp một lần nữa trở lại xâm lược nước ta. Để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi vang dậy núi sông: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Những năm 60 của thế kỷ XX, khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc hòng khuất phục ý chí độc lập, tự do của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời bằng chân lý bất hủ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta phải chiến đáu quét sạch nó đi”. Chính bằng tinh thần, nghị lực này cả dân tộc ta đứng dậy đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Và chính phủ Mỹ phải cam kết: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơnevơv năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”.

    + Dân tộc Việt Nam có quyền độc lập, tự do, bình đẳng như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới. Năm 1945, tiếp thu những nhân tố có giá trị trong tư tưởng và văn hoá phương Tây, Hồ Chí Minh đã khái quát nên chân lý: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

    – Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sự kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.

    Hồ Chí Minh khác lớp trước là Người giải quyết vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, giành độc lập để đi lên chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ dân tộc và giai cấp được đặt ra.

    Vấn đề dân tộc, trong lịch sử cho thấy- ở thời đại nào cũng được nhận thức và giải quyết trên lập trường và theo quan điểm của một giai cấp nhất định. Đến thời đại cách mạng vô sản cho thấy chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản mới giải quyết được đúng đắn vấn đề dân tộc.

    Mác-Ăngghen cho rằng, có triệt để xoá bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp mới có điều kiện xoá bỏ ách áp bức dân tộc, mới đem lại độc lập thật sự cho dân tộc mình và các dân tộc khác. Chỉ có giai cấp vô sản với bản chất cách mạng và sứ mệnh lịch sử của mình mới có thể thực hiện được điều này.

    Đến thời đại Lênin, chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Theo Lênin, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc sẽ không thể giành được thắng lợi nếu nó không biết liên minh với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc của các giá trị bị áp bức ở các nước thuộc địa. Bởi vậy khẩu hiệu của Mác được phát triển thành: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”. Nguyễn ái Quốc đánh giá cao tư tưởng của Lênin, Người cho rằng: “Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa”.

    Tuy nhiên xuất phát từ yêu cầu và mục tiêucủa cách mạng vô sản ở châu Âu, Mác-Ăngghen và Lênin vẫn tập trung nhiều hơn vào vấn đề giai cấp, vẫn “đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản”.

    Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, xác định con đường giải phóng dân tộc mình theo cách mạng vô sản, tức là Người đã tiếp thu lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin, thấy rõ mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản. Nhưng xuất phát từ thực tiễn dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc.

    Vì vậy, Nguyễn ái Quốc đã tiến hành đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái của một số Đảng Cộng sản Tây Âu trong cách nhìn nhận, đánh giá về vai trò, vị trí, cũng như tương lai của cách mạng thuộc địa. Từ đó Nguyễn ái Quốc cho rằng: các dân tộc thuộc địa phải dựa vào sức của chính mình, đồng thời phải biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động thế giới để trước hết đấu tranh giành độc lập dân tộc, từ thắng lợi này tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần vào tiến trình cách mạng thế giới.

    Theo Hồ Chí Minh: chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn của đất nước. Năm 1924, Nguyễn ái Quốc đề cập đến chủ nghĩa dân tộc ở thuộc địa- đó là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước chân chính. Vì vậy “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. Nguyễn ái Quốc đã có sáng tạo lớn là Người xuất phát từ đặc điểm kinh tế ở thuộc địa Đông Dương còn lạc hậu, nên phân hoá giai cấp chưa triệt để, đấu tranh giai cấp ở đây không diễn ra giống như ở phương Tây. Trái lại các giai cấp ở Đông Dương vẫn có tương đồng lớn: dù là địa chủ hay nông dân họ đều là người nô lệ mất nước. Vì vậy, theo Nguyễn ái Quốc, trong cách mạng giải phóng dân tộc, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Nguyễn ái Quốc chủ trương: Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản. khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy biến thành chủ nghĩa quốc tế.

    Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

    Ngay từ dầu những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn ái Quốc đã sớm thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, nên Người khẳng định: “Cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”.

    Năm 1930, khi thành lập Đảng ta, Nguyễn ái Quốc xác định cách mạng Việt Nam làm tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh (cách mạng dân tộc dân chủ) để đi tới xã hội cộng sản (cách mạng xã hội chủ nghĩa). Về sau Người tổng kết: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

    Độc lập dân tộc phải đi tới chủ nghĩa xã hội mới xoả tận gốc cơ sở áp bức dân tộc và áp bức giai cấp. Như vậy, ở Hồ Chí Minh, yêu nước truyền thống đã phát triển thành yêu nước trên lập trường của giai cấp vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh còn chỉ ra: Đấu tranh cho dân tộc mình, đồng thời độc lập cho các dân tộc.

    Nói đến quyền dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước chân chính luôn luôn thống nhất với chủ nghĩa đế quốc trong sáng.

    Vì vậy năm 1914, khi ở Anh, Người đã đem toàn bộ số tiền dành dụm được từ đồng lương ít ỏi để ủng hộ quỹ kháng chiến của người Anh và nói với bạn mình rằng: “Chúng ta phải tranh đấu cho tự do, độc lập của các dân tộc khác như là tranh đấu cho dân tộc ta vậy”.

    Người tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc. Nhưng Người cũng chủ trương ủng hộ cách mạng Trung Quốc, Lào, Campuchia… và “giúp bạn là tự giúp mình”.

    1. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay.

    1- Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Hội nghị TW 6 (khoá 7) đã xác định rõ nguồn lực và phát huy nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó nguồn lực con người cả về thể chất và tinh thần là quan trọng nhất. Cần khơi dậy truyền thống yêu nước của con người Việt Nam biến thành động lực để chiến thắng kẻ thù, hôm nay xây dựng và phát triển kinh tế.

    2- Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp.

    Khẳng định rõ vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, của Đảng Cộng sản, kết hợp vấn đề dân tộc và giai cấp đưa cách mạng Việt Nam từ giải phóng dân tộc lên CNXH. Đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công- nông và tầng lớp trí thức do Đảng lãnh đạo. Trong đấu tranh giành chính quyền phải sử dụng bạo lực của quần chúng cách mạng chống bạo lực phản cách mạng. Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

    3- Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu: vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Lịch sử ghi nhận công lao của các dân tộc miền núi đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược. Hồ Chí Minh nói: Đồng bào miền núi đã có nhiều công trạng vẻ vang và oanh liệt.

    Trong công tác đền ơn, đáp nghĩa Hồ Chí Minh chỉ thị, các cấp bộ Đảng phải thi hành đúng chính sách dân tộc, thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc sao cho đạt mục tiêu: nhân dân no ấm hơn, mạnh khoẻ hơn. Văn hoá sẽ cao hơn. Giao thông thuận tiện hơn. Bản làng vui tươi hơn. Quốc phòng vững vàng hơn.

    Câu 4: Phân tích và chứng minh bằng thực tiễn lịch sử Việt Nam những luận điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc?

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc có nội dung thể hiện qua hệ thống các luận điểm cơ bản như sau:

    – Cách mạng giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản mới giành được thắng lợi hoàn toàn.

    Hồ Chí Minh nghiên cứu phát triển yêu nước đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều bị thất bại do các phong trào này chưa có đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn.

    Các nước đế quốc liên kết với nhau đàn áp thống trị thuộc địa. Các thuộc dịa đã trở thành nơi cung cấp nguyên liệu, vật liệu cho công nghiệp và cung cấp binh lính cho quân đội đế quốc đàn áp các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chính quốc.

    Hồ Chí Minh xác định cách mạng giải phóng và cách mạng vô sản chính quốc có chung một kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc thực dân. Hồ Chí Minh chỉ ra: Chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi… và cách mạng giải phóng thuộc địa như cái cánh của cách mạng vô sản.

    Vì vậy cách mạng giải phóng ở thuộc địa phải gắn bó chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc, và phải đi theo con đường cách mạng vô sản mới giành được thắng lợi hoàn toàn.

    – Cách mạng giải phóng dân tộc phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo mới giành được thắng lợi.

    Các lực lượng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930) đều thất bại do chưa có một đường lối đúng đắn, chưa có một cơ sở lý luận dẫn đường.

    Nguyễn ái Quốc phân tích và cho rằng, những người giác ngộ và cả nhân dân ta đều nhận thấy: làm cách mạng thì sống, không làm cách mạng thì chết. Nhưng cách mạng giải phóng dân tộc muốn thành công, theo Người trước tiên phải có đảng cách mạng lãnh đạo. Đảng có vững cách mạng mới thành công. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin. Cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi phải đi theo chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin.

    Đảng cách mạng của giai cấp công nhân được trang bị lý luận Mác-Lênin, lý luận cách mạng và khoa học mới đủ sức đề ra chiến lược và sách lược giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản, đó là tiền đề đầu tiên đưa cách mạng giải phóng đến thắng lợi.

    – Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông.

    Thấm nhuần nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn ái Quốc khẳng định: Việt Nam làm cách mạng giải phóng dân tộc, đó “là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”. Cách mạng muốn thắng lợi phải đoàn kết toàn dân, phải làm cho “sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”. Trong sự nghiệp này phải lấy “công nông là người chủ cách mệnh… Công nông là cái gốc cách mệnh”.

    Để đoàn kết toàn dân tộc, Nguyễn ái Quốc chủ trương xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi để liên kết sức mạnh toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Khi soạn thảo cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), trong Sách lược vắn tắt, Nguyễn ái Quốc chủ trương: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt… để kéo họ đi về phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú, nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến…) thì phải đánh đổ”. Sách lược này phải được thực hiện trên quan điểm giai cấp vững vàng- như Người xác định: “Công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ cũng bị tư sản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”. Và “Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”.

    Năm 1941, Nguyễn ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Người đề xuất với Đảng thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Người chủ trị Hội nghị Trung ương tám (5-1941) của Đảng và đã đi đến nghị quyết xác định “lực lượng cách mạng là khối đoàn kết toàn dân tộc”, “không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp- Nhật xâm chiếm nước ta”. Tháng 9-1955, Hồ Chí Minh khẳng định: “Mặt trậnViệt Minh đã giúp cách mạng Tháng Tám thành công”.

    – Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

    Đây là luận điểm quan trọng, chẳng những thể hiện sự vận dụng sáng tạo mà còn là một bước phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh.

    Mác-Ăngghen chưa có điều kiện bàn nhiều về cách mạng giải phóng dân tộc, các ông mới tập trung bàn về thắng lợi của cách mạng vô sản. Năm 1919, Quốc tế III ra đời đã chú ý tới cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng còn đánh giá thấp vai trò của nó và cho rằng thắng lợi của cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc. Ngay Tuyên ngôn thành lập Quốc tế III có viết: “Công nhân và nông dân không những ở An Nam, Angiêri, bengan mà cả ở Ba Tư hay ácmênia chỉ có thể giành được độc lập khi mà công nhân ở các nước Anh và Pháp lật đổ được Lôiit Gioocgiơ và Clêmăngxô, giành chính quyền nhà nước vào tay mình”.

    Cho đến tháng 9-1928, Đại hội VI của Quốc tế III vẫn cho rằng: “Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến”.

    Vận dụng quan điểm của Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng ở thuộc địa, vào tháng 6-1924, Nguyễn ái Quốc cho rằng: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa…, nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các nước thuộc địa”. Vì vậy, nếu khinh thường cách mạng ở thuộc địa tức là “muốn đánh chết rắn đằng đuôi”.

    Trong Điều lệ của hội Liên hiệp lao động quốc tế, Mác viết: “Sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”. Vào năm 1925, khi nói với các dân tộc thuộc địa, một lần nữa Nguyễn ái Quốc khẳng định: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”.

    Theo Nguyễn ái Quốc: “Cách mạng thuộc địa không những phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước” và cách mạng thuộc địa “trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.

    Chỉ có thể bằng chủ động nỗ lực vượt bậc của các dân tộc thuộc địa thì cách mạng giải phóng dân tộc mới giành thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc được. Vì vậy, năm 1945 Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân Việt Nam “phải đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

    – Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang nhân dân.

    + Theo Mác: bạo lực là bà đỡ của mọi chính quyền cách mạng vì giai cấp thống trị bóc lột không bao giờ tự giao chính quyền cho lực lượng cách mạng.

    + Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực được quy định bởi các yếu tố:

    Sự thống trị của thực dân đế quốc ở thuộc địa vô cùng hà khắc, không hề có một chút quyền tự do dân chủ nào, không có cơ sở nào thực hành đấu tranh không bạo lực.

    Cách mạng giải phóng dân tộc là lật đổ chế độ thực dân phong kiến giành chính quyền về tay cách mạng, nó phải được thực hiện bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Như ở Việt Nam, Hồ Chí Minh xác định đó là từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

    + Những sáng tạo và phát triển nguyên lý chủ nghĩa Mác-Lênin về con đường bạo lực ở Hồ Chí Minh là ở chỗ:

    Khởi nghĩa vũ trang đương nhiên phải dùng vũ khí, phải chiến đấu bằng lực lượng vũ trang, nhưng không phải chỉ là một cuộc đấu tranh quân sự, mà là nhân dân vùng dậy, dùng vũ khí đuổi quân cướp nước. Đó là một cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc quan trọng, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại.

    Bởi vậy con đường bạo lực của Hồ Chí Minh là phải xây dựng hai lực lượng chính trị và vũ trang, trước hết là lực lượng chính trị.

    Thực hành con đường bạo lực của Hồ Chí Minh là tiến hành đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, khi điều kiện cho phép thì thực hành đấu tranh ngoại giao; đồng thời phải biết kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao để giành và giữ chính quyền.

    Mặt khác kinh nghiệm của các nước trên thế giới như Trung Quốc, ấn Độ… và của Việt Nam trước năm 1930 cho thấy đấu tranh chống đế quốc thực dân giành độc lập dân tộc chỉ thuần túy đấu tranh vũ trang, hoặc đấu tranh hòa bình đều thất bại.

    Thành công của Cách mạng Tháng Tám và thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã khẳng định tính đúng đắn cách mạng và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta.

    Câu 5: Những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Đảng ta vận dụng những quan điểm đó vào công cuộc đổi mới hiện nay như thế nào?

    1. Những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH.

    Tiếp thu lý luận về đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội do các nhà kinh điển Mác-Lênin vạch ra và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng CNXH trên thế giới cũng như thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã bàn tới những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và con người thể hiện rõ đặc trưng bản chất của CNXH.

    – CNXH có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.

    – CNXH là một chế độ do nhân dân làm chủ. Nhà nước phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân để huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng CNXH.

    – CNXH là một xã hội phát triển cao về văn hoá đạo đức, trong đó người với người là bạn bè, là đồng chí, là anh em, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú, được tạo điều kiện để phát triển hết khả năng sắn có của mình.

    – CNXH là một xã hội công bằng và hợp lý– làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng, các dân tộc đều bình đẳng, miền núi được giúp đỡ để tiến kịp miền xuôi.

    – CNXH là công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Như vậy, theo Hồ Chí Minh, CNXH là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, đạo đức, văn minh, một chế độ xã hội ưu việt nhất trong lịch sử, một xã hội tự do và nhân đạo, phản ánh được nguyện vọng tha thiết của loài người.

    Mục tiêu của CNXH chính là những đặc trưng bản chất của CNXH sau khi được nhận thức để đạt tới trong quá trình xây dựng và phát triển CNXH. Theo Hồ Chí Minh mục tiêu của CNXH ở Việt Nam là:

    – Về chế độ chính trị mà nhân dân ta xây dựng là chế độ do nhân dân làm chủ. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vậy, theo Hồ Chí Minh: Nhà nước của ta phải là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Và Nhà nước phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân, để phát huy tính tích cực và sáng tạo của toàn dân, làm cho mọi công dân Việt Nam thực sư tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng CNXH.

    Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, do vậy Chính phủ, cán bộ công chức phải là đầy tớ chung của nhân dân. từ đó, Hồ Chí Minh yêu cầu người được nhân dân uỷ thác cầm quyền phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải sửa đổi lối làm việc, thường xuyên chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

    Mặt khác Hồ Chí Minh cũng xác định: đã là người chủ phải biết làm chủ- mọi công dân trong xã hội đều có nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng và chấp hành pháp luật, tôn trọng và bảo vệ của công, đồng thời có nghĩa vụ học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt để xứng đáng vai trò của người chủ.

    – Nền kinh tế mà nhân dân ta xây dựng là “một nền XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, được tạo lập trên cơ sở sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất. Nhưng ở thời kỳ quá độ vẫn tồn tại nhiều hình thức sở hữu. từ nông nghiệp đi lên thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá.

    – Phát triển văn hoá là mục tiêu quan trọng của CNXH, thậm chí cần đi trước để dọn đường cho cách mạng công nghiệp. Bởi vậy cán bộ phải có văn hoá làm gốc, công nhân và nông dân phải biết văn hoá.

    – Về quan hệ xã hội thì mục tiêu của CNXH là xây dựng cho được mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Hồ Chí Minh căn dặn: “Muốn xây dựng CNXH, trước hết cần có những con người XHCN”. Đó là những con người có tinh thần và năng lực làm chủ, có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, có kiến thức khoa học- kỹ thuật, có tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

    Xác định được mục tiêu của CNXH còn đòi hỏi phải xác định và phát huy được các động lực của nó thì mới đưa sự nghiệp xây dựng CNXH tới đạt mục tiêu. Theo Hồ Chí Minh động lực của CNXH có các yếu tố vật chất và tinh thần, chúng quan hệ và tác động với nhau. Hệ thống động lực của CNXH, trong đó:

    – Động lực con người- cộng đồng và cá nhân là quan trọng nhất bao trùm lên tất cả. Để phát huy động lực con người cần phải:

    – Phát huy sức mạnh đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc– đây là sức mạnh con người trên bình diện cộng đồng, động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Sức mạnh cộng đồng là sức mạnh của tât cả các tầng lớp nhân dân: công nhân, nông dân, trí thức, kể cả những nhà tư sản dân tộc, các tổ chức và đoàn thể, các dân tộc, các tôn giáo, đồng bào trong nước và đồng bào ở nước ngoài.

    – Phát huy sức mạnh con người với tư cách là cá nhân người lao động. Giữa cộng đồng và cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ và trực tiếp. Có phát huy sức mạnh của cá nhân mới có sức mạnh cộng đồng. Để phát huy sức mạnh cuả cá nhân người lao động, theo Hồ Chí Minh: cần tác động vào nhu cầu và lợi ích của con người; đồng thời phải tác động vào các động lực chính trị- tinh thần. Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc rằng, hành động của con người luôn luôn gắn với nhu cầu và lợi ích của họ. Đi vào CNXH, Người chú ý kích thích động lực mới- là lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động. Người chủ trương thực hiện các cơ chế chính sách để kết hợp hài hoà lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân, như thực hiện khoán, thưởng, phạt đúng đắn và nghiêm  túc trong lao động sản xuất.

    Trong cách mạng, có những lĩnh vực đòi hỏi con người phải chịu sự hy sinh, thiệt thòi- chỉ lợi ích kinh tế ở đây không giải quyết được. Cần có động lực chính trị- tinh thần. Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của người lao động- trong sở hữu, trong quá trình sản xuất và phân phối. Điều này đòi hỏi cán bộ lãnh đạo phải thực hành dân chủ, tuyệt đối không được chuyên quyền, độc đoán. Vì quần chúng thật sự có quyền dân chủ, cán bộ, đảng viên xung phong gương mẫu thì mọi kế hoạch sản xuất sẽ được thực hiện thắng lợi. Từ nước nông nghiệp sản xuất nhỏ đi lên CNXH, Hồ Chí Minh còn nhắc nhở, để phát huy quyền làm chủ phải đặc biệt quan tâm bồi dưỡng ý thức làm chủ, tâm lý làm chủ.

    – Thực hiện công bằng xã hội– là tạo ra động lực cho CNXH. Theo Hồ Chí Minh, thực hiện công bằng xã hội không phải là cào bằng bình quân. Người căn dặn: Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên.

    – Để tạo động lực cho CNXH, còn cần phải sử dụng vai trò điều chỉnh của các nhân tố tinh thần khác: về chính trị, văn hoá, đạo đức, pháp luật. Vì theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng thành công CNXH “cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa cao, một lòng một dạ phấn đấu cho CNXH”. Đi vào CNXH, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý phát triển dân trí, giáo dục và đào tạo. Người đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải có chiến lược khoa học- kỹ thuật, mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập văn hoá và khoa học- kỹ thuật. Mặt khác, con người có quan hệ pháp lý- đạo đức. Con người được giáo dục cao về pháp lý- đạo đức thì khả năng vươn tới cái tốt, cái đẹp, cái đúng càng cao. Do đó, lao động, cống hiến của họ cho CNXH càng tự giác, càng tích cực và hiệu quả hơn.

    Trong xây dựng CNXH có động lực thì cũng có phản động lực. Để phát huy cao độ động lực của CNXH, cần phải khắc phục những trở lực kìm hãm sự phát triển của CNXH. Để làm tốt được đòi hỏi này, theo Hồ Chí Minh thì toàn Đảng, toàn dân, cán bộ, đảng viên phải làm tốt các việc sau:

    – Phải thường xuyên đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Vì nó là kẻ địch hung ác của CNXH, nó là bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm khác. Còn chủ nghĩa cá nhân, CNXH chưa thể thắng lợi hoàn toàn.

    – Phải thường xuyên đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Theo Hồ Chí Minh, tham ô, lãng phí, quan liêu là “bạn đồng minh của thực dân phong kiến”. “Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”. Nó phá hoại động lực quan trọng nhất của CNXH là con người.

    – Phải thường xuyên chống chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết, vô kỷ luật, vì nó làm “giảm suát uy tín và ngăn trở sự nghiệp của Đảng, ngăn trở bước tiến của cách mạng” đi lên CNXH.

    Chủ quan, bảo thủ, giáo điều, lười biếng, không chịu học tập… cũng là những trở lực đối với sự nghiệp xây dựng CNXH mà tất cả mọi người phải luôn luôn cảnh giác và chiến thắng chúng mới tạo điều kiện hình thành và phát triển được động lực của CNXH.

    1. Những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

    Quá độ đi lên CNXH là vấn đề lớn trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như trong thực tiễn khi các nước thực hiện cách mạng XHCN. Theo các nhà kinh điển Mác-Ăngghen thì thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản là một tất yếu khách quan. Đó là thời ký quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH.

    Nhưng khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công ở một nước tư bản trung bình trong nước Nga đa số là tiểu nông thì quan niệm về thời kỳ quá độ đòi hỏi phải được vận dụng và phát triển sáng tạo. Theo Lênin nước Nga sau cách mạng Tháng Mười có thể thực hiện quá độ gián tiếp lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản.

    Quan niệm của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ. Quán triệt quan điểm của Mác-Lênin về thời kỳ quá độ và thực tiễn các nước xây dựng CNXH, khi Việt Nam đi lên CNXH, Hồ Chí Minh lưu ý Đảng ta cần chú ý mấy vấn đề:

    + Cần có nhận thức rõ tính quy luật chung và đặc điểm cụ thể của mỗi nước khi quá độ đi lên CNXH. Hồ Chí Minh đã chỉ ra hai phương thức quá độ chủ yếu là: quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản phát triển lên CNXH; và quá độ gián tiếp từ nghèo nàn lạc hậu, tiếnlên CNXH, qua chế độ dân chủ nhân dân.

    + Đi vào thời kỳ quá độ ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đặc điểm và mâu thuẫn của nó. Theo Người: khi miền Bắc quá độ lên CNXH thì đặc điẻm to nhất là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Đặc điểm này sẽ chi phôi, quy định nội dung con đường, những hình thức và bước đi, cách làm CNXH ở Việt Nam. Từ đặc điểm này, Hồ Chí Minh cho rằng: “Tiến lên CNXH không thể một sớm một chiều. Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục”. “Việt Nam ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi mới xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc”. “CNXH không thể làm mau được mà phải làm dần dần”.

    Mâu thuẫn bao trùm thời kỳ quá độ ở nước ta là mâu thuẫn giữa yêu cầu phải tiến lên xây dựng một chế độ mới có kinh tế công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến với tình trạng lạc hậu kém phát triển, lại phải đối phó với các thế lực cản trở, phá hoại mục tiêu xây dựng thành công CNXH ở nước ta. Vì vậy “Cuộc cách mạng XHCN là một cuộc biến đổi khó khăn và sâu sắc nhất”. Và thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử lâu dài, đầy khó khăn gian khổ.

    + Hồ Chí Minh còn chỉ ra nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ là “phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng XHCN, chúng ta phải cải tạo nền kinh té cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”.

    + Những điều kiện bảo đảm cho CNXH giành thắng lợi trong thời kỳ quá độ cũng như Hồ Chí Minh xác định là:

    Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.

    Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước.

    Phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị- xã hội, gắn bó chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.

    Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu của cách mạng XHCN.

    Xây dựng CNXH có những nguyên lý chung, nhưng nó cũng được diễn ra ở những nước cụ thể với những đặc điểm khác nhau. Bởi vậy để định ra bước đi, biện pháp đi lên CNXH ở Việt Nam, Hồ Chí Minh căn dặn: Phải nắm vững những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng CNXH; phải học hỏi kinh nghiệm của các nước anh em, nhưng không được máy móc giáo điều mà phải biết xuất phát từ những dặc điểm riêng của ta để định ra bước đi và biện pháp phù hợp với truyền thống lịch sử, văn hoá, địa lý, tài nguyên, đất đai và con người Việt Nam.

    + Về bước đi ở thời kỳ quá độ– là vấn đề quá mới mẻ, tuy vậy Hồ Chí Minh cũng đã xác đinh: “Ta xây dựng CNXH từ hai bàn tay trắng đi lên thì khó khăn còn nhiều và lâu dài”. “Phải làm dần dần”, “không thể một sớm một chiều”, ai nói dễ là chủ quan và sẽ thất bại. bởi vậy Hồ Chí Minh chỉ đạo bước đi của thời kỳ quá độ ở Việt Nam là phải qua nhiều bước, “bước ngắn, bước dài, tuỳ theo hoàn cảnh”. “chớ ham làm mau, ham rầm rộ… Đi bước nào vững chắc bước ấy, cứ tiến dần dần”.

    + Về phương pháp, biện pháp, cách làm CNXH là lĩnh vực đòi hỏi tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo cao. Khi miền Bắc đi vào thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những vấn đề cụ thể:

    Bước đi và cách làm phải thể hiện được sự kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam “xây dựng CNXH ở miền Bắc, chiếu cố miền Nam”.

    Khi miền Bắc có chiến tranh thì “vừa sản xuất, vừa chiến đấu”, “vừa chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng CNXH”.

    Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá đi lên CNXH thì phải kết hợp cải tạo với xây dựng trên tất cả các lĩnh vực, mà xây dựng là chủ chốt và lâu dài.

    CNXH là do dân tự xây dựng lấy, vì vậy cách làm là: “đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân”. chính phủ chỉ giúp đỡ kế hoạch chứ không thể làm  thay dân.

    Tổ chức thực hiện bước đi, cách làm là cực kỳ quan trọng. Vì vậy, Hồ Chí Minh nhắc nhở: Muốn kế hoạch thực hiện được tốt thì chỉ tiêu một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi.

    1. Đảng ta vận dụng những quan điểm đó vào công cuộc đổi mới hiện nay.

    Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đạt được những thành tựu quan trọng, tạo ra thế và lực mới cho con đường phát triển XHCN ở nước ta. Cùng với tổng kết thực tiễn, quan niệm của Đảng ta về CNXH, con đường đi lên CNXH  ngày càng sát thực, cụ thể hóa. Nhưng, trong quá trình xây dựng CNXH, bên cạnh những thời cơ, vận hội, nước ta đang phải đối đầu với hàng loạt thách thức, khó khăn cả trên bình diện quốc tế, cũng như từ các điều kiện thực tế trong nước tạo nên. Trong bối cảnh đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH, chúng ta cần tập trung giải quyết những vấn đề quan trọng nhất.

    1. Giữ vững mục tiêu của CNXH.

    Trong điều kiện nước ta, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH, sau khi giành được độc lập dân tộc phải đi lên CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa trong quá trình phát triển của xã hội loài người. chỉ có CNXH mới đáp ứng được khát vọng của toàn dân tộc: độc lập cho dân tộc, dân chủ cho nhân dân, cơm no áo ấm cho mọi người dân Việt Nam. Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.

    Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là tiếp tục con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Đổi mới, vì thế, là quá trình vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, chứ không phải là thay đổi mục tiêu.

    Tuy nhiên, khi chấp nhận kinh tế thị trường, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta phải tận dụng các mặt tích cực của nó, đồng thời phải biêt cách ngăn chặn, phòng tránh các mặt tiêu cực, bảo đảm nhịp độ phát triển nhanh, bền vững trên tất cả mọi mặt đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa; không vì phát triển, tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá mà làm phương hại các mặt khác của cuộc sống con người.

    Vấn đề đặt ra là trong quá trình phát triển vẫn giữ vững định hướng XHCN, biết cách sử dụng các thành tựu mà nhân loại đã đạt được để phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH, nhất là thành tựu khoa học- công nghệ hiện đại, làm cho tăng trưởng kinh tế luôn đi liền với sự tiến bộ, công bằng xã hội, sự trong sạch, lành mạnh về đạo đức, tinh thần.

    1. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ các nguồn lực nhất là nguồn lực nội sinh để công nghiệp hoá- hiện đại hoá.

    Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu mà đất nước ta phải trải qua. Chúng ta phải tranh thủ thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, của điều kiện giao lưu, hội nhập quốc tế để nhanh chóng biến nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Hồ Chí Minh.

    Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: Xây dựng CNXH là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, phải đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân, nghĩa là phải biết phát huy mọi nguồn lực vốn có trong dân để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Theo tinh thần đó, ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải dựa vào nguồn lực trong nước là chính, có phát huy mạnh mẽ nội lực mới có thể tranh thủ sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên ngoài. Trong nội lực, nguồn lực con người là vốn quý nhất.

    Nguồn lực của nhân dân, của con người Việt Nam bao gồm trí tuệ, tài năng, sức lao động, của cải thật to lớn. Để phát huy tốt sức mạnh của toàn dân tộc để xây dựng và phát triển đất nước, cần giải quyết tốt các vấn đề sau:

    – Tin dân, dựa vào dân, xác lập quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế, làm cho chế độ dân chủ được thực hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nhất là ở địa phương, cơ sở, làm cho dân chủ thật sự trở thành động lực của sự phát triển xã hội.

    – Chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    – Thực hiện nhất quán chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, trên cơ sở lấy liên minh công- nông- trí thức làm nòng cốt, tạo nên sự đồng thuận xã hội vững chắc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    1. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

    Xây dựng CNXH phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, tận dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Ngày nay, sức mạnh của thời đại tập trung ở cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, xu thế toàn cầu hóa. Chúng ta phải tranh thủ tối đa các cơ hội do xu thế đó tạo ra để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; phải có cơ chế, chính sách đúng để thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý và công nghệ hiện đại, thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Muốn vậy, chúng ta phải có đường lối chính trị độc lập, tự chủ. Tranh thủ hợp tác phải đi đôi với thường xuyên khơi dậy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính của mọi người Việt Nam nhằm góp phần làm gia tăng tiềm lực quốc gia.

    Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn liền với nhiệm vụ trau dồi bản lĩnh và bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là cho thanh, thiếu niên- lực lượng rường cột của nước nhà, để không tự đánh mất mình bởi xa rời cội rễ dân tộc. Chỉ có bản lĩnh và bản sắc dân tộc sâu sắc, mạnh mẽ đó mới có thể loại trừ các yếu tố độc hại, tiếp thu tinh hoa văn hóa loài người, làm phong phú, làm giàu thêm nền văn hóa dân tộc.

    1. Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy Nhà nước, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thực hiện cần kiệm xây dựng CNXH.

    Thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, phát huy quyền làm chủ của nhân dân cần đến vai trò lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính, một Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân. Muốn vậy, phải:

    – Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, một Đảng “đạo đức, văn minh”. Cán bộ, đảng viên gắn bó máu thịt với nhân dân, vừa là người hướng dẫn, lãnh đạo nhân, vừa hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, gương mẫu trong mọi việc.

    – Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN mạnh mẽ, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia một cách đồng bộ để phục vụ đời sống nhân dân.

    – Bằng các giải pháp thiết thực, cụ thể, hình thành một đội ngũ cán bộ liên khiết, tận trung với nước, tận hiếu với dân; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy chính quyền những “ông quan cách mạng”, lạm dụng quyềnl ực của dan để mưu cầu lợi ích riêng; phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, giữ vững sự ổn định chính trị- xã hội của đất nước.

