Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô

    Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô

    Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Kinh-T%E1%BA%BF-Vi-M%C3%B4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô

    Lời mở đầu

    Kinh tế học có hai bộ phận quan trọng đó là: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô. Kinh tế học vi mô là một môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề kinh tế cụ thể của các tế bào kinh tế trong một nền kinh tế. Còn kinh tế học vĩ mô tìm hiểu để cải thiện kết quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Nó nghiên cứu cả một bức tranh lớn. Kinh tế vĩ mô quan tâm đến mục tiêu kinh tế của cả một quốc gia.

    Kinh tế học vi mô là một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lí doanh nghiệp trong các ngành kinh tế quốc dân nhằm giải quyết 3 vấn đề cơ bản: Đó là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào.

    Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế, vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết. Do đó, tuy nó khác với môn khoa học về kinh tế vĩ mô, về kinh tế và quản lý doanh nghiệp, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

    • Để trở thành môn khoa học về sự lựa chọn, kinh tế học vi mô nghiên cứu ba vấn đề cốt lõi trên, lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản, tính quy luật và xu hướng vận động của kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của chính phủ.

    Kinh tế vi mô là một phân nghành chủ yếu của kinh tế học,chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các cá nhân ( gồm người tiêu dùng, nhà sản xuất, hay một ngành kinh tế nào đó), hay nói cách khác kinh tế vi mô là nền tảng cho nhiều nghành kinh tế học, là nền tảng trực tiếp cho các môn kinh tế học công cộng, địa lý kinh tế……

    Chính vì tầm quan trọng đó mà việc làm bài tập lớn có thể giúp em hiểu được rõ hơn về môn học kinh tế vi mô, cũng như những kiến thức của bài học và thực tiễn cuộc sống. Điều đó tạo nền tảng và cơ sở vững chắc cho kiến thức cũng như việc học tập các môn học của em sau này. Bài tập lớn gồm có 3 phần

    • Phần 1: Lý thuyết
    • Phần 2: Tính toán
    • Phần 3: Kết luận

    Bài tập lớn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Hồng Thu

    Em xin chân thành cảm ơn cô!

    Phần 1: Lý thuyết

    I. Giới thiệu chung về môn học vi mô

    Kinh tế học vi mô là một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lí doanh nghiệp trong các ngành kinh tế quốc dân nhằm giải quyết 3 vấn đề cơ bản: Đó là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào.

    Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế, vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết. Do đó, tuy nó khác với môn khoa học về kinh tế vĩ mô, về kinh tế và quản lý doanh nghiệp, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

    Một trong những mục tiêu nghiên cứu của kinh tế vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối giữa các mặt hàng và dịch vụ. Kinh tế vi mô phân tích những thất bại của thị trường, khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như đề cập đến những điều kiện cần có trong lý thuyết của việc cạnh tranh hoàn hảo.

    Để trở thành môn khoa học về sự lựa chọn, kinh tế học vi mô nghiên cứu ba vấn đề cốt lõi trên, lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản, tính quy luật và xu hướng vận động của kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của chính phủ. Đối tượng, nội dung cơ bản của kinh tế học vi mô bao gồm

    Chương I :Những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp, lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần và hiệu qủa kinh tế.

    Chương II: Cung và cầu, nghiên cứu nội dung của cung cầu, sự thay đổi cung và cầu, quan hệ cung cầu ảnh hưởng quyết định đến giá cả thị trường và ngược lại

    Chương III: Lý thuyết người tiêu dùng, nghiên cứu các vấn đề về nhu cầu và tiêu dùng, các yếu tố ảnh hưởng, đường cầu, hàm cầu, hàm tiêu dùng tối đa hoá lợi ích và tiêu dùng tối ưu. Lợi ích cận biên và hệ số co giãn của cầu.

    Chương IV: Thị trường các yếu tố sản xuất, nghiên cứu cung và cầu về lao động, vốn và đất đai.

    Chương V: Sản xuất, chi phí và lợi nhuận, nghiên cứu các vấn đề về nội dung, sản xuất và chi phí, các yếu tố sản xuất, hàm sản xuất và năng suất, chi phí cận biên, chi phí bình quân và tổng chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp, quy luật lãi suất giảm dần và tối đa hoá lợi nhuận.

    Chươgn VI: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không hoàn hảo và độc quyền.

    Chương VII :Vai trò của chính phủ nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò và sự can thiệp của chính phủ đối với hoạt động kinh tế

    Kinh tế học vi mô là một môn khoa học kinh tế, là khoa học về sự lựa chọn các hoạt động kinh tế vi mô tối ưu trong từng doanh nghiệp, từng tế bào kinh tế học. Việc nghiên cứu kinh tế vi mô cần căn cứ vào các luận điểm của Mác về kinh tế thị trường. Nó quan hệ chặt chẽ với môn khoa học kinh tế vĩ mô và kinh tế doanh nghiệp, cho nên cũng có phương pháp nghiên cứu chung, đồng thời có những phương pháp cụ thể khác nhau.

    • Nghiên cứu những vấn đề lý luận, phương pháp luận và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế học vi mô. Lựa chọn kinh tế tối ưu các hoạt động kinh tế vi mô là vấn đề cốt lõi, xuyên suốt của kinh tế học vi mô, cho nên nghiên cứu các vấn đề cụ thể của kinh tế vi mô phải luôn nắm vững bản chất và phương pháp học.
    • Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận. phương pháp luận với thực hành trong quá trình học tập. Muốn vậy, phải tham gia thảo luận, tranh luận khoa học các đề tài, nghiên cứu về các chuyên đề, phân tích và giải thích các tình huống, xử lý các tình huống đó một cách tối ưu trong những điều kiện cho phép, đồng thời xây dựng các đồ thị để làm rõ hơn và sâu sắc hơn của các quyết định về lựa chọn kinh tế.
    • Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực tiễn sinh động phong phú, phức tạp của các hoạt động kinh tế vi mô của các doanh nghiệp ở Việt Nam và các nước. Nhứng lý luận, phương pháp luận nghiên cứu trong kinh tế vi mô đều giới hạn bởi các giả thuyết đơn giản hơn với hoạt động thực tiễn khách quan và đang xảy ra trong thực tế. Vì vậy, cần sử dụng những lý luận, phương pháp luận có tính quy luật để lam cơ dở phân tích các hoạt động kinh tế vi mô, phát hiện những mâu thuẫn đang diễn ra trong thực tiễn , trên cơ sở đó xây dựng các đề án, đề ra những phương hướng, phát triển có hiệu quả hơn các hoạt động kinh tế vi mô.
    • Cần coi trọng việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động của kinh tế vi mô trong các doanh nghiệp tiên tiến trên thế giới. Chỉ bằng cách đó, ta mới làm phong phú thêm, sâu sắc thêm nhứng nhận thức lý luận về môn khoa học kinh tế vi mô. Ví dụ, lý thuyết kinh tế vi mô về hành vi của người tiêu dùng, giả định có mối quan hệ ngược chiều với giá cả của hàng hoá và số lượng hàng hoá mà mọi người muốn mua, do đó khi giá cả tăng mọi người ít mua. Tuy nhiên, trong thực tế khi mua nhiều hàng hoá khi giá cả tăng, đặc biệt là giả cả cao đó tạo ra sự sang trọng nhất định hoặc là giá cả còn có thể tăng nữa… Hoạt động thực tiễn của kinh tế vi mô rất phong phú và đa dạng, mỗi một hoạt động kinh tế vi mô chịu sự tác động của nhiều nhân tố phức tạp. Còn lý thuyết của kinh tế vi mô đua ra những giới hạn của các giả thiết là khái quát hơn và đơn giản hơn, do đó các dự đoán có thể sai lệch so với thực tiễn cụ thể.
    • Phải đơn giản hóa việc nghiên cứu các mối quan hệ phức tạp. Áp dụng các phương pháp cân bằng nội bộ, xem xét từng đơn vị vi mô. đồgn thời cần sử dụng mô hình hoá như công cụ toán học và phương trình vi phân để lượng hoá các quan hệ kinh tế.

    Bằng các phương pháp nói trên, việc nghiên cứu kinh tế vi mô sẽ đạt hiệu quả và chất lượng cao,và nắm bắt được quy luật trong các tình huống kinh doanh khác nhau của doanh nghiệp.

    II. Giới thiệu chung về lý thuyết cung- cầu

    1. Cầu

    1. Các khái niệm

    Cầu: Là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định với các yếu tố khác không đổi.

    Nhu cầu: Là những mong muốn và nguyện vọng vô hạn của con người. Sự khan hiếm làm cho hầu hết các nhu cầu không được thoả mãn.

    VD: Bạn muốn mua một bộ quần áo đẹp (đó là nhu cầu), nhưng bạn không có đủ tiền ( khả năng mua), và cầu của bạn về bộ quần áo đó bằng không.

    Lượng cầu: Là số lượng hàng hoá và dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá đã cho trong những khoảng thời gian nhất định.

    Như vậy, cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá.

    Biểu cầu: Là bảng chỉ số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định.

    Mặt khác, ta có thể minh hoạ biểu cầu bằng đồ thị. Đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá gọi là đường cầu.Trục tung biểu diễn giá, trục hoành biểu diễn lượng cầu. Một điểm chung nữa của các đường cầu là chúng nghiêng xuống dưới về phía phải. Khi giá của hàng hoá hay dịch vụ giảm xuống thì lượng cầu tăng lên. Mối quan hệ tỷ lệ nghịch này giữa giá và luật cầu là rất phổ biến. Các nhà kinh tế học gọi đó là luật cầu.

    Luật cầu: là số lượng hàng hoá hay dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hoá hay dịch vụ giảm xuống hoặc ngược lại ( với điều kiện các yếu tố khác không đổi).

    Số lượng hàng hoá hay dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hoá hay dịch vụ giảm xuống. Vì mỗi một hàng hoá có thể thay thế bởi một loại hàng hoá khác. Khi giá của một loại hàng hoá nào đó tăng lên thì người ta sẽ tìm mua các hàng hoá thay thế khác để sử dụng.

    VD: Khi giá thịt đắt lên, người tiêu dùng có thể mua cá, trứng để thay thế cho thịt.

    Cầu thị trường: Là tổng số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà mọi người có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định. Cầu thị trường là tổng hợp của các cầu cá nhân.

    1. Các yếu tố xác định cầu và hàm số của cầu.

    Lương cầu hàng hoá hay dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua còn phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau.

    • Thu nhập của người tiêu dùng.– Thu nhập là một yếu tố quan trọng để xác định cầu. Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng cần nhiều hàng hoá hơn và ngược lại.

    – Mặc dù sự tăng lên của thu nhập dẫn đến sự tăng cầu đối với hầu hết các loại hàng hoá, nhưng nó không dẫn đến sự tăng cầu đối với tất cả các loại hàng hoá.

    . Những hàng hoá có nhu cầu tăng lên khi thu nhập tăng được gọi là hàng thông thường.

    . Những hàng hoá có nhu cầu giảm đi khi thu nhập tăng được gọi là hàng thứ cấp.

    • Giá cả của các loại hàng hoá liên quan.

    – Cầu đối với hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá của bản thân hàng hoá. Nó còn phụ thuộc vào giá của hàng hoá liên quan. Các hàng hoá liên quan này còn phụ thuộc vào hai loại.

    . Hàng hoá thay thế.

    . Hàng hoá bổ sung

    – Hàng hoá thay thế là hàng hoá cỏ thể sử dụng cho hàng hoá khác. VD, cà phê và chè là hai loại hàng hoá thay thế. Khi giá của một loại hàng hoá này thay đổi thì cầu đối với loại hàng hoá kia cũng thay đổi.

    – Hàng hoá bổ sung là hàng hóa được sử dụng đồng thời với các loại hàng hoá khác. Đối với hàng hoá bổ sung, khi giá của một hàng hoá tăng lên thì cầu đối với hàng hoá bổ sung kia sẽ giảm đi.

    • Số lương người tiêu dùng(dân số)(N).

    Khi số lượng về người tiêu dùng tăng lên thì nhu cầu về hàng hoá cũng tăng.

    • Thi hiếu người tiêu dùng.

    Thị hiếu có ảnh hưởng đến cầu của người tiêu dùng, thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của ngươi tiêu dùng đối với hàng hoá hay dịch vụ… Nếu hàng hoá mà được người tiêu dùng ưa thích thì cầu về hàng hoá đó sẽ tăng. Các nhà kinh tế thường giả định rằng thị hiếu không thay đổi hoặc thay đổi rất chậm và thị hiếu độc lập với các yếu tố khác của cầu.

    • Các kỳ vọng.

    Cầu đối với hàng hoá hay dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng(sự mong đợi)của người tiêu dùng. Các kỵ vọng cũng có thể về thu nhập, về thị hiếu, về số lượng người tiêu dùng… đều tác động đến cầu đối với hàng hoá. Tóm lại khi có sự thay đổi của các yếu tố trên sẽ làm cho lượng cầu thay đổi ở mọi mức giá. Chúng tạo nên hàm cầu, được thể hiện dưới dạng phương trình sau

    Q= f( PX,t , Yt , Pt,r , N, T, E )

    Trong đó: Q: Lượng cầu đối với hàng hoá x trong thời gian t

    PX,t : Giá của hàng hoá x trong thời gian t

    Yt    : Thu nhập của người tiêu dùng trong thời gian t

    Pr,t   : Giá của hàng hoá có liên quan trong thời gian t

    N   : Dân số( hay người tiêu dùng)

    T   : Thị hiếu (sở thích) của người tiêu dùng

    E   : Các kỳ vọng

    1. Sự dịch chuyển của đường cầu.
      Lượng cầu tại một mức giá đã cho được biểu thị bằng một điểm trên đường cầu. Còn đường cầu  phản ánh cầu đối với hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Do vậy, sự thay đổi của cầu là sự dịch chuyển toàn bộ sang trái hoặc sang phải. Còn lượng cầu dịch chuyển dọc theo đường cầu. Nếu giá cả giảm, các yếu tố khác không đổi thì cầu tăng. Nếu hàng hoá tăng, các yếu tố khác không đổi thì cầu giảm.

                                                                                                                                                                   

     

    Còn khi bất cứ một yếu tố nào ngoài giá của hàng hoá thay đổi sẽ làm cho đường cầu dịch chuyển hay có sự thay đổi của cầu.

    2. Cung

    1. Các khái niệm.

    Cung: Là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.

    Lượng cung: Là lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định.

    Do đó, cung là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cung và giá.

    Nếu như cầu thể hiện mức mua sắm của người tiêu dùng, thì cung lại thể hiện mục đích bán hàng của nhà sản xuất.

    • Biểu cung: Là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.

    Do đó, đường cung có xu hướng dốc lên về phía phải.

    1. Các yếu tố xác định cung và hàm cung.
    • Công nghệ(TE): Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sản xuất giảm chi phí lao động trong quá trình chế tạo sản phẩm. Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cung dịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm tăng khả năng cung lên.
    • Giá của các yếu tố sản xuất đầu vào(P).

    Giá của các yếu tố sản xuất giảm dẫn đến giá thành sản xuất giảm và cơ hội kiếm lợi nhuận tăng làm cho cung tăng. Do đó các nhà sản xuất có xu hướng sản xuất nhiều lên.

    • Chính sách thuế (t)

    Chính sách thuế của chính phủ có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định sản xuất của các hãng, do đó ảnh hưởng đến việc cung cầu sản phẩm. Khi thuế tăng thì cung giảm. Khi thuế giảm thì cung tăng.

    • Số lương người sản xuất(N)

    Khi số lượng người sản xuất càng nhiều thì lượng cung của mỗi nhà sản xuất càng lớn.

    • Kỳ vọng(E)

    Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hoá, giá của các yếu tố sản xuất, chính sách thuế…. đều có ảnh hưởng đến cung hàng hoá và dịch vụ. Nếu sự mong đợi dự đoán có thuận lợi cho sản xuất thì cung sẽ được mở rộng và ngược lại.

    Từ các yếu tố trên ta xác định hàm cung theo phương trình sau.

    Q = f(PX,t , Pi , T, Ns , E)

    Trong đó : Q: Lượng cung đối với hàng hoá x trong thời gian t

    PX,t  : Giá của hàng hoá x trong thời gian t

    Pi    : Giá của các yếu tố đầu vào

    T    : Công nghệ

    NS   :  Số người sản xuất

    E    : Các kỳ vọng

     

     

    1. Sự di chuyển và dịch chuyển ở đường cung.

    Lượng cung tại một mức giá đã cho được biểu diễn bằng một điểm trên đường cung. Toàn bộ đường cung cho biết cung về hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nào đó. Sự thay đổi của cung là sự dịch chuyển toàn bộ đường cung. Sự thay đổi lượng cung là sự vận động dọc theo đường cung. Khi bất kỳ yếu tố nào khác giá của bản thân hàng hoá thay đổi, sẽ làm cho đường cung dịch chuyển, hay có sự thay đổi về cung.

     
       

     

                                                                                                                     

    3. Cân bằng cung- cầu

    1. Trạng thái cân bằng cung – cầu

    Dựa vào việc phân tích cả cung và cầu. Ta thấy rằng tại một thời điểm nhất định ta xác định được giao điểm của đường cung và đường cầu. Tại đó lượng cung băng lương cầu( QD=QS). Nghĩa là người bán muốn mua một sản phẩm là Qs, còn người mua muốn mua một lượng là QD thì ta gọi đó là điểm cân bằng của thị trường. Mức giá cân bằng này không được xác định bởi từng các nhân riêng lẻ mà nó được hình thành bởi hoạt động tập thể của toàn bộ người mua và người bán.

    1. Trạng thái dư thừa và thiếu hụt của thị trường.

    Khi giá cả của thị trường không bằng với mức giá cân bằng chúng sẽ lớn hơn hoặc nhỏ hơn mức giá đó

    • Khi mức giá thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, mức lợi nhuận của các nhà sản xuất giảm, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có khả năng mua hàng hoá. Do đó khoảng cách giữa cung và cầu ngày càng lớn, gây nên hiện tượng thiếu hụt trên thị trường. Sự thiếu hụt này là kết quả của việc cầu lớn hơn cung ở một mức giá nào đó. Hay nói cách khác đó là thặng dư của cầu.
    • Khi mức giá cao hơn mức giá cân bằng trên thị trường người sản xuất sẽ mong muốn cung càng nhiều hàng hoá hơn. Tuy nhiên người tiêu dùng sẽ giảm bớt cầu của mình. Như vậy sẽ xuất hiện sự dư thừa trên thị trường. Sự dư thừa đó là kết quả của việc cung lớn hơn cầu ở một mức giá nào đó. Đó là sự thặng dư của cung.
    1. Kiểm soát giá
      • Giá trần: Là một mức giá tối đa mang tính pháp lý buộc người bán không được đòi hỏi giá cao hơn. Giá trần thường được áp dụng khi có sự thiếu hụt bất thường về các hàng hoá quan trọng nhằm tránh sự tăng giá quá mức. Mức giá này thường thấp hơn mức giá cân bằng.
      • Giá sàn : Chính phủ thưòng đặt ra mức giá tối thiểu đối với hàng hoá. Mức giá này thường được áp dụng cho hiện tượng dư thừa sản lượng. Mục tiêu đặt giá sàn nhằm đảm bảo lợi ích cho người sản xuất và cung ứng dịch vụ.
    1. Ảnh hưởng của chính sách thuế.

    Thuế đánh vào hàng hoá làm dịch chuyển đường cung lên trên (cung giảm) dẫn tới giá cân bằng tăng, sản lượng cân bằng giảm, nghĩa là sau khi đánh một lượng thuế sẽ làm giá sản phẩm tăng. Sự chênh lệch giữa hai mức giá, cả người sản xuất và người tiêu dùng đều phải chịu.

    III. Giới thiệu chung về lý thuyết người tiêu dùng.

    1. Lý thuyết về lợi ích

    1. Các khái niệm.
    • Lợi ich(U): Là sự hài lòng và thoả mãn khi tiêu dùng một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thị trường.
    • Tổng lợi ích (TU): Là toàn bộ sự thoả mãn và hài lòng khi tiêu dùng nhiều hàng hoá và dịch vụ trên thị trường
    • Lợi ích cận biên (MU): Là lượng lợi ích tăng thêm khi ta sử dụng thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ nào đó, tức là mức độ thoả mãn hay hài lòng do tiêu dùng một đơn vị sản phẩm cuối cùng mang lại.
    Lợi ích cận biên = Sự thay đổi về tổng lợi ích
    Sự thay đổi về lượng
    1. Quy luật về lợi ích cận biên giảm dần

    MU =  == (TU)

    Lợi ích cận biên của một hàng hoá có xu hướng giảm đi khi lượng mặt hàng đó được tiêu dùng nhiều hơn ở trong một thời kỳ nhất định.

    Sở dĩ lợi ích cận biên ngày càng giảm đi là do giảm sự hài lòng hay thích thú của bạn đối với một mặt hàng khi tiêu dùng thêm mặt hàng đó. Quy luật lợi ích cận biên giảm dần nói lên khi ta tiêu dùng nhiều hơn một mặt hàng nào đó, tổng lợi ích sẽ tăng lên, tuy nhiên với tốc độ ngày càng chậm. Việc tăng chậm này là do lợi ích cận biên (lợi ích tăng thêm do tiêu dùng đơn vị sau cùng của một loại hàng hoá) giảm đi khi ta tiêu dùng thêm loại hàng hoá đó.

    Trong tiêu dùng, quy luật lợi ích cận biên giảm dần chỉ là quy luật trừu tượng và thực tế chúng ta không thể đo được lợi ích cận biên và nó chỉ thích hợp trong thời gian ngắn.

    1. Lợi ích cận biên và đường cầu

    Lợi ích là một khái niệm trừu tượng dùng trong kinh tế học để chỉ cảm giác thích thú chủ quan, tính hữu ích hoặc sự thoả mãn do tiêu dùng hàng hoá mà có. .

    Lợi ích cận biên MU và giá cả P có mối quan hệ qua lại với nhau. Lợi ích cận biên của hàng hoá hay dịch vụ tiêu dùng càng lớn thì người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn. Còn khi MU giảm thì sự sẵn sàng chi trả  của người tiêu dùng cũng giảm theo.

    Vì vậy, có thể dùng giá cả để đo lợi ích cận biên MU của việc tiêu dùng một hàng hoá hay dịch vụ nào đó và dễ dàng nhận thấy dạng đường lợi ích cận biên giống với đường cầu. Điều này thể hiện đằng sau đường cầu chứa đựng lợi ích cận biên giảm dần của người tiêu dùng. Do vậy quy luật lợi ích cận biên giảm dần lại giải thích tại sao đường cầu lại nghiêng xuống dưới.

    1. Thặng dư tiêu dùng.

    Thặng dư tiêu dùng là khái niệm phản ánh sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu dùng khi tiêu dùng một đơn vị hàng hoá nào đó (MU) với chi phí thực tế để thu được lợi ích đó (MC). Điều đó có nghĩa là sự khác nhau giữa giá mà người tiêu dùng muốn trả cho một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó và giá mà họ thực tế đã trả khi mua nó.

    2.Sự co giãn của cầu.

    Sự co giãn của cầu là sự tăng hay giảm phần trăm của lượng cầu so với sự tăng hay giảm phần trăm của các nhân tố ảnh hưởng đến lượng cầu với điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tuỳ theo dạng của biến ảnh hưởng, ta có các loại co giãn của cầu đối với giá cả của hàng hoá đó, co giãn chéo của cầu đối với giá cả hàng hoá khác và co giãn của cầu đối với thu nhập.

    1. Các công thức về hệ số co giãn của cầu.
    • Sự co giãn của cầu đối với thu nhập.

    Gọi : Q  là lượng cầu của hàng hoá x

    I là thu nhập

    EI =

    Giả sử giá trị của các nhân tố khác không đổi hàng hoá sẽ được phân loại tuỳ thuộc vào hệ số co giãn của cầu đối với thu nhập.

    • Nếu EI < 0 : Hàng thứ cấp
    • Nếu EI > 0 : Hàng thông thường
    • Nếu 0 < E­I <1 : Hàng thiết yếu
    • Nếu EI > 1: Hàng cao cấp
    • Ý nghĩa EI : Khi thu nhập thay đổi 1% thì lượng tiêu thụ hàng hoá thay đổi EI%
    • Sự co giãn chéo của cầu đối với giá cả hàng hoá liên quan.

    Gọi : Q     là lượng cầu của hàng hoá x

    Plà giá cả của hàng hoá liên quan

    Hệ số co giãn chéo của cầu đối với giá của hàng hoá liên quan

    E

    Giá trị của các nhân tố khác không đổi, hệ số co giãn chéo của cầu đối với giá cả của hàng hoá liên quan sẽ có giá trị âm, dương hoặc bằng 0, phụ thuộc vào hàng hoá bổ sung, độc lập hay thay thế.

    • Ý nghĩa của EPy: Khi giá của hàng hoá liên quan thay đổi 1% thì lượng tiêu thụ hàng hoá thay đổi EI%
    • Sự co giãn của cầu đối với giá cả của hàng hoá đang xét

    Goi  Q : Là lượng cầu của hàng hoá x

    PX : Là giá cả của hàng hoa đang xét

    Hệ số co giãn của cầu đối với giá cả của hàng hoá đang xét

    EX =

    • Ý nghĩa của EX

    Khi giá của hàng hoá đang xét thay đổi 1% thì lượng tiêu thụ hàng hoá thay đổi EI%

    • Hệ số co giãn điểm

    Co giãn điểm là độ co giãn trên một điểm của đường cầu ( hoặc cung )

    EX=

    • Hệ số co giãn đoạn

    EX=                   P=                            Q=

    1. Phân loại hệ số co giãn của cầu

    Khi nghiên cứu về sự co giãn, chúng ta chia ra thành các trường hợp như sau

    • Nếu EP > 1: Cầu co giãn tương đối trong miền giá cả hiện thời.
    • Nếu EP < 1: Cầu không co giãn tương đối
    • Nếu EP = 1: Cầu co giãn đơn vị
    • Nếu EP =: Cầu co giãn hoàn toàn. Trong trường hợp này khi tăng giá lương cầu giảm tới 0, có nghĩa là không bán được một sản phẩm nào.
    • Nếu EP =0 : Cầu hoàn toàn không co giãn, dù giá tăng lượng cầu vẫn không thay đổi

    Các dạng đồ thị về hệ số co giãn của cầu

     
       
    Hình III.3
    Hình III.2

               
     
    Hình III.4
     
    Hình III.5
     
       
    Đồ thị về sự co giãn của cầu

    IV. Giới thiệu các phương pháp giải bài tóan lựa chọn tiêu dùng sản phẩm tối ưu

      4.1. Tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng

    Mục đích của người tiêu dùng là đạt được sự thoả mãn tối đa bằng nguồn thu nhập hạn chế. Việc chi ma của họ đều phải chấp nhận một chi phí cơ hội, vì vậy việc mua hàng này đồng thời sẽ làm giảm cơ hội mua nhiều hàng hoá khác. Vì vậy, cần phải quyết định như thế nào để đạt được sự thoả mãn.

    MU= = (TU)

    Nguyên tắc cân bằng lợi ích cận biên hay nguyên tắc tối đa hoá lợi ích được thể hiện như sau;

    • Việc lựa chọn tiêu dùng tối ưu các hàng hoá cho chúng ta đạt được tổng lợi ích cực đại với điều kiện lợi ích cận biên MU tính trên một đơn vị tiền tệ tiêu dùng vào việc mua sắm hàng hoá này phải bằng lợi ích cận biên tính trên một đơn vị tiền tệ dùng vào việc mua sắm một loại hàng hoá khác.

    Gọi MUX là lợi ích cận biên của hàng hoá X

    MUY là lợi ích cận biên của hàng hoá Y

    MUZ là lợi ích cận biên của hàng hoá Z

    PX, PY, PZ là giá của hàng hoá X,Y,Z

    • Điều kiện để tối đa hoá lợi ích cận biên là lợi ích cận biên trên một đồng hàng hoá này phải bằng lợi ích cận biên trên một đồng hàng hoá khác và phải bằng lợi ích cận biên tính trên một đồng của bất kỳ hàng hoá nào khác
    • Để tối đa hoá lợi ích(TUmax) thoả mãn điều kiện

    4.2. Đường ngân sách và đường bàng quan.

    Sự lựa chọn của người tiêu dùng được quyết định bởi nhân tố khách quan là thu nhập và gía cả và nhân tố chủ quan là sở thích của người tiêu dùng.

    1. Đường ngân sách

    Đương ngân sách thể hiện sự ràng buộc vào ngân sách và giá cả của người tiêu dùng.Nó chia không gian lựa chọn thành hai miền. Miền thứ nhất tập hợp các quyết định có thể đạt được và các quyết định không thể đạt được. Miền thứ 2 thể hiện sự kết hợp có thể có để lựa chọn hàng hoá X và Y. Do vậy, đường ngân sách còn gọi là đường giới hạn khả năng tiêu dùng.

    Độ dốc của đường ngân sách = –

    Gọi I là thu nhập của người tiêu dùng

    PXQX là giá và sản lượng của  sản phẩm X

    PYQY là giá và sản lượng của sản phẩm Y

    PXQX + PYQY = I

    1. Đường bàng quan

    Đường bàng quan thể hiện sự khác nhau của hàng hoá mà người tiêu dùng lựa chọn và có cùng một mức lợi ích. Mỗi mức lợi ích hay sở thích được đại diện bằng một đường bàng quan.

    Các mức lợi ích của người tiêu dung được thể hiện bằng tập hợp vô số các đường bàng quan và gọi là bản đồ hay họ các đường bàng quan.

    Một bản đồ bàng quan cần lưu ý các trường hợp sau

    Các đường bàng quan càng xa gốc toạ độ thì biểu thị các mức độ thoả mãn càng cao.

    Các đường bàng quan không thể cắt nhau

    Độ dốc của đường bàng quan được xác định dựa vào tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hoá Y cho hàng hoá X. Trong đó tỷ lệ thay thế cận biên được định nghĩa là khi 1 đơn vị hàng hoá X cần tiêu dùng thêm thì sẽ phải giảm đi 1 đơn vị hàng hoá Y để đảm bảo vẫn đạt được mức lợi ích đã cho. Do đó, lợi ích cận biên của hàng hoá X sẽ giảm xuống theo quy luật lợi ích cận biên giảm dần, còn lợi ích cận biên của hàng hoá Y thì lại tăng lên. Điều đó thể hiện sự thay đổi cận biên như sau.

    MRSX/Y=-

    Độ dốc của đường bàng quan = MRSX/Y

     
       

    Hình IV.4

     

    4.3 Tối đa hoá lợi ích

    Để tối đa hoá lợi ích phải thỏa mãn điều kiện độ dốc của đường ngân sách phải bằng độ dốc của đường bàng quan

    Vậy để sử dụng hết thu nhập vào việc tiêu dùng nhiều sản phẩm phải thoả mãn điều kiên

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Phần 2: Tính toán

    I. Thông tin chung

    Một người tiêu dùng dành phần thu nhập của mình là 1.200.000đồng để mua hai hàng hoá X và Y với giá tương ứng:

    PX=100000đ/sp ;  PY=300000đ/sp

    Hàm lợi ích khi tiêu dùng sản phẩm X và Y được biểu diễn như sau: TUX= – X2/3+10X ;

    TUY= – Y2/2+20Y

    Y
    1. Viết phương trình đường ngân sách và vẽ đồ thị minh hoạ

    Gọi 100.000đ = 1đv  PX = 1 đv  ; PY = 3 đv ; I = 12 đv

    Đường ngân sách

    Ta có:  PXQX + PYQY = I

    4

    X + 3Y   =   12  (1)

    Y          =

    12

    Vậy phương trình đường ngân sách là: Y= 4 –

     
     
    X
    1. Viết phương trình ích lợi cận biên của hàng hoá X,Y

    Ta có: MUX= =

    1. Xác định tỷ lệ thay thế cận biên giữa hai hàng hóa X,Y. Cho biết ý nghĩa của kết quả đó

    Tỷ lệ thay thế cận biên của hai hàng hoá X và Y là

    MRS(X/Y)

    * Ý nghĩa: Khi ta sử dụng thêm một đơn vị hàng hoá X thì phải giảm đi một đơn vị hàng hoá Y đúng bằng

    1. Xác định số lượng sản phẩm X,Y mà người tiêu dùng đó sẽ lựa chọn để tối đa hoá tổng lợi ích. tính tổng lợi ích cực đại đó.

    Để tối đa hoá lợi ích phải thoã man điều kiện: độ dốc của đường ngân sách bằng độ dốc của đường bàng quan. Tức là

    ↔ 3MUX = MUY

    ↔ 3.(-2X/3 +10) = -Y + 20

    ↔  – 2X + 30 = -Y + 20

    ↔         2X – Y =10  (2)

    Từ phương trình (1) và (2) ta có hệ phương trình sau

    Vậy, để người tiêu dùng đó lựa chọn để tối đa hoá tổng lợi ích  cần 6 sản phẩm X và 2 sản phẩm Y

    Tổng lợi ích cực đại: TUmax= TUX + TUY = -62/3 + 10.6 – 22/2 + 20. 2 = 86

    1. Nếu thu nhập của người tiêu dùng này dành mua hai hàng hoá X, Y tăng lên là 1800.000

    đồng thì lựa chọn tiêu dùng tối ưu sẽ thay đổi ntn? Vẽ hình minh hoạ. ( Với các điều kiện khác không đổi)

    Ta có: I =18 đv  ; PX = 1đv  ; PY = 3đv

    Mà  PXQX + PYQY = I

    Do giá cả của hàng hoá tiêu dùng không thay đổi

    1. Nếu thu nhập tăng lên là 1.800.000 đồng và giá của hàng hoá X tăng lên PX=150.000đ/sp và giá của hàng hoá Y tăng PY= 320.000đ/sp thì quyết định tiêu dùng tối ưu sẽ ntn? Vẽ hình minh hoạ

    Ta có:

    Có : P­XQX + PYQY = I

    Do giá cả của hai hàng hoá X, Y thay đổi

    Ta có hệ phương trình sau

    1. Giả sử thu nhập và giá trị hàng hoá X,Y đều tăng gấp đôi thì quyết định lựa chọn tiêu dùng tối ưu là gì

    Khi thu nhập và giá cả của hai loại hàng hoá tăng gấp đôi thì

    Ta có : PXQX + PYQY = I

    (3)

    Mặt khác để tối đa hoá lợi ích thì

    ↔ 6MUX = 2MUY

    ↔ 6.(-2X/3 +10) = 2(-Y + 20)

    ↔ -4X + 60 = -2Y + 40

    ↔   4X – 2Y = 20                (4)

    Tư (3) và (4) ta có hệ phương trình

    Vậy khi thu nhập và giá trị hàng hoá tăng X, Y đều tăng gấp đôi thì quyết định lựa chọn tiêu dùng tối ưư sẽ không thay đổi.

    1. Giả sử với thu nhập 1.800.000 đồng và PX=120.000đ/sp ; PY=320.000đ/sp thì quyết định lựa chọn tiêu dùng tối ưu là gì? Vẽ hình minh hoạ

    Ta có                        Mà:   PXQX + PYQY = I

    (5)

    Mặt khác để tối đa hoá lợi ích thì

    Từ (5) và (6) ta có hệ phương trình

    1. Mô tả các kết quả trên bằng một đồ thị tổng hợp
     
       

    Phần 3: Kết luận

    Sau khi làm xong bài tập lớn kinh tế vi mô em có thể hiểu rõ hơn về tầm quan trọng cũng như nội dung và những kiến thức cơ bản về

    • Lý thuyết về cung cầu và cân bằng cung cầu
    • Lý thuyết về người tiêu dùng, lựa chọn tiêu dùng sản phẩm tối ưu.
    • Nguyên tắc cân bằng lợi ích cận biên hay tối đa hoá lợi ích. Việc lựa chọn tiêu dùng tối ưu các hàng hoá cho doanh nghiệp đạt được tổng lợi ích cực đại
    • Sự lựa chọn của người tiêu dùng được quyết định bởi các nhân tố khách quan là thu nhập và giá cả và nhân tố chủ quan là sở thích của người tiêu dùng. Điều đó được thể hiện rõ hơn trên hai đường ngân sách và đường bàng quan.

    Việc làm bài tập lớn kinh tế vi mô cũng giúp em hiểu rõ hơn vai trò của môn học đối với nền kinh tế, đồng thời tạo điều kiện và cơ sở để em học tập tốt hơn các môn học sau này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017

    Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017

    Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS: QUẢN LÝ KHÁCH SẠN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Kinh-T%E1%BA%BF-V%C4%A9-M%C3%B4-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-cung-c%E1%BA%A7u-C%C3%A0-ph%C3%AA-Vi%E1%BB%87t-Nam-2007-2017.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017

    I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CUNG – CẦU.

    1.     Cầu hàng hóa (Demand-D)

    Cầu hàng hóa là khối lượng hàng háo hay dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
    Điều kiện xuất hiện cầu:
    Nhu cầu dành cho hàng hoá + khả năng thanh toán hàng hoá đó.

    Lượng cầu là khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở mức giá đã cho trong một thời điểm nhất định.
    Cầu là tập hợp của các lượng cầu.

          Luật cầu: Số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa, dịch vụ giảm xuống và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi.

    2.     Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu.

    1.1. Giá của chính hàng hóa đó (Px).

    Theo luật cầu, khi giá của hàng hóa tăng thì lượng cầu của hàng hóa đó giảm và ngược lại. Giá Px được coi là yếu tố nội sinh duy nhất làm di chuyển đường cầu.

    1.2. Thu nhập của người tiêu dùng (I).

    Đối với hàng hóa xa xỉ, tốc độ tăng của cầu lớn hơn tốc độ tăng của thu nhập, giá của hàng hoá xa xỉ biến thiên cùng chiều với lượng cầu.
    Đối với hàng hóa thiết yếu, thu nhập và cầu có quan hệ tỉ lệ thuận.
    Đối với hàng hóa thứ cấp, sau khi tăng đến một mức nhất định, thu nhập và cầu có quan hệ tỉ lệ nghịch.

    1.3. Giá của hàng hóa có liên quan (Py).

    Hàng hóa bổ sung: Khi giá của hàng hóa này tăng lên thì cầu về hàng hóa kia giảm xuống và ngược lại, với giả định các yếu tố khác là không đổi.

    Hàng hóa thay thế: Khi giá của hàng hóa này tăng lên thì cầu về hang hóa kia cũng tăng lên và ngược lại., với giả định các yếu tố khác là không đổi.

    • Sở thích hay thị hiếu (T).
      Sở thích và cầu có mối quan hệ thuận chiều.
    • Quy mô thị trường hay dân số (N).
      Quy mô thị trường và cầu có mối quan hệ thuận chiều.

    1.6. Kỳ vọng của người tiêu dùng (E).

    Kỳ vọng đề cập đến sự mong đợi hay dự kiến của người tiêu dùng về sự thay đổi trong tương lai các nhân tố ảnh hưởng tới cầu hiện tại. Ví dụ, nếu người tiêu dùng dự đoán giá của hàng hóa nào đó trong tương lai sẽ tăng lên thì cầu về hàng hóa đó ở hiện tại sẽ tăng và ngược lại.

    2.     Cung hàng hóa (Supply-S)

    Cung hàng hóa là khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà người bán có khả năng bán và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.

    Điều kiện xuất hiện cung: Khả năng bán + Mong muốn bán.

    Lương cung là khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người bán sẵn sàng bán và có khả năng bán ở các mức giá đã cho trong một thời điểm nhất định.
    Cung là tập hợp của các lượng cung.

          Luật cung: Luật cung được phát biểu như sau: Số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa, dịch vụ tăng lên và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi.

    3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung.

    • Giá của chính hàng hóa đó (Px).
      Theo luật cung, khi giá của hàng hóa tăng thì lượng cung của hàng hóa đó tăng và ngược lại, khi giá của hàng hóa giảm thì lượng cung giảm xuống, với giả định các yếu tố khác không đổi.
    • Công nghệ sản xuất (T)
      Công nghệ góp phần làm giảm chi phí sản xuất từ đó lợi nhuận tăng và doanh nghiệp tăng đầu tư mở rộng sản xuất. Công nghệ thêm vào đó làm tăng năng suất.

    Từ hai nguyên do trên, khi công nghệ càng tiên tiến thì ở mỗi mức giá nhất định, lượng cung hàng hóa càng tăng.

    • Giá cả của các yếu tố đầu vào (Pi).
      Giá của các yếu tố đầu vào tăng thì lượng cung của hàng hóa đó giảm và ngược lại, nếu giá yếu tố đầu vào giảm thì lượng cung hàng hoá đó tăng.
    • Chính sách thuế và trợ cấp (Tax).
      Chính phủ đánh thuế vào doanh nghiệp làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ thu hẹp quy mô sản xuất làm lượng cung giảm và ngược lại.

    Khi doanh nghiệp được trợ cấp, lợi ích của doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp tăng đầu tư mở rộng sản xuất làm lượng cung tăng và ngược lại.

    • Số lượng nhà sản xuất (N).
      Số lượng nhà sản xuất cùng cung ứng một sản phẩm càng nhiều thì lượng cung trên thị trường càng lớn và ngược lại.
    • Kỳ vọng của người sản xuất (E).
      Kỳ vọng đề cập đến sự mong đợi hay dự kiến của người sản xuất về sự thay đổi trong tương lai các nhân tố ảnh hưởng tới cung hiện tại.
      Ví dụ, nếu người sản xuất dự đoán giá của hàng hóa nào đó trong tương lai sẽ tăng lên thì cung về hàng hóa đó ở hiện tại sẽ tăng và ngược lại.

    4.       Cơ chế hình thành giá cả thị trường cân bằng.

          Mức giá cân bằng của thị trường là mức giá mà tại đó khi cung và cầu không đổi, lượng cung sẽ bằng lượng cầu.

    Khi mức giá thực tế thấp hơn mức giá cân bằng, người tiêu dùng muốn mua nhiều hơn còn người sản xuất sẽ bán ít hơn. Trên thị trường xuất hiện tình trạng dư cầu hàng hóa (thiếu hụt). Do hàng hóa khan hiếm nên giá của hàng hóa có xu hướng tăng lên.

    Khi mức giá thực tế tăng cao hơn mức giá cân bằng, tại mức giá đó, người sản xuất muốn bán nhiêu hơn còn người tiêu dùng sẽ mua ít đi. Khi đó trên thị trường xuất hiện tình trạng dư cung hàng hóa (dư thừa). Do hàng hóa dư thừa nên giá của hàng hóa có xu hướng giảm xuống.

    Hai quá trình này lặp lại cho đến khi mức giá thực tế bằng với mức giá cân bằng.

    Khi thị trường đang ở trạng thái cân bằng. Nếu cầu hàng hóa trên thị trường tăng, tức là người tiêu dùng muốn mua nhiều sản phẩm hơn. Mà lượng cung trên thị trường chưa kịp thay đổi, thị trường xuất hiện trạng thái dư cầu (thiếu hụt). Do hàng hóa khan hiếm nên giá của hàng hóa tăng.
    Trên đồ thị ta thấy: Ban đầu thị trường ở trạng thái cân bằng E0 với mức giá P0 và sản lượng Q0. Khi cầu về hàng hóa tăng, trên đồ thị đường D0 dịch chuyển lên trên và sang phải thành đường D1. Khi đó thị trường cân bằng tại điểm E1 với mức giá P1 và sản lương Q1 (với P1>P0 và Q1>Q0).
    Tương tự, ta có thể giải thích cho trường hợp cầu hàng hóa giảm.

    Tương tự, khi thị trường đang ở trạng thái cân bằng. Nếu cung hàng hóa trên thị trường giảm, tức là người sản xuất không muốn bán sản phẩm ra thị trường. Mà lượng cầu hàng hóa trên thị trường chưa kịp thay đổi, thị trường xuất hiện trạng thái dư cầu (thiếu hụt). Do hàng hóa khan hiếm nên giá hàng hóa tăng.

    Trên đồ thị ta thấy: Ban đầu thị trường ở trạng thái cân bằng E0 với mức giá P0 và sản lượng Q0. Khi cung về hàng hóa giảm, trên đồ thị đướng S0 dịch chuyển lên trên và sang trái thành đường S1. Khi đó thị trường cân bằng tại điểm E1 với mức giá P1 và sản lượng Q1 (với P1>P0 và Q1<Q0).

    Tương tự, ta có thể giải thích cho trường hợp cung hàng hóa tăng.

     

     

    II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ VIỆT NAM 2007-2017

    1. Cung, cầu và giá bán cà phê hiện nay

    1.1 Tình hình cung Cà phê Việt Nam hiện nay.

    1.1.1 Thực tế diện tích cà phê Việt Nam
          Các khu vực trồng cà phê đã được phát triển và mở rộng trong các năm gần đây.

                      (Nguồn: Tổng hợp từ Tình hình kinh tế xã hội – Tổng cục thống kê)

    Diện tích cà phê Việt Nam từ 488.7 đã tăng lên 662.2 (nghìn ha) qua 10 năm canh tác, đưa Việt Nam trở thành nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới (sau Brazil). Nhờ vào diện tích sản xuất lớn, khiến cho nguồn cung cà phê hầu như luôn dồi dào và đáp ứng được nhu cầu của thị trường, không bị rơi vào tính trạng thiếu hụt.

    1.1.2 Sản lượng và chất lượng cà phê.

    Lượng sản xuất của cà phê qua mỗi năm đều tăng cao đáng kể trong vòng 10 năm qua kể từ 2007. Diện tích tăng lên kéo theo sản lượng tăng lên đều qua các năm.

    Năm Sản lượng (nghìn tấn)
    2007 850
    2008 996.3
    2009 1050
    2010 1105.7
    2011 1167.9
    2012 1292.4
    2013 1289.5
    2014 1395.6
    2015 1445
    2016 1467.9

                                  (Nguồn: Tổng hợp từ Tình hình kinh tế xã hội – Tổng cục thống kê)

     

    Năng suất cà phê của Việt Nam trung bình đạt 2,5 tấn/ha, cao gấp 3 lần so với năng suất cà phê bình quân của thế giới đã một lần nữa chứng minh được thực tế nguồn cung cà phê tại Việt Nam không hề khan hiếm.

    Có thể nói, sản xuất của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao về diện tích, sản lượng cũng như năng suất. Theo Bộ NN&PTNT, đến năm 2030, Việt Nam có chủ trương không tăng diện tích, thậm chí phải giảm diện tích cà phê ở những nơi không có lợi thế. Tập trung chế biến sâu, đẩy mạnh liên kết để phát triển thương mại nhằm tăng giá trị ngành cà phê Việt Nam.

    1.2 Tình hình cầu cà phê ở Việt Nam.

          1.2.1 Tiêu thụ trong nước

    Theo như thống kê, có khoảng 19.2% tiêu thụ cà phê, trong đó 47% tiêu thụ cà phê uống liền và 53% tiêu thụ cà phê bột. Tuy nhiên, vào các dịp lễ tết thì số lượng người tiêu dung cà phê cũng tăng lên đáng kể.

    Thị trường cà phê tiêu thụ ở Việt Nam phân chia rõ ràng, cà phê rang xay chiếm 2/3 tổng lượng cà phê được tiêu thụ, còn lại là cà phê hòa tan.

    (Nguồn: Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ USDA và Hiệp hội cà phê quốc tế ICO)

    Lượng tiêu thị nội địa tăng trung bình 11.75% trong giai đoạn 2011-2016.Lượng cà phê tiêu thụ bình quân đầu người tại Việt Nam khoảng 1.15kg/người/năm, trong đó ở Hồ Chí Minh là 1.3kg/người/năm, còn Hà Nội là 0.43kg/người/năm.

    Tiêu thụ cà phê đầu người tăng dần từ nhóm có thu nhập thấp nhất đến nhóm có thu nhập cao nhất, phần nào thể hiện, cà phê là loại hàng hoá thông thường so với thu nhập của phần đông dân số.

    Cà phê được tiêu thụ phổ biến ở thành thị. Mức tiêu thụ bình quân của người thành thị cao gần gấp 2 lần so với nông thôn. Điều này được coi là hiện tượng dễ hiểu, khi thu nhập taị thành thị luôn có xu hướng cao hơn nhiều lần so với thu nhập tại các vùng nông thôn Việt Nam.

    Giá nội địa

    Giá cà phê trong nước tăng giảm theo xu hướng của cà phê trên thị trường thế giới, do nhiều yếu tố trong môi trường kinh tế quốc tế thay đổi và chi phối bên cạnh yếu tố cung- cầu thị trường. Trong mùa vụ 2016/17 giá cà phê Robusta trung bình giao động trong khoảng 42.000-43.000 VNĐ/kg, giảm mạnh do thời tiết của Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của gió mùa.

    1.2.2 Tiêu thụ ngoài nước

    Việt Nam cung cấp khoảng 19% tổng lượng cà phê xuất khẩu và khoảng 70% lượng cà phê Robusta giao dịch trên toàn cầu.

    Cà phê Việt Nam được xuất khẩu hơn 84 nước trên thế giới. Mỹ và Đức là hai thị trường tiêu thụ cà phê truyền thống lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt là 15,4% và 13,9%.

    Giá xuất khẩu

    Niên vụ cà phê 2007- 2008 với kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên vượt ngưỡng 2 tỷ USD.

    Năm 2009, giá cà phê thế giới giảm mạnh, dẫn đến thị trường trong nước cũng rớt giá theo.

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy giá cà phê qua các niên vụ có sự biến động.

    Niên vụ 2013-2014, giá xuất khẩu trung bình là 1.796 USD/tấn.

    Sang đến niên vụ 2015/16, giá xuất khẩu của hạt cà phê Robusta tươi đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 5 niên vụ qua.

    Tuy nhiên, nhìn vào biểu đồ niên độ 2014/15 có xu hướng giảm đều, so sánh với niên độ 2015/16 có thể thấy niên độ 2015/16 đã có dấu hiệu khởi sắc.

    Nhìn chung trong giai đoạn 2007-2017 giá cà phê sụt giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất, tự nhiên và cầu của thị trường. Sự sụt giảm này sẽ được lí giải một cách dễ hiểu thông qua tình hình về cung của Cà phê trong phần tiếp theo.

    2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cung cà phê.

                    2.1 Diện tích trồng và sản lượng cà phê ở nước ta.

    Bảng diện tích gieo trồng cà phê ở Việt Nam từ năm 2007 đến 2017:

    Năm Diện tích gieo trồng cà phê tại Việt Nam (nghìn ha)
    2007 488,7
    2008 509,3
    2009 530,9
    2010 538,5
    2011 554,8
    2012 586,2
    2013 623
    2014 637
    2015 641,2
    2016 645,2
    2017 662,2

                                                                                  (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Từ bảng số liệu ta thấy, diện tích gieo trồng cà phê tăng lên đều qua các năm. Diện tích trồng cà phê Việt Nam ngày càng được mở rộng trong vài năm trở lại đây. Vì vậy, sản lượng nước ta cũng tăng lên.

    Trong giai đoạn này sản lượng cà phê có nhiều biến động nhưng nhìn chung sản lượng vẫn tăng qua các năm.

    Diện tích gieo trồng cà phê cũng như sản lượng cà phê tăng khiến cho sản lượng cà phê tăng dẫn đến cung cà phê cũng tăng qua các năm, đường cung dịch phải.

    2.2 Công nghệ chế biến, trồng trọt, chăm sóc cây cà phê

    Trong giai đoạn 2007-2017 công nghệ chế biến, trồng trọt, chăm sóc cây cà phê đã được phát triển mạnh mẽ với quy mô rộng lớn và chất lượng tốt hơn.

    Nhờ có công nghệ kỹ thuật phát triển mạnh mẽ mà sản lượng cà phê tăng dẫn đến cung cà phê cũng tăng.

    2.3 Yếu tố tự nhiên

          Yếu tố thời tiết có thể quyết định đến tình trạng được mùa hay mất mùa trong sản xuất cà phê Việt Nam. Điển hình là năm 2017 được coi như là một năm thiên nhiên dành nhiều ưu đãi cho việc nuôi trông cây cà phê, tuy nhiên, việc được mùa cà phê cũng tạo ra sức ép dư cung quá nhiều, khiến cho giá cà phê sụt giảm nghiêm trọng, khiến nhà nước phải thực hiện chính sách áp đặt giá sàn vào thị trường Cà phê trong năm 2017 để bảo hộ sản xuất.

    2.4 Giá các yếu tố đầu vào.
          Bên cạnh yếu tố về diện tích trồng cà phê, và chi phí nhân công đã được đề cập tại trước đó, giá cà phê còn chịu sự chi phối của các yếu tố đầu vào khác, ví dụ như giá của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và các loại hàng hoá phụ trợ. Các loại hàng hoá này có tính chất ổn định, ko thay đổi quá nhiều, chính vì thế ít làm ảnh hưởng tới giá của cà phê.

    2.5 Giá cà phê trong nước và xuất khẩu

    Niên vụ cà phê 2007- 2008 với kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên vượt ngưỡng 2 tỷ USD. Năm 2009, giá cà phê thế giới giảm mạnh, dẫn đến thị trường trong nước cũng rớt giá theo.

    Hình: Giá xuất khẩu cà phê trung bình của Việt Nam mùa vụ 2009-2010 và 2010-2011

    Nguồn: Trung tâm Xúc tiến thương mại – Đầu tư – Du lịch Dak Lak; Vicofa và Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy ở mùa vụ 2009/2010 và 2010/2011 giá cà phê có nhiều biến động nhưng nhìn chung là giảm.

    Còn trong niên vụ 2015/16, giá xuất khẩu đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 5 niên vụ vừa qua.

    Co dãn của cung theo giá

        Dựa trên những phân tích của các yếu tố ảnh hưởng đến cung và lượng cung, chúng ta có thể nói rằng cung cà phê là co dãn theo giá. Cà phê là một loại nông sản có tính mùa vụ, khi giá tăng lên, người sản xuất sẽ khó khăn hơn để điều chỉnh đầu vào để tăng đầu ra cho hàng hoá, chính vì thế, cung của cà phê ít co dãn theo giá.

    Nhìn chung trong giai đoạn 2007-2017 giá cà phê đang có sự sụt giảm nghiêm trọng dẫn đến lợi nhuận nhà sản xuất giảm khiến cho cung cà phê cũng giảm. Trước tình hình đó, Chính phủ đã tiến hành hỗ trợ ngành cà phê bằng một loạt các biện pháp và trợ cấp khác nhau. Những chính sách của chính phủ đã tác động đến giá cà phê từ đó điều chỉnh thị trường về mức cân bằng.

    Chính phủ có thể kiểm soát giá bằng cách trực áp đặt giá sàn.

     

    3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu

                    3.1 Giá của chính hàng hóa cà phê:

    Do chịu ảnh hưởng tiêu cực từ hiệu ứng El Niño, theo BMI Research sản lượng cà phê niên vụ 2016-2017 giảm 8,5% xuống còn 26,4 triệu bao (60 kg/bao), mức thấp nhất kể từ niên vụ 2011-2012.Do đó làm giá cà phê tăng làm lượng cầu về cà phê giảm đi.

    Thị trường cà phê trong nước biến động giảm trong tháng 8/2017 theo xu hướng của thị trường thế giới. So với tháng trước, giá cà phê các tỉnh Tây Nguyên giảm 1.000 – 1.100 đ/kg xuống còn 44.000 – 44.700 đ/kg. Dẫn tới hiện trạng các đại lý và các nhà xuất khẩu Việt Nam hiện vẫn đầu cơ cà phê chờ thời điểm để bán với mức giá cao hơn.

                    3.2 Thu nhập người tiêu dùng

    Theo số liệu vừa công bố của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016. GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016.

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
    tiêu thụ cà phê 858 900 1,064 1,101 1,189 1,292 1,420 1,556

    Khi thu nhập tăng thì cầu đối với hầu hết hàng hóa đều tăng. Xét mối tương quan giữa thu nhập và sản lượng tiêu thụ, có thể nói rằng cà phê là hàng hóa thông thường. Do khi thu nhập tăng kéo theo cầu về cà phê tăng.

    3.3 Quy mô thị trường và thị hiếu người tiêu dùng

    Việt Nam tuy là nước sản xuất cà phê lớn thứ 2 thế giới, nhưng lượng tiêu thụ cà phê của Việt Nam lại thấp hơn nhiều so với các quốc gia sản xuất cà phê khác (Việt Nam: 5% vs Brazil: 50%).
    Thực tế cho thấy, tiêu dùng cà phê của cả nước chỉ khoảng 56.000 tấn, chiếm chưa đến 6% trong tổng sản lượng cà phê làm ra, cho thấy quy mô thị trường cà phê nội địa của Việt Nam là ko lớn. Cụ thể:

    Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
    tiêu thụ cà phê 858 900 1,064 1,101 1,189 1,292 1,420 1,556

    Đơn vị: Nghìn bao                                                         (Nguồn: USDA, Vicofa, BMI)

          Theo số liệu điều tra VLSS, trung bình, người Việt Nam tiêu thụ khoảng 1,25kg cà phê/năm. Bao gồm cà phê tiêu thụ trong ngày thường và cà phê uống trong dịp lễ tết.

    Co dãn của cầu theo giá và thu nhập

          Cà phê tại thị trường Việt Nam không phải là một mặt hàng được tiêu dùng quá nhiều, tuy nhiên 90% trong toàn bộ khối lượng thị trường tiêu thụ cà phê là những người dùng trung thành, chính vì thế khi đặt cà phê trong thị trường của chính nó, cà phê được coi là một loại hàng hoá thiết yếu, vì dù giá có tăng nhưng người yêu cà phê vẫn sẽ mua, chỉ có khoảng 10% những người dùng cà phê quyết định sự thay đổi của cầu khi giá thay đổi, chính vì vậy có thể kết luận rằng: hàng hoá cà phê có cầu ít co giãn theo giá. Thêm vào đó, cà phê không phải là một sản phẩm có giá quá cao so với phần đông dân số, giá biến động trong biên độ không lớn, vì vậy sự thay đổi của giá so với thu nhập là không đáng kể.

    Tóm lại, trong giai đoạn 2010-2017 cầu về cà phê giảm đi. Chính vì vậy, nhằm khuyến khích tiêu dùng Chính phủ đã quy định trần để đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng.

    4 Những thuận lợi và khó khăn trong phạm vi kinh tế vi mô

    4.1 Thuận lợi
    Lợi thế về điều kiện tự nhiên.
    Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, lượng mưa phân bố, đất đỏ bazan thích hợp là các yếu tố cơ bản này tạo cho Việt Nam lợi thế mà các nước khác không có được.

    – Lợi thế về nhân công
    Sản xuất cà phê là loại hình yêu cầu nhiều nhân công có tính mùa vụ, không cần có kĩ thuật hay chuyên môn quá cao, chính vì thế có thể dễ dàng huy động được nhân công tại một quốc gia có dân số trẻ như Việt Nam.

    4.2 Khó khăn
    Công nghệ chăm sóc còn hạn chế
    Công nghệ ứng dụng trong gieo trồng và thu hoạch cây cà phê còn tồn đọng nhiều sự kém phát triển, công cụ còn lạc hậu yêu cầu nhiều nhân công, chưa ứng dụng được nhiều công nghệ cao trong sản xuất.

    Việc sản xuất cà phê còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ
    Diện tích canh tác trung bình của mỗi hộ dân chỉ từ 0,5 đến 1 hécta đã dẫn đến làm cho chi phí đầu tư tăng cao, sản phẩm kém ổn định, khó tiếp cận với những tiến bộ khoa học và thị trường tiêu thụ.

    Khó khăn trong việc dự báo
    Với việc bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cũng như yếu tố thời tiết, tình trạng được mùa và mất mùa, khiến cho công tác dự báo sự biến động của giá cà phê gặp nhiều khó khăn, dẫn đến những tình huống bất khả kháng.

    III. DỰ BÁO GIÁ CÀ PHÊ TRONG GIAI ĐOẠN 2018 – 2020

    1. Cung cà phê

    1.1 Mô hình sản xuất mới

    Từ năm 2016, chính phủ đang định hướng để sản xuất cà phê bền vững hay cà phê có chứng nhận loại hình cà phê bền vững phổ biến hiện nay như: 4C (nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê). Qua kiểm tra thực tế của Bộ Khuyến nông, các mô hình trồng cà phê 4C tiết kiệm được lượng phân bón từ 10-20%, giảm được từ 50 – 60% về thuốc bảo vệ thực vật, và giúp tiết kiệm 30% lượng nước tưới so với mô hình truyền thống. Qua tính toán chung, trồng 1 ha cà phê theo tiêu chuẩn 4C, người dân sẽ tiết kiệm được vốn đầu tư từ 14-26 triệu đồng và năng suất thì tăng lên từ 10-15%.

    Hiện nay số lượng áp dụng tiêu chuẩn 4C đang tăng lên giúp người dân giảm chí phí sản suất, tăng lợi nhuận, và tăng lượng cung.

    1.2 Sức ép từ giá nguyên vật liệu đầu vào.

    Giá phân bón tăng lên do lượng cung từ Trung Quốc giảm và thuế bảo vệ môi trường Chính phủ áp dụng. Theo điều tra 99% hộ dân có dùng phân bón để sản xuất: chí phí phân bón chiếm tỉ lệ cao nhất 41% tổng chi phí sản xuất cà phê. Với việc chi phí yếu tố đầu vào ngày càng tăng lên người dân sẽ muốn thu hẹp sản sản xuất vì lợi nhuận giảm.

    Thêm vào đó từ năm 2016, khó khăn trong việc tìm kiếm công nhân mùa vụ khi giá nhân công tại chỗ chỉ khoảng 150.000 đồng/người/ngày, giờ tăng lên 200.000-220.000 đồng/ngày. Không được chăm sóc thu hoạch kịp thời gây ảnh hưởng tới sản lượng chất lượng cà phê làm lượng cung giảm.

    1.3 Sức ép từ yếu tố tự nhiên.

     

    Trong những năm gần đây, do sự ảnh hưởng của việc nóng lên toàn cầu gây ảnh hưởng rất nhiều đến sản lượng cà phê. Năm 2016 nông dân Việt Nam bị chịu ảnh hưởng nặng khi hạn hán xảy ra, làm giảm lượng cung, điều này cũng lý giải cho việc giá tăng vào năm 2016. Theo những biến đổi thời tiết gần đây của Việt Nam các năm sau hạn hán sẽ còn xảy ra, công tác phòng trống hạn hán chưa được đảm bảo, dẫn tới lượng cung sẽ có nguy cơ sụt giảm.

    Năm 2017 được mùa nhưng mất giá tiếp diễn ra càng khiến cho người nông dân muốn chuyển sang trồng cây tiêu có giá cao hơn và trông chăm sóc dễ hơn. Giá cà phê dao động trong khoảng 30.000đ đến hơn 40.000đ trong khi giá tiêu từ 60.000 – xung quanh 70.000đ. Nếu tình trạng trồng cây không thu được lãi như mong đợi liên tiếp diễn ra thì trong mùa vụ tiếp theo có khả năng diện tích trồng cà phê sẽ giảm và lượng cung sẽ giảm.

    3.     Cầu về cà phê của Việt Nam

    Người Việt Nam ngày càng ưa thích sử dụng cà phê. Bên cạnh đó, theo số liệu cục thống kê Việt Nam đưa ra Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm chi 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016. Thu nhập của người dân tăng mạnh mức chi tiêu cho cà phê cũng tăng. Theo báo cáo Ngành Nông nghiệp Việt Nam Qúy 3/2017 của BMI Research, trong giai đoạn từ năm 2005-2015, lượng tiêu thụ cà phê của Việt Nam tăng trưởng mạnh từ 0,43 kg/đầu người/năm lên 1,38 kg/đầu người/năm. Dân số Việt Nam có khoảng 60 triệu người đang trong tỉ lệ lao động – Họ là đối tượng có nhu cầu sử dụng cà phê lớn nhất

    => Cầu về cà phê của người tiêu dùng trong nước tăng.

    Nhiều công ty nước ngoài như: RITA VÕ, KING COFFE … đã lập kế hoạch đầu tư nhà máy rang xay sản xuất cà phê ở Việt Nam trong thời gian 2018-2030. Điều này tạo ra một tiềm năng lớn cho nhà sản xuất cà phê nội địa và sẽ làm tăng lượng cầu với cà phê Việt Nam

    Tuy nhiên, Cầu cà phê từ phía các doanh nghiệp mua để bán XNK lại chững lại và có xu hướng giảm nhẹ do lượng dữ trữ trong kho niên vụ vẫn còn. Bên cạnh đó từ 2018, cầu cà phê của doanh nghiệp xuất khẩu giảm vì họ kì vọng giá giảm dẫn đến chi phí kho bãi tăng lên từ hoạt động đầu cơ, buộc họ phải mua đầu vào với giá thấp thì mới thu đc lời từ kinh doanh chênh lệch

    Xét trên tổng thể, dù lượng cầu nội địa từ phía người tiêu dùng tăng nhưng lượng cầu từ phía các doanh nghiệp xuất khẩu và giảm làm cho tổng cầu về cà phê giảm nhẹ

          Kết luận: Dựa trên những phân tích về Cung- Cầu thông qua các sự kiện có khả năng sẽ xảy ra và ảnh hưởng đến thị trường Cà phê như trên, chúng ta có thể đưa ra phỏng đoán tương lai:  Cung cà phê có thể sẽ giảm, Cầu cà phê có thể giảm nhẹ.

      Ban đầu: Thị trường CB tại Eo (Po, Qo)

     

    Do yếu tố ngoại sinh

    QD↓ → Đường cầu dịch trái

    QS↑↑ → Đường cung dịch phải

    TTCB tại E1(P1, Q1)

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN QUẢN LÝ GIÁO VỤ

    BÀI TẬP LỚN QUẢN LÝ GIÁO VỤ

    BÀI TẬP LỚN QUẢN LÝ GIÁO VỤ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: NHẬN DẠNG KÝ TỰ VIẾT TAY TIẾNG VIỆT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-GI%C3%81O-V%E1%BB%A4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN QUẢN LÝ GIÁO VỤ

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cơ sở dữ liệu là một trong những chuyên ngành được quan tâm nhiều nhất trong khoa học máy tính và trong công nghệ thông tin. Hầu hết các ứng dụng hay các website đều cần phải có cơ sở dữ liệu, để lưu trữ dữ liệu, xử lý thông tin và đưa ra các báo cáo, hỗ trợ tìm kiếm…. Ưu điểm của cơ sở dữ liệu là giảm sự trùng lặp thông tin xuống mức thấp

    nhất do đó đảm bảo được nhất quán và toàn vẹn dữ liệu, đảm bảo dữ liệu có thể được truy xuất theo nhiều cách khác nhau, khả năng chia sẻ thông tin cho nhiều người sử dụng và nhiều ứng dụng khác nhau.

    Vì vậy, việc tìm hiểu và học tập những kiến thức cơ sở về cơ sở dữ liệu là cần thiết, không những đối với người làm công tác nghiên cứu mà còn đối với những người cần kiến thức cơ sở để thực hiện ứng dụng cơ sở ở quy mô lớn trong chuyên ngành của mình.

    Trên cơ sở những gì đã được học và tìm hiểu về vấn đề trên, em lựa chọn đề tài:

    “Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý giáo vụ ”.

    Nội dung báo cáo gồm các phần sau đây:

    Phần 1: Thiết kế cơ sở dữ liệu và mô hình thực thể liên kết

    Phần 2: Chuyển đổi thành mô hình dữ liệu quan hệ

    Phần 3: Xác định các khóa chính

    Phần 4: Chuẩn hóa lược đồ quan hệ

    Phần 5: Các câu lệnh truy vấn SQL

    Trong quá trình làm bài, em đã cố gắng tìm hiểu nghiệp vụ quản lý kho vật tư và dựa vào các kiến thức đã học được để hoàn thiện bài tập lớn. Song không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận sự góp ý từ thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn.

    CHƯƠNG I: THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU

    VÀ MÔ HÌNH THỰC THỂ LIÊN KẾT

    1.1 Giơí thiệu sơ lược về cơ sở dữ liệu quản lý giáo vụ

    Hiện nay, các trường học phải quản lý một khối lượng rất lớn các em học viên, kèm theo đó là hàng loạt các loạt. Đây là kho dữ liệu rất lớn, không thể lưu trữ và xử lý một cách thủ công như trước đây mà cần phải tin học hoá, cụ thể là xây dựng một chương trình tin học để quản lý thống nhất và toàn diện hoạt động giảng dạy , quản lý học viên của nhà trường. Do vậy nên em đã chọn đề tài quản lý giáo vụ.

    Quản Lý giáo vụ bao gồm một số công việc về vấn đề quản lý của trường học như quản lý về học viên,giáo viên, lớp học, các khoa và đặc biệt quản lý việc giảng dạy, điểm số… với CSDL sử dụng là Microsoft Access 2007.

    1.2 Các thực thể và các thuộc tính của chúng

    1.2.1 Các khái niệm cơ bản

    • Thực thể(Entity): là khái niệm mô tả một lớp các đối tượng có đặc trưng mà chúng ta cần quan tâm
    • Thuộc tính(Attribute): là các tính chất, đặc điểm chung của đối tượng. nó là một giá trị dùng để mô tả một đặc trưng nào đó của một thực thể.

    Thuộc tính có thể là đơn trị, đa trị (lặp), hoặc phức hợp. Ký hiệu là hình thoi.

    1.2.2 Các thực thể của cơ sở dữ liệu quản lý giáo

    vụ

    1. a) Thực thể “học viên”

    Lưu trữ các thông tin cơ bản về học viên :mã học viên, họ tên, ngày sinh, giới tính, quê quán và thuộc lớp nào.

    mã học họ tên
    viên  

    ngày sinh

    mã lớp học viên

    giới tính

    quê quán

    Hình 1.1: thực thể “học viên”

    1. b) Thực thể “lớp”

    Mỗi lớp gồm có mã lớp, tên lớp, mã học viên làm lớp trưởng, sĩ số lớp, mã giáo viên làm giáo viên chủ nhiệm lớp.

    mã lớp

    mã gvcn                                                                                                           tên lớp

    lớp

    t

    sĩ số mã lớp
      trưởng
    Hình 1.2: thực thể “lớp”  

    Cơ sở dữ liệu- Quản lý giáo vụ

    1. c) Thực thể”khoa”

    Mỗi khoa cần lưu trữ mã khoa, tên khoa, ngày thành lập khoa và mã giáo viên làm trưởng khoa(là một giáo viên thuộc khoa).

    mã khoa                                                 tên khoa

    khoa

    Mã trưởng

    khoa

    ngày thành

    lập

    Hình 1.3: thực thể “ khoa”

     

    1. d) Thực thể “môn học”

    Mỗi môn học cần lưu trữ mã môn học, tên môn học, số tiết lý thuyết, số tiết thực hành và

    khoa nào phụ trách.

    .

    mã môn

    học

    mã khoa

    tên môn

    học

    môn học

    t

    số tiết thực số tiết lý
    hành thuyết
      Hình 1.4: thực thể “môn học”
     
    mã giáo
    viên
    1. e) Thưc thể “giáo viên”

    Lưu trữ  mã giáo viên, họ tên ,ngày sinh, giới tính, học vị, ngày vào làm việc và thuộc

    khoa nào.

    họ tên

    mã khoa

    giáo viên ngày sinh
     
    ngày vào  
    làm việc giới tính
      học vị

    Hình 1.5: thực thể “giáo viên”

    1. f) Thực thể “giảng dạy”

    Mỗi học kỳ của một năm học sẽ phân công giáo viên giảng dạy lớp nào đó học môn gì, và thời gian của kỳ học đó(thời điểm bắt đầu và kết thúc).

    mã lớp Mã môn
      học

    Ngày kết

    thúc  giảng dạy                                                                               Mã giáo viên

    ngày bắt  
    đầu Học kỳ
     
      Năm

    Hình 1.6: thực thể “ giảng dạy”

    1.3 Xác định RBTV

    1.3.1 Định nghĩa:

    Ràng buộc toàn vẹn(RBTV) là một điều kiện bất biến không được vi phạm trong một CSDL.

    Trong CSDL luôn tồn tại rất nhiều mối liên kết ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các thuộc tính, giữa các bộ giá trị trong một quan hệ và nhiều quan hệ.

    Khi xác định một RBTV cần chỉ rõ:

    Điều kiện của RBTV, từ đó xác định cách biễu diễn Bối cảnh xảy ra RBTV trên một hay nhiều quan hệ

    Tầm ảnh hưởng của RBTV , khả năng tính toàn vẹn bị vi phạm Hành động cần phải có khi RBTV bị vi phạm.

    RBTV về miền gía trị của thuộc tính RBTV liên thuộc tính

    RBTV liên bộ, liên thuộc tính RBTV về phụ thuộc tồn tại

    RBTV tổng hợp (liên bộ – liên quan hệ)

    1.3.2 Xác định RBTV

    Gồm các điều kiện của RBTV và biểu diễ của chúng, đồng thời ta lập bảng tầm ảnh hưởng của mỗi RBTV.

    Dấu (+): RBTV cần được kiểm tra nguy cơ dẫn tới vi phạm

    Dấu (-): RBTV không có nguy cơ bị vi phạm.

    Dấu (-(*)): RBTV không bị vi phạm vì không được phép sửa đổi

    1. R1: mỗi học viên phải có một mã số riêng biệt không trùng với bất kỳ học viên nào khác
      • hv1, hv2 € hocvien, hv1 ≠ hv2 => hv1.mahv ≠ hv2.mahv
    Quan hệ Thêm Sửa Xóa
           
    hocvien +(mahv) -(*) +
           
    1. b) R2: mỗi lớp học phải có một mã số duy nhất để phân biệt với mọi lớp khác trong trường.

    ¥ lh1, lh2 € lop, lh1 ≠ lh2 => lh1.malop ≠ lh2.malop

    Quan hệ Thêm Sửa Xóa
           
    lop +(malop) -(*) +
           
    1. c) R3: mỗi khoa phải có một mã số duy nhất , không trùng với khoa nào khác

    ¥ kh1, kh2 € khoa, kh1 ≠ kh2 => kh1.mak ≠ kh2.mak

    Quan hệ Thêm Sửa Xóa
           
    khoa +(mak) -(*) +
           
    1. d) R4: mỗi môn học có một mã riêng biệt không trùng với bất môn học nào khác

    ¥ mh1, mh2 € monhoc, mh1 ≠ mh2 => mh1.mamh ≠ mh2.mamh.

    Quan hệ Thêm Sửa Xóa
           
    monhoc +(mamh) -(*) +
           
    1. e) R5: mỗi giáo viên phải có một mã riêng biệt không trùng với bất kỳ giáo viên nào khác.

    ¥ gv1, gv2 € giaovien, gv1 ≠ gv2 => gv1.magv ≠ gv2.magv

    Quan hệ Thêm Sửa Xóa
           
    giaovien +(magv) -(*) +
           
    1. f) R6: mỗi học viên phải đăng ký vào một lớp của trường(” mỗi bộ của học viên phải có mã lớp thuộc về danh mục lớp”)

    ¥ hv € hocvien, Ǝ lh € lop sao cho hv.mal = lh.mal.

    Quan hệ Thêm Sửa Xóa
           
    hocviên +(mal) -(*) +
           
    lop -(*) +
           
    1. g) R7: mỗi giáo viên phải trực thuộc một khoa nào đó(“mỗi bộ của giáo viên phải có mã khoa thuộc về danh mục khoa”)

    ¥ gv € giaovien, Ǝ kh € khoa sao cho gv.mak = kh.mak.

    Quan hệ Thêm Sửa Xóa
           
    monhoc +(mak) -(*) +
           
    khoa -(*) +
           
    1. h) R8: mỗi môn học phải thuộc một khoa(“mỗi bộ của giáo viên phải có mã khoa thuộc về danh mục khoa”)

    ¥ mh € monhoc, Ǝ kh € khoa sao cho mh.mak = kh.mak.

    Quan hệ Thêm   Sửa Xóa
             
    giaovien +(mak)   -(*) +
             
    khoa   -(*) +
             
    i) R10: giáo viên khi vào làm ít nhất phải 22 tuổi    
    ¥ gv € giaovien | (gv.ngayvl – gv.ngaysinh) / 365 ≥ 22.  
           
    Quan hệ Thêm   Sửa Xóa
             
    giaovien +(ngayvl, ngaysinh)   -(*) +
             
    1. j) R11: nếu sĩ số của một lớp lớn hơn 0 thì nó phải bằng số lượng học viên thuộc lớp đó.

    ¥ lh € lop thì nếu lh.siso > 0 thì:lh.siso =COUNT (hv € hocvien, hv.malop = lh.malop).

    Quan hệ Thêm Sửa Xóa
           
    hocvien -(*) +
           
    lop -(*) +
           

    1.4 xác định phụ thuộc hàm.

    1. Quan hệ hocvien(mahv, hotenhv, ngaysinh, gioitinh, que, malop). ký hiệu: Q1(A, B, C, D, E, F)

    f1: mahv xác định hotenhv nên A →B

    f2: mahv xác định ngaysinh nên A →C

    f3: mahv xác định gioitinh nên A →D

    f4: mahv xác định que nên A →E

    f5: mahv xác định malop nên A →F

    1. Quan hệ lop( malop, tenlop, maltrg, siso, magvcn ) ký hiệu: Q2(A, B, C, D, E)

    f1: malop xác định tenlop nên A →B

    f2: malop xác định maltrg nên A →C

    f3: malop xác định siso nên A →D

    f4: malop xác định magvcn nên A →E

    Từ đó ta có tập PTH F2={ A →B, A →C, A →D, A →E}

    1. Quan hệ khoa(mak, tenk, ngaytl,matrgk) ký hiệu: Q3(A, B, C, D)

    f1: mak xác định tenk nên A →B

    f2: mak xác định ngaytl nên A →C

    f3: mak xác định matrgk nên A →D

    1. Quan hệ monhoc(mamh, tenmh, stlt, stth, mak) ký hiệu: Q4(A, B, C, D, E)

    f1: mamh xác định tenmh nên A →B

    f2: mamh xác định stlt nên A →C

    f3: mamh xác định stth nên A →D

    f4: mamh xác định mak nên A →E

    1. Quan hệ giaovien( magv, hotengv, ngaysinh, gioitinh, hocvi, ngayvl, mak). ký hiệu: Q1(A, B, C, D, E, F, G)

    f1: magv xác định hotengv nên A →B

    f2: magv xác định ngaysinh nên A →C

    f3: magv xác định gioitinh nên A →D

    f4: magv xác định hocvi nên A →E

    f5: magv xác định ngayvl nên A →F

    f6: magv xác định mak nên A →G

    Từ đó ta có tập PTH F5={ A →B, A →C, A →D, A →E, A →F, A →G}

    1. quan hệ giangday(malop, mamh, magv, hocky, nam, ngaybd, ngaykt) ký hiệu: Q6(A, B, C, D, E, F, G )

    f1: (malop, mamh) xác định magv nên (A, B) →C

    f2: (malop, mamh) xác định hocky nên (A, B) →D

    f3: (malop, mamh)xác định nam nên (A, B) →E

    f4: (malop, mamh) xác định ngaybd nên (A, B) →F

    f5: (malop, mamh) xác định ngaykt nên (A, B) →G

    Từ đó ta có tập PTH F6={ (A , B) →C, (A , B) →D, (A , B) →E, (A , B) →F, (A , B) →G}.

    1.5 xây dựng mô hình thực thể liên kết.

    1.5.1 các khái niệm

    Mối liên hệ (Entity Relationship): mối liên hệ giữa các thực thể thường được biểu diễn bằng hình thoi. Trong sơ đồ thực thể liên kết có các loại kiên kết sau:

    Quan hệ 1-1: là mối quan hệ mà mỗi bản thể trong thực thể E1 chỉ có nhiều nhất một bản thể được liên kết trong thực thể E2.

    Quan hệ 1-n: là mối quan hệ mà mỗi bản thể trong thực thể E1 có thể không liên kết hoặc liên kết với một hay nhiều bản thể trong thực thể E2.

    Quan hệ n-n: là mối quan hệ mà mỗi bản thể trong thực thể có thể liên kết với

    nhiều bản thể trong thực thể khác và ngược lại.

    Thuộc tính của mối liên hệ (Relationship Attribute): mỗi mối liên hệ cũng có thể có những thuộc tính riêng của chúng.

    Chú ý: để đơn giản, đôi khi trình bày các thuộc tính nằm luôn trong các thực thể.

    1.5.2 xác đinh các quan hệ trong CSDL quản lý giáo vụ.

    Mối quan hệ giữa thực thể lớp và thực thể học viên là quan hệ 1-n: một lớp có thể có một hoặc nhiều học viên, mỗi học viên chỉ thuộc một lớp nhất định.

    lớp học viên
       

    Hình 1.7: sơ đồ quan hệ giữa thực thể lớp và học viên

    Mối quan hệ giữa thực thể khoa và thực thể giáo viên là quan hệ 1-n: một khoa có thể gồm một hoặc nhiều giáo viên, mỗi giáo viên chỉ thuộc một khoa nhất định.

    khoa giáo viên
       

    Hình 1.8: sơ đồ quan hệ giữa thực thể khoa và giáo viên

    Mối quan hệ giữa thực thể khoa và thực thể môn học là quan hệ 1-n: một khoa có thể gồm một hay nhiều môn học, mỗi môn học chỉ thuộc một khoa nhất định.

    khoa môn học
       

    Hình 1.9: sơ đồ quan hệ giữa thực thể khoa và môn học

    Mối quan hệ giữa thực thể học viên và thực thể môn học là quan hệ n-n: một học viên có thể học nhiều môn học và một môn học có thể có nhiều học viên học.

    học viên       môn học
      học
         
             

    Hình 1.10: sơ đồ quan hệ giữa thực thể học viên và môn học

    Mối quan hệ giữa thực thể giáo viên và thực thể giảng dạy là quan hệ 1-n: một giáo viên có thể dạy nhiều lớp và nhiều môn học, một lớp học một môn cụ thể thì chỉ có một giáo viên được phân công dạy.

    giáo viên       giảng dạy
      học
         
             

    Hình 1.11: sơ đồ quan hệ giữa thực thể giáo viên và giảng dạy.

    1.5.3 mô hình dữ liệu thực thể liên kết.

      Cơ sở dữ liệu- Quản lý giáo vụ  
    Giới tính Quê Ngày  
    quán
    Mã lớp sinh  
     
    Họ tên học viên
     
    Mã học  
    viên học
     
    Tên môn  
    học  
    mã môn  
    học môn học
    Mã khoa  
    Số tiết  
    thực hành
     
    Ngày  
    thành lập khoa
     

    trưởng

    Mã giáo

    viên

    Số tiết lý

    thuyết

    Mã khoa

    Tên

    khoa

    Ngày

    sinh

    Mã lớp

    Tên lớp

    lớp

    Mã lớp

    trưởng

    Mã gvcn

    Sĩ số

    Mã giáo

    viên

    Học kỳ

    Mã môn

    học

    năm

    Mã lớp

    giáo viên

    Mã khoa

    Họ tên

    Ngày

    vào làm

    giảng dạy  
    Giới tính Ngày bắt  
    đầu  
     
    Học vị Ngày kết  
    thúc  

    Hình 1.12: mô hình dữ liệu thực thể liên kết của CSDLquản lý giáo vụ.

    CHƯƠNG II: CHUYỂN TỪ MÔ HÌNH THỰC THỂ LIÊN KẾT SANG MÔ HÌNH QUAN HỆ

    2.1 Cách chuyển đổi

    Các thực thể → các bảng .

    Các thuộc tính của thực thể → các thuộc tính / cột của bảng.

    Các loại liên kết:

    Nếu là liên kết 1-1: khóa của bảng bên 1 bất kỳ trở thành một thuộc tính kết nối (khóa ngoại) của bảng bên kia.

    Nếu là liên kết 1-n: khóa của bảng bên 1 trở thành một thuộc tính kết nối (khóa ngoại) của bảng bên nhiều

    Nếu là n-n: thì phải thêm một bảng trung gian, bảng trung gian này sẽ chứa hai thuộc tính khóa của cảu hai bảng và cả hai thuộc tính khóa này sẽ là khóa chính của cho bảng trung gian, ngoài ra bảng trugn gian có thể them một số thuộc tính khác của mối liên kết.

    2.2 xác định các bảng và thuộc tính của bảng.

    Theo cách chuyển đổi thỉ ta xác định được các bảng và các cột của chúng như sau:

    1. a) bảng hocvien( mahv, hotenhv, ngaysinh, gioitinh, que, malop )

    hocvien

    mahv

    hotenhv

    ngaysinh

    gioitinh

    que

    malop

    1. b) bảng lop( malop, tenlop, maltrg, siso, magvcn )

    lop

    malop

    tenlop

    maltrg

    siso

    magvcn

    1. c) bảng khoa(mak, tenk, ngaytl,matrgk)

    khoa

    mak

    tenk

    ngaysinh

    ngaytl

    matrgk

    1. d) bảng monhoc(mamh, tenmh, stlt, stth, mak)

    monhoc

    mamh

    tenmh

    stlt

    stth

    mak

    1. e) bảng giaovien( magv, hotengv, ngaysinh, gioitinh, hocvi, ngayvl, mak)

    giaovien

    magv

    hotengv

    ngaysinh

    gioitinh

    hocvi

    ngayvl

    mak

    1. f) bảng giangday (malop, mamh, magv, hocky, nam, ngaybd, ngaykt)

    giangday

    malop

    mamh

    magv

    hocky

    nam

    ngaybd

    ngaykt

    2.3 xây dựng kết nối giữa các bảng từ các liên kết.

    Mối quan hệ giữa thực thể lớp và thực thể học viên là quan hệ 1-n.

    • Thuộc tính malop của bảng lop sẽ là khóa ngoại của bảng hocvien. Mối quan hệ giữa thực thể khoa và thực thể giáo viên là quan hệ 1-n.
    • Thuộc tính mak cuả bảng khoa sẽ là khóa ngoại của bảng giaovien. Mối quan hệ giữa thực thể khoa và thực thể môn học là quan hệ 1-n.
    • Thuộc tính mak cuả bảng khoa sẽ là khóa ngoại của bảng monhoc. Mối quan hệ giữa thực thể học viên và thực thể môn học là quan hệ n-n.
    • Ta phải thêm 1 bảng trung gian là bảng kqthi( mahv, mamh, lanthi, ngthi, diem) . bảng kqthi lưu trữ kết quả thi của học viên nào thi môn gì, lần thi thứ bao nhiêu, ngày

    thi là ngày nào, diểm thi là bao nhiêu. Bảng có các cột như sau:

    kqthi

    mahv

    mamh

    lanthi

    ngaythi

    diem

    Mối quan hệ giữa thực thể giáo viên và thực thể giảng dạy là quan hệ 1-n.

    • Thuộc tính magv cuả bảng giaovien sẽ là khóa ngoại của bảng giangday .

    2.4 Mô hình dữ liệu quan hệ quản lý giáo vụ.

    lop

    malop

    tenlop

    maltrg

    siso

    magvcn

    monhoc

    mamh

    tenmh

    stlt

    stth

    mak

    giảng dạy

    malop

    mamh

    magv

    hocky

    nam

    ngaybd

    ngaykt

    hocvien                    
                      kqthi  
      mahv            
                           
                               
    hotenhv           mahv        
      mamh
    ngaysinh          
             
      lanthi  
    gioitinh            
    ngaythi  
      que    
    malop           diem  
    diemTB                    
                               
                               

    khoa

    mak

    tenk

    ngaysinh

    ngaytl

    matrgk

    giaovien

    magv

    hotengv

    ngaysinh

    gioitinh

    hocvi

    ngayvl

    mak

    Hình 2.1: Mô hình dữ liệu liên kết.của CSDL quản lý giáo vụ.

    CHƯƠNG III: XÁC ĐỊNH KHÓA

    3.1 thuật toán xác định khóa của lược đồ quan hệ.

    3.1.1) định nghĩa về khóa

    Khóa được định nghĩa lại bằng phụ thuộc hàm như sau:

    R(U), U= {A1, A2, ….An}, F= {f1, f2, …., fm} xác định trên R, K   U là khóa của R nếu

    thoả mãn hai điều kiện sau:

    (i) K → U.

    (ii) ! Ǝ K’  K mà K’ → U.

    Biểu diễn lược đồ quan hệ R(U) bằng đồ thị có hướng như sau:

    Mỗi nút của đồ thị là tên một thuộc tính của R.

    Cung nối 2 thuộc tính A và B thể hiện phụ thuộc hàm A → B. Thuộc tính mà chỉ có các mũi tên đi ra gọi là gốc.

    Thuộc tính mà chỉ có các cung đi tới gọi là nút lá.

    Như vậy khóa phải là bào phủ tập hợp các nút gốc, đồng thời không chứa bất kỳ nút lá nào của đồ thị.

    3.1.2) thuật toán xác định khóa của lược đồ quan hệ

    xuất phát từ tập các nút gốc (X), dựa trên tập các phụ thuộc hàm F, tìm bao đóng X+.

    nếu X+ = U thì X là khóa.

    Ngược lại thì bổ sung thuộc tính khồng thuôc nút lá vào X rồi tìm bao đóng.

    Cứ như thế cho tới khi tìm được bao đóng của X bằng U.

    Cuối cùng khóa chính là X.

    3.2) xác định khóa cho các quan hệ trong CSDL quản lý giáo vụ.

    1. quan hệ hocvien( mahv, hotenhv, ngaysinh, gioitinh, que, malop ) ký hiệu Q1(U) = Q1(A, B, C, D, E ,F)

    ta có tập PTH F1={ A →B, A →C, A →D, A →E, A →F } Xét A = ABCDEF = U

    • Vậy khóa của quan hệ nhanvien là A(mahv)
    1. quan hệ lop( malop, tenlop, maltrg, siso, magvcn )

    ký hiệu Q2(U) = Q1(A, B, C, D, E )

    ta có tập PTH F2={ A →B, A →C, A →D, A →E } Xét A = ABCDE = U

    • Vậy khóa của quan hệ lop là A(malop).
    1. quan hệ khoa(mak, tenk, ngaytl,matrgk)

    ký hiệu Q3(U) = Q3(A, B, C, D)

    ta có tập PTH F3={ A →B, A →C, A →D }

    Xét A = ABCD = U

    • Vậy khóa của quan hệ khoa là A(mak).
    1. quan hệ monhoc(mamh, tenmh, stlt, stth, mak) ký hiệu Q4(U) = Q4(A, B, C, D, E )

    ta có tập PTH F4={ A →B, A →C, A →D, A →E } Xét A = ABCDE = U

    • Vậy khóa của quan hệ monhoc là A(mamh).
    1. quan hệ giaovien( magv, hotengv, ngaysinh, gioitinh, hocvi, ngayvl, mak) ký hiệu Q5(U) = Q5(A, B, C, D, E ,F, G)

    ta có tập PTH F5={ A →B, A →C, A →D, A →E, A →F , A →G} Xét A = ABCDEFG = U

    • Vậy khóa của quan hệ giaovien là A(magv).
    1. quan hệ giangday (malop, mamh, magv, hocky, nam, ngaybd, ngaykt)

    ký hiệu: Q6(A, B, C, D, E, F, G )

    Ta có tập PTH F6={ (A , B) →C, (A , B) →D, (A , B) →E, (A , B) →F, (A , B) →G}. Xét {A, B} = ABCDEF = U

    • Vậy khóa của quan hệ giangday là AB ({malop, mamh}).
    1. quan hệ kqthi( mahv, mamh, lanthi, ngaythi, diem) .

    ký hiệu Q7(U) = Q7(A, B, C, D, E )

    f1: (mahv, mamh, lanthi) xác định ngaythi nên (A, B, C) →D

    f2: (mahv, mamh, lanthi) xác định diem nên (A, B, C) →E Từ đó ta có tập PTH F7={ (A , B, C) →D, (A , B, C) →E }. Xét {A, B, C} = ABCDE = U

    • Vậy khóa của quan hệ kqthi là ABC ({mahv, mamh, lanthi}).

    CHƯƠNG IV: CHUẨN HÓA LƯỢC ĐỒ QUAN HỆ

    THÀNH DẠNG CHUẨN 3NF HOẶC BCNF

    4.1 Các dạng chuẩn và thuật toán chuẩn hóa.

    4.1.1 Các dạng chuẩn.

    • Dạng chuẩn 1(1NF): lược đồ quan hệ Q ở dạng !NF nếu tất cả các thuộc tính của Q đều là thuộc tính đơn.
    • Dạng chuẩn 2 (2NF): lược đồ quan hệ Q ở dạng chuẩn 2NF nếu ở 1NF và tất cả các thuộc tính không khóa đều phụ thuộc đầy đủ vào khóa.
    • Dạng chuẩn 3 (3NF):

    ĐN1: lược đồ quan hệ Q ở dạng chuẩn 3NF nếu ở 2NF và tất cả các thuộc tính không khóa đều không phụ thuộc bắc cầu vào khóa.

    ĐN2: lược đồ quan hệ Q ở dạng chuẩn 3NF nếu ở 1NF và tất cả phụ thuộc hàm không hiển nhiên X→Y của F thỏa một trong hai điều kiên sau:

    • X là một siêu khóa (X chứa một khóa nào đó)
    • mỗi thuộc tính trong tập (Y – X) nằm trong một khóa nào đó.
    • Dạng chuẩn Boyce – codd (BCNF): lược đồ quan hệ Q ở dạng chuẩn BCNF nếu ở 1NF và tất cả phụ thuộc hàm không hiển nhiên X→Y của F thì X là một siêu khóa (X chứa một khóa nào đó).

    4.1.2 Thuật toán chuẩn hóa

     

    Thuật toán phân rã  
    Dựa vào điều kiện phan rã bảo toàn thông tin Q thành Q1 và Q2 thỏa Q1 Q2 → Q1\ Q2
    hay Q1 Q2→ Q2\ Q1.  
    Thuật toán phân rã thành các lược đồ ở dạng chuẩn BCNF như sau:  
    Cho Q và tập F xác định trên Q  
    Phân_rã :={Q} ;  
    done:= false;  
    Tính F+;  
    while (not done) do  
    if (có một Qi trong Phân_rã không ở dạng BCNF) then  
    Begin  
    X→Y là phụ thuộc hàm không hiển nhiên trên Qi thỏa:  

    Cơ sở dữ liệu- Quản lý giáo vụ

    X→Qi  F+và X  Y=  thì

    Phân_rã := (Phân_rã – Qi) U (XY) U (Qi-Y)

    End

    else done := true;

    Kết quả ta được tập Phân_rã gồm các lược đồ ở dạng BCNF

    Thuật toán tổng hợp

    Thuật toán sau cho phân rã đạt tối thiểu ở dạng 3NF.

    Cho Q và tập PTH F xác địnhtrên Q.

    Tính Fc là một phủ tối tiểu của F+;

    Xác định các khóa của Q;

    i:= 0;

    for (mỗi phụ thuộc hàm X→Y trong Fc) do

    if (không có Qj, j=1,2,…I chứa XY) then

    begin

    i:= i+1;

    Qi:= XY;

    end;

    if(không có Qj, j= 1, 2….i chứa khóa của Q) then

    begin

    i:= i+ 1;

    Qi := bất kỳ khóa nào của Q;

    end;

    return(Q1, Q2,…Qi);

    4.2 Cách thức chuẩn hóa thực tế.

    Trong thực thế khi chuẩn hóa lược đồ CSDL thường được thực hiện theo các bước:

    Bước 1: kiểm tra xem quan hệ đã đạt dạng chuẩn 1NF chưa?. Nếu chưa ở 1NF có nghĩa là có các thuộc tính chưa nguyên tố / lặp. Tiến hành tách các thuộc tính đó.

    Bước 2: kiểm tra xem chúng có ở dạng 2NF không ?. Nghĩa là kiểm tra xem các thuộc tính không khóa có phụ thuộc hoàn toàn vào khóa chính khôn g?. Tiến hành tách những PTH bộ phận đó thành các bảng con để giảm bớt sự trùng lặp thông tin.

    Bước 3: kiểm tra xem chúng đã đạt dạng chuẩn 3NF chưa ?. Nghĩa là các thuộc tính không khóa thì phụ thuộc trực tiếp vào khóa chính. Tiến hành tách những PTH bắc cầu thành bảng con.

    Bước 4: kiểm tra xem chúng đã đạt dạng chuẩn BCNF chưa ?.Nghĩa là tất cả các phụ thuộc hàm đều có vế trái là siêu khóa. Tiến hành tách PTH có vế trái chưa phải là siêu khóa.

    4.3 Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu quan hệ quản lý giáo vụ.

    CSDL quản lý giáo vụ có:

    1. a) Quan hệ hocvien( mahv, hotenhv, ngaysinh, gioitinh, que, malop )

    có tập PTH là F1 = {mahv → hotenhv, mahv → ngaysinh, mahv → gioitinh , mahv → que , mahv → malop }

    1. b) quan hệ lop( malop, tenlop, maltrg, siso, magvcn )

    có tập PTH là F2 = {malop → tenlop, malop → maltrg, malop → siso, malop → magvcn}

    1. c) quan hệ khoa(mak, tenk, ngaytl,matrgk)

    có tập PTH là F3 = {mak → tenk, malop → ngaytl, malop → matrgk} d) quan hệ monhoc(mamh, tenmh, stlt, stth, mak)

    có tập PTH là F4 = {mamh → tenmh, mamh → stlt, mamh → stth, mamh→ mak} e) quan hệ giaovien( magv, hotengv, ngaysinh, gioitinh, hocvi, ngayvl, mak)

    có tập PTH là F5 = {magv → hotengv, magv → ngaysinh, magv → gioitinh , magv → hocvi , mahv → ngayvl, magv→ mak}

    1. f) quan hệ giangday (malop, mamh, magv, hocky, nam, ngaybd, ngaykt)

    có tập PTH là F6 = {(malop, mamh) → magv, (malop, mamh) → hocky, (malop, mamh) → nam, (malop, mamh) → ngaybd, (malop, mamh) → ngaykt }

    1. g) quan hệ kqthi( mahv, mamh, lanthi, ngaythi, diem) .

    có tập PTH là F7 = {(mahv, mamh, lanthi) → ngaythi, (mahv, mamh, lanthi) → diem}.

    Bước 1: kiểm tra dạng chuẩn 1NF

    Các thuộc tính của tất cả các quan hệ đều là nguyên tố.

    • CSDL đã đạt dạng chuẩn 1NF

    Bước 2: kiểm tra dạng chuẩn 1NF

    Xét các thuộc tính không khóa đều phụ thuộc hoàn toàn vào khóa chính.

    • CSDL đã đạt dạng chuẩn 2NF

    Bước 3: kiểm tra dạng chuẩn 1NF

    các thuộc tính không khóa thì phụ thuộc trực tiếp vào khóa chính.

    • CSDL đã đạt dạng chuẩn 3NF

    Bước 4: Kiểm tra dạng chuẩn 1NF

    Xét trên tất cả các quan hệ :tất cả các vế trái của phụ thuộc hàm đều là siêu khóa .

    • CSDL đã đạt dạng chuẩn BCNF. Kết luận: CSDL đã đạt dạng chuẩn BCNF.

     

    CHƯƠNG V: CÂU LỆNH SQL

    5.1 Các câu lệnh tạo bảng.

    1. tạo bảng hocvien( mahv, hotenhv, ngaysinh, gioitinh, que, malop ) create table hocvien

    ( mahv char(5) not null, hotenhv char(20), ngaysinh date, gioitinh char(3),

    que char(30), malop char(5), primary key (mahv),

    foreign key (malop) References lop);

    1. tạo bảng lop( malop, tenlop, maltrg, siso, magvcn )

    create table lop

    ( malop char(5) not null,

    tenlop char(20),

    maltrg char(5),

    siso integer,

    magvcn char(5),

    primary key (malop));

    1. tạo bảng khoa(mak, tenk, ngaytl,matrgk) create table khoa

    ( mak char(5) not null, tenk char(20), ngaytl date,

    maltrg char(5), primary key (mak));

    1. tạo bảng monhoc(mamh, tenmh, stlt, stth, mak) create table monhoc

    ( mamh char(5) not null, tenmh char(20),

    stlt integer, stth integer, mak char(5), primary key (mahv),

    foreign key (mak) References khoa);

    1. tạo bảng giaovien( magv, hotengv, ngaysinh, gioitinh, hocvi, ngayvl, mak) create table giaovien

    ( magv char(5) not null, hotengv char(20), ngaysinh date, gioitinh char(3), hocvi char(10), ngayvl date,

    mak char(5), primary key (magv),

    foreign key (mak) References khoa);

    1. tạo bảng giangday (malop, mamh, magv, hocky, nam, ngaybd, ngaykt) create table giangday

    ( malop char(5) not null, Mamh char(5) not null, magv char(5),

    hocky integer, nam integer, ngaybd date, ngaykt date,

    primary key (malop, mamh),

    foreign key (magv) References giaovien);

    1. tạo bảng kqthi( mahv, mamh, lanthi, ngaythi, diem) create table kqthi

    ( mahv char(5) not null, mamh char(5) not null, lanthi integer not null, ngaythi date,

    diem double,

    primary key (mahv, mamh, lanthi));

    5.2 các câu lệnh truy vấn dữ liệu SQL.

    1. in ra danh sách (mã học viên, họ tên, ngày sinh,giới tính, quê quán, tên lớp) lớp trưởng của các lớp.

    Select hocvien.*, tenlop From hocvien, lop

    Where (hocvien.mahv = lop.maltrg);

    1. in ra danh sách các học viên lớp “MMT”
    1. cho biết dang sách các học viên quê ở “Hà Nội” Select hocvien.*

    From hocvien

    Where que like “Hà Nội”;

    1. cho biết dang sách các giáo viên mới vào trường năm 2012.
    1. in ra danh sách các giáo viên thuộc khoa “CNTT” Select giaovien.*

    From giaovien

    Where mak in ( select mak

    From lop

    Where tenk like “CNTT”);

    1. cho biết khoa nào được thành lập sớm nhất. Select top 1, mak, tenk, ngaytl, matrgk

    From khoa

    Order by ngaytl asc;

    1. cho biết số môn học trực thuộc về từng khoa.
    1. tìm tên những môn học mà giáo viên có tên “Đặng Thị Thu Hiền” dạy trong kỳ 2 năm 2012

    Select tenmh

    From monhoc

    Where mamh in ( select mamh

    From giangday

    Where (hocky = 1) and (nam = 2012)

    and magv in ( select magv

    from giaovien

    where hotengv like”Đặng Thị Thu Hiền”));

    1. tìm những học viên thi lại lần 3 môn “giải tích”

    Select hocvien.*

    From hocvien

    Where mahv in ( select mahv

    From kqthi

    Where (lanthi = 3) and mamh in ( select mamh From monhoc

    Where tenmh like “giải tích”));

    1. tìm học viên (mã học viên, học tên) không phải thi lại môn nào

    Select mahv, hotenhv

    From hocvien

    Where mahv in ( select mahv

    From kqthi

    Where lanthi = 1);

    1. có bao nhiêu giáo viên có học vị là “TS” hoặc “PGS”.

    Select count(magv) as [soluong]

    From giaovien

    Where (hocvi like “TS”) or (hocvi like “PGS”)

    Group by mak;

    1. cho biết khoa nào có số lượng giáo viên đông nhất.

    Select khoa.*, count(magv)

    From khoa, giaovien

    Where giaovien.makhoa = khoa.makhoa

    Group by mak

    Having count(magv) >= all ( select count(magv)

    From giaovien

    Group by mak));

    1. cho biết tên môn học, tên lớp có thời gian kết thúc muộn nhất trong năm 2011.

    Select top 1,tenlop, tenmh, ngaykt

    From lop, monhoc, giangday

    Where (lop.malop = giangday.malop) and (giangday.mamh = monhoc.mamh)

    and (giangday.nam = 2011)

    order by ngaykt desc;

    1. cho biết giáo viên nào giảng dạy môn “CSDL” nhiều nhất. Select giaovien.*

    From giaovien

    Where magv in ( select magv, count(magv) From giangday, monhoc

    Where (giangday.mamh = monhoc.mamh) and (tenmh like “CSDL”) Group by mak

    Having count(magv) >= all ( select count(magv)

    1. tìm giáo viên không được phân công dạy bất kỳ môn nào. Select giaovien.*

    From giaovien

    Where magv not in ( select magv

    From giangday);

     

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình hoàn thành bài báo cáo em đã rút ra được nhiều kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng chuyên môn, phát hiện ra những thiếu sót trong kiến thức của mình.

    Mặc dù đã cố gắng để xây dựng và chuẩn hóa theo lý thuyết nhưng trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn, trong phạm vi kiến thức được học chắc chắn báo cáo của e sẽ có những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý và đánh giá của cô để em có thể hoàn thiện hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Đầu tư tài chính: Phân tích danh mục đầu tư của hai công ty Phân bón và hóa chất dầu khí và công ty cổ phần tập đoàn Masan

    Bài tập lớn môn Đầu tư tài chính: Phân tích danh mục đầu tư của hai công ty Phân bón và hóa chất dầu khí và công ty cổ phần tập đoàn Masan

    Bài tập lớn môn Đầu tư tài chính: Phân tích danh mục đầu tư của hai công ty Phân bón và hóa chất dầu khí và công ty cổ phần tập đoàn Masan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài Tập Lớn Thiết Kế Ô TÔ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Đầu tư tài chính: Phân tích danh mục đầu tư của hai công ty Phân bón và hóa chất dầu khí và công ty cổ phần tập đoàn Masan

    LỜI MỞ ĐẦU

    Khi bạn có trong tay một trăm triệu đồng chẵn (100000000 VNĐ) tiền nhàn rỗi bạn sẽ làm gì? Bạn không thể nào đem số tiền đó về nhà cất giữ bởi vì như vậy số tiền của bạn sẽ không bao giờ sinh lời mà còn có thể mang lại cho bạn và gia đình bạn nhiều nguy hiểm. Nếu như bạn là một người có đầu óc kinh tế bạn sẽ rất mong muốn số tiền của mình nhiều hơn số ban đầu rất nhiều lần. Như vậy, bạn có thể đem số tiền đó đi gửi ngân hàng để hưởng lãi nếu như bạn là một nhà đầu từ ngại rủi ro và mong muốn một sự đầu tư an toàn tuyệt đối. Nhưng như vậy bạn sẽ không bao giờ nhận một khoảng tiền lãi cao nhất có thể bởi vì rủi ro và lợi nhuận luôn vận động ngược chiều với nhau chỉ trừ khi bạn đầu tư vào thị trường chừng khoán, tuy là một hình thức đầu tư đầy rủi ro nhưng mang lại mức lợi nhuận rất cao.

    Để đạt được mức lợi nhuận cao nhất đòi hỏi người đầu tư cần phải nắm bắt được tình hình kinh tế vi mô, vĩ mô của thế giới cũng như trong nước. Đồng thời cũng cần có phương pháp đầu tư và sự hiểu biết căn bản về các quy luật tăng  giảm giá, lượng mua lượng bán trên thị trường chứng khoán mà có thể lợi chọn cho mình một danh mục đầu tư hiệu quả nhất.

    Vì vậy, với yêu cầu của bài tập lớn cùng với nền tảng kiến thức đã được học qua môn đầu tư tài chính, nhóm chúng tôi đứng trên vai trò là một nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán trong dài hạn với mục đích sẽ lựa chọn được đúng cổ phiếu mang lại mức lợi nhuận cao nhất và rủi ro thấp nhất trong tương lai.

    A.    Phân tích vĩ mô, phân tích ngành, phân tích doanh nghiệp

                                          I.            Phân tích vĩ mô

    1.1.          Kinh tế thế giới

    Bảng 1.1. Tình hình tăng trưởng thế giới giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Tăng trưởng kinh tế
    Các quốc gia Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
    Mỹ 2.8% 1.5% 1.8% 2.3% -3.0%
    Châu Âu 1.7% 1.6% 1.1% 0.2%
    Nhật Bản 3.9% 0.3% 2.2% 1.2%
    Trung Quốc 10.4% 9% 7.5% 8.2%

    Nguồn: Trung tâm công nghệ thông tin Công nghiệp và Thương mại, báo Tinkinhte.com. Báo cáo “Triển vọng kinh tế thế giới” do IMF công bố ngày 20/11/2011. Tin baomoi.com.

    Qua bảng số liệu có thể nhận thấy tốc độ tăng trưởng của một số nền kinh tế chủ lực của thế giới có sự biến động giảm trong giai đoạn 2010-2012.

    Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng nợ công và bước đầu lâm vào suy thoái kinh tế. Cuối năm 2012 đầu 2013 nền kinh tế thế giới đã có dấu hiệu khôi phục trở lại.

    Bảng 1.2. Tình hình lạm phát giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Chỉ tiêu lạm phát
    Quốc gia Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
    Trung Quốc 3.3% 5.3% 4% 2.4% (3 tháng đầu năm)
    Châu Âu 1.6% 2.7% 1.5% 1.8%
    Mỹ 1.6% 3.1% 2% 2.2%
    Nhật -0.7% -0.3% 1% 2%

    Nguồn: Theo data.worldbank.org

    Lạm phát đang trở thành mối lo hàng đầu của tất cả các quốc gia. Trong những năm vừa qua mức lạm phát đã giảm và kinh tế vĩ mô giữ được ở mức khá ổn định trong tầm ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu xét về trung và dài hạn thì kinh tế vĩ mô vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường.

    Bảng 1.3. Tình hình thất nghiệp thế giới năm 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Chỉ tiêu thất nghiệp
    Quốc gia Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
    Trung Quốc 4.1% 4.1% 4.1%  
    Châu Âu 10.1% 10.4% 10.9% 12.2%
    Mỹ 9.4% 8.5% 7.7% 7.6%
    Nhật 5.2% 4.4% 4.3% 4.2%

    Nguồn: Báo công an tp. Hồ Chí Minh, bài viết “Bóng ma thất nghiệp ám ảnh châu Âu”. Tạp chí cộng sản, bài viết “ILO: Tỷ lệ thất nghiệp trên toàn thế giới năm 2010 cao kỷ lục”. Báo tin tức- Tin thế giới, bài viết “Tỷ lệ thất nghiệp lên đến đỉnh điểm ở châu Âu”, tác giả: Thanh Hải. Đài tiếng nói Việt Nam VOV, bài viết “Tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản giảm”, tác giả: Vũ Anh Tuấn. Báo VINA CORP, bài viết: “Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ xuống thấp nhất 4 năm”, tác giả: Gafin. Bài viết “Mỹ: Tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất 4 năm”, ngày 5/4/2013, tác giả: Minh Anh. Báo Vietnam, bài viết: “Nhật bản giá tiêu dùng và tỷ lệ thất nghiệp giảm”.

    Trong những năm gần đây, Trung quốc và Nhật Bản được đánh giá là những nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới (dưới 5%). Châu Âu và mỹ còn ở mức cao tương đối. Nhưng nhìn chung ở các quốc gia này – là những quốc gia đứng đầu thế giới  về mọi mặt nhưng tình trạng thất nghiệp vẫn diễn ra.

    Bảng 1.4. Tình hình nợ công giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Chỉ tiêu nợ công
    Quốc gia Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
    Trung Quốc 3550 tỷ USD chiếm 59% GDP 2100 tỷ USD chiếm 25% GDP 4800 tỷ USD 1348 tỷ USD chiếm 15.9% GDP
    Châu Âu 80.3% GDP 90% GDP >70% GDP 60% GDP
    Mỹ 13530 tỷ USD chiếm 93% GDP 16400 tỷ USD 60.3% GDP 11677 tỷ USD chiếm 74.5% GDP
    Nhật Bản 468 tỷ USD chiếm 225% GDP (197%) > 12000 tỷ USD chiếm 200%GDP 12610 tỷ USD chiếm 219.9% GDP 12573 tỷ USD hoặc chiếm 224,7% GDP

    Nguồn: Báo gafin.vn, bài viết “Toàn cảnh nợ công thế giới tính đến tháng 9/2012”. Báo Vnexpress, bài viết “Mỗi người Việt Nam gánh nặng 800 USD nợ công”, tác giả: Hà Thu. Báo Nghiên cứu Nhật Bản (Center for Japanese Studies), bài viết “Tổng quan kinh tế Nhật Bản năm 2012”. Báo VnEconomy, bài viết “Nợ công của Trung Quốc là bao nhiêu”. Báo Vietnam, bài viết “Nợ công Âu- Mỹ tác động như thế nào tới Việt Nam”, tác giả: Đức Hùng.

    Trong giai đoạn 2010-2012 có thể thấy rằng tình hình nợ trên toàn thế giới có chiều hướng tăng. Nợ công của nhiều quốc gia đã vượt quá cao so với ngưỡng an toàn.

    Nhận xét chung:

    • Trong giai đoạn 2010-2012 có thể thấy rằng khủng hoảng nợ công và bất ổn ở châu Âu vẫn cản trở sự tăng trưởng toàn cầu. Các nền kinh tế mới nổi tiếp tục vững vàng trước thách thức, suy thoái rất có khả năng xảy ra ở khu vực đồng Euro, thị trường chứng khoán toàn cầu sẽ có một năm rất khó khăn, dù chứng khoán châu Á vẫn là điểm sáng. Đồng Euro và USD sẽ mất giá đáng kể khi các nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục tiền tệ.
    • Chính vì nguyên nhân này làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề, năm 2012 chứng kiến một loạt các công ty chứng khoán làm ăn thua lỗ, đứng trên bờ vực phá sản, giải thể. Theo số liệu quý 3/2012, đã có 56/100 công ty chứng khoán báo lỗ. Thị trường chứng khoán lao dốc, giá trị giao dịch sụt giảm khiến các công ty chứng khoán lâm vào cảnh thu không đủ bù chi. Đã có 3 công ty chứng khoán tự nguyện xin rời sân chơi, rút khỏi tư cách thành viên của hai sở HNX và HSX.

    1.2.          Kinh tế Việt Nam

    1. Tốc độ tăng trưởng GDP

    Bảng 1.5. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 và dự báo 2013

    Năm 2010 2011 2012 2013
    Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 6.78 5.89 5.03 5.2

    Nguồn: Báo Vneconomy, bài viết “Tăng trưởng GDP năm 2010 đạt 6,78%”, tác giả Anh Quân. Báo Vneconomy, bài viết “Tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 5,89%”, tác giả Anh Quân.

    Qua bảng số liệu thống kê trên, nhìn tổng quát tốc độ tăng trưởng GDP  qua các năm có xu hướng giảm, năm 2010 là 6.78% đến năm 2012 chỉ còn là 5.03%, tuy đây là chỉ tiêu không đạt so với kế hoạch đưa ra nhưng đó là một sự cố gắng, một thành tích của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện rất khó khăn của năm 2012 và trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

    1. Tỷ lệ lạm phát
    Năm 2010 2011 2012 2013
    Tỷ lệ lạm phát (%) 11.5 18.6 6.81 8 – 10

    Bảng 1.6. Tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Nguồn: BSC, Công ty cổ phần chứng khoán và Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, bài viết: “WB: Lạm phát năm 2010 của Việt Nam ở mức 10,5%”.

    Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam  sẽ dao động trong khoảng 8-10% trong 2013 bởi hiện tại thì những mặt hàng trong rổ tính giá đều tăng, mức tăng đáng kể là giá nhóm hàng lương thực, thực phẩm và chi phí y tế.

    1. Lãi suất cơ bản

    Bảng 1.7. Tình hình lãi suất của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Năm 2010 2011 2012 2013
    Lãi suất cơ bản (%) 8 9 8 Giảm 1%-2%

    Nguồn: Báo Vneconomy, bài viết: “Lãi suất cơ bản tiếp tục giữ mức 8%/năm”. Báo Vietnam, bài viết: “Từ 24/12, các mức lãi suất cơ bản giảm thêm 1%”.

    Qua bảng số liệu thống kê trên, lãi suất cơ bản của nước ta trong những năm gần đây nói chung là ở mức ổn định nhưng theo tình hình hiện tại thì sẽ có xu hướng giảm trong năm nay do bị ảnh hưởng bởi mức giảm của lạm phát.

    1. Tỷ lệ thất nghiệp

    Bảng 1.8. Tình hình thất nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 và dự báo 2013

    Năm 2010 2011 2012 2013
    Tỷ lệ thất nghiệp (%) 2.88 2.22 1.99 2%

    Nguồn: Báo Economy, bài viết: “Con số thất nghiệp ngoài dự đoán”.

    Báo VietFin.net, bài viết: “9 quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới”.

    Trong bối cảnh Hội nhập kinh tế thế giới, khi kinh tế thế giới bị khủng hoảng thì Việt nam cũng bị ảnh hưởng. Theo số liệu thống kê trên, ta thấy tỷ lệ thất nghiệp của nước ta trong những năm gần đây dao động từ 1.9 – 2.8%, tỷ lệ này được đánh giá là thấp và đưa nước ta vào top những nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới (dưới 5%).

    1. Tỷ giá hối đoái

    Ở Việt Nam, tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng.. Năm 2013 tiếp tục khó khăn với điểm thắt lớn nhất là thị trường bất động sản và nợ xấu tại hệ thống ngân hàng và DN.Bên cạnh đó, nếu không nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam, thì sẽ tác động tiêu cực đến nỗ lực hạ mặt bằng lãi suất của chính NHNN, làm tăng nguy cơ lạm phát sớm quay lại, sẽ là rủi ro tỷ giá tiềm ẩn cho năm 2013 và những năm tiếp theo.

    1. Cán cân thương mại

    Cán cân tổng thể của Việt Nam năm 2012 đã biến chuyển theo hướng tích cực: từ bị thâm hụt trong 2 năm 2009 (-8,4 tỷ USD), 2010 (-1,7 tỷ USD) sang thặng dư trong năm 2011 (2,5 tỷ USD) và tiếp tục thặng dư trong các quý năm 2012 – quý I: 4,28 tỷ USD; quý II: 2,17 tỷ USD; quý III: 4,2 tỷ USD. Dự đoán sắp tới, cán cân thanh toán tiến triển tích cực, nhưng còn chứa đựng nhiều yếu tố ảnh hưởng không tốt đến tính bền vững.

    1. Chính sách tài khoán

    Những năm gần đây, chính sách tài khóa cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của cơ quan hoạch định chính sách tài khóa, thâm hụt ngân sách đã giảm suốt từ năm 2009 đến nay (2009: -6,9%; 2010: -6,2%; 2011: -4,9%: 2012: -4,8%).

    1. Chính sách tiền tệ

    Năm 2011-2012 đã cho thấy một chính sách điều hành CSTT thận trọng của Chính phủ, các công cụ đã được sử dụng một cách linh hoạt hơn, cung tiền được kiểm soát chặt chẽ. Năm 2013 dù lạm phát đã được chặn đứng, lãi suất cho vay giảm nhanh và mạnh, tỷ giá ổn định, vị thế tiền đồng cũng đang được cải thiện tích cực, nhưng chính sách tiền tệ của Việt Nam vẫn đang đối mặt với những thách thức không nhỏ, trong năm nay chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ còn phải tập trung để xử lý vấn đề nợ xấu và giải bài toán làm sao để nền kinh tế hấp thụ được vốn.

    Qua các phân tích tình hình vĩ mô về nền kinh tế thế giới và nền kinh tế Việt Nam qua các chỉ tiêu trên, ta có thể thấy rằng trong những năm qua, nền kinh tế bị khủng hoảng biện hiện là lạm phát tăng cao, tăng trưởng kinh tế chậm, tình trạng thất nghiệp vẫn diễn ra ở hầu hết các nước, nợ công cao đặc biêt ở các nước Châu Âu; tình hình chung thế giới như vậy nền Việt Nam cũng không ngoài bối cảnh chung đó. Vì thế, trong nền kinh tế biến động như vậy, đứng vai trò là nhà đầu tư cần phải lựa chọn đầu tư vào các ngành ít chịu sự ảnh hưởng, bị tác động của nền kinh tế nhất.

    1. Phân tích ngành

    Theo trang Cophieu68 gồm có 20 ngành và số liệu được tổng hợp như sau:

    STT Nhóm ngành EPS ROA ROE Tỷ lệ Nợ/ Vốn CSH LN Sau Thuế
    Năm 2011 Năm 2012 cophieu68
    (năm 2013)
    Năm 2010 Năm 2011 cophieu68
    (năm 2013)
    Năm 2010 Năm 2011 cophieu68
    (năm 2013)
    Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2010 Năm 2011 Tỷ lệ
    1 Bất động sản 994.71 550.91 1064 10.00% 3.00% 2.00% 25.00% 7.00% 7.00% 130.00% 156.00% 128.45% 1969746 1441464 73.18
    2 Cao su 7815.54 6468.61 7482 21.00% 25.00% 18.00% 32.00% 39.00% 29.00% 53.00% 59.00% 49.60% 276459 562535 203.48
    3 Chứng khoán -710.66 328.57 819 3.00% -4.00% 3.00% 7.00% -8.00% 4.00% 138.00% 77.00% 140.11% 687793 -254363 -36.98
    4 Công nghệ- Viễn thông 2428.74 2111.72 2046 10.00% 7.00% 6.00% 24.00% 17.00% 11.00% 122.00% 125.00% 55.71% 469434 453322 96.57
    5 Dịch vụ- Du lịch 954.39 955.11 6519 9.00% 6.00% 20.00% 15.00% 13.00% 24.00% 69.00% 118.00% 160.09% 56299 66962 118.94
    6 Dược phẩm/ Y tế/ Hóa chất 4780.38 5346.18 5783 11.00% 10.00% 14.00% 25.00% 23.00% 25.00% 118.00% 142.00% 112.75% 212327 412151 194.11
    7 Giáo dục 1460.44 1528.82 1494 6.00% 4.00% 8.00% 10.00% 7.00% 12.00% 79.00% 76.00% 55.84% 11534 8794 76.24
    8 Khoáng sản 2447.76 1509.56 5217 10.00% 8.00% 16.00% 25.00% 21.00% 21.00% 143.00% 154.00% 233.48% 220715 295916 134.07
    9 Năng lượng điện/khí/gas 2514.65 3994.45 3137 11.00% 11.00% 12.00% 23.00% 23.00% 23.00% 95.00% 108.00% 187.03% 483180 644509 133.39
    10 Ngân hàng/ Bảo hiểm 2173.36 1730.97 1795 1.00% 1.00% 1.00% 17.00% 18.00% 13.00% 1114.00% 1110.00% 756.94% 3962506 5641357 142.37
    11 Ngành thép 1791.26 1221.45 1164 6.00% 4.00% 2.00% 18.00% 11.00% 6.00% 195.00% 164.86% 203.99% 639006 545272 85.33
    12 Nhóm dầu khí 4803.51 4499.02 3575 4.00% 4.00% 9.00% 18.00% 17.00% 14.00% 293.00% 314.00% 252.56% 1126654 1731532 153.69
    13 Nhựa- Bao bì 4622.44 3830.64 5700 15.00% 12.00% 15.00% 26.00% 21.00% 23.00% 75.00% 92.00% 82.75% 201431 221483 109.95
    14 Sản xuất- Kinh doanh 3251.03 2188.95 3155 7.00% 4.00% 8.00% 14.00% 8.00% 13.00% 89.00% 108.00% 162.45% 354548 320938 90.52
    15 Thực phẩm 4613.41 3422.54 5698 20.00% 14.00% 16.00% 33.00% 24.00% 17.00% 67.00% 64.00% 101.31% 1697134 2022374 119.16
    16 Thương mại 2195.05 1756.80 1554 6.00% 5.00% 2.00% 15.00% 13.00% 7.00% 159.00% 167.00% 161.43% 210772 280714 133.18
    17 Thủy sản 4613.41 3422.54 3667 7.00% 8.00% 6.00% 16.00% 21.00% 12.00% 147.00% 175.00% 151.84% 264847 396436 149.68
    18 Vận tải/ Cảng/Taxi 1539.84 2613.25 2939 4.00% 3.00% 8.00% 10.00% 7.00% 12.00% 141.00% 124.08% 158.49% 283532 315002 111.1
    19 Vật liệu xây dựng 1134.76 933.34 1319 4.00% 2.00% 5.00% 13.00% 6.00% 7.00% 259.00% 306.00% 81.30% 349687 194448 55.61
    20 Xây dựng 1172.52 534.86 1236 4.00% 2.00% 2.00% 20.00% 10.00% 4.00% 330.00% 347.00% 224.33% 864454 830105 96.03

    Bảng 2.1. Phân tích các ngành ở Việt Nam

    Nguồn: Cophieu68.com, nhóm ngành và các chỉ số cơ bản. TVSI, trang chứng khoán Tân Việt, so sánh ngành. Trang chứng khoán Phương Nam (Phuong Nam securities), chỉ số tài chính cơ bản.

    Dựa vào bảng phân tích ngành ở trên cùng với sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới tác động đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và tác động đến các ngành tại Việt Nam nói riêng. Qua phân tích các chỉ số trên, nhóm chúng tôi quyết  định chọn 2 ngành đó là ngành dầu khí và ngành thực phẩm. Lý do chọn ngành:

    • Ngành dầu khí

    Hiện tại xăng dầu vẫn tiếp tục là nguồn nhiêu liệu có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng và sự bình ổn của các nền kinh tế nói chung và an ninh năng lượng nói riêng. Đối với cuộc sống hàng ngày, xăng dầu vẫn là nguồn nguyên liệu thiết yếu chưa thể thay thế. Do đó, ngành dầu khí luôn là ngành có tiềm năng phát triển ổn định.

           Lợi nhuận sau thuế năm 2010 nằm trong nhóm 4 ngành cao nhất chỉ sau ngành ngân hàng/ bảo hiểm, bất động sản và ngành thực phẩm,  năm 2011 tăng so với 2010 là 53.69% và vươn lên đứng vị trí thứ 3.  Chỉ số EPS của ngành cao nhưng năm 2012 giảm so với năm 2011 là 6.34% tương ứng với mức 4803 đ/1cp (năm 2012) và 4499 đ/1cp (năm 2011), đứng thứ 2 sau ngành cao su. Chỉ số ROA ổn định ở mức 4% trong 2 năm 2010, 2011và có xu hướng tăng trong tương lai (cophieu68 hiện nay là 9%).  Nhưng chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của ngành nằm trong top 10 có tỷ lệ cao (đứng vị trí số 10) ở mức trung bình 18% (năm 2010) và 17% (năm 2011). Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu ở mức cao đứng thứ 3 trong 20 ngành, biến động tăng giảm không ổn định, năm cao nhất là 2011 với mức là 314%, năm thấp nhất là 2012 ở mức là 252.56% => tuy tỷ số nợ/ VCSH cao nhưng nhìn chung ngành có xu hướng phát triển, khá ổn định và có tiềm năng trong tương lai, nội tại ngành tốt.

    Hơn thế nữa, các công ty trong ngành đều có lợi nhuận tương đối cao, tốc độ tăng trưởng doanh thu ổn định, đặc biệt là sau khi thoát khỏi tình trạng khủng hoảng nhưng so với các  cổ phiếu của các ngành khác như ngành Ngân hàng, ngành điện, ngành bất động sản…thì cổ phiếu của ngành dịch vụ xăng dầu không phải là sự lựa chọn hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thích mạo hiểm trên thị trường chứng khoán. Nhưng trên khía cạnh của nhà đầu tư ngại rủi ro thì nên đầu tư vào ngành này.

    • Nhóm ngành thực phẩm

    Thực phẩm là một trong những ngành công nghiệp ít chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nhất. Đây là một trong những hàng hóa thiết yếu của xã hội, có sự ổn định cao về nhu cầu. 

           Mức sống của người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi phát triển ngành thực phẩm. Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng có mức sống nâng cao, quan tâm nhiều hơn về vệ sinh an toàn thực phẩm, có nhu cầu cao đối với các thức ăn ngon, chất lượng. Đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dược Việt Nam.

    Lợi nhuận sau thuế năm 2010 nằm trong nhóm 4 ngành cao nhất chỉ sau ngành ngân hàng/ bảo hiểm, bất động sản,  năm 2011 tăng so với 2010 là 19.16% và vươn lên đứng vị trí thứ 2.  Chỉ số EPS của ngành tương đối cao nhưng năm 2012 giảm so với năm 2011 là 25.8% tương ứng với mức 3422 đ/1cp (năm 2012) và 4613 đ/1cp (năm 2011), đứng vị trí 5 trong 20 ngành và có xu hướng tăng trong tương lai (cophieu68 hiện nay là 5698). Chỉ số ROA cao năm 2010 đứng thứ 2 sau ngành cao su nhưng giảm trong giai đoạn 2010-2011 từ 20% xuống 14% và có xu hướng tăng (cophieu68 hiện nay là 16%). Còn chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của ngành rất cao, đứng vị trí năm 2010 và giảm từ 33% xuống 24% (năm 2011) dẫn đến đứng sau ngành cao su. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu ở mức thấp đứng thứ 19 trong 20 ngành, trước ngành cao sư năm 2010, có xu hướng biến động tăng giảm không ổn định, cao nhất ở năm 2012 là 162.45%  và thấp nhất năm 2010 là 89% => tuy ngành có lợi nhuận trên VCSH ngày càng giảm, và tỷ lệ nợ có sự biến động nhưng lợi nhuận sau thuế ngành tương đối cao và có xu hướng tăng, nội tại ngành khá tốt.

    Hơn thế nữa, chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm ngành thực phẩm bao gồm các văn bản liên quan đến các vấn đề như Chính sách của nhà nước về lĩnh vực dược, quản lý của nhà nước về giá thuốc, điều kiện kinh doanh thuốc, quản lý thuốc thuộc danh mục phải kiểm soát đặc biệt, tiêu chuẩn chất lượng thuốc, cơ sở kiểm nghiệm thuốc…Những quy định này sẽ giúp tạo điều kiện cho các công ty dược nhỏ lẻ Việt Nam sáp nhập hoặc mua lại, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nâng cao, tập trung phát triển theo chiều sâu để có thể cạnh tranh với các công ty đa quốc gia.

    Tóm lại hai nhóm ngành được phân tích và đã được lựa chọn trên, trong tương lai có triển vọng phát triển cao. Nhưng khi đầu tư trên thị trường chứng khoán là một nhà đầu tư chuyên nghiệp ta không thể nào đầu tư được hết tất cả các cổ phiếu của các doanh nghiệp liên quan được.  Bởi như vậy dễ gặp rủi ro hệ thống trong viêc đầu tư. Vì thế, trong từng ngành đã lựa chọn ta cần phải đi phân tích và lựa chọn mã chứng khoán của các chủ thể công ty nhất định, mà các công ty được lựa chọn phải có những mặt vượt trội.

                                    III.            Phân tích công ty

    Như đã nói ở trên,  nhóm đã quyết định lựa chọn hai công ty để đầu tư đó là: tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí và công ty cổ phần tập đoàn Ma San. Vì theo nhìn nhận thực tế, nhóm thấy hai công ty này rất có triển vọng để đầu tư. Những phân tích của từng công ty dưới đây sẽ làm rõ điều đó.

    3.1.          Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí

    • Giới thiệu về tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí

    Ngày 15/05/2008, Công ty Phân đạm và Hóa chất Dầu khí chính thức chuyển đổi thành Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – Công ty Cổ phần (Tên viết bằng Tiếng Anh là PetroVietnam Fertilizer and Chemicals Corporation và tên viết tắt là PVFCCo) theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/05/2008. Vốn điều lệ: 3.800.000.000.000 đồng (Ba ngàn tám trăm tỉ đồng).

    • Phân tích tài chính công ty
      • Các chỉ số tài chính của công ty
    Chỉ tiêu tài chính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
    Khả năng thanh toán      
    Khả năng thanh toán hiện hành 522% 699% 516%
    Khả năng thanh toán nhanh 450% 565% 432%
    Hiệu quả tài sản      
    Vòng quay hàng tồn kho 683% 567% 772%
    Vòng quay tài sản cố định 130% 158% 201%
    Vòng quay tổng tài sản 96% 110% 134%
    Chỉ tiêu sinh lợi      
    Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 26% 34% 23%
    Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản 25% 38% 31%
    Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH 29% 44% 36%
    • Dựa vào các chỉ số về khả năng thanh toán của công ty cho ta thấy tình hình thanh toán chung của công ty với các chỉ số thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh (sau khi trừ đi hàng tồn kho). Tuy các chỉ số này tăng ở năm 2011 nhưng đến năm 2012 lại có xu hướng giảm với tốc độ giảm qua 2 năm 2011,2012 của khả năng thanh toán hiện hành là -26.2%, khả năng thanh toán nhanh là -23.5%. Nhưng so với tình hình khó khăn chung của nền kinh tế vào năm 2012 thì công ty không thể tránh khỏi ảnh hưởng, tuy nhiên ta vẫn thấy khả năng thanh toán của công ty là khá tốt.
    • Hiệu quả sử dụng tài sản của công ty qua các năm đều tăng cho thấy công ty đã sử dụng hiệu quả tài sản.
    • Nhìn vào chỉ tiêu sinh lợi cho ta thấy doanh nghiệp đang hoạt động rất tốt và lãi ổn định. Khi so sánh các chỉ số này với ngành thì chỉ số sinh lợi của công ty cao hơn rất nhiều. Tuy vào năm 2012 chỉ tiêu này có giảm nhưng cũng không đáng kể lắm.
      • Phân tích Dupont (ROE)
    Phân tích Dupont (ROE) DPM PVD
    LNST/Doanh thu thuần 22.7% 11.1%
    Doanh thu thuần/tổng tài sản 1.259 0.624
    Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu 1.181 2.720

    Dựa vào số liệu ở bảng cho ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản của công ty hóa chất và dầu khí tốt hơn công ty cổ phần khoan và dịch vụ khoan dầu khí. Công ty đã sử dụng hợp lí và tiết kiệm về cơ cấu tài sản, tăng quy mô về doanh thu thuần của công ty. Chỉ số tổng tài sản trên VCSH cho thấy trạng thái sử dụng nợ của công ty ít hơn công ty cổ phần khoan và dịch vụ khoan dầu khí..

    Phân tích SWOT công ty

    • Điểm mạnh: Hiện nay, Thương hiệu Đạm Phú Mỹ đã khẳng định được vai trò và vị trí dẫn đầu trong ngành phân bốn Việt Nam. Thị phần rộng lớn 50% thị phần phân bón trong nước.
    • Công nghệ: Đây là nhà máy phân bón lớn và hiện đại nhất của Việt Nam cũng như trong khu vực.
    • Điểm yếu: Giá bán sản phẩm phủ thuộc nhiều vào giá dầu và phân bón trên thế giới. Trình độ đội ngủ nhân viên kinh doanh còn thiếu kinh nghiệm, chưa tiên liệu được các sự cố có thể xảy ra trên thị trường. Chưa xây dựng được hệ thống kho bãi vững chắc tại các khu vực tiêu thụ trọng điểm.
    • Cơ hội: Hằng năm, công ty thu về một lượng lớn nguồn tiền mặt( khoảng 2.5 nghìn tỷ đồng). Đây sẽ là nguồn lực lớn giúp công ty đẩy mạnh hoạt động đầu tư đa dạng hóa sản phẩm và đầu tư sản lượng sản xuất.

    3.2.          Công ty cổ phần tập đoàn Ma San

    • Giới thiệu về công ty cổ phần tập đoàn Ma San

    Công ty Cổ phần Tập đoàn Ma San (Masan Group) là công ty quản lý vốn đầu tư và tài sản, chủ yếu là các cổ phần của những công ty khác, hiện nay bao gồm cổ phần của Công ty Cổ phần Thực phẩm Ma San (Masan Food) và Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank).

    Tiền thân Masan Group là Công ty Cổ phần Hàng hải Ma San (MSC) được thành lập tháng 11/2004 với vốn điều lệ ban đầu là 3,2 tỷ đồng. Tháng 8/2009, MSC đổi tên thành Công ty Cổ phần Tập đoàn Ma San (Masan Group) và thực hiện tái cấu trúc thông qua các đợt phát hành riêng lẻ. Đến tháng 10/2009, Masan Group hoàn tất tăng vốn lên 4.763.998.200.000 đồng.

    • Phân tích tài chính công ty cổ phần tập đoàn Ma San
      • Các chỉ số tài chính của công ty
    Chỉ tiêu tài chính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
    Khả năng thanh toán      
    Khả năng thanh toán hiện hành 143% 346% 178%
    Khả năng thanh toán nhanh 134% 329% 167%
    Hiệu quả tài sản      
    Vòng quay hàng tồn kho 1305% 885% 1050%
    Vòng quay tài sản cố định 53% 38% 41%
    Vòng quay tổng tài sản 29% 26% 29%
    Chỉ tiêu sinh lợi      
    Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 47% 35% 19%
    Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản 6% 9% 6%
    Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH 34% 19% 14%

    Theo như các số liệu bảng trên cho ta thấy:

    • Khả năng thanh toán của công ty ( bao gồm khả năng thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh) tăng ở năm 2011 và giảm ở năm 2012.Tuy nhiên khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp vẫn đang trong tình trạng tốt.
    • Hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trong năm 2012 không được cao như năm 2011 và 2010, nhưng nhìn chung với bối cảnh nền kinh tế hiện nay thì công ty vẫn giữ vững vị trí của mình trên thị trường. Chỉ số vòng quay tổng tài sản và vòng quay tài sản cố định đã cho thấy công ty sử dụng tài sản rất hiệu quả.
    • Chỉ số sinh lợi của công ty qua các năm tăng có xu hướng giảm qua các năm, giảm nhẹ ở năm 2011 với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu giảm 12%, giảm mạnh vào năm 2012 với tỷ lệ giảm là 45,7%. Năm 2012 là năm kinh tế khó khăn chung cho tất cả các ngành và không ngoại trừ MASAN.Tuy khó khăn nhưng công ty vẫn hoạt động có lãi và ổn định.
      • Phân tích dupont
      MSN KDC
    LNST/Doanh thu thuần 13% 8.30%
    Doanh thu thuần/tổng tài sản 0.286 0.778
    Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu 2.782 1.373

    Theo bảng trên cho ta thấy công ty cổ phần tập đoàn Ma san đã  điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động mình, hiệu suất sử dụng tài sản cao , nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản. Và chỉ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu cho thấy tình trạng sử dụng nợ của công ty cao so với công ty cổ phần bánh kẹo Kinh Đô. Vì ở đây công ty có kinh doanh ở mảng ngân hàng nên việc sử dụng nợ của công ty là một điều đương nhiên.

    Trong 10 doanh nghiêp đại diện cho các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, với mức lợi nhuận đáng ngưỡng mộ trong năm kinh tế khó khăn 2012 trên sàn chứng khoán. MASAN với mã chứng khoán MSN là công ty đứng thứ 4 với mức lợi nhuận là 2.018 tỷ đồng.

    Hình 3.1. 10 Doanh nghiệp đạt lợi nhuận sau thuế cao nhất

    Đơn vị: tỷ đồng

    Nguồn: Theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2012 do VnExpress.net và đối tác cung cấp dữ liệu VNDirect tổng hợp từ các công ty (trừ ngân hàng) niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và TP HCM.

    • Phân tích SWOT công ty
    • Điểm mạnh:
    • Nguồn lực và năng lực mạnh
    • Có khác biệt về chất lượng so với đối thủ cạnh tranh
    • Chiếm thị phần lớn
    • Được sự ủng hộ của khách hàng
    • Điểm yếu:
    • Nguồn nguyên vật liệu đang thiếu hụt do nhu cầu mở rộng tăng nhanh
    • Nhân sự có biến động thương xuyên
    • Cơ hội:
    • Thị trường tiêu thụ tăng nhanh
    • Hội nhập mang lại nhiều cơ hội mở rộng quy mô và thị phần
    • Được sự ủng hộ của cơ quan chính quyền
    • Thách thức:
    • Đối thủ canh tranh ngày càng nhiều
    • Nhu cầu an toàn thực phẩm cao
    • Trách nhiệm bảo vệ môi trường, xã hội gia tăng
    • Giá cả biến động theo chiều hướng gia tăng mạnh
    • Mức chênh lệch giá cao so với các sản phẩm nhập khẩu

    Qua những phân tích cơ bản trên nhóm đã có sự lựa chọn của mình, đó là đầu tư vào hai mã chứng khoán của hai công ty trên. Mã chứng khoán DPM của tổng công ty phân bón và dầu khí và mã chứng khoán MSN  của tập đoàn Masan.

    B.     Giải quyết các câu hỏi bài tập liên quan đến hai cổ phiếu đã chọn

    Câu 2: Sử dụng phương pháp kỹ thuật để dự báo giá của hai cổ phiếu

    1.     Mã chứng khoán DPM

    Biểu đồ 3.1. Biểu đồ Stochastic – DPM

    Nguồn: cophieu68.com

    Dựa vào biểu đồ có thể thấy vào đầu tháng 1/2013 đường fast stochastic nằm trong khoảng 80-100 đến cuối tháng 1/2013 thì đường này có  xu hướng giảm dưới mức 80 và đến cuối tháng 2/2013 thì đường fast stochastic giảm xuống mức 20 và đường low stochastic đã cân bằng tại mức 20 dẫn đến thị trường tăng tín hiệu bán và giá giảm.

    Biểu đồ 3.2. Biểu đồ MACD – DPM

    Nguồn: cophieu68.com

    Trong tháng 1/2013 đường MACD nằm trên đường tín hiệu (EMA) đến cuối tháng 1 cắt đường EMA và đến tháng 2/2013 nằm dưới đường tín hiệu và trên mức 0 cho thấy xu hướng tăng đã hết và lượng bán đã tăng dần lên, như vậy tương lai giá sẽ giảm.

    Biểu đồ 3.3. Biểu đồ giá – DPM

    Nguồn: cophieu68.com

    Nhìn vào biểu đồ hình nến trên, vào đầu năm 2013, chứng khoán DPM đã tăng giá mạnh nhưng đến tháng 4/2013 thì giá cổ phiếu có sự tăng giảm khá đều nhau. Quan sát đường trung bình đơn giản, từ đầu tháng 1/2013 đến cuối tháng 2/2103, SMA(20) vượt lên đường SMA(50) và đến đầu tháng 3/2013 thì có xu hướng vượt xuống cho đến gần cuối tháng 3 và vượt lên lại vào tháng 4, đến lúc này SMA(20) vượt lên SMA(50) cho thấy cổ phiếu có xu hướng tăng trong dài hạn.

    Tóm lại, qua những phân tích kỹ thuật trên, có thể dự báo giá cổ phiếu DPM sẽ giảm trong ngắn hạn nhưng sau đó sẽ giữ mức ổn định và có xu hướng tăng trong tương lai.

    2.     Mã chứng khoán MSN

    Biểu đồ 3.4. Biểu đồ Stochastic – MSN

    Nguồn: cophieu68.com

    Dựa vào biểu đồ có thể thấy vào đầu tháng 1/2013 đường fast stochastic nằm trong khoảng 80-100 đến cuối tháng 1/2013 thì đường này có  xu hướng giảm dưới mức 50  và tăng lên lại ở mức trên 80 và đến tháng 2/2013 thì đường fast stochastic  có sự biến động tăng giảm trong vùng có mức 25 -75, đây là vùng hết sức nguy hiểm để thực hiện mua và bán vì ở tại những vùng này thường không có nhiều thông tin hỗ trợ cho nhà đầu tư. Vì vậy thị trường lúc này  có vẻ đang ở quá trình thăm dò, chưa có  xu hướng nào nổi bật.

    Biểu đồ 3.5. Biểu đồ MACD – MSN

    Nguồn: cophieu68.com

    Trong quá khứ, Đường MACD có dấu hiệu cắt đường tín hiệu, và  luôn nằm dưới đường tín hiệu cho thấy thị trường đang có tín hiệu mua và chứng khoán đang giảm giá. Đường MACD luôn nằm dưới đường zero, nó vượt lên đường tín hiệu và có thời gian chạm mức mốc zero sau đó giảm xuống, trong tương lai chúng ta có thể kì vọng giá cô phiếu sẽ giảm, tín hiệu mua xuất hiện, và lượng bán sẽ tăng.

    Biểu đồ 3.6. Biểu đồ giá – MSN

    Nguồn: cophieu68.com

    Nhìn vào biểu đồ hình nến trên có thể thấy những tháng đầu năm 2013, chứng khoán MSN có sự tăng giảm giá khá đều nhau, nhưng gần cuối tháng 4/2013 có sự sụt giảm giá mạnh trong một số phiên giao dịch. Quan sát đường trung bình đơn giản, những tháng đầu từ 1/2013 đến gần cuối tháng 4/2103, thì đường SMA(20) đều vượt lên đường SMA(50) đây là tín hiệu mua chứng tỏ thị trường có xu hướng tăng trong dài hạn.

    Tóm lại, qua những phân tích kỹ thuật trên, có thể dự báo giá cổ phiếu MSN sẽ giảm trong ngắn hạn và  giữ mức ổn định đồng thời  có xu hướng tăng trong dài hạn.

    Câu 3: Tính tỷ suất lợi tức hàng ngày của chứng khoán

    Cách tính: Tính tỷ suất lợi tức hàng ngày của từng chứng khoán.

    Trong đó: pt là giá đóng cửa hằng ngày của từng chứng khoán

    Chú ý: chỉ tính tới ngày giao dịch15/3/2013. Dưới đây là kết quả ngày của tháng 3/2013. Các ngày sau tính tương tự.

    1. Tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí (Mã CK: DPM)
    Ngày Giá đóng cửa Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1ti Ngày Giá đóng cửa Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1t
    18/3/2013 45   8/3/2013 44 0.03864
    15/3/2013 45 0 7/3/2013 43 0.02326
    14/3/2013 44.9 0.00223 6/3/2013 42.8 0.00467
    13/3/2013 43.6 0.02982 5/3/2013 41 0.0439
    12/3/2013 45 -0.03111 4/3/2013 41.7 -0.01679
    11/3/2013 45.7 -0.01532 1/3/2013 42.6 -0.02113
    1. Công ty cổ phần tập đoàn Ma San (Mã CK MSN)
    Ngày Giá đóng cửa Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1t Ngày Giá đóng cửa Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1t
    18/3/2013 119   8/3/2013 115 0.0087
    15/3/2013 123 -0.03252 7/3/2013 112 0.02679
    14/3/2013 117 0.05128 6/3/2013 115 -0.02609
    13/3/2013 117 0 5/3/2013 114 0.00877
    12/3/2013 117 0 4/3/2013 112 -0.0087
    11/3/2013 116 0.00862 1/3/2013 114 0.00877

    Câu 4: Tính tỷ suất lợi tức trung bình cộng và độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức từng loại chứng khoán từ dữ liệu quá khứ

    Cách tính:

    • Bước 1: Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(Ri) bằng trung bình của tổng tỷ suất lợi tức hằng ngày rit.
    • Bước 2: Tính phương sai si2

    Trong đó: si2           : Phương sai của chuỗi dữ liệu quá khứ

    E(Ri)       : Tỷ suất lợi tức hằng ngày

    E(R)        : Tỷ suất lợi tức trung bình cộng qua các thời kỳ

    n              : Số thời kỳ

    • Bước 3:Tính độ lệch chuẩn si
      CK DPM CK MSN
    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(R­i) 0.00943 0.04259
    Phương sai si2 0.014021161 0.020741503
    Độ lệch chuẩn si 0.118410985 0.14401907

    Câu 5: Ước lượng tỷ suất lợi tức kỳ vọng và độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức của hai chứng khoán.

    Cách tính:

    • Bước 1: Tính tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng của hai chứng khoán E(Rp)

    Trong đó: E(Rp)      : Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng của hai chứng khoán

    Wi           : Tỷ trọng của chứng khoán i

    E(Ri)       : Tỷ suất lợi tức trung bình cộng của chứng khoán i

    • Bước 2: Tính phương sai của hai chứng khoán s122
    • Bước 3: Tính độ lệch chuẩn của hai chứng khoán s12
      CK DPM CK MSN
    Tỷ trọng của CK i (Wi) 0.65 0.35
    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(R­i) 0.00943 0.04259
    Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng E(Rp) 0.021036
    Phương sai s122 0.0002501557
    Độ lệch chuẩn s12 0.015816312

    Câu 6: Tình hiệp phương sai và hệ số tương quan giữa hai chứng khoán

    Cách tính:

    • Bước 1: Tính hiệp phương sai giữa hai chứng khoán Cov(R1,R2)

    Trong đó: E(R1i)     : Tỷ suất lợi tức hằng ngày của chứng khoán 1.

    E(R2i)       : Tỷ suất lợi tức hằng ngày của chứng khoán 2.

    E(R1), E(R2): Tỷ suất lợi tức trung bình cộng của CK 1,2.

    N              : Số thời kỳ

    • Bước 2: Tính hệ số tương quan giữa hai chứng khoán r12

    Trong đó: r12          : Hệ số tương quan giữa hai chứng khoán.

    s1, s2        : độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức của CK 1,2.

    Hiệp phương sai Cov(R1,R­2) 0.0067090390
    Hệ số tương quan r12 0.393412552

    Câu 7: Vẽ đường phương sai bé nhất và chỉ rõ đường biên hiệu quả.

    Cách vẽ:

    • Bước 1: Lấy các dữ liệu E(R1), E(R2), s1, s2 từ các câu trên.
    • Bước 2: Chọn E(Ri) nhỏ nhất rồi cho E(Rp) chạy từ E(Ri) nhỏ đến E(Ri) lớn.
    • Bước 3: Tính tỷ trọng Wi của từng cổ phiếu, và độ lệch chuẩn sp.

    Þ

    • Bước 4: Vẽ đường biên phương sai bé nhất trên công cụ vẽ của Microsoft Excel với trục Ox là các giá trị của độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư sp và trục Oy là các giá trị của tỷ suất lợi tức kỳ vọng của danh mục đầu tư E(Rp).
    • Bước 5: Xác định danh mục phương sai bé nhất.

    Þ

    Phần trên của đường biên phương sai nhỏ nhất thể hiển cho các danh mục đầu tư hiệu quả được gọi là đường biên hiệu quả.

    Danh mục phương sai bé nhất

      CK DPM CK MSN
    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(R­i) 0.00943 0.04259
    Độ lệch chuẩn si 0.118410985 0.14401907
    Hiệp phương sai Cov(R1,R2) 0.006709039
    Tỷ trọng Wi mỗi cổ phiếu 0.6574975 0.342575025
    Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng E(Rp) 0.020789788
    Độ lệch chuẩn sp 0.1073161

    Câu 8: Nếu bạn có 100 triệu, bạn sẽ đầu tư như thế nào, giả định giá cổ phiếu là giá đóng cửa ngày 16/03/2013? Giả sử tồn tại tài sản phi rủi ro với tỷ suất lợi tức 9%/năm.

    Giá đóng cửa ngày tại 18/3/2013 của 2 chứng khoán đã chọn:

    • Chứng khoán công ty DPM: 45000 đ/1cp.
    • Chứng khoán công ty MSN: 119000 đ/1cp.

    Theo kết quả của các câu trên và giả thiết ta có:

      CK DPM CK MSN
    Tỷ trọng của CK i (Wi) 0.65 0.35
    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(R­i) 0.00943 0.04259
    Phương sai si2 0.014021161 0.020741503
    Độ lệch chuẩn si 0.118410985 0.14401907
    Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng E(Rp) 0.021036
    Hệ số tương quan r12 0.393412552
    Phương sai sp2 0.011517388
    Độ lệch chuẩn sp 0.107319092
    Hệ số ngại rủi ro A 2
    Vốn đầu tư 100000000
    Tỷ suất lợi tức tài sản phi rủi ro Rf(%/năm) 9%

    Các thông số danh mục đầu tư rủi ro

    Tỷ trọng y để tối đa hóa hàm hữu dụng   0.587633262
    Tỷ suất lợi tức trên DMĐT E(Rc)   0.015454204
    Độ lệch chuẩn sc   0.063064268
    Hệ số Sharp Sp   0.126128536
    Giá trị hữu dụng U   0.020920826

    Tỷ trọng tối ưu của các cổ phiếu trong danh mục rủi ro

    Cách tính:

    • Bước 1: Tính tỷ trọng tài sản phi rủi ro bằng cách lấy 1- tỷ trọng tài sản rủi ro y
    • Bước 2: Tính tỷ trọng từng loại chứng khoán bằng cách lấy Wi* Tỷ trọng tài sản rủi ro y.
    • Bước 3: Tính số tiền đầu tư vào từng loại tài sản.
    • Bước 4: Tính số lượng cổ phiếu của mỗi chứng khoán dự định sẽ đầu tư.
      Tỷ trọng Số tiền (VNĐ) Số lượng cổ phiếu
    Tài sản phi rủi ro 0.402 40200000  
    Tài sản rủi ro 0.598 59800000  
    DPM 0.36 36000000 800
    MSN 0.238 23800000 200

    Câu 9: Chứng minh rằng danh mục đầu tư rủi ro 2 chứng khoán đã chọn tốt hơn danh mục thị trường (VNindex).

    • Bước 1: Tính tỷ suất lợi tức hàng ngày của từng chứng khoán.

    Trong đó: pt là giá đóng cửa hàng ngày của thị trường chứng khoán VNINDEX.

    Chú ý: chỉ tính tới ngày giao dịch15/3/2013. Dưới đây là kết quả ngày của tháng 3/2013. Các ngày sau tính tương tự.

    • Bước 2: Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(RM) bằng trung bình của tổng tỷ suất lợi tức hằng ngày rit.
    • Bước 3: Tính phương sai sM2

    Trong đó: sM2         : Phương sai của tỷ suất sinh lợi thị trường VNINDEX.

    E(RMi)     : Tỷ suất lợi tức hằng ngày.

    E(RM)     : Tỷ suất lợi tức trung bình cộng qua các thời kỳ

    n              : Số thời kỳ

    • Bước 4:Tính độ lệch chuẩn sM
    • Bước 5: Tính hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi tức chứng khoán i và tỷ suất lợi tức của thị trường VNINDEX Cov(Ri,RM)

    Trong đó: E(Rii)      : Tỷ suất lợi tức hàng ngày của chứng khoán i.

    E(RMi)      : Tỷ suất lợi tức hàng tháng của chứng khoán thị trường VNINDEX.

    E(Ri), E(RM): Tỷ suất lợi tức trung bình cộng của CK i,thị trường VNINDEX.

    n               : Số thời kỳ

    • Bước 6: Tính hệ số beta của chứng khoán i bi

    Trong đó: bi             : Rủi ro hệ thống (beta) của chứng khoán i

    Cov(Ri, RM): Hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi tức chứng khoán i và tỷ suất lợi tức của thị trường VNINDEX.

    sM2          : Phương sai của tỷ suất sinh lợi thị trường VNINDEX.

    Ngày Giá đóng cửa Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1ti Ngày Giá đóng cửa Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1t
    18/3/2013 479.1   8/3/2013 470.7 0.01232
    15/3/2013 481.4 -0.00478 7/3/2013 466.6 0.00879
    14/3/2013 474.6 0.01433 6/3/2013 471.1 -0.00955
    13/3/2013 473.2 0.00296 5/3/2013 462.1 0.01948
    12/3/2013 475.3 -0.00442 4/3/2013 468.7 -0.01498
    11/3/2013 476.5 -0.00252 1/3/2013 477.1 -0.01761

     

    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(RM) -0.00017
    Phương sai sM2 0.005078986
    Độ lệch chuẩn sM 0.071267008
    Hiệp phương sai Cov(R1, RM) 0.006667856
    Hiệp phương sai Cov(R2, RM) 0.005909282
    Hệ số beta b1(rủi ro hệ thống CK 1) 1.312831978
    Hệ số beta b2(rủi ro hệ thống CK 2) 1.16347672

    Câu 10: Giả sử bạn là một chuyên viên chứng khoán. Nếu khách hàng của bạn đầu tư vào danh mục 2 chứng khoán của bạn thì phải trả mức phí tính theo tỷ lệ % trên số tiền đầu tư là F. Tính số phí tối đa F mà bạn có thể thu được.

         Theo đề bài ta có: E(Rp) ròng = E(Rp) – f   Trong đó: f là tỷ lệ % mức phí phải trả trên số tiền đầu tư.

    Cách tính:

    • Bước 1: Tính tỷ lệ f % mức phí phải trả trên số tiền đầu tư.

    Ta có:

    Þ

    • Bước 2: Tính số tiền phí tối đa F có thể thu được.
    Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng E(Rp) 0.021036
    Tỷ suất lợi tức tài sản phi rủi ro Rf (%/năm) 0.0075
    Độ lệch chuẩn sp 0.107319092
    Độ lệch chuẩn sM 0.071267008
    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(RM) -0.00017
    Tỷ lệ f % mức phí phải trả trên số tiền đầu tư 2.51%
    Vốn đầu tư (đ) 100000000
    Số tiền phí tối đa F có thể thu được (đ) 2510000

     

    KẾT LUẬN

    Tóm lại, sau những phân tích cơ bản về vĩ mô nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam; phân tích ngành; phân tích công ty nhóm chúng tôi đứng ở vai trò là nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán đã lựa chọn được hai loại cổ phiếu là DPM và MSN. Theo những kết quả của phân tích kỹ thuật và mục tiêu đầu tư dài hạn, hai cổ phiếu này sẽ tăng giá và trong tương lai sẽ rất ổn định. Vì vậy, chúng tôi kỳ vọng danh mục đầu tư này sẽ còn tăng giá mạnh hơn nữa vì chúng là những mã cổ phiếu độc lập, không thống trị nhau đồng thời danh mục của hai cổ phiếu này có tỷ suất sinh lời sinh lời cao và hệ số tương quan tương đối cao.

    Như vậy, với những yêu cầu của bài tập lớn, nhóm đã phân tích, tính toán số liệu… được làm những công việc cũng gần như một nhà đầu tư cổ phiếu chuyên nghiệp. Nhưng do kiến thức còn hạn chế, chắc chắn bài làm của nhóm còn nhiều sai sót mong cô thông cảm. Kính mong nhận được sự góp ý của cô để nhóm hoàn thiện bài tập hơn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga

    Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga

    Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-L%E1%BA%ADp-Ph%C6%B0%C6%A1ng-%C3%81n-Xu%E1%BA%A5t-Kh%E1%BA%A9u-H%C3%A0ng-D%E1%BB%87t-May-Sang-Nga.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Việt Nam là quốc gia đang phát triển cùng với sự vận động theo xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới. Bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bằng những đường lối chiến lược phát triển cụ thể kết hợp với thực hiện một cách hiệu quả, đến nay đã đạt được những thành quả nhất định trong sự phát triển kinh tế, xã hội và hòa mình vào khu vực, thế giới trên mọi lĩnh vực kinh tế văn hóa…Hoạt động xuất khẩu được coi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của quốc gia và được Đảng ,nhà nước dành cho những ưu tiên.

    Ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ và được nhiều đơn vị, thành phần kinh tế tham gia. Hệ thống các Công ty , xí nghiệp may từ Trung ương đến địa phương đều trưởng thành đáng kể. Không những đội ngũ may xuất khẩu tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mà quy mô doanh nghiệp công nghệ sản xuất, chất lượng, đội ngũ công nhân lành nghề đang từng bước được nâng cao. Tất cả những điều này đang là dấu hiệu tốt cho sự khởi sắc của ngành may Việt Nam khi vươn ra thị trường thế giới.

    Khi kí kết Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Hải Quan thì Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan  khi xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang Nga.Trong đó, Nga là một thị trường rộng lớn, được coi là thị trường rất tiềm năng cho hàng  may mặc xuất khẩu. Vì vậy, lần này tổng công ty may Việt Tiến  đề ra 1 phương án xuất khẩu lô hàng áo sơ mi sang thị trường này. Hi vọng đây sẽ là một bước đệm cho việc mở rộng thị trường của công ty tại khu vực Nga cũng như trên toàn thế giới.

     

     

     

     

     

     

     

    Chương 1: Giới thiệu chung về công ty

    1.1.          Lịch sử hình thành và phát triển:

    “Tiền thân công ty là một xí nghiệp may tư nhân “ Thái Bình Dương kỹ nghệ công ty”- tên giao dịch là Pacific Enterprise. Xí nghiệp này được 8 cổ đông góp vốn do ông Trần Mạnh Hùng – một doanh nhân người Singapore làm Giám Đốc. Xí nghiệp hoạt động trên diện tích 1,513m2 với 65 máy may gia đình và khoảng 100 công nhân.

    Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà nước tiếp quản & quốc hữu hóa rồi giao cho Bộ Công nghiệp nhẹ quản lý ( nay là Bộ Công Nghiệp).

    Tháng 5/1977 được Bộ Công Nghiệp  công nhận là xí nghiệp quốc doanh và đổi tên thành Xí Nghiệp May Việt Tiến.

    Ngày 13/11/1979, xí nghiệp bị hỏa hoạn, thiệt hại hoàn toàn. Tuy thế, được sự trợ giúp từ những đơn vị  bạn, cộng với lòng hang say gắn bó với xí nghiệp , toàn thể công nhân và lãnh đạo Việt Tiến đã đưa đơn vị đi vào hoạt động  trở lại và ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thương trường.

    Nhờ vào nổ lực cố gắng đó mà theo quyết định số 103/CNN/TCLĐ, xí nghiệp được Bộ Công Nghiệp chấp nhận nâng lên thành Công Ty May Việt Tiến. Sau đó, lại được Bộ Kinh Tế Đối Ngoại cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp với tên giao dịch đối ngoại là TÂN VIỆT GARMENT IMPORT-EXPORT COMPANY viết tắt là TVEC( theo giấy phép số 102570 ngày 08/02/1991)

    Căn cứ Văn bản số 7599/VPCP-ĐMDN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Văn phòng Chính phủ về việc tổ chức lại  Công ty May Việt Tiến. Xét đề nghị của Tập đoàn Dệt May Việt Nam tại Tờ trình số 28/TĐDM-TCLĐ ngày 09 tháng 01 năm 2007 và Đề án thành lập Tổng công ty May Việt Tiến.

    Căn cứ Quyết định số 2576/QĐ-BCN ngày 26 tháng 7 năm 2007 của Bộ Công nghiệp về việc xác định giá trị Tổng công ty May Việt Tiến thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam để cổn phần hóa.Căn cứ Quyết định số 0408/QĐ-BCT ngày 30/08/2007 của Bộ Công Thương về việc phê duyệt phương án cổ phần hóa và chuyển Tổng công ty may Việt Tiến  thành Tổng công ty cổ phần May Việt Tiến.”

    1.2.          Các lĩnh vực kinh doanh của công ty:

    • Sản xuất quần áo các loại.
    • Dịch vụ xuất nhập khẩu, vận chuyển giao nhận hàng hóa.
    • Sản xuất và kinh doanh nguyên phụ liệu ngành may; máy móc phụ tùng và các thiết bị phục vụ ngành may công nghiệp; thiết bị điện âm thanh và ánh sáng.

    1.3.          Cơ cấu tổ chức:

    1) HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

    • Vũ Đức Giang (Chủ tịch)
    • Nguyễn Đình Trường ( Thành viên)
    • Bùi Văn Tiến (Thành viên)
    • Trần Minh Công (Thành viên)
    • Phạm Văn Kiệt (Thành viên)

    (2) TỔNG GIÁM ĐỐC

    • Bùi Văn Tiến

    (3) PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

    • Trần Minh Công
    • Phan Văn Kiệt
    • Nguyễn Thị Tùng

    (4) GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH

    • Nguyễn Ngọc Trung
    • Phạm Đắc Lợi
    • Phạm Tuấn Kiên
    • Phạm Thanh Hoan
    • Nhữ Hồng Hanh
    • Lê Thị Hồng Yến
    • Nguyễn Minh Tuệ
    • Hoàng Mộng Long

    (5) BAN KIỂM SOÁT

    • Thạch Thị Phong Huyền ( Trưởng ban)
    • Trần THị Ngọc Dung (Thành viên)
    • Hồ Ngọc Huy ( Thành viên)

    1.4. Kết quả kinh doanh:

    1.4.1. Kết quả hoạt động năm 2015

    Năm 2015 2014
    Doanh thu 4.831.173.484.401 3.896.832.911.617
    Lợi nhuận sau thuế 10.963.716.769 5.999.947.610
    Lãi cơ bản 8.468 5.804

    Theo đó, trong năm qua, danh thu thuần của May Việt Tiến đạt 4.831,2 tỷ đồng, tăng 24% so năm trước đó.

    • Giá vốn hàng bán tăng 21,1% lên 4.230,54 tỷ đồng đã kéo lợi nhuận gộp xuống còn 558,96 tỷ đồng, tăng 26,4% so năm 2014.
    • Trong năm qua, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của May Việt Tiến đều tăng so với năm trước, lần lượt đạt 213,02 tỷ đồng và 160,12 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ đạt 186,4 tỷ đồng và gần 150 tỷ đồng.
    • Sau khi trừ đi các chi phí, lợi nhuận trước thuế năm 2015 của May Việt Tiến đạt 248,5 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 196,92 tỷ đồng; lần lượt tăng 46% và 42,6% so năm 2014.
    • Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) cả năm đạt 7.033 đồng/cổ phiếu trong khi năm 2014 đạt 4.933 đồng/cổ phiếu.
    • Đến cuối 2015, May Việt Tiến có gần 183,3 tỷ đồng tiền và tương đương tiền, tăng khoảng 22 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng với 182,37 tỷ đồng, tăng so với con số gần 160 tỷ đồng hồi đầu năm.
    • Cũng đến cuối năm, tổng nợ phải trả của May Việt Tiến là 1.537,5 tỷ đồng, tăng 25% so đầu năm.
    • Trong đó, nợ ngắn hạn là 1.358,93 tỷ đồng, tăng so với con số 1.196 tỷ đồng đầu năm; nợ dài hạn là 178,57 tỷ đồng, tăng mạnh so với chỉ hơn 33,3 tỷ đồng đầu năm.
    • Việc tăng mạnh của nợ dài hạn chủ yếu do trong 2015 May Việt Tiến đã phát hành trái phiếu thu về 140 tỷ đồng, lãi suất phải trả do phát hành trái phiếu là hơn 6,4 tỷ đồng.
    • Hiện May Việt Tiến có 28 triệu cổ phiếu đang lưu hành, trong đó Nhà nước nắm gần 47,9% vốn.
    • Có được doanh thu tốt như trên công ty chúng tôi đã nỗ lực rất nhiều trong thời gian qua. Công ty chúng tôi đã tạo cho mình được chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài.Công ty luôn coi yếu tố chất lượng là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Vì vậy khi đưa ra thị trường một số sản phẩm mới song song với việc quảng cáo giới thiệu sản phẩm công ty chúng tôi tiến hành đăng ký và mua bản quyền nhãn hiệu hàng hóa như: Việt Tiến, Vee Sendy, TT-up, San Sciaro, Manhattan, Smart Casual . Do đó sản phẩm của công ty luôn được khách hàng trong nước và ngoài nước tin dùng.
    • Liên kết liên doanh: Hiện nay, doanh nghiệp có 21 đơn vị sản xuất trực thuộc ; ngoài ra có các nhà máy liên doanh trong nước bao gồm các đơn vị sản xuất quần áo may mặc sẵn.”

    1.4.2. Phương hướng, mục tiêu kinh doanh năm 2016

    1.4.2.1. Phương hướng hoạt động kinh doanh năm 2106

    Tiếp tục đổi mới công nghệ thiết bị sản xuất. Đổi mới công nghệ có ý nghĩa then chốt. Chính nhờ thiết bị mới, công nghệ mới công ty mới có thể tạo ra những sản phẩm đạt yêu cầu thâm nhập vào thị trường mới, tạo nguồn thu ngoại tệ góp phần đổi mới cơ sở hạ tầng tại công ty.

    Giữ vững và phát triển thị trường trong nước, đây là cơ sở cho chiến lược thâm nhập thị trường nước ngoài bằng thương hiệu của chính mình.Công ty luôn phải củng cố mối quan hệ khách hàng cũ, mở rộng quan hệ giao dịch với khách hàng mới ở các thị trường khác nhau.

    Hoàn thiện cơ chế tổ chức, đổi mới quản lý kinh doanh, đào tạo phát triển nhân lực theo hướng tiếp cận trình độ quốc tế, công ty chú trọng nâng cao kiến thức Marketing, đàm phán cho nhân viên.

    Nâng cao chất lượng sản phẩm đạt được tiêu chuẩn quốc tế về quản lý hệ thống theo tiêu chuẩn ISO 9002 & trách nhiệm xã hội SA8000, đạo đức trong kinh doanh theo tiêu chuẩn WRAP.

    Liên doanh liên kết: tìm hiểu kỹ đối tác trong và ngoài nước để liên doanh trong các lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành may – đặc biệt là nguyên liệu chính- Từ đó, công ty sẽ có nguồn cung cấp ổn định phục vụ cho sản xuất xuất khẩu & nội địa.

    Tiến hành các biện pháp chống nạn làm nhái,hàng giả của công ty. Các biện pháp cụ thể là thông qua các cơ quan quyền lực chống lại việc làm nhái giả hàng công ty. Công ty đã cải tiến các dây viền, cúc áo, nhãn hiệu, một cách tinh xảo để chống giả mạo, đăng báo, in brochute danh sách các đại lý chính thức, chỉ rõ phân biệt hàng giả, hàng thật.

    1.4.2.2. Kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty năm 2016

    “Năm 2016 là năm có nhiều cơ hội để công ty tăng cung nội tệ và vươn mạnh ra những thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga. Trên cơ sở đó , Doanh nghiệp đang đẩy mạnh chiến lược đã định sẵn của công ty nhằm tận dụng tối đa các lợi thế mà mình sẵn có.

    Việt Tiến đặt kế hoạch  doanh thu tăng 12% so với năm  ngoái. Tổng công ty sẽ mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ từ nhiều hướng khác nhau.  Theo kế hoạch của công ty, các gian hàng trong nước và quốc tế sẽ được tăng thêm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và phân phối sản phẩm.

    Nằm trong chiến lược đầu tư dài hạn, Tổng Công ty CP May Việt Tiến đang có kế hoạch chuyển dịch sản xuất từ thành phố về các vùng có điều kiện phát triển ngành may và dự kiến triển khai vào đầu năm 2016, trong đó trọng điểm là Cụm công nghiệp may mặc Tân Thành Tiến tại tỉnh Bến Tre (với quy mô sử dụng hơn 20.000 lao động). Uớc tính Việt Tiến sẽ đầu tư 100 tỷ đồng vào Cụm công nghiệp may mặc Tân Thành Tiến.

    Việt Tiến luôn sẵn sàng tiếp nhận các chương trình, dự án đầu tư của các khách hàng để khai thác các lợi thế từ Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Liên minh châu Âu (EU), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) cho thị trường châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai.”

     

    Chương 2: Cơ sở để lập phương án xuất khẩu

    2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc lập phương án kinh doanh:

    2.1.1 Khái niệm:

    Phương án kinh doanh là tổng hợp các phân tích đánh giá, lựa chọn và tác nghiệp một cách có hệ thống dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu định lượng về hiệu quả kinh tế của một thuong vụ kinh doanh cụ thế. Phương án kinh doanh là bản tường trình về kế hoạch hành động cho mỗi thương vụ kinh doanh.

    Trong quá trình tìm kiếm, giao dịch, lựa chọn và đàm phán kinh doanh của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng suôn sẻ và lường hết được những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện. Do đó, lập phương án kinh doanh là giải pháp tối ưu, cấp thiết và là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng trong ngoại thương.

    Trong kinh doanh,các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh luôn được chú trọng. Dựa vào các chỉ tiêu để phân tích , tính toán và lựa chọn. Phương án kinh doanh được coi là bảng tổng hợp tình hình, phân tích lựa chọn và đánh giá về một thương vụ kinh doanh cụ thể. Mỗi lần lập phương án kinh doanh chi tiết là một lần rà soát cơ hội kinh doanh và dự đoán cũng như kiểm soát rủi ro của thương vụ đó.

    2.1.2 Mục đich:

    Việc lập phương án xuất khẩu là khâu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động xuất khẩu của mỗi doanh nghiệp. Thông qua việc nghiên cứu thị trường, dựa trên các cơ sở pháp lý của Nhà nước và tình hình kinh doanh cũng như kế hoạch kinh doanh dự kiến của mình, doanh nghiệp tiến hành lập một kế hoạch kinh doanh xuất khẩu một mặt hàng cụ thể. Đây là một căn cứ quan trọng để trình lên các cấp, ngành, bộ phận có liên quan nghiên cứu xem xét có được phép thực hiện hay không.

    Việc lập phương án xuất khẩu cho phép doanh nghiệp có thể tính toán một cách hợp lý nhất các chỉ tiêu để nhằm thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cao nhất, đây là mục tiêu của toàn bộ các doanh nghiệp kinh doanh.

    2.1.3 Ý nghĩa:

    “Lập phương án xuất khẩu là việc lập kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu xác định trong kinh doanh. Nếu việc lập phương án xuất khẩu không được tiến hành hay tiến hành không chặt chẽ, chính xác trong việc tính toán thì sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện xuất khẩu, có thể dẫn tới thiệt hại trong công việc kinh doanh của doanh nghiệp.

    Phương án xuất khẩu là cơ sở để xin phép các cơ quan ban ngành có liên quan cho phép thực hiện và cấp giấy phép kinh doanh. Không phải tất cả các mặt hàng đều được phép xuất khẩu, nó phải phù hợp với các quy định của Nhà nước, hợp lý và có khả năng thúc đẩy kinh tế phát triển thì mới được cấp giấy phép kinh doanh.

    Ngoài ra, phương án xuất khẩu còn là cơ sở để xin cấp vốn kinh doanh. Một dự án muốn thực hiện được thì phải có đủ vốn nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng thực hiện một hợp đồng xuất khẩu, do đó hầu hết các hợp đồng đều phải vay vốn Ngân hàng để thực hiện. Chính vì vậy, một phương án muốn thực hiện được tốt thì phải có đủ sức thuyết phục đối với nhà đấu tư, phải có khả năng thực hiện và tạo ra lợi nhuận, có như vậy ngân hàng mới chấp nhận cho vay vốn.

    Một phương án xuất khẩu tốt sẽ có lợi cho cả hai bên đối tác làm ăn. Nó quyết định sự tồn tại hay không của phương án và quyết định đến cả mức độ thành công, lợi ích và lợi nhuận thu về sau khi phương án được thực hiện.

    Doanh nghiệp sẽ bàn giao kế hoạch này cho phòng nghiệp vụ và đây sẽ là một cơ sở nữa cho phòng nghiệp vụ nghiên cứu để lập một phương án kinh doanh.

    Như vậy phương án kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng và to lớn với hoạt động đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đơn vị và có ảnh hưởng to lớn đến công ty.”

     2.2. Cơ sở pháp lý để lập phương án xuất khẩu:

    Để lập  phương án kinh doanh xuất khẩu áo sơ mi cho năm 2014 chúng tôi căn cứ vào các điều kiện sau :

    • Căn cứ vào luật thương mại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006.
    • Nghị định số 187/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.
    • Căn cứ vào các văn bản khác của chính phủ quy định chi tiết về hoạt động xuất nhập khẩu.
    • Căn cứ vào các quy định khác của chính phủ có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung và nặt hàng may mặc nói riêng.

    2.3 Cơ sở thực tế để lập phương án xuất khẩu:

    2.3.1 Các order của khách hàng:

    “Sau khi tiến hành chiến dịch tiếp thị quảng cáo sản phẩm qua mạng lưới internet cùng với việc gửi offer tới các bạn hàng nước ngoài có kèm theo sản phẩm mẫu, công ty chúng tôi đã nhận được 1 đơn đặt hàng lớn mặt hàng áo sơ mi cho cả nam và nữ từ tập đoàn  The Melon Fashion group, Nga với nội dung như sau:

    ORDER

    From

     

    Address

    Tel

    Fax

    : THE MELON FASHION GROUP

     

    :512 Balashikha, Moskva, Russia

    : +7-398-0707

    : +7-944-7857

    To

     

    Address

    Tel

    Fax

    : VIETTIEN GARMENT  CORPORATION

     

    : 07 Le Minh Xuan,Tan Binh district,Ho Chi Minh city,Vietnam

    : 84-8-8645085 (22 lines)

    :84-8-8645085-8654867

    April 2nd , 2016

    Thank you very much for your offer of March15th, 2016 for men’s long sleeve shirt and women’long sleeve shirt product.

    We found the samples you sent us very satisfactory and we are pleased to place an order for the following quantity and price list :

    Item Price per unit  fob Saigon (USD) Quantity (unit) Total value (USD)
    NO. 1941112XL White men’shirt 15 20000 300000
    Blue men’shirt 15 15000 225000
    Boxdeu men’shirt 15 10000 150000
    Blue-chequer men’shirt 15 12000 180000
    Blue-striper men’shirt 15 12000 180000
    NO.1875241L White women’shirt 15 17000 255000
    Blue  women’shirt 15 17000 255000
    Pink-striper women’shirt 15 17000 255000
    Blue-striper women’shirt 15 15000 225000
    Total 135000 2025000

    Payment :  in US dollars by irrevocable L/C in to our account No: 167 121 3865 at  Freral Reserve Bank  of New York.

    We are looking  forward to hearing  from you.

    Your faithfully

    Director”

     

    2.3.2. Kết quả nghiên cứu thị trường:

    2.3.2.1. Nghiên cứu thị trường trong nước

    • Cung cầu đối với hàng hóa

    “Khi xã hội ngày càng phát triển nhu cầu may mặc của con người không dừng lại ở tính bền bỉ của sản phẩm mà còn mẫu  mã đẹp , chất lượng cao đặc biệt nhân viên văn phòng và học sinh , sinh viên. Hiếm có trang phục nào vừa trang trọng nhã nhặn , lịch sự lại  vẫn có thể rất cá tính và đầy quyến rũ như áo sơ mi . Áo sơ mi  được coi là  không thể thiếu đối với thời trang công sở đặc biệt nam giới. Do đó nhu cầu về áo sơ mi trên thị trường rất lớn và ngày càng tăng cao. “

    • Giá của hàng hóa

    “Giá  áo sơ mi của công ty thường cao hơn so với các doanh nghiệp khác.  Giá cạnh tranh của các doanh nghiệp khác  bán lẻ từ 100 nghìn đồng đến 1 triệu một chiếc tùy theo sản phẩm. Giá bán  buôn tùy thuộc vào số lượng  mà có mức chiết khấu khác nhau mà có mức chiết  khấu khác nhau từ 20-40%.”

    • Đối thủ cạnh tranh

    “Hiện nay có rất nhiều các đối thủ cạnh tranh đáng nể  trong lĩnh vực sản xuất  áo sơ mi dành cho nam và nữ như May Nhà bè , May Sài Gòn, May 10, May 2…..cùng các thương hiệu lớn nhỏ sản xuất hàng Việt Nam chất lượng cao như Blu Exchange , Ninomax….. Tất cả các doanh nghiệp luôn luôn cải thiện mẫu mã , chất lượng đa dạng phong phú để đáp ứng nhu cầu may  mặc trong nước ngày càng tăng.

    Ngoài ra còn có những hiệu may sơ mi lớn nhỏ khác. Tuy giá thành có rẻ hơn so với các áo có sẵn trên thị trường nhưng chất liệu thường không đẹp và có ít sự lựa chọn hơn các sản phẩm của công ty may. Hơn nữa sản phẩm sơ mi thường được giới công chức , học sinh, sinh viên lựa chọn nhưng do tính chất công việc nên thường ít người có thời gian để may đo áo và tâm lý họ thích mua hàng sẵn hơn là phải chờ đợi thời gian may.

    Bên cạnh đó thị trường trong nước có rất nhiều sản phẩm sơ mi may sẵn của Trung Quốc  hoặc không rõ nguồn gốc  và các cơ sở may này không nổi tiếng bán  tràn lan ở các chợ lớn nhỏ với giá rất thấp. Tuy nhiên chất lượng của hàng hóa rất kém và không có đủ khả năng  sản xuất với số lượng lớn trong thời gian ngắn và đáp ứng được yêu cầu chất lượng cao của các thị trường khó tính như Nhật Bản,Hoa Kỳ, EU cũng như thị trường Nga

    Ngoài ra trên thị trường còn xuất hiện nhiều hàng hóa second-hand  hoặc nhái từ các thương hiệu nước ngoài chứng tỏ cầu đã vượt cung nhưng đôi khi gây ra sự nhầm lẫn về cả giá cả và chất lượng đối với người tiêu dùng.”

    • Những quy định và ưu đãi của Chính Phủ đối với mặt hàng dệt may:

    “Căn cứ vào:

    • Nghị định số95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cẩu tổ chức của Bộ Công Thương;
    • Nghị định số92/2006/NĐ-CPngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;
    • Quyết định số36/2008/QĐ-TTgngày 10 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.

    Ta thấy được quan điểm của Chính Phủ về việc chú trọng phát triển ngành dệt may, coi dệt may là ngành trọng điểm và là ngành công nghiệp mũi nhọn hiện nay và về lâu dài với các mục tiêu từ nay đến 2020, 2030 với các định hướng rất cụ thể rõ ràng.

      Thứ nhất: tăng cường cho ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội thị trường.

      Thứ hai: xây dựng Chương trình sản xuất vải phục vụ xuất khẩu phát triển các sản phẩm dệt kỹ thuật, sản phẩm dệt phục vụ y tế.

      Thứ ba: phát triển nguồn nguyên liệu xơ bông, các loại cây có xơ sợi, xơ sợi nhân tạo và phụ liệu.

    Cùng hàng loạt chính sách, giải pháp gỡ rối gỡ khó cho các doanh nghiệp dệt may:

    + Các chính sách và giải pháp thị trường: thúc đẩy đầu tư phát triển ngành dệt may gắn liền với hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa làn sóng dịch chuyển dệt may từ các nước phát triển, đồng thời khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước tham gia đầu tư;

    + Các giải pháp về cung ứng nguyên phụ liệu: xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp trong ngành;

    + Các chính sách và giải pháp về công tác thủ tục: mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu theo hướng đơn giản hoá các thủ tục, và tăng cường công tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế cho doanh nghiệp xuất khẩu;

    +  Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực: xây dựng chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may, trong đó Hiệp hội Dệt May Việt Nam và Tập đoàn Dệt May Việt Nam là đầu mối để phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước;

    +  Các giải pháp về khoa học và công nghệ: nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới, và nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ, khả năng thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện nghiên cứu;

    +   Các giải pháp bảo vệ môi trường : chú trọng công tác bảo vệ môi trường cũng được chú trọng, với định hướng tập trung xử lý các nguồn ô nhiễm nước tại các công ty dệt nhuộm, đổi mới công nghệ trong ngành theo hướng tiết kiệm nguyên liệu và thân thiện với môi trường;

    +  Các giải pháp về tài chính: hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo và vốn đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho các Viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo cho ngành Dệt May, đồng thời dành vốn tín dụng của nhà nước, vốn ODA và vốn của quỹ môi trường cho các dự án đầu tư xử lý môi trường của các doanh nghiệp trong ngành dệtmay. 
    Nghiên cứu thị trường nước ngoài

    • Cung cầu đối với hàng hóa
    • Trên thị trường thế giới

    Thị trường thế giới sau nhiều năm vận hành độc lập nay đã trở nên có tổ chức và đang hoạt động trong sự ràng buộc chặt chẽ các thể chế sau:

    • Các định chế kinh tế như WTO. GSP. MFA, các công ước về lao động, về sở hữu trí tuệ…
    • Các thể chế về khu vực: EU, NAPTA, ASEAN…
    • Các thể chế về tài chính: WB,IMF, ADB và các hiệp định liên ngân hàng.
    • Các hiệp định về hàng hoá như về cao su thiên nhiên, cà phê, dầu mở , hàng dệt may…
    • Các trung tâm giao dịch: Sỏ giao dịch hàng hoá ở Luân Đôn, Paris, Singapore, Chicago…Các công hội vận tải biển, tổ chức hàng không quốc tế (ICAO), tổ chức du lịch quốc tế, các tính chất liên lạc viễn thông quốc tế, các mạng lưới và trung tâm dịch vụ tiêu thụ…

    Hoạt động của các thể chế quốc tế và khu vực đã đưa lại hiệu quả giúp cho thương mại quốc tế được ổn dịnh và phát triển.Trong tương lai các định chế này sẽ không thể không tham gia một cách tích cực vào các định chế thế giới và khu vực nói trên.

    Nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc trên thế giới ngày càng tăng kể về số lượng và chất lượng. Các quốc gia khác nhau đều tận dụng lợi thế so sánh riêng  của mình để sản xuất , xuất khẩu hoặc nhập khẩu để tiêu dùng với chi phí thấp nhất.

    • Trên thị trường Nga:

    Với thị trường rộng lớn, dân số gần 143 triệu người, nước Nga trở thành thị trường đầy tiềm năng cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng.

    Trong những năm qua, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nga tương đối ổn định, kim ngạch và nhu cầu ngày càng tăng ở thị trường này là cơ hội để doanh nghiệp dệt may Việt Nam gia tăng xuất khẩu.

    KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY SANG NGA GIAI ĐOẠN 2008 –2015

    Đơn vị tính: triệu USD

    Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
    KN xuất khẩu 49,38 64,33 80,57 97,33 56,06 76,16 106,96 122,07

    “Năm  2015, nền kinh tế Nga đứng thứ 9 trên thế giới, với GDP đạt trên 2100 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 nghìn USD/năm. Về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Nga đạt 1,62 tỷ USD, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó kim ngạch hàng dệt may đạt 122,07 triệu USD, tăng 14,7% so với năm 2013.

    Đối với thị trường này, thời gian gần đây, người tiêu dùng có thói quen sử dụng những sản phẩm dệt may chất lượng cao với kiểu dáng đẹp. Do vậy, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần đảm bảo đủ chất lượng, kiểu dáng độc đáo, và đăng ký thương hiệu để cạnh tranh với các hàng hóa đã có sẵn trên thị trường Nga.

    Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên tìm hiểu và nắm rõ những quy chuẩn và các yêu cầu riêng của thị trường Nga cũng như các chế độ ưu đãi dành cho Việt Nam để thuận lợi hơn khi phát triển khâu tiêu thụ hàng hóa tại thị trường này.

    • Chi tiêu vào lĩnh vực này có lẽ là khoản chi tiêu đầu tiên bị người tiêu dùng Nga cắt giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhiều người tiêu dùng trước kia được xếp vào mức trên trung bình đã chuyển sang đoạn thị trường tầm trung và nhu cầu đối với hàng may mặc và giày dép xa xỉ trở nên khiêm tốn hơn.
    • Theo đánh giá của Euromonitor, mặc dù tốc độ tăng trưởng thấp hơn nhưng hai lĩnh vực may mặc và giày dép tại Nga vẫn tăng trưởng trước các nước Châu Âu khác. Giá trị xuất khẩu hàng may mặc và phụ kiện từ Nga vẫn tiếp tục tăng. Giá trị xuất khẩu hàng dệt kim và phụ kiện tăng lên 9,1% và đạt giá trị khoảng 1,9 tỷ USD.

    Người Nga thích mua các sản phẩm may mặc đã có thương hiệu và theo xu hướng gần nhất mặc dù có thể có một xu hướng mới khác đang thịnh hành. Nhiều phụ nữ và thanh niên có xu hướng chọn các loại quần áo thoải mái và không mang tính công sở. Xu hướng này giúp tăng doanh số bán lẻ trong đoạn thị trường người tiêu dùng trung lưu. Các đoạn thị trường giá thấp và trung bình được dự đoán có mức tăng trưởng năng động.

    Nhưng  các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham gia thị trường Nga cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt trong cạnh tranh về chất lượng và giá. Người tiêu dùng trẻ tại Nga vài năm gần đây có thói quen chi tiêu nhiều hơn cho mua sắm. Hàng chất lượng cao với kiểu dáng đẹp thường được ưa chuộng hơn và tiêu thụ nhanh hơn, và hàng với chất lượng thấp dù giá thấp sẽ ngày càng khó thu hút sự quan tâm trên thị trường. Doanh nghiệp cần đảm bảo đủ chất lượng, kiểu dáng độc đáp, và đăng kí thương hiệu để cạnh tranh với các loại hàng hóa đã có sẵn trên thị trường Nga, theo Vinatex cho biết.

    Ngoài ra, thách thức còn đến từ việc tiếp cận thị trường với hệ thống các qui định và luật lệ riêng mà doanh nghiệp không nắm bắt sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt tại một số vùng và thay đổi theo vùng miền trên lãnh thổ rộng lớn của nước Nga còn đặt ra những yêu cầu về một kế hoạch xuất khẩu chi tiết, cụ thể và sản phẩm được sản xuất có nghiên cứu thị trường kĩ lưỡng.

    Như vậy, để thâm nhập sâu hơn vào thị trường Nga, bên cạnh việc tìm hiểu cụ thể các qui định và luật lệ, chế độ hưởng ưu đãi dành cho Việt Nam, các công ty xuất khẩu Việt Nam còn cần nghiên cứu thị trường kĩ lưỡng và phát triển mối quan hệ dài hạn với nhà mua hàng Nga thông qua những hợp đồng thông dụng.”

    • Những quy định liên quan đến xuất và nhận nhập khẩu dệt may:

    “Một đặc trưng nổi bật của công nghệ dệt may là được bảo hộ chặt chẽ ở hầu hết các nước trên thế giới bằng những chính sách thể chế đặc biệt. Trước khi hiệp định về hàng dệt may- kết quả quan trọng của vòng đàm phán Uruguay ra đời và phát huy tác dụng, việc buôn bán quốc tế các sản phẩm dệt may được điều chỉnh theo những thể chế thương mại này. Nhờ đó, phần lớn các nước nhập khẩu thiết lập các hạn chế đối với nhập khẩu hàng dệt may. Mức thuế phổ biến đánh vào hàng dệt may cũng cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác. Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra những qui định riêng đối với hàng dệt may nhập khẩu. Những thể chế nhằm bảo hộ sản xuất hàng dệt may của mỗi nước và hạn chế nhập khẩu này đã chi phối thị trường hàng dệt may trên thế giới, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới .

    Ta nhận thấy Châu Âu là một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng. Với 740 triệu dân, đây là thị trường lý tưởng tiêu thụ hàng dệt may nói riêng và các mặt hàng khác nói chung.

    Nhưng chúng ta cũng thấy đây là một thị trường có những điều kiện về kiểm soát, tiêu chuẩn, chất lượng… rất là khó khăn và không dễ xâm nhập vào được. Nó quản lý rất chặt chẽ và nghiêm khắc. Cùng với đó là thị hiếu người tiêu dùng của thị trường này cũng khá khó tính, có chọn lọc đặc biệt với hàng dệt may. Đây là ngành mà châu âu có xu hướng chuyển dần sang các khu vực khác, nên thị trường này đang có xu hướng nhập khẩu hàng dệt may và hàng may mặc. Các nhà nhập khẩu Châu Âu luôn tìm kiếm những thị trường rẻ nhưng phải đẹp. Họ luôn cố hạ giá thành sản phẩm tới mức thấp nhất tại nơi cơ sở đặt gia công. Chính vì vậy mà sự trao đổi hàng dệt may giữa Châu Âu và Việt Nam đã tăng 40-50% quota hàng dệt may và may mặc cho Việt Nam do giá thành ở Việt Nam rẻ hơn ở những nơi khác, đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng mà họ yêu cầu.”

    • Những Hiệp định thương mại song phương, đa phương Việt Nam-Nga:
    • Từ năm 2012, Nga là thành viên thứ 156 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), theo đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nga theo lộ trình cam kết của Nga sẽ chịu mức thuế thấp hơn từ 30-50%. Theo lộ trình thuế nhập khẩu của Nga, thuế nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng của Việt Nam cũng sẽ được giảm ngay đặc biệt là dệt may (2 lần). Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nga được giảm thêm 25% thuế quan so với mức thuế Nga cam kết vì Việt Nam nằm trong nhóm các nước hưởng ưu đãi thuế quan của Liên minh Hải quan. Điều này không chỉ là cánh cửa cơ hội cho Việt Nam, mà còn là cánh cửa dẫn đến một cơ hội lớn – một thị trường lớn với khoảng cách địa lí không quá xa xôi như Bắc Mỹ hay Châu Âu.
    • Hiệp định FTA Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu được kí kết ngày 29/5/2015 đã mở ra cho ngành dệt may Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng dệt may sang thị trường Nga nói riêng một cơ hội tuyệt vời. Theo đó, Nga cam kết dành mức thuế suất ưu đãi nhất , có thể nói bằng 0% cho nhiều mặt hàng, trong đó có sản phẩm từ ngành dệt may. Sau khi hiệp định được kí kết, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nga đã tăng 9%. Chủ tịch hiệp hội Dệt may Việt Nam, ông Vũ Đức Nam cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm hơn đến các thị trường thuộc Liên minh hải quan, nhằm tận dụng tối đa cơ hội mà thị trường rộng lớn này đang mở ra (1 số nhóm hàng thuế suất 0%, còn lại sẽ giảm dần theo lộ trình 3,5 hoặc 10 năm).
    • “Bên cạnh đó, tiến trình đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh hải quan Nga, Belarus, Kazakhstan đã được Chính phủ hai bên ký kết vào đầu năm 2015, hàng hóa Việt Nam vào Nga sẽ được miễn thuế hoàn toàn hoặc hạ xuống mức tối thiểu. Có thể thấy, chưa có lúc nào thích hợp hơn để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang Nga như lúc này.

    Theo báo cáo của Tập đoàn dệt may Quốc gia Việt Nam xuất khẩu chủ yếu bao gồm áo khoác ngoài (jackets), quần áo trẻ em, áo sơ mi, áo thun, quần tây, quần ngắn, váy… Trong đó, xuất khẩu hàng trẻ em từ Việt Nam đến Nga đã tăng với tốc độ nhanh chóng và chiếm 11,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nga trong 8 tháng.”

    • Đối thủ cạnh tranh:

     Trong mặt hàng dệt may hay rất nhiều mặt hàng khác trên thị trường thế giới nói chung và thị trường Nga nói riêng thì đối thủ cạnh tranh mạnh nhất đáng gờm nhất của Việt Nam luôn là Trung Quốc. Trung Quốc là một đất nước lớn với nền kinh tế phát triển mạnh, đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Mỹ. Ta thua đối thủ này về rất nhiều mặt:

    _Những điểm mạnh của ta Trung Quốc đều có như: giá rẻ, chi phí nhân công thấp, ngành may mặc có tốc độ tăng trưởng cao…

    _Không những thế những điểm yếu của ta, Trung Quốc đều không mắc phải, với nền công nghệ, máy móc kỹ thuật cao, đông nhân công giá rẻ, có thể cũng ứng hàng hóa với số lượng rất lớn…

    _Đặc biệt nữa là, ngành dệt may của Việt Nam ta hiện nay vẫn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung ứng nguyên liệu từ Trung Quốc khi mà từ xơ, bong vải sợi, cây kim, sợi chỉ, hay các máy móc… ta đều nhập từ Trung Quốc.

    _Hàng dệt may từ Trung Quốc rất đa dạng chủng loại, mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng… với số lượng hàng lớn; giá bán lại rẻ hơn chúng ta từ 30-40%.

    Ngoài đối thủ đáng gớm này ra thì bên cạnh đó, dệt may của Việt Nam cũng có những đối thủ cạnh tranh trên thị trường Nga khá mạnh như: người bạn láng giềng hay những nước nằm trong khối ASEAN như Campuchia, Malaysia…

     

    2.3.3. Kết quả phân tích tài chính

    • Dự kiến chi phí cho lô hàng xuất khẩu 135000 chiếc
    • Chi phí sản xuất
    Khoản mục Đơn giá (đồng/chiếc) Thành tiền (VNĐ)
    Nguyên liệu : -Vải thô 100% cotton

     

    -Gia công vải màu, kẻ

    -Nguyên phụ liệu

    100.000

     

    20.000

    26.000

    13.500.000.000

     

    2.700.000.000

    3.510.000.000

    Chi  phí  bao bì, đóng gói 18.000 2.430.000.000
    Chi phí nhãn mác 3.500 427.500.000
    Chi phí nhân công 12.300 1.660.500.000
    Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp BHXH = 26% CPNC

     

    BHYT = 4.5% CPNC

    KPCĐ = 2% CPNC

    BHTN = 2% CPNC

    431.730.000

     

    74.722.500

    33.210.000

    33.210.000

    Tiền điện, tiền nước, điện thoại 310 41.850.000
    Khấu hao TSCĐ (nhà xưởng , máy móc thiết bị…) 1000 135.000.000
    Lãi ngân hàng 0.8%x 10.000.000.000 80.000.000
    Tổng chi phí sản xuất 25.057.722.500
    • Chi phí vận tải hàng xuất khẩu (1 tấn=2000 chiếc )
    Khoản phí Đơn giá Thành tiền (đồng )
    Chi phí vận chuyển hàng đến cảng 150.000 đ/tấn 40.125.000
    Chi phí xếp hàng lên tàu 42.000 đ/tấn 5.835.000
    Tổng chi phí vận tải 45.960.000
    • Chi phí làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa
    Khoản phí Đơn giá (đồng ) Thành tiền (đồng )
    Phí giao dịch   1.500.000
    Lệ phí hải quan 20.000 đ/tờ khai 40.000
    Thuế xuất khẩu 0 % 0
    Phí giám định 20.000 đ/tấn 1.350.000
    Chi phí kiểm đếm, giao nhận hàng 4.500 đ/tấn 303.750
    Phí lấy B/L 200.000 200.000
    Phí gửi bộ chứng từ 340.000 đ/bộ 340.000
    Chi phí chuyển tiền tại Ngân hàng 200 USD 4.207.200
    Chi phí thông báo L/c của Ngân hàng 20 USD 420.720
    Tổng chi phí làm thủ tục xuất khẩu 8.361.670
    • Tổng kết chi phí cho lô hàng xuất khẩu (1USD = 21.036,00 VNĐ)
    Khoản phí Thành tiền (đồng )
    Chi phí sản xuất 25.057.722.500
    Chi phí vận tải 45.960.000
    Chi phí làm thủ tục xuất khẩu 8.361.670
    Tổng chi phí (1) 25.112.044.170
    Quỹ dự phòng (2) =3 % ∑chi phí 753.361.325
    Doanh thu(3) = 2.025.000 USD 42.597.900.000
    Thuế lợi tức = 25 % ( (3)- (2)- (1) ) 4.183.123.626
    Tổng chi phí cho lô hàng xuất khẩu 30.048.529.121

     

     

    • Dự kiến giá xuất khẩu ra thị trường nước ngoài

    “Mặt hàng                  : áo sơ mi

    Số lượng                     : 135.000 chiếc

    Đơn giá                      : 15  USD ( Giá FOB Saigon port , Incoterm 2010)

    Tổng doanh thu        :  2.025.000  USD

    Tổng chi phí              : 30.048.529.121 VND”

    • Tỷ xuất lợi nhuận

    Lợi nhuận trước thuế = ∑ DT – ∑ CP = 12.549.370.879VND

    Thuế thu nhập doanh nghiệp =  2.760.861.593VND (thuế suất 22%)

    Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – thuế TNDN = 9.788.509.285(VND)

    • TSLN =  x 100% =  x 100% =
    • Với tỷ suất lợi nhuận như trên , công ty quyết định chấp nhận đơn đặt hàng và tiến hành tổ chức thực hiện đơn đặt hàng.

     

     

    • Tỷ xuất ngoại tệ xuất khẩu
    • TSNT = =  =  (USD/VNĐ)

    Như  vậy để thu được 1 USD  ta chỉ cần bỏ ra 14.839 VNĐ, nhỏ hơn tỷ giá ngoại tệ thời điểm này là 1 USD = 21.036 VND. Do vậy , xét về tỷ giá ngoại tệ thì đây là phương án khả thi.

    • Tổng nguồn vốn

    “Do  tổng công ty còn tập trung vốn vào dự án mới trong đó có cụm khu công ngiệp Tân Thành nên để trang trải chi phí để xuất khẩu cho lô hàng chúng tôi quyết định  ngoài sự dụng  vốn tự có của công ty vay 10 tỷ đồng từ ngân hàng BIDV trong vòng 1 tháng.

    Lựa chon BIDV do  đơn vị vay vốn quen của công ty và những ưu đãi từ ngân hàng,  doanh nghiệp nằm trong đối tượng ưu tiên trợ cấp xuất khẩu nên lãi xuất thực phải trả là 0.8%/tháng

    Tỷ giá : 1USD = 21.036 VNĐ

    Điều kiện giao hàng : Công ty xuất khẩu theo điều kiện Fob Saigon (incoterms2010)”

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương 3. Tổ chức thực hiện phương án xuất khẩu

     

    3.1. Tiến hành giao dịch

    3.1.1. Chọn bạn hàng, chọn thị trường

    “Với đơn đặt hàng  số lượng lớn của The Melon Fashion Group  và thông qua việc tính toán lập phương án xuất khẩu.  Công ty nhận thấy mình có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của tập đoàn và xét thấy kế hoạch hợp tác này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho công ty trong quá trình thâm nhập thị trường Nga. Vì vậy, Công ty quyết định xuất khẩu 135.000 chiếc áo sơ mi sang The MeLon Group.”

    3.1.2. Tiến hành giao dịch

    “Sau khi nhận được order từ phía đối tác nước ngoài và căn cứ vào kết quả phân tích tài chính khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu đối với đối tác, căn cứ trên việc lựa chọn bạn hàng xuất khẩu theo tiêu chí đem lại doanh thu xuất khẩu và lợi nhuận xuất khẩu, tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu lớn, công ty quyết định lựa chọn tập đoàn này làm đối tác trong đợt xuất khẩu này.

    Công ty gửi chấp nhận thư tới Melon Fashion Group với nội dung như sau:

    Acceptance

    From:  VIETTIEN GARMENT CORPORATION

    Address: 07 Le Minh Xuan,Tan Binh district,Ho Chi Minh city,Vietnam

    Tel:  84-8-8645085 (22 lines)

    Fax:  84-8-8645085-8654867

    Re, your order of April 2nd, 2016

    To

     

    Address

    Tel

    Fax

    : THE MELON FASHION GROUP

     

    :512 Balashikha,  Moscow, Russia

    :+7-398-0707

    : +7-944-7857

    We appreciate  your order for item No.194112MC of 2th April, 2016. It is a pleasure to have the opportunity of suppling you our products as good as the samples we sent you and we are quite sure you will be satisfied with them.

    Your chosen method of payment is quite acceptable to us, and we note that this will be by Irrevocable letter of credit, valid till May 9th, 2016.

    We are pleased to confirm your order and will draft an e-contract for you as soon as possible.

    We assure you that this order and all further orders will be carefully fulfilled.”

    “Yours faithfully,

    Per Pro. The VIETTIEN GARMENT CORPORATION

    Nguyen Ngoc Trung

    Director.

    Sau đó phía bạn hang gửi lại thư xác nhận về việc nhập khẩu lô hàng:”

    CONFIRMATION

    From

     

    Address

    Tel

    Fax

    : THE MELON FASHION GROUP

     

    :512 Balashikha,  Moscow, Russia

    :+7-398-0707

    : +7-944-7857”

    To

     

    Address

    Tel

    Fax

    : VIETTIEN GARMENT  CORPORATION

     

    : 07 Le Minh Xuan, Tan Binh district, Ho Chi Minh city, Vietnam

    : 84-8-8645085 (22 lines)

    :84-8-8645085-8654867

    Dear sirs,

    We are very happy to have dealing with you. We send this conformation to ensure that we agree with all the iterms you gave in your offer.

    Please send me a signed contract as soon as possible.

    Yours faithfully

    Director

     

    3.2. Tổ chức giao dịch ký hợp đồng.

    3.2.1. Nêu hình thức giao dịch đã lựa chọn

    “Trong quá trình tiến hàng giao dịch với khách hàng, công ty đã quyết định chọn hình thức giao dịch bằng điện tử, đây được coi là phương thức giao dịch đang được sử dụng phổ biến rộng rãi nhất trong mỗi hoạt động giao dịch hiện nay, đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như trao đổi thương mại, dịch vụ. So với việc gặp gỡ trực tiếp thì giao dịch qua thư điện tử tiết kiệm được nhiều chi phí. Hơn nữa trong cùng một lúc, lại có thể giao dịch trao đổi với nhiều khách hàng ở nhiều nước khác nhau.

    Giao dịch thương mại trên cơ sở dùng Internt cho EDI và các giao dịch ngân hàng ít tốn kém hơn dùng các mạng nội bộ chuyên dùng, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản chi phí không nhỏ trong giao dịch.

    Mặt khác, thời gian giao dịch bằng thương mại điện tử chỉ bằng 0.05% thời gian giao dịch qua bưu điện. Chi phí giao dịch cũng chỉ bằng khoảng 5% chi phí giao dịch qua bưu điện hay chuyển phát nhanh, bằng 10%-20% chi phí thanh toán thông thường khác.

    Nội dung của thư thương mại bao giờ cũng phải hết sức chính xác. Tránh những sự hiểu lầm do trình bày không rõ ràng, không khúc triết hoặc do sử dụng từ ngữ không chính xác. Mọi lý lẽ được diễn đạt đầy đủ, nhưng không rườm rà. Mỗi nước có một cách hiểu khác nhau về từng vấn đề liên quan đến buôn bán như đơn vị đo lường, cách trả tiền, sự phân chia chi phí trong quan hệ bốc dỡ… bởi thế khi đề cập đến mỗi vấn đề, cần phải thật chi tiết, cụ thể, rõ ràng về quan niệm của doang nghiệp mình hoặc những yêu cầu của doanh nghiệp nêu ra. Không bao giờ nên nghĩ chắc rằng đối phương cũng hiểu vấn đề này theo cách mình hiểu.

    Sự khẩn trương trong trao đổi thư điện tử cần được chú ý thích đáng. Tất cả cách liên lạc qua Internet được gửi đến đều phải được trả lời một cách nhanh chóng dù rằng mình chưa có cơ hội bán hàng. Việc trì hoãn trả lời, thậm chí quên không trả lời khách hàng sẽ gây ấn tượng xấu. Một nhà kinh doanh tốt bao giờ cũng cố gắng mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng.

    Pháp luật nước ta và các nước đối tác đã quy định đầy đủ về những điều lệ, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch qua điện tử.Vì vậy doanh nghiệp luôn tìm hiểu và nghiên cứu kỹ để không gặp phải bất kỳ rắc rồi gây bất lợi cho doanh nghiệp trong khi giao dịch buôn bán với các đối tác nước ngoài.”

    3.2.2. Lập hợp đồng xuất khẩu

    Hai công ty đã đi đến ký kết hợp đồng như sau:

     

    CONTRACT

    No : HH 2009 12. 02.VN1

    Date : April 6th, 2016

    Between

    VIETTIEN GARMENT CORPORATION

    Address: 07 Le Minh Xuan,Tan Binh district,Ho Chi Minh city,Vietnam

    Tel:  84-8-8645085 (22 lines)

    Fax:  84-8-8645085-8654867

    Hereinafter called The Seller.

    And

    THE MELON FASHION GROUP

    Address:512 Balashikha, Moscow, Russia

    Tel :+7-398-0707

    Fax: +7-944-7857

    Hereinafter called The Buyer

    We both parties agree to sign and implement this contract with following conditions and terms :

    Article 1 : Description

    • Product name : Men’s long sleeve shirt, women’s long sleeve shirt
    • Description :
      • Fabric : 100% cotton
      • Size : XS, S, M, L, XL, XXL (quantities of each size are equal)
      • Country of origin : Vietnam
      • Brand new (100%)

     

    Article 2 : Price And Quantity

    Item Price per unit  fob Saigon (USD) Quantity (unit) Total value (USD)
    NO. 1941112XL White men’shirt 15 20000 300.000
    Blue men’shirt 15 15000 225.000
    Boxdeu men’shirt 15 10000 150.000
    Blue-chequer men’shirt 15 12000 180.000
    Blue-striper men’shirt 15 12000 180.000
    NO.1875241L White women’shirt 15 17000 255.000
    Blue  women’shirt 15 17000 255.000
    Pink-striper women’shirt 15 17000 255.000
    Blue-striper women’shirt 15 15000 225.000
    Total 135000 2.025.000

    These above price are expressed in US Dollars, FOB Saigon– Incoterms2010.

    Article 3: Quality

    The seller must supplies the goods in accordance with the samples he sent on May 15th, 2016. One set of samples must be retained by each party and the arbitrator nominated in article 8

    Article 4 : Packing

    • Each unit is packed in a carton small box (0.3m x 0.22m x 0.05m) covered with a thin poly layer
    • 40 these boxes will be packed in a carton bin (0.6m, 0.45m, 0.5m) in order to avoid tearing and protect the goods.

     

    Article 5 : Payment

    “+ The seller will be paid by irrevocable letter of credit in US Dollar valid till May 9th, 2016. The buyer have to make a payment all value for the shipment according to L/C to the seller within 3 working days as from the day the L/C-opening bank has received a full set of shipping.

    +All charges regarding L/C amendment shall be born by the party requires L/C amendment.

    +Document for payment :

    • Singed commercial invoice originals.
    • Clean “Shipped on board” Ocean Bill of loading in complete set of at least 3 original 3 non – negotiable copies sianed made out to order of Russia Comercial – industrial bank.
    • Quality/Quantity certifiate issued by the Chamber of Comerce of Vietnam in triplicate.
    • Certificate of original issued by the Chamber of Commerce of Vietnam in 01 original.
    • Packing list in triplicate.”

    Article 6 : Delivery

    The good will be delivered no later than May 5th, 2016

    • Partial shipment : Not allowed.
    • Transhipment : Not allow
    • Port of loading : Sai Gon Port
    • Port of discharge : Novorossiysk Port

    Article 7: Force majeure

    “If either party is prevent from, or delayed in, performing any obligation under this contract by reason of a force majeure event, then this party is not considered to be in default and no remedy, be it under this contract or otherwise, is available to the other party.

    All cases of force majeure are consider as war, strike at two enterprise, disease, fire, disable.

    When force majeure event occurred, the party who met the force majeure must inform the other partner by the Telegraph and in 7 days must get the writing confirmation from authorized body. The force majeure will not be accepted if over 7 days.

    Article 8 : Arbitration

    In the course of executing this contract, all disputes not reaching at amicable agreement shall be settled by Arbitration Committee of Vietnam under the rules of The International Chamber of Commerce of which awards shall be final and binding both parties. The fee for the  arbitration and other changes shall be born by the losing party, unless otherwise agreed

    Article 9 : General

    All amendment, supplementation of this contract are affected when they are made in PDF files and be signed by both parties with their certified digital-signature

    This contract is made in English in 3 originals and saved in PDF file, 2 of which are retained by each party, one is retained by the arbitrator nominated in Article 8. Both parties engage to realize all these above mentioned of the contract.

    This contract is signed on April 6th, 2016”

             SELLER                                                                                      BUYER

    Viettien Garment Corporation                                              The Melon Fashion Group

     

    3.3. Tổ chức thực hiện hợp đồng

    3.3.1. Sơ đồ xuất khẩu

     

     

     

     

     

     

    3.3.2. Quy trình thực hiện

    • Chi tiết các quy trình thực hiện hợp đồng.
    • Giục mở L/C và kiểm tra L/C

    Ngay sau khi ký kết hợp đồng với công ty The Melon Fashion Group, Công ty đôn đốc người mua mở L/C đúng hạn. Sau khi nhận được L/C thì phải kiểm tra:

    – Đối chiếu những quy định trong hợp đồng và quy định trong L/C xem có phù hợp không, kiểm tra cẩn thận từng câu, từng chữ.

    – Loại L/C có phù hợp với loại L/C quy định trong hợp đồng không.

    – Ngân hàng mở L/C, ngân hàng trả tiền, hoặc ngân hàng xác nhận có quan hệ giao dịch với ngân hàng của công ty hay không, có đúng quy định không.

    – Số tiền của L/C có đủ để thanh toán hàng hóa của mình hay không, nếu chưa đủ thì yêu cầu sửa lại cho đủ hoặc giao hàng vừa đủ với L/C.

    – Thời hạn giao hàng và thời hạn hiệu lực của L/C có mâu thuẫn với nhau không. Thời hạn của L/C có đủ để người bán luân chuyển chứng từ không.

    – Những yêu cầu về chứng từ thanh toán có rõ ràng và dễ thực hiện hay không, nếu thấy có điều gì gây khó khăn cho công ty phải yêu cầu sửa lại.”

    • Chuẩn bị hàng hoá:
    • Tiến hành các thủ tục để vay vốn tại ngân hàng:

    – Ngày 6/4 ngay sau khi ký kết hợp đồng với tập đoàn Melon, công ty tiến hành các thủ tục để vay vốn của ngân hàng BIDV.

    Số tiền vay là 10tỷ VND

    Lãi suất vay: 0.8%/tháng

    Hạn trả tiền vay: 08/04/2015

    – Ngày 8/4 công ty nhận được tiền vay

    • Thu mua nguyên liệu:

    Nguồn nguyên liệu: Để sản xuất lô hàng trên, công ty chúng tôi sử dụng loại vải 100% cotton cao cấp của tổng công ty 28 – AGTEX”

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ________________

    HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
    Số:13K/HĐMB

    Căn cứ Luật thương mại số 36/2005 /QH11 ban hành ngày 14/06/2005 của Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (có hiệu luật ngày 01/01/2006).

    Hôm nay, ngày 8 tháng 4 năm 2014

    Tại địa điểm: Số 7 – Lê Minh Xuân, Tân Bình, Hồ Chí Minh, Việt Nam

    Chúng tôi gồm:

    Bên A

    – Tên doanh nghiệp: Tổng công ty 28 – AGTEX

    – Địa chỉ trụ sở chính: Số 03 Nguyễn Oanh, Gò Vấp, TP HCM

    – Điện thoại: + 84 (8) 8942238 – 8945012 Fax:  + 84 (8) 8943053

    – Tài khoản số: 711A07984821    Mở tại ngân hàng:  Vietinbank-TP.HCM

    – Đại diện là: Đậu Quang Lành       Chức vụ: Tổng giám đốc

    Bên B

    – Tên doanh nghiệp: Tổng công ty cổ phần May Việt Tiến

    – Địa chỉ trụ sở chính: 07 Lê Minh Xuân, Quận Tân Bình,Hồ Chí Minh , Việt Nam

    – Điện thoại: 84-8-38640800 (22 lines)    Fax: 84-8-38645085-38654867

    – Tài khoản số: 003.1.00000196.6   Mở tại ngân hàng:Vietcombank chi nhánh Hồ Chí Minh

    – Đại diện là: Nguyễn Ngọc Trung      Chức vụ: Giám đốc điều hành

    Hai bên thống nhất thỏa thuận nội dung hợp đồng như sau:

    Điều 1: Nội dung công việc giao dịch:

    Bên A bán cho bên B:

    Tên hàng Mã hàng Số lượng(mét) Đơn giá
    (VND/m)
    Thành tiền
    (VND)
    Vải 100%
    cotton
    PPL01 13.500 100.000 13.500.000.000

    Tổng giá trị(bằng chữ): Mười ba tỉ năm trăm triệu Việt Nam đồng

     

    Điều 2: Giá cả và số lượng

    Đơn giá mặt hàng và số lượng hàng được quy định như điều khoản 1 trong hợp đồng

    Điều 3: Chất lượng và quy cách hàng hóa:

    Chất lượng và quy cách mặt hàng vải 100% cotton

    Tên sản phẩm      : PPL01

    Kiểu dệt          : Plain

    Chất liệu: 100% cotton

    Cấu trúc          : CM50*CM50

    Khổ TP            : 150cm (59″)

    Trọng lượng    : 109g/m2

    Điều 4: Bao bì và ký mã hiệu:

    -Cứ 100 m chiều dài vải được cuộn thành một cuộn theo khổ rộng 150cm

    – Mỗi cuộn được bọc bằng nylon PE chống hấp hơi, chống ẩm

    -Đóng thùng carton kích cỡ thùng rộng 155cm x  dài 240cm x cao 160 cm, 6 cuộn / 1thùng

    Điều 5: Phương thức giao nhận:

    1.Bên A giao cho bên B toàn bộ lô hàng vào 10 giờ sáng, ngày 15 tháng 4 năm 2016

    1. Địa điểm giao hàng là tại kho của bên A, tại Số 03 Nguyễn Oanh, Gò Vấp, TP HCM
    2. Phương tiện vận chuyển và chi phí vận chuyển do bên B chịu.
    3. Chi phí bốc xếp tại mỗi đầu do mỗi bên chịu

    5.Qui định lịch giao nhận hàng hóa mà bên mua không đến nhận hàng thì phải chịu chi phí lưu kho bãi là 1.000.000 đồng/ ngày. Nếu phương tiện vận chuyển bên mua đến mà bên bán không có hàng giao thì bên bán phải chịu chi phí thực tế cho việc điều động phương tiện.

    1. Khi mua hàng, bên mua có trách nhiệm kiểm nhận phẩm chất, qui cách hàng hóa tại chỗ. Nếu phát hiện hàng thiếu hoặc không đúng tiêu chuẩn chất lượng … thì lập biên bản tại chỗ yêu cầu bên bán xác nhận. Hàng đã ra khỏi kho bên bán không chịu trách nhiệm .

    Trường hợp giao nhận hàng theo nguyên đai, nguyên kiện, nếu bên mua sau khi chở về nhập kho mới phát hiện có vi phạm thì phải lập biên bản gọi cơ quan kiểm tra trung gian (Vina control) đến xác nhận và phải gửi đến bên bán trong hạn 10 ngày tính từ khi lập biên bản. Sau 15 ngày nếu bên bán đã nhận được biên bản mà không có ý kiến gì coi như đã chịu trách nhiệm bồi thường lô hàng đó.

    1. Mỗi lô hàng khi giao nhận phải có xác nhận chất lượng bằng phiếu hoặc biên bản kiểm nghiệm; khi đến nhận hàng người nhận phải có đủ:

    – Giấy giới thiệu của cơ quan bên mua;

    – Phiếu xuất kho của cơ quan bên bán;

    – Giấy chứng minh nhân dân.

    Điều 6: Phương thức thanh toán:

    Tại thời điểm ký hợp đồng, bên B đặt trước cho bên A 10 tỷ đồng tiền mặt. Số tiền còn lại là 3 tỷ 500 triệu đồng, bên B sẽ chuyển vào tài khoản của bên A tại ngân hàng BIDV trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận hàng.

    Điều 7: Trách nhiệm vật chất trong việc thực hiện hợp đồng

    1. Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã thỏa thuận trên, không đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, bên nào không thực hiện hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị phạt tới 10 % giá trị phần hợp đồng bị vi phạm
    2. Bên nào vi phạm các điều khoản trên đây sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực hiện hành về phạt vi phạm chất lượng, số lượng, thời gian, địa điểm, thanh toán, … mức phạt cụ thể do hai bên thỏa thuận dựa trên khung phạt Nhà nước đã quy định trong các văn bản pháp luật về hợp đồng kinh tế theo luật thương mại Việt Nam

    Điều 8: Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng:

    1. Hai bên cần chủ động thông báo cho nhau tiến độ thực hiện hợp đồng. Nếu có vấn đề gì bất lợi phát sinh các bên phải kịp thời thông báo cho nhau biết và tích cực bàn bạc giải quyết (cần lập biên bản ghi toàn bộ nội dung).
    2. Trường hợp các bên không tự giải quyết được mới đưa vụ tranh chấp ra tòa án.

    Điều 9: Các thỏa thuận khác

    Các điều kiện và điều khoản khác không ghi trong này sẽ được các bên thực hiện theo quy định hiện hành của các văn bản pháp luật về hợp đồng kinh tế.

     

    Điều 10: Hiệu lực của hợp đồng:

    Hợp đồng này có hiệu lực từ ngày 8- 4 -2016 đến hết ngày 21-4-2016

    Hai bên sẽ tổ chức họp và lập biên bản thanh lý hợp đồng này sau khi hết hiệu lực không quá 10 ngày. Bên A có trách nhiệm tổ chức và chuẩn bị thời gian, địa điểm họp thanh lý.

    Hợp đồng này được làm thành 2…. bản, có giá trị như nhau, mỗi bên giữ 1  bản.

    ĐẠI DIỆN BÊN A                                                                ĐẠI DIỆN BÊN B

    Chức vụ:                                                                          Chức vụ:

    Ký tên                                                                                     Ký tên

    (Đóng dấu)                                                                                (Đóng dấu)

    • Sản xuất:

    – Ngày 15/4 sau khi nhận được lô vải mua từ công ty 20-AGTEX, 2 đơn vị May1 và May2 của công ty sẽ bắt đầu gia công vải thô thành vải màu và vải kẻ.

    – Thời gian gia công vải là 7 ngày

    – Thời gian hoàn  thành sản xuất là 4 ngày

    – Thời gian đóng gói hàng để xuất khẩu là 1 ngày

    Các hộp cáctông nhỏ được phủ bởi 1 lớp nilon mỏng (bao bì bên trong – inner packing), công nhân tiến hành xếp vào các thùng cáctông (bao bì bên ngoài – outer packing), cứ 1 thùng cáctông chứa 40 hộp áo sơmi được xếp cẩn thận. Trên bao bì có in nhãn mác của công ty, các hình ảnh quảng cáo sản phẩm thu hút sự chú ý của người tiêu dùng. Những dấu hiệu hướng dẫn cách xếp và bốc dỡ ( như: tránh mưa, không dùng cẩu hàng….), số lượng hàng hóa trong thùng, số hiệu chuyến hàng, số hiệu kiện hàng được in trên vỏ thùng.”

    • Xin giấy phép xuất khẩu

    Hồ sơ xuất trình gồm: Đơn xin giấy phép, hợp đồng thương mại, Bản sao công chứng giấy phép kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động được chuyển đến Phòng cấp giấy phép của Bộ Công Thương. Sau 3 ngày kể từ ngày nhận được đơn đó, Phòng cấp giấy phép sẽ trả lời.

     

    • Làm thủ tục hải quan:
    • Đăng kí và làm tờ khai hải quan:

    – Chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hóa lên tờ khai để cơ quan Hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Yêu cầu của việc khai này là trung thực và chính xác. Nội dung của tờ khai báo gồm những mục như:

    + Loại hàng: hàng mậu dịch,

    + Tên hàng: áo sơ mi nam tay dài, áo sơ mi nữ tay dài

    + Số lượng: 135000 chiếc

    + Giá trị hàng : 2.025.000 USD

    – Giấy tờ xuất trình kèm theo:

    + 3 tờ khai hải quan (2 bản chính, 1 bản photo)

    +Giấy phép xuất khẩu: 1 bản chính

    + Phiếu đóng gói

    + Bảng kê chi tiết

    • Xuất trình hàng hóa:

    Sắp xếp hàng hoá theo trật tự, thuận tiện cho việc kiểm soát, kiểm tra hàng hoá

    • Thực hiện các quy định của hải quan
    • Giao nhận hàng với tàu :

    – Lập bảng đăng ký chuyên chở cho người vận tải để đổi lấy sơ đồ xếp hàng.

    – Trao đổi với cơ quan điều động cảng để nắm vững ngày giờ tàu đến, ngày giờ làm hàng.

    – Bố trí phương tiện đem hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu.

    – Lấy biên lai thuyền phó và đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển hoàn hảo và chuyển nhượng được.

    • Làm thủ tục thanh toán:

       Sau khi hàng đã được giao lên tàu, nhân viên phụ trách của công ty tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C. Sau đó gửi cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo là ngân hàng BIDV để đòi tiền. Bộ chứng từ bao gồm:

    • Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)
    • Vận đơn đường biển hoàn hảo (clean on board Bill of lading
    • Phiếu đóng gói hàng hoá (packing list)
    • Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)
    • Giấy chứng nhận số lượng (Certificate of quantity)
    • Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate of quality)
    • Thông báo giao hàng (Notice of shipment)
    • Khiếu nại và giải quyết khiếu nại:

    – Khi thực hiện hợp đồng, nếu người mua khiếu nại đòi bồi thường, công ty sẽ xem xét kỹ lưỡng, nghiêm túc vụ việc và giải quyết khẩn trương, kịp thời, có tình có lý. Nếu khiếu nại của khách hàng là có cơ sở, công ty sẽ giải quyết bằng 1 trong những phương pháp sau:

    + Giao hàng thiếu

    + Giao hàng tốt thay thế hàng kém chất lượng.

    + Giảm giá hàng kém chất lượng.

    Nếu việc khiếu nại của khách hàng không có cơ sở mà 2 bên không thể hoà giải được, thì sẽ tiến hành phân xử nhờ trọng tài đã chỉ định.

    – Nếu sau khi công ty đã giao hàng đúng hẹn, xuất trình đầy đủ bộ chứng từ mà người mua không chịu trả tiền như đã quy định trong hợp đồng, công ty cũng sẽ kiện người mua tại hội đồng trọng tài.”

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kết Luận

    “Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn đặt ra các mục tiêu có lợi nhất cho công ty của mình. Chính vì vậy mà việc lập một phương án kinh doanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng , nó là điều kiện cần thiết mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần tiến hành. Nó giúp doanh nghiệp nắm rõ được các khoản chi phí của mình, đồng thời cũng nắm được khoản lợi nhuận mà công ty  mình đạt được là bao nhiêu.

    Thông qua việc lập phương án xuất khẩu cho sản phẩm của mình công ty đã đánh giá được hiệu quả kinh tế của lô hàng xuất khẩu của công ty . Các khoản chi phí được hạch toán một cách rõ ràng, đầy đủ đó chính là cơ sở cho công ty có thể thấy được việc sử dụng nguồn vốn của mình có hiệu quả hay không từ đó có những điều chỉnh thích hợp. Qua việc lập phương án, các công việc trong việc tíến hành xuất khẩu cũng được công ty sắp xếp một cách khoa học theo một trật tự nhất định, điều đó làm cho các công việc được tiến hành một cách nhanh chóng thuận tiện, nhanh chóng.

    Như vậy có thể khẳng định rằng việc lập phương án là hết sức cần thiết và quan trọng.

    Kiến nghị:

    Công tác ngoại thương là một công tác phức tạp, cân có chuyên môn vững vàng và nghiệp vụ thành thạo mới có thể thực hiện tốt các công việc trong lĩnh vực này chính vì vậy, đề nghị công ty tiến hành một số biện pháp sau:

    – Liên tục nâng cao trình độ tác nghiệp cho cán bộ ngoại thương nhằm đảm bảo thực hiên tốt các công đoạn trong việc thực hiên hợp đông ngoại thương đặc biệt: trong quá trình giao nhân, quá trình thanh toán

    –  Doanh  nghiệp cần có sự giám sát chặt chẽ trong quá trình thực hiện hợp đồng, tránh tối đa những sai phạm trong quá trình này và những tổn thất không cần thiết

    – Phối kết hợp chặt chẽ với ngân hàng, thực hiện đúng đủ các quy đình của pháp luật trong việc thanh toán quốc tế

    – Liên lạc thường xuyên với bên đối tác nhằm giải quyết những khúc mắc một cách nhanh chóng nhất, cho hàng được tới tay khách hàng một cách nhanh chóng

    – Một vấn đề vô cùng quan trọng là phải nâng cao vị thế của công ty trên thị trường

    – Khẳng định thương hiêu thông qua chất lượng hàng hoá, và các thương vụ kinh doanh hiệu quả

    Về viêc quản lý của nhà nước:

    – Cần tạo ra một cơ chế thông thoáng trong xuât khẩu, tiến hành các biên pháp cần thiết thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

    – Phía cơ quan Hải quan nên đẩy mạnh viêc ứng dụng trang thiết bị mới, giúp các doanh nghiệp thông quan một cách nhanh chóng

    Trên đây là những trình bày của em về một phương án xuất khẩu do kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.Em rất mong nhận được sự chỉ bảo thêm của các thây cô!”


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU

    Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU

    Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Th%C3%BAc-%C4%90%E1%BA%A9y-Xu%E1%BA%A5t-Kh%E1%BA%A9u-V%E1%BA%A3i-Thi%E1%BB%81u-Sang-EU.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU

    MỞ ĐẦU

    1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    – Tổng quát về nhu cầu của thị trường EU đối với các mặt hàng rau, củ, quả nhiệt đới. Mức độ tiêu thụ của thị trường đối với các mặt hàng này ra sao? Cơ hội đối với các nhà xuất khẩu như thế nào?

    – Tiềm năng của thị của rau củ quả Việt Nam như thế nào: Nguồn cung, gía cả, chất lượng các mặt hàng ra sao? Các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu rau, củ quả ra thị trường thế giới ra sao? Thu được những kết quả nào.

    – Giới thiệu về mặt hàng Vải Thiều của Việt Nam. Kết quả thu được của hoạt động xuất khẩu vải thiều ra thị trường thế giới ra sao? Thị trường EU thế nào? Thuận lợi và khó khăn.

    – Đặt vấn đề cho việc Xuất khẩu Vải thiều sang thị trường EU.

    Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một trong những nước được coi là thiên đường hoa quả. Trải dài từ đất mũi Cà Mau, băng qua những miệt vườn trĩu quả, với những phiên chợ nổi bồng bềnh trên sông. Hay lên trên đỉnh đầu đất nước, với những vườn lớn tràn ngập vải thiều, và những chuyến ô tô mang vải đi khắp các nẻo đường đất nước. Hoa quả Việt Nam không chỉ nổi tiếng về sự đa dạng phong phú của chủng loại, màu sắc, hương vị mà còn đặc trưng bởi số lượng lớn. Không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, hoa quả xuất khẩu ngày nay đã và đang khẳng định vị trí của mình trên thị trường thế giới như: EU, Mỹ, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Đài Loan…, và góp phần đáng kể trong cơ cấu GDP của Việt Nam.

    Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình hội nhập, sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp độ, Việt Nam đã nhận thấy EU là một thị trường lớn cần được đầu tư khai thác.  EU là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam với kim ngạch thương mại 2 chiều năm 2012 đạt trên 29 tỷ USD, riêng năm 2013 đã đạt 26,6 tỷ euro, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang EU tới 21,3 tỷ Euro, nhập khẩu từ EU chỉ là 5,3 tỷ euro đặc biệt là xuất khẩu hàng nông, lâm sản. Các mặt hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang EU gồm cà phê, hạt tiêu, hạt điều, chè, rau, hoa quả, các sản phẩm từ ngũ cốc… Các sản phẩm rau gia vị xuất khẩu sang thị trường EU trung bình khoảng 600 ngàn tấn/năm. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu rau, quả Việt Nam sang thị trường này đang có dấu hiệu giảm sút. Trong năm 2012, xuất khẩu rau, quả tăng trưởng chậm lại do vướng mắc các quy định về chất lượng của các nước nhập khẩu, đạt xấp xỉ 829 triệu USD, chỉ tăng 33,4% so với năm 2011, do có nhiều lô hàng xuất khẩu vi phạm các quy định của EU. thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU không ngừng tăng trưởng. Năm 2013-2014 bị thụt giảm đáng kể do các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên nếu được ký kết, Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng 15%. FTA sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang EU nhiều hơn. Dự tính, hiệp định này sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng 30-40% và nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này tăng 25-35%.

    2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    Mục đích nghiên cứu:

    Đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ các lý luận về hoạt động thúc đẩy xuất khẩu, dựa trên kết quả phân tích thực trạng, cũng như thành công và thất bại của hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam nói chung và vải thiều nói riêng trong giai đoạn ….. Từ đó đề xuất những định hướng, kiến nghị và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Vải thiều vào thị trường EU trong những năm tới, đặc biệt là trong điều kiện các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU đươc kí kết: Việt Nam- EU ( EVFTA), Asean- EU, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương ( TPP)…

    Nhiệm vụ nghiên cứu:

    Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

    – Thứ nhất, nhóm đề tài dựa trên cơ sở lý luận đã được học về hoạt động xuất khẩu và sự cần thiết phải thúc đẩy hoạt động Xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam.

    – Thứ hai, quan phân tích thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam trong giai đoạn 2011-2014. Từ đó rút ra những nhận xét, phân tích và đánh giá ưu, nhược điểm cũng như cơ hội và thách thức của nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới trong giai đoạn 2011-2014, cũng như những trở ngại mà các doanh nghiệp Việt đang phải đối mặt.

    -Thứ ba, đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy cũng như nâng cao giá trị cho nông sản Việt Nam tại thị trường thế giới và EU trong giai đoạn 2016-2020 và nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới.

    3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thúc đẩy xk nông sản của VN sang thị trường EU

    Phạm vi nghiên cứu:

    – Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu để tìm hướng đi cho Vải thiều Việt Nam của các doanh nghiệp Xuất khẩu nông sản tại thị trường EU.

    – Về thời gian: Giai đoạn những năm 2011-2014 và định hướng đến năm 2020.

    4.     PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Đề tài vân dụng lí thuyết Xuất nhập khẩu cũng như lí thuyết về chiến lược kinh doanh của các công ty đa quốc gia để phân tích cũng như đánh giá thực trạng của hoạt động xuất khẩu Vải thiều của các công ty xuất khẩu nông sản.

    Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin thu thập. Phương pháp tổng hợp và phân tích đối với các tư liệu, khái quát thành các bảng và biểu đồ kết hợp dùng mô hình SWOT trong phân tích ưu, nhược điểm, cơ hội và thách thức của nông sản Việt Nam tại EU.

    Đề tìa sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập được qua các tài liệu tham khảo, dữ liệu công bố rộng rãi trên các Website của các công ty, cục Thương mại quốc tế và một số các bài báo viết về nông sản Việt nam…
    5. BỐ CỤC ĐỀ TÀI

    Ngoài phần mở đầu, kết thúc, mục lục, danh mục tài liệu tham khải, đề tài gồm 3 phần chính như sau:

    Chương 1: Lí luận chung về hoạt động thúc đẩy xuất khẩu Vải thiều vào Eu.

    Chương 2: Thực trạng hoạt động Xuất khẩu Vải thiều vào EU.

    Chương 3: Phương hướng, giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Vải thiều Việt Nam vào thị trường EU.

    CHƯƠNG 1

     LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU VẢI VÀO EU

    1.1 Lý luận chung về xuất khẩu

    1.1.1. Lịch sử của xuất khẩu:

    • Thế kỷ II TCN, tại Trung Quốc thời Hán, Con đường tơ lụa bắt đầu được hình thành. Đây là một con đường huyền thoại nối liền Trung Hoa rộng lớn với vùng Tây Á, nó được coi như huyết mạch thông thương buôn bán của những “thương nhân lạc đà’. Con đường tơ lụa là biểu hiện đầu tiên của thương mại quốc tế.

    Con đường hổ phách cũng được coi là thương mại quốc tế cổ đại, là một tuyến đường thương mại cổ phục vụ cho việc vận chuyển hổ phách. Trong nhiều thế kỷ, con đường này đã nối liền châu Âu và châu Á, từ Bắc Phi tới biển Baltic, là một trong những tuyến đường bộ và đường thủy quan trọng cho việc thông thương.

    Thương mại quốc tế dần trở nên phổ biến và nắm giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của các quốc gia.

    • Khái niệm “xuất khẩu” (export) dần dần được hình thành. Cuối thế kỷ 15 bắt đầu xuất hiện khái niệm xuất khẩu- export từ “exportare” trong tiếng Latin (ex- out + portare- carry).

    Tới thế kỷ 17, khái niệm này đã trở nên phổ biến.

    1.1.2. Khái niệm xuất khẩu

    • Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán. Vậy, xuất khẩu là việc bán hàng hóa (hữu hình hay vô hình) cho một nước khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán. Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước hoặc là tiền của một nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế).
    • Theo điều 28 trong Luật thương mại 2005 của Việt Nam: xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổi Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
    • Trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF, xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
    • Cũng có thể nói, xuất khẩu là sự phản ánh các mối quan hệ giữa các quốc gia và sự phân công lao động quốc tế, chuyên môn hóa sản xuất dựa trên lợi thế so sánh của từng quốc gia.

    Như vậy, hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của ngoại thương và đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát triển. Hoạt động diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng tới những hàng hóa phục vụ sản xuất…Tất cả những hoạt động trao đổi đó đều mang lại lợi ích cho các quốc gia.

    1.1.3 Các hình thức xuất khẩu

    Cùng với sự toàn cầu hóa, các hình thức xuất khẩu cũng dần trở nên phong phú hơn. Tuy nhiên, chúng ta sẽ xét đến các hình thức xuất khẩu phổ biến:

    • Xuất khẩu trực tiếp: là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho các khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài.

    Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là công ty xuất khẩu có thể chủ động hơn trong việc kinh doanh, giảm bớt được các chi phí trung gian, mở rộng quan hệ kinh doanh hơn nhờ việc trực tiếp giao dịch với khách hàng. Tuy nhiên, khi tham gia thương mại quốc tế bằng hình thức này, doanh nghiệp có thể gặp phải những khó khăn do chi phí giao dịch trực tiếp lớn, rủi ro cao do không am hiểu thị trường nước bạn. Các công ty chọn hình thức xuất khẩu này cần là các công ty có quy mô lớn, có kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của các nhân viên cao.

    • Xuất khẩu gián tiếp: là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua trung gian (bên thứ ba).

    Hình thức này vẫn được các công ty vừa và nhỏ ưu tiên sử dụng. Nó khắc phục được các nhược điểm của hình thức xuất khẩu trực tiếp, giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, hình thức này có một yếu điểm là xuất hiện bên thứ ba. Việc kiểm soát bên thứ ba không phải là đơn giản, và công ty có thể gặp phải rủi ro do sự thiếu trách nhiệm hay sự gian dối từ phía trung gian.

    • Xuất khẩu gia công ủy thác: là hình thức xuất khẩu trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn vị được hưởng phí ủy thác theo thỏa thuận với các xí nghiệp ủy thác.

    Ưu điểm của hình thức này là độ an toàn cao do dựa vào vốn của người khác để kinh doanh thu lợi và chắc chắn sẽ được thanh toán. Ngoài ra, doanh nghiệp sử dụng hình thức này còn có cơ hội nhập được những trang thiết bị công nghệ cao, tạo nguồn vốn để xây dựng cơ bản.

    Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhược điểm là lợi nhuận thu được không cao; khách hàng không biết đến đơn vị gia công nên không nắm được nhu cầu thị trường hay mở rộng thị phần.

    Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường ở vào vị trí nhận gia công thuê cho nước ngoài. Nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì sẽ chuyển sang thuê nước ngoài gia công cho mình.

    • Xuất khẩu tại chỗ: trong trường hợp này, hàng hóa và dịch vụ vẫn chưa vượt khỏi biên giới quốc gia, nhưng có ý nghĩa kinh tế tương tự như hoạt động xuất khẩu. Đó là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, khách du lịch nước ngoài..

    Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được hiệu quả cao do giảm bớt chi phí bao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh, trong khi vẫn có thể thu được ngoại tệ. Ngày này, phương thức này được sử dụng rộng rãi và được đẩy mạnh phát triển.

    • Tái xuất khẩu và chuyển khẩu:

    Tái xuất khẩu: là hoạt động tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào, sau đó lại xuất khẩu sang một nước thứ ba. Ở đây có cả hoạt động mua và bán, nên mức rủi ro lợi nhuận có thể lớn và lợi nhuận có thể cao.

    Chuyển khẩu: trong hoạt động này không có hành vi mua bán mà chỉ đơn thuần là thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho lưu bãi, bảo quản… Lợi thế của hình thức này là hàng hóa được miễn thuế xuất khẩu.

    1.1.4. Vai trò của xuất khẩu.

    • Đối với nền kinh tế quốc dân

    Xuất khẩu là một trong những hoạt động chủ yếu của thương mại quốc tế, nắm giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia:

    Một là, xuất khẩu giúp tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Cùng với vốn đầu tư nước ngoài, vốn từ hoạt động xuất khẩu có vai trò quyết định đối với quy mô và tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu.

    Công nghiệp hóa đất nước là một bước đi phù hợp cho sự phát triển, tuy nhiên, để có thể thực hiện công nghiệp hóa đòi hỏi phải có số lượng vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến. Những nước đang phát triển là những nước đang nằm trong tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ và thừa lao động. Đối với những nước này, việc nhập khẩu lại càng cần thiết. Song, muốn nhập khẩu thì cần có ngoại tệ. Nguồn vốn ngoại tệ có thể lấy được từ các hình thức: đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ và thu từ xuất khẩu…Nguồn vốn chủ động nhất là nguồn lấy từ xuất khẩu. Cho nên, có thể nói xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu.

    Hai là, xuất khẩu thúc đẩy sản xuất và đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, việc dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới là tất yếu, và các nước cần đấy mạnh các hoạt động chuyển dịch.

    Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế:

    • Xuất khẩu chỉ là tiêu thụ các sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Với các nước đang phát triển, trong điều kiện nền kinh tế còn lạc hậu, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, và nếu chỉ thụ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu sẽ không có cơ hội phát triển
    • Trên cơ sở lợi thế so sánh của đất nước, coi thị trường là điểm xuất phát và đặc biệt coi thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất, thị trường cần thì mình sản xuất, gắn với tiềm năng, thực lực của đất nước. Việc nhìn nhận hoạt động xuất khẩu theo hướng này có tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển:

    – Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Ví dụ như, khi du lịch phát triển, các ngành kèm theo như sản xuất thủ công mỹ nghệ, dịch vụ khách sạn, sản xuất hàng tiêu dùng… cũng phát triển theo.

    – Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. So với cách nhìn nhận thứ nhất, xuất khẩu chỉ có khi có các sản phẩm thừa của thị trường nội địa, ở đây, ta hướng thị trường là trung tâm, sản xuất những thứ thị trường cần. Việc coi thị trường quốc tế rộng lớn là thị trường chính thay vì chỉ phục vụ thị trường nội địa nhỏ bé, rõ ràng đã mở rộng thị trường tiêu thụ, việc sản xuất cũng nhờ đó mà phát triển hơn.

    – Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

    – Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới, các cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi được với thị trường.

    Còn rất nhiều những tác động khác của xuất khẩu như việc tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia, đóng góp quan trọng trong việc đưa đất nước trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thể hiện sự phát triển của phân công lao động quốc tế. Các tác động này đều dẫn đến việc dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng tích cực.

    Ba là, xuất khẩu tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Như đã phân tích ở trên, xuất khẩu có ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển. Từ đó, vấn đề việc làm cho người dân sẽ được giải quyết, tạo ra thu nhập ồn định, đồng thời tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của nhân dân.

    Bốn là, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta trên cơ sở vì lợi ích các bên, đồng thời gắn liền sản xuất trong nước với quá trình phân công lao động quốc tế. Xuất khẩu là một trong những nội dung chính trong chính sách kinh tế đối ngoại của nước ta với các nước trên thế giới vì mục tiêu phát triển đất nước.

    Hoạt động xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, tạo động lực để giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế. Điều này nói lên tính khách quan của việc tăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển nền kinh tế

    • Đối với các doanh nghiệp

    Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia và tiếp cận thị trường thế giới. Nếu thành công, đây sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp mở rộng thị trường và khả năng sản xuất của mình.

    Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.

    Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế, tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã hàng hóa… Đây là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nâng cao năng lực của doanh nghiệp đó.

    Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp cũng tận dụng được năng lực sản xuất dư thừa, nhằm tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao doanh số và mở rộng thị trường.

    1.2. Thúc đẩy xuất khẩu

    1.2.1. Khái niệm thúc đẩy xuất khẩu

    Thúc đẩy xuất khẩu là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa của mình thông qua các hình thức xuất khẩu khác nhau nhằm gia tăng sản lượng xuất khẩu, tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa dựa trên khả năng của doanh nghiệp như tài chính, trình độ lao động, trình độ công nghệ…

    Thúc đẩy xuất khẩu là một trong những hoạt động quan trọng không thể thiếu đối với các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận kinh doanh, mở rộng quy mô hoạt động.

    1.2.2. Các nhân tố thúc đẩy xuất khẩu

    * Các nhân tố khách quan

    (1) Thuế quan

    Thuế xuất khẩu là một công cụ quản lý chính của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu. Thuế này được nhà nước ban hành theo hướng có lợi nhất cho quốc gia mình, đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao hiệu quả phát triển sản xuất, bảo về nền sản xuất trong nước. Nếu chính phủ muốn hỗ trợ phát triển xuất khẩu ngành hàng nào đó, thuế xuất khẩu cho mặt hàng này sẽ rất thấp để khuyến khích xuất khẩu và ngược lại, khi chính phủ muốn hạn chế xuất khẩu mặt hàng nào sẽ đánh thuế cao mặt hàng đó.

    Ở Việt Nam hiện nay, để khuyến khích hoạt động xuất khẩu, thuế xuất khẩu hàng hóa của chúng ta là 0%.

    (2) Hạn ngạch

    Hạn ngạch xuất khẩu là một công cụ trong hàng rào phi thuế quan, là những quy định của chính phủ về số lượng xuất khẩu của một mặt hàng nào đó được phép xuất từ nội địa ra nước ngoài.Cũng như thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu nhằm quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp hiệu quả hơn.

    (3) Trợ cấp xuất khẩu

    Là một trong những biện pháp nhằm mở rộng thúc đẩy xuất khẩu đối với những mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu. Có những hình thức trợ cấp như: trợ giá, miễn giảm thuế xuất khẩu, giảm lãi vốn vay cho hoạt động xuất khẩu…

    (4) Chính trị, pháp luật

    Các quy định của nhà nước đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, các hiệp định thương mại quốc tế… đều có ảnh hưởng quan trọng tới việc xuất khẩu của các doanh nghiệp.

    * Nhân tố chủ quan

    Nhân tố chủ quan là những nhân tố bên trong doanh nghiệp có tác động tới vấn đề xuất khẩu. Các nhân tố như bộ máy quản lý doanh nghiệp, khả năng vốn- tài chính, nhân tố con người, khoa học kỹ thuật, uy tín của doanh nghiệp… đều là những nhân tố quan trọng cho việc xuất khẩu. Việc hiểu rõ thực lực của mình nhằm hạn chế yếu điểm và phát huy ưu điểm của doanh nghiệp sẽ giúp việc xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế của doanh nghiệp trở nên dễ dàng và có cơ hội thành công lớn.

    1.2.3. Thúc đẩy xuất khẩu

    Từ việc hiểu rõ các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu, việc thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn.

    Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu chủ yếu bao gồm:

    Nhóm giải pháp liên quan tới cung: mở rộng quy mô sản xuất, trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng…

    Nhóm giải pháp liên quan tới cầu: nghiên cứu mở rộng thị trường, xúc tiến quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài…

    Các giải pháp khác: nâng cao năng lực cạnh tranh từ các hoạt động thu hút vốn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…

    1.3. Hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Nam ra thị trường thế giới

    1.3.1. Thị trường vải thiều thế giới

    1. Sản lượng vải quả thế giới 2014

    – Sản lượng vải quả của toàn thế giới ước đạt khoảng 2,3 – 2,6 triệu tấn mỗi năm và dự báo sẽ tăng lên chủ yếu do hoạt động sản xuất của các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Thái Lan. Năm 2014, sản lượng vải quả của thế giới đạt khoảng 2,6 triệu tấn, trong đó các nước châu Á chiếm khoảng 95% tổng sản lượng, Trung Quốc và Ấn Độ lần lượt chiếm khoảng 57% và 24% về lượng- Việt Nam chiếm khoảng 6% và đứng vị trí thứ 3 về sản xuất (Bảng 1).

    Bảng 1.1 – Sản xuất vải quả của Việt Nam so với các nước trên thế giới

    Nước Sản xuất (tấn) Tỷ trọng (%)
    Trung Quốc 1.482.000 57,00
    Ấn Độ 624.000 24,00
    Việt Nam 156.000 6,00
    Madagascar 100.000 3,85
    Đài Loan 80.000 3,08
    Thái Lan 43.000 1,65
    Nepal 14.000 0,54
    Băng la đét 13.000 0,50
    Reunion 12.000 0,46
    Nam Phi 8.600 0,33
    Mauritius 4.500 0,17
    Mexico 4.000 0,15
    Pakistan 3.000 0,12
    Úc 2.500 0,10
    Israel 1.200 0,05
    Mỹ 600 0,02
    Khác 51.600  
    Thế giới 2.600.000 100,00

    Nguồn: AgroData (2014)

    Trung Quốc, Ấn Độ là 2 nước có sản lượng vải thiều lớn nhất thế giới song thị trường tiêu thụ chính là nội đia chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường nội địa. Việt Nam xuất khẩu tới 40% sản lượng vải của cả nước nhưng chủ yếu chỉ qua cửa khẩu phụ và lối mở biên giới nên chưa có mặt trên bản đồ như một nhà xuất khẩu lớn về vải. Và do vậy, dẫn đầu về xuất khẩu là các nước Madagasca (xuất khẩu khoảng 25% sản lượng, chiếm khoảng 70% thị phần ở EU cũng như xuất khẩu toàn thế giới), Nam Phi (xuất khẩu tới 90%) hay Israel (hơn 70% sản lượng) (GHD, 2013). Tổng lượng xuất khẩu trên thế giới chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ – khoảng 2% tổng sản lượng sản xuất. Số liệu năm 2008 là khoảng 32.000 tấn.

    Hoạt động sản xuất vải quả diễn ra chủ yếu ở khu vực phía Bắc bán cầu và chỉ một lượng nhỏ ở Nam Bán cầu (gồm Úc, Madagasca, Nam Phi và một số quốc gia khác). Trong tương lai dự báo Bra-xin cũng có thể xuất khẩu vải quả sang Mỹ khi nguồn cung cho thị trường nội địa đã dư thừa. Do sự khác biệt về mùa vụ trong năm, quả vải được thu hoạch chủ yếu tại Bắc bán cầu vào mùa hè (giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7), trong khi mùa thu hoạch ở phía Nam bán cầu diễn ra từ tháng 11 đến tháng 2.

    Bảng 1.2- Phân bổ mùa vụ vải quả giữa các nước trên thế giới

    Nguồn: AgroData (2014)

    1. Nhu cầu vải thiều trên thế giới

    – Theo dự báo của các nhà xuất khẩu vải Úc, nhu cầu tiêu thụ vải quả trên thế giới sẽ tiếp tục có xu hướng gia tăng trong thời gian tới. Vải quả tươi sẽ vẫn được ưa chuộng nhưng xu hướng đa dạng. Nhu cầu tiêu thụ vải quả trên thế giới hóa các sản phẩm vải quả sẽ vẫn diễn ra mạnh mẽ. Các sản phẩm bánh kẹo, mứt, bột và nước ép sẽ xuất hiện nhiều hơn ở các phân khúc bán buôn thay vì chỉ có sản phẩm vải tươi thống trị phân khúc này như trước kia. Đồn g thời người tiêu dùng sẽ ngày càng khó tính hơn khi lựa chọn các sản phẩm vải quả do họ có nhiều lựa chọn hơn từ các nước khác nhau trên thế giới song xu hướng rõ ràng là những sản phẩm an toàn và giữ được hương vị tự nhiên sẽ được ưu tiên hơn.

    Bảng 1.3. Các sản phẩm vải quả, yêu cầu về chất lượng, bao gói và đặc điểm kênh phân phối, giao dịch tại các thị trường trên thế giới

    Tên sản phẩm Mô tả/cách thức phân phối, giao dịch trên thế giới
     

     

     

     

     

     

    Vải quả tươi

    Đóng gói, bảo quản, vận chuyển:

     

    Vải tươi từ các nước được xử lý bảo quản, đóng thùng, dán nhãn, xuất khẩu bằng đường hàng không hoặc đường bộ (trường hợp các nước liền biên giới).

    Phân phối:

    Sản phẩm được bán tại các siêu thị, cửa hàng hoặc được nhà phân phối chuyên nghiệp giao đến tận nhà những người tiêu dùng đã đặt hàng (ví dụ tại Florida- Hoa Kỳ, người mua đặt hàng trước 1-2 ngày, cửa hàng phân phối sẽ lựa chọn vải theo yêu cầu và giao hàng tại nhà).

    Giá bán lẻ: 29-32 USD/kg

    Đặt hàng trước 1-2 ngày theo máy bay

    Yêu cầu: Độ đồng đều (ví dụ thị trường Floria Mỹ yêu cầu đường kính 1,5 inch/quả), màu vải tươi tự nhiên, xử lý xạ/nhiệt để đảm bảo không có dịch bệnh.

     

     

     

    Vải đóng hộp

    Các sản phẩm vải đóng hộp rất đa dạng, tùy thuộc vào thị hiếu của từng thị trường. Theo đó mức độ ngọt, trọng lượng hộp, số lượng quả vải trong mỗi hộp sẽ dao động tùy theo thị trường. Ví dụ tại Florida- Hoa Kỳ, người tiêu dùng thường dùng các hộp có khoảng 20 quả vải đã được bóc vỏ, bỏ hạt và đóng hộp trong khoảng 1,5 cốc xi-rô đường.

     

    Giá bán lẻ: Từ 5-25 USD/hộp tùy thị trường (Ví dụ tại Trung Quốc chỉ khoảng 5-10 USD/hộp 20 quả, tại châu Âu khoảng 25 USD/hộp 20 quả).

     

     

    Bột vải quả, nước vải quả cô đọng

    Vải quả nghiền, cô đọng, sử dụng để làm đồ uống hỗn hợp, sorbets, sinh tố hoặc đổ lên kem, Phân phối: Chủ yếu bán tại các siêu thị và cũng được giao hàng tận nhà nếu có yêu cầu.

     

    Giá bán: 25 USD/túi 0,5kg

    Yêu cầu: Độ mịn, độ đường đạt tiêu chuẩn của thị trường tiêu thụ.

     

     

    Bánh kẹo từ vải quả, vải sấy khô

    Vải sấy khô, kẹo vải, bánh vải, vải ngâm mật ong… Lychee Gummys, Dried Lychees, Lychee Honey, Lychee Gel Cup

     

    Các sản phẩm này chủ yếu bán ở các siêu thị

     

     

     

    Mứt vải

    Mứt vải rất được ưa chuộng tại Mỹ và châu Âu, nhất là khi mùa vải tươi đã kết thúc. Dùng để ăn sáng với bánh mì.

     

    Phân phối: Được bán phổ biến trong các siêu thị

     

     

     

    Si rô vải

    Si rô vải được chế biến theo công thức riêng của từng nhà sản xuất, chể kết hợp với một số thành phần khác để vừa đạt yêu cầu về dinh dưỡng, hương vị, vừa đáp ứng một yêu cầu riêng gì đó về sức khỏe  (ví dụ được dùng như một loại thực phẩm chức năng: Vải quả rất tốt cho những người cao huyết áp, chứa một lượng rất thấp natri, nhưng lượng kali cao trong một khẩu phần vải)
     

     

     

    Nước ép vải

    Nước ép vải rất phổ biến tại các siêu thị trên thế giới. Tại Mỹ, nước ép vải từ Nam Phi, Đài Loan và Malaysia đã có chỗ đứng trong các siêu thị lớn (Việt Nam chưa thâm nhập được thị trường này).

     

    Vận chuyển: Hàng không hoặc hàng hải

     

     

    Trà vải

    Trung Quốc, Đài Loan đã sản xuất trà đen hương vải, trà tẩm vị vải tươi tự nhiên và đã xuất khẩu được sang Mỹ, châu Âu.

     

    Vận chuyển: Hàng không hoặc hàng hải

     

     

     

    Kem dưỡng da từ vải quả

    Sản phẩm chăm sóc da vải quả được tinh chế nhằm đảm bảo mùi thơm và công dụng tự nhiên của vải quả đối với da, đồng thời có đặc trưng của vải quả tươi với ánh đỏ nhạt gợi cảm.

     

    Hiện nay các nhà sản xuất của Thái Lan đã xuất khẩu được sản phẩm này sang Mỹ.

    (Nguồn: Tổng hợp từ trang điện tử của các siêu thị lớn của Hoa Kỳ và châu Âu)

    Mức giá bán sản phẩm vải quả có sự khác biệt đáng kể giữa các thị trường và có thể tham khảo ở Bảng 4 dưới đây với mức từ 300,000 đ ở châu Âu đến 600.000đ – 700.000đ ở Mỹ.

    1. Vải thiều Việt Nam trên thị trường thế giới

    Các cấu trúc hiện tại của sản phẩm vải thiều xuất khẩu chủ yếu bao gồm vải thiều tươi, vải sấy khô và vải thiều đóng hộp. Xuất khẩu vải tươi được đóng gói trong hộp xốp với bảo quản lạnh. Với sự mở rộng của khu vực sản xuất vải thiều đạt tiêu chuẩn VietGAP, có một số lượng lớn vải thiều Việt Nam có chất lượng tốt với bao bì thích hợp, chứng chỉ đầy đủ của nguồn gốc sản phẩm và kiểm dịch thực vật.

    Các sản phẩm chế biến từ vải như: nước ép vải, vải thiều sấy khô, đóng hộp vải thiều đông lạnh có giá trị gia tăng cao được maily xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và EU, chiếm 15% tổng khối lượng xuất khẩu. Bên cạnh đó, vải thiều nhuyễn cũng là một sản phẩm tiềm năng. Theo ước tính của một số công ty xuất khẩu vải thiều Việt, năm tấn vải tươi có thể làm cho một tấn vải thiều nhuyễn.

    • Thị trường xuất khẩu và các loại hình xuất khẩu

    Các thị trường xuất khẩu chính của vải thiều Việt Nam hiện tại Trung Quốc. Bên cạnh đó, một số lượng nhỏ của vải thiều được xuất khẩu sang một số thị trường phát triển như Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, và Singapore. Theo thông tin thu thập được từ các doanh nghiệp, số lượng đơn đặt hàng từ các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Lào, Campuchia và thậm chí Nga trong mùa vải thiều năm 2014 là lớn hơn so với mùa trước. Thứ hai tới Trung Quốc, thị trường Nhật Bản đã ra lệnh 3.000 tấn vải tươi trong mùa giải năm nay.

    Bảng 1.4- Các thị trường xuất khẩu vải thiều chính của Việt Nam 2008 – 2012

    Nno. Country 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 (*)
    1 China 386,288 1,024,048 324,349 3,843,312 14,620,374 18,564,683 17,000,000
    2 UAE 63,450 82,800 82,800 120,450 145,200 172,500  
    3 South Korea 38,146 35,938 17,600 20,488 100,230 319,850  
    4 The Netherlands 88,400 79,350 66,096 175,667      
    5 France 120,314 111,120 19,610 98,235 3,250    
    6 The UK 47,626   46,800 69,228   55,000  
    7 Canada   141,990          
    8 Laos 6,200   47,442 11,560 2,820 3,384  
    9 Singapore       8,820 16,800 25,761  

    Nguồn: Số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam năm 2014 

    Thị trường Trung Quốc: Xuất khẩu vải của Việt Nam sang Trung Quốc  chiếm 95% tổng sản lượng xuất khẩu và tăng nhanh chóng trong những năm gần đây qua. Trong năm 2014, do một số vấn đề chính trị, khối lượng vải thiều xuất sang Trung Quốc giảm 10% cho các năm trước năm 2013 và chiếm 52% tổng sản lượng vải thiều (theo dự toán của Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang ). Tuy nhiên, vải thiều xuất sang Trung Quốc chủ yếu qua các cửa khẩu phụ hoặc lối vào biên giới Việt Nam nên đã không được ghi nhận trong bản đồ thế giới về xuất khẩu vải thiều mặc dù có một vị trí thứ ba về sản lượng vải thiều.

     Hàn Quốc: Doanh thu xuất khẩu vải thiều sang thị trường này ngày càng tăng trong vài năm qua. Hàn Quốc là một thị trường khó tính trong đó có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn thực phẩm. Vì vậy, nó là một dấu hiệu tốt cho ngành vải thiều Việt Nam khi vải thiều Việt đã bước vào thị trường này với sự gia tăng doanh thu xuất khẩu.

    Nhật Bản: Theo thống kê của hiệp hội rau quả quốc gia Việt Nam,  trong năm 2014, đã có 11 đại biểu đến từ Nhật Bản để thực hiện một đơn đặt hàng 3.000 tấn vải thiều Việt đến thị trường khó tính này.

    Người ta ước tính rằng trong năm 2014, khối lượng của vải thiều xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc tăng 10%.

    Người trồng vải thiều ở xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ của Viện Nghiên cứu và phát triển khu vực thí điểm vải thiều xuất khẩu sang Nhật Bản với việc tuân thủ các thủ tục CAS (công nghệ Nhật Bản đóng băng quich, sử dụng cho các sản phẩm thủy sản , các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm bảo quản). Ngày 20 tháng sáu 2014, 20 tấn vải thiều Lục Ngạn bảo quản với công nghệ CAS đã được xuất khẩu sang Nhật Bản.

    • Các kênh phân phối

    Vải thiều hiện nay được thu hoạch và phân phối ra thị trường thế giới thông qua ba kênh chính:

    Thứ nhất: vải thiều tươi từ các hộ gia đình trồng đến các đại lý / thương nhân thu mua vải thiều xuất khẩu và sau đó xuất khẩu sang Trung Quốc qua cửa khẩu phụ, lối vào đường biên giới hoặc thông qua thương mại chính thức. Kênh này hiện nay chiếm khoảng 40% sản lượng hàng năm vải thiều.

    Thứ hai: vải thiều tươi từ các hộ gia đình trồng đến các đại lý thu mua vải thiều xuất khẩu sau đó cho các doanh nghiệp xuất khẩu vải hoặc các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp ký hợp đồng và mua từ người trồng để xuất khẩu vải tươi sang các thị trường mở để chế biến khô, đóng hộp vải hoặc vải nhuyễn cho xuất khẩu chính thức sau này . Đây là một kênh xuất khẩu quan trọng mà cần phải được đầu tư để phát triển hơn nữa trong thời gian tới để chỉ kênh này có thể cho thấy tiềm năng của sự chú ý để đầu tư cho phát triển bền vững.

    Thứ ba: vải thiều tươi từ các hộ gia đình trồng đến các đại lý và sau đó đến các thị trường bán buôn, bán lẻ hoặc siêu thị để tiêu thụ trong nước. Chiếm kênh này cho 55% đến 60% sản lượng hàng năm vải thiều.

    Tốc độ tăng trưởng bình quân của xuất khẩu vải thiều Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012 đạt 220%/năm. Trong năm 2013, doanh thu xuất khẩu xuất khẩu vải thiều đạt 19 triệu USD, tăng 26% so với năm 2012. Trong năm 2014, doanh thu xuất khẩu là 17 triệu USD thấp hơn so với mùa trước 10%. Nhờ áp dụng công nghệ VietGap, trong những năm qua chất lượng vải thiều Việt Nam tường bước được cải thiện đáp ứng nhu cầu thị trường và ngày càng được ưa chuộng. Tuy nhiên doanh thu xuất khẩu và giá cả không ổn định mà hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu.

    Các kênh phân phối

     

     

     

     

     

     

     

     

    Nguồn: IPSAR

    1.3.2. Tình hình xuất khẩu vải thiều của Việt Nam

    • Giá trị xuất khẩu

    Hình 1.1- Giá trị xuất khẩu vải thiều Việt Nam, 2008-2014 (Million USD)

    Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam

    Giá tại nơi sản xuất:

    Trong thực tế, có một sự khác biệt lớn về giá vải thiều giữa các loại về chất lượng. Bởi chất lượng, vải có thể được phân loại như loại 1, loại 2 và loại 3. Giá của loại 1 (tốt, tươi, đẹp mắt…) là cao nhất. Bên cạnh đó, giá vải thiều thay đổi từ vùng trồng khác nhau.

    Ví dụ, vải thiều Lục Ngạn, Bắc Giang và Thanh Hà, tỉnh Hải Dương được mua với giá cao hơn nhiều và ổn định hơn so với vải thiều từ các địa điểm khác. Đây là một thực tế dễ hiểu vì hai lý do:

    • Chất lượng và sự xuất hiện của vải thiều Lục Ngạn và từ Thanh Hà là tốt hơn so với vải thiều từ các khu vực khác
    • Những khu vực 2 được nổi tiếng cho vải thiều với công nhận tên thương hiệu để chúng được chú ý hơn bởi các thương nhân.

    Bên cạnh đó, thời gian thu hoạch là yếu tố thứ ba có ảnh hưởng đến giá vải thiều. Vải thiều sớm được thu hoạch từ 25/5 – 20/6 và từ 15/6 – 15/ 7 hàng năm. Giá vải thiều bình thường cao vào đầu và cuối mùa, thấp ở giữa mùa thu hoạch. Giá vải thiều trung bình trên toàn bộ tỉnh Bắc Giang là 14.300 đồng/ kg vào năm 2013 và 11.400 đồng/ kg trong năm 2014 với mức giá cao nhất được ghi nhận là 25.000 đồng/ kg. Tổng giá trị sản xuất vải ở tỉnh Bắc Giang ước tính của Mỹ $ 104,000,000.

     Giá xuất khẩu:

    Trong hợp đồng xuất khẩu vải thiều giữa Việt Nam với khách hàng Trung Quốc là 20000- 27,000 đồng/ kg. Song giá trao đổi trực tiếp tại các cửa khẩu chỉ từ 10,000- 20,000 đông/kg. Đáng chú ý, giá xuất khẩu vải thiều Lục Ngạn của năm 2013 đạt bình quân 22,00- 30,000 đồng/ kg, nhưng 2014 nó chỉ đạt 18,00- 20,000 đồng/kg. giá vải tươi xuất khẩu sang Trung Quốc( FOB Lào Cai). Vào mùa 2014 dao động 5,000- 10,000 CNY/kg (tương đương 20,000-30,000 đồng/kg) và mức giá trung bình là 6 CNY/kg ( khoảng 21,000 đồng/kg). Vải thiều khô đã được bán với giá 50,000 đồng/kg.

    Giá xuất khẩu vải thiều VietGAP cho Hàn Quốc trong năm 2013 là 1.157 USD / tấn và trong năm 2014 có thể đạt đến 1.300 USD / tấn tương đương với 26,000 đồng/ kg (FOB Hải Phòng).

    • Thị trường xuất khẩu vải thiều chính của Việt Nam

    Trong những năm gần đây, thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Thái Lan và các nước trong khu vực ASEAN với sản phẩm chủ yếu là vải tươi và sấy khô.

    Vải thiều chủ yếu được xuất khẩu dạng quả tươi sang Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia…chiếm khoảng 85% tổng lượng xuất khẩu, trong đó số này phần sang Trung Quốc chiếm trên 90%.

    Theo thống kê tại các cửa khẩu phía Bắc: số lượng vải thiều của tỉnh Bắc Giang năm nay được xuất qua các cửa khẩu sang thị trường Trung Quốc vẫn tương đương so với các năm trước. Tổng lượng vải xuất qua 3 cửa khẩu Lào Cai, Lạng Sơn, Hà Giang khoảng trên 95.000 tấn (chiếm 95% tổng sản lượng xuất khẩu). Trong đó, qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn hơn 64.000 tấn (trong đó, vải khô khoảng 20.000 tấn), cửa khẩu Lào Cai gần 28.000 tấn, số lượng nhỏ qua Cửa khẩu Thanh Thủy- Hà Giang khoảng 2.400 tấn. Tình hình xuất khẩu qua các Cửa khẩu diễn ra thuận lợi, nhanh chóng. Tuy nhiên, số lượng vải thiều xuất khẩu chủ yếu qua đường tiểu ngạch.

    Do biến động thị trường trong thời gian qua, sản lượng xuất khẩu vải sang thị trường Trung Quốc không ổn định. Theo đánh giá của Sở NN-PTNT tỉnh Hải Dương, vụ vải năm 2013, chỉ có khoảng 20% lượng vải thiều chính vụ được XK sang Trung Quốc. Vụ vải năm 2013 cũng là năm đầu tiên vựa vải Thanh Hà có sự xuất hiện của khoảng 20 thương nhân Trung Quốc trực tiếp về thu mua đóng gói với số lượng hạn chế. Còn lại, đa số lượng vải XK sang Trung Quốc đều do thương nhân tại địa phương thu mua chở lên biên giới để trực tiếp XK.

    Hoạt động thu mua, trao đổi, xuất khẩu chủ yếu là tự phát, chưa có định hướng phát triển làm chủ thị trường trong dài hạn mà tất cả hoạt động này chỉ phục vụ trong ngắn hạn. Phụ thuộc nhiều vào biến động thị trường và nước nhập khẩu. Mặc dù Trung Quốc và các nước trong khu vực là những thị trường tiềm năng. Thương lái Trung Quốc mua vải thiều tại Bắc Giang với giá trung bình khoảng 13.000 – 15.000 đồng/kg, nhưng bán tại Trung Quốc với giá cao ngất ngưởng: trên 300.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 20 lần.Với tỷ giá RMB/VND thời điểm đó, một kg vải thiều có giá chính xác là 305.760 đồng (Theo SGTT).

    Vải thiều Việt Nam trên thị trường Trung quốc và các nước ASEAN khá được ưu chuộng. Tiêu thụ mạnh và giá cả bán ra trên thị trường rất cao. Các kênh phân phối trên thị trường nước nhập khẩu chủ yếu là các siêu thị lớn nơi tập trung nhiều khách hàng, có khả năng khuếch trương thị trường cao. Trung Quốc được biết đến là quốc gia có sản lượng vải thiều lớn nhất thế giới. Song chủ yếu tiêu thụ nội địa. Từ đó ta có thể thấy tiềm năng xuất khẩu sang thị trường này là rất cao. Trung Quốc là thị trường không mấy khắt khe về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng và mức độ an toàn của thực phẩm nên chúng ta có thể dẽ dàng đáp ứng. Cùng đó rào cản thị trường, hàng lang pháp lý cũng như nhưng quy định của chính phủ về hoạt  động nhập khẩu vải thiều cũng không quá khó khăn. Đây là cơ hội lớn từ thị trường. Tuy nhiên, trong thời gian qua bất ổn chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng đã dẫn đến nhiều tác động không tốt, thực tế chứng minh sản lượng xuất khẩu giảm nhiều, người sản xuất gặp khó khăn. Tìm những hướng đi mới là bài toán đặt ra đó với người trồng vải cũng như đối các doanh nghiệp thu mua xuất khẩu. Giảm tầm quan trọng của thị trường Trung Quốc, đẩy mạnh đầu tư mở rộng thị trường xuất khẩu sang EU, Mĩ, Nhật, Australia… Đó thị trường tiềm năng mà chúng ta hướng đến trong chiến lược phát triển dài hạn.

            1.3.3. Sự cần thiết thúc đẩy vải thiều Việt Nam sang EU

    Với quy mô thị trường rộng lớn, mức tăng trưởng của nền kinh tế luôn tăng, nhu cầu thị trường về Vải thiều lớn, Mỹ, EU, Nhật, Australia… được biết đến như những thị trường tiềm năng lớn. Hiện nay khi bất ổn xã hội liên tiếp xãy ra, chỉ số gia tiêu dùng của các nước liên tục giảm do sự tác động của giá dầu song chi tiêu cho ăn uống tiêu dùng không hề giảm mà có xu thế tăng cao. ở các quốc gia này, chất lượng sản phẩm và dịch vụ mới là những thứ mà người tiêu dùng thật sự quan tâm. Họ sẵn sàng chi trả cao hơn mức giá trị của hàng hóa gấp 2, gấp 3 lần thậm chí hơn nữa miễn là sản phẩm đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu mà họ đặt ra. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2015 của Nhật Bản là 103 điểm, Mỹ là 235 điểm, của EU là 117, của Australia 12/2014 là 107 điểm. tất cả có dấu hiệu tăng lên trong tháng tới. Từ số liệu thống kê trên ta thấy được tiềm năng của các thị trường là rất lớn.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU VẢI THIỀU VÀO EU

    2.1 Thị trường vải thiều Eu

    2.1.1 Khái quát chung về thị trường vải thiều EU

    Châu Âu là một thị trường lớn và đem lại nhiều triển vọng cho các loại quả nhiệt đới. Do người tiêu dùng châu Âu có nhu cầu cao đối với các loại thực phẩm tốt cho sức khỏe nên các loại quả có nhiều dinh dưỡng có triển vọng rất tốt trên thị trường.

    Do thời tiết tại vùng các nước châu Âu không phù hợp để trồng các loại trái cây nhiệt đới, nên sản xuất các loại trái cây nhiệt đới tại châu Âu còn rất hạn chế, chỉ một số ít chuối, dứa được sản xuất tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, phần lớn các loại hoa quả nhiệt đới, đặc biệt là các loại đặc sản từ các nước đều phải nhập khẩu. Đối với hoa quả, tiêu thụ của Italy và Tây Ban Nha là lớn nhất, chiếm tới 1/3 thị trường EU, nhưng sản xuất trong nước đủ đáp ứng nhu cầu nên đây không phải những thị trường nhập khẩu hoa quả tươi lớn nhất. Các thị trường nhập khẩu hoa quả tươi lớn nhất là Đức, Pháp và Anh. Ngày nay, ngày càng nhiều khách hàng châu Âu như các chuỗi siêu thị mua hoa quả trực tiếp từ nhà sản xuất. Điều này có thể đem lại cơ hội cho các công ty xuất khẩu Việt Nam giành được các hợp đồng dài hạn với mức giá cố định cho các sản phẩm đáp ứng đủ tiêu chuẩn.

    1. Nhu cầu thị trường

    Theo số liệu thống kê của Eurostat, năm 2013 EU nhập khẩu 3.683.500 kg các loại quả gồm mít, me, mận và quả vải từ Việt Nam (mã HS: 08108020) đạt trên 9 triệu euro. Tính đến tháng 10/2014, EU nhập khẩu 2.610.700kg các loại quả trên đạt trên 7,5 triệu euro (mặt hàng vải thiều không có số liệu thống kê riêng).

    Tại thị trường Bỉ:

    Theo số liệu do Uỷ Ban Châu Âu EC cung cấp, vải thiều được thống kê chung trong mã HS 08109020 với một số loại hoa quả khác như mít, hồng xiêm, chanh leo, khế, thanh long… Xét riêng kim ngạch nhập khẩu của thị trường Bỉ với các nước ngoài EU năm 2013, nhóm sản phẩm này có giá trị nhập khẩu không lớn, khoảng 16,5 triệu euros.

    Tại thị trường Italia:

    Italia cũng nhập khẩu số lượng tương đối các loại quả trên từ Việt Nam. Năm 2013, Italia nhập khẩu 42.900 kg đạt 167.586 euro. Tính đến tháng 11/2014, Italia nhập 31.400 kg đạt 148.745 euro, tăng 12 % so với cùng kỳ năm 2013

    Ngoài ra, Italia còn nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan. Nãm 2013, Italia nhập khẩu từ Thái Lan 15.200 kg các loại trái trên, đạt kim ngạch 69.472 euro. Tính đến tháng 11/2014, Italia nhập khẩu từ Thái Lan 18.400 kg, đạt 78.624 euro, ít hơn so với nhập khẩu từ Việt Nam.

    Italia là nước nhập khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển lớn thứ tư trong khu vực EU nhưng tốc độ tăng trưởng không cao như các nước khác. Tuy nhiên, đây vẫn là thị trường tiềm năng cho doanh nghiệp xuất khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển do nước này có quy mô thị trường lớn và tiềm năng phát triển cao. Các mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: dứa (tăng 12%/năm), ổi, xoài và măng cụt (tăng 7,5%/năm). Các mặt hàng nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: chuối (86%) và dứa (14%).

    Tại thị trường Pháp

    Pháp có nhu cầu tiêu thụ vải quả tập trung chủ yếu trong Cộng đồng gốc Á sinh sống tại Paris. Hầu hết vải quả được bán tại siêu thị Thanh Bình, Paris Store và Tang frers  ở Quận 13. Tất cả vải quả được nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Riêng vải Việt Nam sang Pháp theo đường phi mậu dịch của tiếp viên hàng không với khối lượng nhỏ. Sản lượng tiêu thụ mấy năm gần đây khoảng 2 tấn/mùa vụ.

    Giá bán buôn khoảng 2,5 – 3 euro/kg; Giá bán lẻ 4 – 5 euro/kg.

     Tại thị trường Anh:

    Quả vải (tên tiếng Anh là Lychees) được xuất sang thị trường Anh theo dạng hoa quả tươi và khô hoặc đã được chế biến, đóng hộp. Tại thị trường Anh hoặc đối với sản phẩm xuất khẩu thì hải quan và người tiêu dùng tại Anh không phân biệt đó là vải thiều Lục Ngạn, Thanh Hà, Đông Triều hay vải thường, mà chỉ gọi chung là Lychees. Mã HS tương ứng của vải tươi và đóng hộp lần lượt là 0810902090 (tươi), 081340 (khô) và 200989 (đóng hộp). Tuy nhiên mã HS này áp dụng không chỉ dành riêng cho mặt hàng quả vải mà còn áp dụng chung cho các loại quả khác xuất khẩu từ Việt Nam sang, bao gồm me, hạt táo, mít, đu đủ, hồng xiêm (các loại quả khác như xoài, thanh long, chuối, táo… đều có mã HS riêng do kim ngạch tương đối và do cách phân loại mã HS của hải quan).

    Tại Anh, quả vải tươi thường được bán trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, tại các siêu thị trong các túi/hộp khoảng 300-400gr, với giá tại siêu thị trung bình khoảng 5-7 bảng Anh/kg, tương đương khoảng 150.000-200.000 VND (giá tham khảo tại các siêu thị lớn như Tesco, Waitrose, Sainsburys). Tuy nhiên các sản phẩm này xuất xứ được phần lớn từ các nước như Mexico, Nam Phi, Madagascar, Israel, Trung Quốc, rất ít và hiếm khi có thể thấy quả vải tươi bán tại siêu thị có xuất xứ Việt Nam (có thể do trái mùa vì mùa vải tại Việt Nam rơi vào tháng 5, 6 hàng năm). Phần lớn sản phẩm quả vải còn lại là đóng hộp, ngâm trong nước đường, đã được bóc vỏ do có thể để được lâu (so với quả vải tươi). Về tình hình thị hiếu chung, tuy quả vải được đánh giá là một trong những loại hoa quả ngon nhưng không được mấy người dân bản xứ biết đến và tiêu thụ nhiều nếu so với các loại quả nhiệt đới nhập khẩu như xoài, chuối, quýt. Bên cạnh đó loại vải được bán tại Anh có vị khác với vải thiểu của Việt Nam với vị chát hơn, ít ngọt hơn, hình thức căng mọng hơn nên có thể giữ/bảo quản được lâu hơn đồng thời phù hợp với nhu cầu/thị hiếu của người tiêu dùng Anh trong ăn uống giảm cân chống béo phì.

    Ngoài việc dùng để ăn ngay (với quả vải tươi) thì quả vải được người tiêu dùng Anh dùng để chế biến thành một số món ăn, ví dụ như thành phần thêm trong món Halibut có hạt điều, vải ăn với sa lát miso, hay thêm nếm trong sa lát hàu trộn cùi dừa. Trong các món ăn uống phụ khác vải cũng có xuất hiện, ví dụ như món tráng miệng vải trộn nước chanh đường (sử dụng 100% vải đóng hộp), bánh phô mai trộn thêm vải xay, dâu tây hoặc để pha nước cocktails (đôi khi vì đổi vị do cocktails dâu tây, mâm xôi, táo, lê, đào… được sử dụng quá nhiều).

    Tại thị trường Hà Lan:

    Theo thống kê của Eurostat, hàng năm Hà Lan nhập của Việt Nam khoảng hơn 3 triệu Euro các mặt hàng quả tươi gồm me, hồng xiêm, chanh leo, mít, khế, và vải. Tuy nhiên, mặt hàng vải của Việt Nam chưa thấy xuất hiện trong các siêu thị của Hà Lan. Các siêu thị này có bán vải tươi theo mùa nhưng là hàng Thái lan (số lượng cũng không nhiều). Vải đóng hộp cũng có bán trong siêu thị và các cửa hàng Châu Á nhưng chủ yếu xuất xứ Thái Lan.

    Theo cảm quan của chúng tôi thì Vải thiều Việt nam quả tròn, to, nhiều nước và có độ ngọt hơn vải Thái bán trong siêu thị. Tuy nhiên mặt hàng này chưa vào được hệ thống phân phối của Hà Lan.

     Tại thị trường Đức:

    Tại Đức, quả vải tươi xuất hiện tương đối phổ biến trong hệ thống siêu thị, tuy nhiên loại vải này không giống với quả vải xuất xứ từ Việt Nam do quả nhỏ, khô, vị không ngọt sắc. Người Đức đã quen với sự có mặt của loại quả nhiệt đới này, với lợi thế 82 triệu dân và là nền kinh tế đầu tàu của EU, đây là một thị trường rất tiềm năng với vải thiều Việt Nam.

     Tại thị trường Nga:

    Vải thiều là một loại quả nhiệt đới, người Nga ít biết đến. hay nói cách khác, cho đến nay, người Nga chưa có thói quen ăn vải thiều. Hiện nay, trên một số trang mạng ở Nga có giới thiệu về vải thiều, được ăn như thế nào và có tác dụng ra sao. Tại hệ thống cửa hàng bán lẻ vải thiều tươi xuất hiện rất ít.

    Lượng hàng nhập khẩu một số loại quả tươi nhiệt đới (mã hàng: 0 810 90 2000: me, vải, mít, sake, hồng xiêm, vải thiều tươi) vào Liên minh kinh tế Á-Âu (trong đó chủ yếu vào Nga) trong những năm qua chưa nhiều. Tuy nhiên có xu hướng tăng dần. Năm 2013, so với năm 2011, tăng 246% về lượng và tăng 169% về trị giá.

    Bảng 2.1 Nhập khẩu một số loại quả tươi, trong đó có vải thiều

      2011 2012 2013 11th 2014
    Tr. lượng (kg) 226 902 458 727 786 207 958 262
    Trị giá ($) 931 164 1 579 277 2 508 118 2 983 172

    (Nguồn: Hải quan LMKT Á-Âu  )

    Khi xuất khẩu các loại quả tươi vào thị trường Liên minh Kinh tế Á-Âu nói chung, Nga nói riêng, thuế nhập khẩu bằng không (0). Tuy nhiên, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do LMKT Á-Âu quy định và áp dụng thống nhất trong Liên minh yêu cầu khá cao.

    Như trên đã đề cập, vải thiều cũng như các loại quả tươi khác, khi nhập khẩu vào các nước thành viên LMKT Á-Âu (trong đó có Nga) phải tuân thủ quy định về kiểm dịch thực vật và quy định tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của Liên minh. Doanh nghiệp Việt Nam có thể liên hệ với Cục Quản lý chất lượng hàng Nông, Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để nắm nội dung quy định nêu trên.

     Tại thị trường Thụy Điển:

    – Sản phẩm vải thiều đang được bày bán khá phổ biến tại các siêu thị bán lẻ tại thị trường Thụy Điển với 2 loại hình sản phẩm chính là: quả tươi và vải xy rô đóng hộp;

    – Vải thiều tươi chủ yếu có xuất xứ từ Madagaxca và Thái Lan; sản phẩm vải xy rô đóng hộp chủ yếu có xuất xứ từ Thái Lan;

    – Về chất lượng so với vải thiều tươi của Việt Nam: vải của ta có lợi thế là hạt nhỏ hơn và cùi/thịt dày hơn. Tuy nhiên, chất lượng quả vải tươi còn phụ thuộc vào phương thức thu hoạch, bảo quản và thời gian chuyên chở. Thái Lan có lợi thế hơn ta trong việc xuất khẩu rau củ quả tươi vào Thụy Điển nói riêng và khu vực Bắc Âu nói chung vì họ có đường vận tải hàng không (airfreight) thường xuyên và trực tiếp từ Bangkok đi Stockholm và các quốc gia Bắc Âu lân cận;

    –  Số lượng nhập khẩu vải thiều và sản phẩm vải thiều đóng hộp vào Thụy Điển hiện còn khiêm tốn; Cơ quan thống kê Thụy Điển (trangwww.scb.se) hiện không thống kê số liệu nhập khẩu riêng cho mặt hàng vải thiều mà thống kê gộp chung vào với các sản phẩm quả nhập khẩu khác như: quả me, mận, mít, chanh leo (mã CN 08109020). Trong 10 tháng đầu năm 2015, Thái Lan đã xuất khẩu vào Thụy Điển gần 2,8 triệu Cuaron Thụy Điển (tương đương 400.000 USD) các loại quả tươi thuộc mã hàng hóa này, trong đó có bao gồm vải thiều;

    – Giá bán lẻ vải thiều tươi (nguyên quả) bình quân tại một số siêu thị bán lẻ vào khoảng 55 – 60 Cuaron Thụy Điển/kg (tương đương 7 USD/kg).

    Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vải thiều tại thị trường Thụy Điển và khu vực Bắc Âu là hiện thực, xu thế tiêu thụ có thể gia tăng do hiệu ứng lan tỏa từ khu vực tiêu dùng người nhập cư và người Thụy Điển đi du lịch nước ngoài trở về, ngoài ra khi Hiệp định FTA EU – Việt Nam (EVFTA) được ký kết thực hiện, ta sẽ có thêm điều kiện tiếp cận thị trường cho các sản phẩm rau củ quả như vải thiều.

    Là các thành viên của khối EU, Thụy Điển và các nước Bắc Âu khác đang áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật theo các quy định chung của khối này. Đối với sản phẩm vải thiều là các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch SPS trong đó có kiểm dịch dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (peticides) trong các sản phẩm vải thiều nhập khẩu (trang http://exporthelp.europa.eu).

     Tại thị trường Séc:

    Nói chung vải thiều tươi không thấy bán trong các siêu thị của Séc, cũng không phải là loại trái cây quen thuộc tại đây. Vào mùa vải, chỉ đôi khi thấy xuất hiện vải quả tại một số ít nơi cửa hàng bán lẻ của người Việt nhập tiểu ngạch. Tại một số cửa hàng tạp hóa do người Việt bán cũng thấy vải thiều dạng đồ hộp, nhưng số lượng và chủng loại không đáng kể. Từ trước đến nay chưa có lần nào khảo sát mức nhu cầu, thị hiếu và khả năng tiêu thụ sản phẩm này.

    Qua tìm hiểu tài liệu: Theo số liệu của Cục Thống kê Séc thì không có mục riêng cho sản phẩm Vải thiều (Lici) tươi, nhưng có xuất hiện tên hàng nằm chung trong nhóm gồm 4 mặt hàng là: me, mít, táo (ta), vải quả (Mã nhóm hàng: HS 08109020), do đó không bóc tách tính riêng ra được số lượng nhập và giá trị nhập.

    Bảng 2.2. Tổng hợp nhóm mã HS 08109020 của 4 mặt hàng

    STT THỜI GIAN /GIAI ĐOẠN SỐ LƯỢNG (kg) TRỊ GIÁ (USD)
    01 11 tháng đầu năm 2014 61.011 234.000
    02 2013 109.794 294.000
    03 2012 198.818 459.000
    04 2011 236.621 549.000

    Nguồn:Cục Thống kê Cộng hòa Séc, 1/2015 

    Tại thị trường Áo:

    Trên thị trường của Áo, thấy xuất hiện vải có xuất sứ từ Srilanca (không thấy có vải của nước khác như Việt Nam hoặc Trung Quốc), nhưng thường trái vụ, roi vào khoảng tháng 9 hàng năm. Vải thiều Srilanca trên nhãn ghi sản phẩm chất lượng tại hội chợ của Đức.

    Áo không có cảng biển, vì vậy phần lớn hàng nông sản phải nhập qua cửa khẩu của nước khác (Hà Lan và Đức), từ đây phân phối vào Áo. Các rào cản kỹ thuật liên quan đến nhập khẩu nông sản, chủ yếu do nước nhập đứng ra giải quyết theo quy định chung của Châu Âu. Khi có vấn đề phát sinh liên quan đến an toàn thực phẩm, theo điều tra của thương vụ, các đầu mối phân phối trực tiếp giải quyết với các nơi tiêu thụ (như thu hồi lại sản phẩm, đến bù cho người tiêu dùng..)

    Giá bán trái vải Srilanca trên các siêu thị khoảng 6 EUR/kg. Theo đánh giá, giá trên đây phải là giá chở bằng tàu biển, có khả năng bảo quản lâu.

    Tại thị trường Hà Lan:

    Theo thống kê của Eurostat, hàng năm Hà Lan nhập của Việt Nam khoảng hơn 3 triệu Euro các mặt hàng quả tươi gồm me, hồng xiêm, chanh leo, mít, khế, và vải. Tuy nhiên, mặt hàng vải của Việt nam chưa thấy xuất hiện trong các siêu thị của Hà Lan. Các siêu thị này có bán vải tươi theo mùa nhưng là hàng Thái Lan (số lượng cũng không nhiều). Vải đóng hộp cũng có bán trong siêu thị và các cửa hàng Châu Á nhưng chủ yếu xuất xứ Thái Lan.

    Theo cảm quan của chúng tôi thì Vải thiều Việt Nam quả tròn, to, nhiều nước và có độ ngọt hơn vải Thái bán trong siêu thị. Tuy nhiên mặt hàng này chưa vào được hệ thống phân phối của Hà Lan.

    Rau quả khi nhập vào EU nói chung và Hà Lan nói riêng phải đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, và phải có chứng chỉ GLOBALGAP.

    1. các kênh phân phối

    Khoảng cách vận chuyển hàng hóa là một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động thương mại rau tươi sang EU bởi lẽ đây là những mặt hàng phải được tiêu thụ nhanh, không được bảo quản hoặc bị chín trong quá trình quá cảnh như nhiều loại trái cây khác. Tìm được kênh phân phối, và sử dụng nó hiệu quả là khá khó khăn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.

    Hình 2.1 Các kênh phân phối rau quả tươi tại EU

    1. Đại lý

    Các đại lý sẽ chủ động liên lạc với các nhà xuất khẩu để mua đủ số lượng hàng hóa cho một lượt vận chuyển. Sau đó, họ sẽ bán lại cho các khách hàng của mình tại EU chủ yếu là các nhà bán buôn. Họ không mua bán cũng như chịu trách nhiệm về hàng hóa. Một số đại lý chỉ chuyên kinh doanh các loại hoa quả ngoại lai và thu lợi dựa trên việc ăn hoa hồng (có trường hợp lên đến 10%). Tuy nhiên, bù lại bạn có thể tiết kiệm một số lượng không nhỏ phí vận chuyển.

    1. Nhà nhập khẩu/Thương nhân

    Đây là nguồn nhập khẩu trực tiếp từ các nhà sản xuất/nhà xuất khẩu. Họ sẽ làm thủ tục thông quan cho hàng hóa và trong một vài trường hợp cũng đảm nhận khâu đóng gói khi giao hàng cho người bán lẻ. Nhà nhập khẩu thường cung ứng hàng cho những người bán buôn, bán lẻ và một số của hàng tạp hóa chuyên về dịch vụ thực phẩm. Lợi nhuận của nhà nhập khẩu khoảng từ 5% đến 10%.

    Nhà nhập khẩu là một mắt xích hết sức quan trọng trong kênh mua bán rau tươi tại EU vì họ hiểu biết rất rõ về thị trường này và có mối quan hệ chặt chẽ với những người cung cấp và người mua. Họ đóng một vai trò đặc biệt như là nhà quản lí chất lượng hay người cung cấp dịch vụ hậu cần. Trong rất nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu thường thích làm ăn lâu dài với nhà cung ứng, điều này là một lợi thế cho các nhà xuất khẩu nhỏ hoặc mới hay chưa có kinh nghiệm về thị trường EU của Việt Nam.

    1. Người bán buôn

    Người bán buôn mua rau từ các nhà nhập khẩu, nhà sản xuất hay tại các cuộc đấu giá. Sau đó, rau được chuyển đến những người bán lẻ hoặc những cửa hàng chuyên về thực phẩm và siêu thị. Có sự khác biệt lớn là giữa người bán buôn cung cấp cho những nhà bán lẻ (được hiểu là nhà bán lẻ độc quyền của siêu thị) và người bán buôn cung cấp cho các người bán rau quả và các nhà bán lẻ chuyên nghiệp khác. Tuy nhiên, vai trò của người bán buôn đang dần mất đi do các nhà bán lẻ có xu hướng hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ trực tiếp như nhà nhập khẩu và đại lý.

    1. Kênh bán lẻ

    Lượng hàng bán ra của các nhà bán lẻ chuyên kinh doanh rau quả tại EU vẫn khá cao nhưng lợi nhuận bị giảm mạnh trong vài năm trở lại đây. Tuy nhiên, những nhà bán lẻ ở Nam Âu lại không chiếm lĩnh thị trường mạnh như các nhà bán lẻ ở Bắc Âu, nên cơ hội cho các nhà bán lẻ chuyên nghiệp vẫn còn rất tiềm năng. Những nhà bán lẻ chuyên về rau tươi tại Châu Âu có thuê gia công ở nước ngoài thường cung cấp các loại rau có giá trị gia tăng như đậu đũa thái lát, đầu quả đậu Hà Lan (mange-tout pea) và các loại rau dùng để xào.

    Một vài chuỗi bán lẻ lớn có các trung tâm mua sắm và hệ thống vận chuyển rau riêng. Ngoài ra, họ có xu hướng hoạt động thông qua những nhà cung cấp độc quyền hoặc có mối quan hệ đặc biệt và những hợp đồng cố định dài hạn. Điều này có nghĩa là các nhà xuất khẩu Việt Nam có thể tránh những áp lực trước xu hướng gom hàng trên thị trường thế giới. Mặt khác, những hợp đồng như vậy thường hạn chế sự thay đổi trong việc sản xuất và marketing do có những điều khoản chặt chẽ và nghiêm ngặt.

    Các siêu thị/đại siêu thị cũng là kênh phân phối giúp tăng doanh thu tiêu thụ các loại rau đóng gói sẵn. Tuy nhiên, trước xu hướng nhu cầu tiêu thụ hàng giá rẻ gia tăng nên phí vận chuyển trở thành yếu tố quyết định loại rau nào sẽ được nhập khẩu từ các nước đang phát triển.

    Ngày càng nhiều nhà bán lẻ và công ty phát triển sản phẩm hợp tác với nhau để phát triển những sản phẩm mới và có tính đột phá. Những nhà bán lẻ đa ngành rất chú trọng tới cách bố trí gian hàng bán sản phẩm tươi sống, hướng tới mục đích thu hút nhiều khách hàng. Xu hướng hiện nay là áp dụng cách bố trí của những của hàng bán rau tươi truyền thống và luôn cố gắng đảm bảo hàng luôn có sẵn. Ví dụ, đậu tuyết trước đây được coi là đặc sản nhưng giờ đây chúng đã trở nên phổ biến và có quanh năm.

    Kênh tiêu thụ trực tiếp (out of home) ví dụ như các tổ chức cung ứng thực phẩm cũng là kênh phân phối nhập một lượng rất lớn hoa quả nhiệt đới chất lượng cao. Các nhà xuất khẩu rau quả Việt nam không cần làm việc trực tiếp với các tổ chức trên mà có thể thông qua các nhà bán buôn hoặc nhà nhập khẩu.

    Nhìn chung, cấu trúc kênh phân phối rau týõi hiện giờ tại EU ðã buộc những nhà xuất khẩu phải quan tâm đến những chuỗi bán lẻ lớn – nơi tiêu thụ chính rau tươi ở khu vực này. Những nhà bán lẻ, bán buôn và các công ty nhập khẩu yêu cầu các công ty xuất khẩu phải đảm bảo chất lượng luôn ổn định, có khả năng cung cấp số lượng lớn và giao hàng đúng thời gian.

    Bảng 2.3 : Loại hình bán lẻ rau tươi tại EU

    Kênh phân phối Bán lẻ Bán lẻ Bán lẻ/Kênh tiêu thụ trực tiếp
    Mức giá Giảm giá hoặc giá trung bình Giá cao Giá cao
    Lượng cung ứng Số lượng lớn Số lượng lớn Số lượng nhỏ
    Vấn đề quan tâm – giá cả;

     

    – thời hạn giao hàng;

    – nguồn gốc;

    – tính ổn định

    – chất lượng;

     

    – đặc sản, sản phẩm hữu cơ hoặc sản phẩm mang nhãn hiệu FairTrade;

    – độ chín;

    – nguồn gốc và tính minh bạch;

    – phát triển sản phẩm;

    – tính ổn định;

    – thời hạn giao hàng;

    – ngày càng quan tâm tới các sản phẩm mang tính bền vững

    – phân biệt khái niệm marketing thông qua hoạt động phát triển sản phẩm và kênh phân phối;

     

    – chất lượng;

    – độ chín;

    – hương vị đa dạng;

    – các sản phẩm mới lạ, đặc sản, sản phẩm hữu cơ hoặc sản phẩm mang nhãn hiệu FairTrade;

    – nguồn gốc và tính minh bạch;

    – thời hạn giao hàng

    1. Tình hình cạnh tranh

    Ở thị trường châu Âu, phân tích của CBI (2013) cho thấy Madagasca hiện nay là nguồn cung cấp chính với sản lượng nhập khẩu tăng từ 18 triệu euro lên 72 triệu euro chỉ trong vòng 4 năm- 2008-2012, đáp ứng 70% nhu cầu của thị trường nhưng thời gian cung cấp chỉ tập trung vào thời điểm Giáng sinh cuối năm. Như vậy, với các nhà nhập khẩu khác có thể cung cấp vải vào thời điểm khác vụ với chất lượng đảm bảo, cơ hội thị trường là rất lớn.

    Từ tháng 3 cho đến tháng 9, xét về quy mô sản xuất và thời gian thu hoạch, đối thủ tiềm năng chính của Việt Nam chính là Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan và Thái Lan. Hầu hết các nước này, đặc biệt là Thái Lan đã xuất khẩu được vải quả sang các thị trường khó tính như Châu Âu, Canada và Hoa Kỳ. Thái Lan là một trong 5 nước sản xuất vải quả nhiều nhất trên thế giới với rất nhiều kinh nghiệm trong chế biến và xúc tiến xuất khẩu trái cây. Các doanh nghiệp của Thái Lan rất năng động trong việc cải thiện chất lượng, mẫu mã sản phẩm và tổ chức hoạt động XTTM tại các thị trường mà họ hướng tới. Thái Lan đã xây dựng được mối quan hệ đối tác bền chặt với các siêu thị và nhà phân phối bán buôn lớn ở châu Âu để đảm bảo tính ổn định cho xuất khẩu vải quả vào các thị trường này. Thái Lan cũng đặc biệt chú ý đến hình thức mẫu mã và đóng gói sản phẩm. Vải tươi được đóng hộp trong các thùng có màu sắc bắt mắt, dán nhãn với thông tin chỉ dẫn đầy đủ. Vải xuất khẩu sang Hoa Kỳ được xử lý bảo quản để giữ độ tươi lâu, do đó hầu hết vải của Thái Lan khi xuất khẩu đến các thị trường tiêu dùng vẫn giữ được màu sắc tự nhiên, độ đồng đều cao.

    1. Tiềm năng của thị trường EU

    EU là một thị trường lớn và đem lại nhiều triển vọng cho các loại quả nhiệt đới. Do người tiêu dùng EU có nhu cầu cao đối với các loại thực phẩm tốt cho sức khỏe nên các loại quả có nhiều dinh dưỡng như vải thiều có triển vọng rất tốt trên thị trường. Tuy nhiên, hiện tại, chuối vẫn là loại quả nhiệt đới phổ biến nhất trên thị trường này.

    Các nước EU chỉ sản xuất một lượng rất nhỏ các loại quả nhiệt đới và hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu các loại quả này. Hiện nay kim ngạch nhập khẩu từ các nước đang phát triển đang chiếm tới 67%. Những phát minh mới về công nghệ ngày nay tạo thuận lợi cho việc xuất khẩu sản phẩm bằng đường biển với chi phí thấp và có thể tiếp cận các thị trường mới. Tuy nhiên, nhu cầu và kim ngạch nhập khẩu các loại quả nhiệt đới tại EU tăng chậm.

    Các công ty xuất khẩu Việt Nam có thể tìm hiểu để cung cấp các sản phẩm giá trị gia tăng như hoa quả hữu cơ được chứng nhận. Tuy nhiên, để có thể cung cấp các loại quả này, cần có thời gian và tốn chi phí và không phải lúc nào cũng là lựa chọn tốt nhất.

    Ngày nay, ngày càng nhiều khách hàng EU như các chuỗi siêu thị mua hoa quả trực tiếp từ nhà sản xuất. Điều này có thể đem lại cơ hội cho các công ty xuất khẩu Việt Nam giành được các hợp đồng dài hạn với mức giá cố định cho các sản phẩm đáp ứng đủ tiêu chuẩn nhưng đồng thời cũng là thách thức cho các công ty trung gian.

    Các nước thành viên Bắc và Tây Âu có các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì thế các tiêu chuẩn cũng ngày càng nghiêm ngặt. Việc sản xuất và xuất khẩu các loại quả nhiệt đới như chuối và dứa ngày càng được thực hiện với quy mô lớn. Đây cũng là thách thức cho các công ty sản xuất nhỏ và các công ty mới tham gia thị trường. Đồng thời, việc các chuỗi siêu thị lớn ngày càng chiếm thị phần nhiều hơn trên thị trường cũng làm giảm sức mạnh về thương lượng giá cả của các nhà sản xuất và xuất khẩu từ các nước đang phát triển như các công ty của Việt Nam.

    Năm 2010, tiêu thụ hoa quả nhiệt đới của cả khu vực EU tăng 3,7% (con số này không bao gồm các nước sản xuất được liệt kê ở bảng dưới đây). Điều này cho thấy thị trường có các dấu hiệu phục hồi tích cực trước các điều kiện kinh tế đang phát triển trong năm 2010.

     

    Bảng 2.3: Số liệu về tiêu thụ, sản xuất và nhập khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển

    Đvt: nghìn tấn

      Tổng tiêu thụ Tổng sản xuất Tổng nhập khẩu Nhập khẩu từ các nước đang phát triển Thị phần của các nước đang phát triển trong tổng nhập khẩu Chỉ số hấp dẫn
      Khối lượng

     

    2009

    Tốc độ tăng trưởng

     

    05 – 09

    Khối lượng

     

    2009

    Tốc độ tăng trưởng

     

    05 – 09

    Khối lượng

     

    2009

    Tốc độ tăng trưởng

     

    05 – 09

    Khối lượng

     

    2009

    Tốc độ tăng trưởng

     

    05 – 09

    EU 27 5.740 2,9% 396 -2,2% 8.764 3,6% 5.795 3,8% 66%  
    Bỉ 95 19% 0 n.a. 1.632 5,3% 1.584 5,3% 97% +++
    Vương quốc Anh 1.092 2,1% 0 n.a. 1.217 3,6% 1.110 5,7% 91% +++
    Đức 1.197 3,0% 0 n.a. 1.492 1,6% 801 2,7% 54% ++
    Italia 714 6,1% 0 -3,3% 833 3,8% 626 4,2% 75% ++
    Hà Lan 129 -3,0% 0 n.a. 667 11,0% 489 21% 73% +++
    Tây Ban Nha 622 3,8% 384 -2,2% 341 10,0% 222 27% 65% ++
    Bồ Đào Nha 184 3,6% 0 n.a. 233 1,3% 160 -0,2% 69%
    Hy Lạp 77 -3,7% 5 -1,2% 129 7,8% 95 17% 74% +/-
    Thụy Điển 161 -1,4% 0 n.a. 210 0,4% 91 -0,7% 43% +/-
    Pháp 465 4,9% 0 n.a. 223 -2,9% 85 -11% 38% +/-
    Slovenia 30 -2,8% 0 n.a. 66 4,5% 56 4,6% 85% +/-
    Rumani 75 -15% 0 n.a. 57 -17,0% 49 -19% 86%
    Ireland 52 3,5% 0 n.a. 67 4,1% 42 0,5% 62% +/-
    Cộng hòa Séc 133 7,9% 0 n.a. 255 0,3% 28 -30% 11%
    Đan Mạch 123 11% 0 n.a. 114 3,9% 17 15% 15% +
    Bulgaria 22 -20% 0 n.a. 24 -15,0% 17 -21% 70%
    Lithuania 19 1,8% 0 n.a. 50 12,0% 3,2 -31% 6,3%
    Luxembourg 6,5 -0,5% 0 n.a. 9,5 4,7% 2,4 7,0% 26% +/-
    Áo 121 3,8% 0 n.a. 150 4,6% 1,7 34% 1,1% +
    Phần Lan 58 -4,1% 0 n.a. 64 -1,4% 1,3 -39% 2% +/-
    Estonia 12 1,4% 0 n.a. 13 3,0% 0,2 -51% 1,5%
    Latvia 12 -0,6% 0 n.a. 13 0,0% 0,2 -43% 2%
    Ba Lan 217 7,0% 0 n.a. 16 8,5% 0,1 -2,7% 0,8% +/-
    Malta 5,0 -4,2% 0 n.a. 4,0 -19,0% 0,1 -62% 1,9%
    Slovakia 55 12% 0 n.a. 60 7,5% 0 n.a. n.a.
    Hungary 52 -5,9% 0 n.a. 74 1,8% 0 n.a. n.a.
    Cyprus 12 2,3% 6,9 -4,0% 8 23,0% 0 n.a. n.a. +/-
                           

    Nguồn: FAOSTAT và Eurostat, 2011

    Để giữ khối lượng tiêu dùng tăng và bảo toàn lợi nhuận, các công ty sẽ tăng cường hiệu quả các nguồn lực, giảm chi phí lao động và cắt giảm phần sản phẩm bỏ đi. Ví dụ, tại Anh, các công ty đã sử dụng các sản phẩm đầu vào giá rẻ hơn và sử dụng kích cỡ bao bì nhỏ hơn. Quy trình có tổ chức và hợp lý này sẽ giúp cho ngành chế biến phát triển mạnh hơn và tạo ra các dòng sản phẩm hấp dẫn người tiêu dùng hơn trong tương lai gần.

    Trong những năm gần đây, mức tiêu thụ rau, quả tươi tại thị trường Eu vẫn đang  ở mức cao, luôn duy trì mước cao. Những tác động của khủng hoảng kinh tê, bất ổn chính trị hay việc nợ công đa diễn ra trong các nền kinh tế của khu vực thì việc chi tiêu cho rau củ, quả vẫn không hề giảm xuống. Nó được thể hiện qua các biểu đồ nhập khẩu rau, quả và mức tiêu dung của người dân EU.

    Hình2.2: Tổng sản lượng nhập khẩu        Hình 2.3:10 nước EU và EFTA nhập khẩu rau, quả      Rau, quả của EU 2009-2013                                           lớn nhất 2013

                                                                           Nguồn: dữ liệu từ liên hợp quốc

    Hình2.4: Tổng mức tiệu thụ rau, quả của Eu        Hình2.5: biểu đồ tiêu thụ rau, quả của một số nước EU (%)                                                      2007-2011(nghìn tấn)

    Nguồn: Từ UN FAOSTAT

     

    • Quy mô thị trường

    Theo thống kê mới đây nhất của Tranding Economics, tháng 12/2014 tổng dân số của khu vực Eu là khoảng 335 triệu người. Tổng GDP là 12750 tỷ USD ( tháng 12/2013). Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm là 0,9%. Quy mô thị trường lớn, tổng GDP của thị trường liên tục tăng từ đó cho thấy triển vọng kinh doanh các doanh nghiệp cao.

    • Sức mua của thị trường

    Thu nhập bình quân đầu người của Eu là 31807 USD/người (tháng 12/2013) GDP tính theo PPP là 35830 USD/người(tháng 12/2013), chi tiêu của người tiêu dùng khoảng 1337 tỷ EURO (tháng 10/2014).Thu nhập thị trường cao, chi tiêu của người tiêu dùng lớn. Từ đó ta có thể thấy, sức mua của thị trường là cao. Đâu là thị trường tốt mà các nhà sản xuất trong nước có thể khai thác.

    • Cơ sở hạ tầng thương mại

    Như chúng ta đã biết, cuộc cánh mạng khoa học lần đấu tiên được diễn ra vào cuối thế kỉ 18 đầu thế kỷ 19, ở Tây Âu và Bắc Mỹ đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện của nền sản xuất. Tiếp đó, vào những năm 1871-1914 là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra tại Anh, Đức, Hoa Kỳ. Là những nước đi tiên phong trong nền công nghiệp thế giới, nên hệ thống cơ sở hạ tầng ở Eu rất phát triển. Đây cũng là nơi đầu tiên phát minh, tiến nhận những công nghệ tiên tiến của thế giới. chúng ta có thể khẳng định rằng cơ sở hạ tầng thương mại ở đây rất tốt, từ mạng lưới truyền thông tin, đến thanh toán dịch vụ, vận chuyển, các công cụ thư tín được sử dụng một cách hiệu quả.

    • Mức độ tự do kinh tế

    Eu được biết đến là khu vực kinh tế có mức độ tư do nhất thế giới được thành lập ngày 18 tháng 4 năm 1951 Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn. EU duy trì các chính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương, 17 nước thành viên thống nhất sử dụng đồng tiền chung. Là một tổ chức quốc tế, Liên minh châu Âu hoạt động thông qua một hệ thống chính trị siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp.

    • Mức độ mở cửa của nền kinh tế.

    Theo thống kê mới đây nhất, tháng 2/2015 tổng kinh ngạch xuất khẩu của khu vực Eu là 148224 triệu Eur, nhập khẩu 140280.60 triệu Eur. Tỷ lệ xuất nhập khẩu 1,056. Sự chuyển dich hàng hàng của Eu đến các quốc gia là vô cùng lớn, mức độ hộp nhập mở cửa cao.

    • Rủi ro quốc gia

    Nợ công, bất ổn chính trị là những vấn đề khúc mắc trong nền kinh tế ở EU. Nhiều giải pháp được đưa ra để phục hồi cải thiện, song tình trạng này chuyển biến không mấy đáng kể. tỷ lệ thất nghiệp là 11,8% (tháng 12/2013); 11,3% (tháng 12/1014); 11,2% (tháng 1/2015). Khi kinh tế có dấu hiệu phục hồi thì tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống.

    Qua các tiêu chí trên chúng ta có thể thấy rằng, tiềm năng của thi trường Eu là rất lớn, các doanh nghiệp cần có những bước đi dài trong việc thâm nhập, phát triển và làm chủ thị trường. Chiến lược, đầu tư, tầm nhìn thị trường sẽ quyết định sự thành công hay không của các doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam có thể lựa chọn thị trường tiềm năng dựa trên quy mô thị trường, tốc độ tăng trưởng của thị trường và kim ngạch nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Đối với mặt hàng hoa quả nhiệt đới, doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm kiếm các nước thành viên có kim ngạch thương mại lớn và có thị trường tiêu thụ nội địa lớn. Dựa trên việc phân tích các số liệu thống kê, các nước dưới đây là những nước có tiềm năng nhất đối với mặt hàng hoa quả nhiệt đới.

     Bỉ: có thị trường tiêu thụ nội địa quy mô trung bình nhưng là nước nhập khẩu hoa quả nhiệt đới lớn nhất từ các nước đang phát triển (27%). Nhập khẩu trực tiếp từ các nước đang phát triển chiếm tới 97% khối lượng nhập khẩu và tăng với tốc độ trên trung bình (5,7%/năm). Các sản phẩm hoa quả nhiệt đới nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: chuối (86%) và dứa (13%). Nhập khẩu ổi, xoài và măng cụt từ các nước đang phát triển có tốc độ tăng cao nhất (14%/năm).

     Anh: Bên cạnh quy mô thị trường tiêu thụ nội địa lớn, Anh còn có tỷ lệ nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao (đứng thứ 2 EU, khoảng 94%). Kim ngạch nhập khẩu từ các nước đang phát triển đang tăng ngày càng cao (5,8%/năm), cao hơn tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu nói chung (4,1%). Nhập khẩu dứa (tăng 23%/năm) và bơ (tăng 7,3%/năm) từ các nước đang phát triển là những mặt hàng có tốc độ tăng nhanh nhất. Các sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm chuối (82%) và dứa (13%).

    Tây Ban Nha: là nước sản xuất nhiều mặt hàng hoa quả nhiệt đới trong số các nước EU. Tuy nhiên, Tây Ban Nha cũng là nước có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao nhất EU (tăng 32%/năm). Các mặt hàng chuối (tăng 50%/năm) và dứa (tăng 30%/năm) là những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao nhất. Các sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm chuối (44%) và dứa (30%).

    Hà Lan: là nước có khối lượng thương mại lớn với tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao (tăng 28%/năm). Các mặt hàng chuối (tăng 70%/năm) và dứa (tăng 40%/năm) là những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao nhất. Các sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm dứa (39%) và chuối (23%).

     Đức: là nước nhập khẩu từ các nước đang phát triển lớn thứ ba trong khu vực EU (16%). Thêm vào đó, kim ngạch nhập khẩu từ các nước đang phát triển đang tăng nhanh hơn mức trung bình (tăng 6,1%/năm). Nhập khẩu dứa từ các nước đang phát triển (tăng 23%) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển là chuối (94%).

     Italia: là nước nhập khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển lớn thứ tư trong khu vực EU nhưng tốc độ tăng trưởng không cao như các nước khác. Tuy nhiên, đây vẫn là thị trường tiềm năng cho doanh nghiệp xuất khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển do nước này có quy mô thị trường lớn và tiềm năng phát triển cao. Các mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: dứa (tăng 12%/năm), ổi, xoài và măng cụt (tăng 7,5%/năm). Các mặt hàng nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: chuối (86%) và dứa (14%).

    Đây là những nước có tiềm năng lớn nhất đối với mặt hàng hoa quả nhiệt đới nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Tuy nhiên, là một doanh nghiệp xuất khẩu hoa quả nhiệt đới, đang tìm kiếm các thị trường tiềm năng tại EU, bạn không nên loại bỏ các nước EU khác ra khỏi danh sách các nước nhập khẩu tiềm năng của doanh nghiệp mình. Bạn cần phân tích kỹ các yếu tố khác như sản phẩm xuất khẩu của công ty, mạng lưới đối tác kinh doanh, kinh nghiệm xuất khẩu sang các thị trường quốc tế và địa điểm địa lý. Bên cạnh đó, ở EU cũng có các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau (như cộng đồng người Việt tại các nước). Đây cũng có thể là đối tác tiềm năng cho sản phẩm của công ty bạn. Những cộng đồng này thường mua thực phẩm từ các cửa hàng nhất định (ví dụ, cộng đồng người Việt có các cửa hàng chuyên bán đồ ăn và thực phẩm Việt Nam, được nhập khẩu trực tiếp từ Việt Nam hoặc một vài nước láng giềng). Thông thường, đây là những sản phẩm không có thương hiệu lớn trên thị trường quốc tế. Mặc dù thị trường này rất nhỏ, nhưng đó cũng là một kênh thương mại dễ dàng và tương đối hiệu quả.

    2.1.2 Các quy định của EU đối với hoạt động nhập khẩu vải thiều

    1. Chính sách, quy định, rào cản kỹ thuật

    Vải là loại trái cây đặc biệt đang dần được ưa chuộng tại châu Âu dù lượng tiêu thụ bình quân đầu người còn hạn chế. Để đẩy mạnh xuất khẩu vải nói riêng và hoa quả tươi nói chung sang thị trường châu Âu, các nhà xuất khẩu Việt Nam cần lưu ý và tuân thủ chặt chẽ các quy định của EU, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (chứng nhận của Global G.A.P, VietGAP, GFSI), không gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng.

    Người tiêu dùng ngày càng chú ý hơn tới mặt hàng trái cây có nguồn gốc rõ ràng. Họ có xu hướng chọn trái cây dựa vào cách thức sản xuất và trình bày sản phẩm. Bên cạnh đó,vấn đề về môi trường và xã hội cũng rất quan trọng. Phương pháp để cung cấp trái cây được sản xuất một cách có trách nhiệm với môi trường và xã hội là tuân thủ theo những quy định về chứng nhận sản phẩm hữu cơ hoặc chứng nhận Fairtrade. Những chứng nhận này bao gồm việc cam kết giảm thiếu số lượng cũng như đăng kí loại thuốc trừ sâu sử dụng, cải thiện an toàn lao động và đảm bảo về giá cả.

    Do vậy để đưa mặt hàng vải vào thị trường châu Âu nói chung và EU nói riêng, doanh nghiệp Việt nam cần lưu ý một số điểm sau:

    Sản phẩm

    Vải (Litchi chinensis) là loại trái cây thuộc chi Vải của họ soapberry. Cây có nguồn gốc từ Trung Quốc và được trồng chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á. Điều kiện phát triển của cây là không có sương giá vào mùa đông và nhiệt độ ấm áp vào mùa hè với lượng mưa và độ ẩm cao. Quả vải có chiều dài 5cm và rộng 4cm. Phần vỏ không ăn được có màu hồng đỏ và thô ráp. Phần cùi thịt bên trong màu trắng và có vị ngọt. Quả vải có thể ăn ngay sau khi bóc vỏ.

    Đặc tính sản phẩm

    • Chất lượng:

    Vải tươi muốn nhập khẩu vào thị trường EU phải phù hợp với các tiêu chuẩn tiếp thị chung đối với mặt hàng rau quả tươi bao gồm những yêu cầu tối thiểu về mặt chất lượng. Sản phẩm phải nguyên vẹn, sạch sẽ và lành lặn, (gần như) không bị sâu hại, hư hỏng, vỏ ướt bất thường, bên trong bị nâu thối và trong tình trạng chịu được vận chuyển và bốc xếp. Những tiêu chuẩn này phù hợp với những tiêu chuẩn của Uỷ ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế CODEX đối với quả vải.

    Quả vải đã phát triển đầy đủ và trưởng thành để chịu được vận chuyển và đảm bảo giữ được tình trạng tốt khi đến nơi.

    Quả vải được xếp loại theo ba tiêu chuẩn về chất lượng: “Loại hảo hạng” là những sản phẩm với chất lượng tốt nhất. Vải thuộc loại này phải có hình dáng và màu sắc điển hình của giống hay chủng loại. Ngoài ra, quả vải phải không có khuyết tật, trừ những vết trầy sát rất nhẹ trên bề mặt và không ảnh hưởng đến hình thái chung của sản phẩm, đến chất lượng, đến việc duy trì chất lượng và cách trình bày trong bao bì sản phẩm. Vải loại I có chất lượng tốt và chỉ có những khuyết tật rất nhỏ (khuyết tật về hình dáng, màu sắc hay ở vỏ nhưng tổng diện tích không quá 0,25cm2). Vải loại II là loại vải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu để nhập khẩu vào thị trường EU nhưng không đủ điều kiện để chất lượng cao hơn như loại I hay loại Hảo hạng. Tuy nhiên, thị trường cho sản phẩm vải loại II rất hạn chế. Vải loại II có thể có những khuyết tật ví dụ như ở vỏ nhưng tổng diện tích không quá 0,5cm2.

    • Kích thước và màu sắc

    Theo tiêu chuẩn của CODEX đối với vải quả, kích cỡ được xác định bởi đường kính lớn nhất của quả.

    – Kích thước tối thiểu cho vải loại “Hảo hạng” là 33mm.

    – Kích thước tối thiểu cho loại I và II là 20mm.

    – Cho phép chênh lệch kích cỡ tối đa là 10mm giữa các quả trong mỗi gói.

    Mức độ cho phép về kích thước: 10% số quả hoặc trọng lượng quả ở tất cả các loại không đạt kích thước tối thiểu miễn là đường kính không dưới 15mm ở tất cả các loại và/hoặc chênh lệch kích thước tối đa là 10mm.

    Số liệu về kích thước thường sử dụng đơn vị mm. Tuy nhiên, tại một số nước, ví dụ như Thái Lan, đã phát triển tiêu chuẩn nông nghiệp với mã kích thước (1-3) cho các giống khác nhau.

    Màu sắc quả vải có thể khác nhau từ hồng đến đỏ trong trường hợp vải không xử lý; từ vàng nhạt đến hồng đối với loại vải đã khử trùng với SO2.

    • Đóng gói

    Đóng gói dành cho bán buôn:

    – Thường là đóng gói trong hộp với trọng lượng từ 2 đến 2,5kg. Có thể sử dụng các hộp có kích thước lớn hơn, đặc biệt khi sản phẩm được đóng gói lại tại châu Âu. Cần đảm bảo việc kiểm tra bao bì như mong muốn với khách hàng.

    – Vải trong mỗi bao gói phải đồng bộ và chỉ chứa những quả có cùng nguồn gốc, giống hay chủng loại, chất lượng, kích thước và màu sắc. Phần vải quả nhìn thấy phải đại diện cho toàn bộ quả vải bên trong bao bì.

    – Các hộp chứa phải đạt chất lượng, vệ sinh, thông gió và bền chắc để đảm cho quá trình bốc xếp, vận chuyển và bảo quản vải quả. Các bao gói (hoặc lô nếu sản phẩm xếp rời) phải hoàn toàn không có tạp chất và mùi lạ.

    Đóng gói dành cho người tiêu dùng: vải quả tươi được bán ngay khi vừa lấy ra khỏi hộp vải bán buôn hoặc trong khay nhựa với trọng lượng 300 hoặc 500gr.

    • Ghi nhãn hiệu

    Việc ghi nhãn hiệu lên bao gói cho tiêu thụ phải phù hợp với những nguyên tắc và quy định được áp dụng tại EU và khu vực Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA). Nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc tiếp cận thông tin hữu ích và chính xác, Quy định số 1169/2011 của EU đưa ra những quy định, yêu cầu và trách nhiệm chung nhằm quản lý thông tin thực phẩm, cụ thể là việc ghi nhãn hiệu lên bao bì thực phẩm. Nhãn hiệu không được phép chứa mực hay hồ dính độc hại.

    Mỗi bao bì (không dùng cho bán lẻ) phải có những nội dung dưới đây, bằng chữ in về cùng một phía, rõ ràng và khó tẩy xoá, và có thể nhìn thấy được từ bên ngoài:

    – Xác nhận: tên và địa chỉ nhà xuất khẩu, đóng gói và/hoặc gửi hàng. Mã xác nhận (không bắt buộc);

    – Bản chất của sản phẩm: Phải ghi tên sản phẩm nếu sản phẩm không thể nhìn thấy từ bên ngoài. Tên giống hoặc tên thương phẩm (không bắt buộc), nếu ở dạng chùm phải có quy cách của chùm;

    – Nguồn gốc sản phẩm: Phải ghi nước xuất xứ, không bắt buộc khi khu vực trồng, tên quốc gia, tên vùng hoặc tên địa phương;

    – Xác nhận hàng hoá: Loại sản phẩm, kích thước (mã nếu có) và/hoặc khối lượng tịnh;

    – Dấu Giám định chính thức (không bắt buộc).

    Ngoài ra, đối với việc đóng gói dành cho bán lẻ, nếu sản phẩm không thể nhìn thấy từ bên ngoài, mỗi bao bì phải có nhãn ghi tên sản phẩm và có thể ghi giống hoặc đại diện của giống. Các biểu tượng chứng nhận hay biểu tượng của nhà bán lẻ đều có thể được dán, nhãn hiệu nếu được yêu cầu, trong trường hợp sản phẩm có nhãn hiệu riêng.

    Yêu cầu của người mua hàng

    Yêu cầu của người mua hàng có thể chia thành 3 nhóm yêu cầu chính (1) những yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng nếu muốn nhập khẩu vào thị trường EU, ví dụ như những yêu cầu về mặt pháp lý; (2) những yêu cầu chung mà hầu hết các đối thủ cạnh tranh đã thực hiện, nói cách khác là những quy định phải tuân thủ để theo kịp với thị trường; và (3) những yêu cầu của thị trường ngách đối với từng phân khúc cụ thể.

    Những yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng:

    • Thuốc trừ sâu

    EU đã quy định mức dư lượng tối đa (MRL) có trong và trên các loại thực phẩm. Các sản phẩm có chứa lượng thuốc trừ sâu cao hơn mức cho phép sẽ bị buộc rút ra khỏi thị trường EU. Một lưu ý là người tiêu dùng ở một số quốc gia thành viên (bao gồm nhưng không giới hạn ở Anh, Đức, Hà Lan và Áo) quy định về MRL khắt khe hơn so với lượng MRL trong quy định của EU.

    Một số lưu ý:

    Để có được mức dư lượng tối đa phù hợp đối với mặt hàng vải quả, bạn có thể tham khảo cơ sở dữ liệu về MRL của EU. Bạn có thể tìm kiếm sản phẩm của mình hoặc thuốc trừ sâu được sử dụng sau đó cơ sở dữ liệu sẽ đưa ra MRL tương ứng đối với sản phẩm của bạn hoặc đối với loại thuốc trừ sâu.

    Tìm hiểu thêm về MRL thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    Kiểm tra với người mua hàng nếu có yêu cầu bổ sung về MRL hoặc việc sử dụng thuốc trừ sâu.

    Một biện pháp tốt nhằm giảm thiểu lượng thuốc trừ sâu là việc áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). IPM là chiến lược kiểm soát dịch hại nông nghiệp dịch thực vật nhằm ngăn chặn sự xâm nhập và lây lan của sinh vật có hại cho thực vật; trong đó sử dụng các biện pháp bổ sung bao gồm việc quản lý hoá chất và thực hành canh tác. IPM là một yêu cầu chung trong hầu hết các tiêu chuẩn Thực hành Nông nghiệp Tốt như GlobalG.A.P.

    Chỉ làm việc với những nông dân đáng tin cậy và thiết lập quy trình làm việc hiệu quả nhằm ngăn chặn bất kỳ sai lầm trong việc sử dụng thuốc trừ sâu.

    • Tiêu chuẩn tiếp thị

    Tất cả các loại trái cây và rau được nhập khẩu vào EU đều phải đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về chất lượng như đã được ghi trong Tiêu chuẩn Tiếp thị của EU.

    Một số lưu ý:

    Kiểm tra xem đâu là những tiêu chuẩn phù hợp và đảm bảo sản phẩm cùng các tài liệu cần thiết được sắp xếp theo đúng thứ tự.

    Tìm hiểu thêm về tiêu chuẩn tiếp thị thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU

    • Nhãn hiệu

    Thực phẩm được bày bán tại EU phải đáp ứng những quy định về dán nhãn hiệu thực phẩm.

    Các thùng carton đựng rau quả tươi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    Tên và địa chỉ của người đóng gói và gửi hàng;

    Tên sản phẩm (nếu sản phẩm không thể nhìn thấy từ bên ngoài bao bì);

    Nước xuất xứ;

    Loại và kích thước (liên quan đến các tiêu chuẩn tiếp thị).

    Một số lưu ý:

    Đảm bảo tất cả các thông tin cần thiết đều được đề cập tới, nhưng đồng thời đề cập đến các thông tin hữu ích khác như biểu tượng của các nhà nhập khẩu hay giấy chứng nhận.

    T́m hiểu thêm về việc dán nhăn thực phẩm thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    • Sức khoẻ cây trồng

    Hoa quả và rau xuất khẩu sang EU phải tuân thủ các quy định của EU đối với sức khoẻ cây trồng. EU đã đặt ra các yêu cầu về kiểm dịch thực vật để ngăn chặn việc lây lan ủa sinh vật gây hại cho cây trồng và sản phẩm thực vật trong EU. Theo đó,

    Một số sinh vật đã được niêm yết không được phép nhập khẩu vào thị trường EU, trừ một số trường hợp cụ thể được phép áp dụng.Thực vật hoặc sản phẩm thực vật được quy định tại Phần B, Phụ lục V của Chỉ thị 2000/29/EC phải kèm theo một giấy chứng nhận sức khoẻ cây trồng.

    Một số lưu ý: Kiểm tra với Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia có liên quan hoặc nhà nhập khẩu EU của bạn (NPPO) về những yêu cầu phù hợp với sản phẩm của bạn. Truy cập đường link đính kèm để tìm hiểu thêm về những yêu cầu của NPPO.

    Nếu giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật là bắt buộc để hàng hóa được phép nhập cảnh vào EU, bạn nên tự xin giấy chứng nhận từ NPPO hoặc đề nghị nhà nhập khẩu EU giúp bạn. Mẫu giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật có thể được tìm thấy thông qua Phụ lục VII của Chỉ thị 2000/29/EC.

    Tìm hiểu thêm về sức khỏe cây trồng thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    • Chất gây ô nhiễm

    Chất gây ô nhiễm là các chất không được đưa vào thực phẩm một cách có chủ ý, nhưng lại xuất hiện như kết quả của các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển hay bốc xếp. Để tránh tác động tiêu cực đến chất lượng thực phẩm và nguy cơ đối với sức khỏe con người, EU đã đặt ra giới hạn cho một số chất gây ô nhiễm.

    Một số lưu ý:

    Tra cứu mức độ của các chất gây ô nhiễm trong phần phụ lục của Quy định (EC) 1881/2006, bạn có thể tìm thấy thông tin về tất cả các chất ô nhiễm và mức tối đa đối với mỗi sản phẩm hay nhóm sản phẩm. Hãy kiểm tra xem sản phẩm của bạn có thuộc nhóm sản phẩm nào không. Ví dụ, khi dùng từ khóa “vải thiều”, bạn có thể không tìm thấy thông tin nhưng lại có trong nhóm sản phẩm trái cây.

    Tìm hiểu thêm về các biện pháp phòng chống và giảm ô nhiễm chính trong bộ Quy tắc Thực hành được công bố bởi Uỷ ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế(CODEX).

    Tham khảo báo cáo của Uỷ ban Châu Âu về chất gây ô nhiễm thực phẩm: “Kiểm soát chất gây ô nhiễm thực phẩm: các biện pháp của EU trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm”.

    Tìm hiểu thêm về các chất gây ô nhiễm thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    • Biện pháp kiểm soát biên giới

    Các sản phẩm của bạn sẽ phải chịu các biện pháp kiểm tra chính thức. Các biện pháp này nhằm đảm bảo tất cả các loại thực phẩm nhập khẩu vào thị trường EU đều an toàn, tức là phù hợp với các yêu cầu đã được quy định đối với các mặt hàng này. Có ba loại kiểm tra là:

    Kiểm tra tài liệu

    Kiểm tra nhận dạng

    Kiểm tra vật lý

    Trong trường hợp có sự lặp lại thường xuyên việc không tuân thủ quy định của một số sản phẩm có xuất xứ từ một số quốc gia cụ thể, EU có thể quyết định nâng mức tiến hành kiểm tra lên cao hơn hay áp dụng các biện phấp khẩn cấp. Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các cấp độ từ nhập khẩu đến marketing tại thị trường EU. Tuy nhiên, hầu hết việc kiểm tra đều được hoàn thành tại các điểm nhập cảnh vào EU.

    Một số lưu ý:

    Hãy tự làm quen với các thủ tục. Việc không tuân thủ các thủ tục thích hợp có thể dẫn tới sự suy giảm hay chậm trễ của đơn hàng, gia tăng chi phí và cuối cùng có thể dẫn tới các biện pháp trừng phạt của các cơ quan thực thi pháp luật của EU.

    Đảm bảo đầy đủ các tài liệu kèm theo tương ứng với các sản phẩm có trong lô hàng.

    Kiểm tra nếu có bất kì sự gia tăng mức độ kiểm tra nào.

    Tìm hiểu thêm về kiểm duyệt sức khoẻ thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    Thuỵ Sĩ, Na-Uy, Ai-xơ-len và Liechtenstein không phải là thành viên của EU, nhưng vẫn là thành viên của Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu EFTA. Luật về thực phẩm của các nước này gần như giống hệt so với luật của EU. Tuy nhiên, một số phần trong bộ luật có thể có sự khác biệt. Tại Thuỵ Sĩ, việc kiểm soát nhập khẩu thuộc về trách nhiệm của Cục Hải quan Thuỵ Sĩ và Văn phòng Y tế Công cộng Liên bang.

    • Những yêu cầu chung của người mua hàng

    Chứng nhận bảo lãnh

    Do an toàn thực phẩm là vấn đề ưu tiên hàng đầu, nên nhà nhập khẩu EU cũng đưa ra nhiều yêu cầu về sự đảm bảo của người xuất khẩu dưới hình thức giấy chứng nhận.

    Tiêu chuẩn GlobalG.A.P.

    Đây là giấy chứng nhận an toàn thực phẩm được yêu cầu nhiều nhất, đặc biệt đối với mặt hàng rau quả tươi xuất khẩu sang EU. GlobalG.A.P. là những tiêu chuẩn trước khi xuất khỏi trang trại bao gồm toàn bộ quá trình sản xuất nông nghiệp, từ trước khi hạt giống được gieo trồng đến khi sản phẩm chưa qua xử lý (không bao gồm quá trình xử lý).

    Những ví dụ về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm có thể được yêu cầu là BRC và IFS, FSSC22000 hoặc SQF. Các hệ thống quản lý này được yêu cầu bổ sung cho GlobalG.A.P. và cũng bao gồm những tiêu chuẩn từ trang trại cho đến người mua hàng.

    Người mua khác nhau có thể đưa ra yêu cầu khác nhau đối với một hệ thống quản lý nhất định. Vì vậy, trước khi xin giấy chứng nhận của một trong số các hệ thống quản lý trên, cần phải kiểm tra xem hệ thống nào được ưa chuộng (ví dụ các nhà bán lẻ Anh thường yêu cầu BRC, trong khi các nước thành viên EU lại thường yêu cầu IFS). Tất cả các hệ thống quản lý kể trên đều được công nhận bởi Sáng kiến An toàn Thực phẩm Toàn cầu (GFSI), tức là tất cả các hệ thống này đều được chấp thuận bởi các nhà bán lẻ chính. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có các nhà bán lẻ ưa chuộng một hệ thống quản lý khác.

    GRASP là viết tắt của Đánh giá Rủi ro Thực tiễn Xã hội bởi GlobalG.A.P. Đây là một cơ chế sẵn sàng hoạt động một cách tự nguyện được phát triển nhằm tiếp cận các hoạt động thực tiễn xã hội tại trang trại, giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến sức khoẻ người công nhân, độ an toàn và phúc lợi. GRASP và các loại chứng nhận tương tự dự kiến sẽ là một trong nhiều yêu cầu của các siêu thị trong thời gian tới.

    Một số lưu ý:

    Quá trình chuẩn bị cho việc thâm nhập thị trường EU thường bao gồm chứng nhận của GlobalG.A.P., do đó việc làm quen với tiêu chuẩn GlobalG.A.P. là rất quan trọng.

    Kiểm tra xem đâu là hệ thống quản lý được ưa chuộng tại thị trường mục tiêu của bạn.

    Tìm hiểu thêm về các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm khác tại Standards Map (Bản đồ Tiêu chuẩn).

    • Các tiêu chuẩn chất lượng

    Người mua hàng EU thường yêu cầu sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn UNECE hay tiêu chuẩn CODEX. Điều đáng lưu ý là chất lượng bao gồm độ an toàn và chất lượng thực phẩm. Một sản phẩm thực phẩm được coi là không chất lượng nếu nó không tốt cho sức khoẻ hoặc nguy hiểm cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, chất lượng thực phẩm cũng đề cập đến đặc điểm cụ thể của thực phẩm, chủ yếu từ quan điểm của người tiêu dùng, bao gồm các đặc điểm bên trong và bên ngoài của sản phẩm. Những tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi bởi các nhà nhập khẩu EU và các thương gia thường là những tiêu chuẩn được phát triển bởi Uỷ ban Kinh tế châu Âu của Liên Hợp Quốc (UNECE) và Uỷ ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế CODEX (CAC). Những tiêu chuẩn của UNECE được coi một tài liệu tham khảo về các đặc tính của sản phẩm được áp dụng bởi các nhà nhập khẩu.

    Một số lưu ý:

    Hãy đảm bảo rằng sản phẩm bạn cung cấp đáp ứng được những chất lượng như đã thoả thuận.

    Thị trường ngách: Thương mại hữu cơ và Thương mại công bằng

    Thương mại công bằng

    Tuy nhỏ nhưng phát triển rất nhanh, thị trường ngách là thị trường dành cho các loại rau quả tươi được sản xuất trong đó tập trung nhiều hơn vào điều kiện xã hội và/hoặc kinh tế của khu vực sản xuất. Những ví dụ về các tiêu chuẩn liên quan (và nhãn tiêu dùng) đối với mặt hàng rau quả tươi bao gồm thương mại công bằng (ban đầu tập trung chủ yếu vào các vấn đề xã hội) và cuộc sống công bằng.

    Trong năm 2013, khoảng 300 pallet quả vải được chứng nhận thương mại công bằng đã được vận chuyển bằng tàu thông thường từ Ma-đa-gát-xca tới châu Âu. Các lô hàng này chủ yếu nhắm tới thị trường Scandinavian và các thị trường Bắc Âu khác.

    Ngoài ra, các nhà nhập khẩu cũng có thể áp dụng các sáng kiến khác chẳng hạn tham gia vào một tổ chức sáng kiến nhà bán lẻ như Sáng kiến Đạo đức Kinh doanh (ETI) ở Anh hay Sáng kiến Tuân thủ Xã hội của Doanh nghiệp (BSCI) ở khu vực Tây Bắc châu Âu.

    Một số lưu ý:

    Tham khảo cơ sở dữ liệu của Standards Map (Bản đồ Tiêu chuẩn) về các nhãn hiệu khác nhau cũng như sự giống và khác nhau giữa các nhãn hiệu này.

    Kiểm tra tình hình hoạt động của công ty bạn. Ví dụ như truy cập website của BSCI để tiến hành tự đánh giá.

    • Rainforest Alliance – R.A. (Tổ chức Mưa rừng)

    Trình chứng nhận R.A. hướng tới việc hạn chế những ảnh hưởng của hoạt động sản xuất nông nghiệp lên môi trường và xã hội. Hoạt động của tổ chức R.A. nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế bằng cách thúc đẩy và đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn bền vững được coi trọng nhất trên rất nhiều lĩnh vực.

    Một số lưu ý:

    Tham khảo thêm về tiêu chuẩn R.A và các nhãn hiệu khác tại cơ sở dữ liệu của Standards Map (Bản đồ Tiêu chuẩn).

    • Thương mại hữu cơ – thị trường ngách đang phát triển

    Vải quả được sản xuất hữu cơ hiện tại vẫn còn đang hạn chế. Tuy nhiên, người tiêu dùng EU ngày càng ưa chuộng các loại thực phẩm đuợc sản xuất và chế biến bằng phương pháp tự nhiên. Trái cây và rau sản xuất hữu cơ là những sản phẩm có thể đáp ứng đuợc cả hai tiêu chí trên, đồng thời đem lại giá cao cho nhà sản xuất.

    Để đưa các mặt hàng hữu cơ này vào thị trường EU, bạn phải sử dụng các phương pháp sản xuất hữu cơ đã được quy định trong luật của Liên minh châu Âu. Ngoài ra, các phương pháp này phải được áp dụng ít nhất hai năm trước khi đưa các sản phẩm hoa quả và rau hữu cơ ra thị trường. Hơn nữa, bạn cần phải nộp đơn xin phép nhập khẩu từ cơ quan kiểm soát hữu cơ của EU. Sau khi được thẩm định bởi cơ quan chứng nhận được công nhận, bạn có thể dán logo chứng nhận hữu cơ của EU lên sản phẩm của mình hoặc logo của chủ sở hữu tiêu chuẩn (ví dụ như Hiệp hội Đất đai (đặc biệt tại Anh), Naturland (Đức) hoặc Bio Suisse (Thuỵ Sĩ). Các tiêu chuẩn này tuy có vài điểm khác biệt song đều phù hợp với luật pháp của EU về các sản phẩm hữu cơ và dán nhãn hiệu.

    Một số lưu ý:

    Thực hiện việc sản xuất hữu cơ và được cấp chứng nhận sẽ tốn kém; do đó cần tiến hành đánh giá thị trường tiềm năng.

    Kiểm tra xem những nhãn hiệu hữu cơ nào được yêu cầu phổ biến nhất tại thị trường mục tiêu.

    Tham khảo cơ sở dữ liệu của Standards Map (Bản đồ Tiêu chuẩn) về các nhãn hiệu khác nhau cũng như sự giống và khác nhau giữa các nhãn hiệu này.

    Khi xuất khẩu vải quả hữu cơ sang các thị trường EU, bạn nên lựa chọn nhà nhập khẩu chuyên dụng và có chuyên môn am hiểu về thị trường và có khả năng tiếp cận các thị trường ngách được lựa chọn.

    2.2 Thực trạng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu vải thiều của Viêt Nam vào Eu

    2.2.1 Hoạt động xuất khẩu Vải thiều vào EU

     

    Hiện nay, Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vải thiều tại thị trường Eu có xu thế gia tăng do hiệu ứng lan tỏa từ khu vực tiêu dùng người nhập cư và người Thụy Điển đi du lịch nước ngoài trở về, ngoài ra khi Hiệp định FTA EU – Việt Nam (EVFTA) được ký kết thực hiện, Việt Nam sẽ có thêm điều kiện tiếp cận thị trường cho các sản phẩm rau củ quả như vải thiều. Trong tháng 3/2015 tình hình kinh tế các nước châu Âu có chuyển biến tích cực khi chỉ số tiêu dùng của Đức-nền kinh tế lớn thứ nhất- tăng lên cao nhất kể từ 7/2014, niềm tin kinh doanh pháp tăng lên cao nhất trong 3 năm trở lại đây. Là thị trường tiềm năng nhập khẩu vải thiều, EU có vai trò quan trọng trong kinh ngạch xuất khẩu vải thiều của Việt Nam. Trong những năm gần đây sản lượng vải thiều được nhập khẩu vào thị trường này không ổn định, có điễn biến thất thường khó dự báo được.

    Bảng 2.4 Giá trị xuất khẩu Vải thiều Việt Nam vào các nước Eu

    (Nghìn USD)

    STT Nước 2010 2011 2012
    1 Netherland 4480 5639 6152
    2 Germany 1852 1672 2134
    3 Pháp 1560 1442 1021
    4 Anh 774 907 280
    5 Italy 243 190 152
    6 Tây Ban Nha 40 72 153
    7 Thụy Điển 23 57 6
    8 Bỉ 22 69 148

                     Nguồn: ITC calculations based on UN COMTRADE statistics.

    Qua bảng số liệu thống kê trên ta có thể thấy, hầu hết ở các thị trường các nước của EU gia trị xuất khẩu vải thều của Việt Nam đang giảm xuống. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008, nợ công diễn ra ngày càng nhiều ở Châu Âu khiến cho thị trường này đương như vẫn chưa có tín hiệu phục hồi hoàn toàn. Cùng với đó, bất ổn chính trị đang diến ra ở Syria, các lực lượng hồi giáo IS, tranh chấp  Gruzia, Ukraine, giá dầu liên tục giảm trong thời gian qua đã có tác động không hề nhỏ đến xu hướng tiêu dùng, quyết định mua sắm của người dân.

    Chính sách, chủ trương của nhà nước thúc đẩy hoạt động xuất khẩu vải thiều   vào thị trường EU

    Trong thời gian qua, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương đã triển khai một số biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ vải thiều trong và ngoài nước, cụ thể như:

    • Chương trình xúc tiến thương;
    • Mô hình thí điểm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp;
    • Các hội nghị bàn biện pháp tiêu thụ vải thiều năm 2014;
    • Các văn bản chỉ đạo triển khai đồng bộ hóa các giải pháp nhằm đẩy nhanh thời gian làm công tác thông quan hàng hóa;
    • Các cơ quan kiểm dịch tại khu vực cảng, cửa khẩu ưu tiên và tạo điều kiện thuận lợi trong công tác kiểm dịch thực vật đối với vải thiều xuất khẩu;
    • Tăng cường công tác an ninh, trật tự trên địa bàn cho thương nhân thu mua vải thiều;
    • Cho phép các biện pháp phù hợp để ưu tiên đối với việc vận chuyển vải thiều,
    • Điều tiết kịp thời các phương tiện vận tải để tránh tình trạng ùn tắc hàng hóa;

    bảo đảm công tác vệ sinh môi trường.

    Tại hội nghị lần này, lãnh đạo UBND tỉnh Hải Dương đã đưa ra nhiều kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu ra đối với mặt hàng vải thiều. Theo đó, UBND tỉnh Hải Dương kiến nghị Chính phủ bổ sung:

    • Chính sách hỗ trợ thiên tai do thời tiết ấm trong vụ đông xuân đối với cây vải;
    • Có cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ cho vay với lãi suất phù hợp đối với cá nhân, doanh nghiệp, cơ sở thu mua, bảo quản, chế biến, tiêu thụ vải.

    Đồng thời, đề nghị Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chính sách phù hợp để:

    • Khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, nhằm đẩy nhanh việc tiêu thụ vải cho nông dân; Hỗ trợ hoạt động tìm kiếm thị trường và đối tác tiêu thụ;
    • Hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, quảng bá và tìm kiếm thị trường tiêu thụ vải tỉnh Hải Dương trên các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Có biện pháp ngăn chặn những thông tin gây thất thiệt, gây khó khăn cho công tác tiêu thụ sản phẩm

    Đồng thời, đề nghị các cơ quan chức năng các tỉnh có biên giới với Trung Quốc (Lào Cai, Lạng Sơn và Quảng Ninh) tăng cường công tác phối hợp với các sở, ngành chức năng của tỉnh Hải Dương để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong giải quyết các thủ tục hành chính, vận chuyển và tiêu thụ vải cũng như thông tin kịp thời về khó khăn của đối tác Trung Quốc trong công tác tiêu thụ để người nông dân biết, tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra…

    Trong khi đó, ngoài việc đồng quan điểm với tỉnh Hải Dương về công tác xúc tiến thương mại, quảng bá và tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, đại diện lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Giang cũng kiến nghị với Bộ Khoa học và Công nghệ  về việc:

    • Hỗ trợ, chuyển giao công nghệ cho tỉnh Bắc Giang về giống, hỗ trợ chuyển giao các quy trình chăm sóc để kéo dài thời gian sinh trưởng và nâng cao chất lượng quả vải thiều, đảm bảo tiêu chuẩn VietGap;
    • Tìm kiếm giải pháp hữu hiệu giúp kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch cho vải thiều.

    Riêng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tỉnh Bắc Giang kiến nghị chỉ đạo các cơ quan kiểm dịch tại các khu vực cảng, cửa khẩu ưu tiên và tạo điều kiện thuận lợi trong công tác kiểm dịch thực vật đối với các lô hàng vải thiều xuất khẩu. Ngoài ra, ông Bùi Văn Hạnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang cũng đề nghị Bộ Giao thông Vận tải xem xét và cho phép các biện pháp phù hợp để ưu tiên đối với vận chuyển hàng nông sản, đặc biệt là quả vải thiều, tránh tình trạng ùn tắc, gây bất lợi tới giá cả và chất lượng sản phẩm…

    Với quan điểm không nóng vội, làm đến đâu chắc đến đó, UBND tỉnh đặt ra các mục tiêu: Quy hoạch, tổ chức sản xuất vải thiều Lục Ngạn theo tiêu chuẩn quốc tế (GlobalGAP), bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm để đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu truyền thống và thị trường mới với những đòi hỏi cao hơn. Phát triển thương hiệu “Vải thiều Lục Ngạn” thành thương hiệu mạnh ở trong nước và nước ngoài. Lựa chọn, áp dụng công nghệ hiện đại, giá cả hợp lý vào bảo quản, chế biến, ðóng gói nhằm nâng cao chất lượng và kéo dài thời gian tiêu thụ vải thiều. Hình thành và phát triển chuỗi liên kết chặt chẽ trong sản xuất, bảo quản – chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

    Đa dạng hóa các hình thức xúc tiến thương mại, tích cực thâm nhập và nắm bắt thông tin nhằm giữ vững thị trường xuất khẩu truyền thống, từng bước tiếp cận, khơi thông, mở rộng sang các thị trường mới, cao cấp; nâng cao giá trị quả vải thiều, góp phần cải thiện đời sống người trồng vải. Trước mắt, năm 2015 bước đầu đưa vải thiều thâm nhập vào thị trường Mỹ và xúc tiến xuất khẩu vào thị trường Úc, Nhật Bản và một số thị trường khác.

    Để thực hiện các mục tiêu trên, UBND tỉnh đã đặt ra các nhiệm vụ cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng, trong đó đặc biệt chú ý: Triển khai sản xuất vải theo tiêu chuẩn GlobalGAP tại Hợp tác xã Hồng Xuân, xã Hồng Giang, (Lục Ngạn) với quy mô 100 ha, sản lượng khoảng 500-600 tấn. Duy trì và mở rộng vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP được cấp giấy chứng nhận là 200 ha tại huyện Lục Ngạn; sản lượng dự kiến khoảng 1.000-1.200 tấn.

    Đăng ký bảo hộ địa danh cho vải thiều tại Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Nga, Israel, Singapore và một số thị trường khác. Lựa chọn công nghệ bảo quản nhằm nâng cao chất lượng và kéo dài thời gian sử dụng vải thiều để phục vụ xuất khẩu, trong đó Công nghệ đang được xem xét áp dụng gồm: Công nghệ màng bao gói khí quyển biến đổi MAP của Israel; công nghệ CAS của Nhật Bản. Lựa chọn, phát triển hệ thống các doanh nghiệp liên kết sản xuất, doanh nghiệp áp dụng công nghệ bảo quản, doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu.

    Ban hành các cơ chế chính sách khuyến khích nhân dân tham gia trồng vải theo tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, áp dụng công nghệ bảo quản và đẩy mạnh xuất khẩu. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu vải thiều tại thị trường Mỹ và các thị trường mới, tiềm năng khác. Làm việc cụ thể với một số doanh nghiệp có khả năng để kết nối họ vào chuỗi liên kết nhằm tránh rủi ro cũng như thiệt hại cho các bên trong quá trình triển khai.

    Tập trung cao cho việc phối hợp khơi thông thị trường để các nước mở cửa thị trường cho sản phẩm vải thiều; chủ động nắm chắc thông tin để định hướng về số lượng sản xuất, tiêu chuẩn sản xuất và phương thức thực hiện để chủ động tổ chức các công việc đáp ứng yêu cầu đặt ra.

    Tiếp đến là tập trung vào những nội dung phối hợp cụ thể như: Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để triển khai mô hình sản xuất vải theo tiêu chuẩn GlobalGAP; cấp mã số vùng trồng (chỉ dẫn địa lý) cho quả vải; các quy trình canh tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh. Đặc biệt là trong tìm hiểu thông tin về công tác kiểm tra của Bộ Nông nghiệp Mỹ trước khi nhập khẩu vải thiều vào Mỹ.

    Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong lựa chọn công nghệ bảo quản vải thiều và lựa chọn đơn vị chiếu xạ vải thiều phục vụ xuất khẩu; bảo hộ thương hiệu vải thiều Lục Ngạn tại các quốc gia; đề nghị Bộ hỗ trợ kinh phí áp dụng công nghệ bảo quản vải thiều theo quy định. Phối hợp với Bộ Công thương trong công tác xúc tiến thương mại, nhất là tại thị trường Mỹ; tăng cường và đa dạng về nội dung, hình thức và cách thức quảng bá vải thiều; tìm hiểu thông tin về thủ tục xuất nhập khẩu và các rào cản thương mại để có các biện pháp thích ứng.

    Ngoài ra tỉnh sẽ phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan truyền thông đại chúng, các hãng bán lẻ và các kênh khác để có thể trực tiếp, gián tiếp tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và thương hiệu vải thiều rộng khắp..

    Tại hội nghị, các doanh nghiệp thu mua, các Ban quản lý chợ đầu mối tại các tỉnh phía Nam cũng đã chia sẻ nhiều giải pháp giúp đẩy mạnh tiêu thụ vải thiều nhằm tránh tình trạng “được mùa mất giá”. Theo đại diện Ban quản lý chợ Thủ Đức (TP. Hồ Chí Minh), các cơ quan chức năng cần đề nghị các viện nghiên cứu để làm sao có thể giữ và kéo dài được màu của vải thiều, từ đó mới tính đến chuyện xuất khẩu đến các thị trường ngoài nước, tập trung mạnh và thị trường Eu, Mỹ, Nhật…. Trong khi đó, lãnh đạo Ban Quản lý chợ Hóc Môn (TP. Hồ Chí Minh) cho biết, hiện nay, do chưa tìm kiếm được các thị trường xuất khẩu mới, trong khi thị trường truyền thống gặp nhiều khó khăn, thì thị trường trong nước rất quan trọng. Để vải thiều đến với người tiêu dùng, cần tính đến việc đẩy mạnh các kênh phân phối như chợ, trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn…

    Thực trạng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu vải thiều của Việt Nam vào Eu

    Liên minh Châu Âu (EU) hiện có 28 nước thành viên với dân số hơn 500 triệu người, là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng Việt Nam. Đây là khối kinh tế lớn nhất thế giới với GDP đạt 18.000 tỷ USD, chiếm 22% tổng GDP toàn cầu. Tổng kim ngạch thương mại của EU xấp xỉ 4.000 tỷ USD, xuất khẩu dịch vụ của EU đứng đầu thế giới và đầu tư ra nước ngoài bằng gần 40% FDI toàn cầu…

    Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU không ngừng tăng trưởng. Chỉ tính riêng năm 2013 đã đạt con số 26,6 tỷ Euro, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang EU tới 21,3 tỷ Euro còn nhập khẩu từ EU là 5,3 tỷ Euro. “Như vậy, riêng năm 2013 Việt Nam đã xuất siêu sang thị trường EU tới 16 tỷ Euro, một ưu thế rất lớn để hướng tới cơ hội xuất khẩu tốt hơn khi FTA giữa Việt Nam – EU được ký kết,”

    8 tháng đầu năm 2014, theo số liệu của Tổng Cục Thống kê Việt Nam, trao đổi thương mại giữa Việt Nam và EU đã đạt 23,7 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang EU 17,9 tỷ USD, tăng 13,3% và nhập khẩu từ thị trường này 5,8 tỷ USD, giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU tập trung vào các sản phẩm cần nhiều lao động như hàng lắp ráp, gia công, nông sản, thủy sản và nội thất.  EU hiện đang là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, là một thị trường phát triển ở trình độ cao nên các hệ thống kiểm soát về quy chuẩn và tiêu chuẩn hàng hóa tại thị trường này rất phức tạp. Hiện chỉ có khoảng 42% mặt hàng của Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU.  Chất lượng dịch vụ và hàng hóa ngày càng được yêu cầu cao .  Việc xuất khẩu sang thị trường EU phải tuân thủ tính minh bạch và đặt rất cao vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thông qua nhiều biện pháp và chính sách bảo hộ.

    Theo định hướng Bộ NN&PTNT, thời gian tới, để phát triển mặt hàng trái cây phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu, Bộ NN&PTNT đang phối hợp với các địa phương rà soát quy hoạch phát triển từng loại cây, xác định cụ thể diện tích cần tái canh, trồng mới, cải tạo, thay thế bằng các giống mới cũng như diện tích cần chuyển đổi sang cây trồng khác do không nằm trong quy hoạch hoặc hiệu quả thấp. Dự kiến, sản lượng trái cây cả nước sẽ được nâng lên 11,3 triệu tấn vào năm 2020 và 17,7 triệu tấn (trong đó xuất khẩu từ 800 nghìn đến 1 triệu tấn) vào năm 2030. Theo Cục trồng trọt (Bộ NN&PTNT), diện tích cây ăn trái của ĐBSCL hiện đạt khoảng 295.000ha, chiếm 36,5% diện tích cây ăn trái cả nước với sản lượng khoảng 3,8 triệu tấn, chiếm khoảng 48,7% sản lượng cả nước. Tuy nhiên, hiện có đến 82-83% sản lượng trái cây của nhà vườn sản xuất ra được bán thông qua thương lái, 10% sản lượng được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị và chỉ khoảng 7-8% được doanh nghiệp kinh doanh, chế biến, xuất nhập khẩu mua.

    Về hoạt động xúc tiến thương mại

    Chương trình Hỗ trợ xuất khẩu nguyên liệu thực phẩm sang EU (ECP) do Cục Xúc tiến thương mại (VIETRADE) phối hợp với Tổ chức Hỗ trợ nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI – Hà Lan) thực hiện nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam xuất khẩu thành công nguyên liệu thực phẩm sang thị trường EU.

    Chương trình được triển khai trong vòng 3 năm (từ năm 2014 – 2016) với các nội dung chính bao gồm: (1) Đánh giá năng lực kinh doanh và Kế hoạch hành động; (2) Xây dựng năng lực xuất khẩu; và (3) Hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập thị trường nguyên liệu thực phẩm EU. Tổng ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp của chương trình là 1,5 triệu euro, do CBI Hà Lan và VIETRADE đồng tài trợ. Các lĩnh vực ngành hàng ưu tiên hỗ trợ là cà phê, ca cao, chè, mật ong, gia vị, hạt điều, trái cây…

    Sau 3 tháng thông tin rộng rãi tới cộng đồng doanh nghiệp, Chương trình đã thu hút sự quan tâm của hơn 1.000 doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nguyên liệu thực phẩm. Trên cơ sở hơn 100 hồ sơ hợp lệ của các doanh nghiệp đăng ký tham gia, Ban tổ chức đã chọn ra 53 doanh nghiệp để các chuyên gia Châu Âu và Việt Nam đánh giá năng lực xuất khẩu theo đăng ký trên hồ sơ của doanh nghiệp. Sau vòng tuyển chọn này, các chuyên gia của CBI Hà Lan và Cục Xúc tiến thương mại tiếp tục lựa chọn được 13 doanh nghiệp để tiến hành đánh giá trực tiếp tại cơ sở của doanh nghiệp từ ngày 23/3 – 17/4/2014.

    Năm 2014, Sở Công Thương tổ chức biên soạn và phát hành tài liệu phục vụ xúc tiến thương mại, chú trọng tài liệu quảng bá ra thị trường nước ngoài, tập trung tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng của trung ương và địa phương nhằm quảng bá các sản phẩm làng nghề, thương hiệu vải thiều Lục Ngạn và sách tiềm năng xuất nhập khẩu Bắc Giang.

    Hoàn thành công tác nâng cấp sàn giao dịch TMĐT và duy trì cập nhật thông tin trên Web Công Thương Bắc Giang và Sàn giao dịch TMĐT (san24h.vn). Biên soạn và phát hành bản tin kinh tế Công nghiệp và Thương mại Bắc Giang. Duy trì cập nhật và nâng cao chất lượng thông tin trên Web Công Thương Bắc Giang, Sàn giao dịch 24h; Duy trì Tạp chí Xúc tiến thương mại hàng tháng trên sóng phát thanh và truyền hình Bắc Giang nhằm tuyên truyền quảng bá các sản phẩm làng nghề của địa phương. Duy trì Banner quảng bá thương hiệu sản phẩm, doanh nghiệp tiêu biểu tỉnh Bắc Giang trên cổng thông tin điện tử “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” tại địa chỉ http://w.w.w.tuhaoviet.vn.

    Công tác hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường

    Sở Công Thương đã hỗ trợ cho các doanh nghiệp giao lưu giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác, tiếp cận thị trường thông qua các chương trình hội thảo, hội chợ triển lãm, tổ chức các đoàn khảo sát thị trường. Kết quả cụ thể đạt được như sau:

    Sở Công Thương tổ chức các đoàn công tác của tỉnh đi khảo sát thị trường, xúc tiến thương mại tại các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bình Thuận…Tổ chức tham gia gian hàng triển lãm tỉnh Bắc Giang tại hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc tại tỉnh Yên Bái, hội chợ  Hùng Vương 2014,  hội chợ thương mại quốc tế Việt Nam lần thứ 24 – Vietnam Expo 2014, hội chợ hàng Việt Tp Hà Nội 2014 (tại Giảng Võ, Hà Nội), hội chợ quốc tế Thực phẩm và Đồ uống Việt Nam lần thứ 18, hội chợ thương mại biên giới Trung – Việt 2014.

    Phối hợp các ngành, các doanh nghiệp tham gia Hội nghị kết nối tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm nông sản đặc trưng của tỉnh vào Thành phố Hồ Chí Minh; Tổ chức đoàn xúc tiến tiêu thụ vải thiều tại Lào Cai và Hà Khẩu (Trung Quốc).

    Tổ chức thành công Hội thảo Xúc tiến hợp tác thương mại giữa các nhà sản xuất tỉnh Bắc Giang và Big C. Đại diện 35 doanh nghiệp của tỉnh Bắc Giang chuyên về giết mổ gia súc, gia cầm, sản xuất chế biến rau quả đóng hộp, các loại rau, củ, quả an toàn, mỳ gạo (Chũ, Kế), sản phẩm mây tre đan Tăng Tiến, chè Yên Thế, giấy xuất khẩu Xương Giang, gốm sứ mỹ nghệ Quảng Minh, gốm làng Ngòi, rượu làng Vân, cầu lông (Thành Công, Ba Sao)… đã tham dự hội thảo. Đại diện Big C đã ký biên bản ghi nhớ đối với 6 doanh nghiệp, HTX trên địa bàn tỉnh.

    Xây dựng và triển khai thực hiện Mô hình thí điểm chuỗi liên kết “chăn nuôi- thu mua – tiêu thụ” và “ chăn nuôi- giết mổ, chế biến – tiêu thụ” gà đồi Yên Thế.

    Sở Công Thương tổ chức các đoàn đi xúc tiến tại thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc nhằm nghiên cứu thị trường nước ngoài; tổ chức hội nghị, hội thảo gặp gỡ các đối tác nước ngoài tìm kiếm các cơ hội kinh doanh và hợp tác (Thương vụ Việt Nam tại Hàn quốc, Hiệp hội các nhà nhập khẩu Hàn Quốc); Thăm quan mô hình sản xuất, phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp Hàn quốc

    Ngoài ra các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh đã chủ động khai thác thị trường theo chiều sâu, giữ vững các thị trường xuất khẩu truyền thống như thị trường Châu á (Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan); EU; Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada). Trong đó Trung Quốc là một trong những thị trường trọng điểm cần tổ chức các đoàn chuyên ngành, đa ngành tham gia hội chợ triển lãm đường biên, tăng cường mối quan hệ hợp tác với các địa phương có cửa khẩu, nhất là phía tây và tây nam; từng bước thành lập trung tâm giới thiệu sản phẩm của tỉnh tại Trung Quốc. Tiếp tục mở rộng khai thác, thâm nhập một số thị trường mới như: Châu Mỹ (đặc biệt là Mỹ La Tinh), Châu phi, Trung Đông…giảm sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống. Thường xuyên cung cấp cho doanh nghiệp thông tin cập nhật thị trường trong nước và thế giới về cơ chế chính sách, thị trường giá cả hàng hóa, hồ sơ thị trường xuất nhập khẩu trọng điểm; thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm, bạn hàng đối tác, nhà đầu tư giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường.

    Quy định, chính sách sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu

    Theo nghị quyết 150/2005/QĐ-TTg về  việc Phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cả nước đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, Trong những năm tới mở rộng diện tích 11 loại cây ăn quả có lợi thế; riêng đối với nhãn, vải chỉ trồng mới bằng các giống rải vụ, chất lượng cao và cải tạo vườn tạp. Diện tích cây ăn quả đến năm 2010 đạt 1 triệu ha, tầm nhìn năm 2020 khoảng 1,3 triệu ha. Bố trí chủ yếu ở trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và một số vùng khác có đủ điều kiện.

    Theo Nghị quyết 107/2008/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau quả, chè an toàn đến năm 2015 quy định:

    Mục tiêu

    Đến năm 2015, 100% diện tách rau, 100% diện tích cây ăn quả, 100% diện tích chè tại các vùng sản xuất an toàn tập trung đáp ứng yêu cầu an toàn theo hướng dẫn an toàn thực hành tốt (VIETGAP)

    Phạm vi, đối tượng áp dụng các chính sách phát triển, sản xuất chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn theo quyết định này:

    • Điều tra cơ bản, khảo sát địa hình, xác định các vùng điều kiện sản xuất rau, quả, chè an toàn
    • Đầu tư sản xuất rau, quả, chè an toàn.
    • Đầu tư chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn.

    Chứng nhận và công bố sản xuất, chế biến rau, quả, chè an toàn theo VIETGAP, HACCP.

    Tổ chức cá nhân, hộ gia đình có đầu tư phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn.

    Một số chính sách

    Ngân sách đầu tư

    Điều tra khảo sát, xác định địa hình vùng đủ điều kiện sản xuất rau, quả, chè an toàn tập trung đáp ứng yêu cầu an toàn theo hướng thực hành nông nghiệp tốt VIETGAP.

    Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định quy mô sản xuất an toàn, tập trung phủ hợp điều kiện đất đai, cây trồng, quy hoạch kinh tế xã hội của địa phương.

    Xây dưng, cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông kênh mương tưới, tiêu cấp 1, tram bơm, điện hạ thế.

    Ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư chợ buôn bán, kho bảo quản, xúc tiến thương mại, chuyển giao tiến bộ kĩ thuật khoa học rau, quả, chè an toàn; chứng nhận cơ sở sản xuất rau, quả, chè an toàn.

    Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộ Trung ương quyết định.

    Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương bố trí kinh phí hàng năm hỗ trợ giống, khuyến nông vùng sản xuất rau, quả, chè an toàn tạp trung theo nghị định 56/2005/NĐ-Cp ngày 26 tháng 4 năm 2005 của chính phủ về khuyến nông khuyến ngư và quyết định số 17/2006/QĐ-TTG ngày 20 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng chính phủ về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết số 225/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 1999 về chương trình trồng cây giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp đến năm 2010.

    Về đất đai

    Tổ chức cá nhân đầu tư sản xuất rau, quả, chè an toàn được ưu tiên thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định đất đai tại các vùng sản xuất an toàn tập trung và được hưởng mức ưu đãi cao nhất về tiền sử dụng đất, giá thuê đất theo quy định hiện hành.

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thnahf phố trực thuộc trung ương, trong phạm vi quyền hạn và ngân sách địa phương, ban hành các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho người sử dụng đất “dồn điền, đổi thửa”, chuyển nhượng, tích tụ đất đai hình thành vùng sản xuât an toàn, tập trung; ban hành các chính sách hỗ trợ vốn, các chính sách khác cho sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn tại địa phương.

    Khuyến khích nông dân sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần hoặc liên doanh với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn

    Thực hiện Kế hoạch số 3110/KH-UB ngày 28/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc xây dựng kế hoạch Xúc tiến xuất xuất khẩu vải thiều năm 2015 và những năm tiếp theo. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được phân công, Sở Công Thương đã chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể số 34/KH-SCT ngày 12/11/2014 để triển khai thực hiện. Trong đó, đẩy mạnh công tác thị trường, xúc tiến thương mại nhằm xuất khẩu vải thiều.

    Ngày 26/11/2014, Sở Công Thương đã tổ chức Hội nghị phối hợp với các ngành đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ để hình thành doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu vải thiều của tỉnh trong những năm tới. Tại Hội nghị, bước đầu đã đưa ra 6 doanh nghiệp có đủ điều kiện là đầu mối xuất khẩu vải thiều của tỉnh Bắc Giang. Sở Công Thương đã gửi tờ trình số 46/TTr-SCT ngày 28/11/2014 cho UBND tỉnh quyết định 6 doanh nghiệp đầu mối , đó là: Cty CP chế biến thực phẩm XK G.O.C; HTX Bình Minh; Tổng công ty rau quả – nông sản Việt Nam; Cty CP XNK Bắc Giang; Cty TNHH Thiên Hải Long; Cty CP Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao. Trong thời gian tới, Sở Công Thương tiếp tục kêu gọi các đối tác, các nhà đầu tư đủ điều kinh doanh xuất khẩu Vải thiều Bắc Giang; Sở đã tham mưu cho lanh đạo tỉnh tổ chức buổi làm việc với Công ty CP thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao – Ninh Bình về kế hoạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, trong đó có quả vải thiều, quả gấc của tỉnh. Qua đó đã mở ra cơ hội lớn cho việc đẩy mạnh xuất khẩu vải thiều tươi vào thị trường Mỹ năm 2015; Sở Công Thương chủ động tham mưu thành lập Đoàn công tác Nghiên cứu thị trường, Phát triển sản phẩm sản phẩm và giao dịch thương mại tại Hàn Quốc từ ngày 08-13/11/2014. Trong đó, chú trọng quảng bá, xúc tiến thương mại, tìm hiểu các điều kiện để xuất khẩu được các mặt hàng nông sản, đặc biệt là Vải thiều sang thị trường khó tính nhưng có giá trị kinh tế cao này; Tham mưu tổ chức đoàn xúc tiến thương maị của tỉnh tham dự Hội chợ Kinh tế thương mại biên giới Trung – Việt tại Hà Khẩu (Vân Nam, Trung Quốc).

    Tại đây, đoàn đã gặp gỡ và làm việc với các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp của tỉnh Lào Cai nhằm tăng cường hợp tác, thúc đẩy giao thương, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa thông thoáng, thuận tiện, nhất là mặt hàng Vải thiều của tỉnh. Đoàn đã làm việc với chính quyền và doanh nghiệp phía Trung Quốc, thiết lập quan hệ, tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu hàng hóa 2 chiều, đặc biệt là vải thiều trong thời gian tới. Đoàn đi thăm vùng sản xuất nông sản lớn nhất tại Vân Nam, Châu Hồng Hà, học hỏi kinh nghiệm để có thể áp dụng cho sản phẩm nông sản của Bắc Giang.

    Sở Công Thương là đơn vị đầu mối, tổng hợp các thông tin liên quan. Tiếp tục cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về vải thiều ở các thị trường truyền thống, thị trường mới. Duy trì, cập nhật các thông tin liên quan lên các trang thông tin của Sở Công Thương, Sàn giao dịch thương mại điện tử, Bản tin kinh tế thương mại, Chuyên mục Xúc tiến thương mại phát sóng trên truyền hình tỉnh Bắc Giang.

    Nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới

    Căn cứ nhiệm vụ trong kế hoạch, Sở Công Thương chủ động thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra theo đúng tiến độ. Cụ thể nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới:  Phối hợp với các ngành đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu vải thiều của tỉnh trong những năm tới; Tiếp tục tuyên truyền quảng bá về vải thiều nói riêng và nông sản có thế mạnh của tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong và ngoài nước; Đề nghị Bộ Công Thương đưa công tác xúc tiến xuất khẩu vải thiều vào Chương trình Xúc tiến thương mại Quốc gia hằng năm; Tổ chức Hội nghị xúc tiến tiêu thụ, Hội nghị kết nối cung cầu vải thiều, các đoàn công tác xúc tiến thương mại, học tập kinh nghiệm; Hướng dẫn và lựa chọn doanh nghiệp đóng gói theo tiêu chuẩn Mỹ, Nhật và thị trường khác; Phối hợp với Bộ Công Thương và các cơ quan có liên quan tìm hiểu, nắm bắt thông tin thị trường, đối tác người nước; thủ tục xuất khẩu; quy trình, thủ tục kiểm soát hàng nhập khẩu của một số nước như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…;Xây dựng bộ tài liệu (CD, tờ rơi, catalog…) phục vụ quảng bá về vải thiều nói riêng và nông sản có thế mạnh của tỉnh nói chung. Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về vải thiều ở các thị trường truyền thống, thị trường mới; kịp thời cập nhật thông tin về các thương nhân thu mua, chế biến, các nhà nhập khẩu, tiêu thụ vải thiều trên trang Thông tin Xúc tiến thương mại.

    Tiếp tục tập trung khâu sản xuất, chăm sóc cây vải, nâng cao chất lượng quả vải. Quy hoạch vùng sản xuất, mở rộng diện tích xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGAP. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, kéo dài thời vụ, áp dụng tốt tiến bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ mới, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, tiếp cận, ứng dụng công nghệ bảo quản tế bào (CAS) của Nhật để xuất khẩu vải thiều sang các thị trường tiềm năng như: Nhật, Hàn Quốc, Mỹ…Đảm bảo đủ năng lực cung ứng, nguồn cung ứng ổn định, đảm bảo về số lượng và chất lượng. Kiểm tra trên thực tế và khuyến cáo người dân tuân thủ đúng các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ chất lượng và thương hiệu cho vải thiều Bắc Giang.

    – Thị trường tiêu thụ: Tiếp tục khai thác tốt các thị trường truyền thống trong và ngoài nước, chú trọng việc tiêu thụ ở thị trường nội địa, nhất là thị trường phía Nam và mở rộng sang các thị trường có giá trị cao như Nhật, các nước EU. Đồng thời có chiến lược tiếp cận, mở rộng thêm các thị trường mới; Xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp, hiệu quả, kết nối với các đối tác lớn, tiêu thụ lâu dài và ổn định cho vải thiều. Các ngành cần chủ động hơn, nghiên cứu, nắm chắc tình hình thị trường, dự báo sản lượng tiêu thụ cụ thể cho từng thị trường, xây dựng và đưa vào chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ, thuận tiện cho công tác kết nối giao thương, xúc tiến thương mại.

    – Công tác xúc tiến thương mại: Tiếp tục duy trì và phát triển thương hiệu vải thiều Lục Ngạn, vải sớm Phúc Hòa (Tân Yên); làm tốt công tác xúc tiến thương mại, thông tin, tuyên truyền quảng bá thương hiệu vải thiều.

    – Tăng cường sự phối hợp, tranh thủ sự ủng hộ, quan tâm của Chính phủ, các Bộ, ngành, các tỉnh, các cơ quan truyền thông tạo điều kiện, phối hợp hỗ trợ cho tỉnh trong công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, hỗ trợ kết nối tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và bảo quản nâng cao chất lượng vải thiều để mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.

    – Các ban ngành trong tỉnh cần chủ động, vào cuộc một cách đồng bộ; thành lập các tổ chức, hội, hiệp hội, câu lạc bộ để hỗ trợ, sản xuất, tiêu thụ một cách bài bản. Việc xây dựng thành công cho thương hiệu vải thiều sẽ là nền tảng, tiền đề để phát triển các sản phẩm khác.

    Với sự vào cuộc tích cực từ Trung ương tới các ban ngành của địa phương, Quả vải sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ, mang lại giá trị kinh tế cao, hứa hẹn một tương lai sáng cho quả Vải- Đặc sản thế mạnh của địa phương.

    Các thủ tục xuất khẩu

    Tổng cục Hải quan chỉ đạo Cục Hải quan các tỉnh, thành phố Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Giang tạo điều kiện, khuyến khích cho các thương nhân xuất vải quả tươi qua các cửa khẩu biên giới, không để xảy ra tình trạng ùn tắc tại cửa khẩu, giải quyết nhanh các vướng mắc phát sinh.

    Cơ quan này yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố ưu tiên làm thủ tục, bố trí công chức chuyên trách tư vấn giải quyết thủ tục xuất khẩu mặt hàng vải thiều cho doanh nghiệp xuất khẩu. Việc làm này theo Tổng cục là nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.

    Thông qua chỉ mất 3 phút, không gây ách tắc là những gì đã diến ra ở cửa khẩu Lào Cai mùa vải thiều 2014. Thời gian doanh nghiệp khi làm thủ tục xuất khẩu cho mỗi phương tiện hoặc mỗi lô hàng chỉ cần 3 – 5 phút, bằng 1/3 lượng thời gian trước đây. Trong khi đó, Sở Công thương đã cử cán bộ trực tiếp đến Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành để hướng dẫn làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) nếu doanh nghiệp có nhu cầu. Ông Nguyễn Quý Trung, Phó Trưởng phòng Quản lý xuất – nhập khẩu, Sở Công thương cho biết: Có ngày cao điểm đơn vị đã cấp trên 10 bộ hồ sơ C/O liên quan đến mặt hàng vải thiều xuất khẩu. Tại đây ngành công thương luôn thường trực 2 cán bộ, trong đó có 1 người làm nhiệm vụ “con thoi”, liên tục về văn phòng sở để báo cáo tình hình và trình ký duyệt các bộ C/O, đảm bảo tất cả các hồ sơ của doanh nghiệp phải hoàn thành trong 1 ngày. Với vai trò cầu nối thị trường hàng hóa Việt Nam với các tỉnh miền Tây Nam (Trung Quốc), về chủ trương, tỉnh Lào Cai luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc xuất khẩu hàng hóa, nhất là hàng nông sản của các tỉnh, thành phố qua các cửa khẩu trên địa bàn. Đối với mặt hàng vải thiều, như những năm trước, ngay từ đầu vụ thu hoạch năm 2014, lãnh đạo UBND tỉnh và các ngành có liên quan của tỉnh Bắc Giang đã có buổi làm việc với tỉnh Lào Cai về nội dung xúc tiến tiêu thụ vải thiều. Trước các đề xuất của tỉnh Bắc Giang, ông Nguyễn Thanh Dương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai đã khẳng định địa phương sẽ làm hết sức mình đề tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động xuất khẩu vải thiều. Trong đó có sự ưu tiên đặc biệt về mặt thủ tục xuất khẩu, lãnh đạo UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan chức năng tại cửa khẩu tăng cường làm thêm giờ, đơn giản hóa các thủ tục với tinh thần kiên quyết không để vải thiều ứ đọng tại cửa khẩu và nó đã thực sự mang lại hiệu quả rất đáng kể.

    Tính từ ngày 20/5 – 29/6 đã có gần 27.000 tấn vải thiều xuất khẩu qua khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai, trong đó có 18.000 tấn xuất khẩu chính ngạch qua Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành. Tính bình quân trong cả vụ xuất khẩu thì mỗi ngày có 646 tấn vải thiều được xuất khẩu; từ trung tuần tháng 6, con số này đạt khoảng 1.200 – 1.400 tấn mỗi ngày. Giá vải thiều trong vụ này có những thời điểm dao động với biên độ lớn nhưng vẫn đạt mức trung bình 120 Nhân dân tệ/thùng 20 kg, tương đương với 420.000 đồng. Theo thống kê của cơ quan hải quan, tính đến thời điểm nói trên, tổng trị giá xuất khẩu vải thiều đạt khoảng 9,2 triệu USD, tương đương với 200 tỷ đồng.

    2.2.2 Sự nổ lực của các doanh nghiệp

    Để có thể đưa vải thiều tiến sâu hơn nữa và thị trường Eu, người sản xuất vải thiều Việt Nam ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. Cùng với đó đổi mới các công nghệ sản xuất, áp dụng phương thức hiện đại trong bảo quả, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường.

    .

    1. Phương pháp thu hoạch và bảo quản vải thiều

    Năm 2006, Nhằm giảm bớt thiệt hại cho nông dân, kéo dài thời gian bảo quản vải tươi để có thể vận chuyển đi xa tiêu thụ, mới đây Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (SOFRI) đã nghiên cứu thành công và khuyến cáo bà con nông dân các vùng trồng vải một phương pháp xử lý và bảo quản vải tươi mới.

    –  Thu hoạch: Thu hái vải quả nhẹ nhàng vào những ngày khô ráo, tránh những ngày mưa. Thu hoạch vải khi vỏ quả đã chín đỏ đều (khoảng 102-109 ngày sau khi hoa nở). Buộc vải thành từng chùm khoảng 3-5kg hoặc đựng trong các rổ nhựa thưa khoảng 10kg. Loại bỏ những quả bị nứt vỡ, dập nát, chín không đều và những quả dị hình.

    – Chuẩn bị vật liệu: Các vật liệu, hoá chất gồm có: A-xít clohydric (HCl) hoặc NaHSO3, bể nhúng, quạt gió, rổ nhựa…

    – Xử lý: Nhúng từng bó hoặc cả rổ nhựa vải quả vào dung dịch NaHSO3 trong thời gian 10 phút (pha 60g NaHSO3 trong 1 lít nước sạch, khuấy đều cho tan hết). Dung dịch NaHSO3 có tác dụng làm cứng vỏ quả, hạn chế mất nước, tiêu diệt và chống vi khuẩn, nấm bệnh xâm nhập gây hại quả. Vớt ra nhúng tiếp vào dung dịch HCl 4% khoảng 2-5 phút. Dung dịch HCl có tác dụng hãm màu, giữ cho vỏ quả tươi nguyên tăng thêm giá trị thương phẩm.

    – Đóng gói, bảo quản, vận chuyển: Sau khi xử lý, để khô tự nhiên hoặc dùng quạt gió để thổi khô rồi đóng gói trong hộp xốp để vận chuyển đến nơi tiêu thụ bằng xe lạnh hoặc bảo quản trong kho mát có điều kiện nhiệt độ 4-5 độ C, độ ẩm không khí 90-95%. Cũng có thể dùng túi nhựa poly etylen để đựng vải quả vừa tránh mất nước và giữ được màu sắc vỏ quả được lâu hơn.

    Cách bảo quản theo công nghệ CAS

    Năm 2013, Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng (Bộ Khoa học và Công nghệ) thử nghiệm triển khai công nghệ CAS để bảo quản quả vải thiều tươi cho kết quả khả quan. Đây là một công nghệ bảo quản đông lạnh tiên tiến, luôn giữ ở nhiệt độ lạnh từ -35 độ C trở lên nhưng vẫn không phá vỡ các màng và thành tế bào, duy trì được các yếu tố quan trọng cấu thành hương vị trong thực phẩm, nhờ đó giúp thực phẩm được bảo quản tốt hơn, giữ được độ ngon, tươi lâu hơn so với công nghệ đông lạnh truyền thống.

    Sử dụng công nghệ CAS giúp đảm bảo gần như tuyệt đối độ tươi, ngon, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với nhiều loại nông sản, thực phẩm với thời gian bảo quản kéo dài tới 1 năm, thậm chí là 10 năm. Công nghệ CAS là sáng chế độc quyền của Tập đoàn ABI (Nhật Bản), được đánh giá là công nghệ tiên tiến, tích cực nhằm đạt được, khống chế và tối ưu hóa các thông số bảo quản hải sản, nông sản và thực phẩm. Bảo đảm sau rã đông (có thể sau nhiều năm tùy từng mặt hàng), sản phẩm sử dụng công nghệ CAS vẫn giữ được độ tươi nguyên như vừa mới thu hoạch, giữ được cấu trúc mô – tế bào, mầu.

    Khác biệt của công nghệ CAS với các công nghệ đông lạnh thông thường đó là sự cùng tác động của từ trường và quá trình lạnh đông nhanh đã làm cho nước (nước tự do và nước liên kết) trong tế bào sống đóng băng ở chỉ một số rất ít phân tử. Quá trình này không phá vỡ cấu trúc tế bào và cũng không làm biến tính các hợp chất sinh học (như prô-tít, vi-ta-min). Thử nghiệm tại Việt Nam đối với một số loại nông sản như quả dưa vàng, xoài, gạo và vải thiều cho thấy công nghệ CAS bảo đảm yêu cầu chất lượng sản phẩm đúng các thông số kỹ thuật đặt ra. Sử dụng công nghệ CAS cũng có một số đặc điểm ưu việt khác như thân thiện môi trường, tiết kiệm nhiều năng lượng (lượng điện tiêu thụ).

    Cách làm vải khô

    Để làm vải khô, bà con thu hoạch khi quả chín, vỏ mầu nâu sẫm, nên bẻ cả chùm quả, không bẻ đau để năm sau cây không chột, tốt nhất là cắt bằng kéo. Vải buộc thành từng chùm nhỏ treo trong nhà kín, đốt than giữ nhiệt độ khoảng 35 – 400 độ C liên tiếp ngày lẫn đêm, khi nào hạt long ra lắc nghe lọc cọc là được. Nếu không sấy, phơi nắng cũng được. Quả vải khô, vỏ căng đều, không bị óp là đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Vải thiều sấy khô có hương vị đặc trưng, thơm ngọt, rất dễ ăn. Do chứa nhiều vitamin, khoảng chất, dưỡng chất nên vải thiều cũng  rất tốt cho sức khỏe và còn có thể ngừa được một số bệnh như ung thư, tim mạch

    1. Hoạt động quản lý và điều phối sản xuất

    Các doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều trong nước hiện nay phát triển với quy mô vừa và nhỏ, số lượng nhà vườn tập trung theo tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường lớn là không nhiều. Chất lượng sản phẩm không đồng đều, giá cả bấp bênh, thiếu ổn định; chưa có chiến lược quảng bá nên sản phẩm thâm nhập thị trường còn hạn chế. Số lượng lớn vải thiều xuất qua đường tiểu ngạch, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thương nhân kinh doanh vải thiều xuất khẩu ồ ạt, không điều tiết và có kế hoạch, dẫn đến tình trạng ùn tắc tại một số cửa khẩu. Bao bì, nhãn mác chưa đồng bộ, bảo quản đóng gói thô sơ, chất lượng mẫu mã sản phẩm cạnh tranh kém, hay bị thương nhân ép giá. Tình hình sử dụng thuốc bảo quản vải thiều sau thu hoạch chưa được kiểm soát chặt chẽ, một số hộ sản xuất còn dùng dung dịch tạo màu làm đẹp mã vải thiều. Điều này, làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng vải thiều, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với người tiêu dùng và uy tín, chất lượng của thương hiệu vải thiều.

    Để có thể làm chủ được thị trường, phát triển mở rộng quy mô sản xuất, xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước đã có những động thái quyết liệt tích cực từ khâu sản xuât, bảo quản, cung ứng ra các thị trường nước ngoài.

    Đổi mới cách quản lý, quy hoạch, sản xuất, điều tiết mùa vụ, tận dụng tối đa những ưu đãi của chính phủ là những gì mà các doanh nghiệp xuất khẩu vải đang thực hiện. Cùng với đó là đầu tư dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại trong sản xuất, áp dụng những tiêu chuẩn, thực hiện các yêu cầu kiểm soát chất lượng của thế giới, nâng cao chất lượng quả vải thiều. Ngoài ra, cùng các cấp các ngành cải thiện cơ sở hạ tầng, mở rộng xây mới đường giao thông, thông thoáng trong vận chuyển hàng hóa, các chính sách thông quan hải quan.

    Bản thân các doanh nghiệp cũng nâng caco chất lượng đổi ngũ nhân viên về nghiệp vụ ngoại thương, tìm hiểu thị trường, chính sách khuếch trưng quảng bá sản phẩm. Xây dựng thương hiệu và phát triển thương hiệu.

    Khắc phục rủi ro trong hoạt động xuất khẩu là bài toán mà các doanh nghiệp luôn phải tìm lời giải.

    • Rủi ro về mặt hàng chuẩn hóa và không chuẩn hóa

    Dù áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất cảu thế giới VietGAP, GlobalGAP, nhưng nhu cầu, thị yếu thị trường liên tục thay đổi, nếu không nắm bắt được xu thế, tình hình thị trường thì các sản phẩm xuất sang thị trường Châu Âu sẽ không được chấp nhận. Từ đó đãn đến tình thế bất lợi cho người sản xuất. Ứa đọng hàng hóa, mất giá, giảm giá trị thương hiệu… Cùng với đó, sự dạng sản phẩm trên thị trường, người tiêu dùng có thể chọn vô số những nhẫn hiệu khác nhau dẫn đến nhầm lẫn.

    • Rủi ro bạn hàng, khách hàng

    Các nghiệ vụ ngoại thương, các kinh nghiệm xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam không nhiều, sự am hiểu thị trường không lớn. Cùng với đó các chi phí giao dịc quốc tế không hề nhỏ. Các doanh nghiệp phải hết sức thận trọng trong việc chọn lựa đối tác, bạn hàng của mình.

    • Rủi ro về thông tin

    Hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay chưa có sự đầu tư cao về máy móc công nghệ kiểm soát và cập nhật tin tức thị trường. Viêc nắm bắt các xu thế tiêu dùng, biến động xá hội chưa cao. Các doanh nghiệp chưa chú trọng nhiều đến các hiệp định đối tác, cũng như tác động của kinh tế toàn cầu. Điều này tạo ra bất lợi lớn. Các doanh nghiệp cần chủ động tích cực hơn nữa để cập nhập tin tức và xử lý chúng một cách tốt nhất.

    • Rủi ro về kênh phân phối

    Theo thói quen tiêu dùng của các nước châu Âu, người dân thường mua hàng hóa tại các siêu thị và trung tâm thương mại. Việc phân phối sản phẩm sao cho phù hợp nhất với thị trường đòi hỏi chi phí cao và rào cản tương đối nhiều. Đàm phán, giao dịch, kí kết thỏa thuận, hợp đồng để có thể sử dụng kênh phân phối của các nước nhập khẩu buộc cách doanh nghiệp phaair nổ lực rất nhiều.

    • Rủi ro vê ngoại hối

    Nền kinh tế EU còn nhiều bất ổn do chính trị, khủng hoảng, nợ công nên tỷ giá cảu đồng Euro không ổn định song vẫn mức cao. Các biến động kinh té tác động nhiều đến chỉ số này tuy nhiên đối với thị trường Việt Nam thì nó vẫn là một con số tốt.

    2.3 Đánh giá hoạt động thúc đẩy xuất khẩu vải thiều của VN vào thị trường EU

    2.3.1 Ưu điểm

    Mỹ, Nhật Bản, Australia được biết đến là các thị trường tiềm năng với sức mua lớn và doanh thu cao. Song các chi phí chi cho đầu tư xuất khẩu lớn. Eu không phải thị trường mới của Việt Nam, nhưng sản lượng xuất khẩu sang thị trường này không cao, sức ảnh hưởng của sản phẩm đối với người tiêu dùng không lớn. Tận dung các mối quan hệ bạn hàng, việc thông thạo thị trường, am hiểu khách hàng là tiềm đề quan trọng cũng như lợi thế để Việt Nam xuất khẩu Vải sang thị trường này.

    Quan hệ thương mại Việt Nam – EU trong thời gian vừa qua có những động thái tích cực, bắt đầu từ đầu năm nay, EU đã áp dụng chế đọ GSP cho hàng xuất khẩu Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh hơn khi tiếp cận thị trường EU. Hiện quá trình đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU FTA vừa hoàn tất vòng đàm phán thứ 8 vào ngày 28/6/2014 và hai bên đang phấn đấu kết thúc đàm phán trong năm nay trước khi EU thay đổi nghị viện và Lãnh đạo các cơ cấu. giá trị của FTA Việt Nam – EU, Hiệp định được ký kết tạo ra khuôn khổ và hành lang pháp lý rõ ràng, giúp DN có được định hướng lâu dài để xây dựng các chiến lược kinh doanh dài hạn. Dự kiến, nếu FTA với EU được hình thành thì không chỉ giúp xuất khẩu của Việt Nam tăng trung bình 4%/năm, giảm mức chịu thuế nhập khẩu mà còn là cơ hội để DN trong nước bớt sức ép cạnh tranh từ Trung Quốc – quốc gia chưa có FTA với EU. FTA với EU hứa hẹn sẽ có những tác động tích cực đối với Việt Nam như mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh và thúc đẩy cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế. Bên cạnh đó, khu vực dịch vụ cũng được kỳ vọng mở rộng đáng kể nhờ FTA và có thể góp phần làm tăng hiệu suất cho toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy đầu tư và cải tiến công nghệ, nhờ đó dịch chuyển năng suất và tăng đầu ra. Tuy nhiên bên cạnh đó, tham gia vào các FTA, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức mà nếu không có sự chuẩn bị tốt thì có thể sẽ để vuột mất cơ hội.

    Các hiệp đinh thương mại tự do mà Việt Nam kí kết, đã phát huy một cách tích cực nhưng lợi thế mà doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang có. Bằng Việc thực hiện hàng lạo các chính sách thức đẩy thương mại, những hoạt động đổi mới trong sản xuất thì:

    Đảng và nhà nước có cái nhìn đúng đắn, hướng đi mạch lạc để phát triển nông nghiệp đặc biệt cây vải thiềuNó giúp Thay đổi diện mạo của ngành sản xuất vải thiều trong nước, nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.

    Áp dụng các công nghệ tiến tiến vào sản xuất đã nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng ngày càng nhiều thị trương khó tính, tiếp cận các thị trường mới, mở rộng sản xuất, xuất khẩu.

    Những bước tiến dài hơi và đầu tư đúng mực làm cho các hoạt động sản xuất đi vào khuôn khổ, phát triển bền vững, có cơ sở nền tảng vững chắc cho phát triển lâu dài. Hạn chế được rủi ro khi tham gia vào thị trường quốc tế.

    Cải cách các thủ tực tạo ra hàng lang, pháp lý mới, thông thoáng hơn, có khả năng mở rộng hơn hoạt động xuất khẩu.

    v.v…

    Năm 2014 vải thiều lại được mùa, đạt khoảng 190 nghìn tấn, tăng 13,6% so với 2013, trong đó tập trung chủ yếu tại các huyện Thanh Hà, thị xã Chí Linh (Hải Dương) và các huyện Tân Yên, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Lục Ngạn (Bắc Giang). Vải tiêu thụ ở trong nước khoảng 60% còn lại xuất khẩu.

    Vải thiều chủ yếu được xuất khẩu dạng quả tươi sang Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia…chiếm khoảng 85% tổng lượng xuất khẩu, trong đó số này phần sang Trung Quốc chiếm trên 90%. 15% còn lại xuất khẩu vải được bảo quản bằng công nghẹ cao, nước vải ép, vải sấy khô, vải đông lạnh đóng lọ, được xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU…

    Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam, Sở Công Thương Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế… thúc đẩy việc tiêu thụ quả vải tại các siêu thị, chợ đầu mối, chợ truyền thống. Sở Công Thương Bắc Giang, Hải Dương đã ký kết Biên bản thỏa thuận hợp tác tiêu thụ quả vải với 11 Sở Công Thương các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông – Tây Nam Bộ, đặc biệt là vào các siêu thị, chợ đầu mối của thành phố Hồ Chí Minh. Lượng tiêu thụ quả vải tại các chợ đầu mối Bình Điền, Hóc Môn và Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) tăng từ khoảng 700 tấn/ngày lên trên 1.300 tấn/ngày. Riêng chợ Thủ Đức đã ký hợp đồng 100 triệu đồng. Các siêu thị Co-op Mart, Intimex, Vinatex, Ocean Mart, Big C, Lotte… đưa quả vải vào chuỗi phân phối của hệ thống, với nhiều hình thức khuyến mại.

    Tính đến 20/6/2014, lượng quả vải tiêu thụ đạt khoảng 61,8 nghìn tấn, trong đó, xuất khẩu qua các cửa khẩu thuộc địa bàn tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn là 24,9 nghìn tấn với giá xuất khẩu bình quân từ 8.500 đồng đến 18.000 đồng/kg. Trong khoảng 1 tuần trở lại đây, trung bình mỗi ngày có khoảng 1,7 nghìn tấn quả vải tươi của Việt Nam được xuất khẩu qua các cửa khẩu thuộc tỉnh Lào Cai và Lạng Sơn sang Vân Nam, Trung Quốc. Thương hiệu vải thiều Lục Ngạn đã tạo được ấn tượng tốt tại thị trường nội địa và tiếp tục được đón nhận tại các thị trường xuất khẩu. Vải thiều tươi được tiêu thụ ở thị  trường nội địa với sản lượng 90.000 tấn, trong đó sức tiêu thụ của thị trường phía Nam tăng mạnh, giá bán cao. Vải thiều xuất khẩu sang Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia, Sing-ga-po, Thái Lan… gần 100.000 tấn. Đặc biệt, có 20 tấn vải thiều sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, bảo quản bằng công nghệ tế bào (CAS) đã chinh phục được thị trường Nhật Bản. Tổng giá trị sản xuất vải thiều toàn tỉnh đạt khoảng 2.368 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay. Nguyên nhân thành công phải kể đến là việc tỉnh Bắc Giang đã tích cực đổi mới trong công tác xúc tiến thương mại, giải quyết đầu ra cho một sản lượng kỷ lục khoảng 194.000 tấn vải, tăng hơn 60.000 tấn so với năm 2013. Nhận định quan trọng này được nhiều đại biểu Bộ, ngành, cơ quan TƯ và địa phương đưa ra tại Hội nghị tổng kết công tác tiêu thụ vải thiều tại Bắc Giang ngày 04/8/2014 vừa qua.

    Thị trường xuất khẩu

    Hiện nay vải thiều có mặt hầu hết các nước trên khu vực EU trong các siêu thị và trung tâm thương mại lớn. Với sản lượng không nhiều song cũng chiếm được thị phần không hề nhỏ của thị trường. Pháp, Anh, Nga, Thụy Điển…

    Cùng với đó thị trường xuất khẩu ngày càng rộng lớn, đa dạng hơn. Australia, Mỹ, Nhật là các thị trường lớn khó tính, song Vải thiều Việt Nam đã thâm nhập được vào.

    Chất lượng quả vải thiều

    Nhờ ứng dụng được công nghệ sản xuất, bảo quản hiện đại, chất lượng quả vải thiều đã nâng lên đáng kể. Màu sắc, mùi vị, kích thước, quả to tròn, hạt to, ăn cùi có vị ngọt dịu và hơi chua mam mát phù hợp tiêu chuẩn quốc tế. đồng thời tạo ra được nhiều loại vải có chất lượng tốt cung ứng ra thị trường như vải chín sớm ở Tân Mộc, U hồng và Bình Khê, Hùng Long, U trứng, U hồng, lai Thanh Hà. Các loại vải này đều chín sớm so với mùa vụ song mùi vị khá ngon và hấp dẫn được thị trường lớn.

    Nhờ các chính sách thúc đẩy, diện tích trồng vải ở các vùng Lục Ngạn, Thanh Hà tăng đáng kể. Các quy trình kĩ thuật được ứng dụng và đã phát huy hiệu quả thể hiện qua việc tăng sản lượng, chất lượng quả vải, thâm nhập được các thị trương lớn có yêu cầu cao như Mỹ, EU, Nhật…Đầu tư tăng cho sản xuất, bảo quản, bao gói và phát triển thương hiệu. Các hoạt động xuất khẩu chuyển dần từ đường tiểu ngạch san xuất khẩu lớn chủ động hơn trên thị trường, Có hướng phát triển mới. Khi đó ảnh hưởng đến các hộ sản xuât không nhỏ. Việc áp dụng quy trình công nghệ, thay đổi phương thức sản xuất, bảo quản được thực hiện mọt cách tự giác, nó không còn là vấn đề của doanh nghiệp, của chính phủ mà và vấn đề của chính họ.

    Sản lượng vải thiều một số năm gần đây

    Hình 2.6. Sản lượng vải thiều Việt Nam 2011-2014

                                                                                 Nguồn: Tổng hợp

    Do biến động của kinh tế thế giới, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, đỉnh điểm 2013 ở Việt Nam đã khiên cho sản lượng vải giảm sút. Tuy nhiên, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi, tất cả các ngành nghề đang có tiến triển tích cực, sản xuất vải thiều không ngoại lệ. Nhận thấy hội nhập mở cửa thế giới ngày càng sâu rộng, hợp tác Kinh tế Việt Nam-EU đang diễn ra trên nhiều phương điện.Gần đây nhất hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU đang được kí kết, thúc đẩy xuất khẩu đang được thực hiện một cách hết sức tích cực thể hiện qua sản lượng Vải thiểu đãng tăng trở lại trong năm 2014. Sản lượng tăng, xuất khẩu ngày càng nhiều, thị trường Eu là thị trường lâu năm của VIệt Nam càng được chú trọng hơn.

    2.3.2 Hạn chế

    Trong quá trình thực hiện các biện pháp thức đấy  xuất khẩu vải thiều vào thị trường Eu của Việt Nam cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm.

    • Sự đồng bộ trong sản xuất ở các vùng nguyên liệu chưa cao.
    • Việc áp dụng công nghệ mới và sản xuất còn chưa hiệu quả.
    • Đầu tư cơ sở hạ tầng còn chưa đạp ứng kịp nhưng yêu cầu thực tiễn.
    • Các doanh nghiệp đổi mới, cải cách còn chưa rõ ràng, hiệu quả.
    • Những hoạt động xuất khẩu vẫn chưa có khả quan.
    • Các tiêu chí, chính sách của chính phủ vẫn chưa đạt yêu cầu về thực tiễn.

    Trong khi vải thiều tươi của Việt Nam năm nay xuất khẩu qua biên giới nhỏ giọt thì loại quả này từ Trung Quốc đang xuất ngược sang ta, gây ra nhiều lo ngại. vải từ Trung Quốc đã xuất hiện trên thị trường Lạng Sơn, được bán nhiều ở các cặp chợ biên giới như: Tân Thanh, Đồng Đăng (huyện Cao Lộc), mỗi ngày gần chục tấn. Vải Trung Quốc quả to, đều, có vị “ngọt như đường hoá học”, thu hút sự chú ý và tiêu thụ của người dân địa phương và du khách. Khi ăn thử vải Trung Quốc, nhiều người e ngại vì sự ngọt bất thường và màu trắng đục, mọng cùi. Họ nghi ngờ có sự tác động của chất bảo quản, hoặc những tác nhân nào đó có thể gây nguy hại cho sức khoẻ con người.

    Việc vải thiều từ Trung Quốc xâm nhập lại thị trường Việt Nam và chiếm được thị trường tiêu dung là một minh chứng cụ thể bộc lộ mặt hạn chế của các chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam hiện nay. Tuy có rất nhiều các biện pháp, hành động được đưa vào thực tiến song không hiệu quả. Từ thực tế trên cho thấy, việc chúng ta không kiểm soát được thị trường, các chính sách xuất nhập khẩu còn thiếu sót, việc xây dựng thương hiệu còn yếu kém, khâu kiểm tra chất lượng quả vải chưa tốt, bảo hộ thương hiệu và thương hiệu chưa được xem xét đến.

    2.3.3 Nguyên nhân hạn chế

    Các biện pháp thức đẩy xuất khẩu vẫn có nhiều hạn chế là đo rất nhiều nguyên nhân mang lại. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, người sản xuất ta có thể thấy rằng:

         Nguyên nhân chủ quan:

    Việc thực hiện các chính sách còn chưa quyết liệu, các yêu cầu không gắn nhiều với thực tiễn xã hội. Cùng với đó sự bắt tay giữa các cấp các ngành và các doanh nghiệp, hộ sản xuất chưa cao. Các doanh nghiệp rất kiểm soát được sản lượng đầu vào, khó dự báo được cung ứng của các hộ gia đình. Các chính sách, chiến lược cho xuất khẩu còn ẩn chứa nhiều rủ ro.

    • Kinh phí đầu tư thực hiện không đáp ứng đủ yêu cầu thực tiễn. Mặc dù có đầu tư song vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn thấp. Sản lượng cung ứng cho thị trường không đủ.
    • Trình độ chuyên môn, các cấp quản lý, nghiệp vụ ngoại thương của các công ty còn yếu. Đào tạo đội ngũ chuyên nghiệp chưa có, yêu cầu kinh phí cao. Bài toán hóc bóc buộc các doanh nghiệp cần chi nhiều hơn cho đào tạo.
    • Thói quen sản xuất của người nông dân khó thay đổi, do trình độ dân trí còn thấy, cùng với đó việc đầu tư công nghệ cần có vốn cao. Dẫn đến không đảm bảo hoạt động đầu vào.
    • Các chính sách thông quan, vay vốn hỗ trợ hay đầu tư sản xuất của nhà nước còn nhiều bất cập. TÌnh trạng quan liêu vẫn xãy ra, hiệu quả công việc không cao. Các doanh nghiệp rất khó để cỏ thể tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ của chính phủ để phát triển, mở rộng củng cố sản xuất.

    v.v..

    Nguyên nhân khách quan

    • Việt Nam là một nước nhiêu đới gió mùa, chụi nhiều tác động từ thiên nhiên: thiên tai, bão lũ, nóng lên toàn cầu, nên việc sản xuất ra quả vải đạt tiêu chuẩn là rất khó khăn.
    • Biến động kinh tế toàn cầu liên tục thay đổi, lên xuống khó kiểm soát, ngay cả các nền kinh tế lớn thế giới như Mỹ, Eu, Nhật, Nga, Đức… cũng tiềm ẩn nhiều rủ ro.
    • Phát triển ngành càng nhiều xu hướng kinh tế mới đặt ra thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp.
    • Liên kết kinh tế khu vực toàn cầu, tạo ra áp lực canh tranh lớn.
    • Phát triển bùng nổ khoa học công nghệ, đời sống tăng cao nhu cầu đòi hỏi thị trường cũng rất khắt khe.
    • Sản phẩm thay thế ngày càng nhiều.

    v.v…

    Đứng trên góc độ của chính nhà nước

    Nguyên nhân chủ quan

    • Rất khó để có thể cân đối các chính sách phát triển mục tiêu kinh tế cùng mục tiêu xã hội.
    • Hệ thống các chính sách còn chưa đầy đủ thống nhất cần xây dựng bổ sung thêm.
    • Ngân sách nhà nước còn hạn chế.
    • Đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ còn ít.

    Nguyên nhân khách quan

    • Không thể kiểm soát hết tác động của thị trường, thiên nhiên.
    • Hoạt động tự phát từ người sản xuất.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP

    3.1 Cơ hội và thách thức của hoạt động xuất khẩu vải thiều trên thị trường EU

    3.1.1 Cơ hội

    1. Mối quan hệ hợp tác tốt đẹp Việt Nam- EU

    Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 28/11/1990 và ngày 17/7/1995 đã đánh dấu mốc quan trọng trong quan hệ ngoại giao Việt Nam – EU với việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác, thiết lập các Phái đoàn Ủy ban châu Âu tại Việt Nam được thành lập và chính thức hoạt động từ năm 1996. Từ đó tới nay, quan hệ Việt Nam – EU đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là thương mại. Với gần nửa tỷ người tiêu dùng có thu nhập bình quân trên 21.000 USD/người/năm, EU hiện đang là một thị trường lớn của Việt Nam.

    Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với EU, Việt Nam cùng EU đã ký hơn rất nhiều Hiệp định quan trọng liên quan đến hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, các hoạt động hỗ trợ, viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Đây là những cơ sở để phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và EU. Hiệp định hợp tác và đối tác toàn diện Việt Nam – EU (PCA) được ký kết ngày 27/6/2012 là minh chứng sống động cho sự phát triển toàn diện và sâu sắc của quan hệ Việt Nam và EU trong hơn 20 năm qua và là một dấu mốc quan trọng, đưa quan hệ giữa Việt Nam và EU lên tầm cao mới, đó là mối quan hệ đối tác bình đẳng và hợp tác toàn diện, phù hợp với mức độ liên kết sâu rộng và tầm vóc của EU trong thế kỷ XXI, cũng như thế và lực ngày càng tăng của Việt Nam sau hơn 25 năm đổi mới và hội nhập thành công. Tính đến hết năm 2013, EU có 1.402 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam còn hiệu lực, với tổng vốn lũy kế đăng kí là 18.024 tỷ USD. Số vốn FDI cam kết của EU tại Việt Nam năm 2013 là trên 656 triệu USD, đứng thứ 6 trong các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    1. Hiệp định thương mại tự do EVFTA.

    Và gần đây là là những thỏa thuận cuối cùng của hiệp định thương mai tự do EU- Việt Nam (EVFTA) mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam. Vì vậy, đây chính là ưu thế để hướng tới cơ hội xuất khẩu khi FTA giữa Việt Nam – EU được ký kết. FTA giữa Việt Nam và EU khi được ký kết có thể sẽ giúp tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam tăng thêm từ 10% – 15% so với hiện nay. Ngoài ra, FTA sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng từ 30% – 40% và nhập khẩu từ EU vào Việt Nam tăng từ 20% – 25%.

    Theo Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công thương, EU hiện vẫn là thị trường nhập khẩu quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp và hàng Việt Nam thông qua việc gia tăng xuất khẩu một số nông sản truyền thống, có thế mạnh, như: cà phê, ca cao, hạt tiêu, điều, tôm…

    Trong đó, Việt Nam chiếm gần 2/3 giá trị xuất nhập khẩu – tức là đóng vai trò xuất siêu trong quan hệ thương mại song phương. EU cũng là khu vực có tiềm năng và truyền thống rất nổi bật, với sức mua dồi dào và ổn định nhờ thu nhập bình quân đứng hàng đầu thế giới.

    Bình thường, Thuế suất trung bình EU áp lên các mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam khoảng 4,1% và thuế quan bình quân theo trọng số là 7%. Một số mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam bị áp thuế cao hơn mức trung bình như: hàng may mặc (11,17%), thủy hải sản (10,8%), giày dép (12,4%)… Sau khi hiệp định FTA giữa Việt Nam và EU được ký kết thì Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế quan khi EU cam kết giảm thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng của Việt Nam. hiện chỉ có khoảng 42% mặt hàng của Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU. Nếu ký thành công FTA với EU, sẽ có ít nhất 90% mặt hàng Việt Nam được hưởng mức thuế này.

    Theo một số chuyên gia đánh giá, các mặt hàng nông sản được kỳ vọng sẽ hưởng lợi nhiều nhất. “Cơ hội để xuất khẩu sản phẩm nông sản sang EU rất lớn do hiện nay châu Âu có đông người Việt sinh sống, đặc biệt là ở những nước nhỏ. Chính vì vậy, nhu cầu tiêu thụ nông sản thực phẩm Việt ở châu Âu đang ngày càng tăng cao Việc dỡ bỏ thuế quan trên phần lớn các hoạt động thương mại trong khuôn khổ FTA sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều lợi thế quan trọng so với các đối thủ cạnh tranh khác cùng xuất khẩu vào EU. Những ưu đãi này sẽ giảm những bất lợi về thuế so với các nước khác (các quốc gia châu Âu- Địa Trung Hải, các nước kém phát triển) đồng thời duy trì vị thế cạnh tranh với các đối tác FTA khác của EU.

    1. Tiềm năng của thị trường.
    • Cầu về Vải thiều ở Châu Âu

    Điều kiện thời tiết tại các nước EU không phù hợp để trồng các loại trái cây nhiệt đới vì thế một số nước trong Eu sẵn sàng trả 1 mức giá cao để có được các mặt hàng hoa quả sạch, đảm bào quy trình an toàn thực phẩm.

    Trong khi nhu cầu về rau quả ăn liền và chế biến sẵn tăng thì nhu cầu mặt hàng rau quả tươi lại giảm. Đặt ra cơ hội đối với các sản phẩm chế biến từ vải thiều, vải thiều ăn liền tăng cao như: Vải đóng hộp, Bột vải quả, nước vải quả cô đọng, Bánh kẹo từ vải quả, vải sấy khô, Mứt vải, Si rô vải,  Nước ép vải, Trà vải, Nước ép vải…

    EU là một thị trường lớn và đem lại nhiều triển vọng cho các loại quả nhiệt đới. Các loại quả nhiệt đới trong đó có vải thiều đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường EU và có mặt ở hầu hết các siêu thị lớn tại đây. Ước tính trung bình mỗi năm người dân Châu Âu tiêu thụ khoảng  25.000 đến 45.000 tấn vải. Tương đương với trung bình mỗi người dân Châu Âu tiêu thụ từ 0,05- 0,1 kg/năm. Trong đó Pháp là quốc gia tiêu thụ nhiều Vải nhất, tuy nhiên mỗi quốc gia mức độ tiêu thụ vải cũng chênh lệch nhau khá lớn.

    Cây vải cần những điều kiện khí hậu đặc biệt để sinh trưởng và phát triển như: Việc sản xuất có một nước lớn yêu cầu và tốt nhất là trồng trong một khí hậu cận nhiệt đới với ngắn, khô và mát mẻ mùa đông (frost-free) và mùa hè dài với nhiệt độ cao, lượng mưa cao, và độ ẩm lớn. Trong khi đó khi hậu ở Châu Âu là khí hậu Ôn hòa, lạnh thường xuyên khó đáp ứng được nhu cầu cây Vải.

    Với mức tiêu thụ của thị trường là 45.000 tấn vải/ năm như vậy, các nước Châu Âu mới chỉ tự đáp ứng đủ khoảng gần 20.000 tấn/ năm, số còn lại là nhập khẩu từ các quốc gia khác như: Madagascar, Nam phi, Việt Nam, Mauritius…

    Hình 3.1- Thống kê xuất khẩu hoa quả vào EU

    Xuất khẩu vải tươi trong Europe là chủ yếu là tái xuất khẩu từ Hà Lan, Bỉ và Pháp. Đặc biệt là các Hà Lan và Bỉ có một số chuyên gia kỳ lạ trái cây nhập khẩu và công ty bán buôn cung cấp cho bán buôn và bán lẻ trên toàn Châu Âu. Trong năm 2013, Hà Lan và Bỉ là chính (lại) các nước xuất khẩu của exotics (bao gồm vải) với khoảng 60% tổng số Xuất khẩu EU (20.000 tấn). họ cả xuất khẩu chủ yếu sang Đức, Pháp, và Thụy Điển. Đối với vải tươi, Pháp là một chính nhập khẩu và nước xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu châu Âu là gần 90 triệu euro. Từ năm 2009 đến năm 2013, giá trị của trái cây nhiệt đới châu Âu kỳ lạ kim ngạch xuất khẩu tăng 67%.

    Còn lại hầu như EU phụ thuộc vào việc nhập khẩu mặt hàng này.  Thống kê số liệu nhập khẩu của EU .

    Hình 3.2- Nhập khẩu hoa quả vào EU

    Tổng lượng của các thị trường nhập khẩu Châu Âu cho vải được ước tính khoảng 20-25ngàn tấn mỗi năm. Các nhà cung cấp vải chính cho Châu Âu là: Madagascar, Nam phi, Việt Nam, Mauritius, Réunion, Thái Lan, Isarel…  Trong đó, Madagascar là nhà cung cấp lớn nhất. Chỉ riêng mùa năm 2012/2013 , Madagascar vận chuyển khoảng 16.000 tấn đến châu Âuthị trường, trong đó có 460 tấn bằng đường hàng không và 14 ngàn tấn bằng đường biển thông thường tàu, và 1.760 tấn trong container. Tuy nhiên, lượng nhập khẩu từ Madagascar sang Châu Âu có xu hướng giảm những năm gần đây sau 1 số năm cao hơn như: 2007, 2008, và 2011. Điều này chủ yếu là do mức giá sản phẩm cao khiến lượng nhập khẩu giảm.

    Những loại vải chủ yếu mà EU tiêu thụ đó là: vải Mauritius, vải đỏ vàng( Yellow red), vải Ay Zee Siu( màu xanh lá, hạt nhỏ, ngọt). Và Pháp là quôc gia nhập khẩu vải nhiều nhất với khoảng 10.000-20.000 tấn/ năm. Đó là yếu tố cầu.

    • Nguồn cung đáp ứng vải của Việt Nam

    Như đã phân tích trước ở phần thực trạng, Việt Nam là quốc gia có sản lượng vải lớn thứ 3 thế giới chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ, với sản lượng 156.000 tấn/ năm chiếm 6% thế giới. Một mức sản lượng được đánh giá cao, trong khi đó chất lượng Vải thiều Việt Nam cũng không kém cạnh so với thế giới. Quả vải thiều khi chín có màu đỏ, hạt nhỏ, cùi dày nhiều nước, rất ngọt và giàu chất dinh dưỡng. Ăn một quả vải thiều vị ngọt sắc, mùi thơm đặc trưng. Kích thước trái khoảng 4×5 cm. Vỏ không ăn được, vỏ vải có màu hồng đỏ và cùi có màu trắng trong, ngọt.

    Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, năm 2013, với tổng diện tích trồng vải khoảng 42.000 ha, sản lượng tại hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương đạt khoảng 176.000 tấn quả tươi. Trong đó, diện tích vải áp dụng theo tiêu chuẩn VietGap khoảng 7.532 ha, sản lượng đạt khoảng 35.260 tấn.

    Thống kê cũng cho thấy, tiêu thụ tại thị trường trong nước chiếm đến khoảng 60% sản lượng (thị trường tiêu thụ chủ yếu tại các tỉnh, thành phố Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam) trong khi xuất khẩu quả tươi, qua chế biến chiếm khoảng 40% sản lượng, trong đó chủ yếu là các thị trường Trung Quốc, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…

    Liên minh châu Âu hiện có 28 nước thành viên và là nền kinh tế lớn nhất thế giới với GDP đạt 18.000 tỷ USD, chiếm 22% tổng GDP toàn cầu. Tổng kim ngạch thương mại của EU xấp xỉ 4.000 tỷ USD, xuất khẩu dịch vụ của EU đứng đầu thế giới và đầu tư ra nước ngoài bằng gần 40% FDI toàn cầu…. Hiện tại mới chỉ có rất ít các quốc gia xuất khẩu Vải thiều vào EU với số lượng không lớn, chứng tỏ tiềm năng thị trường của mặt hàng Vải Thiều còn rất lớn. Mức giá trung bình ở đây là từ 2,5- 5 euro/ kg đối với 1 kg vải thiều tươi, một mức giá cao so với thị trường tiêu thụ Vải tại Việt Nam, kì vọng hoạt động thúc đẩy thành công sẽ đem đến nhiều lợi nhuận cho người nông dân trồng vải và các nhà xuất khẩu.

    3.1.2  Thách thức.

    1. Bài toán cạnh tranh với các quốc gia khác.

    Bên cạnh những cơ hội kiếm lợi nhuận màu mỡ đó luôn đi kèm những thách thúc không hề nhỏ đối với ngành xuất khẩu nông sản nói chung, xuất khẩu vải thiều nói riêng. Đó là sự cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu nông sản. Nếu các nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam không có một sự chuẩn bị kĩ càng cho quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế EU sẽ rất dễ bị các đối thủ cạnh tranh từ các quốc gia khác tương tự như Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc đánh bại nếu không có sự cải tiến nâng cao chất lượng, quy trình đảm bảo an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng nông sản. Ngoài ra còn là thách thức trong vấn đề pháp lý, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, hàng rào kĩ thuật, tỉ lệ nội địa hóa khi tham gia vào EVFTA . Các nước EU tham gia ÈUTA có xu hướng đàm phán hạn chế nhằm giữ bảo hộ đối với nông sản nội địa. Khi đó, hàng rào phi thuế quan sẽ trở nên phổ biến nhưng yêu cầu cao hơn về chất lượng sản phẩm, trong khi đây là điểm yếu của sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Hàng nhập khẩu tăng, xuất khẩu không tìm được đường vào thị trường các nước sẽ khiến nông nghiệp có nguy cơ gia tăng áp lực cạnh tranh.

    Madagascar

    Xét về quốc gia nhập khẩu vải Thiều vào thị trường EU lớn nhất phải kể đến Madagascar. Tuy sản xuất vải của Madagascar chỉ đạt xấp xỉ 100.000 tấn/năm, đứng vị trí trí 5 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Đài Loan. Nhưng năm 2014, Madagascar đã xuất khẩu khoảng 18.000 tấn trong đó 150 đến 200 tấn vải vận chuyển bằng máy bay sang châu Âu. Đa phần vải còn lại được vận chuyển bằng tàu biển.

    Ở thị trường châu Âu, Madagascar hiện là nước cung cấp vải chính với kim ngạch tăng từ 18 triệu euro lên 72 triệu euro chỉ trong vòng 4 năm 2008-2012, đáp ứng 70% nhu cầu của thị trường. Khối lượng xuất khẩu đã tăng nhẹ, từ 17.000 tấn giai đoạn 2012-2013 lên 18.000 tấn giai đoạn 2013-2014 (trên tổng lượng vải sản xuất là 100.000 tấn). Châu Âu là khách hàng chính của Madagascar đối với mặt hàng vải, nhất là Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha và Đức. Cộng đồng người châu Á sống và làm việc ở châu Âu cũng là nhóm khách hàng quan trọng tiêu thụ sản phẩm này. Điểm mạnh của vải Madagascar là có giá bán hấp dẫn. Giá bán lẻ trung bình tại các cửa hàng ở châu Âu là 2,5 euro.

    So với các nước Nam Phi khác, Madagascar có lợi thế về mùa vụ, thu hoạch vải sớm hơn nên thông thường bước vào giai đoạn cuối vụ kinh doanh vải ở nước này thì những nước khác mới vào giữa vụ. Thời gian cung cấp chỉ tập trung vào thời điểm Giáng sinh cuối năm. Thời điểm mà mức độ tiêu thụ vải lớn nhất trong năm tại Châu Âu. Ngày bắt đầu vụ vải có ý nghĩa rất quan trọng đối với khối lượng xuất khẩu loại trái cây này. Ngày khai trương vụ vải phụ thuộc vào độ chín của quả vải, kích thước tối thiểu phải đạt 28 milimet cũng như tỷ lệ đường (hay độ Brix) cao hơn 18 độ. Đầu vụ giá vải sẽ cao hơn rất nhiều so với thời điểm đầu và cuối vụ. Cộng thêm, Madagascar cũng có thêm lợi thế về sự vận chuyển. Nhìn chung, việc vận chuyển bằng đường biển giữa Madagascar và châu Âu cần khoảng thời gian 3 tuần, thêm vào đó là thời gian vận chuyển đến các nước khác nữa. Năm 2014, Madagascar bắt đầu vụ vải sớm hơn hai ngày so với năm 2013. Nhưng có những năm, nước này phải đợi đến đầu tháng 12 do thiếu mưa, vải chín muộn.

    Về mặt giá cả, các trạm xử lý vải bằng lưu huỳnh vẫn giữ giá mua là 1000 ariary/kg (1 USD = 2,987.50 ariary). Giá thường cao vào những ngày đầu tiên của mùa vải, nhưng sau đó sẽ phụ thuộc vào sản lượng vải thu được trong năm. Đây cũng là tình trạng chung đối với tất cả các quốc gia sản xuất vải.

    Các nước Nam Phi, Indonesia, Thái Lan.

    Việt Nam được hưởng nhiều lợi ích từ các điều khoản trong hiệp định EVFTA thì đồng thời các quốc gia trên khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa sâu rộng cũng sẽ được hưởng những ưu đãi tương tự. Thời gian sắp tới, nếu Việt Nam không chủ động hoạt động thúc đẩy xuất khẩu phát triển sẽ có nguy cơ mất đi lợi thế và không theo kịp những đối thủ cạnh tranh.

    1. Thách thức trong việc tiếp cận thị trường

    Do mức sống, mức thu nhập của người dân Châu Âu ngày càng cao, kèm theo đó các yêu cầu, quy định kỹ thuật khắt khe với mục đích bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững… Người dân EU sẵn sàng trả 1 mức giá cao để có được 1 sản phẩm sạch thì cũng sẵn sàng tẩy chay các sản phẩm không đảm bảo chất lượng. Bài học cho rau quả Việt Nam trong thời gian vừa qua đã đủ để thuyết phục các doanh nghiệp Việt Nam cần có 1 sự quan tâm và đầu tư 1 cách cẩn trọng vấn đề này để có được sự phát triển lâu dài và bền vững.

    Thói quen và lối sống của người dân EU còn khác biệt nhiều so với người Việt Nam. Người dân EU không có thói quen, sở thích cũng như chưa biết nhiều đến các loại hoa quả như Vải thiều. Chỉ có 1 vài quốc gia ở Châu Âu biết đến loại hoa quả này những mức tiêu thụ của Vải cũng rất hạn chế, chỉ vào các dịp cuối năm, giáng sinh…nhưng Vải thiều là loại quả có tính chất thời vụ nhiều hơn. Vải thiều Việt Nam phổ biến từ tháng 5 đến tháng 8, mùa này lại không trùng với các dịp lễ của phương tây. Xuất khẩu vào thị trường EU  chỉ được 1 phần nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng của nó.

    Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển cũng như phân phối Vải. Vải thiều Việt Nam chủ yếu được trồng với quy mô vừa và nhỏ. Quy trình trồng trọt, chăm sóc, bón phân và công đoạn cuối cùng là thu hoạch cũng đều thực hiện thủ công dựa theo kinh nghiệm của chủ vườn vải, chưa có 1 quy trình tiêu chuẩn hóa cụ thể. Sau khi thu hoạch xong, Vải không được bảo quản 1 cách cẩn thận vì thế chất lượng Vải thiều bị giảm xuống rất nhiều so với khi mới thu hoạch. Công nghệ bảo quản thực phẩm ở Việt Nam chưa thực sự được đầu tư hợp lí và đúng mức. Ngoài ra, khâu vận chuyển Vải cũng gặp khó khăn. Vị trí địa lý của Việt Nam và các quốc gia Eu là 1 rào cản lớn. Do đặc tính của Vải thiều chỉ sử dụng được trong thời gian ngắn làm cho phương tiện vận chuyển gần như duy nhất của mặt hàng này là máy bay. Chính điều này làm tăng chi phí đội giá Vải lên so với các quốc gia gần Eu hơn như Madagascar, Nam phi…

    Trong chuỗi hành động mở cửa của các nước Châu Âu thì chính phủ  1 số nước vẫn có những chính sách bảo hộ các ngành hàng nông sản trong nước. Trong khi Việt Nam muốn làm tăng giá trị gia tăng cho quả Vải thì Châu Âu lại có những chính sách nhằm hạn chế hoạt động này. Các chính sách ở đây đều khuyến khích hoạt động nhập khẩu Vải thiều tươi nhiều hơn.

    3.2. Phương hướng hoạt động thúc đẩy xuất khẩu Vải thiều trong thời gian tới

    Chính phủ, các địa phương, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần có những định hướng và chính sách cho sự phát triển của Vải thiều tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Đầu tiên, cần phấn đấu nâng cao năng lục cạnh tranh của Vải thiều Việt Nam bằng cách nâng cao chất lượng, đồng thời chú trọng trong công tác bảo quản Vải nâng cao giá trị cho trái Vải Việt Nam, phục vụ thị trường Châu Âu EU tạo uy tín cho các doanh nghiệp Việt Nam làm ăn kinh doanh lâu dài và phát triển hơn nữa mặt hàng này tại đây.

    Trong mùa vụ năm 2014, tổng sản lượng vải thiều cả nước là 242 nghìn tấn, tăng 27,3% so với năm 2013. Song song với việc tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong hoạt động xuất khẩu, đồng thời tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu mới cho mặt hàng quả vải, năm 2014, công tác đẩy mạnh tiêu thụ tại thị trường nội địa đã được Bộ Công Thương quan tâm và chú trọng thực hiện nhằm giảm bớt áp lực cho công tác xuất khẩu. Ngay từ đầu mùa vụ, Bộ Công Thương đã phối hợp triển khai nhiều hoạt động kết nối cung cầu, gắn kết việc tạo nguồn hàng ổn định thông qua các chương trình lớn của Chính phủ, của Bộ để thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển theo quy mô lớn nhằm đem lại lợi ích cho người sản xuất và người tiêu dùng. Bên cạnuh đó, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND TP. Hồ Chí Minh, UBND các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương tổ chức “Hội nghị vùng Đông – Tây Nam bộ về việc tiếp tục đẩy mạnh tiêu thụ vải thiều năm 2014 và những năm tiếp theo”.

    Bên cạnh đó cần tiếp tục hình thành nên vùng nguyên liệu tập trung, lớn đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn quốc tế Vietgap, Gobalgap..Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Vải thiều cần chủ động hơn nữa, tận dụng cơ hội, tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng hỗ trợ các chương trình xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm các cơ hội mở rộng thêm thị trường Vải thiều ra nhiều nước EU hơn nữa, cũng như tăng được nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này.

    Thứ nhất, ngành nông nghiệp tập trung giải quyết các vấn đề sau: tuyên truyền, hướng dẫn bà con nông dân làm tốt việc chăm bón, phòng trừ sâu bệnh, mở rộng diện tích vải thiều theo tiêu chuẩn Viet Gap, tiến tới áp dụng tiêu chuẩn Global Gap. Năm 2014 tổng diện tích vải thiều trồng theo tiêu chuẩn Viet Gap khoảng 8.500 ha, phấn đấu năm 2015 nâng lên 10.500 ha, tập trung tăng năng suất cây trồng thay vì tăng diện tích, chuyển diện tích trồng vải kém hiệu quả sang trồng các loại cây ăn quả khác phù hợp hơn. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tất cả các loại vật tư đầu vào đồng thời, nghiên cứu, đầu tư áp dụng công nghệ chế biến sau thu hoạch giúp kéo dài thời gian bảo quản vải tươi phục vụ vận chuyển tiêu thụ tại thị trường nước ngoài và thị trường trong nước. Trong thời gian tới phải kiểm soát chất lượng, mở rộng, tiếp cận các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU và Mỹ.

    Thứ hai, tiếp tục làm tốt công tác xúc tiến thương mại, duy trì và phát triển thương hiệu vải thiều Việt Nam xây dựng và đưa vào chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ; tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế vào thu mua, bảo quản, chế biến và tiêu thụ vải thiều. Để tránh phụ thuộc hoàn toàn vào một thị trường truyền thống, tỉnh định hướng các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm các đối tác mới, mở rộng thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ vải thiều ở thị trường nội địa tiềm năng, nhất là thị trường phía Nam. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu (logo, khẩu hiệu) và các công cụ truyền thông tiếp thị chuyên nghiệp cho thương hiệu vải thiều Lục Ngạn như website, đĩa CD, ấn phẩm, mô hình triển lãm đặc biệt là hệ thống nhãn mác, bao bì đặc trưng mang thương hiệu vải thiều Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan truyền thông đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá thương hiệu vải thiều.

     

    3.3 Các giải pháp thúc đẩy Xuất Khẩu quả Vải thiều Việt Nam sang EU

    Chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm từ Madagasca: một đất nước thành công trong hoạt động xuất khẩu Vải Thiều sang EU. Madagasca vượt qua rào cản GlobalGAP để xuất khẩu quả vải tươi vào thị trường châu Âu

    Một phân tích của Bignebat, C.; Vagneron, I. (2011) cho thấy tuy Madagasca chỉ mới bắt đầu xuất khẩu vải vào châu Âu từ những năm 1990 nhưng đến năm 2007, sự xuất hiện của GlobalGAP đã đặt ra những thách thức mới rất nặng nề. Tuy nhiên, điểm thú vị từ nghiên cứu này cho thấy GlobalGAP thực ra là một mối nguy cho các mô hình sản xuất nhỏ bởi làm gia tăng chi phí chứng nhận nhưng cũng chính là chất xúc tác ban đầu để tạo cơ hội cho sự hợp tác, minh bạch trong thị trường. Về lâu dài, nếu tạo được mối quan hệ thông suốt, ổn định giữa nhà nhập khẩu và doanh nghiệp xuất khẩu cùng với nông dân sản xuất, thực sự GlobalGAP không còn cần thiết. Kinh nghiệm thành công của Madagasca được phân tích kỹ và cho thấy không phải vai trò của GlobalGAP mà chính là năng lực marketing, khả năng phối hợp các dịch vụ logistics của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu.

    3.3.1 .Đối với doanh nghiệp, nhà cung cấp.

    1. Lựa chọn phương thức thâm nhập thích hợp để chủ động thâm nhập vào các kênh phân phối trên thị trường EU

    Có nhiều phương thức để các doanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường Eu như: xuất khẩu qua trung gian, xuất khẩu trực tiếp, liên doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài… Lựa chọn phương thức thích hợp để chủ động thâm nhập vào kênh phân phối trên thị trường Eu. Hệ thống phân phối trên thị trường EU còn rất yếu , các doanh nghiệp việt nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường này thông qua khâu trung gian. Do vậy để có thể mở rộng thị trường , nâng cao hiệu quả xuất khẩu các doanh nghiệp cần phải đẩy manh xuất khẩu trực tiếp sang EU hoặc thông qua các hình thức liên doanh với các doanh nghiệp tại thị trường này để có thể mở rộng kênh phân phối cũng như đứa vải thiều tiếp cận đễ dàng với người tiêu dùng hơn .

    Các doanh nghiệp cần chú trọng hơn đên 1 số yếu tố như : thị hiếu , giá cả , đối thủ cạnh tranh, dung lượng của thị trường …Cần tìm hiểu thuế quan, chinh sách ngoại thương và qui chế nhập khẩu của Eu để tìm các cánh cửa mới cho hàng xuất khẩu Việt Nam.

    Các nguyên tắc thâm nhập thị trường đối với các doanh nghiệp Xuất khẩu nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu Vải thiều nói riêng cần:

    • Nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng
    • Hạ giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh
    • Đảm bảo thời gian giao hàng
    • Nâng cao chất lượng sản phẩm
    1. Biện pháp cải thiện cơ cấu xuất khẩu và chất lượng của Vải Thiều.

    Lựa chọn mặt hàng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Eu gồm 28 quốc gia khác nhau, mỗi đất nước có 1 thói quen tiêu dùng khác nhau, thường có xu hướng tăng lên vào các dịp Giáng sinh, tết…

    Bảng 3.1 Các sản phẩm vải quả, yêu cầu về chất lượng, bao gói và đặc điểm kênh phân phối, giao dịch tại các thị trường trên thế giới

    Tên sản phẩm Mô tả/cách thức phân phối, giao dịch trên thế giới
    Vải quả tươi Đóng gói, bảo quản, vận chuyển:

     

    Vải tươi từ các nước được xử lý bảo quản, đóng thùng, dán nhãn, xuất khẩu bằng đường hàng không hoặc đường bộ (trường hợp các nước liền biên giới).

    Phân phối:

    Sản phẩm được bán tại các siêu thị, cửa hàng hoặc được nhà phân phối chuyên nghiệp giao đến tận nhà những người tiêu dùng đã đặt hàng (ví dụ tại Florida- Hoa Kỳ, người mua đặt hàng trước 1-2 ngày, cửa hàng phân phối sẽ lựa chọn vải theo yêu cầu và giao hàng tại nhà).

    Giá bán lẻ: 29-32 USD/kg

    Đặt hàng trước 1-2 ngày theo máy bay

    Yêu cầu: Độ đồng đều (ví dụ thị trường Floria Mỹ yêu cầu đường kính 1,5 inch/quả), màu vải tươi tự nhiên, xử lý xạ/nhiệt để đảm bảo không có dịch bệnh.

    Vải đóng hộp Các sản phẩm vải đóng hộp rất đa dạng, tùy thuộc vào thị hiếu của từng thị trường. Theo đó mức độ ngọt, trọng lượng hộp, số lượng quả vải trong mỗi hộp sẽ dao động tùy theo thị trường. Ví dụ tại Florida- Hoa Kỳ, người tiêu dùng thường dùng các hộp có khoảng 20 quả vải đã được bóc vỏ, bỏ hạt và đóng hộp trong khoảng 1,5 cốc xi-rô đường.

     

    Giá bán lẻ: Từ 5-25 USD/hộp tùy thị trường (Ví dụ tại Trung Quốc chỉ khoảng 5-10 USD/hộp 20 quả, tại châu Âu khoảng 25 USD/hộp 20 quả).

    Bột vải quả, nước vải quả cô đọng Vải quả nghiền, cô đọng, sử dụng để làm đồ uống hỗn hợp, sorbets, sinh tố hoặc đổ lên kem, Phân phối: Chủ yếu bán tại các siêu thị và cũng được giao hàng tận nhà nếu có yêu cầu.

     

    Giá bán: 25 USD/túi 0,5kg

    Yêu cầu: Độ mịn, độ đường đạt tiêu chuẩn của thị trường tiêu thụ.

    Bánh kẹo từ vải quả, vải sấy khô Vải sấy khô, kẹo vải, bánh vải, vải ngâm mật ong… Lychee Gummys, Dried Lychees, Lychee Honey, Lychee Gel Cup

     

    Các sản phẩm này chủ yếu bán ở các siêu thị

    Mứt vải Mứt vải rất được ưa chuộng tại Mỹ và châu Âu, nhất là khi mùa vải tươi đã kết thúc. Dùng để ăn sáng với bánh mì.

     

    Phân phối: Được bán phổ biến trong các siêu thị

    Si rô vải Si rô vải được chế biến theo công thức riêng của từng nhà sản xuất, chể kết hợp với một số thành phần khác để vừa đạt yêu cầu về dinh dưỡng, hương vị, vừa đáp ứng một yêu cầu riêng gì đó về sức khỏe  (ví dụ được dùng như một loại thực phẩm chức năng: Vải quả rất tốt cho những người cao huyết áp, chứa một lượng rất thấp natri, nhưng lượng kali cao trong một khẩu phần vải)
    Nước ép vải Nước ép vải rất phổ biến tại các siêu thị trên thế giới. Tại Mỹ, nước ép vải từ Nam Phi, Đài Loan và Malaysia đã có chỗ đứng trong các siêu thị lớn (Việt Nam chưa thâm nhập được thị trường này).

     

    Vận chuyển: Hàng không hoặc hàng hải

    Trà vải Trung Quốc, Đài Loan đã sản xuất trà đen hương vải, trà tẩm vị vải tươi tự nhiên và đã xuất khẩu được sang Mỹ, châu Âu.

     

    Vận chuyển: Hàng không hoặc hàng hải

    Kem dưỡng da từ vải quả Sản phẩm chăm sóc da vải quả được tinh chế nhằm đảm bảo mùi thơm và công dụng tự nhiên của vải quả đối với da, đồng thời có đặc trưng của vải quả tươi với ánh đỏ nhạt gợi cảm.

     

    Hiện nay các nhà sản xuất của Thái Lan đã xuất khẩu được sản phẩm này sang Mỹ.

    Lợi ích VIETGAP Trước khi VietGAP ra đời, nước ta đã có rất nhiều chương trình sản xuất nông sản an toàn đối với rau, quả, và cây dùng làm thức uống. Nhiều nơi các quy định đó đã xây dựng thành quy trình phổ biến cho nông dân thực hiện. Tuy nhiên, do chưa có đơn vị nào có trách nhiệm kiểm tra và chứng nhận kịp thời hoặc có chính sách khuyến khích cho người sản xuất, nên phong trào sản xuất nông sản sạch chưa được phát triển rộng rãi, có nơi bị lụi dần rồi đi vào dĩ vãng. Thế rồi vào năm 2004, Hiệp hội Trái cây VN tham gia vào một dự án có tên “Tăng cường năng lực cạnh tranh” (VNCI) do VCCI (Phòng Thương mại và Công nghiệp VN) chủ trì và đã tổ chức một chuyến thăm chương trình liên kết Mỹ – Thái đang thực hiện EUREPGAP và thăm “Liên kết GAP miền Tây Thái Lan”. Cũng năm đó, Hiệp hội Trái cây VN cùng với Hội Làm vườn và VCCI tổ chức hội thảo giới thiệu về GAP (EUREPGAP) tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau hội thảo này, năm 2005, liên kết GAP sông Tiền bao gồm 6 tỉnh có trái cây đã được thành lập, hoạt động rất gắn bó và đã đem lại những kết quả đáng khích lệ. Cũng trong năm 2005, Tổ chức Thị trường quốc tế (IMO) đã tổ chức chứng nhận GAP cho một số cơ sở sản xuất rau, cà phê ở Đà Lạt. Tiếp theo đó là các đơn vị sản xuất thanh long ở Bình Thuận, lâm ngư trường tôm ở miền Tây cũng lần lượt được công nhận sản xuất đạt tiêu chuần GAP. Do nhận thức được tầm quan trọng và tính chất bức xúc để có “GAP” cho VN nên chi nhánh Hội Làm vườn VN được tổ chức Syngenta VN tài trợ đã có chuyến thăm quan, khảo sát việc thực hiện GAP ở Malaysia từ ngày 5-8 tháng 11 – 2007. Đoàn do TS Võ Mai – Chủ tịch Hiệp hội Trái cây, dẫn đầu cùng với 6 thành viên khác. Người viết bài này cùng tham gia chuyến khảo sát và đã thu lượm được những nội dung chủ yếu về bước đi và lợi ích việc thực hành các dạng GAP ở Malaysia. Tiếp theo đó đoàn cũng đệ trình 1 bản tường trình với lãnh đạo Bộ NN&PTNT về tính cấp thiết của việc ra đời VietGAP. Thế rồi, ngày 28-1-2008, VietGAP ra đời tiếp sau EUREPGAP, GlobalGAP và GAP của một số nước châu Á khác. Dù ra đời muộn, VietGAP đã thừa hưởng được kinh nghiệm của nhiều GAP đi trước nên đã nhanh chóng phát huy tác dụng. Đến hôm nay đã có đến hàng trăm tổ chức, đơn vị và cá nhân đã có sản phẩm được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP và đang tham gia vào các dịch vụ buôn bán các sản phẩm nông sản ngang hàng với các nước trong khu vực và thế giới. Cụ thể là việc quy định rỏ ràng những yếu tố chính trong sản xuất nông nghiệp như: Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất Giống và góc ghép Quản lý đất và giá thể Phân bón và chất phụ gia Nước tưới Hóa chất (bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật) Thu hoạch và xử lý sau thu hoạch Quản lý và xử lý chất thải An toàn lao động Ghi chép, lưu trử hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm Kiểm tra nội bộ Khiếu nại và giải quyết khiếu nại

    Việc thực hiện áp dụng các quy định vietgap vào sản xuat vải thiều sẽ giúp thị trương khó tính như EU dễ dàng chấp nhận hơn cũng như tăng giá bán cho loại nông sản này hơn.

    1. Biện pháp né tránh chống bán phá giá về vải thiều tại Châu Âu.

    Các mặt hàng nông sản, thủy sản Việt Nam tại Eu đã và đang phải đối mặt lớn với các chính sách thuế chống bán phá giá tại EU nhằm bảo hộ nền nông sản, thủy sản trong nội khối. Xuất khẩu Vải thiều sang thị trường EU chúng ta không thể không quan tâm đến vấn đề này.

    Đối với chính sách giá nhập khẩu: Để không bị liên đới trong các vụ kiện bán phá giá đối với các mặt hàng nông sản cùng loại, các doanh nghiệp Việt Nam không thể duy trì mức giá nhập khẩu thấp hoặc giảm trong nhiều tháng. Cần tăng giá trị gia tăng của Vài thiều để một mặt tăng giá bán, trong khi vẫn được người tiêu dùng tại Eu chấp nhận do chất lượng và giá trị gia tăng của Vải tăng lên nhiều. Doanh nghiệp cần tìm ra các ngách thị trường để thâm nhập, chuyển nguy cơ bị chống bán phá giá cho đối thủ cạnh tranh ( Madagascar, Nam Phi, Thái Lan…) và tận dụng cơ hội của mình.

    1. Biện pháp hạn chế rủi ro trong thương mại.

    Rủi ro nhiều nhất đối với mặt hàng Vải thiều phải nói đến tính mùa vụ của sản phẩm cũng như việc kiểm soát chất lượng sản phẩm trong quá trình vận chuyển. Để đối mặt với những vấn đề này các công ty xuất nhập khẩu cần chọn ra cho mình 1 phương thức vận chuyển tốt và thuận lợi nhất. Phương thức vận chuyển tốt và chất lượng nhất đối với Vải thiều có lẽ chỉ có thể nói đến Máy bay, vận chuyển bằng đường hàng không. Phương thức vận chuyển nhanh nhất, đảm báo được chất lượng, mẫu mã của Vải đồng thời đáp ứng đúng được thời gian tối ưu. Nhưng điểm hạn chế của phương tiện này chính là chi phí. Vải thiều là mặ hàng có giá trị gia tăng không  lớn nhưng chi phí vận chuyển lại lớn, chiếm khá nhiều trong giá thành của vải. Vì thế ngoài các biện pháp về phương tiện vận chuyển này, chúng ta cần tìm hiểu và đầu tư vào những công nghệ bảo quản hiện đại giúp Vải có thể bảo quản được lâu hơn. Từ mùa vải năm 2013, Sở KHCN Bắc Giang đã phối hợp với Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng (Bộ KHCN) nghiên cứu, áp dụng công nghệ CAS vào bảo quản quả vải tươi.

    Kết quả ban đầu cho thấy quả vải thiều tươi có thể bảo quản được hơn 1 năm với chất lượng tốt. Công nghệ CAS (Cells Alive System) hay “hệ thống tế bào còn sống” là công nghệ làm lạnh đông nhanh của Nhật Bản, được sử dụng để bảo quản hải sản, nông sản và thực phẩm đạt được tiêu chí “Fresh CAS – Tươi như CAS”. Nghĩa là các sản phẩm được bảo quản bằng công nghệ CAS sau một thời gian nhất định (có thể từ 1 đến nhiều năm) sau rã đông vẫn giữ được độ tươi nguyên như vừa mới thu hoạch, giữ được cấu trúc mô-tế bào, màu sắc, hương vị, chất lượng sản phẩm.

    Nguyên lý cơ bản của công nghệ CAS là sự kết hợp giữa quá trình lạnh đông nhanh (-30 đến -60 độ C) và dao động từ trường (50 Hz đến 5 MHz). Sự khác biệt của công nghệ CAS với các công nghệ lạnh đông thông thường là sự tác động đồng thời của từ trường và quá trình lạnh đông nhanh đã làm cho nước (nước tự do và nước liên kết) trong tế bào sống đóng băng ở chỉ một số rất ít phân tử, nên không phá vỡ cấu trúc tế bào và cũng không làm biến tính các hợp chất sinh học (như protid, vitamin).

    Chính điều đó và một số tác động khác của CAS đối với tế bào sống đã làm cho sản phẩm được bảo quản bằng công nghệ này giữ nguyên được chất lượng sau một thời gian dài, tùy mục đích sử dụng (như gạo có thể bảo quản được hơn 10 năm).

    Vừa qua, Tập đoàn ABI (Nhật Bản) và Bộ KHCN đã tổ chức hội thảo quốc tế “Công nghệ CAS và khả năng ứng dụng công nghệ CAS trong bảo quản hải sản và nông sản Việt Nam”. Bộ công nghệ CAS là sáng chế độc quyền của Tập đoàn ABI Nhật Bản, được đánh giá là một công nghệ tiên tiến, tích cực nhằm đạt được, khống chế và tối ưu hóa các thông số bảo quản.

    Kết quả nghiên cứu, thử nghiệm của Bộ KHCN tại Việt Nam với xoài cho thấy xoài đông lạnh CAS không bị hư hỏng hay giảm chất lượng trong quá trình vận chuyển. Hơn nữa lại tiết kiệm được thời gian chế biến, góp phần hạ chi phí sản xuất. Dưa vàng cũng được bảo quản với chất lượng hoàn hảo, thành phần nước trong dưa, hương thơm, vị ngọt không hề bị mất đi trong quá trình bảo quản.

    Tại Bắc Giang, bước thử nghiệm công nghệ CAS tiếp tục được thực hiện trong vụ vải thiều năm 2014. Ngày 20/6 vừa qua, 20 tấn vải thiều Lục Ngạn bảo quản bằng CAS thành công đã được xuất sang Nhật Bản. Đại diện Sở KHCN Bắc Giang cho biết phía Nhật Bản và Bộ KHCN sẵn sàng chuyển giao công nghệ này cho tỉnh, chậm nhất là vào năm tới. Đây là cơ hội cũng là thách thức cho vải thiều Bắc Giang bởi tiêu chuẩn quả vải vào các thị trường Nhật, châu Âu, Mỹ phải bảo đảm sạch từ giống, chăm sóc, thu hái, bảo quản.

    Với quá trình bảo quản theo công nghệ Nhật Bản GAS, sản phẩm của chúng ta không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng mà còn được cả thế giới chấp nhận, chúng ta có thể thay đổi phương thức vận chuyển sang EU bằng đường biển mà không lo bị hư hỏng sản phẩm. Điều quan trọng là các doanh nghiêp xuất nhập khẩu cần chon những công ty vận tải uy tín và chuyên nghệp để đảm bảo container đóng hàng đủ điều kiện và đến nơi 1 cách an toàn.

    1. Biện pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu về thị trường EU.

    Trước những thách thức cũng như khó khăn mà chúng ta tìm hiểu ở phân trên , chúng ta cần có công tác nghiên cứu, tìm hiểu thị trường 1 cách kĩ lưỡng. Khi tiếp cận được thị trường 1 cách đầy đủ nhất, điều tra về thị hiếu, thói quen tiêu dùng, chính sách của thị trường, sẽ giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trước những bất ngờ có thể xảy ra và tìm đúng hướng đi cho Vải thiều. Trong trường hợp này ta nên thuê, hoặc sử dụng các hình thức đại lý phân phối tại thị trường Eu. Vì các nhà phân phối, đại lý họ có kinh nghiệm hơn chúng ta rất nhiều trong lĩnh vực này ở EU. Họ hiểu biết thói quen của người tiêu dùng hay mua Vải thiều ở đâu, dịp nào, cũng như những mối liên hệ với các nhà hàng, siêu thị, những khách hàng tổ chức có nhieemh vụ phân phối Vải thiều đến tay người tiêu dùng cuối cùng một cách dễ dàng.

    1. Biện pháp phát triển, xây dựng hình ảnh thương hiệu cho Vải dựa trên vận động hành lang.

    Lí do chính khiến người tiêu dùng Châu Âu không biết và không sử dụng sản phẩm Vải thiều của Việt Nam phải kể đến thương hiệu Vải thiều Việt Nam không ai biết đến cả. Madagascar có loại vải Malandly , chúng ta cũng có những thương hiệu vải nổi tiếng như Vải Thanh Hà, vải Lục Ngạn,..nhưng những cái tên đó chỉ mới dừng ở mức độ trong nước còn bên ngoài thế giới họ không biết đó là gì? Điều quan trong là xây dựng và gằn Vải Việt Nam với: Tính sạch sẽ, đảm bảo đúng, đủ yêu cầu quốc tế Gobal GAP, đậm đà hương vị Việt Nam: quả vải to, hạt nhỏ, mọng nước, ngọt mát.

    Ngoài ra chúng ta cũng nên tận dụng tiềm năng phân phối từ lực lượng kiều bào tại EU.

    Đặc biệt thị trường Châu Âu  EU có 1 quốc gia rất đặc biệt đối với Việt Nam đó là Pháp. Sau năm 1954 có rất nhiều người Việt Nam lên tàu di chuyển sang sinh sống tại Châu Âu. Thông thường những người này đều có những khoản thu nhập khá, và sẵn sàng mua sản phẩm của công ty. Những người con Việt Nam dù có đi xa đến đâu đi chăng nữa , có những thói quen khó bỏ.

    1. Phát triển nguồn nhân lực cho đẩy mạnh việc xuất khẩu

    Các doanh nghiêp Việt Nam cần tổ chức nhiều chương trình đào tạo chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực cũng như trình độ cho cán bộ và công nhân viên  qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm vải thiều Việt Nam trên thị trường thế giới.Đồng thời các doanh nghiệp Việt Nma nên gửi các can bộ kĩ thuật trẻ , có triển vọng ra nước ngoài đào tạo cũng như học hỏi kinh nghiêm sản xuất , chế biến , bảo quản  cũng như tiếp thu công nghệ tiên tiến tren thế giới

    Ngoài ra cũng nên chú trọng đên scacs cán bộ thương mại giỏi giàu kinh nghiệm, như vậy mới có thể đưa trái vải thiều Việt Nam đến tay người tiêu dùng EU.

    1. Đẩy mạnh ứng dụng Thương mại điện tử trong kinh doanh

    Bây giờ là thời đại của Internet, nhờ các công cụ tìm kiếm và mạng xã hội: Facebook, Yahoo, Twister, Google,…mà con người trở nên gần nhau hơn, xóa tan khoảng cách giữa các châu lục. Vì thế trong lĩnh vực thông tin, khoảng cách giữa Châu Âu và Việt Nam không  phải là vấn đề. Các doanh nghiệp cần đầu tư, khai thác hết các tiềm năng mà các công cụ này đem lại. Nhờ các công cụ này, các doanh nghiệp Xuất khẩu Vải thiều Việt Nam có cơ hội tiếp xúc để điều tra tìm hiểu một cách trực tiếp khách hàng cá nhân, tổ chức, đối tác, cũng như nhà phân phối của công ty tại Châu Âu. Công cụ Internet cũng giúp doanh nghiệp rất nhiều trong việc quản lý đơn hàng, giao nhận hàng 1 cách tiết kiệm nhất. Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư 1 cách hiệu quả và công cụ này.

    3.3.2 Các giải pháp về phía nhà nước.

    1. Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo thuận lợi cho xuất khẩu.

    Rà soát lại các hệ thống luật để điều chỉnh các quy định không còn phù hợp hoặc chưa rõ ràng, trước hết là Luật Thương Mại, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và khuyến khích đầu tư trong nước. Cần mở rộng phạm vi điều chỉnh cho phù hợp với các quy định cam kết với WTO, các điều lệ thỏa thuận của Hiệp định thương mại tự do FTA, trong môi trường toàn cầu hóa sâu rộng và xu hướng hội nhập toàn cầu.

    Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại theo hướng xóa bỏ các thủ tục phiền hà và phấn đấu ổn định môi trường pháp lý, tạo tâm lý tin tưởng cho các doanh nghiệp, khuyế khích họ chấp nhận bỏ vốn lâu dài, mở rộng thị trường xuất khẩu. Phấn đấu làm cho các chính sách về thuế trở nên rõ ràng minh bạch hơn. Ví dụ cải cách gần đây: Trên cơ sở tự rà soát và tham khảo một số đánh giá của tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính quốc tế) trong tương quan giữa Việt Nam với mức bình quân chung của một số nước trong khu vực và trên thế giới về tiêu chí thực hiện thủ tục hành chính thuế, đồng thời thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan (Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/8/2014 và Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 05/8/2014), Bộ Tài chính đã chỉ đạo quyết liệt cơ quan thuế, cơ quan hải quan thực hiện nhiều giải pháp về cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan, giảm thời gian và thủ tục nộp thuế cho người dân, doanh nghiệp.  Cụ thể: thủ tục hải quan nhập khẩu và xuất khẩu đã giảm từ 126 giờ xuống còn 63 giờ, Thuế xuất nhập khẩu cũng thực hiện cắt giảm thuế suất theo lộ trình cam kết (Thông tư số 164/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013). Về chính sách thuế GTGT xuất khẩu được hưởng ưu đãi 0% so với các loại hình khác. Cần điều chỉnh giảm thuế GTGT đối với các sản phẩm rau quả từ 10% xuống còn 5%

    Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Eu (EVFTA) đã ký chỉ ra những quy định chung về thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và EU. Việt Nam cần nghiêm túc thực hiện đúng lộ trình thực hiện cũng như các cam kết đã kí như: thuế quan, nguồn lực…

    1. Hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu Vải thiều sang thị trường EU.

    Đại bộ phận các doanh nghiệp xuất khẩu Vải thiều Việt Nam sang EU đều có quy mô vừa và nhỏ, nên khả năng cạnh tranh và hiệu quả xuất khẩu không cao. Vì thế, để đẩy mạnh, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả xuất khẩu sang thị trường này, Nhà nước cần có sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp về vốn thông qua hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước. Để triển khai hoạt động hỗ trợ này, Nhà nước Việt Nam nên thực hiện các biện pháp sau đây:

    • Sử dụng có hiệu quả quỹ hỗ trợ xuất khẩu đẻ các doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất thấp, giải quyết được những khó khăn về vốn lưu động và vốn đầu tư đổi mới trang thiết bị. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xâm nhập được thị trường EU- một trong những thị trường có yêu cầu rất khắt khe về hàng hóa và có kênh phân phối phức tạp trên thế giới.
    • Đảm bảo sự bình đẳng thực sự trong quan hệ tín dụng ngân hàng trên cơ sở pháp luật giữa các thành phần kinh tế. Mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng cũng như các định chế tài chính. Đơn giản hóa thủ tục vay vốn và yêu cầu thế chấp tài sản của ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
    • Xúc tiến thành lập các ngân hàng chuyên doanh của khu vực vừa và nhỏ, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp lớn với sự hỗ trợ từ Nhà nước và các tổ chức quốc tế.
    • Mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhà nước cần thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp có khả năng phát triển nhưng không có đủ tài sản tế chấp vay vốn. Quỹ được thành lập dưới hình thức là một tổ chức tài chính của Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận cho phép các doanh nghiệp xuất-nhập khẩu có hiệu quả được vay vốn theo phương thức tự vay, tự trả.
    • Thực hiện lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất sang Eu có hiệu, sản xuất sản phẩm mới hoặc nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới.
    • Thông qua ngân hàng linh hoạt hạ mức lãi suất chiết khấu để đẩy mạnh để đẩy mạnh xuất khẩu sang Eu. Ngân hàng thực hiện chiết khấu sang kì phiếu và hồi phiếu chưa đến kì hạn thanh toán trong trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu mà bị thiếu vốn . Nếu lãi suất triết khấu hạ thì giá hàng hóa xuất khẩu cũng hạ, do đó khat năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam tăng lên và chúng ta mở rộng được xuất khẩu.

    Kim ngạch xuất khẩu Vải thiều sang thị trường EU tăng qua hàng năm, nhưng trị giá xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn ở mức thấp. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về thị trường và kênh phân phối phức tạp nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng này là do các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm. Do vậy các chính sách tín dụng sẽ giúp các doanh nghiệp Việt có vốn đầu tư cho sản xuất để nâng cao chất lượng vải thiều, đa dạng hóa các loại sản phẩm được chế biến từ Vải thiều, cải tiến mẫu mã tăng khả năng tiếp cận sâu hơn vào thị trường EU.

    1. Các chính sách tạo điều kiện cho nông dân trồng vải.

    Việc nâng cao chất lượng quả vải thiều đã được các cấp chính quyền và người dân địa phương rất quan tâm. Phong trào sản xuất vải thiều sạch an toàn theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) ngày càng phát triển và nhân rộng. Từ năm 2010 đến nay, trung bình mỗi năm cơ quan chức năng tổ chức khoảng 130 lớp tập huấn về quy trình sản xuất vải thiều VietGAP cho hàng nghìn hộ dân.

    Nhằm tạo điều kiện giúp người dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ vải thiều thuận lợi, hằng năm, UBND một số tỉnh chuyên sản xuất Vải thiều chỉ đạo các ngành chức năng làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tập trung chăm sóc vải thiều, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nhất là theo quy trình sản xuất VietGAP. Cùng đó, huyện thành lập Ban Chỉ đạo Hỗ trợ nhân dân tiêu thụ vải thiều; tham mưu với cấp trên tổ chức Hội nghị xúc tiến thương mại cho sản phẩm; làm tốt công tác bảo đảm an ninh trật tự và an toàn giao thông, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiểu thương về địa phương thu mua vải thiều.

    Tích cực phối hợp với Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch (Bộ Nông nghiệp và PTNT) xây dựng mô hình liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải thiều sau thu hoạch; phối hợp với Viện Quy hoạch (Bộ Nông nghiệp và PTNT) quy hoạch vùng vải thiều phục vụ xuất khẩu. Cùng đó, tiếp nhận triển khai mô hình trồng vải thiều theo tiêu chuẩn GlobalGAP tại xã tại các xã thí điểm với diện tích từ 100 – 150 ha để bảo đảm đủ điều kiện, nguồn hàng phục vụ xuất khẩu sang thị trường Mỹ, châu Âu và Nhật Bản.

    1. Các giải pháp khác của chính phủ.

    Ngoài ra cần có sự tăng cường cho văn phòng TBT VIệt Nam  để có sự hỗ trợ xuất khẩu , đồng thời vai trò  các hiệp hội ngành nông sản cần được nâng cao hơn nữa hỗ trợ và tư vẫn cho các thành viên, cũng như là đại diwwnj cho các thành viên trước EU về các quy định được đề xuất

    Nhà nước cần xây dựng các cơ sở dữ liêu đầy đủ  về các doanh nghiêp Việt Nam nhằm  hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tìm hiểu thông tin về  đối tác cũng như doanh nghiệp nước ngoài  có thể tìm kiêm scacs thông tin về doanh nghiệp Việt Nam,Từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh trong nước, quốc tế, và tiến tới minh bạch hóa hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

    KẾT LUẬN

    Hoạt động xuất khẩu nông sản nói chung và xuất khẩu vải thiều nói riêng ở Việt Nam đã có nhiều sự chuyển biến tích cực. Nhà nước đẩy mạnh việc xuất khẩu bằng cách đưa ra các chính sách có lợi, các doanh nghiệp tích cực hơn trong việc tìm kiếm thị trường, nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Cùng với đó, năm 2015, hiệp định thương mại tự do Việt Nam- EU được ký kết sẽ mở ra hướng đi mới cho các ngành kinh tế của Việt Nam, trong đó có hoạt động xuất khẩu vải thiều.

    Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- EU được ký kết sẽ làm thay đổi các vấn đề như: thuế suất xuất nhập khẩu giữa các bên, đầu tư, các chính sách thúc đẩy thương mại, hàng rào bảo hộ… Những sự thay đổi này có tác động tới các doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Các doanh nghiệp cần củng cố và nâng cao nguồn lực của mình để có thể chủ động thay đổi theo sự thay đổi của kinh tế vĩ mô, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững, góp phần giúp làm lớn mạnh ngành nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.

    Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện nay mặt hàng vải thiều Việt Nam tuy đang dần có chỗ đứng trên thị trường nước ngoài, cụ thể là thị trường EU, song khả năng cạnh tranh còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng vải thiều của ta còn chưa đạt các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo quản sản phẩm…do EU quy định. Sự đồng bộ trong sản xuất ở các vùng nguyên liệu chưa cao, việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất còn chưa hiệu quả, cơ sở hạ tầng đang dần được cải tiến nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp những nhu cầu thực tiễn.

    Để có thể thâm nhập thành công vào thị trường EU và có chỗ đứng trên thị trường thế giới, các doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều cần nỗ lực hơn nữa trong việc sản xuất, chất lượng sản phẩm, chọn kênh phân phối, nghiên cứu thị trường và thị hiếu khách hàng…Nhà nước cũng cần đưa ra các chính sách, định hướng đúng đắn và kịp thời nhằm giúp đỡ và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu vải thiều sang EU.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN

    Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN

    Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN   

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/T%C3%ACnh-H%C3%ACnh-Xu%E1%BA%A5t-Kh%E1%BA%A9u-Lao-%C4%90%E1%BB%99ng-Th%E1%BB%8B-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Nh%E1%BA%ADt-B%E1%BA%A3n-V%C3%A0-Khu-V%E1%BB%B1c-ASEAN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN 

    TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

    VÀ KHU VỰC ASEAN

     

    Tình hình chung thị trường XKLĐ 2017

    Theo thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, năm 2017, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt hơn 130 nghìn người, vượt trên 28% so với kế hoạch đề ra và đạt con số kỷ lục từ trước đến nay trong lĩnh vực này. Đây là năm thứ 4 liên tiếp xuất khẩu lao động đạt trên 100.000 người và đạt kỷ lục mới.

    Cục Quản lý lao động ngoài nước đã đưa ra mục tiêu đưa 110.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018).

    Thị trường Asean – cơ hội hay thách thức?

    Trong những năm gần đây, xuất khẩu lao động trở thành lựa chọn sáng giá cho những lao động trẻ. Tuy nhiên, thị trường ASEAN nói chung lại không là điểm đến của đa phần các đối tượng này – mà thị trường này thường là điểm xuất khẩu lao động. Thống kê trong khu vực Đông Nam Á, tổng số di chuyển lao động là khoảng 16 triệu người (2016). Trong đó, có 03 thị trường (Malaysia, Thái Lan, Singapore) chiếm 90% số lượng lao động nhập khẩu. Các thị trường này lại chú trọng vào tầng lớp lao động có kỹ năng cao, đặc biệt là các chuyên ngành như cơ khí, y tá, kiến trúc, kiểm định, y nha khoa, kế toán và du lịch. Điều này khiến nhân lực xuất khẩu trong khu vực không đáng ứng được yêu cầu, bởi số lượng lớn người lao động có nhu cầu làm việc cho nước ngoài tại khối ASEAN có trình độ thấp.

    Việt Nam đã tham gia các hiệp định đa phương như các FTA giữa khối ASEAN với các đối tác như Trung Quốc vào năm 2004, với Hàn Quốc vào năm 2006, Nhật Bản vào năm 2008, Oxtraylia và New Zealand vào năm 2009, Ấn Độ năm 2009, FTA với Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc năm 2015. Nhìn chung, các Hiệp định này chủ yếu tập trung và các cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, từ đó dẫn tới tác động sau sắc đến nhu cầu tuyển dụng lao động, cơ cấu và điều kiện việc làm.

    Ngày 22/11/2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã kí kết Tuyên bố Kuala Lumpur thành lập AEC (ASEAN Economic Community – Cộng đồng kinh tế ASEAN), tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27.  AEC là cơ chế hợp tác có quy mô dân số trên 600 triệu người và GDP khoảng 2.500 tỷ USD.  Việc này đã hứa hẹn tạo nên một thị trường đơn nhất và mang tính tự do cao hơn, trong số đó có bao gồm việc tự do lưu chuyển lao động có tay nghề – ban đầu là đối với 8 ngành nghề (kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, kỹ sư, bác sĩ, y tá và cán bộ hộ sinh, trắc địa viên và các nghề liên quan đến du lịch). Tuy nhiên, thị trường ASEAN lại chưa đủ hấp dẫn đối với các lao động trình độ cao đang bị thu hút bởi mức lương tại các quốc gia phương Tây. Riêng với thị trường lao động Việt Nam, cũng chưa có sự dịch chuyển lao động nào quá đáng kể trong khối này – đặc biệt là lao động có trình độ cao. Cụ thể, để có thể tự do di chuyển trong nội khối AEC, lao động phải chứng minh được trình độ kĩ thuật, khả năng ngôn ngữ (tiếng Anh hoặc tiếng của nước sở tại) và một vài kĩ năng mềm khác (hiểu biết về văn hóa của nước sở tại, làm việc theo nhóm). Lao động nước ta trong thời gian gần đây đang dần nâng cao tay nghề, nhưng khả năng giao tiếp và các kĩ năng mềm vẫn còn hạn chế. Để khắc phục khuyết điểm này, cần có sự  phối hợp của nền giáo dục nghề nghiệp tại nước ta – tạo ra một nguồn lao động có chất lượng đủ để đáp ứng nhu cầu. Để nắm bắt được cơ hội việc làm trong AEC tốt hơn, cần nhanh chóng thống nhất về chứng chỉ bằng cấp – giúp lao động được đào tạo tại Việt Nam có trình độ tương đươg với lao động các nước trong cộng đồng ASEAN.  Đồng thời, cần gắn kết giưa đào tạo với thị trường lao động, đẩy mạnh sự tham gia của doanh nghiệp cũng như đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phương diện giáo dục nghề nghiệp. Trên nền tảng này, người lao động sẽ không chỉ được trang bị kĩ về kiến thức chuyên môn, trình độ tay nghề mà còn có thể phát triển hiểu biết về văn hóa – xã hội và những lĩnh vực quan trọng tại các nước tiếp nhận, nâng cao khả năng hòa nhập khi sang môi trường làm việc của các nước khác.

    Theo ILO đến năm 2025, khi tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Việt Nam sẽ tăng thêm 6 triệu việc làm so với kịch bản cơ sở, chiếm 10% tổng việc làm tăng thêm của khối (60 triệu), chủ yếu ở các ngành sản xuất lúa gạo, xây dựng, vận tải, dệt may và chế biến lương thực. Với lực lượng lao động trẻ và dồi dào được coi là mặt lợi thế của lao động nước ta trong quá trình hộp nhập với thị trường lao động khu vực và quốc tế.

    Tỉ lệ lao động trình độ cao di cư của một số nước ASEAN khá cao. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là khoảng 10%. Trong đó, tỉ lệ lao động lành nghề đi xuất khẩu khá cao so với tỉ lệ lao động có trình độ cao. Điều này vẫn bị cho là gây tốn kém khi nước xuất xứ phải lo trả chi phí đào tạo nhưng các lao động trình độ cao lại được sử dụng ở ngoài nước.

    Theo báo cáo Báo cáo Di cư tìm cơ hội (do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố vào 10/2017), Việt Nam là một trường hợp đặc biệt ở ASEAN vì lượng người xuất khẩu lao động lớn nhưng tỉ lệ người tới các nước ASEAN không nhiều, thậm chí chí lao động người Việt đến các nước ASEAN làm việc ngày càng ít. Nhiều người Việt Nam muốn sang châu Âu, tới các quốc gia phát triển khác để lao động.

    Trong thời gian tới, thị trường lao động thế giới có thể tiếp tục tăng trưởng với nhu cầu lao động lớn, do các nền kinh tế trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á đang hồi phục – giúp các nước Đông Nam Á tăng cơ hội xuất khẩu lao động. Cạnh tranh với Việt Nam trong thị trường này là Philippines, quốc gia được cho là cung cấp lực lượng LĐXK chủ yếu cho các nước Trung Đông. Điều này có thể giúp lao động Việt Nam giảm cạnh tranh hơn trong một số lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, y tế, tin học. Ngoài ra, trong thời gian tới, thị trường XKLĐ sang Trung Đông tiếp tục được mở rộng và tạo cơ hội tốt cho nhiều lao động khu vực nông thôn có việc làm đòi hỏi vốn ít, trình độ thấp.

    Cũng theo ông Mauro Testaverde – chuyên gia kinh tế, Trưởng Ban An sinh xã hội và việc làm toàn cầu WB: “Là một nước xuất khẩu lao động, Việt Nam cần đánh giá các chính sách hiện hành về khuyến khích xuất khẩu lao động nhằm xác định có đáp ứng được các nhu cầu của đất nước hay chưa. Những chính sách này là đáng hoan nghênh nhưng cũng cần có những cải cách khác nữa, như xem xét lại việc các công ty xuất khẩu lao động thường xuyên hay chí ít cũng ngầm yêu cầu người lao động phải đóng tiền ký quỹ để bảo đảm sẽ trở về nước, sau đó lại thường không trả lại số tiền này.

    Hiện nay, đa số các nước trong khu vực Đông Nam Á đã xây dựng được khuôn khổ pháp lý tương đối hoàn thiện đối với hoạt động xuất, nhập khẩu lao động và có chính sách, chiến lược quan trọng về thu hút và phát triển nguồn nhân lực. Tại nước ta, các thị trường thu hút nhân lực chất lượng trung bình, lao động giản đơn có dấu hiệu chững lại. Về mặt pháp lý, hiện nay Việt Nam có Bộ luật Lao động, Luật Dân sự, Luật Hình sự có nhiều điều khoản liên quan vấn đề XKLĐ.

    Lao động Nhật Bản  –  “mỏ vàng” thị trường xuất khẩu lao động

    Số lượng người lao động xuất khẩu chính quy sang Nhật Bản ngày càng tăng. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2017, thị trường XKLĐ sang quốc gia này đã đón nhận tới 23.209 lao động từ Việt Nam, tăng tới 7547 lượt so với cùng kì năm 2016.

    Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB-XH), năm 2017, cả nước đưa đi được 134.700 lao động, vượt hơn 28% so với kế hoạch năm. Đây là năm thứ tư liên tiếp, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt mức 100.000 người/năm. Trong đó, thị trường Nhật Bản có sự tăng trưởng vượt bậc với 54.504 lao động (trong đó, có 24.502 lao động nữ).

    Nếu trước đây quốc gia này chỉ tiếp nhận thực tập sinh Việt Nam chủ yếu trong các ngành cơ khí, điện tử, dệt may,  thì tính từ 2016, đã mở rộng ở hầu hết các ngành, nghề, từ xây dựng, cơ khí, nông nghiệp, chế biến thực phẩm đến dệt may, hộ lý, trong đó nhu cầu về các ngành xây dựng, nông nghiệp, chế biến thực phẩm tăng mạnh.

    Năm 2017, một số bản thỏa thuận quan trọng đã được ký kết giữa Bộ LĐ-TB-XH và các cơ quan Nhật Bản: Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) về chương trình thực tập kỹ năng với Bộ trưởng các bộ Tư pháp, Ngoại giao, Y tế – Lao động – Phúc lợi xã hội Nhật Bản; Bản ghi nhớ hợp tác chương trình đưa thực tập sinh đi Nhật Bản với Cơ quan Quản lý thực tập kỹ năng (OTIT) Nhật Bản và Ngân hàng Gunma.. Theo thứ trưởng Doãn Mậu Diệp, năm 2017, riêng thị trường Nhật Bản có nhu cầu tuyển dụng lao động Việt Nam ngày càng tăng cao, đa dạng về ngành nghề. Một số công việc như chế biến thức ăn thay thế, bảo dưỡng nhà cao tầng, sửa chữa ô-tô) có nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam rất cao. Bên cạnh đó, từ tháng 11/2017, Bộ lao động Nhật Bản cho phép người lao động Việt Nam có thể ra hạn hợp đồng lên đến 5 năm với tất cả các ngành nghề thay vì chỉ có ngành xây dựng như thời gian vừa qua.

    Tuy nhiên, khi xứ sở hoa anh đào  trở thành “mỏ vàng” XKLĐ thì cũng kéo theo con số các lao động “chui” và lao động bỏ trốn khá cao – luôn nằm trong top 3 thống kê. Chính vì thế, trong năm 2018, nước ta cần phải tìm biện pháp để con số này không chạm tới mức 5% nếu không Nhật Bản sẽ ngừng tiếp nhận. Để có thể thực hiện mục tiêu trên, Bộ LĐTB&XH (Bộ Lao động thương binh & Xã hội) cho biết, năm nay riêng thị trường Nhật Bản sẽ dứt điểm ngừng các công ty phái cử thu phí xuất cảnh cao hơn quy định, tuyệt đối bỏ tất cả các khoản đặt cọc chống trốn – nhằm giảm bớt gánh nặng về tài chính, cũng như giảm thiểu phát sinh các trường hợp bỏ trốn ra ngoài, tự ý nhận việc làm thêm. Ngoài ra, theo dự kiến của Bộ, từ năm 2018 trở đi, thị trường XKLĐ nước này sẽ dẫn đầu, sau đó mới đến Đài Loan. Ngoài ra, riêng thị trường Nhật Bản sẽ dứt điểm ngừng các công ty phái cử thu phí xuất cảnh cao hơn quy định.

    Năm 2018 cũng là năm Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội triển khai Bản ghi nhớ hợp tác về Chương trình thực tập sinh kỹ năng đã ký kết năm 2017 với Nhật bản; Hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng theo Luật “bảo hộ thực tập sinh và triển khai chương trình thực tập sinh kỹ năng người nước ngoài đúng quy định” của Nhật Bản và các quy định của Việt Nam

    Nhiều doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã và đang từng bước chủ động tìm kiếm và phát triển thị trường, kèm theo đó đầu tư bài bản trong công tác tạo nguồn và đào tạo lao động về tay nghề và ngoại ngữ trước khi xuất cảnh, cũng như tác phong, kỷ luật lao động và ý thức chấp hành kỷ luật khi làm việc ở nước ngoài, điển hình là công tác đưa lao động sang thực tập kỹ năng, hộ lý và điều dưỡng tại Nhật Bản.

    Đây là những tín hiệu đáng mừng cho người lao động nước ta. Bởi với thị trường Nhật Bản cũng được coi là thị trường “vàng” về khía cạnh tài chính đối với người lao động, khi làm việc tại môi trường này giúp có được mức thu nhập cao hơn so với các thị trường khác. Mức lương cơ bản đối với người lao động bình thường dao động từ 25 – 30 triệu đồng/ tháng, đối với các kĩ thuật viên – kĩ sư sẽ có thu nhập trên 45 triệu/tháng.

    Kết

    Tình hình xuất khẩu lao động 2018 sang các nước phát triển hơn Việt Nam vẫn là một hướng đi tích cực cho những lao động dư thừa ở nước ta. Trong Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018, thứ trưởng Doãn Mậu Diệp đề nghị Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước phối hợp với Vụ Pháp chế trong việc sửa đổi Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Cục Quản lý lao động ngoài nước cần đẩy mạnh quản lý DN, chấn chỉnh hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đáp ứng 3 tiêu chí (đúng người, minh bạch và có kế hoạch khi lao động quay trở về nước).

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

          Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-M%C3%B4n-H%E1%BB%8Dc-Ph%C3%A2n-T%C3%ADch-Ho%E1%BA%A1t-%C4%90%E1%BB%99ng-Kinh-T%E1%BA%BF-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:   Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

    Nước ta đang bước lên thềm của sự đổi mới về kinh tế; đã trở thành một thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới. Điều đó cũng có thể là điều thuận lợi đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng đồng thời nó cũng là thách thức lớn mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải trải qua. Để có một chiến lược sản xuất phù hợp với khả năng của từng doanh nghiệp, vừa phát huy được nội lực vừa tranh thủ được thời cơ do thị trường mang lại thì bất kỳ một nhà sản xuất kinh doanh nào cũng cần có những thông tinh cần thiết về tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của công ty mình. Việc phân tích hoạt động kinh tế là một trong những công việc cần làm đối với các doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy môn học phân tích hoạt động kinh tế sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản đầu tiên giúp cho thế hệ sinh viên chúng em có một tư duy mới để có thể thích nghi với điều kiện hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay.

    Nội dung của bài thiết kế môn học “Phân tích hoạt động kinh tế” về đề tài “Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo mặt hàng và tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành theo khoản mục của công ty vận tải biển”

     

    PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

    Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp là quá trình phân chia, phân giải các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thnàh rồi sử dụng các phương pháp liên hệ, so sánh đối chiếu và tổng hợp lại để rút ra tính quy luật, xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng nghiên cứu.

    Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với mọi hoạt động sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp

    I. Mục đích, ý nghĩa của việc phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.

      1. Mục đích:

    – Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

    – Xác định các nhân tố ảnh hưởng và tính toán ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.

    – Phân tích chi tiết các trọng tâm trọng điểm để xác định tiềm năng của doanh nghiệp về các vấn đề tổ chức quản lý, điều hành, sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất, các điều kiện sản xuất.

    – Đề xuất các biện pháp về kỹ thuật tổ chức để khai thác tốt nhất những tiềm năng của doanh nghiệp để áp dụng trong thời gian tới nhằm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả, đảm bảo các lợi ích của doanh nghiệp, của nhà nước, của người lao động.

    – Làm cơ sở cho những kế hoạch, chiến lược về phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho các kỳ kế tiếp.

    Như vậy, mục đích của hoạt động phân tích hoạt động kinh tế là nhằm xác định tiềm năng doanh nghiệp và đề xuất các biện pháp nhằm khai thác tốt những tiềm năng ấy.

       2. Ý nghĩa:

    – Là nhà quản lý doanh nghiệp bao giờ bạn cũng muốn doanh nghiệp của mình hoạt động một cách thường xuyên liên tục, hiệu quả và không ngừng phát triển, muốn vậy bạn phải thường xuyên đưa ra những quyết định về chiến lược phát triển, quản lý, đều hành với chất lượng cao. Để có thể đưa ra những quyết định có chất lượng cao ấy thì những người quản lý doanh nghiệp cần phải có nhận thức đúng đắn sâu sắc về những vấn đề quản lý kỹ thuật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Người ta thấy rằng bộ ba biện chứng trong các hoạt động nói chung, hoạt động kinh tế nói riêng là nhận thức, quyết định, hành động thì nhận thức đóng vai trò quyết định.

    Vậy có thể phát biểu về ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế như sau:

    “ Phân tích hoạt động kinh tế với một vị trí là công cụ quan trọng của nhận thức, nó trở thành một công cụ quan trọng của quản lý khoa học có hiệu quả các hoạt động kinh tế. Nó thể hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước.”

    II. Các phương pháp phân tích:

       1. Nhóm phương pháp phản ánh biến động của chỉ tiêu và các thành phần bộ phận:

         1.1  Phương pháp so sánh tuyệt đối:

    Phương pháp này được thực hiện bằng cách lấy mức độ của chỉ tiêu (nhân tố) ở kỳ nghiên cứu trừ đi mức độ của chỉ tiêu (nhân tố) tương ứng ở kỳ gốc, kết quả so sánh được gọi là chênh lệch tuyệt đối, trong phân tích gọi tắt là chênh lệch.

    Mô hình:

    DA = A1 – A0

    DA : Chênh lệch của chỉ tiêu (nhân tố) A.

    A1, A0 : Trị số của chỉ tiêu (nhân tố) A ở kì nghiên cứu và kì gốc

    Ý nghĩa: là chỉ tiêu phản ánh xu hướng và mức độ biến động của chỉ tiêu, của nhân tố. Mức biến động tuyệt đối phản ánh trung thực, mộc mạc sự thật khách quan về biến động của chỉ tiêu, nhân tố.

         1.2. Phương pháp so sánh tương đối :

    So sánh bằng số tương đối: phản ánh kết cấu, mối quan hệ tổng thể, tốc độ phát triển, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến của chỉ tiêu kinh tế. Trong phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:

    – Số tương đối kế hoạch: Dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của chỉ tiêu nào đó.

    • Dạng đơn giản:

    ,  là mức độ của hiện tượng nghiên cứu kỳ thực hiện và kỳ kế hoạch.

    • Dạng liên hệ:
    • Dạng kết hợp

    Mức biến động tương đối = y­1 – yKH x hệ số tính chuyển

    – Số tương đối động thái: Dùng để xác định tốc độ phát triển, xu hướng biến đổi của hiện tượng qua thời gian.

    – Số tương đối kết cấu: Dùng để xác định tỷ trọng của bộ phận chiếm trong tổng thể.

    1. Nhóm các phương pháp phản ánh hay tính toán mức độ ảnh hưởng của các thành phần bộ phận nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:

      2.1. Phương pháp thay thế liên hoàn:

              Phương pháp này được vận dụng trong trường hợp các nhân tố có mối quan hệ tích, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế.

    • Trình tự và nội dung :

    – Phải xác định số lượng các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu nghiên cứu từ đó xác định công thức  biểu thị mối liên hệ giữa các nhân tố với chỉ tiêu phân tích .

    – Cần sắp xếp các nhân tố theo một trình tự nhất định, nhân tố số lượng đứng trước, nhân tố chất lượng đứng sau . Trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng, chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau hoặc theo mối quan hệ nhân quả không được đảo lộn trật tự này.

    – Tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên. Nhân tố nào được thay thế rồi thì lấy giá trị thực tế từ đó. Nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch. Thay thế xong một nhân tố phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó. Sau đó lấy kết quả này so với kết quả của bước trước. Chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố được thay thế.

    – Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần. Cuối cùng ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố so với chênh lệch của chỉ tiêu nghiên cứu.

    – Ưu điểm của phương pháp này: tính toán nhanh.

    – Nhược điểm của phương pháp này: sắp xếp chỉ tiêu khi xét ảnh hưởng của của nhân tố vào thì chỉ có nhân tố đó thay đổi.

    • Khái quát :

    Chỉ tiêu tổng thể: y

    Chỉ tiêu riêng biệt: a,b,c

    + Phương trình kinh tế: y = abc

    Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc : yo = a0b0c0

    Giá trị chỉ tiêu kỳ n/c  : y1 = a1b1c1

    + Xác định đối tượng phân tích : Dy = y1– y0 = a1b1c1– a0b0c0

    + Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:

    * Ảnh hưởng của nhân tố a đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dya = a1b0c0– a0b0c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dya =

    * Ảnh hưởng của nhân tố b đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dyb = a1b1c0– a1b0c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dyb =

    * Ảnh hưởng của nhân tố c đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dyc = a1b1c1– a1b1c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dyc =

    Tổng ảnh hưởng của các nhân tố :

    Dya+ Dyb+ Dyc =  Dy

    dya+ dyb+ dyc    =  dy =

    Lập bảng phân tích loại 1: Quan hệ tích số

    TT Chỉ tiêu Ký hiệu Đơn vị Kỳ gốc Kỳ ng/c So sánh (%) Chênh lệch MĐAH®Sy
    Tuyệt đối Tương đối (%)
    1 Nhân tố thứ 1 A   a0 a1 da Da Dya dya
    2 Nhân tố thứ 2 B   b0 b1 db Db Dyb dya
    3 Nhân tố thứ 3 C   c0 c1 dc Dc Dyc dya
    Tổng thể Y   y0 y1 dy Dy
     
    2.2. Phương pháp số chênh lệch

    Điều kiện vận dụng: dùng để xác định mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ tích số, thương số hoặc tích số với thương số kết hợp với tổng số, hiệu số. Khi xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu phân tích thi dùng ngay số chênh lệch giữa giá trị kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc của nhân tố đó và nhân với các nhân tố còn lại.

    Giả sử chỉ tiêu nghiên cứu là y, được cấu thành bởi 3 nhân tố A, B, C

    y = A.B.C

    Giá trị chỉ tiêu ở kỳ gốc             :   y0  = A0.B0.C0

    Giá trị chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu       :   y1  = A1.B1.C1

    Xác định đối tượng phân tích  :   Dy = y1 – y0

    Xác định ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu phân tích

    ya      =       A1.B0.C0

    yb          =       A1.B1.C0

    yc           =       A1.B1.C1

    Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích:

    Dya   = (A1 A0).B0.C0

    Dyb   = A1.(B1 – B0).C0

    Dyc   = A1.B1.(C1 – C0)

    Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố chỉ tiêu đến chỉ tiêu phân tích:

    (%)

    (%)

    (%)

              Tổng ảnh hưởng của các nhân tố
     (%)
    3.3. Phương pháp cân đối

    – Điều kiện vận dụng: dùng để tính mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của các thành phần, bộ phận đến các chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ tổng số.

    – Phương trình kinh tế                   y =  a + b – c

    Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc                  y0   = a0        + b0 – c0

    Giá trị chỉ tiêu kỳ nghiên cứu     y1   = a1        + b1 – c1

    – Xác định đối tượng phân tích     Dy = y1 – y0

    – Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích:

    Dya   = a1   a0

    Dyb   = b1 – b0

    Dyc   = c0 – c1

    Ảnh hưởng tương đối của các nhân tố chỉ tiêu đến chỉ tiêu phân tích:

    (%)

    (%)

    (%)

                        

     

     

     

     

     

     

     

     

                            Lập bảng phân tích loại 2: Quan hệ tổng số

    TT Chỉ

     

    Tiêu

    Kỳ gốc Kỳ N/C So sánh

     

    (%)

    Chênh lệch MĐAH ®

     

    Sy (%)

    Quy mô Tỷ trọng(%) Quy mô Tỷ trọng

     

    (%)

    1

    Nhân tố 1

    a0 da0 a1 da1     Dya
    2 Nhân tố 2 b0 db0 b1 db1     Dyb
    3 Nhân tố 3 c0 dc0 c1 dc1     Dyc
    Chỉ tiêu phân tích y yo 100 y1 100    

                                  PHẦN II: NỘI DUNG PHÂN TÍCH

    CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU SẢN              LƯỢNG THEO MẶT HÀNG

    1. Mục đích, ý nghĩa.
    2. Mục đích

    Việc phân tích chỉ tiêu sản lượng của doanh nghiệp vận tải nhằm các mục đích sau:

    + Đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu sản lượng, thể hiện bằng mức độ thực hiện kế hoạch sản lượng hoặc mức tăng trưởng về chỉ tiêu sản lượng thực hiện.

    + Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo các mặt và ở mỗi mặt cần chỉ ra những ưu, khuyết điểm, những nguyên nhân chủ quan, khách quan chủ yếu đã tác động đến tình hình thực hiện này.

    + Nghiên cứu năng lực của doanh nghiệp, xác định mức độ lợi dụng khả năng, phát hiện những tiềm năng chưa được khai thác.

    + Đề xuất những biện pháp về tổ chức, kỹ thuật để khai thác những tiềm năng của doanh nghiệp, tăng sản lượng, nâng cao chất lượng phục vụ, thay đổi cơ cấu sản xuất ….Từ đó xác định con đường  phát triển của doanh nghiệp trong tương lai về cả quy mô và cơ cấu sản xuất.

    1. Ý nghĩa

    Việc phân tích chỉ tiêu sản lượng rất cần thiết và quan trọng. Kết quả phân tích chỉ tiêu sản lượng là cơ sở để phân tích các chỉ tiêu khác. Nếu việc phân tích đạt yêu cầu: đầy đủ, khách quan, triệt để và thực hiện được các mục đích trên sẽ tạo điều kiện xác định được nguyên nhân gây ra tình hình thực hiện chỉ tiêu kết quả cuối cùng của sản xuất- kinh doanh. Tạo điều kiện để người quản ký doanh nghiệp thấy được tình hình thực tế cũng như những tiềm năng của doanh nghiệp. Từ đó có những quyết định đúng đắn cho sự phát triển của doanh nghiệp.

    Nếu không phân tích hoặc phân tích không đạt yêu cầu thì không thấy được tình trạng thực tế của doanh nghiệp, nên không thể có những quyết định có căn cứ khoa học, như vậy khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao, trong tương lai của doanh nghiệp.

    1. Phân tích: Lập biểu và phân tích chi tiết các nhân tố
    2. Lập PTKT, xác định đối tượng phân tích, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, lập bảng phân tích.

    – Phương trình kinh tế như sau :

    åQ  =  Q1 + Q2 + Q3+…+ Qn  = åQi    (T)

    åQl =  Q1l1+ Q2l2 + Q3l3+…+ Qnln = å (Ql)i    (T.km)

    Trong đó

    Qi  : Khối lượng hàng hoá vận chuyển của mặt hàng i  (T).

    (Ql)i : Khối lượng hàng hóa luân chuyển mặt hàng i (TKm).

    li : Cự ly vận chuyển của mặt hàng thứ i (Km).

    n : Số lượng mặt hàng vận chuyển.

    – Đối tượng phân tích   DåQl = åQ1l1 – åQ0l0

    1. Đánh giá chung

    Nhìn vào bảng phân tích ta thấy tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển của kỳ gốc là 1.136.052.864 T.km, kỳ nghiên cứu là 1.537.120 T.km. Như vậy lượng hàng luân chuyển tăng 1.537.120 TKm đạt 100,14% so với kỳ gốc. Sự biến động của tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là do sự biến động của khối lượng luân chuyển của các mặt hàng. Qua bảng ta thấy khối lượng luân chuyển của hầu hết các mặt hàng đều tăng chỉ duy nhất có mặt hàng khác giảm mạnh trong đó hàng lương thực là tăng nhiều nhất và cũng làm cho åQl tăng nhiều nhất. Sự biến động này là do tác động của 2 của hai nhân tố: tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân.

    Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển trong kỳ giảm xuống 19.234 T, tương ứng giảm 2,97 % so với kỳ gốc. Mặt hàng phân bón và  mặt hàng khác đều có biến động tăng, trong đó mặt hàng khác là tăng nhiều nhất  ( tăng 12,95% ). Các mặt hàng có biến động giảm là lương thực và xi măng, trong đó mặt hàng xi măng là giảm nhiều nhất ( giảm 18,85% ).

    Tổng cự ly vận chuyển bình quân của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng 56 km, hay tăng 3,2% so với kỳ gốc. Cự ly vận chuyển  của hầu hết các mặt hàng như lương thực, phân bón, xi măng đều tăng trong đó tăng mạnh nhất là mặt hàng xi măng ( tăng 26,24% so với kỳ gốc ). Chỉ có duy nhất mặt hàng khác là có cự ly vận chuyển bình quân giảm ( giảm 37,11% so với kỳ gốc )

    Để thấy rõ sự biến động của từng mặt hàng và ảnh hưởng của chúng đến tổng sản lượng, chúng ta đi vào phân tích chi tiết từng mặt hàng.

    3. Phân tích chi tiết

    3.1 Hàng lương thực

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển hàng lương thực ở kỳ gốc là 343.655.991 TKm chiếm tỷ trọng 30,25%, kỳ nghiên cứu là 389.738.329 T.km chiếm tỷ trọng 34,26%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng lương thực tăng lên là 46.082.338 TKm tương ứng tăng 13,41% so với kỳ gốc. Sự biến động này đã làm tổng sản lượng luân chuyển của doanh nghiệp tăng lên là 46.082.338 TKm tương ứng tăng 4,06% so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng lương thực tăng là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này:

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng vận chuyển của mặt hàng lương thực ở kỳ gốc là 203.154 T chiếm tỷ trọng 31,33%, kỳ nghiên cứu là 191.654 T chiếm tỷ trọng 30,46%. Như vậy lượng hàng lương thực  giảm 11.500 T hay giảm 5,66 % so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này ảnh hưởng đến khối lượng hàng lương thực luân chuyển làm nó giảm tuyệt đối là 19.458.000 TKm tương ứng giảm 1,71% so với kỳ gốc.

    Khối lượng vận chuyển của mặt hàng lương thực giảm do các nguyên nhân sau:

    • Doanh nghiệp chủ động nhận vận chuyển lương thực trên các tuyến xa
    • Tình hình thời tiết, sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.
    • Nhu cầu vận chuyển hàng lương thực đối với doanh nghiệp giảm
    • Hiềm khích chính trị giữa nước ta với các nước là bạn hàng nhập khẩu lương thực lớn.

    Trong các nguyên nhân trên, giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ 2

    Nguyên nhân thứ 1: Trong kỳ nghiên cứu, do doanh nghiệp đã nhận được một số đơn đặt hàng trên những tuyến xa nên các tàu phải vận chuyển trên các tuyến đó làm cho thời gian chuyến đi tăng lên và làm cho số chuyến vận chuyển bị giảm xuống. Do vậy làm cho khối lượng hàng vận chuyển giảm. Tuy là vận chuyển trên tuyến xa nên cước vận chuyển tăng lên những tốc độ tăng không bằng tốc độ giảm của khối lượng hàng hoá vận chuyển nên lợi nhuận sẽ giảm. Dù vậy doanh nghiệp vẫn phải chấp nhận vì nếu không thì tàu sẽ không có hàng vận chuyển, lao động thất nghiệp và doanh nghiệp sẽ phải chịu lỗ nhiều hơn. Như vậy đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Trong kỳ nghiên cứu trong nước thường xuyên có mưa to gió lớn, hơn nữa lại do có dịch sâu bệnh, chuột phá hoại mùa màng làm bà con nông dân bị mất mùa đặc biệt ở hai vựa lúa lớn nhất của nước ta là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Điều này làm lượng lương thực là lúa gạo xuất khẩu giảm mạnh. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Trong kỳ nghiên cứu, do thị trường vận chuyển cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đặc biệt là về mặt hàng lương thực. Đội tàu nước ngoài cạnh tranh với ta như Inđônêsia, Trung Quốc, Hàn Quốc…ngày càng lớn mạnh, chất lượng dịch vụ ngày càng cao trong khi giá cước thì thấp hơn. Điều này gây bất lợi cho việc vận chuyển hàng lương thực các tuyến trong và ngoài nước. Do vậy làm giảm nhu cầu thuê vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do hiềm khích chính trị tranh chấp nhau nên nước bạn hàng nhập khẩu lượng hàng lương thực lớn của ta tuyên bố cấm cảng với các tàu thuyền của ta, không cho ra vào cảng của họ. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình xuất nhập khẩu hàng và dĩ nhiên làm giảm lượng hàng vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng lương thực ở kỳ gốc là 1.691,60 Km, kỳ nghiên cứu là 2.033,55 Km, tăng 341,95 Km tức là tăng 20,21% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm sản lượng luân chuyển lương thực tăng 65.540.338 TKm tương ứng tăng 5,77% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển bình quân lương thực tăng do các nguyên nhân sau:

    • Doanh nghiệp kí kết được các hợp đồng vận chuyển với tuyến đường dài hơn
    • Doanh nghiệp mở tuyến đường vận chuyển mới dài hơn
    • Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực sang hỗ trợ các nước Châu Phi.
    • Đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã tiến hành sửa chữa bảo dưỡng nâng cấp tàu nên nó có thể chạy tuyến đường dài hơn.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Doanh nghiệp ở kỳ gốc chỉ vận chuyển nội địa và vận chuyển các tuyến Đông Nam Á với khoảng cách gần. Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp tích cực làm công tác marketing xây dựng mức cước cạnh tranh nên nhận được những đơn hàng vận chuyển đi xa. Tuy rằng nó làm giảm khối lượng hàng có thể vận chuyển của doanh nghiệp trong kỳ do thời gian chuyến đi lớn nhưng lại là biện pháp cứu vãn cho doanh nghiệp lúc này bởi lượng hàng vận chuyển dần khan hiếm. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

              Nguyên nhân thứ 2: Doanh nghiệp nhận thấy việc mở tuyến mới này là rất tiềm năng, có thể khai thác nguồn hàng lương thực trên tuyến rất tốt. Sau 1 thời gian dài nghiên cứu quảng bá và chuẩn bị, đến kỳ nghiên cứu doanh nghiệp chính thức cho tàu chạy trên các tuyến này. Điều này làm tăng cự ly vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

              Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp nhận được nhiệm vụ do nhà nước giao là vận chuyển lương thực sang hỗ trợ các nước châu Phi nghèo đói, có tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao và nhiều người chết đói do thiếu ăn bởi các nước này đa phần là sa mạc, tình hình khí hậu trái đất biến đổi, sa mạc hóa ngày càng tăng nên họ không thể trồng được cây lương thực. Nước ta do cũng gặp nhiều khó khăn vì mất mùa nhưng trong kho của nhà nước vẫn còn nhiều lương thực dự trữ, do vậy vẫn có thể hỗ trợ 1 ít cho họ. Điều này thể hiện tính nhân đạo rất lớn. Mà khoảng cách giữa nước ta và châu Phi là khá xa nên làm tăng cự ly vận chuyển hàng bình quân. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Ở kỳ gốc tàu của doanh nghiệp còn chưa được bảo dưỡng sửa chữa tốt nên không dám cho chạy các tuyến xa. Kì nghiên cứu này tàu đã được hoán cải sửa chữa mọi mặt bảo dưỡng một cách tốt nhất nên doanh nghiệp sẵn sàng cho tàu chạy các tuyến dài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.2 Hàng phân bón

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển phân bón ở kỳ gốc là 218.803.782 TKm chiếm tỷ trọng 19,26%, kỳ nghiên cứu là 241.624.113 TKm chiếm tỷ trọng 21,24%, tăng 22.820.331 TKm tương ứng tăng 10,43% so với kì gốc. Sự biến động tăng này làm tổng sản lượng luân chuyển tăng lên một lượng tuyệt đối là 22.820.331 TKm tương ứng tăng 2,01 % so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng phân bón tăng là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này.

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng hàng vận chuyển phân bón ở kỳ gốc là 116.329 T chiếm tỷ trọng 17,94%, kỳ nghiên cứu là 125.714 T chiếm tỷ trọng 19,98%. Như vậy lượng hàng vận chuyển tăng 9.385 T tương ứng tăng 8,07%. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng hàng phân bón luân chuyển tăng 17.653.185 TKm tương ứng tăng 1,55% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng phân bón vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Nhu cầu về phân bón trong nước tăng.
    • Các nhà sản xuất phân bón trong nước có chất lượng sản phẩm không tốt bằng nhập khẩu mà giá cả lại đắt hơn.
    • Uy tín của doanh nghiệp được nâng cao.
    • Kinh nghiệm kỹ thuật chất xếp hàng tốt

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 2 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do nhu cầu về phân bón trong nước lớn, đặc biệt là ở 2 vựa lúa lớn nhất cả nước là khu vực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Nền kinh tế nước ta với tỷ trọng ngành nông nghiệp còn chiếm rất cao, do đó phân bón là nguồn không thể thiếu được đối với cây trồng, nhu cầu về mặt hàng này là quanh năm, liên tục. Đặc biệt là trong kỳ nghiên cứu này người nông dân tiến hành thay đổi cơ cấu cây trồng, gieo trồng những loại cây cối tiêu hao nhiều phân bón hơn 1 chút nhưng có giá trị kinh tế cao. Đây là một trong những nguyên nhân khách quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Sản phẩm của các nhà sản xuất phân bón trong nước có chất lượng không cao bằng nhập khẩu từ nước ngoài mà giá cả lại đắt hơn do họ chưa có 1 quy trình sản xuất hợp lý, nguyên liệu nhập khẩu làm đội chi phí lên. Các nhà kinh doanh phân phối phân bón là khách hàng của doanh nghiệp nhận thấy rằng ngay cả giá nhập khẩu cộng với chi phí vận chuyển và các loại thuế liên quan vẫn rẻ hơn rất nhiều nếu mua của các công ty trong nước. Do vậy để tăng lợi nhuận họ quyết định đi nhập khẩu về dẫn đến tăng lượng hàng vận chuyển cho doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Uy tín của doanh nghiệp được nâng cao do chất lượng phục vụ tốt làm hài lòng khách hàng, doanh nghiệp có riêng 1 bộ phận chăm sóc và giải đáp mọi thắc mắc kiến nghị cho khách hàng. Không những vậy đối với khách hàng lâu năm doanh nghiệp còn có những ưu tiên ưu đãi về cước phí, còn khách hàng mới thì tích cực marketing thực hiện giá cả cạnh tranh… Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

        Nguyên nhân thứ 4: Thuyền viên của tàu đặc biệt là đại phó là người giàu kinh nghiệm, chất xếp hàng và chèn lót bảo quản tốt với hàng phân bao nên tàu chuyên chở được nhiều hàng hơn, tận dụng được tối đa trọng tải thực chở của tàu mà vẫn đảm bảo tàu an toàn đi biển. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng phân bón ở kỳ gốc là 1.880,90 Km, kỳ nghiên cứu là 1.922,01 Km tăng 41,11 Km tương ứng tăng 2,19% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển phân bón tăng 5.167.146 TKm tức là tăng 0,45% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Sản xuất phân bón trong nước còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu trong nước.
    • Đội tàu của công ty tương đối hiện đại lại được sửa chữa bảo dưỡng và trang bị tốt nên có thể vận chuyển hàng trong điều kiện thời tiết không tốt.
    • Công ty ký kết được các hợp đồng vận chuyển dài hạn với cự ly vận chuyển xa hơn.
    • Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc dường để cung ứng nguyên nhiên vật liệu cho tàu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất.

    Nguyên nhân thứ 1: Sản xuất phân bón còn hạn chế, giá thành cao hơn mức bình quân của nước ngoài. Hơn nữa cũng chưa sản xuất được một số loại phân bón có nhiều yếu tố vi lượng tốt cho một số loại cây trồng đặc biệt. Do vậy buộc phải nhập từ nước ngoài về làm tăng cự ly vận chuyển bình quân. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Công ty đã bỏ 1 số tiền lớn để đầu tư cho đội tàu để không những chống chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệp ngoài biển khơi mà còn bảo vệ tốt cho hàng hóa. Do vậy nếu không phải bão gió lốc xoáy thì tàu vẫn có thể khởi hành bình thường. Do vậy làm tăng cự ly vận chuyển bình quân của tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực

    Nguyên nhân thứ 3: Công ty ký kết được hợp đồng vận chuyển dài hạn với tuyến đường vận chuyển xa hơn. Điều này có được nhờ nỗ lực của doanh nghiệp trong công tác marketing. Nó không những tạo cho công ty doanh thu trong dài hạn mà còn tạo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân trong công ty. Vì vậy đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do các tàu thường xuyên phải chạy trên những tuyến xa mà nếu dự trữ nhiều nguyên nhiên vật liệu thì không đảm bảo khối lượng hàng chuyên chở. Vì vậy tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để tiếp thêm nhiên liệu làm cho cự ly vận chuyển tăng lên. Tuy nhiên điều này đã làm cho thời gian chuyến đi bị kéo dài làm giảm số chuyến trong năm khiến lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm xuống. Như vậy đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    3.3 Xi măng

    Qua bảng ta thấy khối lượng luân chuyển hàng xi măng kỳ gốc là 312.868.959 TKm chiếm tỷ trọng 27,54%, kỳ nghiên cứu là 321.027.893 TKm chiếm tỷ trọng 28,22%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng xi măng tăng 8.158.934 TKm tương ứng tăng 2,61% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng này làm tổng sản lượng luân chuyển tăng lên 8.158.934 TKm tức là tăng 0,72% so với kỳ gốc. Khối lượng hàng xi măng luân chuyển tăng do sự biến động của 2 nhân tố là: khối lượng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Sau đây ta đi phân tích chi tiết từng nhân tố

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng hàng xi măng vận chuyển ở kỳ gốc là 187.786 T chiếm tỷ trọng 28,96%, kỳ nghiên cứu là 152.392 T chiếm tỷ trọng 24,22%. Như vậy khối lượng vận chuyển giảm 35.394 T tương ứng giảm 18,85% so với kì gốc. Sự biến động giảm này làm khối lượng luân chuyển hàng xi măng giảm 58.966.404 TKm tức là giảm 5,19% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng xi măng vận chuyển có thể do các nguyên nhân sau:

    • Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn nóng như trong kỳ gốc nữa.
    • Tình hình kinh tế khó khăn, cầu và giá cả mặt hàng xi măng trong nước giảm
    • Ở cả 3 miền của nước ta đều có chi nhánh công ty xi măng.
    • Doanh nghiệp tăng giá vận chuyển xi măng

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ nhất: Ngành bất động sản của các nước trong khu vực và cả Việt Nam sau một thời gian tăng trưởng nóng đã có tốc độ tăng chậm lại. Mà bất động sản liên quan chặt chẽ tới ngành xây dựng. Do vậy nhu cầu về xi măng không còn cao như ở kỳ gốc nữa. Điều này làm giảm khối lượng hàng xi măng vận chuyển bằng đường biển. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tình hình kinh tế khó khăn hơn do suy thoái kinh tế, những tòa nhà xây ra trong kỳ gốc không có người mua hoặc ai thuê mà để trống gây lãng phí. Người dân cũng không mặn mà với việc xây dựng nhà cửa do tình hình tài chính công việc chưa ổn định. Do đó cầu về xi măng giảm kéo theo giá của nó cũng giảm theo bắt buộc nhà sản xuất phải thu hẹp quy mô. Vì vậy doanh nghiệp vận chuyển cũng không có nhiều cơ hội để vận chuyển hàng. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Cả 3 miền bắc trung nam của nước ta đều có nhà máy xi măng nên ít cần vận chuyển xi măng nội địa bằng đường biển. Thay vào đó các công ty sẽ chọn phương thức vận chuyển bằng đường bộ đường sắt nhiều hơn. Điều này làm giảm khối lượng xi măng vận chuyển của doanh nghiệp. Do vậy đây là nguyên tố khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp tăng cước vận chuyển xi măng. Trong khi nguồn hàng khan hiếm, giá cước vận chuyển buộc phải tăng để bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, điều này làm cho các chủ hàng hạn chế xuất khẩu hay nhập khẩu hàng xi măng bằng đường biển. Thay vào đó các chủ hàng tìm đến các nguồn cung xi măng trong nước. Do đó làm giảm khối lượng hàng xi măng vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng phân bón ở kỳ gốc là 1.880,90 Km, kỳ nghiên cứu là 1.922,01 Km tăng 41,11 Km tương ứng tăng 2,19% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển xi măng tăng 5.167.146 TKm tức là tăng 0,45% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Có các đơn hàng yêu cầu vận chuyển đi xa.
    • Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.
    • Khả năng khai thác tàu, nguồn hàng của doanh nghiệp chưa thực sự tốt.
    • Giá xi măng trong nước thấp hơn nhiều so với giá xi măng ở các thị trường như Châu Âu, Mỹ.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng vận chuyển đi xa hơn sang các thị trường mới như Châu Âu, châu Mỹ. Do các công ty xi măng tiến hành đàm phán và mở rộng thị trường của mình tránh hàng hóa tồn kho quá nhiều. Những đơn chào hàng này được các nhà nhập khẩu của châu Âu, Mỹ đồng ý vì có giá cả hấp dẫn và chất lượng tốt. Do vậy doanh nghiệp có hàng để vận chuyển. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tình hình thời tiết khi tàu đang hành trình diễn biến bất thường, theo dự báo của đất liền là sắp có bão và lốc xoáy trên chính tuyến đường vận chuyển của tàu nên tàu phải ngay lập tức ghé vào cảng gần nhất để tránh bão. Điều này làm tăng quãng đường vận chuyển có hàng của tàu nhưng không được hưởng cước nên làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: khả năng khai thác nguồn hàng của doanh nghiệp  chưa thực sự tốt bởi lẽ doanh nghiệp mới chạy trên các tuyến mới này và chưa có nhiều nguồn hàng vận chuyển trên chiều về làm tàu thường xuyên chạy không đầy tải nhiều khi là không tải trên 1 số chặng. Điều này làm cho cự ly vận chuyển bình quân tăng nhưng lại tốn kém nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Giá cả hàng xi măng thấp hơn ở các thị trường như châu Âu, châu Mỹ. Do trong nước ít có nhu cầu tiêu thụ nên các nhà sản xuất đã tìm đến thị trường đầy tiềm năng này bằng các đơn chào hàng và được họ chấp nhận vì giá cả rẻ hơn ở họ rất nhiều và chất lượng cũng tương đối tốt. Các nhà nhập khẩu này nhận thấy đây là 1 cơ hội kiếm lời và họ tiến hành kí kết hợp đồng ngay. Do vậy doanh nghiệp có cơ hội vận chuyển loạt hàng này. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    3.3.4 Hàng khác

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển hàng khác ở kỳ gốc là 260.724.132 T.km chiếm tỷ trọng 22,95%, kỳ nghiên cứu là 185.199.649 T.km chiếm tỷ trọng 16,28%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng lương thực giảm là 75.524.483 T.km tương ứng giảm 28,97% so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này đã làm tổng sản lượng luân chuyển của doanh nghiệp tăng giảm là 75.524.483 T.km tương ứng giảm 6,65% so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng khác giảm là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này:

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng vận chuyển hàng khác ở kỳ gốc là 141.163 T chiếm tỷ trọng  21,77%, kỳ nghiên cứu là 159.438 T chiếm tỷ trọng 25,43%. Như vậy lượng hàng vận chuyển tăng 18.275 T tương ứng tăng 12,95%. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng hàng khác luân chuyển tăng 33.753.925 TKm tương ứng tăng 2,97% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng khác vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Đời sống nhân dân ngày một nâng cao và nhu cầu về các loại hàng càng ngày càng phong phú.
    • Do doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.
    • Theo xu hướng container hóa nhiều khách hàng muốn vận chuyển hàng đóng trong container hơn.
    • Doanh nghiệp cải tiến 1 tàu hàng khô thành tàu bách hóa.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất

    Nguyên nhân thứ 1: Kỳ nghiên cứu mức sống của người dân cao hơn, do vậy nhu cầu của họ cũng cao hơn trước. Không chỉ là 3 loại hàng ở trên mà còn nhiều loại hàng bách hóa, thủ công mĩ nghệ, hàng gỗ, quần áo thời trang…Nhận thức được điều này doanh nghiệp cũng đã nhanh chóng đưa tàu phù hợp vào khai thác để thu lợi nhuận Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Việc các mặt hàng truyền thống có xu hướng giảm trong kỳ nghiên cứu, để tăng doanh thu doanh nghiệp đã quyết đinh chủ động tìm kiếm các mặt hàng khác, những nguồn hàng mới để vận chuyển bằng cách liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp sản xuất. Điều này làm tăng khối lượng vận chuyển cho mặt hàng khác của doanh nghiệp, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

        Nguyên nhân thứ 3: Để bắt kịp xu hướng trong và ngoài nước và nhu cầu vận chuyển hàng trong container doanh nghiệp đã tiến hành thuê định hạn con tàu chuyên chở container chạy định tuyến. Như vậy doanh nghiệp sẽ không phải tốn chi phí cho thuyền viên trên tàu và chi phí rất lớn để mua tàu. Doanh nghiệp sẽ có tàu đưa vào khai thác ngay để thu được lợi nhuận mà không tốn quá nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Trước nhu cầu vận chuyển hàng bách hóa tăng doanh nghiệp quyết định dùng một số con tàu chở hàng khô trong đội tàu của mình cải tiến để chở hàng bách hoa đóng trong hòm bao kiện. Do vậy mà doanh nghiệp không bỏ lỡ bất cứ hợp đồng vận chuyển nào mà lại đa năng hóa đội tàu của mình. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

    1. b) Cự ly vận chuyển

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng khác ở kỳ gốc là 1.846,94 Km, kỳ nghiên cứu là 1.161,57 Km, giảm 685,39 Km tương ứng giảm 37,11% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển hàng khác giảm 109.278.408 TKm tức là giảm 9,62% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    • Số lượng tuyến có khoảng cách gần tăng lên do doanh nghiệp chủ yếu kí kết vận chuyển trong nước
    • Do trình độ vận hành, điều khiển của thuyền viên cao hơn.
    • Một số tuyến đường xa vận chuyển hàng khác ở thời kỳ nghiên cứu thường xuyên xảy ra cướp biển
    • Hợp đồng vận chuyển dầu từ Trung Đông của doanh nghiệp bị trì hoãn do các nước này đang xảy ra bất ổn chính trị.

    Trong những nguyên nhân trên, giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ nhất: Do công ty chú trọng đến việc vận chuyển mặt hàng  khác  trên tuyến nội địa. Ngay từ đầu kỳ, thấy nhu cầu của người tiêu dùng trong nước về mặt hàng khác có dấu hiệu tăng, công ty đã chủ động đẩy mạnh  việc khai thác nguồn  hàng và vận chuyển các mặt hàng này trên các tuyến trong nước. Đây là tuyến vận chuyển tương đối gần do vậy mà cự ly vận chuyển bình quân của mặt hàng này đã giảm hơn kỳ trước. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ hai: Doanh nghiệp mở lớp đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ đội ngũ thuyền viên. Điều này giúp cho trình độ vận hành và điểu khiển của thuyền viên trong kỳ được nâng cao hơn. Do đó mà trong các chuyến vận chuyển tàu hạn chế việc đi vòng, giảm cự ly vận chuyển của tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ ba: Cướp biển là mối đe dọa nghiêm trọng đối với ngành hàng hải toàn cầu trên các đại dương và các vùng biển trên thế giới như Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Biển Đỏ, Địa Trung Hải và những eo biển có mật độ hàng hải lớn như là Malacca, Singapore nhất là vùng vịnh Aden và bờ biển Sômali thường xuyên xảy ra cướp biển. Trong kỳ nghiên cứu cướp biển càng hoành hành hơn và doanh nghiệp đang chạy trên các tuyến này để vận chuyển hàng khác nhận thấy tình hình như vậy nên không nhận vận chuyển trên tuyến này nữa để đảm bảo an toàn cho người và tài sản. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do tình hình chính trị của Trung Đông bất ổn, doanh nghiệp đã kí kết được các hợp đồng vận chuyển dầu từ các nước này nhưng bị trì hoãn không thể tiến hành được. Các nước Trung Đông này thường xảy ra chiến tranh bạo loạn, cấm biên cấm cảng. Tàu không thể thực hiện hợp đồng tuy không bị phạt hợp đồng do đây là nguyên nhân khách quan nhưng làm mất một số lợi nhuận tương đối lớn. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    III. Kết luận – kiến nghị

    1. Kết luận:

    Qua phân tích ta thấy rằng tổng sản lượng hàng hoá luân chuyển của doanh nghiệp trong kỳ gốc là 1.136.052.864 TKm và trong kỳ nghiên cứu là 1.537.120 TKm. Như vậy tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng 1.537.120 T.Km hay tăng 0,14 % so với kỳ gốc tức là tăng không đáng kể. Biến động này là kết quả biến động giảm của nhân tố tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển và biến động tăng của nhân tố cự ly vận chuyển bình quân.

    Nhân tố tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển trong kỳ nghiên cứu giảm 19.234 T hay giảm 2,97% so với kỳ gốc. Làm ảnh hưởng giảm tuyệt đối đến tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là 33.697.968 TKm, giảm tương đối là 2,97% so với kỳ gốc.

    Nhân tố cự ly vận chuyển bình quân trong kỳ nghiên cứu tăng 56 Km hay tăng 3,2 % so với kỳ gốc. Làm ảnh hưởng tăng tuyệt đối đến tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là 35.235.088 TKm, tăng tương đối là 3,1% so với kỳ gốc.

    Như vậy ta thấy tốc độ tăng của nhân tố cự ly vận chuyển lớn hơn tốc độ giảm của tổng khối lượng vận chuyển nhưng lớn hơn không nhiều do vậy nó vẫn làm tổng sản lượng tăng nhưng tăng không đáng kể như vậy.

    Ta có thể thấy rằng hoạt động của doanh nghiệp đang có chiều hướng phát triển. Biến động này của các chỉ tiêu sản lượng là do các nguyên nhân chính sau: Nguyên nhân chủ quan

    1. a) Tích cực

    – Doanh nghiệp chủ động nhận hàng  lương thực vận chuyển trên các tuyến xa, kí kết hợp đồng vận chuyển với tuyến đường dài hơn.

    – Mở tuyến đường vận chuyển mới dài hơn.

    – Đầu kỳ nghiên cứu tiến hành sửa chữa bảo dưỡng tàu nên tàu có thể chạy tuyến xa hơn.

    – Uy tín của doanh nghiệp tăng.

    – Kinh nghiệm kỹ thuật chất hàng của thuyền viên tốt.

    – Đội tàu của công ty hiện đại lại được tiến hành sửa chữa bảo dưỡng tốt nên có thể vận chuyển hàng trong tình trạng thời tiết không thuận lợi lắm.

    – Công ty chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.

    – Doanh nghiệp cải tiến tàu hàng khô thành tàu bách hóa.

    – Doanh nghiệp chủ động kí kết vận chuyển nội địa với hàng khác.

    1. b) Tiêu cực.

    – Doanh nghiệp tăng giá thành vận chuyển xi măng với tuyến nội địa.

    – Khả năng khai thác tàu, khai thác hàng của doanh nghiệp chưa tốt.

     Nguyên nhân khách quan

    1. a) Tích cực.

    – Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực hỗ trợ cho Châu Phi.

    – Nhu cầu phân bón trong nước tăng.

    – Chất lượng sản phẩm phân bón trong nước không tốt bằng nhập khẩu mà giá cả lại đắt hơn.

    – Sản phẩm phân bón trong nước còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu trong nước.

    – Giá xi măng trong nước rẻ hơn giá xi măng ở các thị trường Âu, Mỹ.

    – Đời sống nhân dân nâng cao và nhu cầu về các loại mặt hàng càng ngày càng phong phú.

    – Theo xu hướng container hóa khách hàng muốn thuê vận chuyển hàng đóng trong container nhiều hơn.

    1. b) Tiêu cực.

    – Tình hình thời tiết sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.

    – Nhu cầu của người dân đối với việc vận chuyển hàng lương thực do doanh nghiệp cung cấp giảm.

    – Hiềm khích chính trị giữa nước ta và nước bạn hàng nhập khẩu lượng lương thực lớn của ta.

    –  Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để nhận cung ứng nguyên vật liệu cho tàu.

    – Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn phát triển nóng như trong kỳ gốc.

    – Tình hình kinh tế khó khăn, cầu và giá xi ăng trong nước giảm

    – Ở cả 3 miền đều có chi nhánh của công ty xi măng.

    – Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.

    – Một số tuyến đường vận chuyển hàng khác của doanh nghiệp đi nước ngoài xảy ra nạn cướp biển hoành hành.

    2. Kiến nghị.

    Để khắc phục những hạn chế, phát huy tiềm năng thế mạnh của doanh nghiệp trong thời gian tới doanh nghiệp cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

    -Tiến hành thanh lý những tàu cũ khả năng khai thác xuống cấp vừa tốn chi phí sửa chữa vừa không thể chạy tuyến xa mà lại tốn chi phí nhiên liệu. Có thể thuê tài chính hoặc định hạn những tàu mới vừa hiện đại, nếu có năng lực tài chính thì có thể mua tàu phù hợp với nhu cầu vận chuyển mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng và làm tăng khả năng vận chuyển của đội tàu doanh nghiệp, tăng doanh thu, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường vận tải. Biện pháp này phải được tiến hành trên cơ sở phù hợp với nhu cầu vận chuyển của thị trường cũng như khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    – Sửa chữa, bảo dưỡng , đầu tư thay thế một số bộ phận, thiết bị mới hiện đại  cho những con tàu con tàu vẫn còn có thể khai thác an toàn, chưa cần thiết phải thay thế bằng tàu mới nhằm làm tăng khả năng vận chuyển của chúng, phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp.

    – Tăng cường hoạt động khai thác thị trường mở rộng sự hoạt động của các đại lý đến các nước trên thế giới nhằm tìm kiếm thu hút được nhiều nguồn hàng mới. Phát triển hơn nữa những bộ phận marketting chuyên môn tìm kiếm nguồn hàng đối với từng loại mặt hàng cụ thể, những khu vực cụ thể nhằm giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn hàng vận chuyển trên 1 chiều, giảm khả năng chạy rỗng trên tuyến của tàu

    – Hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp vận tải trên thế giới, tham gia các Công hội vận tải quốc tế nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng của doanh nghiệp và ngày càng có nhiều chủ hàng, các nhà môi giới đại lý trên thế giới biết đến doanh nghiệp để tăng nguồn hàng  vận chuyển cho doanh nghiệp.

    – Tiết kiệm chi phí, tìm cách giảm các khoản chi sao cho hợp lý để có thể hạ giá thành sản phẩm tạo điều kiện đưa ra được một giá cước cạnh tranh , thu hút khách hàng không chỉ đối với mặt hàng xi măng mà cần phải tiến hành với tất cả các mặt hàng. Việc hạ giá cước vận chuyển nàycần phải mang lại hiệu quả hữu ích cho doanh nghiệp, tránh trường hợp sản lượng vận tải thì tăng nhưng lợi nhuận lại giảm.

    –  Mở lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho thuyền viên hơn nữa, tăng trình độ chất xếp, chèn lót và bảo quản hàng để làm tăng khối lượng vận chuyển, cự ly vận chuyển bình quân cũng như tạo uy tín với khách hàng.

    – Tổ chức lại việc phân công lao động, đánh giá đúng trình độ của các thuyền viên để xếp họ vào những công việc những vị trí làm việc phù hợp với năng lực. Bên cạnh đó cần phải có biện pháp giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như tạo ra một không khí làm việc tốt, có các khu vui chơi giải trí thể thao lành mạnh trên tàu cho cán bộ thuyền viên.

    – Tiến hành áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng do Hiệp hội Hàng hải quốc tế đề ra, phải có đầy đủ các chứng chỉ cho tàu đi biển để cho các tàu có thể ra vào các cảng biển mà không bị phạt hoặc cấm cảng hoặc bị lưu giữ tàu biển tại các cảng đặc biệt là các cảng có yêu cầu về tàu biển ghé cảng như ở Châu Âu, Mỹ.

    – Tổ chức tốt tăng cường hơn nữa công tác khai thác thị trường vận tải nội địa để có thể phát huy thế mạnh của doanh nghiệp là thông hiểu tập quán điạ phương, được sự ưu đãi của Nhà nước đối với lĩnh vực vận tải nội địa để có thể đánh bật được các doanh nghiệp nước ngoài đang vận chuyển trên tuyến bằng cách đưa ra cước vận chuyển cạnh tranh và chất lượng dịch vụ tốt, đúng hẹn ngày giờ vận chuyển.

     CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GIÁ                     THÀNH THEO KHOẢN MỤC

    I. Mục đích, ý nghĩa

    1. Khái niệm giá thành.

    Giá thành là biểu hiện bằng tiền của các hao phí bằng tiền về lao động sống và  lao động vật hoá có liên quan tới việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định.

     2. Mục đích.

    – Đánh giá tình hình chỉ tiêu giá thành qua đó xác định xu hướng và mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích cũng như cơ cấu giá thành.

    – Qua phân tích chi tiết chỉ tiêu giá thành ở những trọng tâm phân tích ở những góc độ phân tích khác nhau để xác định những nguyên nhân và nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng tới từng thành phần chi phí giá thành. Xác định những chi phí không hợp lý và lãng phí.

    – Đề xuất các biện pháp và phương hướng nhằm cải tổ công tác tổ chức quản lí đầu tư cũng như việc sử dụng tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh nhằm tiết kiệm các hao phí khi sản suất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm, phấn đấu cho một giá thành hợp lý hơn.

    – Làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như là việc lựa chọn các phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp. Làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch về tài chính doanh nghiệp.

    – Đánh giá trình độ kế hoạch hoá giá thành.

     3. Ý nghĩa.

    Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp. Nó cũng là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh đồng thời nhiều quá trình của vấn đề của quá trình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trước hết nó phản ánh trình độ trong việc đầu tư quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, các tài sản cố định vốn và nguồn vốn, đồng thời nó phản ánh chất lượng của công tác tổ chức, quản lý và sử dụng lao động cũng như các công tác liên quan tới việc tổ chức quản lý, định mức, cấp phát sử dụng, tiêu hao các yếu tố các điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh.

    Giá thành là một trong những chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp và cơ bản tới lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó mà ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà Nước, ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như với việc tái sản xuất, tái sản xuất mở rộng của doanh nghiêp, tiết kiệm các chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm, là một nhiệm vụ kinh tế chính trị quan trọng của các doanh nghiệp.

    Từ ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành thì việc phân tích chỉ tiêu giá thành cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp. Đây là nội dung phân tích thường xuyên được tiến hành phân tích ở các doanh nghiệp. Là một trong các trọng tâm phân tích khi phân tích kinh tế doanh nghiệp. Chỉ có thông qua phân tích chỉ tiêu này mà doanh nghiệp mới có điều kiện để nhìn nhận một cách xuyên suốt việc quản lý và tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh của mình, qua đó phát hiện những bất hợp lý, lãng phí để rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng những biện pháp phương hướng trong thời gian tới.

    II. Phân tích: Lập biểu và phân tích chi tiết các nhân tố

     1.Phương trình kinh tế và lập bảng tính các chỉ tiêu kinh tế

     1.1 Phương trình kinh tế.

    åC = CL + CBHXH + CNL + CVL + CKH + CSC + CLP + C+ CQL + C#    (103 đ)

    Trong đó:

    åC              : Giá thành sản lượng   (103 đ)

    CL                   : Chi phí tiền lương (103 đ)

    CBHXH                         : Chi phí bảo hiểm xã hội (103 đ)

    CNL             : Chi phí nhiên liệu (103 đ)

    CVL                      : Chi phí vật liệu (103 đ)

    CKH               : Chi phí khấu hao (103 đ)

    CSC             : Chi phí sửa chữa (103 đ)

    CLP              : Chi phí lệ phí, phí (103 đ)

    CTĂ                      : Chi phí tiền ăn (103 đ)

    CQL              : chi phí quản lý (103 đ)

    C#               : Chi khác (103 đ)

    Đối tượng phân tích là : chênh lệch tuyệt đối giữa kỳ nghiên cứu và kỳ gốc của chỉ tiêu giá thành sản lượng theo khoản mục chi phí trong doanh nghiệp vận chuyển.

    Ta có :

    Giá thành sản lượng ở kỳ gốc là :

    åC0 = CL0 + CBHXH0 + CNL0 + CVL0 + CKH0 + CSC0 + CLP0 + CTĂ0 + CQL0+ C#0  

    (103 đ)

    Giá thành sản lượng ở kỳ nghiên cứu là :

    åC1 = CL1 + CBHXH1 + CNL1 + CVL1 + CKH1 + CSC1 + CLP1 + CTĂ1 + CQL1 + C#1  (103 đ)

    DåC = åC–     åC =  (103 đ)

    1.2 Xác định mức độ ảnh hưởng tuyệt đối và mức độ ảnh hưởng tương đối của các nhân tố.

    1.2.1.MĐAH tuyệt đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : DåCCl = CL1 – CL0 = -3.285.646  (103 đ)
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: DåCCbhxh = CBHXH1 – CBHXH0 = -758.106 (103 đ)
    3. Nhân tố nhiên liệu: Då CCnl = CNL1 – CNL0 = -9.467.845 (103 đ)
    4. Nhân tố vật liệu: Då CCvl= CVL1 – CVL0 = 910.809 (103 đ)
    5. Nhân tố khấu hao: Då CKH= CKH1 – CKH0 = 4.569.917 (103 đ)
    6. Nhân tố sửa chữa: Då CSC= CSC1 – CSC0 = 1.747.070 (103 đ)
    7. Nhân tố lệ phí, phí: Då CClp= CLP1 – CLP0 = 3.542.115 (103 đ)
    8. Nhân tố tiền ăn: Då CCtă= CTĂ1 – CTĂ0 = -1.152.489   (103 đ)
    9. Nhân tố quản lý phí: Då CCql= CQL1 – CQL0 = -828.926 (103 đ)
    10. Nhân tố chi khác: Då CC# = C#1 – C#0 = 3.520.713

    àTổng ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố :

    DåC = -1.202.388 (103 đ)

    1.2.2 Bội chi ( tiết kiệm) tương đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : Då CCl=  CTL1  – CTL0 * ISL
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: Då CCbhxh =  CBHXH1  – CBHXH0 * ISL
    3. Nhân tố nhiên liệu: Då CCnl     = CNL1  – CNL0 * ISL
    4. Nhân tố vật liệu: Då CCvl; = CVL1  – CVL0 * ISL
    5. Nhân tố khấu hao: Då CCkh = CKH1  – CKH0 * ISL
    6. Nhân tố sửa chữa: Då CCsc = CSC1  – CSC0 * ISL
    7. Nhân tố lệ phí: Då CClp          = CLP1  – CLP0 * ISL
    8. Nhân tố tiền ăn: Då CCtă = CTA1  – CTA0 * ISL
    9. Nhân tố quản lý phí: Då CCql = CQL1  – CQL0 * ISL
    10. Nhân tố chi khác: Då CC#            = C#1  – C#0 * ISL

    à Tổng bội chi (tiết kiệm) tương đối của các nhân tố:

    Då C’ = å C1 – åC0*ISL

    1.2.3.MĐAH tương đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : δå CCl = – 0,55 %
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: δå CCbhxh = – 0,13 %
    3. Nhân tố nhiên liệu: δå CCnl = – 1,57 %
    4. Nhân tố vật liệu: δå CCvl = – 0,15 %
    5. Nhân tố khấu hao: δå CCkh = 0,76 %
    6. Nhân tố sửa chữa: δå CCsc= 0,29 %
    7. Nhân tố lệ phí, phí: δå CClp = 0,59 %
    8. Nhân tố tiền ăn: δå CCtă = -0,19 %
    9. Nhân tố quản lý phí: δå CCql = – 0,14 %
    10. Nhân tố chi khác : δå CC# = 0,59 %

    2. Đánh giá chung

    Qua bảng phân tích ta thấy giá thành sản lượng giảm từ 601.194.072 (103 đ) xuống còn 599.991.684 (103 đ) tức là giảm 1.202.388 (103 đ) so với kì gốc tương ứng giảm 0,2%. Tiết kiệm tương đối là 2.044.060 (103 đ) cho thấy sự biến động giảm này là có lợi cho doanh nghiệp bởi lẽ chi giảm mà sản lượng vẫn tăng. Giá thành sản lượng giảm là do các nhân tố tác động có sự biến đổi tăng giảm giữa kỳ nghiên cứu và kỳ gốc. Qua bảng phân tích ta thấy có 5 nhân tố biến động giảm, 5 nhân tố biến động tăng cụ thể như sau:

    – Chi phí lương, nhiên liệu và khấu hao chiếm tỷ trọng lớn ở cả 2 kỳ phân tích, kỳ gốc so với kỳ nghiên cứu chi phí tiền lương chiếm 13,78% và 13,26%, khấu hao chiếm 19,13% và 19,93% trong tổng chi phí, đặc biệt là chi phí nhiên liệu (chiếm 28,94% và 27,42%). Đây cũng chính là đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp vận tải. Trong khi đó tỷ lệ tiền ăn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (1,04% và 0,85%), bảo hiểm xã hội chiếm tỷ trọng nhỏ thứ 2 (2,5% và 2,38%)

    • Nhóm nhân tố giảm là: tiền lương giảm 3,97%, bảo hiểm xã hội giảm 5,03%, nhiên liệu giảm 5,44%, tiền ăn giảm 18,43%, quản lý phí giảm 1,52%. Trong đó tiền ăn giảm nhiều nhất nhưng vì chiếm tỷ trọng bé nhất nên nó chỉ tiết kiệm được chi phí về mặt tuyệt đối là 1.152.489 (103 đ), tương đối là 1.143.736 (103 đ). Nhân tố nhiên liệu giảm làm tiết kiệm được nhiều chi phí nhất: tuyệt đối là 9.467.845 (103 đ), tương đối là 9.224.265 (103 đ) và làm giá thành giảm nhiều nhất 1,57%. Sau đó mới đến chi phí tiền lương ( làm giá thành giảm 0,55%), tiền ăn ( làm giảm 0,19%), quản lý phí ( làm giảm 0,14%) và BHXH ( làm giảm 0,13%)

    –  Nhóm nhân tố chi phí tăng là: vật liệu (tăng 3,70%), khấu hao (tăng 3,97%), sửa chữa (tăng 6,60%), phí lệ phí (tăng 12,25%), chi khác (tăng 4,78%). Trong đó chi phí sửa chữa tăng nhiều nhất nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ làm giá thành sản lượng tăng 0,29%. Nhân tố chi khấu hao làm giá thành sản lượng tăng nhiều nhất 0,76%, sau đó đến lệ phí phí và chi khác cùng làm tăng 0,59% , cuối cùng là sửa chữa làm tăng 0,29% và vật liệu làm tăng ít nhất là 0,15%.

    3. Phân tích chi tiết các nhân tố

    3.1 Tiền lương

    Chí phí lương giảm từ 82.844.543 (103 đ) xuống còn 79.558.897 (103 đ) tương ứng giảm 3.285.646 (103 đ) tức là giảm 3,97%. Tốc độ giảm của chi tiền lương (3,97%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm một khoản tương đối là 3.401.628 (103 đ). Vậy chi phí lương là khoản giảm hợp lý của doanh nghiệp. Tiền lương giảm ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó giảm 0,55%.

    Lương giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Số thuyền viên định biên trên tàu giảm.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển thay đổi.

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Cho lao động đi học nâng cao trình độ chuyên môn bằng cấp.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Số thuyền viên định biên trên tàu giảm. Trước xu hướng tàu ngày càng hiện đại hoá và tự động hoá, số lượng thuyền viên trên tàu ngày càng tinh gọn, do đó vào đầu kì nghiên cứu công ty buộc phải định biên lại đội ngũ thuyền viên trên tàu để phù hợp hơn với tình hình mới. Mặc dù công ty cũng không muốn việc này vì như vậy sẽ có một đội ngũ thuyền viên buộc phải nghỉ việc, nhưng điều này sẽ giúp công ty tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh hơn với các đối thủ tạo tiền để cho sự phát triển trong thời gian tới của công ty. Đây là nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tại kỳ nghiên cứu doanh nghiệp kí kết được ít các hợp đồng vận chuyển dầu ( nằm trong hạng mục mặt hàng khác của doanh nghiệp) trên các tuyến dài chẳng hạn như Việt Nam – Trung Đông với khối lượng lớn. Do vậy thời gian khai thác tàu dầu giảm. Mà như ta đã biết lương tàu dầu bao giờ cũng cao hơn lương của các loại hàng khác do nó có lương phụ cấp cao hơn. Vì vậy làm giảm tiền lương của bộ phận này dẫn đến giảm chi lương chung cho toàn doanh nghiệp. Mặt khác các loại hàng vận chuyển chủ yếu của doanh nghiệp như lương thực xi măng cũng giảm làm lương sản phẩm của bộ phận tàu hàng khô cũng giảm theo. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Một số thuyền trưởng sĩ quan làm việc lâu năm với cấp bậc lương cao nay đã nghỉ hưu hoặc xin nghỉ việc lên bờ tìm việc khác buộc doanh nghiệp phải thuê thêm lao động mới bổ sung cho những vị trí không quá quan trọng. Những người mới tuyển này có trình độ chuyên môn, cấp bậc, kinh nghiệm thấp hơn nên tiền lương tính theo cấp bậc kinh nghiệm của họ cũng ít hơn. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp quyết định cho một số thuyền viên sỹ quan đi học để nâng cao trình độ bằng cấp đáp ứng nhu cầu cấp thiết là thiếu các lao động ở những vị trí quan trọng. Các thuyền viên sau khi đi học về sẽ có khả năng khai thác điều hành tàu tốt hơn. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    3.2. Bảo hiểm xã hội

    BHXH giảm từ 15.057.852 (103 đ) xuống còn 14.299.746 (103 đ) tương ứng giảm 5.03% so với kỳ gốc tức là tiết kiệm tuyệt đối được là 758.106 (103 đ) . Tốc độ giảm của chi phí BHXH (5,03%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0.14 %) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối được một khoản là 779.187 (103 đ). Vậy chi phí BHXH giảm là hợp lý.  Chi phí BHXH giảm ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó giảm 0,13%.

    Chi BHXH giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    –  Doanh nghiệp định biên giảm số lượng lao động

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Do có sự thay đổi cơ cấu lao động trong doanh nghiệp.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Tình hình kinh tế khó khăn, lượng hàng vận chuyển của doanh nghiệp ngày càng khan hiếm, doanh nghiệp quyết định tinh chế lại đội ngũ cán bộ công nhân viên của mình ở cả 2 khối trên bờ và trên tàu, sa thải bớt những vị trí không cần thiết hoặc thường xuyên vi phạm kỷ luật lao động. Do vậy làm giảm tiền lương trả cho những người này kéo theo giảm chi phí bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Lao động có chức vụ cao bằng cấp xin nghỉ việc như là các thuyền trưởng máy trưởng sỹ quan nhiều năm kinh nghiệm lành nghề. Do đặc điểm của lao động ngành vận tải biển là lao động xa tổ quốc xa vợ con làm việc trong cả ngày lễ tết chủ nhật và làm việc trong môi trường nặng nhọc độc hại. Những người này sau 1 thời gian dài làm việc đã có một số vốn tương đối lớn nên họ xin nghỉ việc để lên bờ làm việc và gần vợ con. Điều này làm giảm tiền lương cho doanh nghiệp nhưng cũng là 1 tổn thất rất lớn bởi trên thị trường lao động vận tải còn đang rất thiếu các lao động có năng lực như vậy. Giảm lương dẫn đến làm giảm chi phí bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ thứ 3: Do các lao động có kinh nghiệm làm việc lâu năm trên xin nghỉ mà doanh nghiệp phải bố trí bổ sung ngay lao động vào những vị trí còn thiếu, những lao động này không có nhiều năm kinh nghiệm và bậc lương cao như những người trước nhưng cũng phải đủ khả năng và kiến thức chuyên môn hàng hải nên vẫn đáp ứng được yêu cầu của công ty. Điều này làm giảm lương cơ bản dẫn đến giảm chi bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Lương tính theo sản phẩm của doanh nghiệp giảm do vào kỳ nghiên cứu doanh nghiệp vận chuyển được ít khối lượng hàng hơn tuy rằng cự ly bình quân có tăng nhưng không tăng đáng kể và vẫn không làm cho doanh nghiệp thu được nhiều như kỳ gốc. Lương sản phẩm tính theo hệ số lương doanh thu do vậy nó giảm hơn so với kỳ gốc dẫn đến lương cơ bản giảm làm cho chi bảo hiểm xã hội giảm. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    3.3. Nhiên liệu

    Chi phí nhiên liệu ở kì gốc là 173.985.564 (103 đ) chiếm tỷ trọng 28,94%, kì nghiên cứu là 164.517.720 (103 đ) chiếm tỷ trọng 27,42%. Như vậy tiết kiệm về mặt tuyệt đối là 9.467.845 (103 đ) tương ứng giảm 5,44% so với kì gốc. Tốc độ giảm của chi phí nhiên liệu (5,44%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 9.711.425 (103 đ). Vậy chi phí nhiên liệu giảm là hợp lý. Chi nhiên liệu giảm ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó giảm nhiều nhất 1,57%.

    Nhiên liệu giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu.

    – Doanh nghiệp mở các lớp hướng dẫn sử dụng máy móc thiết bị ngắn hạn cho thuyền viên.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 3 là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Ở đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp cho tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu hoặc thay thế những máy móc thiết bị đã cũ trên tàu bằng loại mới và hiện đại. Điều này không những làm cho tàu có thể vận hành tốt và an toàn hơn còn làm giảm mức nhiên liệu tiêu hao của máy móc thiết bị đó. Do vậy làm giảm chi phí nhiên liệu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Thuyền viên trên tàu hiểu rõ về máy móc thiết, sử dụng nhiên liệu một cách hợp lí không gây lãng phí. Điều này có được do doanh nghiệp ở đầu kỳ nghiên cứu đã mở lớp hướng dẫn ngắn hạn cho thuyền viên của mình hiểu hết về máy móc thiết bị cũng như là cách sử dụng nhiên liệu sao cho phù hợp. Do vậy mà làm giảm mức tiêu hao nhiên liệu không cần thiết tức là giảm chi phí nhiên liệu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp sau nhiều nỗ lực tìm hiểu về giá cả của các nơi cung cấp xăng dầu đã tìm được nguồn cung cấp dầu mới chất lượng tốt mà giá cả thấp hơn so với kỳ gốc. Nó là một thuận lợi cho công ty, bởi trong điều kiện phải tiêu thụ một lượng lớn xăng và dầu thì riêng khoản chi cho xăng dầu đã chiểm tỷ trọng không nhỏ trong chi phí của công ty. Đây là nguyên nhân mang tính chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Công tác định mức tiêu hao nhiên liệu của doanh nghiệp tương đối chặt chẽ và sát với mức thực tế sử dụng. Do vậy giúp thuyền viên trên tàu phải có ý thức sử dụng nhiên liệu sao cho phù hợp tránh lãng phí và cũng giảm khả năng trộm cắp nhiên liệu trên tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.4. Vật liệu

    Chi phí vật liệu kỳ gốc là 24.588.838 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,09%, kỳ nghiên cứu là 25.499.647 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,25 %. Như vậy chi vật liệu tăng tuyệt đối là 910.809 (103 đ) tương ứng tăng 3,70 %. Tốc độ tăng của chi phí vật liệu (3,7%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 876.385 (103 đ). Vậy chi phí vật liệu là khoản tăng không hợp lý. Chi vật liệu tăng ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó tăng không đáng kể 0,15%.

    Chi vật liệu tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Giá cả vật liệu tăng.

    – Kết cấu hàng vận chuyển của doanh nghiệp có sự thay đổi.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 2 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên chưa tốt, sử dụng vật liệu chèn lót một cách bừa bãi không khoa học gây lãng phí vật liệu. Nhiều loại vật liệu cũ vẫn có thể dùng được nhưng không tận dụng mà bỏ đi mua cái mới làm chi phí vật liệu tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Giá cả vật liệu ở kì kế hoạch tăng cao hơn so với kỳ gốc. Tình hình biến động giá cả bất thường có thể do vật liệu trên thị trường đột nhiên khan hiếm mà nhu cầu mua lại cao đẩy giá thành lên cao hoặc do lạm phát cao làm các loại hàng đều tăng giá. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do kết cấu vận chuyển hàng của doanh nghiệp có sự thay đổi. Những loại hàng cần ít vật liệu chèn lót như hàng rời đổ đống hay hàng container có ít hợp đồng vận chuyển hơn. Thay vào đó tỷ trọng chở hàng bách hoá hoặc hàng đóng bao kiện tăng do kí được nhiều hợp đồng vận chuyển loại hàng này hơn nên phải dùng nhiều vật liệu chèn lót. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Công tác quản lý vật liệu không được tốt. Vào cuối kì nghiên cứu, qua kiểm tra sổ sách công ty phát hiện ra có một số lượng lớn vật liệu bị thất thoát trong quá trình sử dụng mà không rõ nguyên nhân. Chính từ việc quản lý yếu kém này mà công ty đã mất một khoản chi phí vật liệu khá lớn. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    3.5 Khấu hao

    Chi phí khấu hao ở kỳ gốc là 115.008.426 (103 đ) chiếm tỷ trọng 19,13%, kỳ nghiên cứu là 119.578.343 (103 đ) chiếm tỷ trọng 19,93% . Như vậy chi khấu hao tăng tuyệt đối là 4.569.917 (103 đ) tương ứng tăng 3,97% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí khấu hao (9,11%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 4.408.905 (103 đ). Vậy chi phí khấu hao là khoản tăng không hợp lý. Chi khấu hao tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0,76%.

    Chi khấu hao tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao.

    – Doanh nghiệp tiến hành đánh giá lại tài sản cố định.

    – Nhà nước quy định rút ngắn thời gian khấu hao.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 4 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1:  Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao: ở kỳ nghiên cứu doanh nghiệp chuyển từ phương pháp tính khấu hao đường thẳng sang phương pháp khấu hao nhanh để thu hồi vốn nhanh hơn, giảm bớt tổn thất do hao mòn vô hình và cũng là biện pháp hoãn thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là phương pháp chủ quan mang tính tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp đánh giá lại tài sản của mình và cho kết quả nguyên giá các loại tài sản của doanh nghiệp tăng lên do vậy số tiền khấu hao của các loại tài sản đó cũng tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do quyết định rút ngắn thời gian tính khấu hao được Nhà nước đưa ra trong kỳ nghiên cứu. Tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại nên các tàu hiện tại của doanh nghiệp sẽ trở lên lỗi thời hơn rất nhiều trong thời gian tới. Nó sẽ không còn đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong tương lai. Vì vậy việc rút ngắn thời gian tính khấu hao sẽ giúp cho công ty nhanh chóng thu hồi được vốn và có thể quay vòng vốn  nhanh chóng. Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức khai thác. Các tàu của công ty hiện nay được trang bị các thiết bị hiện đại như hệ thống điện đài, hệ thống định vị toàn cầu,…giúp cho việc kiểm soát, điều động tàu được linh hoạt, nhờ đó nâng cao hiệu quả khai thác. Công tác tính và trích khấu hao được thực hiện theo đúng quy định của nhà nước. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.6. Sửa chữa

    Chi phí sửa chữa ở kỳ gốc là 26.452.539 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,4%, kỳ nghiên cứu là 28.199.609 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,7%. Như vậy chi phí sửa chữa tăng tuyệt đối là 1.747.070 (103 đ) tương ứng tăng 6,60% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí sửa chữa (6,6%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 1.710.036 (103 đ). Vậy chi phí sửa chữa là khoản tăng không hợp lý. Chi sửa chữa tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0,29%.

    Chi phí sửa chữa tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Một vài con tàu của doanh nghiệp đến hạn sửa chữa lớn.

    – Tình hình thời tiết.

    – Giá thành sửa chữa tàu tăng.

    – Doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa cho tàu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Kỳ nghiên cứu là thời gian đến hạn phải sửa chữa lớn của một vài con tàu của doanh nghiệp và kiểm tra tàu do cơ quan đăng kiểm. Những tàu này phải lên đà sửa chữa dưới sự kiểm soát của đăng kiểm và khi đạt yêu cầu mới được cấp giấy phép an toàn đi biển. Vì thế làm chi phí sửa chữa tăng nhưng khi tàu đã được lên đà sửa chữa xong thì sẽ có lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp trong dài hạn. Do đó đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Do tình hình thời tiết không tốt, tàu đang hành trình thì gặp nhiều mưa to gió lớn, sương mù làm giảm tầm nhìn xa của tàu khiến thuyền viên điều khiển tàu đâm vào đá ngầm gây tai nạn thủng vỏ tàu phải vứt bớt hàng xuống biển và chạy hết công suất để tới cảng gần nhất sửa chữa. Vì thế làm tăng chi phí sửa chữa tàu. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do giá thành của đơn vị sửa chữa cho tàu tăng. Sự biến động giá cả các loại mặt hàng máy móc vật liệu cần thiết sửa chữa thay thế cho tàu tăng do vậy các đơn vị sửa chữa cũng phải tăng giá để tránh bị lỗ vốn. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa để đảm bảo khi khai thác và yên tâm hơn khi để tàu chạy những tuyến hành trình xa. Doanh nghiệp cũng thường xuyên bảo dưỡng máy móc thiết bị để chúng có thể hoạt động trong trạng thái tốt nhất. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    3.7. Lệ phí, phí

    Chi phí lệ phí, phí ở kì gốc là 28.917.435 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,81%, kỳ nghiên cứu là 32.459.550 (103 đ) chiếm tỷ trọng 5,41%. Như vậy chi phí lệ phí, phí tăng tuyệt đối là 3.542.115  (103 đ) tức là tăng 12,25% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí lệ phí, phí  (12,25%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 3.501.631 (103 đ). Vậy chi phí này là khoản tăng không hợp lý. Chi phí lệ phí tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0.59%.

    Chi phí lệ phí, phí tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Phí, lệ phí cảng biển tăng.

    – Doanh nghiệp cho một số tàu của mình được phân cấp bởi thành viên của IACS

    – Doanh nghiệp vận chuyển một số mặt hàng phải đi qua kênh đào.

    – Tốn thêm chi phí giám định hàng.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do cảng phí tại nơi tàu ghé vào tăng lên: Cảng phí tại các cảng lớn như Rottecdam, Kobe, Pusan … – những nơi mà tàu phải ghé vào nhiều trong kỳ nghiên cứu tăng lên do các cảng đó mới đầu tư thiết bị xếp dỡ mới đã làm cho chi lệ phí, phí của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Còn cảng nội địa thì theo thông tư nghị định của chính phủ tăng mức cước phí các loại dịch vụ. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

             Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp cho một số con tàu của mình được phân cấp bởi một trong các thành viên của tổ chức đăng kiểm quốc tế ( IACS) để chứng tỏ rằng tàu mình an toàn để vận chuyển hàng hóa và có đầy đủ khả năng đi biển. Việc có giấy chứng nhận phân cấp của các tổ chức này sẽ khiến đội tàu của doanh nghiệp thu hút nhiều hàng quốc tế để vận chuyển hơn. Mặc dù là chi phí đăng kiểm của thành viên trong IACS không hề rẻ 1 chút nào. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã kí kết vận chuyển một số mặt hàng đi xa hơn như Châu Âu, Mỹ, Phi phải đi qua nhiều kênh đào. Tàu đi qua đây phải đóng một khoản phí nhất định tùy theo từng loại kênh đào quy định gọi là phí qua kênh. Do vậy làm tăng khoản mục chi phí lệ phí, phí của doanh nghiệp. Qua đó làm tăng tổng chi và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4:  Kỳ nghiên cứu tốn thêm chi phí giám định hàng, chất lượng hàng do tàu gặp tai nạn bị thủng tàu, nước tràn vào làm hư hại ít nhiều về chất lượng hàng hóa. Doanh nghiệp phải thuê giám định viên và trả phí cho họ để tiến hành giám định và phân chia mức đóng góp tổn thất chung giữa các bên. Có như vậy mới có sự công bằng giữa các bên và các bên sẽ phải thực hiện theo kết quả này mà không bị thiệt thòi do gian lận. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.8. Tiền ăn

    Chi phí tiền ăn ở kì gốc là 6.252.418 (103 đ) chiếm tỷ trọng 1.04%, kỳ nghiên cứu là 5.099.929 (103 đ) chiếm tỷ trọng 0,85%. Như vậy chi phí tiền ăn giảm tuyệt đối là 1.152.489 (103 đ) tương ứng giảm 18,43% so với kỳ gốc. Tốc độ giảm của chi phí tiền ăn ( 18,43%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng ( 0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 1.161.242 (103 đ). Vậy chi phí tiền ăn là khoản giảm hợp lý.  Chi phí tiền ăn giảm ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó giảm 0,19 %.

    Chi phí tiền ăn giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp định biên lại số thuyền viên.

    – Tìm được nơi cung cấp thành phẩm rẻ hơn.

    – Mức tiền tiêu vặt cho mỗi thuyền viên giảm

    Trong các nguyên nhân trên ta giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm. Vào đầu kì nghiên cứu công ty đã giảm mức tiền ăn cho mỗi thuyền viên làm chi phí tiền ăn giảm. Do khi tính toán lại định mức tiền ăn, công ty nhận thấy công tác định mức lúc trước đã mắc nhiều sai sót, vì vậy mà đưa ra một định mức không hợp lí dẫn đến tiền ăn định mức quá cao khiến cho chi phí tiền ăn của công ty quá lớn, làm giảm đáng kể lợi nhuận của công ty. Việc định mức lại tiền ăn không những không làm ảnh hưởng đến chất lượng bữa ăn cho thuyền viên mà còn giảm cho công ty một khoản chi phí đáng kể. Đây là một nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp đã định biên lại số thuyền viên trên tàu, cắt giảm lượng thuyền viên thừa không cần thiết vì đội tàu của công ty đã hiện đại hơn. Điều này làm giảm các loại chi phí cho những lao đông đó trong đó có cả chi phí tiền ăn. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp tìm được nơi cung cấp thành phẩm cho các tàu của mình rẻ hơn kỳ gốc. Giá cả là nhân tố quyết định đến mọi chi phí ,chỉ cần giá thành các liệu thực phẩm nước ngọt ở nơi cung cấp mới rẻ hơn một chút cũng làm doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

          Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp giảm mức tiền tiêu vặt cho thuyền viên do doanh nghiệp nhận thấy kỳ gốc đã định biên quá cao làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận, hơn nữa căn cứ vào mức sống và mức chi bình quân khoản này của các doanh nghiệp vận chuyển khác mà thấy rằng việc giảm là hợp lý. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    3.9. Quản lý phí

    Chi phí quản lý ở kỳ gốc là 54.468.183 (103 đ) chiếm tỷ trọng 9,06%, kỳ nghiên cứu là 53.639.257 (103 đ) chiếm tỷ trọng 8,94 %. Như vậy phí quản lý giảm tuyệt đối là 828.926 (103 đ) tương ứng giảm 1,52% so với kỳ gốc.  Tốc độ giảm của quản lý phí (1,52%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 905.181 (103 đ). Vậy quản lý phí là khoản giảm hợp lý. Quản lý phí giảm làm giá thành sản lượng giảm 0,14%.

    Chi phí quản lý giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Tinh giảm bộ máy quản lý.

    – Giảm mua sắm các thiết bị văn phòng phẩm sách báo.

    – Hạn chế việc sử dụng điện thoại cố định của công ty vào mục đích riêng.

    – Ý thức sử dụng tài sản trong khu vực quản lý của nhân viên.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Tinh giảm bộ máy quản lý. Công ty đã tiến hành cắt giảm bộ máy quản lý hành chính khá cồng kềnh trước đây. Nhờ đó, việc trang bị thiết bị cho bộ máy này để tiến hành công tác quản lý, điều hành hoạt động của công ty tiết kiệm được khá nhiều vốn đầu tư cũng như chi phí vận hành. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Giảm việc mua sắm các thiết bị văn phòng phẩm sách báo chuyên ngành. Công ty giảm việc mua sắm các thiết bị văn phòng do bộ máy quản lý hành chính đã được tinh giảm. đồng thời công ty tận dụng những trang thiết bị đã khấu hao hết nhưng vẫn còn tốt để giảm giá thành, tăng thu lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của công ty. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Hạn chế việc dùng điện thoại cố định trong công ty. Trong kì nghiên cứu công ty đã áp dụng quản lý chặt chẽ việc sử dụng điện thoại của công ty bằng cách đăng ký với bưu điện để quản lý các cuộc gọi theo số điện thoại của từng phòng ban, đề ra mức tối đa mà một phòng được phép dùng, khiến cho nhân viên không thể sử dụng điện thoại công ty vào mục đích riêng, từ đó làm giảm chi phí cho quản lí. Đây là nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

         Nguyên nhân thứ 4: Ý thức sử dụng tài sản của nhân viên tốt, biết giữ gìn bảo vệ và sử dụng đúng cách các loại tài sản cố định làm giảm khả năng hỏng hóc phải sửa chữa, dùng tiết kiệm các loại dụng cụ văn phòng phẩm không gây lãng phí. Tất cả đều làm giảm chi phí quản lý của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.10 Chi khác

    Chi khác ở kì gốc là 73.618.274 (103 đ) chiếm tỷ trọng 12,25 %, kỳ nghiên cứu là 77.138.987 (103 đ) chiếm tỷ trọng 12.86 %. Như vậy chi khác tăng lên tuyệt đối là 3.520.713 (103 đ) tương ứng tăng 4,78%. Tốc độ tăng của chi phí khác (4,78%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi một khoản là 3.417.646 (103 đ). Vậy chi phí khác là khoản tăng không hợp lý.  Chi khác tăng làm giá thành sản lượng tăng lên 0,59%.

    Chi khác tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp mở lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho thuyền viên.

    – Tiền thưởng phạt do thực hiện hợp đồng, đóng góp tổn thất chung.

    – Chi phí tiếp khách, hội thảo hội nghị, hoa hồng môi giới.

    – Phát sinh thêm nhiều các chi phí bất thường.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do yêu cầu thiết thực hiện nay của công ty với thực trạng thiếu các sỹ quan thuyền trưởng lành nghề kinh nghiệm vì họ đã nghỉ hưu hoặc xin nghỉ việc để tìm công việc trên bờ, công ty phải đào tạo lớp thuyền viên mới thay thế họ để họ có đầy đủ kiến thức hàng hải an toàn, sử dụng khai thác tàu tốt. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực .

    Nguyên nhân thứ 2: Doanh nghiệp không hoàn thành đúng hạn một số hợp đồng vận chuyển đã ký kết có thể do tình hình thời tiết khắc nghiệt mưa to gió lớn khiến tàu phải tránh nạn không thể khởi hành được và hàng hóa bị hỏng một phần do nguyên  nhân trên phải đóng góp chi phí bồi thường tổn thất chung. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Các loại chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo tăng do doanh nghiệp phải chi ra để tạo dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng, tăng cường quảng cáo marketing để có được những hợp đồng vận chuyển dài hạn trong tương lai. Công ty cũng thường xuyên tiến hành hội nghị rút kinh nghiệm, tiến hành hội thảo khoa học cho cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên khoản chi này tăng đột biến như vậy mà sản lượng vận chuyển của công ty vẫn giảm chứng tỏ đã có sự chi tiêu không hợp lý, biển thủ công quỹ và có các khoản chi mờ ám. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: do trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp phát sinh thêm nhiều các khoản chi bất thường như tiền thăm hỏi, cưới xin, ma chay… Từ đó làm doanh nghiệp tăng chi phí cho khoản mục chi khác này, giảm lợi nhuận. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    III. Kết luận-Kiến nghị

    1. Kết luận

    Tóm lại, qua phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành sản lượng theo các khoản mục chi phí của doanh nghiệp vận chuyển ta thấy trong kỳ nghiên cứu chỉ tiêu giá thành sản lượng có biến động giảm từ 601.194.072 ( 103 đ ) ở kỳ gốc xuống còn 599.991.684 (103 đ) ở kỳ nghiên cứu, tiết kiệm tuyệt đối là 1.202.388 (103 đ) tức là giảm 0,2 % so với kỳ gốc. Tốc độ giảm của giá thành sản lượng (0,2%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 2.044.060 (103 đ). Vậy giá thành sản lượng giảm là hoàn toàn hợp lý. Sự biến động giảm của chỉ tiêu giá thành sản lượng là do tác động tăng giảm của rất nhiều các khoản mục chi phí phát sinh trong kỳ.

    Trong đó nhóm nhân tố có biến động tăng gồm các nhân tố vật liệu, khấu hao, sửa chữa, lệ phí, phí và chi khác. Cụ thể, nhân tố có biến động tăng nhiều nhất là nhân tố lệ phí, phí tăng 12,25% so với kỳ gốc, nhưng nhân tố làm chỉ tiêu giá thành sản lượng tăng nhiều nhất lại là khấu hao . Nhân tố có biến động tăng ít nhất là nhân tố vật liệu, tăng 3,7% so với kỳ gốc.

    Mặt khác nhóm nhân tố có biến động giảm là những nhân tố sau: tiền lương, bảo hiểm xã hội, nhiên liệu, tiền ăn và quản lý phí. Trong đó tiền ăn là nhân tố có biến động giảm nhiều nhất, giảm 18,43% so với kỳ gốc, nhưng nhân tố làm chỉ tiêu giá thành sản lượng biến động giảm nhiều nhất lại là nhiên liệu. Nhân tố quản lý phí là nhân tố có mức giảm ít nhất, giảm 1,52% so với kỳ gốc.

    Vậy biến động giảm của chỉ tiêu giá thành sản lượng là do các nguyên nhân chủ quan khách quan tiêu cực và tích cực sau đây:

    1.1 Nguyên nhân chủ quan

    1. a) Tích cực.

    – Cho lao động đi học nâng cao trình độ chuyên môn bằng cấp.

    –  Do có sự thay đổi cơ cấu lao động trong doanh nghiệp.

    –  Doanh nghiệp định biên giảm số lượng lao động

    – Doanh nghiệp tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu.

    – Doanh nghiệp mở các lớp hướng dẫn sử dụng máy móc thiết bị ngắn hạn cho thuyền viên.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    – Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao.

    – Doanh nghiệp tiến hành đánh giá lại tài sản cố định.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức.

    – Doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa cho tàu.

    – Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp định biên lại số thuyền viên.

    – Tìm được nơi cung cấp thành phẩm rẻ hơn.

    – Mức tiền tiêu vặt cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp cho một số tàu của mình được phân cấp bởi thành viên của tổ chức phân cấp quốc tế IACS.

    – Chi phí giám định hàng.

    – Định biên giảm số thuyền viên trên tàu.

    1. b) Tiêu cực.

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    – Chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo, hoa hồng môi giới.

    1.2 Nguyên nhân khách quan.

    1. a) Tích cực

    – Kết cấu hàng vận chuyển của doanh nghiệp có sự thay đổi.

    – Tàu đến hạn sửa chữa lớn.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển của doanh nghiệp thay đổi.

    1. b) Tiêu cực

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Giá cả cả vật liệu tăng.

    – Nhà nước quy định rút ngắn thời gian khấu hao.

    – Tình hình thời tiết.

    – Giá cả sửa chữa tàu tăng.

    – Phí lệ phí bến cảng tăng.

    – Phí kênh đào tăng do đi qua nhiều kênh đào hơn.

    – Phát sinh các khoản chi bất thường.

    2.Kiến nghị

    Để giúp công ty ngày càng phát triển, ta có thể đưa ra các biện pháp sau để khắc phục các nguyên nhân chủ quan tiêu cực, hạn chế tối đa tác động của một số nguyên nhân khách quan có thể và phát huy những chủ quan tích cực doanh nghiệp đã đạt được

    1. Về ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên, công tác quản lý vật liệu: Doanh nghiệp cần tăng cường quản lý hơn nữa về việc sử dụng vật liệu của thuyền viên, phải tính toán chi tiết và đề ra định mức chi phí vật rẻ cho mỗi chuyến đi để giảm bớt việc sử dụng lãng phí của thuyền viên. Quản lý chặt chẽ ghi chép việc nhập xuất kho vật liệu một cách rõ ràng, ghi cụ thể dùng vào những việc gì để phục vụ cho công tác quản lý thật tốt, tránh việc bị lấy trộm hay mất vật liệu. Cần đưa ra định mức sử dụng cụ thể sát với mức thực tế để tránh việc sử dụng lãng phí. Những vật liệu đã cũ nhưng có thể sử dụng được thì nên tận dụng không nên vứt bỏ mua đồ mới. Doanh nghiệp cũng cần phải hướng dẫn tuyên truyền cho thuyền viên biết cách sử dụng vật liệu chèn lót sao cho tiết kiệm mà vẫn có hiệu quả bởi nhiều khi không phải họ có tình lãng phí mà là chưa biết sắp xếp sao cho hợp lý.
    2. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến đời sống vật chất tinh thần của lao động hơn nữa đặc biệt là khối lao động trên biển bởi họ phải lao động trong hoàn cảnh khắc nghiệt hơn rất nhiều. Doanh nghiệp cần bố trí cho họ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý đảm bảo khôi phục sức lao động cũng như là bố trí các khu vui chơi thể thao giải trí lành mạnh trên tàu để họ xua bớt đi nỗi nhớ quê nhà. Vào các dịp lễ tết hay sinh nhật của họ cần có lời động viên món quà nhỏ động viên khích lệ tinh thần cho họ. Doanh nghiệp cũng nên tiến tới xây dựng thêm nhà trẻ để giúp cho CBCNV có thể yên tâm về con em mình từ đó làm tốt công tác đặc biệt là đối với các thuyền viên đi tàu xa đất liền. Có như vậy mới giữ chân được họ làm việc tích cực cho doanh nghiệp.
    3. Công ty cần duy trì áp dụng việc quản lý đối với cả việc sử dụng nhiên liệu ở trên tàu để đảm bảo cấp phát bao nhiêu, dùng đúng bấy nhiêu. Sau khi tàu đã được sửa chữa bảo dưỡng tốt rồi cần phải định mức lại sự tiêu hao nhiên liệu của tàu một lần nữa để đảm bảo không bị định mức dôi dư gây lãng phí cho doanh nghiệp.
    4. Công ty cũng cần nghiên cứu thị trường vật liệu, chịu khó tìm hiểu về các đơn vị cung cấp vật liệu để tìm được nguồn cung rẻ hơn có địa điểm phù hợp với tuyến đường vận chuyển của tàu để có thể lấy thêm khi chở hàng qua nhằm tiết kiệm chi phí vật liệu cho doanh nghiệp.
    5. Công ty có thể kết hợp với nhà trường để tiến hành đào tạo đối với những sinh viên tiềm năng đang học để khi ra trường có thể làm việc cho doanh nghiệp ngay mà không cần phải tốn chi phí đào tạo lạiđi tàu ngay và tránh được những lỗi thường gặp khi chưa qua đào tạo.
    6. Thời gian tới công ty nên đẩy mạnh việc giao dịch với một số thị trường mới tích cực marketting để khai thác tốt hơn các nguồn hàng mới vì thị trường cũ của công ty đang bị thu hẹp dần vì có quá nhiều đối thủ cạnh tranh. Từ đó ký kết được nhiều hợp đồng vận chuyển hơn và làm tăng khối lượng vận chuyển tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    7.Công ty nên mở rộng việc tính toán định mức ra các lĩnh vực khác, để có thể thay đổi lại những định mức không hợp lý do việc tính toán trước đây để lại nhằm làm giảm thất thoát lãng phí, giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    1. Doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ hơn nữa về khoản chi phí tiếp khách hội nghị. Doanh nghiệp căn cứ vào thực tế và định mức thật xác đáng chi cho mỗi lần tiếp khách để tránh việc nhân viên chi tiêu tràn lan hoặc lợi dụng biển thủ. Những khoản chi sai mục đích phải quy trách nhiệm cho từng cá nhân, tập thể tự chịu trách nhiệm và chi trả, không cho phép tính vào chi phí tiếp khách của công ty. Về các khoản chi hội nghị cũng cần định mức phù hợp hoặc có thể nếu thấy không quá cần thiết thì ghi thông báo chung và phát về các phòng ban để mọi người tự xem.
    2. Doanh nghiệp nên cử một số cán bộ nhân viên tham gia vào một số cuộc hội thảo khoa học chuyên về ngành hàng hải để nắm bắt được những đổi mới, xu hướng phát triển của ngành cũng như học hỏi nâng cao trình độ kinh nghiệm thông qua sự chia sẻ kinh nghiệm bài học của các doanh nghiệp khác. Từ đó sẽ về và phổ biến cho doanh nghiệp mình để có những thay đổi phù hợp xu hướng tránh bị tụt hậu so với thế giới nói chung và trong nước nói riêng.

                                                

     

     

     

                                                       PHẦN 3

                                       KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    I.Kết luận:

    Từ việc nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh của công ty thông qua việc phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo mặt hàng và tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành theo khoản mục ta thấy :

    Do tình hình khai thác nguồn hàng cũng như là biến động chung của cả nền kinh tế thế giới mà  tổng khối lượng hàng vận chuyển giảm (giảm 2,97% so với kỳ gốc). Cự ly vận chuyển bình quân tăng (tăng 3,2% so với kỳ gốc) nhưng không nhiều hơn sự giảm của khối lượng vận chuyển là bao đã làm cho tổng khối lượng hàng luân chuyển tăng lên không đáng kể so với kì gốc (tăng 0,14%  tức là tăng 1.537.120 TKm so với kỳ gốc).

    Về chỉ tiêu giá thành sản lượng giảm 0,2 % tức là giảm 1.202.388 ( 103 đ) so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này là do sự biến động tăng giảm của các nhân tố chi phí. Có 5 chi phí giảm trong đó ảnh hưởng nhiều nhất tới việc giảm giá thành sản lượng là việc giảm của nhân tố nhiên liệu, 5 chi phí tăng trong đó tăng nhiều nhất là nhân tố chi khấu hao.

    Ta thấy rằng tốc độ tăng của sản lượng luân chuyển lớn hơn tốc độ giảm của chỉ tiêu giá thành. Điều này là hoàn toàn phù hợp và cho thấy công ty đã biết tiết kiệm chi phí để hạ giá thành, từ đó hạ giá cước vận chuyển để có thể cạnh tranh tốt hơn trong thị trường vận tải biển khắc nghiệt hiện nay.

    Sở dĩ có sự biến động trên là do các nguyên nhân sau

    1. Nguyên nhân chủ quan
    2. a) Tích cực

    – Ký kết được nhiều hơn hợp đồng vận chuyển đi xa.

    – Doanh nghiệp chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.

    – Đội tàu của doanh nghiệp tương đối hiện đại lại được sửa chữa bảo dưỡng tốt.

    – Trình độ vận hành điều khiển tàu của thuyền viên tương đối tốt.

    – Doanh nghiệp cho lao động đi học nâng cao chuyên môn bằng cấp.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị trên tàu phục vụ công tác tổ chức tốt hơn.

    -Doanh nghiệp tiến hành định biên lại số lượng lao động.

    1. b) Tiêu cực

    – Doanh nghiệp tăng giá cước vận chuyển xi măng trong nội đia.

    – Khả năng khai thác tàu, nguồn hàng trên tuyến mới mở của doanh nghiệp chưa thực sự tốt.

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    – Chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo, hoa hồng môi giới.

    1. Nguyên nhân khách quan
    2. a) Tích cực.

    – Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực hỗ trợ cho Châu Phi.

    – Nhu cầu phân bón trong nước tăng.

    – Đời sống nhân dân nâng cao và nhu cầu về các loại mặt hàng càng ngày càng phong phú.

    – Theo xu hướng container hóa khách hàng muốn thuê vận chuyển hàng đóng trong container nhiều hơn.

    – Tàu đến hạn sửa chữa lớn.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển của doanh nghiệp thay đổi

    1. b) Tiêu cực.

    – Tình hình thời tiết sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.

    – Nhu cầu của người dân đối với việc vận chuyển hàng lương thực do doanh nghiệp cung cấp giảm.

    – Hiềm khích chính trị giữa nước ta và nước bạn hàng nhập khẩu lượng  lương thực lớn của ta.

    –  Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để nhận cung ứng nguyên vật liệu cho tàu.

    – Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn phát triển nóng như trong kỳ gốc.

    – Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.

    – Một số tuyến đường vận chuyển hàng khác của doanh nghiệp đi nước ngoài xảy ra nạn cướp biển hoành hành.

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Giá cả cả vật liệu tăng

    – Giá cả sửa chữa tàu tăng.

    – Phí kênh đào tăng do đi qua nhiều kênh đào hơn, lệ phí cảng biển tăng.

    – Phát sinh các khoản chi bất thường.

    II. Kiến nghị:

    1.   Việc đầu tư thêm tàu hoặc thuê định hạn thuê tài chính là rất cần thiết để đáp ứng ngay nhu cầu vận chuyển sản phẩm đa dạng của khách hàng nhưng bên cạnh đó, công ty cần đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường nhằm đảm bảo có nguồn hàng ổn định. Một công việc mà công ty cũng cần phải quan tâm đó là công tác bảo dưỡng định kỳ, duy trì phương tiện trong tình trạng tốt nhằm thực hiện tốt hơn các đơn hợp đồng. Có như vậy thì công ty mới tăng được uy tín trên thị trường, tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.

    2.Với một đội tàu mạnh đó có thể coi là thế mạnh của công ty để cạnh tranh với các công ty khác. Công ty cũng cần có biện pháp để duy trì ưu điểm này  bên cạnh đó thường xuyên có công tác bảo dưỡng tàu định kỳ để đội tàu luôn trong tình trạng tốt, đội tàu của công ty không những là một đội tàu đông về số lượng mà còn mạnh về chất lượng.

    1. Công ty đạt được kết quả trên một phần là do mới khai thác trên tuyến mới chưa có nhiều kinh nghiệm khai thác hàng sao cho hiệu quả. Sắp tới, để duy trì và làm ăn hiệu quả hơn nữa thì công ty cần phát huy và tiếp tục làm tốt công tác khai thác thị trường, khai thác nguồn hàng trên tuyến, tăng cường quảng bá về hình ảnh và chất lượng của công ty tới các khách hàng tiềm năng trên tuyến, có những điều kiện và ưu đãi hơn nhằm thu hút thêm bạn hàng mới. Điều này công ty có một chút lợi thế bởi uy tín của công ty đã được tạo dựng tương đối vững chắc từ trước tới nay.
    2. Cần có sự ưu đãi đối với một số bạn hàng có ý định cộng tác lâu dài đồng thời có những ưu đãi về cước phí đối với các khách hàng lâu năm. Tăng cường quan hệ với khách hàng nâng cao chất lượng dịch vụ chuyên chở bên cạnh việc hạ giá thành chung để  khách hàng thấy được việc lựa chọ doanh nghiệp là đúng đắn.
    3. Về ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên, công tác quản lý vật liệu: Doanh nghiệp cần tăng cường quản lý hơn nữa về việc sử dụng vật liệu của thuyền viên, phải tính toán chi tiết và đề ra định mức chi phí vật rẻ cho mỗi chuyến đi để giảm bớt việc sử dụng lãng phí của thuyền viên. Quản lý chặt chẽ ghi chép việc nhập xuất kho vật liệu một cách rõ ràng. Cần đưa ra định mức sử dụng cụ thể sát với mức thực tế để tránh việc sử dụng lãng phí. Doanh nghiệp cũng cần phải hướng dẫn tuyên truyền cho thuyền viên biết cách sử dụng vật liệu chèn lót sao cho tiết kiệm mà vẫn có hiệu quả.
    4. Công ty cũng cần nghiên cứu thị trường vật liệu, chịu khó tìm hiểu về các đơn vị cung cấp vật liệu để tìm được nguồn cung rẻ hơn có địa điểm phù hợp với tuyến đường vận chuyển của tàu để có thể lấy thêm khi chở hàng qua nhằm tiết kiệm chi phí vật liệu cho doanh nghiệp.
    5. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến đời sống vật chất tinh thần của lao động hơn nữa đặc biệt là khối lao động trên biển bởi họ phải lao động trong hoàn cảnh khắc nghiệt hơn rất nhiều. Doanh nghiệp cần bố trí cho họ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý đảm bảo khôi phục sức lao động. Vào các dịp lễ tết hay sinh nhật của họ cần có lời động viên món quà nhỏ động viên khích lệ tinh thần cho họ. Doanh nghiệp cũng nên tiến tới xây dựng thêm nhà trẻ để giúp cho CBCNV có thể yên tâm về con em mình từ đó làm tốt công tác đặc biệt là đối với các thuyền viên đi tàu xa đất liền.
    6. Cần duy trì việc đào tạo cho cán bộ công nhân viên đồng thời để có thể giảm chi phí đào tạo thì nên khuyến khích lao động tự học tập nâng cao trình độ tay nghề bằng cấp bằng cách kết hợp trả lương theo cấp bậc và theo sản phẩm. Hoặc công ty có thể kết hợp với nhà trường để tiến hành đào tạo đối với những sinh viên tiềm năng đang học để khi ra trường có thể làm việc cho doanh nghiệp ngay mà không cần phải tốn chi phí đào tạo lạiđi tàu ngay và tránh được những lỗi thường gặp khi chưa qua đào tạo.
    7. Doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ hơn nữa về khoản chi phí tiếp khách hội nghị. Doanh nghiệp căn cứ vào thực tế và định mức thật xác đáng chi cho mỗi lần tiếp khách để tránh việc nhân viên chi tiêu tràn lan hoặc lợi dụng biển thủ. Những khoản chi sai mục đích phải quy trách nhiệm cho từng cá nhân, tập thể tự chịu trách nhiệm và chi trả, không cho phép tính vào chi phí tiếp khách của công ty. Về các khoản chi hội nghị cũng cần định mức phù hợp hoặc có thể nếu thấy không quá cần thiết thì ghi thông báo chung và phát về các phòng ban để mọi người tự xem.

    Qua việc phân tích và đề ra các biện pháp giải quyết trên, ta có thể thấy được       phương hướng phát triển trong thời gian sắp tới của công ty như sau:

    • Ngày càng chuyên môn hoá và hiện đại hoá đội tàu.
    • Mở rộng quy mô sản xuất của công ty ra các thị trường mới đặc biệt là trên các tuyến xa.
    • Giảm chi phí nhiên liệu, vật liệu lãng phí thấp nhất có thể.
    • Đào tạo đội ngũ CBCNV có trình độ chuyên môn ngày càng cao.
    • Tinh gọn lại bộ máy tổ chức.
    • Quan tâm hơn nữa đến đời sống CBCNV.
    • Trong đối ngoại: Giao lưu và hợp tác ngày càng sâu rộng.

     

                                               

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình thực hiện thiết kế em đã sáng tỏ và hiểu sâu sắc hơn việc phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên và vị trí rất thuận lợi để phát triển ngành vận tải biển trong đó cảng biển giữ vai trò rất quan trọng. Để ngành vận tải biển Việt Nam khai thác hiệu quả tiềm năng của ngành, khẳng định vị trí của mình thì ngoài việc đầu tư về cơ sở hạ tầng thì việc quản lý và khai thác hiệu là một yêu cầu bức thiết. Việc phân tích những số liệu và chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp để từ đó tìm ra mặt tích cực, tiêu cực và từ đó đề ra biện pháp để khắc phục và phát huy những mặt đó là một công việc không đơn giản và cần thiết với mọi doanh nghiệp.

    Em xin cảm ơn các thầy cô đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản về ngành kinh tế vận tải nói chung, phân tích hoạt động kinh tế nói riêng và sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Trương Thị Như Hà đã giúp em hoàn thành bài thiết kế này.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019

    Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019

    Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Kinh-T%E1%BA%BF-Ngo%E1%BA%A1i-Th%C6%B0%C6%A1ng-Th%E1%BB%B1c-Tr%E1%BA%A1ng-Nh%E1%BA%ADp-Kh%E1%BA%A9u-H%C3%A0ng-Ch%E1%BA%A5t-D%E1%BA%BBo-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

    • Lý do nghiên cứu:
      Cùng quá trình hội nhập, phát triển, xuất nhập khẩu dần trở thành bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế đất nước đặc biệt trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Cũng bởi vậy, chính sách quản lý nhập khẩu được chính phủ đề cao, nghiên cứu vô cùng kĩ lưỡng và cẩn trọng nhằm đưa ra những chính sách quản lý phù hợp, có ích cho nền kinh tế.
      chất dẻo nguyên kiệu cũng là mặt hàng nằm trong danh mục hàng hóa nhập khẩu có tầm ảnh hưởng lớn đối với kinh tế nước nhà. Vấn đề quản lý nhập khẩu đang là công tác đầy khó khăn, thách thức đối với các nhà quản lý trong khi chúng ta đang ngày càng tiến tới thực hiện đúng cam kết trong WTO và các cam kết khu vực.
    • Mục đích:
      Mục tiêu chung: Nghiên cứu, đánh giá tình hình phát triển ngành chất dẻo trong nước, đồng thời còn có những tác động của những hạn chế trong hoạt động nhập khẩu. Từ đó đề ra những phương hướng quản lý và phát triển nhằm nâng cao năng lực của ngành cũng như sự phát triển của nền kinh tế.
      Mục tiêu cụ thể:
      – Nắm bắt thực trạng phát triển của ngành
      – Những tồn tại của ngành cũng như hoạt động nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu
      – Nắm được chính sách Chính phủ sử dụng trong quản lý nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu những năm vừa qua.
      – Tìm hiểu những cam kết của Việt Nam khi ra nhập WTO và phương hướng quản lý trong thời gian tới.
    • Đối tượng, phạm vi:
      Đối tượng: Các loại chất dẻo nguyên liệu
      Phạm vi: – Địa bàn nghiên cứu: Việt Nam
      – Thời gian: Năm 2009- nay
    • Dự kiến kết quả:
      Sau khi hoàn thành đề tài nghiên cứu này em đã nắm bắt được rất nhiều kiến thức về quản lý nhập khẩu nói chung và ngành chất dẻo nước ta nói riêng. Với những kiến thức đã nắm được sẽ giúp ích rất nhiều trong nghiệp vụ sau này. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để tài liệu được hoàn thiện hơn! Em xin chân thành cảm ơn!

     

    CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH VÀ CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ,
    ĐIỀU HÀNH NHẬP KHẨU
    1.1. VAI TRÒ CỦA NHẬP KHẨU

    Nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước.
    Hai loại nhập khẩu:
    – Nhập khẩu bổ sung: Nhập khẩu những hàng hóa mà trong nuowcskhoong sản xuất được hoặc sản xuất không đủ đáp ứng nhu cẩu.
    – Nhập khẩu thay thế: Nhập khẩu những hàng hóa mà sản xuất trong nước không có lợi.
    Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
    – Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá đất nước.
    – Bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định.
    – Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Ở đây, nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
    – Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.
    Chính sách nhập khẩu của Việt Nam:
    – Nhập khẩu vật tư là chủ yếu (xăng dầu, sắt thép, dụng cụ phụ tùng, bông sợi).
    – Nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu, hạn chế tối đa nhập khẩu hàng xa xỉ.
    – Nhập khẩu thiết bị toàn bộ, dây chuyền sản xuất tiên tiến có tính chất đổi mới công nghệ, đặc biệt ưu tiên nhập khẩu kĩ thuật, công nghệ để sản xuất hàng xuất khẩu.
    – Khuyến khích nhập khẩu hàng phi mậu dịch.

    1.2. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU
    1.2.1. Sử dụng vốn nhập khẩu tiết kiệm, hợp lí, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
    a) Sử dụng vốn nhập khẩu tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao
    Đây là chỉ tiêu của mọi quốc gia, đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam do nguồn vốn ngoại tệ của nước ta quá ít mà nhu cầu lại quá lớn
    Yêu cầu:
    – Xác định cơ cấu hàng nhập khẩu một cách hợp lí đối với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và khoa học kĩ thuật của Việt Nam.
    – Khi sử dụng nguồn vốn nhập khẩu cần tiết kiệm, mặt hàng cần trước thì nhập trước, mặt hàng nào cần sau thì nhập sau, chưa cần ngay hoặc trong nước sản xuất được thì kiên quyết không nhập khẩu.
    -Khi nhập khẩu phải nghiên cứu thị trường để nhập được hàng tốt, giá phù hợp, kịp thời, phù hợp về chủng loại, nhanh chóng phát huy tác dụng đẩy mạnh sản xuất nâng cao đời sống nhân dân.
    b) Nhập khẩu thiết bị, máy móc tiên tiến, hiện đại và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
    * Tiêu chuẩn máy móc thiết bị tiên tiến, hiện đại:
    – Năng suất lao động
    – Mức tiêu hao nguyên vật liệu
    – Chất lượng (độ bền, độ tin cậy)
    – Độ ô nhiễm môi trường
    * Phù hợp với điều kiện Việt Nam: Về vốn nhập khẩu, trình độ quản lý và sử dụng, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước, phù hợp với các chính sách khu vực, với thời tiết khí hậu Việt Nam.
    c) Nhập khẩu phải bảo vệ và thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng xuất khẩu
    * Nhập khẩu bảo vệ và thúc đẩy sản xuất
    Do cơ sở vật chất – kĩ thuật còn yếu kém, máy móc lạc hậu. Vì vậy cần phải nhập khẩu để phát triển sản xuất.
    Do ảnh hưởng của cách mạng khoa học kĩ thuật, cung thế giới tăng và lớn hơn mức cầu thế giới. Mặt khác, các ngành sản xuất của Việt Nam còn non trẻ, sản phẩm kém tính cạnh tranh nên cần phải có chính sách bảo hộ. Tuy nhiên không nên bảo hộ bằng bất kì giá nào.
    Nguyên tắc này đã được pháp lệnh hóa thành danh mục hàng cấm, hàng quản lý hạn ngạch, bằng kế hoạch định hướng và quản lý các cơ quan chuyên ngành mà hàng năm Nhà nước công bố. Tuy nhiên cần hạn chế một cách hợp lý.
    * Nhập khẩu làm tăng xuất khẩu
    Sản xuất phát triển → hàng hóa tăng → xuất khẩu tăng → nhập khẩu tăng → sản xuất tăng.
    Ngoài ra còn những nguyên tắc sau:
    – Lấy nhập khẩu kéo xuất khẩu: dung hàng tồn kho đổi lấy hàng tồn kho
    – Lấy xuất khẩu để kéo nhập khẩu: dung hàng quý hiếm đổi lấy hàng quý hiếm
    – Lấy nhập khẩu để nuôi xuất khẩu: muốn xuất khẩu phải có nguồn lực sản xuất
    – Lấy nhập khẩu để chống nhập khẩu: nhập khẩu công nghệ sản xuất → chống nhập khẩu thành phẩm từ nước ngoài.
    1.2.2. Chính sách quản lí nhập khẩu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
    1.2.2.1. Thuế nhập khẩu
    a) Khái niệm:
    Thuế quan là một khoản tiền mà chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho cơ quan hải quan của một nước.
    Thuế nhập khẩu chính là loại thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu.
    b) Mục đích:
    – Thuế nhập khẩu góp phần vào việc bảo hộ và phát triển sản xuất thông qua việc tăng gia sản xuất hàng hóa nội địa của hàng nhập khẩu.
    – Thuế nhập khẩu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
    – Thuế nhập khẩu góp phần điều tiết hoạt động nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng trong nước.
    – Thuế nhập khẩu là công cụ phân biệt đối xử trong thương mại, gây áp lực đòi các bạn hàng nhượng bộ trong đàm phán.
    – Giảm thuế quan góp phần thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, là biện pháp quan trọng để đẩy nhanh tiến trình hội nhập khu vựa và thế giới kinh tế.
    – Tiết kiệm ngoại tệ do hạn chế nhập khẩu, cải thiện được cán cân thanh toán quốc tế.
    – Phân bổ lại lợi ích kinh tế – xã hội.
    c) Những hạn chế khi áp dụng mức thuế suất quá cao
    – Gây ra tình trạng độc quyền đối với sản xuất trong nước, làm cho hàng hóa sản xuất trong nước mất khả năng cạnh tranh.
    – Gây ra tình trạng trốn lậu thuế và gian lận thương mại, ảnh hưởng tới người tiêu dùng.
    – Gây ra tâm lí sính hàng ngoại.
    → Vấn đề: Cần xây dựng một mức thuế hợp lí, đảm bảo được quyền lợi của Nhà nước, người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng.
    d) Giá tính thuế và biện pháp tính thuế.
    – Các phương pháp tính thuế:
    Cách 1: Theo giá trị
    Cách 2: Theo đơn vị (áp dụng với những mặt hàng giá trị nhỏ)
    Cách 3: Hỗn hợp: Thuế =Số lượng × Giá tính thuế nhập khẩu
    – Giá tính thuế:
    Hai phương pháp xác định trị giá: Trị giá Brussells và trị giá GATT
    e) Biểu thuế
    – Khái niệm: Biểu thuế là một bảng phân loại có hệ thống với tất cả các hàng hóa thuộc diện chịu thuế đi qua khu vực hải quan của một nước.
    – Phân loại biểu thuế: 2 loại:
    + Biểu thuế đơn: Là biểu thuế trong đó 1 loại hàng hóa chỉ ghi 1 mức thuế.
    + Biểu thuế kép: Một loại hàng hóa ghi từ 2 mức thuế trở lên
    • Mức thông thường: Là mức thuế đánh vào các hàng hóa không phân biệt xuất xứ.
    • Mức ưu đãi: Là mức thuế thấp hơn mức thông thường một tỉ lệ nào đó tùy thuộc vào mối quan hệ giữa nước chủ nhà với nước đối tác.
    Hiện nay ở Việt Nam sử dụng 3 loại thuế suất sau:
    – Thuế suất ưu đãi MFN: áp dụng với hàng hóa nhập khẩu theo các hiệp định thương mại đã kí kết giữa hai chính phủ, trong đó có điều khoản ưu đãi về xuất nhập khẩu.
    – Thuế suất ưu đãi đặc biệt (áp dụng với các nước ASEAN).
    – Thuế suất thông thường (bằng 150% thuế suất ưu đãi): đánh chung cho các loại hàng hóa.
    Để được hưởng ưu đãi, nhà nhập khẩu phải có hợp đồng hợp pháp hợp lệ và có giấy chứng nhận xuất xứ C/O.
    Các trường hợp miễn thuế, giảm thuế và hoàn lại thuế:
    – Miễn thuế: + Hàng viện trợ không hoàn lại
    + Hàng tạm nhập tái xuất
    + Hàng là tài sản di của công dân Việt Nam đi công tác và học tập, đi lao động và hợp tác mang theo hoặc gửi về trong mức quy định.
    + Hàng nhập khẩu của các cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế được hưởng tiêu chuẩn miễn trừ.
    – Hàng được xét miễn thuế:
    + Hàng nhập khẩu phục vụ an ninh quốc phòng, nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo.
    + Hàng là vật tư nguyên liệu phục vu gia công xuất khẩu.
    + Hàng là quà tặng, quà biếu.
    + Hàng nhập khẩu của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong trường hợp khuyến khích đầu tư.
    – Hàng được hoàn lại thuế: + Hàng là vật tư, nguyên liệu để sản xuất xuất khẩu.
    + Hàng tạm nhập tái xuất.
    Tính chất bảo hộ của thuế quan:
    – Bảo hộ danh nghĩa: Là việc chỉ đơn thuần đánh thuế vào hàng nhập khẩu, làm cho giá hàng ngoại nhập giảm sức cạnh tranh so với hàng hóa trong nước, từ đó bảo hộ sản xuất nội địa.
    – Bảo hộ thực sự: Là việc không chỉ đơn thuần là đánh thuế nhập khẩu mà còn đánh thuế nguyên vật liệu để sản xuất hàng.
    1.2.2.2. Các biện pháp quản lý phi thuế
    a) Biện pháp hạn chế định lượng
    *Cấm nhập khẩu:
    Ở Việt Nam hàng cấm nhập khẩu nhằm mục đích đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra Việt Nam còn cấm nhập khẩu một số hàng nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Hàng cấm nhập khẩu được Chính phủ công bố hàng năm, có giá trị cho năm đó hoặc cho một số năm
    *Hạn ngạch nhập khẩu:
    – Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nước về số lượng hoặc giá trị một mặt hàng nhập khẩu nào đó trong một thời gian nhất định.
    – Hạn ngạch nhập khẩu thường là một hình thức hạn chế về số lượng và thuộc hệ thống giấy phép không tự động.
    – Khi hạn ngạch quy định cho cả mặt hàng và thị trường thì hàng hoá đó chỉ được nhập khẩu từ thị trường đã định với số lượng bao nhiêu, trong thời gian bao lâu.
    – Thường hạn ngạch nhập khẩu được áp dụng bằng cách cấp giấy phép nhập khẩu cho một số công ty
    Các hạn ngạch hạn chế nhập khẩu khác:
    – Hạn ngạch thuế quan (Tariff quotas): Hạn ngạch thuế quan là cắt giảm thuế quan đối với một số lượng hàng nhập khẩu nhất định. Hàng nhập khẩu vượt quá định mức này phải nộp thuế cao hơn.
    – Hạn ngạch thuế quan mở cửa thi trường tối thiểu (minimum access tariff quotas)
    Hạn ngạch thuế quan mở cửa thị trường tối thiểu là một cơ chế dành mức tối thiểu mở cửa thị trường đối với những hàng nông sản mà các biện pháp phi thuế quan đã được chuyển thành thuế quan
    – Hạn ngạch thuế quan theo mức độ mở cửa hiện hành (current access tariff quotas)
    Hạn ngạch thuế quan theo mức độ mở cửa hiện hành mô tả các cơ hội mở cửa thị trường cho hàng nông sản khi các biện pháp phi thuế quan được chuyển thành phi thuế quan.
    * Giấy phép nhập khẩu hàng hoá
    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu. Nhưng giấy phép nhập khẩu khác với hạn ngạch là được áp dụng rộng rãi hơn.
    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá có hai loại thường gặp:
    + Giấy phép tự động: Người nhập khẩu xin phép nhập khẩu thì cấp ngay không cần đòi hỏi gì cả.
    + Giấy phép không tự động: Loại giấy phép này muốn xin nhập khẩu phải có hạn ngạch nhập khẩu và hoặc bị ràng buộc bởi các hạn chế khác về nhập khẩu. Các doanh nghiệp chỉ được phép ký hợp đồng nhập khẩu các mặt hàng thuộc loại này khi có giấy phép nhập khẩu của Bộ Thương mại hoặc Bộ chuyên ngành.
    b) Quyền kinh doanh của các doanh nghiệp
    Quyền kinh doanh nhập khẩu:
    Việc cấp giấy phép kinh doanh cho doanh nghiệp được quy định tại nghị định số 37/CP ngày 19/4/1994 và nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998.
    Đầu mối nhập khẩu:
    Trong cơ chế quản lý nhập khẩu của Việt Nam, có một số mặt hàng Nhà nước quy định chỉ được nhập khẩu thông qua một số doanh nghiệp nhất định được Nhà nước cho phép (đầu mối nhập khẩu).
    Mục đích việc quy định đầu mối nhập khẩu là góp phần đảm bảo cung cầu, ổn định xã hội, sức khỏe của cộng đồng và bảo hộ sản xuất trong nước.
    c) Các rào cản kỹ thuật: – Các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn
    – Kiểm định động, thực vật
    – Các yêu cầu về nhãn mác hàng hóa
    d) Các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài
    – Yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa
    – Yêu cầu tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc
    – Yêu cầu phải gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước
    e) Quản lý điều tiết nhập khẩu thông qua các hoạt động dịch vụ
    – Dịch vụ phân phối
    – Dịch vụ tài chính ngân hàng:

    + Hạn chế trong giao dịch thanh toán
    + Hạn chế trong sử dụng ngoại tệ
    + Quản lý vay ngoại tệ
    + Các dịch vụ khác như giám định hàng hóa, dịch vụ vận tải, dịch vụ khai báo và tính thuế…
    f) Các biện pháp quản lý hành chính
    – Đặt cọc nhập khẩu
    – Hàng đổi hàng
    – Thủ tục hải quan
    – Mua sắm chính phủ
    – Quy tắc xuất xứ
    g) Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
    Ở Việt Nam, Điều 11 – Luật thuế xuất nhập khẩu 2005 quy định, ngoài việc chịu thuế nhập khẩu, hàng hóa còn phải áp dụng một trong những biện pháp về thuế sau để đáp lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế:
    – Tăng mức thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu quá mức vào Việt Nam theo quy định của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu.
    – Thuế chống phá giá: áp dụng trong trường hợp hàng hóa vào Việt Nam mà giá bán quá thấp so với giá thông thường do được bán phá giá gây khó khăn cho sự phát triển ngành tương tự của nước ta.
    – Thuế chống trợ cấp
    – Thuế chống phân biệt đối xử.

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP CHẤT DẺO NGUYÊN LIỆU TỪ HÀN QUỐC

    2.1. ĐÁNH GIÁ VỀ LƯỢNG CHẤT DẺO NGUYÊN LIỆU NHẬP KHẨU
    Năm 2008, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tăng mạnh trong những tháng đầu năm, cùng với đó, giá cũng trong xu hướng tăng. Nhưng vào cuối năm, giá cả và khối lượng nhập khẩu đều giảm đáng kể. Chỉ tính riêng trong tháng 12/2008, kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 212 triệu USD, bằng 70% của tháng 7 (là tháng có kim ngạch nhập khẩu đạt lớn nhất), giá nhập khẩu trung bình cũng giảm còn 1.100 USD/T. Hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nhựa sẽ khó khăn hơn do tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu, tiêu thụ trong nước cũng chậm lại nên nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu trong năm 2009 tất yếu cũng sẽ bị chững lại và giá nhập khẩu cũng sẽ giảm đáng kể.

    Trong năm 2009, dự báo Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 1,85 triệu tấn chất dẻo nguyên liệu đạt 2,68 tỉ USD, tăng 6,3% về lượng nhưng giảm 8,6% về trị giá so với năm 2008. Còn theo số liệu thống kê thực tế từ Tổng cục Hải quan, riêng trong tháng 2/2009 nước ta đã nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đạt 292 triệu USD, tăng 161,14% so với tháng trước và tăng 49,66% so với cùng kỳ năm 2008. Tính chung, 2 tháng đầu năm 2009, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 403,8 triệu USD, giảm nhẹ 14,18% so với 2 tháng đầu năm 2008.

    Về thị trường và chủng loại nhập khẩu: Trong tháng 2/2009, khối lượng nguyên liệu nhựa nhập khẩu từ châu Á tăng mạnh, tăng 76,9%, nhập khẩu từ Trung Đông cũng tăng 47,9%. Ngược lại nhập khẩu từ châu Âu lại giảm 21,4%, với mức tăng nhập khẩu 43,48% so với tháng trước, Hàn Quốc đã trở thành nhà cung cấp nguyên liệu nhựa lớn nhất của nước ta trong tháng 2/2009. Tính chung 2 tháng đầu năm thị trường này đã cung cấp cho Việt Nam 53,8 nghìn tấn nguyên liệu nhựa các loại. Các loại nhựa được nhập khẩu nhiều từ Hàn Quốc là PP, PE, PS, polyester, PET.

    Theo số liệu thống kê, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam tháng 8/2010 đạt 224 nghìn tấn với kim ngạch 275,9 triệu USD, tăng 7,4% về lượng nhưng giảm 26,2% về trị giá so với tháng trước, tăng 11,6% về lượng và tăng 2,3% về trị giá so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng lượng chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2010 đạt 1,5 triệu tấn với kim ngạch 2,4 tỉ USD, tăng 6% về lượng và tăng 37,3% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 4,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước 8 tháng đầu năm 2010.

     

    Hàn Quốc là thị trường dẫn đầu về kim ngạch cung cấp chất dẻo nguyên liệu cho Việt Nam 8 tháng đầu năm 2010, đạt 279,6 nghìn tấn với kim ngạch 443 triệu USD, tăng 4,3% về lượng và tăng 41,2% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 18,6% trong tổng kim ngạch; đứng thứ hai là Đài Loan đạt 231 nghìn tấn với kim ngạch 379 triệu USD, tăng 8,5% về lượng và tăng 35,1% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 15,9% trong tổng kim ngạch

    Kim ngạch nhập khẩu chết dẻo nguyên liệu giảm trong tháng 2/2011  (Mar 31, 2011)

    Theo HIệp hội Nhựa Việt Nam, tính chung 2 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đạt 359,8 nghìn tấn, trị giá đạt 645,4 triệu USD, tăng mạnh so cùng kỳ năm 2010, tăng lần lượt 20,3% và 42,1%.

    Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu sẽ tăng mạnh trở lại trong tháng 3 tới do tình hình sản xuất đã đi vào ổn định, nhu cầu tiêu thụ đối với các sản phẩm nhựa tăng cao.

    Trong tháng 2/2011, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ các thị trường trên thế giới giảm mạnh so tháng trước do ảnh hưởng bởi kỳ nghỉ Tết kéo dài. Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, tháng 2/2011 nước ta nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ 28 thị trường, trong đó có tới 20 thị trường giảm về lượng và trị giá. Cụ thể:

    Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ các thị trường lớn giảm thấp:

    Hàn Quốc vẫn là thị trường dẫn đầu về lượng và trị giá nhập khẩu trong tháng 2/2011, đạt lần lượt là 33,4 nghìn tấn và 63,2 triệu USD, giảm 6,7% về lượng và 0,1% về trị giá so tháng trước. So cùng kỳ năm trước, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ Hàn Quốc vẫn tăng 20,7% về lượng và tăng 41,8% về trị giá.

    Thống kê 2 tháng đầu năm, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường này đạt 60,7 nghìn tấn, trị giá 94,6 triệu USD, tăng lần lượt 14% và 33,8% so cùng kỳ năm 2010.

    Các mặt hàng nhập khẩu chính từ thị trường Hàn Quốc hiện nay vẫn chủ yếu là PE, PP, Polyester, PET,PS,PVC…

    A rap Xeut tiếp tục giữ vững vị trí thứ 2 về lượng và trị giá chất dẻo nguyên liệu cung cấp cho thị trường Việt Nam với lượng đạt 32,1 nghìn tấn, trị giá 45,6 triệu USD. So tháng trước nhập khẩu từ thị trường này giảm 6,9% về lượng và 5,4% về trị giá. Tuy nhiên, so cùng kỳ năm 2010, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu lại tăng rất mạnh, lần lượt tăng 127,6% và 153%. Như vậy, trong 2 tháng đầu năm nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường A rap Xeut đạt 66,4 nghìn tấn, trị giá 93,7 triệu USD, tăng gần 70% về lượng và 92,7% về trị giá so cùng kỳ năm 2010.

    Các sản phẩm chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu nhiều từ Arap Xeut trong tháng 2/2011 vẫn chủ yếu là PE và PP.

    Tây Ban Nha: nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường này giảm 88,3% về lượng và 87,7% về trị giá so tháng trước, xuống chỉ còn 75 tấn và hơn 200 nghìn USD. So cùng kỳ năm trước, mức giảm có thấp hơn với hơn 70% về lượng và 62,7% về trị giá. Tính chung 2 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đạt 716 tấn với 1,8 triệu USD, giảm 3,8% về lượng nhưng vẫn tăng 16,5% về trị giá do chịu tác động bởi yếu tố giá nhập khẩu tăng cao.

    Hong kong: nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ Hong kong đạt 410 tấn, trị giá 765,1 nghìn USD, giảm 68,9% cả về lượng và trị giá so tháng 1/2011; so cùng kỳ năm 2010 giảm lần lượt 42,3% và 29,6%. Mặc dù vậy, 2 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường này vẫn tăng 44,6% về lượng và tăng tới gần 82% về trị giá so cùng kỳ, đạt 1,8 nghìn tấn, trị giá 3,4 triệu USD. Giá nhập khẩu nhựa nguyên liệu nói chung từ thị trường này cũng tăng cao trong những tháng gần đây.

    Trong tháng 2/2011, Nhật Bản đã vượt qua Singapore, Malaysia, Trung Quốc và Hoa Kỳ để trở thành thị trường cung cấp chất dẻo nguyên liệu nhiều thứ 5 cho thị trường Việt Nam. Như vậy, cơ cấu thị trường cung cấp chất dẻo nguyên liệu đã bắt đầu có sự thay đổi trong tháng 2/2011.

    Thống kê cho thấy, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường này trong tháng 2/2011 đạt 10,1 nghìn tấn, trị giá 25,1 triệu USD, tăng 24,6% về lượng và tăng 21,5% về trị giá so tháng trước; tăng 4,3% về lượng và tăng 29,3% về trị giá so cùng kỳ năm trước. Mặc dù vậy, lượng nhập khẩu tính chung 2 tháng đầu năm từ Nhật Bản lại giảm 15,2% so cùng kỳ năm 2010, đạt 18,4 nghìn tấn; trị giá vẫn tăng 8,9% đạt 46,2 triệu USD.

    Thời gian vừa qua, song thần và động đất đã gây cho Nhật Bản những tổn thất rất nặng nề. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình sản xuất cũng như hoạt động xuất nhập khẩu nước này. Mặc dù vậy nhưng trong tháng tới, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của nước ta từ Nhật Bản sẽ vẫn tăng do các đơn hàng đã được xuất đi. Tuy nhiên, trong dài hạn, nguồn cung hạn chế sẽ tác động không nhỏ đến tình hình xuất khẩu của thị trường này.

    lượng nhập khẩu trong tháng 12/2012 là 231nghìn tấn, trị giá 403 triệu USD, tăng 9,3% về lượng và 5,3% về trị giá so với tháng trước.

    Tính đến hết năm 2012, cả nước nhập khẩu gần 2,74 triệu tấn chất dẻo nguyên liệu, trị giá đạt 4,8 tỷ USD, tăng 7,1% về lượng và tăng nhẹ 0,9% về trị giá so với năm 2011.

    Việt Nam nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu chủ yếu từ các thị trường: Ả rập Xê út với gần 569 nghìn tấn, tăng 16%; Hàn Quốc: gần 516 nghìn tấn, tăng 17,1%

    2.2. ĐÁNH GIÁ VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH

    2.2.1 Chính sách quản lí chung

    Năm 1989, cơ chế xuất nhập khẩu đã được đổi mới một bước quan trọng, đem lại những kết quả nhất định, đồng thời cũng cho thấy những bộc lộ mới, cần được tiếp tục chấn chỉnh đổi mới theo những hướng cơ bản trong Nghị định 64-HĐBT ngày 10-6-1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
    Để chuẩn bị xây dựng chính sách và cơ chế quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu phù hợp với tình hình mới của kế hoạch 5 năm tiếp theo, trong năm 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ thị các Bộ liên quan chỉ đạo thi hành một số việc dưới đây:
    a) Phương thức thanh toán tiền hàng xuất, nhập khẩu theo nghị định thư
    Bộ Tài chính chủ trì cùng Ngân hàng Nhà nước và Bộ Thương nghiệp nghiên cứu, trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trong đầu quý IV năm 1990 một cơ chế hoàn chỉnh về thanh toán tiền hàng xuất, nhập khẩu theo nguyên tắc: nguồn vốn thanh toán tiền hàng xuất khẩu được thực hiện từ ngân sách Nhà nước; tiền thành toán hàng nhập khẩu do các chủ hàng nội địa chịu trách nhiệm thanh toán, thông qua kế hoạch và hợp đồng nhập khẩu ký với chủ hàng nhập khẩu. Trường hợp do ngân sách chi trả thì phải được phản ánh rõ trong kế hoạch tài chính của ngành, đơn vị và phải được bố trí trong ngân sách Nhà nước của năm kế hoạch; Ngân hàng là trung tâm thanh toán giữa ngân sách với chủ hàng nhập khẩu, xuất khẩu, đồng thời cũng là trung tâm thanh toán giữa chủ hàng nhập khẩu với đơn vị sử dụng hàng nhập khẩu; giữa chủ hàng xuất khẩu với đơn vị kinh doanh hàng xuất khẩu.
    Trong năm 1990, việc thanh toán thực hiện như sau:
    + Đối với hàng nhập khẩu
    Từ nay, khi hàng nhập về đến cảng, căn cứ vào danh sách chủ hàng nhập khẩu (đơn vị ký hợp đồng nhập khẩu với bên ngoài) và tỷ giá thanh toán từng nhóm hàng nhập theo quy định hiện hành, Ngân hàng ngoại thương trích tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ hàng nhập khẩu chuyển vào tài khoản tiền gửi của ngân sách.
    Trường hợp chủ hàng nhập khẩu không đủ vốn thành toán thì ngân hàng ngoại thương cho vay để chuyển trả đủ ngân sách; lãi suất vay được áp dụng theo mức lãi suất ưu đãi đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng duyệt.
    Sau 15 ngày, kể từ ngày chủ hàng nội địa (đơn vị lên đơn hàng nhập khẩu) nhận được thông báo của chủ hàng nhập khẩu về việc hàng đã về cảng, nếu các chủ hàng nội địa không đến nhận hàng và thanh toán cho chủ hàng nhập khẩu theo hợp đồng đã ký, thì chủ hàng nhập khẩu được phép tổ chức việc tiêu thụ khối lượng hàng nhập đó trên nguyên tắc bảo đảm đủ nguồn thu cho ngân sách.
    b) Quản lý hoạt động kinh doanh nhập khẩu
    + Đối với một số hàng hoá cần quản lý bằng hạn ngạch: Căn cứ nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài nước, sau khi tham khảo ý kiến các địa phương, căn cứ kế hoạch sản xuất của các xí nghiệp sản xuất trong nước và các Hiệp hội xuất, nhập khẩu hữu quan, Bộ trưởng các Bộ là người chịu trách nhiệm đưa ra kế hoạch về số lượng hàng hoá cần xuất, cần nhập đối với các mặt hàng cần định hạn ngạch thuộc ngành mình sản xuất hoặc cung ứng.
    Căn cứ kế hoạch nói trên của các Bộ, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm xem xét, tổng hợp trên cơ sở cân đối chung của nền kinh tế quốc dân và khả năng thanh toán quốc tế của Nhà nước trong năm kế hoạch, trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xét duyệt hạn ngạch những mặt hàng có quan hệ trực tiếp đến những cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân cần xuất, nhập khẩu.
    Bộ Thương nghiệp chịu trách nhiệm bàn với các Hiệp hội xuất nhập khẩu các ngành hàng và phân bổ hạn ngạch đã được duyệt cho các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu.
    Các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu, phân bổ hạn ngạch cho các đơn vị đã được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp.
    Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Thương nghiệp và các Bộ sản xuất chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện quy trình trên để việc xét duyệt các chỉ tiêu, danh mục các mặt hàng chủ yếu được thực hiện xong trong quý IV hàng năm trước năm kế hoạch.
    Đối với năm 1990, trong khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, duyệt chỉ tiêu, danh mục các mặt hàng cần phải quản lý bằng hạn ngạch, Bộ Thương nghiệp bàn với các Bộ, ngành sản xuất hữu quan để cấp hạn ngạch ở mức nhu cầu đã cấp trong năm 1989 (bao gồm cả hàng nhập để bán thu ngoại tệ) đối với 7 mặt hàng xuất và 12 mặt hàng nhập.
    Đối với các hàng hoá bán tại các cửa hàng bán thu ngoại tệ thuộc danh mục hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch, từ ngày 1 tháng 5 năm 1990 áp dụng theo cơ chế quản lý chung đối với các mặt hàng cần quản lý bằng hạn ngạch.
    + Đối với các loại hàng hoá không quản lý bằng hạn ngạch, các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu được đăng ký mặt hàng số lượng và thị trường mua bán tại Bộ Thương nghiệp. Bộ Thương nghiệp có trách nhiệm tổng hợp và trao đổi ý kiến với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước để cân đối chung với sản xuất và nhu cầu trong nước để cấp giấy phép xuất nhập khẩu, điều hoà quan hệ cung cầu.
    Đối với một số mặt hàng nhập trong từng thời gian có chênh lệch giá cao (như xe gắn máy, ô tô du lịch các loại) trong khi chờ đợi sự điều chỉnh hợp lý mức thuế nhập khẩu, Bộ Thương nghiệp bàn với Bộ Tài chính được thu một khoản phụ thu (ngoài phần thuế nhập khẩu theo chính sách hiện hành) nộp ngân sách Nhà nước.
    Bộ Thương nghiệp bàn với các Bộ sản xuất hữu quan và các địa phương có khả năng để tích cực xúc tiến tổ chức liên doanh với nước ngoài về lắp ráp xe gắn máy và ô tô các loại, giảm dần mức nhập khẩu các loại hàng này và có phần để xuất khẩu. Sớm ban hành quy chế về nhập khẩu các loại xe này để khắc phục tình trạng nhập tràn lan, nhiều mác xe, gây bất lợi về mặt giá cả và phụ tùng thay thế, bảo dưỡng.
    + Về việc rà xét lại các biểu thuế suất hàng nhập khẩu.
    Bộ Tài chính chủ trì cùng với Bộ Thương nghiệp, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, rà xét lại các biểu thuế suất hàng hoá xuất, nhập khẩu trên nguyên tắc:

    – Khuyến khích nhập khẩu các nguyên liệu, vật liệu, các thiết bị kỹ thuật tiên tiến để sản xuất, chế biến các mặt hàng tiêu dùng nội địa và hàng xuất khẩu; các mặt hàng tiêu dùng phổ biến có nhu cầu mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng nhu cầu.
    -Đối với những mặt hàng chỉ có nhu cầu tiêu dùng ở những người có thu nhập cao, những mặt hàng phải hạn chế tối đa việc nhập khẩu thì áp dụng mức thuế suất cao khi nhập khẩu, hoặc cần nhập trong từng thời gian.

    c)Tổ chức hoạt động kinh doanh nhập khẩu
    Hệ thống các tổ chức kinh doanh nhập khẩu trực tiếp với bên ngoài cần được sắp xếp, chấn chỉnh theo nguyên tắc:

    Đối với các mặt hàng nhập có hạn ngạch và các mặt hàng nhập: xăng, dầu, sắt, thép, bông nguyên liệu, phân bón, thuốc trừ sâu, xi măng và đường, việc nhập khẩu thực hiện chủ yếu là qua các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu trực tiếp thường xuyên. Trong một số trường hợp đặc biệt, phải có quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
    Bộ trưởng các Bộ Thương nghiệp, Tài chính, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức thi hành ngay Chỉ thị này theo phạm vi trách nhiệm của từng Bộ, cơ quan

    2.2.2 Các giải pháp, chính sách chủ yếu

    • Xuất nhập khẩu, phát triển thị trường:
      + Bảo vệ thị trường nội địa bằng các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng, môi trường hợp pháp nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của sản phẩm kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vào thị trường Việt Nam
      + Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật để hoàn thiện thị trường các sản phẩm thép, tạo liên kết chặt chẽ, chia sẻ lợi nhuận và cộng đồng trách nhiệm giữa nhà sản xuất với nhà kinh doanh thép
      + Hoàn thiện chính sách, pháp luật và tăng cường năng lực thực hiện pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền, chống liên kết lũng đoạn thí trường, chống bán phá giá.
      – Phát triển nguồn nhân lực
      Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và chất lượng đội ngũ giáo viên cho các trường đào tạo công nhân kỹ thuật để có đủ năng lực đào tạo đáp ứng nhu cầu lao động cho ngành luyện kim. Coi trọng hình thức đào tạo ở nước ngoài, mời chuyên gia nước ngoài đào tạo tại nhà máy.
      – Phát triển khoa học – công nghệ
      Tăng cường hợp tác quốc tế, củng cố mối quan hệ khoa học – công nghệ giữa các đơn vị sản xuất với các cơ quan nghiên cứu R&D, các trường đại học trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ – kỹ thuật mới vào ngành

    – Bảo vệ môi trường
    + Hạn chế, giảm thiểu mức độ gia tăng ô nhiễm. Các cơ sở sản xuất luyện kim mới đầu tư xây dựng phải áp dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến và được trang bị các thiết bị xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm đạt tiêu chuẩn môi trường.

    + Có kế hoạch di dời và đầu tư chiều sâu để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường

    + Thực hiện kế hoạch cải tạo, tiến tới loại bỏ dần việc sử dụng các công nghệ và máy móc lạc hậu

    + Kiểm soát chặt chẽ an toàn hoá chất, khí thải, đặc biệt là những hoá chất có mức độ độc hại ở các cơ sở sản xuất, chế biến chất dẻo nguyên liệu

    – Về quản lý: ban hành cơ chế, chính sách phát triển ngành chất dẻo nguyên liệuViệt Nam theo hướng khuyến khích cao và bảo hộ hợp lý đầu tư sản xuất , xây dựng các công ty, tổ chức, tập đoàn lớn

    – Đẩy mạnh công tác đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước để nâng cao năng lực cạnh tranh. Khuyến khích việc thành lập công ty cổ phần có sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước, các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

    → Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc đề ra những chính sách biện pháp phát triển , trong đó có việc quản lí nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu hợp lí không. Thông qua áp dụng hàng rào thuế quan, những công cụ phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu, tiêu chuẩn kĩ thuật… cơ quan quản lí đã giảm thiểu phần nào sự xâm nhập tràn lan của thị trường chất dẻo nguyên liệu thế giới vào Việt Nam.

    2.3. NHỮNG TỒN TẠI

    2.3.1 Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tăng khá

    1. a) Tình hình nhập khẩu

    Theo số liệu thống kê, tháng 2-2013 Việt Nam đã nhập khẩu 173 nghìn tấn chất dẻo nguyên liệu với kim ngạch 312 triệu USD, giảm 41,4% về lượng và 38,2% về kim ngạch so với tháng 1-2013. So với tháng 2-2012, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu giảm 31% về lượng và 26% về kim ngạch. Tuy nhiên do tháng 1-2013 nhập khẩu chất dẻo tăng mạnh so với tháng 1/2012 nên tính chung 2 tháng đầu năm 2013, lượng và kim ngạch tăng lần lượt 13,3% và 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 3-2013, lượng nhập khẩu tăng trở lại ước đạt 280 nghìn tấn với kim ngạch 507 triệu USD, tăng 61% về lượng và 62% về kim ngạch so với tháng 2/2013.

    1. b) Thị trường nhập khẩu

    Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của nước ta từ các thị trường chính như Ả Rập Xê Út, Hàn Quốc… trong tháng 2/2013 đều giảm so với tháng trước.Cụ thể, so với tháng 1-2013, nhập khẩu từ Ả Rập Xê Út giảm tới 51,64% về kim ngạch, đạt 54,8 triệu USD (đứng thứ 2 sau Hàn Quốc) và chiếm 17,5% tổng kim ngạch nhập khẩu. Lượng nhập khẩu từ Ả Rập Xê Út cũng đứng thứ 2, đạt 38,2 nghìn tấn, giảm 50,8% so với tháng 1/2013.

    Hàn Quốc trở lại là thị trường cung cấp chính chất dẻo nguyên liệu cho Việt Nam trong tháng 2-2013. Lượng nhập khẩu từ thị trường này đạt 42,6 nghìn tấn với kim ngạch 80,4 triệu USD, nhưng giảm 24,6% về lượng và 18,6% về kim ngạch so với tháng 1-2013. Tuy nhiên do trong tháng 1-2013 cả 2 thị truờng Hàn Quốc và Ả Rập Xê Út đều tăng trưởng mạnh nên kéo theo tổng kim ngạch cả 2 tháng của 2 thị trường này tăng lần lượt là 35% và 27% so với cùng kỳ năm 2012.

    Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu từ các thị trường Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản trong 2 tháng đầu năm 2013 đều tăng so với năm 2012 (Trung Quốc tăng 43,39% về kim ngạch). Tổng kim ngạch nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ các nước thuộc khu vực châu Á chiếm 93%, như vậy các nước thuộc khu vực này tiếp tục là nơi cung cấp chính chất dẻo nguyên liệu cho Việt Nam.

    1. c) Về chủng loại:

    Nhập khẩu nhựa PE tháng 2/2013 đạt 55 nghìn tấn với trị giá 83 triệu USD, giảm 43% về lượng và giảm 41% về trị giá so với tháng trước và chiếm tỷ trọng 31,84% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Giá nhập khẩu trung bình nhựa PE đạt 1.504 USD/tấn, tăng 4,31% và được nhập nhiều từ thị trường Ả Rập Xêút và Singapore.

    Nhập khẩu nhựa PP giảm 40,08% về lượng và giảm 38,34% về trị giá so với tháng 1/2013, đạt 46,8 nghìn tấn với trị giá 72,3 triệu USD và chiếm tỷ trọng 26,95% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Hàn Quốc, Singapore, và Ả Rập Xêút là những thị trường chính cung cấp mặt hàng này cho Việt Nam với giá trung bình đạt 1.546 USD/tấn, tăng 2,92%.

    Nhập khẩu nhựa PET cũng giảm mạnh, đạt 15 nghìn tấn với trị giá 24,9 triệu USD, giảm 30,59% về lượng và giảm 26,49% về trị giá so với tháng trước và chiếm tỷ trọng 8,6% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Giá nhập khẩu trung bình tăng 5,91%, đạt 1.653 USD/tấn và được nhập chủ yếu từ thị trường Hàn Quốc.

    Nhập khẩu nhựa PVC giảm rất mạnh, giảm 53,76% về lượng và giảm 49,75% về trị giá so với tháng 1/2013, đạt 10 nghìn tấn với trị giá 12,73 triệu USD và chiếm tỷ trọng 5,76% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Mặt hàng này được nhập chủ yếu từ thị trường TháI Lan với giá trung bình đạt 1.273 USD/tấn, tăng 8,68%.

    Tiếp đến là nhập khẩu nhựa ABS đạt 9,2 nghìn tấn với trị giá 6,3 nghìn tấn, giảm 28,8% về lượng và giảm 26,71% về trị giá so với tháng trước, chiếm tỷ trọng 3,6% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Giá nhập khẩu trung bình đạt 2.317 USD/tấn, tăng 2,94% và được cung cấp chủ yếu từ các thị trường Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan

    2.3.2 Cần hạn chế nhập siêu sản phẩm chất dẻo

    Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chất dẻo đã tăng gần như liên tục qua các năm. Trong giai đoạn 2002 – 2012, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chất dẻo gấp gần 11,2 lần, bình quân tăng gần 27,3%/năm. Tốc độ tăng này rất cao so với tốc độ tăng của tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

    Hai tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chất dẻo đạt 268 triệu USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước và cả năm 2013 có thể vượt lên vào nhóm những mặt hàng xuất khẩu 2 tỷ USD.

    Thị trường xuất khẩu sản phẩm chất dẻo năm 2012 của Việt Nam khá rộng, trong đó một số thị trường lớn như Nhật Bản (362,3 triệu USD), Mỹ (168,4 triệu USD), Đức (107,8 triệu USD), Hà Lan (88,4 triệu USD), Indonesia (72,2 triệu USD)…

    Tuy xuất khẩu sản phẩm chất dẻo tăng cao nhưng nhập khẩu chất dẻo và gần đây nhập khẩu lớn cả sản phẩm chất dẻo cũng tăng cao hơn nên dẫn tới nhập siêu về sản phẩm chất dẻo và chất dẻo khá lớn.

    Cụ thể, năm 2002 nhập siêu 470 triệu USD, bằng 328,7% kim ngạch xuất khẩu. Năm 2010 nhập siêu 2720 triệu USD, bằng 260,2% kim ngạch xuất khẩu. Năm 2011 nhập siêu 3400 triệu USD, bằng 250% kim ngạch xuất khẩu. Năm 2012 nhập siêu 3208 triệu USD, bằng 201% kim ngạch xuất khẩu.

    Trong 2 tháng đầu năm 2013 nhập siêu 754 triệu USD, bằng 281,3% kim ngạch xuất khẩu.

    Quy mô nhập siêu trong 2 tháng đầu cảnh báo khả năng về nhập siêu cao chất dẻo và sản phẩm chất dẻo trong năm 2013.

    Nhập siêu chất dẻo và sản phẩm chất dẻo cao do phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Tiêu thụ sản phẩm chất dẻo trong nước vừa tăng nhanh nên dẫn tới nhập siêu. Do vậy cần có giải pháp quyết liệt hơn đối với sử dụng túi ni lông với khối lượng khá lớn.

     

     

    CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG NHẬP KHẨU CHẤT DẺO NGUYÊN LIỆU KHI VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ CAM KẾT WTO

    3.1. NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM

    Về thương mại quốc tế, mục tiêu quan trọng nhất của Việt Nam trong những năm gần đây là gia nhập WTO đã thành hiện thực.Trong thời gian tiếp theo, có lẽ mục tiêu lớn nhất của Việt Nam là phải hoàn thiện tất cả các yêu cầu mà WTO đặt ra như hoàn thiện hệ thống luật pháp, cắt giảm thuế quan, bỏ các biện pháp bảo hộ mậu dịch không được WTO cho phép…Ngoài ra, Việt Nam cũng cần nên tích cực tham gia các khu vực mậu tự do (FTA) như đã tham gia AFTA, ký các hiệp định thương mại song phương, như đã ký hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA),…Các biện pháp này đều có lợi cho xuất nhập khẩu Việt Nam và cũng là điều tất yếu phải làm khi hội nhập quốc tế.
    Một vấn đề nữa, khi gia nhập WTO, thuế quan tất nhiên phải bị cắt giảm, thêm vào đó nhà nước không dc dùng các biện pháp bảo hộ xuất khẩu như trước kia ( Việt Nam đã từng thưởng xuất khẩu cho gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, thịt lợn..bù lỗ xuất khẩu cho cà phê, gạo, thịt lợn…nay đã bị cấm), hàng hóa, doanh nghiệp nước ngoài được đối xử như hàng hóa trong nước (NT), … cùng với đó, khi gia nhập WTO, Việt Nam vẫn phải chấp nhận là nền kinh tế thị trường (Non-Market Economy) trong vòng 12 năm, điều này gây ra không ít khó khăn cho Việt Nam trong thương mại quốc tế, đặc biệt trong các vụ kiện bán phá giá như vụ kiện bán phá giá cá da trơn và tôm của Mỹ trong mấy năm trước.Những qui định này gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu trong nước, nhà nước cần có những biện pháp phù hợp để hỗ trợ xuất khẩu và hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước mà không vi phạm qui định của WTO.
    Nói chung là còn nhiều việc phải làm, hội nhập là con dao 2 lưỡi, nếu không tận dụng dc thời cơ chúng ta phải lãnh những hậu quả hết sức nặng nề.

     

    Tóm tắt cơ bản về cam kết gia nhập WTO của Việt Nam 
    (Website Chính phủ) – Như Website Chính phủ đã đưa tin, ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại toàn cầu (WTO), kết thúc chặng đường 11 năm với hơn 200 cuộc đàm phán song phương và đa phương đầy khó khăn, phức tạp. Để trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và các quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, do Việt Nam đang phát triển ở trình độ thấp, lại đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nên Việt Nam yêu cầu và được WTO chấp nhận lộ trình thực hiện một số cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinh doanh…
    Về cam kết đa phương
    Kết quả mà Việt Nam đàm phán được là trong khoảng thời gian 12 năm (không muộn hơn 31/12/2018) WTO chấp nhận coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với Việt Nam. Chế độ “phi thị trường” này chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, dù Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường.
    Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi Việt Nam vào WTO. Riêng trường hợp Việt Nam vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì sẽ được xem xét, xử lý theo quy định của WTO.
    Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa. Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm, trừ ngành dệt may.
    Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên ta bảo lưu quyền được hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này. Đối với các loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm, nhìn chung Việt Nam duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản lượng. Ngoài mức này, Việt Nam còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm. Các loại trợ cấp mang tính khuyến nông (như hỗ trợ thủy lợi) là trợ cấp “xanh”, được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế.
    Về quyền kinh doanh bao gồm quyền xuất, nhập khẩu hàng hóa, tuân thủ quy định WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như doanh nghiệp và cá nhân người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi như gạo và dược phẩm.
    Việt Nam đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam. Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước. Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của Việt Nam trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo, tạp chí…
    Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia, các thành viên WTO đồng ý cho Việt Nam thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định WTO. Hướng sửa đổi là: đối với rượu trên 20 độ cồn, Việt Nam hoặc sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm; đối với bia, Việt Nam sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm.
    Về doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp thương mại Nhà nước, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này là Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp như các cổ đông khác. Việt Nam cũng đồng ý không coi mua sắm của doanh nghiệp Nhà nước là mua sắm Chính phủ.
    Tỷ lệ cổ phần thông qua quyết định tại doanh nghiệp: Điều 52 và 104 của Luật doanh nghiệp quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt động của công ty TNHH và công ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu đại diện ít nhất làng 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận. Quy định này có thể vô hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên doanh. Do vậy, Việt Nam đã xử lý theo hướng cho phép các bên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong điều lệ công ty.
    Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu, Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007. Tuy nhiên, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt. Với thuốc lá điếu và xì gà, Việt Nam đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, sẽ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà. Mức thuế nhập khẩu mà Việt Nam đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao. Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm nhưng bảo lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và nhiều biện pháp quản lý kỹ thuật chặt chẽ khác.
    Về yêu cầu minh bạch hóa, Việt Nam cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn dành cho việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí hoặc Website Chính phủ, website của các Bộ, ngành.
    Về thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen và màu theo lộ trình, không cam kết về thuế xuất khẩu của các sản phẩm khác.
    Việt Nam còn đàm phán một số vấn đề đa phương khác như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử dụng phần mềm hợp pháp trong cơ quan Chính phủ, định giá tính thuế nhập khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch, các hàng rào kỹ thuật trong thương mại… Với các nội dung này, Việt Nam cam kết tuân thủ các quy định của WTO kể từ khi gia nhập.

    Cam kết về thuế nhập khẩu
    Về mức cam kết chung, Việt Nam đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong 5 năm. Với hàng công nghiệp, mức bình quân giảm từ 16,8% xuống còn 12,6%, thực hiện chủ yếu trong vòng 5-7 năm.
    Đối với mức cam kết cụ thể, sẽ có khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu thuế phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô – xe máy… vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định.
    Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện – điện tử. Việt Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất, phương tiện vận tải.

    Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do hoá theo ngành của WTO (giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp). Đây là hiệp định tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành. Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế.
    Việt Nam cũng tham gia một số phần với thời gian thực hiện sau từ 3 – 5 năm đối với các ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
    Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN (nguyên tắc tối huệ quốc của WTO), cụ thể trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40-50%, thuốc lá lá 30%, muối ăn 30%. Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều.
    Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ
    Về diện cam kết, trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (BTA), Việt Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành). Trong thỏa thuận gia nhập WTO, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110. Về mức độ cam kết, thỏa thuận WTO đi xa hơn BTA nhưng không nhiều. Với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch… Việt Nam giữ được mức độ cam kết gần như BTA. Riêng viễn thông, ngân hàng và chứng khoán, để kết thúc đàm phán, Việt Nam có một số bước tiến nhưng nhìn chung không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này.
    Mình nghĩ chính sách quản lí ngoại hối sẽ là cộng cụ đắc lực cho mục tiêu xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Đồng tiền mất giá sẽ có lợi cho xuất khẩu và bất lợi chó nhập khẩu, rồi các chính sách cải thiện môi trường đầu tư….nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động. Bởi vì theo luật nhà nước ta không được tham gia quá sâu trái với các qui định đã cam kết khi tham gia WTO.

    3.2. Phương hướng quản lý
    1. Giải pháp liên quan đến chính sách tiền tệ.
    – Từng bước điều chỉnh tỷ giá ở mức hợp lý:
    Giả sử so sánh một mặt hàng vào hai thời điểm khác nhau với tỷ giá khác nhau là 1$ = 20.000VNĐ và 1$ = 25.000VNĐ. Nếu nhập khẩu hàng hóa đó vào lúc tỷ giá đồng Việ Nam thấp hơn (1$ = 25.000VNĐ) thì giá nhập khẩu sẽ cao hơn và ngược lại. Do đó, chính phủ cần phải từng bước điều chỉnh tỷ giá hợp lí nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nhập khẩu hàng hóa vào trong nước.
    – Quản lý nguồn ngoại tệ:
    Vì nhập khẩu hàng hóa bắt buộc phải sử dụng ngoại tệ, nên quản lí nguồn ngoại tệ đảm bảo cho việc luôn luôn có đủ ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa một cách trôi chảy, thuận lợi.
    2.Giải pháp liên quan đến chính sách tài khóa.
    – Thực hiện chính sách thuế phù hợp
    – Tiếp tục thực hiện hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp nhập khẩu (các mặt hàng cần thiết)
    3.Các giải pháp khác.
    – Áp dụng hạn ngạch đối với các mặt hàng tiêu dùng hoặc các mặt hàng trong nước đã sản xuất tốt
    – Sử dụng hàng rào về các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm.
    Đa số các hàng hóa áp dụng giải pháp này là các mặt hàng thiết yếu. Khi các tiêu chuẩn này càng được thắt chặt thì khả năng nhập khẩu hàng hóa vào trong nước càng thấp. Giải pháp này sẽ làm tăng giá thành của hàng hóa nội địa, đồng thời khắc phục một cách hiệu quả tình trạng nhập siêu.
    – Xây dựng hàng rào kỹ thuật để quản lý nhập khẩu chặt chẽ, không trái với định ước quốc tế. Đẩy mạnh sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu. Cập nhật thông tin, nâng cao chất lượng phân tích, trách nhiệm dự báo để đối phó kịp thời diễn biến trước mắt cũng như đặt kế sách lâu dài.
    – Tiếp tục cải cách hành chính, nâng cao tính hiệu quả của hệ thống chính sách, bộ máy.

    Kết luận

    Tham gia WTO là một sự kiện không nhỏ đối với nền kinh tế nước ta. Đây là lần đầu tiên chúng ta phải thực hiện các cam kết mang tính đa phương trong việc dỡ bỏ hàng rào bảo hộ, đồng thời cũng được hưởng những ưu đãi thương mại tương tự từ nhiều nước khác nhau. Cắt giảm thuế quan sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thêm nhiều cơ hội xâm nhập thị trường các nước khác. Mặt khác, ta có thể nhập được nguyên liệu từ các nước rẻ hơn, làm giảm giá thành hàng hoá sản xuất trong nước. Việc tăng cường trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam với các nước khác sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau như công nghiệp, đầu tư. Qua quá trình hợp tác này, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn nhưng thế mạnh và điểm yếu của mình so với các nước khác, từ đó có kế hoạch bổ trợ, phân công lại sản xuất và lao động để thu được lợi ích tối đa cho nền kinh tế.

    Trong thời gian qua ngành nhập khẩu mặt hàng chất dẻo nguyên liệu đã góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh nhập khẩu không tránh khỏi những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài do những biến động về môi trường kinh tế, chính trị nói chung và sự biến động của thị trường thép nói riêng, sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy, để khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh không những cần có sự nỗ lực hoàn thiện của ngành mà còn cần có sự hỗ trợ từ phía Hiệp hội, Nhà Nước

    Với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo bộ môn kinh tế ngoại thương – thầy Dương Văn Bạo, em đã hoàn thành xong bài tập lớn. Em đã rất cố gắng tìm hiểu , học tập và nghiên cứu để hoàn thành bài tập thầy đã giao. Bài tập của em không tránh khỏi những thiếu sót .Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy và các bạn để bài tập của em được hoàn chỉnh hơn .

    Em xin chân thành cảm ơn thầy!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Mặt Hàng Sắt Thép Các Loại Của Việt Nam 2019

    Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Mặt Hàng Sắt Thép Các Loại Của Việt Nam 2019

    Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Mặt Hàng Sắt Thép Các Loại Của Việt Nam 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-kinh-t%E1%BA%BF-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u-m%E1%BA%B7t-h%C3%A0ng-s%E1%BA%AFt-th%C3%A9p-c%C3%A1c-lo%E1%BA%A1i-c%E1%BB%A7a-vi%E1%BB%87t-nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Mặt Hàng Sắt Thép Các Loại Của Việt Nam 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Hiện nay xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, ở cả cấp độ khu vực và thế giới, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại và kinh tế giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc.

    Việt Nam đã và đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đưa nền kinh tế hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam đang còn là nước nông nghiệp lạc hậu, còn nhiều hạn chế về trình độ khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước thì chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận, đi tắt đón đầu các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Để thực hiện được điều này thì hoạt động nhập khẩu đóng vai trò rất quan trọng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai đang đổi mới phát triển cơ sở hạ tầng xây dựng, phát triển sản xuất, cho nên nhu cầu về vật liệu xây dựng nói chung trong đó nhu cầu về vật liệu sắt thép nhằm đáp ứng nhu cầu sắt thép trong xây dựng và phục vụ trong các ngành sản xuất khác là rất lớn. Trong khi ngành sản xuất thép của nước ta chưa đáp ứng được phôi thép và các loại thép thành phẩm cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Do vậy nhập khẩu sắt thép hiện nay đóng vai trò rất quan trọng đối với các ngành có nhu cầu sử dụng nguyên liệu thép nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Đặc biệt là việc nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc.

    Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ HÀNG NHẬP KHẨU

        1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động nhập khẩu

        1.1.1 Khái niệm

    Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động ngoại thương, là một trong hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương.

    Có thể hiểu nhập khẩu là quá trình mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước và tái nhập nhằm mục đích thu lợi nhuận.

    Nhập khẩu có thể bổ sung những hàng hoá mà trong nước không thể sản xuất được hoặc chi phí sản xuất quá cao hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng được nhu cầu trong nước. Nhập khẩu cũng nhằm tăng cường cơ sở vật chất kinh tế, công nghệ tiên tiến hiện đại ….tăng cường chuyển giao công nghệ, tiết kiệm được chi phí sản xuất, thời gian lao động, góp phần quan trọng phát triển sản xuất xã hội một cách có hiệu quả cao. Mặt khác nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá ngoại nhập từ đó tạo ra động lực thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước phải tối ưu hoá tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy để cạnh tranh được với các nhà sản xuất nước ngoài.

    1.1.2 Đặc điểm cơ bản của nhập khẩu

    Nhập khẩu là hoạt động buôn bán giữa các quốc gia, nhập khẩu là việc giao dịch buôn bán giữa các cá nhân, tổ chức có quốc tịch khác nhau ở các quốc gia khác nhau, hoạt động nhập khẩu phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh trong nước: thị trường rộng lớn; khó kiểm soát; chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp… của các quốc gia khác nhau; thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ; hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia; phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế.

    Nhập khẩu là hoạt động lưu thông hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia, nó rất phong phú và đa dạng, thường xuyên bị chi phối bởi các yếu tố như chính sách, luật pháp, văn hoá, chính trị, ….của các quốc gia khác nhau.

    Nhà nước quản lý hoạt động nhập khẩu thông qua các công cụ chính sách như: Chính sách thuế, hạn ngạch, các văn bản pháp luật khác, qui định các mặt hang nhập khẩu,…..

    1.1.3 Vai trò của hoạt động nhập khẩu

    Nhập khẩu góp phần đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới vào trong nước, góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu đi tắt đón đầu, xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ một nền kinh tế đóng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển các ngành nghề, thành phần kinh tế trong nước.

    Nhập khẩu hàng hoá tạo ra nguồn hàng đầu vào cho các ngành, công ty  sản xuất chế biến trong nước, nhập khẩu cung cấp những mặt hàng mà trong nước còn thiếu hoặc chưa thể sản xuất được, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng.

    Nhập khẩu cung cấp đầu vào cho các công ty sản xuất, làm phong phú hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá thương mại. Hoạt động nhập khẩu có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của các công ty thương mại.

    Hoạt động nhập khẩu giúp cho các công ty trong nước có điều kiện cọ sát với các doanh nghiệp nước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Khi có sự xuất hiện của các mặt hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa sẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá ngoại nhập. Để tồn tại và phát triển các công ty trong nước phải nỗ lực tìm mọi biện pháp để tối ưu hoá trong sản xuất cũng như trong quản lý để tạo ra những sản phẩm với chất lượng tốt, giá cả hấp dẫn có khả năng cạnh tranh cao và nâng cao vị thế của mình.

    Hoạt động nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước với nhau, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.

    Đối với các công ty thương mại là một mắt xích quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, do vậy hoạt động nhập khẩu kinh doanh có hiệu quả sẽ mang lại lợi nhuận cho công ty, giúp cho công ty có thể đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực khác, mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh.

    1.2. Các hình thức nhập khẩu chủ yếu

    1.2.1 Nhập khẩu trực tiếp

               Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong nước và quốc tế, tính toán chính xác các chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, tuân thủ đúng các chính sách, luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.

    Trong hình thức nhập khẩu trực tiếp này doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán, ký kết hợp đồng,…. Và phải tự bỏ vốn ra để thực hiện tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu.

    Ưu điểm: Nhà nhập khẩu có thể chủ động được các công việc trong quá trình nhập khẩu hàng hoá của mình như về thời gian, địa điểm giao nhận hàng, thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm hàng hoá,…Nhà nhập khẩu có thể chủ động trong việc làm các thủ tục hành chính cho hàng nhập khẩu, chủ động hơn trong kinh doanh nhập khẩu.

    Nhược điểm: Nhập khẩu trực tiếp đòi hỏi nhà nhập khẩu phải có một lượng vốn lớn hơn so với các hình thức nhập khẩu khác cho việc thanh toán hàng hoá nhập khẩu. Nhâp khẩu trực tiếp cũng đòi hỏi nhà nhập khẩu phải có chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế. Hình thức này phù hợp hơn đối với những Công ty nhập khẩu chuyên nghiệp, có vốn lớn

         1.2.2 Nhập khẩu uỷ thác

    Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu được hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu thiết bị toàn bộ, uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu thiết bị toàn bộ theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành với đối tác nước ngoài để làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và sẽ nhận được một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.

    Ưu điểm: Nhà nhập khẩu có thể nhập khẩu được hàng hoá thông qua một đối tác khác, nhà nhập khẩu không cần phải làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá mà uỷ thác cho đối tác nhập khẩu làm. Vốn trực tiếp bỏ ra ban đầu để nhập khẩu hàng hoá không lớn. Hình thức này phù hợp hơn đối với các Công ty mới nhập khẩu hàng hoá chư có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế.

    Nhược điểm: Nhà nhập khẩu không chủ động được thời gian chính xác, địa điểm, thủ tục….giao nhận hàng nhập khẩu mà phụ thuộc vào nhà nhập khẩu uỷ thác.

        1.2.3 Gia công quốc tế

     

    Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên kiệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phấm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.

    Gia công quốc tế ngày nay rất phổ biến trong buôn bán thương mại quốc tế.

    Ưu điểm: Đối với bên đặt gia công, giúp họ tận dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công rẻ của nước nhận gia công.

    Đối với bên nhận gia công, giúp họ giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị công nghệ hiện đại vào trong nước mình. Trong thực tế nhiều nước đang phát triển nhờ thực hiện phương thức gia công quốc tế đã góp phần xây dựng nên một nền công nghiệp hiện đại như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo,….

    Các hình thức gia công quốc tế chủ yếu:

    • Xét về quyền sở hữu nguyên liệu gia công quốc tế có thể có các hình thức sau:
    • Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhân gia công và sau một khoảng thời gian sản xuất, chết tạo sẽ nhập lại thành phẩm và trả phí gia công cho bên nhận gia công. Đối với trường hợp này thì trong thời gian gia công chế tạo quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công.
    • Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian gia công sản xuất chế tạo, bên đặt gia công sẽ mua lại thành phẩm. Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công.

    Ngoài rà có thể áp dụng hình thức kết hợp, trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp nguyên liệu phụ.

    • Xét về mặt giá cả gia công, có 2 hình thức gia công chính:
    • Hợp đồng thực chi thực thanh, trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.
    • Hợp đòng khoán, trong đó người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Hai bên thanh toán với nhau theo giá định mức.
    • Xét về số bên tham gia quan hệ gia công, có 2 hình thức chính:
    • Gia công 2 bên, trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công.
    • Gia công nhiều bên, trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công chỉ có một.

        1.2.4 Nhập khẩu đổi hàng ( Nhập khẩu đối lưu)

    Nhập khẩu đổi hàng là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về.

    Đặc tính của nhập khẩu đổi hàng là cân bằng về mặt hàng hoá, cân bằng về giá cả, cân bằng về tổng giá trị, cân bằng về các điều kiện và cơ sở giao hàng.

    Phương thức này trước kia được áp dụng nhiều, là phương thức nhập khẩu chủ yếu đối với những nước đang và kém phát triển thiếu ngoại tệ mạnh để nhập khẩu. Ngày nay phương thức này không được áp dụng phổ biến lắm trong thương mại quốc tế.

        1.3.Nội dung chủ yếu của hoạt động nhập khẩu hàng hoá

    • Nghiên cứu thị trường:

    + Nghiên cứu thị trường trong nước: nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu, nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu sự vận động của môi trường kinh doanh…

    + Nghiên cứu thị trường nước ngoài: nghiên cứu nguồn cung cấp hàng hóa trên thị trường quốc tế, nghiên cứu giá cả trên thị trường quốc tế…

    • Lập phương án kinh doanh:

    + Nhận định tổng quan về tình hình diễn biến thị trường.

    + Đánh giá khả năng của doanh nghiệp.

    + Xác định thị trường, mặt hàng nhập khẩu và số lượng mua bán.

    + Xác định đối tượng giao dịch để nhập khẩu.

    + Xác định thị trường và khách hàng tiêu thụ.

    + Xác định giá cả mua bán trong nước.

    + Đề ra các biện pháp thực hiện.

    • Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng

    –   Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu:

    + Thuê phương tiện vận tải.

    + Mua bảo hiểm hàng hóa.

    + Làm thủ tục hải quan.

    + Nhận hàng.

    + Kiểm tra hàng hóa nhập khẩu.

    + Làm thủ tục thanh toán.

        1.4.  Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu

    * Các nhân tố bên trong Công ty

    – Nhân tố Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính

    – Nhân tố con người

    – Nhân tố vốn và công nghệ

    *   Các nhân tố bên ngoài Công ty

    – Nhân tố chính trị, luật pháp

    – Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng nhập khẩu

    – Yếu tố thị trường trong nước và ngoài nước

    – Yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng

    hoá quốc tế

    1.5. Nội dung của quy trình nhập khẩu

    * Nghiên cứu thị trường

    – Nghiên cứu thị trường nội địa

    –  Nghiên cứu thị trường nước ngoài

    * Lập phương án kinh doanh

    * Tổ chức tiến hành nhập khẩu hàng hoá

    – Giao dịch và đàm phán

    –  Ký kết hợp đồng

    –  Thực hiện hợp đồng

     

     

    Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU MẶT HÀNG SẮT THÉP CÁC LOẠI CỦA VIỆT NAM

     

    2.1. Đánh giá về lượng hàng nhập khẩu

    Sắt thép là một trong những mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam. Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này luôn đứng thứ ba, chỉ sau máy móc, thiết bị và xăng dầu

    2.1.1 Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2007

    Về thị trường nhập khẩu: Đạt được tiến độ nhập khẩu sắt thép trong năm 2007 là có nhiều sự cố gắng của các doanh nghiệp, cộng với những hỗ trợ không nhỏ từ các cơ quan quản lý trong việc điều hành cơ chế một cách linh hoạt và hợp lý. Chính những việc này đã giúp các doanh nghiệp hoàn thành tốt công tác nhập khẩu của mình. Năm 2007, Việt Nam đã nhập khẩu sắt thép từ gần 70 thị trường trên thế giới. Trong đó, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,3 tỷ USD, tăng 59% so với năm 2006, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam. Năm 2007, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Nhật Bản cũng tăng đáng kể, đạt kim ngạch hơn 676 triệu USD, tăng 37% so với năm 2006. Đáng chú ý, nhập khẩu sắt thép từ Đài Loan tăng rất mạnh, đạt kim ngạch lần lượt là 567,8 triệu USD và 383,8 triệu USD. Như vậy, với việc nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc không còn thuận lợi như trước, rất có thể trong năm 2008 các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chuyển sang nhập khẩu sắt thép từ các thị trường khác như Đài Loan, Malayxia, Hàn Quốc, Nga,… vì khoảng cách địa lý và đường vận chuyển từ các thị trường này cũng có nhiều thuận lợi.

     

    Bốn thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Malayxia chiếm 77% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam, đạt gần 4 tỷ USD, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ hầu hết các thị trường còn lại đều tăng mạnh so với năm 2006.

    Về chủng loại nhập khẩu: Năm 2007, nhập khẩu các mặt hàng sắt thép chính như thép cuộn, thép tấm, phôi thép, tháp hình… đều tăng mạnh. Theo số liệu, mặt hàng thép cuộn nhập khẩu mạnh nhất, đạt trên 2 tỷ USD tương đương 3,3 triệu tấn, chiếm 40% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam. Trong đó, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 827 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 77% về trị giá và 31% về lượng so với năm 2006.

    Giá nhập khẩu thép cuộn từ Trung Quốc thấp hơn khá nhiều so với các thị trường khác. Theo số liệu, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình cả năm 2007 từ Trung Quốc tăng hơn 150 USD/tấn so với năm 2006, đạt 581,5 USD/tấn, trong đó tháng 12/07 đạt mức cao kỷ lục, đạt 676,8 USD/tấn, tăng 8% so với tháng trước và 18% so với cùng kỳ năm 2006. Tuy nhiên, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình năm 2007 từ Nhật Bản – thị trường có giá sát với Trung Quốc nhất, cũng cao hơn 30 USD/tấn so với Trung Quốc, đạt 619 USD/tấn trong đó tháng 12/07 đạt 620,57 USD/tấn, tăng 1% so với tháng trước và 6,4% so với cùng kỳ năm 2006. Các thị trường còn lại đều đạt mức trung bình trên 650 USD/tấn.

    Chủng loại sắt thép được nhập khẩu nhiều thứ hai trong năm 2007 là thép tấm, đạt hơn 994 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 62% về trị giá và 30% về lượng. Trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc đạt hơn 900 triệu USD tương đương 1,3 triệu tấn và nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 479,3 triệu USD tương đương 742 ngàn tấn. Như vậy, nhập khẩu thép tấm của Việt Nam trong năm 2007 chủ yếu được nhập từ Trung Quốc và Nhật Bản.

    Ngoài hai chủng loại trên, nhập khẩu các chủng loại còn lại như thép hình, thép lá, thép không gỉ… của Việt Nam trong năm 2007 cũng tăng đáng kể so với năm 2006. Dự báo năm 2008 lượng sắt thép nhập khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn này rất lớn, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và giao thông vận tải.

    2.1.2 Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2008

    Tuy nhiên, năm 2008, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Trung Quốc giảm mạnh do nguồn cung từ Trung Quốc không còn dồi dào như trước, cộng với giá thành sản phẩm chiếm ưu thế không nhiều so với các thị trường khác.

    Trước tình hình tồn kho còn rất lớn, vốn bị hạn hẹp, các doanh nghiệp ngành sắt thép của Việt Nam đã giảm mạnh lượng nhập khẩu.

    Theo số liệu thống kê, nhập khẩu sắt thép các loại trong tháng 8/2008 giảm 23,03% so với tháng trước và giảm 53,84% so với cùng kì năm 2007, xuống còn 330,2 nghìn tấn, mức thấp nhất kể từ đầu năm 2007 đến nay. Đây là tháng thứ 5 nhập khẩu sắt thép giảm.

    Trong tháng 8, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc giảm 30,86% so với 7/2008 và giảm 57,12% so với tháng 8/2007 xuống chỉ còn 135,8 nghìn tấn. Tính trong 8 tháng năm 2008, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,6 triệu tấn, giảm 3,01% so với cùng kỳ năm 2007 và chiếm 38,8% tổng lượng nhập khẩu của cả nước.

    2.1.3  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2009

              Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong tháng 11/2009, cả nước đã nhập khẩu 825.184 tấn sắt thép các loại giảm 9,4% so với tháng trước đạt trị giá 495,4 triệu USD, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập 197.981 tấn, trị giá 143.145.603 USD. Tính chung 11 tháng năm 2009, cả nước đã nhập 8.931.798 tấn tăng 15,3% so với cùng kỳ và đạt trị giá 4,85 tỷ USD.

    – Trong 11 tháng năm 2009, Việt Nam đã nhập khẩu mặt hàng này từ 26 nước trên thế giới, trong đó Nga là thị trường đứng đầu về lượng nhập với 1,66 triệu tấn, trị giá 741,5 triệu USD chiếm 57,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này. Tháng 11, Việt Nam đã nhập 12.370 tấn sắt thép các loại từ thị trường Nga, với đơn giá trung bình là 449,70 USD/tấn.
    – Đứng thứ hai sau thị trường Nga là Nhật Bản, với lượng nhập 1.297.748 tấn, trị giá 737,97 triệu USD chiếm 11,11%  tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này, tăng 14,27% về lượng nhưng giảm 22,8% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
    – Đứng thứ ba là thị trường Trung Quốc với lượng nhập 1.124.257 tấn, trị giá 699.372.512 USD. Theo dữ liệu thống kê của hải quan Trung Quốc, cho đến tháng 11/2009,  Việt Nam là nước nhập khẩu lớn thứ hai về sản phẩm này với 1,34 triệu tấn, giảm 50,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong năm 2008, Trung Quốc đã xuất khẩu  2,76 triệu tấn sang Việt Nam. Tỉ phần nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2008 là  4,67%. Xuất khẩu thép của Trung Quốc sang Việt Nam chiếm 6,3%.
    2.1.4  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2010

    Lượng sắt thép các loại nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc chiếm 25,5%

    Theo số liệu thống kê, Việt Nam đã nhập khẩu trên 1 triệu tấn sắt thép các loại trong tháng 10, với kim ngạch 679,5 triệu USD, tăng 20,56% về lượng so với tháng 9, nâng tổng lượng sắt thép các loại nhập về 10 tháng đầu năm lên 7,2 triệu tấn, trị giá 4,9 tỷ USD, giảm 10,27% về lượng nhưng tăng 15,50% về trị giá so với 10 tháng năm 2009. Trong đó, phôi thép được nhập về là 1,7 triệu tấn, trị giá trên 955 triệu USD.

    Trung Quốc, Hàn quốc, Nhật Bản là những thị trường chính cung cấp sắt thép cho Việt Nam trong 10 tháng năm 2010. Trong đó, Trung Quốc là thị trường nhập mặt hàng này nhiều nhất với 1,8 triệu tấn chiếm 25,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, đạt 1,2 tỷ USD, tăng 85,23% về lượng và tăng 107,73% về trị giá so với 10 tháng năm 2009. Tuy nhiên, tháng 10/2010, đã nhập 194,6 nghìn tấn sắt thép các loại từ thị trường này, đạt 125,9 triệu USD, tăng 27,7% về lượng và 13,83% về trị giá so với tháng 9/2010.

    Nhìn chung 10 tháng đầu năm 2010, nhập khẩu sắt thép các loại từ các thị trường đều giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ. Giảm mạnh nhất là thị trường Ấn Độ, giảm 92% về lượng và giảm 79,84% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009, với 12 nghìn tấn, trị giá 18,1 triệu USD.

    Tình hình giao dịch xuất khẩu thép hộp tại khu vực của khẩu Móng Cái – Đông Hưng đang có chiều hướng gia tăng rõ rệt. Trong 10 ngày đầu tháng 1/2010, sản lượng giao dịch nhập khẩu thép hộp xây dựng vào thị trường Việt Nam đạt 500 tấn, do nhịp độ nhập khẩu đang tăng, nên cả tháng có khả năng sẽ đạt 2.000 tấn.

    Nhu cầu sử dụng thép hộp xây dựng của thị trường trong nước khá lớn, vì phần dân dụng chiếm tỷ lệ cao, nên các tháng còn lại của quý I/2010, sẽ còn tăng lượng nhập khẩu để cung ứng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng trong xây dựng và các công việc khác.

    Tham khảo giá thép hộp xây dựng của Trung Quốc chào bán sang Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái ngày 10/1/2010

    Chủng loại thép hộp Trọng lượng cây 6m Giá VNĐ/cây Chủng loại thép hộp Trọng lượng cây 6m Giá VNĐ/cây
    20x20x1,0 3,54 kg 42.502 30x30x0,9 4,9 kg 57.285
    20x20x1,2 4,20 kg 51.741 30x30x1,0 5,43 kg 62.829
    20x20x1,4 4,83 kg 59.133 30x30x1,2 6,46 kg 75.764
    20x20x1,5 5,14 kg 62.829 30x30x1,5 7,97 kg 97.939
    20x40x0,8 4,38 kg 57.285 30x60x1,2 9,85 kg 125.657
    20x40x0,9 4,90 kg 60.981 30x60x1,4 11,43 kg 144.136
    20x40x1,0 5,43 kg 68.372 30x60x1,5 12,21 kg 153.376
    20x40x1,2 6,46 kg 75.764 30x60x1,8 14,53 kg 188.486
    20x40x1,5 7,97 kg 97.939 40x40x1,0 7,31 kg 88.699
    25x25x0,8 3,62 kg 42.502 40x40x1,2 8,72 kg 107.178
    25x25x0,9 4,06 kg 48.045 40x40x1,4 10,11 kg 123.809
    25x25x1,0 4,48 kg 49.893 40x40x1,5 10,8 kg 133.049
    25x25x1,2 5,33 kg 60.981 50x50x1,4 12,74 kg 164.463
    25x25x1,5 6,56 kg 68.372 50x50x1,5 13,62 kg 173.703
    25x50x1,0 6,84 kg 70.220 50x50x1,8 16,22 kg 214.356
    25x50x1,4 9,45 kg 123.809 50x50x2,0 17,94 kg 245.771
    25x50x1,5 10,09 kg 133.049 60x60x1,4 15,38 kg 203.269
    25x50x1,8 11,98 kg 158.919 60x60x1,5 16,45 kg 214.356

    2.1.5  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2011

    Theo số liệu thống kê , tháng 10/2011 Việt Nam đã nhập 609,2 nghìn tấn sắt thép các loại, chi trên 500 triệu USD, giảm cả về lượng và trị giá so với tháng 10/2010. Nhưng tính chung 10 tháng đầu năm nhập khẩu mặt hàng này lượng giảm nhưng tăng trưởng về kim ngạch, giảm 17,37% về lượng, tăng 4,28% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 5,9 triệu tấn, trị giá 5,2 tỷ USD.

    Thị trường: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… tiếp tục là những thị trường chính cung cấp sắt thép cho Việt Nam. Đứng đầu là thị trường Nhật Bản với trên 1,5 triệu tấn trong 10 tháng đầu năm chiếm 26,5% tỷ trọng, trị giá 1,3 tỷ USD, tăng 15,54% về lượng và tăng 36% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Tuy có vị trí địa lý thuận lợi hơn Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng Trung Quốc chỉ đứng thứ 3 về thị trường cung cấp sắt thép các loại cho Việt Nam trong 10 tháng đầu năm nay với 1,34 triệu tấn , trị giá 1,2 tỷ USD, giảm 27,21% về lượng và giảm 5,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2010.

    2.1.6  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2012

    Trong năm 2012, TRung Quốc vượt qua Nhật Bản và lần thứ ba trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013 trở thành đối tác lớn nhất cung cấp sắt thép cho thị trường Việt Nam với 2,34 triệu tấn, trị giá là 1,76 tỷ USD, tăng 40,3% về lượng và tăng 17,9% về trị giá so với năm 2011 (trong hai năm 2008 và năm 2010, sắt thép cps xuất xứ từ Trung Quốc cũng là nguồn hàng lớn nhất cho Việt Nam) .

    Tháng 3/2012 Việt Nam đã nhập khẩu 612,9 nghìn tấn, trị giá 494,1 triệu USD, giảm 11,7% về lượng và giảm 9,7% về trị giá so với tháng 2/2012. Tính chung 3 tháng đầu năm 2012, Việt Nam đã nhập khẩu 1,8 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá 1,4 tỷ USD, tăng 7,3% về lượng và tăng 6,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Là thị trường có vị trí địa lý thuận lợi nên Trung Quốc – thị trường chính nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong thời gian này, chiếm 23,5% tỷ trọng, tương đương với 424,8 nghìn tấn, trị giá 334 triệu USD, tăng 46,6% về lượng và tăng 32,02% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng tháng 3/2012, Việt Nam đã nhập khẩu 143,6 nghìn tấn, trị giá 114,1 triệu USD.

    Các chủng loại thép được nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc trong tháng 3 là thép tấm cán nóng, thép cuộn cán nóng, thép hợp kim được cán phẳng, thép tấm hợp kim… với đơn giá 630 USD/tấn; 644 USD/tấn; 645 USD/tấn…

    2.1.7  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong quý I năm 2013

    Kết thúc quý I/2013, Việt Nam đã nhập khẩu 2,1 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá 1,5 tỷ USD, tăng 20,05% về lượng và tăng 7,11% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. Tính riêng tháng 3/2013, Việt Nam đã nhập khẩu 828,1 nghìn tấn, trị giá 601,6 triệu USD, tăng 50,3% về lượng và tăng 50,6% về trị giá so với tháng liền kề trước đó.

    Lượng phôi thép nhập khẩu trong tháng 3 là 36,3 nghìn tấn, trị giá là 20,8 triệu USD, tăng 23,5% về lượng và tăng 25,1% về trị giá so với tháng trước, nâng lượng nhập khẩu trong quý I/2013 lên 83,5 nghìn tấn, trị giá là 47,3 triệu USD, giảm 25,3% về lượng và giảm 34,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Các thị trường chính cung cấp mặt hàng này cho Việt Nam trong quý đầu năm này là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Braxin, Ấn Độ…Trong đó Nhật Bản là thị trường chính Việt Nam nhập khẩu sắt thép, chiếm 31,7% thị phần, tương đương với 686,2 nghìn tấn, trị giá 444,1 triệu USD, tăng 62,5% về lượng và tăng 35,44% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012.

    Tuy có vị trí địa lý thuận lợi cho việc vận chuyển, nhưng Trung Quốc chỉ đứng thứ hai sau thị trường Nhật Bản, chiếm 28,9% thị phần, với 626,7 nghìn tấn, trị giá 443,5 triệu USD, tăng 47,5% về lượng và tăng 32,78% về trị giá so với quý I/2012.

    2.2 Cơ chế chính sách nhập khẩu sắt thép của Việt Nam

    Chính sách nhập khẩu đối với mặt hàng thép nói chung Nhà Nước không quy định hạn ngạch nhập khẩu, hầu hết các loại phôi và thép thành phẩm nhập khẩu từ các nước trong khu vực Đông Nam Á có thuế suất 0% hoặc thuế suất thấp dưới 5% theo chương trình cắt giảm thuế quan chung (CEPT), trừ một số loại sắt, thép không hợp kim được cán mỏng, có chiều rộng từ 600mm trở lên, đã phủ mạ, hoặc tráng hiện đang có mức thuế suất từ 5% đến 20%.

    Việc quản lý nhập khẩu, Nhà nước quản lý các đơn vị nhập khẩu thép thông qua Tổng Công ty Thép Việt Nam. Các đơn vị nhập khẩu trực thuộc Tổng Công ty khi nhập khẩu đều phải xin phép, khai báo lên Tổng Công ty.

    Tổng Công ty căn cứ vào tình hình sản xuất và tiêu thụ thép trong nước để lập kế hoạch và quản lý nhập khẩu.

     Những quy định về nhập khẩu sắt thép của Tổng Công ty thép Việt Nam

    Căn cứ vào Nghị định số 03/CP ngày 25/01/1996 của Chính phủ phê chuẩn Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Thép Việt Nam

    Căn cứ vào tình hình thị trường thép

    Tổng Công ty Thép Việt Nam qui định một số vấn đề sau:

              Quy định chung

    Một là, các đơn vị trực thuộc được quyền chủ động nhập khẩu kim khí phục vụ sản xuất – kinh doanh của đơn vị mình theo qui định của pháp luật hiện hành, trừ các trường hợp phải được Tổng Công ty phê duyệt.

    Hai là, Tổng Công ty khuyến khích các đơn vị thương mại kinh doanh hàng nhập khẩu theo hướng chuyên doanh nhằm phát huy thế mạnh của từng đơn vị, đồng thời cần phải có sự phối hợp về thị trường và giá cả trong nội bộ Tổng Công ty.

    Ba là, Tổng Công ty có thể trực tiếp nhập khẩu theo đơn đặt hàng của các đơn vị trực thuộc hoặc tự nhập khẩu để kinh doanh. Giá bán củaTổng Công ty cho các đơn vị trực thuộc tính trên cơ sở của Qui định về tài chính của Tổng Công ty.

    Bốn là, Phòng kinh doanh -xuất nhập khẩu trực tiếp tổ chức tiếp nhận các lô hàng Tổng Công ty nhập khẩu hoặc uỷ quyền cho các đơn vị trực thuộc thực hiện. Trong trường hợp các đơn vị tiếp nhận thì phí tiếp nhận được hạch toán theo quy định về tài chính của Tổng Công ty. Đơn vị tiếp nhận phải hoàn thiện đầy đủ, đúng hạn các thủ tục khiếu nại hàng thiếu hoặc phẩm chất không phù hợp vơí hợp đồng (nếu có). Nếu để xảy ra không khiếu nại được thì đơn vị tiếp nhận chịu trách nhiệm về số hàng thiếu hụt và kém phẩm chất đó.

    Năm là, các đơn vị thương mại chủ động thiết lập chân hàng nhập khẩu ổn định để đảm bảo nhu cầu kinh doanh, hạn chế tối đa hình thức dịch vụ nhập khẩu (khách hàng giao dịch nguồn cung cấp, các đơn vị thương mại chỉ làm thủ tục nhập khẩu và hưởng phí) và không được uỷ thác nhập khẩu qua các đơn vị ngoài Tổng Công ty.

    Sáu là, thẩm quyền ký kết hợp đồng mua được thực hiện theo điều 10.2 Quyết định số 1553 QĐ/HĐQT ngày 21/8/1997 của Hội đồng quản trị Tổng công ty Thép Việt Nam. Những hợp đồng mua có trị giá vượt quá thẩm quyền của các đơn vị chỉ được ký và thực hiện sau khi đã được Tổng Công ty phê duyệt. Nghiêm cấm đối phó bằng cách chia nhỏ hợp đồng.

    Quy định về phê duyệt nhập khẩu

    – Việc nhập khẩu phôi thép và thép chính phẩm các loại phải được Tổng Công ty phê duyệt. Đơn vị nhập khẩu tự chịu trách nhiệm về tư cách khách hàng và hiệu quả kinh doanh của từng lô hàng nhập khẩu theo phương án đã trình Tổng Công ty.

    – Hồ sơ xin phép nhập khẩu:

    Công văn xin phép nhập khẩu do thủ trưởng đơn vị hoặc người được uỷ quyền ký;

    + Phương án kinh doanh (theo mẫu số 1 đính kèm);

    + Báo cáo tồn kho chi tiết mặt hàng xin nhập khẩu;

    + Báo cáo thực hiện các hợp đồng nhập khẩu trước đó (theo mẫu số 3 đính kèm).

    + Đơn chào hàng của khách hàng.

    + Giấy bảo lãnh của Ngân hàng (đối với trường hợp cung cấp phôi thép cho các đơn vị ngoài Tổng Công ty).

    + Đối với những lô hàng cần Tổng Công ty bảo lãnh mở L/C thì kèm theo đơn xin bảo lãnh.

    – Trong vòng tối đa 02 ngày kể từ khi nhận được đầy đủ các hồ sơ trên theo đúng nội dung quy định Phòng kinh doanh – xuất nhập khẩu phải thông báo quyết định của Lãnh đạo Tổng Công ty để đơn vị thực hiện. Các đơn vị chỉ được ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu sau khi nhận được uỷ quyền của Tổng giám đốc Tổng Công ty.

     Qui định cụ thể về nhập khẩu phôi thép

    Một là, các đơn vị sản xuất trực thuộc phải có kế hoạch nhập khẩu đảm bảo nguồn phôi cho sản xuất. Nếu không tự nhập khẩu được thì phải có kế hoạch đặt mua qua các đơn vị thương mại trực thuộc Tổng Công ty hoặc cơ quan văn phòng Tổng Công ty; trường hợp đặc biệt phải mua của các đơn vị ngoài Tổng Công ty chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Tổng Công ty. Các đơn vị thương mại của Tổng Công ty chỉ được nhập khẩu trực tiếp  để cung cấp cho các đơn vị sản xuất trực thuộc Tổng Công ty.

    Hai là, Tổng Công ty khuyến khích các đơn vị nhập khẩu trực tiếp phôi thép để cung cấp cho các liên doanh của Tổng Công ty.

    Ba là, việc cung cấp phôi thép cho các đơn vị sản xuất ngoài Tổng Công ty (kể cả nguồn khai thác) được Tổng Công ty cho phép thực hiện nếu phương án kinh doanh có hiệu quả cao, có bảo lãnh của ngân hàng có uy tín và không ràng buộc phải tiêu thụ sản phẩm. Giám đốc đơn vị có trách nhiệm thực hiện đúng phương án đã trình Tổng Công ty. Đơn vị nào vi phạm sẽ không được xem xét những lô hàng tiếp theo và phải chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty.

    2.3 Những tồn tại trong việc nhập khẩu sắt thép

             Nhập khẩu thép giá rẻ khiến thị trường thép dư thừa.

    Sản phẩm đang bị khủng hoảng thừa nhưng ngành thép Việt Nam mỗi năm phải nhập khẩu thêm khoảng 7 tỉ USD.

    Vấn đề này cần được nhìn nhận thế nào trong thực trạng ngành thép? Đâu là những trắc trở và hướng giải quyết trong cơ cấu phát triển thép Việt Nam hiện nay?

    Nhập khẩu thép giá rẻ khiến thị trường thép dư thừa đe dọa doanh nghiệp nội.

    Trong khi lượng thép sản xuất trong nước còn đang tồn kho tới hơn 300 nghìn tấn, thì nhiều doanh nghiệp vẫn ồ ạt nhập khẩu thép. Dẫu biết rằng việc nhập khẩu các loại thép mà trong nước chưa sản xuất được là không thể tránh khỏi.

    Tuy nhiên việc nhập khẩu các loại thép trong nước đang dư thừa, đặc biệt là thép giá rẻ đang gây nhiều tác động đến sản xuất thép trong nước.

    Hiện nay thép ngoại đang tràn ngập thị trường Việt Nam và đang tiếp tục nhập, với giá rẻ hơn thép trong nước, khoảng 800.000 đồng/tấn. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do tiêu thụ thép trên thế giới giảm, các công ty thép nước ngoài cần tiền mặt.

    Ngoài ra, do có khả năng, cạnh tranh mạnh, được Chính phủ các nước đó hỗ trợ nên các công ty thép nước ngoài chấp nhận bán thép vào Việt Nam với giá dưới giá thành.

    Tác động xấu lớn nhất của việc nhập khẩu thép nêu trên là đã và đang đẩy ngành thép Việt Nam vốn có khả năng cạnh tranh còn yếu vào tình thế vô cùng khó khăn, không đủ sức cạnh tranh với thép ngoại.

    Ngoài ra, một số công ty thương mại trong nước muốn có lời nhiều nên nhập thép giá càng rẻ càng tốt, là loại thép do cơ sở nhỏ sản xuất với chất lượng kém gây hại cho các công trình xây dựng.

    Để tìm hiểu rõ về vấn đề này, phóng viên Đài TNVN phỏng vẫn ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó Chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam.

    Trả lời câu hỏi của phóng viên: “ Thưa ông, được biết hiện nay, lượng thép trong nước tồn kho rất lớn trong khi đó, nhập khẩu thép lại tăng lên. Ông có thể cho biết tình hình cụ thể?”. Ông Nguyễn Tiến Nghi cho biết:

    Về tình hình nhập khẩu, trong mấy năm nay chúng ta vẫn nhập những sản phẩm trong nước chưa sản xuất được như cán tấm nóng 1 năm phải nhập 3 tỷ USD với 3 triệu tấn. Thép, đặc biệt như thép hợp kim, thép chế tạo hoặc nguyên liệu cho sản xuất thép như thép phế nhập tới 70-80% theo nhu cầu thị trường với hơn 3,5 triệu tấn trong năm 2012. Tuy nhiên, có những sản phẩm mà trong nước dư thừa như thép xây dựng vẫn được nhập vào. Nếu như nhập thép xây dựng vẫn có thuế cao từ 5-10% nhưng họ trốn tránh theo cách khai thác thép nhập khẩu là hợp kim để có mức thuế 0%. Chủ yếu là thép Trung Quốc chứa vi lượng Bo được xác định là thép hợp kim nên được hưởng thuế 0%.

    Hiện, thép xây dựng trong nước sản xuất được và đang dư thừa nên nếu nhập vào thì là vô lí, ảnh hưởng thị trường, chiếm thị phần trong nước. Khi nhập khẩu làm giảm thị phần trong nước. Thép sây ở Việt Nam cơ cấu 20-25% mà giờ tụt xuống dưới 20% có nghĩa là thép nước ngoài đã chiếm mất thị phần và buộc doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được với giá ấy phải giảm sản lượng, hoặc chuyên sản xuất mặt hàng khác, chiếm thị trường của mình làm doanh nghiệp phải chuyên cơ cấu sản xuất khác, không sản xuất các sản phẩm ấy nữa.

    Trả lời cho câu hỏi tại sao chưa có giải pháp khắc phục mặc dù tình trạng này đã xuất hiện từ lâu, ông Nguyễn Tiến Nghi cho biết thêm:

    Việc gian lận thương mại như vậy không riêng gì Việt Nam mà ở cả các nước Đông Nam á cũng rất nóng lòng về việc này. Hiện nay thép Trung Quốc nhập vào rẻ hơn 300.000-500.000 đồng/tấn. Người bán hàng không nói đây là hàng Trung Quốc mà người dân lại thấy rẻ nên mua, rất khó kiểm soát. Đây là vấn đề rất khó vì thực chất là họ né từ thép xây dựng sang hợp kim, thực chất là trốn thuế từ 5% xuống 0%. Thứ hai, ta có quy định nguyên tố Bo từ 8 phần nghìn là thép hợp kim, nếu thay đổi phải thay cả quy định này. Rất khó để thay đổi ngay trong một thời gian vì còn liên quan đến quy chuẩn thế giới.

    Trả lời cho câu hỏi tại sao chưa có giải pháp ngăn chặn hình thức gian lận trong thương mại bảo về sản xuất trong nước, ông Nguyễn Tiến Nghi cũng cho biết:

    Hiện chúng tôi đang phối hợp cùng với các nước Đông Nam Á để đưa ra một chuẩn pháp lý. Còn bới quản lý nhà nước thì cơ quan Hải quan phải vào cuộc. Lãnh đạo hiệp hội cũng đề nghị với Hải quan là các khách hàng nhập thép về thì phải đề nghị họ khai báo đúng mác nhập khẩu. Chúng tôi cung cấp một số mác chung như hiện nay. Phân tích nguyên tố Bo vi lượng rất nhỏ nhiều khi không có máy để làm được. Cho nên phải kiểm tra việc nhập khẩu kê khai đúng thì mới kiểm soát được. Thứ hai, giá thép hợp kim không có giá 600-700 USD/tấn mà phải 950-1000 USD/tấn. Thép hợp kim thì không bao giờ đưa đi xây dựng vì với mức giá như vậy, giá quá cao nên cần phải có hậu kiểm, tức là kiểm tra xem thép khi nhập về thì sử dụng vào việc gì, đi theo đường nào, hướng nào, để giảm bớt tình trạng này.

    Chương III: PHƯƠNG HƯỚNG NHẬP KHẨU SẮT THÉP KHI VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ CAM KẾT WTO

    3.1 Những cam kết của Việt Nam

    3.1.1Tình hình phát triển ngành thép Việt Nam trước khi gia nhập WTO?

    Ngành thép Việt Nam được khởi đầu bằng sự ra đời của Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên năm 1963 . Sau một thời gian dài phát triển khá chậm, kể từ năm 2001 (khi Chính phủ có Quyết định số 134/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010), ngành thép đã có những bước phát triển tương đối nhanh.

    Bảng 1 – Năng lực sản xuất ngành thép (tấn)

      Năm 2001 Năm 2007
    Năng lực luyện thép 350.000 3.400.000
    Năng lực cán thép 2.000.000 6.400.000

    Tính đến cuối năm 2007, năng lực luyện thép tăng gần 10 lần so với năm 2001, s ản lượng tăng gấp 6 lần, năng lực cán thép tăng gấp 3 lần so với năm 2001. Tổng sản lượng thép cán năm 2007 đạt khoảng 4 triệu tấn.

    Ngành thép Việt Nam đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ về thép cán xây dựng, tôn mạ kẽm mạ màu, ống hàn cỡ nhỏ và một phần nhu cầu về thép lá cán nguội của thị trường trong nước. Mục tiêu phát triển của ngành thép vì vậy vẫn là đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước và tăng cường xuất khẩu khi có năng lực.

    3.1.2. Năng lực sản xuất thép?

    – Đối với sản phẩm thép:

    Hiện Việt Nam có khoảng 25 doanh nghiệp và trên 50 cơ sở sản xuất nhỏ sản xuất cán thép với chủng loại thép cán dài (tồng công suất của các cơ sở này theo thiết kế khoảng 6,4 triệu tấn/năm) và thép dẹt (công suất 600.000 tấn/năm với thép dẹt cán nguội, hiện đang xây dựng nhà máy thép cán nóng công suất 2 triệu tấn/năm).

    Trình độ công nghệ ngành cán thép chia làm 3 nhóm:

    • nhóm các nhà máy hiện đại, sử dụng công nghệ và thiết bị hiện đại của nước ngoài, chiếm khoảng 20% đến 25% tổng công suất cán hiện có.
    • nhóm các nhà máy trung bình, sử dụng các công nghệ và thiết bị của các nước như Trung quốc, Đài Loan, chiếm khoảng 55% đến 65% tổng công suất cán hiện có.
    • nhóm các nhà máy lạc hậu qui mô rất nhỏ, sử dụng thiết bị tự chế tạo trong nước, chiếm khoảng 15% đến 20% tổng công suất cán hiện có;

    – Đối với phôi thép:

    Hiện có khoảng 14 doanh nghiệp sản xuất phôi thép với công suất thiết kế đạt hơn 2 triệu tấn/năm, đáp ứng khoảng 30% nhu cầu nguyên liệu phôi để cán thép, số còn lại nhập khẩu từ nước ngoài (chủ yếu từ Trung Quốc).

    Việt Nam đang phấn đấu nâng cao tỷ lệ phôi sản xuất trong nước lên 70% trong thời gian tới thông qua việc đầu tư mới và thực hiện mở rộng các dự án sản xuất phôi thép hiện có; tăng cường hiệu quả công tác quản lý tài nguyên quặng sắt, hạn chế xuất khẩu quặng thô (thời gian gần đây nhà nước đã tăng thuế xuất khẩu đối với quặng sắt).

    3.1.3. Tình hình nhập khẩu thép hiện nay?

    Hàng năm Việt nam vẫn phải nhập khẩu một khối lượng lớn thép các loại, bao gồm:

    • Các loại thép mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu: thép nguyên liệu dẹt cán nóng (thép tấm dày, lá và băng cuộn cán nóng), thép hình cỡ lớn, thép đặc chủng, thép hợp kim chất lượng cao;
    • Đối với thép xây dựng, mặc dù trong nước dư thừa công suất sản xuất nhưng do thép ngoại có ưu thế về giá nên thép xây dựng vẫn được nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc.

    Bảng 2 – Tình hình nhập khẩu thép

      Năm 2006 Năm 2007
    Tổng lượng nhập khẩu 5,7 triệu tấn 8 triệu tấn
    Tổng kim ngạch nhập khẩu 2,94 tỷ USD 5,11 tỷ USD
    Tổng lượng phôi thép nhập khẩu 1,94 triệu tấn 2,15 triệu tấn
    Tổng kim ngạch nhập khẩu phôi thép 750,5 triệu USD 1,1 tỷ USD
    Nguồn gốc thép nhập khẩu Trung Quốc (trên 50%), Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Nga

     

    3.1.4. Năng lực cạnh tranh của ngành thép?

    Thép là ngành sản xuất có tốc độ phát triển tương đối nhanh và là ngành trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân. Cụ thể:

    • Mức tăng về sản lượng bình quân hàng năm của ngành thép trong 10 năm trở lại đây đạt gần 20%;
    • Sản xuất thép đáp ứng được khoảng 55% nhu cầu nội địa (sản lượng đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng và một số sản phẩm gia công sau cán).

    Mặc dù năng lực cạnh tranh đã có cải thiện đáng kể nhưng ngành thép Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế:

    • Sự phát triển về đầu tư và sản xuất thép tăng nhanh nhưng thiếu bền vững(đầu tư ồ ạt, dàn trải, mất cân đối cung cầu, quá tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn, phá vỡ quy hoạch);
    • Năng lực cạnh tranh thấp so với các nước trong khu vực(sản xuất quy mô nhỏ, dây chuyền lạc hậu, phân tán; chi phí đầu vào, chi phí sản xuất cao hơn trung bình chung của thế giới);
    • Công nghệ lạc hậu: các nhà máy nhỏ lạc hậu và trung bình hiện chiếm khoảng 75-80% tổng công suất cán (các nhà máy hiện đại chỉ chiếm khoảng 20-25%); công nghệ chủ yếu vẫn là gia công cán thép, nguyên liệu cho sản xuất chủ yếu nhập được nhập khẩu từ bên ngoài;
    • Chủng loại và cơ cấu sản phẩm không đa dạng: Tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thép xây dựng, thép dẹt cán nóng (thép tấm, lá và băng cuộn cán nóng), thép hình cỡ lớn, thép đặc chủng và thép hợp kim chất lượng cao chủ yếu phải nhập khẩu.
    • Công tác dự báo hạn chế(doanh nghiệp không có hệ thống thông tin độc lập để dự báo biến động thị trường nhằm phục vụ cho công tác điều hành sản xuất kinh doanh).

    3.1.5. Việt Nam đã cam kết gì trong WTO về thuế quan đối với sản phẩm thép nhập khẩu?

    Thép là một trong những ngành mà trong quá trình đàm phán gia nhập WTO được nhiều đối tác đàm phán quan tâm. Theo cam kết của Việt Nam trong WTO, Việt Nam đã đồng ý cam kết cắt giảm và ràng buộc ở mức thuế suất hiện hành của hơn 700 dòng thuế liên quan đến mặt hàng sắt thép và các sản phẩm từ sắt thép nhập khẩu từ tất cả các nước thành viên WTO.

    Bảng 3 – Tổng quan về các cam kết trong WTO đối với sắt thép

    TT Mặt hàng Thuế suất MFN trước khi gia nhập (%) Cam kết với WTO
    Khi gia nhập (%) Cuối cùng (%) Thời hạn thực hiện
    1. Thuế suất bình quân cả biểu thuế 17,4 17,2 13,4 Chủ yếu sau 3-5 năm
    2. Thuế suất bình quân sản phẩm công nghiệp 16,7 16,2 12,4 Chủ yếu sau 3-5 năm
    3. Thuế suất bình quân sản phẩm sắt thép 7,5 17,7 13,0 5-7 năm
    4. Thép xây dựng 10 20-40 15-25 2014
    5. Phôi thép 5 20 10 2014

    Mức cắt giảm về thuế nhập khẩu đối với ngành thép trong khuôn khổ WTO về cơ bản ngang bằng với mức cắt giảm bình quân chung của toàn bộ Biểu thuế. Mức thuế suất trần cho thép xây dựng và phôi thép theo các cam kết trong WTO đều ở mức cao hơn mức thuế suất thực tế đang áp dụng.

    Như vậy, việc thực hiện cắt giảm thuế theo các cam kết trong WTO tuy có làm giảm mức bảo hộ so với ngành thép, song về cơ bản ngành thép vẫn là trong một số các ngành được duy trì mức bảo hộ tương đối cao. Về cơ bản trong những năm tới các doanh nghiệp của ngành thép sẽ không phải chịu tác động của các cam kết trong WTO. Đặc biệt, thuế suất đối với các sản phẩm chủ yếu của ngành thép Việt Nam đang sản xuất như hiện nay vẫn còn cao hơn mức thuế MFN hiện tại. Do vậy, trong thời gian một số năm, việc thực hiện các cam kết về thuế quan trong WTO chưa ảnh hưởng nhiều đến ngành thép.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trên thực tế, do phần lớn nhập khẩu sắt thép của Việt Nam là từ Trung Quốc và các nước ASEAN (được hưởng mức thuế nhập khẩu theo cam kết CEPT/AFTA và ACFTA, thấp hơn so với thuế nhập khẩu theo WTO) nên việc này không có nhiều ý nghĩa. Nói cách khác, tác động của cam kết thuế quan trong WTO đối với ngành thép không lớn bằng tác động của các cam kết khu vực mà Việt Nam đã ký kết và thực hiện từ năm 2005, 2006.

    3.1.6. Triển vọng của chính sách bảo hộ ngành thép bằng thuế nhập khẩu ?

    Theo các cam kết gia nhập WTO và các cam kết khu vực, việc bảo hộ ngành thép chủ yếu được thực hiện thông qua thuế quan.

    Tuy nhiên, thực tế điều hành chính sách thuế nhập khẩu đối với mặt hàng sắt thép trong hai năm qua cho thấy công cụ bảo hộ này có hiệu quả rất hạn chế. Do giá sắt thép và nguyên liệu trên thị trường thế giới liên tục tăng cao, Nhà nước không những không tăng thuế mà còn giảm nhiều hơn so với cam kết để thực hiện mục tiêu bình ổn giá. Vì vậy các doanh nghiệp cần tính đến các giải pháp cạnh tranh khác hơn là trông đợi vào việc bảo hộ thông qua cam kết thuế nhập khẩu cao.

    3.1.7  Doanh nghiệp ngành thép cần làm gì để hội nhập thành công khi ra nhập WTO?

    Về lý thuyết, việc gia nhập WTO tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong ngành thép Việt Nam mở rộng thị phần tiêu thụ sản phẩm (do các nước thành viên WTO phải cho sản phẩm Việt Nam hưởng thuế nhập khẩu MFN), có cơ hội tiếp thu công nghệ sản xuất thép và phương pháp quản lý hiện đại, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn mới.

    Tuy nhiên, hội nhập cùng với việc từng bước xoá bỏ hàng rào thuế quan cũng đã đặt ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp trong ngành thép Việt Nam. Thách thức còn lớn hơn khi mà phần hàng rào thuế quan được duy trì cũng không có nhiều ý nghĩa (như phân tích tại Câu 5).

    Vì vậy, để hội nhập thành công, trước hết là để cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường nội địa, các doanh nghiệp cần lưu ý ít nhất các vấn đề sau đây:

    – Về nguồn nguyên liệu: chủ động đầu tư sản xuất thượng nguồn (khai thác quặng sắt làm nguyên liệu cho luyện thép và cán ra sản phẩm); đầu tư cho chiến lược phát triển các cơ sở cung cấp phôi thép (nhằm tự sản xuất được phôi thép với giá thành thấp ở trong nước).

    – Về tổ chức sản xuất: đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố sản xuất đầu vào nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm, giảm giá bán.

    – Về sản phẩm: Đầu tư sản xuất nguồn nguyên liệu, đổi mới thiết bị, chuyển hướng đầu tư sang sản xuất các sản phẩm mới (thép cuộn cán nóng, thép tấm, tôn mạ kẽm, mạ màu…).

    – Về marketing: Chú trọng phát triển năng lực marketing, xây dựng hình ảnh và củng cố sức mạnh cho các nhãn hiệu thép Việt Nam trên thị trường Việt Nam; xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng bao gồm các khách hàng cuối cùng và các nhà phân phối.

     Về nguồn nhân lực: Phát triển đội ngũ nhân lực có năng lực chuyên môn cao, phối hợp chặt chẽ với các trường đại học, viện nghiên cứu, các trường dạy nghề để đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao, thích ứng với công nghệ hiện đại; chú trọng công tác nghiên cứu và phát triển, gắn nghiên cứu với triển khai thực hiện.

    3.2 Phương hướng quản lý về việc nhập khẩu sắt thép của nước ta

    Thứ nhất, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ đội ngũ cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu nói chung và phục vụ hoạt động nhập khẩu thép nói riêng.

    Sự tồn tại và phát triển của bất cứ Công ty nào cũng cũng bắt nguồn từ yếu tố con người. Các phòng kinh doanh hiện nay có độ ngũ cán bộ kinh doanh tương đối hoàn chỉnh, hầu hết đã qua đào tạo đại học chính quy hoặc tại chức về nghiệp vụ kinh doanh và ngoại ngữ. Tuy nhiên kinh doanh xuất nhập khẩu không những yêu cầu về trình độ nghiệp vụ cao mà còn các yếu tố khác như kinh nghiệm, khả năng giao tiếp, sự phản ứng nhạy bén trước những biến động của thị trường. Thực tế là một số các cán bộ có kinh nghiệm thực tế trong kinh doanh nhưng lại hạn chế về trình độ ngoại ngữ, còn các bộ trẻ lại thiếu kinh nghiệm thực tế. Do yêu cầu của hoạt động kinh doanh nhập khẩu cần phải nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ làm công tác kinh doanh nhập khẩu là rất cần thiết.

    Xây dựng một cơ cấu nhân sự hợp lý phát huy được tính năng động sáng tạo của mỗi các nhân cũng như khai thác được nguồn lực chất xám của đội ngũ kinh doanh nhập khẩu.

    Thứ hai, duy trì các mối quan hệ với khách hàng, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và tìm kiếm đối tác mới.

    Thiết lập được mối quan hệ bạn hàng cung cấp rộng khắp là rất quan trọng tạo nguồn hàng ổn định và chất lượng. Hiện nay Việt Nam mới chỉ có quan hệ với một số bạn hàng truyền thống như Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapo, trước sự biến động phức tạp của thị trường thép thì cần phải tìm kiếm các đối tác mới. Nước ta phải có chính sách và giải pháp để mở rộng mối quan hệ với bạn hàng, khai thác tốt các bạn hàng hiện nay. Các giải pháp cụ thể mà Việt Nam cần phải tiến hành với bạn hàng là nghiên cứu tìm hiểu kỹ các thông tin về môi trường kinh tế – chính trị – luật pháp của các nước bạn hàng nhằm tạo cơ sở cho việc đàm phám ký kết hợp đồng, dự đoán được xu hướng biến động của thị trường cung cấp thép, thiết lập mối quan hệ rộng khắp đối với các nhà cung cấp ở mỗi nước bạn hàng, thường xuyên cập nhật thông tin về năng lực sản xuất, quy mô và khả năng cung ứng của mỗi nhà cung cấp. Từng bước mở rộng danh mục nhà cung cấp thép trong thời gian tới. Xúc tiến thăm dò thị trường, tìm hiểu tập hợp thông tin về thị trường thép của các nhà cung cấp lớn như Trung Quốc, Đức, Nhật Bản,…

    Tìm kiếm các đói tác trong khu vực để tận dụng chi phí về vận chuyến.

    Thứ ba, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường bằng cách duy trì, củng cố thị trường cũ, mở rộng thị trường mới.

    Thứ tư, tăng cường bổ sung, huy động nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu bằng cách huy động nguồn vốn từ bên ngoài, tham gia thị trường chứng khoán.

    Thứ năm, xây dựng mạng lưới phân phối đa dạng và ổn định

    Thứ sáu, tăng cường công tác liên doanh, liên kết với các công ty khác trong hoạt động nhập khẩu thép.

    Thứ bảy, Hoàn thiện quy trình nhập khẩu thép:

    -Hoàn thiện theo hướng chuyên môn hoá để giảm bớt các chi phí với các  nghiệp vụ hải quan

    -Hoàn thiện quá trình lựa chọn thị trường và ký kết hợp đồng

    -Hoàn thiện quá trình giao nhận và vận chuyển hàng từ cảng

    -Nâng cao năng lực thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm

    -Hoàn thiện quy trình thanh toán và thủ tục thanh toán

    Thứ  tám, Hạ thấp chi phí lưu thông phân phối thép nhập khẩu và mở rộng các hình thức huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

    3.3 Những kiến nghị đối với Nhà nước và Tổng Công ty Thép

    Một là, cần hoàn thiện các văn bản pháp quy, chính sách và biểu thuế nhập khẩu thép và có những thông báo kịp thời tức là hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và đơn giản hoá thủ tục hành chính liên quan đến nhập khẩu

              Hai là, hỗ trợ cung cấp thông tin về thị trường thép trên thế giới và trong nước về tình hình sản xuất, nhu cầu, sự biến động của thị trường thép,….

              Ba là, hỗ trợ đào tạo cán bộ nghiên cứu thị trường, có trình độ am hiểu luật pháp, nghiệp vụ, ngoại ngữ.

              Bốn là, tổ chức các cuộc hội thảo, hỗ trợ vốn, tăng cường liên doanh liên kết giữa các thành viên trong hoạt động nhập khẩu thép.

    Năm là, phát triển hệ thống đường xá cầu cảng bến bãi.

            Sáu là, tạo môi trường công bằng và xử lý nghiêm minh khi có vi phạm.

     

    KẾT LUẬN

     

    Xu thế toàn cầu hoá hiện nay đã và đang diễn ra mạnh mẽ, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc, không một quốc gia nào có thể phát triển mà không hoà nhập với xu thế hiện nay. Thương mại quốc tế là tất yếu khách quan, sự giao lưu trao đổi buôn bán giữa các quốc gia, các thành phần kinh tế ngày càng sâu rộng.

    Sau các chương trên, hẳn chúng ta đã có một cái nhìn khá toàn diện về hoạt động nhập khẩu mặt hàng sắt thép từ thị trường Trung Quốc của Việt Nam trong những năm gần đây từ lý thuyết nghiên cứu cho đến thực tiễn.

    Trong thời gian qua ngành nhập khẩu mặt hàng sắt thép đã đạt được những thành công nhất định góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thép trong nước. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép không tránh khỏi những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài do những biến động về môi trường kinh tế, chính trị nói chung và sự biến động của thị trường thép nói riêng, sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy, để khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép không những cần có sự nỗ lực hoàn thiện của ngành mà còn cần có sự hỗ trợ từ phía Hiệp hội, Nhà Nước.

    Trong bối cảnh  nền kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc  dù có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều mặt hạn chế như áp lực lạm phát tăng cao, sức cạnh  tranh của doanh nghiệp  Việt  Nam còn kém, mức tiết kiệm trong nước còn rất thấp, thiếu vốn đầu tư, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, nhập siêu vẫn kéo dài…

    Với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo bộ môn kinh tế ngoại thương – thầy Dương Văn Bạo, em đã hoàn thành xong bài tập lớn về vấn đề “ Tìm hiểu cơ chế, chính sách quản lí nhập khẩu sắt thép từ thị trường Trung Quốc và định hướng trong những năm tới khi Việt Nam thực hiện đầy đủ những cam kết của WTO”.  Em đã rất cố gắng tìm hiểu , học tập và nghiên cứu để hoàn thành bài tập thầy đã giao, tuy chỉ là đề cập nhỏ trong vấn đề lớn . Bài tập của em không tránh khỏi những thiếu sót .Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy và các bạn để bài tập của em được hoàn chỉnh hơn .

    Em xin chân thành cảm ơn thầy!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]