Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Đồ án Cung cấp điện: Tính toán cung cấp điện cho phân xưởng cơ khí

    Đồ án Cung cấp điện: Tính toán cung cấp điện cho phân xưởng cơ khí

    Đồ án Cung cấp điện: Tính toán cung cấp điện cho phân xưởng cơ khí

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM “


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Cung-c%E1%BA%A5p-%C4%91i%E1%BB%87n-T%C3%ADnh-to%C3%A1n-cung-c%E1%BA%A5p-%C4%91i%E1%BB%87n-cho-ph%C3%A2n-x%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%C6%A1-kh%C3%AD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Cung cấp điện: Tính toán cung cấp điện cho phân xưởng cơ khí

    1      ĐỒ ÁN MÔN HỌC CUNG CẤP ĐIỆN
    CHƯƠNG 1:

    2          TÍNH TOÁN PHỤ TẢI PHÂN XƯỞNG

    I.    ĐẶC ĐIỂM PHÂN XƯỞNG :

    • Đây là phân xưởng cơ khí sửa chữa, mặt bằng hình chữ nhật, có các đặc điểm sau :
    • Chiều dài : 54 m
    • Chiều rộng : 18 m
    • Chiều cao : 7 m
      • Diện tích toàn phân xưởng : 972 m2
      • Đặc biệt phân xưởng : mái tôn, tường gạch, quét vôi trắng
      • Phân xưởng làm việc hai ca trong một ngày.

    II.     THÔNG SỐ VÀ SƠ ĐỒ MẶT BẰNG PHÂN XƯỞNG :

    1.      Bảng phụ tải phân xưởng :

     Bảng 1.1

     

    STT Ký Hiệu Trên Mặt Bằng Số Lượng Pđm (kw) Cos Ksd Ghi chú
    1 1 5 3 0.8 0,5 3 pha
    2 2 4 4 0.85 0,5 3 pha
    3 3 1 8 0.7 0,5 3 pha
    4 4 3 6 0.86 0,5 3 pha
    5 5 2 5 0.75 0,5 3 pha
    6 6 2 2.5 0.82 0,5 3 pha
    7 7 2 4.5 0.72 0,5 3 pha
    8 8 2 8.5 0.76 0,5 3 pha
    9 9 2 10 0.78 0,5 3 pha
    10 10 2 9 0.73 0,5 3 pha
    11 11 1 3.5 0.83 0,5 3 pha
    12 12 1 12 0.77 0,5 3 pha

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.      Sơ đồ mặt bằng phân xưởng và bố trí máy :

     

     

    PHÂN NHÓM PHỤ TẢI:

    Căn cứ vào việc bố trí của phân xưởng và yêu cầu làm việc thuận tiện nhất, để làm việc có hiệu quả nhất thông qua các chức năng hoạt động của các máy móc thiết bị.

    Ngoài các yêu cầu về kỹ thuật thì ta phải đạt yêu cầu về kinh tế, không nên đặt quá nhiều các nhóm làm việc đồng thời, quá nhiều các tủ động lực như thế sẽ không lợi về kinh tế.

    Tuy nhiên một yếu tố quan trọng cần phải quan tâm là việc phân nhóm phụ tải. Vì phân nhóm phụ tải sẽ quyết định tủ phân phối trong phân xưởng, số tuyến dây đi ra của tủ phân phối.

    Phân nhóm phụ tải cho phân xưởng dựa vào các yếu tố sau :

    • Các thiết bị trong cùng một nhóm nên có cùng chức năng.
    • Phân nhóm theo khu vực: các thiết bị gần nhau thì chia thành một nhóm.
    • Phân nhóm có chú ý đến phân đều công suất cho các nhóm: tổng công suất của   các nhóm gần bằng nhau.
    • Dòng tải của từng nhóm gần với dòng tải của CB chuẩn.
    • Số nhóm không nên quá nhiều: 2,3 hoặc 4 nhóm .

    Dựa vào các yếu tố trên  ta chia phụ tải của phân xưởng thành hai nhóm như sau:

    Bảng 1.2

    Tên nhóm máy Kí hiệu trên

     

    mặt bằng

    Số

     

    lượng

    Pđm(kw) cosjđm Ksd
      1A 3 3 0.8 0.5
      2A 2 4 0.85 0.5
      3A 1 8 0.7 0.5
    Nhóm 1 4A 2 6 0.86 0.5
      5A 2 5 0.75 0.5
      6A 2 2.5 0.82 0.5
      7A 2 4.5 0.72 0.5
      8A 2 8.5 0.76 0.5

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     Bảng 1.3

    Tên nhóm máy Kí hiệu trên

     

    mặt bằng

    Số

     

    lượng

    Pđm(kw) cosjđm Ksd
      1B 2 3.5 0.8 0.5
      2B 2 4 0.85 0.5
      4B 1 6 0.86 0.5
      8B 2 8.5 0.76 0.5
    Nhóm 2 9B 2 10 0.78 0.5
      10B 2 9 0.73 0.5
      11B 1 3.5 0.83 0.5
      12B 1 12 0.77 0.5

    III.    XÁC ĐỊNH PHỤTẢI TÍNH TOÁN CHO PHÂN XƯỞNG :

    1.      Xác định phụ tải tính toán cho từng nhóm:

    • Hệ số công suất trung bình cho từng nhóm được xác định theo công thức sau:

    Cosjtbj  =                       (1.1)

    • Hệ số công suất trung bình của nhóm 1:
    • Hệ số công suất trung bình của nhóm 2:

    2.      Xác định hệ số sử dụng  trung bình Ksdtb cho từng nhóm được xác định theo công thức sau:

    (1.2)

    • Hệ số sử dụng trung bình của nhóm 1 là:
    • Hệ số sử dụng trung bình của nhóm 2 là:

    3.      Xác  định phụ tải tính toán theo phương pháp số thiết bị dùng điện hiệu quả (nhq):

    Giả thiết có một nhóm máy gồm nj thiết bị có công suất định mức và chế độ làm việc khác nhau. Ta gọi nhq là số thiết bị tiêu thụ điện năng hiệu quả của nhóm máy, đó là một số quy đổi gồm có nhq thiết bị có công suất định mức và chế độ làm việc như nhau và tạo nên phụ tải tính toán bằng phụ tải tiêu thụ thực bởi nj thiết bị tiêu thụ trên. Số thiết bị tiêu thụ điện năng hiệu quả được xác định một cách tương đối chính xác theo các bước  như sau:

    • Bước 1: Xác định số thiết bị trong từng nhóm nj
    • Bước 2: Xác định số thiết bị có công suất lớn nhất trong nhóm Pmaxj
    • Bước 3: Xác định tổng số thiết bị n1j trong nhóm có: Pđmij ≥ Pmaxj
    • Bước 4: Tính tổng công suất thiết bị có trong nhóm:
    • Bước 5: Xác định tổng công suất P1j của n1j thiết bị trong nhóm:
    • Bước 6: Lập tỉ số : n*j = ;  P*j =
    • Bước 7: Tra bảng đồ thị tìm nhq*j = f(n*j , P*j). Suy ra nhqj = n*j . nj
    • Bước 8: Từ nhqj , Ksdj ta tra bảng tìm được Kmaxj
    • Bước 9: Xác định phụ tải tính toán nhóm j:

    Pttj = Kmaxj . Ksdj .                                          (1.3)
                                  Sttj =                                                              (1.4)

    Qttj =                                                          (1.5)

    Xác  định phụ tải tính toán cho nhóm 1 theo phương pháp số thiết bị dùng điện

    có hiệu quả (nhq) :

    • Tổng số thiết bị nhóm 1 : n1 =16
    • Thiết bị có công suất lớn nhất trong nhóm là:

    Pmax1 = 8,5 KW.          KW

    • Thiết bị có công suất lớn hơn hay bằng một nữa Pmax1 : n11= 9
    • Tổng công suất của thiết bị trong nhóm :
    • Tổng công suất của n11 thiết bị :
    • Lập tỉ số :

    Tra bảng 3-1 trang 36 sách Cung cấp điện- Nguyễn Xuân Phú đối với n*1 = 0,15 và P*1= 0,4 ta được : nhq*1 = f(n*1,p*1) = 0,87

    Suy ra nhq1 = nhq*1 . n1 = 0,87 . 16 = 13,92

    Từ  nhq1=13,92Ksdtb1= 0.5  tra theo đường cong Kmax­ = f(Ksd ; nhq) Hình 3-5 trang 32 Sách Cung cấp điện – Nguyễn Xuân Phú ta suy ra: Kmax1 = 1.3

    1. Xác định phụ tải tính toán nhóm 1 :
      • Công suất phụ tải tính toán của nhóm 1 :

    Ptt1 = Kmax1 . Ksdtb1 . = 1,3 . 0,5 . 78= 50,7 KW

    • Công suất biểu kiến tính toán của nhóm 1 :

    KVA

    • Công suất phản kháng nhóm 1 :

    KVAR

    • Dòng điện phụ tải nhóm 1 :

    Itt1 =  =  = 98,7 (A)

       Phụ tải tính toán của nhóm 2 được tính tương tự như nhóm 1, ta được kết quả :

     

    Bảng 1.4

    Nhóm nj Costbj Ksdtbj Kmaxj Pj

     

    (KW)

     Pttj

     

    (KW)

    Qttj

     

    (KVar)

    Sttj

     

    (KVA)

    Ittj

     

    (A)

    1 16 0,78 0,5 1.3 78  50,7 40,67 65 98,7
    2 13 0,78 0,5 1,4 90,5  63,35 50,78 81,2 123,3

     

    4.      Phụ tải tính toán động lực toàn phân xưởng được xác định theo công thức sau:

    Pttdl = Kđt .                                            (1.6)

    Sttđl =                                                (1.7)

    Qttđl =                                          (1.8)

    Trong đó Kđt là hệ số đồng thời được tra bảng ứng với:

    • n = 1 đến 3 suy ra Kđt = 0.9
    • n = 4 đến 6 thì Kđt = 0.85
    • n = 6 đến 10 thì Kđt = 0.80 với n là số nhóm máy trong phân xưởng.

    Trong phân xưởng ta chia thành hai nhóm nên n =2. Suy ra Kđt = 0.9. Từ đó ta xác định được:

    Pttdl = Kđt .  = 0,9.(50,7 + 63,35) = 102,6 KW

    • Hệ số công suất trung bình toàn phân xưởng:
    • Công suất biểu kiến toàn phân xưởng:

    KVA

    • Công suất phản kháng động lực toàn phân xưởng:

    KVAR

    • Dòng điện tính toán toàn phân xưởng:
    1. XÁC ĐỊNH PHỤ TẢI CHIẾU SÁNG CỦA PHÂN XƯỞNG THEO PHƯƠNG PHÁP SUẤT CHIẾU SÁNG TRÊN MỘT ĐƠN VỊ DIỆN TÍCH :
    • Mạng điện phục vụ cho chiếu sáng thường được lấy từ một tủ riêng biệt (tủ chiếu sáng), tủ này được cung cấp điện từ tủ phân phối chính. Mạng chiếu sáng của phân xưởng có thể lấy cùng một tuyến với tủ động lực. Tuy nhiên để tránh chất lượng chiếu sáng bị giảm sút thì ta nên dùng một mạng khác thì tốt hơn.
    • Đây là phân xưởng sản xuất cho nên việc thiết kế chiếu sáng ta phải quan tâm đến loại đèn dùng trong phân xưởng. Với điều kiện phân xưởng có trần cao, yêu cầu sữa chữa chính xác và tạo điều kiện thuận lợi cho người làm việc thì ta nên chọn loại đèn Metal Halide có công suất 250W và hệ số công suất cosj = 0,8.

    Trong đó: Po (W/m2) là suất chiếu sáng của phân xưởng.

    F (m2) là diện tích toàn phân xưởng.

    • Ta có diện tích của phân xưởng là:

    F = 52.18 = 936 (m2)

    Chọn   P0 = 12 (W/m2). Suy ra:

    Với cosjcs = 0,8 ta suy ra:

    1. XÁC ĐỊNH PHỤ TẢI TÍNH TOÁN TOÀN PHÂN XƯỞNG:
    • Công suất tính toán :
    • Công suất phản kháng:
    • Công suất biểu kiến:
    • Dòng làm việc cực đại của phân xưởng:
    1. XÁC ĐỊNH TÂM PHỤ TẢI CỦA NHÓM VÀ CỦA PHÂN XƯỞNG :
    1. Toạ độ tâm phụ tải của từng nhóm :

    Khi thiết kế mạng điện cho phân xưởng, việc xác định vị trí đặt tủ phân phối cũng như trạm biến áp phân xưởng là rất quan trọng, nó ảnh hưởng  đến các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật sao cho tổn thất công suất và tổn thất điện năng là bé nhất.

    Toạ độ tâm phụ tải được xác định theo công thước sau :

    (1.9)

    Trong đó:       Pij là công suất của các thiết bị trong nhóm.

    Xij ,Yij là toạ độ của các thiết bị trong nhóm.

    • Tọạ độ tâm phụ tải nhóm 1 :

                       Các thông số nhóm 1 :

    Bảng 1.5

     

    TT Kí hiệu trên

     

    mặt bằng

    Pđm (Kw) x(m) y(m) x. Pđm y. Pđm
    1 1A 3 2 4 6         12
    2 1A 3 2 8 6 24
    3 1A 3 2 12 6 36
    4 2A 4 3,5 16,5 14 66
    5 2A 4 6,5 16,5 26 66
    6 3A 8 7 11,5 56 92
    7 4A 6 5 3,5 30 21
    8 4A 6 8 3,5        48 21
    9 5A 5 19,5 7,5       97,5   37,5
    10 5A 5 22 7,5 110 37,5
    11 6A 2,5 17,5 1 43,75 2,5
    12 6A 2,5 33 1 82,5 2,5
    13 7A 4,5 29 7,5 130,5 33,75
    14 7A 4,5 31 7,5      139,5 33,75
    15 8A 8,5 16,5 16,5 140,25 140,25
    16 8A 8,5 19 16,5 161,5 140,25

     

     

     

    • Xác định tâm phụ tải của nhóm 1 :

    Từ bảng 1.5

    Suy ra tọa độ tâm phụ tải nhóm 1 là:

    Vậy đặt tủ động lực của nhóm 1 ở tọa độ X = 14 (m) và Y = 9,8 (m)

    • Toạ độ tâm phụ tải nhóm 2 :

                    Các thông số của nhóm 2 :

    Bảng 1.6

    TT Kí hiệu trên

     

    mặt bằng

    Pđm (Kw) x(m) y(m) x. Pđm y. Pđm
    1 1B 3 51 6 153 18
    2 1B         3 51 10,5 153 31,5
    3 2B 4 44 16,5 132 66
    4 2B 4 48,5 16,5 148         66
    5 4B 6 42 6,5 252 39
    6 8B 8,5 32 16,5 272 140,25
    7 8B 8,5 36 16,5        306 140,25
    8 9B 10 40,5 10,5 405 105
    9 9B 10 43,5 10,5 435 105
    10 10B 9 38 1 342 9
    11 10B 9 42 1 378 9
    12 11B 3,5 39,5 16,5 138,25 57,75
    13 12B 12 46 1 552 12
                 
                 

     

    Từ bảng 1.6

    Suy ra tọa độ tâm phụ tải nhóm 2 là:

    Vậy đặt tủ động lực của nhóm 2 ở tọa độ X = 40,5 (m) và Y = 8,8 (m)

    1. Xác định tâm phụ tải phân xưởng:

    Vậy đặt tủ động lực của toàn phân xưởng ở tọa độ X = 28,23 (m) và Y = 9,26 (m)

    VIII.    XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ ĐẶT TỦ ĐỘNG LỰC CHO TỪNG NHÓM MÁY :

    Khi xác định vị trí đặt tủ động lực  và tủ phân phối ta cần chú ý đến các yêu cầu sau:

    –    Tủ đặt gần tâm phụ tải.

    –    Thuận lợi cho quan sát toàn nhóm hay toàn phân xưởng và dễ dàng cho việc lắp đặt, sữa chữa.

    –     Không gây cản trở lối đi.

    –     Gần cửa ra vào, an toàn cho người.

    –     Thông gió tốt

    Tuy nhiên việc đặt tủ theo tâm phụ tải trên thực tế thì không thỏa được các yêu cầu trên nên ta có thể dời tủ đến vị trí khác thuận tiệân hơn  như gần cửa ra vào và cũng gần tâm phụ tải hơn.

    Vì vậy dựa vào các điều kiện trên ta chọn vị trí đặt tủ phân phối và tủ động lực như sau:

    • Vị trí đặt tủ động lực của nhóm 1: DB1 (1m ; 17m).
    • Vị trí đặt tủ động lực của nhóm 2: DB2 (53m ; 17m).
    • Vị trí đặt tủ phân phối của phân xưởng: MDB (22m ; 17m).

    3          CHƯƠNG II :

    4                                   CHỌN BIẾN ÁP PHÂN XƯỞNG

    1.    Chọn số  lượng và công suất của trạm biến áp:

    Vốn đầu tư của trạm biến áp chiếm một phần rất quan trọng trong tổng số vốn đầu tư của hệ thống điện. Vì vậy việc chọn vị trí, số lượng và công suất định mức của máy biến áp là việc làm rất quan trọng. Để chọn trạm biến áp cần đưa ra một số phương án có xét đến các ràng buộc cụ thể và tiến hành tính toán so sánh điều kiện kinh tế, kỹ thuật để chọn ra được phương án tối ưu nhất.

    1. Chọn vị trí đặt trạm biến áp :

    Để xác định vị trí hợp lý của trạm biến áp cần xem xét các yêu cầu sau:

    • Gần tâm phụ tải.
    • Thuận tiện cho các tuyến dây vào/ ra.
    • Thuận lợi trong quá trình lắp đặt, thi công và xây dựng.
    • Đặt nơi ít người qua lại, thông thoáng.
    • Phòng cháy nổ, ẩm ướt, bụi bặm và là nơi có địa chất tốt.
    • An toàn cho người và thiết bị.

    Trong thực tế, việc đặt trạm biến áp phù hợp tất cả các yêu cầu trên là rất khó khăn. Do đó tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể trong thực tế mà đặt trạm sao cho hợp lý nhất.

    Căn cứ vào các yêu cầu trên và dựa vào sơ đồ vị trí phân xưởng. Ta chọn vị trí lắp đặt trạm biến áp như sau : Trạm biến áp đặt cách phân xưởng 20 m, gần lưới điện quốc gia và gần tủ phân phối chính MDB (Main Distribution Board ).

    1. Chọn số lượng và chủng loại máy biến áp :

    Chọn số lượng máy biến áp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

    • Yêu cầu về liên tục cung cấp điện của hộ phụ tải.
    • Yêu cầu về lựa chọn dung lượng máy biến áp.
    • Yêu cầu về vận hành kinh tế trạm biến áp.
    • Đối với hộ phụ tải loại 1: thường chọn 2 máy biến áp trở lên.
    • Đối với hộ phụ tải loại 2: số lượng máy biến áp được chọn còn tuỳ thuộc vào việc

    so sánh hiệu quả về kinh tế- kỹ thuật.

    1. Xác định dung lượng của máy biến áp :

    Có nhiều phương pháp để xác định dung lượng của máy biến áp. Nhưng vẫn phải dựa theo các nguyên tắc sau đây:

    • Chọn theo điều kiện làm việc
    • bình thường có xét đến quá tải cho phép (quá tải bình thường). Mức độ quá tải phải được tính toán sao cho hao mòn cách điện trong khoảng thời gian xem xét không vượt quá định mức tương ứng với nhiệt độ cuộn dây là 98o Khi quá tải bình thường, nhiệt độ điểm nóng nhất của cuộn dây có thể lớn hơn (những giờ phụ tải cực đại) nhưng không vượt quá 140oC và nhiệt độ lớp dầu phía trên không vượt quá 95oC.
    • Kiểm tra theo điều kiện quá tải sự cố (hư hỏng một trong những máy biến áp làm việc song song) với một thời gian hạn chế để không gián đoạn cung cấp điện.

    Vậy ta chọn MBA của hãng THIBIDI có các thông số như sau:

    MÁY BIẾN ÁP BA PHA  
    – Dung lượng (KVA) 160
    – Tiêu hao không tải Po(W) 280
    – Dòng điện không tải(%) 2
    – Tiêu hao ngắn mạch ở 75oC (W) 2330
    – Điện áp ngắn mạch Un(%) 4
    – Tổng trọng lượng (kg.s) 969

    5      CHƯƠNG III:

    6      CHỌN PHƯƠNG ÁN ĐI DÂY.

     

    I.VẠCH PHƯƠNG ÁN ĐI DÂY TRONG MẠNG PHÂN XƯỞNG :

    • 1) Yêu cầu:

    Bất kỳ phân xưởng nào ngoài việc tính toán phụ tải tiêu thụ để cung cấp điện cho phân xưởng, thì mạng đi dây trong phân xưởng cũng rất quan trọng. Vì vậy ta cần đưa ra phương án đi dây cho hợp lý, vừa đảm bảo chất lượng điện năng, vùa có tính an toàn và thẩm mỹ.

    Một phương án đi dây được chọn sẽ được xem là hợp lý nếu thoã mãn những yêu cầu sau:

    • Đảm bảo chất lượng điện năng.
    • Đảm bảo liên tục cung cấp điện theo yêu cầu của phụ tải.
    • An toàn trong vận hành.
    • Linh hoạt khi có sự cố và thuận tiện khi sửa chữa.
    • Đảm bảo tính kinh tế, ít phí tổn kim loại màu.
    • Sơ đồ nối dây đơn giản, rõ ràng.
    • 2) Phân tích các phương án đi dây:

    Có nhiều phương án đi dây trong mạng điện, dưới đây là 2 phương án phổ biến:

    1. a) Phương án đi dây hình tia:

    Trong sơ đồ hình tia, các tủ phân phối phụ được cung cấp điện từ tủ phân phối chính bằng các tuyến dây riêng biệt. Các phụ tải trong phân xưởng cung cấp điện từ tủ phân phối phụ qua các tuyến dây riêng biệt. Sơ đồ nối dây hình tia có một số ưu điểm và nhược điểm sau:

    • Ưu điểm:
      • Độ tin cậy cung cấp điện cao.
      • Đơn giản trong vận hành, lắp đặt và bảo trì.
      • Sụt áp thấp.
    • Nhược điểm:
      • Vốn đầu tư cao.
      • Sơ đồ trở nên phức tạp khi có nhiều phụ tải trong nhóm.
      • Khi sự cố xảy ra trên đường cấp điện từ tủ phân phối chính đến các tủ phân phối phụ thì một số lượng lớn phụ tải bị mất điện.
      • Phạm vi ứng dụng: mạng hình tia thường áp dụng cho phụ tải tập trung (thường là các xí nghiệp, các phụ tải quan trọng :loại 1 hoặc loại 2).
    1. b) Phương án đi dây phân nhánh:

    Trong sơ đồ đi dây theo kiểu phân nhánh ta có thể cung cấp điện cho nhiều phụ tải hoăïc các tủ phân phối phụ.

     

     

     

     

    Sơ đồ phân nhánh có một số ưu nhược điểm sau:

    • Ưu điểm:
      • Giảm được số các tuyến đi ra từ nguồn trong trường hợp có nhiều phụ tải.
      • Giảm được chi phí xây dựng mạng điện.
      • Có thể phân phối clang seat đều trên các tuyến dây.
    • Nhược điểm:
      • Phức tạp trong vận hành và sửa chữa.
      • Các thiết bị ở cuối đường dây sẽ có độ sụt áp lớn khi một trong các thiết bị điện trên cùng tuyến dây khởi động.
      • Độ tin cậy cung cấp điện thấp.

    Phạm vi ứng dụng : sơ đồ phân nhánh được sử dụng để cung cấp điện cho các phụ tải công suất nhỏ, phân bố phân tán, các phụ tải loại 2 hoặc loại 3.

    1. c) Sơ đồ mạng hình tia phân nhánh :

     

     

     

     

     

     

     

     

    Thông thường mạng hình tia kết hợp phân nhánh thường được phổ biến nhất ở các nước, trong đó kích cỡ dây dẫn giảm dần tại mọi điểm phân nhánh, dây dẫn thường được kéo trong ống hay các mương lắp ghép.

    • Ưu điểm: Chỉ một nhánh cô lập trong trường hợp có sự cố (bằng cầu chì hay CB) việc xác định sự cố cũng đơn giản hoá bảo trì hay mở rộng hệ thống điện, cho phép phần còn lại hoạt động bình thường, kích thước dây dẫn có thể chọn phù hợp với mức dòng giảm dần cho tới cuối mạch.
    • Nhược điểm: Sự cố xảy ra ở một trong các đường cáp từ tủ điện chính sẽ cắt tất cả các mạch và tải phía sau.
    • 3) Vạch phương án đi dây :

    Khi vạch phương án đi dây cho một phân xưởng ta cần lưu ý các điểm sau:

    • Từ tủ phân phối đến các tủ động lực thường dùng phương án đi hình tia.
    • Từ tủ động lực đến các thiết bị thường dùng sơ đồ hình tia cho các thiết bị công suất lớn và sơ đồ phân nhánh cho các thiết bị công suất nhỏ .
    • Các nhánh đi từ tủ phân phối không nên quá nhiều (n<10) và tải của các nhánh có công suất gần bằng nhau.
    • Khi phân tải cho các nhánh nên chú ý dến dòng định mức của các CB chuẩn.
    • Đối với phụ tải loại 1 chỉ được sử dụng sơ đồ hình tia.

    Do đặc điểm của phân xưởng là phụ tải tập trung và phân xưởng thuộc hộ tiêu thụ loại hai nên ta chọn phương án đi dây theo sơ đồ hình tia từ  tủ phân phối chính đến các tủ phân phối phụ và từ tủ phân phối phụ DB đến các thiết bị như sau:

    • XÁC ĐỊNH PHƯƠNG ÁN LẮP ĐẶT DÂY :
    • Từ trạm biến áp đến tủ phân phối chính ta chọn phương án đi dây trên không dọc theo tường và có giá đỡ gắn sứ cách điện.
    • Từ tủ phân phối chính đến tủ đôïng lực ta đi dây hình tia và đi trên máng cáp.
    • Toàn bộ dây và cáp từ tủ động lực đến các động cơ đều được đi ngầm trong đất.
    • Hệ thống chiếu sáng được lấy nguồn từ tủ phân phối chính và đi trên máng cáp.

    Cáp được chôn ngầm dưới đất có những ưu và nhược điểm sau:

    • Ưu điểm: giảm công suất điện, tổn thất điện, không ảnh hưởng đến vận hành và tạo ra vẻ thẩm mỹ.
    • Nhược điểm: giá thành cao, rẽ nhánh gặp nhiều khó khăn, khi xảy ra hư hỏng khó phát hiện.

     

    NHÓM 1

    Kí hiệu thiết bị trên mặt bằng Nhánh Công suất nhánh
    1A – 1A – 1A – 4A – 4A   1 21KW
    2A– 2A – 3A – 8A–8A 2 33 KW
    5A – 5A– 6A – 6A – 7A–7A 3 24 KW

     

    NHÓM 2

    Kí hiệu thiết bị trên mặt bằng Nhánh Công suất nhánh
    2B – 2B – 11B – 8B – 8B 1 28,5 KW
    9B – 9B – 4B – 1B – 1B 2 26 KW
    12B – 10B – 10B  3  36 KW
    • Sơ đồ mặt bằng đi dây phân xưởng 1 :

     

    2) Sơ đồ nguyên lý đi dây mạng phân xưởng :

                                           

     

    7      CHƯƠNG IV:

    8

    9      CHỌN DÂY DẪN VÀ KHÍ CỤ BẢO VỆ

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ:

    Việc chọn dây dẫn và khí cụ bảo vệ cho một công trình điện thường phải dựa vào các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật. Tuy nhiên trong mạng điện hạ áp, mạng điện phân xưởng có chiều dài truyền tải ngắn và công suất nhỏ nên khi chọn dây dẫn, cáp cũng như khí cụ bảo vệ người ta thường căn cứ vào chỉ tiêu kỹ thuật sau:

    • Dòng phát nóng cho phép.
    • Độ tổn thất điện áp cho phép.
    • Độ bền nhiệt khi xuất hiện ngắn mạch.
    1. CHỌN DÂY DẪN VÀ CÁP
      • 1) Chọn loại cáp và dây dẫn
        1. Các loại cáp, dây dẫn và phạm vi ứng dụng.

    Các loại cáp được bọc cách điện trong mạng hạ áp do công ty cáp điện Việt Nam  CADIVI sản xuất:

    • Dây nhôm lõi thép xoắn As : đây là dây nhôm cứng, nhiều sợi xoắn quanh lõi thép mạ kẽm làm tăng chịu lực căng.
    • Dây nhôm xoán A : đây là dây nhôm cứng, nhiều sợi xoắn, dùng cho đường dây truyền tải trên không.
    • Dây đồng xoắn C : đây là dây đồng cứng, nhiều sợi xoắn, dùng cho đường dây truyền tải trên không.
    • Cáp vặn xoắn LV – ABC : là dây nhôm cứng, nhiều sợi cán ép chặt, cách điện XLPE, dùng cho đường dây truyền tải điện hạ áp trên không.
    • Dây DUPLEX DV : dây đồng hoặc nhôm, cách điện PVC hoặc XLPE, dùng dẫn điện từ đường truyền tải vào hộ tiêu thụ.
    • Dây đôi mềm VCm : là dây đồng mềm, nhiều sợi xoắn, cách điện PVC, dùng dẫn điện cho các thiết bị điện dân dụng.
    • Dây và cáp điện lực CV: đây là loại dây cáp đồng nhiều sợi xoắn cách điện bằng PVC, điện áp cách điện đến 660V, cáp CV thường được sử dụng cho mạng điện phân phối khu vực.
    • Dây cáp điện lực 2, 3, 4 ruột CVV : đây là loại cáp đồng nhiều sợi xoắn, có 2, 3 hoặc 4 ruột, cách điện bằng nhựa PVC. Điện áp cách điện đến 660V. Loại cáp này thường được dùng cho các động cơ 1 pha và 3 pha.
    • Dây và cáp điện lực AV : là dây nhôm hay nhôm lõi thép nhiều sợi xoắn, cách điện PVC, điện áp cách điện đến 660V, dùng cho mạng điện phân phối khu vực.
    • Dây đơn 1 sợi (nhiều sợi) VC : là dây đồng, một hoặc nhiều sợi, cách điện PVC, dùng thiết trí đường điện chính trong nhà.
    • Cáp điện kế ĐK : là dây đồng nhiều sợi xoắn, có 2, 3 hay 4 ruột, cách điện PVC, có lớp giáp nhôm, dùng dẫn điện từ đường dây vào đồng hồ điện.
    1. Chọn loại cáp và dây dẫn:

    Phương pháp lựa chọn dây dẫn và cáp dựa trên các chỉ tiêu kỹ thuật sau:

    • Nhiệt độ dây, cáp không được vượt quá nhiệt độ cho phép quy định bởi nhà chế tạo trong chế độ vận hành bình thường cũng như trong chế độ vận hành sự cố khi xuất hiện ngắn mạch.
    • Độ sụt áp không được vượt quá độ sụt áp cho phép.

    Dựa vào các chỉ tiêu kỹ thuật trên ta chọn cáp và dây dẫn của hãng CADIVI cho mạng điện phân xưởng như sau:

    • Từ MBA đến tủ phân phối chính MDB chọn cáp điện lực CV đơn lõi, có cách điện PVC cho 3 dây pha A B C và một dây trung tính Trong đó dây trung tính N có tiết diện bằng ½ tiết diện dây pha.
    • Đường dây từ tủ phân phối chính MDB đến các tủ phân phối phụ DB ta chọn cáp điện lực CV 1 lõi, ruột đồng nhiều sợi có cách điện PVC cho 3 dây pha A B C và một dây trung tính N.
    • Đối với đường dây từ tủ phân phối phụ DB đến các động cơ ta chọn cáp CVV 3 lõi, cách điện bằng PVC, ruột đồng nhiều sợi.
    • 2) Chọn dây dẫn theo điều kiện phát nóng :

    Dây dẫn được chọn theo điều kiện phát nóng lâu dài cho phép sẽ đảm bảo cho cách điện của dây dẫn không bị phá hỏng do nhiệt độ của dây dẫn đạt đến trị số nguy hiểm cho cách điện của dây. Điều này được thực hiện khi dòng điện phát nóng cho phép của dây, cáp phải lớn hơn dòng điện làm việc lâu dài cực đại chạy trong dây dẫn .

    (3.1)

    Trong đó:

    • Icp : Dòng điện làm việc lâu dài cho phép của cáp và dây dẫn (A).
    • K : Hệ số điều chỉnh theo điều kiện lắp đặt thực tế.

    Nếu dây, cáp không  chôn dưới đất thì K= K1.K2.K3 với:

    _  Hệ số K1 xét đến ảnh hưởng của cách lắp đặt.

    _  Hệ số K2 xét đến số mạch dây, cáp trong một hàng đơn.

    _  Hệ số K­3 xét đến nhiệt độ môi trường khác 300C.

    *  Nếu dây, cáp chôn ngầm trong đất thì K= K4.K5.K6.K7 với:

    _  Hệ số K4 xét đến ảnh hưởng của cách lắp đặt.

    _  Hệ số K5 xét đến số mạch dây, cáp trong một hàng đơn.

    _  Hệ số K6 xét đến tính chất của đất.

    _  Hệ số K7 xét đến nhiệt độ đất khác 200C

    Vì khoảng cách từ tủ phân phối đến tủ động lực cũng như từ tủ động lực đến từng thiết bị là ngắn, nếu như thời gian làm việc của các máy ít thì việc lựa chọn theo dòng phát nóng sẽ đảm bảo về chỉ tiêu kỹ thuật cũng như  ít lãng phí về kim loại màu.

    1. Chọn cáp từ tủ động lực đến các động cơ :

    Dây cáp đi từ tủ động lực đến các động cơ ta chọn cáp CVV bọc cách điện PVC,  cáp được đặt trong ống và đi ngầm dưới đất. Số mạch trong hàng là một, đất khô và chọn nhiệt độ của đất là 200C. Tra bảng  (bảng phụ lục 2 của thầy Quyền Huy Ánh) ứng với cáp đi ngầm dưới đất ta được:

    K4 =  0.8

    K5 = 1

    K6 = 1

    K7 = 1

    • Chọn cáp cho nhóm 1 :
      • Dòng điện định mức của nhánh được tính theo công thức:

                                           (3.2)

    • Dòng điện cực đại của nhánh:

    lvmaxij  = Kđt.Iđmij                                                      (3.3)

    Nhánh 1 : 1A, 1A, 1A, 4A,4A

    Từ công thức (3.2)  ta tính được:

    Từ công thức (3.3)  ta tính được lvmax11 = 0,85.38,29 = 32,55 A

    Phối hợp chọn dây dẫn với CB, ta chọn CB có dòng định mức IZ = 40A. Sau đó ta chỉnh dòng định mức của CB theo công thức:

    Imax = Kr . IZ                                                                          (3.4)

    Với Kr là hệ số hiệu chỉnh dòng định mức  của CB.

    Kr = 0,8 ÷ 1 đối với CB có cơ cấu từ nhiệt

    Kr = 0,4 ÷ 1 đối với CB có cơ cấu điện từ

    Vậy ta chọn dòng định mức max  Imax11 = Kr . Iz = 0,85.40 = 34 A (CHỌN MCCB)(ứng với hệ số  hiệu chỉnh     Kr = 0,85).

    Suy ra: . (CHỌN DÂY)

    Tra bảng dây dẫn CADIVI ta chọn dây cáp CCV 3 bọc cách điện bằng PVC có thông số sau:

     Tieát dieän danh ñònh

     

    (mm)

     Số sợi/đường

     

    kính sợi

    (N x mm)

     Ñöôøng kính daây daãn

     

    (mm)

    Ñöôøng kính

     

    caùch ñieän (mm)

    Troïng löôïng gaàn ñuùng (kg/km)  Cöôøng ñoä toái ña

     

    (A)

    CVV 3×8 7/1,2 3,6 6 15,5 44

    Nhánh 2 : 2A, 2A, 3A, 8A,8A

    Tính toán tương tự  như nhánh 1 ta được:

    Phối hợp chọn dây dẫn với CB, ta chọn CB có dòng định mức IZ = 60A. Ta chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh Kr = 0,95 ta được:

    Từ  công thức (3.4) suy ra:  Imax12 = 0,95.60= 57A (chọn MCCB)

    Từ công thức (3.1) :              (chọn dây)

    Vậy ta chọn dòng định mức cho phép Icp = 71,25A.

    Từ kết quả trên ta chọn dây dẫn với thông số sau:

    Tiết diện danh định

     

    (mm)

     Số sợi/đường

     

    kính sợi

    (N x mm)

     Đường kính dây dẫn

     

    (mm)

    Đường kính

     

    cách điện (mm)

    Trọng lượng gần đúng (kg/km)  Cường độ tối đa

     

    (A)

    CVV 3×22 7/2,0 6 9,2 23,4 82

    Nhánh 3: 5A, 5A,6A,6A,7A,7A

    Tương tự ta có:

    Phối hợp chọn dây dẫn với CB, ta chọn CB có dòng định mức IZ =50A. Ta chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh Kr = 0,9 ta được:

          Imax13 = 0,85.50 = 42,5A

    Từ kết quả trên ta chọn dây dẫn với thông số sau:

    Tiết diện danh định

     

    (mm)

     Số sợi/đường

     

    kính sợi

    (N x mm)

     Đường kính dây dẫn

     

    (mm)

    Đường kính

     

    cách điện (mm)

    Trọng lượng gần đúng (kg/km)  Cường độ tối đa

     

    (A)

    CVV 3×14 7/1,6 4,8 7,6 20,1 62
    • Chọn cáp nhóm 2 :

    Tính tóan tương tự như nhóm 1 ta được:

    Nhánh 1: 2A, 2A, 8A,8A,11A

    Phối hợp chọn dây dẫn với CB, ta chọn CB có dòng định mức IZ = 50A. Ta chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh Kr = 0,95 ta được:

    Imax21 = Kr . IZ = 0,95.50 = 47,5A

    Từ kết quả trên ta chọn dây dẫn với thông số sau:

    Tiết diện danh định

     

    (mm)

     Số sợi/đường

     

    kính sợi

    (N x mm)

     Đường kính dây dẫn

     

    (mm)

    Đường kính

     

    cách điện (mm)

    Trọng lượng gần đúng (kg/km)  Cường độ tối đa

     

    (A)

    CVV 3×14 7/1,6 4,8 7,6 20,1 62

    Nhánh 2 : 1A,1A,4A,9A,9A

    Phối hợp chọn dây dẫn với CB, ta chọn CB có dòng định mức IZ = 60A. Ta chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh Kr = 0,9 ta được:

    Imax22 = Kr . IZ = 0,9.60 = 54A

    Từ kết quả trên ta chọn dây dẫn với thông số sau:

    Tiết diện danh định

     

    (mm)

     Số sợi/đường

     

    kính sợi

    (N x mm)

     Đường kính dây dẫn

     

    (mm)

    Đường kính

     

    cách điện (mm)

    Trọng lượng gần đúng (kg/km)  Cường độ tối đa

     

    (A)

    CVV 3×22 7/2,0 6,00 9,2 23,4 82

    Nhánh 3:   10A,10A,12A

    Phối hợp chọn dây dẫn với CB, ta chọn CB có dòng định mức IZ = 60A. Ta chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh Kr = 0,9 ta được:

    Imax22 = Kr . IZ = 0,9.60 = 54A

    Từ kết quả trên ta chọn dây dẫn với thông số sau:

    Tiết diện danh định

     

    (mm)

     Số sợi/đường

     

    kính sợi

    (N x mm)

     Đường kính dây dẫn

     

    (mm)

    Đường kính

     

    cách điện (mm)

    Trọng lượng gần đúng (kg/km)  Cường độ tối đa

     

    (A)

    CVV 3×22 7/2,0 6,0 9,2 23,4 82
    1. Chọn dây dẫn từ tủ phân phối chính đến tủ động lực của phân xưởng :

    Tuyến dây đi từ tủ phân phối chính đến tủ động lực ta đi dây 4 dây (3 dây pha và một dây trung tính) và đi trên máng cáp, một mạch, bọc cách điện PVC, nhiệt độ môi trường  300C  nên  tra bảng phụ lục 2  ta có:

    K1 = 1

    K2 = 1

    K3 = 1

             Dòng làm việc của nhóm 1 là :

    Kết hợp với CB bảo vệ ta chọn CB có dòng định mức IZ = 120A. Ta chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh Kr = 0,85 ta được:

    Imax1 = Kr . IZ = 0,85.120= 102A

    Tra bảng chọn dây của CADIVI ta chọn dây cáp điện lực CV-25 cho 3 dây pha và CV-14 cho dây trung tính nối đất.

    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Số sợi /
    đ.kính sợi (Nxmm)
    Đường kính
    dây dẫn (mm)
    Đường kính
    tổng (mm)
    Trọng lượng
    gần đúng (Kg/km)
    Cường độ
    tối đa (Ampe)
    CV 16 7/1,7 5,1 8,1 192 95
    CV 25 7/2,14 6,42 9,6 291 115

    Dòng làm việc của nhóm 2 là :

    Kết hợp với CB bảo vệ ta chọn CB có dòng định mức IZ = 140 A. Hiệu chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh .

    Từ  công thức (3.4) ta được:           Imax2 = Kr . IZ = 0,9.140 = 126A

    Tra bảng chọn dây của CADIVI ta chọn dây cáp điện lực CV-35 cho 3 dây pha và CV-25 cho dây trung tính nối đất.

    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Số sợi /
    đ.kính sợi (Nxmm)
    Đường kính
    dây dẫn (mm)
    Đường kính
    tổng (mm)
    Trọng lượng
    gần đúng (Kg/km)
    Cường độ
    tối đa (Ampe)
    CV 25 7/2,14 6,42 9,6 291 115
    CV 35 7/2,52 7,56 11 395 140
    1. Chọn dây từ trạm biến áp đến tủ phân phối chính của phân xưởng:

    Từ việc lựa chọn dây dẫn như trên và theo các thông số tính toán ta có:

    • Dòng làm việc của toàn phân xưởng là :Ittpx = 221A.
    • Dòng làm việc cực đại của toàn phân xưởng:

    Ta chọn Kđt = 0,85 .  Suy ra:

    Kết hợp với MCCB bảo vệ ta chọn MCCB có dòng định mức IZ = 220A. Ta chỉnh dòng định mức của MCCB với hệ số hiệu chỉnh Kr = 0,85.

    Vì dây từ trạm biến áp đến tủ phân phối chính đi trên không nên tra bảng

     (bảng phụ lục 2)  ta chọn :

    K1 = 1 do cáp đi trên không.

    K2 = 1 (Do số mạch cáp trong một hàng đơn là 1 và lắp đặt theo hàng

    đơn trên tường)

    K3 = 1 (Do nhiệt độ môi trường là 300C).

    Kết hợp với bảng tra dây dẫn của CADIVI ta chọn dòng định mức cho phép qua dây dẫn

    Với dòng Icp như trên nên ta chọn dây và cáp điện lực CV70 một lõi cho 3 dây pha và CV35 một lõi cho dây trung tính có các thông số sau:

    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Số sợi /
    đ.kính sợi (Nxmm)
    Đường kính
    dây dẫn (mm)
    Đường kính
    tổng (mm)
    Trọng lượng
    gần đúng (Kg/km)
    Cường độ
    tối đa (Amp)
    CV 70 19/2,14 10,7 14,5          739 215
    CV 35 7/2,52 7,56 11 395 140

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    • Kiểm tra tổn thất điện áp :

    Tổng trở của đường dây tuy nhỏ nhưng không thể bỏ qua được. Khi dây mang tải sẽ luôn tồn tại sự sụt áp giữa đầu và cuối của dây. Chế độ vận hành của các tải (như động cơ, chiếu sáng…) phụ thuộc nhiều vào điện áp trên đầu vào của chúng và đòi hỏi giá trị điện áp gần  với giá trị định mức. Do vậy cần phải chọn kích cỡ sao cho khi mang tải lớn nhất, điện áp tại điểm cuối phải nằm trong phạm vi cho phép. Theo tiêu chuẩn lắp đặt IEC thì độ sụt áp từ trạm hạ áp công cộng đến các tải như động cơ, lò sưởi,…vv thì độ sụt áp

    Đối với mạng hạ áp thì tổn thất điện áp cho phép được xác định theo công thức:

    Độ sụt áp phụ thuộc trực tiếp vào công suất của phụ tải, chiều dài dây dẫn và tỉ lệ nghịch với bình phương điện áp. Vì vậy, khi chọn dây dẫn cần phải kiểm tra lại tổn thất điện áp cho phép, nếu không thoả thì tăng tiết diện lên một cấp rồi kiểm tra lại.

    Kiểm tra tổn thất điện áp từ trạm biến áp đến tủ phân phối chính (MDB) :

    Khoảng cách từ trạm biến áp đến tủ phân phối là: l = 20m = 0,02 Km

     

    Với cáp đồng hạ áp CV 70, cách điện bằng nhựa PVC ta có:

    Đường kính lõi: d= 10,4 (mm),

    Do dây đi trên không hạ áp nên         .

    • Tiết diện dây :
    • Điện trở của đường dây :
    • Điện kháng của đường dây :
    • Tổn thất điện áp :
    1. a) Kiểm tra tổn thất điện áp từ tủ phân phối chính MDB đến tủ động lực DB2

    Khoảng cách từ tủ phân phối chính đến tủ động lực nhóm 2 là :

    l = 31 m= 0,031Km

    Với cáp đồng hạ áp CV-35 cách điện bằng nhựa PVC, đường kính lõi là: d= 7,56mm, ,

    • Tiết diện dây :
    • Điện trở và điện kháng của đường dây :

    ;

    • Tổn thất điện áp :
    1. b) Kiểm tra tổn thất điện áp từ tủ động lực DB2 đến thiết bị xa nhất của nhánh 3:
      • Nhánh 3 : 10A, 10A,12A

    Khoảng cách từ tủ động lực nhóm 2 đến thiết bị 10A là xa nhất : l = 33m.

    Với cáp đồng hạ áp CVV 3×22, dòng điện cho phép là 82A, đường kính lõi là: d=6,0mm, , . Ta tính được:

    • Tiết diện dây :
    • Điện trở và điện kháng của đường dây :

    Ta quy các tải của nhánh 3 về thành  một tải để dễ dàng cho việc tính toán.

    • Tổn thất điện áp :

    Tổng tổn thất điện áp từ máy biến áp đến nhánh có chiều dài xa nhất là:

    Từ kết quả trên, ta thấy  nên thỏa điều kiện cho phép. Vậy dây dẫn đã chọn là phù hợp.

    (Ta làm tương tự như trên)

    nhóm nhánh Ptt Costb L(m)   Ghi chú
          1   17,85 0,83    60   1,63  TDK
         1     2   28,26 0,76    58   1,37  TDK
          3   20,4 0,75    90   2  TDK
          1   24.224 0,79    71   1,51  TDK
          2     2   27,2 0,8    71   1,71  TDK
          3   25,5 0,746    84   1,89  TDK
    1. CHỌN THIẾT BỊ BẢO VỆ
    • CB (Circuit Breaker) : là một khí cụ đóng hay cắt mạch bằng phương pháp không tự động nhưng có khả năng cắt mạch tự động khi các tiếp điểm của nó có dòng điện lớn hơn mức chỉnh đặt trước đi qua.

    Dựa theo cấu tạo của vỏ bên ngoài, ta có các loại sau :

    • MCB (Miniature Circuit Breaker): thường gọi là CB tép hay CB một pha.
    • MCCB (Molded Case Circuit Breaker): là CB ba pha chung một vỏ (không phải ba CB một pha ghép lại)
    • ELCB (Earth Leakage Circuit Breaker): đây là loại CB ngoài các chức năng đóng cắt và bảo vệ như các CB thông dụng mà nó còn kèm theo chức năng chống dòng rò bảo vệ an toàn cho người khi thiết bị điện bị rò điện.
      • CB có các chức năng như sau :
    • Bảo vệ quá tải.
    • Bảo vệ ngắn mạch.
    • Bảo vệ thấp áp (sử dụng kèm cuộn dây bảo vệ thấp áp)
    • Đóng cắt và cách ly
    • Điều kiện lựa chọn CB cho phân xưởng:
    • Điện áp vận hành định mức: UđmCB ³ Uđmmang.
    • Điện áp cách điện định mức
    • Điện áp xung định mức.
    • Điện áp kiểm tra trong một phút.
    • Dòng điện định mức: IZ ³ Ilvmax
    • Khả năng cắt dòng ngắn mạch: Icu ³ INmax
    • Dãy điều chỉnh dòng điện định mức.
    • f = 50 ¸ 60 (Hz)
    • Số cực: 1,2,3,4 cực

    Thông thường khi chọn CB cho mạng hạ áp ta cần chú ý đến điều kiện chính sau:

    • Dòng cắt ngắn mạch: Icu ³ INmax
    • Dòng điện định mức: IZ ³ Ilvmax
    • Điện áp định mức: UđmCB ³ Uđm.
    • Chọn MCCB tổng cho tủ phân phối chính :

    Dựa vào điều kiện lựa chọn CB như trên ta có:

    Vậy dựa vào kết quả tính toán và điều kiện lựa chọn CB ta quyết định chọn MCCB và ELCB tổng  của hãng Mitsubishi :

      Ilvmax (A)   MCCB(Misubishi)  
        Iz (A) Số hiệu Số cực
      187,85 200 NF250-CW 3
               
    • Chọn MCCB cho các tủ động lực :

    Từ kết quả tính toán như trên ta chọn MCCB của nhóm 1nhóm 2  

     

          MCCB(Misubishi)  
    NHÓM Ilvmaxj (A) Iz (A) Số hiệu Số cực
    1 98.75 100 NF125-CW 3
    2 123,3 125 NF150-CW 3

     

    • 3) Chọn MCCB bảo vệ cho nhánh các động cơ
      • Đối với các nhánh trong nhóm 1 ta có:

     

    NHÁNH Ilvmaxj (A)   MCCB(Misubishi)  
        Iz (A) Số hiệu Số cực
    1 32,55 40 NF63-CW 3
    2 55,25 63 NF63-CW 3
    3 41,225 50 NF63-CW 3

     

     

     

     

     

    b)Đối với các nhánh trong nhóm 2 ta có:

     

    NHÁNH Ilvmaxj (A)   MCCB(Misubishi)  
        Iz (A) Số hiệu Số cực
    1 46,495 50 NF63-CW 3
    2 51,8 63 NF63-CW 3
    3 51,969 63 NF63-CW 3

     

    • 4) Chọn CB cho các phụ tải của 2 nhóm

    công thức tính Ilv của từng phụ tải :

    (Tất cả các CB được chọn là CB có 3 cực và điện áp định mức của CB là 400V)

    STT ký hiệu Pđm

     

    (kw)

    Cos Uđm (kv) Ilv

     

    (A)

    CB nhóm (hãng Mitsubishi)
    Iz (A) Số hiệu
    1 1 3 0,8 0,38 5,7 6 BH-D6(IEC 60898)
    2 2 4 0,85 0,38 7,1 10 BH-D6(IEC 60898)
    3 3 8 0,7 0,38 17,36 20 BH-D6(IEC 60898)
    4 4 6 0,86 0,38 10,6 13 BH-D6(IEC 60898)
    5 5 5 0,75 0,38 10,1 13 BH-D6(IEC 60898)
    6 6 2.5 0,82 0,38 4,63 6 BH-D6(IEC 60898)
    7 7 4.5 0,72 0,38 9,46 10 BH-D6(IEC 60898)
    8 8 8.5 0,76 0,38 17 20 BH-D6(IEC 60898)
    9 9 10 0,78 0,38 19,5 20 BH-D6(IEC 60898)
    10 10 9 0,73 0,38 19,2 20 BH-D6(IEC 60898)
    11 11 3.5 0,83 0,38 6,4 10 BH-D6(IEC 60898)
    12 12 12 0,77 0,38 23,6 25 BH-D6(IEC 60898)

    CHƯƠNG V:

    TÍNH TOÁN CHIẾU SÁNG

     

    1. YÊU CẦU THIẾT KẾ CHIẾU SÁNG

    Để đạt dược những yêu cầu chiếu sáng đặt ra thì khi thiết kế chiếu sáng cần chú ý:

    • Độ rọi trên toàn mặt phẳng làm việc phải đạt giá trị tối thiểu theo yêu cầu.
    • Aùnh sáng phải phù hợp vào tính chất của công việc, thông thường chọn nguồn sáng giống ánh sáng ban ngày.
    • Tạo được tính tiện nghi cần thiết :
    • Tính thẩm mỹ.
    • Không gây chói do các tia sáng chiếu trực tiếp từ đèn tới mắt.
    • Không gây chói do các tia phản xạ từ các vật xung quanh.
    • Không có bóng tối trên mặt bằng làm việc.
    • Phải tạo được độ rọi tương đối đồng đều để khi quan sát nơi này sang nơi khác mắt không phải điều tiết quá nhiều(độ chênh lệch tối đa không quá 20%).
    • Phải có hệ thống điều khiển từ xa và tự động hoá.
    • Tiết kiệm năng lượng và giá cả hợp lý.
      1. TRÌNH TỰ THIẾT KẾ CHIẾU SÁNG

    Vì đây là phân xưởng sản xuất nên đòi hỏi phải đảm bảo độ chính xác cao, màu sắc giống ánh sáng ban ngày.

    • 1) Kích thước phân xưởng :
    • Chiều dài: a = 54m
    • Chiều rộng: b = 18m
    • Diện tích:  S = 972m2
    • Chiều cao: h = 7m.
    • 2) Hệ số phản xạ :
    • Hệ số phản xạ của trần: rtr = 50%
    • Hệ số phản xạ của tường: rt = 30%
    • Hệ số phản xạ của sàn: rs = 10%
      • 3) Chọn bộ đèn :
    • Vì phân xưởng có trần cao h = 7m nên để đủ ánh sáng ta chọn loại bộ đèn có kiểu chiếu sáng trực tiếp và chóa phản xạ tròn (Round Vefiector).
    • Chọn loại bóng đèn HID-Metal Halide với:
    • Công suất Pđ = 250W
    • Quang thông đèn đ = 20000 lm
    • Chiều dài l = 163 mm
    • Số bóng trong một bộ đèn: 1
      • Quang thông và công suất của bộ đèn:

    = đ.(số bóng trong bộ đèn) = 20000.1 = 20000 lm

    P=  Pđ.(số bóng trong bộ đèn) = 250.1 = 250W

    • 4) Chọn độ cao treo đèn hđ (m)

    Độ cao treo đèn hđ là khoảng cách từ đáy dưới đèn đến mặt phẳng làm việc.

    hđ = h-Dđ-hlv

    Trong đó:

    h : độ cao từ trần đến sàn

    Dđ : Khoảng cách từ đèn đến trần

    Ta chọn hlv = 0,8m và do đèn treo sát trần nên Dđ = 0. Suy ra hđ = 6,2m

    • 5) Xác định hệ số sử dụng đèn CU

    Chỉ số phòng i:

    Căn cứ vào kiểu chiếu sáng của bộ đèn, các hệ số phản xạ của trần, tường, sàn và chỉ số phòng ta tra bảng “đặc tính phân bố cường độ sáng” để xác định hệ số sử dụng CU : CU = 0,9

    • 6) Xác định hệ số mất ánh sáng LLF:

    Phân xưởng được trang bị loại đèn HID (Metal Halide).

    Môi trường làm việc của phân xưởng trung bình.

    Chế độ bảo trì là 12 tháng.

    Tra bảng “Hệ số mất  mát ánh sáng” ta có: LLF= 0.61

    • 7) Chọn độ rọi theo tiêu chuẩn Emin(lux):

    Đây là phân xưởng sản xuất chọn Emin = 200 lux.

    • 8) Xác định số bộ đèn:

    Tổng số bộ đèn cần thiết:

    Ta chọn N = 18 bộ.

    • 9) Phân bố các bộ đèn:

    Phân xưởng với chiều dài 54m, chiều rộng 18m, chiều cao 7m và các thiết bị được phân bố đều khắp phân xưởng nên ta bố trí đèn thành 3 dãy, mỗi dãy 6 bộ đèn.

    • Kiểm tra độ đồng đều:
    • Khoảng cách giữa 2 dãy đèn với nhau : L1 = 6m
    • Khoảng cách giữa 2 cột đèn với nhau : L2 = 9m
    • Chiều cao treo đèn tính toán: hđ = 6,2m
    • Khoảng cách giữa dãy đèn ngoài cùng với tường : Dt1 = 3m
    • Khoảng cách giữa cột đèn ngoài cùng với tường : Dt2 = 4,5m

    Với loại đèn HID, trần cao thì ta có:

    Các tỷ số trên đều thoã mãn điều kiện. Do đó phân bố đèn đạt được độ đồng đều.

    • Vạch phương án đi dây:

    Ở đây ta cần chiếu sáng cho một phân xưởng có diện tích rộng. Do đó cũng phải đảm bảo các yêu cầu về chiếu sáng công nghiệp. Mạng chiếu sáng phân xưởng được thiết kế theo mạng riêng với đường dây riêng để tránh việc khởi động động cơ làm ảnh hưởng đến chất lượng chiếu sáng. Hệ thống chiếu sáng được cấp điện từ tủ chiếu sáng. Trong tủ chiếu sáng đặt một CB tổng 3 pha nhận điện từ tủ phân phối chính và 3CB nhánh 1 pha, mỗi CB nhánh điều khiển cấp điện cho một nhánh đèn.

    Tủ chiếu sáng được  đặt bên cạnh cửa ra vào của phân xưởng.

    Cáp dẫn điện từ tủ phân phối chính đến tủ chiếu sáng được đi trên khay cáp, gắn trên tường.

    Dây dẫn từ tủ chiếu sáng đến các dãy đèn được đi dây trong ống nhựa cách điện và được gắn trên tường để cấp điện cho các bóng đèn.

    Sơ đồ đi dây như hình vẽ:

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                   III.   CHỌN DÂY DẪN VÀ THIẾT BỊ BẢO VỆ CHO HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG:

    • 1) Chọn dây dẫn:
    1. Chọn dây dẫn từ tủ phân phối chính (MDB) đến tủ chiếu sáng (LDB):
      • Tổng công suất chiếu sáng của toàn phân xưởng:
    • Dòng làm việc cực đại:

    Vì ta chọn đi dây trên máng cáp và trong một mạch cáp gồm 3 dây nên:

    K1 =1

    K2 = 1

    K3 =1 (bọc cách điện bằng PVC, 30oC)

    Phối hợp chọn dây dẫn với MCCB, ta chọn MCCB có dòng định mức I= 10 A. Ta chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh Kr = 0,9 ta được:

    Imaxcs = Kr . IZ = 0,9.10 = 9A

    Suy ra:

    Chọn MCCB là loại MCCB mã hiệu NF30-CS của hãng Mitsubishi theo IdmCB = 10A

    Kết hợp với bảng tra dây dẫn của CADIVI ta chọn dòng định mức cho phép Icp =19A. Tra bảng ta chọn dây cáp VC 1.0 một sợi cho 3 dây pha và 1 dây trung tính  có thông số :

      

                                

    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Đường kính
    dây dẫn (mm)
    Đường kính
    tổng
    Trọng lượng
    gần đúng (Kg/100m)
    Cường độ
    tối đa (Amp)
    VC 1.0 1.2 x (7/0,45) 2,8 (3,0) 1,67 19
    1. Chọn dây dẫn từ tủ chiếu sáng đến từng nhánh đèn:

    Vì ta chọn đi dây trong ống và gắn trên tường nên tra bảng ta có:

    (1 dây trong một hàng đơn, mã chữ cái là C)

    (bọc cách điện bằng PVC, 30oC)

    • Do có 3 nhánh đèn có cùng số bóng như nhau (mỗi nhánh 6 bóng) nên ta tính cho một nhánh, nhánh còn lại chọn tương tự.
    • Tổng công suất của nhánh gồm có 6 bóng :

    Pd = 250.6  = 1500W

    Phối hợp bảo vệ với CB ta chọn CB hai cực do hãng Mitsubishi sản xuất có dòng định mức 10A, điện áp định mức 230V. Hiệu chỉnh dòng định mức của CB với hệ số hiệu chỉnh Kr=0,8. Ta được: Imax1d = Kr . IZ = 0,8.10= 8A.

    Suy ra : Chọn CB 2 cực có mã hiệu là BH-D6 có IđmCB = 10A

    Căn cứ vào kết quả tính toán ta chọn dây dẫn có thông số sau:

    Chọn dây cáp mềm 2 sợi

     
    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Đường kính
    dây dẫn (mm)
    Đường kính
    tổng
    Trọng lượng
    gần đúng (Kg/km)
          Cường độ

     

    tối đa (Amp)

    VCm 2 x 1,00 2 x 32/0,20 3,0 x 6,0 3,45 10

    Phụ lục

    1. Bảng tra dây dẫn do CADIVI sản xuất:
    DÂY VÀ CÁP ĐIỆN LỰC CV
    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Số sợi /
    đ.kính sợi (Nxmm)
    Đường kính
    dây dẫn (mm)
    Đường kính
    tổng (mm)
    Trọng lượng
    gần đúng (Kg/km)
    Cường độ
    tối đa (Amp)
    CV 11 7/1.4 4,20 6,80 132 75
    CV 14 7/1.6 4,80 7,60 169 88
    CV 16 7/1.7 5,10 8,10 192 95
    CV 25 7/2,14 6,42 9,60 291 115
    CV 35 7/2,52 7,56 11,00 395 140
    CV 50 19/1,8 9,00 12,60 534 189
    CV 70 19/2,14 10,70 14,50 739 215
    CV 95 19/2,52 12,60 16,50 1008 260
    CV 120 19/2,8 14,00 18,20 1235 324
    CV 150 37/2,3 16,10 20,50 1598 384
    CV 185 37/2,52 17,64 22,30 1908 405
    CV 200 37/2,6 18,20 23,00 2034 443
    CV 250 61/2,3 20,70 25,50 2579 518
    CV 300 61/2,52 22,68 27,70 3080 570
    CV 325 61/2,6 23,40 28,60 3282 596
    CV 400 61/2,9 26,10 31,50 4041 660
    DÂY CÁP ĐIỆN LỰC CVV 2, 3, 4 RUỘT
    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Số sợi /
    đ.kính sợi

     

    (Nxmm)

    Đường kính
    dây dẫn

     

    (mm)

    Đường kính
    tổng

     

     (mm)

    Trọng lượng
    gần đúng

     

     (Kg/km)

    Cường độ
    tối đa

     

    (Ampe)

    2×2 7/0,6 1,80 3,4 105 24
    2×3,5 7/0,8 2,40 4,0 115 34
    2×5,5 7/1,0 3,00 5,0 134 44
    2×8 7/1,2 3,60 6,0 155 55
    2×11 7/1,4 4,20 6,8 171 66
    2×22 7/2,0 6,00 9,2 218 102
    2×38 7/2,6 7,80 11,4 264 141
    2×50 19/1,8 9,00 12,6 290 164
    3×2 7/0,6 1,80 3,4 110 20
    3×3,5 7/0,8 2,40 4,2 122 27
    3×5,5 7/1,0 3,00 5,0 145 35
    3×8 7/1,2 3,60 6,0 155 44
    3×14 7/1,6 4,80 7,6 201 62
    3×22 7/2,0 6,00 9,2 234 82
    3×38 7/2,6 7,80 11,4 285 113
    3×50 19/1,8 9,00 13,6 312 132
    4×2 7/0,6 1,80 3,4 116,1 18,5
    4×2,5 7/0,67 2,10 3,6 121,2 21
    4×4 7/1,0,85 2,55 4,35 140 28
    4×6 7/1,04 3,12 5,32 163,4 36
    4×8 7/1,20 3,60 6,0 180 43
    4×11 7/1,40 4,20 6,8 201,2 55
    4×22 7/2,00 6,00 9,2 258,1 80
    4×38 7/2,60 7,80 11,4 325,2 114
    4×50 19/1,8 9,00 12,6 346,2 130
    DÂY ĐÔI MỀM
    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Số sợi /
    đường kính sợi (Nxmm)
    Đường kính
    tổng (mm)
    Trọng lượng
    gần đúng (Kg/km)
    Cường độ
    tối đa (Amp)
    VCm 2 x 0,50 2 x 16/0,20 2,6 x 5,2 2,24 5
    VCm 2 x 0,75 2 x 24/0,20 2,8 x 5,6 2,89 7
    VCm 2 x 1,00 2 x 32/0,20 3,0 x 6,0 3,45 10
    VCm 2 x 1,25 2 x 40/0,20 3,1 x 6,2 3,99 12
    VCm 2 x 1,50 2 x 30/0,20 3,2 x 6,4 4,55 14
    VCm 2 x 2,50 2 x 50/0,20 3,7 x 7,4 5,59 18
    DÂY ĐƠN 1 SỢI (NHIỀU SỢI)
    Tiết diện
    danh định (mm2)
    Đường kính
    dây dẫn (mm)
    Đường kính
    tổng
    Trọng lượng
    gần đúng (Kg/km)
    Cường độ
    tối đa (Amp)
    VC 1.0 1.2 x (7/0,45) 2,8 (3,0) 1,67 19
    VC 1.5 1.4 x (7/0,53) 3,0 (3,2) 2,09 23
    VC 2.0 1.6 x (7/0,60) 3,2 (3,4) 2,58 27
    VC 3.0 2.0 x (7/0,75) 3,6 (3,9) 3,72 35
    VC 5.0 2.6 x (7/1,00) 4,6 (5,0) 6,21 48
    VC 7.0 3.0 x (7/1,13) 5,0 (5,4) 7,94 57

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM “

    ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM “

    ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN BÊ TÔNG CỐT THÉP – THIẾT KẾ BẢN SÀN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-M%E1%BA%A0NG-TH%C3%94NG-TIN-DI-%C4%90%E1%BB%98NG-GSM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM”

    3.3.2.2  Mối quan hệ giữa mô hình OSI và hệ thống báo hiệu số 7

    Hệ thống báo hiệu số 7 là m ột loại thông tin số liệu chuyển mạch gói, nó cũng được cấu trúc theo modul và rất giống với mô hình OSI, nhưng khác với mô hình OSI có 7 lớp thì SS7 chỉ có 4 lớp.

    Ba lớp thấp nhất t ạo thành phần chuyển giao tin báo (MTP) và lớp thứ 4 chứa các Phần của người sử dụng.

    Hệ thống báo hiệu số 7 không hoàn toàn tương hợp với mô hình chuẩn OSI . Một điểm khác nhau lớn giữa phần thứ nhất của SS7 và mô hình OSI là quá trình thông tin trong mạng. Mô hình OSI mô t ả sự trao đổi định hướng đấu nối số li ệu. Quá trình thông tin bao g ồm ba tr ạng thái: thiết lập đấu nối, chuyển giao số liệu và cắt . MTP chỉ cung cấp dịch v ụ vận chuyển sự cắt nối (chỉ có pha chuyển giao số liệu) và ở đây chuyển giao là một cách truyền số liệu nhanh hơn trong những khối lượng nhỏ.

    Nhằm đ áp ứng nhu cầu của các d ịch vụ mở rộng trong những ứng dụng nào đó, SCCP (Phần điều khiển đấu nối báo hiệu) đã được bổ sung vào năm 1984 ở sách đỏ của CCITT.

    SCCP đưa ra cả sự vận chuyển sự cắt nối của mạng và đị nh hướng đấu nối của mạng và cung cấp giao diện giữa lớp mạng và lớp truyền tải giống như đối v ới OSI. SCCP làm cho nó có kh ả năng s ử dụng mạng SS7, d ựa trên MTP, như là phần mang theo giữa các ứng dụng sử dụng giao thức OSI để trao đổi thông tin

    • lớp cao hơn. Trong sách xanh của CCITT (1988) còn đưa ra giao thức chung cho các khả năng giao dịch (TCAP) và phần ứng dụng cho khai thác, bảo dưỡng. Chúng cũng ứng với lớp 7 trong mô hình OSI.

    SS7        OMAP

    OSI

                ISUP         Lớp 7
                       
                        Lớp 6
        TCAP         TUP    
                           
                          Lớp 5
                           
                        Lớp 4
        SCCP              
                           
                    Lớp 3
                Mạng báo hiệu  
        MTP       Lớp 2
          Kênh báo hiệu  
                  Lớp 1
              Kênh số liệu báo hiệu  
                           

    Hình 3.8 Mối quan hệ giữa báo hiệu số 7 và mô

    hình chuẩn OSI

     

    35

    3.3.2.3 Các khối chức năng của hệ thống báo hiệu số 7

                                       
      Các phần của                     Các phầ n của    
    người sử dụng           Phần chuyển       người sử dụng    
                     
          (UP)           giao tin báo           (UP)    
       
                   
                                   
                                   
                      (MTP)                
                                 
                                       

    Hình 3.9 Cấu trúc cơ bản của SS7

    Hệ thống báo hiệu số 7 của CCITT được chia thành 2 phần:

    Phần

    chuyển giao bản tin (MTP : Message Transfer Part)

    MTP là một hệ thống vận chuyển chung để chuyển giao tin cậy các thông tin báo hiệu giữa các đ iểm báo hiệu. Phần chuyển giao bản tin truyền tải các thông tin báo hiệu giữa các phần của ngườ i sử dụng khác nhau và nộ i dung của các tin báo này là hoàn toàn độc lập với nhau. Để thực hiện chức năng này, MTP cần phải có :

    • Các bản tin cần phải được sửa trước khi chúng được chuyển giao tới phần của người sử dụng thu.
    • Sửa lỗi liên tiế
    • Không bị tổn thất hoặc lặp lạ

    Các phần của người sử dụng (UP : User Part)

    Các phần của ngườ i sử dụ ng được tạo ra và phân tích các thông tin báo hiệu. Chúng sử dụng MTP như là chức năng truyền tải để mang thông tin báo hiệu tới các phần của người sử dụng khác cùng loại.

    Một số các phần của người sử dụng là:

    • TUP (Telephone User Part) : Phần của người sử dụng điện thoạ
    • DUP (Data User Part): Phần của người sử dụng số liệ
    • ISUP (ISDN User Part) : Phần của người sử dụng ISDN.
    • MTUP (Mobile Telephone User Part) : Phần người sử dụng điện thoại di độ

    36

    3.4 Phần chuyển giao tin báo (MTP : Message Transfer Part)

              Tổng đài Tổng đài            
                  A     B            
                                             
                  MTP     MTP              
            TUP           TUP          
                                 
                                     
                                     
                                     
                                  DUP          
            DUP                              
                                             
                                             
            ISUP                     ISUP          
                                         
                                             
                                             
    MAP   TCAP   SCCP                     SCCP     TCAP   MAP
                                 
                                             
                                     
                                        BSSAP  
        BSSAP                  
                                             
                                             

    TUP (Telephone User Part) : Phần của người sử dụng điện thoại.

    DUP (Data User Part): Phần của người sử dụng số liệu.

    ISUP (ISDN User Part) : Phần của người sử dụng ISDN.

    SCCP (Signalling Connection and Control Part) : Phần điều khiển và đấu nối báo hiệu.

    TCAP (Transaction Capabilities Application Part) : Phần ứng dụng các khả năng trao đổi.

    MAP (Mobile Application Part) : Phần ứng dụng di động

    BSSAP (Base Station Application Part) : Phần ứng dụng trạm gốc.

    Hình 3.10 Phần truyền giao tin báo MTP là môi trường truyền dẫn chung giữa các phần của người sử dụng

    Phần chuyển giao tin báo là hệ thố ng truyền tải chung cho tất cả các loại ứng dụng viễn thông, cần thiết để chuyển giao các bản tin báo hiệu giữa các tổng đài (các điểm báo hiệu). Nó bao gồm kênh số liệu báo hiệu (mức 1) để đấu nối 2 tổng đài và hệ thống điều khiển chuyển giao bản tin. Hệ thống điều khi ển chuyển giao bản tin bao gồm 2 phần: các chức năng của kênh báo hiệu (mức 2) và các chức năng của mạng báo hiệu (mức 3).

    37

    Các chức năng của kênh báo hiệu: là giám sát kênh số liệu báo hiệu, tìm các bản tin báo hiệu bị lỗi, điều khiển bản tin đã phát và thu đúng trình tự mà không bị mất mát hoặc không bị lặp.

    Các chức năng của mạng báo hiệu: bao gồm các chức năng để xử lý bản tin (xử lý lưu lượng) và điều hành mạng báo hiệu.

    Mức 4     Mức 3       Mức 2   Mức 1
                Phần chuyển giao tin báo (MTP)      
                     
                                 
          Các chức năng của                  
    Các       mạng báo hiệu       Kênh báo hiệu      
                               
    UP       Xử lý bản tin         Các chức năng của   Kênh số liệu báo    
            báo hiệu         kênh báo hiệu   hiệu    
                                 
                                 
            Điều hành mạng                  
            báo hiệu                    
                                 
                                 

    Các bản tin báo hiệu

    Các tín hiệu điều

    Hình 3.11   Các chức năng của mạng báo hiệu

    • Xử lý bản tin báo hiệu : bao gồm các chức năng để định tuyến bản tin tới kênh thích hợp và phân phối các bản tin thu được ở tổng đài thường trú tới các người sử dụng đúng.
    • Điều hành mạng báo hiệu: với các trường hợp có sự thay đổi trạng thái trong mạng báo hiệu, ví dụ nếu kênh báo hiệu hoặc điểm báo hiệu vì lý do gì đó mà không có khả năng thực hiện thì các chức năng điều hành mạng báo hiệu sẽ điều khiển lập lại cấu hình và các thao tác khác để phục hồi khả năng chuyển giao tin báo thông thườ

    3.4.1 Kênh số liệu báo hiệu (mức 1)

    Kênh số liệu báo hiệu là một tuyến truy ền dẫn song hướng để báo hiệu, bao gồm hai kênh số liệu hoạt động cùng nhau ở các hướng đối diện và ở cùng một tốc độ truyền dẫn.

    38

    Kênh số li ệu báo hiệu có th ể là số hoặc analog. Kênh số liệu báo hiệu số được thiết lập bởi các kênh truy ền dẫn số (64kbit/s) và các chuyển mạch số. Kênh số liệu báo hiệu analog được thiết lập bởi hai kênh truyền dẫn tần số thoại (4KHz) và các Modem.

                    Kênh số liệu báo hiệu           Mức 2  
      Mức 2               (mức 1)            
                               
                                   
                                                 
                Bộ                 Bộ              
                                             
      ST     MUX   lựa   ET         ET   lựa   MUX     ST    
                         
                                 
                               
                chọn                 chọn              
      64 Kb/s       PCM 30              
                             
                             
      (G703)       (G732,734)                

    Giao thức 1 xác định tính chất điện, vật lý và các đặc trưng ch ức năng của kênh số liệu báo hiệu. Những đặc tính này được mô tả chi tiết ở các khuyến nghị G.703, G.732 và G.734 của CCITT.

    3.4.2 Kênh báo hiệu (mức 2)

    Các chức n ăng của kênh báo hiệu, cùng v ới kênh số liệu báo hiệu là môi trường truyền dẫn và với kết cu ối báo hiệu là bộ điều khiển tiếp nhận / truyền dẫn, cung cấp kênh báo hiệu để chuyển giao bản tin báo hiệu trực tiếp giữa hai điểm báo hiệu đã đấu nối được tin cậy.

    Các chức năng của kênh báo hiệu gồm :

    Đồng bộ các cờ hiệu và phân định ranh giới các đơn vị tín hiệu. Phát hiện lỗi.

    Sửa lỗi.

    Đồng bộ ban đầu. Cắt bộ xử lý.

    Điều khiển luồng mức 2. Chỉ thị độ ứ tới mức 3.

    Giám sát lỗi của kênh báo hiệu.

    Mụ c đích các ch ức năng của kênh báo hiệu là để đả m bảo rằng các bản tin được phân chia tới đầu xa một cách chính xác theo tuần tự đúng, không tổn thất hoặc không trùng lặp.

    • Chức năng điều khiển kênh báo hiệu :

     

    39

    Thông tin báo hiệu được đưa vào khố i tín hiệu tin báo (MSU), khối này có thể có độ dài thay đổi phụ thuộc vào tổ ng khối lượng thông tin được chuyển giao. MSU bao gồm một số trường điều khiển cùng với trườ ng thông tin báo hiệu (SIF). Các trường điều khi ển được sử dụng bởi các chức năng điều khiển kênh báo hiệu để đảm bảo độ tin cậy chuyển giao tin báo.

    Độ dài khối chỉ thị (LI) được sử dụng để phân biệt giữa MSU, LSU (đơn vị tín hiệu trạng thái của kênh) và FISU (đơn vị tín hiệu làm đầy).

    F CK SIF SIO   LI Sửa F
      lỗi
                 
    8 16 8n, 8   2 6 16 8
    n>2
    Mức 2         Mứ c 2  

    Hình 3.12 Khối tín hiệu tin báo (MSU)

    1. Sự phân định ranh giới giữa các đơn vị báo hiệu

    Thời điểm bắt đầu và kết thúc của các đơn vị tín hiệu được chỉ thị bởi mô hình

    • bit duy nhất gọi là cờ. Để đảm bảo trong đơn vị tín hiệu không thể có mô hình bị trùng lặp thì bit chèn được sử dụng. Bit chèn là để bổ sung thêm các bit 0 vào sau một chuỗi 5 bit 1 liên tiếp của tin báo. Tại đầu thu kết cuối báo hiệu sẽ xoá các bit phụ thêm này.
    F CK SIF SIO   LI Sửa F  
      lỗi  
                     
                     
                  01111110  

    Hình 3.13 Cờ trong MSU

    2. Đồng bộ khối tín hiệu

    Vi ệc đồ ng bộ đơn vị tín hiệu được thực hiện nhờ thủ tục giãn giới h ạn. Tổn thất đồng b ộ xảy ra khi mô hình bit không được phép th ủ t ục giãn gi ới hạn thu được, hoặc khi độ dài lớn nhất của đơn vị tín hiệu nào đó bị vượt quá.

    3. Phát hiện lỗi

    Chức n ăng phát hiện lỗi thực hiện được nhờ có 16 bit kiểm tra (CK) đ ã được cung cấp ở cuối mỗi tín hiệu. Các bit kiể m tra (kiểm tra tổng) được t ạo ra nhờ kết cuối báo hiệu hoạt động bằng các bit phía trước của khối tín hiệu theo một

    40

    thuật toán xác định. Ở phía kết cuối báo hiệu thu, một phương pháp thực hiện giống nh ư thế được sử dụng để tính toán kiểm tra tổng. Sau đó việc kiểm tra tổng này được so sánh với t ổng kiểm tra đã thu đượ c. Nếu hai tổng kiể m tra không bằng nhau thì sự hiện diện của lỗi sẽ được chỉ thị và khối tín hiệu sẽ bị huỷ bỏ.

    4. Sửa lỗi

    Trường sửa lỗi có độ dài 16 bit và bao gồ m các số tu ần tự thu ận, các số tuần tự nghịch, các bit chỉ th ị thuận và các bit chỉ thị nghịch. Mỗi b ản tin báo đã phát được phân phối mộ t số tuần t ự, số tuần tự này được đưa vào trường FSN. Các MSU được phát lại khi lỗi đã được phát hiện. Các LSSU và FISU không được phát lại.

    F CK SIF SIO     LI   Sửa   F  
          lỗi    
                         
    8 16 8n, 8   2 6 16 8  
    n>2  
                             
                F     B      
                I FSN I   BSN
                B     B      

    Hình 3.14 Các trường sửa lỗi

    Có 3 phương pháp sửa lỗi được cung cấp là :

    Phương pháp sửa lỗi cơ bản.

    Phương pháp sửa lỗi cơ bản khi có lặp lại.

    Phương pháp phát lại tuần hoàn để phòng ngừa.

    Các thủ tục sửa lỗi hoạt động độc lập theo hai hướng truyền dẫn.

    Phương pháp sửa lỗi cơ bản :

    • phương pháp này, một khối tín hiệu đã được gửi đi còn được lưu lại trong bộ đệm phát lại tới khi nhận được khẳng định từ đầu thu. Nếu bản tin báo hiệu nhận được là hoàn toàn chính xác thì thiết bị báo hiệu đầu thu gửi sự khẳng định bằng cách xen vào số trình tự nghịch (BSN) như số trình tự thuận (FSN) nhận được trong khối tín hiệu tin báo (MSU) thông thường hoặc trong FISU và Bit chỉ thị hướng nghịch (BIB) được đặt bằng bit chỉ thị hướng thuận (FIB). Khi nhận được sự khẳng định thì thiết bị báo hiệu đầu phát sẽ loại bỏ bản tin khỏi bộ đệm phát lại.

    41

    N ếu khối tín hiệu tin báo nhận được là không chính xác thì thiết bị báo hiệu đầu thu sẽ gửi sự phủ định bằng cách đảo bit chỉ thị hướng nghị ch (BIB). Số trình tự thuận (FSN) của thông báo nhận được cuối cùng mà được công nhận là chính xác sẽ được gài vào trường số trình tự hướng nghịch (BSN). Khi thiết bị báo hiệu đầu phát nhận được sự ph ủ định thì s ẽ ngừng truyền khối tín hiệu mới. Các khối tín hiệu trong bộ đệm mà chưa có sự khẳng định thì sẽ được truyền lặp lại theo một trình tự tương tự như ta đã truyền đi tr ước đó. Điều này đảm bảo các khối tín hiệu được thu nhận chính xác theo trình tự.

    Báo nhận khẳng định

    FSN

    FSN = 63

    A           B
        BSN = 63    
                 
                 

    FIB =BIB

    Báo nhận phủ định

    FSN

    36

    A           B
        BSN = 35    
                 
                 

    BIB = giá trị của FIB

    Hình 3.15 Phương pháp sửa lỗi cơ bản

    Phương pháp sửa lỗi cơ bản có lặp lại :

    Phương pháp này khác với phương pháp sửa lỗi cơ b ản ở chỗ : mỗi MSU đượ c phát theo trình tự hai lần. Mỗ i MSU có c ờ đóng và cờ mở của nó để đảm bảo rằng MSU lặp không bị mất do sự mất mát của cờ đơn.

    Phương pháp phát lại tuần hoàn để phòng ngừa :

    Khối tín hiệu gửi đi rồ i vẫn còn được lưu trữ trong bộ đệm phát lại cho đến khi nhận đượ c sự khẳng định đối với tín hiệu này. Trong thời gian không có khối tín hiệu mới nào được gửi đi thì tất cả các khối tín hiệu vẫn chưa nhận được sự khẳng định sẽ truyền lặp lại theo chu kỳ.

    42

    “ Thủ tục phát lại bắt buộc ” được bắt đầu khi tồn tại một số lượng định trước các khối tín hiệu chưa nhận được sự khẳng định. Các khối tín hiệu mới sẽ không được phát đi nữa và các khối tín hiệu còn lưu trữ trong bộ đệm sẽ được truyền lại theo chu kỳ cho đến khi số lượng các khối tín hiệu chưa được khẳng định đã giảm đi. Trong phương pháp này không có sự phủ định. Phương pháp phát lại theo chu kỳ này được sử dụng ở các kênh báo hiệu, nơi mà trễ truyền lan lớn hơn 15ms và ở tất cả các kênh báo hiệu được thiết lập qua vệ tinh.

    5. Sự đồng bộ ban đầu

    Thủ tục đồng bộ ban đầu là thích hợp với cả sự khởi đầu của thời gian ban đầu (VD: sau khi mở máy) và s ự đồng bộ kết hợp v ới sự ph ục hồi sau khi có sự cố của kênh. Thủ tục dựa trên sự trao đổ i bắt buộc củ a các khối tín hiệu trạng thái kênh (LSSU) giữa hai điểm báo hiệu liên quan và điều ki ện c ủa chu k ỳ thử. Ở trường trạng thái (SF – Status Field) ba bit có trọng số đầu tiên được sử dụng để đánh dấu của kênh báo hiệu theo như bảng trên hình 3.16

    F CK SF   LI Sửa F
      lỗi
               

    Chỉ thị

    Dư     trạng thái

    CBA

    C B A    
    0 0 0 Mất đồng bộ  
    0 0 1 Đồng bộ bình  
    thường  
         
    0 1 0 Đồng bộ khẩn  
    0 1 1 Mất dịch vụ  
    1 0 0 Dừng bộ xử lý  
    1 0 1 Bận  

    Hình 3.16 Khối tín hiệu trạng thái kênh (LSSU)

    Thời gian thử xấp xỉ cho hai thủ tục đồng bộ bình thường và khẩn cấp là :

    Pn = 216 octet → 8.2s (64 Kb/s)

    Pe = 212 octet → 0.5s (64 Kb/s)

    với  Pn = thời gian đồng bộ bình thường.

    Pe = thời gian đồng bộ khẩn cấp.

    1. Dừng bộ xử lý

     

    43

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Bộ xử lý ngừng hoạt động khi các b ản tin báo hiệu không th ể đượ c chuy ển giao cho các mức chức năng 3 hoặc/và 4. Ví dụ điều này xảy ra là do bộ xử lý trung tâm có sự cố hoặc cũng có thể là do sự kìm hãm một kênh báo hiệu riêng nào đó.

    Khi điều khiển kênh báo hiệu nhận biết tình trạng bộ xử lý tại chỗ ngừng hoạt động, nó bắt đầu phát liên tiếp các LSSU với sự chỉ thị trạng thái ngừng hoạt động của bộ xử lý (SIFO) và huỷ bỏ MSU đã thu được.

    7. Điều khiển luồng mức 2

    Điều khiển luồng được b ắt đầu khi độ ứ được phát hiện ở đầu thu của kênh báo hiệu. Đầu thu bị ứ của kênh thông báo tình trạng của đầu phát từ xa bằng ph ương thức củ a LSSU, chỉ thị tr ạng thái bận (SIB), và nó không chấp nhận tất cả các khố i tín hiệu tin báo đến. Khi độ ứ giảm đi, việc chấp nhận tất cả các khố i MSU l ại tiếp tục. Trong khi độ ứ còn t ồn tại thì đầu phát ở xa được thông báo định kỳ tình trạng độ ứ này. Đầu phát ở xa sẽ chỉ thị có sự cố nếu như độ ứ còn tiếp tục quá dài.

    8. Các chỉ thị độ ứ tới mức 3

    Các mức độ ứ ở bộ đệm phát và bộ đệm phát lại được giám sát nhờ bộ điều khiển kênh báo hiệu để cung cấp chỉ thị độ ứ tới mức 3.

    9. Giám sát lỗi của kênh báo hiệu

    Để đả m bảo rằng chất lượng củ a kênh báo hiệu thích hợp với các nhu cầu của dịch vụ báo hiệu, ví dụ : tỉ lệ của các khối tín hiệu thu đượ c không chính xác là có thể chấp nhận được thì hoạt động của mỗi kênh được giám sát bởi hai bộ giám sát.

    Bộ giám sát tỷ lệ lỗi của khối tín hiệu (SUERM) :

    Nếu chất lượ ng của kênh trong dịch vụ gi ảm đi dưới mộ t mức nào đó thì kênh sẽ mất đi dịch vụ. Lưu lượ ng của tín hiệu gửi trên kênh được chuyển giao tới kênh khác nhờ các thủ tục chuyển giao. SUERM tác động trong khi kênh báo hiệu có dịch vụ và nó đưa ra một tiêu chuẩn đối với trường h ợp kênh bị mất dịch vụ. SUERM cung cấp một chỉ thị lỗi quá ngưỡng cho phép lên MTP tầng 3 để đưa kênh báo hiệu vào trạng thái không hoạt động. Bộ giám sát t ỷ lệ lỗ i của đơn vị tín hiệu dựa trên một bộ đếm lỗi đơn vị tín hiệu, kể cả đơn vị tín hiệu FISU. Khi có một đơn vị tín hiệu bị lỗi thì bộ đếm sẽ t ăng lên 1 và cứ 256 đơn vị báo hiệu nh ận đượ c tốt thì b ộ đếm lại giảm đi 1. Khi bộ đếm đạt tới giá tr ị 64 thì sẽ có cảnh báo về mức quá mứ c lỗi cho phép, thông báo này sẽ được gửi đến MTP tầng 3 và kênh báo hiệu bị chuyển vào trạng thái không hoạt động. Khi xảy ra mất đồng bộ (khi thu được liên tiếp nhiều hơn 6 bit 1), thiết bị giám sát

    44

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    lỗi sẽ thay đổi phươ ng thức đếm, chuyển sang đếm octet, cứ nhận được 16 octet thì bộ đếm lại tăng lên 1 và quá trình đếm sẽ dừng sau khi bộ đếm vượt mức ng ưỡng.

    Bộ giám sát tỷ lệ lỗi đồng bộ (AERM) :

    AERM tác động trong khi kênh ở trạng thái thử của thủ t ục đồng bộ ban đầu. Thiết bị giám sát lỗi đồ ng bộ là một bộ đếm tuyến tính. Bộ đếm bắt đầu từ 0 tại thời điểm bắt đầu đồng bộ và số đếm sẽ tăng lên 1 sau mỗi lần thu được bản tin có lỗ i. Đồng bộ ban đầu không thành công nếu bộ đếm vượt giá trị ngưỡng trước khi kết thúc thời gian đồng bộ.

    3.4.3 Mạng báo hiệu (mức 3)

    Các chức năng của mạng báo hiệu có thể được chia thành hai loại cơ bản là :

    Xử lý bản tin báo hiệu (xử lý lưu lượng). Điều hành mạng báo hiệu.

      Xử lý bản tin báo hiệu
    Mức 4   Mức 3   Mức 2
      Phân bổ     Phân biệt  
      tin báo     tin báo  
           

    Định tuyến

    tin báo

    Hình 3.17 Các chức năng của mạng báo hiệu

    Xử lý bản tin báo hiệu :

    Mục đích của các chức năng xử lý bản tin báo hiệu là đảm bảo các bản tin báo hiệu xuất phát do một phần của người sử dụng riêng biệt nào đó ở một đi ểm nguồn đượ c phân phát t ới cùng một phần ng ười sử dụng ở điểm đ ích mà đã đượ c phần củ a ng ười sử dụng gửi tin báo chỉ ra. Các chức năng x ử lý bản tin báo hiệu dựa vào bộ chỉ th ị của mạng ở trường SIO và nhãn định tuyến chứa trong tin báo nhằm để nhận dạng rõ ràng các điểm đích và điểm nguồn.

    Các chức năng xử lý bản tin báo hiệu được chia thành :

    Định tuyến tin báo. Phân biệt tin báo.

    45

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Phân bổ tin báo.

    Ch ức năng định tuyến tin báo được sử dụng ở mỗ i điểm báo hiệu (SP) để xác định kênh báo hiệu đi (SL) mà trên kênh đó bản tin phải được gửi về phía điểm đích của nó.

    Chức năng phân bi ệt tin báo được sử dụng ở SP để xác định xem khi nào bản tin báo thu đượ c tới đượ c đ ích của nó và khi nào không tới đích. Khi bản tin không tới được đích SP thì tin báo sẽ được chuyển giao tới chức năng định tuyến tin báo.

    Chức n ăng phân bổ tin báo được sử dụng ở SP để phân phát các tin báo thu (kết cuối tới đích của nó) tới Phần của người sử dụng (UP) thích hợp hoặc tới Phần điều khiển đấu nối (SCCP).

    Định tuyến tin báo :

    Việc định tuyến tin báo tới kênh báo hiệu thích h ợp dựa vào bộ chỉ thị mạng (NI – Network Indicator) ở octet thông tin dịch vụ và ở trường lựa chọn kênh báo hiệu (SLS – Signalling Link Selection) và mã của điểm đích (DPC) ở nhãn định tuyến. Việc đị nh tuyến được thực hiện sao cho các bản tin giống nhau NI, SLS và DPC được định tuyến trên cùng một kênh báo hiệu nếu như kênh báo hiệu không x ảy ra sự cố. Chia tải là một phần của chức năng định tuy ến tin báo do lưu lượng báo hiệu có thể được phân bổ trên vài kênh báo hiệu và vài chùm kênh. Nó dựa trên 4 bit SLS ở nhãn định tuyến. Khi kênh báo hiệu xảy ra sự cố thì việc định tuy ến được thay đổi theo các quy luật đã xác định trước và lưu lượng được đị nh tuyến tới kênh báo hiệu khác trong chùm kênh. Nếu tất cả các kênh báo hiệu trong chùm kênh có sự cố thì lưu l ượng được định tuyến tới các chùm kênh báo hiệu khác thuộc về cùng một đích.

    F  CK SIF SIO  LI          Sửa lỗi      F

    Routing Label

    NI  Dư     SI

    SLS  OPC  DPC

    Hình 3.18 Các trường định tuyến tin báo

     

    Phân biệt tin báo :

    Điểm báo hi ệu SP trong mạng báo hiệu có thể hoạt hoặc như một điểm chuyển giao tín hiệu (STP) cho

    động như một điể m đích bản tin báo hiệu. Trong

    46

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    chừng mự c nào đó các bản tin báo hiệu thu được có thể được kết cuối trong STP của nó và trong trường hợp sau đó các bản tin báo hiệu thu được trự c tiếp đưa tới Chức năng định tuyến nhằm được gửi vào kênh thích hợp về phía đ iểm đích của tin báo. Ch ức năng phân biệt tin báo thực hiện công việc này dựa vào việc phân tích NI và DPC có trong bản tin thu được.

    Phân bổ tin báo :

    Nếu bản tin báo hiệu được kết cu ối ở điể m báo hi ệu SP của nó thì nó được đưa trự c tiếp từ Ch ức năng phân biệt tin báo tới Chức năng phân bổ tin báo. Bản tin báo hiệu có thể được kết cuối tới :

    Các phần của người sử dụng.

    Phần điều khiển đấu nối báo hiệu (SCCP). Phần điều hành mạng báo hiệu của MTP.

    Phần kiểm tra và bảo dưỡng mạng báo hiệu của MTP.

    Ch ức n ăng phân bổ tin báo đưa bản tin báo hiệu thu được tới ngườ i sử dụng thích hợp dựa vào nội dung của khối chỉ thị dịch vụ (SI) trong octet thông tin dịch vụ (SIO) chứa trong khối tín hiệu tin báo.

    Octet thông tin dịch vụ (SIO)  
         
    Trường các Bộ chỉ thị  
    dịch vụ phụ
    dịch vụ (SI)  
    (SSF)
       
                           
      D C B A   D   C   B   A  
            0 0 0 0 Điều hành mạng báo hiệu
    Mạng quốc tế 0 0  
        0 0 0 1 Kiểm tra mạng báo hiệu
           
    Dự phòng 0 1  
      0 0 1 0 Dự phòng
    Mạng quốc gia 1 0   0 0 1 1 SCCP
            0 1 0 0 Phần của người dùng thoại
    Dành cho sử dụng 1 1    
        0 1 0 1 UP ISDN
    quốc gia    
          0 1 1 0 UP số liệu
           
            0 1 1 1 UP di động
            1 0 0 0 Dự phòng
                tới    
            1   1   1   1  

    Hình 3.19 Octet thông tin dịch vụ (SIO)

    Điều hành mạng báo hiệu :

     

    47

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Mục đích của các chức năng điều hành mạng báo hiệu là cung cấp khả n ăng lập lại cấu hình của mạng báo hiệu trong trường hợp có sự cố và đi ều khiển l ưu lượng báo hiệu trong trường hợp bị ứ. Việc lập lại cấu hình mạng báo hiệu có hiệu quả nhờ các thủ tục thích h ợp để thay đổi việc đị nh tuyến lưu l ượng báo hiệu nhằm bỏ qua các kênh có sự cố hoặc các điểm báo hiệu liên quan xảy ra sự cố.

    Các chức năng điều hành mạng báo hiệu được chia thành :

    Điều hành lưu lượng báo hiệu. Điều hành kênh báo hiệu.

    Điều hành tuyến báo hiệu.

    1.    Điều hành lưu lượng báo hiệu (Signalling Traffic Management)

    Chức nă ng đ iều hành lưu lượng báo hiệu được sử dụng để chuyển đổi lưu lượ ng báo hiệu từ kênh hoặc tuyến này tới kênh khác hoặc tuyến khác hoặc tới lưu lượng báo hiệu chậm hơn tạm thời trong trường hợp xảy ra ứ ở điểm báo hiệu.

    Chức năng điều hành lưu l ượng báo hiệu gồm cả thủ tục được mô tả chi tiết trong khuyến nghị Q.704 của CCITT, bao gồm:

    Thay thế : thực hiện chuyển lưu lượng báo hiệu từ một đường báo hiệu hỏng sang các đường báo hiệu khác.

    Tái định tuyến bắt buộc : để đảm bảo chắc chắn khả năng khôi phục báo hiệu giữa hai điểm.

    Tái định tuyến được điều khiển : đảm bảo khôi phục các thủ tục báo hiệu tối ưu và giảm đến mức tối đa sai số trình tự các bản tin.

    Tái khởi động điểm báo hiệu : khởi tạo lại hoặc hoạt hoá các đường báo hiệu của điểm báo hiệu liên quan.

    Hạn chế điều hành : do nhân viên điều hành yêu cầu để bảo dưỡng và đo kiểm đường báo hiệu.

    2.    Điều hành kênh báo hiệu

    Ch ức năng điều hành kênh báo hiệu được sử dụng để phục hồ i các kênh báo hiệu có sự cố, để kích hoạt các kênh rỗi và không kích ho ạt các kênh báo hiệu đã đồng bộ. Chức năng điều hành kênh báo hiệu gồm các thủ tục sau (Các thủ tục này được mô tả trong khuyến nghị Q.704 của CCITT) :

    Kích hoạt kênh báo hiệu, phục hồi không kích hoạt.

    48

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Kích hoạt chùm kênh.

    Phân bố tự động kết cuối báo hiệu và các kênh số liệu báo hiệu.

    3.    Điều hành tuyến báo hiệu (SRM – Signalling Route Management)

    Chức năng quản lý tuyến báo hiệu được sử dụng để phân bổ thông tin về trạng thái của mạng báo hiệu nhằm ngăn cản hoặc giải toả các tuyế n báo hiệu. Chức năng điều hành tuy ến báo hiệu bao gồm các thủ tục sau (Các thủ tục này được mô tả trong khuyến nghị Q.704 của CCITT) :

    Thủ tục chuyển giao được điều khiển : chức năng này được thực hiện tại một STP đối với tin báo liên quan tới địa chỉ đích nào đó, khi nó phải thông báo cho một hay nhiều SP phía nguồn để hạn chế hoặc không được tiếp tục gửi thêm các tin báo có cấp ưu tiên quy định hoặc thấp hơn.

    Thủ tục chuyển giao bị ngăn cấm : được thực hiện tại một điểm báo hiệu đang hoạt động như STP khi nó phải thông báo cho một hoặc nhiều SP lân cận rằng chúng không được định tuyến qua STP này.

    Thủ tục được phép chuyển giao : được thực hiện tại một STP khi nó phải thông báo cho một hay nhiều SP lân cận rằng chúng có thể lập tuyến lưu lượng hướng tới điểm đích định trước thông qua STP này.

    Thủ tục chuyển giao bị hạn chế : được thực hiện tại một STP khi nó phải thông báo cho một hay nhiều STP lân cận rằng nếu có thể chúng không nên định tuyến qua STP đó nữa.

    Thủ tục kiểm tra chùm tuyến báo hiệu : được thực hiện ở các điểm báo hiệu để kiểm tra xem lưu lượng báo hiệu hướng tới một điểm đích nào đó có thể lập tuyến thông qua một điểm chuyển tiếp STP lân cận hay không.

    Thủ tục kiểm tra độ ứ chùm tuyến báo hiệu : được thực hiện ở một điểm báo hiệu để cập nhật trạng thái ứ liên quan tới một chùm tuyến báo hiệu đi đến một điểm đích nào đó.

    Các bản tin điều hành mạng báo hiệu :

    Việc l ập lại cấu hình mạng báo hiệu yêu cầu sự thông tin giữa các điểm báo hiệu. Vì lý do này mà có mộ t chùm các bản tin điều hành mạng báo hiệu có khả năng thực hiện để xử lý các chức năng và các thủ tục đã mô tả ở trên. Các bản tin này có nhận dạng riêng của chúng ở trường chỉ thị dịch vụ (“0000”).

    Mức 2                                                                         Mức 1                                                                     Mức 2

    Đường truyền số

    liệu báo hiệu

     

    49

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

                                                             
                                  GSD   ETC     ETC     GSD          
                                                     
                                                         
                    PCD-                             PCD-      
                                                     
                                                     
      ST-7                                 ST-7
              D           31                 D  
                                         
                                                       
                                                     
                                                           
                                                           
                                                           
    0 1     31         0 1                          
                                     
              64 kb/s   Kênh báo hiệu 64 kb/s            
    Kênh báo hiệu                        
                          2 Mb/s               2 Mb/s      

    Đường truyền báo hiệu (SL: Signalling Link)

    ETC (Exchange Terminal Circuit) : Mạch đầu cuối tổng đài

    GSD (Group Switching Device) : Thiết bị chuyển mạch nhóm.

    PCD-D (Pulse Code Device – Digital) : Máy ghép kênh số (luồng 64 kbit/s)

    ST-7 (Signalling Terminal) : Đầu cuối báo hiệu số 7.

    Hình 3.20 Đường truyền báo hiệu của MTP

    3.5 Phần điều khiển đấu nối báo hiệu ( SCCP : Signalling Connection Control Part)

                         
      LSS         SS    
                 
                         
                         
                         
                         
    SCCP NSP SCCP   SCCP
                   
    MTP       MTP   MTP
                       
                       
    Nút tại Nút trung Nút từ xa
    chỗ gian  

    50

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    LSS (Local SubSystem) : Phân hệ nội bộ

    SS (Subsystem) : Phân hệ

    Hình 3.21 Phần dịch vụ của mạng

    SCCP cung cấp các chức năng bổ sung cho MTP và nó được CCITT đưa vào sách đỏ năm 1984. Khối chức n ăng SCCP n ằm trên MTP và sự tổ hợp của SCCP và MTP được gọ i là phần dịch vụ của mạng ( NSP – Network Service Part ). SCCP được mô tả trong các khuyến nghị Q.711- Q.716 của CCITT.

    3.5.1 Mục đích của SCCP

    Trong một số trường hợp , mong muố n rằng các bản tin được chuyển giao từ điểm này tới đ iểm khác trong mạng mà không liên quan tới mạch điện ( Thoại hoặc số liệu ). MTP đã được thiết kế từ đầu cho báo hiệu liên quan tới mạch điện và vì vậy nó không đáp ứng được yêu cầu này. Một số dịch cụ không liên quan đến mạch điện là:

    Dịch vụ di động : chuyển vùng giữa các MSC. Các dịch vụ cơ sở dữ liệu.

    SCCP làm cho nó có khả năng chuyển giao cho cả báo hiệu liên quan và không liên quan tới mạch và thông tin của người sử dụng giữa các tổng đài và các trung tâm đặc biệt trong các mạng viễn thông qua mạng báo hiệu số 7. Một mục đ ích khác của SCCP là để thực hiện cho các dịch vụ của mạng không đấu nối và định hướng đấu nối.

    3.5.2 Các đấu nối báo hiệu

    Các mụ c tiêu của SCCP là cung cấp phương thức cho các đấu nối báo hiệu logic cho mạng báo hiệu số 7 và cung cấp ph ương thức cho khả năng chuyển giao các khối số liệu, có hoặc không s ử dụng các đấu n ối báo hiệu logic. Các chức năng cần thiết để đạt được những mục tiêu này của SCCP được thực hiện bởi các phươ ng thức của giao thức SCCP giữa 2 hệ th ống cung cấp phầ n d ịch vụ của mạng ( MTP + SCCP ) tới các lớp cao hơn. Các giao tiếp của dịch vụ tới lớp cao hơn và tới MTP được mô tả bằng các phương thức nguyên thu ỷ và các tham số. Đấu nối báo hiệu là thông tin điểm tới điểm ( peer to peer ) giữa hai người sử dụng SCCP ( những người sử dụng dịch vụ mạng ).

    Đấu n ối báo hiệu là đấu nối logic và đượ c mô tả là mô hình trừu tượng với một đôi xếp hàng trong các khuyến nghị của CCITT.

    Đấu nối báo hiệu giữa các nút nguồn và nút đích đôi khi có thể được chia thành nhiều phần đấu nối. Đấu nối báo hiệu được nhận d ạng nhờ một số tham khảo chuẩn , đó là số duy nhất cho phép nhận dạng một đấu nối báo hiệu xác định ở giao tiếp giữa SCCP và người sử dụng SCCP.

    51

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Người sử   Đấu nối báo hiệu   Người sử
           
    dụng SCCP Phần đấu     Phần đấu dụng SCCP
           
      nối     nối  
    SCCP   SCCP     SCCP
               

    Nút đầu cuối                                     Nút trung gian                                      Nút đầu cuối

    Hình 3.22 Đấu nối báo hiệu và các phần đấu nối

    3.5.3 Các dịch vụ của SCCP

    SCCP cung cấp hai loại dịch vụ , đó là : các dịch vụ đấu nối định hướng và các dịch vụ không đấu nối.

    3.5.3.1 Dịch vụ không đấu nối

    • dịch vụ không đấu nối , tất cả các thông tin định tuyến cần để định tuyến số liệu tới đích của nó phải có ở trong mỗi gói số liệu. Không có sự đấu nối logic được thiết lập giữa các nút đầu cuối. Dịch vụ không đấu nối thường được sử dụng để chuyển giao những lượng nhỏ thông tin tới hạn thời gian thực giữa những người sử dụng ở xa. Thí dụ như : phát tin báo kênh D từ một thuê bao ISDN khác, hoặc phát cảnh báo từ một tổng đài tới trung tâm khai thác và bảo dưỡng ( OMC ). Một thí dụ ứng dụng khác có thể sử dụng dịch vụ không đấu nối là ứng dụng của điện thoại di động tế bào , thông tin về sự định vị của thuê bao di động trong mạng di động.
    LE SL OMC
       

    OMAP                                                           OMAP

    SCCP                                                              SCCP

    MTP                             SL                            MTP

    UDT

    52

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Hình 3.23 Các dịch vụ không đấu nối

    Các loại giao thức không đấu nối :

    Loại không đấu nối cơ sở ( loại giao thức 0 ) :

    NSDU ( khối số liệu của dịch vụ mạng ) chuyển đi nhờ các lớp cao hơn tới SCCP ở nút nguồn được SCCP phân phát tới các nút cao hơn ở nút đích. Các nút NSDU được vận chuyển độc l ập với nhau và vì v ậy chúng có thể được phân phát không tuần tự. Như vậy loại giao thức này đáp ứng với dịch vụ của mạng không đấu nối thuần tuý.

    Loại không đấu nối tuần tự ( loại giao thức 1 ) :

    • loại giao thức 1 , các đặc điểm của loại 0 được hoàn thiện nhờ tính chất bổ sung, cho phép lớp cao hơn chỉ ra một luồng đã có của NSDU phải được phân phát tuần tự đến SCCP. Mã SLS được lựa chọn, dựa trên giá trị của tham số điều khiển tuần tự. Mã SLS được lựa chọn để cho luồng của các NSDU có cùng tham số điều khiển tuần tự là như nhau. Như vậy loại giao thức này đáp ứng yêu cầu dịch vụ không đấu nối nâng cao, ở đó có tính chất tuần tự bổ sung. Như vậy điểm khác nhau chính giữa loại 1 và loại 0 là loại 1 phân phát tin báo một cách tuần tự.

    3.5.3.2 Dịch vụ đấu nối định hướng

    Dịch v ụ đấu nối định hướng của mạng là một cách để hợp lý hoá thông tin báo hiệu củ a tổng đài giữa hai người sử dụ ng d ịch vụ của mạng bằng cách thiết lập đấu nố i báo hiệu logic gi ữa chúng. Sự đấu nối báo hiệu logic này đạt được nhờ đưa ra một số tham khảo nội bộ cho các bản tin báo hiệu tại đó.

    Dịch vụ đấu n ối định hướng là khả năng chuyển giao bản tin báo hiệu qua đấu nối báo hiệu đã được thiết lập. Việc đấu nối báo hiệu có thể là vĩnh cửu, hoặc là tạm thời.

    Đấu nối báo hiệu tạm th ời được bắt đầu và điều khiển bởi người sử dụng dịch vụ. Nó có thể so sánh với sự đấu nố i bằng quay số điện thoại. Đấu nối báo hiệu vĩnh cửu được điều khiển nh ờ chức năng Khai thác và bảo dưỡng cung cấp cho người sử dụng dịch vụ trên c ơ sở bán vĩnh cửu. Nó có thể so sánh với một đường dây điện thoại cho thuê.

    Phương thức chuyển giao đấu nối định hướng có thể được chia làm 3 giai đoạn

    1. Thiết lập sự đấu nối.

    53

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    1. Chuyển giao số liệ
    1. Giải phóng sự đấu nố

    Các dịch vụ của mạng đấu nối định hướng đượ c sử dụng khi có nhiều tin báo để chuyển giao ho ặc khi các b ản tin báo hiệu dài đến nỗi chúng phải được chia thành những đoạn nhỏ. Sau đó ở phía thu các đoạn này phải được nhóm trở lại.

    LE                                                                 OMC

    (Chuyển giao số liệu)SL

    OMAP       OMAP
                 
    Số liệu       Số liệu
    SCCP           SCCP
         

    SL

    MTP                                                              MTP

    DT1

    Hình 3.24   Các dịch vụ đấu nối định hướng

    Các loại giao thức đấu nối định hướng :

    Loại đấu nối định hướng cơ sở (loại giao thức 2) :

    • loại giao thức 2, các NSDU chuyển giao hai hướng giữa các người sử dụng SCCP được thực hiện nhờ thiết lập đấu nối báo hiệu tạm thời hoặc vĩnh cử Các tin báo thuộc về sự đấu nối báo hiệu đã chỉ ra sẽ chứa cùng một giá trị của trường SLS để đảm bảo được tuần tự theo như các loại của giao thức 1. Chất lượng của dịch vụ như mất tin báo, các lỗi không phát hiện được, nhầm tuần tự

    … giống như trường hợp MTP đối với phần của người sử dụng. Như vậy loại giao thức 2 tương ứng với dịch vụ của mạng đấu nối định hướng đơn giản. Số liệu được chuyển giao bằng các gói dạng số liệu 1 (DT1).

    Loại đấu nối định hướng điều khiển luồng (loại giao thức 3):

    • loại giao thức 3, các tính chất của loại giao thức 2 được bổ sung bằng cách gộp vào sự điều khiển luồ Điều khiển luồng nghĩa là tốc độ luồng số liệu có thể được điều khiển hoặc giữa các lớp lân cận hoặc giữa hai lớp. Các chức năng điều khiển luồng cho phép thu hạn chế luồng số liệu từ phần phát. Ngoài ra, khả năng thêm vào phát hiện mất tin báo hoặc mất tuần tự bổ sung. Trong điều kiện như vậy, sự đấu nối báo hiệu được thiết lập lại và một thông báo đáp lại được SCCP đưa tới lớp cao hơn. Loại 3 cũng cung cấp khả năng cho hệ thống điều

    54

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    khiển luồng đi qua nhờ phát các khối số liệu thực hiện. Số liệu thông thường được chuyển giao nhờ các gói dạng số liệu 2 (DT2).

    3.5.4 Cấu trúc chức năng của SCCP

    Cấu trúc chức năng của SCCP bao gồm các phần chức năng chính sau :

    • Điều khiển đấu nối định hướng của SCCP (SCOC).
    • Điều khiển không đấu nối của SCCP (SCLC).
    • Định tuyến của SCCP (SCR).
    • Điều hành SCCP (SCM).

    Những người sử dụng SCCP

    Yêu cầu                     Chỉ thị             Yêu cầu                   Chỉ thị

    SCLC                                                  SCOC

    UDT,UDTS

    SCM                                                     SCR

    Chỉ thị                                             Yêu cầu                   Chỉ thị

    MTP

    Hình 3.25 Cấu trúc chức năng của SCCP

    Phần chức năng điều khiển đấu nối định hướng của SCCP cung cấp các thủ tục để thiết lập, giám sát và giải phóng sự đấu nối báo hiệu tạm thời. Nó cũng xử lý chuyển giao số liệu ở đấu nối này.

    Phần chức năng điều khiển không đấu nối của SCCP cung cấp các thủ t ục để chuyển giao không đấu n ối số liệu của người sử dụng. Sự phân bổ và thu nhận các tin báo điều hành của SCCP cũng là một phần của phần chức năng này.

    Phần định tuyến của SCCP dựa vào chức năng của MTP để định tuyến vật lý tin báo từ một điểm báo hiệu tới điểm báo hiệu khác. Ngoài ra phần chức năng

    55

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    định tuyến của SCCP cung cấp khả năng định tuyến bổ sung như là sự diễn dịch tiêu đề tên toàn cầu cho người sử dụng mạng.

    Phần chức năng điều hành của SCCP cung cấp các thủ tục để duy trì chất lượng mạng nhờ định tuyến lại hoặc điều chỉnh lưu lượng khi có sự cố hoặc tắc nghẽn xảy ra.

    3.5.5 Các bản tin báo của SCCP

    Các bản tin báo của SCCP được sử dụng nhờ giao thức Peer to Peer. M ọi tin báo đều được nhận dạng đồng nhất b ằng mã của loại tin báo, mã này được nhận biết ở mọ i bản tin báo. Đối v ới dị ch vụ không đấu nối, chỉ có hai loại tin báo là: số liệu của khối (UDT) và dịch vụ số liệu của khối (UDTS).

    Loại tin báo Các loại  
      0 1    
    Số liệu của khối UDT x x 0000 1001  
    Dịch vụ số liệu của khối x x 0000 1010  
    UDTS
           

    Hình 3.26   Các tin báo SCCP cho các dịch vụ không đấu nối

    • nút nguồn, khi các chức năng của SCCP thu từ nút cao hơn một NSDU được chuyển nhờ loại giao thức 0 hoặc 1, địa chỉ bị gọi và các tham số liên quan khác được phân tích để nhận dạng nút về phía tin báo sẽ được phát đi. Khi đó NSDU được xem như là số liệu của người sử dụng ở bản tin số liệu của khối (UDT) chúng được gửi về phía nút đích, nhờ sử dụng các chức năng của MTP. Bản tin dịch vụ số liệu khối (UDTS) được đưa trở lại SCCP đích, khi bản tin UDT không thể phân phát được tới đích của nó. Tin báo UDTS chứa thông tin về nguyên nhân chuẩn đoán. Đối với dịch vụ định hướng đấu nối, các tin báo cũng cần trong thời gian giải phóng và thiết lập bên cạnh các tin báo chuyển giao số liệu.
    Loại tin báo Các loại  
    0 1
         
    Yêu cầu đấu nối CR x x 0000 0001  
    Khẳng định đấu nối CC x x 0000 0010  
    Từ chối đấu nối CREF x x 0000 0011  
    Dạng số liệu 1 – DT1 x   0000 0110  

    56

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41     Đồ án tốt
    nghiệp      
             
    Dạng số liệu 2 – DT2     x 0000 0111
    Số liệu thực hiện ED     x 0000 1011
    Kiểm tra sự không hoạt động IT   x x 0010 0000
    Lỗi khối số liệu của giao thức ERR   x x 0000 1111
    Giải phóng RLSD   x x 0000 0100
    Giải phóng xong RLC   x x 0000 0101

    Hình 3.27 Tin báo SCCP cho các dịch vụ định hướng đấu nối

    Hoạt động của dịch vụ định hướng đấu nối chia thành 3 giai đoạn:

    Giai đoạn thiết lập đấu nối : Tin báo yêu cầu đấu nối (CR) được phát bởi SCCP gọi để yêu cầu thiết lập đấu nối báo hiệu giữa hai người sử dụng SCCP. Khi thu tin báo CR, nếu có thể SCCP bị gọi bắt đầu thiết lập đấu nối báo hiệu. Tin báo khẳng định sự đấu nối (CC) được phát bởi SCCP bị gọi để cho SCCP gọi biết rằng nó đã được thiết lập đấu nối báo hiệu. Khi thu tin báo CC, nếu có thể, SCCP gọi hoàn thiện việc thiết lập đấu nối báo hiệu. Tin báo từ chối đấu nối (CREF), được phát bởi SCCP bị gọi hoặc một nút SCCP trung gian để cho SCCP gọi biết rằng việc thiết lập đấu nối báo hiệu bị từ chối.

    Giai đoạn chuyển giao số liệu : tin báo dạng số liệu 1 (DT1) được phát bởi kết cuối của đấu nối báo hiệu đó chuyển thông suốt số liệu của người sử dụng SCCP giữa hai nút SCCP. Loại tin báo này chỉ được sử dụng ở loại giao thức 2. Tin báo số liệu 2 (DT2) được phát bởi kết cuối của đấu nối báo hiệu để chuyển thông suốt số liệu của người sử dụng SCCP giữa hai nút SCCP và để các tin báo thừa nhận đi theo một hướng khác. Loại tin báo này chỉ được sử dụng ở loại giao thức 3. Tin báo kiểm tra việc không hoạt động (IT) có thể được phát định kỳ bởi kết cuối của phần đấu nối để kiểm tra liệu xem phần đấu nối này có hoạt động ở cả hai đầu cuối hay không, và để kiểm tra tính nhất quán của số liệu đấu nối ở cả hai đầu cuối. Tin báo về lỗi khối số liệu của giao thức (ERR) được phát

    • phần đấu nối khi phát hiện được bất kỳ lỗi nào của giao thứ

    Giai đoạn giải phóng đấu nối : tin báo giải phóng được phát đi (RLSD) theo hướng thuận hoặc hướng nghịch để chỉ thị rằng SCCP phát mong muốn giải phóng sự đấu nối và các nguồn liên quan ở nút phát đã có điều kiện ngắt cuộc nối. Nó cũng chỉ ra rằng nút thu cũng như các nguồn kết hợp phát cần giải phóng đấu nối. Tin báo giải phóng xong (RLC) được phát để đáp lại tin báo RLSD, chỉ thị rằng đã thu được tin báo RLSD, và các thủ tục thích hợp đã được hoàn thành.

    Các tham số của tin báo SCCP :

    Một số tham số sử dụng trong các tin báo SCCP được liệt kê trong bảng :

    57

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41 Đồ án tốt
    nghiệp    
           
      Tên tham số  
      Chuẩn nội bộ nơi đến (đích) 0000 0001  
      Chuẩn nội bộ nơi xuất phát (nguồn) 0000 0010  
      Địa chỉ của phần bị gọi 0000 0011  
      Địa chỉ của phần gọi 0000 0100  
      Loại giao thức 0000 0101  
      Phân đoạn / nhóm lại 0000 0110  
      Tuần tự / phân đoạn 0000 1000  
      Kết toán 0000 1001  
      Nguyên nhân lỗi 0000 1101  
      Số liệu 0000 1111  

    Hình 3.28 Các tham số của tin báo SCCP

    Tr ường tham số của số chuẩn n ội bộ (nguồ n / đ ích) nh ận dạng đồng nhất sự đấu nối báo hiệu ở một nút. Đó là một s ố làm việc n ội bộ đã được l ựa chọn cho từng nút độc lập v ới nhau. Ở bất kỳ sự trao đổi tin báo nào trong đấu nối báo hiệu (các dịch vụ định hướ ng đấu nối) đều có ít nhất một số chuẩn nội bộ. Trườ ng tham số địa chỉ của phần gọi / bị gọ i chứa đủ thông tin để nh ận dạng đồ ng nhất báo hiệu đích hoặc nguồn và/hoặc người sử dụng SCCP. Nó cũng là tổ hợp tiêu đề tổng thể mã đi ểm báo hiệu và số củ a phân hệ. Số của phân hệ (SSN) xác định chức năng của người sử dụng SCCP.

    3.5.6 Các khuôn dạng và các mã

    Các tin báo SCCP được mang trên các kênh số liệu báo hiệu nhờ các MSU. Khối ch ỉ thị dịch vụ (SI) ở octet thông tin dịch vụ (SIO) được mã hoá là “0011” cho các tin báo của SCCP, bao gồm một số nguyên các octet (<= 272 octet). Giống như trong tin báo ISUP, mỗi tin báo SCCP chứa một số tham số với thông tin báo hiệu. Các tham số có độ dài cố định, hoặc có độ dài thay đổi và chúng có thể hoặc lựa chọn hoặc bắt buộc.

    Mô hình tin báo của SCCP :

    Nhãn định tuyến

    58

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Loại tin báo

    Phần lệnh cố định bắt buộc

    Phần lệnh thay đổi bắt buộc

    Phần lựa chọn

    3.5.7 Định địa chỉ và định tuyến trong SCCP

    Khi phần của người sử dụng dùng MTP để chuyển giao bản tin báo hiệu, thì địa ch ỉ củ a ph ần bị gọi (số B) được phân tích ở phần của người sử dụng để định tuyến các bản tin báo hiệu.

    Khi SCCP được sử dụng thì hai tham số : địa chỉ của phần gọi và đị a chỉ của phần bị g ọi trong tin báo SCCP chứa thông tin cần thiết để SCCP xác định nút ngu ồn và nút đ ích. Cả địa chỉ của phần gọi và phần bị gọi đều có trong các tin báo không đấu nối số liệu của kh ối (UDT) và số liệu của khối (UDTS), trong khi chỉ có địa chỉ của phần bị g ọi được chứa trong tin báo định hướng yêu cầu đấu nối (CR). Các tin báo đấu nối định hướng khác không chứa chứa bất kỳ tham số địa chỉ nào. Chúng được chuyển giao ở các phần đấu n ối, nghĩ a là chúng được phát tới các đích xác định trước. Trong trường h ợp các thủ tụ c đấu nối định hướng thì địa ch ỉ của phần b ị gọ i là điể m đ ích của đấu nối báo hiệu, trong khi đó trong trường hợp các thủ tục không đấu nối thì các địa chỉ là các điểm nguồn và đích của tin báo. Có hai loại địa chỉ cơ bản để định tuyến SCCP :

    • Tiêu đề tổng thể (GT) : tiêu đề tổng thể là một địa chỉ như các digit quay số mà SCCP cần truyền đi trước khi chúng có thể được sử dụng để định tuyến trong mạng báo hiệu. Sự diễn dịch của GT luôn luôn đòi hỏi đối với các tin báo của CR.

    Mã điểm đích của DPC và số phân hệ (SSN) cho phép định tuyến trực tiếp nhờ SCCP và MTP, có nghĩa là chức năng diễn dịch SCCP không cần đến. Số của phân hệ (SSN) là một địa ch ỉ xác định một ph ần củ a nút SCCP hoặc trực tiếp (như ISUP) hoặc gián tiếp đ i qua các khả năng giao dịch (như MAP). Một số các phân hệ như vậy là : Điều hành SCCP, ISUP, OMAP, MAP.

    • Địa chỉ của phần bị gọi : Khối chỉ thị địa chỉ gồm loại thông tin địa chỉ chứa trong trường địa chỉ (SPS hoặc SSN và/hoặc GT). Khối chỉ thị định tuyến (ở trường khối chỉ thị địa chỉ ) được sử dụng để xác định việc định tuyến dựa trên SSN hoặc GT.

     

    59

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41 Đồ án tốt
    nghiệp  
               
      GT SSN SPC Khối chỉ thị địa chỉ  
               
    Dự Khối chỉ thị Khối chỉ Khối chỉ thị Khối chỉ thị
    trữ định tuyến thị GT SSN mã điểm

    Hình 3.29 Địa chỉ của phần bị gọi

    3.5.8 Các thủ tục báo hiệu

    3.5.8.1 Các thủ tục đấu nối định hướng – loại giao thức 2 và 3

    Thiết lập đấu nối : thủ tục này bao gồm các chức năng cần thiết để thiết l ập đấu nối báo hiệu tạm thời giữa hai người sử dụng SCCP. Các thủ tục thiết lập đấu nối được bắt đầu do người sử dụng SCCP chấp nhận cơ sở yêu cầu đấu nối N.

    Người sử dụng SCCP SCCP-A SCCP-B Người sử dụng SCCP
    Yêu cầu đấu nối N CR  
         

    Chỉ thị đấu nối N

    Trả lời đấu nối N

    CC

    Khẳng định đấu nối N

    Truyền số liệu với các bản tin DT1 hoặc DT2

    Yêu cầu đấu nối N RLSD
     

    Chỉ thị đấu nối N

    Trả lời đấu nối N

    RLC

    Khẳng định đấu nối N

    Hình 3.30 Các nguyên tắc chung để thiết lập đấu nối

     

    60

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Thủ t ục được b ắt đầu do SCCP nguồn phát tin báo yêu cầu đấu nối (CR). Ở tin báo này luôn chứa số tham khảo nội bộ (lựa chọn b ởi SCCP nguồ n), loại giao thức và địa chỉ đến SCCP đích ở tin báo CR có thể cũng có trong địa chỉ của SCCP nguồn và số liệu củ a người sử dụng . Khi thu tin báo CR này, SCCP đích trả l ời bằng cách phát đi tin báo kh ẳng định đấu nối (CC). Ở tin báo này luôn bao gồm số tham khảo nội bộ đượ c lựa chọn bởi SCCP nguồn và số tham khảo được l ựa chọn bởi SCCP đích và loại giao thức cũ ng được l ựa chọn bởi SCCP đích, số liệu củ a ngườ i sử dụ ng cũng có thể nằ m trong đó. Khi tin báo CC được SCCP nguồn thu thì sự đấu nối báo hiệu được thiết lập.

    Chuyển giao s ố li ệu : Sự trao đổ i thông tin tiếp theo giữa SCCP nguồn và SCCP đích , các tin báo số liệu (DT1 và DT2) đều được sử dụng.

    Giải phóng đấ u nối : Việc giải phóng sự đấu nối báo hiệu được hoàn thành cùng với tin báo giải phóng (RLSD) và tin báo giải phóng xong (RLC).

    3.5.8.2 Các thủ tục không đấu nối – loại giao thức 0 và 1

    Các thủ tục không đấu n ối cho phép người sử dụng SCCP yêu cầu chuyển giao số liệu mà không cần thiết lập đấu nối báo hiệu trước. Cơ sở yêu cầu số liệu của khối N được sử dụng bởi người sử dụng SCCP yêu cầu chuy ển giao số liệu của ng ườ i sử dụng. Cơ sở chỉ thị số liệu của kh ối N được sử dụng bởi SCCP đích để chỉ thị s ự phân phát số liệu của người s ử dụ ng tới người sử dụng đích. Các tham số liên quan với c ơ sở yêu cầu của số li ệu khối N phải chứa tất cả thông tin cần thiết cho SCCP để phân phát số liệu của người sử dụng tới đích.

    Việc chuyển giao số li ệu của người s ử dụng được hoàn thành cùng với số liệu của người sử dụng trong các tin báo số liệu của khối (UDT).

    3.6 Phần ứng dụng khả năng giao dịch ( TCAP : Application Part )

    Trong tươ ng lai, mạng viễn thông sẽ có rất nhiều dịch vụ mới. Nhiều trong số các dịch vụ này sẽ đòi hỏi chuy ển giao số liệu báo hiệu giữa các nút trong mạng báo hiệu nhanh nhất và có hiệu quả nhất.

    Một trong số những nút này sẽ là các cơ sở dữ liệu có một khối lớn số liệu với các chương trình ứng dụng khác nhau.

    CCITT đã xác định khái niệm các khả năng giao dịch (TC) để cung cấp các dịch vụ tổng thể cho mộ t số lớn các dị ch vụ khác nhau nh ư vậy mà không có ứng dụng nào ràng buộc với ứng dụ ng nào. Khái niệm TC tuân theo các chức năng của giao thức đã tiêu chuẩn hoá chung.

    Phần ứng dụng khả năng giao dịch (TCAP) là một phần khái niệm TC, cung cấp các giao thức và các dịch vụ lớp ứng dụng.

    61

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Các ví dụ về các ứng dụng sẽ dùng những khả năng này là:

    Các ứng dụng của dịch vụ di động.

    Dịch vụ điện thoại miễn phí (dịch vụ 800). Gọi bằng thẻ tín dụng.

    Các ứng dụng khai thác và bảo dưỡng.

    Những người sử dụng các khả năng giao dịch này được gọi là các người sử dụng TC.

    3.6.1 Mục đích của TCAP

    Mục đích chính của TCAP là để hỗ trợ cho các ứng dụng tương tác trong môi trường phân tán.

    TCAP là một giao thức chung có khả năng đưa các tính chất mới vào trong mạng viễn thông một cách d ễ dàng. Nó giả m yêu cầu phát triển của giao thức mới, mỗi khi có các tính chất mới được đưa ra.

    TCAP xác định một giao thức đầu cuối (end-to-end) giữa các người sử dụng TC.

    3.6.2 Các khái niệm của TCAP

    • Người sử dụng TC : là ứng dụng sử dụng TCAP như một giao thức để thông tin trong mạng.
    • Đàm thoại: là sự liên kết được thiết lập giữa hai người sử dụng TC trao đổi số liệu.
    • Khai thác : là hoạt động đang được yêu cầu của đầu xa do người sử dụng TC.
    • Giao dịch : là sự liên kết giữa hai TCAP.
    • Phần tử : là một khối số liệu giao thức được trao đổi giữa những người sử dụng TCAP.
    • Cơ sở của TC : là cơ sở trao đổi giữa TCAP và người sử dụng TC.

    Khái quát về chức năng :

    Khi người sử dụng TC muốn b ắt đầu một thao tác ( thí dụ như diễn d ịch số điện tho ại miễn phí ) ở một nút từ xa , họ ph ải bắt đầu cuộ c đ àm thoại với người sử d ụng TC ở xa. Điều này được thực hi ện nhờ phát các cơ sở yêu cầu tới các giao thức TCAP. Sau đó TCAP bắt đầu giao dịch với TCAP từ xa bằng cách

    62

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    phát bản tin TCAP tới nút đó qua mạng báo hiệu. Việc chuyển bản tin TCAP được xử lý nhờ phần dịch vụ của mạng (NSP).

    Hình vẽ cũ ng chỉ ra rằng cả ngườ i sử d ụng TC và TCAP đều có trong lớp 7 của mô hình OSI và các chức năng trong lớp 4 – 6 (phần dịch vụ trung gian ) không được sử dụng.

              Hội thoại          
        Người sử dụng         Người sử dụng    
    7   TC     Giao dịch     TC    
                 
      TCAP         TCAP  
               
                     
    4 – 6                      
                         
                         
                           
        SCCP             SCCP  
    NSP       SCCP        
    1-3                      
      MTP             MTP  
          MTP        
                 
                         
                 
        SP   STP SP

    Hình 3.31 Khái quát chức năng của SS7 có TCAP

    3.6.3 Cấu trúc của TCAP

    Về mặt chức năng , TCAP được chia thành 2 lớp nhỏ là : phân lớp phần t ử và phân lớp giao dịch. Phân lớp ph ần t ử đề cập đến các hoạt động hoặc số li ệu riêng. Phân lớp giao dịch đề cập đến sự trao đổi các tin báo, chứa các phần tử giữa 2 TCAP.

    63

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    OSI   Lớp báo hiệu số 7 của    
          CCITT    
              E.G.MAP
        Phần cụ thể của lớp ứng dụng
                 
          TCAP    
                 
    Lớp ứng dụng 7   Phân lớp phần tử      
                T
          Phân lớp giao dịch    
              C
                 
    Lớp trình bày 6       I  
               
    Lớp phiên 5       S  
          P  
               
    Lớp truyền tải 4        
             
               
    Lớp mạng 3   SCCP    
             
      Chức năng giao dịch M N
         
             
    Lớp tuyến số liệu 2 Chức năng điều khiển tuyến T S
              P P
    Lớp vật lý 1   Tuyến số liệu báo hiệu
         
                 

    Hình 3.32 Cấu trúc của TCAP

    3.6.3.1 Phân lớp phần tử (CSL)

    Phân lớp phần tử cung cấp cho người sử dụng TC có khả n ăng yêu cầu hỗ trợ các khai thác từ xa và thu đáp lại, có nghĩa là chức năng của d ịch v ụ điện thoại miễn phí có thể yêu cầu sự hướng dẫn từ cơ sở dữ liệu về xử lý cuộc gọi như thế nào.

    Phân hệ phần tử được chia làm hai phần chức năng, xử lý hội thoại (DHA) và xử lý phần tử (CHA).

    64

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Hai phần chức năng thông tin với người sử dụng TC nhờ phát và thu, được gọi là các cơ sở (các cơ sở hội thoại và phần tử).

    Người sử dụng TC

                     
      CSL            
                     
        DHA     CHA  
                     
                     
                Xử lý giao dịch
               
                   
      TSL          
                   
    TCAP     Tin báo TCAP
             

    SCCP

    Hình 3.33  Các phân lớp TCAP

    3.6.3.2 Phân lớp giao dịch (TSL)

    Phân lớp giao dịch cung cấp khả năng để phát các tin báo giữa các phần TCAP. Những tin báo này có thể chứa các phần tử từ phân lớp phần tử.

    Để vận chuyển các tin báo TCAP, TSL sử dụng các dịch vụ cung cấp bởi ph ần dịch vụ của mạng (NSP). Chỉ có các dịch vụ cho báo hiệu không đấu nối là được sử dụng.

    Th ủ tục của phân lớp giao dịch liên kết mỗi tin báo TCAP với một giao dịch đặc biệt. Nó cũ ng sắp xếp thông tin điều khiển hội thoại vào thông tin đi ều khiển giao dịch. Có sự sắp xếp từng thông tin một giữa hội thoại và giao dịch.

    TSL cũng xử lý một ph ần củ a tin báo TCAP và phần đó được gọi là phần giao dịch (TP) . Khi phát hiện lỗi ở TP, tin báo được bỏ đi và nếu thích hợp thì việc giao dịch thôi không thực hiện nữa.

    65

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    3.6.4 Các dịch vụ cung cấp bởi TCAP

    3.6.4.1   Xử lý hội thoại (DHA)

    Có hai loại phương tiện hội thoại được cung cấp :

    Hội thoại có cấu trúc : phương thức hội thoại có cấu trúc cho phép người sử dụng TC bắt đầu hội thoại, trao đổi các phần tử trong hội thoại này, và sau đó kết cuối và bãi bỏ nó.

    Các hội thoại có cấu trúc cho phép một vài phần tử cùng tồn tại giữa hai người sử dụng TC. Để nhận dạng mỗi hội thoại có cấu trúc, một tham số ID của hội thoại được sử dụng. Tham số này cũng xác định phần tử nào gắn liền với tin báo và hội thoại.

    Hội thoại không có cấu trúc : hội thoại không có cấu trúc có thể được sử dụng để diễn đạt sự hoạt động mà không cần phải trả lời. Không có sự bắt đầu và sự kết cuối rõ ràng nào kết hợp với hội thoại không có cấu trúc. Các hội thoại không có cấu trúc được kết cuối từ quan điểm của TCAP ngay khi các thành ph ần đã được phát đi.

    3.6.4.2 Xử lý phần tử (CHA)

    Mỗi phần tử bao gồm một yêu cầu để thực hiện vận hành hoặc trả lời :

    Vận hành là một thao tác được thực hiện ở đầu xa.

    Yêu cầu hỗ trợ vận hành được nhận biết nhờ ID hỗ trợ. Đi ều này cho phép một số yêu cầu hỗ trợ vận hành giống hoặc khác nhau tác động tức thời.

    Một hoặc nhiều trả lời có thể được gửi đến vận hành.

    Bốn loại vận hành được cung cấp. Chúng được ngườ i sử dụng TC lựa chọn tuỳ thuộc vào yêu cầu liên quan tới báo cáo trả lời cho vận hành đã được yêu cầu hỗ trợ.

    Bốn loại vận hành là:

    Loại 1 : cả báo cáo thành công và sự cố.

    Loại 2 : chỉ có báo cáo sự cố.

    Loại 3 : chỉ có báo cáo thành công.

    Loại 4 : không có báo cáo thành công hoặc sự cố.

    Chức nă ng xử lý này sắp xếp các thông tin thành phần vào các phần t ử và ngược lại. Tất cả các phần tử trong vận hành có cùng ID, hỗ trợ được phân định bởi người sử dụng TC yêu cầu h ỗ trợ. Đầu xa đưa trở lại ID hỗ trợ trong các trả lời của nó tới yêu cầu hỗ trợ vận hành.

    66

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Các phần tử được đưa riêng biệt giữa người sử dụng TC và phân lớp phần tử.

    Người sử dụng TC nguồn có thể sẽ phát vài phần tử tới phân lớp phần tử trước khi chúng được phát (trong tin báo đơn) tới đầu xa.

    Khi thu được vài phần tử ở một tin báo đơn mỗi phần tử được phân phát riêng biệt tới người sử dụng TC và theo cùng trật tự như chúng được cung cấp ở giao diện nguồn.

    Trong trường hợp hội tho ại có cấu trúc, CHA cung cấp bộ đị nh thời (đồng hồ) kết hợp với yêu cầu hỗ trợ vận hành. Đồng hồ này được khởi độ ng khi phần tử yêu cầu hỗ tr ợ đượ c chuyển tới phân lớp giao dịch. Giá trị của đồng hồ được xác định nhờ người sử dụng TC đối với mỗ i vận hành. Đồng hồ sẽ dừng khi đã thu được trả lời cho phần tử yêu cầu hỗ trợ. Đồng h ồ cũng có thể dừng do người sử dụng TC ở tình trạng bãi bỏ. Khi hết giờ, người sử dụng TC được thông báo và vận hành dừng lại.

    3.6.4.3 Phân đoạn các tin báo

    Phần tử thành phần được phân phát từ ng ười s ử dụng TC, không đượ c phép vượt quá độ dài tin báo lớn nhất, bao gồm cả mào đầu bổ sung ở dưới các lớp.

    TCAP cung cấp dịch vụ cho người sử dụ ng TC, nghĩa là với mỗi phần tử thành phần đã thu được từ người sử d ụngTC, thì TCAP kiểm tra độ dài. Nếu độ dài chấp nhận được thì phần tử được chấp nhận và lưu trữ, nếu ngược lại nó sẽ được đưa trở lại người sử dụngTC để phân đoạn.

    3.6.4.4 Chất lượng của dịch vụ (QOS)

    Khái niệm chất lượng của dịch vụ có ngh ĩa là người sử dụng TC chỉ thị chất lượng dịch vụ có thể chấp nh ận được, được cung cấp b ởi các lớp dưới. Dịch vụ này được cung cấp cho người sử dụng TC bởi SCCP và được TCAP hỗ trợ.

    Tham số QOS có trong tất cả các sơ sở yêu cầu hội thoại và được s ắp xếp bởi TCAP (TSL) vào tham số t ương ứng ở các cơ sở yêu cầu đã phát tới SCCP. Có hai loại dịch vụ khác nhau cung cấp cho người sử dụng TC, phân phát tuần tự và đưa trở về tin báo.

    * Phân phát tuần tự :

    Ngườ i sử dụng TC có thể chỉ thị liệu tin báo có cần được phát theo mộ t tuyến đã định trong mạng báo hiệu, và do đó đảm bảo phân phát tu ần tự những bản tin báo này. Phần khác là để chỉ thị tuyến nào không được đảm bảo rằng tin báo sẽ được phân phát tuần tự.

    67

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Phân phát tuần tự được sử dụng trong phân đoạn tin báo và chỉ thị này được ánh xạ thành SCCP giao thức lớp 1. Ph ần này ngụ ý rằng TCAP cung cấp SCCP với tham số điều khiển tuần tự được sử dụng để lựa chọn kênh báo hiệu.

    Không phân phát tuần tự được sử dụng cho các tin báo trật tự phân phát là không có hiệu lực. Loại này được sắp xếp vào loại các SCCP 0.

    * Phần đưa trở về tin báo :

    Nếu tin báo không thể phân phát được tới đích, ví dụ như do t ắc nghẽn ở mạng báo hiệu thì người sử dụng TC cũng có một lựa chọn để yêu cầu tin báo cần được đưa trở về.

    Trong trường hợp tin báo được đưa trở lại, TCAP (TSL) sẽ thu một ch ỉ thị chứa toàn bộ tin báo và lý do quay trở lại, t ừ SCCP. TCAP sẽ sử d ụng cơ chế báo cáo ngoại lệ để thông báo cho người sử dụ ng TC biết điều này. Khi SCCP chỉ thị tin báo được quay trở lại thì TCAP tách ra lấy loại tin báo, lý do đưa trở lại và ID giao dịch/hội thoại (nếu có khả năng ứng dụng) và gửi cơ sở chỉ thị chú ý TC cho người sử dụng TC có chứa thông tin này. Sau đó tuỳ theo người sử dụng TC mà hoạt động theo đúng cách thích hợp, như loại bỏ hội thoại.

    * Báo cáo ngoại lệ :

    DHA thông báo cho người sử dụng TC về các tình trạng không bình thường nào đó.

    Khi thu được chỉ thị tin báo quay trở lại bởi phân lớp phía dưới, tin báo được đưa trở lại bởi CSL tới người sử dụng TC. Phương tiện này dựa trên yêu cầu ở người sử dụng TC.

    Khi phát hiện được khoảng thời gian hội thoại kéo dài không bình thường thì DHA sẽ thông báo cho người sử dụng TC biết điều này.

    • Các cơ sở của TCAP :

    Thông tin trao đổ i gi ữa TCAP và người sử d ụng TC được thực hiện với các cơ sở. Đó là những cơ sở yêu cầu, hoặc là những cơ sở chỉ thị tuỳ thuộc vào hướng của cơ sở.

    Người sử dụng TC

    Yêu cầu                                               Chỉ thị

    TCAP

    Hình 3.34 Các cơ sở yêu cầu và chỉ thị

     

    68

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    3.6.5 Cấu trúc của tin báo TCAP

    Các hội thoại (có cấu trúc và không có cấu trúc) ở phân lớp phần tử đượ c sắp xếp vào các phần giao d ịch nhờ TSL, có nghĩa là thông tin đ iều khi ển hội thoại được đưa vào thông tin điều khiển giao dịch. Việc sắp x ếp thông tin này vào thông tin kia tồn tại giữa phần hội thoại và ph ần giao dịch. Các tin báo giao d ịch cũng có cùng tên như các cơ sở hội thoại như : UNI, BEGIN, CONTINUE …

    • Cấu trúc chung của tin báo :

    Mỗi ph ần t ử thông tin trong tin báo TCAP có cùng cấu trúc. Một phần tử thông tin bao gồm 3 tr ườ ng, luôn xuất hiện theo sự chỉ thị sau: dấu hiệu, độ dài và nội dung. Dấu hiệu là để phân biệt một phần tử v ới mộ t phần tử khác và để qu ản lý, diễn dịch nội dung. Nội dung là bản chất của phần tử, chứa thông tin cơ sở mà phần tử phải vận chuyển. Nội dung của mỗi phần tử hoặc là có một giá trị (cơ sở), hoặc nhiều phần tử thông tin.

    • Cấu trúc tin báo TCAP :

    Tin báo TCAP được cấu trúc như là một phần tử thông tin được xây dựng độc lập. Nó bao gồ m phần giao d ịch (TP – Transfer Part) chứa các phần thông tin sử dụng bởi phân lớp giao dịch và một thành phần phần tử (CP) chứa các phần tử thông tin được sử dụng bởi phân lớp phần tử.

    Dấu hiệu loại tin báo

    Tổng độ dài tin báo

    69

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Phần giao dịch

    Phần tử thông tin

    Dấu hiệu của phần thành phần

    Độ dài của phần thành phần

    Dấu hiệu của loại thành phần

    Độ dài của loại thành phần

    Phần tử thông tin của phần

    thành phần

    Thành phần

    Hình 3.35 Cấu trúc tin báo TCAP

    3.6.6 Lưu đồ thông tin:

    Khi một người s ử dụng TC muốn phát thông tin cho người sử dụng TC khác , nó phát thông tin trong các cơ sở của ph ần tử , tức là TC yêu cầu hỗ tr ợ tới TCAP và bắt đầu hội thoại bằng cách phát cơ sở hội thoại “ TC – khởi đầu ” tới TCAP. Sau đó TCAP t ạo thành bản tin “ khởi đầu” với phần giao dịch và một hoặc nhiều thành phần trong thành ph ần phần tử. Sau đó bản tin được chuyển tới SCCP, nơi bản tin TCAP được đưa vào bên trong bản tin SCCP. Sau đó bản tin SCCP được đưa vào trường SIF của MSU nhờ MTP.

    Người sử dụng       SCCP     MTP  
                           
    TC – bắt đầu TC-chấp nhận Tin báo     MSU
          SCCP    
      TCAP                    
                     
            Loại tin báo      
                       
                       
              Nhãn định tuyến      
                           

    70

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41 nghiệp

    Đồ án tốt

     

    Tin báo

    TCAP

    Phần giao dịch

    Phần tử

    Địa chỉ phần bị gọi

    Địa chỉ phần gọi

    Loại giao thức

    Số liệu

    F CK SIF SIO LI Sửa F
    lỗi

    Kênh báo

    hiệu

    Phần tử

    Hình 3.36 Lưu đồ thông tin

    • đầu xa lưu đồ thông tin ngược lại.

    71


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN BÊ TÔNG CỐT THÉP – THIẾT KẾ BẢN SÀN

    ĐỒ ÁN BÊ TÔNG CỐT THÉP – THIẾT KẾ BẢN SÀN

    ĐỒ ÁN BÊ TÔNG CỐT THÉP – THIẾT KẾ BẢN SÀN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Văn Mẫu Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong Những đứa con trong gia đình


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-B%C3%8A-T%C3%94NG-C%E1%BB%90T-TH%C3%89P-THI%E1%BA%BET-K%E1%BA%BE-B%E1%BA%A2N-S%C3%80N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN BÊ TÔNG CỐT THÉP – THIẾT KẾ BẢN SÀN

    A. THIẾT KẾ BẢN SÀN

     

    Sơ đồ bản sàn

    L 1
    (m)
    L 2
    (m)
    p c

     

    (kN/ m2)

    gfp Bêtông B15
    (Mpa)
    Cốt thép
      Cốt dọc

     

    (MPa)

    Cốt đai, cốt xiên

     

    (MPa)

    Nhóm CI, AI R s= 225 R sw=175
    2,2 6,2 8 1,2 R b= 8,5

     

    R bt=0,75

    g b=0,9

    Nhóm CII, AII R s= 280 R sw=225

    1.     Bảng số liệu tính toán:

    Lớp cấu tạo sàn Chiều dày(d i)

     

    (m)

    Khối lượng riêng(g i)

     

    (KN/m3)

    Hệ số vượt tải(g f, i)
    Gạch Cêramic 0,010 22 1,1
    Vữa lót 0,030 18 1,3
    Bê tông cốt thép 0,080 25 1,1
    Vữa trát 0,030 18 1,3

    Các lớp cấu tạo sàn

    • Chọn sơ bộ chiều dày bản sàn:

    hs= =  = 73,33 (mm).

    Þ chọn hs= 80(mm)

    • Chọn sơ bộ kích thước dầm phụ: (nhịp Ldp = L2 = 6200mm)

    *

    Þ chọn  = 450 (mm)

    *

    Þ chọn  = 200 (mm)

    • Chọn sơ bộ kích thước dầm chính: (nhịp = 3L1 =3.2200= 6600mm)

    *

    Þ chọn  = 700 (mm)

    *

    Þ chọn  = 300 (mm)

    2.     Sơ đồ tính:

    nên bản thuộc loại bản làm việc thep phương cạnh ngắn, các trục từ 2 đến 4 là dầm chính, các tục vuông góc với dầm chính là dầm phụ.

    – Để tính bản,ta cắt một dãy rộng b=1m vuông góc với dầm phụ và thuộc dầm liên tục có gối tựa là dầm phụ và tường.

    –  Bản sàn được tính theo sơ đồ dẽo.

    Nhịp tính toán của bản:

    – Nhịp biên:

    – Nhịp giữa:

    Chênh lệch giữa các nhịp:

    Sơ đồ nhịp tính toán của bản

    3.  Xác định tải trọng:

    – Hoạt tãi tính toán:

    • Tỉnh tải:
    Lớp cấu tạo Chiều dày
    di (m)
    Trọng lượng riêng

     

    gi (kN/m3)

    Trị tiêu chuẩn
    gc (kN/m2)
    Hệ số tin cậy
    tải trọng gf,i
    Trị tính toán gs(kN/m2)
    Gạch lát 0,010 20 0,20 1.1 0,22
    Vữa lót + tạo dốc 0,030 18 0,54 1.3 0,7
    Bản BTCT 0,080 25 2,00 1.1 2,2
    Vữa trát 0,030 18 0,54 1.3 0,70
    Tổng 3,82

    – Tải trọng toàn phần (tính theo dãy bản rộng b=1m)

    – Tính moment:

    Xác định moment trong bản bằng sơ đồ dẽo. Nhịp tính toán chênh nhau 1,5% nên có thể dùng các công thức lập sẵn.

    Giá trị tuyệt đối của moment dương ở nhịp biên và moment âm ở gối thứ hai:

    Giá trị tuyệt đối của moment dương ở nhịp giữa và moment âm ở gối giữa:

    Sơ đồ tính và biểu đồ moment của bản sàn

    Tính cốt thép :

    Chọn  a0 = 20mm cho mọi tiết diện

    Chiều cao làm việc của betong :

    0 = hs – a0 = 80 – 20 = 60(mm)

    –  Công thức tính toán:

    ;  ;  ;

    ;   ;

    • Số liệu bêtông: Bêtông B15 : Rb= 8,5 Mpa ; gb= 0,9 ; xR=0,37 ; aR =0,3.

    Dùng thép AI : Rs= 225 Mpa ;  gs= 1.

    • Hàm lượng cốt thép hợp lý của bản dầm:

    mmin = 0,05 % £mhợp lí £mmax =  =

    • Điều kiện hạn chế khi tính theo sơ đồ dẽo:
    Tiết diện M (kNm)   x Ast

     

    (mm2)

      Chọn cốt thép  
    f(mm) a (mm) A s

     

    (mm2)

    Nhịp biên, gối 2 4,74 0,172 0,19 387,6 0,64 8 130 387 -0,15
    Nhịp giữa, gối giữa 3,36 0,122 0,13 265,2 0,44 8 190 265 -0,07

    Kiểm tra h0tt:

    Chọn abv = 15 mm. fmax=8 mm Þ h0tt = hs–abv–0,5 f max = 80 – 15 – 0,58 = 61 > h0 = 60(mm).

    Vậy kết quả thiên về an toàn.

    – Xét tỉ lệ :

    Þ 1 <  < 3 Þ a = 0,25 Þ aL0b = aL0g =0,25×2000=500(mm)

    .

    Chọn

    * chiều dài đoạn cốt thép neo vào gối tựa:

    Lan = (10 ¸ 15)fmax = (10 ¸ 15)8 = (80 ¸  120)(mm).

    chọn Lan=120 (mm).

    * cốt thép cấu tạo chịu moment âm dọc theo gối biên và phía trên dầm chính:

    A s, ct ³

    Chọn f6 a200 (Asc = 141 mm2).

    * chiều dài cốt thép chịu moment âm tại gối biên (mút cốt thép – mép tường)

    Þ chọn 250 (mm)

    * chiều dài cốt thép chịu moment âm từ mút cốt thép – mép dầm chính:

    Þ chọn 400 (mm)

    * cốt thép phân bố:

    Þ

    Þ chọn f6a250 (As = 113 mm2)

     

    B. TÍNH DẦM PHỤ

    Dầm phụ tính theo sơ đồ khớp dẽo.

    1.     Sơ đồ tính:

    Là dầm liên tục 4 nhịp với các gối tựa là tường biên và dầm chính.

    Chọn đoạn kê dầm phụ lên tường: Cdp= 220 mm.

    • Nhịp biên:
    • Nhịp giữa:
    • Chênh lệch giữa các nhịp:

    Sơ đồ xác định nhịp tính toán của dầm phụ

    2.     Xác định tải trọng:

    • Tĩnh tải:
      • Trọng lượng bản thân dầm phụ:
    • Tĩnh tải từ bản sàn truyền vào:
    • Tổng tĩnh tải:
    • Hoạt tải:
      • Hoạt tải tính toán từ bản sàn truyền vào:
    • Tổng tải:

    3.     Xác định nội lực:

    Biều đồ bao momen:

    Xét tỉ số:

    Tra bảng Þ k= 0,237

    • Tung độ tại tiết diện của biểu đồ bao moment tính theo công thức:

    ( l0: nhịp tính toán)

    • Moment âm triệt tiêu cánh mép gối tựa một đoạn::
    • Moment dương triệt tiêu cánh mép gối tựa một đoạn:

    Đối với nhịp biên:

    Đối với nhịp giữa:

    Xác định tung độ biểu đồ bao moment của dầm phụ

    Nhịp Tiết diện Nhịp tính toán   L0(m) qdpL

     

    (KNm)

    max min Mmax Mmin
    Biên Gối 1 5,990 1122,3 0   0  
    1 0,065   74,21  
    2 0,090   102,7  
    0,425L0b 0,091   103,9  
    3 0,075   85,6  
    4 0,020   22,8  
    Giữa Gối  2-TIẾT DIỆN.5   -0,0715   -81
    6 5,900 1088,8 0,018 -0,0309 20 -34,2
    7 0,058 -0,0099 64,24 -11
    0,5L0g 0,0625   69,2  
    8 0,058 -0,006 64,24 -6,6
    9 0,018 -0,024 20 -26,5
    10

     

    (gối 3)

      -0,0625   69,23

     

    Lực cắt (Q)

    – Tung độ biểu đồ bao lực cắt được xác định theo công thức:

    Biểu đồ bao lực của dầm phụ

    4.     Tính cốt thép:

    • Tính cốt dọc tại tiết diện ở nhịp:
    • Tương ứng với giá trị mômen dương, bản cánh chịu nén, cơ sở tính toán là tiết diện chữ T.
    • Độ vươn của sải cánh được lấy theo TCVN 356-2005:
    • Chiều rộng bản cánh:
    • Kích thước tiết diện chữ T:
    • Xác định vị trí trục trung hòa:
      • Giả thiết a = 50(mm); h0 = h – a = 550 – 50 = 500(mm)
      •  
      • Mnhịp (biên,giữa) < Mf nên trục trung hòa qua cánh tính với tiến diện chữ nhật lớn: 1160 x 450
    • Tính cốt dọc tại tiết diện ở gối:
    • Tương ứng với giá trị mô men âm, bản cánh chịu kéo, tính cốt thép theo tiết diện chữ nhật nhỏ: 200 x 450 (mmmm)

    Chọn  a0 = 50mm

    Chiều cao làm việc của betong :

    0 = hs – a0 = 500 – 50 =450(mm)

    • Công thức tính toán:

    ;  ;  ;

    ;   ;

    • Số liệu bêtông: Bêtông B15 : Rb= 8,5 Mpa ; gb= 0,9 ; xR=0,37 ; aR =0,3.

    Dùng thép AI : Rs= 225 Mpa ;  gs= 1.

    • Hàm lượng cốt thép hợp lý của bản dầm:

    mmin = 0,05 % £mhợp lí £mmax =  =

    • Kiểm tra nếu: att agt (thỏa)
    Tiết diện M (kN.m)     As (mm2) (%) Chọn thép
    Chọn Ast (mm2) Chênh lệch
    Nhịp biên

     

    (1160×500)

    103,9 0,057 0,059 841,4 1,0 3f16­+2f14 911 8%
    Gối 2

     

    (200×500)

    81 0,26 0,3 737 0,8 2f16­+2f14 710 -3,8%
    Nhịp giữa

     

    (1160×500)

    69,2 0,04 0,04 570,5 0,67 3f16 603 5,7%
    Gối 3

     

    (200×500)

    69,23 0,22 0,25 614,7 0,67 3f16 603 -2%

     

    Kiểm tra chiều cao làm việc của betông : h0=500 (mm) ;  chọn abv = 25(mm).

    h0tt=hdp– a.

    Điều kiện kết quả được chọn thiên về an toàn : h0tt > h0

     

    Tiết diện Nhịp biên Gối 2 Nhịp giữa Gối 3
    a (mm) 48 49 33 33
    h0tt (mm) 452 451 467 467

     

    • Tính cốt đai:
    • Tính cốt đai cho tiết diện bên trái gối B có lực cắt lớn nhất Q =92,28(kN)

    Q >

    Bê tông không đủ khả năng chịu cắt, phải tính cốt đai chịu cắt.

    • Chọn cốt đai f6 (asw = 28 mm2), số nhánh cốt đai n = 2.
    • Xác định bước cốt đai:
      •  
    •  
    •  

    å Chọn s  = min(  stt; smax; sct ) = 150 mm bố trí trong đoạn L/4 đoạn đầu dầm.

    å Chọn s   = 300 mm bố trí trong đoạn L/2 ở giũa dầm.

    å Đặt cốt giá 12 vào mặt bên tiết diện dầm.

    5.     Biểu đồ bao vật liệu:

    • Khả năng chịu lực của tiết diện:

    Chọn abv=25mm, t= 30mm

    ® ath ® ® ® ®

    Bảng tổng hợp kết quả:

    Tiết diện Cắt Uốn Còn lại As (mm2) ath (mm) hoth (mm)     [M] (kN.m)
    Nhịp biên

     

    (1160×500)

        3f16­+2f14 911 48 452 0,06 0.06 111,6
    Trái N.biên 1f16   2f16+2f14 710 49 451 0,05 0,05 87,4
      2f14   2f16 402 33 467 0,03 0,03 58,05
    Phải N.biên 1f16   2f16+2f14 710 49 451 0,05 0,05 87,4
      2f14   2f16 402 33 467 0.03 0.03 58,05
    Gối 2

     

    (200×500)

        2f16­+2f14 710 49 451 0,29 0,25 86,4
    Trái Gối B 2f14   2f16 402 33 467 0,16 0,15 50,05
    Phải Gối B 2f14   2f16 402 33 467 0,16 0,15 50,05
    Nhịp giữa

     

    (1160×500)

        3f16 603 33 467 0,04 0,04 77,4
    Trái N.giữa 1f16   2f16 402 33 467 0,03 0,03 58,05
    Phải N.giữa 1f16   2f16 402 33 467 0,03 0,03 58,05
    Gối 3

     

    (200×500)

        3f16 603 33 467 0,24 0,21 70,07
    Trái Gối C 1f16   2f16 402 33 467 0,16 0,15 50,05

    6.     Tính đoạn W kéo dài :

    với Qs,inc = 0

    • Trong đoạn dầm có cốt đai f6a150 :
    • Trong đoạn dầm có cốt đai f6s300 :
    • Xác định Qo bằng phương pháp vẽ.
    Tiết diện Thanh thép Q
    (kN)
    qsw
    (kN/m)
    Wtính 20 Wchọn
    Nhịp biên trái 1f16 23,5 65 224 320 320
    2f14 48 65 365 280 370
    Nhịp biên phải 1f16 18 33 298 320 320
    2f14 33,2 33 472 280 480
    Gối B trái 2f14 61,5 65 448 280 450
    Gối B phải 2f14 39 65 310 280 310
    Nhịp giữa trái 1f16 63 33 843 320 850
    Nhịp giữa phải 1f16 10,5 33 207 320 320
    Gối C trái 1f16 36 65 301 320 320

     

    C. TÍNH DẦM CHÍNH

    Dầm chính tính theo sơ đồ đàn hồi:

    Sơ đồ tính:

    – Dầm chính là dầm liên tục 4 nhịp với các gối tựa là cột và tường:.

    – Kích thước dầm như đã chọn:  ; Chọn cạnh của cột bc=350 (mm) ; đoạn dầm chính kê lên tường chọn độ dày betong Cdc= 340 (mm)

    Þ Nhịp tính toán ợ nhịp giựa và nhịp biên lấy bằng: Lt= 3L1=6600 (mm).

    • Sơ đồ tính toán:

     

    Sơ đồ tính dầm chính

    Xác định tải trọng:

    Tải trọng từ bản sàn truyền lên dầm phụ rồi từ dầm phụ truyền lên dầm chính dưới dạng lực tập trung.

    Xác định tải trọng tác dụng lên dầm chính

    Tĩnh tải:

    • Trọng lượng bản thân dầm chính:
    • Từ dầm phụ truyền lên dầm chính:
    • Tĩnh tải tính toán:

    Hoạt tải:

    • Từ dầm phụ truyền lên dầm chính:

    Biểu đồ bao momen:

    Xác định nội lực: theo PP TỔ HỢP

    • Các trường hợp đặt tải:
    • Xác định tung độ của Biểu đồ momen cho từng trường hợp tải:
      • Tung độ của Biểu đồ momen tại một tiết diện bất kì của từng trường hợp tải được xác định như sau:

    Các trường hợp tải

    • Tung độ Biểu đồ momen:
    Sơ đồ Gối A 1 2 Gối B 3 4 Gối C
    a   0 0,244 0,156 -0,267 0,067 0,067 -0,267
      MG (kN.m) 0 121,3 75,7 -129,5 32,5 32,5 -129,5
    b   0 0,289 0,244 -0,133 -0,133    
      MP1 (kN.m) 0 250 211 -115 -115 -115 0
    c   0 -0,044 -0,089 -0,133 0,200 0,200  
      MP2 (kN.m) 0 -38 -77 -115 173 173 0
    d   0     -0,311     -0,089
      MP3 (kN.m) 0 -90 -179 -269 -205 -141 -77
    e   0     0,044     -0,178
      MP4 (kN.m) 0 13 25 38 -26 -90 -154
    • Dùng Phương pháp vẽ tiến hành xác định giá trị momen tại các tiết diện cho các trường hợp tải (b), (c), (d), (e)
    • Biểu đồ momen cho từng trường hợp tải:
    • Tung độ Biểu đồ momen thành phần và biểu đồ bao momnen:
    Momen Gối A 1 2 Gối B 3 4 Gối C
    M1 (kN.m)

     

    (MG+MP1)

    0 368,3 286,7 -244,5 -82,5 -82,5 -129,5
    M2 (kN.m)

     

    (MG+MP2)

    0 80,3 -1,3 -244,5 205,5 205,5 -129,5
    M3 (kN.m)

     

    (MG+MP3)

    0 316,3 183,7 -389,5 115,5 179,5 -206,5
    M4 (kN.m)

     

    (MG+MP4)

    0 131,3 100,7 -91,5 5,5 58 -283,5
    Mmax (kN.m) 0 386,3 286,7 -91,5 205,5 205,5 -129,5
    Mmin (kN.m) 0 80,3 -1,3 -389,5 -82,5 -82,5 -283,5

    Biểu đồ bao moment dầm chính

    Xác định moment mép gối theo Phương pháp vẽ:

    Biểu đồ Bao lực cắt:

    • Xác định Biểu đồ lực cắt cho từng trường hợp tải
    • Quan hệ giữa momen và lực cắt:
    • Xác định các biểu đồ lực cắt thành phần và Biểu đồ bao lực cắt

    Biểu đồ bao lực cắt của dầm chính

    Tính cốt thép:

    • Bê tông có cấp độ chịu nén B15: Rb = 8,5 Mpa; Rbt = 0,75 Mpa.
    • Cốt thép dọc của dầm chính sử dụng loại AII: Rs = 280 Mpa;
    • Cốt thép đai của dầm chính sử dụng loại AI : Rsw = 175 Mpa.

    Tại tiết diện giữa nhịp (tương ứng vùng chịu moment dương), bản cánh chịu nén nên tiết diện tính toán là tiết diện chữ T.

    • Chiều rộng bản cánh:
    • Kích thước tiết diện chữ T:
    • Xác định vị trí trục trung hòa:
      • Giả thiết a = 55(mm)
      •  
      • Mnhịp (biên,giữa) < Mf nên trục trung hòa qua cánh tính với tiến diện chữ nhật lớn: 1260 x 800(mm x mm).
      • Mnhịp (biên,giữa) < Mf  nên trục trung hòa qua cánh.
    • Bảng tính cốt thép dọc cho dầm chính:

    Giản đồ tính toán:

    Giả thuyết a = 80 (mm)

     

    ®   ®

    ® Kiểm tra hàm lượng thép:

    • Số liệu bêtông: Bêtông B15 : Rb= 8,5 Mpa ; gb= 0,9 ; xR=0,681 ; aR =0,449.

    Dùng thép AII : Rs= 280 Mpa ;  gs= 1.

    Sai số:

    • Kiểm tra: att agt (thỏa)
    Tiết diện M (kN.m)     As (mm2) (%) Chọn thép
    Chọn Ast (mm2) Chênh lệch
    Nhịp biên

     

    (1260×800)

    371,3 0,07 0,08 1982,8 0,99 4f22+2f20 2149 8%
    Gối 2

     

    (300×800)

    374,5 0,31 0,39 2309 1,05 6f22 2281 -1,2%
    Nhịp giữa

     

    (1260×800)

    205,5 0,04 0,04 1041,2 0,5 2f22+1f20 1074 3%
    Gối 3

     

    (300×800)

    268 0,22 0,26 1527 0,7 4f22 1521 -3%
    • Cốt dọc cấu tạo:

    Do chiều cao dầm hd > 70 cm nên đặt cốt giá  12 vào mặt bên của tiết diện dầm.

    • Tính cốt ngang:
    • Lực cắt lớn nhất tại gối:
    • Kiểm tra điều kiện tính toán:

    Bê tông không đủ khả năng chịu cắt, phải tính cốt đai chịu cắt.

    • Chọn cốt đai f10 (asw = 78,5 mm2), số nhánh cốt đai n = 2.
    • Xác định bước cốt đai:
      •  

    .

    •  
    •  

    Chọn s  = min(  stt; smax; sct ) = 200 mm bố trí trong đoạn L/3 đoạn đầu dầm.

    • Đoạn dầm giữa nhịp:

    Chọn s = 500 mm.

    • Kiểm tra:

    vết nứt nguy hiểm nhất xuất hiện trong dầm khi không đi qua cốt đai

    • Khả năng chịu cắt của cốt đai:
    • Khả năng chịu cắt của cốt đai và bêtông:

    Không cần bố trí cốt xiên cho dầm.

    • Tính cốt treo:
    • Ở chỗ dầm phụ kê lên dầm chính cần có cốt treo để gia cố cho dầm chính. Lực tập trung do dầm phụ truyền lên dầm chính là:

    131+63=194(kN)

    • Sử dụng cốt treo dạng đai, diện tích cần thiết là:
    • Chọn f10 (asw = 79 mm2), số nhánh n = 2. Số lượng cốt treo cần thiết là

    Chọn số lượng là 6 đai, đặt mỗi bên dầm phụ 3 đai.

    Bước đai:

    • Phạm vi bố trí cốt đai
    • Khoảng cách giữa các cốt treo lấy 120mm

    Bố trí cốt treo

     

     

    Biểu đồ bao vật liệu:

    Tiết diện Cắt Uốn Còn lại As (mm2) ath (mm) hoth (mm)     [M] (kN.m)
    Nhịp biên     4f22­+2f20 2149 51 749 0.077 0.074 400
    Trái N.biên 2f20   4f22­ 1520 36 764 0.058 0.056 315
        2f22 2f22 760 36 764 0.03 0.03 160,2
    Phải N.biên 2f20   4f22­ 1520 36 764 0.058 0.056 315
        2f20 2f22 760 36 764 0.03 0.03 160,2
    Gối B     6f22 2281 68 732 0.38 0.31 378
    Trái Gối B 2f22   4f22 1520 51 749 0,25 0,21 279
        2f22 2f22 760 51 749 0.12 0.11 149,5
    Phải Gối B 2f22   4f22 1520 51 749 0,25 0,21 279
      2f22   2f22­ 760 51 749 0,12 0,11 149,5
    Nhịp giữa     2f22­+1f20 1074 36 764 0.04 0.04 224
    Trái N.giữa 1f20   2f22 760 36 764 0,03 0,03 160,2
    Phải N.giữa 1f20   2f22 760 36 764 0,03 0,03 160,2
    Gối C     4f22 1520 51 749 0,25 0,22 279
    Trái Gối C 2f22   2f22 760 51 749 0,12 0,11 149,5

    Tính đoạn W kéo dài :

    • Xác định Qo bằng phương pháp vẽ.
    • Trong đoạn dầm có cốt đai f10s220 :
    • Trong đoạn dầm có cốt đai f10s500 :

    Với

    Tiết diện Thanh thép Q
    (kN)
    Qs,inc
    (kN)
    qsw
    (kN/m)
    Wtính 20 Wchọn
    Trái nhịp biên 2f20 167 122,4 177,7 1000 400 1000
    Phải nhịp biên 2f20 39,2 122,4 177,7 997 400 1000
    Gối B trái 2f22 260 148 177,7 1100 440 1100
    Gối B phải 2f22 230 0 177,7 1105 440 1110
    Gối B phải 2f22 130 0 177,7 1100 440 1100
    Nhịp giữa trái 1f20 204 0 177,7 1005 400 1110
    Nhịp giữa phải 1f20 204 0 177,7 1005 400 1010
    Gối C trái 2f22 102 0 177,7 1100 440 1110

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Sự cần thiết của đề tài.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời đầu năm 2000. Thuật ngữ “Thị trường chứng khoán” còn khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam. Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, thị trường chứng khoán đã phát triển rất sôi động. Đầu tư vào thị trường chứng khoán đã trở nên quan trọng đối với mọi người.

    Để tham gia vào thị trường chứng khoán, mọi người đều phải có các kiến thức nhất định về thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán chỉ có thể phát triển được nếu có sự tham gia ngày càng đông của những người có đầy đủ kiến thức về thị trường chứng khoán. Do đó, kiến thức của mọi người dân về thị trường chứng khoán ở Việt Nam cần được nâng cao. Thị trường chứng khoán có sự hấp dẫn vốn có của nó. Nó không chỉ quan trọng đối với nền kinh tế của một nước mà nó còn quan trọng đối với mỗi người bởi vì khả năng đầu tư sinh lợi của nó. Vì vậy, mỗi người tuỳ theo điều kiện, khả năng của mình mà cần phải tiếp cận thật nhanh để tham gia đầu tư có hiệu quả vào thị trường chứng khoán. Chính các hoạt động đó sẽ góp phần đưa thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển.

    2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

    Do qui mô của bài viết và thời gian làm bài bị hạn chế, cho nên bài viết này chỉ tập trung đề cập vào những nội dung cơ bản nhất của thị trường chứng khoán. Kiến thức về thị trường chứng khoán rất lớn nhưng những kiến thức trong bài viết này cũng tương đối đủ để hiểu về thị trường chứng khoán.

    Về phần nói về thực trạng và một số giải pháp cho thị trường chứng khoán Việt Nam, cũng do đó có nhiều hạn chế. Vì vậy, bài viết này cũng chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất đối với thị trường chứng khoán Việt Nam.

    3. Kết cấu của đề tài.

     

    1

    Đề tài bao gồm các nội dung sau:

    • Lời mở đầu
    • Chương I. Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán

     

    • Chương II. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

     

    • Chương III. Một số giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt

     

    Nam.

     

    • Lời kết luận.

    2

    CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.

    I. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.

    1. Khái niệm.

    Thị trường chứng khoán là thị trường có tổ chức, là nơi mà các chứng khoán được mua bán theo các qui tắc đã được ấn định.

    2. Phân loại.

    1. Căn cứ theo tính chất pháp lý có thị trường chứng khoán chính thức và thị trường chứng khoán phi chính thức.

    Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh.

    Thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi là thị trường OTC là nơi mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay thủ tục quyết định mà do thoả thuận giữa người mua và người bán.

    1. Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán có thị trường phát hành và thị trường giao dịch.

    Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán được phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầu tư.

    1. Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương lai.

    Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày theo qui định.

    Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạn nhất định trong tương lai.

    3

    1. Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá trên thị trường chứng khoán có thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường phát sinh.

    * Thị trường trái phiếu là nơi mua bán các trái phiếu. * Thị trường cổ phiếu là nơi mua bán các cổ phiếu.

    • Thị trường phát sinh là nơi mua bán các công cụ có nguồn gốc chứng

    khoán.

    3. Vai trò của thị trường chứngkhoán.

    1. Đối với chính phủ.

    Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân. Chính phủ huy động vốn bằng việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu tư vào các dự án cần thiết của mình.

    Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá. Chính thị trường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiết của thị trường chứng khoán một cách tốt nhất. Từ đó khuyến khích việc cổ phần hoá nhanh lên các doanh nghiệp quốc doanh.

    Thị trường chứng khoán là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ. Lãi suất thị trường có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bán trái phiếu.

    Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán.

    1. Đối với các doanh nghiệp.

    Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay kh có chi phí tiền vay cao ở các ngân hàng. Các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Hoặc chính thị ttường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản để cho công ty có thể bán chứng khoán bất kỳ lúc nào để có tiền. Như vậy, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và đầu tư.

    Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô hình) thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo ra một môi

    4

    trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.

    Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng. Thị trường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanh nghiệp.

    1. Đối với nhà đầu tư.

    Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm các cơ hội đầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư.

    1. Nhược điểm của thị trường chứng khoán. Yếu tố đầu cơ.

    Đầu cơ là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro. Họ có thể mua cổ phiếu ngay với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai và thu hồi được lợi nhuận trong từng thương vụ. Yếu tố này gây ảnh hưởng lan truyền làm cho giá cổ phiếu có thể tăng giả tạo. Tuy nhiên thị trường không cấm yếu tố này.

    1. Mua bán nội gián.

    Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng vị trí công việc của mình, nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị phát hành để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thường nhằm thu lợi cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường. Đây là hành

    • phi đạo đức thương mại và bị cấm ở các nước.
    1. Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc.

    Đây là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính, tình hình nội bộ của công ty hay về môi trường kinh doanh của công ty nhằm tăng hay giảm giá cổ phiếu để thu lợi nhuận cho cá nhân.

    1. Mua bán cổ phiếu ngầm.

    Mua bán cổ phiếu ngầm là việc mua bán không qua thị trường chứng khoán. Điều này có thể gây áp lực cho các nhà đầu tư khác đưa tới việc khống chế hay thay thế lãnh đạo.

    Việc phao tin đồn không chính xác và mua bán cổ phiếu ngầm đều bị cấm ở các nước.

    5. Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán.

     

    5

    1. Nguyên tắc trung gian.

    Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thông qua tổ chức trung gian và môi giới là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh các công ty chứng khoán mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư, hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tư này để mua và bán cho các nhà đầu tư khác.

    Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.

    1. Nguyên tắc định giá.

    Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà trung gian môi giới. Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại một thời điểm tuỳ theo sự xét đoán và tùy vào số cung cầu chứng khoán có trên thị trường. Việc định giá chứng khoán được thực hiện thông qua cuộc thương lượng giữa những người trung gian môi giới cần mua và cần bán. Giá cả được xác định khi hai bên đã thống nhất. Tất cả các thành viên có liên quan trên thị trường không ai có thể can thiệp vào sự tác động qua lại của số cung cầu chứng khoán trên thị trường và cũng không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán. Vì thế thị trường chứng khoán được coi là thị trường tự do nhất trong các thị trường.

    1. Nguyên tắc công khai hoá.

    Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình hình tài chính về kết quả kinh doanh của công ty phát hành và số lượng chứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai trên thị trường và trong các báo cáo. Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng chứng khoán được mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán ngay. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị hớ trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn loại chứng khoán theo sở thích của mình.

    II. CHỨNG KHOÁN.

     

    6

    1. Khái niệm.

    Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhận quyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm những điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng.

    2. Phân loại.

    1. Căn cứ theo tiêu thức pháp lý có chứng khoán vô danh và chứng khoán kí danh.

    Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi rõ họ tên chủ sở hữu. Việc chuyển nhượng loại này rất dễ dàng, không cần thủ tục đăng ký rườm rà.

    Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán ghi rõ họ tên chủ sở hữu. Việc chuyển nhượng loại này được thực hiện bằng thủ tục đăng ký tại cơ quan phát hành.

    1. Căn cứ theo tính chất thu nhập có chứng khoán có thu nhập ổn định, chứng khoán có thu nhập không ổn định và chứng khoán hỗn hợp.

    Chứng khoán có thu nhập ổn định là các trái phiếu thu nhập của nó không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.

    Chứng khoán có thu nhập không ổn định là các cổ phiếu thường, thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty và chính sách trả cổ tức.

    Chứng khoán hỗn hợp là cổ phiếu ưu đãi, có một phần thu nhập là không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.

    1. Căn cứ theo chủ thể phát hành có chứng khoán Chính phủ và chứng khoán công ty.

    Chứng khoán Chính phủ là các chứng khoán do các cơ quan của Chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương phát hành như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu Chính phủ, công trái Nhà nước.

    Chứng khoán công ty là chứng khoán do các doanh nghiệp, công ty cổ phần phát hành như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ có nguồn gốc chứng khoán.

    1. Trái phiếu. Đặc điểm.

     

    7

    Trái phiếu là giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và xác nhận quyền đòi nợ bao gồm những điều kiện và thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng.

    Từ khái niệm trên ta thấy trái phiếu có đặc điểm là có thu nhập ổn định, có khả năng chuyển nhượng, có thời gian đáo hạn. Đồng thời trái chủ không có quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị. Nhưng trái phiếu đem lại cho trái chủ quyền được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản.

    b.Một vài loại trái phiếu.

    Trái phiếu có lãi suất cố định là trái phiếu cho lãi suất cố định ngay tại thời điểm phát hành.

    Trái phiếu có lãi suất thả nổi là trái phiếu cho lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ.

    Trái phiếu không có lãi là trái phiếu không cho lãi suất thường kỳ, nó được mua với giá thấp so với mệnh giá. Toàn bộ tiền lời và giá trị tăng thêm sẽ bằng đúng mệnh giá vào ngày đáo hạn.

    Trái phiếu thu nhập là trái phiếu được phát hành bởi các công ty đang trong thời kỳ tổ chức lại. Công ty phát hành hứa sẽ trả số gốc khi trái phiếu hết hạn nhưng chỉ hứa trả lãi nếu công ty có đủ thu nhập.

    Trái phiếu có thể thu hồi là trái phiếu cho phép công ty có thể mua lại trái phiếu vào một thời gian nào đó. Tuy nhiên trái phiếu không thể thu hồi một vài năm sau khi chúng được phát hành.

    Trái phiếu có thể chuyển đổi là trái phiếu cho phép người giữ nó được chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu nhất định với giá xác định.

    Trái phiếu phiếu kèm giấy bảo đảm là trái phiếu cho phép, người giữ nó có quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu nhất định của đơn vị phát hành ở một giá xác định (một giấy bảo đảm ở góc trái phiếu bằng một cổ phiếu).

    Trái phiếu Euro là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền của nước phát hành tại một nước khác.

    Trái phiếu Dollar là trái phiếu phát hành bằng đồng Đôla Mỹ ở các nước ngoài nước Mỹ.

    8

    Trái phiếu Yankee là trái phiếu của các công ty và Chính phủ nước ngoài phát hành bằng Đôla Mỹ và được giao dịch ở thị trường Mỹ.

    1. Cổ phiếu. Khái niệm

    Cổ phiếu là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhận quyền sở hữu về tài sản và những điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng. Có hai loại cổ phiếu là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.

    1. Cổ phiếu thường.

    Cổ phiếu thường là cổ phiếu không có thời gian đáo hạn, không có thu nhập ổn định mà thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh hay chính sách chi trả cổ tức của công ty. Cổ phiếu thường có khả năng chuyển nhượng dễ dàng. Người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền tham gia bầu cử vào Hội đồng quản trị nhưng không được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản. Ngoài ra cổ phiếu thường còn đem lại quyền đặt mua cổ phiếu mới cho các cổ đông.

    1. Cổ phiếu ưu đãi.

    Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có sự ưu tiên hơn cổ phiếu thường trong việc phân chia lợi nhuận cũng như chi trả cổ tức và thanh lý tài sản khi công ty phá sản.

    Cổ phiếu ưu đãi cũng như cổ phiếu thường là nó không có thời gian đáo hạn. Nó tồn tại ở sự tồn tại của công ty. Nó cũng có khả năng chuyển nhượng nhưng phải thêm một số điều kiện nhất định. Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lẫn cổ phiếu thường đều không phải là nợ của công ty do đó không có thu nhập ổn định trong điều kiện bình thường và nó có thể được mua lại bởi nhà phát hành.

    Cổ phiếu ưu đãi còn có một số điều khoản kèm theo. Thứ nhất, cổ phiếu ưu đãi có tính chất tham dự trong phân chia lợi nhuận khi công ty làm ăn có lãi, vượt một mức nào đó. Thứ hai, cổ phiếu ưu đãi có tính chất bỏ phiếu. Trong điều kiện bình thường, cổ phiếu ưu đãi không có tính chất bỏ phiếu.

    9

    Nhưng khi công ty làm ăn thua lỗ, cổ phiếu ưu đãi sẽ có tính chất bỏ phiếu. Thứ ba, cổ phiếu ưu đãi có tính chất tích luỹ hay không tích luỹ tức là do côgn ty làm ăn không hiệu quả, công ty sẽ không trả cổ tức. Nhưng khi công ty làm ăn có lãi công ty có thể trả cổ tức cho những năm bị thua lỗ trước đó hoặc không trả cổ tức của những năm chưa trả được.

    1. Các công cụ phát sinh. Khái niệm.

    Công cụ phát sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.

    1. Một số công cụ phát sinh là quyền lựa chọn và hợp đồng tương lai.

    Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định. Các hàng hoá này có thể là cổ phiếu, trái phiếu hay hợp đồng tương lai.

    Hợp đồng tương lại là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay. Hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, nó xoá bỏ rủi ro tín dụng vì nó được công ty thanh toán bù trừ phục vụ như là một trung gian trong tất cả các giao dịch. Người bán và người mua đều bán mua qua công ty thanh toán bù trừ. Hợp đồng tương lai đều được tiêu chuẩn hoấ về việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước. Hợp đồng tương lai còn được chuyển giao theo giá thị trường tức là bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó. Việc thanh toán như thế được tiến hành hàng ngày.

    10

    CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY.

    I. MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.

    1. Về cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.

    Đối với Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã được thành lập để quản lý và giám sát thúc đẩy cho thị trường phát triển theo định hướng XHCN và bảo vệ quyền lợi cho các nhà đâu tư. Đây là bước đi đúng phù hợp với điều kiện của Việt Nam và xu hướng quốc tế.

    2. Về trung tâm giao dịch chứng khoán.

    Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập. Còn trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội đang được xem xét thành lập. Hệ thống giao dịch của trung tâm tự động hoá với trạm làm việc có công suất nhỏ.

    1. Về sở giao dịch chứng khoán. Hình thức sở hữu.

    Đối với Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán sẽ do Nhà nước sử hữu, để đảm bảo an toàn, công bằng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Việc thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể Sở giao dịch chứng khoán do Thủ tướng chính phủ quyết định theo đề nghị của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam là một tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.

    1. Số lượng Sở giao dịch chứng khoán.

    Để tránh những bất lợi của việc tồn tại nhiều Sở giao dịch chứng khoán mà các nước đang gặp phải, chúng ta cũng chỉ nên xây dựng một Sở giao dichj chứng khoán thống nhất với các sàn giao dịch tại một, hai thành phố được nối mạng với nhau.

    1. Địa điểm thiết lập Sở giao dịch chứng khoán.

    Sở giao dịch chứng khoán được đặt ở thành phố Hồ Chí Minh vì hiện nay thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại tài chính lớn nhất trong

    11

    nước và để cho Sở giao dịch phát triển. Với hệ thống giao dịch điện tử, các công ty môi giới tại Hà Nội vẫn có thể dễ dàng sẽ được tiếp cận thị trường.

    1. Giao dịch ngoài Sở.

    Đối với Việt Nam, để công khai hoá tất cả các hoạt động giao dịch, Nhà nước đang xem xét thành lập Sở giao dịch chứng khoán tập trung cho tất cả các chứng khoán (kể cả công ty và và nhỏ) có đủ điều kiện niêm yết, hay không đủ điều kiện niêm yết được mua bán tại Sở giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, việc giao dịch những chứng khoán của công ty lớn (đủ điều kiện niêm yết) tách biệt với khu vực giao dịch những chứng khoán của những công ty vừa và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết.

    1. Hệ thống giao dịch.

    Việt Nam áp dụng hệ thống ghép lệnh. Hệ thống này đơn giản cho phép có được giá cả, cạnh tranh tốt nhất nên đang được nhiều nước mới nổi áp dụng. ở Việt Nam trong thời gian đầu khi thị trường chưa phát triển, khối lượng giao dịch còn nhỏ, nên áp dụng phương thức ghép lệnh từng đợt để giảm bớt sự biến động của giá cả.

    1. Mức độ tự động hoá.

    Trong điều kiện chi phí cho hệ thống tự động hoá ngày càng có xu hướng giảm thì Việt Nam cần thiết và sử dụng chương trình tự động hoá ngay từ đầu. Nếu bắt đầu bằng giao dịch thủ công, sau đó lại thay thế bằng hệ thống tự động thì sẽ tốn kém. Để tiết kiệm chi phí cho thời gian đầu ở Việt Nam chỉ lắp đặt thiết bị với công suất xử lý thấp. Các thiết bị lắp đặt ở trạng thái mở để khi khối lượng giao dịch tăng lên có thể lắp đặt thêm nhằm mổ rộng công suất xử lý của hệ thống.

    4. Về lĩnh vực đăng ký, thanh toán – bù trừ và lưu giữ chứng khoán.

    Hệ thống đăng ký, thanh toán – bù trừ và lưu giữ chứng khoán. Các chức năng đăng ký, thanh toán, bù trù và lưu giữ được kết hợp vào một trung tâm duy nhất trong cả nước. Các công ty chứng khoán và các ngân hàng được cho phép trở thành công ty lưu ký.

    5. Về các tổ chức trung gian.

    • Việt Nam, các ngân hàng chỉ được phép kinh doanh chứng khoán dưới hình thức thành lập các công ty độc lập, hoạt động tách rời với kinh doanh

    12

    tiền tệ. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cho phép cả các công ty chứng khoán độc lập hình thành từ các công ty tài chính, các tổng công ty lớn.

    • Việt Nam các công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các hình thức như : bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư doanh chứng khoán, tư vấn chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư. Riêng hình thức quản lý quỹ đầu tư, yêu cầu phải hoạt động tách rời dưới hình thức một công ty độc lập nhằm bảo vệ lợi ích của những cổ đông của quỹ.

    Ngoài ra hiện nay, Nhà nước còn cho phép hai loại doanh nghiệp tham gia kinh doanh chứng khoán là công ty cổ phần và doanh nghiệp liên doanh.

    Trên thế giới có hai loại quỹ đầu tư chứng khoán chủ yếu là quỹ đóng, vaf quỹ mở. Trong thời gian đầu Việt Nam dự kiến áp dụng hình thức quỹ đầu tư chứng khoán dạng quỹ đóng (quỹ không mua lại cổ phần của cổ đông muốn rút vốn) để đảm bảo an toàn trong điều kiện khả năng thanh toán của thị trường còn thấp.

    6. Về sự tham gia của bên nước ngoài.

    Việt Nam cho phép bên nước ngoài được sở hữu một tỷ lệ phần trăm nhất định và cho phép công ty chứng khoán nước ngoài được liên doanh với công ty chứng khoán trong nước theo một tỷ lệ liên doanh nhất định.

    II. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời cho nên không tránh khỏi có những hạn chế. Thị trường chứng khoán có tầm quan trọng vốn có của nó cho nền thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ được quan tâm một cách đáng kể để phát triển một cách hoàn thiện.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam đang có ít chứng khoán được giao dịch cả về số lượng và giá trị. Hiện có năm cổ phiếu của SAM, REE, TMS, HAP và LAFOOCO và trái phiếu của Ngân hàng đầu tư phát triển cùng với trái phiếu chính phủ đang được giao dịch. Việc có ít loại chứng khoán được giao dịch là do có ít doanh nghiệp có đủ điều kiện để niêm yết trên thị trường chứng khoán làm cho trên thị trường luôn xuất hiện tình trạng cầu lớn hơn cung, giá cả vượt quá giá trị thực của chứng khoán. Hơn nữa, các lý do còn là các doanh nghiệp không có nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hay nếu phát hành cổ phiếu mới thì tỉ lệ nắm giữ cổ phiếu sẽ giảm và giảm vị trí

    13

    trong Hội đồng quản trị hay do việc định giá gặp phải khó khăn vì do tổ định giá của Bộ tài chính tiến hành hay do Ban lãnh đạo thích vay ngân hàng hơn. Đó còn là do quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước chậm hay chưa cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Hiện nay các công ty chứng khoán đang bị thua lỗ vì có quá ít chứng khoán giao dịch cả về số lượng và giá trị. Đó là vì khuôn khổ pháp lý chưa được nới rộng để các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia mua bán chứng khoán. Thông tư của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước từ 29/11/2000 qui định phí dịch vụ môi giới mua, bán chứng khoán nhỏ hơn hoặc bằng 0,5% giá trị giáo dịch cổ phiếu làm cho việc hoạt động của các công ty chứng khoán càng khó khăn hơn do phí giảm đi trong khi có ít chứng khoán được giao dịch trên thị trường. Lãi suất của trái phiếu chính phủ chưa hấp dẫn so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm là nguyên nhân làm cho trái phiếu ít được giao dịch (lãi suất của trái phiếu chính phủ là 6,5%/năm của đợt phát hành thứ nhất và 6,6%/năm của đợt phát hành thứ hai).

    Thị trường chứng khoán phi chính thức là nơi giao dịch các chứng khoán của các công ty cổ phần vưà và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng thức. Thị trường chứng khoán phi chính thức sẽ tạo điều kiện để phát triển thị trường chứng khoán chính thức. Thế nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có thị trường chứng khoán phi chính thức để các công ty vừa và nhỏ tham gia.

    • Việt Nam do thị trường chứng khoán nước ta ra đời cho nên còn thiếu nhiều đội ngũ có kiến thức sâu về thị trường chứng khoán để công tác tốt trong việc quản lý Nhà nước, trong công tác kinh doanh chứng khoán, tư vấn kinh doanh chứng khoán và sẵn sàng chấp nhận rủi ro tham gia thị trường.

    Để thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh lâu dài thì cần thiết phải có các qui định pháp luật đúng đắn về lĩnh vực chứng khoán. Nhưng ở Việt Nam, hệ thống pháp luật về thị trườngchứng khoán chưa được hoàn thiện vì chưa có sự góp ý của các công ty phát hành và các công ty chứng khoán để ban hành ra hành lang pháp lý trên lĩnh vực chứng khoán.

    Với các hạn chế chủ yếu trên, trong những năm tới, thị trường chứng khoán Việt Nam cần được thay đổi để trở thành một thị trường chứng khoán lớn và sôi động.

    14

    CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY.

    I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.

    Nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng, quản lý, khuyến khích và tạo điều kiện cho thị trường phát triển theo đúng đường lối và định hướng của Đảng và chính phủ.

    Uỷ ban chứng khoán Nhà nước là cơ quan nhà nước quản lý thống nhất, nhằm tạo điều kiện cho thị trường hoạt động thông suốt, hiệu quả và an toàn.

    Việt Nam sẽ xây dựng một thị trường chứng khoán có tổ chức, hoạt động công bằng, hiệu quả an toàn, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của đất nước, từng bước hội nhập với thị trường chứng khoán của các nước trong khu vực và thế giới.

    Việt Nam sẽ xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán từ qui mô nhỏ đến qui mô lớn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện phù hợp với điều kiện và tình hình cụ thể của đất nước.

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.

    Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế, các mối quan hệ về huy động và luân chuyển vốn trên thị trường chứng khoán được hình thành và biến đổi trên cơ sở phản ánh của các điều kiện kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, các chính sách nhằm đảm bảo tính vững chắc và ổn định của nền kinh tế có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    Sự ổn định kinh tế vĩ mô và sự nhất quán trong chiến lược phát triển, vai trò của hệ thống quản lý có tính chất quyết định đối với sự thành bại của một thị trường. Vì vậy, chúng ta cần sớm xem xét các văn bản pháp quy hiện hành để điều chỉnh một cách đồng bộ, phù hợp các mâu thuẫn trong các văn bản pháp qui đó. Điều thực sự cần thiết khi soạn ra các văn bản pháp qui là các cơ quan quản lý nên tham khảo ý kiến của các công ty phát hành, các công ty chứng khoán hay của các chuyên gia trên lĩnh vực chứng khoán.

    Sự phát triển thị trường chứng khoán và chương trình cổ phần hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá để

    15

    lựa chọn một số doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Để đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá thì chúng ta cần phải có các văn bản pháp lý đủ mạnh để làm căn cứ buộc các doanh nghiệp phải cổ phần hoá. Ngoài ra, Nhà nước còn phải tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, “bình đẳng”, có hcính sách ưu đãi thuế cho các công ty cổ phần để các công ty này có thể phát triển được. Hơn nữa, Nhà nước phỉa có thêm các giải pháp như giúp đỡ người lao động vay vốn để mua cổ phần, xoá bỏ qui định hạn chế mua cổ phần, tăng cường kiểm tra tiến độ cổ phần hoá và tăng cường tuyên truyền ưu điểm của cổ phần hoá. Chúng ta không chỉ cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước mà còn nên xúc tiến việc cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán đều là các thị trường được sử dụng để thực hiện việc huy động và luân chuyển các nguồn vốn, hai thị trường này mang tính chất cạnh tranh và bổ sung lẫn nhau. Chính vì vậy, muốn xây dựng thị trường chứng khoán lớn mạnh thì phải có các chính sách tác động đến thị trường tiền tệ và tận dụng các cơ sở sẵn có của thị trường tiền tệ để phát triển thị trường chứng khoán theo một số hướng điều chỉnh linh hoạt lãi suất huy động và cho vay trên thị trường tiền tệ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn thông qua những công cụ chứng khoán, khuyến khích các tổ chức hoạt động trên thị trường tiền tệ, tham gia vào thị trường chứng khoán trên cơ sở có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và việc phân định rõ chức năng và phạm vi hoạt động.

    Bất kỳ một thị trường nào muốn hoạt động được thì cần phải có cung và cầu đối với hàng hoá trên thị trường. Do đó trong thời kỳ đầu mới ra đời thị trường chứng khoán, chúng ta cần tập trung đẩy mạnh các nguồn cung về chứng khoán theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp có đủ điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng (cả về phát hành lần đầu và phát hành thêm cổ phiếu mới). Chúng ta cần thực hiện các biện pháp hỗ trợ, ưu đãi, cho các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán. Để đẩy mạnh cầu chứng khoán, chúng ta cần khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia mua chứng khoán trên cơ sở các biện pháp phát triển kinh tế nhanh, bền vững, kiểm soát lạm phát, nâng cao đời sống nhân dân nhằm tăng trưởng mức tiết kiệm trong dân cư. Thực hiện chính sách dần dần mở cửa thị trường một cách thích hợp để khuyến khích đầu tư nước ngoài, việc phát triển hệ thống trung

    16

    gian tài chính hoạt động trên thị trường chứng khoán, hệ thống giám sát có hiệu quả, tăng cường phổ biến, phổ cập kiến thức về thị trường chứng khoán. Thêm vào đó, cần phải xúc tiến nhanh việc thành lập thị trường phi chính thức và thị trường chứng khoán tại Hà nội hay các trái phiếu cần có lãi suất hẫp dẫn hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.

    Các cơ quan chức năng Nhà nước phải quản lý chặt chẽ các tiêu chuẩn phát hành, đảm bảo chứng khoán phát hành phải là chứng khoán có chất lượng, ban hành chế độ kế toán, kiểm toán thống nhất để nâng cao chất lượng của các thông tin về thị trường chứng khoán trên thị trường, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể hiểu được các thông tin đó và ra quyết định đầu tư chính xác. Thực hiện chế độ công bố thông tin bắt buộc, xử lý nghiêm minh các vi phạm trong phát hành và giao dịch chứng khoán.

    Nhà nước cần có chính sách tạo nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán qua việc mở cáclớp đào tạo tại các trường, trên truyền hình, đài, báo về các kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong hoạt động đó, chúng ta có thể lựa chọn những người có tài thực sự để tạo điều kiện phát triển thị trường chứng khoán.

    17

    KẾT LUẬN

    Thị trường chứng khoán Việt Nam đang chập chững bước đi những bước đầu tiên. Với vai trò, tầm quan trọng vốn có của nó đối với nền kinh tế đất nước, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam tiến đến các tầm cao mới. Cho dù hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều khuyết tật, chúng ta vẫn hy vọng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước sẽ giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hiệu quả. Thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển sẽ góp phần đảm bảo nền kinh tế Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    18


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động

    Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động

    Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BỘ ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN THI TRẮC NGHIỆM TRỰC TUYẾN CHO CÔNG CHỨC ĐÃ HOÀN THÀNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC MỚI NGÀNH THUẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam-sau-4-n%C4%83m-%C4%91i-v%C3%A0o-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động

    BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    I. Chứng khoán và thị trường chứng khoán

    1. Khái quát về chứng khoán

    Trong đời sống kinh tế, thuật ngữ chứng khoán được tìm hiểu theo những yêu

    cầu, mục đích khác nhau. Đây là khái niệm phức tạp vì bản thân nó đã hàm chứa một loại quan hệ kinh tế phức tạp phát sinh giữa người cần vốn và người có vốn.

    Chứng khoán rất đa dạng về chủng loại và phong phú về cách thức biểu hiện do đó mà pháp luật nhiều quốc gia không đưa ra một định nghĩa cụ thể về chứng khoán.

    • Theo quan điểm truyền thống thì Chứng khoán là phương tiện xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.

     

    Hình thức tồn tại của chứng khoán rất đa dạng, phụ thuộc vào thực tế phát triển của nền kinh tế. Chứng khoán có thể có hình thức chứng chỉ, hình thức bút toán ghi sổ dần phát triển do yêu cầu của nhà phát hành và sở hữu chứng khoán. Khi công nghệ phát triển, hình thức điện tử cũng được nghi nhận như một dạng tồn tại của chứng khoán.

    • Theo quan điểm hiện đại:

    Chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính có thể chuyển nhượng được.

    Với cách hiểu này, đối tượng được coi là chứng khoán thực sự đa dạng: cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ tại thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng và các loại thương phiếu.

    Chứng khoán xác nhận quyền, lợi ích của người sở hữu, điều đó cũng có nghĩa là xác định quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét theo phương diện pháp lý. Nhưng cho dù chứng khoán có hình thức có hình thái biểu hiện cụ thể như thế nào thì đều có chung đặc trưng là xác nhận quyền chủ nợ hoặc quyền sở hữu đối với chủ thể phát hành ra nó.

    1

    Để nhận diện chứng khoán với các đối tượng khác, thường phải dựa trên đặc điểm của chúng:

    1. b) Đặc điểm của chứng khoán

    Đặc điểm quan trọng đầu tiên của chứng khoán là tính sinh lời

    • Tính sinh lời:

    Tính sinh lời thể hiện ở việc người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng khoán một khoản lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính sinh lời của chứng khoán là động lực thúc đẩy người đầu tư mua chứng khoán và cũng là tiền đề xuất hiện chứng khoán. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở tính sinh lời thì cơ hội đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư chưa đạt được.

    + Tính thanh khoản

    Tính thanh khoản tức là khả năng chuyển đổi được thành tiền. Tính thanh khoản tạo cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi dạng tài sản từ chứng khoán sang tiền thông qua một giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc thông qua nghiệp vụ ngân hàng. Tính thanh khoản tạo ra sự hấp hẫn đối với người đầu tư, thoả mãn nhu cầu của họ đồng thời cũng hạn chế rủi ro làm giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán. Có thể nói rằng, khả năng thanh khoản của mỗi chứng khoán là khác nhau, điều đó cũng có ý nghĩa trong việc xác định hiệu suất vốn đầu tư của nền kinh tế, đồng thời tạo ra sức cạnh tranh cho các chủ thể phát hành. Tính thanh khoản của một loại chứng khoán phụ thuộc vào uy tín của chủ thể phát hành, vào chi phí chuyển đổi và sự biến động của thị trường

    + Tính rủi ro

    Cuối cùng, nói tới chứng khoán, cũng đồng thời phải nói tới tính rủi ro của chứng khoán, thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn. Cũng như bất kỳ hoạt động đầu tư, kinh doanh nào khác, việc kinh doanh chứng khoán là “đầu tư một lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai”, do vậy cả quãng thời gian đó cũng chính là thời gian chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro tiềm tàng đến đâu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ rủi ro. Mức độ rủi ro của

    2

    chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và tính thanh khoán của chứng khoán.

    1. Khái niệm Thị trường chứng khoán

    a) Khái niệm

    Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động giao dịch, mua bán các

    loại chứng khoán được tiến hành bởi những đối tượng khác nhau theo quy định của pháp luật.

    Đây là nơi chắp nối quan hệ cung – cầu vốn đầu tư trung, dài hạn của nền kinh tế quốc dân và quốc tế; là nơi gặp gỡ, giao dịch giữa những người cần huy động vốn đầu tư (người phát hành chứng khoán) với những người có vốn nhàn rỗi muốn đầu tư (người mua chứng khoán) cũng như giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau.

    Thị trường chứng khoán là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Cũng như các thị trường khác, thị trường chứng khoán cũng qua những bước phát triển sơ khai ban đầu, sau đó ngày càng đa dạng, phức tạp dần theo sự phát triển của các quan hệ kinh tế – xã hội. Đây là thị trường đặc biệt, lưu hành các loại hàng hoá đặc biệt là chứng khoán. Sự khác biệt cơ bản đó làm cho nguyên tắc, tổ chức, quản lý thị trường chứng khoán cũng có sự khác biệt so với các thị trường thông thường.

    Thị trường chứng khoán có từ bao giờ?

    Thị trường chứng khoán được hình thành, phát triển trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Đó là nền kinh tế thị trường với những quy luật vốn có của nó. Tại đó cơ hội kinh doanh, khả năng chuyển đổi mới hình thành và tồn tại. Đối với nền kinh tế tập trung không thực hiện được những hoạt động này. Trên thế giới, thị trường chứng khoán ra đời cách đây hơn 400 năm. Hình thức và địa điểm ban đầu rất thô sơ, bột phát, tản mạn, khó xác minh. Mốc thời gian đánh dấu thị trường hoạt động đồng bộ, với đủ loại hình giao dịch như ngày nay được ghi vào đầu thế kỷ 17 tại Amsterdam (Hà Lan). Công ty cổ phần đầu tiên thành lập, phát hành cổ phiếu vào ngày 20 tháng 3 năm 1602. ít lâu sau người ra phát kiến ra trái phiếu quốc gia và các loại trái khoán, giấy ghi nợ rất phong phú. Thị trường chứng khoán Pari “non trẻ”

    3

    hơn, ra đời năm 1801. Sau London, nó là “chợ” lớn nhất châu Âu, một lục địa sang đầu thế kỷ 21 đã có hơn 30 thị trường quốc gia, 12 hệ thống buôn bán và 20 hệ thống thi hành lệnh, triển khai quy trình thanh toán bù trừ. Theo thời gian các thị trường biến hình liên tục.

    Nếu trong thời kỳ đầu, thị trường chứng khoán chỉ xuất hiện ở các nước có nền kinh tế tự do phát triển như Hà Lan, Anh, Đức, Hoa Kỳ … thì hiện nay mô hình thị trường này đã lan rộng và trở thành hiện tượng phổ biến của các quốc gia có nền kinh tế thị trường. Mặc dầu vậy, để phù hợp với trình độ phát triển nền kinh tế, thực lực nền kinh tế mà mức độ phức tạp, đa dạng cũng như mức độ sôi động của thị trường chứng khoán tại các quốc gia khác nhau. Sự khác biệt ấy không chỉ dừng lại giữa các quốc gia, ngay ở những khu vực phát triển kinh tế khác nhau trong một quốc gia, mức độ lưu hoạt vốn của các bộ phận thị trường (mang tính địa phương) cũng khác nhau rõ rệt. Cùng với xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt động của thị trường chứng khoán các quốc gia ngày càng trở nên gần nhau hơn, thông qua các liên kết giao dịch, nhu cầu kinh doanh, đầu tư của tất cả các đối tượng.

    • Việt Nam nếu không tính đến những năm chuẩn bị thì thời điểm khai trương chính thức trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hòo Chí Minh là vào tháng 6 năm 2000. Phiên giao dịch đàu tiền diễn ra ngày 20-7-2000.

    b. Phân loại thị trường chứng khoán

    • Xét theo tiêu chí lưu thông chứng khoán có thể phân ra thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

    Tại thị trường sơ cấp, các chứng khoán lần đầu tiên được bán cho các nhà đầu tư nên còn được gọi là thị trường phát hành. Điều đó cũng có nghĩa, thông qua thị trường sơ cấp, những nguồn đầu tư mới thực sự được chuyển cho nhà phát hành.

    Thị trường thứ cấp diễn ra các giao dịch chứng khoán chưa được thanh toá. Bộ phận thị trường này không làm tăng nguồn vốn mới cho nền kinh tế, nhưng có thể hoạt động liên tục, tạo ra khẳ năng thanh khoản cho chứng khoán đã phát hành. “Thị trường thứ cấp phục vụ cho hai mục đích chính: thúc đẩy sự tạo vốn cho các doanh nghiệp, chính phủ và tạo ra các công cụ đầu tư có khả năng sinh lời cho các nhà đầu

    4

    tư”. Thông qua thị trường thứ cấp, các bên tham gia đều mong muốn đạt tới hiệu ích kinh tế của mình. Hai bộ phận thị trường sơ cấp cũng như thứ cấp có mối quan hệ nội tại, mật thiết: thị trường sơ cấp là sơ sở, tiền đề; thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có chứng khoán để vận hành thị trường thứ cấp; ngược lại nếu không có thị trường thứ cấp sẽ khó khăn trong việc phát hành vì chứng khoán hầu như không có khả năng thanh khoản vì chưa đến hạn thanh toán.

    • Xét theo phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường tập trung và không tập trung.

    Thị trường chứng khoán tập trung diễn ra các hoạt động mua hoặc bán chứng khoán, hoặc tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán, được tồn tại dưới hình thức phổ biến là Sở Giao dịch chứng khoán hạc các sàn giao dịch chứng khoán.

    Thị trường không tập trung diễn ra hoạt động giao dịch chứng khoán không có đủ điều kiện giao dịch tại thị trường tập trung, có thể tiến hành thông qua những hình thức đa dạng khác nhau như hệ thống giao dịch nối mạng hoặc là giao dịch chứng khoán riêng lẻ.

     

    Thị trường chứng khoán tập trung có giá trị như “bộ mặt” thị trường chứng khoán quốc gia, các bộ phận thị trường khác thể hiện sự đa dạng của các giao dịch có thể lựa chọn. Hàng hoá của thị trường tập trung cũng là những hàng hoá có thể đánh giá có chất lượng hơn so với hàng hoá của thị trường khác, do tính có tổ chức của nó; điều đó cũng có nghĩa sự an toàn hay rủi ro, cơ hội kiếm lời là khác nhau trong các giao dịch trên thị trường.

     

    3. Những điều kiện – xã hội để hình thành thị trường chứng khoán và vai trò của nó

    a) Điều kiện xã hội

     

    Nếu chỉ xem xét thị trường chứng khoán với những biểu hiện đơn giản nhất là có giao dịch mua bán chứng khoán thì đó là cách nhìn không đầy đủ. Thực tế đã chỉ ra rằng, thị trường chứng khoán bao giờ cũng có những biểu hiện bề nổi, mang tính “bộ mặt”, đó là các giao dịch tại thị trường chứng khoán tập trung, các giao dịch nội bộ chưa phản ánh đầy đủ tính chất của thị trường chứng khoán . Nhưng để thị trường

    5

    tập trung có thể vận hành ổn định và bình thường được, cần phải hội đủ những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.

    Thứ nhất, nền kinh tế của quốc gia có thị trường phải phát triển đến mức độ nhất định. Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của chứng khoán, đó là nhu cầu về vốn giữa người cần vốn và người có vốn. Mặc dù vậy, nguồn vốn có thể cung và nguồn vốn cần thiết cho nền kinh tế phải đạt đến giới hạn nhất định. Nếu không đạt đến các giới hạn đó, các nhà kinh doanh (và kể cả các nhà đầu tư) sẽ không lựa chọn vốn qua thị trường chứng khoán mà sẽ lựa chọn vốn qua thị trường khác đơn giản và an toàn hơn (như thị trường tín dụng, thị trường ngoại hội, thị trường bất động sản). Trong thực tế, đánh giá về tốc độ phát triển nền kinh tế được xem xét ở những khía cạnh cụ thể khác nhau. Trước hết, thông qua các chỉ sổ phát triển kinh tế (GDP, GNP); cơ cấu ngành, miền. Chỉ số này phải phản ánh được đó là nền kinh tế phát triển thực (tức phải xem xét trong mối tương quan với chỉ số giá cả). Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để ra đời thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển, vấn đề hoạch định nền kinh tế và xem xét tình hình phát triển kinh tế là rất cần thiết cho sự ổn định thị trường. Thực tế đã cho thấy, đối với thị trường các nước đang phát triển, vấn đề hoạch định nền kinh tế và xem xét tình hình phát triển kinh tế là rất cần thiết cho sự ổn định thị trường. Thực tế đã cho thấy rằng, đối với thị trường các nước đang phát triển, sự biến động về phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng tức thì đến giao dịch tại thị trường và không loại trừ trường hợp làm vỡ thị trường.

    Liên quan đến yêu cầu kinh tế, sự tham gia của các tổ chức kinh tế vào thị trường là hết sức quan trọng. Các tổ chức kinh tế được xem là những nhà đầu tư có tổ chức và nhiều tiềm năng hơn là nhà đầu tư riêng lẻ, là đối tượng có nhu cầu vốn thường xuyên. Sự tham gia của họ vào thị trường sẽ làm cho nguồn vốn giao dịch tăng, đây chính là yếu tố kích ứng mức sôi động của thị trường mặt khác, tổ chức kinh tế cũng đồng thời là người có khả năng sử dụng vốn với hiệu suất cao nhất, là nhà kinh doanh lành nghề. Vì vậy, cần phải có những biện pháp phù hợp tạo điều kiện cho họ có cơ hội tham gia thị trường. Các tổ chức kinh tế được xem xét ở đây có thể là doanh nghiệp thông thường, các tổ chức tài chính… Quy mô vốn, năng lực

    6

    thực tế của các tổ chức kinh tế quyết định sức thanh khoản và lành mạnh của thị trường

    Thứ hai, phải có sự ổn định chính trị – xã hội. Thị trường chứng khoán có độ nhạy cảm cao đối với bất kỳ sự biến đổi hay bất ổn định nào về chính trị, xã hội. Sự ổn định chính trị- xã hội là tiền đề cho sự ổn định đầu tư; người đứng đầu bộ máy nhà nước có thể ảnh hưởng tới luồng chu chuyển vốn giữa các ngành và khu vực kinh tế . Thực tế đời sống chính trị của Hoa Kỳ, Nhật Bản, khu vực Trung Cận Động, trong những năm qua cho chúng ta rất nhiều bài học về ổn định chính trị và vai trò của người đứng đầu tổ chức bộ máy nhà nước đối với thị trường chứng khoán. Sự ổn định không chỉ dừng lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn là sự ổn định về chính trị của quốc gia đó trên trường quốc tế. Sự can thiệp của Tổng Thống Bush và ngành thép Hoa Kỳ không chỉ gây ra mối quan ngại trong giao dịch thương mại quốc tế với các quốc gia có xuất khẩu thép vào thị trường Mỹ mà còn ảnh hưởng rõ nét tời giá chứng khoán ngành thép Hoa Kỳ.

    Thị trường chứng khoán ở các quốc gia hình thành từ nhu cầu nội tại. Nếu dùng ngôn ngữ triết học, có thể nói, nó hình thành theo con đường tiến hoá dần và có nhu cầu hợp lại với nhau, dần hoàn thiện.

    Đối với Việt Nam, thị trường chứng khoán được hình thành phụ thuộc rất nhiều yếu tố từ bên ngoài. Mặc dù có một số yết tố nội tại trong đó, song nó không hoàn toàn mang yếu tố hình thành tự thân. Đây cũng là yếu tố chi phối tới pháp luật thị trường chứng khoán Việt Nam và cũng phán ánh vai trò của pháp luật đối với thị trường chứng khoán nước ta.

    b) Vai trò của TTCK

    Chứng khoán và thị trường chứng khoán tồn tại như một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường và giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế.

    Thứ nhất, xuất phát từ nguồn gốc ra đời của chứng khoán và thị trường chứng khoán, có thể khẳng định, thị trường chứng khoán là công cụ quan trọng trong việc huy động vốn trung và dài hạn.

     

    7

    Với chi phí thấp, khả năng chủ động trong việc lựa chọn đối tượng, lượng vốn cần thiết cũng như hình thức huy động vốn, thị trường chứng khoán có vai trò rất lớn trong việc trợ giúp cho các doanh nghiệp thu hút, huy động vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh một cách dễ dàng. Thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán các quốc gia đã chỉ ra rằng, thị trường chứng khoán tạo ra sự cạnh tranh với các bộ phận thị trường truyền thống mà đại diện là thị trường tín dụng. Nếu như trước đây các tổ chức tín dụng là chỗ dựa tiềm tàng về vốn cho các doanh nghiệp, từ nguồn vốn nhỏ nhất trong thời gian dài nhất theo nhu cầu, thì đến nay khi nền kinh tế phát triển, thị trường chứng khoán đã mở ra cơ hội huy động vốn mới cho các doanh nghiệp. Nội dung, hình thức huy động vốn của doanh nghiệp thông qua thị trường chứng khoán rất đa dạng, không đơn thuần là nguồn vốn vay; bản thân các nguồn vốn kèm theo cam kết của doanh nghiệp phát hành cũng thể hiện nhu cầu và tính cạnh tranh to lớn.

    Không chỉ đóng vai trò là công cụ huy động vốn, thị trường chứng khoán còn là môi trường đầu tư thuận lợi của công chúng. Thị trường chứng khoán là môi trường đầu tư lành mạnh với cơ hội lựa chọn phong phú. Những nguồn tiền tiết kiệm của dân cư được sử dụng với hiệu suất cao nhất thông qua việc lựa chọn các loại chứng khoán với mức độ an toàn và lưu hoạt khác nhau khiến cho các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với khả năng và sở thích của mình. Cũng chính vì sự lựa chọn đó mà bản thân các nhà phát hành cũng được “tính đến” trong quyết định của nhà đầu tư. Có thể nói, thị trường chứng khoán là một trong những cơ sở đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của nền kinh tế một cách tổng hợp (kể cả giá trị hữu hình và giá trị vô hình) thông qua các chỉ số giá chứng khoán trên thị trường là kết quả của quá trình cạnh tranh, đảm bảo cho hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp nói riêng và của cá nhân nền kinh tế nói chung đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, việc đánh giá nền kinh tế thông qua thị trường chỉ thực sự phát huy hiệu quả đối với những thị trường phát triển, hoạt động ổn định. Đối với những thị trường mới hình thành, mức độ giao dịch còn nhỏ, các giao dịch vốn truyền

    8

    thống vẫn còn phổ biến thì vai trò này của thị trường chứng khoán chưa thực sự phát huy, Việt Nam cũng không là ngoại lệ.

    Thứ hai, trường chứng khoán còn là công cụ thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc gia và các chính sách vĩ mô khác.

    Thị trường chứng khoán phản ánh các giá cả chứng khoán của các doanh nghiệp và các ngành kinh tế. Mức độ giao động giá chứng khoán cho thấy dấu hiệu tiệu cực. Chính vì vậy, có thể nói rằng thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ hữu hiệu để Chính phủ điều hành việc thực hienẹ các chính sách vĩ mô. Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ thực hiện “cân đối lại” ngân sách nhà nước bằng việc phát hành các loại trái phiếu Chính phủ. Đây chính là nội dung quan trọng nhằm thực hiện chính sách tài chính quốc gia. Việc thực hiện tốt chính sách tài chính quốc gia tạo căn cứ chắc chắn cho việc ổn định giá trị đồng tiền, là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia. Chính vì thế, thị trường chứng khoán tạo môi trường thuận lợi cho Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Đối với các quốc gia nền kinh tế thì thị trường chứng khoán còn là nhân tố thúc đẩy tiến trình đa hình thức sở hữu nền kinh tế. Quá trình cổ phần hoá các doanh nghiêp nhà nước ở Trung Quốc trong giai đoạn 1993 đến nay đã chỉ ra rằng, thị trường chứng khoán giúp Chính phủ thực hiện tốt công cuộc cải tổ nền kinh tế.

    Thứ ba, thị trường chứng khoán đóng vai trò tạo khả năng thanh khoản cho các chứng khoán.

    Nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán của họ thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán mà họ mong muốn khác tại thị trường. Chính tính thanh khoan của chứng khoán giúp cho thị trường sôi động, đồng thời cũng là một trong những yếu tố quyết định mức hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Vì vậy, bản thân tính thanh khoản và hoạt động của thị trường có mối quan hệ nội tại, bảo đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động an toàn, hiệu quả.

    Bất kỳ quốc gia nào có thị trường chứng khoán đều phải tính toán sự ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế trong nước. Có thể nói, thị trường

    9

    chứng khoán thu hút đầu tư nước ngoài với độ nhậy lớn. Đối với những hình thức đầu tư tài chính thông qua thị trường có vai trò quan trọng đối với quốc gia đang phát triển. Vì vậy, nếu thị trường có tính ổn định, môi trường đầu tư thuận lợi, cơ hội nhận vốn đầu tư nước ngoài sẽ lớn hơn. Điều này lại được phản ánh trong tính thanh khoản của chứng khoán và những giới hạn đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư nước ngoài (kể car nhà đầu tư có tổ chức và đầu tư cá thể). Đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp cũng tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệp chứng khoán trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh nghiệm của nhà kinh doanh chứng khoán nước ngoài là những bài học không thể định giá cho các nhà kinh doanh chứng khoán non trẻ của quốc gia mới có thị trường. Tuy nhiên, đi đôi với việc xem xét những mặt tích cực của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, bản thân nó cũng có thể ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế trong nước nếu có sự lệ thuộc quá lớn vào nguồn vốn nước ngoài. Vì vậy, đối với những thị trường mới mở, Chính phủ thường có những hạn chế đối với đầu tư nước ngoài (kể cả đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp).

    Thứ tư, thị trường chứng khoán Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước.

    Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã tạo điều kiện hết sức quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường sơ cấp cũng như hình thành thị trường thứ cấp ở Việt Nam. Việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp được cổ phần hoá làm sôi động hơn thị trường phát hành, chuyển hoá phần vốn tiết kiệm trong dân chúng thành vốn kinh doanh. Việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường tập trung làm tăng thêm và sôi động thêm lượng hàng hoá tại thị trường thứ cấp. Thực tế cho thấy, các cổ phiếu niêm yết tại thị trường tập trung hiện nay đều là cổ phiếu của các công ty cổ phần hình thành từ con đường cổ phần hoá. Ngược lại, thị trường chứng khoán cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, từ giai đoạn cổ phần hoá đến giai đoạn niêm yết chứng khoán và khi có nhu cầu phát hành chứng khoán để tăng vốn doanh nghiệp.

    10

    Thứ năm (cuối cùng), ta sẽ phân tích các yếu tố tác động qua lại của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính.

    Hệ thống pháp luật phản ánh chính sách tiền tệ quốc gia, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tiền của toàn xã hội. Chính sách lãi suất của Chính phủ làm thay đổi cơ cấu tiền trong lưu thông, làm ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền và mức độ giao dịch của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước đối với Việt Nam) có ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất thị trường tín dụng (bao gồm cả lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất tái chiết khấu), đồng thời, kích ứng mức độ sôi động thị trường chứng khoán (thông qua biến động các chỉ số giá chứng khoán). Những biến động về lãi suất như vậy sẽ ảnh hưởng tới nguồn cung cấp vốn cho các nhà kinh doanh trong mở rộng đầu tư và hình thành vốn, làm cho nguồn vốn được đưa vào đầu tư có chi phí thấp nhất, các bộ phận thị trường tài chính có mức độ tự cạnh tranh cao nhất. Ngoài ra, thị trường ngoại hối cũng như cán cân thương mại cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giao dịch trên thị trường chứng khoán. Đối với đồng nội tệ có sức mua ổn định, chỉ số giá chứng khoán có mức độ cân bằng tương đối so với thị trường nước ngoài sẽ không xảy ra tình trạng luồng tiền được chuyển ra đầu tư nước khác. Sức mua đối ngoại của đồng tiền ổn định cũng tạo cho nhà đầu tư chứng khoán an tâm, không có sự chuyển dịch đầu tư từ bộ phận thị trường này sang bộ phận thị trường khác, xa lánh thị trường chứng khoán (chẳng hạn từ thị trường chưng skhoán chuyển sang thị trường ngoại hối, thị trường bất động sản…). Những yếu tố kinh tế như tốc độ tăng trưởn, chính sách đầu tư của Nhà nước, thay đổi cơ cấu tổ chức hoặc người đứng đầu bộ máy nhà nước, tác động của các tổ chức tiền tệ quốc tế đều có thể làm biến động thị trường chứng khoán. Từ những phân tích trên, điều dễ nhận thấy là thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội; việc ổn định và phát triển các yếu tố đó chính là cơ sở quan trọng để thị trường chứng khoán ổn định và phát triển.

    Vì thế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương: “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện nay chưa có hoặc còn sơ khai

    11

    như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ”; trong đó xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán – một hình thức chủ yếu trong việc huy động vốn trung, dài hạn nhằm phát triển nhanh chóng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Do đó, thị trường chứng khoán, nói cách khác, là thị trường vốn trung, dài hạn trực tiếp; nơi giao dịch, mua bán có tổ chức các chứng khoán trung, dài hạn, do các công ty, doanh nghiệp và chính phủ phát hành để huy động vốn của công chúng, phục vụ cho đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân.

    4.       Chủ thể của thị trường

    Trong thị trường chứng khoán, dù ở giai đoạn phát triển nào và ở bộ phận nào của thị trường thì cũng tồn tại hai loại chủ thể chủ yếu là nhà phát hành và nhà đầu tư chứng khoán.

    • Nhà phát hành là tất cả chủ thể huy động vốn bằng cách bán chứng khoán cho người đầu tư. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, pháp luật mỗi nước quy định rõ những đối tượng nào là “nhà phát hành”. ở thị trường, thường là các doanh nghiệp (bao hàm cả các tổ chức tín dụng) và Chính phủ (bao gồm cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương).

     

    • Nhà đầu tư chứng khoán những chủ thể có nhu cầu đầu tư bằng cách mua các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Loại chủ thể đầu tư này rất đa dạng và đông đảo, mục đích của các nhà đầu cũng không giống nhau. Thường thì, người ta chia nhà đầu tư thành hai nhóm cơ bản: nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá thể. Nhà đầu tư có tổ chức có thể chỉ chiếm số lượng nhỏ so với nhà đầu tư cá thể nhưng đối tượng này lại có tiềm năng lớn, khả năng phân tích đánh giá chứng khoán tốt. Nhà đầu tư các thể chiếm tỷ trọng đông đảo về số lượng nhưng lại là đối tượng thường được quan tâm của nhà quản lý với mục đích bảo về quyền lợi cho họ.

     

    Để tạo ra tính thanh khoản của chứng khoán, hiệu suất sử dụng vốn của nền kinh tế, các giao dịch thứ cấp được rất nhiều nhà kinh doanh quan tâm và coi đây là nghiệp vụ kinh doanh chính của mình. Hành vi kinh doanh chứng khoán cũng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận như hành vi kinh doanh khác, nhưng do đặc điểm của

    12

    chứng khoán rất phức tạp và rủi ro lớn mang tính dây truyền, nên chủ thể thực hiện kinh doanh chứng khoán thường phải đạt những tiêu chuẩn nhất định, cho dù mỗi quốc gia có thể cho phép tổ chức và cá nhân cùng kinh doanh hoặc chỉ cho phép tổ chức và cá nhân cùng kinh doanh hoặc chỉ cho phép tổ chức kinh doanh. Chủ thể kinh doanh chứng khoán thường tồn tại dưới hình thức công ty chứng khoán hoặc những hình thức cá biệt khác.

    Ngoài những chủ thể chủ yếu trên còn có thể có một số đối tượng khác như các ngân hàng thương mại (tham gia với tư cách là trung gian thanh toán), các đại lý phát hành chứng khoán….

    II. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt

    động

    1.     ý nghĩa của chỉ số giá trên thị trường chứng khoán Việt Nam (VN- Index)

    Khái niêm:

    Chỉ số giá thị trường hay còn gọi là số trung bình hay chỉ số được hình thành trên cơ sở dựa vào giá của các cổ phiếu riêng lẻ, có thể là của toàn bộ các cổ phiếu được giao dịch trên thị trường hoặc có thể chỉ gồm giá của nhóm các cổ phiếu trên thị trường.

    • Việt Nam chỉ số giá dựa vào giá của toàn bộ các cổ phiếu được giao dịch trên thị trường, giá của nhóm các cổ phiếu trên thị trường (như chỉ số Nikkei – 250 trên TTCK Nhật Bản, chỉ số Dow Jones trên TTCK Mỹ..)

    Cổ phiếu được chọn thường là cổ phiếu của các công ty lớn, có sức mạnh trong các ngành kinh tế và được mua bán nhiều nhất. Với phạm vi và đối tượng tính như vậy, chỉ số giá phản ánh xu hướng vận động chung của toàn bộ thị trường.

    Chỉ số giá là một thông tin không thể thiếu trong bất cứ một thông báo nào về hoạt động giao dịch trên TTCK.

    Chỉ số giá thị trường rất quan trọng đối với những người tham gia TTCK, đặc biệt là thị trường cổ phiếu, dù với tư cách là nhà đầu tư, chuyên gia tư vấn, môi giới hay các nhà làm chính sách. Nó được các sở giao dịch, các công ty, các tổ chức cung

    13

    cấp dịch vụ trên thị trường tính và công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. ở Việt Nam, chỉ số VN – Index do Trung Tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) thành phố Hồ Chí Minh công bố

    Chỉ số giá cổ phiếu tăng cho thấy toàn bộ hoặc phần lớn các cổ phiếu tăng giá; ngược lại chỉ số giá giảm chứng tỏ các cổ phiếu đang giảm giá. Diễn biến của chỉ số giá cổ phiếu có mối quan hệ tương đối chặt chẽ với tình hình kinh tế và các chính sách kinh tế vĩ mô. Trong những thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng thuận lợi, chỉ số giá cổ phiếu thường tăng, một phần do những người đầu tư tin tưởng vào triển vọng phát triển của các doanh nghiệp nên có nhu cầu mua cổ phiếu nhiều hơn khiến cho giá cổ phiếu tăng. Tuy nhiên, cũng có thời điểm chỉ số giá cổ phiếu giảm do sự giảm giá của một số cổ phiếu cá biệt, nhưng xu hướng chính vẫn không bị phá vỡ nếu đó chỉ là sự sụt giảm tạm thời và chỉ số giá có thể phục hồi tăng trở lại sau sự sụt giảm đó. Nhưng khi các nhà phân tích và giới đầu có nhận định bi quan về tình hình kinh tế, họ sẽ không mấy tin tưởng vào kết quả kinh doanh tốt đẹp của các doanh nghiệp trong tương lai, thì cổ phiếu sẽ không còn hấp dẫn, giá của chúng trên thị trường sẽ giảm khiến chỉ số giá giảm. Do đó, bên cạnh việc bám sát biến động giá của của các cổ phiếu cụ thể, việc theo dõi diễn biến của chỉ số giá cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc ra quyết định đầu tư. Nó sẽ giúp bạn có được một cái nhìn tổng quát về thị trường, trên cơ sở đó đưa ra được những quyết định đầu tư mang tính chiến lược và dài hạn chứ không phải chỉ nhằm mục đích kiếm lời từ những biến động giá tạm thời.

    Nhìn chung, xu thế chủ đạo của thị trường có hai dạng chính là xu thế giá lên và xu thế giá xuống.

    • xu thế giá lên, giá cổ phiếu có thể lên xuống hàng ngày, hàng tuần. Sau mỗi lần giảm, giá lại được khội phục lại và đạt đến một mức cao hơn, nên xét về dài hạn, giá vận động theo chiều đi lên. Khi thị trường là thị trường lên giá (thị trường con bò).

    Ngược lại, ở xu thế thứ hai (xu thế giá xuống) giá cổ phiếu không thể khôi phục lại được sau mỗi lần rớt giá, nếu có thì giá cũng chỉ nhích lên một chút, không thể khôi phục lại được sau mỗi lần rớt giá, nếu có thì giá cũng chỉ nhích lên một chút,

    14

    không thể đạt được mức ban đầu, rồi sau đó lại rơi xuống mức thấp hơn. Trong trường hợp này, người ta nói thị trường đang xuống giá (thị trường con gấu). Nếu đồng chí là người đầu tư dài hạn, điều quan trọng là phải xác định được điểm đầu và điểm kết thúc của xu thế. Chẳng hạn, trường hơp lý tưởng có thể mua được cổ phiếu

    • mức thấp nhất, và năm giữ cổ phiếu đó cho đến khi đạt mức cao nhất – tức là thừoi điểm trước khi xu thế bị đảo chiều – thì bán. Tuy nhiên, đây không phải là một việc dễ dàng và rất khó thực hiện được trong thực tế. Muốn làm được điều này phải có một sự trải nghiệm lâu năm trên thị trường. Thông thường, chỉ có thể mua bán cổ phiếu ở những thời điểm gần với thời điểm lý tưởng đó và khi khoảng chênh lệch giữa điểm thực hiện với lý thuyết càng nhỏ thì thành công của bạn càng lớn. Hiện nay, hầu hết các nhà đầu tư trên thị trường chưa mấy quan tâm tới những xu thế này của chỉ số giá mà chỉ hướng tới mục tiêu kiếm lời từ chênh lệch giá phát sinh do những biến động giá ngắn hạn.

    2. Tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Đối với Việt Nam, ngay từ giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, chúng ta đã nhận thức sâu sắc vai trò của nguồn tài chính trong nước và nhu cầu phát triển một thị trường chứng khoán hiệu quả. Trong khi đó, thị trường chứng khoán nếu không có sự hỗ trợ bên ngoài, tự thân nó cần phải có nhiều điều kiện kinh tế, xã hội và luật pháp đầy đủ mà Việt Nam chưa thể đáp ứng trong giai đoạn này. Vì vậy, để đạt được mục tiêu hình thành và phát triển thị trường chứng khoán, Nhà nước tạo ra những tiền đề cần thiết, những đảm bảo pháp lý cho thị trường chứng khoán được hình thành và phát triển. Thực tế trong thời gian qua cho thấy, Nhà nước đã làm “bà đỡ” cho thị trường chứng khoán với rất nhiều góc độ và biện pháp khác nhau: tạo điều kiện hàng hoá cho thị trường, tạo điều kiện hình thành cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán, tạo cơ hội cho người đầu tư và nhà kinh doanh… Với những nội dung cơ bản như vậy, chỉ Nhà nước với khả năng tài chính dồi dào, quyền lực duy nhất cùng với hệ thống pháp luật đã cho ra đời sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam chưa phải là nền kinh tế thị trường phát triển hoàn chỉnh.

    15

    Xuất phát từ vai trò Nhà nước xã hội chủ nghĩa, từ đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà nước có vị trí, vai trò rất quan trọng, mặc dù có những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau trong giai đoạn hiện nay. Đối với thị trường chứng khoán, nguyên tắc thực hiện sự can thiệp của Nhà nước cũng được thể hiện rất rõ ràng tại các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp thị trường. Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996 đã cho ra đời một cơ quan quản lý chức năng riệng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Văn bản này xác định rõ mô hình, vị trí, chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về chức khoán. Có thể nhận xét rằng mô hình cơ quan quản lý chứng khoán mang tính chuyên nghiệp đã phản ánh sự tham gia trực tiếp của Nhà nước vào thị trường với tư cách là nhà quản lý vĩ mô. Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996, Nghị định sóo 90/2003/NĐ-CP ngày 12-8-2003 cũng ghi nhận nhiệm vụ chủ yếu của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là quản lý và điều hành thị trường chứng khoán Việt Nam, thực hiện các hành vi quản lý phù hợp với yêu cầu thị trường. Mô hình cơ quan quản lý về thị trường chứng khoán của Nhà nước ta cũng là mô hình được đánh giá có nhiều ưu điểm nhất hiện nay, đảm bảo cho hiệu quả quản lý thị trường.

    Xác định tính sở hữu nhà nước đối với Trung tâm Giao dịch chứng khoán. Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 ghi nhận vấn đề này. Để chính thức cho ra đời thị trường chứng khoán tập trung của Việt Nam, Nhà nước đã thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán. Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của Thủ tướng chính phủ đã thành lập Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà nội và Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chặng đường đầy khó khăn, cần có sự can thiệp, tiếp sức trực tiếp của Nhà nước. Về các chủ thể tham gia kinh doanh chứng khoán, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 cũng xác định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước vào ngay quá trình tạo cung cầu chứng khoán cho thị trường. Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về điều kiện phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng ghi nhận khả năng tạo cung chứng khoán của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá; Nghị định số 120/CP, Nghị định 01/2001/NĐ-CP ngày 03-01-2001 tạo điều kiện cho các loại trái phiếu của doanh nghiệp nhà nước,

    16

    trái phiếu chính phủ được phát hành và niêm yết trên thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước có khả năng tài chính dồi dào tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là những người kinh doanh trực tiếp bằng con đường thành lập các công ty kinh doanh trực tiếp bằng con đường thành lập các công ty chứng khoán theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn do tổ chức thành lập.

    Quy định những trường hợp Nhà nước cần thiết can thiệp vào thị trường, vào các giao dịch tại thị trường. Những hoạt động liên quan tới việc cho phép phát hành, cho phép hoạt động của các tổ chức tại thị trường tập trung đều được Nhà nước giám sát chặt chẽ thông qua cơ quan chức năng. Những giao dịch tại thị trường được Nhà nước quy định cụ thể và can thiệp khi có những biến động xấu trên thị trường. Những can thiệp của Nhà nước có thể thông qua hoạt động hành chính nhà nước, hoặc thông qua những giải pháp kinh tế nhằm ổn định thị trường.

    Cho dù nhiều văn bản pháp luật đã ban hành xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau (nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan) song nguyên tắc thực hiện sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường chứng khoán còn chưa được hiểu đầy đủ, đúng mức độ cần thiết. Nhà nước còn thực hiện sự can thiệp khá sâu, mang tính hành chính kinh tế vào hoạt động thị trường, có thể gây ra những phán ứng trái chiều từ thị trường.

    Nhà nước bảo đảm cơ sở thị trường vận hành động bộ cũng từng bước được triển khai thực hiện. Các nguyên tắc thị trường đã được luật hoá và được quy định cụ thể trong nhiều quy phạm pháp luật khác nhau.

    • Nguyên tắc công khai: Nghị định 48 cũng các văn bản hướng dẫn thi hành đều quy định rõ, chi tiết những nội dung các chủ thể có liên quan phải công bố thông tin ra công chúng chính thức. Chẳng hạn, quy định trình tự báo cáo thông tin liên quan đến đợt phát hành chứng khoán ra công chúng, nhằm cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho đông đảo người đầu tư và các đối tượng liên quan. Đây cũng là nét đặc trưng của yêu cầu của nguyên tắc công khai, cơ quan có thẩm quyền ban hành những văn bản riêng điều chỉnh chế độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Do yêu cầu của nguyên tắc công khai, cơ quan có thẩm quyền ban hành những

    17

    văn bản điều chỉnh chế độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tập trung. Ngay đối với điều kiện để được niêm yết và giao dịch chứng khoán cũng tuân thủ những tiêu chuẩn có độ công khai hoá cao.

    • Nguyên tắc trung gian: Phần lớn các giao dịch trên thị trường chứng khoán đều phải thực hiện qua khâu trung gian, nhằm hạn chế tối đa những tổn thương có thể gây ra cho khách hàng do hành vi lừa đảo. Nghị định 48 cũng đã quy định về thành viên thị trường tập trung theo đó, tất cả các nhà đầu tư không phải là công ty chứng khoán tự doanh đều phải thực hiện giao dịch của mình thông qua môi giới.
    • Nguyên tắc công bằng: Nghị định 48 có mục đích xuyên suốt đó là bảo đảm công bằng cho tất cả các đối tượng tham gia. Hệ thống ghép giá, đấu lệnh tự động cùng với các quy định về nguyên tắc đấu giá, đấu lệnh phản ánh nội dung điều chỉnh pháp luật nhằm hướng tới sự công bằng của các giao dịch tại thị trường chứng khoán. Mặc dù chưa đủ điều kiện thực hiện đấu lệnh liên tục, nhưng những quy định về nguyên tắc ưu tiên, nguyên tắc công bố trong đấu lệnh định kỳ tại thị trường chứng khoán tập trung là một trong những quy định bảo đảm có hiệu quả lợi ích của tất cả các chủ thể, đặc biệt là người mua và bán chứng khoán.

    Các nguyên tắc pháp lý vận hành thị trường có mối liên hệ khăng khít với nhau và không mâu thuẫn giữa chúng. Chẳng hạn, nội dung và yêu cầu của nguyên tắc ưu tiên không mâu thuẫn với nguyên tắc công khai, nguyên tắc trung gian lại là cơ sở để thực hiện nguyên tắc công bằng.

    Quy định những hành vi cấm thực hiện tại thị trường tập trung và sẵn sàng áp dụng chế tài khi có vi phạm để thực hiện răn đe. Với những hành vi có thể làm thương tổn tới thị trường, pháp luật cũng định liệu cụ thể những chế tài tương xứng. Nghị định số 22/2000/NĐ-CP ngày 10-7-200 đã quy định những chế tài cụ thể cho các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Đối với những hành vi vi phạm nghiêm trọng, cần thiết phải xử lý ở mức độ nghiêm trọng, cần thiết phải xử lý ở mức độ nghiêm khắc hơn cũng được ghi nhận tại Bộ luật hình sự năm 1999 như tội cố ý làm trái, tội tham ô, tội đầu cơ, tội lừa đảo…

    18

    Tuy vậy, do chưa có kinh nghiệm thực tiễn, do ta duy trong công tác quản lý của nền kinh tế tập trung còn chưa được loại trừ hoàn toàn, do đặc tính ngăn chặn lên quá yêu cầu vốn có của nó, các nguyên tắc vận hành thị trường còn mang tính cứng nhắc, nhiều hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu vận động thị trường.

    Về sở hữu đối với Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch

    chứng khoán

    Trung tâm Giao dịch chứng khoán của Việt Nam thuộc sở hữu của Nhà nước. Điều này hoàn toàn phù hợp bới điều kiện thực tế; đồng thời, đây cũng không phải là quy định cá biệt đối với thị trường chứng khoán trên thế giới. Tuỳ thuộc lịch sử phát triển thị trường và đặc điểm cụ thể của từng quốc gia mà Sở Giao dịch hoặc Trung Tâm Giao dịch có thể thuộc về những hình thức sở hữu cổ phần và hình thức sở hữu nhà nước. Đối với Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, việc quy định Trung Tâm Giao dịch chứng khoán thuộc về sở hữu nhà nước vừa phản ánh nét chung cuả các nước cùng có thay đổi trong quản lý kinh tế, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Với hình thức sở hữu này Chính phủ có khả năng ngăn ngừa những lộn xộn, không công bằng khi hình thức sở hữu thành viên chưa được bảo vệ bằng một hệ thống pháp luật, đầy đủ và rõ ràng. Mặt khác, bản thân thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời là kết quả hộ trợ tích cực từ Chính phủ và đặc điểm về sở hữu đã thể hiện điều đó.

    Về mô hình tổ chức thị trường chứng khoán tập trung

    Trung tâm Giao dịch chứng khoán là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, có tư cách pháp nhân. Việc lựa chọn mô hình trung tâm trong giai đoạn đầu, với quy mô nhỏ và vừa được coi là biện pháp rút ngắn thời gian chuẩn bị thị trường, đòi hỏi đá ứng yêu cầu bức xúc về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; mặt khác nó cũng mang tính “thử nghiệm” trước khi hình thành mô hình Sở Giao dịch hoàn chỉnh. Mặc dù với quy mô khiêm tốn, nhưng quan điểm của Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện để phát triển thị trường đúng hướng, không được phép

    đổ vỡ.

    19

    Khi trung tâm giao dịch phát triển, mô hình này sẽ được chuyển sang Sở Giao dịch chứng khoán. Chứng khoán được giao dịch tại Sở Giao dịch thường là chứng khoán của các nhà phát hành có quy mô lớn, đã qua thử thách thị trường, vì vậy, thực tế giá của các chứng khoán tại đây cao hơn nhiều so với chứng khoán tại các bộ phận thị trường khác.

    Về nhiệm vụ và chức năng hoạt động, mặc dù có hình thức tồn tại trong từng giai đoạn là khác nhau, nhưng thị trường tập trung được tổ chức dưới mô hình Trung tâm Giao dịch của Việt Nam, về cơ bản không khác với Sở giao dịch chứng khoán các quốc gia: có Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các bộ phận chức năng, Sở Giao dịch thuộc sở hữu thành viên hoặc sở hữu cổ phần ở các nước còn có thêm Đại hội cổ đông hoặc Đại hội thành viên.

    Mặc dù đang tồn tại thực tế dưới hình thức Trung tâm Giao dịch chứng khoán, nhưng ngay tại thời điểm này, mô hình tổ chức cũng như Hội đồng quản trị Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam đã được Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11-7-1998 quy định. Hội đồng quản trị Sở giao dịch gồm 9 thành viên đại diện cho Chính phủ, cho các công ty chứng khoán. Về số lượng thành viên có thể là khác nhau nhưng thành phần Hội đồng quản trị theo quy định cung tương đồng với Sở Giao dịch các nước như Sở Giao dịch Niu oóc, Sở giao dịch Tokyô, Hàn Quốc, Hồng Kông.. Nhiệm vụ quan trọng và chủ yếu của Hội đồng quản trị là giải quyết những vấn đề liên quan đến chứng khoán niêm yết, thành viên thị trường thông qua việc tuân thủ pháp luật, hoặc quy định giao dịch tại Sở, hoặc thông qua công tác kiểm tra, giám sát. Các bộ phận của Trung tâm Giao dịch chứng khoán cũng đầy đủ như Sở giao dịch nhưng ở mức độ đơn giản hơn.

    Về cơ chế điều chỉnh thành viên thị trường

    Nghị định 48 quy định thành viên thị trường tập trung là các công ty chứng khoán được Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép hoạt động môi giới và tự doanh, được Trung tâm Giao dịch chứng khoán chấp nhận. Với quy định này trước hết có thể thấy rằng, thể chế thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ cho phép thành viên là các pháp nhân, đối tượng là cá nhân không được tham gia với tư cách thành viên thị

    20

    trường. Nếu xét về sự đa dạng của một số thị trường (mà điển hình là thị trường Hoa Kỳ – thị trường cho phép sự tham gia của các cá nhân) thì thành viên thị trường tập trung của chúng ta hạn hẹp hơn rất nhiều. Điều này có thể được lý giải bởi nhiều nguyên nhân khác nhau: trình độ của các cá nhân, ý thức xã hội, yêu cầu an toàn cho thị trường, trách nhiệm của thành viên đối với thị trường và đối với khách hàng …

    • Việt Nam, thị trường còn mới, số loại chứng khoán được niêm yết còn khiêm tốn nên công ty chứng khoán chỉ cần đăng ký với Trung tâm giao dịch chứng khoán và được chấp nhận là thành viên. Các công ty chứng khoán cũng được quy định về quyền và nghĩa vụ tại thị trường như thực hiện hoạt động kinh doanh tại thị trường, sử dụng hệ thống giao dịch và các dịch vụ khác do thị trường cung cấp… trên cơ sở tuân thủ các quy định báo cáo tài chính và tình hình hoạt động, nộp các khoản phí cho thị trường…

    Về hoạt động thị trường

    Cũng như bất kỳ thị trường chứng khoán tập trung nào khác, Trung tâm giao dịch chứng khoán của Việt Nam thực hiện các hoạt động liên quan đến giao dịch chứng khoán. Nhiệm vụ mang tính đặc trưng của bất kỳ một thị trường chứng khoán tập trung nào là phải thực hiện hoạt động niêm yết, giao dịch và đăng ký chứng khoán. Chính nội dung này giúp cho bất kỳ người quan tâm nào cũng phân biệt thị trường tập trung với các loại thị trường khác. Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng không nằm ngoài đặc trưng đó và nó đã được pháp luật quy định cụ thể.

    Về niêm yết, chúng ta cho phép phát hành và niêm yết giao dịch chứng khoán. Trong giai đoạn đầu việc “gộp” hai nội dung trên thành một hoạt động nhiêm yết tại Việt Nam là cần thiết và phù hợp, bởi lẽ thị trường ban đầu còn ở quy mô nhỏ, sơ khai, số lượng chứng khoán được giao dịch còn khiêm tốn nên chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được diễn biến thị trường; mặt khác, quy định như vậy cũng tạo điều kiện cho nhà phát hành giảm bớt thủ tục, chi phí về thời gian và tiền bạc. Để niêm yết được chứng khoán, các doanh nghiệp cần phải có đủ điều kiện, trong đó điều kiện về bản sao giấy phép phát hành, kết quả chào chứng khoán, bản cáo bạch được coi là những điều kiện quan trọng. Để niêm yết chứng khoán cho tổ chức phát hành Trung

    21

    tâm (Sở) phải tiến hành các hoạt động cần thiết bảo đảm quyền cho nhà niêm yết cũng như quyền của nhà đầu tư: loại chứng khoán, giá niêm yết .. trong những trường hợp nhất định, chứng khoán cũng có thể bị huỷ bỏ niêm yết. Nếu như niêm yết chứng khoán là đặc trưng của thị trường tập trung, thì công bố thông tin là bộ mặt của thị trường đó, là yêu cầu bắt buộc. Công bố thông tin là việc Trung tâm giao dịch (Sở) công bố các thông tin về hoạt động giao dịch chứng khoán. Công bố thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu của các chủ thể liên quan và mục đích quan trọng là nhằm đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư thiểu số.

    Về quản lý nhà nước đối với thị trường thị trường chứng khoán

    Do sự cần thiết phải có thị trường chứng khoán hoàn chỉnh ở Việt Nam, ngày

    20-6-1995, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 361/TTg thành lập Ban chuẩn bị tổ chức thị trường chứng khoán để triển khai việc xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây chính là tổ chức tiền thân của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28-11-1996. Cùng với các văn bản pháp luật khác, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước ra đời thực hiện nhiệm vụ quản lý trực tiếp thị trường chứng khoán Việt Nam. Điều đó thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau:

    • Tính chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thực hiện chức năng tổ chức và quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Như vậy, mô hình cơ quan quản lý nhà nước thị trường chứng khoán Việt Nam là mô hình cơ quan quản lý độc lập mà không phải là cơ quan quản lý kiêm nhiệ Đây là mô hình đã được nhiều quốc gia, đặc biệt các quốc gia có thị trường chứng khoán mới nổi (như Việt Nam) lựa chọn. Trong sự so sánh với mô hình cơ quan quản lý nhà nước kiêm nhiệm thì đây là mô hình có nhiều lợi thế và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xét điều kiện cụ thể Việt Nam, việc hình thành cơ quan quản lý loại thị trường đặc biệt, chưa có trong lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam, đây lại là mô hình kinh tế rất phức tạp, nếu thực hiện hoạt động quản lý mang tính kiêm nhiệm, sự rủi ro sẽ là tiềm tàng xuất phát từ tính hạn chế (có thời điểm) kiến thức chuyên môn về chứng khoán,

    22

    sự phân tán về quyền lực và trách nhiệm của những người quản lý trực tiếp khó có thể bảo đảm tính thời hiệu và chính xác của các nội dung quản lý.

    • Vị trí pháp lý của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Uỷ ban chứng khoán Việt Nam là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có đủ điều kiện pháp lý và điều kiện vật chất để thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán.
    • Chức năng nhiệm vụ của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước. Uỷ ban Chứng khoán có chức năng tổ chức và quản lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Như vậy, toàn bộ nội dung hoạt động, các đối tượng liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán nằm trong phạm vi quản lý của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Quy định này phù hợp với mục đích thành lập cơ quan quản lý thị trường chứng khoán độc lập, tránh tình trạng “một cổ phải đeo nhiều tròng” đối với chủ thể tham gia thị trường đồng thời cũng thể hiện việc phân định chức năng giữa các cơ quan của Chính phủ.
    • Về nhiệm vụ, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước có nhiệm vụ quản lý toàn bộ hoạt động soạn thảo văn bản pháp luật, quản lý, kiểm tra, giám sát tất cả các đối tượng trên thị trường chứng khoán, hoạt động phát triển thị trường và công tác đào tạo. Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từ thực tế chưa có thị trường chứng khoán trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế, việc quy định cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nước những nhiệm vụ khác nhau như vậy, đã tạo điều kiện cho Nhà nước quản lý ngay từ ban đầu loại thị trường này.

    Đánh giá các mặt

    + Những kết quả đạt được + Tồn tại

    + Nguyên nhân của tồn tại

    Nếu so sánh thị trường nước ta với thị trường thế giới thì giống như so sánh chợ cóc và chợ nhớn của thành phố.

    23

    Người phương Tây còn gọi chứng khoán là động sản để phân biệt với bất động sản như nhà cửa, đất đai. Trên thị trường người có chứng khoán dễ dàng bán đi, thu về khoản tiền mặt tương ứng thời giá.

    Chứng khoán và bất động sản là hai hình thức đầu tư có quyền tồn tại ngang nhau và có sự liên hệ với nhau. Theo tên gọi, từng lĩnh vực đã mang trong mình nó những mặt ưu và nhược điểm. Đầu tư vào chứng khoán không nhất thiết đòi hỏi lượng vốn lớn ban đầu. Khái niệm động sản motọ phần mang ý nghĩa về tính năng động trong giao dịch, chuyển nhượng. Dù lỗ hay lãi, khi cổ đông tung chứng khoán ra thị trường dễ dàng thu về tiền mặt. Mặt trái của nó là sau khi cầm cổ phiếu trong tay, dù muốn hay không, người đầu tư phải thường xuyên, liên tục bám sát diễn biến thị trường, giá cả. Đa số phải lập sổ sách, tính lỗ lãi từng ngày. Lám khi nó mang lại niềm hân hoán nhưng cũng không ít dịp tạo nỗi lo triền miên.

    Thị trường bất động sản trái lại không thông báo giá cả từng ngày từng phút, như vậy tiết kiệm cho chủ nhân những cơn đâu đầu. Người có bất động sản tuy vậy không dễ dàng bán xong một sớm một chiều. Lượng vốn đầu tư ban đầu thường không nhỏ, lệ phí mua bán cao. Thị trường bất động sản cũng bị các chính sách nhà nước, nền chính trị thế giới và tâm lý con người khi tạo ra những bong bóng đầu cơ gây ảnh hưởng mạnh và trải những cơn biến động dữ dội. Dù phản đối hay ủng hộ cách đầu tư nhào thị trước khi đặt bước chân đầu tiên vào thị trường chứng khoán bạn cần có mái nhà che đầu. Nên mua căn hộ hoặc xây nhà riêng tuỳ theo vốn cá nhân, tạo sự an cư để lạc nghiệp. Đừng dùng cả nhà cửa đất đai đang có đầu tư vào chứng khoán. Về lâu dài để ai ưu tiên thị trường bất động sản là hoàn toàn phụ thuộc vào thiên hướng, sở trường mỗi người. Những người giàu có ở Đức hay giữ thế chân vạc: Bất động sản, chứng khoán và tiền mặt, không kể vàng bạc và tài sản khác. Vì vậy đã xuất hiện một phương ngôn mới khá dung dị: “Một mình tiên thôi không làm ta hạnh phúc. Muốn hạnh phúc phải có thêm chứng khoán và bất động sản”

     

    24


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp “Thuế GTGT và việc thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty TNHH Thương Mại – Vân tải – Du Lịch”

    Luận văn tốt nghiệp “Thuế GTGT và việc thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty TNHH Thương Mại – Vân tải – Du Lịch”

    Luận văn tốt nghiệp “Thuế GTGT và việc thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty TNHH Thương Mại – Vân tải – Du Lịch”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Tập Môn Thuế Phần Bài Tập


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-%E2%80%9CThu%E1%BA%BF-GTGT-v%C3%A0-vi%E1%BB%87c-th%E1%BB%B1c-hi%E1%BB%87n-Lu%E1%BA%ADt-thu%E1%BA%BF-GTGT-%E1%BB%9F-c%C3%B4ng-ty-TNHH-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i-%E2%80%93-V%C3%A2n-t%E1%BA%A3i-%E2%80%93-Du-L%E1%BB%8Bch%E2%80%9D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp “Thuế GTGT và việc thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty TNHH Thương Mại – Vân tải – Du Lịch”

    Luận văn tốt nghiệp

    LỜI NÓI ĐẦU

    Phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Để thúc đẩy quá trình phát triển kinhtế của đất nước, Việt Nam chúng ta cần phải có môi trường đầu tư thuận lợi và cơ chế chính sách sao cho phù hợp, rõ ràng và ổn định. Đáp ứng mục tiêu đó, Luật thuế giá trị gia tăng(GTGT) đã được quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế Doanh thu.Qua 7 năm thực hiện, Luật thuế GTGT về cơ bản đã phát huy được các mặt tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội, góp phần khuyến khích đầu tư, ổn định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ quản lý của ngành thuế…

    Trải qua thực tiễn áp dụng thuế GTGT cũng nảy sinh nhiều khó khăn vướng mắc cần giải quyết như : vấn đề hoá đơn, khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT, thuế suất thuế GTGT…Tuy đã được sửa đổi bổ sung và giải quyết được phần nào những vướng mắc trên song so với nhiệm vụ và yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay thì Luật thuế GTGT vẫn còn một số khiếm khuyết cần nghiên cứu giải quyết để Luật thuế GTGT ngày càng hoàn thiện và phù hợp với tình hình kinh tế nước ta.

    Nhận thức được tầm quan trọng của thuế GTGT, với vốn kiến thức đã được trang bị ở trường học cùng với quá trình tìm hiểu thực tế tại Công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch em đã chọn đề tài “Thuế GTGT và việc thực hiện Luật thuế GTGT ở công ty TNHH Thương Mại – Vân tải

    – Du Lịch” làm đề tài luận văn của mình.

    Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 phần :

    Phần 1 : Một số vấn đề chung về thuế và thuế GTGT.

    Phần 2 : Tình hình thực hiện Luật thuế GTGT tại công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch.

    Phần 3 : Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện việc thi hành Luật thuế GTGT tại công ty TNHH Thương Mại – Vận tải – Du Lịch.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    PHẦN 1

    KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ VÀ THUẾ GTGT

    I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ :

    1. Khái quát về Thuế :

    Thuế là một phạm trù kinh tế xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Sự xuất hiện của nhà nước đòi hỏi phải có cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nhà nước tồn tại và thực hiện chức năng của mình. Như vậy, thuế ra đời là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thuế không những là nguồn thu quan trọng chủ yếu của ngân sách nhà nước(NSNN) mà còn có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế.

    Do đó, thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước bằng các sắc lệnh do nhà nước quy định. Nó được thể hiện thông qua các luật và văn bản dưới luật được cơ quan quyền lực cao nhất ban hành mà mỗi công dân và các tổ chức kinh tế phải nộp vào ngân sách nhà nước. Khoản nộp thuế không mang tính hoà trả trực tiếp, một phần của số này được trả người dân dưới dang các trợ cấp xã hội, phúc lợi công cộng và các quĩ tiêu dùng xã hội khác.

    2. Khái niệm về Thuế :

    Thuế là một hình thức động viên cổ xưa nhất của Tài chính nhà nước, bất kỳ nhà nước nào khi xuất hiện thì sẽ xuất hiện thuế. Tuy nhiên, với mỗi nhà nước khác nhau thì bản chất của thuế lại phụ thuộc vào bản chất của nhà nước, đồng thời khi xuất hiện thuế thì sẽ xuất hiện mối quan hệ giữa nhà nước và người nộp thuế.

    Xét về góc độ nhà nước : Thuế là khoản thu của nhà nước, khoản thu mang tính bắt buộc không hoàn trả trực tiếp, được pháp luật qui định.

    Xét về góc độ ngưòi nộp thuế : Thuế là khoản đóng góp mang tính chất pháp luật cao nhất của nhà nước, buộc các tổ chức kinh tế và mọi người dân

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    phải nộp một phần thu nhập của mình vào NSNN để nhà nước đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước.

    Xét về về mặt nội dung vật chất : Thuế là một khoản tiền, hiện vật mà người dân và các tổ chức kinh tế có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước.

    Xét về thực chất : Thuế là một hình thức phân phối được Nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội vào NSNN.

    Tóm lại ta có thể hiểu : Thuế là một biện pháp động viên bắt buộc của Nhà nước đối với các thể nhân và pháp nhân buộc các thể nhân và pháp nhân trích một phần thu nhập do kinh doanh, do lao động, do đầu tư tài chính, do lưu trữ dịch chuyển tài sản mang lại nộp vào NSNN.

    3.Đặc điểm của Thuế :

    Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế và tính pháp lý cao.

    Thuế là tuy là biện pháp tài chính mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng của các vấn đề kinh tế – xã hội của người nộp thuế. Do đó, thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố thực về kinh tế, xã hội.

    Thuế là một khoan thu không mang tính hoàn trả trực tiếp. Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng đã đóng góp.

    1. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường : Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước.

    Thuế là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc

    quản lý và điều tiết vĩ mô, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Thuế góp phần thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giữa các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư.

    Nhà nước dùng thuế để thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của mình đối với đất nước. Thực hiện những mục tiêu đó cũng chính là thực hiện vai trò cơ bản của thuế.

    5.Chức năng của thuế :

    Thuế là một công cụ quan trọng để động viên một phần thu nhập quốc dân vào NSNN.

    Thuế là một công cụ để điều tiết kích thích sản xuất, điều chỉnh cung – cầu xã hội.

    Thuế là công cụ giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước – tập thể và người lao động.

    Nhà nước sử dụng thuế để kiểm tra và giám sát về mặt kinh tế đối với các hoạt động kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế.

    Thuế có tác dụng mở rộng kinh tế đối ngoại, đông thời bảo vệ lợi ích sản xuất trong nước.

    Thuế là công cụ sắc bén để điều hoà thu nhập quốc dân.

    6.Phân loại thuế :

    Thuế được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, nhưng thông thường căn cứ vào mối quan hệ giữa người chịu thuế và người nộp thuế, người ta phân thuế làm hai loại :

    Thuế gián thu : là loại thuế được cộng vào giá,là một bộ phận cấu thành nên giá cả hàng hoá như : thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu. Thực chất loại thuế này người nộp thuế theo luật chỉ là người nộp thay cho người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ hoặc tài sản do mình cung cấp, phần thuế đó được người tiêu dùng hoàn trả qua giá mua hàng hoặc dịch vụ tài sản của người cung cấp.

    Thuế trực thu : là loại thuế thu trực tiếp đánh vào thu nhập của các tổ chức kinh tế, cá nhân như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cao.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Khác với thuế gián thu, đối với thuế trực thu người chịu thuế đồng thời là người nộp thuế cho Nhà nước. Chính vì vậy thuế trực thu có nhiều ưu điểm và công bằng hơn,phù hợp với khả năng của từng đối tượng, thu nhập cao thì nộp thuế cao, thu nhập thấp thì nộp thuế ít.

    7. Các yếu tố cấu thành sắc thuế :

    Mỗi sắc thuế đòi hỏi có các đặc trưng riêng nhưng về cơ bản đều được cấu thành từ các yếu tố sau :

    Tên gọi của sắc thuế.

    Đối tượng chịu thuế, đối tượng thuộc diện không chịu thuế. Đối tượng nộp thuế.

    Căn cứ và phương pháp tính thuế. Thuế suất – mức thuế – biểu thuế.

    Đăng ký, kê khai – nộp thuế, quyết toán thuế. Miễn giảm thuế, hoàn thuế(nếu có).

    Trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, cơ quan quản ký thuế.

    II. THUẾ GTGT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

     

    :

     

    1. Sự ra đời và phát triển của thuế GTGT :

    Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu. Từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918), thuế doanh thu đã được nghiên cứu, áp dụng nhằm động viên sự đóng góp rộng rãi của toàn thể quần chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế doanh thu được áp dụng ở Pháp từ năm 1917, thời kỳ đầu thuế doanh thu chỉ đánh ở giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá với thuế suất thấp. Đầu năm 1920, thuế doanh thu được điều chỉnh đánh vào từng khâu của qúa trình sản xuất. Qua thực tế, cách đánh thuế này đã bộc lộ rõ nhược điểm là thuế tính chồng chéo, trùng lặp. Và để khắc phục nhược điểm này năm 1936, Pháp tiến hành cải tiến thuế doanh thu từ việc đánh thuế vào từng khâu sang đánh thuế 1 lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất. Việc này đã khắc phục được nhược điểm là đánh thuế

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    trùng lặp, nhưng lại làm cho việc thu thuế bị chậm trễ so với trước đây vì chỉ khi hàng hoá đi vào lưu thông thì Nhà nước mới thu được thuế. Qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung, tù ngày 01/01/1968 thuế GTGT được áp dụng chính thức đối với sản xuất, bán lẻ hàng hoá và cung ứng dịch vụ ở Pháp.

    • Việt Nam, thuế GTGT được áp dụng lần đầu tiên tại Miền Nam theo sắc thuế số 035 – TT/SLU ngày 12/12/1972. Ngày 05/07/1993 được chính phủ cho phép, Bộ Tài Chính đã có quyết định số 486TC/QĐ/TCT ban hành thuế GTGT để thực hiện thí điểm tại một số cơ sở kinh doanh : công ty dệt Hà Đông, công ty dệt kim Đông Xuân, nhà máy dệt Đông á…

    Tuy nhiên, việc thực hiện thí điểm đã không mang lại kết quả do hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong xã hội có mối quan hệ chạt chẽ với nhau, từ quá trình cung cấp nguyên vật liệu đến quá trình tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, thuế GTGT không thể thực hiện riêng rẽ ở một số khâu hay một số doanh nghiệp.

    Để góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế sao cho phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời để phù hợp với xu thế cải cách thuế ở các nước trên thế giới.Tại kỳ họp thứ11, Quốc hội khoá IX, từ ngày 02/04 đến ngày 10/05/1997 đã thông qua luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay thế cho luật thuế doanh thu. Qua năm 5 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã được Quốc hội khoa 11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2004.

    2.Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam :

    Mở đầu cho tiến trình cải cách thuế giai đoạn II, một trong 2 luật thuế được Nhà nước ban hành là Luật thuế GTGT thay cho Luật thuế Doanh thu trước đây là một bước tiến mới trong hệ thống thuế của nước ta. Việc ban hành và thực hiện thuế GTGT là cần thiết vì:

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Thuế GTGT có thể khắc phục được nhược điểm của thuế Doanh thu như trùng lặp, thuế thu trên thuế, nhiều mức thuế suất, chưa khuyến khích mạnh xuất khẩu và đầu tư công nghệ mới.

    Thuế GTGT được áp dụng không những đảm bảo được mức thu thuế ổn định cho NSNN mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, là cơ sở để tăng thu cho NSNN.

    Thuế GTGT thu cả đối với hàng hoá nhập khẩu tạo sự bình đẳng trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước có điều kiện phát huy lợi thế của mình.

    Khi áp dụng Luật thuế GTGT đã thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn việc hạch toán kế toán và thực hiện mua bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ, hạn chế việc thất thu thuế.

    Thuế GTGT đã góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống chính sách thuế

    • nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện để tham gia và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế-nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.

    III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ GTGT :

    1.Khái niệm thuế GTGT :

    GTGT là phần giá trị tăng thêm mới được tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng. Do đó, thuế GTGT là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào NSNN theo mức độ tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ.

    Xét về hình thức, thuế GTGT do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả cho người bán. Hay nói cách khác, thuế GTGT

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    là loại thuế gián thu đánh vào thu nhập của người tiêu dùng nhằm động viên một phần thu nhập thông qua sự đóng góp của người tiêu dùng.

    Xét về bản chất, người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng bao gồm cả tiêu dùng cho sản xuất.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    2.Đặc điểm của thuế GTGT :

    Thuế GTGT là một sắc thuế đánh vào tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nhưng thu đựoc ở khâu bán hàng, nó mang tính chất gián thu. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt được đâu là người tiêu dùng trung gian, đâu là người tiêu dùng cuối cùng. Vì thế, cứ có hành vi mua bán hàng hoá là phải tính thuế.

    Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao bởi nó không bị ảnh hưởng vào kết quả kinh doanh của người nộp thuế, mà chỉ là một khoản cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ.

    Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế. Nghĩa là, dù chu trình kinh tế có bị phân đoạn nhiều hay ít cũng không ảnh hưởng đến số thuế GTGT thu được.

    Thuế GTGT có khả năng đem lại số thu thường xuyên, ổn định cho NSNN. Điều này thể hiện tính chủ động của Nhà nước trong quan điểm đông viên vào ngân sách của mình cũng như điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

    3.Đối tượng chịu thuế GTGT:

    Theo qui định tại Điều 2 Luật thuế GTGT và Điều 2 Nghị định số 158/2003/NĐ/CP của Chính phủ thì “Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam(bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài)trừ các đối tượng không chịu thuế ”.

    4.Đối tượng không chịu thuế GTGT :

    Theo qui định tại Điều 4 Luật thuế GTGT, Điều 4 nghị định số 158/2003/NĐ-CP của Chính phủ, các hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT gồm 28 nhóm hàng(Xem phụ lục số 1).

    Cơ sở sản xuất kinh doanh không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT qui định tại điều này mà phải tính vào giá trị hàng hoá, dịch vụ, nguyên giá tài sản cố định hoặc chi phí kinh doanh.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    5.Đối tượng nộp thuế GTGT :

    Theo qui định tại Điều 3 Luật thuế GTGT và Điều 3 Nghị định số 158/2003/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT thì “Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biẹt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh(gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT từ nước ngoài(gọi chung là người nhập khẩu) đều là đối tượng nộp thuế”.

    6.Căn cứ tính thuế GTGT :

    Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.

    6.1. Giá tính thuế GTGT :

    Được qui định tại Điều 7 Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 ngày 10/05/1997 và Điều 6 Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003.

    Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp, giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thể được ghi trên hoá đơn bán hàng của người bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc người nhập khẩu. Giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ được xác định cụ thể như sau :

    Đối với hàng hoá do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hoá chịu thuế tiêu thu đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT.

    Đối với hàng hóa nhập khẩu, là giá nhập tại cửa khẩu cộng(+) với thuế nhập khẩu(nếu có) cộng(+) thuế tiêu thụ đặc biệt(nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu làm căn cứ tính thuế GTGT được xác định theo các qui định về giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu.

    Nếu hàng hoá nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế là giá hàng hoá nhập khẩu cộng(+) với thuế nhập khẩu theo mức thuế đã được miễn giảm.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Đối với dịch vụ do phía nước ngoài cung ứng cho các đối tuợng tiêu dùng ở Việt Nam, giá tính thuế là gía dịch vụ phải thanh toán cho phía nước ngoài.

    Đối với hàng hoá,dịch vụ dùng để trao đổi, biếu tặng (trừ sản phẩm hàng hoá dùng để khuyến mại, quảng cáo), tiêu dùng nội bộ(không phục vụ cho sản xuất kinh doanh hoặc sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT) thì phải tính thuế GTGT đầu ra, giá tính thuế được xác định theo giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điêmt phát sinh các hoạt động này.

    Đối với hoạt động cho thuê tài sản như : nhà xưởng, kho tàng, bến bãi…Giá để tính thuế là giá cho thuê chưa có thuế. Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thì thuế GTGT tính trên số tiền thu từng kỳ hoặc thu trước.

    Đối với trường hợp thuê giàn khoan, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài (loại trong nước chưa sản xuất được) để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê giá thuê phải trả cho nước ngoài.

    Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, giá tính thuế là giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó(không bao gồm lãi trả góp), không tính theo số tiền trả góp từng kỳ.

    Đối với gia công hàng hoá, giá tính thuế là giá gia công chưa có thuế (bao gồm tiền công, tiền nhiên liệu, vật liệu phụ và chi phí khác để gia công).

    Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá xây dựng, lắp đặt chưa có thuế GTGT của công trình, hạng mục công trình.

    Đối với hoạt động đầu tư xây nhà để bán, xây dựng cơ sở hạ tầng để chuyển nhượng của các đơn vị được Nhà nước giao đất, giá tính thuế là giá bán nhà, cơ sở hạ tầng gắn với đất trừ(-) tiền sử dụng đất phải nộp NSNN.

    Đối với các hoạt động đại lý, môi giới mua, bán hàng hoá, dịch vụ hưởng hoa hồng thì giá chưa có thuế làm căn cứ tính thuế là tiền hoa hồng thu từ các hoạt động này.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Đối với hàng hoá, dịch vụ có tính đặc thù được dùng chứng từ thanh toán như: tem bưu chính, vé cước vận tải, vé sổ số kiến thiết…ghi giá thanh toán là giá đã có thuế, còn giá chưa có thuế được xác định như sau :

    Giá chưa có Giá thanh toán(tiền bán vé, bán tem)trên chứng từ
      =  
       
    thuế GTGT 1+Thuế suất thuếGTGT của hàng hoá, dịch vụ đó.

    Đối với dịch vụ đại lý tàu biển, dịch vụ môi giới, uỷ thác xuất nhập khẩu và dịch vụ khác hưởng tiền công hoặc hoa hồng, giá tính thuế là tiền công hoặc hoa hồng được hưởng chưa có thuế.Đối với hoạt động vận tải, bốc xếp thì giá tính thuế là giá cước vận chuyển, bốc xếp chưa có thuế . Đối với hoạt động vận tải quốc tế thì doanh thu vận tải quốc tế không chịu thuế.

    Đối với dịch vụ du lịch lữ hành, hợp đồng ký với khách hàng theo giá trọn gói thì giá trọn gói là đã có thuế GTGT. Trường hợp giá trọn gói bao gồm cả các khoản không chịu thuế(ăn ở tham quan, lệ phí sân bay…) thì các khoản này được giảm trừ trong giá tính thuế.

    Đối với dịch vụ cầm đồ, giá tính thuế là tiền thu từ hoạt động này, bao gồm tiền lãi phải thu từ cho vay, cầm đồ và chênh lêch thu được từ bán hàng cầm đồ(bằng doanh thu bán hàng phát mại trừ(-) số tiền cho vay, trừ(-) số tiền phải trả khách hàng(nếu có)).

    Đối với dịch vụ in, giá tính thuế không bao gồm tiền giấy in.Nếu cơ sỏ in thực hiện hợp đồng in, giá thanh toán bao gồm cả tiền công in và giấy in thì giá tính thuế bao gồm cả tiền giấy.

    Đối với sách báo, tạp chí bán theo đúng giá phát hành(giá bìa) theo qui định của Luật Xuất bản thì giá đó là giá tính thuế, còn nếu không bán theo giá bìa thì giá bán ra là giá tính thuế.

    6.2Thuế suất :

    Có 3 mức thuế suất : 0%, 5%, 10% được sử dụng đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất-kinh doanh trong nước hoặc nhập khẩu(xem phụ lục 2). Việc qui định các mức thuế suất khác nhau nhằm thể hiện chính sách

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ khác nhau. Trong điều kiện hiện nay, khi mặt bằng kinh doanh của các ngành nghề chưa đồng nhất, thì việc phân biệt các mức thuế suất là cần thiết.

    Mức thuế suất 0% : áp dụng đồi với hàng hoá xuất khẩu, kể cả hàng hoá gia công xuất khẩu.

    Mức thuế suât 5% : áp dụng đối với các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cần khuyến khích, hoặc sản xuất-kinh doanh còn đang gặp khó khăn(39 nhóm sản phẩm, dịch vụ)(xem phụ lục 2).

    Mức thuế suất 10% : là mức thuế suất phổ biến, áp dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ thông thường còn lại ngoài những hàng hoá, dịch vụ đã chịu thuế suất 0%, 5%(27 nhóm sản phẩm, dịch vụ)(xem phụ lục 2).

    7.Phương pháp tính thuế :

    Cơ sở nộp thuế GTGT theo một trong hai phương pháp : phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp trực tiếp :

    7.1 Phương pháp khấu trừ :

    a/ Đối tượng áp dụng : Là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác đã thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách kế toán và hoá đơn chứng từ theo qui định, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp trực tiếp.

    b/ Xác định thuế GTGT phải nộp :

    Số thuế GTGT     =            Thuế GTGT – Thuế GTGT đầu vào

    phải nộp                        đầu ra                               được khấu trừ

    Trong đó

    • Thuế GTGT đầu ra (=)giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế(*)thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó.

    Cơ sở kinh doanh tính thuế theo phương pháp khấu trừ, khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT hàng hoá, dịch vụ bán ra. Khi lập

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ phải ghi rõ giá bán chưa xó thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán.

    Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn chứng từ.

    • Thuế GTGT đầu vào (=)tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ(bao gồm cả TSCĐ) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoa, dịch vụ nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài Chính.

    Nếu hàng hoá, dịch vụ mua vào được dùng chứng từ đặc thù ghi gia thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở có thể căn cứ vào giá trên để xác định giá chưa có thuế GTGT được khấu trừ.

    c/ Xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ :

    Thuế GTGT của hàng hoá, dịchvụ mua vào dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ.

    Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng đồng thời để sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuê thì chỉ khấu trừ số thuế đầu vào tương ứng của hàng hoá, dịch vụ dung cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, còn số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ sẽ tính vào chi phí của hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT.

    Hàng hoá mua vào bị tổn thất do thiên tai, hoả hoạn hoặc do mất, xác định trách nhiệm do cá nhân hoặc tổ chức phải bồi thường thì thuế GTGT đầu vào của số hàng hoá, dịch vụ này được tính vào giá trị của hàng hoá tổn thất hoặc phải bồi thường không được tính vào thuế GTGT đầu vào để khấu trừ khi kê khai thuế GTGT phải nộp.

    Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt hàng hoá, dịch vụ đó đã xuất dùng hay còn trong

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    kho. Trường hợp không kê khai kịp trong tháng thì được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau nhưng tối đa không quá 3 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát sinh.

    Đối với tài sản cố định(TSCĐ) mua vào sử dụng riêng cho sản xuất-kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT, thì thuế GTGT của TSCĐ được tính ngay vào nguyên giá của TSCĐ. Còn đối với TSCĐ mua vào sử dụng cho sản xuất-kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì thuế đầu vào của TSCĐ được khấu trừ như đối với hàng hoá, vật tư khác.

    Trường hợp không hạch toán riêng được thì được khấu trừ theo tỷ lệ % doanh số của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số bán ra trong kỳ.

    Thuế GTGT = Doanh số hàng hoá chịu thuế x Thuế GTGT
             
    đ.vào khấu trừ   Tổng doanh số bán ra trong kỳ đ.vàophải nộp
             

    7.2 Phương pháp trực tiếp :

    a/ Đối tượng áp dụng :

    Cá nhân sản xuất kinh doanh là người Việt Nam

    Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ.

    Cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ.

    b/ Phương pháp tính thuế GTGT :

    Thuế GTGT    =    GTGT của hàng    x            Thuế suất của hàng

    phải nộp                         hoá chịu thuế                           hoá, dịch vụ đó.

    Trong đó :

    GTGT của hàng hoá, = D.Số của hàng –  Giá vốn của hàng hoá,

    dịch vụ chịu thuế            hoá, dịch vụ bán ra                    dịch vụ bán ra

    +/ Doanh số của hàng hoa, dịch vụ bán ra là giá bán thực tế bên mua phải thanh toán cho bên bán, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên mua phải trả.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    +/ Giá vốn của hàng hoá, dịch vụ bán ra được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ(giá mua bao gồm cả thuế GTGT) mà cơ sở sản xuất, kinh doanh đã dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra trong kỳ.

    c/GTGT đối với một số trường hợp và ngành nghề kinh doanh :

    Đối với hoạt động sản xuất , kinh doanh bán hàng thì GTGT là chênh lệch giữa doanh số bán ra với doanh số mua vào dùng cho sản xuất kinh doanh.

    Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán riêng được doanh số hàng hoá, vật tư mua vào tương ứng với doanh số bán ra thì :

    Giá vốn hàng = Trị giá tồn    +    Trị giá mua      – Trị giá tồn

    hoá bán ra                    đầu kỳ                              trong kỳ                   cuối kỳ

    Đối với kinh doanh ngoại tệ giá trị gia tăng của hoạt động này xác định như sau :

    GTGT = Doanh số bán ra trong kỳ – Doanh số mua vào tuơng ứng

    Trong đó :

    D.Số mua vào tương ứng = số ngoại tệ đã bán x tỷ giá mua vào t/tế. Ngoài ra, trong luật thuế GTGT còn qui định việc đăng ký, kê khai, nộp

    thuế, quyết toán thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế (nếu có).

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    PHẦN 2 :TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GTGT CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI – VẬN TẢI – DU LỊCH

    I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI – VẬN TẢI – DU LỊCH:

    1.Đặc điểm của công ty :

    Tên công ty : Công ty TNHH Thương mại – Vận tải – Du lịch

    Tên giao dịch: Tourism – Transport – Trading Company Limited

    Địa chỉ: 257B Trung liệt – Đống Đa – Hà Nội

    MST   :                           0101107609

    Hình thức sở hũư vốn : huy động từ 2 thành viên trở lên.

    Ngành nghề kinh doanh :   Kinh doanh máy điều hoà không khí Cung cấp đồ gia dụng

    Cung cấp thiết bị văn phòng, nội thất 2. Lịch sử hình thành công ty :

    Công ty TNHH Thương mại – Vận tải – Du lịch được thành lập ngày 26/02/2001 theo giấy phép đăng kí kinh doanh số 010200204 do UBND thành phố Hà Nội cấp.

    Công ty hoạt động với số vốn là 1.000.000.000 đồng do :

    • Ông Mai thanh Phương góp 900.000.000 đồng.
    • Ông Lê Nam Hải góp 50.000.000 đồng.
    • Ông Trần Hoàng Hải góp 50.000.000 đồng

    Công ty được tách ra từ xí nghiệp cơ điện lạnh trực thuộc công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Quảng Ninh(Seaprodex Quảng Ninh). Công ty hạch toán kinh doanh độc lập có tài khoản tại ngân hàng và có con dấu riêng.

    Lĩnh vực kinh doanh của công ty là chuyên thi công các hệ thống lạnh công nghiệp dùng cho các dây chuyền đông lạnh lớn, các hầm lạnh chuyên dùng cho các tàu đánh bắt lớn, hệ thống lạnh dân dụng cho các nhà hàng, khách sạn lớn…

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    II.ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ, BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY:

    1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty :

    Bộ phận lãnh đạo của công ty đứng đầu là Hội đồng thành viên, Hội đồng thành viên của công ty gồm tất cả thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty . Hội đồng thành viên bầu 1 thành viên làm chủ tịch và chủ tịch hội đồng thành viên có thể kiêm luôn Giám đốc công ty.

    Sơ đồ tổ chức :

    Hội       đồng       thành

    viên

    Giám đốc

    PGĐ.Kinh doanh   PGĐ.Tài chính       PGĐ.Kĩ thuật
            (Kế toán trưởng)        
                   
                   
                       
                       
                      P.kĩ thuật, bảo hành
    P.Kinh doanh              
        P.Kế toán          
                       
                         
                         
            Đại Lý
    Kho hàng   Showroom
         
        43C Hai Bà Trưng    
         
             

    Giám đốc công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và là người đại diện trước pháp luật. Giám đốc là người tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của công ty.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Phó giám đốc kinh doanh : là người được giám đốc uỷ quyền chịu trách nhiệm trong lĩnh vực quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

    Phó giám đốc Tài chính(Kế toán trưởng) : Là người chịu trách nhiệm trước giám đốc về tổ chức điều hành toàn bộ công tác tài chính của công ty theo đúng qui định của pháp luật.

    Phó giám đốc kĩ thuật : là người được giám đốc uỷ quyền chịu trách nhiệm về mặt kĩ thuật của sản phẩm của công ty.Và là nơi tiếp nhận các yêu cầu kĩ thuật chung đã được thống nhất từ ban giám đốc sau đó được chuyển tới các bộ phận.

    Phòng kinh doanh : là nơi chịu trách nhiệm về việc xác định chiến lược và phương án kinh doanh, triển khai các phương án kinh doanh đã được duyệt.

    Phòng kế toán : là nơi tham mưu giúp giám đốc trong công tác quản lý công ty và thực hiện công tác tổ chức tài chính – kế toán nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn, tài sản của công ty, thực hiện thu nộp ngân sách nhà nước theo chế độ do nhà nước quy định.

    Bên cạnh đó công ty còn có các phòng ban khác như kho hàng, các đại lý, các Showroom, xưởng bảo hành…

    Ngoài các chức vụ chủ chốt kể trên công ty còn có đội ngũ công nhân viên làm việc tại các của hàng.Với khoảng 33 nhân viên vào năm 2004 (và đã tăng lên là 38 vào năm 2005) đã phục vụ cho công việc kinh doanh của công ty ngày càng phát triển hơn.

    2.Tổ chức bộ máy kế toán của công ty :

    Bộ máy kế toán của công ty có nhiệm vụ thực hiện và kiểm tra toàn bộ công tác kế toán của công ty. Để phù hợp với hoạt động kinh doanh và đáp ứng yêu cầu quản lý , công ty áp dụng hình thức kế toán tập trung tại phòng Kế toán – tài vụ của công ty. Theo hình thức này công ty chỉ mở một bộ sổ kế toán, phòng kế toán của công ty thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu thập, ghi sổ đến xử lý thông tin kế toán.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của công ty:

    PGĐ Tài chính

    (Kế toán trưởng)

        KT   KT       Thủ
    KT KT
    công   tiền   tiền   hàng   quĩ
    nợ,   mặt,   lương   tồn    
    thanh   TGNH       kho    
    toán                
                   
                   
                   
                     

    Đứng đầu bộ máy kế toán là kế toán trưởng(kiêm kế toán tổng hợp). Là người chịu trách nhiệm trước ban giám đốc công ty về toàn bộ hoạt động tài chính trong công ty và chỉ đạo trực tiếp các nhân viên kế toán trong phòng kế toán.

    Kế toán công nợ, thanh toán là người lập các phiếu thu, phiếu chi theo yêu cầu công việc, bảo quản, lưu trữ các kỳ phiếu này khi kết thúc quy trình lưu chuyển.

    Kế toán tiền mặt, TGNH ; Theo dõi thu chi tiền mặt, TGNH, việc mở L/C tại các ngân hàng, theo dõi thanh toán các chứng từ nước ngoài.

    Kế toán tiền lương : là người hàng tháng thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, công nhân viên trong công ty.

    Kế toán hàng tồn kho : Là người thường xuyên theo dõi, xem xét số lượng hàng hoá đầu kỳ, cuối kỳ trong kho của doanh nghiệp.

    Thủ quĩ : có nhiệm vụ quản lý thu chi tiền mặt khi có lệnh.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    3. Đặc điểm công tác kế toán của công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch :

    Công ty áp dụng niên độ kế toán:bắt đầu từ 01/01 và kết thúc 31/12. Hình thức sổ kế toán : chứng từ ghi sổ.

    Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên

     

    Phương pháp khấu hao TSCĐ : Khấu hao theo đường thẳng

     

    Hàng ngày, từ những chứng từ gốc ban đầu kế toán vào các sổ nhật ký chuyên dùng như : Nhật ký bán hàng, Nhật ký mua hàng…. và sổ chi tiết các tài khoản liên quan. Cuối kỳ kế toán, kế toán trưởng của công ty sẽ tập hợp số liệu vào số cái và các phiếu kế toán sau đó lập bảng cân đối kế toán và báo cáo tài chính.

    Ngoài những báo cáo tài chính bắt buộc phải lập cuối mỗi kỳ kế toán, công ty còn sử dụng một số báo cáo phục vụ công tác quản trị nội bộ như : Báo cáo theo dõi tình hình quản lý công nợ, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh…..

    Công ty tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Bên cạnh đó công ty còn phải thực hiện các loại thuế, phí và lệ phí khác, như : thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhà đất…

    III.TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GTGT CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI – VẬN TẢI – DU LỊCH :

    1.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty :

    Công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại. Mặc dù phải chịu ảnh hưởng rất lớn từ các điều kiện của nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt của những doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực nhứng công ty đã và đang từng bước tự khẳng định được mình trong lĩnh vực kinh doanh đồ điện gia dụng.

    Qua số liệu trên biểu1 ta thấy các chỉ tiêu nhìn chung là tăng qua các năm.Doanh thu thuần năm 2005 đạt 6.533 triệu đồng tăng 3% so với năm 2004, giá vốn hàng bán đạt 5.848 triệu đồng tăng 8% so với năm 2004, điều

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    XUẤT KINH DOANH

    Luận văn tốt nghiệp

    này đã lý giải tại sao lợi nhuận của công ty năm 2005 tăng 8% so với năm 2004.

    Sự tăng Sosánh Tỷlệ (%) 3% 8% 9% 12%       8% 8%    
    trưởng          
                               
    thấp                              
    như                              
                                 
    vậy                          
    do năm                          
    2005                              
    công ty                          
    đã bỏ                          
    vốn                              
    kinh                              

    doanh

    ra

    nhiều

    hơn năm 2004 để chuẩn bị cho việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh vào năm 2006 sắp tới.

    đồng
    : 1000

    v Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

    Đơn

     

    Luận văn tốt nghiệp

      ố tuyệt đối (+/ ) 195.497 433.703 83.974 1.676 0 (506.300) 0 1.170 842    
      S                        
                               
    Năm 2005   6.533.183 5.847.759 993.280 16.000 0 0 0 16.000 11.520   (65)
                             
    Năm 2004   6.337.686 5.414.056 909.306 14.324 0 506.300 0 14.830 10.678 (85) 52
                             
    Chỉ tiêu   Doanh thu thuần Giá vốn hàng bán Chi phí quản lý kinh doanh Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Chi phí hoạt động tài chính Lãi khác Lỗ khác Tổng lợi nhuận trước thuế Lợi nhuận sau thuế Tổng thuế nộp vào NSNN Trong đó thuế GTGT phải nộp
                               

    Về tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, công ty nộp ngân sách nhà nước là 83 triệu đồng tăng 2% so với năm 2004, trong đó thuế GTGT là – 65triệu đồng.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Qua việc xem xét các chỉ tiêu tài chính của công ty qua 2 năm gần đây ta thấy rằng : Công ty đã đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình cho dù hiệu quả đó không cao lắm. Đó là những cố gắng của toàn công ty trong việc khắc phục khó khăn của mình trên con đường đi tìm chỗ đứng của mình trên thị trường.Chính vì thế công ty cần phải có những kế hoạch phát triển cần thiết hơn để hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm sáp tới thu được kết quả kinh doanh cao hơn.

    2. Tình hình kê khai và nộp thuế GTGT tại công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch :

    Công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, việc dăng ký nộp thuế được công ty đăng ký tại chi cục thuế quận Đống Đa. Hàng tháng, công ty đã thực hiện kê khai thuế và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế theo đúng qui định của pháp luật.

    Số thuế GTGT    =    Thuế GTGT –    Thuế GTGT đầu vào

    phải nộp                       đầu ra                              được khấu trừ

    Trong đó :

    • Thuế GTGT đầu ra (=)giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế(*)thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó.
    • Thuế GTGT đầu vào (=)tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu.

    Để hiểu rõ hơn về tình hình thực hiện luật thuế GTGT tại công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch ta hãy xem bảng 2

    2.1 Doanh thu làm căn cứ tính thuế GTGT đầu ra của công ty : Doanh thu hàng hoá, dịch vụ bán ra thuộc đối tượng chịu thuế GTGT

    năm 2005 đạt 6.533 triệu đồng, tăng 3% so với năm 2004. Doanh thu năm

    2005 tăng lên là do:

    Doanh số của hàng hoá, dịch vụ thuế suất 5% năm 2005 là 110 triệu đồng chiếm tỷ trọng nhỏ và giảm từ 1,92% năm 2004 xuống còn 1,69% so với

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    năm 2004(1,92%).Doanh thu của hàng hoá,dịch vụ chịu mức thuế suất 5% bao gồm một số mặt hàng chủ yếu như:máy hút ẩm,máy hút bụi ….

    Doanh số của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 10% gồm các loại hàng hoá, dịch vụ: điều hoà, tủ lạnh, lò vi sang,…Năm 2005, hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 10% tăng hơn năm 2004.Nếu năm 2004 doanh thu đạt 621triệu đồng thì năm 2005 là 642triệu đồng tăng 3% so với năm 2004.

    Như vậy, doanh thu hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 10% vẫn chiếm chủ yếu và có tỷ trọng cao.Theo qui định của Luật thuế GTGT, mọi cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh phải kê khai đúng và đầy đủ doanh thu chưa thuế và thuế GTGT theo tong mức thuế suất trong tờ khai thuế hàng tháng để làm căn cứ tính toán thuế GTGT phải nộp(theo mẫu số 11/GTGT). Việc kê khai không chính xác sẽ ảnh hưởng đến việc kê khai thuế và số thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước cũng như bất lợi trong việc khấu trừ thuế cho doanh nghiệp mua.

    Tuy nhiên trong thực tế, số doanh thu chịu thuế nói trên chưa phản ánh đúng doanh thu thực tế phát sinh tại công ty vào năm tài chính nên đã ảnh hưởng tới số thuế phải nộp và việc nộp thuế của công ty.

    Theo số liệu trong tờ kê khai thuế GTGT thì doanh thu hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 5% năm 2005 là 110 triệu đồng, chưa có 10 triệu đồng do công ty bỏ sót hoá đơn GTGT có ký hiệu HH/2005B số 0022914 không kê khai vào báo cáo.

    Doanh thu của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 10%, bỏ sót 120 triệu đồng của hoá đơn GB/2005B số 0012515 của công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Nam Long thanh toán tiền hàngchưa hạch toán vào doanh thu để tính thuế GTGT đầu ra.

    Nếu kê khai đầy đủ thì doanh thu chịu thuế năm 2005 là :

    6.533 + 10 + 120 = 6.663 triệu đồng.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Lê Th ị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04
        BIỂU 2 : TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GTGT TẠI CÔNG TY      
                    Đơn vị : 1000 đồng    
                             
            Năm 2004     Năm 2005   S/sánh 05/04
          DThu Thuế Tỷ Tỷ DThu Thuế Tỷ Tỷ Chênh Tỷ
    Chỉ tiêu     chưa thuế GTGT trọng trọng chưa thuế GTGT trọng trọng lệch lệ
            D.Thu GTGT     D.Thu GTGT GTGT GTG
                 
                          (+/-) T
    HHDV bán ra   6.337.686 627.664 100 100 6.533.183 647.797 100 100 20.133 3
                           
    Thuế suất 5%   122.171 6.108 1,9 0,98 110.268 5.500 1,7 0,85 (608) (10)
                           
    Thuế suất 10%   6.225.515 621.556 98,1 99,02 6.422.913 642.297 98,3 99,15 20.741 3
                             
    HHDV được   6.005.622 575.241     7.060.052 712.768     137.52 24
                           
    GTGT phải nộp     52       (65)       25
    theo số phát sinh                      
    GTGT kỳ trước     (85)       (33)        
    chuyển sang                      
    GTGT  đã nộp             58        
    cuối năm                        
    GTGT  cuối  kỳ     (33)       (40)        
    còn phải nộp                        
    Luận văn tốt nghiệp

    Luận văn tốt nghiệp

    2.2 Thuế GTGT đầu ra phải nộp :

    Theo số liệu quyết toán thuế, số thuế GTGT đầu ra phải nộp năm 2005 là 648 triệu đồng tăng 3% so với năm 2004, trong đó :

    – Thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theo mức thuế suất 5%

    Năm 2004 đạt 6,1 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,98% trong tổng số thuế GTGT đầu ra phải nộp. Năm 2005 số thuế GTGT đầu ra phải nộp theo mức thuế suất 5% là 5,5 triệu đồng chiếm tỷ trọng 0,85% trong tổng số thuế GTGT đầu ra và giảm 11% so với năm 2004.

    Nhưng theo phần 2.1 đã trình bày do bỏ sot doanh thu chưa hạch toán vào doanh thu để tính thuế GTGT đầu ra, nên số thuế GTGT đầu ra phải nộp theo mức thuế suất 5% phải nộp thêm là :

    10 * 5% = 0,5 triệu đồng

    Như vậy, số thuế GTGT đầu ra phải nộp theo mức thuế suất 5% được xác định lại là :

    5,5 + 0,5 = 6triệu đồng tăng 9% so với số kê khai của công ty. – Thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theo mức thuế suất 10%

    Năm 2005 thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theo mức thuế suất 10% là

    • triệu đồng tăng 3% so với năm 2004, chiếm tỷ trọng cao 99,15% tăng chút ít so với năm 2004 trong tổng số thuế GTGT đầu ra.

    Và cũng như đã trình bày ở phần 2.1, do bỏ sót doanh thu (120 triệu đồng)chưa hạch toán vào doanh thu để tính thuế GTGT đầu ra theo mức thuế suất 10%, nên số thuế GTGT đầu ra phải nộp theo mức thuế suất 10% tăng lên là:

    120 * 10% = 12 triệu đồng

    Vậy, số thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theo mức thuế suất 10% được xác định là : 642 + 12 = 654 triệu đồng tăng 1,8% so với số thuế GTGT đầu ra mà công ty đã kê khai.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Như vậy, số thuế GTGT đầu ra phải nộp năm 2005 theo cả hai mức thuế suất được tính lại là : 6 + 654 = 660 triệu đồng, tăng 2,8% so với số thuế GTGT đầu ra mà công ty đã kê khai.

    2.3. Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ :

    Do công ty là một doanh nghiệp thương mại nên việc phát sinh thuế GTGT đầu vào thường xảy ra khi công ty mua hàng hoá phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của công ty, mua hàng hoá: điều hoà, tủ lạnh, máy hút bụi… các sản phẩm để kinh doanh. Bên cạnh đó công ty còn phải thanh toán các hoá đơn dịch vụ mua ngoài khác như : thanh toán tiền điện thoại, tiền điện, tiền cước vận chuyển….

    Hầu hết các sản phẩm mua vào của công ty được sử dụng cho mục đích kinh doanh đều là các mặt hàng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên các hàng hoá mua vào đều được kê khai khấu trừ thuế. Để đảm bảo thực hiện đúng qui định, tuân thủ chế độ, chính sách và đảm bảo lợi ích doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước doanh nghiệp đã sử dụng các chứng từ : hoá đơn GTGT (do người bán xuất cho công ty khi công ty mua hàng), phiếu nhập hàng hoá khi hàng hoá về nhập kho công ty, phiếu chi tiền mặt, giấy báo nợ(có) của ngân hàng …

    Năm 2005, doanh số của hàng hoá chịu thuế GTGT được khấu trừ thuế là 7.060 triệu đồng, tăng 18% so với năm 2004. thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là 713 triệu đồng, tăng 24% so với năm 2004, nhưng không tách riêng được thuế GTGT đầu vào được khấu trừ theo từng mức thuế suất khác nhau.

    Qua kiểm tra hoá đơn phát sinh của doanh nghiệp ta thấy:

    Tháng 05/05, công ty mua hàng của công ty Re Gia Nguyễn, nhưng bỏ sót hoá đơn GTGT số34606 ký hiệuRN/2005N với số tiền 40triệu đồng

    Như vậy, thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là :

    40 * 5% = 2 triệu đồng

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Tuy nhiên, đến tháng 10/05 công ty mới nhận được hoá đơn mua hàng ghi số tiền trên do nhân viên của công ty đã bỏ sót mất hoá đơn. Theo hướng dẫn về thuế GTGT tại thông tư 120/2003 của Bộ Tài Chính thì trong vòng 3 tháng các hoá đơn mua vào sẽ được tổng hợp theo bảng kê mẫu số 03/GTGT để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Do đã quá thời hạn 3 tháng công ty mới phát hiện ra hoá đơn còn bỏ sót chưa kê khai nộp tiền nên công ty đã tự đánh mất quyền khấu trừ thuế. Do đó, trị giá vốn của lô hàng được hạch toán theo giá đã có thuế, hoá đơn mua vào không còn giá trị để hạch toán thuế GTGT được khấu trừ, chỉ còn giá trị làm căn cứ pháp lý để hạch toán giá vốn hàng mua vào. Vì vậy, công ty phải nộp oan số tiền thuế nói trên thay cho người mua hàng.

    Vậy, số tiền thuế GTGT đầu vào được khấu trừ năm 2005 được xác định lại là :

    +713 + 2 = 715 triệu đồng.

    2.4 Thuế GTGT phải nộp :

    Số thuế GTGT    =    Thuế GTGT –    Thuế GTGT đầu vào

    phải nộp                       đầu ra                              được khấu trừ

    Theo báo cáo quyết toán thuế GTGT của công ty thì số thuế GTGT phải nộp theo số phát sinh năm 2005 là -65 triệu đồng, trong đó thuế GTGT đầu ra là 648 triệu đồng, thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là 713 triệu đồng. Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ lớn hơn thuế GTGT đầu ra phải nộp là do công ty khi tính thuế đầu vào được khấu trừ cho cả hàng hoá còn năm trong kho trong khi đó khi tính thuế GTGT đầu ra lại tính đối với hàng hoá đã được thanh toán.

    Nhưng theo như đã phân tích ở trên do xác định lại doanh thu tính thuế GTGT đầu ra và đầu vào nên số thuế GTGT thực tế phải nộp theo số phát sinh năm 2005 chỉ là: -55 triệu đồng chứ không phải là -65triệu đồng như công ty đã quyết toán. Như vậy giảm 11triệu so số quyết toán của công ty.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    PHẦN III : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TÍNH THUẾ GTGT TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI – VẬN TẢI – DU LỊCH

    1.Một số tồn tại trong công tác quản lý thuế của công ty:

    Do Luật thuế GTGT còn mới nên trong quá trình thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, chưa nắm chắc được luật. Vì vậy trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty vẫn còn có hiện tượng vi phạm luật thuế.

    Trong tổng số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, công ty không mở sổ theo dõi chi tiết thuế GTGT đầu vào được khấu trừ theo từng mức thuế suất 5% và 105 nên việc bỏ sót thuế, kê khai khống hoá đơn, chem. kê khai hoặc bị thất thoát thuế(do không được khấu trừ) là điều khó tránh được.

    Vì doanh nghiệp là doanh nghiệp thương mại với hoạt động bán hàng là chủ yếu nên doanh nghiệp thường xuyên phải áp dụng các hình thức chiết khấu để thu hút khách hàng. Tuy nhiên, trên hoá đơn bán hàng hay hoá đơn GTGT hiện nay của doanh nghiệp chỉ ghi rõ tổng giá thanh toán mà không ghi rõ phần chiết khấu thương mại người mua được hưởng. Như vậy, việc ghi thiếu đã không phản ánh được hết nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

    Một hoạt động khác của doanh nghiệp là hoạt động nhận uỷ thác xuất, nhập khẩu. Theo qui định của Tổng Cục thuế, các đơn vị ngoài việc lập hoá đơn GTGT thu phí uỷ thác còn phải lập hoá đơn GTGT khi giao hàng cho cơ sở uỷ thác (đối với trường hợp nhận uỷ thác nhập khẩu). Như vậy, hoạt động này doanh nghiệp phải sử dụng đến hai loại hoá đơn khác nhau nên sẽ gây khó khăn cho việc kiểm tra sai phạm của các cơ quan có chức năng.

    2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện phương pháp tính thuế gtgt:

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Nhằm khắc phục những tồn tại trên, từng bước hoàn thiện công tác kê khai, tính thuế và quyết toán thuế, em xin đưa ra một số kiến nghị sau:

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    1.Đối với doanh nghiệp :

    1.1 Công ty cần phải tự năng cao hiểu biết về Luật thuế GTGT cho nhân viên, đặc biệt là nhân viên phòng kế toán của công ty mình.

    1.2 Công ty cần mở sổ kế toán theo dõi chi tiết thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào được khấu trừ theo từng mức thuế suất 5% và 10% để tránh tình trạng bị thất thoát thuế và tạo điều kiện cho cơ quan thuế kiểm tra số thuế phải nộp theo mẫu số 01/GTGT :

    Hoá đơn, chứng từ             Thuế GTGT được  
    mua                 khấu trừ    
          Tên   Số Đơn Tổng       Ghi
    Số Ngày,       Số
    hiệu hoá tháng người số Mặt lượng giá giá 5% 10% thuế chú
    hoá đơn năm bán thuế hàng     thanh     được  
    đơn   phát   người       toán     khấu  
        sinh   bán             trừ  
                             
                             
                             

    1.3 Trong hoạt động bán hàng của doanh nghiệp, để phản ánh được việc chiết khấu thương mại thì khi tiến hành giao dịch mua bán nhân viên bán hàng của công ty cần thể hiện được nội dung đó trên hoá đơn bán hàng. Thể hiện nội dung đó bằng cách, bổ sung dòng “Trừ chiết khấu thương mại” dưới dòng cộng tiền hàng và trước dòng tính thuế GTGT. Việc ghi như vậy giúp công ty giảm được số lượng chứng từ phải nộp và phản ánh được đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

    1.4 Đối với hàng nhận uỷ thác xuất, nhập khẩu, để vừa đảm bảo phản ánh đúng nội dung nghiệp vụ kinh tế vừa có thể giảm bớt số hoá đơn phải ghi, nhân viên bán hàng của doanh nghiệp nên bổ sung thên váo hoá đơn bán hàng”Phiếu xuất kho hàng nhận uỷ thác”, trên đó phải phản ánh được các nội dung sau :

    Giá trị hàng nhận uỷ thác

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    Phí uỷ thác

    Số tiền nhận đặt trước Số tiền thừa trả lại

    Số tiền thiếu còn phải thu

    Hoá đơn này do doanh nghiệp lập khi trả lại hàng cho bên giao uỷ thác.

    Kế toán căn cứ vào hoá đơn này để lập phiếu thu, chi tiền mặt.

    Ngoài ra, do doanh nghiệp là doanh nghiệp thương mại nên việc giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại cũng thường xuyên phát sinh. Chính vì thế, các hoá đơn trên cũng được xếp vào hệ thống chứng từ bắt buộc để phản ánh mối quan hệ giữa các pháp nhân độc lập.

    2. Để hạn chế những gian lận thuế có thể xảy ra, theo em về phía nhà nước cũng cần phải tiến hành một số biện pháp sau :

    Để đảm bảo không xảy ra hiện tượng ghi giá trong hoá đơn thấp hơn giá bán thực tế, Nhà nước nên qui định các doanh nghiệp thương mại bán hàng có giá trị lớn cần niêm yết bảng giá công khai với khách hàng, cuối kỳ, khi nộp thuế, cần nộp kèm bảng giá và ghi rõ tong thời điểm biến động giá. Như vậy, doanh nghiệp sẽ không thể ghi giá thấp rồi bán giá cao, điều này sẽ làm doanh nghiệp mất uy tín với khách hàng hoặc ghi giá cao rồi bán với giá thấp, gây ra sụt giảm doanh thu tạo điều kiện gian lận thuế GTGT đầu vào đối với người mua.

    1. Cơ quan thuế cần tăng cường kiểm tra việc kê khai tính thuế hàng tháng, việc ghi chép sổ sách kế toán và việc sử dụng hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá. Các trường hợp vi phạm, không chấp hành đầy đủ các qui định trên thì kiên quyết xử lý theo luật đị

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

    Luận văn tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Trong giai đoạn hiện nay, thuế GTGT và công tác kế toán thuế GTGT đang là vấn đề rất được quan tâm ở nước ta. Đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, việc xây dựng một chế độ kế toán phù hợp với thông lệ quốc tế là rất cần thiết.Thuế GTGT đã có những tác động tích cực đối với hoạt động kinh doanh của các công ty nói riêng và nhiều mặt của đời sống xã hội nói chung. Việc đưa ra phương pháp tính thuế GTGT đúng đắn là vô cùng quan trọng, nó đảm bảo lợi ích cho các đối tượng nộp thuế và giúp các công ty thuận tiện trong việc theo dõi được việc thanh toán với Ngân sách Nhà nước cũng như các đối tượng quan tâm khác.

    Từ khi thuế GTGT được ban hành đã giúp cho việc đăng ký kê khai và thanh toán thuế của các công ty có nhiều thuận lợi hơn. Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần sớm khắc phục.

    Trong phạm vi của bài luận văn này, em đã nêu và phân tích những nội dung chủ yếu về tình hình thực hiện thuế GTGT tại công ty TNHH Thương Mại – Vận Tải – Du Lịch để trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp giúp cho việc thực hiện luật thuế của công ty được tôt hơn.

    Do còn nhiều hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên bài luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, em mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài thêm phong phú và có cơ hội trau dồi kiến thức cho bản thân.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các anh chị tại công ty TNHH Thương mại – Vận tải – Du lịch và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của T.S Trần Trọng Khoái đã giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp của mình.

    Lê Thị Quỳnh Hoa – MSV: 2002A824 – Lớp 7A04

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Ngân sách nhà nước

    Tiểu luận Ngân sách nhà nước

    Tiểu luận Ngân sách nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận tình huống quản lý nhà nước: Không đăng ký khai sinh hậu quả và trách nhiệm thuộc về ai


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Ngân sách nhà nước

    Chuyên đề 6: Bản chất của ngân sách nhà nước? Phân tích vai trò của ngân sách nhà nước trong việc điều tiết vi mô nền kinh tế.

    1.     Ngân sách nhà nước.

    v Khái niệm:

    Theo luật Ngân sách Nhà nước, Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

    Ngân sách nhà nước gồm hai hoạt động là thu và chi ngân sách.

    v Hoạt động thu ngân sách nhà nước:

    • Khái niệm:

     Về mặt bản chất, thu ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình.

    • Nội dung thu ngân sách nhà nước:
      • Thu thuế

    Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.

    • Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước.

    –    Thu lợi tức từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế.

    –   Tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các cơ sở kinh tế cũng là một nguồn thu của ngân sách nhà nước trong điều kiện của cơ chế kinh tế thị trường. Khoản thu này phản ánh sự hoạt động kinh tế đa dạng của nhà nước và biểu hiện dưới nhiều hình thức phong phú như sau:

    +   Thu từ bán tài sản của nhà nước đã cho các chủ thể trong xã hội thuê trước đây.

    +   Thu từ sử dụng vốn thuộc nguồn của ngân sách nhà nước.

    +   Thu từ bán lại các cơ sở kinh tế của nhà nước cho các thành phần kinh tế.

    +   Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên.

    • Thu lệ phí và phí.

    Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn thu của ngân sách nhà nước, song vẫn được huy động và khai thác nguồn thu đưa vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước.

    Lệ phí là khoản thu bắt buộc với các pháp nhân và thể nhân nhằm một mặt vừa bù đắp cho chi phí hoạt động hành chính mà nhà nước cấp cho các pháp nhân và thể nhân đồng thời vừa mang tính chất là khoản động viên, sự đóng góp cho NSNN. VD: lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, lệ phí công chứng,…

    Phí là khoản thu mang tính bù đắp một phần chi thường xuyên và bất thường về các dịch vụ công cộng hoặc bù đắp chi phí cho các hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phục vụ cho người nộp phí.

    • Vay nợ của chính phủ.

    –    Vay nợ  trong nước: gồm cả vay của tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội trong nước được thực hiện dưới hình thức phát hành các công cụ nợ của chính phủ (ngắn hạn, trung và dài hạn) như các tín phiếu kho bạc Nhà nước, trái phiếu chính phủ.

    –    Vay ngoài nước: thực hiện thông qua các khoản viện trợ có hoàn lại (một phần quan trọng  trong nguồn vốn ODA), vay nợ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và các công ty.

    v Hoạt động chi ngân sách nhà nước.

    • Khái niệm:

    Chi ngân sách Nhà nước thể hiện các quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội mà Nhà nước đảm nhận.

    • Nội dung chi ngân sách:
      • Chi thường xuyên.

    Các khoản chi thường xuyên mang tính chất là các khoản chi tiêu dùng xã hội, nhằm đảm bảo cho bộ máy nhà nước tồn tại và hoạt động, bao gồm các khoản chi cơ bản sau:

    –    Chi sự nghiệp.

    +   Chi sự nghiệp kinh tế, bao gồm các khoản: chi về sự nghiệp giao thông, sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp lâm nghiệp,…Chi về tiền lương và phụ cấp cho viên chức, chi cho phúc lợi tập thể; chi cho nguyên nhiên vật liệu dùng trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế,…

    +   Chi cho sự nghiệp văn hóa xã hội bao gồm: chi về khoa học công nghệ; chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo; chi cho sự nghiệp y tế; chi cho sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao; chi cho sự nghiệp xã hội.

    –    Chi quản lý nhà nước: Đây là các khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương.

    –    Chi cho quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.

    • Chi đầu tư phát triển: Khoản chi này mang tính chất tích lũy, có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng năng suất xã hội và góp phần làmcho kinh tế tăng trưởng.

    Chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi cơ bản sau:

    +   Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội.

    +   Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước.

    +   Chi góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp.

    +   Chi dự trữ Nhà nước.

    • Chi trả nợ gốc tiền do chính phủ vay.

    –    Trả nợ trong nước.

    –    Trả nợ nước ngoài.

    2. Bản chất của ngân sách nhà nước.

    • Về mặt pháp lí: bản chất ngân sách nhà nước là dự trù các khoản thu, chi của nhà nước trong 1 năm.

    Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước. Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của Ngân sách Nhà nước.

    • Về mặt kinh tế: bản chất ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối các nguồn tài chính quốc gia.

    Hoạt động của Ngân sách Nhà nước biểu hiện đa dạng dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Các khoản thu chi này được tổng hợp trong một bảng dự toán thu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốc dân được sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của Ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội.

    • Về tính chất xã hội: bản chất của ngân sách nhà nước là công cụ kinh tế của Nhà nước.

    Trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể trong xã hội. Những quan hệ tài chính này bao gồm:

    –   Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp: Các quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình hình thành nguồn thu của Ngân sách dưới hình thức các loại thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Đồng thời, Ngân sách chi hổ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng, hổ trợ vốn…

    –   Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các đơn vị hành chính sự nghiệp: Quan hệ này phát sinh trong qúa trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc Ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước. Đồng thời, trong cơ chế kinh tế thị trường các đơn vị có hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn thu này một phần các đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách, một phần trang trải các khoản chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách.

    –   Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư: Quan hệ này được thể hiện qua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước bằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí. Một bộ phận dân cư khác nhận từ ngân sách nhà nước các khoản trợ cấp theo chính sách qui định.

    –   Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính: Quan hệ này phát sinh khi nhà nước tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán của kho bạc nhà nước nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội để đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của ngân sách nhà nước.

    Như vậy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của Ngân sách nhà nước là một quỹ tiền tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó thì Ngân sách nhà nước lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối. Từ sự phân tích trên cho thấy: Ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

    3.  Phân tích vai trò Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

    Vai trò này được thể hiện trên 3 khía cạnh sau:

    • Kích thích tăng trưởng kinh tế.

    –   Ngân sách nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng như: cầu đường, bến cảng, sân bay, hệ thống thông tin liên lạc,… đầu tư cho các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn.

    Ở Việt nam trong những năm gần đây Nhà nước đã đầu tư nâng cấp đường xá, xây dựng cầu cống như: cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu,…để kích thích đầu tư từ các công ty nước bạn. Nhà nước đầu tư vào các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn là ngành nông nghiệp mà đặc biệt đó là cây lúa nước, do nước ta có thời tiết, khí hậu thuận lợi cho việc trồng cây lúa nước và có vùng đồng bằng rất phù sa, màu mỡ và rộng lớn thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây lúa nước. Vì đây là ngành đem lại sự phát triển nền kinh tế của nước ta. Bên cạnh còn có ngành thủy hải sản.

    –   Hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp trong trường hợp cần thiết đảm bảo cho sự ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới hợp lí hơn.

    –   Tùy theo tình hình kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp. Như nước ta hiện nay Nhà nước đang từng bước chuyển dịch cơ cấu từ nền kinh tế Nông – Lâm – Ngư sang nền kinh tế công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ, và phấn đấu đến năm 2010 nước ta trở thành nước công nghiệp hóa hiện đại hóa.

    –   Hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để giúp cho các doanh nghiệp mở rộng qui mô sản xuất góp phần làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng và phát triển.

    –   Thuế cũng góp phần định hướng phát triển sản xuất. Việc đặt ra các loại thuế suất ưu đãi, các quy định miễn giảm thuế,… có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết, ngược lại một chính sách thuế khắc khe sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh.

    VD: Ở Việt nam muốn phát triển sản xuất ngành mũi nhọn của mình thì Nhà nước phải áp dụng các chính sách như: giảm thuế, không thu thuế GTGT để kích thích xuất khẩu,… còn đối với những mặc hàng Nhà nước hạn chế sản xuất định hướng tiết kiệm cho người dân như: rượu, bia, thuốc lá,xe hơi, dịch vụ Karaoke, …thì nhà nước đánh thuế rất cao.

    –   Tranh thủ các nguồn vay trong và ngoài nước để tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế nhằm thỏa mãn cho nhu cầu đầu tư phát triển.

    Ở Việt nam cũng có phát hành trái phiếu chính phủ để hỗ trợ cho các cơ quan như: trường học, y tế,…

    • Điều tiết thị trường giá cả và chống lạm phát.

    Hai yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối mạnh sự hoạt động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động đến giá cả, làm cho giá cả tăng hoặc giảm đột biến gây ra biến động trên thị trường. Để đảm bảo lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng Nhà nước sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường thông qua các khoản chi của Ngân sách Nhà nước dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hóa và dự trữ tài chính.

    VD: Trong những năm gần đây trên thế giới giá xăng dầu tăng cao nhưng Nhà nước Việt nam đã trợ giá không cho giá xăng dầu tăng giá để giảm bớt lạm phát vì nếu tăng giá thì giá của các loại hàng hóa cũng sẽ tăng gây ra lạm phát và ảnh hưởng đến đời sống của người dân, trợ giá cho nông nghiệp: khi giá gạo giảm làm cho người dân không yên tâm sản xuất nên Nhà nước đã hỗ trợ giá bằng cách yêu cầu các doanh nghiệp thu mua lúa ở mức giá mà người dân không bị thiệt để họ yên tâm trong sản xuất.

    Trong quá trình điều chỉnh thị trường NSNN còn tác động đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó thực hiện giảm lạm phát, kiểm soát lạm phát.

    –  Khi có lạm phát: Nhà nước rút tiền vào Ngân hàng bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngân hàng.

    –  Để chống lạm phát Nhà nước áp dụng các biện pháp: giải quyết cân đối NSNN, khai thác các nguồn vốn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia trên thị trường vốn với tư cách là người mua và bán chứng khoán.

    • Điều tiết thu nhập dân cư để góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    Trong xã hội nào cũng có sự phân chia giàu nghèo, Nhà nước cần phải có chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. Ngân sách Nhà nước là một công cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập của dân cư trên phạm vi toàn xã hội ở cả hai mặt thu và chi bằng việc áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chi phúc lợi công cộng, chi trợ cấp với bộ phận dân cư nằm trong diện thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước.

    Ở nước ta hiện nay Nhà nước khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp bằng cách cho vay, hỗ trợ vốn, giảm thuế,…Nhưng có thu nhập cao thì người dân phải nộp thuế thu nhập và phí lệ phí cho Nhà nước. Nhà nước dùng tiền đó đầu tư vào chính sách xã hội như: về giáo dục: hiện nay nước ta đã hòan thành phổ cập giáo dục cấp II, trợ cấp cho những gia đình thuộc diện chính sách…

     

    Chuyên đề 7: Thâm hụt ngân sách là gì? Trình bày nguyên nhân và những giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước. Giải pháp nào được xem là hiệu quả đối với Việt Nam hiện nay?

    1.     Khái niệm thâm hụt ngân sách.

    Thâm hụt ngân sách hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu “không mang tính hoàn trả” của ngân sách nhà nước.

    Thâm hụt ngân sách được phân thành 2 loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.

    – Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng…

    – Thâm hụt chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân.VD: khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.

    2.  Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.

    Dựa vào 2 loại thâm hụt trên có thể rút ra 2 nguyên nhân cơ bản gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước:

    – Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của nhà nước. Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức thâm hụt ngân sách nhà nước. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của nhà nước thì mức thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt. Mức thâm hụt do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra gọi là thâm hụt cơ cấu.

    – Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế của xã hội. Điều đó làm cho mức thâm hụt ngân sách tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức thâm hụt ngân sách nhà nước. Mức thâm hụt do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là thâm hụt chu kỳ.

    3.  Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách tới nền kinh tế.

    Thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế nếu không có biện pháp xử lý đúng đắn. Nguyên nhân phổ biến gây ra thâm hụt ngân sách ở hầu hết các nước trên thế giới, từ những nước chưa phát triển cho đến những nước có nền kinh tế phát triển, đó là nhu cầu chi tiêu và thực tế nhà nước không thể cắt giảm mà ngày càng tăng lên, trong khi đó việc tăng thu ngân sách bằng công cụ thuế sẽ dẫn đến sự phản hồi từ phía dân cư và các tổ chức kinh tế – xã hội. Và hậu quả là kìm hãm tốc độ tích lũy vốn cho sản xuất, hạn chế tiêu dùng dẫn đến khả năng suy thoái nền kinh tế cao. Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo thì thâm hụt ngân sách không thể tránh khỏi. Bởi tình trạng thu nhập bình quân đầu người quá thấp không cho phép chính phủ tăng tỷ lệ đông viên từ GDP vào ngân sách nhà nước, trong khi đó nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên, nhất là khi nhà nước thực hiện chương trình đầu tư nhằm cải thiện cơ cấu kinh tế và hướng dẫn sự tăng trưởng.

    Thực tế cho thấy, thâm hụt ngân sách không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn tới lạm phát, gây tác hại xấu đối với nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông sẽ dẫn đến bùng nổ lạm phát.

    Thâm hụt ngân sách không phải là hoàn toàn tiêu cực. Nếu thâm hụt ở một mức độ nhất định (dưới 5% so với tổng chi ngân sách trong năm) thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển. Vì thế ở những nước có nền kinh tế phát triển cao nhà nước vẫn chỉ cố gắng thu hẹp thâm hụt ngân sách chứ không loại trừ nó hoàn toàn. Nhưng cho dù thâm hụt ngân sách ở mức độ nào thì mọi chính phủ đều phải có biện pháp để kiểm soát và xử lý thâm hụt ngân sách.

    4.  Giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước.

    • Tăng thu giảm chi.

    Đây là biện pháp cơ bản nhất mà chính phủ thường dùng để giảm thâm hụt ngân sách. Bằng quyền lực và nghĩa vụ của mình chính phủ tính toán để tăng các khoản thu và cắt giảm chi tiêu .

    Tăng thu và giảm chi là biện pháp cổ tryền nhưng không phải bao giờ cũng thực hiện thành công được bởi vì ở đây xảy ra  hai nghịch lí khó giải quyết .Một là: trong bối cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP chưa lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng  ở khu vực tư nhân bị hạn chế, tức giảm động lực phát triển kinh tế. Hai là: khả năng giảm chi cũng có giới hạn nhất định, nếu giảm chi vượt quá giới hạn thì cũng ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển xã hội.

    Chính vì thế vấn đề đặt ra là chính phủ  phải tính toán phí tăng thu và giảm chi như thế nào để  gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế.

    • Tăng thu.

    Công tác thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo mức động viên vào ngân sách nhà nước hợp lý tăng nhanh tỉ trọng nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước tập trung thực hiện thu đúng, đủ, kịp thời theo các luật thuế nhằm động viên hợp lý, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quan trọng phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế chủ động ứng phó với các tác động của thị trường giá cả trong và ngoài nước; đồng thời đẩy mạnh thực hiện cải cách các thủ tục hành chính, hải quan và mở rộng cơ chế tự khai tự nộp tăng trách nhiệm người nộp thuế và cơ quan thu; tăng cường kiểm tra chống thất thu, nợ đọng tạo môi trường thuận lợi bình đẳng trong  mọi doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Có cơ chế khuyến khích các cấp tăng thu được hưởng hợp lý kết quả tăng thu so với nhiệm vụ nhà nước giao theo quy định pháp luật. Kiên quyết hơn trong việc kiểm soát nguồn thu từ thuế, có biện pháp kiểm soát hiệu quả thì sẽ góp phần tăng thu ngân sách nhà nước.

    Cần phải cải thiện các nguồn thu ngân sách tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều. Tiến hành cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản. Điều chỉnh tăng mức thuế xuất, thuế nhập đối với các hàng hóa tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu, điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hàng thiết thực phục vụ sản xuất để góp phần bình ổn giá điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với hang hóa là tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản…

    • Giảm chi.

    Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước. Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi sảy ra thâm hụt ngân sách và xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chi đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản thu đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của nhưng cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.

    • Biện pháp vay nợ.
    • Vay nợ trong nước.

    Vay trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu. Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội và ngân hàng. Ở Việt Nam chính phủ thường ủy nhiệm cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình.

    – Ưu điểm: Đây là biện pháp cho phép chính phủ có thể giảm thâm hụt ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế. Vì vậy, biện pháp này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát.

    – Nhược điểm: Việc khắc phục thâm hụt ngân sách bằng nợ tuy không gây ra lạm phát trước mắt nhưng nó lại có thể làm tăng áp lực lạm phát trong tương lai nếu như tỷ lệ nợ trong GDP liên tục tăng. Thứ nữa, viêc vay từ dân trực tiếp sẽ làm giảm khả năng khu vực tư nhân trong việc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước.

    Đặc biệt, ở những nước trải qua giai đoạn lạm phát cao (như nước ta hiện nay), giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng, làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn. Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu. Tuy nhiên, nếu việc làm này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau.

    • Vay nợ nước ngoài.

    Chính phủ có thể giảm thâm hụt ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như ngân hàng thế giới(WB), Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế …

    Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.

    Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng …

     –  Ưu điểm: Nó là một biện pháp giảm thâm hụt ngân sách hữu hiệu, có thể bù đắp được các khoản thâm hụt mà lại không gây sức ép lạm pháp cho nền kinh tế. Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

     –   Nhược điểm: Nó sẽ khiến chi gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu cho chính phủ. Đồng thời, nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài. Thậm chí, nhiều khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều.

    • Sử dụng dự trữ ngoại tệ:

    Quỹ dự trữ ngọai tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc gia hoặc một lãnh thổ nắm giữ dưới dạng ngoại tệ nhằm thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ đồng tiền quốc gia.

    Chính phủ có thể sử dụng việc giảm dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách.

    Ưu điểm của việc này là dự trữ hợp lý có thể giúp quốc gia tránh được khủng hoảng.

    Tuy nhiên, việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách lại tiềm ẩn nhiều rủi ro và phải hết sức hạn chế sử dụng

    • Vay ngân hàng (in tiền).

    Chính phủ khi bị thâm hụt ngân hàng sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù đắp. Đáp ứng nhu cầu này, ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền. Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ. Chính vì vậy, nó được gọi là tiền tệ hóa thâm hụt.

    – Ưu điểm: Nhu cầu tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần.

    – Nhược điểm: Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền. Nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi.

    • Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước.

    Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế – xã hội, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ tăng trưởng và công bằng xã hội. Giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường v.v.. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với quản lý ngân sách nhà nước nói chung và xử lý thâm hụt ngân sách nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết.

    5. Giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước hiệu quả đối với Việt Nam hiện nay.

    Xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam. Vậy xử lý thâm hụt NSNN như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay?

    Để kiềm chế lạm phát cũng như sự suy thoái của nền kinh tế, ngoài các biện pháp mà Chính phủ, các bộ, ngành đang thực thi, vấn đề quản lý chặt tình hình chi NSNN như: chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước, đầu tư công… thông qua việc xử lý thâm hụt NSNN là vô cùng cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội cũng như vấn đề thu chi ngân sách là giải pháp quan trọng đối với thực trạng tại Việt Nam hiện nay.

    Nước ta là một nước đang trong đà phát triển, nền kinh tế còn nhiều khó khăn và thường xuyên phải chịu ảnh hưởng từ những tác động bên ngoài. Sự suy giảm kinh tế toàn cầu bắt đầu từ suy thoái kinh tế Mỹ cũng đổ bộ và gây ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Vấn đề thu chi ngân sách chưa được quản lý triệt để dẫn đến tình trạng lạm phát kéo dài, gây tác động xấu tới sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung. Môi trường kinh tế vĩ mô đã trở nên kém ổn định. Vì vậy, khả năng thu hút đầu tư nước ngoài cũng như khả năng thu hút đầu tư của khu vực tư nhân trong nước cũng bị hạn chế. Cũng như những nút thắt cổ chai của các đầu vào cho sản xuất. Cụ thể là những hạn chế về kết cấu hạ tầng, điện, nguồn nhân lực.

    Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần có những chính sách quản lý hợp lý, đặc biệt là quản lý chặt chẽ thu chi ngân sách để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô tốt hơn, đề ra chính sách hữu hiệu để kiềm chế tỷ lệ lạm phát, vốn đang khá cao và ảnh hưởng đến đời sống cũng như sức mua của người dân. Thứ hai, Chính phủ Việt Nam cần nghiêm túc thúc đẩy cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, nâng cao tỷ lệ cạnh tranh với kinh tế toàn cầu.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận tình huống quản lý nhà nước: Không đăng ký khai sinh hậu quả và trách nhiệm thuộc về ai

    Tiểu luận tình huống quản lý nhà nước: Không đăng ký khai sinh hậu quả và trách nhiệm thuộc về ai

    Tiểu luận tình huống quản lý nhà nước: Không đăng ký khai sinh hậu quả và trách nhiệm thuộc về ai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Thị trường ngoại hối


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-t%C3%ACnh-hu%E1%BB%91ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-Kh%C3%B4ng-%C4%91%C4%83ng-k%C3%BD-khai-sinh-h%E1%BA%ADu-qu%E1%BA%A3-v%C3%A0-tr%C3%A1ch-nhi%E1%BB%87m-thu%E1%BB%99c-v%E1%BB%81-ai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận tình huống quản lý nhà nước: Không đăng ký khai sinh hậu quả và trách nhiệm thuộc về ai

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n­ước, xây dựng Nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế, pháp luật nước ta ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng, là công cụ điều chỉnh hàng đầu các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ của Nhà nước để quản lý xã hội, công cụ hư­ớng dẫn và bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, tuy có vai trò là công cụ điều chỉnh hàng đầu các quan hệ xã hội, song pháp luật chỉ có thể phát huy đ­ược sức mạnh khi kết hợp với các công cụ điều chỉnh khác, đặc biệt là đạo đức, văn hóa và sự nhận thức, vận dụng đúng đắn, khách quan về vai trò của pháp luật.

    Nhà nước sử dụng nhiều loại công cụ, biện pháp khác nhau để quản lý xã hội, nhưng pháp luật là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất. Bởi vì, pháp luật thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, có tính bắt buộc chung và được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Chính vì vậy, pháp luật có khả năng triển khai một cách nhanh chóng nhất, đồng bộ và có hiệu quả trên quy mô toàn quốc những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

    Nhờ có pháp luật mà các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện được các nhiệm vụ, chức năng, các chính sách đối nội và đối ngoại của mình, xác định quy chế pháp lý hành chính đối với các cá nhân, tổ chức. Điều 12 Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cư­ờng pháp chế xã chế xã hội chủ nghĩa”.

    Pháp luật là phư­ơng tiện thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khỏi sự xâm phạm của người khác, kể cả từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Bằng các biện pháp của quản lý nhà nước như thuyết phục, giáo dục, tổ chức; cưỡng chế, kết hợp sự tự giác tuân thủ của các cá nhân, tổ chức, các biện pháp xã hội khác, các quy định pháp luật mới đi vào cuộc sống.

    Pháp luật là ph­ương tiện ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Mọi hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp, lợi ích chính đáng của công dân đều bị xử lý nghiêm minh. Pháp luật không chỉ quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý của công dân mà còn quy định cơ chế pháp lý hành chính, các quy định pháp luật thủ tục để thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Các quyền và lợi ích chính đáng của công dân đ­ược pháp luật quy định, bảo vệ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ xã hội.

    Vai trò của pháp luật đối với việc nâng cao tính tự quản của cộng đồng trong  việc sử dụng các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán và các loại quy phạm xã hội khác để quản lý xã hội. Vì cùng tham gia điều chỉnh hành vi và các quan hệ xã hội của con người nên giữa pháp luật và các quy phạm xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động mạnh mẽ đến nhau. Pháp luật và đạo đức có mối quan hệ biện chứng vì cùng tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội. Thực tiễn đã chứng minh, pháp luật và đạo đức chỉ có thể phát huy đ­ược vai trò của mình khi sử dụng kết hợp chặt chẽ, hợp lý với nhau.

    Pháp luật có vai trò to lớn trong việc giữ gìn, phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp của các dân tộc n­ước ta. Hiến pháp, các văn bản pháp luật khác đã quy định các tiền đề cho việc áp dụng và phát huy những mặt tích cực của tập quán, phong tục, truyền thống, trong đó có Luật tục, Hương ­ước. Đồng thời Pháp luật cũng có những quy định ngăn cấm thực hiện các tập quán lạc hậu, phản tiến bộ. Pháp luật quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc c­ưới, việc tang, lễ hội, nghiêm cấm việc áp dụng những tập tục lạc hậu, vận động nhân dân bỏ dần những tập tục r­ườm rà, mê tín dị đoan gây lãng phí, thực hành tiết kiệm.

    Ở nước ta, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức cơ bản của pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản đưa ra những quy tắc sử sự chung, chuẩn mực buộc mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ thực hiện khi tham gia công tác xã hội mà quy tắc đó điều chỉnh. Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực đối với toàn xã hội, hay một nhóm xã hội trong phạm vi toàn quốc hay từng địa phương được áp dụng, được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp khác nhau theo quy định của pháp luật.

    Trong những năm đổi mới đất n­ước vừa qua, xét trên bình diện tổng thể, pháp luật đó có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy, trong mỗi lĩnh vực cũng còn nhiều quy định pháp luật bất cập, chưa phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của phát triển của đất nước. Trong áp dụng pháp luật, cơ chế quản lý, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm pháp luật cũng còn nhiều yếu kém, sơ hở, chưa kịp thời nên chư­a phát huy đ­ược hiệu lực và hiệu quả của pháp luật.

    Đơn cử việc đi khai sinh cho con còn có nhiều bất cập, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Quyền được cấp giấy khai sinh là quyền thiêng liêng, thiết thực của trẻ em. Đó cũng là cơ sở để trẻ thực hiện nhiều quyền lợi khác, như khám chữa bệnh, học hành… Tuy nhiên, do thiếu sự quan tâm của những người có trách nhiệm, do nhận thức của một bộ phận người làm cha mẹ, nên nhiều trẻ em vùng dân tộc và miền núi vẫn chưa được cấp giấy khai sinh theo đúng quy định. Việc cha, mẹ không đi khai sinh cho con, hay sự thiếu tận tâm của cán bộ chuyên trách trong việc cấp giấy khai sinh cho trẻ. Những hệ lụy từ việc không đăng ký khai sinh thể hiện ở nhiều khía cạnh khác của đời sống, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền lợi chính đáng của trẻ em. Đặc biệt khi trẻ đủ tuổi đến trường, mà không đủ điều kiện để nhập học. Đây là vấn đề đang diễn ra ở nhiều địa phương vùng dân tộc và miền núi.

    Thiết nghĩ các cơ quan chức năng, chính quyền và người dân cần quan tâm hơn đến công tác này, để đưa công tác đăng ký khai sinh, đặc biệt ở vùng dân tộc và miền núi đi vào nề nếp.

    Trong khuôn khổ tiểu luận lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính, tôi chọn đề tài “Không đăng ký khai sinh, hậu quả, trách nhiệm thuộc về ai?“. Do kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót, kính mong được sự giúp đỡ của các Thầy Cô giáo, của Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng để tôi củng cố kiến thức quản lý nhà nước được sâu, rộng hơn.

    I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG

    1.1. Hoàn cảnh ra đời

    Cháu Vàng A Páo, dân tộc Mông, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2002, vào năm học 2008-2009 cháu Nam đủ tuổi đến trường và được vào học Lớp 1 Trường Tiểu học xã A huyện B tỉnh C. Sau khi làm thủ tục nhập học nhà trường đã kiểm tra các thủ tục theo quy định đối với học sinh vào lớp 1 thì cháu Páo đã thiếu giấy khai sinh, nhà trường đã yêu cầu gia đình phải có giấy khai sinh cho cháu Páo để đủ điều kiện nhập học. Một thực tế oái oăm xảy ra là bố mẹ của cháu Páo trước đây không đăng ký khai sinh, hậu quả của việc không đăng ký khai sinh của cháu Páo cũng như của bao đứa trẻ khác ở các vùng sâu vùng xa của đồng bào dân tộc thiểu số.

    1.2. Mô tả tình huống

    Theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch: “Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em”. Những trường hợp khai sinh ngoài thời hạn nói trên phải đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn.

    Giấy khai sinh là căn cứ đầu tiên, là cơ sở pháp lý tin cậy nhất về một công dân, đặc biệt khi làm các giấy tờ khác liên quan đến quyền lợi của bản thân như: học tập, công tác, đăng ký hộ khẩu, chứng minh nhân dân sau này…

    Theo Luật Giáo dục năm 2005, Điều 26: “Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi”. Thủ tục nhập học, bố (mẹ) nộp hồ sơ tại trường tiểu học. Hồ sơ gồm có: Đơn xin nhập học do cha hoặc, mẹ hay người giám hộ ký; Bản sao khai sinh (có công chứng); Giấy tạm trú, hoặc bản sao hộ khẩu (Kiểm tra và trả lại sau khi nhận hồ sơ).

    Cháu Vàng A Páo không có giấy khai sinh, do đó không đủ thủ tục nhập học lớp một tiểu học.

              II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

    2.1. Mục tiêu phân tích tình huống

    – Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng những tổ chức, cá nhân có liên quan không làm thủ tục đăng ký sinh cho trẻ em theo quy định hiện hành.

    – Hậu quả của việc không đăng ký khai sinh cho trẻ em theo quy định; trách nhiệm thuộc về ai?

    – Kiến nghị và giải pháp về việc đăng ký khai sinh cho trẻ em theo đúng quy định hiện hành đảm bảo lợi ích chính đáng cho trẻ em.

    2.2. Cơ sở lý luận của tình huống

    Sau năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Quốc hội khoá VI trong kỳ họp thứ nhất đã quyết định đổi tên nước ta thành “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước đòi hỏi phải có hệ thồng pháp luật xã hội chủ nghĩa áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia. Hiến pháp năm 1980 chính thức được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1980 đã quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời các điều 38, 47, 63, 64 đã quy định các nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa. đó là xoá bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, tư tưởng trọng nam khinh nữ, tình trạng đa thê, ngược đãi vợ con, không đăng ký khai sinh vẫn còn xảy ra, hạn chế được một số thiếu khuyết của Luật nhân và gia đình năm 1959, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa.

    Trước những thay đổi lớn lao của đất nước ta giai đoạn này, việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình mới cũng như các bộ luật khác là một đòi hỏi tất yếu khách quan nhằm thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Ngày 29 tháng 12 năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình đã chính thức được Quốc hội khoá VII kỳ họp thứ 12 thông qua và được Hội đồng nhà nước công bố ngày 03 tháng 01 năm 1987.

    Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời trong thời kỳ đổi mới của đất nước, kế thừa những nguyên tắc dân chủ và tiến bộ. Đã góp phần vào việc xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp về hôn nhân và gia đình, từng bước nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc thi hành các quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

    Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 “có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.”

    Lịch sử đã cho thấy, ở bất cứ thời điểm nào, trong bất kỳ hình thái kinh tế nào, xã hội luôn là tập hợp của các gia đình “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đây là tổng hợp các chức năng và vai trò của gia đình đối với mỗi cá nhân cũng như đối với toàn xã hội. Xã hội thông qua cha mẹ, đầu tư cho sự phát triển thể chất, trí tuệ và nhân cách của cá nhân theo những tiêu chí chung đã được đặt ra, và đến lượt mình, con cái trở thành một chủ thể độc lập hoà nhập vào đời sống cộng đồng và lại tiếp tục hình thành một gia đình mới như một sự duy trì và phát triển xã hội.

    Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với gia đình được thể hiện thông qua nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có các biện pháp liên quan đến việc xây dựng các chính sách về dân số, kế hoạch hoá gia đình, các chính sách về dân tộc, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế… và thông qua việc xây dựng và ban hành các đạo luật nhằm điều chỉnh các quan hệ liên quan đến lĩnh vức hôn nhân và gia đình.

    Để nâng cao và xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc hỗ trợ giúp đỡ, xây dựng và củng cố gia đình Việt Nam, tại khoản 1 Điều 3 của Luật năm 2000 quy định cụ thể trách nhiệm của nhà nước và xã hội đối với gia đình. Nhà nước có các chính sách, biện pháp tạo điều kiện, giúp đỡ các gia đình thực hiện đầy đủ chức năng của mình: Nhà nước, xã hội có các biện pháp cần thiết để tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp, thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ.

    Để đề cao vai trò của các cơ quan, tổ chức trong việc tuyên truyền pháp luật, thực hiện việc hoà giải và tư vấn về hôn nhân và gia đình, tại các khoản 2 và 3 Điều 3 của Luật năm 2000 quy định rõ việc Nhà nước khuyến khích các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hoá, thực hiện tư vấn về hôn nhân và gia đình, kịp thời hoà giải các mâu thuẫn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình. Bên cạnh đó Nhà nước cũng giao trách nhiệm cho nhà trường phải phối hợp với gia đình trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình cho thế hệ trẻ.

    Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em là vấn đề không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa đạo lý, là truyền thống tốt đẹp của người dân Việt Nam, mà còn là vấn đề có tính nguyên tắc mang tính toàn cầu. Nguyên tắc này được thế giới công nhận và bảo vệ, thể hiện trong Công ước Quốc tế về quyền trẻ em và được nội luật hoá trong nhiều đạo luật quan trọng của Việt Nam như; Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em…

    Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với gia đình được thể hiện thông qua nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có các biện pháp liên quan đến việc xây dựng các chính sách về dân số, kế hoạch hoá gia đình, các chính sách về dân tộc, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế… và thông qua việc xây dựng và ban hành các đạo luật nhằm điều chỉnh các quan hệ liên quan đến lĩnh vức hôn nhân và gia đình.

    Các văn bản pháp quy liên quan đến tình huống:

    – Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

    – Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi);

    – Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch;

    – Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình;

    – Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định về việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số;

    – Một số văn bản liên quan khác: Đề án 278/TP-HT/2000 của Bộ Tư pháp về đăng ký khai sinh quá hạn cho trẻ em; Quyết định 113/KH-UB/2001 của UBND tỉnh C về việc tuyên truyền, phổ biến Luật hôn nhân và gia đình năm 2005 của Sở Tư pháp tỉnh C.

                2.3. Phân tích diễn biến tình huống

    Do địa bàn miền núi địa hình chia cắt, giao thông khó khăn, từ xã đến bản có nơi phải mất vài ngày đi bộ, trình độ dân trí nhìn chung còn thấp. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của ta còn nhiều bất cập, thêm vào đó hầu hết đội ngũ tư pháp xã ở một số tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói chung, của tỉnh C nói riêng thiếu năng lực quản lý, thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ hoặc chưa được đào tạo nghiệp vụ, trong khi cơ cấu hệ thống chính trị ở cơ sở luôn có sự biến động. Do đó việc đăng ký khai sinh cho trẻ chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến nhiều sai sót trong việc đăng ký và cấp giấy khai sinh. Một số trường học vùng sâu, vùng xa, để hợp thức hoá thủ tục hành chính công công tác giáo dục, đào tạo, họ mua biểu mẫu sau đó ra xã xin cấp đồng loạt giấy khai sinh cho các cháu, để bổ sung vào học bạ. Kiểu “hợp lý hoá” này vô hình trung đã làm giấy tờ nhân thân bị sai lệch, sau này có việc liên quan đến học tập, công tác, chữa bệnh… dân chạy ngược, chạy xuôi mà vẫn không được giải quyết.

    Minh chứng cho thấy:

    Tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã miền núi Trà Bùi (Trà Bồng) tỉnh Quảng Ngãi, nhiều bậc cha mẹ là người dân tộc Cor đi đăng ký khai sinh cho con. Chị Hồ Thị Ấn, ở thôn Làng Quế- cách trụ sở Uỷ ban nhân dân xã khoảng nửa ngày đường đi bộ, xoa đầu đứa con trai đó cao lớn gần bằng vai mình cho biết: “Mình không biết có quy định đăng ký khai sinh cho con sau khi sinh nó ra. Con mình năm nay chuẩn bị vào lớp 1 rồi, cô giáo bảo phải làm giấy khai sinh cho nó đi học. Ở thôn mình, nhiều gia đình không biết việc khai sinh cho trẻ đâu”.

    “Mới đây, Sở Tư pháp Điện Biên rà soát 35.022 cặp hôn nhân thực tế, phát hiện gần 8.000 cặp không đăng ký hoặc không đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo luật định. Cũng trong thời gian đó, các cơ quan chức năng thống kê tỷ lệ đăng ký kết hôn ở tỉnh Điện Biên là trên 81%; có nhiều huyện thấp đến mức ngạc nhiên, như huyện Tuần Giáo tỷ lệ đăng ký kết hôn chỉ đạt 54,3%, Mường Nhé: 79,3%. Tại hai xã Mường Toong và Chung Chải của huyện Mường Nhé, trên 600 cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hon mà đã kịp có với nhau mấy mặt con!

    Vì số đông trẻ không giấy khai sinh, một số trường học vùng sâu, vùng xa đành mua biểu mẫu, rồi ra xã xin cấp đồng loạt giấy này cho các cháu. Kiểu “hợp lý hoá” này vô hình trung đã làm giấy tờ nhân thân bị sai lệch; sau này có việc liên quan đến học tập, công tác, chữa bệnh… dân phải chạy ngược chạy xuôi, gõ đủ các “cửa” để… “chỉnh” giấy.

    Theo thông tin của đơn vị chức năng, trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, qua rà soát 10.189 cháu thì có đến 6.244 cháu chưa được đăng ký khai sinh. Có những xã như: Keo Lôm còn 927 cháu, Pú Nhi 800 cháu, Phình Giàng 797 cháu chưa có giấy khai sinh; mặc dù nhiều cháu hoặc sắp sửa xây dựng gia đình hoặc sắp sửa sinh ra một thế hệ tiếp theo có thể lại không có giấy khai sinh…”.

    Ông Đặng Xuân Vịnh- Phó phòng Tư pháp huyện Tủa Chùa cho biết: “Trong số 12 cán bộ tư pháp huyện, mới chỉ có 2 cán bộ tốt nghiệp Trung học pháp lý”. Huyện Mường Chà cũng vậy, anh Điêu Chính Vĩnh- cán bộ Phòng Tư pháp huyện cung cấp: “Huyện Mường Chà có 10 cán bộ tư pháp xã và 1 ở thị trấn nhưng cũng tới 4 người chưa qua đào tạo nghiệp vụ pháp lý. Thậm chí có nhiều nơi, công tác tư pháp cũng đang bị thả nổi”.

    “Tỉnh Điện Biên hiện đang triển khai kế hoạch cấp giấy khai sinh miễn phí cho tất cả trẻ em vùng sâu, vùng xa. Nhưng quanh tờ giấy khai sinh ở Điện Biên nói riêng và các tỉnh Tây Bắc nói chung vẫn còn nhiều chuyện cần bàn”.

    2.4. Nguyên nhân dẫn đến tình huống

    2.4.1. Nguyên nhân do nạn tảo hôn

              Tảo hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình đó là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy nam, nữ muốn kết hôn với nhau phải đáp ứng điều kiện về độ tuổi theo quy định của pháp luật. Hiện nay theo quy định tại điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì một trong các điều kiện kết hôn đó là nam phải từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Theo hướng dẫn của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đỡnh năm thì “Nam đang ở tuổi hai mươi, nữ đang ở tuổi mười tám thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn“. Để làm rõ hơn vấn đề này, Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23/10/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao  tại điểm 1 đó quy định như sau “Điều kiện kết hôn quy định tại điểm 1 Điều 9 là: “Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên”. Theo quy định này thì không bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn.

                Việc các nhà làm luật quy định độ tuổi kết hôn như trên là có cơ sở khoa học, dựa trên các nghiên cứu về sự phát triển của con người, vì ở độ tuổi này nam, nữ mới thực sự phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý, mới có thể thực sự trở thành những ông bố, bà mẹ, những người chủ gia đình. Trong những năm qua từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nên hủ tục tảo hôn nhìn chung đã được xoá bỏ, thay thế vào đó là nếp sống mới văn minh. Tuy nhiên qua thực tiễn những chuyến công tác tại cơ sở chúng tôi thấy rằng nạn tảo hôn vẫn còn diễn ra ở một số nơi, nhất là những khu vực có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như ở xã A, huyện B, tỉnh C.

    Nạn tảo hôn, nhất là với đồng bào Mông là tập quán từ lâu đời. Mặc dù hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định độ tuổi kết hôn là: “Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên; Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Dù ông chủ tịch xã hay cán bộ tư pháp xã có biết anh này lấy chị kia là trái pháp luật, nhưng cũng chẳng tìm đâu ra cơ sở để có kết luận độ tuổi chính xác vì chính những người sinh ra họ cũng đâu có nhớ chính xác năm sinh tháng đẻ của họ vì không được khai sinh.

    Thực hiện Đề án 278/TP-HT/2000 của Bộ Tư pháp về đăng ký khai sinh quá hạn cho trẻ em. Quyết định 113/KH-UB/2001 của UBND tỉnh C về việc tuyên truyền, phổ biến Luật hôn nhân và gia đình, cuối năm  2005 Sở Tư pháp tỉnh C đã tiến hành rà soát 42.022 cặp hôn nhân thực tế phát hiện gần 8.400 cặp không đăng ký kết hôn theo luật định. Theo số liệu trên thì năm 2005 tỉ lệ đăng ký kết hôn ở tỉnh C là trên 80%, có một số huyện tỷ lệ đăng ký kết hôn còn thấp đến mức ngạc nhiên, ví dụ một huyện trong tỉnh C tỉ lệ đăng ký kết hôn chỉ đạt 53,3%, huyện khác là 78,3%. Tại 2 xã của huyện D, trên 600 cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hôn mà đã sinh con.

    Việc cưới gả mà không đăng ký kết hôn như vậy nên sinh đẻ không đi làm giấy khai sinh, người ta tặc lưỡi; “Trời sinh voi, trời sinh cỏ” âu đó cũng là “lẽ thường”. Năm 2005, tỉ lệ sinh của toàn tỉnh C ở mức xấp xỉ 2,95%, trong đó, tỉ lệ các bà mẹ sinh con thứ  ba là 21,5%. Có một thực tế đáng buồn là sinh nhiều, nhiều trẻ em ở một số xã, bản vùng sâu vùng xa không được đăng ký khai sinh. Theo Phòng Kế hoạch nghiệp vụ- Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh C thông báo qua đợt kiểm tra chuyên đề khai sinh cho các cháu mới đạt trên 84%.

    2.4.2. Nguyên nhân di dân tự do

    Từ đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, làn sóng di dân ở một số tỉnh ào ạt đổ về các xã biên giới Việt- Lào. Qua đợt ra quân tăng cường cơ sở, lực lượng Công an tiến hành đăng ký hộ khẩu cho dân di cư tự do, phát hiện quá nửa trong tổng số 27.000 người không có giấy khai sinh. Một trong những nguyên nhân là không ít người do bị kẻ xấu tuyên truyền kích động gây mất đoàn kết dân tộc, đã không đăng ký hộ tịch hộ khẩu, không đăng ký khai sinh cho con, khiến cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội.

    2.4.3. Một số nguyên nhân khác

    – Do địa bàn miền núi địa hình chia cắt, giao thông không thuận tiện, từ xã đến bản có nơi phải mất vài ngày đi bộ, đi lại khó khăn, them vào đó trình độ dân trí còn thấp, nên việc để đăng ký giấy khai sinh cho trẻ em đối với họ “dường như không quan trọng!”. Đối với những người dân sinh sống ở các thôn xa xôi, trên núi cao, việc đi lại khó khăn, nên khi trẻ bắt đầu đi học, cha mẹ mới đến xã làm giấy khai sinh. Nhiều bậc cha mẹ khi kê khai các thông tin nhớ không chính xác về ngày, tháng, năm sinh con; giấy chứng sinh thì bị thất lạc, đó gây không ít khó khăn trong công tác cấp giấy khai sinh cho trẻ.

    Tình trạng đăng ký khai sinh cho trẻ em là người đồng bào dân tộc thiểu số hiện vẫn còn chậm trễ so với quy định. Theo quy định việc khai sinh cho trẻ phải được tiến hành trong vũng 60 ngày kể từ khi đứa trẻ được sinh ra. Nơi xa xôi, hẻo lánh có thể kéo dài hơn. Thế nhưng thực tế hầu hết trẻ khi đến tuổi đi học cha mẹ mới tiến hành đăng ký khai sinh. Ở các điểm trường xa xôi, hiện tại khi vào lớp 1, các học sinh thường vẫn “nợ” lại giấy khai sinh và nhiều giáo viên phải đích thân đi làm giấy khai sinh thay cho cha mẹ các em (vì sợ buộc nộp giấy khai sinh cha mẹ các em sẽ cho các em nghỉ học, phần thì nghĩ cha mẹ các em không biết cách thức làm giấy khai sinh, sẽ mất nhiều thời gian, công sức đi lại tốn kém).

    – Do trình độ cán bộ còn nhiều bất cập như thiếu năng lực quản lý, thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ nên nhiều khi dân đến xã đăng ký khai sinh, bị cán bộ tư pháp viết biểu mẫu sai, tẩy xoá, sửa chữa tuỳ tiện, hoặc có xã ở vùng cao, miền núi, công tác tư pháp bị thả nổi.

    Theo phản ánh của nhiều người dân sinh sống ở các xã vũng xa của huyện Tây Trà, thì tình hình cấp giấy khai sinh cho trẻ vẫn còn nhiều phiền hà. Chị Hồ Thị Dẻo (ở xá Trà Nham tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: “Mình đi bộ nhiều tiếng đồng hồ mới đến được trụ sở Uỷ ban nhân dân xã. Thế mà cán bộ lại đi vắng, đành phải quay về. Ngày mai mình lại tiếp tục đến đây, nhưng chỉ sợ cán bộ lại không có mặt để cấp khai sinh giúp cho con mình”. Còn tại xã Sơn Linh (Sơn Tây), anh Đinh Văn Vin (ở thôn Xà Ây), cho biết: “Mình đến xã 02 lần để làm giấy khai sinh, nhưng vẫn chưa gặp được cán bộ. Ngồi suốt từ sáng đến gần trưa, một cán bộ mới đến bảo với mình là cán bộ tư pháp bận đi họp. Làm giấy khai sinh cho con mà khó khăn quá chắc mình không làm nữa đâu”.

    – Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của ta còn nhiều bất cập, việc đăng ký khai sinh cho trẻ chưa được quan tâm đúng mức.

                2.5. Hậu quả của tình huống

                2.5.1. Tác hại của nạn tảo hôn

                Tác hại của nạn tảo hôn thì có nhiều, song có một tác hại đó là phá vỡ tính trật tự trong quản lý xã hội, phá vỡ tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng chế độ gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Do đó hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn tuỳ theo tính chất mức độ sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

    Tại Điều 6 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình quy định: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:  Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó; Tổ chức việc kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn.”

    Bộ Luật Hình sự năm 1999, tại Điều 148 quy định về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn: Người nào có một trong các hành vi sau đây đó bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm: Tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn; Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó.

    Bên cạnh đó, đối với những trường hợp duy trì quan hệ vợ chồng với trẻ em gái thì bên nam có thể bị truy tố về Tội hiếp dâm trẻ em theo Điều 112 hoặc Tội giao cấu với trẻ em theo Điều 115 Bộ Luật Hình sự, bởi vì theo Khoản 4 Điều 112 quy định “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ mười ba tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” .

    Điều 115- Bộ Luật Hình sự quy định về tội giao cấu với trẻ em: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ mười ba tuổi đến dưới mười sáu tuổi, thif bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp như: Phạm tội nhiều lần; Đối với nhiều người; Có tính chất loạn luân; Làm nạn nhân có thai; Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp như Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

    Trong những năm qua cùng với sự phát triển của đất nước đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh C đó từng bước được cải thiện rõ rệt, theo đó hiểu biết của đại đa số nhân dân đó được nâng lên, các hủ tục lạc hậu trong đó có nạn tảo hôn đã cơ bản được xoá bỏ, thay vào đó là nếp sống văn minh, hiện đại. Những tưởng trong xã hội hiện đại như ngày nay thì tảo hôn sẽ không còn tồn tại, nhưng thực tế cho thấy vẫn còn đó những nỗi lo về nạn tảo hôn.

    2.5.2. Tước quyền khám chữa bệnh miến phí của trẻ em dưới 6 tuổi

    Thẻ khám chữa bệnh miễn phí là quyền lợi của trẻ dưới 6 tuổi, trên thực tế ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi còn có rất nhiều trẻ em không được cấp thẻ khám chữa bệnh do vướng mắc về giấy khai sinh. Một vài dẫn chững cụ thể như sau: Bà Trần Thị Bình- nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Dân số – Gia đình – Trẻ em huyện Bắc Trà My bức xúc: “Thẻ khám chữa bệnh miễn phí là quyền lợi của trẻ dưới 6 tuổi, song huyện còn hơn 800 em chưa được cấp, do vướng Giấy khai sinh”. Không có thẻ khám chữa bệnh miễn phí, nhiều gia đình lâm vào cảnh khó khăn; Chị Hồ Thị Lình ở thôn 6, xã Trà Leng, có con 8 tháng tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Trà My, lo lắng: “Con tôi đau nặng phải đưa đến đây điều trị. Các bác sĩ bảo không có thẻ khám chữa bệnh nên phải trả viện phí. Nhà tôi nghèo lắm, lấy đâu ra tiền mua thuốc cho cháu”. Từ đầu năm đến nay, Bệnh viện Đa khoa Bắc Trà My tiếp nhận và điều trị cho 300 trẻ dưới 6 tuổi không có thẻ khám chữa bệnh miễn phí. Bác sĩ Phạm Thanh Bình, giám đốc bệnh viện, cho biết: “Theo quy định, những em không có thẻ khám chữa bệnh miễn phí thì phải đóng viện phí…”

    2.5.3. Gây ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ em

    Theo Luật giáo dục năm 2005, Điều 26, “Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi”. Thủ tục nhập học, bố (mẹ) nộp hồ sơ tại trường tiểu học. Hồ sơ gồm có: Đơn xin nhập học do cha hoặc, mẹ hay người giám hộ ký; Bản sao khai sinh (có công chứng); Giấy tạm trú, hoặc bản sao hộ khẩu. Không có giấy khai sinh, do đó không đủ thủ tục nhập học lớp một tiểu học.

    Một thực tế tại huyện Bắc Trà My: Theo Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học xã Trà Bui, bà Hồ Thị Minh Hoàng cho biết, do không có giấy khai sinh nên việc xác định tuổi để các em đến trường đều nhờ các giáo viên đến gia đình điều tra. Để các em khỏi “đói cái chữ”, hầu hết các trường học ở Bắc Trà My đều thực hiện theo cách “tự điều tra” như vậy. Trưởng Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Bắc Trà My, bà Phan Thị Thanh Sen, chia sẻ: “Nhiều trường hợp do có hay không có Giấy khai sinh thì tuổi đến trường cũng không phải tuổi thật, do đó không phù hợp với phát triển thể chất, tâm sinh lý lứa tuổi. Năm học 2006-2007, cả huyện có trên 600 học sinh bỏ học, mà nguyên nhân chủ yếu là do… mắc cỡ với các bạn trong lớp”.

    2.5.4. Một số hậu quả khác do không có giấy khai sinh, hoặc sai lệch thông tin trong giấy khai sinh

    Không có giấy khai sinh, mọi thủ tục pháp lý liên quan đến các em đều dựa theo xác nhận của chính quyền địa phương, thậm chí của… hàng xóm! Theo thiếu tá Phan Thanh Tuấn, Phó Trưởng Công an huyện Bắc Trà My, những trường hợp không có giấy khai sinh gây rất nhiều khó khăn trong việc làm chứng minh nhân dân và nhiều hệ lụy khác. Căn cứ giấy khai sinh, có trường hợp tảo hôn nhưng thực tế lại trong độ tuổi kết hôn; ngược lại, có “thanh niên” phạm tội phải truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng qua điều tra, xác minh, lại đang ở tuổi… vị thành niên!

    Từ những hiểu biết không đầy đủ của các đôi nam nữ thanh niên, sự vô tình của các bậc phụ huynh, sự thờ ơ của chính quyền, đoàn thể có thể đưa các bạn trẻ đến con đường vi phạm pháp luật. Pháp luật Việt Nam có các chế tài xử lý nghiêm khắc về hành vi tảo hôn, thì còn có những quy định khác liên quan đến vấn đề này đó là việc đăng ký kết hôn và đăng ký khai sinh:

    – Về vấn đề đăng ký kết hôn:

    Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này. Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng …”

    Do hành vi tảo hôn là vi phạm độ tuổi kết hôn do đó dĩ nhiên sẽ không được cơ quan có thẩm quyền cho đăng ký kết hôn. Vì vợ chồng không có đăng ký kết hôn cho nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng, mà đã không phải là vợ chồng thì đương nhiên sẽ không phát sinh các quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng, quan hệ tài sản, thừa kế…

    – Về đăng ký khai sinh cho trẻ em ngoài giã thú:

    Khoản 3, Điều 15, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định “Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”.

    Như vậy, một đôi nam nữ tảo hôn sinh con ra thì khi đi đăng ký khai sinh trong giấy khai sinh sẽ để trống phần khai về bố. Và muốn giấy khai sinh của con được đầy đủ phần khai về bố thì các bên phải làm thủ tục xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật như vậy sẽ rất phức tạp.

    Qua phân tích các quy định của pháp luật nêu trên cho thấy hành vi tảo hôn không những chỉ làm ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần của các bên nam nữ, gia đình, con cái mà còn ảnh hưởng tới cả sự phát triển của toàn xã hội. Thiết nghĩ trách nhiệm ở đây là của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, gia đình và bản thân người vi phạm do không chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Để khắc phục, tiến tới xoá bỏ dứt điểm tình trạng này, bên cạnh các biện pháp về kinh tế, các cấp, các ngành, tổ chức đoàn thể cần chú trọng hơn nữa đến công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm

    Những hệ lụy từ việc đăng ký, quản lý hộ tịch chưa chặt chẽ còn thể hiện ở nhiều khía cạnh khác của đời sống, đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền lợi chính đáng của người dân, công tác quản lý nhân hộ khẩu, an ninh trật tự tại địa phương… Thiết nghĩ các cơ quan chức năng, chính quyền và người dân cần quan tâm hơn đến công tác này, để đưa công tác đăng ký, quản lý hộ tịch đi vào nề nếp.

    III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

    3.1. Mục tiêu xử lý tình huống

    Từ diễn biến câu chuyện tình huống về nguyên nhân tại sao việc cấp giấy khai sinh ở tỉnh C vẫn còn nhiều bất cập. Quốc hội khoá XI Điều 11 quy định rõ “trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” tại Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) được thông qua tại kỳ họp thứ 5, Điều 23 quy định về trách nhiệm đăng ký khai sinh của bố mẹ, người giám hộ, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn.

    Dưới góc độ là nhà quản lý tôi xin đưa ra một số hậu quả có thể xảy ra với tình huống như đã trình bày.

    1. Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Cho nên các cấp các ngành có liên quan nếu không thực hiện đúng theo pháp luật quy định, thì không những công dân sẽ bị thiệt thòi quyền lợi mà còn có thể bị đánh mất niềm tin của quần chúng nhân dân về chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
    2. Nếu không đăng ký khai sinh thì không thể thống kê được tỷ lệ dân số tăng hàng năm và nghĩa vụ của công dân không thực hiện được đầy đủ, khó xác định độ tuổi để đến trường đúng quy định cho nên ở những vùng này trẻ em thường đến trường muộn, thực hiện quyền và nghĩa, như thực hiện nghĩa vụ quân sự, lao động công ích…
    3. Việc không thực hiện đăng ký khai sinh còn liên quan đến pháp luật. Nếu giải quyết không kịp thời và đúng luật sẽ dẫn đến có những kẻ lợi dụng chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước để khai thấp tuổi (vị thành niên) để trốn tránh hoặc giảm nhẹ hình phạt, trốn tránh nghĩa vụ quân sự và khai thêm tuổi để kết hôn… Đây cũng là vấn đề đã xây ra ở một số địa phương.
    4. Giải quyết không kịp thời, dứt khoát có thể ảnh hưởng đến những quyền và nghĩa vụ của con cái, như quyền được giáo dục, quyền thừa kế, quyền quản lý tài sản riêng…

    3.2. Xây dựng phương án để xử lý tình huống

    Cơ sở để xây dựng phương án:

    – Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

    – Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được thông qua kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI Điều 11 quy định; ‘Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”.

    – Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định về việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số.

    – Các bộ, ngành liên quan và các địa phương xây dựng và thực hiện các chính sách, biện pháp tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình.

    – Tăng cường tuyên truyền, vận động, hướng dẫn và giúp đỡ người dân thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.

    – Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình.

    – Khuyến khích mọi người giáo dục thế hệ trẻ bảo tồn, phát triển ngôn ngữ, chữ viết và phát huy các giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc.

    3.3. Lựa chon giải pháp xử lý

    Qua phân tích tình huống trên và đối chiếu với những quy định được của pháp luật, việc đăng ký khai sinh ở tỉnh C vẫn còn đó những bất cập, ít nhiều làm ảnh hưởng đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Để khắc phục tình trạng trên chúng ta có thể giải quyết theo các phương án sau:

    Phương án 1:

    Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang ra sức quyết tâm xoá mù chữ, và đã đang phổ cấp ở bậc tiểu học, tiểu học cơ sở cho một số tỉnh, thành phố và tiến tới phổ cập ở bậc trung học phổ thông thì việc cháu Vàng A Páo có nhu cầu đến trường thì phải giải quyết cho cháu đi học.

    Ưu điểm:

    – Giải quyết vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đang quan tâm đó là xoá nạn mù chữ nhất là các vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số.

    Nhược điểm:

    – Trái với quy định của Nhà nước.

    – Lâu dài không đảm bảo tính pháp lý để cháu Páo đến trường và hưởng các quyền lợi và nghĩa vụ như bao đứa trẻ khác.

    – Không làm thay đổi được lối suy nghĩ và trách nhiệm của các cấp chính quyền cơ sở và những người làm cha làm mẹ không thấy được tầm quan trọng của việc không đăng ký khai sinh nên khi sinh con ra không đăng ký khai sinh cho các cháu dẫn đến tình trạng này cứ kéo dài mãi không có lối thoát.

    Phương án 2:

    Theo điều 11 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, có quy định “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” vì vậy cháu Vàng A Páo được quyền được đăng ký khai sinh. Bố mẹ hoặc nhà trường có thể đến Uỷ ban nhân dân xã để hợp lý hoá đăng ký khai sinh cho cháu để kịp bước vào năm học mới.

    Hợp lý hoá việc đăng ký giấy khai sinh cho những người chưa được đăng ký khai sinh.

    Ưu điểm: Mọi người đều được đăng ký khai sinh.

    Nhược điểm:

    Nếu đến Ủy ban nhân dân xã để hợp lý hoá viện khai sinh cho cháu Páo. Đây là tình huống đưa ra là cha mẹ cháu xác định được độ tuổi cháu đến trường và có điều kiện để cho cháu đi học. Còn những trường hợp khác bố mẹ không có điều kiện để cho các cháu đi học và không xác định được độ tuổi của các cháu thì vô hình trung đã làm trái những quy định của pháp luật, cụ thể là Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, như vậy, sẽ làm phát sinh những tiêu cực trong xã hội, thậm chí trật tự an toàn xã hội không được đảm bảo gây hậu quả lớn đối với xã hội như khai man tuổi để trốn tránh nghĩa vụ quân sự, kết hôn khi chưa đến tuổi quy định hoặc giảm nhẹ hình phạt vị thành niên. Một nguyên nhân khác nữa là không ít người do bị kẻ xấu tuyên truyền kích động gây mất đoàn kết dân tộc.

    Phương án 3:

    Xuất phát từ yêu cầu của thực tế, về đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cụ thể là Điều 11 Luật Bảo vệ  chăm sóc và giáo dục trẻ em. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

    Điều 23 Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về trách nhiệm về đăng ký khai sinh của bố mẹ, người giám hộ, UBND cấp xã, phường, thị trấn.

    Đối với cháu Vàng A Páo việc đăng ký khai sinh có thể bố mẹ nhờ người giám hộ đăng ký khai sinh, nếu người đó có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ, và năng lực pháp lý theo luật định. Như vậy cháu Páo mới có đủ giấy tờ nhập học và trở thành người công dân.

    Ưu điểm: Thực hiện đúng quy định về Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của công dân, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, trong quá trình thực hiện một xã hội văn minh, tiên tiến.

    Nhược điểm:

    – Thủ tục đăng ký giám hộ quá phức tạp phải chờ đợi lâu sẽ ảnh hưởng đến ngày nhập trường của cháu Páo.

    Do địa bàn miền núi địa hình chia cắt, giao thông khó khăn, trình độ dân trí thấp. Vì vậy khó tránh khỏi những thiếu sót trong việc thực hiện đăng ký khai sinh.

    Phương án tối ưu:

    Dưới góc độ của người quản lý khi giải quyết tình huống trên, tôi sẽ chọn phương án 3. Bởi vì:

    – Phương án này được xây dựng đúng trình tự quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh và quốc tịch.

    – Đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho mọi công dân.

    – Không làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính trị của mọi người, thực hiện đúng chính sách về Dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

    – Giúp cho cấp uỷ, chính quyền thấy được tầm quan trọng của công tác lưu trữ hồ sơ, từ đó thực hiện nhanh chóng trong việc quản lý và theo dõi chặt chẽ mọi người thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

    * Các bước đi để thực hiện phương án tối ưu:

    Để thực hiện được phương án này người quản lý phải thực hiện theo các trình tự sau:

    Bước 1: Hướng dẫn, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục cho các ông bố, bà mẹ về ý thức chấp hành pháp luật, coi đăng ký khai sinh cho con mình là một trách nhiệm đã được pháp luật công nhận và bảo vệ.

    Bước 2: Các cấp uỷ, chính quyền, cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo.

    Bước 3: Bồi dưỡng, cũng cố đội ngủ cán bộ tư pháp cơ sở ngày càng hoàn thiện về trình độ nghiệp vụ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.

     

    IV. KIẾN NGHỊ

    4.1. Kiến nghị với Đảng, Nhà nước

    Quan điểm dân tộc của Đảng đã được khẳng định cụ thể là: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng động các dân tộc Việt Nam, tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán và tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế – xã hội phải phù hợp với đặc thù ở vùng cao nhiềm núi, nhất là các dân tộc thiểu số vùng cao.

                4.2. Kiến nghị với cơ quan chức năng

                – Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân thực hiện quyền thỡ họ cũng phải tự giỏc thực hiện nghĩa vụ đăng ký khai sinh cho trẻ đúng thời hạn quy định. Nếu để chậm trễ sẽ dẫn đến thất lạc giấy tờ, gây khó khăn cho công tác đăng ký khai sinh; cũng cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi, dễ dàng nhất trong giải quyết đăng ký khai sinh.

    – Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ tư pháp xã về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao kiến thức quản lý nhà nước về công tác hộ tịch, hộ khẩu, đồng thời hiểu điàu kiện thực tiễn ở địa phương để thực sự tạo chuyển biến mới, có hiệu quả cao trong công tác ở cơ sở.

    – Phát huy truyền thống đoàn kết, xoá bỏ nghi kỵ, thành kiến dân tộc, đập tan mọi âm mưu chia rẽ trong nội bộ giữa các dân tộc. Giải quyết tốt và kịp thời mọi chế độ chính sách và các mối quan hệ giữa các dân tộc, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại an ninh, chính trị của nước ta.

    – Tập trung giải quyết những việc cấp bách như, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ, cũng cố các trường dân tộc nội trú, định hướng chương trình bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc, thực hiện chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng cao.

    – Tăng cường công tác truyền tải các sách báo, phim ảnh cho vùng cao nhằm nâng cao dân trí của họ. Để giải quyết vấn đề trên Chính phủ cần có kế hoạch cụ thể về các chính sách hỗ trợ, thực hiện các chương trình dự án nhằm đáp ứng nhu cầu về văn hoá, giáo dục cho vùng đồng bào dân tộc, xây dựng nếp sống mới, bài trừ mê tín, dị đoan và những phong tục tập quán lạc hậu, giúp đồng bào các dân tộc thiểu số nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch như; lợi dụng những vấn đề lịch sử, vấn đề dân tộc và tôn giáo, hoặc những sai sót, sự thoái hoá, biến chất của một số cán bộ hòng xuyên tạc, gây chia rẽ, kích động hận thù dân tộc, gây hoang mang trong cộng đồng dân tộc, phá hoại việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

    – Tăng cường giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, tinh thần đoàn kết dân tộc, ra sức góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.          

           

              V. KẾT LUẬN

                Đại hội Đảng toàn quốc lầ thứ  IX đã khẳng định; phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng. Vấn đề dân tộc có ý nghĩa to lớn trong đại đoàn kết dân tộc và trong sự nghiệp cách mạng. Thức hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẵng, đoàn kết tương trợ, cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, phát triển hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thàn, xoá đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; thưc hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền xuôi và miền núi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến. Có chính sách ưu tiên trong việc đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, Động viên phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương. Khắc phục tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, đề phòng tư tưởng dân tộc cực đoan.

    Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhâu cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội và an ninh- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngủ cán bộ dân tộc thiểu số, giữ gìn phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất

    Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) được thông qua kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XI. Điều 11 quy định rõ “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” Điều 23 quy định về trách nhiệm đăng ký khai sinh của bố mẹ, người giám hộ, Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn… Tuy vậy, nhiều trẻ em vùng sâu vùng xã ở tỉnh C vẫn chưa từng được đăng ký khai sinh. Thiết nghĩ các cấp uỷ, chính quyền, cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, coi việc làm tốt công tác hộ tịch hộ khẩu, đăng ký khai sinh là một trong những tiêu chuẩn để được công nhận là làng bản văn hoá. Bồi dưỡng củng cố đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở ngày càng hoàn thiện về trình độ nghiệp vụ chuyên môn, nghiên cứu cải tiến mẫu sổ sách, giấy tờ về hộ tịch theo hướng đơn giản hoá, đảm bảo độ bền của giấy tờ hộ tịch trước tình hình thời tiết khắc nghiệt của vùng cao.

    Trong gia đình, mối quan hệ huyết thống, quá trình nuôi dưỡng, tình thương và trách nhiệm gắn kết các thành viên với nhau, trong đó, mối quan hệ giữa cha mẹ và con là lâu bền và thiêng liêng nhất. Quan hệ giữa cha mẹ và con cần được hiểu theo khía cạnh về đạo lý làm người và về pháp luật. Trong một xã hội văn minh, xã hội mà mọi người phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật thì điều chỉnh mối quan hệ cha mẹ và con cái theo đạo lý là chưa đủ. Việc pháp luật điều chỉnh quan hệ cha mẹ con cái là rất cần thiết. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với loại quan hệ này đòi hỏi phải thoả mãn không những các yêu cầu về mặt pháp lý mà còn phải đặc biệt tôn trọng các đạo lý, truyền thống tốt đẹp của xã hội nói chung và cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng. Do vậy các bậc làm cha làm mẹ ở vùng sâu vùng xa cần quan tâm và có trách nhiệm trong việc đăng ký khai sinh cho con  mình, coi đó là một việc làm cần thiết đã được pháp luật quy định./.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thị trường ngoại hối

    Tiểu luận Thị trường ngoại hối

    Tiểu luận Thị trường ngoại hối

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ngo%E1%BA%A1i-h%E1%BB%91i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thị trường ngoại hối

    Lời mở đầu

     Thị trường ngoại hối :được hình thành và hoạt động từ rất lâu trên thế giới. Nó thực sự tối cần thiết cho sự phát triển kinh tế cũng như sự tăng trưởng trong tương lai của một nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa với những đặc trưng tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính ngày càng rộng khắp và mạnh mẽ, đã và đang chi phối khuynh hướng và cấu trúc vận động của thị trường tài chính từng quốc gia trong đó có việt nam chúng ta.

    Qua những gì đã học được nhóm 7 lớp cao đẳng kế toán k08B đã hoàn thành bài tiểu luận về thị trường ngoại hối thế giới nói chung và việt nam nói riêng như sau.

     

    A : Cơ sở lí luận về thị trường ngoại hối

    I. khái niệm và đặc điểm của thị trường ngoại hối

    1. Khái niệm :

    Thị trường ngoại hối có tên tiếng Anh là : The Foreign Exchange Market, và được viết tắt là FOREX hay FX.

    Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: Thị Trường Ngoại Hối là nơi diễn ra sự mua bán các loại tiền tệ của nhiều quốc gia trên thế giới thông qua hệ thống chuyển đổi thả nổi tự do.

    Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng ( chiếm khoảng 85% tổng doing số giao dịch ), chính vì vậy, theo nghĩa hẹp ( nghĩa thực tế ) thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hang, tức thị trường Interbank.

           
       
    Bất kì đâu diễn ra hoạt động mua bán ngoại tệ
     
    Nghĩa rộng
     
    FOREX
     
       

    2. Đặc điểm của thị trường ngoại hối :

    – Forex không nhất thiết phải tập trung tại vị trí đia lý hữu hình nhất định, mà là bất cứ đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau. Do đó, nó còn được gọi là thị trường không gian (space market).

    – Là thị trường toàn cầu, hoạt động 24/24h. Do có sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm nên còn được gọi là thị trường không ngủ.

    – Trung tâm là thị trường liên ngân hàng – Interbank, với các thành viên chủ yếu là các NHTM, các nhà môi giới ngoại hối và các NHTW. Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm tới 85% tổng doanh số giao dịch toàn cầu.

    –  Giao dịch thông qua các phương tiện hiện đại như điện thoại, mạng vi tính, telex, fax…

    –  Chi phí giao dịch thấp, hoạt động rất hiệu quả. Do thị trường có tính toàn cầu, thông tin cân xứng, khối lượng giao dịch cực lớn, công nghệ hoàn hảo, hang hóa đồng chất…dẫn đến chi phí thấp và hoạt động của thị trường trở nên hiệu quả.

    –  Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất là đồng USD chiếm tới 41,5% trong tổng số các đồng tiền tham gia.

    – Nhạy cảm đối với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội… nhất là chính sách tiền tệ của các nước đang phát triển.

    –  Là thị trường lớn nhất, có doanh số giao dịch lớn nhất. Đây là thị trường tài chính lớn nhất thế giới, với số lượng tiền giao dịch mỗi ngày đã lên dến 1.95 nghìn tỉ USD (2006). Nếu bạn so sánh với thị trường chứng khoán New York 25 tỉ USD giao dịch mỗi ngày.

    – Thị trường trao đổi ngoại tệ (Forex) là thị trường tiền tệ giữa các ngân hàng được thành lập vào năm 1971 khi tỷ lệ trao đổi trôi nổi được cụ thể hoá. Thị trường là một phạm vi hoạt động trong đó tiền tệ của mỗi quốc gia được trao đổi với nhau và là nơi để thực hiện việc kinh doanh quốc tế. Forex là một nhóm gồm khoảng 4500 tổ chức giao dịch tiền tệ, các ngân hàng quốc tế, các ngân hàng trung tâm của chính phủ và các công ty thương mại. Việc chi trả cho xuất nhập khẩu cũng như việc mua bán tài sản đều phải thông qua thị trường trao đổi ngoại tệ. Đây được gọi là thị trường trao đổi ngoại tệ “tiêu thụ”. Cũng có những đoạn đầu cơ trong những công ty Forex đó là sự phơi bày về tài chính rộng lớn để các nền kinh tế ở nước ngoài tham gia vào Forex để bù đắp nguy cơ rủi ro của việc đầu tư quốc tế.

    II Phân loại thị trường ngoại hối

    1.Theo nghiệp vụ kinh doanh

    -Thị trường giao ngay

    -Thị trường kỳ hạn

    -Thị trường hoán đổi

    -Thị trường tương lai

    -Thị trường quyền chọn

    2. Theo tính chất giao dịch

    -Thị trường giao ngay

    -Thị trường tiền gửi

    3. Theo tính chất pháp lý

    -Thị trường chính thức

    -Thị trường phi chính thức

    4. Theo phạm vi thị trường

    -Thị trường ngoại hối quốc tế

    -Thị trường ngoại hối nội địa

    5. Theo phương thức giao dịch

    -Thị trường giao dịch trực tiếp

    -Thị trường giao dịch qua môi giới

    III Chức năng và vai trò của thị trường ngoại hối

    1.chức năng

    Tại sao lại giao dịch ngoại hối? Dưới đây là những thuận lợi và giá trị của thị trường Forex, là những lý do tại sao mọi người chọn giao dịch trong thị trường này:

    Không phí dịch vụ : Không phí trao đổi, không phí thanh toán, không phí chính phủ, không phí môi giới. Người môi giới sẽ được trích từ phí giao dịch thông qua điểm “bid-ask” (trung bình 3-5 pips)

    Không qua trung gian đặt lệnh: Giao dịch tiền tệ không cần trung gian và cho phép khách hàng giao dịch trực tiếp với thị trường và được cập nhật thông tin trực tiếp về giá và tỉ giá các cặp tiền tệ.

    Không giới hạn giao dịch: trong các thị trường khác hợp đồng giao dịch được giới hạn bởi tỉ lệ nhất định ( ví dụ hợp đồng quyền chọn tương lai đối với vàng là 5000 ounces). Trong Forex, có thể giao dịch với chỉ một tài khoản nhỏ 300$.

    Phí giao dịch thấp: Phí giao dịch cho các tài khoản nhỏ ( bid/ask spread) chỉ khoảng 0.1% với những điều kiện thường. Tài khoản càng lớn phí giao dịch càng thấp.

    Thị trường giao dịch 24h: Không phải chờ đợi giờ thị trường mở cửa và đóng cửa. Giao dịch từ tối CN đến trưa thứ 6 giờ EST, có thể nói thị trường FOREX không bao giờ ngủ. Đây là thuận lợi lớn đối với những người muốn giao dịch trong thời gian rảnh hoặc thời gian thích hợp nhất trong ngày, bởi vì bạn có thể chọn giao dịch bất kì lúc nào (sáng, trưa, tối hoặc đêm)

    Không ai có khả năng định hướng thị trường: Thị trường Forex quá lớn và quá nhiều người tham gia nên không ai , cho dù cả 1 ngân hàng , có thể kiểm soát giá trị trường trong dài hạn. Sự can thiệp của ngân hàng trung ương chỉ có tác dụng trong ngắn hạn và không hiệu quả. Ngân hàng trung ương ngày càng có ít tác động hay can thiệp vào thị trường toàn cầu.

    Access (Truy cập): Forex được mở 24h/ngày từ khoảng 6g chiều Chủ Nhật tới khoảng 3g chiều Thứ Sáu. Những người giao dịch riêng lẻ có thể đối phó với tin tức khi nó được tung ra còn hơn là đợi tiếng chuông mở cửa của những thị trường khác lúc mọi người đều có những tin tức giống nhau. Điều này cho phép những người giao dịch tham gia trước khi tin tức chi tiết được phân tích trên tỷ lệ giao dịch. Liquidity cao và giao dịch 24 giờ cho phép những người tham gia thị trường vào và thoát ra bất cứ lúc nào. Có nhiều nhà Môi giới phân phối Forex ở từng vùng, từng trung tâm thị trường chính (Tokyo, Hong Kong, Sydney, Paris, London, Mỹ, v.v…) sẵn sàng tiếp tục đưa ra giá mua và bán.

    Độ thanh khoản cao: Bởi vì thị trường Forex quá lớn, nó cũng rất dễ thanh khoản. Điều này giúp bạn nhanh chóng thực hiẹn giao dịch chỉ với 1 cú nhấp chuột trong điều kiện bình thường. Bạn có thể mua bán ngay lập tức tùy ý. Bạn không bao giờ bị “kẹt” trong thị trường. Bạn cũng có thể thiết lập chế độ tự động cho sàn giao dịch kết thúc lệnh giao dịch khi bạn đã đạt được lợi nhuận mong muốn ( định mức lãi) hoặc đóng khi thị trường dịch chuyển ngược chiều mong muốn ( chống lỗ)

    Thị trường 2 mặt: tiền được giao dịch theo cặp, ví dụ: đô/yên, hoặc đô/đồng Thụy Sỹ. Mỗi vị trí liên quan đến việc bán đồng tiền này và mua đồng tiền kia. Nếu người giao dịch tin rằng đồng Thụy Sỹ sẽ cao giá hơn đô, họ có thể bán đô và mua đồng Thụy Sỹ (bán sớm). Nếu người khác tin ngược lại thì họ sẽ mua đô và bán đồng Thụy Sỹ (mua và trữ). Khả năng lợi nhuận tồn tại vì tỷ giá trao đổi (giá cả) luôn luôn dao động. .Giao dịch Forex cho phép thu lời từ 2 phía cả tăng và giảm giá trị tiền tệ liên quan tới đô. Trong mỗi giao dịch tiền tệ, mỗi bên đều có được và mất.

    Excution Quality: Bởi vì Forex rất hay thay đổi, hầu hết những giao dịch có thể được thực hiện với giá của thị trường hiện tại. Trong tất cả những thị trường di chuyển nhanh, không thể tránh được rủi ro trong tất cả các giao dịch (chứng khoán, bất động sản, v.v…) nhưng có thể được tránh bằng 1 vài chương trình phần mềm của nhà môi giới tiền tệ, các chương trình này sẽ thông báo cho bạn biết giá nhập vào chính xác trước khi thực hiện lệnh. Bạn được phép chọn tránh hoặc chấp nhận rủi ro. Khả năng thanh khoản của thị trường Forex rộng lớn đề ra những khả năng khớp lệnh có chất lượng cao.

    Giao dịch được xác nhận ngay lập tức và người giao dịch qua Internet chỉ việc in 1 bản sao của màn hình máy vi tính để ghi chép lại tất cả hoạt động giao dịch. Nhiều người cho rằng đặc điểm của việc giao dịch bằng Internet an toàn hơn so với việc sử dụng điện thoại để giao dịch. Những hãng nổi tiếng như Charles Schwab, Quick $ Reilly và T.D. Warehouse đề nghị giao dịch qua Internet. Họ sẽ không mạo hiểm danh tiếng của họ nếu dịch vụ Internet không đáng tin cậy và an toàn. Trong tình huống xuất hiện vấn đề về kỹ thuật, máy vi tính tạm thời ngừng hoạt động, nhưng với hệ thống đặt lệnh (ordering) của nhà môi giới (broker), người giao dịch có thể ngay lập tức gọi điện thoại cho broker để vào hoặc thoát ra khỏi giao dịch. Hệ thống vi tính của nhà môi giới (broker Internet) được bảo vệ bởi những bức tường lửa để giữ cho thông tin về tài khoản không bị dòm ngó. Mối quan tâm lớn nhất của broker là sự an toàn của tài khoản. Họ phải thực hiện nhiều bước để lọai trừ bất kỳ hiểm họa nào đi theo việc giao dịch trên Internet. Người giao dịch Forex trên Internet không phải gọi điện thoại cho broker. Sự loại trừ người trung gian (broker salesman) làm giảm chi phí, làm cho tiến trình đặt lệnh nhanh hơn và hạn chế khả năng hiểu lầm.

    Tính tập trung (Focus): Thay vì cố gắng chọn 1 chứng khoán, 1 khế ước, quỹ hỗ tương hoặc bất động sản từ hàng chục ngàn thứ có sẵn trên thị trường, những người giao dịch Forex chỉ tập trung vào 1 tới 4 đồng tiền. Những đồng dễ thay đổi và thông dụng là: Yên Nhật, bảng Anh, đồng Thụy Sỹ và Euro. Những người giao dịch thành công cao là những người tập trung vào số lượng đầu tư có giới hạn. Những người mới bắt đầu Forex thường tập trung vào 1 đồng tiền và sau đó kết hợp từ 1 đến 3 đồng trong hoạt động giao dịch.

    Tính xu hướng (Trendiness): Trong 1 khoảng thời gian lịch sử, tiền tệ đã khẳng định xu hướng là quan trọng. Mỗi đồng tiền có “tính cách” riêng của nó và đưa ra chỉ 1 xu hướng, bất kể những cơ hội giao dịch đa dạng trong thị trường đặc điểm Forex.

    Tất cả các lệnh phải được đặt thông qua sàn giao dịch. Để giao dịch tiền tệ bạn phải cần 1 sàn giao dịch tiền tệ Forex. Hầu hết những công ty giao dịch có những yêu cầu về tài khoản ký quỹ khác nhau. Bạn cần phải hỏi họ những yêu cầu về tài khoản ký quỹ nếu muốn tham gia giao dịch tiền tệ thông qua sàn giao dịch của họ. Tài khoản Giao dịch trên Forex cần 1 tài khoản ký quỹ. Khi là người giao dịch đầu cơ, bạn sẽ không chuyển nhượng sản phẩm mà bạn đang giao dịch. Khi là người giao dịch trong ngày, bạn chỉ giữ vị trí giao dịch từ vài phút đến vài giờ, sau đó bạn phải đóng lệnh và kết thúc giao dịch.Tài khoản ký quỹ không khác gì 1 khế ước về thành tích. Tất cả giao dịch đều cần tài khỏan ký quỹ. Khi có lãi, họ để lãi vào tài khoản ký quỹ của bạn ngay trong ngày. Khi thua, họ cần 1 tài khoản để lấy ra số tiền lỗ mà bạn phải chịu. Tài khoản được thiết lập hàng ngày.Khoản kí quĩ trong giao dịch ngoại hối, một khoản tiền kí quĩ nhỏ có thể giúp bạn giao dịch trên một khoản tiền lớn hơn nhiều. Sức bật cho phép người giao dịch có thể thu được lợi nhuận khổng lồ trên khoản tiền đầu tư nhưng rủi ro có giới hạn. Một ví dụ, người môi giới đề nghị bạn 1 sức bật 200:1, có nghĩa là với 500$ tiền kí quĩ bạn có thể giao dịch trên số tiền 100.000$. Nhưng sức bật là con dao 2 lưỡi, vì nếu không quản lý rủi ro tốt, sức bật càng cao thì rủi ro càng lớn và bạn có thể mất khoản tiền kĩ quí trước khi bắt đầu thu được lợi nhuận. Một phần rất quan trọng của việc giao dịch là lấy ra phần thắng hay tiền lãi của bạn. Khi đến lúc lấy ra phần của bạn trong tài khoản ký quỹ, tất cả những điều bạn cần phải làm là liên lạc với broker của bạn và yêu cầu họ gửi cho bạn số tiền bạn yêu cầu, họ sẽ gửi chi phiếu cho bạn. Họ cũng có thể chuyển tiền cho bạn. * Tài khoản “ảo”, tin tức, biểu đồ và phân tích: hầu hết các sàn giao dịch và môi giới đều hỗ trợ bạn giao dịch bằng tài khoản ảo để thực tập trước khi chơi thật, và cung cấp cho bạn những tin nóng cũng như những công cụ hỗ trợ. Đó là những nguồn tài nguyên hữu ích giúp bạn tích lũy kinh nghiệm với tiền “ảo” trước khi bắt đầu chơi thật sự. * Tài khoản “mini”: Bạn có thể nghĩ rằng mới bắt đầu chơi mà đầu tư nhiêu tiền sẽ dẫn đến thua lỗ. Thật sự là không như vậy. Các nhà môi giới sẽ hỗ trợ bạn chơi với các tài khoản “mini” với số vốn ban đầu chỉ 300-500$. Điều này giúp cho FOREX ngày càng khả thi hơn với những cá nhân không muốn đầu tư chi phí khởi sự ban đầu quá cao.

    Tài khoản mini ban đầu có thể là một lựa chọn tốt cho bạn. Đừng cười, việc này cũng giống như việc giúp bạn “bớt lạnh” trước khi xuống hồ bơi ! Trong Forex, bạn sẽ tự quyết định bao nhiêu tiền trong một lần giao dịch. Tuy nhiên, chúng tôi khuyên bạn nên chơi với một tỉ lệ nhỏ trong khoản tiền đầu tư mà bạn có.

    Từ đó ta có thể rút ra chức năng của ngoại hối :

    Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là kết quả phát triển tự nhiên của một trong các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại, đó là:nhằm dịch vụ cho các khách hang thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế.

    2. vai trò của Forex là:

    Phục vụ thương mại quốc tế (Primary Role)

    Phục vụ luân chuyển vốn quốc tế

    Nơi hình thành tỷ giá

    Nơi NHTW can thiệp lên tỷ giá

    Nơi KD và phòng ngừa rủi ro tỷ giá

    IV; Những yếu tố và Thành viên tham gia FOREX

    1.Điều kiện tham gia thị trường ngoại hối

    – Điều kiện tối thiểu nếu bạn muốn giao dịch trong thời gian đó là bạn phải có từ 10 đến 50 triệu USD để bắt đầu. FOREX ra đời lúc đầu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của các ngân hàng và các công ty khổng lồ trong ngành, không phải là những “chàng tí hon”. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ kì diệu của Internet, hệ thống giao dịch trực tuyến, các công ty giao dịch đã ra đời cho phép mở những tài khoản “lẻ” cho chúng ta. Ngày nay, những nhà môi giới trên thị trường được phép phá vỡ những đơn vị giao dịch rộng lớn và cho phép những giao dịch nhỏ có cơ hội để mua và bán bất cứ số nào trong những giá trị nhỏ hơn này (lots).

    2.Thành viên tham gia

    Ngân hàng thương mại:có 2 vai trò trong thị trường Forex

    1. Làm cho việc giao dịch giữa hai bên trở nên dễ dàng, ví dụ như những công ty muốn trao đổi tiền tệ (người tiêu thụ).
    2. Đầu cơ bằng cách mua và bán tiền tệ. Ngân hàng có vai trò trong những đơn vị tiền tệ nhất định bởi vì người ta tin rằng trong tương lai chúng sẽ có giá cao hơn (nếu mua trữ) và thấp hơn (nếu bán sớm). Người ta thống kê rằng 70% lợi tức thường niên của những ngân hàng quốc tế được sinh ra từ việc đầu cơ tiền tệ. Những đầu cơ khác bao gồm những nhà giao dịch thành công nhất trên thế giới ví dụ George Soros.

    –  Ngân hàng trung ương của các quốc gia khác.Khi ngân hàng trung tâm mua và bán tiền tệ hoặc ngoại tệ thì mục đích là để giữ vững giá trị đồng tiền của đất nước họ. Forex rất rộng và có rất nhiều người tham gia chứ không phải một người, chỉ có những ngân hàng trung tâm của chính phủ mới có thể kiểm soát thị trường

    –  Các nhà môi giới

    –  Các doanh nghiệp

    –  Các cá nhân ,các nhà kinh doanh

    3. Thị trường ngoại hối có thể có các chủ thể sau tham gia

    – Phân loại theo mục đích tham gia thị trường

    Các nhà phòng ngừa rủi ro ngoại hối

    Các nhà kinh doanh chênh lệch tỷ giá

    Các nhà đầu cơ

    – Phân loại theo hình thức tổ chức

    Khách hàng mua bán lẻ

    Ngân hàng thương mại

    Các định chế tài chính khác

    Các nhà môi giới

    Ngân hàng trung ương

    – Phân loại theo chức năng

    Primary price maker( nhà tạo giá sơ cấp)

    Secondary price maker (nhà tạo giá thứ cấp)

    Price Taker (nhà cấp nhận giá)

    Nhà cung cấp dịch vụ và tư vấn thông tin

    Broker( nhà môi giới)

    Speculator(nhà đầu cơ)

    Người can thiệp trên thị trường.

    4. Nhưng việt nam chúng ta thường áp dụng cách phân loại theo tổ chức.

    Các khác hàng mua bán lẻ ( Retail Clients)

    Nhóm khách hang mua bán lẻ bao gồm những công ty nội địa và đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai mục đích :

    Chuyển đổi ngoại tệ

    Phòng ngừa rủi ro tỷ giá

    Nhòm khách hang này mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ chỉ có mục đích là phục vụ bản thân chứ không có mục đích kinh doanh.

    Các ngân hang thương mại ( Commercial Bank)

    Các NHTM tiến hành giao dịch ngoại hối nhằm hai mục đích :

    Cung cấp dịch vụ cho khách hang, bằng cách mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng mua bán lẻ.

    Thứ hai, kinh doanh cho chính mình, tức là mua bán ngoại hối nhằm kiếm lãi khi tỷ giá thay dổi.

    Trên Interbank, các ngan hang giao dịch vời nhau theo hai phương pháp :

    Giao dịch trực tiếp giữa ngân hang với nhau (Direct Interbank )

    Giao dịch gián tiếp thông qua nhà môi giới ( Indirect Interbank )

    Những nhà môi giới ngoại hối ( Foreign exchange brokers )

    Ngày nay hình thức này cũng đang phát triển.

    Các Ngân hang trung ương (Central bank )

    Can thiệp tỷ giá

    Mua bán, chuyển đổi tiền tệ nhằm bảo toàn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối quốc gia

    NHTW là đạilý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính phủ.

    V: Hàng hóa và các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

    1.Hàng hóa

    Vậy “hàng hóa” của thị trường FOREX là gì? Câu trả lời là TIỀN. Giao dịch ngoại hối là hoạt động giao dịch mua một số lượng tiền này và bán một số lượng tiền khác diễn ra cùng thời điểm. Tiền được giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp theo từng cặp; ví dụ cặp EUR/USD hay GBP/JPY. Hoạt động giao dịch FOREX có thể sẽ phức tạp đối với nhiều người vì họ không thể mua bán tận tay bất kì thứ gì trong thị trường. Đơn giản bạn hãy nghĩ việc mua 1 đồng tiền nào đó như là mua cổ phần của 1 đất nước. Khi bạn mua đồng Yên Nhật, bạn đang tác dộng đến tỉ giá ngoại hối của Nhật và gián tiếp lên Kinh tế Nhật, do giá trị của động tiền là sự phản chiếu đánh giá của thị trường về “sức khỏe” trong hiện tại và trong tương lai của một quốc gia. Tổng quan, tỉ giá của một loại tiền tệ so với một loại tiền tệ khác là sự phản chiếu các yếu tố của một nên kinh tế khi so sánh với một nền kinh tế khác. Không như các thị trường tài chính khác, FOREX cũng không có một trung tâm tài chính hay giao dịch nào cả. Thị trường ngoại hối là thị trường “liên ngân hàng”, và dựa trên giao dịch điện tử giữa hệ thống nối kết các ngân hàng với nhau, và hoạt động suốt 24 giờ trong ngày.

     

     

    Đồng tiền nào được giao dịch? 7 loại tiền được giao dịch thường xuyên nhất trên thị trường là : Dollar, Euro, Yen, Bảng Anh, Franc. Kí hiệu các loại tiền gồm 3 chữ cái, trong đó 2 chữ cái đầu tiên là viết tắt của tên quốc gia và chữ cái cuối cùng là tên của loại đồng tiền giao dịch

    2.Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

    Ta có thể xem sơ đồ sau:

    2.1.   SPOT Nghiệp vụ giao ngay

    Khái niệm: Là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán các loại ngoại tệ tận dụng mức chênh lệch tỷ giá trên các thị trường.

    Mục đích: Tìm cơ hội Acbit để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn ngoại tệ đang nắm giữ (nhằm phòng ngừa rủi ro hối đoái, hiệu quả trong thanh toán, và lợi nhuận trong kinh doanh).

    Phân loại: có 2 loại Acbit:

    Acbit giản đơn: mua bán diễn ra trên hai thị trường.

    Acbit phức tạp: việc mua bán diễn ra ở nhiều hơn 2 thị trường

    2.2   FORWARD Nghiệp vụ kỳ hạn

    Khái niệm: Giao dịch mua bán kỳ hạn các ngoại tệ được ký tại thời điểm hiện tại, và được kết thúc vào kỳ hạn cụ thể xác định trong hợp đồng.

    Tỷ giá xác định bởi 2 yếu tố: tỷ giá trao ngay và lãi suất thị trường của 2 đồng tiền liên quan.

    Mục đích:

    Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng tại thời điểm nào đó xác định.

    Giúp khách hàng hạn chế được rủi ro khi dự báo được sự biến động tỷ giá bất lợi cho kinh doanh của mình.

    2.3   SWAP Nghiệp vụ hoán đổi

    Khái niệm: Là nghiệp vụ tiến hành thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực, việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai.

    Đặc điểm:

    Hợp đồng có thể chuyển nhượng tại bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực.

    Hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và được thực hiện trên sàn giao dịch của sở giao dịch tiền tệ tương lai.

    Mục đích: Bảo hiểm phòng ngừa rủi ro, mục đích đầu cơ.

    2.4   OPTION Nghiệp vụ quyền chọn

    Khái niệm: Cho phép người mua hợp đồng có quyền mua, bán tiền tệ tại một mức tỷ giá đã thỏa thuận trước gọi là tỷ giá quyền chọn.

    Phân loại:

    Quyền chọn mua : cho phép người mua có quyền nhưng không bắt buộc mua một số lượng ngoại tệ nhất định.

    Quyền chọn bán : cho phép người bán có quyền nhưng không bắt buộc bán một số lượng ngoại tệ nhất định.

    2.5   FUTURE Nghiệp vụ tương lai

    Khái niệm: Swap là một trong những công cụ thông dụng có hiệu quả cho các nhà đầu tư, người đi vay ngoại tệ và các ngân hàng trong việc phòng ngừa rủi ro hối đoái, hoặc để kinh doanh thu lợi nhuận .

    Mục đích:

    Giải pháp hỗ trợ tỷ giá cho đồng nội tệ.

    Liên kết các thị trường tài chính trong nước và thị trường tài chính quốc tế với nhau

    Phân loại:

    Swap lãi suất

    Swap tiền tệ

    Trong đó :

    –  Nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi được thực hiện phi tập trung over the counter market – OTC

    –  Nghiệp vụ quyền chọn có thể được thực hiện phi tập trung hoạc là Thực hiện tập trung trên cơ sở giao dịch – the exchange.

    –  Nghiệp vụ tương lai chỉ được thực hiện trên sở giao dịch.

    B:Thực trạng thị trường ngoại hối ở Việt Nam

    I: Thực trạng và Điều kiện để phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam

    1.1Thực trạng

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách ngoại hối đóng vai trò rất quan trọng, làm sao để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, kiều hối, nhưng lại phải đảm bảo được chủ quyền của đồng Việt Nam, thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ. Trong thời gian qua, chính sách ngoại hối đã có những thay đổi quan trọng, một số quy định đã thông thoáng hơn, mở ra nhiều nghiệp vụ mới, đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối.

    Tuy nhiên cho đến nay, ở Việt Nam các nghiệp vụ phái sinh vẫn còn sơ khai, kém phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấp, thậm chí ở một số NHTM mặc dù đã triển khai nghiệp vụ option nhưng không có giao dịch. Mặc dù trên thế giới các nghiệp vụ phái sinh để bảo hiểm rủi ro tỷ giá như forward, swap, futures, option đã được sử dụng phổ biến từ rất lâu với doanh số hàng ngày lên tới hàng trăm tỷ USD. Chính vì vậy, việc ứng dụng các công cụ phái sinh nhằm bảo hiểm rủi ro tỷ giá tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do:

        Một là: thiếu nhu cầu thực sự từ phía khách hàng.

    Đây là vấn đề cốt lõi, vì trước đây tỷ giá USD/VND thường xuyên ổn định tại mức trần so với giá NHNN công bố, khách hàng không quan tâm tới vấn đề bảo hiểm rủi ro tỷ giá. Tuy nhiên, sang năm 2007 và đầu năm 2008, thị trường chứng kiến sự biến động và đảo chiều mạnh mẽ của VND so với đồng Đôla Mỹ, tỷ giá USD/VND giảm xuống giao dịch tại mức sàn. Nguyên nhân là do lượng lớn ngoại tệ từ các hoạt động đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài, kiều hối đổ vào các NHTM làm xuất hiện dư thừa ngoại tệ do mất cân đối cung cầu. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề rủi ro tỷ giá, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu trong ngành thuỷ sản, dệt may, cà phê… và các ngành sản xuất, xuất khẩu khác. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có thói quen hay nói chính xác hơn là chưa quan tâm tới phòng chống rủi ro đối với các hoạt động ngoại tệ của mình.

    Hàng năm các doanh nghiệp Việt Nam đều phải vay ngoại tệ hàng trăm triệu USD hoặc EUR để đầu tư vào các dự án lớn, các doanh nghiệp này sau khi vay ngoại tệ thường bán số ngoại tệ này chuyển sang VND để tiến hành hoạt động đầu tư dự án, đến kỳ trả nợ họ phải mua lại số ngoại tệ đó bằng VND. Trong thời gian tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, rõ ràng sẽ có sự biến động về cả lãi suất cho vay và cả tỷ giá hối đoái. Nếu sử dụng công cụ phái sinh như hoán đổi lãi suất hoặc công cụ kỳ hạn hay quyền chọn về ngoại tệ thì các doanh nghiệp sẽ bảo hiểm được rủi ro lãi suất trong trường hợp nếu lãi suất vay là thả nổi và khi lãi suất thị trường đã tăng lên như hiện nay hoặc bảo hiểm được rủi ro tỷ giá khi ngoại tệ có xu hướng giảm xuống vào thời điểm doanh nghiệp bán ngoại tệ.

        Hai là:thiếu cơ sở pháp lý.

    Trong vài năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cho phép các NHTM được thực hiện nhiều nghiệp vụ mới như quyền chọn ngoại hối, quyền chọn vàng, hoán đổi lãi suất. Tuy nhiên cơ sở pháp lý cho nghiệp vụ phái sinh còn chưa đầy đủ, ngoại trừ chỉ có giao dịch hoán đổi lãi suất đã có quy chế của NHNN là Quyết định số 1133/2003/QĐ-NHNN, ngày 30/09/2003. Mặc dù hiện nay tất cả các NHTM đều được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, tuy nhiên chỉ được thực hiện quyền chọn giữa ngoại tệ và ngoại tệ, còn quyền chọn giữa ngoại tệ và VND thì phải được sự cho phép từ phía NHNN. Trên thực tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường chuyển đổi ngoại tệ ra VND để phục vụ hoạt động đầu tư sản xuất trong nước mà hầu như không chuyển đổi từ ngoại tệ ra ngoại tệ. Đây cũng là trở ngại lớn đối với các NHTM làm cho doanh số giao dịch quyền chọn rất thấp.

        Ba là, thiếu kiến thức, hiểu biết về công cụ phái sinh.

    Sản phẩm phái sinh trong phòng chống rủi ro là một sản phẩm khá mới và phức tạp đối với thị trường Việt Nam. Đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như các NHTM phải có hệ thống thông tin dự báo tỷ giá quốc tế nhanh, chính xác, cập nhật liên tục; phải có công cụ đo lường và cảnh báo rủi ro tỷ giá, lãi suất; đội ngũ các nhà quản lý, các giao dịch viên chuyên nghiệp, Thực tế có nhiều NHTM được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại hối từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa triển khai được. Đối với các doanh nghiệp thì việc hiểu biết các công cụ phái sinh để phòng chống rủi ro còn nhiều hạn chế.

    1.2 Điều kiện để phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam

    Từ thực tế trên, để ứng dụng và phát triển công cụ phái sinh tại Việt Nam cần phải có các điều kiện sau

       Thứ nhất, về khách quan.

    Tỷ giá thị trường phải biến động tới mức đủ để các doanh nghiệp phải quan tâm chú ý tới vấn đề bảo hiểm rủi ro tỷ giá. Các NHTM cũng rất muốn triển khai các sản phẩm dịch vụ mới nhưng không thể “cố ép” khách hàng sử dụng khi thực sự họ không có nhu cầu.

    NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt hơn, tạo ra một thị trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ. NHNN cần tiếp tục nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân và thường xuyên điều chỉnh linh hoạt biên độ này cho phù hợp với thị trường hơn. Đây là cơ sở để NHTM cũng như doanh nghiệp quen dần với các công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá. Bên cạnh đó, NHNN cần nghiên cứu ban hành những quy tắc cơ bản nhất trong giao dịch phái sinh, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với điều kiện thị trường của Việt Nam hiện nay, để có hành lang pháp lý chung cho hoạt động của các NHTM. Cho phép các NHTM chủ động thực hiện quyền chọn ngoại hối giữa ngoại tệ và VND khi có nhu cầu phái sinh. Tránh để các NHTM thực hiện nghiệp vụ mới một cách riêng lẻ theo sự hiểu biết của ngân hàng, dẫn đến tình trạng không thống nhất, dễ gây ra tranh chấp khi có sự cố xảy ra.

    NHNN cần tăng cường hơn nữa vai trò trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN tổ chức, giám sát và điều hành nhằm hình thành một thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các tổ chức tín dụng là thành viên thị trường. Ngân hàng Nhà nước tham gia thị trường với tư cách là người mua, người bán cuối cùng, thực hiện can thiệp khi cần thiết vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.

       Hai là, về phía các NHTM

    Cần tiếp cận khách hàng, tổ chức hội thảo để giới thiệu và tư vấn nhằm mục đích vừa nâng cao nhận thức của khách hàng về rủi ro tỷ giá vừa giúp cho khách hàng hiểu biết về các công cụ phái sinh ngoại hối. Phát triển các công cụ phái sinh và thị trường phái sinh là giúp cho các doanh nghiệp có thêm cơ hội lựa chọn loại hình giao dịch hối đoái phù hợp với mục tiêu kinh doanh. Khi sử dụng các công cụ phái sinh doanh nghiệp có được sự lựa chọn về tỷ giá mong muốn. Mặt khác, cần tập trung ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp kinh doanh trên thị trường hối đoái quốc tế về các công cụ phái sinh nói chung và phái sinh ngoại hối nói riêng, vì đây là những sản phẩm mới, phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng. Ngoài ra cần trang bị thêm những kiến thức và kinh nghiệm về thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ quốc tế, kỹ năng phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp và phân tích thông tin để dự đoán xu hướng diễn biến của thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu quả nhất. Thông qua đó để có thể tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ cho khách hàng của mình hiểu biết hơn về thị trường ngoại hối.

        Ba là, về phương tiện, thiết bị.

    Ngoài những phương tiện, thiết bị hiện có của Reuters, Thomson, SowJones News hay Metastock, cần trang bị thêm phần mềm xử lý, quản lý rủi ro và tính phí đối với các nghiệp vụ phái sinh. Mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường ngoại hối quốc tế, để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức, về hệ thống phân tích quản lý rủi ro đối với các công cụ phái sinh nói chung và công cụ quyền chọn ngoại hối, công cụ tương lai ngoại hối nói riêng.

    II:Những con số và sự kiện đã sảy ra ở việt nam

    Năm 2008, thị trường ngoại hối từng có những đợt biến động mạnh và căng thẳng; tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do có lúc lên sát 19.000 VND. Những diễn biến này được đặt trong những áp lực cơ bản: nhập siêu tăng kỷ lục và lạm phát tăng rất mạnh.
    Những tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối cũng căng thẳng, nhưng những áp lực trên đã không còn quá lớn.
    7 tháng đầu năm, nhập siêu chỉ mới ở mức 3,38 tỷ USD; và theo mục tiêu Bộ Công Thương đặt ra, năm nay nhập siêu sẽ dưới 20% kim ngạch xuất khẩu, cả năm sẽ khoảng 8 – 10 tỷ USD, rất thấp so với sự đột biến 18 tỷ USD năm 2008.
    Cũng trong 7 tháng đầu năm, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng 3,22% so với cuối năm 2008; trong khi đó tỷ giá USD/VND tăng 6,22%. Mức tăng của hai chỉ số này vẫn đang đảm bảo yếu tố có lợi và hỗ trợ cho xuất khẩu. Áp lực lạm phát đối với tỷ giá cũng không quá lớn khi nhiều dự báo tin tưởng khả năng chỉ tăng dưới 10%, thậm chí chỉ khoảng 7% – 8% trong năm nay.
    Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định có đủ khả năng để can thiệp thị trường khi cần thiết với nguồn ngoại tệ đủ mạnh. Hiện dự trữ ngoại tệ ở khoảng trên dưới 22 tỷ USD. Tuy nhiên, nhà điều hành không thể dùng biện pháp tưởng như đơn giản là tung một nguồn ngoại tệ lớn cho thị trường để xoa dịu sự căng thẳng của cầu, bởi theo giải thích của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu, điều hành chính sách tỷ giá còn phải đảm bảo hài hòa các lợi ích, yêu cầu khác của nền kinh tế, và việc tung một nguồn ngoại tệ lớn ra thị trường còn có những hệ lụy…
    Theo phản ánh của các ngân hàng, có một thực trạng chung là nhiều doanh nghiệp xuất khẩu khi thu ngoại tệ về không chịu bán lại. Đây là một lựa chọn có mục đích chính là để dự phòng rủi ro tỷ giá trong tương lai (vốn đã có nhiều trường hợp phải trả giá đắt trong năm 2008), bởi chính các doanh nghiệp cũng cần ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho sản xuất để xuất khẩu; một mục đích khác là sự găm giữ có kỳ vọng tỷ giá sẽ tiếp tục tăng, hay nói cách khác mức giá các ngân hàng trả theo quy định hiện nay tỏ ra chưa hấp dẫn doanh nghiệp.
    Một nguyên nhân khác của việc doanh nghiệp không chịu bán lại ngoại tệ là do “tác dụng phụ” của chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn VND. Lãi suất vay VND sau hỗ trợ chỉ khoảng 5% – 6%/năm, trong khi vay USD cũng có lãi suất gần tương ứng và còn phải chịu rủi ro tỷ giá khi mua ngoại tệ trả nợ trong tương lai. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp lựa chọn giải pháp tìm mua USD thay vì vay USD.
    Vừa qua, với “gợi ý” của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm mạnh lãi suất cho vay USD xuống phổ biến dưới 3%/năm để có thể tạo hấp dẫn đối với doanh nghiệp vay vốn. Ở một giải pháp khác, theo thông tin tại cuộc đối thoại với doanh nghiệp hồi trung tuần tháng 5/2009, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tổ chức đàm phán với một số doanh nghiệp lớn với mục đích thúc đẩy việc bán lại USD, vay USD cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây chỉ là một giải pháp tình thế và cục bộ.
    Thời gian gần đây, trước tình hình ngoại tệ của những thành viên trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện vai trò bán ra hỗ trợ. Nhưng dường như đây vẫn chưa phải là một cách giải quyết có tính căn bản, khi sự ách tắc nguồn ngoại tệ găm giữ tại các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chưa thực sự được tháo gỡ.
    Đáp ứng được yêu cầu hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Điều này còn thiếu ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua, khi doanh nghiệp có ngoại tệ không chịu bán, doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. Cơ chế trần tỷ giá hiện nay chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến với nhau.
    Lãnh đạo một vụ chức năng của Ngân hàng Nhà nước từng thừa nhận, có những doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phải mua ngoại tệ của họ cao hơn giá quy định; trước khi siết chặt quản lý, doanh nghiệp mua ngoại tệ cũng phải mua giá cao hơn qua nguồn thu phí gián tiếp của ngân hàng. Cả hai chiều này đều cho thấy mức tỷ giá hiện hành cùng biên độ không đáp ứng được nguyện vọng của họ – những đại diện của thị trường Và ngay cả trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nhiều thông tin phản ánh gần đây đề cập đến những trường hợp “lách” trần tỷ giá thông qua ngân hàng thứ ba, ngoại tệ thứ ba. Họ buộc phải đi đường vòng bởi “đường thẳng” hiện tại không đáp ứng được yêu cầu của họ.
    Yếu tố thị trường trong cơ chế này cũng không cô lập, mà có sự tương tác với thị trường tiền gửi, thị trường cho vay. Hai thị trường đó cũng nằm trong khả năng điều chỉnh, quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Một ví dụ cụ thể là việc giảm mạnh đồng loạt lãi suất cho vay USD vừa qua cũng là một sự tương tác điển hình trong mối quan hệ này, góp phần giải vây cho thị trường ngoại hối. Tất nhiên, theo ý kiến chuyên gia, để điều hòa được mối quan hệ này theo các mục đích định sẵn, năng lực của nhà điều hành luôn là một yếu tố có tính quyết định.“Và ngày 10-09-2009: Tỷ giá USD/VND cao nhất trong lịch sử“

    Tỷ giá bình quân liên ngân hàng liên tục tăng cao, giá USD niêm yết của các ngân hàng thương mại đã lên mức cao nhất trong lịch sử. Từ cuối tháng 8 đến nay, tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố liên tục tăng. Ngày 9/9, sau hơn tám tháng, tỷ giá này chính thức vượt mốc 16.980 VND và ở mức 16.981 VND. Sáng nay (10/9), tỷ giá bình quân liên ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 16.983 VND.

    Giá USD mua vào – bán ra của các ngân hàng thương mại niêm yết sáng nay cũng đồng loạt lên mức cao nhất từ trước tới nay, kịch trần 5% biên độ cho phép theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, cùng áp ở mức 17.832 VND.

    Trong lịch sử, tỷ giá bình quân liên ngân hàng cao nhất ghi nhận ở mức 16.989 VND của ngày 25/12/2008 – ngày mà lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng một bước 3%, từ mức 16.494 VND. Từ thời điểm đó đến trung tuần tháng 2/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được áp dụng quanh mốc 16.980 VND. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, biên độ tỷ giá quy định ở mức +/-3% nên giá USD của các ngân hàng thương mại phổ biến chỉ ở dưới 17.500 VND.

    Từ cuối tháng 3/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu giảm mạnh, có ngày giảm gần 10 VND. Đây được xem là một sự điều chỉnh “cân đối” với chính sách biên độ mới, khi từ ngày 24/3/2009 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới biên độ từ +/-3% lên +/-5%. Từ cuối tháng 7 trở lại đây, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu tăng trở lại; hiện vẫn thấp hơn so với những ngày cuối năm 2008, nhưng do có biên độ lớn hơn nên giá USD của các ngân hàng đã lên mức cao nhất từ trước tới nay.

    Trong suốt những biến động từ đầu năm, hầu hết ở các thời điểm tỷ giá USD/VND của các ngân hàng thương mại đều ở sát trần biên độ cho phép; việc đẩy giá mua vào bằng đúng giá bán ra cũng đã kéo dài kể từ ngày 11/6/2009 trở lại đây.

    Trong báo cáo tổng kết thị trường tuần qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì thông điệp “đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành tỷ giá ổn định, áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp để thị trường ngoại hối hoạt động tích cực hơn”.

    Trong tháng 8 vừa qua, theo thông tin từ lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, tình hình cung – cầu ngoại tệ trên thị trường đã bớt căng thẳng; doanh nghiệp và người dân cũng đã bắt đầu bán ra USD thay vì chủ yếu găm giữ trước đó.

    Nhu cầu vay ngoại tệ của doanh nghiệp cũng đã tăng lên. Trong tháng 7 và 8 vừa qua, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) đã tăng khá nhanh; lần lượt tăng 1,2% và 1,52%. Lãi suất huy động USD từ cuối tháng 8 đến nay cũng đã tăng khá mạnh; một số ngân hàng đã đẩy mức cao nhất lên đến 4% – 4,15%/năm.

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá USD tháng 8/2009 đã tăng 6,36% so với tháng 12/2008, tăng 8,95% so với cùng kỳ năm 2008.

     

    C : giải pháp

    – Cho phép doanh nghiệp được phát hành trái phiếu ngoại tệ để huy động ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế và ngoại tệ được coi là thừa của ngân hàng thương mại.

    – Tạo cơ chế mua đứt bán đoạn thay cho tín dụng ngoại tệ nhằm nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp, ngân hàng và tính thị trường trong quan hệ ngoại hối.

    – Làm thế nào để khơi thông cho được nguồn ngoại tệ ứ đọng tại các doanh nghiệp xuất khẩu.

    – Đa dạng hóa ngoại tệ trong thanh toán, không “neo” chủ yếu vào đồng USD như hiện nay. Nhưng, theo lãnh đạo của một ngân hàng có thị phần thanh toán quốc tế lớn nhất hiện nay, điều đó cũng khó thực hiện theo ý muốn chủ quan, bởi phần lớn các đối tác bán hàng bên ngoài đều yêu cầu thanh toán bằng USD, nhà nhập khẩu trong nước phải đáp ứng.

    – Để bên mua – bên bán thực sự gặp nhau
    Đáp ứng được yêu cầu hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Điều này còn thiếu ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua, khi doanh nghiệp có ngoại tệ không chịu bán, doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. Cơ chế trần tỷ giá hiện nay chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến với nhau.
    Lãnh đạo một vụ chức năng của Ngân hàng Nhà nước từng thừa nhận, có những doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phải mua ngoại tệ của họ cao hơn giá quy định; trước khi siết chặt quản lý, doanh nghiệp mua ngoại tệ cũng phải mua giá cao hơn qua nguồn thu phí gián tiếp của ngân hàng. Cả hai chiều này đều cho thấy mức tỷ giá hiện hành cùng biên độ không đáp ứng được nguyện vọng của họ – những đại diện của thị trường.
    Và ngay cả trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nhiều thông tin phản ánh gần đây đề cập đến những trường hợp “lách” trần tỷ giá thông qua ngân hàng thứ ba, ngoại tệ thứ ba. Họ buộc phải đi đường vòng bởi “đường thẳng” hiện tại không đáp ứng được yêu cầu của họ.
    Thị trường đang cần một môi trường để bên mua – bên bán thực sự gặp nhau, ở một mức giá có được sự đồng thuận, đáp ứng nhu cầu của cả hai bên. Và ở đây, quan hệ cung – cầu sẽ hình thành mức giá hợp lý. Tất nhiên, điều này không đồng nghĩa với sự thả nổi, mà nhà điều hành chính sách là người mua và bán cuối cùng, điều tiết, định hướng cung – cầu thông qua những lực lượng sẵn có.
    Yếu tố thị trường trong cơ chế này cũng không cô lập, mà có sự tương tác với thị trường tiền gửi, thị trường cho vay. Hai thị trường đó cũng nằm trong khả năng điều chỉnh, quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Một ví dụ cụ thể là việc giảm mạnh đồng loạt lãi suất cho vay USD vừa qua cũng là một sự tương tác điển hình trong mối quan hệ này, góp phần giải vây cho thị trường ngoại hối. Tất nhiên, theo ý kiến chuyên gia, để điều hòa được mối quan hệ này theo các mục đích định sẵn, năng lực của nhà điều hành luôn là một yếu tố có tính quyết định.

     

     

     

     

     

                                                       Hết


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-nh%E1%BB%AFng-th%C3%A0nh-t%E1%BB%B1u-v%C3%A0-h%E1%BA%A1n-ch%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-ph%C3%A9p-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-v%C3%A0-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-duy-v%E1%BA%ADt-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-M%C3%A1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Tiểu luận Triết học

    A. LỜI NÓI ĐẦU

    Lịch sử Triết học là một phần học trong chương trình môn Triết học Mác – Lênin ở các trường Đại học và Cao đẳng giúp người học nắm được quá trình hình thành phân tích những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật của tư duy triết học nhân loại, đồng thời nhận thấy rõ sự ra đời của phát triển của triết học Mác – Lênin là một tất yếu hợp qui luật chứ không phải là một trào lưu biệt lập nằm ngoài dòng chảy của văn minh nhân loại.

    Hạt nhân lí luận trong Triết học Mác – Lênin là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là những phát sinh lớn nhất của Mác – Ănghen và được Lênin kế tục phát triển, là cơ sở lí luận và kim chỉ nam cho hoạt động của các Đảng Cộng sản. Tuy nhiên không phải Mác – Ănghen xây dựng nên chúng từ mảnh đất không mà phải chọn lựa kế thừa những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử phát triển trước đó. Vậy quá trình phát triển của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng diễn ra như thế nào. Điều đó tôi sẽ làm sáng tỏ trong nội dung bài tiểu luận với đề tài: “Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác“.

    Mặc dù tôi đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do mới tiếp xúc với triết học, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong thầy chủ nhiệm bộ môn cùng các bạn đọc góp ý bổ sung để tôi có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình.

    Tôi xin cảm ơn!

    Tiểu luận Triết học

    B. NỘI DUNG

    1. CHỦ NGHĨA DUY VẬT TRƯỚC MÁC

    Chủ nghĩa duy vật là một trong hai trường phái cơ bản của triết học. Xuất hiện ngay từ thời cổ đại khi triết học mới bắt đầu hình thành. Từ đó đến nay lịch sử phát triển của nó luôn gắn liền với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Nó đã trải qua nhiều hình thức khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở chỗ coi vật chất là cái có trước và cái quyết định ý thức, đề xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới.

    Lịch sử chủ nghĩa duy vật phát triển qua nhiều thời kỳ và ngày càng hoàn thiện, trở thành một nội dung quan trọng trong chủ nghĩa Mác – Lênin và được vận dụng rất nhiều trong các lĩnh vực của đời sống. Bây giờ ta sẽ nghiên cứu từng thời kì lịch sử phát triển của nó.

    1.1. Hình thái duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại

     

    Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ nhưng mang tính ngây thơ chất phác vì chủ yếu chưa dựa vào các thành tựu của các bộ môn khoa chưa phát triển.

    này nói chung là đúng đắn dựa vào quan sát trực tiếp, học chuyên ngành vì lúc đó

    1.1.1. Chủ nghĩa duy vật Ấn Độ cổ đại

    • Ấn Độ, chủ nghĩa duy vật xuất hiện tương đối sớm và mang những nét độc đáo, tập trung ở một số trường phái sau:

    1.1.1.1. Trường phái Sam Khuya

    Vào thời gian đầu, triết lý Samkhuya không thừa nhận “tinh thần vũ trụ tối cao” phủ nhận sự tồn tại của thần. Ngược lại nó khẳng định thế giới này là thế giới vật chất. Đã giải thích mọi vật của thế giới là kết quả của sự thống nhất ba yếu tố. Đó là Sativa (sự trong sáng), Tamas (tính ỳ thụ động) và Rajas (kích thích động). Khi 3 yếu tố này ở trạng thái cân bằng thì vật chất đầu tiên chưa biểu hiện nhưng khi cân bằng bị phá vỡ thì sinh thành vạn vật của vũ trụ.

    Tiểu luận Triết học

    Tuy nhiên quan niệm về vật chất của phái Samkhuya còn có nhiều hạn chế. Họ cho ràng dạng vật chất đầu tiên là không nhận biết được và giải thích về hình thành vạn vật còn chưa đúng đắn đó là quan niệm về sự hình thành thế giới hữu hình đa dạng từ thế giới vô hình, đồng nhất.

    1.1.1.2. Trường phái Nyaya:

    Thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất rất phong phú đa dạng bao gồm nhiều sự vật, hiện tượng. Thế giới này tồn tại trong không gian do các hạt nhỏ cấu tạo nên và được gọi là nguyên tử. Nguyên tử của thực thể này khác nguyên tử của thực thể kia ở chất lượng, hình dạng và cách kết hợp. Các vật thể chỉ tồn tại nhất thời, thường xuyên thay đổi và chuyển hoá. Đây quả là một quan niệm thiên tài hết sức đúng đắn trong điều kiện khoa học tự nhiên thời bấy giờ chưa phát triển. Đã để lại một tư tưởng quý báu cho nhân loại mà các nhà duy vật sau này tiếp tục kế thừa và phát huy.

    Tuy nhiên chủ nghĩa duy vật của phái Nyaya còn hạn chế ở chỗ coi thế giới vật chất tạo nên bởi 4 yếu tố đất, nước, lửa, không khí, cho rằng nguyên tử không biến đổi, không chia cắt được. Âu cũng là do hạ chế về khoa học tự nhiên lúc bấy giờ.

    1.1.2. Chủ nghĩa duy vật Trung Hoa cổ đại

    Trung Quốc là một trong những trung tâm văn minh lớn của Phương Đông cổ – trung đại. Cùng với những phát minh có tính chất vạch đường trên mọi lĩnh vực khoa học tự nhiên , y học, Trung Quốc còn là quê hương của nhiều hệ thống triết học lớn. Nhìn một cách tổng thể, các trường phái triết học cổ đại Trung Quốc đa phần theo khuynh hướng duy tâm, tuy nhiên vẫn có một số tư tưởng duy vật tiến bộ có ý nghĩa to lớn mà điển hình là Mạc Gia.

    Mạc Gia đầu tiên đề xuất quan hệ giữa thực và danh như một phạm trù triết học. Chủ trương “lấy thực đặt tên để nêu ra cái thực”,”cái dùng để gọi tên, cái được gọi lên là thực”. Điều đó có nghĩa khách quan là tồn tại thực.

    Đồng thời, Mạc Gia cho rằng để đánh giá đúng sai trong thực tế khách quan phải dựa vào 3 tiêu chuẩn: trước hết lập luận phải có căn cứ, thứ hai phải

    Tiểu luận Triết học

    được chứng minh và thứ ba lập luận cần có hiệu quả. Thuyết “tam biểu” này của Mạc Gia thể hiện thuyết phản ánh của chủ nghĩa duy vật chất phác, các học thuyết cùng thời khó sánh kịp.

    Về sau thời Hậu Mạc đã phát triển khía cạnh duy vật lên một tầm cao mới. Họ cho rằng sự tồn tại của vật chất là bất diệt, hình thái tồn tại của sự vật thì có thay đổi, thời gian, không gian liên hệ mật thiết với sự vận động của sự vật. Vật thể vận động trong không gian và thời gian và muốn nhận thức được thế giới, trước hết nhờ các khí quan cảm giác (tai, mũi, miệng, mắt, thân) đồng thời để nhận thức sâu sắc sự vật, con người phải nhờ tâm, tức là hoạt động tư duy là quá trình phân tích so sánh, tổng hợp trừu tượng hoá để đạt đến ý nghĩa của nó. Vì vậy họ đã làm rõ mối quan hệ giữa cảm giác và tư duy.

    Các triết gia hậu Mạc còn phân ra tri thức thành 3 loại: “Văn tử” là sự hiểu biết nhờ sự truyền thụ của người khác, “Thuyết trị” là kết quả do sự hoạt động suy luận đem lại, “Thân trị” là kết quả do sự quan sát, đúc kết kinh nghiệm đem lại.

    Những quan điểm duy vật của phái Mạc Gia đã hơn hẳn những phái khác về nhận thức lý luận. Hệ thống lôgic của họ đã tấn công vào thuyết hoài nghi và bất khả thi của phái Trang – Chu. Đồng thời phê phán khía cạnh duy tâm trong học thuyết của phái Công Tôn Long.

    Tuy vậy, học thuyết của Mạc Gia vẫn không tránh khỏi một số sai lầm như xem trời là đấng anh minh có quyền lực tối cao, trời tạo ra muôn loài. Mạc Tử còn tin có cả quỉ thần giám sát hành vi con người. Dù vậy, những tư tưởng của Mạc Gia đã khiến cho thế hệ sau này phải ngưỡng mộ bởi tính đúng đắn tiến bộ của nó trong điều kiện hết sức lạc hậu như vậy. Cũng có lẽ vì thế mà học phái Mạc Gia đã không có chỗ đứng trong tư tưởng của giai cấp phong kiến và bị tuyệt diệt vào đời Tần hán.

    Tiểu luận Triết học

    1.2. Chủ nghĩa duy vật Phương Tây cổ đại

    1.2.1.Triết học Hy Lạp cổ đại

    Thời cổ đại, các ngành khoa học của Hy Lạp đã rất phát triển, đặc biệt thiên văn, toán học, y học… Triết học duy vật nhờ đó phát triển rực rỡ, chứa đựng hầu hết các nội dung cơ bản của nó. Sau đây ta sẽ xem xét một số trường phái tiêu biểu.

    1.2.1.1. Hêraclit (530-470 TCN)

    Ông cho rằng thế giới muôn vật không do thần thánh nào tạo nên, cũng không phải con người tạo ra mà là do ngọn lửa vĩnh viễn, linh động nhen nhóm lên. Mọi sự vật luôn ở trạng thái vận động, biến đổi và chuyển hoá qua lại. Ông nêu lên tư tưởng hiện vật đều trôi đi, hiện vật đều biến đổi “người ta không thể tắm 2 lần trên 1 dòng sông”.

    “Mặt trời luôn luôn luôn đổi mới và vĩnh viễn đổi mới”

    Theo ông nguồn gốc của mọi sự vật thay đổi là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong sự vật. Mọi vật đều nảy nở trong quá trình đấu tranh và sự vận động, phát triển liên tục của sự vật tuân theo các yếu tố khách quan, qui luật quyết định.

    Về lý luận nhận thức, Hêraclit cho rằng nhận thức là phản ánh hiện tượng khách quan. Ông chia quá trình nhận thức ra làm 2 giai đoạn cảm tính và lí tính. Hai giai đoạn này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể chỉ có một giai đoạn tồn tại độc lập.

    Về hạn chế: Hêraclit đã quan niệm lửa là nguồn gốc tạo ra vạn vật. Mọi vật trao đổi với lửa và lửa trao đổi với tất cả. Mọi sự biến hoá của sự vật dựa trên sự chuyển hoá của chúng thành những dạng vật chất đối lập với bản thân chúng. “Nước sinh ra từ cái chết của đất, không khí sinh ra từ cái chết của nước, lửa sinh ra từ cái chết của không khí.

    1.2.1.2. Triết học Hy Lạp thế kỷ V

    * Đêmôcrit

    Tiểu luận Triết học

    Ông là nhà Triết học duy vật cổ đại nhất trong thế giới cổ đại. Ông là người hiểu biết sâu rộng rất nhiều lĩnh vực: Triết học, toán học, đạo đức học, sinh vật học… là học trò và người kế tục phát triển quan điểm của Lơxip.

    Đêmôcrit cho rằng nguyên tử không nhìn thấy được, không âm thanh, màu sắc và mùi vị. Chúng đồng nhất với nhau về chất nhưng khác nhau về hình thức, thứ tự và tư thế. Ông quan niệm nguyên tử là vô hạn về lượng và hình thức. Mỗi sự vật đều được cấu tạo bởi những nguyên tử do sự kết hợp giữa chúng với nhau theo một trật tự và thế nhất định.

    Sự biến đổi vật chất là do sự thay đổi trình tự sắp xếp của những nguyên tử tạo thành còn bản thân nguyên tử thì không thay đổi.

    Nguyên tử luôn vận động trong không gian ông thấy rõ quan hệ chặt chẽ giữa vật chất và vận động. Vận động là vốn có của nguyên tử chứ không phải được đưa từ ngoài vào. Nhưng ông chưa thấy được nguồn gốc của vận động và vận động không chỉ là sự di chuyển trong chân không của các nguyên tử.

    Dựa vào thuyết nguyên tử, Đêmôcrit thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau theo quy luật nhân quả tính khách qan trong tính tất yếu của sự vật, hiện tượng tự nhiên. Đó là đóng góp quan trọng của Đêmôcrit vào triết học duy vật. Song ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên, ông coi ngẫu nhiên là một hiện tượng không có nguyên nhân.

    Đêmôcrit bác bỏ quan nhiệm về sự sản sinh ra sự sống và con người của thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần đần từ thấp đến cao cảu tự nhiên. Sinh vật đầu tiên sống ở dưới nước, sau đó chuyển lên cạn, cuối cùng con người được ra đời. Ông coi cái chết là sự phân tích của các nguyên tử tạo nên xác và của những nguyên tử cấu tạo lên tinh hồn chứ không phải linh hồn rời khởi thể xác. Tuy quan niệm của Đêmôcrit còn mang tính mộc mạc song nó giữ vai trò rất quan trọng trong việc chống các quan điểm duy tâm và tôn giáo về tính bất tử của linh hồn người.

    Tiểu luận Triết học

    Đêmôcrit đã có công lao to lớn trong xây dựng lý luận nhận thức giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác là điểm khởi đầu của nhận thức và tư duy trong việc nhận thức thế giới.

    Ông cho rằng đối tượng của nhận thức là vật chất, là thế giới xung quanh con người và nhờ sự tác động của đối tượng nhận thức vào con người nên con người mới nhận thức được.

    Đêmôcrit phân chia nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức chân lý. Nhận thức mờ tối do các giác quan đem lại còn nhận thức chân lý là do sự phân tích sâu sắc về sự vật để nắm bắt bản chất bên trong của nó.

    Triết học duy vật của Đêmôcrit đã đóng vai trò quan trọng trog chủ nghĩa vô thần. Ông cho rằng sự tồn tại của thần chẳng qua là sự cách hoá những hiện tượng của tự nhiên hay những thuộc tính của con người chẳng hạn thần Dớt là sự nhân cách hoá mặt trời, thần ATêna là sự nhân cách hoá thuộc tính của con người.

    1.3. Duy vật Tây Âu Trung Cổ Phục Hưng và cận đại: đây là những thời kỳ mà chủ nghĩa duy vật có nhiều thắng lợi rực rỡ.

    1.3.1. Fran xiBêcơn (1561 – 1621):

    Là người sáng lập triết học duy vật Anh. Becơn thừa nhận sự tồn tại khách quan của Thế giới vật chất khoa học không biết cái gì khác ngoài thế giới vật chất, ngoài giới tựnhiên ông cho rằng con người cần phải thống trị làm chủ tựnhiên. Điều đó thực hiện được hay không phụ thuộc vào hiểu biết của con người.

    Theo BêCơn, nhận thức tốt nhất là đi từ cái riêng lẻ đến cái chung, cái trừu tượng. Tri thức chỉ có thể đạt được bằng cách giải quyết những quan hệ nhân quả hiểu biết đúng là hiểu biết bằng nguyên nhân.

    Song chủ nghĩa duy vật của Bêcơn là duy vật siêu hình. Ông quy sự vận động của vật chất thất thành sự lặp lại vĩnh viễn những hình tứhc bất biến. Ông cũng chưa vượt qua được bức tường tôn giáo và nhà thờ để hoàn toàn tự do với những tư tưởng khoa học và biết học đặc sắc của mình.

    Tiểu luận Triết học

    1.3.2. Lút Vích Phoi ơ bắc (1807 – 1872):

    Là một nhà nhân vật kiệt suất trước Mác, là nhà tư tưởng của giai cấp tư sản dân chủ. Có công lớn trong phê phán chủ nghĩa duy tâm công Hêghen nói riêng và chủ nghĩa duy tâm nói chung phê phán tôn giáo, khôi phục chủ nghĩa duy vật cổ đại.

    Phoi ơ bắc cho rằng thế giới vật chát không do ai sáng tạo ra, tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người. Giới tự nhiên vận động biến đổi do những nguyên nhân bên trong của nó.

    Ông cho rằng ý thức là sản phẩm của con người. Nếu vật chất chưa tiến hoá đến con người thì chưa có ý thức.

    Phoi ơ bắc giải quyết vấn đề nhận thức trên quan điểm duy vật và không có gì con người không nhận thức được, chỉ có cái chưa nhận thức được mà thôi.

    Tuy nhiên khi khẳng định nhận thức của con người, Phoi ơ bắc nhấn mạnh mặt quan sát chứ không quan tâm đến mặt quan trọng tạo nên nhận thức là hoạt động thực tiễn. Ông coi thường thực tiễn, hạ thấp vai trò thực tiễn. Đồng thời con người mà Phoi ơ bắc nghiên cứu là con người thuần tuý động vật. Tức ông chỉ quan tâm đến mặt sinh học mà không quan tâm đến mặt xã hội. Vì vậy, con người của Phoi ơ bắc là con người trừu tượng.

    2. PHÉP BIỆN CHỨNG TRƯỚC MÁC

    2.1. Phép biện chứng thời cổ đại

    Phép biên chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơi và mang nặng tính trực quan được hình thành trên cơ sở quan sát tự nhiên, xã hội hoặc thông qua kinh nghiệm của bản thân. Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy giờ là: Triết học Trung Hoa cổ đại, triết học Ấn Độ cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại. Bên cạnh những đặc điểm chung, do đặc điểm văn hoá cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện tư tưởng biện chứng trong học thuyết triết học mỗi trung tâm đều có những đặc điểm riêng không giống nhau.

    Tiểu luận Triết học

    2.1.1. Triết học Trung Hoa cổ đại

    Triết học Trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại, có tới

    • trường phái triết học. Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử Trung Hoa lúc đó là xã hội loạn lạc, đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đồi nên triết học Trung hoa cổ đại tập trung vào giải quyết các vấn đề về chính trị – xã hội. Những tư tưởng biện chứng thời này chỉ thể hiện khi các nhà triết học kiến giải những vấn đề về vũ trụ quan.

    Một trong những học thuyết triết học mang tư tưởng biện chứng sâu sắc là Học thuyết Âm – Dương. Đây là một học thuyết triết học được phát triển trên cơ sở một bộ sách có tên là Kinh Dịch. Một trong những nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng. Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập – đó là Âm và Dương. Âm – Dương không loại trừ, không biệt lập, mà bao hàm nhau, liên hệ tương tác lẫn nhau, chế ước lẫn nhau. Kinh dịch viết: “Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá”, “Sinh sinh chi vi dịch”. Sự tương tác lẫn nhau giữa Âm và Dương, các mặt đối lập, làm cho vũ trụ biến đổi không ngừng. Đây là quan điểm thể hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc. Học thuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến dịch của vạn vật trong vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi cái thống nhất như: Thái cực (thể thống nhất) phân đôi thành lưỡng nghi (âm – dương), sau đó âm – dương lại tiến hành phân thành tứ tượng (thái âm – thiếu âm, thái dương – thiếu dương), tứ tượng lại sinh ra bát quái, và từ đó bát quái sinh ra vạn vật.

    Tuy nhiên, học thuyết Âm – Dương cho rằng sự vận động của vạn vật diễn ra theo chu kỳ lặp lại và được đảm bảo bởi nguyên tắc cân bằng Âm – Dương.

    • điểm này thì học thuyết Âm – Dương phủ nhận sự phát triển biện chứng theo hướng đi lên mà cho rằng sự vận động của các hiện tượng chỉ dừng lại khi đạt được trạng thái cân bằng Âm -Dương. Hơn nữa, trong học thuyết Âm

    Tiểu luận Triết học

    • Dương còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí như quan điểm “Thiên tôn địa ty” cho rằng trật tự sang hèn trong xã hội bắt nguồn từ trật tự của “trời đất”, họ đem trật tự xã hội gán cho giới tự nhiên, rồi lại dùng hình thức bịa đặt đó để chứng minh cho sự hợp lý vĩnh viễn của chế độ đẳng cấp xã hội.

    Tóm lại, học thuyết Âm – Dương là kết quả của quá trình khái quát hoá những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân Trung Quốc thời cổ đại. Mặc dù còn những tính chất trực quan, chất phác ngây thơ và tồn tại những quan điểm duy tâm thần bí về xã hội, nhưng học thuyết Âm – Dương đã bộc lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hoá của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội.

    2.1.2. Triết học Ấn độ cổ đại

    Đây là hệ thống triết học có sự đan xen hoà đồng giữa triết học với tôn giáo và giữa các trường phái khác nhau. Các tư tưởng triết học được thể hiện dưới hình thức là một tôn giáo. Theo cách phân chia truyền thống, triết học Ấn Độ cổ đại có 9 trường phái, trong đó có 6 trường phái là chính thống và 3 trường phái phi chính thống. Trong tất cả các học thuyết triết học đó thì học thuyết triết học thể hiện trong Phật giáo là học thuyết mang tính duy vật và biện chứng sâu sắc tiêu biểu của nền triết học Ấn Độ cổ đại.

    Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI TCN do Tất Đạt Đa, tên hiệu là Thích Ca Mầu Ni (563 – 483 TCN), khai sáng. Phật giáo cho rằng vạn vật trong thế giới không do một đấng thần linh nào đó tạo ra mà được tạo ra bởi hai yếu tố là Danh (tinh thần) và Sắc (vật chất). Trong đó Danh bao gồm tâm và thức, còn Sắc bao gồm 4 đại (đại địa, đại thuỷ, đại hoả, đại phong). Chính nhờ tư tưởng nêu trên mà Phật giáo được coi là tôn giáo duy vật duy nhất chống lại thứ tôn giáo thần học đương thời. Đồng thời Phật giáo đưa ra tư tưởng “nhất thiết duy tâm tao”, “vô thường”, “vô ngã”. “Vô ngã” nghĩa là “không có cái ta, cái tôi bất biến”, theo đó không có cái gì là trường tồn là bất biến, là vĩnh

    Tiểu luận Triết học

    hằng, không có cái gì tồn tại biệt lập. Đây là tư tưởng biện chứng chống lại đạo Bàlamôn về sự tồn tại của cái tôi – Átman bất biến. “Vô thường” tức là biến, biến ở đây được hiểu như là sự biến đổi của vạn vật theo chu kỳ: Sinh – Trụ – Dị – Diệt (đối với sinh vật); Thành – Trụ – Hoại – Không (con người). Phật giáo cũng cho rằng sự tương tác của hai mặt đối lập Nhân và Duyên chính là động lực cho làm cho thế giới vận động chứ không phải là một thế lực siêu nhiên nào đó nằm ngoài con người, thế giới là vòng nhân quả vô cùng vô tận. Nói cách khác một vật tồn tại được là nhờ hội đủ Nhân, Duyên.

    2.1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại

    Mặc dù hãy còn nhiều tính “cắt khúc”, nhưng triết học Hy Lạp cổ đại đã có những phát hiện mới đối với phép biện chứng. Chính trong thời kỳ này thuật ngữ “biện chứng” đã hình thành. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ, Hy Lạp cổ đại đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về văn hoá, nghệ thuật, mà trước hết là các thành tựu trong khoa học tự nhiên như: Thiên văn học, vật lý học, toán học đã làm cơ sở thực tiễn cho sự phát triển của triết học trong thời kỳ này. Triết học Hy Lạp cổ đại đã phát triển hết sức rực rỡ, trở thành nền tảng cho sự phát triển của triết học phương Tây sau này.

    Một trong những nhà triết học điển hình có tư tưởng biện chứng là Heraclit (540 – 480 TCN). Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác – Lênin thì Heraclit là người sáng lập ra phép biện chứng. Ông cũng là người đầu tiên xây dựng phép biện chứng dựa trên lập trường duy vật.

    Phép biện chứng của Heraclit chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học mà hầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng được đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Tư tưởng biện chứng của Heraclit được thể hiện như sau:

    Một là Quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất. Theo Heraclit thì không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại,

    Tiểu luận Triết học

    tất cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá. Ông nói: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trên sông”; “Ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới”. Theo quan điểm của Heraclit thì lửa chính là bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật, hiện tượng. Đồng thời lửa cũng chính là gốc của mọi vận động, tất cả các dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển hoá của lửa mà thôi.

    Hai là Heraclit nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán về vai trò của những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên về “sự trao đổi của những mặt đối lập”, về “sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập”. Ông nói: “cùng một cái ở trong chúng ta – sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già. Vì rằng cái này biến đổi là cái kia; và ngược lại, cái kia mà biến đổi thành cái này …”. Heraclit đã phỏng đoán về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt đối lập. Lê nin viết: “Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của nó là thực chất của phép biện chứng. Điều này chúng ta đã thấy xuất hiện ngay từ nhà biện chứng Heraclit”.

    Ba là Theo Heraclit thì sự vận động phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (mà ông gọi là Logos) quy định. Logos khách quan là trật tự khách quan là mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ học thuyết của con người. Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan. Người nào càng tiếp cận được logos khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu. Lý luận nhận thức của Heraclit mang tính biện chứng và duy vật sơ khai nhưng cơ bản là đúng.

    • thời cổ đại, xét trong nhiều hệ thống triết học khác không có được tư tưởng biện chứng sâu sắc như vậy. Chính là những tư tưởng biện chứng sơ khai của Heraclit sau này đã được các nhà biện chứng cổ điển Đức kế thừa và các nhà sáng lập triết học Macxít đánh giá cao. C.Mác và Ph.Ănghen đã đánh

    Tiểu luận Triết học

    gía một cách đúng đắn giá trị triết học của Heraclit và coi ông là đại biểu xuất sắc nhất của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại: “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà Hy Lạp thời cổ và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Heraclit”. (1)

    Trong học thuyết về nguyên tử của mình, Đêmôcrit (460 – 370 TCN) đã kế thừa quan điểm của Heraclit về vận động. Ông cho rằng vận động của nguyên tử là vĩnh cửu và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử là ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân. Ông cho rằng còn khoảng trống hay còn “chân không” trong nguyên tử là điều kiện vận động của nó. Tuy nhiên Đêmôcrit đã không lý giải được nguồn gốc của vận động.

    Sau Đêmôcrit là Arixtốt (384 – 322 TCN) ông cho rằngvận động gắn liền với các vật thể với mọi sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên. Ông cũng khẳng định vận động là không thể bị tiêu diệt “Đã có vận động và mãi mãi sẽ có vận động”. Arixtốt là người đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động thành 6 dạng: Phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm, di chuyển vị trí .

    Tuy nhiên Arixtốt lại dơi vào duy tâm vì cho rằng thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động.

    Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng nhưng chủ yếu mới dựa trên những phỏng đoán, những trực kiến thiên tài. Phép biện chứng tự phát thời cổ đại đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động, liên hệ của các mặt đối lập, song chưa đi sâu vào chi tiết của bức tranh. Vì vậy, nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép siêu hình trong thời kỳ cận đại.

    (1) Ph. Ănghen: Chống Đuyrinh, NXB Sự Thật Hà nội, 1971, tr33.

    Tiểu luận Triết học

    2.2. Phép biện chứng Tây Âu thế kỷ XIV – XVIII

    Suốt trong 4 thế kỷ (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII), sự trưởng thành của tư tưởng biện chứng Tây Âu mang nhiều ý nghĩa độc đáo. Phép biện chứng trong thời kỳ này phát triển trong thời kỳ thống trị của tư duy siêu hình.

    Sau đêm trường Trung cổ, triết học là thứ triết học kinh viện giáo điều gắn với đạo Thiên chúa. Đến thời kỳ Phục hưng, triết học thời kỳ này đã khôi phục lại những tư tưởng duy vật cổ đại nhưng vẫn còn mang tính phiếm thần, yếu tố duy vật xen lẫn duy tâm. Tuy nhiên phép biện chứng thời kỳ này vẫn có bước phát triển như tư tưởng về “sự phù hợp của các mặt đối lập” của Gioocdanơ Brunô (1548 -1600). Theo G.Brunô mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động, kể từ các hạt vật chất nhỏ nhất – nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận, cái này tiêu diệt cái kia ra đời. Nếu không theo nguyên tắc “các mặt đối lập phù hợp với nhau” thì dù là nhà toán học, nhà vật lý, cả nhà triết học cũng không làm việc được.

    Một trong những đại biểu của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại là Ph.Bêcơn (1561 – 1626). Ph.Bêcơn khẳnh định vật chất không tách rời vận động, nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận động của chúng. Ông đã tiến hành phân vận động thành 19 loại. Tuy nhiên tính chất siêu hình của ông thể hiện: Ông quy mọi loại vận động về vận động cơ học. Song cống hiến của ông là ở chỗ coi đứng yên là một hình thức của vận động, coi vận động là đặc tính cố hữu của vật chất, ông là người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới.

    Trong thời kỳ cận đại, khoa học tự nhiên đã phát triển và đi sâu mổ xẻ phân tích giới tự nhiên thành những bộ phận nhỏ để nghiên cứu. Những phương pháp đó đã tạo ra thói quen nghiên cứu xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời và bất biến. Từ khi Ph.Bêcơn và Lốccơ đem phương pháp trong khoa học tự nhiên áp dụng vào triết học thì phương pháp siêu hình trở thành phương pháp thống trị trong triết học.

    Tiểu luận Triết học

    Phương pháp siêu hình đó đóng một vai trò tích cực nhất định trong quá trình nhận thức giới tự nhiên, phương pháp đó chỉ thích ứng với trình độ sưu tập, mô tả giới tự nhiên. Do đó khi khoa học chuyển sang nghiên cứu các quá trình phát sinh, phát triển của sự vật, hiện tượng thì nó bộc lộ rõ những hạn chế. Vì vậy nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép biện chứng của triết học cổ điển Đức với đỉnh cao là phép biện chứng Hêghen.

    2.3. Phép biện chứng cổ điển Đức

    Như Lênin đã từng đánh giá: Dù có sự thần bí hoá duy tâm, nhưng phép biện chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng và logic học và lý luận nhận thức. Trong các nền triết học trước C. Mác thì triết học cổ điển Đức có trình độ khái quát hoá và trừu tượng hoá cao với kết cấu hệ thống chặt chẽ, logic. Đây là tiến bộ của nền triết học Đức so với các nền triết học khác. Nền triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kantơ, đạt đỉnh cao ở Hêghen sau đó suy tàn ở triết học Phoiơbắc.

    Kantơ (1724 – 1804) là người sáng lập ra trường phái triết học cổ điển Đức. Ông cho rằng chỉ khi nhận thức ở trình độ lý tính thì mới có mâu thuẫn mà chưa thấy được rằng mâu thuẫn là vốn có trong hiện thực khách quan. Mâu thuẫn chưa phải là mâu thuẫn biện chứng giữa chính đề và phản đề, chưa có sự thống nhất và chuyển hoá lẫn nhau. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng trong vấn đề này Kantơ đã tiến gần đến phép biện chứng.

    Hêghen (1770 -1831) là nhà biện chứng lỗi lạc. Phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit. Triết học của ông có ảnh hưởng rất mạnh đến tư tưởng của nước Đức và cả Châu Âu đương thời, triết học của ông được gọi là “tinh thần Phổ”. Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật. Ông viết: “phép biện chứng nói chúng là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực. Cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận

    Tiểu luận Triết học

    thức khoa học chân chính “(1). Luận điểm xuyên suốt trong hệ thống triết học của Hêghen là: “Tất cả cái gì là hiện thực đều là hợp lý và tất cả những gì hợp lý đều là tồn tại”(2).

    Hêghen là người đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, xã hội và tư duy một cách biện chứng, có nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Trong logic học, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù triết học như lượng – chất, vật chất – vận động mà còn đề cập đến các quy luật khác như lượng đổi dẫn đến chất đổi, quy luật phủ định biện chứng. Nhưng tất cả chỉ là những quy luật vận động, phạm trù của tư duy, của khái niệm.

    Khi nghiên cứu xã hội, Hêghen khẳng định sự phát triển cuả xã hội là sự đi lên. Quá trình phát triển của lịch sử có tính kế thừa. Lịch sử là tính thống nhất giữa tính khách quan và chủ quan trong hoạt động của con người. Hêghen đã có công xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của phép biện chứng như là những công cụ của tư duy biện chứng.

    Trong khi hệ thống triết học của Hêghen chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc thì cách trình bày của ông lại mang tính duy tâm bảo thủ, thể hiện ở: Sự vận động của xã hội là do sự vận động của tư duy (ý niệm tuyệt đối) sinh ra. Do đó mà C.Mác gọi phép biện chứng của Hêghen là: “Phép biện chứng đi lộn đầu xuống đất”. Vì vậy, cần phải đặt nó đứng bằng hai chân trên mảnh đất hiện thực, nghĩa là trên quan điểm duy vật.

    (1) Triết họ c dành cho cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên nghành triết học, NXB Chính trị quốc gia, 1997, tập 1, tr331.

    (2) C.Mác -Ph.Ănghen, Tuyển tập, NXB Sự Thật, Hà nội, 1984, tr361.

    Tiểu luận Triết học

    Tiểu luận Triết học

    C. KẾT LUẬN

    Chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử trước Mác là những kho tàng quý giá để lại cho thế giới loài người mà sau này Mác và Ăng ghen là những người kế tục hoàn hảo nhất. Đặc biệt là duy vật HyLạp cổ đại, duy vật phoi ơ bắc và phép biện chứng của Hêghen. Hai ông nhiều lần nói rằng, trong sự phát triển của mình, hai ông chịu ơnnhièu nhà triết học Đức và là học trò của triết học HyLạp cổ đại.

    Tuy trong từng thời kỳ các tư tưởng duy vật và biện chứng còn có những hạn chế riêng song đã đóng góp tích cực vào kho tàng nhận thức của nhân loại. Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cho thấy chỉ khi nào đứng trên quan điểm duy vật và nắm vững lý luận phép biện chứng, chúng ta mới có thể nhận thức được các sự vật, một cách khoa học, bản chất và giải quyết các mối quan hệ một cách đúng đắn, mới có thể cải tạo tự nhiên biến đổi xã hội theo hướng phát triển. Ngược lại các quan điểm duy tâm duy ý chí siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, khuyết điểm gây tổn thất cho quá trình phát triển của xã hội.

    Vì vậy học tập nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là hết sức cần thiết. Nó giúp ta nắm vững phép biện chứng duy vật, thấu suốt những phương pháp luận đồng thời nắm được nguồn gốc ra đời, hình thành, phát triển qua quá trình đấu tranh gay gắt với chủ nghĩa duy tâm và các quan điểm siêu hình để khẳng định được vị trí to lớn của nó trong nhận thức và cải tạo thế giới.

    Hiện nay đất nước ta đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy. Nghiên cứu từ lịch sử của nó cũng à một phương pháp biện chứng trong nghiên cứu triết học. Đảng ta khảng định nguyênt ắc là phải trung thành với Mác – Lênin, giữ đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, không che giấu sai lầm và phải vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng

    Tiểu luận Triết học

    Mác Xít để khắc phục những sai lầm xây dựng thành công nhà nước xã hội chủ nghĩa.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]