    – Giáo dục mọi tầng lớp nhân dân ý thức biết cách làm giàu cho đất nước, hăng hái đẩy mạnh tăng gia sản xuất kinh doanh gắn liền với tiết kiệm để xây dựng nước nhà. Trong điều kiện đất nước còn nghèo, tiết kiệm phải trở thành qốc sách, thành một chính sách kinh tế lớn và cũng là một chuẩn mực đạo đức, một hành vi văn hóa như Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Một dân tộc biết cần, biết kiệm” là một dân tộc văn minh, tiến bộ; dân tộc đó chắc chắn sẽ thắng được nghèo nàn, lạc hậu, ngày càng giàu có về vật chất, cao đẹp về tinh thầtổng hợp

    Câu 6: Vì sao Hồ Chí Minh nói: “Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng”?

    Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thấy nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, không những là “bệnh quan liệu hách dịch, vênh váo lên mặt quan cách mệnh”, “đè đầu cưỡi cổ dân” mà cả nhiều thói xấu khác, rất dễ nảy sinh trong cán bộ, dảng viên, nhất là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ địa phương, bè phái; cái thói chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp…, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công…

    Rõ ràng khi cách mạng đã giành được chính quyền và khi từ chiến tranh chuyển sang  hòa bình xây dựng, những yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên càng đòi hỏi phải tăng cường rèn luyện và tu dưỡng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Trước lúc đi xa, Người viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Lời căn dặn cuối cùng của Người đã nói vắn tắt cái điều cốt tử nhất trong xây dựng Đảng cầm quyền, nó quyết định vận mệnh của Đảng, của Nhà nước, vận mệnh của cả chế độ- đó là đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng. Người nói thật dễ hiễu, nhưng là cả một chân lý tuyệt đối: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

    Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của  giai cấp, của dân tộc  và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

    Bác nói: Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liệu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó là biểu hiện của đạo đức cách mạng. Người còn nói: Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn rèn luyện mình để trở thành người có đạo đức cách mạng. Theo đó, Người đã làm giàu truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bằng sự kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức nhân loại; tấm gương đạo đức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nêu cho Người một mẫu mực về sự giản dị và sự khiêm tốn cao độ, Người đã học tập và hành động bởi các tấm gương ấy, với nếp sống giản dị, coi khinh sự xa hoa, yêu lao động, đồng cảm sâu sắc với người cùng khổ, hướng cuộc đấu tranh của mình vào công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng vừa là đạo đức vừa là văn minh”, là người khởi xướng và lãnh đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Muốn tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến đến đích cuối cùng, trước hết Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

    Tự đổi mới, tự chỉnh đốn là khẳng định sự vận động nội tại của Đảng cầm quyền trong quá trình lãnh đạo cách mạng, là sự nhận diện đúng quy luật vận động, phát triển của Đảng. quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,  trên cơ sở đó, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

    Câu 7: Những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về những phẩm chất đạo đức cách mạng? Liên hệ tư tưởng của Người về đạo đức vào việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay?

    1. Những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về những phẩm chất đạo đức cách mạng.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về những phẩm chất đạo đức cách mạng gồm những nội dung cơ bản sau:

    1. Trung với nước, hiếu với dân

    Trong mối quan hệ đạo đức thỡ mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất. Trung, hiếu là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trựm nhất.

    Trung, hiếu là những khái niệm đó cú trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương Đông, xong có nội dung hạn hẹp. “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”, phản ánh bổn phận của dân đối với vua, con đối với cha mẹ. Hồ Chớ Minh đó vận dụng và đưa vào nội dung mới. Hồ Chí Minh đó kế thừa những giỏ trị đạo đức truyền thống và vượt trội. Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nước là của dân, cũn nhõn dõn là chủ của đất nước. “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vỡ dõn”. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

    Trung với nước, hiếu với dân là suốt đời phấn đấu hy sinh vỡ độc lập tự do của Tổ quốc, vỡ CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khú khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bác vừa kêu gọi hành động vừa định hướng chính trị- đạo đức cho mỗi người Việt Nam.

    Đối với cán bộ đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Phải tuyệt đối trung thàmh với Đảng, với dõn, phải tận trung, tận hiếu, thỡ mới xứng đáng vừa là đầy tớ trung thành, vừa là người lónh đạo của dân; dân là đối tượng để phục vụ hết lũng. Phải nắm vững dõn tỡnh, hiểu rừ dõn tõm, cải thiện dõn sinh, nõng cao dõn trớ để dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước.

    Nội dung chủ yếu của trung với nước là:

    – Đặt lợi ích của đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết.

    – Quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu của cách mạng.

    – Thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

    Nội dung của hiếu với dõn là:

    – Khẳng định vai trũ sức mạnh thực sự của nhõn dõn.

    – Tin dân, lắng nghe dân, học dân, tổ chức vận động nhân dân cùng thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

    – Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhõn dõn.

    1. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

    Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người.

    Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thỡ giờ, tiết kiệm tiền của của nhõn dõn, của đất nước, của bản thân mỡnh. Tiết kiệm từ cỏi nhỏ đến cái to; “Không xa sỉ, không hoang phí, không bừa bói,”

    Liờm là “luụn luụn tụn trọng giữ gỡn của cụng và của dõn; khụng xõm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”. Phải trong sạch, không tham lam địa vị, tiền của, danh tiếng, sung sướng. Không tâng bốc mỡnh. Chỉ cú một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Hành vi trái với chữ liêm là:… cậy quyền thế mà đục khoét, ăn của dân, hoặc trộm của công làm của riêng. Dỡm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mỡnh là trộm vị. Gặp việc phải, mà sợ khú nhọc nguy hiểm, khụng dỏm làm là tham uý lạo. Cụ Khổng nói: người mà không liêm, không bằng súc vật. Cụ Mạnh nói: ai cũng tham lợi thỡ nước sẽ nguy.

    Chớnh là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mỡnh, với người, với việc.

    Đối với mỡnh, khụng tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm điểm mỡnh để phát huy điều hay, sửa đổi điều dở.

    Đối với người, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc.

    Đối với việc, để việc công lên trên việc tư, làm việc gỡ cho đến nơi, đến chốn, không ngại khó, nguy hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân cho nước.

    Cần, kiệm, liêm, chính cần thiết đối với tất cả mọi người. Hồ Chí Minh viết:

    “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

    Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

    Người có bốn đức: cần, kiệm, liờm, chớnh

    Thiếu một mựa thỡ khụng thành trời

    Thiếu một phương thỡ khụng thành đất

    Thiếu một đức thỡ khụng thành người”.

    Cần, kiệm, liêm, chính rất cần thiết đối với người cán bộ, đảng viên. Nếu đảng viên mắc sai lầm thỡ sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cỏch mạng. Cần, kiệm, liờm, chớnh cũn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, sự văn minh của dân tộc. “Nó” là cái cần để “làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhõn loại”.

    Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gỡ cũng đừng nghĩ đến mỡnh trước, chỉ biết vỡ Đảng, vỡ Tổ quốc, vỡ nhõn dõn, vỡ lợi ớch của cỏch mạng. Thực hành chớ cụng vụ tư là quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. “phải lo trước thiờn hạ, vui sau thiờn hạ (tiờn thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc). Chủ nghĩa cá nhân chỉ biết đến mỡnh, muốn “mọi người vỡ mỡnh”. Nú là giặc nội xõm, cũn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm. Hồ Chí Minh viết: “ Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lũng dạ khụng trong sỏng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cỏ nhõn”. Hồ Chớ Minh cũng phõn biệt lợi ớch cỏ nhõn và chủ nghĩa cỏ nhõn. Chớ cụng vô tư là tính tốt có thể gồm 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là để vững vàng qua mọi thử thách : “Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

    1. Yêu thương con người

    Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đó xỏc định tỡnh yờu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất.

    Tỡnh yờu rộng lớn dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. Hồ Chí Minh chỉ ham muốn cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chỉ có tỡnh yờu thương con người bao la đến như vậy mới có cách mạng, mới nói đến CNXH và CNCS.

    Nghiờm khắc với mỡnh, độ lượng với người khác. Phải có tỡnh nhõn ỏi với cả những ai cú sai lầm, đó nhận rừ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gỡ tốt đẹp trong mỗi con người. Bác căn dặn Đảng phải có tỡnh đồng chí thương yêu lẫn nhau, trên nguyên tắc tự phê bỡnh và phờ bỡnh chõn thành.

    Tỡnh yờu thương con người cũn là tỡnh yờu bạn bố, đồng chí, có thái độ tôn trọng con người, điều này có ý nghĩa đối với người lónh đạo.

    1. Tinh thần quốc tế trong sỏng, thuỷ chung

    Đó là tinh thần quốc tế vô sản, bốn phương vô sản đều là anh em. Đó là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước. Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ trên thế giới vỡ hoà bỡnh, cụng lý và tiến bộ xó hội. Sự đoàn kết là nhằm vào mục tiêu lớn của thời đại hoà bỡnh, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xó hội.

    2. Liên hệ tư tưởng của Người về đạo đức vào việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô cùng quý báu, những tư tưởng vô giá, những giá trị nhân văn cao cả, đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng của Người mãi là ánh sáng soi đường cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

    Đối với thế hệ trẻ những chủ nhân tương lai của đất nước, lớp người kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một niềm vinh dự đồng thời là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cần thiết.

    Học tập tấm gương đạo đức cách mạng vĩ đại của Người gắn với những việc làm, những hành động cụ thể, để những tư tưởng, đạo đức vĩ đại của Người thấm sâu, tỏa sáng trong mỗi chúng ta. Nhiệm vụ đầu tiên của tuổi trẻ hôm nay đó là phát huy nhiệt huyết sức trẻ, trí tuệ thực hiện thành công lý tưởng của Đảng, của Bác: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta.

    Không ngừng mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên, chú trọng thanh niên dân tộc, tôn giáo vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh. Đoàn kết tập hợp thanh niên là một bộ phận không tách rời khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quê hương. Mỗi một đoàn viên thanh niên cần phải thường xuyên nhận thức sâu sắc về rèn luyện tu dưỡng đạo đức, gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. Vấn đề quan trọng nhất là công tác giáo dục của Đoàn phải thực hiện tốt hơn, chức năng giáo dục bồi dưỡng hình thành nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ với những tiêu chí hướng tới: Sống có lý tưởng cách mạng, có hoài bão, trí tuệ, bản lĩnh, lối sống trong sáng, giàu lòng nhân ái, giàu nhiệt huyết góp phần quan trọng hình thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    Mỗi một đoàn viên thanh niên cần nhận thức sâu sắc về vấn đề học tập, nâng cao trình độ trong hội nhập và phát triển. Người đã từng dạy: “Học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà”.

    Học tập và làm theo tấm gương đạo đức vĩ đại của Người đối với tuổi trẻ chúng ta là một nhiệm vụ chính trị quan trọng được tiến hành thường xuyên liên tục lâu dài, với mục tiêu là thấm nhuần, là một quá trình từ nhận thức đi đến hành động. Các cấp bộ Đoàn phải thường xuyên tổ chức học tập tư tưởng đạo đức của Người phù hợp từng đối tượng. Cần phải sáng tạo các hình thức học tập để không khô cứng giáo điều mà sinh động hấp dẫn lôi cuốn mọi người. Tư tưởng của Người thật vĩ đại nhưng vô cùng gần gũi trong đời sống do đó cần chọn lựa các cách thức để đi vào lòng người trở thành hoạt động thiết thực trong cuộc sống. Nên đa dạng các hình thức học tập, giáo dục hấp dẫn có hiệu quả như diễn đàn, hội thi… các chuyên đề sinh hoạt tư tưởng, sử dụng các hình thức văn hóa, văn nghệ có hiệu quả để đưa tư tưởng đạo đức của Người đến với thanh niên một cách sinh động.

    Điều quan trọng hơn hết là sự định hướng của tổ chức Đoàn cho mỗi đoàn viên thanh niên luôn tự giác học tập và rèn luyện theo tấm gương đạo đức của Người, tìm thấy trong những lời dạy bảo ân cần của Người các giá trị định hướng cho suy nghĩ và hành động của bản thân.

    Mãi mãi các thế hệ thanh niên Việt Nam luôn khắc ghi lời dạy của Người

    Không có việc gì khó

    Chỉ sợ lòng không bền

    Đào núi và lấp biển

    Quyết chí ắt làm nên

    Bài học tinh thần về nghị lực phi thường vượt qua mọi khó khăn của Bác luôn sẽ là động lực thúc đẩy thế hệ trẻ hôm nay vươn tới giành những đỉnh cao trong sự nghiệp vĩ đại của toàn dân tộc.

    Câu 8: Cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc?

    Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn hết sức quan trọng.

    Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên những cơ sở lý luận và thực tiễn như sau:

    1. Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã xây dựng nên truyền thống yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc. Truyền thống này đã thành cách tư duy, hành động và tạo ra sức mạnh vô địch của dân tộc.

    Tình cảm tự nhiên của người Việt Nam là yêu nước- nhân nghĩa – đoàn kết. Dân ta thường trao truyền cho nhau tình cảm:

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.

    Dạy cho nhau triết lý nhân sinh:

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

    Tổng kết thành phép ứng xử và tư duy chính trị.

    Tình làng, nghĩa nước

    Nước mất thì nhà tan

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh.

    Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân…

    Tổ chức xã hội truyền thống Việt Nam là biểu tượng của lý tưởng đoàn kết gắn bó cộng đồng: Nhà – Làng- Nước, tạo ra sức mạnh giữ vững độc lập và thịnh vượng của dân tộc.

    Các bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã tiếp nối truyền thống đoàn kết dân tộc thể hiện trong tập hợp lực lượng dân tộc chống thực dân Pháp đã để lại những tư tưởng, cách thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc được Hồ Chí Minh tiếp thu phát triển.

    Hồ Chí Minh từ rất sớm đã hấp thụ được những truyền thống yêu nước- nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc.

    1. Những kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, cách mạng của nhiều nước trên thế giới được Hồ Chí Minh nghiên cứu, rút ra những bài học cần thiết- đó là cơ sở thực tiễn không thể thiếu được trong hình thành tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh.

    Những phong trào chống thực dân Pháp của nhân dân ta từ cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX là cuộc đấu tranh bi hùng, vô cùng oanh liệt nhưng đều thất bại. Chứng kiến thực tiễn đó, đã giúp cho Hồ Chí Minh thấy được những hạn chế trong việc tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối, cũng như những yêu cầu khách quan mới của lịch sử dân tộc.

    Năm 1911, Hồ Chí Minh bắt đầu thực hiện cuộc khảo sát toàn thế giới, từ các nước tư bản đến các nước thuộc địa. Người nghiên cứu nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp. Người nhìn rõ sức mạnh tiềm ẩn của các dân tộc thuộc địa là vô cùng to lớn. Nhưng họ rơi vào thế đơn độc, họ chưa có lãnh đạo, chưa biết đoàn kết, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức đoàn kết.

    Hồ Chí Minh tới tận nước Nga nghiên cứu cách mạng Tháng Mười. Điều đó đã giúp Người hiểu rõ thế nào là cuộc “cách mạng đến nơi” để rút ra kinh nghiệm tập hợp lực lượng cho cách mạng Việt Nam.

    Nghiên cứu cách mạng Trung Quốc, ấn Độ, Hồ Chí Minh đã rút được nhiều bài học bổ ích để tập hợp lực lượng cho cách mạng Việt Nam như đoàn kết dân tộc, các giai tầng, các đảng phái, các tôn giáo…

    1. Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, giai cấp vô sản phải trở thành dân tộc, liên minh công nông, đoàn két dân tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế… đã trở thành cơ sở lý luận quan trọng nhất đối với quá trình hình thành tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.

    Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường tự giải phóng cho dân tộc, thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng của dân tộc và trên thế giới để giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc.

    Câu 9: Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc? Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa cần lưu ý những vấn đề gì khi xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc?

    1. Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nhiều quan điểm- có quan điểm mang tính nền tảng, có quan điểm mang tính nguyên tắc, có quan điểm mang tính phương pháp đại đoàn kết. Dưới đây là những quan điểm chủ yếu của Người.

    1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.

    Với Hồ Chí Minh đại đoàn kết dân tộc không phải là sách lược, không phải là thủ đoạn chính trị mà là chính sách dân tộc, là vấn đề chiến lược của cách mạng.

    Bởi vậy, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của dân tộc. “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”. Đoàn kết là điểm mẹ. “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

    1. Đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.

    Hồ Chí Minh nói với dân tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc”. Bởi vậy tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ.

    Xét về bản chất thì đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Nhận thức rõ điều đó, Đảng tiên phong cách mạng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch của quần chúng thực hiện mục tiêu cách mạng của quần chúng.

    Như vậy đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc.

    1. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.

    Trước hết, khái niệm dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh được đề cập với nghĩa rất rộng- vừa với nghĩa là cộng đồng, “mọi con dân nước Việt”, vừa với nghĩa cá thể “mỗi một con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, không phân biệt “già, trẻ, gái, trai, giàu nghèo, quý tiện”. ở trong nước hay ở ngoài nước đều là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc. Như vậy Hồ Chí Minh đã dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam.

    Đại đoàn kết toàn dân, theo Hồ Chí Minh thì phải bằng truyền thống dân tộc mà khoan dung, độ lượng với con người, mà đoàn kết ngay với những người lầm đường, lạc lỗi, nhưng đã biết hối cải, không được đẩy họ ra khỏi khối đoàn kết. Muốn vậy, cần xoá bỏ hết thành kiến, cần thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân.

    Đại đoàn kết toàn dân, theo Hồ Chí Minh là cần phải có lòng tin ở nhân dân, tin rằng hễ là người Việt Nam “ai cũng có ít nhiều tấm lòng yêu nước” mà khơi dậy và đoàn kết với nhau vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân.

    Đoàn kết toàn dân tộc, toàn dân phải được xây dựng trên nền tảng “trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của địa đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, cái gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”. Người còn chỉ ra lực lượng nòng cốt tạo ra cái nền tảng ấy “là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất”. Về sau, Người xác định thêm: lấy liên minh công nông- lao động trí óc làm nền tảng cho khối đoàn kết toàn dân.

    1. Đại đoàn kết dân tộc phải có tổ chức, có lãnh đạo

    Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh trở thành chiến lược đại đoàn kết của cách mạng Việt Nam, hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất, tạo ra sức mạnh to lớn quyết định thắng lợi của cách mạng.

    Ngay từ dầu, Hồ Chí Minh đã chú ý tập hợp người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài vào các tổ chức phù hợp với giai tầng, từng giới, từng ngành nghề, từng lứa tuổi, từng tôn giáo, phù hợp từng thời kỳ cách mạng. Tất cả được tập hợp thành Mặt trận dân tộc thống nhất để liên kết và phát huy sức mạnh của toàn dân. Tuỳ thời kỳ lịch sử mà Mặt trận dân tộc thống nhất có tên gọi khác nhau.

    Mặt trận dân tộc thống nhất hình thành được và hoạt động được phải trên cơ sở những nguyên tắc: 1- Mặt trận phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông và lao động trí óc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. 2- Mặt trận hoạt động trên nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc và lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng. 3- Đoàn kết lâu dài, chặt chẽ thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

    1. Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế

    Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm xác định: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng chỉ có thể thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Trong mối quan hệ này phải được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.

    Ngay khi thành lập Đảng (1930), Hồ Chí Minh đã viết trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là cách mạng Việt Nam “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Tư tưởng này đã soi sáng và được cụ thể hoá suốt chiều dài lãnh đạo cách mạng của Đảng về sau, tiêu biểu là hình thành ba tầng Mặt trận ở thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

    Có thể thấy đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là một nhân tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.

    1. Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cần lưu ý những vấn đề gì khi xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

    Ngày nay, chúng ta phải tiếp tục xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, phát huy cao độ tiềm năng của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước phải vững mạnh, kinh doanh có hiệu quả, giữ vai trò chủ đạo. Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng, đồng thời tích cực xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc đời sống những gia đình có công với nước, những người có số phận rủi ro, quan tâm hơn nữa việc phát triển kinh tế – xã hội của vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân, đồng bào ở trong nước cũng như đồng bào định cư ở nước ngoài vì sự nghiệp chung. Trong nhận thức cũng như trong hành động, phải thật sự xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ, thành phần, giai cấp, nghề nghiệp, vị trí xã hội, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai để xây dựng và bảo vệ  Tổ quốc.

    Phát huy hơn nữa nền dân chủ XHCN gắn liền với việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức và hình thức dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và tự quản của nhân dân. Thực hiện tốt sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội, thực sự coi trọng lợi ích trực tiếp của người lao động. Lấy việc xây dựng bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức thực sự của dân, do dân, vì dân là tiền đề xây dựng nền dân chủ XHCN.

    Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta không ngừng tăng cường nền quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, đặc biệt chú trọng xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững chắc, xây dựng an ninh nhân dân, tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tăng cường sức mạnh tổng hợp để bảo về vững chắc nền độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của nhân dân, chế độ XHCN.

    Chúng ta tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, và đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển. Chúng ta ra sức giữ vững môi trường hòa bình và tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu, hợp tác trên các linh vức khác vừa phát huy cao độ nội lực vừa tranh thủ tốt nhất mọi nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Câu 10: Phân tích làm sáng tỏ những quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hoá? Vận dụng những quan điểm đó của Người vào việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay?

    1. Những quan điểm chung của Hồ Chí Minh về văn hoá

    “Vỡ lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đó sản sinh ra nhằm thớch ứng những nhu cầu đời sống và đũi hỏi của sự sinh tồn”.

    1. Quan niệm về vị trớ, vai trũ của văn hoá: Văn hoá là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là đời sống tinh thần của xó hội. Chớnh trị, xó hội được giải phóng thỡ văn hoá mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hoá phát triển. Hồ Chí Minh đó vạch ra đường lối: Phải tiến hành cách mạng chính trị trước, cụ thể là cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính quyền, từ đó giải phóng văn hoá, mở đường cho văn hoá phát triển. “Xó hội thế nào thỡ văn hoá thế ấy. Văn nghệ của ta rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến nhân dân ta bị nô lệ, thỡ văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được”. Người dự định xây dựng văn hoá với 5 nội dung lớn:

    (1) Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.

    (2) Xõy dựng luõn lý: biết hy sinh mỡnh, làm lợi cho quần chỳng.

    (3) Xõy dựng xó hội: mọi sự nghiệp liờn quan đến phúc lợi của nhân dân trong xó hội.

    (4) Xõy dựng chớnh trị: dõn quyền

    (5) Xõy dựng kinh tế”.

    Văn hoá là một kiến trúc thượng tầng nhưng không thể đứng ngoài, mà nó phải ở trong kinh tế và chính trị. Văn hoá phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. Tuy “kinh tế có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết được”, nhưng văn hoá phát triển không thụ động, văn hoá có tính tích cực chủ động, nó đóng vai trũ to lớn thỳc đẩy kinh tế và chính trị phát triển như một động lực. “Văn hoá ở trong chính trị” tức là văn hoá phải tham gia nhiệm vụ chính trị, tham gia cách mạng, kháng chiến và xây dựng CNXH. “Vănhoá ở trong kinh tế” tức là văn hoá phải phục vụ, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. “Văn hoá ở trong kinh tế và chính trị” cũng có nghĩa là chính trị và kinh tế phải có tính văn hoá.

    Văn hoá có quan hệ mật thiết với kinh tế, chính trị, xó hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xó hội và phải nhận thức như sau:

    – Văn hoá quan trọng ngang kinh tế, chính trị, xó hội.

    – Chớnh trị, xó hội cú được giải phóng thỡ văn hoá mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hoá phát triển.

    – Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hoá.

    – Văn hoá là kiến trúc thượng tầng, nó phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế.

    Trong kháng chiến, Người định hướng hoạt động văn hoá, thực hiện khẩu hiệu: “văn hoá hoá kháng chiến, kháng chiến hoá văn hoá”, những người hoạt động văn hoá cũng là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá.

    1. Quan điểm về tính chất của nền văn hoá mới

    Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, nền văn hoá thể hiện:

    – Tính dân tộc, đặc tính dân tộc hay cốt cách dân tộc là cỏi tinh tuý, đặc trưng riêng của văn hoá dân tộc. Cốt cách văn hoá dân tộc không phải “nhất thành bất biến”, mà có phát triển và bổ sung nét mới.

    – Tính khoa học của nền văn hoá thuận với trào lưu tiến hoá của tư tưởng hiện đại: hoà bỡnh, độc lập dân tộc, dõn chủ và tiến bộ xó hội. Những người làm văn hoá phải có trí tuệ, hiểu biết khoa học tiên tiến, phải có chiến lược xây dựng văn hoá mang tầm thời đại.

    – Tính đại chúng của nền văn hoá là phục vụ nhân dân, phù hợp nguyện vọng của nhân dân, đậm đà tính nhân văn.

    Trong cỏch mạng xó hội chủ nghĩa, nền văn hoá thể hiện:

    – Nội dung xó hội chủ nghĩa: tiờn tiến, tiến bộ, khoa học, hiện đại, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

    – Tính dân tộc của nền văn hoá là giữ gỡn, kế thừa và phỏt huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với điều kiện lịch sử mới.

    1. Quan điểm về chức năng của văn hoá

    Một là, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức đúng đắn và tỡnh cảm cao đẹp cho con người. Người thường xuyên quan tâm đến bồi dưỡng lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đó là chức năng cao quý của văn hoá. Hồ Chí Minh nói phải làm cho văn hoá soi đường cho quốc dân đi, đi sâu vào tâm lý quốc dân, để xây dựng tỡnh cảm lớn cho con người.

    Hai là, nâng cao dân trí, “mọi người phải hiểu biết quyền lợi của mỡnh… phải cú kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” Khi miền Bắc quá độ lên CNXH, Người nói “chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống vui tươi hạnh phúc.”

    Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người vươn tới chân- thiện- mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mỡnh.

    1. Vận dụng những quan điểm đó của Người vào việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay?

    Nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là xây dựng con người Việt Nam  trong giai đoạn cách mạng mới với những nội dung sau:

    – Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    – Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.

    – Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần, kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

    – Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

    – Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.

    Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế. Phải nhận thức giao lưu, hội nhập và một xu thế tất yếu khách quan hiện nay, nhưng chứa đựng trong đó cả mặt tích cực và tiêu cực. Mở rộng giao lưu, hội nhập trên cơ sở lấy bản sắc dân tộc làm nền tảng. Cần nhìn nhận văn hóa trong mối quan hệ với phát triển.

    Phải đấu tranh chống sự xâm nhập của những yếu tố phản văn hóa. Chống khuynh hướng hòa tan giá trị, áp đặt giá trị văn hóa ngoại lai, từng bước hủy hoại nhân cách con người, đầu độc nhân dân, trước hết là lớp trẻ.

    Câu 11: Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam?

    Theo các nhà kinh điển Mác-Lênin, Đảng Cộng sản ra đời là sản phẩm của sự kết hợp của lý luận CNXH khoa học với phong trào công nhân. Tức là khi phong trào công nhân tiếp nhận lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở lý luận của phong trào làm cho nó phát triển và đến độ nhất định thì chính phong trào công nhân đòi hỏi có bộ tham mưu- tức Đảng của giai cấp vô sản ra đời để dẫn dắt phong trào cách mạng của giai cấp công nhân tiếp tục phát triển đi tới đích là chủ nghĩa cộng sản.

    Vận dụng nguyên lý này của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Có luận điểm sáng tạo và phát triển này, trước hết ta thấy ở Hồ Chí Minh có sự hiểu sâu sắc những luận điểm của Mác là giai cấp công nhân “phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc”, “tự mình trở thành dân tộc” thì mới lãnh đạo cách mạng thắng lợi ngay trên đất nước mình. Mặt khác, Hồ Chí Minh hiểu đúng đắn thực tiễn Việt Nam khi đó, giai cấp công nhân mới ra đời, còn ít về số lượng, phong trào công nhân còn non yếu, nếu chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ đi vào phong trào công nhân không thôi thì chưa đủ. Trong khi đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một động lực lớn của đất nước, phong trào yêu nước Việt Nam có sớm và mạnh mẽ. Từ chủ nghĩa yêu nước có thể đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là con đường của Hồ Chí Minh cũng là con đường của nhiều người Việt Nam khác, khi họ nhận rõ đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì dân tộc sẽ được độc lập, nhân dân sẽ được tự do hạnh phúc.

    Thực tiễn khi Nguyễn ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân đồng thời truyền vào phong trào yêu nước Việt Nam thì phong trào cách mạng Việt Nam từ 1925 chuyển hướng mạnh mẽ theo xu hướng vô sản. Khi phong trào lên cao đã đòi hỏi phải có Đảng tiên phong dẫn đường. Đáp ứng đòi hỏi khách quan đó, ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

    Câu 12: Phân tích những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam? Vận dụng những nguyên tắc xây dựng Đảng của Người vào việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta hiện nay?

    1. Nhứng nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Cách mạng Việt Nam đi từ tự phát đến tự giác, có tổ chức, có đường lối được giác ngộ CNXH Mác-Lênin giành thắng lợi to lớn đó là nhờ có Đảng Cộng sản Việt Nam.

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định hàng đầu đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi

    Vận dụng sỏng tạo lý luận của chủ nghĩa Mỏc Lờnin và kế thừa truyền thống dõn tộc, Hồ Chớ Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhưng quần chúng phải được giác ngộ, được tổ chức và được lónh đạo theo một đường lối đúng đắn mới trở thành lực lượng to lớn của cách mạng – như con thuyền có người cầm lái vững vàng… thỡ thuyền mới vượt qua được gió to sóng cả để đi đến bến bờ. Bác nhấn mạnh “cách mạng trước hết phải cú gỡ? Phải cú Đảng Cách mệnh, để trong thỡ vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thỡ liờn lạc với dõn tộc bị ỏp bức và vụ sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thỡ con thuyền mới chạy.”

    Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng mạng mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, là đội tiền phong của giai cấp công nhân, có khả năng đoàn kết tập hợp các tầng lớp nhân dân khác làm cách mạng. Đảng là đội tiền phong dũng cảm và là đội tham mưu sáng suốt. Đảng Cộng sản Việt Nam tận tâm, tận lực phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trung thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân và của dân tộc. Mục tiêu phấn đấu của Đảng là độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho mọi người.

    “Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có đảng lónh đạo để nhận rừ tỡnh hỡnh, đường lối và định phương châm cho đúng”.

    Cách mạng là cuộc đấu tranh gian khổ. Kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thỡ quần chỳng phải tổ chức chặt chẽ, chớ khớ phải kiờn quyết. Vỡ vậy, phải cú Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, đánh kẻ địch giành chính quyền. Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng”.

    2. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước

    Đây chính là quy luật hỡnh thành và phỏt triển Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là sự bổ sung sáng tạo vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin. Vỡ sao Hồ Chớ Minh lại thờm yếu tố phong trào yờu nước?

    1. Phong trào yêu nước có vị trí, vai trũ cực kỳ to lớn trong quỏ trỡnh phỏt triển của dõn tộc Việt Nam.
    2. Phong trào công nhân kết hợp với phong trào yêu nước vỡ nú đều có mục tiêu chung. Phong trào yêu nước Việt Nam là phong trào rộng lớn nhất có trước phong trào công nhân từ nghỡn năm lịch sử. Nó cuốn hút mọi tầng lớp nhân dân, toàn dân tộc đứng lên chống kẻ thù. Phong trào công nhân ngay từ khi mới ra đời đó kết hợp với phong trào yờu nước. Khác với những người cộng sản phương Tây, Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam đó đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp.
    3. Phong trào nông dân kết hợp với phong trào công nhân ngay từ đầu. Hơn 90% dân số là nông dân, họ là bạn đồng minh tự nhiên của giai cấp công nhân.
    4. Phong trào yêu nước của trí thức Việt Nam là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự kết hợp các yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Quy luật hỡnh thành đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở kết hợp vấn đề dân tộc với giai cấp, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trỡnh hỡnh thành Đảng ở một nước thuộc địa. Đảng định hướng đúng đắn và thúc đẩy phong trào cách mạng. Hồ Chí Minh tỡm cỏch truyền bỏ chủ nghĩa Mỏc-Lờnin vào trong dõn, vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân. Bác viết “không phải mọi người yêu nước đều là cộng sản, việc tiếp nhận đường lối của Đảng cộng sản là cần thiết để xác định mục tiêu yêu nước đúng đắn. Mỗi người cộng sản trước hết phải là một người yêu nước tiờu biểu, phải truyền bỏ chủ nghĩa Mỏc-Lờnin vào trong dõn, lónh đạo công nhân và quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng”.

    3. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam

    Từ quy luật hỡnh thành và phát triển đảng, Hồ Chí Minh đó đi đến luận điểm Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân đồng thời là Đảng của cả dân tộc Việt Nam. Đảng là đội tiền phong của đạo quân vô sản, Đảng tập hợp vào hàng ngũ của mỡnh những người “tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trỡnh Đảng và quốc tế cộng sản… dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận của Đang”.

    Tháng 2/1951, Bác viết: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dõn tộc là một. Chớnh vỡ Đảng là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cho nên nó phải là Đảng của cả dân tộc Việt Nam”.

    Năm 1961, Bác viết: “Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc không thiên tư, thiên vị.”

    Đảng mang bản chất giai cấp công nhân thể hiện không chỉ ở số lượng đảng viên xuất thân từ giai cấp công nhân mà ở nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác Lênin. Mục tiêu và đường lối của đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xó hội vỡ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Đảng tuân thủ theo nguyên tắc đảng kiểu mới của Lênin. Đảng kết nạp những người ưu tú của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và các thành phần khác mà họ đó được rèn luyện, thử thách, giác ngộ về Đảng và tự nguyện chiến đấu trong hàng ngũ của Đảng. Đảng đặc biệt chú ý giỏo dục, rốn luyện đảng viên, giác ngộ giai cấp và dân tộc, nâng cao hiểu biết chủ nghĩa Mác Lênin. Đảng ta là sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc, lợi ích của giai cấp gắn với lợi ớch của dõn tộc. “Nhân dân và cả dân tộc thừa nhận đảng là người lónh đạo duy nhất, đại biểu cho quyền lợi cơ bản và thiết thân của mỡnh.”

    Bản chất giai cấp của Đảng cũn thể hiện ở định hướng xây dựng Đảng thành Đảng gắn bó máu thịt với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc trong mọi giai đoạn, mọi thời kỳ của cách mạng Việt Nam.

    4. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin “làm cốt”

    Theo Bác “… chỉ có đảng nào theo lý luận cách mạng tiền phong, đảng cách mạng mới làm nổi trách nhiệm cách mạng tiền phong”, “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy” “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”… Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức và giải phóng con người nói chung, đồng thời là học thuyết về sự phát triển xó hội lờn một hỡnh thỏi cao hơn, xoá bỏ hoàn toàn bất công, nguồn gốc đẻ ra sự bóc lột, áp bức. “Chủ nghĩa Mác-Lênin là lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo đảng chúng tôi, làm cho đảng chúng tôi có thể trở thành hỡnh thức tổ chức cao nhất của quần chỳng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc chúng tôi”.

    Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt có nghĩa là Đảng ta nắm vững tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời nắm vững tinh hoa văn hoá dân tộc và trí tuệ thời đại vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Không máy móc, kinh viện, giáo điều.

    Trong tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh lưu ý những điểm sau đây:

    – Học tập, nghiờn cứu, tuyờn truyền chủ nghĩa Mỏc-Lờnin phải luụn phự hợp với hoàn cảnh và từng đối tượng.

    – Vận dụng phải phự hợp từng hoàn cảnh.

    – Chú ý học tập, kế thừa kinh nghiệm tốt của các Đảng cộng sản khác, tổng kết kinh nghiệm của mỡnh để bổ sung cho chủ nghĩa Mác-Lênin.

    – Đảng tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sỏng của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin.

    5. Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng theo nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp vô sản:

    1. Tập trung dõn chủ

    Đây là nguyên tắc cơ bản của tổ chức Đảng. Tập trung là thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên chấp hành nghị quyết của tổ chức Đảng. “Đảng tuy nhiều người, nhưng khi tiến hành thỡ chỉ như một người”.

    Dõn chủ là của “của quý bỏu của nhõn dõn”, là thành quả của cỏch mạng. Tất cả mọi người được tự do bày tỏ ý kiến của mỡnh, gúp phần tỡm ra chõn lý. Phải phỏt huy dõn chủ nội bộ nếu khụng sẽ suy yếu từ bờn trong.

    1. Tập thể lónh đạo, cá nhân phụ trách

    Tập thể lónh đạo, nhiều người thỡ thấy hết mọi việc, hiểu hết mọi mặt của vấn đề, có nhiều kiến thức, tránh tệ bao biện, quan liêu, độc đoán, chủ quan. “Việc gỡ đó bàn kỹ lưỡng rồi , kế hoạch định rừ ràng rồi, thỡ cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”.

    Cỏ nhõn phụ trách, sau khi bàn bạc kỹ lưỡng thỡ phải giao cho một người phụ trách (nếu là nhóm người thỡ cú một người phụ trách chính) để tránh bừa bói, lộn xộn, vụ chớnh phủ dễ hỏng việc.

    1. Tự phờ bỡnh và phờ bỡnh:

    Đây là nguyên tắc sinh hoạt đảng, là quy luật phát triển đảng. Tự phê bỡnh là mỗi đảng viên phải tự thấy rừ mỡnh để phát huy mặt ưu điểm, khắc phục nhược điểm. Tự phê bỡnh mà tốt thỡ mới phờ bỡnh người khác được. “muốn đoàn kết trong Đảng, phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bỡnh và phờ bỡnh”. Đó là vũ khí sắc bén để rèn luyện đảng viên.

    “Một đảng mà giấu diếm khuyết điểm đó là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mỡnh, vạch rừ những cỏi đó vỡ đâu mà có khuyết điểm đó, xét rừ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tỡm cỏch để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

    Thái độ, phương pháp tự phê bỡnh và phờ bỡnh thật đúng và nghiêm túc không phải dễ dàng. Nó là vấn đề khoa học và nghệ thuật cách mạng. “Phải tiến hành thường xuyên như rửa mặt hàng ngày: phải trung thực, chân thành, thẳng thắn, không nể nang, không giấu giếm và cũng không thêm bớt khuyết điểm, phải có tỡnh đồng chí yêu thương lẫn nhau”. Cán bộ, đảng viên phải luôn dùng và khéo dùng. Để thực hiện tốt nguyên tắc này mọi người cần trung thực chân thành với nhau – với chính mỡnh và với người khác, “phải cú tỡnh đồng chí yêu thương lẫn nhau”. Bỏc nhắc, trỏnh lợi dụng phờ bỡnh để nói xấu nhau, bôi nhọ nhau, đả kích nhau…

    1. Kỷ luật nghiờm minh và tự giỏc. Đây là nguyên tắc đảng kiểu mới do Lênin đề ra, đảng thực sự là một tổ chức chiến đấu chặt chẽ để giành thắng lợi cho sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xó hội. Hồ Chớ Minh coi trọng xõy dựng kỷ luật nghiờm minh và tự giỏc trong Đảng để tạo nên sức mạnh to lớn cho Đảng.

    Nghiêm minh là thuộc về tổ chức đảng, kỷ luật đối với mọi đảng viên không phân biệt. Mọi đảng viên đều bỡnh đẳng trước kỷ luật Đảng.

    Tự giác là thuộc về mỗi cá nhân cán bộ đảng viên đối với Đảng. Kỷ luật này do lũng tự giỏc của họ về nhiệm vụ của họ đối với Đảng. Yêu cầu cao nhất của kỷ luật đảng là chấp hành các chủ trương, nghị quyết của Đảng tuân theo nguyên tắc tổ chức, lónh đạo và sinh hoạt Đảng. “mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật đảng, mà cả kỷ luật của đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng.”

    1. Đoàn kết thống nhất trong Đảng

    “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta, của nhân dân ta…phải giữ gỡn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gỡn con ngươi của mắt mỡnh.” Cơ sở để đoàn kết nhất trí trong Đảng chính là đường lối, quan điểm của Đảng, điều lệ của Đảng. “Ngày nay, sự đoàn kết trong đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lónh đạo”.

    6. Tăng cường và củng cố mối quan hệ bền chặt giữa Đảng với dân.

    Hồ Chí Minh yêu cầu tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa đảng với dân như sau:

    (1) Đảng thường xuyên lắng nghe ý kiến của dõn, khắc phục bệnh quan liờu.

    (2)Thường xuyên vận động nhân dân tham gia xây dựng đảng dưới mọi hỡnh thức.

    (3) Đảng có trỏch nhiệm nõng cao dõn trớ.

    (4) Trong quan hệ với dân, Đảng không được theo đuôi quần chúng.

    7. Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới làm cho đảng thật sự trong sạch, vững mạnh

    Đảng là đạo đức, là văn minh tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới trong điều kiện Đảng cầm quyền. Chỉnh đốn chú ý những vấn đề sau:

    – Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức xứng đáng là người lónh đạo của nhân dân.

    – Cán bộ đảng viên phải toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, có đức, có tài.

    – Chỳ ý khắc phục tiờu cực, luụn giữ gỡn Đảng trong sạch, vững mạnh.

    – Đảng phải vươn lên đáp ứng yêu cầu tỡnh hỡnh và nhiệm vụ mới.

    1. Vận dụng những nguyên tắc xây dựng Đảng của Người vào việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta hiện nay?

    Một trong những vấn đề bức xúc và cấp thiết hiện nay là phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch và vững mạnh ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Phải nâng cao sức chiến đấu và vai trũ lónh đạo của Đảng, để Đảng luôn đi tiên phong về lý luận và hoạt động thực tiễn. Đó không chỉ là nguyện vọng thiết tha của toàn thể nhân dân mà cũn là yờu cầu tất yếu của lịch sử. Sự thật này sẽ tồn tại và phỏt triển bất chấp mọi õm mưu và hành động phá hoại của kẻ thù. Do vậy, ghi sâu lời căn dặn, “ lý luận tạo cho các đồng chí làm công tác thực tế, sức mạnh định hướng, sự sáng suốt dự kiến tương lai, kiên định trong công tác và lũng tin ở thắng lợi của sự nghiệp của chỳng ta” (9), kiờn định lý tưởng cộng sản và lập trường chính trị, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) – những người cộng sản Việt Nam đó tự đổi mới. Khởi xướng và trong 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng Cộng sản Việt Nam đó từng bước đưa đất nước ta thoát ra khỏi tỡnh trạng khủng hoảng. Thực tế cho thấy, tự chỉnh đốn và tự đổi mới, Đảng ta đó trỏnh được những sai lầm cố hữu, tránh được những tổn thất do chủ quan duy ý chí, đưa đất nước tiến lên.

    Song cũng từ chính những lời can dặn đầy tâm huyết của Hồ Chí Minh: mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, phải cố gắng học tập chính trị, chuyên môn, gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, gương mẫu trước quần chúng, Đảng ta đó cú nhiều nghị quyết và chỉ thị của cỏc cấp về vấn đề làm trong sạch đội ngũ đảng viên theo tinh thần của Hội nghị lần thứ 3 BCHTƯ khoá VII: “Về một số nhiệm vụ đổi mới , chỉnh đốn Đảng”, đặc biệt là Hội nghị TƯ6 (lần 2) khoá VIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, cùng với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, Đảng đó “tập trung chỉ đạo qyuết liệt hơn nhiệm vụ xây dựng Đảng tương xứng với vị trí là nhiệm vụ then chốt” và nhấn mạnh nhiệm vụ “kiên quyết khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ đảng viên” (10), thực hiện mối liên hệ gắn bó Đảng – Dân. Không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, Đảng đồng thời phải đổi mới hơn nữa phương thức lónh đạo để “xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu và vai trũ lónh đạo, nâng cao uy tín và thanh danh của Đảng ta” (11).

    Xác định vị trí của Đảng cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh đồng nghĩa với việc khẳng định vai trũ lónh đạo của tổ chức cơ sở Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất của tổ chức cơ sở Đảng làm nên sức mạnh vô địch của Đảng,  cho nên việc coi trọng và kiện toàn các cơ sở Đảng về các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ… đề cao tinh thần phê bỡnh và tự phờ bỡnh, để Đảng thành một lực lượng vững mạnh, đưa sự nghiệp đổi mới đến thành công càng trở nên cực kỳ quan trọng.

    Then chốt trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là thật thà tự phê bỡnh và phờ bỡnh. Bởi rằng, cú thường xuyên làm được như vậy, người đảng viên mới gột rửa những tư tưởng, quan điểm, hành vi sai trái với phẩm chất của của người cách mạng. Hơn nữa, phê và tự phê của người cán bộ, đảng viên chính là đấu tranh để góp phần nâng cao sức chiến đấu của Đảng, loại bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng, “cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”. Tuy nhiên vẫn chính Hồ Chí Minh đó từng nhiều lần nhấn mạnh, tự phờ bỡnh và phờ bỡnh là phải thành khẩn, trung thực, kiên quyết và có văn hoá, để đó thực sự là xây dựng Đảng, là để học cái hay và tránh cái dở. Trong bối cảnh hiện tại, khi xây dựng văn hoá Đảng đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, khi tham nhũng đó trở thành quốc nạn, khi suy thoỏi đạo đức không cũn dừng lại ở một “bộ phận” thỡ những điều căn dặn của Hồ Chí Minh về phê và tự phê (đặc biệt ở đội ngũ lónh đạo cấp cao) trong Đảng, về thực hiện dân chủ, về giám sát, kiểm tra càng trở nờn cú ý nghĩa.

    Chúng ta đều biết, sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết, thống nhất. Chúng ta càng không quên rằng: khi khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng rạn nứt thỡ sức chiến đấu của Đảng bị tê liệt, nguồn sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dõn cũng vỡ thế mà suy kiệt. Vỡ vậy, càng đầy cam go, thử thách, Đảng càng phải thống nhất ý chớ, thống nhất hành động trên cơ sở thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, càng phải có tỡnh thương yêu đồng chí lẫn nhau. Đảng phải gắn lợi ích giai cấp, dân tộc với đoàn kết quốc tế để tranh thủ nguồn sức mạnh của dân tộc và thời đại, đảm bảo đưa cách mạng đến thắng lợi.

    Sự nghiệp Đổi mới của nhân dân Việt Nam là con đường vẻ vang, tự hào song cũng đầy gian nan, thử thách. Hồ Chí Minh – Người sáng lập, xây dựng và rèn luyện Đảng ta đó yờu cầu Đảng phải thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn để tăng cường sức mạnh, đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ mới. Với Người – đó không chỉ là nhiệm vụ của một Đảng cầm quyền, đó cũn là trỏch nhiệm của những người cộng sản Việt Nam trước lịch sử, nhân dân và dân tộc.

    Câu 13: Quá trình lựa chọn, hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân? ý nghĩa của việc hình thành tư tưởng Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam của Hồ Chí Minh?

    1. Quá trình lựa chọn, hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    2. ý nghĩa của việc hình thành tư tưởng Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam của Hồ Chí Minh.

    Câu 14: Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân? Vận dụng tư tưởng đó trong việc xây dựng Nhà nước ta hiện nay như thế nào?

    1. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    1. Quan niệm của Hồ Chớ Minh về Nhà nước của dân, do dân và vỡ dõn.

    Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thỡ vấn đề cơ bản của chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ quyền lợi cho ai. Năm 1927, trong cuốn “Đường Kách Mệnh” Bác chỉ rừ: “Chỳng ta đó hy sinh làm kỏch mệnh, thỡ nờn làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao kách mệnh rồi thỡ quyền giao cho dõn chỳng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Sau khi giành độc lập, Người khẳng định, “nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vỡ dõn… núi túm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đó là điểm khác nhau giữa nhà nước ta với nhà nước bóc lột đó từng tồn tại trong lịch sử.

    Thế nào là nhà nước của dõn?

    Điều 1 Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Năm 1946) nói: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nũi giống, gỏi trai, giàu nghốo, giai cấp, tụn giỏo.”

    Điều 32, viết: “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết…” thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hỡnh thức dõn chủ đề ra khá sớm ở nước ta.

    “Nhõn dõn cú quyền bói miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”

    Nhà nước của dân thỡ mọi người dân là chủ, người dân có quyền làm bất cứ việc gỡ mà phỏp luật khụng cấm và cú nghĩa vụ tuõn theo phỏp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hỡnh thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Những vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa uỷ quyền của dân, chỉ là công bộc của dân.

    Thế nào là nhà nước do dân?

    Nhà nước đó do nhân dân lựa chọn bầu ra những đại biểu của mỡnh, nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để chi tiêu, hoạt động; nhà nước đó lại do dân phê bỡnh xõy dựng, giỳp đỡ. Do đó Bác yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soỏt của nhõn dõn. “nếu chớnh phủ làm hại dõn thỡ dõn cú quyền đuổi chính phủ” nghĩa là khi cơ quan nhà nước không đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thỡ nhõn dõn cú quyền bói miễn nú. Hồ Chớ Minh khẳng định: mỗi người có trách nhiệm “ghé vai gánh vác một phần” vỡ quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.

    Thế nào là nhà nước vi` dan ?

    Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Trong nhà nước đó, cán bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân.

    “Việc gỡ cú lợi cho dõn ta phải hết sức làm,

    Việc gỡ cú hại đến dân ta phải hết sức tránh”

    Hồ Chớ Minh chỳ ý mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân với cán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân thừa uỷ quyền. Là người phục vụ, nhưng cán bộ nhà nước đồng thời là người lónh đạo , hướng dẫn nhân dân. “Nếu không có nhân dân thỡ chớnh phủ khụng đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thỡ nhõn dõn khụng ai dẫn đường”. Cán bộ là đày tớ của nhân dân là phải trung thành, tận tuỵ, cần kiệm liêm chính…, là người lónh đạo thỡ phải cú trớ tuệ hơn người, sáng suốt, nhỡn xa trụng rộng, gần gũi với dõn, trọng dụng hiền tài… Cỏn bộ phải vừa cú đức vừa có tài.

    2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước ta

    1. Bản chất giai cấp công nhân của nhà nước ta:

    Nhà nước ta mang bản chất giai cấp, “là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp cụng nhõn lónh đạo”. Bản chất giai cấp công nhân biểu hiện ở chỗ:

    – Nhà nước ta do đảng của giai cấp công nhân lónh đạo. Đảng lónh đạo bằng những chủ trương, đường lối thông qua tổ chức của mỡnh trong quốc hội, chớnh phủ, cỏc ngành, cỏc cấp của nhà nước; được thể chế thành pháp luật, chính sách, kế hoạch của nhà nước.

    – Bản chất giai cấp cũn thể hiện ở định hướng đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xó hội. “Bằng cỏch phỏt triển và cải tạo nền kinh tế quốc dõn theo chủ nghĩa xó hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xó hội chủ nghĩa với cụng nghiệp và nụng nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến.”

    – Bản chất giai cấp của nhà nước ta cũn thể hiện ở nguyờn tắc tổ chức cơ bản là nguyên tắc tập trung dân chủ. “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ… mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung cao độ để thống nhất lónh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xó hội.”

    Bên cạnh dân chủ, Bác cũng nhắc đến chuyên chính, “chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là ai chuyên chính với ai?”.  “dân chủ là của quý bỏu của nhõn dõn, chuyờn chớnh là cỏi khoỏ, cỏi cửa để đề phũng kẻ phỏ hoại… dõn chủ cũng cần chuyờn chớnh để giữ gỡn lấy dõn chủ.”

    1. Bản chất giai cấp của nhà nước ta thống nhất với tính nhân dân và tớnh dõn tộc

    Tớnh thống nhất thể hiện ở chỗ:

    – Nhà nước dân chủ mới ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ với sự hy sinh xương máu của bao thế hệ cách mạng.

    – Nhà nước ta vừa mang bản chất giai cấp vừa có tính nhân dân và tính dân tộc vỡ nú lấy lợi ớch của dõn tộc làm nền tảng và bảo vệ lợi ớch cho nhõn dõn. Trong thời gian Người lónh đạo đất nước, nhờ sách lược mềm dẻo, cũng như Người dung nạp nhiều nhân sĩ, trí thức, quan lại cao cấp của chế độ cũ vào bộ máy nhà nước đó thể hiện tư tưởng nhà nước ta là nhà nước của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    – Nhà nước ta vừa ra đời đó đảm nhiệm vai trũ lịch sử là tổ chức toàn dõn khỏng chiến để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam hoà bỡnh, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, gúp phần tớch cực vào sự phỏt triển tiến bộ của thế giới.

    1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ
    2. Xây dựng một nhà nước hợp hiến

    Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ trước hết là một nhà nước hợp hiến. Vỡ vậy sau khi giành chớnh quyền, Hồ Chớ Minh đó thay mặt chớnh phủ lõm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế giới khai sinh nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chính phủ lâm thời có địa vị hợp pháp, tổng tuyển cử bầu ra quốc hội rồi từ đó lập chính phủ và các cơ quan nhà nước mới.

    Sau đó Người bắt tay xây dựng hiến pháp dân chủ, tổ chức TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội nhất trí bầu làm chủ tịch Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Đây là chính phủ hợp hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại.

    1. Quản lý Nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống

    Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý là nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Trong nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật luôn đi đôi với nhau, đảm bảo cho chính quyền trở nên mạnh mẽ. Mọi quyền dân chủ phải được thể chế hoá bằng hiến pháp và pháp luật. Xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm của Hồ Chí Minh. Là người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ, có công lớn trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp: một mặt, Người chăm lo hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật của nhà nước ta, mặt khác, Người chăm lo đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo cơ chế đảm bảo cho pháp luật được thi hành, cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành của các cơ quan nhà nước và của nhân dân. “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Sức mạnh là do con người và vỡ con người, vỡ vậy, Hồ Chớ Minh yờu cầu mọi người phải hiểu và tuyệt đối chấp hành pháp luật, bất kể người đó giữ cương vị nào. Công tác giáo dục luật cho mọi người, đặc biệt là cho thế hệ trẻ cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng một nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý, đảm bảo quyền và nghĩa vụ công dân được thực thi trong cuộc sống.

    1. Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của nhà nước có đủ đức và tài

    Để tiến tới một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh mẽ, Bác Hồ cho rằng, phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hỡnh thành một đội ngũ viên chức nhà nước có trỡnh độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần kiệm liêm chính chí công vô tư, một tiêu chuẩn cơ bản của người cầm cân công lý. Yêu cầu của đội ngũ cán bộ phải có đức và tài trong đó đức là gốc, đội ngũ này phải được tổ chức hợp lý và cú hiệu quả. Cụ thể là:

    (1) Tuyệt đối trung thành với cách mạng.

    (2) Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.

    (3) Phải cú mối liờn hệ mật thiết với nhõn dõn.

    (4) Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là những tỡnh huống khú khăn, “thắng không kiêu, bại không nản”.

    Để đảm bảo công bằng và dân chủ trong tuyển dụng cán bộ nhà nước, Người ký sắc lệnh ban hành Quy chế cụng chức. Cụng chức theo chế độ chức nghiệp, vỡ vậy phải qua thi tuyển cụng chức để bổ nhiệm vào ngạch, bậc hành chớnh. Nội dung thi tuyển khỏ toàn diện bao gồm 6 mụn thi: chính trị, kinh tế, pháp luật, địa lý, lịch sử và ngoại ngữ. Điều này thể hiện tầm nhỡn xa, tớnh chớnh quy hiện đại, tinh thần công bằng dân chủ … của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xõy dựng nền múng cho phỏp quyền Việt Nam.

    4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả

    + Tăng cường và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước.

    Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức. Do tập quán của kinh tế tiểu nông, muốn hỡnh thành ngay một nhà nước pháp quyền là chưa được, vỡ vậy một mặt phải nhấn mạnh vai trũ của luật phỏp, đồng thời tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân nhất là giáo dục đạo đức. Đạo đức và pháp luật là hai hỡnh thỏi ý thức xó hội cú thể kết hợp cho nhau. Khắc phục những biểu hiện tiờu cực sau:

    – Đặc quyền, đặc lợi.

    – Tham ụ, lóng phớ quan liờu.

    – “Tư túng”, “chia rẽ”, “kiêu ngạo”.

    + Tăng cường pháp luật đi đôi với giáo dục đạo đức cách mạng. Bên cạnh giáo dục đạo đức, Người kịp thời ban hành pháp luật.

    Kiờn quyết chống ba thứ “giặc nội xõm” là tham ụ, lóng phớ, quan liờu. Sức mạnh và hiệu quả của luật phỏp, một mặt dựa vào tớnh nghiờm minh của thi hành phỏp luật, mặt khỏc dựa vào sự gương mẫu, trong sạch về đạo đức của người cầm quyền. Bác nói: “Tham ụ, lóng phớ, quan liờu, dự cố ý hay khụng, cũng là bạn đồng minh của thực dân phong kiến,… tội lỗi ấy cũng nặng như tội việt gian, mật thám”. Mác và Ăngghen đó từng cảnh tỉnh giai cấp vụ sản rằng chủ nghĩa quan liêu có thể dẫn các đảng cộng sản cầm quyền đến chỗ “đánh mất một lần nữa chính quyền vừa giành được”. Lênin cũng viết “… chúng ta bị khốn khổ trước hết về tệ quan liêu. Những người cộng sản đó trở thành tờn quan liờu. Nếu cú cỏi gỡ sẽ làm tiờu vong chỳng ta thỡ chớnh là cỏi đó”.

    Vỡ vậy khụng thể núi đến một nhà nước trong sạch vững mạnh, hiệu quả nếu không kiên quyết, thường xuyên đẩy mạnh cuộc đấu tranh để ngăn chặn tận gốc những nguyên nhân  gây ra nạn tham ô, lóng phớ, quan liờu.

    1. Vận dụng tư tưởng đó trong việc xây dựng Nhà nước ta hiện nay như thế nào?

    Xây dựng Nhà nước ngang tầm nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới.

    1. Nhà nước bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân

    Quyền làm chủ thật sự của nhân dân chính là một nội dung cơ bản trong yêu cầu xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước đòi hỏi phải chú trọng bảo đảm và phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong vấn đề này, việc mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế XHCN có ý nghĩa quan trọng. Chính vì vậy, quyền làm chủ của nhân dân phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật, đưa Hiến pháp và pháp luật vào trong cuộc sống. Cần chú ý đến việc bảo đảm cho mọi người được bình đẳng trước pháp luật, xử phạt nghiêm minh mọi hành động vi phạm pháp luật, bất kể sự vi phạm đó do tập thể hoặc cá nhân nào gây ra. Có như vậy dân mới tin và mới bảo đảm được tính chất nhân dân của Nhà nước ta.

    Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, ngoài vấn đề thực thi nghiêm chỉnh pháp luật, còn cần chú ý tới thực hịên những quy tắc dân chủ trong các cộng đồng dân cư, tùy theo điều kiện của từng vùng, miễn là các quy tắc đó không trái với những quy định của pháp luật. Theo đó, cần thực hiện tốt các Quy chế dân chủ ở cơ sở đã được Chính phủ ban hành.

    1. Kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước

    Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực này đòi hỏi phải chú trọng cải cách và xây dựng, kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước, bảo đảm một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh. Muốn vậy, phải đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng dân chủ, trong sạch, vững mạnh, phục vụ đắc lực và có hiệu quả đối với nhân dân. kiên quyết khắc phục quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu, tham nhũng, bộ máy cồng kềnh, kém hiệu lực, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức sa sút phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực thực hành nhiệm vụ công chức kém cỏi.

    Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay còn cần chú ý cải cách các thủ tục hành chính; đề cao trách nhiệm trong việc giải quyết các khiếu kiện của công dân theo đúng những quy định của pháp luật; tiêu chuẩn hóa cũng như sắp xếp lại đội ngũ công chức, xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức vừa có đức, vừa có tài, tinh thông chuyên môn, nghiệp vụ. Nguồn lực đội ngũ công chức yếu thì không thể nói đến một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân mạnh được. Do vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải được đặt lên hàng đầu và phải được tiến hành thường xuyên, bảo đảm chất lượng. Theo đó, hệ thống các trường dạy nghề, đặc biệt là các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên ngành tư pháp phải được đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo.

    1. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

    Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng tất yếu gắn liền với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đây là trách nhiệm cực kỳ quan trọng của Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền. Trong giai đoạn hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở những nội dung như: lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: lãnh đạo bằng đường lối, bằng tổ chức, bộ máy của Đảng trong các cơ quan Nhà nước, bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên hoạt động trong bộ máy Nhà nước, bằng công tác kiểm tra, Đảng không làm thay công việc quản lý của Nhà nước. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ trong hệ thống chính trị trên cơ sở bảo đảm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước theo luật định. Bản chất, tính chất của Nhà nước ta gắn liền với vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, do đó, đến lượt Đảng, một tiền đề tất yếu được đặt ra là sự trong sạch, vững mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là yếu tố quyết định cho thành công của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Câu 15: Những thuận lợi, nguy cơ và thách thức đối với nhân dân ta ngày nay? Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa như thế nào đối với giai đoạn cách mạng hiện nay ở Việt Nam?

    1. Những thuận lợi, nguy cơ và thách thức đối với nhân dân ta ngày nay.

    Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ đổi mới. Việt Nam kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục đi theo con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Thực hiện đường lối đổi mới đất nước ở Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    Một là: đất nước đã thu được những thành tựu cơ bản.

    Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh khốc liệt để lại hậu quả nặng nề; các thế lực phản động chống phá quyết liệt nhằm phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam khiến đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã vượt qua được những thử thách đó, đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việt Nam đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế mở cửa, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.

    Trước những năm đổi mới, nền kinh tế của đất nước tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so với các nước khác trong khu vực. Tình hình chính trị của đất nước luôn luôn giữ được ổn đinh. Tình hình xã hội có tiến bộ. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Thế và lực của đất nước ta mạnh lên rất nhiều so với những năm trước đổi mới cho phép nước ta tiếp tục phát huy nội lực kết hợp tranh thủ ngoại lực để phát triển nhanh và bền vững, trước mắt phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản làm cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao.

    Hai là: Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn và thách thức lớn đan xen nhau.

    Sự nghiệp đổi mới của nước ta trong những năm tới, có cơ hội lớn để phát triển của đất nước. Đó là lợi thế so sánh để phát triển do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nội lực là hết sức quan trọng. Những cơ hội tạo cho đất nước ta có thể đi tắt, đón đầu, tiếp thu nhanh những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới. Thực hiện đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh, quan hệ đối ngoại rộng mở và tăng cường hợp tác quốc tế theo phương châm độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hợp tác các bên đều có lợi trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia-dân tộc là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Mặt khác, chúng ta rút ra được nhiều bài học từ cả những thành công và yếu kém của gần hai chục năm tiến hành sự nghiệp đổi mới để đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những thành tựu và thời cơ đã cho phép nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, tiếp tục ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN, phát huy hơn nữa nội lực. Đồng thời Đảng và Nhà nước ta tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường an ninh quốc phòng.

    Tuy vậy, chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức, nguy cơ hay những khó khăn lớn trên con đường phát triển của đất nước. Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại. Các nguy cơ đó diễn biến phức tạp, đan xen và tác động lẫn nhau, chúng ta không thể xem nhẹ nguy cơ nào. trong tình hình thế giới hiện nay, phát triển nhanh và bền vững là một thách thức lớn. Nếu nước ta không tận dụng cơ hội hiện nay để phát triển nhanh, thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu thì cơ hội sẽ bị bỏ lỡ. Nguy cơ chệch hướng XHCN phải được đề phòng không những ở việc xây dựng và thông qua cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết, pháp luật của Đảng và Nhà nước mà còn ở trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội. Nạn tham nhũng, tệ quan liêu cũng như sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, giảm niềm tin trong nhân dân. các thế lực phản động không ngừng tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

    2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa như thế nào đối với giai đoạn cách mạng hiện nay ở Việt Nam?


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Văn hóa giao tiếp ứng xử nơi công sở


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-thuy%E1%BA%BFt-tr%C3%ACnh-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Thuyết trình bảo vệ luận văn luôn là nỗi ám ảnh với nhiều sinh viên năm cuối. Làm thế nào để bạn tự tin b ảo vệ tâm huyết của mình sau 4 năm đại học? Làm thế nào để có bài thuyế t trình bảo v ệ ấn tượng trướ c thầy cô và bạn bè?… Những câu hỏi đó của bạn sẽ được giải đáp khi áp dụng các bí quyết sau của VietnamLearning.

    Chuẩn bị chu đáo:

     Không chuNn bị là chuNn bị cho sự thất bại. Để có một bài thuyết trình bảo vệ thành công bạn phải chuNn bị rất kỹ lưỡng từ nội dung, những tình huống có thể phát sinh trong quá trình thuyết trình.

    Bạn hãy chuNn bị trước phương án trả lời các câu hỏi mà thầ y cô có thể đưa ra cho bài thuyế t trình của bạn. Hãy hỏi trực tiếp ngườ i hướ ng dẫn bạn để bi ết dạng câu hỏi hoặc tham khảo ý kiến các anh chị khóa trước để nhận biết các câu hỏi mà thầy cô có thể hỏi. Bên cạnh đó bạn hãy soạn trướ c cho mình một bản slide, bản tóm tắt và các tài liệu liên quan mà bạn có thể dùng trong khi bảo vệ.

    Luyện tập trước khi diễn:

    Thao trường đổ mồ hôi, chiến trườ ng đỡ đổ máu. Bạn càng tập luyệ n kỹ bao nhiêu, bạn càng có cơ hội thành công bấy nhiêu trong quá trình thuyết trình. Hãy sử dụng phương pháp tưởng tượng để luy ện t ập khả năng thuyết trình của bạn. Nếu bạn có bạn bè, hãy nhờ họ làm giám khả o cho bài bảo vệ luận văn. Hãy nhờ họ nhận xét xem bạn đã tốt điều gì và yếu tố nào cần tốt hơn.

    Nguyên tắc 80/20 bạn cũng cần áp dụng trong quá trình chuNn bị và t ập luyện. Nế u bạn có 15 phút để bả o vệ chính thức thì khi luyện tậ p bạn cần că n ke làm sao quỹ thời gian của bạn sử dụng là 10 phút. Khoảng thời gian 5 phút còn lại để đề phòng các trường hợp bất chắc có thể xảy ra với bạn như tâm lý, sự cố máy tính…

    Thường xuyên giao lưu bằng mắt:

     Không ai ấn t ượng với một người thuyết trình không có s ự quan tâm đến mình. Hãy sử dụng tối đa khả nă ng giao tiếp bằng mắt của bạn. Bạn hãy áp d ụng nguyên tắc 75/25 trong tình huống này. Khi thuyết trình, bạn hãy dành 75% sự chú ý của bạn với những thầy cô trong hội đồng phản biện và 25% còn lại dành cho những bạn bè mình đang ngồi phía dưới.

    Bình tĩnh trả lời các câu hỏi:

    Nhiều sinh viên cảm thấy lo lắng và mất bình tĩnh khi

    nhận được các câu hỏi từ phía hội đồng phản biện. Lời khuyên cho bạn vào những lúc đó hãy hít một hơi thở thật sâu để lấy lại bình tĩnh. Để có thêm thờ i gian để bạn tìm câu trả lời hãy nhắc lạ i nội dung câu hỏi. Đó cũng là cách bạn thể hiện sự tôn trọng và gây ấn tượng với thầy cô.

    Với những câu hỏi quá khó mà bạn không có phương án trả lời, hãy thành thật và nói

    rằng bạn cảm ơn người đặt câu hỏi đó, bạn sẽ suy nghĩ và trả lời trong một đề tài nghiên cứu tiếp theo.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • Đề Cương Ôn Tập Kinh Tế Vi Mô Lý Thuyết Và Bài Tập

    Đề Cương Ôn Tập Kinh Tế Vi Mô Lý Thuyết Và Bài Tập

    Đề Cương Ôn Tập Kinh Tế Vi Mô Lý Thuyết Và Bài Tập

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Kinh-T%E1%BA%BF-Vi-M%C3%B4-L%C3%BD-Thuy%E1%BA%BFt-V%C3%A0-B%C3%A0i-T%E1%BA%ADp.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Kinh Tế Vi Mô Lý Thuyết Và Bài Tập

    LỜI MỞ ĐẦU

     

     

    Kinh tế học vi mô là một phân ngành chủ của kinh tế học chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các cá nhân (gồm người tiêu dùng, nhà sản xuất hay một ngành kinh tế nào đó), là một môn khoa học kinh tế về sự lựa chọn tối ưu các vần đề kinh tế cơ bản của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

    Kinh tế học vi mô là nền tảng cho nhiều chuyên ngành của kinh tế học như kinh tế công cộng, kinh tế phúc lợi, thương mại Quốc tế, lý thuyết tổ chức ngành, địa lý kinh tế, …

    Một trong những mục tiêu nghiên cứu của Kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng, dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo. Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích tổng quát.

    Chính vì thế Kinh tế học vi mô là một môn học vô cùng quan trọng với sinh viên nhóm ngành kinh tế. Việc học và nghiên cứu môn học này sẽ giúp bạn yêu thích môn học cũng như hiểu rõ hơn vể ngành nghề mà mình đã lựa chọn.

    Bài tập lớn là một loại bài tập tổng hợp bao gồm nhiều ý nhỏ nhằm giải quyết nhiều mặt của một vấn đề. Bài tập lớn Kinh tế vi mô gồm có 2 phần là:

    • Phần lý thuyết, sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về môn học kinh tế vi mô, củng cố, nâng cao những nhận thức về lý luận, phương pháp luận, nắm bắt được các quy luật như: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sự lựa chọn tối ưu… để vận dụng và giải quyết những vấn đề cụ thể trong hoạt động Kinh tế vi mô nói chung và hoạt động của một doanh nghiệp nói riêng.
    • Phần bài tập, sẽ giúp sinh viên giải thích, phân tính và chứng minh các tình huống xảy ra trong hoạt động vi mô của doanh nghiệp cũng như việc xử lý các tình huống đó một cách tối ưu trong những điều kiện cho phép.

    Hy vọng rằng sau khi làm xong bài tập lớn kinh tế vi mô này các bạn sẽ rút ra được những điều bổ ích để có thể áp dụng cho thực tế sau này.

     

     

    PHẦN I: LÝ THUYẾT

     

     

    1. Giới thiệu chung về môn học vi mô

    a. Đối tượng và nội dung cơ bản của Kinh tế học vi mô

    Kinh tế học vi mô là một nhánh của kinh tế học đi sâu nghiên cứu hành vi của các chủ thể, các bộ phận kinh tế riêng biệt các thị trường, các hộ gia đình và các hãng kinh doanh. Kinh tế vi mô cũng quan tâm đến tác động qua lại giữa hành vi của người tiêu dùng và các hãng để hình thành thị trường và các ngành để quá trình phân tích được đơn giản.

    Kinh tế vĩ mô là một nhánh của kinh tế học tập trung nghiên cứu các hoạt động của nền kinh tế dưới góc độ tổng thể. Nó đề cập tới các tiêu chí tổng thể như: tốc độ tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập quốc dân…

    Þ Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô tuy khác nhau nhưng đều là những nội dung quan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt nhau, mà bổ sung cho nhau, tạo thành hệ thống kiến thức kinh tế thị trường có sự điêù tiết của nhà nước. Vì vậy kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo đIều kiện cho kinh tế vi mô phát triển. Trong thực tiễn kinh tế và quản lý kinh tế nếu chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế vi mô, quản lý kinh tế vi mô hay quản lý sản xuất kinh doanh, mà không có sự đIều chỉnh cần thiết của kinh tế vĩ mô, quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước về kinh tế thì rất khó có thể nắm bắt và điều chỉnh được nền kinh tế.

     b. Đối tượng và nội dung cơ bản của kinh tế học vi mô

    Kinh tế vi mô là một môn khoa học kinh tế, một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lý doanh nghiệp trong ngành kinh tế quốc dân. Nó là khoa học về sự lựa chọn hoạt động kinh tế vi mô trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

    Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết. Do đó kinh tế vi mô là sự lựa chọn để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp, một tế bào kinh tế: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Để giải quyết được những yêu cầu trên kinh tế vi mô sẽ nghiên cứu tập trung vào một số nội dung quan trọng nhất như vấn đề kinh tế cơ bản: cung và cầu, cạnh tranh và độc quyền, cầu về hành hoá: cung và cầu về lao động, sản xuất và chi phí, lợi nhuận và quyết định cung cấp; hạn chế của kinh tế thị trường và sự can thiệp của chính phủ; doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hoá.

    Kinh tế vi mô bao gồm những phần dưới đây:

    • Những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp; việc lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần; quy luật chi phí tương đối ngày càng tăng; hiệu quả kinh tế.
    • Cung và cầu: Nghiên cứu nội dung của cung và cầu, sự thay đổi cung cầu, quan hệ cung cầu ảnh hưởng quyết định đến giá cả thị trường và sự thay đổi giá cả trên thị trường làm thay đổi quan hệ cung cầu và lợi nhuận.
    • Lý thuyết người tiêu dùng: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung của nhu cầu và tiêu dùng, các yếu tố ảnh hưởng đến đường cầu, hàm cầu và hàm tiêu dùng, tối đa hoá lợi ích và tiêu dùng tối ưu, lợi ích cận biên và sự co dãn của cầu.
    • Thị trường các yếu tố sản xuất: Nghiên cứu cung và cầu về lao động, vốn, đất đai.
    • Sản xuất chi phí và lợi nhuận: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung sản xuất và chi phí, các yếu tố sản xuất, hàm sản xuất và năng suất, chi phí cận biên, chi phí bình quân và tổng chi phí: lợi nhuận doanh nghiệp, quy luật lãi suất giảm dần, tối đa hoá lợi nhuận, quyết định sản xuất và đầu tư, quyết định đóng cửa doanh nghiệp.
    • Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền: Nghiên cứu về thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền: quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền, quan hệ giữa sản lượng, giá cả và lợi nhuận.
    • Vai trò của chính phủ: Nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò và sự can thiệp của chính phủ đối với hoạt động kinh tế vi mô và vai trò của doanh nghiệp nhà nước.
    • Một trong những mục tiêu nghiên cứu của kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng và dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo. Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích cân bằng tổng quát.

    c. Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô

    • Nghiên cứu những vấn đề kinh tế lý luận, phương pháp luận và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô. Vì vậy cần nắm vững khái niệm, định nghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động hình thành kinh tế vi mô, quan trọng nhất là phải rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó.
    • Cần gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và thực hành trong quá trình học tập.
    • Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực tiễn sinh động phong phú, phức tạp của các hoạt động kinh tế vi mô của doanh nghiệp ở Việt Nam và ở các nước.
    • Cần hết sức coi trọng việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động kinh tế vi mô trong các doanh nghiệp tiên tiến của Việt Nam và của các nước trên thế giới. Nhờ đó chúng ta mới có thể làm phong phú thêm, sâu sắc thêm những nhận thức lý luận về môn khoa học kinh tế vi mô.
    • Ngoài ra còn có những phương riêng được áp dụng các phương pháp riêng như:
      • Áp dụng phương pháp cân bằng nội bộ, bộ phận, xem xét từng đơn vị vi mô, không xét sự tác động đến các vấn đề khác; xem xét một yếu tố thay đổi, tác động trong các điều kiện các yếu tố khác không đổi.

    Trong kinh tế vi mô cần sử dụng mô hình hoá như công cụ toán học và phương trình vi phân để lượng hoá các quan hệ kinh tế.

     

    2. Giới thiệu chung về lý thuyết cung – cầu

    a. Cầu

    • Khái niệm:
    • Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhật định.
    • Lượng cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sáng hoặc có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định.
    • Biểu cầu là bảng chỉ số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng sẵng sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
    • Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá. Một điểm chung của các đường cầu là chúng nghiêng xuống dưới về phía phải.
    • Luật cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa hoặc dịch vụ giảm xuống.

     

    • Các yếu tố xác định cầu và hàm số của cầu:
    • Thu nhập người tiêu dùng (I):

    Thu nhập là một yếu tố quan trọng trong xác định cầu. Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng.

    • Những hàng hóa có cầu tăng lên khi thu nhập tăng lên được gọi là các hàng hóa thông thường.
    • Các hàng hóa mà cầu giảm đi khi thu nhập tăng lên được gọi là hàng thứ cấp.
    • Giá cả của các loại hàng hóa liên quan (Py):

    Cầu đối với hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá của bản thân hàng hoá. Nó còn phụ thuộc vào giá của hàng hoá liên quan. Các hàng hoá liên quan này chia làm hai loại:

    • Hàng hoá thay thế.
    • Hàng hoá bổ sung.
    • Số lượng người tiêu dùng (dân số) (N):

    Khi số lượng người tiêu dùng càng tăng thì cầu về hàng hoá cũng tăng.

    • Thị hiếu người tiêu dùng (T):

    Thị hiếu có ảnh hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng, thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hoá hoặc dịch vụ.

    • Các kì vọng (E):

    Cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng (sự mong đợi) của người tiêu dùng. Nếu người tiêu dùng hy vọng rằng giá cả của hàng hoá nào đó sẽ giảm xuống trong tương lai, thì cầu hiện tại đối với hàng hoá của họ sẽ giảm xuống và ngược lại.

    è Tóm lại:

    Khi có sự thay đổi của các yếu tố trên thì sẽ làm cho lượng cầu thay đổi ở mọi mức giá. Chúng tạo lên hàm cầu được thể hiện dưới dạng phương trình sau:

    Q­XDt = f(Px , I , Py , N , T , E)

    Trong đó :

    Q­XDt  : Lượng cầu đối với hàng hoá trong thời gian t.
    Px : Giá hàng hoá x trong thời gian t.
    Py : Giá hàng hoá có liên quan trong thời gian t.
    I : Thu nhập người tiêu dùng.
    N : Dân số (người tiêu dùng).
    T : Thị hiếu (sở thích) của người tiêu dùng.
    E : Các kỳ vọng.
    • Sự dịch chuyển đường cầu:

    Lượng cầu tại một mức giá đã cho được biểu thị bằng một điểm trên đường cầu. Còn toàn bộ đường cầu phản ánh cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nào đó. Do vậy sự thay đổi của cầu là sự dịch chuyển của toàn bộ đường cầu sang bên trái hoặc bên phải, còn sự thay đổi của lượng cầu là sự vận động dọc theo đường cầu.

    Hình vẽ sau đây minh hoạ sự phân biệt đó.

    Sự thay đổi của cầu và lượng cầu

    Tăng

     cầu

    Giảm

     cầu

    Q
    Tăng lượng cầu
    Giảm lượng cầu
    P
    D2
    D0
    D1

     

    1. Cung
    • Khái niệm:
      • Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khac nhau trong một thời gian nhất định.
      • Lượng cung là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵng sàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định.
      • Biểu cung là một bảng miêu tả số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.
      • Đường cung là đường biểu diễn mối quan hệt giữa đường cung và giá trên đồ thị. Một nét chung của đường cung là có độ nghiêng lên trên về phía phải phản ánh quy luật cung.
      • Luật cung là số lượng hàng hóa được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của nó tăng lên. Vì vậy theo luật cung, giá và số lượng tỉ lệ thuận với nhau.

     

    • Các yếu tố xác định cung và hàm cung:
      • Công nghệ (Te):

    Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sản xuất, giảm chi phí lao động trong quá trình chế tạo sản phẩm. Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cung dịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm tăng khả năng cung lên.

    • Giá của các yếu tố sản xuất đầu vào (Pi):

    Giá của các yếu tố sản xuất có ảnh hưởng đến khả năng cung sản phẩm. Nếu giá của các yếu tố sản xuất giảm sẽ dẫn đến giá thành sản xuất giảm và cơ hội kiếm lợi nhuận sẽ cao lên, do đó các nhà sản xuất có xu hướng sản xuất nhiều lên.

    • Chính sách thuế (t):
      • Khi thuế tăng thì cung giảm.
      • Khi thuế giảm thì cung tăng.
        • Số lượng người sản xuất (N):

    Số lượng người càng nhiều thì lượng cung càng lớn.

    • Các kỳ vọng (E):

    Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hóa, giá của các yếu tố sản xuất, chính sách thuế… đều có ảnh hưởng đến cung hàng hóa và dịch vụ. Nếu sự mong đợi dự đoán có thuận lợi cho sản xuất thì cung sẽ được mở rộng  và ngược lại.

    è Tóm lại:

    Từ các yếu tố trên ta xác định được hàm cung theo phương trình sau:

    Q­Sx,t = f(Px , Pi , Te , t , N , E)

    Trong đó :

    Q­Sx.t  : Lượng cung đối với hàng hoá x trong thời gian t.
    Px : Giá hàng hoá x trong thời gian t.
    Pi : Giá của các yếu tố đầu vào.
    Te : Công nghệ.
    N : Số người sản xuất.
    E : Các kỳ vọng.

     

    • Sự dịch chuyển đường cung:

    Sự thay đổi của cung là sự dịch chuyển toàn bộ đường cung. Sự thay đổi lượng cung là sự vận động dọc theo đường cung.

    Hình sau đây mô tả sự khác biệt đó:

    Sự thay đổI của cung và lượng cung

     

    1. Cân bằng cung cầu
    • Dựa trên việc phân tích cả cung và cầu ta thấy rằng cùng một thời điểm nhất định ta xác định được giao điểm của đường cung và đường cầu. Tại đó lượng cung bằng lượng cầu (QD = QS) nghĩa là người bán muốn bán một lượng sản phẩm là QS và người mua muốn mua một lượng sản phẩm là QD thì ta gọi đó là điểm cân bằng của thị trường.
      • Khi P* < P1 Þ QS > QD Þ Dư thừa sản lượng.
      • Khi P* > P1 Þ QS < QD Þ Thiếu hụt sản lượng.
        • Kiểm soát giá:
          • Giá trần:
            • Là một mức giá tối đa mang tính pháp lý bắt buộc người bán ra không được đòi hỏi giá cao hơn.
            • Giá trần thường được áp dụng khi có sự thiếu hụt thất thường về các hàng hóa quan trọng nhằm tránh sự tăng giá quá mức. Mức giá này thường thấp hơn mức giá cân bằng.

    è Bảo vệ lợi ích nười tiêu dùng.

    • Giá sàn:
    • Chính phủ thường đặt ra mức giá tối thiểu đối với hàng hóa. Mức giá này thường áp dụng cho hiện tượng dư thừa sản lượng.
    • Mục tiêu đặt giá sàn nhằm đảm bảo lợi ích cho người sản xuất và cung ứng phục vụ.

    è Bảo vệ lợi ích người sản xuất.

    Sự thừa và thiếu trên thị trường

     

    1. Các phương pháp ước lượng cầu
    • Điều tra và nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng bằng cách quan sát:

    Quan sát hành vi của người tiêu dùng là cách thu thập thông tin về sở thích của người tiêu dùng, thông qua việc quan sát hành vi mua sắm và sử dụng sản phảm của họ.

    • Phương pháp thử nghiệm:

    Phương pháp thử nghiệm là phương pháp điều tra cầu của người tiêu dùng trong phòng thí nghiệm, nghĩa là người tiêu dùng được cho một số tiền và được yêu cầu chỉ tiêu trong một cửa hàng.

    Phương pháp này phản ánh tính hiện thực hơn là phương pháp điều tra người tiêu dùng. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có các hạn chế nhất định như không đảm bảo độ chính xác cho việc suy đoán của toàn bộ thị trường.

    • Phương pháp thí nghiệm trên thị trường.
    • Phương pháp phân tích hồi quy.

    3. Giới thiệu chung hành vi của doanh nghiệp

    a. Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất. Một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu qủa là doanh nghiệp thoả mãn được nhu cầu tối đa của thị trường và xã hội về hàng hoá, dịch vụ trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất.

    Qúa trình kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, xã hội của từng loại doanh nghiệp. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:

    • Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ để quyết định xem sản xuất cái gì
    • Chuẩn bị đồng bộ các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất như: lao động, đất đai, thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ….
    • Tổ chức tốt quá trình kết hợp chặt chẽ, khéo léo giữa các yếu tố cơ bản của đầu vào để tạo ra hàng hoá và dịch vụ, trong đó lao động là yếu tố quyết định.
    • Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, bán hàng hóa thu tiền về.

    Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả của kinh doanh là rút ngắn chu kỳ kinh doanh. Chu kỳ kinh doanh chính là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu khảo sát nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá, dịch vụ, đến lúc bán xong hàng hóa và thu tiền về.

    b. Lý thuyết về sản xuất

    • Công nghệ
      • Sản xuất là các loại hoạt động của doanh nghiệp bao gồm cả lĩnh vực lưu thông và dịch vụ.
      • Các doanh nghiệp chuyển hoá các đầu vào (còn gọi là các yếu tố sản xuất) thành đầu ra (còn gọi là sản phẩm).
      • Các yếu tố sản xuất được chia thành 2 loại:

    + Lao động (L)

    + Vốn (K) bao gồm: các nguyên nhiên vật liệu, tài sản cố định, máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng…

    • Các yếu tố được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất kinh đoanh để tạo ra sản phẩm đầu ra (Q). Sản phẩm đầu ra có thể là sản phẩm hữu hình hoặc sản phẩm vô hình.
    • Hàm sản xuất
      • Quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện bằng hàm sản xuất

    + Hàm sản xuất chỉ rõ mối quan hệ giữa sản lượng tối đa có thể thu được từ các tập hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào với một trình độ công nghệ nhất định.

    + Hàm sản xuất biểu diễn phương pháp sản xuất có hiệu quả về mặt kỹ thuật khi kết hợp giữa các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra.

    • Một doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao khi doanh nghiệp đó có chi phí cơ hội đầu vào là nhỏ nhất.
    • Một hàm sản xuất thường dùng là hàm Cobb Douglas:

    Y = A. Ka.La                      ( b=1-a )

    Trong đó:

    Y : là sản lượng đầu ra

    L : là vốn

    K : là lao động

    a, b : là những hằng số cho biết tầm quan trọng tương đối của vốn và lao động trong quá trình sản xuất.

    • Sản xuất với một đầu vào biến đổi
      • Năng suất lao động bình quân ( APL )
    APL = Số đầu ra = Q
    Số lượng lao động L
    • Năng suất lao động cận biên ( MPL )
    MPL = Sự thay đổi đầu ra = Q
    Sự thay đổi lượng lao động L

    MPL  = Qn – Qn-1

    Hình vẽ:

    Nếu MPL > APL Þ APL  tăng dần

    MP< APL Þ APL giảm dần

    MPL  = APL Þ APL max

    • Quy luật MPL giảm dần

    Dựa vào hình vẽ ta thấy năng suất cận biên của bất kỳ yếu tố sản xuất nào cũng sẽ bắt đầu giảm dần tại một thời điểm nào đó khi càng có nhiều yếu tố đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất. Điều này cho thấy khi tăng thêm lao động thì mỗi lao động chỉ có ít vốn và diện tích để làm việc. Thời gian nhàn rỗi nhiều hơn nên năng suất lao động giảm dần. Vì vậy quy luật năng suất cận biên giảm dần có ý nghĩa với cả lao động và vốn. Nó liên quan đến hành vi và quyết định sản xuất kinh doanh trong việc lựa chọn các yếu tố đầu vào như thế nào để tăng năng suất, giảm chi phí và tối đa hoá lợi nhuận.

    • Sản xuất với hai đầu vào biến đổi

    Đường động lượng :

    • Là đường biểu thị tất cả sự kết hợp của các yếu tố đầu vào khác nhau để sản xuất ra một lượng đầu ra nhất định.
    • Các đường động lượng cho thấy sự linh hoạt mà các doanh nghiệp có được khi ra quyết định sản xuất trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể đạt được một đầu ra lựa chọn bằng cách sử dụng các cách kết hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào để được một lượng đầu ra mong muốn với mục đích tối thiểu hoá chi phí tối đa hoá lợi nhuận.

    Hình vẽ:

    Sự thay thế các đầu vào, tỷ suất thay thế, kỹ thuật cận biên (MRTS)

    • Độ nghiêng của đường cong lượng cho thấy có thể dùng 1 số lượng đầu vào này thay thế cho 1 số lượng đầu vào khác nhưng phải đảm bảo đầu ra không đổi. Độ nghiêng đó được gọi là tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên (MRTS) nghĩa là muốn giảm đi một đơn vị lao động thì cần có bao nhiêu đơn vị vốn với điều kiện Q không đổi và ngược lại.
    • Tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên (MRTS) có liên quan chặt chẽ với năng suất cận biên của lao động và vốn và luôn được đo lường như 1 đại lượng dương cho nên số đầu ra tăng thêm lao động sẽ là:

    DQL = DL . MPL > 0

    Và số đầu ra giảm đi do giảm sử dụng vốn sẽ là:

    D QK = D K . MPK < 0

    Trong đó:  DK    : chênh lệch về vốn

    MPK  : năng suất lao động cận biên theo vốn

    DQ + DL = 0

    • DL . MPL + DK . MPK = 0

    Tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên

    MRTS = -DK = MPL
    DL MPK
    • Hai trường hợp đặc biệt

    TH1: Các yếu tố đầu vào có thể thay thế hoàn toàn cho nhau và MRTS không đổi trên một đường đồng lượng có dạng một đường thẳng có nghĩa là cùng một đầu ra có thể chỉ được sản xuất bằng lao động và vốn hoặc bằng sự kết hợp giữa lao độngvà vốn

    TH2: Các yếu tố đầu vào không thể thay thế cho nhau, mỗi mức đầu vào đòi hỏi có sự kết hợp riêng. Mỗi mức đầu ra đòi hỏi một sự kết hợp giữa lao động và vốn. Khi đó đường động lượng có dạng L.

    • Lý thuyết về chi phí sản xuất
    • Ý nghĩa và khái niệm
      • Trong kinh tế vi mô chi phí sản xuất giữ mộtvị trí quan trọng và có quan hệ tới nhiều vấn đề khác của doanh nghiệp như: quan hệ với người tiêu dùng, xã hội….Trong đó:

    + Chi phí tính toán (chi phí kế toán) là tất cả những khoản chi nhưng không tính đến chi phí cơ hội.

    + Chi phí kinh tế (chi phí tài chính) là tất cả các khoản chi bao gồm cả chi phí cơ hội.

    Þ Chi phí kinh tế thường lớn hơn chi phí tính toán 1 lượng bằng chi phí cơ hội.

    • Chi phí ngắn hạn là những chi phí của thời kỳ mà trong đó số lượng và chất lượng của đầu vào là không đổi.
    • Tổng chi phí (TC) là toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định sản xuất ra sản phẩm.
    • Chi phí cố định (FC) là khoản chi phí không biến đổi khi sản lượng tăng hoặc giảm hoặc bằng 0.
    • Chi phí biến đổi (VC) là khoản chi phí biến đổi theo từng mức đầu ra

    TC = FC + VC

    • Chi phí bình quân (ATC) là tổng chi phí cho 1 đơn vị sản phẩm:
    • Chi phí cố định bình quân là chi phí cố định cho 1 đơn vị sản phẩm
    • Chi phí biến đổi bình quân là chi phí biến đổi cho 1 đơn vị sản phẩm

    Þ ATC = AVC + AFC

    • Chi phí cận biên (MC)

    MC = TCn – TCn-1

    Mối quan hệ giữa MC và ATC

    Hình vẽ:

    MC > ATC Þ ATC tăng dần

    MC < ATC Þ ATC giảm dần

    MC = ATC Þ ATC min

    • Chi phí dài hạn

    Trong dài hạn doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các đầu vào của nó. Vấn đề đặt ra là lựa chọn các đầu vào như thế nào để sản xuất 1 đầu ra nhất định với chi phí tối thiểu

    Gọi LTC là tổng chi phí sản xuất trong dài hạn.

    LAC là chi phí bình quân dài hạn (chi phí trung bình dài hạn).

    LMC là chi phí cận biên dài hạn.

    Þ

    LMC = LTCn – LTCn-1

    Chú ý:

    • Trong trường hợp ngắn hạn nếu doanh nghiệp đạt mức giá
      • P = ATCmin Þ doanh nghiệp sẽ đạt hòa vốn.
      • P £ AVCmin Þ doanh nghiệp có thể phải đóng cửa sản xuất.
      • AVCmin < P < ATCmin Þ doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.
      • P > ATCmin Þ doanh nghiệp có lãi.
    • Trong trường hợp dài hạn nếu:
      • P = LACmin Þ doanh nghiệp đạt hòa vốn dài hạn.
      • P < LACmin Þ doanh ngiệp rời bỏ thị trường.
    • Đường đồng phí

    Là đường bao gồm tất cả các tập hợp có thể có của lao động và vốn mà người ta có thể mua với một tổng chi phí nhất định.

    Gọi TC là tổng chi phí.

    W là chi phí cho 1 đợn vị lao động (lương).

    R là chi phí cho 1 đơn vị vốn.

    TC = w.L + rK

    C2
    C1
    L
    K

    d. Lý thuyết về lợi nhuận và quyết định cung cấp

    • Lợi nhuận và tối đa lợi nhuận
      • Khái niệm lợi nhuận
    • Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
    • Do vậy lợi nhuận thường được xác định như sau:

    ∏ = TR – TC

    Trong đó:

    TR = P.Q (giá .  số lượng)

    MR = TRn – TRn-1

     

    Chú ý:

    Đối với doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo lợi nhuận đạt tối đa tại mức sản lượng Q* khi P = MC

    max tại Q* khi P = MC

    Đối với doanh nghiệp kinh doanh trong thị trường độc quyền và bán cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa tại mức sản lượng Q* khi MR = MC

    Để đạt TRmax khi MR = 0

    • Các loại lợi nhuận
      • Lợi nhuận tính toán: được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí tính toán. Đó là khoản chi phí không tính đến những chi phí tiềm ẩn hay chi phí cơ hội.
      • Lợi nhuận bình quân: được hình thành do tác động của quy luật cung cầu vốn trong nền kinh tế thị trường. Nó được biểu hiện cụ thể bằng tỷ suất lãi trên vốn.
      • Lợi nhuận bình thường: là mức lợi nhuận chỉ vừa đủ để giữ cho các nhà kinh doanh tiếp tục công việc của mình và tồn tại với tư cách là một bộ phận của tổng chi phí.
      • Lợi nhuận siêu ngạch.
      • Lợi nhuận dị thường.
      • Lợi nhuận độc quyền.
    • Tối đa hóa lợi nhuận
      • Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp đó kiếm được nhờ bán hàng hóa, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.
      • Doanh thu cận biên (MR)là mức thay đổi tổng doanh thu do tiêu thụ thêm một đơn vị sản lượng:
     

     

    Quy tắc : tối đa lợi nhuận

    Tăng sản lượng chừng nào doanh thu cận biên còn vượt quá chi phí cận biên (MR > MC) cho đến khi có MR = MC thì dừng lại. Đây chính là mức sản lượng tối ưu (Q*) để tối đa hóa lợi nhuận.

    • Tối đa hóa lợi nhuận trong sản xuất ngắn hạn.

    Doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa ở mức sản lượng mà ở đó doanh thu cận biên bằng với chi phí cận biên (MR=MC).

    • Tối đa hó lợi nhuận tron sản xuất dài hạn.

    Như ta đã biết trong sản xuất dài hạn không còn chi phí cố định, doanh nghiệp có quyền quyết định nên xây dựng một năng lực sản xuất đến mức nào là tối ưu, tức là xác định lượng chi phí cố định tối ưu.

    Để tối đa hóa lợi nhuận, chúng ta có thể sử dụng phương pháp trình bày ở trên nhưng loại trừ chi phí cố định, có nghĩa là mọi chi phí đều biến đổi như phương pháp ngắn hạn, doanh nghiệp coi giá cả thị trường là cho trước và là doanh thu cận biên của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ tăng sản lương khi nào doanh thu cận biên còn lớn hơn chi phí cận biên.

    Doanh nghiệp sẽ giảm sản lượng khi chi phí cận biên vượt doanh thu cận biên (MC > MR).

    Doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa bằng việc cân bằng doanh thu cận biên và chi phí cận biên.

    4. Giới thiệu chung về hành vi của doanh nghiệp độc quyền

    a. Độc quyền bán

    • Khái niệm :

    Độc quyền bán là một thị trường, trong đó chỉ có một người bán, nhưng có nhiều người mua.

    • Nguyên nhân :

    Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ một số nguyên nhân cơ bản sau :

    • Đạt được tính kinh tế quy mô, yếu tố quan trọng quyết định cấu trúc thị trường là sản lượng ở mức quy mô tối thiểu có hiệu quả so với cầu của thị trường. Quy mô tối thiểu có hiệu quả là sản lượng mà tại đó, đường chi phí bình quân dài hạn của một doanh nghiệp ngừng đi xuống. Như vậy, nếu một doanh nghiệp đạt được tính kinh tế của quy mô, thì việc mởi rộng sản lượng của nó sẽ loại bỏ được các đối thủ và cuối cùng sẽ là người bán duy nhất trên thị trường, nếu mức sản lượng có chi phí bình quân dài hạn tối thiểu của nó là đủ lớn để đáp ứng cầu thị trường.
    • Bằng phát minh sáng chế (bản quyền). Luật về bằng phá minh sáng chế (bản quyền) cho phép các nhà sản xuất có được vị trí độc quyền về bán một sản phẩm hoặc một quy trình công nghệ mới trong một khoảng thời gian nhất định.

    Kiểm soát  các yếu tố (đầu vào) sản xuất. Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ quyền sở hữu một loại đầu vào (nguyên liệu) để sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó.

    Quy định của chính phủ. Một doanh nghiệp có thể trở thành độc quyền hợp pháp nếu nó là người duy nhất được cấp giấy phép sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vũ nào đó. Chẳng hạn đường sắt Việt Nam, bưu điện Việt Nam…

    • Đặc điểm :
      • Một người bán, nhiều người mua.
      • Sản phẩm đọc nhất không có hàng hóa thay thế gần gũi.
      • Có sức mạnh thị trường (có quyền định giá sản phẩm và sản lượng bán, việc gia nhập thị trường là rất khó khăn, nhiều trở ngại).
      • Cùng tiến hành quảng cáo để thu hút thêm khách hàng.
    • Đường cầu và đường doanh thu cận biên :

    Là người sản xuất duy nhất đối với một loại sản phẩm, nhà độc quyền bán có vị trí độc nhất trên thị trường. Nhà độc quyền bán có sự kiểm soát toàn diện đối với số lượng sản phẩm đưa ra bán. Nhưng điều này không có nghĩa là nó đặt giá cao bao nhiêu cũng được, vì mục đích của nó là tối đa hóa lợi nhuận. Đặt giá cao sẽ có ít người mua và lợi nhuận thu được sẽ ít hơn.

    Vì là người duy nhất bán một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể trên thị trường, nhà độc quyền bán đứng trước cầu thị trường – một đương cầu dốc xuống dưới về phí phải. Đường cầu thị trường chính là đường doanh thu bình quân (AR) của doanh nghiệp. Khi đường cầu dốc xuống thì giá và doanh thu bình quân luôn lớn hơn doanh thu cận biên, vì tất cả các đơn vụ đều được bán ở cùng một giá. Tăng lượng bán thêm một đơn vị thì giá bán phải giảm xuống, như vậy tất cả các đơn vị bán ra đều phải giảm giá chứ không phải chỉ một đơn vị bán thêm. Đường doanh thu cận biên vì thế luôn nằm dưới đường cầu, trừ điểm đầu tiên.

    • Quyết định cung cấp của doanh nghiệp độc quyền :

    Một doanh nghiệp để tối đa hóa lợi nhuận phải sản xuất ở mức sản lượng sao cho doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên tại mức Q* (MR = MC).

    CM : Q* là sản lượng tối đa hóa lợi nhuận.

    Giả sử  Q* à Q1  thì tương ứng  P* à P1  khi đó  MR > MC

    Q* à Q2  thì tương ứng  P* à P2  khi đó  MR < MC

    • Q1, Q2 không phải là sản lượng tối đa hóa lợi nhuận.
    • Sức mạnh độc quyền.

    Sự khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và doanh nghiệp độc quyền bán là : doanh ngiệp nghiệp độc quyền bán có sức mạnh thị trường. Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo phải đặt giá bằng chi phí cận biên, còn doanh nghiệp độc quyền bán đặt giá cao hơn chi phí cận biên. Vì thế sức mạnh độc quyền bán được đó bằng chỉ số Lerner, gọi là mức độ sức mạnh độc quyền của Lerner.

    • Mất không từ sức mạnh độc quyền.

    Do sức mạnh độc quyền tạo ra giá cao hơn và sản lượng sản xuất ra thấp hơn so với cạnh tranh hoàn hảo, nên ta dễ thấy người tiêu dùng bị thiệt hại, còn người sản xuất thì được lợi.

    Theo hình vẽ ta thấy nếu thị trường là cạnh tranh hoàn hảo thì giá và sản lượng sẽ là Pc và Qc. Nếu thị trường là độc quyền bán thì giá và sản lượng là Pm và Qm. Như vậy so với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thì thị trường độc quyền bán tạo ra phúc lợi ít hơn, một phần thặng dư tiêu dùng (diện tích A) và thặng dư sản xuất (diện tích B) bị mất do chỉ sản xuất ở mức sản lượng Qm. Phần phúc lợi bị mất gọi là mất không và được tính bằng S∆ABC.

    PHẦN II: TÍNH TOÁN

     

     

    I. Các thông tin

    Một doanh nghiệp độc quyền kinh doanh một loại sản phẩm đặc biệt gặp đường cầu :

    • P = 11 – Q
    • P = 100 – 3Q .

    Trong đó :

    P là giá tính bằng USD (đô-la) trên một đơn vị sản phẩm.

    Q là sản phẩm lượng tính bằng ngàn đơn vị sản phẩm.

    Nhà độc quyền có chi phí bình quân để sản xuất ra một sản phẩm là:

     

     

     

    II. Bài làm

     

    Câu 1:

    Khi tính bằng ngàn đô-la trên một ngàn đơn vị sản phẩm thì :

    P = 11000 – 1000Q1          (D1)

    P = 100000 – 3000Q2        (D2)

    Ta có :

    Q1 = 11 –

    Q2 =

    Đường cầu của doanh nghiệp được xác định như sau :

    Q = Q1 + Q2 = 11 –

    Vậy phương trình đường cầu có thể viết :

    P = 33250 – 750Q            (D)

    Þ  Ta có phương trình doanh thu là :

    TR1 = P.Q = 11000Q – 1000Q2
    TR   = P.Q = 33250Q – 750Q2

    Phương trình doanh thu cận biên là :

    MR1 =  = (TR1)’ = 11000 – 2000Q

    MR  =  = (TR2)’ = 33250 – 1500Q

    Phương trình chi phí cận biên :

    MC  =  = (TC)’ = 4Q + 3000

     

     

    Câu 2:

    Mức sản lượng tối ưu của nhà độc quyền xuất hiện khi doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên.

    • MR1 = MC
      • 11000 – 2000Q = 4Q + 3000
      • Q       =       4   (loại)
    • MR = MC
      • 33250 – 1500Q = 4Q + 3000
      • Q = 20,11          (ngàn sản phẩm)

     

    KL: Vậy mức sản lượng tối ưu của nhà độc quyền là :

    Q = 20,11 (ngàn sản phẩm)

    P = 33250 – 750.20,11 = 18167,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Nhà độc quyền sẽ đặt giá P = 18,1675 (USD / sản phẩm)

    • Tổng doanh thu là :

    TR = P.Q = 18167,5 . 20,11 = 365348.425 (USD)

    • Tổng chi phí là :

    TC = 500 + 2Q2 + 3000Q

    = 500 + 2(20,11)2 + 3000(20,11)

    = 61638,82 (USD)

    • Lợi nhuận cực đại nhà độc quyền có thể thu được là :

    max = TR – TC = 365348,425 – 61638,82

    = 303709,61 (USD)

     

    Câu 3:

    Sức mạnh của nhà độc quyền được thể hiện bằng việc doanh nghiệp này có quyền định giá và sản lượng bán của sản phẩm.

    Ở đây :

    P = 18167,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Q = 20,11 (ngàn sản phẩm)

    Þ  MC = 4Q + 3000

    = 4 . 20,11 + 3000

    = 3080,44

    Sức mạnh của nhà độc quyền là :

    Vì  0 ≤ L ≤ 1

    Þ  Nên có thể thấy sức mạnh độc quyền của doanh nghiệp này rất lớn.

     

     

    Câu 4:

    Mức giá và sản lượng tối ưu cho xã hội của hãng này xảy ra khi đường chi phí cận biên gặp đường cầu (tại điểm B trên hình vẽ)

    P = MC

    Û  33250 – 750Q = 4Q + 3000

    Û           Q = 40,12        (ngàn sản phẩm)

    Þ Giá   P = 33250 – 750Q

    = 33250 – 750 . 40,12

    = 3160 (USD / ngàn sản phẩm)

    Giá 1 sản phẩm là:  P = 3,16 (USD / sản phẩm)

    Để tối đa hóa lợi nhuận nhà độc quyền đã hạn chế sản lượng thấy hơn sản lượng tối ưu cho xã hội và gây ra mất không.

    Lượng mất không chính là: diện tích tam giác ABC.

    DWL = S∆ABC =

    = 150946 (USD)

     

    Câu 5:

    Khi chính phủ đặt giá bản của nhà độc quyền là P = 180 (USD / đơn vị sản phẩm) thì giá của 1000 sản phẩm là:

    P   = 180000 (USD / ngàn sản phẩm)

    TR = 180000 Q

    MR = 180000

    Để đạt được lợi nhuận cao nhất phải thỏa mãn:

    MR = MC

    Û  180000 = 4Q + 3000

    Û         Q = 44250        (ngàn sản phẩm)

    TR = 5 . 310 . 106 (USD)

    Ta có: TC = 600 + 2Q2 + 3000Q

    = 4048875500 (USD)

    Lợi nhuận cực đại là :

    max = TR – TC = 1261124500 (USD)

    Câu 6:

    Nếu doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa doanh thu thì phải thỏa mãn: MR = 0

    • MR1 = 0
      • 11000 – 2000Q = 0
      • Q  = 5,5  (loại – vì TR1 = 30250)
        • MR = 0
      • 33250 – 1500Q = 0
      • Q  = 22,167 (ngàn sản phẩm)

    P  = 16624,75 (USD / ngàn sản phẩm)

    hay                P  = 16,62475 (USD / sản phẩm)

    Vậy để tối đa hóa doanh thu thì doanh nghiệp sẽ bán ra

    Q = 22,167 (ngàn sản phẩm)

    Với giá

    P = 16,62475 (USD / sản phẩm)

    Câu 7:

    Để không bị lỗ, doanh nghiệp phải thỏa mãn: d = ATCmin

    Hay               MC = ATC

    • 4Q + 3000 = + 2Q + 3000
    • 2Q2  = 500

    Þ  Q =  = 15,81

    Để không bị lỗ doanh nghiệp phải sản xuất

    Q = 15,81 ( ngàn sản phẩm)

    Với giá

    P = 21392,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Hay

    P = 21,3925 (USD / sản phẩm)

    Câu 8:

    Thặng dư sản xuất của doanh nghiệp khi đạt mức lợi nhuận tối đa chính là phần diện tích đa giác ACDE trên đồ thị

    PS = 0,5 [(18167,5 – 3000) + (18167,5 – 3080,44)] . 20,11

    = 304209 (USD)

    Câu 9:

    Thặng dư tiêu dùng chính là diện tích tam giá AEF

    PS = 0,5 (33250 – 18167,5) . 20,11

    = 151654 (USD)

    Lợi ích ròng của xã hội khi đó

    NSB = PS + CS = 304209 + 151654

    = 455863 (USD)

    Câu 10:

     

     

    PHẦN III: KẾT LUẬN

    Qua bài tập lớn ở trên chúng ta có thể rút ra một số điều như sau:

    1. Sức mạnh của nhà độc quyền được thể hiện bằng việc doanh nghiệp đó có quyền quyết định giá và sản lượng bán. Từ đó có thể tính được mức độ sức mạnh của nhà độc quyền đó bằng việc dùng hàm Lerner.
    2. Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp sẽ phải phải là gì? ở đây muốn tối đa hóa lợi nhuận thì chi phí cận biên phải bằng với doanh thu cận biên. Từ đó ta có thể tính được lợi nhuận cực đại mà doanh nghiệp có thể thu được và sản lượng tối đa mà doanh nghiệp sẽ sản xuất ra để đem lại lợi nhuận cực đại đó.
    3. Mức giá và sản lượng tối ưu cho xã hội đối với hãng độc quyền này xảy ra khi đường chi phí cận biên gặp đường cầu.
    4. Nếu doanh nghiệp muốn tối đa hóa doanh thu thì hành vi thì phải thỏa mãn doanh thu cận biên bằng 0.
    5. Để không bị lỗ hay phá sản thì doanh nghiệp sẽ phải làm gì? Ở đây để không phá sản thì P = ATCmin khi và chỉ khi MC = ATC.
    6. Qua đó ta có thể tính được thặng dư sản xuất mà doanh nghiệp có được khi đạt mức lợi nhuận tối đa và tính được thặng dư tiêu dùng và lợi ích ròng của xã hội mà khi nhà độc quyền này đạt lợi nhuận cực đại.

    Þ Vì vậy chúng ta cần:

    • Cần nắm vững khái niệm, định nghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động kinh tế vi mô, quan trọng hơn là rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó. Chẳng hạn, phải hiểu tại sao lại đề ra các mức giá mua và giá bán, các sự lựa chọn phương pháp tăng lợi nhuận…
    • Cần phải sử dụng những lý luận, phương pháp luận có tính quy luật chung đó để làm cơ sở phân tích các hoạt động kinh tế vi mô, phát hiện những mâu thuẫn đang diễn ra trong thực tiễn và trên cơ sở đó xây dựng các dự đoán, đề ra các phương hướng, biện pháp phù hợp, nhằm phát triển có hiệu quả hơn các hoạt động kinh tế vi mô.

    Þ Bài tập lớn giúp ta hiểu hơn về môn học, đặc biệt là về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó sẽ phải có những biện pháp để khắc phục những sai lầm, của doanh nghiệp để đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn và có những hướng đi riêng để doanh nghiệp phát triển mạnh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây 


  • Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019

    Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019

    Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Nghi%E1%BB%87p-V%E1%BB%A5-H%E1%BA%A3i-Quan-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019

    THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

    1.     Một số khái niệm

    • Thủ tục hải quan điện tử

    Là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.

    • Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan

    Là hệ thống do Tổng cục Hải quan quản lý cho phép cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử, kết nối, trao đổi thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với các Bộ, ngành có liên quan.

    • Hệ thống khai hải quan điện tử:

    Là hệ thống thông tin phục vụ cho người khai hải quan khai và tiếp nhận thông tin, kết quả phản hồi của cơ quan Hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử.

    • Tờ khai hải quan điện tử

    Là một dạng chứng từ điện tử bao gồm tập hợp các chỉ tiêu thông tin khai của người khai HQ.

    • Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành

    Là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật

    • Chữ ký số trong thủ tục HQĐT

    Phải thoả mãn một số điều kiện:

    • Là chữ ký số tương ứng với chứng thư số được tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung cấp.
    • Tương thích với Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
    • Đăng ký chữ ký số với cơ quan hải quan thông qua cổng thông tin điên tử HQ.
    • Được sử dụng trên phạm vi toàn quốc

    2.     Thời hạn khai HQĐT

    1. Đối với hàng hóa xuất khẩu, khai (nộp) sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm người khai hải quan thông báo và chậm nhất là 04 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh thì chậm nhất là 02 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh.
    2. Đối với hàng hóa nhập khẩu, khai (nộp) trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu.

    3.     Hồ sơ hải quan

    3.1.            Đối với hàng xuất khẩu:

    • Tờ khai hàng hóa xuất khẩu
    • Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành.

    3.2.            Đối với hàng nhập khẩu:

    • Tờ khai hàng hóa nhập khẩu
    • Hóa đơn thương mại trong trường hợp người mua phải thanh toán cho người bán: 01 bản chụp.
    • Vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương
    • Giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép nhập khẩu; Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc Giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật
    • Tờ khai trị giá
    • Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Quy định cụ thể các trường hợp phải nộp)

    4.     Khai bổ sung HSHQ

    • Người khai hải quan được khai bổ sung hồ sơ hải quan sau khi Hệ thống phân luồng tờ khai nhưng trước thời điểm cơ quan hải quan thực hiện việc kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải quan;
    • Người khai hải quan, người nộp thuế xác định có sai sót trong việc khai hải quan thì được khai bổ sung hồ sơ hải quan trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan nhưng trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra;
    • Người khai hải quan, người nộp thuế phát hiện sai sót trong việc khai hải quan sau thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa nhưng trước khi thông quan thì thực hiện khai bổ sung và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
    • Quá thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan hoặc sau khi cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra, người khai hải quan, người nộp thuế mới phát hiện sai sót trong việc khai hải quan thì thực hiện khai bổ sung và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
    • Người khai hải quan thực hiện khai bổ sung theo yêu cầu của cơ quan hải quan khi kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

    5.     Địa điểm đăng ký tờ khai hải quan

    Hàng hóa xuất khẩu:

    • Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có cơ sở sản xuất
    • Chi cục Hải quan nơi tập kết hàng hóa xuất khẩu
    • Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất hàng;

    Hàng hóa nhập khẩu

    • Chi cục Hải quan cửa khẩu nơi quản lý địa điểm lưu giữ hàng hóa, cảng đích ghi trên vận tải đơn, hợp đồng vận chuyển
    • Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi hàng hóa được chuyển đến;

    6.     Các trường hợp hủy tờ khai:

    • Quá thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai:
    • Hàng hóa được miễn kiểm tra thực tế nhưng không có hàng nhập khẩu đến cửa khẩu nhập hoặc hàng xuất khẩu chưa đưa vào khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu xuất;
    • Người khai hải quan không xuất trình hồ sơ hải quan trong trường hợp phải xuất trình hồ sơ hải quan để cơ quan hải quan kiểm tra;
    • Người khai hải quan chưa xuất trình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra thực tế để cơ quan hải quan kiểm tra;
    • Các trường hợp hủy tờ khai theo yêu cầu của người khai hải quan

    7.     Quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan

    1. Khái niệm rủi ro:

    Rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.

    1. Khái niệm quản lý rủi ro:

    Quản lý rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả.

    1. Nội dung chủ yếu:
    • Thu thập, xử lý thông tin hải quan;
    • Xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan
    • Phân loại mức độ rủi ro
    • Tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.
    1. Đánh giá tuân thủ pháp luật đối với người khai hải quan
    • Tần suất vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế;
    • Tính chất, mức độ vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế;
    • Việc hợp tác với cơ quan hải quan trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan và chấp hành các quyết định khác của cơ quan hải quan.
    • Cơ quan hải quan đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan để áp dụng các biện pháp quản lý hải quan phù hợp theo từng mức độ tuân thủ.
    • Doanh nghiệp ưu tiên;
    • Doanh nghiệp tuân thủ;
    • Doanh nghiệp không tuân thủ
    1. Các căn cứ phân loại rủi ro:
    • Chính sách quản lý, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, hành lý của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
    • Tính chất, đặc điểm của hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải;
    • Tần suất, tính chất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải;
    • Xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
    • Tuyến đường, phương thức vận chuyển hàng hóa, hành lý;
    • Các yếu tố khác liên quan đến quá trình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

    Cơ quan hải quan thực hiện đánh giá phân loại rủi ro đối với người khai hải quan, các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo các mức độ khác nhau để áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát hải quan, thanh tra phù hợp.

    8. Hệ thống thông quan hàng hoá tự động

    1. Hệ thống VNACC-VCIS gồm:
    • Hệ thống thông quan tự động (VNACCS) –Vietnam automated cargo clearance system)
    • Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (VCIS)
    • Là hệ thống xử lý thông tin nghiệp vụ dựa trên nguyên tắc mã hoá các nghiệp vụ, các chỉ tiêu thông tin.
    • Tiếp nhận các thông tin khai báo trước của DN
    • Các bộ ngành cấp giấy phép thông qua hệ thống VNACCS.
    1. Ưu điểm của hệ thống
    • Tốc độ thông quan nhanh
    • Tập trung cả ba khâu: trước, trong và sau thông quan
    • Hạn chế hồ sơ giấy
    • Không cần khai riêng tờ khai trị giá
    • Hệ thống VNACCS kết nối với nhiều hệ thống thông tin của các bên liên quan
    • Chuẩn hoá các chế độ quản lý HQ với khoảng 40 mã loại hình XNK
    • Áp dụng chữ ký điện tử, hỗ trợ thiết bị đầu cuối cho DN.
    • Tự động xác định thuế xuất, phân bổ tính toán trị giá, tính thuế.
    • Tự động kiểm tra thanh toán thuế, tự động thông quan
    • Thanh toán thuế: bảo lãnh, nộp thuế.
    • Kết nối với các bộ ngành trong việc cấp giấy phép
    • Không phân biệt loại hình mậu dịch và phi mậu dịch.
    1. Khai hải quan trên phần mềm ECUS-5

     

     

     

    NGHIỆP VỤ KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN

    4.1 Kiểm tra hải quan

    4.1.1 Khái niệm:

    Theo luật hải quan Việt Nam 2014, kiểm tra hải quan là việc cơ quan hải quan  kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ, tài liệu liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải.

    4.1.2 Ý nghĩa kiểm tra, giám sát hải quan

    • Phát hiện tính bất hợp pháp của những hành vi di chuyển hàng hóa, phương tiện vận tải và hành lý chuyển dịch qua biên giới;
    • Tạo nên cơ sở đúng đắn, sát thực tế cho việc tính thuế và thu thuế xuất nhập khẩu;
    • Buộc những người có liên quan đến hàng hóa , ngoại hối, phương tiện  vận tải … phải chấp hành đúng những quy định của pháp luật;
    • Thông qua việc kiểm tra giám sát hải quan để phát hiện những sơ hở, những điều không rõ ràng của pháp luật, trên cơ sở đó góp ý kiến bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước.

    4.1.3 Đối tượng kiểm tra, giám sát hải quan

    • Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, hàng hóa trung chuyển, vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; ngoại hối, tiền Việt Nam, kim khí quý, đá quý; văn hóa phẩm, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; bưu phẩm, bưu kiện; hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh, các vật phẩm khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan.
    • Phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cửa khẩu và chuyển cảng.
    • Hồ sơ hải quan và các chứng từ liên quan đến các đối tượng ở trên.
    • Tổ chức cá nhân liên quan đến việc làm thủ tục hải quan.

    4.1.4 Nguyên tắc chung khi kiểm tra hải quan

    • Kiểm tra hải quan được thực hiện:
      • Trong quá trình làm thủ tục hải quan
      • Trong quá trình kiểm tra sau thông quan.
    • Việc kiểm tra hải quan phải được giới hạn ở mức độ cần thiết để:
      • Đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan
      • Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
    • Hình thức kiểm tra hải quan được quyết định:
      • Kết quả phân tích thông tin về lô hàng
      • Việc đánh giá kết quả chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng
      • Mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan.
    • Nguyên tắc kiểm tra cụ thể (Điều 23, TT 38/2015)

    Các căn cứ quyết định kiểm tra hải quan:

    • Thông báo kết quả phân luồng tờ khai hải quan của Hệ thống
    • Quyết định của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hoặc Chi cục Hải quan nơi kiểm tra thực tế hàng hóa
    • Thông tin khai hải quan
    • Thông tin chỉ dẫn rủi ro trên Hệ thống

    4.1.5 Kiểm tra hải quan bao gồm:Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hoá

    1. Kiểm tra hồ sơ hải quan
    • Kiểm tra thông tin tờ khai
    • Kiểm tra việc tuân thủ chế độ chính sách theo quy định của pháp luật HQ
    • Kiểm tra thuế

    b.Kiểm tra thực tế hàng hoá

    • Khái niệm

    Kiểm tra thực tế hàng hóa là việc cơ quan hải quan kiểm tra tình hình thực tế của hàng hóa, đối chiếu sự phù hợp giữa thực tế hàng hóa với các nội dung trong tờ khai hải quan và các chứng từ khác trong bộ hồ sơ hải quan.

    • Căn cứ quyết định
      • Quá trình chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng.
      • Chính sách mặt hàng của nhà nước trong từng thời kỳ.
      • Quá trình phân tích các thông tin liên quan đến người khai hải quan và lô hàng đang được làm thủ tục hải quan
    • Các mức kiểm tra thực tế
      • Miễn kiểm tra thực tế hàng hoá
      • Kiểm tra xác suất hàng hoá
      • Kiểm tra toàn bộ
    • Các hình thức kiểm tra thực tế
      • Kiểm tra thủ công
      • Sử dụng máy móc thiết bị
      • Kiểm tra thông qua kết quả phân tích, giám định hàng hoá
    • Nội dung kiểm tra gồm:
    • Kiểm tra tên hàng, mã số, mức thuế
    • Kiểm tra về lượng hàng hoá
    • Kiểm tra chất lượng hàng hoá
    • Kiểm tra trị giá hải quan
    • Kiểm tra xuất xứ hàng hoá
    • Kiểm tra việc thực hiện chính sách thuế, kiểm tra việc áp dụng văn bản thông báo kết quả xác định trước
    • Kiểm tra giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, kết quả kiểm tra chuyên ngành

    4.2. Giám sát hải quan

    4.2.1. Khái niệm:

    Là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để đảm bảo sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.

    4.2.2 Đối tượng giám sát hải quan:

    Hàng hóa, phương tiện vận tải, phương tiện vận tải nội địa vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.

    4.2.3 Phương thức giám sát hải quan:

    • Niêm phong hải quan
    • Giám sát trực tiếp do công chức hải quan thực hiện
    • Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật.

    4.2.4 Các tiêu chí lựa chọn phương thức giám sát hải quan  đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh:

    • Chính sách quản lý hàng hóa, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
    • Lĩnh vực, loại hình, thời gian hoạt động, tuyến đường, địa bàn, phương tiện vận chuyển, lưu giữ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
    • Đặc điểm, tính chất, xuất xứ, tần suất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;

    Các quy định khác liên quan đến quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh

    • Thời gian giám sát hải quan
    • Hàng hóa nhập khẩu: chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
    • Hàng hóa xuất khẩu:
      • Hàng XK miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động của hải quan.
      • Hàng xuất khẩuphải kiểm tra thực tế: chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động của hải quan.

    4.2.5 Phương thức giám sát hải quan

    • Niêm phong hải quan
    • Khái niệm:
    • Niêm phong hải quan là việc các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp đóng kín đối tượng bằng các chất liệu thích hợp, nếu muốn xâm nhập đối tượng phải phá hủy niêm phong.
    • Niêm phong hải quan là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật hoặc các dấu hiệu để nhận biết và bảo đảm tính nguyên trạng của hàng hóa.
    • Các hình thức niêm phong
      • Niêm phong bằng giấy:
      • Niêm phong bằng chì hải quan
      • Niêm phong điện tử (e-seal)

    4.3 Kiểm tra sau thông quan (bài giảng)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây


  • Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan 2019

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan 2019

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Quy-Tr%C3%ACnh-Th%E1%BB%A7-T%E1%BB%A5c-H%E1%BA%A3i-Quan-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan 2019

    QUY TRÌNH CƠ BẢN THỦ TỤC HẢI QUAN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU-NHẬP KHẨU

    1. Sơ đồ tổng quan quy trình khai báo và khai sửa đổi bổ sung trong thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu:

                1.1 Khai thông tin nhập khẩu (IDA)

    – Người khai hải quan khai các thông tin nhập khẩu bằng nghiệp vụ IDA trước khi đăng ký tờ khai nhập khẩu. Khi đã khai đầy đủ các chỉ tiêu trên màn hình IDA (133 chỉ tiêu), người khai hải quan gửi đến hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ tự động cấp số, tự động xuất ra các chỉ tiêu liên quan đến thuế suất, tên tương ứng với các mã nhập vào (ví dụ: tên nước nhập khẩu tương ứng với mã nước, tên đơn vị nhập khẩu tương ứng với mã số doanh nghiệp…), tự động tính toán các chỉ tiêu liên quan đến trị giá, thuế… và phản hồi lại cho người khai hải quan tại màn hình đăng ký tờ khai – IDC.

    – Khi hệ thống cấp số thì bản khai thông tin nhập khẩu IDA được lưu trên hệ thống VNACCS.

                1.2. Đăng ký tờ khai nhập khẩu (IDC)

    – Khi nhận được màn hình đăng ký tờ khai (IDC) do hệ thống phản hồi, người khai hải quan kiểm tra các thông tin đã khai báo, các thông tin do hệ thống tự động xuất ra, tính toán. Nếu khẳng định các thông tin là chính xác thì gửi đến hệ thống để đăng ký tờ khai.

    – Trường hợp sau khi kiểm tra, người khai hải quan phát hiện có những thông tin khai báo không chính xác, cần sửa đổi thì phải sử dụng nghiệp vụ IDB gọi lại màn hình khai thông tin nhập khẩu (IDA) để sửa các thông tin cần thiết và thực hiện các công việc như đã hướng dẫn ở trên.

                1.3. Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai

    Trước khi cho phép đăng ký tờ khai, hệ thống sẽ tự động kiểm tra Danh sách doanh nghiệp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai (doanh nghiệp có nợ quá hạn quá 90 ngày, doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, giải thể, phá sản…). Nếu doanh nghiệp thuộc danh sách nêu trên thì không được đăng ký tờ khai và hệ thống sẽ phản hồi lại cho người khai hải quan biết.

    1.4. Phân luồng, kiểm tra, thông quan: Khi tờ khai đã được đăng ký, hệ thống tự động phân luồng, gồm 3 luồng xanh, vàng, đỏ

    1.4.1 Đối với các tờ khai luồng xanh

    – Trường hợp số thuế phải nộp bằng 0: Hệ thống tự động cấp phép thông quan (trong thời gian dự kiến 03 giây) và xuất ra cho người khai “Quyết định thông quan hàng hóa nhập khẩu”.

    – Trường hợp số thuế phải nộp khác 0

    + Trường hợp đã khai báo nộp thuế bằng hạn mức hoặc thực hiện bảo lãnh (chung, riêng): Hệ thống tự động kiểm tra các chỉ tiêu khai báo liên quan đến hạn mức, bảo lãnh, nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh lớn hơn hoặc bằng số thuế phải nộp, hệ thống sẽ xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu” và “Quyết định thông quan hàng hóa nhập khẩu”. Nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh nhỏ hơn số thuế phải nộp, hệ thống sẽ báo lỗi.

    + Trường hợp khai báo nộp thuế ngay (chuyển khoản, nộp tiền mặt tại cơ quan hải quan….): Hệ thống xuất ra cho người khai “Chứng từ ghi số thuế phải thu”. Khi người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế, phí, lệ phí và hệ thống VNACCS đã nhận thông tin về việc nộp thuế, phí, lệ phí thì hệ thống xuất ra “Quyết định thông quan hàng hóa”.

    – Cuối ngày hệ thống VNACCS tập hợp toàn bộ tờ khai luồng xanh  đã được thông quan chuyển sang hệ thống VCIS.

    1.4.2  Đối với các tờ khai luồng vàng, đỏ

    1. Người khai hải quan

    – Nhận phản hồi của hệ thống về kết quả phân luồng, địa điểm, hình thức, mức độ kiểm tra thực tế hàng hoá;

    • Nộp hồ sơ giấy để cơ quan hải quan kiểm tra chi tiết hồ sơ; chuẩn bị các điều kiện để kiểm  thực tế hàng hoá;
    • Hồ sơ hải quan gồm:
    • Tờ khai hàng hóa nhập khẩu
    • Hóa đơn thương mại trong trường hợp người mua phải thanh toán cho người bán: 01 bản chụp.
    • Vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương
    • Giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép nhập khẩu; Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc Giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật
    • Tờ khai trị giá
    • Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Quy định cụ thể các trường hợp phải nộp)

    – Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí (nếu có).

    1. Hệ thống

    (1) Xuất ra cho người khai “Tờ khai hải quan” (có nêu rõ kết quả phân luồng tại chỉ tiêu: Mã phân loại kiểm tra)

    (2) Xuất ra Thông báo yêu cầu kiểm tra thực tế hàng hóa đối với hàng hóa được phân vào luồng đỏ hoặc khi cơ quan hải quan sử dụng nghiệp vụ CKO để chuyển luồng.

    (3) Ngay sau khi cơ quan hải quan thực hiện xong nghiệp vụ CEA hệ thống tự động thực hiện các công việc sau:

    – Trường hợp số thuế phải nộp bằng 0: Hệ thống tự động cấp phép thông quan và xuất ra cho người khai “Quyết định thông quan hàng hóa”.

    – Trường hợp số thuế phải nộp khác 0:

    • Trường hợp đã khai báo nộp thuế bằng hạn mức hoặc thực hiện bảo lãnh (chung, riêng): Hệ thống tự động kiểm tra các chỉ tiêu khai báo liên quan đến hạn mức, bảo lãnh, nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh lớn hơn hoặc bằng số thuế phải nộp, hệ thống sẽ xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu” và “Quyết định thông quan hàng hóa”. Nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh nhỏ hơn số thuế phải nộp, hệ thống sẽ báo lỗi.
    • Trường hợp khai báo nộp thuế ngay (chuyển khoản, nộp tiền mặt tại cơ quan hải quan….): Hệ thống xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu. Khi người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế, phí, lệ phí và hệ thống VNACCS đã nhận thông tin về việc nộp thuế phí, lệ phí thì hệ thống xuất ra “Quyết định thông quan hàng hóa”.

                1.5. Khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan

    (1) Hệ thống cho phép khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan từ sau khi đăng ký tờ khai đến trước khi thông quan hàng hoá. Để thực hiện khai bổ sung trong thông quan, người khai hải quan sử dụng nghiệp vụ IDD gọi ra màn hình khai thông tin sửa đổi bổ sung được hiển thị toàn bộ thông tin tờ khai nhập khẩu (IDA) trong trường hợp khai sửa đổi, bổ sung lần đầu, hoặc hiển thị thông tin khai nhập khẩu sửa đổi cập nhật nhất (IDA01) trong trường hợp khai sửa đổi, bổ sung từ lần thứ 2 trở đi.

    (2) Khi đã khai báo xong tại nghiệp vụ IDA01, người khai hải quan gửi đến hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ cấp số cho tờ khai sửa đổi và phản hồi lại các thông tin tờ khai sửa đổi tại màn hình IDE, khi người khai hải quan ấn nút “gửi” tại màn hình này thì hoàn tất việc đăng ký tờ khai sửa đổi, bổ sung.

    (3) Số tờ khai sửa đổi là kí tự cuối cùng của ô số tờ khai, số lần khai báo sửa đổi, bổ sung trong thông quan tối đa là 9 lần tương ứng với ký tự cuối cùng của số tờ khai từ 1 đến 9; trường hợp không khai bổ sung trong thông quan thì ký tự cuối cùng của số tờ khai là 0.

    (4) Khi người khai hải quan khai sửa đổi, bổ sung tờ khai, thì tờ khai sửa đổi, bổ sung chỉ có thể được phân luồng vàng hoặc luồng đỏ (không phân luồng xanh).

    (5) Các chỉ tiêu trên màn hình khai sửa đổi, bổ sung (IDA01) giống các chỉ tiêu trên màn hình khai thông tin nhập khẩu (IDA). Khác nhau là một số chỉ tiêu (sẽ nêu cụ thể tại phần hướng dẫn nghiệp vụ IDA01) không nhập được tại IDA01 do không được sửa đổi hoặc không thuộc đối tượng sửa đổi.

                1.6. Những điểm cần lưu ý

    (1) Mỗi tờ khai được khai tối đa 50 mặt hàng, trường hợp một lô hàng có trên 50 mặt hàng, người khai hải quan sẽ phải thực hiện khai báo trên nhiều tờ khai, các tờ khai của cùng một lô hàng được liên kết với nhau dựa trên số nhánh của tờ khai

    (2) Trị giá tính thuế

    – Khai báo trị giá: Ghép các chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp 1 vào tờ khai nhập khẩu; Đối các phương pháp khác, chỉ ghép một số chỉ tiêu kết quả vào tờ khai nhập khẩu, việc tính toán cụ thể trị giá theo từng phương pháp phải thực hiện trên tờ khai trị giá riêng.

    – Tự động tính toán: Đối với các lô hàng đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch, người khai hải quan khai báo Tổng trị giá hoá đơn, tổng hệ số phân bổ trị giá, trị giá hoá đơn của từng dòng hàng, các khoản điều chỉnh, hệ số phân bổ các khoản điều chỉnh, trên cơ sở đó, hệ thống sẽ tự động  phân bổ các khoản điều chỉnh và tự động tính trị giá tính thuế cho từng dòng hàng.

    – Không tự động tính toán: Đối với các lô hàng đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch nhưng ngoài I và F còn có trên 5 khoản điều chỉnh khác hoặc việc phân bổ các khoản điều chỉnh không theo tỷ lệ trị giá thì hệ thống không tự động phân bổ, tính toán trị giá tính thuế; Đối với các trường hợp này, người khai hải quan khai báo, tính toán trị giá tính thuế của từng dòng hàng tại tờ khai trị giá riêng, sau đó điền kết quả vào ô “trị giá tính thuế” của từng dòng hàng.

    (3) Tỷ giá tính thuế

    Khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA, hệ thống sẽ áp dụng tỷ giá tại ngày thực hiện nghiệp vụ này để tự động tính thuế:

    – Trường hợp người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA và đăng ký tờ khai IDC trong cùng một ngày hoặc trong 02 ngày có tỷ giá giống nhau thì hệ thống tự động giữ nguyên tỷ giá tính thuế;

    – Trường hợp người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ đăng ký tờ khai  IDC (được tính là thời điểm người khai hải quan ấn nút “Gửi” tại màn hình IDC) tại ngày có tỷ giá khác với tỷ giá tại ngày khai thông tin nhập khẩu IDA thì hệ thống sẽ báo lỗi. Khi đó, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB gọi bản IDA để khai báo lại – thực chất là chỉ cần gọi IDA và gửi luôn hệ thống sẽ tự động cập nhật lại tỷ giá theo ngày đăng ký tờ khai.

    (4) Thuế suất

    – Khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA, hệ thống sẽ lấy thuế suất tại ngày dự kiến khai báo IDC để tự động điền vào ô thuế suất.

    – Trường hợp thuế suất tại ngày IDC dự kiến khác thuế suất tại ngày IDC, thì khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ đăng ký tờ khai IDC hệ thống sẽ báo lỗi, khi đó, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB gọi bản IDA để khai báo lại – thực chất là chỉ cần gọi IDA và gửi luôn, hệ thống tự động cập nhật lại thuế suất theo ngày đăng ký tờ khai IDC.

    – Trường hợp người khai hải quan nhập mức thuế suất thủ công thì hệ thống xuất ra chữ “M” bên cạnh ô thuế suất.

    (5) Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn/giảm/không chịu thuế

    – Việc xác định hàng hóa thuộc đối tượng được miễn thuế XK không căn cứ vào Bảng mã miễn/giảm/không chịu thuế, mà phải thực hiện theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan.

    – Chỉ sau khi đã xác định được hàng hóa thuộc đối tượng được miễn thuế XK mới áp mã dùng trong VNACCS theo Bảng mã miễn/giảm/không chịu thuế.

    – Nhập mã miễn/giảm/không chịu thuế vào chỉ tiêu tương ứng trên màn hình đăng ký khai báo nhập khẩu (IDA).

    – Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký DMMT trên VNACCS (TEA) thì phải nhập đủ cả mã miễn thuế và số DMMT, số thứ tự dòng hàng trong DMMT đã đăng ký trên VNACCS.

    – Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế Nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký DMMT nhưng đăng ký thủ công ngoài VNACCS thì phải nhập mã miễn thuế và ghi số DMMT vào phần ghi chú.

    (6) Trường hợp hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng

    – Việc xác định hàng hóa, thuế suất giá trị gia tăng không căn cứ vào Bảng mã thuế suất thuế giá trị gia tăng; mà phải thực hiện theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan.- Chỉ sau khi đã xác định được hàng hóa, thuế suất cụ thể theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan mới áp mã dùng trong VNACCS theo Bảng mã thuế suất thuế giá trị gia tăng.

    – Nhập mã thuế suất thuế giá trị gia tăng vào chỉ tiêu tương ứng trên màn hình đăng ký khai báo nhập khẩu (IDA).

    (7) Trường hợp doanh nghiệp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai (do có nợ quá hạn quá 90 ngày hoặc Doanh nghiệp giải thể, phá sản, tạm ngừng kinh doanh,…)

    Hệ thống tự động từ chối cấp số tờ khai và báo lỗi cho phía người khai lý do từ chối tiếp nhận khai báo. Tuy nhiên, nếu hàng nhập khẩu phục vụ trực tiếp an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu trợ khẩn cấp, hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại thì hệ thống vẫn chấp nhận đăng ký tờ khai dù doanh nghiệp thuộc danh sách nêu trên.

    (8) Trường hợp đăng ký bảo lãnh riêng trước khi cấp số tờ khai (bảo lãnh theo số vận đơn/hóa đơn)

    Số vận đơn hoặc số hóa đơn đã đăng ký trong chứng từ bảo lãnh phải khớp với số vận đơn/số hóa đơn người khai khai báo trên màn hình nhập liệu.

    Nếu đăng ký bảo lãnh riêng sau khi hệ thống cấp số tờ khai thì số tờ khai đã đăng ký trong chứng từ bảo lãnh phải khớp với số tờ khai hệ thống đã cấp.

    (9) Trường hợp cùng một mặt hàng nhưng các sắc thuế có thời hạn nộp thuế khác nhau

    Hệ thống sẽ tự động xuất ra các chứng từ ghi số thuế phải thu tương ứng với từng thời hạn nộp thuế. Trường hợp người khai làm thủ tục nhập khẩu nhiều mặt hàng nhưng các mặt hàng có thời hạn nộp thuế khác nhau, người khai sẽ phải khai trên các tờ khai khác nhau tương ứng với từng thời hạn nộp thuế.

    1. Cách thức thực hiện:

    Việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan;

    1. Thành phần, số lượng hồ sơ:

    – Thành phần hồ sơ:

    + Tờ khai hàng hoá nhập khẩu.

    + Các chứng từ đi kèm tờ khai (dạng điện tử hoặc văn bản giấy): theo quy định tại Điều 24 Luật Hải quan.

    – Số lượng hồ sơ: 01 bản giấy hoặc điện tử.

    1. Thời hạn giải quyết:

    – Hệ thống phản hồi cho người khai hải quan ngay sau khi hệ thống tiếp nhận, công chức hải quan chấp nhận kết quả phân luồng/từ chối tờ khai trừ các trường hợp bất khả như nghẽn mạng, hệ thống đường truyền gặp sự cố…

    – Thời hạn hoàn thành thành kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải (tính từ thời điểm người khai hải quan đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về làm thủ tục hải quan theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 23 Luật Hải quan):

    + Chậm nhất là 08 giờ làm việc đối với lô hàng xuất khẩu áp dụng hình thức kiểm tra thực tế một phần hàng hóa theo xác suất;

    + Chậm nhất là 02 ngày làm việc đối với lô hàng xuất khẩu áp dụng hình thực kiểm tra thực tế toàn bộ hàng hóa.

    Trong trường hợp áp dụng hình thức kiểm tra thực tế toàn bộ hàng hóa mà lô hàng xuất khẩu có số lượng lớn, việc kiểm tra phức tạp thì thời hạn kiểm tra có thể được gia hạn nhưng không quá 08 giờ làm việc.

    1. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức, cá nhân
    2. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    – Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Chi cục hải quan

    – Người có thẩm quyền được ủy quyền hoặc phân cấp thực hiện: Không

    – Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính: Chi cục hải quan

    – Cơ quan phối hợp (nếu có):

    1. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định thông quan hàng hóa
    2. Lệ phí: 20.000 đồng
    3. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính: Tờ khai hàng hóa nhập khẩu (mẫu HQ/2015/NK) và Phụ lục tờ khai hàng hoá nhập khẩu (mẫu HQ/2015-PLNK) Phụ lục 6 Thông tư 38/2015/TT-BTC
    4. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:

    Trước khi thực hiện thủ tục hải quan, người khai hải quan phải:

    – Có chữ ký số được đăng ký;

    – Đăng ký người sử dụng Hệ thống VNACCS/VCIS;

    – Làm thủ tục cấp mã địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Trường hợp doanh nghiệp không được công nhận địa điểm kiểm tra tại chân công trình, cơ sở sản xuất, nhà máy, doanh nghiệp phải đưa hàng hoá đến địa điểm kiểm tra tập trung để kiểm tra (áp dụng đối với các lô hàng được hệ thống VNACCS phân vào luồng đỏ).

    1. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

    – Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014;

    – Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan;

    – Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

    – Thông tư số 172/2010/TT-BTC ngày 02/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực Hải quan.

    2. Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng xuất khẩu thương mại

     

    Quy trình tương tự như đối với hàng NK.

    Trình tự thực hiện:

    – Bước 1: Người khai hải quan thực hiện việc khai báo hải quan và xuất trình hồ sơ hải quan (nếu có), xuất trình thực tế hàng hoá (nếu có) cho cơ quan hải quan.

    – Bước 2: Công chức hải quan thực hiện việc thông quan hàng hoá cho người khai hải quan.

    – Cách thức thực hiện: Điện tử

    – Thành phần, số lượng hồ sơ:

    * Thành phần hồ sơ:

    1. a) Tờ khai hàng hóa xuất khẩu theo các chỉ tiêu thông tin tại Phụ lục II ban hành kèm Thông tư số 38/2015/TT-BTC.
    2. b) Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu: 01 bản chính nếu xuất khẩu một lần hoặc 01 bản chụp kèm theo Phiếu theo dõi trừ lùi nếu xuất khẩu nhiều lần;
    3. c) Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật: 01 bản chính.

    Đối với chứng từ quy định tại điểm b, điểm c nêu trên, nếu áp dụng cơ chế một cửa quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành gửi giấy phép xuất khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra, miễn kiểm tra chuyên ngành dưới dạng điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, người khai hải quan không phải nộp khi làm thủ tục hải quan.

    * Số lượng hồ sơ: 01 bộ

    – Thời hạn giải quyết:

    – Thời hạn tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra hồ sơ hải quan: ngay sau khi người khai hải quan nộp, xuất trình hồ sơ hải quan đúng quy định của pháp luật (Khoản 1, Điều 23 Luật Hải quan)

    – Thời hạn hoàn thành thành kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải:

    + Hoàn thành việc kiểm tra hồ sơ chậm nhất là 02 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan;

    + Hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hoá chậm nhất là 08 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan;

    Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật có liên quan thì thời hạn hoàn thành kiểm tra thực tế hàng hóa được tính từ thời điểm nhận được kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định.

    Trường hợp lô hàng có số lượng lớn, nhiều chủng loại hoặc việc kiểm tra phức tạp thì Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan quyết định việc gia hạn thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa, nhưng thời gian gia hạn tối đa không quá 02 ngày.

    – Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân, tổ chức

    – Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    1. a) Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Chi cục Hải quan
    2. b) Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được uỷ quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): Không có
    3. c) Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Chi cục Hải quan
    4. d) Cơ quan phối hợp (nếu có): Không có

    – Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Xác nhận thông quan

    – Phí, lệ phí: 20.000 đồng

    – Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai:

    – Tờ khai hải quan (theo Phụ lục III, Phụ lục IV Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính);

    – Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không

    – Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

    – Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014 của Quốc hội;

    – Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.

    – Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

    – Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

    – Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

    – Thông tư số 172/2010/TT-BTC ngày 02/11/2010 của Bộ Tài chính ban hành quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực Hải quan.

    Số điện thoại đường dây nóng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Quy-Tr%C3%ACnh-Giao-Nh%E1%BA%ADn-C%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-Ty-Xu%E1%BA%A5t-Nh%E1%BA%ADp-Kh%E1%BA%A9u-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019

    QUY TRÌNH GIAO NHẬN CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU

    QUY TRÌNH GIAO NHẬN CỦA CÔNG TY TNHH XUẤT NHẬP KHẨU VÀ VẬN TẢI NAM DƯƠNG.

    Nếu như tính đến các năm trước, khi thị trường hàng hóa còn khó khăn, việc giao nhận hàng của các công ty vận tải không chỉ gặp khó khăn vì lượng hàng khan hiếm mà còn khó khăn khi các khâu về thủ tục phức tạp và rườm rà, tàu vào cảng dỡ hàng mất nhiều thời gian, năng suất xếp dỡ của các thiết bị thấp làm lượng hàng giải phóng kém, xe chờ hàng chạy lâu làm giảm đi đáng kể khả năng quay đầu của các phương tiện vận tải thì tính đến nay, riêng về mặt thủ tục đã có những thay đổi đáng để trong việc bỏ đi các khâu trung gian không cần thiết tại cảng vào cả trong Hải quan. Việc đưa vào sử dụng hệ thống Hải quan điện tử đã giúp tiết kiệm thời gian xét hồ sơ, nếu như làm thủ tục giấy như trước đây thì doanh nghiệp mất từ 1 đến 2 ngày để thông quan luồng xanh, 3 đến 5 ngày để thông quan đối với luồng vàng thì hiện tại, với tốc độ xử lý nhanh chóng, các doanh nghiệp nói chung chỉ cần 0.3 giây là hệ thống có thể xuất ra kết quả phân loại luồng, thông quan nhanh đối với luồng xanh, với luồng vàng, doanh nghiệp mang hồ sơ đến chi cục Hải quan và với luồng đỏ tiến hành kiểm hóa.

    Quy trình giao nhận hàng của mỗi  công ty lại có những điểm khác nhau riêng nhưng đều hướng đến mục tiêu là nhanh chóng hoàn thành các thủ tục cần thiết để khách hàng có thể nhận hàng. Trong khi tại Hải Phòng hiện nay, có hàng nghìn công ty giao nhận thì việc chậm trễ các bước giao nhận có thể làm cho công ty đó mất đi các khách hàng tiềm năng, giảm uy tín và ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình kinh doanh của khách hàng nếu như lô hàng giao nhận đó là nguyên liệu phục vụ trong sản xuất. Tính trên thực tế, để hoàn thành được lô hàng 1 cách nhanh chóng, công ty không chỉ cần nắm vững được nghiệp vụ cơ bản mà cần có mối quan hệ với các cơ quan hữu quan từ Hải quan , cảng lẫn hãng tàu.

    Xét về tổng quát, quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu của công ty cũng giống như quy trình chung của tất cả công ty giao nhận khác đều trải qua 8 bước cơ bản như sau :

    Bước 1. Nhận yêu cầu từ khách hàng

    Nhân viên của bộ phận kinh doanh tiếp nhận yêu cầu của khách hàng  với nhiệm vụ là thay mặt khách hàng làm thủ tục thông quan nhập khẩu, nhận hàng tại cảng biển, tổ chức vận chuyển hàng hóa an toàn và giao cho công ty khách hàng tại kho riêng địa điểm chỉ định. Sau đó tiến hành xem xét báo giá, 2 bên thỏa thuận và ký kết hợp đồng giao nhận.

    Bước 2. Kiểm tra bộ chứng từ được giao

    Sau khi ký kết hợp đồng giao nhận, Trưởng phòng giao nhận sẽ thay mặt Ban gám đốc cử nhân viên giao nhận cụ thể làm việc với phía khách hàng và nhận bộ chứng từ gồm:

    • Giấy giới thiệu của Công ty khách hàng
    • Giấy thông báo hàng đến (Arrival Notice)
    • Vận đơn đường biển (Bill of Lading)
    • Hợp đồng thương mại (Sales Contract)
    • Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)
    • Bảng kê khai chi tiết hàng hóa (Packing List)

    Thông thường, những bộ chứng từ gửi đến công ty đều đã được công ty khách hàng kiểm tra tính hợp lệ, cũng như chỉnh sửa tất cả những sai sót có thể xảy ra. Tuy nhiên, với tính chuyên nghiệp, cẩn trọng trong quá trình làm việc, cũng như để việc giao nhận về sau được tiến hành một các nhanh chóng và thuận lợi thì nhân viên giao nhận phụ trách lô hàng sẽ kiểm tra lại những nội dung quan trọng của các chứng từ như tên người gửi, tên người nhận, tên tàu và ngày tàu đến, số container, số seal, chi tiết hàng hoá… trước khi lên tờ khai làm thủ tục.

    Nếu trong quá trình kiểm tra nhân viên giao nhận thấy có sự sai sót, nhầm lẫn, thì sẽ báo ngay cho khách hàng  để có thể kịp thời chỉnh sửa lại các chứng từ cho phù hợp. Bởi vì các thông tin trên chứng từ tránh tuyệt đối các sai sót gây bất lợi, trong quá trình làm các thủ tục hải quan cũng như đổi lệnh tại cảng các thông tin không khớp nhau có thể làm kéo dài thời gian nhận hàng, xấu nhất là không nhận được hàng.

    Ngoài ra, dựa vào trình độ chuyên môn và kinh nghiệm làm việc của mình, ban lãnh đạo công ty TNHH xuất nhập khẩu và vận tải Nam Dương cũng có thể tư vấn cho phía khách hàng hoặc có thể sửa chữa một số chứng từ nếu như được sự đồng ý của công ty khách hàng.

    Bước 3. Lấy lệnh từ hãng tàu và cược vỏ cont

    Sau khi đã kiểm tra lại toàn bộ bộ chứng từ vừa nhận , nhân viên của công ty sẽ làm các thủ tục cần thiết tại hãn g tàu và đại lý của hãng tàu để đổi lệnh giao hàng và cược vỏ cont. Hiện nay tại các hãng tàu, việc đổi lệnh giao hàng thường bắt đầu từ việc cược và mượn vỏ cont trước.

    • Mượn và cược vỏ

    Quá trình mượn và cược vỏ cont có thể diễn ra tại 1 hoặc 2 nơi phụ thuộc vào hãng tàu và đại lý hãng tàu. Một số hãng tàu, nộp cược cont để mượn vỏ có thể diễn ra tại ngân hàng tuy nhiên cũng có thể diễn ra tại hãng tàu. Nếu lấy nộp tại ngân hàng, nhân viên giao nhận mang giấy giới thiệu và điền vào tờ khai nộp cược theo mẫu ngân hàng công bố và trả tiền. Nếu nộp tại hãng tàu thì không cần giấy giới thiệu chỉ cần ghi số B/L trên các liên để nhận chữ ký và đóng dấu vào các liên nhận về.

    • Lấy lệnh giao hàng

    Tại hãng tàu, nhân viên giao nhận xuất trình giấy giới thiệu, chứng minh nhân dân bản photo, bill gốc + 1 bill sao sau đó nhận về 2 lệnh đã ký nhưng chưa có dấu sau đó đến quầy thanh toán các cước phí liên quan khác như phí THC, phí D/O, phí SIC phí vệ sinh cont…các cước phí này phụ thuộc vào từng hãng tàu.

    Bước 4: Làm thủ tục hải quan cho lô hàng

    Nếu như trước đây, quá trình làm thủ tục hải quan cho lô hàng được thực hiện thủ công bằng cách nộp bộ hồ sơ giấy chờ xét duyệt thì hiện nay , việc đưa vào sử dụng hệ thống thông quan tự động VNACCS- VCIS qua phần mềm Ecuss-vnaccs đã giúp xuất trình kết quả phân luồng và thông quan nhanh chóng. Nhân viên sau khi khai báo các thông tin cần thiết về lô hàng và nhận được kết quả phân loại luồng trả về thì lên chi cục hải quan để làm bóc tờ khai – và thanh toán phí.

    • Với luồng xanh

    Các tờ khai luồng xanh được trực tiếp thông quan và chỉ cần tiến hành đóng phí đường bộ và lên chi cục Hải quan để đóng phí. Lệ phí chung cho làm thủ tục Hải quan là 20.000 đồng, ký giám sát Hải quan là 60.000 đồng/ 1 cont (phí ngoài)

    • Với luồng vàng

    Các tờ khai trả về kết quả phân loại luồng vàng chưa được thông quan mà phải được cán bộ Hải quan kiểm tra bộ chứng từ. Lúc này, nhận viên giao nhận mang bộ chứng từ đến chi cục để làm thủ tục, bộ chứng từ bao gồm giấy giới thiệu, tờ khai chính thức, hóa đơn, C/O và 1 vận đơn đường biển photo có thể kèm theo cả Packing list nộp vào bàn tiếp nhận để chờ phân cho các nhân viên hải quan, sau đó nhận được phân bàn thì đến nộp cho nhân viên Hải quan đó chờ kết quả kiểm tra.

    Vì quá trình kiểm tra hồ sơ có thể kéo dài lâu nên trong lúc chờ, nhân viên có thể đóng phí đường bộ cho lô hàng đó. Loại phụ phí này mới xuất hiện từ ngày 1-1-2017 , khi UBND thành phố Hải Phòng quyết định thu thêm 1 loại phí là phí cầu đường đối với các hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cảng biển của thành phố. Trước đó, từ tháng 12/2013, Hải Phòng đã thu phí đối với hàng tạm nhập tái xuất, hàng quá cảnh (năm 2016 ước thu phí từ 2 loại hàng hóa này được 750 tỷ đồng).

    Mức phí áp dụng đối với hàng xuất nhập khẩu là : 250.000 đồng/container 20 feet , 500.000 đồng/container 40 feet và thu 20.000đồng/tấn đối với hàng lỏng, rời.

    • Với luồng đỏ.

    Sau khi nhận kết quả trả về hàng hóa nhập khẩu rơi vào luồng đỏ, nhân viên giao nhận vẫn tiến hành nộp phí và làm thủ tục hải quan như với luồng vàng nhưng sau khi xuống cảng đổi lệnh thì đăng ký kiểm hóa . Kết quả kiểm hóa được trả về sau 3-4 ngày, nhân viên giao nhận mang kết quả kiểm hóa đến chi cục Hải quan để thông quan.

    Bước 5: Đổi lệnh tại cảng và nhận hàng

    Nhân viên giao nhận mang bộ chứng từ ra cảng làm thủ tục lấy lệnh giao hàng. Bộ hồ sơ bao gồm:

    • Tờ khai đã thông quan
    • Mã vạch
    • Giấy đóng phí đường bộ
    • Biên lai xanh đóng phí
    • Cược cont
    • Lệnh giao hàng của hãng tàu

    Bộ hồ sơ này nộp tại quầy nhận hồ sơ của cảng chờ xét duyệt đổi lệnh, nhân viên giao nhận đóng phí giám sát Hải quan. Mang biên lai nộp giám sát, đóng nâng hạ cont để lấy phiểu nâng hạ và lệnh giao hàng của cảng.

    Bước 6: Giao hàng cho khách.

    Tùy vào thỏa thuận với khách hàng mà doanh nghiệp giao hàng tại kho của khách hàng hay một địa điểm thỏa thuận nào khác.

    Bước 7: trả vỏ cont rỗng và lấy lại tiền cược

    Sau khi trả hàng cho khách, xe mang vỏ cont đến bãi của cảng ghi trong phiếu nâng cont để nhận hạ cont có ghi kèm các chú thích về tình trạng cont.

    Nhân viên mang phiếu nâng hạ, biên lai mượn vỏ của hãng tàu lên hãng tàu để trả vỏ và nhận lại cược cont. Nếu container có cần sửa chữa hay vệ sinh thì sẽ đóng thêm phí ngoài hoặc trừ thẳng vào tiền cược, sau đó lấy hóa đơn.

    Bước 8: Thanh lý tờ khai, đưa chứng từ cho khách hàng quyết toán và lưu hồ sơ.

    Nhân viên giao nhận kiểm tra sắp xếp lại toàn bộ các chứng từ, lập quyết toán các khoản ứng trước và chi hộ khách hàng để lập giấy báo nợ, xuống cảng đổi hóa đơn từ phiếu nâng hạ gửi kèm với bộ chứng từ đề khách hàng thanh toán các khoản phí.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019

    Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019

    Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-C%C3%A2u-H%E1%BB%8Fi-T%C3%ACnh-Hu%E1%BB%91ng-Lu%E1%BA%ADt-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019

    CÂU HỎI TÌNH HUỐNG LUẬT THƯƠNG MẠI

    • Các trường hợp bất khả kháng:
    • Không lường trước được.
    • Không tránh được.
    • Không khắc phục được.
    • Bài tập tình huống:
    • Bị đơn có đáng bị kiện không?
    • Kiện có liên quan đến các bên hay không?
    • Mỗi khoản chi phí liên quan đến hợp đồng muốn bồi thường thì phải có chứng cứ cụ thể.

    Câu 1:

    Công ty A bán thiết bị thu phát sóng cho công ty B. Trong hợp đồng 2 bên có thoả thuận với nhau công ty A phải lắp đặt hoàn chỉnh và vận hành, chạy thử cho công ty B. Sau khi khảo sát công ty A hoàn thành lắp đặt và chạy thử. Sau đó công ty B vận hành thiết bị nhưng không chạy được do nguồn điện tại công ty B không đồng bộ với nguồn điện của thiết bị. Bên B thông báo và sau nhiều lần thương lượng bên A đã tiến hành sửa chữa cho bên B. Tuy nhiên sau một thời gian vận hành thiết bị vẫn không sử dụng được. Bên B tiếp tục thông báo để bên A sửa chữa nhưng không được bên A hồi đáp. Bên B quyết định trả lại hàng cho bên A và mua thiết bị thay thế từ bên khác (đã thông báo cho bên A biết về giao dịch này), đồng thời yêu cầu bên A:

    • Hoàn lại số tiền đã thanh toán.
    • Trả khoản tiền chênh lệch giữa thiết bị cũ và mới.
    • Bồi thường những thiệt hại ngẫu nhiên.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

    Trả lời:

    Bên A đã tiến hành khảo sát, do đó yếu tố nguồn điện không đồng bộ là yếu tố bên A cần phải biết và cần phải điều chỉnh thiết bị để sử dụng được với điều kiện của bên B hoặc yêu cầu bên B thay đổi nguồn điện cho phù hợp với thiết bị.

    Bên A đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, giao hàng không đúng phẩm chất, không phù hợp với hợp đồng dẫn đến hậu quả bên B không thể sử dụng được thiết bị.

    Chế tài được áp dụng là chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Tuy nhiên bên B đã thông báo nhưng bên A không trả lời, do vậy bên B có quyền mua hàng hoá thay thế và bên A phải hoàn lại số tiền đã thanh toán đồng thời trả khoản tiền chênh lệch giữa thiết bị cũ và mới.

    Những thiệt hại ngẫu nhiên do không chứng minh được là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm hợp đồng nên sẽ không được bồi thường.

    Câu 2:

    Người mua Việt Nam (NM) và người bán Hàn Quốc (NB) ký kết hợp đồng mua bán:

    • Tên hàng: Thép thanh
    • Số lượng: 80.000 tấn
    • Giá: 350 USD/ tấn chưa bao gồm cước vận chuyển
    • Thời gian giao hàng: từ ngày 15/6/2016 đến 15/12/2016
    • Quyền mua đặc biệt: Bên mua có quyền mua lên đến 160.000 tấn với giá như trong hợp đồng nhưng phải thông báo cho bên bán trước ngày 15/10/2016.

    Diễn biến sự việc:

    Ngày 1/10/2016, NM thông báo cho người bán thực hiện quyền mua đặc biệt, nâng số hàng mua lên 160.000 tấn. Vào thời điểm này giá thép trên thế giới tăng đáng kể nên NB đã yêu cầu NM thương lượng về giá cả của số thép mua thêm so với hợp đồng. NM đã kiên quyết từ chối yêu cầu tăng giá của NB và đề nghị NB thực hiện giao hàng đúng như giá thoả thuận trong hợp đồng.ngày 15/12/2016, NB không giao hàng, NM gửi thông báo nhấn mạnh NB đã vi phạm hợp đồng và gia hạn thêm thời hạn giao hàng đến ngày 30/12/2016. Ngày 5/1/2017, NM đã mua thép từ Nhật Bản với giá 380 USD/tấn (đã bao gồm cước vận chuyển là 5 USD/tấn) để phục vụ sản xuất cho kịp tiến độ và yêu cầu NB thanh toán số tiền chênh lệch 2.400.000 USD. NB không đồng ý với các lý do:

    • Hành động mua thép của NM từ Nhật Bản không được coi là hành động mua hàng thay thế do NM đã không thông báo ý định cho NB.
    • Khi NM đàm phán về việc tăng giá bán thép, NB đã đưa ra mức giá 376 USD/ tấn, thấp hơn giá NM đã mua hàng thay thế. Việc NM không mua thép của NB là một điều vô lý.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

    Trả lời:

    Những lập luận của NB để từ chối bồi thường khoản chênh lệch là không chính xác.

    Mặc dù NM không thông báo cho NB về việc mua hàng từ bên thứ ba nhưng việc mua hàng để phục vụ tiến độ sản xuất, vì vậy đây có thể coi là một hành động chủ động nhằm giảm thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra (hành vi không giao hàng) và NM trên thực tế không hề đòi một khoản chi phí phát sinh nào ngoại trừ tiền chênh lệch giá.

    Trên thực tế giá NM mua từ bên thứ ba đã có cước vận chuyển, do đó NM thực chỉ mua có 375 USD/ tấn, thấp hơn giá của NB đã đưa ra là 1 USD/tấn.

    Người mua chỉ có thể đòi bồi thường những thiệt hại thực tế mà họ phải chịu trong trường hợp này, số tiền bồi thường sẽ chỉ là: (380 – 5 – 350) × 80.000 = 2.000.000 USD do người mua đã tiết kiệm được 5 USD/tấn tiền cước vận chuyển khi mua hàng từ bên thứ ba.

    Câu 3:

    Người mua A ký kết hợp đồng mua 150.000 đôi giày nam với người bán B, yêu cầu người bán B cung cấp giày nam do hãng C sản xuất. Ngay sau khi ký kết hợp đồng, người bán B đã ký hợp đồng mua 150.000 đôi giày của hãng C. Đến ngày giao hàng của người bán B, công ty C chỉ giao được 90.000 đôi giày do không kịp nhập nguyên liệu sản xuất. Do vậy người bán B cũng chỉ giao được 90.000 đôi giày nam cho người mua A. Bên A kiện B ra trọng tài thương mại, yêu cầu bên B nộp phạt vi phạm 2% giá trị hàng giao chậm như đã thoả thuận trong hợp đồng, đồng thời yêu cầu bên B bồi thường về việc uy tín thương mại bị giảm sút, với lý do, bên B giao thiếu hàng nên bên A không thể giao hàng cho khách của mình. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của đối tác bên A do mặt hàng giày là mặt hàng có tính thời vụ. Bên B kháng cáo và lập luận rằng, do bên A yêu cầu cụ thể trong hợp đồng là mua giày do hãng C sản xuất nên bên B không thể tìm được nguồn hàng khác thay thế. Vì vậy, việc B không giao hàng đủ là bất khả kháng và B được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

     Trả lời:

    • B không được miễn trách nhiệm với hai lý do:
    • Trong trường hợp này lỗi bên C không cung cấp đủ hàng cho bên B không phải là nguyên nhân bất khả kháng. Việc C không kịp nhập nguyên liệu trên thực tế là việc có thể lường trước được, và C có thể tìm cách khắc phục vấn đề này bằng cách nhập nguyên liệu từ các nguồn khác. Do vậy việc B không cung cấp đủ hàng cho bên A không được coi là bất khả kháng, chưa kể đến việc B không chứng minh được đáng lẽ ra họ cũng đã phải lường trước hoặc tìm cách làm giảm bớt những hậu quả do việc giao hàng chậm từ phía C gây ra.
    • B đã không thông báo gì cho bên A biết về việc giao hàng thiếu do bên C không giao đủ hàng cho bên B ngay khi sự kiện này xảy ra. Điều này vi phạm quy định về thông báo bất khả kháng nên B sẽ không được miễn.
    • Bồi thường uy tín kinh doanh:
    • Nếu bên A không chứng minh được thiệt hại cụ thể do việc mất uy tín kinh doanh thì bên A sẽ không được bồi thường.
    • Nếu bên A đưa ra được các chứng cứ chứng minh thiệt hại như sự sụt giảm của doanh số và lợi nhuận với các đối tác truyền thông mua giày (mà A vẫn nhập của B) so với các kỳ kinh doanh trước. Lý do vì A đã không thảo mãn được các đơn hàng đã ký kết khiến cho đối tác không tiếp tục lựa chọn bên A. Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về uy tín của A là hoàn toàn có căn cứ. Trong trường hợp này A phải được bồi thường cho thiệt hại về uy tín thương mại.

    Câu 4:

    Công ty A (NB) và công ty B (NM) ký kết hợp đồng mua bán quặng Niken vào ngày 1/11/2013 quy định ngày giao hàng chậm nhất là 15/2/2014, tại cảng của nước NM, NB là người thuê tàu và có nghĩa vụ thông báo thời gian tàu cập bến. Trước đó ngày 1/1/2013, Chính phủ nước NM đưa ra dự thảo danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu trong đó có quặng Niken.

    Diễn biến sự việc:

    Ngày 12/2/2014, tàu cập cảng, NB thông báo cho NM để NM nhận hàng.

    Ngày 1/1/2014, Chính phủ nước NM ra lệnh cấm nhập khẩu quặng Niken.

    NM đã không nhận hàng từ phía NB, khiến NB phải lưu khoang hàng hoá đến ngày 25/2/2014 và sau đó phải bán lại lô hàng trên cho công ty C tại nước lân cận nước NM với giá thấp hơn.

    NB kiện NM ra Toà trọng tài ICC yêu cầu người mua bồi thường thiệt hại bao gồm:

    • Chi phí lưu khoang 13 ngày.
    • Chi phí chuyển tải và vận chuyển hàng hoá đến cảng nước công ty C.
    • Chênh lệch giá bán giữa hợp đồng và giá bán cho công ty C.

    NM cho rằng mình không thể nhận hàng là bất khả kháng do lệnh cấm nhập khẩu của Chính phủ đưa ra sau khi ký hợp đồng, và yêu cầu được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

    ICC đã tiếp nhận đơn kiện của NB, tuy nhiên trong quá trình xét xử, công ty NM phá sản và tuyên bố giải thể, tên của công ty sau đó bị xoá khỏi Sổ đăng ký kinh doanh.

    Trường hợp này NM có được miễn trách nhiệm hay không? Việc pháp nhân (NM) không còn tồn tại có giải phóng các nghĩa vụ của người mua đối với phán quyết của trọng tài hay không? Kết quả của bản án sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    Mặc dù lệnh cấm nhập khẩu của Chính phủ có sau khi hợp đồng được ký kết nhưng đã có dự thảo từ trước khi có hợp đồng. Do vậy việc Chính phủ ra lệnh cấm là sự kiện có thể dự đoán trước và lý do không nhận hàng của NM không được coi là bất khả kháng. NM không được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

    Quá trình tố tụng trọng tài đã được bắt đầu tiến hành trước khi có sự xoá tên chính thức của NM trong Sổ đăng ký kinh doanh, do vậy địa vị pháp lý hiện tại của NM không ảnh hưởng gì tói hiệu lực của quá trình tố tụng đang được tiến hànhtoà trọng tài ICC. Đại diện của NM sẽ phải sẽ phải thanh lý toàn bộ tài sản của công ty NM và có nghĩa vụ thực hiện các phán quyết của trọng tài bằng số tiền nói trên.

    Các chi phí NB nêu là các chi phí hợp lý để NB khắc phục hậu quả của việc vi phạm hợp đồng nên nếu NB đưa ra được bằng chứng về các chi phí và khoản lãi mất hưởng (do bán cho C với giá thấp hơn giá trong hợp đồng) như hoá đơn, chứng từ thanh toán, hợp đồng mua bán… NM sẽ phải bồi thường.

    Trong trường hợp ngược lại, nếu những cho phí này chỉ là nhận định chủ quan của NB thì NB có thể không đòi được tiền bồi thường hay chỉ được bồi thường theo số tiền như thông lệ hoặc như tập quán. Tuy nhiên đối với chi phí lưu hàng, do NB không thông báo ngày giờ tàu cập cảng cho NM nên mặc định người mua sẽ chỉ phải nhận hàng vào ngày muộn nhất là ngày 15/2/2014. Chi phí lưu khoang NB yêu cầu như vậy là chưa hợp lý, NB chỉ có thể đòi NM chi phí lưu khoang trong 10 ngày.

     

    Câu 5:

    Ngày 3/8/1997, công ty A (Việt Nam) và công ty B (Hàn Quốc)  ký hợp đồng mua bán theo đó bên A mua của B hai máy thêu trị giá 136.000 USD theo điều kiện CIF Tân Cảng Thành phố Hồ Chí Minh, bảo hành 12 tháng sau khi hoàn thành lắp đặt.

    Thực hiện hợp đồng, ngày 16/8/1997 B đã giao lại 2 máy thêu cho A, máy đã được lắp đặt và đưa vào sử dụng. Trong quá trình sử dụng, máy có nhiều hỏng hóc, B đã cử chuyên gia sang Việt Nam sửa chữa nhưng không thành công. B cam kết sẽ sửa chữa xong vào ngày 4/4/1998 và sẽ bồi thường 29.202 USD cho 40 ngày máy ngừng hoạt động nhưng sau đó B chỉ bồi thường 4.302 USD và không tiếp tục sửa chữa máy nữa.

    A đã trưng cầu SGS Việt Nam giám định tình trạng 2 máy thêu. Biên bản giám định ngày 1/9/1998 của SGS ghi “hai máy không thể sản xuất ra sản phẩm theo yêu cầu của Nguyên đơn”.

    Do máy ngừng hoạt động, A đòi B đổi 2 máy mới và bồi thường thiệt hại phát sinh cho A. Ngày 18/4/1999 B thông báo với A việc tái giám định sẽ được tiến hành từ ngày 22 đến ngày 28/4/1999 bởi Viancontrol có sự chứng kiến của luật sư đại diện của B, A không phản đối.

    Ngày 28/4/1999 Vinacontrol cấp Biên bản giám định số 095/1999G, trong đó kết luận máy bị hỏng hóc, tình trạng lắp ráp, căn chỉnh hai máy chưa hoàn tất, vào thời điểm giám định, cả 2 máy đều không thể vận hành được. B chấp nhận đổi máy cho A. Ngày 4/5/1999 A kiện B ra trọng tài, đòi:

    • Trả lại 2 máy thêu, lấy lại tiền.
    • Bồi thường thiệt hại, gồm:
    • Chi phí nhân công trong thời gian máy ngừng hoạt động;
    • Lãi suất trên số tiền hàng 136.000 USD kể từ ngày thanh toán đến ngày trọng tài xét xử;
    • Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam;
    • Thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thần.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    Kết quả giám định của Viancontrol và các hành vi sửa chữa cũng như cam kết bồi thường và đổi máy cho A chứng minh B đã giao hàng có khuyết tật cho A và B phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm hợp đồng này.

    Khi phát hiện 2 mát thêu có khuyết tật, bị hỏng hóc trong thời hạn bảo hành, A đã yêu cầu B thay thế 2 máy này bằng 2 máy có phẩm chất đúng như quy định của hợp đồng và B đã chấp nhận yêu cầu này của A. Như vậy, phương án thay thế 2 máy là phương án phù hợp với ý chí của 2 bên. Mặt khác, phương án trả lại 2 máy, lấy lại tiền hàng thông thường được áp dụng khi người bán không thể thay thế được máy khác. Vì vậy, yêu cầu trả lại 2 máy, đòi lại tiền hàng của A là không hợp lý.

    Giao hàng có khuyết tật thiệt hại cho A thì B phải có trách nhiệm bồi thường những khoản tiền sau đây:

    • Chi phí nhân công trong thời gian 2 máy ngừng hoạt động, vì máy ngừng hoạt động, nhân công không có việc làm, A vẫn phải trả lương cho số công nhân này.
    • Lãi suất của 136.000 USD tính co thời gian kể từ ngày máy ngừng hoạt động cho đến ngày trọng tài xét xử. Đây là khoản thiệt hại do đọng vốn vì không sử dụng được máy.
    • Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam. Vì khuyết tật của máy phát sinh trong thời gian bảo hành, làm cho máy móc không hoạt động được, buộc A phải mời SGS làm giám định, kết quả là máy có khuyết tật, không vận hành được.
    • Yêu cầu của A đồi bồi thường thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thần không hợp lý bởi vì đây không phri thiệt hại tài sản trực tiếp thực tế, không phải do máy móc có khuyết tật trực tiếp gây ra.

     

     

     

    Câu 6:

    Công ty A (Singapore) và công ty B (Việt Nam) là 2 đối tác quen thuộc, trong một cuộc điện đàm đại diện về pháp lý của 2 bên vào ngày 16/1/2017 đã trao đổi với nhau một nội dung như sau:

    A: Chúng tôi hiện đang có 1 lô hàng 1000 tấn nhớt FO phẩm cáp loại 1, giá 850 USD/ tấn giao tại cảng Singapore.

    B: Chúng tôi cũng đang cần số lượng nhớt như vậy nhưng với giá 850 USD là quá cao, chúng tôi khó có thể mua được với giá trên 750 USD/ tấn.

    A: Vậy chúng tôi sẽ để cho các anh với giá 800 USD/tấn.

    B: Chúng tôi sẽ mở L/C các anh trong tháng này và rất mong các anh sẽ giao hàng cho chúng tôi vào trung tuần tháng tới.

    A: Chúng tôi đồng ý.

    Trung tuần tháng sau, giá nhớt trên thị trường giảm xuống 650 USD/tấn, A hửi thông báo giao hàng cho B, bên B không có ý kiến gì. A tiến hành gửu hàng nhưng B đã không đưa tàu đến để nhận hàng, A phải lưu hàng tại cảng, khoản tiền theo L/C do đó cũng không được thanh toán. A đã kiejn B ra Toà trọng tài ICC, yêu cầu bên B nhận hàng và bồi thường cho bên A:

    • Chi phí lưu kho do B đã không nhận hàng đúng thời hạn.
    • Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan mà A đã đóng.
    • Số tiền lãi theo giá trị của đơn hàng tính từ khi A giao hàng cho đến khi B thực hiện thanh toán, với lãi suất là lãi suất của đồng USD tại ngân hàng của A.
    • Do không nhận được tiền hàng A đã không thể thanh toán tiền mua nguyên vật liệu cho công ty C nên bị công ty C từ chối các đơn hàng sau đó. A yêu cầu B bồi thường thiệt hại về uy tín và những khoản lợi kinh doanh dự tính vì không thực hiện được hợp đồng với C.

    Bên B kháng cáo và đưa ra lập luận của mình: theo các hợp đồng đã ký trước đây giữa 2 bên, 2 bên đã thoả thuận với nhau nếu xảy ra tranh chấp thì luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là luật của nước người mua. Và theo luật của Việt Nam thì hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Trong trường hợp này 2 bên chỉ thoả thuận bằng lời nên hợp đồng vô hiệu ngay từ khi xác lập và không ràng buộc trách nhiệm của các bên. Bên B không có nghĩa vụ phải nhận hàng.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    Công ước Viên chính thức có hiệu lực với Việt Nam từ 1/1/2017. Theo khoản 1 điều 5 Luật Thương mại 2005: “Trường hợp ĐƯQT mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của ĐƯQT đó.” Trong trường hợp này nguồn luật được áp dụng sẽ là Công ước Viên 1980 do cả Việt Nam và Singapore đã là thành viên của Công ước.và theo Công ước, hình thức của hợp đồng có thể là văn bản, lời nói, hành vi nên trong trường hợp này thì hợp đồng đã hình thành giữa 2 bên.

    Việc bên B không đến nhận hàng là đã vi phạm hợp đồng, hành vi này gây thiệt hại cho bên A nên việc bên A đòi B bồi thường là chính đáng. Tuy nhiên B sẽ chỉ phải bồi thường:

    • Chi phí lưu kho
    • Số tiền lãi theo giá trị của đơn hàng với lãi suất ngân hàng Singapore vì đây là khoản lãi mất hưởng của bên A (nếu B thực hiện hợp đồng thì A sẽ có số tiền này để gửi tại ngân hàng của mình tại Singapore).

    Những khoản tiền B sẽ không phải bồi thường:

    • Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan là không hợp lý do khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì nghĩa vụ trên vốn dĩ thuộc về nhà xuất khẩu. (điều kiện F theo Incoterms 2010)
    • Những thiệt hại uy tín và những khoản lợi dự tính là những thiệt hại không xác đáng do bên A không thể chứng minh được những khoản thiệt hại này. Hơn nữa, việc A không nhận được tiền từ B không phải là nguyên nhân trực tiếp khiến A không thanh toán tiền cho bên C, do A hoàn toàn có thể huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán cho C.

     

    Câu 7:

    Ngày 10/6/2013, giữa người bán Singapore (NB) và người mua Việt Nam (NM) ký hợp đồng 6923/TNUT.13, theo đó NB bán cho NM 9.937 kg cà phê và bột kem theo điều kiện CIF cảng HCM, thanh toán bằng chuyển tiền vào tài khoản của NB tại Singapore trong vòng 7 ngày sau khi NM nhận được chứng từ vận tải gốc, người hưởng lợi là NB.

    Thực hiện hợp đồng, NB đã giao hàng cho NM ngày 21/6/2013. Sau khi giao hàng, NB đã chuyển cho NM vận đơn gốc và hoá đơn thương mại số 059/13 để ngày 21/6/2013 đòi tiền hàng, nhưng cuối cùng NB vãn không nhận được tiền hàng.

    Qua nhiều lần đòi mà không được trả tiền, NB đã khởi kiện NM ra trọng tài đòi NM phải trả các khoản tiền sau:

    • Tiền hàng.
    • Tiền lãi của tiền hàng từ ngày 21/6/2013 đến ngày nhận được tiền thanh toán.
    • Phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax.

    Trong đơn thư phản bác đơn kiện NM trình bày như sau:

    Ngày 10/6/2013NM đã ký hợp đồng số 9623/INUT.13 với NB để nhập khẩu uỷ thác cho Cửa hàng A. Theo biên bản thoả thuận riêng (không đề cập đến trong hợp đồng) ngày 10/6/2013 giữa 3 bên (NB, NM và Cửa hàng A) thì trách nhiệm thanh toán tiền hàng cho NB là Cửa hàng A, cho nên NB không có quyền kiện NM trả tiền hàng.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    NM căn cứ vào biên bản thoả thuận của 3 bên để từ chối nghĩa vụ thanh toán là không đúng với lý do:

    • Thứ nhất, trong biên bản thoả thuận 3 bên không phải là 1 bộ phận không thể tách rời khỏi hợp đồng, do đó nghĩa vụ của hợp đồng giữa NB và NM không chịu chi phối bởi biên bản thoả thuận này.
    • Thứ hai, bản chất của hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá là bên nhận uỷ thác, để được hưởng phí uỷ thác, thì phải nhân danh bản thân mình thực hiện các công việc đã được uỷ thác với người thứ ba, chứ không phải nhân danh người uỷ thác. Với lập luận của NM, rõ ràng, bằng biên bản thoả thuận 3 bên ngày 10/6/2013, NM, một mặt muốn nhận phí uỷ thác, nhưng mặt khác lại không muốn nhận trách nhiệm vè mình qua việc nhân danh mình được thực hiện hợp đồng với người thứ ba.
    • Thứ ba, biên bản thoả thuận 3 bên lại quy định Cửa hàng A chịu trách nhiệm trả tiền cho NB – tài khoản ở Singapore. Điều này không thể thực hiện được, vì cửa hàng A không được làm việc đó theo quy định của pháp luật Việt Nam (cơ chế quản lý ngoại hối).

    Việc NM không trả tiền là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, do đó NM phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra cho NB:

    • Tiền hàng chưa thanh toán.
    • Tiền lãi (lãi mất hưởng), nhưng chỉ được tính từ thời điểm sau 7 ngày kể từ ngày NM nhận được chứng từ gốc, không phải từ ngày giao hàng là 21/6/2013.
    • Phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax nếu không cung cấp được bằng chứng hợp lệ thì sẽ không được bồi thường.

    Câu 8:

    Ngày 15/1/2016, công ty X (Việt Nam) ký hợp đồng mua vỏ giấy kẹo có in sẵn địa chỉ, logo của công ty mình với công ty Y (Trung Quốc), giao hàng làm 3 lần. Hợp đồng quy định trước mỗi đợt giao hàng các bên phải ký xác nhận với nhau về số lượng hàng sẽ giao trong biên bản thoả thuận (là 1 phần không thể tách rời của hợp đồng) làm căn cứ để mở L/C và giao hàng. Đợt giao hàng thứ nhất và thứ hai diễn ra thuận lợi, các bên đã nhận được tiền hàng và tiền thanh toán đúng như hợp đồng. Ngày 20/9/2016, công ty Y fax cho công ty X thông báo mình đã sản xuất xong lô hàng trị giá 80.000 USD và yêu cầu công ty X mở L/C để giao hàng tiếp. Công ty X telex trả lời đồng ý nhận lô hàng làm 2 lần vào ngày 15/11/2016 và 10 ngày sau đợt giao hàng thứ nhất. Tuy nhiên ngày 15/10/2016 công ty X đã thông báo cho công ty Y rằng mình không thể nhận hàng do kẹo không bán được trên thị trường Hà Nội và hiện công ty đang dừng sản xuất. Công ty Y không thể giao hàng và phải lưu lại lô hàng trong kho. Công ty Y sau đó đã kiện ra trọng tài yêu cầu công ty X bồi thường:

    • Số tiền hàng mà công ty Y đã sản xuất là 85.000 USD.
    • Tiền lãi đối với 85.000 USD kể từ thời điểm đáng lẽ công ty X phải thanh toán đến thời điểm mà công ty Y nhận được tiền thanh toán theo hợp đồng.
    • 000 USD cho chi phí chung như chi phí pháp lý, thời gian chờ đợi…

    Công ty X kháng cáo không bồi thường với lý do:

    • Việc công ty X bị ngừng sản xuất là bất khả kháng và được miễn trách.
    • Trên thực tế công ty X và công ty Y chưa ký kết với nhau biên bản thoả thuận thứ 3 nào, do vậy Y không có căn cứ yêu cầu X mở L/C và nhận hàng.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    Công ty X và Y tuy chưa ký với nhau biên bản thoả thuận thứ ba nhưng công ty Y đã gửi đề nghị thông qua fax và công ty X cũng đã chấp nhận hàng vô điều kiện. Do đó các bên đã có thoả thuận về việc mua lô hàng thứ ba và công ty X phải mở L/C và nhận hàng.

    Việc công ty X ngừng sản xuất không thể coi là bất khả kháng vì trong kinh doanh các bên cần phải dự đoán được xu hướng của thị trường, việc hàng hoá không bán được dẫn đến dừng sản xuất không thể coi là một sự kiện không thể lường trước được, do đó công ty X không được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

    Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng nên phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra:

    Thông thường trong trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và không nhận hàng, bên bán phải bán lô hàng đó đi, nếu lãi họ hưởng còn nếu lỗ thì có quyền yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên trong trường hợp này do vỏ kẹo đã in sẵn thông tin của công ty X nên không thể bán cho bên thứ ba,  công ty Y có quyền đòi bồi thường là giá trị lô hàng nhưng phải trả lại hàng cho công ty X. Số tiền bồi thường không phải là giá trị số hàng sản xuất mà là giá trị của số hàng trong thoả thuận (80.000 USD).

    Tiền lãi đối với 80.000 USD chứ không phải với 85.000 USD.

    Chi phí chung nếu công ty Y có thể đưa ra chứng cứ hợp lý thì sẽ được bồi thường nhưng thông thường các chi phí này thường bị trọng tài bác bỏ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019

    Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019

    Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%91%E1%BB%93-%C3%A1n-giao-nh%E1%BA%ADn.docx.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019

    INTRODUCTION

    Import and export activities are expanding and connecting business activities internationally, which is the most exciting area in the world economy. In line with the reform and development of the domestic economy in Vietnam, import and export activities have played an important role in all external economic activities and have become the main source of income for the country. The process of industrialization and modernization of the country. Recognizing the importance of the Party and State, we have affirmed: “Unceasingly expanding and assigning international cooperation in the fields of economy, science and technology, promoting import-export activities” These are the objective demands of the times. Entering into the process of industrialization and modernization, with specific development strategies in combination with effective implementation, up to now, certain achievements have been achieved in the economic development of the commune. The trade and export activities are considered as a particularly important task, playing a huge role in the development of the country and the Party. , the state reserved for priorities. Through that, utilizing and promoting their advantages, turning those strengths into a competitive international.

    CHAPTER 1: LAW AND METHODOLOGY BASE

    1.1.          Law resource .

    1.1.1.     Domestic laws.

    The Government of Vietnam has issued a number of legal documents regulating the responsibility for delivery and receipt of goods by agencies, organizations and enterprises in order to regulate the relationship arising from sales contracts, transportation, insurance, delivery, handling … as:

    _ Circular No. 128/2013 / TT-BTC regulates customs procedures, customs inspection and control, export tax, import tax and tax administration for export and import goods.

    _ Decision No. 2073 / QDVT on October 6, 1991 of the Ministry of Communications and Transport promulgating the regulations on loading and unloading, forwarding and preservation of cargoes at Vietnamese seaports.

    _ Decree No. 114 / HDBT on May 27, 1991 of the Council of Ministers promulgating specific regulations on customs procedures and customs fees.

    _ Vietnam Maritime Code carrying 40/2005 /QH11 dated 14 June 2005, Vietnam Maritime Regulations.

    _ Commercial law 2005.

    _ Custom law 2014.

    _ Circular No. 15/2012/TT-BTC dated 08/02/2012 of the Ministry of Finance Promulgating the form of export and import goods declaration.

    _ Circular No. 128/2013 / TT-BTC dated 10 September 2013 of the Ministry of Finance stipulating customs procedures; Customs inspection and supervision; export tax, import tax and tax administration for export and import goods.

    1.1.2.     International law.

    Forwarding services under the “FIATA Code of Conduct for Forwarding Services” are “any service relating to the transportation, consolidation, storage, loading, packaging or distribution of goods and services. consultancy or related services, including customs matters, finance, insurance, payment, collection of documents relating to goods “.

    _ The International Convention on carriage of goods by sea:

    • The Hague Rule 1924 and the Protocols 1968 and 1979.
    • Hamburg Rules 1978.
    • Rotterdam Rules 2010.

    _ The International Convention on carriage of goods by air: Warsaw 1929.

    _ The International Convention on Multimodal Transport:

    • UNCTAD ICC Rules for Multimodal Transport Documents.
    • International Carriage of Goods by Road (CMR, 1956).
    • Convention concerning International Carriage by Rail (COTIF, 1980).
    • The Hague–Visby Rules.
    • Hamburg Rules.
    • Rotterdam Rules.
    • United Nations Convention on International Multimodal Transport of Goods (MT, 1980).

    1.2.          Methodology.

    1.2.1.     Parties in Forwarding.

    Goods receipt is a collection of operations and procedures related to the process of transportation to carry goods from the place of shipment (the shipper) to the place of receipt (the consignee).

    Forwarding enterprises are enterprises dealing in various types of goods forwarding services in the society, including domestic freight forwarding enterprises and international freight forwarding enterprises. The product of the forwarding business is the freight forwarding service that the company acts as Forwarding Forwarder (Forwarding Agent).

    According to Hamburg rules:

    • Shipper: means any person by whom or in whose name or on whose behalf a contract of carriage of goods by sea has been concluded with a carrier, or any person by whom or in whose name or on whose behalf the goods are actually delivered to the carrier in relation to the contract of carriage by sea.
    • Carrier means any person by whom or in whose name a contract of carriage of goods by sea has been concluded with a shipper.
    • Actual carrier means any person to whom the performance of the carriage of the goods, or of part of the carriage, has been entrusted by the carrier, and includes any other person to whom such performance has been entrusted.
    • Consignee means the person entitled to take delivery of the goods.

    1.2.2.     Documentary.

    • Contract of carriage by sea.

    Contract of carriage by sea means any contract whereby the carrier undertakes against payment of freight to carry goods by sea from one port to another; however, a contract which involves carriage by sea and also carriage by some other means is deemed to be a contract of carriage by sea for the purposes of this Convention only in so far as it relates to the carriage by sea.

    • Bill of lading (B/L).

    Bill of lading means a document which evidences a contract of carriage by sea and the taking over or loading of the goods by the carrier, and by which the carrier undertakes to deliver the goods against surrender of the document. A provision in the document that the goods are to be delivered to the order of a named person, or to order, or to bearer, constitutes such an undertaking.

    1. Master bill.

    Master bill is a bill issued by the shipping line for the shipper, which only the owner of the vessel is authorized to issue.

    When you pick up the Master Bill means that on the original bill has a logo of the shipping line. Although you book through the forwarder the original bill carrier is the shipping line.

    After the original bill to consignee receipt of goods you have to send the original bill to the consignee, usually sent by air.

    1. House bill.

    A bill of lading issued by a freight forwarder. Often covers a consignment of parcels from various shippers that has been grouped or consolidated by the forwarder. The forwarder may, for example, receive a single groupage bill of lading from the carrier, then issue a series of House B/Ls to the respective shipper.

    House Bill still has the original bill and surrender bill. But this original bill was printed by the forwarder, on the original bill only has the logo of the forwarder’s company, not have the logo of the carrier (shipping line).

    • Seaway bill.

    In the international forwarding and transportation, there are some documents such as; sea ​​waybill, liner waybill, ocean waybill, cargo receipts, data freight receipts. These are shipping documents that cannot be transferred. Sea waybill (or liner waybill) is a document issued by the carrier to a particular named consignee, whose consignee issues a valid certificate (such as a letter of credit). Sea waybill (or liner waybill) is a document issued by the carrier to a particular named consignee, whose consignee issues a valid certificate (such as identity card), so they can get the goods without having to present a seaway bill. This is the same as the bill of lading in that it also indicates the recipient’s name, but otherwise the recipient in the bill of lading must produce the bill of lading, and in the sea waybill is not necessary. Unlike the Bill of Lading, the shipping note has two main functions; is evidence of a contract of carriage by sea and is the carrier’s certificate of receipt of a certain quantity of goods as described on the consignment note, and commits to the person who presents the goods. Delivery of goods or valid documents in accordance with the name of the person indicated on the consignment note.

    • Shipping note.

    A detailed record of the goods sent by the shipper to the carrier requesting that the goods be stored on board the ship. These are the instructions needed to make the bill of lading and for the carrier to receive the goods. This is also the owner’s commitment to the carrier. In cases where the carrier makes a note of acceptance on the consignment note, there is a case of making a Booking Note as a legal basis for the carriage of goods.

    • Delivery order.

    When the goods arrive at the port of destination, the carrier or his agent issues to the consignee (or delivery agent) the delivery order (D/O) for him to receive the goods from the ship. In general, in order to receive a delivery order, the consignee must present original B/L, in case B/L is late, It is usually for the carrier if he fails to prove or does not present a valid legal document afterwards, and it is best to have a letter of guarantee (L/G).

    • Mate’s receipt.

    The receipt of the ship’s deputy after each shipment is received and placed on board. When the captain or the person on behalf of the carrier signs the bill of lading, the counter-note of the vice-captain shall be checked, if there is suspicion or bad comment on the package, the captain shall also note that reservation on the bill of lading. Therefore, in order to receive the perfect bill of lading, it is required that the receipt of the ship’s deputy be recorded.

    • Cargo outturn report (COR).

    A written record between the consignee or the representative of the consignee (forwarder) that reflects the condition of the goods that are not in perfect condition; torn, broken, perforated, distorted,… This record is only valid if signed by the carrier or on behalf of the carrier and it is made upon discovery of damaged goods but not yet unloaded from the ship. This record serves as the basis for the consignee to make a complaint to the carrier, if the carrier proves that he is not at fault, the carrier is exempt from liability and vice versa, he must be liable for those losses and damages. COR is commonly used with department stores.

    • Receipt of receive on cargo (ROROC).

    ROROC, after the completion of the loading, was signed between the shipper and the ship to determine the amount of cargo unloaded. On ROROC there is a full description of the excess, missing, damaged … and the records of the proof and the damage and damage.

    • Cargo plan.

    A detailed map of the location, the number of goods loaded on the ship. The map of the ship’s line drawn up on the basis of the shipment registration paper and the technical characteristics of each specific ship, the loading map of which is effective.

    _With the shipper, receive the goods. It is the basis for the sender and receiver to know the expected time of loading and unloading of a particular shipment, on the basis of which the shipper prepares the means to receive the shipment of goods. It is possible to anticipate possible loss situations.

    _With port; to prepare the means and human resources necessary for loading and unloading a specific kind of cargo at appropriate time.

    • Cargo manifest.

    This is a statement of information on the goods loaded on board, one of the documents that the carrier must submit to the customs office when the vessel enters and before the vessel leaves. This profile adds extra charges to the Freight manifest for the tax office to inspect and collect taxes if the law requires collection of taxes on freight. MOC is based on the bill of lading issued to the shipper.

    • Cargo list.

    The consignment note shall be drawn up by the consignor on the basis of information on such goods; The number, size, condition and condition of the package, marking … of the consignment note are given in advance to the carrier for a reasonable period of time. Basing on the consignment note, the carrier shall draw up the loading plan.

    1.2.3.     Other definition.

    • Full container load (FCL).

    FCL is a shipping term, consignor and consignee responsible for packing and discharging the container. When the consignor has a sufficiently large volume of cargo to accommodate one container or multiple containers, one or more containers are hired to ship.

    • Less container load (LCL).

    LCL is the consignment shipped in a container that the collector (carrier or consignee) is responsible for loading and unloading goods into and out of the container. When shipping, if goods are not enough to fill a container, the goods can be shipped by the method of retail.

    • Container yard (CY).

    A container yard is an area in a seaport or dry docks to contain FCL containers unloaded from a cargo ship or placed in containers prior to shipment.

    With CY / CY shipment, the Shipper will tow the container at the designated shipping yard (on Booking confirmation). Shipping Lines are responsible for this container shipment when it is down at the port of loading (POL), ready to be loaded onto the ship until it is unloaded at the designated container yard at the port of discharge (POD). The Consignee will carry out import procedures, pick up and tow the container from the yard to their warehouse.

    • Container freight station (CFS).

    Container freight station is a warehouse system where LCL shipments of different shippers (import / export companies) are consolidated /grouped before being exported or deconsolidated / degrouped  after importation.

    CHAPTER 2: CARGO.

    2.1.          Specific of cargo.

    2.1.1.     Characteristics of cargo.

    _ Name of goods: White wine Dr Zen Zen Riesling.

    _ Material: The wine is made from the finest Riesling grapes.

    • Total alcohol strength: 12.67% Vol.
    • Actual alcohol strength: 10.73% Vol.
    • Total extract: 55.3 g/l
    • Sugar free extract: 22.7 g/l
    • Residual sugar: 32.6 g/l
    • Total acid: 5.4 g/l
    • Free sulphur dioxide anhydrous liquid: 43 mg/l
    • Total sulphur dioxide anhydrous liquid: 141 mg/l
    • Density: 1.0070
    • Cadmium (Cd): 0.0013 ppm
    • Aren (As): 0.0031 ppm
    • Mercury (Hg): 0.0085 ppm
    • Lead (Pb): 0.0128 ppm
    • Cooper (Cu) 02747 ppm
    • Zinc (Zn): 0.7583 ppm

    _ Volume: 750 ml

    _ Origin of goods: Germany.

    _ Methods of preservation: The White wine must be stored at a temperature of 12-15°C. Because it is fragile, these bottles must be placed in a wooden container, each bottle is a separate compartment to prevent breakage. Goods must be transported by container 20’.

    2.1.2.     Packaging.

    _ The method of package: Because the quantity of goods are small, not enough to close and a 20 ‘ container so the goods will be transferred to the consolidator for consolidation, saving costs. The owner choose the method of package is less than container load (LCL).

    _ Way to package:

    • Bottles of wine with bark (by bark or synthetic substance) should be stored either upside down to minimize air exchange between the outside and inside air to prevent oxidation fast. Separate wine boxes must be marked to indicate the location of the wine.
    • Six bottles of wine will be packed into a wooden crate, inserted hygienic material to prevent broken bottles. The weight of a bottle of wine is 1kg, the weight of a wooden crate is 1kg. In the box of 6 bottles of wine so the total weight of 1 barrel is 7kg. The length of the barrel is 50cm. The height of the barrel is 40cm. The width of the barrel is 30cm.
    30 cm
    40 cm
     
     
    50 cm
    • To use of non-insulated containers avoids the buildup of hot air in the open space above the wine pallet and the continuous cooling at night. Instead, the pallets inside the container must be covered with insulating panels or similar materials.

    _ Label:

    + The label in the bottle:

    • The name of good.
    • The name of producer.
    • Year of manufacture.
    •  

    + The label in the barrel:

    • The name of good.
    • The name of producer
    • Quantity of bottle.

    _ Measurement and weight of the shipment:

    Gross Weight Net Weight Measurement
    1,260.00 KGS 1,080.00 KGS 14.4 CBM

    _ Specification of the Container 20’:

    Dimensions Container 20’
    Inside length 19’4” 5.89 cm
    Inside width 7’8” 2.33 m
    Inside height 7’10” 2.38 m
    Door width 7’8” 2.33 m
    Door height 7’6” 2.28 m
    Capacity 1,172 ft3 33.18 m3
    Tare weight 4.916 lb 2,229 kg
    Payload 45,999 lb 21,727 kg
    Gross weight 52,915 lb 23,956 kg

    _ Arrange the barrel to container:

    • Six bottles of white wine are placed in a barrel.
    • 15 barrels are stacked on a pallet (pallet size 1.5m x 2.5m x 0.15m).
    • Total is 6 pallets in the container.
    • The remainder in the container will be consolidated by the consolidator and then placed.

    2.2.          Transport route.

    _ White wine is imported in Less Container Load (LCL) with a container 20’; FOB, Hamburg port, Incoterm 2010.

    _ Port of loading: Hamburg port (Germany).

    _ Port of discharge: Quy Nhon port (Vietnam).

               
       
    International transport
         
    Inland transport
     
     
       

    2.2.1.     International transport.

    _ The cargo will be transferred from CFS Hamburg warehouse to Hamburg port (2.46 km), transit time is 2-4 days.

    _ Mode of transport is sea transport, from Hamburg port, Germany to Tan Vu port, Hai Phong, Vietnam.

    _ After moving the container onto the vessel. Ships will run directly from Hamburg to Haiphong, not allow transshipment.

    _ The distance is 17,413.70 km, the shipment time is a month.

    2.2.2.     Inland transport.

    _ After the shipping line delivery goods to Tan Vu Port, the transit time from 1-2 days.

    _ Inland transport is the road way from Tan Vu Port (Dinh Vu Industrial Zone, DT356, Dong Hai 2, Hai An, Hai Phong) to Sao Do CFS Warehouse (268 Chua Ve Street, Dong Hai 1, Hai An, Hai Phong).

    _ Total distance is 5.4 km, the travel time is 12 or 47 minutes.

    CHAPTER 3: CONTRACT AND IMPLEMENT.

    3.1.          Contract.

    3.1.1.  Quotation.

    LCL:

    POL POD ROAD FREIGHT T/T
    HAMBURG, GERMANY TAN VU, HAI PHONG, VIETNAM USD 600 1 MONTH

    Vietnam local charge import:

     

    Fee USD/1unit Total (USD)
    DO   30
    CFS charge $5/CBM $72
    THC $4.4/CBM $63.36
    CIC $2/CBM $28.8
    Handling fee   $30
    Electricity fee   50

     

    Cost of renting truck: 200,000 VND.

    3.1.2. Contract.

    SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM

    INDEPENDENCE – FREEDOM – HAPPINESS

    FORWARDING CONTRACT

    No: 2469792

    Date:01/11/2017

    Party A

    Client:                  SNA TRADING JOINT STOCK COMPANY

    Address:                 48/ 191 Le Loi, Ngo Quyen, Hai Phong,Vietnam

    Tel:                       84.225 3655475

    Fax:                      84.225 3655474

    Tax code:             9125783624

    Account No:                  VND: 0591-000-258-558

    USD: 0591-370-258-560

    Bank:                             Vietcombank – Hai Phong Branch

    Represented by:              Ms. Ngo Thanh Thuy

    Position:                          General Director

    Party B

    Forwarder:           SCM EXPORT& IMPORT AND TRADING CO., LTD

    Address:               218 Ngo Quyen Street, Van My Ward, Ngo Quyen District, HP

    Tel:                       (0225) 3652389

    Fax:                      (0225) 3652389

    Tax code:             0201628429

    Account No:                  VND: 66158017196

    USD: 66158017197

    Represented by:   Mr. Nguyen Hong Minh

    Position:                 Director

    (Forwarder and client further also as “Contractual parties”)

    This contract includes the following clauses:

    CLAUSE 1:  SCOPE OF THE SERVICE

    Client consigns Forwarder to do customs clearance procedure, contract with shipping lines, terminals, stores and the relevant parties, transport and deliver the goods to Client.

    1. Name of goods, quantity:

    _White wine Dr Zen Zen Riesling (750ml).

    _ Quantity: 180 barrels

    1. Place of receiving the goods:

    Hamburg port, Germany.

    1. Place of handing over the Goods

    _ Forwarder shall deliver the Goods to Client at: Sao Do Warehouse

    _ Address: 268 Chua Ve Street, Dong Hai 1, Hai An, Hai Phong.

    1. Time of receiving and delivering the Goods:

    _ Time of receiving Goods by Forwarder: 15/11/2017

    _ Delivery time: No later than the date 20/12/2017 at the Destination.

    CLAUSE 2: DUTIES OF EACH PARTY.

    1. Duties of party A.

    _ Having obligation to fulfill payment all local charge to Party B duty and timely.

    _ Being responsible for providing necessary documents, time & place to take in charge, place of discharge/ unloading as well as commodity, types, quantity, measurement, gross weight.

    _ Having responsible for shipment legally and the accurary of documents.

    _ Being in charge of arranging cargo insurance and advising insuarer in case of loss damage,… Or require B to arrange cargo insurance on behalf of A by sending written form before cargo are delivered from warehouse of exporter and A will pay all insurance fee.

    1. Duties of Party B.

    _ Arranging transporting schedule & delivering shipment to agreed destination safely as committed.

    _ Being responsible for informing transport procedure until the delivery of cargo at destination.

    CLAUSE 3: VALUE AND PAYMENT TERMS.

    1. Contract value.

    Detailed quotation will be delivered to A. This detailed quotation is considered the indisputable appendixes for the contract.

    1. Payment term.

    _ Payment is fulfilled by account transfer to B with 100% value of invoice in that month during 15 days from the day that A receive financial invoice basing on the mentioned information.

    _ Bank fee are incurred by deposit.

    CLAUSE 4: FORCE MAJEURE.

    In the event of unforeseeable and supposedly unavoidable conditions such as traffic congestion, harbor harassment, natural disasters, war, violence, labor strikes, fire or other causes are understood to be unforeseen; the contract parties are not bound to implement this contract. However, when the conditions for alleged force majeure have been terminated, the two parties shall be responsible for implementing this contract by cooperating closely to resolve the problems (if any), unless otherwise agreed other written agreement implement.

    CLAUSE 5: COMMON CLAUSE.

              The two parties undertake to fulfill all the terms of the contract. In case of any problems, the two parties will negotiate and make an appendix of the contract. In the event that the dispute cannot be resolved by negotiation, it will be forwarded to the Vietnam International Arbitration Centre (VIAC) next to the Vietnam Chamber of Commerce and Industry (VCCI) in Hanoi for final decision.

    Contracts for the establishment of 4 copies, each party holds 2 copies with the same legal value.

    The contract is valid from 20/11/2017 to 20/11/2018.

    ON BEHALF OF CLIENT ON BEHALF OF FORWARDER

    3.2.          Implement.

    3.2.1. Forwarding process.

    3.2.2. Explanation.

    F Step 1: Sign the forwarding contract with importer.

    The forwarder company will sign a service contract with the importing company to import white wine Riesling, originate from Germany. Goods will be transferred from Hamburg port, Germany to Tan Vu port, Hai Phong, Vietnam. The contents of the contract shall be agreed upon by the two parties and the responsibilities of each party shall be clearly stated.

    F Step 2: Design the transportation route.

    The cargo will be transferred from CFS Hamburg warehouse to Hamburg port, then directly to Tan Vu port, Hai Phong, Vietnam. From Tan Vu Port (Dinh Vu Industrial Zone, DT356, Dong Hai 2, Hai An, Hai Phong), after completing all procedures, goods will be transferred to CFS Sao Do, Hai Phong (268 Chua Ve Street, Dong Hai 1, Hai An, Hai Phong).

    F Step 3+ 4+ 5: Contact the importer and find the suitable vessel; notify the exporter about the place of delivery and Book reservation.

    Based on the information provided by the importer, forwarder quickly finds and contacts the shipping line to ship the goods. After discussing and agreeing, the two parties will proceed to sign the contract. The forwarder of the importer party shall also notify the forwarder of exporter about the time and place of delivery of the goods.

    _ Thời gian giao hàng:

    _ Port of loading: Hamburg port, Germany.

    _ Tên tàu:

    F Step 6 : Booking note.

    Renting a market ship for transporting goods is called warehousing. The owner contacted the carrier’s shipping agent, shipping agent or master, and made a booking note for the ship’s cargo.

    Warehousing is only available on market rents, which are regularly charter ships operating on a fixed shipping route and on a predetermined route schedule.

    F Step 7+8: Delivering the assignment; transport and transfer container at CFS.

    Prepare sufficient documents, the exporter will deliver the goods from the CFS Hamburg warehouse to the port of Hamburg and clear the customs clearance.

    F Step 9+10+11: Send SI to the shipping line; receive draft Master Bill; receive Master Bill and pay fee for shipping line.

    Book Container Process – do SI and get B/L, include:

    • Get quotation from shipping line.
    • Get the schedule.
    • Send booking note.
    • Receive booking confirmation.
    • Send SI before closing time.
    • Receive bill draft.
    • Check, revise & confirm bill draft.
    • Receive Master Bill and pay fee for B/L.

    The information in SI include:

    • Booking No.
    • Vessel No.
    • Bill type.
    • Freight and charge.
    •  
    •  
    • Notify party.
    • Container/ Seal No.
    • Description of goods.
    • Port of loading.
    • Port of discharge.
    •  

    F Step 12: Send set of document to agent in importing.

    Issuing draft of Quotation and House Bill and send them to customer. If customer confirming information on them is reasonable, Quotation will be sent to customer.

    Document staff sent documents relating to shipment to forwarding agent in importing country.

    F Step 13: Checking the delivered document.

    After receiving documents that the shipping line sent, document staff vouchers will: Check the information on the Master Bill’s draft that shipping line sent and confirm the correct information and require shipping line to issue Master Bill.

    F Step 14: Taking the delivery order at the shipping line.

    The next step, before the expected day of arrival from one to two days, forwarder will receive the ship’s arrival notice. Arrival Notice will inform the recipient about the time the ship to the port location and accrued expenses. After that, the forwarder staff will make the necessary procedures in shipping line and shipping agents to change the delivery order. There are 2 ways to pay charges are paid directly at the shipping agent or transfer bank accounts. When fully completed, shipping agent will provide 2 shipping delivery order signed and sealed. A command is used when making customs declarations and pay for customs, a command refers to the port to take the container out. In particular, the command staff gets pay attention to the validity period of the D / O (Delivery Order), if they have expired, they must hold the D / O on the carrier applied for the extension to D / O.

    F Step 15+16: Customs procedures and clearance.

    In this step, the document staff will use ECUS5-VNACCS software for customs declaration. Then the customs side will return the results of the flow. For this white wine, the result return is red thread. For red thread goods, the customs office will check the documents as well as inspect the actual goods at the port. For documents, the documentary staff should prepare the following documents: C / O, sale of contract (copy), B / L, import license. After going to port for changing the command, the forwarder has to registration cargo inspection. The results are retuned after 3-4 days, the forwarder bring test results to the Customs Branch for customs clearance.

    F Step 17: Exchange order at port and receiving the shipment.

    Prepare the following documents:

    • Letter of introduction/ authorization.
    • ID card.
    • Delivery order.
    • B/L.
    • Documents about goods.

    The forwarding agent will go to the port processing department to present the required documents, payment for the service and receive the port of consignment. The next step, forwarder go to the port’s port security department, presented the order receipt of port, receive the paper in and out of port, and drive to port. Next, the forwarding department at the port facility. the consignee will presented the order receipt of port; To supervise the receipt of goods from ships onto means of transport; receive delivery note. Finally, submit a receipt of the warehouse forwarding, return the paper in and out of port and return the goods to the warehouse.

    F Step 18: Delivering the goods to the warehouse.

    After receiving the goods, forwarder hire a truck to pull container to Sao Do warehouse.

    F Step 19: Liquidating customs declaration form; transferring documents to customers for payment and implementing the reservations of records.

    After completing the customs clearance and delivery to the customer, the delivery officer checks and re-arranges the documents into a complete set, the employee will return the documents back to the import and export company. The transport company also saved 1 set. And Carry out accounting for customers, include:

    • Local charge
    • Handling fee
    • Fee for clearance the import
    • Road freight charges pull goods to the warehouse CFS

    Then the FWD will send the list of debts to customers, the customer will check and verify again. Once agreed, the FWD accountant issues a red bill. The director then signs and seals this note. Forwarders carry all the documents together with the Debt Settlement Notice to the customer. The customer shall pay after receiving the red invoice within the time limit stipulated in the contract.

    Finally, the company will liquidate the contract and record.

    CONCLUSION

     

    Transport forwarding activities are the levers of the economy. In countries with developed economies in the world in goods transport and delivery was very developed and become effective service business of the country, played a significant part in trade in goods traffic of the country. Delivery activities reduced the cost of exporting and importing, international labour distribution, increase cooperative relationships between countries, is to arm the relationship between export and import. In fact, the goods and services in foreign trade business is very important to perform the delivery, help for foreign trade contracts are done smoothly and quickly. Have to say, thanks to the companies that specialize in providing logistics services and transport goods in foreign trade has accelerated the speed of processing the job to export a shipment abroad or import a shipment from abroad into the country. So that enterprises have more opportunities in international trade, saving time and costs.

    Thanks to the implementation of the export of a specific shipment in large exercises, I have better understanding of the work that a delivery is made when receiving a shipment export mandate.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài Tập Lớn Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/xu%E1%BA%A5t-x%E1%BB%A9-h%C3%A0ng-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu.

    1.     Tổng quan về xuất xứ hàng hóa.

    1.1.           Khái niệm.

    Theo nghị định số 19/2006/NĐ-CP thì xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản đối với hàng hóa do nhiều nước và vùng lãnh thổ tham gia sản xuất.

    1.2.           Ý nghĩa.

    Thứ nhất, xuất xứ hàng hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa, nhất là những sản phẩm thô và đặc sản. Xuất xứ hàng hóa giúp chúng ta hình dung được nguồn gốc, quê hương, nơi sản xuất của hàng hóa, từ đó chúng ta có thể nhìn nhận hay đánh giá qua được chất lượng của hàng hóa đó. Điều này đã được chứng thực ở nhiều quốc gia, chẳng hạn như nhắc đến Pháp, người ta sẽ nghĩ ngay các loại phô mai đa dạng về chất lượng cũng như chất lượng hàng đầu của nó. Hay như nhắc đến New Zealand, người ta sẽ nghĩ ngay đến các loại sữa chất lượng nổi tiếng thế giới. Như vậy, có thể coi việc xác định xuất xứ hàng hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa.

    Thứ hai, xuất xứ hàng hóa được sử dụng kết hợp với mã số thuế để xác định mức thuế suất, tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu được hưởng ưu đãi và quyền lợi của nước xuất khẩu tại nước nhập khẩu. Điều này liên quan đến chính sách thương mại của các quốc gia thỏa thuận thương mại trong các hiệp định kinh tế. Việc xác định được xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan hải quan có thể phân biệt được đâu là hàng nhập khẩu được hưởng ưu đãi để áp dụng chế độ ưu đãi theo các theo các thảo thuận thương mại đặc biệt và đâu là hàng không được hưởng ưu đãi. Ví dụ như theo hiệp định ATIGA thì khi hàng hóa từ các nước trong khu vực ASEAN nhập khẩu vào Việt Nam thì sẽ được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan, Việt Nam sẽ áp dụng mức thuế suất thấp hơn hoặc ưu đãi đối với các sản phẩm có xuất xứ từ các nước này.

    Thứ ba, xuất xứ hàng hóa liên quan đến việc kiểm soát hoạt động ngoại thương, đồng thời phục vụ cho công tác thống kê ngoại thương. Xác định xuất xứ giúp cho việc biên soạn các số liệu thống kê thương mại hàng năm được tiến hành dễ dàng hơn.

    Thứ tư, xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Ví dụ đối với  một số loại thực phẩm có xuất xứ từ các nước Châu Âu như Mỹ, Đức, Pháp,…thường được người dân tin dùng vì trước khi xuất sang Việt Nam, hàng hóa có xuất xứ từ các nước này đã qua kiểm định nghiêm ngặt, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Còn đối với một số hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc sẽ khiến người tiêu dùng e ngại hơn vì phần lớn các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đều xuất xứ từ thị trường này.

    Như vậy, việc xác định xuất xứ hàng hóa là chỉ tiêu quan trọng cho việc đánh giá chất lượng, là công cụ để thể hiện chính sách thương mại trong quan hệ song phương và đa phương giữa các quốc gia. Trong điêu kiện hiện nay, khi việc gia nhập các liên kết kinh tế – thương mại khu vực và thế giới trở thành một xu thế, nhu cầu bức thiết nhằm duy trì và đẩy mạnh quan hệ thương mại thì việc xác định xuất xứ hàng hóa càng có ý nghĩa quan trọng.

    1.3.           Giấy chứng nhận xuất xứ.

    Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) là một loại văn bản chứng minh xuất xứ hàng hóa. Về cơ bản, C/O được cấp cho lô hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu cụ thể. C/O chứng nhận xuất xứ hàng hóa được xác định theo một quy tắc xuất xứ cụ thể và quy tắc này phải được nước nhập khẩu chấp nhận và thừa nhận. Một số mẫu C/O ưu đãi thông dụng ở Việt Nam gồm: C/O mẫu A ( cấp cho các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang các nước dành cho Việt Nam chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP), C/O mẫu D ( cấp cho các sản phẩm mua bán giữa các nước thành viên ASEAN ), C/O mẫu B (cấp cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong các trường hợp thông thường hay không đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ để hưởng chế độ ưu đãi GSP đó).

    2.     Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu.

    2.1.           Ý nghĩa của xuất xứ hàng hóa đối với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu.

    Khi Việt Nam là nước xuất khẩu, thủ tục thông quan hàng hóa quy định phải dựa trên sự xuất trình đầy đủ các chứng từ hàng hóa trong đó có bao gồm xuất xứ hàng hóa thì C/O là một căn cứ để cơ quan Hải quan cho phép người xuất khẩu thông quan hàng hóa. Xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan hải quan thuận tiện trong việc kiểm tra và xác định nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa đang làm thủ tục hải quan xuất, nhập khẩu, đánh giá được khả năng xuất khẩu thực tế hàng hóa có xuất xứ từ nước mình, xác định tỉ lệ hàng quá cảnh. Còn khi Việt Nam là nước nhập khẩu, xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, quản lý được hàng hóa nhập khẩu phù hợp với chính sách ngoại thương và quan hệ kinh tế đối ngoại của Chính phủ nước mình và chính phủ nước xuất xứ hàng hóa. Nó còn giúp cơ quan quản lý nhà nước ngăn chặn kịp thời hàng hóa từ những nước đang là đối tượng bị hạn chế và cấm nhập khẩu, xác định mức thuế áp dụng  cho lô hàng nhập khẩu phù hợp vớ chế độ thuế quan hiện hành. Ví dụ như với Mỹ, cơ quan quản lỹ nhà nước của Mỹ đã ra quyết định hạn chế nhập khẩu mặt hàng thép có xuất xứ từ Trung Quốc nguyên nhân một phần do các vụ điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm thép có xuất xứ từ Trung Quốc. Vậy nên, đói với mặt hàng thép có xuất xứ từ Trung Quốc, việc thông quan qua cửa khẩu Mỹ là rất khó khăn. Còn với Việt Nam, theo cam kết của Việt Nam gia nhập WTO tại Điều 147 Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO thì Việt Nam sẽ không áp đặt, cũng như hạn chế nhập khẩu đối với bất cứ nước nào, mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp có quyền tự do lựa chọn nhà phân phối để nhập khẩu nguyên vật liệu vào Việt Nam. Về mức thuế quan, nếu hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ Lào (C/O form S), để thực hiện Bản thỏa thuận giữ Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam và bộ công thương nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, thì những hàng hóa đó sẽ được hưởng ưu đãi về mặt thuế quan. Trên cơ sở thông tin về xuất xứ hàng hóa cho phép cơ quan quản lý nhà nước tiến hành công tác thống kê ngoại thương, xác định nguồn nhập chủ yếu của từng mặt hàng để từ đó có chế độ tính thuế nhằm bảo vệ sản xuất trong nước. Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan ngày 17/1/2016, dựa vào xuất xứ hàng hóa, chúng ta có thể xác định được thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung ở Châu Á. Trong đó, thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc, chiếm tỉ trọng 28,7%.

    Đối với  việc phát triển kinh tế và quản lý chính sách ngoại thương của nhà nước. Đối với nước xuất khẩu, thông thường nước xuất khẩu là nước đang và kém phát triển đều thuộc danh mục các nước được hưởng ưu đãi của chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP của các nước phát triển, xuất xứ hàng hóa là bằng chứng để được hưởng ưu đãi thuế quan. Ví dụ như khi Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang EU thì sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP. Ngoài ra xuất xứ hàng hóa còn giúp các nước xuất khẩu tăng cường khả năng thâm nhập hàng hóa vào các thị trường của các nước phát triển cho hưởng ưu đãi. Giúp mở rộng thị trường và hàng hóa của nước xuất khẩu trở nên có sức cạnh tranh hơn so với hàng hóa cùng loại của các nước không được hưởng ưu đãi, tăng lợi nhuận xuất khẩu, tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Từ ngày 1/1/2014, EU chính thức thông qua quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập, đưa Việt Nam vào các nước được hưởng GSP đối với tất cả các mặt hàng. Cũng trong năm này, Việt Nam đã xuất khẩu được 7% mặt hàng sang EU, giai đoạn 2014-2016 đã tăng lên thành 30%. Còn đối với nước nhập khẩu, về mặt phát triển kinh tế và quản lý chính sách ngoại thương của nhà nước, xuất xứ hàng hóa là cơ sở đrr cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác thống kê ngoại thương, nắm tình hình nhập khẩu hàng hóa, thực hiện hạn ngạch nhập khẩu sản phẩn có xuất xứ từ các nước được phân bố (nếu có), tình hình chất lượng hàng hóa nhập khẩu từ các nước, thị trường khác nhau, xem xét sự tác động về mặt xã hội và vệ sinh môi trường của hàng hóa nhập khẩu từ đó có biện pháp quản lý và xây dựng chính sách nhập khẩu, biểu thuế thích hợp, chính sách xử lý môi trường để bảo vệ sức khỏe, an ninh… xác địnhtiêu chuẩn chất lượng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác nhau. Xuất xứ hàng hóa cấp cho hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan là căn cứ để Chính phủ nước cho hưởng nắm được tình hình thực hiện ưu đãi, xây dựng và sửa đối bổ sung kịp thời, có thể giữ nguyên chế độ ưu đãi hoặc cắt giảm bằng những yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn để được cấp C/O phù hợp hoặc tuyên bố cắt thẳng. Theo những kết quả thống kê được về hàng hóa có chứng nhận xuất xứ để được hưởng ưu đãi, EU cí thể xác định được mức độ phát triển kinh tế chung và kinh tế từng ngành hàng của các nước được hưởng ưu đãi, từ đó xác định danh mục các nước được hưởng GSP, cá nước không được hưởng. Ví dụ Brunei, Hongkong, Hàn Quốc, Singapore,.. từ 1/1/1997 koong cì nằm trong danh sách hưởng GSP của EU nữa.

    2.2.           Ý nghĩa của xuất xứ hàng hóa đối với cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan quản lý nhà nước tiến hành hậu kiểm, giảm thiểu rủi ro đối với doanh nghiệp gian lận sử dụng nguyên liệu mua trong nước không đạt xuất xứ những vẫn cộng gộp 100% trị giá nguyên liệu đó vào trị giá thành phẩm cuối cùng, hoặc cũng có doanh nghiệp nhập hàng về, khai báo là nguyên vật liệu rồi gia công vài công đoạn sơ sài để xin cấp chứng nhận xuất xứ nhằm tránh được thuế bán phá giá hoặc được hưởng lợi từ thuế. Từ đó ngăn chặn được nguy cơ gian lận xuất xứ đối với đối với thành phẩm xuất khẩu.

    Xuất xứ hàng hóa cũng giúp cho cơ quan quản lý nhà nước xác định chính xác xuất xứ hàng hóa mà doanh nghệp nhập vào Việt Nam. Hiện nay có một số doanh nghiệp làm giả C/O form D để nhập lậu vào Việt Nam. Trước đó, cơ quan chức năng đã phát hiện một số hàng nhập lậu sử dụng C/O form D giả, vifcasc C/O thu giữ được đều ghi 100% hàm lượng ASEAN, đối với nhà sản xuất cũng như cơ quan quản lý, điều này là không cần thiết vì chỉ cần hơn 40% hàm lượng asean là có thể được cấp c/o. Qua kiểm tra xuất xứ, cơ quan quản lý đã ngăn chặn được phần nào hành vi làm giả để hưởng thuế ưu đãi này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Đề Cương Ôn Tập Khai Thác Tàu 2019

    Đề Cương Ôn Tập Khai Thác Tàu 2019

    Đề Cương Ôn Tập Khai Thác Tàu 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Các Chứng Từ Trong Vận Tải Biển 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/khai-th%C3%A1c-t%C3%A0u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Khai Thác Tàu 2019

    I.  Khái niệm tàu chuyến.

    _Tàu chuyến là loại tàu hoạt động không theo chuyến cố định , không có lịch trình chạy tàu được công bố từ trước mà theo yêu cầu của người thuê tàu trên cơ sở của các loại hợp đồng theo từng chuyến

    _Vận tải tàu chuyến là hình thức tổ chức khai thác tàu hoạt động không theo chuyến cố định , không có lịch trình từ trước mà do yêu cầu của người thuê tàu trên cơ sở của các loại hợp đồng theo từng chuyến

    II. Quy trình cơ bản tổ chức khai thác tàu chuyến.

    1.      Chào tàu (Tunnage offer ) và các yêu cầu vận chuyển (đơn hàng- Cargo Offer).

    Để quảng bá dịch vụ của mình người khai thác tàu sẽ gửi các bản chào tàu tới các nhà môi giới , đại lý , các cửa hàng thông qua các phương tiện truyền thông hoặc mail , fax .

    Nội dung chủ yếu của bản chào tàu như sau ( Tên tàu và quốc tịch , năm đóng và nơi đăng kiểm các đặc trưng kỹ thuật chủ yếu của đội bảo hiểm tàu )

    -Người khai thác tàu sẽ thu thập các nhu cầu vận chuyển từ các chủ hàng hoặc từ người môi giới gửi tới bằng các mail, fax hoặc qua các website qua đó tìm kiếm cơ hội kinh doanh phù hợp với điều kiện khai thác của mình

    -Các đơn chào hàng thường có các nội dung cơ bản như sau ( tên hàng , khối lượng càn vận chuyển , dung sai về lượng và quyền lựa chọn , cảng đi và đến của hàng , mưc xếp dỡ hàng , giá cước , điều kiện chi phí xếp dỡ , mức hoa hồng môi giới )

    2. Lập các phương án sơ bộ bố trí tàu theo các đơn hàng.

    Cơ sở lập các phương án bố trí tàu phải thỏa mãn các điều kiện sau:

    _ Tàu phải đủ điều kiện đi biển theo tuyến vận chuyển (cấp tàu phải phải phù hợp với tuyến đường vận chuyển theo đơn chào hàng, thỏa mãn các yêu cầu kiểm tra của chính quyền hành chính cảng biển).

    _ Đặc trưng khai thác tàu phải phù hợp với hàng hóa:

    + Loại tàu phải phù hợp với hàng hóa cần vận chuyển.

    + Sức nâng của cần trụ tàu phù hợp với trọng lượng mã hàng.

    + Dung tích chưa hàng của tàu đủ để xếp hết lô hàng hóa yêu cầu, có thể xét đến khả năng xếp hàng trên boong nếu cho phép.

    + Trọng tải thực chở của tàu không được nhỏ hơn khối lượng hàng cần vận chuyển.

    _ Tàu phải đến cảng xếp hàng đúng theo yêu cầu về thời gian của người thuê.

    3.     Lập sơ đồ công nghệ chuyến đi.

    _ Sơ đồ công nghệ chuyến đi thể hiện các quá trình tác nghiệp của tàu trên đường đi và tại các cảng theo từng phương án bố trí tàu, dựa vào sơ đồ công nghệ chuyến đi để xác định hao phí thời gian và chi phí khai thác cho chuyến đi của từng tàu trên từng tuyến.

    4.     Ước tính hiệu quả kinh tế chuyến đi và chọn phương án hợp lý.

    1. Tính toán chi phí và thu nhập chuyến đi.

    _ Chi phí chuyến đi của tàu gồm 2 nhóm chính là chi phí cố định và chi phí biến đổi. Mục đích của việc tính tổng chi phí chuyến đi là để xây dựng mức cước hợp lý khi chủ tàu được quyền định cước.

    _ Chi phí cố định của các tàu phải có được tính sẵn thành một bảng cho từng con tàu theo thời gian để nhanh chóng so sánh với mức cho thuê định hạn và là cơ sở để xác định lãi ròng cho một ngày khai thác.

    _ Chi phí biến đổi của tàu sẽ phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như: lượng nhiên liệu tiêu thụ, giá cả nhiên liệu, số lượng cầu bến mà tàu phải ghé vào, biểu giá của các cảng, cự ly hành trình, điều kiện tuyến đường, thời hạn làm hàng, chi phí đại lý và môi giới…

    _ Thu nhập chủ yếu của tàu trong chuyến đi là tổng số tiền cước vận chuyển hàng hóa, phụ thuộc vào mức cước, lượng hàng chuyên chở và mức dung sai về lượng do ai lựa chọn quy định trên các đơn chào hàng. Đối với tàu chở hàng khô thì mức cước thường được tính là bao nhiêu tiền trên một đơn vị chuyên chở ($/MT), cho dù cước thỏa thuận hoặc được ấn định trước bởi người thuê tàu. Riêng cước tàu dầu và sản phẩm dầu thì mức cước được biểu thị bằng chỉ số WS trên từng tuyến cụ thể. Thu nhập của tàu gồm 2 loại: Tổng thu nhập chưa trừ hoa hồng môi giới và thu nhập tịnh đã trừ hoa hồng môi giới. Trong một số trường hợp, thu nhập của tàu có thể tính theo cước Lumpsum (tính theo DWT của tàu).

    1. Chọn phương án.

    Để quyết định chọn phương án nào có lợi trong số các phương án bố trí tàu sơ bộ đã lập, chủ tàu cần xem xét các vẫn đề sau:

    _ Nếu thu nhập của tàu ứng với điểm treo tàu thì loại bỏ phương án đó.

    _ Nếu thu nhập của tàu theo các đơn chào hàng lớn hơn điểm treo tàu thì việc lựa chọn phương án có lợi sẽ theo quan điểm sau: phương án có lợi là phương án có Lmax

    _ Trường hợp Lk = L(k+1) sẽ phải tính thêm một số yếu tố sau: năng suất, mức độ an toàn tuyệt đối với hàng hóa, sự thuận tiện trong công tác làm hàng, cơ hội của chuyến tiếp theo trên tuyến,…

    5.     Ký kết hợp đồng.

    Sauk hi đã lựa chọn được phương án có lợi, chủ tàu nhanh chóng đàm phán với thuê tàu tất cả các điều khoản chủ yếu của hợp đồng chuyên chở như cước phí, chi phí xếp dỡ, thanh toán. Sauk hi các bên đồng ý các điều khoản thì sẽ tiến hành ký kết hợp đồng vận chuyển theo 2 dạng sau:

    _ Hợp đồng rút gọn (Fixture note): CascFixture Note rất đa dạng tùy thuộc vào tập quán từng khu vực và từng loại hàng. F/N dùng để tổ chức thực hiện chuyến đi khi hợp đồng chính thức chưa được kí kết.

    _ Hợp đồng chính thức: là văn bản đầy đủ các điều khoản do hai bên thỏa thuận, để đơn giản hóa trình tự lập hợp đồng, các bên thường dùng hợp đồng mẫu cho từng loại hàng theo các khu vực thị trường đồng thời kèm theo phụ lục (Rider Clause) của hợp đồng. Mẫu GENCON 22/76/94 là mẫu được sử dụng rộng rãi hiện nay dùng cho hàng thông dụng không yêu cầu mẫu riêng. Trước khi kết thúc chuyến đi phải hoàn thành bản hợp đồng chính thức.

    6.     Thực hiện hợp đồng.

    Để hoàn thành thực hiện Voyage C/P đã ký, người khai thác tàu phải triển khai các công việc chính sau đây:

    _ Tìm đại lý phục vụ tàu tại các cảng (Agency Nomination).

    _ Lập bản hướng dẫn chuyến đi (Sailing Instuction).

    _ Thông báo tàu đến (NOA) tại cảng xếp và dỡ.

    _ Lập sơ đồ xếp hàng tại cảng xếp gửi cho các bên liên quan.

    _ Trao thông báo sẵn sàng (NOR).

    _ Nhận hàng để chở (Take the cargo in his charge for carriage).

    _ Cấp biên lai thuyền phó (M/R)tại cảng xếp.

    _ Cấp vận đơn đường biển (Issue B/L) tại cản xếp cho Shipper.

    _ Lập bản lược khai hàng hóa (cargo manifest) tại cảng xếp/dỡ.

    _ Cấp lệnh giao hàng (D/O) tại cảng dỡ và trả hàng cho người nhận.

    _ Quyết toán chuyển đi (các biên bản liên quan đến tàu và hàng: ROROC, COR, CSC, SOF,….).

    _ Lập hóa đơn thu cước (Freight Invoice).

    7.     Thanh lý hợp đồng.

    Sau khi kết thúc việc dỡ hàng các bên sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng. Việc thanh lý hợp đồng có thể thực hiện bằng cách gặp gỡ trao đổi trực tiếp hoặc quy định tự động kết thúc sau một số ngày nhất định kể từ khi kết thúc việc dỡ hàng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây