Category: Đề cương Đại Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Đề cương đại học. Đội nhóm chúng mình dành nhiều tâm sức sưu tầm đề cương từ các đại học khác nhau. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

[caption id="attachment_18595" align="aligncenter" width="800"]Đề cương đại học miễn phí De cuong dai hoc mien phi (Ảnh sưu tầm – Báo Nghệ An)[/caption]
  • BÀI TẬP MÔN KINH TẾ VI MÔ

    BÀI TẬP MÔN KINH TẾ VI MÔ

    BÀI TẬP MÔN KINH TẾ VI MÔ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ THI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-M%C3%94N-KINH-T%E1%BA%BE-VI-M%C3%94.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP MÔN KINH TẾ VI MÔ

    BÀI TẬP MÔN KINH TẾ VI MÔ

    Bài 1:

    Trong những năm 2005, sản xuất đường ở Mỹ: 11,4 tỷ pao; tiêu dùng 17,8 tỷ pao; giá cả ở Mỹ 22 xu/pao; giá cả thế giới 8,5 xu/pao…Ở những giá cả và số lượng ấy có hệ số co dãn của cầu và cung là Ed = -0,2; Es = 1,54.

    Yêu cầu:

    1. Xác định phương trình đường cung và đường cầu về đường trên thị trường Mỹ. Xác định giá cả cân bằng đường trên thị trường Mỹ.
    2. Để đảm bảo lợi ích của ngành đường, chính phủ đưa ra mức hạn ngạch nhập khẩu là 6,4 tỷ pao. Hãy xác định số thay đổi trong thặng dư của người tiêu dung, của người sản xuất, của Chính phủ, và số thay đổi trong phúc lợi xã hội.
    3. Nếu giả sử chính phủ đánh thuế nhập khẩu 13,5 xu/pao. Điều này tác động đến lợi ích của mọi thành viên ra sao? So sánh với trường hợp hạn ngạch, theo bạn chính phủ nên áp dụng biện pháp gì?

    Bài giải

    Qs = 11,4 tỷ pao

    Qd = 17,8 tỷ pao

    P = 22 xu/pao

    PTG = 805 xu/pao

    Ed = -0,2

    Es = 1,54

    1. Phương trình đường cung, đường cầu? Pcb?

    Ta có: phương trình đường cung, đường cầu có dạng như sau:

    QS = aP + b

    QD = cP + d

    Ta lại có công thức tính độ co dãn cung, cầu:

    ES = (P/QS).(DQ/DP)

    ED = (P/QD). (DQ/DP)

    Trong đó: DQ/DP là sự thay đổi lượng cung hoặc cầu gây ra bởi thay đổi về giá, từ đó, ta có DQ/DP là hệ số gốc của phương trình đường cung, đường cầu

    • ES = a.(P/QS)

    ED = c. (P/QD)

    • a = (ES.QS)/P

    c = (ED.QD)/P

    • a = (1,54 x 11,4)/22 = 0,798

    c = (-0,2 x 17,8)/22 = – 0,162

    Thay vào phương trình đường cung, đường cầu tính b,d

    QS = aP + b

    QD = cP + d

    • b = QS – aP

    d = QD – cP

    • b = 11,4 – (0,798 x 22) = – 6,156

    d = 17,8 + (0,162 x 22) = 21,364

    Thay các hệ số a,b,c,d vừa tìm được, ta có phương trình đường cung và cầu về đường trên thị trường Mỹ như sau:

    QS = 0,798P – 6,156

    QD = -0,162P + 21,364

    Khi thị trường cân bằng, thì lượng cung và lượng cầu bằng nhau

    • QS = QD
    • 0,798PO – 6,156 = -0,162PO + 21,364
    • 0,96PO =  27,52
    • PO =  28,67

    QO      =  16,72

     

    1. Số thay đổi trong thặng dư của người tiêu dùng, của người sản xuất, của Chính phủ, và số thay đổi trong phúc lợi xã hội.

    Quota = 6,4

    Do P = 22 < PTG = 8,5 => người tiêu dùng có xu hướng tiêu dùng hàng nhập khẩu, nếu chính phủ không hạn chế nhập khẩu. Để ngăn chặn nhập khẩu chính phủ đặt quota nhập khẩu với mức 6,4 tỷ pao. Khi đó phương trình đường cung thay đổi như sau:

    QS’ = QS + quota

    = 0,798P -6,156 + 6,4

    QS’ = 0,798P + 0,244

    Khi có quota, phương trình đường cung thay đổi => điểm cân bằng thị trường thay đổi.    QS’ =QD

    • 0,798 P + 0,244 = -0,162P + 21,364
    • 0,96P = 21,12
    • P    =       22

    Q   =      17,8

     
       
    S quota
    P
    S
    Q
    f
    d
    b
    a
    D
    22
    8.5
     
       

    * Thặng dư :

    – Tổn thất của người tiêu dùng :

    với :

    a = ½ ( 11.4 + 0.627 )x 13.5  = 81.18

    b = ½ x ( 10.773 x 13.5 ) = 72.72

    c = ½ x ( 6.4x 13.5 ) = 43.2

    d = c = 43.2

    f = ½ x ( 2.187 x 13.5 ) = 14.76

    => DCS = – 255,06

    Thặng dư nhà sản xuất tăng :

    Nhà nhập khẩu ( có hạn ngạch ) được lợi : c + d = 43.2 x 2 = 86.4

    Tổn thất xã hội :

    => DNW = – 87,48

    1. Thuế nhập khẩu 13,5 xu/pao. Lợi ích của mọi thành viên ra sao? So sánh với trường hợp hạn ngạch, theo bạn chính phủ nên áp dụng biện pháp gì?

    Mức thuế nhập khẩu 13,5 xu/pao, ảnh hưởng đến giá của số lượng nhập khẩu, làm cho giá tăng từ 8,5 lên 8,5 + 13,5 = 22 xu/pao (bằng với giá cân bằng khi áp dụng hạn ngạch nhập khẩu ở câu 2)

    Với mức thuế nhập khẩu là 13.5 xu/pao, mức giá tăng và thặng dư tiêu dùng giảm :

    với a = 81.18

    b = 72.72

    c = 6.4 x 13.5 = 86.4

    d = 14.76

    Thặng dư sản xuất tăng :

    Chính phủ được lợi : c = 86.4

           
       
     
       
    0.627          11.4              17.8      19.987                       Q

    Khi chính phủ đánh thuế nhập khẩu thì tác động cũng giống như trường hợp trên. Tuy nhiên nếu như trên chính phủ bị thiệt hại phần diện tích hình c +d do thuộc về những nhà nhập khẩu thì ở trường hợp này chính phủ được thêm một khoản lợi từ việc đánh thuế nhập khẩu ( hình c + d ). Tổn thất xã hội vẫn là 87,487

     

    * So sánh hai trường hợp :

    Những thay đổi trong thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất là như nhau dưới tác động của hạn ngạch và của thuế quan. Tuy nhiên nếu đánh thuế nhập khẩu chính phủ sẽ thu được lợi ích từ thuế. Thu nhập này có thể được phân phối lại trong nền kinh tế ( ví dụ như giảm thuế, trợ cấp …). Vì thế chính phủ sẽ chọn cách đánh thuế nhập khẩu bởi vì tổn thất xã hội không đổi nhưng chính phủ được lợi thêm một khoản từ thuế nhập khẩu.

     

    Bài 2:

    Thị trường về lúa gạo ở Việt Nam được cho như sau:

    • Trong năm 2002, sản lượng sản xuất được là 34 triệu tấn lúa, được bán với giá 2.000 đ/kg cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu; mức tiêu thụ trong nước là 31 triệu tấn.
    • Trong năm 2003, sản lượng sản xuất được là 35 triệu tấn lúa, được bán với giá 2.200 đ/kg cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu, mức tiêu thụ trong nước là 29 triệu tấn.

    Giả sử đường cung và đường cầu về lúa gạo của Việt Nam là đường thẳng, đơn vị tính trong các phương trình đường cung và cầu được cho là Q tính theo triệu tấn lúa; P được tính là 1000 đồng/kg.

    1. Hãy xác định hệ số co dãn của đường cung và cầu tương ứng với 2 năm nói trên.
    2. Xây dựng phương trình đường cung và đường cầu lúa gạo của Việt Nam.
    3. Trong năm 2003, nếu chính phủ thực hiện chính sách trợ cấp xuất khẩu là 300 đ/kg lúa, hãy xác định số thay đổi trong thặng dư của người tiêu dùng, của người sản xuất, của chính phủ và phúc lợi xã hội trong trường hợp này.
    4. Trong năm 2003, nếu bây giờ chính phủ áp dụng hạn ngạch xuất khẩu là 2 triệu tấn lúa mỗi năm, mức giá và sản lượng tiêu thụ và sản xuất trong nước thay đổi như thế nào? Lợi ích của mọi thành viên thay đổi ra sao?
    5. Trong năm 2003, giả định chính phủ áp dụng mức thuế xuất khẩu là 5% giá xuất khẩu, điều này làm cho giá cả trong nước thay đổi ra sao? Số thay đổi trong thặng dư của mọi thành viên sẽ như thế nào?
    6. Theo các bạn, giữa việc đánh thuế xuất khẩu và áp dụng quota xuất khẩu, giải pháp nào nên được lựa chọn.

    Bài giải

      P QS QD
    2002 2 34 31
    2003 2,2 35 29

     

    1. Xác định hệ số co dãn của đường cung và cầu tương ứng với 2 năm nói trên.

    Hệ số co dãn cung cầu được tính theo công thức:

    ES = (P/Q) x (DQS/DP)

    ED = (P/Q) x (DQD/DP)

    Vì ta xét thị trường trong 2 năm liên tiếp nên P,Q trong công thức tính độ co dãn cung cầu là P,Q bình quân.

    ES = (2,1/34,5) x [(35 – 34)/(2,2 – 2)] = 0,3

    ED = (2,1/30) x [(29 – 31)/(2,2 – 2)] = 0,7

    1. Xây dựng phương trình đường cung và đường cầu lúa gạo của Việt Nam.

    Ta có :

    QS = aP + b

    QD = cP + d

    Trong đó: a = DQS/DP = (35 – 34) / (2,2 – 2) = 5

    b = DQD/DP = (29 -31) / (2,2 – 2) = -10

    Ta có: QS = aP + b

    • b = QS – aP = 34 – 5.2 = 24

    và       QD = cP + d

    • d = QD – cP = 31 +10.2 = 51

    Phương trình đường cung, đường cầu lúa gạo ở Việt Nam có dạng:

    QS = 5P + 24

    QD = -10P + 51

     

    1. trợ cấp xuất khẩu là 300 đ/kg lúa, xác định số thay đổi trong thặng dư của người tiêu dùng, của người sản xuất, của chính phủ và phúc lợi xã hội

    Khi thực hiện trợ cấp xuất khẩu, thì:

    PD1 = PS1 – 0,3

    Tại điểm cân bằng: QD1 = QS1

    • 5PS1 + 24 = -10 (PS1 – 0,3) + 51
    • PS1 =   2

    PD1  = 1,7

    QD1  = 34

    1. Quota xuất khẩu là 2 triệu tấn lúa mỗi năm, mức giá và sản lượng tiêu thụ và sản xuất trong nước thay đổi như thế nào? Lợi ích của mọi thành viên thay đổi ra sao?

    Khi chưa có quota , điểm cân bằng thị trường:

    QS = QD

    ó 5P + 24 = -10P + 51

    ó   15P   = 27

    ó        PO   =  1,8

    QO   =  33

    Khi có quota xuất khẩu, phương trình đường cầu thay đổi như sau:

    QD’ = QD + quota

    = -10P + 51 + 2

    = -10P + 53

    Điểm cân bằng mới khi có quota xuất khẩu:

    QS = QD’

    ó 5P + 24 =  -10P +53

    ó 15P = 29

    ó     P = 1,93

    Q = 5P + 24 = 33,65

    * Thặng dư:

    – D CS = + a + b là phần diện tích hình thang ABCD

    SABCD = 1/2 x (AB + CD) x AD

    Trong đó :

    AD = 2,2 – 1,93 = 0,27

    AB = QD(P=2,2) = -10 x 2,2 +51 = 29

    CD = QD(P=1,93) = -10 x 1,93 + 51 = 31,7

    • SABCD = 1/2 x (29 + 31,7) x 0,27 = 8,195
    • D CS = a + b = 8,195

    – D PS = -(a + b + c + d + f) là phần diện tích hình thang AEID

    SAEID = 1/2 x (AE + ID) x AD

    Trong đó:

    AE = QS(P=2,2) = 5 x 2,2 + 24 = 35

    ID = QS(P=1,93) = 5 x 1,93 + 24 = 33,65

    • SAEID = 1/2 x (35 + 33,65) x 0,27 = 9,268
    • D PS = -(a + b + c + d +f) = -9,268

    – Người có quota XK:

    D XK = d là diện tích tam giác CHI

    SCHI = 1/2 x (CH x CI)

    Trong đó:

    CH =AD = 0,27

    CI = DI – AH = 33,65 – QD(P=2,2) = 33,65 – (-10 x 2,2 +53) = 33,65 -31 =2,65

    • S CHI = 1/2 x (0,27 x 2,65) = 0,358
    • D XK = d = 0,358

    – D NW = D CS + D PS + D XK = 8,195 – 9,268 + 0,358 = -0,715

     

    1. chính phủ áp dụng mức thuế xuất khẩu là 5% giá xuất khẩu, giá cả trong nước thay đổi ra sao? Số thay đổi trong thặng dư của mọi thành viên sẽ như thế nào?

    Khi chính phủ áp đặt mức thuế xuất khẩu bằng 5% giá xuất khẩu thì giá của lượng xuất khẩu sẽ giảm: 2,2 – 5% x 2,2 = 2,09.

    – D CS = 1/2 x (29 + QD(P=2,09)) x (2,2 – 2,09)

    =  1/2  x [29 + (-10 x 2,09 + 51)] x 0,11

    = 1/2  x (29 + 30,1) x 0,11

    = 3,25

    – D PS = – { 1/2 x (AE + QS(P=2,09))  x (2,2 – 2,09)

    = – {1/2 x [35 + (5 x 2,09 +24)] x 0,11

    = – [1/2 x (35 + 34,45) x 0,11)] = -3,82

    – Chính phủ:

    D CP = 1/2 x (2,2 – 2,09) x (QS(P=2,09) – QD(P=2,09))

    = 1/2 x 0,11 x (34,45 – 30,1) = 0,239

    – D NW = D CS + D PS + D CP = 3,25 -3,82 + 0,239

    = -0,33

     

    1. Giữa việc đánh thuế xuất khẩu và áp dụng quota xuất khẩu, giải pháp nào nên được lựa chọn

    Theo tính toán của câu 4,5 (quota = 2 và TXK = 5% giá xuất khẩu) thì Chính phủ nên chọn giải pháp đánh thuế xuất khẩu. Vì rõ ràng khi áp dụng mức thuế này phúc lợi xã hội bị thiệt hại ít hơn khi áp dụng quota = 2, đồng thời chính phủ thu được 1 phần từ việc đánh thuế (0,39).

    Bài 3:

    Sản phẩm A có đường cầu là P = 25 – 9Q và đường cung là P = 4 + 3,5Q

    P: tính bằng đồng/đơn vị sản phẩm

    Q: tính bằng triệu tấn đơn vị sản phẩm

    1. Xác định mức giá và sản lượng khi thị trường cân bằng.
    2. Xác định thặng dư của người tiêu dùng khi thị trường cân bằng.
    3. Để đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng, chính phủ dự định đưa ra 2 giải pháp sau:

    Giải pháp 1: Ấn định giá bán tối đa trên thị trường là 8 đồng/đvsp và nhập khẩu lượng sản phẩm thiếu hụt trên thị trường với giá 11 đồng /đvsp.

    Giải pháp 2: Trợ cấp cho người tiêu dùng 2 đồng/đvsp và không can thiệp vào giá thị trường.

    Theo bạn thị giải pháp nào có lợi nhất:

    1. Theo quan điểm của chính phủ
    2. Theo quan điểm của người tiêu dùng
    1. Giả sử chính phủ áp dụng chính sách giá tối đa là 8 đồng/đvsp đối với sản phẩm A thì lượng cầu sản phẩm B tăng từ 5 triệu tấn đvsp lên 7,5 triệu tấn đvsp. Hãy cho biết mối quan hệ giữa sản phẩm A và sản phẩm B?
    2. Nếu bây giờ chính phủ không áp dụng 2 giải pháp trên, mà chính phủ đánh thuế các nhà sản xuất 2 đồng/đvsp.
      1. Xác định giá bán và sản lượng cân bằng trên thị trường?
      2. Xác định giá bán thực tế mà nhà sản xuất nhận được?
      3. Các nhà sản xuất hay người tiêu dùng gánh chịu thuế? Bao nhiêu?
      4. Thặng dư của người sản xuất và người tiêu dùng thay đổi như thế nào so với khi chưa bị đánh thuế?

    Bài giải

    1. Giá và sản lượng cân bằng

    P = 25 – 9QD =>QD = 2,778 – 0,111P

    P = 4 + 3,5QS => QS = 0,286P  – 1,143

    Tại điểm cân bằng :

    QS = QD

    ó 0,286P – 1,143 = 2,778– 0,111P

    ó        0,397P     =     3,921

    ó            P           =     9,88

    Q          =     1,68

    1. Thặng dư người tiêu dùng

    D CS = 1/2 x (25 – 9,88) x 1,68

    =   12,7

    1. giải pháp nào có lợi nhất

    Giải pháp 1: P max = 8đ/đvsp   &   PNkhẩu lượng sp thiếu hụt = 11đ/đvsp

    Ta có : Pmax = 8đ/đvsp

    (S)  :   P = 4 + 3,5Q

    • 8 = 4 + 3,5Q
    • QS = 1,14

    Tương tự : thế P = 8đ/đvsp vào (D)

    (D)  :   P = 25 – 9Q

    ó 8 = 25 – 9Q

    ó  Q1D = 1,89

    Vậy tổng sản lượng thiếu hụt trong trường hợp này là:

    Q1D –  Q1S = 1,89 – 1,14 = 0,75

    Vậy số tiền chính phủ phải bỏ ra để nhập khẩu sản lượng thiếu hụt là:

    P  x  ( Q1D – Q1S ) = 11 x 0,75 = 8,25 tỷ

    Người tiêu dùng tiết kiệm được là:

    ΔCS = C-B = 1.14*(9.8-8) – (1.68-1.14)*(14.74-9.8) = – 0.616 tỷ

    Giải pháp 2: Trợ cấp cho người tiêu dùng 2đ/đvsp & không can thiệp vào giá thị trường .

    Ta có :

    PS1 – PD1  = 2

    PD1= 25 – 9Q1

    PS1 = 4 + 3,5 Q1

    Suy ra :  Q1 = 1.84 , PD1= 8.44 ; PS1 = 10.44

    Người tiêu dùng tiết kiệm được là:

    ΔCS  = C + D  = 0.5 x (9.8 – 8.44) x (1.68 + 1.84) = 2.4 tỷ

    Chính phủ phải bỏ ra là :

    CP = 2 x Q1 = 2 x 1.84 = 3.68 tỷ

    Kết luận :

    • Vậy giải pháp 1 có lợi hơn theo quan điểm của chính phủ.
    • Vậy giải pháp 2 có lợi hơn theo quan điểm của người tiêu dùng.
    1. mối quan hệ giữa sản phẩm A và sản phẩm B
      • Sản phẩm A:

    Ta có Pmax = 8        thế vào (S)  :  P = 4 + 3,5Q

    => Q1S  =  1,14

    • Sản phẩm B:

    Sản lượng B tăng   : DQ  = 7,5 – 5 = 2,5

    • Hữu dụng biên của 2 sản phẩm :

    DQB                 2,5                     2,5

    MRAB  =              =                             =                = 4,63 > 1

    DQA            1,68 – 1,14           0,54

    => sản phẩm A và B là 2 sản phẩm thay thế hoàn toàn

    1. Đánh thuế 2 đồng/đvsp
    2. Khi chính phủ đánh thuế nhà sản xuất, tác động lên giá, làm đường cung dịch chuyển vào trong.

    P = 4 + 3,5Q

    Hàm cung mới:   P = 4 +3,5Q +2  => P = 3,5Q + 6

    Khi thị trường cân bằng:

    => 3,5Q + 6 = 25 – 9Q

    => 12.5Q = 19

    =>    Q = 1,52

    P = 11,32

    1. Giá thực tế mà nhà sản xuất nhận được:

    P = 4 + 3,5 x 1,52

    = 9,32

    1. Các nhà sản xuất hay người tiêu dùng gánh chịu thuế? Bao nhiêu?

    Giá mà người tiêu dùng phải trả khi có thuế

    P = 3,5 x 1,52 + 6 = 11,32

    So với giá cân bằng trước khi bị đánh thuế : P = 9,88

    Chênh lệch giá của nhà sản xuất : DP = 9,32  – 9,88 = -0,56

    Chênh lệch giá của người tiêu dùng : DP = 11,32 – 9,88 = 1,44

    => Vậy sau khi có thuế giá bán của người sản xuất bị giảm 0,56 đ/1đvsp

    Và người tiêu dùng phải trả nhiều hơn 1,44 đ/1đvsp

    • cả người sản xuất và người tiêu dùng đều gánh chịu thuế. Trong đó người sản xuất chịu 0,56 đ/1đvsp ; còn người tiêu dùng chịu 1,44 đ/1đvsp
    1. Thặng dư của người sản xuất và người tiêu dùng thay đổi như thế nào so với khi chưa bị đánh thuế?

    – D CS = – [1/2 x (1,68 +1,52) x (11,32 – 9,88)]

    = – ( 1/2 x 3,2 x 1,44)

    = – 2,304

    – D PS = -[1/2 x (1,52 + 1,68) x (9,88 – 9,32)]

    =  – 0,896

    Sau khi có thuế thặng dư người tiêu dùng giảm 2,304 ; thặng dư người sản xuất giảm 0,896

    Bài 4:

    Sản xuất khoai tây năm nay được mùa. Nếu thả nổi cho thị trường ấn định theo qui luật cung cầu, thì giá khoai tây là 1.000 đ/kg. Mức giá này theo đánh giá của nông dân là quá thấp, họ đòi hỏi chính phủ phải can thiệp để nâng cao thu nhập của họ. Có hai giải pháp dự kiến đưa ra:

    Giải pháp 1: Chính phủ ấn định mức giá tối thiểu là 1.200 đ/kg và cam kết mua hết số khoai tây dư thừa với mức giá đó.

    Giải pháp 2: Chính phủ không can thiệp vào thị trường, nhưng cam kết với người nông dân sẽ bù giá cho họ là 200 đ/kg khoai tây bán được.

    Biết rằng đường cầu khoai tây dốc xuống, khoai tây không dự trữ và không xuất khẩu.

    1. Hãy nhận định độ co dãn của cầu khoai tây theo giá ở mức giá 1.000 đ/kg
    2. Hãy so sánh hai chính sách về mặt thu nhập của người nông dân, về mặt chi tiêu của người tiêu dùng và của chính phủ
    3. Theo các anh chị, chính sách nào nên được lựa chọn thích hợp.

    Bài giải

    1. Độ co dãn của cầu khoai tây theo giá ở mức giá 1.000 đ/kg

    Ở mức giá P = 1000 thì thị trường cân bằng, độ co dãn của cầu theo giá sẽ :

    Ed = a.(P0/Q0) = a x (1000/Q0)

    1. So sánh hai chính sách về mặt thu nhập của người nông dân, về mặt chi tiêu của người tiêu dùng và của chính phủ

    – Chính sách ấn định giá tối thiểu :

    + Nếu toàn bộ số khoai đều được bán đúng giá tối thiểu do nhà nước quy định thì thu nhập của người nông dân tăng (200 đ/kg x Q). Vì chính phủ cam kết mua hết số sản phẩm họ làm ra, với mức giá tối thiểu (tương ứng với phần diện tích A + B + C)

    + Chi tiêu của người tiêu dùng tăng lên 200đ/kg, vì phải mua với giá 1.200đ/kg thay vì 1.000đ/kg (tương ứng với phần diện tích A + B bị mất đi)

    + Chi tiêu của chính phủ cũng tăng lên 1 lượng (200đ/kg x DQ) với  DQ là lượng khoai người nông dân không bán được.

    => bảo vệ quyền lợi của người nông dân.

    – Chính sách trợ giá 200đ/kg

    Vì khoai tây không thể dự trữ và xuất khẩu nên đường cung của khoai tây sẽ bị gãy khúc tại điểm cân bằng.

    + Thu nhập của người nông dân cũng tăng 200đ/kg x Q (tương ứng phần diện tích A + B + C)

    + Chi tiêu của người tiêu dùng không tăng thêm, vì họ vẫn được mua khoai với mức giá 1.000đ/kg

    + Chi tiêu của chính phủ tăng 1 lượng 200đ/kg x Q

    => bảo vệ quyền lợi của cả người nông dân và người tiêu dùng.

    1. Chính sách nào nên được lựa chọn thích hợp?

    Chính sách trợ giá sẽ được ưu tiên lựa chọn, vì chính sách này đảm bảo được quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng.

    Cả hai chính sách đều làm cho chính phủ chi tiêu nhiều hơn để hỗ trợ cho người sản xuất, và người tiêu dùng. Nhưng nếu dùng chính sách giá tối thiểu, người nông dân sẽ có xu hướng tạo ra càng nhiều sản phẩm dư thừa càng tốt, vì chính phủ cam kết mua hết sản phẩm thừa, thiệt hại không cần thiết cho chính phủ. Để giới hạn sản xuất và đảm bảo được quyền lợi cả hai, chính phủ sẽ chọn giải pháp trợ giá.

    Bài 1: Giả sử độ co dãn của cầu theo thu nhập đối với thực phẩm là 0,5 ;  và độ co dãn của cầu theo giá là -1,0. Một người phụ nữ chi tiêu 10.000$ một năm cho thực phẩm và giá thực phẩm là 2$/đv, thu nhập của bà ta là 25.000$.

    1. Chính phủ đánh thuế vào thực phẩm làm giá thực phẩm tăng gấp đôi, tính lượng thực phẩm được tiêu dùng và chi tiêu vào thực phẩm của người tiêu dùng này.
    2. Giả sử người ta cho bà ta số tiền cấp bù là 5.000$ để làm nhẹ bớt ảnh hưởng của thuế. Lượng thực phẩm được tiêu dùng và chi tiêu vào thực phẩm của phụ nữ này sẽ thay đổi như thế nào?
    3. Liệu khoản tiền này có đưa bà ta trợ lại được mức thỏa mãn ban đầu hay không? Hãy chứng minh (minh họa bằng đồ thị)

    Bài giải

    1. Chính phủ đánh thuế vào thực phẩm làm giá thực phẩm tăng gấp đôi, tính lượng thực phẩm được tiêu dùng và chi tiêu vào thực phẩm của người tiêu dùng này

    Ta có công thức tính độ co giản của cầu theo giá

    E(P)= (Q/ P)x (P/Q)     ( 1)

    do đề bài cho giá thực phầm tăng gấp đôi từ 2 lên 4 nên ta giả sử độ co giản  là co giãn hình cung với:

    • Q= (Q+(Q+Q))/2
    • P=(P+(P+P))/2

    Thế vào (1) ta có:

    E(P)= (Q/ P) x (2P+P)/(2Q+Q)         (2)

    Theo đề bài ta có:

    • E(P)=-1
    • P=2
    • P=2
    • Q=10.000/2 =5000

    Thế vào ( 2 ) ta tính được Q

    • (Q/ 2) x (2×2+2)/(2×5.000+Q) =-1

    ==> Q = -2.500

    Điều này có nghĩa là bà ta  tiêu dùng thực phẩm từ 5.000 xuống 2.500 đơn vị sản phầm

    và số tiền bà ta chi tiêu cho thực phẩm là: 2.500×4= 10.000 đồng

    1. Giả sử người ta cho bà ta số tiền cấp bù là 5000$ để làm nhẹ bớt ảnh hưởng của thuế. Lượng thực phẩm được tiêu dùng và chi tiêu vào thực phẩm của phụ nữ này sẽ thay đổi:

    Tương tự ta có công thức tính độ co giản của cầu theo thu nhập

    E(I)= (Q/ I) x (2I+I)/(2Q+Q)        (3)

    Theo đề bài ta có:

    • E(I)= 0.5
    • I=25.000
    • I=5.000
    • Q=2.500

    Thế vào ( 3 ) ta tính được ?Q như sau:

    (Q/ 5.000) x (2×25.000+5.000)/(2×2.500+Q) = 0.5

    ==> Q = 238

    Điều này có nghĩa là bà ta tăng tiêu dùng thực phẩm từ 2.500 sản phẩm lên 2.738 sản phẩm

    Chi tiêu cho thực phẩm của bà : 2738 x 4=10.952 $

     

    1. Liệu khoản tiền này có đưa bà ta trở lại được mức thoả mãn ban đầu hay không? Hãy chứng minh (minh họa bằng đồ thị).

    Ứng với I = 30000 => tiêu dùng = 30000/7500 => đường ngân sách dịch chuyển sang phải tạo ra điểm C , ứng với Q = 2738.

    Nếu C vượt qua đường ngân sách ban đầu => thỏa mãn tăng

    Nếu C trùng đường ngân sách ban đầu => thỏa mãn như ban đầu

    Nếu C bên dưới đường ngân sách ban đầu => thỏa mãn giảm so với ban đầu.

    Theo số liệu bài này, ta thấc C vẫn nằm dưới đường ngân sách ban đầu à nên ta kết luận khoản tiền trợ cấp này vẫn không đưa bà ta trở lại được mức thoả mãn ban đầu.

    Bài 4: An có thu nhập ở kỳ hiện tại là 100 triệu đồng và thu nhập ở kỳ tương lai là 154 triệu đồng. Nhằm mục đích đơn giản hóa tính toán, giả định rằng An có thể đi vay và cho vay với cùng 1 lãi suất 10% trong suốt thời kỳ từ hiện tại đến tương lai.

    1. Hãy vẽ đường ngân sách, thể hiện rõ mức tiêu dùng tối đa trong hiện tại cũng như trong tương lai.
    2. Giả sử An dang sử dụng những khoản thu nhập của mình đúng với thời gian của chúng, hãy biểu diễn bằng đồ thị điểm cân bằng tiêu dùng của anh ta
    3. Nếu lãi suất tăng đến 40% thì An có thay đổi quyết định tiêu dùng của mình không? Minh họa bằng đồ thị.
    4. Từ câu số 1, giả sử hiện An đang vay 50 triệu đồng để tiêu dùng, anh ta sẽ còn bao nhiêu tiền để tiêu dùng trong tương lai?Nếu lãi suất tăng từ 10% lên 20% thì anh ta có thay đổi mức vay này không?Biễu diễn trên đồ thị.

    Bài giải

    1. Hãy vẽ đường ngân sách, thể hiện rõ mức tiêu dùng tối đa trong hiện tại cũng như trong tương lai.

    X: thu nhập hiện tại : 100triệu

    Y: thu nhập tương lai : 154 triệu

    Lãi suất : r = 10%

    Ta có :

    * số tiền mà An có thể tiệu dùng tối đa trong hiện tại là :

    100 + 154/(1+r) = 100 + 154 /(1 +0.1)  = 240 triệu

    * số tiền mà An có thể dùng tối đa trong tương lai là:

    154 + 100(1+0.1) = 264 triệu

    BC1
    E1
    I1

    Đường giới hạn ngân sách của An là đường gấp khúc BC. Khi đó, nếu An sử dụng hết khoản thu nhập hiện tại là 100 triệu thì trong tương lai thu nhập của An sẽ là 154 triệu đồng. Nếu An tiết kiệm tất cả thu nhập trong hiện tại thì trong tương lai anh ta sẽ nhận được tổng thu nhập là 264 triệu đồng (154 + 100 + 100×10%). Đường giới hạn ngân sách chỉ ra khả năng này và các khả năng trung gian khác.

     

    1. Giả sử An đang sử dụng những khoản thu nhập của mình đúng với thời gian của chúng, hãy biểu diễn bằng đồ thị điểm cân bằng tiêu dùng của anh ta.

    Nếu X = 100, r = 10%, Y= 154 => điểm cân bằng tiêu dùng đạt được ở A(100,154)

    Nếu An sử dụng các khoản thu nhập của mình đúng với thời gian của chúng thì điểm cân bằng tiêu dùng của anh ta sẽ là điểm gấp khúc E1.

     

    1. Nếu lãi suất tăng đến 40% thì An có thay đổi quyết định tiêu dùng của mình hay không? Minh họa bằng đồ thị.

    Nếu r = 40%

    Ta có :

    * tiêu dùng tối đa ở hiện tại = 100 + 154/(1+r) = 100 + 154/1.4 = 210 triệu

    => giảm = 210-240 = -10 triệu so với lúc r = 10%

    An sẽ giảm chi tiêu và tăng tiết kiệm hiện tại

    Điểm cân bằng ngân sách của An sẽ là điểm E’’. Đường đặng ích sẽ là I2 cao hơn so với đường I1.

    * tiêu dùng tối đa ở hiện tại = 154 + 100*(1+0.1) = 294

    => tăng = 294 – 264 = 30 triệu so với lúc r = 10%.

    Đường ngân sách mới I’ : 210 = X + Y/1.4 <=>  1.4X + Y = 294

    An sẽ tăng chi tiêu và giảm tiết kiệm hiện tại

    Điểm cân bằng ngân sách của An sẽ là điểm E’’. Đường đặng ích sẽ là I2

    1. Từ câu số 1, giả sử hiện An đang vay 50 triệu đồng để tiêu dùng, anh ta sẽ còn bao nhiêu tiền để tiêu dùng trong tương lai? Nếu lãi suất tăng từ 10% đến 20% thì anh ta có thay đổi mức vay này không? Biểu diễn trên đồ thị.

    Ta có :

    An vay 50 triệu => tiêu dùng tăng lên 50 triệu => tổng tiêu dùng hiện tại = 150 triệu

    Lãi = 50*0.1 = 5 triệu => tổng số tiền trả trong tương lai = 50 + 5 = 55 triệu

    => số tiền còn lại = 154 – 55 = 99 triệu

    Điểm cân bằng tiêu dùng khi này là B (150,99)

    nếu lãi suất tăng lên 20% => Lãi vay phải trả = 50*0.2 = 10 triệu => Tổng tiền phải trả = 50 + 10 = 60  triệu => số tiền còn lại = 154 – 60 = 94 triệu (thu nhập giảm)

    Bài 5:

    Một người tiêu dùng điển hình có hàm thỏa dụng U = f(X,Y) trong đó X là khí tự nhiên và Y là thực phẩm. Cả X và Y đều là các hàng thông thường. Thu nhập của người tiêu dùng là $100,00. Khi giá của X là $1 và giá của Y là $1, anh ta tiêu dùng 50 đv hàng X và 50 đv hàng Y.

    1. Hãy vẽ đường giới hạn ngân quỹ và trên đường bàng quan tương ứng với tình thế này.

    Chính phủ muốn người tiêu dùng này giảm tiêu dùng khí tự nhiên của mình từ 50 đv còn 30 đv và đang xem xét 2 cách làm việc này:

    1. không thay đổi giá khí đốt, nhưng không cho phép người tiêu dùng mua nhiều hơn 30 đv khí đốt
    2. Tăng giá khí tự nhiên bằng cách đánh thuế cho tới khi người tiêu dùng mua đúng 30 đv

    Hãy chỉ ra bằng đồ thị các tác động của 2 đề xuất này lên phúc lợi của cá nhân này.

    1. Phương án nào trong 2 phương án này sẽ được người tiêu dùng ưa thích hơn? Hãy giải thích vì sao?

    Bài giải

    1. Vẽ đường giới hạn ngân quỹ và trên đường bàng quan tương ứng với tình thế này.

    i.Không thay đổi giá khí đốt nhưng không cho phép người tiêu dùng mua nhiều hơn 30 đơn vị khí đốt.

         
       
     
         
           20  30   50                  100                                         X

    Khi không thay  đổi giá khí đốt, đường thu nhập I không thay đổi. Người tiêu dùng chỉ mua khí đốt ở mức cho phép ( không vượt quá 30 đơn vị ) và tăng mua thực phẩm. Ta thấy sự kết hợp tối ưu từ điểm A di chuyển đến điểm B, điểm C,…

    ii.Tăng giá khí tự nhiên bằng cách đánh thuế cho tới khi người tiêu dùng mua đúng 30 đơn vị khí đốt.

    Khi tăng giá khí tự nhiên, đường ngân sách quay vào trong  tới đường I 2, bởi vì sức mua của người tiêu dùng giảm đi.

     
       

    Ta thấy tỷ lệ thay thế biên MRS lớn hơn tỷ số giá Py/Px  => xuất hiện giải pháp gốc. Người tiêu dùng sẽ tiêu dùng ngày càng ít khí tự nhiên và mua càng nhiều thực phẩm. Độ thỏa dụng sẽ di chuyển ngày càng gần đến điểm B và đạt được độ thỏa dụng tối đa tại điểm B.

     

    1. Phương án nào trong 2 phương án này sẽ được người tiêu dùng ưa thích hơn? vì sao?

    Phương án 1 sẽ được người tiêu dùng ưa thích hơn phương án 2 bởi vì : Ở phương án 1, người tiêu dùng sẽ đạt được độ thỏa dụng tối ưu và sử dụng cùng lúc được 2 lọai sản phẩm. Còn ở phương án 2 người tiêu dùng đạt được độ thỏa dụng tối đa khi chỉ sử dụng 1 sản phẩm là thực phẩm mà thôi.

    Bài 1:

    1. a) Nếu cầu xem chiếu phim cho khách hàng ngồi tại xe là co dãn hơn đối với các cặp so với cá nhân riêng lẻ, thì sẽ tối ưu đối với rạp chiếu phim nếu định 1 giá vé vào cửa cho lái xe và 1 mức phí bổ sung cho những người đi cùng. Đúng hay sai? Giải thích?
    2. b) Khi định giá bán buôn ôtô, các công ty ôtô của Mỹ thường định tỷ lệ phần trăm phí cộng thêm đối với các danh mục cao cấp (chẳng hạn mui xe làm bằng nhựa dẻo vi-nil, thảm xe, các phần trang trí bên trong) cao hơn nhiều so với bản thân chiếc xe hoặc những thiết bị cơ bản như tay lái bằng điện và bộ sang số tự động. Giải thích tại sao?
    3. c) Giả sử BMW có thể sản xuất bất kỳ sản lượng ôtô nào với chi phí biên cố định là 15.000 USD và chi phí cố định là 20 triệu USD. Bạn được đề nghị cố vấn cho tổng giám đốc định giá và mức tiêu thụ BMW ở Châu Âu và Mỹ. Cầu về BMW trên mỗi thị trường như sau:

    QE = 18.000 – 400PE            QU = 5.500 – 100PU

    Trong đó E là Châu Âu và U là Mỹ, và tất cá giá và chi phí đều tính theo nghìn USD. Giả sử BMW chỉ có thể hạn chế sản lượng bán tại Mỹ cho đại lý được ủy quyền.

    1. Xác định sản lượng mà BMW cần bán trên mỗi thị trường và mức giá tương ứng? Tổng lợi nhuận là bao nhiêu?
    2. Nếu BMW bị buộc phải định giá giống nhau trên từng thị trường. Tính sản lượng có thể bán trên mỗi thị trường?giá cân bằng và lợi nhuận của mỗi công ty?

    Bài giải

    1. a) Nếu cầu xem chiếu phim cho khách hàng ngồi tại xe là co dãn hơn đối với các cặp so với cá nhân riêng lẻ, thì sẽ tối ưu đối với rạp chiếu phim nếu định 1 giá vé vào cửa cho lái xe và 1 mức phí bổ sung cho những người đi cùng. Đúng hay sai? Giải thích?

    Vì D1 co dãn hơn D2 nên đường cầu D1 nằm bên phải đường cầu D2.

    Giả sử rạp phim định giá nếu định giá vào cửa cho tài xế ở mức T, còn mức bổ sung cho mỗi ngươi đi cùng bằng mức chi phí biên MC. Khi đó, lợi nhuận thu được là cả phần diện tích S

    • Nếu dùng chính sách này cho khách hàng riêng lẻ thì lợi nhuận của rạp phim là phần diện tích giới hạn bởi D2 và trục tung (*)
    • Nếu dùng chính sách này cho khách hàng cặp thì lợi nhuận của rạp phim là phần diện tích giới hạn bởi D1 và trục tung (**)
    • Ta thấy diện tích (*) < (**) nên chính sách định giá cho 1 lái xe vào cửa và một mức phí bổ xung cho những người đi cùng là hợp lý.
    1. b) Khi định giá bán buôn ôtô, các công ty ôtô của Mỹ thường định tỷ lệ phần trăm phí cộng thêm đối với các danh mục cao cấp. Tại sao?

    Trên thị trường, số lượng người mua xe về cơ bản có thể chia thành 2 nhóm : nhóm những người chỉ có nhu cầu mua xe để sử dụng và nhóm những người mua xe như 1 cách thức khẳng định đẳng cấp. Do đó, sẽ hình thành 2 nhu cầu: nhóm khách hàng mua xe đã được lắp ráp sẵn theo tiêu chuẩn căn bản, và nhóm khách hàng lựa chọn thêm những danh mục cao cấp (trang trí nội thất, mui xe…)

    Giữa 2 nhóm khách hàng, thì nhóm khách hàng có nhu cầu mua xe cao cấp họ có mức sẵn lòng trả cao hơn, và đường cầu của họ là ít co dãn hơn so với nhóm khách hàng kia. Do vậy, để tối đa hóa lợi nhuận, công ty thường áp dụng phân biệt giá để định giá cho từng đối tượng khách hàng phù hợp.

     

    1. c) BMW:
    2. Sản lượng mà BMW cần bán trên mỗi thị trường và mức giá tương ứng? Tổng lợi nhuận là bao nhiêu?

    Ta có:

    QE = 18.000 – 400PE   

    QU = 5.500 – 100PU

    Để tối đa hóa lợi nhuận ta có : MRE = MRU = MC

    Ta có : QE = 18.000 – 400PE    

    • PE = (18.000 – QE)/400
    • PE = 45 – QE/400

    TRE = PE x QE = (45 – QE/400) x QE = 45QE – QE2/400

    MR= (TRE)’ = 45 – 2QE/400 = 45 – QE/200

    Tương tự đối với thị trường Mỹ:

    Có: QU = 5.500 – 100PU

    • PU = (5.500 –QU)/100
    • PU = 55 – QU/100

    TRU = PU x QU = (55 – QU/100) x QU = 55QU –QU2/100

    MRU = (TRU)’ = 55 – 2QU/100 = 55 –QU/50

    Để tối đa hóa lợi nhuận: MRE = MRU

    • 45 – QE/200 = 55 –QU/50 = 15
    • QE = 6.000 ; PE = 30 ngàn USD

    QU = 2.000 ; PU = 35 ngàn USD

    Lợi nhuận thu được:

    p = TR – TC

    TR = TRE +TRU

    =  (QE x PE) + (QU x PU)

    =  (6.000 x 30) + ( 2.000 x 35)

    =  180.000 + 70.000  = 250.000

    TC = C + V = 20.000 + [(QE + QU) x 15]

    =  20.000 + [(6.000 + 2.000) x15]

    =  20.000 + 120.000 = 140.000

    • p = TR – TC = 250.000 – 140.000 = 110.000 ngàn USD = 110 triệu USD

     

    1. Nếu BMW bị buộc phải định giá giống nhau trên từng thị trường. Tính sản lượng có thể bán trên mỗi thị trường?giá cân bằng và lợi nhuận của mỗi công ty

    Khi định giá như nhau trên cả hai thị trường thì ta có tổng sản lượng bán được trên cả hai thị trường là:

    Q = QE + QU

    = (18.000 – 400P) + (5.500 -100P)

    =  23.500 – 500P

    Q = 23.500 – 500P

    => P = (23.500 – Q)/500 = 47 – Q/500

    Ta có : TR = P x Q

    = (47 – Q/500) x Q

    = 47Q – Q2/500

    • MR = (TR)’ = 47 – 2Q/500 = 47- Q/250

    Để tối đa hóa lợi nhuận : MR = MC

    • 47 – Q/250 = 15
    • Q/250 = 32
    • Q = 000

    P     =   31 ngàn USD

    Sản lượng bán trên từng thị trường:

    QE = 18.000 – 400 x 31 = 5.600

    QU = 5.500 – 100 x 31 = 2.400

    Lợi nhuận của BMW khi định giá giống nhau trên 2 thị trường:

    p = TR – TC

    Trong đó: TR = Q x P = 8.000 x 31 = 248.000 ngàn USD

    TC = C + V = 20.000 + (8.000 x 15) = 140.000 ngàn USD

    • p = TR – TC

    = 248.000 – 140.000 = 108.000 ngàn USD = 108 triệu USD

    Bài 5:

    Với tư cách là chủ một câu lạc bộ tennis duy nhất ở 1 cộng đồng biệt lập giàu có, bạn phải quyết định lệ phí hội viên và lệ phí cho mỗi buổi tối chơi. Có hai loại khách hàng. Nhóm “nghiêm túc” có cầu: Q1 = 6 – P trong đó Q là thời gian chơi/tuần và P là lệ phí mỗi giờ cho mỗi cá nhân. Cũng có những khách chơi không thường xuyên với cầu Q2 = 3 – (1/2)P

    Giả sử rằng có 1000 khách hàng chơi mỗi loại. Bạn có rất nhiều sân, do đó chi phí biên của thời gian thuê sân bằng không. Bạn có chi phí cố định là 5000USD/tuần. Những khách hàng nghiêm túc và khách hàng chơi không thường xuyên trông như nhau và như vậy bạn phải định giá giống nhau:

    1. Giả sử để duy trì không khí chuyên nghiệp, bạn muốn hạn chế số lượng hội viên cho những người chơi nghiêm túc. Bạn cần ấn định phí hội viên hang năm và lệ phí cho mỗi buổi thuê sân như thế nào?(giả sử 52 tuần/năm) để tối đa hóa lợi nhuận, hãy lưu ý sự hạn chế này chỉ áp dụng cho những người chơi nghiêm túc. Mức lợi nhuận mỗi tuần sẽ là bao nhiêu?
    2. Một người nói với bạn rằng bạn có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn bằng cách khuyến khích cả hai đối tượng tham gia. Ý kiến của người đó đúng không?Mức hội phí và lệ phí thuê sân là bao nhiêu để có thể tối đa hóa lợi nhuận mỗi tuần? Mức lợi nhuận đó là bao nhiêu?
    3. Giả sử sau vài năm số nhà chuyên môn trẻ tài năng chuyển đến cộng đồng của bạn. Họ đều là những khách chơi nghiêm túc. Ban tin rằng bây giờ có 3.000 khách chơi nghiêm túc và 1.000 khách chơi không thường xuyên. Liệu còn có lợi nếu bạn còn tiếp tục phục vụ những khách chơi không thường xuyên?Mức hội phí hang năm và phí thuê sân là bao nhiêu để có thể tối đa hóa lợi nhuận? Mức lợi nhuận mỗi tuần là bao nhiêu?

    Bài 8:

    Hãy xem xét 1 hãng độc quyền với đường cầu:

    P = 100 – 3Q + 4A1/2

    Và có hàm tổng chi phí:

    C = 4Q2 + 10Q +A

    Trong đó A là mức chi phí cho quảng cáo và P,Q là giá cả và sản lượng.

    1. Tìm giá trị của A và P,Q để tối đa hóa lợi nhuận của hãng
    2. Tính chỉ số độc quyền Lerner , L = (P – MC)/P cho hãng này tại mức A,P,Q đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận.

    Bài giải

    1. Tìm giá trị của A và P,Q để tối đa hóa lợi nhuận của hãng

    P = 100 – 3Q + 4A1/2

    C = 4Q2 + 10Q +A

    Tổng doanh thu :

    TR = P x Q

    = (100 – 3Q + 4A1/2 ) x Q

    =100Q – 3Q2 + 4QA1/2

    Tổng chi phí :

    TC = 4Q2 + 10Q +A

    Lợi nhuận:

    p = TR – TC

    = 100Q – 3Q2 + 4QA1/2  – (4Q2 + 10Q +A)

    = -7Q2 + 90Q + 4QA1/2 – A

    Hàm lợi nhuận của hãng là 1 hàm hai biến : Q & A. Để tối đa hóa lợi nhuận, đạo hàm của hàm lợi nhuận theo biến Q và A lần lượt bằng 0.

    ¶p/¶Q = 0

    ¶p/¶A = 0 (2)

    -14Q +90 +4A1/2 = 0 (1)

    2QA-1/2 – 1 = 0  (2)

    Từ (2) => A1/2 = 2Q

    Thế vào (1) => -14Q + 90 +4 (2Q) = 0

    =>  -6Q + 90   =  0

    =>       Q    =    15

    A = (2Q)2  = (2 x 15)

    =  900

    P = 100 – 3Q + 4A1/2

    = 100 – 3 x 15 + 4 x 9001/2

         =  175

    1. Tính chỉ số độc quyền Lerner , L = (P – MC)/P cho hãng này tại mức A,P,Q đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận.

    MC là chi phí biên là đạo hàm bậc nhất của hàng tổng chi phí

    1. MC = (4Q2 + 10Q +A)’

    =  8Q +10

    Tại điểm tối đa hóa lợi nhuận Q =15 => MC = 8 x 15 + 10 = 130

    Chỉ số độc quyền Lerner : L = (P – MC)/P

    = (175 – 130)/175 = 0,257


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • ĐỀ THI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    ĐỀ THI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    ĐỀ THI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Câu hỏi ôn thi môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%C3%88-THI-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-NH%C3%80-N%C6%AF%E1%BB%9AC-V%E1%BB%80-KINH-T%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ THI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    BÀI KIỂM TRA

    MÔN : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    Đề bài : Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp ? Để quản lý Nhà nước phải dùng phương pháp nào, các phương pháp này trong các chế độ xã hội khác nhau có gì giống và khác nhau ? Vì sao ?

    Bài làm

    1. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế :

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.

    Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.

    Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).

    2. Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp :

    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội.

    Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

    Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :

    • Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để đề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế.
    • Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế

    giới.

    • Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế.
    • Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế – kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý.
    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.

    Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Bản thân khoa học không thể đua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn. Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế. Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế. Kết quả của nghệ thuật quản lý là đưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lsy.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là một nghề nghiệp với bộ máy là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước. Những người làm việc trong các cơ quan đó đều phải được qua đào tạo như một nghề nghiệp để có đủ tri thức, kỹ năng năng lực làm công tác quản lý các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước.

    3. Các phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế :

    Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân ( tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và công bằng kinh tế …).

     

    Qúa trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng những nguyên tắc đã định. Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và được thể hiện thông qua các phương pháp quản lý nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của quản lý kinh tế.

    Các phương pháp quản lý kinh tế mang tính chất đa dạng và phong phú, đó là vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý trong quản lý kinh tế vì nó chính là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý kinh tế. Phương pháp quản lý kinh tế thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước.

    Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm :

    3.1 Các phương pháp hành chính :

    Các phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết đinhj dứt khoát mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong những tình huống nhất định.

    Phương pháp này có hai đặc điểm cơ bản là :

    • Tính bắt buộc : các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tacs động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng.
    • Tính quyền lực : các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng với thẩm quyền của mình.

    Vai trò của các phương pháp hành chính là xác lập trật tự kỷ cương làm việc trong hệ thống; khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống; có thể giấu được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng.

    Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nằm vững những yêu cầu chặt chẽ sau :

    • Quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế.
    • Khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của cấp ra quyết định, chống việc lạm dụng quyền hành nhưng không có trách nhiệm cũng như chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không sử dụng những quyền hạn được phép.

    3.2. Các phương pháp kinh tế :

    Là phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động. Các phương pháp kinh tế chính là các phương pháp tác động của Nhà nước thông qua sụ vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế – kỹ thuật; tức là về thực chất các phương pháp kinh tế là một biện pháp để sử dụng các quy luật kinh tế.

    Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là nó tác động lên đối tượng quản lý không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ.

    Việc sử dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn được Nhà nước định hướng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, các mục tiêu kinh tế từng thời kỳ của đát nước. Nhưng đây không phải là những nhiệm vụ gò ép, mệnh lệnh chủ quan mà là những mục tiêu, nhiệm vụ có căn cứ khoa học và cơ sở chủ động. Nhà nước tác động lên đối tượng quản lý bằng các phương pháp kinh tế theo những hướng sau :

    • Định hướng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thời gian, từng phân hệ, từng cá nhân của hệ thống.
    • Sử dụng các định mức kinh tế ( mức thuế, mức lãi suất ngân hàng v.v…), các biện pháp đòn bẩy, kích thích kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp phát triển sản xuất theo hướng vừa lợi nhà, vừa ích nước.
    • Bằng chính sách ưu đãi kinh tế để điều chỉnh hoạt động kinh tế trong cả nước và thu hút được tiềm năng của Việt kiều cũng như các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

    Xu hướng chung ngày nay của các quốc gia là mở rộng việc áp dụng các phương pháp kinh tế. Để thực hiện hiệu quả phương pháp này cần chú ý đến :

    • Hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hoá – tiền tệ, quan hệ thị trường.
    • Thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho các cấp dưới.
    • Các cán bộ quản lý phải là những người có trình độ và năng lực về nhiều mặt. Bởi vì sử dụng phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý phải hiểu biết và thông

    thạo nhiều loại kiến thức và kinh nghiệm quản lý đồng thời phải có bản lĩnh tự chủ vững vàng.

    3.3. Phương pháp giáo dục :

    Phương pháp giáo dục trong quản lý Nhà nước về kinh tế là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng quản lý Nhà nước về kinh tế, nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

    Phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh tế vì đối tượng của quản lý là con người – một thực thể năng động và là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội. Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý.

    Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho người lao động phân biệt phải – trái, đúng – sai, lợi – hại, đẹp – xấu, thiện – ác, từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với doanh nghiệp.

    Phương pháp giáo dục thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng người lao động, có tác đông giáo dục rộng rãi trong xã hội.

    Nội dung của phương pháp giáo dục bao gồm :

    • Giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước để mọi người dân đều hiểu, đều ủng hộ và đều quyết tâm xây dựng đất nước, có ý chí làm giàu.
    • Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, có năng suất, có hiệu quả, có tổ chức.
    • Xoá bỏ tâm lý và phong cách của người sản xuất nhỏ mà biểu hiện là chủ nghĩa cá nhân, thu vén nhỏ mọn, tâm lý ích kỷ gia đình, đầu óc thiển cận, hẹp hòi, tư tưởng địa phương, cục bộ, bản vị, phường hội, bình quân chủ nghĩa, không chịu để ai hơn mình, ghen ghét, đố kị nhau, tác phong làm việc luộm thuộm, tuỳ tiện, cửa quyền, không biết tiết kiệm thời giờ, thích hội họp.
    • Xoá bỏ tàn dư tư tưởng phong kiến, thói đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo, thích đặc quyền đặc lợi, thích hưởng thụ, kìm hãm thanh niên, coi thường phụ nữ.
    • Xoá bỏ tàn dư tư tưởng tư sản, với các biểu hiện xấu như chủ nghĩa thực dụng vô đạo đức, chủ nghĩa tự do vô Chính phủ “cá lớn nuốt cá bé”.
    • Xây dựng tác phong đại công nghiệp; tính hiệu quả, hiện thực, tính tổ chức, tính kỷ luật, đảm nhận trách nhiệm, khẩn trương, tiết kiệm.

    Các hình thức giáo dục bao gồm : sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng ( sách, báo, đài phát thanh, truyền hình…), sử dụng các đoàn thể, các hoạt động có tính xã hội. Tiến hành giáo dục cá biệt, sử dụng các hội nghị tổng kết, hội thi tay nghề, hội chợ triển lãm v.v… sử dụng các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả v.v…

    Như vậy việc sử dụng các phương pháp quản lý kinh tế vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Tính khoa học đòi hỏi phải nắm vững đối tượng với những đặc điểm vốn có của nó để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, phù hợp với đối tượng. Tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra. Quản lý kinh tế có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng đắn và kết hợp linh hoạt các phương pháp quản lý. Đó chính là tài nghệ thuật quản lý, của Nhà nước nói riêng, của các viên chức quản lý nói chung.

    4. Sự giống nhau và khác nhau của các phương pháp quản lý Nhà nước về kinh tế trong các chế độ xã hội khác nhau :

    Về bản chất, quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa vì một nhóm nhỏ những người giầu, những người này nắm quyền lực kinh tế, đồng thời nắm quyền lực chính trị – Nhà nước của giai cấp tư sản. Quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa vì đại bộ phận người dân lao động vì xoá đói giảm nghèo, vì mục tiêu phát triển – Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tuy nhiên, Nhà nước xã hội chủ nghĩa với chế độ công hữu và chính quyền nằm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà nước đó sẽ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người bằng bất kỳ cách quản lý nào của mình.

    Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mang tính thị trường thuần tuý :

    Trong nền kinh tế, các nguồn lực sản xuất cũng như các hàng hoá và dịch vụ kinh tế được phân bố cho các hoạt động và các mục đích sử dụng khác nhau thông qua cái mà người ta gọi là “cơ chế thị trường”. Việc quyết định xem sản xuất và tiêu thụ cái gì bao nhiêu đều được các đơn vị kinh tế cá thể đưa ra. Những đơn vị kinh tế đưa ra quyết định dựa trên các giải pháp mà họ có trong đó có yếu tố giá thị trường của các loại hàng hoá, dịch vụ và nguồn lực mà họ phải chấp nhận, không được tác động đến. Mô hình kinh tế này nhấn mạnh đến cạnh tranh hoàn hảo và bàn tay vô hình. Vai trò quản lý của Nhà nước không được nhấn mạnh, Nhà nước sử dụng các phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế để quản lý nền kinh

    tế song chủ yếu phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản chi phối, không chú trọng tới những vấn đề xã hội.

    Trong nền kinh tế thị trường phát triển :

    Chính phủ ngày càng nắm nhiều quyền kiểm soát hơn đối với toàn bộ hoạt động kinh tế, không chỉ thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như các chính sách tài khoá và tiền tệ mà còn thông qua việc :

    • Tham gia trực tiếp ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế dưới hình thức các ngành công nghiệp được quốc hữu hóa, các doanh nghiệp Nhà nước và các chương trình đầu tư công cộng.
    • Kế hoạch hoá kinh tế, điều tiết hoạt động của các công ty tư nhân, đánh thuế các nhà tư doanh và các doanh nghiệp.
    • Tiến hành và điều tiết các hoạt động ngoại thương…

    Trên nhiều phương diện, “bàn tay vô hình ” của cơ chế thị trường đã được thay bởi “bàn tay hữu hinh” chỉ đạo của Chính phủ trung ương như một lực lượng kinh tế chủ yếu trong những xã hội tư bản chủ nghĩa này. Nhà nước sử dụng cả phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế để quản lý nền kinh tế.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa “mệnh lệnh”

    Đây là nền kinh tế không chỉ dựa trên chế độ sở hữu công cộng đối với toàn bộ các nguồn lực của sanr xuất mà còn dựa trên việc thay thế hoàn toàn cơ chế giá thị trường bằng việc kế hoạch hoá tập trung toàn bộ các hoạt động kinh tế. Tất cả các loại giá cả đều do Nhà nước quyết định. Các kế hoạch tổng thể cho toàn quốc cũng như cho từng vùng được Nhà nước tạo lập ra hàng năm. Nhu cầu và khả năng sẵn có về nguồn lực được cân đối bởi những quyết định phân bổ của Trung ương chứ không phải bởi những tín hiệu của giá cả trong hệ thống thị trường. Trong nền kinh tế này, Nhà nước chỉ sử dụng phương pháp quản lý hành chính và còn rất nhiều hạn chế làm cho nền kinh tế bị kìm hãm không phát triển được.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng “thị trường” :

    Các hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường cố gắng hội tụ những tinh hoa của cả hai chế độ : tính đơn giản của cơ chế giá tự động và hiệu quả của chủ nghĩa tư bản thị trường cùng với chủ nghĩa bình quân của hình thức xã hội chủ nghĩa đối với các tư liệu sản xuất và phân phối. Công tác kế hoạch hoá của

    Trung ương đóng vai trò kiểm soát trực tiếp. Nhà nước sử dụng kết hợp cả các phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính.

    Trong nền kinh tế hỗn hợp giữa thị trường và kế hoạch hoá :

    • đây, những mức độ khác nhau về sở hữu tư nhân đối với các nguồn lực tồn tại song song với quy mô đáng kể của sở hữu Nhà nước và sự tham gia của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế. Có sự tồn tại song song của hình thức phân bổ nguồn lực và sản phẩm bởi thị trường và giá cả do Nhà nước quy định, cùng với hình thức kế hoạch hoá tập trung và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của nền kinh tế bởi Nhà nước.

    Nền kinh tế Việt nam là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp dựa trên chế độ công hữu tư liệu sản xuất với hai hình thức Nhà nước và tập thể là chủ yếu, đã chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hàng loạt các biện pháp cải cách chính sách kinh tế vĩ mô đã được thực hiện, tạo lập được đồng bộ các yếu tố thị trường, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tài chính, tiền tệ và giá cả. Nhà nước tham gia vào quá trình quản lý kinh tế với tư cách là nhà quản lý vĩ mô, Nhà nước điều tiết các hoạt động thị trường, giữ cho nền kinh tế phát triển ổn định đi theo đúng định hướng do Đảng, Nhà nước đã vạch ra. Nhà nước sử dụng tổng hợp các phương pháp đã nêu ở trên để quản lý nền kinh tế quốc gia, trong đó phương pháp kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất ( khác hẳn với trước đây trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì phương pháp hành chính được sử dụng chủ yếu ). Nhờ vậy trong những năm qua nền kinh tế Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc, theo đúng định hướng XHCN.

    Trong những năm tới đây, để nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước,chúng ta cần tiếp tục thực hiện đổi mới, sắp xếp và kiện toàn bộ máy Nhà nước và đặc biệt là củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Có như vậy Nhà nước mới đủ thực lực và sức mạnh kinh tế và quản lý để thực hiện tốt vai trò là bà đỡ cho nền kinh tế phát triển, thực hiện tốt chức năng người quản lý vĩ mô nền kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Câu hỏi ôn thi môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin

    Câu hỏi ôn thi môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin

    Câu hỏi ôn thi môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Câu hỏi tình huống ôn thi Luật kinh tế (có đáp án)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/C%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-%C3%B4n-thi-m%C3%B4n-Kinh-t%E1%BA%BF-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-M%C3%A1c-L%C3%AAnin.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Câu hỏi ôn thi môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin

    Câu hỏi ôn thi môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin

    Câu 7:

    Phân tích các điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa và những ưu thế của sản xuất hàng hóa so với kinh tế tự nhiên.

    Bài làm:
    1. Trước hết, để hiểu sản xuất hàng hoá, ta cần hiểu thế nào là kinh tế tự nhiên. Kinh tế tự nhiên là kiểu sản xuất tự cung tự cấp, sản phẩm làm ra nhằm thoả mãn nhu cầu của người trực tiếp sản xuất ra nó. Kiểu sản xuất này gắn liền với nền sản xuất nhỏ, lực lượng lao động phát triển thấp, phân công lao động kém phát triển.
    Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu của người trực tiếp sản xuất mà đáp ứng nhu cầu của XH thông qua trao đổi mua bán.
    2. Để sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại cần có hai điều kiện:
    Thứ nhất là phải có sự phân công lao động XH, tức là có sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động XH vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác. Sự phân chia lao động XH sẽ làm cho việc trao đổi sản phẩm trở nên tất yếu vì khi đó mỗi người khi đó sẽ chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm trong khi họ có nhu cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm khác nhau. Do đó, tất yếu dẫn đến trao đổi mua bán. Sự phân công lao động cũng làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến.. Đây là tiền đề, cơ sở cho sản xuất hàng hoá.
    Thứ hai là phải có sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất về mặt kinh tế, tức là những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định. Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc do họ chi phối. Trong lịch sử, sự tách biệt này là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định còn trong nền sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định.
    Đây là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hoá. Thiếu một trong hai điều kiện trên sẽ không có sản xuất hàng hoá.
    3. So với sản xuất tự cung tự cấp thì sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn.
    Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được đáp ứng đầy đủ hơn.
    Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực XH. Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn.
    Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
    Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước… không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn.
    Tóm lại, trong khi sản xuất tự cung tự cấp bị giới hạn bởi như cầu và nguồn lực cá nhân, gia đình, quy mô sản xuất nhỏ, không tạo được động lực thúc đẩy sản xuất phát triển thì sản xuất hàng hoá lại tạo được động lực sản xuất phát triển, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn XH.

    Câu 8:

    Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và quan hệ của hai thuộc tính đó với tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.

    Bài làm:
    1. Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi buôn bán.
    Hàng hoá có thể ở dạng hữu hình như sắt, thép, thực phẩm… hay vô hình như dịch vụ, giao thông vận tải… nhưng dù ở dạng nào nó cũng có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
    2. Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
    Hàng hoá nào cũng có một hay một vài công dụng và cộng dụng đó làm nó có giá trị sử dụng. Ví dụ như gạo là dùng để ăn, giá trị sử dụng của gạo là để ăn…
    Giá trị sử dụng của hàng hoá là do thuộc tín tự nhiên (Lý, hoá, sinh) của thực thể hàng hoá đó quy định nhưng việc phát hiện ra những thuộc tính có ích đó lại phụ thuộc vào sự phát triển của XH, của con người. XH càng tiến bộ, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng ngày càng phong phú và chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao.
    Giá trị sử dụng là giá trị sử dung XH. Nó không phải là giá trị sử dụng cho người trực tiếp sản xuất mà là cho XH thông qua trao đổi mua bán. Do đó, người sản xuất phải luôn quan tâm đến như cầu của XH, làm cho sản phẩm của họ phù hợp với nhu cầu XH.
    Giá trị sử dụng mang trên mình giá trị trao đổi.
    3. Để hiểu giá trị của hàng hoá, trước hết, ta phải hiểu giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác. Ví dụ như: 1m vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg thóc.
    Hai hàng hoá khác nhau như vậy có thể trao đổi với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung. Lao động hao phí tạo ra hàng hoá chính là cơ sở chung cho việc trao đổi đó và tạo ra giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động XH của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong sản phẩm. Giá trị trao đổi là biểu hiện bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung bên trong, là cơ sở của giá trị trao đổi.
    Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá.
    4. Hai thuộc tính đó của hàng hoá vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất. Chúng thống nhất ở chỗ: chúng cùng tồn tại trong hàng hoá, một hàng hoá phải có hai thuộc tính này, thiếu một trong hai thuộc tính thì không phải là hàng hoá. Tuy nhiên, chúng mâu thuẫn ở hai điểm: thứ nhất, về một giá trị sử dụng thì hàng hoá khác nhau về chất còn về mặt giá trị thì hàng hoá lại giống nhau về chất; Thứ hai, giá trị được sử dụng trong quá trình lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện trong quá trình tiêu dùng.
    5.Hai thuộc tính của hàng hoá này không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong hàng hoá mà là do lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt, vừa có tính trừu tượng (lao động trừu tượng), vừa có tính cụ thể (lao động cụ thể).
    Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi một lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Do đó, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá.Nếu phân công lao động XH càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của XH.
    Lao động trừu tượng chính là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hoá nói chung. Chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá tạo ra giá trị của hàng hoá. Ta có thể nói, giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hoá. Đây chính là mặt chất của giá trị hàng hoá.

    Câu 9:

    Phân tích lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá.
    Bài làm:
    1. Giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá. Vậy lượng lao động của hàng hoá được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động.
    Trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một hàng hoá nhưng điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề khác nhau… làm cho thời gian lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó là khác nhau, tức là mức hao phí lao động cá biệt khác nhau. Nhưng lượng giá trị của hàng hoá không do mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định mà do thời gian lao động XH cần thiết.
    Thời gian lao động XH cần thiết là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá nào đó trong điều kiện bình thường của XH với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong XH đó. Vậy, thực chất, thời gian lao động XH cần thiết là mức hao phí lao động XH trung bình (thời gian lao động XH trung bình) để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi. Do đó, lượng giá trị của hàng hoá cũng thay đổi.
    2. Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá.
    Thứ nhất, đó là năng suất lao động. Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động. Nó được đo bằng số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động tăng lên tức là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm xuống, tức là giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm và ngược lại. Vậy, giá trị của hàng hoá tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Mặt khác, năng suất lao động lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện tự nhiên, trình độ trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, quy mô sản xuất… nên để tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên.
    Thứ hai, đó là cường độ lao động. Cường độ lao động phản ánh mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thăng của lao động. Cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hoá sản xuất ra tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng. Do đó, giá trị của một đơn vị hàng hoá là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian lao động. Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động. Chính vì vậy mà tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với sự phát triển kinh tế bằng việc tăng năng suất lao động.
    Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động. Theo đó, ta có thể chia lao động thành hai loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường nào không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được. Còn lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể thực hiện được. Trong cùng một thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn bởi vì thực chất lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên. Trong quá trinh trao đổi mua bán, lao động phức tạp được quy đổi thành lao động giản đơn trung bình một cách tự phát.

    Câu 10:

    Phân tích nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ.

    Bài làm:
    1. Nguồn gốc của tiền tệ.
    Để tìm hiểu nguồn gốc của tiền tệ, ta hãy xem xét quá trình phát triển của các hình thái biểu hiện của giá trị:
    Đầu tiên là hình thái giản đơn, ngẫu nhiên của giá trị. Hình thái này xuất hiện khi xã hội nguyên thủy tan rã và chỉ thường gặp ở những mầm mống đầu tiên của trao đổi. Ở đây, giá trị của hàng hoá này chỉ biểu hiện đơn nhất ở một hàng hoá khác và quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trực tiếp hàng lấy hàng, tỷ lệ trao đổi được hình thành ngẫu nhiên. Ví dụ như 20 vuông vải = 1 cái áo. Cái áo ở đây đóng vai trò vật ngang giá – hình thái phôi thai của tiền tệ.
    Khi quan hệ trao đổi trở thành quá trình đều đặn, thường xuyên, thúc đẩy sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển thì hình thái thứ hai là hình thái đầy đủ hay mở rộng của hàng hoá ra đời. Hình thái này xuất hiện trong thực tế khi một hàng hoá nào đó được trao đổi với nhiều hàng hoá khác một cách thông thường phổ biến. Ở đây, giá trị của hàng hoá được biểu hiện ở nhiều hàng hoá khác nhau đóng vai trò làm vật ngang giá. Đồng thời tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lao động quy định. Tuy nhiên, ở hình thái này, giá trị của hàng hoá được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất và vẫn trao đổi trực tiếp hàng – hàng. Ví dụ như 20 vuông vải = 1 cái áo, = 10 đấu chè, = 40 đấu cà phê, = 0,2 gam vàng…
    Do đó, khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển hơn, đòi hỏi phải có vật ngang giá chung, hình thái thứ ba xuất hiện: Hình thái chung của giá trị. Ở hình thái này, giá trị của mọi hàng hoá được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò làm vật ngang giá chung – “vật ngang giá phổ biến”. Các hàng hoá đều đổi thành vật ngang giá chung, sau đó mới mang đổi lấy hàng hoá cần dùng. Vật ngang giá chung trở thành môi giới. Tuy nhiên, ở hình thái này, bất kỳ hàng hoá nào cũng có thể trở thành vật ngang giá chung, miễn là nó được tách ra làm vật ngang giá chung. Ví dụ như 1 cái áo hoặc 10 đấu chè hoặc 40 đấu cà phê hoặc 0,2 gam vàng = 20 vuông vải.
    Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển hơn nữa, đặc biệt là khi mở rộng giữa các vùng đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thông nhất thì hình thái thứ tư ra đời: hình thái tiền. Giá trị của tất cả các hàng hoá ở đây đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò tiền tệ. Lúc đầu có nhiều hàng hoá đóng vai trò tiền tệ nhưng dần dần được chuyển sang các kim loại quý như đồng, bạc và cuối cùng là vàng. Ví dụ như: 10 vuông vải hoặc 1 cái áo hoặc 10 đấu chè = 0.02 gam vàng.
    Như vậy, tiền ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá.
    2. Bản chất của tiền:
    Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các loại hàng hoá. Nó là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá.
    3. Tiền có 5 chức năng. Nó là thước đo giá trị, là phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán và tiền tệ thế giới.
    Trước hết, tiền là thước đo giá trị, tức là nó dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác. Khi đó, giá trị của hàng hoá được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hoá. Giá cả hàng hoá là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá có thể lên xuống xung quanh giá trị nhưng tổng số giá cả luôn bằng giá trị.
    Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá, tức là tiền đóng vai trò là một phương tiện lưu thông. Khi ấy, trao đổi hàng hoá vận động theo công thức H – T – H’. Đây là công thức lưu thông hàng hoá giản đơn. Với chức năng này, tiền xuất hiện dưới các hình thức vàng thoi, bạc nén, tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy. Tiền giấy là ký hiệu giá trị do nhà nước phát hành buộc XH công nhận. Tiền giấy không có giá trị thực (không kể đến giá trị của vật liệu giấy dùng làm tiền). Khi thực hiện chức năng này, tiền giúp quá trình mua bán diễn ra dễ dàng hơn nhưng nó cũng làm việc mua bán tách rời nhau cả về không gian lẫn thời gian nên nó bao hàm khả năng khủng hoảng.
    Tiền đôi khi được rút khỏi lưu thông và cất giữ lại để khi cần thì đem ra mua hàng. Chỉ có tiền vàng, tiền bạc, các của cải bằng vàng có giá trị thực mới thực hiện được chức năng lưu trữ. Ngoài ra, tiền làm phương tiện cất trữ còn có tác dụng đặc biệt là dự trữ tiền cho lưu thông.
    Khi kinh tế hàng hoá phát triển đến một mức độ nào đó tất yếu sẽ sinh ra mua bán chịu và tiền có thêm chức năng phương tiện thanh toán như trả nợ, đóng thuế… Tiền làm phương tiện thanh toán có tác dụng đáp ứng kịp thời như cầu của người sản xuất hoặc tiêu dùng ngay cả khi họ chưa có tiền hoặc không đủ tiền. Nhưng nó cũng làm cho khả năng khủng hoảng tăng lên. Trong quá trình thực hiện chức năng thanh toán, loại tiền mới – tiền tín dụng – xuất hiện, có nghĩa là hình thức tiền đã phát triển hơn.
    Chức năng cuối cùng của tiền là tiền tệ thế giới. Chức năng này xuất hiện khi buôn bán vượt ra ngoài biên giới quốc gia, hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước. Khi thực hiện chức năng này, tiền thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, tín dụng, di chuyển của cải từ nước này sang nước khác. Thực hiện trức năng này phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế. Việc trao đổi tiền của nước này sang tiền của nước khác tuân theo tỷ giá hổi đoái, tức là giá cả của một đồng tiền nước này được tính bằng đồng tiền của nước khác.
    Tóm lại, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, tiền có 5 chức năng. Những chức năng này có quan hệ mật thiết và thông thường tiền làm nhiều chức năng một lúc.

    Câu 11:

    Phân tích nội dung (yêu cầu), tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn. Những biểu hiện của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản?

    Bài làm:
    1. Quy luật giá trị là quy luật giá trị cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị hàng hoá của nó, tức là trên cơ sở hao phí lao động XH cần thiết.
    Trong sản xuất, quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động XH cần thiết. Còn trong trao đổi hay lưu thông thì phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá. Trao đổi mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị. Giá cả hàng hoá trên thị trường có thể bằng hoặc dao động lên xuống xung quanh giá trị hàng hoá nhưng xét trên phạm vi toàn XH thì tổng giá cả bằng tổng giá trị.
    2. Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị có ba tác động sau:
    Thứ nhất, nó điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Khi một hàng hoá có giá cả cao hơn giá trị, bán có lãi, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư tư liệu sản xuất và sức lao động, đồng thời những người sản xuất các hàng hoá khác có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này. Còn nếu mặt hàng đó có giá cả thấp hơn giá trị, bị lỗ vốn thì người sản xuất phải thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác. Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu xã hội. Đồng thời, nó còn thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
    Quy luật giá trị cũng kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm… Bởi vì trong sản xuất hàng hoá, để tồn tại và có lãi, mọi người sản xuất đều phải tìm làm cho mức hao phí lao động cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức lao động xã hội cần thiết. Cuộc canh tranh càng khiến cho những người sản xuất tích cực cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động… mạnh mẽ hơn. Mọi người sản xuất đều làm như vậy sẽ làm cho năng suất lao động của toàn xã hội tăng lên, sản xuất ngày càng phát triển.
    Tuy nhiên, quy luật giá trị cũng tự phát phân hoá người sản xuất ra thành người giàu và người nghèo. Người sản xuất nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thu được nhiều lãi và giàu lên, mở rộng sản xuất, thậm chí trở thành ông chủ thuê nhân công. Còn những người sản xuất có mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản và trở thành công nhân làm thuê.
    Vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực. Chúng ta cần phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
    3. Trong giai đoạn sản xuất tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá trị hàng hoá trở thành giá cả sản xuất. Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất. Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất.
    Còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, do nắm được vị trí thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức có khả năng định ra giá cả độc quuyền. Giá cả độc quyền là giá cả hàng hoá có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất. Tuy nhiên, cơ sở của giá cả độc quyền vẫn là giá trị và tổng giá cả độc quyền vẫn bằng tổng giá trị. Khi đó, quy luật giá trị biểu hiện ra thành quy luật giá cả độc quyền.

    Câu 12:

    Thế nào là thị trường? Mối quan hệ giữa phân công lao động XH với thị trường. Phân tích các chức năng của thị trường.

    Bài làm:
    1. Theo nghĩa hẹp thì thị trường là nơi diễn ra trao đổi, mua bán hàng hoá. Nhưng theo nghĩa rộng thì thị trường là tổng thể các mối quan hệ cạnh tranh, cung – cầu, giá cả, giá trị… mà trong đó giá cả và sản lượng hàng hoá tiêu thụ được xác định. Thị trường có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau: theo đối tượng giao dịch, theo tính chất và cơ chế vận hành thị trường, theo quy mô, phạm vi….
    2. Phân công lao động XH góp phần tạo ra thị trường. Do có sự phân công lao động XH, mỗi cá thể chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm trong khi họ có như cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm. Chính vì vậy, sinh ra việc trao đổi buôn bán và dẫn đến hình thành thị trường.
    Mặt khác, thị trường cũng làm cho phân công lao động XH ngày càng sâu sắc hơn. Thị trường thúc đẩy sản xuất một số mặt hàng và hạn chế sản xuất một số mặt hàng khác tùy theo không gian và thời gian. Do đó, phân công lao động XH ở từng ngành, từng khu vực trở nên sâu sắc hơn.
    3. Dù thị trường có nhiều loại khác nhau nhưng nhìn chung thị trường thực hiện ba chức năng chủ yếu sau:
    Chức năng thừa nhận công dụng XH của hàng hoá (giá trị sử dụng XH) và lao động đã chi phí để sản xuất ra nó. Nếu hàng hoá bán được và bán với giá cả bằng giá trị thì XH đã thừa nhận công dụng của nó cũng như thừa nhận mức hao phí lao động để sản xuất ra nó phù hợp với mức hao phí lao động XH cần thiết, giá trị hàng hoá được thực hiện. Nếu hàng hoá không bán được thì hoặc là công dụng của hàng hoá không được thừa nhận, hoặc là do chi phí sản xuất cao hơn mức trung bình của XH nên XH không chấp nhận. Nếu hàng hoá bán được với giá cả thấp hơn giá trị thì có nghĩa là XH chỉ thừa nhận công dụng của nó và một phần chi phí sản xuất ra nó.
    Thứ hai là chức năng cung cấp thông tin cho người sản xuất và tiêu dùng về cơ cấu hàng hoá, giá cả, chất lượng…
    Cuối cùng là chức năng kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng. Từ những thông tin thu được trên thị trường, người sản xuất hay tiêu dùng sẽ có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với biến đổi của thị trường. Nhờ đó mà sản xuất và tiêu dùng được hạn chế hoặc kích thích. Ví dụ như giá cả một hàng hoá nào đó tăng, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất còn người tiêu dùng sẽ hạn chế nhu cầu…

    Câu 13:

    Cạnh tranh là gì? Tại sao cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá? Những tác động tích cực và tiêu cực của cạnh tranh?

    Bài làm:
    1. Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có nhiều biện pháp cạn tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá…) hoặc phi giá cả (quảng cáo…).
    2. Dễ thấy, cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động XH tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển… nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh trạnh.
    3. Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Đó chính là cạnh tranh lành mạnh. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ, kém phát triển.
    Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác dụng tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại…) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hoá giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái.

    Câu 14:

    Cung, cầu là gì? Quan hệ cung – cầu? Tại sao cung – cầu là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá?

    Bài làm:
    1. Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán, là số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất định. Quy mô của cầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, sức mua của đồng tiền, thị hiếu người tiêu dùng… trong đó giá cả là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
    2. Cung là tổng số hàng hoá có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho thị trường, là số hàng hoá, dịch vụ mà người bán muốn bán và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất định. Quy mô cung thuộc vào các yêu tố như số lượng, chất lượng các yếu tố sản xuất, chi phí sản xuất… trong đó, cũng như cầu, giá cả có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
    3. Cung và cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường. Cầu xác định khối lượng, cơ cấu của cung về hàng hoá: hàng hoá nào có cầu thì mới được cung ứng sản xuất; hàng hoá nào tiêu thụ được nhiều (cầu lớn) thì sẽ được cung ứng nhiều và ngược lại. Đối với cung thì cung cũng tác động, kích thích cầu: những hàng hoá được sản xuất phù hợp với nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng sẽ được ưa thích, bán chạy hơn, làm cho cầu của chúng tăng lên.
    Không chỉ ảnh hưởng lẫn nhau, cung – cầu còn ảnh hưởng tới giá cả. Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị. Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị. Còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị. Giá cả cũng tác động lại tới cung và cầu, điều tiết làm cung, cầu trở về xu hướng cân bằng với nhau. Ví dụ như khi cung cao hơn cầu, giá cả giảm, cầu tăng lên còn cung lại giảm dần dẫn đến cung cầu trở lại xu thế cân bằng.
    4. Cung – cầu cũng là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì cũng như cạnh tranh, nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Sự phân công lao động XH đã dẫn đến nhu cầu mua bán, trao đổi, tức là phát sinh ra cung và cầu. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn sự phân công lao động, tức là còn cung và cầu thì quan hệ cung cầu sẽ vẫn còn tồn tại và tác động lên nền sản xuất hàng hoá.
    ————————————————————————

    Câu 20:

    Phân tích sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản. Những điều kiện để tiền tệ có thể thành tư bản.

    Bài làm:
    Tiền trong lưu thông hàng hoá giản đơn vận động theo công thức: H – T – H’, tức là bắt đầu bằng hành vi bán (H – T) và kết thúc bằng hành vi mua (T – H), kết thúc đều bằng hàng hoá , tiền chỉ đóng vai trò trung gian, mục đích là giá trị sử dụng.
    Còn tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức: T – H – T’. Ở đây, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng hành vi mua (T – H), kết thúc bằng hành vi bán (H – T’), tiền là điểm xuất phát cũng là điểm kết thúc, hàng hoá chỉ đóng vai trò trung gian. Mục đích của lưu thông tư bản là giá trị và giá trị cao hơn. Điều đó có nghĩa là T’ lớn hơn T: T’ = T + t. t là phần trội thêm và được gọi là giá trị thặng dư (m). Số tiền ứng ra ban đầu (T) trở thành tư bản.
    Vậy, tiền chỉ trở thành tư bản khi nó được dùng để đem lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản. T – H – T’ là công thức chung của tư bản vì mọi tư bản đều vận động như vậy để đem lại giá trị thặng dư.

    Câu 21:

    Phân tích hàng hoá sức lao động.

    Bài làm:
    1. Sức lao động là tổng hợp toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất.
    2. Trong mọi xã hội, sức lao động đều là yếu tố của sản xuất nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hoá sức lao động khi có hai điều kiện sau:
    Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể của mình, có khả năng chi phối sức lao động ấy và chỉ bán sức lao động ấy trong một thời gian nhất định
    Thứ hai, người lao động không còn có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực hiện lao động và cũng không có của cải gì khác, muốn sống chỉ còn cách bán sức lao động cho người khác sử dụng.
    3. Cũng như mọi loại hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.
    Giá trị của hàng hoá sức lao động cũng do số lượng lao động XH cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định. Do việc sản xuất và tái sản xuất sức lao động được diễn ra thông qua quá trình tiêu dùng, sinh hoạt, giá trị sức lao động được quy ra thành giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động, để duy trì đời sống công nhân và gia đình họ cũng như chi phí đào tạo công nhân có một trình độ nhất định. Tuy nhiên, giá trị hàng hoá sức lao động khác hàng hoá thông thường ở chố nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử của từng nước, từng thời kỳ…
    Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng nhằm thoả mãn nhu cầu của người mua để sử dụng trong quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ. Tuy nhiên, khác với hàng hoá thông thường, trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn lượng giá trị của bản thân nó, phần dôi ra đó chính là giá trị thặng dư. Đây là đặc điểm riêng của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động.

    Câu 22:

    Phân tích bản chất và các hình thức tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản.

    Bài làm:
    1. Tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động. Cần chú ý rằng, trong xã hội tư bản, tiền công không phải là giá cả của lao động. Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động mà là sức lao động. Do đó, tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động mà chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hoá sức lao động.
    2. Có hai hình thức tiền công cơ bản. Đó là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm.
    Tiền công theo thời gian là hình thức tiền công tính theo thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn (giờ, ngày, tuần, tháng).
    Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công tính theo số lượng sản phẩm đã làm ra, hoặc số lượng công việc đã hoàn thành trong một thời gian nhất định. Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định goi là đơn giá tiền công. Thực chất thì tiền công tính theo sản phẩm là biến tướng của tiền công tính theo thời gian nhưng nó lại tạo động lực mạnh mẽ, kích thích người lao động tích cực lao động, tạo thuận lợi cho nhà tư bản trong việc quản lý, giảm sát lao đôngk của công nhân.

    Câu 23.

    Trình bày nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản.

    Bài làm:
    Để hiểu bản chất và nguồn gốc của giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản., ta hãy xét một ví dụ.
    Giả sử để chế tạo ra 1 kg sợi, nhà tư bản phải bỏ ra 28.000 đơn vị tiền tệ bao gồm 20.000 đơn vị tiền tệ mua 1 kg bông, 3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong 1 ngày (10 giờ). Giả định việc mua này là đúng giá trị. Đồng thời giả định, mỗi giờ lao động, người công nhân tạo ra 1.000 đơn vị giá trị mới kết tinh vào trong sản phẩm.
    Vậy bằng lao động cụ thể, người công nhân đã chuyển giá trị của bông và hao mòn máy móc vào trong sợi và bằng lao động trừu tượng của mình, mỗi giờ công nhân lại tạo thêm một lượng giá trị mới là 1.000 đơn vị.
    Nếu chỉ trong vòng 5 giờ, công nhân đã kéo xong 1kg sợi thì giá trị 1kg sợi là:
    – Giá trị của 1 kg bông = 20.000 đơn vị
    – Hao mòn máy móc = 3.000 đơn vị
    – Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động, phần này
    vừa đủ bù đắp giá trị sức lao động) = 5.000 đơn vị
    Vậy tổng cộng giá trị của 1 kg sợi là 28.000 đơn vị.
    Tuy nhiên, do nhà tư bản đã thuê người công nhân trong 10 giờ nên trong 5 giờ lao động tiếp theo, nhà tư bản không phải bỏ ra 5.000 đơn vị mua sức lao động nữa mà chỉ cần bỏ ra 20.000 đơn vị tiền tệ để mua thêm 1kg bông, 3.000 đơn vị cho hao mòn máy móc, tức là với 23.000 đơn vị tiền tệ, nhà tư bản có thêm được 1kg sợi.
    Như vậy. trong một ngày lao động, nhà tư bản bỏ ra 51.000 đơn vị tiền tệ để thu được 2 kg sợi. Trong khi đó, giá trị của 2 kg sợi là: 28.000 . 2 = 56.000 đơn vị tiền tệ. Do đó, nhà tư bản thu được 1 phần giá trị dôi ra, tức là giá trị thặng dư, bằng 5.000 đơn vị tiền tệ.
    Từ ví dụ trên, ta thấy giá trị thặng dư chính là phần giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra ngoài sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Chú ý rằng, phần lao đông không công đó trở thành giá trị thặng dư vì nó thuộc sở hữu của nhà tư bản chứ không phải là của người lao đông. Sở dĩ nhà tư bản chi phối được số lao động không công ấy là vì nhà tư bản là người sở hữu tư liệu sản xuất.

    Câu 24:

    Phân tích quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.

    Bài làm:
    Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế phản ánh bản chất của phương thức sản xuất đó. Ta đã biết quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá. Trong chủ nghĩa tư bản, quy luật kinh tế cơ bản tuyệt đối là quy luật giá trị thặng dư.
    Nội dung của quy luật này là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thăng dư cho nhà tư bản bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều sức lao động của công nhân làm thuê.
    Quy luật giá trị thặng dư này có vai trò động lực thúc đẩy nền sản xuất tư bản vận động và phát triển bởi mục đích của nó là sản xuất ngày càng nhiều giá trị thăng dư và nó buộc nhà tư bản phải tăng cường các phương tiện quản lý, kỹ thuật.
    Tuy nhiên, cũng chính quy luật này làm cho những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt. Đó là mâu thuẫn giữa tính chất XH hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với tính chất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Tất yếu, chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay thế bằng một phương thức sản xuất mới văn minh hơn.

    Câu 25:

    Trình bày phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối dưới chủ nghĩa tư bản.

    Bài làm:
    Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.
    Ta hãy xét một ví dụ:
    Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động cần thiết (t) là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư (t’) là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10 đơn vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là:
    m’ = (t/t’) . 100% = 4/4 . 100% = 100%
    Nhưng nếu ta kéo dài ngày lao động thêm 2 tiếng thì t vẫn bằng 4 giờ nhưng thời gian lao động thặng dư lức này lại là t’= 6. Do đó, giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ là 60 đơn vị và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:
    m’ = 6/4 . 100% = 150%
    Do việc tăng thời gian lao động không thể vượt quá giớ hạn sinh lý của công nhân nên khi thời gian lao động không thể kéo dài thêm được nữa, nhà tư bản sẽ tìm cách tăng cường độ lao động. Về thực chất thì tăng cường độ lao động cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, tăng thời gian lao động hoặc tăng cường độ lao động là để sản xuất ra giá trị thăng dư tuyệt đối.

    Câu 26:

    Trình bày phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối dưới chủ nghĩa tư bản.

    Bài làm:
    Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó mà tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ.
    Ta hãy xét một ví dụ
    Ngày lao động là 10 giờ, trong đó 5 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao đông thặng dư. Nhờ tăng năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, giá cả sinh hoạt rẻ hơn dẫn đến giá trị sức lao động cũng bị hạ thấp. Giả sử giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ. Khi đó thời gian lao động tất yếu chỉ còn 4 giờ và thời gian lao động thặng dư tăng lên thành 6 giờ. Khi đó, tỷ suất giá trị thặng dư tăng từ 100% lên 150%.
    Như vậy, bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ cho ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt mà giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân giảm đi, kéo theo giá trị sức lao động của người lao động giảm đi và đem lại giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản mà không phải tăng thời gian lao động hay cường độ lao động.

    Câu 27:

    Tư bản là gì? Thế nào là tư bản bất biến, tư bản khả biến, tư bản cố định, tư bản lưu động? Căn cứ và ý nghĩa của các cách phân chia tư bản trên đây.

    Bài làm:
    1. Tư bản là phần giá trị mang lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê. Tư bản là một quan hệ sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa tư sản và vô sản.
    2. Để sản xuất ra giá trị thặng dư, nhà tư bản phải ứng trước tư bản ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động.
    Trong quá trình sản xuất , giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công nhân chuyển vào sản phẩm mới, lượng giá trị của chúng không đổi. Bộ phận tư bản ấy được gọi là tư bản bất biến ©.
    Nhưng đối với bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một giá trị mới không chỉ bù đắp đủ giá trị sức lao động của công nhân mà còn tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Như vậy, bộ phận tư bản này đã có sự biến đổi về lượng và được gọi là tư bản khả biến (v).
    3. Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển một cách giống nhau vì một bộ phận tư bản chuyển giá trị của nó vào sản phẩm theo những cách thức khác nhau. Do đó, ta có thể chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
    Tư bản cố định là bộ phận chủ yếu của tư bản sản xuất (máy móc, nhà xưởng…) tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó trong thời gian sản xuất. Có hai loại hao mòn là hao mòn hữu hình (hao mòn về vật chất, hao mòn về giá trị sử dụng do tác động của tự nhiên) và hao mòn vô hình (hao mòn tuần tuý về mặt giá trị do xuất hiện những máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có công suất lớn hơn).
    Còn tư bản lưu động là một bộ phận của tư bản sản xuất (nguyên nhiên liệu, sức lao động…) được tiêu dùng hoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong quá trình sản xuất. Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định và việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Nó giúp cho việc tiết kiệm được tư bản ứng trước cũng như làm tăng tỷ suất giá trị thặng dư trong năm.
    4.Việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư còn việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động là dựa vào phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm trong quá trình sản xuất hay dựa vào tính chất chu chuyển của tư bản.
    Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư. Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện để sinh ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.
    Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động tuy không phản ánh nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư nhưng lại có ý nghĩa quan trong trong việc quản lý kinh tế. Nó là cơ sở để quản lý, sử dụng vốn cố định và vốn lưu động một cách có hiệu quả cao.
    c1 là giá trị máy móc, thiết bị, nhà xưởng…
    c2 là giá trị nguyên, nhiên, vật liệu…
    v là tư bản khả biến
    Vậy, tư bản bất biến = c1 + c2; tư bản khả biến = v;
    tư bản cố định = c1; tư bản lưu động = c2 + v.

    Câu 28:

    So sánh giá trị thặng dư với lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm?

    Bài làm:
    1. Ta biết rằng, nhà tư bản bỏ ra tư bản bao gồm tư bản bất biến c và tư bản khả biến v để sản xuất ra giá trị thặng dư m. Nhưng các nhà tư bản đã đưa ra một khái niệm mới là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa K– đó là phần giá trị bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất © và giá cả sức lao động (v) đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hoá cho nhà tư bản, nghĩa là K = c + v.
    Khi c + v chuyển thành K như vậy thì số tiền nhà tư bản thu được trội hơn so với chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa được gọi là lợi nhuận P. Như vậy, lợi luận thực chất là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước. Khi đó, giá trị hàng hoá G = c + v + m biến thành G = K + P.
    Về bản chất thì P chính là m nhưng cái khác nhau ở chỗ, m hàm ý so sánh với v còn P lại hàm ý so sánh nó với K = c + v. P và m thường không bằng nhau. P có thể cao hơn hoặc thấp hơn m, phụ thuộc vào giá cả hàng hoá do quan hệ cung – cầu quy định. Nhưng nếu xét trên phạm vi toàn XH, tổng lợi nhuận luôn bằng tổng giá trị thặng dư.
    2. Khi giá trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng dư cũng chuyển thành tỷ suất lợi nhuận.
    Tỷ suất giá trị thặng dư m’ là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng giá trị thặng dư m với tư bản khả biến v: m’ = m/v . 100(%)
    Tỷ suất lợi nhuận P’ là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước: P’ = m/(c + v) . 100(%). Trong thực tế người ta thường tính P’ bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuân thu được P với tổng tư bản ứng trước K: P’ = P/K . 100(%).
    Xét về lượng thì tỷ suất lợi nhuận P’ luôn nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư m’.
    Về chất, tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện đúng mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động còn tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. P’ chỉ cho nhà đầu tư tư bản biết đầu tư vào đâu là có lợi.
    Tỷ suất lợi nhuận phụ thuộc vào tỷ suất thặng dư: tỷ suất thặng dư tăng thì tỷ suất lợi nhuận tăng; tốc độ chu chuyển tư bản, cấu tạo hữu cơ của tư bản và tiết kiệm tư bản bất biến.
    3. Chu chuyển tư bản là sự tuần hoàn của tư bản được lặp đi lặp lại định kỳ, đổi mới không ngừng. Tốc độ chu chuyển tư bản là số vòng chu chuyển của tư bản trong một năm. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư.
    Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định làm tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, lượng tư bản sử dụng tăng lên và tránh được những thiệt hai do hao mòn hữu hình và vô hình gây ra. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong một năm, nhờ đó, sẽ tiết kiệm được tư bản ứng trước. Mặt khác, do tăng tỷ suất của tư bản khả biến mà tỷ suất giá trị thặng dư trong năm sẽ tăng lên.
    Tóm lại, tăng tốc đọ chu chuyển tư bản khả biến giúp cho các nhà tư bản tiết kiệm được tư bản ứng trước, nâng cao tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư trong năm.

    Câu 29:

    Phân tích thực chất và động cơ tích luỹ tư bản. Phân tích tích tụ tư bản và tập trung tư bản. Vai trò của tích tụ và tập trung tư bản trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.

    Bài làm:
    1. Tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là tất yếu khách quan của XH loài người. Tái sản xuất có hai hình thức là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Để tái sản xuất mở rộng, dưới chủ nghĩa tư bản, nhà tư bản phải sử dụng một phần giá trị thặng dư để tăng thêm tư bản ứng trước. Việc chuyển hoá một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản.
    Ta biết rằng giá trị thặng dư là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Do đó, nguồn gốc của tích luỹ tư bản chính là giá trị thặng dư, là lao động không công của người công nhân làm thuê sáng tạo ra. Nói cách khác, toàn bộ của cải của giai cấp tư sản đều do lao động của giai cấp công nhân tạo ra.
    2. Tích luỹ tư bản là việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng tích luỹ của từng nhà tư bản riêng rẽ. Tích luỹ tư bản là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Mặt khác, do khối lượng giá trị thặng dư tăng lên khiến khả năng thực hiện tích tụ tư bản mạnh hơn.
    Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bản cá biệt lớn. Đây là sự tập trung tư bản những tư bản đã hình thành, thủ tiêu tính độc lập riêng biệt của chúng, biến nhiều tư bản nhỏ thành một số ít tư bản lớn.
    Tích tụ tư bản làm cho tư bản cá biệt tăng lên và tư bản xã hội cũng tăng theo còn tập trung tư bản chỉ làm cho tư bản cá biệt tăng lên nhưng tư bản XH thì không đổi.

    Câu 30:

    Phân tích những ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.

    Bài làm:
    1. Tích luỹ tư bản là quá trình chuyển một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản. Nếu khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư cho tích luỹ và tiêu dùng. Nếu tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư đã được xác định thì quy mô tích luỹ tư bản sẽ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Mà khối lượng giá trị thặng dư thì lại phụ thuộc vào 3 yếu tố là trình độ bóc lột giá trị thặng dư (m’), chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng, quy mô tư bản ứng trước.
    Thứ nhất, quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào trình độ bóc lột giá trị thăng dư của nhà tư bản. Để tăng thêm khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản không tăng thêm thiết bị, máy móc, thuê thêm nhân công mà bắt số công nhân hiện có cung cấp thêm một lượng lao động bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động, tận dung triệt để công suất của máy móc hiện có, chỉ tăng thêm phần nguyên liệu tương ứng. Một cách khác là tăng năng suất lao động. Khi năng suất lao động XH tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt giảm. Điều này tạo ra hai kết quả: một là với khối giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể tăng thêm bằng cách lấn sang phần dành cho tiêu dùng mà việc tiêu dùng của nhà tư bản không giảm, có khi còn cao hơn trước; hai là một lượng giá trị thặng dư nhất định có thể mua được một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động nhiều hơn do giá tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động giảm. Không những thế, tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh hơn.
    Thứ hai là chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu sản xuất mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất hàng hoá còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu sản xuất ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao. Sự chênh lệch giữa chúng là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất. Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc và công cụ lao động, nhà tư bản sử dụng các công cụ lao động đó mà không mất thêm chi phí nào khác. Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn thì sự phục vụ không công của tư liệu sản xuất càng nhiều.
    Cuối cùng, đó là quy mô tư bản ứng trước.Theo công thức M = m’ . V, nếu tỷ suất giá trị thặng dư m’ không đổi thì khối lượng giá trị thặng dư M chỉ tăng khi tổng tư bản khả biến V tăng và tất nhiên tư bản bất biến cũng sẽ phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định. Do đó, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư phải tăng quy mô tư bản ứng trước. Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng được mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu.
    2. Nếu ta bỏ qua tính chất tư bản chủ nghĩa thì tích luỹ tư bản có ý nghĩa quan trọng trong việc tích luỹ vốn cho sản xuất. Để nâng cao quy mô tích luỹ, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động XH, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu, khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi trong XH. Đây chính là ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.

    0

    Câu 32:

    Trình bày các khái niệm chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Các khái niệm trên đã che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa như thế nào?

    Bài làm:
    1. Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là phần giá trị bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất © và giá cả sức lao động (v) đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hoá cho nhà tư bản. Kí hiệu là K = c + v.
    Chi phí tư bản XH chủ nghĩa khác với giá trị hàng hoá cả về chất lẫn về lượng. Về chất, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ là chi phí về tư bản còn giá trị hàng hoá là chi phí thực tế, chi phí về lao động XH cần thiết để sản xuất ra hàng hoá. Về lượng, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn giá trị hàng hoá vì (c + v) < (c + v + m).
    2. Khi tổng tư bản bất biến và khả biến c + v chuyển thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa K thì số tiền nhà tư bản thu được trội hơn so với chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa gọi là lợi nhuận. Lợi nhuận chính là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước. Nếu ký hiệu lợi nhuận là P thì giá trị hàng hoá lúc này là G = K + P.
    3. Khi giá trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng dư chuyển hoá thành tỷ suất lợi nhuận.
    Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước, ký hiệu là P’: P’ = m/(c + v) . 100%.
    Trong thực tế, P’ hàng năm được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi nhuận thu được trong năm P và tổng số tư bản ứng trước K: P’ = P/K . 100%.
    4. Đối với nhà tư bản, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là giới hạn hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà tư bản. Sự xuất hiện khái niệm này đã xoá đi danh giới giữa tư bản bất biến c và tư bản khả biến v, che dấu đi nguồn gốc của giá trị thặng dư (đó là tư bản khả biến v).
    Khái niệm lợi nhuận thực chất cũng chỉ là biến tướng của giá trị thặng dư. Nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Theo khái niệm này thì phần dôi ra đó không phải là do giá trị sức lao động (v) của công nhân làm thuê tạo ra mà là do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa của nhà tư bản tạo ra.
    Khái niệm tỷ suất lợi nhuận cũng vậy. Nó không biểu hiện đúng mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động như tỷ suất giá trị thặng dư m’ (m’ càng tăng, chứng tỏ nhà tư bản bóc lột càng nhiều). Tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. P’ càng tăng thì đầu tư càng có lợi.
    Tóm lại, bằng việc đưa ra ba khái niệm trên, các nhà tư bản đã che dấu bản chất bóc lột của mình, che dấu đi cái thực chất sinh ra giá trị thặng dư là lao động không công của người công nhân làm thuê.

    0

    Câu 33:

     Phân tích sự hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?

    Bài làm:
    1. Trong xã hội có nhiều ngành sản xuất khác nhau, với những điều kiện sản xuất không giống nhau, lợi nhuận thu được và tỷ suất lợi nhuận cũng sẽ không giống nhau. Điều này dẫn đến việc cạnh tranh giữa các ngành. Đó là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp tư bản kinh doanh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Chính vì điều này mà dẫn đến việc các nhà tư bản di chuyển từ các ngành lợi nhuận ít sang những ngành có lợi nhuận cao hơn.
    Sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác làm thay đổi tỷ suất lợi nhuận ngành và dẫn đến hình thành tỷ suất lợi nhuận ngành ngang nhau. Đó là tỷ suất lợi nhuận chung hay tỷ suất lợi nhuận bình quân.
    Tỷ suất lợi nhuận bình quân là “con số trung bình” của tất cả các tỷ suất lợi nhuận khác nhau hay là tỷ số phần trăm giữa tổng giá trị thặng dư và tổng tư bản XH.
    Khi hình thành tỷ xuất lợi nhuận bình quân, ta có thể tính được lợi nhuận bình quân của từng ngành. Đây là lợi nhuận bằng nhau của tư bản bằng nhau đầu tư vào những ngành khác nhau. Nó chính là lợi nhuận mà nhà tư bản thu được căn cứ vào tổng tư bản đầu tư, nhân với tỷ suất lợi nhuận bình quân, không quan tâm đến cấu thành hữu cơ của nó. Sự xuất hiện của lợi nhuận bình quân đã biến quy luật giá trị thặng dư trở thành quy luật lợi nhuận bình quân (Tổng lợi nhuận bình quân bằng tổng giá trị thặng dư).
    2. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân đã làm giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất. Giá cả sản xuất là giá cả bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân. Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất. Giá cả sản xuất là phàm trù kinh tế tương đương với giá cả, là cơ sở của giá cả trên thị trường, nó điều tiết giá cả thị trường, giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất. Lúc này, quy luật giá trị đã biểu hiện ra thành quy luật giá cả sản xuất (Tổng giá cả sản xuất bằng tổng giá trị).
    3. Việc nghiên cứu sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng.
    Về mặt lý luận, nó giúp ta thấy được sự phát triển lý luận giá trị và giá trị thặng dư của Mác theo tiến trình đi từ trừu tượng đến cụ thể. Mặt khác, nó còn phản ánh quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản trong việc giành giật lợi nhuận với nhau.
    Về mặt thực tiến, nó vạch rõ toàn bộ giai cấp tư sản đã bóc lột toàn bộ giai cấp công nhân. Vì vậy, muốn giành thắng lợi, giai cấp công nhân phải đoàn kết, đấu tranh với tư cách là một giai cấp, kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị.

    Câu 34:

    Phân tích sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp.

    Bài làm:
    Tư bản thương nghiệp là một bộ phận tư bản công nghiệp tách ra chuyên đảm nhận khâu lưu thông hàng hoá. Công thức vận động của nó là T – H – T’.Sự xuất hiện tư bản thương nghiệp cho thấy sự phát triển của phân công lao động XH, góp phần nâng cao tốc độ chu chuyển của tư bản, tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư, nâng cao hiệu của kinh tế.
    Nhưng nếu tư bản thương nghiệp chỉ giới hạn trong việc mua và bán hàng hoá (không kể đến việc chuyên chở, bảo quản, đóng gói…) thì sẽ không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Vậy lợi nhuận – mục đích của tư bản thương nghiệp là cái gì? Đó chính là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất mà tư bản công nghiệp nhường lại một phần cho tư bản thương nghiệp để tư bản thương nghiệp bản hàng hoá cho mình.
    Việc phân phối giá trị thặng dư giữa nhà tư bản công nghiệp và nhà tư bản thương nghiệp diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân thông qua cạnh tranh và thông qua chênh lệch giữa giá bán buôn công nghiệp và giá bán lẻ thương nghiệp.
    Ta hãy xét một ví dụ:
    Nhà tư bản công nghiệp ứng ra 900 để sản xuất hàng hoá với cấu tạo hữu cơ là c:v = 4:1, tỷ suất giá trị thặng dư là 100%, tư bản cố định hao mòn trong vòng 1 năm.
    Ta có, tổng giá trị hàng hoá là: G = 720c + 180v + 180m = 1080
    Tỷ suất lợi nhuận là: P’ = 180/900 . 100% = 20%
    Để lưu thông hàng hoá, giả sử nhà tư bản phải bỏ thêm 100 nữa, tỷ suất lợi nhuận lúc đó sẽ chỉ còn là: P’ = 180/(900 + 100) . 100% = 18%.
    Nhưng nếu 100 này nhà tư bản công nghiệp không bỏ ra mà nhà thương nghiệp bỏ ra thì nhà tư bản thương nghiệp sẽ được hưởng lợi nhuận từ 100 tư bản ấy là 18.
    Lúc ấy, nhà tư bản công nghiệp chỉ bán cho nhà thương nghiệ với giá thấp hơn giá trị là 1080 – 18 = 1062 và nhà tư bản thương nghiệp sẽ bán hàng hoá bằng đúng giá trị là 1080 để thu được lợi nhuận thương nghiệp là 18. Chú ý rằng, khi đó nhà tư bản công nghiệp không phải bỏ thêm 100 tư bản ứng trước nhưng tỷ suất lợi nhuận vẫn là (180 – 18)/900 . 100% = 18%.
    Tóm lại, lợi nhuận thương nghiệp là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư. Nó cũng có nguồn gốc là lao động không công của người công nhân làm thuê.

    Câu 35:

    Phân tích nguồn gốc và sự hình thành lợi tức và lợi nhuận ngân hàng.

    Bài làm:
    1. Trong XH tư bản, tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định để nhận được tiền lời nào đó gọi là lợi tức. Tư bản cho vay có đặc điểm là quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng và tư bản cho vay là một hàng hoá đặc biệt mà người cho vay không mất quyền sở hữu và người đi vay chỉ được mua quyền sử dụng trong thời gian nhất định. Tư bản cho vay vận động theo công thức: T – T’. Nó cho thấy sự phát triển của hàng hoá tiền tệ đến một trình độ nhất định.
    Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà tư bản đi vay trả cho tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để quyền được sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định, kí hiệu là Z.
    Người cho vay và người đi vay sẽ thoả thuận với nhau về tỷ suất lợi tức Z’. Đó là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức Z và số tư bản tiền tệ cho vay Kcv trong một thời gian nhất định. Ta có: Z’ = Z/K . 100%.
    Tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân và quan hệ cung – cầu về tư bản cho vay. Tỷ suất lợi nhuận bình quân luôn lớn hơn 0 và nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân.
    Tóm lại, thực chất thì lợi tức cũng có nguồn gốc là giá trị thặng dư. Đó chính là phần giá trị thặng dư nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay để có quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định.
    2. Tư bản ngân hàng là loại doanh nghiệp tư bản chuyên kinh doanh tiền tệ, nghiệp vụ ngân hàng bao gồm nghiệp vụ nhận gửi và nghiệp vụ cho vay. Ngoài ra, ngân hàng còn làm chức năng thủ quỹ, trung tâm thanh toán cho XH. Sự xuất hiện của tư bản ngân hàng giúp huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong XH, đồng thời giảm lượng tiền mặt trong lưu thông.
    Lợi nhuận ngân hàng là số chênh lệch giữa tỷ suất lợi tức nhận gửi và tỷ suất lợi tức cho vay sau khi đã trừ đi chi phí về nghiệp vụ ngân hàng. Vì vậy, thực chất, lợi nhuận ngân hàng cũng là một phần giá trị thặng dư do công nhân làm thuê tạo ra.
    Từ lợi nhuận ngân hàng dẫn đến hình thành tỷ suất lợi nhuận ngân hàng là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận ngân hàng và vốn tự có. Chính tư bản ngân hàng cũng tham gia bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận lao động.

    Câu 36:

    Thế nào là công ty cổ phần và thị trường chứng khoán? Nguyên nhân hình thành và vai trò của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán?

    Bài làm:
    1. Sự phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và các quan hệ tín dụng đã làm xuất hiện công ty cổ phần . Công ty cổ phần là loại xí nghiệp lớn mà vốn của nó hình thành từ việc liên kết nhiều tư bản cá biệt và các nguồn tiết kiệm cá nhân thông qua việc phát hành cổ phiếu.
    Cổ phiếu là loại chứng khoán có giá, bảo đảm cho người sở hữu nó được quyền nhận một phần thu nhập của công ty dưới hình thức lợi tức cổ phiếu hay cổ tức. Lợi tức cổ phiếu phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty, cổ phiếu sẽ mất giá trị khi công ty phá sản.
    Cổ phiếu được mua bán trên thị trường theo giá cả gọi là thị giá cổ phiếu. Thị giá cổ phiếu phụ thuộc vào lợi tức cổ phiếu và tỷ suất lợi tức tiền gửi ngân hàng.
    Thị giá cổ phiếu = Lợi tức cổ phiếu / Tỷ suất lợi tức ngân hàng
    Người mua cổ phiếu, cổ đông, về nguyên tắc, không được rút vồn mà chỉ có thể bán cổ phiếu. Cổ đông được quyền tham gia vào đại hội cổ đông để bầu ra hội đồng quản trị. Phiếu biểu quyết trong đại hội cổ đông được quy định theo số lượng cổ phiếu.
    Công ty cổ phần có thể huy động vốn theo 2 cách là phát hành cổ phiếu và phát hành trái phiếu. Trái phiếu cho chủ của nó quyền hưởng lợi tức và được hoàn trả vốn sau một thời hạn ghi trên trái phiếu và người mua trái phiếu không được quyền tham gia đại hội cổ đông.
    Việc ra đời và phát triển của công ty cổ phần là nguồn lợi lớn đối với các nhà tư bản. Nhờ nó mà tư bản được tập trung nhanh chóng và xuất hiện những xí nghiệp khổng lồ mà không một tư bản riêng lẻ nào đủ sức tạo nên. Đồng thời, nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển tư bản đầu tư, tăng tính linh hoạt và cạnh tranh trong nền kinh tế. Nếu bỏ qua tính chất tư bản chủ nghĩa của nó thì công ty cổ phần cũng góp phần huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong XH đưa vào sản xuất.
    2. Thị trường chứng khoán là thị trường mua bán các loại chứng khoán có giá. Ngoài cổ phiếu và trái phiếu, trên thị trường chứng khoán còn mua bán nhiều loại chứng khoán khác như công trái, kỳ phiếu, tín phiếu, văn tự cầm cố. Thị trường chứng khoán thường được thực hiện chủ yếu tại sở giao dịch chứng khoán và một phần ở ngân hàng lớn.
    Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các biến động kinh tế, chính trị, XH, quân sự… Do đó, nó là “phong vũ biểu” của nền kinh tế. Giá cả chứng khoán tăng biểu hiện nền kinh tế đang phát triển, ngược lại biểu hiện nền kinh tế đang sa sút, khủng hoảng. Vì vậy, thị trường chứng khoán có vai trò rất quan trọng để đánh giá nền kinh tế.

    Câu 37:

    Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa?

    Bài làm:
    Trong chủ nghĩa tư bản, nông nghiệp cũng trở thành một lĩnh vực đầu tư kinh doanh mang lại lợi nhuận. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành trong nông nghiệp chủ yếu theo hai con đường: một là tiến hành cải cách để chuyển dần từ kinh tế địa chủ phong kiến sang kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa; hai là tiến hành cách mạng tư sản xoá bỏ kinh tế địa chủ phong kiến, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.
    Đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp là chế độ độc quyền sở hữu và độc quyền kinh doanh ruộng đất. Quan hệ sản xuất đối với ruộng đất gồm ba giai cấp: địa chủ (độc quyền sở hữu ruộng đất), tư bản kinh doanh nông nghiệp (độc quyền kinh doanh ruộng đất) và công nhân nông nghiệp.
    Sự xuất hiện của tư bản kinh doanh nông nghiệp đã dẫn đến hình thành địa tô tư bản chủ nghĩa. Địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất. Nói cách khác, địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà kinh doanh nông nghiệp phải trả cho địa chủ để được quyền sử dụng ruộng đất.

    Bài 38:

    Trình bày sự hình thành địa tô chênh lệch. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.

    Bài làm:
    Nông nghiệp khác với công nghiệp ở chỗ: số lượng ruộng đất có giới hạn, độ màu mỡ, vị trí địa lý của ruộng đất là không giống nhau, điều kiện thời tiết, khí hậu ít biến động, nhu cầu hàng hoá nông phẩm ngày càng tăng… Điều này buộc xã hội phải canh tác cả trên những ruộng đất có điều kiện xấu nhất. Vì vậy mà giá cả hàng hoá nông phẩm được hình thành trên cơ sở điều kiện sản xuất xấu nhất chứ không phải là điều kiện sản xuất trung bình như trong sản xuất công nghiệp. Khi đó, sản xuất trên ruộng đất có điều kiện tốt hoặc trung bình sẽ sinh ra lợi nhuận siêu ngạch, tồn tại thường xuyên, ổn định và hình thành nên địa tô chênh lệch.
    Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợ nhuận bình quân thu được trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên những ruộng đất tốt và trung bình.
    Địa tô chênh lệch chia làm hai loại là địa tô chênh lệch loại I (thu được do canh tác trên những ruộng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi) và địa tô chênh lệch loại II (thu được nhờ thâm canh tăng vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trên cùng một đơn vị diện tích).
    Việc nghiên cứu vấn đề địa tô chênh lệch có ý nghĩa rất quan trọng. Nó giúp cho việc sử dụng nguồn lực đất đai của đất nước có hiệu quả hơn.

    Câu 41:

    Phân tích tính tất yếu khách quan và lợi ích của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.

    Bài làm:
    1. Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế được đặc trưng bởi hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất và tồn tại dưới những hình thức tổ chức kinh tế nhất định, trong đó căn cứ vào quan hệ sản xuất mà hạt nhân là quan hệ sở hữu để xác định từng thành phần cụ thể. Sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa XH và là tất yếu khách quan.
    Về mặt cơ sở thực tiễn, điều đó là tất yếu khách quan bởi vì trong nền kinh tế lúc này còn tồn tại một số thành phần kinh tế của phương thức sản xuất cũ (kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân…) để lại. Chúng vẫn đang có tác dụng đối với sự phát triển lực lượng sản xuất. Bên cạnh đó, một số thành phần kinh tế mới cũng được hình thành trong quá trình cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước).
    Về mặt cơ sở lý luận, suy cho cùng, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa XH ở nước ta là do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, trình độ lực lượng sản xuất còn rất thấp và không đồng đều giữa các ngành, các vùng… nên tất yếu còn tồn tại nhiều loại hình, hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
    2. Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là động lực thúc đẩy, kích thích sự phát triển lực lượng sản xuất XH bởi vì nó tạo ra được sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất dẫn đến việc đẩy mạnh năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế.
    Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cũng là cơ sở để phát triển nền kinh tế định hướng XHCN ở nước ta. Dưới tác động của các quy luật kinh tế và sự điều tiết, quản lý của Nhà nước, nền kinh tế này có tác dụng phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời, tạo điều kiện cho mọi công dân tự do lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thực hiện quyền dân chủ về kinh tế theo pháp luật.
    Cuối cùng, sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần đáp ứng được lợi ích kinh tế của các giai cấp, tầng lớp XH, có tác dụng khai thác sử dụng các nguồn lực, các tiềm năng đất nước như sức lao động, vốn, tài nguyên… để tăng trưởng kinh tế nhanh và có hiệu quả cao.

    Câu 42:

    Phân tích đặc điểm, vị trí, xu hướng vận động và phát triển của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa XH ở nước ta.

    Bài làm:
    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta có 6 thành phần kinh tế.
    1. Đầu tiên là thành phần kinh tế Nhà nước.
    Đây là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất do Nhà nước đứng ra đại diện làm chủ sở hữu.
    Thành phần kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các tài nguyên quốc gia và tài sản thuộc sở hữu nhà nước như đất đai, hầm mỏ, rừng, biến, ngân sách, các quỹ dự trữ quốc gia, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – XH, phần vốn góp của Nhà nước vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt ở các ngành, các lĩnh vực kinh tế và địa bàn quan trọng của đất nước.
    Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Điều này được thể hiện ở chỗ:
    Các doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả kinh tế – XH và chất hành pháp luật.
    Hai là kinh tế nhà nước là chỗ dựa để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế theo định hướng XHCN, hỗ trợ và lôi cuốn các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng XHCN.
    Cuối cùng, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân XHCN.
    2. Thứ hai là thành phần kinh tế tập thể.
    Thành phần kinh tế tập thể là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất (bao gồm các quỹ sử dụng chung trong hợp tác xã và phần vốn góp của các thành viên).
    Kinh tế tập thể tồn tại dưới các hình thức hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao, trong đó các hợp tác xã đóng vai trò nòng cốt; liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn hoạt động.
    Hợp tác xã được hình thành trên cơ sở vốn góp cổ phần và tham gia lao động trực tiếp của xã viên. Việc phân phối trong hợp tác xã tuân theo kết quả lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của hợp tác xã là tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ.
    Nhà nước sẽ giúp đỡ hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng thị trường, xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã.
    3. Thứ ba là thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ.
    Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất. Trong kinh tế cá thể, nguồn thu nhập hoàn toàn dựa vào lao động và vốn của bản thân, gia đình còn trong kinh tế tiểu chủ, nguồn thu nhập vẫn dựa chủ yếu vào lao động, vốn của bản thân và gia đình nhưng có thuê thêm người lao động (ít hơn 10 người).
    Ở nước ta hiện nay, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp nên thành phần kinh tế này vẫn còn có vai trò to lớn trong nhiều ngành nghề và ở khắp trên địa bàn cả nước. Nó có tiềm năng to lớn tong việc sử dụng và phát huy hiểu quả vốn, sức lao động, các kinh nghiệm sản xuất. Tuy nhiên, thành phần kinh tế này có hạn chế ở tính tự phát, manh mún, chậm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ.
    Vì vậy, hiện nay, Nhà nước cần tạo điều kiện để thành phần kinh tế này phát triển. Đồng thời, Nhà nước cần hướng dẫn nó dần dần vào kinh tế tập thể một cách tự nguyện hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã.
    4. Thành phần kinh tế tiếp theo là kinh tế tư bản tư nhân.
    Đây là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và quan hệ thuê mướn, bóc lột công nhân làm thuê.
    Ở nước ta hiện nay, thành phần kinh tế này còn có vai trò đáng kể để phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất, giải quyết việc làm, khai thác các nguồn vốn và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội khác.
    Chính vì vậy, Nhà nước, một mặt, cần khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm. Mặt khác, Nhà nước cần tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả. Về lâu dài, Nhà nước có thể hướng thành phần này đi vào kinh tế tư bản nhà nước dưới những hình thức khác nhau.
    5. Thành phần kinh tế thứ năm là thành phần kinh tế tư bản nhà nước.
    Nó dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước dưới các hình thức hợp tác liên doanh.
    Thành phần kinh tế này có khả năng to lớn trong việc huy động vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý tiên tiến vì lợi ích của bản thân kinh tế tư bản tư nhân và phát triển kinh tế của đất nước. Nó còn có vai trò đáng kể trong việc giải quyết việc làm và tăng trưởng kinh tế.
    Sự tồn tại của thành phần kinh tế này là rất cần thiết. Nó cần được phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ quá độ ở nước ta.
    6. Cuối cùng, đó là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
    Thành phần này dựa trên hình thức sở hữu hầu như tuyệt đối là vốn của nước ngoài: vốn đầu tư trực tiếp FDI, viện trợ nước ngoài ODA…
    Trong những năm gần đây, tỷ trọng của thành phần kinh tế này tăng lên đáng kể và vai trò của nó đối với kinh tế nhà nước cũng ngày càng lớn.
    Đối với thành phần kinh tế này, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích phát triển, cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -XH gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm.

    Câu 43:

    Kinh tế nhà nước là gì? Thế nào là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước? Những giải pháp chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò đó?

    Bài làm:
    1. Thành phần kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất do Nhà nước đứng ra đại diện làm chủ sở hữu.
    Thành phần kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các tài nguyên quốc gia và tài sản thuộc sở hữu nhà nước như đất đai, hầm mỏ, rừng, biến, ngân sách, các quỹ dự trữ quốc gia, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – XH, phần vốn góp của Nhà nước vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt ở các ngành, các lĩnh vực kinh tế và địa bàn quan trọng của đất nước.
    2. Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Điều này được thể hiện ở chỗ:
    Các doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả kinh tế – XH và chất hành pháp luật.
    Hai là kinh tế nhà nước là chỗ dựa để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế theo định hướng XHCN, hỗ trợ và lôi cuốn các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng XHCN.
    Cuối cùng, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân XHCN.
    3. Để thực hiện vai trò trên, kinh tế nhà nước cần thực hiện nhiều giải pháp:
    – Kinh tế nhà nước phải tiên phong trong việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế, giữ vững và củng cố vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân.
    – Có nhiều hình thức hỗ trợ, hợp tác với các thành phần kinh tế khác.
    – Thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, theo đúng đinh hướng xã hội của Đảng và Nhà nước.
    – Nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, chống lại mọi âm mưu của các thế lực phản động, phá hoại, tránh phụ thuộc vào các thế lực ngoài nước.
    ——————————————————
    Chú ý một chút: Phần 3 của câu 43 này là một phần liên hệ thực tế. Mình không chắc là đủ và đúng chưa nên các bạn chỉ nên tham khảo và rất mong nhận được góp ý.

    Bài viết này được chỉnh sửa bởi paradox: 02 Jan 2005 – 03:06 AM

    Câu 44:

     Phân tích mục tiêu, các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta?

    Bài làm:
    Công nghiệp hoá theo nghĩa tổng quát nhất là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp, thực chất là chuyển từ nền kinh tế dựa trên nông nghiệp là chính sang nền kinh tế dựa trên công nghiệp là chính, chuyển lao động nông nghiệp và thủ công sang lao động công nghiệp sử dụng máy móc là chính.
    Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là xây dựng nước ta thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển lực lượng sản xuất, có đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
    Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đưa ra những quan điểm cơ bản sau:
    – Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá.
    – Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước có khả năng sản xuất có hiệu quả.
    – Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.
    – Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội.
    – Khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kết hợp công nghiệp truyền thống với công nghiệp hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định, cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước đi tuần tự, vừa có bước nhảy vọt.
    – Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư vào công nghệ.
    – Kết hợp kinh tế với an ninh quốc phòng.

    Câu 45:

    Phân tích tính tất yếu và tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.

    Bài làm:
    Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất XH, phù hợp với trình độ kỹ thuật (công nghệ) tương ứng mà lực lượng lao động XH sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu XH. Cơ sở vật chất kỹ thuật phát triền đến một trình độ nhất định để làm đặc trưng cho phương thức sản xuất. Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất kỹ thuật của một phương thức sản xuất là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và tính chất của quan hệ sản xuất thống trị. Mỗi phương thức sản xuất chỉ được xác định trên cơ sở nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển.
    1. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là một tất yếu khách quan. Bởi vì:
    Đặc trưng của cơ sở vật chất kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là các công cụ lao động thủ công, lạc hậu. Còn đặc trưng của cơ sở vật chất kỹ thuật thời kỳ chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá. Do vậy, chủ nghĩa xã hội, giai đoạn thấp của phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa, đòi hỏi phải có một cơ sở vật chất kỹ thuật cao hơn chủ nghĩa tư bản về cả hai mặt: trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại. Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa XH là nền công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hoá cao dựa trên trình độ khoa học công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
    Chính vì vậy, từ chủ nghĩa tư bản hay trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
    Đối với các nước quá độ lên chủ nghĩa XH từ chủ nghĩa tư bản, dù cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản có tiến bộ đến đâu cũng chưa là cơ sở kỹ thuật của chủ nghĩa XH. Các nước này vẫn phải tiếp tục tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến hành cách mạng XHCN về quan hệ sản xuất. Còn các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội như nước ta, xây dựng cơ sở vật chất phải tiến hành từ đầu, từ không đến có thông qua công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
    Việc tiến hành thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là yếu tố quyết định tới sự phát triển về chất của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội, đối với việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội và đối với sự thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội.
    2. Thực hiện đúng đắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ có tác dụng to lớn về nhiều mặt trong sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước:
    – Góp phần phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sức chế ngự của con người đối với thiên nhiên, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Từ đó, góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
    – Nâng cao năng lực quản lý và vai trò của Nhà nước, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và giúp cho sự phát triển, tự do, toàn diện của con người trong mọi hoạt động kinh tế – xã hội.
    – Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học công nghệ phát triển nhanh đạt trình độ tiên tiến hiện đại.
    – Tăng cường lực lượng vật chất kỹ thuật cho quốc phòng an ninh; đảm bảo đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ngày càng được cải thiện.
    – Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Từ đó, tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế.
    Tóm lại, công nghiệp hoá, hiện đại hoá có tác dụng và ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại… là nhiệm vụ trung tâm” trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    Câu 46:

    Phân tích nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    Bài làm:
    Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có hai nội dung cơ bản:
    1. Đó là thực hiện cuộc cách mạng khoa học – công nghiệp để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
    Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tất yếu phải thông qua cách mạng khoa học công nghệ.Trong điều kiện thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng công khoa học công nghệ và điều kiện cơ cấu kinh tế mở, cuộc cách mạng khoa học công nghệ nước ta cần phải bao hàm cả hai cuộc các mạng khoa học công nghệ trên.
    Chính vì vậy, khoa học công nghệ được xác định là có vị trí then chốt, là quốc sách hàng đầu và cuộc cách mạng công nghệ của nước ta hiện nay cần phải thực hiện hai nhiệm sau đây:
    – Một là xây dựng thành công cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội để dựa vào đó mà trang bị công nghệ hiện đại cho các ngành kinh tế quốc gia.
    – Hai là tổ chức nghiên cứu, thu nhập thông tin, phổ biến ứng dụng những thành tựu mới trong khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, đời sống với những hình thức, bước đi, quy mô thích hợp.
    Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cách mạng khoa học công nghệ, chúng ta cần chú ý những điểm sau:
    – Ứng dụng thành tựu mới, tiên tiến về khoa học công nghệ, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và từng bước phát triển nền kinh tế tri thức.
    – Sử dụng công nghệ mới gắn với yêu cầu tạo nhiều việc làm, tốn ít vốn, giữ được nghề truyền thống, kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại..
    – Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ; kết hợp phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, xây dựng mới, cải tạo cũ, thực hiện tiết kiệm, hiệu quả.
    – Kết hợp các loại quy mô lớn, vừa và nhỏ cho thích hợp, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, coi trọng hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế – xã hội.
    2. Đó là xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội.
    Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành, cùng với vị trí, tỷ trọng và quan hệ tương tác phù hợp giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế quốc dân. Cơ cấu kinh tế theo nghĩa rộng được xem xét ở ba góc độ: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế trong đó cơ cấu ngành kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt, là bộ xương của cơ cấu kinh tế.
    Việc xây dựng cơ cấu kinh tế là yêu cầu cần thiết và khách quan của mỗi nước trong thời kỳ công nghiệp hoá. Xây dựng một cơ cấu kinh tế được gọi là tối ưu khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau:
    – Phản ánh được và đúng các quy luật khách quan, nhất là các quy luật kinh tế.
    – Phù hợp với xu hướng tiến bộ của khoa học và công nghệ trên thế giới.
    – Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của từng ngành, từng thành phần kinh tế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
    – Thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng sản xuất và đời sống ngày càng được quốc tế hoá. Cơ cấu kinh tế phải được tạo dựng là “cơ cấu mở”.
    – Cơ cấu kinh tế của giai đoạn trước phải tạo đà cho giai đoạn sau và phải được bổ sung, hoàn thiện dần trong quá trình phát triển.
    Ở nước ta hiện nay, Đảng đã xác định cần tập trung xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý mà nòng cốt là cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp – dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng. Cơ cấu này trong thời kỳ quá độ ở nước ta lên được thực hiện theo phương châm: Kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ mũi nhọn tiên tiến, lấy quy mô vừa và nhỏ làm chủ yếu, giữ được tốc độ phát triển hợp lý…
    Từ sản xuất nhỏ đến sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa tất yếu phải phân công lại lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá lao động, tức là chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành, trong nội bộ ngành và giữa các vùng trong nền kinh tế. Nó là đòn bẩy của sự phát triển công nghệ, năng suất lao động. Cùng với cách mạng khoa học công nghệ, nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý.
    Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự phân công lại lao động xã hội phải tuân thủ các quá trình có tính quy luật:
    – Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm, trong công nghiệp và dịch vụ tăng.
    – Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn.
    – Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất (dịch vụ) tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
    Ở nước ta, phương hướng phân công lại lao động xã hội cần triển khai trên cả hai địa bàn: tại chỗ và di dân để phát triển về chiều rộng kết hợp với phát triển chiều sâu, trong đó cần ưu tiên địa bàn tại chỗ.

    Câu 48:

    Phân tích những điều kiện cần thiết để công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.

    Bài làm:
    Để thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay cần phải có 5 tiền đề – điều kiện cần thiết sau:
    1. Đầu tiên là vốn.
    Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ lại. Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính. Cống nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta hiện nay đòi hỏi phải có nhiều vốn, trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốn ngoài nước đóng vai trò chủ đạo.
    Vốn trong nước bao gồm các tài nguyên thiên nhiên, các tài sản được tích luỹ qua nhiều thế hệ, vị trí địa lý… Việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở hiệu quả sản xuất, nguồn của nó là lao động thặng dư của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Tăng năng suất lao động xã hội là con đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước.
    Vốn ngoài nước bao gồn các khoản đầu tư trực tiếp, vốn viện trợ, các khoản vốn vay tín dụng… Biện pháp cơ bản để thu hút được nguồn vốn ngoài nước là đẩy mạnh mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà kinh doanh nước ngoài.
    Hiện nay, ở nước ta, nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp nên phải tận dụng các nguồn vốn bên ngoài. Tuy nhiên, việc tạo nguồn vốn cần phải gắn chặt với việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.
    2. Thứ hai là nguồn nhân lực.
    Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp cách mạng của quần chúng mà trong đó lực lượng cán bộ khoa học công nghệ và các công nhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Do đó, trong quá trình phát triển, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải có đầy đủ nguồn nhân lực về số lượng, đảm bảo về chất lượng và có trình độ cao.
    Chính vì vậy, phải coi trọng việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng đi chính cho đầu tư phát triển; giáo dục, đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Phải có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên nguồn nhân lực, đồng thời phải sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo. Phải phát huy tiềm lực của mỗi người để góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
    3. Tiền đề thứ ba là khoa học công nghệ.
    Khoa học công nghệ được xác định là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nó quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng.
    Nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển nên tiềm lực về khoa học công nghệ còn yếu. Do đó, muốn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công với tốc độ nhanh, nhiệm vụ trước mắt cần được giải quyết là
    – Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
    – Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nắm bắt các công nghệ cao cùng những thành tựu mới về khoa học của thế giới; hướng mạnh vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường.
    – Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học tiên tiến bao gồm đẩy mạnh các hình thức đào tạo và sử dụng cán bộ, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành khoa học và công nghệ, có cơ chế chính sách tạo động lực cho sự phát triển khoa học công nghệ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công nghệ.
    4. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại cũng là một tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.
    Cuộc cách mạng khoa học công nghệ cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các nước. Vì thế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan, tạo ra khả năng và điều kiện để các nước đang phát triển có thể tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ… từ bên ngoài để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
    Tuy nhiên, để việc trên trở thành hiện thực, chúng ta cần phải có một đường lối kinh tế đúng đắn, vừa có hiệu quả kinh tế cao, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, vừa giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
    5. Cuối cùng là sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
    Đây là tiền đề quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Cong nghiệp hoá, hiện địa hoá là một cuộc đấu tranh gian khổ phức tạp. Đây là sự nghiệp của toàn dân nhưng cần có Đảng tiên phong, dày dạn kinh nghiệm, tự đổi mới không ngừng lãnh đạo và một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong sạch, vững mạnh và có hiệu lực quản lý thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có thể hoàn thành tốt đẹp.

    Câu 49:

    Phân tích những đặc điểm của kinh tế hàng hoá (kinh tế thị trường) ở nước ta hiện nay.

    Bài làm:
    Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế trong đó các quan hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường thông qua quan hệ trao đổi mua bán. Đây là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá dựa trên sự phát triển rất cap của lực lượng sản xuất. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, kinh tế thị trường có 4 đặc điểm sau:
    1. Nền kinh tế thị trường còn ở trình độ kém phát triển. Điều này thể hiện ở nhiều điểm như:
    Kết cấu hạ tầng vật chất và xã hội ở nước ta còn ở trình độ thấp, trình độ công nghệ lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ bé, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất còn thấp.
    Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả, mang nặng đặc trưng của một cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Ngành nghề chưa phát triển, phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất chưa sâu rộng, giao lưu hàng hoá còn nhiều hạn chế.
    Thứ ba là chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó. Thị trường nước ta mới đang trong quá trình hình thành, cơ cấu thị trường chưa đầy đủ, dung lượng thị trường còn ít, chưa có thị trường lao động đúng nghĩa, thị trường tiền tệ chưa phát triển, thị trường vốn còn sơ khai.
    Thứ tư, thu nhập quốc dân và thu nhập bình quân đầu người còn thấp nên sức mua hàng còn thấp, tỷ suất hàng hoá chưa cao.
    Thứ năm, kinh chế thị trường còn chịu ảnh hưởng lớn của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
    2. Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
    Các thành phần kinh tế tuy có bản chất kinh tế khác nhau nhưng chúng đều là những bộ phận của nền kinh tế quốc dân thống nhất với các quan hệ cung – cầu, tiền tệ…và đều là nội lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi đơn vị kinh tế là một chủ thể độc lập, tự chủ và tất cả đều bình đẳng trước pháp luật.
    Bên cạnh tính thống nhất, các thành phần kinh tế còn khác nhau và mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng phát triển theo những phương hướng khác nhau.
    Để bảo đảm cho việc định hướng nền kinh tế theo xã hội chủ nghĩa, khắc phục tính tự phát của khu vực tư nhân bên cạnh khuyến khích các thành phần kinh tế này phát triển theo định hướng XHCN, Nhà nước phải quan tâm, củng cố, xây dựng kinh tế nhà nước đủ mạnh để làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
    3. Nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế “mở”.
    Chính sách kinh tế đối ngoại của nền kinh tế hàng hoá nước ta hiện nay được thực hiện theo những định hướng sau:
    – Đa dạng hoá, đa phương hoá kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.
    – Đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội và phục vụ đắc lực mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xẫ hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
    – Tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế giới., kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy ý chí tự lực tự cường, dựa vào nguồn lực trong nước là chính kết hợp với việc tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài.
    4. Nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.
    Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế thị trường ở nước ta, làm cho nền kinh tế thị trường ở nước ta khác với những nền sản xuất hàng hoá giản đơn trước đây cũng như nền kinh tế thị trường ở các nước XHCN. Đặc điểm này cũng là mô hình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, có những đặc trưng riêng so với kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa:
    – Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân lao động gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
    – Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ thể và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội.
    – Về quản lý, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước sử dụng các công cụ pháp luật, kế hoạch, chiến lược… để phát huy tính tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động.
    – Về phân phối, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất cũng như thông qua phúc lợi xã hội. Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển.
    – Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, giáo dục, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực.
    Đây chính là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta tỏng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    Câu 50:

    Trình bày những điều kiện và chính sách phát triển kinh tế hàng hoá (kinh tế thị trường) ở nước ta.

    Bài làm:
    Để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp sau đây:
    1. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.
    Thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là một trong những điều kiện cơ sở để thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển. Các thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và nhiều thành phần kinh tế hỗn hợp khác đều cần được khuyến khích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, tất cả đều là nội lực của nền kinh tế quốc dân.
    2. Mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường.
    Phân công lao động là cơ sở của việc trao đổi hàng hoá. Do đó, để đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá cần phải mở rộng phân công lao động xã hội, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, gắn phân công lao động trong nước với phân công lao động quốc tế.
    Đồng thời, phải tiếp tục phát triển mạnh thị trường hàng hoá dịch vụ, hình thành thị trường sức lao động, xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành thị trường chứng khoán, từng bước đồng bộ các loại thị trường.
    3. Đẩy mạnh công tác nghiện cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
    So với thế giới, trình độ công nghệ sản xuất nước ta còn thấp kém, khả năng cạnh tranh hàng hoá của nước ta là rất yếu. Vì vậy, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá.
    Đồng thời, cần gấp rút xây dựng và củng cố các yếu tố của hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở để thu hút đầu tư của nước ngoài cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá trong cả nước.
    4. Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp, đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả.
    Giữ vững ổn định kinh tế chính trị giữ vai trò quan trọng. Nó là điều kiện để các nhà kinh doanh sản xuất trong và ngoài nước yên tâm và sẵn sàng đầu tư. Hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ tạo nên hành lang pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất. Còn đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, sử dụng hiệu quả các nguồn lựcquốc gia.
    5. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi.
    Chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ cho phù hợp với những mục tiêu phát triển kinh tế mới. Đồng thời, phải có phương hướng sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ đúng đắn nhằm kích thích việc không ngừng nâng cao trình độ, bản lĩnh của họ.
    6. Thực hiện chính sách đối ngoại có lợi cho phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    Để thực hiện có hiệu quả kinh tế đối ngoại, chúng ta phải đa dạng hoá hình thức, đa phương hoá đối tác, quán triệt nguyên tắc đội bên cùng có lợi, không cân thiệp vào nội bộ của nhau. Cải cách cơ chế quản lý xuất nhập khẩu để thu hút vốn, kỹ thuật, nhân tài và kinh nghiệm quản lý.
    Tóm lại, những giải pháp nói trên tác động qua lại với nhau, tạo nên sức mạnh thúc đẩy nền kình tế hàng hoá nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Câu 58:

    Trình bày tính tất yếu khách quan và các nguyên tắc phát triển các các quan hệ kinh tế quốc tế.

    Bài làm:
    1. Hiện nay, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đã và đang là xu hướng tất yếu đối với tất cả các nước vì các lý do cơ bản sau:
    – Việc mở rộng quan hệ kinh tế kinh tế đối ngoại bắt đầu từ yêu cầu của quy luật về sự phân công và hợp tác quốc tế giữa các nước, từ sự phân bố tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển không đều về trình độ phát triển kinh tế – kỹ thuật giữa các quốc gia dẫn đến xu thế hợp tác kinh tế để sử dụng có hiệu quả nguồn lực của mỗi quốc gia.
    – Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại làm cho quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế trở thành xu hướng tất yếu của thời đại. Một mặt, cách mạng khoa học công nghệ đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất vượt khỏi khuôn khổ quốc gia để trở thành lực lượng sản xuất mang tính quốc tế, thúc đẩy nhanh quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế, hình thành nền kinh tế thế giới như một chỉnh thể với nhiều quốc gia tham gia, hình thành thị trường quốc tế với giá cả quốc tế chi phối.
    Mặt khác, cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tạo ra các điều kiện để thúc đẩy quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế. Quốc tế hoá làm cho phân công lao động, hợp tác quốc tế giữa các nước ngày càng phát triển. Nó cũng đẩy mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các nước về nhiều mặt như nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ…, trong đó mỗi nước có những lợi thế riêng và đều tìm cách khai thác tối đa cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của mình. Đồng thời, quốc tế hoá cũng làm xuất hiện kết cấu hạ tầng sản xuất quốc tế và chi phí sản xuất quốc tế, giá cả quốc tế, thị trường quốc tế, chất lượng quốc tế. Do đó sẽ hoá tạo ra các điều kiện vật chất kỹ thuật để rút ngắn khoảng cách địa lý, không gian, thời gian giữa các quốc gia. Từ đó, thúc đẩy quá trình quốc tế hoá.
    Như vậy, khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế là một tất yếu khách quan. Nó đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực quốc tế và trong nước.
    2. Để mở rộng kinh tế đối ngoại có hiệu quả cần quán triệt những nguyên tắc phản ánh những thông lệ quốc tế, đồng thời đảm bảo lợi ích chính đáng về kinh tế, chính trị của đất nước.
    Nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc bình đẳng. Đây là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung. Nguyên tắc này trước hết phải được thể hiện ở việc đảm bảo lợi ích kinh tế, chính trị của các bên.
    Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc cùng có lợi. Để thực hiện nguyên tắc này cần phải nâng cao trình độ hiểu biết về các lĩnh vực ký kết thông qua việc xây dựng các điều khoản quy định quyền lợi, trách nhiệm của các bên trong các hợp đồng.
    Nguyên tắc tiếp theo là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia bởi vì mỗi quốc gia với tư cách là quốc gia độc lập đều có chủ quyền về kinh tế, chính trị, xã hội và địa lý. Đây cũng là nguyên tắc để đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
    Thứ tư là nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Mọi hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại đều phải hướng vào mục tiêu độc lập tự chủ và chủ nghĩa xã hội.

    Câu 59:

    Phân tích các hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế.

    Bài làm:
    Có sáu hình thức kinh tế đối ngoại.
    1. Hình thức đầu tiên là hình thức hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao gồm gia công, xây dựng xí nghiệp chung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất quốc tế…
    Nhận gia công cho nước ngoài là một hình thức tốt, tận dụng được nguồn lao động, tạo nhiều việc làm và tận dụng công suất máy móc hiện có.Nhưng, muốn mở rộng việc nhận gia công cho nước ngoài phải chọn những gì thế giới cần chứ không phải là những gì mà chủ quan ta mong muốn.
    Xí nghiệp chung hay hỗn hợp là kiểu tố chức xí nghiệp công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và tổ chức tài chính – tín dụng. Về mặt pháp lý, xí nghiệp chung thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số vốn góp của các thành viên. Các xí nghiệp này thường được ưu tiên xây dựng ở những ngành nghề kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện cho Nhà nước tiết kiệm ngoại tệ.
    Do phân công lao động quốc tế tất yếu dẫn đến hợp tác quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá, có thể là chuyên môn hoá giữa những ngành khác nhau hay chuyên môn hoá trong cùng một ngành. Hình thức này làm cho cơ cấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết, phụ thuộc lẫn nhau.
    2. Hình thức hợp tác khoa học kỹ thuật.
    Hình thức này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân…
    Đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, phương tiện vật chất kỹ thuật còn thiếu, đội ngũ cán bộ mỏng, vốn đầu tư nghiên cứu ít thì việc hợp tác khoa học kỹ thuật có nghĩa nghĩa rất quan trọng, giúp các nước này nhanh chóng rút ngắn khoảng cách lạc hậu về khoa học kỹ thuật với các nước phát triển.
    3. Ngoại thương hay thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia.
    Ngoại thương có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với những quốc gia đang phát triển nhằm góp phần làm tăng của cải và sức mạnh tổng hợp của mỗi nước. Nó là một động lực của sự tăng trưởng kinh tế quốc dân, nâng cao trình độ công nghệ và ngành nghề trong nước, “điều tiết thừa, thiếu” của mỗi nước, tạo điều kiện giao dịch việc làm cho người lao động trong nước.
    Nội dung cơ bản của ngoại thương bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên trong điểm trong ngoại thương các nước.
    Trong hoạt động ngoại thương ở nước ta hiện nay cần hướng vào giải quyết các vấn đề:
    – Tăng kim ngạch xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.
    – Chính sách nhập khẩu phải tập trung vào việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phục vụ chiến lược hướng mạnh vào sản xuất đồng thời thay thế nhập khẩu những mặt hàng có thể sản xuất hiệu quả ở trong nước.
    – Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính sách thương mại tự do và chính sách bảo hộ thương mại.
    – Hình thành tỷ giá hối đoái một cách chủ động, hợp lý.
    4. Hình thức đầu tư quốc tế là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên có quốc tịch khác nhau cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia.
    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư. Một mặt làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý, tạo việc làm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới. Mặt khác, đối với các nước kém phát triển, nó sẽ làm tăng sự phân hoá giữa các gioai cấp trong xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, tăng tính phụ thuộc vào bên ngoài.
    Có hai hình thức đầu tư quốc tế:
    Đầu tư trực tiếp (FDI) là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng quản lý vốn của người đầu tư thông nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả và rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận. Đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức như hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, xí nghiệp liên doanh….
    Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà quyền sử hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn đầu tư không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới dạng lợi tức cho vay hoặc lợi tức cổ phần. Trong các hình thức đầu tư gián tiếp thì vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) là bộ phận quan trọng nhất bao gồm các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi khác.
    5.Hình thức tín dụng quốc tế.
    Đây là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, các cá nhân trong nước với các chính phủ, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các cá nhân ngoài nước, trong đó với các tổ chức ngân hàng thế giới và ngân hàng khu vực là chủ yếu.
    Tín dụng quốc tế được thể hiện dưới nhiều hình thức như vay nợ bằng tiền tệ, vàng, công nghệ, hàng hóa hoặc thông qua hình thức đầu tư trực tiếp.
    Vốn tín dụng quốc tế thường dùng để mở rộng sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng – những khu vực vốn đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm nhưng cần phải được sử dụng có hiệu quả.
    6. Cuối cùng là các hình thức thu ngoại tệ và du lịch quốc tế.
    Các hình thức thu ngoại tệ chủ yếu là du lịch quốc tế (bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch, cung cấp các dịch vụ như ăn uống, nghỉ ngơi, thăm quan, lưu niệm… cho du khách), vận tải quốc tế (sử dụng các phương thức đường biển, đường bộ, đường không… trong đó vận tải đường biển có vai trò quan trọng nhất), xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ (đáp ứng nhu cầu lao động ở những ngành khó cơ giới hoá, tự động hoá hoặc cần nhiều lao động) và nhiều dịch vụ khác (dịch vụ ăn uống, tư vấn, thông tin bưu điện…)
    Đối với Việt Nam, việc phát triển nhanh các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ đem lại lợi ích cả trước mắt lẫn lâu dài.

    Câu 60:

    Phân tích khả năng và các chính sách phát triển quan hệ kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay.

    Bài làm:
    Để thực hiện mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại cần thực hiện đồng thời hàng loạt các giải pháp, trong đó chủ yếu là các giải pháp dưới đây:
    1. Đầu tiên là đảm bảo sự ổn định về môi trường chính trị, kinh tế, xã hội bởi vì môi trường chính trị, kinh tế xã hội là nhân tố cơ bản, có tính quyết định tới hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài.
    2. Hai là phải xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế tri thức đang hình thành và từng bước phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội càng đóng vai trò quan trọng và yêu cầu chất lượng ngày càng cao, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật mà trước hết là hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải.
    3. Ba là tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với kinh tế đối ngoại. Nếu thiếu sự quản lý của Nhà nước, kinh tế đối ngoại không thể mở rộng và mang lại hiệu quả cao, thậm chí dẫn đến những hậu quả khó lường không chỉ về kinh tế mà còn về cả chính trị.
    4. Bốn là có chính sách thích hợp đối với từng hình thức kinh tế đối ngoại. Đây là giải pháp quan trọng nhằm phát triển đa dạng có hiệu quả kinh tế đối ngoại. Một mặt phải mở rộng các hình thức kinh tế đối ngoại, mặt khác phải sử dụng linh hoạt phù hợp với điều kiện cụ thể.
    5. Cuối cùng là việc xây dựng đối tác và tìm kiếm đối tác trong quan hệ kinh tế đối ngoại.. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp và cần được xử lý linh hoạt. Đối với việc xây dựng đối tác trong nước, phải từng bước xây dựng các đối tác mạnh có tầm cỡ quốc tế, đóng vai trò đầu tàu trong quan hệ kinh tế quốc tế. Việc lựa chọn đối tác thích hợp cũng là một vấn đề rất quan trọng. Trong tương lai và lâu dài, cần quan tâm hơn đến các công ty xuyên quốc gia vì đây là nguồn lực quốc tế lớn mà chúng ta cần khai thác.
    Tóm lại, 5 giải pháp nói trên tuy có vị trí khác nhau nhưng sự phân định chỉ có ý nghĩa tương đối. Để mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên để tạo ra sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại của nền kinh tế nước ta.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Đề Cương Ôn Tập Câu hỏi tình huống ôn thi Luật kinh tế (có đáp án)

    Đề Cương Ôn Tập Câu hỏi tình huống ôn thi Luật kinh tế (có đáp án)

    Đề Cương Ôn Tập Câu hỏi tình huống ôn thi Luật kinh tế (có đáp án)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Những bài tập tình huống kinh tế hay dành cho sinh viên chuyên ngành


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-C%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-t%C3%ACnh-hu%E1%BB%91ng-%C3%B4n-thi-Lu%E1%BA%ADt-kinh-t%E1%BA%BF-c%C3%B3-%C4%91%C3%A1p-%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Câu hỏi tình huống ôn thi Luật kinh tế (có đáp án)

    Câu hỏi tình huống ôn thi Luật kinh tế (có đáp án)

    Câu 1:

    Công ty TNHH 2 thành viên có 2 thành viên góp vốn, hoạt động được 2 năm. Nay có 1 nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia góp vốn vào để tăng quy mô hoạt động của công ty, vậy công ty có nên chuyển sang loại hình là công ty cổ phần hay CT TNHH được hay không? nếu có thành viên góp vốn mới gia nhập vaò công ty thì việc phân chia tỷ lệ vốn góp và định giá thương hiệu của công ty hoạt động được 2 năm qua giải quyết như thế nào?

    Giải:

    • tình huống này chúng ta có thể dựa vào những căn cứ pháp luật sau: + Luật đầu tư 2005, Điều 21, Khoản 2:

    “Điều 21. Các hình thức đầu tư trực tiếp

    1. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài“.

    + Luật doanh nghiệp 2005, Điều 77, Khoản 1, Điểm b:

    “ Điều 77. Công ty cổ phần:

    1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
    1. b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa “

    Nhu vậy, công ty TNHH được quyền chuyển sang loại hình Công ty cổ phần, do số thành viên lớn hơn 1 nên không được chuyển sang mô hình Công ty TNHH 1 TV, việc nên hay không là do chiến lược kinh doanh của công ty. Công ty cổ phần là loại hình Doanh nghiệp mở, duy động vốn linh hoạt, nhưng công ty TNHH cũng có những ưu thế nhất định của nó. Trong trường hợp này, công ty tăng vốn theo bằng cách tiếp nhận them thành viên mới, việc phân chia tỷ lệ góp vốn và định giá thương hiệu công ty được quy định trong điều lệ công ty, do các thành viên tự thỏa thuận, hoặc có thể thông qua các tổ chức định giá trên thị trường.

    Câu 2:

    Tình huống góp vốn thành lập Công ty TNHH: Tuấn, Thành, Hưng, Hoàng quyết định thành lập cty TNHH với vốn

    điều lệ 2 tỷ đồng, và được cấp giấy CNĐKKD vào tháng 7/2006. Trong bản cam kết góp vốn: – Tuấn góp 200 triệu bằng tiền mặt; – Thành góp vốn bằng ngôi nhà của mình và được các thành viên thỏa thuận định giá là 1 tỷ, mặc dù hiện tại có giá khoảng 500 triệu (vì theo quy hoạch đến cuối 2006 sẽ có 1 con đường lớn mở trước nhà; – Hưng góp 400 triệu bằng tiền mặt, nhưng lúc đầu chỉ góp 300 triệu, phần còn lại sẽ góp khi nào cty cần – Hoàng góp bằng Giấy xác nhận nợ của Cty Trần Anh với số nợ 500 triệu, với thời hạn là ngày 31/12/2006, được các thành viên định giá là 400 triệu. Đến 31/12/2006, cty Trần Anh chỉ trả được 300 triệu, phần còn lại không đòi được. Mặc dù cuối năm 2006, con đường đã làm xong, nhưng do thị trường BĐS đóng băng nên giá ngôi nhà của Thành không có gì biến động Cuối 2006, cty chưa lần nào yêu cầu Hưng góp phần vốn còn thiếu. Tháng 3 năm 2007, cty lãi ròng 400 triệu đồng. Hội đồng thành viên họp để chia lợi nhuận, các thành viên không thống nhất được với nhau, họ cho rằng việc chia phải tính theo số vốn thực tế đã góp, nên xảy ra tranh chấp giữa các thành viên. Với tư cách là thẩm phán giải quyết vụ việc này, bạn hãy cho biết:

    1. Việc góp vốn bằng giấy xác nhận nợ có hợp pháp hay không?
    1. Việc định giá tài sản cao hơn thực tế tại thời điểm góp vốn có hợp pháp không? Những vấn đề đặt ra khi không đòi được nợ là gì?
    1. Trong trường hợp mới góp 1 phần vốn theo cam kết, thì có được chia lợi nhuận theo phần vốn cam kết góp hay không?
    1. a) Việc góp vốn bằng giấy xác nhận nợ có hợp pháp hay không?

    Trả lời:

     

    Theo khoản 4 điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 thì: “4. Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.

    • Vì vậy nếu điều lệ công ty có quy định và các thành viên trong công ty đều thỏa thuận chấp nhận việc góp vốn bằng giấy nhận nợ tại thời điểm góp vốn thì hợp pháp.
    1. Việc định giá tài sản cao hơn thực tế tại thời điểm góp vốn có hợp pháp không? Những vấn đề đặt ra khi không đòi được nợ là gì?

    Trả lời:

    Theo điều 30 luật doanh nghiệp 2005 quy định về định giá tài sản góp vốn:

    1. Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.

    1. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.

     

    1. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.”
    • Vì vậy việc định giá ngôi nhà cao hơn thực tế tại thời điểm góp vốn là hợp pháp và các thành viên liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá (chênh lệnh 500 triệu).

    Hoàng góp bằng Giấy xác nhận nợ của Cty Trần Anh với số nợ 500 triệu, với thời hạn là ngày 31/12/2006, được các thành viên định giá là 400 triệu. Đến 31/12/2006, cty Trần Anh chỉ trả được 300 triệu, phần còn lại không đòi được. Do các thành viên chấp nhận định giá tài sản góp vốn và cam kết góp vốn của Hoàng là 400 triệu nên khi công ty Trần Anh vì lý do nào đó ( Phá sản) không đòi được nợ thì phần chênh lệch chưa góp đủ được coi là khoản nợ của Hoàng với công ty. Do vậy Hoàng phải góp thêm 100 triệu, nếu không góp thì các thành viên còn lại sẽ thực hiện theo khoản 3 Điều 39 và có thể đăng ký giảm vốn điều lệ theo Điều 60 Luật Doanh nghiêp 2005 và khi đó Hoàng sẽ không còn là thành viên của công ty.

    1. Trong trường hợp mới góp 1 phần vốn theo cam kết, thì có được chia lợi nhuận theo phần vốn cam kết góp hay không? Trả lời:

    Việc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh sẽ được quy định cụ thể theo nội dung điều lệ công ty (Khoản 12 Điều 22). Nếu điều lệ không quy định rõ thì việc phân chia lợi nhuận (sau thuế và các nghĩa vụ tài chính khác) sẽ được thực hiện theo tỷ lệ số vốn góp của thành viên công ty theo điểm d Khoản 1 Điều 41 Luật Doanh Nghiệp 2005 “d) Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;”. Ở đây, do luật và nghị định hướng dẫn thi hành không quy định cụ thể số vốn góp là số vốn thực góp hay số vốn cam kết góp nên các thành viên của công ty thường ghi nhận số vốn góp là số vốn cam kết góp của

    mình nhằm mục đích tăng vốn điều lệ nên nghị định 102 đã ra đời và bắt buộc số vốn góp ở đây phải là số vốn thực góp nhằm đảm bảo sự công bằng trong việc biểu quyết cũng như phân chia lợi nhuận giữa các thành viên.

    Câu 4:

    A, B, C, D cùng góp vốn thành lập công ty TNHH X, vốn điều lệ 5 tỷ đồng. A góp 800 triệu đông, B góp vốn bằng giấy nợ của CTCP TM (một đối tác tiềm năng của công ty X mà B có quan hệ chặt chẽ) với số tiền là 1,2 tỷ đồng; C góp vốn bằng ngôi nhà của mình được các thành viên thỏa thuận định giá 1,5 tỷ đồng, do tin chắc con đường trước nhà đó sẽ được mỏ rộng theo mặt bằng giá hiện tại nhà đó chỉ khoảng 700 triệu đồng); D góp vốn bằng 1,5 tỷ đồng bằng tiền mặt, nhưng lúc đầu chỉ góp 500 triệu, só còn lại sẽ góp khi công ty yêu cầu. Trong bản điều lệ, họ thỏa thuận B làm giám đốc, D làm chủ tịch HĐTV. Sau 1 năm hoạt động, công ty có lãi ròng 800 triệu. Tuy nhiên các thành viên không thống nhất thể thức phân chia. B cho rằng do D chưa góp đủ vốn nên tỷ lệ lợi nhuận phải chia trên số vốn thực góp là 500 triệu. D không đồng ý và phản bác rằng phần vốn góp của B bằng giấy nhận nợ trong công ty là không hợp pháp; phần góp vốn của C cao hơn giá trị thực tế, nên C chỉ được chia lãi trên số vốn thực góp là 700 triệu. Vụ tranh chấp được khởi kiện tại tòa. Tòa án xử lý như thế nào? Được biết cty TM đã thanh toán được 50% số nợ và hiện tại đang làm thủ tục phá sản và không thể đòi được 50% còn lại. Ai chịu trách nhiệm về số nợ 50% đó?

    Giải:

    Về vần đề: “B cho rằng do D chưa góp đủ vốn nên tỷ lệ lợi nhuận phải chia trên số vốn thực góp là 500 triệu”: Nghị định 102/2010/NĐ-CP, Điều 8, khoản 3 quy định về thực hiện góp vốn và các quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên như sau: “Trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác”. Như vậy, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì D sẽ được chia lợi tức tương ứng với số vố thực góp là 500 triệu.

    Về vấn đề: B góp vốn bằng giấy nhận nợ: theo Luật Doanh Nghiệp 2005, Điều 4, khoản 4 giải thích về việc góp vốn và tài sản góp vốn như sau: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”. Trong tình huống này, bạn không đề cập đến nội dung chi tiết trong Bản điều lệ của công ty nên việc B góp vốn bằng giấy nhận nợ là hợp pháp nếu được sự đồng ý của các thành viên còn lại và được ghi vào Bản điều lệ của công ty.

    Về vấn đề: “phần góp vốn của C cao hơn giá trị thực tế , nên C chỉ được chia lãi trên số vốn thực góp là 700 triệu”: căn nhà của C đã được các thành viên thống nhất định giá là 1,5 tỷ nên số vốn thực góp của C trong công ty là 1,5 tỷ, nên khi chia lợi nhuận C được chia lợi nhuận tương ứng với số vốn thực góp của mình là 1,5 tỷ.

    Về vấn đề: “Ai chịu trách nhiệm về số nợ 50% còn lại mà công ty CPTM không thể hoàn trả”: các thành viên trong công ty TNHH X sẽ cùng nhau chịu trách nhiệm về khoản nợ trên.

    (Theo Luật Doanh nghiệp 2005 (điều 38 và 41) thì các thành viên trong công ty TNHH sẽđược chia lợi nhuận và chịu trách nhiệm với các khoản nợ theo tỉ lệ vốn cam kết góp vàocông ty.Trong tình huống trên B góp bằng giấy nhận nợ, theo điều 4, luật DN 2005, hình thứcgóp vốn của B có thể coi là góp vốn bằng một “tài sản khác”, ngoài ra các thành viênkhác đều không phản đối ngay từ đầu. Vậy hình thức góp vốn của B là hợp pháp.C góp vốn bằng 1,5 tỷ theo giá trị tương lai của căn nhà, về lý thuyết C chỉ được góp bằng đúng giá trị ngôi nhà là 700 triệu, nhưng do các thành viên công ty đều nhất trí địnhgiá căn nhà cao hơn thực tế 800 triệu nên tất cả sẽ chịu trách nhiệm liên đới với số chênhlệch đó. Nói cách khác số vốn góp của C vẫn là 1,5 tỷ.D cam kết góp 1.5 tỷ, nhưng lúc đầu mới góp 500 triệu và cam kết góp số còn lại khicông ty có yêu cầu. Tuy nhiên trong tình huống nêu ra không có chỗ nào cho thấy công tyyêu cầu D góp nốt chỗ 1 tỷ còn lại mà D từ chối cả. Vì vậy việc góp vốn của D cũng hoàntoàn hợp lệ và số vốn góp của D được tính là 1.5 tỷ.Kết luận: nếu đem vụ việc này ra tranh tụng tại tòa án thì B,C,D sẽ được chia lợi nhuậntheo tỉ lệ vốn cam kết góp là 1.2 : 1.5 : 1.5Hoàn toàn lập luận tương tự, 3 thành viên công ty cũng sẽ chịu trách nhiệm liên đới vớisố nợ chưa trả theo tỷ lệ vốn cam kết góp của mình, nhưng không quá tổng số vốn góp)

    Câu 5:

    Công ty TNHH M, vốn điều lệ 1 tỷ đồng; trong đó A góp 350 triệu đồng, B góp 200 triệu đồng, C, D, E mỗi người góp 150 triệu đồng. Được biết A hiện đang là kế toán trưởng của công ty xăng dầu tỉnh K( DN vốn 100% vốn nhà nước), các thành viên còn lại la cán bộ hưu trí. A được cử làm giám đốc công ty trong nhiệm kỳ đầu là 3 năm. Trong thời gian giữ chức giám đốc, A lập doanh nghiệp và đã được cấp GCN/DKKD. Các thành viên còn lại của công ty yêu cầu A thôi giữ chức giám đốc công ty TNHH nhưng A không đồng ý vì cho rằng mình là người góp vốn nhiều nhất trong công ty nên đương nhiên phải làm giám đốc. Hãy giải quyết vụ ciệc trên theo quy định của luật DN 2005

    Giải:

    Xin phép được trích dẫn một ý trong tình huống bạn nêu : “ A hiện đang là kế toán trưởng của công ty xăng dầu tỉnh K ( DN 100 % vốn nhà nước ), các thành viên còn lại là cán bộ hưu trí”.

    Như vậy A không thể làm giám đốc cty TNHH M vì theo điều 15 NĐ 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết luật DN 2005 có qui định như sau:

    Trích “Điều 15. Hướng dẫn bổ sung về Giám đốc (Tổng giám đốc) và thành viên Hội đồng quản trị

    1. Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên phải có các tiêu chuẩn và

     

    điều kiện sau đây:

    1. Có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp quy định tại khoản 2

     

    Điều 13 của Luật Doanh nghiệp, theo đó khoản 2 điều 13 LDN 2005 có qui định:

    Trích “Điều 13. Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp

    1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

     

    1. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
    1. Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

     

    1. Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

     

    1. Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;

     

    1. Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

    đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

    1. Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;
    1. g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.”

    ***Theo điều 13 khoản 2 điểm d thì A là Kế toán trưởng tức là người đang quản lý nghiệp vụ kế toán trong DN 100% VSH NN như vậy A thuộc trường hợp bị cấm thành lập Cty TNHH M dù A có là người góp vốn nhiều nhất trong Cty TNHH M.

    Câu 6:

    Hải, Hồng, Công cùng nhau góp vốn thành lập Công ty TNHH Tư vấn – Xây dựng Vinh Quang với số vốn điều lệ là

    • tỷ đồng. Hải là nhân viên của một công ty TNHH khác, Hồng là chủ của một doanh nghiệp tư nhân còn Công là Trưởng phòng Tư vấn xây dựng của một doanh nghiệp nhà nước chuyên kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng có trụ sở tại Tp. HCM. Trong thỏa thuận góp vốn, Hải góp 500 triệu, Hồng góp 1 tỷ, Công góp 500 triệu. Trong Điều lệ công ty quy định Hồng là

    Giám đốc kiêm Chủ tịch HĐTV. Sau khi hoạt động được 1 năm, 3 thành viên ký hợp đồng với Dương, trong đó thỏa thuận kết nạp Dương làm thành viên của công ty. Tài sản góp vốn của Dương là chiếc xe ô tô được các bên định giá là 300 triệu đồng. Do có khó khăn trong việc làm thủ tục chuyển quyền sở hữu chiếc ô tô sang cho công ty nên các thành viên thỏa thuận rằng khi nào thuận lợi sẽ chuyển quyền sở hữu và làm thủ tục đăng ký theo quy định. Công ty đã chi 100 triệu sửa chữa, nâng cấp xe ô tô. Mọi giấy tờ, biên nhận đều mang tên Công ty TNHH Vinh Quang. Chiếc xe ô tô cũng được sơn tên và logo của Công ty TNHH Vinh Quang. Sau một thời gian hoạt động, công ty kinh doanh thua lỗ và đã xảy ra những mâu thuẫn nhất định. Dương, trong một lần đi giao dịch liền giữ lại 100 triệu đồng tiền của công ty và tuyên bố đây là lợi nhuận đáng được hưởng của mình, sau đó đơn phương rút khỏi công ty và lấy lại luôn chiếc ô tô. Hồng, với tư cách là đại diện theo pháp luật của công ty nộp đơn ra tòa kiện đòi Dương chiếc xe ô tô là tài sản của công ty và 100 triệu đồng mà Dương đã lấy. Tòa kinh tế TAND Tp. Hồ Chí Minh đã thụ lý vụ việc trên. Câu hỏi: 1. Hải, Hồng, Công cùng nhau thành lập Công ty TNHH Vinh Quang là hợp pháp hay không hợp pháp? Vì sao? 2. Dương có được xem là thành viên chính thức của công ty không? Vì sao? Thủ tục gia nhập và góp vốn trong công ty TNHH? 3. Theo bạntòa án sẽ giải quyết yêu cầu của công ty như thế nào?

    Giải:

    1. Hải, Hồng, Công cùng nhau thành lập Công ty TNHH Vinh Quang là hợp pháp hay không hợp pháp? Vì sao?

    Khoản 2, Điều 13, Luật doanh nghiệp 2005:

    2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

    1. Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

     

    1. Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

     

    1. Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;

     

    1. Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

    đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

    1. Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;
    1. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản”. Điều 12, Nghị định 102/2010/NĐ-CP :

    Điều 12. Quyền thành lập doanh nghiệp

    1. Tất cả các tổ chức là pháp nhân, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, không phân biệt nơi đăng ký địa chỉ trụ sở chính và mọi cá nhân không phân biệt nơi cư trú và quốc tịch, nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp, đều có quyền thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

     

    1. Mỗi cá nhân chỉ được quyền đăng ký thành lập một doanh nghiệp tư nhân hoặc một hộ kinh doanh hoặc làm thành viên hợp danh của một công ty hợp danh, trừ trường hợp các thành viên hợp danh còn lại có thỏa thuận khác. Cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ kinh doanh hoặc cá nhân thành viên hợp danh có quyền thành lập, tham gia thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần.

     

    1. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân nước ngoài lần đầu thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam thực hiện đăng ký đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trong trường hợp này doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

     

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam dự định thành lập doanh nghiệp mới tại Việt Nam thực hiện theo quy định sau đây:
    1. Trường hợp doanh nghiệp mới do doanh nghiệp có trên 49% vốn điều lệ là sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập hoặc tham gia thành lập thì phải có dự án đầu tư và thực hiện đăng ký đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

     

    1. Trường hợp doanh nghiệp mới do doanh nghiệp có không quá 49% vốn điều lệ là sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập, tham gia thành lập thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước “.

    Như vậy, Công không được quyền tham gia thành lập, quản lý, góp vốn vào công ty nói trên. Do vậy việc thành lập công ty là không hợp pháp.

    1. Dương có được xem là thành viên chính thức của công ty không? Vì sao? Thủ tục gia nhập và góp vốn trong công ty TNHH?

    Điều 29, Luật doanh nghiệp 2005:

    Điều 29. Chuyển quyền sở hữu tài sản

    1. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:
    1. Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước sbạ;

    1. Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.

    Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc đại diện theo uỷ quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty;

    1. Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.
    1. Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp”.

    Điều 18, Nghị định 102/2010/NĐ-CP:

    Điều 18. Thực hiện góp vốn và các quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

     

    1. Thành viên phải góp vốn đầy đủ, đúng tiến độ đã cam kết trong Danh sách thành viên. Nếu việc góp vốn được thực hiện nhiều hơn một lần, thời hạn góp vốn lần cuối của mỗi thành viên không vượt quá 36 tháng, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký bổ sung, thay đổi thành viên và mỗi lần góp vốn thành viên được cấp một giấy xác nhận số vốn đã góp của lần góp vốn đó.

     

    1. Trong thời hạn 15 ngày sau mỗi đợt góp vốn theo cam kết, người đại diện theo pháp luật của công ty phải báo cáo kết quả tiến độ góp vốn đến cơ quan đăng ký kinh doanh.

    Trường hợp người đại diện theo pháp luật không thông báo kết quả tiến độ góp vốn theo quy định, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc (Tổng giám đốc) hoặc thành viên sở hữu phần vốn góp lớn nhất tại công ty có quyền nhân danh công ty thực hiện báo cáo kết quả tiến độ góp vốn.

    1. Trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác.

     

    1. Sau thời hạn cam kết góp lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp vốn đã cam kết góp, thành viên chưa góp vốn vào công ty theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty và không có quyền chuyển nhượng quyền góp vốn đó cho người khác; số vốn chưa góp được xử lý theo quy định tại khoản 5 Điều này.

     

    1. Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn lần cuối, số vốn chưa góp đủ được xử lý theo thứ tự ưu tiên như sau:
    1. Các thành viên còn lại nhận góp một phần hoặc toàn bộ số vốn chưa góp theo tỷ lệ số vốn đã góp vào công ty;

     

    1. Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn chưa góp;

     

    1. Huy động thêm người khác góp đủ số vốn chưa góp.
    1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn 90 ngày theo quy định tại khoản 5 Điều này, người đại diện theo pháp luật của công ty phải báo cáo kết quả tiến độ góp vốn và đăng ký thay đổi thành viên của công ty. Hồ sơ đăng ký thay đổi thành viên trong trường hợp này bao gồm:
    1. Giấy đề nghị đăng ký thay đổi thành viên;

     

    1. Thông báo kết quả tiến độ góp vốn hoặc bản sao, có xác nhận của công ty, giấy chứng nhận phần góp vốn của các thành viên;

     

    1. Danh sách thành viên.
    1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ quy định tại khoản này, cơ quan đăng ký kinh doanh phải thực hiện đăng ký và cấp Đăng ký thay đổi thành viên cho công ty.

    Trường hợp có thành viên hoặc đại diện ủy quyền của thành viên không ký tên trong Danh sách thành viên quy định tại điểm c khoản 6 Điều này, cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo danh sách nói trên đến thành viên có liên quan và yêu cầu họ xác nhận bằng văn bản về số vốn đã góp của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận thông báo. Thông báo phải được gửi theo cách đảm bảo thành viên có liên quan nhận được thông báo đó. Quá thời hạn trên mà không nhận được xác nhận bằng văn bản của thành viên có liên quan, cơ quan đăng ký kinh doanh đăng ký thay đổi thành viên theo yêu cầu của công ty. Trường hợp thành viên không ký Danh sách thành viên có xác nhận bằng văn bản phản đối số vốn góp được ghi trong danh sách thành viên, cơ quan đăng ký kinh doanh từ chối cấp đăng ký thay đổi thành viên.

     

    1. Trường hợp số vốn thực góp được thực hiện theo khoản 5 Điều này vẫn thấp hơn so với tổng số vốn cam kết góp, cơ quan đăng ký kinh doanh đăng ký số vốn đã góp là vốn điều lệ của công ty khi thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi thành viên của công ty theo quy định tại khoản 6 Điều này; các thành viên chưa góp đủ vốn theo cam kết phải liên đới chịu trách nhiệm

     

    tương đương với số vốn chưa góp về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác của công ty phát sinh trước khi đăng ký thay đổi thành viên theo khoản 6 Điều này.

    1. Cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền kiểm tra kết quả tiến độ góp vốn theo yêu cầu của một hoặc một số thành viên sở hữu phần vốn góp ít nhất 25% vốn điều lệ của công ty. Kết quả kiểm tra tiến độ góp vốn của cơ quan đăng ký kinh doanh được sử dụng để xác định số phiếu biểu quyết và phân chia lợi nhuận theo quy định tại khoản 3 Điều này và lập các hồ sơ đăng ký thay đổi thành viên theo quy định tại khoản 6 Điều này “.

    Như vậy, Dương phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản vào công ty, thời hạn chậm nhất là 36 tháng. Do tình huống không nêu rõ thời điểm mà Dương và công ty xảy ra tranh chấp là trong thời hạn đó hay không, nếu đã quá thời hạn nói trên mà Dương chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản vào công ty thì Dương không là thành viên chính thức của công ty theo Khoản 4, Điều 18, Nghị định 102.

    Vấn đề thủ tục gia nhập và góp vốn trong công ty TNHH bạn có thể tham khảo Điều 29, Luật doanh nghiệp và Điều 18, nghị định 102 đã được trích dẫn ở trên.

    1. Theo bạn tòa án sẽ giải quyết yêu cầu của công ty như thế nào?

    Vì chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản vào công ty nên chiếc ô tô không phải tài sản của công ty, công ty chỉ được nhận lại 100tr là chi phí sửa, nâng cấp xe do đã có biên lai đầy đủ. Chiếc ô tô nếu đã qua thời hạn 36 tháng thì vẫn thuộc về Dương, Dương không có quyền gì đối với lợi nhuận của công ty.

    Câu 7:

    An, Bình, Chương, Dung cùng nhau thành lập công ty TNHH Phương Đông kinh doanh thủy sản với vốn điều lệ 1 tỷ đồng. Trong đó, An góp 200 triệu tiền mặt, Bình góp một ô tô được các bên định giá là 200 triệu, Chương góp vốn là kho bãi kinh doanh được các bên định giá là 500 triệu, Dung góp 100 triệu tiền mặt. Theo Điều lệ, Chương làm Chủ tịch HĐTV, Bình làm Giám đốc, An làm Phó giám đốc. Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Sau 1 năm hoạt động, giữa Bình và Chương xảy ra mâu thuẫn. Với tư cách là Chủ tịch HĐTV và là người có nhiều vốn nhất, Chương ra quyết định cách chức giám đốc của Bình và bổ nhiệm An làm giám đốc thay thế. Không đồng ý với quyết định trên, Bình vẫn tiếp tục giữ lại con dấu. Sau đó, với danh nghĩa của công ty Phương Đông, lại là người đại diện theo pháp luật của công ty, Bình ký

    • hợp đồng vay 700 triệu với công ty Trường Xuân (tổng gái trị tài sản của công ty Phương Đông theo sổ sách kế toán tại thời điểm này là 1,3 tỷ) và khi công ty Trường Xuân chuyển số tiền trên cho công ty Phương Đông, Bình lập tức chuyển số tiền vào tài khoản của mình. Chương nộp đơn kiện Bình ra tòa yêu cầu Bình hoàn trả lại số tiền 700 triệu và bồi thường các thiệt hại đã gây ra cho công ty. Công ty Trường Xuân kiện công ty Phương Đông ra tòa yêu cầu công ty Phương Đông hoàn trả 700 triệu và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Tòa Kinh tế TAND Tp. Hồ Chí Minh thụ lý hồ sơ. Câu hỏi: 1. Việc Chương cách chức Bình và bổ nhiệm An làm giám đốc thay thế là đúng hay sai? Vì sao? 2. Hợp đồng do Bình ký với

    Công ty Trường Xuân có hay không có hiệu lực? vì sao? 3. Ai là người phải thanh toán nợ và bồi thường thiệt hại trong trường hợp trên?

    Giải:

    1. Việc Chương cách chức Bình và bổ nhiệm An làm giám đốc thay thế là đúng hay sai? Vì sao?

    Khoản 1, Điều 52, Luật doanh nghiệp 2005:

    “ 1. Hội đồng thành viên thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định.

    Trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì quyết định về các vấn đề sau đây phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên:

     

    1. a) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;

     

    1. Quyết định phương hướng phát triển công ty;

     

    1. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc hoặc Tổng giám

     

    đốc;

     

    1. Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;

    đ) Tổ chức lại hoặc giải thể công ty “

    Như vậy, việc miễn nhiệm, cách chức giám đốc phải thông qua bằng hình thức biểu quyết tại phiên họp Hội đồng thành viên. Ở đây chủ tịch công ty đã tự quyết định cắt chức giám đốc Bình là trái pháp luật ( nếu điều lệ cty không có quy định khác ).

    1. Hợp đồng do Bình ký với Công ty Trường Xuân có hay không có hiệu lực? vì sao?

    Do Bình vẫn còn là người đại diện của cty TNHH Phương Đông nên hợp đồng ký kết với cty Trường Xuân vẫn có hiệu lực.

    1. Ai là người phải thanh toán nợ và bồi thường thiệt hại trong trường hợp trên?

    Điều 93, Bộ luật dân sự 2005:

    “Điều 93. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân

    1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.

     

    1. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho thành viên của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do thành viên xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân.

     

    1. Thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện “.

    Do vậy, công ty TNHH Phương Đông là người thanh toán nợ và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vì lúc này Bình nhân danh cty Phương Đông ký kết hợp đồng. sau đó cty Phương Đông và Bình sẽ giải quyết với nhau, Bình sẽ trả số tiền bồi thường cho cty Phương Đông theo Ðiều 93, BLDS 2005

    Câu 8:

    Vương, Hùng, Thu góp vốn thành lập công ty TNHH Lửa Việt chuyên sản xuất, kinh doanh gas, khí đốt với vốn điều lệ 5 tỷ đồng. Trong đó, Vương góp 1 tỷ tiền mặt, Hùng góp 3 tỷ gồm mặt bằng, nhà xưởng được các bên định giá 2 tỷ và 1 tỷ tiền mặt, Thu góp 1 tỷ tiền mặt. Theo Điều lệ, Vương là Giám đốc, Hùng là Chủ tịch HĐTV và cũng là người đại diện theo pháp luật của công ty. Sau khi được cấp GCNĐKKD, do Hùng không có đủ vốn góp bằng tiền mặt nên Hùng đã nhượng lại phần vốn góp cho Liên. Hùng cho rằng mình là Chủ tịch HĐTV, là người đại diện theo pháp luật của công ty và cũng là người góp nhiều vốn nhất nên đã không thông báo việc chuyển nhượng vốn của mình cho 2 thành viên còn lại. Hùng lập một hợp đồng chuyển nhượng vốn, trong đó Hùng vừa ký tên với tư cách là người chuyển nhượng vốn, vừa ký tên với tư cách là người đại diện theo pháp luật của công ty xác nhận việc chuyển nhượng này. Hợp đồng có công chứng nhà nước. Sau 1 năm hoạt động, công ty có lãi 500 triệu đồng. Tuy nhiên, đến lúc này thì giữa các thành viên phát sinh mâu thuẫn. Vương kiện Hùng ra tòa không thừa nhận phần vốn góp của Hùng vì cho rằng tất cả mặt bằng, nhà xưởng vẫn mang tên Hùng, Hùng chưa thực hiện việc chuyển quyền sở hữu sang cho công ty. Đồng thời, Vương yêu cầu bác tư cách thành viên của Liên vì cho rằng việc chuyển nhượng vốn của Hùng cho Liên là bất hợp pháp. Hùng kiện lại, không thừa nhận phần vốn góp của Vương vì cho rằng chưa có chứng cứ gì chứng minh Vương đã tiến hành góp vốn cho công ty. Đưa ra chứng cứ chứng minh phần vốn góp của mình, Hùng xuất trình hợp đồng xây dựng với công ty xây dựng Thanh Bình trong đó công ty Lửa Việt là một bên đứng tên trên hợp đồng. Ngoài ra, Hùng có toàn bộ giấy tờ hoàn công các hạng mục nhà xưởng đều mang tên Công ty Lửa Việt do Ban quản lý khu công nghiệp tỉnh cấp. Hùng cho rằng đây là chứng cứ chứng minh cho phần vốn góp của mình. Vương cho rằng mình cũng đã góp đủ 1 tỷ đồng, bằng chứng là tờ Phiếu thu trong đó Vương tự nộp và tự xác nhận

    phần vốn đã nộp. Câu hỏi: 1. Việc Hùng chuuển nhượng phần vốn của mình cho Liên theo thủ tục nêu trên là đúng hay sai? Vì sao? 2. Theo bạn, Hùng và Vương đã hoàn thành việc góp vốn vào công ty chưa? Vì sao? 3. Bạn hãy tư vấn cho công ty để có thể giải quyết các mâu thuẫn nêu trên.

    Giải:

    Việc Hùng chuuển nhượng phần vốn của mình cho Liên theo thủ tục nêu trên là đúng hay sai? Vì sao?

    Việc Hùng chuyển nhượng phần vốn của mình cho Liên theo thủ tục nêu trên là sai. Vì Hùng vẫn chưa góp đủ số vốn đã cam kết cho công ty do đó Hùng không thể chuyển nhượng số vốn chưa góp này cho người khác. Mặt khác, nếu Hùng muốn chuyển nhượng phần vốn đã góp của mình thì phải tuân theo Điều 44 LDN 2005.

    Theo bạn, Hùng và Vương đã hoàn thành việc góp vốn vào công ty chưa? Vì sao?

    Theo Điều lệ của công ty số vốn điều lệ mà các thành viên phải góp là 5 tỷ đồng, trong đó Hùng góp 3 tỷ gồm mặt bằng, nhà xưởng được các bên định giá 2 tỷ và 1 tỷ tiền mặt và Vương góp 1 tỷ tiền mặt. Nhưng chứng cứ mà Hùng đưa ra như: xuất trình hợp đồng xây dựng với công ty xây dựng Thanh Bình trong đó công ty Lửa Việt là một bên đứng tên trên hợp đồng. Ngoài ra, Hùng có toàn bộ giấy tờ hoàn công các hạng mục nhà xưởng đều mang tên Công ty Lửa Việt do Ban quản lý khu công nghiệp tỉnh cấp chỉ chứng minh được là Hùng đã góp được một phần vốn điều lệ mà Hùng cam kết góp theo Điều 29 LDN2005. Do đó, Hùng vẫn chưa thực hiện xong việc góp vốn (thiếu 1 tỷ). Căn cứ theo khoản 4 Điều 39 LDN2005 thì Vương vẫn chưa hoàn thành việc góp vốn của mình. Bằng chứng mà Vương đưa ra chỉ là tờ phiếu thu do Vương tự nộp và xác nhận, không phải là giầy chứng nhận phần vốn góp do công ty cấp.

    Bạn hãy tư vấn cho công ty để có thể giải quyết các mâu thuẫn nêu trên:

    Căn cứ theo khoản 1, 4, 5 Điều 18 NĐ102/2010 hướng dẫn thi hành LDN2005 và khoản 2, 3 Điều 39 LDN2005 thì thời hạn để Hùng thực hiện góp vốn vào công ty là 36 tháng, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký bổ sung, thay đổi thành viên. Nếu không góp vốn đúng hạn thì phần vốn chưa góp đó sẽ được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty và phải chịu bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ số vốn đã cam kết đúng hạn. Khi hết thời hạn này mà Hùng vẫn chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì đương nhiên không còn là thành viên của công ty. Việc phân chia lợi nhuận giữa các thành viên căn cứ vào tỷ lệ số vốn thực mà các thành viên đã góp. Liên bị bác bỏ tư cách thành viên vì việc chuyển nhượng vốn góp của Hùng cho Liên là sai pháp luật. Nếu Vương đã góp vốn vào công ty thì phải yêu cầu công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho mình để tránh tranh chấp xảy ra sau này, nếu Vương chưa góp thì sẽ xử lý như trường hợp thành viên không góp vốn đúng hạn.

    Câu:

    Được sự ủy quyền của người đại diện theo pháp luật là giám đốc công ty xây dựng A ( trụ sở tại quận 1 TPHCM ) Nguyễn B là trưởng phòng vật tư đã ký hợp đồng với công ty cổ phần Hoa Thịnh ( trụ sở tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ) Chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng trị giá 920 triệu đồng, số vật liệu này theo thỏa thuận sẽ được giao sau 15 ngày tại chân công trình mà công ty A đang thi công ở xã Long An, tỉnh Long An, bên mua phải ứng trước 20% giá trị hợp đồng. Hai ngày sau khi chuyển đủ số tiền tạm ứng, Nguyễn B lại đến tìm giám đốc xí nghiệp Hoa Thịnh xin hủy hợp đồng đã ký, vì anh ta đã tìm được nguồn hàng tương ứng nhưng gần công trình hơn nên có thể tiết kiệm chi phí vận chuyển. Công ty Hoa Thịnh đã đồng ý hủy bỏ hơp đồng và hoàn lại tiền ứng trước cho công ty A. Do giá vật liệu trên thị trường tăng nên Nguyễn

    • đã không mua được hàng như dự kiến. Đến hạn công ty A có công văn yêu cầu công ty Hoa Thịnh thực hiện giao hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng nhưng đã bị từ chối với lý do hợp đồng đã bị hủy. Công Ty A cho rằng Nguyễn B chỉ được ủy quyền để ký hợp đồng chứ không được ủy quyền để hủy hơp đồng, vì thế hợp đồng vẫn có hiệu lực thực hiện.Công ty Hoa Thịnh vẫn phải thực hiện hợp đồng. Công ty Hoa Thịnh vẫn không thực hiện hợp đồng vì thế, cho là công ty Hoa Thịnh vi phạm hợp đồng nên công ty A đã quyết định khởi kiện đến tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình.

    Hãy cho biết:

    1. Giữa công ty A và công ty Hoa Thịnh có xác lập quan hệ hợp đồng được không? Tại sao ? tranh chấp này sẽ được giải quyết tại tòa án nào? hãy giải thích.
    1. Việc hủy hợp đồng của Nguyễn B có hợp pháp không ? Sau khi có sự chấp nhận hủy hợp đồng của Hoa Thịnh thì hợp đồng có hiệu lực không? Tại sao ? hãy cho biết hướng giải quyết tranh chấp nói trên ?

    Giải:

    1. Trong tình huống có nêu là Đại diện theo pháp luật là giám đốc công ty A có ủy quyền cho Nguyễn B – Trưởng phòng vật tư ký hợp đồng với công ty cổ phần Hoa Thịnh mua vật liệu cho công trình đang thi công tại Long An. B ký hợp đồng và đặt tiền ứng trước 20%. Vì sự ủy quyền của giám đốc và người lao động của công ty nên được Bộ Luật dân sự 2005 và luật lao động điều chỉnh.

    Theo Bộ luật dân sự: “Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

    Về hình thức : Hợp đồng ủy quyền phải được lập thành văn bản và được công chứng, chứng thực thì mới có giá trị pháp lý. Trong một tổ chức/doanh nghiệp, việc ủy quyền có thể thực hiện mà không cần công chứng, chứng thực. Chẳng hạn giám đốc công ty có thể ủy quyền cho một nhân viên thay mặt mình tham dự một phiên tòa ( mà công ty tham gia với tư cách là một đương sự, chẳng hạn như là nguyên đơn trong một vụ án đòi nợ). Khi đó, chỉ cần lập Giấy ủy quyền và đóng dấu công ty là được.

    Về nội dung: nội dung ủy quyền phải bảo đảm nguyên tắc không được ủy quyền những công việc trái pháp luật. Ví dụ:

    không thể ủy quyền cho một người thay mặt mình đi mua bán hàng lậu với một đối tác khác.

    • đây, việc đại diện công ty A uỷ quyền cho B ký hợp đồng với công ty cổ phần Hoa Thịnh thì việc uỷ quyền đó nhất quyết phải được lập thành văn bản dù là hợp đồng uỷ quyền hay giấy uỷ quyền đi nữa. Do vậy, trong hợp đồng uỷ quyền (giấy uỷ quyền) sẽ nêu rõ những quyền hạn mà bên được uỷ quyền có quyền được làm. Nguyễn B chỉ được thực hiện công việc ủy quyền theo phạm vi ủy quyền ghi rõ trong hợp đồng nhân danh công ty. Nếu phạm vi ủy quyền ghi rõ là B chỉ được quyền ký hợp đồng thì hợp đồng vẫn có hiệu lực và A kiện Hoa Thịnh vi phạm là đúng. Nếu Hợp đồng không ghi rõ phạm vi ủy quyền thì B được quyền hủy hợp đồng và A phải chịu trách nhiệm trong hợp đồng bị hủy.

    Tóm lại:

    Về hiệu lực của hợp đồng: Công ty A và Hoa thịnh có thể xác lập quan hệ hợp đồng nếu hợp đồng ủy quyền là hợp pháp và phạm vi ủy quyền rõ ràng là B chỉ được quyền ký hợp đồng theo luật dân sự 2005.

    • tình huống trên sau khi có tranh chấp phát sinh (trong trường hợp công ty A và Hoa Thịnh được xác lập 1 hợp đồng) thì sẽ căn cứ vào hợp đồng để xem nơi nào sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Nếu hợp đồng có thoả thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp thì sẽ do trọng tài giải quyết theo ý chí thoả thuận của 2 bên. Nếu hợp đồng không có quy định điều khoản này thì tranh chấp sẽ do Toà án có thẩm quyền giải quyết được quy định cụ thể ở điều 35 BLTTDS 2004.

    Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

    1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
    1. Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao

     

    động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

     

    1. Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

     

    ………”

    1. Về phần hủy hợp đồng:

    Theo như phân tích trên thì việc hủy hợp đồng của B hợp pháp nếu được quy định rõ B được quyền hủy hợp đồng hoặc không quy định rõ ràng( là chỉ được quyền ký hợp đồng) trong phạm vi ủy quyền của hợp đồng ủy quyền.

    • Nếu phạm vi ủy quyền không rõ hoặc ghi rõ A có toàn quyền liên quan đến hợp đồng đã ký thì B có quyền hủy hợp đồng và sau khi được sự chấp nhận của Hoa Thịnh thì hợp đồng chấm dứt. Hoặc nếu B đã tự ý huỷ hợp đồng với công ty Hoa Thịnh mà không thông báo với công ty A thì B đã vi phạm nghĩa vụ của bên được ủy quyền thì hợp đồng vẫn chấm dứt và B sẽ chịu trách nhiệm trước A trong trường hợp này, Hoa Thịnh không có trách nhiệm.
    • Nếu B hành động vượt quá phạm vi ủy quyền thì hợp đồng cũ vẫn còn hiệu lực vì B phải có nghĩa vụ thông báo phạm vi, thời hạn ủy quyền với Hoa Thịnh và Hoa thịnh phải biết được B có thẩm quyền hủy hay không để hành động cho đúng hợp đồng theo Khoản 2 Điều 584 BLDS 2005.

    Câu:

    A, B, C vàD góp vốn thành lâp̣ công ty TNHH Phương Đông với vốn điều lê ̣là1 tỉ đồng. A góp 200 triêụ đồng, B góp

    • triêụ đồng, C góp 500 triêụ đồng vàD góp 100 triêụ đồng. Công ty đươc̣ cấp GCN /ĐKKD năm 2000. Các thành viên
    nhất tri bầu C la chu ti cḥ HĐTV, cư B la giam đốc . Theo điều lê ̣công ty GĐ la ngươi đaịdiêṇ theo phap luâṭcua công ty  .
    ́ ̀ ̉   ̉ ̀   ́     ̀ ̀     ́ ̉  
    Sau khi hoaṭđông̣ đươc̣ 1 năm thi B va C co mâu thuâñ . Vơi tư cach Chu ticḥ HĐTV va ngươi co sốvốn gop nhiều hơn đa ̃
          ̀ ̀ ́ ́ ́ ̉   ̀ ̀   ́ ́  

    ra quyết đ ịnh cách chức GĐ của B và bổ nhiệm A là GĐ . Không đồng ývới quyết đinḥ đó, B vâñ giữcon dấu . Sau đóvới

    danh nghia GĐ, B ki hơp̣ đồng vay công ty X 700 triêụ. Theo hđ, công ty X đa chuyển trươc cho công ty PĐ 300 triêụ ( tổng
    ̃ ́ ̃ ́  
    giá trị tài sản của công ty PĐ theo sổ sách kế toán tính tới thời điểm này là 1,2 tỉ) tuy nhiên sốtiền nay đa đươc̣ B chuyển
          ̀ ̃

    vào tài khoản cá nhân của mình. C nôp̣ đơn kiêṇ đòi B phải hoàn trả300 triêụ đồng vàbồi thường những thiêṭhaịgây ra cho công ty. Trong lúc đó, công ty X cũng nôp̣ đơn kiêṇ PĐ phải hoàn trảsốtiền trên vàbồi thường thiêṭhaịdo vi phaṃ hơp̣ đồng. Hãy đưa ra cách giải quyết ? viêc̣ cách chức B cóđúng luâṭDN không ? Hơp̣ đồng B kícóhiêụ lưc̣ không vàai phải chịu trách nhiệm bồi thường và thanh toán nợ?

    Giải:

    Theo điểm d khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp (viết tắt LDN), hợp đồng vay giữa B và cty X phải được Hội đồng thành viên cty PĐ ra quyết định thông qua. Khi đó, hợp đồng vay mới có giá trị ràng buộc đối với cty PĐ. Do tình huống không nói rõ nên chúng ta có hai trường hợp:

    Thứ nhất, Hội đồng thành viên cty PĐ chấp nhận hợp đồng vay giữa B và cty X. Trường hợp này phù hợp với các dữ kiện của tình huống nêu ra, ví dụ như: cty X chuyển 300 triệu vào tài khoản của cty PĐ (tài khoản của công ty không nhất thiết do người đại diện theo PL đứng tên); sau đó, B chuyển tiếp khoản tiền trên vào tài khoản của mình; C đòi B “hoàn trả” số tiền trên cho công ty. Như vậy, nội dung đơn kiện của C là đúng pháp luật. Bởi vì, B đã thực hiện hành vi chiếm dụng khoản vốn vay của cty PĐ.

    Thứ hai, Hội đồng thành viên cty PĐ không biết việc B nhân danh công ty ký kết hợp đồng vay với cty X. Theo đây, căn cứ điểm b khoản 5 Điều 42 LDN, B phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi ký kết, nhằm mục đích tư lợi bất chính. Như vậy, nội dung đơn kiện của C là chưa phù hợp; ở đây, C chỉ đứng đơn với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho cty X (yêu cầu B trả tiền và bồi thường cho cty X), hoặc người có quyền và nghĩa vụ liên quan (yêu cầu B cải chính cho cty PĐ). B không có nghĩa vụ trả tiền cho cty PĐ ngoại trừ những khoản bồi thường thiệt hại, nếu cty PĐ chứng minh được thiệt hại gây ra do lỗi của B.

    Viêc̣ cách chức B cóđúng luâṭ DN không:

    Dựa vào các dữ kiện của tình huống, việc cách chức B là không đúng LDN cũng như chưa thể có giá trị về mặt pháp lý.

    Chúng ta sẽ làm rõ thông qua những vấn đề sau:

    Thứ nhất,việc cách chức B có lý do chính đáng hay không. Nếu chỉ căn cứ LDN thì cơ sở xác định lý do ở đây là hợp đồng lao đồng giữa B và cty PĐ (căn cứ điểm l khoản 2 Điều 55 LDN); hay nghĩa vụ do luật định, trong trường hợp không có thỏa thuận (căn cứ khoản 1 Điều 56 LDN)

    Thứ hai, chủ tịch Hội đồng thành viên của cty PĐ có quyền cách chức giám đốc hay không. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 47 LDN, việc cách chức giám đốc phải do Hội đồng thành viên của cty PĐ quyết định.

    Thứ ba,việc C nắm giữ 50% số vốn góp đã “mặc nhiên” thông qua quyết định cách chức B trước Hội đồng thành viên hay chưa.Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 52 LDN, quyết định của Hội đồng thành viên chỉ được thông qua khi có số phiếu đại diện ít nhất 65% hay tỷ lệ khác cao hơn do điều lệ quy định so với tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận. Như vậy, việc C lợi dụng số vốn góp của mình để cách chức B là chưa thể xảy ra, nếu xét trong các trường hợp sau đây:

    Tất cả các thành viên đều tham gia cuộc họp (trong đó bao gồm cả B). Khi đó, số phiếu đại diện của C chỉ tương đương 50% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp ( A nắm 20%; B nắm 20% và D nắm 10%)

    • hoặc D không tham gia cuộc họp (căn cứ khoản 3 Điều 51 LDN). Khi đó, số phiếu đại diện của C chỉ tương đương 55%

    (do vắng D) hay 62,5% (do vắng A) so với tổng số vốn góp của các thành viên dự họp

    A và D không tham gia cuộc họp. Khi đó, số phiếu đại diện của C hơn 71% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp. Tuy nhiên, điều lệ lại quy định quyết định của Hội đồng thành viên chỉ được thông qua khi có số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp. Trường hợp này, việc C muốn cách chức B phải có ít nhất sự tham gia của A trong cuộc họp Hội đồng thành viên.

    Thứ tư, quyết định cách chức B của Hội đồng thành viên_quyết định thay đổi người đại diện theo pháp luật đã được đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh hay chưa (căn cứ khoản 1 Điều 26 LDN); đồng thời, việc cách chức B đã được ghi vào biên bản họp Hội đồng thành viên hay chưa (căn cứ Điều 53 LDN) và quyết định sửa đổi nội dung Điều lệ cty đã được thông qua hay chưa (căn cứ khoản 8 Điều 22; điểm k khoản 2 Điều 47; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 52 LDN). Ngoài ra, cần nói thêm ở đây, việc thay đổi người đại diện theo pháp luật phải tiến hành đồng thời với nghĩa vụ chuyển giao con dấu của cty cho người đại diện theo pháp luật mới (căn cứ khoản 2 Điều 36 LDN)

    Vấn đề thứ tư rất quan trọng, nó là căn cứ để cty PĐ chứng minh việc B không còn là người đại diện theo pháp luật của cty; cũng như chứng minh không có lỗi của Hội đồng thành viên (khác cty PĐ) trong việc để B gây thiệt hại cho người khác.

    Hơp̣ đồng B kícóhiêụ lưc̣ không và ai phải chiụ trách nhiêṃ bồi thường và thanh toán nơ:̣

    Một số giả định được đưa ra như sau:

    Hợp đồng ký kết giữa B và cty X chưa được Hội đồng thành viên của cty PĐ quyết định thông qua (căn cứ điểm d khoản 2 Điều 47; điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 52 LDN)

    Hội đồng thành viên của cty PĐ đã thông qua quyết định cách chức B và hoàn tất các nghĩa vụ liên quan đến việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của cty.

    • đã cố ý không chuyển giao con dấu của cty PĐ cho người đại diện theo pháp luật mới (căn cứ khoản 2 Điều 36 LDN, khoản 5 Điều 584 Bộ Luật dân sự)

    Dựa vào các giả định nêu trên, hợp đồng vay tài sản giữa B và cty X không có hiệu lực pháp luật. Hợp đồng này đã bị vô hiệu do hành vi lừa dối của B, khiến cty X hiểu sai về chủ thể ký kết hợp đồng với mình (căn cứ Điều 132; khoản 1 Điều 410 Bộ Luật dân sự). Theo đây, cty X đã lầm tưởng B là người đại diện theo pháp luật của cty PĐ.

    Do hợp đồng bị vô hiệu, B có trách nhiệm hoàn trả số tiền 300 triệu đồng cho cty X; đồng thời, bồi thường các thiệt hại phát sinh do lỗi của B gây ra cho cty X (căn cứ Điều 137 Bộ Luật dân sự)

    Câu:

    1/ Ông Hùng , ông Minh vàbàHằng góp vốn thành lâp̣ công ty CP ĐaịHưng             . Vốn điều lê ̣của công ty là 1 tỷ đồng

    đươc̣ chia làm 10.000 cổphần. Trong đó, ông Hùng nắm giữ1.000 cổphần, ông Minh nắm giữ500 cổphần vàbàHằng nắm

    giư 500 cổphần. Tuy nhiên, khi hết thơi haṇ thanh toan , bà Hằng chỉ thanh toán 100 cổphần ma ba đa đăng ky m ua. Công
    ̃ ̀ ́           ̀  ̀ ̃ ́
    ty quyết đinḥ ban laịphần cổphần cua ba Hằng cho ngươi khac không phai la cổđông sang lâp̣ va rut tên ba ̀Hằng ra khoi
    ́ ̉ ̀ ̀ ́ ̉ ̀ ́ ̀  ́   ̉

    danh sách cổđông sáng lâp̣. Không đồng ývới quyết đinḥ trên , vì cho rằng bà cũng đã hoàn thành xong một phần nghĩa vụ vì thế bà vẫn có quyền là cổ đông sáng lập. Hãy xử lý tình huống trên theo quy định của pháp luật.

    2/ Ông Thành, ông Nam vàông Huy cùng góp vốn thành lâp̣ công ty TNHH Sao Mai cótru ̣sởtaịq uâṇ 3, TP HCM tháng 3 năm 2005. Ông Thành: 2 tỷ, ông Nam: 3 tỷ và ông Huy góp vốn bằng quyền sử dụng đất . Đến tháng 2 năm 2011, ông Nam qua đời , để lại toàn bộ tài sản của mình cho anh Huỳnh là con trai ông . Anh Huỳnh không muốn tham gia vào hôịđồng thành viên của công ty và muốn lấy lại mảnh đất đã góp vốn. Nêu hướng giải quyết trong trường hơp̣ trên.

    3/ Công ty cổphần Công Thành thành lâp̣ ngày 15 tháng 10 năm 2010 có 15 cổđông, trong đóông Công có 4000 cổphần chiếm 40%, ông Thành có3000 cổphần chiếm 30%, ông Phong có2500 cổphần chiếm 25% là cổ đông sáng lập của công ty. Ông Dũng 500 cổphần chiếm 5%, ông Minh 400 cổphầm chiếm 4%. Đến ngày 15 tháng 3 năm 2011, ông Phong tư ̣ý chuyển nhương̣ 2000 cổphần trong số3000 cổphần của minh̀ cho bàMai. Ông Dũng vàông Minh phát hiêṇ ra sư ̣viêc̣ trên nên đa ̃triêụ tâp̣ hop̣ Đaịhôịđồng cổđông ra quyết đinh xử lýđối với ông Phong . a.Viêc̣ triêụ tâp̣ hop̣ Đaịhôịđồng cổđông của công ty Công Thành có hợp pháp hay không? b. Hướng giải quyết trong tinh̀ huống trên.

    Giải:

    Theo quy định tại điểm c, khoản 5, Điều 23 Nghị định 102 năm 2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp thì trong trường hợp cổ đông không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua, số cổ phần còn lại được xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 84 của Luật doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày.

    Việc công ty cổ phần Đại Hưng quyết đinḥ bán laịphần cổphần của bàHằng cho người khác không phải làcổđông sáng lâp̣ vàrút tên bàHằng ra khỏi danh sách cổđông sáng lâp̣ là hoàn toàn đúng pháp lu ật. Bởi lẽ, theo quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 84 Luật doanh nghiệp có quy định trong trường hợp có cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã

    đăng ký mua thì số cổ phần chưa góp đủ đó của cổ đông sáng lập được xử lý bằng cách huy động người khác không phải là cổ đông nhận góp đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Trong trường hợp này thì bà Hằng sẽ không còn là cổ đông sáng lập của công ty.

    Tuy nhiên, việc bà Hằng đã thanh toán cho công ty 100 cổ phần mà bà đã đăng ký mua thì theo quy định tại điểm b, khoản 5 Điều 23 Nghị định 102 năm 2010 bà vẫn có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán tức là bà vẫn là cổ đông phổ thông của công ty.

    Theo điều 45, luật doanh nghiệp 2005:

    Công ty sẽ mua lại hoặc chuyển nhượng phần góp vốn của ông Nam, mà anh Huỳnh là người thừa kế. Trường hợp anh muốn lại lại mảnh đất đã góp vốn thì tùy theo thỏa thuận của công ty và anh mà sẽ chọn công ty giao lại mảnh đất cho anh (nếu Điều lệ có quy định) hoặc công ty thỏa thuận về giá và mua lại phần vốn góp theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Việc mua lại chỉ đảm bảo thực hiện khi công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác. (khoản 2, Đ43, Luật doanh nghiệp 2005).

    Trước khi trả lời câu hỏi của bạn thì chúng ta hãy xem việc làm của Ông Phong có đúng pháp luật hay không. Theo đề bài thì “ông Phong tư ̣ýchuyển nhương̣ 2000 cổphần trong số 3000 cổphần của minh̀ cho bàMai” thì ông Phong đã tự ý chuyển nhượng 2000 cổ phần cho bà Mai (không phải là thành viện sáng lập) mà không được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông. Theo Điều 84 khoản 5 Luật Doanh nghiệp quy định : “Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu

    được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông”. Như vậy, việc ông Phong tự chuyển nhượng 2000 cổ phần cho bà Mai là trái với quy định của pháp luật.

    Việc ông Dũng và ông Minh quyết định triệu tập Đại hội đồng cổ đông để xử lý hành vi vi phạm của ông Phong. Theo Điều

    • khoản 1 Luật doanh nghiệp quy định: “Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định”. Trong trường hợp này thì

    ông Dũng và ông Minh không đủ điều kiện để tiến hành triệu tập Đại hội đồng cổ đông vì ông Dũng và ông Minh chỉ chiếm 9% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

    Hướng giải quyết trong tinh̀ huống trên.

    Ông Dũng và ông Minh sẽ huy động thêm nhiều thành viên để đủ tối thiểu 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo luật


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Những bài tập tình huống kinh tế hay dành cho sinh viên chuyên ngành

    Những bài tập tình huống kinh tế hay dành cho sinh viên chuyên ngành

    Những bài tập tình huống kinh tế hay dành cho sinh viên chuyên ngành

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP BÀI TẬP NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Nh%E1%BB%AFng-b%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-t%C3%ACnh-hu%E1%BB%91ng-kinh-t%E1%BA%BF-hay-d%C3%A0nh-cho-sinh-vi%C3%AAn-chuy%C3%AAn-ng%C3%A0nh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những bài tập tình huống kinh tế hay dành cho sinh viên chuyên ngành

    Bài tập tình huống

    Bài 1:

    Cty TNHH Ban Mai có trụ sở tại thị xã H tỉnh X, đã được sở kế hoạch đầu tư tỉnh cấp Giấy chứng nhận ĐKKD năm 2007, gồm 4 thành viên, Ông Hoàng góp 20% vốn điều lệ, Ông Đức 25%, ông Sơn 45% và bà Hoa 10%. Điều lệ cty hoàn toàn phù hợp Luật DN 2005. Theo thoả thuận, ông Hoàng là chủ tịch hội đồng thành viên, ông Sơn là giám đốc và là người đại diện trước pháp luật của cty. Để thông qua việc sửa đổi điều lệ công ty, ông Hoàng đã triệu tập hội đồng thành viên vào ngày 23/06/2008 theo đúng trình tự, thủ tục, Phiên họp chỉ có ông Hoàng, ông Sơn và bà Hoa tham dự. Quyết định sửa đổi Điều lệ cty được ông Sơn và bà Hoa biểu quyết thông qua. HỎI Quyết định sửa đổi Điều lệ cty đã được thông qua hợp lệ hay chưa? Vì sao?

    Trả lời: Quyết định sửa đổi Điều lệ cty được thông qua chưa hợp lệ.

    Theo Điểm a Khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2005 thì quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp khi được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận. Theo tình huống thì số phiếu biểu quyết thông qua của ông Sơn và bà Hoa chỉ có 55%.

    Vì vậy quyết định sửa đổi điều lệ cty được thông qua chưa hợp lệ.

     

    Bài 2:

    Cty CP TM Phước Vĩnh ( trụ sở chính tại TP Biên Hoà, Đồng Nai) được cấp GCN ĐKKD năm 2006. cty gồm 5 cổ đông: Quang giữ 20% Cphần, Bảo 25%, Chiến 30%, Dũng 15% và Tiến 10%. Hội đồng quản trị bao gồm Bảo, Chiến và Quang. Điều lệ cty hoàn toàn phù hợp với LDN 2005. Ngày 25/12/06 Bảo với tư cách chủ tịch hội đồng quản trị đã triệu tập phiên họp đại hội đồng cổ đông để quyết định về việc sửa đổi điều lệ cty. Phiên họp được triệu tập hợp lệ nhưg chỉ có Quang, Bảo Dũng và Tiến tham dự. Quang Bảo và Tiến đã biểu quyết nhất trí sửa đổi điều lệ. HỎI: 1) QĐịnh sửa đổi  điều lệ này đã được thông qua hợp lệ hay chưa? Vì sao? 2) tháng 3/2008, cty bị tuyên bố phá sản. Hỏi Quang có thể đứng ra thành lập ngay 1 DN mới được hay ko? Vì sao?

     

    Trả lời:

    • Theo Điểm a Khoản 2 Điều 104 Luật doanh nghiệp 2005, thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ đông đại diện cho ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận. Theo tình huống thì, số phiếu biểu quyết nhất trí sửa dổi điều lệ của Quang, Bảo và Tiến là 55%. Vì vậy quyết định quyết định sửa đổi điều lệ cty được thông qua chưa hợp lệ.
    • Quang không thể đứng ra thành lập ngay 1 DN mới. Vì theo Khoản 2 Điều 94 Luật phá sản thì thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập DN trong thời hạn từ 1 đến 3 năm kể từ ngày DN bị tuyên bố phá sản.

     

     

    Bài 3:

    cty Hợp danh X gồm 5 thành viên hợp danh. Ông Quân góp 10%, ông Bảo 25%, ông Chiến 10%, ông Dũng 15%, ông Hùng 10%. Bà Cúc ( cán bộ hưu trí) là thành viên góp vốn của công ty góp 30%. Điều lệ cty quy định giống như luật DN. Ngày 25-03-2007, ông Bảo với tư cách chủ tịch hội đồng thành viên kiêm Giàm đốc cty đã triệu tập phiên họp Hội đồng thành viên để quyết định về dự án đầu tư mới của cty. Phiên họp được triệu tập hợp lệ, tất cả thành viên của cty đã tham dự, nhưng khi thông qua qđịnh chỉ có ông Quân, ông Chiến, ông Dũng và ông Hùng biểu quyết nhất trí sửa đổi điểu lệ. Hỏi quyết định này đã được thông qua hay chưa? Vì sao?

    Trả lời: Theo quy định tại Khoản 3, Điều 135 Luật DN 2005, quyết định về vấn đề dự án đầu tư phải có ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận. Theo tình huống việc thông qua quyết định về dự án đầu tư có 4/5 thành viên hợp danh biểu quyết nhất trí. Như vậy, quyết định về dự án đầu tư nói trên đã được thông qua.

     

    2) Ông Hùng là trưởng phòng kinh doanh của cty đã được một đối tác đề nghị ký 1 hợp đồng cho cty có giá trị nhỏ? Hỏi ông Hùng có thể đại diện cty ký hợp đồng này hay ko? Vì sao?

    Trả lời: Hùng có thể đại diện cho cty ký hợp đồng này. Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 134 Luật DN 2005, thành viên hợp danh có quyền nhân danh công ty đàm phán và ký kết hợp đồng.

    Bài 4:

    1) DN tư nhân An Phú có trụ sở tại quận Tân Bình, TP HCM, do Nguyễn Văn Quang là chủ DN. Ngày 20/06/2007, doanh nghiệp An Phú ký hợp đồng mua 5 chiếc xe ô tô của cty TNHH Toàn Thắng có trụ sở tại quận Lê Chân, TP HP. Khi thực hiện HĐ cty Toàn Thắng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán vì vậy DN An Phú qđịnh khởi kiện tại toà án. Hỏi toà án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói trên,?

    Trả lời:   Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố HP có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói trên (Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự)

    2) Đầu năm 2008 do kinh doanh thua lỗ, DN An Phú bị tuyên bố phá sản, 3/2009 Nguyễn Văn Quang muốn thành lập 1 cty TNHH để tiếp tục KD. Hỏi anh Quang có thể thành lập DN mới hay ko?

    Trả lời:  Theo Khoản 2 Điều 94 Luật phá sản, chủ DNTN ko đc thành lập DN mới trong thời hạn từ 1 đến 3 năm. Thời điểm DN An Phú tuyên bố phá sản đến T3/2009 mới có 1 năm 2 tháng, nên Anh Quang vẫn không được phép thành lập DN mới

    Bài 5:

    Cty TNHH X có trụ sở tại huyện Thuỷ Nguyên TP HP gồm 4 thành viên: Quân, Bình, Hùng, và Dũng. Theo điều lệ cty Quân là chủ tịch hội đồng thành viên, Hùng là giám đốc cty và là người đại diện trc pháp luật của cty. Ngày 10/03/2007, Quân đã đại diện cho cty ký HĐ mua 10 tấn thép của cty TNHH Y có trụ sở tại quận Đống Đa, HN mà ko có sự uỷ quyền của Hùng. HỎI: 1) HĐ do Quân ký kết có hiệu lực pháp luật hay ko? Vì sao? 2) Cty X muốn khởi kiện để giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐ nói trên thì phải khởi kiện tại toà án nào? Vì sao?

    Trả lời:

    • Theo quy định của pháp luật, các hợp đồng giao dịch của pháp nhân phải do người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó ký kết mới có hiệu lực pháp luật. Theo tình huống thì Hùng là giám đốc và là đại diện theo pháp luật của cty nên Hùng mới đc phép ký kết hợp đồng nhân danh công ty. Vì vậy việc Quân ký kết HĐ mà ko có ủy quyền của Hùng là ko hợp pháp.
    • Công ty X muốn khởi kiện để giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐ nói trên thì phải khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa (K1 Đ35 BLTTDS)

     

    Bài 6:

    ngày 10/9/2007 chi nhánh cty TM Sông Đông tại HN ( cty Sông Đông có trụ sở chính tại thị xã Hưng Yên, tỉnh HY. Chi nhánh cty đặt tại quận Đống Đa) được sự uỷ quyền của cty đã ký HĐ số 02/HĐ/TPĐ-SL với cty TM Tân Bình Minh ( trụ sở chính tại quận Hai Bà Trưng, Hn) về việc bán 500 chiếc tủ lạnh HITACHI model R-15A4BK, sx tại Thái Lan, đơn giá 3tr/chiếc. theo HĐ bên mua phải thanh toán đầy đủ trong vòng 1 tháng từ ngày nhận hàng. Ngày 7/11/08, bên bán đã giao đủ hàng cho bên mua, nhưg cty Tân Bình Minh mới thanh toán 500tr. Ngày 25/3/08 sau nhiều lần khiếu nại ko thành, bên bán quyết định khởi kiện. HỎI 1) xđịnh nguyên đơn, bị đơn trong tình huống trên. 2) nguyên đơn phải khởi kiện tại cơ quan nào? Vì sao? 3) yêu cầu của nguyên đơn bao gồm: – buộc cty Tân Bình Minh bồi thường các thiệt hại psinh do bên bán phải vay vốn NH để nhập hàng, tính theo lãi suất tiền vay NH là 1% tháng.

    • Phạt do vi phạm HĐ là 10% tổng gtrị HĐ là 1,5tỷ x 10% = 150tr. Nhận xét về yêu cầu của nguyên đơn.

    Trả lời:

    • Nguyên đơn: Công ty TM Sông Đông tại HN ,Bị đơn: Công ty Tân Bình Minh
    • Nguyên đơn phải khởi kiện tại tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng ((Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự))
    • Nhận xét:
    • Phạt vi phạm HĐ: Theo quy định của Luật TM, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ HĐ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ HĐ bị vi phạm.

    Cho đến thời điểm hiện tại, Công ty Tân Bình Minh đã thanh toán 500tr. Phần công ty Tân Bình Minh chưa thanh toán còn lại là 1 tỷ.

    Như vậy mức phạt vi phạm tối đa nguyên đơn có thể đưa ra là: 1 tỷ x 8% = 80 triệu

    Bài 7:

    Cty TNHH Phương Nam ( trụ sở chính tại TP Nha Trang, K.Hoà) đã đký thành lập năm 2006 với mức vốn điều lệ 1tỷ. theo bản cam kết góp vốn của các tviên khi đký thành lập cty thì tỉ lệ góp vốn như sau: ông Dũng 300tr, đồng thời là giám đốc, người đại diện theo pluật của cty, Bà Mơ 200tr và là chủ tịch hội đồng thành viên, Bà Hường 300tr, ông Quân 200tr. Điều lệ cty hoàn toàn phù hợp với Luật DN 2005. tháng 3/2007, Hội đồng thành viên họp để xem xét trách nhiệm của GĐ trong việc điều hành hoạt động cty ko có hiệu quả. Ông Quân và bà Mơ đã bỏ phiếu bãi miễn chức danh GĐ của ông Dũng và bầu bà Hường làm GĐ. HỎI: 1) Nhận xét về qđịnh của hội đồng tviên. 2) do cty tiếp tục thua lỗ ko thanh toán đc nợ, đầu năm 2008 các chủ nợ của cty quyết định nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. xác định toà án có thẩm quyền giải quyết. 3) Tsản của cty Phương Nam chỉ còn đủ trả cho 2/3 số nợ của cty. Hỏi các thành viên có phải chịu trách nhiệm trả nợ còn thiếu của cty ko? Vì sao?

    Trả lời:

    • Theo Điểm a Khoản 2 Điều 52 Luật DN, thì qđịnh của HĐTV được thông qua tại cuộc họp khi Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận, theo tình huống, số phiếu biểu quyết của ông Quân và bà Mơ chiếm 40%.vì vậy quyết định bãi miễn chức danh GĐ của ông Dũng là không đúng.
    • Tòa án có thẩm quyền giải quyết thủ tục phá sản là Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. (Khoản 2 Điều 7 Luật phá sản 2004)
    • Các thành viên không phải chịu trách nhiệm trả nợ còn thiếu của công ty.

    Vì theo quy định, thành viên cty TNHH chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP BÀI TẬP NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP BÀI TẬP NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP BÀI TẬP NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-C%C6%AF%C6%A0NG-%C3%94N-T%E1%BA%ACP-B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-NGUY%C3%8AN-L%C3%9D-TH%E1%BB%90NG-K%C3%8A-KINH-T%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP BÀI TẬP NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ

    BÀI TẬP NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ

    Đề:

    Bài…2…..: Tiền lương của một tổng thể bao gồm 7 nhân viên quản lý thuộc 1 công ty  trong tháng 9/2010 như sau:      4,7 ;   6,9  ;   7,3  ;   7,6  ;   7,8  ;   8,7  ;   8,9   (tr.đ)

    Một mẫu bao gồm 4 nhân viên được chọn ngẫu nhiên từ 7 nhân viên trên, số liệu về tiền lương như sau:          4,7  ;  7,3  ;  7,8  ;  8,7     (triệu đồng)

    Yêu cầu:

    1. Tính tiền lương trung bình, phương sai về tiền lương của tổng thể
    2. Tính tiền lương trung bình, phương sai về tiền lương mẫu.

    Bài làm:

    1. Tiền lương trung bình của tổng thể là:

    x = =7.4

    Phương sai về tiền lương của tổng thể là:

     

            (µ)2
    4.7 1 4.7 22.09 7.29
    6.9 1 6.9 47.61 0.25
    7.3 1 7.3 53.29 0.01
    7.6 1 7.6 57.76 0.04
    7.8 1 7.8 60.84 0.16
    8.7 1 8.7 75.69 1.69
    8.9 1 8.9 79.21 2.25
    Tổng: 7 51.9 396.49 11.69

     

    µ =  = =7.4

    s2 =  =11.69/7 = 1.67

    1. Tiền lương trung bình của mẫu là:

    x = =  = 7.125

            (µ)2
    4.7 1 4.7 22.09 5.88
    7.3 1 7.3 53.29 0.03
    7.8 1 7.8 60.84 0.46
    8.7 1 8.7 75.69 2.48
    Tổng: 4 28.5 211.91 8.85

    µ =  =  = 7.125

    s2 =  = 8.85/4 = 2.2125

     

    Đề:

    Bài……5…..: Có tài liệu về giá cả và sản lượng hàng hoá tiêu thụ tại một thị trường như sau:

    Sản phẩm Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007
    Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ
    A

    B

    C

    Kg

    Mét

    lít

    8

    10

    9

    1000

    2000

    4000

    9

    10,2

    9,4

    1100

    2400

    6000

    Yêu cầu:  Tính chỉ số chung về lượng theo phương pháp iq

    Bài làm:

     

    Sản phẩm Đơn vị Năm 2006 Năm 2007        
    Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ
    A Kg 8 1000 9 1100 9000 8000 9900 8800
    B Mét 10 2000 10.2 2400 20400 20000 24480 24000
    C Lít 9 4000 9.4 6000 37600 36000 56400 54000
    Tổng: 67000 64000 90780 86800

    Chỉ số chung về lượng theo phương pháp iq:

    Iq =  =   = 1.36

     

    Đề:

    Bài…1….:  Lượng hàng bán ra và giá cả 2 mặt hàng ở hai thị trường TP.HCM và Hà Nội

    Mặt hàng TP.HCM Hà Nội
    Lượng Giá Lượng Giá
    X 700 20.000 430 24.000
    Y 280 35.000 230 40.000
    Z 480 16.000 650 12.000

    Tính sự biến động về khối lượng, giá cả hàng tiêu thụ ở hai thị trường trên?

    Bài làm

    Chỉ số không gian giá tổng hợp :

    Gía cả hàng hóa tiêu thụ 3 mặt hàng trên tại TP HCM so với Hà Nội là 95.83%, ít hơn 4.17% tương ứng là 130.16 triệu đồng

    Chỉ số không gian lượng tổng hợp:

    .Lượng hàng hóa tiêu thụ 3 mặt hàng trên tại TP HCM  so với Hà Nội là 119.95%, nhiều hơn 19.95% tương ứng là 5343.9 đơn vị

    Đề:

    Bài……3….: Có tài liệu về năng suất lao động của một mẫu gồm 50 công nhân trong một xí nghiệp như sau (kg):

    Năng suất lao động Số công nhân (người)
    <43

    43 – 47

    47 – 51

    51 – 55

    55 – 59

    59 – 63

    ≥ 63

    4

    5

    9

    13

    8

    7

    4

    Yêu cầu:

    1. Tính năng suất lao động trung bình của công nhân trong xí nghiệp.
    2. b) Tính mốt về năng suất lao động

    Bài làm:

    Năng suất lao động Số công nhân
    41

    45

    49

    53

    57

    61

    65

    4

    5

    9

    13

    8

    7

    4

    Tổng: 50

    Năng suất lao động tung bình của công nhân trong xí nghiệp là:

    (kg/ng)

    Mod:

    (kg/ng)

    Đề:

    Bài……4….: Có tài liệu về giá cả và sản lượng hàng hoá tiêu thụ tại một thị trường như sau:

    Sản phẩm Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007
    Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ
    A

    B

    C

    Kg

    Mét

    lít

    8

    10

    9

    1000

    2000

    4000

    9

    10,2

    9,4

    1100

    2400

    6000

    Yêu cầu: Tính chỉ số chung về giá theo phương pháp ip

    Bài làm:

    Sản phẩm Đơn vị Năm 2006 Năm 2007        
    Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ
    A Kg 8 1000 9 1100 9000 8000 9900 8800
    B Mét 10 2000 10.2 2400 20400 20000 24480 24000
    C Lít 9 4000 9.4 6000 37600 36000 56400 54000
    Tổng: 67000 64000 90780 86800

    Phương pháp Laspeyrers:

    Ip =

    Ip =  = 1.047 =104.7%

    Phương pháp Peasche:

    Ip =

    Ip =  = 1.046 =104.6%

    Phương pháp Fisher:

    Ip  =

    Ip =  = 1.046 =104.6%

    Kết luận:

    Gía cả ba mặt hàng A,B,C năm 2006 so năm 2007 bằng 0.146 lần (hay 104.6%) tăng 0.046 lần (hay 4.6%) tương ứng với tổng mức tiêu thụ hàng hóa tăng 2944 triệu đồng.

     

    Đề:

    Bài….6…….: Có tài liệu về giá cả và sản lượng hàng hoá tiêu thụ tại một thị trường như sau:

    Sản phẩm Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007
    Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ
    A

    B

    C

    Kg

    Mét

    lít

    8

    10

    9

    1000

    2000

    4000

    9

    10,2

    9,4

    1100

    2400

    6000

    Yêu cầu:

    Phân tích sự thay đổi tổng mức tiêu thụ hàng hoá của 3 sản phẩm năm 2007 so với năm 2006 do ảnh hưởng bởi 2 nhân tố: giá cả và lượng hàng hoá tiêu thụ

    Bài làm:

     

    Sản phẩm Đơn vị Năm 2006 Năm 2007        
    Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ Giá đv (1000đ) Lượng tiêu thụ
    A Kg 8 1000 9 1100 9000 8000 9900 8800
    B Mét 10 2000 10.2 2400 20400 20000 24480 24000
    C Lít 9 4000 9.4 6000 37600 36000 56400 54000
    Tổng: 67000 64000 90780 86800

    Chỉ số mức tiêu thụ hàng hóa:

    Ip = Ip x Iq

    =x

    =x

    1.418 = 1.046 x 1.356

    Số tuyệt đối:

    = (-)+(-)

    (90780-64000) = (90780-86800)+(86800-64000)

    26780 = 3980+22800

    Số tương đối:

    =

    =+

    41.84% = 6.22% + 35.62%

    Nhận xét:

    Tổng mức tiêu thụ hàng hóa 2007 so với 2006 bằng 141.8% tăng 41.84% tương ứng số tiền 26777.6 triệu đồng là do hai nguyên nhân tác động:

    Do giá các mặt hàng nói chung năm 2007 so với năm 2006 tăng 34.62% làm cho tổng mức tiêu thụ hàng hóa tăng 6.22% tươn ứng tăng 3980.8 đồng.

    Do lượng hàng hóa tiêu thụ các mặt hàng nói chung năm 2007 so với năm 2006 tăng 35062% làm cho tổng mức tiêu thụ hàng hóa tăng 35.62% tương ứng tăng tăng 22796.8 triệu đồng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Môn Luật Kinh Tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-C%C6%AF%C6%A0NG-%C3%94N-T%E1%BA%ACP-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-NH%C3%80-N%C6%AF%E1%BB%9AC-V%E1%BB%80-KINH-T%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    BÀI KIỂM TRA

    MÔN : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    Đề bài :

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp ? Để quản lý Nhà nước phải dùng phương pháp nào, các phương pháp này trong các chế độ xã hội khác nhau có gì giống và khác nhau ? Vì sao ?

    Bài làm

    1. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế :

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.

    Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.

    Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).

    2. Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp :

    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội.

    Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

    Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :

    • Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để đề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế.
    • Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế

    giới.

    • Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế.
    • Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế – kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý.
    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.

    Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Bản thân khoa học không thể đua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn. Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế. Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế. Kết quả của nghệ thuật quản lý là đưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lsy.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là một nghề nghiệp với bộ máy là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước. Những người làm việc trong các cơ quan đó đều phải được qua đào tạo như một nghề nghiệp để có đủ tri thức, kỹ năng năng lực làm công tác quản lý các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước.

    3. Các phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế :

    Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân ( tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và công bằng kinh tế …).

     

    Qúa trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng những nguyên tắc đã định. Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và được thể hiện thông qua các phương pháp quản lý nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của quản lý kinh tế.

    Các phương pháp quản lý kinh tế mang tính chất đa dạng và phong phú, đó là vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý trong quản lý kinh tế vì nó chính là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý kinh tế. Phương pháp quản lý kinh tế thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước.

    Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm :

    3.1 Các phương pháp hành chính :

    Các phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết đinhj dứt khoát mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong những tình huống nhất định.

    Phương pháp này có hai đặc điểm cơ bản là :

    • Tính bắt buộc : các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tacs động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng.
    • Tính quyền lực : các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng với thẩm quyền của mình.

    Vai trò của các phương pháp hành chính là xác lập trật tự kỷ cương làm việc trong hệ thống; khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống; có thể giấu được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng.

    Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nằm vững những yêu cầu chặt chẽ sau :

    • Quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế.
    • Khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của cấp ra quyết định, chống việc lạm dụng quyền hành nhưng không có trách nhiệm cũng như chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không sử dụng những quyền hạn được phép.

    3.2. Các phương pháp kinh tế :

    Là phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động. Các phương pháp kinh tế chính là các phương pháp tác động của Nhà nước thông qua sụ vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế – kỹ thuật; tức là về thực chất các phương pháp kinh tế là một biện pháp để sử dụng các quy luật kinh tế.

    Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là nó tác động lên đối tượng quản lý không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ.

    Việc sử dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn được Nhà nước định hướng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, các mục tiêu kinh tế từng thời kỳ của đát nước. Nhưng đây không phải là những nhiệm vụ gò ép, mệnh lệnh chủ quan mà là những mục tiêu, nhiệm vụ có căn cứ khoa học và cơ sở chủ động. Nhà nước tác động lên đối tượng quản lý bằng các phương pháp kinh tế theo những hướng sau :

    • Định hướng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thời gian, từng phân hệ, từng cá nhân của hệ thống.
    • Sử dụng các định mức kinh tế ( mức thuế, mức lãi suất ngân hàng v.v…), các biện pháp đòn bẩy, kích thích kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp phát triển sản xuất theo hướng vừa lợi nhà, vừa ích nước.
    • Bằng chính sách ưu đãi kinh tế để điều chỉnh hoạt động kinh tế trong cả nước và thu hút được tiềm năng của Việt kiều cũng như các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

    Xu hướng chung ngày nay của các quốc gia là mở rộng việc áp dụng các phương pháp kinh tế. Để thực hiện hiệu quả phương pháp này cần chú ý đến :

    • Hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hoá – tiền tệ, quan hệ thị trường.
    • Thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho các cấp dưới.
    • Các cán bộ quản lý phải là những người có trình độ và năng lực về nhiều mặt. Bởi vì sử dụng phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý phải hiểu biết và thông

    thạo nhiều loại kiến thức và kinh nghiệm quản lý đồng thời phải có bản lĩnh tự chủ vững vàng.

    3.3. Phương pháp giáo dục :

    Phương pháp giáo dục trong quản lý Nhà nước về kinh tế là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng quản lý Nhà nước về kinh tế, nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

    Phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh tế vì đối tượng của quản lý là con người – một thực thể năng động và là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội. Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý.

    Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho người lao động phân biệt phải – trái, đúng – sai, lợi – hại, đẹp – xấu, thiện – ác, từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với doanh nghiệp.

    Phương pháp giáo dục thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng người lao động, có tác đông giáo dục rộng rãi trong xã hội.

    Nội dung của phương pháp giáo dục bao gồm :

    • Giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước để mọi người dân đều hiểu, đều ủng hộ và đều quyết tâm xây dựng đất nước, có ý chí làm giàu.
    • Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, có năng suất, có hiệu quả, có tổ chức.
    • Xoá bỏ tâm lý và phong cách của người sản xuất nhỏ mà biểu hiện là chủ nghĩa cá nhân, thu vén nhỏ mọn, tâm lý ích kỷ gia đình, đầu óc thiển cận, hẹp hòi, tư tưởng địa phương, cục bộ, bản vị, phường hội, bình quân chủ nghĩa, không chịu để ai hơn mình, ghen ghét, đố kị nhau, tác phong làm việc luộm thuộm, tuỳ tiện, cửa quyền, không biết tiết kiệm thời giờ, thích hội họp.
    • Xoá bỏ tàn dư tư tưởng phong kiến, thói đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo, thích đặc quyền đặc lợi, thích hưởng thụ, kìm hãm thanh niên, coi thường phụ nữ.
    • Xoá bỏ tàn dư tư tưởng tư sản, với các biểu hiện xấu như chủ nghĩa thực dụng vô đạo đức, chủ nghĩa tự do vô Chính phủ “cá lớn nuốt cá bé”.
    • Xây dựng tác phong đại công nghiệp; tính hiệu quả, hiện thực, tính tổ chức, tính kỷ luật, đảm nhận trách nhiệm, khẩn trương, tiết kiệm.

    Các hình thức giáo dục bao gồm : sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng ( sách, báo, đài phát thanh, truyền hình…), sử dụng các đoàn thể, các hoạt động có tính xã hội. Tiến hành giáo dục cá biệt, sử dụng các hội nghị tổng kết, hội thi tay nghề, hội chợ triển lãm v.v… sử dụng các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả v.v…

    Như vậy việc sử dụng các phương pháp quản lý kinh tế vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Tính khoa học đòi hỏi phải nắm vững đối tượng với những đặc điểm vốn có của nó để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, phù hợp với đối tượng. Tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra. Quản lý kinh tế có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng đắn và kết hợp linh hoạt các phương pháp quản lý. Đó chính là tài nghệ thuật quản lý, của Nhà nước nói riêng, của các viên chức quản lý nói chung.

    4. Sự giống nhau và khác nhau của các phương pháp quản lý Nhà nước về kinh tế trong các chế độ xã hội khác nhau :

    Về bản chất, quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa vì một nhóm nhỏ những người giầu, những người này nắm quyền lực kinh tế, đồng thời nắm quyền lực chính trị – Nhà nước của giai cấp tư sản. Quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa vì đại bộ phận người dân lao động vì xoá đói giảm nghèo, vì mục tiêu phát triển – Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tuy nhiên, Nhà nước xã hội chủ nghĩa với chế độ công hữu và chính quyền nằm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà nước đó sẽ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người bằng bất kỳ cách quản lý nào của mình.

    Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mang tính thị trường thuần tuý :

    Trong nền kinh tế, các nguồn lực sản xuất cũng như các hàng hoá và dịch vụ kinh tế được phân bố cho các hoạt động và các mục đích sử dụng khác nhau thông qua cái mà người ta gọi là “cơ chế thị trường”. Việc quyết định xem sản xuất và tiêu thụ cái gì bao nhiêu đều được các đơn vị kinh tế cá thể đưa ra. Những đơn vị kinh tế đưa ra quyết định dựa trên các giải pháp mà họ có trong đó có yếu tố giá thị trường của các loại hàng hoá, dịch vụ và nguồn lực mà họ phải chấp nhận, không được tác động đến. Mô hình kinh tế này nhấn mạnh đến cạnh tranh hoàn hảo và bàn tay vô hình. Vai trò quản lý của Nhà nước không được nhấn mạnh, Nhà nước sử dụng các phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế để quản lý nền kinh

    tế song chủ yếu phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản chi phối, không chú trọng tới những vấn đề xã hội.

    Trong nền kinh tế thị trường phát triển :

    Chính phủ ngày càng nắm nhiều quyền kiểm soát hơn đối với toàn bộ hoạt động kinh tế, không chỉ thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như các chính sách tài khoá và tiền tệ mà còn thông qua việc :

    • Tham gia trực tiếp ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế dưới hình thức các ngành công nghiệp được quốc hữu hóa, các doanh nghiệp Nhà nước và các chương trình đầu tư công cộng.
    • Kế hoạch hoá kinh tế, điều tiết hoạt động của các công ty tư nhân, đánh thuế các nhà tư doanh và các doanh nghiệp.
    • Tiến hành và điều tiết các hoạt động ngoại thương…

    Trên nhiều phương diện, “bàn tay vô hình ” của cơ chế thị trường đã được thay bởi “bàn tay hữu hinh” chỉ đạo của Chính phủ trung ương như một lực lượng kinh tế chủ yếu trong những xã hội tư bản chủ nghĩa này. Nhà nước sử dụng cả phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế để quản lý nền kinh tế.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa “mệnh lệnh”

    Đây là nền kinh tế không chỉ dựa trên chế độ sở hữu công cộng đối với toàn bộ các nguồn lực của sanr xuất mà còn dựa trên việc thay thế hoàn toàn cơ chế giá thị trường bằng việc kế hoạch hoá tập trung toàn bộ các hoạt động kinh tế. Tất cả các loại giá cả đều do Nhà nước quyết định. Các kế hoạch tổng thể cho toàn quốc cũng như cho từng vùng được Nhà nước tạo lập ra hàng năm. Nhu cầu và khả năng sẵn có về nguồn lực được cân đối bởi những quyết định phân bổ của Trung ương chứ không phải bởi những tín hiệu của giá cả trong hệ thống thị trường. Trong nền kinh tế này, Nhà nước chỉ sử dụng phương pháp quản lý hành chính và còn rất nhiều hạn chế làm cho nền kinh tế bị kìm hãm không phát triển được.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng “thị trường” :

    Các hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường cố gắng hội tụ những tinh hoa của cả hai chế độ : tính đơn giản của cơ chế giá tự động và hiệu quả của chủ nghĩa tư bản thị trường cùng với chủ nghĩa bình quân của hình thức xã hội chủ nghĩa đối với các tư liệu sản xuất và phân phối. Công tác kế hoạch hoá của

    Trung ương đóng vai trò kiểm soát trực tiếp. Nhà nước sử dụng kết hợp cả các phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính.

    Trong nền kinh tế hỗn hợp giữa thị trường và kế hoạch hoá :

    • đây, những mức độ khác nhau về sở hữu tư nhân đối với các nguồn lực tồn tại song song với quy mô đáng kể của sở hữu Nhà nước và sự tham gia của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế. Có sự tồn tại song song của hình thức phân bổ nguồn lực và sản phẩm bởi thị trường và giá cả do Nhà nước quy định, cùng với hình thức kế hoạch hoá tập trung và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của nền kinh tế bởi Nhà nước.

    Nền kinh tế Việt nam là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp dựa trên chế độ công hữu tư liệu sản xuất với hai hình thức Nhà nước và tập thể là chủ yếu, đã chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hàng loạt các biện pháp cải cách chính sách kinh tế vĩ mô đã được thực hiện, tạo lập được đồng bộ các yếu tố thị trường, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tài chính, tiền tệ và giá cả. Nhà nước tham gia vào quá trình quản lý kinh tế với tư cách là nhà quản lý vĩ mô, Nhà nước điều tiết các hoạt động thị trường, giữ cho nền kinh tế phát triển ổn định đi theo đúng định hướng do Đảng, Nhà nước đã vạch ra. Nhà nước sử dụng tổng hợp các phương pháp đã nêu ở trên để quản lý nền kinh tế quốc gia, trong đó phương pháp kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất ( khác hẳn với trước đây trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì phương pháp hành chính được sử dụng chủ yếu ). Nhờ vậy trong những năm qua nền kinh tế Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc, theo đúng định hướng XHCN.

    Trong những năm tới đây, để nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước,chúng ta cần tiếp tục thực hiện đổi mới, sắp xếp và kiện toàn bộ máy Nhà nước và đặc biệt là củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Có như vậy Nhà nước mới đủ thực lực và sức mạnh kinh tế và quản lý để thực hiện tốt vai trò là bà đỡ cho nền kinh tế phát triển, thực hiện tốt chức năng người quản lý vĩ mô nền kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Đề Cương Ôn Tập Môn Luật Kinh Tế

    Đề Cương Ôn Tập Môn Luật Kinh Tế

    Đề Cương Ôn Tập Môn Luật Kinh Tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-M%C3%B4n-Lu%E1%BA%ADt-Kinh-T%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Môn Luật Kinh Tế 

    ÔN TẬP MÔN LUẬT KINH TẾ

    CÂU 1: so sánh các loại hình doanh nghiệp với nhau

         Tên

    p/l

    Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp tư nhân  công ty TNHH hai thành viên trở lên  công ty cổ phần  công ty hợp doanh
    định nghĩa  – là tổ chức kinh tế do NN sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thứ  công ty nhà nước,  công ty cổ phần,  công ty trách nhiệm hữu hạn.

    Đ1- Ldoanh nghiệp NN

    – là doanh nghiệp do 1 cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt đông của doanh nghiệp. Đ141- Ldoanh nghiệp – là tổ chức, cá nhân, số lg không vượt quá 50 ng.

    Đ 38- L doanh nghiệp

    – vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau.

    – số cổ đông nhỏ lớn 3 và không hạn chế số lượng.

    Đ77- L doanh nghiệp

    – Ít nhất 2 thành viên là đồng sở hữu, kinh doanh với 1 tên gọi chung, ngoài ra có thành viên góp vốn.

    Đ130- L doanh nghiệp

    Tư cách pháp nhân – Có tư cách pháp nhân.

    – được phát hành cổ phần &trái phiếu

    – Không có tư cách pháp nhân

    – không được phát hành chứng khoán

    – Có tư cách pháp nhân

    – được phát hành trái phiếu & không được phát hành cổ phần.

    – Có tư cách pháp nhân.

    – được phát hành cổ phần & trái phiếu.

    – Có tư cách pháp nhân.

    – không được phát hành chứng khoán & cổ phiếu.

     

    Chế độ chịu  trách nhiệm

    – chế độ trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số tài sản của công ty. – Chiụ trách nhiệm là vô hạn đối với các khoản nợ và các nghãi vụ TS khác. – chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp. – Chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp. – THÀNH VIÊN hợp danh chịu trn về toàn bộ tài sản của mình.

    – THÀNH VIÊN góp vốn chỉ chịu tn trong phạm vi góp vốn.

     

     

    + tổ chức doanh nghiệp

     

    +thủ tục và hồ sơ thành lập.

     

     

    lợi nhuận

    – công ty NN không có hội đồng quản trị

    – gồm: giám đốc, các phó giám đốc, kế toán trưởng, và bộ máy giúp việc.

    (Đ 23- luật doanh nghiệp).

    – đề nghị t/l cy NN- Đ 7- L DOANH NGHIỆPnn

    – Quy định t/l mới công ty NN- Đ9 LDOANH NGHIỆP nn.

    – đăng ký kinh doanh  công ty NN- Đ 10 Ldoanh nghiệpnn.

    – công bố việc t/l  công ty Nhà nước – Đ10….

    – chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hợp đồng kinh doanh của doanh nghiệp.

    – chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền trực tiếp or thuê ng khác quản lý,điều hành doanh nghiệp.

    – là nguyên đơn, bị đơn.(Đ- 143- L DOANH NGHIỆP)

    – giấy đề nghị đăng ký kinh doanh.

    – bản sao giấy CMND(Hộ chiếu,giấy chứng thực cá nhân khc)

    – xác nhận vốn pháp định của cơ quan có thẩm quyền.

    – chứng chỉ hành nghề.(16- Ldoanh nghiệp)

    – chủ doanh nghiệp tư nhân được hưởng.

    (Đ 143- Ldoanh nghiệp)

    – gồm: hội đồng thành viên,chủ tịch hội đông thành viên,giám đốc or tổng giám đốc.

    – có tên 11 thành viên phải thành lập ban kiểm soát.

    (Đ46- Ldoanh nghiệp).

    – giấy đề nghị đăng ký kinh doanh

    – dự thảo điều lệ công ty.

    – danh sách cổ đông sáng lập.

    – xác nhận vốn pháp đinh.

    – chứng chỉ hành nghề của giám đốc (t.giám đốc)

    (Đ18- Ldoanh nghiệp).

    – chia theo tỷ lệ vốn góp.

    (Đ 41- Ldoanh nghiệp)

    – Có đại hội cổ đông = ban kiểm soát + hội đồng quản trị. G đốc (tổng giám đốc), các phòng ban.

    – hôi đồng quản trị là cơ quan cao nhất của  công ty cổ phần

    (Đ95- Ldoanh nghiệp).

    – giấy đề nghị đăng ký kinh doanh.

    – dự thảo điều lệ công ty.

    – danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ đi kèm theo.

    – xác nhận vốn pháp định của cơ quan

    – chứng chỉ hành nghề của giám đốc (tgiám đốc)

    (Đ- 19 Ldoanh nghiệp).

    – có hội đồng thành viên, chủ tịch hội đông thành viên kiêm giám đốc or tổng giám đốc.

    – môi thành viên hợp danh đều có quền yêu cầu triệu tập HỢP ĐỒNGTHÀNH VIÊN.quyềnbiểu quyết:3/4 số thành viên.

    (Đ- 135 L DOANH NGHIỆP).

    – giấy đề nghị đăng ký kinh doanh

    – dự thảo điều lệ  công ty.

    – danh sách thành viên CMND, hộ chiếu.

    – xác nhận vốn pháp định của cơ quan.

    Chứng chỉ hành nghề của thành viên.

    (Đ17- Ldoanh nghiệp)

     

    Phần 2: giải quyết tranh chấp

    Có 4 hình thức giải quyết tranh chấp :

    • Thương lượng: là hình thức tự giải quyết tranh chấp trong đó các bên tự bàn bạc thỏa thuận để gạt đi những bất đồng không có sự tham gia của bất kỳ bên thứ 3 nào(hình thức phổ biến nhất).
    • Hòa giải;là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ 3 làm trung gian, giúp các bên tranh chấp đạt được giải pháp nhằm loại trừ xung đột đã phát sinh.
    • Trọng tài:là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba nhằm chấm dứt xung đột bằng cách đưa ra phán quyết dựa trên sự thỏa thuận của các bên tranh chấp;có hiệu lực bắt buộc đối với mỗi bên.
    • Tòa án: là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan xét xử của nhà nước thông qua hoạt động của các thẩm phán theo 1 thủ tục pháp lý chặt chẽ nhằm ra 1 bản án hay 1 quyết định về vụ tranh chấp buộc các bên phải thi hành.

    Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được thực hiện bằng một trong hai con đường: Một là, giải quyết tại Toà án Nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Nghị định số 25/2004/NĐ- CP ngày 15/01/2004 của Chính phủ.

    Như vậy, khi xảy ra tranh chấp các bên có thể đưa vụ việc ra toà án hoặc trọng tài để giải quyết. Hai con đường này có sự khác biệt cơ bản, tuy kết quả cuối cùng đều có thể được thực thi bằng cơ quan thi hành án.

    Toà án là cơ quan xét xử của Nhà nước, nhân danh nước CHXHCN Việt Nam quyết định đưa vụ tranh chấp ra xét xử theo trình tự Tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình tố tụng như vậy, đương nhiên là phải chặt chẽ, với nhiều thủ tục tố tụng rườm rà, thời gian kéo dài; xét xử công khai; án được tuyên không tuỳ thuộc ý chí các bên mà là kết quả nghị án của Hội đồng xét xử; án đã tuyên dù có quyền kháng cáo, nhưng “gỡ” được không phải dễ.

    Trong khi đó, trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, chỉ nhận giải quyết các vụ tranh chấp khi các bên có thoả thuận bằng văn bản về việc chọn trọng tài. Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc “phân xử trọng tài” phù hợp với quy định trong Pháp lệnh trọng tài thương mại và quy chế của Tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn. Thủ tục giải quyết có nhiều mặt ngược với tố tụng toà án.

    Ưu, nhược điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với giải quyết tại toà án

    Thực tế cho thấy, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có những ưu điểm vượt trội so với giải quyết tranh chấp tại toà án. Những ưu điểm đó là:

    – Đề cao ý chỉ tự do thoả thuận của các bên tranh chấp;

    – Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại đơn giản, không có nhiều công đoạn tố tụng, nhanh, gọn, linh hoạt đáp ứng đòi hỏi hoạt động thương mại của các bên có liên quan;

    – Nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó, có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh;

    – Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách thức lựa chọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng;

    – Trọng tài viên – người chủ trì phân xử tranh chấp, có chuyên môn sâu và kinh nghiệm giải quyết đối với lĩnh vực của vụ tranh chấp;

    – Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của toà án;

    – Tố tụng trọng tài không bị ràng buộc về mặt lãnh thổ, nghĩa là các bên muốn chọn trung tâm trọng tài nào cũng được, bất kể địa chỉ của họ ở đâu;

    – Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án;

    – Quyết định giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài phải được các bên thi hành nhanh chóng, trong thời hạn 30 ngày. Quá hạn đó, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh, nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành quyết định trọng tài;

    – Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện;

    – Tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài – một tổ chức phi Chính phủ, nhưng được hỗ trợ, đảm bảo về pháp lý của toà án trên các mặt sau: Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng tài.

    – Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm: Bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ; kê biên tài sản tranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài khoản tại ngân hàng.

    – Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạt cảm. Trong khi đó, toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ “pháp lý”.

    Tuy nhiên, tranh chấp kinh tế qua con đường trọng tài cũng có những nhược điểm so với tranh chấp tại toà án kinh tế. Đó là:

    – Cơ quan trọng tài kinh tế không có quyền ra lệnh kê biên khẩn cấp tạm thời đối với tài sản là đối tượng tranh chấp. Việc kê biên chỉ được thực hiện thông qua toà án trên cơ sở yêu cầu của trọng tài. Quá trình kê biên theo trình tự này có thể kéo dài, không đảm bảo phong tỏa tài sản kịp thời để phòng ngừa việc tẩu tán tài sản;

    – Phán quyết của trọng tài, tuy là chung thẩm, nhưng bên bị đơn có thể yêu cầu toà án xem xét lại. Như vậy, phán quyết của trọng tài nhiều lúc làm cho bên “thắng kiện” không yên tâm.

    Thực trạng về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và nguyên nhân

    Nếu so sánh giữa ưu và nhược điểm thì việc giải quyết tranh chấp kinh tế qua trọng tài là con đường tốt hơn đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay, số lượng giải quyết tranh chấp qua trọng tài kinh tế hết sức nhỏ. Tại thành phố Hà Nội, tranh chấp kinh tế bằng hình thức trọng tài năm 2005, chỉ có 13 vụ, năm 2004, khoảng 10 vụ. ở TP Hồ Chí Minh – nơi có nền kinh tế sôi động, số lượng doanh nghiệp chiếm phần lớn so với cả nước, tuy nhiên, số vụ đưa ra giải quyết bằng trọng tài chiếm một tỷ lệ nhỏ so với số lượng tranh chấp xảy ra trong đời sống thương mại ở nước ta. Theo chúng tôi, có ba nguyên nhân cơ bản sau đây:

    – Ý thức về pháp luật của các doanh nghiệp và việc kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt làm cho các chủ thể trong quan hệ đều vi phạm hợp đồng. Trong một giao dịch, bên này vi phạm việc này, bên kia sai việc khác; hoặc hôm nay, bên này sai, thì ngày mai, bên kia sai; người ta tìm cách thương thuyết “tay đôi” để giải quyết ổn thoả, nhằm giữ quan hệ làm ăn lâu dài. Vì lẽ đó, việc đưa nhau ra xử lý bằng trọng tài hoặc toà án các bên đều không muốn. Theo số liệu của Phòng kinh tế thương mại Việt Nam, giải quyết tranh chấp kinh tế qua toà án và trọng tài chỉ chiếm khoảng 90% số lượng các vụ tranh chấp trong thực tế.

    – Nhiều doanh nghiệp, cá nhân không am hiểu những vấn đề liên quan đến tố tụng thông qua con đường trọng tài thương mại. Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, ở nước ta có trọng tài kinh tế nhà nước – cơ quan này quản lý hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nhà nước. Nhưng việc đó đã bãi bỏ lâu. Từ đó, các doanh nghiệp và nhân dân chỉ quen tranh chấp bằng con đường tố tụng tại toà kinh tế. Nghiên cứu cho thấy, hầu hết các hợp đồng kinh tế chỉ có quy định hai biện pháp tranh chấp là tự thương lượng giải quyết, nếu không giải quyết được thì đưa ra giải quyết tại toà án có thẩm quyền. Trong một ngàn hợp đồng, chỉ có một vài hợp đồng chế định việc tranh chấp tại trọng tài kinh tế. Như vậy, phương pháp tự xử và xử lý tranh chấp tại toà đã ăn sâu vào tiềm thức của các doanh nghiệp.

    – Trọng tài kinh tế là tổ chức phi Chính phủ. Chúng ta sống trong hệ thống chính trị mà người dân nghĩ rằng chỉ có các quyết định của Đảng và Nhà nước mới có hiệu lực và tính khả thi. Với chiều dài của lịch sử, với thực tiễn cuộc sống đã làm cho dân ta nhận thức một cách không đầy đủ về xã hội dân sự. Đây là nhận thức về bề nổi, nhưng lại ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của tổ chức phi Chính phủ. Thực trạng này, phần lớn cũng do các yếu tố pháp lý gây nên. Pháp lệnh về trọng tài vẫn còn có những hạn chế, làm giảm hiệu lực hoạt động của các trung tâm trọng tài. Một phán quyết của trọng tài dù có chính xác đến đâu cũng cần phải có một quyết định công nhận và cho thi hành của Toà án hoặc quyết định của cơ quan thi hành án. Quy định này, làm tăng thêm tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi sử dụng trọng tài để phân xử tranh chấp.

    – Tồn tại trong bản thân của các trung tâm trọng tài. Thực tiễn là như vậy, nhưng mạng lưới trọng tài của chúng ta lại quá thưa thớt. Đến thời điểm hiện nay, chúng ta chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Hoạt động của các trung tâm trọng tài chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của các nhà sáng lập, nguồn thu từ các vụ tranh chấp. Nhưng các vụ tranh chấp quá ít ỏi, nguồn thu quá hạn hẹp, hạn chế khả năng phát triển công nghệ, mạng lưới, tuyên truyền, đào tạo…

    – Trọng tài kinh tế Nhà nước là cơ quan Trọng tài kinh tế cao nhất giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế ; chỉ đạo, hướng dẫn Trọng tài kinh tế các cấp áp dụng đúng đắn và thống nhất pháp luật trong tố tụng trọng tài kinh tế ; hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế ; tổng kết thực tiễn công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế ; xây dựng các dự án pháp luật hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế.

    Trọng tài kinh tế Nhà nước có thẩm quyền:

    1- Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế theo yêu cầu của các bên mà phần tranh chấp có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên; trong trường hợp một hoặc các bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì không giới hạn giá trị tranh chấp;

    2- Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa các bên không cùng ở trong một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương mà phần tranh chấp có giá trị từ 200 triệu đồng trở lên và các bên chưa đề cập đến việc yêu cầu Trọng tài kinh tế khác giải quyết;

    3- Kiểm tra, kết luận và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ hoặc từng phần do tự phát hiện hoặc theo yêu cầu của các đơn vị kinh tế, cơ quan, tổ chức hữu quan, của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương;

    4- Xét kháng cáo quyết định giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế của Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; đối với kháng cáo quyết định của Trọng tài viên Trọng tài kinh tế Nhà nước thì do Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước xét;

    5- Giám sát quyết định giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế hoặc xét kháng cáo của Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương. Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước giám sát quyết định của Trọng tài viên Trọng tài kinh tế Nhà nước;

    6- Xem xét lại quyết định giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế của Trọng tài viên Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương khi có tình tiết mới được phát hiện; đối với quyết định của Trọng tài viên Trọng tài kinh tế Nhà nước thì do Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước xem xét.

    Hội đồng Trọng tài viên của Trọng tài kinh tế Nhà nước có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

    1- Tham gia ý kiến với Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước về các chủ trương, biện pháp tổ chức hoạt động của Trọng tài kinh tế, về các dự án pháp luật hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế;

    2- Theo yêu cầu của Chủ tịch trọng tài kinh tế Nhà nước, tham gia ý kiến về việc xét kháng cáo, giám sát các quyết định của Trọng tài viên Trọng tài kinh tế Nhà nước, của Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương;

    3- Theo đề nghị của Trọng tài viên Trọng tài kinh tế Nhà nước, tham gia ý kiến về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế.

     

    Tranh chấp kinh doanh – thương mại giưa cac doanh nghiệp Việt Nam đều có thể được một trong các bên lựa chọn hình thức trọng tài hay toà án giải quyết. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết phụ thuộc vào thoả thuận của các bên. Tuy nhiên, không phải tranh chấp nào cũng được trọng tài giải quyết. Chỉ những tranh chấp mà trong hợp đồng các bên có thoả thuận trọng tài hoặc mặc dù trong hợp đồng các bên không thoả thuận nhưng trong tiến trình giải quyết tranh chấp (trước khi đưa đến Toà án) các bên có thống nhất thoả thuận trọng tài giải quyết thì khi đó cơ quan trọng tài có thẩm quyền giải quyết. Những trường hợp còn lại, Toà án đương nhiên có thẩm quyền giải quyết.

    Song, không phải cứ có thoả thuận trọng tài là cơ quan trọng tài đó có thẩm quyền giải quyết. Các thoả thuận trọng tài phải là hợp lệ, đúng pháp luật. Những trường hợp thoả thuận trọng tài không hợp pháp thì cơ quan Toà án sẽ có thẩm quyền giải quyết.

    Thực tiễn các tranh chấp kinh doanh – thương mại tại Việt Nam giữa các doanh nghiệp Việt Nam thường được giải quyết bằng con đường toà án vì những lý do sau:

    Một là: các bên không có thoả thuận trọng tài giải quyết trước hoặc trong quá trình phát sinh tranh chấp. Có khi có thoả thuận trọng tài nhưng điều khoản thoả thuận này vô hiệu.

    Hai là: Trước đây không có cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết của trọng tài thương mại. Vì thế, các phán quyết này khi được ban hành không có hiệu lực thực tế. Các bên tranh chấp do đó lại phải mang đến cơ quan toà án giải quyết. Vì vậy, trong một thời gian dài, giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài ở Việt Nam là không hiệu quả. Nhưng hiện nay, với sự ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự thì cơ chế đảm bảo thi hành phán quyết trọng tài đã có hiệu lực. Nhờ đó, số lượng các tranh chấp giải quyết bằng con đường trọng tài ngày càng tăng do nó có những ưu điểm nhất định (thời gian, thủ tục, kinh tế,…)

    Ba là: Mặc dù đã có cơ chế bảo đảm thi hành nhưng tâm lý các doanh nghiệp Việt nam khi có tranh chấp vẫn ngại mang ra cơ quan trọng tài sau bao năm hoạt động ỳ trệ. Trong quá trình chúng tôi xét xử, thực tiễn có chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệp không có văn hoá kinh doanh nên nếu đem tranh chấp ra cơ quan trọng tài giải quyết thì lại phải tiếp tục nhờ đến toà án can thiệp để bảo đảm cưỡng chế thi hành phán quyết, tốn kém tiền bạc và thời gian.

    Đó là lý do vì sao các tranh chấp kinh doanh – thương mại giữa các doanh nghiệp việt nam ít được giải quyết tại cơ quan trọng tài (rất khác lạ so với các nước tiên tiến trên thế giới). Nhưng qua nghiên cứu và theo dõi, tôi nhận thấy trong tương lai các doanh nghiệp sẽ lựa chọn trọng tài nhiều hơn.

    Ôn tập phá sản:

    định nghĩa: Điều 3luật phá sản

    Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Đề Cương Ôn Tập Các loại động cơ bước

    Đề Cương Ôn Tập Các loại động cơ bước

    Đề Cương Ôn Tập Các loại động cơ bước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án tốt nghiệp Thiết kế nguồn cấp cho động cơ điện một chiều kích từ độc lập có đảo chiều


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-C%C3%A1c-lo%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BB%99ng-c%C6%A1-b%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Các loại động cơ bước

    Các loại động cơ bước

    Phần 1: Động cơ bước dịch bởi Đoàn Hiệp

    • Giới thiệu
    • Động cơ biến từ trở
    • Động cơ đơn cực
    • Động cơ hai cực
    • Động cơ nhiều pha

    Giới thiệu

    Động cơ bước được chia làm hai loại, nam châm vĩnh cửu và biến từ trở (cũng có loại động cơ hỗn hợp nữa, nhưng nó không khác biệt gì với động cơ nam châm vĩnh cửu). Nếu mất đi nhãn trên động cơ, các bạn vẫn có thể phân biệt hai loại động cơ này bằng cảm giác mà không cần cấp điện cho chúng. Động cơ nam châm vĩnh cửu dường như có các nấc khi bạn dùng tay xoay nhẹ rotor của chúng, trong khi động cơ biến từ trở thì dường như xoay tự do (mặc dù cảm thấy chúng cũng có những nấc nhẹ bởi sự giảm từ tính trong rotor). Bạn cũng có thể phân biệt hai loại động cơ này bằng ohm kế. Động cơ biến từ trở thường có 3 mấu, với một dây về chung, trong khi đó, động cơ nam châm vĩnh cửu thường có hai mấu phân biệt, có hoặc không có nút trung tâm. Nút trung tâm được dùng trong động cơ nam châm vĩnh cửu đơn cực.

    Động cơ bước phong phú về góc quay. Các động cơ kém nhất quay 90 độ mỗi bước, trong khi đó các động cơ nam châm vĩnh cửu xử lý cao thường quay 1.8 độ đến 0.72 độ mỗi bước. Với một bộ điều khiển, hầu hết các loại động cơ nam châm vĩnh cửu và hỗn hợp đều có thể chạy ở chế độ nửa bước, và một vài bộ điều khiển có thể điều khiển các phân bước nhỏ hơn hay còn gọi là vi bước.

    Đối với cả động cơ nam châm vĩnh cửu hoặc động cơ biến từ trở, nếu chỉ một mấu của động cơ được kích, rotor (ở không tải) sẽ nhảy đến một góc cố định và sau đó giữ nguyên ở góc đó cho đến khi moment xoắn vượt qua giá trị moment xoắn giữ (hold torque) của động cơ.

    Động cơ biến từ trở

    Hình 1.1

    Nếu motor của bạn có 3 cuộn dây, được nối như trong biểu đồ hình 1.1, với một đầu nối chung cho tất cả các cuộn, thì nó chắc hẳn là một động cơ biến từ trở. Khi sử dụng, dây nối chung (C) thường được nối vào cực dương của nguồn và các cuộn được kích theo thứ tự liên tục.

    Dấu thập trong hình 1.1 là rotor của động cơ biến từ trở quay 30 độ mỗi bước. Rotor trong động cơ này có 4 răng và stator có 6 cực, mỗi cuộn quấn quanh hai cực đối diện. Khi cuộn 1 được kích điện, răng X của rotor bị hút vào cực 1. Nếu dòng qua cuộn 1 bị ngắt và đóng dòng qua cuộn 2, rotor sẽ quay 30 độ theo chiều kim đồng hồ và răng Y sẽ hút vào cực 2.

    Để quay động cơ này một cách liên tục, chúng ta chỉ cần cấp điện liên tục luân phiên cho 3 cuộn. Theo logic đặt ra, trong bảng dưới đây 1 có nghĩa là có dòng điện đi qua các cuộn, và chuỗi điều khiển sau sẽ quay động cơ theo chiều kim đồng hồ 24 bước hoặc 2 vòng:

    Cuộn 1  1001001001001001001001001

    Cuộn 2  0100100100100100100100100

    Cuộn 3  0010010010010010010010010

    thời gian ‐‐>

    Phần Điều khiển mức trung bình cung cấp chi tiết về phương pháp tạo ra các dãy tín hiệu điều khiển như vậy, và phần Các mạch điều khiển bàn về việc đóng ngắt dòng điện qua các cuộn để điều khiển động cơ từ các chuỗi như thế.

    Hình dạng động cơ được mô tả trong hình 1.1, quay 30 độ mỗi bước, dùng số răng rotor và số cực stator tối thiểu. Sử dụng nhiều cực và nhiều răng hơn cho phép động cơ quay với góc nhỏ hơn. Tạo mặt răng trên bề mặt các cực và các răng trên rotor một cách phù hợp cho phép các bước nhỏ đến vài độ.

    Động cơ đơn cực

    Hình 1.2

    Động cơ bước đơn cực, cả nam châm vĩnh cửu và động cơ hỗn hợp, với 5, 6 hoặc 8 dây ra thường được quấn như sơ đồ hình 1.2, với một đầu nối trung tâm trên các cuộn. Khi dùng, các đầu nối trung tâm thường được nối vào cực dương nguồn cấp, và hai đầu còn lại của mỗi mấu lần lượt nối đất để đảo chiều từ trường tạo bởi cuộn đó.

    Sự khác nhau giữa hai loại động cơ nam châm vĩnh cửu đơn cực và động cơ hỗn hợp đơn cực không thể nói rõ trong nội dung tóm tắt của tài liệu này. Từ đây, khi khảo sát động cơ đơn cực, chúng ta chỉ khảo sát động cơ nam châm vĩnh cửu, việc điều khiển động cơ hỗn hợp đơn cực hoàn toàn tương tự.

    Mấu 1 nằm ở cực trên và dưới của stator, còn mấu 2 nằm ở hai cực bên phải và bên trái động cơ. Rotor là một nam châm vĩnh cửu với 6 cực, 3 Nam và 3 Bắc, xếp xen kẽ trên vòng tròn.

    Để xử lý góc bước ở mức độ cao hơn, rotor phải có nhiều cực đối xứng hơn.

    Động cơ 30 độ mỗi bước trong hình là một trong những thiết kế động cơ nam

    châm vĩnh cửu thông dụng nhất, mặc dù động cơ có bước 15 độ và 7.5 độ là khá

    lớn. Người ta cũng đã tạo ra được động cơ nam châm vĩnh cửu với mỗi bước là

    1.8 độ và với động cơ hỗn hợp mỗi bước nhỏ nhất có thể đạt được là 3.6 độ đến

    1.8 độ, còn tốt hơn nữa, có thể đạt đến 0.72 độ.

    Như trong hình, dòng điện đi qua từ đầu trung tâm của mấu 1 đến đầu a tạo ra cực Bắc trong stator trong khi đó cực còn lại của stator là cực Nam. Nếu điện ở mấu 1 bị ngắt và kích mấu 2, rotor sẽ quay 30 độ, hay 1 bước. Để quay động cơ một cách liên tục, chúng ta chỉ cần áp điện vào hai mấu của đông cơ theo dãy.

    3

    Mấu 1a 1000100010001000100010001 Mấu 1a 1100110011001100110011001
    Mấu 1b 0010001000100010001000100 Mấu 1b 0011001100110011001100110
    Mấu 2a 0100010001000100010001000 Mấu 2a 0110011001100110011001100
    Mấu 2b 0001000100010001000100010 Mấu 2b 1001100110011001100110011
    thời gian ‐‐> thời gian ‐‐>

    Nhớ rằng hai nửa của một mấu không bao giờ được kích cùng một lúc. Cả hai dãy nêu trên sẽ quay một động cơ nam châm vĩnh cửu một bước ở mỗi thời điểm. Dãy bên trái chỉ cấp điện cho một mấu tại một thời điểm, như mô tả trong hình trên; vì vậy, nó dùng ít năng lượng hơn. Dãy bên phải đòi hỏi cấp điện cho cả hai mấu một lúc và nói chung sẽ tạo ra một moment xoắy lớn hơn dãy bên trái 1.4 lần trong khi phải cấp điện gấp 2 lần.

    Phần Điều khiển mức trung bình trong tài liệu này sẽ cung cấp chi tiết về phương pháp tạo ra những dãy tín hiệu điều khiển như vậy, còn phần Các mạch điều khiển nói về mạch đóng ngắt các mạch điện cần thiết để điều khiển các mấu động cơ từ các dãy điều khiển trên.

    Vị trí bước được tạo ra bởi hai chuỗi trên không giống nhau; kết quả, kết hợp 2 chuỗi trên cho phép điều khiển nửa bước, với việc dừng động cơ một cách lần lượt tại những vị trí đã nêu ở một trong hai dãy trên. Chuỗi kết hợp như sau:

    Mấu 1a 11000001110000011100000111

    Mấu 1b 00011100000111000001110000

    Mấu 2a 01110000011100000111000001

    Mấu 2b 00000111000001110000011100

    Thời gian ‐‐>

     

    4

    Động cơ hai cực

    Hình 1.3

    Động cơ nam châm vĩnh cửu hoặc hỗn hợp hai cực có cấu trúc cơ khí giống y như động cơ đơn cực, nhưng hai mấu của động cơ được nối đơn giản hơn, không có đầu trung tâm. Vì vậy, bản thân động cơ thì đơn giản hơn, nhưng mạch điều khiển để đảo cực mỗi cặp cực trong động cơ thì phức tạp hơn. Minh hoạ ở hình 1.3 chỉ ra cách nối động cơ, trong khi đó phần rotor ở đây giống y như ở hình 1.2.

    Mạch điều khiển cho động cơ đòi hỏi một mạch điều khiển cầu H cho mỗi mấu; điều này sẽ được bàn chi tiết trong phần Các mạch điều khiển. Tóm lại, một cầu

    • cho phép cực của nguồn áp đến mỗi đầu của mấu được điều khiển một cách độc lập. Các dãy điều khiển cho mỗi bước đơn của loại động cơ này được nêu bên dưới, dùng + và ‐ để đại diện cho các cực của nguồn áp được áp vào mỗi đầu của động cơ:

    Đầu 1a + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐              + + ‐ ‐ + + ‐ ‐ + + ‐ ‐ + + ‐ ‐

    Đầu 1b ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐              ‐ ‐ + + ‐ ‐ + + ‐ ‐ + + ‐ ‐ + +

    Đầu 2a ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐              ‐ + + ‐ ‐ + + ‐ ‐ + + ‐ ‐ + + ‐

    Đầu 2b ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ + ‐ ‐ ‐ +              + ‐ ‐ + + ‐ ‐ + + ‐ ‐ + + ‐ ‐ +

    thời gian ‐‐>

    Chú ý rằng những dãy này giống như trong động cơ nam châm vĩnh cửu đơn cực, ở mức độ lý thuyết, và rằng ở mức độ mạch đóng ngắt cầu H, hệ thống điều khiển cho hai loại động cơ này là giống nhau.

    Chú ý khác là có rất nhiều chip điều khiển cầu H có một đầu vào điều khiển đầu ra và một đầu khác để điều khiển hướng. Có loại chip cầu H kể trên, dãy điều khiển dưới đây sẽ quay động cơ giống như dãy điều khiển nêu phía trên:

    5

    Enable 1 1010101010101010 1111111111111111
    Hướng 1 1x0x1x0x1x0x1x0x 1100110011001100
    Enable 2 0101010101010101 1111111111111111
    Hướng 2 x1x0x1x0x1x0x1x0 0110011001100110

    thời gian ‐‐>

    Để phân biệt một động cơ nam châm vĩnh cửu hai cực với những động cơ 4 dây biến từ trở, đo điện trở giữa các cặp dây. Chú ý là một vài động cơ nam châm vĩnh cửu có 4 mấu độc lập, được xếp thành 2 bộ. Trong mỗi bộ, nếu hai mấu được nối tiếp với nhau, thì đó là động cơ hai cực điện thế cao. Nếu chúng được nối song song, thì đó là động cơ hai cực dùng điện thế thấp. Nếu chúng được nối tiếp với một đầu trung tâm, thì dùng như với động cơ đơn cực điên thế thấp.

    Động cơ nhiều pha

    Hình 1.4

    Một bộ phận các động không được phổ biến như những loại trên đó là động cơ nam châm vĩnh cửu mà các cuộn được quấn nối tiếp thành một vòng kín như hình 1.4. Thiết kế phổ biến nhất đối với loại này sử dụng dây nối 3 pha và 5 pha. Bộ điều khiển cần ½ cầu H cho mỗi một đầu ra của động cơ, nhưng những động cơ này có thể cung cấp moment xoắn lớn hơn so với các loại động cơ bước khác cùng kích thước. Một vài động cơ 5 pha có thể xử lý cấp cao để có được bước 0.72 độ (500 bước mỗi vòng).Với một động cơ 5 pha như trên sẽ quay mười bước mỗi vòng bước, như trình bày dưới đây:

    6

    Đầu 1 + + + ‐ ‐ ‐ ‐ ‐ + + + + + ‐ ‐ ‐ ‐ ‐ + +

    Đầu 2 ‐ ‐ + + + + + ‐ ‐ ‐ ‐ ‐ + + + + + ‐ ‐ ‐

    Đầu 3 + ‐ ‐ ‐ ‐ ‐ + + + + + ‐ ‐ ‐ ‐ ‐ + + + +

    Đầu 4 + + + + + ‐ ‐ ‐ ‐ ‐ + + + + + ‐ ‐ ‐ ‐ ‐

    Đầu 5 ‐ ‐ ‐ ‐ + + + + + ‐ ‐ ‐ ‐ ‐ + + + + + ‐

    thời gian ‐‐>

    • đây, giống như trong trường hợp động cơ hai cực, mỗi đầu hoặc được nối vào cực dương hoặc cực âm của hệ thống cấp điện động cơ. Chú ý rằng, tại mỗi bước, chỉ có một đầu thay đổi cực. Sự thay đổi này làm ngắt điện ở một mấu nối vào đầu đó (bởi vì cả hai đầu của mấu có cùng điện cực) và áp điện vào một mấu đang trong trạng thái nghỉ trước đó. Hình dạng của động cơ được đề nghị như hình 1.4, dãy điều khiển sẽ điều khiển động cơ quay 2 vòng.

    Để phân biệt động cơ 5 pha với các loại động cơ có 5 dây dẫn chính, cần nhớ rằng, nếu điện trở giữa 2 đầu liên tiếp của một động cơ 5 pha là R, thì điện trở giữa hai đầu không liên tiếp sẽ là 1.5R.

    Và cũng cần ghi nhận rằng một vài động cơ 5 pha có 5 mấu chia, với 10 đầu dây dẫn chính. Những dây này có thể nối thành hình sao như hình minh hoạ trên, sử dụng mạch điều khiển gồm 5 nửa cầu H, nói cách khác mỗi mấu có thể được điều khiển bởi một vòng cầu H đầy đủ của nó. Để tránh việc tính toán lý thuyết với các linh kiện điện tử, có thể dùng chip mạch cầu tích hợp đầy đủ để tính toán gần đúng.

    7

    Tóm tắt chương

    Qua chương này, các bạn đã có thể phân biệt các loại động cơ như động cơ biến từ trở, động cơ đơn cực, động cơ hai cực, và động cơ nhiều pha dựa vào cảm nhận bằng tay khi quay rotor và dùng Ohm kế.

    Việc phân biệt các cặp đầu ra của các cuộn dây cũng có thể suy ra từ việc dùng Ohm kế để đo các đầu dây. Tuy nhiên, việc xác định cặp dây ra của từng cuộn dây trong động cơ đơn cực hơi khó khăn hơn một chút.

    Để phân biệt hai cặp dây của động cơ đơn cực 5 dây, trước tiên chúng ta dùng Ohm kế để xác định dây nối trung tâm. Áp điện áp xoay chiều vào dây trung tâm và một trong 4 dây còn lại. Dùng Volt kế xoay chiều đo điện áp giữa dây nối trung tâm và 3 dây còn lại. Chúng ta sẽ thấy rằng điện áp giữa dây trung tâm với 2 trong 3 dây còn lại đó gần như bằng không, và với dây thứ ba thì gần như bằng điện áp xoay chiều áp vào động cơ. Như vậy, hai dây cho điện áp gần bằng 0 là một cặp, hai dây còn lại sẽ là cặp thứ hai.

    Lời khuyên:

    • Khi dùng Ohm kế để đo, nhớ ghi chú và vẽ ngay lại cách nối dây trong động cơ để tránh nhầm lẫn về sau
    • Các dây nối trung tâm luôn được nối với nguồn dương trong mạch điều khiển (kể cả động cơ biến từ trở và động cơ đơn cực)
    • Điện áp xoay chiều dùng để phân biệt các cặp dây trong động cơ đơn cực phải đủ nhỏ để không làm hư động cơ. Điện áp đỉnh của dòng xoay chiều phải nhỏ hơn điện áp ngưỡng của động cơ. Thông thường, với động cơ 24VDC, và 12VDC tôi thường dùng 9VAC và 6VAC để thí nghiệm.
    • Luôn ghi nhớ rằng động cơ bước là động cơ điện một chiều

    Bài tập:

    Tự viết ra (hoặc làm thí nghiệm thực tế) tất cả các trường hợp để phân biệt tất cả các loại động cơ kể trên và phân biệt các dây nối động cơ của từng loại khi chỉ có Ohm kế và Volt kế.

    Làm thế nào để biết điện áp ngưỡng của động cơ mình đang có?

    8


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Đề Cương Ôn Tập Động Cơ Điện

    Đề Cương Ôn Tập Động Cơ Điện

    Đề Cương Ôn Tập Động Cơ Điện

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Nguyên lý hoạt động của hệ thống lái oto


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-%C4%90%E1%BB%99ng-C%C6%A1-%C4%90i%E1%BB%87n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Động Cơ Điện

    ĐỘNG CƠ ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU

     

    Động cơ điện xoay chiều

    Động cơ điện xoay chiều động cơ điện hoạt động với dòng điện xoay chiều.

    Cấu tạo và nguyên lý hoạt động

    Động cơ gồm có hai phần chính là stator rotor. Stato gồm các cuộn dây của ba pha

    điện quấn trên các lõi sắt bố trí trên một vành tròn để tạo ra từ trường quay. Rôto hình trụ có tác dụng như một cuộn dây quấn trên lõi thép.

    Khi mắc động cơ vào mạng điện xoay chiều, từ trường quay do stato gây ra làm cho rôto quay trên trục. Chuyển động quay của rôto được trục máy truyền ra ngoài và được sử dụng để vận hành các máy công cụ hoặc các cơ cấu chuyển động khác.

    Phân loại

    Ảnh một số động cơ điện

    Động cơ điện xoay chiều được sản xuất với nhiều kiểu và công suất khác nhau. Theo sơ đồ nối điện có thể phân ra làm 2 loại: động cơ 3 pha và 1 pha, và nếu theo tốc độ có động cơ đồng bộ động cơ không đồng bộ.

    Động cơ điện xoay chiều 3 pha

    Từ trường quay được tạo ra bằng cách cho dòng điện ba pha chạy vào ba nam châm điện đặt lệch nhau trên một vòng tròn. Cách bố trí các cuộn dây tương tự như trong máy phát điện ba pha, nhưng trong động cơ điện người ta đưa dòng điện từ ngoài vào các cuộn dây 1, 2, 3.

    Khi mắc động cơ vào mạng điện ba pha, từ trường quay do stato gây ra làm cho rôto quay trên trục. Chuyển động quay của rôto được trục máy truyền ra ngoài và được sử dụng để vận hành các máy công cụ hoặc các cơ cấu chuyển động khác.

    Động cơ điện xoay chiều 1 pha

    Dựa theo nguyên tắc của động cơ không đồng bộ ba pha, người ta chế tạo được những động cơ không đồng bộ một pha. Stato của loại động cơ này gồm hai cuộn dây đặt lệch nhau một góc, một dây nối thẳng với mạng điện, dây kia nối với mạng điện qua một tụ điện. Cách mắc như vậy làm cho hai dòng điện trong hai cuộn dây lệch pha nhau và tạo ra từ trường quay. Động cơ không đồng bộ một pha chỉ đạt được công suất nhỏ, nó chủ yếu được dùng trong các dụng cụ gia đình như quạt điện, máy hút bụi, máy bơm nước…

    Động cơ điện một chiều

     

    Động cơ điện một chiều

    Động cơ điện một chiều động cơ điện hoạt động với dòng điện một chiều.

    Nguyên tắc hoạt động

    Stator của động cơ điện 1 chiều thường là 1 hay nhiều cặp nam châm vĩnh cửu, hay nam châm điện, rotor có các cuộn dây quấn và được nối với nguồn điện một chiều, 1 phần quan trọng khác của động cơ điện 1 chiều là bộ phận chỉnh lưu, nó có nhiệm vụ là đổi chiều dòng điện trong khi chuyển động quay của rotor là liên tục. Thông thường bộ phận này gồm có một bộ cổ góp và một bộ chổi than tiếp xúc với cổ góp.

    Nguyên tắc hoạt độngcủa động cơ điện một chiều

    Pha 1: Từ trường của rotor cùng Pha 2: Rotor tiếp Pha 3: Bộ phận chỉnh điện sẽ đổi
    cực với stator, sẽ đẩy nhau tạo ra tục quay cực sao cho từ trường giữa stator
    chuyển động quay của rotor   và rotor cùng dấu, trở lại pha 1

    Nếu trục của một động cơ điện một chiều được kéo bằng 1 lực ngoài, động cơ sẽ hoạt động như một máy phát điện một chiều, và tạo ra một sức điện động cảm ứng Electromotive force (EMF). Khi vận hành bình thường, rotor khi quay sẽ phát ra một điện áp gọi là sức phản điện động counter-EMF (CEMF) hoặc sức điện độngđối kháng, vì nó đối kháng lại điện áp bên ngoài đặt vào động cơ. Sức điện động này tương tự như sức điện động phát ra khi động cơ được sử dụng như một máy phát điện (như lúc ta nối một điện trở tải vào đầu ra của động cơ, và kéo trục động cơ bằng một ngẫu lực bên ngoài). Như vậy điện áp đặt trên động cơ bao gồm 2 thành phần: sức phản điện động, và điện áp

    giáng tạo ra do điện trở nội của các cuộn dây phần ứng. Dòng điện chạy qua động cơ được tính theo biều thức sau:

    I = (VNguon VPhanDienDong) / RPhanUng

    Công suất cơ mà động cơ đưa ra được, được tính bằng:

    • = I * (VPhanDienDong)

    Cơ chế sinh lực quay của động cơ điện một chiều

    Một máy điện một chiều đang được tháo ra đại tu.

    Khi có một dòng điện chạy qua cuộn dây quấn xung quanh một lõi sắt non, cạnh phía bên cực dương sẽ bị tác động bởi một lực hướng lên, trong khi cạnh đối diện lại bị tác động bằng một lực hướng xuống theo nguyên lý bàn tay trái của Fleming. Các lực này gây tác động quay lên cuộn dây, và làm cho rotor quay. Để làm cho rô to quay liên tục và đúng chiều, một bộ cổ góp điện sẽ làm chuyển mạch dòng điện sau mỗi vị trí ứng với 1/2 chu kỳ. Chỉ có vấn đề là khi mặt của cuộn dây song song với các đường sức từ trường. Nghĩa là lực quay của động cơ bằng 0 khi cuộn dây lệch 90o so với phương ban đầu của nó, khi đó Rô to sẽ quay theo quán tính.

    Trong các máy điện một chiều lớn, người ta có nhiều cuộn dây nối ra nhiều phiến góp khác nhau trên cổ góp. Nhờ vậy dòng điện và lực quay được liên tục và hầu như không bị thay đổi theo các vị trí khác nhau của Rô to.

    1. Phương trình cơ bản của động cơ 1 chiều:
    E= K Φ.omega (1)
    V= E+Rư.Iư (2)
    M= K Φ Iư (3)

    Với:

    • Φ: Từ thông trên mỗi cực( Wb)
    • Iư: dòng điện phần ứng (A)
    • V : Điện áp phần ứng (V)
    • Rư: Điện trở phần ứng (Ohm)
    • omega : tốc độ động cơ(rad/s)
    • M : moment động cơ (Nm)
    • K: hằng số, phụ thuộc cấu trúc động cơ

    Điều khiển tốc độ

    Thông thường, tốc độ quay của một động cơ điện một chiều tỷ lệ với điện áp đặt vào nó,

    và ngẫu lực quay tỷ lệ với dòng điện. Điều khiển tốc độ của động cơ có thể bằng cách

    điều khiển các điểm chia điện áp của bình ắc quy, điều khiển bộ cấp nguồn thay đổi

    được, dùng điện trở hoặc mạch điện tử… Chiều quay của động cơ có thể thay đổi được

    bằng cách thay đồi chiều nối dây của phần kích từ, hoặc phần ứng, nhưng không thể được

    nếu thay đổi cả hai. Thông thường sẽ được thực hiện bằng các bộ công tắc tơ đặc biệt

    (Công tắc tơ đổi chiều).

    Điện áp tác dụng có thể thay đổi bằng cách xen vào mạch một điện trở nối tiếp hoặc sử

    dụng một thiết bị điện tử điều khiển kiểu chuyển mạch lắp bằng Thyristor, transistor hoặc loại cổ điển hơn nữa bằng các đèn chỉnh lưu hồ quang Thủy ngân. Trong một mạch điện

    gọi là mạch băm điện áp, điện áp trung bình đặt vào động cơ thay đổi bằng cách chuyển mạch nguồn cung cấp thật nhanh. Khi tỷ lệ thời gian “on” trên thời gian “off” thay đổi sẽ làm thay đổi điện áp trung bình. Tỷ lệ phần trăm thời gian “on” trong một chu kỳ chuyển mạch nhân với điện áp cấp nguồn sẽ cho điện áp trung bình đặt vào động cơ. Như vậy với điện áp nguồn cung cấp là 100V, và tỷ lệ thời gian ON là 25% thì điện áp trung bình là 25V. Trong thời gian “Off”, điện áp cảm ứng của phần ứng sẽ làm cho dòng điện không bị gián đoạn, qua một đi ốt gọi là đi ốt phi hồi, nối song song với động cơ. Tại thời điểm này, dòng điện của mạch cung cấp sẽ bằng không trong khi dòng điện qua động cơ vẫn khác không và dòng trung bình của động cơ vẫn luôn lớn hơn dòng điện trong mạch cung cấp, trừ khi tỷ lệ thời gian “on” đạt đến 100%. Ở tỷ lệ 100% “on” này, dòng qua động cơ và dòng cung cấp bằng nhau. Mạch đóng cắt tức thời này ít bị tổn hao năng lượng hơn mạch dùng điện trở. Phương pháp này gọi là phương pháp điều khiển kiểu điều biến độ rộng xung (pulse width modulation, or PWM), và thường được điều khiển bằng vi xử lý. Đôi khi người ta còn sử dụng mạch lọc đầu ra để làm bằng phẳng điện áp đầu ra và giảm bớt tạp nhiễu của động cơ.

    Vì động cơ điện một chiều kiểu nối tiếp có thể đạt tới mô men quay cực đại từ khi vận tốc còn nhỏ, nó thường được sử dụng để kéo, chẳng hạn đầu máy xe lửa hay tàu điện. Một ứng dụng khác nữa là để khởi động các loại động cơ xăng hay động cơ điezen loại nhỏ. Tuy nhiên nó không bao giờ dùng trong các ứng dụng mà hệ thống truyền động có thể dừng (hay hỏng), như băng truyền. Khi động cơ tăng tốc, dòng điện phần ứng giảm (do đó cả trường điện cũng giảm). Sự giảm trường điện này làm cho động cơ tăng tốc cho tới khi tự phá hủy chính nó. Đây cũng là một vấn đề với động cơ xe lửa trong trường hợp mất liên kết, vì nó có thể đạt tốc độ cao hơn so với chế độ làm việc định mức. Điều này không chỉ gây ra sự cố cho động cơ và hộp số, mà còn phá hủy nghiêm trọng đường ray và bề mặt bánh xe vì chúng bị đốt nóng và làm lạnh quá nhanh. Việc giảm từ trường trong bộ điều khiển điện tử được ứng dụng để tăng tốc độ tối đa của các phương tiện vận tải chạy bằng điện. Dạng đơn giản nhất là dùng một bộ đóng cắt và điện trở làm yếu từ trường, một bộ điều khiển điện tử sẽ giám sát dòng điện của động cơ và sẽ chuyển mạch, đưa các điện trở suy giảm từ vào mạch khi dòng điện của động cơ giảm thấp hơn giá trị đặt trước. Khi điện trở được đưa vào mạch, nó sẽ làm tăng tốc động cơ, vượt lên trên tốc

    độ thông thường ở điện áp định mức. Khi dòng điện tăng bộ điều khiển sẽ tách điện trở ra, và động cơ sẽ trở về mức ngẫu lực ứng với tốc độ thấp.

    Một phương pháp khác thường được dùng để điều khiển tốc độ động cơ một chiều là

    phương pháp điều khiển theo kiểu Ward-Leonard. Đây là phương pháp điều khiển động

    cơ một chiều (thường là loại kích thích song song hay hỗn hợp) bằng cách sử dụng nguồn

    điện xoay chiều, mặc dù nó không được tiện lợi như những sơ đồ điều khiển một chiều.

    Nguồn điện xoay chiều được dùng để quay một động cơ điện xoay chiều, thường là một

    động cơ cảm ứng, và động cơ này sẽ kéo một máy phát điện một chiều. Điện áp ra của

    phần ứng máy phát một chiều này được đưa thẳng đến phần ứng của động cơ điện một

    chiều cần điều khiển. Cuộn dây kích từ song song của cả máy phát điện và động cơ điện

    một chiều sẽ được kích thích độc lập qua các biến trở kích từ. Có thể điều khiển tốc độ

    động cơ rất tốt từ tốc độ = 0 đến tốc độ cao nhất với ngẫu lực phù hợp bằng cách thay đổi

    dòng điện kích thích của máy phát và động cơ điện một chiều. Phương pháp điều khiển

    này đã được xem là chuẩn mực cho đến khi nó bị thay thế bằng hệ thống mạch rắn sử

    dụng Thyristor. Nó đã tìm được chỗ đứng ở hầu hết những nơi cần điều khiển tốc độ thật

    tốt, từ các hệ thống thang nâng hạ người trong các hầm mỏ, cho đến những máy công

    nghiệm cà các cần trục điện. Nhược điểm chủ yếu của nó là phải cần đến ba máy điện

    cho một sơ đồ (có thể lên đến 5 trong các ứng dụng rất lớn vì các máy DC có thể được

    nhân đôi lên và điều khiển bằng các biến trở chỉnh đồng thời). Trong rất nhiều ứng dụng,

    hợp bộ động cơ – máy phát điện thường được duy trì chạy không tải, để tránh mất thời

    gian khởi động lại.

    Mặc dù các hệ thống điều khiển điện tử sử dụng Thy ris tor đã thay thế hầu hết các hệ

    thống Ward Leonard cỡ nhỏ và trung bình, nhưng một số hệ thống lớn (cỡ vài trăm mã

    lực) vẫn còn đắc dụng. Dòng điện kích từ nhỏ hơn nhiều so với dòng điện phần ứng, cho

    phép các Thyristor cỡ trung bình có thể điều khiển một động cơ lớn hơn rất nhiều, so với

    điều khiển trực tiếp. Thí dụ, trong một ứng dụng, một bộ Thy ris tor 300 am pe có thể

    điều khiển một máy phát điện. Dòng điện ngõ ra của máy phát này có thể lên đến 15.000

    am pe, với cùng dòng này, nếu điều khiển trực tiếp bằng thy ris tor thì có thể rất khó khăn

    và giá thành cao.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây