Category: Văn Mẫu Lớp 11

  • Cảm nhận sâu sắc qua cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

    Cảm nhận sâu sắc qua cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

    Cảm nhận sâu sắc qua cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau

    [toc]

    Đề bài: Những cảm nhận sâu sắc của anh (chị) qua tìm hiểu cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỉ XIX, một thời kì loạn lạc và đau thương của dân tộc khi Tổ quốc Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị.

    Ông sinh năm 1822 tại quê mẹ: làng Tân Thới, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Xuất thân trong một gia đình nhà nho, ông được nuôi dưỡng và giáo dục theo truyển thống nhân nghĩa và những phẩm chất tốt đẹp nhất của người nông dân Nam Kì như hiếu thảo, giàu nghĩa khí và tình thương người bao la.

    Năm 21 tuổi, ông thi đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1847, ông ra Huế để chuẩn bị dự kì thi Hương năm Kỉ Dậu (1849), nhưng rồi nhận tin sét đánh – người mẹ thân yêu qua đời (10-12-1848), Nguyễn Đình Chiểu phải bỏ thi, trở về Gia Định chịu tang mẹ, Trên đường trở về quê, vì quá đau buồn, thương khóc mẹ nhiều mà lâm bệnh, rồi mắt ông bị mù.

    Hoạ vô đơn chí: Nguyễn Đình Chiểu bị ốm đau tật bệnh, mắt bị mù, cảnh gia đình sa sút, vị hôn thê bội ước… Ông đóng cửa cư tang mẹ cho đến năm 1851; sau đó, ông mở trường dạy học, làm thuốc để cứu người và sáng tác thơ văn thể hiện lí tưởng nhân nghĩa cao đẹp: “Lòng đạo xin tròn một tấm gương”.

    Năm 1859, thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định, rồi lần lượt đánh chiếm ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kì. Nguyễn Đình Chiểu đã viết nhiều bài thơ, bài văn tế ngợi ca những anh hùng đánh Pháp như Trương Công Định, Phan Công Tòng,… những nghĩa sĩ áo vải “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc “. Ông đã nêu cao tấm gương yêu nước, tinh thần trung nghĩa bất khuất sắt son sáng chói.

    Ngày 3-7-1888, Nguyền Đình Chiểu qua dời. Đám tang của ông đã có hàng ngàn bà con, cỡ bác, học trò… tới viếng và đưa tiễn; cánh đồng Ba Tri trắng xoá khăn tang.

    Nguyễn Đình Chiểu để lại nhiều thơ văn bằng chữ Nôm rất độc đáo và đặc sắc. Trước 1859, có hai truyện thơ: “Truyện Lục Vân Tiên ” và “Đương Từ – Hà Mậu “, sau năm 1859, có nhiều bài thơ như: “Chạy giặc “, 12 bài điếu Trương Công Định, 10 bài thơ điếu Phan Công Tòng, 3 bài văn tế: “Văn tế” nghĩa sĩ cần Giuộc “, “Văn tế Trương Công Định” “Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh “, và truyện thơ “Ngư Tiểu y thuật vấn đáp”.

    Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu sáng ngời lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa. Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga là biểu tượng của lòng trung hiếu, tiết hạnh; Hớn Minh, Vương Từ Trực giàu lòng nghĩa khí, thuỷ chung trong tình bạn; ông Quán, ông Ngư, ông Tiều, Lão bà, Tiểu đổng… quên mình làm việc nghĩa, hết lòng yêu thương những kẻ khốn cùng, đau khổ.

    Truyện thơ “Ngư Tiểu y thuật vấn đáp” có nhiều cảnh cảm đông, nhiều câu thơ vô cùng thấm thía về đạo lí làm người:

    Giúp đời chẳng vụ tiếng danh,

    Chẳng màng của lợi, chang ganh ghẻ tài.

    Đứa ăn mày cũng trời sinh,

    Bệnh còn cứu được, thuốc đành cho không.

    Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,

    Lòng dạo xin tròn một tấm gương.

    Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa hàm chứa trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là phần tích cực nhất của đạo nho, là truyền thống yêu nước, yêu nhà, yêu người của dân tộc ta, là tinh thần hào hiệp, nghĩa khí của người nông dân Nam Kì. Vì thế, thơ văn Đồ Chiểu đã trở thành hơi thở, nhịp sống và chí nguyện của đồng bào Nam Kì trong gần một thế kỉ rưỡi.

    Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc.

    Bài thơ “Chạy giặc ” mở đầu cho dòng văn thơ yêu nước của dân tộc ta trong thế kỉ XIX. Nhà thơ đau cho nỗi đau của nhân dân lầm than khi “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây”; sôi sục căm thù tội ác tày trời của quân giặc cướp:

    “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

    Mất ổ đàn chim dáo dác bay.

    Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

    Đổng Nai tranh ngói nhuốm màu mảy.”

    Ba bài văn tế đã dựng lên những hình tượng kì vĩ về người anh hùng đánh giặc Pháp xâm lược. Đó là Trương Công Định “Giúp đời dốc trọn trang nam tử”; mỗi thôn ấp, mỗi dòng kênh còn lưu giữ bao chiến tích hào hùng:

    “Trong Nam tên họ nổi như cồn,

    Mấy trận Gò Công để tiếng đồn.

    Dấu đạn hãy chìm tàu bạch quỷ,

    Hơi gươm thêm rạng thẻ hoàng môn.”

    Đó là Phan Công Tòng xây đồn đắp luỹ đánh Pháp mấy năm dài, nêu cao lòng trung nghĩa và khí phách anh hùng, bất khuất:

    “Viên đạn nghịch thần reo trước mặt,

    Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay “

    “Tinh thần hai chữ phau sương tuyết,

    Khí phách ngàn thu rỡ núi non.”

    “Văn tế nghĩa sĩ Cấn Giuộc ” là kiệt tác văn chương của Nguyễn Đình Chiểu để lại cho đời. Các nghĩa sĩ là những dân ấp, dân lân, “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Họ sống cuộc đời bình dị, cần lao “chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ Lòng căm thù giặc như ngọn lửa ngùn ngụt bốc cao, họ quyết không dung tha quân cướp nước:

    “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

    Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ!”

    Chỉ có một lưỡi dao phay làm gươm, một gậy tầm vông làm giáo, “hoả mai đánh bằng rơm con cúi” thế mà các nghĩa sĩ đã “chém rớt đầu quan hai nọ”, đã “dốt xong nhà dạy đạo kia “, đã “đâm ngang chém ngược làm cho mã tà, ma nỉ hồn kỉnh! “

    Khí phách của các nghĩa sĩ vô cùng hiôn ngang lẫm liệt, sáng mãi đến ngàn thu: “Song đánh giặc, thác cũng dành giặc, linh hồn theo giúp cơ bỉnh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia”. Tượng đài người nghĩa sì mà nhà thơ dựng lên thật vô cùng bi tráng, vì đó là những anh hùng thất thế mà dũng mãnh, hiên ngang, “tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ

    Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã gieo vào lòng nhân dân ta một niềm tin chói sáng:

    “Chừng nào Thánh để ân soi thấu,

    Một trận mưa nhuần rửa núi sông.”

    “Sau trời thúc quỷ tan mây,

    Sông trong biển lặng, mắt thầy sáng ra.”

    “Bao giờ nhật nguyệt vầy gương sáng,

    Bốn biển âu ca hiệp một nhà.”

    Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu rất đa dạng, phong phú và đậm đà. Dưới ngòi bút nghệ thuật của ông, thơ lục bát, thơ thất ngôn, văn tế, thể loại nào cũng đặc sắc, độc đáo. Nếu truyện thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa bình dị thì văn tế lại bi hùng, thống thiết, trữ tình lay động hồn người:

    “Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

    Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trươc ngõ.”

    (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

    Trời Bến Nghé mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp bước gian truân;

    Đất Gò Công, cây cỏ ủ ê, cám niềm thần tử hết lòng trung ái”

    (Văn tế Trương Công Định)

    “Ôi! Trời buông nàn quỷ trắng mây năm;

    Người uống hận suối vàng lắm bực.”

    (Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh)

    Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Đình Chiểu trong truyện thư mang đậm màu sắc dân gian, binh dị mà gợi cảm, làm cho người nghe, người đọc dễ nhớ và nhớ mãi: “Truyện nàng sau hãy còn lâu – Truyện chàng xin nối thứ đầu chép ra “, hoặc: “Đoạn nầy đến thứ Nguyệt Nga – Hà Khê phủ ấy theo cha học hành ” v.v…

    Cảnh vật, câu chuyện, con người và ngôn ngữ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đều mang hương vị và sắc thái Nam Bộ. Nhiều câu ví, câu ca vùng Ba Tri, Đồng Nai, Bến Nghé, Gò Công… như đã nhập hồn vào thơ văn Đồ Chiểu. Tính nhân dân sâu sắc, tính Nam Bộ đậm đà là bản sắc, giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

    Có thể dẫn ra đôi ba câu thơ quá mộc mạc, nhưng Đồ Chiểu mãi mãi là nhà thơ lớn của nhân dân ta, đất nước ta. “Đời song và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá và tư tưởng ” (Phạm Văn Đồng).

  • Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau

    Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau

    Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều

    [toc]

    Đề bài: Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ có điểm khác nhau như thế nào? Hãy làm rõ ý kiến của mình.

    Bài văn mẫu

    Cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương đều xuất thân từ dòng dõi nho học. Do vậy giữa hai người cũng ít nhiều gặp nhau về một tư tưởng. Tuy không cùng sinh ra trong một thời kì (Nguyễn Khuyến sinh ra và lớn lên khi Pháp chưa xâm lược còn Tú Xương sinh ra khi đất nước đang rơi vào cảnh nguy nan khốn đốn, công cuộc xâm lược và bình định của Pháp đang đi vào hồi cực thịnh). Nhưng nhìn chung hai mảnh đời đều trải qua thời kì đen tối nhất của lịch sử dân tộc. Xã hội Việt Nam lúc ấy đã chuyển sang một xã hội mới là xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái xã hội ấy gắn với sự thay đổi trong tình hình giai cấp, sinh hoạt, trạng thái tâm lí xã hội. Đây là lúc ông làm thằng, thằng làm ông, cậu bồi, cậu bếp, thầy thông, thầy kí,… rặt một phường bất tài vô liêm sỉ nhưng sẽ làm anh làm chị, nghênh ngang vênh mặt với đời. Và đây cũng là lúc nho phong tàn tạ, sĩ khí tiêu điều, bút lông đến ngày hết được săn đón, mọi giá trị cũ đang sụp đổ trước uy thế của đồng tiền. Cái xã hội đảo điên tan tác ấy đã tác động đến nhiều nhà nho chân chính, có ý thức trước vận mệnh đất nước trong đó có Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Trước hiện thực cuộc sống ấy cả hai ông đều có những nỗi niềm giống nhau: Sự bất mãn phản kháng trước xã hội, tiếng nói tâm tình của một tấm lòng yêu nước nhưng giọng thơ lại rất khác nhau. Điều này sẽ được thấy rõ khi sớm hiểu về nội dung thơ ca của hai nhà thơ.

    Cùng là sự bất mãn với xã hội, châm biếm, tố cáo những người những việc xấu xa nhưng cách thể hiện của hai nhà thơ rất khác nhau. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một nhà thơ châm biếm. Nội dung châm biếm của ông bao giờ cũng có một ý nghĩa xã hội và chính trị phong phú. Động cơ châm biếm của ông xuất phát không phải từ sự bất mãn về quyền lợi cá nhân mà là từ lòng yêu nước nồng nàn. Đối tượng đả kích của ông tập trung xung quanh những người những việc có liên quan đến việc nước mất hay việc thực dân Pháp đặt quyền thống trị trên đất nước ta. Hạng người bị Nguyễn Khuyến châm biếm nhiều hơn cả là bọn thống trị phong kiến. Ông rất khinh và ghét mọi quan lại cũ hay mới vì ông cho rằng khi chủ quyền trong nước đã mất thì làm quan là một điều hổ thẹn, một sự vi phạm không thể tha thứ được đối với đạo đức của một nhà nho chân chính. Nguyễn Khuyến đã đánh một đòn đau vào toàn bộ bọn vua quan đương thời khi chỉ ra tất cả bọn chúng chỉ là một đám hát chèo nghĩa là một đám bù nhìn của thực dân:

    Vua chèo còn chẳng ra gì

    Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề

    Ông đã hạ bệ những ông tiến sĩ tri thức nhân tài của chế độ phong kiến khi ví chúng với những ông tiến sĩ giấy. Tất cả chỉ là một lũ bất tài vô dụng:

    Chiết thân xiêm áo sao mà nhẹ

    Cái giá khoa danh thế mới hời

    Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe

    Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi

    Nguyễn Khuyến đã lột trần cái bản chất xấu xí giả tạo của bọn quan lại nhưng bằng một cách thể hiện một cách rất nhẹ nhàng sâu kín. Cái bản chất ấy thường được bọc bên trong những hình ảnh ẩn dụ với nhiều hình thức: khi là sự mượn lời của người vợ mắng chồng, khi là qua một đồ vật giả, khi là lời khuyên… Tất cả đều ẩn ý, sâu cay.

    Khác với Nguyễn Khuyến, Tú Xương khi phản ánh hiện thực ông thường miêu tả một cách chân thật đến chua xót, đắng cay chứ không nhẹ nhàng thâm thúy. Tuy nhiên, đó không phải là “một lối chửi đổng, bất lực chứng tỏ một trạng thái đầy ghen tức, oán hờn” như có người phê phán. Ông không hoàn toàn đứng trên lập trường cá nhân, bất mãn rồi phản ánh hiện thực. Tú Xương có vướng mắc trong vấn đề thi cử, có phần bất mãn cá nhân. Điều đó chúng ta không chối cãi. Nhưng điều cần thấy trước là ở Tú Xương có phần bất mãn chung của dân tộc. Nói cho đúng là ở Tú Xương bất mãn cá nhân và bất mãn chung của dân tộc đã kết hợp thành một chỗ đứng, một tư thế cho Tú Xương nhìn hiện thực và phê phán hiện thực. Cũng là châm biếm, đả kích bọn quan lại nhưng hãy xem, quan lại trong thơ Tú Xương hiện lên như thế nào? Với một thái độ khinh ghét đến tột độ, quan lại trong mắt của Tú Xương cũng là món hàng cho nên “đứa thì mua tước, đứa mua quan”, cũng thành chuyện đắt rẻ “Tri huyện lâu nay giá rẻ mà”. Bộ mặt quan lại trong thơ Tú Xương hiện lên khá đậm nét. Tú Xương đã dựng lên trước mắt người đọc một cuốn phim thời sự đơn sơ nhưng sâu sắc về lai lịch, hành tung của bọn đó. Khi còn là sĩ tử, họ lôi thôi bệ rạc, một chút sinh khí không còn:

    Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

    Họ tranh lộn nhau khoa bảng

    Hai đứa tranh nhau cái thủ khoa Tuân khoe văn hoạt, nghị văn già Khi đỗ đạt được thì chẳng qua là lao sâu vào ô nhục:

    Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,

    Dưới sân quan cử ngỏng đầu rồng

    Rồi lực làm quan thì sa đoạ, truỵ lạc, không còn lấy chút đạo lí tối thiểu:

    Đậu lạy quan xin nọ chú hàn

    Đặc biệt họ chỉ chuyên nghề vơ vét, bòn rút của nhân dân mà một chút trách nhiệm cũng không hề nghĩ tới:

    Chữ y chữ chiểu không phê đến

    Ông chỉ quen phê một chữ tiền

    Dưới ngòi bút của Tú Xương, quan lại là phường tuồng, đeo râu vẽ mặt, hò hét múa may để lừa bịp thiên hạ:

    Nào có ra gì cái lũ tuồng,

    Cũng hò cũng hét cũng y uông

    Dẫu rằng dối được đàn con trẻ,

    Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn

    Mô tả bọn quan lại trong buổi đầu của xã hội thực dân nửa phong kiến như Tú Xương là hay lắm.

    Trong xã hội thực dân nửa phong kiến, đồng tiền làm mưa làm gió thêm một bước gây đảo điên trong xã hội. Cùng là sự phản ánh mặt tiêu cực của đồng tiền nhưng ở Nguyễn Khuyến đó là một câu hỏi nghe nhẹ nhàng nhàng hàm ý sâu cay:

    Có tiền việc ấy mà xong nhỉ!

    Đời trước làm quan cũng thế à?

    Khác hẳn với cách viết của Tú Xương, dưới ngòi bút của ông, đồng tiền có sức mạnh kì lạ. Nó được người đời âu yếm và tôn thờ. Nó bắt kẻ “tráng sĩ cũng nằm co” nếu trong túi không có nó, ngược lại nó cho phép hễ ai có nó thì tha hồ nói dơi nói chuột mà vẫn được người khen. Đúng là:

    Kẻ yêu người ghét hay gì chữ

    Đứa trọng thằng khinh chỉ vì tiền.

    Vì tiền mà bao nhiêu xấu xa thối nát, bao nhiêu quái gở lố lăng một ngày một diễn ra trong xã hội. Vị tiên mà có cảnh:

    Chí cha chí chát khua giày dép

    Đen thủi đen thui cũng lượt là.

    Vì tiền mà bọn tu hành bỏ rơi cả đức độ từ bi của Phật quay sống cái nghề cho vay nặng lãi, vì tiền mà nhiều gia đình lục đục, con khinh bố, vợ chửi chồng. Thật là nguy hiểm. Đồng tiền đã phá hoại nhân tâm, phá hoại đạo lí, phá hoại bao nhiêu tình cảm thiêng liêng của con người.

    Như vậy ở cùng một đối tượng phản ánh nhưng người đọc bao giờ cũng phân biệt được đâu là thơ Nguyễn Khuyến, đâu là thơ Tú Xương chính bởi giọng điệu. Thơ Nguyễn Khuyến bao giờ cũng nhẹ nhàng, thường dùng hình thức ẩn dụ để qua đó đả kích, phê phán đối tượng. Người đọc thấy được cái hàm ý sâu cay thâm thúy ẩn chứa đằng sau con chữ. Đọc thơ Nguyễn Khuyến lúc đầu tưởng là khen đấy, hỏi han ân cần thật đấy nhưng để rồi đến câu cuối lại là lời mỉa mai chế nhạo của nhà thơ. Tú Xương thì khác, ông không dùng ẩn dụ mà nói hẳn, đả kích trực tiếp đối tượng với tất cả những xấu xa của nó. Thơ ông như những đòn giáng thẳng vào đối tượng, lôi tuột hết những xấu xa, giả tạo của chúng, phơi bày trước mắt người đọc.

    Đọc thơ Nguyễn Khuyến người đọc thấy hóm hỉnh và thâm thúy thì đến thơ Tú Xương đó lại là sự bực bội, bất mãn đối với cái xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái xã hội ấy đã đẻ ra những thứ nhố nhăng, lố bịch. Ở đậy, người đọc luôn thấy được ngay sự xấu xa của đối tượng bị nhắc đến và thái độ gay gắt của nhà thơ thể hiện trên con chữ mà không cần suy ngẫm, đợi chờ.

    Tuy nhiên, châm biếm đả kích sự xấu xa của xã hội mới chỉ là một mặt của lòng yêu nước ở hai nhà thơ. Một mặt khác không kém phần quan trọng là những nỗi buồn rầu, đau đớn thương tiếc luôn giày vò tâm can họ. Cả hai đều ý thức được nỗi nhục mất nước, ý thức được trách nhiệm của kẻ sĩ trước vận mệnh nước nhà rồi bất lực. Họ nghĩ đến giống nòi, tổ tông, biết tỏ thái độ bất hợp tác với kẻ thù, biết khinh bỉ những kẻ bán mất lương tâm. Song đến cuối đời vẫn không thoát được cái vòng bế tắc, quẩn quanh, sự day dứt mà chủ yếu vẫn bởi họ không đủ dũng khí bước vào đấu tranh.

    Nguyễn Khuyến đã từng làm quan nhưng khi nhận ra những suy đồi của chế độ ông lập tức dứt áo giã từ. Ra đi theo tiếng gọi của lương tâm ông quyết sống cuộc đời dù nghèo khổ nhưng bảo toàn được danh tiết. Tú Xương không làm quan, đi thi tám lần không đỗ chỉ bởi phạm huý, sai luật.

    Đứng trước những đổi thay của thế thái nhân tình, nhân cách nhà nho chân chính của hai con người ấy vẫn giữ được sự vững vàng, kiên trung. Ở họ ta bắt gặp những quan điểm sống giống nhau. Với Nguyễn Khuyến đó là cách sống giả câm giả điếc “Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa”. Tú Xương cũng vậy, sống chỉ là “ấm ờ, giả câm giả điếc”, là “khôn chán thì giả làm ngây” là không cần phô trương chí khí với đời là không màng công danh, ung dung ngoài vòng cương tỏa mà vẫy vũng cho thỏa chí.

    Hai con người, hai cách sống, hai cách thể hiện khác nhau, điều đó tạo nên sự độc đáo riêng đối với từng phong cách tác giả đồng thời làm giàu, làm đẹp thêm cho vườn hoa văn học đất nước. Nhưng dù khác nhau về hình thức, họ lại gặp nhau nơi tấm lòng yêu nước sắt son, chung thủy. Đây chính là yếu tố để cả Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến và người thư kí của thời đại Tú Xương luôn đi bên nhau và cùng nhau đường hoàng bước vào cõi bất diệt của văn học Việt Nam.

  • So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều

    So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều

    So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Nghị luận bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    [toc]

    Đề bài: So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều được thể hiện trong đoạn trích sau:

    Đầu lòng hai ả tố nga,

    Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.

    …….

    Êm đềm trướng rủ mành che,

    Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

    Bài văn mẫu

    Chị em Thúy Kiều là đoạn trích nằm ở phần mở đầu Truyện Kiều của Nguyễn Du – nhà thơ nhân đạo xuất sắc cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn, đồng thời cũng là đỉnh cao nghệ thuật của thơ ca tiếng Việt, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nhân vật mà đoạn trích này là một ví dụ tiêu biểu.

    Sau mấy câu tóm tắt về gia cảnh của vương viên ngoại, nhà thơ giới thiệu vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân:

    Đầu lòng hai ả tố nga,

    Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân…

    Êm đềm trướng rủ màn che,

    Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

    Bút pháp tả người trong đoạn trích này là bút pháp ước lệ thường thấy trong thơ văn cổ điển, lấy những nét đẹp của thiên nhiên để so sánh với vẻ đẹp của con người. Ở những nhà thơ khác, nếu theo cách tả này thì chân dung nhân vật thường chung chung, mờ nhạt. Song công thức ước lệ ấy dưới ngòi bút tài hoa, sáng tạo của Nguyễn Du lại biến hóa khôn lường, khiến cho nhân vật trở nên sinh động.

    Nhà thơ giới thiệu chung về hai chị em Thúy Kiều bằng cách gọi trân trọng dành cho những người con gái đẹp: tố nga và khẳng định: Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười. Cả hai đều có nhan sắc chim sa cá lặn. Hình dáng thanh tú, yểu điệu (mai cốt cách), tâm hồn trong trắng như sương, như tuyết (tuyết tinh thần).

    Nguyễn Du rất kĩ lưỡng trong việc lựa chọn hình ảnh và từ ngữ để miêu tả. Thúy Vân hiện lên trước mắt người đọc với vẻ đẹp đài các, kiêu sa:

    Vân xem trang trọng khác vời,

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

    Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,

    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

    Gương mật Thúy Vân toát lên vẻ đẹp phúc hậu, tươi tắn, gợi sự đầy đủ, viên mãn. Nàng cười tươi như hoa nở, tiếng hói trong như tiếng ngọc rơi trên mâm vàng. Tóc nàng đen mướt đến mây cũng phải thua, da nàng trắng đến mức tuyết cũng phải nhường. Dường như Tạo hoá đã ban cho Thúy Vân rất nhiều đặc ân mà nàng vẫn không bị ai ganh ghét và đố kị. Vẻ đẹp tràn đầy sức sống ấy báo trước cuộc đời Thúy Vân sau này sẽ yên ổn, vinh hoa. Nàng sẽ được hưởng mọi điều sung sướng của một bậc mệnh phụ phu nhân.

    Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du lại miêu tả Thúy Vân trước, Thúy Kiều sau. Chủ ý của nhà thơ là lấy vẻ đẹp của cô em làm nền cho vẻ đẹp của cô chị – nhân vật chính, vẻ đẹp của Thúy Vân trang trọng khác vời, tức là đạt tới mức cao nhất của nhan sắc mà Tạo hóa ban cho người phụ nữ; nhưng vẻ đẹp của Thúy Kiều lại đặc biệt ở chỗ là nó phá vỡ khuôn khổ thông thường từ trước tới nay.

    Ngay từ câu đầu giới thiệu về Thúy Kiều, Nguyễn Du đã khẳng định:

    Kiều càng sắc sảo mặn mà,

    So bề tài sắc lại là phần hơn.

    Thúy Vân đã đẹp khác người thường, Thúy Kiều lại hơn hẳn Vân cả tài lẫn sắc. Vẻ đẹp sắc sảo mặn mà của Thúy Kiều gây ấn tượng rất mạnh, ai được chiêm ngưỡng một lần ắt chẳng thể nào quên. Miêu tả Thúy Kiều, Nguyễn Du không đi vào chi tiết như tả Thúy Vân mà nhấn mạnh vào vẻ đẹp của đôi mắt – cửa sổ tâm hồn:

    Làn thu thủy, nét xuân sơn,

    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

    Mắt nàng long lanh như nước hồ mùa thu, lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân. Ẩn chứa trong đôi mắt ấy là một tâm hồn đa cảm khác thường. Nhan sắc của nàng nghiêng nước nghiêng thành, khiến hoa phải ghen vì thua thắm, liễu phải hờn vì kém xanh. Tác giả đã đem hết tài năng nghệ thuật và tình cảm mến yêu, khâm phục để tả Thúy Kiều nhưng ông cũng có ý hé lộ cho người đọc thấy dự cảm bất an về tương lai của nàng. Theo thuyết tài mệnh tương đối khá phổ biến trong dân gian thời ấy thì phàm cái gì tốt đẹp trên đời đều khó mà giữ được bền lâu. Thúy Kiều đẹp không ai sánh bằng, ắt nàng sẽ bị người đời ghen ghét và đày đọa.

    Một điều đáng chú ý nữa là khi tả Thúy Vân, thi hào Nguyễn Du tuyệt nhiên không nhắc đến tài. Còn tả Thúy Kiều thì ông nhấn mạnh nàng là người tài sắc vẹn toàn:

    Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.

    Thông minh vốn sẵn tính trời,

    Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.

    Cung thương làu bậc ngũ âm,

    Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.

    Trong đời, hiếm có người con gái nào đa tài như Thúy Kiều, nhất là tài chơi hồ cầm của nàng thì không ai bì kịp. Có sắc, có tài, Thúy Kiều lại có thêm tâm hồn mẫn cảm lạ lùng. Dường như nàng linh cảm được về số phận bất hạnh của mình nên đã sáng tác cung đàn bạc mệnh mà ai nghe cũng phải não lòng:

    Khúc nhà tay lựa nên chương,

    Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân.

    Bốn câu thơ cuối đoạn, tác giả nhận xét chung về hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân và hoàn cảnh sống của họ:

    Phong lưu rất mực hồng quần,

    Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.

    Êm đềm trướng rủ màn che,

    Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

    Những chi tiết trên chứng tỏ họ là con nhà nền nếp, được hưởng thụ một nền giáo dục đầy đủ và tốt đẹp; đồng thời khẳng định phẩm hạnh trong trắng, cao quý của chị em Thúy Kiều.

    Đoạn trích chỉ có hai mươi bốn câu thơ nhưng đã cho chúng ta thấy được tài năng nghệ thuật tuyệt vời của Nguyễn Du. ông xứng đáng là bậc thầy về sử dụng thủ pháp ước lệ để miêu tả chân dung nhân vật. Mỗi nhân vật của ông có diện mạo riêng, tính cách riêng rõ nét.

    Trong khi miêu tả vẻ đẹp chị em Thúy Kiều, tác giả bày tỏ tình thương yêu, trân trọng đối với con người; kín đáo khẳng định rằng một con người tài sắc vẹn toàn như Thúy Kiều xứng đáng được hưởng tình yêu và hạnh phúc. Sau này, cuộc đời nàng bị đoạ đày, bất hạnh, ấy là do tội ác của các thế lực đen tối gây ra. Đọc đoạn trích, chúng ta có thiện cảm với hai chị em Thúy Kiều và cùng với tác giả, chúng ta hãy dõi theo bước chân của họ trên đường đời vạn nẻo đầy chông gai, sóng gió.

  • 2 bài văn mẫu Nghị luận bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    2 bài văn mẫu Nghị luận bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    2 bài văn mẫu Nghị luận bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Phân tích Vai trò của người hiền tài đối với đất nước qua bài Chiếu cầu hiền

    [toc]

    Đề bài: Nghị luận bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    Bài văn mẫu 1

    Hồ Xuân Hương là một hiện tượng lạ, độc đáo trong văn học Việt Nam, những vần thơ bà viết về phụ nữ rất lạ và táo bạo thể hiện những khao khát hết sức nhân bản của con người. Bài thơ Tự tình II đã nói lên nỗi lòng của người phụ nữ trong cảnh lấy chồng chung, đồng thời cũng bộc lộ khát vọng bứt phá, tự do hết sức mãnh liệt.

    Bài thơ mở đầu bằng lời bộc bạch đầy u sầu:

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

    Trơ cái hồng nhan với nước non.

    Trong đêm khuya thanh vắng, không gian càng trở nên tĩnh mịch hơn, nỗi khắc khoải ngóng đợi chồng trở về lại càng mãnh liệt hơn. Nhưng càng mong lại càng không thấy. Tiếng trống như thúc giục, như làm cho nỗi buồn chồn, lo lắng càng sâu đậm hơn. Đồng thời tiếng trống ấy cũng là sự thông báo về thời gian tâm trạng của người phụ nữ. Nỗi khắc khoải, thảng thốt của người đàn bà. Tâm trạng đơn côi ấy đã được Hồ Xuân Hương khắc họa rõ nét chỉ qua duy nhất một từ “trơ”. Trơ được đảo lên đầu câu, trơ ở đây chính là nỗi niềm cô đơn, trơ trọi, người con gái ấy trơ “cái hồng nhan” với trời với nước một cách buồn tủi, bẽ bàng. Không chỉ vậy hồng nhan kết hợp với từ cái lại khiến cho nó thêm phần rẻ rung, mỉa mai và tội nghiệp. Người phụ nữ cô đơn lặng lẽ đếm thời gian trôi và ý thức sâu sắc hơn nỗi bất hạnh, sự bẽ bàng, tủi hổ của bản thân.

    Vậy, họ phải làm gì, phải bằng cách nào mới có thể thoát khỏi tâm trạng sầu muộn tột cùng ấy. Có lẽ cách đơn giản nhất chính là tìm đến với rượu, để giúp con người ta quên đi thực tại phũ phàng:

    Chén rượu đưa hương say lại tỉnh

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.


    Nhưng thực tại lại trớ trêu hơn, tìm đến rượu tưởng say, tưởng quên được nhưng càng uống người phụ nữ lại càng tỉnh ra, càng nhận rõ hơn sự cô đơn của mình. Đau đớn hơn nàng nhìn vầng trăng đã xế, nghĩ đến thân phận mình đã lớn tuổi mà hạnh phúc vẫn chưa trọn vẹn, nhân duyên vẫn “khuyết chưa tròn”. Tình cảnh của Hồ Xuân Hương không phải là hiện tượng cá biết, ta bắt gặp nàng Kiều cũng có nỗi niềm tương tự: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa” (Truyện Kiều – Nguyễn Du).

    Đôi mắt Hồ Xuân Hương tiếp tục hướng ra ngoại cảnh, có lẽ bài đang tìm kiếm sự sẻ chia, mong muốn bày tỏ nỗi lòng mình:

    Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

    Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

    Hai động từ “xiên” “đâm” được đảo lên đầu câu nhấn mạnh trạng thái, sự chuyển biến của thiên nhiên nhưng đây đồng thời cũng chính là tâm trạng của con người. Thiên nhiên cũng mang trong mình nỗi niềm phẫn uất của con người, cỏ cây không mềm yếu mà mạnh mẽ xiên ngang mặt đất; đá cũng tự gọt mình, trở nên rắn chắc hơn để đâm toạc đám mây. Tất cả các sinh vật đều cố gắng, gồng mình vươn lên không chấp nhận những cản trở để vươn tới ánh sáng, vươn tới hạnh phúc. Câu thơ phản ánh nỗi phẫn uất đến tận cùng của Hồ Xuân Hương nhưng đồng thời cũng thể hiện sự phản kháng, muốn bứt phá, chối bỏ những luật lệ phong kiến hà khắc để được sống và có một hạnh phúc thực sự cho riêng mình. Câu thơ thể hiện nét tính cách mạnh mẽ, táo bạo của Hồ Xuân Hương.

    Khép lại bài thơ, Hồ Xuân Hương viết:

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

    Mảnh tình san sẻ tí con con.

    Đọc hai câu thơ ta cảm nhận thấy rõ nỗi chán ngán đến tột cùng của Hồ Xuân Hương. Vậy nàng đang ngao ngán điều gì? Nỗi chán ngán của nàng chính là “xuân đi xuân lại lại” , nghĩa là thời gian trôi đi, hết mùa xuân này đến mùa xuân khác, cũng đồng nghĩa với việc tuổi thanh xuân trôi qua mà hạnh phúc người con gái vẫn chưa được tròn vẹn, niềm mong ngóng hạnh phúc dường như ngày một bị thời gian đẩy ra xa hơn. Câu thơ cuối ngắt nhịp 2/2/3 cho thấy tình cảm vốn mong manh, bé nhỏ này lại bị chia năm sẻ bảy, chỉ còn lại tý con con. Câu thơ đầy chán ngán, xót thương, oán thán, tủi hờn. Cũng bởi vậy mà, đã có lần phẫn uất, Hồ Xuân Hương đã lớn tiếng chửi cái kiếp lấy chồng chung: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Hạnh phúc luôn bé nhỏ như chiếc chăn hẹp với khao khát yêu thương to lớn của con người.

    Bài thơ cho thấy tài năng nghệ thuật độc đáo của Bà chúa thơ nôm đó là nghệ thuật sử dụng từ ngữ, các động từ mạnh (xiên, đâm), đảo ngữ, dùng những từ ngữ mới lạ độc đáo (trơ cái hồng nhan). Ngoài ra nghệ thuật xây dựng hình ảnh đặc sặc cũng đã góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.

    Qua bài thơ, người đọc có thể cảm nhận được tâm trạng đầy tủi hơn, uất hận của Hồ Xuân Hương cho duyên phận hẩm hiu của mình. Đồng thời cũng thể hiện khát vọng vượt thoát và nhu cầu hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt của bà. Tiếng thơ của Hồ Xuân Hương cũng là tiếng lòng của biết bao phụ nữ trong xã hội cũ.

    Bài văn mẫu 2

    Trong nền thơ ca dân tộc đã có rất nhiều những nhà văn, nhà thơ viết về người phụ nữ như Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”, Đặng Trần Côn với “Chinh phụ ngâm” hay Nguyễn Dữ với tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” rồi đến những vần thơ của bà Huyện Thanh Quan… nhưng có lẽ tiếng thơ của Hồ Xuân Hương trong bài “Tự tình II” là nỗi lòng tự bộc bạch, tình cảm chân thật của người phụ nữ trong sâu thẳm tâm hồn.

    Người phụ nữ trong xã hội phong kiến bấy lâu phải chịu nhiều thiệt thòi, họ mất đi quyền làm chủ cá nhân, quyền quyết định hạnh phúc cho riêng mình bởi những quan niệm, lễ giáo khắt khe là “Tam tòng tứ đức”, “Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”…Trong xã hội xưa thân sinh làm kiếp đàn bà đã khổ, Hồ Xuân Hương lại còn mang thân phận của người vợ lẽ chịu nhiều thiệt thòi càng đau lòng hơn. Đó là cảm hứng, là nỗi đau xuất phát từ trái tim, tâm hồn người phụ nữ mang trong mình nhiều bất hạnh.

    Bài thơ “Tự tình II” tả cảnh đêm khuya thanh vắng, người đàn bà một mình cô đơn lẻ loi không ngủ mà tự ngẫm thương xót cho thân phận, tình cảm của mình. Cảnh vật trong đêm thanh tĩnh, u tịch với “Văng vẳng” của tiếng trống canh dồn. Ta đã từng bắt gặp âm thanh ấy trong bài “Chiều hôm nhớ nhà” của bà Huyện Thanh Quan: “Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn” dù chỉ là buổi chiều nhưng cũng đủ gợi buồn sâu thẳm huống chi là đêm khuya vắng vẻ chỉ với một thân một mình trong cô đơn. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công tiếng trống dồn canh từ xa vọng lại như thúc giục thời gian trôi qua nhanh, làm cho không gian càng thêm vắng lặng, buồn bã.

    Con người hiện lên trên nền cảnh không gian, thời gian ấy là một tấm thân cô độc “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Hồng nhan là sắc mặt hồng cách hoán dụ lấy bộ phận để chỉ toàn bộ ý nói đến người con gái đẹp. Từ “cái” cụ thể hóa đối tượng được nói đến. Từ “trơ” đặc tả trạng thái trơ lì, chai sạn về một phương diện nào đó, ở đây là “trơ” với “nước non” tức là với thế giới tự nhiên và xã hội, nó được đặt ở đầu câu càng nhấn mạnh thêm nỗi xót xa, đau đớn đến không còn cảm giác của tác giả.

    Khi buồn, sầu, đau, cô đơn con người ta thường hay tìm đến rượu để tiêu sầu, thi sĩ cũng vậy nhưng bà càng uống lại càng tỉnh:

    “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

    Người ta nói khi say là khi sống thật với chính mình, với tâm hồn của một thi sĩ uống rượu ngắm trăng là lúc cảm xúc thăng hoa nhất nhưng Hồ Xuân Hương càng uống lại càng tỉnh, tỉnh bao nhiêu thì buồn đau cho thân phận mình bấy nhiêu. Bà ngắm trăng thấy ánh trăng đã tàn mà chưa có một khoảnh khắc nào tròn. Bà ngẫm cho mình thanh xuân cuộc đời người phụ nữ đã trôi đi già nửa mà chưa một lần được hưởng hạnh phúc trọn vẹn yêu thương. Càng hy vọng, càng chờ bao ngày tháng càng thất vọng buồn tủi bấy nhiêu đau. Đó chính là bi kịch của người phụ nữ tài sắc mà duyên phận lại hẩm hiu. Hồ Xuân Hương đã từng cất lên tiếng chửi của thân phận làm lẽ:

    “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

    Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”

    hạnh phúc là một tấm chăn hẹp trong hoàn cảnh của nhà thơ người vợ lẽ luôn phải chịu thiệt hơn bởi tình cảm không những không được san sẻ mà bị cướp sạch sẽ bởi vợ cả. Nguyễn Du từng cất tiếng khóc thương cho thân phận của kiếp đàn bà:

    “Đau đớn thay phận đàn bà

    Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

    Hồ Xuân Hương tuy là số phận hẩm hiu nhưng bà là một con người có cá tính mạnh mẽ. Dù bi thương nhất nhưng vẫn không cam chịu, chấp nhận mà phản kháng mạnh mẽ, dữ dội được thể hiện qua ý chí trong hai câu thơ:

    “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

    Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

    Nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” được sử dụng, các động từ mạnh xiên, đâm với bổ ngữ ngang và toạc nhấn mạnh trạng thái của thiên nhiên. Rêu và đá là hai sự vật nhỏ bé, yếu ớt so với mây trời, mặt đất rộng lớn bao la mà có sức mạnh vô cùng. Nhà thơ vốn là một con người tự tin yêu đời nên nhìn rêu nhìn đá trong vũ trụ bao la vẫn hoạt động mạnh mẽ, sức sống mãnh liệt qua đó cũng cho thấy bản sắc, phong cách của Hồ Xuân Hương: Luôn cảm nhận sự vật dưới cái nhìn mạnh mẽ, hàm chứa một sức sống dào dạt. Dù trải qua nhiều bi kịch, đau thương với đời nhưng bà luôn gắng gượng phản kháng. Hồ Xuân Hương đã có lần tự khẳng định cái tôi cá nhân của mình:

    “Ví đây đổi phận làm trai được

    Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

    Tuy là mạnh mẽ cứng rắn nhưng một mình bà vẫn không thể thay đổi cho cả xã hội, con người bà không thể thắng được số phận. Bà cất lên tiếng nói nhằm đấu tranh cho quyền lợi hạnh phúc của người phụ nữ nhưng chính bà cũng đang phải chịu nỗi bất hanh. Tuy nhiên tiếng thơ ấy là một hiện tượng mới lạ trong thơ ca trung đại, là khúc ca mở đầu cho những nhà thơ đứng về phụ nữ, bảo vệ và đòi quyền hạnh phúc cho họ.

    Bà đau đớn, xót xa than ngẫm cho hoàn cảnh, thân phận chính mình:

    “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

    Mảnh tình san sẻ tí con con”

    Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở cũng là mùa của tuổi trẻ, thanh xuân người con gái. Mùa xuân của thiên nhiên đi rồi lại đến còn mùa xuân của con người thì đi mãi không trở về “Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha”. Tuổi xuân năm lần bảy lượt qua đi nhưng mảnh tình chỉ có một tí mà vẫn phải san sẻ để rồi chỉ còn tí con con. Từng câu từng chữ thấm đẫm nỗi uất ức, xót xa, ấm ức bởi chưa bao giờ tình cảm được trọn vẹn chẳng khác gì ánh trăng trên trời cao kia đã xế khi chưa tròn. Nghệ thuật tăng tiếng “tí con con” được sử dụng thành công càng làm cho bi kịch của người phụ nữ càng thêm cao, một từ tí con con cực tả nỗi niềm chua xót ngán ngẩm của nhà thơ.

    “Tự tình II” là bài thơ tự than thân, tự bộc lộ, tự nói lên nỗi lòng của một người phụ nữ lận đường tình duyên nhưng luôn khao khát có được một tình yêu trọn vẹn xứng đáng với tấm chân tình của mình. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ cho thấy tài năng thi ca của tâm hồn thi sĩ với việc sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh, thủ pháp tả cảnh ngụ tình, dùng động từ mạnh kết hợp nghệ thuật đảo ngữ và các từ láy “văng vẳng”, “con con” với nghệ thuật tăng tiến càng làm cho bài thơ trở nên sâu sắc, thẫm đượm cái ý cái tình của người phụ nữ có nhiều nét độc đáo, mới lạ trong nền thơ ca văn học dân tộc.

    Những hình ảnh giản dị với tâm trạng vừa buồn tủi, xót xa lại vừa uất ức cho thân kiếp làm lẽ, đồng thời cũng là bi kịch và khát vọng hạnh phúc cá nhân của Hồ Xuân Hương. Bài thơ truyền tải ý nghĩa nhân văn sâu sắc tới độc giả dù sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhưng con người vẫn cố gắng vươn lên muốn thay đổi số phận, thay đổi nghịch cảnh mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn với hạnh phúc lứa đôi và tình duyên trọn vẹn.

  • 2 bài văn mẫu Phân tích Vai trò của người hiền tài đối với đất nước qua bài Chiếu cầu hiền

    2 bài văn mẫu Phân tích Vai trò của người hiền tài đối với đất nước qua bài Chiếu cầu hiền

    2 bài văn mẫu Phân tích Vai trò của người hiền tài đối với đất nước qua bài Chiếu cầu hiền

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    [toc]

    Đề bài: Qua bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm em hãy nêu rõ vai trò của người hiền tài đối với công cuộc phát triển đất nước.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề: Việt Nam là một quốc gia với trình độ phát triển kinh tế chưa bằng nhiều nước trên thế giới

    – Nếu vấn đề: Vì vậy trong hiện tại và tương lai rất cần những hiền tài để đưa đất nước ngày một phát triển. Vai trò của hiền tài là vô cùng quan trọng

    II. Thân bài
    1. Giải thích

    – Hiền tài: Là bề tôi tài giỏi, hiền đức trên mọi lĩnh vực của đời sống. Là những người có năng lực có thể cống hiến cho đất nước

    – Những hiền tài là những hạt giống quý đưa đất nước sánh ngang các cường quốc năm châu

    2. Tại sao những người hiền tài lại có vai trò quan trọng với đất nước?

    – Hiền tài là những người thực sự có năng lực, tài giỏi có thể dùng năng lực cống hiến cho sự nghiệp chung của nước nhà

    – Không có hiền tài đất nước sẽ nghèo nàn, lạc hậu

    – Người tài cống hiến năng lực, đức hạnh cho đất nước về mọi mặt của cuộc sống đưa đất nước phát triển trên mọi lĩnh vực đưa đất nước đi lên trên mọi mặt

    3. Những hiền tài đóng góp cho đất nước

    – Trong lịch sử dân tộc:

    + Trần Quốc Tuấn bằng tài năng của mình lãnh đạo nhân dân ba lần đánh tan quân Mông Nguyên

    + Nhà bác học Lương Đình Của đã tốn rất nhiều thời gian và công sức để lai tạo ra giống lúa mang lại năng suất cao cho ngành nông nghiệp

    – Trong hiện tại:

    + Nhà Toán học Ngô Bảo Châu đã nhận được giải thưởng Toán học đưa nước Việt Nam tự hào với bạn bè thế giới

    + Bên cạnh đó ở một số lĩnh vực khác như thể thao chúng ta không thể không kể đến đội tuyến U23 Việt Nam đã đakt huy chương Bạc tại giải vô địch U23

    4. Làm sao để có nhiều hiền tài cho đất nước?

    – Trước hết bản thân mỗi người cần học tập chăm chỉ dderr trở thành hiền tài

    – Mỗi người cần ý thức được trách nhiệm của mình là cống hiến trọn đời cho đất nước

    – Nhà nước cần có chính sách chiêu mộ hiền tài để có thêm nhiều hiền tài

    – Liên hệ bản thân: Là học sinh cần học tập chăm chỉ cố gắng trở thành hiền tài để phát triển đất nước

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề:Mỗi dân tộc nếu muốn phát triển một cách vững chắc thì rất cần những hiền tài

    – Lời nhắn: Hãy không ngừng cố gắng lấy sự phát triển của đất nước làm mục tiêu để phấn đấu trở thành một hiền tài

    Bài văn mẫu 1

    Ngô Thì Nhậm là một người tài giỏi, có con mắt nhìn xa trông rộng, được Nguyễn Huệ tin cẩn giao cho việc soạn thảo công văn, giấy tờ quan trọng. Chiếu cầu hiền là một trong những văn bản như vậy. Tác phẩm đã cho thấy ý nghĩa vai trò quan trọng của người hiền tài đối với công cuộc phát triển đất nước.

    Chiếu cầu hiền ra đời trong hoàn cảnh, quân Thanh xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ lên ngôi lấy niên hiệu là Quang Trung dẹp tan quân xâm lược. Buổi đầu dựng nước còn nhiều khó khăn, thiếu người hiền tài. Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm soạn thảo văn bản này kêu gọi những người có tài ra giúp đất nước.

    Mở đầu bài chiếu nêu lên lời dạy của Khổng Tử và trách nhiệm của người hiền đối với đất nước: “Người hiền xuất hiện ở đời thì như sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt về chầu ngôi Bắc Thân, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử”. Lập luận của tác giả hết sức chặt chẽ, một mặt ông vừa đề cao vai trò của kẻ sĩ, vừa thức tỉnh ý thức trách nhiệm của họ đối với đất nước. Để nhấn mạnh hơn nữa, vế sau Ngô Thì Nhậm một lần nữa khẳng định: “Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải ý trời sinh ra người hiền tài vậy”. Như vậy, với lập luận này Ngô Thì Nhậm đã bước đầu đánh trúng tâm lí của những người hiền tài.

    Sau khi nói lên trách nhiệm của người hiền tài, ông đã chỉ rõ thực trạng thái độ của họ đối với triều đại Tây Sơn. Ông tỏ ra là người hiểu rõ lẽ xuất xử của người xưa: khi đời thuận thì ra làm việc, khi đời suy vi thì lui về ở ẩn để bảo toàn danh tiết. Ông hết sức thông cảm với những nhà nho như vậy. Nhưng mặt khác ông lại chỉ rõ: có những kẻ ra làm việc cho triều đình mới những vẫn “kiêng dè không dám lên tiếng” hoặc làm việc hết sức cầm chừng, không có sự hăng hái. Với cách diễn đạt hình ảnh, lấy trong sách kinh điển nho gia một mặt vừa thể hiện sự uyên bác của tác giả, mặt khác khiến cho các sĩ phu Bắc Hà nể trọng, tự phải xem lại thái độ của bản thân với triều đại mới. Tiếp đến, ông thể hiện những lời mong mỏi chân thành, tha thiết của nhà vua: “Trẫm đang ghét chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến. Hay trẫm ít đức khong đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”. Lời lẽ đã đánh trúng tâm lí sĩ phu Bắc Hà khiến họ không khỏi phải suy nghĩ.

    Sau đó, tác giả nói lên yêu cầu bức thiết cần người hiền tài của triều đại mới: công việc triều chính còn bộn bề lo toan, do đây là một triều đại mới. Nhà vua cũng ý thức được rằng, công việc thì nhiều, một người không thể giải quyết hết, cần đến những người hiền tài ra giúp sức xây dựng đất nước: “Một cái cột không thể đỡ nổi tòa nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình, cứ cái ấp mười nhà ắt phải có một người trung thành tín nghĩa”. Lời lẽ vô cùng chân thành, thể hiện thiện tâm của nhà vua đối với những người hiền tài. Không chỉ vậy lời nói ấy còn hết sức khiêm nhường, tha thiết đã thức tỉnh lương tri của người hiền tài, khiến họ không thể không ra hợp tác với triều đại mới.

    Đường lối kêu gọi người hiền tài của Quang Trung hết sức rộng mở, bất cứ ai có tài năng đều có thể giới thiệu, tiến cử, tự tiến cử,… để phục vụ cho đất nước. Cuối bài chiếu một lần nữa tỏ ra thông cảm, bao dung với sự bất hợp tác với những sĩ phu Bắc Hà trước đây và nêu lên lời kêu gọi, hứa hẹn, kích lệ đối với họ.

    Qua văn bản Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm người đọc càng ý thức được rõ hơn vai trò của người hiền tài đối với việc xây dựng đất nước. Người hiền tài quả là nguyên khí của quốc gia đúng như Thân Nhân Trung đã từng nói. Đất nước là một bộ máy vô cùng cồng kềnh, không thể chỉ có một người cai quản, lo liệu là xong mà cần phải có sự giúp sức của nhiều người tải giỏi. Chỉ như vậy mới có thể điều hành đất nước một cách thuận lợi. Khi người hiền tài nhiều, đem hết sức mình ra cống hiến cho đất khi ấy đất nước sẽ hưng thịnh, ngược lại với triều đại rối ren, là do không có người hiền tài ra giúp sức, thế nước tất yếu suy vi và dẫn đến bại vong. Để có được người hiền tài ra giúp sức cũng cần phải có những chính sách phù, hợp đúng đắn để thu hút nhân tài, tạo điều kiện thuận lợi cho họ đem tài năng phục vụ đất nước. Khi ấy một vị vua sáng sẽ là vô cùng quan trọng. Chỉ khi kết hợp đầy đủ hai yếu tố vua sáng tôi hiền thì khi ấy đất nước mới phát triển hưng thịnh. Chiếu cầu hiền là bài văn nghị luận mẫu mực, với logic lập luận chặt chẽ đã cho thấy ý nghĩa vai trò to lớn của người hiền tài đối với sự phát triển của đất nước. Trong thời điểm hiện tại, đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì yếu tố người hiền tài càng có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.

    Bài văn mẫu 2

    Nếu như ở Trung Hoa có Cao đế với cầu hiền chiếu thì Việt Nam cũng có “Chiếu cầu hiền” dưới triều đại vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm theo lệnh vua viết. Qua đó ta có thể thấy được vai trò quan trọng của người hiền tài đối với vận mệnh dân tộc của bất kì quốc gia nào. Trong công cuộc phát triển đất nước ngày nay vai trò ấy càng được đề cao bởi “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.

    Hiền tài là những người như thế nào? Theo quan niệm của Khổng Tử cũng là ý kiến của Ngô Thì Nhậm “Người hiền xuất hiện ở đời như ngôi sao sáng trên trời cao” theo đó họ là tinh anh của đất trời, hội tụ tài đức vẹn toàn, những con người vừa có trí tuệ trong đầu và đạo đức trong tim. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Quan trọng hơn cả là tâm đức con người bởi “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    Trong lịch sử dân tộc ta đã có biết bao tấm gương hiền tài làm sáng ngời giá trị đạo đức và có đóng góp cho vận mệnh đất nước. Đó là Lí Thường Kiệt, là Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…hay trong thời hiện đại có Chủ tịch Hồ Chí Minh_vị cha già của dân tộc, “Người không con mà có triệu con” cùng với biết bao danh tướng lỗi lạc như Võ Nguyên Giáp_ Những con người chí lớn, tài cao lại đức độ, sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích dân tộc. Thử hỏi nếu không có những con người ấy thì dải đất chữ S này sẽ ra sao, hồn nước có còn hay đã mất?

    Như vậy ta có thể thấy vai trò của người hiền tài vô cùng quan trọng. Họ có đóng góp to lớn cho dân tộc dù là ở thời đại nào. Trong thời chiến bảo vệ đất nước, người hiền tài là những tướng lĩnh giỏi như Quang Trung “Phù Lê diệt Trịnh” thừa thắng đánh tan quân Thanh xâm lược, thống nhất non sông quy về một mối. Với công cuộc phát triển đất nước trong thời bình người hiền tài có những đóng góp cho sự văn minh tiến bộ trên nhiều lĩnh vực: Về chính trị họ là những người cán bộ Đảng viên hết lòng vì dân phục vụ, là những người chiến sĩ nơi biên thùy gìn giữ biên cương Tổ quốc. Về khoa học có nhà toán học tài giỏi như Giáo sư Ngô Bảo Châu đưa nền toán học nước nhà phát triển lên một tầm cao mới, các kĩ sư, bác sĩ có tài có tâm với nghề hay nhà giáo nhân dân ưu tú đào tạo thế hệ trẻ đất nước rồi đến nhà nông học Lương Định trăn trở nghiên cứu cải tạo giống lúa mới năng suất cao…Tuy mỗi người tài giỏi ở một chuyên môn nhưng họ đã cùng nhau đưa đất nước đi lên phát triển vững mạnh. Muốn đất nước phát triển thì “Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình” mà cần trăm họ và muôn dân cùng có ý thức và trách nhiệm để Việt Nam ngày càng tiến xa hơn nữa trên con đường hội nhập quốc tế. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp”. Người hiền tài nắm trong tay vận mệnh dân tộc là vậy.

    Một số ít tài năng thiên bẩm như Bill Gate thì người hiền tài không phải tự nhiên mà có. Muốn có được người tài cống hiến tài năng cho đất nước bên cạnh lời chiêu hiền cần có chính sách, điều kiện “Đào tạo nhân tài, bồi dưỡng nhân lực”. Nhật Bản là một quốc gia luôn luôn chú trọng đầu tư cho con người, họ đề ra khẩu hiệu “Giáo dục 80 năm trong cuộc đời”, họ coi “Nhân tài là tiền vạn năng”. Việt Nam cũng vậy, học tập sự văn minh tiến bộ của nước ngoài bên cạnh chăm lo cho đời sống chính trị, phát triển kinh tế thì giáo dục là ngành được dư luận luôn quan tâm, đầu tư bởi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, chìa khóa của tương lai đất nước. Để có được người hiền tài nhà nước phải có chính sách thu hút nhân tài, có môi trường đào tạo, rèn luyện thật tốt để họ có cơ hội phát triển bản thân và cống hiến cho quốc gia.

    Tuy nhiên ngày nay nền kinh tế thị trường bên cạnh những ảnh hưởng tích cực còn có những tác động tiêu cực. Hiền tài không quá hiếm hoi nhưng ít nhiều người tài đã bị vùi dập bởi thế lực và xã hội đồng tiền dần lấn lướt, cướp trắng trợn cơ hội học tập, phát triển của họ chỉ bởi không phải là con ông cháu cha, chỉ bởi là không có tiền điều đó được minh chứng bởi những bất cập trong kì thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2018 với nạn gian lận, nâng điểm khống trong thi cử tiêu biểu là ở Hà Giang, Sơn La. Hi vọng rằng Bộ giáo dục, Đảng và nhà nước có biện pháp xử lí và hình phạt thích đáng để người tài có cơ hội được cống hiến cho quê hương, đất nước.

    Là một học sinh ý thức được vai trò sứ mệnh của hiền tài đối với sự nghiệp của đất nước, em nhận thấy nhiệm vụ học tập, rèn luyện và trau dồi tri thức cho mình là vô cùng quan trọng, cố gắng học tập mong rằng có thể đóng góp chút công sức để Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.

  • 2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích vẻ đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc

    [toc]

    Đề bài: Qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, em hãy phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ mộc mạc, chất phác nhưng nghĩa khí, dũng cảm lần đầu tiên xuất hiện trong một tác phẩm văn học

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu: “Một vì sao có ánh sáng khác thường phải chăm chú nhìn mới thấy và càng nhìn càng thấy sáng” (Phạm Văn Đồng)

    – Tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Tác phẩm làm nổi bật hình tượng người nông dân nghĩa sĩ mộc mạc, chất phác nhưng nghĩa khí, dũng cảm lần đầu tiên xuất hiện trong một tác phẩm văn học

    II. Thân bài
    1. Hình tượng những người nông dân nghĩa sĩ mộc mạc, chất phác

    – Nguồn gốc xuất thân:

    Từ nông dân nghèo khổ, những dân ấp, dân lân (những người bỏ quê đến khai khẩn đất mới để kiếm sống)

    + “ cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó ”: hoàn cảnh sống cô đơn, thiếu người nương tựa, âm thầm lặng lẽ lao động mà vẫn nghèo khó suốt đời

    + NT tương phản: chưa quen >< chỉ biết, vốn quen >< chưa biết.

    ⇒ Nguyễn Đình Chiểu nhấn mạnh việc quen (đồng ruộng) và chưa quen (chiến trận, quân sự) của những người nông dân Nam Bộ để tạo sự đối lập tầm vóc anh hùng trong đoạn sau.

    ⇒ Những người nông dân nghĩa sĩ họ chỉ là những người nghèo khó và lương thiện, chính hoàn cảnh đã buộc họ phải đứng lên trở thành những người chiến sĩ và cuối cùng là “nghĩa sĩ”

    – Lòng yêu nước của những người nong dân nghĩa sĩ cũng mộc mạc

    + Khi TD Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy: Ban đầu lo sợ ⇒ trông chờ tin quan ⇒ ghét ⇒ căm thù ⇒ đứng lên chống lại.

    + Vốn là những người nông dân nghèo khó không biết đến việc binh đao, họ lo sợ là chuyện bình thường

    + Sự chờ đợi “quan”: như “trời hạn trông mưa”

    + Thái độ đối với giặc: “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ” ⇒ Thái độ căm ghét, căm thù đến tột độ được diễn tả bằng những hình ảnh cường điệu mạnh mẽ mà chân thực

    – Nhận thức về tổ quốc: Họ không dung tha những kẻ thù lừa dối, bịp bợm ⇒ họ chiến đấu một cách tự nguyện: “nào đợi đòi ai bắt…”

    ⇒ Diễn biến tâm trạng người nông dân, sự chuyển hóa phi thường trong thái độ, chính lòng yêu nước và niềm căm thù giặc, cộng với sự thờ ơ thiếu trách nhiệm của “quan” đã khiến họ tự giác, tự nguyện đứng lên chiến đấu

    2. Tuy mộc mạc, chất phác nhưng ở họ vẫn sáng ngời nghĩa khí, dũng cảm

    – Những người nông dân nghĩa sĩ sáng ngời tinh thần dũng cảm chiến đấu hi sinh

    + Tinh thần chiến đấu tuyệt vời: Vốn không phải lính diễn binh, chỉ là đân ấp dân lân mà “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”

    + Quân trang rất thô sơ: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi đã đi vào lịch sử ⇒ làm rõ nét hơn sự anh dũng của những người nông dân nghĩa sĩ

    + Lập được những chiến công đáng tự hào: “ đốt xong nhà dạy đạo”, “ chém rớt đầu quan hai nọ”

    +“đạp rào”, “xô cửa”, “liều mình”, “đâm ngang”, “chém ngược”…: động từ mạnh chỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao nhịp độ khẩn trương sôi nổi

    + Sử dụng các động từ chéo “ đâm ngang, chém ngược” → làm tăng thêm sự quyết liệt của trận đánh.

    ⇒ Tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc cứu nước.

    – Những người nông dân nghĩa sĩ đi vào lịch sử bởi dự anh dũng hi sinh

    + “xác phàm vội bỏ”, “da ngựa bọc thây”: cách nói tránh sự hi sinh của những ifn nghĩa sĩ

    + Chính họ, những người tự nguyện chiến đấu với những vũ khí thô sơ nay lại hi sinh anh dũng trên chiến trường để lại niềm tiếc thương nhưng tự hào cho người ở lại

    ⇒ Hình tượng những người nông dân nghĩa sĩ với sự chiến đấu và hi sinh sanh dũng xứng đáng đi vào sử sách

    III. Kết bài
    – Khằng định lại vấn đề: Trong khoảng một nghìn năm của văn học trung đại Việt Nam, chưa bao giờ người nông dân đi vào tác phẩm văn học với vai trò của những người anh hùng như thế

    – Liên hệ cảm nhận bản thân

    Bài văn mẫu 1

    Nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu, ta không chỉ nhớ về tác phẩm Lục Vân Tiên mà ông còn có rất nhiều bài văn tế có giá trị nghệ thuật, một trong những tác phẩm đó là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Tác phẩm đã khắc họa thành công chân dung người nông dân nghĩa sĩ mộc mạc, chất phạc nhưng vô cùng nghĩa khí, dũng cảm đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm văn học.

    Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh thực dân Pháp nổ súng xâm lược ta, nhân dân nổi dậy khởi nghĩa. Nghĩa quân Cần Giuộc đã giành thắng lợi bước đầu. Sau đó giặc không ngừng phản công dữ dội, trước sự phản công đó 20 nghĩa sĩ bị giết chết. Bấy giời, tuần phủ Gia Định lúc bấy giờ là Đỗ Quang đã yêu cầu Nguyễn Đình Chiểu viết một bài văn tế để đọc trong lễ truy điệu của các nghĩa sĩ Cần Giuộc.

    Hình ảnh người nông dân trong văn học trung đại Việt Nam không phải lần đầu tiên xuất hiện, mà ta đã bắt gặp trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:

    Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

    Trong tác phẩm này Nguyễn Trãi đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nhân dân đối với đất nước song ông lại chưa làm rõ được vẻ đẹp anh dũng kiên cường của họ. Chỉ đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc vẻ đẹp chân chất giản dị mà hết sức kiên cường, dũng cảm của họ mới được thể hiện một cách đầy đủ nhất.

    Trước khi thực dân Pháp xâm lược họ là những người nông dân chất chất, mộc mạc: “Nhớ linh xưa/ Cui cút làm ăn, toàn lo nghèo khó/ Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường cung; chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ”. Họ – những người nông dân vốn chỉ sinh sống trong không gian hết sức nhỏ bé, đó là ngôi làng họ từng sinh ra và lớn lên. Sau lũy tre làng ấy họ cần cù, chăm chỉ làm ăn, cuộc sống tuy nghèo khó nhưng rất đỗi yên bình, họ chưa biết đến kiếm cung. Tay họ vốn chỉ quen việc cày, việc bừa, còn việc tập khiên, tập súng mắt họ chưa từng ngó lấy một lần. Họ rất xa lạ với công việc nhà binh, chỉ quen với việc đồng áng. Họ là những con người hết sức giản dị, mộc mạc.

    Điều khiến họ trở thành những người nông dân nghĩa sĩ ấy chính là khi quân giặc xâm lược, niềm mong mỏi về sự cứu giúp của triều đình chìm trong vô vọng “trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Lòng họ cuộn trào nỗi căm thù giặc sâu sắc: “Bữa thấy bòng bong che trắng lộp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra căn cổ”. Trước tình cảnh ấy, làm sao người nông dân có thể chịu đứng yên, nhìn chúng giày xéo đất tổ. Cho nên ho đã đi đến quyết định vùng lên chống lại những kẻ xâm lược bất nhân. Như vậy với lòng căm thù giặc, ý thức trách nhiệm với đất nước đã khiến cho họ từ những người nông dân hiền lành thành những người có nghĩa khí, không màng đến sự sống chết của bản thân, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Đây chính là vẻ đẹp truyền thống trong tâm hồn người Việt, khi giặc xâm lăng mới có cơ hội được bộc lộ rõ nét.

    Điều kiện đi đánh giặc của họ hết sức nghèo nàn, thiếu thốn: “Mười tám ban võ nghê, nào đợi tập rèn; chín chục trận binh thư, không chờ bày bố”. “Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ”. Thì ra bước vào trận quyết đấu họ lại chỉ được trang bị hết sức thô sơ như vậy. Họ không phải những người lính chuyên nghiệp, được rèn luyện binh đao, chẳng qua họ chỉ là những người dân cày, vì nước mà tình nguyện lên đường. Quần áo vũ khí họ cũng không được trang bị, có thứ gì họ mặc thứ ấy: manh áo vải trong tay và chỉ có thêm chiếc gậy tre dao phay hoặc rơm con cúi. Họ phải làm thế nào để có thể chống đỡ được những vũ khí lợi hại của kẻ thù.

    Mặc dù được trang bị hết sức thô sơ, nhưng không vì thế mà làm chùn bước những người nông dân nghĩa sĩ. Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện vô cùng sinh động không khí hào hùng của trận đánh. Họ mang theo “hỏa mai bằng rơm con cúi” vậy mà cũng đốt được ngôi nhà dạy đạo; gươm đao của họ chỉ là lưỡi dao phay nhưng đã giết chết hai tên quan của giặc. Hành động của họ vô cùng mau lẹ, dứ khoát “đạp rào lướt tới” “xô cửa xông vào” không sợ những kẻ có vũ khí mạnh, liều mình vào chỗ hiểm nguy như chẳng có chuyện gì xảy ra. “Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ”. Họ là những con người vô cùng kiên gan, dũng cảm, họ bất chấp hiểm nguy, hòng tiêu diệt bằng được những kẻ ngoại xâm. Lời văn vô cùng mãnh liệt, rắn rỏi, thủ pháp đối được vận dụng tài tình đã tái hiện lại một cách đầy đủ không khí của trận chiến, nó xứng đáng là “một thiên anh hùng ca tuyệt diệu. Ngòi bút thật hoàn toàn xứng đáng với hành động cao cả của nghĩa sĩ nông dân” (Lê Trí Viễn). Dù trong trận chiến ấy, những người nghĩa sĩ nông dân có thất bại nhưng hình ảnh anh dũng, quả cảm của họ vẫn con sống mãi trong lòng những người ở lại. Đồng thời cái chết của họ cũng là lời khẳng định cao nhất, ý nghĩa nhất cho sự quả cảm, họ sẵn sàng hi sinh vì độc lập của nước nhà.

    Xây dựng chân dung người nghĩa sĩ nông dân tác giả đã sử dụng ngôn tử giản dị, dễ hiểu, nhưng lời ăn tiếng nói của người dân. Thủ pháp đối lập được vận dụng triệt để vừa cho thấy những khó khăn đồng thời thấy được vẻ đẹp nhân cách của họ. Giọng điệu khi hào hùng, khi cảm thương, xót xa.

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa thành công hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ. Họ hiện lên vừa giản dị, mộc mạc, vừa anh dũng kiên cường. “Lần đầu tiên trong lịch sử văn học và lịch sử tư tưởng dân tộc đã đề cập trực tiếp đến người nông dân chân lấm tay bùn và đưa họ từ chỗ vô danh tiểu tốt lên thẳng vinh quang của vũ đài lịch sử, trở thành nhân vật trung tâm của cuộc chiến chống ngoại xâm cứu nước của lịch sử”.

    Bài văn mẫu 2

    Hình tượng người nông dân từ bấy lâu đã đi vào trong văn học qua những vần thơ con chữ. Nhưng phải đến trong thơ ca của Nguyễn Đình Chiểu_Cây bút tài hoa của nhân dân Nam Bộ, “Ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” mới thực sự để lại dấu ấn đậm nét và chân thực nhất. Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ Việt Nam đầu tiên nói đến phong trào nhân dân, đề cao người nông dân, người du kích chống Pháp ý thức về nhiệm vụ và quyền lợi của mình. Tiêu biểu là tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” hình tượng người nông dân nghĩa sĩ hiện lên với những nét mộc mạc, chất phác nhưng nghĩa khí dũng cảm lần đầu tiên xuất hiện trong một tác phẩm văn học.

    Bài văn tế ra đời trong hoàn cảnh cam go của những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Ngày rằm tháng 11 năm 1861, trong trận tấn công đồn Cần Giuộc nghĩa binh bị hy sinh khoảng hai mươi người và phải rút lui. Theo lệnh của tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu viết bài tế này trước là để tế và bày tỏ lòng biết ơn, sự thương xót đối với các nghĩa sĩ, sau là để khích lệ tinh thần yêu nước chống giặc của nhân dân.

    Người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc hiện lên với nét mộc mạc chất phác.Trước tiên họ là những người nghèo khổ với dáng điệu hiền lành đến tội nghiệp chỉ biết “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”. Những con người làm lụng vất vả quanh năm để mưu sinh cho cuộc sống “chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”. Họ sống một cuộc sống lạc hậu bó hẹp với ruộng đồng, với công việc của mình “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”. Thủ pháp liệt kê, nhịp điệu 2/2/2… và nghệ thuật tiểu đối trong câu cùng với những từ ngữ giản dị mang màu sắc thôn dã đã khắc họa được hình ảnh những dân Nam Bộ với vẻ chất phác, đơn sơ trong suy nghĩ và tính cách của con người.

    Cuộc sống vốn bình yên nhưng vì sao họ lại phải trở thành người nghĩa sĩ mà “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ”? Là bởi “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây/ Một bàn cờ thế phút sa tay” kéo theo biết bao những đau thương, mất mát mà người dân phải gánh chịu. Chính điều đó đã khiến cho những người nông dân Cần Giuộc ghét giặc như một lẽ tự nhiên “Ghét thói mọn như nhà nông ghét cỏ/ Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan/ Ngày xem ống khói đen sì muốn ra cắn cổ”. Đọc những câu văn khiến ta nhớ đến hình ảnh của Trần Quốc Tuấn ở thế kỉ XIII với lòng căm thù giặc sâu sắc “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù”. Tinh thần yêu nước, căm hờn lũ giặc vẫn được tiếp nối biết bao đời nay. Cách viết cách nói so sánh của Đồ Chiểu hoàn toàn phù hợp với tâm lí nghề nghiệp và lối suy nghĩ của người nông dân “Trông tin quan như trời hạn trông mưa”, “Ghét thói mọn như nhà nông ghét cỏ” đã phản ánh chân thực sự căm ghét quân Pháp_những kẻ xâm lược hòng muốn chiếm lấy nước ta.

    Tuy họ là những người nông dân chất phác nhưng khi giặc xâm lăng Tổ quốc họ là người có nghĩa khí dũng cảm, xả thân quên mình vì nước. Họ tự nguyện đánh giặc “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.” Phải họ căm ghét, họ quyết tâm đánh giặc cái khí thế, cái tinh thần ấy tương phản mạnh mẽ với thực lực của người nông dân. Họ chỉ là những “người dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ” đâu có được xuất thân dòng dõi nhà binh, đâu có được rèn luyện chiến đấu, họ nào biết súng gươm ấy vậy mà họ quên mình vì “tấc đất tấc vàng” của quê hương.

    Người chiến sĩ ấy đánh giặc chẳng có súng đạn, bao tấu, bầu ngòi. Trong tay họ vũ khí chiến đấu là những vật dụng, đồ nghề của nhà nông là ngọn tầm vông, là dao tu, là nón gõ hay hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, rồi là lưỡi dao phay… những công cụ thô sơ đó tương phản với trang thiết bị của địch là súng đạn vô tình, có tầu sắt, có đồng hồ súng nổ. Cuộc chiến đấu của các nghĩa binh rõ ràng là không có tổ chức, không có hiệu lệnh, đội ngũ, kỷ luật, vũ khí lại thô sơ, họ chỉ mặc cho mình “một manh áo vải”. Chính những “cái không” ấy làm nổi bật lên “cái có” vô giá tiềm ẩn trong con người Cần Giuộc. Bởi họ có ý thức quyết tâm cao độ đánh giặc, có một tinh thần yêu nước không đổi, có một lòng căm thù giặc đến vô cùng. Điều đó đã làm nên sức mạnh vô song để họ đạp rào lưới tới, coi giặc cũng như không, không sợ đạn to đạn nhỏ mà liều mình xông vào như chẳng có, rồi kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho quân giặc khiếp sợ. Họ đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Những người nông dân Cần Giuộc với tinh thần đánh giặc quả cảm, anh dũng họ nối tiếp tư tưởng “Thà chết vinh còn hơn sống nhục” của dân tộc đã làm nên sức mạnh kì vĩ, dù hiệu quả trận đánh không đáng kể song khí thế nghĩa quân như gáo nước lạnh tạt vào mặt quân thù với sự cảnh cáo và khẳng định quyền tự chủ, lòng yêu nước của nhân dân ta.

    Bài văn tế là khúc bi tráng ca về hình tượng người nông dân-nghĩa sĩ Cần Giuộc những con người mang nét đẹp mộc mạc chất phác mà anh dũng, hào hùng. Hình tượng vừa đẹp vừa đáng cảm phục, nể trọng bởi sự hy sinh cao cả. Những con người ấy vừa đáng thương vừa đáng tiếc để lại trong lòng người đọc, người nghe sự cảm mến, kính phục mà cũng xót xa, trách móc. Gửi vào tiếng khóc là sự xót thương của tác giả dành cho những người hùng dân tộc là khát khao, mơ ước có được một cuộc sống bình yên, ấm no cho nhân dân, đất nước sạch bóng quân thù của cụ Đồ Chiểu.

    So sánh với các đỉnh cao của văn học yêu nước chống giặc ngoại xâm của thế kỉ trước như thơ thần “Nam quốc sơn hà”, “Dụ chư tì tướng hịch văn”, “Bình Ngô đại cáo”… đây là lần đầu tiên hình tượng người nông dân Việt Nam đi vào trong tác phẩm văn học với vóc dáng, tính cách, công việc, tình cảm, cảm xúc được bộc lộ rõ nét và chân thành, thuần phác nhất với tất cả những đặc điểm của người nông dân Việt và những đặc trưng của người Nam Bộ thân thương. Người nông dân nghĩa sĩ trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” trở thành biểu tượng điển hình, là trung tâm cho sự ca tụng, ngợi ca cho tình cảm yêu nước và lòng căm thù giặc, cổ vũ và động viên tinh thần chiến đấu của con người Việt Nam. Điều đó đã thể hiện được quan điểm sáng tác “Văn dĩ tải đạo”.

    Cùng với các bài văn tế khác như “Văn tế Trương Định”, “Văn tế Phan Tòng”, “Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh”… thì “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất cho thể loại này làm nên tên tuổi của Đồ Chiểu. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc được hiện lên sinh động qua cách sử dụng ngôn ngữ bình dân, cùng với kết cấu ngôn ngữ phủ định trùng điệp. Khép lại trang sách nhưng những con người ấy còn mãi lưu giữ trong trái tim, trong kí ức của một thời sử dân tộc. Đó là tấm gương sáng, là truyền thống quý báu tiếp nối tiếp của dòng máu con Lạc cháu Hồng.

    Như vậy lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc hình tượng người nông dân được khắc họa chi tiết, tài tình như thế. Người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã thực sự hiện lên là những con người mộc mạc, chất phác nhưng nghĩa khí dũng cảm. Họ là hình ảnh đáng tự hào làm nên truyền thống yêu nước lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt.

  • Phân tích vẻ đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Phân tích vẻ đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Phân tích vẻ đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Viết bài làm văn số 3: Nghị luận văn học

    [toc]

    Đề bài: Trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chỉểu có một “tượng đài nghệ thuật” mang tính bi tráng về người nông dân yêu nước chông ngoại xâm. Anh (chị) hãy phân tích bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” để làm rõ vẻ đẹp hiếm có của hình tượng nghệ thuật đó.

    Bài văn mẫu

    “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là đỉnh cao sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và cũng là biểu tượng rõ ràng nhất, sâu sắc nhất tư tưởng yêu nước thương dân của ông. Với lòng cảm thương, khâm phục chân thành, nhà thơ đã xây dựng nên một “tượng đài nghệ thuật” bất hủ về người anh hùng nghĩa sĩ nông dân trong lịch sử chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

    Có thể nói bài văn tế là khúc bi tráng về người nghĩa sĩ nồng dân xả thân vì sự sống còn của đất nước. Người nồng dân nghèo khổ chân chất “côi cút làm ăn toan lo nghèo khổ đã tự nguyện đứng lên gánh vác việc nước lớn lao và cực kì gian khổ: đánh giặc. Trước tội ác tày trời của giục Pháp, trước thái độ nhu nhược đến hèn nhát của trỉều đình, họ không thổ bưng tai bịt mắt làm ngơ. Trách nhiệm công dân thúc đẩy họ cầm vũ khí chiến đấu:

    “Nào đợi ai đồi, ai hắt, phe tì này xin ra sức đoạn kình;

    Chẳng thêm trôn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.

    Họ không phải là lính chính quy của triều đình mà chỉ là “dân ấp dân lân, mến nghĩa tàm quản chiêu mộ”. Đó là cái nghĩa vì nước quên mình, dám đánh giặc, dám hi sinh. Điều này hoàn toàn đối lập với lũ quan quân triéu đình tham sống sợ chết. Vì lẽ đó mà hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân càng thêm thương, thêm quý.

    Không cần lệnh quan trên, không cần chờ trang bị, cũng chảng đợi tập rèn, họ lao vào cuộc chiến đấu sống chốt với kẻ thù bằng một tinh thần dũng cảm hiếm có: “Kẻ dám ngang, người chém ngược, làm cho mũ tà, ma nỉ hồn kinh. Bọn hè trước, lù ó sau, trôi kệ tàu thiếc, tâu dồng súng nổ”. Tinh thần ấy khiến cho các vũ khí thô sơ trong tay họ trở lên hữu hiệu:”Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia – Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rơi đầu quan hai nọ”.

    Cái dũng cảm trong chiến đấu đã khắc phục cái yếu kém trong trang bị. Giữa bức tranh hoành tráng của cuộc chiến đấu, nổi bật hình bóng lồng lộng, hiên ngang của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc.

    Trong văn thơ ngày xưa của ta có không nhiều những trang miêu tả một trận chiến đấu mà thường là lược tả một vài nét. ở bài văn tế này, nhà thơ đã tả bằng những chi tiết rất chân thực, sống động cho nên không khí hào hùng gần gũi, quen thuộc với cuộc sống, với mọi người. Sức mạnh của nghệ thuật đã biến những hình ảnh tầm thường thành những hình ảnh tượng trưng cho người nghĩa quân nông dân quanh năm chân lấm tay bùn, vậy mà khi lòng nghĩa cháy lên, họ đã biến thành người chiến sĩ cứu nước anh hùng. Hình bóng họ làm chủ chiến trường, nổi lên trên nến trời, che lấp cả khồng gian, lồng lộng như một tượng đài kì vĩ.

    Cảm xúc chủ đạo của vài văn là cảm xúc bi tráng, lời văn rắn rỏi, mãnh liệt, toàn là những hành động được thể hiện bằng những động từ mạnh mẽ, âm điệu sôi sục, dồn dập. Nghệ thuật đối đã phát huy được hiệu quả cao nhất của nó… Tất cả hợp thành một âm điệu chiến trận hào hùng, phấn khích. Thật là một thiên anh hùng ca tuyệt diệu. Ngòi bút tác giả hoàn toàn xứng đáng với hành động cao cả của người nghĩa sĩ nông dân; với tư tưởng cực kì lớn lao mà tác giả đã phát hiện ra trong hành động giết giặc cứu nước của họ.

    Gần ba chục nghĩa sĩ nông dân bỏ mình trong cuộc chiến đấu ác liệt và không cân sức. Cải chết bi tráng của nọ Knien con người, cây cỏ trên một miền quê Dao la tnay đều thương tiếc: “Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng – Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hơi hàng luỵ nhỏ”. Người chết vì nước non, vì đồng bào, làm sao không xúc động đến đồng bào, non nước ? “Tượng đài nghệ thuật” vé người nghĩa sĩ nồng dân mang tính chất bi tráng. Nó được dựng lên trong khói lửa chiến trận, trong tiếng thét xung phong, và cả trong nước mắt, trong tiếng khóc thống thiết cùa nhà thơ và của nhân dân. Đây là thành công nghê thuật xuất sắc của nhà thơ mù yêu nước Nguyền Đình Chiểu. Bài văn tế như một cái bia, cái mốc, một lâu đài vinh dự cho người nông dân, cho nhân dân lao động Nam Bộ muôn thuở sáng ngời.

  • Phân tích Giá trị hiện thực trong tác phẩm Vào phủ Chúa Trịnh

    Phân tích Giá trị hiện thực trong tác phẩm Vào phủ Chúa Trịnh

    Phân tích Giá trị hiện thực trong tác phẩm Vào phủ Chúa Trịnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Cảm nghĩ về bài thơ Lẽ ghét thương

    [toc]

    Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác).

    Bài văn mẫu

    “Con ơi nhớ lấy câu này

    Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.

    Bọn vua chúa phong kiến đa số là những tên cướp ngày. Chúng cướp của nhân dân một cách công khai bằng đủ thủ đoạn tàn ác để vinh thân phì gia, để hưởng thụ cuộc sống. Lên Hữu Trác, một danh y lỗi lạc, một văn nhân tài ba của nước ta ở thế kỉ XVIII đã một phần nào nói lên được thực trạng này qua tác phẩm Thượng kinh kí sự. Trong kí sự này, đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh có một giá trị hiện thực sâu sắc khi phản ánh được cuộc sống xa hoa, giàu sang, quyền uy tột bậc của nhà chúa.

    Thượng kinh kí sự nguyên văn bằng chữ Hán, được Lê Hữu Trác viết năm 1782, nội dung ghi lại những điều mà tác giả tai nghe mắt thấy trong những lần được vời ra kinh đô Thăng Long chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm. Qua những trang viết sinh động và sắc sảo, tác giả đã phản ánh chân thực cuộc sống xa hoa của tầng lớp vua chúa phòng kiến, đồng thời kín đáo bày tỏ thái độ thờ ơ, coi thường danh lợi của mình. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.

    Mở đầu bài kí là Khung cảnh giàu sang, đẹp đẽ hiếm có cùa phủ chúa Trịnh được tác giả miêu tả trực tiếp qua quan sát và miêu tả gián tiếp qua ấn tượng mà nó gây ra trong lòng tác giả: Tôi ngẩng đầu lên: đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thấm, gió đưa thoang thoảng mùi hương… Tôi nghĩ bụng: Mình vốn con quan, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết Chỉ có những việc trong phủ chúa là mình chỉ mới nghe nói thôi. Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường!

    Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi” .Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ.

    Tuy được mời nhưng vị danh y cũng chỉ được đưa vào phủ bằng lối cửa sau, mỗi bước đều có người của phủ chúa đi theo. Trên đường đi, ông để ý ghi nhận từng sự vật: Đi được vài trăm bước, qua mấy lần cửa mới đến cái điếm “Hậu mã quân túc trực”. Điếm làm bên cái hồ, có những cái cây lặ lùng và những hòn đá kì lạ. Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp.

    Càng vào sâu bên trong, sự ngạc nhiên của tác giả càng lớn:

    Qua dãy hành lang phía tây, đến một cái nhà lớn thật là cao và rộng. Hai bên là hai cái kiệu để vua chúa đi. Đổ nghi trượng đều sơn son thiếp vàng. Ở giữa đặt một cái sập thếp vàng. Trên sập mắc một cái võng điều. Trước sập và hai bên, bày bàn ghế, những đổ đạc nhân gian chưa từng thấy… Lại qua một cửa nữa, đến một cái lầu cao và rộng. Ở đây, cột đều sơn son thếp vàng. Đúng là cảnh lầu son gác tía, cung bạc lầu vàng mà dân chúng chĩ có thể thấy trong truyện thần tiên hoặc trong tưởng tượng mà thôi.

    Khung cảnh trong phủ chúa đã được Lê Hữu Trác khái quát qua mấy câu thơ tức cảnh:

    Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt,

    Cả trời Nam sang nhất là đây!

    Lầu từng gác vẽ tung mây,

    Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào.

    Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa lại càng khác xa chốn dân gian. Lần đầu tiên trong đời, với tư cách là khách mời, tác giả được dùng cơm bằng mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ … Không một lời bình luận, tác giả để các chi tiết tự toát lên ý nghĩa hiện thực sâu xa của nó. Thời kì này, chế độ phong kiến lâm vào tình trạng khủng hoảng, rối ren. Vua Lê nhu nhược chỉ còn đóng vai trò bù nhìn, mọi quyền lực chính trị đều rơi vào tay chúa Trịnh, mà chúa Trịnh thì lộng hành, ăn chơi xa xí, hoang dâm vô độ. Trong khi đó, dân chúng sống lầm than cơ cực, tiếng oán thán vang lên khắp hang cùng ngõ hẻm. Quyền lợi của vua chúa không còn đồng nghĩa với quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Vì thế mà người người bất bình. Phong trào khởi nghĩa nông dân chống lại triều đình nổi lên ò khắp nơi. Do có nhận thức đúng đắn vể bản chất của triều đình phong kiến đương thời nên Lê Hữu Trác dứt khoát quay lưng trước con đường hoạn lộ đầy cám dỗ của danh lợi, phú quý nhưng vinh liền nhục và cũng đầy hiểm hóc.

    Đoạn văn miêu tả nơi cung cấm khá tỉ mỉ, vừa có giá trị hiện thực sắc sảo vừa ngầm chứa thái độ giễu cợt nhẹ nhàng của tác giả: Đi qua độ năm, sáu lẩn trướng gấm như vậy, đến một cái phòng rộng, ở giữa phòng có một cải sập thếp vàng. Một người ngồi trên sập độ năm, sáu tuổi, mặc áo lụa đỏ. Có mấy người đứng hầu hai bên. Giữa phòng là một cây nến to cắm trên một cải giả bằng đổng. Bên sập đặt một cái ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm. Một cái màn là che ngang sân. Ở trong có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ.

    Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt Xem chừng Thánh thượng thường thường vẫn ngồi trên ghế rồng này, nay người rút lui vào màn để tồi xem mạch Đông cung cho thật kĩ:

    Qua hình dáng và bệnh tình của Đông cung thế tử được tác giả miêu tả khá kĩ, người đọc cớ thể liên tưởng đến tình trạng suy thoái của triều đình phong kiến Việt Nam thời đó: … thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi. vả lại, bệnh mắc đã lâu, tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, tay chân gầy gò. Đó là vì nguyên khỉ đã hao mòn, thương tổn quá mức. Quả là chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm nay đã già cỗi, lạc hậu và khó bề cứu chữa.

    Vốn là một người thông minh, Lê Hữu Trác đắn đo rất kĩ trong cách chữa bệnh cho thế tử. Ý kiến của các thầy thuốc trong cung ông nghe ch? để tham khảo. Từ thực trạng bệnh tình và thể lực của thế tử, ông phân tích, cân nhắc thiệt hơn rồi tìm ra cách chữa phù hợp nhất: Tôi thấy thánh thể gầy, mạch lại tế, sác. Thế là âm dương đều bị tổn hại, nay phải dùng thuốc thật bổ để bổi dưỡng tì và thận, cốt giữ cái căn bản tiên thiên và làm nguồn gốc cho cái hậu thiên. Chính khí ở trong mà thắng thì bệnh ở ngoài sẽ tự nó tiêu dần, không trị bệnh mà bệnh sẽ mất.

    Điều thú vị hơn cả là nếu suy ngẫm kĩ, chúng ta sẽ thấy nội dung tờ khải của danh y Lê Hữu Trác nói về cách chữa bệnh cho thế tử nhưng lại chứa đựng một nhận xét cực kì chính xác về thực trạng của triều đình phong kiến đương thời và đưa ra phương thức chữa trị những căn bệnh trầm kha của nó: Chầu mạch, thấy sáu mạch tế, sác và vô lực, hữu quan yếu, hữu xích lại càng yếu hơn. Ấy là tì âm hư, vị hỏa quá thịnh, không giữ được khí dương, nên âm hoả đi càn. Vì vậy( bên ngoài thấy cổ trướng, đó là tượng trưng ngoài thì phù, bên trong thì trống. Nên bổ tì thổ thì yên…

    Danh y Lê Hữu Trác thừa sáng suốt để kê một phương thuốc hoà hoãn cho thế tử vì sợ nếu mình làm kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao về núi được nữa. Là một bậc chân Nho, ông tỏ ra nắm rất vững lẽ xuất xử của người quân tử. Quyết định lánh xa vòng danh lợi của ông trong hoàn cảnh ấy là vô cùng đúng đắn.

    Lê Hữu Trác tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả,giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”. Những đoạn nhân vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế. Những đoạn kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng. Trong tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một người hoà nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp . Sự đối lập về vị thế so với các vị lương y của sáu cung hai viện,không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài năng của nhân vật này . Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi bày hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám .

    Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi” đóng một vai trò quan trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người cầm bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm. Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ. Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch . Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm. Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo cứu đời với quan niệm : “Thiện tâm cốt ở cứu người. Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn”.

    “Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là thăm bệnh,chữa bệnh. Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái cớ, một dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống thâm nghiêm, giàu sang đầy uy quyền. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh mang giá trị hiện thực sâu sắc. Bằng tài quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sông xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời cũng bộc lộ thái độ coi thường lợi danh của mình. Đối với ông thì không có gì quý bằng cuộc sống tự do nơi non xanh nước biếc chốn quê nhà, được đem hết tài năng, nhiệt huyết cống hiến cho y thuật và cứu nhân độ thế. Cuộc sống nơi cung vua, phủ chúa dẫu giàu sang phú quý tột bậc nhưng rốt cục cũng ch? là vào luồn ra cúi, cá chậu chim lồng mà thôi.

  • 2 bài văn mẫu Cảm nghĩ về bài thơ Lẽ ghét thương

    2 bài văn mẫu Cảm nghĩ về bài thơ Lẽ ghét thương

    2 bài văn mẫu Cảm nghĩ về bài thơ Lẽ ghét thương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ

    [toc]

    Đề bài: Anh (chị) hiểu và suy ngẫm được điều gì sâu sắc qua bài Lẽ ghét thương

    Bài văn mẫu 1

    Lục Vân Tiên là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trong đời thơ Nguyễn Đình Chiểu. Tác phẩm chứa đựng nhiều quan điểm triết lí của ông về cuộc sống và về con người. Đoạn trích Lẽ ghét thương đã phần nào thể hiện quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu về cái yêu, cái ghét của ông. Qua đó đã để lại những suy ngẫm, bài học sâu sắc trong lòng người đọc.

    Đoạn trích nằm ở đầu tác phẩm Lục Vân Tiên, Vân Tiên cùng bạn đến kinh đô dự thi, vào một quán trọ họ tình cờ gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm. Bốn người uống rượu, làm thơ, Trịnh Hâm không phục tài năng của Vân Tiên. Lúc này ông Quán xuất hiện nói về lẽ ghét thương của mình.

    Ông Quán là người đã từng dùi mài kinh sử, nên có suy ngẫm, quan điểm hết sức đúng đắn. Trước hết ông nói về những điều ông ghét. Ông lựa chọn những đời vua điển hình nhất cho sự độc ác, thối nát của lịch sử Trung Quốc: Vua Kiệt, Vua Trụ, U Vương – tên vua nổi tiếng háo sắc, Ngũ bá – năm lãnh chúa của năm nước chư hầu thời Xuân Thu; vua và lãnh chúa ở cuối đời Đường. Bọn chúng đều là những kẻ độc ác, không quan tâm đến đời sống nhân dân, chỉ lo ăn chơi, hưởng lạc, vơ vét của cải của nhân dân, đẩy dân vào cảnh lầm than, cực khổ.

    Ông ghét những kẻ hại dân, hại nước và cũng rất thương những con người có tài năng, đức hạnh sinh nhầm thời, tài đức bị vùi dập: Đức thánh Khổng Tử – ông tổ của Nho giáo, thầy Nhan Tử học trò giỏi nhất của Không Tử, nhà thơ Đào Uyên Minh tình tình cao thương, không mưu cầu danh lợi, từ quan về ở quân vì ông không chịu khom lưng, uốn gối,… Đó cũng là những vị quân tử nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại. Ông Quán thương họ, bởi họ đều là những con người tài đức nhưng lại không được trọng dụng: Khổng Tử đi khắp các nước tìm cách thực hiện đạo của mình mà không được; Nhan Tử học giởi nhưng mất sơm, Khổng Minh nổi tiếng mưu lược nhưng đến khi chết sự nghiệp vẫn chưa thành, Đào Tiềm học rộng, thơ văn lỗi lạc, đang làm quan ông từ quan về quê vì không chịu nổi cảnh phải khụy nụy. Qua đó, Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm ít nhiều tâm sự của mình pử đây. Nguyễn Đình Chiểu cũng là một nhà nho, mang trong mình hoài bão giúp đời, giúp nước nhưng cuộc đời ông lại gặp quá nhiều chông gai, bất hạnh, thêm vào đó đúng vào thời buổi nhiễu nhương, số phận của ông cũng có những nét tương đồng với những nhân vật linh sử kia. Qua những lời ông Quán ta có thể thấy Nguyễn Đình Chiểu quan tâm đến cuộc sống lầm than của nhân dân và số phận bất hạnh của nhiều hiền tài khi sinh ra không đúng thời.

    Qua bài Lẽ ghét thương, chúng ta có thể thấy rằng, yêu và ghét vốn là hai trạng thái tâm lí đối nghịch nhau nhưng lại luôn tồn tại song song với nhau. Ghét đồng thời cũng xuất phát từ tình yêu thương, như Nguyễn Đình Chiểu ông ghét những tên vua độc ác bởi ông thương người dân vô tội, sống lầm than, cực khổ, ông thương những người hiền tài sinh bất phùng thời, không thể cống hiến cho đất nước.

    Bằng những lời lẽ mộc mạc, giản dị nhưng đầy tình cảm cảm xúc, ông Quán đã thay lời Nguyễn Đình Chiểu thể hiện quan điểm về cuộc đời, xã hội. Lẽ ghét của ông cũng xuất phát từ chính tình yêu thương với nhân dân, với ngươi tài. Bởi yêu quý, kính trọng họ nên ông mới căm ghét những kẻ làm cuộc sống của họ thêm phần cực khổ. Bài thơ đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

    Bài văn mẫu 2

    Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng của nền văn học dân tộc để lại nhiều tác phẩm có giá trị trong đó “Lục Vân Tiên” là truyện thơ biểu dương đạo lí “Trai thì trung hiếu làm đầu/ Gái thì tiết hạnh là câu trau mình”, tác phẩm mang đậm màu sắc Nam Bộ, lời thơ giản dị mộc mạc, nhân vật bộc trực thể hiện rõ thái độ yêu ghét rạch ròi. Một trong những đoạn trích hay nhất là “Lẽ ghét thương” cho thấy tình cảm thương ghét của nhà thơ, để lại nhiều điều sâu sắc đáng suy ngẫm cho người đọc.

    Đoạn trích thuộc từ câu 473 đến câu 504 kể về cuộc nói chuyện giữa ông Quán-nhân vật phát ngôn cho tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu với các nho sĩ trẻ tuổi. Đó là lời cảm khái than đời của ông trước bọn tiểu nhân Trịnh Hâm, Bùi Kiệm huênh hoang, khoác lác, bất tài mà bụng dạ xấu xa vu oan cho Lục Vân Tiên và Tử Trực. Qua đó ông Quán thể hiện quan điểm, thái độ của mình về lẽ ghét thương ở đời xoay quanh các câu hỏi: Ghét ai? Vì sao ghét? Thương ai? Vì sao thương? Từ đó cho ta những bài học nhận thức để suy ngẫm.

    Theo quan điểm của ông Quán cũng như sự nhận thức của cá nhân bản thân em: Nguồn gốc của sự ghét trước tiên bắt nguồn từ lẽ thương “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Đó là cái ghét chân chính và nhân văn. Nếu như mọi sự ghét chỉ toàn là ganh tuông, đố kị thì tất cả chỉ là thái độ hằn học với đời, mất đi sự cao cả của nó. Mức độ ghét ở đây đạt đến cực đại “Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm” thương càng nhiều thì ghét càng lắm.

    Lí giải cho căn nguyên của tất cả những căm ghét trào sôi là xuất phát từ tấm lòng thương người thương đời của một nhà nho chân chính, cụ thể là vì ông thương nhân dân – những con người cùng cực, bị áp bức bất công, người hiền tài mà không được trọng dụng. Những con người ấy được ông liệt kê và nói lí do vì sao thương họ. Đó là Khổng Tử muốn truyền bá tư tưởng, thực hiện hoài bão cứu đời nhưng đi đến nước nào cũng không được tin dùng, Nhan Tử là Nhan Uyển-học trò xuất sắc của Khổng Tử học rộng tài cao nhưng số mệnh chết yểu, Gia Cát Lượng quân sư tài ba cho Lưu Bị không gặp đúng thời thế, Đổng Tử là Đổng Trọng Thư có tài có chí có tâm ra làm quan nhưng không được trọng dụng, Nguyên Lượng là Đào Tiềm-Đào Uyên Minh phải lui về ở ẩn vì không chịu được sự khom lưng uốn gối, Hàn Dũ bị oan khiên, thầy Liêm, Lạc về quê dạy học vì bất đồng quan điểm nơi triều chính. Tất cả những con người ấy đều có tài có đức mà lận đận con đường khoa cử công danh. Ông thương họ, thương dân nên mới cất lên tiếng thơ thể hiện sự căm ghét bọn vua chúa quan lại hoang dâm, tàn bạo không chăm lo cho đời sống, xây dựng đất nước mà chỉ biết hưởng thụ trên sự hi sinh của dân, bóc lột sức lao động, tiền của, trí tuệ của nhân dân. Ông ghét những người đứng đầu đại diện cho các triều đại bạo ngược bên Trung Hoa là vua Kiệt, vua Trụ, U Vương, Lệ Vương rồi đến đời nhà Chu kéo bè kết cánh, đánh nhau liên miên gây ra biết bao thảm họa, điêu đứng cho nhân dân. Ông đứng trên quan điểm lập trường và lợi ích của dân để ghét. Qua đó cho ta thấy Nguyễn Đình Chiểu chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng “Nhân nghĩa” chính thống của Khổng Tử, Mạnh Tử khi Nho giáo vẫn còn có giá trị rất lớn, đặc biệt là quan niệm “Dân vi quý”-dân là quý nhất, quan trọng nhất. Thương dân bao nhiêu thì ghét bọn nhũng nhiễu làm hại dân bấy nhiêu.

    Tư tưởng ấy của Nguyễn đình Chiểu đến ngày nay vẫn còn có giá trị, vẫn luôn được người đời đề cao. Nhà nước ta luôn “lấy dân làm gốc”, tất cả đều xuất phát từ quyền lợi của nhân dân, thấm nhuần triết lí “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” điều đó được thể hiện qua sự chưng cầu ý kiến nhân dân trong mỗi một sự việc quan trọng của đất nước. Những người cán bộ, các vị lãnh đạo ai biết yêu thương, chăm lo quan tâm đến đời sống của nhân dân luôn được dân yêu, dân tin, dân kính, dân nể và ngược lại những con người chỉ mong làm quan để đục khoét, moi móc của dân tham ô, tham nhũng thì luôn phải gánh chịu hậu quả và sự trừng phạt của pháp luật.

    Ngoài ra, qua đoạn trích “Lẽ ghét thương” Nguyễn Đình Chiểu đã cụ thể hóa quan niệm “Văn dĩ tải đạo” văn học phải mang chức năng truyền tải đạo lí tốt đẹp ở trên đời, ca ngợi, ủng hộ cái tốt và lên án, tố cáo, đả kích cái xấu, những con người tàn ác. Ông Quán thương cho người tài cũng là ca ngợi giá trị của họ, ông ghét bọn hung bạo cũng là đang phê phán lối sống tiêu cực và đạo đức xuống cấp của chúng. Tuy chỉ nói chuyện bên Trung Hoa nhưng cũng là để tố cáo xã hội hiện thực, thời đại mà chính tác giả đang sống. Hồi Thiệu Trị, Tự Đức trị vì triều đình chuyên chế tàn bạo, vua chúa ăn chơi xa xỉ, tiền đồ mồ hôi công sức của nhân dân phải đổ vào lăng tẩm đền đài, quan lại tham nhũng, loạn lạc liên miên, nhân dân cùng cực rơi vào cảnh đói khổ lầm than. Ông tố cáo xã hội ấy thể hiện tấm lòng thương dân vô bờ của mình, thương cho người đời cũng là thương cho chính mình. Nguyễn Đình Chiểu học rộng tài cao, con đường hoạn lộ công danh đang rộng mở nhưng lại đứt gánh giữa đường, lận đận khoa cử, lúc đang trên đường đi thi thì được tin mẹ mất về phục tang mẹ rồi bị bệnh mù cả đôi mắt. Đồ Chiểu chưa bao giờ chịu khuất phục số phận dù mù lòa nhưng tâm ông luôn sáng, văn chương của ông là lá cờ đầu cho giai đoạn kháng chiến chống Pháp vừa tố cáo tội ác của giặc vừa thôi thúc, động viên lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến cho dân tộc.

    Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện tình cảm thương ghét rõ ràng của mình, dù nói chuyện kinh sử nhưng giọng điệu và ngôn ngữ thơ không nén được nỗi buồn đau, tức giận bởi trong cuộc sống thường ngày những điều đáng ghét, đáng thương thường xuyên dội vào tâm tư Đồ Chiểu khiến cho ông trăn trở trong cuộc đời.

    Đoạn trích tập trung các giá trị nghệ thuật tiêu biểu cho đoặc trưng thơ ca trung đại như: sử dụng các điển tích điển cố, nghệ thuật tiểu đối trong câu làm cho câu thơ có vần có nhịp, cân đối mang nét đẹp cổ điển. Ngoài ra các điệp từ, điệp cấu trúc “thương ông” “thương thầy” từ “dân” được lặp lại nhiều lần thể hiện cho quan điểm thương ghét nhân đạo của tác giả.

    “Lẽ ghét thương” qua lời ông Quán đã tập trung thể hiện quan điểm thương dân, thương đời sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu. Vì thương dân quá nhiều mà ông ghét bọn hôn quân bạo chúa ngang tàn. Đằng sau những vần thơ ghét thương là một tấm lòng nhân đạo, nhân ái bao la của nà thơ mù nổi tiếng. Đoạn trích để lại cho ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về tình cảm thương ghét ở trên đời.

  • 2 bài văn mẫu Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ

    2 bài văn mẫu Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ

    2 bài văn mẫu Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngất ngưởng

    [toc]

    Đề bài: Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài Thương vợ

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương và bài thơ Thương vợ: Tác giả với tư tưởng li tâm Nho giáo. Thương vợ là một trong số những bài thơ tiêu biểu thể hiện tấm lòng thương vợ của Trần Tế Xương

    – Ngoài giá trị nội dung tương đối nổi bật, bài thơ còn thành công bởi việc vận dụng thành công ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ

    II. Thân bài
    1. Dấu hiệu của ca dao, thành ngữ, tục ngữ trong bài thơ

    – Sự vận dụng thành ngữ, ca dao, tục ngữ được thể hiện ở hai cặp câu thực và luận trong bài:

    + “Lặn lội thân cò khi quãng vắng

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

    + “Một duyên hai nợ âu đành phận

    Năm nắng mười mưa dám quản công”

    ⇒ Nét nghệ thuật tiêu biểu này đóng vai trò to lớn trong thể hiện nỗi niềm thương vợ của Trần Tế Xương

    2. Vai trò, tác dụng của việc vận dụng thành công ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ

    – Hai câu thực:

    + “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”: Lấy ý từ câu ca dao: “Con cò lặn lội bở sông”

    + ”Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng ⇒ vận dụng sáng tạo, đảo lặn lội lên đầu nhấn mạnh nỗi gian truân vất vả

    + Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tình khái quát : vận dụng sáng tạo hình ảnh ca dao, dùng thân cò càng làm tăng nỗi gian truân của bà Tú

    + “khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu

    ⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua sử dụng sáng tạo ca dao

    + Eo sèo… buổi đò đông: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc

    + Buổi đò đông: Gợi liên tưởng đến câu ca dao: “Con ơi nhớ lấy câu này- Đò đông chớ lội, đò đầy chớ qua”: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu

    – Hai câu luận:

    + “Một duyên hai nợ”: ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, không than vẫn

    + nắng mưa”: chỉ vất vả

    + “năm”, “mười”: số từ phiếm chỉ số nhiều

    ⇒ “Năm nắng mười mưa”: thành ngữ chéo gợi phẩm chất tần tảo của Bà Tú

    + “dám quản công”: Đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.

    ⇒ Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú

    ⇒ Nhận xét: Âm điệu ca dao, thành ngữ đã được Tế Xương vận dụng một cách sáng tạo để thể hiện nỗi lo âu vất vả trong công việc hằng ngày của bà Tú, đồng thời càng thêm nhấn mạnh cho vẻ đẹp của bà và thể hiện tấm lòng thương vợ sâu sắc của ông Tú

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vai trò của việc vận dụng thành công ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong việc thể hiện thành công nội dung tác phẩm

    – Liên hệ trình bày cảm nhận cá nhân về nét đặc sắc nghệ thuật này

    Bài văn mẫu 1

    Trần Tế Xương một trong những nhà thơ nổi bật của văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông mang đậm âm hưởng dân gian đặc biệt thể hiện trong ngôn ngữ sử dụng trong các bài thơ. Bài Thương vợ là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất chất dân gian trong tác phẩm.

    Trước hết về ngôn ngữ, bài thơ được viết bằng chữ Nôm, từ ngữ trong bài được sử dụng hết sức giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Bài thơ không sử dụng bất cứ điển tích, điển cố nào, mà hoàn toàn là ngôn từ của nhân dân. Lời thơ giản dị, gần với phong cách khẩu ngữ, đây có thể coi là những lời tự bạch hết sức chân thanh mà giản dị của ông đối với người vợ thân yêu của mình. Bà Tú một mình bươn trải, vất vả cực nhọc nuôi sống cả gia đình, không gian làm việc chật hẹp tù túng “mom sông” “quãng vắng” “buổi đò đông”, tất cả những vất vả, cực nhọc đó Tú Xương vô cùng trân trọng, nâng niu. Dù không giúp gì được cho bà Tú, nhưng có lẽ đôi mắt thương yêu, biết ơn của ông luôn dõi theo từng bước chân của bà. Không chỉ vậy, ngôn ngữ còn hết sức suồng sã, đậm tính khẩu ngữ: “Cha mẹ thói đời” tiếng chửi trong lời thơ Tú Xương vô cùng tự nhiên, giàu khẩu ngữ, góp phần tô đậm tính chất dân gian cho tác phẩm.

    Trong tác phẩm, Tú Xương đã vận dụng thuần thục thành ngữ, tục ngữ, làm cho câu thơ đậm chất dân gian hơn nữa:

    Một duyên hai nợ âu đành phận

    Năm nắng mười mưa dám quản công.

    Lấy Tú Xương đối với bà Tú vừa là duyên mà cũng vừa là nợ. Ở đây tác giả đã vận dụng vô cùng tài tình, linh hoạt thành ngữ “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”. Duyên ở đây thì ít (một duyên) mà nợ ở đây thì nhiều (hai nợ), nhưng đã là duyên số với nhau thì bà Tú chấp nhập, không oán trách, không phàn nàn, “âu đành phận”. Câu thơ này làm ta bất chợt nhớ đến câu ca dao xưa của ông cha:

    “Một duyên, hai nợ, ba tình

    Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh”

    Hay: “Chồng gì anh, vợ gì tôi

    Chẳng qua là cái nợi đời chi đây”

    Tú Xương đã vận dụng hết sức sáng tạo, cách nói của dân gian để khẳng định, ngợi ca sự hinh sinh thầm lặng, sự nhẫn nhịn của bà Tú với mình trong mối tơ duyên này. Hơn ai hết bà Tú là người ý thức rõ nhất lấy ông Tú là cái phận, số phận vốn phải vậy của bà, bởi vậy, dù có vất vả cực nhọc “mấy nắng mưa” phải lặn lội nơi quãng vắng, tranh cướp trong buổi đò đông bà cũng đâu “dám quản công”. Bà không hề than thở, oán trách, mà thực hiện nó như nghĩa vụ của bản thân. Đây chính là vẻ đẹp phẩm chất vốn có, vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Câu thơ cũng cho thấy tấm lòng thương vợ của Tú Xương, ông thấm thía hết cả những nỗi khổ mà bà Tú phải chịu đựng. Từ tình thương, ông Tú còn biết ơn, trân trọng đức hi sinh thầm lặng của bà Tú đối với gia đình.

    Không chỉ dừng lại ở đó, hình ảnh trong bài thơ cũng đậm chất dân gian, thể hiện rõ nhất trong hình ảnh con cò. Con cò vốn là hình ảnh quen thuộc trong ca dao, dân dân ca, nó gợi nên nỗi thống khổ, vất vả của người nông dẫn giữa của cuộc đời đầy sống gió, bão táp:

    “Cái cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao …”

    Hay: “ Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khó nỉ non”

    Và bà Tú cũng là một trong những thân cò lam lũ, vất vả như vậy: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”. Công việc của bà Tú là buôn bá gạo ở mom sông Vị Hoàng với rất nhiều nguy hiểm có thể gặp phải, đó là những hôm đi sớm về khuya một mình “nơi quãng vắng” là những ngày chợ đông với bao bon chen, tranh cướp, giành giật nhau “buổi đò đông” đầy bất trắc, nguy hiểm. Chỉ với một chữ “thân cò” thôi nhưng Tú Xương đã khái quát một cách đầy đủ nhất cuộc sống vất vả gian truân của bà Tú, không chỉ vậy còn cho người đọc thấy thêm những phẩm chất cao đẹp của bà: đảm đang, tháo vát, tần tảo để nuôi chồng, nuôi con. Bà quả là một phụ nữ điển hình của Việt Nam.

    Giọng điệu bài thơ có sự kết hợp hài hòa giữa giọng trữ tình và giọng tự sự, trong đó giọng trữ tình là chủ đạo. Giúp thể hiện được những cung bậc cảm xúc của tác giả: là sự biết ơn với người vợ chịu thương, chịu khó, chịu nhiều vất vả, cực khổ; là lời thơ tự trào về chính bản thân mình, trở thành một gánh nợ với gia đình. Đằng sau đó, Tú Xương thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với bà Tú.

    Với sự vận dụng linh hoạt, tài tình các chất liệu dân gian từ ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu,… Tú Xương đã làm nổi bật nỗi vất vả của bà Tú, cũng như vẻ đẹp phẩm chất của bà. Bên cạnh đó thể hiện sự trân trọng, biết ơn sâu sắc của ông với người vợ tao khang. Đồng thời cũng khẳng định tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tú Xương.

    Bài văn mẫu 2

    Một trong những đặc điểm lớn của thơ ca trung đại Việt Nam là sự kế thừa tinh hoa của văn học dân gian. Biết bao các nhà thơ trung đại đã ảnh hưởng điều đó vào sáng tác để hồn thơ mang đậm chất dân tộc. “Thương vợ” của Tú Xương cũng là một bài thơ có ngôn ngữ, âm điệu ca dao, thành ngữ, tục ngữ được vận dụng sáng tạo làm nên màu sắc riêng của tác giả.

    Bài thơ “Thương vợ” là tình cảm chân thành của thi sĩ dành cho bà Tú mà cất lên tiếng nói sâu thẳm trong tâm tư thay vợ. Chân dung bà Tú hiện lên là một người vợ phải chịu nhiều vất vả , đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu lòng yêu thương và sự hi sinh cho chồng con. Bài thơ đã thành công với lối dùng từ, ngôn ngữ và sự ảnh hưởng của âm điệu ca dao.

    Về ngôn ngữ được viết bằng chữ Nôm_sản phẩm của người Việt sáng tạo ra thể hiện tinh thần dân tộc. Từ ngữ trong bài thơ rất giản dị, gần gũi với cuộc sống hằng ngày của nhân dân như các từ “Mom sông” tả không gian nơi bà Tú làm việc nguy hiểm nơi đầu sóng ngọn gió để mưu sinh “Nuôi đủ năm con với một chồng” hay các từ láy “Lặn lội”, “eo sèo”, “hờ hững” cho thấy sự cực nhọc của người vợ mà người chồng lại vô tâm, hờ hững. Lời thơ giản dị đó là lời bộc bạch tâm tư, tình cảm mà nhà thơ nhập thân vào hoàn cảnh của vợ để thấu hiểu, cảm nhận và thể hiện có cả tiếng chửi nhẹ nhàng sâu lắng “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” rất đời thường, mang đậm chất hiện thực sinh động.

    Bài thơ được vận dụng các thành ngữ, tục ngữ rất sáng tạo không phải là trích nguyên văn mà biến đổi nhưng vẫn giữ được nội dung của câu nói như “Dầm mưa dãi nắng” được ông vận dụng sáng tạo thành “Năm nắng mười mưa” cho thấy sự vất vả được nhân lên rất nhiều lần của bà Tú.

    Đặc biệt âm điệu ca dao có ảnh hưởng sâu sắc với hình ảnh sáng tạo “Thân cò lặn lội khi quãng vắng”. Xưa nay ta thấy hình ảnh con cò thể hiện cho sự vất vả cơ cực của người nông dân đặc biệt là nói về thân phận của người phụ nữ:

    “Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

    Hay:

    “Con cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”

    Hình ảnh ấy gắn liền với thân phận người phụ nữ Việt Nam tần tảo sớm hôm lo cho gia đình. Bà Tú ở đây là thân cò một thân phận, số phận cụ thể gợi một sự mỏng manh, nhỏ bé trước cuộc đời. Tác giả sử dụng lối viết đảo ngữ “lặn lội thân cò” làm cho hình ảnh ấy càng ấn tượng sâu sắc hơn.

    Nhà thơ vận dụng sáng tạo các khái niệm duyên, nợ, phận trong dân gian vào câu thơ “Một duyên hai nợ âu đành phận” để nói về mối nhân duyên vợ chồng, ông Tú và bà Tú lấy được nhau là do duyên nợ từ kiếp trước. Bà Tú chịu cực vì ông Tú nhưng không một lời than vãn mà tự cho rằng đó là do duyên phận mà trời đã định. Bà chấp nhận điều đó không oán thán dù cho duyên thì ít mà nợ thì nhiều. Bởi con đường hoạn lộ công danh của ông lận đận, suốt cả cuộc đời có ba việc chính là học, đi thi, làm thơ còn lại công việc trong gia đình đều do bà Tú lo liệu, gánh vác.

    Dưới vần thơ tài tình của Tú Xương hình ảnh bà Tú hiện lên chân thật, bình dị nét đẹp phẩm chất của bà là vẻ đẹp của biết bao người phụ nữ Việt Nam tần tảo, hy sinh cả cuộc đời vì chồng con và hạnh phúc gia đình. Bài thơ đã thành công với sự vận dụng sáng tạo về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, thành ngữ, tục ngữ làm nên nét đặc sắc riêng của Tú Xương.