Author: Nguyễn Huyền

  • Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát

    Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát

    Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích tài chính trong ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-chi-ph%C3%AD-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-v%C3%A0-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-th%C3%A0nh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-TNHH-Th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-T%C3%A2n-V%C4%A9nh-Ph%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát

     

    LỜI MỞ ĐẦU

     

     

    Để quản lý một cách có hiệu quả đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh hay sản xuất dịch vụ của một doanh nghiệp nói riêng, một nền kinh tế quốc dân của một nước nói chung đều cần phải sử dụng các công cụ quản lý khác nhau và một trong những công cụ quản lý không thể thiếu được đó là kế toán.

    Trong đó hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giữ một vai trò rất quan trọng trong công tác kế toán của doanh nghiệp. Vì đối với các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết và cạnh tranh quyết liệt, khi quyết định lựa chọn phương án sản xuất một loại sản phẩm nào đó đều cần phải tính đến lượng chi phí bỏ ra để sản xuất và lợi nhuận thu được khi tiêu thụ. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp phải tập hợp đầy đủ và chính xác chi phí sản xuất. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất. Giá thành sản phẩm thấp hay cao, giảm hay tăng thể hiện kết quả của việc quản lý vật tư, lao động, tiền vốn. Điều này phụ thuộc vào quá trình tập hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Chính vì thế kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai quá trình liên tục, mật thiết với nhau. Thông qua chỉ tiêu về chi phí và giá thành sản phẩm các nhà quản lý sẽ biết được nguyên nhân gây biến động chi phí và giá thành là do đâu và từ đó tìm ra biện pháp khắc phục. Việc phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là một trong những mục tiêu quan trọng không những của mọi doanh nghiệp mà còn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội.

    Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát là một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực khai thác chế biến đá. Sản phẩm của công ty mang tính đặc thù. Công ty đã xác định được quy trình hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm khá hoàn chỉnh.

    Tuy nhiên, qua thời gian thực tập tại công ty, được tiếp xúc trực tiếp với công tác kế toán ở công ty, thấy được tầm quan trọng của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, để hiểu sâu sắc hơn về nội dung này nên em đã lựa chọn đề tài: ” Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát“.

    Nội dung của chuyên đề gồm bốn chương:

    • Chương 1: Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát
    • Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
    • Chương 3:Thực trạng về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát
    • Chương 4:Nhận xét và kiến nghị về tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG 1:

    GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ

    CÔNG TY TNHH TM TÂN VĨNH PHÁT

    1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    – Tên công ty viết bằng tiếng Việt: Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Mại Tân Vĩnh Phát.

    – Tên công ty viết tắt: Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    – Địa chỉ trụ sở chính: 104 Hai Bà Trưng – Tp.Pleiku – Gia lai.

    – Mã số thuế: 5900188075

    – E-mail:[email protected]

    – Ngày 10/01/1994 tiền thân của công ty ra đời với số vốn 1,4 tỷ và có tên là Công ty TNHH Thương Mại Tân Vĩnh Phát. Công ty TNHH Thương mại hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng luật pháp Nhà nước quy định. Bảo đảm có lãi để ổn định cuộc sống của các thành viên công ty và cán bộ công nhân viên. Thực hiện đầy đủ  nghĩa vụ thuế để xây dựng đất nước. Kinh doanh có hiệu quả, tích luỹ và phát triển được nguồn vốn để ngày càng mở rộng nâng tầm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty lên cao góp phần các công trình công ích xã hội ở địa phương.

    Tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty một số năm gần đây được khái quát qua bảng số liệu sau:

    Đơn vị:VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
    Doanh thu thuần 22.324.118.653 24.065.688.785 26.382.449.770
    Giá vốn hàng bán 19.433.241.522 20.071.615.595 20.449.012.707
    Lợi nhuận sau thuế 591.716.138 629.386.583 650.383.688

    Trong 3 năm gần đây, doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty liên tục tăng, doanh thu năm 2008 tăng 2.316.760.990đ so với năm 2007 tương ứng với tốc độ tăng 9,63%. Vì công ty là doanh nghiệp sản xuất nên giá vốn chiếm tỷ trọng lớn. Lợi nhuận sau thuế năm 2008 tăng 20.997.105đ so với năm 2007 tương ứng tốc độ tăng 3,34%. Như vậy, công ty đã có cố gắng trong việc tăng doanh thu và lợi nhuận.

    1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CÔNG TY

    1.2.1 Chức năng:

    Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát được thành lập theo tinh thần của Bộ Luật doanh nghiệp , nhằm góp phần phát huy nội lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Như phương án đã hoạch định, công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát kinh doanh mua bán và làm đại lý các mặt hàng: vật liệu xây dựng; gia công chế biến đá xây dựng; xây dựng công trình giao thông; khai thác sản xuất đá xây dựng,cát,sỏi….

    1.2.2 Nhiệm vụ:

    – Nắm bắt mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong địa phương để có định hướng sản xuất kinh doanh góp phần phát triển xã hội. Nhạy bén trong cơ chế thị trường để kịp thời sản xuất và tiêu thụ kịp thời đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của địa phương.

    – Tăng cường công tác hạch toán kinh doanh, quản lý chặt trẻ các chi phí quản lý sản xuất và chi phí quản lý doanh nghiệp, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tích luỹ vốn.

    – Thực hiện thi công đảm bảo đúng thiết kế, đạt yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo an toàn lao động các công trình thi công trong các lĩnh vực: Xây dựng nhà máy thuỷ điện, các công trình giao thông, thuỷ lợi, các công trình dân dụng và công nghiệp,…

    – Chịu trách nhiệm với khách hàng về các hợp đồng đã ký.

    – Chịu trách nhiệm bảo tồn nguồn vốn của công ty, bảo đảm hạch toán kinh tế đầy đủ, chịu trách nhiệm nợ đi vay và làm tròn nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.

    – Thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên, môi trường, di tích lịch sử, văn hoá, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và công tác phòng chống cháy nổ.

    1.3 CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY

    1.3.1 Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty

    Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty

    1.3.2 Chức năng của từng bộ phận:

    • Giám đốc công ty: Giám đốc là người điều hành cao nhất, chịu trách nhiệm hoàn toàn mọi hoạt động và hoạch định chiến lược và định hướng kinh doanh của công ty. Giám đốc là người quản lý và sử dụng số nhân viên được công ty tuyển dụng trên cơ sở bố trí phù hợp để nhằm phát huy tốt đội ngũ nhân viên.
    • Phòng kinh doanh: Tổng hợp và phân tích các báo cáo kinh doanh, lập kế hoạch cung ứng vật liệu, tìm hiểu thị trường, đề ra hoạt động cho công ty, giúp ban giám đốc điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh của công ty.
    • Phòng kế toán: Ghi chép, tính toán, phản ánh số hịện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng kinh phí của công ty. Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm tra và phân tích hoạt động tài chính.
    • Phòng tổ chức hành chính: Theo dõi ngày công thực tế của các bộ phận khai thác và sản xuất để kịp thời phân công hợp lý lực lượng lao động, điều động nhân lực cho tiến độ sản xuất hợp lý tránh những lãng phí không cần thiết.
    • Phòng sản xuất: Tổ chức quản lý và lập kế hoạch thay đổi thiết bị, thay đổi công nghệ, thay đổi máy móc tại công ty, đề ra chất lượng sản phẩm phù hợp với thị trường.
    • Bộ phận khai thác: Đảm nhiệm và chịu trách nhiệm công việc trong quá trình khai thác nguyên liệu cho công ty.
    • Bộ phận sản xuất: Đảm nhiệm và chịu trách nhiệm công việc trong quá trình sản xuất thành phẩm đạt hiệu quả cao nhất.

    1.4. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY

    1.4.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức kế toán

    Sơ đồ 1.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức kế toán

    1.4.2. Chức năng và nhiệm vụ của phòng kế toán

    • Tham mưu cho lãnh đạo vế công tác nghiệp vụ tài chính kế toán và quản lý các nguồn vốn của công ty. Đồng thời lập và quản lý các thủ tục chứng từ về công tác tài chính kế toán theo đúng kế toán của nhà nước.
    • Tổ chức ghi chép tính toán đầy đủ và phản ánh chính xác, kịp thời toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch chi tiêu tài chính để trình Giám đốc phê duyệt, triển khai và thực hiện.
    • Theo dõi và sử dụng vốn có hiệu quả. Quản lý các quỹ tiền lương, quỹ khen thưởng, quỷ dự phòng. Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, kiểm kê các tài sản của công ty và lập báo cáo quyết toán.
    • Kế toán trưởng

    – Chịu trách nhiệm trực tiếp trước Giám đốc

    – Bảo đảm công tác kế toán thực hiện theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước và quy định của công ty.

    – Đồng thời cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin kế toán cho ban lãnh đạo có liên quan,

    • Kế toán viên

    – Theo dõi thanh quyết toán các khoản thu, chi của doanh công ty.

    – Theo dõi vật tư và công nợ của khách hàng

    – Theo dõi chi phí giá thành sản phẩm

    – Theo dõi, tổng hợp chứng từ, lưu trữ chứng từ về nghiệp vụ kế toán

    – Phụ trách công việc nội vụ văn phòng

    1.5 HÌNH THỨC TỔ CHỨC SỔ KẾ TOÁN

    – Công ty áp dụng hình thức kế toán: nhật ký chung, hình thúc tổ chức kế toán tập trung. Do đó, tất cả chứng từ về kế toán được tập trung về phòng kế toán doanh nghiệp. Phòng kế toán có nhiệm vụ tổng hợp chứng từ, ghi sổ kế toán, thực hiện kế toán chi tiết, tổng hợp, lập báo cáo tài chính và lưu giữ chứng từ.

    – Hàng ngày nhân viên phụ trách sẽ căn cứ vào chứng từ gốc để ghi vào nhật ký chung, sổ chi tiết, sỗ quỹ và sổ chi tiết đặc biệt. Cuối tháng căn cứ vào sổ nhật ký chung để lập ra sổ cái.

    – Cuối tháng khóa sổ, tìm tổng số tiền của các nghiệp vụ phát sinh trong tháng của từng tài khoản sổ cái từ đó để lập ra bảng cân đối tài khoản.

    – Công ty tiến hành phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh vào thời điểm cuối năm sau khi lập bao cáo tài chính.

    Sơ đồ 1.3:  Sơ đồ luân chuyển chứng từ:

     
       

    Ghi chú:

    Theo dõi hàng tháng

    Theo dõi hàng ngày

    Đối chiếu

    CHƯƠNG 2:

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT

    VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    2.1.1. Chi phí sản xuất

    2.1.1.1. Khái niệm:

    Quá trình sản xuất sản xuất sản phẩm là quá trình phát sinh thường xuyên, liên tục các loại chi phí sản xuất khác nhau để tạo ra sản phẩm. Chi phí sản xuất là những biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa trong quá trình sản xuất sản phẩm. Hao phí lao động sống là hao phí sức lao động của con người biểu hiện qua chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương , hao phí lao động vật hóa là hao phí các đối tượng lao động và tư liệu lao động biểu hiện qua chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí sử dụng công cụ – dụng cụ, chi phí sử dụng nhà xưởng, văn phòng, chi phí sử dụng các loại máy móc – thiết bị khác nhau…

    2.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất:

    2.1.1.2.1 Phân loại chi phí theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí: là căn cứ vào đặc điểm đồng nhất của của chi phí để phân chia chí phí thành các nội dung.

            Bao gồm các yếu tố:

    – Chi phí nguyên vật liệu chính

    – Vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng cho hoạt động sản xuất.

    – Tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân phục vụ và nhân viên quản lý sản xuất.

    – Chi  phí khấu hao tài sản  cố định.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài ( thuê mặt bằng sản xuất, chi phí điện, nước…).

    – Các khoản chi bằng tiền cho hoạt động sản xuất.

    Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài có thể không có nếu tất cả đều chi ra bằng tiền.

    2.1.1.2.2. Phân loại chi phí theo công dụng:

    Những chi phí sản xuất có cùng mục đích và công dụng được xếp vào cùng một khoản mục chi phí. Theo tiêu thức phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ được chia ra làm các khoản mục chi phí sau:

    –  Chi phí NVL trực tiếp.

    – Chi phí nhân công trực tiếp.

    – Chi phí sản xuất chung

    + Chi phí nguyên vật liệu

    + Chi phí nhân viên quản lý phân xưởng

    + Chi phí dụng cụ sản xuất

    + Chi phí khấu hao TSCĐ

    + Chi phí dịch vụ mua ngoài

    + Chi phí bằng tiền khác

    2.1.1.2.3 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí.

    • Chi phí trực tiếp : là chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc sản xuất ra sản phẩm chính, một loại công trình, hạng mục công trình, một hoạt động xây lắp. Đối với chi phí trực tiếp hoàn toàn có thể căn cứ vào chứng từ gốc để tập hợp cho từng đối tượng chịu chi phí.
    • Chi phí gián tiếp : Là chi phí phát sinh có liên quan đến nhiều loại công trình, nhiều sản phẩm sản xuất hoạt động tại nhiều địa điểm khác nhau. Do đó không thể tập hợp, quy nạp trực tiếp nên chi phí này được tính cho các đối tượng liên quan bằng cách phân bổ thích hợp. Đối với chi phí gián tiếp bắt buộc phải áp dụng phương pháp phân bổ. Mức độ chính xác của chi phí gián tiếp tập hợp cho từng đối tượng tuỳ thuộc vào tính khoa học, hợp lý của tiêu chuẩn dùng để phân bổ chi phí.

    2.1.1.2.4. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí.

    Chi phí sản xuất được chia thành ;

    + Các chi phí bất biến ( Định phí )

    + Các chi phí khả biến ( Biến phí )

    + Các chi phí hỗn hợp .

    Chi phí bất biến ( Định phí ) : Là chi phí mà tổng số không đổi khi có sự thay đổi về khối lượng hoạt động nhưng chi phí trung bình của một đơn vị khối lượng hoạt động thay đổi theo thời gian.

    Chi phí khả biến ( Biến phí ) : Là các chi phí mà tổng số thay đổi tỷ lệ với sự thay đổi của khối lượng hoạt động.

    Chi phí hỗn hợp : Là chi phí mà bản thân nó gồm cả yếu tố định phí và biến phí. Để phục vụ việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí hỗn hợp, các nhà quản lý Doanh nghiệp cần phân tích chi phí hỗn hợp thành các yếu tố định phí và biến phí bằng các phương pháp thích hợp.

    Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý của Doanh nghiệp .

    • Thứ nhất : Giúp các nhà quản trị xác định đúng đắn phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả của chi phí sản xuất. Đối với biến phí cần tiết kiệm tổng chi phí và chi phí cho một khối lượng hoạt động. Đối với định phí cần nâng cao hiệu lực của của chi phí trong sản xuất .
    • Thứ hai : Là cơ sở để thiết kế, xây dựng mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận, xác định điểm hoà vốn và ra các quyết định quan trọng khác.

    2.1.2 Giá thành sản phẩm

    2.1.2.1. Khái niệm:

    Nếu chi phí sản xuất là tiêu hao của lao động sống và lao động vật hóa phát sinh thường xuyên, liên tục trong quá trình sản xuất thì giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất doanh nghiệp đã bỏ ra gắn liền với một kết quả sản xuất nhất định.

    2.1.2.2. Phân loại:

    Nếu căn cứ vào nguồn số liệu để xác định thì giá thành sản phẩm bao gồm: giá thành định mức, giá thành kế hoạch, giá thành thực tế.

    2.1.2.2.1. Giá thành định mức:

    Để quyết định sản xuất một loại sản phẩm mới tung ra thị trường, doanh nghiệp cần phải xác định được các định mức tiêu hao về lao động sống và lao động vật hóa. Từ đó xác định được giá thành sản xuất sản phẩm theo những định mức đã được xác định trên cơ sở giá cả đầu vào của loại lao động nói trên và đưa ra giá bán cạnh tranh trên thị trường. Giá thành sản xuất được xác định như trên chính là giá thành định mức của doanh nghiệp.

    2.1.2.2.2. Giá thành kế hoạch ( giá thành dự toán ) :

    Căn cứ vào định mức tiêu hao về lao động sống và lao động vật hóa đã được xác định cho từng loại sản phẩm, vào đầu mỗi kỳ kế hoạch, căn cứ vào giá cả đầu vào hiện hành của các loại lao động, doanh nghiệp xây dựng giá thành kế hoạch.

    2.1.2.2.3. Giá thành thực tế:

    Tiêu hao về lao động sống và lao động vật hóa thực tế phát sinh kết tinh trong sản phẩm

    2.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    • Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất gồm 2 mặt: mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất. Tất cả các khoản chi phí phát sinh vá các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
    • Nghĩa là giá thành là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động sản xuất ở bất kể kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ còn còn chi phí sản xuất gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí.
     
     
    Giá thành SP =  Chi phí DDĐK + Chi phí SXPSTK – Chi phí SXDDCK
    • Xét về bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một, vì cùng hao phí về lao động sống và lao động vật hóa. Nhưng xét về mặt lượng, thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau.

    2.1.4 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành

    2.1.4.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất:

    Để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường căn cứ vào.

    + Đặc điểm phát sinh chi phí sản xuất và công dụng của chi phí.

    + Đặc điểm phát sinh chi phí và công dụng của chi phí .

    + Đặc điểm của quy trình công nghệ ( Giản đơn hay phức tạp ).

    + Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.

    Trên thực tế việc tổ chức tập hợp chi phí sản xuất của Doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng: Từ khâu hạch toán ban đầu đến khâu tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.

    2.1.4.2. Đối tượng tính giá thành:

    Đối tượng tính giá thành các loại sản phẩm, lao vụ, công trình, hạng mục công trình do Doanh nghiệp sản xuất ra cần được tính giá thành và giá thành đơn vị. Công việc tính giá thành là xác định giá thành thực tế từng loại sản phẩm và toàn bộ sản phẩm đã hoàn thành. Xác định khối lượng tính giá thành là công việc đầu tiên của toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng. Bộ phận kế toán giá thành phải cân đối, xem xét tổng thể các căn cứ để xác định khối lượng tính giá thành cho phù hợp.

    + Cơ cấu tổ chức sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ.

    + Đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm sử dụng của sản phẩm .

    + Dựa vào yêu cầu hạch toán kế toán nội bộ Doanh nghiệp và yêu cầu xác định hiệu quả kinh tế của từng loại sản phẩm .

    + Khả năng và trình độ quản trị của lãnh đạo Doanh nghiệp nói chung và khả năng của cán bộ kế toán nói riêng .

    2.1.5 Kỳ tính giá thành

    Tuỳ thuộc vào từng đối tượng cụ thể của từng doanh nghiệp, vào đặc điểm và chu kỳ sản xuất – kinh doanh để lựa chọn kỳ tính giá thành phù hợp. Kỳ tính giá thành có thể là tháng đối với các doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất – kinh doanh thông thường, là quý (thậm chí là năm) đối với các doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, là thời điểm hoàn thành đơn đặt hàng nếu doanh nghiệp lựa chọn đối tượng tính giá thành sản phẩm là các đơn đặt hàng cụ thể

    2.1.6 Nhiệm vụ kế toán

    • Lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành sản phẩm và kỳ tính giá thành sản phẩm phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp, trang thiết bị của phòng kế toán.
    • Mở đầy dủ các sổ thẻ chi tiết để theo dõi và ghi nhân chi phí phát sinh kịp thời.
    • Xác định tiêu thức phân bổ chi phí phát sinh phù hợp và tiến hành lập các bảng phân bổ chi phí phát sinh vào đối tượng chịu chi phí khác nhau.
    • Lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang phù hợp và tiến hành đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm phù hợp, tiến hành tính giá thành sản phẩm và lập bảng tính giá thành sản phẩm chính xác, kịp thời.
    • Lập báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm đánh giá việc tuân thủ các định mức kinh tế – kỹ thuật, việc thực hiện kế hoạch và dự toán chi phí sản xuất, đề xuất các biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm.

    2.2 KẾ TOÁN CÁC KHOẢN CHI PHÍ SẢN XUẤT

    2.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    2.2.1.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 621 “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” dùng để phản ánh chi phí, nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, dịch vụ.

    2.2.1.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản

    2.2.1.3. Nguyên tắt hạch toán vào tài khoản

    – Chỉ hạch toán vào tài khoản này những chi phí nguyên, vật liệu thực tế sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ. Chi phí nguyên, vật liệu thực tế sử dụng phải tính theo giá thực tế căn cứ vào phương pháp tính giá hàng xuất kho của doanh nghiệp.

    – Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Trong kỳ kế toán, thực hiện việc ghi chép, tập hợp chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp vào bên Nợ tài khoản này theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Cuối kỳ kế toán, thực hiện việc kết chuyển hoặc tiến hành tính phân bổ và kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp vào tài khoản tính giá thành tương ứng. Khi tiến hành tính phân bổ trị giá nguyên, vật liệu thực tế sử dụng để tính giá thành phẩm phẩm cần lựa chọn các tiêu thức phân bổ hợp lý. Mức phân bổ cho từng đối tượng được xác định theo công thức sau:

     
       

    2.2.1.4. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật trực tiếp

    Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàng tồn kho

    – Căn cứ vào phiếu xuất kho nguyên vật liệu sử dụng để trực tiếp sản xuất sản phẩm ghi:

    Nợ TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Có TK 152 – Nguyên vật liệu

    – Nếu mua nguyên vật liệu sử dụng ngay cho hoạt động sản xuất ( không qua kho), căn cứ vào chứng từ có liên quan ghi:

    Nợ TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Nợ TK 133 –  Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)

    Có TK 111,112,331,… – Tổng giá thanh toán

    – Nếu mua số nguyên vật liệu đã xuất ra không sử dụng hết vào hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ, khi nhập lại kho, ghi:

    Nợ TK 152 – Nguyên vật liệu

    Có TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    – Nếu số nguyên, vật liệu đã xuất ra không sử dụng hết nhưng không nhập lại kho mà để lại hiện trường để sử dụng trong kỳ kế toán tiếp theo, ghi bút toán đỏ như sau:

    Nợ TK 152 – Nguyên vật liệu

    Có TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ để hạch toán hàng tồn kho.

    – Vào cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế, xác định trị giá nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ theo công thực:

     
       

    – Căn cứ vào mục địch sử dụng nguyên vật liệu xuất kho, xác định trị giá nguyên vật liệu để trực tiếp sản xuất sản phẩm ghi:

    Nợ TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Có TK 611 – Mua hàng (chi tiết nguyên,vật liệu)

    2.2.1.5. Phương pháp phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

    • Đối với nguyên, vật liệu chính: là những nguyên liệu, vật liệu cấu thành nên vật thể vật chất của sản phẩm

    Thông thường, khi xuất kho nguyên vật liệu chính sử dụng cho quá trình sản xuất sản phẩm đã xác định cụ thể loại sản phẩm mà nguyên vật liệu tạo nên. Do đó căn cứ vào phiếu xuất kho nguyên vật liệu kế toán có thể ghi nhận trực tiếp chi phí nguyên vật liệu vào các đối tượng tính giá thành có liên quan.

    Trong trường hợp cùng một loại nguyên, vật liệu xuất để sử dụng cho nhiều loại sản phẩm nhưng có nhiều quy cách khác nhau thì kế toán căn cứ vào định mức tiêu hao nguyên, vật liệu đã sử dụng.

    • Đối với vật liệu phụ: là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm mà có thể kết hợp với nguyên, vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dang bề ngoài, làm tăng thêm chất lượng hoặc giá trị sử dụng của sản phẩm.

    Tuỳ thuộc vào tính chất của các loại vật liệu phụ mà kế toán có thể sử dụng các phương pháp phân bổ gián tiếp chi phí vật liệu phụ vào các đối tượng tính giá thành khác nhau

    • Căn cứ vào định mức tiêu hao vật liệu phụ (phương pháp tính toán và phân bổ giống như đối với nguyên, vật liệu chính.
    • Căn cứ vào lượng nguyên, vật liệu chính đã sử dụng.
    • Căn cứ vào số giờ máy sử dụng,
      • Đối với nhiên liệu các loại: là vật liệu phụ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, rắn và thể khí. Lượng nhiên liệu tiêu hao nếu không xác định trực tiếp cho từng loại máy sử dụng thì có thể phân bổ căn cứ vào công suất thiết kế của từng loại máy và định mức sử dụng nhiên liệu tương ứng.

    SƠ ĐỒ 2.1: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP TK 621

    2.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    2.2.2.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 622 “Chi phí nhân công trực tiếp” dùng để phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí lao động trực tiếp bao gồm cả các khoản phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, dịch vụ thuộc danh sách quản lý của doanh nghiệp và cho lao động thuê ngoài theo từng loại công việc như lương các khoản phụ cấp và các khoản trích theo lương.

    2.2.2.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản

    2.2.2.3. Nguyên tắc phản ánh vào tài khoản:

    • Không hạch toán vào tài khoản này những khoản phải trả về tiền lương và các khoản phụ cấp cho nhân viên quản lý và phục vụ tại phân xưởng, nhân viên của bộ máy quản lý doanh nghiệp hoăc nhân viên của hoạt động bán hàng.
    • Tài khoản này được mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
    • Cuối kỳ kế toán, thực hiện việc kết chuyển hoặc tiến hành tính phân bổ và kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào các tài khoản tính giá thành tương ứng.

    2.2.2.4. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp.

    – Cuối kỳ căn cứ vào bảng tính lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất ghi.

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có TK 334 – Phải trả công nhân viên

    – Tính và trích các khoản theo lương theo quy định hiện hành của nhân công trực tiếp sản xuất kế toán ghi:

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có TK 338 – Phải trả, phải nộp khác

    – Trích tiền lương nghỉ phép của nhân công trực tiếp sản xuất kế toán ghi:

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có TK 335 – Chi phí phải trả

    2.2.2.5. Phương pháp phân bổ chi phí nhân công trực tiếp:

    Thông thường chi phí phân bổ nhân công trực tiếp được theo dõi cụ thể đối với từng loại sản phẩm. Trương hợp không thể tách riêng để theo dõi thì cuối kỳ kế toán tiến hành phân bổ chi phí nhân công trực tiếp vào các đối tượng tính giá thành khác nhau căn cứ vào định mức lao động hoặc vào định mức tiền công kế hoạch. Công thức xác định mức phân bổ chi phí nhân công trực tiếp như sau:

     
       

    SƠ ĐỒ 2.2: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP TK 622

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất chung

    2.2.3.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 627 “ chi phí sản xuất chung” dùng để phản ánh chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh phát sinh ở phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất,…( dùng chung là phân xưởng sản xuất) phục vụ sản xuất sản phẩm, dịch vụ.

    2.2.3.2. Nội dung và kết cấu của TK

     
       

    2.2.3.2. Nguyên tắt phản ánh vào tài khoản:

    – Tài khoản này được mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Cuối kỳ kế toán, thực hiện việc kết chuyển hoặc tiến hành tính phân bổ và kết chuyển chi phí sản xuất chung vào tài khoản tính giá thành tương ứng.

    Tài khoản này có 6 tài khoản cấp 2, bao gồm:

    + Tài khoản 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng

    + Tài khoản 6272: Chi phí vật liệu

    + Tài khoản 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất

    + Tài khoản 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ

    + Tài khoản 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài

    + Tài khoản 6278: Chi phí khác bằng tiền

    2.2.3.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung

    – Khi tính tiền lương, tiền công các khoản phụ cấp,… phải trả cho nhân viên quản lý và phục vụ sản xuất tại phân xưởng, ghi:

    Nợ TK 627 (6271) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 334 – Phải trả công nhân viên

    – Khi trích theo lương đối với nhân viên quản lý và phục vụ quản lý tại phân xưởng ghi:

    Nợ TK 627(6271) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 338 – Phải trả, phải nộp khác

    • Đối với chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất:

    – Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, căn cứ vào phiếu xuất kho vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất, ghi:

    Nợ TK 627(6272) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 152 – Nguyên vật liệu

    – Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế cuối kỳ, xác định trị giá dùng chung cho phân xưởng sản xuất, ghi:

    Nợ TK 627(6272) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 611 – Mua hàng

    • Đối với chi phí dụng cụ sản xuất dùng chung cho phân xưởng sản xuất:

    – Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, căn cứ vào phiếu xuất kho vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất:

    – Nếu dụng cụ sản xuất có trị giá nhỏ, thời gian sử dụng ngắn, ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 153 – Công cụ, dụng cụ

    – Nếu dụng cụ sản xuất có trị giá lớn, thời gian sử dụng dài, ghi:

    Nợ TK 142, 242 – Chi phí trả trước

    Có TK 153 – Công cụ, dụng cụ

    – Khi  phân bổ trị giá dụng cụ sản xuất vào chi phí sản xuất chung, ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 142,242 – Chi phí trả trước

    – Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế cuối kỳ, xác định trị giá dùng chung cho phân xưởng sản xuất, ghi:

    – Nếu dụng cụ sản xuất có trị giá nhỏ, thời gian sử dụng ngắn, ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 611 – Mua hàng

    – Nếu dụng cụ sản xuất có trị giá lớn, thời gian sử dụng dài, ghi:

    Nợ TK 142,242 – Chi phí trả trước

    Có TK 611 – Mua hàng

    – Khi phân bổ trị giá dụng cụ sản xuất vào chi phí sản xuất chung ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 142,242 – Chi phí trả trước

    – Nếu phát sinh chi phí sữa chữa lớn TSCĐ, ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 142,242 – chi phí trả trước hoặc

    Có TK 335 – Chi phí trả trước

    – Căn cứ vào bảng khấu hao TSCĐ của phân xưởng sản xuất ghi:

    Nợ TK 627(6274) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 214 – Hao mòn TSCĐ

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền khi phát sinh, ghi:

    Nợ TK 627(6277, 6278) – Chi phí sản xuất chung

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)

    Có TK 111,112,331,.. – Tổng giá thanh toán

    – Nếu phát sinh các khoản làm giảm chi phí sản xuất chung, ghi:

    Nợ TK 111,112,138,… – Các khoản thu hồi

    Có TK 627 – Chi phí sản xuất chung

    2.2.3.4.Phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung.

    Tiêu thức dùng để phân bổ đối với chi phí sản xuất chung là căn cứ vào tiền lương nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm. Công thức xác định mức phân bổ chi phí sản xuất chung như sau:

     
       

    SƠ ĐỒ 2.3: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP TK 627

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.2.4 Kế toán các khoản thiệt hại trong sản xuất

    2.2.4.1.Thiệt hại về sản phẩm hỏng:

    Sản phẩm hỏng bao gồm sản phẩm hỏng sữa chữa được và không sữa chữa được

    • Sản phẩm hỏng có thể sữa chữa được: là những sản phẩm hỏng mà về mặt kỹ thuật có thể sữa chữa được và việc sữa chữa đó có lợi về mặt kinh tế.

    + Các chi phí về sữa chữa được tập hợp vào TK 621, 622

    Nợ TK 621, 622

    Có TK 152, 153, 334, 338…

    + Sau đó căn cứ nguyên nhân và biện pháp xử lý khoản thiệt hại này để ghi vào các TK có liên quan.

    Nợ TK 154, 138, 811

    Có TK 621, 622

    • Sản phẩm không thể sữa chữa được: là những sản phẩm hỏng mà về mặt kỹ thuật không thể sữa chữa được nhưng không có lợi về mặt kinh tế.

    Xác định giá trị sản phẩm hỏng  không sữa chữa được, kế toán ghi như sau:

    Nợ TK 138, 152, 154, 811

    Có TK 154

    2.2.4.2. Thiệt hại do ngừng sản xuất

    Trong thời gian ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một khoản chi phí để duy trì hoạt động như tiền công lao động, nhiên liệu, chi phí sữa chữa… các khoản chi phí này được xem là một thiệt hại ngừng sản xuất.

    Trong thời gian ngừng sản xuất chia làm 2 loại:

    Ngừng sản xuất có kế hoạch.

    Ngừng sản xuất ngoài kế hoạch.

    • Ngừng sản xuất có kế hoạch: căn cứ vào kế hoạch, kế toán tính vào chi phí hàng tháng, khoản thiệt hại về ngừng sản xuất kế toán ghi:

    Nợ TK 621,622

    Có TK 335

    + Khi phát sinh chi phí thực tế:

    Nợ TK 335

    Có TK 152,334

    • Ngừng sản xuất ngoài kế hoạch: bao gồm các khoản thiệt hại thiên tai, hỏa hoạn, hư hỏng máy móc thiết bị…

    + Tập hợp chi phí phát sinh trong thời gian ngừng sản xuất, kế toán ghi:

    Nợ TK 142 – Chi phí trả trước

    Có TK 152, 334, 111, 214

    + Các khoản thiệt hại được xử lý ghi:

    Nợ TK 138,811,627

    Có TK 142 – Chi phí trả trước

    2.3 TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    2.3.1  Tổng hợp chi phí sản xuất

    2.3.1.1. Theo phương pháp kê khai thường xuyên.

    2.3.1.1.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 154 “chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” dùng để tổng hợp chi phí sản xuất, kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm công nghiệp, xây lắp, nuôi trồng, chế biến sản phẩm nông lâm, ngư nghiệp, dịch vụ ở doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên trong hạch toán hàng tồn kho.

    2.3.1.1.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản

     
       

    2.3.1.1.3. Nguyên tắt phản ánh vào tài khoản .

    – Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong kỳ, chi phí sản xuất, kinh doanh của khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ, chi phí sản xuất, kinh doanh đầu kỳ của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phụ và thuê ngoài gia công chế biến.

    – Chi phí sản xuất, kinh doanh phản ánh trên tài khoản này phải được chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Chi phí sản xuất, kinh doanh phản ánh trên tài khoản này bao gồm:

    – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.

    – Chi phí nhân công trực tiếp.

    – Chi phí sử dụng máy thi công.

    – Chi phí sản xuất chung.

    2.3.1.1.4. Trình tự hạch toán

    – Cuối kỳ, căn cứ vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ.

    Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

    Có TK 621 – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

    Có TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có TK 627 – Chi phí sản xuất chung.

    • Phương pháp hạch toán các khoản điều chỉnh giảm giá thành như sau:

    – Trị giá phế liệu thu hồi từ vật tư sử dụng nhập kho, ghi:

    Nợ TK 152 – Nguyên, vật liệu

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Trị giá sản phẩm phụ thu được từ quá trình sản xuất nhập kho, ghi:

    Nợ TK 155 – Thành phẩm

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Trị giá sản phẩm hỏng không sữa chữa được, người gay ra chịu thiệt hại sản phẩm hỏng phải bồi thường

    Nợ TK 111,112 – Số tiền thu được từ các sản phẩm hỏng

    Nợ TK 138 – Phải thu khác

    Nợ TK 334 – Phải trả công nhân viên

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Xác định giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ trong kỳ nhập kho, ghi:

    Nợ TK 155 – Thành phẩm

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Trường hợp sản phẩm sản xuất xong giao thẳng cho khách hàng hoặc gởi bán , ghi:

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán

    Nợ TK 157 – Hàng gửi đi bán

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

    2.3.1.2. Theo phương pháp kiểm kê định kỳ.

    2.3.1.2.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 631 “giá thành sản xuất” dùng để tổng hợp chi phí sản xuất, kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm công nghiệp, xây lắp, nuôi trồng, chế biến sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ ở doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ trong hạch toán hàng tồn kho.

    2.3.1.2.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản 631:

     
       

    2.3.1.2.3. Nguyên tắc phản ánh vào tài khoản

    Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo nguyên tắt kê khai thường xuyên không sử dụng tài khoản này.

    Chỉ hạch toán vào tài khoản này các loại chi phí sản xuất, kinh doanh sau:

    – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

    – Chi phí nhân công trực tiếp

    – Chi phí sử dụng máy thi công

    – Chi phí sản xuất chung

    2.3.1.2.4. Trình tự hạch toán:

    – Đầu kỳ, kết chuyển trị giá sản phẩm dở dang vào bên Nợ TK 631

    Nợ TK 631 – Giá thành sản xuất

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Cuối kỳ kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung vào TK 631.

    Nợ TK 631 – Giá thành sản xuất

    Có TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Có TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có  TK 627 – Chi phí sản xuất chung

    – Cuối kỳ kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

    Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    Có TK 631– Giá thành sản xuất

    – Xác định giá thành sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ.

    Nợ TK 632– Giá vốn hàng bán

    Có TK 631– Giá thành sản xuất

    2.3.2  Đánh giá và điều chỉnh các khoản giảm giá thành

    Các khoản giảm giá thành là những khoản chi phí sản xuất thực tế phát sinh nhưng không được tính vào giá thành hoặc những khoản chi phí sản xuất thực tế phát sinh nhưng không tạo ra giá trị sản phẩm chính. Những khoản điều chỉnh giá thành như chi phí thiệt hại ngừng sản xuất, chi phí thiệt hại về sản phẩm hỏng, giá trị phế liệu…Khi hạch toán kế toán chỉ điều chỉnh khi chi phí đã tổng hợp sang tài khoản 154(631). Tuỳ thuộc vào tính chất trọng yếu của các khoản giảm giá thành, kế toán có thể đánh giá và điều chỉnh giảm giá thành theo giá bán, giá vốn….

    2.3.3  Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

    2.3.3.1. Khái niệm:

    • Sản phẩm dở dang cuối kỳ là những sản phẩm chưa hoàn thành một trong những giai đoạn quy trình công nghệ chế biến sản phẩm.
    • Sản phẩm dở dang hay còn gọi là bán thành phẩm, là những sản phẩm chưa hoàn tất quy trình công nghệ chế biến. sản phẩm dở dang có thể được nhập kho, cũng có thể để lại tại phân xưởng sản xuất, dây chuyền công nghệ để tiếp tục hoàn thiện nhằm cho ra đời những sản phẩm hoàn thành (thành phẩm).
    • Chi phí sản xuất dở dang là những cho phí sản xuất đã kết tinh trong các sản phẩm dở dang.
    • Đánh giá sản phẩm dở dang vào cuối kỳ chính là việc xác định chi phí sản xuất dở dang tương ứng với khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Tại mỗi doanh nghiệp sản xuât, phụ thuộc vào các tỷ trọng các khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm và yêu cầu quản lý chi phí để có thể lựa chọn một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau:

    2.3.3.2. Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang

    2.3.3.2.1. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    • Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính thường được áp dụng nếu chi phí nguyên vật liệu chính chiếm tỷ trọng lớn trong gia 1thành sản phẩm.
    • Theo phương pháp này, chỉ tính chi phí nguyên vật liệu chính đã kết tinh trong sản phẩm dở dang cuối kỳ, các chi phí khác vì tương đối nhỏ nên không tính đến, coi như bằng không và được tính chung trong giá thành của toàn bộ sản phẩm trong kỳ.
    • Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức đánh giá sản phẩm dở dang (1).
     
       

    2.3.3.2.2. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo 50% chi phí chế biến

    • Theo phương pháp này người ta lấy mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang là 50% so với thành phẩm để phân bổ chi phí chế biến còn chi phí vật liệu trực tiếp tính cho sản phẩm dở dang tính theo phương pháp trực tiếp.
    • Điều kiện áp dụng: phương pháp này áp dụng khi đến thời điểm tính giá thành đại bộ phận sản phẩm dở dang nằm ở giữa quá trình sản xuất.

    2.3.3.2.3. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo sản lượng hoàn thành tương đương

    • Phương pháp này đánh giá sản phẩm dở dang theo sản phẩm hoàn thành tương đương thường được áp dụng nếu không tồn tại chi phí nào chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.
    • Theo phương pháp này, trong sản phẩm dở dang cuối kỳ tồn tại tất cả các khoản mục chi phí tính giá thành.
    • Tùy thuộc vào thời điểm phát sinh chi phí mà kế toán có thể lựa chọn công thức xác định chi phí sản xuất dở dang cho phù hợp.
      • Nếu tất cả các khoản mục chi phí phát sinh dần theo tiến độ sản xuất thì từng loại chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức đánh giá sản phẩm dở dang (2):
     
       
     
       

    Khi đó trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ bằng tổng các loại chi phí dở dang cuối kỳ đã được xác định.

    • Nếu chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh ngay từ đầu quy trình sản xuất, các chi phí chế biến (chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) phát sinh dần theo tiến độ sản xuất thì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xác định theo công thức (1), các chi phí chế biến được xác định theo công thức (2).

    Quy trình đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ được thực hiện theo các bước sau:

    • Bước 1: Căn cứ vào tỷ lệ hoàn thành, quy đổi từ số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ thành số lượng sản phẩm hoàn thành tương đương .
    • Bước 2: Xác định từng khoản mục chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
    • Bước 3: Xác định trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ ( tổng các khoản mục chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ ).

    2.3.3.2.4. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí định mức

    • Phương pháp này thường được áp dụng nếu doanh nghiệp xây dựng được định mức tiêu hao chi phí cho từng loại sản phẩm và các định mức này ít biến động.
    • Theo phương pháp này, trong sản phẩm dở dang cuối kỳ tồn tại tất cả các khoản mục chi phí tính giá thành.
    • Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ (chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ) được xác định theo công thức đánh giá sản phẩm dở dang (3).
     
       

    2.3.4  Các phương pháp tính giá thành sản phẩm

    Phương pháp tính giá thành sản phẩm là một hoặc một hệ thống các phương pháp dùng để tính tổng giá thành và giá thành từng đơn vị sản phẩm sản xuất trong kỳ theo các khoản mục chi phí theo quy trình hiện hành căn cứ vào các chi phí sản xuất đã được tập hợp.

    Các khoản mục chi phí dùng để tính giá thành bao gồm:

    – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.

    – Chi phí nhân công trực tiếp.

    – Chi phí sản xuất chung.

    Tùy theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp có thể chia nhỏ, tách riêng các khoản mục chi phí nêu trên chi tiết hơn. Ví dụ chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp có thể chia thành:

    – Chi phí nguyên, vật liệu chính.

    – Chi phí nguyên, vật liệu phụ.

    Tương tự như vậy, chi phí sản xuất chung có thể được theo dõi chi tiết thành các khoản mục như:

    – Chi phí nhân viên phân xưởng.

    – Chi phí vật liệu.

    – Chi phí dụng cụ sản xuất.

    – Chi phí khấu hao TSCĐ.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài.

    – Các chi phí bằng tiền khác…

    Việc lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm phải phù hợp với:

    – Đặc điểm tổ chức quy trình sản xuất.

    – Tính chất của quy trình công nghệ.

    – Trình độ của đội ngủ nhân viên kế toán.

    – Mức độ tin học hóa công tác kế toán.

    -Yêu cầu quản lý.

    – Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành đã lựa chọn.

    -Các quy định hiện hành…

    Tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của mình mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các bước tính giá thành sau:

    2.3.4.1.Phương pháp đơn giản (Phương pháp trực tiếp)

    Phương pháp trực tiếp thường được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ đơn giãn, khép kín bắt đầu từ khâu đưa nguyên vật liệu vào cho đến khi sản phẩm hoàn thành.

    – Tình huống này xảy ra khi doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí sản xuất phát sinh riêng cho từng loại sản phẩm:

    • Trường hợp phân xưởng chỉ sản xuất ra một loại sản phẩm.

    Doanh nghiệp lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trùng với đối tượng tính giá thành sản phẩm (1):

     
       

     

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:
    • Tập hợp chi phí theo sản phẩm và kết chuyển chi phí.
    • Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi (nếu có).
    • Tính tổng giá thành sản phẩm.
    • Tính giá thành đơn vị sản phẩm.
    • Trường hợp phân xưởng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm.

    Đặc điểm của trường hợp này là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp có thể tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm, chỉ có chi phí sản xuất chung được tập hợp chung cho tất cả các loại sản phẩm khác nhau trong phân xưởng, sau đó mới áp dụng các tiêu thức phân bổ phù hợp để phân bổ chúng cho các loại sản phẩm khác nhau. Doanh nghiệp vẫn áp dụng công thức tính tổng giá thành sản phẩm (1) để tính tổng giá thành sản phẩm từng loại.

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:
    • Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp theo sản phẩm, chi phí sản xuất chung theo phân xưởng.
    • Phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm theo tiêu thức phù hợp và kết chuyển chi phí.
    • Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi (nếu có).
    • Tính tổng giá thành từng loại sản phẩm.
    • Tính giá thành đơn vị từng loại sản phẩm.
      • Trường hợp phân xưởng sản xuất đồng thời cả sản phẩm chính và sản phẩm phụ.

    Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ thường được áp dụng trong trường hợp sản phẩm phụ được sản xuất ra đồng thời với sản phẩm chính, các sản phẩm phụ này phát sinh tự nhiên, ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, giá thành sản phẩm được xác định theo công thức tính tổng giá thành sản phẩm (2);

     
       

    Sản phẩm phụ thu hồi được có thể đem bán ngay hoặc nhập kho. Trị giá sản phẩm phụ thu hồi để ghi giảm tổng giá thành sản phẩm chính được tính theo giá quy định của doanh nghiệp.

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:
    • Tập hợp chi phí sản xuất theo từng đối tượng tập hợp chi phí đã lựa chọn.
    • Phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm theo tiêu thức phù hợp (nếu có) và kết chuyển chi phí.
    • Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi (nếu có).
    • Xác định trị giá sản phẩm phụ.
    • Tính tổng giá thành từng loại sản phẩm.

    2.3.4.2.Phương pháp hệ số

    Phương pháp này thường được áp dụng trong cùng một quy trình công nghệ sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau. Doanh nghiệp không thể tập hợp chi phí sản xuất riêng cho từng loại sản phẩm, song giữa các sản phẩm có hệ số quy đổi để tính giá thành, nghĩa là giữa giá thành của các sản phẩm tồn tại một tỷ lệ nhất định. Khi đó đối tượng tập hợp chi phí sản xuất hoặc quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành sản phẩm. Sản phẩm chuẩn được xem là phân xưởng sản xuất hoặc quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành sản phẩm là từng loại sản phẩm. Sản phẩm chuẩn được xem là sản phẩm có hệ số quy đổi bằng 1.

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:

    – Tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng sản xuất hoặc quy trình công nghệ và kết chuyển chi phí.

    – Xác định số lượng sản phẩm chuẩn hoàn thành tương đương cuối kỳ:

     
       

    Quy đổi sản phẩm dở dang về sản phẩm dở dang chuẩn tương ứng theo công thức:

     
       

    Quy đổi sản phẩm hoàn thành về sản phẩm chuẩn tương ứng theo công thức:

     
       
    • Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp phù hợp
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi và sản phẩm phụ (nếu có)
    • Tính tổng giá thành toàn bộ sản phẩm.
    • Tính giá thành đơn vị sản phẩm chuẩn theo công thức:
    • Tính giá thành đơn vị từng loại sản phẩm theo công thức:
     
       
    • Tính tổng giá thành từng loại sản phẩm
     
       

    2.3.4.3.Phương pháp tỷ lệ

    Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp trong cùng một quy trình công nghệ tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau nhưng giữa chúng không tồn tại hệ số quy đổi mà phải xác định tỷ lệ giữa tổng giá thành thực tế và tổng giá thành kế hoạch để xác định giá thành từng loại sản phẩm. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phân xưởng sản xuất hoặc quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành sản phẩm là từng loại sản phẩm

    • Quy trình được thực hiện như sau:

    Tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng sản xuất hoặc quy trình công nghệ

    • Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi và sản phẩm phụ.
    • Tính tổng giá thành thưc tế toàn bộ sản phẩm.
    • Xác định tỷ lệ giữa tổng giá thành thưc tế và tổng giá thành kế hoạch .
    • Tính tổng giá thành thực tế từng loại sản phẩm.
    • Tính giá thành thực tế đơn vị từng loại sản phẩm.

    Công thức:

     
     
    Giá thành của từng loại SP = Tỷ lệ CP x Giá thành kế hoạch của từng loại SP

     

    2.3.4.4. Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ

    Phương pháp áp dụng đối với những qui trình công nghệ sản xuất có kết quả sản xuất vừa tạo ra sản phẩm chính và sản phẩm phụ (sản phẩm song song). Đối tượng kế toán chi phí là toàn bộ quy trình, đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính.

    Quy trình tính toán:

    – Ước tính giá vốn sản phẩm phụ

    + Gia vốn ước tính = Giá bán x- chi phí ngoài sản xuất – Lợi nhuận

    + Giá vốn ước tính – Giá bán x Tỷ lệ giá vốn ước tính

    + Giá vốn ước tính = Chi phí x Tỷ lệ chi phí sản phẩm phụ

    – Loại trừ giá vốn sản phẩm phụ ra khỏi chi phí đầu vào

    – Tính chi phí dở dang và tính giá thành sản phẩm chính bằng phương pháp giản đơn, hệ số hoặc tỷ lệ

    Công thức:

     
       

    2.3.4.5.Phương pháp phân bước

    Phương pháp phân bước áp dụng trong các doanh nghiệp có quy trình sản xuất phức tạp theo dạng chế biến liên tục. Quy trình sản xuất bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau theo một trình tự nhất định. Mỗi giai đoạn cho ra đời một bán thành phẩm và bán thành phẩm của giai đoạn thứ (n-1) sẽ là đầu vào của giai đoạn thứ kế tiếp n. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong trường hợp này là các giai đoạn, đối tượng tính giá thành sản phẩm có thể là bán thành phẩm của từng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng.

    Quy trình công nghệ có thể minh hoạ bằng sơ đồ giản đơn như sau:

     
       
     
     
    =

    Chi phí chế biến bao gồm chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Tùy vào đối tượng tính giá thành sản phẩm, phát sinh các tình huống kết chuyển như sau:

    2.3.4.4.1.  Phương pháp kết chuyển chi phí tuần tự.

    Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp cần tính giá thành của bán thành phẩm trong từng công đoạn.

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:

    – Tập hợp chi phí sản xuất theo từng giai đoạn của quy trình công nghệ.

    – Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ của giai đoạn thứ nhất trong quy trình công nghệ.

    – Tính tổng giá thành thực tế của toàn bộ bán thành phẩm giai đoạn thứ nhất.

    – Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ của giai đoạn thứ 2 trong quy trình công nghệ.

    – Tính tổng giá thành thực tế của toàn bộ bán thành phẩm giai đoạn thứ hai,…

    – Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ của giai đoạn thứ n (cuối cùng) trong quy trình công nghệ.

    – Tính tổng giá thành thực tế của toàn bộ thành phẩm.

    – Tính giá thành thực tế đơn vị thành phẩm.

    2.3.4.4.2.  Phương pháp kết chuyển chi phí song song.

    Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp không cần tính giá thành của bán thành phẩm trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành của thành phẩm trong giai đoạn cuối cùng.

    2.3.4.4.Phương pháp đơn đặt hàng

    – Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành trùng nhau là các đơn đặt hàng.

    – Nếu đơn đặt hàng được thực hiện tại nhiều phân xưởng sản xuất khác nhau thì khi tính giá thành đơn đặt hàng cần tổng hợp toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến lô hàng này tại các phân xưởng sản xuất chúng.

    – Thông thường các chi phí nguyên vật liệu và nhân công trực tiếp sẽ được tập hợp chung cho từng lô hàng, chi phí sản xuất chung được tập hợp theo phân xưởng sản xuất. Do đó, để tính được giá thành đơn đặt hàng cần phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng lô hàng theo những tiêu thức phù hợp.

    – Kỳ tính giá thành được thực hiện khi hoàn thành đơn đặt hàng để bàn giao cho khách hàng. Tuy nhiên, trong kỳ nếu đơn đặt hàng chưa được sản xuất xong thì doanh nghiệp vẫn phải lập bảng tính giá thành để tập hợp và theo dõi chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến từng lô hàng. Sang kỳ tiếp theo, tiếp tục tập hợp chi phí sản xuất phát sinh và tính giá thành lô hàng. Khi việc sản xuất đã hoàn thành.

     

     

     

     

     

     

    TK 152

    SƠ ĐỒ 2.4: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP

     
       

    Ghi chú:

    (1) : Tập hợp chi phí sản xuất nguyên,vật liệu trực tiếp dùng để chế tạo sản phẩm

    (2) : Tập hợp chi phí nhân công  trực tiếp dùng để chế tạo sản phẩm

    (3) : Tập hợp chi phí nhiên liệu, phụ tùng thay thế

    (4) : Tập hợp chi phí nhân viên

    (5) : Tập hợp chi phí sản xuất

    (6) : Tập hợp chi phí khấu hao TSCĐ

    (7) : Tập hợp chi phí trả trước và chi phí trích trước

    (8) : Tập hợp chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền

    (9) : Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của dịch vụ mua ngoài và các khoản chi bằng tiền.

    (10) : Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào TK 154

    (11) : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154

    (12) : Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào TK 154

    (13) : Nguyên vật liệu đã xuất, sử dụng không hết nhập lại kho, phế phẩm hoặc phế thải nhập kho

    (14) : Trị giá sản phẩm hoàn thành nhập kho

    CHƯƠNG 3:

    THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH TM TÂN VĨNH PHÁT.

    3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY.

    3.1.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất tại công ty

    • Đặc điểm sản phẩm của công ty:

    Sản phẩm của công ty là vật liệu đá xây dựng các loại được phục vụ cho các công trình giao thông, xây dựng, thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Gia lai. Được sản xuất các loại đá như: Đá hộc, đá 1×2, đá 4×6, đá cấp phối, đá 2×4, đá loka…

    • Đặc điểm tổ chức sản xuất:

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát đã lựa chọn hệ thống khai thác phù hợp với điều kiện khai thác của mỏ cũng như khả năng đầu tư thiết bị để đảm bảo công tác khai thác và sản xuất chế biến an toàn, dể thi công và có khả năng nâng cao năng suất. Với công suất khai thác trong giai đoạn dự kiến 40.000m3 đá nguyên khai/ năm tương đương với 32.000m3 đá các loại/năm.

    SƠ ĐỒ 3.1: SƠ ĐỒ QUY TRÌNH KHAI THÁC 

    • Tổ chức công tác chế biến:

    Sản phẩm yêu cầu sau khi chế biến là đá các loại chủ yếu phục vụ nhu cầu làm đường giao thông. Máy xay đá sử dụng là loại có công suất 33m3 đá loka/h, chạy bằng máy phát điện 3 pha, một ngày có thể xay được 150m3 đá thành phẩm, tương đương 180m3 đá Loka.

    SƠ ĐỒ 3.2:  SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ KHI NGHIỀN SÀNG

    3.1.2  Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm

    Sản phẩm của công ty là các loại đá xây dựng.

    Phạm vi giới hạn là nơi phát sinh chi phí: Đó là bộ phận khai thác đá nguyên khai và bộ phận xay nghiền sản xuất.

    Phạm vi giới hạn là đối tượng chịu chi phí: là sản phẩm, thành phẩm hoặc là từng chi tiết bộ phận.

    Công ty có quy trình sản xuất từ khi khai thác đá thô chuyển đến xay nghiền ra các sản phẩm đá thành phẩm.

    Để tiến hành công tác chi phí sản xuất, toàn bộ các chi phí được nhà máy phân loại như sau:

    • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

    Bao gồm các nguyên vật liệu chủ yếu được sử dụng trực tiếp vào sản xuất sản phẩm.

    • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho khai thác đá thành phẩm: Là những nguyên liệu được sử dụng trực tiếp vào quá trình khai thác như: Dầu diesel, nhớt máy, Thuốc nổ, kíp nổ…
    • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho chế biến thành phẩm đá :
      • Chi phí nhân công trực tiếp:

    Là toàn bộ các chi phí về tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất theo qui chế khoán sản phẩm, các khoản thưởng có tính chất lương ở Công ty và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn. Kế toán tập hợp vào tài khoản 622

    • Chi phí sản xuất chung bao gồm:

    Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí văn phòng phẩm phục cụ cho công tác quản lý, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền. Kế toán tập hợp vào tài khoản 627.

    3.2.2  Kỳ tính giá thành

    Kỳ tính giá thành của công ty là hàng tháng, số liệu căn cứ vào tháng 12 năm 2009

    3.2.3  Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Tổng hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên và tính giá thành theo phương pháp

    3.2. KẾ TOÁN CÁC KHOẢN CHI PHÍ SẢN XUẤT

    3.2.1  Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí bao gồm như: nhiên liệu, thuốc nổ nhủ tương ¢ 60, kíp điện vi sai dây 6m, đá nguyên liệu ………..

    – Nhiên liệu bao gồm: Dầu diesel, nhớt máy, mở máy …

    – Thuốc nổ nhủ tương ¢ 60, kíp điện vi sai 6m dùng để làm nổ đá thô ra thành phẩm đá nguyên liệu.

    – Phương pháp tính giá vật liệu xuất kho của công ty: Phương pháp bình quân gia quyền.

    – Chứng từ sử dụng: Phiếu xuất kho (02- VT)

    – Tài khoản sử dụng: Tài khoản 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    – Nghiệp vụ phát sinh:

    Khi đơn vị khai thác có nhu cầu sử dụng nguyên liệu ở trong kho, thủ kho tiến hành lập phiếu xuất kho và xuất nguyên liệu.

    Mẫu số 02 – VT

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    – Xuất kho khai thác:

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Mã số thuế:  5900188057

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày 5 tháng 12 năm 2009

    Quyển số:………….

    Số:…………….

    Họ tên người nhận hàng: Nguyễn Văn Hồng

    Địa chỉ (Bộ phận):  Đại diện tổ thác đá

    Lí do xuất : Xuất kho khai thác đá

    Xuất tại kho :

    STT Tên , nhãn hiệu, qui cách,phẩm chất  vật tư (sản phẩm, hàng hoá) Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    A B C D 1 2 3 4
    1

     

    2

    3

    4

    Dầu diesel

     

    Thuốc nổ nhủ tương φ 60

    Kíp điện vi sai 6m

    Nhớt máy

      Lít

     

    Kg

    Cái

    Lít

      8.950

     

    5.616

    422

    8.566,23

     

    15.127,26

    9.410

    76.667.744

     

    84.956.712

    3.971.020

      Cộng           165.595.476

    Bằng chữ: Một trăm sáu mươi lăm triệu, năm trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm bảy mươi sáu đồng./.

    Thủ trưởng đơn vị    Kế toán trưởng  Phụ trách cung tiêu      Người nhận            Thủ kho

          ( Ký, họ tên )     ( Ký, họ tên )            ( Ký, họ tên )            ( Ký, họ tên )      ( Ký, họ tên )

    – Xuất kho chế biến:

    Mẫu số 02 – VT

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Mã số thuế:  5900188057

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày 15 tháng 12 năm 2009

    Quyển số:………….

    Số:…………….

    Họ tên người nhận hàng: Nguyễn Văn Thanh

    Địa chỉ (Bộ phận):  Đại diện xay nghiền chế biến

    Lí do xuất : Xuất kho nguyên liệu xay nghiền chế biến

    Xuất tại kho :

    STT Tên , nhãn hiệu, qui cách,phẩm chất  vật tư (sản phẩm, hàng hoá) Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    A B C D 1 2 3 4
    1

     

    2

    Dầu diesel 0,25%

     

    Đá Loka nguyên liệu

      M3

     

    Lít

      1.120

     

    9.060

    9.390,90

     

    36.469,92

    10.517.819

     

    330.417.476

      Cộng           340.935.295

    Bằng chữ: Ba trăm bốn mươi triệu, chín trăm ba mươi lăm ngàn, hai trăm chín mươi lăm đồng./.

    Thủ trưởng đơn vị    Kế toán trưởng  Phụ trách cung tiêu      Người nhận            Thủ kho

          ( Ký, họ tên )     ( Ký, họ tên )            ( Ký, họ tên )            ( Ký, họ tên )      ( Ký, họ tên )

    Căn cứ vào chứng từ gốc phiếu xuất kho vật tư, … kế toán ghi vào sổ nhật ký chung:

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Mã số thuế:  5900188057

    Mẫu số 02 – VT

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    SỔ NHẬT KÝ

    Tháng 12/2009

    Ngày tháng Chứng từ Diễn giải Số hiệu TKĐU Số phát sinh
    Số hiệu Ngày tháng Nợ
    —– —- —- ————— ——– ——— ——–
        5/12/09 Xuất kho nguyên vật liệu cho bộ phận khai thác 621

     

    152

    165.595.476 165.595.476
        15/12/09 Xuất kho nguyên vật liệu cho bộ phận chế biến 621

     

    152

    340.935.295 340.935.295
        20/12/09 Chi phí thuê xe vận chuyển đá 6277

     

    1331

    331

    51.520.000

     

    5.152.000

    56.672.000
        31/12/09 Phân bổ chi phí đào bốc tầng phủ 6277

     

    242

    5.000.000 5.000.000
        31/12/09 Chi phí nhân công khai thác 622

     

    334

    108.720.000 108.720.000
        31/12/09 Chi phí nhân công chế biến 622

     

    334

    39.600.000 39.600.000
        31/12/09 Chi phí vận chuyển được thanh toán bằng tiền 6277

     

    111

    7.500.000 7.500.000
        31/12/09 Phân bổ chi phí tài nguyên 6278

     

    3336

    6.342.000 6.342.000
        31/12/09 Phân bổ chi phí môi trường 6278

     

    3338

    18.120.000 18.120.000
        31/12/09 Chi phí khấu hao TSCĐ chế biến 6274

     

    214

    10.000.000 10.000.000
        31/12/09 Chi phí điện sản xuất chế biến 6277

     

    1331

    331

    6.992.000

     

    699.200

    7.691.200
        31/12/09 Phân bổ máy biến áp 6277

     

    242

    5.000.000 5.000.000
        31/12/09 Chi phí vận chuyển thanh toán bằng tiền 6277

     

    111

    113.250.000 113.250.000
        31/12/09 Chi phí khác bằng tiền 6278

     

    111

    4.008.000 4.008.000
        31/12/09 K/C chi phí nguyên vật liệu khai thác 154.1

     

    621

    165.595.476 165.595.476
        31/12/09 K/C chi phí nguyên vật liệu chế biến 154.2

     

    621

    340.935.295 340.935.295
        31/12/09 K/C chi phí nhân công khai thác 154.1

     

    622

    108.720.000 108.720.000
        31/12/09 K/C chi phí nhân công chế biến 154.2

     

    622

    39.600.000 39.600.000
        31/12/09 K/C chi phí thuê xe vận chuyển đá 154.1

     

    6277

    51.520.000 51.520.000
        31/12/09 K/C chi phí phan bổ đào bốc tầng phủ 154.1

     

    6277

    5.000.000 5.000.000
        31/12/09 K/C chi phí vận chuyển được thanh toán bằng tiền 154.1

     

    6277

    7.500.000 7.500.000
        31/12/09 K/C chi phí tài nguyên 154.1

     

    6278

    6.342.000 6.342.000
        31/12/09 K/C chi phí môi trường 154.1

     

    6278

    18.120.000 18.120.000
        31/12/09 K/C chi phí khấu hao TSCĐ chế biến 154.2

     

    6274

    10.000.000 10.000.000
        31/12/09 K/C chi phí điện sản xuất chế biến 154.2

     

    6277

    6.992.000 6.992.000
        31/12/09 K/C chi phí phân bổ máy biến áp 154.2

     

    6277

    5.000.000 5.000.000
        31/12/09 K/C chi phí vận chuyển thanh toán bằng tiền 154.2

     

    6277

    113.250.000 113.250.000
        31/12/09 Chi phí khác bằng tiền 154.2

     

    6278

    4.008.000 4.008.000

       

    Đồng thời với việc ghi vào sổ Nhật ký chung, kế toán ghi vào sổ cái TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                SỔ CHI TIẾT

    MST : 5900188057                                     Tháng 12 năm 2009

    TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        Xuất kho nguyên vật liệu cho bộ phận khai thác 152 165.595.476    
        Xuất kho nguyên vật liệu cho bộ phận chế biến 152

     

    155.1

    10.517.818

     

    330.417.476

       
        K/C chi phí nguyên vật liệu khai thác 154.1   165.595.476  
        K/C chi phí nguyên vật liệu chế biến 154.2   340.935.295  

    Số liệu chi phí vật liệu : 165.595.476 đ của bộ phận khai thác được chuyển ghi vào sổ theo dõi chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành của quá trình khai thác, và số liệu chi phí vật liệu: 340.935.295 đ của bộ phận chế biến được chuyển ghi vào sổ theo dõi chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành của quá trình chế biến.

    3.2.2  Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm. Đơn giá lương tính cho công nhân sản xuất trong tháng, cho bộ phận lao động gián tiếp căn cứ  vào lượng sản phẩm sản xuất ra trong tháng. Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm khoản chi tiền lương, tiền thưởng có tính chất lương, các khoản phụ cấp phải trả khác cho công nhân trực tiếp trên tổng quỹ lương.

    Lương công nhân được xác định  như sau:

    Chi phí lương công nhân trực tiếp = Sản lượng sản phẩm hoàn thành nhập kho x Đơn giá khoán sản phẩm

    Đơn giá khoán sản phẩm khai thác là 12.000đ/m3, đơn giá khoán sản phẩm chế biến là 8.000đ/m3,

    Cuối tháng, kế toán giá thành căn cứ vào Bảng chấm công, Phiếu xác nhận sản phẩm hoàn thành hoặc công việc hoàn thành (05-LĐTL), phiếu nhập kho thành phẩm hàng tháng  để lập bảng thanh toán lương cho công nhân. Kế toán phân loại, tổng hợp và ghi sổ Nhật ký chung đồng thời ghi vào sổ cái TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Đến cuối tháng kết chuyển chi phí nhân công vào tài khoản 154 “ chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”.

    Cụ thể trong tháng 12 năm 2009, phòng kế toán công ty nhận được các chứng từ có liên quan  đến chi phí nhân công như sau:

    1.Số chứng từ: TLKT ngày 31/12/2009, tiền lương công nhân khai thác số tiền là: 108.720.000đ

    2.Số chứng từ: TLCB ngày 31/12/2009, tiền lương công nhân chế biến số tiền là: 39.600.000đ

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                              Tháng 12 năm 2009

    TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
      31/12/09 Chi phí nhân công khai thác 334 108.720.000    
      31/12/09 Chi phí nhân công chế biến 334 39.600.000    
      31/12/09 K/C chi phí nhân công khai thác 154.1   108.720.000  
      31/12/09 K/C chi phí nhân công chế biến 154.2   39.600.000  

    Như vậy chi phí nhân công: 108.720.000đ của bộ phận khai thác được chuyển ghi vào sổ theo dõi chi phí sản xuất và tính giá thành thai thác, và chi phí nhân công: 39.600.000đ của bộ phận chế biến được chuyển ghi vào sổ theo dõi chi phí sản xuất và tính giá thành chế biến.

    3.2.3  Kế toán chi phí sản xuất chung

    3.2.3.1 Chi phí khấu hao TSCĐ: TK chi tiết sử dụng TK 6274

    Công ty đang áp dụng phương pháp tính khấu hao đường thẳng .

    Giá trị khấu hao bình quân một tháng là:  10.000.000đ

    Trong đó:            + Khấu hao máy móc thiết bị              : 10.000.000đ

    Hàng tháng ,căn cứ bảng trích khấu hao TSCĐ được phân bổ theo phương pháp đường thẳng. Kế toán ghi vào sổ nhật ký chung đồng thời ghi vào sổ cái tài khoản 6274 theo chứng từ.

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                  Tháng 12 năm 2009

    TK 6274 – Chi phí khấu hao TSCĐ

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
      31/12/09 Chi phí khấu hao TSCĐ cho bộ phân chế biến 214 10.000.000    
      31/12/09 K/C chi phí khấu hao TSCĐ bộ phận chế biến 154.2   10.000.000  

    3.2.3.2. Chi phí dịch vụ mua ngoài:Sử dụng TK 6277

    Khoản mục chi phí dịch vụ mua ngoài gồm những chi phí phục vụ trực tiếp cho hoạt động khai thác và chế biến. Khoản mục này bao gồm:

    – Chi phí vận chuyển nguyên liệu

    – Chi phí thuê xe xúc đá

    – Chi phí đào bốc tầng phủ.

    – Chi phí điện điện sản xuất.

    – Chi phí phân bổ máy biến áp…

    * Trình tự kế toán khoản mục này như sau:

    Hàng ngày căn cứ vào chứng từ như: phiếu chi tiền, hợp đồng thuê xe vận chuyển, xúc đá và các chứng từ khác liên quan, kế toán ghi vào sổ nhật ký chung và sổ cái TK 6277:

    Cuối tháng kế toán kết chuyển chi phí bằng tiền khác vào bên Nợ TK 154

    Số liệu được chuyển tiếp vào sổ theo dõi chi phí sản xuất, tính giá thành của từng bộ phận khai thác và chế biến bằng chi phí bằng tiền khác trong tháng cụ thể là:

    1. Chứng từ: hoá đơn giá trị gia tăng thuê xe xúc đá cho quá trình khai thác đá , số tiền: 51.520.000đ
    2. Chứng từ: thanh toán tiền điện sản xuất của bộ phận chế biến, số tiền:6.992.000đ

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                   Tháng 12 năm 2009

    TK 6277 – Chi phí dịch vụ mua ngoài

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        Chi phí thuê xe xúc đá bộ phận khai thác 331 51.520.000    
        Phân bổ chi phí đào bốc tầng phủ bộ phận khai thác 242 5.000.000    
        Chi phí vận chuyển bằng tiền trong bộ phận khai thác 111 7.500.000    
        Chi phí điện sản xuất cho bộ phận chế biến 331 6.992.000    
        Phân bổ chi phí máy biến áp bộ phận chế biến 242 5.000.000    
        Chi phí vận chuyển ở bộ phận chế biến thanh toán bằng tiền 111 113.250.000    
        K/C chi phí dịch vụ mua ngoài khai thác 154.1   64.020.000  
        K/C chi phí dịch vụ mua ngoài chế biến 154.2   125.242.000  

    3.2.3.3. Chi phí bằng tiền khác:Sử dụng TK 6278

    Khoản mục chi phí bằng tiền khác gồm những chi phí phục vụ trực tiếp cho hoạt động khai thác và chế biến. Khoản mục này bao gồm:

    – Chi phí thuế tài nguyên

    – Chi phí phí môi trường

    – Chi phí bằng tiền khác…

    * Trình tự kế toán khoản mục này như sau:

    Hàng ngày căn cứ vào chứng từ như: phiếu chi tiền, Tờ khai thuế tài nguyên và các chứng từ khác liên quan, kế toán ghi vào sổ nhật ký chung và sổ cái TK 6278:

    Cuối tháng kế toán kết chuyển chi phí bằng tiền khác vào bên Nợ TK 154

    Số liệu được chuyển tiếp vào sổ theo dõi chi phí sản xuất, tính giá thành của từng bộ phận khai thác và chế biến bằng chi phí bằng tiền khác trong tháng .

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                  Tháng 12 năm 2009

    TK 6278 – Chi phí bằng tiền khác

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        Chi phí phân bổ thuế tài nguyên của bộ phận khai thác 3336 6.342.000    
        Phí môi trường của bộ phận khai thác 3338 18.120.000    
        Chi phí khác bằng tiền ở bộ phận chế biến 111 4.008.000    
        K/C chi phí bằng tiền khác khai thác 154.1   24.462.000  
        K/C chi phí bằng tiền khác chế biến 154.2   4.008.000  

    3.3 KẾ TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH THỰC TẾ

    3.3.1  Tổng hợp chi phí sản xuất thực tế

    Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát là các sản phẩm đá. Vì vậy, các chi phí sản xuất liên quan đến quá trình khai thác hay chế biến thì được tập hợp cho quá trình hoạt động đó cho đến khi hoàn thành sản phẩm nhập kho.

    Trong hình thức kế toán nhật ký chung mà công ty áp dụng thì việc tập hợp chi phí sản xuất chính toàn công ty được tiến hành như sau:

    Cuối tháng, kế toán tiến hành kết chuyển toàn bộ chi phí vật liệu, chi phí nhân công (gồm cả các khoản trích theo lương), chi phí dịch vụ mua ngoài,chi phí bằng tiền khác vào bên Nợ TK 154 trên sổ nhật ký chung và vào các sổ cái như sổ cái TK 154, sổ cái TK 621, sổ cái TK 622, sổ cái TK 627. Đồng thời, kế toán ghi vào sổ theo dõi chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành của từng bộ phận khai thác và chế biến theo từng khoản mục chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác. Cuối kỳ theo dõi chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành của từng bộ phận có cột tổng hợp chi phí, cột dư đầu kỳ, dư cuối kỳ.

    Số liệu cụ thể được tập hợp vào TK 154

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                 Tháng 12 năm 2009

    TK 154.1 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang khai thác

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        K/C chi phí nguyên vật liệu khai thác 621 165.595.476    
        K/C chi phí nhân công khai thác 622 108.720.000    
        K/C chi phí dịch vụ mua ngoài khai thác 6277 64.020.000    
        K/C chi phí bằng tiền khác khai thác 6278 24.462.000    
        Nhập kho thành phẩm 155.1   330.417.476  
        Cộng   362.797.476 330.417.476  

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                 Tháng 12 năm 2009

    TK 154.1 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chế biến

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        K/C chi phí nguyên vật liệu chế biến 154.2 340.935.295    
        K/C chi phí nhân công chế biến 154.2 39.600.000    
        K/C chi phí khấu hao TSCĐ bộ phận chế biến 154.2 10.000.000    
        K/C chi phí dịch vụ mua ngoài chế biến 154.2 125.242.000    
        K/C chi phí bằng tiền khác chế biến 154.2 4.008.000    
        Nhập kho thành phẩm chế biến 155.2   318.518.923  
        Cộng   519.785.295 318.518.923  

    3.3.2. Đánh giá sản phẩm dở dang

    • Sản phẩm dở dang cuối kỳ của bộ phận khai thác đá thành phẩm là:32.380.000đ

    + Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của Dầu diesel là 1.702 lít với số tiền là: 14.579.332đ

    + Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của thuốc nổ là 1.129kg với số tiền là 17.085.508đ và của kíp nổ điện vi sai là 76 cái, số tiền là: 715.160đ

    Cuối kỳ không có sản phẩm dở dang.

    • Sản phẩm dở dang cuối kỳ của bộ phận chế biến đá xây dựng là:201.266.372đ

    + Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của Đá Loka nguyên liệu là 149.891.372đ (4.110m3)

    + Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của chi phí vận chuyển là 51.375.000đ

    3.3.3  Tính giá thành thực tế

    – Tổng Giá Thành        CPDD                        CPSX p/s               CPDD

    =                       +                                   –

    SP                         Đầu Kỳ                    Trong Kỳ                  Cuối Kỳ

    Tổng chi phí

    – Giá thành đơn vị   =

    Số Lượng SP hoàn thành

    Ø  Tính giá thành thực tế đá Loka nguyên liệu ở bộ phận khai thác:

    – Sản phẩm đá Loka nguyên liệu của công ty sản xuất nhập kho trong tháng 12 năm 2009 với số lượng : 9.060 m3. Từ các số liệu đã tập hợp trên tính được giá thành đơn vị trong tháng 12 năm 2009 như sau:

    Mẫu số S37 – DN

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    Đơn vị: Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Địa chỉ: 104 Hai Bà Trưng – Pleiku – Gia Lai

    THẺ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ

    Tháng 12 năm 2009

    Tên sản phẩm, dịch vụ: Đá Loka = 9.060 m3 x 36.469,92đ/m3

    Chỉ tiêu Tổng

     

    số tiền

    Chi ra các khoản mục
    Dầu

     

    diesel

    Thuốc nổ, kíp nổ

     

    Nhớt máy

    Chi

     

    Phí

    nhân công

    Chi phí khác
    Chi phí khác Thuế tài nguyên Phí môi trường
    1.Chi phí SXKD dở dang đầu kỳ 0 0 0 0 0 0 0
    2.Chi phí SXKD dở dang phát sinh trong kỳ 362.797.476 76.667.744 88.927.732 108.720.000 64.020.000 6.342.000 18.120.000
    3. Giá thành sản phẩm, dịch vụ trong kỳ 330.417.476 62.088.412 71.127.064 108.720.000 64.020.000 6.342.000 18.120.000
    4.Chi phí SXKD dở dang cuối  kỳ 32.380.000 14.579.332 17.800.668 0 0 0 0

    BẢNG 3.1: BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH KHAI THÁC

    Mẫu số 05 – LĐTL

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Bộ phận: Khai thác

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOẶC

    CÔNG VIỆC HOÀN THÀNH

    Ngày 31 tháng 12 năm 2009

    Tên đơn vị (cá nhân):Trần Hưng Long    Tổ khai thác

    Theo hợp đồng số: ……. ngày 02 tháng 01 năm 2008

    STT Tên sản

     

    phẩm

    (công việc)

    Đơn

     

    vị

    tính

    Số

     

    lượng

    Đơn

     

    giá

    Thành

     

    tiền

    Ghi

     

    chú

    A B B 1 2 3 D
    01 Đá Loka M3 9.060 36.469,92 330.417.476  
      Cộng       9.060   330.417.476  

    Tổng số tiền (viết bằng chữ): Ba trăm ba mươi triệu, bốn trăm mười bảy ngàn, bốn trăm bảy mươi sáu đồng./.

    Ngày31tháng 12 năm 2009

    Người giao việc              Người nhận việc               Người kiểm tra                 Giám đốc

       (ký, họ tên)                      (ký, họ tên)                        (ký, họ tên)                   (ký, họ tên)

     

     

     

     

     

     

    Cuối tháng, căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành nhập kho thành phẩm, kế toán lập phiếu nhập kho và định khoản:

    Sử dụng TK: 155.1- Thành phẩm khai thác

     

    Ø  Tính giá thành thực tế đá xây dựng các loại ở bộ phận khai thác:

    – Sản phẩm đá xây dựng các loại của công ty sản xuất nhập kho trong tháng 12 năm 2009 với số lượng : 3.669 m3 đá các loại. Từ các số liệu đã tập hợp trên tính được giá thành đơn vị trong tháng 12 năm 2009 như sau:

    Mẫu số S37 – DN

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    BẢNG 3.2: BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH CHẾ BIẾN

    Đơn vị: Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Địa chỉ: 104 Hai Bà Trưng – Pleiku – Gia Lai

    THẺ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ

    Tháng 12 năm 2009

    Tên sản phẩm, dịch vụ: Đá xây dựng các loại

    Chỉ tiêu Tổng

     

    số tiền

    Chi ra các khoản mục
    Dầu diesel Đá

     

    Loka nguyên liệu

    Chi

     

    phí

    công nhân

    Điện

     

    sản xuất

    Khấu

     

    Hao

    TSCĐ

    Vật tư

     

    sửa chữa

    Chi phí vận chuyển Phân

     

    bổ chi

    phí

    (máy biến

    áp)

    1.Chi phí SXKD dở dang đầu kỳ 0 0 0 0 0 0 0 0 0
    2.Chi phí SXKD dở dang phát sinh trong kỳ 519.785.295 10.517.819 330.417.476 39.600.000 6.992.000 10.000.000 4.008.000 113.250.000 5.000.000
    3. Giá thành sản phẩm, dịch vụ trong kỳ 318.518.923 10.517.819 180.526.104 39.600.000 6.992.000 10.000.000 4.008.000 61.875.000 5.000.000
    4.Chi phí SXKD dở dang cuối  kỳ 201.266.372 0 149.891.372 0 0 0 0 51.375.000 0
    Mẫu số 05 – LĐTL

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Bộ phận: chế biến

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOẶC

    CÔNG VIỆC HOÀN THÀNH

    Ngày 31 tháng 12 năm 2009

    Tên đơn vị (cá nhân):Trần Nam Trung    Tổ Chế biến

    Theo hợp đồng số: ……. ngày 02 tháng 01 năm 2008

    STT Tên sản

     

    phẩm

    (công việc)

    Đơn

     

    vị

    tính

    Số

     

    lượng

    Đơn

     

    giá

    Thành

     

    tiền

    Ghi

     

    chú

    A B B 1 2 3 D
    01 Đá Loka M3 3.669   318.518.923  
      Cộng   3.669   318.518.923  

    Tổng số tiền (viết bằng chữ):Ba mươi chín ngàn, sáu trăm đồng chẵn./

    Ngày31tháng 12 năm 2009

    Người giao việc              Người nhận việc               Người kiểm tra                 Giám đốc

       (ký, họ tên)                      (ký, họ tên)                        (ký, họ tên)                   (ký, họ tên)

     

     

    Cuối tháng, căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành nhập kho thành phẩm, kế toán lập phiếu nhập kho , sử dụng TK 155.2: Thành phẩm chế biến

    3.4. SƠ ĐỒ LẬP VÀ LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ

    SƠ ĐỒ 3.3: SƠ ĐỒ LẬP VÀ LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ

    CHƯƠNG 4:

    NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ TỔ CHỨC

     HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH

    TẠI CÔNG TY TNHH TM TÂN VĨNH PHÁT

    4.1. NHẬN XÉT

    4.1.1. Về tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    4.1.1.1. Thuận lợi.

    – Phòng kế toán luôn hoàn thành tốt các công việc mà cấp trên giao. Lý do là công ty có một đội ngũ nhân viên trẻ, năng động và nhiệt tình. Đồng thời nhờ vào công tác kế toán của kế toán trưởng đã xây dựng được bộ máy kế toán hoạt động rất có hiệu quả.

    – Hình thức kế toán áp dụng tại công ty là hình thức kế toán nhật ký chung, đây là hình thức phổ biến, tiện lợi cho việc hạch toán của công ty.

    – Công ty sử dụng các chứng từ, sổ sách theo đúng quy định của kế toán hiện hành.

    – Các số liệu của công ty được giữ gìn theo đúng quy định của Bộ Tài Chính.

    – Khối lượng công việc mà bộ phận kế toán được giao phù hợp với quy mô hoạt động của công ty.

    – Phòng kế toán luôn được Giám đốc công ty thường xuyên chú ý, quan tâm, động viên, tạo điều kiện cho các nhân viên làm tốt công việc của mình.

    4.1.1.2. Khó khăn.

    – Hiện nay công ty vẫn chưa áp dụng phần mềm kế toán để phục vụ cho việc hạch toán.

    – Mọi công việc đều được ghi chép và theo dõi trên sổ sách kế toán của công ty. Nên đôi khi không thể tránh khỏi những sai sót trong việc kiểm tra và điều chỉnh.

    – Cơ sở vật chất của phòng kế toán còn chưa được trang bị đầy đủ.

    4.1.2. Về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của Công ty TNHH TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Đánh giá tổng quan về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát.

    Hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm là một công việc cần thiết và quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp. Nó giúp cho bộ máy quản lý và các thành viên trong doanh nghiệp nắm được tình hình thực hiện kế hoạch chi phí giá thành, cung cấp những tài liệu xác thực để chỉ đạo sản xuất kinh doanh, phân tích đánh giá tình hình sản xuất. Thông qua đó, khai thác và huy động mọi khả năng tiềm tàng nhằm mở rộng sản xuất, nâng cao năng xuất lao động và hạ giá thành sản phẩm. Với ý nghĩa như vậy, hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm nghiên cứu trong quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.

    Những năm gần đây, cùng với xu hướng thay đổi chung của nền kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã có những biến đổi theo hướng tích cực. ở Công ty , điều này thể hiện bằng quá trình tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lý, tổ chức lại các phòng ban, lực lượng lao động ở tất cả các bộ phận và sự nỗ lực của toàn bộ công nhân viên toàn công ty để khắc phục những khó khăn, vươn lên tự khẳng định mình. Trong quá trình ấy, hệ thống tài chính kế toán không ngừng được đổi mới, hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức và phương pháp hạch toán.

    Qua tìm hiểu thực tế công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm ở công ty, em thấy rằng, nhìn chung, việc quản lý CPSX và tính giá thành ở công ty tương đối chặt chẽ, và được thực hiện khá nề nếp theo định kỳ hàng tháng đã cung cấp thông tin kịp thời, nhanh chóng cho lãnh đạo công ty để từ đó lãnh đạo công ty nắm rõ tình hình biến động các khoản chi phí trong giá thành sản phẩm, có biện pháp quản lý thích hợp để giảm chi phí, tiết kiệm NVL, giảm giá thành và tăng lợi nhuận cho công ty. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng bộc lộ những khiếm khuyết đòi hỏi phải có giải pháp thiết thực hơn.

     

    4.2. KIẾN NGHỊ

    4.2.1. Ưu điểm

    • Bộ máy kế toán:

    Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức phù hợp với yêu cầu công việc. Đồng thời phù hợp với khả năng chuyên môn của từng người. Đội ngũ cán bộ kế toán đều có nghiệp vụ vững, có trình độ, được đào tạo cơ bản, lại rất năng động, nhạy bén, bắt kịp và thích ứng rất nhanh trong quá trình hạch toán kế toán. Phòng kế toán được tổ chức rất gọn nhẹ, hợp lý và hiệu quả, sự phối hợp rất khoa học và ăn ý giữa từng người phụ trách các phần hành kế toán.

    • Hình thức kế toán áp dụng:

    Đây là một công ty khai thác và chế biến đá xây dựng cho nên các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều và thường xuyên. Công ty áp  dụng hình thức kế toán Nhật ký chung để thực hiện việc phản ánh, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hợp lý, nó đảm bảo cho việc thực hiện, xử lý các nghiệp vụ cũng như lên các sổ sách báo cáo rất nhanh gọn, đơn giản. Công tác tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cũng đã được phản ánh vào Bảng biểu, sổ sách kế toán phù hợp với chế độ kế toán quy định cho hình thức kế toán này.

    • Phương pháp kế toán chi tiết:

    Kế toán chi tiết vật tư phù hợp với đặc điểm quản lý nguyên liệu, vật liệu của công ty, thực hiện một cách đơn giản, gọn nhẹ, lại quản lý rất hiệu quả, chính xác từng khâu Nhập-Xuất-Tồn từng loại vật tư, công tác kiểm tra đối chiếu cũng dễ dàng, nhanh chóng.

    • Phương pháp kế toán tổng hợp:

    Kế toán công ty lựa chọn phương pháp Kê khai thường xuyên để tiến hành tập hợp CPSX là rất thích hợp. Bởi lẽ, trong bối cảnh kinh tế hiện nay, việc thu thập và cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cập nhật, thường xuyên có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó phục vụ một cách kịp thời cho công tác phân tích tình hình CPSX giúp cho lãnh đạo công ty có được những thông tin đầy đủ, toàn diện, kịp thời để từ đó đề ra các biện pháp cũng như chiến lược về sản xuất kinh doanh một cách nhạy bén.

    • Phân loại CPSX:

    Với ngành nghề sản xuất kinh doanh là chế biến đá, nên ở công ty có rất nhiều loại chi phí sản xuất kinh doanh. Để tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán chi phí, công ty đã phân loại CPSX theo 2 tiêu thức đó là: Theo nội dung, tính chất của chi phí và Theo công dụng, mục đích của chi phí. Việc phân loại CPSX như vậy là phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, giúp cho công tác kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm được thuận tiện, chính xác và khoa học.

    • Chi phí nhân công trực tiếp:

    Công ty áp dụng hình thức trả lương dựa trên cơ sở đơn giá lương và đảm bảo quyền lợi cho người lao động, đồng thời cũng gắn chặt trách nhiệm của người lao động với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp. Điều này góp phần khuyến khích cho tinh thần lao động, ý thức nghiêm túc, tiết kiệm trong lao động sản xuất sản phẩm của công nhân.

    4.2.2. Tồn tại

    Bên cạnh những thuận lợi đó, Công ty cũng gặp phải những khó khăn, một trong những khó khăn đ­ược coi là điển hình nhất là nguyên vật liệu đầu vào. Nguyên liệu chính của quá trình khai thác là thuốc nổ, kíp … Sự biến động về giá cả trên thị trường và chỉ tiêu khai thác đá đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty. Điều này làm cho chi phí đầu vào của công ty tăng lên, dẫn đến giá thành sản xuất sản phẩm cũng tăng lên, bắt buộc công ty phải tăng giá bán sản phẩm. Trong tình trạng khó khăn chung này, công đang rất nỗ lực tìm ra các giải pháp tốt nhất để v­vượt qua, có các chính sách ­ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi cho các khách hàng để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm.

    – Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là bộ phận khai thác và chế biến đá có thể sẽ không cung cấp thông tin kịp thời, chính xác. Sự phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi thông tin kế toán phải cụ thể, chi tiết hơn nên phải đảm bảo rằng chi phí sẽ đ­ược đầy đủ nhanh chóng và chính xác. Chính vì vậy cần phải căn cứ vào cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý để xác định chính xác đối t­tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Trong công tác kế toán đôi khi kế toán có thể tính gộp như­ng phải trong phạm vi cho phép và phải đảm bảo đúng thực chất. Tại Công ty việc hạch toán chung công cụ dụng cụ nhỏ vào với vật liệu khác trên TK 152 là ch­ưa hợp lý.

    – Trong hệ thống sổ sách kế toán của hình thức nhật ký chung mặc dù Công ty đã sử dụng các sổ tổng hợp và sổ chi tiết theo đúng chế độ hiện hành tuy nhiên Công ty không mở sổ chi tiết thành phẩm là một thiếu xót.

    – Công ty còn áp dụng kế toán thủ công, máy vi tính của phòng kế toán chỉ sử dụng cho việc soạn thảo văn bản và tính toán đơn giản.

    KẾT LUẬN

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát một công ty có nhiều khả năng phát triển trong tương lai. Trong quá trình tìm hiểu thực tế tại công ty em đã nhận thấy rằng học tập chỉ dựa trên công thức đã học ở trường vẫn chưa đủ, mà còn phải bước vào thực tế, phải nắm vững những vấn đề đang diễn ra. Đây là thời gian em thử nghiệm những kiến thức của mình đã được học vào công tác thực tế, nó giúp em hiểu sâu những kiến thức mình đã có.

     

    Trong thời gian thực tập ở Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát, nhờ sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Phước Bảo Ấn, ban lãnh đạo Công ty, các phòng ban có liên quan đặc biệt là cán bộ, nhân viên phòng kế toán công ty cùng với sự cố gắng của bản thân tiếp cận với những công việc thực tiễn. Vì vậy em đã đi sâu nghiên cứu và hoàn thành bài chuyên đề, đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thμnh sản phẩm tại công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát”.

     

    Đồng thời, em đã nhận thức về hệ thống hoá thực tế công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty theo một trình tự khoa học, hợp lý. Quá đó, em mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhận xét và đề xuất nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty, góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nói chung và bộ máy kế toán nói riêng.

     

    Do trình độ còn hạn chế, kiến thức thực tế còn ít ỏi, thời gian thực tập tìm hiểu chưa nhiều nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý cuat toàn thể cán bộ công nhân viên, toàn thể công ty, cùng thầy cô giáo và đặc biệt là của phòng kế toán công ty để làm cho bản chuyên đề của em được phong phú về lý luận và sát thực tiễn công ty.

             Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tập thể công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát phòng kế toán công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập, đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Th.s Nguyễn Phước Bảo Ấn đã giúp em hoàn thành bài viết của mình.

          Em xin chân thành cảm ơn!

                                                                                                 Gia lai, ngày 26 tháng 02 năm 2010

                                                                                                               Sinh viên thực hiện

                                                                                                                

     

     

                                                                                                               Đặng Văn Hùng

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Tập thể tác giả bộ môn kế toán quản trị – phân tích hoạt động kinh doanh (2006), Kế toán chi phí, NXB thống kê.
    2. Tập thể tác giả khoa kế toán – kiểm toán(2000), Kế toán tài chính, NXB tài chính.
    3. Võ Văn Nhị (2001), Kế toán tài chính, NXB thống kê
    4. Và một số tài liệu khác.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phân tích tài chính trong ngân hàng thương mại

    Phân tích tài chính trong ngân hàng thương mại

    Phân tích tài chính trong ngân hàng thương mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-trong-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân tích tài chính trong ngân hàng thương mại

    Phân tích tài chính trong ngân hàng thương mại

    TCKT cập nhật: 22/08/2008
    Ngân hàng thương mại (NHTM) là DN kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù riêng trong hoạt động kinh tế – tài chính. Cũng giống như các DN phi tài chính, các NHTM luôn phải đối đầu với những thách thức của thị trường cạnh tranh và đầy biến động. Hơn nữa, kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh đặc biệt, có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Vì vậy, phân tích tài chính đối với NHTM ngoài những nét chung nhất của phân tích tài chính DN thông thường còn có những điểm rất khác biệt cần quan tâm nghiên cứu.

    Ngân hàng thương mại (NHTM) là DN kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù riêng trong hoạt động kinh tế – tài chính. Cũng giống như các DN phi tài chính, các NHTM luôn phải đối đầu với những thách thức của thị trường cạnh tranh và đầy biến động. Hơn nữa, kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh đặc biệt, có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Vì vậy, phân tích tài chính đối với NHTM ngoài những nét chung nhất của phân tích tài chính DN thông thường còn có những điểm rất khác biệt cần quan tâm nghiên cứu.

    Đăc điểm của NHTM ảnh hưởng đến phân tích tài chính.

    NHTM có đặc điểm giống như các DN khác trong nền kinh tế, cũng sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động (tiền vốn) làm yếu tố đầu vào, để sản xuất ra những yếu tố đầu ra dưới hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu. Tuy nhiên, khác với các DN khác, NHTM là loại hình DN đặc biệt, trong hoạt động kinh doanh thể hiện qua các đặc điểm sau:

    – Vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh nhưng đồng thời cũng là đối tựơng kinh doanh của NHTM. Và chính đặc điểm này sẽ bao trùm hơn và rộng hơn so với các loại hình DN khác.

    – NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn tự có của NHTM chiếm một tỷ lệ rất thấo trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với một mức độ mạo hiểm nhất định. Bởi vì trong hoạt động kinh doanh hằng ngày của mình, NHTM không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi khi loại hình DN khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng. Từ đó cho thấy, việc phân tích khả năng thanh khoản của NHTM có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

    – Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Do đó, tình hình tài chính của NHTM có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các DN, tâm lý của người dân, cũng như của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực trạng tài chính của các NHTM không chỉ là nhu cầu cấp thiết phục vụ cho hoạt động quản lý của chính nhà quản trị ngân hàng mà còn là đòi hỏi mang tính bắt buộc của ngân hàng trung ương…

    – Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình DN nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệt hống kinh tế. Do đó, trong quá trình hoạt động các NHTM phải thường xuyên cảnh giác, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng ngừa từ xa có hiệu quả. Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi ngân hàng tự đánh giá được khả năng chịu đựng rủi ro của mình.

    – Hoạt động kinh doanh của NHTM có những đặc thù riêng mả các DN trong các ngành khác không có. Đồng thời, hoạt động kinh doanh của NHTM diễn tiến liên tục trong mỗi loại hình nghiệp vụ và các sản phẩm của NHTM có mối liên hệ với nhau rất chặt chẽ. Điều này sẽ gây khó khăn trong việc tách riêng từng mặt hoạt động của ngân hàng để phân tích kết quả tài chính.

    Nội dung phân tích tài chính NHTM

    NHTM cũng là một DN, cho nên nội dung phân tích tài chính cũng dựa trên những nội dung phân tích tài chính của DN nói chung. Xuất phát từ mục tiêu phân tích tài chính cũng như đặc điểm và nội dung các quan hệ tài chính trong ngân hàng, nội dung phân tích tài chính ngân hàng bao gồm các nhóm sau:

    Một là: phân tích cấu trúc tài chính ngân hàng

    Cấu trúc tài chính của ngân hàng phản ảnh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản (tài sản có hay tiêu sản) và nguồn vốn (tài sản nợ hay tích sản) của ngân hàng. Một cấu trúc nào đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả và rủi ro của ngân hàng. Phân tích cấu trúc tài chính của ngân hàng chính là phân tích khái quát cơ cấu tài sản có, tài sản nợ của ngân hàng; tình hình huy động vốn, cho vay vốn; tình hình cân đối giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay. Phân tích cấu trúc tài chính nhằm đánh giá những đặc trưng trong cơ cấu tài sản có của ngân hàng, tính hợp lí khi đầu tư vốn cho hoạt động kinh doanh; cấu trúc nguồn vốn của ngân hàng không những thể hiện chính sách tài trợ của ngân hàng như các DN phi tài chính khác mà còn thể hiện những lợi thế khác nhau trong kinh doanh vốn như lãi suất, tính ổn định, khả năng chủ động. Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi chênh lệch lãi suất đang ngày càng thu hẹp các ngân hàng còn phân tích mối tương quan giữa tài sản và nguồn vốn để thấy sự phù hợp, hiệu quả của việc sử dụng vốn, trên cơ sở đó cơ cấu, xây dựng danh mục tài sản vừa cho hiệu quả cao, vừa đảm bảo khả năng thanh khoản, hạn chế rủi ro.

    Hai là: Phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng.

    Các NHTM hoạt động đều nhằm mục tiêu lợi nhuận; dưới áp lực phải hạ thấp chi phí trong điều kiện cạnh tranh với những định chế tài chính khác. Hiệu quả được xem xét trên quan điểm biến đổi đầu vào thành đầu ra.

    Phân tích hiệu quả là một giai đoạn quan trọng của công tác quản trị ngân hàng, là cơ sở đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh, xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh và kiến nghị những giải pháp xử lý; là cơ sở cho những quyết định kịp thời và đúng đắn. Các chỉ tiêu trong nhóm này giúp cho ngân hàng đánh giá được hiệu quả của quá trình kinh doanh bằng cách so sánh kết quả kinh doanh đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.

    Khác với cá DN phi tài chính, đa số tài sản của ngân hàng tồn tại dưới hình thức quyền về tài chính (các khoản cho vay và chứng khoán) không phải là tài sản cố định (TSCĐ). Tuy nhiên, các TSCĐ tạo ra chi phí hoạt động cố định dứơi dạng khấu hao, thuê tài sản là những yếu tố làm hình thành đòn bẩy hoạt động. Đòn bẩy hoạt động này cho phép ngân hàng đẩy mạnh thu nhập từ hoạt động nếu có thể gia tăng khối lượng dịch vụ lên tới một mức đủ lớn, tạo được nhiều thu nhập hơn từ việc sử dụng các TSCĐ so với chi phí cho các tài sản đó. Tuy nhiên, do TSCĐ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản, các ngân hàng không thể dựa nhiều vào đòn bẩy hoạt động để tăng thu nhập; vì thế họ phải sử dụng đòn bẩy tài chính – việc sử dụng vốn vay để đẩy mạnh hoạt động, tạo thu nhập và duy trì cạnh tranh với những ngành khác trong quá trình huy động vốn và cho vay. Vì vậy, khi phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng cần chú ý đến đặc điểm này để đánh giá hiệu quả của từng hoạt động cũng như toàn bộ hoạt động trong ngân hàng.

    Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại gồm: hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Do vậy, các nhà quản trị ngân hàng cần phải đo lường hiệu quả cho từng hoạt động. Hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng chú trọng đến các chỉ tiêu hiệu quả từng hoạt động sau: tổng dư nợ trên vốn huy động, hiệu quả sử dụng vốn huy động, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ suất lợi nhuận hoạt động tín dụng, lãi suất bình quân đầu vào, lãi suất bình quân đầu ra.

    Ngoài việc đo lường hiệu quả cho từng hoạt động, các nhà quản trị cần tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho tất cả các hoạt động. Hiện nay, các ngân hàng thương mại dùng các chỉ tiêu sau: Tổng thu nhập trên tổng tài sản, Tổng chi phí trên tổng thu nhập, Tỷ lệ lợi nhuận, Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và dùng các mô hình để phân tích khả năng sinh lời.

    Ba là: Phân tích rủi ro của ngân hàng.

    Phân tích hiệu quả chỉ mới là một mặt để xem xét tình hình tài chính của ngân hàng. Hiệu quả ngân hàng chỉ được xem xét tương ứng với một mức rủi ro mà ngân hàng có thể chịu đựng được và ngược lại.

    Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, và những rủi ro đối với hoạt động ngân hàng cũng vì thế mà mang tính đặc thù. Bản chất của hoạt động kinh doanh luôn mang tính mạo hiểm nên bất kỳ nhà phân tích nào cũng quan tâm đến rủi ro. Qua phân tích nhằm phát hiện những nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng, trong thanh khoản. Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, rủi ro chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau: khả năng chi trả cho khách hàng, khả năng thu hồi nợ trong cho vay và đầu tư chứng khoán, sự thay đổi của lãi suất và tỷ giá hối đoái, sự biến động của thu nhập. Do vậy, trong phân tích tài chính chú trọng đến các loại rủi ro chủ yếu: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất và rủi ro thu nhập.

    Tóm lại, từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc điểm hoạt động tài chính của ngân hàng, dẫn đến các ngân hàng thương mại cổ phần có đặc điểm phân tích tài chính riêng, khác biệt với các DN phi tài chính khác. Do đó, cần nghiên cứu đặc điểm phân tích tài chính của ngân hàng thương mại để phân tích và đánh giá tình hình tài chính của các DN này.

    Nguyễn Thị Hương-ĐH Đà Nẵng (Tạp chí Kế toán)
    Tapchiketoan.com


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại

    Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại

    Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:PHÂN BIỆT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-v%C3%A0-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại

    Ngân hàng thương mại và vai trò

    của ngân hàng thương mại

    Định nghĩa ngân hàng thương mại

    Đầu tiên ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng trung gian. Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại. Ví dụ: Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vị tài chính. Ở Pháp: ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư. Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác…

    • Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động

    chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.

    Vai trò của ngân hàng thương mại (NHTM)

     

    1.     Vai trò tập trung vốn của nền kinh tế

     

    Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử

    dụng một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay.

    Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có được nó sẽ duy trì họat động của mình.

    Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty…

    2.Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán

    Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan. Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví

    dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…).

    Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độc

    quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán..) đã tiết

    kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn,

    thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán

    được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống

    ngân hàng thương mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các

    doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân

    hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay.

    Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiền

    bằng đện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụng sec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng. Họ thanh toán bằng cách nối mạng các máy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng.

    3.Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp

    Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng. Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt.

    Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh tóan trong hệ thống ngân, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương mỗi nước. Vậy tiền “bút tệ” được NHTM tạo ra bằng cách nào? Bây giờ chúng ta giả sử rằng tất cả các NHTM đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức quy

    định, các sec không chuyển thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp khác bị bỏ qua thì quá trình tạo thành tiền như sau:

    Thanh toán

    Tên các ngân hàng                                                    Tiền gửi mới Dự trữ bắt buộc cho vay mới

    Ngân hàng A 1.000.000 900.000   100.000
             
    Ngân hàng B 900.000 810.000   90.000
             
    Ngân hàng C 810.000 729.000   81.000
             
       
             
    Tiền toàn hệ thống ngân hàng 10.000.000 9.000.000   1.000.000
             

    Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc là 10% thì số tiền nó có thể cho vay là 900.000. Khoản tiền cho vay đó được đưa đến người vay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế họ phải chịu lãi một cách vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khỏan. Và số tiền đó đến tay người được chi trả, người chi trả đem số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng B lúc này sẽ có một lượng tiền gửi mới là 900.000. Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền có thể cho vay là 810.000. Số tiền này được cho người cần vay vay,

    người cho vay chi trả các khỏan đến người được chi trả, người được chi trả đem số tiền được trả gửi vào ngân hàng C. Lúc này ngân hàng C sẽ có số tiền gửi mới là 810.000. Và cứ như thế tiếp tục… cho đến khi lượng tiền gửi mới bằng 0. Người ta tính được rằng lượng tiền gửi mới trong tòan hệ thống ngân hàng là 10.000.000, lượng tiền dự trữ bắt buộc là 1.000.000 và tiền cho vay là 9.000.000. Và do cách thức này mà tiền đã được tạo ra trong hệ thống ngân hàng 2 cấp.

    ——————————

    Tài liệu tham khảo

    1. LÊ VINH DANH, Chính sách tiền tệ và sự điều tiết vĩ mô của ngân hàng trung ương, NXB Chính Trị Quốc Gia, (1996) [32- 66]
    1. NGUYỄN NINH KIỀU, Tiền tệ – ngân hàng, NXB Thống Kê, (1998) [75-85]
    1. TRẦN VĂN HÙNG, NGUYỄN TRÍ HÙNG, TRƯƠNG QUANG HÙNG,

    NGUYỄN THANH TRIỀU, CHÂU VĂN THÀNH, Giáo trình Kinh Tế Vĩ Mô, NXB GIÁO DỤC, (1999) [156-162] & [166-177]

    1. TS. DƯƠNG THỊ BÌNH MINH, TS. SỬ ĐÌNH THÀNH, Lý thuyết tài chính tiền tệ, NXB Thống Kê, (2001) [235-274]
    1. TS. LÊ VĂN TƯ, Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính, NXB TK, 2001.
    1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HCM, KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ, Kinh tế

    chính trị Mác – Lê Nin, phần II, (2006)

    1. GS.TS LÊ VĂN TƯ, Ngân hàng thương mại , Nxb Tài Chính, [2004]
    1. www.sbv.gov.vn

    ( Trang web của Ngân hàng nhà nước Việt Nam )

    1. www.mof.gov.vn

    ( Trang web của Bộ Tài chính )


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây 


  • PHÂN BIỆT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI

    PHÂN BIỆT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI

    PHÂN BIỆT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/PH%C3%82N-BI%E1%BB%86T-T%C3%8DN-D%E1%BB%A4NG-NG%C3%82N-H%C3%80NG-V%C3%80-T%C3%8DN-D%E1%BB%A4NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN BIỆT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI

    PHÂN BIỆT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DUNG THƯƠNG MẠI

     

    Tín dụng thương mại(tín dụng của người cung ứng):
    -Là quan hệ tín dụng được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Là hình thức tín dụng, vì người bán chuyển giao cho người mua để sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định. Đến thời hạn được thỏa thuận, người mua hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi suất.
    -Chủ thể cấp vốn: doanh nghiệp bán hàng.
    -Hình thức cấp vốn: hàng hóa dịch vụ
    -Cơ sở pháp lý: giấy ghi nợ, thương phiếu.
    -Thời gian: ngắn hạn.
    -Doanh nghiệp có thể phát hành 1 trong 2 loại thương phiếu cơ bản là: hồi phiếu và lệnh phiếu.
    -Cơ sở pháp lý : các giấy ghi nợ, nhận nợ.
    => Đây được xem là phương thức tài trợ rẻ tiền, tiện dụng và rất linh hoạt trong kinh doanh. Đồng thời nó còn tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ đối tác lâu bền giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

    Tín dụng ngân hàng:
    Là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân.
    -Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp, các cá nhân hoặc phát hàng chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội. Với tư cách là người cho vay, nó cung cấp tín dụng cho tất các nàh doanh nghiệp và cá nhân.
    -Cung cấp dưới hình thức: tiền mặt và bút tệ.

                PHÂN BIỆT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VA TIN DỤNG THƯƠNG MẠI

    Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì:

    “Hình thức tín dụng có nhiều:

    1. a) tín dụng ngân hàng (do cơ quan ngân hàng cấp cho người đi vay) là loại tín dụng thương mại trong đó ngân hàng là người trung gian giữa người vay, gửi tài khoản, vốn của nó gồm có vốn tự có, các hạng mục tài khoản, tín phiếu do ngân hàng phát hành);
    2. b) tín dụng thương nghiệp (bên bán trực tiếp dùng hàng hoá cung cấp cho bên mua trong quá trình giao dịch thương mại, mà hình thái điển hình là tín dụng trực tiếp lấy hàng hoá để cung cấp và mua bán chịu);
    3. c) tín dụng nhà nước (chính phủ là người vay nợ khi nguồn tài chính nhà nước không đủ chi, là con nợ có nghĩa vụ trả nợ). Hình thức tín dụng nhà nước phổ biến có các loại: phát hành công trái, phát hành tín phiếu nhà nước (bộ tài chính hay ngân hàng vay tiền hay dùng hình thức công trái để bù đắp thâm hụt tài chính);
    4. d) tín dụng séc (công cụ tín dụng dùng để chuyển nhượng tiền tệ, hàng hoá phản ánh quyền đòi nợ và nghĩa vụ trả nợ);
    5. e) tín dụng quốc tế (quan hệ vay mượn giữa các nước, giữa các quốc gia với các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế).”

      Theo Saga.vn thì:

      “Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền. Có ba loại tín dụng thương mại

      Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu (gọi là tín dụng xuất khẩu) là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Tím dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thức chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản

      * Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu tức là thương nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để nhận bộ chứng từ hàng hóa thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếp cho họ. Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên bán và mua. Tuy nhiên để phòng tránh rủi ro luật các nước thường can thiệp bằng cách định ra thời hạn cho loại tín dụng này. Ví dụ, luật nước Anh, Pháp quy định thời hạn từ 30 đến 90 ngày, luật Mỹ là 180 ngày, luật Nhật Bản quy định từ 180 đến 360 ngày.
      * Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản tức là thương nhân xuất khẩu và thương nhân nhập khẩu ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó qui định quyền của bên bán được mở một tài khoản để ghi nợ bên mua sau mỗi chuyến giao hàng mà bên bán đã thực hiện. Sau từng thời gian nhất định, người mua sẽ phải thanh toán số nợ đó bằng chuyển tiền, chuyển Séc hoặc bằng Kỳ phiếu trả tiền ngay.

      2.Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu (gọi là tín dụng nhập khẩu) là loại tín dụng do người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu để nhập hàng thuận lợi. Hình thức tồn tại của loại tín dụng nay là tiền ứng trước để nhập hàng. Việc ứng tiền trước có tính chất khác nhau tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nếu người xuất khẩu thiếu vốn do phải thực hiện các hợp đồng xuất khẩu có kim ngạch lớn thì tiền ứng trước mang tính chất tín dụng; còn ngược lại, nếu người xuất khẩu không tin vào khả năng thực hiện hợp đồng của người nhập khẩu mà bắt phải đặt cọc cho việc giao hàng, tiền ứng trước mang tính chất là vật đảm bảo thực hiện hợp đồng. Khoản tiền ứng trước được hoàn trả bằng cách khấu trừ dần vào số tiền hàng theo tỷ lệ cố định hoặc theo tỷ lệ tăng dần hoặc chỉ một lần vào chuyến hàng giao cuối cùng.

      3.Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: các ngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới, loại hình này sử dụng rộng rãi ở các nước Anh, Đức, Bỉ và Hà Lan. Người môi giới là các công ty lớn, có vốn vay được từ các ngân hàng, hình thức cấp tín dụng rất đa dạng. Ví dụ cấp cho nhà xuất khẩu gồm cho vay không phải cầm cố hàng hóa, cho vay cầm cố chứng từ hàng hóa, cho vay chiết khấu hối phiếu…Mọi tín dụng của người môi giới đều là tín dụng ngắn hạn.”

      Tín dụng thương mại và Tín dụng ngân hàng giống nhau ở chỗ đều là quá trình sử dụng vốn lẫn nhau.

      Nhưng 2 loại tín dụng này rất khác nhau về đặc điểm.

      Tín dụng thương mại là hoạt động sử dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có quan hệ giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ. Ví dụ như cho nợ tiền mua hàng, ứng trước tiền hàng,…

      Tín dụng thương mại có những đặc điểm sau:
      – Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi hàng hóa dịch vụ, thông thường không có khâu trung gian đứng giữa người sử dụng vốn và người có vốn.

      – Tín dụng thương mại phát triển và vận động theo chu kỳ sản xuất kinh doanh và góp phần làm phát triển sxkd do nó rút ngắn chu kỳ sxkd, giảm chi phí sxkd. => quy mô bị hạn chế và thông thường là tín dụng ngắn hạn.

      – Tín dụng thương mại thông thường không mất chi phí sử dụng vốn (cost of capital) do hoạt động cấp tín dụng không có lãi trong một khoảng thời gian nhất định, một số trường hợp bên nợ còn được hưởng lãi chiết khấu trả sớm.

      Hình thức thể hiện thông thường của tín dụng thương mại là hợp đồng trả chậm, thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu). Trong đó, hối phiếu là giấy đòi tiền vô điều kiện do người bán phát hành, lệnh phiếu là giấy cam kết trả tiền vô điều kiện do người mua phát hành.

      Tín dụng ngân hàng có những đặc điểm ngượic lại:

      – Chủ thể tham gia bao gồm một trung gian giữa người có vốn và người cần vốn đó là ngân hàng với đối tượng là tiền tệ (thay vì hàng hóa, dịch vụ).

      – Quy mô lớn, thường độc lập với chu kỳ sản xuất kinh doanh. Sự độc lập ở đây mang tính tương đối.

      – Tín dụng ngân hàng tất nhiên là mất chi phí sử dụng vốn gọi là lãy vay.

      Hình thức thể hiện thì rất đa dạng và phong phú như hợp đồng tín dụng từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, thỏa thuận tín dụng tuần hoàn, cho vay đầu tư (dài hạn), …


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-khoa-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-trong-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-l%E1%BB%B1c-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Lời mở đầu

    Tính cấp thiết của đề tài:

    Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, khoa học và kỹ thuật đã trở thành yếu tố cốt tử của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu. Điều này được phản ánh rõ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật và kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ sự phát triển cụ thể của từng nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật mang tính đa dạng và đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia. Và điều nỗi bật rút ra ở các chiến lược, chính sách đó ở tất cả các nước trên thế giới từ những nước có nền kinh tế hiện đại đứng hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật, Pháp,…cho đến những nước có nền kinh tế chậm phát triển và lạc hậu như Việt Nam , Lào , Campuchia, một số nước Trung Đông

    …đó chính là quan điểm:”Sự phát triển khoa học và kỹ thuật là một phương hướng quan trọng mới , có tính quyết định trong việc phát triển kinh tế quốc gia…”Bởi vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng các chính sách và chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật của các nước trên thế giới và trong khu vực để áp dụng và phát huy một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của đất nước mình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước trên con đường công nghiệp hoá- hiên đại hoá nói chung và đối với Việt Nam nói riêng hiện nay.

    Trong thời đại ngày nay, khi nền văn minh nông nghiệp dần dần nhường chỗ cho nền văn minh công nghiệp thì tương ứng với nó thuật ngữ ”công nghiệp hoá – hiện đại hoá” cũng ít được sử dụng mà thay thế vào đó là các thuật ngữ khoa học mang tính chất hiện đại ,phù hợp với xu thế của một thời đại mới “thời đại tri thức” như “tăng trưởng”, “phát triển”,” cất cánh theo lối hoá rồng”…Mặc dù vậy,chúng ta không thể phủ nhận công nghiệp hoá- hiện đại hoá luôn luôn là vấn đề hàng đầu trong các lí luận về sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới .Thật vậy ,lịch sử phát triển của nhân loại trong vài trăm năm trước đó đã cho thấy con đường mà các nước chậm tiến cần phải đi theo,không thể là cái gì khác ngoài việc biến đổi nền kinh tế theo cơ cấu hợp lý ,phát triển năng động

    1

    dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật hiện đại .Để đạt được mục đích đó,điều tất yếu là phải đưa đất nước đi lên con đường công nghiệp hoá- hiên đại hoá bởi đó là phương thức duy nhất để phát triển kinh tế thế giới, và bất kì một quốc gia nào bỏ qua quá trình này đều sẽ trở nên quá chậm , quá lạc hậu so với bước đi của thế giới.Có thể coi đó là quy luật Việt Nam không thể đứng ngoài.

    Chúng ta đều biết ,công nghiệp hoá được coi là sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVII, còn hiện đại hoá là sản phẩm tất yếu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật giữa thế kỷ XX. Ngày nay, trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá được xem là nấc thang đánh dấu trình độ phát triển mới của nền văn minh nhân loại. Chúng ta không thể phủ nhận những thành tựu về khoa học cũng như nhiều lĩnh vực khác trong đời sống kinh tế xã hội .Chẳng hạn, việc sử dụng năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời đã làm giảm sự phụ thuộc của con người vào nguồn năng lượng khoáng sản, việc chế tạo ra các tên lửa với công suất cực lớn dùng nhiên liệu hoá học, hỗn hợp ở dạng lỏng hoặc rắn. Với hệ thống động lực mới này, con người đã tạo ra được tốc độ vũ trụ cấp một (7,9km/s),phóngvệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất (năm 1957), tốc độ vũ trụ cấp hai (11,2 km/s) phóng các tàu vũ trụ thám hiểm các hành tinh thuộc hệ mặt trời như mặt trăng, Sao hoả, Sao kim…(năm 1959) và đặc biệt là đưa con người đặt chân lên mặt trăng (năm 1981) mở ra kỷ nguyên chiến lược chinh phục vũ trụ. Sự ra đời của các vật liệu tổng hợp không những giúp con người giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên không tái sinh được mà cung cấp cho con người nguồn vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn và tái sinh được…Do đó vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia trên con đường thực hiện công nghiệp hoá- hiên đại hoá là ở chỗ cần nắm bắt xu thế phát triển tất yếu, khách quan của thời đại, khai thác tối đa những thời cơ, thuận lợi và hạn chế đến mức thấp nhất mọi nguy cơ, bất lợi để thực hiện thành công nghiệp sự nghiệp đó.

    Đối vớiViệt Nam hiện nay, công nghiệp hoá- hiên đại hoá không chỉ là quá trình mang tính tất yếu mà đó còn là một đòi hỏi bức thiết. Đứng trước thực trạng đất nước từ một nền kimh tế tiểu nông đang phấn đấu vươn lên đạt đến mục tiêu:” Dân giàu ,nước mạnh,xã hội công bằng dân chủ văn minh” lại vốn là một nước nghèo bị chiến tranh tàn phá nhiều năm, tình trạnh khủng khoảng kinh tế xã hội vẫn chưa chấm dứt, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định,

    bội chi ngân sách lớn, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng tăng (riêng ở thành thị chiếm tới 7%), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tính theo đầu người thấp nhất thế giới: 220$ (tháng9/1993) thấp hơn cả Lào, Băngladesh, chỉ bằng 1/9 Thái Lan, bằng 1/4 của Malaixia, bằng 1/45 của Đài Loan…Gắn liền với nền kinh tế đó lại là lối làm ăn tản mạn, tuỳ tiện của sản xuất nhỏ; những thói quen cũ của thời kì bao cấp trong sản xuất, kinh doanh vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay, ảnh hưởng không nhỏ tới sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước trong quá trình toà cầu hoá. Vì vậy công nghiệp hoá- hiên đại hoá còn là quy luật tất yếu của quá trình phát triển kinh tế-xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp nhân dân và cả dân tộc.

    Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng và nhà nước, ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học – kỹ thuật và khẳng định: “Cùng với giáo dục, đào tạo khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế -xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá- hiên đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học, kỹ thuật” Như vậy, vai trò động lực, là lực lượng sản xuất hàng đầu của khoa học và kỹ thuật đã được Đảng ta nhất quán khẳng định và là điều tất yếu không thể thay đổi được. Song vấn đề đặt ra là làm sao để khoa học và kỹ thuật đảm nhận được vai trò đó? Hay nói cách khác, trong điều kiện đất nước ta hiện nay để phát triển khoa học và kỹ thuật phù hợp với vài trò “Là lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệp hoá- hiên đại hoá ” thì chúng ta phải làm gì? Đó là một vấn đề rất bức bách hiện nay trước thực trang khoa học – kỹ thuật của đất nước còn phát triển chậm và chưa đi vào cuộc sống mặc dù tiềm năng là không nhỏ.

    Nghiên cứu về vấn đề khoa học và kỹ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá không chỉ là công trình khoa học của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, mà còn là của toàn thể xã hội. Và cho tới nay, chúng ta cũng đã thu được nhiều kết quả không nhỏ trong việc nghiên cứu, góp phần giúp cho đất nước hoàn thành mục tiêu là một nước công nghiệp vào những năm 2020. Là một sinh viên, em cũng muốn góp một phần nhỏ công sức của mình vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học của đất nước. Nghiên cứu về đề tài “Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất” là một vấn đề lớn cần có thời gian và sự hiểu biết cũng như sự đầu tư nhiều. Mặc dù rất cố gắng nhưng em

    không thể tránh khỏi những thiếu sót trong việc thu thập thông tin . Song với sự giúp đỡ tận tình của thầy em đã hoàn thành bài viết này.

    Em xin chân thành cảm ơn thầy !

    CHƯƠNG I

    NGUỒN GỐC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

    1. Lực lượng sản xuất trong lý luận hình thái kinh tế – xã hội của

    Mác:

    Xuất phát từ quan niệm cho rằng lịch sữ xã hội loài người là quá trình con người thường xuyên sản xuất và tái sản xuất, Mác đã xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế -xã hội . Hoạt động sản xuất bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người là đặc trưng vốn có của xã hội loài người mà trong đó sản xuất vật chất đóng vai trò cực kì quan trọng. Nó là động lực, là nền tảng của các hoạt động sản xuất còn lại của xã hội. Trong quá trình sản xuất vật chất, con người sử dụng các công cụ lao động thích hợp và tác động cải tạo giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu của mình. Trong sản xuất, con người không chỉ quan hệ với giới tự nhiên mà giữa những con người cần phải có mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau, tức là việc sản xuất chỉ diễn ra trong khuôn khổ của những mỗi liên hệ và quan hệ xã hội. Có như vậy con người mới có thể biến đổi được giới tự nhiên, biến đổi đời sống xã hội đồng thời biến đổi chính bản thân con người.Trong biện chứng tự nhiên, Ănghen đã viết “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó ta phải nói :lao động đã sáng tạo ra bản thân con người “. Như vậy theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, trong lịch sử sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành nên mối quan hệ phổ biến đó là: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành phương thức sản xuất. Trong đó lực lượng sản xuất “biểu hiện cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong qúa trình sản xuất ra của cải vật chất”. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kĩ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động . Sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất. Và quan hệ sản xuất là “quan hệ giữa người với người trong qúa trình sản xuất”. Mỗi phương thức sản xuất đặc trưng cho một hình thái kinh tế -xã hội nhất định, nó là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng, đóng vai trò quyết

    định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Và lịch sử xã hội loài người chẳng qua là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất. Phương thức sản xuất cũ, lạc hậu được thay thế bằng phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố động đóng vai trò quyết định. Lực lượng sản xuất là thước đo năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển xã hội loài người, làm thay đổi mối quan hệ giữa người với người và từ đó dẫn tới sự thay đổi các mối quan hệ xã hội. Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, Mác viết: ” Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thayđổi tất cả những mối quan hệ xã hội của mình”. Khi lực lượng sản xuất trước hết là tư liệu sản xuất thay đổi và phát triển thì quan hệ sản xuất tất yếu cũng thay đổi và phát triển theo, khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội. Như vậy, lực lượng sản xuất không chỉ là yếu tố khách quan, năng động nhất của phương thức sản xuất mà còn là yếu tố cấu thành nền tảng vật chất của toàn thể nhân loại.

    Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Khi mà con người đã trải qua ba cuộc đại cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, lần thứ hai và lần thứ ba thì khoa học trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành “lực lượng sản xuất hàng đầu”, là yếu tố không thể thiếu được để làm cho lực lượng sản xuất có động lực để tạo nên những bước phát triển nhảy vọt tạo thành cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại. Có thể nói rằng :”khoa học và kỹ thuật hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại. CacMác đã từng dự báo: ” Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào số lượng lao động đã chi phí hơn vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến lượt chúng ( hiệu quả to lớn của chúng ) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng mà đúng ra chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa

    học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất …” và trong thời đại ngày nay đã khẳng định: phát triển xã hội hội không thể dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học- kỹ thuật hiện đại.

    Theo quan niệm của Mác, mỗi hình thái kinh tế-xã hội được hình thành từ nhiều yếu tố, nhiều mối quan hệ như: mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng…Các yếu tố, các mối quan hệ này luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau tạo thành động lực nội tại của sự phát triển xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Xuất phát từ quan niệm đó, CacMác đã cho rằng ngay trong cùng một hình thái kinh tế-xã hội thì không phải bất cứ lúc nào nó cũng được thể hiện dưới một hình thức giống nhau. Chính vì lẽ đó, Mác đòi hỏi phải vận dụng phương pháp phân tích lịch sử cụ thể khi sử dụng phạm trù hình thái kinh tế-xã hội vào vệc xem xét, phân tích một xã hội cụ thể, phải làm rõ được vai trò, vị trí và sự tác động của những quan hệ xã hội đó trong đời sống xã hội. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể rút ra những kết luận có tính quy luật của một xã hội cụ thể khi áp dụng phạm trù hình thái kinh tế-xã hội vào việc nghiên cứu xã hội đó. Và xét cho đến cùng, thì sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực xã hội mới là yếu tố quyết định tiến trình phát lịch sử của nhân loại hàng nghìn năm qua. Ph.Anghen nói: ” Theo quan niệm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế…”. Lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế xã hội nhất định, và sự tiến bộ xã hội chính là sự vận động theo hướng hoàn thiện dần của các hình thái kinh tế xã hội, là sự thay đổi hình thái kinh thái kinh tế lạc hậu lỗi thời bằng hình thái kinh tế xã hội tiến bộ, hiện đại hơn mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Nó là nền tảng, là cơ sở vật chất-kĩ thuật, là yếu tố quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế-xã hội. Mác viết: ”Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một qúa trình lịch sử tự nhiên” nhưng sự phát triển xã hội chẳng những có thể diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự từ hình thái kinh tế-xã hội này lên hình thái kinh tế – xã hội khác, mà còn có thể diễn ra bằng con đường bỏ qua một giai đoạn phát triển nào đó, một hình thái kinh tế-xã hội nào đó trong những điều kiện khách quan và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

    Dựa trên những tư tưởng cụ thể của học thuyết Mác về hình thái kinh tế-xã hội với vai trò then chốt của lực lượng sản xuất là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳng định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển CNTB, là quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc ta.

    2. Khoa học và kỹ thuật trong nền kinh tế toàn cầu.

    Trong nửa thế kỷ qua, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tạo ra công ăn việc làm luôn luôn đứng ở vị trí cao trong trong danh mục những ưu tiên hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã cho thấy rằng ít nhất một nửa mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu là nhờ những tiến bộ khoa học-kỹ thuật đem lại thông qua việc chúng góp phần làm tăng thêm hiệu quả đầu tư của các nguồn vốn và năng suất lao động xã hội cũng như tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Chính vì vậy khoa học và kỹ thuật đóng vai trò rất lớn trong các chiến lược tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển va đang phát triển. Sự thành công của các nước trong việc đạt tới những mục tiêu về khoa học kỹ thuật để tạo ra tăng trưởng kinh tế đã tác động trực tiếp tới sức cạnh tranh và dẫn tới kết quả là làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nếu như trong thiên niên kỷ thứ nhất, than đá, sức gió, sức nước, sức mạnh cơ bắp của người và gia súc là nguồn năng lượng chủ yếu thì tới gần thiên niên kỷ thứ hai, đó là dầu khí, máy hơi nước, điện, năng lượng nguyên tử phân hạch. Hiện nay nhân loại đang tiến vào thiên niên kỷ thứ ba dựa trên nền tảng của các nghành công nghiệp cao như kỹ thuật thông tin, kỹ thuật năng lượng hạt nhân, tổng hợp nhiệt hạch, kỹ thuật nanô… Có thể nói rằng từ vị trí đi sau, tổng hợp các kinh nghiệm ở hai thiên niên kỷ đầu, khoa học và kỹ thuật đã trở thành động lực phát triển hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, là lực lượng dẫn đường và là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu hoá. Có thể nói đây là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trong khoa học tự nhiên, là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại. Để làm rõ vai trò của khoa học kỹ thuật trong nền kinh tế toàn cầu, ta cần tìm hiểu thế nào là khoa học, kỹ thuật, là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.

    Khoa học là một khái niệm thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau: khoa học là một hình thái ý thức xã hội, là một công cụ nhận thức; khoa học là một lĩnh vực hoạt động xã hội; khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết…Tuy nhiên định nghĩa cho rằng khoa học là một hệ thống chỉnh thể các tri thức của tiến trình lịch sử xã hội được coi là định nghĩa đầy đủ nhất dưới góc độ lịch sử phát triển của khoa học. Ngoài ra, khoa học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để có được hệ thống tri thức về thế giới với chức năng làm cho con người nắm được những quy luật của hiện thực khách quan ,ngày càng làm chủ được những điều kiện sinh hoạt tự nhiên và xã hội

    Kỹ thuật trước hết là tập hợp tri thức gắn liền và tương ứng với một tập hợp kỹ thuật (Như máy móc, thiết bị, phương tiện…) bao gồm các tri thức về phương pháp, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm…được sử dụng theo một quy trình hợp lý để vận hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Kỹ thuật từ chỗ chỉ dùng trong các hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất theo sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu thì giờ đây khái niệm đó được sử dụng với nghĩa rộng hơn và trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người .

    Nếu như trong nhiều thế kỷ trước đây khoa học chỉ phát triển một cách độc lập riêng rẽ thì tới đầu thế kỷ 20 mối quan hệ mật thiết giữa khoa học- kỹ thuật đã tạo nên cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại của xã hội loài người, đánh dấu “quá trình khoa học kỹ thuật biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp là điều kiện cần để đưa lực lượng sản xuất lên một bước phát triển mới”. Cho tới nay chưa có một công trình nào đưa ra định nghĩa cụ thể về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, song về đại thể ta có thể hiểu đó là sự thay đổi căn bản trong bản thân các lĩnh vực khoa học kỹ thuật cũng như mối quan hệ và chức năng xã hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động thái phát triển của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn. Ở nét khái quát nhất có thể định nghĩa cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại là sự biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của xã hội hiện đại, được thực hiện với vai trò dẫn đường của khoa học kỹ thuật trong toàn bộ chu trình: “khoa học – kỹ thuật – sản xuất- con người – môi trường “. Có thể nói rằng sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đưa văn minh nhân loại quá độ sang một giai đoạn phát triển mới về chất. Đó là kết

    quả của quá trình tích luỹ lâu dài các kiến thức khoa học của việc đổi mới kỹ thuật sản xuất, và việc tăng quy mô sử dụng kỹ thuật mới. Trong đó sự phát triển có tính tiến hoá và các dịch chuyển có tính chất có tính cách mạng đã cùng tạo điều kiện cho nhau phát triển. Trong lĩnh vực sản xuất cũng như trong các ngành tri thức khoa học đều có thể quan sát thấy những sự luân phiên đặc sắc của cuộc nhảy vọt và sự phát triển tuần tự trong nhiều lĩnh vực như :

    Trong ngành năng lượng, sử dụng năng lượng nước, cơ bắp, gió, than, điện, dầu lửa rồi năng lượng nguyên tử và hiện nay chính là năng lượng nhiệt hạch.

    Trong lĩnh vực sản xuất, từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn công trường thủ công rồi tiến lên phương thức sản xuất đại cơ khí với các quy trình sản xuất và kỹ thuật được cơ giới hoá tổng hợp, xuất hiện các hệ thống máy móc, tạo ra các máy tự động, tự động hoá đồng bộ, hệ thống sản xuất linh hoạt.

    Trong sản xuất vật liệu, chuyển từ nguyên liệu nông nghiệp, các loại vật liệu xây dựng truyền thống ( như gỗ, gạch, đá…), sử dụng kim loại đen ( như sắt gang…) là chủ yếu sang sử dụng kim loại màu, chất dẻo, bê tông, các vật liệu kết cấu (omposite), vật liệu thông minh vật liệu siêu dẫn…

    Trong kỹ thuật sản xuất, chế tạo từ sản xuất thủ công, tiến lên bán tự động rồi tới kỹ thuật tự động hoá( tự động hoá thiết kế – chế tạo…), kỹ thuật thông tin ( tin học, viễn thông vũ trụ…) kỹ thuật nano, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật hạt nhân, kỹ thuật không gian, kỹ thuật vật liệu mới…

    Sự khởi đầu của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã đưa con người tiến vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của tri thức. Đây là bước quá độ trong sự phát triển khoa học và kỹ thuật hoàn toàn chỉ dựa trên cơ sở khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và các ngành sản xuất vật chất, biến bản thân khoa học thành nền công nghiệp tri thức trong thời đại tri thức, nền kinh tế công nghiệp sẽ trở thành nền kinh tế thông tin (hay còn gọi là nền kinh tế tri thức, nền kinh tế tin học, nền kinh tế mạng…)

    Như vậy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dựa trên cơ sở cốt lõi là cuộc cách mạng vi điện tử diễn ra từ đầu thập niên 60 và các thành tựu khoa học kĩ thuật lớn nhất của thế kỉ XX thì đó là “bước quá độ dưới sự chỉ đạo với

    vai trò dẫn đường của khoa học sang quá trình tổ chức lại về căn bản kỹ thuật sản xuất, điều tiết các quy trình kỹ thuật với quy mô ngày càng tăng, tổ chức lại tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội dựa trên cơ sở những ngành kỹ thuật cao mà các cuộc cách mạng trước đó chưa đủ điều kiện tạo ra một cách hoàn chỉnh như :Kỹ thuật thông tin, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật vật liệu mới, kỹ thuật năng lượng mới kỹ thuật tự động hoá trên cơ sở kỉ thuật vì điện tử “. Thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo điều kiện tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội. Cho phép chi phối tương đối các phương tiện sản xuất để cùng tạo ra cùng một khối lượng hàng hoá tiêu dùng. Kết quả là kéo theo sự thay đỗi cơ cấu của nền sản xuất xã hội ,làm thay đổi tận gốc lực lượng sản xuất mà khoa học kỹ thuật là yếu tố hàng đầu. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tác động sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người,đưa con người tiến vào thời đại mới- thời đại của nền kinh tế tri thức.

    CHƯƠNG II

    CÔNG NGHIỆP HOÁ -HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

    I: Sự hình thành và phát triển công nghiệp hoá -hiện đại hoá ở Việt Nam.

    1.1 Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là gì ?

    Lịch sử loài người trải qua 5 -6 ngàn năm (Trước thế kỷ XVIII) thời kỳ công trường thủ công, gần 300 năm thời kỳ đại công nghiệp cơ khí nhưng chỉ mất gần 120 năm để hoàn thành thời kỳ công nghiệp hoá đầu tiên, sau đó ở các nước Mỹ, Tây Âu chỉ tiến hành công nghiệp hoá trong vòng 80 năm, Nhật Bản 60 năm…và ngày nay Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đang tích cực rút ngắn khoảng cách, tiến dần tới nền văn minh nhân loại cũng chính bằng Công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Các nước đã đi qua giai đoạn phát triển TBCN đi vào thời kỳ quá độ lên CNXH tiến hành thực hiện quá trình tái công nghiệp nhằm điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và kỹ thuật hiện đại theo yêu cầu của chế độ xã hội hội mới. Các nước có nền kinh tế phát triển chậm nhất là các nước nông nghiệp lạc hậu thì tiến lên CNXH để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nhất thiết phải công nghiệp hoá để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế-Xã hội.Vậy ta nên hiểu về phạm trù công nghiệp hoánhư thế nào ?

    Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng: “công nghiệp hoá đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị (cho một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp…”.Quan niệm mang tính triết tự này được hình thành dựa trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ.

    Nghiên cứu định nghĩa về phạm trù công nghiệp hoá của các nhà kinh tế Liên Xô (cũ), Cuốn “Giáo khoa về kinh tế chính trị “của Liên Xô được dịch sang tiếng Việt đã định nghĩa: “công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến. Cuốn từ điển tiếng Việt đã giải thích: “Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân

    và đặc biệt công nghiệp nặng dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động. Quan điểm công nghiệp hoá là quá trình xâydựng và phát triển đại công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô (cũ) được chúng ta tiếp nhận, áp dụng vào Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá của đất nước ngay từ những năm 1960 với nội dung chủ đạo là “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời gia sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ…nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH”. Nhưng trên thực tế, chúng ta đã phải trả giá cho sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN theo kiểu đó khi áp đặt mô hình công nghiệp hoá XHCN ở Liên xô vào nước ta mà không xuất phát từ thực trạng đất nước là một nước nông nghiệp lạc hậu. Tuy nhiên, dù không đạt được mục tiêu đề ra trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá nhưng cũng nhờ đó mà chúng ta đã xây dựng được một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực mới về nhiều mặt đặc biệt là kinh tế, quốc phòng, văn hoá, chính trị…góp phần cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, bảo đảm được phần nào đời sống vật chất của nhân dân.

    Đến năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của liên hiệp quốc đã đưa ra định nghĩa về Công nghiệp hoá là: “Công nghiệp hoá một quá trình phát triển kinh tế”. Trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là “có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội “.Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá được hiểu là quá trình rộng lớn và sâu sắc với nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm thực hiện một mục tiêu duy nhất là kinh tế kỹ thuật như trước kia. Dựa trên cơ sở kỹ thuật đó, chúng ta nhận thức rõ được sai lầm của mình trên con đường công nghiệp hoá XHCN theo kiểu cũ, cứng nhắc và kém hiệu quả. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng: Quá trình phát triển đầy khó khăn, thử thách từ tình trạng kinh tế lạc hậu sang trạng thái kinh tế phát triển hiện đại không thể không tiến hành công nghiệp hoá và cùng với công nghiệp hoá là hiện đại hoá. Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá và là hai quá trình nối tiếp và đan xen lẫn nhau. Trước đó, ở các nước Mỹ và Tây Âu, họ đã tiến hành công nghiệp hoá khá lâu rồi

    mới đi vào hiện đại hoá và cho tới nay, quá trình này vẫn còn đang tiếp tục. Ta có thể hiểu: Hiện đại hoá là quá trình chống lại sự tụt hậu củạ sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra trên thế giới. Như vậy, xét về mặt lịch sử quá trình công nghiệp hoá diễn ra trước quá trình hiện đại hoá. Kinh nghiệm của cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta cho thấy rằng: “công nghiệp hoá nhất thiết phải gắn liền với hiện đại hoá “.Tại hội nghị Trung ương khoá VII (Tháng7/1994) và khoá VIII(Tháng 6/1995) Đảng ta đã khẳng định: “Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với kỹ thuật và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của cồng nghiệp và tiến bộ khoa học – kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động xã hội cao “(Văn kiện hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung Ương khoá VIII ).

    Với quan niệm này, về cơ bản đã phản ánh được phạm vi rộng của quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá, chỉ ra được cái cốt lõi của nó là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng lao động tiên tiến, hiện đại để đạt được năng suất lao động cao, gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, xác định rõ vai trò của công nghiệp, của khoa học – kỹ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hoá. Như vậy về cơ bản công nghiệp hoá theo định hướng XHCN: “là một cuộc cách mạng sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.”

    1.2 Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình tất yếu khách quan

    Ngay từ những năm 60, khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và nhà nước ta đã nhận rõ tính quy luật và vai trò Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá trong tiến hành vận động, phát triển của các nước trên thế giới nói chung,Việt Nam nói riêng và xác định: “Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm thời kì quá độ lên CNXH”. Với đường lối công nghiệp hoá XHCN chủ trương phát triển công nghiệp nặng mà trọng tâm là ngành cơ khí chế tạo đã dẫn đến những sai lầm cơ bản về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Trong suốt hơn một phần tư thế kỉ, chúng ta đã đặt công nghiệp hoá XHCN ở vị trí đối lập hoàn toàn với “công nghiệp hoá TBCN”, coi việc phát triển công nghiệp là giải pháp đúng đắn

    để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH mà “quên” mất vai trò của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ trong nền kinh tế quốc dân. Chúng ta chỉ đơn giản coi công nghiệp hoá là “Một quá trình xây dựng nền sản xuất được cơ khí hóa trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân “. Quan niệm này bắt nguồn từ nhận thức giáo điều, máy móc của Đảng và nhà nước ta về mô hình công nghiệp hoá XHCN của Liên Xô mà không xuất phát từ thực trạng kinh tế xã hội của đất nước cũng như bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ. Trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá đất nước, tuy nền công nghiệp của nước ta đã được đầu tư khá lớn nhưng với quan niệm như vậy về công nghiệp hoá đã dẫn đến hiệu quả của quá trình công nghiệp hoá rất thấp ,thậm chí còn kéo theo cả nông nghiệp và công nghiệp nhẹ cũng rơi vào tình trạng đình trệ nghiêm trọng. Nhiều nhà máy, xí nghiệp quốc dân làm ăn thua lỗ kéo dài, tỷ trọng cuả ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân không đáng kể, nợ nước ngoài chồng chất, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Nghiêm trọng hơn, nền kinh tế lâm vào tình trạng thiếu hụt lớn, mất cân đối một cách căn bản, không có tích luỹ và rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế -xã hội kéo dài. Sự phát triển kinh tế chỉ chú trọng vào chiều rộng đã không tạo ra được những yếu tố cần thiết để phát triển theo chiều sâu, tính năng động và sáng tạo của cá nhân cũng như tập thể bị kìm hãm và không có cơ hội được thể hiện và điều tất yếu là chúng ta phải trả một giá quá đắt cho đường lối công nghiệp hoá XHCN theo kiểu đó .

    Nhận thức được hậu quả đó, Đảng và nhà nước ta đã kịp thời đưa ra chiến lược công nghiệp hoá mới phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Thế nhưng khi loại bỏ đường lối “công nghiệp hoáXHCN” theo lối cũ, người ta bỏ luôn cả công nghiệp hoá chỉ nhắc đến “phát triển “, “tăng trưởng”, “cất cánh “…chứ không đề cập tới công nghiệp hoá nữa. Nhưng thử hỏi những khái niệm đó đặt trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay sẽ là gì nếu không phải chính là công nghiệp hoá. Việc chúng ta từ bỏ một quan điểm sai lầm về công nghiệp hoá và cách thức tiến hành công nghiệp hoá theo lối chủ quan duy ý chí, kém hiệu quả hoàn toàn không có ý nghĩa là phủ nhận tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá. Mọi lý thuyết về phát triển trên thế giới hiện thời đều không bỏ qua một trong những nội dung chủ yếu không thể thiếu của nó là công nghiệp hoá. Đảng và nhà nước ta xác định: “Xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,

    cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hộ công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy đối với một nước nghèo như Việt Nam, không còn con đường phát triển nào khác ngoài con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngày nay trên thế giới, công nghiệp hoá vẫn được coi là phương hướng chủ đạo, là con đường tất yếu phải trải qua của các nước đang phát triển. Ở nước ta khi những tư tưởng cơ bản trong học thuyết của CacMác về hình thái kinh tế-xã hội được nhận thức lại một cách sâu sắc với tư cách là cơ sở lý luận cho công cuộc đổi mới đất nước. Công nghiệp hoá được xem là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nhằm cải biến xã hội, gắn với việc hình thành bản chất ưu việt của chế độ mới. So với các nước trong khu vực có điểm xuất phát tương tự như nước ta hiện nay, chúng ta đang ở tình trạng tụt hậu xa hơn. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiên thời, chúng ta cần và có thể tiến hành “công nghiệp hoá đuổi kịp “, đồng thời “công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá ” đã mở ra con đường tắt, rút ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển với các nước tiên tiến. Thực tế lịch sử đã cho thấy: Nhiều nước châu Á như: Singapo, Đài Loan, Hàn Quốc…chỉ trong một thời gian ngắn từ một nước kém phát triển đã trở thành một nước công nghiệp mới (NIC). Đó là những tấm gương kinh nghiệm cho chúng ta học hỏi và vươn lên

    .Công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá kết hợp những bước tiến tuần tự về kỹ thuật với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt đón đầu hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiến tiến của khoa học – kỹ thuật thế giới. Một điều rõ ràng là chúng ta không thể thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá với nội dung căn bản là cơ khí hoá các ngành của nền kinh tế quốc dân rồi mới tiến hành hiện đại hoá. Mặt khác khi thực hiện cơ khí hoá các ngành sản xuất, ta không thể dựa trên cơ sở sủ dụng máy móc lạc hậu mà phải sử dụng kỹ thuật và kỹ thuật sản xuất hiện đại .Với ý nghĩa đó, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Trong thời đại hiện nay, Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta có nhiều đặc điểm khác với Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nhiều nước khác, nhưng xét về tổng thể nó là một quá trình rộng lớn, phức tạp bao hàm những nội dung cơ bản sau:

    Một là : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là qúa trình trang bị và trang bị lại kỹ thuật hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Lịch sử công nghiệp hoá trên thế giới cho thấy rằng, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và kỹ thuật. Đến giữa thế kỉ XX, cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại lại tạo ra những bước đột phá mới trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, đem lại tính chất hiện đại cho các tư liệu sản xuất, cho kĩ thuật, trình độ tổ chức và quản lý tiên tiến vv…Đó là những yếu tố cấu thành nội dung kỹ thuật mà sự phát triển của nó là vấn đề cốt lõi của Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá. Chính vì vậy trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá luôn đòi hỏi phải trang bị và trang bị lại kỹ thuật cho các ngành kinh tế gắn liền với quá trình công nghiệp hoá ở cả phần cứng lẫn phần mềm của kỹ thuật. Tuy nhiên, cách thức tiến hành ở các nước lại không giống nhau, có nước tiến hành bằng cách tự nghiên cứu , sáng chế, tự trang bị kỹ thuật mới cho các ngành kinh tế trong nước ,một số nước khác lại tiến hành thông qua chuyển giao kỹ thuật, có nước thì kết hợp giữa hai hình thức tự nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật. Như vậy có thể nói công nghiệp hoá- hiện đại hoá là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ kỹ thuật thấp lên trình độ kỹ thuật hiên đại cùng với sự dịch chuyển lao động thích ứng cơ cấu ngành, nghề.

    Hai là: Qúa trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá không chỉ liên quan tới phát triển công nghiệp mà là quá trình bao hàm tất cả các ngành ,các lĩnh vực hoạt động của một nước. Nó thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu kinh tế mới, hợp lý cho phép khai thác tốt nhất nguồn lực và lợi thế của đất nước. Nền kinh tế của mỗi nước là một thể thống nhất các ngành, các lực lượng quan hệ biện chứng vơí nhau,sự thay đổi ở ngành kinh tế, sự thay đổi ở ngành kinh tế,

    • lĩnh vực hoạt động này sẽ kéo theo sự thay đổi ở các ngành các lĩnh vực khác và ngược lại. Vì thế, quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội với những đặc điểm mang tính quy luật. Xét về tổng thể, cơ cấu kinh tế của mỗi nước được cấu thành bởi ở bộ phận nông nghiệp – công nghiệp và dịch vụ.

    Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sự chuyển dịch các ngành diễn ra theo xu hướng từ nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ đến công nghiệp – nông nghiệp dịch vụ. Ở giai đoạn đầu nông nghiệp giữ vị trí then chốt nhưng

    đến một trình độ phát triển nhất định khi nhu cầu về lương thực, thực phẩm được bảo đảm thì công nghiệp sẽ được đẩy lên trên.Tuy công nghiệp hoá không đồng nhất với phát triển công nghiệp nhưng không thể tiến hành công nghiệp hoá nếu không phát triển công nghiệp vững mạnh , chiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, các hoạt động dịch vụ còn là điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân

    Ba là: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình kinh tế, kỹ thuật vừa quá trình kinh tế-xã hội.Trong quá trình đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá,quá trình kinh tế-xã hội có quan hệ biện chứng với nhau ở cả tầm vĩ mô lẫn

    • mô, và với cả qua trình kinh tế -kỹ thuật. Với ý nghĩa đó khi xem xét sự tác động và hiệu quả của công nghiệp hoá phải có quan điểm toàn diện không dừng lạỉ ở khía cạnh kinh tế-kỹ thuật mà phải xem xét khía cạnh kinh tế-xã hội của nó. Do đó xét cho đến cùng Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình xây dựng và phát triển văn hoá, trong đó nguồn lực con người, gia tăng giá trị và vai trò con người là nội dung cốt lõi .

    Bốn là: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá cũng đồng thời là quá trình mở rộng kinh tế quốc tế trong điều kiện hiện nay nền kinh tế nước ta không thể tăng trưởng và phát triển mạnh nếu không thiết lập mối quan hệ kinh tế với nước ngoài. Bởi vậy Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá theo hướng hội nhập quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật thị trường, kinh nghiệm của các nước đi trước đẩy mạnh chiến lược xuất khẩu, năng lực cạnh tranh đã trở thành một xu thế chung của thời đại. Mỗi nước trở thành một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới có tác động tương hỗ lẫn nhau và chịu sự biến động kinh tế-xã hội chung của thế giới. Vì thế, cần phải tính đến việc gắn Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá với việc xây dựng hệ thống kinh tế mở, tăng cường quan hệ thương mại, tích cực liên kết kinh tế quốc tế .

    Năm là: Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá không phải là mục đích tự thân mà là một phương thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu phát triển của mỗi nước. Bản thân công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một hiện tượng có tính phổ biến, nghĩa là từ kém phát triển trở thành phát triển, từ lạc hậu trở thành tiên tiến hiện đại, các nước đều phải tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá với những nét chung là quá trình trang bị kỹ thuật hiện đại cho các ngành

    kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước tạo ra năng suất lao động xã hội cao, bảo đảm nhịp độ phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững.

    Có thể nói rằng, Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống của xã hội, mà nhiêm vụ lớn lao của cuộc cách mạng đó là” tạo ra những điều kiện thiết yếu về vật chất-kỹ thuật, về con người và khoa học-kỹ thuật. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất lao động xã hội, làm tăng hiệu quả thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

    2: Tính đặc thù của Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta.

    Trong những năm qua sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá về cơ bản đã làm thay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống nhân dân, cũng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên thị trường quốc tế. Nhưng bên cạnh đó ,nền kinh tế nước ta vẫn chưa có sự phát triển vững chắc,hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, các vấn đề về văn hoá-xã hội ngày càng trở nên bức xúc, gay gắt, cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo được động lực mạnh mẽ để phát triển…Trong hoàn cảnh đó, Đảng ta vẫn kiên định thực hiện đường cối đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ để nhanh chóng đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại .

    Nhận định về tình hình phát triển của thế giới trong thế kỉ XXI. Nghị quyết đại hội của Đảng đã nêu rõ: “Thế kỉ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi ,khoa học và kỹ thuật sẽ có bước nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nỗi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan”. Những nét mới ấy trong tình hình thế giới và khu vực tác động mạnh mẽ đến tình hình nước ta. Trước mắt nhân dân ta có cả cơ hội lẫn thách thức lớn. Mặc dù chúng ta còn nhiều thiếu sót trong thực tiễn tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá mà chúng ta cần khắc phục và sữa chữa nhưng nhìn chung, cả thế và lực của nước ta đều có sự biến đổi rõ rệt về chất. Chúng ta đã thoát khỏi các cuộc khủng khoảng nghiêm trọng kéo dài, tạo ra được tiền đề cần thiết để chuyển sang giai đoạn mới, đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại

    hoá đất nước. Không những vậy đất nước còn có nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên cũng như nguồn lực con người, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định, nhân dân đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, môi trường hoà bình sự hợp tác quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, kỹ thuật mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường. Bên cạnh đó là những thách thức mà các nước đang tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá như nước ta phải tính đến là ưu thế về nguồn lao động và nguyên liệu ngày càng giảm so với sự phát triển của kỹ thuật tự động hoá, chất lượng lao động ổn định đang làm giảm ưu thế về việc xuất khẩu lao động sang các nước phát triển .Mặt khác, kỹ thuật tiên tiến đã nâng tỷ trọng chất xám trong giá thành sản phẩm khiến cho giá thành của các nguồn nguyên liệu thô và nguyên liệu sơ chế có kèm theo lượng chất xám thấp giảm đi nhanh chóng. Điều này đã và đang đe doạ nghiêm trọng tới xu hướng xuất khẩu nguyên liệu ở các nước, trong đó có Việt Nam .Vì vậy việc lựa chọn đi theo con đường Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá tất yếu phải giải quyết những thách thức đó. Trước hết, khó khăn trong việc giải quyết những thách thức này là do đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của chúng ta còn thiếu và yếu, bất cập với sự phát triển của khoa học -kỹ thuật. Ngoài ra Đảng ta còn phải xây dựng cơ vật chất kỹ thuật vững mạnh, kết cấu hạ tầng tương xứng để tiến hành các công trình nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng kỹ thuật và một hệ thống thông tin cho việc định hướng, lựa chọn kỹ thuật. Việc này cần rất nhiều vốn trong khi đó tình hình ngân sách nước ta hết sức hạn hẹp, tình trạng thiếu vốn là phổ biến. Vì vậy trong điều kiện: “Thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau. Chúng ta phải chủ động nắm thời cơ, vươn lên phát triển mạnh và vững mạnh, tạo ra các thế lực mới, đồng thời luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ, kể cả nhữnh nguy cơ mới nảy sinh, đảm bảo phát triển đúng hướng.Việc nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới,đó là vấn có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta“.(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB chính trị quốc giaHà Nội năm 1996 , trang 79-80 và văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần IX,. NXB chính trị quốc gia Hà Nội năm 2001 trang 67-68)

    Như vậy, đối với đất nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra là cần tiến hành Công nghiệp hoá – hiện đại hoá như thế nào cho thích hợp? Trong bối cảnh

    mà cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng, mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp (kết hợp giữa thay thế nhập khẩu với đẩy mạnh xuất khẩu) theo hướng hội nhập quốc tế là xu hướng có triển vọng rất lớn ở nước ta, về cơ bản Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước cũng vận động theo hướng đó. Nhưng xét theo cụ thể, với phương châm “rút ngắn khoảng cách, vừa có những bước tuần tự vừa có những bước nhảy vọt” công cuộc Công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta không những khác các nước khác về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành mà khác cả về mục tiêu chiến lược. Chính sự khác biệt này đã làm nên tính đặc thù của sự nghiệp Công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta :

    Thứ nhất: Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Kết hợp kỹ thuật truyền thống với kỹ thuật hiện đại, tranh thủ đi sâu vào hiện đại hoá ở những khâu quyết định.Trong điều kiện cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại đang có những bước phát triển nhanh chóng với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế hiện nay, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Thực chất của quá trình hiện đại hoá nền kinh tế là không ngừng nâng cao trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo tiến trình phát triển của khoa học và kỹ thuật trên thế giới. Tuy nhiên, nếu ta không kịp thời sử dụng các kỹ thuật và kỹ thuật hiện đại để hiện đại hoá nền kinh tế thì nguy cơ tụt hậu sẽ rất cao. Nhưng nếu dồn mọi sự đầu tư cho việc trang bị kỹ thuật và kỹ thuật thì lại có nguy cơ lãng phí về tiền năng và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác. Để khắc phục nghịch lý này, chúng ta cần áp dụng đồng thời nhiều trình độ khoa học và kỹ thuật mà các nước đi trước đã thực hiện ở những thời điểm khác nhau. Có như vậy chúng ta mới có thể từng bước hiện đại hoá nền kinh tế vừa khai thác được các nguồn lực và lợi thế của đất nước. Cụ thể hơn, chúng ta cần biết kết hợp giữa nhảy vọt thủ công lên hiên đại, với bước đi tuần tự từ thủ công: Nửa cơ khí, cơ khí, tự động hoá…đồng thời phát huy tính ưu việt, hiện đại hoá nền kỹ thuật truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Ở nước ta việc tiếp nhận chuyển giao và phát triển kỹ thuật cho quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là hết sức cần thiết song quan trọng hơn là phải có cơ chế chính sách hợp lý để việc chuyển giao kỹ thuật đạt được mục tiêu khai thác và sử dụng có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Có như vậy, chúng ta mới

    có được kỹ thuật mới, hiện đại có hàm lượng chất xám cao, kỹ thuật sạch kết hợp được các mục tiêu kinh tế và sinh thái.

    Thứ hai: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản. Trước đây, công nghiệp hoá được tiến hành theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp kế hoạch hoá cao độ thì giờ đây, công nghiệp hoá – hiện đại hoá được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Cơ chế thị trường tạo ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho con người tham gia vào các hoạt động kinh tế-xã hội đa dạng, cho sự dịch chuyển cơ cấu lao động, tạo cho con người có thể chủ động lựa chọn lao động và việc làm… Nói một cách khái quát, cơ chế thị trường có tác dụng làm chủ thể của quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá năng động, biết tính toán và luôn đề cao tính hiệu quả. Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có nhiều hạn chế của nó mà nếu không được chủ động khắc phục, điều tiết thì quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá sẽ không đạt được mục tiêu ổn định xã hội và bền vững của môi trường. Thực tế, khách quan này đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế-xã hội .

    Công nghiệp hoá – hiện đại hoá theo định hướng XHCN phải hướng vào việc ưu tiên phát triển sự tăng trưởng và phát triển của các nghành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế … có khả năng đem lại tích luỹ nhanh, lớn và hiệu quả kinh tế cao để đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh. Mặt khác, công nghiệp hoá – hiện đại hoá còn phải đảm bảo mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đảm bảo an ninh quốc gia và sự phát triển bền vững. Khi hiệu quả đạt được sẽ kéo theo hiệu quả xã hội và ngược lại đạt được hiệu quả xã hội sẽ tạo nên động lực thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, không phải mọi lúc mọi nơi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội đều tỷ lệ và song hành với nhau mà ta phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thước đo chủ yếu quyết định chính sách, phương hướng phát triển, phương hướng đầu tư và trang bị kỹ thuật cho từng ngành từng thành phần kinh tế, từng doanh nghiệp .

    Thứ ba: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Quan điểm này thể hiện ở chỗ, trước hết công nghiệp hoá – hiện đại hoá phải xuất

    phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, đó là thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bên cạnh đó sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá là do nhân dân thực hiện bằng sức lao động, tài năng, sự sáng tạo, bằng cả tài sản toàn dân, phát huy sức mạnh và lợi thế so sánh của các thành phần kinh tế với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Và, công nghiệp hoá – hiện đại hoá chỉ thực sự là sự nghiệp của nhân dân và do nhân dân khi xây dựng được và thực hiện tốt cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng đường lối công nghiệp hoá – hiện đại hoá và kiểm tra quá trình thực hiện đường lối đó. Có thể nói rằng việc huy động mọi nguồn lực trong nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế xã hội là biện pháp quan trọng bảo đảm sự thành công của công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước .

    Thứ tư: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá gắn liền với việc ” xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế “. Mở cửa nền kinh tế là sự đổi mới mang tính bước ngoặt trong tư duy và quan điểm của Đảng và nhà nước. Mở cửa cả bên trong lẫn bên ngoài là điều kiện để kết hợp sứ mệnh của dân tộc với sứ mệnh của thời đại, khai thác tổng hợp nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta đã khẳng định: “ giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền kinh tế mở rộng, hội nhập với khu vực và thế giới”. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ tức là xây dựng nền kinh tế mở dựa trên cơ sở phát triển hợp tác đa phương hướng mạnh vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu nhằm tạo ra nguồn vốn cho công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    Thứ năm: khoa học và kỹ thuật được xác định là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Về thực chất, công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật, kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội ngày càng cao. Do đó, nói đến công nghiệp hoá – hiện đại hoá là nói đến việc áp dụng những tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội. Trong thời đại ngày nay, khoa học và kỹ

    thuật thực sự là nền tảng và là động lực của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Phát triển khoa học và kỹ thuật, gắn khoa học và kỹ thuật với sản xuất và đời sống chính là mẫu chốt đảm bảo sự thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhận thức được điều đó, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học và kỹ thuật như: Tại hội nghị lần thứ VII, ban chấp hành TW khoá VII đã khẳng định : “Khoa học kỹ thuật là nền tảng của công nghiệp hoá hiện đại hoá ”: Hội nghị lần thứ II ban chấp hành TW khoá VIII một lần nữa nhấn mạnh: “Cùng với giáo dục-đào tạo, khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công XHCN. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học-kỹ thuật”; Và tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX quan điểm: Coi phát triển khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu là nền tảng, là động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Muốn vậy chúng ta phải gắn hoạt động nghiêp cứu khoa học và kỹ thuật với thực tiễn, với quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, phải tăng cường vốn đầu tư và tìm ra động lực cho sự phát triển của bản thân nó. Động lực đó chính là lợi ích của những nhà nghiên cứu, phát minh, ứng dụng có hiệu quả của khoa học và kỹ thuật .

    Thứ sáu: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Sự phát triển như vũ bão của khoa học và kỹ thuật hiện đại ngày nay đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã hội. Nếu trước đây quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá tập trung khai thác tài nguyên thiên nhiên thì bây giờ công nghiệp hoá – hiện đại hoá lại hướng vào việc khai thác con người, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ của con người làm yếu tố cơ bản. Mặt khác, công nghiệp hoá

    • hiện đại hoá không chỉ đơn thuần là đạt được mục tiêu tăng trưởng phát triển nhanh bền vững về lượng mà còn là về chất, trước hết là phúc lợi nhân dân. Do đó, quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá ngày nay đòi hỏi phải biết nuôi dưỡng, phát triển và khai thác có hiệu quả nguồn lực con người. Như vậy đối với nước ta, thực hiện đường lối công nghiệp hoá – hiện đại hoá đòi hỏi phải nỗ lực phát huy mọi lợi thế so sánh vốn có của đất nước, tận dụng mọi cơ hội để có thể nhanh chóng đạt được trình độ kỹ thuật tiên tiến, tranh thủ ứng dụng ở mức cao hơn, phổ biến hơn các thành tựu mới về khoa

    học và kỹ thuật; từng bước phát triển nền kinh tế tri thức, lấy phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và kỹ thuật làm nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    3.Khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất hàng đầu.

    3.1> Khoa học và kỹ thuật là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học và kỹ thuật hiện đại. Khi chúng ta nói đến vai trò nền tảng và động lực của khoa học và kỹ thuật trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá cũng là nói đến công nghiệp hoá – hiện đại hoá dựa trên cơ sở khoa học và kỹ thuật. Quan điểm này hơn một trăm năm trước CacMác đã từng dự báo: “ Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí hơn là vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến lượt chúng (hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra, chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào sự ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất”,và ngày nay cũng được Đảng và nhà nước ta khẳng định rõ trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong nghị quyết các hội nghị TW VII ( khoá VII), hội nghị TW II (khoá VIII) và kết luận Hội nghị TW VI (khoá IX) về phát triển khoa học kỹ thuật. Nhận định đó của CacMác ngày càng được thực tiễn phát triển khoa học và kỹ thuật xác nhận. Khoa học và kỹ thuật hiện đại không chỉ là yếu tố không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia mà còn là yếu tố then chốt trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, là yếu tố “quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của các quốc gia”. Đối với nước ta hiện nay, vai trò của khoa học và kỹ thuật lại càng trở lên đặc biệt quan trọng khi mà chúng ta đang trên con đường rút ngắn giai đoạn phát triển để sớm trở thành một xã hội hiện đại. Ngay từ khi mới bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước , Đảng ta đã xác định: khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp quan trọng hàng đầu cho xã hội. Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu

    nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn minh phải dựa trên nền tảng và động lực của khoa học – kỹ thuật. Vai trò nền tảng chỉ được phát huy khi đất nước có một nền khoa học kỹ thuật phát triển, đủ khả năng giải quyết được những nhiệm vụ chủ yếu về khoa học và kỹ thuật do yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia đặt ra.Vai trò động lực của khoa học và kỹ thuật được thể hiện thông qua sự đổi mới không ngừng của kỹ thuật và sản phẩm,tạo ra năng suất, chất lượng,và sức cạnh tranh cao của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá đang là xu hướng của toàn nhân loại. Chỉ khi nào khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu thì vai trò nền tảng và động lực của nó mới trở nên vững chắc và mạnh mẽ. Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, muốn đẩy nhanh tiến trình đổi mới đất nước thì điều tất yếu là phải tiến hành song song cả hai qúa trình: vừa thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá vừa xây dựng và phát triển nền khoa học kỹ thuật trong hoàn cảnh tiềm lực kinh tế đất nược còn rất hạn hẹp và nhỏ bé. Điều này chỉ có thể thực hiện được một khi hoạt động khoa học và kỹ thuật gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội.

    Trong thế kỷ XX , chứng kiến những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia, và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người

    . Mặt khác, trên bản đồ kinh tế thế giới, xuất hiện nhóm các nước mới công nghiệp hoá (NIC) sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng và lan toả của các thành tựu khoa học và kỹ thuật thông qua quá trình chuyển giao và tiếp thu tri thức khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Bằng việc thực hiện đường lối công nghiệp hoá dựa vào khoa học và kỹ thuật, biết tận dụng các cơ hội để tiếp nhận và làm chủ nhanh chóng các kỹ thuật mới, thay đổi phương thức sản xuất dựa trên lao động thủ công và khai thác tài nguyên thiên nhiên sang ứng dụng các kỹ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hướng tạo ra giá trị gia tăng cao,đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà các nước này nhanh chóng rút ngắn thời gian tiến hành công nghiệp hoá đất nước,tăng nhanh thu nhập bình quân đầu người, đồng thời khẳng định tiềm năng, vị thế của mình trên trường quốc tế.

    Bước vào thế kỷ XXI, cả thế giới đang cuốn theo xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức. Các nước phát triển đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức với đặc điểm là nền kinh tế biết khai thác, biết phát huy triệt để tiềm năng của chất xám, của những ý tưởng sáng tạo và đặc biệt là tri thức về khoa học và kỹ thuật phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của xã hội. Xu thế này mở ra nhiều cơ hội mới cho các nền kinh tế đang phát triển với điểm xuất phát thấp nhằm định hướng chiến lược phát triển phù hợp với xu thế chung là thu hút và sử dụng tri thức khoa học và kỹ thuật để tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Điều này đồng nghĩa với việc quốc gia nào xây dựng được khoa học và kỹ thuật đủ khả năng tiếp thu, làm chủ, thích nghi, sáng tạo và sử dụng nhiều tri thức, nhất là tri thức khoa học và kỹ thuật, tạo ra môi trường thể chế năng động thì mới có thể thu hút được nhiều vốn đầu tư, kỹ thuật hiện đại và lao động có trình độ cao từ các quốc gia khác vì mục tiêu phát triển toàn diện.

    Thực tế của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng nếu không có sự đầu tư thích đáng vào khoa học và kỹ thuật thì không thể thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Khoa học và kỹ thuật chính là chiếc chìa khoá thần kì để đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, trong đó điển hình là các nước công nghiệp hoá mới. Qua đó, ta càng thấy rõ vai trò quyết định của tri thức khoa học và kỹ thuật, tri thức của toàn xã hội . Có tri thức mới có sáng tạo và sáng tạo trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật là hoạt động ở trình độ cao. Bởi vậy cần phải có sự đầu tư công phu và tốn kém vào việc xã hội hoá tri thức khoa học và kỹ thuật nhằm trang bị những tri thức nghề nghiệp kết hợp với tay nghề cao của những người trực tiếp sản xuất, trang bị những tri thức tổng hợp kết hợp với nghệ thật điều hành của những người lãnh đạo và quản lý các cấp trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    3.2> Khoa học và kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế xã hội trong những năm đổi mới.

    Sinh thời, Ph.Ănghen đã từng nhấn mạnh rằng : “Sự phát sinh và phát triển của các nghành khoa học đã do sản xuất qui định” và nếu như các nghành khoa học có sự phát triển một cách nhanh chóng, một cách kỳ diệu thì sự kì diệu ấy cũng nhờ sản xuất mà có. Điều đó khẳng định rằng : Khoa học sẽ không thể phát triển nhanh được một khi nó không có môi trường thuận lợi, khi sản xuất và

    đời sống xã hội chưa có đòi hỏi bức bách đối với khoa học. Trước đây, khi nền kinh tế đi theo cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, giáo điều bao cấp, nền kinh tế hàng hoá không có điều kiện để phát triển, không có sự cạnh tranh trong nội bộ nghành cũng như giữa các nghành nên sản xuất không cần đến những thành tựu mới của khoa học. Vì vậy, động lực động lực quan trọng và bức thiết nhất để thúc đẩy sự phát triển của khoa học và kỹ thuật gần như không có. Thậm chí nhiều thành tựu của các viện và các phòng nghiên cứu không thể đi vào đời sống, không đưa ra áp dụng được vào thực tế sản xuất. Hậu quả là khoa học và kỹ thuật và sản xuất không tìm được sự phối hợp hài hoà với nhau, hỗ trợ lẫn nhau phát triển. Phía sản xuất thì bằng lòng với cái cũ, cách làm cũ, trong khi đó khoa học và kỹ thuật lại thiếu một môi trường đầu tư đúng mức, hợp lý và mang lại hiệu quả cao.

    Sau mười lăm năm tiến hành công cuộc đổi mới cùng với việc chuyển nền kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường thì khoa học và kỹ thuật nước ta bước đầu có nhiều chuyển biến tích cực. Khoa học và kỹ thuật đã thực sự phát huy được vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá như Đảng và nhà nước ta đã khẳng định : “Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và kỹ thuật “. Cho tới nay, nước ta đã có một tiềm lực khoa học và kỹ thuật đáng kể, lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật tương đối đông đảo với trên 1,1 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng ; 30 000 cán bộ có trình độ trên đại học ,trong đó có trên 10 000 thạc sĩ, khoảng 12 000 tiến sĩ và trên 600 tiến sĩ khoa học, hơn 45 000 cán bộ khoa học làm việc trong khu vực nghiên cứu khoa học, 20 000 cán bộ giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng,

    • 000 cán bộ khoa học làm việc trong khu vực sản xuất và khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật. Bình quân, có 190 cán bộ khoa học trên 10 000 dân. Về trình độ chuyên môn, cơ cấu tỷ lệ cán bộ có trình độ như sau: 28,6 % cao đẳng, 68,92 % đại học, 1,49 % thạc sĩ, 0,93% tiến sĩ tức là có 1 tiến sĩ thì có 1,61 thạc sĩ, 74,4 đại học và 30,9 cao đẳng. Thực tế cho thấy rằng, với đội ngũ cán bộ này, khả năng tiếp thu là tương đối nhanh và làm chủ dược tri thức, kỹ thuật hiện đại trên một số nghành và lĩnh vực. Cùng với đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật đông đảo, chúng ta đã xây dựng được một mạng lưới với khoảng 1050 tổ chức khoa họcvà kỹ thuật thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có hơn 450 tổ chức ngoài nhà nước. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu, các

    phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin khoa học và kỹ thuật, thư viện cũng được tăng cường và nâng cấp.

    Cùng với quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật từng bước được đổi mới theo hướng mở rộng liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh; nhờ đó đã nâng cao được hiêụ quả hoạt động khoa học và kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, cho tới nay, nền khoa học và kỹ thuật nước ta vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, chưa đáp ứng được đúng và đủ nhu cầu của đất nước. Tuy số lượng cán bộ khoa học, kỷ thuật lớn nhưng tỷ lệ cán bộ nghiên cứu ứng dụng chỉ đạt tỷ lệ 4 người trên 1000 dân, xếp vào loại thấp nhất thế giới. Về cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật, do giáo dục nghề nghiệp kể cả trung học chuyên nghiệp và dạy nghề chưa được tập trung đẩy mạnh nên mối quan hệ của các lực lượng này vẫn còn chưa hợp lý, khoa học, do đó tạo nên xu thế bất lợi “nhiều thầy, ít thợ’’. Tỷ lệ giữa cán bộ khoa học kỹ thuật/ nhân viên kỹ thuật/ công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng hoặc chứng chỉ cũng chỉ là 1/ 1,04 / 8,86. Về cơ cấu lứa tuổi, tuổi bình quân của các cán bộ khoa học, kỹ thuật nước ta hiện nay là 40,2 ( trong đó nam 42,7 tuổi và nữ là 37,0 tuổi ). Trình độ càng cao, tuổi càng lớn đó là điều mang tính quy luật, tuy nhiên trong cơ cấu lứa tuổi của các loại hình trình độ, có thể quan sát thấy được một sự cách biệt đáng chú ý , đó là : Tuổi bình quân của các cán bộ khoa học và kỹ thuật có trình độ cao đẳng là 38,2 tuổi ; Đại học là 40,9 tuổi ; Thạc sỹ là 42,6 tuổi và tiến sỹ là 52,6 tuổi; Số cán bộ khoa học và kỹ thuật ở độ dưới tuổi 25 chỉ chiếm 9,06 % ; Trong khi số cán bộ khoa học và kỹ thuật ở độ tuổi trên 55 lên tới 13,55 %. Mặt khác, nhiều chính sách như chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách xuất nhập khẩu và chính sách kinh tế nói chung chưa khuyến khích cả khoa học và kỹ thuật lẫn sản xuất trong nước. Sự ứng dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong nước không mang lại lợi ích cao hơn ngoại nhập. Thêm đó, nguồn vốn chi cho hoạt động khoa học và kỹ thuật của nước ta là quá thấp, chỉ đạt khoảng 1 % ngân sách nhà nước. Chi phí cho nghiên cứu triển khai bình quân hàng năm cho mỗi cán bộ khoa học và kỹ thuật của ta cũng rất thấp, khoảng dưới 1000 USD. Có thể nói về trình độ kỹ thuật – kỹ thuật, so với các nước tiên tiến trên thế giới , chúng ta lạc hậu từ 50 đến 100 năm, so với các nước tiên tiến ở mức trung bình ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ.

    Với thực trạng đó, để khoa học và kỹ thuật nước ta thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong nền kinh tế xã hội của đất nước trong những năm đổi mới thì việc phát triển khoa học và kỹ thuật không chỉ được coi là tất yếu khách quan mà còn là một đòi hỏi bức thiết để đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Về khoa học xã hội và nhân văn: trong thời kỳ đổi mới đã có những đóng góp tích cực vào việc phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn xây dựng XHCN ở nước ta. Cùng với các nghiên cứu lý luận cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đóng góp cho việc chuẩn bị các văn kiện Đảng, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ… thì khoa học xã hội và nhân văn còn hướng vào việc giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như : vấn đề toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, tác động cảu cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực đối với tăng trưởng của Việt Nam, các vấn đề về tôn giáo, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Khoa học tự nhiên phát huy được thế mạnh, đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý thuyết mang tính ứng dụng cao, tiếp cận có hiệu quả một số bộ môn lý thuyết như toán, vật lý ứng dụng … ngang tầm với trình độ của thế giới. Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học tự nhiên đem lại chất lượng cao khi mang vào ứng dụng như nghiên cứu thu và xử lý ảnh vệ tinh có độ phân giải cao để theo dõi tình trạng cháy rừng, kỹ thuật viễn thám, địa chất vật lý, thăm dò dầu khí …

    Khoa học và kỹ thuật đã có khả năng thích nghi và làm chủ nhiều kỹ thuật tiên tiến ngoại nhập trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là viễn thông, năng lượng, dầu khí, cơ khí lắp ráp xe máy, ôtô và các loại hàng điện tử dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng … Nhiều vấn đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng với quốc kế dân sinh do thực tiễn đặt ra đã được lực lượng khoa học và kỹ thuật nước ta nghiên cứu và đưa ra giải pháp hữu hiệu như : cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống thiên tai đặc biệt là phương án kiểm soát lũ ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long… Các giải pháp chống sa mạc hoá ở vùng ven biển miền Trung, sản xuất vắc xin phòng chống viêm gan B. Đặc biệt, trong các ngành nông nghiệp và thuỷ sản, khoa học và kỹ thuật góp phần lai tạo nhiều giống cây

    con có năng suất, chất lượng cao. Các giống lúa lai, ngô lai của Việt Nam chiếm lĩnh 65 % thị phần trong nước. Chúng ta còn nghiên cứu thành công kỹ thuật nuôi tôm sú nước mặn, nước lợ và nước ngọt, năng suất từ vài tạ trên một ha đã tăng lên 2 đến 3 tấn một ha. Nhờ có khoa học và kỹ thuật mà ngành nông nghiệp đã tạo ra mức tăng sản lượng lương thực từ 30,6 triệu tấn ( 1997 ) lên 34,7 triệu tấn ( năm 2000)…

    Những thành quả trên bước đầu đã cho thấy tiềm năng to lớn của khoa học và kỹ thuật nước ta có thể tạo ra động lực thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước .

    3.3> Để khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    Mục tiêu của công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đến những năm 2020 là về cơ bản, nước ta trở thành một nước công nghiệp. Khác với các nước đi đầu, công nghiệp hoá đòi hỏi phải kéo dài hàng thế kỷ thì công nghiệp hoá ở nước ta đòi hỏi phải thực hiện rút ngắn, “ đi tắt , đón đầu ’’. Có như vậy chúng ta mới có thể rút ngắn được khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nước phát triển. Công nghiệp hoá không chỉ là quá trình chuyển trạng thái kinh tế – xã hội của đất nước từ trạng thái năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, dựa vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chính sang trạng thái năng suất, chất lượng và hiệu quả cao dựa trên phương pháp sản xuất công nghiệp, vận dụng những thành tựu mới của khoa học và những kỹ thuật tiên tiến mà ta còn có thể xem công nghiệp hoá là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các nghành có hàm lượng khoa học và kỹ thuật cao, giá trị tăng cao. Vì thế nếu không đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật thì cũng không thể nói đến đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Cùng với đó, yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường cũng đòi hỏi chúng ta phải phát triển khoa học và kỹ thuật. Đây vừa là cơ hội, để tận dụng lợi thế của các nước phát triển sau, vừa là thách thức đòi hỏi phải vượt qua. Đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật đối với nước ta không chỉ bắt nguồn từ đòi hỏi bức xúc của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá và quá trình phát triển nền kinh tế thị trường mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN mà về bản chất là một kiểu định hướng tổ chức nền kinh tế xã hội vừa dựa trên

    nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên nguyên tắc và mục tiêu của CNXH. Muốn đạt được điều đó, chúng ta cần có sự nỗ lực và sáng tạo rất cao, mà nếu không đủ trình độ trí tuệ, không đủ năng lực nội sinh thì khó có thể thành công. Do vậy, đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật trở nên rất quan trọng và bức thiết. Muốn vậy, chúng ta phải thực hiện một số phương pháp sau :

    Một là, tạo ra được động lực cho sự phát triển khoa học và kỹ thuật. Động lực phát triển khoa học và kỹ thuật luôn luôn vận động từ hai phía : khoa học và sản xuất. Do vậy, chúng ta cần phải khuyến khích người sản xuất tự tìm đến khoa học, coi khoa học và kỹ thuật là yếu tố sống còn và phát triển của doanh nghiệp. Chỉ có như vậy mới có thể thúc đẩy nhu cầu về khoa học và kỹ thuật, các nhà khoa học mới có cơ hội để phát huy triệt để năng lực của mình . Để tạo được năng lực này, chúng ta cần phải :

    • Hình thành cơ chế chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp làm việc có hiệu quả bằng cách ứng dụng khoa học, triển khai kỹ thuật.
    • Cho phép các doanh nghiệp dùng vốn của mình để sử dụng và phát triển khoa học.
    • Sớm sửa đổi và hoàn thiện các chính sách miễn và giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật tiên tiến, đổi mới kỹ thuật, đổi mới sản phẩm. Đánh thuế cao đối với các doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật lạc hậu, tiêu tốn nguyên liệu và nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường …

    Đối với những người làm khoa học, chúng ta cần phải đảm bảo cho có đựơc mức thu nhập tương ứng với giá trị lao động mà họ đã bỏ ra, trang bị cơ sở vật chất cần thiết để làm việc, khuyến khích tạo điều kiện để cán bộ khoa học và kỹ thuật là người Việt Nam sống ở nước ngoài chuyển giao tri thức , kỹ thuật về nước .

    Hai là, tạo vốn cho hoạt động khoa học và kỹ thuật .Vốn là nguồn lực để phát triển khoa học và kỹ thuật. Nếu không có hoặc thiếu vốn thì đều không có đủ điều kiện để thực hiện các mục tiêu khoa học và kỹ thuật. Kinh nghiệm ở các nước cho thấy vấn đề phát triển khoa học và kỹ thuật thường được huy động từ hai phía nhà nước và khu vực doanh nghiệp, trong đó phần nhiều là từ các nhà

    doanh nghiệp. Tại hội nghị ban chấp hành TW khoá VIII lần hai, Đảng ta đưa ra chính sách đầu tư khuyến khích hỗ trợ phát triển khoa học và kỹ thuật, theo đó một phần vốn ở các doanh nghiệp được dành cho nghiên cứu, đổi mới kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực. Một phần vốn từ các chương trình kinh tế – xã hội và dự án được dành để đầu tư cho khoa học và kỹ thuật nhằm đẩy mạnh việc nghiên cứu, triển khai và đảm bảo hiệu quả của dự án. Tăng dần tỷ lệ chi ngân sách nhà nước hàng năm cho khoa học và kỹ thuật đạt không dưới 2 % tổng chi ngân sách nhà nước .

    Ba là, mở rộng quan hệ quốc tế về khoa học và kỹ thuật. Có thể nói, đây là điều kiện rất quan trọng để phát triển khoa học và kỹ thuật. Nếu không thực hiện có hiệu quả quan hệ hợp tác và trao đổi quốc tế về nghiên cứu – triển khai … thì không thể tiếp nhận được khoa học và kỹ thuật tiên tiến của nhân loại, không thể tranh thủ nhân tố ngoại sinh hết sức cần thiết để làm biến đổi các nhân tố nội sinh, thúc đẩy năng lực khoa học và kỹ thuật quốc gia. Chúng ta cần coi trọng hợp tác nhằm phát triển các nghành kỹ thuật cao, ưu tiên hợp tác đầu tư nước ngoài vào phát triển khoa học và kỹ thuật, chỉ nhập khẩu và tiếp nhận chuyển giao những kỹ thuật tiên tiến phù hợp với khả năng của chúng ta .

    Bốn là, tăng nguồn nhân lực khoa học và kỹ thuật. Nguồn nhân lực khoa học và kỹ thuật là lực lượng chủ yếu của công nghiệp hoá – hiện đại hoá và triển khai khoa học và kỹ thuật. Thiếu nguồn lực này thì không thể nói tới sự phát triển. Vì vậy, chúng ta cần đẩy nhanh việc đào tạo các cán bộ khoa học và kỹ thuật, nhất là cho các nghành kinh tế trọng yếu và các nghành kỹ thuật cao; trẻ hoá đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật trong các cơ sở nghiên cứu, các trường học và các cơ sở kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển thị trường nhân lực khoa học và kỹ thuật.

    Năm là, tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động khoa học – kỹ thuật. Hệ thống này đóng vai trò phân phối, tập trung và quản lý lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật, đảm bảo tính hiệu quả của các mục tiêu phát triển. Một trong những nguyên nhân khiến cho khoa học và kỹ thuật quốc gia hiện nay còn thua kém các nước trên thế giới là do tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật còn kém hiệu quả. Vì vậy, việc tiếp tục đổi mới hệ thống này theo hướng nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động khoa học và kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược

    nhằm phát triển tiềm lực, đón đầu và phát triển những kỹ thuật mới có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ nền kinh tế.

    Những giải pháp này luôn có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Do vậy, việc thực hiện đồng bộ chúng sẽ mang lại hiệu quả cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    4> Chiến lược phát triển khoa học – kỹ thuật.

    Việt Nam coi khoa học – kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là “ lực lượng sản xuất hàng đầu’’ trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá, phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai, ban chấp hành TW khoá VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ngày 24 -12 – 1996 đã vạch ra định hướng chung của chiến lược phát triển khoa học – kỹ thuật đến năm 2020 là :

    • Vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác- LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, đi sâu điều tra, nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới đất nước. Xây dựng, không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN.
    • Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng an ninh, nhanh chóng nâng cao trình độ kỹ thuật của đất nước. Coi trọng nghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các kỹ thuật nhập từ bên ngoài tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều kỹ thuật mới ở những khâu quyết định đối với sự phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI.
    • Nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng, phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật của nhà nước: Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật có đủ đức, đủ tài, kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng các nguồn cung cấp thông

    tin, từng bước hình thành một nền khoa học và kỹ thuật hiện đại của Việt Nam có khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt được đặt trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    Để thực hiện được mục tiêu chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật , đưa khoa học và kỹ thuật nước ta thực sự trở thành nền tảng và động lực cho quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, trong giai đoạn tới chúng ta cần tập trung thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

    Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật để khoa học và kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong phát triển kinh tế xã hội. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, quan tâm tới hiệu quả khi lựa chọn kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi nỗ lực của các doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các cá nhân tiếp cận, vận dụng, nghiên cứu và phát triển khoa học và kỹ thuật theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước .

    Đổi mới quản lý khoa học và kỹ thuật là ưu tiên phát triển kỹ thuật cao. Đây là một giải pháp có ý nghĩa đột phá. Trong giai đoạn tới, chúng ta cần chuyển đổi căn bản cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật hiện nay còn nặng về hành chính, bao cấp sang cơ chế mới dựa trên nguyên tắc hướng dẫn, phân cấp, hướng tới thị trường và phù hợp với đặc thù của hoạt động khoa học và kỹ thuật ; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân hoạt động khoa học và kỹ thuật. Đặc biệt chú trọng chính sách đối với cán bộ khoa học và kỹ thuật trong đào tạo, tuyển dụng, đãi ngộ nhằm tạo động lực thu hút và khuyến khích nhân tài cống hiến cho sự nghiệp khoa học và kỹ thuật. Đồng thời cần sắp xếp lại các tổ chức khoa học và kỹ thuật phù hợp với từng loại hình hoạt động và định hướng ưu tiênvề phát triển khoa học và kỹ thuật.

    Xây dựng và phát triển thị trường khoa học và kỹ thuật. Trước hết cần xây dựng năng lực đổi mới kỹ thuật và tạo nhu cầu mạnh mẽ từ phía doanh nghiệp thông qua việc tăng cường hỗ trợ của nhà nước nhằm nâng cao năng lực đổi mới kỹ thuật của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng sản phẩm khoa học và kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống như : dành tỷ lệ thích đáng kinh phí khoa học và kỹ thuật của nhà nước cho việc hỗ trợ, hoàn thiện sản phẩm nghiên

    cứu có khả năng thương mại hoá, hoàn thiện quy trình, quy phạm giám định về độ tin cậy, chất lượng, an toàn và giá cả của kỹ thuật trước chuyển giao. Phát triển các dịch vụ môi giới về thị trường khoa học và kỹ thuật, kể cả nước ngoài. Phát triển các tổ chức tư vấn khoa học và kỹ thuật, dịch vụ môi giới về kỹ thuật, cung cấp thông tin thị trường khoa học và kỹ thuật. Xây dựng các chợ kỹ thuật ( techmart ) làm cầu nối giữa cung và cầu của kỹ thuật. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển thị trường khoa học và kỹ thuật, đặc biệt là các văn bản pháp luật về bảo vệ sở hữu trí tuệ.

    Phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật, tập trung đầu tư xây dựngcác lĩnh vực khoa học và kỹ thuật trọng điểm quốc gia. Có như vậy mới nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với khu vực và quốc tế, phục vụ có hiệu quả cho mục tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn tới. Thực hiện xã hội hoá đầu tư cho khoa học và kỹ thuật. Một mặt tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước để xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất kỷ thuật và các nguồn lực cho các hướng khoa học và kỹ thuật ưu tiên trọng điểm quốc gia. Mặt khác xoá bỏ bao cấp tràn lan, tạo môi trường thuận lợi để huy động nguồn lực xã hội nhằm gắn kết khoa học và kỹ thuật với sản xuất và đời sống.

    Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt với nước ta hiện nay. Định hướng giải pháp về hợp tác khoa học và kỹ thuật trong những năm tới là tạo ra cơ chế, chính sách thuận lợi để các tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và kỹ thuật được học tập, đào tạo, giao lưu, hợp tác nghiên cứu với thế giới và khu vực. Đồng thời khuyến khích, thu hút cán bộ khoa học Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, liên kết, hợp tác phát triển khoa học và kỹ thuật tại Việt Nam . Chúng ta đang đứng trước những thách thức to lớn trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật cũng như nền kinh tế dựa trên tri thức. Nhưng điều này càng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học và kỹ thuật trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá và phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Để cho khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá, chúng ta cần phải quán triệt quan điểm phát triển khoa học và kỹ thuật trong toàn Đảng, toàn dân.

    Kết luận.

    Công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay đang bước vào thời kỳ phát triển mới – đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hoá. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị lớn lao của học thuyết Mác – Lênin về hình thái kinh tế – xã hội. Đây là cơ sở lý luận cho đường lối cách mạng của Đảng cộng sản, so sánh con đường cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới XHCN. Khi tiến hành phân tích hình thái kinh tế – xã hội TBCN, CácMác đã khẳng định: Sự phát triển của những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, song không phải quốc gia, dân tộc nào cũng nhất thiết phải trải qua tất cả các hình thái đã có trong lịch sử. Do những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, một quốc gia, một dân tộc có thể bỏ qua một hình thái kinh tế -xã hội nhất định nào đó. Với Việt Nam, con đường phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường phát triển tất yếu, khách quan hợp quy luật và về thực chất đó chính là quá trình thực hiện Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước theo phương thức “rút ngắn thời gian , vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt” Nhằm tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực nhằm phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng nền kinh tế hiện đại. Mọi sự phát triển rút ngắn đều phải nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra sự phát triển vượt bậc thậm chí nhảy vọt của lực lượng sản xuất .Tuy nhiên dù phát triển tuần tự hay phát triển rút ngắn thì cũng đều là sự phát triển liên tục của lực lượng sản xuất. Tại đại hội IX- đại hội đầu tiên trong thế kỷ XXI, dựa trên lý luận và thực tiển sau mười lăm năm đổi mới đất nước theo định hướng XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin Đảng ta đã khẳng định :”con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu , thừa kế những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN,đặc biệt về khoa học và kỹ thuật , để phát triển nhanh lực lượng sản xuất , xây dựng nền kinh tế hiện đại.”(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB chính trị quốc gia HN 2001, Trang 84) . Như vậy trong sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học- kỹ thuật hiện

    đại. Hơn nữa cần biết phát huy những lợi thế của đất nước và tận dụng được những khả năng vốn có , đồng thời tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và kỹ thuật. Có như vậy chúng ta mới có thể phát huy được nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần vốn có của Việt Nam để biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp như CacMác đã từng dự báo và làm cho khoa học, kỹ thuật trở thành nền tảng, động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước .

    DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình triết học Mác-Lênin. NXB chính trị quốc gia- 2002
    1. Phân viện báo chí và tuyên truyền-Bộ môn khoa học luận. Danh từ, thuật ngữ khoa học, kỹ thuật và khoa học về khoa học. NXB khoa học kỹ thuật. Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây-2002
    1. 3. Khoa học và kỹ thuật thế giới. Kinh nghiệm và định hướng chiến lược. NXB bộ khoa học, kỹ thuật và môi trường-2002. Trung tâm thông tin tư liệu khoa học và kỹ thuật quốc gia .
    1. Khoa học và kỹ thuật Việt Nam 1996-2000. NXB Bộ khoa học, kỹ thuật và môi trường -2001.
    1. GS,TS: Nguyển Trọng Chuẩn; PGS,TS: Nguyễn Thế Nghĩa; PGS,TS: Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên). Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam. lý luận và thực tiễn. NXB chính trị quốc gia Hà Nội- 2002
    1. PGS,TS: Đặng Hữu Toàn. Chủ nghĩa Mác-Lênin và công cuộc đổi mới

    Việt Nam

    1. Đỗ Đức Thịnh. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á. NXB chính trị quốc gia-1999
    1. Tạp chí cộng sản tháng 10-2003
    9.
    10.     Phần mở đầu

     

    MỤC LỤC

     

    ………………………………………………………….. 1

     

    Chương I : Nguồn gốc và cơ sở lý luận ………………………………. 4

     

    1 . Lực lượng sản xuất trong lý luận hình thái

     

    kinh tế xã hội của Mác ……………………………………………….. 4

     

    2 . Vai trò tất yếu của khoa học và kỹ thuật

     

    trong nền kinh tế toàn cầu ……………………………………………7

     

    Chương II : Công nghiệp hoá – hiện đại hoá Việt Nam ……………..11

     

    1. Sự hình thành và phát triển công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở Việt Nam. 1.1 Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là gì ?……………………………11

    1.2  Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình tất yếu

    của đất nước ………………………………………………………13

    1. Tính đặc thù của công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở Việt Nam …………18
    1. Khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất

    quan trọng hàng đầu …………………………………………………….23

    3.1 Khoa học và kỹ thuật là nền tảng và động lực của

    sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá…………………………23 3.2 Khoa học và kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế – xã hội

    trong những năm đổi mới………………………………………….26 3.3 Để khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành

    lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình Công nghiệp hoá,

    hiện đại hoá đất nước ………………………………………………29

    1. Chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật ………………………….32

     

    Kết luận …………………………………………………………………36


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rất lớn của mọt đối tượng trong xã hội. Cùng với sự quan tâm đó, giới tham gia thị trường chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụng trong phân tích và đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Hai hệ thống kĩ thuật phân tích được nói đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật. Trong khi đa số chúng ta đều ít nhiều có những kiến thức nhất định về phân tích cơ bản thì số lượng người hiểu và nắm về phân tích kĩ thuật còn hạn chế, hơn thế nữa khả năng ứng dụng và tính chính xác của nó còn là một vấn đề đang bàn cãi hàng trăm năm nay. Để thành viên Saga cũng có kiến thức nhất định về khía cạnh phân tích kĩ thuật, chúng tôi quyết định cung cấp loạt bài nghiên cứu về phân tích cơ bản. Đây là loạt bài lấy từ bài nghiên cứu của hai thành viên của Saga. Hy vọng có thể giúp các bạn một chút về kiến thức và nhận được góp ý của các Saganors.

    ———————————————————————

    Lịch sử hình thành
    Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm, từ một người tên là Charles H. Dow. Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phố Wall (The Wall Street Journal). Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884 ông đưa ra chỉ số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩ thời gian đó. William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sống cho những nghiên cứu của Dow bằng việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer” (Phong vũ biểu thị trường chứng khoán) vào năm 1922. Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W. Schabacker là người đã đã đi sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người đã đưa ra khái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật. Schabacker từng là chủ biên của tạp chí Forbes nổi tiếng. Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ. Điều này đã được ông thể hiện và chứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory and Practice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit”. Như vậy những cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow, nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend” (cuốn sách đã được tái bản 8 lần) và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring, … thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.

    Các quan điểm về Phân tích kỹ thuật
    Nguyên lý của thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định rằng trong tương lai người ta sẽ tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá khứ.
    (Edwin Lefevre, Reminiscenses of a Stock Operator)

    Thị trường chứng khoán hay bất kì thị trường nào đều không bao giờ phản ánh đúng giá trị thực của một hàng hóa được trao đổi bên trong đó mà nó phản ánh giá trị mà nhà đầu tư nhận thức được và cho rằng nó đáng giá như thế.

    Giá của bất kì một chứng khoán đã cho nào đều không chi ra mối quan hệ thực tế giữa cung và cầu mà là phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu.

    Vậy “Phân tích kỹ thuật” là gì? Nhiều nhà quan sát coi Phân tích kỹ thuật là một tập hợp những mánh khóe và cần đến sự tập luyện nghiêm túc thực sự. Những người vận dụng kết quả sau quá trình tập luyện ấy còn được gọi là “pháp sư”. Nhiều người hiểu về tính đúng đắn của công việc này nhưng họ vẫn đặt ra câu hỏi về tính chính xác trong dự báo các xu thế chính trên thị trường chứng khoán và thị trường các loại hàng hóa khác. Bản thân trong những người sử dụng Phân tích kỹ thuật cũng không có một sự thống nhất về quan điểm về bản chất của Phân tích kỹ thuật vì Phân tích kỹ thuật có thể dược hiểu thuần túy là một khoa học mà cũng có thể được hiểu là một nghệ thuật.

    Hiểu một cách rộng nhất thì Phân tích kỹ thuật luôn cố gắng nghiên cứu tình trạng “sức khỏe hiện tại của toàn thị trường hay của mỗi chứng khoán với mục đích là nhằm dự báo biến động tương lai của giá bằng cách dựa trên những kinh nghiệm có được với các hình mẫu kĩ thuật (hay mô hình kĩ thuật) thị trường đã xuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện. Giả thuyết căn bản trong Phân tích kỹ thuật là những kiến thức đã có về giá và hình mẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham khảo” nhằm xác định giá có xu thế như thế nào trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ thể.

    Ta sẽ xem xét một số định nghĩa đã được đưa ra về Phân tích kỹ thuật :
    Nick và Barbara Apostolous định nghĩa Phân tích kỹ thuật là “quá trình dự báo biến động giá chứng khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biến động trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu có ảnh hưởng đến giá”. Tuy nhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên gần tương đương với phân tích cơ bản – là quá trình ước lượng giá trị chứng khoán hay hàng hóa bằng cách phân tích các điều kiện kinh tế tài chính cơ bản mỗi công ty, mỗi ngành,…”

    Norman Fosback, trong cuốn “Stock Market Logic”:
    “Nếu như bản chất của phân tích cơ bản là việc xác định giá trị và xác định mua hay bán cổ phiếu khi giá trên thị trường sai lệch khỏi giá trị thực, thì Phân tích kỹ thuật lại dựa trên 2 giả thuyết cơ bản khác hoàn toàn. Thứ nhất, những ước lượng mang tính chủ quan là quá mơ hồ và không thích hợp và thứ hai là dao động giá trong tương lai có thể dự đoán được qua việc phân tích biến động giá trong quá khứ, phân tích mối quan hệ cung – cầu và một số yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường “

    Clifford Pistolese đã đưa ra định nghĩa khá đầy đủ như sau: “Phân tích kỹ thuật là việc sử dụng biểu đồ giá và khối lượng giao dịch làm cơ sở cho các quyết định đầu tư. Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này là ở chỗ các thông tin về giá và khối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra về việc mua hay bán một loại cổ phiếu. Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kết quả thực của các giao dịch đã thực hiện nên Phân tích kỹ thuật là cơ sở duy nhất cho việc ra các quyết định đầu tư”

    1. W. Schabacker, người cha đẻ của Phân tích kỹ thuật hiện đại đã mô tả Phân tích kỹ thuật như “một môn khoa học mới”. Schabacker giải thích rằng tất cả những yếu tố phân tích cơ bản  hợp lý đều mang đến tình trạng thị trường di xuống và chúng được đánh giá, tự động đưa vào và lưu lại trong các mức cân bằng thực trên biểu đồ chứng khoán. Ông còn mô tả sâu hơn đặc tính của biểu đồ cổ phiếu hay biểu đồ các loại hàng hóa khác như là một bộ nhớ hoàn hảo của thị trường và khẳng định chắc chắn rằng giá trị chủ yếu của một biểu đồ giá vượt ra ngoài ý nghĩa thực tế là một bức tranh ghi lại những giao dịch trong quá khứ.

    Định nghĩa cụ thể của Schabacker như sau:
    Việc Phân tích kỹ thuật các biến động thị trường là một khía cạnh của phân tích, dựa trên cơ sở những hiện tượng phát sinh từ chính thị trường, bỏ qua những tác động của các yếu tố trong phân tích cơ bản và các yếu tố khác.
    Trên thực tế Phân tích kỹ thuật có thể được giải thích đơn giản chỉ là phát biểu một cách đối lập lại với việc xem xét theo trường phái phân tích cơ bản. Khía cạnh cơ bản của phân tích thị trường nhắm mối quan tâm đặc biệt vào những yếu tố như doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, việc kinh doanh của doanh nghiệp, tiềm năng, họat động trong quá khứ, thu nhập hiện tại và tương lai, bảng cân đối kế toán, sức mạnh tài chính, chất lượng của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, …Các yếu tố kĩ thuật là những gì có thể được coi là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng biến động về giá cổ phiếu sau khi đã bỏ qua các yếu tố thuộc phân tích cơ bản và những yếu tố không thực sự có ảnh hưởng. ”
     
    Còn theo Edward và Magee thì:
    “Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghi nhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên những thay đổi về giá, khối lượng giao dịch, … của một chứng khoán bất kì hay với chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suy luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”

    Không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách “Technical Analysis of Stock Trend” của Edward và Magee lại được tái bản tới 8 lần, đây là quyển sách mang tính đầy đủ nhất và cơ bản nhất khi tìm hiểu về Phân tích kỹ thuật , vì vậy để có thể hiểu rõ thì rất cần nghiên cứu kĩ cuốn sách này. ở đây sẽ trích dẫn thêm một số đoạn nhằm giúp người đọc hiểu kĩ hơn ”…những nhà Phân tích kỹ thuật luôn phát biểu với lý luận đầy đủ còn lượng thông tin, dữ liệu mà phân tích cơ bản nghiên cứu là quá cũ và không con giá trị sử dụng. Bởi vì tâm lý thị trường không quan tâm đến quá khứ và thậm chí là cả hiện tại, thị trường luôn hướng về phía trước, cố gắng phản ánh những tăng trưởng trong tương lai, xem xét đo lường và làm cân bằng tất cả những ước lượng, dự đoán của hàng trăm nhà đầu tư – những người cùng nhìn vào tương lai nhưng dưới những góc độ hoàn toàn khác nhau và với những cặp kính nhiều màu sắc. Tóm lại, giá thị trường được tạo lên bởi bản thân thị trường, bao gồm tất cả những thông tin thuộc về cơ bản mà những nguời phân tích thống kê muốn tìm hiểu cùng với nhiều những nguồn thông tin khác có tầm quan trọng ngang hoặc lớn hơn nhiều…”

    Edward và Magee còn đưa ra 4 điểm căn bản sau về Phân tích kỹ thuật:

    • Giá trị thị trường của một chứng khoán được xác định duy nhất thông qua tác động qua lại giữa cung và cầu.
    • Cung và cầu chịu ảnh hưởng, ở bất kì thời điểm nào, bởi hàng trăm những yếu tố, một số là ảnh hưởng hợp lý, một số hầu như phi lý. Thông tin, ý kiến, tâm lý, dự đoán,…(có thể đúng, có thể sai,…) về tương lai kết hợp và trộn lẫn với nhau và với những yếu tố cần thiết khác để tạo thành sự cân bằng chung của toàn thị trường. Không một cá nhân nào có thể nắm lấy và định lượng những điều này mà thị trường sẽ tự thực hiện.
    • Bỏ qua những dao động nhỏ thì giá nhìn chung sẽ vận động theo những xu thế giá chung của thị trường, những xu thế này là ổn định trong một khoảng thời gian tương đối dài.
    • Những thay đổi trong xu thế thị trường thể hiện qua sự dịch chuyển của điểm cân bằng cung cầu dù là vì bất kì nguyên nhân nào đều có thể xác định sớm hơn hoặc muộn hơn thời điểm thị trường biến động.

    Cuối cùng ta sẽ xem xét định nghĩa của Steven B. Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from A to Z”:
    “Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư…”

    Xét cho cùng định nghĩa về Phân tích kỹ thuật cũng chỉ cần đơn giản như vậy còn cụ thể bản chất, cách thực hiện sẽ được nghiên cứu ở các phần tiếp theo đặc biệt là phần lý thuyết Dow.

     

    Những giả định cơ sở và những bàn luận xung quanh việc áp dụng Phân tích kỹ thuật vào thị trường chứng khoán.

    1. Những giả định cơ sở
      Phân tích kỹ thuật là sự nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếu thông qua việc sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán các xu thế biến động của giá trong tương lai.

    Thuật ngữ “biến động của thị trường” ám chỉ ba yếu tố biến động chính cung cấp thông tin cho quá trình Phân tích kỹ thuật là giá, khối lượng giao dịch và số lượng hợp đồng chưa tất toán (open interest).
    Có 3 giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kỹ thuật:
    – Biến động thị trường phản ánh tất cả
    – Giá dịch chuyển theo xu thế chung
    – Lịch sử sẽ tự lặp lại

    Biến động thị trường phản ánh tất cả.
    Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật. Mọi lý thuyết, phân tích khác muốn được chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này. Các nhà Phân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm lý, chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức. . . đều được phản ánh rõ trong giá thị trường. Do đó có người cho rằng việc nghiên cứu biến động của giá là tất cả những gì ta cần và thực sự không thể phản đối lại ý kiến này.

    Trên cơ sở nhận thức chung về việc giá phản ánh những biến động trong cung, cầu. Các nhà Phân tích kỹ thuật chỉ ra rằng khi giá tăng dù vì bất kì lý do gì thì cầu phải vượt cung và thị trường tăng giá. Chúng ta cũng đều biết và đồng ý rằng động lực chính của cung và cầu là những yếu tố kinh tế căn bản, chúng làm hình thành lên Bull Market hay Bear Market, còn đồ thị thì không tự nó làm cho thị trường dịch chuyển lên hay xuống. Đồ thị chỉ có thể phản ánh tình hình thị trường mà thôi.

    Giá vận động theo xu thế
    Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong Phân tích kỹ thuật do đó cần hiểu kĩ về giả định này trước khi muốn tìm hiểu sâu thêm về nó. Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những xu thế này. Trên  thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lại những xu thế giá có từ trước tức là mục đích của Phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại của những dạng biến động của giá đã xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp.

    Từ giả định này chúng ta còn có một hệ quả là “một xu thế giá đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó và ít khi có đảo chiều”. Hệ quả này rút ra từ định luật 1 về sự vận động của Newton, do đó nó cách phát biểu khác như sau:   “một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều”. Nhìn chung tất cả những nghiên cứu nhằm tiếp cận theo các xu thế đều nhằm để đi theo những xu thế giá hiện tại cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều.

    Lịch sử sẽ tự lặp lại.
    Phần lớn nội dung của Phân tích kỹ thuật và việc nghiên cứu biến động thị trường đều phải nhằm vào nghiên cứu tâm lý con người. Chẳng hạn như những mô hình giá, những mô hình này đã được xác định và chứng minh từ hơn 100 năm nay, chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá. Những bức tranh này chỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá. Việc áp dụng những mô hình này đã phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫn tiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi. Như  thế giả định này có thể được phát biểu là : “Chìa khóa để nắm bắt tương lai nằm trong việc nghiên cứu quá khứ” hay “tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ

    2. Những bàn luận xung quanh việc áp dụng Phân tích kỹ thuật vào thị trường chứng khoán

    Dự đoán trong phân tích cơ bản đối lập với trong Phân tích kỹ thuật
    Trong khi Phân tích kỹ thuật tập trung vào việc nghiên cứu biến động thị trường thì Phân tích cơ bản  lại tập trung  vào các động lực kinh tế của cung và cầu – những nguyên nhân gây ra sự vận động của giá. Phân tích cơ bản tiếp cận theo hướng phân tích các thành tố có liên quan ảnh hưởng đến giá thị trường nhằm xác định giá trị thực của một loại chứng khoán – giá trị được xác định thông qua cung cầu và cuối cùng là để xác định các điểm thị trường bán trên giá trị thực tế (overprice) và các điểm thị trường bán dưới giá trị thực (underprice). Cả hai hướng tiếp cận theo Phân tích cơ bản và Phân tích kỹ thuật đều nhằm xác định xu thế mà giá có thể vận động tuy nhiên cách tiếp cận là khác nhau: những nhà phân tích cơ bản thì nghiên cứu nguyên nhân của những biến động thị trường trong khi những nhà Phân tích kỹ thuật lại nghiên cứu tác động của các biến động ấy.

    Một số nhà đầu tư tự coi mình là người theo Phân tích cơ bản hay Phân tích kỹ thuật nhưng thực tế có rất nhiều sự trùng lặp: nhiều nhà Phân tích cơ bản có áp dụng những nguyên lý của Phân tích kỹ thuật trong công việc của mình trong khi hầu hết các nhà Phân tích kỹ thuật lại ít nhiều đều có thời kỳ đi theo Phân tích cơ bản.

    Thường thì vào những giai đoạn bắt đầu của một số biến động quan trọng của thị trường những nhà Phân tích cơ bản không giải thích và không ủng hộ những gì mà thị trường chuẩn bị diễn ra. Chính tại những thời điểm nhạy cảm này mà hai trường phái phân tích tỏ ra khác nhau nhất. Hai trường phái này rồi sẽ lại giống nhau ở một số điểm nhưng nếu nhà đầu tư nào muốn dựa vào những điểm đó để làm cơ sở chắc chắn cho các quyết định của mình thì nó sẽ là quá muộn.

    Một cách giải thích cho mâu thuẫn này là “giá thị trường có vai trò chỉ dẫn cho những người nghiên cứu Phân tích cơ bản” hoặc có thể nói giá thị trường là chỉ số dẫn đạo cho những nhà phân tích cơ bản. Những người có nghiên cứu về Phân tích kỹ thuật đều có thể nhận thấy những thay đổi về giá có tác động đến thị trường, hay là họ đã theo nhịp của thị trường, còn những người theo phân tích cơ bản lại chịu ảnh hưởng từ những biến động ấy. Những thời điểm thị trường lên giá mạnh và giảm giá trầm trọng được ghi nhận trong lịch sử thường do sự không nhận thức được hoặc nhận thức được quá ít những thay đổi thị trường và cho đến khi những biến động ấy được nhận thức rộng rãi thì bản thân nó đã chuyển hướng và vận động theo hướng khác rồi.

    Phân tích và chọn thời điểm có đối lập với nhau không?
    Quay lại với Phân tích kỹ thuật, quá trình ra quyết định có thể được chia thành 2 giai đoạn là phân tích và chọn thời điểm. Với những thị trường có “tác động đòn bẩy” lớn chẳng hạn như thị trường tương lai (thị trường có các công cụ phái sinh như: hợp đồng tương lai – futures và hợp đồng quyền chọn – Options) thì việc xác định thời điểm tham gia vào có vai trò rất quan trọng bởi hoàn toàn có trường hợp bạn đã phân tích và theo đúng tình hình thị trường nhưng bạn vẫn có thể mất tiền của mình. Cho dù mức tiền đặt cọc đối với thị trường tương lai là nhỏ (chỉ khoảng 10%) thì dù chỉ một lượng rất nhỏ giá vận động sai hướng có thể tác động đẩy nhà đầu tư ra khỏi thị trường và mất toàn bộ mức tiền đặt cọc ấy. Trái lại trong giao dịch trên thị trường chứng khoán, khi một nhà đầu tư nhận thấy mình đang lệch khỏi thị trường đối với một loại cổ phiếu nào đó thì anh ta chỉ việc đơn giản là giữ lại cổ phiếu đó và đợi cho đến khi cổ phiếu đó quay lại xu thế thị trường. Những người đầu tư vào thị trường tương lai sẽ không có đặc quyền ấy. Chiến lược “mua và nắm giữ” không thể áp dụng để đầu tư kiếm lời trên thị trường tương lai.

    Khi phân tích ta có thể áp dụng theo cơ bản hay kĩ thuật, nhưng để trả lời câu hỏi về xác định thời điểm tham gia vào hay thoát ra khỏi thị trường thì câu trả lời nằm hoàn toàn trong Phân tích kỹ thuật. Việc xác định thời điểm có ý nghĩa rất quan trọng với quyết định mua hay bán. Do đó khi xem xét các bước tiến hhành của nhà đầu tư trước khi đưa ra quyết định cuối cùng  ta có thể thấy việc áp dụng các nguyên lý của Phân tích kỹ thuật là không thể bỏ qua tại một số thời điểm của quá trình ra quyết định cho dù ở phần đầu của quá trình này khi tiến hành phân tích nhà đầu tư có thể áp dung theo phân tích cơ bản.

    Tính linh hoạt và tính thích dụng của Phân tích kỹ thuật.
    Một trong những thế mạnh lớn của Phân tích kỹ thuật là sự thích dụng của nó trong bất kì phương thức giao dịch nào và vào với bất kì khoản thời gian giao dịch nào. Không có một phần nào trong giao dịch chứng khoán hay các chứng khoán phái sinh mà Phân tích kỹ thuật không thể ứng dụng được.

    Một nhà phân tích đồ thị có thể sử dụng đồ thị trong bất kì và bao nhiêu thị trường tùy thích, nhưng điều này là không thể với một người sử dụng Phân tích cơ bản. Điều này là do với mỗi thị trường một người áp dụng Phân tích cơ bản sẽ phải xử lý một khối lượng  dữ liệu khổng lồ, nó cũng nói lên tại sao một người Phân tích cơ bản chỉ có thể chuyên vào một hay một nhóm nhỏ chứng khoán nhất định – những ưu thế này của Phân tích kỹ thuật là không thể bỏ qua.

    Mỗi thị trường đều phải trải qua những thời kỳ thị trường biến động mạnh và những thời kỳ trầm lắng, những giai đoạn mà giá biến động theo những xu thế rõ ràng và những giai đoạn mà xu thế của giá rất mờ nhạt thậm chí là không có một xu thế cụ thể nào. Khi đó những nhà Phân tích kỹ thuật có thể tập trung sự quan tâm cũng như những nguồn lực của mình vào những thị trường có cu thế vận động rõ ràng hơn và bỏ qua những thị trường loại kia. Điều này có nghĩa là họ có thể chuyển hướng đầu tư để tận dụng tính luân phiên tự nhiên của các thị trường. Vào những thời điểm khác nhau có những thị trường trởi lên “nóng”, có xu thế rõ ràng. Thông thường, tiếp theo những thời kỳ có xu thế giá cụ thể ấy là những thời kỳ giá biến động khá trầm và hầu như không có xu thế nào rõ rệt, trong khi đó ở một hay một nhóm thị trường khác lại có những dấu hiệu biến động nóng. Tóm lại, một nhà Phân tích kỹ thuật có thể tìm và tham gia những thị trường mà họ thấy có khả năng kiếm lời nhanh chóng, còn những nhà Phân tích cơ bản thì không có tính linh họat ấy do tính chuyên sâu vào một loại thị trường như đã nói ở trên. Mặc dù họ hoàn toàn có quyền chuyển hướng quan tâm của mình vào một thị trường khác, nhưng điều ấy cũng có nghĩa là họ phải đối mặt với việc xử lý một khối lượng lớn các dữ liệu của thị trường mới này và rõ ràng là họ sẽ mất rất nhiều thời gian.

    Một lợi thế khác của các chuyên gia Phân tích kỹ thuật là họ có “bức tranh tổng thể về thị trường”. Bởi vì họ theo dõi và nghiên cứu nhiều loại thị trường khác nhau nên họ luôn có được cảm nhận rất tôt về những biến động chung nhất của toàn thị trường, tránh được rơi vào tình trạng có những cái nhìn bó hẹp về thị trường – điều rất dễ xảy ra nếu chỉ chú trọng vào một hay một nhóm nhỏ thị trường nhất định. Đồng thời bởi vì mỗi thị trường đều xây dựng trên cơ sở những mối quan hệ kinh tế và cùng phản ứng lại những nhân tố kinh tế theo cách tương tự nhau cho nên biến động giá ở một hay một nhóm thị trường này có thể là những gợi ý cho việc dự đoán giá ở một hay một số thị trường khác.

    Ứng dụng Phân tích kỹ thuật vào các hình thức giao dịch khác nhau.
    Các nguyên lý của phân tích lĩ thuật có thể áp dụng trên thị trường chứng khoán cũng như trên thị trường tương lai. Các hợp đồng tài chính, bao gồm cả các hợp đồng về lãi suất và ngoại tệ trở nên vô cùng phổ biến trong những thập kỉ gần đây và đã chứng minh chúng là những đối tượng cần quan tâm mới cho phân tích biểu đồ. Trong giao dịch Options các nguyên lý của Phân tích kỹ thuật đóng vai trò rất lớn, rồi trong các giao dịch mang tính phòng vệ đầu tư (hedging) việc áp dụng Phân tích kỹ thuật cũng mang lại những lợi thế rất lớn.

    Phân tích kỹ thuật áp dụng vào những khoảng thời gian có độ dài khác nhau. 

    Đây là một trong những sức mạnh của Phân tích kỹ thuật. Cho dù nhà đầu tư tham gia vào những giao dịch ngắn chỉ trong một ngày trong đó quan tâm đến từng biến động nhỏ hay đầu tư theo phân tích xu thế giá thì những nguyên lý chung chưa bao giờ tỏ ra vô giá trị. ý tưởng cho rằng biểu đồ chỉ hữu ích cho phân tích trong ngắn hạn là sai bởi người ta luôn  nói đến những khoảng thời gian dài trong dự báo của Phân tích kỹ thuật. Cho dù người ta luôn nói rằng để phân tích trong dài hạn thì nên áp dụng phân tích cơ bản nhưng thực tế cho thấy những dự báo sử dụng Phân tích kỹ thuật trong các biểu đồ tuần, tháng, năm có giá trị không kém chút nào. Một người khi đã nắm vững Phân tích kỹ thuật thì hoàn toàn có thể áp dụng rất đa dạng và linh hoạt trên bất cứ thị trường hay lĩnh vực đầu tư nào. Phân tích kỹ thuật có thể dùng không chỉ để dự báo giá chứng khoán mà có thể áp dụng dự đoán biến động của các loại hàng hóa, các biến động của nền kinh tế, của lạm phát, lãi  suất….

    Quá khứ có thể được dùng để dự đoán tương lai hay không?
    Hầu hết những những người phản đối Phân tích kỹ thuật đều đưa ra câu hỏi về vấn đề này. Nhưng hãy thử nhìn lại hầu hết những hình thức dự báo mà chúng ta đã biết đều hoàn toàn dựa trên những nghiên cứu đối với những dữ liệu trong quá khứ chẳng hạn như dự báo thời tiết hay kể cả Phân tích cơ bản. Liệu còn loại dữ liệu nào khác để sử dụng trong phân tích?

    Trong thống kê có hai loại là thống kê mô tả và thống kê quy nạp. Thống kê mô tả nhằm đưa ra dữ liệu dưới các dạng biểu đồ khác nhau. Còn thống kê quy nạp lại mang tính tổng quát hoá, dự đoán, ngoại suy, ước lượng tức là những thông tin được suy ra từ việc phân tích dữ liệu. Như vậy các biểu đồ giá mang tính chất và dáng dấp của phân tích mô tả, còn những nhà Phân tích kỹ thuật lại thực hiện công việc xử lý những dữ liệu về giá cần đến thống kê quy nạp.

    Trong một cuốn sách về thống kê có viết “ bước đầu tiên của dự đoán hoạt động kinh doanh hay dự đoán một hiện tượng kinh tế trong tương lai là tập hợp các quan sát ghi nhận được trong quá khứ”. Phân tích đồ thị cũng chỉ là cũng chỉ là một dạng của phân tích chuỗi thời gian, đều dựa trên cơ sở phân tích quá khứ – đó là tất cả những gì ta cần khi phân tích một chuỗi thời gian. Dạng thông tin duy nhất mà chúng ta có thể sử dụng là những thông tin trong quá khứ. Chúng ta chỉ có thể dự tính tương lai bằng cách áp dụng vào tương lai đó những kinh nghiệm có được trong quá khứ. Bất kì một ai nếu cứ dựa vào đây để phản đối lại Phân tích kỹ thuật thì người đó cũng nên đặt câu hỏi với tính chính xác của mọi dự báo trong phân tích cơ bản bởi chúng cũng đều dựa trên dữ liệu trong quá khứ.

    Lý thuyết “Bước đi ngẫu nhiên” – random walk
    Lý thuyết “bước đi ngẫu nhiên” cho rằng những biến động của giá là một chuỗi hoàn toàn độc lập và những biến động trong quá khứ của giá hoàn toàn không phải là một chỉ số đáng tin cậy cho việc dự đoán xu thế tương lai. Tóm lại biến động của giá là ngẫu nhiên và hoàn toàn không thể dự đoán được. Lý thuyết này dựa trên cơ sở lý thuyết “Thị trường hiệu quả”, trong đó cho rằng giá thị trường sẽ dao động xung quanh giá trị thực của nó. Thuyết này cũng cho rằng chiến lược đầu tư tốt nhất vào thị trường chỉ đơn giản là mua và nắm giữ, cũng có nghĩa là nó chống lại tất cả những cố gắng muốn “chiến thắng” thị trường. Lẽ dĩ nhiên trong bất kì thị trường nào cũng có những yếu tố ngẫu nhiên hay còn gọi là độ nhiễu, những rõ ràng nếu nói tất cả các biến động của giá đều là ngẫu nhiên thì khó có thể đồng tình. Đây có lẽ là một trong những phần mà những quan sát thực nghiệm, những kinh nghiệm thực hành có giá trị hơn những kĩ thuật thống kê công phu, kinh nghiệm là cái giúp cho mỗi người tự chứng minh cho suy nghĩ của riêng mình. ở đây khái niệm ngẫu nhiên cần được hiểu đơn giản là việc không thể xác định được các hình mẫu kĩ thuật đã có trong hệ thống, tức là những hình mẫu đồ thị giá mà người ta dùng để dự đoán xu thế tương lai của giá là hoàn toàn không thể nhận ra được. Tuy nhiên cho dù kể cả những chuyên gia giảng dạy trong lĩnh vực trong lĩnh vực này cũng đôi khi không thể xác định được sự xuất hiện của các hình mẫu kĩ thuật thì điều này cũng không có nghĩa là những hình mẫu giá đó không tồn tại.

    Điều này dẫn ra một câu hỏi là liệu xu thế thị trường có thực sự có ích lợi với những người đang hàng ngày phân tích hay tham gia vào thị trường nơi những xu thế (nếu có) đang hiện diện thực tế. Nhưng nếu nhìn bất cứ một đồ thị nào ta đều có thể thấy một xu thế của giá. Làm sao những người ủng hộ cho thuyết “bước ngẫu nhiên” giải thích cho những xu thế giá này nếu giá là ngẫu nhiên liên tục – nghĩa là những gì xảy ra vào ngày hôm qua, vào tuần trước, … đều không có ảnh hưởng vào những gì có thể xảy hôm nay và ngày mai? Làm sao họ giải thích được khả năng sinh lời thực tế của rất nhiều những chiến lược kinh doanh theo xu thế thị trường?

    Và nhiều câu hỏi khác:

    • Làm sao chiến lược mua và nắm giữ cổ phiếu có thể sử dụng trong thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai, nơi mà việc xác định thời điểm tham gia và rút lui khỏi thị trường là yếu tố sống còn?
    • Liệu những hợp đồng dài hạn có thể được nắm giữ suốt thời kì thị trường đi xuống?
    • Làm sao nhà đầu tư có thể biết được sự khác biệt giữa một Bull Market và một Bear Market nếu như giá biến động hoàn toàn không theo qui luật và không theo xu thế nào?
    • Thậm chí là có tồn tại Bull Market hay Bear Market hay không nếu không tồn tại các xu thế giá trên thị trường?

    Khó có thể xác định liệu mọi kết quả thống kê có thể hoàn toàn chững minh hay bác bỏ lý thuyết “bước ngẫu nhiên”. Dẫu sao thì ý tưởng thị trường mang tính ngẫu nhiên là hoàn toàn bị bác bỏ trong “cộng đồng Phân tích kỹ thuật”.Trong khi không thể bác bỏ tính hợp lý của việc tiếp cận thị trường theo khuynh hướng kĩ thuật thì bản thân thuyết “Thị trường hiệu quả” lại có nội dung rất gần với giả thuyết cơ bản của Phân tích kỹ thuật là “thị trường phản ánh tất cả”. Những nhà nghiên cứu cho rằng bởi vì thị trường phản ánh quá nhanh (gần như ngay lập tức) tất cả các thông tin nên không có cách nào để tận dụng ưu thế của thông tin trên thị trường. Cơ sở của Phân tích kỹ thuật như đã nói ở trên cho rằng những thông tin quan trọng về thị trường đều đã được phản ánh từ lâu trong các biến động giá trước khi nó được mọi người biết đến. Mọi chuyên gia đều cho rằng cần phải nghiên cứu và theo dõi kĩ biến động của giá chứ không thể dựa vào những thông tin tài chính căn bản để hi vọng kiếm lời.

    Nhìn chung việc quan sát đồ thị và nhận thấy sự ngẫu nhiên hay tính nhiễu của thị trường chỉ xảy ra với những người không hiểu sâu sắc qui trình hoạt động của thị trường. Nó cũng giống như một điện tâm đồ, với một người không được đào tạo thì anh ta sẽ hoàn toàn không biết ý nghĩa của nó là gì, nhưng với một bác sĩ thì lại khác, những đốm sáng tối trên đó chắc chắn sẽ cung cấp được rất nhiều thông tin. Như thế sự cảm nhận về tính ngẫu nhiên hay tính nhiễu của thị trường sẽ dần mất đi khi trình độ phân tích biểu đồ của một người ngày càng tăng.

     

    Các khái niệm và công cụ cơ bản sử dụng trong quá trình Phân tích kỹ thuật.

    Các loại biểu đồ.
    Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rất nhiều các loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart), biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), biểu đồ dạng ống (Candlestick chart).

    Biểu đồ dạng đường (Line chart).
    Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên Thị trường chứng khoán, và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngành khoa học khác dùng để mô phỏng các hiện tượng kinh tế và xã hội…và nó cũng là loại biểu đồ được con người dùng trong thời gian lâu dài nhất. Nhưng hiện nay trên Thị trường chứng khoán do khoa hock kỹ thuật phát triển, diễn biến của Thị trường chứng khoán ngày càng phức tạp cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng nhất la trên các Thị trường chứng khoán hiện đại. Hiện nay nó chủ yếu được sử dụng trên các Thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn, khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳ theo từng phiên hoặc nhiều lần trong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưa thể đạt được như Thị trường chứng khoán dùng phương pháp khớp lệnh liên tục.Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng, lý do chính là vì nó được sử dụng trên tất cả các Thị trường chứng khoán trên khắp thế giới từ trước tới nay. Hiện nay loại biểu đồ này ít được sử dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại vì các Thị trường chứng khoán hiện đại ngày nay thường diễn biến khá phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khá cao, nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại hiệu quả thấp trong phân tích.

    Ví dụ về dạng biểu đồ dạng đường (line chart):

    Đồ thị biến động VNIndex
    (tính đến ngày 18/01/2007 – bsc.com.vn)

    Hiện nay trên các Thị trường chứng khoán hiện đại đang dùng một số loại biểu đồ trong Phân tích kỹ thuật mang lại hiệu quả cao đó là Bar chart và Candlestick chart.

    Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)

    Ví dụ về dạng biểu đồ dạng then chắn (Bar chart):

    Cổ phiếu General Electric

    Trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay các chuyên viên phân tích thường dùng loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu lý do chính vì tính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự biến động của giá chứng khoán.
    Hai kí tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:

    loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giá chứng khoán trong một phiên giao dịch là tương đối lớn.

    Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

    Ví dụ về dạng biểu đồ dạng ống (Candlestick chart):

    Đồ thị biến đông giá của YAHOO, 18/1/2007
    (nguồn: http://www.stockcharts.com)

    Đây là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), nó được người Nhật Bản khám phá và áp dụng trên Thị trường chứng khoán của họ đầu tiên. Giờ đây nó đang dần được phổ biến hầu hết trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên toàn thế giới. Dạng biểu đồ này phản ánh rõ nét nhất về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh định kỳ.

    Hai kí tự mà loại biểu đồ này sử dụng là:

     

    Xu thế, Đường xu thế, Kênh

    Xu thế
    Khái niệm xu thế sẽ được giới thiệu kĩ hơn trong phần Lý thuyết Dow. Xu thế gồm có cả xu thế giá tăng và xu thế giá giảm. Xu thế giá tăng gồm liên tiếp những đỉnh giá cao dần và đáy giá cao dần (đỉnh trước cao hơn đỉnh sau và đáy trước cao hơn đáy sau). Một xu thế giá tăng sẽ được coi là vẫn duy trì cho đến khi xuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước nó. Ngược lại xu thế giá giảm cũng sẽ được coi là vẫn đang tiếp diễn cho đến khi xuất hiện một đỉnh mới cao hơn đỉnh trước nó.

    Đường xu thế
    Xu thế giá tăng và xu thế giá giảm cũng được nghiên cứu dưới dạng các đường xu thế. Với xu thế giá tăng ta có đường xu thế giá tăng, đây là đường nối các điểm đáy cao dần lên và đường xu thế giảm là đường nối các đỉnh thấp dần. Đường xu thế có thể kéo dài thậm chí nhiều năm. Qui trình vẽ một đường xu thế khá đơn giản nhưng cũng rất dễ nhầm. Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về sự xuất hiện một xu thế giá. Khi muốn vẽ một xu thế giá tăng ta phải có ít nhất hai điểm đáy mà đáy sau cao hơn đáy trước. Tất nhiên điều kiện cần và đủ để có thể vẽ được một đường thẳng là phải có hai điểm, tuy nhiên người ta thường đợi cho đến khi xuất hiện một đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xu thế đi qua cả 3 đáy (một cách tương đối). Điều này có nghĩa là đường xu thế có thể không đi qua đáy thứ ba mà chỉ đi sát, nhìn chung như thế là đạt yêu cầu. Nhưng một đường xu thế đi qua cả đáy bao giờ cũng được coi là một đường xu thế chính xác và có độ tin cậy cao.

    Khi một đường xu thế đã được xác nhận về độ chính xác thì nó sẽ trở nên rất hữu ích bởi tính chính xác ấy đảm bảo chắc chắn hướng chuyển động ổn định của giá. Với xu thế giá tăng, sau mỗi đợt tăng biến động điều chỉnh xuất hiện sẽ kéo giá xuống sát hoặc đến đúng đường xu thế những sẽ không xuống thấp hơn nếu xu thế thị trường vẫn đang ổn định. Đường xu thế lúc này là biên thấp nhất của dao động giá. Tương tự, với thị trường đang có xu thế giá giảm thì đường xu thế sẽ là biên cao nhất cho mọi dao động giá. Như thế, các đường xu thế chính xác của thị trường sẽ là các biên dao động cơ sở để xác định mức giá mua và bán tối đa và tối thiểu hợp lý.

    Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu thế giảm hoặc xuống dưới đường xu thế giá tăng thì đây là dấu hiệu, có thể nói là sớm nhất, cho sự thay đổi trong xu thế thị trường.

    Kênh
    Kênh là khoảng giao động của giá, nếu giá sẽ dao động trong một dải thì dải đó gọi là kênh. Dải dao động đó được xác định bởi hai đường biên là đường xu thế và đường kênh (channel line), hai đường này song song với nhau. Vấn đề là làm sao có thể xác định được hai đường này.

    Sau khi đã xác định được đường xu thế như trên, giả sử với xu thế giá tăng, ta vẽ đường kênh là một đường song song với đường xu thế và đi qua đỉnh giá rõ nhất đầu tiên. Nếu ở lần tăng giá tiếp theo giá tăng đến gần hoặc chạm vào đường kênh rồi lại giảm xuống đến gần đường xu thế thì khả năng có thể tồn tại một kênh dao động của giá. Với xu thế giá giảm việc vẽ và xác định kênh là hoàn toàn tương tự, tất nhiên là theo hướng ngược lại.

    Mỗi lần giá chạm vào hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại xuống đến đường xu thế là một lần kênh được kiểm tra thành công. Kênh tồn tại càng lâu với càng nhiều lần thử thành công thì vai trò cũng như độ tin cậy của nó càng lớn. Kênh có thể sử dụng cho kiếm lời trong ngắn hạn và thậm chí một số nhà đầu tư táo bạo còn sử dụng đường kênh để tiến hành những giao dịch ngược hướng với xu thế thị trường nhằm tìm kiếm những khoản lợi lớn hơn cho dù giao dịch ngược hướng thị trường có thể là một chiến thuật nguy hiểm và phải trả giá đắt.

    Khi chuyển động của giá trên thị trường phá vỡ đường xu thế thì có thể gây ra sự đảo chiều của xu thế thị trường, nhưng nếu đường kênh bị chuyển động của giá phá vỡ (khi giá vượt ra ngoài đường kênh) thì tác động lại hoàn toàn ngược lại: đây là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnh của xu thế hiện tại, thậm chí một số nhà đầu tư tin tưởng rằng việc giá chuyển động làm mất đi đường kênh sẽ xác nhận cho một xu thế ổn định trong thời gian dài và là cơ hội cho những nhà đầu tư thực hiện những hợp đồng dài hạn.

    Ngược lại, khi giá không lên được đến đường kênh mà quay ngược trở lại quá sớm thì đây lại là dấu hiệu dự báo sớm sự suy giảm của xu thế hiện tại và là dấu hiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ đường xu thế.

    Nói chung việc chuyển động của giá không thể đạt đến sát một trong hai đường biên của kênh có thể là một dấu hiệu sớm cho thấy xu thế giá có thể thay đổi và khả năng chuyển động của giá có khả năng sẽ phá vỡ đường biên còn lại của kênh. Với xu thế giá tăng, có thể có hai trường hợp (trong các hình vẽ ở hai trường hợp này ta giả định ban đầu kênh đang có xu thế hướng lên- xu thế tăng giá, hoàn toàn tương tự nếu muốn xem xét đối với xu thế giá giảm).

    Nếu chuyển động của giá vượt qua đường kênh một khoảng lớn thì đây là dấu hiệu cho thấy xu thế lên giá đang mạnh lên, thường ta sẽ phải vẽ một đường xu thế mới dốc hơn từ điểm đáy cuối cùng song song với đường kênh mới. Thực tế cho thấy đường xu thế mới này hoạt động tốt hơn đường cũ.

    Nếu giá không đạt được đến đường kênh và chuyển động phá vỡ đường xu thế thì điều này chỉ ra rằng xu thế thị trường đổi ch iều thành xu thế giá giảm. Hai đỉnh mới xuất hiện (đỉnh 5 và 7) sẽ là cơ sở để vẽ đường xu thế giá giảm, tương tự ta sẽ vẽ đường kênh song song đường xu thế và đi qua đáy 4. Chú ý là ở đây có sự đổi vai trò đường xu thế ban đầu trở thành đường kênh và ngược lại.

    Ngoài ra kênh và các đường kênh còn mang một ý nghĩa khác: Khi giá chuyển động phá vỡ xu thế hiện tại – xuất hiện ‘breakout’ từ kênh hiện tại, giá thường sẽ chuyển động một khoảng bằng với độ rộng của kênh đó.

    Như thế, để xác định điểm dừng của chuyển động này ta có thể tính tương đối chính xác bằng cách đo độ rộng của kênh vừa bị phá vỡ và dự kiến điểm dừng từ điểm giá vượt ra ngoài kênh (Tuy nhiên cần luôn luôn lưu ý rằng trong hai đường biên của kênh thì đường xu thế luôn có vai trò quan trọng và đáng tin cậy hơn, đường kênh chỉ là một công cụ kĩ thuật xuất phát từ đường xu thế).

     

    Mức hoàn lại – Khung giao dịch – Hỗ trợ và Kháng cự

    Mức hoàn lại.
    Trong bất kì một đồ thị nào ta đều thấy sau một giai đoạn giá chuyển động theo xu thế của thị trường thì giá sẽ hoàn lại một chút trước khi quay trở lại chuyển động theo xu thế cũ. Những chuyển động ngược xu thế này thường có độ lớn ở vào những khoản có thể dự đoán được và được gọi là mức hoàn lại. Mức hoàn lại trung bình thường gặp nhất là 50%. Bên cạnh đó còn có các mức hoàn lại thường thấy khác đó là các mức 1/3 và 2/3. Nói cách khác, nếu chia một xu thế giá thành ba phần thì nói mức hoàn lại thấp nhất là 33% và cao nhất là 66% có nghĩa là ở giai đoạn điều chỉnh của xu thế đó giá sẽ hoàn lại ít nhất 1/3 mức tăng (hay giảm) mà nó đạt được trong xu thế trước đó và mức hoàn lại đó không vượt quá 2/3 mức tăng (hay giảm) trước đó đạt được. Nếu mức hoàn lại cao hơn thì khả năng sẽ xảy ra sự đảo chiều thị trường tức là giá sẽ chuyển động theo xu thế đảo ngược xu thế trước mà không quay lại chuyển động theo xu thế đó.

    Khung Giao Dịch.
    Thị trường có thể ở một trong 3 xu thế là xu thế tăng, xu thế giảm và xu thế dao động ngang. Nhiều người cho rằng thị trường chỉ có thể tăng hoặc giảm, nhưng thực tế có đến 1/3 thời gian giá chuyển động theo một hình mẫu dạng ‘phẳng’ nằm ngang gọi là khung giao dịch. Khung giao dịch là một dải nằm ngang trên đồ thị trong đó bao gồm các dao động của giá trong một giai đoạn dài. Nói chung hầu hết các biến động của thị trường sẽ diễn ra bên trong khung giao dịch. Tuy nhiên khi thị trường có biến động dạng khung giao dịch thì lại rất khó kiếm được lợi nhuận. Khung giao dịch phản ánh thời kỳ mà áp lực cung cầu là tương đối cân bằng và giá duy trì ở mức cân bằng thị trường. Đôi khi người ta còn gọi thời kỳ mà giá biến động theo khung giao dịch là thời kỳ không có xu thế thị trường. Hầu hết các công cụ kinh tế đều được tạo ra để có thể áp dụng vào các thị trường có xu thế tăng hoặc giảm rõ rệt còn khi thị trường ở dang không có xu thế rõ rệt thì các công cụ này nhìn chung hoạt động kém hiệu quả, thậm chí là không thể áp dụng. Đây cũng chính là thời kỳ gây khó chịu nhất cho những người đi theo Phân tích kỹ thuật và gây ra nhiều lỗ nhất. Trong những tình huống ấy nhà đầu tư luôn phải đối mặt với một trong ba quyết định là mua, bán hay đứng ngoài không tham gia vào thị trường và thông thường thì quyết định không tham gia vào thị trường luôn là quyết định sáng suốt nhất.

    Thực tế cũng có một số phương pháp có thể áp dụng để kiếm lời khi thị trường xuất hiện dạng khung giao dịch, chẳng hạn như sử dụng các chỉ số dao động thị trường (Oscillators) mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau. Nhìn chung rất khó có thể dự đoán sự xuất hiện trong tương lai của mô hình khung giao dịch. Mô hình này cũng có thể kéo dài trong nhiều tháng, một năm hay nhiều năm. Cũng giống như kênh, khung giao dịch cũng có các đường biên bên trên và bên dưới, đây chính là các đường kháng cự và hỗ trợ của khung (ta sẽ nghiên cứu về kháng cự và hỗ trợ ở phần sau). Những “sự phá vỡ” (break out) ra ngoài khung có thể là các dấu hiệu quan trọng để tiến hành các giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý bởi giá cũng thường dao động vượt ra ngoài khung nhưng chỉ với một lượng nhỏ, sau đó quay trở lại bên trong khung. Đôi khi nguyên nhân của hiện tượng này là do những lệnh dừng mà nhà đầu tư đã đặt và những lệnh này tác động đến những vùng giá nằm ngoài khung. Khi những lệnh này kết thúc thì giá sẽ trở lại dao động bên trong khung giao dịch nếu không có những lý do liên quan đến những yếu tố tài chính cơ bản hay có sự xuất hiện khối lượng giao dịch lớn duy trì sự vượt ra ấy. Nhìn chung nhà đầu tư không nên đi theo ngay những “breakout” mới xuất hiện mà nên chờ thêm một dao động tiếp theo xác nhận “breakout” này cho dù điều này có thể làm chậm lại một chút nhưng sẽ tránh được rất nhiều dấu hiệu sai và tránh được những khoản lỗ.

    Hỗ trợ và kháng cự
    Việc nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng cự là một trong những vấn đề khá quan trọng đối với Phân tích kỹ thuật. Nó cho phép người nghiên cứu có thêm những cơ sở mới trong việc chọn các loại cổ phiếu để mua hay bán, trong dự đoán các biến động tiềm năng, trong việc chỉ ra những thời điểm mà thị trường có thể gây ra rắc rối cho nhà đầu tư. Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm đã xây dựng cho họ một “hệ thống đầu tư” riêng dựa hầu hết vào những nguyên lý về mức kháng cự và hỗ trợ. Việc nghiên cứu về mức kháng cự và hỗ trợ một cách đầy đủ cần rất nhiều thời gian và cần thêm nhiều yếu tố khác, người viết chỉ xin đưa ra một số khía cạnh cơ bản nhất với mục đích đưa ra cơ sở lý thuyết cơ bản nhất về khái niệm quan trọng này của Phân tích kỹ thuật.

    Mức kháng cự và hỗ trợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu phân tích các hình mẫu kỹ thuật. Những kiến thức cơ bản về mức kháng cự và hỗ trợ sẽ giúp người nghiên cứu dễ dàng hiểu bản chất và các ứng dụng của các hình mẫu đó.

    Mức hỗ trợ thường được dùng khá thông dụng. Trên thị trường phố Wall, bạn có thể nghe thấy việc một nhóm nhà đầu tư luôn sẵn sàng hỗ trợ thị trường bằng cách mua tất cả các chứng khoán chào bán nếu giá giảm 5 điểm. Vậy mức hỗ trợ là gì? Ta có thể định nghĩa mức hỗ trợ là việc mua thực tế hay khả năng mua với khối lượng đủ để làm ngưng lại xu thế giảm của giá trong một thời kỳ đáng kể (tương đối dài). Mức kháng cự lại ngược lại với mức hỗ trợ: đó là việc bán, trong thực tế hay tiềm năng, một khối lượng đủ để thoả mãn tất cả các mức chào mua, do đó, làm giá ngừng không tăng nữa trong một khoảng thời gian nhất định. Như thế mức kháng cự và hỗ trợ là gần giống theo thứ tự với khối lượng cầu và khối lượng cung. Mức hỗ trợ là mức giá ở đó mức cầu cho một cổ phiếu là đủ để, ít nhất là, làm dừng xu thế giảm giá của thị trường và cũng có thể đổi chiều xu thế đó, tức là làm xu thế giá đi xuống quay ngược đi lên. Từ đó ta có định nghĩa về mức kháng cự, đó là mức giá mà ở đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng nữa và có thể chuyển động ngược lại đi xuống. Theo lý thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhất định. Nhưng khoản hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu còn khoảng kháng cự thể hiện sự tập trung của cung. Như vậy với một hình mẫu giá nhất định, chẳng hạn ta xét với hình mẫu dạng hình chữ nhật (mô hình này phản ánh giai đoạn thị trường gồm rất nhiều những dao động nhỏ của giá theo hướng ngang đồ thị chứ không hướng lên hay hướng xuống rõ rệt, hai đường nối các đỉnh và các đáy của thị trường trong giai đoạn này gần như song song, không cần thiết phải song song 100% nhưng độ lệch phải rất nhỏ, hay có thể nói là một dạng của khung giao dịch), đường nối các đỉnh có thể coi là mức kháng cự, còn đường nối các đáy được coi là mức hỗ trợ.

    Nhìn chung trong giai đoạn hai mức này còn phát huy hiệu lực thì giá sẽ không vượt quá mức kháng cự và không xuống dưới mức hỗ trợ. Nhưng với tư cách một nhà đầu tư ta sẽ quan tâm hơn đến việc xác định tại sao và yếu tố nào làm xuất hiện các mức kháng cự và hỗ trợ ở một mức giá nhất định. Các chuyên gia còn tập trung nghiên cứu thời điểm giá lên đạt đến mức kháng cự và khi nào giá xuống đến mức hỗ trợ.

    Cơ sở của những dự đoán này cũng là những dữ liệu cơ bản hình thành nên lý thuyết về hỗ trợ và kháng cự, đó là khi giá trị giao dịch có xu hướng bị tập trung tại một số mức giá có khối lượng các cổ phiếu được giao dịch lớn. Điều đáng chú ý là tại bất kì mức giá nào xuất hiện mức khối lượng giao dịch lớn thường đều trở thành điểm đảo chiều đối với xu thế hiện tại của thị trường và mọi điểm đảo chiều đều có xu hướng lặp đi lặp lại thường xuyên và hoàn toàn mang tính tự nhiên. Có một thực tế quan trọng mà nhiều khi một số người quan sát và phân tích biểu đồ một cách ngẫu nhiên không nhận ra đó là: những mức giá đó đang dần dần chuyển vai trò từ hỗ trợ thành kháng cự và ngược lại từ kháng cự thành hỗ trợ. Nếu như biến động của giá vượt qua một đỉnh giá đã được hình thành trước đó thì đỉnh này sẽ đóng vai trò là khoảng đáy của xu thế giảm giá (điều chỉnh) sẽ xuất hiện sau xu thế tăng hiện tại và một đáy sau khi đã bị giá vượt xuống dưới sẽ trở thành khoảng đỉnh của xu thế tăng sẽ xuất hiện ngay sau đó.

    Quá trình hình thành một xu thế thông thường.
    Ta sẽ xem xét các ví dụ:

    Giả sử một cổ phiếu đang trong xu thế tăng mạnh và tăng từ mức giá 12 lên đến 24, đồng thời trên thị trường cũng đang có một khối lượng cổ phiếu lớn đang được chào bán. Kết quả của việc này là thị trường có thể phản ứng và hình thành một xu thế điều chỉnh trung gian (tạm thời), làm giá giảm xuống còn 18, hoặc cũng có thể phản ứng của thị trường làm xuất hiện hàng loạt những dao động nhỏ quanh mức, chẳng hạn, từ 24 xuống đến 21 tạo thành một dạng hình mẫu mang tính củng cố xu thế hiện tại. Sau thời gian điều chỉnh hoặc củng cố này sẽ xuất hiện một đợt tăng giá mới và đưa giá lên đến 30, tại đó cung lại đầy và dư, làm ngưng lại đợt tăng giá này. Lúc đó lại có thể xuất hiện một trong hai dạng mô hình điều chỉnh hay củng cố. Nếu xảy ra điều chỉnh, câu hỏi đặt ra là xu thế giảm tạm thời này sẽ xuất hiện ở mức nào? Câu trả lời là mức giá 24, đây là đỉnh đầu tiên của xu thế tăng giá chính (cấp 1) trên thị trường – mức giá này thấp hơn mức giá hiện tại và tại đó lại xuất hiện tổng giá trị giao dịch rất lớn. Khi đó nó đóng vai trò và hoạt động như một mức kháng cự, tạo ra sự ngưng tăng hay đảo chiều của đợt tăng giá đầu tiên. Sau khi bị vượt qua thì vai trò của nó lại là mức hỗ trợ, làm ngưng hay có thể đảo chiều, dù rất ít xu thế giảm giá đang diễn ra trên thị trường.

    Một ví dụ tương tự đưa ra với một cổ phiếu đang trong xu thế giá giảm. Giả sử cổ phiếu đang ở một đỉnh lớn của toàn thị trường ở mức giá 70, giá giảm xuống còn 50. ở tại mức 50 xuất hiện một đỉnh điểm diễn ra các giao dịch nhưng chỉ mang tính tạm thời. Thị trường có tổng khối lượng giao dịch lớn, giá tăng lên, có thể lại trượt xuống một chút như một dạng kiểm tra mức giá 50 có thực sự là một điểm dừng quan trọng của thị trường hay không. Sau đó xuất hiện giai đoạn hồi phục đưa giá lên 60. Tại mức 60 sức mua yếu dần, xu thế giá đảo lại và đi xuống, giá sẽ giảm mạnh hơn ở đợt giảm mới này và làm xuất hiện một mức đáy thấp hơn là 42. Đến đây, lặp lại thời kỳ trước, nhu cầu mua lại tăng lên và lại xuất hiện quá trình hồi phục lần hai. Chúng ta có thể tự tin chờ đợt hồi phục từ mức giá 42 này lên sẽ tăng lên đến mức kháng cự (đã được kiểm tra là “mạnh”) đó là mức giá 50. ở đợt giảm lần đầu mức giá này đóng vai trò mức hỗ trợ, bây giờ nó đóng vai trò mức kháng cự, mức đáy lúc trước trở thành mức đỉnh của thị trường.

    Vậy ta đặt ra câu hỏi tại sao có sự chuyển vai trò ở hai ví dụ trên? Ta bắt với ví dụ thứ 2 trước. Giá đầu tiên giảm xuống đến 50 và xuất hiện khối lượng giao dịch tương đối lớn, rồi lại đảo chiều tăng lên 60 nhưng lực tăng yếu dần. Ở mức giá 50, rất nhiều cổ phiếu đã được giao dịch, với mỗi người bán đều có ít nhất một người mua tương ứng. Một số người đã mua nhưng với chủ định nắm giữ trong ngắn hạn và đã bán đi, bây giờ họ không còn quan tâm đến loại cổ phiếu này. Một số khác là những nhà đầu tư ngắn hạn và thậm chí cả một số chuyên gia có thể đã mua ở mức giá 50 bởi đơn giản là họ thấy thị trường đang ở một mức đáy tạm thời và mua với mong muốn kiếm lãi khi giá tăng lên theo dự kiến của họ, hoàn toàn có thể giả sử họ đã thực hiện được mục đích của mình và đã thoát ra khỏi thị trường trước khi giá tụt xuống dưới mức 50. Với đa số những nhà đầu tư còn lại, quyết định mua của họ là do họ thấy mức giá 50 là mức giá thấp đủ thảo mãn họ bởi chỉ vài tháng trước giá cổ phiếu được bán trên mức 70, rõ ràng 50 là một mức giá hời, đồng thời họ cũng cho rằng giá sẽ lại lên và lên nữa trong thời gian dài.

    Nhưng hãy đặt mình vào vị trí của những người vừa mua cổ phiếu đó. Họ nhìn thấy giá tăng hàng ngày, lên 55 rồi lên 58 rồi đến 60, những nhận định của họ lúc trước có vẻ đúng và họ vẫn tiếp tục nắm giữ cổ phiếu. Rồi xu thế tăng này yếu đi, giá lại giảm xuống còn 57, 55 rồi 52 rồi lại về 50. Họ có lo lắng một chút những rồi lại vẫn cho rằng 50 là mức rất rẻ, vẫn hời, đặc biệt khi thị trường dừng lại ở mức giá 50 trong một thời gian ngắn.

    Rồi giá lại giảm tiếp phá vỡ mức giá 50. Lúc đầu có thể họ vẫn hi vọng đây chỉ là mức giảm tạm thời, là một chút biến động của giá và thị trường sẽ hồi phục nhanh chóng. Thế nhưng hi vọng ấy mất đi khi xu thế giảm giá vẫn tiếp tục và không hề tỏ ra là sẽ có điều chỉnh. Những nhầ đầu tư bắt đầu tỏ ra lo lắng, có điều gì đó không ổn đã xảy ra. Cho đến khi giá giảm còn 45, mức giá hời lúc trước không còn là một quả cam ngọt nữa mà là một quả chanh.

    Với ví dụ thứ nhất về xu thế tăng giá của thị trường. Khi giá tăng từ 12 đến 24 các nhà đầu tư đều cho rằng 24 là mức giá tương đối cao so với 12 (mức giá mà họ đã mua vào) do đó họ bán, khi mà sau đó giá giảm xuống một chút đến 20, họ đều tự chúc mừng cho sự sáng suốt của mình. Nhưng rồi xu thế giá lại đảo chiều, giá tăng vọt lên 30, họ sẽ không còn cảm thấy như vậy nữa. Họ ước gì mình vẫn nắm giữ cổ phiếu đó và có thể muốn mua lại cổ phiếu này, tất nhiên là không mua cao hơn 24, rõ ràng nếu giá giảm xuống còn 24 sẽ có rất nhiều nhà đầu tư lại mua vào với hi vọng kiếm lời nhiều hơn.

    Những ví dụ trên đây phản ánh một cách chung nhất tâm lý của những nhà đầu tư trên thị trường và tác động của họ tới việc hình thành cũng như sự chuyển vai trò của mức kháng cự và hỗ trợ. Qua đó ta cũng nhận thấy rằng tại một mức giá kháng cự hay hỗ trợ, nếu giá dao động quanh nó càng lâu thì vai trò và sức mạnh của nó càng lớn và một xu thế giá phải thực sự mạnh mới có thể phá vỡ hay vượt qua được nó. Một mức kháng cự hay hỗ trợ được duy trì càng lâu thì những biến động có khả năng vượt qua nó càng có ý nghĩa và có thể được coi là những dấu hiệu cho những biến động lớn của thị trường.

    Thêm một nhận xét nữa là khối lượng giao dịch cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong xác định các mức kháng cự và hỗ trợ. Nếu mức kháng cự hay hỗ trợ hình thành mà không có dấu hiệu gì về sự thay đổi trong khối lượng giao dịch thì mức độ tin cậy cũng như độ bền vững của chúng là không cao. Trái lại nếu một mức hỗ trợ chẳng hạn được hình thành với khối lượng giao dịch rất lớn, điều này có nghĩa là tại đó nhu cầu giao dịch là rất lớn, rõ ràng mức độ phản ánh cũng như ý nghĩa của nó là cao và quan trọng hơn nhiều

    Các hình mẫu kỹ thuật (Chart Patterns)

    Hình mẫu kĩ thuật hay còn gọi là các mô hình giá hoặc hình mẫu giá là các “bức tranh” hay các mô hình biến động nhất định của giá xuất hiện trên biều đồ giá thị trường. Trong Phân tích kỹ thuật, các hình mẫu kỹ thuật có vai trò vô cùng quan trọng bởi mục tiêu sau cùng của các nhà phân tích là tìm ra được sự lặp lại của một dạng biến động nhất định của giá đã xuất hiện trong quá khứ ở hiện tại và tận dụng những kinh nghiệm có được trong quá khứ về mô hình này cũng như những kết quả đã thống kê được để có một phương án tốt nhất cho quyết định đầu tư trong hiện tại.

    Hình mẫu kỹ thuật dù được áp dụng khá rộng rãi với nhièu đối tượng chứ không chỉ riêng chứng khoán chẳng hạn như áp dụng trong các giao dịch ngoại hối, trong phân tích các thị trường Futures của các hàng hoá thông  thường,… và còn áp dụng trong cả dài hạn lẫn ngắn hạn, tuy nhiên ta có thể phân chia một cách tổng thể nhất thành hai loại là mô hình mang tính cung cố hay duy trì xu thế hiện tại của thị trường và mô hình làm đảo chiều xu thế hiện.

    Dưới đây ta cũng chỉ nghiên cứu được những mô hình chủ yếu và quan trọng nhất trong phân tích kỹ thuật còn rất nhiều dạng khác đều là biến thể của các dạng cơ bản này.

    Ascending triangle – Tam giác hướng lên
    Mô hình tam giác hướng lên nhìn chung được coi là một dạng mô hình trung gian mang tính củng cố hay báo hiệu sự tiếp tục xu thế hiện tại của thị trường. Tuy nhiên đôi khi nó cũng mang tính đảo ngược. Thường thì mô hình này cần ít hơn ba tháng để hoàn thiện và khi xuất hiện thường kèm theo sự gia tăng của khối lượng giao dịch. Với mô hình này ta có thể nhận thấy sự hội tụ của hai đường kháng cự và hỗ trợ thể hiện bằng sự thu hẹp khoảng cách giữa các đỉnh và các đáy của thị trường, kéo dài hai đường kháng cự và hỗ trợ chúng sẽ cắt nhau ở đỉnh tam giác ở phía phải đồ thị. Đường kháng cự nằm ngang và đường hỗ trợ hướng lên cho thấy các mức giá cao có xu thế giữ nguyên còn các mức giá thấp nhất lại có xu thế tăng dần lên, điều này cũng có nghĩa là người mua có động cơ mạnh hơn người bán.

    “Breakout” (break-out có nghĩa là điểm xuất hiện sự đảo chiều của xu thế thị trường, ở đây sẽ dùng nguyên văn tiếng Anh) sẽ xuất hiện ở khoảng giữa điểm 2/3 và 3/4 chiều ngang của mô hình (tính từ điểm bắt đầu mô hình đến điểm cắt nhau của hai đường kháng cự và hỗ trợ).”Breakout” phá vỡ đường kháng cự sẽ chứng tỏ mô hình mang tính củng cố còn nếu phá vỡ đường hỗ trợ sẽ chỉ ra rằng mô hình mang tính đảo chiều. Có một cách để ước lượng mức giá mục tiêu thấp nhất mà sự đột phá ra ngoài mô hình này có thể đạt tới là xác định mức giá của điểm giao nhau dự kiến của hai đường kháng cự và hỗ trợ kéo dài. Tiếp đó ta đo chiều cao của mô hình tam giác tức là khoảng cách (đo theo chiều thẳng đứng) giữa điểm cao nhất của đường kháng cự và điểm thấp nhất của đường hỗ trợ, rồi cộng khoảng này vào mức giá của giao điểm vừa đo ở trên nếu là “breakout” hướng lên và sẽ lấy mức giá của giao điểm trừ đi khoảng này nếu là “breakout” hướng xuống.

    Cup and Handle (mô hình cốc và chuôi):
    Mô hình cốc và chuôi xuất hiện khi thị trường đang trong xu thế lên giá và nó củng cố xu thế đó của thị trường. Mô hình này gồm hai phần: phần “cốc” và phần cái “chuôi”, mô hình “cốc” kéo dài trong 1 đến 6 tháng còn mô hình chuôi kéo dài trong 1 đến 4 tuần. Phần cốc hình thành sau một đợt tăng giá của thị trường và có dạng đáy vòng xuống. Khi mô hình “cốc” hoàn thành một mô hình khung giao dịch sẽ tiếp tục hình thành ở phía bên phải và tạo nên cái “chuôi” (như hình vẽ).

    Thường thì tính củng cố của mô hình sẽ được đảm bảo hơn nếu xu thế tăng giá ban đầu kéo dài trong vài tháng tức là đảm bảo nó không quá yếu. Cũng cần lưu ý với dạng của mô hình cốc: đáy của nó càng vòng càng tốt và nếu như nó quá nhọn và gần giống với chữ V thì rất dễ chuyển tính chất thành mô hình đảo chiều. Một mô hình cốc hoàn hảo sẽ có hai thành cốc cao ngang nhau, độ sâu của nó hoàn lại khoảng 1/3 hoặc ít hơn mức tăng giá trước đó, tất nhiên điều này ít khi xảy ra. Với thị trường có độ bất ổn lớn (volatile) thì mức hoàn lại có thể trong khoảng 1/3 đến ẵ, them chí có thể đạt đến 2/3.

    Mô hình “chuôi” làm cho đợt gia tăng giá ở bên phải “cốc” ngừng lại và biến động nhỏ trong một khung giao dịch và có thể kéo lùi giá lại một chút so với thành “cốc”.Toàn bộ chiều cao của khung thường đạt mức 1/3 chiều cao “cốc”. “Breakout” xuất hiện sẽ phá vỡ mức kháng cự và tiếp tục xu thế tăng giá của thị trường.

    Descending Triangles – tam giác hướng xuống

    Mô hình tam giác thường xuất hiện trong thị trường xuống giá và cũng mang tính củng cố (hay duy trì) xu thế hiện tại. Thời gian tồn tại của mô hình này là khoảng 1 đến 3 tháng. Hai đường kháng cự và hỗ trợ có xu hướng hội tụ, đường kháng cự hướng xuống còn đường hỗ trợ nằm ngang.

    Về điểm xuất hiện “breakout”, điểm giá mục tiêu sau “breakout” cũng như mối quan hệ giữa điểm hội tụ hai đường kháng cự, hỗ trợ và độ dài của mô hình ta có thể xem ở phần mô hình tam giác hướng lên.

    Mô hình này phản ánh tâm lý người mua cho rằng cổ phiếu đang vượt quá giá trị thực của nó và mức giá hợp lý phải thấp hơn do đó mà đường kháng cự đi xuống trong khi đường hỗ trợ nằm ngang.Rõ ràng nếu xuất hiện “breakout” thì giá sẽ tiếp tục giảm.Điểm khác biệt với mô hình tam giác hướng lên là ở chỗ khối lượng giao dịch sẽ ít dần đi và càng ít khi tiến gần đến điểm hội tụ.

    Symmetrical triangle – hình mẫu kỹ thuật tam giác cân

    Nói chung một hình mẫu tam giác được xem xét như là một hình mẫu dạng tiếp tục xu thế của thị trường hoặc là một hình mẫu củng cố của xu thế. Tuy nhiên, đôi khi nó đánh dấu một sự đảo ngược của khuynh hướng. Nói chung hình mẫu kỹ thuật “tam giác cân” được xem xét như là những mẫu trung gian chuyển tiếp của xu thế biến động giá chứng khoán. Thông thường nó cần khoảng một tháng để hình thành, ít khi nó cần đến ba tháng để hình thành. Sự hội tụ của hai đường kháng cự và hỗ trợ đã mang lại cho chúng ta hình dáng của hình mẫu kỹ thuật “tam giác cân”. Trên thị trường chứng khoán dạng hình mẫu kỹ thuật này khá dễ dàng để nhận biết nó, ngoài ra hình mẫu kỹ thuật này cũng được các chuyên viên Phân tích dùng như một công cụ đáng tin cậy để giao dịch, nhưng các chuyên viên cũng cảnh báo rằng tín hiệu đáng tin cậy để giao dịch đó là sự xuyên chéo một trong hai đường trendline bởi đường biểu diễn sự biến động giá chứng khoán một cách rõ ràng.

    Flags and Pennants – Mô hình cờ chữ nhật và cờ đuôi nheo

    Hình mẫu kỹ thuật Flags & Pennants là những mô hình continuation – tiếp tục xu thế của thị trường trong ngắn hạn, nó đánh dấu một bước củng cố để tiếp tục lấy lại xu thế của thị trường. Thông thường trước khi xảy ra những hình mẫu kỹ thuật này thì được xác nhận bằng sự tăng hoặc giảm giá mạnh kết hợp với khối lượng giao dịch lớn, nó đánh dấu điểm chính giữa của xu thế biến động giá (thực chất nó là những hình mẫu kỹ thuật mang tính chất củng cố của xu hướng biến động giá chứng khoán). Để được xem xét là một hình mẫu kỹ thuật mang tính continuation – tiếp tục xu thế của thị trường – nó cần được xác nhận bằng một khuynh hướng diễn ra trước đó.

    Rectangle – hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật

    Hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật – Rectangle – là một dạng mô hình tiếp tục xu thế của thị trường, nó trông giống như trong một kênh giao dịch cho đến cuối của xu thế biến động giá chứng khoán. Hình mẫu kỹ thuật này có thể được nhận biết một cách rõ ràng thông qua hai đường nối các đỉnh và các đáy trong xu thế biến động giá chứng khoán. đường nối các đỉnh và các đáy của xu thế biến động giá chứng khoán tạo thành đỉnh và đáy của hình chữ nhật. Những hình chữ nhật đôi khi được xem như những khung giao dịch, những khu vực củng cố hoặc bế tắc trong sự biến động của giá chứng khoán. có nhiều sự tương đồng giữa mô hình “hình chữ nhật” – Rectangle và mô hình “tam giác cân” – Symmetrical triangle, trong khi cả hai đều là những hình mẫu kỹ thuật tiếp tục khuynh hướng của thị trường, chúng đều mang lại những thông tin khá quan trọng đó là dự báo những đỉnh và đáy của xu thế. Không như với hình mẫu kỹ thuật tam giác cân, hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật chỉ hoàn thiện cho tới khi “breakout” xuất hiện. thỉnh thoảng những tín hiệu sớm có thể được nhận biết, nhưng thường thì dấu hiệu “breakout” khó có thể xác định trước một cách sớm và chính xác. Rectangle có thể diễn ra trong một vài tuần hoặc trong vài tháng, thông thường thì hình mẫu này diễn ra trong khoảng ba tuần, trong trường hợp lý tưởng Rectangle có thể diễn ra trong khoảng ba tháng, nói chung những dấu hiệu “breakout” do những Rectangle diễn ra trong thời gian dài thường tin cậy hơn những dấu hiệu “breakout”  được mang lại bởi những Rectangle diễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn.

    Double bottom (Mô hình hai đáy)

    Mô hình hai đáy hình thành khi giá tạo thành hai điểm đáy liên tiếp trên cùng một đồ thị. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá tăng vượt qua điểm bắt đầu hình thành đáy thứ hai (tức là vượt qua đường Neckline sau khi đã chạm đến đáy thứ hai). Mô hình hai đáy là thời kỳ chuyển đổi xu thế giảm giá thành xu thế tăng giá, nó mang tính đảo chiều. Có điều là mô hình này tương đối dễ nhận ra nên cũng rất dễ nhầm do đó nhà đầu tư nên cẩn thận khi quyết định tham gia trong thời kỳ này. Thực tế thống kê cho thấy nếu nhà đầu tư nóng vội tham gia ngay từ đầu thì xác xuất thất bại là 64% còn nếu họ cố gắng đợi đến khi xuất hiện “breakout” (đảo chiều) thật sự thì xác xuất thất bại chỉ còn 3%.

    Để có thể nhận diện chính xác mô hình, nhà đầu tư nên chú ý đến một số vấn đề: đáy thứ hai không nên xuống vượt quá đáy thứ nhất; khoảng thời gian giữa hai đáy cũng là một dấu hiệu quan trọng-thời gian càng dài thì độ chính xác càng cao-ít nhất phải là một tháng và có thể kéo dài nhiều tháng.

    Double top (Mô hình hai đỉnh)

    Mô hình hai đỉnh hình thành khi đường biểu diễn sự biến động của giá chứng khoán hình thành hai đỉnh trên biểu đồ. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá chứng khoán rơi xuống dưới mức sàn đáy (điểm dưới cùng của đáy) của toàn mô  hình. Mô hình hai dỉnh là mô hình thể hiện sự đảo ngược của xu hướng tăng giá chứng khoán – nó đánh dấu quá trình chuẩn bị cho xu hướng đi xuống của xu hướng tăng giá trong hiện tại (nó báo hiệu cho một thị trường giảm giá). Vì đây là mô hình rất hay thường gặp và rất dễ nhận ra nên khi nhận định về thị trường chúng ta nên xem xét một cách cẩn then. Bolkowski ước tính mức thất bại của mô hình này là 65% nếu nhà đầu tư đợi đến mức đột biến giá (Breakout) mới tiến hành giao dịch thì mức rủi ro giảm xuống còn 17%.

    Falling wedge (Mô hình cái nêm hướng xuống):

    Mô hình Falling wedge là một hình mẫu kỹ thuật dạng bullish (chỉ báo thị trường tăng giá), mô hình bắt đầu thì biên khoảng cách giữa hai đường xu thế rộng sau đó độ rộng giảm dần khi giá chứng khoán giảm. Sự biến động của giá hình thành một hình chóp nón hướng xuống dưới do các đỉnh và đáy dần hội tụ. Hình mẫu kỹ thuật Falling wedge trượt hướng xuống phía dưới và có dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường tăng giá), tuy nhiên dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường tăng giá) này sẽ không thể được nhận ra cho đến khi có “breakout” (đảo chiều xu thế   ) khỏi đường kháng cự. Khi mô hình mang tính continuation (tiếp tục xu thế của thị trường), thì Falling wedge vẫn sẽ hướng xuống dưới và xu hướng này ngược với xu thế của thị trường hiện tại. Khi nó mang tính reversal (đảo ngược với xu thế của thị trường), thì Falling wedge hướng trượt xuống dưới cùng với xu thế của thị trường. Nhưng cho dù Falling wedge thuộc loại nào thì nó vẫn là hình mẫu kỹ thuật báo hiệu sự tăng giá!

    Head and shoulders top (hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai)

    Đỉnh đầu vai là một hình mẫu kỹ thuật hết sức phổ biến đối với những nhà đầu tư vì nó là một hình mẫu kỹ thuật đáng tin cậy nhất trong tất cả những hình mẫu kỹ thuật được trình bày trong đề tài nghiên cứu này, đồng thời nó cũng thường được nhận ra một cách dễ dàng. Những nhà phân tích kỹ thuật ít kinh nghiệm thường mắc lỗi đối với hình mẫu kỹ thuật này vì họ nhận thấy nó xuất hiện khá phổ biến trên biểu đồ. Những nhà phân tích kỹ thuật chuyên nghiệp thường nhận biết hình mẫu kỹ thuật này thông qua những biến cố thực sự. Đỉnh đầu vai là loại hình mẫu kỹ thuật đảo ngược xu thế của thị trường. Nó là dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự đảo chiều của xu thế biến động giá chứng khoán từ xu thế tăng giá chuyển thành xu thế giảm giá.
    Hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai thực ra là sự mô phỏng theo hình dáng đầu và hai vai của con người, hình mẫu gồm ba đỉnh cao nhọn được tạo bởi ba điểm khôi phục – tăng giá trở lại sau khi giá giảm trong sự biến động của giá chứng khoán. Đỉnh đầu tiên – vai trái – xuấn hiện khi giá chứng khoán tăng đạt tới đỉnh của nó và sau đó giảm xuống. Đỉnh thứ hai – cái đầu- xảy ra khi giá chứng khoán tăng lên đến một đỉnh cao mới cao hơn đỉnh của vai trái rồi sau đó lại giảm xuống. Đỉnh thứ ba – vai phải – xuất hiện khi giá chứng khoán tăng một lần nữa nhưng không cao bằng đỉnh thứ hai, rồi lại giảm xuống sau khi đã đạt được đỉnh của nó. Đỉnh của hai “vai” chắc chắn sẽ thấp hơn đỉnh của “đầu”. Trong mô hình phân tích cổ điển thì hai đỉnh của hai vai phải cân bằng với nhau nhưng điều quan trọng nhất quyết định của mô hình này đó chính là đường nối hai đáy của hai vai gọi là đường “vòng cổ” – neckline – mô hình sẽ bị phá vỡ khi đường vòng cổ bị xuyên chéo bởi giá chứng khoán và giá chứng khoán tiếp tục giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline – các chuyên viên Phân tích kỹ thuật cho rằng mô hình không được khẳng định là đúng cho tới khi giá chứng khoán giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline.

    Rounding bottom (hình mẫu kỹ thuật đáy vòng cung)

    Rounding bottom là một hình mẫu kỹ thuật đảo ngược xu hướng biến động thị trường – reversal – dài hạn, nó thường được dùng để phân tích với biểu đồ hàng tuần. Nó đại diện cho một thời kỳ củng cố dài hạn trong xu thế biến động của giá chứng khoán, nó là mô hình chuyển tiếp từ một khuynh hướng giảm giá liên tục – Bearish – sang một khuynh hướng tăng giá mạnh – bullish. Sự xác nhận của khuynh hướng tăng giá mới – bullish – khi khuynh hướng biến động giá chứng khoán vượt qua đường miệng của vòng cung, nó đánh dấu một khuynh hướng mới trong quá trình biến động của giá chứng khoán, như một mức hỗ trợ của sự đột biến giá chứng khoán, đường này cũng được coi là mức kháng cự của xu thế mới. Tuy nhiên, Rounding bottom đại diện cho sự đảo chiều của sự biến động giá chứng khoán trong dài hạn và mức hỗ trợ mới cũng trở thành không mấy quan trọng nữa.

    Triple bottom (hình mẫu kỹ thuật ba đáy)

    Mô hình ba đáy được hình thành bởi ba đáy phụ riêng biệt với mức xấp xỉ bằng nhau. Mô hình ba đáy được xem như là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai ngược, mô hình ba đáy là hình mẫu dạng đảo ngược xu thế biến động của thị trường. Thứ duy nhất để phân biệt giữa mô hình ba đáy và mô hình đỉnh đầu vai ngược đó chính là đỉnh – “đầu” – nằm giữa hai “vai”. Mô hình ba đáy biểu diễn xu thế giảm xút trong quá trình nó trở thành một xu thế tăng giá. như vậy nó chỉ còn hợp lệ khi nó vẫn trong quá trình giảm xút so với hai đỉnh ở giữa hay là nó chưa đi xuyên chéo qua đường vòng cổ – neckline – vượt qua mức kháng cự của mô hình. Bởi vì hình mẫu kỹ thuật này rất dễ nhầm lẫn với nhiều hình mẫu kỹ thuật khác cho nên cach chuyên viên phân tích khuyên rằng để ứng dụng mô hình này một cách có hiệu quả cao nhất trong quá trình đầu tư, chúng ta nên chờ đợi một dấu hiệu “breakout” một cách rõ ràng thông qua sự xuyên chéo của đường biểu diễn giá chứng khoán với đường kháng cự của mô hình – neckline – trước khi nhận định đây có phải thực sự là hình mẫu kỹ thuật dạng “ba đáy” hay không

    Triple top (hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh)

    Mô hình ba đỉnh được xem là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai. Tương tự như mô hình “ba đáy” thứ duy nhất để phân biệt một cách rõ ràng giữa mô hình này với mô hình đỉnh đầu vai đó chính là đỉnh “đầu” nằm giữa hai “vai”, trong mô hình “ba đỉnh” thì ba đỉnh xấp xỉ cao bằng nhau, nhưng trong mô hình “đỉnh đầu vai” thì hoàn toàn khác, đỉnh đầu cao hơn hẳn so với hai vai hai bên. Như hình minh hoạ ở bên dưới thì mô hình “ba đỉnh” được hình thành từ ba đỉnh sắc nhọn, cả ba đỉnh có độ cao gần bằng nhau. Một đỉnh trong bộ ba xuất hiệ khi giá chứng khoán đang ở trong giai đoạn tăng giá, sự tăng giá lên tới mức kháng cự của mô hình sau đó giá chứng khoán giảm xuống mức hỗ trợ của mô hình, sau đó xuất hiện sự tăng giá trở lại nhưng chỉ đạt đến mức kháng cự ngang bằng với mức kháng cự của mô hình và lại giảm xuống, sự tăng giá trở lại mức kháng cự thứ ba trước khi giá chứng khoán bị giảm một cách nhanh chóng xuống dưới mức hỗ trợ của mô hình. Hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh là một hình mẫu dạng đảo chiều của thị trường nó đánh dấu một thời kỳ chuyển tiếp giữa một xu thế tăng giá và một xu thế giảm giá. Điều kiện đầu tiên của mô hình đó là phải được bắt đầu băng một xu thế tăng giá. Các chuyên viên phân tích khuyên rằng nhà đầu tư nên đợi sự xuất hiện của sự xuyên chéo giữa đường biểu diễn giá chứng khoán với đường hỗ trợ của mô hình – neckline – một cách rõ ràng. nếu giá chứng khoán không giảm mạnh sau sự xuất hiện đỉnh thứ ba thì đó không phải là mô hình “ba đỉnh”. Đôi khi trong thực tế mô hình “ba đỉnh” không thực sự xảy ra một cách hoàn hảo ví dụ như ít khi ba đỉnh có độ cao xấp xỉ bằng nhau, mà sự bằng nhau chỉ mang tính chất có sự sai lệch có thể chấp nhận được.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-b%E1%BA%B1ng-bi%E1%BB%83u-%C4%91%E1%BB%93-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    1         Các trường giá

    Phân tích kỹ thuật được dựa trên hầu như toàn bộ việc phân tích giá và khối lượng. Các trường định nghĩa giá và khối lượng của chứng khoán được giải thích dưới đây:

    Open: Đây là mức giá của lần giao dịch đầu tiên trong một thời kỳ (ví dụ: lần giao dịch đầu tiên trong ngày). Khi phân tích các dữ liệu hàng ngày giá Open đặc biệt quan trọng vì nó là mức giá nhất trí sau khi tất cả các bên quan tâm có thể “gác nó đến hôm sau”.

    High: Đây là mức giá cao nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một thời kỳ. Đó là thời điểm mà tại đó có nhiều người bán hơn người mua (tức là: luôn có người bán sẵn sàng bán ở mức giá cao hơn, nhưng mức giá High miêu tả mức giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả tiền).

    Low: Đây là mức giá thấp nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một giai đoạn. Đó là thời điểm mà tại đó có nhiều người mua hơn người bán (tức là: luôn có người mua sẵn sàng mua ở mức giá thấp hơn, nhưng mức giá Low miêu tả mức giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chấp nhận bán).

    Close: Đây là mức giá cuối cùng mà chứng khoán được giao dịch trong một thời kỳ. Do tính lợi ích của nó, mức giá Close là một trường được thường xuyên sử dụng nhất để phân tích. Các kỹ thuật viên cho rằng mối quan hệ giữa mức giá Open (Mức giá đầu tiên) và mức giá Close (Mức giá cuối cùng) rất có ý nghĩa. Mối quan hệ đó được nhấn mạnh trong biểu đồ giá đỡ nến (candlestick chart).

    Volume: Đây là số lượng cổ phiếu (hoặc hợp đồng)được giao dịch trong một thời kỳ. Mối

    quan hệ giữa giá và khối lượng (ví dụ: tăng giá đi cùng với tăng khối lượng) rất quan trọng. Open Interest: Đây là tổng số các hợp đồng future hoặc option còn tồn tại (ví dụ: những hợp đồng chưa được sử dụng, bị chấm dứt hoặc hết hiệu lực). Open Interest thường được sử dụng như là một chỉ số.

     

    4

    Bid: Đây là mức giá mà một người buôn bán chứng khoán sẵn sàng trả để mua chứng khoán

    (tức là: số tiền bạn sẽ nhận khi bạn bán).

    Ask: Đây là mức giá mà một người buôn bán chứng khoán sẵn sàng chấp nhận để bán chứng

    khoán (tức là: số tiền bạn sẽ trả để mua chứng khoán).

    Những trường đơn gian này được sử dụng để tạo ra hàng trăm công cụ kỹ thuật để nghiên cứu mối quan hệ giá, xu hướng giá, mẫu hình giá…

    Không phải tất cả các trường giá này có thể dùng được cho tất cả các kiểu chứng khoán và nhiều nhà cung cấp lời chỉ dẫn chỉ công bố một bộ phận các trường giá. Bảng 1 cho thấy các trường tiêu biểu được sử dụng cho một vài kiểu chứng khoán.

      Table 1        
               
        Futures Mutual Funds Stocks Options
               
      Open Yes No Often Yes
               
      High Yes Closed end Yes Yes
               
      Low Yes Closed end Yes Yes
               
      Close Yes Yes (*NAV) Yes Yes
               
      Volume Yes Closed end Yes Yes
               
      Open Interest Yes N/A N/A Often
               
      Bid Intraday Closed end Intraday Intraday
               
      Ask Intraday Closed end Intraday Intraday
               
    * Net Asset Value        

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    5

    2         Biểu đồ

    Cơ sở của phân tích kỹ thuật là biểu đồ. Trong trường hợp này, một bức tranh đích thực đáng giá hàng nghìn từ.

    2.1      Biểu đồ đường

    Biểu đồ đường là kiểu biểu đồ đơn giản nhất. Như ta thấy trong biểu đồ của General Motors ở hình 2, đường thẳng đơn mô tả giá kết thức mỗi ngày của chứng khoán. Trục ngang thể hiện ngày tháng, trục đứng thể hiện giá.

    Hình 2

    Sức mạnh của biểu đồ đường xuất phát từ sự đơn giản của nó. Nó cung sự quan sát giá chứng khoán rõ ràng, dễ hiểu. Biểu đồ đường thường hiển thị mức giá Close của chứng khoán.

    2.2      Biểu đồ thanh

    Biểu đồ thanh hiển thị giá Open, High, Low và Close của chứng khoán. Biểu đồ thanh là kiểu biểu đồ chứng khoán phổ biến nhất.

    Trong biểu đồ thanh ở hình 3, phần trên cùng của mỗi thanh đứng mô tả mức giá cao nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một giai đoạn và phần dưới cùng của mỗi thanh mô tả mức giá thấp nhất mà chứng khoán được giao dịch. Cái tick được hiện thị ở bên phải của thanh để

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    6

    chỉ rõ mức giá cuối cùng mà chứng khoán được giao dịch. Nếu mức giá Open sẵn có để dùng, thì chúng được biểu thị bằng cái tick ở bên trái của thanh.

    Hình 3

    2.3      Biểu đồ thanh khối lượng

    Khối lượng thường được hiện thị bằng đồ thị thanh ở dưới đáy của biểu đồ (xem hình 4). Hầu hết các nhà phân tích chỉ giám sát mức độ liên quan của khối lượng, quy mô khối lượng thường không được hiển thị ra.

    Hình 4

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    7

    Hình 4 hiện thị khối lượng với gốc là 0. Điều này có nghĩa là phía dưới cùng của mỗi thanh khối lượng là giá trị 0. Tuy nhiên, hầu hết các nhà phân tích thích xem xét khối lượng tương đối hơn khối lượng với gốc bằng 0. Điều này được thực hiện bằng cách trừ đi khối lượng thấp nhất xuất hiện trong một thời kỳ. Các thanh khối lượng đã được điều chỉnh quan hệ làm cho việc quan sát xu hướng khối lượng dễ dàng hơn bằng cách bỏ qua khối lượng hàng ngày nhỏ nhất.

    Hình 5

    Hình 5 hiện thị thông tin khối lượng tương tự như hình trước, nhưng khối lượng này là tương đối.

    2.4      Các kiểu biểu đồ khác

    Giá chứng khoán có thể được hiển thị bằng cách sử dụng các loại biểu đồ khác, ví dụ candlestick, Equivolume, point & figure…Các loại biểu đồ này sẽ được giải thích ở phần II.

    3         Mức giá support và resistance

    Giá cả chứng khoán là kết quả của cuộc chiến đối đầu giữa người đầu cơ giá lên (người mua) và người đầu cơ giá xuống (người bán). Những người đầu cơ giá lên đẩy giá lên cao hơn, còn

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    8

    những người đầu cơ giá xuống đẩy giá xuống thấp hơn. Hành vi trực tiếp của giá cho thấy kẻ thắng trong cuộc chiến.

    Tương tự như vậy, xem xét sự biến động giá của Phillip Morris trong hình 6, trong suốt thời kỳ dưới đây, chú ý mỗi lần giá rớt xuống mức $45.50 như thế nào, những người đầu cơ giá lên (tức là người mua) chiếm quyền điều khiển và giữ cho giá không bị rớt thêm nữa. Điều đó có nghĩa là ở mức giá $45.50, những người mua cảm thấy đầu tư vào Phillip Morris là đáng giá (và những người bán không bán với giá thấp hơn $45.50). Kiểu hành vi của giá này liên quan tới mức giá support vì những người mua hỗ trợ cho mức giá $45.50

    Hình 6

    Liên quan tới mức giá support, mức độ resistance là một điểm mà ở đó những người bán chiếm quyền điều khiển giá và ngăn cho chúng không tăng lên cao hơn. Xem hình 7, chú ý mỗi lần giá tiến gần mức $51.50 như thế nào, người bán đông hơn người mua và ngăn cho giá tăng lên.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    9

    Hình 7

    Mức giá mà giao dịch được diễn ra là mức giá mà người đầu cơ giá lên và người đầu cơ giá xuống đồng ý thực hiện giao dịch. Nó thể hiện sự nhất trí của sự trông đợi. Người đầu cơ giá lên nghĩ rằng giá sẽ tăng cao hơn và người đầu cơ giá xuống nghĩ rằng giá sẽ xuống thấp hơn. Mức giá support cho thấy mức giá mà đa số các nhà đầu tư tin rằng giá sẽ tăng cao hơn, còn mức giá resistance cho thấy đa số các nhà đầu tư cảm thấy giá sẽ xuống thấp hơn. Nhưng sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi theo gian. Trong một thời gian dài các nhà đầu tư không trông đợi Dow Industrial tăng trên 1000 (như ta thấy trong hình 8 mức độ chống cự rất mạnh mẽ ở mức 1000). Nhưng chỉ vài năm sau, nhà đầu tư sẵn sàng giao dịch ở mức gần 2500

    Hình 8

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    10

    Khi sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi, nó thường diễn ra rất đột ngột. Chú ý mức giá tăng vượt mức chống cự của Hasbro Inc. trong hình 9, nó diễn ra rất dứt khoát. Cũng nên chú ý, cú vượt mức giá resistance đi kèm với mức tăng khối lượng đáng kể.

    Hình 9

    Một khi các nhà đầu tư chấp nhận Hasbro có thể được giao dịch ở mức trên $20 thì sẽ có nhiều nhà đầu tư hơn sẵn sàng mua với mức cao hơn (do cả giá và khối lượng đều tăng). Cũng như thế, những người trước đây đã bán khi giá đạt đến mức $20.00 cũng bắt đầu trông đợi giá sẽ tăng cao hơn và không còn sẵn sàng bán.

    Sự tăng lên của mức giá support và mức giá resistance có thể là sự kiện đáng chú ý và xảy ra thường xuyên nhất trên biểu đồ giá. Sự vượt qua mức giá support/resistance có thể được thúc đẩy bởi những thay đổi cơ bản mà nó ở mức trên hay dưới sự trông đợi của nhà đầu tư (ví dụ sự thay đổi lợi tức, quản lý, sự cạnh tranh…) hay do sự dự đoán của bản thân (nhà đầu tư mua vì thấy giá tăng). Nguyên nhân này không quan trọng bằng ảnh hưởng của sự trông đợi mới dẫn đến một mức giá mới.

    Hình 10 cho thấy cú vượt lên có nguyên nhân tư những nhân tố cơ bản. Cú vượt lên xảy ra khi Snapple đưa ra bản báo cáo lợi tức cao hơn mức được trông đợi. Làm sao mà chúng ta biết được nó cao hơn mức được trông đợi? Bằng sự thay đổi của giá sau bản báo cáo.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    11

    Hình 10

    Những mức giá support/resistance khác mang tính cảm xúc nhiều hơn. Ví dụ, DJIA có một khoảng thời gian dài mà nó thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư khi nó tiến gần đến 3000 (xem hình 11)

    Hình 11

    3.1      Cung và cầu

    Không có gì bí hiểm về mức giá support và resistance – nó là cung và cầu. Hãy nhớ “Echo 101″, đường cung/cầu cho thấy mức cung và cầu ở mức giá xác định.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    12

    Đường cung cho thấy khối lượng (tức là số lượng cổ phiếu) mà người bán sẵn sàng cung ứng

    • mức giá xác định. Khi giá tăng, khối lượng người bán cung ứng cũng tăng vì nhiều nhà đầu tư hơn sẵn sàng bán ở mức giá cao hơn.

    Đường cầu cho thấy số lượng cổ phiếu mà người mua sẵn sàng mua ở mức giá xác định. Khi giá tăng, khối lượng người mua muốn mua giảm xuống do có ít nhà đầu hơn sẵn sàng mua ở mức giá cao hơn.

    • mức giá xác đinh, biểu đồ cung/cầu (xem hình 12) cho thấy có bao nhiêu người bán và người mua. Ví dụ, biểu đồ dưới đây cho thấy,ở mức giá 42-1/2 có 10 người mua và 25 người bán.

    Hình 12

    Support xảy ra ở mức giá mà đường cung cắt trục đứng của biểu đồ (ví dụ ở biểu đồ trên là 27-1/2). Giá không thể xuống thấp hơn mức này vì không có người bán sẵn sàng bán ở mức giá này. Resistance xảy ra ở mức giá mà đường cầu cắt trục đứng của biểu đồ (ví dụ ở biểu đồ trên là 47-1/2). Giá không thể tăng lên trên mức này vì không có người mua sẵn sàng mua ở mức giá này.

    Trong thị trường tự do, những đường này liên tục thay đổi. Vì sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi, vì vậy mức giá người mua và người bán cảm thấy có thể chấp nhận được. Cú vượt lên trên mức giá resistance là bằng chứng của sự dịch lên trên của đường cầu vì có nhiều người mua

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    13

    hơn sẵn sàng trả ở mức giá cao hơn. Tương tự như vậy, sự thất bại của mức giá support cho thấy đường cung dịch chuyển xuống dưới.

    Nền tảng của hầu hết các công cụ phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ lý thuyết cung cầu. Biểu đồ giá chứng khoán cho chúng ta một cái nhìn tuyệt vời về sự hoạt động của những lực lượng này.

    3.2      Sự hối hận của những người giao dịch

    Theo quá trình thâm nhập của mức giá support/resistance, những người giao dịch thường nghi ngờ mức giá mới. Ví dụ, sau cú vượt lên trên mức giá resistance, những người mua và người bán có thể cùng nghi ngờ tính hợp lý của mức giá mới và có thể quyết định bán. Điều này tạo ra hiện tượng mà tôi xem đó là “sự hối hận của những người giao dịch”, tại đó mức giá quay trở về mức giá support/resistance sau cú vượt của mức giá.

    Hãy xem cú vượt của Phillip Morris ở hình 13, chú ý sau cú vượt của giá là sự quay trở lại mức giá resistance.

    Hình 13

    Hành vi của giá theo sau giai đoạn hối hận này là cốt yếu. Một trong hai thứ có thể xảy ra. Hoặc là mức giá mới không được chấp nhận, trong trường hợp đó mức giá sẽ quay trở về mức giá trước, hoặc các nhà đầu tư chấp nhận mức giá mới, trong trường hợp đó mức giá sẽ tiếp

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    14

    tục di chuyển theo hướng vượt qua. Nếu, theo sự hối hận của người giao dịch, mức giá mới không được chấp nhận, một “chiếc bẫy đầu cơ giá tăng” (bull trap) (hoặc là “cú vượt lỗi”) được tạo ra. Như ta thấy trong hình 14, giá vượt qua mức giá resistance $67.50 (câu mồi một nhóm những người đầu cơ giá tăng trông đợi giá tăng cao hơn) và giá sẽ rớt xuống dưới mức resistance bỏ mặc những người đầu cơ giá tăng với cổ phân giá cao.

    Hình 14

    Tương tự, cảm xúc tạo ra cái bẫy đầu cơ giá hạ (bear trap). Giá rớt xuống mức giá support đủ lâu để những người đầu cơ giá hạ bán (hoặc bán khống) sau đó đột ngột tăng lên trên mức giá support bỏ rơi những người đầu cơ giá hạ.

    Hình 15

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    15

    Một điều khác có thể xảy ra sau sự hối hận của người giao dịch là sự trông đợi của các nhà đầu tư có thể thay đổi do mức giá mới được chấp nhận. Trong trường hợp đó giá sẽ tiếp tục di chuyển theo hướng vượt qua (tức là tăng lên nếu mức giá resistance bị vượt qua, giảm xuống nếu mức giá support bị vượt qua)

    Hình 16

    Một cách tốt để xác định mức độ trông đợi sau cú vượt là xem xét khối lượng với mức giá mới. Nếu mức giá mới chọc thủng mức giá support/resistance với việc tăng khối lượng lớn, và giai đoạn hối hận của người giao dịch có liên quan đến khối lượng thấp, nó ngụ ý rằng sự trông đợi mới sẽ thống trị (thiểu số các nhà đầu tư hối hận). Ngược lại, sự vượt qua với khối lượng trung bình và giai đoạn hối hận với mức tăng khối lượng cao, nó ngụ ý rằng rất ít sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi và trở về sự trông đợi bình thường (tức là giá bình thường)

    3.3      Resistance trở thành support

    Khi mức giá resistance bị vượt qua thành công thì nó trở thành mức giá resistance. Tương tự, khi mức giá support bị vượt qua thành công thì nó trở thành mức giá resistance.

    Hình 17 là một ví dụ về mức giá resistance trở thành mức giá support. Khi giá vượt qua mức giá resistance với $45.00, mức $45.00 trở thành mức giá support.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    16

    Đó là bởi vì một “thế hệ” mới các nhà đầu cơ giá tăng mà không mua khi mức giá thấp hơn $45 (họ không trông đợi tăng giá cổ phần) bây giờ nóng lòng mua với bất kỳ mức giá nào gần mức $45

    Hình 17

    Tương tự khi mức giá xuống thấp hơn mức support, thì nó trở thành mức giá resistance. Khi giá tiến gần tới mức giá support trước đây, các nhà đầu tư cố gắng giới hạn sự thua lỗ của họ bằng cách bán. (Xem hình 18)

    Hình 18

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    17

    Tóm lại

    Tôi tiếp tục bàn luận về hành vi của giá, sự trông đợi của nhà đầu tư, và mức giá support/resistance một cách ngắn gọn nhất có thể. Tuy nhiên từ kinh nghiệm làm việc của tôi với các nhà đầu tư, tôi bị thuyết rằng hầu hết các nhà đầu tư có thể cải thiện kết qủa của họ một cách rõ rệt nếu họ chú ý nhiều hơn tới những ảnh hưởng bên dưới đối với giá chứng khoán: sự trông đợi của nhà đầu tư, cung/cầu.

    Dưới đây là phần tóm lại lý thuyết về mức giá support/resistance:

    • Giá chứng khoán thể hiện giá trị thị trường công bằng vì được chấp nhận bởi người mua (người đầu cơ giá lên) và người bán (người đầu cơ giá hạ)
    • Sự thay đổi giá là kết quả của sự thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư đối với giá chứng khoán tương lai
    • Mức giá support xuất hiện khi có sự nhất trí rằng mức giá không thể xuống thấp hơn. Đó là thời điểm mà người mua nhiều hơn người bán
    • Mức giá resistance xuất hiện khi có sự nhất trí rằng mức giá không thể lên cao hơn. Đó là thời điểm mà nguời bán nhiều hơn người mua
    • Sự vượt qua mức giá support hay resistance cho thấy sự thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư và sự dịch chuyển của đường cung/cầu
    • Khối lượng rất hữu dụng để xác định sự thay đổi của sự trông đợi mạnh đến mức nào
    • Sự hối hận của người giao dịch thường diễn ra sau sự vượt qua mức giá support hay resistance vì giá quay trở lại mức bị vượt qua

    4         Xu hướng

    Trong phần trước, chúng ta đã thấy mức giá support và resistence bị vượt qua như thế nào bởi sự thay đổi trong sự trông đợi của nhà đầu tư (mà nó đưa đến kết quả là sự dịch chuyển đường cung/cầu). Kiểu thay đổi này thường bất ngờ và “dựa trên tin tức”.

    Trong phần này, chúng ta sẽ xem lại “xu hướng”. Một xu hướng mô tả một sự thay đổi chắc chắn về mặt giá (tức là: một sự thay đổi trong sự trông đợi của nhà đầu tư). Xu hướng khác

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    18

    với mức giá support/resistance ở chỗ xu hướng mô tả sự thay đổi trong khi mức giá support/resistance mô tả hàng rào của sự thay đổi.

    Như trong hình 19, mức giá thấp vạch rõ xu hướng tăng. Xu hướng tăng có thể được xem là sự tăng lên của mức giá support – những người đầu cơ giá lên đang nắm quyền điều khiển và đẩy giá lên cao hơn.

    Hình 19

    Hình 20 cho thấy xu hướng giảm. Mức giá cao vạch rõ xu hướng giảm. Xu hướng giảm có thể được xem như sự giảm của mức giá resistance – những người đầu cơ giá giảm nắm quyền điều khiển và đẩy giá xuống thấp hơn.

    Hình 20

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    19

    Giống như giá cả khi vượt qua mức giá support và resistance khi sự trông đợi thay đổi, giá có thể vượt qua đường xu hướng tăng và giảm. Hình 21 chỉ rõ sự vượt qua đường xu hướng giảm của Merck vì những nhà đầu tư không còn trông đợi mức giá thấp. Chú ý trong hình 21 khối lượng đã tăng như thế nào khi đường xu hướng bị vượt qua. Đây là sự chứng thực quan trọng rằng xu hướng trước đây đã bị thay đổi.

    Hình 21

    Với mức giá support và resistance, việc xuất hiện sự hối hận của những người buôn khi có sự vượt qua đường xu hướng là phổ biến. Điều này được thể hiện trong hình 22

    Hình 22

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    20

    Một lần nữa, khối lượng là chìa khóa xác định rõ ý nghĩa của sự vượt qua đường xu hướng. Trong ví dụ trên, khối lượng tăng khi xu hướng bị vượt qua và yếu ớt như những người đầu cơ giá lên trở lại theo đường xu hướng.

    5         Số trung bình động

    Số trung bình động là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật lâu đời và phổ biến nhất. Chương này mô tả cách tính toán và ý nghĩa của số trung bình động. Chi tiết về số trung bình động được cung cấp trong phần II. Số trung bình động là mức giá trung bình của chứng khoán trong thời gian xác định. Khi tính toán số trung bình động, bạn chỉ rõ khoảng thời gian để tính toán số trung bình động (ví dụ: 25 ngày).

    Một số trung bình động đơn giản được tính bằng cách cộng giá chứng khoán của “n” thời kỳ và chia cho “n”. Ví dụ, cộng giá chứng khoán lúc đóng cửa trong 25 ngày gần nhất và sau đó chia cho 25. Kết quả là giá trung bình của chứng khoán của 25 ngày. Việc tính toán được thực hiện cho mỗi giai đoạn trong biểu đồ.

    Chú ý số trung bình động không thể tính được cho đến khi bạn có đủ dữ liệu của “n” thời kỳ. Ví dụ, bạn không thể có giá trung bình của 25 ngày cho đến khi ngày thứ 25 có trên biểu đồ. Hình 23 cho thấy giá lúc đóng cửa trung bình của Caterpillar

    Hình 23

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    21

    Vì số trung bình động trong biểu đồ trên là mức giá trung bình của chứng khoán trong 25 ngày cuối, nó mô tả sự trông đợi của các nhà đầu tư trong 25 ngày cuối. Nếu giá chứng khoán ở trên số trung bình động của nó, điều đó có nghĩa là sự trông đợi hiện tại của các nhà đầu tư (tức là mức giá hiện tại) đang cao hơn mức trông đợi trung bình của họ trong 25 ngày cuối, và các nhà đầu tư đó đang làm tăng giá chứng khoán. Ngược lại, nếu mức giá ngày hôm nay ở dưới mức số trung bình động của nó, nó cho thấy sự trông đợi hiện tại của các nhà đầu tư thấp hơn mức trông đợi trung bình trong 25 ngày cuối. Ý nghĩa cổ điển của số trung bình động là quan sát sự thay đổi của giá. Các nhà đầu tư thường mua khi giá chứng khoán của nó cao hơn số trung bình động của nó và bán khi giá rơi xuống dưới số trung bình động của nó.

    5.1      Các thời kỳ trong số trung bình động

    Những mũi tên “Buy” được vẽ trên biểu đồ ở hình 24 khi giá của Aflac tăng trên số trung bình động của 200 ngày, những mũi tên “Sell” được vẽ khi giá của Aflac giảm xuống dưới số trung bình động 200 ngày.

    Hình 24

    Xu hướng dài hạn thường sử dụng số trung bình động 200 ngày. Bạn có thể sử dụng phần mềm máy tính để tự động quyết định khoảng thời gian tối ưu. Bỏ qua các khoản tiền hoa hồng, sử dụng số trung bình động của các khoảng thời gian ngắn hơn thường có lợi nhuận cao hơn.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    22

    5.2      Điểm nổi bật

    Điểm nổi bật của kiểu hệ thống số trung bình động này (tức là việc mua và bán khi giá vượt qua số trung bình động của nó) là bạn luôn ở phía “đúng” của thị trường – giá không thể tăng quá nhiều mà không có sự tăng giá vượt mức giá trung bình của nó. Nhược điểm là bạn sẽ luôn mua hoặc bán trễ. Nếu xu hướng không duy trì ở thời kỳ quan trọng, đặc biệt gấp 2 lần độ lớn của số trung bình động, bạn sẽ mất tiền. Điều này được mô tả trong hình 25.

    Hình 25

    5.3      Sự hối hận của những người giao dịch

    Số trung bình động thường cho thấy sự hối hận của người giao dịch. Như ta thấy trong hình 26, việc giá chứng khoán vượt qua số trung bình động dài hạn của nó và sau đó trở lại mức giá trung bình trước khi tiếp tục theo con đường của nó.

    Hình 26

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    23

    Bạn có thể sử dụng số trung bình động để làm “mượt” dữ liệu. Biểu đồ trong hình 27 cho thấy lịch sử 13 năm của các cổ phiếu đạt được đỉnh cao mới (biểu đồ trên) và số trung bình động 10 tuần (biểu đồ dưới). Chú ý số trung bình động làm cho việc xem xu hướng đúng dễ dàng hơn như thế nào.

    Hình 27

    6         Chỉ số

    Chỉ số là kết quả tính toán toán học mà có thể được áp dụng lên giá chứng khoán và/hoặc khối lượng. Kết quả là giá trị được sử dụng để dự đoán sự thay đổi giá trong tương lai. Số trung bình động phù hợp với định nghĩa của chỉ số. Nó là kết quả tính toán có thể được thực hiện trên giá cổ phiếu để tính toán giá trị mà có thể được sử dụng để dự đoán sự thay đổi giá trong tương lai. Chương tiếp theo bao gồm nhiều ví dụ về chỉ số. Tôi sẽ tóm tắt ngắn gọn một chỉ số đơn giản, MACD (Moving Average Convergence Divergence).

    MACD

    MACD được tính toán bằng cách lấy số trung bình động 12 ngày của giá chứng khoán trừ số trung bình động 26 ngày của giá chứng khoán. Kết quả là chỉ số dao động quanh 0.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    24

    Khi MACD lớn hơn 0 điều đó có nghĩa là số trung bình động 12 ngày của giá chứng khoán lớn hơn số trung bình động 26 ngày của giá chứng khoán. Điều này cho thấy rằng sự trông đợi hiện tại (tức là số trung bình động 12 ngày) tác động làm tăng giá cổ phẩn nhiều hơn sự trông đợi trước đây (tức là số trung bình động 26 ngày). Nó ngụ ý sự dịch chuyển lên trên của đường cung/cầu. Khi MACD nhỏ hơn 0 nó có nghĩa là số trung bình động 12 ngày nhỏ hơn số trung bình động 26 ngày, và hàm ý sự dịch chuyển xuống dưới của đường cung/cầu. Hình 28 cho thấy giá chứng khoán của Autozone và chỉ số MACD của nó. Tôi đã gán nhãn vào biểu đồ “Bullish” khi MACD lớn hơn 0 và “Bearish” khi MACD nhỏ hơn 0. Tôi cũng đưa ra số trung bình động 12 ngày và 26 ngày trên biểu đồ giá.

    Hình 28

    Số trung bình động 9 ngày của MACD (không phải của giá chứng khoán) thường được vẽ lên trên đỉnh của MACD. Đường này được xem như là đường “dấu hiệu”. Đường dấu hiệu dự báo sự hội tụ của 2 số trung bình động (tức là sự di chuyển của MACD về phía đương 0). Biểu đồ trong hinh 29 cho thấy MACD (đường nét liền) và đường dấu hiệu (đường nét đứt). Mũi tên “Mua” được vẽ khi MACD tăng lên trên đường dấu hiệu của nó, mũi tên “Bán” được vẽ khi MACD giảm xuống dưới đường dấu hiệu của nó.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    25

    Hình 29

    Hãy xem xét … đằng sau kỹ thuật này. MACD khác với 2 số trung bình động của giá. Khi số trung bình động ngắn hạn tăng vượt lên số trung bình động dài hạn (tức là MACD tăng lên trên 0), nó có nghĩa là sự trông đợi của các nhà đầu tư đang làm tăng giá cổ phần (tức là có sự dịch chuyển lên trên của đường cung cầu). Bằng cách đặt lên trên số trung bình động 9 ngày của MACD, chúng ta có thể thấy sự thay đổi của sự trông đợi (tức là việc dịch chuyển đường cung/cầu).

    6.1      Chỉ số dẫn đầu với chỉ số theo sau

    Số trung bình động và MACD là những ví dụ của xu hướng đi theo sau: chỉ số “theo sau” (xem hình 30). Những chỉ số này rất tuyệt vời khi giá thay đổi tương dối với xu hướng dài hạn. Chúng không cảnh báo cho bạn những thay đổi sắp tới, chúng đơn giản chỉ nói cho bạn biết giá đang làm gì (tức là lên hoặc xuống) vì thế bạn có thể đầu tư một cách phù hợp. Xu hướng mà đi theo sau chỉ số làm cho bạn mua và bán muộn và đổi lại chúng làm giảm những rủi ro của bạn và giữ bạn ở bên đúng của thị trường.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    26

    Hình 30

    Như ta thấy trong hình 31, xu hướng đi theo sau chỉ số không hoạt động tốt trong một bên thị trường.

    Hình 31

    Loại chỉ số khác là chỉ số “dẫn đầu”. Những chỉ số này giúp bạn thu lợi bằng cách dự đoán giá sẽ làm gì tiếp theo. Chỉ số dẫn đầu cung cấp phần thưởng lớn cho chi phí của nguy cơ gia tăng. Chúng hoạt động tốt ở một bên thị trường “giao dịch”.

    Chỉ số “dẫn đầu” thường hoạt động bằng cách đo mức độ “mua quá nhiều” hoặc “bán quá nhiều” của chứng khoán. Điều này được thực hiện cùng với sự thừa nhận rằng chứng khoán mà được bán quá nhiều thì nảy bật trở lại (xem hình 32)

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    27

    Hình 32

    Loại chỉ số bạn dùng, “dẫn đầu” hoặc “theo sau”, phụ thuộc vào sở thích cá nhân. Theo kinh nghiệm của tôi, hầu hết các nhà đầu tư (trong đó có cả tôi) thành công với xu hướng theo sau hơn là dự đoán chúng. Do đó tôi thích sử dụng chỉ số theo sau hơn. Tuy nhiên tôi cũng đã gặp rất nhiều nhà đầu tư thành công thích sử dụng chỉ số dẫn đầu.

    6.2      Giá xu hướng với giá giao dịch

    Có một vài hệ thống giao dịch và chỉ số được phát triển để xác đinh giá là xu hướng hay giao dịch. Điều này có nghĩa là bạn nên sử dụng chỉ số theo sau trong thị trường xu hướng và chỉ số dẫn đầu trong thị trường giao dịch. Trong khi tương đối dễ để xác định liệu giá đang là trending hay trading, rất khó để xác định giá là trending hay trading trong tương lai.

    Hình 33

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    28

    6.3      Sự phân kỳ

    Sự phân kỳ xảy ra khi xu hướng của giá chứng khoán không khớp với xu hướng của chỉ số.

    Rất nhiều ví dụ trong các chương sau chứng minh cho sự phân kỳ.

    Biểu dồ 34 cho thấy sự phân kỳ giữa Whirlpool và CCI (Commodity Channel Index) 14 ngày của nó. Giá của Whirlpool đạt được đỉnh cao mới trong khi CCI rớt xuống để đạt đỉnh cao mới. Khi sự phân kỳ xảy ra giá thường thay đổi hướng để thừa nhận xu hướng của chỉ số như trong hình 34. Điều này xảy ra bởi vì chỉ số đo xu hướng giá tốt bản thân giá.

    Hình 34

    7         Khái niệm về phân tích kỹ thuật và cách khai thác biểu đồ candlestick.

    Trong những trường phái dùng cách phân tích để biết cổ phần lên hay xuống đang thịnh hành hiện nay thì trường phái phân tích kỹ thuật đang áp đảo những trường phái khác.

    Nhờ công nghiệp thông tin và Internet, cách phân tích kỹ thuật «đăng quang» cho phép những người sử dụng rành rẽ phương pháp này mua bán mau lẹ với một số vốn tương đối nhỏ trong một thời gian ngắn.

    Muốn trở thành tín đồ của trường phái phân tích kỹ thuật thì phải chấp nhận «giáo điều» không thể chứng minh như sau:

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    29

    • Giá cả cổ phần là kết quả của tất cả những yếu tố kinh tế như xu hướng thị trường, tâm lý khách hàng, môi trường chính trị, tin tức lẫn tin đồn, khả năng phát triển, lời lỗ của công ty….

    Vì vậy các cao thủ trong trường phái phân tích kỹ thuật chỉ chú trọng về biểu đồ, đến sự giao động giá cả và số lượng cổ phiếu được mua bán mà phán đoán sự lên xuống của nó, ít khi nào họ tốn thời gian để chú tâm vào công ty cổ phần này hoạt động về lãnh vực gì và cũng không cần biết bản báo cáo tài chính nó ra sao.

    Người càng muốn mua bán ngắn hạn chừng nào thì bản biểu đồ của họ phải càng có nhiều thông tin về giá cả chừng đó.

    Sau đây là loại biểu đồ đơn giản nhất. Nó chỉ niêm yết giá cả cổ phần và số lượng mua bán mà bạn đọc ở báo chí ghi lại giá cuối ngày.

    Đây là biểu đồ giá cả một năm của công ty chứng khoán hàng đầu của Âu Châu, Euronext lên sàn tại thị trường Paris. Chỉ cần 2-3 giây thôi là bạn có thể nhận thấy là xu hướng giá cả công ty này đang lên so với đường vẽ MM50 (đường trung bình) màu xanh.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    30

    Muốn có một nhận định chính xác hơn, bạn phải xem một loại biểu đồ khác như biểu đồ bar-chart. Trong biểu đồ này ghi lại 3 tháng giao dịch cuối cùng của Euronext. Biểu đồ này còn cho bạn biết thêm những giao động giá cả khác. Xu hướng ngắn hạn của nó vẫn đang lên. Thay vì một sợi dây giá cả liên tục, thì người ta phân chia ra làm những hình tượng thẳng đứng để cung cấp cho bạn nhiều tin tức hơn.

    Mỗi đường thẳng đứng trượng trưng cho một giai đoạn thời gian, gạch ngang bên trái trượng tưng cho lúc đầu tiên, bên phải cho lúc cuối cùng. Trong đó :

    • Opening price » : Giá mở màn của giai đoạn, giây phút đầu tiên, gạch ở bên trái.
    • Closing Price »: Giá lúc giai đoạn kết thúc, giây phút cuối cùng, gạch ở bên phải. “High” for the period : Giá cao nhất trong giai đoạn này.

    Low” for the period: Giá thấp nhất trong giai đoạn.

    Nhờ bản đồ bar-chart này thì bạn có thể có một khái niệm rõ ràng hơn về giá cả. Nhưng mà nó không cho bạn nhiều tin tức rõ ràng như là biểu đồ candlestick japanese (chandelier japonais).

    Tương truyền rằng biểu đồ candlestick được một thương gia Nhật tên Homma phát minh và sử dụng từ thế kỷ 18, ông sử dụng để phục vụ cho việc kinh doanh lúa gạo.

    Ưu điểm của biểu đồ này là nó là rõ ràng, hình tượng hơn bar-chart, cho phép những tay day trader hay swing trader xâm nhập và nhảy ra ngoài thị trường hết sức mau chóng.

    7.1      Hầu hết mọi day trader đều dùng biểu đồ candlestick.

    Ngày 19/03/2004, ở Paris trước 300 khán giả, Phillippe Erb đã dùng kinh nghiệm đọc biểu đồ candlestick và thắng dễ dàng đối phương, robot Trade System, một chương trình điện toán được chế tạo để mua bán chứng khoán. Ông đã trả thù được máy tính Big Blue cho Kasparov, kỳ tài về cờ Vua.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    31

    Trong biểu đồ này ghi lại giá cả 3 ngày của Euronext***

    Đây là cấu trúc của một candlestick, bạn có thể so sánh vì nó cũng như bar-chart nhưng nó dễ hình tượng hơn.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    32

    Thương gia Homma gọi hình chữ nhật là thân (body) và đường thẳng ở đầu trên hay đầu dưới của thân là bóng (shadow).

    Trong một giai đoạn thời gian mua bán, giá cả bắt đầu từ một chiều ngang thân này và kết thúc chiều ngang thân kia, nếu giá cả có giao động quá mức mở đầu và mức kết thúc thì nó trở thành bóng. Khi giá cổ phần lên thì người ta dùng hình trắng hoặc xanh lá cây, giá bắt đầu từ chiều ngang dưới thân và giá kết thúc ở chiều ngang đầu thân,

    Trái lại khi cổ phần xuống thì người ta dùng màu đỏ hay màu đen, giá bắt đầu ở đầu chiều ngang trên thân và giá kết thúc chiều ngang ở dưới.

    7.2      Cách khai thác candlestick.

    Biểu đồ candlestick đã lưu truyền và càng ngày càng thịnh hành trong giới đầu cơ vì nó đã hình tượng hóa một sự thật kinh tế rất đơn giản:

    Giá cả cổ phần lên xuống do sự thương lượng giữa những người muốn bán và người những muốn mua. Khi số lượng cần mua nhiều hơn số lượng cung cấp thì giá cổ phiếu sẽ lên. Khi cung nhiều hơn cầu thì giá sẽ xuống.

    Tùy theo hình tượng màu trắng hay đen, bóng và thân dài ngắn ra sao mà người ta đặt tên cho từng candlestick Ưu điểm tuyệt đối của candlestick là chỉ nhìn sơ sơ qua những hình tượng là bạn có khái niệm rõ ràng về sự mạnh yếu giữa hai phe mua và bán, do đó bạn có thể đoán trước sự lên xuống cổ phần chính xác hơn nhiều loại biểu đồ khác, ít nhất là 5- 10 phút tiếp theo. Đối với những người day trader, chỉ cần đoán trước khoảng chừng thời gian đó thôi thì cũng đủ nhởn nhơ lăn lộn trong thị trường chứng khoán.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    33

    Sau đây tôi xin dẫn chứng một vài hình tượng:

    Hình tượng marubuzo

    Hình tượng marubozu, thân không có bóng, (body without shadow) màu trắng là bên bán bị phe kia mua mạnh hơn nuốt trửng, có bao nhiêu cổ phần tung ra thị trường được mua bấy nhiêu đẩy mức giá cổ phần đang lên rất nhanh.

    Ngược lại nếu hình marubozu đen thì số lượng cổ phần bán ra quá nhiều, người mua ra giá bao nhiêu cũng được, cổ phần này đang sụt giá trầm trọng.

    Hình tượng doji (ngôi sao) hay spinning stop (bông vụ).

    Thân nhỏ mà bóng dài cho ta biết là cuộc thương lượng của hai phe mua bán chưa phân thắng bại, giá cả đang còn lưng khừng. Khi bạn định mua hay bán một cổ phần mà gặp hình tượng này thì ban nên chuẩn bị nhập lệnh, chỉ cần có một trong 4 hình tượng sau đây xác nhận sự thay đổi xu hướng là bấm chuột cho mệnh lệnh ra thị trường.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    34

    Hình hammer (búa tạ), inverted hammer (búa tạ ngược), hangging man (tội nhân treo cổ) và shooting star (sao băng).

    Là bốn hình tượng có đặc điểm chung là thân ngắn mà một bóng dài, ít nhất phải bằng hai lần thân, một bên không có hoặc có bóng rất nhỏ. Đây là những hình tượng cho ta biết cổ phần đang đổi ngược xu hướng (reversal), cần phải mua hay bán ngay trước khi trễ.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    35

    Sau đây là 2 biểu đồ chứng minh.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-th%E1%BB%9Di-gian-qua-v%C3%A0-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-trong-th%E1%BB%9Di-gian-t%E1%BB%9Bi-nh%E1%BA%B1m-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đề án Kinh tế đầu tư

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia là một trong những vấn đề hàng đầu mà nhà đầu tư quan tâm khi quyết định thực hiện đầu tư.

    Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước phát triển, đáp ứng phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và khẳng định được vai trò của lĩnh vực này đối với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng.

    Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta đã và đang bộc lộ hạn chế về nhiều mặt, chẳng hạn sự xuống cấp của hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, phí bưu điện khá cao… Dẫn đến vai trò của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị suy giảm, xuất hiện nguy cơ về sự giảm sút của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Xuất phát từ thực tiễn trên, với sự tìm hiểu và nghiên cứu của mình, hơn nữa được hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy Minh em đã nhận thức được rõ vai trò và tầm quan trọng của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Đây là lý do em chọn đề tài:

    “Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài “

    Nhưng vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một khái niệm riêng bao gồm một hệ thống các công trình như cấp điện, cấp nước, giao thông, nhà ở, thông tin liên lạc…mà thời gian nghiên cứu hạn chế, nên em chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu một số bộ phận như cấp điện, giao thông, thông tin liên lạc.

    Kết cấu bài viết ngoài phần mở đầu và phần kết luận còn bao gồm:

    Trang 1

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Chương I: Cơ sở lý luận chung.

    Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua.

    Chương III: Phương hướng và giải pháp đối với vấn đề đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút FDI trong thời gian tới.

    Do trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế, bài viết này của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo nhằm giúp đỡ em trau dồi và nắm chắc hơn những gì mình đã học, những gì mình có thể vận dụng cho thực tiễn.

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

    I.                   MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển

    Trong thời đại ngày nay, đầu tư đã trở thành một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Thuật ngữ “đầu tư ” được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tựu chung lại có thể coi “đầu tư là việc bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng các nguồn lực khác trong hiện tại để thực hiện một hoạt động nào đó để tạo ra, khai thác sử dụng tài sản nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai”.

    Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, tạo ra những tài sản mới cũng như duy trì được những tiềm lực sẵn có của nền kinh tế.

    Đây là hoạt động không những chỉ tạo ra tài sản mà còn duy trì hoạt động của những tài sản đã có. Những tài sản đó bao gồm cả tài sản vật chất và phi vật chất. Do vậy, kết quả của hoạt động đầu tư khi được xem xét từ góc độ nền kinh tế thì nó còn phải làm tăng thêm tài sản mới cho nền kinh tế.

    2. Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    2.1. Khái niệm.

    • Khái niệm: Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính

    Đề án Kinh tế đầu tư

    vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3. Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển.

    * Phân loại

    Căn cứ vào chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình cơ sở hạ tầng thành 3 loại

    • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
    • Cơ sở hạ tầng xã hội.
    • Cơ sở hạ tầng môi trường

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc.

    Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cồn trình phục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng khác. Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ.

    Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo về, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người. Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

    2.2.Đặc điểm

    Trang 4

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Hệ thống cơ sở hạ tầng có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với hệ thống kinh tế xã hội khác. Đứng dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cần xem xét các đặc điểm sau:

    • Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các cồn trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài thường là thông qua các hoạt động kinh tế khác để thu hồi vốn.

    Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh thì sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại. Vì thế, lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật thường được các nhà đầu tư ít quan tâm hơn là dịch vụ kinh doanh buôn bán khác.

    • Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính của hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thì không chỉ có sự tham gia của chính phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, còn hàng hoá công cộng về cơ bản do chính phủ cấp, chính phủ là người đứng ra bỏ vốn đầu tư xây dựng mà chủ yếu là vốn từ ngân sách, tư nhân thì rất ít, đầu tư thì các công trình này thường có vốn đầu tư hơn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn.
    • Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật mang tính kỹ thuật cao, quy mô lớn nó không chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người… trong hiện tại và cả trong tương lai nữa. Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ là rất lâu dài. Vì thế những sai lầm trong bố trí địa điểm, áp dụng công nghê sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu khi xây dựng cơ sở hạ tầng bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động trong tương lai.

    Trang 5

    Đề án Kinh tế đầu tư

    • Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ sở hạ tầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn dịch vụ bưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo đây chính là điểm điểm phân biệt giữa cơ cở hạ tầng với các ngành sản xuất vật chất khác.

    3.                 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    3.1. khái niệm.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư.

    Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên.

    3.2. Vai trò.

    Việc tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau. Đứng dưới góc độ nước nhận đầu tư, FDI có một vai trò sau:

    • FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kem phát triển.

    Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái vòng luẩn quẩn, đó là: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.

    Trang 6

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của vòng luẩn quẩn này. Trở ngại lớn nhất đối với các nước này là vốn đầu tư, tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích luỹ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sự tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó FDI là cú huých đột phá cái vòng luẩn quẩn đó.

    Mặt khác theo lý thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư gọi là lỗ hổng tiết kiệm; (2) Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu gọi là lỗ hổng thương mại. Hầu hết ở các nước đang phát triển, hai lỗ hổng trên là rất lớn. Vì vậy FDI là nguồn quan trọng không chỉ bổ xung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt ngoại tệ nói riêng.

    • Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến của các nươc đi trước.

    Đứng về lâu dài, đây là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư, FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, trong các nước nhận đầu tư như là góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm…thúc đẩy sự phát triển của các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng đối với quá trình công nghệ hoá – hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư.

    FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua các chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo ra những kỹ sư, nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.

    Trang 7

    Đề án Kinh tế đầu tư

    * Lợi ích về công ăn việc làm

    Thực ra đây là một tác động kép: tạo thêm công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước.

    FDI ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội tạo việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước hoặc thuê họ qua các hợp đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến.

    * Thông qua FDI các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế

    giới.

    Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí có thể cạnh tranh được thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Trong khi đó, thông qua FDI các nước này có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thanh thế và uy tín của họ về chất lượng và kiểu dáng của các sản phẩm, việc giữ đúng thời hạn…

    Với những vai trò của FDI đã trình bày ở trên, một lẫn nữa khẳng định FDI là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần được khai thác để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết về vốn. Một cách tiếp cận thông minh để bước nhanh trên con đường phát triển.

    Trang 8

    Đề án Kinh tế đầu tư

    3.3 Các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn của các nước đang phát triển đối với FDI.

    Nhiều nghiên cứu gần đây đã đưa ra nhận xét: Thành công của các nước đang phát triển trong thu hút FDI có thể được đặc trưng bởi sự kết hợp hài hoà giữa các nhân tố về sự ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Nó bao gồm một loạt các yếu tố như tăng trưởng nhanh, sự phát triển của thị trường trong nước, những điều kiện thuận lợi và tiềm năng của các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và con người, điều kiện hoàn hảo về cơ sở hạ tầng

    Vấn đề đặt ra là liệu các nhân tố như vậy có thực sự đóng góp vào việc thu hút đối với đầu tư nước ngoài hay không.

    Trong thực tế không có một lý thuyết đơn nhất nào có khả năng khái quát một cách toàn diện hiện tượng FDI và các điều kiện cần thiết để thu hút nó. Trong một chuẩn mực nhất định, các yếu tố quyết định tính hấp dẫn đối với FDI của mỗi nước là khác nhau, mối liên hệ giữa các yếu tố này với sự vận động của từng nền kinh tế cũng khác nhau. Mặc dù không phải là lý thuyết chuyên về đầu tư quốc tế nhưng “hệ phương pháp luận về sản xuất quốc tế thuộc phái trung dung” (J.H Dunning 1988) đã nêu ra hai tiền đề quan trọng.

    • Đó là các yếu tố thuộc về tiền năng các nguồn lực của nền kinh tế và khả năng kết hợp một cách linh hoạt các nguồn lực đó.
    • Những nhân tố thuộc thị trường nhằm vào việc tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong các nhân tố thuộc loaị này.

    Đứng trên góc độ các nhà đầu tư, nhân tố này rất quan trọng bởi đó là chỉ dẫn đại thể về mức độ hấp dẫn của nước chủ nhà. FDI sẽ được đẩy mạnh khi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, sự phát triển của FDI tại Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh duyên hải là một ví dụ. Điều này cũng phù hợp với các

    Trang 9

    Đề án Kinh tế đầu tư

    nghiên cứu gần đây đối với các thành phố duyên hải của Trung Quốc: chính vì hệ thống giao thông thuận lợi, khoảng cách đến các cảng lớn ngắn đã thu hút mạnh FDI vào khu vực này. ngược lại các nghiên cứu tại phía Nam Sahara cho thấy hệ thống đường xá kém phát triển, liên lạc viễn thông xấu không có khả năng thu hút FDI vào khu vực này.

    Qua việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến cơ sở hạ tầng và FDI chúng ta đã phần nào thấy được mối quan hệ giữa hệ thống cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI. Song để hiểu rõ hơn mối quan hệ này chúng ta cần phải nghiên cứu tiếp.

    II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN FDI.

    1. Đặc điểm của hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng .

    Các công trình cơ sở hạ tầng khi xây dựng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lâu và thường là việc thu hồi vốn phải thực hiện gián tiếp thông qua các ngành kinh tế khác. Do vậy, khi tiến hành đầu tư vào lĩnh vực này cần phải tính toán kỹ vấn đề kinh tế kỹ thuật trong xây dựng và sử dụng các công trình đó. Công tác thăm dò tài nguyên, xác định nhu cầu sử dụng cơ sở hạ tầng mỗi vùng là công việc thiết thực trong quá trình đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả của công trình. Bên cạnh đó, phương hướng phát triển của vùng, lãnh thổ cũng là nhân tố quyết định đến việc bố trí đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng của vùng.

    Với vai trò là nền tảng tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, là yếu tố tạo nên tính hấp dẫn đối với FDI nên khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng phải lựa chọn các công trình có hàm lượng kỹ thuật cao, đây là vấn đề đảm bảo tính hiệu quả. Nếu tồn tại tình trạng lạc hậu cac cơ sở hạ tầng thì công trình không còn

    Trang 10

    Đề án Kinh tế đầu tư

    mang tính hiệu quả nữa, thậm chí ảnh hưởng tới các ngành khác và nhịp độ thu hút FDI là điều không tránh khỏi.

    Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, xong đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng thì được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp, chủ thể tham gia có thể là các chủ thể nươc sở tại hoặc nước ngoài. Dưới hình thức chủ đầu tư bỏ vốn và trực tiếp tham gia điều hành, quản lý công trình.

    Trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ sở hạ tầng hết sức yếu kém, cần được củng cố và hoàn thiện. Tuy nhiên vồn đầu tư cho cơ sở hạ tầng hết sức hạn hẹp. Khu vực tư nhân không thể đáp ứng nhiều về vốn trong lĩnh vực này. Do vậy, hình thức BOT ra đời là giải pháp tốt nhất để xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhưng dù hoạt động đầu tư có được tiến hành dưới hình thức nào đi chăng nữa thì hiệu quả đầu tư không được coi nhẹ. Bởi đây là vấn đề hết sức phức tạp, bao gồm những nội dung mang tính tổng hợp.

    Để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn đầu tư, người ta sử dụng mô hình Harrod- bomar. Nếu gọi K là tỷ số giữa vốn và đầu tư (ICOR), ta có:

    K =

    Trong đó:

    It là vốn đầu tư

    Yt, Yt+1 sản lượng năm t & t+1.

    -> ICOR là thước đo năng lực của vốn đầu tư, nó nói lên rằng để tạo ra một đơn vị sản lượng cần bao nhiêu vốn đầu tư. ICOR càng nhỏ chúng tỏ hiệu quả đầu tư càng lớn và ngược lại.

    Trang 11

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Theo ước tính, năm 2000 hệ số ICOR mọt số ngành nước ta như sau:

    Nông – lâm – nghiệp 1,5 – 2,5
    Công nghiệp 2,5 – 3,5
    Cơ sở hạ tầng 3 – 5

    Như vậy, qua đó ta thấy ICOR của lĩnh vực cơ sở hạ tầng là cao hơn so với các ngành khác. Song tại sao chúng ta vẫn phải giành một vốn lớn cho cơ sở hạ tầng.

    2. Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI.

    Cơ sở hạ tầng là một trong số các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn với FDI nên thực tế cũng cho thấy những quốc gia nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém rất khó thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khi đã không thu hút được đầu tư nước ngoài thì khả năng tạo cơ sở hạ tầng cũng rất hạn chế. Do đó để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này cần đi trước một bước, tiến hành đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu FDI đặt ra với lĩnh vực này.

    Khi một thị trường mới xuất hiện, thời gian đầu luôn là thời kỳ thăm, ào ạt vào thời gian đầu là những công ty nhỏ, thậm chí có cả những môi giới đầu tư. Những đầu tư vào lúc này vốn không lớn, thời gian không dài và chủ yếu ở khu vực dịch vụ và sản xuất nhỏ. Trong khi đó, các nhà đầu tư lớn lại đứng ở ngoài quan sát để quyết định xem có đầu tư hay không.

    Điều này cũng có nghĩa: để thu hút được dòng FDI và nước chủ nhà cần phải chuẩn bị một môi trường đầu tư thuận lợi với các chính sách, quy tắc được nới lỏng theo hướng khuyến khích FDI, cải thiện cơ sở hạ tầng … Như vậy, để thu hút được FDI có rất nhiều việc phải làm, song điều quan trọng hơn là làm sao để dòng chảy đó được duy trì liên tục. Câu trả lời: phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bởi số lượng FDI có tăng lên hay không theo thời gian còn

    Trang 12

    Đề án Kinh tế đầu tư

    phụ thuộc vào sự thoả mãn thường xuyên về cơ sở hạ tầng như đường xá, giao thông vận tải, thông tin liên lạc. Tăng trưởng cao của FDI thường đi đôi với kế hoạch triển vọng về phát triển cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. Malaixia với những dự án khổng lồ về xây dựng cơ sở hạ tầng cho đến năm 2020 của thủ tướng Mahathir, là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về thu hút FDI.

    Về vai trò của cơ sở hạ tầng, theo kết quả khảo của nhóm 25 nước bao gồm nước: Indonêxia, Hàn Quốc …. Trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương

    cho thấy những chỉ tiêu cụ thể như số máy điện thoại trên 100 người dân, mức độ hiện đại của hệ thống thông tin liên lạc, chất lượng của đường bộ, đường sắt … là một trong những điều hiện được xem xét để duy trì FDI ở nước này.

    Vì vậy, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với quá trình thu hút FDI. Và vốn đầu tư vào lĩnh vực này không đúng hướng và hợp lý thì sẽ làm mất đi một động lực quan trọng trong thu hút FDI. Để không rơi vào tình huống này. Chúng ta cần phải biết được thực trạng hiện nay của các công trình hạ tầng kỹ thuật, nắm bắt được những thành tựu đã đạt được và những mặt tồn tại của nó cũng như các yêu cầu của FDI đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó, ở phần sau chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT VÀ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI TRONG THỜI GIAN QUA

    Kể từ khi áp dụng chính sách “mở cửa” nền kinh tế vào cuối thập niên trước đến nay, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế nổi bật. Chẳng hạn, từ một nước nghèo, nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào viện trợ nước ngoài, Việt nam đã vươn lên trở thành một trong số ít các quốc gia xuất khẩu gạo lớn

    Trang 13

    Đề án Kinh tế đầu tư

    nhất thế giới. Những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này ta nhờ một phần đóng góp không nhỏ của FDI. Có thể coi FDI như một trong các nguồn năng lượng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt Nam đi vào quỹ đạo của sự tăng trưởng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây xu thế FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

    Có nhiều nguyên nhân để giải thích trình trạng trên, xong theo các chuyên gia thì việc lợi thế so sánh của Việt nam đang bị giảm dần là một trong những lý do chính dẫn đến trình trạng trên.

    Muốn phát huy được những lợi thế so sánh, điều đầu tiên chúng ta cần phải làm là nắm được những yêu cầu của FDI. Đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng vậy, FDI có những yêu cầu riêng đối với hệ thống này.

    1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA FDI ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT. Theo sự thăm dò ý kiến của hơn 3000 bạn đọc của kinh tế Viễn Đông ở
    • nước Châu Á, được công ty ASIA Studies LTD Hồng Kông thưc hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1995. Hầu hết các doanh nghiệp khi được hỏi “Những trở ngại lớn nhất cho việc làm ăn ở các nền kinh tế đang nên như Việt nam, Trung Quốc, Myanma là gì ?” thì những khó khăn được độc giả đưa ra là:
    • Sự bất ổn không thể đoán trước được là trên 70 %
    • Sự bảo đảm về pháp luật là trên 70%
    • Tệ quan liêu trên 70%
    • Nạn tham nhũng trên 60%
    • Cơ sở hạ tầng phù hợp trên 60%

    Như vậy, sự phù hợp của cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với quá trình thu hút vốn FDI. Riêng đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì sự phù hợp

    Trang 14

    Đề án Kinh tế đầu tư

    mà FDI yêu cầu cần phải được xem xét ở hai khía cạnh: Sự hiện đại, đồng bộ và một mức giá hợp lý.

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư đều nhằm 3 mục tiêu chính, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả.

    Do đó, một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ sẽ la ba đỡ cho hoạt động đầu tư của họ. Thực tế cho thấy, ở nước ta trong thời gian qua hệ thống cơ sở hạ tàng kỹ thuật còn tồn tại sự mất cân đối giữa các vùng, miền đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động đầu tư nước ngoài. Có nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào các vùng miền núi để khai thác tài nguyên phải bỏ dở cũng chỉ vì lú do ở đó chưa có điện, thêm vào đó đường đi đến các vùng này là khó khăn.

    Vì vậy, tính đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đồng bộ giữa mạng và nguồn, giữa đường sắt và đường bộ, giữa cảng với đường sắt, đường bộ…)là điều kiện cần làm cho hoạt động đầu tư được thuận lợi. Đồng thời hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải đạt được sự hiện đại cần thiết, sự hiện đại đó sẽ đem lại hiệu quả cao trong hoạt động đầu tư.

    Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương xẽ là một minh chứng rõ ràng nhất cho yêu cầu này. Nếu không tính đến các dự án dầu khí ở tỉnh Quảng Ngãi thì Bình Dương là tính dẫn đầu cả nước về thu hút FDI. Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài đến nay, Bình Dương đã có 227 dự án có vốn FDI với tổng vốn đầu tư 1,75 tỷ USD, hàng năm tạo ra giá trị lượng hàng hoá trên 110 tỷ USD. Vậy bằng cách nào Bình Dương đã hấp dẫn được các nhà đầu tư ? .

    Bình Dương không chỉ trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư với chính sách thông thoáng, cởi mở, thủ tục hành chính nhanh gọn mà còn đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại cho các nhà đầu tư .Với hệ thống đường giao thông từ Bình Dương tới TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khác có mặt đường rộng

    Trang 15

    Đề án Kinh tế đầu tư

    3,6 m với tổng chi phí 100 tỷ đồng và nhiều tuyến đường đã được nhựa hoá,

    100% xã đều có đường ôtô.

    Bưu chính viễn thông và điện nước luôn được đảm bảo cho nhu cầu thông tin liên lạc thông suốt và sử dụng điện năng trong sinh hoạt và sử dụng đến nay đã có 100% xã có điện và điện thoại.

    Tuy nhiên, để hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của FDI thì sự đồng bộ, hiện đại thôi là chưa đủ. Đi liền với nó phải có một mác giá hợp lý cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Sở dĩ các nhà đầu tư phải tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài là do các nguồn lực trong nước họ trở nên khan hiếm. Vì vậy, chi phí cho các nguồn lực này là rất cao. Điều này đã làm cho chi phí các yếu tố đầu vào tăng lên, dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút. Như vậy, vấn đề mấu chốt là chi phí các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Nơi nào có chi phí thấp tất yếu dòng đầu tư sẽ chảy về đó. Bản thân các nhà đầu tư cũng hiểu rằng chi phí đầu vào thấp là tốt nhưng thấp quá không phải đã là tốt. Nếu thấp quá, các nước nhận đầu tư sẽ không có điều kiện tích luỹ. Khi đó, các yếu tố cần thiết cho hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ không được đảm bảo. Xong cũng không được quá cao, nếu cao hơn chi phí ở nước họ thì cũng chẳng cần đầu tư ra từ nước ngoài làm gì.

    Với các nước nhận đầu tư, điều này dường như là vô lý nhưng thực ra nó lại rất có lý bởi đó chính là chi phí cơ hội cho việc tiếp nhận đầu tư.

    Đối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giá cả cho việc sử dụng các dịch vụ này được coi là yếu tố đầu vào và được xác định trên cơ sở có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng không được quá thấp. Mức giá này không đứng một cách cô lập, bên cạnh nó phải là sự đồng bộ, hiện đại của hệ thống này. Dù cho đó là những khía cạnh khác nhau xong giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong đó giá cả dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật là yếu tố

    Trang 16

    Đề án Kinh tế đầu tư

    quyết định. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật dù hiện đại, đồng bộ đến mấy mà chi phí cho cho những dịch vụ này quá cao thì hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó cũng không có tác dụng lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại cũng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng bộ đó nhưng nước chủ nhà lại đưa ra một mức giá quá thấp thì sẽ không có điều kiện tích luỹ để đầu tư phát triển chánh hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó, làm cho nó trở nên lạc hậu. Từ đó cũng lại không có khả năng thu hút FDI.

    Do đó, yêu cầu của FDI đối với nước chủ nhà là phải xác định được một mốc giá hợp lý bên cạnh sự hiện đại, đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Trong thời gian qua, ở Việt nam các nhà đầu tư nước ngoài than phiền rất nhiều về giá cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mức giá này theo các nhà đầu tư là quá cao, đặc biệt là giá cước viễn thông, hàng không và hàng hải. Đây được coi là một trong những nguyên nhân làm cho FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

    Theo số liệu điều tra của WB, cước phí vận tải container bằng đường biển từ Nhật về các cảng ở Việt Nam thường cao hơn gấp hai dến ba lần so với đến Singapore, Thái Lan, và Philippines. Chẳng hạn cước phí vận chuyển một container 20 feet từ Tokyo đến Singapore khoảng 500 USD, đến Bangkok khoảng 450-750 USD trong khi đến cảng Đà Nẵng trên 1 500 USD, Hải Phòng từ 1000 đến 1500 USD và cảng Sài Gòn là gần 900 USD.

    Nguyên nhân là các cảng của Việt nam không thể đón các tàu lớn và do khối lượng hàng hoá ít nên phải trung chuyển qua Singapore hay Hồng Kông, đôi khi để đi đến được Đà Nẵng hay Hải Phòng các tàu phải ghé qua TP.HCM để tiếp nhiên liệu

    Trang 17

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Tương tự, cước phí vận tải hàng không cũng vào loại đắt nhất trong khu vực làm cho việc đi lại, vận chuyển hàng hoá bằng đường không chậm phát triển.

    Về giá dịch vụ viễn thông, sở dĩ phải thu giá cước điện thoại quốc tế cao là để bù lỗ cho dịch vụ bưu chính và duy trì mạng viễn thông mà quốc tế cao. Còn cước nội tỉnh lại rất thấp hay nói cách khác: người có nhiều tiền nhất phải trả giá cao nhất.

    Như vậy, để thu hút FDI thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng được hai yêu cầu: sự đồng bộ, hiện đại và một mức giá hợp lý.Trong hai yêu cầu trên có một yêu cầu chúng ta chưa đáp ứng được, đó là việc xác định một mức giá hợp lý. Còn trên thực tế yêu cầu về sự hiện đại , đồng bộ có được đảm bảo hay không. Để trả lời câu hỏi này thì phải biết được hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta hiện nay và ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    II.               THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam nhìn chung còn yếu kém trên nhiều phương diện cả về số lượng và chất lượng, lại chưa được xây dựng theo một quy hoạch thống nhất dẫn đến tình trạng khập khiễng, chắp vá và chưa đồng bộ đang là vấn đề lớn ảnh hưởng đến nhịp độ thu hút FDI.

    1. Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam

    1.1 Hệ thống giao thông.

    Trang 18

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Hệ thống giao thông Việt nam được đưa vào khai thác từ hơn 100 năm nay. Trong cả thời gian này không được đầu tư đúng mức để bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp. Vì vậy sau một thời gian dù khai thác và trải qua hai cuộc chiến tranh, đến nay hệ thống giao thông Việt nam không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế

    Từ cuối những năm 80, Chính phủ Việt nam đã dành ưu tiên nguồn vốn NSNN và tín dụng ra ưu đãi đầu tư nước ngoài cho các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới đường bộ, đường sắt, cảng biến và hàng không. Đến nay, nước ta đã có một mạng lưới giao thông khá đa dạng về số lượng, mật độ và loại hình phong phú. Xong chất lượng còn chưa cao.

    • Đường bộ:

    Mạng lưới đường bộ Việt Nam dài khoảng 210 000 km trong đó quốc lộ và tỉnh lộ là 56 000 km, mật độ đường bộ trên 100 km2 là 16,16km. Tỷ số này không phải là thấp so với các nước trong khu vực.

    Về hệ thống : có 3 trục Bắc–Nam trong quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cà Mau dài 2300 km. Bên cạnh đó chúng ta đã xây dựng được một số công trình giao thông quan trọng, công trình có kỹ thuật cao như cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, tuyến đường Thăng Long-Nội Bài, đường 5 … củng cố nâng cấp một số tuyến giao thông nội thị ở các thành phần phố lớn. Đang khởi công xây dựng công trình trọng điểm, cải thiện các đầu mối và các trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, Nam Bộ và Miền Trung.

    Tuy nhiên, đường bộ của ta còn hẹp mặt đường xấu và mới có 60% quốc lộ và tính lộ được nhựa hoá. Theo kết quả điều tra cho đến năm 95 trên địa bàn cả nước.

    – Đường rải nhựa chiếm 22%
    • Đường nhựa bán thành nhập 38%

    Trang 19

    Đề án Kinh tế đầu tư

    – Đường đá 15%
    – Đường đất 25%
    • Đường sắt:

    Mật độ đường sắt nước ta là 0,8 km/100km2 trong đó đường sắt Bắc Nam dài 1726 km, tuyến Hà nội – Lào Cai 230 km, tuyến Hà nội-Hải phòng 100km. Hai tuyến trên vận tải quốc tế Hà nội – Trung Quốc là Hà Nội-Đồng Đăng -Bắc Kinh và Hà nội-Lào Cai-Côn Minh. Đường sắt Bắc Nam đang được củng cố, nâng cấp nhưng hệ thống này đang ở vào thế độc tuyến. Chỉ cần một ách tắc nhỏ tại một địa điểm sẽ làm cho cả hệ thống phải tạm dừng hoạt động .

    • Đường biển

    Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3.200 km, quy mô và tổng công suất trên nên trục triệu tấn. Mặc dù đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận tàu các nước ra vào. Xong đó chỉ là số ít, phần lớn các cảng biển nước ta không đảm nhận được những tàu trọng tải lớn vì vậy chi phí cho việc bốc dỡ hàng hoá cao do phải chuyển tải. Bên cạnh đó hệ thống dịch vụ ở các cảng này cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

    • Hàng không

    Hiện có gần 100 vị trí sân bay lớn nhỏ trong nước, trong số gần 20 sân bay đã được đưa vào khai thác sử dụng, có 3 sân bay cấp IV là Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng đạt tương đương tiêu chuẩn quốc tế.

    1.2 Bưu chính viễn thông:

    Đã triển khai chiến lược tăng tốc, mạng thông tin mở rộng nhanh, đi vào kỹ thuật hiện đại hoà nhập với quốc tế, các dịch vụ bưu chính viễn thông đang có nhiều cố gắng cải thiện đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và thu hút FDI nói riêng.

    Trang 20

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Tuy phát triển tăng tốc xong còn ở mức độ thấp, mới chỉ tập trung ở đô thị, đáp ứng được nhu cầu trước mắt với chất lượng chưa cao và chi phí đắt. Mạng cáp nội hạt quá cũ , bố trí cáp treo thiếu quy hoạch, kém an toàn và mất mỹ quan. Mạng viễn thông có hệ thống thiết bị chưa đồng bộ, tồn tại nhiều hệ khác nhau, chưa phát triển nhiều dạng thông tin, giá cả còn mang tính độc quyền.

    1.3 Cung cấp điện.

    Đã phát triển nhanh chóng nguồn điện, đến năm 98 sản lượng điện đạt 21,77 tỷ kwh, tốc độ tăng sản lượng điện thời kỳ 91-95 đạt bình quân 10,2%/ năm với việc đưa vào vận hành đường dùng 500 KV Bắc Nam tạo điều kiện khai thác hợp lý các nguồn điện trong cả nước, cung cấp điện an toàn, liên tục cho nhu cầu các vùng và toàn bộ đất nước.

    Cung cấp điện năng bình quân đầu người tăng lên đáng kể ( năm 90: 135 Kwh, 95: 175 kwh, 98: 279 kwh). Hệ thống lưới chuyển tải được mở rộng, lưới phân phối được cải tạo hoàn thiện từng bước. Đến nay đã có 85% số huyện và 60% số xã được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

    Tuy nhiên, thời gian qua phát triển nguồn điện chưa cân đối về cơ cấu, thuỷ điện chiếm tỷ trọng cao gần 71% năm 95 cả về công suất lẫn sảnlượng gây ra tính kém ổn định của hệ thống. Tổn thất điện năng còn lớn (năm 95 là 19%). Hiệu suất của các nhà máy nhiệt điện đạt rất thấp, tiêu hao nhiên liệu cao, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu.

    Phần tiếp theo sau đây, chúng ta đi vào nghiên cứu, phân tích tình hình đầu tư phát triển và kết quả, hiệu quả đạt được trong quá trình xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Việt Nam trong thời gian qua.

    2. Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam trong thời gian qua.

    Trang 21

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Cùng với tiến trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đang tập trung cải tạo, nâng cấp, xây mới vừa góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước vừa đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI, hướng tới mực tiêu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Như phần trước đã phân tích và chỉ ra cho chúng ta thấy một thực cảnh về hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta: lạc hậu và không đồng bộ. Thực trạng đó bắt nguồn từ những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, được tiếp nối bởi sự dẫn dắt của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trì trệ, kém năng động và cuối cùng là thời gian đã tàn phá và hao mòn, huỷ hoại dần từng mảng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta. Nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta lúc này phải từng bước hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đang ngày càng bức thiết.

    Nắm bắt được điều đó, các cơ quan chức năng đã đề ra mục tiêu đén năm 2020: mạng lưới giao thông vận tải phát triển, kết hợp hài hoà giữa các chủng loại có chất lượng cao, đảm bảo vận tải tiện lợi, nhanh chóng và an toàn Mạng bưu chính viễn thông đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới, tham gia mạng thông tin siêu tốc toàn cầu, nối mạng đến xã, máy điện thoại đạt bình quân 20 máy/100 người. Mạng điện quốc gia phủ khắp các đô thị đến nông thôn, đạt 100% điện khí hoá toàn quốc, có thể có điện nguyên tử.

    Để thực hiện được những mục tiêu thên đã đề ra thì vấn đề khó khăn lớn nhất với chúng ta chính là vốn đầu tư. Theo dự báo của chính phủ, trong vài ba năm tới cầu đầu tư khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (tương đương 12% GDP) để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, ngân sách chỉ đáp ứng chừng 3% GDP, nguồn ODA thêm chừng 2% GDP nữa. Khoảng 7% GDP hay chừng 2,1 tỷ USD hàng năm chỉ có thể trông chờ vào các nguồn vốn đầu tư khác. Do đó, một giải pháp lớn được đặt ra là thực hiện chiến lược thu hút, huy

    Trang 22

    Đề án Kinh tế đầu tư

    động một nguồn vốn đầu tư, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nước. Vậy thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như thế nào, chúng ta sẽ đi vào phân tích va đánh giá.

    Vốn đầu tư chính là điều kiện tiền đề để thực hiện các dự án đầu tư, từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội. Đối với các công trình dự án đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nên cũng cần một khối lượng vốn lớn.

    Trong thời qua, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc củng cố và phát triển cơ sỏ hạ tầng của đất nước được thể hiện trong bảng sau:

    Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

          Đơn vị: tỷ đồng
               
    Năm 1990 1995   2000  
    Ngành       ( ước tính )  
               
    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 4.732,5 41.849,3   92.452  
               
    Ngành khác 5.6000,5 26.198,3   23.548  
               
    Tổng số 10.333 68.047,6   116.000  
               

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 10+11/2000

    Tính toán các số liệu trong bảng 1 ta thấy được tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành trong tổng vốn đầu tư như sau:

    Trang 23

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

    Đơn vị: %

    Năm 1990 1995 2000
    Ngành      
           
    Cơ sở hạ tầng 45,8 61,5 79,7
           
    Ngành khác 54,2 38,5 20,3
           
    Tổng số 100 100 100
           

    Từ số liệu hai bảng trên ta thấy được rằng: vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số vốn. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của năm 2000 ước tính 116.000 tỷ đồng chiếm 79,7%. Nếu so với các ngành khác thì quả là sự chênh lệch khá lớn. Điều này thể hiện những đặc điểm cơ bản trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật…đó là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện bằng nguồn vốn đầu tư từ NSNN, ít có sự tham gia của các thành phần khác trong lĩnh vực này.

    Theo số liệu ở bảng 2, trong năm 1990 tỷ trọng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật chiếm 45,8% trong tổng vốn đầu tư. Các năm sau 1990 và 2000 lượng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tỷ trọng ngày càng cao 61,5% và 79,7%. Tại sao vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng lại tăng cao như vậy, có thể giải thích rằng trước những năm 1990 thì thấy cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu và xuống cấp do hậu quả của những năm chiến tranh, sau đó đất nước lại rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế.

    Trang 24

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Để đưa đất nươc ra khỏi khủng hoảng và hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đảng và Nhà Nước thực hiện chủ trương mở cửa về kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài. Vì vậy nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trở nên hết sức cấp bách. Hơn nữa, do vừa trải qua cuộc khủng hoảng nên tích luỹ trong nước rất thấp, nguồn vốn đầu tư XDCB hết sức hạn hẹp. Chúng ta muốn chuyển dịch sơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, thúc đẩy quá trình thu hút vốn FDI thì việc ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là lẽ đương nhiên.

    Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đã có những bước tiến đáng kể. Để cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét dựa trên số liệu trên bảng sau:

    Bảng 3: vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống CSHT kỹ thuật thời gian qua.

          Đơn vị: tỷ đồng.
             
    Năm 1990 1995 2000  
    Ngành     ( ước tính )  
             
    Giao thông -Bưu điện 1.102,7 11.341,2 21.633,8  
             
    Công nghiệp 2.423,0 5.482,3 18.582,9  
             
    Nông nghiệp 1.206,8 25.025,8 52.235,3  
             
    Tổng số 4.732,5 41.849,3 92.452  
             

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và dự báo số 10 + 11/2000

    Trang 25

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Để tiện theo dõi, chúng ta sẽ tính tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực trong tổng số vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vào bảng sau:

    Bảng 4: Tỷ vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thời gian qua.

    Đơn vị: %

    Năm 1990 1995 2000
    Ngành      
           
    Giao thông – bưu điện 23,3 27,1 23,4
           
    Công nghiệp 51,2 13,1 20,1
           
    Nông nghiệp 25,5 59,6 56,5
           
    Tổng số 100 100 100
           

    Nhìn vào bảng 4 có thể thấy rằng, thời gian qua vốn đầu tư cho ngành giao thông – bưu điện mặc dù có sự tăng về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng của chúng trong tổng vốn đầu tư cho CSHT kỹ thuật lại có xu hướng giảm. Điều này đã phản ảnh đúng thực trạng của các lĩnh vực này. Bên cạnh đó đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cũng còn tồn tại sự mất cân đối, cụ thể trong hai năm 1995 và 2000 đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trong rất cao 59,6% và 56,5% lớn hơn cả các lĩnh vực giao thông -bưu điện và công nghiệp cộng lại. Tuy nhiên, vốn đầu tư cho các lĩnh vực của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đều có sự tăng lên về số tuyệt đối. Đây cũng là điều đáng mừng, nhưng là việc đầu tư đó có đem lại kết quả hay không, để trả lời cho câu trả lời đó trong phần tiếp theo chúng ta sẽ đi vào đánh giá kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    III.            ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA.

    Trang 26

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1.Đánh giá tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    Khách quan mà nói, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua đã đạt được một thành tựu đáng kể.

    • Cải thiện hệ thống đường giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không. Trong đó, hai hệ thống đường bộ và đường không có sự chuyển biến đáng kể. Một loạt các tuyến đường đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp và cải tạo như đường Mai Dịch – Nội Bài, quốc lộ 5, nhiều đoạn của quốc lộ 1, quốc lộ 18… cũng trong thời gian qua các các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất được xây dựng, bổ xung, hiện đại hoá máy bay và hệ thống thông tin liên lạc dưới mặt đất.

    Sự phát triển đó đã góp phần vào việc nâng cao khả năng lưu thông hàng hoá và đáp ứng phần nào yêu cầu của nhà đầu tư.

    • Xây dựng được mạng lưới thông tin liên lạc rộng khắp và kém hiệu quả trên toàn quốc. Đặc biệt ngành bưu chính viễn thông, từ một mạng lưới nhỏ và lạc hậu trược những năm 90, đến nay Việt Nam đã có mạng viễn thông hiện đại ứng dụng hoàn toàn kỹ thuật số. Tốc độ tiếp thu dịch vụ mới của các ngành này tăng khá nhanh, trung bình có sau 6 tháng kẻ từ khi một dịch vụ mới được tung ra trên thị trường quốc tế.
    • Hệ thống điện năng từng bước được nâng cấp, giải quyết cơ bản nhu cầu điện cho sản xuất và tiêu dùng. Đến cuối năm 1999, tổng công suất lắp đặt các hệ thống điện nước ta đạt 5.774 MM, tổng sản lượng điện đạt khoảng 23.740 triệu Kwh. Lưới điện truyền tải có chiều dài 109.977 Km và dung lượng các trạm truyền tải lên tới 14.709 MA. Tất cả các tính toán trên toàn quốc đã có lưới điện quốc gia, 95,7% số huyện và 77,2% số xã, 68,1% số hộ trong nước đã có điện.

    Số liệu về phát triển của ngành điện và bưu chính viễn thông.

    Trang 27

    Đề án Kinh tế đầu tư

      1990 2000
         
    Sản lượng điện (tỷ Kwh) 8,79 2,5
         
    Số máy điện thoại trên 100 người dân 0,4 4
         

    Bên cạnh những thành tựu đạt được, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn tồn tại nhiều yếu kém, cụ thể:

    • Giao thông đường bộ và đường sắt còn ở thế độc tuyến, chúng ta chưa có đường bộ cao tốc, đường sắt đôi, nhiều điểm vượt sông không có cầu…mặc dù mỗi năm giao thông đường bộ được đầu tư 5000 tỷ đồng từ MSNN xong chỉ đáp ứng đủ 30 – 40 % nhu cầu. Vì vậy các công trình gần đây được đầu tư xây dựng một cách tình thế. Kết quả là đến nay còn 515 xã chưa có đường ôtô về trung tâm, trung bình 10km đường bộ có 4 km chưa được trải nhựa và khoảng 70% chiều dài toàn bộ nằm trong tình trạng này.

    Cả nước có gần 1000 cây cầu yếu, hàng nghìn km đường bị ngập và ách tắc. Chỉ cần 1 tai nạn gây ách tắc ở một đoạn đường sẽ gây ách tắc giao thông toàn tuyến, một ví dụ rất rõ là tình hình lũ lụt tại miền trung tháng 10/ 1999 gây áhc tắc giao thông từ nam ra bắc hoặc sự cố cầu Bến Lức tháng 1/2000 gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

    *Các cảng biển có chất lượng dịch vụ cao vẵn còn chưa nhiều. Trong lúc hiện nay ở các cảng trên thế giới năng suất qua lại đạt đến 4000 tấn/m cầu tàu thì ở Việt Nam con số phổ biến từ 500 m- 1000 tấn/m cầu tàu. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có cảng nào đủ điều kiện thu hút cac tàu contenner trên 1.200 TEU và đáp ứng được dịch vụ tiếp vận phân phối hàng, vận tải đa phương theo tiêu chuẩn quốc tế.

    Trang 28

    Đề án Kinh tế đầu tư

    • Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp để nâng cao sản lượng điện cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng như xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện mới (Sông Hinh, Yaly…) cải tạo hệ thống nhiệt điện nhưng nếu cân đối với các yêu cầu phát triển kinh tế trong tương lai, rõ ràng ta chưa thể đáp ứng được. Nếu so sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực thì quả thật chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

    So sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực.

      Việt Nam Thái Lan Indonexia Philipin Malaysia
               
    Tỷ lệ hộ có điện (%) 51 87 39 58 90
               
    Năng lượng (Mw) 4.890 13.003 14.327 9.539 7.391
               
    Sản lượng điện năm 19.151 80.068 61.199 29.697 45.453
    97 (Gwh)          
               
    Tiêu  thụ  điện  đầu 204 1294 315 399 2.032
    người mỗi năm (Kwh)          
               
    Tỷ lệ hao hụt điện qua 16 9 12 17 11
               

    Trang 29

    Đề án Kinh tế đầu tư

    phân phối (%)

    Bên cạnh đó tiền điện dùng cho kinh doanh thuộc vào loại khá cao ảnh hưởng không nhỏ tới lợi thế so sánh của nước ta.

    So sánh chi phí đầu tư tại Hà nội, Tp Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn.

      Hà nội Tp. HCM Thượng Hải Bangkok Jakarta Kuala Lampar
                 
    – Phí điện thoại quốc tế 8,52 8,52 4,3 3,11 2,59 2,61
    (3 phút gọi dang Nhật)            
                 
    – Tiền điện dùng cho 0,07 0,07 0,035 0,03 0,0177 0,06
    kinh doanh / kwh            
                 
    – Vận chuyển container 1.825 1.375 880 1.466 1.252 895
    (40ft/container) chuyển            
    từ  nhà máy đến cảng            
    gần nhất ở Nhật – cảng            
    Yukohama            
                 

    Từ thực trạng kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như vừa nêu trên, cho thấy mặc dù đầu tư khá nhiều, xong nhìn chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn lạc hậu, chưa đồng bộ còn chi phí cho các dịch vụ này rất cao. Như vậy, những yêu cầu mà FDI đặ ra đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chúng ta chưa cung cấp được một cách hoàn hảo nhất. Điều đó là do việc đầu tư còn dàn trải, chưa xác định được những màu đột phá trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nguồn vốn còn eo hẹp bởi huy động được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào làm việc này rất khó khăn.

    Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nước ta được thể hiện rõ hơn qua sự so sánh ở bảng sau:

    So sánh môi trường đầu tư “cứng” của các nước ASEAN.

    Tên nước Sân bay Cảng biển Giao thông Điện lực Viễn thông Bình quân
                 
    Singapore 4,9 4,9 4,6 4,4 4,7 4,7
                 

    Trang 30

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Brunay 3,3 3,3 3,3 3,6 3,5 3,3
                 
    Thailan 3,1 2,5 1,6 2,7 3,0 2,6
                 
    Philipines 2,3 2,4 2,9 2,2 2,7 2,3
                 
    Indonesia 3,0 2,4 2,3 2,6 2,7 2,6
                 
    Malaysia 3,1 3,1 2,7 2,6 3,2 2,9
                 
    Myanma 1,6 1,5 1,6 1,4 1,4 1,5
                 
    Lào 1,5 1,5 1,5 1,7 1,5 1,5
                 
    Campuchia 1,6 1,5 1,8 1,4 1,4 1,5
                 
    Việt Nam 1,9 2,0 1,9 1,9 2,2 2,0
                 

    Xếp hạng: 5 điểm lớn nhất.

    Tuy sự so sánh trên còn có phần chưa thoả đáng vì nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, mọi điều kiện về vật chất, con người còn nhiều hạn chế so với các nước đã có quá trình phát triển trước rất nhiều năm. Nhưng dù sao khoảng cách khá chênh lệch đó cuĩng đòi hỏi nhiều hơn nữa cho việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

    Trên đây chúng ta đã đánh giá được một số vấn đề trong công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua. Trong quá trình đánh gía, chúng ta đã thấy được những thành tựu và những yếu kém. ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đánh giá đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với qua trình thu hút FDI.

    2. Đánh giá hiệu quả của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đối với quá trình thu hút vồn FDI.

    Trang 31

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ tiền ra đầu tư vào một nơi nào đó, xem xét rất kỹ lưỡng mọi khía cạnh. Trong đó có khía cạnh rất quan trọng từ cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy những nơi nào có kết cấu hạ tầng phát triển thì nơi đó có nhiều dự án đầu tư. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được những kết quả dáng khích lệ trong việc thu hút vốn FDI.

    Tính đến thời điểm 30/6/2000 đã có gần 3100 dự án của 65 nước và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép, tổng vốn đầu tư đăng ký gần 43 tỷ USD, trong đó vốn tăng thêm của các dự án đang thực hiện là trên 5,5 tỷ USD. Tìm các dự án hết hạn, giải thể, hiện có khoảng 2500 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký đạt gần 36 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt gần 18 tỷ USD và hiện chiếm tới 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực đầu tư nước ngoài không những đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, mà còn khai thác, đưa vào sử dụng nhiều nguồn lực trong nước như đất, tài nguyên, lao động.

    Để đạt mục tiêu đến năm 2005 GDP tăng gấp hai năm 95, sơ bộ

    • nhu cầu vốn đầu tư phát triển của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 khoảng
    • – 62 tỷ USD, trong đó dự kiến vốn đầu tư nước ngoài khoảng 25 tỷ USD. Vì vậy tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.

    Tuy nhiên trong những năm gần đây xu thế vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang chững lại và có phần giảm sút, cụ thể:

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

    Đơn vị: triệu USD.

      91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000
                         

    Trang 32

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Vốn 1275 2027 2589 3746 6607 8640 4649 3897 1567 1600
    cam kết                    
                         
    Vốn 432 478 871 1936 2363 2447 4768 2062 1758 1800
    thực                    
    hiện                    
                         

    Theo số liệu ở bảng trên ta thấy rằng, năm 96 là năm có số vốn thu hút cao nhất từ trước đến nay. Sau thời kỳ ấy biểu đồ ngày càng đi xuỗng và đến thời điểm năm 2000 (dự kiến) cũng chỉ hơn năm 91 chút ít cũng sau thời điểm 96 đến nay FDI suy giảm cả về vốn cam kết và vốn thực hiện. So với cùng kỳ năm trước, nbịp tăng vốn đăng ký của các dự án FDI năm 97 giảm 49%, năm 98 giảm 16%, năm 99 giảm 60%. Số vốn thực hiện từ năm 97 – 99 giảm khoảng 40%. Sự suy giảm FDI đã gây ảnh tiêu cực đến việc huy động vốn đầu tư phát triển và tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và một số năm tới.

    Ngoài những nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong thu hút FID của các quốc gia thì nguyên nhân chính vẫn thuộc về chúng ta. Mặc dù, cơ chế chính sách, luật pháp đã có sự thông thoáng cởi mở. Song hệ thống CSHT kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của FDI đã dẫn đến chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, đã là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới lưu lượng của dòng chảy FDI vào Việt Nam.

    Để Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới chúng ta cần phải cố gắng hơn nữa trong việc đề ra những giải pháp cho vấn đề này.

    Trang 33

    Đề án Kinh tế đầu tư

    CHƯƠNG III

    PHƯONG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT NHẰM THU HÚT VỐN FDI TRONG THỜI GIAN TỚI

    I.PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trong phần này chúng ta sẽ đề cập tới định hướng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian tới và một số giải pháp để giải quyết những tồn tại trong thời gian qua. Nhưng dù có định hướng hay giải pháp gì đi chăng nữa thì cơ bản việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải tuân theo những nguyên tắc sau

    Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật một cách hoàn chỉnh, đồng bộ theo một quy hoạc tổng thể ngay từ ban đầu.

    Trang 34

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Trong điều kiện hạn chế về vốn có thể hoàn thành từng phần tránh đầu tư manh mún dẫn đến thất thoát, lãng phí và hiệu quả thấp.

    Cần có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật .

    1. Hệ thống giao thông vận tải.

    Phương hướng phát triển hệ thống giao thông là tạo sự chuyển biến cơ bản về cơ cấu, quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ, trong đó phát triển nhanh ngành hàng hải và hàng không, tận dụng tốt các đường sông, ngăn chặn sự xuống cấp, từng bước nâng cấp các tuyến đường bộ, đường sắt trọng điểm, giải quyết giao thông đường bộ ở các vùng kinh tế trọng điểm. Hoàn chỉnh tuyến trục Bắc-Nam, củng cố các tuyến lên Tây Nguyên và xuống đồng bằng Cửu Long, cải thiện mạng lưới giao thôgn đồng bằng sông Hồng và giao thông các thành phố lớn. Mở rộng, hiện đại hoá các đầu mối giao lưu quốc tế: cảng biển, cảng hàng không, phát triển các tuyến nối trục giao thông quốc tế xuyên A’ và các nước láng giềng.

    Phát triển tuyến vận tải ven biển và các cảng nước sâu trên các vùng.

    Nâng cấp toàn bộ tuyến quốc lộ 1 từ Đồng Đăng đến Năm Căn Là trục huyết mạch, đến năm 2005 hoàn thành và nối kết các mạng đường bộ các vùng.

    Nghiên cứu khả thi và xây dựng dẫn trục xa lộ Bắc Nam để đáp ứng cho thời kỳ CNH-HĐH từ sau năm 2000.

    Nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Việt để tạo nên tuyến đường vận tải hàng hoá có khối lượng lớn từ Bác đến Nam và các tính miền Trung, một tuyến vận chuyển hành khách đường dài nhanh chóng tiện lợi.

    Tăng năng lực vận chuyển trên các tuyến hàng không hướng Bắc-Trung-Nam, và nâng cấp các sân bay này.

    Trang 35

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Triển khai chương trình giao thông nông thôn, giải quyết đường đến huyện và 599 xã cũng 15 điểm cụm xã có tổng chiều dài là 7425 km.

    2. Bưu chính viễn thông.

    Tăng cường và phát triển mạng bưu chính viễn thông công cộng cũng như chuyên dùng theo hướng đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá bằng kỹ thuật số, quang học với công nghệ tiên tiến để có dung lượng lớn, tốc độ cao nhằm đạt mục tiêu 3T (tốc độ, tiêu chuẩn, tin học và đồng thời cập nhật kịp thời những công nghệ mới)

    Mở rộng các dịch vụ mới: Điện thoại thấy hình, hội nghị truyền hình, truyền số liệu tốc độ cao nhằm, internet, thư điện tử, bưu phẩm khai giá

    Đưa các dịch vụ đối với khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi, văn minh lịch sự. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dịch vụ, bỏ độc quyền dịch vụ bưu chính viễn thông.

    3. Cung cấp điện

    ưu tiên khai thác thuỷ năng, trước hết tập trung vào các công trình có hiệu quả kinh tế cao như Sông Đà, Sông Đồng Nai và một số công trình vừa và nhỏ trên các lưu vực sông khác nhằm kết hợp thuỷ điện và thuỷ lợi, phát triển nhiệt điện dùng than ở các tỉnh phía Bắc trên cơ sở tăng cường khai thác sử dụng than Quảng Ninh.

    Tích cực chuẩn bị cho phát điện nguyên tử sau năm 2000

    Liên kết tất cả các huyện thị vào mạng lưới quốc gia. Phấn đấu đến năm

    2010 có 70% số hộ được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Đầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại hoá lưới điện chuyển tải và phân phối nhằm nâng cao độ tin cây, chất lượng cung cấp và giảm tỷ lệ hao hụt xuống còn khoảng 10%.

    II.GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐẦU TƯ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRONG THỜI GIAN TỚI

    Căn cứ vào sự đánh giá về tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở phần trước, căn cứ vào định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật . Trong thời gian tới để tăng cường thu hút vốn FDI một mặt chúng ta cần cải thiện và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng những yêu cầu của FDI đối với lĩnh vực này. Mặt khác cần tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu hút FDI có hiệu quả. Nhưng xuất phát từ việc bài viết trên lĩnh vực kinh tế đầu tư nên đưa ra những giải pháp thuộc lĩnh vực kinh tế đầu tư chứ không thể đưa ra những giải pháp dựa trên lĩnh vực kỹ thuật.

    1.Giải pháp cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng hiện đại là yếu tố quan trọng trong thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Do đó, để cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

    • Thứ nhất: Tổ chức này cấp hệ thống đường bộ các nước trên quan điểm phá vỡ thế lực tuyến (như hiện nay-vừa qua, dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1 từ 2000-2003 đã được khởi công). Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện thành công dự án này nhằm giải quyết hướng ra trong tương lai đối với giao thông đường bộ.
    • Thứ hai: Để khai thức có hiệu quả lợi thế về vị trí địa chính tạo trong thu hút FDI cần đầu tư hienẹ đại bản 3 sân bay Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nhằm

    Trang 37

    Đề án Kinh tế đầu tư

    đáp ứng các chuyến bay trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ngành hàng không cũng cần phải tổ chức lại. Nếu tình trạng bù lỗ cứ kéo dài như hiện nay, chúng ta sẽ không có nguồn vốn cho đầu tư phát triển, dẫn đến tình trạng lạc hậu so với hàng không các quốc gia khác trong khu vực.

    • Thứ ba: Cải thiện hệ thống giao thông đô thị và chú ý phát triển mạng lưới giao thông ở các vùng nông thôn, vùng xa… ở các đô lớn như Hà nội, TP Hồ Chí Minh… hệ thống giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hiện đại , chưa kể đến tầm phát triển trong tương lai. Điều này đã làm ngao ngán không ít các nhà đầu tư. Điển hình, tại TP HCM nạn kẹt xe ngày càng có xu hướng trầm trọng hơn. Tại Hà nội, trong các giờ cao điểm trên trục đường hệ số sử dụng lòng đường đã vượt 1 đến 3 làn do lòng đường nội thành quá chật hẹp, các giao cắt đường mốc quá gần nhau, do đó đã dẫn đến tình trạng ùn tắc, lộn xộn mất trật tự.

    Như vậy, hệ thống giao thông đô thị đến nay đã trở lên quá tải, trong khi việc sửa chữa, áp dụng kỹ thuật còn quá thô sơ, manh mún, mang tính chắp vá không hề cải thiện tình hình giao thông. Việc xây dựng những con đường mới thực hiện quá chậm, thậm chí không đảm bảo chất lượng. Đó là thực trạng ửo các thành phố lớn nói chung ở nước ta hiện nay. Còn ở những thị xã, quận huyện xa thì vấn đề giao thông còn ách tắc hơn, gây cho nhà đầu tư tâm lý muốn đầu tư vào các đô thị lớn, nơi có môi trường đầu tư t*88 cả nước. Do đó, một mặt cần cải thiện hệ thống giao thông đô thị, mặt khác phải chú ý xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông ửo các vùng nông thôn, vùng núi, vùgn xa căn cứ trên quy hoạch chi tiết của từng địa phương.

    +Thứ tư: Đầu tư cải thiện hệ thống cảng biển trên quan điểm”cảng biển Việt nam cần chất lượng “ vì vậy cần tiếp tục đầu tư cải tạo và nâng cấp hiệu quả hoạt động của cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu và cảng Hải Phòng tạo lên khu vực

    Trang 38

    Đề án Kinh tế đầu tư

    cảng lớn, mặt khác tập trung đầu tư phát triển hệ thống cảng biển miền Trung như Đà Nẵng, Ba Ngòi…. Và đặc biệt là cảng Dung Quất. Đội tàu viễn dương

    của ta đã quá cũ kỹ lạc hậu, vận tải đường biển còn kém phát triển trong khi đây là xu thế cảu Việt nam. Do vậy việc đầu tư hiện đại háo những cơ sở để phát triển kinh tế và thu hút FDI.

    • Thứ năm: hợp tác với các nước láng giềng để mở rộng hệ thống giao thông quốc tế, cụ thể: làm một hệ thống truvj giao thông sang Lào, Campuchia và Trung Quốc trên cơ sở hệ thống giao thông đã có, khai thông tuyến giao thông quốc tế đến Hà nội, mở rộng hệ thống giao thông đường sắt với Trung Quốc.

    +Thứ sáu:

    Đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt cần tăng số kênh thông tin quốc tế, tìm kiếm nguồn vốn để xây dựng hệ thống cáp quang biển hoà chung vào mạng cáp quang biên thông tin quốc tế khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của chủ đầu tư, điều chỉnh mức cước phí thông tin và bưu điện theo hướng phù hợp với nguồn sử dụng trong nước và hợp lý trong khu vực.

    Để thực hiện các giải pháp đầu tư cải thiện và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cảu nền kinh tế, một vấn đề cần giải quyết trước mắt là tìm kiếm, xác định được nguồn vốn đầu tư.

    Cũng như các nước đang phát triển khác, nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất lớn, trong khi đó nguồn vốn dành cho đầu tư lại hạn chế do nguồn thu ngân sách không đảm bảo. Do đó, để giải quyết bài toàn về vốn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần có những giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư một cách hợp lý.

    2. Giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

     

     

     

     

    Trang 39

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Thực hiện đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên quan điểm “tập trung dứt điểm” không đầu tư dàn trải và hậu quả của việc đầu tư dàn trải sẽ không cao, thực hiện đầu tư nhiều công trình nhưng đều chậm hoàn thành và khó đưa vào sử dụng do thiếu vốn. Muốn vậy cần có quy hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thống nhất và hợp lý. Những công trình trong tình trạng phân phối đều vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các địa phươgn mà phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế các địa phương.

    • Phải thực hiện chặt chẽ công tác phân cấp quản lý và đầu tư đói với những công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật thuộc hế thống quốc gia như đường quốc lộ, những cồng trình mang tính chất liên ngành, liên vùng, những công trình hàng không, cảng biển quốc gia và hệ thống đường sắt. Tránh tình trạng chia nhỏ như trước đây, mỗi địa phương quản lý một đoạn quốc lộ v tổ chức thu kinh phí cho ngân sách địa phương. Cần tập trung nguồn thu này do ngân sách và điều phối một cách hợp lý, không quản lý manh mún, kém hiệu quả và việc đầu tư lại mang tính chắp vá như hiện nay.

    Đồng thời phải có sự phân cấp quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật một cách rõ ràng, chi tiết: bộ máy quản lý thành phố, tỉnh phải khác với huyện, xã. các công trình loại I, loại II thuộc trung ương thì phân cấp thế nào? Phạm vi nào thuộc quyền của tỉnh, lĩnh vực nào của Trung ương… một thực tế là sẹ phân cấp và phối hợp trong quản lý hệ thống giao thông còn rất yếu kém. Tại các thành phố, thị xã có quốc lộ đi qua thì Bộ giao thông vận tải quản lý, một số đoạn lại do sở giao thông công chính đảm nhiệm đầu tư xây dựng, nâng cấp, bảo dưỡng, còn cấp thoát nước, xây dựng mạng lưới điện, điện thoại lại do các cơ sở chuyên ngành nên có tình trạng đường làm xong thì phải đào lên để mắc điện thoại, làm cống thoát nước,/… đây là việc phân cấp quản lý vì mục đích chung lâu dài chứ không phải vì lợi ích nhất thời dàn trải. Việc đầu tư vào các hệ lĩnh vực thuộc hệ

    Trang 40

    Đề án Kinh tế đầu tư

    thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ do từng địa phương thực hiện một ngân sách để thực hiện tài trợ trong những trường hợp đặc biệt.

    Thực hiện xây dựng “Nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đối với những công trình mang tính chất phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, việc huy động vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải được bàn bạc từ Trung ương đến địa phương để không lặp lại? Trung ương cho gì, địa phương nhận “và” địa phương xin, Trung ương xem và cho”. Mặt khác, cần có sự chỉ đạo thống nhất trong xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật giữa Trung ương và địa phương. Các nguồn vốn được cấp, sử dụng đều phải có sự giám sát của Họi đồng nhân dân và ở mức độ cho phép thì có sự tham gia của nhân dân.

    • hoàn thiện từng bước các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào cơ sở hạ tầ

    Trong những năm tới, chỉ riêng 4 lĩnh vực điện, đường bộ, viễn thông và cấp nước mỗi năm cần đầu tư hơn 3,5 tỷ USD, gấp 3 lần nguồn vốn ngân sách (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức –ODA) của Chính phủ dành cho cơ sở hạ tầng nói chung.

    Cho đến nay ngân sách vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưng như thế thì không thể đáp ứng hết các yêu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng. Do vậy cần phải có các biện pháp huy động vốn từ các doanh nghiệp, để bù đắp khoảng trống giữa cung, cầu về vốn.

    Từ những năm 92, chúng ta đã bắt đầu chú ý đến việc thu hút nguồn đầu tư của các doanh nghiệp vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằng cách đưa ra những chính sách ưu đãi về thuế, giá thuế đất và đưa hình thức đầu tư BOT vào các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài … từ đó đến nay nhiều đường quốc lộ đã được nâng cấp bằng nguồn vốn của doanh nghiệp như QL5L từ TP HCM

    Đề án Kinh tế đầu tư

    đi vũng tàu, đường Láng-Hoà Lạc ở Hà nội, quốc lộ 14.. Tuy đã có một số kết quả nhưng các chính sách về thuế, đất đai vẫn chưa thuyết phục được ccs doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn vào cơ sở hạ tầng.

    Trong thời gian tới cần tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác tham gia rộng rãi hơn vào một số lĩnh vực dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đang do các Doanh nghiệp Nhà nước kiểm soát bằng cách cổ phần hoá từng bước các mảng dịch vụ phân phối điện, dịch vụ viễn thông và đấu thầu khai thác các cảng biển cũng như sân bay.

    Trang 42

    Đề án Kinh tế đầu tư

    KẾT LUẬN.

    Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Hiện nay việc huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vào hiệu quả của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đang là vấn đề nóng bỏng. Trong thời gian tới, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự cạnh tranh quyết liệt trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia, chắc chắn rằng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam sẽ có những bước tiến đáng kể đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Chính vì thế ngay từ bây giờ chúng ta phải có sẹ tìm hiểu cụ thể thực trạng của hệ thống này để thấy được vai trò của nó đối với quá trình thu hút FDI. Qua đó tìm ra những giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại trong việc đầu tư phát triển hệ thống này.

    Trên cơ sở như vậy. bài viết được hoàn thành. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài rất rộng, trình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Trang 43

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế đầu tư. NXB giáo dục – 1998.

     

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế phát triển. NXB Thống kê – 1997.

     

    1. Bộ Kế hoạch – Đầu tư. Một số vấn đề mới về FDI tại Việt Nam

     

    1. Nguyễn Anh Tuấn. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: cơ sở pháp lý, thực trạng và triển vọng. NXB Thế giới – 1994.

     

    1. Vũ Chí Lộc. Giáo trình đầu tư nước ngoài. NXB Giáo dục – 1997.

     

    1. Tổng cục Thống kê. Cơ sở hạ tầng Việt Nam 10 năm đổi mới (1985 –

     

    1995).

     

    1. Niên giám Thống kê Việt Nam các năm 96, 97, 98.
    1. Các báo, tạp chí sau:
    • Kinh tế và dự báo số 1+2/97, 4/98, 3/200, 10+11/2000
    • Thời báo kinh tế Sài Gòn số 27, 28, 36/2000
    • Nghiên cứu kinh tế số 1/98, 7/98, 4/99, 11/99, 9/2000
    • Kinh tế Châu á – Thái Bình Dương số 4/97
    • Thông tin kinh tế xã hội số 2/96
    • Kinh tế và phát triển số 38/2000
    • Công nghiệp số 23/99
    • Phát triển kinh tế số 102/99
    • Thương mại số 1/2000
    • Giao thông vận tải số 1+2/2000

    Trang 44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kỹ thuật nuôi ong mật


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/K%E1%BB%B8-THU%E1%BA%ACT-NU%C3%94I-CHIM-B%E1%BB%92-C%C3%82U.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    Có thể nuôi chim bồ câu với quy mô lớn. Chim bồ câu siêu thịt, có thể nặng từ 1,2 kg trở lên, dễ nuôi, nhanh lớn, ít bệnh, sinh sản tốt.

    Chim bồ câu là vật nuôi có giá trị dinh dưỡng khá cao, rất bổ dưỡng cho người già, người mới ốm đậy, trẻ em suy dinh dưỡng.

    Phân chim bồ câu ủ để bón hoa, kiểng, cây ăn trái.

    Chim bồ câu còn là loại chim cảnh đẹp.

    Con giống

    Giống của Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật.

    Chim bồ câu được chọn làm giống phải đảm bảo các yêu cầu: khỏe mạnh, lông mượt, không có bệnh tật, dị tật, lanh lợi.

    Dòng chim bồ câu Pháp: Titan & Mimas:

    * Dòng “siêu lợi” Mimas có bộ lông đồng nhất màu trắng, khả năng sản xuất: 16-17 chim non/cặp/năm, khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 590g.

    *Dòng “siêu nặng” Titan có bộ lông phong phú đa dạng hơn: trắng, đốm, xám, nâu, khả năng sản xuất: 12-13 chim non/cặp/năm, khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 700 g.

    Phân biệt trống mái: Con trống to hơn, đầu thô, có phản xạ gù mái (lúc thành thục), khoảng cách giữa 2 xương chậu hẹp; con mái thường có khối lượng nhỏ hơn, đầu nhỏ và thanh, khoảng cách giữa 2 xương chậu rộng. Tuy nhiên, lúc bé rất khó phân biệt. Nên mua loại chim từ 4-5 tháng tuổi.

    Một cặp bồ câu có thể sinh sản trong 5 năm, nhưng sau 3 năm đẻ, khả năng sinh sản giảm, nên thay chim bố mẹ mới.

    Sinh sản

    Nếu nuôi tốt 1 con bồ câu mái sau 4 -5 tháng tuổi bắt đầu đẻ lứa đầu, mỗi lứa đẻ 2 trứng. Sau khi ấp 16 – 18 ngày sẽ nở. Chim con sẽ được giao cho chim trống nuôi dưỡng. 24 ngày tuổi có thể xuất chuồng bán. Chim mái nghỉ dưỡng sau 7- 10 ngày thì đẻ lứa tiếp theo. Cứ như thế 1 cặp bồ câu bố mẹ sau 1 năm cho ra đời 17 cặp con cháu.

    Nuôi chim trong chuồng tỷ lệ đẻ và ấp đạt được từ 90% – 100%, nhưng khâu chăm sóc nhiều bơn, tốn công hơn.

    Còn khi nuôi thả thì tỉ lệ đạt khoảng 80%, nhưng có ưu điểm là chim khoẻ không bệnh dịch.

    Chim bồ câu thường đẻ trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 giờ chiều do vậy cần hạn chế vào chuồng chim và xua đuổi chuột, mèo, rắn…bởi vì chúng làm cho chim hoảng loạn, không hoặc ngưng đẻ ngay lập tức.

    Kỹ thuật dồn trứng, dồn con: Kiểm tra nghiêm ngặt, tuyển lựa trứng, ghi chép số chuồng, ngày đẻ. Trứng đẻ 5 ngày phải soi, nếu trứng không có trống loại bỏ ngay, trứng còn lại chuyển qua cặp đẻ cùng ngày để ấp. Khi 3 cặp chim nở, sẽ tách một cặp con dồn cho hai cặp nuôi. Cặp còn lại 7 ngày sau đẻ tiếp.

    Chuồng trại

    Với chuồng trại 200m2 có thể nuôi 70 con bồ câu bố mẹ, trong có 50m2 làm ổ cho bồ câu đẻ, ấp; ngoài ra có khu vực bồ câu thịt, khu an dưỡng chờ đẻ tiếp. Cần vệ sinh chuồng trại sạch sẽ. Nên tạo cho chim có được môi trường tự nhiên, chuồng trại đẹp thoáng mát, có đủ ánh sáng mặt trời, có mái cao ráo, yên tĩnh nhẹ nhàng, tránh gió lùa, mưa, ồn ào quá mức, tránh mèo, chuột, rắn, có độ cao vừa phải… có chỗ cho chim tắm, mỗi tuần pha một lần nước muối nhạt để chống rệp cho chim.

    Chuồng trại, lồng làm bằng tre, gỗ, hay lưới kẽm (dây thép) 2mm, ghép từng ô, có thể làm nhiều tầng.

    Mật độ nuôi: Nếu nuôi nhốt theo kiểu ô chuồng thì mỗi ô chuồng là một đôi chim sinh sản. Nếu nuôi thả trong chuồng thì mật độ là 6-8 con/m2 chuồng. Khi được 28 ngày tuổi, chim non tách mẹ (giai đoạn về sau này được gọi là chim dò). Nuôi chim dò với mật độ gấp đôi nuôi chim sinh sản (10-14 con/m2).

    Chuồng nuôi chim sinh sản từ 6 tháng tuổi trở đi: Dành cho một cặp trống mái sinh sản: Cao: 40cm x sâu: 60cm x rộng: 50cm. Trên đó đặt ổ đẻ, máng ăn, máng uống, máng đựng thức ăn bổ sung.

    Chuồng nuôi chim hậu bị sinh sản từ 2-6 tháng tuổi: dài: 6m x rộng: 3,5m x cao: 5,5m (cả mái).

    Chuồng nuôi dưỡng chim thịt (nuôi vỗ béo chim thương phẩm từ 21-30 ngày tuổi): Cao: 40cm x sâu: 60cm x rộng: 50cm. Mật độ 45-50 con/m2, không có ổ đẻ, không có máng ăn (phải nhồi trực tiếp cho chim ăn), ánh sáng tối thiểu.

    ổ đẻ: Đường kính: 20-25cm x cao: 7-8cm: Trong giai đoạn nuôi con, chim bồ câu đã đẻ lại, nên mỗi đôi chim cần hai ổ, một ổ đẻ và ấp trứng đặt ở trên, một ổ để nuôi con đặt ở dưới. ổ có thể làm bằng gỗ, nhựa, khô ráo, sạch sẽ, vệ sinh thay rửa thường xuyên.

    Máng ăn cho một đôi chim bố mẹ: dài: 15cm x rộng: 5cm x sâu: 5-10cm. Nên đặt ở những vị trí tránh chim ỉa vào, tránh các nguồn gây ẩm ướt và hạn chế thức ăn rơi vãi. Có thể dùng máng bằng tre hoặc bằng tôn. Kích thước máng ăn:

    Máng uống cho một đôi chim bố mẹ: Đường kính: 5-6cm x cao: 8-10cm. Máng uống phải đảm bảo tiện lợi và vệ sinh. Có thể dùng đồ hộp (lon nước giải khát, lon bia…), cốc nhựa…

    Máng đựng thức ăn bổ sung: nuôi nhốt nên cần chất khoáng, sỏi, muối ăn. Kích thước của máng đựng thức ăn bổ sung như máng uống, nên dùng gỗ hoặc nhựa, không nên làm bằng kim loại.

    Thức ăn:

    Chế độ ăn uống của chim đều 2-3 cữ/ngày. Bình quân lượng thức ăn cho 1 con chỉ từ 0,1-0,15g.

    Cần cho chim ăn đầy đủ, nhất là cám tổng hợp. Có thể cho ăn bắp, đậu xanh hột, lúa trộn với một ít thức ăn công nghiệp của gà, vịt (thịt, đẻ).

    Pha chế thức ăn cho chim theo tỷ lệ: 40% đậu xanh, 30% bắp hạt sống, 20% gạo lức và 10% lúa trộn đều với nhau. Có thể trộn gạo, lúa và pha thêm cám gà để giảm lượng đậu xanh, giảm chi phí thức ăn.

    Ngoài ra, nên tăng cường thêm một số chất khoáng, vôi vào khẩu phần ăn của chim để đảm bảo cho chim sinh sản và giúp chim luôn giữ được nhiệt để tiêu thụ thức ăn tốt.

    Chuồng phải có máng nước đổ đầy uống cả ngày. Nước phải sạch sẽ, không màu, không mùi và phải thay hằng ngày. Có thể bổ sung vào trong nước Vitamin và kháng sinh để phòng bệnh khi cần thiết, trung bình mỗi chim bồ câu cần 50-90ml/ngày.

    Một số kinh nghiệm:

    1. Tập cho chim làm quen với mèo và rắn: mỗi lần cho chim ăn mang kèm theo con mèo bên cạnh, tập cho an chung, gần nhau, mèo không vồ chim, chim không sợ mèo. Với rắn: dùng con rắn nhựa cho làm quen với chim, rồi cho rắn vào chuồng chim. Chin sẽ dạn dĩ dần với động vật lạ.
    2. Giữ chim ở lại chuồng tránh tình trạng chim bay bỏ chủ mà đi chủ khác: Tập cho chim quen hơi chủ bằng cách nuôi chim càng non càng tốt. Thường xuyên thăm nom các ổ chim mới nở, làm chim trở nên “dạn” gần gũi với chủ hơn.
    3. Cho ăn đúng giờ tạo thói quen, dù có đi ăn xa khi đến giờ ăn chim rủ nhau về nhà để ăn thức ăn quen thuộc của chủ.

    Chế độ chiếu sáng

    Chim bồ câu rất nhạy cảm với ánh sáng. Sự đẻ trứng chỉ phụ thuộc vào một phần ánh sáng nhưng sự ấp trứng lại phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố ánh sáng. Bản năng ấp trứng của bồ câu phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng ban ngày tối thiểu là 13 giờ. Do đó chuồng trại thiết kế thoáng đảm bảo cung cấp đủ ánh sáng cho chim. Tuy nhiên, ở miền Bắc, ban ngày mùa đông ánh sáng ngắn, có thể lắp bóng đèn 40W chiếu sáng thêm vào ban đêm (nếu nuôi theo quy mô lớn) với cường độ 4-5W/m2 nền chuồng với thời gian 3-4h ngày.

    TLTK: Nuôi chim bồ câu Pháp, NXB Nông nghiệp, 2001

    Quy trình Kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp
    ?1. Nhu cầu dinh dưỡng

     

    ?? Nhu cầu về dinh dưỡng của chim bồ câu tuỳ theo giai đoạn phát triển của chim. Sau đây là nhu cầu cần thiết cho chim sinh sản:

    Năng lượng (kcal/ME):  2900-3000

    Protein thô (%): 13,4-14,4%

    Ca (%):  2-3%

    P (%):  0,6-0,8%

    NaCl (%):  0,3-0,35

    Methionin (%):  0,3

    Lizin (%):  0,3-0,7

    ?? Chim bồ câu nuôi nhốt rất cần chất khoáng, do đó phải thường xuyên bổ sung vào các máng ăn riêng cho chim ăn tự do.

    ? 2. Các loại thức ăn thường sử dụng nuôi? chim

    Thông thường chim ăn trực tiếp các loại hạt thực vật: đỗ, ngô, thóc, gạo… và một lượng cần thiết thức ăn đã gia công chứa nhiều chất khoáng và vitamin.

    + Đỗ bao gồm: đỗ xanh, đỗ đen, đỗ tương,…Riêng đỗ tương hàm lượng chất béo nhiều nên cho ăn ít hơn và phải được rang trước khi cho chim ăn.

    + Thức ăn cơ sở: thóc, ngô, gạo, cao lương,..trong đó ngô là thành phần chính của khẩu phần. Yêu cầu của thức ăn phải đảm bảo sạch, chất lượng tốt, không mốc, mọt.

    Chim bồ câu cần một lượng nhất định các hạt sỏi,? giúp cho chim trong quá trình tiêu hoá của dạ dày (mề). Kích cỡ của các hạt: dài 0,5-0,8mm, đường kính 0,3-0,4mm. Vì vậy nên đưa sỏi vào máng dành riêng đựng thức ăn bổ sung cho chim ăn (trộn cùng với muối ăn và khoáng Premix).

    3. Cách phối trộn thức ăn

    Thức ăn bổ sung (chứa vào máng ăn riêng): Khoáng Premix: 85%; NaCl: 5%; Sỏi: 10%

    Bổ sung liên tục trong máng cho chim ăn tự do. Tuy nhiên hỗn hợp được trộn nên dùng với một lượng vừa phải. Không nên để thức ăn bổ sung quá nhiều trong một thời gian dài gây biến chất các thành phần có trong hỗn hợp.

    Khi phối trộn thức ăn, càng nhiều thành phần càng tốt, đảm bảo đủ chất lượng và bổ sung hỗ trợ cho nhau đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên nguyên? liệu khác nhau cách phối hợp cũng khác nhau, thông thường lượng hạt đậu đỗ từ 25-30%; ngô và thóc gạ 75-75%.?

    Sau đây là 2? khẩu phần đang được ứng dụng nuôi chim bồ câu Pháp:

    Khẩu phần 1: (Sử dụng nguyên liệu thông thường)

    Nguyên liệu & GTDD Chim sinh sản Chim dò
    Ngô (%) 50 50
    Đỗ xanh (%) 30 25
    Gạo xay (%) 20 25
    Năng lượng ME (kcal/kg) 3165,5 3185,5
    Protein (%) 13,08 12,32
    ME/P 242,08 258,5
    Ca (%) 0,129 0,12
    P(%) 0,429 0,23

     Khẩu phần 2: (Sử dụng kết hợp cám gà công nghiệp)

    Nguyên liệu & GTDD Chim sinh sản Chim dò
    Cám viên Proconco C24 (%) 50 33
    Ngô hạt đỏ (%) 50 67
    Năng lượng ME (kcal/kg) 3000 3089
    Protein (%) 13,5 11,99
    Xơ thô (%) 4,05 3,49
    Ca (%) 2,045 1,84
    Phot pho tiêu hóa (%) 0,40 0,25
    Lizin (%) 0,75 0,52
    Methionin (%) 0,35 0,29

     4. Cách cho ăn

    – Thời gian:

    2 lần trong ngày buổi sáng lúc 8-9h, buổi chiều lúc 14-15 h, nên cho ăn vào một thời gian cố định trong ngày.

    – Định lượng:

    Tuỳ theo từng loại chim mà chúng ta cho ăn với số lượng thức ăn khác nhau, thông thường lượng thức ăn= 1/10 trọng lượng cơ thể:

    – Chim dò (2-5 tháng tuổi): 40-50g thức ăn/con/ngày:

    – Chim sinh sản: (6 tháng tuổi trở đi)?

    + Khi nuôi con: 125-130g thức ăn/đôi/ngày

    + Không nuôi con: 90-100g thức ăn/đôi/ngày

    – Lượng thức ăn/đôi sinh sản/năm: 45-50kg

    1. Chim sinh sản (6 tháng tuổi trở đi)

    Sau khi được nuôi tập trung ở giai đoạn chim dò đến 5 tháng tuổi và đã ghép đôi tự nhiên, mỗi đôi đó được chuyển sang 1 ô chuồng riêng đã được chuẩn bị sãn sàng về máng ăn, máng uống, ổ đẻ, máng đựng thức ăn bổ sung như đã hướng dẫn ở trên. Giai đoạn này có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng riêng.

    a. Thời kỳ đẻ và ấp trứng

    Khi ghép đôi xong, quen với chuồng và ổ, chim sẽ đẻ. Trước khi chim đẻ, chuẩn bị ổ (chỉ dùng 1 ổ). Dùng rơm khô, sạch sẽ và dài để lót ổ. ở những lứa đầu tiên chim thường có hiện tượng làm vãi rơm gây vỡ trứng, do đó nên bện 1 vòng rơm lót vừa khít đường kính của ổ.

    – Nơi ấp trứng? phải yên tĩnh, đặc biệt với chim ấp lần đầu nên giảm bớt tầm nhìn, âm thanh, ánh sáng để chim chuyên tâm ấp trứng.

    – Theo dõi ngày chim đẻ bằng sổ sách ghi chép cụ thể hoặc? nếu máng ăn được làm bằng tôn thì dùng bút dạ ghi trực tiếp lên máng. Nhờ vậy chúng ta có thể ghép ấp những quả trứng có cùng ngày đẻ hoặc chênh lệch nhau 2-3 ngày (số lượng trứng ghép ấp tối đa: 3 quả/ổ)

    – Khi chim ấp nên định kỳ kiểm tra: xem trứng có thụ tinh không (soi trứng khi ấp được 7 ngày) trứng không được thụ tinh thì loại? ngay. Có thể dựa vào kinh nghiệm để nhận biết được trứng có phôi hay không thông qua màu sắc của vỏ trứng.

    Khi chim ấp được 18 -20 ngày sẽ nở, nếu quả trứng nào mổ vỏ lâu? mà chim không đạp vỏ trứng chui ra thì người nuôi cần trợ giúp bằng cách bóc vỏ trứng để chim non không chết ngạt trong trứng.

    Những đôi chỉ nở 1 con thì chúng ta cũng có thể ghép nuôi con vào những ổ 1 con khác với ngày nở chênh lệch nhau 2-3 ngày (có cùng ngày nở là tốt nhất), số lượng con ghép tối đa: 3 con/ổ

    b. Thời kỳ nuôi con

    Trong thời kỳ nuôi con (từ khi nở đến 28 ngày tuổi), cần thay lót ổ thường xuyên (2-3 ngày/lần), để tránh sự tích tụ phân trong ổ vì đó là nơi lý tưởng cho ký sinh trùng, vi khuẩn và virus.?

    Khi chim non được 7-10 ngày mới tiến hành cho ổ đẻ thứ hai vào. Sau khi tách mẹ, ổ đẻ tương ứng được bỏ ra rửa sạch, phơi khô để bố trí lứa đẻ tiếp theo.

    2. Chim dò (2-5 tháng tuổi) nuôi hậu bị sinh sản

    Sau khi được 28-30 ngày tuổi chúng ta tiến hành tách chim non khỏi mẹ.

    Chim dò được nuôi thả ở chuồng quần thể với lứa tuổi tương đương nhau. Sau khi rời ổ, chim non chuyển sang một giai đoạn mới phải tự đi lại, tự ăn. Giai đoạn này chim còn yếu, khả năng đề kháng và khả năng tiêu hoá kém dễ sinh bệnh. Do đó cần chú ý công tác chăm sóc nuôi dưỡng. Giai đoạn này nên bổ sung Vitamin A, B, D, các chất kháng sinh…vào nước uống để chống mềm xương, trợ giúp tiêu hoá và chống các bệnh khác. Trong giai đoạn đầu có một số con chưa quen cuộc sống tự lập không biết ăn, uống do đó người nuôi phải kiên nhẫn tập cho chim non.

    3. Nuôi vỗ béo chim lấy thịt

    Tiến hành tách mẹ lúc 20-21 ngày tuổi (khối lượng cơ thể đạt 350-400g/con) dùng nhồi vỗ bé

    – Địa điểm: Nhà xây, lán trại, khu nuôi riêng, dùng lồng như chuồng cá thể đã trình bày ở trên cần đảm bả sạch sẽ, thoáng mát, tuyệt đối yên tĩnh, chỉ có ánh sáng khi cho chim ăn, uống.

    – Mật độ: 45-50 com/m2 lồng, không để không gian cho chim hoạt động nhiều, đảm bảo ngoài giờ ăn,uống thì thời gian ngủ là chính.

    – Thức ăn dùng để nhồi: Ngô: 80%, đậu xanh 20%

    – Cách nhồi: Thức ăn được nghiền nhỏ,? viên thành viên nhỏ ngâm cho mềm rồi sấy khô đảm bảo tỷ lệ? thức ăn/nước: 1:1

    + Định lượng: 50-80 g/con

    + Thời gian: 2-3 lần/ngày

    + Phương pháp:

    * Nhân công: Dùng tay nhét thức ăn vào miệng chim

    * Dùng máy nhồi như vịt

    – Khoáng vẫn được bổ sung tự do, các loại vitamin, thuốc bổ khác? được bổ sung trong nước uống.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Kỹ thuật nuôi ong mật

    Kỹ thuật nuôi ong mật

    Kỹ thuật nuôi ong mật

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ thuật nuôi ong mật

    Kỹ thuật nuôi ong mật

    Sinh học ong mật

    Đời sống của đàn ong: Ong mật sống thành đàn, trong đàn gồm có Ong chúa, Ong đực và Ong thợ.

    Các thành viên của đàn ong:

    Ong chúa: Bình thường mỗi đàn ong chỉ có một con ong chúa. Ong chúa của giống ong nội đẻ trung bình 400 – 600 trứng/ngày đêm. Ong chúa có hình dạng lớn nhất trong đàn: dáng cân đối, bụng thon dài, chúa mới đẻ có lớp lông tơ nhiều, mịn, bò nhanh nhẹn. Ong chúa là cá thể duy nhất có khả năng sinh sản để duy trì bầy đàn và điều tiết của hoạt động của đàn ong.

    Ong đực: Có màu đen và làm nhiệm vụ duy nhất là giao phối với ong chúa. Ong đực có thể sống trong 50 – 60 ngày. Sau khi giao phối, ong đực bị chết hoặc khi thiếu ăn chúng sẽ bị ong thợ đuổi ra ngoài và bị chết đói.

    Ong thợ: Có số lượng đông nhất trong đàn và có bộ phận sinh sản phát triển không đầy đủ. Ong thợ có cấu tạo cơ thể thích hợp với việc nuôi ấu trùng, thu mật và phấn hoa… Tuổi thọ của ong thợ chỉ kéo dài từ 5 – 8 tuần. Khi phải nuôi nhiều ấu trùng, lấy mật nhiều thì tuổi thọ giảm và ngược lại. Một số ong thợ làm nhiệm vụ trinh sát, bay đi tìm nguồn mật, phấn hoa và thông báo cho các ong thu hoạch biết đến hút mật chuyển cho ong tiếp nhận. Ong tiếp nhận tiết thêm men vào mật, quạt gió và chuyển dần mật từ các lỗ tổ ở phía dưới lên trên của bánh tổ.

    Các giai đoạn phát triển của ong A.cerana:

    Loại Giai đoạn
       
    Ong   Ấu trùng   Tổng cộng
      Trứng (ngày) Nhộng (ngày)
        (ngày)     (ngày)  
                 
    Ong chúa 3 5   7 – 8   15 – 16
    Ong thợ 3 5   11   19
    Ong đực 3 6   14   23
                 

    Chọn điểm đặt ong

    a. Chọn điểm nuôi ong:

    -Gần nguồn mật phấn hoa

    -Nơi không phun thuốc sâu hóa chất.

    -Không có dịch bệnh, ít hoặc không có ong rừng, chim thú hại.

    -Địa hình thoáng mát, yên tĩnh, không gần đường giao thông, nhà máy đường, nhà máy hóa chất, nhà máy chế biến hoa qủa và không có hồ lớn bao quanh…

    b. Cách đặt thùng đàn ong:

    Thùng ong nên kê cao 25 – 30cm so với mặt đất, thùng nọ cách thùng kia ít nhất là 1m, cửa ra vào đặt các hướng khác nhau, chọn nơi khô ráo, thoáng mát như dưới hiên nhà, cạnh các gốc cây… Khống nên đặt trên sân gạch, nền xi măng, nơi qúa ẩm ướt hoặc gần chuồng gia súc.

    Chia đàn tự nhiên: Một bộ phận ong thợ cùng với ong chúa tách ra, bay đi để thành lập một số ong mới. Chia đàn ong tự nhiên thường làm giảm năng suất mật.

    c. Khi nào đàn ong chia đàn tự nhiên:

    Điều kiện bên ngoài:

    -Nguồn thức ăn (mật, phấn) nhiều.

    -Khí hậu thời tiết tốt (không nắng, nóng, lạnh qúa)

    Điều kiện bên trong đàn ong:Mật độ ong đông, ong chúa đẻ mạnh, cầu con nhiều, thức ăn dự trữ thừa và ong sống trong thùng qúa chật trội.

    d. Hiện tượng của đàn ong trước khi chia đàn tự nhiên:

    Trước khi chia đàn vài tuần, ong xây nhiều lỗ tổ ong đực và xây từ 3 – 10 mũ chúa ở hai góc và phía dưới bánh tổ.

    Bình thường khi mũ chúa già thì ong chia đàn nhưng có khi mới có nền chúa hoặc ong chúa mới đẻ vào đã chia đàn.

    Ong chia đàn từ 8 – 11 giờ sáng và 14 – 16 giờ chiều vào những ngày đẹp trời. Khi chia đàn, ong chúa cũ cùng với qúa nửa số ong thợ và một số ong đực ăn no mật rồi bay ra khỏi tổ, sau đó tụ lại ở hiên nhà, cành cây gần đó và quên tổ cũ, khi bắt đàn ong trở lại, nên cho ong vào thùng khác và đặt bất cứ nơi nào.

    Khi chia đàn tự nhiên, ong không ồn ào và náo động như khi bốc bay.

    e. Thời gian chia đàn tự nhiên:

    -Ở miền Bắc: ong thường chia đàn vào tháng 3 – 4, một số ít chia vào tháng 10 – 11.

    -Ở miền Nam: ong thường chia đàn vào tháng 10 – 11 và tháng 2 – 4(đầu và giữa vụ mật).

    f. Xử lý ong chia đàn tự nhiên:

    Trong trường hợp đàn ong ít quân: khắc phục việc chia đàn bằng cách thay ong chúa cũ bằng ong chúa mới vào lúc nguồn hoa phong phú, cho thêm tầng chân, quay mật hoặc chuyển cầu mật cho đàn khác, nới rộng khoảng cách cầu và bỏ vật chống rét ra ngoài, vặt các mũ chúa và cắt bỏ lỗ tổ ong đực.

    Trong trường hợp đàn ong mạnh thì chủ động chia đàn: cần cho ăn đủ, chọn những mũ chúa thẳng dài ở vị trí trống như ở 2 góc và dưới bánh tổ để sử dụng sau khi ong chia đàn mới.

    Đàn ong chia đàn tự nhiên thường ăn no mật và phần đông ong thợ trẻ đang độ tuổi tiết sáp, xây tầng nhanh, nên ngay sau khi ổn định có thể cho đàn ong đó xây tầng chân. Đàn ong gốc chỉ giữ lại 1 mũ ong chúa tốt nhất để thay chúa còn lại cắt bỏ tất cả các mũ chúa đi.

    Ong bốc bay

    a. Nguyên nhân và biểu hiện ong bốc bay:

    Nguyên nhân bên ngoài: ong rừng, kiến hoặc hại khác quấy phá, trời nắng, nóng, khô hanh ; thùng ong bị đồ, bị chấn động mạnh sau khi di truyền…

    Nguyên nhân bên trong: do đàn ong thiếu thức ăn, ong chúa ngừng đẻ không có cầu con. Đặc biệt khi đàn ong bị bệnh và bị sâu phá bánh tổ. Hoặc do chuyển nơi ở theo mùa vì ong còn mang tính dã sinh.

    Trước khi bốc bay ong chúa giảm đẻ sau đó ngừng hẳn, đàn ong đi làm uể oải. Khi sắp bốc bay cả đàn đàn ong ồn ào, náo động, chúng ăn no mật và ùn ùn kéo ra khỏi tổ.

    b. Thời vụ và thời gian ong bốc bay:

    -Ở miền Bắc, ong thường bốc bay vào tháng 7 – 9 do thiếu ăn và nắng nóng, ong di chuyển chỗ ở từ vùng thấp lên vùng cao mát mẻ hơn. Tháng 10 – 11 ong lại bốc bay di cư về vùng thấp và tháng 1 – 2 bốc bay do đói rét.

    -Ở miền Nam, ong bốc bay sau vụ mật vào tháng 7 – 9.

    1. Biện pháp hạn chế ong bốc bay:

    -Tạo đàn ong có chúa trẻ dưới 8 tháng tuổi, đẻ tốt.

    -Thức ăn đủ (cả mật vít nắp và 1 – 2 cầu phấn).

    -Duy trì đàn ong lúc nào cũng có cầu con, nhất là cầu ấu trùng.

    -Phòng bệnh tốt, trị bệnh kịp thời và triệt để.

    -Chống nóng, nắng, hanh khô.

    Phương pháp nhập đàn ong, cầu ong

    Nhập ong thợ từ đàn này sang đàn khác nhằm:

    -Điều chỉnh thế ong cho đồng đều.

    -Xử lý các trường hợp: bốc bay, mất chúa, tăng lực lượng xây bánh tổ.

    -Thao tác cần nhẹ nhàng để tránh ong đánh nhau gây tình trạng mất ổn định trong đàn ong và những đàn xung quanh.

    a. Các nguyên tắc nhập đàn ong, cầu ong:

    -Nhập vào buổi tối.

    -Nhập đàn ong không có chúa vào đàn ong có chúa.

    -Nhập đàn ong yếu vào đàn ong mạnh.

    b. Các cách nhập ong:

    Nhập gián tiếp (ngoài ván ngăn)

    -Khử hoặc tách chúa ở đàn bị nhập trước 6 giờ.

    -Đến tối nhấc các cầu định nhập đặt ngoài ván ngăn của đàn ong được

    nhập.

    -Sáng hôm sau nhấc ván ngăn ra ngoài và ổn định cầu mới nhập vào.

    Nhập trực tiếp (trong ván ngăn): Buổi chiều, tách ván ngăn ra xa, đến tối đặt nhẹ cầu nhập vào hoặc thổi nhẹ cho ong già bay khỏi tổ, còn lại toàn ong non.

    Phương pháp chia đàn ong:

    Chia đàn nhân tạo nhằm giảm sự chia đàn tự nhiên và tăng số đàn. Có mấy phương pháp chia như sau:

    a. Chia đàn song song

    Sau khi chuẩn bị được ong chúa, mũ chúa, dùng một thùng mới có mầu sơn giống với mầu thùng cũ của đàn ong định chia.

    Chia đều số cầu, quân nhộng, ấu trùng và thức ăn ra làm đôi, đặt 2 đàn liền

    nhau.

    Để 2 đàn cách đều vị trí đàn cũ 20 – 30cm. Nếu đàn ong vào nhiều hơn thì nhích xa vị trí cũ, đàn nào vào ít thì nhích gần lại. Dần dần tách 2 đàn ra xa nhau, quay cửa tổ ra 2 hướng.

    Cách chia này có ưu điểm là: 2 đàn được chia đều, phát triển nhanh, không phải mang ong đi, tiện kiểm tra, chăm sóc.

    b. Chia dời chỗ:

    Mang thùng mới đến gần đàn cơ bản, tách ra 2 – 3 cầu, chèn lại, rồi chuyển đi cách đó 1km, thường mang ong chúa đã đẻ đi. Nên tiến hành trước vụ mật 40 ngày.

    c. Tách cầu ghép thành đàn mới:

    Khi sắp tới vụ mật, có một số đàn ong mạnh muốn chia đàn tự nhiên, nếu không chia ong sẽ tự chia đàn hoặc đi làm kém. Cần lấy từ các đàn mạnh, mỗi đàn một cầu nhộng và quân để tách ra hình thành đàn mới. Vừa chống chia đàn, vừa tăng sản lượng mật, tăng được số lượng đàn. Ngày đầu chỉ nên lấy 1 cầu, ngày sau lấy 1 cầu của đàn khác và hôm sau lấy thêm 1 cầu của đàn thứ 3. Nếu ong chúa đẻ, đàn ghép sẽ phát triển nhanh.

    Phương pháp chống nóng, chống rét cho ong:

    Ta đã biết rằng: yêu cầu nhiệt độ trong đàn ong từ 33 – 350C, độ ẩm từ 60 – 80%. Cao hơn hoặc thấp hơn ong thợ sẽ làm những công việc sau:

    -Quạt gió cho mát (nếu nóng qúa)

    -Tụ lại rung cánh tạo nhiệt (rét qúa)

    -Đi lấy nước về tổ (hanh, thiếu ẩm độ)

    Chống nóng cho ong:

    -Không để đàn ong ở ngoài nắng, không đặt cửa về hướng tây, không để đàn ong chật chội.

    -Để máng có nước trong thùng ong vào những ngày nóng bức.

    Chống rét, khô hanh cho ong:

    -Điều chỉnh đàn ong trước mùa rét để có thế đàn đông đều, nên kết thúc nhân giống trước 30/11 để có thời gian nâng thế đàn tốt qua mùa đông.

    -Cho ăn đầy đủ đến khi có mật vít nắp, nếu thiếu phấn kéo dài phải cho ăn bổ sung.

    -Dùng rơm, lá chuối khô… làm vật chống rét để ở ngoài ván ngăn hoặc bên trên xà cầu.

    -Bịt kín các khe hở của thùng ong, không để cửa tổ quay về hướng bắc. Nếu khô hanh qúa cho uống nước pha ít muối với tỷ lệ 9/1000. Phương pháp tạo chúa

    Nuôi ong cần nhiều chúa mới đẻ thay thế chúa già, chúa xấu hoặc để chia đàn. Việc chủ động tạo chúa là biện pháp kỹ thuật quan trọng để tạo ra đàn ong mạnh, cho năng suất cao.

    Chọn đàn làm giống và đàn nuôi dưỡng:

    Chất lượng ong chúa phụ thuộc vào nguồn gốc bố mẹ và yếu tố nuôi dưỡng (đàn nuôi dưỡng, thức ăn). Vì vậy việc tạo chúa phải chọn được các đàn giống tốt và đàn nuôi dưỡng tốt, trong đàn ong chia ra đàn mẹ và đàn bố.

    -Đàn mẹ: Là đàn cung cấp ấu trùng để tạo chúa, đàn mẹ phải đáp ứng được những nhu cầu sau:

    +Tụ đàn đông (nhiều cầu)

    +Năng suất mật cao.

    +Không bị bệnh.

    +Đàn ong hiền lành, không bay bốc, không hoặc ít chia đàn.

    • những trại ong lớn thương chọn từ 2 – 3 đàn mẹ để tránh cận huyết. Trước khi lấy ấu trùng 1 – 2 ngày nên cho đàn mẹ ăn để ong tiết nhiều sữa nuôi ấu trùng.

    -Đàn bố: Là đàn ong tạo ra ong đực sẽ giao phối với ong chúa tơ. Để ong đực ở độ tuổi giao phối thích hợp, cần tạo ong đực trước khi tạo chúa khoảng 20 –

    • ngày. Cho đàn bố ăn bổ sung, viện thêm cầu nhộng, cắt góc bánh tổ, đàn ong sẽ xây các lỗ đực và ong chúa sẽ đẻ trứng vào đó.

    Tiêu chuẩn đàn bố giống như đàn mẹ; để tránh cận huyết mỗi trại nên chọn từ 3 – 5 đàn bố, đồng thời tiến hành diệt ong đực ở đàn mẹ và các đàn khác.

    Đàn nuôi dưỡng: Là đàn nuôi ấu trùng ong chúa cho đến khi nở thành chúa tơ. Đàn phải thiếu nguồn mật tự nhiên, cần cho đàn nuôi dưỡng ăn trước khi tạo thành chúa 4 – 5 ngày. Cần rũ bớt cầu trong đàn nuôi dưỡng để ong bám trên cầu thật đông tiếp thu chúa nhiều hơn.

    Phương pháp di trùng:

    Dùng kim di trùng băng nhôm hoặc lông ngỗng vót nhỏ đưa vào phía lưng của ấu trùng, cố gắng lấy cả sữa chúa để ấu trùng không bị tổn thương; đặt nhẹ kim di trùng vào giọt mật, ấu trùng sẽ nổi lên, nhẹ nhàng rút kim ra và tiếp tục múc ấu trùng khác.

    Nên chọn ấu trùng 1 ngày tuổi để tạo ong chúa là tốt nhất (vì tuổi ấu trùng càng cao thì chất lượng ong chúa càng giảm) nếu cầu mới xây nên cẩn thận khi di trùng vì đầu kim di trùng dễ đâm thủng đáy của lỗ tổ. Nếu bánh tổ qúa cũ, lỗ tổ sẽ hẹp rất khó múc ấu trùng.

    Khi di trùng cần tiến hành nhanh và ở nơi kín gió, vào lúc thời tiết ấm áp, tránh ánh nắng chiếu vào sẽ làm khô ấu trùng khi thao tác.

    Di trùng xong, xoay các chén sáp xuống phía dưới và đặt vào giữa đàn nuôi dưỡng đã chuẩn bị sẵn.

    Trước khi di trùng 24 – 48 giờ, bắt ong chúa ra khỏi đàn nuôi dưỡng, rũ bớt cầu cho ong bám vào các cầu còn lại ; đồng thời trước khi di trùng 2 – 3 giờ, dãn 2 cầu giữa đàn ra khoảng 3cm tạo thành khe để ong non tập trung đến khu vực đó nhiều, chúng sẽ nhanh chóng tiếp nhận và nuôi dưỡng ấu trùng.

    Trong tạo chúa, một số người áp dụng phương pháp di đơn nhưng phần lớn là áp dụng phương pháp di kép. Di đơn là phương pháp di ấu trùng vào mũ chúa một lần để ong nuôi dưỡng ấu trùng đó thành ong chúa. Di kép là di ấu trùng 2 lần vào chén sáp (tức là sau khi di trùng lần thứ nhất 24 giờ, người ta gắp bỏ ấu trùng cũ đi và tiến hành di ấu trùng khác vào) làm như thế, ấu trùng di lần 2 sẽ được ăn sữa chúa ngay nên phát triển tốt.

    Chăm sóc đàn nuôi dưỡng:

    Như trên đã nói, đàn nuôi dưỡng có ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng chúa, nên phải chọn những đàn mạnh từ 5 – 6 cầu, sau đó rút bớt 1 – 2 cầu để ong phủ kín trên các cầu còn lại. Cần tạo một khoảng trống rộng từ 2 – 3cm ở giữa đàn ong để tạo ong non tập trung tại đấy trước khi đặt cầu chúa vào 2 – 3 giờ. Nên cho đàn ong nuôi dưỡng ăn thêm trước khi di trùng và cho ăn đến khi vít nắp các lỗ mật.

    Nếu tạo chúa vào lúc đủ phấn, mật thì không cần cho ăn, nếu thiếu thức ăn thì phải cho ăn thêm trước khi tạo chúa từ 2 – 3 ngày và cho ăn đến khi ong vít nắp mũ chúa, nếu thiếu phấn phải cho ăn thêm phấn hoa.

    Sau khi di trùng 1 ngày, kiểm tra thấy mũ chúa đạt từ 15 – 20 cái là được nếu ít qúa phải di thêm, nếu nhiều qúa thì loạt bớt, kiểm tra để vặt hết các mũ ong chúa cấp tạo ở trên bánh tổ.

    Sau 5 ngày, kiểm tra lần 2 để tiếp tục vặt bỏ các mũ chúa cấp tạo, nếu không chúa cấp tạo nở ra trước sẽ cắn hết các mũ chúa di trùng. Khi kiểm tra các

    cầu chúa cần nhẹ nhàng, tránh rung, lắc, nhất là khi mũ chúa mới vít nắp 1 – 2 ngày vì sẽ làm cho nhộng bị chết hoặc khi nở ra chúa sẽ bị xoăn cánh.

    Bảo quản và giới thiệu mũ chúa:

    Thông thường sau khi di trùng 11 – 12 ngày chúa tơ sẽ nở, do đó sau 9 – 10 ngày, các mũ chúa già có thể lấy đi để giới thiệu vào các đàn giao phối hoặc các đàn mất chúa. Trường hợp chưa sử dụng hết mũ chúa, phải cho mũ chúa vào lồng lò xo cách ly để tránh con chúa đầu tiên nở ra cắn phá các mũ chúa khác và được đặt trong đàn để ong ủ ấm. Một vài ngày sau chúa tơ ra đời, có thể bán hoặc giới thiệu cho các đàn ong bị mất chúa. Chúa tơ có thể sống ở trong lồng dự trữ từ 7 – 15 ngày.

    Hiện nay, với ong nội người ta thường giới thiệu trực tiếp các mũ chúa vào đàn ong sản xuất chứ ít khi sử dụng các đàn giao phối vì số lượng ít.

    Kỹ thuật tạo chúa đơn giản: Những nơi nuôi ít ong không có dụng cụ tạo chúa, có thể áp dụng phương pháp đơn giản mà vẫn tạo được chúa có chất lượng tốt.

    Sử dụng mũ chúa chia đàn tự nhiên:

    Vào mùa chia đàn tự nhiên: nhiều đàn ong mạnh có thể xây từ 5 – 10 mũ chúa cần chọn mũ chúa dài, thẳng đẹp từ đàn đủ tiêu chuẩn để làm giống. Dùng dao sắc cắt trên góc mũ chúa 1,5cm rồi gắn vào đàn cần thay chúa. Không dùng mũ chúa của các đàn yếu, bị bệnh.

    Kích thích ong xây mũ chúa chia đàn tự nhiên: Chọn đàn ong mạnh (đủ tiêu chuẩn) cho ăn 2 – 3 tối, viện thêm cầu nhộng già, rút bớt cầu cũ để ong tập trung hơn.

    Khi kiểm tra các cầu chúa cần làm nhẹ nhàng, tránh lắc, rũ mạnh nhất là khi các mũ chúa vít nắp 1 – 2 ngày nếu không sẽ làm cho nhộng bị chết hoặc khi nở ra chúa bị xoăn cánh.

    Tạo chúa theo phương pháp cấp tạo:

    Cách làm: chọn đàn ong mạnh, có năng suất cao nhất trại để làm đàn giống và cho đàn ăn thêm sirô đường, rút bớt cầu ong để bám dày hơn trên các cầu ong còn lại. Đặt cầu có trứng mới đẻ vào giữa tổ. Hai ngày sau, kiểm tra để loại bỏ tất cả các mũ chúa trên bề mặt của bánh tổ và các cầu khác, chỉ để các mũ chúa ở phía dưới của bánh tổ, sau khoảng 8 – 9 ngày thì tách các mũ chúa để sử dụng.

    Cũng có thể cắt bớt phần dưới của một bánh tổ theo đường kính dích dắc để ong xây nhiều mũ chúa ở chỗ bánh tổ có ấu trùng nhỏ. Nhưng cần lưu ý chọn các bánh tổ còn mới để ong dễ tiếp thu hơn.

    Ngày nay, để có nhiều ong chúa chất lượng cao phục vụ cho sản xuất vào mùa nhân đàn, người ta tiến hành tổ chức sản xuất chúa theo phương pháp công nghiệp. Đây là một công nghệ mới trong sản xuất ong chúa, có nhiều ưu thế để nâng cao chất lượng ong chúa và đem lại hiệu qủa kinh tế cao.

    BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỘT SỐ BỆNH CHO ONG Một số bệnh ong thường gặp:

    Cũng như các ngành chăn nuôi khác, bệnh ong cũng gây nên những tổn thất đáng kể cho người nuôi ong. Bệnh nhẹ thì ảnh hưởng đến thế đàn, giảm năng suất, bệnh nặng thì đe dọa đến sự tồn vong của đàn ong.

    Hiện nay trên đàn ong nội thường xuất hiện 3 bệnh chủ yếu sau:

    -Bệnh thối ấu trùng Châu Âu (bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ)

    -Bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu, bệnh ấu trùng túi)

    -Bệnh ỉa chảy lây lan.

    Các biện pháp phòng bệnh

    Đàn ong sống trong một quần thể bầy đàn nên khả năng nhiễm và lây lan bệnh rất cao. Khi bệnh phát ra, nó không chỉ tiêu diệt từng cá thể con ong mà

    thường tiêu diệt cả đàn ong, thậm chí còn tiêu diệt cả một trại ong trong một thời gian ngắn.

    Cũng như con người và các loại vật khác, con ong cũng chịu sự tàn phá của các loài vi khuẩn, vi rút và các loại ký sinh trùng… do đó việc phòng bệnh cho ong là hết sức cần thiết, nên lưu ý một số điểm chính sau:

    Chọn điểm đặt: chọn nơi thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.

    -Thùng ong phải kín đáo, không bị dột nát.

    -Thường xuyên làm vệ sinh đàn ong.

    -Đặt ong gần nguồn nước sạch…

    Việc phát hiện bệnh sớm và có biện pháp tròng trừ kịp thời là yếu tố quyết định nuôi ong đạt hiêụ qủa kinh tế cao.

    Phương pháp chẩn đoán bệnh

    Muốn điều trị bệnh có hiệu qủa thì việc đầu tiên là phải chẩn đoán đúng bệnh. Việc kết luận bệnh nên dựa trên kết qủa chẩn đoán tổng hợp của các phương pháp chủ yếu sau:

    -Chẩn đoán bệnh bằng phương pháp cảm quan:

    Mỗi bệnh biểu hiện một số nét đặc trưng khác nhau và bằng phương pháp cảm quan ta có thể nhận biết bệnh một cách tương đối chính xác.

    +Với bệnh thối ấu trùng Châu Âu: nhìn trong lỗ tổ thấy các ấu trùng bị chết, ấu trùng chuyển từ màu trắng sang màu trắng đục. Khi nhấc cầu ong lên thấy ong xào xạc và chạy tụt xuống phía dưới của đáy tổ ; ong thợ có màu đen bóng do ấu trùng bị chết nên không có lớp ong non kế tiếp, trên mặt lỗ tổ có lỗ thủng nhỏ và lõm xuống.

    +Với bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu): thấy lỗ tổ vít nắp hơi lõm xuống, một số cắn nham nhở, có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên miệng lỗ tổ.

    +Với bệnh ỉa chảy lây lan: nhìn thấy phân màu nâu sẫm trên lá cây hay quần áo phơi xung quanh các điểm đặt ong: ong non yếu ớt, bụng của ong trưởng thành trướng lên, ong sã cánh bò ra trước cửa sổ.

    -Chẩn đoán thông qua việc nhận biết mùi đặc trưng của bệnh:

    Mỗi bệnh có một mùi đặc trưng, thông qua đó người nuôi ong có thể nhận biết được bệnh đang xảy ra trên đàn ong là bệnh gì? Ví dụ:

    +Bệnh thối ấu trùng Châu Mỹ: có mùi khét đặc trưng của keo da trâu. +Bệnh thối ấu trùng Châu Âu: có mùi chua. +Bệnh thối ấu trùng túi: không có mùi… -Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm:

    Muốn chẩn đoán được bệnh chính xác, tốt nhất nên gửi bệnh phẩm về các có quan khoa học, các phòng phân tích để kiểm tra.

    Trong qúa trình chẩn đoán, phải được tiến hành đồng bộ để có kết luận đúng: đâu là bệnh chính, đâu là bệnh kế phát để có biện pháp điều trị có hiệu quả.

    Nguyên tắc điều trị bệnh ong

    Khi điều trị cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

    -Điều trị đúng thuốc, đúng bệnh:

    Các bệnh do các vi khuẩn gây nên gồm các vi khuẩn Gram dương hoặc vi khuẩn Gram âm, mỗi một loại vi khuẩn có thuốc đặc trị khác nhau, nếu điều trị không đúng thuốc sẽ không khỏi bệnh mà còn làm hại đến sức khỏe của đàn ong. Cụ thể như bệnh thối ấu trùng Châu Âu, mầm bệnh là vi khuẩn Gram âm nên khi điều trị phải dùng thuốc đặc trị như Kanamycin, Stretomycin hoặc ertromycin chứ không được dùng thuốc Penicillin hoặc những thuốc đặc trị cho loại vi khuẩn Gram dương khác.

    -Điều trị đủ liều:

    Khi điều trị phải chú ý dùng liều cao ngay từ đầu, đồng thời dùng đủ liệu trình theo chỉ dẫn để đạt hiệu qủa cao nhất và tránh được sự quen thuốc. Hiện nay người nuôi ong điều trị bệnh thối ấu trùng không phải bằng cách pha vào sirô đường cho ăn mà họ dùng cách hòa tan thuốc và phun trực tiếp vào lỗ tổ. Nhưng nên chú ý rằng phương pháp này chỉ có hiệu qủa khi thuốc được phun với liều lượng gấp 2 lần so với liều cho ăn.

    -Điều trị đúng phương pháp:

    Tùy từng bệnh mà có phương pháp điều trị thích hợp để nâng cao hiệu qủa. Ví dụ như bệnh thối ấu trùng Châu Âu, trước đây điều trị bằng phương pháp cho ăn nước sirô đường hòa với thuốc kháng sinh, nhưng ngày nay bằng phương pháp phun trực tiếp vào bánh tổ. Điều trị bằng phương pháp này vừa giải quyết được bệnh nhanh vừa giảm ảnh hưởng của thuốc kháng sinh đến chất lượng mật ong. Song cách pha thuốc cũng phải được chú ý: có loại thuốc chỉ được pha bằng nước nguội, nếu pha bằng nước nóng thuốc sẽ bị phân hủy, thuốc không còn tác dụng điều trị.

    Một số bệnh ong nội và phương pháp phòng trị

    *Bệnh của ong trưởng thành: Do một loại bảo tử trùng gây nên (Nosema apis). Bệnh này hay xảy ra vào thời kỳ rét đậm, mưa nhiều, độ ẩm cao.

    Triệu chứng:

    -Ong trưởng thành ỉa lung tung vào các cửa sổ, vách thùng.

    -Đàn ong chết nhiều, thưa quân, mật ít.

    -Có một số ong bụng trướng lên, sã cánh bò trước cửa tổ.

    Phương pháp điều trị:

    -Luôn giữ cho đàn ong mạnh, đủ thức ăn.

    -Khi phát hiện thấy đàn ong bị bệnh thì thay thùng, loại bớt cầu xấu cũ.

    -Cho ong ăn thuốc Fumagillin với liều lượng 100 mg/40 cầu/1 tối, pha với 3 lít nước đường, cho ăn trong 10 ngày.

    -Nếu không có thuốc Fumagillin có thể cho ăn sirô pha nước gừng tươi (9 – 10g gừng tươi/1 lít sirô cho 10 cầu/1tối).

    *Bệnh của ấu trùng ong: Thường có 2 bệnh gây nên hiện tượng thối ấu trùng, đó là bệnh ấu trùng Châu Âu và bệnh thối ấu trùng túi. Cần phải phân biệt rõ 2 bệnh này thì mới có biện pháp điều trị hiệu qủa.

    Bệnh thối ấu trùng Châu Âu: Bệnh do vi khuẩn Melissococus pluton gây nên. ấu trùng mắc bệnh ở tuổi 3 – 5, khi chết có mùi chua.

    Ấu trùng bị bệnh chuyển từ màu trắng ngà sang trắng đục, sau thối nhũn xẹp xuống, quan sát lỗ tổ thấy vít nắp lỗ chỗ.

    Bệnh lây lan do khi kiểm tra đàn ong, dùng dụng cụ, ong ăn cướp mật, do di chuyển và mua bán đàn ong.

    Điều trị:

    -Bằng phương pháp cho ăn:

    +Streptomycin 1 lọ/10 cầu ; Kanamycin 0,5g/đàn, cho ăn liền 3 tối. Sau 1tuần không khỏi cho ăn tiếp 3 tối nữa.

    +Lưu ý: Trước khi cho ăn nên loại bớt cầu bị bệnh nặng để nuôi ong bám đông trên cầu còn lại.

    -Bằng phương pháp phun thuốc trực tiếp:

    +Sử dụng 2 loại thuốc trên nhưng liều lượng gấp đôi, pha với nước sôi để nguội hoặc với nước đường loãng.

    +Dùng bình phun có hạt loại nhỏ phun lên 2 mặt cầu ong. Cách 1 ngày phun 1 lần, phun làm 3 lần.

    -Bệnh ấu trùng túi Sacbrood (do virut gây nên).

    Triệu chứng: Phần lớn ấu trùng chết ở giai đoạn cuối vít nắp hoặc thời kỳ tiền nhộng (ấu trùng tuổi lớn) có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên miệng lỗ tổ. Phía đuôi ấu trùng hình thành túi nước có màu trong suốt hoặc vàng nhạt, ấu trùng chết không có mùi.

    Điều trị:

    -Thay chúa của đàn bị bệnh bằng chúa tơ hoặc mũ chúa được tạo ra từ những đàn không bị bệnh hoặc nhốt chúa đẻ 7 – 8 ngày, đồng thời loại bớt cầu bệnh.

    -Cho ăn nước đường 3 – 4 tối hoặc di chuyển ong đến vùng có nhiều mật, phấn dồi dào để kích thích ong đi làm vệ sinh và dọn sạch các ấu trùng bệnh.

    Tuy nhiên, cần phải hạn chế việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh ong vì gây nên hiện tượng tồn dư chất kháng sinh trong mật ong. Muốn khắc phục được tình trạng trên, nên đầu tư vào công tác giống để nhanh chóng tạo ra giống ong có sức đề kháng bệnh cao, hoặc tổ chức các đàn ong khỏe trước mùa khai thác… Trong trường hợp đàn ong bị bệnh, nên tiến hành điều trị triệt để và phải chấm dứt việc dùng thuốc kháng sinh trước mùa khai thác mật từ 30 – 40 ngày.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây