Tag: Luận văn

  • Luận văn Quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    Luận văn Quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    Luận văn Quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Định vị ngành bán lẻ Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-chu%E1%BB%97i-cung-%E1%BB%A9ng-c%E1%BB%A7a-t%E1%BA%ADp-%C4%91o%C3%A0n-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-Wal-mart-v%C3%A0-b%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-kinh-nghi%E1%BB%87m-cho-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Khái niệm Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) lần đầu xuất hiện vào những năm 1980, và phổ biến trên thế giới vào những năm 1990. Từ đó, quy trình này đã trở nên quen thuộc và được áp dụng thành công vào rất nhiều công ty lớn như: Dell, Toyota, và đặc biệt là Wal-mart. Nhờ vào thành công trong quản trị chuỗi cung ứng, từ đó có được lợi thế về chi phí và giá cả so với các đối thủ cạnh tranh mà Wal-mart nhanh chóng trở thành một đế chế bán lẻ khổng lồ nhất trên thế giới. Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay khái niệm SCM đã được nhắc đến nhiều, các doanh nghiệp cũng đã bắt đầu chú ý tới, tuy nhiên để hiểu rõ SCM là gì, làm thế nào để xây dựng và quản trị chuỗi cung ứng thành công thì hầu hết các doanh nghiệp vẫn đang băn khoăn. Thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ hiện nay là một điển hình. Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, và đặc biệt từ năm 2009 Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vào, thì các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam mới thật sự lo sợ mất vị thế trên thị trường. Và một giải pháp cần thiết nhằm giúp các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam giữ vững thị trường đó chính là quản trị hiệu quả chuỗi cung ứng. Với mong muốn giúp các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam làm rõ các vấn đề có liên quan đến quản trị chuỗi cung ứng, tôi lựa chọn đề tài “Quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam”.

    1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart.

    4

    Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung: bài luận làm rõ các vấn đề về quản trị chuỗi cung ứng, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của Wal-mart, từ đó đề xuất một số bài học về quản trị chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Về không gian: phạm vi tìm hiểu là tập đoàn bán lẻ Wal-mart, các công ty bán lẻ Việt Nam.

    1. Mục đích nghiên cứu

    Mục đích của bài luận là nghiên cứu vấn đề quản trị chuỗi cung ứng từ lý thuyết tới thực tiễn áp dụng tại tập đoàn Wal-mart nhằm đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    1. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của bài luận

    gồm:

    • Làm rõ những vấn đề cơ bản về chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng, cũng như quy trình quản trị chuỗi cung ứng.
    • Phân tích hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart.
    • Tìm hiểu về thực trạng quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
    • Đề xuất một số bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam từ thành công của Wal-mart trong hoạt động quản trị chuỗi cung ứng.
    1. Phƣơng pháp nghiên cứu
    • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin từ: sách báo, internet…
    • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh…
    1. Bố cục khóa luận: khóa luận gồm 3 chương

    Chương 1: Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng.

    Chương 2: Quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart.

    Chương 3: Bài học kinh nghiệm về quản trị chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.

    5

    Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Ngoại Thương. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi – GS, TS Hoàng Văn Châu.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2012

     

    6

    7

    CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG

    1.1. Khái quát chung về chuỗi cung ứng

    Ngày nay, để thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó. Bởi lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng, họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơn tới dòng dịch chuyển của nguyên vật liệu, cách thức thiết kế, đóng gói sản phẩm, và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm, và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng, hoặc khách hàng cuối cùng. Cạnh tranh có tính toàn cầu ngày càng khốc liệt, chu kỳ sống của sản phẩm mới ngày càng ngắn hơn, mức độ kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao hơn, đã thúc ép các doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều hơn vào chuỗi cung ứng của mình. Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và đổi mới trong công nghệ truyền thông và vận tải, đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý chuỗi cung ứng. Vậy, chuỗi cung ứng là gì?

    Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn gồm nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng1 (Sunil Chopra, Pete Meindl, 2007). Trong mỗi một tổ chức, như nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng liên quan tới việc nhận và hoàn thành đơn hàng. Những chức năng này bao hàm và không bị hạn chế trong việc phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng.

    • Sunil Chopra, Pete Meindl, 2007, Supply Chain Management: Strategy, Planning, and Operation, Pearson Education, Inc., Upper Saddle River, New Jersey.

     

    8

    Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường.2 (Stock và Elleam, 1998)

    Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng3 (Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, 1995).

    Hãy xem xét một ví dụ, một khách hàng đi siêu thị Hapro để tìm mua loại cà phê hòa tan 3 trong 1 của Trung Nguyên. Chuỗi cung ứng bắt đầu với khách hàng này và nhu cầu về cà phê hòa tan. Tiếp theo đó, chuỗi cung ứng tiếp tục với siêu thị Hapro mà khách hàng lựa chọn. Tại đó, siêu thị Hapro đã lưu kho một lượng sản phẩm cà phê hòa tan để phục vụ nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm cà phê có thể do một công ty phân phối cung cấp cho siêu thị hoặc có thể được cung cấp trực tiếp bởi nhà sản xuất là công ty Trung Nguyên. Công ty Trung Nguyên, để sản xuất ra sản phẩm, phải mua nguyên liệu là cà phê sơ chế từ các nhà cung cấp khác. Còn những nhà cung cấp này lại nhận nguyên liệu là cà phê hạt từ những người trồng cà phê. Chuỗi cung ứng còn bao gồm những công ty xản xuất bao bì để bao gói sản phẩm cà phê do Trung Nguyên sản xuất. Chuỗi cung ứng này, được minh họa tại hình 1.1 như sau:

    2   Lambert,  Stock   và   Elleam  ,   1998,   Fundaments  of   Logistics  Management,  Boston  MA:

    Irwin/McGraw-Hill.

    • Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, 1995, An introduction to supply chain management.

     

    9

    Ngƣời Công ty sơ
    trồng cà chế cà phê
    Wal-mart hạt
    phê
    Công ty cà Nhà phân  
    phối cà phê  
    phê Trung
    Nguyên hòa tan  

     

    Công ty

    hóa chất

    Công ty

    sản xuất

    bao bì

     

    Siêu thị Khách  
    Hapro
    hàng  
     

    Hình 1.1: Các giai đoạn của chuỗi cung ứng cà phê

    Chuỗi cung ứng luôn hàm chứa tính năng động và liên quan tới những dòng liên tục về thông tin, sản phẩm và tài chính giữa các giai đoạn khác nhau. Trong ví dụ trên, Hapro cung cấp những thông tin về sản phẩm, giá cả, cũng như các thông tin sẵn có của sản phẩm cho khách hàng. Khách hàng trả tiền cho Hapro. Hapro sẽ truyền tải dữ liệu bán hàng cũng như đơn đặt hàng đến nhà kho hoặc nhà phân phối, và họ sẽ chuyển hàng đến cửa hàng. Đổi lại, Hapro sẽ chuyển tiền cho nhà phân phối sau khi nhận được hàng. Nhà cung cấp cũng thông tin về giá cả cũng như lịch trình giao hàng cho Hapro. Cứ như thế, dòng thông tin, nguyên vật liệu và tài chính sẽ luân chuyển trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

    Khách hàng là thành tố tiên quyết của chuỗi cung ứng. Mục đích then chốt cho sự hiện hữu của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, trong quá trình tạo ra lợi nhuận cho chính chuỗi cung ứng đó. Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc việc cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, đến nhà phân phối, đến nhà bán lẻ, và đến khách hàng dọc theo chuỗi

    10

    cung ứng. Điều quan trọng là phải hiểu rằng, dòng thông tin, sản phẩm, và tài chính luôn dịch chuyển dọc cả hai hướng của chuỗi.

    1.2. Quản trị chuỗi cung ứng

    1.2.1. Khái niệm:

    Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng.

    Theo Viện Quản Trị Chuỗi Cung Ứng Hoa Kỳ mô tả quản trị chuỗi cung ứng việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng. Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con người là yếu tố then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công.4

    Theo Hội Đồng Chuỗi Cung Ứng thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng.5

    Theo Hội Đồng Quản Trị Logistics thì quản trị chuỗi cung ứng là “…..sự phối

    hợp chiến lược và hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lược xuyên suốt các chức năng này trong một công ty cụ thể và giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với mục đích cải thiện thành tích dài hạn của các công ty đơn lẻ và của cả chuỗi cung ứng”6.

    Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một định nghĩa chung nhất về quản trị chuỗi cung ứng: “Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp của sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhịp nhàng và hiệu quả các nhu cầu của thị trường.”

    • Courtesy of the Council of Logistics Management.

     

    11

    Điểm nhất quán giữa các định nghĩa trên đó là sự phối hợp và hợp nhất lượng lớn các hoạt động liên quan đến sản phẩm trong số các thành viên của chuỗi cung cấp nhằm cải thiện năng suất hoạt động, chất lượng, và dịch vụ khách hàng; nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững cho tất cả các tổ chức liên quan trong chuỗi cung ứng. Vì thế để quản trị chuỗi cung ứng thành công, các doanh nghiệp phải tích cực chia sẻ các thông tin có liên quan như: dự báo nhu cầu, kế hoạch sản suất, các chiến lược marketing, việc cải tiến sản phẩm và dịch vụ, việc áp dụng công nghệ mới, kế hoạch thu mua, ngày giao hàng, và bất kỳ thông tin nào tác động đến các kế hoạch phân phối, sản xuất, và thu mua.

    1.2.2. Lịch sử phát triển của quản trị chuỗi cung ứng:

    Trong suốt thập niên 1950 và 1960, các công ty của Mỹ áp dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất, trong khi ít chú ý đến việc tạo mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy trình và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm. Thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp, lệ thuộc chủ yếu vào nguồn lực nội bộ, công nghệ và công suất. Chia sẻ công nghệ chuyên môn thông qua sự cộng tác giữa người mua và người bán là thuật ngữ hiếm nghe ở giai đoạn này. Tồn kho trong sản xuất tăng cao do các nhà máy tăng cường tồn kho để máy móc hoạt động thông suốt và cân đối dòng nguyên vật liệu.

    Trong thập niên 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII) được phát triển; tầm quan trọng của quản trị nguyên vật liệu hiện quả càng được nhấn mạnh. Các phần mềm kiểm soát tồn kho ngày càng hiệu quả do sự phát triển của công nghệ thông tin đã giảm đáng kể chi phí tồn kho trong khi vẫn cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng như nguồn cung.

    Thập niên 1980 được xem như là thời kỳ nền móng cho quản trị chuỗi cung ứng. Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trên nhiều tạp chí ở Mỹ. Cạnh tranh trên thị trường toàn cầu ngày càng trở nên khốc liệt vào đầu

    12

    Gia tăng năng lực chuỗi

    cung ứng

    Mở rộng và hình thành

    mối quan hệ chuỗi cung

    ứng

    JIT, TQM, BPR, liên

    minh nhà cung cấp và

    khách hàng

    Quản trị tồn kho và kiểm

    soát chi phí

    Sản xuất khối lƣợng lớn

    truyền thống

    1950            1960                 1970                         1980                   1990                2000                Tương lai

    Hình 1.2: Những sự kiện lịch sử về quản trị chuỗi cung ứng7

    Nguồn: Wisner, Tan, Leong, 2009,

    • Wisner, Tan, Leong, 2009, Principles of Supply Chain management: A Balanced Approach, tr.12, South-Western.

     

    13

    thập niên 1980 đã gây áp lực tới các nhà sản xuất cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, và gia tăng mức độ phục vụ khách hàng. JIT và chiến lược quản trị chất lượng toàn diện TQM được các hãng sản xuất áp dụng nhằm cải thiện chất lượng, nâng cao hiệu suất, và thời gian giao hàng. Cùng với việc sử dụng ít tồn kho làm đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích tiềm tàng và tầm quan trọng của mối quan hệ chiến lược và hợp tác giữa nhà cung cấp-người mua-khách hàng.

    Để giải quyết những thách thức đang gia tăng vào đầu thập niên 1990 về cải thiện chất lượng, hiệu quả sản xuất, dịch vụ khách hàng và thiết kế, phát triển sản phẩm mới, các nhà sản xuất bắt đầu mua sản phẩm từ các nhà cung cấp chất lượng cao, có danh tiếng, và được chứng thực. Bên cạnh đó, các hãng sản xuất kêu gọi các nhà cung cấp tham gia vào việc thiết kế, phát triển sản phẩm mới, cũng như đóng góp ý kiến nhằm cải thiện dịch vụ, chất lượng, và giảm chi phí chung. Nhờ đó, doanh số của các doanh nghiệp sản xuất tăng thông qua sự cải tiến chất lượng, phân phối, và thiết kế sản phẩm, cũng như giảm chi phí nhờ vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu, và các linh kiện trong quá trình sản xuất. Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp-người mua đã thành công. Vào cuối những năm 1990, quản trị chuỗi cung ứng trở nên phổ biến hơn, như là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Trong thời gian đó, các học giả, các nhà quản trị bắt đầu nhận thức sâu sắc hơn sự khác biệt giữa logistics và quản trị chuỗi cung ứng. Phải tới thời điểm này thì quản trị chuỗi cung ứng mới được nhìn nhận như là hoạt động hậu cần bên ngoài doanh nghiệp. Khi ứng dụng các sáng kiến của quản trị chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp bắt đầu hiểu được sự cần thiết phải tích hợp tất cả các quy trình kinh doanh then chốt giữa các bên tham gia trong chuỗi cung ứng, cho phép chuỗi cung ứng hoạt động thống nhất. Tương tự, các doanh nghiệp cũng nhận ra lợi ích trong việc tạo ra các liên minh hay sự cộng tác với khách hàng. Trong tương lai, quản trị chuỗi cung ứng có thể nhấn mạnh tới mở rộng chuỗi cung ứng, gia tăng trách nhiệm của chuỗi và nhấn mạnh hơn nữa vào chuỗi cung ứng “xanh”, cũng như cắt giảm đáng kể chi phí của chuỗi.

    14

    1.2.3. Nội dung của quản trị chuỗi cung ứng:

    Mỗi chuỗi cung ứng dù có quy mô, cấu trúc, và nhu cầu thị trường riêng, nhưng nhìn chung đều được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản: sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải, và thông tin.8( Michael Hugos, 2003)

    1.  Sản xuất   2. Tồn kho
    Sản xuất cái gì?   Sản xuất bao nhiêu?
    Sản xuất như thế nào?   Dự trữ bao nhiêu
         
    1. Thông tin

    Nền tảng ra

    quyết định

    1. Vận tải

    Vận chuyển sản phẩm như thế nào? Khi nào?

    1. Địa điểm

    Nơi nào tốt nhất cho hoạt động nào?

    Hình 1.3:      5 thành phần chính của chuỗi cung ứng

    1.2.3.1.     Sản xuất

    Sản xuất chính là khả năng tạo ra và lưu trữ sản phẩm của chuỗi cung ứng. Nhà máy và nhà kho là những cơ sở vật chất trong sản xuất. Vấn đề cơ bản của những nhà quản lý khi ra quyết định sản xuất là làm thế nào để cân bằng giữa khả năng đáp ứng

    • Michael Hugos, 2003, Essentials of Supply Chain Management, 1: Basic Concepts of Supply Chain Management, tr.1 – tr.41, John Wiley & Sons, Inc.

     

    15

    nhanh các nhu cầu của khách hàng và tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất. Nếu phân xưởng và nhà kho được thiết kế với công suất quá lớn, các doanh nghiệp có thể linh hoạt và nhanh chóng đáp ứng được sự thay đổi về nhu cầu sản phẩm. Nếu hầu hết công suất của nhà máy và nhà kho được sử dụng thì chuỗi cung ứng khó có thể phản ứng kịp thời với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng. Nói cách khác, công suất dư thừa làm tiêu tốn tiền của, công suất đó là công suất vô ích, không mang lại doanh thu. Do đó, công suất càng dư thừa thì việc sản xuất càng kém hiệu quả. Các nhà máy có thể được xây dựng để thích nghi với một trong hai phương thức sản xuất.

    • Tập trung sản phẩm: Nhà máy thực hiện một loạt các hoạt động để tạo ra một dòng sản phẩm, từ việc sản xuất các bộ phận khác nhau của sản phẩm đó, rồi lắp ráp các bộ phận này thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
    • Tập trung chức năng: phương pháp này tập trung thực hiện chỉ một vài hoạt

    động: hoặc là chỉ sản xuất một nhóm bộ phận của sản phẩm hoặc chỉ lắp ráp. Những chức năng này có thể được áp dụng để sản xuất nhiều lại sản phẩm khác nhau.

    Phương thức tập trung sản phẩm thường dẫn đến việc phát triển chuyên sâu về một dòng sản phẩm ở mức chi phí giống với việc tập trung chuyên sâu vào một chức năng cụ thể. Các công ty phải quyết định sản xuất theo phương thức nào hoặc kết hợp những gì từ hai cách thức sản xuất đó để đạt được công suất và chuyên môn như mong đợi, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.

    Tương tự, hệ thống nhà kho cũng cần được xây dựng phù hợp với từng phương thức sản xuất khác nhau. Sau đây là ba phương pháp chính trong việc lưu kho sản phẩm:

    • Lưu kho theo đơn vị: Theo phương pháp này, tất cả các sản phẩm cùng loại được lưu kho chung với nhau. Đây là cách lưu kho hiệu quả và dễ hiểu.

    16

    • Lưu kho theo chức năng: Với phương pháp này, tất cả những hàng hóa khác nhau nhưng có liên quan đến một nhu cầu nào đó của khách hàng hoặc một lĩnh vực công việc được lưu kho chung với nhau. Phương thức lưu kho này giúp thuận tiện cho việc lựa chọn và đóng gói hàng hóa, nhưng thường yêu cầu không gian nhà kho lơn hơn so với phương thức lưu kho theo đơn vị.
    • Lưu kho chéo (cross-docking): là phương pháp được walmart sử dụng đầu tiên nhằm tăng cường tính hiệu quả trong chuỗi cung ứng. Sử dụng phương pháp này, hàng hóa thực ra không được lưu kho. Thay vào đó, nhà kho được sử dụng làm địa điểm để dỡ lượng lớn những hàng hóa khác nhau từ những xe tải của nhà cung cấp. Những lô hàng lớn này được chia thành những lô hàng nhỏ hơn. Những lô hàng nhỏ chứa nhiều loại sản phẩm khác nhau lại được kết hợp theo nhu cầu hàng ngày và nhanh chóng bốc lên xe để vận chuyển đến nơi giao hàng cuối cùng.

    1.2.3.2.     Tồn kho

    Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm do nhà sản xuất, nhà phân phối và người bán lẻ tồn trữ dàn trải trong suốt chuỗi cung ứng. Một lần nữa, các nhà quản lý lại phải quyết định tồn kho ở đâu nhằm cân đối giữa tính đáp ứng và tính hiệu quả. Tồn trữ số lượng lớn hàng tồn kho cho phép công ty đáp ứng nhanh chóng những biến động về nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, việc xuất hiện và tồn trữ hàng tồn kho tạo ra một chi phí đáng kể; và để đạt hiệu quả cao thì chi phí tồn kho nên thấp nhất có thể. Có 3 loại tồn kho cơ bản:

    • Tồn kho chu kỳ: là lượng hàng tồn kho cần thiết để thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm trong một giai đoạn giữa các kỳ mua hàng. Các doanh nghiệp có xu hướng sản xuất hoặc mua một lượng lớn hàng hóa nhằm đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô. Tuy nhiên, hàng hóa nhiều làm gia tăng chi phí tồn kho gồm: chi phí lưu kho, xử lý và bảo hiểm hàng tồn kho. Các nhà quản lý phải cố gắng

    17

    cân bằng giữa việc đạt được chi phí đặt hàng thấp, giá rẻ và việc gia tăng chi phí tồn kho khi mua hàng với khối lượng lớn.

    • Tồn kho an toàn: là lượng hàng tồn kho được lưu trữ nhằm đối phó với sự bất

    ổn. Nếu dự báo nhu cầu được thực hiện chính xác thì hàng tồn kho chỉ cần thiết giữ ở mức tồn kho định kỳ. Tuy nhiên, mọi dự báo đều có sai số, vì thể để đối phó với sai số trong trường hợp nhu cầu tăng đột biến so với dự báo thì tồn kho dự phòng là cần thiết. Ở đây, cần phải cân nhắc giữa chi phí tồn kho gia tăng với phần thua lỗ do tồn kho thiếu.

    • Tồn kho theo mùa: là lượng tồn kho được xây dựng dựa trên cơ sở dự báo sự gia tăng nhu cầu về hàng hóa diễn ra vào những thời kỳ nhất định trong năm. Ví dụ, dự báo rằng nhu cầu về áo chống rét sẽ tăng mạnh vào mùa đông. Một công ty sản xuất quần áo ở mức công suất nhất định, công ty này khó có thể thay đổi công suất khi mùa đông đến. Vì thế công ty sẽ cố gắng sản xuất áo chống rét ở một mức công suất cố định trong năm, và lưu kho sản phẩm trong suốt thời kỳ nhu cầu về áo rét thấp, để bù cho giai đoạn nhu cầu tăng quá cao, vượt mức công suất của nhà máy. Một lựa chọn thay thế cho tồn kho theo mùa là hướng

    đến đầu tư khu vực sản xuất linh hoạt, có thể nhanh chóng thay đổi công suất sản xuất các sản phẩm khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng. Trong trường hợp này, vấn đề chính là sự đánh đổi giữa chi phí lưu kho theo mùa và chi phi để có được khu vực sản xuất linh hoạt.

    1.2.3.3.      Địa điểm

    Địa điểm đề cập đến việc xác định vị trí địa lý cho những nhà máy trong chuỗi cung ứng, cũng như các quyết định về những hoạt động được thực hiện trong mỗi nhà máy này. Đánh đổi giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả là việc ra quyết định, hoặc phân tán các hoạt động ở những khu vực gần khách hàng và nhà cung ứng để hoạt động diễn ra nhanh chóng, hoặc tập trung hoạt động ở một vài địa điểm để đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô. Quyết định về địa điểm được xem như là một

    18

    quyết định chiến lược vì ảnh hưởng lớn đến tài chính trong kế hoạch dài hạn. Khi quyết định về địa điểm, nhà quản lý cần xem xét hàng loạt các yếu tố có liên quan như chi phí phòng ban, lao động, kỹ năng cần có trong sản xuất, điều kiện cơ sở hạ tầng, thuế, và vị trí gần với nhà cung cấp hay người tiêu dùng. Quyết định địa điểm có tác động mạnh đến chi phí và đặc tính hoạt động của chuỗi cung ứng. Quyết định địa điểm phản ánh chiến lược cơ bản của một công ty về việc xây dựng và phân phối sản phẩm đến thị trường. Khi định được địa điểm, số lượng, và kích cỡ thì chúng ta xác định được số lượng kênh phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng.

    1.2.3.4.     Vận tải

    Vận tải liên quan đến sự di chuyển mọi thứ từ nguyên liệu thô đến thành phẩm giữa các giai đoạn khác nhau trong chuỗi cung ứng. Sự cân bằng giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả được biểu hiện thông qua việc lựa chọn phương thức vận tải. Phương thức vận tải nhanh như máy bay dù rất nhanh chóng nhưng chi phí rất cao. Ngược lại, các phương thức vận tải như vận tải đường biển và đường sắt dù đạt được hiệu quả về chi phí nhưng đáp ứng không kịp thời. Có 6 phương thức vận tải cơ bản:

    • Vận tải đường biển: chi phí thấp nhưng lại là phương thức vận tải chậm nhất.

    Phương thức này chỉ được sử dụng để vận chuyển hàng hóa giữa những địa

    điểm gần đường thủy hoặc đường biển như: kênh rạch, cảng biển…

    • Đường sắt: giá thành rẻ, chi phí trung bình, nhưng cũng bị hạn chế do bị phụ thuộc vào hệ thống đường ray.
    • Đường ống: tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn loại hàng hóa như: nước, dầu, khí ga.
    • Đường bộ: là phương thức vận tải nhanh và rất thuận tiện. Xe tải hầu như có thể đi khắp mọi nơi, tuy nhiên chi phí dễ biến động vì chi phí nhiên liệu biến động và đường xá thay đổi.

    19

    • Đường hàng không: là hình thức vận chuyển rất nhanh, đáp ứng rất kịp thời.

    Đây cũng là hình thức có chi phí đắt nhất và bị hạn chế bởi công suất vận chuyển.

    • Vận chuyển điện tử: là hình thức vận chuyển nhanh nhất, rất linh hoạt và có hiệu quả về chi phí. Hình thức này chỉ được sử dụng để vận chuyển loại sản phẩm như năng lượng điện, dữ liệu và các sản phẩm được tạo từ dữ liệu như hình ảnh, nhạc, văn bản.

    Các nhà quản lý cần phải kết hợp những phương thức vận tải khác nhau với những địa điểm trong chuỗi cung ứng để thiết kế ra lộ trình và mạng lưới phân phối sản phẩm đến thị trường. Lộ trình là một đường dẫn mà sản phẩm sẽ di chuyển qua, và mạng lưới gồm các lộ trình và những địa điểm được kết nối bởi những đường dẫn này. Theo nguyên tắc chung, hàng hóa có giá trị càng cao (như linh kiện điện tử, hàng dược phẩm…) thì mạng lưới vận chuyển càng phải tập trung vào tính kịp thời; hành hóa có giá trị thấp hơn (như các loại hàng: ngũ cốc, gỗ…) thì càng nên nhấn mạnh đến tính hiệu quả.

    1.2.3.5.     Thông tin

    Thông tin là cơ sở để ra những quyết định có liên quan đến bốn yếu tố thúc đẩy chuỗi cung ứng. Thông tin chính là yếu tố kết nối tất cả các hoạt động và vận hành chuỗi cung ứng. Nếu thông tin là chính xác, kịp thời, các công ty trong chuỗi cung ứng có thể đưa ra những quyết định về hoạt động sản xuất đúng đắn. Điều này mang lại khả năng tối đa hóa lợi nhận cho toàn chuỗi cung ứng. Thông tin được sử dụng nhằm 2 mục đích:

    • Phối hợp những hoạt động hàng ngày có liên quan đến chức năng của 4 yếu tố là: sản xuất, tồn kho, địa điểm, và vận tải. Trong chuỗi cung ứng, các công ty sử dụng các dữ liệu sẵn có về cung và cầu hàng hóa để quyết định lịch trình sản

    20

    xuất hàng tuần, các mức tồn kho, tuyến đường vận tải, và địa điểm lưu trữ hàng hóa.

    • Dự báo và lập kế hoạch để lường trước và đáp ứng kịp thời nhu cầu về sản phẩm trong tương lai. Các dự báo mang tính chiến thuật dựa trên cơ sở những thông tin sẵn có, giúp doanh nghiệp lựa chọn lịch trình, thời gian biểu cho việc sản xuất hàng tháng, hàng quý. Bên cạnh đó, thông tin đóng vai trò rất lớn trong việc đưa ra những dự báo mang tầm chiến lược như: xây dựng phân xưởng mới, thâm nhập thị trường mới, hoặc rút lui khỏi thị trường hiện tại.

    Trong phạm vi một công ty, cân đối giữa tính kịp thời và tính hiệu quả là đo lường lợi ích mà thông tin đem lại so với những chi phí có được thông tin đó. Thông tin chính xác, kịp thời có khả năng đưa ra những quyết định sản xuất hiệu quả, những dự báo chuẩn xác; nhưng chi phí để xây dựng và lắp đặt hệ thống cung cấp thông tin lại rất lớn. Trong phạm vi chuỗi cung ứng, các công ty quyết định tính kịp thời và tính hiệu quả chính là quyết định bao nhiêu thông tin chia sẻ cho các công ty khác, và bao nhiêu thông tin được giữ lại. Các công ty chia sẻ với nhau càng nhiều thông tin về sản phẩm, nhu cầu khách hàng, dự báo thị trường, lịch trình sản xuất…. thì mỗi công ty càng đáp

    ứng kịp thời hơn. Tuy nhiên, một khi thông tin được tiết lộ, lại khiến các công ty gia tăng lo ngại về việc thông tin đó bị đối thủ cạnh tranh sử dụng để chống lại chính mình. Chi phí tiềm ẩn này cộng thêm sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, có thể gây thiệt hại đến lợi nhuận của doanh ngiệp.

    1.2.4. Cấu trúc chuỗi cung ứng

    Một chuỗi cung ứng đơn giản nhất bao gồm: nhà cung cấp, doanh nghiệp, và khách hàng của doanh nghiệp. Đây là những thành phần cơ bản tạo nên một chuỗi cung ứng đơn giản.

    21

    Nhà cung cấp   Nhà sản xuất   Khách hàng
             

    Hình 1.4: Mô hình cấu trúc chuỗi cung ứng đơn giản

    Các chuỗi cung ứng mở rộng ngoài 3 thành phần cơ bản trên, còn thêm 3 thành phần nữa. Thứ nhất là nhà cung cấp của các nhà cung cấp, hay được gọi là nhà cung cấp đầu tiên, ở vị trí đầu tiên của chuỗi cung ứng mở rộng. Thứ hai là khách hàng của khách hàng, hay khách hàng cuối cùng, ở vị trí cuối cùng của chuỗi cung ứng mở rộng. Cuối cùng là các công ty cung cấp dịch vụ cho những công ty khác trong chuỗi cung ứng. Những công ty này chuyên cung cấp các dịch vụ về: logistics, tài chính, marketing, và công nghệ thông tin.

    Nhà cung cấp

    đầu tiên

    Nhà cung   Nhà sản xuất   Khách hàng   Khách hàng
    cấp           cuối cùng
                 

    Nhà cung cấp

    dịch vụ

    Hình 1.5: Mô hình cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng

    Chuỗi cung ứng chính là sự kết hợp của nhiều công ty thực hiện những chức năng khác nhau. Các công ty đó bao gồm: nhà sản xuất, nhà phân phối hay nhà bán buôn, nhà bán lẻ, những khách hàng cá nhân, hoặc khách hàng tổ chức. Hỗ trợ những công ty này là các công ty được biết đến với tên: nhà cung cấp dịch vụ.

    22

    • Nhà sản xuất: là những tổ chức sản xuất sản phẩm, gồm: các công ty sản xuất nguyên vật liệu, và các công ty sản xuất thành phẩm. Các nhà sản xuất nguyên vật liệu như: khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, khai thác gỗ….và cũng bao gồm những tổ chức trồng trọt, chăn nuôi, hay đánh bắt thủy hải sản. Các nhà sản xuất thành phẩm tạo ra sản phẩm từ việc sử dụng nguyên vật liệu và các bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các công ty khác. Nhà sản xuất cũng có thể tạo ra các sản phẩm vô hình như: nhạc, các sản phẩm giải trí, phần mềm, hoặc các bản thiết kế. Hàng hóa cũng có thể là dịch vụ như: cắt cỏ, dọn về sinh văn phòng, tiến hành ca phẫu thuật, hoặc giảng dạy.
    • Nhà phân phối: là những công ty tiến hành lưu kho một khối lượng hàng hóa từ nhà sản xuất, và phân phối chúng đến khách hàng. Nhà phân phối cũng được nhắc đến như nhà bán buôn. Về cơ bản, họ bán hàng với khối lượng lớn cho các chủ thể kinh doanh khác. Để hạn chế tác động xấu từ sự biến động nhu cầu hàng hóa, nhà phân phối thường lưu kho hàng hóa, rồi tiến hành các hoạt động bán hàng nhằm tìm kiếm, phục vụ khách hàng. Để làm thỏa mãn khách hàng, nhà phân phối thực hiện theo tiêu chí giao hàng đúng lúc, đúng địa điểm khách hàng mong muốn. Các nhà phân phối thường sở hữu phần lớn hàng hóa lưu kho mà họ mua từ nhà sản xuất rồi bán lại cho khách hàng. Bên cạnh việc xúc tiến bán hàng, nhà phân phối còn phải thực hiện các hoạt động khác như: quản lý tồn kho, lưu kho, vận chuyển hàng hóa, cũng như dịch vụ hỗ trợ khách hàng. Đôi khi, nhà phân phối chỉ là người môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng. Trong trường hợp này, họ không sở hữu hàng hóa, vì thế họ chủ yếu chỉ thực hiện việc xúc tiến bán hàng. Với cả hai trường hợp này, nhà phân phối luôn là cầu nối đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến những khách hàng có nhu cầu.
    • Nhà bán lẻ: lưu trữ và bán hàng với số lượng ít hơn đến khách hàng đại chúng. Họ cũng quan tâm nhiều đến sở thích và nhu cầu của khách hàng. Quảng cáo

    23

    kết hợp với giá, lựa chọn sản phẩm, dịch vụ và sự thuận tiện là ưu thế hàng đầu nhằm thu hút khách hàng.

    • Khách hàng: hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân, tổ chức mua và sử dụng sản phẩm. Khách hàng tổ chức có thể mua sản phẩm để kết hợp với một sản phẩm khác rồi bán chúng. Hoặc khách hàng có thể là người tiêu dùng cuối cùng, mua sản phẩm để tiêu dùng, sử dụng nó.
    • Nhà cung cấp dịch vụ: là những tổ chức cung cấp các dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, người bán lẻ, và khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ có kiến thức chuyên sâu, và các kỹ năng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng. Chính vì thế, họ có thể thực hiện những dịch vụ này hiệu quả hơn, với mức giá rẻ hơn so với việc chính các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, hay người tiêu dùng thực hiện. Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp dịch vụ phổ biến nhất là cung cấp dịch vụ vận tải và dịch vụ kho hàng. Đây là các công ty vận tải và công ty kho hàng, thường được biết đến là nhà cung cấp logistics. Nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp các dịch vụ như cho vay, phân tích tín dụng và thu các khoản nợ đáo hạn. Đó chính là ngân hàng, công ty định giá tín dụng và công ty thu nợ. Một số nhà cung cấp thực hiện nghiên cứu thị trường, quảng cáo, thiết kế sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ pháp lý, và tư vấn quản lý. Trong khi những nhà cung cấp khác tiến hành các dịch vụ về công nghệ thông tin, thu thập dữ liệu. Tất cả các nhà cung cấp dịch vụ được kết hợp vào những hoạt động liên tục của nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, và khách hàng ở mức cao hoặc thấp trong chuỗi cung ứng.

    24

    1.3. Quy trình quản trị chuỗi cung ứng:

    Theo Hội Đồng Chuỗi Cung Ứng, quy trình quản trị chuỗi cung ứng hoạt động nhờ 4 yếu tố, gồm: lập kế hoạch, tìm nguồn cung ứng9, sản xuất, và phân phối10.

    1.3.1. Lập kế hoạch

    1.3.1.1.     Quản trị tồn kho

    Tồn kho là số lượng hàng hóa có sẵn trong kho. Hàng tồn kho có thể là nguyên vật liệu, thành phẩm, và đôi khi là bán thành phẩm.

    Nguyên nhân xuất hiện hàng tồn kho là: thứ nhất và quan trọng nhất đó là đảm bảo tính không chắc chắn do sự thay đổi nhu cầu hoặc khan hiếm nguồn cung. Thứ hai, lưu trữ hàng hóa để tránh hàng lỗi. Thứ ba, tồn kho cũng là phương pháp để ổn định sản xuất. Ví dụ, nhu cầu về quần áo rét vào mùa đông tăng mạnh, để đáp ứng được nhu cầu, quần áo rét sẽ được sản xuất quanh năm và lưu kho. Phương pháp này được sử dụng trong việc sản xuất rất nhiều sản phẩm mùa vụ, cũng như trong việc sản xuất mặt hàng công nghệ đắt tiền, nhằm để tái đầu tư hiệu quả. Thứ tư, hàng được lưu kho nhằm mục đích dự phòng: ví dụ, khi ra đời một sản phẩm đột phá như iPhone, nhu cầu về sản phẩm thường chưa xuất hiện, nên rất khó dự đoán. Vì thế, công ty Apple sẽ quyết định sản xuất một lượng sản phẩm để dự phòng trước khi tung sản phẩm ra thị trường, nhằm đảm bảo đủ hàng khi nhu cầu tăng vọt. Cuối cùng, tồn kho là phương pháp để cân bằng cung và cầu.

    • Các dạng tồn kho: có nhiều dạng tồn kho, nhưng 2 dạng cần chú ý nhất trong

     

    quản trị tồn kho đó là: tồn kho chu kỳ và tồn kho an toàn.

    • Michael Hugos, 2003, Essentials of Supply Chain Management, 2: Supply Chain Operations: Planning and Sourcing, tr.43 – tr.76, John Wiley & Sons, Inc.

     

    • Michael Hugos, 2003, Essentials of Supply Chain Management, 3: Supply Chain Operations: Making and Delivering, tr.77 – tr.101, John Wiley & Sons, Inc.

     

    25

    • Tồn kho chu kỳ: là lượng hàng tồn kho cần thiết để đáp ứng nhu cầu về hàng hóa đó trong khoảng thời gian giữa các lần đặt hàng. Tồn kho chu kỳ hiệu quả vì tính kinh tế theo quy mô. Các doanh nghiệp thích đặt một số lượng lớn hàng hóa trong một vài lần hơn là liên tục đặt các đơn hàng với số lượng nhỏ. Tồn kho chu kỳ làm gia tăng hàng tồn kho trong chuỗi cung ứng, vì trên thực tế các doanh nghiệp luôn sản xuất và lưu kho hàng hóa với số lượng lớn hơn nhu cầu hiện tại của hàng hóa đó.
    • Tồn kho an toàn: là phương pháp để bảo hiểm tính không chắc chắn luôn tồn tại trong chuỗi cung ứng. Các nhà bán lẻ và nhà phân phối để tránh tình trạng hết hàng do nhu cầu tăng mạnh của khách hàng hoặc do chậm trễ nguồn cung, họ luôn lưu trữ một lượng hàng. Thường thì mức độ không chắc chắn càng cao, tồn kho an toàn càng lớn. Tồn kho an toàn của một loại sản phẩm là số lượng lưu kho sản phẩm đó tại thời điểm nhập thêm lô hàng mới cùng chủng loại. Điều này cho thấy, lượng hàng tồn kho an toàn không đổi, và vì thế nó là một loại tài sản cố định của doanh nghiệp.
    • Giảm tồn kho: có nhiều cách để giảm hàng tồn kho. Đặt hàng thường xuyên hơn để làm giảm lượng hàng tồn kho chu kỳ, ví dụ, thay bằng đặt hàng một tháng một lần, ta đặt hàng một tuần một lần. Tương tự, để giảm lượng hàng tồn kho an toàn, thường có 4 phương pháp sau:11 (Colin Scott, Paul Thompson, Henriette Lundgren, 2011)
    • Giảm thời gian thực hiện đơn hàng
    • Giảm tính không chắc chắn của nhà cung ứng
    • Giảm sai số trong các dự báo cầu
    • Giảm mức độ dịch vụ
    • Colin Scott, Paul Thompson, Henriette Lundgren, 2011, Guide to Supply Chain Management, tr.16, Springer.

     

    26

    Rút ngắn thời gian thực hiện đơn hàng của nhà cung cấp, ví dụ giảm từ 4 ngày xuống 1 ngày, thì số lượng hàng tồn kho an toàn để đảm bảo nguồn cung sẽ ít đi. Tương tự, khi các nhà cung cấp trở nên đáng tin cậy hơn (sự biến thiên thời gian thực hiện đơn hàng bằng không), tồn kho an toàn cũng giảm đáng kể. Tiếp theo, việc giảm sai số trong các dự báo làm hạn chế tính không chắc chắn về nhu cầu; kết quả làm giảm mức hàng hóa cần lưu trữ. Cuối cùng, việc giảm các mức độ dịch vụ sẽ tác động tích cực đến lượng hàng tồn kho. Giảm mức độ dịch vụ tức là giảm tính sẵn sàng của sản phẩm. Nếu thỏa thuận này được khách hàng chấp thuận, doanh nghiệp sẽ cải thiện đáng kể lượng hàng tồn kho an toàn phải nắm giữ.

    1.3.1.2.      Lên kế hoạch cung và cầu12

    • Mô tả cầu: Cầu được phân loại theo các đặc điểm như:

     

    • Mức độ: nhu cầu về sản phẩm trên một khu vực cao hay thấp
    • Tần suất: sản phẩm đó đang được tiêu thụ nhanh hay chậm
    • Theo các mô hình: nhu cầu về sản phẩm đó luôn ổn định, hay chỉ xuất hiện theo mùa, hoặc đang có xu hướng tăng (giảm).
    • Theo vòng đời sản phẩm: sản phẩm đó đang ở giai đoạn nào trong vòng

    đời sản phẩm. Ví dụ, sản phẩm vừa mới thâm nhập thị trường, nhu cầu khó dự đoán; sản phẩm đang giai đoạn suy thoái, nhu cầu đang giảm mạnh.

    Việc nhận dạng và phân loại nhu cầu của thị trường giúp các nhà lập kế hoạch tập trung nguồn lực vào những mặt hàng có tiềm năng, dự báo nhu cầu sản phẩm đó chính xác, và quản trị tồn kho hiệu quả.

    • Colin Scott, Paul Thompson, Henriette Lundgren, 2011, Guide to Supply Chain Management, tr.17-24, Springer.

     

    27

    • Các phương pháp dự báo: Có 4 phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc dự báo cầu là:
    • Phương pháp định tính: dựa vào trực giác, khả năng quan sát hay ý kiến chủ quan về thị trường. Phương pháp này thường được sử dụng khi có rất ít dữ liệu quá khứ để tiến hành dự báo. Khi có một dòng sản phẩm mới tung ra thị trường, công ty có thể dự báo dựa vào việc so sánh với các sản phẩm khác, hoặc với các tình huống mà công ty cho rằng có sự giống nhau.

     

    • Phương pháp nhân quả: giả thiết rằng nhu cầu có liên quan mạnh đến các yếu tố thị trường. Ví dụ, nhu cầu vay vốn có liên quan mạnh đến tỉ lệ lãi suất.

     

    • Phương pháp dãy thời gian: sử dụng các số liệu quá khứ để dự báo nhu cầu tương lai. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả khi các dữ liệu quá khứ là đáng tin cậy. Sau đây là một vài phương pháp dãy thời gian thường được sử dụng:
    • Phương pháp bình quân trượt: Mỗi dự báo là số bình quân của nhiều mức nhu cầu khác nhau.
    • Phương pháp san bằng mũ: Mỗi dự báo là bình quân trọng số của dự báo trước và điểm nhu cầu gần đây. Phương pháp này tương tự với bình quân trượt, ngoại trừ đó là bình quân trọng số cho tất cả các điểm dữ liệu quá khứ, trong đó các điểm càng gần thời gian hiện tại có trọng số càng cao.
    • Các phương pháp đối với dữ liệu có xu hướng: như: phân tích hồi quy,

    ấn định đường thẳng cho chuỗi dữ liệu.

    • Các phương pháp đối với dữ liệu mùa: ví dụ, phương pháp phân tích mùa vụ loại bỏ các vấn đề thời vụ từ số liệu và sau đó áp dụng các kỹ thuật liệt kê với số liệu đã hiệu chỉnh.
    • Phương pháp mô phỏng sử dụng kết hợp giữa phương pháp nhân quả và phương pháp dãy thời gian để mô phỏng hành vi của người tiêu dùng trong các hoàn cảnh khác nhau.

     

    Ø
    Ø                                     Wisner, Tan, Leong, 2009)

    28

    1.3.2. Tìm nguồn cung ứng

    Trong hoạt động tìm nguồn cung ứng, có 4 hoạt động chính: mua hàng, lựa chọn nhà cung cấp, thương lượng hợp đồng, và quản lý hợp đồng.

    1.3.2.1.     Mua hàng

    Mua hàng được hiểu là hành động trao đổi tiền hoặc tương đương tiền để có được hàng hóa, tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, dịch vụ; hoặc được cung cấp dịch vụ

    bảo dưỡng, sửa chữa, điều hành.13(

    Khi quyết định mua hàng thì bộ phận cung ứng phát bản chào hàng, liên hệ với nhà cung cấp và cuối cùng là đặt hàng. Giữa công ty và nhà cung cấp, có nhiều hoạt động tương tác trong quá trình mua hàng như: danh mục sản phẩm, số lượng đơn đặt hàng, giá cả, phương thức vận chuyển, ngày giao hàng, địa chỉ giao hàng và các điều khoản thành toán.

    1.3.2.2.     Lựa chọn nhà cung cấp

    Lựa chọn nhà cung cấp là quá trình liên tục để xác định khả năng cung ứng cần có của nhà cung cấp nhằm hỗ trợ cho kế hoạch kinh doanh cũng như mô hình hoạt động của công ty. Khả năng cung ứng của nhà cung cấp sẽ được đánh giá dựa vào: mức giá của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, mức độ dịch vụ, khả năng giao hàng đúng thời hạn, và các hỗ trợ công nghệ. Một khi công ty xác định rõ được nhu cầu về sản phẩm cũng như những yêu cầu khác đối với nhà cung ứng, công ty có thể tìm kiếm được người cung cấp đáp ứng tốt nhất những yêu cầu đó. Một nguyên tắc chung là công ty luôn phải thu hẹp dần số lượng nhà cung cấp để lựa chọn đối tác phù hợp. Đây chính là đòn bẩy quyết định quyền lực của người mua với nhà cung cấp để có được mức giá tốt nhất khi mua sản phẩm khối lượng lớn

    • Wisner, Tan, Leong, 2009, Principles of Supply Chain management: A Balanced Approach, tr.39, South-Western.

     

    29

    1.3.2.3.      Thƣơng lƣợng hợp đồng

    Khi phát sinh nhu cầu kinh doanh cụ thể, hợp đồng sẽ được đàm phán riêng với từng nhà cung cấp có tên trong bản danh sách các nhà cung cấp được lựa chọn. Trong quá trình đàm phán, các điều khoản cụ thể về hàng hóa, giá cả, và mức độ dịch vụ sẽ được giải quyết. Việc đàm phán giữa hai bên phải được thực hiện trên cơ sở cân bằng giữa đơn giá của sản phẩm với các dịch vụ làm gia tăng giá trị khác. Các dịch vụ này có thể được trả dựa vào mức chênh lệch so với đơn giá, hoặc được thanh toán riêng, hay cũng có thể kết hợp cả hai hình thức. Các điều khoản về việc thực hiện hợp đồng phải được quy định rõ ràng, cũng như những điều khoản phạt, và các mức phí phạt nếu việc thực hiện không đúng như quy định. Bên cạnh đó, các nhà cung cấp cần thiết phải thiết lập cho mình những năng lực chung. Để hoạt động mua hàng hiệu quả, nhà cung cấp phải có khả năng kết nối dữ liệu điện tử nhằm mục đích nhận các đơn đặt hàng, gửi thông báo giao hàng, gửi hóa đơn, và nhận thanh toán.

    1.3.2.4.      Quản lý hợp đồng

    Khi hợp đồng được ký kết, việc thực hiện hợp đồng của nhà cung cấp cần được đo lường và giám sát. Do các công ty thường chỉ lựa chọn một số nhà cung cấp, nên hoạt động của mỗi nhà cung cấp được lựa chọn có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của công ty. Khi đó, một nhà cung cấp có thể là nguồn cung duy nhất cho một loại hàng hóa của công ty, vì thế nếu nhà cung cấp đó không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như trong hợp đồng thì những hoạt động phụ thuộc vào loại hàng hóa đó của công ty sẽ bị ảnh hưởng. Công ty cần có khả năng đánh giá hiệu quả hoạt động nhà cung cấp và kiểm soát mức đáp ứng dịch vụ cung ứng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Tương tự như quản lý kênh tiêu thụ, nhân viên trong công ty phải thường xuyên thu thập dữ liệu về tính hiệu quả của nhà cung cấp.

    Thông thường, bản thân nhà cung cấp luôn có khả năng giám sát các hoạt động của mình. Họ có khả năng phản ứng nhanh trước những vấn đề phát sinh để giữ hợp đồng. Minh họa cho vấn đề này chính là khái niệm VMI ( Vendor managed

    30

    Inventory)-Hàng tồn kho được quản lý bởi nhà cung ứng. Mô hình này yêu cầu nhà cung cấp theo dõi mức tồn kho sản phẩm của mình bên trong công ty khách hàng. Nhà cung cấp chịu trách nhiệm theo dõi mức sử dụng và tính toán lượng đặt hành kinh tế. Sau đó, họ chủ động vận chuyển sản phẩm đến địa điểm của khách hàng cần, và gửi hóa đơn cho khách hàng vê số lượng hàng gửi theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng.

    1.3.3. Sản xuất

    1.3.3.1.     Thiết kế sản phẩm trong sản xuất

    Việc thiết kế và lựa chọn các yếu tố cần thiết để sản xuất ra sản phẩm dựa trên tính năng yêu cầu và công nghệ sẵn có. Khi xem xét thiết kế sản phẩm trên quan điểm chuỗi cung ứng, mục tiêu là nhằm thiết kế những sản phẩm đơn giản hơn, có ít bộ phận cấu thành hơn, và có tính chất mô hình hóa từ tổ hợp nhiều đơn vị cấu thành riêng lẻ. Bằng cách này, các bộ phận có thể được cung cấp từ một nhóm nhỏ các nhà cung cấp. Và hàng tồn kho được lưu trữ dưới dạng các bộ phận riêng lẻ ở một vị trí thích hợp trong chuỗi cung ứng, nên công ty không cần nắm giữ khối lượng lớn thành phẩm. Sản phẩm càng linh hoạt, tính đáp ứng cao, và đạt hiệu quả chi phí thì khả năng thành công của sản phẩm trong thị trường càng cao. Thiết kế sản phẩm xác định hình dạng của chuỗi cung ứng, và điều này có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và tính sẵn có của sản phẩm. Một khi một sản phẩm có sự kết hợp của 3 yếu tố: thiết kế, cung ứng, và sản xuất, thì sản phẩm ấy có được cơ hội rất lớn để thành công và tạo ra lợi nhuận.

    1.3.3.2.     Lập kế hoạch sản xuất

    Là phân bổ những nguồn lực sẵn có (thiết bị, lao động, nhà máy) cho việc sản xuất các sản phẩm nhằm sử dụng các nguồn lực đó một cách hiệu quả nhất, và tạo ra lợi nhuận. Hoạt động lập kế hoạch sản xuất là một quá trình nhằm tìm ra sự cân bằng giữa các mục tiêu:

    31

    • Mức sử dụng cao: sản xuất trong dài hạn, tập trung hóa sản xuất và các trung tâm phân phối nhằm đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô.
    • Mức tồn kho thấp: chia nhỏ sản xuất, giao nguyên vật liệu đúng lúc nhằm tối thiểu hóa tài sản và dòng tiền mặt bị ứ đọng trong hàng tồn kho.
    • Dịch vụ khách hàng ở mức cao: hàng tồn kho được giữ ở mức cao nhằm tăng khả năng đáp ứng khách hàng, tránh tình trạng hết hàng.

    Các bước trong quá trình lập kế hoạch sản xuất gồm: thứ nhất, xác định quy mô kinh tế cho việc sản xuất sản phẩm. Quyết định quy mô kinh tế là việc cân đối giữa chi phí sản xuất sản phẩm với chi phí lưu giữ hàng tồn kho. Cụ thể, sản xuất thường xuyên với khối lượng nhỏ, giảm chi phí tồn kho nhưng gia tăng chi phí sản xuất và ngược lại. Thứ hai, xác định số lần sản xuất cho sản phẩm dựa vào thời gian sử dụng hàng tồn kho tối đa (là số ngày hay tuần công ty sẽ dùng hết sản phẩm tồn kho để đáp ứng nhu cầu phát sinh).

    1.3.3.3.      Quản lý nhà máy trong sản xuất

    Quản lý nhà máy là xem xét các địa điểm bố trí nhà máy và tập trung sử dụng công suất sẵn có hiệu quả nhất. Điều này liên quan đến quyết định ở 3 lĩnh vực:

    • Vai trò của mỗi nhà máy là xác định những hoạt động nào sẽ được thực hiện trong mỗi nhà máy. Những quyết định này có tác động rất lớn đến tính linh hoạt của chuỗi cung ứng, có thể đáp ứng được sự thay đổi nhu cầu.
    • Phân bổ công suất cho mỗi nhà máy: Quyết định về phân bổ công suất liên quan đến thiết bị và nguồn nhân công sử dụng trong các nhà máy, đồng thời

    được thực hiện thông qua vai trò của mỗi nhà máy.

    • Phân bổ các nhà cung cấp và thị trường cho mỗi nhà máy. Sự phân bổ nhà cung cấp và thị trường cho mỗi nhà máy bị ảnh hưởng bởi hai quyết định trước đó. Sự tham gia của các nhà cung cấp, khối lượng sản phẩm sản xuất tùy thuộc vào

    32

    vai trò và công suất được phân bổ của mỗi nhà máy. Những quyết định này ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển từ nhà cung cấp đến nhà máy và từ nhà máy đến khách hàng. Những quyết định này cũng ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của toàn bộ chuỗi cung ứng.

    1.3.4. Phân phối

    1.3.4.1.     Quản lý đơn hàng trong phân phối

    Quản lý đơn hàng là quá trình truyền thông tin phản hồi của khách hàng thông qua chuỗi cung ứng từ nhà bán lẻ đến nhà phân phối, đến những nhà cung cấp dịch vụ, và nhà sản xuất. Quá trình này cũng đồng thời truyền tải thông tin về ngày giao hàng, sản phẩm thay thế và những đơn hàng thực hiện trước đó của khách hàng. Quản lý đơn hàng hiện đại tập trung vào những kỹ thuật có thể giúp dòng dữ liệu liên quan đến đơn hàng diễn ra nhanh hơn và hiệu quả hơn. Trong quá trình quản lý đơn hàng cũng cần xử lý một số trường hợp ngoại lệ, từ đó đưa ra cách nhận diện vấn đề nhanh chóng và quyết định đúng đắn hơn. Điều này có nghĩa là quá trình quản lý đơn hàng hàng ngày nên tự động hóa và có những đơn hàng đòi hỏi quá trình xử lý đặc biệt do nhầm lẫn ngày giao hàng, yêu cầu của khách hàng thay đổi. . . Với những yêu cầu như vậy, quản lý đơn hàng thường bắt đầu bằng sự kết hợp chồng chéo chức năng của bộ phận tiếp thị và bán hàng, được gọi là quản lý mối quan hệ khách hàng – CRM (Customer Relationship Management). Có một số nguyên tắc cơ bản được liệt kê dưới đây có thể giúp quá trình quản lý đơn hàng hiệu quả:

    • Nhập dữ liệu cho một đơn hàng: nhập một và chỉ một lần.
    • Tự động hóa trong xử lý đơn hàng.
    • Đơn hàng luôn ở trạng thái sẵn sàng phục vụ khách hàng.
    • Tích hợp hệ thống đặt hàng với các hệ thống liên quan khác để duy trì tính toàn vẹn dữ liệu.

    33

    1.3.4.2.     Kế hoạch phân phối

    Kế hoạch phân phối chịu ảnh hưởng mạnh từ quyết định liên quan đến cách thức vận tải được sử dụng. Đối với hầu hết các phương thức vận tải đều có 2 hình thức giao hàng phổ biến nhất trong kế hoạch phân phối là: phân phối trực tiếp và phân phối theo lộ trình đã định.

    • Phân phối trực tiếp

    Phân phối trực tiếp là quá trình phân phối từ một địa điểm gốc đến một địa điểm nhận hàng. Với phương thức này, đơn giản nhất là lựa chọn lộ trình vận tải ngắn nhất giữa hai địa điểm. Kế hoạch phân phối gồm những quyết định về số lượng và số lần giao hàng cho mỗi địa điểm. Thuận lợi trong mô hình này là hoạt động đơn giản và có sự kết hợp phân phối. Phương pháp này vận chuyển sản phẩm trực tiếp từ một địa điểm sản phẩm được sản xuất/tồn kho đến một địa điểm sản phẩm được sử dụng. Nó cắt giảm hoạt động trung gian thông qua vận chuyển những đơn hàng nhỏ đến một điểm tập trung, sau đó kết hợp thành một đơn hàng lớn hơn để phân phối đồng thời.

    • Phân phối theo lộ trình đã định

    Phân phối theo lộ trình đã định là phân phối sản phẩm từ một địa điểm gốc đến nhiều địa điểm nhận hàng, hay phân phối sản phẩm từ nhiều địa điểm gốc đến một địa điểm nhận hàng. Kế hoạch phân phối theo lộ trình đã định phức tạp hơn so với phân phối trực tiếp. Kế hoạch này cần quyết định về số lượng phân phối các sản phẩm khác nhau; số lần phân phối. . . Và điều quan trọng nhất là lộ trình phân phối và hoạt động bốc dỡ khi giao hàng. Điểm thuận lợi của phương pháp phân phối theo theo lộ trình đã định là sử dụng hiệu quả các phương tiện vận chuyển sử dụng và chi phí nhận hàng thấp do địa điểm nhận hàng ít và khối lượng giao hàng nhiều hơn.

    34

    1.3.4.3.      Nguồn phân phối

    Việc phân phối sản phẩm đến khách hàng được thực hiện từ hai nguồn: địa điểm lẻ, và trung tâm phân phối. Địa điểm lẻ như nhà máy, nhà kho. . . , là những nơi có một loại sản phẩm hay có danh mục một vài sản phẩm có liên quan với nhau đang sẵn sàng để phân phối. Các địa điểm lẻ được sử dụng khi nhu cầu về sản phẩm ở mức cao và có thể dự báo, đồng thời chúng có vị trí thuận tiện cho việc giao hàng thẳng tới khách hàng với khối lượng lớn. Trung tâm phân phối là nơi tồn trữ, xuất- nhập khối lượng lớn sản phẩm bằng phương tiện vận chuyển có tải trọng lớn đến từ nhiều địa điểm khác nhau. Khi vị trí nhà cung cấp xa khách hàng thì việc sử dụng trung tâm phân phối có tính kinh tế cao do rút ngắn khoảng cách vận chuyển, và tồn trữ khối lượng lớn sản phẩm gần địa điểm với khách hàng -người sử dụng cuối. Trung tâm phân phối là nơi tồn trữ sản phẩm hay sử dụng duy nhất cho kỹ thuật cross-docking. Trung tâm phân phối sử dụng cross-docking mang lại nhiều lợi ích. Thứ nhất, dòng vận chuyển sản phẩm trong chuỗi cung ứng nhanh hơn do có sự hỗ trợ hàng tồn kho. Thứ hai, chí phí tồn trữ ít tốn kém do sản phẩm sử dụng nhanh mà không lưu vào kho. Tuy nhiên, kỹ thuật Cross-docking yêu cầu về mức độ hợp tác chặc chẽ giữa xuất và nhập sản phẩm là rất cao.

    Tóm lại, quy trình quản trị chuỗi cung ứng gồm: lập kế hoạch, tìm nguồn cung ứng, sản xuất và phân phối cho phép doanh nghiệp thiết kế, phân bổ các nguồn lực hợp lý, đồng thời làm tăng hiệu quả liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi.

    35

    CHƢƠNG 2: QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA TẬP ĐOÀN BÁN LẺ WAL-MART

    2.1. Vài nét về tập đoàn bán lẻ Wal-mart

    2.1.1. Lịch sử thành lập và phát triển của Wal-mart

    Wal-mart là công ty hoạt động trong ngành bán lẻ của Mỹ, được thành lập bởi Sam Walton vào năm 1962. Tuy nhiên, trước khi bắt đầu kinh doanh hệ thống các cửa hàng bán lẻ này, Sam Walton đã sở hữu thành công chuỗi cửa hàng với tên gọi Ben Franklin. Cho đến khi Walton nhận ra xu hướng mới là giảm giá bán lẻ, dựa vào việc bán những khối lượng lớn hàng hóa thông qua các cửa hàng bán lẻ chi phí thấp; ông đã quyết định mở những cửa hàng lớn, với những đặc điểm như kho hàng để cạnh tranh. Ông đặt tên cho chuỗi với 18 cửa hàng này là “Wal-mart Discount City”, trụ sở tại Arkansas. Đến năm 1969, công ty Wal-mart Stores Inc. chính thức ra đời. Vào năm 1991, Wal-mart bắt đầu thâm nhập thị trường quốc tế bằng việc liên doanh với Cifra trên thị trường Mê-hi-cô. Hai năm sau đó, công ty mua lại 122 cửa hàng từ Woolworth, Canada. Năm 1997 Wal-mart trở thành nhà bán lẻ lớn nhất tại Canada và Mexico. Cùng năm đó, Wal-mart mua lại chuỗi 21 đại siêu thị Wertkauf của Đức. Nỗ lực mở rộng thị trường quốc tế được thực hiện khi công ty liên tiếp mua lại hoặc liên doanh với các nhà phân phối địa phương ở các nước như Bra-xin, Ac-hen-ti-na, Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh… Đến năm 2002, Wal-mart trở thành công ty lớn nhất thế giới về doanh thu theo bình chọn của tạp chí Fortune. Từ đó đến nay, Wal-mart luôn duy trì vị thế dẫn đầu của mình trong ngành công nghiệp bán lẻ thế giới.

    2.1.2. Hoạt động kinh doanh của Wal-mart

    Hiện nay, hoạt động kinh doanh của công ty được chia thành 3 mảng lớn: bộ phận Walmart tại Mỹ, câu lạc bộ Sam, bộ phận quốc tế.

    36

    • Bộ phận Wal-mart tại Mỹ14 là bộ phận lớn nhất, ước tính tạo ra 62,1% doanh thu ròng năm tài chính 201115, và chỉ kinh doanh trên phạm vi nước Mỹ; gồm các hình thức bán lẻ khác nhau là:

     

    • Chuỗi cửa hàng giảm giá Wal-mart (Walmart Discount Stores), được mở cửa đầu tiên vào năm 1962 bởi Sam Walton. Ngày nay, công ty có 629 cửa hàng được phân bố trên toàn nước Mỹ. Kích cỡ trung bình của mỗi cửa hàng khoảng 108.000 mét vuông Anh. Mỗi cửa hàng có khoảng 225 nhân viên phục vụ. Các loại mặt hàng được bày bán gồm: đồ may mặc gia đình, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, đồ điện tử, đồ chơi, các sản phẩm làm vườn, đồ trang sức, đồ nội thất, máy móc tự động, đồ gia dụng, sản phẩm thể thao…
    • Siêu trung tâm Wal-mart (Walmart Supercenters), được phát triển từ năm 1988, và hiện này có 3.029 siêu trung tâm ở Mỹ, với diện tích trung bình vào khoản 185.000 mét vuông Anh với khoảng 350 nhân viên mỗi trung tâm. Các siêu trung tâm này mở cửa cả ngày và đêm, chuyên phục vụ các mặt hàng thực phẩm, và những hàng tạp hóa.
    • Thị trường lân cận (Walmart Neighborhood Markets), được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm nhanh và thuận tiện cho khách hàng về các sản phẩm như: hàng tạp hóa, dược phẩm, và một số mặt hàng phổ thông khác. Hình thức này được phát triển từ năm 1998, hiện công ty có 168 thị trường lân cận, với khoảng 95 nhân viên phục vụ từng thị trường.
    • Các cửa hàng nhỏ (Wal-mart Express Stores), hai cửa hàng nhỏ đầu tiên

    được mở cửa vào tháng 6 năm 2011 tại Arkansas nhằm mục đích cung cấp hàng hóa tạm thời cho khách hàng, đặc biệt khách hàng ở những khu

    14 14 Walmartstores.com, xem 3.5.2012, http://www.walmartstores.com/AboutUs/7606.aspx.

    • Wal-mart 2011 Annual Report.

     

    37

    vực không thể thường xuyên đến các cửa hàng lớn. Các cửa hàng này có diện tích nhỏ, trung bình khoảng 15.000 mét vuông Anh, chuyên phân phối các hàng tạp hóa, và những hàng phổ thông.

    Bên cạnh các kênh bán hàng truyền thống, Wal-mart cũng phát triển kênh bán hàng thông qua trang web walmart.com, với đa dạng các chủng loại hàng hóa. Khách hàng có thể lựa chọn các sản phẩm có trên website, rồi đặt hàng trực tiếp tại đó. Sản phẩm sẽ được vận chuyển tới những cửa hàng của Wal-mart có mặt trong khu vực của khách hàng.

    • Câu lạc bộ Sam (Sam’club)16 gồm: các câu lạc bộ cửa hàng thành viên , đóng góp khoảng 11,8% doanh thu ròng năm tài chính 201117. Câu lạc bộ Sam được mở đầu tiên tại thành phố Midwest, Oklohama vào năm 1983. Hiện này, có 611 câu lạc bộ hoạt động ở Mỹ, và hơn 100 câu lạc bộ quốc tế ở Bra-xin, Trung Quốc, Mê-hi-cô, và Puerto Rico. Đối tượng khách hàng của câu lạc bộ Sam gồm người tiêu dùng, và cả các doanh nghiệp nhỏ với mức phí/năm là 35 đô la cho khách hàng doanh nghiệp và 40 đô la cho khách hàng cá nhân.

     

    • Bộ phận quốc tế (Wal-mart International)18: chiếm 26,1% doanh thu ròng năm tài chính 2011. Năm 1991, Warmat trở thành công ty quốc tế khi mở một câu lạc bộ Sam ở Mê-hi-cô. Hai năm sau đó, bộ phận quốc tế được thành lập. Hơn

     

    90% các cửa hàng thuộc bộ phận quốc tế hoạt động với thương hiệu không phải là Walmart như: Pali ở Costa-Riaca, Todi-Dia ở Braxin….Hiện nay, bộ phận quốc tế của Walmart có tới 5,651 cửa hàng ở 26 thị trường không tính Mỹ như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ác-hen-ti-na, Bra-xin, Canada, Costa Rica, Chi-lê,

    • Wal-mart 2011 Annual Report.

     

    38

    Botswana, El Salvador, Ấn Độ, Honduras, Gua-ta-ma-la, Gha-na, Mê-hi-cô, Anh, Nam Phi, Mô-zăm-bich, Ni-giê-ria… (không gồm Hàn Quốc, và Đức).

    2.2. Quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart

    Hình 2.1 Sơ đồ tổng quan về chuỗi cung cứng Wal-mart19 2.2.4. Quản trị hệ thống thông tin và các ứng dụng công nghệ

    Trong xu thế cạnh tranh toàn cầu ngày nay, công nghệ thông tin đóng một vai trò cực kỳ quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp. Với một tập đoàn bán lẻ và phân phối lớn nhất thế giới như Wal-mart thì kỹ thuật và công nghệ thông tin gần như là yếu tố then chốt tạo ra sự hiệu quả và liên tục trong toàn hệ thống.

    Vào giữa những năm 1980, Wal-mart đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu trung tâm, hệ thống các điểm bán hàng cấp độ cửa hàng, và mạng vệ tinh20. Kết hợp với việc ứng

    • Harvard Business Review 70, March–April 1992, Adapted from Garrison Wieland for “Wal-Mart’s Supply Chain”, 60–71.

     

    39

    dụng rộng rãi lần đầu tiên công nghệ mã vạch UPC vào ngành công nghiệp bán lẻ, nên thông tin ở cấp độ cửa hàng có thể thu thập ngay lập tức và phân tích. Thông qua việc kết hợp dữ liệu bán hàng và các thông tin bên ngoài, Wal-mart có thể hỗ trợ đội mua hàng, và cải thiện tính chính xác của các dự báo cầu. Mạng lưới vệ tinh của Wal-mart ngoài việc nhận và truyền dữ liệu về các điểm bán hàng, cũng giúp các nhà quản lý cấp cao phát sóng các tin nhắn video đến các cửa hàng. Mặc dù, phần lớn họ đều sống và làm việc tại Bentonville, nhưng việc phát sóng thường xuyên các video đến từng cửa hàng giúp các nhân viên ở đây thông báo tình hình cập nhật nhất về công ty.

    Vào đầu những năm 1991, Wal-mart phát triển Hệ thống kết nối bán lẻ (Retail Link), với dung lượng ước tính là 570 bit, nhằm mở rộng hơn nữa các trang cố định trên Internet. Hệ thống kết nối bán lẻ là một cơ sở dữ liệu dân sự lớn nhất thế giới thời điểm đó. Hệ thống chứa các dữ liệu về các giao dịch của công ty trong suốt 20 năm. Wal-mart cho phép các nhà cung ứng truy cập các dữ liệu bán hàng của các sản phẩm mà họ cung cấp, để cắt giảm việc lưu kho từng mặt hàng. Cung cấp quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu của mình, Wal-mart mong muốn các nhà cung ứng chủ động quản lý và bổ sung sản phẩm một cách liên tục. Vào năm 1990, Wal-mart là một trong những công ty đầu tiên ứng dụng giải pháp CPRF21 – một giải pháp tích hợp để lập kế hoạch và dự báo thông qua việc chia sẻ các thông tin chuỗi cung ứng quan trọng như: các dữ liệu về hoạt động xúc tiến, mức tồn kho, và doanh thu hàng ngày. Sau đó, đến năm 2003, Wal-mart tiếp tục ứng dụng công nghệ nhận dạng tần sóng radio RFID nhằm quản trị tồn kho hiệu quả hơn.

    20P.Fraser Johnson, 2006, Supply Chain Management at Wal-mart, tr.7, Ivey Management Services, The University of Western Ontario, Ontario, Canada.

    21Johnson, A.H.,2002, 35 Years of IT Leadership: A New Supply Chain Forged, tr.38-39, Computerworld.

    40

    2.2.1.1.     Xây dựng hệ thống kết nối bán lẻ

    Vào đầu những năm 1980, Wal-mart ứng dụng công nghệ trao đổi dữ liệu điện tử -EDI để gửi đơn đặt hàng tới nhà cung cấp trong nỗ lực tăng cường truyền thông với nhà cung cấp. Đến những năm 1990, Wal-mart đã thiết lập được hệ thống trao đổi điện tử với hàng ngàn nhà cung cấp của mình thông qua hệ thống EDI, và sau đó là phát triển ứng dụng riêng là hệ thống kết nối bán lẻ (Retail Link). Hệ thống Retail Link nền tảng là một trình duyệt Web, hoạt động trên mạng Internet, tích hợp với công nghệ EDI giúp các nhà cung cấp trên toàn thế giới đều có thể truy cập dễ dàng, trong khi chi phí để duy trì hoạt động của hệ thống lại thấp. Hệ thống này bao gồm 4 liên kết là:

    • Cửa hàng Wal-mart.
    • Trụ sở công ty của Wal-mart.
    • Trung tâm phân phối.
    • Nhà cung cấp.

    Thông qua hệ thống, Wal-mart kết nối thông tin giữa các cửa hàng với trụ sở công ty và trung tâm Wal-mart để xác định lượng hàng tồn kho. Sau đó, Wal-mart cho phép các nhà cung cấp tiếp cận hệ thống mạng ngoại vi của mình để theo dõi việc bán hàng, nhằm điều chỉnh kế hoạch sản xuất sản phẩm sao cho hợp lý. Việc phối hợp chặt chẽ giữa Wal-mart và các nhà cung cấp thông qua chia sẻ thông tin từ hệ thống dữ liệu của hai bên đã tạo nên hiệu quả trong toàn chuỗi cung ứng. Đó là, cho phép Wal-mart giữ chi phí lưu kho ở mức thấp, đồng thời giúp các nhà cung cấp điều chỉnh việc tăng hay giảm hoạt động sản xuất phụ thuộc vào việc bán hàng. Với hơn 60.000 nhà cung cấp nếu chỉ tính riêng trong nước Mỹ, việc giữ cho mọi thành viên am hiểu thông tin là một thách thức với Wal-mart. Vì thế công ty phải làm xuyên suốt từng mắt xích của hệ thống bán lẻ, nơi mà các nhà cung cấp có thể kết nối thông tin trong một hệ thống internet bảo mật. Thông qua đó, cả hai bên đều có thể kiểm tra mức lưu kho và khả năng bán hàng ở từng cấp độ của các cửa hàng. Và khi mối liên hệ giữa nhà cung cấp

    41

    và công ty càng chặt chẽ, thông tin được chia sẻ càng nhiều thì hiệu quả càng cao đồng thời giảm thiểu nhiều rủi ro. Việc điều tiết được lượng sản phẩm sản xuất ra đã làm giảm đáng kể hàng tồn kho, giúp Wal-mart tiết kiệm được 5% đến 10% chi phí cho hàng hóa so với hầu hết các đối thủ22. Đây cũng là điều kiện để nhà cung cấp càng gắn kết chặt với Wal-mart và Wal-mart càng có nhiều cơ hội mua hàng trực tiếp từ chính nhà sản xuất mà không cần thông qua trung gian.

    2.2.1.2.      Ứng dụng công nghệ RFID

    • Vài nét về công nghệ RFID

    Công nghệ RFID (Radio Frequency Identification) hay hệ thống nhận dạng bằng tần số radio là công nghệ nhận dạng hàng hóa bằng tần số radio. Các con chíp nhỏ được gắn vào các sản phẩm hoặc bao bì sản phẩm và chúng phát ra tín hiệu radio tới thiết bị máy thu cầm tay. Hệ thông RFID gồm 2 phần cơ bản23:

    • Thẻ RFID có gắn chip silicon và ăng ten radio dùng để gắn vào đối tượng quản lý như: sản phẩm, hàng hóa, động vật, hoặc ngay cả con người.
    • Đầu đọc cho phép giao tiếp với thẻ RFID qua sóng radio ở một khoảng cách nhất định, từ đó truyền dữ liệu về hệ thống máy tính trung tâm.

    RFID là một kỹ thuật nhận dạng sóng vô tuyến từ xa, cho phép đọc dữ liệu trên con chíp điện tử nhờ sóng vô tuyến mà không cần tiếp xúc trực tiếp với nó ở khoảng cách từ 50 cm tới 10 mét. Bộ nhớ của con chíp có thể chứa tới 96 đến 512 bit giữ liệu, nhiều gấp 64 lần so với một mã vạch. Bên cạnh đó, thông tin lưu trữ trên con chip có thể được sửa đổi nhờ vào một máy đọc. Dung lượng lưu trữ cao của những thẻ thông minh này cho phép chúng cung cấp các thông tin đa dạng như: thời gian lưu trữ, ngày bán, giá, và thậm chí cả nhiệt độ sản phẩm. Vì thế, các thẻ RFID có thể cung cấp chính xác

    • Dain Ehring, 2006, The Wal-mart Model, The Mortgage Bankers Association.

     

    42

    sản phẩm là gì, nó nằm ở đâu, khi nào hệt hạn, hay bất cứ thông tin nào mà người dùng muốn lập trình cho nó.

    Có 3 loại thể RFID gồm24:

    • Thẻ thụ động: Không có nguồn năng lượng bên trong. Khi thẻ thụ động đi qua máy đọc, năng lượng của sóng radio phát từ máy đọc sẽ cung cấp năng lượng cho chip và “đánh thức” nó để thu nhận thông tin mà nó lưu giữ. Trên thực tế, thẻ thụ động đọc được khoảng cách từ 2 mm cho tới vài mét, phụ thuộc vào sự lựa chọn sóng radio và thiết kế, kích thước của ăng-ten. Do đó, loại thẻ này thường có chi phí sản xuất rẻ, không có pin.
    • Thẻ bán chủ động (semi-passive tag): loại thẻ này về cơ bản giống thẻ thụ

    động, tuy nhiên có thêm một pin nhỏ. Pin này cho phép chip của thẻ được cấp nguồn liên tục. Các thẻ này không tích cực truyền tín hiệu đến bộ đọc cho tới khi chúng nhận được tín hiệu từ bộ đọc. Thẻ bán chủ động nhanh hơn trong sự phản hồi so với thẻ thụ động vì thế khỏe hơn trong việc đọc số truyền.

    • Thẻ chủ động (active tag): Không giống như hai loại thẻ trên, thẻ chủ động có nguồn năng lượng bên trong, được sử dụng để cung cấp cho tất cả các chip và phát ra tín hiệu. Loại thẻ này có tầm hoạt động lớn hơn và bộ nhớ có khả năng lưu trữ thông tin tốt hơn. Vì thẻ phát ra tín hiệu mạnh hơn thẻ thụ

    động nên hiệu quả hơn trong môi trường mà sóng radio bị nhiễu bởi độ ẩm và các tia khác, hay các vật chứa nước (con người, động vật). Thẻ chủ động có khả năng thu và phát tín hiệu trong phạm vi lên tới vài trăm mét và năng lượng bên trong có thể hoạt động tới 10 năm.

    • Lợi ích của công nghệ RFID

    43

    Kế hoạch ứng dụng công nghệ RFID trong quản trị chuỗi cung ứng được Wal-mart khởi xướng vào tháng 6 năm 200325 (P.Fraser Johnson, 2006). Sau đó, Wal-mart tăng cường các kế hoạch và tích cực khẳng định những tiêu chuẩn RFID sẽ được áp dụng. Wal-Mart đã công bố yêu cầu các nhà cung cấp lắp đặt các thẻ RFID trên các chuyến hàng để cải thiện việc quản trị chuỗi cung ứng. Công nghệ RFID cho phép Wal-mart kiểm soát được hàng hóa khi chúng được chuyển từ trung tâm phân phối vào các xe tải để vận chuyển đến các cửa hàng. Điều này sẽ làm tăng tính hiệu quả cho việc lưu kho hàng hóa, đồng thời giảm thua lỗ do hết hàng, cũng như hạn chế các chi phí vì lưu kho quá nhiều. Các máy đọc thẻ RFID được đặt ở một vài nơi trong nhà kho như: ở cửa nơi hàng hóa được nhập kho, ở cửa nơi hàng hóa xuất kho. Với những vị trí này, các nhà quản lý kho sẽ biết được các loại hàng nào và bao nhiêu hàng đang được lưu kho, cũng như loại hàng nào, số lượng bao nhiêu đang được bày bán. Với Wal-mart, mục tiêu chủ yếu khi sử dụng RFID là giảm thiểu sự thiếu hàng trong kho và bằng cách đó, nâng cao doanh thu. Ngoài ra, RFID cũng giúp Wal-mart hạn chế những nhầm lẫn khi đơn hàng có nhiều chủng loại sản phẩm, sự hỗn loạn trong kiểm kê ở các cửa hàng, và nâng cao khả năng hoạch định sản lượng cho các nhà sản xuất. Hơn thế nữa, việc sử dụng RFID làm tăng khả năng kiểm soát nguồn gốc, những thay đổi nhiệt độ, và hạn sử dụng của sản phẩm.

    2.2.1.3.      Giải pháp CPFR

    Giải pháp CPFR là một kế hoạch, trong đó các nhà cung cấp và Wal-mart cộng tác với nhau để dự báo nhu cầu khách hàng, nhằm tối ưu hóa hoạt động cung ứng. CPFR mang đến những lợi ích:

    • Cải thiện hoạt động dự báo cho tất cả các đối tác trong chuỗi cung ứng và thực hiện việc chia sẻ các thông tin dự báo.
    • Fraser Johnson, 2006, Supply Chain Management at Wal-mart, tr.9, Ivey Management Services, The University of Western Ontario, Ontario, Canada.

     

    44

    • Sau đó Wal-mart và các nhà cung ứng điều chỉnh các hoạt động logistics có liên quan.

    Đối tác thương

    mại

    Đối tác thương

    mại

    Đối tác thương

    mại

                   
          Giải pháp CPFR    
                  Tạo
                 
                  cầu
              Xúc tiến
               
                   
                   
          EDI   Dự báo  
    Cộng tác      
               
                   
              Danh mục  
          Internet  
            sản phẩm  
               
                  Đáp ứng
                 
                  cầu
              Đặt hàng
               
                   
                   

    CRM

    APS

    ERP

     

    Hình 2.2 Các bộ phận của giải pháp CPFR26:

    Nguồn: Matt Johnson,”Collaboration Modelling: CPFR Implementation Guidelines”.

    • CRM (Customer relationship management) là giải pháp phần mềm giúp Wal-mart quản lý mối quan hệ khách hàng hiệu quả hơn thông qua những kênh trực tiếp và gián tiếp mà khách hàng lựa chọn sử dụng. Với CRM, công ty có thể lựa chọn những giải pháp quan hệ khách hàng hợp lý nhằm duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng và đạt được lợi nhuận tối ưu dựa trên tiêu chí khách hàng là trung tâm, quan tâm tới nhu cầu của khách hàng.

     

    • ERP ( Enterprise resources planning) – hệ thống hoạch định các nguồn lực của doanh nghiệp, là giải pháp công nghệ thông tin có khả năng tích hợp toàn bộ các ứng dụng quản lý sản xuất kinh doanh vào một hệ thống duy nhất nhằm tự

    26 Matt Johnson,”Collaboration Modelling: CPFR Implementation Guidelines”,Chicago,Council of Logistics Management.

     

    45

    động hóa các quy trình quản lý….Với ERP, mọi hoạt động của công ty, từ quản

    trị nguồn nhân lực, quản lý dây chuyền sản xuất và cung ứng vật tư, quản lý tài chính nội bộ, đến việc bán hàng, tiếp thị sản phẩm, trao đổi với đối tác, khách hàng…đều được thực hiện trên một hệ thống duy nhất. V thế công ty có thể tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh.

    • ASP (Advanced planning and scheduling) là chương trình dùng thuật toán để tìm ra các giải pháp tối ưu cho những vấn đề phức tạp trong việc lập kế hoạch.
    Công ty cộng tác   Thỏa thuận phạm   Lựa chọn phần
    với nhà cung ứng   vi hợp tác   mềm hỗ trợ
             
    Cùng thực hiện việc   Xác định rõ những   Đánh giá giá trị
    dự báo và giải quyết   yêu cầu về hợp tác   của chuỗi
    khó khăn   như: dự báo nhu    
        cầu, logistics    
             
             
    Sử dụng kết quả để        
    thực hiện dự trữ và        
    lên lịch trình giải        
    quyết        
      Hình 2.3 Sơ đồ chu trình CPFR  
       

    46

    2.2.4. Quản trị nguồn hàng

    2.2.2.1.      Chiến lƣợc mua hàng

    Vào năm 2006, Wal-mart có khoảng 90.000 nhà cung cấp trên toàn thế giới27, trong đó có khoảng 200 nhà cung cấp chính như: P&G, Nestle, Unilever, và Kraft. Là một tập đoàn bán lẻ lớn nhất nhất thế giới, Wal-Mart có sức mạnh vô cùng to lớn so với các nhà cung cấp và công ty đã sử dụng quyền lực này để ảnh hưởng mọi thứ từ giá cả, sản phẩm cho đến lịch trình giao hàng. Trong hoạt động quản trị nguồn hàng, Wal-mart sử dụng một số chiến lược như28:

    • Chỉ mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất, không chấp nhận trung gian. Vào năm 1970, Wal-mart mở trung tâm mua hàng đầu tiên có trụ sở tại Bentonville, nhằm cắt giảm trung gian. Bên cạnh đó, vào những năm 1980, Wal-mart bắt đầu tìm nguồn cung ứng toàn cầu bằng việc mở văn phòng ở Trung Quốc, Ấn Độ29( P.Fraser Johnson, 2006,).
    • Trong quá trình đàm phán, Wal-mart tập trung vào giá và chỉ giá. Trong quá trình thương lượng với các nhà cung cấp, Wal-mart luôn nhấn mạnh vào một mức giá hóa đơn duy nhất và chỉ đi đến giao dịch cuồi cùng khi biết chắc rằng công ty đã mua sản phẩm với giá cả thấp nhất.
    • Chính sách mua hàng của Wal-Mart là “factory gate pricing”, nghĩa là Wal-Mart sẽ vận chuyển hàng từ cửa nhà máy của nhà sản xuất.
    • Công ty giành rất nhiều thời gian để làm việc với nhà cung cấp để có thể hiểu được cấu trúc chi phí của họ như: nguyên liệu nhập từ ai? giá bao nhiêu? bao
    • Fraser Johnson, 2006, Supply Chain Management at Wal-mart, tr.4, Ivey Management Services, The University of Western Ontario, Ontario, Canada.

     

    • Mohan Chandran, 2003, Wal-mart’s Supply Chain Management Practices, tr.4, ICFAI Center for

     

    Management Research.

     

    • Fraser Johnson, 2006, Supply Chain Management at Wal-mart, tr.3, Ivey Management Services, The University of Western Ontario, Ontario, Canada.

     

    47

    nhiêu công nhân? lương thế nào? vận chuyển nguyên liệu như thế nào?….Từ đó,

    Wal-Mart thúc ép, gây áp lực cho những nhà cung cấp phải hiệu quả, cắt giảm chi phí trên chuỗi cung ứng của mình.

    2.2.2.2.     Quản trị mối quan hệ với nhà cung cấp

    Để quản lý nguồn cung hiệu quả và liên tục, Wal-mart tập trung xây dựng mối quan hệ với các nhà cung ứng. Sau đây là ví dụ điển hình về việc quản trị mối quan hệ với nhà cung ứng giữa Wal-mart và P&G. Trước năm 1988, mối quan hệ kinh doanh giữa Wal-mart và P&G rất yếu30. Mô hình hợp tác giữa P&G và Wal-mart được mô tả bởi hình 2.4.

    Hình 2.4: Mô hình hợp tác giữa Wal-mart và P&G trƣớc năm 1988

    Nguồn: Machael Grean, Machael J.Shaw, 2000.

    Theo hình 2.4, việc hợp tác giữa hai công ty chỉ đơn thuần tồn tại dựa trên hoạt động mua và bán hàng, các hoạt động khác như: chia sẻ thông tin, marketing, logistics…hầu như không tồn tại, hoặc nếu tồn tại cũng không liên tục. Đến năm 1988, để cải thiện mối quan hệ này, cả hai công ty đã thay đổi mô hình hợp tác theo hình 2.5. Theo đó, việc hợp tác được tiến hành ở tất cả các hoạt động chức năng của hai công ty.

    • Machael Grean, Machael J.Shaw, 2000, Supply-Chain Integration through Information Sharing: Channel Partnership between Wal-Mart and Procter & Gamble.

     

    48

    Hình 2.5: Mô hình hợp tác hiện nay giữa Wal-mart và P&G

    Nguồn: Machael Grean, Machael J.Shaw, 2000.

    Việc thay đổi mô hình hợp tác, kết hợp với những ứng dụng công nghệ như: hệ thống kết nối bán lẻ, công nghệ EDI (trao đổi dữ liệu điện tử), giải pháp CPFR…đã cho phép luồng thông tin di chuyển liên tục, đồng thời hàng hóa được sản xuất, vận chuyển kịp thời. Kết quả là, lượng giao dịch tăng từ 375 triệu đô la vào năm 1988 lên 4 tỷ đô la vào năm 200031.

    2.2.3. Quản trị logistics

    2.2.3.1.      Hệ thống vận tải

    Một trong những đặc trưng quan trọng trong cơ sở hạ tầng logistics của Wal-Mart là tính đáp ứng nhanh và linh hoạt của hệ thống vận tải. Cùng với bộ phận logistics lên tới 75.000 người, là 7.800 lái xe quản lý gần 7.000 xe tải thuộc đội xe tư

    • Machael Grean, Machael J.Shaw, 2000, Supply-Chain Integration through Information Sharing: Channel Partnership between Wal-Mart and Procter & Gamble, tr.6.

     

    49

    nhân của Wal-mart32, đã tạo nền tảng để công ty phân phối hầu hết những hàng hóa được bày bán tại các cửa hàng thông qua khoảng 114 trung tâm phân phối trải rộng toàn nước Mỹ. Hàng hóa được vận chuyển từ kho của các nhà cung cấp bởi đội xe của Wal-mart đến các trung tâm phân phối. Từ đây, hàng hóa được vận chuyển trực tiếp đến các cửa hàng mà không cần lưu kho thêm. Những đội xe tải chuyên dụng cho phép công ty vận chuyển hàng hoá từ những trung tâm phân phối đến cửa hàng chỉ trong hai ngày và bổ sung cho các kệ hàng trong cửa hàng 2 lần/tuần. Đoàn xe tải chính là một sự kết nối hiệu quả giữa cửa hàng và các trung tâm phân phối của Wal-mart. Quản lý hoạt động của đội xe tải là bộ phận phối hợp. Những người tài xế phải báo cáo giờ làm việc sẵn sàng của mình cho bộ phận phối hợp hằng ngày. Bộ phận này dựa vào những báo cáo đó và khoảng thời gian ước tính cho một chuyến chở hàng từ trung tâm phân phối đến một cửa hàng nào đó để lên kế hoạch tất cả những chuyến vận tải. Sau đó họ thông báo cho tài xế biết về hành trình vận chuyển hàng hóa, cụ thể là: chiều từ trung tâm phân phối tới cửa hàng hay ngược lại, thời gian xuất hành, và tất cả những thông tin có liên quan mà tài xế yêu cầu. Trong các chuyến vận chuyển, nhiều khi các tài xế phải lái xe trong đêm tối. Để kiểm soát sự tỉnh táo khi làm việc vào ban đêm của các tài xế, Wal-mart đưa ra môt quy định khá khắt khe, đó là, các tài xế phải ghi chép các hoạt động của mình vào một cuố sổ tay các nhân33( P.Mohan Chandran, 2003). Mục đích của cuốn sổ tay này là hướng dẫn lái xe kiểm soát hành vi của mình. Bên cạnh đó, trong cuốn sổ tay còn quy định các điều khoản và quy tắc nhằm đảm bảo an toàn trong lúc dỡ hàng hóa và bảo vệ tài sản của Wal-mart trong môi trường làm việc đêm khuya.

    Để quá trình phân phối và vận tải thêm hiệu quả, Wal Mart đã sử dụng một kĩ thuật trong logistics là hệ thống “ cross docking”. Trong hệ thống này, những sản

    • Fraser Johnson, 2006, Supply Chain Management at Wal-mart, tr.5, Ivey Management Services, The University of Western Ontario, Ontario, Canada.

     

    • Mohan Chandran, 2003, Wal-mart’s Supply Chain Management Practices, tr.5, ICFAI Center for Management Research.

     

    50

    phẩm hoàn thiện được vận chuyển trực tiếp từ nhà máy sản xuất của nhà cung ứng đến những kho “ cross docking” theo những lô hàng lớn, tại đây lô hàng sẽ được tách ra, chuẩn bị theo những nhu cầu cần thiết của khách hàng, rồi gửi đi cho khách. Do đã được chuẩn bị đầy đủ, nên khi chở đến nơi hàng sẽ được đưa vào sử dụng ngay mà không cần qua kho nữa. Hệ thống này góp phần giảm chi phí tồn kho rất nhiều. Để đạt được hiệu quả cao nhất của hệ thống cross docking, Wal mart đã thực hiện những sự thay đổi rất cơ bản trong hệ thống quản lí. Theo truyền thống, những quyết định về sản phẩm, giá cả và khuyến mãi được tập trung và giải quyết ở cấp độ công ty. Tuy nhiên, hệ thống cross docking từ khi ra đời đã thay đổi truyền thống này. Hệ thống đã chuyển hướng mục tiêu từ “ chuỗi cung ứng “ sang “ chuỗi nhu cầu”, nghĩa là thay vì nhà bán lẻ “ đẩy” ( push) sản phẩm vào hệ thống thì khách hàng sẽ “kéo” (pull) sản phẩm khi nào họ cần. Phương pháp này đảm bảo mối quan hệ giữa các cửa hàng và trung tâm phân phối, nhà cung ứng hơn trước.

    2.3.3.2.     Hệ thống kho bãi

    Hệ thống kho bãi của Wal-mart chính là các trung tâm phân phối trên khắp nước Mỹ. Sau khi hàng hoá được nhập đến từ các nhà cung cấp, chúng có thể sẽ được chuyển đến trung tâm phân phối, thực hiện phân loại, ghi nhãn, đóng bao,… Sau đó, thông qua hệ thống xe tải những hàng hoá này sẽ được chuyển đến các cửa hàng và siêu thị trong khu vực. Hiện nay, Wal-mart có khoảng 114 trung tâm phân phối trên khắp nước Mỹ, mỗi trung tâm có kích thước lớn hơn 1 triệu mét vuông Anh34. Các trung tâm này hoạt động 24/7 để hỗ trợ liên tục cho đội xe tải. Bên trong mỗi trung tâm, có các bằng chuyền với chiều dài hơn 5 dặm, phục vụ hơn 9.000 dòng sản phẩm khác nhau. Các trung tâm được phân bổ khoa học, mỗi trung tâm hỗ trợ hoạt động cho

    • đến 100 cửa hàng trong vòng bán kính 250 dặm. Để thuận tiện trong di chuyển, mỗi trung tâm phân phối đều được đánh dấu trên các cung đường đến các cửa hàng. Những

    hàng hóa được nhập trực tiếp từ các nhà sản xuất ở nước ngoài như: Trung Quốc hay

    51

    Ấn Độ, sẽ được chuyển đến các trung tâm phân phối nằm ở khu vực ven biển trước khi vận chuyển đến các cửa hàng trên khắp nước Mỹ. Mỗi trung tâm phân phối được phân ra ở những khu vực khác nhau trên cơ sở số lượng hàng hóa nhận được. Tỉ lệ quay vòng hàng tồn kho là rất cao khoảng 1 lần trong 2 tuần đối với hầu hết các chủng loại hàng hóa35( P.Mohan Chandran, 2003). Những hàng hóa phân phối trong phạm vi nước Mỹ thường được chuyển tới trong những tấm nâng, trong khi đó hàng hóa nhập khẩu thì lại được chuyển tới trong những chiếc hộp hoặc thùng có thể tái sử dụng.

    Hình 2.6 Sơ đồ hệ thống phân phối của Wal-mart.

    2.2.4. Quản trị tồn kho

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh ngày nay thì tồn kho hàng hoá và nguyên vật liệu là một nhân tố có ý nghĩa đối với sự hoạt động của một chuỗi cung ứng. Nhưng, số lượng hàng tồn kho quá nhiều sẽ dẫn tới tăng chi phí lưu kho, giảm sức cạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp. Với một quy mô hoạt động phân phối và

    • Mohan Chandran, 2003, Wal-mart’s Supply Chain Management Practices, tr.4, ICFAI Center for Management Research.

     

    52

    bán lẻ khổng lồ như Wal-mart, để có thể đáp ứng được phân phối một cánh linh hoạt hoạt, kịp thời đến các cửa hàng, vừa cạnh tranh với các đối thủ về cắt giảm chi phí là một vấn đề không nhỏ. Để giải quyết vấn đề này, Wal-mart đã tiến hành phát triển chương trình “Nhà cung ứng quản trị tồn kho”, song song với việc áp dụng kỹ thuật “cross – docking” để tạo ra hiệu quả cao nhất.

    2.2.4.1.      Hàng tồn kho đƣợc quản lý bởi nhà cung ứng

    Chương trình hàng tồn kho được quản lý bởi nhà cung ứng – VMI của Wal-mart yêu cầu các nhà cung ứng quản trị mức tồn kho ở các trung tâm phân phối của Wal-mart bắt đầu áp dụng cho nhãn hàng tã lóp của P&G vào cuối những năm 1980. Đến năm 2006, chương trình này đã mở rộng cho nhiều nhà cung cấp và các loại mặt hàng khác nhau36( P.Fraser Johnson, 2006). Dưới sự hỗ trợ từ các ứng dụng công nghệ như: hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử EDI, hệ thống kết nối bán lẻ Retail Link, chương trình này phát triển nhanh chóng, và mang lại hiệu quả tích cực.

    Chương trình bắt đầu tại các cửa hàng của Wal-Mart. Công nhân ở các cửa hàng được trang bị máy vi tính cầm tay để kiểm soát hàng tồn kho, những lần giao hàng, và lưu giữ hàng hóa trong các trung tâm phân phối thông qua hệ thống nhận dạng tần số radio. Bên cạnh đó, việc quản trị đơn hàng và lưu kho hàng hóa cũng được thực hiện bởi hệ thống máy tính. Thông qua hệ thống điểm bán hàng (POS), Wal-mart có thể kiểm soát và ghi nhận doanh số, mức tồn kho trên các kệ hàng tại cửa hàng. Wal-mart cũng sử dụng hệ thống thuật toán phức tạp để dự đoán số lượng chính xác mỗi loại hàng hóa cần được giao, căn cứ vào mức tồn kho ở các cửa hàng. Sau đó, thông qua hệ thống kết nối bán lẻ, Wal-mart gửi tất cả những thông tin đã thu thập, và phân tích ở trên đến các nhà cung ứng (nhà sản xuất). Với những thông tin được chia sẻ, nhà sản xuất có thể quản lý tần suất, số lượng, và định thời gian giao hàng thay vì phải chờ đợi nhà bán lẻ đặt hàng. Hoạt động này cho phép nhà sản xuất chủ động sản

    • Fraser Johnson, 2006, Supply Chain Management at Wal-mart, tr.7, Ivey Management Services, The University of Western Ontario, Ontario, Canada.

     

    53

    xuất đủ số hàng hóa cần giao, làm giảm sự cần thiết của hàng tồn kho, đồng thời lên kế hoạch giao hàng hiệu quả hơn. Mặt khác, để hỗ trợ nỗ lực quản trị tồn kho của Wal-mart, các chuyên gia phân tích đền từ các nhà cung ứng đã làm việc cùng những chuyên viên chuỗi cung ứng của Wal-mart nhằm phối hợp các dòng hàng hóa từ nhà máy sản xuất, đồng thời giải quyết các vấn đề trong chuỗi cung ứng, từ những vấn đề thông thường như: đảm bảo có sẵn hàng hóa để bốc dỡ lên các xe tải, và sắp xếp đổi các hàng hóa lỗi, đến những vấn đề bất thường như: sự tăng vọt của cầu về một loại hàng hóa phổ biến. Hơn nữa, để tăng cường quản lý hàng tồn kho trong ngắn hạn và thảo luận về những xu hướng của hàng hóa, các chiến lược chuỗi cung ứng từ trung hạn đến dài hạn như: vị trí nhà máy sản xuất, sự kết hợp giữa các nhà cung ứng nguyên liệu sản xuất với các dự báo về nhu cầu hàng hóa cũng được đưa ra bàn bạc giữa Wal-mart với nhà cung cấp.

    2.2.4.2.      Sử dụng kỹ thuật “Cross docking”

    Cross-docking hay kỹ thuật “di chuyển hàng liên tục thông quá kho” , là kho đa năng phân loại, tổng hợp, đóng gói, hoàn thiện hàng hóa để phục vụ người tiêu dùng. Loại kho này đóng vai trò như một trung tâm phân phối tổng hợp. Sản phẩm được chuyển từ nơi sản xuất đến kho cross-docking theo những lô hàng lớn. Tại đây lô hàng sẽ được tách ra, chuẩn bị theo những đơn đặt hàng của khách hàng rồi gửi đi cho khách. Do đã được chuẩn bị đầy đủ, nên khi chở đến nơi, hàng sẽ được đưa vào sử dụng ngay mà không cần qua kho nữa.

    54

    Hình 2.7: Sơ đồ di chuyển hàng hóa khi sử dụng kỹ thuật Cross-docking

    Áp dụng Cross-docking ở Wal-mart là đưa hàng hoá thành phẩm từ cơ sở sản xuất và phân phối trực tiếp nó cho các cửa hàng và siêu thị mà rất ít và hầu như không phải lưu trữ hàng qua khâu trung gian. Cross-docking cắt giảm chi phí nắm giữ và lưu trữ tồn kho. Tức là bước lấp đầy một kho hàng bằng hàng tồn kho trước khi giao nó đi là hoàn toàn được cắt giảm. Đơn giản như là nhận hàng từ một cửa và giao chúng thông qua một cửa khác mà không phải lưu trữ chúng trong nhà kho.

    Hiện nay, Wal-mart đang điều hành 19 khu “cross – docking” để hỗ trợ cho phòng ban của Sam’s club.

    55

    Hàng được nhận, được kiểm tra tính chính xác và chuẩn bị cho việc đưa đến các cửa hàng. (nhãn mã vạch được ghép vào các thùng carton)

    Các               thùng

    carton xuyên suốt nhà máy trên các băng

    chuyền nhằm cắt giảm nhân công và tốc độ

    chu chuyển hàng hoá

    Máy     đọc        mã

    vạch nhận dạng sản phẩm và chuyển các thùng carton

    xuống theo từng line bốc hàng thích hợp

    thùng carton được bốc lên các xe móc hàng và sẽ được giao khi các xe móc hàng đầy hàng.

    Hình 2.8 Quy trình Cross-docking

    Trong hoạt động quản trị tồn kho của mình thì Wal-mart đang thực hiện có 5 loại hình kỹ thuật về “cross – docking” như sau37:

    • Opportunistic Cross docking: theo loại hình này thì thông tin chính xác về nơi hàng hóa được chuyển đi, nơi sẽ được chuyển đến cũng như chính xác số lượng hàng hóa giao nhận là rất cần thiết. Bởi vì theo loại hình này thì Wal – Mart sẽ nắm bắt chính xác thông tin và chuyển hàng trực tiếp cho các cửa hàng bán lẻ của mình từ nơi nhà cung cấp mà không cần phải thông qua
    • Mohan Chandran, 2003, Wal-mart’s Supply Chain Management Practices, tr.12, ICFAI Center for Management Research.

     

    56

    dự trữ trong nhà xưởng. Opportunistic cross docking cũng được dùng trong việc quản trị hệ thống kho bãi của Wal – Mart thông qua hệ thống thông tin, liên kết giữa Wal – Mart và các nhà bán lẻ, để nhà cung ứng thông báo thường xuyên cho nhà bán lẻ những mặt hàng cần thiết đã sẵn sàng được vận chuyển và có thể vận chuyển ngay tức thời.

    • Flow through Cross docking: theo loại hình này thì luôn luôn có một dòng

    ổn định hàng hóa đi ra và đi vào trung tâm phân phối hàng hóa của Wal – Mart. Loại cross docking này thường được áp dụng cho những hàng hóa dễ bị hư hỏng, chỉ tươi mới trong một khoảng thời gian ngắn như rau quả, thực phẩm tươi sống; hay cho những loại hàng hóa không dự trữ được lâu trong kho (sữa, thực phẩm đóng hộp). Hệ thống cross docking này được dùng trong việc phân phối hàng hóa cho các siêu thị và những cửa hàng bán lẻ giá rẻ khác.

    • Distributor Cross docking: Trong loại hình cross docking này thì hàng hóa sẽ được nhà cung ứng chuyển trực tiếp cho các cửa hàng bán lẻ. Không có một trung gian vận chuyển nào tham gia vào quá trình phân phối này. Ðiều này làm giảm một lýợng chi phí ðáng kể cho các nhà bán lẻ của Wal – Mart vì họ sẽ không phải tốn bất kì chi phí nào cho việc dự trữ. Vì các nhà bán lẻ tại một số nơi của Wal – Mart không cần phải có trung tâm phân phối nên Wal – Mart không cần phải tốn chi phí cho nhà kho. Thời gian để vận chuyển hàng hóa từ nhà cung ứng đến cho khách hàng cũng được giảm xuống. Tuy nhiên, loại hình cross docking này cũng có những hạn chế. Đó là chi phí vận chuyển cho cả nhà cung ứng và nhà bán lẻ của Wal – Mart có xu hướng tăng trong một quãng thời gian nhất định vì khi hàng hóa cần được chuyển đến những cửa hàng bán lẻ ở những vị trí khác và cách xa nhau. Hệ thống vận chuyển cũng cần được vận hành thật nhanh chóng. Và trong trường hợp này, ý nghĩa của kho cross docking cũng mất đi ý nghĩa.

    Hệ thống vận chuyển và phân phối hàng hóa phải thật linh hoạt, có hiệu quả và hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc chậm trễ phân phối hàng cho nhà

    57

    bán lẻ. Người bán lẻ chịu nhiều rủi ro nhất vì họ không được chia sẻ rủi ro cùng với nhà sản xuất. Hình thức này chỉ thích hợp cho những nhà cung ứng có mạng lưới phân phối rộng lớn và có thể linh hoạt vận chuyển trong trường hợp hàng hóa phải được phân phối trong một khoảng thời gian thật ngắn.

    • Manufacturing Cross docking: những cơ sở kho tạm của cross docking phục vụ cho nhà máy và tạm thời được coi là kho mini của xưởng sản xuất. Khi mà xưởng sản xuất cần những phần và nguyên vật liệu để sản xuất một phần của sản phẩm, nó sẽ được cung cấp cho các supplier trong khu vực sản xuất trong một thời gian ngắn khi cần thiết. Điều này giúp giảm thiểu thời gian và chi phí vận chuyển, cũng như chi phí lưu kho bãi.
    • Pre allocated cross docking: trong loại hình này, hàng hóa đã sẵn sàng

    được đóng gói và dán nhãn bởi nhà sản xuất và sẵn sàng chuyển cho các trung tâm phân phối và từ đó hàng hóa sẽ được chuyển đến các cửa hàng. Hàng hóa được vận chuyển đến trung tâm phân phối và chuyển trực tiếp từ

    đây đến các cửa hàng và đến tay người tiêu dung mà không cần phải đóng gói lại hay là thay đổi bao bì của sản phẩm.

    Cross docking đòi hỏi một sự phối hợp đồng bộ, và chặt chẽ giữa nhà sản xuất (nhà cung ứng), kho chứa, và hệ thống các cửa hàng bán lẻ của Wal – Mart. Hàng hóa chỉ có thể phân phối dễ dàng và nhanh chóng chỉ khi thông tin chính xác. Việc quản lí hệ thống thông tin trong việc quản trị cross docking với sự trợ giúp của hệ thống dữ liệu chuyển đổi (Electronic Data Interchange – EDI) và những hệ thống thông tin kinh doanh.

    2.3. Đánh giá về hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-

    mart

    Ngày nay, người ta biết tới Wal-mart như là một đế chế bán lẻ lớn nhất thế giới mà doanh thu của nó hàng năm có thể được xếp vào danh mục những quốc gia có GDP

    58

    cao nhất thế giới khoảng 419 tỉ đô la Mỹ năm 201138. Suốt từ năm 2007 đến năm 2011 (trừ năm 2009), Wal-Mart luôn đứng đầu danh sách Fortune 500 và Global (Bảng 2.1).

    Bảng 2.1 Bảng xếp hạng Wal-mart của Fortune 500 và Global 500 (Triệu USD)

    Xếp hạng

    Năm     Doanh thu Lợi nhuận
      Fortune 500 Global 500    
             
    2007 1 1 351.139 11.284
             
    2008 1 1 378.799 12.731
             
    2009 2 3 405.607 13.400
             
    2010 1 1 408.214 14.335
             
    2011 1 1 421.849 16.389

    Nguồn: Fortune 50039 và Global 50040

    Wal-Mart là công ty dịch vụ đầu tiên leo đến vị trí hạng nhất trên danh sách của Fortune (bắt đầu công bố từ năm 1955). Wal-mart thành công bởi công ty không chỉ tập trung vào chiến lược bán lẻ mà còn là một công ty tối ưu hoá về Quản trị chuỗi cung ứng.Các nét nổi bật trong hoạt động Quản trị chuỗi cung ứng của Wal-mart:

    • Ứng dụng tiên phong, thành công công nghệ thông tin như: công nghệ trao đổi dữ liệu điện tử EDI, công nghệ nhận dạng tần số radio RFID, vệ tinh nhân tạo, giải pháp CPFR; kết hợp với hệ thống kết nối bán lẻ đã tạo tiền đề cho một chuỗi cung ứng hiệu quả.
    • Wal-mart 2011 Annual Report.

     

    59

    • Tiên phong xây dụng hệ thống các nhà kho đa chức năng “Cross – docking” thành công; đáp ứng nhanh nhu cầu khách hàng và tạo ra các giá trị tăng thêm cho hàng hoá.
    • Chiến lược mua hàng hiệu quả tạo lợi thế cạnh tranh về giá; bên cạnh chương trình “Nhà cung ứng quản trị tồn kho” càng làm giảm chi phí, tạo cơ sở thành công cho chiến lược “Giá rẻ mỗi ngày”.
    • Dựa trên nền tảng công nghệ để tăng tính hiệu quả của hoạt động vận tải, mức độ đáp ứng của các trung tâm phân phối, tiết giảm tồn kho bằng hệ thống Just in

    time,…

    Những thành công trên được minh chứng bởi các sự kiện như: năm 1990, Wal-mart vượt qua Target và Kmart trở thành công ty bán lẻ lớn nhất nước Mỹ. Đến năm 2006, doanh thu của Wal-mart đã vượt xa tất cả các đối thủ khác trên thị trường bán lẻ (Đồ thị 2.1).

    Đồ thị 2.1 Doanh thu của các công ty bán lẻ năm 2006

    Doanh thu năm 2006

    (Triệu USD)

     

    350

    315.654

    300

    250

    200

    150

    100                            
    52.935 60.553 52.62      
           
                   
    50 40.358             38.416          
          16.023                  
                             
    0                            

    Doanh thu năm 2006 (Triệu đô la)

    60

    Nguồn: Supply Chain Management at Wal-mart, The University of Western Ontario, 2006.

    Từ năm 2007 đến năm 2011, mặc dù giai đoạn này nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng, đặc biệt là nền kinh tế Mỹ, nhưng Wal-mart vẫn trên đà tăng trưởng dương. Theo báo cáo thường niên của Wal-mart41, tốc độ tăng trưởng doanh thu ròng các năm trong giai đoạn này cao nhất là 11,6% (2007), và thấp nhất 1,0% (2010). Trong khi đó, tốc độ gia tăng lợi nhuận luôn ở mức cao, thấp nhất là 23,4% (2007) và cao nhất là 24,9% (2010). Từ đồ thị 2.1 có thể thấy rõ doanh thu ròng của công ty liên tục tăng từ 344.759 triệu đô la vào năm 2007 lên mốc 418.952 triệu USD vào năm 2011. Đây chính là những kết quả cho thấy Wal-mart đang sở hữu một trong những chuỗi cung ứng tốt nhất thế giới hiện nay.

    Đồ thị 2.2 Doanh thu ròng năm tài chính của Wal-mart (2007-2011)

    Doanh thu ròng năm tài chính của Wal-mart

    (Triệu USD)

    Doanh thu

    401.087                     405.132                      418.952

    373.821

    344.759

    2007                           2008                           2009                           2010                           2011

    Nguồn: Wal-mart 2011 Annual Report.

    41 Wal-mart Annual  Report.

    61

    CHƢƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM

    3.1. Tổng quan về thị trƣờng bán lẻ Việt Nam hiện nay

    Thị trường bán lẻ Việt Nam được coi là một trong những thị trường bán lẻ có sức sinh lời hấp dẫn nhất trên thế giới. Theo kết quả nghiên cứu của tập đoàn tư vấn AT Kearney, chỉ số phát triển bán lẻ chung của Việt Nam năm 2004 đạt 76 điểm và đứng thứ 7 (lần lượt sau Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Slovenia, Croatia và Latvia). Ba năm sau, năm 2007 Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới cũng theo đánh giá của tổ chức này (Nguyễn Đình Bích, 2007)42. Sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thị trường bán lẻ Việt Nam tiếp tục có nhiều thay đổi theo hướng mở cửa sâu rộng hơn, đầy đủ hơn, hội nhập nhanh hơn vào thị trường khu vực và thế giới. Tính tới thời điểm đầu năm 2012, thị trường bán lẻ Việt Nam đã có những bước tiến mới (Phan Thế Ruệ, 2011)43: có khoảng 600 siêu thị, 120 trung tâm thương mại , và 1.000 cửa hàng tiện ích với hình thức bán lẻ hiện đại, thuận tiện, giá cả ổn định, thu hút nhiều tầng lớp người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cả nước có khoảng 9000 chợ truyền thống, tập trung chủ yếu ở nông thôn, ven các đô thị lớn, nhỏ. Một vài đặc điểm của thị trường bán lẻ:

    • Thứ nhất, mặc dù dân số đông, nhưng thu nhập đầu người chỉ ở mức trung bình thấp, nên quy mô thị trường vẫn nhỏ. Tầng lớp tiêu dùng phần lớn ở
    • Phan Thế Ruệ, 2011, Thị trường bán lẻ Việt Nam năm 2011 và dự báo năm 2012.

     

    62

    nông thôn, thu nhập không ổn định, dân trí tiêu dùng không cao, chuyển dịch tập quán tiêu dùng chậm.

    • Thứ hai, chất lượng, giá cả hàng hóa dịch vụ khó kiểm soát, vệ sinh an toàn thực phẩm không được chú ý, ảnh hưởng đến sức khỏe ngươi tiêu dùng. Hàng hóa tăng giá không tương xứng với tiêu chuẩn chất lượng, khai giá và niêm yết giá không minh bạch, gây mất lòng tin người tiêu dùng.
    • Thứ ba, gian lận, hàng giả, hàng nhái là các vấn đề ngày càng nhức nhối. Theo Hiệp hội phòng chống hàng giả, năm 2011 các cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 500.000 vụ sản xuất, lưu hành hàng giả,.
    • Thứ tư, hệ thống bán lẻ của Việt Nam đang còn nhiều tầng nấc, làm tăng chi phí lưu thông. Hàng tiêu dùng được lưu hành trên thị trường thông qua nhiều hình thức, không rõ nguồn gốc, kém chất lượng. Chưa có hệ thống bán lẻ hoàn chỉnh, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi.

    Mặc dù vậy, thị trường bán lẻ liên tục phát triển với tốc độ cao từ 20% đến 25% qui mô, tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ đạt từ 750.000-800.000 tỷ đồng những năm 2006-2008, lên trên 1 triệu ngàn tỷ đồng năm 2010. Năm 2011 mặc dù kinh tế khó khăn, giá cả tiêu dùng cao, sức mua giảm nhưng vẫn có thể đạt 1,3 triệu tỷ đồng. Theo số liệu thống kê, lĩnh vực bán lẻ hàng hoá-dịch vụ đã đóng góp khoảng 15% GDP, doanh số bán lẻ bằng 60-70% GDP, góp phần tăng trưởng kinh tế trong những năm qua44.

    3.1.1. Những doanh nghiệp bán lẻ nƣớc ngoài ở Việt Nam

    Dù các hình thức bán lẻ ở Việt Nam có nhiều, nhưng còn manh mún, thu lợi nhuận thấp, thiếu tính chuyên nghiệp. Nên các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đã tìm mọi cách vào thị trường Việt Nam nhằm khai thác nhiều cơ hội từ thị trường sơ khai này.

    63

    Cụ thể, Metro (Tập đoàn Metro Cash&Carry, Đức) đăng ký kinh doanh theo hình thức bán buôn nhưng thực ra hoạt động phần lớn là bán lẻ; BigC (Tập đoàn Casino, Pháp) hoạt động theo hình thức bách hóa tổng hợp; Parkson (Tập đoàn Lion, Malaysia) với mô hình bán hàng bách hóa chuyên về hàng công nghiệp; Lotte (Hàn Quốc) kinh doanh cả siêu thị lẫn gian hàng… Sau khi vào thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài nhanh chóng thu được những kết quả khả quan như: Metro, BigC, Parkson đạt được doanh thu, tốc độ tăng trưởng trên 40%/năm, trong đó Metro kiếm lời khoảng 500 triệu đô la trên năm và tăng trưởng hàng năm đạt 45%45. Hiện nay, các công ty này đang nỗ lực mở rộng mạng lưới phân phối của mình như: BigC có tới 18 “đại siêu thị”46, Parkson sở hữu 8 trung tâm thương mại47, Metro không thua kém với

    • chi nhánh kinh doanh (trung tâm thương mại)48….. Bên cạnh việc mở rộng kinh doanh, các doanh nghiệp này còn tập trung xây dựng và quản lý chuỗi cung ứng của

    mình. Ví dụ điển hình phải kể tới Metro. Nhằm hỗ trợ hoạt động cho 17 trung tâm thương mại, công ty thành lập phòng cung ứng49: với 25 nhân viên chính thức, và 25 nhân viên dịch vụ thuê ngoài, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động quản lý dây chuyền cung ứng và kho vận của công ty. Kết nối hơn 1.000 nhà cung cấp hàng hóa với các trung tâm thương mại của Metro là 4 trung tâm phân phối (TTPP) như: trung tâm phân phối rau quả Đà Lạt, TTPP hàng tươi sống Bình Dương, TTPP hàng thực phẩm khô và phi thực phẩm TP.Hồ Chí Minh, và TTPP Hà Nội. Ngoài ra, Metro còn

     

    46Thông tin các siêu thị BigC, xem ngày 8.5.2012, http://www.bigc.vn/Sieuthigannhat/ThongtinsieuthiBigC/tabid/139/language/vi-VN/Default.aspx.

     

     

    48Lịch sử hình thành và phát triển Metro, xem ngày 8.5.2012, http://www.metro.com.vn/servlet/PB/menu/1108611_l30/index.html.

     

    64

    xây dựng đội xe tải riêng gồm các xe lạnh trọng tải lớn và xe container để vận chuyển hàng hóa giữa các TTPP và trung tâm thương mại.

    3.1.2. Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    Từ sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đã không ngừng mở rộng mạng lưới bán lẻ, hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại, trong đó, có nhiều doanh nghiệp bán lẻ lớn như: Saigon Coop, Tổng công ty thương mại Hà Nội, Tổng công ty thương mại Sài Gòn, Điện máy Nguyễn Kim…. Năm 2010,

    Tạp chí bán lẻ Châu Á (Retail Asia) công bố danh sách xếp hạng 500 nhà bán lẻ hàng đầu Châu Á – Thái Bình Dương50, Việt Nam có 10 doanh nghiệp được vinh dự xếp hạng. Trong đó, ngoài 3 nhà bán lẻ nước ngoài hoạt động tại Việt nam là: hệ thống siêu thị BigC, hệ thống Parkson, trung tâm thương mại Diamond Plaza, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam góp mặt 7 thành viên còn lại như: hệ thống siêu thị Co.opMart, trung tâm điện máy Nguyễn Kim, chuỗi G7 Mart…. Tuy nhiên, chất lượng

    hệ thống bán lẻ còn ở mức thấp, quy mô một siêu thị, trung tâm thương mại mới đạt doanh số bình quân vào khoảng 2-3 triệu USD/năm, cửa hàng, cửa hiệu bình quân doanh thu từ 10-13 tỷ đồng/năm51. Số lượng chủng loại hàng hoá ở một cửa hàng, siêu thị còn quá ít mẫu mã, đơn điệu. Chất lượng hàng hoá bán lẻ khó kiểm soát, xuất sứ vệ sinh công nghiệp, vệ sinh an toàn thực phẩm, hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn được lưu thông (Phan thế Ruệ, 2011)52. Chi phí đầu vào quá cao, năng lực cạnh tranh thấp, hệ thống bán lẻ bị phân khúc nhiều tầng nấc, hầu hết các doanh nghiệp bán lẻ, phải thuê mặt bằng, cửa hàng với giá ở mức cao, không ổn định, vay vốn lãi suất cao, trả công người lao động ngày càng có xu hướng tăng; môi trường

    • Phan Thế Ruệ, 2011, Thị trường bán lẻ Việt Nam năm 2011 và dự báo năm 2012

     

    65

    cạnh tranh giành giật thị trường khá khốc liệt dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp, không mở rộng kinh doanh như mong muốn.

    3.2. Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    3.2.1.  Quản lý thông tin

    Hệ thống thông tin có thể xem như trái tim của hoạt động chuỗi cung ứng, là quản lý cả dòng vật chất lẫn dòng thông tin. Nếu thiếu một trong hai thì hoạt động đó chưa phải là hoạt động chuỗi cung ứng thật sự, Tuy nhiên, thực tế các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam chủ yếu sử dụng hệ thống thông tin truyền thống (điện thoại, fax, email) để trao đổi thông tin, gửi và nhận chứng từ, hầu như chưa có công ty Việt Nam nào có phần mềm hay hệ thống thông tin kết nối với các đối tác của riêng mình. So với tiêu chuẩn quốc tế cũng như sự ứng dụng công nghệ thông tin vào ngành công nghiệp bán lẻ toàn cầu thì mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam rất thấp. Mức độ phát triển các tính năng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung ở mức độ trung bình so với thế giới. Hệ thống thông tin mà các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam triển khai vẫn còn mang tính cục bộ, đơn lẻ, chưa có sự kết nối giữa các đối tác trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Gần như không có sự liên kết hệ thống thông tin giữa các đối tác như nhà cung cấp hàng hóa,doanh nghiệp bán lẻ, nhà cung cấp dịch vụ logistics.

    Mô hình kinh doanh mà các công ty bán lẻ trên thế giới đang ứng dụng là mô hình kéo (pull model) nghĩa là mô hình đáp ứng nhanh chóng nhu cầu thị trường và điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua ứng dụng hệ thống thông tin toàn bộ và phức tạp. Việc ứng dụng thương mại điện tử để gia tăng kênh bán hàng trực tuyến hoặc phục vụ cho hoạt động mua hàng chưa được các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam thực hiện. Hầu hết các website của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam chỉ mang tính thông tin, rất ít hoạt động giao dịch trực tuyến. Do đó, lợi ích của thương mại điện tử

    66

    như giảm chi phí giao dịch, tốc độ giao dịch gia tăng, cơ hội tăng doanh thu,… không được các doanh nghiệp nhận thức một cách nghiêm chỉnh.

    3.2.2. Hoạt động quản trị mua hàng và nhà cung cấp

    Đây là hoạt động đầu vào của bất kỳ nhà bán lẻ nào và có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc chi phí của doanh nghiệp cũng như phản ánh khả năng đáp ứng sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Hầu hết các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đều đã và đang xây dựng được mối liên hệ với các nhà cung cấp trong và ngoài nước với quan hệ ổn định và lâu dài. Một số doanh nghiệp bán lẻ như Saigon Co.opmart, Vissan, Vinatex mart,…cũng thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với một số nhà cung cấp để tạo ra sản phẩm riêng của mình. Thông thường đó là các sản phẩm như: thực phẩm khô, sản phẩm đông lạnh và chế biến sẵn, sản phẩm tươi sống, sản phẩm may mặc. Đôi khi các công ty cũng tham gia vào một số hoạt động hỗ trợ sản phẩm như: đóng gói, dán nhãn, chế biến. Tuy nhiên, đối với những sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài, quan hệ mua hàng cũng chỉ là mối quan hệ đại lý phân phối nên nguồn cung cấp không mang tính ổn định và dễ dàng gặp rủi ro trong các vấn đề liên quan đến việc kiểm soát thời gian giao hàng, tỷ lệ hao hụt, chất lượng sản phẩm.

    Từ bảng 3.2 ta thấy, hầu hết các doanh nghiệp bán lẻ lớn của Việt Nam đã có hệ thống các nhà cung cấp chiến lược. Mặc dù vậy, hầu hết những nhà sản xuất trong nước hoặc chỉ là những công ty hay đại lý phân phối sản phẩm nước ngoài tại Việt Nam. Trong khi, đảm bảo hàng hóa cung cấp cho nhà bán lẻ là vấn đề cức kỳ quan trọng, và mang tính sống còn; thì chỉ với vài đối tác chiến lược khó có thể thỏa mãn nhu cầu đa dạng về hàng hóa, dẫn đến thiếu nguồn cung cho hệ thống bán lẻ, trực tiếp ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu số lượng các nhà cung cấp chiến lược tăng lên tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn nhà cung cấp, với tiềm lực hạn chế, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam khó có thể quản trị tốt nguồn hàng, cũng như đảm bảo nguồn thông tin là chính xác và liên tục. Thực tế cho thấy,

    67

    nhiều nhà bán lẻ không thể kiểm soát hết chất lượng, nguồn gốc hàng hóa của các nhà cung cấp, nên hàng hóa kém chất lượng dễ dàng xâm nhập.

    Bảng 3.2 : Danh sách các đối tác cung cấp của một số doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    Tên DN Đối tác       Mặt hàng
         
    G7Mart Dầu Tường An, Ajinomoto, Café Trung Dầu  ăn,  bột  ngọt,  café,
      Nguyên, CocaCola, Tribeco, Vinamilk, nước  giải  khát,  sữa,  sản
      Dutch Lady Vietnam, Nutifood, P&G phẩm vệ sinh cá nhân
         
    Saigon Bibica,  Vissan,  PepsiCo,  Dầu  Tường Bánh kẹo, thực phẩm tươi
    Coopmart An, Đồ hộp Hạ Long,Vinamilk, Dutch sống, nước giải khát, sữa,
      Lady Vietnam, Lavie, Unilever, P&G hàng tiêu dùng nhanh
         
    Vissan Cofidec, Inmexco, Safaco, Seprotimex, Rau quả, thủy hải sản
      Công ty rau củ quả TP.HCM    
         
    Vinatex Mart Phong Phú Corp, Dopimex, Doximex, May mặc
      Texgamex,      
         
    Nguyễn Kim JVC,  LG,  Panasonic,  Philips,  Sanyo, Kim khí điện máy, điện tử,
      Nokia, Samsung, Sony, Toshiba   điện thoại
               
    FPT Retail Nokia, Motorola, Samsung, HP, Điện tử, điện thoại
      Toshiba, Lenova, NEC, Acer, Apple.  
         
    Hapromart Hanoi   Milk,   Vang   Thang   Long, Sữa, rượu, thực phẩm
      Hagrimex, Hanoi Food    
               
    Thế  Giới  Di Nokia, Motorola, Samsung, Sony Điện tử, điện thoại
    Động Ericsson,Lenova, Siemens    
               

    68

    3.2.3. Quản trị Logistics

    3.2.3.1.         Hệ thông phân phối

    Những năm gần đây, hệ thông phân phối của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đã có nhiều hình thức hiện đại phát triển như: siêu thị, của hàng tiện ích, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng giá rẻ, trung tâm mua sắm…. Song xét về các tiêu chí như: vị

    trí, quy mô, diện tích, thiết kế, hàng hóa, giá cả, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ khách hàng…thì các mô hình này chưa hội tụ đủ những tiêu chuẩn là cơ sở bán lẻ văn minh. Kết quả là hệ thống phân phối bán lẻ khập khiễng, cơ sở vật chất sơ sài, bán hàng và thanh toán chủ yếu theo phương thức truyền thống, nên dòng thông tin vừa không liên tục, vừa thiếu, quan hệ giữa nhà bán lẻ và người tiêu dùng còn sơ khai. Bên cạnh đó, việc phân bố mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại chưa hợp lý. Chủ yếu tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh, và Hà Nội, trong khi các tỉnh thành khác hoặc có một vài trung tâm, hoặc thậm chí không có.

    Để cung cấp hàng hóa, sản phẩm cho các siêu thị, trung tâm thương mại, cần thiết phải có một hệ thống các trung tâm phân phối. Tuy nhiên, trong khi một số ít các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có quy mô lớn đã có một vài trung tâm phân phối tập trung theo khu vực nhất định để xử lý lượng hàng từ nhà cung cấp đến các siêu thị hoặc trung tâm thương mại, còn lại đa số các doanh nghiệp bán lẻ chỉ xây dựng các nhà kho nhỏ để chứa hàng, và phân phối cho một số siêu thị lân cận. Thực tế, các trung tâm phân phối này đảm nhiệm chức năng thu hồi những sản phẩm trả lại từ các siêu thị và trung tâm thương mại. Điều này dẫn đến lưu lượng hàng hóa qua lại trong mạng lưới gia tăng, kéo theo chi phí hoạt động logistics hai chiều gia tăng. Dù vậy, các doanh nghiệp vẫn chưa có một bài toán tổng thể, tối ưu trong việc xây dựng và vận hành các trung tâm phân phối một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin, các dịch vụ logistics tại các trung tâm phân phối này thiếu và kém, hoạt động cross-docking chiếm số lượng rất nhỏ trong tổng lượng hàng phân phối trên toàn bộ mạng lưới. Việc thiết kế trung tâm phân phối theo tiêu chuẩn ngành không được chú trọng.

    69

    Bên cạnh đó, việc quản lý số lượng rất lớn các mặt hàng lưu kho bằng phương pháp thủ công hay bằng những hệ thống đơn giản cũng dẫn đến gia tăng chi phí trong toàn chuỗi cung ứng: như: chi phí giao dịch, chi phí kiểm tra, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tình trạng phổ biến này diễn ra ở nhiều doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam, một phần vì các doanh nghiệp không có đủ tiềm lực về vốn để đầu tư xây dựng hệ thống quản lý kho hiện đại, một phần vì chưa có hệ thống dự báo, hoạch định đáng tin cậy.

    3.2.3.2.      Quản trị vận tải

    Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đều thuê ngoài vận tải hàng hóa trong hoạt động phân phối, trừ một số doanh nghiệp lớn như: Saigon Co.opmart, Vissan, G7Mart. Tuy nhiên, đội xe của những doanh nghiệp này khá nhỏ (khoảng 2,5 tấn), chuyên phục vụ việc vận chuyển hàng hóa trong địa bàn hẹp, ở một khu vực nhất định. Ngoài ra, việc hoạch định vận tải tối ưu để tiết kiệm chi phí cũng chưa được quan tâm. Cụ thể, phần lớn hoạt động vận tải chỉ nhằm phục vụ cho kênh thứ cấp từ trung tâm phân phối đến siêu thị, trong khi không kết hợp với chiều vận chuyển ngược lại đối với hàng hóa thu hồi. Điều này dẫn đến tình trạng lãng phí thời gian, năng suất của đội xe. Nhìn chung, quản lý hoạt động vận tải chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa có hệ thống hỗ trợ tối ưu hóa tuyến đường, hình thức vận tải và năng lực vận tải do đó ảnh hưởng đến hiệu quả vận tải. Đối với hàng nhập khẩu, tổng chi phí vận chuyển nội địa (total landed cost) chiếm tỷ trọng khá cao qua trung gian dẫn đến giá thành sản phẩm nhập khẩu cao.

    3.2.4. Quản trị tồn kho

    Quản trị tồn kho là hoạt động quan trọng để duy trì chuỗi cung ứng luôn vận hành xuyên suốt, liên tục. Hoạch định lượng hàng tồn kho làm sao để vừa tối thiểu hóa chi phí, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng là việc rất khó khăn. Thông thường, để ước lượng tốt lượng hàng tồn kho, các doanh nghiệp phải dựa vào hệ thống dự báo cầu đáng tin cậy. Nhưng thực tế, việc đặt hàng tồn kho được các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam thực hiện chủ yếu dựa vào số liệu quá khứ, và dự báo thủ công trên

    70

    hệ thống dữ liệu thô sư, và đơn giản. Việc áp dụng các mô hình hiện đại, hiệu quả vào quản trị tồn kho chưa được thực hiện rộng rãi, hoặc có áp dụng nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả mong muốn.

    3.3. Một số bài học kinh nghiệm từ hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của Wal-mart cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

    Thứ nhất, hệ thống thông tin là tiền đề, và ứng dụng các công nghệ là những giải pháp cải thiện chuỗi cung ứng. Từ thực tế cho thấy, nguyên nhân khiến quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam chưa hiệu quả phần lớn là do dòng thông tin lưu chuyển trong toàn chuỗi chưa liên tục. Vì thế, các doanh nghiệp cần nhanh chóng xây dựng cho mình một hệ thống dữ liệu trung tâm kết nối các siêu thị, trung tâm phân phối của mình với nhà cung cấp. Và sau đó là thiết lập một hệ thống liên kết giữa các bộ phận trong chuỗi nhằm chia sẻ thông tin. Khi đó, nhân viên kinh doanh có thể truy cập vào hệ thống quản lý kho, xem xét lượng hàng tồn kho. Nếu hàng có sẵn, nhân viên đó không chỉ có thể yêu cầu cung cấp thêm loại hàng đó vào kho, mà còn có thể yêu cầu hệ thống quản lý kho lấy và đóng gói mặt hàng đó rồi vận chuyển đến cửa hàng. Điều này vừa giúp doanh nghiệp quản trị tồn kho, dự báo nhu cầu, tránh tình trạng hết hàng, hoặc tồn kho quá cao; vừa giúp các nhà sản xuất chủ động sản xuất, để nguồn cung không bị gián đoạn.

    Bên cạnh việc xây dựng hệ thống chia sẻ thông tin, thì những ứng dụng công nghệ là cực kỳ quan trọng như: EDI, RFID… Từ hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của Wal-mart có thể thấy, ứng dụng công nghệ RFID giúp tăng hiệu quả quản trị tồn kho. Để cải thiện hiệu quả quản lý tồn kho ở các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam, công nghệ RFID là lựa chọn tối ưu. Không những thế, công nghệ này còn giúp kiểm soát xuất xứ, nguồn gốc của sản phẩm. Trong khi nguồn gốc, chất lượng sản phẩm, hàng hóa đang là vấn đề băn khoăn của doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng, thì công nghệ này sẽ giúp hạn chế hàng nhái, hàng giả, cũng như hàng không rõ xuất xứ.

    71

    Thứ hai, thay khái niệm nhà kho bằng trung tâm phân phối, và dần chuyển sang nhà kho đa năng53. Thiết kế, phân bố các trung tâm phân phối một cách thích hợp, hiệu quả dựa vào khu vực địa lý, và các mặt hàng mà trung tâm phân phối đó lưu chuyển. Theo quan niệm của nhiều doanh nghiệp Việt Nam, kho hàng chỉ đơn thuần là nơi, hay cơ sở lưu giữ hàng hóa, mọi công việc chủ yếu tập trung vào tay thủ kho. Tuy nhiên, kho hàng ngày nay đã khác, nó chính là trung tâm phân phối, nó đảm bảo dòng chảy hàng hóa liên tục và gia tăng nhiều giá trị để hoàn thành tốt đơn hàng. Trong một chuỗi cung ứng, vai trò của trung tâm phân phối lại càng trở nên quan trọng hơn trong việc đảm bảo chuỗi cung ứng được vận hành thông suốt và hoàn hảo. Không những thế, trung tâm phân phối được xem là điểm cân bằng giữa cung và cầu trong chuỗi cung ứng.

    Hình 3.1: Cân bằng chức năng của trung tâm phân phối

    72

    Từ phía cung, trung tâm phân phối phải đảm bảo tính hiệu quả, bao gồm quản lý tồn kho hiệu quả, vận tải tối ưu, vận hành trung tâm một cách hoàn hảo. Từ phía cầu, trung tâm phân phối phải đảm bảo được khả năng đáp ứng cao và nhanh.

    Đứng trên phương diện các chức năng hoạt động, để hoàn thành hai sứ mạng quan trọng trên, trung tâm phân phối ngày nay cần trang bị khả năng thực thi các hoạt động từ quản lý tồn kho, bổ sung tồn kho, cá biệt hóa (customization) đến cross docking, hoạch định vận tải, định vị hàng hóa,… như hình 3.1. Về cơ bản, chức năng chính của trung tâm phân phối là:

    • Xử lý và hoàn thành đơn hàng.
    • Quản lý việc vận chuyển hàng (trung tâm phân phối là đầu não điều tiết toàn bộ hoạt động phân phối một cách nhịp nhàng).

    Hình 3.3: Phân phối đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng và tạo ra giá trị gia tăng

    73

    Bên cạnh đó, trung tâm phân phối sẽ góp phần tạo ra giá trị như trì hoãn đơn hàng (postponement) hay đẩy nhanh việc chuyển hàng (cross-docking). Ở góc độ giá trị gia tăng, trong khi hoạt động sản xuất chủ yếu là để duy trì giá trị thì phân phối sẽ là nơi tạo thêm nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng”. Hình 3.2 trên đây thể hiện chuỗi giá trị mà hoạt động phân phối đóng vai trò vô cùng quan trọng. Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các trung tâm phân phối thông thường, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nên hướng tới những trung tâm hoàn thiện đơn hàng. Bởi xu hướng các doanh nghiệp bán lẻ trên thế giới đang hướng tới xây dựng mô hình kéo. Có nghĩa là, thay bằng việc doanh nghiệp đẩy hàng hóa vào hệ thống phân phối cho khách hàng lựa chọn, các doanh nghiệp sẽ tập trung vào nhu cầu của khách hàng, và đáp ứng nhu cầu đó, hay chính khách hàng kéo sản phẩm theo nhu cầu của mình. Vì thế, khái niệm trung tâm hoàn thiện đơn hàng mang ý nghĩa của một mô hình kéo nhiều hơn so với trung tâm phân phối thông thường. Để phát triển tốt nhất hình thức này, thương mại điện tử là điều kiện không thể thiếu. Bởi, để trung tâm hoạt động liên tục, xuyên suốt, cần có một khối lượng lớn hàng hóa đi qua trung tâm. Vì thế, thương mại điện tử sẽ là yếu tố giúp tăng lượng hàng hóa ra vào trung tâm nhờ những ưu điểm của nó như: xử lý đơn hàng ở với tốc độ nhanh.

    Thứ ba, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần củng cố mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng và nhà cung ứng, bởi có như vậy thì dòng sản phẩm trong toàn chuỗi cung ứng mới liên tục và hiệu quả. Hiện nay, dịch vụ khách hàng, và việc quản trị mối quan hệ với khách hàng của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vẫn bị khách hàng phản ánh khá nhiều. Giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, cũng như quản lý tốt mối quan hệ với khách hàng cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam là nắm rõ và áp dụng các quy trình sau vào hoạt động và điều hành doanh nghiệp:

    • Quy trình quản lý mối quan hệ với khách hàng (CRM). Quy trình này đảm bảo cho mối quan hệ với khách hàng được duy trì và phát triển. Thông qua quy trình này, nhà quản trị có thể xác định những khách hàng chiến lược cũng như nhóm

    74

    khách hàng mục tiêu. Mục tiêu của hoạt động này là để phân khúc khách hàng dựa trên giá trị mà họ đem đến cho công ty, cũng như tìm ra các giải pháp có giá trị nhằm nâng cao lòng trung thành của họ. Người quản lý quy trình này sẽ thiết lập một đội đặc biệt gồm các thành viên từ các bộ phận khác nhau trong công ty. Đội này có trách nhiệm thiết kế những thỏa thuận về sản phẩm và dịch vụ (PSA – Product and Service Agreements) phù hợp với yêu cầu cụ thể của khách hàng chiến lược và khách hàng mục tiêu, đồng thời đề ra chiến lược làm thế nào để cộng tác với khách hàng. Hơn thế nữa, bản thỏa thuận PSA cũng xác định rõ những kết quả đạt được cho công ty, chẳng hạn như mức độ lời/lỗ của từng khách hàng, cũng như mối quan hệ về mặt tài chính giữa công ty với khách hàng. Sau đó, đội CRM sẽ làm việc với các khách hàng chiến lược để cải thiện quy trình và đồng thời loại bỏ sự biến động nhu cầu và những hoạt động không mang lại giá trị.

    • Quy trình quản lý dịch vụ khách hàng: là bộ mặt của công ty. Bộ phận này là người liên hệ chính trong việc quản lý các PSA và là nơi cung cấp cho khách hàng các thông tin. Bộ phận này cũng hỗ trợ khách hàng trong việc vận hành các ứng dụng sản phẩm.
    • Quy trình quản lý nhu cầu: đòi hỏi sự cân bằng giữa yêu cầu của khách hàng với năng lực cung cấp. Với một quy trình chính xác, nhà quản trị có thể chủ động cân bằng được cung – cầu và đồng thời thực thi kế hoạch với ít tốn kém nhất. Một điểm cần lưu ý là quy trình này không giới hạn tới hoạt động dự đoán, mà còn bao gồm các hoạt động đồng bộ hóa giữa cung – cầu, tăng khả năng linh hoạt, và giảm bớt sự biến động. Một hệ thống quản lý nhu cầu tốt sẽ tận dụng các thông tin từ bán hàng và khách hàng chiến lược để giảm sự biến động trong nhu cầu, và cung cấp sự lưu chuyển hiệu quả trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Hệ thống này cũng sẽ hỗ trợ cho sự hợp tác với bộ phận marketing và sản xuất.
    • Quy trình hoàn thành đơn hàng. Quy trình này bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để xác định yêu cầu của khách hàng, thiết kế mạng lưới cho phép công ty

    75

    đáp ứng được yêu cầu của khách hàng với chi phí giao hàng thấp nhất. Dường như hầu hết các hoạt động này được thực hiện bởi bộ phận logistics. Tuy nhiên, để làm tốt thì bộ phận logistics cần phải phối hợp với các bộ phận khác trong công ty cũng như với nhà cung cấp/khách hàng.

    Tương tự, quy trình quản lý mối quan hệ với nhà cung cấp là lựa chọn cần thiết cho doanh nghiệp. Quy trình quản lý mối quan hệ với nhà cung cấp (SRM): cung cấp một hệ thống cấu trúc để phát triển và duy trì mối quan hệ với nhà cung cấp. Quy trình này là một hình ảnh thu nhỏ của quy trình CRM. Giống như CRM, quy trình liên quan đến việc phát triển mối quan hệ với nhóm các nhà cung cấp có mang đến giá trị cho công ty. Đối với nhóm nhà cung cấp chiến lược, công ty sẽ xây dựng những thỏa thuận về sản phẩm và dịch vụ (PSA). Đối với nhóm nhà cung cấp ít quan trọng, công ty sẽ tiếp cận theo phương pháp giao dịch. Nói ngắn gọn, thì quy trình SRM là việc định nghĩa và quản lý các thỏa thuận về sản phẩm và dịch vụ.

    Thứ tư, quản trị tồn kho tốt, hiệu quả là yếu tố quan trọng cắt giảm chi phí cho toàn chuỗi, đồng thời gia tăng doanh thu nhờ việc hạn chế tình trạng thiếu hàng. Ngoài những ứng dụng công nghệ như: hệ thống kết nối bán lẻ, hay công nghệ RFID, thì việc quản trị tồn kho còn yêu cầu áp dụng đồng thời nhiều phương pháp khác. Cụ thể (Nguyễn Hữu Duy, 2012)54:

    • Xác định các mặt hàng tồn kho quá lâu hoặc không phù hợp với nhu cầu và loại bỏ chúng. Việc xác định các mặt hàng tồn kho quá lâu, không phù hợp với nhu cầu rồi loại bỏ chúng sẽ được giải quyết thông qua việc áp dụng các công nghệ hiện đại như: hệ thông hoạch định các nguồn lực của doanh nghiệp-ERP (Enterprise Resources Planning).

    54Nguyễn Hữu Duy, 2012, Một số cách giảm chi phí tồn kho trong chuỗi cung ứng, xem ngày 9.5.2012,http://supplychaininsight.vn/home/component/k2/item/683-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-c%C3%A1ch-gi%E1%BA%A3m-chi-ph%C3%AD-t%E1%BB%93n-kho-trong-chu%E1%BB%97i-cung-%E1%BB%A9ng.html.

    76

    • Tận dụng kỹ thuật Cross-docking (di chuyển hàng liên tục thông qua kho) để giảm những chi phí liên quan đến tồn kho và nâng cao hiệu quả giao hàng. Theo kỹ thuật này, nguyên liệu/hàng hóa sẽ được dỡ xuống từ các loại xe tải nhỏ và ngay lập tức được xếp lên các xe tải xuất hàng, vì thế sẽ không có hoặc có rất ít tồn kho giữa việc dỡ xuống và xếp lên. Công ty có thể sử dụng kỹ thuật này để giảm các chi phí liên quan đến hàng tồn kho, nâng cao hoạt động nội bộ, và nâng cao khả năng giao hàng chính xác.

    Thứ năm, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nên tập trung xây dựng cho mình đội xe riêng. Có thể ngay từ đầu, để xây dựng hoàn thiện một đội xe sẽ tốn rất nhiều chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc lưu thông hàng hóa liên tục từ khâu này tới khâu kia trong chuỗi cung ứng là cực kỳ quan trọng. Nếu doanh nghiệp đi thuê ngoài dịch vụ vận tải, vừa làm giảm khả năng chủ động của mình, vừa gia tăng chi phí, cũng như không tận dụng được sự linh hoạt của đội xe. Mặc dù vậy, nếu chỉ đơn thuần thành lập một đội xe, rồi yếu kém trong quản lý nó chỉ làm doanh nghiệp trở nên trì trệ hơn. Do đó, việc lập kế hoạch, tuyến đường, cũng như trang bị một hệ thống liên lạc kết nối giữa đội xe với các phòng ban khác là rất cần thiết.

    Thứ sáu, thay thế mô hình cửa hàng tiện tích quá khứ bởi chuỗi cửa hàng tiện ích hiện đại55. Mô hình cửa hàng tiện ích cũ có nhiều bất cập như:

    • Mô hình cũ đòi hỏi các cửa hàng phải có khu vực kho bãi rộng lớn với đội ngũ quản lý riêng biệt. Điều này không còn phù hợp khi quỹ đất ở khu vực trung tâm thành phố không còn cho phép cửa hàng có diện tích đủ rộng để vừa có khu vực trưng bày hàng hóa rộng rãi, vừa có khu vực kho bãi được sắp xếp và quản lý đủ chuẩn.

    77

    • Mô hình cũ phụ thuộc nhiều vào mạng lưới cung ứng hàng hóa của nhà cung cấp. Điều này dẫn đến 2 hệ quả: Thứ nhất -quyền lực đàm phán giá cả và các

    điều kiện trong hợp đồng thu mua bị hạn chế; Thứ hai – khi nhà bán lẻ không nắm giữ trong tay quyền kiểm soát dòng chảy hàng hóa, những vấn đề như đứt hàng đột xuất hoặc nhà cung cấp từ chối giao hàng cho những cửa hàng nằm ngoài khu vực giao hàng tối ưu sẽ xảy ra thường xuyên hơn.

    Hình 3.4 Mô hình cửa hàng tiện ích mới

    Nguồn: Mô hình mới cho chuỗi cung ứng bán lẻ, 2012.

    Nhà bán lẻ sẽ có một kho tổng (trung tâm phân puối) cho từng vùng và sẽ quản lý hệ thống vận tải để giao hàng cho các cửa hàng. Với sự sắp xếp như vậy, quy trình đặt

    78

    hàng và giao nhận hàng hóa cũng sẽ có nhiều thay đổi. Thành viên trong phòng cung ứng (phòng supply chain) sẽ dựa vào thông tin về tồn kho hằng ngày đặt hàng đến nhà cung cấp theo số lượng dự báo (đối với hàng mới) và doanh số (đối với hàng đang kinh doanh) và trữ hàng về kho. Hằng ngày, với lịch đặt hàng cụ thể, các cửa hàng sẽ đặt hàng về kho và bộ phận quản lý chuỗi cung ứng sẽ tiến hành điều phối phương thức vận chuyển phù hợp. Với cách sắp xếp và vận hành như trên, nhà bán lẻ sẽ khắc phục được những yếu điểm của mô hình cũ như cửa hàng sẽ không phải đầu tư nhân lực, không gian và vật dụng trong kho cho những cửa hàng sắp tới; cũng như nhà bán lẻ cũng không còn phụ thuộc vào năng lực của nhà cung cấp trong việc vận chuyển hàng hóa nữa. Và như thế, quyền lợi của nhà bán lẻ trong quá trình đàm phán sẽ cao hơn. Quyền lợi ở đây không chỉ giới hạn ở mức giá và chiết khấu nhà cung cấp dành cho nhà bán lẻ, mà đó còn được thể hiện ở sự ưu tiên hàng hóa, hàng khuyến mãi, ưu tiên trong vấn đề đổi trả hoặc thu hồi những mặt hàng có thay đổi về mẫu mã. Và tất cả những quyền lợi này sẽ ảnh hưởng đến sự xuyên suốt trong chuỗi cung ứng và năng lực cạnh tranh trên thị trường của nhà bán lẻ cũng theo đó mà tăng lên.

    79

    KẾT LUẬN

    Khi môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, sức ép lên các doanh nghiệp phải giảm thiểu chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng dịch vụ khách hàng ngày càng cao. Vì thế quản lý hiệu quả hoạt động logistics vẫn là chưa đủ để các doanh nghiệp đạt được hiệu quả tối ưu. Khi đó, chuỗi cung ứng chính là giải pháp tất yếu. Sau khi nghiên cứu từ lý thuyết về chuỗi cung ứng tới thực tiễn hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ Wal-mart, khóa luận rút ra một số kết luận sau:

    Thứ nhất, chuỗi cung ứng dù mới xuất hiện (đầu những năm 1980) nhưng nó đã cho thấy những hiệu quả to lớn. Khái niệm này đã thay đổi quan điểm về kinh doanh truyền thống: thay vì quản trị hiệu quả trong phạm vi một doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải liên kết nếu muốn đứng vững trên thị trường. Chuỗi liên kết đó sẽ kết nối từ nhà cung cấp đầu tiên tới nhà sản xuất, và khách hàng cuối cùng. Dù đơn giản hay phức tạp thì chuỗi cung ứng đều cấu thành từ 5 thành phần cơ bản, gồm: sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải, và thông tin. Các thành tố này sẽ đảm bảo để các dòng: thông tin, hàng hóa, tài chính…chảy liên tục và xuyên suốt trong toàn chuỗi. Tuy nhiên, để chuỗi cung ứng mang lại hiệu quả thật sự thì yếu tố quản trị chuỗi cung ứng là không thể thiếu. Quy trình quản trị chuỗi cung ứng cho phép các doanh nghiệp thiết kế được chuỗi cung ứng hiệu quả nhất, và điều hành hoạt động chuỗi một cách trơn chu, thống nhất thông qua: việc lập kế hoạch, tìm nguồn cung ứng, sản xuất, và phân phối.

    Thứ hai, ngoài những yếu tố về chiến lược kinh doanh, nguồn nhân lực…thì tối ưu hóa hoạt động quản trị chuỗi cung ứng đóng góp một phần rất lớn vào thành công chung của Wal-mart. Từ những tìm hiểu, phân tích sâu sắc về hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của Wal-mart ta thấy một số nét nổi bật sau: 1)Việc chia sẻ thông tin giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng của Wal-mart diễn ra liên tục, và mạnh mẽ thông qua hệ thống liên kết bán lẻ, và các ứng dụng công nghệ như: vệ tinh nhân tạo, EDI… 2)Hoạt động logistics được tối ưu hóa chi phí dựa vào một đội xe khổng lồ với khả

    80

    năng hoạt động liên tục và linh hoạt; cùng với hệ thống các trung tâm phân phối được trang bị cơ sở vật chất hiện đại và phân bổ hợp lý. 3)Công tác quản trị tồn kho đạt được hiệu quả về chi phí khi sử dụng chiến lược hàng tồn kho được quản lý bởi nhà cung cấp kết hợp với kỹ thuật di chuyển hàng liên tục trong kho (cross-docking)

    Thứ ba, hiện nay khi các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đang ồ ạt vào Việt Nam, với lợi thế về tài chính, nguồn nhân lực, kinh nghiệm quản trị, và đặc biệt các công ty này thật sự tập trung vào xây dựng chuỗi cung ứng; thì các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Thực trạng quản lý chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cho thấy vừa yếu chuyên môn, vừa thiếu các nguồn lực. Áp dụng thành công từ quản trị chuỗi cung ứng của Wal-mart, khóa luận đưa ra một số bài học kinh nghiệm như: hiện đại hóa hệ thống thông tin, tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến, thay nhà kho bằng các trung tâm phân phối, xây dựng đội xe tải hiện đại, thay đổi hình thức phân phối, tập trung quản trị tồn kho hiệu quả.

    Khóa luận đã hoàn thành được các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. Tuy nhiên, quản trị chuỗi cung ứng là một lĩnh vực rộng, phức tạp nên trong quá trình nghiên cứu tôi không tránh khỏi những hạn chế. Do đó, tôi mong nhận được những góp ý để có thể hoàn thiện tốt hơn nữa bài nghiên cứu.

    81

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Baatz Elizabeth, Pricing Across the Transportation Modes, Logistics Management, 9/2006.
    1. Colin Scott, Paul Thompson, Henriette Lundgren, 2011, Guide to Supply Chain Management,
    1. Cooke James, Logistics Costs Under Pressure, Logistics Management, 7/2006
    2. Courtesy of Supply chain Council, Inc.
    1. Courtesy of the Council of Logistics Management.
    1. Dain Ehring, 2006, The Wal-mart Model, The Mortgage Bankers Association.
    1. Fredendall, Lawrence D., and Ed Hill, 2001, Basics of Supply Chain Management, Boca Raton, FL: St. Lucie Press.
    1. Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, 1995, An introduction to supply chain management.
    1. Goldratt, Eliyahu M., 1984, The Goal, Great Barrington, MA: The North River Press Publishing Corporation.
    1. Graham, Gordon, 1987, Distribution Inventory Management, Richardson, TX: Inventory Management Press.
    1. Hamnon David, Tracking Total Logistics Value from the Inside Out, Purchasing Magazine, 10/2004.
    1. Harvard Business Review 70, March–April 1992, Adapted from Garrison

    Wieland for “Wal-Mart’s Supply Chain”.

    1. Johnson, Steven, 2001, Emergence:The Connected Lives of Ants, Brains, Cities, and Software, New York, NY: Scribner.
    1. Johnson, A.H.,2002, 35 Years of IT Leadership: A New Supply Chain Forged, Computerworld.
    1. Lambert, Stock và Elleam , 1998, Fundaments of Logistics Management, Boston MA: Irwin/McGraw-Hill.
    1. Matt Johnson,”Collaboration Modelling: CPFR Implementation

    Guidelines”,Chicago,Council of Logistics Management.

    1. Machael Grean, Machael J.Shaw, 2000, Supply-Chain Integration through Information Sharing: Channel Partnership between Wal-Mart and Procter & Gamble.
    1. Michael Hugos, 2003, Essentials of Supply Chain Management, 1: Basic Concepts of Supply Chain Management, tr.1 – tr.41, John Wiley & Sons, Inc.

    82

    1. Michael Hugos, 2003, Essentials of Supply Chain Management, 2: Supply

     

    Chain Operations: Planning and Sourcing, tr.43 – tr.76, John Wiley & Sons, Inc.

     

    1. Michael Hugos, 2003, Essentials of Supply Chain Management, 3: Supply

     

    Chain Operations: Making and Delivering, tr.77 – tr.101, John Wiley & Sons, Inc.

     

    1. Fraser Johnson, 2006, Supply Chain Management at Wal-mart, Ivey Management Services, The University of Western Ontario, Ontario, Canada.
    1. Mohan Chandran, 2003, Wal-mart’s Supply Chain Management Practices,

    ICFAI Center for Management Research.

    1. Roman, Eugene R., 1996, Reengineering the Distributor, South Holland, IL: Systems Design, Inc.
    1. Senge, Peter M., 1990, The Fifth Discipline:The Art and Practice of the Learning Organization, New York, NY: Doubleday/Currency.
    1. Stack, Jack, 1992, The Great Game of Business, New York, NY: Currency/Doubleday.
    1. Sunil Chopra, Pete Meindl, 2007, Supply Chain Management: Strategy, Planning, and Operation, Pearson Education, Inc., Upper Saddle River, New
    1. The Institute for supply management.
    1. Wal-mart 2011 Annual Report.
    1. Wisner, Tan, Leong, 2009, Principles of Supply Chain management: A Balanced Approach, South-Western
    1. William Beaver, “Battling Wal-Mart: How Communities Can Respond,”

    Business and Society Review, New York: Summer 2005. Vol. 110, Issue 2; pg. 159.

    1. com, xem 3.5.2012, http://www.walmartstores.com/AboutUs/7606.aspx.
    1. com, xem 3.5.2012, http://www.walmartstores.com/AboutUs/7606.aspx.
    1. Tìm hiểu về RFID, xem ngày 4.5.2012, http://www.oif.vn/vi/20101105122242533p64c66/tim-hieu-ve-rfid.htm.
    1. http://vnpro.org/forum/showthread.php/12690-Th%E1%BA%BB-RFID, xem 5.2012.

    83

    1. Logistics, xem ngày 7.5.2012, http://www.walmartstores.com/AboutUs/7794.aspx

     

    1. http://money.cnn.com/magazines/fortune/fortune500, xem ngày 7.5.2012.
    1. http://money.cnn.com/magazines/fortune/global500/2011/full_list/, xem ngày 5.2012.
    1. Nguyễn Đính Bích, 2007, Xếp hạng thị trường bán lẻ hấp dẫn thế giới: Mất điểm, Việt Nam tụt hạng, xem ngày 8.5.2012, http://www.ncseif.gov.vn/sites/en/Pages/xephangthitruongbanle-nd-7869.html.
    1. Phan Thế Ruệ, 2011, Thị trường bán lẻ Việt Nam năm 2011 và dự báo năm

     

    2012.

     

    1. Phan Thế Ruệ, 2011, Thị trường bán lẻ Việt Nam sau 4 năm gia nhập WTO, xem ngày 8.5.2012, http://ven.vn/tabid/84/newsid/20893/language/vi-VN/Default.aspx.
    1. Định vị ngành bán lẻ Việt Nam, 2007, xem ngày 8.5.2012, http://tuoitre.vn/Kinh-te/226175/Dinh-vi-nganh-ban-le-Viet-Nam.html.
    1. Thông tin các siêu thị BigC, xem ngày 8.5.2012, http://www.bigc.vn/Sieuthigannhat/ThongtinsieuthiBigC/tabid/139/language/vi-VN/Default.aspx.
    1. http://www.parkson.com.vn/vi/gioi-thieu-parkson.html, xem ngày 8.5.2012.
    1. Lịch sử hình thành và phát triển Metro, xem ngày 8.5.2012, http://www.metro.com.vn/servlet/PB/menu/1108611_l30/index.html.
    1. Quản lý dây chuyền cung ứng và dịch vụ kho vận, xem ngày 8.5.2012, http://www.metro.com.vn/servlet/PB/menu/1098146_l30/index.html.
    1. 10 doanh nghiệp Việt Nam vào danh sách 500 nhà bán lẻ Châu Á, 2010, xem ngày 8.5.2012, http://www.tapchicongnghiep.vn/News/channel/1/News/301/12775/Chitiet.html

    .

     

    1. Phan Thế Ruệ, 2011, Thị trường bán lẻ Việt Nam sau 4 năm gia nhập WTO, xem ngày 8.5.2012, 
    1. Phan Thế Ruệ, 2011, Thị trường bán lẻ Việt Nam năm 2011 và dự báo năm 2012
    1. Hoạch định phân phối: Tạm biệt nhà kho, xin chào trung tâm phân phối, 2012. xem ngày 9.5.2012, 

    84

     

     

    1. Nguyễn Hữu Duy, 2012, Một số cách giảm chi phí tồn kho trong chuỗi cung ứng, xem ngày

    9.5.2012,

    1. Mô hình mới cho chuỗi cung ứng bán lẻ, 2012, xem ngày 9.5.2012, 

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/%C4%90%E1%BB%8Bnh-v%E1%BB%8B-ng%C3%A0nh-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    “Với thị trường bán lẻ trị giá 37 tỉ USD mỗi năm, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ dự kiến sẽ đạt 7.000 tỉ đồng, tăng 23% so với năm ngoái. Việt Nam cũng đang dẫn đầu về tiêu dùng hàng hi-tech.” Đằng sau hàng loạt những tích cực, những chỉ số xếp hạng cao ngất của những tổ chức uy tín về thị trường bán lẻ Việt Nam, có một sự thật khác, một mối lo ngại khác về khả năng thất thế của hệ thống phân phối bán lẻ thuần Việt trước ngưỡng cửa 1.1.2009, khi mà ta buộc phải mở cửa thị trường.

    Một thị trường ồn ã

    Tốc độ phát triển khá nhanh của thị trường bán lẻ trong nước đang hấp dẫn các tập đoàn phân phối đa quốc gia.

    Mức hấp dẫn này dẫn đến một nguy cơ tiềm ẩn mà nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển phải thốt lên: “Vừa rồi, chúng ta cho phép Metro hình thành đến tám điểm, phát triển thành một chuỗi hệ thống bán buôn. Mà trong thị trường, ai hình thành được chuỗi liên kết, nắm được yếu tố cạnh tranh thì người ấy thắng. Chúng ta cam kết nhưng chúng ta vẫn có quyền hạn chế việc mở thêm các điểm

    bán lẻ. Do đó không nên cấp phép ồ ạt cho các nhà phân phối mở thêm đại lý lập thành chuỗi, gây ra sự cạnh tranh quá khốc liệt”.

    Sự khốc liệt này được diễn giải qua việc Ngân hàng Thế giới công bố chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu của Việt Nam năm 2007 đạt 74/100 điểm, đứng thứ 4 trên thế giới sau Ấn Độ, Nga và Trung Quốc.

    Với thị trường bán lẻ trị giá 37 tỉ USD mỗi năm, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ dự kiến sẽ đạt 7.000 tỉ đồng, tăng 23% so với năm ngoái. Việt Nam cũng đang dẫn đầu về tiêu dùng hàng hi-tech. Công ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen công bố: người tiêu dùng Việt Nam xếp thứ năm về chỉ số lạc quan tiêu dùng (Global Consumer Confidence Index). Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam đang ở mức cao kỷ lục, đạt 118 điểm và tăng lên 1 điểm, trong khi chỉ số này trên toàn cầu giảm 2 điểm, chỉ còn 97 so với cuối năm 2006.

    Trong số 10 quốc gia lạc quan nhất về tình hình tài chính cá nhân, 72% người Việt Nam tham gia cho biết họ sẵn sàng bỏ tiền trang bị vật dụng kỹ thuật cao, các loại hình giải trí và quần áo mới. Khát khao sở hữu những phương tiện hiện đại của người Việt Nam cao hơn cả những nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil. Những điều kiện trên báo hiệu một cơ hội lớn cho sự phát triển và duy trì một thị trường bán lẻ thuận lợi.

    Chủ nhà đang lúng túng

    Hiệp hội siêu thị Hà Nội đã chỉ ra những điểm yếu đang tồn tại trong hệ thống phân phối Việt Nam: tính chuyên nghiệp yếu vì nguồn nhân lực chưa qua đào tạo, chỉ có khoảng 4-5% nhân lực được đào tạo chuyên ngành, 60-70% các đơn vị kinh doanh chưa sử dụng công nghệ thông tin vào lãnh vực quản lý và khoảng 20% đơn vị mới xây dựng web đơn giản với nội dung nghèo nàn.

    Ngoài ra hậu cần cho hệ thống phân phối như kho bảo quản, các kho lạnh, xe tải chuyên dùng thiếu đồng bộ, chưa đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Việc tổ chức cung ứng hàng hoá chủ yếu là có gì bán nấy, chưa xây dựng được vùng cung cấp nguồn

    hàng ổn định để tiêu thụ. Tính chủ động trong hợp tác liên kết, liên doanh thu mua, tiêu thụ hàng hoá còn rời rạc.

    Do vậy, hệ thống thương mại bán lẻ của Việt Nam tuy đã có nhiều, nhưng còn mang nặng tính đại lý, thu lợi nhuận thấp.

    Chính vì thế các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đã tìm mọi cách vào Việt Nam khai thác cơ hội từ sự sơ khai, thiếu chuyên nghiệp này.

    Điều này được chứng minh qua những thành quả thực tế từ doanh thu, tốc độ tăng trưởng đạt trên 40%/năm mà Metro, Big C, Parkson… đạt được khi mạnh dạn mở kinh doanh tại thị trường Việt Nam. Như Metro Cash & Carry của Đức kiếm lời khoảng 500 triệu USD/năm và tăng trưởng hàng năm đạt 45%.

    Trong báo cáo “Phân tích công nghiệp bán lẻ Việt Nam” của Công ty nghiên cứu, tư vấn toàn cầu RNCOS dự báo sẽ có thêm hàng loạt đại gia bán lẻ nước ngoài đến Việt Nam trong những năm tới. Thị trường bán lẻ Việt Nam đang và sẽ tăng trưởng nhanh, lãnh vực bán lẻ ở Việt Nam sẽ thu hút những khoản đầu tư khổng lồ từ nước ngoài và sẽ ra đời những trung tâm thương mại, mua sắm lớn hơn, hiện đại hơn.

    Theo ông Nguyễn Cẩm Tú – Thứ trưởng Bộ Công thương, mặc dù các nhà phân phối Việt Nam có nhiều động thái củng cố lại hệ thống của mình để chống lại áp lực cạnh tranh từ các nhà phân phối nước ngoài, nhưng phải thừa nhận các tập đoàn phân phối nước ngoài đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường các nước đang phát triển.

    Họ có nguồn vốn rất lớn, đã tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường rất bài bản, sẵn sàng đưa ra giá bán buôn thấp hơn, cung cấp dịch vụ bán hàng thuận tiện và mời chào các chương trình khuyến mãi hấp dẫn.

    Xu hướng bán lẻ 2008 – 2010

    Theo phân tích của Retailer Asia, nếu như trong bảng xếp hạng “Ngôi sao bán lẻ” (bảng xếp hạng các doanh nghiệp bán lẻ dẫn đầu từng quốc gia) năm ngoái, việc một nhà bán lẻ có mặt trong top 3 và top 10 của nhiều nước là phổ biến (Dairy Farm, Carrefoure, Aeon,…) thì năm nay chỉ còn Dairy Farm và Aeon còn trụ lại. Điều này cho thấy sức cạnh tranh nội tại của các nước trong vùng châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước đang phát triển, là rất lớn.

    Sự xuất hiện của loại hình bán lẻ chuyên biệt chuyên về dược phẩm và/hoặc mỹ phẩm (health and beauty stores), chuyên về hàng điện tử điện máy… được tổ chức thành chuỗi cửa hàng với concept thống nhất: phản ánh xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng các nước này đang dần dần chuyển dịch, từ việc dành phần lớn thu nhập cho việc mua thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu, sang tiêu dùng những mặt hàng cao cấp và có giá trị cao hơn như hàng điện tử, mỹ phẩm và dược phẩm.

    Mức thu nhập tăng lên, người tiêu dùng châu Á đang có xu hướng trang trí nội thất nhiều hơn những năm trước. Thêm vào đó, ở các thị trường phát triển hơn, với việc kích cỡ gia đình đang dần co lại, các hộ gia đình nhỏ hơn hoặc chỉ có một người mà chủ hộ là giới trẻ đang đi làm lại có xu hướng cởi mở hơn trong việc mua sắm đồ nội thất để trang trí cho ngôi nhà.

    Điều này đã dẫn đến những viễn cảnh tươi sáng hơn cho các cửa hàng chuyên doanh đồ dùng sửa chữa nhà cửa cũng như những cửa hàng bán đồ nội thất.

    Loại hình nhà sách và trung tâm thương mại đang hạn chế khách hàng. Bản chất của loại hình nhà sách đã cho thấy giới hạn trong các cơ hội đổi mới về chưng bày và bố trí cửa hàng. Thêm vào đó, cùng với những sáng tạo mới về công nghệ, người tiêu dùng châu Á – cũng như ở những nơi khác trên thế giới – đang được giới thiệu với những cách tiêu khiển trong thời gian rảnh rỗi khác hơn là đọc sách.

    Các trung tâm thương mại sẽ chuyển lên vị trí cao hơn trong thị trường, tập trung vào những nhãn hiệu sang trọng, duy trì được tính cao cấp và dịch vụ tốt.

    Loại hình siêu thị nhìn chung đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ loại hình đại siêu thị. Về mặt tiến hoá của ngành bán lẻ, siêu thị có vẻ như là loại hình bán lẻ hiện đại đầu tiên xuất hiện ở các nước. Tuy nhiên chính vị trí đã ổn định của loại hình siêu thị ở hầu hết các nước, kể cả những nước đang phát triển như Việt Nam và Indonesia, ngoài Trung Quốc và Ấn Độ, là nguyên nhân làm cho siêu thị không còn dẫn đầu trong mức tăng trưởng của ngành bán lẻ tạp hoá.

    Cửa hàng tiện ích: việc kinh doanh của loại hình cửa hàng tiện ích khá bình lặng so với các loại hình bán lẻ khác.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Xu-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%A7a-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-ph%C3%A2n-ph%E1%BB%91i-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU.

    Việt Nam được biết đến là một quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế cao, chính trị ổn định, thu hút sự chú ý của không ít các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là một trong những thị trường đông dân, với kết cấu dân số trẻ và nhu cầu mua sắm ngày càng tăng thì lĩnh vực phân phối bán lẻ dường như trở thành một miếng bánh béo bở cho các nhà kinh doanh trong và ngoài nước.

    Sau khi trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã tiến hành gỡ bỏ dần rào cản về thuế quan, đưa ra các chính sách đãi ngộ với các doanh nghiệp nước ngoài nhằm tiến hành xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi theo đúng với những nguyên tắc đã cam kết khi gia nhập vào tổ chức này. Cụ thể là vào 01/01/2009, Việt Nam đã tiến hành mở cửa hoàn toàn với thị trường bán lẻ, cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Điều này đem lại lợi ích hay thách thức như thế nào? Ảnh hướng đến xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam ra sao chính là vấn đề mà nhóm chúng em đã tiến hành tìm hiểu và đưa ra nhận định trong bài tiểu luận này. Vì hạn chế về thời gian và kiến thức nên trong bài nghiên cứu này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong cô góp ý để chúng em có thể hoàn thiện.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!

    I. Khái quát chung về thị trường bán lẻ tại Việt Nam.

    1.  Độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ ở Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO.

    Ngay từ khi tiến hành đẩy mạnh các chính sách mở cửa thị trường trong quá trình xin gia nhập WTO, Việt Nam đã trở thành một trong những “điểm nóng” cho các nhà đầu tư nước ngoài mong đợi, đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối bán lẻ. Thông thường, cơ hội tham gia vào mỗi thị trường của các doanh nghiệp sẽ diễn ra trong vòng từ 5 đến 10 năm, đây là khoảng thời gian mà các nhà đầu tư coi là “cơ hội vàng” của họ. Như trước đây thì Trung Quốc đã từng là nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn, sôi động, là nơi thu hút nhiều nhất các nhà đầu tư lớn, thế nhưng giai đoạn gần đây, thị trường bán lẻ Trung Quốc đã bão hòa, tiến dần đến thoái trào. Và các đại gia đã nhanh chóng bị thu hút bởi Việt Nam  nổi lên là một thị trường mới đầy tiềm năng cho ngành phân phối bán lẻ, là được xem như một “ Little Indian” mới.

    Sau khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO, liên tục trong 3 năm 2007, 2008, 2009 Việt Nam đều nằm trong tốp 7 nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn hàng đầu thế giới. Điều này đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến của các nhà phân phối hàng đầu trên thế giới như  Parkson (Malaysia), Big C ( Hà Lan) hay Diamond Plaza (Hàn Quốc)… Họ đã nhanh chóng tân dụng cơ hội để thâm nhập vào thị trường nội địa, thiết lập hệ thống phân phối của mình tại các thành phố lớn ( chủ yếu là Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng…), và chỉ trong 2 năm (từ 2007 đến 2009) hàng loạt các đại gia lớn đã có mặt trên thị trường bán lẻ Việt Nam, đe dọa đến sự tồn tại của các nhà phân phối bán lẻ Việt (Hapro, Saigon Coopmark, Thái  Phú…). Đặc biệt, vào 01/01/2009 vừa qua, chính phủ đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ tại Việt Nam, cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài. Điều này có tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện hơn nữa hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam, nhưng nó lại trở thành một bài toán khó cho các nhà phân phối bán lẻ trong nước.

    2. Đánh giá về các yếu tố tạo điều kiện để phát triển hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

    2.1. Các yếu tố thuận lợi:

    2.1.1. Kinh tế.

    Thứ nhất, kinh tế Việt Nam được đánh giá là phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng cao qua các năm, GDP năm 2006 là 8,17% và tăng lên 8,.. % vào năm 2007. Cuối năm 2008, thế giới đã phải chứng kiến cơn bão suy thoái kéo theo sự sụt giảm về mức tăng trưởng kinh tế của toàn thế giới, tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tuy vậy, kinh tế Việt Nam đã nhanh chóng vượt qua khủng hoảng với con số khá ấn tượng  doanh số bán lẻ dịch vụ đạt 1.200 nghìn tỷ VNĐ (2009) tương ứng với mức 11%. Nhờ đó các chuyên gia kinh tế đã đưa ra đánh giá lạc quan cho sự phát triển cho ngành phân phối bán lẻ vào năm 2010 với mức lưu chuyển hàng hóa dịch vụ dự kiến sẽ tăng lên 20% ứng với 1.440 nghìn tỷ đồng và hứa hẹn là thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp nước ngoài hướng đến.

    Thứ hai, việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại WTO đồng nghĩa với việc các rào cản kinh tế bị gỡ bỏ, các doanh nghiệp đã có thể tự do tiếp cận và tiến hành khai thác thị trường. Các chính sách của nhà nước cũng đã thông thoáng hơn rất nhiều, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam, điều này không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp thuộc ngành mà quan trọng hơn là sẽ tạo cơ hội phân phối hàng Việt đến tận tay người tiêu dùng Việt tốt nhất.

    Thứ ba, ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa của nước ta đã có rất nhiều tiến bộ như sự ra đời của các khu công nghiệp, các nhà máy có quy mô sản xuất lớn, hay tập đoàn lớn trong ngành Hòa phát, gạch Đồng Tâm, Duy Lợi, Việt Tiến hay các hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm sạch, nước giải khát… Việc xuất hiện các sản phẩm mang thương hiệu nội đang dần lấy được niềm tin của người dân đã tạo ra nhu cầu đòi hỏi một kênh phân phối hàng hóa bán lẻ tiện dụng là rất lớn. Mà các nhà đầu tư vào lĩnh vực này cũng sẽ không phải lo lắng về việc cung cấp hàng hóa đầu vào.

    2.1.2. Xã hội:

    Hiện nay Việt Nam có khoảng 84 triệu người, với 75% dân số Việt Nam sống ở nông thôn dẫn đến sự chuyển dịch dân cư vào các trung tâm đô thị lớn diễn ra khá mạnh mẽ. Đáng nói hơn, Việt Nam lại là nước có kết cấu dân số trẻ 65% người dân đang ở độ tuổi lao động với hơn ½ ở độ tuổi 30 – là độ tuổi có mức chi tiêu cho mua sắm nhiều nhất. Chính những điều này đã tác động không nhỏ đến thói quen tiêu dùng tại thị trường nước ta hiện nay, mức tiêu thụ hàng hóa đã tăng cao.

    Bên cạnh đó, thu nhập của người dân đã cao hơn trước. Hiện có khoảng 1% dân số thuộc tầng lớp thu nhập rất cao gọi là “ vinavalet” sẽ là lực lượng kích thích sự gia tăng sử dụng hàng hóa xa xỉ (như xe hơi BMW, đồng hồ Swatch, Titan, hàng nội thất sang trọng…) Đây cũng chính là lượng người có mức tiêu thụ lớn nhất và qua đó cũng giúp đẩy mạnh mức tiêu thụ. Các chuyên gia cho rằng chỉ 5 đến 6 năm nữa thôi thì sự tồn tại của các “vinavalet” sẽ chiếm đến 10% dân số, chính điều này đã hứa hẹn một thị trường tiêu dùng Việt Nam đầy tiềm năng.

    Lượng người tiến hành mua sắm qua kênh bán lẻ hiện đại ngày càng tăng, đặt biệt giới trẻ đang nghiêng về xu hướng thích mua sắm qua mạng internet, đặt hàng qua truyền hình  hoặc shopping tại các trung tâm thương mại lớn. Từ  năm 2007 có 66% người tiêu dùng thỉnh thoảng mua sắm tại siêu thị, thì cuối 2008 con số này đã lên tới 96% . %. Tần suất mua sắm tại cửa hàng tiện ích, siêu thị cũng ngày càng tăng, từ 2, 3 lần/tháng trong năm 2008, và nâng lên 4 – 5/tháng trong năm 2009

    2.1.3. Cơ sở hạ tầng.

    Trong những năm gần đây thì cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đã có sự đầu tư rất lớn. Sự ra đời của các tòa nhà thương mại, các trung tâm mua sắm hay các chung cư cao cấp tạo thuận lợi cho hệ thống các siêu thị lớn nhanh chóng ra đời (ví dụ như Zen laza, Sai gon Coorpmark, fivi mark…) với các trang bị nội thất hiện đại, thái độ phục vụ chuyên nghiệp và nhiệt tình của nhân viên, không những thế, các trung tâm này còn kết hợp cả việc mua sắm và vui chơi giải trí của người dân thành thị. Bên cạnh đó, hệ thống đường xá được cải tạo và xây mới đã tạo sự tiện lợi trong di chuyển và lưu thông hàng hóa bớt đi một vấn đề cho các nhà bán lẻ khi muốn vào thị trường Việt Nam.

    2.2. Hạn chế.

    2.2.1. Thói quen tiêu dùng của người Việt.

    Bên cạnh thế mạnh về dân số, thì thị trường Việt Nam khiến các nhà phân phối lớn phải đau đầu. Với thói quen “ Ăn một bát cháo chạy ba quãng đường”, người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận “ đi xa để mua được hàng hóa rẻ” hơn rất ít so với các trung tâm thương mại. Hơn thế nữa, phần đông người dân của chúng ta lại có mức thu nhập thấp đến trung bình nên họ quen thuộc với hình thức mua hàng tại các cửa hàng bách hóa nhỏ lẻ, hay các chợ trời, chỉ tính đến cuối năm 2008 đã có đến 9000 chợ tồn tại, chi có 13% lượng người chấp nhận mua sắm ở các kênh phân phối hiện đại.

    Hơn thế nữa, thời gian vừa qua thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ của hàng loạt thể chế kinh tế lớn. Chính điều này đã tạo nên tâm lý lo ngại, hành động thắt chặt chi tiêu của không chỉ người dân Việt Nam mà đó là xu hướng chung của người tiêu dùng trên toàn thế giới khiến cho thị trường bán lẻ đã và đang đối mặt với nhiều khó khăn để kích thích người dân tăng tiêu dùng.

    2.2.2. Mặt bằng kinh doanh

    Một vấn đề nữa cũng khiến cho các nhà phân phối bán lẻ rất lo ngại đó là mặt bằng để tiến hành kinh doanh. Tuy cơ sở hạ tầng đã được đầu tư để thay đổi rất nhiều nhưng để xây dựng được một trung tâm mua sắm có quy mô phù hợp với mô hình mà các đại gia lớn như Big C, Zen Plaza hay Walt – mark yêu cầu còn rất hạn chế. Như tính đến thời điểm hiện nay, chỉ có ít nhất 7 trung tâm thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh có mặt bằng hơn 8.000 m2  tổng diện tích cho thuê, không những thế, mức giá mặt bằng là khá đắt, cụ thể là từ 15 – 100 USD/m2/tháng.

    2.2.3. Thủ tục để tiến hành tham gia kinh doanh vào lĩnh vực này.

    Theo như cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành mở cửa hoàn toàn cho ngành phân phối bán lẻ, 01/01/2009, chính phủ đã cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vào thị trường bán lẻ Việt Nam. Thế nhưng trong thủ tục cấp phép đầu tư và thành lập cơ sở bán lẻ lại có một số vấn đề chưa được rõ ràng. Theo quy định tại Nghị định số 23, để được cấp phép đầu tư thì cần có sự chấp thuận của Bộ Công Thương trong từng trường hợp cụ thể. Quy định này nằm ngoài thủ tục cấp phép thông thường đã xây dựng nên rào cản mới về pháp lý trong đầu tư. Theo nội dung các công văn của Bộ Công Thương thì “kinh nghiệm quản lý”,“năng lực kinh doanh” và “khả năng tài chính” của nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện cấp phép mới, trong khi các tiêu chí này lại chưa được ghi nhận và định lượng cụ thể trong bất kỳ tài liệu pháp lý nào. Trong thủ tục tiến hành cấp phép cơ sở bán lẻ thì quyết định 10 quy định: “Quyền phân phối của nhà đầu tư nước ngoài gắn với quyền được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất, việc lập thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT)”. Tuy nhiên, trên thực tế lại không có ngoại lệ nào đối với “quyền được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất”, nghĩa là việc thành lập cơ sở bán lẻ nói chung và cơ sở bán lẻ thứ nhất nói riêng trong mọi trường hợp đều là đối tượng kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) và phải được sự chấp thuận của Bộ Công Thương. Ngoài ra, trong một công văn của Bộ Công Thương, ngay cả trong trường hợp cơ sở bán lẻ đang hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp cũng sẽ bị kiểm tra nhu cầu kinh tế khi doanh nghiệp đăng ký chuyển nhượng phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài. Việc sử dụng công cụ “Kiểm tra nhu cầu kinh tế” trong trường hợp này là đã đi quá xa so với mục tiêu và ý nghĩa tồn tại của các tiêu chí “Kiểm tra nhu cầu kinh tế” mà WTO cho phép.

    II Xu hướng phát triển hệ thống phân phối bán lẻ tại thị trường Việt Nam.

    Thị trường bán lẻ tại Việt Nam xuất hiện những xu hướng mới đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO và mở cửa hoàn toàn thị trường này từ ngày 1/ 1/ 2009.

    1.         Tiến hành hoạt động sát nhập giữa các doanh nghiệp.

    Không phải chờ tới khi Việt Nam gia nhập WTO thì các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cũng đã cảm thấy được sức ép lớn từ phía các doanh nghiệp nước ngoài. Theo lộ trình hội nhập WTO, năm 2009 sẽ là năm bắt đầu cho cuộc thay đổi lớn đối với thị trường bán lẻ tại Việt Nam với việc các tập đoàn, nhà đầu tư quốc tế sẽ có thể thành lập công ty bán lẻ 100% vốn nước ngoài thay vì phải xin phép hoặc liên doanh như trong giai đoạn 2006 – 2009. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia mạnh về tài chính, nguồn lực, cách quản lý hiện đại và tiềm lực vượt trội về thị trường. Do đó việc sát nhập và liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước là xu hướng tất yếu của nghành công nghiệp bán lẻ trong môi trường kinh doanh mới như hiện nay. Tiêu biểu là cuộc sát nhập giữa bốn doanh nghiệp lớn trong nước là tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro), tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra), liên hiệp Hợp tác xã thương mại Sài Gòn (Saigon Co.op), công ty cổ phần tập đoàn Phú Thái (Phu Thai Group) hợp tác thành công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA). VDA ra đời nhằm liên kết các nhà phân phối lớn của Việt Nam, làm nòng cốt cho phân phối nội địa và bổ trợ lẫn nhau trong các giải pháp tổng thể về kho vận, giữ vai trò chủ đạo trong lưu thông hàng hoá và đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn phân phối nước ngoài. VDA sẽ tập trung vào việc xây dựng và phát triển chuỗi các Trung tâm Thương mại, các Đại siêu thị với các thương hiệu và đẳng cấp khác nhau, hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại để tạo điều kiện cho việc tổ chức lại hệ thống bán buôn, phân phối và bán lẻ.

    2.         Bùng nổ thương mại điện tử.

    Thương mại điện tử hay e-commerce bao gồm một loạt các hoạt động kinh doanh trực tuyến đối với các sản phẩm và dịch vụ, giữa bản thân các doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với khách hàng thông qua Internet. Lợi ích của thương mại điện tử đối với dịch vụ bán lẻ thể hiện rất rõ trên các mặt như: tăng được năng suất do việc quản lý mua sắm và kho dự trữ đạt hiệu quả cao hơn (kiểm kê hàng hoá không cần giấy tờ) hoặc do cải thiện được hệ thống kênh phân phối trong và ngoài nước, tiết kiệm được chi phí giao dịch, đem lại cảm giác thoải mái, tiện lợi khi mua hàng, tăng cường hiệu quả quảng cáo, marketing bán hàng và thanh toán tiền hàng, tăng nhanh khả năng phổ biến và tiếp thu công nghệ mới… Thương mại điện tử bán lẻ với tính cách mạng tiên tiến và những ưu thế ngày càng vượt trội là mục tiêu lớn vươn tới của hệ thống bán lẻ của Việt Nam. Dự báo trong vòng 5 – 10 năm tới, tuy các cửa hàng bán lẻ truyền thống vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra doanh số của bán lẻ nhưng tỷ trọng của hình thức bán lẻ ảo sẽ tăng lên nhanh chóng và đạt được thị phần đáng kể. Hơn thế nữa Ebay vừa hợp tác với Công ty Peacesoft (chủ website chodientu.com ) tạo nên  khu chợ “ảo” với hàng chục nghìn lượt giao dịch mỗi ngày càng cho thấy những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam. Bên cạnh đó,  theo trung tâm Internet Việt Nam, hiện tại có 15 triệu người Việt Nam sử dụng Internet và trong 3 năm tới, con số này có thể lên tới 30 triệu. Thị trường rộng lớn đó, kết hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trong xu thế phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ.

    3.         Kết hợp chức năng vừa là bán lẻ vừa là bán buôn.

    Đó là xu hướng kết hợp giữa bán buôn và bán lẻ. Trên thế giới đặc biệt là Mỹ và EU thường kết hợp hai chức năng này tại một điểm bán hàng với các phương thức đơn giản nhằm giảm chi phí về dịch vụ và mang tính công nghiệp cao. Ở Việt Nam hình thức này mới bắt đầu hình thành nhưng được dự đoán là xu hướng phát triển mới của nghành phân phối Việt Nam nói chung và hệ thống bán lẻ Việt Nam nói riêng. Hình thức này ở nước ta tồn tại dưới dạng các trung tâm thương mại hay các đại siêu thị ngày càng tích cực tham gia dịch vụ bán buôn. Sự kết hợp này giúp doanh nghiệp vừa nâng cao lợi nhuận, vừa nắm bắt nhanh chóng nhu cầu xã hội để kịp thời đề ra chiến lược kinh doanh tốt nhất. Siêu thị bán buôn Metro là một trong những doanh nghiệp nước ngoài đi tiên phong về xu hướng này và có những thành công đáng kể.

    4.         Tăng thêm các dịch vụ nhằm thỏa mãn khách hàng.

    Có một số nhận định cho rằng bán lẻ là một nghành rất đặc thù vì nó là hỗn hợp giữa sản phẩm và dịch vụ. Do vậy, để làm hài lòng khách hàng, ngoài yếu tố sản phẩm, chất lượng phục vụ cũng có tầm ảnh hưởng rất lớn. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, bên cạnh việc đảm bảo hàng hoá phong phú về chủng loại, mẫu mã, chất lượng, giá cả hợp lý, doanh nghiệp nào có dịch vụ khách hàng tốt hơn thì khả năng thành công sẽ cao hơn. Với nhận thức như trên thì hiện nay các doanh nghiệp tìm mọi cách để gia tăng các dịch vụ trong và sau khi bán hàng. Có dịch vụ trực tiếp diễn ra trong quá trình bán hàng như: dịch vụ bao bì, đóng gói; vận chuyển hàng tận nhà; bảo hành sửa chữa … Có dịch vụ phục vụ cho sự tiện lợi của khách hàng như kết hợp giữa nơi bán hàng và nơi giải trí, có chỗ cho con trẻ vui chơi trong khi người lớn mua hàng (có thể là phòng chiếu phim, chơi games, phòng vẽ tranh…).

    5.         Hướng về thị trường nông thôn.

    Ở Việt Nam, khu vực nông thôn chiếm 62,5% GDP,với trên 74% dân số (khoảng 64 triệu người) . Với số lượng khách hàng sẵn sàng tiêu dùng nhiều gấp ba lần khu vực thành thị và nhu cầu mua sắm ngày càng cao, rõ ràng thị trường nông thôn nước ta có tiềm năng rất lớn. Tuy vậy thì thị trường vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả. Người dân nông thôn khi tiếp cận một sản phẩm, hàng hóa thường ít quan tâm tới thương hiệu hơn người dân thành thị. Vì vậy, doanh nghiệp chưa có thương hiệu tại thị trường nội địa có nhiều cơ hội để xâm nhập và hạn chế việc đối đầu trực tiếp với doanh nghiệp có thương hiệu trong giai đoạn đầu. Bên cạnh đó không khó tính như thị trường thành thị, thị trường nông thôn được coi là dễ tính hơn. Yếu tố đầu tiên thu hút đối tượng khách hàng này chính là giá cả. Cùng một loại sản phẩm, chỉ cần nhãn hiệu này giá đắt hơn một chút là lập tức người tiêu dùng nông thôn sẽ chuyển sang mua nhãn hiệu khác rẻ hơn. Tuy nhiên, với mức sống ở nhiều khu vực nông thôn đang ngày càng được cải thiện thì yêu cầu về chất lượng sản phẩm cũng ngày càng tăng.

    6.         Sự phát triển về nhượng quyền thương mại.

    Hình thức nhượng quyền thương mại (franchising) đang ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam. Bản chất của hình thức tổ chức này là doanh nghiệp kinh doanh một ngành hàng nào đó, sau khi đã đạt được những thành công trong kinh doanh và xây dựng được một thương hiệu mạnh, sẽ nhượng quyền khai thác thương mại cho các doanh nghiệp hay cá nhân khác theo hợp đồng ký kết giữa hai bên.

    Theo thống kê của Hội đồng Nhượng quyền thương mại Thế giới năm 2004, Việt  Nam có khoảng 70 hệ thống nhượng quyền hoạt động, trong đó phần lớn là các thương  hiệu nước ngoài. Đến 2006, có khoảng 530 hồ sơ đăng ký nhượng quyền thương mại trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo dự đoán, hoạt động nhượng quyền thương  mại sẽ tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng 25-30% trong 2-3 năm tiếp theo. Trong số các ngành có thể áp dụng mô hình nhượng quyền thương mại thì bán lẻ là một trong những ngành có tỉ lệ nhượng quyền cao nhất, chỉ sau ngành thực phẩm. Đây là một trong những xu hướng phát triển mới của hệ thống bán lẻ Việt Nam. Đã có một vài thương hiệu bán lẻ Việt Nam dự định mở rộng hệ thống của mình bằng cách nhượng quyền như Coop-mart, G7 Mart, V-24h… Tuy vậy thì các doanh nghiệp cũng gặp phải những khó khăn nhất định trong kinh nghiệm quản lý chuỗi khi thực hiện nhượng quyền. Nhượng quyền là lựa chọn hợp lý cho nhiều doanh nghiệp nội thiếu vốn, ít kinh nghiệm, khó đầu tư trực tiếp. Khi các thương hiệu nước ngoài sử dụng phương thức này để thâm nhập sâu vào Việt Nam, vấn đề của doanh nghiệp nội phải bắt kịp làn sóng nhượng quyền để mở rộng thị phần trong cuộc cạnh tranh bán lẻ hiện nay.

    III. Các kiến nghị cho các doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh và phát triển trong hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam hiện nay.

    Chỉ hai năm trở lại đây, người ta đã khá quen thuộc khi nghe đến “ngành phân phối bán lẻ” ở Việt Nam. Lúc đầu, phần lớn mọi người đều rất nghi ngờ về khả năng  tồn tại và phát triển của ngành này tại thị trường Việt Nam, vốn là quốc gia nghèo, người dân có thu nhập thấp thì việc chi tiêu thường xuyên cho các khu mua sắm lớn là điều không tưởng. Thế nhưng sự thật lại ngược lại, theo như những phân tích ở trên có thể thấy, hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam tuy chỉ mới phát triển mạnh trong thời gian gần đây nhưng đã có mức tăng trưởng nhanh với 18,6% năm 2009, và đóng góp đến 14% GDP cho đất nước và tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động (theo số liệu của Tổng cục thống kê).

    1. Từ phía doanh nghiệp.

    Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế của các quốc gia đều mới hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thị trường bán lẻ dường như cũng khó khăn hơn với tâm lý thắt chặt chi tiêu của người dân. Nhưng thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá là phục hồi khá nhanh và đã đang sôi động trở lại. Điều này sẽ giúp hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam sẽ tăng thêm số lượng các nhà đầu tư nước ngoài với tiềm lực tài chính hùng hậu, kinh nghiệm quan lý lâu năm và tính chuyên nghiệp cao nhưng cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước sẽ phải gồng mình để tồn tại trước sự có mặt của những gã khổng lồ này. Hơn thế nữa, phân phối bán lẻ là một trong những lĩnh vực xương sống cho nền kinh tế nước ta, hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển của ngành sản xuất trong nước, đưa hàng hóa Việt vào phục vụ người Việt. Do đó, nếu các doanh nghiệp Việt Nam để mất thị phần ngay trên thị trường nội địa sẽ gây ra những tổn thất rất lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế trong nước. Khi nước ta đã là thành viên của WTO thì không có sự khác biệt giữa các doanh nghiệp trong nước hay ngoài nước, do vậy, nhà nước không thể bảo hộ “các con của mình” như trước đây mà buộc bản thân các doanh nghiệp trong nước cần có những chính sách, hành động phù hợp để có thể tồn tại được trên chính mảnh đất của mình. Có 4 thách thức lớn mà các doanh nghiệp tham gia lĩnh vực phân phối bán lẻ của ta phải đối mặt là:

    –        Nguồn lực tài chính

    –        Tính chuyên nghiệp trong quản lý

    –        Nguồn nhân lực

    –        Ứng dụng công nghệ thông tin.

    Hầu hết những người tiên phong khai thác thị trường bán lẻ Việt Nam đều là những nhà phân phối gạo cội trong ngành, có tiềm lực tài chính rất lớn. Chính vì vậy, đây là một trong những khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp trong nước phải đối mặt, đây là lý do mà nhiều địa điểm phân phối bán lẻ đã mọc lên nhưng chỉ trụ được một thời gian thì phải đống cửa. Do đó muốn tạo nên sức mạnh để cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải liên kết lại với nhau để tạo nên sức mạnh về vốn, tăng khả năng tài chính nhằm mở rộng quy mô, cải tiến trang thiết bị và cơ sở vật chất, có tiềm năng tài chính mạnh thì mới có thể tạo lòng tin từ các nhà cung cấp, đối tác từ đó mới có được lòng tin từ khách hàng. Tính chuyên nghiệp trong quản lý còn hạn chế, cuộc sống càng hiện đại thì đòi hỏi tính chuyên nghiệp ngày càng cao, do vậy chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp mình. Sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài vào hệ thống phân phối nước ta là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có thể học tập được các kinh nghiệm trong công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần phải có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. Ngày nay, khi  giới trẻ Việt Nam tăng xu hướng tiêu dùng hướng mạnh về loại hình mua sắm hiện đại (như tiến hành mua sắm ở các trung tâm mua sắm lớn, mua hàng qua mạng hay các kênh truyền hình…) thì việc đầu tư xây mới và cải tạo cơ sở hạ tầng, thiết bị điện tử cho hệ thống phân phối.

    Có nhiều doanh nghiệp trong nước đã tiến hành liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài để có thể tận dụng được sức mạnh tài chính, kinh nghiệm quản lý của họ. Đây cũng là một trong những giải pháp tối ưu mà các doanh nghiệp trong nước có thể áp dụng khi tiềm lực kinh tế còn chưa đủ mạnh để tự kinh doanh hoặc đối đầu với họ trong một thị trường mới.

    Bên cạnh việc củng cố sức mạnh nội lực của mình thì các doanh nghiệp phân phối bán lẻ cần phải tập trung đầu tư và mở rộng hệ thống của mình để tranh thủ chiếm lấy các khoảng còn trống của thị trường. Như các thị trấn nhỏ, các khu vực nông thôn hiện đang thiếu hàng hóa rất nhiều. Trong một cuộc thử nghiệm gần đây của nhà phân phối bán lẻ Hapro đã tiến hành bán hàng tại Ba Vì – Hà Tây đã đạt được kết quả khá bất ngờ, doanh số mà họ thu được trong 3 ngày bằng cả một năm kinh doanh tại Hà Nội. Khi các đại gia nước ngoài quá chú trọng đến mảng thị trường ở thành thị thì thiết nghĩ các doanh nghiệp Việt Nam cần chăm sóc hơn nữa đến các khu vực nông thôn hoặc thành phố nhỏ vì đây là vùng đất đang rất cần nguồn cung ứng hàng hóa tiêu dùng. Đặc biệt, trong giai đoạn vừa rồi, khi mà nền kinh tế thế giới phải trải qua cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 làm cho tốc độ đầu tư và mở rộng quy mô của các nhà phân phối nước ngoài vào Việt Nam đã giảm thì đây là cơ hội để các nhà phân phối Việt Nam cần tăng hơn nữa việc mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình ra các địa phương.

    2. Từ phía chính phủ.

    Lưu thông hàng hoá, nhất là khâu tổ chức thị trường bán lẻ là khâu năng động và linh hoạt nhất của chu trình tái sản xuất, có tác động chi phối sự vận động của đời sống kinh tế – xã hội. Do vậy vai trò của nhà nước là không nhỏ trong việc phát triển hệ thống bán lẻ Việt Nam. Với những nhận định về thực trạng cũng như xu hướng phát triển củng ngành công nghiệp bán lẻ, chúng tôi xin đưa ra giải pháp như sau.

    Giải pháp hàng đầu là tổ chức và tăng cường quản lý nhà nước đối với hệ thống bán lẻ, nhất là các DN sản xuất, kinh doanh lớn. Trong đó phát huy vai trò chủ lực của DNNN, sớm hình thành mạng lưới phân phối hợp lý, thông suốt trên phạm vi cả nước, từng bước chiếm lĩnh địa bàn trọng yếu, đủ nguồn lực để can thiệp, chi phối quan hệ cung cầu, không để xảy ra cơn sốt những mặt hàng chiến lược phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, như vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp, lương thực, thuốc chữa bệnh… Xây dựng cơ chế, chính sách để các DN quốc doanh và dân doanh cùng tham gia cạnh tranh cung ứng hàng hoá để hàng hoá đến người tiêu dùng với mức giá hợp lý nhất.

    Các nước phát triển đang giảm bớt các siêu thị bán lẻ, xuất khẩu các siêu thị bán lẻ sang các nước đang phát triển như Việt Nam để phát triển thương mại điện tử ở nước họ. Các nhà bán lẻ nước ngoài vào Việt Nam kinh doanh chủ yếu tập trung ở các đô thị và một số đối tượng khách hàng nhất định. Cho nên nhà nước cần có những chính sách cần tập trung phát triển hình thức bán lẻ truyền thống (chợ, cửa hàng) đồng thời hướng tới thương mại điện tử. Phương thức bán lẻ truyền thống có thể bị thu hẹp nhưng chợ vẫn là kênh mua sắm chủ yếu của người dân lao động, nhất là các mặt hàng thực phẩm tươi sống, nơi giao thương sản phẩm nông nghiệp giữa nông thôn và thành thị. Cần củng cố, đổi mới nâng cấp các chợ trong chuỗi các giải pháp xây dựng TTBL. Bộ Công thương vừa ban hành quy hoạch phát triển mạng lưới chợ toàn quốc và quy hoạch đất đai xây dựng chợ, trung tâm điều phối bán lẻ là điểm nhấn trong tổng thể phát triển kênh phân phối hiện nay.

    Nhà nước cần tạo cơ chế để các DN bán lẻ trong nước có đất đai, có vốn để mở rộng chuỗi bán lẻ theo quy hoạch. Quan tâm phát triển TTBL ở nông thôn và miền núi, trong đó chú trọng phát triển mô hình HTX dịch vụ tổng hợp ở nông thôn, HTX quản lý chợ và kinh doanh chợ.

    Để phát triển TTBL trong nước, Nhà nước cần xây dựng quy hoạch phát triển ngành thương mại, quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại cả nước và các địa phương đồng thời bổ sung, sửa đổi quy chuẩn để hướng dẫn phát triển các loại hình kinh doanh thương mại, làm cơ sở để DN đầu tư, là tiền đề kiểm soát thị trường của cơ quan quản lý.

    KẾT LUẬN

    Sau hơn một năm (kể từ ngày 01/01/2009) Việt Nam chính thức mở cửa  hoàn toàn thị trường bán lẻ thì hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam đã thực sự có những bước tiến đáng kể. Giờ đây, thị trường Việt nam không còn là sân chơi của riêng các nhà phân phối trong nước, mà nó đã trở thành thị trường của toàn cầu, là nơi mà các doanh nghiệp nước nhà phải có những nổ lực thực sự mới có thể cạnh tranh và tồn tại được. Sự tồn tại song song giữa các nhà phân phối trong nước và nước ngoài tuy là một trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể đứng vững được trong hệ thống phân phối bán lẻ hiện nay nhưng đó cũng là một tác nhân quan trọng góp phần thúc đầy, tạo môi trường giúp các nhà phân phối của chúng ta học hỏi và phát triển một cách toàn diện nhất. Chính vì vậy mà giờ đây, người dân Việt Nam đã khá quen thuộc với những tên tuổi mang thương hiệu Việt như  Saigon coorp mark, Thái Phú, hay Vinatech… Những nhà phân phối của chúng ta không những đã dần khẳng định tên tuổi của doanh nghiệp mình trên thị trường nội địa mà còn giúp đưa sản phẩm Việt Nam được biết đến rộng rải hơn ở thị trường nước ngoài. Với những xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiện nay ở nước ta, phần lớn thị trường nước ta đã bị các nhà phân phối nước ngoài khai thác và nắm giữ, và họ nhanh chóng kéo theo các nhà sản xuất của mình vào để chiếm lĩnh thị trường nước ta, điều này có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến riêng lĩnh vực phân phối bán lẻ mà còn là nền sản xuất nội địa.

    Vì vậy, chúng em thiết nghĩ với những xu hướng phát triển như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, qua đó liên kết và nắm lại chuỗi phân phối bán lẻ tránh tình trạng để rơi vào tay các nhà đầu tư nước ngoài, gây tổn hại về lâu dài cho nền kinh tế nước nhà.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-Marketing-n%C3%A0o-cho-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam?

    Dăm bảy năm trước đây, ngành ngân hàng chẳng mấy ai nghĩ đến bỏ ngân sách ra truyền thông! Bởi dịch vụ ngân hàng là ban phát là xin cho. Giờ thì đã khác, tiền tỷ tỷ đổ vào các hoạt động quảng cáo, tài trợ như để khẳng định đẳng cấp của ngân hàng mình. Nhưng một hiện trạng là tiền thì cứ đổ còn số thương hiệu ngân hàng tạo được chỗ đứng trong tâm trí người tiêu dùng đếm trên đầu ngón tay!


    Tiếp thị ngân hàng Bán lẻ Việt Nam – Thời xa vắng…

    Tôi vẫn còn nhớ như in các hình ảnh “tín dụng viên” phường xã đầy quyền uy trong các dịch vụ cho vay đối với người dân. Họ là một tầng nấc trung gian của ngân hàng với khách hàng,đầy uy quyền và cả phức tạp rắc rối nếu người dân muốn có đặc ân được vay nợ ngân hàng. Không đâu xa, khoảng năm 2000 tôi đưa mẹ tôi đến ngân hàng mở cho bà một cái tài khoản để chuyển tiền cho bà hàng tháng cho tiện. Cô giao dịch viên Ngân hàng Nông nghiệp Thị xã G. phán một câu: nếu bà chỉ nhận tiền thì không mở tài khoản được, ngân hàng chỉ phục vụ nếu bà muốn gửi tiền đi. Tôi thì gân cổ cãi rằng cô phải phục vụ còn cô thì khăng khăng bác chỉ cần chứng minh nhân dân là có thể chuyển nhận tiền an toàn. Cuối cùng thì mẹ tôi kéo tay tôi về với một câu tôi còn nhớ mãi – con đừng cãi sau này đụng tới họ phiền phức lắm! Kết quả là đến giờ bà cũng chưa có được tài khoản ngân hàng và được hưởng tiện ích của nó.

    Giờ thì đã khác, các ngân hàng khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng của họ mà nói vui – chẳng khác gì nắm tay kéo khách ở các quán cơm lề đường! Bạn tôi làm ở ngân hàng nhiều lắm, nên tôi chẳng lạ gì dăm ba bữa có người bảo: cậu xem mở tài khoản công ty qua ngân hàng tớ đi, nhiều ưu đãi lắm. Hay như ba hôm trước, ra chi nhánh ngân hàng Vietcombank Tân Bình làm thẻ. Anh nhân viên cứ khuyên mở thêm cái tài khoản đi, đang khuyến mãi mà, chẳng mất mát gì đâu dù tôi cứ bảo anh ta rằng tôi đã có tài khoản! Kết quả là tôi có thêm một cái tài khoản nữa mà chưa biết họ có tính phí gì hay không!

    Bùng nổ truyền thông quảng cáo ngành ngân hàng thương mại tại Việt Nam

    Một dạo gần đây, cứ y như rằng bật TV lên là thấy quảng cáo về ngân hàng. Hết ngân hàng này đến ngân hàng khác, hết quảng cáo sang tài trợ, hết tài trợ thể thao đến tài trợ game show… Người tiêu dùng có cảm giác như ngân hàng có nhiều tiền quá nên thi nhau xài khi có ngân sách. Thậm chí cả dự báo thời tiết, cả những game show như “Hãy chọn giá đúng”… Nhiều người nói vui, ngân hàng là nơi nhiều tiền nên xài quảng cáo cho đã! Bước ra đường thì các chi nhánh ngân hàng mọc lên như nấm, bởi họ hiểu rằng (dù có lờ mờ hiểu) càng tiếp cận với người dân thì cơ hội phát triển dịch vụ càng lớn. Cũng như thắng hay thua của một ngân hàng là điểm tiếp xúc với khách hàng (POP – Point of Purchase). Các dịch vụ đi đến ngõ ngách phố phường ở các đô thị và người dân quen dần với dịch vụ của ngân hàng Bán lẻ (dù rằng gần đây báo chí đăng tin một cách “trách móc” rằng chỉ có 5 triệu tài khoản cá nhân trên hơn 80 triệu dân Việt Nam!) Nói vậy, nhưng cũng không phủ nhận một vài thương hiệu ngân hàng cũng đi vào lòng người một cách chuyên nghiệp, nhưng có vẻ như là hiếm hoi và đầy khó khăn.

    Không rõ ràng về truyền thông, thiếu tính cách thương hiệu (brand personality) do thiếu chiến lược định vị thương hiệu (brand positioning)

    Có thể khẳng định trong trường hợp các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đang cố gắng xây dựng thương hiệu của mình thông qua các hoạt động truyền thông, tiếp thị ồ ạt. Ít nhất là trong giai đoạn khẳng định tên tuổi để nâng cao giá trị cổ phiếu chẳng hạn. Có chăng vung tiền nhiều thì sẽ thu lợi nhiều? Câu trả lời đôi khi không phải vậy. Tuy nhiên, cũng sẽ thật kiên cưỡng khi nhà quảng cáo mà không biết tạo cho mình một chỗ đứng “trong tâm trí người tiêu dùng”. Một ngày nào đó bạn có thể bật TV lên và kiểm chứng xem, các mẩu quảng cáo các ngân hàng và cũng chỉ mỗi một thông tin đó là ngân hàng, ngoài ra không hề có sự khác biệt hay một định vị nào rõ ràng. Mà cứ là ngân hàng là tiết kiệm, là tin cậy, là sự bảo đảm, chấm hết!

    Dạo gần đây, cứ cuối mẩu quảng cáo thì có một câu ca hay đọc gì đó ngân ngân vang vang nhắc lại tên ngân hàng như một mốt của thời đại. Và như vậy sự lãng phí, vung tiền qua các hoạt động truyền thông tiếp thị là tất yếu!

    Hãy xem ngân hàng “ngoại” H. truyền thông, họ khẳng định đẳng cấp quốc tế nhưng am hiểu địa phương, điều này nhất quán trong việc truyền thông từ tài trợ đua xe xích lô từ thiện đến các giải golf quốc tế tại Việt Nam. Điều này tạo ra một sự khác biệt, một đẳng cấp cũng như khẳng định người tiêu dùng Việt Nam một cơ hội tiếp cận với dịch vụ ngân hàng của họ. Và vì vậy, họ thành công!

    Bản thân chúng tôi cũng không có những dữ liệu cụ thể nhưng có cảm giác rằng hiệu quả hình ảnh thương hiệu (brand awareness) có vẻ như quá kém thông qua các hoạt động truyền thông các ngân hàng Việt Nam thực sự đáng để chính các ngân hàng xem xét khi quyết định một chiến lược marketing của mình.

    Chiến lược nào cho các ngân hàng Bán lẻ Việt Nam?

    Không có chiến lược, các hoạt động truyền thông liệu có hiệu quả, chưa kể đến có mấy ai đo lường định tính hiệu quả của các chiến dịch tiếp thị này của các ngân hàng. Điều cần thiết đầu tiên là các ngân hàng cần định vị cho mình vị trí nào trong tâm trí người tiêu dùng trước khi lập chiến lược tiếp cận. Kế tiếp, các thương hiệu được xây dựng và gán cho nó tính cách thương hiệu (personality) bởi vì thương hiệu là một thực thể sống, có cả giá trị lý tính (physical) và giá trị cảm tính (emotional), nó ví như đời sống của một con người có hỉ, nộ ái, ố; có sinh, lão, bệnh, tử… Truyền thông chỉ là thể hiện bên ngoài của đứa con thương hiệu này. Và cuối cùng, các ngân hàng đừng quên rằng truyền thông không chỉ có quảng cáo. Nó là một nghệ thuật kết hợp của các biện pháp đối thoại với khách hàng. Nó bắt đầu từ những giá trị bên trong nội bộ nhân viên doanh nghiệp (internal) cho đến bên ngoài (quảng cáo, tiếp thị…). Sẽ thật khiên cưỡng và phản tác dụng (đôi khi là những cú đá hậu – hồi mã thương – đau đớn) nếu những quảng cáo rất tốt nhưng khi đến tiếp xúc với ngân hàng thì thái độ hay dịch vụ tồi tệ như một bài báo đăng trên saga về dịch vụ ngân hàng và dịch vụ thẻ A. gần đây!

    Tóm lại, để có một chiến lược marketing chuyên nghiệp và hiệu quả, các ngân hàng thương mại Việt Nam còn cần phải xem lại và đầu tư cho các hoạt động marketing của doanh nghiệp mình nếu không muốn tình trạng tiền tỷ đổ vào các hoạt động tiếp thị trong khi giá trị thương hiệu vẫn là những mong muốn mơ hồ và xa vời. Quả thật, con đường đi đến một thương hiệu vững mạnh quả là còn chông gai và rất xa.

    Thực hiện: Nhóm 2 – Lớp MBA5 – ĐH Mở Bán công TPHCM (Lê Thanh Dũng; Huỳnh Thị Kim Liên; Nguyễn Thị Hạnh Tâm; Nguyễn Văn Thiệu; Đặng Thanh Toàn)

    Bài viết của các nhóm khác

    1. Để việc thẩm định dự án FDI tại các ngân hàng đạt hiệu quả cao
    2. Vai trò của tổ chức định mức tín dụng tại các thị trường chứng khoán đang nổi
    3. Năng lực tài chính các ngân hàng thương mại
    4. Sân chơi nào cho các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
    5. Huy động vốn cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp nhỏ từ quỹ đầu tư mạo hiểm

    ===============================================================
    Bài viết www.saga.vn hợp tác với báo Doanh nghiệp và Thương hiệu, số tháng 07/2007
    ===============================================================


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-2010-2015.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Trong quá trình tái cơ cấu các NHTM Việt Nam, việc phát triển các nghiệp vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ đang nổi lên trong hoạch định và thực thi chiến lược của từng hệ thống ngân hàng cũng như ở tầm quản lý vĩ mô của NHNN. Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ của DVNH Việt Nam, nhất là khối bán lẻ.

    Dịch vụ ngân hàng (DVNH) bán lẻ?

    Thị trường bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó, phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm DVNH, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động. Hiện nay, có nhiều khái niệm về DVNH bán lẻ theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ngân hàng bán lẻ thực ra là hoạt động bao trùm tất cả các mặt tác nghiệp của NHTM như tín dụng, các dịch vụ… chứ không chỉ là DVNH. Có lẽ cách nhìn nhận về bán lẻ nên thoáng và đúng nghĩa của nó.

    “Bán lẻ chính là vấn đề của phân phối” (Jean Paul Votron – Ngân hàng Foties): Cần hiểu đúng nghĩa của bán lẻ là hoạt động của phân phối, trong đó là triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại- mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ. Bán lẻ ngày càng phát triển sang lĩnh vực xuyên quốc gia.

    Để xác định mức độ thực hiện DVNH bán lẻ của một NHTM, các tổ chức tài chính lớn trên thế giới dựa vào các tiêu chí sau: Giá trị thương hiệu; Hiệu lực tài chính; Tính bền vững của nguồn thu; Tính rõ ràng trong chiến lược; Năng lực bán hàng; Năng lực quản lý rủi ro; Khả năng tạo sản phẩm; Thâm nhập thị trường; Đầu tư vào nguồn nhân lực.

    Đó cũng chính là mục tiêu mà các NHTM Việt Nam cần quan tâm thực sự khi phát triển DVNH bán lẻ của mình. Trong hoạt động bản lẻ của ngân hàng có 3 vấn đề cần quan tâm:

    • Xây dựng kênh phân phối là mối quan tâm lớn của DVNH bán lẻ, mà đặc trưng là sử dụng hệ thống công nghệ thông qua các phương tiện, các kênh phân phối. Các NHTM lớn trên thế giới đang thử nghiệm các kỹ năng phân phối đa kênh (multi chanel distribution skills) trong triển khai DVNH bán lẻ.
    • Xác định khách hàng và nhu cầu của khách hàng qua việc tìm hiểu kẽ hở thị trường, từ đó xây dựng mối liên kết và cơ chế tạo thuận lợi cho giao dịch tài chính. Việc tìm tòi những thị trường chưa khai phá là điều quan trọng, bao gồm khách hàng, loại sản phẩm mà họ cần và kênh phân phối. Vì vậy, với những thị trường mới nổi hoặc đang phát triển, khi mà người dân chưa làm được làm quen nhiều với các DVNH thì tiềm năng của thị trường bán lẻ là vô cùng lớn.
    • Kết hợp thương mại và tài chính, các hoạt động tài chính với nhau trong mối liên hệ chung, chú trọng vào các mối liên kết mới như bancassurance, ngân hàng-chứng khoán…

    Ai tham gia vào thị trường DVNH bán lẻ?

    • Các tổ chức tài chính, đặc biệt là các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
    • Các tập đoàn phi tài chính và các tổ chức tài chính trong tập đoàn.
    • Khách hàng: chủ yếu là khách hàng cá nhân.

    Ưu điểm của DVNH bán lẻ:

    • Đem lại doanh thu cao, chắc chắn, ít rủi ro.
    • Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ phi ngân hàng.
    • Mở rộng khả năng mua bán chéo giữa cá nhân và doanh nghiệp với NHTM, từ đó gia tăng và phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng của NHTM.

    Hoạt động bán buôn của NHTM lại có ưu thế về hoạt động trên các thị trường tài chính, đầu tư ngân hàng, từ đó đem lại doanh thu ổn định hơn, nhưng rủi ro cũng là cao hơn.

    Tại Việt Nam: Hiện nay, các NHTM ở Việt Nam đều hướng tới phát triển DVNH, đây là hướng đi hoàn toàn đúng đắn, bởi lẽ:

    Trước hết, DVNH bán lẻ là xu hướng tất yếu của các NHTM trên thế giới cũng như ở Việt Nam:

    • Cạnh tranh về dịch vụ tài chính ngày càng mạnh và khốc liệt tại Việt Nam.
    • Ngày càng có nhiều tổ chức phi tài chính tham gia vào lĩnh vực này.
    • Đây là một trận tuyến mới còn bỏ ngỏ ở một đất nước đông dân, có tiềm năng phát triển cao trong những năm tới, tiêu dùng dân cư có tiềm năng tăng trưởng cao.
    • Sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh ngày càng mạnh mẽ.

    Thứ hai, về nhận thức. Hiện nay, ban lãnh đạo của khối NHTMCP Việt Nam đều xác định mục tiêu hoạt động tới năm 2010 là trở thành ngân hàng bán lẻ, hướng tới khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc chuyển sang ngân hàng đô thị đa năng (ACB, Techcombank…). Các NHTMNN cũng đã xác định thị trường bán lẻ trong kế hoạch cơ cấu lại ngân hàng, cổ phần hóa ngân hàng sau năm 2010. Sau năm 2015, thị trường bán lẻ sẽ là thị trường chủ đạo mà các ngân hàng nước ngoài sẽ khai thác mạnh sau khi đã đặt chân vững chắc vào thị trường Việt Nam. Từng hệ thống NHTM xác định chiến lược thực hiện DVNH bán lẻ dựa vào:

    • Phát triển mạng lưới của mình,
    • Phát triển các dịch vụ mới dựa trên công nghệ.
    • Phát triển các nhánh dịch vụ, đặc biệt là các kênh phân phối
    • Tạo sự khác biệt trong DVNH bán lẻ: Các NHTMCP có chiến lược tương đối rõ ràng về chiến lược phát triển DVNH bán lẻ tại các đô thị lớn trên nền tảng công nghệ cao, cung cấp dịch vụ tài chính trọn gói cho khách hàng. Như vậy, ở tầm chiến lược, nhận thức về DVNH bán lẻ đã hình thành mà hầu hết các ngân hàng trong nước đều đi theo để phục vụ đối tượng hơn 86 triệu người dân. Để thực hiện được chiến lược này, các ngân hàng cần đến nhiều yếu tố liên quan.

    Thứ ba, nhu cầu của xã hội về dịch vụ và các tiện ích của chúng ngày càng gia tăng và luôn đổi mới.

    Về sản phẩm: Các dịch vụ bán lẻ của NHTM Việt Nam ngày càng đa dạng, trở nên đồng đều hơn với việc triển khai của hầu hết các NHTM, tạo cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn. Theo dõi sự phát triển của dịch vụ này có thể nhận thấy nổi lên một số vấn đề sau:

    • Các sản phẩm của ngân hàng điện tử ngày càng trở nên rộng rãi và phổ biến: Nếu như năm 2004 chỉ có 3 NHTM triển khai dịch vụ Internet banking thì đến năm 2008, con số này lên tới 25, chủ yếu là cung cấp thông tin, thanh toán hoá đơn định kỳ, chuyển tiều trong hệ thống, trong đó có 5 NHTM là Đông Á, Kỹ thương, Á châu, Citibank Việt Nam, Indovina là chuyển khoản ra ngoài hệ thống trong tổng số 11 ngân hàng có chức năng chuyển khoản trực tuyến. Có 3 NHTM là Đông Á, Vietcombank, Kỹ thương và Á châu thực hiện đầy đủ cả 3 nội dung của Internet banking là cung cấp thông tin, giao tiếp và giao dịch. Riêng NHTMCP Á châu triển khai dịch vụ này, dịch vụ Home banking, Mobile Banking, Phone banking tới tất cả khách hàng cá nhân có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng. Ngoài các tiện ích khi sử dụng dịch vụ ngân hang điện tử, khách hàng còn được hưởng ưu đãi về phí dịch vụ. Riêng về dịch vụ Inernet banking, có thể thấy 2 vấn đề nổi lên: (1) khối NHTMCP nhanh và thực hiện toàn diện hơn các tiện ích của ngân hàng điện tử so với khối NHTMNN; (2) khối NHTM có yếu tố nước ngoài thực hiện dịch vụ này với các tiện ích và chất lượng vượt trội so với NHTM Việt Nam (HSBC Việt Nam được Global Finance bình chọn là ngân hàng có dịch vụ Inernet banking tốt nhất Việt Nam năm 2009).

    Dịch vụ thẻ ngày càng trở nên phổ biến trong các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp với nhiều tiện ích, nhiều loại thẻ tín dụng. Việc chuyển từ thẻ từ sang sử dụng thẻ chip là một hướng đi đúng và cần thiết nhằm bảo toàn cho khách hàng, mặc dù cần đến công nghệ, nhân lực và chi phí. Theo thống kê của NHNN, hệ thống ngân hàng có gần 9.000 máy ATM, hơn 28.000 điểm chấp nhận thẻ (POS), 9/41 tổ chức đã phát hành và thanh toán bằng thẻ chip với hơn 28.000 thẻ. Hiện nay có 13.500 máy POS và 2.000 máy ATM đã chấp nhận thanh toán bằng thẻ chip. Riêng ACB đã phát hành hơn 38.000 thẻ tín dụng quốc tế và 205.000 thẻ thanh toán quốc tế cho đến nay.

    Các dịch vụ tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh cả về danh mục và doanh số, tất cả NHTM của Việt Nam đều có sản phẩm cho vay tiêu dùng, đứng đầu là ACB và Techcombank.

    • Các sản phẩm liên kết, bán chéo sản phẩm tài chính, được triển khai ngày càng nhiều, ví dụ Bancasurrance (liên kết ngân hàng – bảo hiểm), đem lại khoản thu cho ngân hàng, phát triển khách hàng, tạo ra tiện ích đa dạng hơn. Các sản phẩm này được nhiều ngân hàng ứng dụng như BIDV, Vietcombank… Năm 2009, dịch vụ này được các ngân hàng và công ty bảo hiểm quan tâm nhiều để gia tăng tiện ích và tăng nguồn thu dịch vụ, mở rộng thị phần. Điều này không những có lợi cho khách hàng trong sử dụng các dịch vụ tài chính (tiết kiệm thời gian thanh toán phí bảo hiểm, được tư vấn bảo hiểm, thanh toán…) mà còn là mong muốn của các NHTM và công ty bảo hiểm nhằm thu hút tiền gửi, thu phí bảo hiểm và chi trả qua thẻ ATM. Việc hợp tác giữa Sacombank và PVN trong cho vay tiêu dùng và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, NH ABBank và Prudential Việt Nam (PVN) mở các điểm giao dịch ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, HDBank và ACE Life, Standard Chartered Bank – SCB và PVN… đã cho thấy triển vọng của dịch vụ bán chéo sản phẩm tài chính ở Việt Nam. Riêng Prudential đã thành công với mô hình này với hơn 70 quan hệ hợp tác ở 12 quốc gia châu Á.
    • Dịch vụ bán lẻ của NHTM phát triển dựa nhiều vào ứng dụng hệ thống công nghệ. Ngày càng nhiều NHTM Việt Nam ứng dụng công nghệ hiện đại với chi phí lớn và diện phủ sóng rộng. Công nghệ thông tin trở thành kênh phân phối quan trọng và không thể thiếu của các DVNH điện tử nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung. Các NHTM lớn như Vietinbank sử dụng hệ thống INCAS, Agribank sử dụng hệ thống IPCAS… trong toàn hệ thống.

    Hộp 1: NHTMCP Đông Nam Á (SeABank) là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam

    triển khai thành công các kiến trúc công nghệ hàng đầu của Oracle như Oracle Grid Computing, Real Application Clusters – RAC, Oracle Enterprice Manager… cho phép mở rộng, linh hoạt và tính sẵn sàng cao, từ đó ngân hàng rút ngắn thời gian giới thiệu sản phẩm ngân hàng ra thị trường, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đem lại khả năng hoàn vốn cao và hiệu quả chi phí cao nhất.

    Bên cạnh đó, kênh phân phối truyền thống qua mạng lưới vẫn tiếp tục được mở rộng: Agribank với hơn 2000 chi nhánh, BIDV với 104 chi nhánh cấp 1, sở giao dịch và hàng trăm phòng giao dịch, Vietinbank với 2 SGD, 130 chi nhánh và trên

    • điểm giao dịch, Sacombank với 52 chi nhánh và 109 phòng giao dịch, Techcombank với 109 điểm giao dịch, ACB với 84 chi nhánh và phòng giao dịch,…
    • Về tốc độ phát triển: khối NHTMCP phát triển nhanh hơn và mạnh hơn về các DVNH (ngân hàng điện tử, tín dụng tiêu dùng, cho vay chứng khoán…).

    Hạn chế:

    Hạn chế hiện nay trong việc mở rộng các DVNH hiện đại về phía NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam là:

    • Chiến lược phát triển của các NHTM có nhiều điểm tương đồng, như phát triển dịch vụ bán lẻ, dịch vụ doanh nghiệp hoặc trên thị trường tiền tệ, mở rộng quy mô mạng lưới và phát triển nguồn nhân lực, công nghệ, quản trị điều hành… Điều này phản ánh mặt bằng phát triển chung, song cũng là điểm khó trong xây dựng chiến lược riêng của mỗi NHTM khi muốn tạo dựng cái riêng của mình trước công chúng.
    • Sự phối kết hợp giữa các NHTM trong thực hiện các DVNH mới còn kém: Mỗi hệ thống ngân hàng phát triển một chiến lược hiện đại hoá khác nhau, ít có sự gắn kết với nhau, ví dụ, về hoạt động thanh toán thẻ, séc, máy rút tiền tự động ATM…, gây ra sự lãng phí vốn và thời gian, sự cạnh tranh không đáng có giữa các ngân hàng, sự khó khăn cho lựa chọn của các doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ ngân hàng. Hiệu quả sử dụng vì vậy còn thấp.
    • Khả năng tài chính của các ngân hàng còn thấp, mặc dù phần lớn các NHTM Việt Nam đều đạt yêu cầu vốn điều lệ 3000 tỷ đồng. So với quy mô tài chính của các NHTM trong khu vực thì mức vốn này vẫn ở mức khiêm tốn. Trong bối cảnh hiện nay, năng lực tài chính của các ngân hàng hạn chế, nhất là đối với các NHTMCP, là một trong các nguyên nhân gây ra khó khăn trong việc triển khai về công nghệ đối với các DVNH mới như Home banking, Internet banking…
    • Sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn ban đầu. Các sản phẩm tài chính hiện đại phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động của thương mại và dịch vụ trong nước và không nên đi sớm quá sự phát triển của thương mại trong nước. Theo thống kê gần đây, 97% doanh nghịêp Việt Nam trong hơn 300.000 doanh nghiệp là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khoảng 80% số vốn hoạt động của doanh nghiệp là vốn vay ngân hàng. Cầu nối giữa họ và các tổ chức tín dụng còn gặp nhiều rào cản về nhận thức, cách làm việc…
    • Thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn ở mức thấp, tỷ trọng sử dụng tiền mặt trong lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/tổng phương tiện thanh toán hiện đang dao động ở mức 24-25%, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực (Thái lan: 6,3%, Trung quốc: 9,7%…). Chính tâm lý dùng tiền mặt, bao gồm cả VND và ngoại tệ mặt, và sự hiểu biết về DVNH của đa số người dân Việt Nam thấp, cũng là một nguyên nhân để cho việc mở rộng các DVNH mới còn gặp nhiều khó khăn.
    • Hiện nay các ngân hàng đang ở thời kỳ đầu của giai đoạn 2 về ứng dụng công nghệ thông tin. Ngay cả NHNN vẫn đang thử nghiệm ở giai đoạn 1 của chương trình AFD. Các ngân hàng chưa có đủ điều kiện để thực hiện các giao dịch chuyển tiền với các tài khoản khác hoặc thanh toán thông qua tài khoản … theo đúng ý nghĩa của dịch vụ này.
    • Bức tranh hoạt động ngân hàng sẽ được vẽ lại khá đậm với việc các NHTMNN cổ phần hóa để hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và việc chuyển hướng sang các SME và bán lẻ; các NHNg xâm nhập vào thị trường Việt Nam dưới nhiều hình thức, các ngân hàng TNHH 100% vốn nước ngoài sẽ mở rộng hoạt động, trong đó DVNH bán lẻ sẽ là một trong những đích ngắm của họ; các định chế tài chính phi ngân hàng đang hoạt động mạnh mẽ về các dịch vụ ngân hàng.

    Hạn chế về phía NHNN là: các NHTMVN sẽ là ngân hàng đa năng, vì vậy, quản lý nhà nước sẽ gặp khó khăn do thiếu thông tin, kinh nghiệm quản lý, mặt bằng công nghệ, nhận thức và trình độ.

    Vậy yêu cầu đặt ra trong việc phát triển các DVNH bán lẻ của các NHTM Việt

    Nam hiện nay là:

    • Đa dạng hơn các sản phẩm này không chỉ danh mục chung mà còn là các sản phẩm cụ thể.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi không chỉ trong một hệ thống NHTM mà còn phải kết nối giữa các NHTM trong những DVNH đòi hỏi có sự liên kết.
    • Lựa chọn các sản phẩm “lõi” của từng NHTM để tạo ra tính khác biệt trong thương hiệu và hấp dẫn riêng.
    • Chú trọng thị trường cũ và quan tâm thực sự tới thị trường mới trong bối cảnh cạnh tranh mạnh với khối NHNg.

    Một số giải pháp: để phát triển các dịch vụ bán lẻ của mình trong thời gian tới, trên cơ sở các thành quả đạt được, các NHTM cần chú ý phát triển đồng bộ cả 4 hoạt động:

    • Thị trường: Xác định thị trường tiềm năng là khối dân doanh – ngoài quốc doanh, trong đó tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (kể cả các công ty cổ phần, công ty TNHH).

    Ngoài ra, khách hàng cá nhân là khách hàng to lớn và lâu dài của dịch vụ bán lẻ. Chú ý tới khách hàng trẻ tiềm năng trong độ tuổi 21-29 (65% dân số Việt Nam có độ tuổi dưới 30) vì tính năng động trong tiếp cận sản phẩm và tính sẵn sàng sử dụng DVNH, mặc dù Việt Nam mới có khoảng 10% dân số tham gia vào thị trường ngân hàng bán lẻ.

    • Kênh phân phối: Chú trọng thật sự vào kênh phân phối điện tử qua việc ứng dụng công nghệ (internet/phone/sms banking), mặc dù việc này đòi hỏi chi phí cao từ ban đầu. Hiện nay, số người dân Việt Nam sử dụng Inernet ngày càng tăng, năm 2008 con số này lên tới 22 triệu người, việc sử dụng thương mại điện tử ở Việt Nam ngày càng phát triển. Nhiều hoạt động quản lý hành chính như hải quan điện tử, thuế điện tử, đấu thầu điện tử… đang được triển khai rộng. Nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin phát triển nhanh ở Việt nam như FPT, công ty Fujitsu Việt Nam…, tạo điều kiện cho các NHTM phát triển kênh phân phối này. Các chi phí cao trong việc mở rộng thị trường có thể được giải quyết một phần với việc phối hợp với công ty viễn thông khi sử dụng kênh phân phối điện tử.

    Cùng với kênh phân phối mới này là vấn đề bảo mật và an toàn, vì đây là rủi ro của DVNH và vấn đề chuyên viên kỹ thuật để bảo hành công nghệ. Trên thực tế, có những ngân hàng sở hữu corebanking hàng chục triệu USD nhưng DVNH điện tử chủ yếu là truy vấn thông tin, chưa cung cấp dịch vụ giao tiếp và giao dịch, gây lãng phí công nghệ.

    • Dịch vụ: Chú trọng phát triển các dịch vụ trên nền tảng công nghệ internet/phone/sms banking) và liên kết (ngân hàng – bảo hiểm, ngân hàng – chứng khoán…) bên cạnh việc phát triển các sản phẩm ngân hàng bán lẻ khác,
    • Chi phí: Việc ứng dụng công nghệ và phát triển dịch vụ bán lẻ nói chung cần đến chi phí lớn, việc áp dụng các DVNH điện tử đòi hỏi chi phí hoà mạng trong kết nối với các ngân hàng nước ngoài. Ví dụ: mua 1 phôi thẻ chip cao gấp 5 lần 1 phôi thẻ từ (chi phí cho thẻ từ ít nhất 330.000đ/thẻ). Vốn bình quân trang bị cho mỗi máy ATM từ 10.000USD-13.000 USD kể cả chi phí bảo hành và duy tu kỹ thuật. Nhưng đây là hoạt động mà NHTM phải thực hiện sớm theo chiến lược của mình để giữ gìn và mở rộng khách hàng.

    Hộp 2: Yếu tố vững mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng là:

    • Ổn định vĩ mô của nền kinh tế và sự cải thiện của kết cấu hạ tầng là yếu tố quyết định đến sự phát triển của hệ thống tài chính và thị trường bán lẻ. Điều này đặc biệt cần thiết đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển.

     

    • Quy mô, cơ cấu sở hữu, quy tắc hoạt động.

     

     

    • Hiệu lực của giám sát an toàn hệ thống.

     

     

    • Khả năng giải quyết các phát sinh trong một ngân hàng không lây lan sang các nơi khác.

     

    • Sự sẵn có của nguồn vốn phi ngân hàng.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-NG%C3%82N-H%C3%80NG-B%C3%81N-L%E1%BA%BA-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    I.Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, xu hướng tất yếu của các NHTM

    Trong nền kinh tế mở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao, nhất là dịch vụ ngân

    hàng bán lẻ (NHBL). Mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân, nên các dịch vụ

    thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi và tài khoản,

    vay vốn, mở thẻ tín dụng…

    Theo các chuyên gia kinh tế củ a H ọc viện Công nghệ Châu á – AIT, dịch vụ NHBL là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp vớ i sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.

    Theo định nghĩa trên, dịch vụ NHBL chỉ được thực hiện nhờ công nghệ thông tin (CNTT), cụ thể là:

    • CNTT là tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện;
    • CNTT hỗ trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến như chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cư dưới nhiều hình thức khác nhau;
    • Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT góp phần nâng cao hiệu quả của việc

    quản trị ngân hàng, tạ o điều kiệ n thực hiện mô hình xử lý t ập trung các giao dịch có tính chất phân tán như chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm đáng kể chi phí giao dịch;

    • CNTT có tác dụng tăng cường khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác.

    Từ giác độ kinh tế – xã hội, dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển

    tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời

    sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân

    hàng và khách hàng.

    Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, NHBL mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưở ng của chu k ỳ kinh tế. Ngoài ra, NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị tr ường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng.

    • Đối với khách hàng, dịch vụ NHBL đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình.

    Tạp chí Stephen Timewell cũng nhận định: xu h ướng ngày nay thể hiện rõ rằng, ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ NHBL cho một lượng dân cư khổng lồ đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai.

    • Hoạt động NHBL ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM trên thế giới, các NHBL toàn cầu sẽ đóng vai trò chủ đạo trong danh sách 20 ngân hàng toàn cầu hàng đầu theo xếp hạng của tạp chí The Banker vào năm 2015.
    • Các NHTM Việt Nam đã và đang phát triển dịch vụ NHBL, đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ, đảm bảo cho các ngân hàng quản lý rủi ro hữu hiệu, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng, định hướng kinh doanh, thị trường sản phẩm mục tiêu, giúp ngân hàng đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.
    • Tại Việt Nam, kinh tế tăng trưởng liên tục, môi trường pháp lý hoàn thiện dần, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, thị trường dịch vụ NHBL còn nhiều tiềm năng phát triển.

    II. Thực trạng phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM

     

    1. Những thành công và hạn chế

    Trong những năm gần đây, dưới áp lực cạnh tranh ngày càng tăng do việc áp dụng lộ trình

    nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về việc mở chi nhánh

    và các điểm giao dịch, việc dỡ bỏ hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND, khả năng mở rộng

    dịch vụ ngân hàng và sự phát triển bùng nổ của CNTT, các NHTM Việt Nam đã đạt được

    những kết quả đáng khích lệ về phát triển dịch vụ NHBL. Nhìn chung, các ngân hàng bắt đầu

    quan tâm và tập trung khai thác thị trường bán lẻ như đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ ngân

    hàng, phát triển các loại hình dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấp nhận như máy

    giao dịch tự động (ATM), internet banking, home banking, PC banking, mobile banking. Thực

    tế đó đã đánh dấu bước phát triển mới của thị trường dịch vụ NHBL tại Việt Nam, làm cơ sở

    cho việc phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, tỷ trọng nguồn vốn huy động từ

    dân cư tăng lên đáng kể và chiếm 35-40% tổng vốn huy động. Hình thức huy động ngày càng

    đa dạng và linh hoạt hơn, lượng kiều hối qua các ngân hàng tăng mạnh. Các NHTM Việt Nam

    đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ

    chức và mạng lưới kênh phân phối, hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng, góp phần phát

    triển dịch vụ NHBL, đem lại cho khách hàng ngày càng nhiều tiện ích mới và văn minh trong

    thanh toán.

    Đến cuối năm 2006, hầu hết các NHTM đã xây dự ng phần mềm NHBL dựa trên nền tảng quy trình xử lý nghiệ p vụ thi ết kế của Mỹ vớ i mục tiêu giải phóng khách hàng nhanh nhất bằng việ c phân chia xử lý nghiệp vụ thành hai bộ phận: Bộ phận giao dịch tạ i quầy và bộ phận hỗ trợ xử lý nghiệp vụ . Hệ thống này đã tạo ra nhi ều giao diện r ất tiện ích, tài khoản của khách hàng được kết nối trên toàn h ệ thống, tạo nề n tảng mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và đưa các sả n phẩm dịch vụ NHBL đến tay ngườ i tiêu dùng. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, dịch vụ NHBL của các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập:

    • Tính cạnh tranh chưa cao, chủ yếu nhờ mở rộng mạng lưới và cạnh tranh về giá cả và lãi suất, cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và công nghệ chưa phổ biến, thị trường dịch vụ NHBL thiếu ổn định, chưa có sự liên kết giữa các ngân hàng trong việc phát hành các loại thẻ và khai thác dịch vụ mới, do các ngân hàng chưa tìm được tiếng nói chung để đi đến thoả thuận kết nối thống nhất nhằm chia sẻ hạ tầng kỹ thuật, gây lãng phí trong việc đầu tư mua sắm máy móc và chưa tạo sự thuận lợi cho khách hàng trong việc sử dụng thẻ;
    • Sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn mang tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng;
    • Chưa có chiến lược tiếp thị cụ thể trong hoạt động NHBL, thiếu đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về tiếp thị dịch vụ NHBL, tỷ lệ khách hàng cá nhân tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng vẫn còn ở mức khiêm tốn;
    • Kênh phân phối không đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giao dịch và cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các hình thức giao dịch từ xa dựa trên nền tảng CNTT chưa phổ biến. Dịch vụ ngân hàng điện tử chưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít, nhiều ngân hàng mới chỉ hoạt động ở mức độ thử nghiệm, giao dịch thanh toán thương mại điện tử còn hạn chế, chưa ứng dụng được hình thức thanh toán qua điện thoại di động sử dụng tài khoản ngân hàng;
    • Các dịch vụ NHBL phát triển dưới mức tiềm năng. Sau 10 năm làm dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ, số người sử dụng thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương chỉ đạt trên 1 triệu khách hàng, phần lớn chủ thẻ là thương nhân và những người sống ở các đô thị lớn, dư nợ cho vay cá nhân chỉ chiếm 5-9% tổng dư nợ;
    • Hiệu quả của chính sách khách hàng còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao, thủ tục giao dịch chưa thực sự thuận tiện, bộ máy tổ chức chưa theo định hướng khách hàng, thiếu bộ phận nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân, thiếu hệ thống chỉ tiêu định lượng và đánh giá hoạt động NHBL, mức độ ứng dụng CNTT chưa cao.

    2. Những yếu tố hạn chế phát triển dịch vụ NHBL tại Việt Nam

    Nét đặc thù của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là nhắm tới đối tượng khách hàng cá nhân, song

    người dân trong nước chưa biết nhiều về dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ NHBL nói riêng. Do mức thu nhập của phầ n lớn dân cư còn thấp, thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến, nên khả năng phát triển và mở rộng dịch vụ NHBL còn hạn chế.

    Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng chư a thực sự phù hợp với tình hình thự c tế. Các văn bản pháp quy về hoạt động ngân hàng chủ yếu được xây dự ng trên cơ sở các giao dịch thủ công với nhiều loại giấ y tờ và quy trình xử lý nghiệp vụ phứ c tạp. Trong khi đó, phát triển dịch vụ NHBL đòi hỏi phải áp d ụng công nghệ mới và quy trình nghiệp vụ hiệ n đại, nhanh chóng. Với tốc độ phát triển dịch vụ như hiệ n nay, nhiều quy định pháp lý đã tỏ ra bất cậ p và không bao hàm hết các mặt nghiệp vụ, gây khó khăn cho các NHTM khi muốn triển khai dịch vụ mới.

    Về phía các NHTM, các ngân hàng chư a xây dự ng được chiến lược đồng bộ về phát triển dịch vụ NHBL, s ản ph ẩm và dịch vụ NHBL còn đơn điệu, chưa đáp ứng nhu cầ u khách hàng, bộ máy tổ chức chưa xây dựng theo định hướng khách hàng, chư a có đội ng ũ cán bộ chuyên nghiệp về nghiệp vụ NHBL, mạng lưới kênh cung cấp dịch vụ còn mỏng, nền tảng công nghệ và khả năng ứng dụng công nghệ mới còn hạn chế.

    • Một số giải pháp phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM Việt Nam Hoàn thiện các qui định pháp lý về nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng

    Các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động ngân hàng do nhiều cấp và nhiều cơ quan ban hành, đ iều này đòi hỏi phải hoàn thiện môi trường pháp lý một cách đầy đủ, đồng bộ và thố ng nh ất về các loại hình dịch vụ theo hướng đơ n giản, dễ hiểu, dễ phổ cậ p, phù hợp vớ i thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của khách hàng và ngân hàng.

    2. Đa dạng hóa các kênh phân phối và thực hiện phân phối có hiệu quả

    Trong xu thế hộ i nhập, cạnh tranh trên thị trường NHBL ngày càng gay gắt, phát tri ển dịch vụ NHBL được xác định là m ột định hướng chiến lược quan trọng của các NHTM Việ t Nam. Trong đó, việ c phát triể n các kênh phân phối là một trong nhữ ng giải pháp tiên quyết, đòi hỏi phải tích cự c phát triển mạng lưới các chi nhánh c ấp I và cấ p II, chú tr ọng mở r ộng thêm các phòng giao dịch vệ tinh vớ i mô hình g ọn nhẹ. Bên cạnh việ c duy trì và mở rộng các kênh phân phối truyền thố ng như các chi nhánh, các phòng giao dịch, các NHTM cần nghiên cứ u và ứng dụng các kênh phân phối hiện đại, đồng thời tăng cường qu ản lý phân ph ối nhằm tố i đa hóa vai trò của từng kênh phân phối một hiệu quả, đáp ứng yêu cầu giao dịch ở mọi lúc, mọi nơi như:

    • Tăng cường hiệu quả và khả năng tự phục vụ của hệ thống ATM nhằm cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau với chi phí rẻ hơn, nâng cấp hệ thống ATM thành những “ngân hàng thu nhỏ” trải đều khắp các tỉnh, thành phố. Đồng thời, phát triển mạng lưới các điểm chấp nhận thẻ (POS) và tăng cường liên k ết giữa các NHTM để nâng cao hiệu quả và mở rộng khả năng sử dụng thẻ ATM và thẻ POS;
    • Phát triển loại hình ngân hàng qua máy tính và ngân hàng tại nhà nhằm tận dụng sự phát triển của máy tính cá nhân và khả năng kết nối internet. Trong đó, các NHTM cần sớm đưa ra các loại dịch vụ mới để khách hàng có thể đặt lệnh, thực hiện thanh toán, truy vấn số dư và thông tin về cam kết giữa ngân hàng và khách hàng, v.v;
    • Phát triển loại hình ngân hàng qua điện thoại, đây là mô hình phổ biến với chi phí rất

    thấ p, tiện lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại bất cứ thời gian, địa điểm nào;

    • Mở rộng các kênh phân phối qua các đại lý như, đại lý chi trả kiều hối, đại lý phát hành thẻ ATM, đại lý thanh toán.

    Quá trình phát triển và hoàn thiện dịch vụ NHBL phải được thực hiệ n từng bước, vữ ng chắc, đồ ng thời có bướ c đột phá để tạ o đà phát triển nhanh chóng trên cơ sở giữ vữ ng thị phần đã có và mở rộng thị trường, tạo nhiều tiện ích cho ngườ i sử dụng dịch vụ, kết hợp hài hoà lợi ích khách hàng với lợi ích của ngân hàng và có lợi cho nền kinh tế.

    Chìa khóa của Chiến lược NHBL là phát triển CNTT, làm nền tảng phát triển kinh doanh và

    mở rộng các loại hình dịch vụ mới theo hướng tă ng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phát tri ển h ệ thống giao dịch trực tuyế n và từng bước triển khai mô hình giao dịch một cử a, hiện đại hóa tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, đảm b ảo hòa nhập với các ngân hàng quốc tế trong m ọi lĩnh vực. Tăng cường xử lý tự động trong tất cả qui trình tiếp nhận yêu cầu khách hàng, thẩm định và xử lý thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo tính bảo mật và an toàn trong kinh doanh.

    3. Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ

    Đa dạng hóa sản phẩm là điểm mạnh và mũi nh ọn để phát triể n dịch vụ ngân hàng cá nhân, hình thành bộ phậ n nghiên cứu chuyên trách phát triển sản phẩm. Trong đó, tập trung vào những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có đặc điểm nổ i trội trên thị trường nhằm tạo sự khác biệ t trong c ạnh tranh, tận dụng các kênh phân phối mới để đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng và phát triển tín dụng tiêu dùng.

    Phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nhằm phát

    huy hiệu quả và tính năng kỹ thuật của công nghệ mới, góp phần hạn chế giao dịch tiền mặt

    bất hợp pháp, nhanh chóng nâng cao tính thanh khoản của VND và hiệu quả sử dụng vốn

    trong nền kinh tế. Đẩy mạnh các dịch vụ tài khoản tiền gửi với thủ tục đơn giản, an toàn nhằm

    thu hút nguồn vốn của cá nhân trong thanh toán và phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, séc

    thanh toán cá nhân, đẩy mạnh huy động vốn qua tài khoản tiết kiệm. Các NHTM cũng cần

    tăng cường hợp tác với các tổ chức và doanh nghiệp có các khoản thanh toán dịch vụ thường

    xuyên, ổn định số lượng khách hàng, trả lương như bưu điện, hàng không, điện lực, cấp thoát

    nước, kinh doanh xăng dầu. NHNN cần sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp quy

    về thanh toán với cơ chế khuyến khích hơn là ngăn cấm như cho phép thu phí giao dịch tiền

    mặt cao hơn giao dịch chuyển khoản, hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng

    nhằm hình thành hệ thống thanh toán quốc gia thống nhất và an toàn.

    Phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác như tăng cường thu hút nguồn kiều hối trên cơ sở phối hợp với các công ty xuất khẩu lao động, các công ty dịch vụ kiều hối, tổ chức chuyển tiền

    • nước ngoài, các ngân hàng đại lý nước ngoài. Có chính sách khai thác và tạo điều kiện thuận lợi phát triển dịch vụ chuyển tiền kiều hối qua hệ thống ngân hàng. Triển khai dịch vụ quản lý tài sản, ủy thác đầu tư, cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng. Tăng cường bán chéo sản phẩm dịch vụ giữa ngân hàng và bảo hiểm, vì có tới 50% khách hàng sử dụng một sản phẩm duy nhất là tài khoản nhận lương.

    4.                 Tăng cường hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng

    Do phần lớn đố i tượng phục vụ của dịch vụ NHBL là các cá nhân, việ c quảng bá, tiếp thị các s ản phẩm dịch vụ đ óng vai trò c ực kỳ quan trọng, có lợi cho cả ngân hàng và khách hàng. Tă ng cường chuyển tải thông tin tới công chúng nhằm giúp khách hàng có thông tin cập nhật về năng lực và uy tín c ủa ngân hàng, hiểu biết cơ bản về dịch vụ NHBL, nắm được cách thức sử dụng và lợi ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

    5. Các giải pháp khác

    • NHNN và các NHTM cần phối hợp với Tổng cục Thống kê trong việc xây dựng danh mục dịch vụ NHBL theo chuẩn mực quốc tế, làm cơ sở để xây dựng hệ thống báo cáo định kỳ về các loại hình dịch vụ cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng quản trị, điều hành.
    • Xây dựng hệ thống chấm điểm khách hàng cá nhân nhằm giảm nhẹ rủi ro, có thể ra

    quyết định cho vay mộ t cách nhanh chóng, chính xác. Xây dựng bộ phận quản lý và phân loại khách hàng nhằm xác định mức chi phí và lợi nhuận của từng phân đo ạn khách hàng, thực hiện tốt chính sách khách hàng, triển khai mô hình tổ chức kinh doanh theo định hướng khách hàng và ch ủ độ ng tìm đến khách hàng, xác định nhu cầu của từng nhóm khách hàng, từ đó đưa ra các loại sản phẩm và dịch vụ phù hợp.

    • Mỗi NHTM cần thành lập bộ máy điều hành, nghiên cứu và thực thi việc phát triển dịch vụ NHBL, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng và chú trọng nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động NHBL.

    XT-VPNHNN


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giáo trình nghiệp vụ ngoại thương – CHƯƠNG 7 HỢP ÐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/B%C3%A0i-ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-Nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    LỜI MỞ ĐẦU

    Sau hơn mười năm đổi mới nền kinh tế nước ta đang khởi sắc và thu được những thành tựu đáng kể. Từ nền kinh tế khép kín chuyển sang nền kinh tế mở với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Với chính sách đối ngoại mềm dẻo đã thu hút được lượng vốn đầu tư lớn từ nước ngoài tận dụng thế mạnh trong nước.Thực tế đã chứng minh không một quốc gia nào phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài. Sự giao lưu buôn bán giữa các nước là một xu hướng tất yếu quốc tế hoá nền kinh tế. Sự phát triển của thương mại quốc tế như là chất keo dính gắn kết các quốc gia lại với nhau trong sự phát triển thống nhất cuả nó. Thương mại quốc tế ngày nay đã vượt qua không gian thời gian tạo những luồng dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ để cân bằng cung cầu.

    Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng quan trọng nhất quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi. Nó là mắt xích không thể thiếu trong cỗ máy thương mại quốc tế. Với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát triển và tình hình cụ thể. Ngày nay phương thức thanh toán thư tín dụng đang được sử dụng phổ biến. Trong chu trình thanh toán ấy ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian thanh toán hộ. Ngân hàng thương mại là chất xúc tác giúp quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, hiệu quả. Nó là chất dầu bôi trơn cỗ máy thanh toán quốc tế hoạt động nhịp nhàng và không mệt mỏi. …. Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các mối giao lưu thương mại ngày càng mở rộng đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải phát triển các dịch vụ của mình đặc biệt là thanh toán xuất nhập khẩu. Từ thực trạng không ít rủi ro đã xảy ra gây thiệt hại cả về tài chính và uy tín của ngân hàng trong thanh toán quốc tế đặc biệt là thanh toán thư tín dụng. Vì thế nghiên cứu phòng tránh rủi ro để nâng cao hiệu quả trong thanh toán thư tín dụng đã trở thành mối quan tâm xuyên suốt quá trình hoàn thiện và phát triển của mỗi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và lợi nhuận.

    Chương I : CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU

    I. TRẢ TIỀN MẶT (IN CASH):

     

    • Người mua thanh toán bằng tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặc chấp nhận đơn đặt hàng của người mua.
    • Đánh giá:
    • Ưu điểm:
      • Đơn giản.
        • Khuyết điểm:
      • Rủi ro cao và hiệu quả thấp. VD: phải tốn phí vận chuyển nếu như tiền ở số lượng lớn, nguy cơ bị cướp v.v..
    • Phòng ngừa:
      • Hạn chế thanh toán bằng tiền mặt.
      • Nếu có thanh toán bằng tiền mặt nên chọn những địa điểm an toàn, có bảo vệ.

    II. PHƯƠNG THỨC GHI SỔ (OPEN ACCOUNT):

     

    • Là phương thức thanh toán, trong đó người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua, sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ, theo đó đến hạn quy định người mua sẽ trả tiền cho người bán.
    • Đánh giá:
    • Phương thức thanh toán đơn giản chỉ có hai bên: người bán và người mua tham gia thanh toán.
    • Ngân hàng không tham gia với chức năng mở tài khoản để thực thi thanh toán, chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên.
    • Phương thức này chỉ có lợi cho người mua.
      • Điều kiện áp dụng:
        • Thanh toán trong mua bán nội địa.
        • Thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài.
        • Thanh toán khi đôi bên mua bán rất tin cậy nhau.
        • Thanh toán tiền phí dịch vụ.

    III.  THANH TOÁN TRONG BUÔN BÁN ĐỐI LƯU:

     

    3.1 Khái niệm buôn bán đối lưu:

    Là hoạt động trao đổi hàng hóa trong thương mại quốc tế, trong đó hai (nhiều) bên tiến hành trao đổi hàng hóa nọ lấy hàng hóa kia.

    3.2 Các hình thức buôn bán đối lưu:

    • Nghiệp vụ Barter (nghiệp vụ đổi hàng thuần túy): là nghiệp vụ hàng đổi hàng.
    • Nghiệp vụ song phương xuất nhập: đây cũng là hoạt động mua bán đối lưu, nhưng có thể sử dụng tiền (hoặc một phần tiền) để thanh toán.
    • Nghiệp vụ Buy – Back: là nghiệp vụ mua bán đối lưu trong lĩnh vực đầu tư trung và dài hạn.

    IV.  PHƯƠNG THỨC NHỜ THU (COLLECTION):

     

     

    4.1 Khái niệm:

    Là phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền thu ghi trên tờ hối phiếu đó.

    ÿ Tìm hiểu về hối phiếu:

    Hối phiếu thương mại (B/E – Bill of Exchange).

    Œ Định nghĩa:

    Hối phiếu thương mại là một tờ mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do người xuất khẩu (người bán, người cung ứng dịch vụ) ký phát đòi tiền người nhập khẩu (người mua, người nhận cung ứng) yêu cầu người này phải trả một số tiền nhất định cho người được hưởng lợi quy định trên hối phiếu, tại một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định (có thể trả ngay hoặc trả về sau).

     Đặc điểm:

    • Tính trừu tượng.
    • Tính bắt buộc trả tiền.
    • Tính lưu thông.

    Ž Hình thức (Theo ULB 1930 – Uniform Law for Bills of Exchange):

    • Phải lập thành văn bản. Có thể viết tay, đánh máy hoặc in sẵn…
    • Ngôn ngữ hối phiếu: một thứ tiếng.
    • Không được viết trên hối phiếu bằng bút chì, mực đỏ, mực dễ phai.
    • Hối phiếu có thể lập thành hai hay nhiều bản (thường là hai bản) có giá trị ngang nhau.

     Nội dung (Theo ULB 1930):

    • Phải ghi rõ tiêu đề (Bills of Exchange/Exchange of Draft).
    • Ghi rõ địa điểm, thời gian lập hối phiếu.
    • Mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện.
    • Một số tiền nhất định (ghi rõ ràng bằng số và bằng chữ).
    • Thời hạn trả tiền: trả ngay, trả sau.
    • Địa điểm trả tiền.
    • Người hưởng lợi.
    • Người trả tiền hối phiếu.
    • Người ký phát hối phiếu và ký tên.
    • Ngoài ra còn những nội dung mang tính tùy nghi.

    Mẫu hối phiếu trong phương thức nhờ thu:

     Phân loại:

    P Căn cứ vào thời hạn trả tiền:

    – Hối phiếu trả tiền ngay (Sight Bill).

    – Hối phiếu có kỳ hạn (Usance Bill).

    P Căn cứ vào chứng từ kèm theo:

    – Hối phiếu trơn (Clean Bill): là loại hối phiếu mà việc thanh toán nó không kèm theo điều kiện.

    – Hối phiếu kèm chứng từ (Documentary Bill): là loại hối phiếu khi gửi đến người trả tiền có kèm theo các chứng từ hàng hóa .

    PCăn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu:

    – Hối phiếu đích danh (Nominal Bill).

    – Hối phiếu trả cho người cầm phiếu (Bearer Bill).

    – Hối phiếu theo lệnh (Order Bill).

    P Căn cứ vào người ký phát hối phiếu:

    – Hối phiếu thương mại: do người xuất khẩu ký phát.

    – Hối phiếu Ngân hàng: do Ngân hàng phát hành dùng để chuyển tiền giữa các Ngân hàng.

    4.2PHƯƠNG THỨC NHỜ THU:

    Có hai loại nhờ thu:

    4.2.1) Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):là phương thức mà người bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền hối phiếu ở người mua, nhưng không kèm theo điều kiện gì cả.

    4.2.2)Nhờ thu kèm theo chứng từ(Documentary Collection):

    Là phương thức mà người bán sau khi hoàn thành nhĩa vụ giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và nhờ ngân hàng thu hộ tiền tờ hối phiếu có điều kiện kèm theo.

    – Tùy theo điều kiện trả tiền, người ta chia phương thức này thành ba loại:

    • D/P at sight – Nhờ thu theo hình thức thanh toán ngay giao chứng từ. An toàn cho cả người mau với người bán.
    • D/A – Nhờ thu theo hình thức chấp nhận thanh toán giao chứng từ (Nhờ thu trả chậm).
    • D/OT – (Delivery of documents on orther terms and conditions) – Giao chứng từ kèm theo các điều kiện khác.

    4.3 QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ:

    Sơ đồ nghiệp vụ:

     

     

    4.3.1) Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):

    1/ Người bán giao hàng lập bộ chứng từ giao thăng người mua.

    2/ Người bán ký hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ ngân hàng thu hộ tiền của hối phiếu đó.

    3/ Ngân hàng bên bán chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.

    4/ Ngân hàng bên mua chuyển hối phiếu cho người mua và yêu cầu trả tiền.

    5/ Người mua trả tiền hoặc từ chối trả tiền, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của họ, có thể chia làm 3 trường hợp:

    • Người mua chiếm dụng hàng của người bán và không trả tiền.
    • Người mua từ chối thanh toán và không nhận hàng, người bán phải xử lý:
      • Thương lượng để bán giảm giá cho người mua.
      • Bán cho người khác.
      • Vận chuyển về hoặc bỏ đi.
    • Người mua đồng ý trả tiền, thông thường sau khi nhận hàng thì người mua mới trả tiền.

    6/ Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.

    7/ Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại toàn bộ hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

    Kết luận:

    Ú Phương thức này có nhược điểm là không đảm bảo quyền lợi cho người bán.

    Ú Trường hợp áp dụng phương thức này:

    Hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng trong nội bộ công ty với nhau.

    Dùng để thanh toán cước phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức…

    4.3.2) Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection):

    1/ Người bán giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán trong đó bao gồm bộ chứng từ gửi hàng và hối phiếu chuyển cho ngân hàng và nhờ ngân hàng thu hộ tiền ghi trên tờ hối phiếu đó ở người mua.

    2/ Ngân hàng bên bán chuyển bộ chứng từ thanh toán cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.

    3/ Ngân hàng bên mua yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu để nhận chứng từ, nếu người mua trả tiền mới trao chứng từ gửi hàng cho họ để nhận hàng, nếu không thì cầm giữ chứng từ lại và báo cho ngân hàng bên bán biêt.

    4/ Người mua trả tiền hoặc từ chối rả tiền, có thể chia thành 2 trường hợp:

    ” Người mua từ chối thanh toán và không nhận hàng, người bán phải xử lý tương tự như trên (Clean Collection).

    ” Người mua đồng ý trả tiền:

    + Nếu là D/P thì người mua phải trả tiền để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    + Nếu là D/A thì người mua phải chấp nhận hối phiếu, đến thời hạn quy định sẽ trả tiền, để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    + D/OT thì người mua xuất trình các giấy hứa trả tiền, thư cam kết trả tiền, biên lai tín thác do chính người mua lập, để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    5/ Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.

    6/ Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại toàn bộ hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

    Kết luận:

    Ú Ưu điểm: So với phương thức nhờ thu phiếu trơn, phương thức nhờ thu kèm theo chứng từ đảm bảo hơn, vì ngân hàng đã thay mặt người bán khống chế chứng từ.

    Ú Tuy vậy phương thức này vẫn còn những bất lợi cho người bán như:

    • Người mua có thể từ chối không nhận chứng từ vì lý do nào đó như giá hàng hóa đã hạ xuống chẳng hạn. Tuy quyền sở hữu vẫn thuộc về người bán, song hàng đã gửi đi rồi, giải quyết tiêu thụ ra sao?…
    • Thời gian thu tiền về còn quá chậm, nên vốn của người bán vẫn còn bị ứ đọng.

    V.   PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN (REMITTANCE):

    5.1  Khái niệm:

    Phương thức chuyển tiền là 1 phương thức thanh toán trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu…) yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu, người cung cấp dịch vụ…) ở một địa điểm nhất định.

    Các bên liên quan:

    Người trả tiền hoặc người chuyển tiền là người ủy nhiệm cho ngân hàng đại diện mình chuyển tiền.

    Ngân hàng nhận ủy nhiệm chuyển tiền là ngân hàng ở nước người trả tiền hoặc người chuyển tiền.

    • Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền thường là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.
    • Người hưởng lợi là người chủ nợ hoặc người bán, hoặc là người nào đó mà người chuyển tiền chỉ định.

    5.2.  Hình thức chuyển tiền:

    Thực hiện bằng các cách sau:

    • Hình thức điện báo (gọi là điện hối – Telegraphic Transfers – T/T): Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Phương thức thanh toán này có lợi cho người mua (người nhập khẩu). Rủi ro thuộc về người bán (người xuất khẩu).

    Giao dịch đơn giản, ít khâu, ít chứng từ:
    – Khách hàng có thể mở tài khoản một nơi nhưng có thể giao dịch chuyển tiền tại bất kỳ chi nhánh nào của ngân hàng.
    – Khách hàng luôn được cung cấp đầy đủ ngoại tệ để thanh toán, nếu có nhu cầu.
    – Thời gian phát hành và xử lý chứng từ thanh toán quốc tế tối đa 01 ngày. Phát hành trực tiếp đến các ngân hàng tại 88 quốc gia trên thế giới.

    • Hình thức bằng thư (gọi là thư hối – Mail Transfers – M/T): Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền viết thư (có thể là lệnh trả tiền – Payment Order, hoặc là giấy báo ghi có Avis credit) lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Đối với thanh toán bằng TT, thì lợi ích của nhà XK sẽ là rủi ro của nhà nhập khẩu. Tuỳ thuộc vào điều kiện thanh toán của từng hợp đồng.
    VD: Thanh toán bằng TT ……% tổng giá trị hợp đồng sau khi hợp đồng có hiệu lực, hoặc ….% tổng giá trị hợp đồng sau khi giao hàng.
    Như thế rủi ro đối với người NK là % ứng trước cho người XK, người XK có thể ko giao được hàng, và ngược lại người NK không có đủ năng lực tài chính để thanh toán khi hàng đã chuẩn bị hoặc đã được giao.

    Cách thức hạn chế là đối với phần ứng trước nên yêu cầu nhà XK xuất trình Letter of guarantee của Ngân hàng tương ứng với giá trị thanh toán trước. Còn đối với nhà XK thì ràng buộc bằng cách yêu cầu nhà NK cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình thông qua bảo lãnh thanh toán hợp đồng tương ứng với giá trị hợp đồng       được phát hành bởi NH của người NK.

    T/T nhanh hơm M/T nhưng chi phí chuyển tiền cao hơn rất nhiều, nên khi vận dụng các nhà xuất nhập khẩu cần cân nhắc kỹ.

    –   Hai cách chuyển tiền trên chỉ khác nhau ở chỗ là: (1) chuyển tiền bằng điện nhanh hơn chuyển tiền bằng thư, nhưng chi phí chuyển tiền bằng điện cao hơn.

    Tiền chuyển đi có thể là tiền của nước người thụ hưởng hoặc là tiền của nước người trả hoặc là tiền của nước thứ ba. Nếu là tiền của nước người thụ hưởng và tiền của nước thứ ba thì gọi là thanh toán bằng ngoại tệ. Trong trường hợp thanh toán bằng ngoại tệ thì người chuyển tiền phải mua ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái của nước đó.

    Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế. Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo hiểm, bồi thường…

    5.3.  Qui trình nghiệp vụ:

    Xét về thời hạn chuyển tiền, có:

    • Chuyển tiền trả sau.
    • Chuyển tiền trả ngay.
    • Chuyển tiền trả trước.

    Chuyển tiền trả trước thường được sử dụng trong các trường hợp:

    • Người Nhập khẩu ứng tiền trước cho người Xuất khẩu.
    • Người Nhập khẩu trả tiền trước cho người Xuất khẩu x ngày trước khi giao hàng với mục đích đặt cọc (Performance Bond) thực hiện hợp đồng Nhập khẩu.

    Chuyển tiền trả ngay được thực hiện dưới các hình thức sau:

    • Người Nhập khẩu trả tiền cho người Xuất khẩu ngay sau khi người Xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng không trên phương tiện tại địa điểm giao hàng quy định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền cho người Xuất khẩu ngay khi người Xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại địa điểm giao hàng qui định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay sau khi chứng từ gửi hàng của người Xuất khẩu xuất trình tại địa điểm xuất trình qui định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay khi chứng từ gửi hàng được xuất trình 5-7 ngày.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay sau khi nhận hàng hoá tại nơi đến qui định hoặc tại cảng đến.
    • Trong các hình thức trả trước, trả ngay, trả sau, thì chuyển tiền trả sau được áp dụng nhiều nhất.

    Sơ đồ 3

    1. Sau khi hợp đồng ngoại thương được ký kết, người xuất khẩu cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người nhập khẩu, chuyển giao chứng từ cho người nhập khẩu.
    2. Đến thời hạn quy định, người nhập khẩu viết lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình. Trong đó phải ghi rõ ràng, đầy đủ nội dung như sau:
      • Tên và địa chỉ người xin chuyển tiền.
      • Số tài khoản, ngân hàng mở tài khoản.
      • Số tiền xin chuyển.
      • Tên và địa chỉ người hưởng lợi. Số tài khoản. Ngân hàng phục vụ.
      • Lý do chuyển tiền.
      • Kèm theo các chứng từ có liên quan như: giấy phép nhập khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thương, tờ khai hải quan…
    3. Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và nhà nhập khẩu có đủ khả năng thanh toán, ngân hàng sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu đẻ chuyển tiền, gửi giấy báo nợ và giấy báo đã thanh toán cho người nhập khẩu.
    4. Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý cho mình ở nước ngoài để chuyển tiền trả cho người xuất khẩu.
    5. Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người xuất khẩu và gửi giấy báo cho đơn vị đó.

    5.4. Vận dụng:

    1. Đối với nhà xuất khẩu:

    Phòng mã của Ngân hàng nhận điện chuyển tiền từ Ngân hàng nước ngoài, sau khi kiểm tra mã nếu thấy đúng thì chuyển điện cho phòng nghiệp vụ tiến hành ghi bút toán:

    Nợ _ Ngân hàng nước ngoài.

    Có _ Cho công ty xuất khẩu.

    Bút toán được lập 4 liên, 01 liên giao cho nhà xuất khẩu.

    1. Đối với nhà nhập khẩu:

    Phương thức chuyển tiền thường dùng để:

    • Thanh toán tiền dịch vụ.
    • Thanh toán tiền hàng nhập khẩu có:

    Thanh toán ứng trước (hình thức đặt cọc hoặc cung cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu).

    Chuyển tiền trả người xuất khẩu sau khi đã nhận được hàng.

    Nếu thấy hồ sơ hợp lệ, thanh toán viên sẽ kiểm tra số dư trong tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp nhập khẩu và chuyển tiền.

    Ÿ    Nếu số dư lớn hơn giá trị chuyển tiền: thanh toán viên đánh điện chuyển tiền.

    Ÿ    Nếu số dư nhỏ hơn giá trị chuyển tiền: doanh nghiệp nhập khẩu có thể xin mua hoặc vay ngoại tệ để thanh toán.

    Tóm lại:  Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:

    • Xây dựng rõ lộ trình chuyển tiền. Ví dụ: chuyển trước bao nhiêu % tại thời điểm nào?; Thanh toán nốt phần còn lại tại thời điểm nào?…
    • Thỏa thuận thời điểm chuyển tiền trùng với thời điểm giao hàng.

    –     Quy định rõ về phương tiện chuyển tiền, chi phí chuyển tiền ai chịu?

    Chuyển tiền là phương thức thanh toán, quyền lợi của người bán không được đảm bảo chắc chắn vì việc chuyển tiền hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí và năng lực của người mua.

    VI. PHƯƠNG THỨC GIAO CHỨNG TỪ TRẢ TIỀN (CASH AGAINST DOCUMENTS – CAD):

    Trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, trước kia chỉ chủ yếu sử dụng 3 phương thức: documentary credits, collection và Remittance, từ những năm 1990 trở lại đây ở 1 số ngân hàng tại nước ta bắt đầu áp dụng phương thức CAD. Nó có lợi cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho họ có thể thanh toán được nhanh và chắc chắn.

    6.1. Khái niệm:

    CAD (cash against documents): nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoản tín thác (Trust Account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu trình đầy đủ những chứng từ theo yêu cầu. Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán.

    6.2. Quy trình nghiệp vụ:

    Sơ đồ 4

    1. Sau khi ký hợp đồng mua bán ngoại thương với nhà xuất khẩu , người nhập khẩu cần đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu thực hiện nghiệp vụ CAD. Để làm được điều đó, người nhập khẩu và ngân hàng sẽ thoả thuận và ký một bản ghi nhớ (Memorandum), gồm những nội dung sau:
      • Phương thức thanh toán ( Means of payment): CAD.
      • Số tiền ký quỹ (Pledged Amount) trị giá 100% thương vụ.
      • Những chứng từ yêu cầu ( Required documents)
      • Phí dịch vụ (Commission).

    Sau khi nhà nhập khẩu chuyển đầy đủ số tiền ký quỹ, một tài khoản tín thác (Trust Account) sẽ được mở đề ghi số tiền ký quỹ, đồng thời ngân hàng cũng thông báo cho người Xuất khẩu về việc tài khoản tín thác đã hoạt động.

    1. Sau khi kiểm tra các điều kiện của tài khoản tín thác, nếu chấp nhận nhà xuất khẩu giao hàng cho người vận tải để chuyển đến nơi nhà NK yêu cầu.
    2. Nhà XK sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ mà Memorandum yêu cầu tại ngân hàng.
    3. Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu Memorandum, nếu thấy phù hợp thì tiến hành ghi Có cho người XK và ghi Nợ tải khoản ký quĩ của người NK, sau khi đã thu phí dịch vụ ngân hàng theo chỉ thị trong Memorandum.
    4. Ngân hàng giao chứng từ lại cho nhà NK.

    6.3.  Trường hợp áp dụng:

    Quan hệ bạn hàng tốt và thân tín giữa 2 bên xuất và nhập khẩu. Đặc biệt người NK phải rất tin tưởng ở người XK.

    Khi bán mặt hàng khan hiếm và người XK muốn có đảm bảo chắc chắn trong thanh toán.

    Trong các phương thức thanh toán quốc tế thì tín dụng chứng từ được người ta sử dụng nhiều hơn cả.

    VII.  PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (DOCUMENTARY CREDITS):

    7.1.  Khái niệm: là sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định đề ra trong thư tín dụng.

    F Các bên tham gia thanh toán trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:

    • Người xin mở thư tín dụng (The applicant for the credit).
    • Ngân hàng mở thư tín dụng (The issuing bank or openinh bank).
    • Người hưởng lợi (The beneficiary).
    • Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank).

    F Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng mở thư tín dụng:

    • Thông báo nội dung thư tín dụng và gửi bản gốc thư tín dụng cho người xuất khẩu.
    • Sửa đổi, bổ sung những yêu cầu của người xin mở thư tín dụng.
    • Kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến.
    • Ngân hàng được miễn trách nhiệm khi ngân hàng rơi vào trường hợp bất khả kháng.
    • Mọi hậu quả sinh ra do lỗi của mình, ngân hàng chịu trách nhiệm.

    F Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thông báo thư tín dụng.

    • Chuyển toàn bộ nội dung thư tín dụng nhận được cho người xuất khẩu dưới hình thức văn bản.
    • Ngân hàng không chịu trách nhiệm dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếng địa phương.
    • Ngân hàng phải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ thanh toán đến ngân hàng mở thư tín dụng khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của người xuất khẩu.

    F Ngoài ra còn có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này như:

    • Ngân hàng xác nhận (The confirminh bank): bảo đảm việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán.
    • Ngân hàng thanh toán (The paying bank): là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình trả tiền cho người xuất khẩu hay chiết khấu hối phiếu.

    7.2. Quy trình nghiệp vụ:

      Người mua làm đơn xin mở L/C yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người bán hưởng.

    • Ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C thông báo nội dung cho người bán biết và gửi bản chính L/C cho người bán thông qua ngân hảng thông báo.
    • Ngân hàng thông báo thông báo nội dung L/C cho người bán và chuyển bản chính L/C cho người bán.
    • Người bán giao hàng cho người mua, nếu chấp nhận L/C.
    • Người bán lập bộ chứng từ thanh toán và xuất trình cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền.
    • ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp thì trả tiền cho người bán.
    • Ngân hàng mở L/C đòi tiền người mua.

    Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền cho ngân hàng mở L/C và nhận bộ chứng từ.

    F Lưu ý: trong thực tế trình tự các công việc trong từng trường hợp cụ thể có sự khác nhau, có thể tóm lại trong 4 loại:

    1. Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp mới thanh toán cho nhà xuất khẩu. Loại này không được đòi tiền thẳng mà gửi chứng từ cho ngân hàng mở L/C. Bất lợi cho người xuất khẩu vì gửi chứng từ cho ngân hàng mở L/C đòi hỏi thời gian dài.
    2. Khi ngân hàng bên xuất khẩu nhân được chứng từ của nhà xuất khẩu xuất trình, thấy phù hợp thì phát lệnh đòi tiền một ngân hàng thứ 3.
    3. Ngân hàng bên xuất khẩu nhân được chứng từ của người xuất khẩu xuất trình thấy phù hợp với L/C thì đòi tiền thẳng ngân hàng mở L/C. loại này tiện lợi, bảo đảm thanh toán được nhanh. Tuy nhiên, cần xem xét ngân hàng mở L/C có quan hệ như thế nào đối với ngân hàng bên xuất khẩu.
    4. Khi ngân hàng bên xuất khẩu nhận được chứng từ của người xuất khẩu nếu thấy phù hợp với L/C thì trực tiếp ghi nợ tài khoản của ngân hàng mở L/C tại ngân hàng bên xuất khẩu và trả tiền cho người xuất khẩu.

    7.3.  Thư tín dụng(letter of credit):

    1. Khái niệm:

    Thư tín dụng là một văn bản do một ngân hàng phát hành theo yêu cầu của người nhập khẩu, cam kết trả tiền cho người xuất khẩu trong một thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng, đầy đủ những điều khoản qui định trong thư.

    Tín dụng thư hoạt động theo 2 nguyên tắt:

    ª Độc lập: căn cứ vào nội dung và yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu làm đơn yêu cầu mở L/C. Nhưng khi đã mở rồi L/C lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.

    ª Tuân thủ nghiêm ngặt: ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ giao hàng hoàn toàn phù hợp với L/C, đúng với chỉ dẫn của người mua.

    1. Nội dung của L/C:

    Trong thư tín dụng có những nội dung sau:

    • Số hiệu, địa chỉ, ngày mở L/C.
    • Loại L/C.
    • Số tiền của L/C.
    • Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng.
    • Những qui định về hàng hoá.
    • Những qui định về vận tải, giao nhận hàng.
    • Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình.
    • Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C.
    • Những điều kiện đặc biệt khác.
    • Chữ kí cùa ngân hàng phát hành L/C nếu mở L/C bằng thư.
    1. Các loại L/C:

    Phân loại theo loại hình:

    Ø Thư tín dụng có thể huỷ ngang.

    Ø Thư tín dụng không thể huỷ ngang.

    Phân loại theo phương thức sử dụng:

    Ø  Thư tín dụng không huỷ ngang có giá trị trực tiếp.

    • Thư tín dụng không huỷ ngang có giá trị chiết khấu.
    • Thư tín dụng không huỷ ngang và không xác nhận.
    • Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận.
    • Thư tín dụng tuần hoàn.
    • Thư tín dụng có điều khoản đỏ.
    • Thư tín dụng dự phòng.
    • Thư tín dụng chuyển nhượng.
    • Thư tín dụng giáp lưng.

    Phân loại theo thời hạn thanh toán:

    • Thư tín dụng trả ngay.
    • Thư tín dụng trả chậm.

    Một số loại thư tín dụng thường được sử dụng trong thực tế:

    • Thư tín dụng có thể huỷ bỏ: là loại L/C mà ngân hàng mở L/C và người nhập khẩu có thể sửa đổi, bổ sung hoặc có thể huỷ bỏ L/C bất co lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C (ít được sử dụng).
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ: là loại L/C sau khi được mở thì ngân hàng và người nhập khẩu không được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời gian hiệu lực của nó trừ khi có sự thoả thuận khác của nhà xuất khẩu và các bên tham gia L/C (được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế vì nó đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu).
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận:là loại L/C có bảo đảm cho việc thanh toán từ một ngân hàng có uy tín nào đó trong trường hợp việc thanh toán có vấn đề từ phía người mua hoặc ngân hàng mở L/C. Thư tín dụng có xác nhận được phát hành trong trường hợp người bán hoặc ngân hàng của người bán nghi ngờ vào khả năng thanh toán của ngân hàng phục vụ người mua do nhiều nguyên nhân. Trách nhiệm của ngân hàng xác nhận nặng hơn ngân hàng mở L/C. Loại L/C này đảm bảo nhất cho quyền lợi người xuất khẩu.
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ, miễn truy đòi: là loại L/C mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại tiền.
    • Thư tín dụng tuần hoàn: là loại L/C mà người hưởng lợi sau khi sử dung xong hoặc đã hết thời han hiệu lực thì nó tự động có giá trị như cũ có giá trị như cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá tri hợp đồng được thực hiện hoàn tất.

    Loại L/C tuần hoàn không tích lũy (Nocummulative revolving L/C):là loại L/C không cho phép chuyển trị giá L/C trước vào trị giá L/C sau.

    Còn nếu xét theo cách tuần hoàn,thì L/C tuần hoàn chia làm 3 cách tuần hoàn:

    • L/C tuần hoàn tự động:có nghĩa là nếu L/C trước hết thời hạn thì L/C sau tự động có giá trị mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C.
    • L/C tuần hoàn không tự động:có nghĩa là nếu L/C sau muốn có giá trị thì phải có sự thông báo của ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu.
    • L/C tuần hoàn bán tự động:có nghĩa là nếu sau ngày kể từ ngày L/C trước hết hiệu lực hoặc đã sử dụng hết giá trị L/C mà không có ý kiến thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì L/C tự động có hiệu lực.

    Loại L/C tuần hoàn thường ít được sử dụng trong ngoại thương vì không có sự đảm bảo chắc chắn về thanh toán.Tuy nhiên loại L/C này được áp dụng với hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không thay đổi.

    • Thư tín dụng dự phòng (standby Letter of Credit)

    Standby L/C là một loại văn bản do ngân hàng phát hành theo chỉ thị của người yêu cầu mở tín dụng cam kết thanh toán cho người thụ hưởng,trong thời hạn hiệu lực của tín dụng,khi người thụ hưởng xuất trình các loại chứng từ sau:

    • Chứng từ yêu cầu thanh toán.
    • Chứng từ chứng minh việc không thực hiện hợp đồng của người yêu cầu mở tín dụng.

    Phân loại L/C standby:

    L/C standby dạng bảo lãnh tài chính:ngân hàng cam kết sẽ hoàn trả cho người thụ hưởng những khoản tiền ứng trước,những khoản tiền đã cho vay..khi người yêu cầu mở L/C không hoàn thành nghĩa vụ với người thụ hưởng.

    L/C standby bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ:trong đó ngân hàng sẽ cam kết trả tiền cho người thụ hưởng những khoản tiền đã cam kết,khi người yêu cầu mở L/C standby không hoàn thành nghĩa vụ cho họ.

    Phạm vi ứng dụng của L/C standby:

    L/C standby được sử dụng như một bảo lãnh ngân hàng để đảm bảo cho những khoản tiền vay trong xây dựng,đảm bảo khoản tiền ứng trước,đảm bảo việc thực hiện hợp đồng thương mại, hợp đồng gia công, hợp đồng đầu tư liên doanh,tham gia dự thầu…

    Sơ đồ phát hành L/C Standby:

    • Thư tín dụng thanh toán dần dần:

    Là loại L/C không thể hủy ngang,trong đó ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người thụ hưởng sẽ thanh toán làm nhiều lần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạn hiệu lực được quy định rõ.

    • Thư tín dụng ứng trước:

    Là loại L/C mà trong đó quy định một khoản tiền được ứng trước cho người xuất khẩu vào một thời điểm định trước cho người xuất khẩu vào một thời điểm nhất định trước khi bộ chứng từ hàng hóa được xuất trình.

    • Thư tín dụng chuyển nhượng:

    Là loại L/C không thể hủy bỏ,trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng thụ đầu tiên. L/C chuyển nhượng chỉ được phép chuyển nhượng một lần.chi phí chuyển nhượng thường là do người hưởng lợi đầu tiên phải trả.

    L/C chuyển nhượng được sử dụng trong các trường hợp mua bán tay ba,gồm:người mua,người bán,người mua bán trung gian.

    Sơ đồ quy trình hoạt động của L/C chuyển nhượng :

    Cách mở một L/C chuyển nhượng

    1.kí hợp đồng ngoại thương.

    2.yêu cầu mở L/C chuyển nhượng.

    3.L/C chuyển nhượng được mở.

    4.thông báo L/C gốc cho người kinh doanh.

    5.lệnh chuyển nhượng.

    6.chuyển nhượng L/C.

    7.thông báo L/C cho người thụ hưởng 2

     

          Ø   Thư tín dụng giáp lưng (Back to back Letter of Credit)

    Là loại L/C được mở dựa vào 1 L/C khác, nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, người kinh doanh dùng L/C này làm căn cứ để mở L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống L/C ban đầu.

    L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng. Thường được người kinh doanh sử dụng để thanh toán với người cung cấp hàng hóa cho mình để xuất khẩu.

    L/C giáp lưng sử dụng trong những trường hợp :

    • Khi “L/C gốc” (master L/C”) mở ra không có từ “chuyển nhượng” (“Transferable”).
    • Khi điều khoản của L/C không cho phép chuyển nhượng (theo điều 48 UCP500 mặc dù nó là L/C chuyển nhượng).
    • Khi điều khoản giao hàng khác nhau.
    • Khi NH đồng ý mở L/C đối trên một cơ sở L/C gốc.
    • Khi các chứng từ cần có theo “L/C gốc” không trùng khớp với các chứng từ được xuất trình theo “L/C đối” (Counter L/C) còn gọi là L/C giáp lưng.
    • Khi người cung cấp hàng hóa không được thông báo về tất cả điều khoản giao hàng.
    • Khi người cung cấpkhông được thông báo về tất cả các chi tiết.

    Chú ý : L/C giáp lưng không thể chuyển nhượng. Cả L/C gốc và giáp lưng phải thông qua một ngân hàng trực tiếp phục vụ người kinh doanh.

    Cách mở một L/C giáp lưng

    1. Các hợp đồng XNk được kí.
    2. Người mua yêu cấu mở L/C gốc.
    3. L/C gốc được mở.
    4. Thông báo L/C gốc cho người kinh doanh.
    5. Người kinh doanh làm đơn mở L/C giáp lưng.
    6. L/C giáp lưng được mở.
    7. Thông báo L/C giáp lưng cho người bán

    Hoạt động của L/C giáp lưng

    1. Giao hàng.
    2. Người bán xuất trình chứng từ để thanh toán.
    3. Chuyển chứng từ về NH trung gian.
    4. Thông báo chứng từ cho người kinh doanh trung gian.
    5. Đổi chứng từ.
    6. Chuyển chứng từ cho NH mở L/C gốc.
    7. Yêu cầu người mua thanh toán để được nhận chứng từ.
    8. Người mua chấp nhận thanh toán, nhận chứng từ.
    9. Chuyển tiền thah toán L/C gốc.
    10. Báo Có cho người kinh doanh trung gian.
    11. Chuyển tiền thanh toán L/C giáp lưng.
    12. Báo Có cho người bán.

                  Ø Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal Letter of Credit)

     

    Là loại L/C được qui định chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra.

    Trong L/C ban đầu ghi” L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để cho người mở L/C này hưởng” và L/C đối ứng ghi” L/C này đối ứng với L/C số … mở ngày …qua nhân hàng …”.

    L/C đối ứng sử dụng trong mua bán trên cơ sở hàng đổi hàng (barter), hoặc để thanh toán trong phương thức gia công quốc tế.

     

     

    Sơ đồ thư tín dụng đối ứng:

    Một số phân loại cần chú ý khác:

    Ø Thư tín dụng thanh toán (Payment Credits)

    L/C được phát hành trong đó qui định được ngân hàng thanh toán (Paying bank) trả ngay khi xuất trình hối phiếu (nếu có) và những chứng từ tại NH thanh toán với điều kiện và điều khoản của L/C.

    Thanh toán ngay tức là thanh toán trong một thời gian hợp lý để kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với điều kiện và điều khoản của L/C. UCP 500, điều 13(b) , 6 ngày, UCP 400, điều 16(c) từ 36 h đến 30 ngày.

    ØThư tín dụng chấp nhận : (Acceptance credits) là loại cho phép trả chậm bằng cách qui định hối phiếu có kỳ hạn ký phát đòi tiền NH chấp nhận.

    ØThư tín dụng thương lượng : (Negotiation credits) là loại có hối phiếu ký phát đòi tiền NH phát hành hoặc người mua. Trừ khi L/C bắt buộc thương lượng tại 1 NH cụ thể thì bất cứ NH nào cũng được phép thương lượng.

    ØThư tín dụng nhờ thu : (Collection credits) Loại này phát hành theo mẫu thông thường, chỉ rõ rằng có hiệu lực thanh toán tại NH phát hành. Không ủy quyền cho bất cứ NH nào khác và cũng không có điều kiện bồi hoàn. NH chỉ đòng vai trò đại lý nhờ thu.

    Ø Thư tín dụng có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện ( TTR Credits – Telegrafic transfer Reimbursement) là L/C cho phép NH phục vụ người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ với điều kiện và điều khoản của L/C sẽ được phép đánh điện đòi tiền NH phát hành hay NH chỉ định trong L/C.

    Đặc điểm là tốc độ thanh toán nhanh.

    Điều kiện áp dụng : Người bán có quan hệ làm ăn lâu dài và có uy tín với người mua , điều kiện vận tải, giao nhận tốt.

    Ø Thư tín dụng không có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện (Non – TTR Credits) L/C không cho phép đòi tiền bằng điện. NH phát hành hay một NH khác được chỉ định chỉ tiến hành thanh toán sau khi kiểm tra bộ chứng từ và bảo đảm bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C.

    • Thư tín dụng có đều khoản cho phép hoàn trả bằng điện ( Telegraphic Transfer Reimbursement ) :

    Là L/C  cho phép ngân hàng phục vụ người hưởng thụ sau khi kiểm tra tình hợp lệ của bộ chứng từ với những điều kiện và điều khoản của L/C sẽ được phép đánh điện đòi tiền của ngân hàng  hay một ngân hàng được chỉ định trong L/C.( “Thanh toán tại quầy”)

    Đăc điểm : Tốc độ thanh toán rất nhanh.

    Điều kiện áp dụng:

    • Khi người bán có quan hệ làm ăn lâu dài và có uy tín với người mua.
    • Điều kiện vận tải, giao nhận tốt.

    Ø  Thư tín dụng không có điều khoản cho phép hoàn trả bằng điện (Non – Telegraphic Transfer Reimbursement ) : là L/C không cho phép đòi tiền bằng điện , nghĩa là NH phát hành hay một NH khác được chỉ định tiến hành thanh toán sau khi kiểm tra một bộ chứng từ và bảo đảm rằng bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C.

    7.4.  Vận dụng:

    a)Đối với nhà xuất khẩu:

    1. Kiểm tra L/C :

    Kiểm tra L/C là khâu cực kì quan trọng trong việc thực hiện phương thức tín dụng chứng từ.

    Các nội dung cần kiểm tra kĩ:

    1. Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C.
    2. Tên NH mở L/C ( opening/ issuing bank ).
    3. Tên, địa chỉ NH thông báo ( Advíing bank), NH trả tiền (Negotiating/ paying bank ), NH xác nhận (Confirming bank ).
    4. Tên, địa chỉ người hưởng thụ, (Beneciary/ in favour of …).
    5. Tên, địa chỉ của người yêu cầu mở L/C (Applicant).
    6. Số tiền của L/C.
    7. Loại L/C.
    8. Ngày, địa điểm hết hiệu lực của L/C(Expiry date)..
    9. Thời hạn giao hàng (Shipment date/ time of delivery).
    10. Cách giao hàng.
    11. Cách vận tải.
    12. Phần mô tả hàng hoá.
    13. Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình
    1. Lập bộ chứng từ thanh toán : Cẩn thận, sao cho hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của L/C.

    Các sai biệt thông thường theo báo cáo của NH:

    • Các vấn đề liên quan đến tín dụng thư.
    • Các vấn đề liên quan đến vận đơn.
    • Các vấn đề liên quan đến chứng từ thư bảo hiểm.
    • Sai biệt giữa các chứng từ.
    1. Chiết khấu chứng từ:

    Là một kĩ thuật cấp tín dụng ngắn hạn của NH cho người xuất khẩu, trong đó người xuất khẩu chuyển nhượng quyền sở hữu toàn bộ chứng từ thanh toán chưa đáo hạn, chưa được thanh toán cho  NH để đổi lấy một khoản tiền nhỏ hơn giá trị của bộ chứng từ.

    Bộ hồ sơ gồm:

    • Thư yêu cầu thanh toán đề nghị chiết khấu phải có đầy đủ chữ kí của Chủ tài khoảnvà Kế toán trưởng (nếu có đăng kí chữ kí của KTT).
    • Bản liệt kê các chứng từ nộp cho NH.
    • Bộ chứng từ xin chiết khấu.

    Công thức tinh lãi suất chiết khấu:

    LCK=    V x D x IR

     360 x100

    Trong đó

     

                    LCK : Trị giá tiền lãi chiết khấu

                    V  :Trị giá tiền ứng trước

                    D :Thời hạn chiết khấu

                    IR :Lãi suất cho vay ( %năm)

     

    1. b) Đối với nhà nhập khẩu:
    2. Cách thức mở L/C:
    • Điều kiện để mở L/C(tại Vietcombank HCM):

    Đối với các doanh nghiệp trong nước cần có :

    • Giấy chứng nhận đăng kí của doanh nghiệp( bản sao có dấu công chứng nộp 1 lần).
    • Giấy chứng nhận đăng kí mã số doanh nghiệp kinh doanh XNK (bản sao có dấu công chứng, nộp 1 lần).
    • Đối với nhóm hàng xuát khẩu có điều kiện( theo Quy định của pháp luật) thì cần xuất trình những giấy phép theo định.
    • Đối vơí chi nhánh thì cần xuất trình giấy uỷ quyền.

    Đối với doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài cần có:

    • Giấy phép đầu tư (bản sao công chứng, nộp 1 lần ).
    • Văn bản phê duyệt kế hoạch XNK của Bộ thương mại( bản chính còn hiệu lực).

    Ngoài những điều kiện trên, điều kiện tiên quyết phải có tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng.

    • Cách thức mở L/C:

    Những giấy tờ cần xuất trình(nộp )khi đến NH xin mở L/C:

    Đối với L/C trả ngay, theo điều 18 QĐ 29, khách hàng cần xuất trình đầy đủ các giấy tờ sau:

    • Thư yêu cầu phát hành L/C theo mẫu.
    • 1 bản sao Hợp đồng ngoai thương / giấy tờ có giá trị tương đương.

    Đối với các L/C trả chậm, cần nộp:

    • Các giấy tờ ở mục trên.
    • Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá bản sao/ giấy tờ có giả trị tương đương.
    • Phương án kinh doanh, Thanh toán.
    • Thư yêu cầu phát hành L/C theo mẫu.

    2.Đơn xin mở L/C: (theo mẫu in sẵn ở NH) gồm:

    1. Loại L/C.
    2. Người mở L/C: tên , địa chỉ đầy đủ của đơn vị.
    3. Người hưởng lợi: tên, địa chỉ đầy đủ.
    4. Số tiền L/C.
    5. Điều kiện cơ sở giao hàng.
    6. Quy định các chứng từ phải xuất trình.
    7. Quy định về hàng hoá.
    8. Địa điểm giao hàng.
    9. Thời hạn giao hàng.
    10. Điều kiện về hàng.
    11. Bao bì đóng gói, ký mã hiệu.
    12. Thời hạn nộp chứng từ.
    13. Chỉ thị cho NH thương lượng: nêu những yêu càu đối vơí việc thanh toán cho lô hàng nhập khẩu sắp tới kể cả chi phí.
    14. Tỷ lệ kí quỹ.
    • Những lưu ý khi mở L/C:
      • Lập L/C phải chính xác.
      • Điều kiện ràng buộc phải chặt chẽ.
      • Tôn trọng điều khoản trong hợp đồng, tránh mâu thuẫn.
      • Đơn xin mở L/C không ghi ngày mở, NH sẽ mở sớm nhất có thể được,nếu không L/C sẽ bị chậm lại cho đến khi hoàn thành xong các thủ tục kí quỹ hoặc sửa mọi sai sót trong đơn.
    1. Kí quỹ mở L/C:

    Kí quỹ là một hình thức trích tiền trong tài khoản lưu thông chuyển qua một tài khoản đặc biệt gọi là tài khoản kí quỹ – tài khoản này không có quyền được tự ý rút tiền ra ,để tiền vào – số tièn đó để dành thanh toán 1 L/C đã mở.

    «  Đối với L/C A/S:

    Phân loại khách hàng:

    o  Loại 1: (khách ưu đãi): không phải kí quỹ.

    o  Loại 2: kí quỹ dưới 100% giá trị L/C.

    o  Loại 3: kí quỹ 100% giá trị L/C.

    Tỷ lệ kí quỹ ảnh hưởng tới quy định về B/L trong L/C, một số trường hợp sau:

    –   Full set 3/3 Bill of Lading: 3 vận đơn đều qua NH, muốn nhận hàng phải đến NH lấy vận đơn.

    –   Set 2/3 Bill of Lading: 2 vận đơn qua NH, vận đơn thứ 3tới nhà nhập khẩu.

    –   Make out to order of … bank: phải có chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng.

    –   Make out to order of  xyz: không cần chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng, chỉ cần chữ kí hậu của người gửi hàng hoặc của một người khác:

    +   Nếu doanh nghiệp kí quỹ đủ 100% thì muốn quy định vận đơn thế nào cũng được.

    +   Nếu doanh nghiệp kí quỹ X% trị giá L/C thì bắt buộc phải chọn 1 trong 2 điều kiện: Full set 3/3 Bill of Lading hoặc Set 2/3 Bill of Lading.

    «  Đối với L/C trả chậm: tỷ lệ kí quỹ thấp (10%-20% ), đối với khách quen có thể không cần kí quỹ.

    Các cách quy định:

    –   Full set 3/3 Bill of Lading: 3 vận đơn đều qua NH, muốn nhận hàng phải đến NH lấy vận đơn.

    –   Set 2/3 Bill of Lading: 2 vận đơn qua NH, vận đơn thứ 3 tới nhà nhập khẩu.

    –   Make out to order of … bank: phải có chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng.

    –   Make out to order of  xyz : không cần chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng, chỉ cần chữ kí hậu của người gửi hàng hoặc của một người khác.

    Sau khi doanh nghiệp hoàn tất thủ tục kí quỹ, NH sẽ soạn L/C và mở ra ngước ngoài theo yêu càu đã ghi trong đơn xin mở L/C của nhà nhập khẩu.

    Kiểm tra và chấp nhận bộ chứng từ:

    Đây là công việc rất quan trọng, đặc biệt khi NH đã lưu ý bộ chứng từ có discrepancy, nếu vội vã chấp nhận sẽ gánh lấy những hậu quả nặng nề.

     

    VIII.   SÉC:

    8.1.   Khái niệm :

    Séc là một chứng từ có giá trị , là một lệnh vô điều kiện của chủ tài khoản ở NH đển NH của mình trả cho người cầm giữ séc hay theo lệnh của người này trả cho người thứ ba một khoản tiền được ghi rõ trong séc thong thời hạn được Pháp luật chỉ định.

    8.2.   Đặc điểm:

    Trong quan hệ, séc có ít nhất 3 chủ thể tham gia :

    –  Người phát hành: thường là người mua với điều kiện là phải có tiền trong tài khoản mở tại NH và số tiền ghi trong séc không được vượt quá số dư trong tài khoản.

    –   Người trả tiền: Ngân hàng mà người phát hành có tài khoản dư ở đó.

    –   Người hưởng lợi: thường là người bán, cung cấp dịch vụ.

    Séc thường được các NH in sẵn theo mẫu giao cho những người có tài khoản ở NH.

       Điểm chung giữa hối phiếu và séc :

    –  Bắt buộc phải thanh toán.

    –  Có thể được chuyển nhượng bằng cách kí hậu.

       Điểm khác biệt hối phiếu và séc :

    Hối phiếu Séc
    – Là công cụ tín dụng thương mại, có thể được kí phát cho bất kì người nào.

     

    – Thời hạn hiệu lực do các bên thỏa thuận.

    – Là loại hình của tín dụng NH, luôn luôn chỉ được kí phát cho NH , trong đó người kí phát phải có tài khoản.

     

    – Thời hạn hiệu lực được xác định bởi qui phạm của Luật quốc gia hoặc của Pháp luật quốc tế  (PL giới hạn hiệu lực của séc).

    Việc thanh toán theo séc có thể được bảo lãnh bởi bất kỳ một người nào ngoài người trả tiền . Việc bảo đảm thể hiện bằng từ “bảo lãnh” kèm theo chữ kí của người bảo lãnh (người thanh toán).

    8.3.  Nội dung bao gồm :

    –  Tiêu đề (tên của séc, ngôn ngữ phải phù hợp với ngôn ngữ trình bày nội dung).

    –  Lệnh séc.

    –  Tên và địa chỉ của NH trả tiền.

    –  Số tiền cần phải trả.

    –  Ngày và địa điểm phát hành.

    –  Tên, địa chỉ, chữ kí của người phát hành séc.

    8.4.  Các loại séc :

    • Phân loại theo tính lưu chuyển :

    –  Séc vô danh: không ghi rõ tên người hưởng lợi, có thể được chuyển nhượng bất kì thời điểm nào trong thời hạn còn hiệu lực và không phải kí hậu.

    –  Séc đích danh: Có ghi rõ tên người hưởng lợi, không thể chuyển nhượng.

    –  Séc theo lệnh: NH phải trả tiền cho bất kì một người nào theo lệnh của người có tên trong séc , có thể chuyển nhượng bằng cách kí hậu.

    • Phân loại theo tính sử dụng :

    –  Séc gạch chéo: trên mặt có 2 gạch chéo song song. Không dùng để rút tiền mặt mà để chuyển tiền qua tài khoản NH:

    + Séc gạch chéo thông thường: không ghi tên NH lĩnh hộ tiền.

    +Loại giữa hai gạch có ghi tên NH lĩnh hộ tiền.

    –  Séc du lịch: do NH phát hành và được thanh toán tai bất kì chi nhánh nào của NH đó. Đây không phải là phương tiện thnah toán trong hoạt động kinh doanh thương mại.

    –  Séc nhận: chỉ được thanh toán khi có xác nhận của NH.

    IX.   PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG TRADECARD:

    TradeCard là hình thức giao dịch thương mại điện tử mới, đang ngày càng phổ biến Tổ chức TradeCard đứng ra cung cấp các dịch vụ điện tử làm cầu nối giữa người mua và người bán từ khâu ký kết hợp đồng, đối chiếu hóa đơn, chứng từ đến khi thanh toán, đảm bảo giao dịch khớp đúng với hợp đồng hai bên đã ký kết. Phương thức thanh toán trong giao dịch TradeCard là phương thức chuyển tiền điện (TTR) thông qua ngân hàng được chỉ định vào tài khoản của người xuất khẩu.

    Phương thức này được tiến hành dựa trên hệ thống bảo mật thông tin cao của TradeCard, được phân quyền riêng biệt đối với người sử dụng, truy cập hệ thống bằng thẻ cá nhân do TradeCard cung cấp. Chương trình giao dịch tương đối dễ sử dụng, với giao diện web cho phép người sử dụng đăng nhập hệ thống từ nhiều phương tiện kết nối Internet khác nhau.

    Ưu điểm

    Tiết kiệm chi phí , thời gian :

    • Nhà nhập khẩu không cần ký quỹ
    • Không tốn phí mởL/C
    • Hai bên tự tu chỉnh những khác biệt , không cầnthông qua NH , không mất phí
    • Tiết kiệm chi phí turng gian khi dùng dịch vụ Logistics và Inspection
    • Hỗ trợ vốn mà không mất nhiều thời gian
    • Thiết kiệm chi phí , thời gian ;lập bộ chứng từ thanh toán
    • Thời gian nhận tiền nhanh , chính xác
    • Về khả năng được tài trợ xuất khẩu khi thanh toán bằng hình thức này, hiện tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã cung cấp sản phẩm chiết khấu theo hình thức TradeCard với tỷ lệ chiết khấu lên tới 90% và thời hạn chiết khấu tối đa 60 ngày, đảm bảo tài trợ vốn lưu động kịp thời cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

    Bảo đảm thanh toán

    • Tình hình tài chính của hai bên đều được thông báo cho tradecard và tradecard đảm bảo việc thanh toán
    • Cung cấp dịch vụ bảo vệ việc thanh toán cho người xuất khẩu thông qua CIT Comercial Services và Coface Debt Purchasing Ltd
    • dịch vụ Logistics và Inspection đảm bảo giao dịch an toàn , việc thanh toán đảm bảo

    Rủi ro thấp do được Tradecard đảm bảo

                X.   CÁC VĂN BẢN, QUY ĐỊNH ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG THANH

    TOÁN QUỐC TẾ:

    Hoạt động thanh toán quốc tế phải:

    • Tuân thủ các quy tắc do phòng thương mại Quốc tế phát hành như: UCP 500, UCR 522, URR 525, ISP 98…
    • Các điều ước quốc tế liên quan đến thanh toán quốc tế.
    • Phù hợp với quy định của chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối, các văn bản liên quan đến thanh toán quốc tế và không trái với pháp luật Việt Nam.

    10.1.   Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP-Uniform customs and practice for documentary credits).

    1. Giới thiệu chung về UCP:
      • Tại đại hội lần thứ 7 ICC tổ chức năm 1933 lần đầu tiên bản “Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (UCP).
      • ICC đã tiến hành sửa đổi UCP 5 lần, vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983, 1993 cho phu hợp với thực tiễn thương mại quốc tế và càng thêm hoàn thiện.
      • UCP là bản quy tắc mang tín chất pháp lý tùy ý, do vậy các bên sử dụng có quyền lựa chọn tùy ý, chỉ cần quy định cụ thể áp dụng UCP năm nào, tránh quy định chung chung.
      • UCP 1933 và 1951 có mục đích chính là bảo vệ ngân hàng khi các chỉ thị của người mua không đầy đủ và rõ ràng.
      • UCP 1962 nhấn mạnh nghĩa vụ của người mua phải nói rõ ràng mình muốn gì, đồng thời cũng nhấn mạnh “các tập quán quốc tế ngân hàng và các quy tắc khác làm dễ dàng việc thực hiện chức năng của ngân hàng”.
    1. Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ , bản hiệu đính 1993, ấn phẩm số 500 của Phòng thương mại Quốc tế. Gọi tắc : UCP 500

    Gồm 49 điều khoản chia làm 5 phần :

    A – Những qui định chung và định nghĩa (điều 1-5)

    B – Những hình thức và thông báo L/C (6-12)

    C – Nghĩa vụ và trách nhiệm (13-19)

    D – Chứng từ (20-38)

    E – Những điều khoản khác (39-49)

    1. c) Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ , bản hiệu chỉnh 2007 , ấn phẩm số 600 của Phòng thương mại Quốc tế . Gọi tắc : UCP 600

    Được trình bày đơn giản , ngắn gọn hơn UCP 500, gồm 39 điều khoản

    10.2.   “Quy tắc thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu” (URC – The Uniform Rules for Collection , ICC Pub No 522 , 1995 Evision) hiệu lực 1/1/1996

    URC 522 có 26 điều , chia làm 7 phần

    A – Những qui định chung và định nghĩa chung (điều 1-3)

    B – Những hình thức và nội dung nhờ thu  ( điều 4)

    C – Hình thức xuất trình (5-8)

    D – Nghĩa vụ và trách nhiệm (9-15)

    E – Thanh toán (16-19)

    F – Lãi suất và chi phí phát sinh (20-21)

    G – Các quy định khác (22-26)

    10.3.   “Quy tắc thống nhất hoàn trả liên hàng theo tín dụng chứng từ” (URR 525 – The Uniform Rules for Bank – to – Bank Reimbursement under Documentary Credit , ICC Pub N 0 525 , 1995 Revision) hiệu lực 1/7/1996

    URR có 17 điều , chia 3 phần

    A – Những qui định chung và định nghĩa chung (điều 1-3)

    B – Nghĩa vụ và trách nhiệm (4-5)

    C – Hình thức và thông báo ủy quyền , sửa đổi và đòi tiền (6-17)

    10.4.Ngoài ra cần nghiên cứu thêm Quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán thư tín dụng chứng từ và nhờ thu kèm chứng từ với nước ngoài trong hệ thống NH Ngoại thương Việt Nam

     

    XI .  PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU Ở VIỆT NAM:  (2)

    Phương thức TTQT thì cơ bản chỉ có các phương thức truyền thống đã học như: LC, Open account(ghi sổ), advance payment và collection…Hầu hết các NH VN đều áp dụng các hình thức đó và họ có đủ các điều kiện để thực hiện các phương thức ấy một cách an toàn.

    XI . RỦI RO VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ:

    –    Các doanh nghiệp cần đặc biệt cảnh giác với các hợp đồng chào bán với giá quá rẻ hoặc có cước phí vận chuyển rẻ bất ngờ. Bởi những hàng hoá giá quá rẻ thường có chất lượng kém, nguồn gốc không rõ ràng. Những doanh nghiệp vận tải giá rẻ thường không đảm bảo uy tín trong việc giao hàng đúng và đủ như thoả thuận. Họ phần nhiều là những doanh nghiệp không có bảo hiểm, tài chính không lành mạnh. Với người bán (doanh nghiệp xuất khẩu) các rủi ro thường gặp là khả năng tài chính, hàng hoá không được chấp nhận, chiến tranh hoặc bạo động ở nước xuất khẩu, ngoại tệ thanh toán biến động, các luật lệ, quy định của các nước nhập khẩu không phù hợp với hàng hoá.

    –   Về lãi suất, doanh nghiệp nên cẩn trọng với các biến động khi cho vay xuất khẩu như biến động tỷ giá ngoại hối, mẫu LC từ phía ngân hàng không đúng thủ tục quốc tế…

    –   Người mua (doanh nghiệp nhập khẩu) có thể gặp rủi ro do không được giao hàng theo hợp đồng, bị giao hàng muộn, thiếu hàng, hàng giả, lừa đảo, kém phẩm chất và không đúng quy cách. Thậm chí, cả khi ngân hàng được uỷ nhiệm chiết khấu hay nhờ thu không thực hiện đúng quy cách quốc tế.

    –   Để người bán thu được tiền nhanh, đúng và đầy đủ, còn người mua là nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn, các bên tham gia mua bán hàng hoá quốc tế phải dựa vào đặc điểm của từng thương vụ mua bán mà lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp. Trong thanh toán quốc tế hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ (L/C) được sử dụng phổ biến vì độ tin cậy cao, nó đảm bảo thanh toán nhanh chóng, an toàn chính xác với sự tham gia của các ngân hàng.

    Để đảm bảo quyền lợi cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ vẫn được các bên lựa chọn hàng đầu.

    NHỮNG RỦI RO THƯỜNG GẶP CÁCH PHÒNG NGỪA TRONG THANH TOÁN = L/C ( LETTER OF CREDIT ):

    Ø   Rủi ro thanh toán do chứng từ giả, chứng từ không trung thực, mâu thuẫn giữa hàng hoá và chứng từ:

    Nếu đối tác không tin cậy hay đối tác có chủ ý “lừa đảo”, rất có thể bạn sẽ gặp rắc rối bởi những lọai giấy tờ giả. Ngoài ra, vấn đề mâu thuẫn giữa hàng và chứng từ cũng là yếu tố cần để ý, bởi rất có thể hàng hoá khi nhập khẩu sẽ bị hải quan tịch thu do không có sự trùng khớp với giấy tờ. Để tránh những rủi ro này, bạn cần:

    – Tìm hiểu bạn hàng kỹ lưỡng.

    – Tham khảo ý kiến ngân hàng về quá trình kinh doanh của đối tác..

    – Nghiên cứu kỹ quy định về điều khoản phạt trong hợp đồng (Penalty)
    – Yêu cầu cả hai bên ký quỹ tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.

    – Yêu cầu phảI đưa ra những công cụ đảm bảo an ninh thanh toán của ngân hàng như Standby L/C, Bank Guarantee, Performance Bond… (chỉ áp dụng đối với những hợp đồng lớn và khách hàng không quen biết nhau) để đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu.

    – Đưa ra các yêu cầu chặt chẽ, thống nhất giữa nội dung và hình thức chứng từ, không yêu cầu chung chung.

    – Chứng từ phải do các cơ quan đáng tin cậy cấp.

    – Vận đơn do hãng tàu đích danh lập. Khi xếp hàng hoá phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu (đối với lô hàng có giá trị lớn).

    – Ðề nghị nhà xuất khẩu gửi thẳng 1/3 bộ vận đơn gốc (bản chính).

    – Hoá đơn thương mại đòi hỏi phải có sự xác nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của Phòng Thương mại hoặc hoá đơn lãnh sự (Consulars invoice).

    – Giấy chứng nhận chất lượng do cơ quan có uy tín ở nước xuất khẩu cấp.
    – Giấy chứng nhận số lượng cũng phải có sự kiểm tra, giám sát của đại diện phía mình hoặc đại diện thương mại.

    – Cung cấp giấy chứng nhận kiểm tra (Certificate of inspection).

    Các rủi ro khác như lựa chọn hãng tàu không tin cậy, hư hỏng hàng hoá do xếp hàng không đúng quy định,…

    Ø    Phương thức thanh toán qua L/C luôn có thể phát sinh nhiều rủi ro. Do đó, bạn cần có những biện pháp tránh rủi ro như:

    – Giành quyền chủ động thuê tàu (nhập khẩu theo điều kiện nhóm F của Incoterm – Bản quy định về các điều kiện thương mại quốc tế của ICC).

    – Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhập khẩu.

    – Mua bảo hiểm cho hàng hoá.

    – Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed… của Incoterm.

    Nhìn chung, trong các cuộc giao thương quốc tế ngày nay, thanh toán theo L/C luôn là phương thức thanh toán quan trọng nhất giữa những đối tác kinh doanh bởi L/C tạo ra sự an tâm và thuận lợi tối đa cho các công ty. Nhưng dù an toàn và tiện lợi đến mấy thì thanh toán qua L/C vẫn không thể tránh khỏi các rủi ro và tranh chấp phát sinh. Bạn cần sớm chuẩn bị cho mình những kiến thức về L/C đồng thời lường trước được những rủi ro trong quá trình thanh toán L/C. Có thế việc mua bán hàng hoá mới diễn ra nhanh gọn và L/C sẽ thực sự trở nên hiệu quả.

    (Nguồn: Các ví dụ và bài học kinh nghiệm được lấy từ www.unctad.com và www.uncitral.com).

    XII .SWOT (3)

    1 )Thư tín dụng (L/C):

    Điểm mạnh: khi 2 bên thiếu tin tưởng lẫn nhau, phương thức tín dụng chứng từ giúp 2 bên yên tâm về quyền lợi của mình. Thanh toán bằng L/C là một phương thức tương đối an toàn cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu. Nói tóm lại L/C với nội dung phù hợp với hợp đồng cơ sở và không trái luật áp dụng sẽ bảo đảm quyền lợi cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu.
    Ø   Lợi ích đối với người xuất khẩu:
    + NH sẽ thực hiện thanh toán đúng như qui định trong thư tín dụng bất kể việc người mua có muốn trả tiền hay không.
    + Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa.
    + Khi chứng từ được chuyển đến NH phát hành, việc thanh toán được tiến hành ngay hoặc vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm).
    + KH có thể đề nghị chiết khấu L/C để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng.
    Ø   Lợi ích đối với người nhập khẩu:
    +  Chỉ khi hàng hóa thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả tiền.
    +  Người nhập khẩu có thể yên tâm là người xuất khẩu sẽ phải làm tất cả những gì theo qui định trong L/C để đảm bảo việc người xuất khẩu sẽ được thanh toán tiền (nếu không người xuất khẩu sẽ mất tiền).
    Ø  Lợi ích đối với Ngân hàng:
    + Được thu phí dịch vụ (phí mở L/C, phí chuyển tiền, phí thanh toán hộ…)– đại khái là có tiền.
    + Mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.
    Ưu điểm của L/C là đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên tham gia (kể cả Ngân hàng).

    – Điểm yếu: hơi rườm rà trong thực hiện.

    Ø Người nhập khẩu:

    + Ngân hàng phát hành không thực hiện việc thanh toán.

    + Rủi ro do quốc gia của ngân hàng phát hành.

    + Rủi ro trong vận tải.

    + Rủi ro do biến động tỷ giá.

    + Rủi ro do chứng từ không chính xác.

    + Rủi ro do tín dụng thư bị huỷ ngang.

    Ø Người xuất khẩu:

    + Khi thanh toán bằng L/C không thể huỷ ngang thì việc người mua không thanh toán trên thực tế không thể xảy ra được bởi vì người mua khi mở L/C cho người bán trên thực tế đã giao cho người bán bảo đảm thanh toán của ngân hàng. Tuy nhiên vẫn có rủi ro do ngân hàng phát hành không thực hiện uỷ quyền do mất khả năng thanh toán hay không muốn thanh toán.

    + Khi quốc gia của ngân hàng phát hành đưa ra những hạn chế trong việc thanh toán bằng ngoại tệ thì ngân hàng phát hành có thể không thực hiện thanh toán. Vì vậy trong trường hợp này tốt nhất là sử dụng ngân hàng xác nhận nằm ở quốc gia có chính sách kinh tế ổn định, chắc chắn.

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    – Tìm hiểu bạn hàng kỹ lưỡng.
    – Tham khảo ý kiến ngân hàng về quá trình kinh doanh của người xuất khẩu.
    – Quy định trong hợp đồng điều khoản Penalty, trong đó quy định phạt bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ.
    – Yêu cầu cả hai bên ký quĩ tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.
    – Yêu cầu những công cụ của ngân hàng như: Standby L/C, Bank Guarantee, Performance Bond.. ( chỉ áp dụng đối với những hợp đồng lớn và khách hàng không quen biết nhau) để đảm bảo quyền lợi nhà nhập khẩu.
    – Yêu cầu về nội dung và hình thức chứng từ phải rất chặt chẽ, không yêu cầu chung chung.
    – Chứng từ phải do những cơ quan đáng tin cậy cấp.
    – Vận đơn do hãng tàu đích danh lập. Khi xếp hàng hoá phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu ( đối với lô hàng có giá trị lớn).
    – Ðề nghị nhà xuất khẩu gửi thẳng 1/3 bộ vận đơn gốc ( bản chính) thẳng tới nhà nhập khẩu.
    – Hoá đơn thương mại đòi hỏi phải có sự xác nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của Phòng Thương mại hoặc hoá đơn lãnh sự( Consular’s invoice).
    – Giấy chứng nhận chất lượng do cơ quan có uy tín ở nước xuất khẩu hoặc quốc tế cấp hoặc có sự giám sát kiểm tra và ký xác nhận vào giấy chứng nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu.
    – Giấy chứng nhận số lượng cũng phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc đại diện thương mại Việt Nam.
    – Cung cấp giấy chứng nhận kiểm tra( Certificate of inspection).
    – Giành quyền chủ động thuê tàu( nhập khẩu theo điều kiện nhóm F).
    – Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhà nhập khẩu.
    – Mua bảo hiểm cho hàng hoá.
    – Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed…

    • Thách thức: nếu có sự không phù hợp giữa L/C và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà nhà xuất khẩu không phát hiện ra được mà cứ tiếp tục giao hàng thì nhà xuất khẩu sẽ khó đòi được tiền hoặc ngược lại nếu từ chối giao hàng thì vi phạm hợp đồng. Đòi hỏi người tham gia thanh toán L/C phải nắm rõ luật của các khâu trong thanh toán L/C một cách chình xác và rõ ràng.
    • Cơ hội: khi có sai sót hay cần chỉnh sửa trong L/C thì có thể tu chỉnh L/C thông qua việc đàm phán với người yêu cầu mở L/C.

    2)Phương thức chuyển tiền (remittance):

    – Điểm mạnh: nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất khẩu cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu.

    – Điểm yếu: nhưng lại là rủi ro của nhà xuất khẩu khi mà hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng không được thanh toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.Tuy vậy, bên nhập khẩu cũng có thể gánh chịu rủi ro, đặc biệt trong trường hợp chuyển tiền trước khi giao hàng như: nhận toàn bộ tiền hàng trước khi giao hàng, đặt cọc, tạm ứng,…Trong trường hợp này nhà nhập khẩu có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro nếu tiền đã chuyển mà hàng không được giao đúng thời hạn, đúng chất lượng hoặc số lượng…

    Thách thức: cả 2 bên cần tin tưởng lẫn nhau trong trường hợp đặt cọc tiền

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    – Các bên cần xây dựng rõ lộ trình chuyển tiền: Ví dụ chuyển trước bao nhiêu % tại thời điểm nào; Thanh toán nốt phần còn lại tại thời điểm nào…;
    – Thỏa thuận thời điểm chuyển tiền trùng với thời điểm giao hàng;
    – Qui định rõ về phương tiện chuyển tiền, chi phí chuyển tiền ai chịu.

    3) Phương thức ghi sổ (open account):

    • Điểm mạnh: Phương thức này hoàn toàn có lợi cho nhà nhập khẩu (người được ghi sổ).
    • Điểm yếu: Nhà xuất khẩu sẽ phải gánh chịu rủi ro khi bên nhập khẩu không thanh toán hoặc chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.

     Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    Để hạn chế rủi ro, chỉ áp dụng phương thức này khi cả hai bên là các bạn hàng có mối quan hệ làm ăn lâu dài, thực sự tin cậy lẫn nhau. Để bảo đảm an toàn cho nhà xuất khẩu, các bên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm như thư bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng dự phòng, đặt cọc…

    4)Phương thức nhờ thu (collection):

    1. Nhờ thu trơn (clean collection):

    –   Điểm mạnh: có lợi cho nhà nhập khẩu.

    –   Điểm yếu: Nhà xuất khẩu giao hàng và gửi trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Như vậy thông thường hoạt động này diễn ra trước thời điểm thanh toán. Đây có thể là một bất lợi cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán tiền hàng nhưng đã nắm giữ được chứng từ để nhận hàng từ nhà chuyên chở nhưng sau đó cố ý chiếm dụng vốn, thanh toán chậm, thiếu, từ chối thanh toán. Ngân hàng chỉ là một tổ chức trung gian thu hộ và có thể bị nhà nhập khẩu từ chối.

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    Chỉ nên áp dụng khi cả hai bên là đối tác tin cậy của nhau, đồng thời trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần có các chế tài nghiêm ngặt để bảo đảm nhà nhập khẩu thanh toán.

    1. Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection):

      –   Điểm mạnh: Nhà xuất khẩu không giao trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu phải trả tiền thì Ngân hàng mới giao chứng từ để mang chứng từ đi nhận hàng. Như vậy, phương thức này bảo vệ được lợi ích của nhà xuất khẩu, tránh được tình trạng bị nhà nhập khẩu chiếm dụng vốn, chậm thanh toán, thanh toán không đầy đủ hoặc từ chối thanh toán.

     –   Điểm yếu: không có lợi cho nhà nhập khẩu. (Tổng hợp từ http://www.cfo.vn/forum/viewtopic.php?f=37&t=631)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng tóm tắt ưu và nhược điểm của các hình thức thanh toán trong nghiệp vụ mua bán quốc tế

    Một số dịch vụ thanh toán quốc tế do một số Ngân hàng tại Việt Nam cung cấp

     

    (trích từ  http://tinkinhte.jcapt.com/nd5/detail/cong-nghiep/thu-cong-my-nghe-qua-tang/54-phuong-thuc-thanh-toan/35144.136238.html)

     

    KẾT LUẬN  (4)

    Khi tham gia hoạt động kinh doanh trong nước hay quốc tế, cả người mua và người bán đều có một mục tiêu cơ bản khi họ thống nhất với nhau một phương án thanh toán đó là :

    – Người mua sẽ nhận được hàng mà họ đã đặt mua.
    – Người bán sẽ được trả đủ số tiền đã thống nhất đúng hạn.


    Trong khi việc tiến hành các giao dịch thương mại trong nội địa mỗi quốc gia dường như có vẻ đơn giản và thuận tiện thì việc tiến hành các vụ giao dịch quốc tế có vẻ như là phức tạp và có nguy cơ rủi ro cao. Đặc biệt sự xa cách về địa lý, ngôn ngữ, thông tục, luật lệt và các khác biệt về tập quán thương mại khiến cho bạn khó tiếp cận với vũ đài quốc tế.

    Hiểu rõ được các phương thức thanh toán quốc tế sẽ giúp cho bạn vượt qua những khó khăn mà bạn thường xuyên gặp trong thương mại quốc tế .

    Có 4 phương pháp thanh toán quốc tế cơn bản, mỗi một phương pháp khác nhau sẽ giúp bảo vệ bạn an ở mức độ an toàn khác nhau và chi phí cũng khác nhau. Chọn phươn pháp nào là tuy thuộn vào mối quan hệ của bạn với đối tác của mình, tuy thuộc vào mức độ rủi ro của giao dịch và trong một số trường hợp thì tuỳ thuộc vào quy định của quốc gia của đối tác yêu cầu.

    PHỤ LỤC

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – PSS .TS Đoàn Thị Hồng Vân – Giáo trình Kỹ thuật Ngoại thương , Nhà xuất bản Lao động – Xã hội ,2007

     

    – PGS .TS Nguyễn Văn Luyện , TS Lê Thị Bích Thọ , TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật Hợp đồng Thương mại quốc tế , Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2007

    – www.google.com


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Mẫu hợp đồng ngoại thương bằng tiếng Anh

    Mẫu hợp đồng ngoại thương bằng tiếng Anh

    Mẫu hợp đồng ngoại thương bằng tiếng Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/M%E1%BA%ABu-h%E1%BB%A3p-%C4%91%E1%BB%93ng-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-b%E1%BA%B1ng-ti%E1%BA%BFng-Anh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Mẫu hợp đồng ngoại thương bằng tiếng Anh

    SALES CONTRACT

    No.: 053/TTCB/2007

    October 3, 2007

    The Seller:      PELCO

    Add: 3500 Pelco Way, Clovis, California, 93612-5699, USA

    Tel: 559 2921981

    Fax: 800 2899150

    Acct No: 4945-020923 at Wells Fargo Bank.

    Represented by: Ms. Maixeye Vue – International Account Specialist

     

    The Buyer:     T & T CO., LTD.

    Add: 258 bis Tran Hung Dao St., Dist.1, Ho Chi Minh City, Viet Nam

    Acct No.: 007.1.37.008.594.5 (USD) at Bank for Foreign Trade of Vietnam-Ho Chi                         Minh City Branch

    Tel: 84 8 9203040

    Fax: 84 8 9203043

    Represented by: Mr. Hoang Qui Hop – General Manager

    It has been agreed that the Buyer buys and the Seller sells on the terms and conditions as follows:

    1.     Commodity – Quantity – Price:

    • Trade Terms : Ex – Work Clovis USA
    • 100 % Brand new
    • Year of production: 2007

    2.     Payment:

    By T/T 100% before shipment

    Seller account:

    Wells Fargo Bank – 420 Montgomery – San Francisco, CA, USA

    SWIFT: WFBIUS6S

    ABA#: 1210-0024-8

    ACCOUNT: 4945-020923

    • Buyer account: 007.1.37.008.594.5 (USD) at Bank for Foreign Trade of Vietnam-Ho Chi Minh City Branch.

     

     

    3.     Shipment:

    1. Mode of shipment: Airfreight collect arranged by T&T Co., Ltd
    2. Partial shipment: not allowed
    3. Shipping date: 4 weeks from TT date.
    4. Port of loading: any airport in USA
    5. Port of destination: Tan Son Nhat airport – Ho Chi Minh city – VIETNAM
    6. Consignee:

    T&T Co., LTD – Ha Noi Branch  

    9 Vong Duc Street, Hoan Kiem District

    Ha Noi City

    Vietnam

    Tel: 84-4-8245116    Fax: 84-4-8245167   

    PIC: Mr. Do Minh Quan

    4.     Document:

    The seller shall send a set of the following documents to the buyer (T&T Co., Ltd.) together with the shipment:

    1. a) Air Way Bill 02 copies
    2. b) Original Commercial Invoice 02 copies
    3. c) Original Packing List 02 copies

    The seller shall send a set of the following documents to the buyer via airmail after shipment:

    1. a) Original Certificate of Origin (issued by the Chamber of Commerce) 02 copies
    2. b) Original Certificate of Quality and Quantity (issued by manufacturer) 02 copies
    3. c) Original Certificate of Warranty (issued by manufacturer) 02 copies

    5.         Warranty Period:

    The warranty period shall be 12 months after the departure of shipment.

    6.         General Terms:

    Any disputes arising around this contract shall be settled by amicable agreement between both parties.

    This contract is signed through fax and mutually agreed by both parties.

      

    On Behalf of The Seller                                                                      On Behalf of The Buyer

     

     

     

     

     

     

     

         MAIXEYE VUE                                                                              HOANG QUI HOP


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây 


  • CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tài liệu ôn thi giữa kì 90 Câu trắc nghiệm môn Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương Incoterm 2000 và Incoterm 2010


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/CH%C3%8DNH-S%C3%81CH-NGO%E1%BA%A0I-TH%C6%AF%C6%A0NG-C%E1%BB%A6A-C%C3%81C-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TR%C3%8AN-TH%E1%BA%BE-GI%E1%BB%9AI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Chương 4

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    I- Chính sách ngoại thương:

    1- Khái niệm về chính sách ngoại thương:

    Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính và pháp luật dùng để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực ngoạüi thương của một nước trong thời kỳ nhất định.

    Chính sách ngoại thương là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế của một nước, nó góp phần thúc đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ. Mục tiêu phát triển kinh tế của một đất nước trong từng thời kỳ có khác nhau, cho nên đường lối chính sách ngoạ i thương phải thay đổi để đạ t được những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế. Không có chính sách ngoại thương áp dụng cho mọi thời kỳ phát triển kinh t ế. Tuy nhiên, các chính sách ngoại thương đều có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và bành trướng ra bên ngoài.

    Mỗi nước đề u có những đặc thù chính trị, kinh tế – xã hội và điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế, vì vậy mỗi nước đều có chính sách phát triển ngoại thương riêng với các biện pháp cụ thể

    2- Ý nghĩa của việc nghiên cứu chính sách ngoại

    TOP

     
    thương:
       

    Đối với các nhà quản lý và doanh nghiệp của sản xuất và thương mại, việc nghiên cứu chính sách ngoại thương của các nước có ý nghĩa quan trọng:

    • Giúp rút ra những kinh nghiệm về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách ngoại thương của đất nước một cách có khoa học và hiệu quả nhất.
    • Nắm rõ chính sách ngoại thương của các nước mới tìm cách xâm nhập và phát triển thị trường, chọn thị trường thích hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương.
    • Giúp các nhà lãnh đạo ở tầm vĩ mô xây dựng chính sách đối ngoại song phương và đa phương phù hợp.
    • Riêng đối với môn học, việc nghiên cứu chính sách ngoại thương sẽ giúp học viên khái quát được chính sách ngoạüi thương trên thế giới và cụ thể những nước thường có quan hệ mậu dịch với nước ta, từ đó có kiến thức cơ bản để hiểu rõ hơn chính sách ngoại thương của nhà nước, tạo điều kiện vận dụng làm tốt công tác chuyên môn trong lĩnh vực ngoại thương.

    3- Các phương pháp áp dụng trong chính sách ngoại

    TOP

     
    thương
       

    :

    Phương pháp ở đây có nghĩa là cách thức thực hiện những mục tiêu mà chính sách ngoại thương đề ra thông qua việc lựa chọn những biện pháp áp dụng thích hợp. Có hai phương pháp:

    • Phương pháp tự định: Nhà nước tự mình quyết định những biện pháp ngoại thương khác nhau với mức độ khác nhau trong các quan hệ buôn bán với nước ngoài.

    Cơ sở để thực hiện phương pháp tự định là quyền độc lập, tự chủ, tự quyết của mỗi quốc gia. Các chính phủ căn cứ vào tình hình kinh tế trong và ngoài nước để đưa ra các biện pháp thuế quan, hạn chế về số lượng, các biện pháp tài chính tiền tệ phi thuế quan… đối với từng ngành hàng, từng quan hệ buôn bán với nước ngoài với mức độ khác nhau để thực hiện các mục tiêu ngoại thương đề ra.

    Trong xu thế nhất thể hóa khu vực và toàn cầu như hiện nay, phương pháp tự định đang giảm dần vai trò của mình trong việc xây dựng chính sách ngoại thương của từng nước. Tuy nhiên, nó vẫn được xây dựng ở các quốc gia có nền kinh tế mạnh, chi phối quan hệ kinh tế tài chính toàn cầu như Mỹ.

    • Phương pháp thương lượng: Nhà nước thực hiện thương lượng với các bên tham gia quan hệ buôn bán thỏa thuận. lựa chọn các biện pháp và mức độ áp dụng nó vào quan hệ buôn bán lẫn nhau

    Phương pháp này được thực hiện dưới hình thức ký kết những điều ước hiệp định mậu dịch tự do song phương và đa phương. Ví dụ như 148 nước đã ký kết vào các hiệp định của tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong quan hệ buôn bán với các nước khác trên thế giới. Ngày nay, việc sử dụng phương pháp này ngày càng phổ biến, phù hợp với quy luật phát triển nhất thể hóa kinh tế khu vực và toàn cầu

    II- Các nguyên tắc điều chỉnh buôn bán TOP

     

    quốc tế:

    Có 3 nguyên tắc thường được sử dụng để điều chỉnh:

    1- Nguyên tắc tương hỗ:   TOP

    Trên nguyên tắc này các bên dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng nhau trong quan hệ mua bán.

    Mức độ ưu đãi và điều kiện nhân nhượng phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Bên yếu hơn sẽ bị lép vế và thường bị buộc phải chấp nhận những điều kiện do bên có thực lực kinh tế mạnh hơn đưa ra.

    Ngày nay, các nước ít áp dụng nguyên tắc này hơn trong quan hệ buôn bán giữa các nước.

    2- Nguyên tắc “ Tối huệ quốc “ (Most Favoured

    TOP

     
    Nation)
       
    • Nước được ưu đãi nhất:

    2.1- Khái niệm:

    Nguyên tắc “ Tối huệ quốc “ (MFN) là biểu hi ện của vi ệc “ không phân biệt đối xử “ trong quan hệ mậu dịch giữa các nước. Nó có nghĩa là các bên tham gia trong quan hệ kinh tế buôn bán sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặ c sẽ dành cho các n ước khác. Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:

    Cách thứ nhất: Tấ t cả những ưu đãi và mi ễn gi ảm mà một bên tham gia trong các quan hệ kinh tế – thương mại quốc tế đã hoặc sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào, thì cũng được dành cho bên tham gia kia được hưởng một cách không điều kiện.

    Cách thứ hai: Hàng hóa di chuyển từ một bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia sẽ không phải chịu mức thuế và các phí tổn cao hơ n, không bị chịu những thủ tục phiền hà hơn so với hàng hóa nhập khẩu từ nước thứ ba khác.

    Theo luật pháp quốc tế thì điều chủ yếu của quy chế tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền, mà là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế.

    Mục đích của việc s ử dụng nguyên tắc MFN trong buôn bán quốc tế là nhằm chống phân biệt đối xử, làm cho điều ki ện cạnh tranh giữa các bạ n hàng ngang bằng nhau, nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước phát triển. Mức độ và phạm vi áp dụng nguyên tắc MFN còn phụ thuộc vào mức độ quan hệ thân thiện giữa các nước với nhau

    2.2- Cách thức áp dụng nguyên tắc MFN:

    Nguyên tắc MFN được các nước tùy vào lợi ích kinh tế của mình mà áp dụng rất khác nhau, nhìn chung có hai cách áp dụng:

    Cách thứ nhất: Áp dụng chế độ t ối huệ quốc có điều kiện: Quốc gia được hưở ng tối huệ quốc phả i chấp nhận thực hiện những điều kiện kinh tế và chính trị do Chính phủ của quốc gia cho hưởng đòi hỏi.

    Cách thứ hai: Áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện: là nguyên tắc quốc gia này cho quốc gia khác hưởng chế độ MFN mà không kèm theo điều kiện ràng buộc nào cả.

    Để đạt được chế độ MFN của một quốc gia khác, có hai phương pháp thực hiện:

    + Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương mại

    + Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

    2.3- Chế độ tối huệ quốc dành cho các nước đang phát triển:

    Nghiên cứu chế độ tối huệ quốc cần phải nghiên cứu chế độ MFN đặc biệ t dành cho các nước chậm ti ến và đang phát triển thông qua chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (Generalized System of Preference).

    GSP là hệ thống ưu đãi về thuế quan do các nước công nghiệp phát triển dành cho một số sả n phẩm nhất định mà họ nhập khẩu từ các nước đang phát triển (gọi là các nước nhận ưu đãi).

    Lần đầu tiên Hội nghị của Liên Hiệp quốc về Thương M ại và phát triển (UNCTAD) năm 1968 thông qua việc áp d ụng hệ thống thuế quan ưu đãi chung (GSP) dành cho các nước đang phát triển t ăng khả năng xuất khẩu, mở rộng thị trường, khuyến khích phát triển công nghiệp đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của các nước này.

    Nội dung chính của chế độ GSP là:

    • Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang hoặc kém phát triển.
    • GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến

    Đặc điểm của việc áp dụng GSP:

    • Không mang tính chất cam kết: Chính sách GSP thay đổi từng thời kỳ; số nước cho ưu đãi và nhận ưu đãi không cố định. Hiện nay có đến 16 chế độ GSP bao gồm 27 nước cho ưu đãi và 128 nước, vùng lãnh thổ được nhận ưu đãi.
      • GSP chỉ dành cho các nước đang phát triển: Trong quá trình thực hiện GSP, các nước công nghiệp phát triển kiểm soát và khống chế các nước nhận ưu đãi rất chặt, biểu hiện ở cách quy định về nước được hưởng GSP. Ví dụ như EU quy định nước đang phát triển nào có thu nhập GDP tính trên đầu người cao hơn 6000USD/năm thì không còn được hưởng GSP nữa.

    Quy định đối với hàng hóa được hưởng chế độ GSP:

    Không phải bất kỳ sản phẩm nào nhập khẩu vào các nước cho hưởng từ những nước được hưởng đều được miễn hay giảm thuế theo GSP. Để được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi GSP, hàng nhập khẩu vào thị trường những nước cho hưởng phải thỏa mãn 3 điều kiện cơ bản sau:

    • Điều kiện xuất xứ từ nước được hưởng
    • Điều kiện về vận tải (ví dụ như hàng vận chuyển không qua lãnh thổ của nước thứ ba hoặc không bị mua bán, tái chế…tại nước thứ ba)
    • Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ ( chứng từ xác nhận xuất xứ From A)

    2.4- Chế độ tối huệ quốc của một số nước trên thế giới:

    2.4.1- Quy chế GSP của EU:

    Quy chế 2501/2001 của EU về GSP được áp dụng từ ngày 01/01/2002 đến

    31/12/2004 cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. So với qui chế áp dụng trong thời

    gian từ 1999 đến 2001, qui chế này đơn giản hơn, chỉ chia hàng hóa làm hai loại, nhạy

    cảm và không nhạy cảm. Các nước khác nhau sẽ được hưởng những mức thuế GSP khác

    nhau theo cách sắp xếp nhằm khuyến khích bảo vệ quyền lợi người lao động và môi

    trường … được định ra trong phụ lục I của qui chế. Cách sắp xếp các dạng khuyến khích

    được chia ra như sau:

    Danh mục chung

    Danh mục đặc biệt khuyến khích bảo hộ quyền lợi người lao động

    Danh mục đặc biệt khuyến khích bảo vệ môi trường Danh mục đặc biệt cho các nước chậm phát triển nhất

    Danh mục đặ c biệt khuyến khích đấu tranh chống sản xuất và vận chuyển ma túy. Các nước được hưởng GSP của EU chủ yếu là các nước G77 và các nước chậm

    phát triển nhất LDC. Ngoài ra, các LDC được hưởng những ưu đãi đặc biệt hơn, tương thích với chương trình EBA (Everything But Arms) của EU dành ưu tiên thuế quan và không áp đặt hạ n ngạch mọi mặt hàng trừ vũ khí và đạn dược; riêng chuối tươ i, g ạo và đườ ng áp dụng hạ n ngạch với số lượng tăng dần và bỏ hẳn vào các năm 2006 và 2009 cho 49 nước chậm phát triển nhất.

    Mỗi danh mục GSP khác nhau bao gồm nhiều loạ i sản phẩm khác nhau, các nước nằm trong danh mục khác nhau sẽ nhận ưu đãi thuế quan khác nhau cho cùng một mặt hàng.

    Các nước nằm trong danh mục chung sẽ được hưởng GSP 7000 mặt hàng (trong 10.300 dòng hàng của biểu thuế quan, trong đó có 2.100 mặt hàng thuế suất MFN đã là 0%), trong đó có khoảng 3.300 mặt hàng không nhạy cảm và 3.700 mặt hàng nhạy cảm, dĩ nhiên GSP cũng loại trừ hàng hóa chương 93 trong biểu thuế, vũ khí và đạn dược.

    Riêng các LDC đượ c khoảng 8.200 mặt hàng. Các nướ c trong danh mục đặc biệt sẽ được hưởng ưu đãi nhiều hơn so với trong danh mục chung, ví dụ như các nước thuộc diện khuyến khích không sản xuất và vận chuyển ma túy, được miễn thuế hoàn toàn đối với sản phẩm nông nghiệp (chương 1 đến chương 24) là những mặt hàng trong danh mục chung được phân là “nhạy cảm”

    Ưu đãi thuế quan GSP dựa vào mức thuế MFN và giảm t ỷ lệ thuế xuống, tuy nhiên có những trường hợp giảm hẳn bằng cách tr ừ đi một t ỷ lệ thuế nhất định. Ví dụ, trong danh mục chung, hàng hóa thuộc chương 50 đến 63 sẽ được giảm 20% thuế MFN, còn hàng hóa nhạy cảm trong phụ lục IV sẽ được giảm đi (trừ đi) 3,5%.

    Tất cả các loạ i hàng hóa này nếu muốn được hưởng ưu đãi thuế quan đều phải tuân thủ quy định về xuất xứ hàng hóa của EU

    Thông tin chi tiết về qui chế GSP của EU có thể tìm trên trang web http://www.eurunion.org/legislat/gsp/gsp.htm

    2.4.2- Chế độ MFN và GSP của Mỹ:

    • Chế độ MFN: Tính đến hết 1997, Mỹ đã cho 164 nước hưởng quy chế MFN trong buôn bán với Mỹ. Các nước Đông Âu và Châu Á đã giành được MFN của Mỹ như Rumani (1975), Hungary (1990), Tiệp khắc (1990), Đông Đức (1990), Bungary (1991), Trung Quốc (1980), Mông Cổ (1991) và Campuchia (1996).

    Những nước được hưởng chế độ MFN bình quân thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa là 9%, trong khi đó thuế nhập khẩu bình thường không được hưởng chế độ MFN thuế bị đánh cao gấp 7 lần. Chẳng hạn năm 1990, trị giá hàng nhập khẩu vào Mỹ từ Trung quốc là 19 tỷ USD, nếu không được hưởng quy chế MFN thuế nhập khẩu sẽ trên 2 tỷ USD, tuy nhiên, do được hưởng quy chế MFN thuế nhập khẩu chỉ là 354 triệu USD.

    • Chế độ GSP của Mỹ mang tính đơn phương, không ràng buộc điều kiện có đi có lại, mức thuế nhập khẩu hàng từ các nước nhận ưu đãi vào Mỹ bằng 0.

    Mỹ thường áp dụng chế độ MFN và GSP có điều kiện để gây sức ép về chính trị và kinh tế với các bạn hàng. Ví dụ, đối với Trung Quốc, từ tháng 2/1980 Mỹ cho hưởng chế độ MFN để kềm chế Trung Quốc phải nhượng bộ trong các vấn đề nhân quyền ở Tây Tạng, vấn đề Đài Loan… Hoặc trong Luật Thương Mại năm 1974, có quy định cấm Tổng Thống không cho các nước hưởng chế độ GSP như các nước Cộng Sản (trừ trường hợp

    sản phẩm của nước đó là thành viên của GATT/WTO và IMF, hoặc nước đó không bị Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế khống chế)

    Đối với Việt Nam, dù đàm phán song phương hay đa phương, Mỹ cũng đòi hỏi Việt Nam áp dụng quy chế của GATT/WTO với các nguyên tắc cơ bản là:

    • Không phân biệt đối xử giữa các nước bạn hàng, thể hiện trong điều khoản về tối huệ quốc.
    • Đối xử như nhau giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước (quy chế đối xử trong nước NT – National Treatment).
    • Thực hiện các chính sách cởi mở và tự do. Bảo hộ bằng thuế quan ở mức thấp và chỉ áp dụng hạn chế số lượng trong một số trường hợp đặc biệt.
    • Cam kết thực hiện lịch trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan.
    • Chính sách và luật pháp phải rõ ràng, công khai.

    Bên c ạnh những mặt lợi thế có thể mang lại, việc chấp nhận các nguyên tắc này đang là thách thức lớn đối với Việ t nam. Bởi vì, nếu thực hiện, chúng ta phải điều chỉnh luật pháp của mình cho phù hợp với WTO và phả i điều hành nền kinh tế theo nguyên tắc đó. Vấn đề này hết sức phức tạp và đòi hỏi phải có thờ i gian để điều chỉnh, thực hiện. Từ tháng 12/2001, khi hiệp định thươ ng mạ i Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, Mỹ đã trao cho việt nam qui chế MFN (hay còn gọi là qui chế đối xử thương mại bình thường, Normal Trade Relation, NTR).

    2.4.3- Vài nét về chế độ ưu đãi về thuế quan của Nhật:

    Chế độ GSP của Nhật áp dụng từ 8/1971, chủ yếu ở ba mặ t hàng nông sản chế biến, công nghiệ p và hàng dệt nhập khẩ u từ các nước đang phát triển. Các nước Châu Á đang sử dụng nhiều nhất chế độ GSP của Nhật.

    Trong những năm bị ảnh h ưởng bởi lệnh c ấm vậ n của Mỹ, t ỷ lệ hàng hóa xuấ t sang Nhật của Việt Nam được hưởng chế độ GSP rấ t thấ p, khoảng 8% tổng trị giá hàng công nghiệp nhậ p khẩu vào Nhật Bản (mức trung bình của các nước là 39,8%). Từ năm 1994 trở đi, khi lệnh cấm vận được xóa bỏ, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Nhật có dễ dàng hơn .

    3- Nguyên tắc đối xử trong nước (National Treatment _ NT)     TOP

    Nguyên tắc đối xử trong nước NT được áp dụng trên nhiều lĩnh vực như thương mại hàng

    hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…với ý nghĩa là đối xử như “trong nước” đối với phía

    đối tác trong các lĩnh vực được ghi trong thỏa ước. Qui mô của nghĩa vụ này có thể thay

    đổi tùy thỏa ước, đối với hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT, NT được

    qui định chủ yếu trong điều III “Đãi ngộ quốc gia về thuế và nguyên tắc đối xử trong

    nước”. Trong thương mại hàng hóa, nếu như nguyên tắc MFN đòi hỏi đãi ngộ công bằng

    giữa các quốc gia, thì nghĩa vụ NT đòi hỏi sự đãi ngộ với hàng nhập khẩu, sau khi hoàn

    tất các thủ tục hải quan và biên giới, không được tệ hơn cách đãi ngộ dành cho hàng sản

    xuất trong nước.

    III- Các loại hình chính sách ngoại thương:

    Mỗi nước đều có chính sách ngo ại thương riêng phù hợp với điề u kiệ n phát triể n kinh tế riêng của từng nước, ở từng thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, chính sách phát triển ngoại thương của các nước có thể phân loại theo hai tiêu thức cơ bản sau:

    • Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương.
      • Phân loại theo mức độ tiếp cận của nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. A- Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương

    1- Chính sách mậu dịch tự do    TOP

     

    1.1- Khái niệm:

    Chính sách mậ u dịch t ự do có nghĩa là nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội đị a để cho hàng hóa và tư bản được tự do lưu thông giữa trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển trên cơ sở quy luật tự do cạnh tranh.

    Đặc điểm chủ yếu của chính sách mậu dịch tự do là:

    • Nhà nước không sử dụng các công cụ để điều tiết xuất khẩu và nhập khẩu.
      • Quá trình nhập khẩu và xuất khẩu được tiến hành một cách tự do.
    • Quy luật tự do cạnh tranh điều tiết sự hoạt động của sản xuất tài chính và thương mại trong nước.

    1.2- Ưu và nhược điểm của chính sách mậu dịch tự do:

    Ưu điểm:

    • Mọi trở ngại thương mại quốc tế bị loại bỏ, giúp thúc đẩy sự tự do hóa lưu thông hàng hóa giữa các nước.
    • Làm thị trường nội địa phong phú hàng hóa hơn, người tiêu dùng có điều kiện thỏa mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất.

    -Tạo môi trường cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, kích thích các nhà sản xuất phát triển và hoàn thiện.

    • Nếu các nhà sản xuất trong nước đã đủ sức mạnh cạnh tranh với các nhà tư bản nước ngoài thì chính sách mậu dịch tự do giúp các nhà kinh doanh bành trướng ra ngoài. Thật vậy, chính sách mậu dịch tự do lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh, “cái nôi” của chủ nghĩa tư bản. Nước Anh lúc bấy giờ là cường quốc công nghiệp, sản xuất bằng máy thay thế lao động thủ công đã khiến cho chi phí thấp, hàng hóa dồi dào so với các nước láng giềng chậm phát triển hơn như Pháp, Đức, Nga. Chính nhờ thực hiện chính sách mậu dịch tự do đã giúp cho các nhà tư bản Anh xâm chiếm nhanh chóng thị trường thế giới, khiến các nước khác phải thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch để chống lại sự xâm lăng hàng hóa ồ ạt từ nước Anh. Nhưng sau này khi nền kinh tế của Đức, Pháp, Nga đã phát triển mạnh thì chính sách mậu dịch tự do thay thế cho chính sách bảo hộ mậu dịch.
    • Thực hiện chính sách mậu dịch tự do không đồng nghĩa với việc làm suy yếu vai trò

    của Nhà nướ c tư bản trong quan hệ thươ ng mại quốc t ế. Ngượ c lại, việc tạo điề u kiện tự do phát triển thương mạ i trên thị trường nội đị a nhằm làm suy yếu hoặc xóa bỏ chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nước khác, tạo cơ sở để các nhà kinh doanh nội địa dễ dàng xâm nh ập và phát triển ở thị trường mới.

    • Thị trường trong nước điều tiết chủ yếu bởi quy luật tự do cạnh tranh cho nên nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng, phát triển mất ổn định.
    • Những nhà kinh doanh sản xuất trong nước phát triển chưa đủ mạnh, thì dễ dàng bị phá sản trước sự tấn công của hàng hóa nước ngoài.

    Chính bởi những nhược điểm này mà ngày nay trên thế giới, ngay cả những nước có nền kinh tế mạnh nhất như Mỹ, Nhật đều không thực hiện chính sách mậu dịch tự do đối với tất cả các ngành hàng, mà chỉ thực hiện sự tự do mậu dịch trong một số ngành hàng đủ mạnh, cạnh tranh được với hàng hóa nước ngoài và cũng chỉ thực hiện trong một thời gian nhất định.

    1.3- Các khoản lợi và hiệu quả của mậu dịch tự do theo kinh tế học:

    Trong chương 3 chúng ta đã phân tích tác động của một trong những công cụ chính sách ngoại thương là thuế quan. Trong trường hợp một nước nhỏ không gây ảnh hưởng đến

    giá xuất khẩu của nước ngoài, thuế quan gây nên thiệt hại ròng cho nền kinh tế được đo bằng hai hình tam giác b và d (biểu đồ 3.2). Thiệt hại này là do thuế quan đã làm lệ ch lạc những khuyến khích kinh tế đối với người sả n xuất l ẫn người tiêu dùng. Ngược lại, tự do mậu dịch sẽ loại bỏ được những tổn thất này và tăng thêm phúc lợi quốc gia.

    Các nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tính toán t ổng chi phí phải trả cho những lệch lạc do thuế quan và hạn ngạ ch nh ập khẩu gây ra trong một số nền kinh tế cụ thể. Phí tổn này được tính theo % thu nhập quốc dân, đối với Braxin (1966) là 9,5%; Mexico (1960) là 2,5% ; Mỹ (1983) là 0,26%.

    Ngoài ra, ở các nước nhỏ nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, nhiề u nhà kinh tế học còn chỉ ra rằ ng, tự do mậu dịch còn nhiề u cái lợi quan trọng không được tính tới trong phân tích chi phí – lợi ích thông thường, Ví dụ như lợi thế kinh tế của qui mô sản xuất chẳ ng hạn, các thị trường được bảo hộ không chỉ chia nhỏ s ản xuất trên phạm vi quốc tế, mà bằng cách giảm cạnh tranh và tăng lợi nhuận, chúng còn đẩy nhiề u công ty gia nhậ p ngành công nghiệp được bảo hộ. Với việc gia tă ng các công ty trong thị trường nội địa nhỏ hẹp, quy mô sản xuất của từng công ty s ẽ trở nên không hiệu quả. (Ví dụ như, do được bảo hộ cao, các nhà máy đường trong nước ta mọc lên rất nhiều, vì vậy chỉ có khoảng 17/47 nhà máy hoạt động được khoảng 50% công suất!)

    2- Chính sách bảo hộ mậu dịch

    TOP

    2.1- Khái niệm:  

    Chính sách bả o hộ mậu dịch là chính sách ngoại thương của các nước nhằm một mặt sử dụng các biện pháp để bảo vệ thị trườ ng nội đị a trước sự cạ nh tranh của hàng hóa ngoại nhập, mặt khác Nhà nước nâng đỡ các nhà kinh doanh trong nước bành trướng ra thị trường nước ngoài.

    Đặc điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch là:

    • Nhà nước sử dụng những biện pháp thuế và phi thuế : thuế quan, hệ thống thuế nội địa, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các biện pháp kỹ thuật… để hạn chế hàng hóa nhập khẩu.
    • Nhà nước nâng đỡ các nhà sản xuất nội địa bằng cách giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu, thuế doanh thu, thuế lợi tức, giá tiền tệ nội địa, trợ cấp xuất khẩu…để họ dễ dàng bành trướng ra thị trường nước ngoài.

    2.2- Ưu và nhược điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch:

    Ưu điểm:

    • Giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu.
    • Bảo hộ các nhà sản xuất kinh doanh trong nước, giúp họ tăng cường sức mạnh trên thị trường nội địa.
    • Giúp các nhà xuất khẩu tăng sức cạnh tranh để xâm chiếm thị trường nước ngoài.
    • Giúp điều tiết cán cân thanh toán của quốc gia, sử dụng hợp lý nguồn ngoại tệ thanh toán của mỗi nước.

    Nhược điểm: Nếu bảo hộ thị trường nội địa quá chặt chẽ sẽ:

    • Làm tổn thương đến sự phát triển thương mại quốc tế sẽ dẫn đến sự cô lập kinh tế của một nước đi ngược lại xu thế của thời đại ngày nay là quốc tế hóa đời sống kinh tế toàn cầu.
    • Tạo điều kiện để phát triển sự bảo thủ và trì trệ trong các nhà kinh doanh nội địa, kết quả là mứcï bảo hộ kinh tế ngày càng cao, càng làm cho sức cạnh tranh của các ngành không còn linh hoạt, hoạt động kinh doanh và đầu tư không mang lại hiệu quả. Đây sẽ là nguy cơ cho sự phá sản trong tương lai của các ngành sản xuất trong nước nếu quốc gia

    này phải chịu áp lực cạnh tranh trên thị trường thế giới và yêu cầu giảm hàng rào thuế quan khi gia nhập WTO hoặc các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới.

    • Người tiêu dùng bị thiệt hại như hàng hóa kém đa dạng, mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng hàng hóa kém cải tiến, giá cả hàng hóa đắt….

    3- Bảo hộ mậu dịch và thuế quan

    TOP

     
    tối ưu:
       

    Việc thi hành các chế độ quan thuế, hạ n ngạch nhập khẩ u và các biện pháp chính sách mậu dịch khác hầu hết là nhằm bảo vệ thu nhập của các nhóm lợi ích đặc biệt….Các nhà

    kinh tế học thường lập luận r ằng, bảo hộ mậu dịch s ẽ giảm phúc lợi quốc gia. Tuy nhiên, trên thực t ế, có một số cơ sở lý thuyết cho thấ y rằng các chính sách mậu dịch tích cực đôi khi có thể làm tăng phúc lợ i của quốc gia nói chung. Bởi vì, theo bi ểu đồ 3.2, đối với một nước lớn, thuế quan s ẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu ở nước ngoài, tạo ra một khoản lợi. Nếu đem so sánh v ới giá phải trả do thi hành thuế quan là làm lệch lạc các khuyến khích đối với sả n xuất và tiêu dùng, có kh ả năng, trong một số trường hợp, lợi ích về điều kiện mậ u dịch của thuế quan lại lớn hơn cái giá phải trả. Vớ i mộtü mức độ thuế quan đủ thấ p, thì lợi ích về điều ki ện mậu dịch sẽ phải lớn hơn cái giá phải trả. Đối với một nước lớn, tỷ suất thuế quan thấp, phúc lợi sẽ cao hơn khi thi hành mậu dịch tự do. Và sẽ tồn tại một

    mức thuế quan t0 tối ưu, t ại đó, lợ i ích biên do điều kiện mậu dịch được cải thiện bằng tổn thất hiệu năng biên do sự lệch lạc trong sản xuất và tiêu dùng. Với mức thuế suất khác

    lớn hơn t0 , phúc lợi quốc gia sẽ đi xuống.

    Tóm lại, chính vì cả chính sách tự do mậu dịch và chính sách bảo hộ mậu dịch đều có những ưu điể m và nhược điểm cho nên không một nướ c nào trên thế giới thi hành chính sách này hay chính sách khác một cách tuyệt đối mà sẽ duy trì chính sách mậu dịch tự do trong một số ngành hàng đối với một s ố thị trường trong một thờ i gian nhất định, còn một số ngành khác thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch (với mức độ khác nhau) trên những thị trường khác nhau.

    B- Phân loại theo mức độ tiếp cận c ủa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới 1- Chính sách hướng nội (Inward Oriented Trade Policies):

    Là chính sách mà nền kinh t ế ít có quan hệ với thị trường thế giới, phát triể n tự lực cánh sinh b ằng sự can thiệp tuyệt đối của Nhà nước. Với mô hình này, nền kinh tế thực hiện chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu.

    Ưu điểm:

    • Thị trường nội địa được bảo hộ chặt chẽ, nhờ đó mà nền công nghiệp còn non yếu trong nước có thể phát triển được trong điều kiện không phải trực diện với cạnh tranh; đặc biệt ở những nước mà nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên.
    • Là mô hình phát triển dựa vào nguồn tài lực bên trong, cho nên mọi tiềm lực quốc gia được huy động cao độ cho công cuộc phát triển kinh tế.
    • Phát triển kinh tế trong nước ít chịu sự tác động của thị trường thế giới, nên tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy thấp nhưng ổn định.

    Nhược điểm:

    • Hàng hóa sản xuất không mang tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
    • Nhiều ngành kinh tế của quốc gia phát triển không có hiệu quả, vì không phát triển dựa vào lợi thế mà chỉ dựa vào nhu cầu của nền kinh tế đóng cửa.
    • Mất cân đối trong cán cân thương mại, vì nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu bị hạn chế.
    • Vay nợ nước ngoài lớn, trả nợ khó khăn.

    2- Chính sách hướng ngoại (Outward Oriented Trade Policies):

    Là chính sách mà nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực để phát triển. Tham gia vào

    quá trình phân công lao động khu vực và quốc tế, chuyên môn hóa vào sản xuất những

    sản phẩm mà quốc gia có lợi thế phát triển, về thực chất, đây là chính sách “mở cửa“ kinh

    tế để tham gia vào quá trình quốc tế hóa kinh tế toàn cầu. Và tùy điều kiện phát triển kinh

    tế của mỗi nước mà chính sách “mở cửa“ được lựa chọn thực hiện khá đa dạng như mô

    hình phát triển mở cửa dần từng bước hay mô hình phát triển xuất khẩu dựa vào nguồn

    tài nguyên thiên nhiên hoặc gia công sản phẩm sơ chế hoặc mô hình phát triển XK dựa

    vào lợi thế so sánh…

    Ưu điểm :

    – Tạo ra sự năng động trong sự phân công lao động quốc tế:

    Thật vậy, chúng ta có thể thấy hình ảnh công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các

    nước Đông và Đông Nam Châu Á trong 3 thập niên cuối thế kỷ 20 trong ngành công

    nghiệp may, sản xuất hàng điện và điện tử gia dụng. Lúc đầu các ngành này phát triển ở

    Nhật Bản, sau đó giá nhân công của Nhật đắt dần lên, các ngành thâm dụng nhiều nhân

    công của Nhật mất dần lợi thế và chuyển các ngành này sang Hàn Quốc, sau đó là các

    nước ASEAN và ở Trung Quốc ở những thập niên 80. Đến thập niên 90, các ngành hàng

    này lại phát triển ở Việt Nam. Sự thay đổi năng động trong phân công lao động khu vực

    như vậy do làn sóng công nghiệp hóa lan rộng làm cho thương mại giữa các nước tăng

    mạnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhờ phát huy được lợi thế và thị trường được mở

    rộng.

    • Chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu làm cho nền kinh tế phát triển năng động vì các doanh nghiệp luôn trực diện với cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ của họ phải có khả năng đảm bảo cạnh tranh (về chất lượng, giá cả…) với các sản phẩm khác trên thế giới.
    • Mở cứ kinh tế tạo điều kiện cho cạnh tranh phát triển, là động lực thúc đẩy cải tổ nền kinh tế, hợp lý hóa sản xuất, đầu tư mới công nghệ.
    • Tăng cường thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa môi trường tài chính quốc gia: giảm bớt vay nợ, thực hiện cân bằng cán cân thanh toán và cán cân buôn bán quốc tế.
    • Chính sách hướng về xuất khẩu còn được xem như là một chính sách ngoại thương tạo ra sự công bằng hơn trong nền kinh tế.

    + Đầu tiên, mở rộng xuất khẩu hàng thâm dụng lao động đồng nghĩa với tăng việc làm cho người lao động.

    + Thứ hai, chính sách này nâng cao khả năng chuyển sang sản xuất hàng thâm dụng kỹ thuật.

    + Cuối cùng, việc áp dụng chính sách này làm nâng cao thu nhập ròng cho quốc gia bởi việc giảm tài trợ giấy phép xuất khẩu…

    Ngày nay, khi xu hướng nhất thể hóa nền kinh tế toàn cầu gia tăng, mô hình kinh tế

    hướng ngoại đẩy mạnh xuất khẩu ngày càng khẳng định ưu thế phát triển và ngày càng được các nước áp dụng rộng rãi.

    IV- Chính sách ngoại thương của các nước đang phát triển:

    Ba mươi năm sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, chính sách thương mại ở các nước đang phát triển vẫn còn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi lý thuyết cho rằng, chìa khóa để phát triển kinh tế là phải thúc đẩy công nghiệp chế tạo và đó là cách tốt nhất để bảo hộ công nghiệp chế tạo trong nước trong sự cạnh tranh toàn cầu. Chúng ta sẽ xem xét chính

    sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩ u, gi ống như một chiến lược của các nước đang phát triển t ừ sau chiến tranh thế giớ i lần thứ hai đến những năm 1970 và sau đó trở nên thấ t bạ i vào những năm cuối thậ p kỷ 1980. Những vấn đề liên quan đế n chính sách kinh tế của các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp, hay những đặc điểm tạ o nên sự khác biệt trong thu nhập giữa các vùng và khu vực, còn được gọi là nền kinh tế “nhị nguyên”. Và đặc biệt, trong việc xét đến chính sách thươ ng mại của các nước đang phát triển, không thể không xét đến các chính sách đem lại sự phát triển diệu kỳ của các nước Đông Á.

    1- Công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu:

    Từ sau chiến tranh thế giớ i lần thứ hai đến những năm 1970, các nước đang phát triển cố gắng đẩ y nhanh quá trình phát triển bằ ng cách hạn chế nhập khẩu s ản phẩm công nghiệp và nâng đỡ ngành công nghiệp chế tạ o để phục vụ th ị trườ ng trong nước. Chiến lược này đã trở nên rất phổ biến vì nhiều lý do, trong đó, lý do quan trọng nhất là lập luận về “nền công nghiệp non trẻ”.

    Theo lập luận này, các nước đang phát triển có một lợi thế tương đối tiềm tàng trong

    công nghiệp chế tạo, nhưng các ngành công nghiệp chế tạo mới hình thành trong nước

    không thể cạnh tranh được với ngành công nghiệp chế tạo được hình thành từ lâu ở các

    nước phát triển. Để tạo điều kiện cho khu vực công nghiệp chế tạo có chỗ đứng, chính

    phủ tạm thời nâng đỡ các ngành công nghiệp mới để nó lớn mạnh, đủ đương đầu được

    với cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, việc sử dụng thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu như là

    những biện pháp tạm thời để bắt đầu công nghiệp hóa là một việc có ý nghĩa. Có một

    thực tế lịch sử là cả ba nền kinh tế thị trường lớn nhất thế giới đều bắt đầu quá trình công

    nghiệp hóa của mình đằng sau hàng rào mậu dịch: Mỹ và Đức có mức thuế quan cao đối

    với hàng chế tạo vào thế kỷ XIX, trong khi Nhật cho đến thập kỷ 1970 vẫn áp dụng rộng

    rãi biện pháp kiểm soát nhập khẩu.

    Lập luận về ngành công nghiệp non trẻ dường như rấ t hợ p lý và trên thực tế nó có tính chất thuyết phục đối vớ i nhiều chính phủ. Thế nhưng các nhà kinh tế học đã chỉ ra nhiều cạm bẫy trong lập luận này và gợi ý rằng nó cần được sử dụng một cách thận trọng.

    Thứ nhất, việc đi ngay vào các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trong tươ ng lai không phải luôn luôn là ý tưở ng tốt. Giả sử một nước có dồi dào sức lao động đang trong quá trình tích lũy vốn, khi nó tích lũy đủ vốn, nó sẽ có lợi thế so sánh trong các ngành tập trung vốn. Điều đó không có nghĩa là nó phải cố gắng phát triển ngay lập tức các ngành công nghiệp đó.

    Thứ hai, việc bảo hộ công nghiệp chế t ạo sẽ không đem l ại lợi lộc gì trừ khi bản thân việc bảo hộ đó giúp cho ngành công nghiệ p có khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, đôi lúc, sự bảo hộ lạ i không đạt được điều mong muốn đó. Ví dụ như Pakistan và Ấn Độ đã tiến hành bảo hộ khu vực công nghiệp chế tạ o trong hàng thập kỷ và khi họ bắt đầu phát triển xuất khẩu thì hàng hóa mà họ xuất khẩu là những hàng công nghiệp nhẹ như hàng dệt, chứ không phải là hàng công nghiệp nặng mà họ bảo hộ.

    Mặc dù có những nghi ng ờ về lậ p luậ n ngành công nghiệp non trẻ, nhiề u nước đang phát triển vẫn coi l ập luận này như là một lý do bắt buộc để dành sự giúp đỡ đặc biệt do việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng chế tạ o. Chiến lược khuyến khích công nghiệp trong nước bằng cách hạn chế nhập khẩu hàng chế tạo được gọi là công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu.

    Thập kỷ 1950 và 1960 đã chứng kiến cao trào của công nghiệ p hóa thay thế hàng nhập khẩu. Các nước đang phát triển thường bắt đầu bằng việc bảo hộ các công đoạn cuối của

    ngành, ví dụ như chế biến thực phẩm và lắp ráp ôtô. Ở các nước đang phát triển lớn hơn, sản phẩm nội địa hầu như thay thế hoàn toàn hàng tiêu dùng nhập khẩu (mặc dù sả n xuất hàng chế tạo thường do các công ty đa quốc gia tiến hành). Một khi khả năng thay thế hàng tiêu dùng nhậ p khẩu giả m đi, các nước này quay sang bảo hộ hàng hóa trung gian như thân ôtô, thép, sản phẩm hóa dầu.

    • hầu hết các nước đang phát triển xu thế thay thế nhập khẩu đều dừng ở giới hạn hợp lý: những hàng hóa chế tạo tinh vi như máy tính, máy công cụ chính xác… tiếp tục được nhập khẩu. Tuy nhiên, các nước lớn hơn theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đã cắt giảm nhập khẩu của họ xuống mức thấp đáng kể. Thông thường, qui mô kinh tế của một nước càng nhỏ (tính theo giá trị tổng sản phẩm) thì hàng nhập khẩu và xuất khẩu chiếm tỷ lệ càng lớn. Thế nhưng, như Ấn Độ chẳng hạn, với thị trường trong nước nhỏ thua 5% so với Hoa Kỳ mà mức xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 6% GNP năm 1983 và 8% năm 1990 trong khi tương ứng của Hoa Kỳ là 8 và 10% (Singapore và Hongkong tỷ lệ này năm 1990 là 190% và 137%)

    Mặc dù chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đem lại cho các nước áp

    dụng một tỷ lệ hàng công nghiệp chế tạo trong tổng sản phẩm quốc nội chiếm một phần bằng các nước tiến tiến, như các nước Mỹ la tinh. Nhưng do hạn chế nhập khẩu đã dẫn đến kiềm hãm xuất khẩu (chương 3) và làm chậm tốc độ phát triển kinh tế. Ví dụ như Ấn độ, sau 20 năm theo đuổi chính sách này (1950 – 1970) thu nhập bình quân đầu người chỉ tăng vài %, cả Achentina, nước từng được xem là một nước giàu, nền kinh tế cũng chỉ tăng trưởng với tốc độ rất chậm trong hàng thập kỷ.

    Ngoài những lý do đã được nêu ra về các cạm bẫy của chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, khi chính sách này thất bại, các nhà kinh tế học còn đưa ra lý do về “phí tổn” do những lệch lạc trong bảo hộ hàng công nghiệp mang lại. Ví dụ, mức bảo hộ hữu hiệu một số ngành công nghiệp ở Mỹ la tinh và Nam Á là hơn 200%. Chính tỷ lệ bảo hộ cao này đã cho phép các ngành công nghiệp tồn tại thậm chí ngay cả khi chi phí sản xuất cao gấp ba hoặc bốn lần so với hàng nhập khẩu mà chúng thay thế. Ngoài ra, sử dụng hạn ngạch nhập khẩu để bảo hộ sẽ dẫn đến phí “thuê hạn ngạch” và một sự độc quyền. Sự cạnh tranh giành lợi nhuận này dẫn đến nhiều công ty gia nhập vào một thị trường mà thực tế chỉ đủ chỗ cho một công ty và sản xuất được tiến hành trên quy mô rất không có hiệu quả… Một chi phí nữa cũng được đề cập đến là việc hạn chế nhập khẩu để thúc đẩy sản xuất trong nước, nhưng với thị trường trong nước nhỏ hẹp, qui mô sản xuất này cũng không có hiệu quả.

    Vào cuối những năm 1980, những hạn chế của chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu càng bị chỉ trích, không những bởi các nhà kinh tế mà còn là các tố chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và ngay cả những nhà làm chính sách của các nước áp dụng. Số liệu thống kê đã chứng minh rằng, ở các nước đáng phát triển theo đuổi chính sách thương mại tự do hơn có tốc độ phát triển trung bình nhanh hơn các nước theo chính sách bảo hộ. Sự thực hiển nhiên này đã giúp các nước đang phát triển tháo dỡ bớt hàng rào bảo hộ của mình bằng bỏ dần hạn ngạch và giảm thuế quan.

    2- Chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu và nền kinh tế nhị nguyên: Trong khi chính sách thương mại của các nước kém phát triển, một phần bị phản đối bởi sự tụt hậu của họ khi so sánh với các nước phát triển, chính sách này còn bị phản ứng đối với sự phát triển không đồng đều trong phạm vi từng nước. Khi đó, một khu vực công nghiệp hiện đại, sử dụng nhiều vốn, lương cao tồn tại trong cùng một quốc gia với một khu vực nông nghiệp truyền thống rất nghèo khổ. Sự phân chia một nền kinh tế thống

    nhất thành hai khu vực có mức độ phát triển khác nhau được gọi là tình trạng “hai khu vực” của nền kinh tế, và nền kinh tế như vậy được gọi là nền kinh tế “nhị nguyên”. Các dấu hiệu của nền kinh tế nhị nguyên:

    • Giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân ở khu vực hiện đại cao hơn nhiều so với khu vực còn lại của nền kinh tế. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm do một công nhân trong khu vực công nghiệp làm ra có giá trị cao hơn vài lần so với sản phẩm của một công nhân trong nông nghiệp. Đôi khi sự khác biệt này lên tới 15/1.
    • Cùng với giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân cao là mức lương cao. Lương công nhân trong công nghiệp có thể cao hơn 10 lần so với lao động trong nông nghiệp.
    • Tuy nhiên, trong khu vực công nghiệp, mặc dù lương cao, lợi tức của đồng vốn không nhất thiết cao hơn. Trên thực tế, dường như thường là trong khu vực công nghiệp vốn đưa lại lợi tức thấp hơn.
    • Giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân cao tại khu vực hiện đại ít nhất một phần là do sự tập trung vốn cao hơn trong sản xuất. Công nghiệp chế tạo tại các nước kém phát triển thường sử dụng vốn cao hơn nhiều so với nông nghiệp (ở các nước tiên tiến thì trái lại, nông nghiệp lại là ngành sử dụng nhiều vốn). Tại các nước đang phát triển, nông dân thường sử dụng các công cụ thô sơ, trong khi các cơ sở công nghiệp tại đây lại chẳng khác mấy so với các nước tiên tiến.
    • Cuối cùng, nhiều nước kém phát triển có vấn đề thất nghiệp thường xuyên. Đặc biệt

    tại các khu vực đô thị có một số lượng lớn những người hoặc không có việc làm, hoặc thỉnh thoảng mới có vi ệc làm được trả lương đặc biệt thấp. Những người thành thị không có việc làm này cùng tồn tại với tầng lớp công nhân công nghiệp thành thị được trả lương tương đối cao.

    Chính sách ngoại thương thường bị cáo buộc tội là nguyên nhân làm tăng chênh lệch về

    lương giữa công nghiệp và nông nghiệp và khuyến khích tập trung vốn quá mức vào công nghiệp. Sự khác biệt về lương này cũng phản ánh s ức mạnh độc quyền của các ngành công nghiệ p được che chở bởi các hạn ngạch nhập khẩu hay mức thuế quan cao trước sự cạnh tranh của nước ngoài.

    3- Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu : “Sự diệu kỳ Đông TOP  
    Á”
       

    :

    Nếu như thậ p niên 1950-1960 chứng kiến cao trào công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, thì bắt đầu cuối những năm 1960 đã xuất hiện một chính sách công nghiệp hóa mới, h ướng ra xuất khẩu sản phẩm chế tạo. Một nhóm các quốc gia phát triển theo định hướng này đã đạt tốc độ phát triể n cao về kinh tế, có nước đạt hơn 10%/năm, mà Ngân hàng Thế giới gọi là “những nền kinh tế hiệu quả cao Châu Á” (High Performance Asian Economies HPAEs).

    Trong khi những thành tựu của HPAEs không được nhân lên mà cũng không có một câu hỏi nào về sự thành công của HPEAs đã bác bỏ luậ n cứ trước kia cho rằng phát triển công nghi ệp phải đi bằng con đường thay thế hàng nhập khẩu, mà thành tựu này lại trở thành chủ đề tranh luận về “sự di ệu kỳ Đông Á”. Đặc biệt, qua nhiều quan sát khác nhau đã chỉ ra rằ ng có nhiều cách diễn giải khác nhau về vai trò của những chính sách c ủa chính ph ủ, bao gồm cả chính sách thương mạ i, đã là tiền đề cho sự phát triển kinh tế. Các quan sát này cũng chứng minh được r ằng, sự thành công của kinh tế Châu Á liên quan rấ t nhiều đến thương mại tự do và sự tác động của chính sách chính phủ; mặt khác, sự thành

    công này cũng lại chứng tỏ sự can thiệp của chính phủ vào chính sách thương mại là có hiệu lực.

    3.1- Sự kiện tăng trưởng kinh tế Châu Á :

    Ngân hàng Thế giới chia các nước HPAEs thành ba nhóm khác nhau bởi “sự diệu kỳ” bắt đầu ở những thời điểm khác nhau. Đầ u tiên là Nh ật Bản, t ốc độ phát triể n kinh tế nhanh bắt đầu không bao lâu sau Thế Chi ến Thứ Hai và bây giờ, thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản tương đương Mỹ và các nước EU. Vào những năm 1960 tốc độ kinh t ế phát triển nhanh bắt đầu ở bốn nước Châu Á nhỏ hơn và thường được gọi là “bốn con hổ Châu Á”, đó là Hồng Kông, Đài Loan, Nam Triều Tiên và Singapore. Vào cuối những năm 1970 và những năm 1980 tốc độ kinh tế lại phát triển rất nhanh bắt đầu ở Malaysia, Thailand, Indonesia và ngoạn mục nhất là Trung Quốc.

    Mỗi nhóm nước đề u đạt thành tựu cao bởi tốc độ phátï triển kinh tế. Thu nh ập quốc nội của các “con rồng” t ăng bình quân 8-9% một năm từ giữa những năm 1960 cho đến 1997 xảy ra khủng hoảng tiền tệ Châu Á, trong khi Mỹ và EU chỉ tăng 2-3%/năm. Tốc độ phát triển kinh tế của Châu Á vẫn còn tiếp tục được đem ra so sánh với các nước khác và Trung Quốc là một ví dụ điển hình, trong suốt thập niên 1990 và ngay bây giờ cũng vậy, tốc độ tăng GDP của Trung Quốc là khoảng 10%/năm.

    Ngoài tốc độ phát triển kinh tế cao, các nước HPEAs còn đạt được một thành t ựu tiêu biểu khác, đó là mở cửa hội nhập vào thương mại quốc t ế và càng v ề sau, mức độ hội nhập càng cao hơn. Vì vậ y , trong phát triển kinh tế, các nướ c Châu Á hướ ng về xuất khẩu nhiều hơ n các nước đang phát triển khác như Châu Mỹ la tinh và các nướ c Nam Á. Sự “hướng về xuất khẩ u” của các nước Châu Á trong thập niên 90 cao hơn so với các nước khác có thể nhậ n thấy được qua bảng 4.1, bảng tỷ lệ xuất khẩu so với thu nhập quốc dân của một số nước tiêu biểu.

    Bảng 4.1 Tỷ lệ Xuất khẩu so với thu nhập quốc dân (1990)

    Nước Tỷ lệ xuất khẩu so với thu nhập quốc dân (%)
    Brazil 7
    Ấn độ 8
    Hoa kỳ 10
    Nhật 11
    Tây Đức 32
    Nam Triều Tiên 32
    Hồng Kông 137
    Singapore 190

    (Nguồn: International Economics trang 259)

    2.2- Chính sách thương mại trong các nước HPAEs:

    Một vài nhà kinh tế học cho rằng thành công của các nước Đông Á tượng trưng cho

    chính sách ngoại thương hướng ngoại. Xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao trong

    GDP của các nước Châu Á là một minh chứng cho chính sách này. Mặc dù chính sách

    này chưa tương ứng với chính sách thương mại tự do hoàn toàn, tuy nhiên, nó đã tự do

    hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển chủ trương hạn chế nhập khẩu làm động lực

    phát triển. Và tốc độ phát triển cao giống như phần thưởng cho chính sách thương mại

    mở cửa của họ.

    Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học khác không đồng ý với quan điểm cho rằng tốc độ phát triển thương mại cao c ủa các n ước HPEAs có quan hệ mật thiết với thương mại tư do, ngoài trừ Hồng Kông, nước có chính sách thương mại tự do nhất, các HPAEs còn lại đều

    duy trì một mức thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu và các chính sách của chính phủ

    để quản lý thương mại. Xuất nhập khẩu tăng cao cũng không nhất thiết phải nhờ đến

    thương mại tự do, như Thái Lan chẳng hạn, xuất nhập khẩu tăng vọt vào những năm 1990

    là nhờ chính sách thu hút đầu tư của các công ty đa quốc gia, chính sự đầu tư này là tiền

    đề cho xuất khẩu và nhập khẩu. Và nhờ vào các con số thống kê, họ chứng minh được

    rằng, với một tỷ lệ bảo hộ mậu dịch thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển khác

    đã góp phần cho các HPAEs đạt được sự phát triển diệu kỳ. Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch của

    các HPAEs thấp hơn các nước khác được thể hiện qua bảng 4.2 như sau:

    Bảng 4.2 Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch trung bình của một số nước (1985).

    Nước Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch trung bình (%)
    HPAEs 24
    Các nước Châu Á khác 42
    Nam Mỹ 46
    Một số nước Châu Phi 34

    (Nguồn: International Economics, trang 268)

    3.3- Kinh nghiệm phát triển xuất khẩu các nước ASEAN :

    Nghiên cứu chính sách ngoại thương hướ ng về xuất khẩu của các nước ASEAN từ những năm 1970 đến nay ta có thể đưa ra các đánh giá cơ bản sau:

    • Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của các nước ASEAN biến động theo

    hướng:

    • Giảm dần tỉ trọng xuất khẩu những hàng hóa xuất khẩu dưới dạng thô ít qua chế biến. Ví dụ, qua bảng 4.3, ta nhận thấy rằng, như Thái Lan chẳng hạn, những năm 1960 hàng hóa chưa qua chế biến chiếm 98% kim ngạch xuất khẩu nhưng đến thập niên 1990, tỷ lệ này chỉ còn là 33%.

    Bảng 4.3:. Thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN giai đoạn 1960-1990

    Tên nước Hàng hóa chưa qua chế biến (%) Hàng hóa đã qua chế biến (%)
      1960 1970 1980 1990 1960 1970 1980 1990
    Singapore 74 70 27 22 26 30 73 78
    Indonesia 99 98 64 53 1 >1 36 47
    Malaysia 94 93 56 39 6 >6 44 61
    Philippines 96 93 48 27 4 >6 52 73
    Thái Lan 98 94 36 33 2 >5 64 67
        (Nguồn: Tư liệu về các nước ASEAN 1997)    
    • Tăng nhanh tỉ trọng hàng công nghiệp chế biến trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong ngành hàng công nghiệp chế biến thì: thực hiện giảm dần tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu những sản phẩm có hàm lượng lao động cao, mà nâng dần tỉ trọng xuất khẩu hàng hóa cao cấp có hàm lượng tư bản và công nghệ cao như sản phẩm của ngành hóa chất, chế tạo máy móc trang thiết bị. Cũng lấy Thái Lan làm ví dụ, những năm 1970, mặt hàng công nghiệp chỉ chiếm 5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến thập niên 1990, tỷ trọng hàng công nghiệp đã chiếm tới 71,38% kim ngạch xuất khẩu (bảng 4.4). Các nước ASEAN khác như Singapore, Indonesia, Malaysia và Philippines cũng có sự thay đổi tương tự về

    tỷ lệ hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ thập niên 1970 đến 1990 (bảng 4.4).

    Bảng 4.4: Tỉ trọng hàng công nghiệp trong kim ngạch xuất khẩu của các nước

    ASEAN                                                                                                                                                Đơn vị tính:

    %.

    Tên nước 1970 1981 1991 1996
    Indonesia 1,2 2,9 42 55,78
    Malaysia 6,3 19,5 58,9 82,8
    Philippines 6,4 22,8 69,72 70,1
    Thái Lan 5 24,8 74,7 71,38
    Singapore 28 41,1 57,2 85
      (Nguồn: Tư liệu về các nướ c ASEAN 1997)  

    Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN có thể lý giải như sau:

    • Hàng chưa qua chế biến nên giá trị xuất khẩu thấp, tỉ lệ hao hụt, hư hỏng lại cao, đặc biệt xuất khẩu nông sản vốn là thế mạnh trong những ngày đầu phát triển các nước

    ASEAN.

    • Hàng chưa qua chế biến không cho phép sử dụng nhiều nhân công lao động vốn là lợi thế của ASEAN.
    • Hàng sơ chế chỉ thường xuất khẩu qua các thị trường trung gian, sau đó tái chế mới xuất khẩu được sang các thị trường cao cấp cho nên trị giá hàng xuất khẩu càng thấp.
    • Cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật đã lôi kéo các nước ASEANvào cuộc, giúp cho các nước mau chóng đầu tư máy móc và công nghệ cho phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm và chế tạo thiết bị máy móc.
    • Đồng Yên Nhật liên tục lên giá thời kỳ 60-96, giá nhân công liên tục tăng cho nên

    Nhật đấu tư mạnh mẽ ra nước ngoài, trong đó có các nước ASEAN để phát triển những ngành công nghiệ p chế biến sử dụng nhiều nhân công như: công nghiệp dệt, may mặc, lắp ráp hàng điện tử, đồ gia dụng…

    • Giá cả xuất khẩu nông sản thường xuyên biến động, đặc biệt như sự sụt giá liên tục của một số sản phẩm thô diễn ra ở thời kỳ 1960-1970 như đay, mía đường, các loại rau quả…

    khiến cho các nước ASEAN quyết tâm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của mình theo hướng công nghiệp hóa

    Việc sớm mở cửa thị trường và thực hiện chính sách “hướng về xuất khẩu” đã giúp năm nước ASEAN trong nhóm ASEAN – 6 (trừ Bruney, quốc gia chưa đến 1 triệu dân nhưng có thế mạnh đặc thù về xuất khẩu tài nguyên thiên thiên là dầu mỏ) thay đổi cơ cấu kinh tế quốc gia, nâng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP. Cho đến cuối thập niên 90, năm nước ASEAN trong nhóm ASEAN – 6 kể trên đã có một “cơ cấu kinh tế khá lý tưởng” (bảng 4.5).

    Bảng 4.5: Cơ cấu kinh tế của các nước ASEAN 1997

          Đơn vị tính: %
    Nước Nông nghiệp (% GDP) Công nghiệp (% GDP) Dịch vụ (% GDP)
    Myanmar 59 10 31
    Lào 52 21 26
    Cambodia 51 15 34
    Việt Nam 33 27 40
    Philippines 19 32 49
    Indonesia 16 43 41
    Malaysia 12 47 41
    Thailand 11 40 49
    Singapore 0 35 65

    (Nguồn: Kinh tế thế giới số 3/2001)

    Việc thay đổi cơ cấ u kinh tế này đã giúp các quốc gia khai thác được lợ i thế so sánh của mình đồng thời gia tăng sản xuất các ngành hàng có giá trị gia tă ng cao, chính điều này lại thúc đẩy nhanh quá trình phát triển. Điều đó cũng được minh chứng ngay trong bảng 4.5, các nước ASEAN còn lại có nền kinh tế kém phát triển hơ n như Myanmar, Lào, Cambodia, Việ t Nam, cơ c ấu kinh tế còn quá nặng về sản xuất nông nghiệp, một ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp.

    • Thị trường xuất khẩu chủ yếu của các nước ASEAN là các nước công nghiệp phát triển:

     

    Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của các nước ASEAN là thị trường các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), đặc biệt là thị trường Mỹ, Canada, EU và Nhật Bản. Đây là những thị trường tạo điều kiện cho nền kinh tế của các nước ASEAN cất cánh.

    Qua bảng 4.6 ta thấy, thị trường Mỹ, EU, Nhật chiếm trên dưới 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của các nước ASEAN* này (ASEAN*: Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia).

    Bảng 4.6: Thị trường xuất khẩu chủ yếu hàng công nghiệp của một số nước ASEAN

              Đơn vị tính: %
    Thị trường 1985   1990 1994  
         
                 
    Nhật   10,6 12,7   11,6  
    EU   20,8 21,1   16,5  
    Mỹ   30,0 25,8   24,7  
    Cộng Mỹ, Nhật,   61,4 59,6   52,8  
    EU            
    ASEAN   3,5 3,3   4,1  
    Các nước khác   35,1 37,1   43,1  
    Với toàn thế giới   100,0 100,0   100,0  

    (Nguồn: Tư liệu về các nước ASEAN 1997)

    Nói chung trên cả thị trường xuất khẩu lẫn nhập khẩu, tỷ trọng buôn bán với các nước thuộc OECD của các nước ASEAN, cũng cao hơn. Nhìn vào bảng 4.6B ta thấ y các nước được liệt kê trong giao thương bên ngoài ASEAN những năm 1996-1997 hầu như là các nước thành viên OECD (trừ Trung Quốc, Nga và Ấn Độ).

    Nguyên nhân:

    • Các nước OECD thường cho các nước ASEAN hưởng chế độ thuế quan đặc biệt thấp.
    • Khả năng tiêu thụ và khả năng thanh toán của các nước OECD rất lớn.
      • Khi xuất khẩu sang các nước OECD dễ dàng nhập khẩu máy móc, công nghệ tiên tiến phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở các nước ASEAN.

    Bảng 4.7: Giao dịch thương mại giữa ASEAN và các nước 1996-1997 (triệu USD).

      ASEAN xuất khẩu đến ASEAN nhập khẩu từ Tỷ lệ xuất Tỷ lệ nhập  
    Nước khẩu (%) khẩu (%)  
           
                       
      1996 1997 1996 1997 1996 1997 1996 1997  
    Bênngoài 192.882,3 212.453,9 228.739,8 238.320,5 59,6 62,0 65,2 66,9  
    ASEAN
                     
    EU 46.926,0 46.086,7 57.380,5 51.009,8 14,5 13,4 16,4 14,3  
    Mỹ 59.515,5 70.030,4 53.011,4 61.695,0 18,4 20,4 15,1 17,3  
    Úc 6.106,0 6.418,4 8.688,8 7.963,9 1,9 1,9 2,5 2,2  
    New Zealand 812,5 773,8 1.150,8 1.297,1 0,3 0,2 0,3 0,4  
    Canda 1.988,2 1.881,9 2.445,6 2.568,0 0,6 0,5 0,7 0,7  
    Nhật 43.150,3 42.008,6 73.310,1 71.264,2 13,3 12,3 20,9 20,0  
    Trung Quốc 18.045,1 29.237,1 14.573,6 22.154,0 5,6 8,5 4,2 6,2  
    Nga 3.169,2 876,1 2.040,9 1.115,6 1,0 0,3 0,6 0,3  
    Ấn Độ 3.722,8 4.473,2 2.843,8 4.395,5 1,2 1,3 0,8 1,2  
    Hàn Quốc 9.446,7 10.667,8 13.294,4 14.857,4 2,9 3,1 3,8 4,2  
                       
    Nội bộ ASEAN 79.986,3 84.419,0 63.948,3 64.452,1 24,7 24,6 18,2 18,1  
    Brunei 2.008,5 1.776,6 457,2 301,9 0,6 0,5 0,1 0,1  
    Indonesia 2.264,9 2.833,4 2.914,5 2.874,2 0,7 0,8 0,8 0,8  
    Lào 721,5 1.287,5 50,0 52,1 0,2 0,4 0,0 0,0  
    Malaysia 25.130,8 27.131,0 25.716,5 25.459,2 7,8 7,9 7,3 7,2  
    Myanma 1.368,3 1.590,7 493,9 344,3 0,4 0,5 0,1 0,1  
    Philippine 4.360,1 5.672,4 2.637,2 3.285,6 1,3 1,7 0,8 0,9  
    Singapore 28.071,7 25.880,3 19.492,1 19.234,4 8,7 7,6 5,6 5,4  
    Thái Lan 11.546,2 10.715,5 11.213,9 11.544,6 3,6 3,1 3,2 3,2  
    Việt Nam 4.514,4 7.531,8 973,0 1.355,9 1,4 2,2 0,3 0,4  
    Các nước khác 50.493,0 45.797,2 57.918,1 53.199,1 15,6 13,4 16,5 14,9  
    Tổng cộng 323.361,5 342.670,1 350,606.2 355,971.8 100,0 100,0 100.0 100.0  
          (Nguồn: ASEAN Secretariat)        

    (3) Nhà nước rất quan tâm đề ra những biện pháp hỗ trợ và khuyến khích xuất

    khẩu:

    Kim ngạch xuất xuất của các nước ASEAN tă ng lên nhanh chóng, một trong những nguyên nhân chính là do Chính ph ủ mỗi nước đề ra những chính sách có hiệu quả để hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu, cụ thể:

    • Phá giá đồng tiền nội địa để khuyến khích xuất khẩu.
    • Trợ cấp xuất khẩu thông qua các hình thức: giảm thuế nội địa cho các nhà xuất khẩu, đầu tư cơ sở hạ tầng, các cơ quan nghiên cứu hỗ trợ phát triển…
    • Nhà nước góp vốn và kêu gọi đầu tư nước ngoài thành lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung để đẩy mạnh phát triển các ngành hàng xuất khẩu.
    • Chính phủ đẩy mạnh hoạt động đối ngoại: thỏa thuận với các chính phủ nước ngoài mở rộng thị trường, hạn ngạch xuất khẩu qua các nước và các khu vực, xin hưởng chế độ thuế quan ưu đãi, giúp các nhà xuất khẩu nội địa tăng cường sức mạnh cạnh tranh ở nước ngoài.
    • Nhà nước phát triển hệ thống thông tin về thị trường, đưa ra định hướng phát triển các ngành hàng xuất khẩu giúp cho các nhà kinh doanh và sản xuất hàng xuất khẩu xây dựng chiến lược phát triển lâu dài.

    Nhờ những biện pháp tích cực kể trên nên chỉ trong hai thập kỷ 70 và 80 mà các nước ASEAN đã nâng tỉ trọng xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội lên nhanh chóng và tiếp tục phát triển trong thập kỷ 90. Bảng 4.7 thể hiện một cách rõ rệt sự gia tăng tỷ lệ xuất khẩu so với tổng GDP của các nước ASEAN:

    Bảng 4.8: Tỉ lệ xuất khẩu so với GDP của các nước ASEAN giai đoạn 1970-2000

    Đơn vị tính: (%)

    Nước 1970 1980 1990 1996 1997 1998 1999 2000
    Brunei       49,71 52,06 45,43 56,80 72,72
    Cambodia       20,30 27,76 32,00 32,54 37,86
    Indonesia 11,2 34,4 28,7 22,07 26,09 52,78 36,26 40,79
    Lao PDR       17,13 18,15 29,32 20,81 20,44
    Malaysia 39,8 56,0 69,9 76,33 77,17 98,97 106,19 109,83
    Myanmar       17,03 18,42 20,33 17,72 19,41
    Philippines 12,3 17,3 18,5 29,63 31,27 45,03 44,63 49,60
    Singapore 78,8 176,3 153,4 136,6 133,15 134,64 137,92 168,90
    Thailand 9,5 20,8 34,4 29,97 37,53 47,25 46,53 55,72
    Việt Nam       29,75 34,60 33,78 40,23 45,26
    ASEAN 19,0 40,0 49,9 46,93 51,80 70,10 65,51 73,32

    (Nguồn: ASEAN Statistics Webmaster)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/%C4%90%E1%BB%81-t%C3%A0i-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-m%E1%BB%9F-r%E1%BB%99ng-v%C3%A0-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-trung-d%C3%A0i-h%E1%BA%A1n-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Sau hơn 10 năm đổi mới kinh tế, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, lạm phát được kiểm soát, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên trong năm

    1997, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  5

    không thể phủ nhận vai trò to lớn của hoạt động tín dụng trung dài hạn trong việc phục hồi và thúc đẩy nền kinh tế sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng phát triển theo hướng CNH – HĐH. Hoạt động tín dụng trung dài hạn có hiệu quả hay không không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi ngân hàng mà còn là vấn đề quan tâm của cả nền kinh tế. Hiệu quả hay nói cách khác chất lượng tín dụng trung dài hạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố thuộc về ngân hàng nhưng cũng có yếu tố thuộc về khách hàng, chất lượng tín dụng trung dài hạn còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô như các yếu tố: chính trị, tình hình phát triển kinh tế…

    Qua một thời gian thực tập tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam, em nhận thấy mặc dù ngân hàng ngoại thương đã có những biện pháp nhất định nhưng hoạt động tín dụng trung dài hạn còn có nhiều khó khăn và tồn tại, ngân hàng cũng chưa phát huy hết hiệu quả và vai trò của nghiệp vụ này trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, cũng như chất lượng tín dụng trung dài hạn cũng còn nhiều bức xúc mà ngân hàng phải giải quyết.

    Sau khi tìm hiểu sâu vấn đề, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm mở

    rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam”.

    Nội dung bài viết của em được chia thành ba chương:

    Chương i: Những lý luận chung về hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại.

    Trong chương này em xin trình bày về một nét khái quát về NHTM và về hoạt động tín dụng trung dài hạn của NHTM.

    Chương ii: Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Trong chương này em trình bày về thực trạng tín dụng trung dài hạn thông qua các con số của ngân hàng ngoại thương thống kê từ đó đưa ra những thành tựu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  6

    mà ngân hàng đã thực hiện được và các tồn tại cần phải giải quyết cùng các nguyên nhân của tồn tại đó.

    Chương iii: Những giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Trong chương này, xuất phát từ những tồn tại đã nêu ở chương ii, em đưa ra một số giải pháp có thể áp dụng vào thực tế hoạt động của ngân hàng ngoại thương trong những năm tới.

    Cuối cùng, em xin chân thành cám ơn Thầy giáo T.S Nguyễn Hữu Tài, cùng toàn thể cán bộ tín dụng phòng dự án của ngân hàng ngoại thương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài viết của mình.

    CHƯƠNG MỘT:

    NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍNH DỤNG TRUNG DÀI

    HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

    i. Khái quát chung về ngân hàng thương mại

    1.     Khái niệm ngân hàng thương mại.

    Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi sản xuất phát

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  7

    triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ… trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.

    Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy, các ngân hàng thương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hình thành hệ thống ngân hàng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế.

    Ngân hàng quốc gia Việt Nam ra đời ngày 05/05/1951 theo sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch nước VNDCCH. Trong giai đoạn 1951 – 1987, ở Việt Nam đã tạo lập hNệ thông ngân hàng một cấp, chỉ phù hợp với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung. Khi nước ta chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, hệ thông ngân hàng một cấp tất yếu phải được cải tổ sang hệ thống ngân hàng hai cấp: cấp quản lý và kinh doanh. Sau khi Nghị định số 53/HĐBT được ban hành ngày 26/03/1998 bộ máy NHNN được tổ chức thành hệ thống thống nhất trong cả nước, gồm hai cấp là NHNN và các Ngân hàng chuyên doanh trực thuộc. Hệ thống NHNN Việt Nam hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 – LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990 quy định: NHTM là: “tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    2.     Chức năng của Ngân hàng thương mại.

    Trung gian tín dụng

    Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh

    tế, mặt khác nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối”

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  8

    giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn. Thông qua sự điều chuyển này. ngân hàng thương mại có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi Chính phủ. Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại.

    Trung gian thanh toán

    Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện bên ngoài ngân hàng thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền… Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các khoản chi trả trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ của xã hội dần được thực hiện qua ngân hàng, với những hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại hơn. Chính nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội ở ngân hàng nên việc lưu thông hàng hoá dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn. Không những vậy, do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có điều kiện huy động tiền gửi của toàn xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

    Chức năng tạo tiền

    Xuất phát từ khả năng thay thế lượng tiền giấy bạc trong lưu thông bằng những

    phương tiện thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm chi… Chức năng này được thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống dự trữ quốc gia. Hệ thống tín dụng là điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế theo hệ số tăng trưởng vững chắc. Mục đích của chính sách dự trữ quốc gia là đưa ra một khối lượng tiền cung ứng phù hợp với chính sách ổn định về giá cả, tăng trưởng kinh tế ổn định và tạo được việc làm.

    3.Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  9

    Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển, đang phát triển, thậm chí chưa phát triển thì hoạt động ngân hàng cũng có tác dụng to lớn đến hoạt động của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của ngân hàng được thể hiện như sau:

    Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng tiền vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh.

    Ngân hàng là trung gian trong quá trình thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá nhanh chóng.

    Ngân hàng góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn. Ngân hàng góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung

    cấp các dịch vụ tài chính khác.

    ii.Tính dụng trung dài hạn của hệ thống ngân hàng thương mại.

    Tính dụng là hoạt động tryền thống chủ yếu và quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại. Các nhà nghiên cứu cho rằng các khoản cho vay chiếm tới 60% tài sản của ngân hàng và đem lại 55 – 70% lợi nhuận của ngân hàng. Do vậy ngân hàng phải thực hiện thành công chính sách, kế hoạch tín dụng thì mới có thể tồn tại và phát triển, đồng thời đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế.

    1.     Khái niệm và bản chất của tín dụng ngân hàng.

    Tín dụng ra đời từ thế kỷ XVi, đó là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, đã và đang thể hiện ngày càng rõ nét những đặc tính ưu việt của mình, đóng góp một vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu.

    Tín dụng ngân hàng là “quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo một thời gian nhất định giữa một bên là ngân hàng – một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội, và dân cư trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay ”.

    Đề hiểu rõ bản chất của tín dụng ngân hàng, chúng ta cần xem xét quá trình

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          10

    vận động của tín dụng qua các giai đoạn sau:

    Giai đoạn 1: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay.

    • đây vốn được chuyển từ Ngân hàng sang người đi vay. Xét về bản chất, khi đi vay giá trị của vốn tín dụng ngân hàng giống với việc mua bán các hàng hoá

    thông thường. Chỉ một bên nhận được giá trị còn lại một bên nhượng đi giá trị.

    Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất.

    • giai đoạn này, vốn vay được sử dụng để mua hàng hoá để thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay. Người đi vay không có quyền sở hữu

    mà chỉ có quyền sử dụng vốn vay.

    Giai đoạn 3: Hoàn trả tín dụng

    Đây là giai đoạn kết thúc của một vòng tuần hoàn tín dụng. Khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng của người vay hoàn trả lại cho ngân hàng. ở đây tiền không được bỏ ra thanh toán cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ được đem nhượng đi với một điều kiện là nó quay trở lại điểm xuất phát sau một chu kỳ nhất định. Đó là một bản chất riêng của ngành ngân hàng, sự hoàn trả được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng lên dưới hình thức lợi tức.

    2.Tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại.

    2.1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn, nguồn vốn trung dài hạn và sự cần thiết của nó

    2.1.1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn

    Tín dụng trung dài hạn: “là hoạt động tài chính tín dụng cho khách hàng vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống”. Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể của hoạt động tín dụng trung dài hạn. ở Việt Nam, về thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 11

    hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay thời hạn của tín dụng trung dài hạn được xác định như sau:

    Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 5 năm.

    Thời hạn cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống.

    Như vậy nhìn chung các khoản tín dụng trung dài hạn có các đặc trưng cơ bản sau:

    Chúng có thời hạn trên một năm.

    Chúng được trả bằng những khoản trả vay theo thời gian (có thể theo quý, tháng, năm hoặc nửa năm) trong kỳ hạn của khoản vay.

    Chúng thường được đảm bảo bằng những tài sản lưu động đem ra thế chấp hoặc văn tự cầm cố tài sản cố định.

    Mục đích của hoạt động tín dụng trung dài hạn là để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sảm cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật quy định.

    2.1.2. Nguồn vốn để cho vay trung dài hạn

    Có thể nói rằng nguồn vốn cho hoạt động tín dụng trung dài hạn ở Việt Nam hiện nay là rất nhỏ bé được hình thành từ các nguồn sau:

    Nguồn vốn tự có: nguồn vốn này rất hạn chế vì nó chỉ chiếm từ 5 đến 10% tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.

    Nguồn vốn huy động từ hình thức phát hành trái phiếu trung dài hạn hoặc huy động tiền gửi trung dài hạn.

    Nguồn huy động ngắn hạn định kỳ. Nguồn này có thể được xem xét, tính trích ra một tỷ lệ phần trăm nào đó tuỳ thuộc vào sự biến động của tiền gửi.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          12

    Nguồn vốn vay từ ngân hàng nhà nước. Nguồn này bị hạn chế vào chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN. Các ngân hàng thương mại rất khó thuyết phục NHNN cho vay trung dài hạn vì nó rất dễ gây ra lạm phát, nhất là trong thời kỳ xây dựng cơ bản chưa có hàng hoá đối ứng.

    Nguồn nhận vốn uỷ thác và vốn tài trợ cho vay theo chương trình hoặc dự án đầu tư của nhà nước, của tổ chức kinh tế – tài chính – tín dụng trong và ngoài nước. 2.1.3. Sự cần thiết của tín dụng trung dài hạn

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng trung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ,… Đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay nhu cầu về vốn xây dựng cơ bản là rất lớn, trong lúc các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều, chưa có thời gian để tích luỹ vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn hạn chế. Do vậy các doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn tự có của mình và bộ phận chủ yếu còn lại phải dựa vào sự tài trợ của hệ thống ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh của mình, các doanh nghiệp ngày càng thích huy động vốn để tiến hành đầu tư thông qua hình thức đi vay trung dài hạn tại các ngân hàng hơn là việc phát hành cổ phiếu hoặc phát hành trái phiếu dài hạn vì:

    Việc đi vay vốn trung dài hạn ở ngân hàng sẽ làm cho doanh nghiệp có thể tự chủ và khả năng kiểm soát độc lập được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình mà không bị pha loãng quyền kiểm soát doanh nghiệp với các cổ đông mới trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu mới.

    Trong trường hợp phát hành trái phiếu, không phải doanh nghiệp nào khi cần huy động vốn trung dài hạn chỉ cần bán trái phiếu là có người mua ngay mà còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa như uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Các nhà đầu tư chỉ tiến hành mua trái phiếu của doanh nghiệp khi họ thật

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          13

    sự tin tưởng vào doanh nghiệp mà yếu tố này không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có được.

    Khi doanh nghiệp vay vốn trung dài hạn ngân hàng, ngân hàng sẽ có thể điều chỉnh được kỳ hạn nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian đến hạn trả nợ khi họ không cần phải sử dụng đến vốn vay trung dài hạn. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định thì cũng có thể xin ngân hàng gia hạn nợ. Còn việc huy động vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu thì doanh nghiệp luôn phải đối mặt với việc trả lãi trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi khi công việc kinh doanh gặp khó khăn.

    Việc trả nợ vốn vay trung dài hạn cũng được ấn định theo một sự phân chia hợp lý và ổn định vì vậy các doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các khoản trả nợ một cách dễ dàng hơn.

    Tín dụng trung dài hạn ngày càng được các doanh nghiệp ưa thích hơn vì phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp nhỏ. Các công ty cổ phần lớn cũng thích vay vốn trung dài hạn để tránh những sự phân chia quyền lợi, kiểm soát công ty do việc phát hành cổ phiếu đem lại.

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn tín dụng trung dài hạn cho đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ là rất lớn. Nhu cầu vốn này được thoả mãn một phần nhờ vốn do ngân sách nhà nước cấp phát, vay nước ngoài và một phần huy động từ dân cư. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, việc cung cấp vốn thông qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tín dụng trung dài hạn là rất quan trọng.

    Hệ thống ngân hàng thương mại là một hệ thống kinh doanh tiền tệ, có kinh nghiệm thẩm định các dự án, các chương trình đầu tư do vậy việc các ngân hàng thương mại cung cấp vốn trung dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp. Khi ngân hàng cho vay thì có thể soạn thảo hộ những doanh

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          14

    nghiệp các dự án đầu tư, có thể tư vấn cho các doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, thông tin cho khách hàng những thông tin cần thiết.

    2.2. Các hình thức tín dụng trung dài hạn:

    Hoạt động tín dụng theo dự án đầu tư: đây là hình thức tín dụng trung dài hạn chủ yếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Dự án đầu tư là tợp hợp những đề xuất dựa trên cơ sở căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn để cải tạo đổi mới kỹ thuật và công nghệ những đối tượng là tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Dự án do doanh nghiệp đưa ra và sau khi được các cấp có thẩm quyền xét duyệt về các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, xã hội sẽ được gửi tới ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vay vốn tài trợ của dự án. Dựa vào lĩnh vực tài trợ mà ta chia làm hai hình thức phổ biến:

    -) Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay thế tài sản cố định. Trong hình thức này, nguồn vốn của Ngân hàng tham gia vào dự án tương đối lớn, thời gian tín dụng của dự án không dài, các dự án này thường có quy mô vừa và nhỏ. Các dự án loại này đã và đang được ngân hàng tài trợ có hiệu quả.

    -) Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm để đầu tư xây dựng theo dự án mới, đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi tham gia vào hình thức này nguồn vốn của ngân hàng tham gia thường nhỏ hơn nguồn vốn tự có của chủ đầu tư, thời gian của dự án thường dài.

    Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi hết thời hạn thuê, khách hàng có thể thuê tiếp hoặc mua lại theo các thoả

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          15

    thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng

    Thấu chi: tức là ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được quyền chi vượt số dư trên tài khoản tiền gửi với những điều kiện nhất định. Chi phí cơ bản đối với người vay là lãi suất đánh vào số dư thấu chi ngày. Người vay nói chung chỉ phải trả lãi số tiền đã sử dụng vì không có yêu cầu số dư bồi thường và cho trong giai đoạn số tiền bị lấy đi. Vì lý do đó, chi phí hữu hiệu của một khoản nợ thấu chi là lãi suất được định ra trên số dư thấu chi.

    Bảo lãnh trung dài hạn mua thiết bị trả chậm: là cam kết của ngân hàng về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho chủ đầu tư, đứng trả nhập thiết bị máy móc, thiết bị với thời hạn ít nhất là một năm trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ với nhà xuất khẩu. Hình thức này được áp dụng khi chủ đầu tư không đủ khả năng trả nợ ngay một lần. Họ ký hợp đồng với bên xuất khẩu xin trả nợ dần theo giá trị của thiết bị hàng năm dưới sự bảo lãnh của ngân hàng. Hình thức này rất có lợi cho chủ đầu tư vì họ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để mua máy móc thiết bị mà khoản tiền nay sẽ được trả dần theo một chuỗi niên kim khi các máy móc này sinh lời. Tuy nhiên, nếu chủ đầu tư không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho nhà xuất khẩu thì ngân hàng bảo lãnh phải đứng ra trả nợ thay cho chủ đầu tư, lúc này ngân hàng trở thành chủ nợ chính của nhà đầu tư.

    2.3. Vai trò của tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế thị trường.

    2.3.1. Đối với ngân hàng

    Ngân hàng là tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ, nhận gửi và huy động các nguồn tài chính nhằm mục tiêu lợi nhuận. An toàn trong lợi nhuận là mục của ngân hàng, nói cách khác ngân hàng là một kinh doanh gặp nhiều rủi ro do phần lớn tài sản có của nó là bộ phận tài sản sinh lợi lại không do ngân hàng trực tiếp sử dụng do vậy mà trong quá trình hoạt động, ngân hàng đạt được mục tiêu lợi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          16

    nhuận nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn. Vì vậy ngân hàng luôn quan tâm đến những dự án mang hiệu quả cao. Hơn thế nữa, ngày nay sản phẩm ngân hàng cung ứng ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong những nghiệp vụ truyền thống như nhận gửi, cho vay hay trung gian thanh toán mà còn rất nhiều các nghiệp vụ đa dạng khác. Lợi nhuận do các nghiệp vụ này ngày một chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng. Một trong những khách hàng quan trọng nhất của những nghiệp vụ này không ai khác chính là các doanh nghiệp. Do vậy để tạo được mối quan hệ lâu dài trong tương lai, cũng là thị trường sinh lợi chính của mình, ngân hàng sử dụng tín dụng trung dài hạn như là một công cụ cuốn hút các khách hàng, củng cố lòng trung thành của các khách hàng truyền thống, đồng thời tạo ra các mối quan hệ mới với các khách hàng mới. Ngân hàng thông qua nguồn vốn tín dụng ưu đãi cung cấp tín dụng trung dài hạn cho các khách hàng, không những thu được lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đem lại mà còn thu thêm được lợi nhuận từ những dịch vụ khác cung cấp cho khách hàng. Hơn nữa năng lực cung cấp tín dụng trung dài hạn cũng chứng tỏ ngân hàng có được niềm tin lớn từ khách hàng cũng như công chúng, trong giai đoạn hiện nay nó cũng chứng tỏ khả năng cạnh tranh của ngâng hàng.

    2.3.2. Đối với doanh nghiệp

    Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp đang phải tham gia vào cuộc cạnh tranh gay gắt, đây là một thực tế tất yếu xảy ra ở bất kỳ nền kinh tế nào. Do sức ép của cạnh tranh mà các doanh nghiệp luôn có những nhu cầu đầu tư để tái sản xuất mở rộng, tăng khả năng sản xuất, phát triển thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy doanh nghiệp mới đảm bảo tồn tại và phát triển. Nhưng muốn thực hiện các kế hoạch như vậy doanh nghiệp cần có một lượng vốn nhất định. ở Việt Nam hiện nay khi mà thị trường tài chính chưa hoàn thiện thì tín dụng ngân hàng là một giải pháp tối ưu nhất cho các doanh nghiệp. Đối với tất cả các dự án trên doanh nghiệp cần phải được tài trợ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 17

    bằng một nguồn vốn trung dài hạn, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu này của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp có những công nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, giúp cho doanh nghiệp có thể chịu được những sức ép ban đầu của cạnh tranh và của môi trường kinh doanh mới, giúp cho doanh nghiệp yên tâm hơn trong đầu tư và rảnh tay tính toán với những dự án lớn, hiệu quả cao. An toàn về tài chính và khả năng thanh toán là mối quan tâm của nhiều phía đặc biệt là các doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng trung dài hạn của ngân hàng vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

    2.3.3. Đối với nền kinh tế

    Đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu: Nhu cầu về tín dụng đặc biệt là tín dụng trung dài hạn tồn tại trong tất cả các nền kinh tế, không phụ thuộc vào trình độ phát triển cũng như chế độ chính trị xã hội bởi vì tất cả các quốc gia đều có chung một nhu cầu đó là nhu cầu đầu tư để phát triển. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển mạnh và bền vững nếu trong nền kinh tế đó các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh. Khác với các loại hình đầu tư khác, hoạt động tín dụng trung dài hạn cho phép các tổ chức có được nguồn vốn với thời hạn hoàn vốn lâu dài đủ để đầu tư vào các dự án mang ý nghĩa chiến lược, phát huy được hiệu quả trong trung dài hạn. Đối với các Chính phủ, đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như: đường xá, cầu cảng, sân bay, nâng cấp, xây mới các đô thị… không thể đem lại hiệu quả trong chốc lát nhưng nó sẽ mang lại ích lợi to lớn sau này. Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính trung dài hạn, đối với các chính phủ sẽ giúp họ theo đuổi được các chính sách kinh tế vĩ mô từ đó có thể hướng được đầu tư tư nhân vào các ngành mà họ đang khuyến khích phát triển, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn. Với những công trình lớn do Chính phủ thực hiện, sẽ tạo ra nhiều việc làm mới, hình thành nhiều công ty đứng ra phục vụ các nhu cầu còn bỏ ngỏ. Những công trình phúc lợi được tài

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          18

    trợ bằng nguồn vốn trung dài hạn không đem lại lợi ích cho cá nhân thực hiện nhưng lợi ích mà nó tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế là vô cùng to lớn. Như vậy có thể nói tín dụng trung dài hạn đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các chương trinh kinh tế xã hội của một quốc gia, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc, theo chiều sâu.

    Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu của Chính phủ: Hiện nay ở nước ta đang tiến hành CNH – HĐH. Công nghiệp hoá không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới về công nghệ tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững, hiệu quả cao cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện hiện nay khi thị trường vốn của nước ta chưa phát triển thì hiện tại và trong thời gian tới tín dụng trung dài hạn vẫn đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình CNH – HĐH. Thông qua hoạt động tín dụng trung dài hạn, ngân hàng có thể cho vay đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành kinh tế này cũng như hạn chế đối với ngành kinh tế khác. Như vậy qua chính sách tín dụng trong từng thời kỳ mà các NHTM có thể tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn: tín dụng trung dài hạn đầu tư cho một dự án mới để đầu tư vào các máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản của doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất phát triển. Khi đó nhu cầu vôn lưu động sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Tốc độ phát triển sản xuất càng lớn thì nhu cầu vốn ngắn hạn càng lớn.

    Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu: Nhờ có tín dụng trung dài hạn của ngân hàng mà các doanh nghiệp có thể nhập khẩu công nghệ mới từ đó nâng cao được năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, được thị trường quốc tế chấp nhận. Thị trường của doanh nghiệp được mở rộng ra thị trường quốc tế góp phần tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          19

    Đảm bảo nguồn thu vững chắc cho Ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Khối lượng sản phẩm lớn được sản xuất và tiêu thụ sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách từ các loại thuế như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK…Trong trường hợp hàng hoá được xuất khẩu thì

    chúng ta sẽ thu được một nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.

    Ngoài ra, tín dụng trung dài hạn còn mang ý nghĩa to lớn đối với các cá nhân trong xã hội và trong toàn bộ nền kinh tế. Sản xuất phát triển, các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, tích luỹ trong xã hội tăng lên, nền kinh tế biến đổi về chất, phúc lợi xã hội được đảm bảo, việc làm tạo ra ngày càng nhiều, tỷ lệ thất nghiệp giảm đi đôi với chất lượng cuộc sống ngày một tăng lên của các tầng lớp dân cư trong xã hội.

    2.     Chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    3.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Tín dụng ngân hàng là một sản phẩm của ngân hàng cung ứng phục vụ các khách hàng của mình. Cũng như các sản phẩm khác nó cũng có chất lượng, tuy nhiên vì ngành ngân hàng là một ngành kinh tế đặc biệt, liên quan chặt chẽ đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nên chất lượng tín dụng ngân hàng có những đặc trưng riêng.

    Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng có lựa chọn, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội

    Chất lượng tín dụng trung dài hạn là chất lượng của các khoản vay có thời hạn trên một năm, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được sử dụng đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn vừa bù đặp được chi phí vừa có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả kinh tế xã hội

    Từ khái niệm trên ta thây rằng khách hàng, NHTM, và bối cảnh kinh tế là ba

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          20

    nhân tố được đề cập đến khi xem xét chất lượng hoạt động tín dụng trung dài hạn. Việc xem xét chất lượng tín dụng trung dài hạn mà thiếu đi một trong ba nhân tố đó là phiến diện vì ba nhân tố này tác động qua lại, vừa thúc đẩy vừa kiềm chế lẫn nhau. Do đó chúng ta xem xét chất lượng tín dụng trung dài hạn trên ba giác độ đó

    Đối với ngân ngân hàng: chất lượng tín dụng trung dài hạn thể hiện ở phạm vi, mức độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực theo hướng tích cực của ngân hàng và phải bảo đảm được khả năng cạnh tranh trên thị trường, làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển. Chất lượng tín dụng trung dài hạn thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý, dư nợ tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý, đảm bảo cơ cấu giữa nguồn vốn ngắn hạn, trung dài hạn trong nền kinh tế.

    Đối với khách hàng: chất lượng tín dụng trung dài hạn là sự thoả mãn yêu cầu hợp lý của khách hàng với lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản đảm bảo thu hút khách hàng nhưng vẫn tuân thủ đúng những quy định của tín dụng, góp phần làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh và duy trì sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.

    Đối với nền kinh tế: khoản tín dụng trung dài hạn có chất lượng phải hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ

    tầng kinh tế, vừa thúc đẩy tiêu dùng, thu hút tối đa nguồn vốn trong nước, đồng thời tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.

    3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Chỉ tiêu về huy động vốn trung dài hạn:

    Tổng nguồn vốn trung dài hạn và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn này: chỉ tiêu này thể hiện tốc độ tăng trưởng và khả năng huy động vốn trung dài hạn của ngân hàng.

    Vốn trung dài hạn / Tổng nguồn vốn huy động: phản ánh cơ cấu vốn trung dài hạn của ngân hàng và khả năng cung ứng vốn cho đầu tư phát triển. Ngân hàng

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          21

    không có cơ hội mở rộng hoạt động tín dụng nếu như tỷ lệ này quá thấp.

    Nhóm chỉ tiêu cho vay trung dài hạn

    Doanh số cho vay trung dài hạn: phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân giúp doanh nghiệp trong đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng công nghệ mới… Con số này thể hiện xu hướng hoạt động tín dụng trung dài hạn mở rộng hay thu hẹp. Tuy nhiên việc doanh số cho vay tăng không phải lúc nào cũng là tốt và ngược lại doanh số cho vay thu hẹp không phải lúc nào cũng là xấu, vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm lực của ngân hàng, điều kiện của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.

    Doanh số thu nợ trung dài hạn: phản ánh lượng vốn trung dài hạn mà ngân hàng đã được hoàn trả trong một thời kỳ. Doanh số này có thể phản ánh doanh nghiệp do tình hình kinh doanh ổn định mà trả nợ ngân hàng đúng hạn hoặc ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu không lành mạnh trong việc kinh doanh của khách hàng mà tăng cường việc thu hồi vốn.

    Dư nợ tín dụng trung dài hạn: là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn trung dài hạn của ngân hàng đã được giải ngân tại một thời điểm cụ thể. Không thể đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn cao hay thấp dựa vào chỉ tiêu này mà phải xem xét mức độ an toàn và tính lành mạnh của nó.

    Dư nợ tín dụng trung dài hạn / Tổng dư nợ: Cho biết tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn là lớn hay nhỏ trong tổng dư nợ, đồng thời cũng cho biết mối tương quan với dư nợ tín dụng ngắn hạn.

    Nhóm chỉ tiêu về nợ quá hạn:

    Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn = Nợ quá hạn trung dài hạn / Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn. Để tỷ lệ này phản ánh đúng chất lượng cho vay trung dài hạn nên loại trừ các khoản nợ khoanh ra khỏi nợ quá hạn cũng như loại trừ các khoản cho vay ưu đãi và cho vay theo chỉ định của Nhà nước ra khỏi tổng dư nợ.

    Tỷ lệ nợ quá hạn thông thường (cho các khoản nợ dưới 180 ngày): chỉ tiêu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          22

    này có ý nghĩa với ban lãnh đạo ngân hàng trong việc đốc thúc cán bộ cho vay nhằm thu nợ đúng hạn. Tuy vậy, nó chưa phản ánh đúng chất lượng cho vay bởi những khoản vay do khách quan mà doanh nghiệp không thể trả nợ được đúng hạn nhưng doanh nghiệp có khả năng trả nợ vào một thời gian ngắn sau đó

    Tỷ lệ nợ quá hạn khê đọng: áp dụng cho các khoản nợ quá hạn từ 6 đến 12 tháng. Đây là khoản nợ quá hạn có vấn đề với ngân hàng, thể hiện chất lượng cho vay của khoản vay kém. Ngân hàng nếu không có biện pháp khắc phục khoản nợ này sẽ phải gánh chịu tổn thất.

    Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi: áp dụng cho các khoản nợ quá hạn trên 1 năm. Nếu tỷ lệ này cao, ngân hàng không những phải gánh chịu tổn thất mà còn có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán.

    3.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn:

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          23

    3.3.1. Các nhân tố về phía khách hàng

    Tiềm lực tài chính của khách hàng: Thể hiện qua các chỉ tiêu như vốn tự có, hệ số nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi hàng năm… có tiềm lực tài chính mạnh, doanh nghiệp vay vốn sẽ dễ dàng hơn trong việc thoả thuận với ngân hàng về các khoản vay và dịch vụ tài chính khác cũng như uy tín của doanh nghiệp trong việc trả nợ ngân hàng

    Triển vọng kinh doanh: Thông thường khi doanh nghiệp đưa vốn của ngân hàng vào kinh doanh, một doanh nghiệp đang trong tình trạng thị phần của mình bị thu hẹp, nhà cung cấp không ổn định, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn thì tất nhiên khả năng hoàn trả vốn tín dụng cho ngân hàng sẽ không được đảm bảo. Ngược lại một triển vọng kinh doanh sáng sủa đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ mạnh dạn trong việc tài trợ cho doanh nghiệp các nhu cầu về vốn do ngân hàng có thể xác định được các khoản tín dụng cấp cho khách hàng là có chất lượng hay không.

    Mức độ bảo đảm tín dụng: Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại luôn đề cập đến vấn đề tài sản đảm bảo cho khoản vay đặc biệt là đối với các khoản tín dụng trung dài hạn.

    Xét về cầm cố thế chấp: ngân hàng sẽ cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên số tài sản cầm cố thế chấp. Loại trừ sự vi phạm đạo đức kinh doanh, nếu doanh nghiệp có đủ tài sản để thế đảm bảo cho các khoản vay thì khoản cho vay này có thể được xem là ít rủi ro, từ đó chất lượng khoản cho vay này cũng được cải thiện.

    Xét về bảo lãnh: Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có uy tín, có mối quan hệ làm ăn lâu dài với các đối tác của mình có thể nhận được sự bảo lãnh để vay vốn ngân hàng. Nếu bên bảo lãnh thường xuyên đảm bảo được năng lực tài chính và năng lực pháp lý tham gia vào hoạt động kinh doanh thì chất lượng cho vay có thể được đảm bảo.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          24

    Đạo đức kinh doanh: nếu khách hàng trung thực sử dụng vốn vay đúng mục đích thì rủi ro xảy ra đối với ngân hàng sẽ ít đi do để dẫn tới quyết định cung cấp vốn trung dài hạn cho khách hàng ngân hàng đã có một quá trình xét duyệt hồ sơ xin vay và nếu như quá trình này thực hiện một cách chính xác thì khi vốn sử dụng đúng mục đích như hồ sơ xin vay, sẽ xảy ra ít rủi ro hơn. Trong thời gian qua một tỷ lệ rủi ro tín dụng tương đối cao xuất phát từ nguyên nhân sử dụng vốn sai mục đích. Đặc biệt là có một số doanh nghiệp tư nhân làm ăn theo kiều lừa đảo khiến cho các ngân hàng không dám cho vay nhiều đối với thành phần kinh tế này.

    Năng lực quản lý và trình độ của doanh nghiệp vay vốn: Xem xét triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp cần xuất phát từ yếu tố con người. Thiếu năng động trong kinh doanh, không kịp thay đổi chiến lược khi môi trường kinh doanh thay đổi, đội ngũ nhân viên không có trình độ, thiếu kỷ luật… sẽ làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng, chất lượng khoản vay không được đảm bảo.

    3.3.2. Các nhân tố về phía ngân hàng.

    Chính sách tín dụng:

    Với chính sách tín dụng do ngân hàng nhà nước ban hành và các ngân hàng thương mại dựa vào đó để đề ra các chính sách cho phù hợp với ngân hàng của mình. Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng là văn bản thể hiện chiến lược và đường lối của ngân hàng thương mại trong việc thực thi các giao dịch cho vay đơn lẻ cũng như chiến lược cho vay trong từng thời kỳ. Trong đó có quy trình về một nghiệp vụ cho vay chuẩn để quy định trình tự các bước tiến hành trong quá trình xét duyệt cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo các khoản vay để tạo ra các khoản vay chất lượng tốt.

    Chất lượng nhân sự:

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          25

    Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại của công việc. Nghiệp vụ hoạt động ngân hàng càng phát triển thì đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao hơn. Để thực hiện tốt hoạt động tín dụng trung dài hạn thì cán bộ tín dụng phải tiến hành thẩm định dự án. Nhưng nếu trình độ hạn chế do không được đào tạo chính quy, chuyên sâu hoặc thiếu kinh nghiệm nên không đánh giá được tính khả thi của dự án, không phân tích chính xác báo cáo tài chính, khả năng quản lý của khách hàng… nên thường không có quyết định chính xác về việc cho vay dự án. Bên cạnh đó, đặc biệt cán bọ ngân hàng cần phải có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp. Một công việc có liên quan đến tiền bạc, phải là người có lòng trung thực, có lương tâm và đạo đức tốt, ý chí cao thì cán bộ tín dụng mới tránh khỏi những cám dỗ của đồng tiền. Trên thực tế đã có không ít những món vay không đảm bảo an toàn cho ngân hàng nhưng vẫn được cán bộ tín dụng cho phép, tất nhiên sau đó họ sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật nhưng tổn thất họ gây ra ngân hàng và nền kinh tế vẫn không tránh khỏi.

    Công tác thẩm định dự án

    Thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách quan toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Mục đích của việc thẩm định dự án là giúp cho ngân hàng rút ra các kết luận chính xác về tính khả thi của dự án, bao gồm hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ ngân hàng từ đó ngân hàng có thể ra các quyết định cho vay hoặc từ chối. Cũng từ quá trình thẩm định , ngân hàng có thể tham gia tư vấn, góp

    • cho chủ đầu tư đồng thời căn cứ vào đó để xác định số tiền cho vay, thời hạn cho

    vay cũng như hình thức trả gốc và lãi tạo điều kiện cho khách hàng hoạt động có hiệu quả. Nếu việc thẩm định không được thực hiện đúng với trình tự, nội dung không đầy đủ, chính xác thì khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn. Tuy nhiên, nếu quá trình thẩm định diễn ra quá thận trọng, tốn nhiều gian, quá trình cho vay có nhiều thủ tục rườm rà thì ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội đầu tư, làm

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          26

    giảm tính hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tất nhiên chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ giảm sút.

    Công tác tổ chức của ngân hàng

    Công tác tổ chức không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà còn tác động

    đến mọi hoạt động của ngân hàng. Nếu chỉ xét riêng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, thì việc tổ chức thiếu khoa học sẽ tạo sự chồng chéo trong việc phối hợp công việc giữa các bộ phận trong ngân hàng, ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối với một món vay. Tổ chức thiếu khoa học cũng có thể tạo ra sự thiếu chặt chẽ giữa các khâu, tính ỷ lại, thiếu trách nhiệm của các cán bộ tín dụng đối với công việc. Vì vậy, công tác tổ chức trong ngân hàng phải được hết sức coi trọng. Tổ chức phải đảm bảo đúng người đúng việc, phát huy được khả năng của cán bộ, tạo ra sự nhịp nhàng giữa các khâu. nếu được tổ chức một cách hợp lý, ngân hàng sẽ rút ngắn thời gian thẩm định nhưng vẫn hạn chế tối đa sự thiếu chính xác trong quá trình thẩm định, vừa đảm bảo an toàn cho ngân hàng vừa phục vụ khách hàng tốt hơn, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.

    Thông tin tín dụng

    Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng, những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng dễ dàng hơn trong việc ra quyết định cho vay hay không đồng thời cũng thuận tiện cho ngân hàng trong quá trình kiểm tra, giám sát khoản vay… Thông tin tín dụng chính xác sẽ giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro ở mức thấp nhất.

    3.3.3. Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

    Môi trường kinh tế

    Các điều kiện kinh tế trong từng thời kỳ có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trong đó có tín dụng trung dài hạn. Chẳng hạn trong một nền kinh tế phát triển quá nóng, Chính phủ để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng bền vững đề ra một số biện pháp nhằm hạn chế đầu tư. Định hướng này của chính phủ sẽ tác động đến hệ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          27

    thông ngân hàng thông qua chính sách tiền tệ. Các ngân hàng sẽ phải thắt chặt chính sách tín dụng, các khoản tài trợ cho nền kinh tế sẽ được xem xét một cách kỹ lưỡng hơn trước khi quyết định đầu tư thay cho các quyết định nhanh chóng trước kia, từ đó khả năng xảy ra rủi ro cho ngân hàng sẽ ít hơn. Hơn nữa để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho một nền kinh tế đang phát triển, đòi hỏi bản thân ngân hàng cũng phải đổi mới cho phù hợp với tình hình mới. Sự đổi mới này diễn ra ở tất cả các khâu bao gồm công tác tổ chức, trang thiết bị, trình độ nhân sự… chất lượng tín dụng do đó cũng được nâng lên.

    Môi trường chính trị – xã hội

    Môi trường chính trị xã hội ổn định là một điều kiện vô cùng quan trọng trong việc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư dài hạn cho hoạt đông sản xuất kinh doanh. Một môi trường chính trị – xã hội ổn định sẽ là cơ sở rất tốt cho hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng, vì chỉ khi có nhu cầu đầu tư dài hạn trong nền kinh tế mới xuất hiện nhu cầu vay vốn trung dài hạn ngân hàng. Hơn nữa sự mất ổn định về chính trị – xã hội sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của các doanh nghiệp và nếu doanh nghiệp này đang vay vốn ngân hàng thì rõ ràng việc thu hồi nợ của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn. Chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.

    Môi trường pháp lý

    Môi trường pháp lý không chặt chẽ hoặc thiếu chặt chẽ hay thay đổi cũng gây

    ra ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Môi trường pháp lý ở Việt Nam ta là một vấn đề nổi cộm. Ngay trong lĩnh vực ngân hàng, hiện nay không có một cơ quan nào chứng thực về tài sản và quản lý quá trình chuyển dịch sở hữu tài sản thế chấp để khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chưa có sơ sở pháp lý để phát mại; việc thế chấp đất của thành phần kinh tế quốc doanh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng phần lớn là đi thuê của nhà nước; các chính sách thay đổi trong quá trình chuyển đổi cơ chế như việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          28

    không đồng bộ với việc giải quyết các khoản nợ ngân hàng cũng như làm cho hoạt động thu hồi vốn kinh doanh của các ngân hàng cũng bị ảnh hưởng; các chính sách thường hay thay đổi là một bất lợi lớn vì các doanh nghiệp không dự đoán được cơ hội kinh doanh nên không thực hiện được các dự án, hoặc việc thực hiện các dự án không diễn ra theo đúng kế hoạch ảnh hưởng đến quá trình thu hồi nợ của ngân hàng.

    Bên cạnh các yếu tố trên còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng chẳng hạn môi trường tự nhiên: thiên tai làm cho hoạt động của doanh nghiệp bị đình trệ thậm chí phá sản dẫn tới không trả nợ được cho ngân hàng. Tuy nhiên đây là một yếu tố bất khả kháng, trong trường hợp này các ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tài trợ cho khách hàng để tiếp tục kinh doanh từ đó có thể thu hồi được cả nợ cũ lẫn nợ mới.

    3.4. Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    3.4.1. Sự cần thiết phải mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn hiện nay.

    a/ Về mở rộng tín dụng trung dài hạn

    Hoạt động của doanh nghiệp hiện nay theo nguyên tắc hạch toán kinh tế và phải chấp nhận tự bù đắp. kinh doanh có hiệu quả và có lãi là yêu cầu của hạch toán kinh tế, đồng thời cũng là một trong những điều kiện khi đi vay vốn ngân hàng. Do đó tín dụng trung dài hạn thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả kinh doanh. Việc cấp tín dụng được thực hiện trong điều kiện phải hoàn lại chi phí đầu tư. Việc xác định thời hạn hoàn trả tín dụng phải xuất phát từ tính chất luân chuyển của vật tư và chí phí. Điều đó thúc đẩy cải tiến hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó góp phần tác động đến việc nâng cao mức doanh lợi của doanh nghiệp.

    Đối với nước ta, là một nước đang trong quá trình CNH – HĐH, xây dựng những tiền đề cần thiết để có những bước phát triển mạnh ở giai đoạn sau thì nhu vốn cho đầu tư phát triển là rất lớn. Theo báo cáo, thì nhu cầu vốn trong giai đoạn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          29

    2000 – 2003 của toàn bộ nền kinh tế là 56 – 57 tỷ USD, trong đó hơn 60,5% (tương đương 36 tỷ USD) là vốn từ nội bộ nền kinh tế và 40,5% còn lại là thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác thị trường tài chính của nước ta còn kém phát triển, thị trường chứng khoán tuy đã đi vào hoạt động nhưng quy mô chưa lớn thì việc mở rộng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết. b/ Về nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    Đối với nền kinh tế

    Thứ nhất: Chất lượng tín dụng trung dài hạn tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn.

    Thứ hai: chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế.

    Thứ ba: tín dụng trung dài hạn là công cụ để thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, chất lượng tín dụng trung dài hạn được nâng cao sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đầu tư đúng hướng để khai thác tiềm năng về tài nguyên, lao động, đảm bảo sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, phát triển cân đối giữa các ngành nghề, các vùng trong cả nước theo hướng CNH – HĐH.

    Đối với ngân hàng

    Thứ nhất: chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần làm lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng, các thủ tục về tín dụng trung dài hạn được đơn giản, thuận tiện sẽ tạo điều kiện để mở rộng quan hệ tín dụng nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho ngân hàng.

    Thứ hai: chất lượng tín dụng trung dài hạn đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng: làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ do tăng nhanh vòng quay vốn tín dụng, nâng cao uy tín của ngân hàng để có thể thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          30

    nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng bởi nó cho phép ngân hàng giữ được khách hàng trung thành và thu hút được các khách hàng khác.

    Đối với doanh nghiệp

    Thứ nhất: chất lượng tín dụng trung dài hạn được nâng cao tăng niền tin cho khách hàng đối với ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyền chọn ngân hàng làm đối tác, khách hàng chỉ đến những ngân hàng nào giúp họ thực hiện các dự án một cách có hiệu quả thông qua các dịch vụ của ngân hàng về tín dụng. Điều này tác động ngược trở lại ngân hàng: khi chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng được nâng cao thì thị trường của ngân hàng được mở rộng.

    Thứ hai: nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần phát triển hoạt động kinh doanh, lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Chất lượng tín dụng trung dài hạn được đảm bảo thì hoạt động của ngân hàng cũng phát triển, do đó ngân hàng có điều kiện đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho các doanh nghiệp. Mặt khác để đảm bảo nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn, các ngân hàng phải giúp đỡ, kiểm tra, giám sát tình hình tài chính của doanh nghiệp, qua đó chấn chỉnh những sai sót trong hoạt động tìa chính của họ.

    Chính vì những lý do trên, việc củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng là sự cần thiết khách quan để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển vững chắc đồng thời tạo ra hiệu quả kinh tế cho toàn xã hội.

    3.4.2. Một số kinh nghiệm để mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Đa dạng hoá các hình thức cho vay trung và dài hạn: Bên cạnh việc cho vay trực tiếp với những khách hàng, cần tăng cường việc cho vay hợp vốn với các dự án lớn mà một mình ngân hàng khó có thể kham nổi (tăng cường các hợp đồng đồng tài trợ). Mở rộng các nghiệp vụ cho vay bất động sản, cho vay trả góp…

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          31

    Mở rộng thị trường cho vay: Tiến hành thu hút khách hàng thông qua chính sách cho vay ưu đãi, các ưu đãi có thể là cho vay với lãi suất thấp hoặc ưu đãi về thời hạn trả nợ… áp dụng nhiều hình thức dịch vụ mới như dịch vụ tri trả hộ, dịch vụ uỷ thác, dịch vụ bảo quản tài sản, dịch vụ tư vấn khách hàng…

    Điều chỉnh cơ cấu cho vay phù hợp với cơ cấu kinh tế đang chyển đổi. Tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế đang có tốc độ tăng trưởng cao. Đối với nước ta, một nước đang tiến hành công nghiệp hoá, với xu hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế thì khi tiến hành cho vay cũng cần ưu tiên cho các ngành công nghiệp và dịch vụ.

    Bên cạnh việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng mạng lưới chi nhánh trong nước, ngân hàng cần tiến hành thành lập các chi nhánh ở nước ngoài nhằm mở rộng thị trường cho vay quốc tế.

    Tăng cường công tác đối ngoại, hợp tác với các ngân hàng, tổ chức tín dụng quốc tế nhằm mở rộng thị trường cho vay liên ngân hàng.

    Nâng cao trình độ đội ngũ tín dụng: con người là nhân tố mấu chốt của mọi thắng lợi, trình độ của cán bộ ngân hàng được nâng cao. Có trình độ chuyên môn, am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau có liên quan đến hoạt động tín dụng trung dài hạn, được trang bị những kiến thức về sự phát triển của kinh tế thị trường, kiến thức về Marketing với việc đáp ứng nhu cầu, thoả mãn mọi mong muốn của khách hàng.

    Tăng cường đổi mới công nghệ ngân hàng: trang bị, nâng cấp máy móc thiết bị tin học công nghệ là đòn bẩy của sự phát triển, là điều kiện để một ngân hàng hội nhập vào cộng đồng tài chính ngân hàng quốc tế. Hiện đại hoá công nghệ nhằm nâng cao chất lượng phụ vụ, đáp ứng nhu cầu quản lý và tăng cường cạnh tranh để có thị phần khách hàng lớn trong hệ thống ngân hàng quốc gia.

    Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm soát, kiểm tra và kiểm toán nội bộ: ở Việt Nam công tác kiểm tra, kiểm soát còn yếu trong những năm qua còn yếu nên đây là

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          32

    một trong những chương trình hành động quan trọng để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng đi đúng hành lang pháp lý, thực hiện các biện pháp an toàn và kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời tăng cường tập trung chỉ đạo công tác kiểm toán để nhìn nhận một cách khách quan thực trạng tài chính của các doanh nghiệp vay vốn cũng như đơn vị mình.

    Nâng cao chất lượng thẩm định của các dự án về cả mặt tài chính cũng như về mặt kỹ thuật của dự án đó.

    Giảm nợ quá hạn, tăng cường khai thác tài sản xiết nợ gồm có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh có nghĩa là hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh, quản lý và sử dụng các tài sản xiết nợ tốt hơn. Đối với các khoản nợ quá hạn trước đây có thể thu hồi lại bằng một số biện pháp:

    Đối với khách hàng gặp khó khăn nhất thời trong sản xuất kinh doanh, ngân hàng có thể giảm lãi suất, thu nợ gốc trước, tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ Trong trường hợp bên vay cố tình không trả nợ, ngân hàng kiên quyết yêu cầu

    các cơ quan có thẩm quyền can thiệp nhằm thu hồi nợ

    Đối với các khoản vay không thu được nợ, nếu có thể thu hồi bằng tài sản, ngân hàng cần nhanh chóng nắm giữ hồ sơ gốc của các tài sản này, tránh để các ngân hàng khác hoặc chủ nợ khác nắm giữ.

    Lập các quỹ đề phòng rủi ro để làm nguồn tài chính quan trọng cho việc bù đắp các khoản xoá nợ, khoanh nợ, giãn nợ, làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của ngân hàng.

    Nợ không thể đòi được do doanh nghiệp phá sản, giải thể có thể giải quyết bằng quỹ phòng ngừa rủi ro, nếu chưa có quỹ này thì chờ khi nào trích được quỹ phòng ngừa rủi ro thì xử lý

    Nợ có thể đòi được thì ngân hàng cùng ban lãnh đạo của doanh nghiệp cùng bàn bạc để tìm ra biện pháp trả nợ, kể cả trường hợp bán nợ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          33

    Tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn để đề phòng những rủi ro

    không lường trước được như thiên tai, hoả hoạn, chính trị…

    Đa dạng hóa danh mục đầu tư: không nên hạn chế vào một số ít doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh mà nên đầu tư vào tất cả các lĩnh vực với một cơ cấu hợp lý để phân tán rủi ro khi tình hình kinh doanh của một ngành nghề, một số các doanh nghiệp bị xấu đi.

    Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn thông qua việc thu hút các nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế, của dân cư để tạo nguồn. Từ đó ngân hàng có cơ sở để tiến hành cho vay trung dài hạn. Đặc biệt nguồn tiền gửi có kỳ hạn dài, đây là một nguồn quan trọng để ngân hàng có tiềm lực mạnh trong việc cho vay trung dài hạn. Ngân hàng cần có những giải pháp mới trong việc huy động vốn qua các kênh: hoàn thiện các hình thức huy động vốn hiện có, áp dụng thêm các hình thức huy động mới với thủ tục đơn giản, có khả năng chuyển nhượng dễ dàng, với các phương thức trả lãi linh hoạt…

    CHƯƠNG HAI:

    THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI

    THƯƠNG VIỆT NAM

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          34

    i.Tổng quan về ngân hàng ngoại thương.

    1. Sự hình thành và phát triển

    Ngân hàng ngoại thương Việt Nam được thành lập vào năm 1963, với chức năng là ngân hàng phục vụ kinh tế đối ngoại duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tổ chức tiền thân là Cục quản lý Ngoại hối của Ngân hàng quốc gia. Ngân hàng ngoại thương ra đời đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong hoạt động ngân hàng của Việt Nam. Trong hơn 35 năm hoạt động, không ngừng phát triển và trưởng thành, Ngân hàng ngoại thương đã đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là từ khi đất nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường – hướng mạnh về xuất khẩu – có sự quản lý của nhà nước và đinh hướng xã hội chủ nghĩa.

    Khi thành lập Ngân hàng ngoại thương chỉ có một cơ sở ở Hà Nội, ngày nay ngân hàng đã trở thành một hệ thống hoàn chỉnh gồm Ngân hàng ngoại thương Trung ương và 23 chi nhánh tại các tỉnh thành phố, duy trì mối quan hệ với hơn 1000 Ngân hàng khác tại 85 nước trên thế giới nhằm đảm bảo thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tín dụng quốc tế và các nghiệp vụ ngân hàng khác, an toàn và từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng ngoại thương.

    3.     Hệ thống tổ chức của Ngân hàng ngoại thương hiện nay

    Trong thời gian qua, ngân hàng đã triển khai mô hình tổ chức mới theo loại hình doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo trong hoạt động kinh doanh. Ngân hàng ngoại thương hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các hoạt động liên quan đến hoạt động tài chính, tiền tệ, ngân hàng.

    Sơ đồ tổ chức ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Trụ sở chính

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          35

    Hội đồng

    quản trị

    Ban kiểm

    soát

    Ban

    Tổng giám

    Hội đồng

    Tín dụng

    Phòng kiểm tra nội bộ

    Phòng quản lý tín dụng

    Phòng đầu tư và chứng khoán

    Phòng Công nợ

    Phòng Khách hàng

    Phòng kế toán tài chính

    Phòng kế toán quốc tế

    Phòng quản lý thẻ

    Trung tâm thanh toán

    Phòng tin học

    Phòng quản lý các đề án công nghệ

    Phòng tổng hợp thanh toán

    Phòng tổng hợp và phân tích kinh

    Phòng vốn

    Phòng quan hệ quốc tế

    Phòng quản lý liên doanh và văn phòng đại diện

    Phòng tín dụng quốc tế

    Phòng báo chí

    Văn phòng

    Phòng đầu tư và chứng khoán

    Phòng quản trị

    Phòng pháp chế

    Phòng thông tin tín dụng

    Mạng lưới trong nước

                         
    Trung tâm đào tạo và   Sở giao   Các chi nhánh   Các công ty con
    bồi dưỡng nghiệp vụ                  
                   
                         

    Mạng lưới ngoài nước

               
               
    Văn phòng đại diện     Công ty Tài chính
    (Paris, Moscow, Singapore)     (Hồng Kông)
               

    Cơ quan cao nhất của Ngân hàng ngoại thương là hội đồng quản trị mà đứng đầu là vị chủ tịch. Hội đồng quản trị là nơi đề ra các chiến lược kinh doanh chủ yếu cũng như các chế độ chính sách lớn của ngân hàng. Ban kiểm soát có nhiệm vụ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 36
     

    giám sát các hoạt động của Hội đồng. Tổng giám đốc trực thuộc Hội đồng quản trị thay mặt Hội đồng quản trị để điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của ngân hàng. Ngoài ra theo cơ cấu tổ chức của Ngân hàng ngoại thương còn có một hội đồng tín dụng giám sát hoạt động tín dụng của Tổng giám đốc ngăn ngừa những vi phạm chế độ tín dụng có thể xảy ra. Tại VCB Trung ương có 23 phòng ban có nhiệm vụ phối hợp với nhau để giúp cho Tổng giám đốc điều hành công việc kinh doanh.

    4.     Các nghiệp vụ của Ngân hàng ngoại thương

    Trong khuôn khổ của pháp luật, Ngân hàng ngoại thương có quyền thực hiện các nghiệp vụ:

    1. Huy động vốn

    Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của tất cả các tổ chức, dân cư trong nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ.

    Phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và các hình thức huy động vốn khác.

    1. Tiếp nhận tài trợ, vốn uỷ thác của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân khác cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
    2. Vay vốn ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tài chính tín dụng khác trong và ngoài nước, các tổ chức và cá nhân nước ngoài.
    1. Cho vay

    Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam đối với cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế.

    Chiết khấu các thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị khác trị giá bằng tiền.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          37

    1. Thực hiện các nghiêp vụ cho thuê tài chính (kể cả nhập khẩu và tái xuất thiết bị cho thuê).
    1. Thực hiện nghiệp vụ thanh toán L/C, bảo lãnh, tái bảo lãnh cho các doanh nghiệp, tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước.
    1. Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng đối ngoại
    1. Đầu tư dưới hình thức mua cổ phần, hùn vốn, liên doanh, mua tài sản và các hình thức đầu tư khác với các doanh nghiệp và tổ chức tài chính tín dụng khác.
    1. Thực hiện nghiệp vụ cầm cố bất động sản.
    1. Kinh doanh vàng bạc, kim khí quí, đá quí (kể cả xuất nhập khẩu).
    1. Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
    1. Kinh doanh chứng khoán và làm môi giới, đại lý phát hành chứng khoán cho

    khách hàng.

    1. Cất giữ bảo quản và quản lý các chứng khoán, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các tài sản quý cho khách hàng.
    1. Thực hiện các dịch vụ tư vấn về tiền tệ, đại lý ngân hàng quản lý tiền vốn và các dự án phát triển theo yêu cầu của khách hàng.
    1. Đầu tư, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản thế chấp, cầm cố đã được chuyển

    thành tài sản thuộc sở hữu Nhà nước do Ngân hàng ngoại thương quản lý để sử dụng hoặc kinh doanh; tự doanh hoặc liên doanh dầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ kinh doanh và được phép cho thuê phần năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật chưa sử dụng.

    1. Thực hiện dịch vụ bảo hiểm.
    1. Kinh doanh những ngành nghề khác theo qui định của pháp luật khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.
    1. Thực hiện các nghiệp vụ uỷ nhiệm khác của Nhà nước và ngân hàng nhà nước.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          38

    4.Tình hình hoạt động của ngân hàng ngoại thương năm 2000

    4.1. Nguồn vốn

    Tổng nguồn vốn tăng trưởng mạnh và liên tục. Đến cuối tháng 12 năm 2000 tổng nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương đạt 66.618 tỷ quy VND, tăng 45,3% so với cuối năm 1999. Nếu ngoại trừ yếu tố tỷ giá thì tổng nguồn vốn tăng ở mức 41,7% vượt chỉ tiêu kế hoạch đặt ra là 25%. Trong đó nguồn vốn ngoại tệ phát triển mạnh đạt 3.395 triệu USD (tương đương 49.229 tỷ VND), tăng 43,7%, chiếm tỷ trọng tới 74,9% trong tổng nguồn vốn. Nguồn vốn tiền đồng đạt 17.389 tỷ đồng chiếm 25,1%. Nguồn vốn huy động từ nền kinh tế (thị trường 1) của ngân hàng thương mại chiếm tỷ lệ cao so với toàn ngành và so với khối bốn ngân hàng thương mại quốc doanh, chiếm tương ứng khoảng 24,7% và 32,0% (năm 1999 khoảng 23,1% và 29,6%).

    4.2.     Hoạt động tín dụng

    Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm 2000 đạt khá cao, tổng dư nợ cho vay đạt 15.634 tỷ quy VND, tăng 36,0%. Doanh số cho vay đạt 38.731 tỷ quy VND tăng 35,1%; doanh số thu nợ đạt 34.235 tỷ, tăng 23%. Thị phần tín dụng trong tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế của toàn ngành đạt 8,8% tăng hơn so với 8,3% của năm ngoái.

    4.3.     Thanh toán quốc tế

    Thanh toán xuất nhập khẩu trong năm 2000 đạt 9.175 triệu USD, tăng 39,4% so với năm 1999, và chiếm thị phần 31,1% trong thanh toán xuất nhập khẩu của cả nước – vượt chỉ tiêu so với kế hoặc đầu năm đề ra là giữ thị phần thanh toán 28%. Trong đó thanh toán xuất khẩu đạt 4.163 triệu USD, tăng 27,6% so với năm 1999, đưa thị phần của ngân hàng ngoại thương trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng từ 28,3% năm 1999 lên 29,1% trong năm nay. Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu qua ngân hàng ngoại thương trong năm là 5.012 triệu USD, tăng 51,1% so với năm 1999, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          39

    của cả nước (30,8%), dẫn đến thị phần thanh toán hàng nhập khẩu của ngân hàng ngoại thương tăng lên 33,0% từ 28,5% năm 1999.

    4.4.     Thanh toán phi mậu dịch

    Trong năm 2000, doanh số thu chi phi mậu dịch qua ngân hàng ngoại thương đạt 2.480 triệu USD, giảm 5,5% so với năm trước. Doanh số thu đạt 1.798 triệu USD giảm 1,7% chủ yếu vì doanh số đổi tiền giảm 47,7%. Thu từ kiều hối đạt 271,5 triệu USD tăng 17,1%. Doanh số chi đạt 682 triệu USD, giảm 14,4%, chủ yếu là do giảm doanh số chi từ các tổ chức cơ quan và người nước ngoài tại Việt Nam, chi kiều hối và đổi tiền

    4.5.     Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng

    Tổng số thẻ phát hành năm 2000 là 1372 thẻ, tăng 2% so với năm 1999, nâng tổng số thẻ phát hành từ trước đến nay lên 5.029 thẻ. Doanh số thanh toán thẻ năm 2000 đạt 71 triệu USD, bằng doanh số năm 1999. Hầu hết doanh số các loại thẻ đều tăng, riêng thẻ Amex bị giảm vì tổ chức thẻ Amex đã ký thêm hợp đồng thanh toán với ngân hàng khác nên thị phần của ngân hàng ngoại thương bị phân chia. Số phí dịch vụ thu được từ phát hành thẻ đạt 903.517 USD trong năm 2000 giảm 7% do ngân hàng ngoại thương có trủ trương thu hút khách hàng nên giảm tỷ lệ thu phí đối với các đơn vị chấp nhận thẻ.

    4.6.     Kinh doanh ngoại tệ.

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong năm 2000 của ngân hàng ngoại thương diễn ra trong tình hình khan hiếm ngoại tệ kéo dài. Tổng doanh số mua vào là 3684 triệu USD tăng 23% so với năm ngoái, trong khi đó tổng doanh số bán ra là 3721 triệu USD. Mặc dù có sự hỗ trợ của NHNN trong việc mua bán ngoại tệ phục vụ xuất nhập khẩu nhưng ngân hàng ngoại thương vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp nhập khẩu.

    4.7.     Hoạt động ngân quỹ

    Mặc dù khối lượng công việc lớn nhưng công tác ngân quỹ ở ngân hàng

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          40

    ngoại thương vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối, không xảy ra trường hợp nào mất ngân quỹ. Cán bộ kiểm tra đã trả lại 1582 món tiền thừa cho khách với tổng số tiền là 1.874 triệu VND và 19200 USD. Trong năm 2000 toàn hệ thống đã phát hiện được số tiền giả là 483 triệu VND và 16200 USD.

    4.8.     Một số hoạt động khác

    Công tác đối ngoại: ngân hàng ngoại thương trong năm 2000 đã có những bước tiến đáng kể trong việc cũng cố và mở rộng mối quan hệ với ngân hàng trên thế giới: Kết nghĩa giữa các chi nhánh ở Huế, Hà Tĩnh, Vinh với các chi nhánh ngân hàng của ngân hàng Lào. Ký thoả ước với City Bank, Scotia Bank về thực hiện một số mặt nghiệp vụ ngân hàng…

    Công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ (KTKTNB) đang từng bước được hoàn thiện về chức năng nhiệm vụ cũng như tổ chức hoạt động. Trong năm 2000 bộ phận KTKTNB tại trung ương đã tiến hành kiểm tra tại một số chi nhánh phát hiện và chấn chỉnh một số sai sót trong việc thực hiện đầy đủ các quy định về kiểm toán, đối chiếu số dư tiết kiệm và quy trình tín dụng tại các chi nhánh này.

    Công tác đào tạo cán bộ tại ngân hàng ngoại thương thường xuyên được coi trọng. Ngoài đội ngũ cán bộ lãnh đạo đã được củng cố và tăng cường, trong năm 2000 ngân hàng đã tổ chức cho 470 lượt cán bộ tham gia các khoá đào tạo, học tập, khảo sát ngắn hạn trong và ngoài nước. Cũng trong năm 2000, ngân hàng đã hoàn thiện hồ sơ mời thầu và tổ chức lễ mời thầu giai đoạn một và hiện đã lập xong báo cáo lượng thầu giai đoạn 1 gửi NHNN và ngân hàng thế giới xin phê duyệt.

    Công tác kế toán tài chính đã được thực hiện tốt góp phần vào quản lý an toàn vốn và tài sản, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Tại thời điểm 01/01/2000 được NHNN đánh giá là một trong những ngân hàng thực

    hiện đầy đủ các báo cáo không sai sót và nộp đúng hạn.

    1. Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          41

    3.     Một số quy định về cho vay trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt

    Nam.

    Ngân hàng ngoại thương chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, có khả năng hoàn trả nợ vay và tự chịu trách nhiệm về các quyết định cho vay của mình

    Ngân hàng ngoại thương xem xét và quyết định cho vay khi các khách hàng thoả mãn:

    Các pháp nhân phải có trách nhiệm dân sự: Các cá nhân và chủ doanh nghiệp tư

    nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Các khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng ngoại thương nơi vay vốn (không bắt buộc với các cá nhân, hộ gia đình hoặc trường hợp cho vay hợp vốn mà ngân hàng ngoại thương không phải là đầu mối)

    Có khả năng tài chính trong thời hạn cam kết, tức là tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có hiệu quả, các báo cáo tài chính theo định kỳ phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp theo đúng hợp đồng ký khi tiến hành vay vốn của ngân hàng.

    Có dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh khả thi, có hiệu quả; tức là dự án đó mang lại lợi ích cho số đông và có khả năng hoàn trả vốn vay khi đến hạn.

    Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN và ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

    Thời hạn cho vay được xác định là:

    Đối với cho vay trung hạn từ trên 12 tháng cho đến 60 tháng (5 năm), nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân.

    Đối với cho vay dài hạn từ trên 60 tháng nhưng không vượt quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không vượt quá 15 năm đối với cho vay các dự án phục vụ đời sống.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          42

    Mức lãi suất cho vay do ngân hàng ngoại thương và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng và phù hợp với biểu lãi suất công bố của ngân hàng do Tổng giám đốc ngân hàng ngoại thương quy định trong từng thời kỳ.

    Đối tượng cho vay trung và dài hạn: Cho vay để thanh toán tiền nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ… Cho vay bắt buộc thanh toán nợ nước ngoài do ngân hàng ngoại thương bảo lãnh và cho vay với các đối tượng không trái với quy định về quản lý của Nhà nước và được Thống đốc NHNN chấp nhận

    Mức cho vay: được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo nợ vay theo đúng luật và tuỳ thuộc vào vốn tự có của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương. Mức phán quyết cho vay tối đa do Tổng giám

    đốc ngân hàng ngoại thương quy định. Thông thường là:

    Mức cho vay = tổng nhu cầu vốn của dự án – Vốn tự có của các bên tham gia – Nguồn vốn huy động khác (trong đó có vay của các tổ chức tín dụng khác).

    Tổng nhu cầu vốn bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động

    Việc phát tiền vay, ngân hàng sẽ tiến hành thực hiện theo quy định của hợp đồng trong thời hạn rút vốn.

    Trả gốc và lãi:

    Do ngân hàng và khách hàng thoả thuận có thể trả nợ gốc và lãi theo một kỳ hạn hoặc nhiều kỳ hạn

    Khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay, khách hàng phải chủ động chuyển tiền trả nợ. Nợ chưa có khả năng trả nợ đúng hạn thì khách hàng phải gia hạn nợ nếu không ngân hàng sẽ tự động trích tiền trong tài khoản tiền gửi của khách hàng để thu nợ gốc và lãi. Nếu số dư trong tài khoản không đủ thu nợ thì số nợ này có thể chuyển sang nợ quá hạn và khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          43

    Phương thức cho vay:

    Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, thì ngân hàng áp dụng hình thức cho vay từng lần. Trong thời hạn rút vốn của hợp đồng khách hàng có thể rút vốn nhiều lần hoặc một lần nhưng tổng số tiền rút ra không vượt quá số tiền vay. Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng phải nhận giấy tờ nhận nợ theo mẫu quy định của ngân hàng ngoại thương cùng các giấy tờ cần thiết khác.

    Trường hợp cho vay ngoại tệ mở LC thanh toán hàng nhập khẩu, khách hàng làm thủ tục ký nhận trên giấy nhận khi mở LC; ngân hàng ghi nợ khách hàng từ ngày chính thức thanh toán cho ngân hàng nước ngoài hoặc từ ngày ngân hàng nước ngoài ghi nợ ngân hàng ngoại thương.

    Ngân hàng ngoại thương có thể cho vay theo hạn mức khi giữa ngân hàng và khách hàng có một thoả thuận về một hạn mức cho vay trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh áp dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có tín nhiệm với ngân hàng. Và các cán bộ ngân hàng luôn phải thực hiện kiểm tra đảm bảo nợ vay bằng phương pháp tính toán cân đối vật tư đảm bảo nợ vay.

    Cho vay theo dự án đầu tư để phát triển sản xuất, cơ sở hạ tầng, kinh doanh, phục vụ và các sự án phục vụ đời sống.

    Đối với các dự án cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, hợp lý hoá sản xuất phải có vốn tự có tối thiểu tham dự dự án bằng 15% tổng mức vốn đầu tư.

    Đối với dự án mới khách hàng phải có tối thiểu bằng 20% tổng mức đầu tư .

    Giới hạn cho vay:

    Tổng dư nợ cho vay với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của

    ngân hàng ngoại thương tại thời điểm xét cho vay, trừ trường hợp có chỉ thị của Chính phủ

    Ngoài ra còn một số các quy định khác như lập hồ sơ vay vốn, thẩm định và quyết định cho vay, gia hạn nợ…

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          44

    2.Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    2.1. Tình hình huy động vốn trung dài hạn

    Trong những năm qua, nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương đã tăng trưởng mạnh mẽ

    Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Tỷ đồng)

                   
      Năm 31/12/1999 31/12/2000 Tăng/ giảm  
      Chỉ tiêu Quy VND Tỷ trọng Quy VND Tỷ trọng  
      Vốn huy động 37.939 100% 57035 100% 50,3%  
      Vốn kỳ hạn 19.111 47,7% 33.356 58,8% 84,2%  
      Vốn kỳ hạn thị trường i 16.389 43,2% 28.290 49,6% 72,6%  
      Vốn kỳ hạn thị trường ii 1.722 4,5% 5.066 8,9% 194,2%  
      Vốn kỳ hạn trên 12 tháng 7.221 19% 12.788 22,4% 77,1%  
                   

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 2000) Năm 1998 tăng 32,6% so với năm 1997, năm 1999 tăng 34,4% so với năm 1998 và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của năm 2000 là 45,3% so với năm 1999

    (vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 25%) đạt mức 66.618 tỷ VND (số liệu tại thời điểm 31/12/2000).

    Nguồn vốn huy động tại ngân hàng ngoại thương cũng tăng trưởng liên tục trong các năm gần đây: Năm 1999 vốn huy động từ hai thị trường đạt 37939 tỷ, năm 2000 đạt 57035 tỷ, tăng 50,3% so với năm 1999.

    Trong tổng nguồn vốn huy động tại hai thị trường nguồn vốn kỳ hạn đến cuối năm 2000 (31/12/2000) đạt 33356 tỷ quy VND tăng 84,2%, chiếm 58,5% tổng vốn huy động từ hai thị trường cao hơn mức 47,7% cuối năm 1999. Trong đó 84,8% tổng vốn kỳ hạn huy động trên thị trường i, 16,2% huy động trên thị trường ii.

    Điều đáng chú ý là tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng trở lên trong những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng cao và chiếm tỷ trọng lớn: năm 1999 tiền gửi trên 12 tháng đạt 7220 tỷ quy VND, năm 2000 đạt 12788 tỷ quy VND tăng 77,1% so với năm 1999 và chiếm 45,2% vốn kỳ hạn của thị trường i và 38,3% tổng vốn kỳ hạn,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          45

    tương đương với 22,4% tổng vốn huy động. Đây là yếu tố thuận lợi cho ngân hàng ngoại thương mở rộng cho vay trung dài hạn.

    Việc tăng trưởng nguồn vốn trong những năm gần đây, đặc biệt là sự tăng trưởng mạnh vào năm 2000 là do tác động của một số nhân tố sau:

    Ngân hàng ngoại thương đã chủ động cải thiện huy động vốn bằng biện pháp đa dạng hoá các hình thức huy động, bổ sung các kỳ hạn lãi suất khác nhau, linh hoạt điều chỉnh lãi suất, áp dụng chính sách ưu đãi lãi suất đối với khách hàng có số dư lớn

    Lãi suất USD trên thị trường quốc tế tăng mạnh kéo theo việc tăng lãi suất của thị trường trong nước đã khuyến khích dân cư tăng cường gửi USD trong khi đó ngân hàng ngoại thương lại có thế mạnh trong việc huy động nguồn vốn này

    Nguồn kiều hối trong năm tăng mạnh, nhất là vào những tháng cuối năm.

    2.2. Tình hình cho vay trung dài hạn

    2.2.1. Cho vay, thu nợ và dư nợ trung dài hạn

    Bảng 2: Tình hình cho vay trung dài hạn: (tỷ VND)

                         
      Chỉ tiêu 31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giảm  
          m   m   m      
      Cho vay 859 20% 1065 24% 1385 30% 1869 35%  
      Thu nợ 567 20% 835 47% 1973 136% 1419 -28%  
      Dư nợ 2874 10% 3104 8% 2516 -19% 2966 17%  
                         

    (Nguồn:  Báo  cáo  kết  quả  kinh  doanh  của  ngân  hàng  ngoại  thương  các  năm

    1998,1999,2000)

    Doanh số cho vay đạt tốc độ tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng cho vay những năm gần đây liên tục tăng, mặc dù trong các năm 1997 và 1998 nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực. Năm 1998 doanh số cho vay tăng 24% so với năm trước, con số này trong các năm tiếp theo lần lượt là 30 và 35%. Do việc tăng doanh số cho vay tăng trưởng, dư nợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương cũng tăng trưởng theo. Trong các năm 1997 và

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          46

    1998 tốc độ tăng trưởng dư nợ khá chậm. Năm 1999 dư nợ giảm 19% so với năm 1998 tuy nhiên đây là kết quả của việc thu nợ tăng đột biến: thu nợ năm 1999 tăng 136% so với năm 1998. Thực hiện chính sách kích cầu của Chính phủ: năm 1999 ngân sách nhà nước đã cấp vốn cho Vaxuco để thanh toán khoản vay 70,6 triệu USD, và việc Tổng công ty điện lực Việt Nam thanh toán khoản nợ trước hạn trên 8 triệu USD Năm 2000 dư nợ tín dụng trung dài hạn tăng cao hơn nhưng vẫn ở mức thấp đạt 2966 tỷ quy VND, tăng 17% so với năm 1999. Nguyên nhân là các dự án lớn như dự án khí Nam Côn Sơn, dự án điện Phú Mỹ 2.1, công ty Bia Hà Nội, công ty cổ phần đầu tư xây dựng… vẫn chưa được giải ngân.

    Bảng 3: Cơ cấu dư nợ tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ tín dụng (Tỷ VND)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      Tín dụng thông thường 10338 100% 10102 100% 14317 100%  
      1.Ngắn hạn 7234 70% 7586 75,1% 11351 79,3%  
      2.Dài hạn 3104 30% 2516 24,9% 2966 20,7%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000)

    Bên cạnh việc dư nợ tín dụng trung dài hạn tăng trưởng chậm, nó còn chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng dư nợ tín dụng tại ngân hàng ngoại thương: năm 1998 dư nợ tín dụng trung dài hạn chiếm 30% tổng dư nợ tín dụng thông thường, tuy nhiên tỷ lệ này liên tục giảm trong các năm tiếp theo, đến năm 2000 chỉ chiếm 20,7% trong tổng dư nợ tín dụng thông thường.

    Điều này có thể thấy được: ngoài việc cho vay trung dài hạn gặp nhiều rủi ro

    12000

    10000

    8000

    6000

    4000

    2000

    0

     1.Ng¾n h¹n

     2.Dµi h¹n

     

    1998                   1999                    2000

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          47

    Biểu đồ 1: Tương quan giữa dư nợ ngắn hạn và trung dài hạn

    hơn so với cho vay ngắn hạn do các loại rủi ro có thể gặp như: rủi ro kỳ hạn, rủi ro lãi suất… thì khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế là thấp, không có nhiều các dự án đầu tư trung dài hạn có hiệu quả, ngay cả một số công trình lớn do chính phủ đề xuất mặc dù đã ký hợp đồng tín dụng nhưng vẫn chưa thể giải ngân. Bên cạnh đó công tác Marketing ngân hàng ở ngân hàng ngoại thương hoạt động chưa hiệu quả, và chưa thật sự chủ động tìm kiếm các dự án có hiệu quả để cho vay…

    2.2.2. Dư nợ theo nội tệ, ngoại tệ

    Trong năm 1999, dư nợ tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ tại ngân hàng ngoại thương là 199 triệu USD giảm 37% so với năm 1998, năm 2000 là 103 triệu USD, giảm 13,9% so với năm 1999. Tình hình này dẫn đến cơ cấu cho vay trung dài hạn theo nội ngoại tệ có xu hướng cân bằng (năm 2000 dư nợ theo nội ngoại tệ đều xấp xỉ 50%). Dư nợ cho vay bằng ngoại tệ giảm là do các nguyên nhân sau:

    Khi cho vay bằng ngoại tệ ngân hàng không những phải đối phó với những Bảng 4 :Dư nợ tín dụng trung dài hạn theo cơ cấu nội ngoại tệ: (tỷ VND)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1. Nội tệ 658 21,2% 844 33,5% 1477 49,8%  
      2.Ngoại tệ 2446 78,8% 1627 66,5% 1489 50,2%  
      (USD quy đổi ra VND)              
      Tổng dư nợ 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000)

    rủi ro thông thường mà còn phải đối phó với rủi ro về tỷ giá hối đoái (đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính). Việc đồng Việt Nam bị mất giá so với đồng ngoại tệ gây ra tâm lý e ngại đối với khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ. Hơn nữa trong năm 1999 lãi suất bằng đồng Việt Nam liên tục giảm (NHNN đã liên tục giảm trần lãi suất cho vay VND từ 1,25%/ tháng xuống 0,8% đối với khu vực đô thị và 1%/ tháng đối với khu vực nông thôn), do đó các doanh nghiệp được khuyến khích vay bằng nội tệ và lãi suất cho vay thấp nên doanh nghiệp sẽ giảm được chi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          48

    phí vốn vay. Tuy nhiên đây không phải là xu hướng tốt vì ngân hàng ngoại thương là một ngân hàng có tiềm lực mạnh về vốn ngoại tệ và có nhiều kinh nghiệm trong việc cung cấp tín dụng bằng USD, nên việc tỷ lệ cho vay bằng USD bị giảm sút làm cho một lượng vốn lớn ngoại tệ bị ứ đọng.

    2.2.3. Dư nợ theo thành phần kinh tế

    Bảng 5: Dư nợ tín dụng trung dài hạn theo thành phần kinh tế (tỷ VND):

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1.Quốc doanh 2669,4 86% 2264,4 90% 2728,7 92%  
      2.Ngoài quốc doanh 434,56 14% 251,6 10% 237,3 8%  
      3. Tổng 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999,2000) Theo số liệu ở trên ta thấy, dư nợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp quốc doanh. Năm 1998 tỷ trọng nay là 86%, năm 1999 tăng lên 90% và năm 2000 đã đạt tỷ lệ 92% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn. Khách hàng chủ yếu của ngân hàng ngoại thương đặc biệt là các tổng công ty lớn như: Tổng công ty điện lực Việt Nam, Animex, Tổng công ty xây dựng Lũng Lô, Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, Tổng

    công ty xây dựng sông Đà…

    Việc dư nợ tín dụng của các doanh nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng cao bởi thực tế cho thấy: đầu tư vào khu vực ngoài quốc doanh, ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, ngay cả trong trường hợp có tài sản thế chấp thì ngân hàng cũng rất khó khăn trong việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi vốn: Giá của tài sản thế chấp luôn biến động, có thể lúc đánh giá là cao nhưng khi phát mại thì giá của tài sản lại ở múc thấp. Mặt khác, trung tâm bán đấu giá tại Việt Nam hoạt động chưa có hiệu quả nên việc bán tài sản là vấn đề phức tạp. Nhiều trường hợp khách hàng sở hữu một tài sản nhưng lại mang đi thế chấp tại nhiều ngân hàng khác nhau. Các cán bộ của ngân hàng ngoại thương trong quá trình thẩm định khó có thể phát hiện được.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          49

    Tình trạng này cũng gây ra khó khăn cho ngân hàng khi tiến hành phát mại tài sản. Lúc này, các ngân hàng sẽ không thể hiểu được ai là người thực sự có quyền đối với tài sản đó. Hơn nữa các công ty ngoài quốc doanh (Trừ các công ty liên doanh với nước ngoài) thường có trình độ tổ chức kém, đội ngũ nhân viên yếu về chuyên môn, nghiệp vụ vì vậy mà rủi ro xảy ra đối với thành phần kinh tế này là lớn. Tuy nhiên, những rủi ro này cũng có thể xảy ra đối với thành phần kinh tế quốc doanh.

    Tỷ trong dư nợ của khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn là phù hợp với định hướng phát triển của nước ta trong đó ngành kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, thực tế là với sự hỗ trợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương các doanh nghiệp nhà nước đã cũng cố được vị trí và phát huy được vai trò của minh trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm tới ngân hàng ngoại thương cũng cần có những biện pháp đẩy mạnh cho vay với kinh tế ngoài quốc doanh vì đâu là khu vực kinh tế rất năng động và tất nhiên nhu cầu vốn cũng lớn.

    2.2.4. Dư nợ theo ngành kinh tế

    Cơ cấu này trong những năm gần đây gần như không thay đổi nhiều gồm các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông, thương mại và các ngành khác. Ngân hàng tập trung cho vay chủ yếu là hai ngành công nghiệp và thương mại. Hai ngành

    Bảng 6: Dư nợ cho vay trung dài hạn theo ngành kinh tế (tỷ đồng)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1.Công nghiệp 1316,2 39,5% 1071,82 42,4 1251,65 42,2%  
      2.Xây dựng 180 5,8% 156,48 6,1% 186,86 6,3%  
      3.Giao thông 242,11 7,8% 231,47 9,2% 281,77 9,5%  
      4.Thương mại 1244,7 40,1% 1016,46 40,3% 1204,2 40,6%  
      5.Ngành khác 121,09 3,9% 42,77 1,7% 41,52 1,4%  
      Tổng dư nợ 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000) này chiếm tỷ trọng khá cao (hơn 80% trong tổng dư nợ trung dài hạn ). Tổng dư

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          50

    nợ của ngành xây dựng chiếm tỷ trọng không cao (dưới 6,5%), điều này phản ánh từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực thì ngân hàng ngoại thương đã thận trọng hơn khi đầu tư cũng như cho vay vốn đối với các trong lĩnh vực xây dựng như khách sạn, bất động sản, cao ốc… bởi đây là một trong những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng. Hơn nữa, theo nhận định trong một số năm tới ngành kinh doanh khách sạn sẽ tăng trưởng chậm hơn so với thời kỳ năm 1995, chính vì vậy tỷ trọng dư nợ trung dài hạn theo ngành xây dựng trong năm 1999 chỉ tăng nhẹ so với năm 1998 và đến năm 2000 cũng chỉ ở mức 6,3% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn.

    Bên cạnh đó sau tác động của cuộc khủng hoảng, hầu hết các nền kinh tế trong khu vực đều có dầu hiệu phục hồi, vì thế trong những năm tới đầu tư vào Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Do đó nhu cầu vay vốn của các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng, giao thông, đường xá, cầu cống… đều có xu hướng tăng lên. Điều này thể hiện trong tỷ trọng dư nợ trung dài hạn của ngành giao thông năm 1998 chỉ đạt 7,8% nhưng sang năm 1999 đạt mức 9,2% và đến năm 2000 đạt mức 9,5% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn, chủ yếu là do ngân hàng cho vay làm đường xá như đường Trường Sơn, công trình cảng Cái lân…

    Tỷ trọng dư nợ của ngành công nghiệp trong những năm qua vẫn tăng trưởng mặc dù vẫn còn ở mức thấp (năm 1998 tỷ trọng là 39,5%, năm 1999 là 42,4%). Mặc dù năm 2000, tỷ trọng này có giảm nhẹ xuống còn 42,2% tuy nhiên có một số dự án lớn thuộc ngành này đến nay vẫn chưa giải ngân được.

    Tỷ trọng dư nợ trong ngành thương nghiệp vẫn tăng ổn định và chưa có sự đột phá: tỷ trọng này trong năm 1998 là 40,1%, năm 1999 là 40,4$ và đến năm 2000 là 40,6%.

    2.3.     Tình hình nợ quá hạn

    Bảng 7: Tình hình nợ quá hạn trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          51

                 
      Năm 31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Nợ quá hạn 98 123 116 160  
      Tổng dư nợ 2874 3104 2516 2966  
      Tỷ lệ nợ quá hạn (%) 3,4 3,9% 4,6% 5,4%  
                 

    (Nguồn :Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1998, 1999, 2000)

    Bên cạnh tăng tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn thì tỷ lệ nợ quá hạn trong những năm qua cũng gia tăng, điều này phản ánh chất lượng tín dụng trung dài hạn có chiều hướng đi xuống và đây là một vấn đề cần giải quyết.

    Nói đến kinh doanh không thể không nói đến rủi ro mà nghề ngân hàng được biết đến như là một ngành có nhiều rủi ro nhất mà đặc biệt là trong hoạt động tín dụng trung dài hạn. Rủi ro này có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như rủi ro về kỳ hạn, rủi ro đạo đức khách hàng, rủi ro về tỷ giá và cũng có những rủi ro do yếu tố khách quan như thiên tai, hoả hoạn…Vì vậy tình hình nợ quá là không thể tránh khỏi, vấn đề đặt ra đối với ngân hàng là giảm tối đa các khoản nợ quá hạn để vừa tránh được rủi ro, vừa đảm bảo lợi nhuận cũng như việc xử lý các khoản nợ quá hạn đó như thế nào.

    Năm 1997 tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng ngoại thương ở mức tương đối thấp là 3,4% nhưng tỷ lệ này lại tăng dần qua các năm: năm 1998 là 3,9%, năm 1999 là 4,6% và năm 2000 là 5,4%. Thực ra trong những năm gần đây ngân hàng ngoại thương đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn các khoản nợ quá hạn hầu hết là của các khoản vay trước năm 1997 và theo dự báo của ngân hàng nợ quá hạn sẽ còn tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo do một số dự án cho vay theo chỉ định của Chính Phủ chưa thể thu hồi vốn ngay như việc cho vay khắc phục hậu quả cơn bão số năm.

    Một điều rất đáng quan tâm là tỷ lệ nợ quá hạn của các khoản vay bằng USD lại tăng ở mức rất cao từ 4,2% năm 1999 đã tăng lên tới 6,9% trong năm 2000 trong khi đó tỷ lệ này đối với các khoản vay bằng VND lại giảm từ 5,4% năm

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          52

    1999 xuống còn 3,9% năm 2000. Điều này có vẻ như không hợp lý khi ngân hàng ngoại thương là một ngân hàng có kinh nghiệm trong việc cho vay và thu hút vốn bằng ngoại tệ.

    Tỷ lệ nợ quá hạn đối với doanh nghiệp nhà nước ở mức thấp 3,0%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực kinh tế tư nhân là 7,6%. Điều này phản ánh một thực tế là hiện nay các doanh nghiệp tư nhân, ngoài quốc doanh (không kể đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) do trình độ tổ chức chưa cao, năng lực cán bộ còn hạn chế nên tình hình kinh doanh không đạt hiệu quả, do đó phát sinh nợ quá hạn lớn đối với ngân hàng. Có thể thấy rõ nhận định qua sự so sánh với tỷ lệ nợ quá hạn của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nơi mà có trình độ tổ chức cao, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ được xem là tốt nhất hiện nay: tỷ lệ nợ quá hạn ở mức rất thấp 1,3%.

    Về cơ cấu nợ quá hạn theo thời gian: Nợ quá hạn khó đòi chiếm tỷ lệ cao xấp xỉ 74% (năm 1999 chiếm 74,5% và 73,6% vào năm 2000), tỷ lệ nợ khê đọng chiếm khoảng 19% trong hai năm gần đây, trong khi đó tỷ lệ nợ thông thường

    Bảng 8: Cơ cấu nợ quá hạn theo thời gian

                 
      Chỉ tiêu 31/12/1999 31/12/2000  
        Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      Tổng dư nợ 116 100% 160 100%  
      Nợ quá hạn thông thường 7,6 6,6% 11,9 7,4%  
                 
      Nợ quá hạn khê đọng 21,9 18,9% 30.4% 19%  
                 
      Nợ quá hạn khó đòi 86,5 74,5% 117,7 73,6%  
                 
                 

    (Nguồn :Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1998, 1999, 2000)

    (dưới 6 tháng) chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 8%. Sở dĩ tình hình nợ quá hạn khó đòi chiếm tỷ trọng lớn là do các khoản nợ phát sinh từ năm 1997 trở về trước đều là những khoản nợ khó đòi gần như là mất luôn. Các khoản nợ này cho vay theo những dự án mà chất lượng thẩm định của ngân hàng ngoại thương những năm trước đây còn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          53

    nhiều bất cập. Trong khi đó ngân hàng ngoại thương lại chưa có biện pháp xử lý

    hữu hiệu những khoản nợ đó

    4.     Một số kết quả đạt được và tồn tại trong hoạt động tín dụng trung dài hạn

    tại ngân hàng ngoại thương.

    3.1. Những thành tựu đạt được

    Trong những năm qua, mặc dù có nhiều khó khăn do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế thấp nhưng dư nợ tín dụng trung dài hạn vẫn tăng trưởng với tốc độ khá. Ngân hàng ngoại thương đã thực hiện tốt việc cung ứng vốn tín dụng trung dài hạn cho nền kinh tế vừa đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp vừa tạo ra một đội ngũ khách hàng truyền thống như các Tổng công ty lớn của cả nước.

    Để có thể đáp ứng nhu cầu cho vay ngày một tăng, công tác huy động vốn của ngân hàng ngoại thương cũng đạt kết quả tốt tỷ lệ nguồn vốn trung dài hạn ngày một tăng trong tổng nguồn vốn huy động.

    Ngân hàng đã tăng cường khâu giám sát khách hàng trước, trong và sau khi cho vay, cùng với việc thực hiện nghiêm túc quy trình cho vay theo quy định của

    NHNN cũng như các quy định do ngân hàng đề ra đã làm cho chất lượng các khoản tín dụng trung dài hạn trong thời gian gần đây được nâng cao rõ rệt.

    Ngân hàng đã từng bước đơn giản hoá thủ tục cho vay, giảm thời gian cho khách hàng trong quá trình đến vay vốn tại ngân hàng.

    Chính sách tín dụng trung dài hạn của ngân hàng đề ra phù hợp với thực tế phát triển của nước ta và đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, với chính sách tín dụng này, hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương đã đóng góp tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH.

    Ngân hàng đã sắp xếp những cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình vào phòng dự án tại các Chi nhánh và tại Sở giao dịch, điều này là nhân tố

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          54

    quyết định cho việc thành công của hoạt động tín dụng trung dài hạn. 3.2. Những tồn tại và nguyên nhân

    3.2.1. Những tồn tại

    Mặc dù dư nợ tín dụng trung dài hạn vẫn tăng trưởng qua các năm, nhưng tỷ trọng của nó so với tổng dư nợ tín dụng thông thường ngày một giảm, hoạt động tín dụng trung dài hạn vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng đặc biệt là tiềm năng về huy động vốn trung dài hạn đang chiếm tỷ trọng ngày càng tăng.

    So với các ngân hàng khác, ngân hàng ngoại thương có ưu thế hơn hẳn về khả năng huy động vốn ngoại tệ, tuy nhiên xu hướng vay bằng ngoại tệ hiện đang giảm. Có thể nói ngân hàng ngoại thương chưa phát huy được điểm mạnh về khả năng cho vay trung dài hạn bằng ngoại tệ này của mình.

    Ngân hàng còn khá dè dặt trong việc cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh làm cho tỷ trọng dư nợ của khu vực này đã nhỏ lại càng nhỏ hơn.

    Công tác xử lý tài sản xiết nợ còn kém hiệu quả

    3.2.2. Nguyên nhân:

    Thứ nhất: trong quy trình xét duyệt cho vay ngân hàng còn khá cứng nhắc trong việc áp dụng các quy định của cấp trên.

    Thứ hai: Công tác Marketing ngân hàng tại ngân hàng ngoại thương chưa được coi trọng đúng mức, ngân hàng chưa có các biện pháp Marketing nhằm hỗ trợ cho hoạt động tín dụng trung dài hạn.

    Thứ ba: Ngân hàng thiếu những thông tin trung thực về khách hàng, đặc biệt là các khách hàng mới. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều dự án có tính khả thi nhưng ngân hàng không dám cho vay hoặc ngược lại nhiều dự án hiệu quả không cao nhưng ngân hàng vẫn cho vay do những thông tin được cung cấp là không chính xác.

    Thứ năm: Môi trường pháp lý ở nước ta hiện nay chưa thật tốt, điều này gây

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          55

    rất nhiều khó khăn cho ngân hàng trong công tác xử lý nợ quá hạn và phát mại tài sản thế chấp.

    Thứ sáu: một số yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định đặc biệt là tỷ giá hối đoái. Chính nhân tố này là một trong những nghuyên nhân quan trọng dẫn đến tỷ trọng vay bằng ngoại tệ giảm trong những năm gần đây

    CHƯƠNG BA:

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG

    DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

    i.                   Định hướng hoạt động của ngân hàng ngoại thương Việt Nam trong thời gian tới (Đến năm 2010).

    Mặc dù trong những năm vừa qua ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng mạnh (trong mười năm từ năm 1991 đến năm 1999 quy mô

    nguồn vốn đã tăng hơn 6 lần), tuy nhiên để đứng vững và tiếp tục phát triển trong một môi trường mà sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, ngân hàng ngoại thương đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển đến năm 2010 tập trung vào bốn nội dung chủ yếu sau:

    Mục tiêu và phương châm

    Chiến lược chung

    Những nhiệm vụ chiến lược và định hướng phát triển Các giai đoạn triển khai thực hiện chiến lược

    Trong đó mục tiêu chiến lược phát triển của ngân hàng ngoại thương đến

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          56

    năm 2010 là phấn đấu trở thành ngân hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn với bán lẻ, mở rộng các dịch vụ ngân hàng, phục vụ phát triển kinh tế trong nước và trở thành một ngân hàng quốc tế khu vực

    Phương châm của ngân hàng ngoại thương là:

    Đối với ngân hàng: An toàn – Hiệu quả – Tăng trưởng. An toàn trong mọi lĩnh vực kinh doanh. Hiệu quả mang ý nghĩa kinh tế xã hội. Tăng trưởng phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước và chính sách tiền tệ của ngành ngân hàng.

    Đối với khách hàng: Đem đến cho khách hàng sự an toàn tiền gửi, phục vụ nhanh chóng, giá rẻ. Khách hàng chính của ngân hàng ngoại thương là các Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, khách hàng có địa bàn hoạt động chính tại các thành phố và các khu vực có tiềm năng kinh tế…

    Chiến lược phát triển chung của Ngân hàng ngoại thương đó là định hướng quyết định bước phát triển mới cả về chất lượng và số lượng: từng bước xây dựng ngân hàng ngoại thương trở thành một ngân hàng hiện đại, hội nhập với quốc tế có mô hình tổ chức khoa học, có công nghệ hiện đại, đội ngũ cán bộ công nhân viên có phẩm chất tốt.

    Cụ thể là:

    Trong năm 2001, ngân hàng ngoại thương tiếp tục thực hiện định hướng phát triển 10 năm của mình là: “ An toàn – Hiệu quả – Phát triển ”, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước năm 2001 và nhiệm vụ của ngành ngân hàng với năng lực của ngân hàng mình, ngân hàng ngoại thương định hướng hoạt động kinh doanh trong năm 2001 với các chỉ tiêu chính sau:

    1. Tăng trưởng nguồn vốn 19 – 20%
    2. Tăng trưởng dư nợ tín dụng 20 – 22%
    3. Tỷ lệ nợ quá hạn / Tồng dư nợ Dưới 4,0%
    4. Thị phần trong thanh toán xuất nhập khẩu 29%

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          57

    5.  Tăng trưởng lợi nhuận trước thuế 5%

    Để thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh trên, ngân hàng ngoại thương sẽ triển khai các nhiệm vụ công tác sau:

    Đẩy mạnh công tác huy động vốn, thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn (trả lãi trước, có thưởng, khuyến mại), bổ sung các loại kỳ hạn, áp dụng lãi suất linh hoạt… để phát triển nguồn vốn đạt tốc độ tăng trưởng 19 – 20%, trong đó chú ý đến việc phát triển nguồn vốn bằng VND.

    Chủ động tìm các dự án khả thi không phân biệt thành phần kinh tế, loại hình sở hữu, bám sát các dự án lớn, các chương trình kinh tế trọng điểm… để đẩy mạnh cho vay nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng 20 – 22%, cải tiến phương pháp quản lý rủi ro tín dụng, giữ tỷ lệ nợ quá hạn dưới 4%.

    áp dụng công nghệ mới, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, giảm phí… nhằm giữ vững thị phần 29% trong kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu của cả nước.

    Triển khai đề án tái cơ cấu ngân hàng ngoại thương, trong năm 2001 cần đạt một số mục tiêu như: thành lập công ty quản lý tài sản, bổ sung hoàn thiện hệ thống quy chế các mặt hoạt động của ngân hàng ngoại thương, đổi mới phương thức kiểm tra nội bộ…

    ii.                Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất luọng tín dụng trung dài hạn tại

    ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    l. Giải pháp để mở rộng hoạt động tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại

    thương

    Hiện nay, yêu cầu trước tiên đối với Ngân hàng ngoại thương là phải làm thế nào để mở rộng được hoạt động tín dụng trung dài hạn. Như đã phân tích ở trên là chất lượng các khoản tín dụng hiện có của Ngân hàng là khá tốt nhưng mức dư nợ còn thấp, do đó Ngân hàng cần phải thực hiện những giải pháp tích cực để cải thiện tình hình :

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          58

    1.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn trung dài hạn.

    Ngân hàng vẫn có thể chuyển một phần vốn ngắn hạn sang tín dụng trung dài hạn nhưng còn tùy thuộc vào tính ổn định của nguồn tiền gửi. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới chỉ ra mức tín dụng trung dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn được khống chế bởi chỉ số an toàn về mức chuyển hóa vốn ( H ) :

    Tổng số nguồn vốn dài hạn trên 5 năm

    H = ——————————————————-

    Tổng các khoản sử dụng vốn trên 5 năm

    • Trái Phiếu Ngân hàng

    Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn, là giấy nhận nợ của các Ngân hàng đối với người mua (hoặc chủ sở hữu) cam kết sẽ trả nợ và lãi theo kỳ hạn đã định. Đối với người mua, nó là giấy chứng nhận quyền đầu tư và quyền hưởng một phần lãi theo số tiền đầu tư. Đây là hình thức phổ biến

    • nhiều nước trên thế giới, nó hấp dẫn hơn các hình thức gửi tiền có kỳ hạn dài bởi tính đa dạng trong hình thức trả lãi cũng như lãi suất huy động. Khi cần phát hành trái phiếu, để có thể thu hút được người mua, Ngân hàng có thể đưa ra các mức lãi suất chiết khấu tại các mốc thời gian khác nhau trước khi trái phiếu đáo hạn .

    Ngân hàng phát hành các trái phiếu dài hạn có bảo đảm giá trị bằng USD

    và có thể chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường. Điều đó có nghĩa là khoản tiền gửi gốc sẽ được bảo đảm theo giá trị của USD tại thời điểm gửi tiền, nếu thiếu hụt sẽ được bù đắp. Biện pháp này lựa trên hai căn cứ khoa học; một là: hiện nay nền kinh tế Mỹ phát triển khá ổn định lên USD có giá trị ít biến động, hai là: trong tiềm thức người dân Việt Nam hiện nay vẫn rất tin tưởng vào USD .

    • Tiền gửi dài hạn có lãi suất biến động theo thị trường hoặc được bảo đảm

    bằng vàng.

    Ngân hàng có thể là cho người gửi tiền an tâm bằng cách áp dụng lãi suất biến động theo thị trường để giảm rủi ro cho người gửi tiền khi lãi suất lên cao, có

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          59

    thể dùng vàng để đảm bảo chi khoản tiền gửi vì đó là tâm lý của người Việt Nam từ xưa đến nay, một tập quán có từ lâu đời vì cất trữ vàng người ta cảm thấy an toàn hơn khi mà đồng tiền không ổn định.

    Mặt khác vàng vẫn là hình thức được ưa chuộng mang tính độc tôn trong xã hội Việt Nam vì chúng có tính thanh khoản cao, đảm bảo được giá trị ngay cả trong thời kỳ đồng tiền không ổn định, là phương tiện thanh toán thay tiền mặt trong việc mua bán các hàng hóa có giá trị lớn như nhà cửa, đất đai,…

    • Giấy chứng nhân tiền gửi có thể bán lai

    Giấy chứng nhận tiền gửi có thể bán lại là công cụ huy động tiền gửi dài hạn do Ngân hàng bán cho người gửi tiền. Nó thanh toán lãi hàng năm theo một khoản nhất định và khi hết hạn thì hoàn trả hết giá mua ban đầu. Do có thể bán lại trên thị trường nên nó biến việc gửi các khoản dài hạn thành các khoản tiền gửi ngắn hạn. Đặc điểm này khiến giấy chứng nhận tiền gửi rất thịnh hành ở các nước Châu âu từ những năm 1970 cho đến nay nó vẫn chiếm những vị trí đầu trong danh sách nguồn huy động vốn của các Ngân hàng Châu âu.

    1.2. Đa dạng hóa các hình thức tín dụng trung dài hạn

    Hiện nay, nếu so sánh hệ thống Ngân hàng Việt Nam với hệ thống Ngân hàng của nhiều nước có nền tài chính phát triển thì các hình thức cho vay của các Ngân hàng Việt Nam là quá đơn điệu. Chính điều đó đã là một nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng. Tình trạng ứ đọng vốn của các NHTM Việt Nam thời gian qua có liên hệ khá chặt chẽ với điều này. Khi Ngân hàng không có khách hàng phù hợp, không có nghĩa là không có thị trường mà có thể hiểu là không khai thác được thị trường. Điều kiện của mỗi khách hàng xin vay vốn rất khác nhau, để thu hút được nhiều khách hàng cần có các hình thức tín dụng đa dạng và phù hợp. Hơn nữa theo các lý thuyết kinh tế, đa dạng hóa là một biện pháp quan trọng để giảm rủi ro. Khi các NHTM Việt Nam không có các hình thức cho vay đa dạng, nghĩa là đã tự loại bỏ cơ hội giảm rủi ro của mình .

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          60

    Như vậy, có thể nói một nguyên nhân làm tăng những thiệt hại có tính chi phí cơ hội trên các hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng Việt Nam là do tính kém phát triển về các lĩnh vực đầu tư. Giải pháp cho điều đó là cần phải tích cực mở rộng các loại hình hoạt động, cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích mới để tận dụng tối đa những cơ hội sinh lời tốt nhất. Thực tế là một khi Ngân hàng có các loại hình đầu tư và lĩnh vực hoạt động đa dạng, nó có thể lựa chọn những cơ hội có khả năng sinh lời tốt nhất. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ giảm được mức thiệt hại có tính chi phí cơ hội trên các dự án. Ngoài ra như đã nói, với các lĩnh vực hoạt động đa dạng, Ngân hàng có thể phân đều rủi ro của mình sang các lĩnh vực khác nhau, trên cơ sở đó có thể tăng được tính ổn định của mình. Em xin được đề cập đến một số hình thức đầu tư tín dụng mới với mục tiêu nghiên cứu để góp phần đa dạng hóa hoạt động của ngành Ngân hàng :

    Đồng tài trợ.

    Việc đông tài trợ là quá trình cho vaybảo lãnh của một nhóm các tổ chức tín dụng (LCTD ) cho một dự án, do một TCTD làm đầu mối phối hợp các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các TCTD. Các hình thức đồng tài trợ là cho vay hợp vốn; bảo lãnh, tái bảo lãnh hoặc kết hợp của các hình thức trên .

    Nghiệp vụ đồng tài trợ được áp dụng trong các trường hợp sau: nhu cầu vay vốn để thực hiện dự án vượt giới hạn tối đa được cho phép vay hoặc bảo lãnh của một TCTD; do nhu cầu phân tán rủi ro của các TCTD; khả năng nguồn vốn của một TCTD không đáp ứng được nhu cầu vốn của dự án .

    Theo cách làm truyền thống từ trước tới nay, các TCTD thường ngồi chờ khách hàng đem dự án tới Ngân hàng để xin vay, mà không chịu tìm kiếm các khách hàng tiềm năng nhất là trong giai đoạn hiện nay, các TCTD Việt Nam hoạt động trong môi trường khó cạnh tranh được với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài về vốn, công nghệ và cả cách tổ chức quản lý. Do vậy, Ngân hàng ngoại

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          61

    thương nên căn cứ vào chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành kinh tế, của từng địa phương, của toàn nền kinh tế, liên kết với các NHTM khác để xây dựng các phương án đầu tư vốn để chủ động nguồn vốn tín đụng trung dài hạn chủ động trong công tác thẩm định, cho vay đúng mục đích, đồng thời quản lý được rủi ro của mình. Ngân hàng ngoại thương không chỉ cần liên kết với các NHTM quốc doanh mà còn cần phải liên kết với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh. Các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài có tiềm lực về vốn vô cùng lớn nhưng do quy định của NHNN nên khả năng cho vay bằng VNĐ của các Ngân hàng này bị hạn chế. Do đó, Ngân hàng ngoại thương có thể liên kết với các Ngân hàng này cho vay bằng VNĐ hay làm trung gian cho các Ngân hàng này. Sự liên kết không chỉ giúp Ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng mà còn giúp nâng cao hiệu quả món vay. Bên cạnh đó, trong quá trình liên kết thực hiện dự án, Ngân hàng và đội ngũ cán bộ tín dụng cũng học hỏi được các kinh nghiệm, cách thức thẩm định dự án, phương pháp quản lý món vay, phương pháp quản lý điều hành hoạt động Điều này giúp cho Ngân hàng nâng cao năng lực riêng của mình trong hoạt động quản trị nói chung và hiệu quả trong hoạt động tín dụng trung dài hạn nói riêng.

    Tín dụng thuê mua tài sản cố định.

    Thuê – mua, thuê mua trả góp hay tín dụng thuê mua trả góp đều có chung một nội dung. Nó được coi như một hình thức cho thuê tài chính, chỉ khác ở chỗ Công ty thuê mua trực tiếp mua tài sản hoặc chế tạo tài sản cho thuê. Khi bên thuê thanh toán hết tiền thuê theo thỏa thuận của hợp đồng thuê, quyền sở hữu mặc nhiên chuyển cho bên thuê.

    Với loại hình này, các máy móc thiết bị phù hợp theo yêu cầu sử dụng của người thuê, trên các nhà doanh nghiệp nắm được chất lượng của sản phẩm làm ra, khả năng tiêu thụ của chúng, nên sản xuất kinh doanh có hiệu quả, do đó xác suất rủi ro rất nhỏ. Ưu điểm của tín dụng thuê mua là các doanh nghiệp có thể đổi mới

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          62

    trang thiết bị máy móc, quy trình công nghệ hiện đại mà không cần đến tài sản thế chấp và một số lượng lớn vốn tự có như trong cho vay dự án.

    Chính ưu điểm lớn này khiến cho tín dụng thuê mua trở thành một giải pháp vô cùng quan trọng cho các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Nhu cầu vốn trung dài hạn để mua sắm máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại của các doanh nghiệp hiện nay là rất lớn, nhưng để có thể được vay vốn của các Ngân hàng, doanh nghiệp ngoài phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả còn phải cần tới 30% vốn tự có và phải có tài sản thế chấp (đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh). Trong khi đó với hình thức này, doanh nghiệp chỉ cần có điều kiện là có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, vì bản chất của tín dụng thuê mua đã bao hàm tài sản thế chấp trong hợp đồng thuê mua.

    Tín dụng hối phiếu

    Thay vì trực tiếp cho khách hàng vay tiền, Ngân hàng ký phát một giấy nhận nợ hẹn sẽ thanh toán cho người vay một khoản tiền vào một thời gian định trước trong tương lai ( khách hàng cũng đồng thời phải ký phát một giấy nhận nợ tương tự với Ngân hàng với mệnh giá và thời hạn theo thỏa thuận giữa Ngân hàng với khách hàng để bảo đảm Ngân hàng là có lợi nhận ). Sau đó khách hàng có thể dùng giấy nhận nợ đó đem thế chấp lại một Ngân hàng khác để vay vốn. Nếu khắc phục được các rủi ro đi kèm, phương thức này là một hình thức đầu tư hấp dẫn đối với Ngân hàng ( không cần thiết phải xuất tiền cho vay ).

    Cho vay xây dưng nhà ở

    Cho vay xây dựng nhà ở là hình thức trung dài hạn nhằm mục đích cho vay tiền xây dựng đối với các cá nhân, những cặp vợ chồng trẻ có công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, có nhu cầu về nhà ở nhưng chưa có đủ tiền xây nhà hoặc mua nhà. Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ, tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động và số cặp vợ chồng trẻ rất cao. Vấn đề nhà ở đang là một trong những ván đề cấp bách đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM Để giải quyết nhu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          63

    cầu nhà ở, ổn định đời sống cho người dân, đồng thời lại giải quyết được tình trạng ứ đọng vốn Ngân hàng thì Ngân hàng ngoại thương nên thực hiện món cho vay xây nhà theo hai cách sau:

    • Thứ nhất Ngân hàng đầu tư bằng cách mua đất, xây nhà rồi bán cho

    những người có nhu cầu với phương thức trả góp, lượng trả căn cứ vào thu nhập của người mua. Ngân hàng sẽ nắm quyền sở hữu nhà cho đến khi người mua trả hết tiền thì làm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu.

    • Thứ hai, Ngân hàng cho những người có nhu cầu vay tiền để họ tự mua

    nhà hoặc xây nhà. Để giảm rủi ro, Ngân hàng chỉ có thể cho vay đối với những người có sẵn đất và coi quyền sở hữu mảnh đất đó là tài sản thế chấp. Người vay cũng thực hiện trả dần theo phương thức trả góp theo thu nhập.

    Thí điểm áp dung loai hình cho vay theo hình thức ” Không thời han “.

    Theo hình thức này món cho vay sẽ không có thời hạn hoàn trả cụ thể định trước, thay nào đó Ngân hàng sử dụng hình thức có báo trước. Nghĩa là khi muốn thu nợ Ngân hàng có thể báo trước cho khách hàng. Khách hàng sẽ có một thời gian nhất định để chuẩn bị nguồn tiền cần thiết trả cho Ngân hàng. Thực tế đây là một hình thức tín dụng khá linh hoạt cả về thời hạn và lãi suất. Mức lãi suất sẽ được điều chỉnh theo một tiêu thức chung trên thị trường (chẳng hạn theo lãi suất tín phiếu kho bạc ).

    1.3. Đẩy mạnh công tác tư vấn đầu tư

    Trong thời đại hiện nay, khi nền kinh tế đã phát triển, hệ thống thông tin đã rộng khắp, mạng lưới tin học đã đi sâu vào mọi lĩnh vực ngành nghề thì việc đáp ứng các hiểu biết của con người trở lên cần thiết hơn. Cũng như nhiều trung tâm tư vấn khác, tư vấn của Ngân hàng là một lĩnh vực nhằm đánh giá phân tích, dự báo các thông tin về tình hình kinh tế, xã hội, pháp luật, thị trường, giá cả Liên quan đến vấn đề đầu tư giúp cho các doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư một cách đúng đắn nhất, sáng suốt nhất .

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          64

    Cho đến nay hầu như các doanh nghiệp ở nước ta ít hiểu biết về lĩnh vực đầu tư, chính vì vậy đầu tư vào các công trình chưa thu hút được kết quả như mong muốn, rủi ro đầu tư vẫn còn. Để phổ biện rộng khắp, giải đáp các thắc mắc, Ngân hàng nên có trung tâm dịch vụ tư vấn và đầu tư về các công trình, hướng dẫn cố vấn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triền nhanh hơn, điều đó cũng làm cho chính Ngân hàng phát triển, thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển .

    1.4. Tăng cường thực hiện Marketing Ngân hàng

    Công bằng mà nói, không chỉ riêng Ngân hàng ngoại thương mà nhìn chung các NHTM nước ta chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của Marketing trong hoạt động Ngân hàng nên chưa dành sự quan tâm hợp lý, thích đáng cho nó. Tư duy kinh doanh theo quan niệm Marketing còn thiếu vắng ở các NHTM Việt Nam, dẫn tới việc Marketing tuy bước đầu đã được ứng dụng trong Ngân hàng nhưng chủ yếu mới tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo, khuếch trương còn các chức năng chủ yếu có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành công trong thực hành Marketing như nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, nâng cao uy tín, chất lượng dịch vụ Ngân hàng... thì hầu như còn rất mờ nhạt, bế tắc. Do vậy, để đưa Marketing thực sự thâm nhập vào Ngân hàng và phát huy tác dụng của nó, Ngân hàng ngoại thương cần thực hiện một số biện pháp sau :

    • Các cán bộ quản lý cần phải nhanh chóng chuyển sang tư duy kinh doanh

    mới, lấy quan điểm Marketing làm chủ đạo vì chỉ có tìm hiểu thị trường một cách kỹ lưỡng nắm bắt được sự thay đổi nhu cầu của khách hàng mới có thể đưa ra những giải pháp, chính sách linh hoạt nhằm hướng hoạt động của Ngân hàng về mục tiêu.

    • Triết lý Marketing cần phải được thâm nhập vào tất cả các bộ phận giao

    dịch, tất cả các cán bộ nhân viên trong Ngân hàng.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          65

    • Thành lập phòng chức năng Marketing trong cơ cấu lổ chức quản trị, đề ra và định hướng hoạt động Marketing một cách khoa học, với đội ngũ cán bộ thực sự

    nhạy bén, am hiểu về Marketing.

    • Cán bộ Marketing Ngân hàng cần phải xem xét ba yếu tố có tác động trực

    tiếp đến hoạt động của Ngân hàng:

    • Nhu cầu của khách hàng trên thị trường đối với sản phẩm của Ngân hàng

     

    • Khả năng thích ứng cầu của tất cả các Ngân hàng đối thủ trên thị trường.

     

    • Các sản phẩm, dịch vụ cung ứng của chính bản thân Ngân hàng mình.

    Tất nhiên, nói thì bao giờ cũng dễ hơn làm, để đưa được Marketing vào Ngân hàng thực tế cần nhiều thời gian và phải trải qua rất nhiều khó khăn. Nhưng thực sự đây là một điều rất cần thiết đối với tất cả các NHTM Việt Nam, đặc biệt khi sự cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng mang tính quốc tế.

    1.5. Mở rộng cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

    Ngân hàng tiếp tục điều chỉnh cơ cấu cho vay và đầu tư phải phù hợp với cơ cấu thành phần kinh tế quốc dân. Đa dạng hóa các hình thức tín dụng để phân chia rủi ro và điều quan trọng là không phân biệt thành phần kinh tế, thực hiện chính sách khách hàng để cho vay .

    Hiện nay, ở ngân hàng ngoại thương tỷ trọng tín dụng trung dài hạn đối với khu vực KTNQD còn quá nhỏ bé và ngày càng giảm sút. Mặc dù quy định về cho vay thành phần kinh tế này đòi hỏi rất cao và chặt chẽ nhưng không vì thế mà Ngân hàng không cho vay ra, thờ ơ với khách hàng, coi những khoản vay này là nhỏ bé Ngân hàng cần phải làm tốt hơn nữa quan hệ Ngân hàng – khách hàng, lấy khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, kinh tế tư nhân để hướng tới. Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năng động, nhạy bén, thích ứng với cơ chế thị trường, bộ máy kinh doanh gọn nhẹ, hiệu quả kinh tế luôn gắn liền với lợi ích của người sản xuất, tuy vậy sự ra đời cũng như hoạt động của nhiều doanh nghiệp còn rất nhiều điều chưa sáng tỏ, vì vậy Ngân hàng rất dè dặt khi cho vay vì

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          66

    sợ không thu hồi được nợ, khách hàng bỏ trốn mất. Cho nên cho vay khu vực kinh tế này phải vừa biết năng động, nhìn nhận đâu là khách hàng đáng tin cậy, vừa phải phân tích xem khách hàng nào có triển vọng sẽ quịt nợ hay kinh doanh kém mà dẫn tới khả năng không lrả được nợ. Muốn mở rộng ra khu vực này Ngân hàng phải biết chấp nhận kiểu ” năng nhặt chặt bị ” không chê những vay nhỏ.

    1.6. Đơn giản hóa các thủ tục cho vay

    Ngân hàng ngoại thương nên đơn giản hóa các thủ tục xin vay vốn, đẩy mạnh quá trình điều tra xét duyệt cho đối với các dự án có hiệu quả. Nhìn chung, khách hàng đi vay vốn bao giờ cũng ngại thủ tục xét duyệt cho vay quá rườm rà. Trong bộ hồ sơ xin vay vốn trung dài hạn có rất nhiều các thủ tục: Đơn xin vay, luận chứng kinh tế, dự toán công trình kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bản quyết toán hiệu quả kinh tế của dự án

    Trong các khách hàng vay vốn trung dài hạn của Ngân hàng chủ yếu là khách hàng truyền thống và khách hàng lâu dài từ trước đã tham gia vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng. Vì vậy giữa bộ hồ sơ vay vốn trung dài hạn với bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn có hai điểm trùng nhau đó là: Báo cáo thực trạng tài chính của doanh nghiệp, báo cáo quyết toán của doanh nghiệp kế tiếp hai năm trước Do đó, Ngân hàng có thể đơn giản hai thủ tục này khi mà doanh nghiệp chưa có đủ thì hoàn toàn có thể áp dụng dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn: vì trong nghiệp vụ vay vốn ngắn hạn, cán bộ tín dụng vẫn phải thường xuyên kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn chỉ thường dùng cho các doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, còn đối với đơn vị lần đầu thì phải đảm bảo đầy đủ thủ tục. Việc đơn giản hóa như vậy sẽ làm khách hàng không ngần ngại khi đặt quan hệ vay vốn với Ngân hàng. Việc các thủ tục xét duyệt đơn giản cũng sẽ tại điều kiện cho Ngân hàng điều tra có trọng điểm, không mất thời gian tìm hiểu quá lâu. Đơn giản không có nghĩa là qua loa, hời hợt đó là nguyên tắc của Ngân hàng trước khi điều tra cho vay .

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          67

    2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    Thực hiện song song với việc mở rộng hoạt động tín dụng trung dài hạn là việc nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn. Ngân hàng nên áp dụng những giải pháp sau:

    2.1. Đổi mới chính sách tín dụng

    Chính sách tín dụng vừa phải phù hợp với đường lối phát triển của Nhà nước đồng thời đảm đảm bảo kết hợp hài hòa quyền lợi của người gửi, người đi vay và chính bản thân Ngân hàng. Muốn vậy, phải xây dựng chính sách tín dụng trên cơ sở khoa học, phải đảm bảo khả năng sinh lời của các hoạt động tín dụng, trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật và đường lối chính sách của Nhà nước, đồng thời đảm bảo tính công bằng. Chính sách tín dụng cần được tiếp tục hoàn thiện, đảm bảo vừa huy động được tiền gửi vào Ngân hàng (đặc biệt là vốn trung dài hạn) vừa đảm bảo NHTM kinh doanh có lãi, bảo toàn được vốn khuyến khích được các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn của các Ngân hàng, kích thích mở rộng tín dụng trung dài hạn đề đổi mới kỹ thuật, hiện đại hóa công nghệ, tăng cường sức mạnh của sản phẩm nội địa.

    2.2. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư

    Thẩm định tài chính là phương diện quan trọng nhất trong công tác thẩm định dự án đầu tư Chất lượng của công tác thẩm định tài chính dự án quyết định chất lượng tín dụng .

    Tuy nhiên, công tác này ở các NHTM Việt Nam nói chung và ngân hàng ngoại thương nói riêng còn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả. Bên cạnh các nguyên nhân như trình độ của cán bộ tín dụng còn hạn chế, chưa được đào tạo chuyên sâu, thông tin khách hàng cung cấp bị sai lệch thì phương pháp thẩm định cũng là một nguyên nhân quan trọng làm cho chất lượng công tác thám định dự án chưa cao.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          68

    • Thứ nhất, hiệu quả tài chính cũng như các loại hiệu quả khác, bản chất

    của nó được thực hiện không đơn thuần chỉ trên một mặt nào đó mà trên nhiều khía cạnh khác nhau.

    Do vậy hệ thống chỉ tiêu về thẩm định tài chính dự án đầu tư phải đầy đủ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để phản ánh về dự án đầu tư một cách hiệu quả nhất, trung thực nhất. Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, cho thấy các chỉ tiêu đó tựu trung chia làm hai nhóm chính: Một là, các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của dự án đầu tư. Hai là, nhóm phản ánh mức độ rủi ro của dự án. Trong mỗi nhóm chỉ tiêu cần phải lựa chọn, xác định số lượng, loại chỉ tiêu để phản ánh đặc thù của nhóm san cho phù hợp với hoàn cảnh phân tích cụ thể.

    • Thứ hai, thực chất của việc xây dựng tính toán những chỉ tiêu thẩm định

    dự án tài chính đầu tư có cơ sở toán học chặt chẽ, logic, ở đây, nếu quá chú trọng đến cơ sở lý thuyết thì rất khó cho việc áp dụng triển khai trong thực tiễn thẩm định tài chính dự án vì bị giới hạn nhiều điều kiện như thời gian, hoạt động tổ chức

    • Thứ ba, hệ thống chỉ tiêu là nội dung chính trong thẩm định phương diện

    tài chính dự án đầu tư nhưng dù sao nó cũng chỉ là phương tiện để phân tích, đánh giá. Điều quan, trọng là phải sử dụng những chỉ tiêu đó để phân tích, đánh giá chất lượng hiệu quả của dự án đầu tư.

    2.3. Cho vay kịp thời đầy đủ đối với các dự án có hiệu quả kinh tế

    Ngân hàng cần tiến hành đầu tư dứt điểm cho từng dự án, từng công trình tránh tình trạng cho vay thiếu hài hòa, khi thì tràn lan, khi thì thưa thớt. Trong quá trình điều tra xét duyệt cho vay, Ngân hàng cần chú trọng đến những công trình phục vụ xây dựng cơ cấu cả nền kinh tế quốc dân, thực sự có hiệu quả, đảm bảo đầu tư đúng mục đích, đúng kế hoạch có khả năng trả nợ lãi vay Ngân hàng đúng thời hạn, có khả năng thu hổi vốn nhanh, để đó có kế hoạch đầu tư một cách đầy đủ, kịp thời. Công trình sau khi được phê duyệt, Ngân hàng cần phát tiền vay theo

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          69

    đúng kế hoạch để đảm bảo thực hiện đúng tiến độ thi công đã đề ra, sớm đưa dự án vào sử dụng phát huy hiệu quả .

    2.4. Xử lý linh hoạt các tình huống trong quá trình cho vay

    Đây thực chất chỉ là giải pháp mang tính chất “chữa cháy” hơn là tính chất “phòng ngừa“. Thực hiện giải pháp này, cán bộ tín dụng thường xuyên phải theo sát tình hình thực tế cơ sở, đốc thúc thu nợ, lãi đúng hạn, tuyệt đối không để khách hàng có cảm giác là Ngân hàng không quan tâm tới mục tiêu thu hồi nợ lãi. Tuy nhiên, trong khi thu nợ sớm hoặc đốc thúc thu nợ lãi, cán bộ tín dụng nên sử dụng các biện pháp nghệ thuật ứng xử, nghiệp vụ phù hợp để vừa thu hồi được vốn vừa không làm mất lòng khách hàng. Trong trường hợp, khách hàng không trả được nợ, nhưng còn khả năng phát triển bởi hiện tại họ đang gặp khó khăn do những nguyên nhân bất khả kháng, thì cán bộ tín dụng có thể lập bảng tường trình và đơn xin gia hạn nợ hoặc cho vay thêm đối với khách hàng đó .

    2.5. Tăng cường các biện pháp thu nợ, đảm bảo trả nợ và lãi vay Ngân hàng

    Nếu thẩm định dự án là khâu đầu tiên và là khâu quyết định để cho vay đối với dự án thì quá trình đưa vốn ra theo dõi đôn đốc thu nợ cũng là khâu không kém phần quan trọng.

    Khi một dự án đầu tư trung và dài hạn được cho vay theo đúng mục đích, đúng lúc, đúng thời điểm, đúng số vốn ghi trong hợp đồng tín dụng thì công việc quản lý vốn vay ở đây là theo dõi kiểm tra số tiền mà doanh nghiệp rút ra lần trước xem có sử dụng đúng mục đích không. Việc kiểm tra này thông qua các chứng từ, hóa đơn, hợp đồng giá cả... Nếu doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích như trong hợp đồng tín dụng thì đó là cơ sở cho việc phát vốn lần sau. Những trường hợp nào sử dụng sai mục đích thì phải xử lý ngay theo chế độ tín dụng. Ngoài ra phải theo dõi, bám sát mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để đánh giá chính xác những diễn biến trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng, phát hiện

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          70

    kịp thời khả năng có thể phát sinh nợ quá hạn, nợ khó đòi, từ đó có biện pháp xử lý ngay.

    Việc đôn đốc thu nợ, thu lãi đúng kỳ hạn và đủ là trách nhiệm, là kỷ luật đối với cán bộ tín dụng. Lịch trả nợ gốc và lãi vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng phải theo dõi hàng ngày. Ngân hàng đồng thời phải gửi báo cáo cho doanh nghiệp có nợ quá hạn chuẩn bị nguồn trả vào trước kỳ hạn trả. Việc thu nợ, lãi đúng kỳ hạn sẽ không có nợ quá hạn thể hiện sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.

    Khi một dự án vay mà đã đến hạn trả nhưng doanh nghiệp chưa có nguồn vốn để trả nợ thì việc xem xél để gia hạn, trả nợ gốc phải đúng thẩm quyền được uỷ nhiệm và các chế độ tín dụng quy định, không tùy tiện gia hạn. Nếu trong các dự án cho vay có nợ quá hạn thì cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi mọi diễn biến để kịp thời thu hồi, tránh để nợ nần dây dưa .

    Để xử lý nợ quá hạn thì Ngân hàng có biện pháp thích hợp để giúp đỡ doanh nghiệp tháo gỡ mọi khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Ngân hàng giúp doanh nghiệp việc tư vấn trong sản xuất để giảm nợ quá hạn. Tuyệt đối không cho vay khoản mới khi chưa hết nợ cũ, không lấy nợ nuôi nợ .

    2.6. Luôn luôn dự báo các rủi ro tiềm ẩn trong tín dụng trung dài hạn và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu

    Rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất luôn đe dọa các Ngân hàng bởi cấp độ của khoản vay trung dài hạn lớn hơn đáng kể so với khoản vay ngắn hạn. Sự quan tâm đến vấn đề phòng ngừa rủi ro đối với khoản tín dụng trung dài hạn không chỉ đòi hỏi đối với Ngân hàng mà còn đặc biệt đối với cơ quan quản lý tiền tệ. Bởi vì mức độ của khoản vay trung dài hạn là rất lớn, gây đột biến và kéo dài cho cả bên vay, Ngân hàng tài trợ và các bên có liên quan. Chính vì vậy, biện pháp xác định dự báo rủi ro tiềm ẩn trong thế chấp và bảo lãnh vay vốn là hết sức cần thiết đối với Ngân hàng. Việc dự báo rủi ro tiềm ẩn càng đầy đủ, các biện pháp phòng ngừa càng cẩn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 71

    trọng thì hiệu quả tín dụng ngay từ khâu phán quyết càng cao. Đương nhiên việc phát hiện và dự báo các rủi ro tiềm ẩn để đề ra các biện pháp phòng ngừa phải là việc làm liên tục, thường xuyên không chỉ trước khi phán quyết mà cả trong suất trong quá trình đưa vốn vay ra cho đến khi thu hết nợ gốc và lãi vay .

    Vì vậy khi tính toán nguồn trả nợ, thời hạn trả nợ, người ta tính toán cả phương án: phương án lạc quan nhất, phương án trung bình nhất. Để an toàn và phòng ngừa các rủi ro tiềm ẩn, có một cách thường dùng là lấy phương án sản xuất xấu nhất đề xem xét. Nếu phương án này vẫn trả được nợ và lãi vay Ngân hàng trong giới hạn cho phép, thì chắc chắn ngay từ khi phán quyết đã có thể yên tâm về khoản vay được duyệt.

    Thế chấp và bảo lãnh cho việc vay vốn là chìa khóa an toàn cuối cùng cho việc vay vốn. Trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng công cụ này đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Ngân hàng phải biết sự nhạy cảm, đảm bảo nguyên tắc và chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Nhà nước, áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhưng không tùy tiện. Tuyệt đối không coi thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là “bùa hộ mệnh ” trong cho vay, không thể coi là chiếc chìa khóa an toàn đặc biệt mà chỉ coi là chiếc chìa khóa an toàn cuối cùng trong việc đảm bảo an toàn tín dụng. Thực hiện việc thế chấp, bảo lãnh đúng quy định và cho vay lãi phải dựa trên những cơ sở thực sự từ phía doanh nghiệp chứ không phải dựa vào duy nhất tài sản thế chấp .

    2.7. Nâng cao công nghệ ngân hàng.

    Một công nghệ bao giờ cũng gồm bốn yếu tố: Thiết bị, con người, tổ chức, và thông tin. Vì vậy để nâng cao công nghệ của mình, ngân hàng ngoại thương cần quan tâm phát triển cả bốn yếu tố trên:

    2.7.1. Về thiết bị ngân hàng:

    Hiện nay các ngân hàng đứng trước nhu cầu đổi mà trước hết là đổi mới thiết bị, ngân hàng ngoại thương cần nâng cấp hệ thống thiết bị của mình mà trước

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          72

    hết là hệ thống mạng máy tính. Đây là một điều kiện để ngân hàng hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu quản lý và tăng cường sức cạnh tranh. Ngân hàng ngoại thương đã thực hiện chuyển tiền qua mạng SWiFT. Tuy nhiên để nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ Ngân hàng ngoại thương có thể đặt hàng với các công ty tin học trong hoặc ngoài nước nghiên cứu hoàn thiện phần mềm cũng như hệ thống mạng máy tính.

    2.7.2. Về con người

    Con người luôn là nhân tố quyết định đến sự thành công của một tổ chức. Để có một khoản tín dụng có chất lượng, yếu tố trước tiên thuộc về người cán bộ tín dụng. Họ phải là người am hiểu khách hàng, hiểu biết sâu sắc thực lực tài chính, khả năng thanh toán của khách hàng kể cả hiện tại cũng như sau này, xác định được tiềm năng phát triển và dự báo được những biến động trong tương lai. Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng cần phải hiểu được tâm lý của khách hàng, xem xét được mức độ trung thực của khách hàng để bảo đảm tính an toàn của khoản tín dụng. Có khả năng giao tiếp ứng xử hợp lý để có thể duy trì được các khách hàng có mối quan hệ từ trước, đồng thời lại thu hút được những khách hàng mới có tiềm năng .

    Sự tác động của các chính sách kinh tế của Chính phủ hay ảnh hưởng của các biến động trên thị trường đến kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp là vô cùng phức tạp. Điều này đòi hỏi cán bộ tín dụng cần có kiến thức hiểu biết nhất định về thị trường và về lĩnh vực chuyên môn mà khách hàng của mình đang tiến hành kinh doanh.

    Tất cả các yêu cầu đó đối với một cán bộ tín dụng dường như là quá nhiều, một cán bộ dù tài giỏi đến đâu cũng không thể có đầy đủ những yếu tố đó. Vì vậy Ngân hàng cần phải kế hoạch hóa công tác đào tạo cán bộ, sớm thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ tín dụng, đưa việc nâng cao trình dộ trở thành mục tiêu phấn đấu và làm việc thường xuyên. Công tác đào tạo cần tập trung theo trọng điểm và đào

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          73

    tạo một cách toàn diện để thực sự có những cán bộ có đủ năng lực và hiểu biết phục vụ yêu cầu công tác kinh doanh, tránh đào tạo tràn lan, lãng phí.

    ưu tiên đào tạo cán bộ chủ chốt trước, sau đó đào tạo những cán bộ kế cận, có năng lực và phẩm chất đạo đức.

    Hoạt động tín dụng sử dụng phần lớn nguồn vốn của Ngân hàng, giao tiền vào tay người khác, chính vì vậy cán bộ tín dụng phải cớ trình độ chuyên môn cao. Nhất là trong lĩnh vực trung dài hạn, phải thẩm định dự án, dự đoán trước cho một khoảng thời gian dài, vì vậy cán bộ tín dụng phải có cái nhìn tổng quát, có đầu óc phán đoán. Chính vì vậy Ngân hàng nên chọn những cán bộ có đầy đủ năng lực và nhiệt tình công tác vào hoạt động tín dụng trung dài hạn. Để nâng cao trình độ cho các cán bộ tín dụng, Ngân hàng nên tổ chức những lớp tập huấn đào tạo lại hoặc bổ sung kiến thức nghiệp vụ trong cơ chế thị trường cho các cán bộ quá lâu trong thời kỳ bao cấp; cho các cán bộ có năng lực đi học tập ở nước ngoài; tuyển chọn những cán bộ trẻ tuổi có năng lực thực sự am hiểu về kinh tế thị trường chuẩn bị cho đội ngũ kế cận. Ngân hàng có thể tạo điều kiện thuận về giờ giấc, học phí… để giúp cán bộ tham gia các lớp học để nâng cao trình độ. Trong công tác đào tạo này, Ngân hàng nên chú trọng chất lượng hơn là số lượng. Các lớp tập huấn kiến thức chung lại Ngân hàng không nên tổ chức tại hội trường lớn – nơi mà ai cũng có thể làm việc riêng của người ấy mà nên tổ chức thành các lớp nhỏ với số lượng khoảng trên dưới 10 học viên. Cán bộ sau khi được Ngân hàng cử đi học cũng phải chịu trách nhiệm cụ thể tránh căn bệnh hình thức, tránh Ngân hàng bỏ tiền cho cán bộ đi học nhưng sau khi kết thúc khóa học lại không mang lại hiệu quả trong công việc.

    2.8.3. Về tổ chức:

    Trong những năm qua ngân hàng ngoại thương đã có những bước tiến vững chắc trong việc củng cố bộ máy tổ chức ngân hàng, trong những năm tới kết hợp với đề án tái cơ cấu ngân hàng, ngân hàng tiếp tục sắp xếp lại tổ chức tránh việc

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          74

    chồng chéo trong công việc. Để đơn giản hoá thủ tục và không lãng phí thời gian trong quá trình xin vay cho khách hàng thì đây cũng là một giải pháp tốt.

    2.8.4.Về thông tin:

    Ngân hàng cần cập nhật những thông tin về sự đổi mới công nghệ ngân hàng trong hệ thống ngân hàng cả trong và ngoài nước để có sự tiếp thu kế thừa, và thích ứng một cách hợp lý và đem lại hiệu quả cao

    2.8. Phát triển hình thức bảo hiểm quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có hai cách thực hiện: một là, các doanh nghiệp trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh thì phải mua bảo hiểm ở các công ty bảo hiểm; hai là, Ngân hàng

    kiêm luôn chức năng này. ở đây em xin đề cập đến cách thứ hai, vì nó phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay hơn .

    Để vay vốn Ngân hàng trước tiên doanh nghiệp phải lập một dự án như bình thường. Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định dự án đó. Nếu Ngân hàng thấy không cho vay được thì thôi, còn nếu cho vay được thì khi giao tiền cho khách hàng, Ngân hàng sẽ giữ lại một tỷ lệ nhất định của khoản vay và cấp cho khách hàng một thẻ bảo hiểm. Các khoản tiền bảo hiểm đó sẽ được sử dụng để bù đắp rủi ro cho Ngân hàng trong trường hợp khách hàng làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán. Cách làm này có lợi là Ngân hàng có thể chủ động phòng ngừa từ xa những rủi ro có thể xảy ra khi cho vay những dự án có tính rủi ro cao, đổng thời khách hàng không có lý do gì để trốn tránh trách nhiệm mua bảo hiểm, vì khoản đóng bảo hiểm đã được Ngân hàng giữ lại ngay khi cho vay. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng đây cũng chỉ là một trong những biện pháp nhằm hạn chế bớt tác hại của rủi ro, không thể coi đó là chỗ dựa cho Ngân hàng, mà điều cốt yếu là phải thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa để không cho các rủi ro đó xảy ra. Đó mới là mục tiêu mà ngành Ngân hàng cần hướng tới. Các doanh nghiệp cần phải thấy rõ được điều này không chỉ có lợi cho Ngân hàng mà còn có lợi cho chính doanh nghiệp vì khi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          75

    mua bảo hiểm nếu gặp rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ có khoản để bù đắp lại một phần hoặc toàn bộ tổn thất tùy thuộc vào mức đóng bảo hiểm .

    2.9. Bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn:

    Tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn để phòng ngừa các rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra là do khách quan xảy ra như thiên tai, hoả hoạn… cũng có thể do chủ quan của ngân hàng dẫn đến việc không thu hồi được vốn vay.

    Hiện nay, tại ngân hàng ngoại thương việc tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn cho các dự án ở trong nước gần như là không có. Vì vậy, cần tiến hành phân tích, nghiên cứu một số dự án xin vay vốn trung dài hạn có mức độ rủi ro khá cao mà thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ cho vay thì ngân hàng khó có thể cho vay được

    Nhưng theo quy luật thì một dự án có rủi ro cao lại đem lại một tỷ lệ sinh lời lớn, vì vậy ngân hàng sẽ tính toán để có thể tham gia bảo hiểm cho các khoản vay này khi nó gặp rủi ro. Nhờ vậy, ngân hàng ngoại thương có thể cho dự án này vay vốn, một mặt để thu được lợi nhuận, một mặt có thể phòng ngừa được rủi ro thông qua hình thức bảo hiểm cho chính khoản vay này.

    Như vậy, vô hình chung ngân hàng có thể mở rộng cho vay trung dài hạn và thông qua tăng doanh số cho vay trung dài hạn vừa hạn chế được rủi ro khi dự án này gặp phải khó khăn trong việc thu hồi nợ.

    Nói tóm lại, trên đây chỉ là một số suy nghĩ riêng của cá nhân dựa trên cơ sở lý thuyết, chưa có ý nghĩa thực tế, chính vì vậy chúng chỉ có giá trị tham khảo. Em hy vọng những giải pháp trên đây sẽ ít nhiều có ích trong việc áp dụng vào thực tế tại ngân hàng nhằm giải quyết những vướng mắc mà ngân hàng đang gặp phải.

    • Một số kiến nghị

    3.1 Đối với Nhà nước

    3.1.1. Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho Ngân hàng hoạt động

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          76

    Do tình hình kinh tế – xã hội phát triển nhanh, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường thực sự phải có pháp luật điều chỉnh, tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh trong sự phát triền kinh tế. Chính vì vậy đòi hỏi một hệ thống pháp luật đồng bộ làm chỗ dựa pháp lý cho Ngân hàng, cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Hơn nữa, luật lệ của nước ta chưa ổn định, thay đổi luôn luôn không tạo ra cơ sở vững chắc cho Ngân hàng. Việc luôn bị sửa đổi của các Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật đất đai nhà cửa khiến cho các giấy tờ liên quan như giấy phép kinh doanh, giấy sở hữu nhà đất không rõ ràng, rất khó khăn cho Ngân hàng xem xét dự án có thể cho vay.

    Riêng đối với lĩnh vực Ngân hàng, có hai bộ Luật Ngân hàng (Luật NHNN và Luật các TCTD) là cơ sở pháp lý quan trọng để Ngân hàng cho vay đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên việc ban hành các quy định ngặt nghèo đối với khu vực KTNQD, khiến cho dư nợ của thành phần kinh tế này ngày càng giảm sút. NHNN cần ban hành quy chế có tính mềm dẻo hơn nhằm kích thích cán bộ tín dụng tìm nhiều khách hàng để cho vay.

    Làm rõ nội dung lợi nhuận chịu thuế, chi phí hợp lý vốn chủ sở hữu và cơ sở ấn định mức phải chịu thuế lợi tức bồ sung. Có hai kiến nghị của các TCTD đối với các Luật thuế mới là áp thuế đúng luật định và thuế suất hợp lý .

    • Trong Luật các TCTD quy định các hoạt động bảo lãnh mua bán tài sản

    xiết nợ, chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá... thì không phải chịu thuế. Thế nhưng trong Thông tư 178/ TT hướng dẫn Thuế GTGT lại xếp các hoạt động trên vào hoạt động chịu thuế.

    Chính vì vậy việc hoàn thiện môi trường pháp lý là rất cần thiết. Các Luật không được chồng chéo lên nhau mà phải vừa đảm bảo tính dân chủ vừa phải kích thích cho tất cả các hoạt động đều phát triển và đi vào khuôn phép.

    3.1.2 Nhà nước cần có các biện pháp đồng bộ để ổn định tiền tệ.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 77

    Trên tổng quan, chính sách tiền tệ giai đoạn 1998 – 2005 vẫn phải hướng vào mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền, đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển với tốc độ cao và bền vững. Chính sách tiền tệ phải được điều hành bởi các công cụ, chính sách cụ thể về tín dụng đối với nền kinh tế, về quản lý ngoại hối và chính sách đối với Ngân sách thay cho cách điều hành thông qua các chỉ tiêu kế hoạch như trước đây. Quan điểm trong xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn này là phải điều hòa được các quan hệ vốn có mâu thuẫn, đó là:

    • Giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu tăng trưởng kinh tế .
    • Giữa lợi ích chung kiềm chế lạm phát và lăng trưởng kinh tế với lợi ích

    của các NHTM và các TCTD .

    • Giữa lợi ích người gửi tiền, nhà kinh doanh tiền tệ và người đi vay.

    Định hướng trong giai đoạn này là phải chuyển mạnh sang vận dụng các công cụ tiền tệ gián tiếp thay cho việc sử dụng các công cụ tiền tệ trực tiếp vì hiện nay Việt Nam đã bước đầu hình thành các khung định chế và môi trường cho các công cụ gián tiếp được sử dụng.

    Bên cạnh đó các công cụ trực tiếp ngày càng bộc lộ những nhược điểm như làm cho việc phân phối vốn không hiệu quả, kiềm chế tài chính cứng nhắc và thiếu linh hoạt trong khi đó các công cụ gián tiếp sẽ giúp cho NHNN điều hành tiền tệ một cách linh hoạt theo thị trường.

    Giai đoạn sau năm 2000 về cơ bản hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã được củng cố về nhiều mặt, do đó cần tiến thêm một bước trong cải cách quản lý về tiền tệ để tiến tới một hệ thống tài chính tự do và hòa nhập vào hệ thống tài chính khu vực và quốc tế.

    3.1.3. Tăng cường trách nhiệm từ phía Nhà nước Doanh nghiệp Ngân hàng

    Từ năm 1996 đến nay, việc mở rộng tín dụng Ngân hàng đã gặp không ít

    khó khăn, thậm chí có lúc tưởng chừng như vốn Ngân hàng đang bị “đóng băng“,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          78

    trong khi đó các doanh nghiệp lại thiếu vốn trầm trọng. Để quan hệ giữa hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng ngày càng phát triển, cần có sự phối hợp đồng bộ của các cấp các ngành, và thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây :

    Kiên quyết sắp xếp lại các DNNN, chỉ để tồn tại những doanh nghiệp công ích doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, những doanh nghiệp thực sự cần thiết cho phái triển dân sinh, tạo điều kiện cho đầu tư tín dụng nâng cao được hiệu quả. Trong hội nghị tổng kết đổi mới và phát triển DNNN từ năm 1986 đến nay (3 – 4 /5/2000), đã thống nhất lộ trình đổi mới doanh nghiệp NN giai đoạn 2000 – 2003, số lượng DNNN sẽ chỉ còn lại 3000 doanh nghiệp, giảm đi 2280 doanh nghiệp, bao gồm 1498 doanh nghiệp được tiến hành CPH, hoặc giao bán, khoán, cho thuê (65,3%); 380 doanh nghiệp sáp nhập vào các doanh nghiệp khác (16,7%) và 368 doanh nghiệp phải giải thể, phá sản ( 6%); 43 doanh nghiệp chuyển thành đơn vị sự nghiệp (2%). Đến năm 2003, quy mô DNNN sẽ tăng vốn bình quân từ hơn 18 tỷ đồng /1 doanh nghiệp lên trên 27 tỷ đồng; giảm 18,5% tổng nợ, 15,3% nợ Ngân hàng và quan trọng nhất là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được nâng lên. Hiện chỉ có 20% DNNN đạt mức lợi nhuận trước thuế cả năm từ 12% trở lên (tương đương với mức lãi suất Ngân hàng). Theo phương án sắp xếp lại đến năm 2003, số DNNN đạt mức lợi nhuận nêu trên sẽ tăng lên 50%. Đến năm 2005, dự kiến chỉ còn 2000 DNNN, có thể nói, đây chính là sự “giảm lượng tăng chất”. Các DNNN khẳng định được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế, làm ăn có hiệu quả, có định hướng hoạt động chắc chắn, tạo sự tin lượng cho nhà đầu tư và cũng là mảnh đất tốt để phát triển hoại động tín dụng của Ngân hàng. Bên cạnh đó, sau khi sắp xếp sẽ xử lý nợ được 21 .000 tỷ đổng, trong đó có 7.000 tỷ đổng nợ Ngân hàng . Bộ Tài chính cần tiếp tục cấp bổ sung đủ mức vốn điều lệ đã được duyệt cho các doanh nghiệp để đảm bảo số tiền vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN. Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          79

    trong sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng của chu kỳ sản xuất hoặc thực sự cần thiết phải tồn tại thì đề nghị Bộ Tài chính cho phép giãn nợ 3 – 5 năm để doanh nghiệp có thời gian sắp xếp lại sản xuất, tạo nguồn trả nợ cho Ngân hàng.

    Tiếp tục hoàn thiện sửa đổi, ban hành các bộ Luật, văn bản dưới Luật liên quan đến hoạt động của nền kinh tế nói chung, đến hoạt động của Ngân hàng nói riêng, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động củadoanh nghiệp và NHTM đi đúng giới hạn cho phép và phân rõ trách nhiệm của người đi vay và người cho vay trong quan hệ tín dụng.

    Rà soát lại năng lực trình độ cũng như phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác trực tiếp kinh doanh. Tiếp tục nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ Ngân hàng.

    Tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ của Ngân hàng, tạo ra nhiều sản phẩm mới ( tư vấn, bảo hiểm, thuê mua ) .

    3.1.4. Thành lập trung tâm quản lý và bán đấu giá tài sản thế chấp

    Hình thức công ty mua bán nợ đã xuất hiện từ rất lâu trên ở nhiều nước trên thế giới như : Nhật Bản, Hàn Quốc Các công ty này được hình thành khách quan trong nền kinh tế thị trường khi có nhiều khoản nợ xuất hiện ở các TCTD khác nhau. Bản chất của chúng là các công ty kinh doanh các khoản nợ của các doanh nghiệp vay các TCTD để thu lợi nhuận.

    Hiện nay, ở Việt Nam, Chính phủ đang xúc tiến thành lập công ty nợ trực thuộc Chính phủ thực hiện hai mục tiêu là đảm bảo an toàn, lợi ích của các TCTD và thực hiện mục tiện lợi nhuận. Ban lãnh đạo của công ty phải bao gồm các thành viên của NHNN, Bộ Tài chính, Tổng cục địa chính và cán bộ các ngành có liên quan đến việc quản lý và bán đâu giá.

    Hoạt động của công ty bao gồm từ khâu định giá; nhận tài sản thế chấp, cầm cố đến việc quản lý các tài sản này và cuối cùng là bán đấu giá để thu hồi khoản vay nếu khách hàng không trả được nợ.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          80

    3.1.5. Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc

    Để giúp các Ngân hàng xét duyệt hồ sơ xin vay vốn của các khách hàng được chính xác, báo cáo tài chính của khách hàng phải phản ánh đúng tình hình thực tế đồng thời việc thu thập thông tin của Ngân hàng cũng phải được tiến hành thuận lợi và chính xác. Muốn vậy, Nhà nước cần sớm ban hành quy chế tài chính và hạch toán kinh doanh đối với khu vực KTNQD. Qua đó tăng cường tính hiệu lực pháp lý, đảm bảo tính đồng bộ chuẩn mực của công tác hạch toán kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ Ngân hàng có những kết luận chính xác về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Việc chấn chỉnh công tác kiểm toán phải đi đôi với nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Hiện nay ở nước ta đã có hệ thống kiểm toán Nhà nước, 15 công ty kiểm toán độc lập bao gồm cả công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, công ly kiểm toán của Nhà nước và trách nhiệm hữu hạn, song hiệu quả hoạt động của các công ty này chưa cao, một phần là do quan niệm của các doanh nghiệp thường rất ngại thực hiện kiểm toán do nhiều lý do khác nhau: có thể sợ kiểm toán phát hiện ra những sai sót về kế toán hay kiểm toán sẽ phát hiện ra những điều mà doanh nghiệp cần giấu kín

    Đề nâng cao hiệu quả của công tác kiểm toán và làm cơ sở cho việc thẩm định tín dụng, trước mắt cần có sự thống nhất giữa các cơ quan kiểm toán Việt Nam, cụ thể hóa chuẩn mực kiểm toán sao cho phù hợp với thông lệ của kiểm toán quốc tế. Ví dụ như: một doanh nghiệp có số vốn điều lệ bao nhiêu thì cần phải tiến hành kiểm toán, trách nhiệm cung cấp và giữ bí mật thông tin của các cơ quan kiểm toán, áp dụng công nghệ kiểm toán gì, giá trị pháp lý của số liệu và chữ ký của cơ quan kiểm toán… Tiến tới, Nhà nước cần quy định chế độ kiểm toán bắt buộc đối với mọi loại hình doanh nghiệp, qua đó để đảm bảo độ tin cậy cho các báo cáo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thẩm định các dự án đầu tư .

    3.2 Đối với NHNN

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          81

    Về xử lý tài sản thế chấp: NHNN quy định nếu sau thời hạn trả nợ cuối cùng là 10 ngày, bên vay không trả được nợ thì Ngân hàng làm đơn đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Mặt khác, trong thủ tục cho vay ràng buộc bên vay bằng một hợp đồng thế chấp tài sản có ghi: ” nếu không trả nợ gốc và lãi thì Ngân hàng phải phát mai tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ “. Như vậy, người vay tự nguyện mang tài sản thế chấp hợp pháp đến vay vốn đã cam kết với Ngân hàng bằng đảm bảo. Ngân hàng làm bản thông báo công khai, trước hết dành quyền ưu tiên cho người có tài sản thế chấp đó được mua lại tài sản đó theo đánh giá của Hội đồng định giá. Sau 10 ngày nhận dược thông báo, nếu chủ tài sản không mua thì Ngân hàng sẽ có quyền bán cho người khác.

    Như vậy, Ngân hàng có thể tự phát mại tài sản đó mà không phải xin ý kiến của các cơ quan Nhà nước khác.

    Về nâng cao chất lượng thông tin: một trong những nguyên nhân gây nên rủi ro trong hoạt động tín dụng trung dài hạn của các NHTM là sự thiếu thông tin cần thiết, chính xác từ phía khách hàng, từ thị trường và dự án. Vì vậy, muốn hoạt động của các NHTM đạt hiệu quả cao thì NHNN phải thiết lập một trung tâm lưu trữ thông tin có thể cung cấp những thông số chính xác nhất, mới nhất về các doanh nghiệp, các biến động trên thị trường, các thông tin có liên quan đến dự án

    Về mức lãi suất: NHNN nên áp dụng hai mức lãi suất khác nhau cho nợ quá hạn phân theo nguyên nhân khách hàng và chủ quan. Sẽ là không công bằng nếu doanh nghiệp phải trả mức lãi suất cao gấp 1,5 lần nếu nguyên nhân gây nên nợ quá hạn là sự thay đổi của cơ chế chính sách của Nhà nước, hay do những ảnh hưởng của môi trường tự nhiên.

    3.3. Đối với doanh nghiệp

    Doanh nghiệp cần cung cấp những thông tin chính xác cho Ngân hàng

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          82

    Đa số khách hàng đi vay vốn thường than phiền rằng Ngân hàng còn gây nhiều khó khăn cho họ với nhiều thủ tục nhiêu khê, phiền hà, làm mất cơ hội sản xuất kinh doanh của họ. Song họ không ý thức được một điều là họ cũng là một phần trong những khó khăn đó vì :

    • Khách hàng không muốn cung cấp đầy đủ thông tin vì họ sợ cung cấp

    nhiều sẽ vô tình phơi bày ra những yếu điểm của họ.

    • Khách hàng thường cung cấp những thông tin không hoàn toàn chính xác vì họ muốn giữ kín những số liệu kinh doanh, sợ Ngân hàng tiết lộ ra ngoài. Chỉ gò ép vào những số liệu tài chính, sản xuất kinh doanh mà không căn cứ vào thực tế

    thì Ngân hàng khó có thể đưa ra quyết định một cách nhanh chóng và chính xác được.

    Số tiền vay và thời gian xin vay không đúng với nhu cầu thực tế, vì vay vốn trung dài hạn thì phải trả lãi suất cao hơn ngắn hạn nên mặc dù muốn vay trung dài hạn nhưng doanh nghiệp lại vay ngắn hạn, đến thời hạn trả nợ ngắn hạn thì lại đệ đơn xin gia hạn nợ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng.

    Để có thể đáp ứng được nhu cầu vốn tín dụng trung dài hạn của toàn bộ nền kinh tế thì chỉ có sự nỗ lực cố gắng của toàn bộ hệ thống NHTM là chưa đủ, mà phải có sự nỗ lực hợp tác, giúp đỡ từ phía đối tác còn lại đó là các doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải đổi mới tư duy, khắc phục những nhận thức sai lầm trên để có thể tự khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân đồng thời giúp đỡ hỗ trợ các Ngân hàng trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Nâng cao năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Trong nền kinh tế mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp luôn phải chủ động tìm kiếm thị trường và nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng từ đó thực hiện nhiều biện pháp hợp lý như sắp xếp lại cơ cấu tổ chức,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          83

    nâng cao khả năng quản lý, có chính sách đào tạo nhân lực, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, đẩy mạnh hoạt động Marketing, phát huy nội lực và kết hợp với sự hỗ trợ giúp đỡ của hệ thống NHTM để có vốn tiến hành các dự án sản xuất kinh doanh có khả năng sinh lời cao để từ đó có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước sau đó tiến ra thị trường quốc tế .

    KẾT LUẬN

    hư em đã trình bày ở trên, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng N thương mại đóng một vai trò hết sức to lớn đối với nền kinh tế, với ngân hàng và với doanh nghiệp. Vì vậy để hoạt động tín dụng trung

    dài hạn thật sự phát huy hết vai trò của nó cần có sự phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, khách hàng và nhà nước.

    Với vai trò đặc biệt quan trọng đó ngân hàng, nhà nước và các doanh nghiệp nên có các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động này, làm cho ngân hàng có thể mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          84

    Qua nghiên cứu đề tài, do thời gian và trình độ còn hạn chế nên em không tránh khỏi những sai sót trong việc đưa ra và làm rõ các nguyên nhân, tồn tại, khó khăn và tìm ra những giải pháp để khắc phục những tồn tại trên.

    Một lần nữa em xin chân thành cám ơn Thầy giáo T.S Nguyễn Hữu Tài cùng toàn thể cán bộ phòng dự án của Sở Giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam và các bạn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.

    Sinh Viên: Trần Huy Phương

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Mishkin. Tiền tệ Ngân hàng và thị trường tài chính. NXB khoa học và kỹ thuật Hà Nội năm 1994
    1. Lê Vinh Danh. Tiền và hoạt động ngân hàng.
    1. Robert raymond. Tiền tệ ngân hàng và tín dụng
    1. Quy đinh về nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng ngoại thương Việt Nam
    1. Quy chế về tín dung trung dài hạn của Thống đốc NHNN Việt Nam.
    1. Các báo cáo thường niên, báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương Việt Nam năm 1997, 1998, 1999, 2000.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          85

    1. Tạp chí ngân hàng
    1. Tạp chí nghiên cứu kinh tế
    1. Thị trường tài chính tiền tệ
    1. Thời báo kinh tế Việt Nam và một số báo khác

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          86


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]