Author: LionLee

  • Hướng Dẫn Nhịn Ăn Uống Trước Gây Mê Và Kỹ Thuật Đặt Nội Khí Quản Nhanh

    Hướng Dẫn Nhịn Ăn Uống Trước Gây Mê Và Kỹ Thuật Đặt Nội Khí Quản Nhanh

    Hướng Dẫn Nhịn Ăn Uống Trước Gây Mê Và Kỹ Thuật Đặt Nội Khí Quản Nhanh

    1. Khuyến Cáo Nhịn Ăn Uống Trước Gây Mê

    Độ tuổi Nước trắng (giờ) Sữa mẹ (giờ) Sữa tươi, bữa ăn nhẹ (giờ) Thức ăn dầu mỡ, bữa ăn chính (giờ)
    Nhũ nhi 2 4 6 8
    Trẻ em 2 4 6 8
    Người lớn 2 6 8

    2. Kỹ Thuật Đặt Nội Khí Quản Nhanh:

    A) Chỉ Định

    Bệnh nhân có nguy cơ hít sặc bao gồm những người đã ăn no trước gây mê, phụ nữ mang thai, và ở những bệnh nhân tắc ruột, béo phì, hoặc bệnh lý trào ngược.

    B) Kỹ Thuật:

    Chuẩn bị dụng cụ cần thiết bao gồm: máy hút; các lưỡi đèn soi thanh quản khác nhau (Macintosh và Miller); ống NKQ nhiều cỡ, trong đó có một ống kích thước nhỏ hơn so với bình thường. Một người phụ giúp có thể ép sụn nhẫn hiệu quả.

    Bệnh nhân được cho thở oxy 100% lưu lượng cao trong 3 đến 5 phút (denitrogenation). Hoặc 4 nhịp thở gắng sức với oxy 100% cũng đạt được kết quả gần như tương tự nếu thời gian không cho phép. bệnh nhân ngửa cổ ở tư thế đặt NKQ. Sau khi tiêm tĩnh mạch thuốc khởi mê (ví dụ, thiopental, propofol, hoặc ketamine), lập tức tiêm ngay succinylcholine (1-1,5 mg/kg) hoặc rocuronium (1,2 mg/kg), người phụ giúp sẽ đè ép sụn nhẫn, tạo ra hiệu quả nén và làm tắc thực quản (thủ thuật Sellick). Động tác này làm giảm nguy cơ trào ngược thụ động của dịch dạ dày vào hầu họng và có thể giúp nhìn rõ dây thanh âm hơn. Tuy nhiên, khi xảy ra hiện tượng nôn, không nên sử dụng thủ thuật này, bởi vì áp lực cao có thể làm tổn thương thực quản.

    Không nên nỗ lực thông khí cho bệnh nhân bằng mặt nạ. Đặt nội khí quản thường có thể được thực hiện trong vòng 30 đến 60 giây. Ép sụn nhẫn được duy trì cho đến khi đặt nội khí quản được xác định thành công.

    Nếu cố gắng đặt nội khí quản không thành công, ép sụn nhẫn nên được duy trì liên tục trong suốt các lần đặt đặt nội khí quản tiếp theo và bệnh nhân sẽ được thông khí qua mặt nạ.

    Hướng Dẫn Nhịn Ăn Uống Trước Gây Mê Và Kỹ Thuật Đặt Nội Khí Quản Nhanh

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
    2. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi
    3. Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Sỏi Trong Gan- Ngoài Gan
    4. Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Tiểu Không Kiểm Soát
    5. Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thực Quản
  • Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thực Quản

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thực Quản

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thực Quản

    L. Chẩn Đoán:

    1.1. Chẩn Đoán Xác Định Bệnh:

    – Dấu hiệu gợi ý: nuốt nghẹn

    – Nội soi thực quản: ghi nhận có tổn thương thực quản ^ sinh thiết.

    – Giải phẫu bệnh: carcinom tế bào gai, carcinoma tế bào tuyến…

    1.2. Chẩn Đoán Vị Trí:

    Dựa vào nội soi thực quản, X-Quang thực quản cản quang, CT-Scan ngực -bụng.

    1.3. Chẩn Đoán Giai Đoạn Bệnh:

    Dựa vào các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như CT-Scan ngực-bụng, MRI ngực bụng, PET, EUS, EMR

    T        (Tumor):
    Tx      Không thể xác định được khối U nguyên phát
    To      U nguyên phát không có triệu chứng
    Tis     Nghịch sản nặng
    T1      U đã xâm nhiễm vào lớp dưới niêm mạc nhưng chưa vượt quá lớp này
    T1a    Xâm nhiễm lớp cơ niêm
    T1b    Xâm nhiễm lớp dưới niêm.
    T2      U xâm nhiễm vào lớp cơ
    T3      U xâm nhiễm tới lớp bao ngoài thực quản
    T4      U xâm nhiễm vào các cơ quan xung quanh
    T4a    U xâm nhiễm màng phổi, màng ngoài tim hoặc cơ hoành có thể cắt được.
    T4b    U xâm nhiễm động mạch chủ bụng, thân đốt sống, khí quản… không thể cắt được.
    N       (Node)
    Nx     Không thể xác định được hạch khu vực
    No     Không di căn hạch khu vực
    N1     1-2 hạch di căn khu vực
    N2     3-6 hạch di căn khu vực
    N3     Nhiều hơn 7 hạch di căn khu vực.
    M       (Metastasis)
    Mx     Không thể xác định được có di căn xa.
    Mo    Chưa có di căn xa.
    M1    Có di căn xa.

    2.Điều Trị:

    Kết hợp các biện pháp điều trị: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và nâng đỡ cơ thể.

    2.1. Chỉ Định Phương Pháp Điều Trị:

    Dựa vào các giai đoạn bệnh

    – Giai đoạn I và II: phẫu thuật triệt để (mổ cắt đoạn thực quản có khối u), kết hợp với xạ trị, hóa trị, nâng đỡ tổng trạng tích cực.

    – Giai đoạn III: phẫu thuật thường không cắt khối u triệt để được nên biện pháp chủ yếu là điều trị bằng xạ trị, hóa trị. Có thể kết hợp hóa xạ trị trước và sau phẫu thuật.

    – Giai đoạn IV: thường chỉ mở thông dạ dày để nuôi dưỡng, không còn khả năng điều trị có hiệu quả nữa.

    2.2. Các Phẫu Thuật Điều Trị Ung Thư Thực Quản:

    – Các thủ thuật điều trị tạm thời: thường dùng khi bệnh đã tiến triển ở giai đoạn IV như: mở thông dạ dày, đặt stent thực quản.

    – Các phẫu thuật cắt đoạn thực quản:

    Tiến hành cắt đoạn thực quản có khối U sau đó tạo lại lưu thông ống tiêu hóa bằng ống dạ dày thực quản:

    + Phẫu thuật cắt thực quản mở ngực (Phẫu thuật Akiyama): mở ngực phải bóc tách thực quản kết hợp đường bụng cắt thực quản và tạo hình ống dạ dày tiếp đó mở đường mổ ở cổ bên trái nối ống dạ dày với đầu trên thực quản.

    + Phẫu thuật nội soi cắt thực quản: tương tự như phẫu thuật Akiyama nhưng thực hiện phẫu thuật nội soi ngực và bụng

    + Phẫu thuật cắt thực quản không mở ngực: mổ kết hợp đường bụng và đường cổ trái. Mở bụng dùng tay bóc tách đoạn dưới thực quản trong lồng ngực qua khe thực quản- cơ hoành. Mở cổ trái dùng tay bóc tách xuống đoạn thực quản trong ngực ở phần trên. Cắt và rút bỏ đoạn thực quản có khối U. Đưa ống dạ dày lên vùng cổ trái theo đường của đoạn thực quản bị cắt để nối với đầu trên thực quản.

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thực Quản

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở
    2. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
    3. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi
    4. Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Sỏi Trong Gan- Ngoài Gan
    5. Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Tiểu Không Kiểm Soát
  • Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Tiểu Không Kiểm Soát

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Tiểu Không Kiểm Soát

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Tiểu Không Kiểm Soát

    1. Định Nghĩa & Phân Loại:

    1.1. Định Nghĩa

    Tiểu không kiểm soát (gọi tắt là són tiểu) là tình trạng thoát nước tiểu không tự chủ qua ngả niệu đạo.

    1.2. Phân Loại

    Cần phải phân biệt rõ các loại tiểu không kiểm soát, vì cơ chế và phương pháp điều trị khác nhau.

    • Són tiểu khi gắng sức (stress incontinence): Là sự thoát nước tiểu không tự chủ khi gắng sức (ho, hắt hơi, khiêng nặng, rặn) mà không có sự co bóp bàng quang.

    – Són tiểu khi gắng sức độ 1: suy yếu sàn chậu để nâng đỡ cổ bàng quang

    – Són tiểu khi gắng sức độ 2: suy yếu sàn chậu để nâng đỡ cổ bàng quang và niệu đạo

    – Són tiểu khi gắng sức độ 3: suy cơ thắt nội tại của niệu đạo

    • Són tiểu gấp (urge incontinence): Là sự thoát nước tiểu không tự chủ kết hợp với tình trạng tiểu gấp.
    • Són tiểu do tràn đầy (overflow incontinence): Là sự thoát nước tiểu không tự chủ do ứ đọng nước tiểu mạn tính
    • Són tiểu thường trực (permanent incontinence):Thoát nước tiểu thường xuyên cả ngày lẫn đêm mà không có sự đi tiểu (khác với són tiểu tràn đầy là không bị ứ đọng nước tiểu trong bàng quang).
    • Són tiểu chức năng (ýunctional incontinence): chức năng của cơ quan tiết niệu bình thường, nhưng về vấn đề tâm thần bệnh nhân không quan tâm đến quy tắc xã hội về địa điểm và thời gian đi tiểu.
    • Són tiểu hỗn hợp (mixed incontinence): thường gặp trên lâm sàng. Vi dụ: són tiểu khi gắng sức kết hợp với són tiểu gấp.

    2. Đánh Giá Lâm Sàng & Cận Lâm Sàng:

    2.1. Hỏi Bệnh Sử:

    • Nhằm định hướng xác định loại tiểu không kiểm soát
    • Nhằm xác định nguồn gốc, thời gian và mức độ trầm trọng của tiểu không kiểm soát.
    • Hỏi tiền sử bệnh cũng giúp đánh giá cơ chế sinh bệnh, ví dụ phụ nữ mang thai và sinh nở nhiều lần, nam giới đã phẫu thuật trên tiền liệt tuyến, tiền căn chấn thương cột sống

    2.2. Khám Lâm Sàng:

    • Ở phụ nữ bao gồm đặt mỏ vịt, khám âm đạo và trực tràng, khám vùng chậu.

    – Khám xem có tăng động cổ bàng quang (gặp trong són tiểu khi gắng sức độ 1) hay tăng động niệu đạo (gặp trong són tiểu khi gắng sức độ 2) ?

    – Khám xem có sa bàng quang, sa tử cung hay trực tràng kèm theo hay không ? Nếu có thì đánh giá mức độ sa tạng chậu theo phân độ của ICS (2002):

    Độ 1: sa tạng chậu nhẹ, cho tới khoảng giữa âm đạo

    Độ 2: sa tạng chậu vừa, mấp mé trên dưới 1cm tiền đình âm hộ.

    Độ 3: sa tạng chậu nặng, trên 1cm ra ngoài tiền đình âm hộ Độ 4: sa tạng chậu rất nặng, tạng sa ra hẳn ngoài tiền đình âm hộ

    – Ở những phụ nữ bị són tiểu khi gắng sức, nên làm nghiệm pháp Marshall-Bonney: nếu

    dương tính thì dự đoán phẫu thuật nâng đỡ âm đạo có nhiều khả năng thành công.

    • Ở nam giới nên khám trực tràng và tuyến tiền liệt.

    2.3. Xét Nghiệm Tã Lót (Pad Test)

    Đánh giá lượng tiểu thất thoát không tự chủ trong 24 giờ, bằng cách cân trọng lượng của số tã ướt đã dùng trong 24 giờ trừ đi trọng lượng của cùng số tã khô.

    2.4. Đo Lượng Tiểu Tồn Lưu

    Bằng cách đặt thông tiểu hay siêu âm bụng.

    2.5. Xét Nghiệm Q-Tip (Q-Tip Test)

    Dùng để đánh giá độ di động của niệu đạo nữ, bằng cách đặt 1 que gòn vào niệu đạo và đo góc di động của que gòn giữa lúc nghỉ và lúc rặn. Gọi là tăng di động niệu đạo nếu độ dịch chuyển que gòn > 300

    2.6. Khảo Sát Niệu Động Học:

    • Áp lực đồ bàng quang: giúp đánh giá chức năng của cơ chóp bàng quang trong giai đoạn chứa đựng (bình thường, kém co bóp, tăng co bóp hay bất ổn định)
    • Áp lực bụng lúc són tiểu: giúp dự đoán mức độ suy yếu sàn chậu
    • Niệu dòng đồ: giúp dự đoán mức độ bế tắc đường tiểu dưới.
    • Điện cơ đồ tầng sinh môn: giúp đánh giá chức năng của cơ thắt vân niệu đạo và sự đồng vận với hoạt động của cơ chóp bàng quang (vì thế thường đo chung với áp lực đồ bàng quang.
    • Áp lực – niệu dòng: khảo sát chức năng của cơ chóp bàng quang trong giai đoạn tống xuất và hiệu quả của sự tống xuất nước tiểu.
    • Quay phim-niệu động học: hữu ích khi khó xác định sự mở cổ bang quang có phải là hậu quả của sự co bóp cơ chop bàng quang không ? Kỹ thuật này cho phép chẩn đoán chính xác tình trạng bất ổn định cơ chop, bất đồng vận cơ chóp-cơ thắt, rối loạn chức năng trong niệu đạo.

    2.7. Chụp Bàng Quang Lúc Rặn Tiểu:

    Bơm thuốc cản quang đầy vào bàng quang và quan sát trên màn huỳnh quang lúc rặn tiểu ở tư thế đứng. Lúc chưa rặn tiểu, bình thường thuốc cản quang không xuống quá cổ bàng quang, nếu có xuống là có rối loạn chức năng nội tại của niệu đạo (intrinsic urethral dysfunction). Với bàng quang và niệu đạo tăng động, khi rặn tiểu sẽ thấy đáy bàng quang và niệu đạo di chuyển xuống dưới.

    2.8. Nội Soi Bàng Quang:

    Có thể hữu ích cho cả hái phái nhằm phát hiện sỏi, bướu hay túi ngách bàng quang; hẹp cổ bàng quang hay niệu đạo.

    3.Điều Trị:

    3.1. Nội Khoa Bảo Tồn:

    • Thay đổi lối sống: Quan trọng đối với những trường hợp són tiểu gấp và cả cho són tiểu chức năng. Tập uống nước chừng mực. Tập nhịn tiểu và đi tiểu theo giờ. Hạn chế các thức ăn và thức uống gây kích thích hoặc mất ngủ.
    • Tập vật lý trị liệu:

    Đối với són tiểu khi gắng sức, mục tiêu là làm tăng sức cơ đáy chậu. Có thể tập bằng phương pháp Kegel hay tập bằng máy với kích thích điện gây co bóp cơ đáy chậu.

    Đối với són tiểu gấp, mục tiêu là tập bàng quang giảm bớt sự co bóp sớm, thường với máy đo niệu động học theo nguyên tắc ức chế ngược sinh học (biofeedback).

    • Dùng thuốc:

    Đối với những trường hợp bất ổn định cơ chóp bàng quang: thuốc chủ trị là nhóm thuốc antimuscarinics (oxybutynin, tolterodin, solifenacin, darifenacin …). Flavoxate cũng có tác động hạn chế co bóp bàng quang nhẹ.

    Đối với những trường hợp bất toàn cơ thắt trong niệu đạo, các thuốc có thể dùng là pseudoephedrine hydrochloride (sympathomimetic), Phenylpropanolamine hydrochloride (a-adrenergic agonist), estrogen dạng uống hay dạng bôi âm đạo (làm gia tăng chất lượng niêm mạc niệu đạo, tăng khả năng áp niêm mạc niệu đạo).

    3.2. Ngoại Khoa:

    • Phẫu thuật Kelly (khâu thành trước âm đạo): Rạch dọc thành trước âm đạo, rồi bộc lộ cổ bàng quang – niệu đạo. Cân mu-cổ tử cung được khâu lại ở đường giữa nhằm tạo sự nâng đỡ cổ bàng quang. Tỉ lệ thành công của phẫu thuật này thấp ~ 65% và tỉ lệ tái phát cao. Nên hiện nay chỉ được dùng để điều trị són tiều khi gắng sức thể nhẹ, đặc biệt là khi có kết hợp với sa bàng quang mức độ nhẹ.
    • Phương pháp MarshaU-Marchetti-Krantz (MMK): Mổ ngỏ ngả bụng, khâu đính thành âm đạo ở 2 bên cổ bàng quang và niệu đạo vào màng xương sau xương mu, nhằm nâng cao thành âm đạo để sửa chữa sa bàng quang và sa niệu đạo. Tỉ lệ hết són tiểu cao (~ 85%), nhưng nhược điểm lớn nhất là tỉ lệ bí tiểu cao và biến chứng viêm xương mu, nên hiện nay rất ít được sử dụng.
    • Phương pháp Burch: là cải biện của phẫu thuật MMK: Mổ ngỏ ngả bụng hay phẫu thuật nội soi, khâu đính thành âm đạo ở hai bên cổ bàng quang và niệu đạo vào dây chằng Cooper. Tỉ lệ thành công cao (~ 80%) và hạn chế được các biến chứng của phẫu thuật MMK,nên được xem là tiêu chuẩn vàng để điều trị són tiểu khi gắng sức ở thập niên 1980s – 1990s.
    • Các loại phẫu thuật khâu treo âm đạo với xuyên thích kim: Gồm các phẫu thuật Stamey và phẫu thuật Raz, Thực hiện chủ yếu ngả âm đạo với đường rạch nhỏ ở hạ vị trên xương mu để xuyên thích kim và đính các mũi chỉ từ thành âm đạo hai bên cổ bàng quang lên cố định vào cân cơ thẳng bụng, mục tiêu là nâng đỡ cổ bàng quang.Tỉ lệ thành công cao trong giai đoạn sớm ~ 90% và là phẫu thuật ít xâm hại nên lúc đầu được ưa chuộng trong thập niên 1990s, nhưng về sau thì tỉ lệ tái phát cao nên hiện nay kém phổ biến.
    • Các loại phẫu thuật dây treo: Có thể dùng vật liệu tự thân (vạt cân cơ thẳng bụng, vạt thành âm đạo) hay mảnh ghép nhân tạo (dải Marlex, dải Prolene).

    – Các phương pháp TVT (Tension-free Vaginal Tape) và TOT (Trans Obturator Tape), dùng dải prolene để nâng đỡ dưới niệu đạo. Hai phương pháp này đang là trào lưu hiện nay vì phương pháp thực hiện đơn giản, là phẫu thuật ít xâm hại vì sẹo nhỏ thẩm mỷ và thực hiện ngả âm đạo, có tỉ lệ thành công cao ~ 75 – 95% duy trì lâu dài và tỉ lệ biến chứng ít. Các biến chứng đáng lưu ý là biến chứng sớm bí tiểu sau mổ phải thông tiểu sạch cách quãng một thời gian và biến chứng muộng loét mòn làm hở mảnh ghép khiến phải mổ lại khâu che hoặc cắt bỏ mảnh ghép..

    – Phương pháp treo cổ bàng quang bằng cân cơ thẳng bụng phải mổ ngỏ ngả bụng và ngả âm đạo và sẹo mổ dài nên ít được ưa chuộng hơn, nhưng vẫn có chỉ định trong trường hợp đã thất bại sau phẫu thuật khác để điều trị són tiểu hoặc bị phản ứng với mảnh ghép.

    • Tiêm dưới niệu đạo hay cổ bàng quang: Chỉ định cho những trưởng hợp bất toàn cơ thắt trong niệu đạo. Chất liệu tiêm có thể là collagen, hat PTFE, mỡ tự thân. Tiêm qua ngả nội soi ở nam giới hay dưới quan sát nội soi ở nữ giới. Tuy tỉ lệ thành công không cao ~ 25 – 50% và có thể phải tiêm lại sau 3 – 12 tháng do chất liệu tiêm bị hấp thu, nhưng do kỹ thuật đơn giản và nhẹ nhàng nên cũng có nhiều phẫu thuật viên ưa chuộng.
    • Phong bế cơ bàng quang bằng Botulinum toxin: Chỉ định cho những trường hợp són tiểu gấp do bàng quang thần kinh co thắt hoặc bàng quang tăng hoạt nặng mà kháng trị với anti-muscarinics. Thường tiêm vào cơ bàng quang qua ngả nội soi. Có thể phải tiêm lại sau 6 – 9 tháng do thuốc bị hấp thu. Hiệu quả điều trị ~ 60 – 70%.
    • Cơ thắt nhân tạo: Thường gặp ở những trường hợp bị tổn thương nghiêm trọng cơ thắt vân niệu đạo gây ra són tiểu thường trực như sau phẫu thuật cắt tiền liệt tuyến tận gốc do ung thư hay cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt quá sâu khỏi giới hạn ụ núi.Hạn chế của thiết bị là rất đắt tiền, khoảng 1/3 số bệnh nhân đả được đặt cơ thắt nhân tạo sẽ cần phải xem lại thiết bị ở một thời điềm nào đó. Tuy nhiên tỉ lệ thành công chung rất cao ~ 95%.
    • Phẫu thuật mở rộng bàng quang bằng ruột: là giải pháp được chọn trong những trường hợp tiểu không kiểm soát nặng do bàng quang thần kinh co thắt, bàng quang tăng hoạt hoặc bàng quang nhỏ do lao mà biện pháp điều trị nội khoa không đem lại hiệu quả. Phương pháp được chấp nhận hiện nay là mở rộng bàng quang bằng ruột với xẻ ống ruột. Kỹ thuật này giúp cải thiện dung tích bàng quang và làm giảm áp lực bàng quang, qua đó làm giảm són tiểu của hầu hết các bệnh nhân.Tuy nhiên, do bàng quang tân tạo bằng ruột kém co bóp sinh ra tống xuất kém hiệu quả, nên nhiều bệnh nhân phải bổ sung phương pháp thông tiểu sạch cách quãng (sẽ trình bày ở phần sau).
    • Phẫu thuật chuyển lưu nước tiểu trên bàng quang: được áp dụng khi những phương pháp điều trị són tiểu khác đã thất bại, mà đường tiểu dưới (bàng quang, niệu đạo) cũng bị tổn thương nặng khiến không thể áp dụng phẫu thuật mở rộng bàng quang bằng ruột. Có hai phương pháp chính:

    Chuyển lưu qua ống hồi tràng (phẫu thuật Bricker): nước tiểu từ hai niệu quản sẽ qua đoạn hồi tràng này và thoát ra ngoài miệng hồi tràng mở ra da và. Bệnh nhân cần đeo một túi hứng nước tiểu từ miệng chuyển lưu này.

    Chuyển lưu nước tiểu qua túi chứa với miệng chuyển lưu có kiểm soát (urinary pouch with continent stoma): Bệnh nhân sẽ tự đặt thông cách quãng qua miệng van để thoát lưu nước tiểu định kỳ trong ngày.

    3.3.Sử Dụng Ống Thông Tiểu:

    Nhiều bệnh nhân do tàn tật, do tuổi tác quá cao hay thể trạng quá yếu nên không thể áp dụng các phẫu thuật nêu trên, mà việc dung thuốc cũng không hiệu quả. Khi đó cần xem xét sử dụng các ống thông để giải quyết tình trạng són tiểu. Tuy nhiên ống thông dung thể dẫn lưu nước tiểu cũng có những vấn đề của nó.

    • Thông tiểu lưu (bao gồm cả thông qua niệu đạo và thông bàng quang trên xương mu) có thể gây nguy hại đáng kể nếu sử dụng không đúng cách. Suất độ nhiễm khuẩn niệu gia tăng 3 – 10% mỗi ngày. Thông niệu đạo lâu ngày có thể gây viêm hoặc loét niệu đạo, áp-xe quanh niệu đạo trên cả nam lẫn nữ mà về sau sinh ra di chứng hẹp niệu đạo, gây viêm mào tinh-tinh hoàn trên nam giới. Ông thông lưu lâu ngày là tác nhân gây ra sỏi bàng quang và ung thư bàng quang. Để hạn chế nhiễm trùng niệu, ống thông cần gắn vào một hệ thống kín để thoát lưu nước tiểu, là túi hứng nước tiểu với van một chiều, cố định ống thông cẩn thận thấp dưới mức bàng quang > 60cm, vệ sinh miệng niệu đạo quanh ống thông 2 lần/ngày, thay thông định kỳ mỗi 2 tuần. Ngoài ra không nên dùng ống thông qua niệu đạo quá lớn > 16F và nên khuyên bệnh nhân uống nhiều nước để gia tăng lưu lượng tiểu.
    • Thông tiểu sạch cách quãng (TTSCQ).Được phát hiện và giới thiệu bới Lapides năm 1972, hiện nay phương pháp này được phổ biến khắp thế giới. Nếu như kỹ thuật thông tiểu ở bệnh viện vẫn tuân theo nguyên tắc vô trùng thì những bệnh nhân phải sử dụng ống thông dài ngày ở nhà nên được tập phương pháp này. TTSCQ làm giảm đáng kể tỉ lệ nhiễm khuẩn niệu và những biến chứng lên đường tiết niệu so với lưu ống thông thường xuyên, và bệnh nhân không phải luôn đeo ống thông trên người rất vướng víu. Chống chỉ định của TTSCQ là viêm niệu đạo cấp, tổn thương giải phẫu của niệu đạo, dung tích bàng quang quá nhỏ và áp lực bàng quang quá cao dễ gây trào ngược bàng quang – niệu quản. Những người tàn tật ở tay hoặc quá già yếu thì vẫn có thể nhờ người thân áp dụng phương pháp này.

    3.4.Dụng Cụ Hứng Nước Tiểu:

    Sử dụng khi khi chờ đợi áp dụng, hoặc không thể áp dụng, hoặc đã áp dụng các biện pháp nói trên mà không thành công và phải chấp nhận tình trạng són tiểu. Có nhiều loại dụng cụ hứng nước tiểu khác nhau, nhưng ở nước ta không có nhiều trên thị trường. Một số loại thường gặp bao gồm:

    • Ống thông bao dương vật (Condom catheter)’. rất hiệu quả để giải quyết sự ướt át do són tiểu ờ nam.
    • Kẹp Cunningham: dùng để kẹp dương vật làm ép niệu đạo làm tránh són tiểu. Có thể gặp biến chứng hoai tử và loét niệu đạo, nên cần lưu ý mở kẹp định kỳ mỗi 4 giờ.
    • Vòng nâng âm đạo: hình vành khăn, đặt vào âm đạo để đè ép niệu đạo bên trên làm tránh són tiểu.
    • Băng gạc, tã lót: được chế tạo với chất liệu hút ẩm. Bệnh nhân mặc vào hay đeo vào để hạn chế sự ẩm ướt hôi hám do són tiểu. Tùy theo mức độ són tiểu mà thay một hay nhiều tã trong ngày để tránh bị hâm ngứa và nhiễm trùng lở loét da do nước tiểu.

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Tiểu Không Kiểm Soát

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất
    2. Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở
    3. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
    4. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi
    5. Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Sỏi Trong Gan- Ngoài Gan
  • Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Sỏi Trong Gan Và Ngoài Gan

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Sỏi Trong Gan Và Ngoài Gan

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Sỏi Trong Gan Và Ngoài Gan 

    Sỏi trong gan chiếm tỉ lệ cao (15-30%) trong sỏi đường mật ở nước ta. Bệnh sinh sỏi trong gan do nhiễm trùng và ký sinh trùng (ít gặp) đến từ đường tiêu hóa. Sỏi trong gan có triệu chứng thường kết hợp sỏi ngoài gan. Chẩn đoán STG không khó tuy nhiên đánh giá các thương tổn ở gan và đường mật đi kèm để có chiến lược điều trị hiệu quả là vấn đề phức tạp. Điều trị STG là một thách thức đối với BS phẫu thuật vì thường có đến 40-50% BN có tiền sử đã phẫu thuật đường mật một đến vài lần và STG có đặc thù là khó lấy hết sỏi cũng như sỏi thường tái phát. Do đó để điều trị hiệu quả cần có chẩn đoán chính xác dựa trên lâm sàng và cận lâm sàng để có chiến lược điều trị cũng như điều trị phối hợp nhiều mô thức để đạt tỉ lệ sạch sỏi cao nhất cũng như giảm tỉ lệ sỏi tái phát và khi có sỏi tái phát thì xử lý cũng nhẹ nhàng.

    1.Chẩn Đoán:

    1.1.Lâm Sàng:

    – BN thường có hội chứng nhiễm trùng với sốt, đau bụng trên (P) có khi vàng da. Tam chứng Charcot chiếm tỉ lệ không cao.

    – STG không triệu chứng được phát hiện tình cờ bằng chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp CT scan…

    – Tiền sử 40-50% BN đã được phẫu thuật lấy sỏi mật hay thủ thuật can thiệp đường mật (ERCP, PTC).

    1.2.Sinh Hóa:

    – Công thức máu: HC, BC, TC.

    – Chức năng gan: TQ, Bilirubine, Alcaline phosphatase, ALT, AST.

    – Chức năng thận: BUN, Creatine…

    1.3. Hình Ảnh Học: có tính quyết định trong chẩn đoán.

    – Siêu âm: cho thấy hình ảnh STG-NG với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Ngoài ra đưa hình ảnh đường mật dãn, vị trí sỏi (tương đối chính xác), tuy nhiên không xác định được hẹp đường mật, xơ gan, áp xe gan, ung thư đường mật.

    – MRCP (chụp cộng hưởng từ mật-tụy): chẩn đoán chính xác cao STG-NG. Ngoài ra còn xác định thương tổn hẹp đường mật, xơ gan, có thể xác định áp xe và ung thư đường mật. Tuy nhiên MRCP trên thực tế được chỉ định cho trường hợp khó, đã phẫu thuật nhiều lần, cần khảo sát tổn thương đường mật đi kèm.

    1.4. Xếp Loại STG Theo Mức Độ Nặng:

    ❖ xếp loại theo mức độ nặng của Hội nghiên cứu STG của Nhật:

    + Độ I: không có triệu chứng (20%).

    + Độ II: có đau bụng (25%).

    + Độ III: có vàng da thoáng qua hay NTĐM.

    + Độ IV: vàng da liên tục, nhiễm trùng hay UTĐM. (Độ 3 và 4: 55%).

    ❖ Xếp loại theo mức độ các tổn thương ĐM của Tsunoda:

    + Loại I: không có dãn rõ hay hẹp ĐM trong gan.

    + Loại II: dãn lớn ĐM trong gan nhưng không có hẹp ĐM.

    + Loại III: dãn dạng nang đơn độc hay lan rộng, kèm hẹp ĐM trong gan ở một bên gan.

    + Loại IV: như loại III ở 2 bên gan.

    2.Điều Trị:

    2.1. Chỉ Định:

    STG có chỉ định ngoại khoa khi thuộc độ II-IV theo hội nghiên cứu STG của Nhật hay độ II-IV theo Tsunoda.

    2.2. Trong Tình Huống Cấp Cứu:

    BN nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng đường mật nặng. Tiến trình điều trị cấp cứu như sau:

    – Hồi sức: sonde mũi mật, dịch truyền, kháng sinh mạnh.

    – Điều chỉnh chức năng gan, thận.

    – Khoảng 90% BN đáp ứng hồi sức ngoại khoa. Phẫu thuật lấy sỏi kết hợp đa mô thức như trong phần dưới đây.

    – Khoảng 10% BN không đáp ứng hồi sức ngoại khoa (sốc nhiễm trùng đường mật) được giải áp đường mật cấp cứu:

    + PTBD (dẫn lưu đường mật qua da): nếu dãn đường mật khu trú. ERCP đặt sonde mũi-mật thường không hiệu quả cho STG.

    + Phẫu thuật mở OMC thông đường mật và dẫn lưu Kehr trên chỗ tắc nghẽn.

    + Hai trường hợp sau này sau khi giải áp đường mật cấp cứu ổn định. BN được phẫu thuật chương trình như dưới đây.

    2.3. Trong Phẫu Thuật Chương Trình:

    – Đa số BN STG được điều trị phẫu thuật chương trình. Sau khi điều trị tình trạng nhiễm trùng ổn định và điều chỉnh chức năng gan-thận.

    – Các phương pháp phẫu thuật thường áp dụng:

    1/PT mở OMC lấy sỏi, NSĐM, dẫn lưu Kehr (NSĐM: nội soi đường mật)

    2/PT mở OMC lấy sỏi, NSĐM, cắt gan* , dẫn lưu kehr (* khi có chỉ định)

    3/PT mở OMC lấy sỏi, NSĐM, nối thông mật ra da (nối OMC-hỗng tràng quai ruột dưới da, nối túi mật-OMC mở thông TM ra da, mở thông OMC bằng quai ruột biệt lập).

    – Trong phẫu thuật có thể phối hợp đa mô thức trên cho một BN.

    2.4.Điều Trị Sau Phẫu Thuật Lấy Sỏi:

    – Sau mổ 1 tuần siêu âm bụng và chụp đường mật qua ống Kehr: hết sỏi thì rút Kehr sau 3 tuần.

    – Còn STG sót trên hình ảnh siêu âm hay chụp đường mật:

    + . NSĐM lấy sỏi sót qua đường Kehr sau 3 tuần.

    + . NSĐM lấy sỏi sót qua đường mở thông mật ra da.

    Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Sỏi Trong Và Ngoài Gan

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)
    2. Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất
    3. Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở
    4. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
    5. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi
  • Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi

    Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi

    Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi

    1. Đại Cương:

    – Ung thư phổi là loại ung thư thường gặp trên thế giới và Việt Nam.

    – Người bệnh đến viện còn muộn và việc phối hợp nhiều phương pháp điều trị cũng còn khó khăn.

    – Nguyên nhân chủ yếu gây ung thư phổi là do người bệnh nghiện hút thuốc lá và do ô nhiễm môi trường không khí gây nên.

    – Phần lớn ung thư phổi gặp ở người lớn tuổi và là loại ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.

    2. Triệu Chứng Và Chẩn Đoán:

    2.1. Triệu Chứng Lâm Sàng:

    – Cơ năng:

    • Đau ngực.
    • Ho, có thể ho ra máu.
    • Khó thở.

    – Thực thể:

    • Trong giai đoạn sớm thường triều chứng rất nghèo nàn.
    • Ở các giai đoạn muộn có thể xuất hiện các triệu chứng do u chèn ép hay lan vào trung thất hoặc di căn xa gây nên như: nói khàn, phù áo khoác, khối hạch thượng đòn.

    2.2. Dấu Hiệu Cận Lâm Sàng:

    – X quang phổi: có bóng mờ ở phế trường, đôi khi có hình ảnh xẹp 1 thùy hay 1 bên

    phổi. Khi u lan ra màng phổi có thể có tràn dịch màng phổi.

    – CT Scan ngực: cho hình ảnh rất rõ ràng vị trí u, kích thước khối u, hạch trong trung

    thất hay tình trạng tràn dịch màng phổi, màng tim …

    – Nội soi phế quản sinh thiết: có thể thấy u sùi dễ chảy máu. Nhưng trong các trường

    hợp u nằm ở ngoại biên của phổi, ống soi không thể tiếp cận, cần phải chải rửa phế quản.

    – Sinh thiết xuyên thành ngực trong 1 số trường hợp u ở ngoại biên.

    – Soi trung thất đánh giá hạch trung thất.

    – Nội soi lồng ngực sinh thiết các trường hợp u ở màng phổi.

    – MRI, PET, Xạ hình xương khảo sát ăn lan cột sống, di căn hạch, di căn xương.

    – Các dấu chỉ ung thư (Tumor marquer):

    • CEA (Carcino-Embryonic-Antigen: kháng nguyên carcinoma phổi): bình thường từ 1,93-1,94ng/ml. Trong ung thư phổi chỉ số này tăng cao.
    • CYFRA 21-1 (Cytokeratin 19 Fragment 21-1: Mảnh cytokeratin 19): bình thường bằng 2,75-0,76 ng/ml.Khi tăng cao cho phép nghĩ tới ung thư phổi.
    • Các xét nghiệm này không tuyệt đối chính xác vì trong 1 số bệnh lý khác các chỉ số trên có thể tăng.

    Tóm lại: 1 người trung niên hay lớn tuổi, hút thuốc lá nhiều, có các triệu chứng đau ngực, ho, ho ra máu hay khó thở cần phải chụp Xquang phổi thẳng, nếu có đám mờ trong phỗi, cần chụp CT Scan ngực để xác định . Nội soi phế quản sinh thiết là bước tiếp theo để xác định loại tế bào ung thư.

    3. Phân Loại:

    3.1. Theo Tế Bào Ung Thư: Có 2 Loại

    – Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, hay gặp chiếm trên 80-85%.

    – Ung thư tế bào nhỏ, ít gặp hơn.

    3.2. Theo Giai Đoạn Bệnh:

    Giai đoạn T N M
    IA T1 N0 M0
    IB T2 N0 M0
    IIA T1 N1 M0
    IIB T2 N1 M0
    T3 N0 M0
    IIIA T3 N1 M0
    T1-T3 N2 M0
    IIIB T4 Bất kể N M0
    Bất kể T N3 M0
    IV Bất kể T Bất kể N M1

    – Trong đó: T: khối u; N: hạch; M: di căn xa.

    Dựa vào bảng phân loại này để chỉ định điều trị phẫu thuật hay không.

    4. Điều Trị:

    4.1. Điều Trị Bằng Phẫu Thuật:

    – Phụ thuộc vào giải phẫu bệnh tế bào ung thư, tuổi tác, giai đoạn bệnh và các bệnh lý khác kèm theo…

    – Phẫu thuật là phương pháp chọn lựa đầu tiên đối với ung thư không phải tế bào nhỏ. Phẫu thuật thường ở giai đoạn bệnh còn tương đối sớm: IA, IB, IIA, IIB, IIIA.

    – Trong các trường hợp người bệnh già yếu, có bệnh lý kèm theo thì chỉ định phẫu thuật rất hạn chế.

    – Nên phẫu thuật cho giai đoạn IIIB, IV nếu thể trạng bệnh nhân tốt và nốt di căn đơn độc có thể cắt bỏ được.

    – Phẫu thuật nôi soi cho u giai đoạn I. Phẫu thuật nôi soi hỗ trợ cho u giai đoạn II.

    – Nguyên tắc phẫu thuật là cắt thùy phổi có u (có khi cắt 2 thùy hoặc 1 lá phổi), lấy bỏ các hạch.

    4.2. Hóa Trị:

    – Ung thư phổi loại tế bào nhỏ, u tiến triển nhanh có khuynh hương lan tràn toàn thân. Hóa trị là phương pháp chủ yếu để cải thiện thởi gian sống thêm và làm dịu các triệu chứng.

    – Hóa trị hỗ trợ: sau phẫu thuật ung thư phổi không phải tế bào nhỏ nhằm giảm nguy cơ tái phát và di căn xa.

    – Hóa trị triệu chứng: trong giai đoạn tiến xa, tái phát hoặc đã di căn.

    – Hóa trị tân hỗ trợ: hóa trị trước phẫu thuật làm hạ thấp giai đoạn, cải thiện kết quả phẫu thuật.

    Hiện nay xu hướng của thế giới là dùng các thuốc ung thư thế hệ mới (Gemzar, Taxol, Taxotere …) phối hợp với Cysplastine, Carboplatine.

    4.3. Xạ Trị:

    – Hiện nay xạ trị bằng máy gia tốc thẳng để điều trị ung thư phổi. Bước đầu xạ trị cho kết quả khả quan.

    – Chỉ định cho trường hợp không thể cắt bỏ u được.

    – Xạ trị trước mổ không được đánh giá cao.

    Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán Và Điều Trị Xạ Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt
    2. Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)
    3. Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất
    4. Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở
    5. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
  • Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện

    Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện

    Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện

    1. Định Nghĩa

    Ngưng hô hấp tuần hoàn là sự ngừng hô hấp và các nhát bóp tim có hiệu quả.

    2. Nhận Biết Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn

    – Mất y thức đột ngột

    – Thở ngáp cá hoặc ngưng thở

    – Mất mạch bẹn hoặc mạch cảnh

    ❖ Ngay khi phát hiện ngưng hô hấp tuần hoàn:

    – Gọi giúp đỡ

    – Đặt miếng ván cứng dưới lưng BN

    – Tiến hành ngay CABD:

    • Cấp cứu chỉ có 1 người: xoa bóp tim ngoài lồng ngực 30 lần/18 giây, thổi ngạt 2 lần.
    • Nếu có 2 người: 1 xoa bóp tim, 1 thổi ngạt.
    • Khi có mọi người đến: tiến hành sôc điện, lập đường truyền, hồi sinh tim phổi (HSTP) nâng cao, thuốc, tìm nguyên nhân.

    3. Các Bước Tiến Hành HSTP Cơ Bản: CABD

    3.1. C: Compression → Circulation: Ép Tim Ngoài Lồng Ngực.

    – Ép tim ngoài lồng ngực hiệu quả: 2 cánh tay thẳng, lồng ngực lún xuống 5cm/1 lần nhấn tim, tần số nhanh ít nhất 100 lần/phút.

    3.2. A: Airway: Thông Đường Thở

    – Mở miệng lấy dị vật (nếu có)

    – Thao tác ngửa cổ, nâng cằm

    – Thao tác nâng hàm, không ngửa đầu (chấn thương cột sống cổ)

    3.3. B: Breathing: Giúp Thở

    – Miệng – miệng

    – Miệng – mũi

    – Miệng qua lỗ khai khí đạo

    – Miệng qua Mask

    3.4. Sốc Điện:

    – Vận hành máy

    – Bôi gel vào Paddles

    – Xem ECG là nhịp gì?

    – Cài đặt mức sốc: 200, 300, 360J tuỳ đáp ứng của BN.

    3.5. HSTP Nâng Cao: ABCD nâng cao

    ❖ A: Airway: Đặt NKQ

    – Nên tối thiểu hoá thời gian ngừng xoa bóp tim để đặt NKQ

    ❖ B: Breathing:

    – Đánh giá tình trạng thông khí sau đặt NKQ

    – Lắp ráp nối cần thiết

    – Giúp thở với tần số 10 – 12 lần/ phút

    ❖ Chích TM: Adrenaline 1 – 2 mg mỗi 3 – 5 phút, xen kẽ với sốc điện và xoa bóp tim ngoài lồng ngực đến khi có lại nhịp tim.

    – Nếu trên ECG nhịp chậm: cho atropine 0,5mg tĩnh mạch mỗi 3 phút, tổng liều 3mg.

    – Nếu trên ECG nhịp nhanh thất: Lidocaine 1 -1,5mg/kg tĩnh mạch chậm, nếu không cải thiện: Amiodarone 300mg tĩnh mạch chậm.

    – Lưu y trong quá trình cấp cứu xen kẽ xoa bóp tim, thuốc, sốc điện liên tục cho đến khi có nhịp tim lại.

    ❖ D: Diagnosis: Tìm nguyên nhân đưa đến ngưng tim

    – Mục đích: tìm NN có thể phục hồi, NN điều trị riêng biệt

    – Đồng thời xem xét trên monitoring nhịp gì ? nhịp xoang, nhịp thất, rung thất, phân ly điện cơ, vô tâm thu,…

    – Xem xét các NN góp phần, có thể phục hồi và xử trí:

    • 5H: Hypovolemie Hypokalemie Hyperkalemie Hypoxemie Hypoglycemie
    • 4T: Toxic Tamponade Tension pneumothorax Thrombosis

    3.6. Đánh Giá Hồi Sức Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Có Hiệu Quả:

    – Tim đập lại kéo dài > 20 phút

    – Có nhịp thở tự nhiên

    – Đồng tử co nhỏ lại, có phản xạ ánh sang

    4. Chăm Sóc Sau Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn

    – Tái lập tuần hoàn sau ngưng HHTH: khi tim đập lại, mạch bắt được kéo dài > 20 phút

    – Tối ưu hoá chức năng tim phổi và sự tưới máu cơ quan sinh tồn

    – Chuyển ngay BN đến khoa hồi sức tích cực

    – Xác định NN ngừng tim

    – Dùng các biện pháp để phòng ngừng tim tái phát

    – Đánh giá sự phục hồi về thần kinh

    – Đa số tử vong trong vòng 24 giờ đầu sau ngưng tim (tổn thương não và tim mạch không ổn định là yếu tố chính quyết định sự sống còn sau ngưng tim)

    ❖ Thực hành trong lâm sàng:

    – Đáp ứng sau hồi sức:

    • Phục hồi hoàn toàn
    • Vẫn hôn mê và suy chức năng các cơ quan

    – Theo dõi:

    • Monitoring theo dõi: M, HA, ECG, SpO2
    • Theo dõi lượng nước tiểu/ giờ, tri giác, nhiệt độ
    • Theo dõi chức năng các cơ quan bằng xét nghiệm máu

    – Nằm đầu cao ít nhất 30 °

    – Kiểm soát nhiệt độ cơ thể

    – Duy trì oxy đủ

    – Tránh tăng thông khí quá mức

    – Tránh giảm HA: duy trì HA tâm thu > 90mmHg

    • Truyền dịch, máu
    • Thuốc vận mạch
    • Tìm NN để điều trị

    – Đảm bảo chức năng sinh tồn:

    • Theo dõi tri giác theo thang điểm Glasgow, mức độ mê, có cải thiện dần? còn phản xạ mi mắt?

    – Đề phòng ngừng tim trở lại:

    • Trên monitoring nhịp chậm dần
    • Rung thất
    • HA thấp mặc dù đang dùng vận mạch, HA không đo được

    5. Chỉ Định Ngưng Hồi Sức

    5.1. Khi hồi sức > 60 phút mà không có kết quả

    5.2. Đồng tử giãn to, mất phản xạ ánh sang

    5.3. Trên ECG: vô tâm thu

    Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán Và Điều Trị Xạ Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt
    2. Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)
    3. Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất
    4. Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở
    5. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi
  • Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở

    Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở

    Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở

    1. Định Nghĩa:

    – Dị vật đường thở là những vật không phải là không khí rơi vào thanh khí phế quản gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.

    – Dị vật đường thở là một cấp cứu thường gặp, nếu chẩn đoán và xử trí không kịp dễ gây tử vong. Các loại dị vật thường gặp:

    + Hạt: đậu phộng,mãng cầu, Sabochev…

    + Xương cá,vỏốc, vẩy cá…

    + Nắp bút.

    – Bệnh thường gặp ở trẻ em hơn người lớn.

    – Bệnh có thể phòng ngừa được, cần chú ý khi cho trẻ ăn các loại trái cây có hột, thực phẩm có xương, không ngậm đồ vật trong khi làm việc.

    2. Lâm Sàng:

    Điển hình của dị vật đường thở là hội chứng xâm nhập, đó là một phản xạ bảo vệ của cơ thể tìm cách tống dị vật ra ngoài (bệnh nhân khó thở, tím tái, ho sặc sụa).

    2.1. Dị Vật Thanh Quản:

    – Khó thở thanh quản:

    + Khó thở chậm.

    + Khó thở hít vào.

    + Khó thở có tiếng rít.

    – Khàn tiếng hay mất tiếng.

    2.2. Dị Vật Khí Quản:

    – Khó thở cả 2 thì.

    – Có thể tạo nên tiếng “ lật phật cờ bay”

    2.3. Dị Vật Phế Quản:

    – Tức ngực, đau ngực.

    – Cảm giác khó thở một bên phổi

    2.4. Dị Vật Bỏ Quên:

    – Triệu chứng giống viêm phế quản mãn tính hoặc lao phổi.

    3. Chẩn Đoán:

    – Tùy theo tính chất của dị vật, vị trí dị vật, bệnh nhân đến sớm hay muộn mà có các triệu chứng khác nhau như đã nêu trên.

    – X.Quang phổi thẳng,nghiêng.

    – CT ngực.

    4. Điều Trị:

    4.1. Soi Thanh – Khí – Phế Quản:

    – Gây mê tĩnh mạch kèm sử dụng thuốc dãn cơ.

    – Soi bằng ống cứng nguồn sáng lạnh.

    – Kềm gắp dị vật các cỡ.

    – Ngay sau khi soi lấy được dị vật, cần phải soi lại ngay để kiểm tra.

    – Chú ý dùng que bông tẩm Adrenalin để cầm máu và làm co niêm mạc khí- phế quản trước và sau khi gắp dị vật.

    4.2. Điều Trị Và Theo Dõi Toàn Thân:

    – Chảy máu trong lòng khí – phế quản: cần soi lại kiểm tra.

    – Khó thở.

    – Theo dõi biến chứng.

    – Corticoide liều cao đường tĩnh mạch.

    – Cephalosporin (thế hệ 3) 3g-6g /ngày TM.

    – Giảm đau.

    4.3. Vấn Đề Mở Khí Quản:

    – Được chỉ định có khó thở thanh quản độ II, độ III.

    Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán Và Điều Trị Xạ Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt
    2. Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)
    3. Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất
    4. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
    5. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi
  • Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất

    Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất

    Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất

    Trung thất giữ vị trí rất quan trọng. U trung thất cho biểu hiện lâm sàng tại chỗ cũng như toàn thân phức tạp:

    – Tại chỗ gây chèn ép, khó thở và phù áo khoác…

    – Toàn thân như các u tuyến nội tiết, miễn dịch và các bệnh hạch bạch huyết.

    Khối u trung thất, có dạng đặc hay nang, có thể là lành hoặc ác tính. Muốn chẩn đoán được u trung thất phải biết được cấu trúc giải phẫu phân vùng (các khoang) của trung thất.

    Trung thất được chia là 3 khoang: trung thất trước (trên, dưới), trung thất giữa và trung thất sau.

    1. Suất Độ U Trung Thất:

    Suất độ của từng loại u trung thất (UTT) hoàn toàn khác nhau, tùy thuộc tính chất khối u, tuổi và theo vùng của trung thất.

    1.1. Theo Suất Độ: u thần kinh (TK) chiếm nhiều nhất 23%, u tuyến hung (17%), u lympho (11%), u tế bào mầm (9%), u trung mô và u tuyến nội tiết (2-3%).

    1.2. Theo Hình Thái: U nang chiếm tỷ lệ ít 10-25%, còn đa số là u đặc.

    1.3. Theo Tuổi:

    – Ở người lớn: u TK (20%), u tuyến hung (19%), u tế bào mầm (10%), u tuyến nội tiết (6%), u trung mô (6%), carcinom nguyên phát (4%), các loại khác 2%.

    – Ở trẻ em: u TK (33%), lymphoma (14%), u quái (10%), u tuyến hung (8,5%), nang phế quản (7,5%), nang ruột (7%), u máu (6,8%), khối hạch viêm (4,4 %). Xác suất u trung thất ác tính (tính đến 16 tuổi) là 50%.

    1.4. Theo Vị Trí:

    – U trung thất trước chiếm tỷ lệ cao nhất.

    + Thường gặp u tuyến hung, u tế bào mầm, lymphoma (dạng hogkin’s và không Hogkin’s), u nang (màng bao tim, phổi), bướu giáp thòng trong lồng ngực.

    + Ít gặp hơn là u trung mô (u mỡ, u sợi, u hạch bạch huyết, nang thanh dịch bạch huyết (hydroma), hoặc là các u ác tương ứng.

    – U trung thất giữa chiếm 18-25%. Bao gồm u nang (màng tim, phế quản), nang ruột, lymphoma, u hạch do di căn thứ phát.

    – U trung thất sau có tỷ lệ 23-27%, 75% là u TK. Các tổn thương khác ít gặp hơn.

    1.5. Theo Tần Suất Ác Tính:

    – U ác chiếm từ 25-42 % số u trung thất (đại đa số là lymphoma, K tuyến hung, K tế bào mầm, carcinoma nguyên phát và u thần kinh)

    – Uác chiếm nhiều nhất ở vùng trung thất trước-trên (59%), trung thất giữa (25%), trung thất sau (16%).

    – Đỉnh cao của u ác tính trung thất thường ở lứa tuổi 20-40. Ở tuổi <10, u trung thất thường lành tính (73%).

    – Tất cả các loại u nang (màng bao tim, khí quản, tuyến hung), u trung mô (mạch máu hoặc các cấu trúc khác) gần như là lành tính.

    2. Biểu Hiện Lâm Sàng Của U Trung Thất:

    2.1. Biểu Hiện Lâm Sàng

    Là hậu quả chèn ép hoặc xâm lấn tại chỗ của khối u trên các cấu trúc lân cận, thường mơ hồ không đặc hiệu như: khó thở, ho, thở ngáy, ho ra máu, đau ngực, sút cân…

    – Hc chèn ép TM chủ trên (dãn TM cổ, phù áo khoác).

    – Hc chèn ép tim (đánh trống ngực, mệt mỏi, suy nhược).

    – Các Tc thần kinh: Hc chèn ép tủy, như u TK hình quả tạ (dumbell). Hội chứng Horner. Liệt dây TK hồi quy (khàn tiếng, sặc).

    – Chèn ép thực quản (khó nuốt).

    – Khám LS có thể phát hiện: hạch ở cổ hoặc ở nách, giảm phản xạ …

    2.2. Các Biểu Hiện Toàn Thân:

    Vài loại u nguyên phát trung thất sản sinh ra nội tiết tố hoặc kháng thể gây ra các biểu hiện toàn thân đặc biệt như:

    1. a) Cơ chế miễn dịch trong bệnh nhược cơ và u tuyến hung, với TC bất sản hồng cầu, giảm gammaglobulin máu, đau nhức khớp.
    2. b) Bướu carcinoid với Hc Cushing.
    3. c) Tc cường giáp hoặc suy giáp trong u giáp thòng trong trung thất.
    4. d) Hc tăng calci máu trong u tuyến cận giáp thòng trong trung thất và bệnh Hodgkin.
    5. e) Chứng nữ hóa tuyến vú (gynecomasty) của ung thư tế bào mầm không phải tinh hoàn (nonseminomatous germ cell)
    6. f) Cơn tăng HA ác tính, kịch phát gặp trong u sắc tố (pheochromocytoma). Cao HA gặp trong 1 số u TK ở trẻ em.
    7. g) Hạ đường huyết bất thường gặp trong u trung mô to (như mesothelioma và fibrosarcoma) tiết ra chất giống như insulin hoặc chất insulin.

    2.3. Chẩn Đoán:

    – Các xét nghiệm thường quy tiền phẫu.

    – XQuang dùng để tầm soát.

    – Vai trò của CT Scan rất quan trọng.

    – Đo chức năng hô hấp.

    – Một số xét nghiệm đặc biệt tùy thuộc TC:

    + MRI phát hiện xâm lấn cột sống.

    + Mạch đồ phát hiện xâm lấn mạch máu lớn.

    + Soi khí-phế quản trong chèn ép hoặc xâm lấn khí phế quản.

    + Soi và chụp X quang thực quản phát hiện chèn ép hoặc xâm lấn thực quản.

    + Siêu âm Doppler tim phát hiện xâm lấn màng tim.

    – Chọc dò sinh thiết u trong trường hợp không thể phẫu thuật.

    Chẩn đoán phân biệt:

    – U phổi

    – Phình ĐMC ngực + U thực quản

    Chẩn đoán 1 u trung thất cần trả lời:

    1) U nguyên phát hoặc di căn

    2) TC toàn thân (để tránh các biến chứng chu phẫu).

    3) Mức độ chèn ép của u (trên khí-phế quản, mạch máu, tim, cột sống): khả năng cắt lấy u.

    4) Biết được các phương thức điều trị nội kết hợp (hóa trị, xạ trị, nội tiết).

    3. Điều Trị:

    3.1. Phẫu Thuật:

    Phẫu thuật lấy toàn bộ u hay một phần khối u để tiến hành làm giải phẫu bệnh xác định bản chất khối u, vừa mang ý nghĩa điều trị vừa mang ý nghĩa chẩn đoán bệnh lý u trung thất.

    – Phẫu thuật mở ngực qua ngã chẻ xương ức hoặc đường ngực bên.

    – Phẫu thuật nội soi:

    + U đặc có kích thước < = 6cm + U nang

    + Kết hợp với mở ngực tối thiểu: u đặc có đường kính > 6cm không có xâm lấn nhiều vào các cơ quan xung quanh.

    + Sinh thiết u để làm chẩn đoán GPB trong những trường hợp u xâm lấn không có khả năng cắt trọn u.

    – Nội soi trung thất:

    + U xâm lấn, dưới carina, hạch quanh phế quản gốc.

    *Chống Chỉ Định Phẫu Thuật:

    + Bệnh nhân già yếu.

    + Có những bệnh lý nội khoa gây nguy cơ cao khi phẫu thuật.

    Một số vấn đề cần lưu ý:

    • Nên đặt bệnh nhân ở 1 tư thế mổ có thể hạn chế chèn ép TM chủ trên hoặc khí đạo. Khí đạo bị chèn ép trên 35% không nên mổ bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa và nên thông khí tự nhiên.
    • Với u trung thất quá to, nếu bắt buộc phải mổ, nên tiến hành các bước sau:

    1) Dẫn mê bệnh nhân trong tư thế nửa Fowler, để sau đó có thể đổi thành tư thế nằm nghiêng hoặc nằm ngửa.

    2) Nên dùng ống NKQ dài, đi qua đoạn chèn ép. Có khi phải dùng đến ống nội soi cứng để giữ sự thông thoáng khí đạo.

    3) Nếu được, tránh dùng thuốc dãn cơ và nên thông khí tự nhiên.

    4) Tốt nhất là lập đường truyền ở chi dưới để tuần hoàn TM toàn thân đạt hiệu quả, trong trường hợp chèn ép TM chủ trên đột ngột xảy ra.

    5) Nên dự trù tuần hoàn ngoài cơ thể, bằng cách đi từ “đường đùi” 2 bên.

    3.2. Các Phương Thức Điều Trị Khác:

    Tùy thuộc vào loại u trung thất mà có chỉ định phẫu, xạ, hóa trị hoặc kết hợp chẳng hạn:

    – Vì đa số K tuyến hung nhạy với xạ, do đó, với sang thương không thể cắt bỏ được xạ trị sẽ giúp khu trú thương tổn, ngăn ngừa lan rộng. Nên sử dụng hóa trị (Cisplatin) kết hợp, trước và sau khi cắt lấy u.

    – Lymphoma không phải Hodgkin hoặc Hodgkin đều phải hóa trị.

    – U ác tế bào mầm tinh hoàn (seminoma germ cell) rất nhạy với xạ, tuy nhiên nếu mổ cắt lấy trọn thì chỉ cần theo dõi. Nhưng nếu đã xâm lấn, mà không thể cắt bỏ thì phải xạ trị, hoặc nếu có di căn xa thì phải hóa trị hỗ trợ….

    Nếu chọc dò sinh thiết không thể mang lại KQ tế bào học thỏa đáng hoặc chưa thể sinh thiết được, thì nên tiến hành xạ trị, corticoid liệu pháp và hóa trị kết hợp trước, dựa trên chẩn đoán ước định. Có đến 40% các trường hợp dù chỉ nghi là ác tính, vẫn phải điều trị như ác tính trong khi chưa có chẩn đoán mô học.

    Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán Và Điều Trị Xạ Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt
    2. Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)
    3. Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở
    4. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
    5. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi
  • Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)

    Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)

    Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)

    Hiệp hội tiêu hóa Hoa Kỳ (The American Gastroenterological Society) mới đây đã ấn hành bộ hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh lý trào ngược dạ dày-thực quản (GERD). Hiện nay khoảng 25 triệu người Mỹ có bệnh lý trào ngược dạ dày-thực quản, do đó chẩn đoán và điều trị chính xác rất quan trọng trong việc phòng ngừa biến chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống. GERD là bệnh lý thường gặp, do trào ngược các chất trong lòng dạ dày vào thực quản hoặc xa hơn vào khoang miệng hay thậm chí vào phổi. Bệnh thường được mô tả là “nóng rát sau xương ức”, là cảm giác bỏng rát sau xương ức hoặc giữa thượng vị khi acid dạ dày trào ngược vào thực quản. Trong trường hợp cơ vòng thực quản dưới (LES) bị trào ngược, bệnh nhân có thể bị GERD mạn tính, gây ra các biến chứng nặng như thực quản Barrett và ung thư thực quản. Theo Bách khoa toàn thư Y học A.D.A.M, các yếu tố nguy cơ của GERD là: uống rượu, thoát vị hoành, béo phì, thai kỳ, xơ cứng bì, hút thuốc lá và tác dụng phụ của nhiều loại thuốc.

    Phác đồ hướng dẫn chẩn đoán và điều trị này được ấn hành vào tháng 2 năm 2013, bao gồm các điểm sau đây

    – Chẩn đoán trào ngược dạ dày-thực quản (GERD)

    1. Chẩn đoán giả định GERD được thiết lập khi bệnh cảnh triệu chứng trào ngược và nóng rát sau xương ức điển hình. Khuyến cáo điều trị nội khoa bằng các thuốc nhóm PPI trong trường hợp này.
    2. Bệnh nhân có triệu chứng đau ngực không do tim (non-cardiac chest pain) nghi ngờ GERD phải được xét nghiệm chẩn đoán trước khi điều trị (Khuyến cáo có điều kiện, mức độ chứng cứ trung bình). Cần phải loại trừ nguyên nhân tim mạch gây đau ngực trước khi tiến hành xét nghiệm tiêu hóa.
    3. Chụp cản quang với barium không nên dùng để chẩn đoán GERD.
    4. Không cần nội soi thực quản dạ dày trong trường hợp triệu chứng GERD điển hình. Nội soi được khuyến cáo khi có những triệu chứng báo động hay để tầm soát ở bệnh nhân có nguy cơ biến chứng cao. Ở những trường hợp không phải thực quản Barrett, không cần nội soi lại khi bệnh nhân không có thêm triệu chứng mới.
    5. Sinh thiết thực quản đoạn xa không có chỉ định thường quy để chẩn đoán GERD.
    6. Đo áp lực cơ thắt thực quản được khuyến cáo trước khi điều trị phẫu thuật, nhưng xét nghiệm này không có vai trò trong chẩn đoán GERD.
    7. Theo dõi trào ngược thực quản lưu động (ambulatory esophageal reflux monitoring) được chỉ định trước khi điều trị nội soi hoặc phẫu thuật ở những bệnh nhân trào ngược không loét, là một phần của khảo sát các trường hợp kháng trị PPI, hay trong những tình huống chẩn đoán GERD còn nghi vấn. Theo dõi trào ngược thực quản lưu động là xét nghiệm duy nhất có thể đánh giá mối liên hệ của triệu chứng và các đợt trào ngược.
    8. Không cần theo dõi trào ngược thực quản lưu động ở những trường hợp thực quản Barrett đoạn ngắn hoặc dài để chẩn đoán GERD.
    9. Không khuyến cáo tầm soát nhiễm Helicobater pylori ở bệnh nhân GERDKhông cần điều trị H.pylori thường quy.

    – Điều trị GERD

    1. Khuyến cáo giảm cân ở bệnh nhân quá cân hoặc tăng cân gần đây
    2. Nâng cao đầu giường, tránh ăn trước khi ngủ 2-3 giờ ở những bệnh nhân có triệu chứng GERD về đêm
    3. Không khuyến cáo thường quy từ bỏ hoàn toàn các thực phẩm có thể kích thích trào ngược (như chololate, caffeine, rượu, các thức ăn nhiều gia vị hoặc có tính acid) trong điều trị GERD.
    4. Điều trị PPI 8 tuần là điều trị đầu tay để cải thiện triệu chứng và chữa lành các vết loét thực quản. Không có sự khác biệt đáng kể nào trong hiệu quả điều trị của các PPI khác nhau
    5. Các PPI phóng thích chậm cổ điển nên dùng trước ăn 30-60 phút để đạt được kiểm soát pH tối đa. Các thuốc PPI mới có thể sử dụng linh hoạt hơn.
    6. PPI khởi đẩu nên sử dụng liều 1 lần/ngày, trước bữa ăn đầu tiên trong ngày (khuyến cáo mạnh, mức độ chứng cứ trung bình). Ở những bệnh nhân đáp ứng một phần với điều trị 1 lần/ngày cần điều chỉnh liều phù hợp hoặc xem xét sử dụng 2 lần/ngày khi có triệu chứng ban đêm, thời khóa biểu hay thay đổi, và/hoặc rối loạn giấc ngủ.
    7. Các trường hợp không đáp ứng PPI cần phải được hội chẩn đánh giá lại.
    8. Ở những bệnh nhân đáp ứng một phần với PPI, tăng liều lên 2 lần/ngày hoặc chuyển sang PPI khác có thể giúp cải thiện triệu chứng nhiều hơn.
    9. Ở những bệnh nhân sau khi ngưng PPI mà còn triệu chứng GERD hoặc bệnh nhân có biến chứng loét thực quản hay thực quản Barrett, cần phải duy trì điều trị PPI. Đối với bệnh nhân điều trị PPI trong thời gian dài, nên chỉ định thuốc ở liều thấp nhất mà có hiệu quả, kể cả phương thức điều trị khi cần và điều trị ngắt quãng.
    10. Các thuốc ức chế thụ thể H2 (H2RA) có thể dùng để điều trị duy trì ở những trường hợp GERD không loét nếu bệnh nhân đáp ứng thuốc. Có thể thêm các thuốc H2RA uống trước khi ngủ cùng với điều trị PPI ban ngày ở một vài bệnh nhân có triệu chứng trào ngược ban đêm, tuy nhiên dễ xảy ra dung nạp thuốc sau vài tuần điều trị.
    11. Các phương pháp điều trị GERD không phải ức chế tiết acid dạ dày như thuốc nhóm prokinetic và/hoặc baclofen không được sử dụng ở những bệnh nhân GERD chưa xác định chẩn đoán
    12. Sucralfate không có vai trò trong điều trị bệnh nhân GERD ngoài thai kỳ
    13. PPI an toàn trong thai kỳ

    – Chọn lựa phẫu thuật điều trị GERD

    1. Phẫu thuật có thể được dùng để điều trị bệnh nhân bị GERD kéo dài.
    2. Phẫu thuật thường không được khuyến cáo ở những bệnh nhân không đáp ứng với PPI.
    3. Bắt buộc theo dõi pH lưu động trước phẫu thuật ở những bệnh nhân không có viêm loét thực quản. Tất cả bệnh nhân phẫu thuật cần phải đo áp lực cơ thắt thực quản tiền phẫu để loại trừ co thắt tâm vị (achalasia) hoặc bệnh thực quản giống xơ cứng bì (sleroderma – like esophagus).
    4. Phẫu thuật do bác sĩ có kinh nghiệm có hiệu quả tương đương điều trị nội khoa ở những trường hợp GERD mạn tính.
    5. Bệnh nhân béo phì cần phẫu thuật điều trị GERD nên cân nhắc phẫu thuật điều trị béo phì. Nối vị tràng là phương pháp ưu tiên ở những bệnh nhân này.
    6. Phẫu thuật khâu xếp nếp đáy vị vào thực quản (fundoplication) nội soi hoặc xuyên miệng (transoral incisionless fundoplication) không được khuyến cáo để thay thế điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật kinh điển.

    – Điều trị GERD kháng PPI

    1. Bước đầu tiên cần làm là tối ưu hóa điều trị PPI.
    2. Cần nội soi thực quản dạ dày ở những bệnh nhân kháng trị có triệu chứng điển hình hoặc rối loạn tiết acid dịch vị, chủ yếu để loại trừ các nguyên nhân khác không phải GERD.
    3. Bệnh nhân GERD có triệu chứng ngoài thực quản kéo dài mặc dù đã tối ưu hóa điều trị PPI cần tầm soát lại nguyên nhân khác thông qua hội chẩn chuyên khoa Tai Mũi Họng, hô hấp, dị ứng.
    4. Bệnh nhân GERD kháng trị có kết quả nội soi và hội chẩn chuyên khoa Tai Mũi Họng, hô hấp, dị ứng không phát hiện bất thường (triệu chứng điển hình) nên xét nghiệm theo dõi trào ngược lưu động.
    5. Theo dõi trào ngược giai đoạn ngưng thuốc có thể thực hiện bằng bất kỳ phương thức nào hiện có (pH hoặc pH kháng trở). Xét nghiệm thực hiện trong giao đoạn dùng thuốc bằng theo dõi pH kháng trở dùng để đánh giá trào ngược không do acid.
    6. Bệnh nhân GERD kháng trị có triệu chứng cơ năng trào ngược đang diễn tiến nên được xem xét điều trị thêm biện pháp chống trào ngược khác, như phẫu thuật hoặc thuốc ức chế TLESR. Bệnh nhân có xét nghiệm âm tính có thể loại trừ GERD nên ngưng điều trị PPI.

    Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán Và Điều Trị Xạ Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt
    2. Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất
    3. Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở
    4. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
    5. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi
  • Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

    Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

    Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

    TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

    Trước hết cần phải phân biệt tầm soát ung thư và phát hiện sớm ung thư. Tầm soát là thực hiện các xét nghiệm và khám ở cộng đồng người có nguy cơ nhưng không có triệu chứng. Trong khi đó, phát hiện sớm ung thư là thực hiện trên từng cá nhân đơn lẻ. Tuy cả hai đều có chung mục đích là phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm và làm giảm tỉ lệ tử vong, nhưng tầm soát ung thư vì là thực hiện trên một quần thể đông nên sự tốn kém rất nhiều là không thể tránh khỏi. Vì vậy, tùy điều kiện kinh tế của quốc gia mà một số các xét nghiệm có thể bỏ qua cho một số đối tượng nào đó, và chấp nhận có khả năng bỏ sót một số trường hợp nhất định.

    1. Những Bất Lợi Trong Việc Tầm Soát Ung Thư Tuyến Tiền Liệt:

    Tuy có mục đích tốt nhưng việc tiến hành tầm soát ung thư tuyến tiền liệt cũng có những bất lợi rất lớn như:

    1.1. Chẩn Đoán Quá Mức: đối với bệnh nhân không có bệnh nhưng phải tiến hành quá nhiều xét nghiệm tầm soát và một số xét nghiệm lại có tính xâm hại.

    1.2. Sai Lệch Về Tần Suất Sống Còn: trước khi thực hiện chương trình tầm soát, các trường hợp điều trị ung thư là các trường hợp có triệu chứng và tần suất sống còn là dựa trên các số liệu này. Khi tiến hành chương trình tầm soát chúng ta sẽ phát hiện những trường hợp rất sớm nên tần suất sống còn sẽ thay đổi nhất là trong trường hợp ung thư tuyến tiền liệt có đặc thù là có những trường hợp có diễn tiến rất tốt có thể tồn tại suốt cuộc đời bệnh nhân mà không gây triệu chứng, song song đó lại có những trường hợp diễn tiến tới tử vong nhanh chóng. Vì thế khi tiến hành tầm soát ung thư tuyến tiền liệt hàng loạt, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều trường hợp ung thư thuộc loại chưa cần điều trị và sẽ có ảo tưởng là điều trị quá tiến bộ, tử suất của ung thư giảm nhiều so với trước.

    1.3. Sự Sai Lệch Của Các Xét Nghiệm Chẩn Đoán: cho đến nay, trong tầm soát ung thư tuyến tiền liệt chưa có xét nghiệm nào chính xác 100% về độ chuyên biệt cũng như độ tin cậy, vì vậy phải thực hiện nhiều xét nghiệm một lúc. Nhưng dù có tiến hành như vậy thì sự chính xác của kết quả cũng có giới hạn nhất định.

    1.4. Chi Phí Thực Hiện Chương Trình Tầm Soát Quá Cao: không phải chỉ tốn phí tiến hành các xét nghiệm đơn thuần mà còn phải lưu ý đến nhiều phí khác như phí quảng cáo trong cộng đồng về ích lợi của chương trình, phí giáo dục người dân ý thức được việc bảo vệ sức khỏe của mình cũng như phí điều trị tai biến, biến chứng.

    1.5. Tần Suất Ung Thư Tuyến Tiền Liệt Thay Đổi Theo Từng Quốc Gia: ở Việt Nam lúc trước chưa có chương trình tầm soát nên kết quả có thể phản ánh trung thực.

    1.6. Ích Lợi Trong Việc Giảm Tử Suất Chưa Rõ Ràng Lắm: cần có thời gian theo dõi lâu dài để xác định lợi ích này. Tuy nhiên, kết quả ban đầu của một số chương trình nghiên cứu như Tyrol ở Áo cho thấy tử suất giảm 33%, các chương trình tầm soát ở Mỹ, Anh, Pháp cũng cho kết quả ban đầu đáng khích lệ.

    2. Cách Thức Tầm Soát Ung Thư Tuyến Tiền Liệt:

    Cho tới hiện nay, các biện pháp để tầm soát ung thư tuyến tiền liệt chủ yếu cũng dựa vào thăm khám trực tràng, đo nồng độ PSA và siêu âm qua ngã trực tràng.

    2.1. Thăm Khám Trực Tràng: thăm khám trực tràng có giá trị khi khối u ở vùng ngoại vi, thể tích khối u lớn hơn 0,2ml, giá trị tiên đoán chỉ khoảng 21-50% và các trường hợp chẩn đoán được thì đa số khối u đã xâm nhập ra khỏi vỏ bọc tuyến tiền liệt. Do đó, thăm khám trực tràng không thể sử dụng đơn độc trong tầm soát ung thư tuyến tiền liệt.

    2.2. Đo Nồng Độ PSA: là một xét nghiệm có giá trị trong tầm soát và chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt, tuy nhiên PSA chỉ chuyên biệt cho cơ quan hơn là chuyên biệt cho bệnh lý ung thư tuyến tiền liệt. Ngoài ra, xét nghiệm PSA có nhược điểm rất lớn là không có ngưỡng xác định ung thư tuyến tiền liệt, có những trường hợp PSA rất cao nhưng không có ung thư và song song có những trường hợp ung thư được xác định với trị số PSA rất thấp. Do vậy, việc xác định với trị số nào của PSA thì bệnh nhân sẽ được tiến hành các xét nghiệm sâu hơn như sinh thiết tuyến tiền liệt là vấn đề tranh cãi tùy thuộc điều kiện của các quốc gia khác nhau.

    Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

    Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

    2.3. Nhằm Mục Đích Tăng Độ Nhạy và độ chuyên biệt của xét nghiệm PSA, một số các nhà nghiên cứu ngoại quốc đề nghị làm thêm các xét nghiệm chuyên sâu như đo vận tốc PSA, tỉ trọng PSA, tỉ lệ PSA tự do, PSA theo tuổi… Bước đầu các tác giả ghi nhận được một số kết luận có ý nghĩa là tỉ lệ người mắc ung thư tuyến tiền liệt tăng theo tuổi, giữa hai nhóm dưới 50 tuổi và trên 50 tuổi có sự tăng vọt; ngoài ra tỉ lệ PSA tự do trên PSA toàn phần nếu dưới 20% thì nghi ngờ ung thư nhiều hơn.

    2.4. Siêu Âm Tuyến Tiền Liệt qua ngã trực tràng và sinh thiết: hình ảnh khối u tuyến tiền liệt có thể là một khối echo kém hay khối echo dày, thậm chí không phân biệt được với mô tuyến xung quanh. Do đó, siêu âm không thể dùng như là một xét nghiệm chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt mà chỉ dùng để xác định có sang thương nghi ngờ ung thư tuyến tiền liệt, và để định vị sinh thiết chính xác hơn. Ngoài ra, vì có những sang thương có cấu trúc giống mô tuyến bình thường nên phải sinh thiết nhiều vị trí khác nhau.

    2.5. Siêu Âm Qua Ngã Trực Tràng kết hợp sinh thiết là một xét nghiệm có giá thành cao và là thủ thuật xâm nhập có thể có tai biến, biến chứng nên không thể là xét nghiệm thường qui. Các tác giả ngoại quốc đề nghị chỉ định của xét nghiệm này là: Khi khám phát hiện có nhân cứng, PSA có trị số lớn hơn 4 ng/ml là tiêu chuẩn kinh điển. Còn tại Canada, tiêu chuẩn là khi PSA lớn hơn 3 ng/ml đối với bệnh nhân trên 50 tuổi và trên 2,5 ng/ml nếu bệnh nhân nhỏ hơn 50 tuổi. Tại Áo, trị số PSA để chỉ định sinh thiết là từ 3,5 ng/ml trở lên còn tại Hà Lan vẫn áp dụng với trị số PSA từ 4 ng/ml trở lên.

    3. Các Chỉ Định Tầm Soát Ung Thư Tuyến Tiền Liệt Tại Việt Nam:

    Cần xác định các đặc thù tại Việt nam là:

    * Việt Nam không phải là vùng nóng đối với ung thư tuyến tiền liệt trên bản đồ thế giới s Kinh tế nước ta còn kém so với các nước Châu Âu và Bắc Mỹ.

    * Ý thức tầm soát ung thư, bảo vệ sức khỏe của nhân dân ta còn chưa bằng nhân dân ở các nước phát triển.

    * Lợi ích của tầm soát chưa có kết luận chắc chắn với theo dõi lâu dài s Vì vậy, nên tiến hành tầm soát ở bệnh nhân hơn 50 tuổi, một độ tuổi có suất độ cao, xét nghiệm chủ yếu là thăm khám trực tràng và làm xét nghiệm PSA toàn phần. Chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt khi phát hiện có nhân cứng, còn khi PSA lớn hơn 4ng/ml thì giải thích ích lợi và nguy cơ khi làm xét nghiệm. Không làm tầm soát ung thư mà là chẩn đoán sớm ung thư, tức là chỉ thực hiện trên từng cá thể riêng biệt chứ không tiến hành hàng loạt. Các xét nghiệm PSA tự do cũng rất đắt tiền, nên trong chương trình tầm soát cũng không nên thực hiện.

    CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

    1. Tổng Quan:

    – Nguyên tắc: Cắt toàn bộ tuyến tiền liệt, túi tinh và bóng của ống dẫn tinh

    – Các phương pháp phẫu thuật:

    + Mổ mở (open surgery): qua đường sau xương mu (RRP) hoặc qua ngã hội âm (PRP)

    + Mổ nội soi (laparoscopy): Nội soi ổ bụng (LRP) hoặc ROBOT (RoRP)

    – Phẫu thuật mở hay nội soi có cùng chỉ định như nhau, việc quyết định phương pháp nào là tùy thuộc sự lựa chọn của bác sĩ điều trị.

    – Đường mổ qua hội âm nên được khuyến khích cho ung thư giai đoạn khu trú, vì cho kết quả tốt và đảm bảo thẩm mỹ. Tuy nhiên, khi lựa chọn đường mổ này cần phải xác định rõ không có di căn hạch (PSA<10ng/ ml, Gleason <7, tốt nhất là sinh thiết hạch chậu âm tính).

    2. Chỉ Định Mổ:

    – Ung thư còn khu trú: T1-T2, Nx-N0, M0

    – Thời gian kỳ vọng sống > 10 năm

    – Không có bệnh đi kèm như tim mạch, tiểu đường…

    – Chưa di căn hạch (thực tế khoảng 2-4% bệnh nhân đã có di căn hạch chậu vẫn có thể được cắt tuyến tiền liệt tận gốc).

    – Điểm Gleason < 8

    – PSA < 20 ng/ml (tại Việt Nam, nhiều bệnh nhân có trị số PSA cao hơn con số này vẫn có thể mổ được)

    – Cho bệnh nhân biết khả năng sẽ phải điều trị đa mô thức sau mổ

    3. Chỉ Định Mổ Theo Từng Giai Đoạn Của Bệnh:

    3.1. Giai Đoạn T1a-T1b:

    – T1a: ung thư < 5% mô tuyến tiền liệt

    – T1b: ung thư > 5% mô tuyến tiền liệt hoặc biệt hóa kém

    – Ung thư tuyến tiền liệt phát hiện sau cắt đốt nội soi có thể tiếp tục xạ trị ngoài (không áp dụng brachytherapy)

    – Bảo tồn thần kinh cương

    3.2. Giai Đoạn T1c:

    – Chưa có biểu hiện lâm sàng

    – Chẩn đoán dựa vào PSA tăng cao và kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt

    – PIN cao: nên sinh thiết lại sau 3 đến 6 tháng

    – Cắt tuyến tiền liệt tận gốc kèm bảo tồn thần kinh cương

    3.3. Giai Đoạn T2:

    – T2a: có khả năng cắt tuyến tiền liệt tận gốc

    – T2b: Ung thư chiếm hơn ‘/2 thùy hoặc cả 2 thùy

    – Bảo tồn thần kinh cương 1 bên

    – Lựa chọn xạ trị cho bệnh nhân lớn tuổi có bệnh lý khác đi kèm như tim mạch, tiểu đường

    3.4. Giai Đoạn T3:

    – T3a: xâm lấn vỏ bao tuyến tiền liệt

    – T3b: xâm lấn túi tinh

    – Giai đoạn T3 có nguy cơ tái phát cao, đã di căn hạch nên không được khuyến khích cắt tuyến tiền liệt tận gốc.

    – Chỉ định chọn lọc cắt tuyến tiền liệt tận gốc với khối bướu nhỏ, không dính

    – Lựa chọn tốt nhất: điều trị nội tiết kết hợp với xạ trị

    4. Chỉ Định Nạo Hạch Chậu:

    – PSA < 10 ng/ml và điểm Gleason < 7 có ít nguy cơ di căn hạch thì không cần nạo hạch chậu

    – Chỉ định nạo hạch chậu cho bệnh nhân có nguy cơ tái phát cao (T3a, PSA > 20 ng/ml hoặc Gleason > 8)

    – Phương pháp:

    + Nạo hạch chậu giới hạn: chỉ lấy hạch chậu-bịt (khoảng 8-10 hạch)

    + Nạo mở rộng: lấy hạch vùng chậu-bịt lên đến động mạch chậu chung (khoảng 20 hạch)

    + Thông thường chỉ cần nạo giới hạn, không cần nạo mở rộng.

    5. Biến Chứng:

    5.1. Cắt Tuyến Tiền Liệt Tận Gốc:

    – Rối loạn cương (liệt dương)

    – Tiểu không kiểm soát

    – Hẹp cổ bàng quang

    – Rò nước tiểu

    5.2. Nạo Hạch Chậu:

    – Tụ dịch bạch huyết

    – Phù bạch huyết

    – Thuyên tắc tĩnh mạch sâu

    – Thuyên tắc phổi

    → Cần phải giải thích đầy đủ về các biến chứng cho bệnh nhân trước khi quyết định phẫu thuật.

    ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT

    Định nghĩa phương pháp điều trị nội tiết: là dùng những thuốc chống lại sự hoạt động của androgen và sự tăng sinh của tuyến tiền liệt, bao gồm nội tiết tố và những chất không phải nội tiết tố.

    1. Các Dạng Điều Trị Nội Tiết

    1.1. Cắt Tinh Hoàn

    Ngoại khoa: phẫu thuật cắt 2 tinh hoàn nhanh chóng làm giảm lượng testosterone trong máu xuống dưới 50 ng/dl. Chỉ trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật, nồng độ testosterone còn lại xuống dưới 10% so với trước mổ. Về mặt kỹ thuật, có thể cắt trọn 2 tinh hoàn hoặc để lại vỏ bao (cắt tinh hoàn dưới bao) vì lý do thẩm mỹ hoặc tâm lý.

    Nội Khoa:

    – Estrogen: thường dùng nhất là Diethylstilboestrol (DES), có tác dụng ức chế ngược trên trục nội tiết mạnh hơn testosterone. Liều tấn công là từ 5 mg trở lên mỗi ngày. Liều duy trì là 1 mg mỗi ngày. Tác dụng phụ trên hệ tim mạch giới hạn việc sử dụng.

    – Đồng vận LHRH: tạo hiện tượng mất hoạt hóa thụ thể LHRH của tuyến yên. Trong một số ngày đầu, trong vòng 10 – 20 ngày, có thể gây nên hiện tượng bùng phát với sự gia tăng LH và testosterone trong máu. Các LHRH-a thường sử dụng là: Buserelin, Goserelin, Leuprorelin, Triptorelin.

    – Đối vận LHRH: gắn kết và tranh chấp thụ thể với LHRH tuyến yên, có thể làm giảm trên 80% lượng LH trong 24 giờ đầu. Không gây nên hiện tượng bùng phát như LHRH-a. Abarelix là đối vận LHRH duy nhất được FDA Hoa Kỳ cấp phép, nhưng chỉ giới hạn cho những bệnh nhân bị ung thư di căn có triệu chứng mà không thể dùng được liệu pháp nào khác.

    1.2. Kháng Nội Tiết Tố Nam (Kháng Androgen)

    Steroid: Cyproterone acetate, Megesterone acetate, Medroxyprogesterone acetate. Cyproterone acetate thường được sử dụng nhất, liều 100 mg, 2-3 lần mỗi ngày. Kháng nội tiết nam steroid có tác dụng kép: ức chế thụ thể androgen tại tuyến tiền liệt và ức chế ngược trên trục nội tiết. Tác dụng phụ cần chú ý trên hệ tim mạch và chức năng gan.

    Không Steroid:

    – Flutamide: 250 mg, 3 lần mỗi ngày

    – Bicalutamide: kháng androgen không steroid mạnh nhất do khả năng gắn kết cao với thụ thể và có dung nạp tốt nhất. Liều: một lần trong ngày, 50 mg/ngày nếu là liệu pháp kết hợp và 150 mg/ngày nếu là đơn trị liệu.

    – Nilutamide: liều: 1 lần trong ngày, 300 mg/ngày trong tháng đầu tiên và tiếp tục 150 mg/ngày trong những tháng sau.

    về mặt lý thuyết, sử dụng kháng androgen không steroid trong đơn trị liệu giúp cải thiện chất lượng sống và tuân thủ điều trị hơn cắt tinh hoàn vì không làm giảm lượng testosterone trong máu. Được cho là bảo tồn được ước muốn tình dục (libido), năng lực thể chất chung và mật độ khoáng trong xương.

    1.3. Ức Chế Tổng Hợp Nội Tiết Nam

    – Aminoglutethimide: liều 1000mg/ngày. Ức chế tổng hợp testosterone qua ức chế chuyển hóa cholesterol thành pregnenolone. Vì aminoglutethimide cũng ức chế tổng hợp aldosterone và cortisol nên hệ quả được xem như cắt thượng thận nội khoa. Hiện chỉ được sử dụng trong ung thư giai đoạn kháng nội tiết.

    – Ketoconazol: liều 300 mg, 3 lần mỗi ngày. Ức chế tổng hợp testosterone và cả steroid thượng thận. Tương tự như đối với aminoglutethimide, hiện chỉ được sử dụng trong ung thư giai đoạn kháng nội tiết.

    2. Chỉ Định Điều Trị Nội Tiết

    Được xem là tiêu chuẩn vàng cho ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển.

    2.1. Chỉ Định Chung:

    – Ung thư giai đoạn tiến triển tại chỗ (T3, T4)

    Chỉ định trên những bệnh nhân có triệu chứng, u lan rộng tại chỗ, nồng độ PSA cao (trên 25 ng/ml).

    Sự kết hợp nội tiết với xạ trị cho kết quả tốt hơn là xạ trị đơn độc.

    – Ung thư di căn (N+, M+)

    Điều trị nội tiết là liệu pháp chuẩn, đặc biệt là đối với bệnh nhân đã có triệu chứng.

    2.2. Chỉ Định Cắt Tinh Hoàn:

    – Tiến triển tại chỗ (T3,T4) có triệu chứng: cải thiện thời gian sống còn không ung thư (CFS: cancer-free survival)

    – N+: kéo dài thời gian sống còn bệnh không tiến triển (PFS: progression-free survival), và ngay cả sống còn toàn bộ (OS: overall survival).

    – M1 không triệu chứng: làm chậm diễn tiến bệnh sang giai đoạn có triệu chứng và ngăn ngừa các biến chứng do diễn tiến bệnh nặng.

    – M1 có triệu chứng: thuyên giảm các triệu chứng và giảm nguy cơ dẫn đến các biến chứng nặng nề do bệnh tiến triển (chèn ép tủy, gãy xương bệnh lý, chèn ép niệu quản, di căn các cơ quan khác ngoài xương).

    2.3. Chỉ Định Kháng Androgen:

    – Liệu trình ngắn hạn: giảm nguy cơ đợt bùng phát PSA ở các bệnh nhân có ung thư di căn dự định điều trị bằng LHRH-A.

    – Kháng androgen không steroid (bicalutamide): dùng đơn trị đầu tay thay cho cắt tinh hoàn ở bệnh nhân có ung thư tiến triển tại chỗ.

    3. Chống Chỉ Định Điều Trị Nội Tiết

    3.1. Cắt tinh hoàn ngoại khoa: khi tâm lý không sẵn sàng cho phẫu thuật cắt 2 tinh hoàn.

    3.2. Estrogen: có bệnh tim mạch đi kèm.

    3.3. Đồng vận LHRH: ung thư di căn có nguy cơ bùng phát PSA cao, ví dụ: di căn xương.

    3.4. Kháng androgen: không được sử dụng như điều trị ban đầu cho ung thư khu trú và

    trên bệnh nhân có suy giảm chức năng gan.

    4. Các Biến Tấu Trong Điều Trị Nội Tiết

    4.1. Đơn Trị Liệu

    Thường là điều trị nội tiết đầu tay, áp dụng một trong 2 cách: cắt tinh hoàn (nội hay ngọai

    khoa) hoặc kháng androgen.

    4.2. Điều Trị Phối Hợp

    – Với cắt tuyến tiền liệt tận căn

    + Tân hỗ trợ: điều trị nội tiết trước cắt tuyến tiền liệt tận căn không được khuyến khích, không làm tăng dự hậu sống còn (Witjes 1997, Gleave 2003), ngoài ra còn làm việc xét nghiệm giải phẫu bệnh sau mổ thêm khó khăn.

    + Hỗ trợ: sau cắt tuyến tiền liệt, khi có hiện tượng tái phát sinh học thì việc điều trị nội tiết sớm được khuyến khích vì có hiệu quả.

    – Với xạ trị

    Kết quả của nhiều công trình (Bolla 2002, D’Amico 2002, Lawton 2003, Cook 2004) cho thấy sự phối hợp giữa điều trị nội tiết và xạ trị cho nhiều kết quả khả quan trên tỷ lệ sống còn toàn bộ, sống còn không diễn tiến bệnh và tử vong do ung thư, đặc biệt đối với nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao.

    4.3. Ức Chế Androgen Toàn Phần/ Tối Đa (CAB/MAB)

    Quan điểm kết hợp cắt tinh hoàn (nội hoặc ngoại khoa) và kháng androgen dựa trên lý luận là phải ức chế cả nguồn sản xuất androgen từ thượng thận vì có thể chỉ một lượng nhỏ androgen từ thượng thận cũng đủ kích thích tế bào ung thư phát triển. Có những công trình chứng tỏ sự kết hợp này có hiệu quả (Crawford 1989, Dijkman 1997, Denis 1998, Miyamoto và Chang 2000). Ngược lại, cũng có công trình cho thấy sự kết hợp này không đem lại lợi ích (Eisenberger 1988, Prostate Cancer Trialist’ Collaborative Group 2000).

    4.4. Ức Chế Androgen Ngắt Quãng & Ức Chế Androgen Liên Tục

    Có một số tác giả (Akakura 1993, Sato 1996) chủ trương điều trị ngắt quãng sẽ làm chậm xuất hiện tình trạng kháng nội tiết. Thêm nữa, cách thức điều trị này sẽ bớt tốn kém và giảm tác dụng phụ của suy giảm nội tiết nam.

    Thời gian điều trị: mỗi đợt điều trị kéo dài từ 6-9 tháng, khi nào PSA xuống đến trị số thấp nhất có thể được thì ngưng dùng thuốc. Trong chu kỳ đầu thì PSA có thể xuống đến mức gần triệt tiêu (nadir), càng về sau thì càng khó đạt trị số nadir như lúc đầu. Kinh nghiệm cho thấy nếu PSA hạ xuống nhanh thì sẽ tăng trở lại chậm khi ngưng thuốc và ngược lại. Khi PSA tăng lại, thông thường từ 5-10 ng/ml thì có thể khởi sự đợt điều trị tiếp theo.

    5. Một Số Điểm Cần Chú Ý

    s Sự đáp ứng ban đầu với điều trị nội tiết, nhanh hay chậm, có thể là điều kiện để cho thấy trước thời gian hiệu quả của phương thức trị liệu này dài hay ngắn. s Việc áp dụng điều trị nội tiết ở những bệnh nhân có ung thư khu trú và nguy cơ thấp sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong do tác dụng phụ (tử vong không do ung thư). s Không nên điều trị nội tiết tân hỗ trợ trước phẫu thuật tận căn đối với ung thư khu trú trên lâm sàng.

    + Kết hợp điều trị nội tiết với xạ trị giúp kéo dài thời gian sống còn.Điều trị nội tiết tức thì sau phẫu thuật tận căn mà phát hiện có di căn hạch, sẽ giúp tăng tỷ lệ sống còn toàn bộ.

    + Điều trị nội tiết sớm tốt hơn điều trị trì hoãn ở bệnh nhân ung thư tiến triển, khi phát hiện tái phát sinh học hay di căn.

    → Luôn nhớ khi điều trị nội tiết liên tục: các tác dụng phụ sẽ cùng tăng theo nếu kéo dài thời gian điều trị.

    Xạ trị là một cách điều trị ung thư tuyến tiền liệt khi bướu còn tại chỗ, chưa di căn hạch hoặc di căn xa. Có thể dùng xạ trị cho bệnh nhân ở mọi độ tuổi, cho những trường hợp có chống chỉ định phẫu thuật vì lý do bệnh lý hoặc cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật.

    CHỈ ĐỊNH XẠ TRỊ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

    1. Những Thông Tin Cần Có Trước Khi Điều Trị Bệnh Nhân:

    – Giai đoạn lâm sàng T, N, M

    – Loại giải phẫu bệnh

    – Độ ác tính (điểm Gleason)

    – Nồng độ PSA/ huyết thanh

    – Tuổi bệnh nhân và thời gian kỳ vọng sống thêm

    – Các bệnh lý nội khoa đi kèm

    + Các yếu tố này giúp chúng ta quyết định chọn lựa phương pháp điều trị

    2. Xếp Nhóm Nguy Cơ (Nguy Cơ Tái Phát) Cho Bệnh Nhân:

    – Nguy cơ thấp: T1-T2a và Gleason < 6 và PSA < 10ng/ml

    – Nguy cơ trung bình: T2b-T2c hoặc Gleason 7-8 hoặc PSA 10-20ng/ml

    – Nguy cơ cao: T3a hoặc Gleason 9-10 hoặc PSA > 20ng/ml

    – Nguy cơ rất cao: T3b-T4

    3. Chỉ Định Xạ Trị:

    3.1. Xạ Trị Triệt Để

    – Xạ trị triệt để là một chọn lựa điều trị khi bướu còn tại chỗ gồm các giai đoạn bướu T1, T2, T3, và một số trường hợp T4 (nếu bướu chưa lan rộng vào các cơ quan vùng chậu), N0, M0.

    – Xạ trị có thể dùng để bổ túc vào nền bướu sau cắt tuyến tiền liệt, nếu diện cắt (+). (Lưu ý: nếu hạch chậu có di căn thì không xạ trị bổ túc mà chuyển sang dùng ức chế nội tiết).

    3.2. Xạ Trị Tạm Bợ: dùng trong các tình huống sau đây:

    – Xạ trị giảm đau ổ di căn xương (có thể kiểm soát đau đến 80%)

    – Xạ trị giải ép tủy khi cột sống bị di căn

    Tổng liều xạ trị giảm đau thường dùng là 30 Gy/ 10 lần, phân liều 3 Gy/ lần.

    3.3. Xạ Trị Cứu Vớt (Salvage Radiotherapy):

    Nếu sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc mà:

    – PSA/ huyết thanh không âm tính hoàn toàn, hoặc

    – Khi theo dõi định kỳ sau phẫu thuật, có hiện tượng tái phát sinh học, PSA tăng dần sau 2 lần xét nghiệm (>0,2 ng/ml trong khoảng 3-6 tháng), và

    – Nếu kết quả sinh thiết lại vùng nền tuyến tiền liệt (+) mà không có bằng chứng của di căn hạch, di căn xa, thì có thể cân nhắc xạ trị cứu vớt + ức chế nội tiết.

    4. Thể Tích Và Liều Xạ Trị Triệt Để:

    4.1. Kỹ Thuật Xạ Trị Ngoài:

    – Tốt nhất là xạ trị bằng máy gia tốc thẳng với mức năng lượng cao từ 15-25 MV.

    – Máy Cobalt cũng có thể sử dụng được cho các bệnh nhân gầy ốm.

    – Thường dùng 3-4 trường chiếu tập trung vào vùng bướu.

    – Thể tích xạ gồm: bướu + tuyền tiền liệt, túi tinh ± xạ hạch chậu 2 bên

    + Nguy cơ thấp: tuyến tiền liệt ± túi tinh 70-75 Gy

    + Nguy cơ trung b.nh/ cao: tuyến tiền liệt ± túi tinh 75-80Gy ± thuốc ức chế nội tiết từ 6 tháng – 3 năm

    + Nguy cơ cao: xạ ph.ng ngừa thêm vào hạch chậu 45-50 Gy.

    – Tổng liều xạ trị vào bướu: từ 70-80 Gy tùy vào nguy cơ, thời gian kỳ vọng sống thêm, thể trạng bệnh nhân, các bệnh nội khoa đi kèm. Phân liều xạ từ 1,8 Gy-2Gy/ lần. Nếu tổng liều xạ > 75 Gy, cần có những phương tiện kiểm tra chính xác mô đích để khống chế biến chứng xạ trên bàng quang và trực tràng, như kỹ thuật xạ sát hợp mô đích IMRT, kiểm tra vị trí tuyến tiền liệt hàng ngày bằng siêu âm…

    – Đối với bệnh nhân nguy cơ cao và rất cao, nên kết hợp xạ trị + ức chế nội tiết.

    – Ưu và nhược điểm của xạ trị ngoài Ưu điểm:

    • Bệnh nhân không bị những tai biến liên quan đến phẫu thuật
    • Bệnh nhân ở các độ tuổi đều có thể xạ trị
    • Tỷ lệ tiểu không kiểm soát thấp (1,3%)
    • 50%-65% bệnh nhân duy trì được khả năng hoạt động tình dục nếu trước điều trị khả năng này bình thường

    Nhược điểm:

    • Viêm bàng quang, tiểu máu (3%), xơ hẹp niệu đạo (4,4%)
    • Viêm trực tràng, viêm hậu môn. (2%)
    • Thời gian điều trị kéo dài 7- 8 tuần

    4.2. Xạ Trị Trong

    1. Phương pháp cắm lưu những hạt Iode 125 vào mô tuyến tiền liệt dành cho ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm T1-T2a, nguy cơ thấp. Thủ thuật này được thực hiện một lần, dưới gây mê, với sự kết hợp chặt chẽ của các bác sĩ niệu khoa và bác sĩ xạ trị.
    2. Phương pháp xạ trị trong với máy nạp nguồn sau suất liều cao, dùng để tăng cường liều vào bướu sau xạ trị ngoài. Nguồn đồng vị phóng xạ thường là Iridium 192.

    (Hiện nay ở Việt Nam chưa thực hiện các kỹ thuật xạ trị trong này).

    5. Xạ Trị + Ức Chế Nội Tiết

    – Đối với ung thư tuyến tiền liệt tiến triển tại chỗ (T3-T4), phương pháp kết hợp xạ trị + ức chế nội tiết cho kết quả tốt hơn xạ trị đơn thuần.

    – Liệu pháp nội tiết gồm cắt 2 tinh hoàn hoặc dùng chất đồng vận-LHRH, thuốc kháng androgen, estrogen, progestogen…

    6. Theo Dõi Sau Xạ Trị Triệt Để Việc Theo Dõi Gồm:

    – Đo PSA mỗi 6 tháng trong 5 năm đầu, sau đó mỗi năm một lần

    – Thăm khám trực tràng mỗi năm một lần.

    Nếu PSA tăng > 2ng/ml so với trị số PSA thấp nhất từ sau xạ trị +/- ức chế nội tiết hoặc thăm trực tràng thấy bướu phát triển, cần đánh giá lại để xét điều trị cứu vớt.

    7. Xử Trí Khi Bệnh Tái Phát Tại Chỗ Sau Xạ Trị

    Cần đánh giá các yếu tố sau đây, để xét điều trị cứu vớt:

    – Các điều kiện thuận lợi cho điều trị tại chỗ:

    • Giai đoạn bệnh ban đầu: T1-T2, Nx hoặc N0
    • Khả năng sống thêm dự kiến > 10 năm
    • PSA hiện tại < 10ng/ml

    – Nếu thuận lợi, các bước tiến hành tiếp theo gồm:

    • Sinh thiết lại bướu
    • Làm xạ hình xương
    • Chụp CT/ MRI vùng chậu

    – Nếu kết quả sinh thiết (+), bệnh còn tại chỗ, chưa di căn:

    • Phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt cứu vớt
    • Hoặc điều trị nội tiết
    • Hoặc xạ trị trong

    Lưu ý! Phẫu thuật cắt bướu tuyến tiền liệt tái phát sau xạ trị thường rất khó thực hiện do vùng tuyến tiền liệt đã bị xơ dính do tác dụng của bức xạ ion-hóa, nguy cơ biến chứng phẫu thuật rất cao.

    – Nếu bệnh đã di căn hạch hoặc di căn xa, hoặc nếu bệnh nhân không đủ các điều kiện thuận lợi cho điều trị tại chỗ, thì theo dõi hoặc điều trị nội tiết.

    Kết luận:

    Để việc xạ trị ung thư tuyến tiền liệt đạt hiệu quả tốt, cần đánh giá kỹ nguy cơ, thời gian kỳ vọng

    sống thêm, thể trạng và các bệnh lý đi kèm nhằm cân nhắc giữa lợi ích và biến chứng của việc điều trị. Ngoài mục tiêu kéo dài thêm thời gian sống còn, chất lượng sống của các bệnh nhân lớn tuổi rất đáng được quan tâm.

    ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT TRONG UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

    Điều trị hóa chất trong ung thư tuyến tiền liệt không bao giờ là biện pháp điều trị bước đầu được lựa chọn v. loại ung thư này thường rất nhạy với nội tiết. Tuy nhiên vì tính chất không đồng nhất trong khối u nên độ nhạy của ung thư ở từng cá thể là rất khác nhau và luôn dẫn đến tình trạng kháng nội tiết mà cơ chế còn chưa rõ hoàn toàn nhưng đều có thái độ xử trí chung là có thể phải tiếp tục điều trị với hóa chất.

    1. Mục đích của điều trị hóa chất trong ung thư tuyến tiền liệt kháng nội tiết:

    1.1. Kéo dài thời gian sống còn: Khi ung thư kháng nội tiết có di căn nhỏ thì thời gian sống còn là từ 14-16 tháng; còn nếu có di căn nhiều thì thời gian sống còn chỉ khoảng 9-12 tháng nếu không có điều trị bổ túc.

    1.2. Trì hoãn diễn tiến bệnh: khi có kháng nội tiết nhưng chưa phát hiện di căn thì điều trị hóa chất sớm sẽ làm chậm diễn tiến đến di căn đại thể.

    1.3. Cải thiện chất lượng cuộc sống do làm giảm đau nhức do ung thư di căn gây ra: đây có lẽ là mục tiêu chính của điều trị hóa chất với các trường hợp ung thư kháng nội tiết.

    2. Chỉ Định:

    Điều trị hóa chất trên bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt thường có nhiều tác dụng phụ, đắt tiền và hiệu quả không cao hơn nữa bệnh nhân trong giai đoạn này thường kiệt quệ cả về sức khỏe lẫn tài chính nên chỉ định điều trị cần phải đúng để bệnh nhân có thể hưởng lợi nhiều nhất. Các chỉ định cụ thể như sau:

    2.1. Ung thư tuyến tiền liệt kháng nội tiết rõ, đã điều trị với các phương pháp khác như kháng androgen ngoại vi, bỏ nguồn nội tiết nhưng vẫn tiến triển.

    2.2. PSA phải tăng sau 2 lần thử liên tiếp: đây là biện pháp bảo đảm tránh những sai số khi thử và ngoài ra người ta nhận thấy khi điều trị hóa chất mặc dù có hiệu quả nhưng cho tới hiện nay vẫn chưa có bằng chứng là điều trị sớm ngay khi có dấu hiệu kháng nội tiết sẽ tốt hơn điều trị trễ nên không cần phải quá vội tiến hành điều trị ngay.

    2.3. PSA phải lớn hơn 5 ng/ml: đây là tiêu chuẩn đề ra để dễ theo dõi kết quả của hóa trị với hóa chất.

    3. Đánh Giá Kết Quả Điều Trị Với Hóa Chất:

    Trong các bướu phần mềm khác đa số người ta đánh giá hiệu quả điều trị bằng cách đo kích thước bướu trước và sau điều trị nhưng với ung thư tuyến tiền liệt thì phương pháp này không khả thi, ngoài ra trong các trường hợp có di căn xương thì theo dõi tình trạng di căn xương trước và sau điều trị cũng không cho kết quả trung thực nên đánh giá theo các tiêu chuẩn sau được đa số các chuyên gia chấp nhận

    3.1. Theo dõi PSA: vì lý do này mà trong chỉ định điều trị hóa chất có tiêu chuẩn PSA lớn hơn 5ng/ml. Theo các nghiên cứu của Kelly nếu PSA giảm hơn 50% sẽ cho kết quả sống còn cao hơn nhóm chứng (25 tháng so với 8,6 tháng) và Smith cũng nhận thấy nếu PSA giảm hơn 50% trong thời gian hơn 8 tháng sẽ cho kết quả tốt hơn nhóm chứng (91 tuần so với 38 tuần)

    3.2. Đối với các trường hợp không có di căn xương thì có thể đánh giá theo tiêu chuẩn Recist bao gồm đo tổng chiều dài của các sang thương trước và sau điều trị bằng phương tiện hình ảnh học như CT, MRI.. nếu gọi là đáp ứng hoàn toàn khi các sang thương hoàn toàn biến mất, nếu giảm trên 30% là đáp ứng một phần, nếu tăng trên 20% là bệnh tiến triển.

    3.3. Nếu trong trường hợp ung thư tiến xa có triệu chứng thì đánh giá dựa vào triệu chứng cũng là một tiêu chuẩn có giá trị vì mục đích chính của điều trị bằng hóa chất là cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

    4. Điều Trị Với Hóa Chất:

    Khi nghiên cứu các mẫu bệnh phẩm ung thư tuyến tiền liệt người ta nhận thấy có sự thể hiện gen bcl-2 nhiều và gen này chịu trách nhiệm trong việc bảo vệ sự toàn vẹn của các vi ống chống lại sự chết có lập trình của các tế bào bướu khi có sự hiện diện của các chất ức chế androgennên điều trị bằng các chất tác dụng vào hệ thống vi ống có thể có hiệu quả và trên thực nghiệm khi điều trị với các Taxane là các chất chống bướu dựa vào cơ chế tác động trên vi ống có hiệu quả tốt. Theo các nghiên cứu tền cứu pha 3 về hiệu quả của hóa chất điều trị ung thư tuyến tiền liệt người ta nhận thấy có 2 phác đồ có hiệu quả nhất là:

    4.1. Docetaxel 75mg / m2 da ngày 1 với Prednisone 10mg/ngày cho chu kỳ 21 ngày

    4.2. Mitoxantron 12mg/m2 da ngày 1 với Prednisone 10mg/ngày cho chu kỳ 21 ngày. Tuy nhiên, người ta nhận thấy phác đồ Docetaxel có vẻ có hiệu quả hơn, thể hiện qua tỉ lệ PSA giảm hơn 50% so với 27% và thời gian trung bình làm chậm tiến triển kéo dài hơn là 6,3 tháng so với 3,2 tháng. Song song có nhiều phác đồ cũng đang được nghiên cứu nhưng ít thông dụng hơn, như điều trị đơn chất với Doxorubixin, Cisplatin, 5FU, Methotrexate, Cyclophosphamide, Estramustine, Vinblastine, Paclitaxel hay sử dụng các phác đồ phối hợp như Paclitaxel + Estramustine; Doxorubicine + cyclophosphamide; Docetaxel + Vinorelbine; Docetaxel + Capecitabine; Paclitaxel + Estramustine + Carboplatine…

    Ngoài ra, khi điều trị với hóa chất cần chú . tác động hợp đồng của thuốc với các chất khác như biphosphonate, cũng như chú ý kết hợp điều trị đa mô thức.

    Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

    Xem thêm Phác đồ Bệnh Viện Bình Dân:

    1. Chẩn Đoán Và Điều Trị Gerd (Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản)
    2. Chẩn Đoán Điều Trị U Trung Thất
    3. Chẩn Đoán, Điều Trị Dị Vật Đường Thở
    4. Cấp Cứu Ngưng Hô Hấp Tuần Hoàn Người Lớn Trong Bệnh Viện
    5. Hóa Trị Xạ Trị Ung Thư Phổi