Author: Hải Yến

  • 2 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    2 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    2 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Bài văn mẫu 1

    Phan Bội Châu vị lãnh tụ của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX. Mặc dù mang trong mình tâm huyết lớn lao song sự nghiệp của ông lại không thành, nhưng lòng yêu nước nồng nàn, cháy bỏng của ông vẫn lưu mãi muôn đời. Ông dùng thơ văn của mình như một thứ vũ khí đắc lực để cổ vũ, tuyên truyền cách mạng. Xuất dương khi lưu biệt là một trong những bài thơ như vậy.

    Thực dân Pháp xâm lược nước ta, đã có nhiều phong trào nổ ra, trong đó nổi bật nhất là phong trào Cần Vương nhưng cuối cùng vẫn bị dập tắt, nó là sự báo hiệu cho việc cứu nước theo con đường phong kiến đã không còn thích hợp. Trước thực trạng chưa tìm được con đường cứu nước đúng đắn, phong trào cách mạng mới của Phan Bội Châu đã hé mở một hi vọng mới, ông cùng những người cùng chí hướng đã lập ra Duy tân hội. Đầu năm 1905, Phan Bội Châu xuất dương sang Nhật, mở đầu cho phong trào Đông Du. Tác phẩm Xuất dương lưu biệt được viết trước khi ông lên đường. Tác phẩm thể hiện lòng yêu nước sâu lặng của tác giả.
    Hoài bão cuộc đời, chí khí làm trai của Phan Bội Châu được bộc lộ trực tiếp ngay trong câu thơ đầu tiên của tác phẩm:
    Làm trai phải lạ ở trên đời
    Há để càn khôn tự chuyển dời.

    Câu thơ bắt đầu bắt motip rất phổ biến trong văn học trung đại đó là “làm trai” tức để nói về nghĩa vụ, trách nhiệm của một nam nhi đối với cuộc đời, đối với đất nước. Đây là quan niệm nhập thế tích cực của Nho giáo. Câu thơ gợi cho ta nhớ đến rất nhiều bài thơ nói chí phổ biến trong văn học trung đại như: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” (Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão) hay “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi song” (Nguyễn Công Trứ). Đến đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu tiếp tục nhắc lại quan niệm về chí làm trai, nhưng trong cách thể hiện của ông mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. Làm trai là “phải lạ” tức là phải biết sống một cách phi thường, hiển hách, dám xoay vần, chuyển đất, không thể là một kẻ sống cuộc đời tầm thường, tẻ nhạt, buông xuôi theo thời thế, để con tạo tự xoay vần cuộc đời mình. Bởi vậy mà:
    Trong khoảng trăm năm cần có tớ
    Sau này muôn thuở há không ai?
    Trong khoảng trăm năm là cả một đời người với biết bao biến cố có thể xảy ra, Phan Bội Châu tự tin khẳng định: “cần có tớ” cái tôi cái nhân xuất hiện thật ngạo nghễ, thật chủ động. Cần có ông không phải để được vui chơi, hưởng lạc mà là để cống hiến tận lực, tận tâm cho đời, để tiếng thơm còn lưu danh muôn thuở. Trong thời cuộc lúc bấy giờ đầy rối ren, thử hỏi mấy ai có thể chủ động đứng ra nhận lấy trách nhiệm vừa cao cả, vừa nặng nề ấy cho bản thân. Câu thơ của ông càng khiến ta cảm phục hơn về nhân cách cao đẹp, lớn lao ấy.
    Với bốn câu thơ đầu người đọc có thể thấy hình tượng người chí sĩ hiện lên là người có khát vọng làm những việc lớn lao, trọng đại. Đồng thời ông cũng đầy ý thức về cái tôi của bản thân nhưng không phải là cái tôi hưởng thụ mà là cái tôi công dân đầy trách nhiệm. Có ý thức cống hiến cho đời. Giữa thời buổi tối tăm đó ý thức làm trai, khát vọng xoay chuyển vũ trụ và hoài bão lớn lao của Phan Bội Chây có ý nghĩa vô cùng to lớn.
    Bốn câu thơ cuối thể hiện chí làm trai trong hoàn cảnh thực tế:
    Non sông đã chết sống thêm nhục
    Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
    Muốn vượt biển đông theo cánh gió
    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
    Câu thơ là nỗi đau đớn, xót xa quặn thắt của nhân vật trữ tình trước thực tế nước nhà đã bị mất chủ quyền, nhân dân phải sống trong vòng nô lệ. Phan Bội Châu cũng ý thức rõ về sự hết thời của Nho học, sách vở thánh hiền không còn có ý nghĩa gì cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Ông vốn xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, vậy nhưng ông không hề bao biện mà thấy rõ sự bất lực, vô ích của lối học cũ, mang trong mình quyết tâm tìm ra con đường mới để giải phóng đất nước. Đây là một ý tưởng hết sức mạnh mẽ, táo bạo. Sự táo bạo đó bắt nguồn từ nhiệt huyết nồng cháy, lòng yêu nước nồng nàn, muốn nhanh chóng thực hiện sự nghiệp cứu nước. Đồng thời cũng do ông chịu ảnh hưởng từ những cuốn “tân thư” được truyền bá bí mật vào nước ta lúc bấy giờ. Chính những yếu tố đó đã thôi thúc ông tìm một hướng đi mới, con đường mới để cứu nước, cứu dân.

    Với giọng điệu tràn đậy nhiệt huyết và cảm xúc, bài thơ đã khắc họa một cách chân thực và đầy đủ khí phách ngang tàng, táo bạo quyết liệt của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu. Đồng thời tác phẩm này cũng cho người đọc thấy nét tính cách nổi bật trong con người ông đó là cá tính mạnh mẽ, ưa hành động, lòng yêu nước nồng nàn, sâu đậm.

    Bài văn mẫu 2

    Phan Bội Châu là một nhà yêu nước của đầu thế kỉ XX, một chí sĩ cách mạng luôn mang trong mình tinh thần kháng chiến chống Pháp mạnh mẽ đồng thời ông cũng là một nhà văn hóa lớn có nhiều đóng góp cho lĩnh vực văn chương trong đó có tác phẩm “Xuất dương lưu biệt”. Bài thơ thể hiện chí làm trai của Sào Nam Tử (Bút danh) với hoài bão lớn lao, khát vọng cứu nước sục sôi và tầm nhìn tư tưởng tiến bộ của tác giả. Tác phẩm đã để lại cho em cũng như biết bao độc giả khác nhiều ấn tượng bởi nó toát lên con người của cụ Phan.

    Vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thực dân Pháp sang xâm lược và thi hành chính sách cai trị tàn bạo đối với nhân dân Việt Nam, đã có biết bao anh hùng hảo hán yêu nước đứng lên chống giặc nhưng thế giặc mạnh như chẻ tre lại có vũ khí hiện đại hơn ta rất nhiều nên dân ta đẫm máu đau thương. Phan Bội Châu nhận thức được vấn đề dân tộc nên ông quyết định tìm con đường cứu nước khác là lập hội Duy Tân sang Nhật cầu viện. Đây là một tư tưởng tiến bộ, mở ra cho dân tộc con đường cứu nước mới nhưng do còn phạm phải sai lầm nên lịch sử đã không lựa chọn. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” được sáng tác khi khát vọng cứu nước của đấng nam nhi đang trên đà thuận lợi với chủ trương cứu nước của ông bằng cách đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập sự tiến bộ để về giúp dân giúp nước giải phóng dân tộc. Bài thơ là cảm xúc tình cảm của tác giả lúc từ biệt khi ra nước ngoài.
    Tư tưởng bao trùm lên tác phẩm là chí làm trai của người nam tử có tinh thần yêu nước, có hoài bão, có khát vọng lớn lao. Điều đó được thể hiện ngay ở nhan đề tác phẩm với từ “Xuất dương” nghĩa là đi ra ngoài biển khơi nó gắn với hoạt động cách mạng cụ thể của cụ Phan. Ông cũng như bao trang nam tử khác luôn thấm nhuần triết lí Nho gia về phận nam nhi. Ông khẳng định:
    “Sinh vi nam tử yếu hi kì
    Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”
    (Làm trai phải lạ ở trên đời/ Há để càn khôn tự chuyển dời)
    Chí làm trai theo Phan Bội Châu người nam tử phải làm được chuyện lạ ở trên đời, một con người có khát vọng gắn với thế sự, gắn với thời cuộc. Con người ấy là con người chủ động trong tâm thế, tư thế không chấp nhận để cho trời đất tự xoay vần. Gắn với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ thì người nam nhi ấy phải phải lập lại thời thế, đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập-tự do cho đất nước. Chí làm trai và tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu đã tiếp nối truyền thống dân tộc và kế thừa tư tưởng của tiền nhân như Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi…Ông tự hào mình là đấng nam nhi thì quyết phải sống cho ra sống với ý thức cá nhân cao độ, tinh thần tự nhiệm, tự mình của người nam tử được thể hiện:
    “Ư bách niên trung tu hữu ngã
    Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”
    (Trong khoảng trăm năm cần có tớ/ Sau này muôn thuở há không ai?). Tác giả lấy cái hữu hạn của “bách niên” đối với cái vô hạn “thiên tải”, lấy cái phủ định để khẳng định. Chí làm trai tiếp tục được thể hiện trong ý thơ này với mong muốn làm chuyện lớn lao vượt ra khỏi giới hạn của bản thân, với ý thức tự nhiệm tự mình đặt trọng trách dân dân tộc lên vai mà gánh vác việc đời. Ông hỏi mình trong khoảng trăm năm cần thiết phải có ta, há nghìn năm sau lại không có ai? Và câu hỏi cũng là câu trả lời để khẳng định nay ta là ta thì nghìn năm sau mới có hậu thế, anh hùng dân tộc đời nào cũng có cũng làm nên việc lớn việc lạ. Câu thơ là một ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân tác giả trước bối cảnh của lịch sử với tinh thần tự thân gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Tư tưởng ấy để lại bài học quý báu cho thanh niên Việt Nam đúng như lời Bác Hồ nói: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Tuổi còn trẻ còn khỏe còn sung sức phải hết mình học tập tu dưỡng để giúp nước giúp đời làm giàu làm đẹp cho quê hương để cho Việt Nam sánh vai được sánh vai với các cường quốc năm châu.
    Một điểm nhìn mới của cụ Phan đáng được nghi nhận nữa là ông nhìn thấu sự lỗi thời, lạc hậu của quan điểm Nho gia.
    “Giang sơn tử hĩ sinh đồ chuế
    Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”
    (Non sông đã chết sống thêm nhục/ Hiền thánh còn đâu học cũng hoài). Dân tộc mất đi chủ quyền, đất nước bị giặc giày xéo người nam tử hoặc sống chỉ thêm nhục nhã, thừa thãi vô nghĩa hoặc sống cho ra sống lập lại “càn khôn”, lấy lại hồn nước cho dân tộc. Ông như đang nhắn nhủ tới những người dân Việt Nam hãy thức tỉnh, hãy đứng lên chống Pháp, hãy đổi mới hướng tư duy bởi “hiền thánh” tức cựu học, nho học không còn phù hợp với thời đại mới, cần phải theo đuổi cái tâm học thực tế để canh tân đất nước, tránh đi theo giáo lí lỗi thời và lối mòn sáo rỗng không giúp ích được gì cho sự nghiệp cứu nước hiện tại và tương lai. Lời nhắn nhủ ấy mở rộng ra cho ta thấy ý nghĩa sâu sắc thời đại nào thì phù hợp với quan niệm, tư tưởng của thời đại đó, những điều lạc hậu không còn phù hợp với bối cảnh thực tại thì nên loại bỏ và cần tiếp thu tư tưởng mới, tiến bộ. Trong hai câu thơ trên bản dịch thơ sử dụng từ “hoài” là chưa hợp lí bởi theo nguyên tác chữ Hán “Si” có nghĩa u mê, mê muội một điều gì đó mất lí trí, “hoài” mang mức độ nhẹ hơn, chưa thực sự lột tả được bản chất từ Hán gốc.
    Cuối cùng là hình ảnh con người của một Phan Bội Châu có hoài bão lớn lao, khắc họa tư thế hiên ngang, hăm hở tràn đầy hy vọng ở buổi lên đường. Ông nguyện (mong muốn) ruổi theo gió lớn đi ra biển Đông “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ”câu thơ mang hai nét nghĩa trừu tượng và cụ thể. Với nét nghĩa trừu tượng thể hiện mong muốn vượt lên chính mình, vượt qua giới hạn bản thân làm nên việc lạ ở trong khoảng trăm năm.Với nét nghĩa cụ thể để chỉ phong trào Đông Du, chỉ những người thanh niên mong muốn học tập cái mới để giúp nước. Tuy nhiên bản dịch thơ trong sách giáo khoa từ “Cánh gió” gợi sự mỏng manh chưa lột tả được thần sắc của “trường phong” là cơn gió lớn, cơn gió dài nó là sự quyết tâm ra đi cứu nước của tác giả. Để rồi ngàn con sóng bạc đầu cùng bay lên “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” hình ảnh con sóng mang nét nghĩa thực chỉ sóng biển và nghĩa biểu trưng chỉ ý chí, khát vọng của người chí sĩ cách mạng. Như vậy thì “Nhất tề phi” (Cùng một lúc bay lên) là chỉ sóng hay ý chí, khát vọng hay cả hai cùng hòa quyện vào nhau bay lên? Theo tôi đó là cả hai yếu tố từ ngoại cảnh bên ngoài và nội tâm bên trong cùng tạo thành một quyết tâm cao cho ý chí cứu nước được thể hiện. Hai câu kết với hai hình ảnh kì vĩ, lớn lao “trường phong” và “thiên trùng bạch lãng” với vị ngữ “nguyện trục” và “nhất tề phi” thể hiện chí khí hào hùng của người chí sĩ cách mạng. Ta đã từng bắt gặp hình ảnh “trường phong” trong bài “Hành lộ nan” của Lí Bạch:
    “Trường phong phá lãng hội hữu thì
    Trực quải vân phàm tế thương hải”
    (Cưỡi gió vượt sóng ắt có lúc/ Dong thẳng buồm mây vút bể xanh)

    Như vậy, bằng tài năng của một người nghệ sĩ và ý chí của người cách mạng đã hòa quyện vào nhau làm nên tác phẩm có ý nghĩa. “Xuất dương lưu biệt” vừa thể hiện được tư thế quyết tâm hăm hở của Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước vừa là tác phẩm thơ văn thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Cụ Phan là một trong những tấm gương tiêu biểu cho phong trào cứu nước ở đầu thế kỉ XX được nhân dân yêu mến, kính phục ngày nay nhiều trường học và con đường được mang tên ông để tưởng nhớ đến vị anh hùng dân tộc.

  • Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương

    Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương

    Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    [toc]

    Đề bài: Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Bài văn mẫu

    Thế kỉ XX, đặc biệt là những năm đầu, đất nước, nhân dân ta đã ghi nhận nhiều gương mặt các nhà cách mạng, nhà chí sĩ yêu nước lỗi lạc như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,… và không thể không kể đến Phan Bội Châu. Đóng góp to lớn của ông đối với thời đại khó mà kể hết được, trước hết là tinh thần yêu nước. Đã nhiều lần ông gửi gắm điều ấy trong các sáng tác sục sôi ý chí căm hơn, thúc giục thế hệ trẻ phải đứng lên đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Một trong số đó, có Lưu biệt khi xuất dương đã khắc họa thành công hình ảnh người chí sĩ yêu nước lúc lên đường thực hiện ước mơ lớn:
    Làm trai phải lạ ở trên đời

    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

    Thật chẳng khó nhận ra, những năm đầu của thế kỉ XX tinh thần yêu nước đã lớn mạnh như thế nào, trước hết xuất phát từ những bậc nho sĩ. Thất bại của phong trào Cần Vương, hay câu chuyện “Bình Tây phục quốc” không thành… đất nước vẫn rơi vào tay giặc là hiện thực buồn bã của dân tộc. Nhưng sức mạnh của truyền thống yêu nước cả ngàn năm dội về, cùng với những “tân thư” mới mẻ của thời đại, đã tạo ra những phong trào: Duy tân, Đông Du, Đông kinh nghĩa thục… làm thức tỉnh cả một lớp nhà nho nhiệt huyết. Họ đã hành động theo tiếng gọi của lịch sử: kẻ cắt phăng búi tóc trên đầu mà đoạn tuyệt với lối học cử tử để đi tìm lí tưởng mới, kẻ tạm biệt gia đình, người thân, quê hương đi Tàu, đi Xiêm, đi Nhật để hướng về một chân trời mới đầy hi vọng và ước mơ. “Tất cả chí hướng của thế hệ trí thức yêu nước đã nhằm vào một mục tiêu vĩ đại: “khôi phục nước nhà” (Đặng Thai Mai). Phan Bội Châu cũng mưu đồ sự nghiệp ấy tới đất nước Nhật Bản. Chưa bàn con đường ấy đúng sai, nhưng ông đã tạo nên một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi bùng khát vọng đấu tranh của dân tộc trong một thời gian dài. Lưu biệt khi xuất dương ra đời trong bối cảnh như thế. Khúc trang ca khi lên đường này ông viết để giã từ bạn bè, đồng chí nhưng đã khắc họa đầy chân thực và lãng mạn hình ảnh người chí sĩ yêu nước trong lúc ra đi.
    Chân dung bậc nho sĩ ái quốc hiện lên trong dáng vẻ phi thường thách thức cả không gian và thời gian:

    Làm trai phải lạ ở trên đời

    Sau này muôn thuở há không ai?
    Người chí sĩ đó vẫn mang theo khát vọng chí làm trai thuở trước, nhưng khát vọng ấy thật oai hùng, phi thường của một bậc vĩ nhân. Có hai vấn đề, mà không phải là sự nghiệp “công danh” thông thường đấng nam nhi hay nghĩ tới, đó là phải lạ giữa càn khôn và phải cần có tớ trong khoảng trăm năm này. Phan Bội Châu lựa chọn không gian và thời gian đặc biệt để cái chí của kẻ làm trai được thỏa sức tung hoành. Cái lạ là phải làm nên được những điều kì diệu, phi thường không phải ở đời mà phải giữa càn khôn. Suốt một trăm năm đời người không thể sống hoài, sống phí mà phải trở thành nhân vật lịch sử lớn lao. Ý thức cá nhân, bản ngã lịch sử đẩy tâm tư của người chí sĩ thoát khỏi những suy nghĩ thông thường mà khát vọng mưu đồ việc lớn, xoay chuyển càn khôn, cụ thể là đất nước lâm nguy thì cần phải ra tay cứu nước. Tớ cần phải xoay vần vũ trụ, phải làm điều kinh thiên động địa trong thế kỉ này. Ở Phan tiên sinh, cái tôi yêu nước đầy chủ động, không trông chờ, không hô hào mà trở thành lý tưởng hành động.
    Bởi vậy cái phải lạ không phải là một lời nói suông, mà trở thành hành động thực sự:
    Non sông đã chết sống thêm nhục
    Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
    Người chí sĩ yêu nước như nhân vật trữ tình trong bài thơ này thật khiến người ta thán phục. Cái tráng lệ trong tinh thần không chỉ toát ra từ ý thức cá nhân đầy mạnh mẽ mà ở cả nhận thức đã hoàn toàn chuyển mình. Nhiều nhà nho thời ấy đều biết sự nhục nhã khi phải sống trong cảnh ngoại bang xâm lăng, sự vô nghĩa khi giá trị của nền học vấn cũ giờ đây đã không còn phù hợp. Nhưng để viết nó ra một cách đầy khảng khái, khí chất chỉ có Phan Bội Châu. Cách ông hình tượng hóa hiện thực đất nước rất chân thực: non sông đã chết. Nó không đơn thuần còn là lẽ sống vinh nhục, mà là nỗi đau của nước mất nhà tan. Từ đó không chỉ riêng ông mà biết bao người chí sĩ đã từng là “sản phẩm” của một nền Hán học uy nghi, vững chãi cả ngàn năm, đã từng xuất thân từ chốn cửa Khổng sân Trình cũng đau đớn nhận ra, cái hiền thánh năm xưa đã không còn. Nếu ở trên, hình ảnh người chí sĩ yêu nước thật ngang tàng, thách thức, có phần bướng bỉnh trước vũ trụ, cuộc đời, thì đến đây còn trở nên quật cường, quyết liệt hơn trong nhận thức. Còn sống là còn nhục, còn học là còn ngu. Táo bạo, dứt khoát, người chí sĩ ấy không né tránh mà đối diện với hiện thực thật oai hùng. Bởi vậy điều lạ trong con người của nhân vật trữ tình đã đánh dấu một bước ngoặt trong tư duy yêu nước của thời đại.
    Muốn làm điều kinh thiên động địa, muốn làm cho đất nước thoát cảnh lầm than, muốn thay đổi con đường cứu nước cho dân tộc, người chí sĩ đã vượt xa hơn lời nói mà trở thành hành động cụ thể, đó là: xuất dương.
    Muốn vượt bể đông theo cánh sóng
    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
    Hai câu thơ cuối hình ảnh người chí sĩ lên đường thật phi thường, oai hùng mà lãng mạn. Cái nhất thể giữa tự nhiên và con người, giữa ngoại cảnh và ý chí đã đẩy bức chân dung nhân vật lịch sử năm ấy như một bức tượng đài sừng sững, nguy nga. Vẫn là không gian rộng lớn của biển khơi, vẫn là cái mạnh mẽ của muôn trùng sóng bạc nhưng lại hòa cùng nhau mà đẩy khát vọng, hoài bão của người chí sĩ vút cao. Ba chữ nhất tề phi bản dịch đã không nhắc tới, khiến sắc thái, tinh thần của kẻ sĩ lên đường chưa thể lột tả hết được. Cảnh tượng cuối bài thơ đã cho thấy một bầu nhiệt huyết sục sôi, lý tưởng lớn lao của bậc sĩ phu yêu nước khi lên đường. Điều đó đã tạo nên một khúc khải hoàn ca thật tráng lệ, hào hùng để mang theo bao hi vọng, bao niềm tin, bao ước mơ về một tương lai tươi sáng của dân tộc.
    Tinh thần yêu nước của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu không phải tự nhiên có sức ảnh hưởng to lớn đến thời đại mà ông sống đến vậy. Bởi tinh thần đó đã khai sáng biết bao nhiêu kẻ sĩ còn mò mẫm trên hành trình phục sinh Tổ quốc. Dẫu Phan tiên sinh sau này vẫn chưa thành công được trong sự nghiệp kinh bang tế thế, nhưng lòng yêu nước và sức mạnh quả cảm của tấm lòng ấy mãi mãi trở thành ngọn lửa sáng rực cả bầu trời Cách mạng những năm nửa đầu thế kỉ XX. Lưu biệt khi xuất dương bởi vậy không còn là bài thơ giãi bày cảm xúc lưu luyến, bịn rịn trong cảnh chia tay thông thường mà là ý chí quyết tâm ra đi để mưu đồ nghiệp lớn. Bài thơ mãi mãi còn đó sự bất diệt trong khát vọng đấu tranh và tinh thần yêu nước cho những thế hệ sau này.

  • 4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quanDàn ý Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Trình bày khái quát những nét chủ yếu nhất về cuộc đời và sự nghiệp Phan Bội Châu: Đôi nét về cuộc đời hoạt động cách mạng và sự nghiệp văn chương…
    – Giới thiệu khái quát nội dung và nhấn mạnh tầm quan trọng của bài thơ Lưu biệt khi xuất dương: Bài thơ ấy là tiêu biểu cho tinh thần yêu nước của chính tác giả.

    II. Thân bài
    – Phân tích hai câu thơ đầu (hai câu đề): Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu
    + Tác giả nêu lên quan niệm mới: là đấng nam nhi phải sống với khát vọng, mong muốn làm nên điều kì lạ : “ yếu hi kì”, không cam chịu để cho trời đất xoay chuyển mình.
    ⇒ Tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở mức độ và tài năng của mình ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai.
    – Hai câu thực: Khẳng định ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc
    + Câu 3: “Tu hữu ngã” (phải có trong cuộc đời) → ý thức trách nhiệm của cái tôi cá nhân trước thời cuộc, ý thức rõ vai trò, tầm quan trọng của cá nhân đối với vận mệnh trăm năm. Điều này đối lập với sự tự cao cá nhân.
    + Câu 4: Tác giả lại chuyển giọng nghi vấn “cánh vô thuỳ” (há không ai?) ⇒ khẳng định cương quyết hơn khát vọng sống hiển hách, phi thường, phát huy hết tài năng trí tuệ dâng hiến cho đời.
    → Ý thức sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó.
    – Hai câu luận : Quan niệm về nguyên tắc hành xử mới của Phan Bội Châu trước vận mệnh đất nước
    + Tình cảnh đất nước: “Non sống đã chết”, đất nước đã rơi vào tay giặc
    + Quan niệm mới mẻ, đối lập với các tín điều xưa cũ: ý thức về lẽ vinh nhục gắn với sự tồn vong của đất nước: “sống thêm nhục :

    “Hiền thánh còn đâu cũng học hoài”
    + Người cách mạng cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc ⇒ hành động cởi mở, luôn tiếp thu những tư tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đối lập với quan điểm cứu nước trì trệ, lạc hậu của các nhà Nho đương thời.
    – Hai câu kết: Tư thế và khát vọng buổi lên đường
    + Tư thế lên đường của người chí sĩ thật sự hoành tráng:
    “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
    Tiên trùng bạch lãng nhất tề phi”
    + Những hình tượng kì vĩ được sử dụng: “trường phong”- ngọn gió dài, lớn; “Thiên trùng bạch lãng” (ngàn lớp sóng bạc) ⇒ Tư thế hiên ngang, mong muốn lớn lao mang tầm vũ trụ của người cách mạng.
    ⇒ Tầm vóc của ý chí con người đã lớn lao hơn, không cam chịu trói mình trong khuôn khổ, vượt ra ngoài vòng kiểm tỏa
    III. Kết bài
    Khái quát về những nét đặc sắc nghệ thuật đem lại thành công cho tác phẩm. Khẳng định lại nội dung tư tưởng của tác phẩm và liên hệ về ý chí, khát vọng của con người trong thời đại hiện nay.

    Bài văn mẫu 1

    Phan Bội Châu là một nhà yêu nước, nhà cách mạng lớn đầu thế kỉ XX. Thơ văn của ông tràn ngập tinh thần yêu nước trên cả hai mảng sáng tác chữ Hán và sáng tác chữ Nôm. Tác phẩm Lưu biệt khi xuất dương được sáng tác vào năm 1905 trước khi ông lên đường sang Nhật Bản. Tác phẩm cho thấy bầu nhiệt huyết tìm đường cứu nước cháy bỏng của người chí sĩ cách mạng.
    Chí làm trai làm một phạm trù quan trọng trong văn học trung đại, nó được thể hiện không chỉ ở trong văn học dân gian: “Làm trai cho đáng nên trai/ Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên” mà còn thể hiện đậm nét trong các sáng tác trung đại: “Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển” (Chí làm trai – Nguyễn Cống Trứ)…. Và đến Phan Bội Châu, ông cũng tiếp nối truyền thống của văn học dân tộc, nhưng có những bước tiến mới, với quan niệm mới mẻ:
    Làm trai phải lạ ở trên đời
    Há để càn khôn tự chuyển dời.
    Đối với Phan Bội Châu làm trai phải “lạ” tức là phải có quan niệm, lí tưởng sống cao đẹp, dám mưu đồ những việc phi thường, hiển hách. Ông không chấp nhận sự xoay vần của vũ trụ, để nó ảnh hưởng đến số phận, cuộc đời mình. Phan Bội Châu cho rằng làm trai không được để bản thân ở thế bị động, để số phận quyết định đời mình mà phải là một nam nhi chủ động, tự tạo nên con đường của bản thân. Điều này đã được minh chứng rõ nét trong cuộc đời của ông. Trước cảnh nước mất nhà tan, giặc ngoại xâm tràn vào bờ cõi, nhiễu nhương đời sống nhân dân, là một người yêu nước thương nòi nên Phan Bội Châu không thể đứng im nhìn cảnh tượng đau lòng đó, ông mang quyết tâm lớn, ra nước ngoài (Nhật Bản) để học tập và tìm con đường cứu nước đứng đắn cho dân tộc. Cuộc đời ông đã minh chứng cho cái “lạ” mà ông thể hiện trong thơ ca. Lí tưởng sống cao đẹp, vì dân vì nước của ông thật đáng trân trọng và tự hào. Hai câu thơ đầy khẩu khí, giọng điệu vô cùng tự tin, táo bạo.
    Hai câu thực thể hiện ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với thời cuộc:
    Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
    Sau này muôn thuở há không ai?
    Câu thơ thể hiện những khao khát cao đẹp của một nhân cách lớn. “Trăm năm” là cả một đời người, với nhiều biến động của lịch sử xã hội, nhưng ông vẫn khẳng định “cần có tớ” để đem hết tài năng của bản thân cống hiến, hoàn thành sứ mệnh của kẻ làm trai, trả món nợ công danh và lưu danh muôn thuở “Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ). Câu thơ gợi nhắc ta nhớ đến bài “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” tức mọi việc trong trời đất đều thuộc phận sự của ta. Câu thơ cho thấy sự gặp gỡ của những tư tưởng lớn, nhân cách lớn. Ở họ đều có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của cá nhân đối với thời cuộc, học sẵn sàng gánh vác sứ mệnh mà lịch sử giao cho. Câu thơ thứ tư hướng đến thế hệ tương lai, những người tiếp nối sự nghiệp, cho thấy ý thức, khát vọng, cũng như niềm tin của ông vào những thanh niên thế hệ tiếp nối.
    Trước tình cảnh của đất nước Phan Bội Châu thể hiện thái độ hết sức quyết liệt:
    Non sông đã chết, sống thêm nhục
    Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
    Ông nhận thức sâu sắc về thực trạng đất nước lúc bấy giờ “non sông đã chết” – đất nước đã mất chủ quyền, mảnh đất ông cha đổ bao xương máu mới giữ được nay lại rơi vào tay quân giặc, nhân dân phải sống trong cảnh nô lệ, lầm than. Cuộc sống đó khiến ông cảm thấy “sống thêm nhục” nó là biểu hiện sâu sắc của lòng yêu nước. Trong câu thơ dịch chưa truyền tải hết tinh thần của nguyên tác: “Giang sơn tử hĩ đồ nhuế/ Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si” câu thơ đầy mạnh mẽ, tràn ngập cảm hứng phủ định về nền học vấn Nho học đã lỗi thời, không còn phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Để từ đó ông nêu lên khát vọng hành động và tư thế lên đường:
    Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
    Tác giả dựng lên bối cảnh kì vĩ, to lớn đó là biển đông, là những ngọn gió lớn, những đợt sóng bạc, các sự vật to lớn như vậy mới có thể thể hiện đầy đủ cái hùng tâm tráng trí ôm trùm thiên hạ của một con người yêu nước nồng nàn. Đồng thời cũng làm nổi bật tư thế “bay lên” cho thấy con người có tầm vóc lớn lao, sánh ngang vũ trụ. Câu thơ là kết tinh trọn vẹn khát vọng, hành động đẹp đẽ của Phan Bội Châu: ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là cách thức ông thỏa chí làm trai.
    Ngôn ngữ thơ cô đọng, giàu sức truyền cảm. Giọng điệu thơ tâm huyết, sâu lắng, đầy sôi sục, hào hùng. Những vần thơ có tác động mạnh mẽ với tâm lí người đọc, nó như một bài tuyên truyền cổ vũ, động viên con người hãy đứng lên và hạnh động vì đất nước.
    Xuất dương lưu biệt đã khắc họa một cách chân thực và lãng mạn vẻ đẹp hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu đầu thế kỉ. Ông mang trong mình những tư tưởng canh tân mới mẻ, táo bạo với lòng nhiệt huyết sục sôi, cuộn trào, khát vọng lên đường cháy bỏng để tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc.


    Bài văn mẫu 2

    Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam chúng thi hành chính sách bóc lột sức lao động, đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong bể máu, khiến cho lòng dân vô cùng căm phẫn. Chính điều đó đã thôi thúc các nhà yêu nước nung nấu con đường giải phóng dân tộc. Tiêu biểu trong thời kì đầu là Phan Bội Châu_ông vừa là nhà cách mạng yêu nước đồng thời là một nhà văn hóa lớn. Ông để lại nhiều trước tác trên nhiều lĩnh vực trong đó thi ca chiếm một nội dung quan trọng. Nổi bật trong thơ của Phan Bội Châu là bài “Lưu biệt khi xuất dương”. Bài thơ đã lưu lại tình cảm, cảm xúc của tác giả lúc từ biệt trước khi sang Nhật đồng thời thể hiện tinh thần, ý chí quyết tâm cứu nước của người chiến sĩ cách mạng.
    “Lưu biệt khi xuất dương” được Phan Bội Châu sáng tác khi khát vọng cứu nước đang thực hiện một cách thuận lợi, hội Duy Tân vừa mới được thành lập khi đó ông chủ trương đưa một số thanh niên Việt Nam có ý chí, tinh thần ham học hỏi sang Nhật học tập sự văn minh, khoa học của họ để về giúp nước giúp dân. Đây là một tư tưởng tiến bộ nhưng lịch sử lại không lựa chọn do còn phạm phải những sai lầm, tuy nhiên điều đó đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho dân tộc.
    Bài thơ được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục rõ ràng, mạch lạc theo cấu trúc đề-thực-luận-kết thể hiện được cái “chí” của nhà thơ. Hai câu thơ đầu là quan niệm mới mẻ về chí làm trai và tư thế, tâm thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ.
    “Sinh vi nam tử yếu hi kì
    Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”
    (Làm trai phải lạ ở trên đời/ Há để càn khôn tự chuyển dời). Chí làm trai của đấng nam nhi phải có khát vọng, hoài bão lớn lao, phải làm được việc hiếm việc lạ ở trên đời. Tư tưởng này đã được kế thừa của các tiền nhân như Phạm Ngũ Lão trong bài thơ “Thuật hoài” có viết: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”. Chính vì cái lẽ ấy mà không chịu để cho trời đất tự chuyển dời thể hiện tầm vóc lớn lao của con người trong vũ trụ bao la như tư thế “hoành sóc” (cầm ngang ngọn giáo) hiên ngang của người nam tử. Gắn với bối cảnh của thời đại, thực tế của đất nước lúc bấy giờ chí làm trai theo Phan Bội Châu phải xoay chuyển được “càn khôn” chủ động lập lại thời thế không chịu chấp nhận nỗi nhục mất nước, không chịu làm nô lệ.
    Nếu như hai câu thơ đầu là tuyên ngôn về chí làm trai với tư tưởng muốn bứt phá ra khỏi giới hạn bé mọn của bản thân, mong muốn cứu nguy cho dân tộc đồng thời khẳng định vị thế của mình trong trời đất thì hai câu thực nói về ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc.
    “Ư bách niên trung tu hữu ngã
    Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”
    (Trong khoảng trăm năm cần có tớ/ Sau này muôn thuở há không ai?). Trong câu 3 đối với câu 4 lấy cái hữu hạn của “bách niên” để đối với cái vô hạn của “thiên tải”, lấy cái phủ định để khẳng định ý chí quyết tâm của tác giả cho thấy vai trò, sự chủ động của cá nhân trước bối cảnh lịch sử. Ở trong khoảng trăm năm (trong khoảng thời gian của đời người) cần thiết phải có ta. Ta phải làm việc lớn, gánh vác việc đời của thời đại mình thì trăm năm sau mới có thế hệ khác. Nếu không sau này “há không ai?”đây là một câu nghi vấn, hỏi nhưng cũng là để tự mình trả lời, tự mình thể hiện mình. Điều đó cho thấy tinh thần tự nhiệm, tự mình của tác giả đồng thời cũng khẳng định sự nối tiếp thế hệ anh hùng của dân tộc “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt thời nào cũng có”.
    Để minh chứng cho con đường cứu nước của mình là đúng đắn ở hai câu luận tác giả nêu lên tình cảnh của đất nước và chỉ ra những điều xưa cũ không còn phù hợp với thời đại mới.
    “Giang sơn tử hĩ sinh đồ chuế
    Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”
    (Non sông đã chết sống thêm nhục/ Hiền thánh còn đâu học cũng hoài). “Non sông đã chết” dân tộc đã bị xâm lăng, đất nước đã mất chủ quyền sống cũng chỉ thêm nhục nhã. Câu này tác giả nói đến lẽ sống và cái chết để khẳng định lí tưởng sống có nghĩa là phải lật lại “càn khôn”, lấy lại hồn nước, làm cho dân tộc được độc lập tự do. “Hiền thánh”ở đây chỉ Nho học. Nó đã không còn nữa, phải gác nó lại theo học cái học thực tế để canh tân đất nước. Có người nói Phan Bội Châu phủ nhận vai trò của Nho giáo, điều này là không đúng bởi ông cũng xuất thân nơi “Cửa Khổng sân Trình” nhưng bối cảnh thời đại bây giờ Nho giáo trở nên lạc hâu, lỗi thời cần thay đổi. Chữ “hoài” trong bản dich thơ chưa thể hiện được bản chất “si” (U mê, mê muội một điều gì đó mất lí trí) trong nguyên tác. Hai câu thơ là lời nhắn nhủ của tác giả đến thế hệ trẻ phải đổi mới quan niệm, tư tưởng không nên theo lối mòn, sáo rỗng không có ích cho sự nghiệp cứu nước.
    Hai câu kết thể hiện khát vọng hành động cứu nước, khắc họa tư thế hiên ngang, hào hùng của con người ở buổi lên đường:
    “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
    Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”
    (Muốn vượt bể đông theo cánh gió/ Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi). Ở câu thơ thứ nhất mang hai nét nghĩa trừu tượng và cụ thể. Với nét nghĩa trừu tượng thể hiện mong muốn vượt lên chính mình, vượt qua giới hạn bản thân làm nên việc lạ ở trong khoảng trăm năm. Với nét nghĩa cụ thể để chỉ phong trào Đông Du, chỉ những người thanh niên yêu nước mong muốn học tập cái mới để giúp nước. Tuy nhiên bản dịch thơ trong sách giáo khoa từ “Cánh gió” chưa lột tả được thần sắc của “trường phong” là cơn gió lớn, cơn gió dài nó là sự quyết tâm, quyết liệt ra đi cứu nước của tác giả. Câu cuối “nhất tề phi” là cùng bay lên ở đây là chỉ con sóng hay chỉ khát vọng của tác giả hay chỉ cả hai khát vọng của ta cùng với hàng ngàn con sóng cùng bay lên giữa biển khơi rộng lớn. Theo em cách hiểu thứ ba là hợp lí vì tác giả “xuất dương” mang trong mình hoài bão lớn lao. Hai câu kết với hai hình ảnh kì vĩ “trường phong” và “thiên trùng bạch lãng”làm cho chí khí, tư thế của người chiến sĩ vượt lên thực tại đen tối với đôi cánh của lí tưởng cách mạng vươn ngang tầm vũ trụ được thể hiện qua vị ngữ “nguyện trục”, “nhất tề phi” khiến ta liên tưởng đến hai câu thơ trong “Hành lộ nan” (Đi đường khó) của Lí Bạch: “Trường phong phá lãng hội hữu thì/ Trực quải vân phàm tế thương hải” (Cưỡi gió vượt sóng ắt có lúc/ Dong thẳng buồm mây vút bể xanh).
    “Lưu biệt khi xuất dương” thể hiện được lí tưởng cứu nước cao cả, nhiệt huyết sục sôi với tư thế đẹp đẽ và khát vọng lên đường cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng trong buổi đầu cứu nước. Về nghệ thuật bài thơ được làm theo luật bằng, đúng niêm, đúng luật của thể thơ đã được quy ước, tuy nhiên có nét cách tân đổi mới điều đó được thể hiện ở đại từ “Ngã” (ta). Ở trong thơ trung đại cái tôi cá nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại không coi mình là trung tâm mà chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn.Nhưng ở đây tác giả đã tự tin thể hiện bản lĩnh, chí hướng, khát vọng, quyết tâm của con người trong thời đại mới. Sử dụng ngôn ngữ phóng đại với hình ảnh kì vĩ, lãng mạn thể hiện được cái chí của mình.
    Vần thơ đã khép lại bấy lâu nay nhưng hồn thơ, thần sắc của bài thơ cùng với hình ảnh của một Phan Bội Châu quyết tâm, hăm hở, chủ động ra đi tìm đường cứu nước đã để lại tiếng vang, ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử. Phan Bội Châu không những về sự nghiệp vận động giải phóng dân tộc là một nhân vật tiêu biểu cho giai đoạn chống Pháp của nhân dân Việt Nam đầu thế kỉ XX mà còn là nhà thơ, nhà văn với những đóng góp có giá trị cho nền văn học nước nhà.

    Bài văn mẫu 3

    Phan Bội Châu được coi là một trong số những anh hùng kiệt xuất có tầm ảnh hưởng lớn đối với cách mạng Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XX. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình ông chưa một lần được hưởng niềm vui chiến thắng nhưng tình yêu đất nước, khát vọng hòa bình và ý chí đấu tranh của ông luôn là ngọn lửa tiếp thêm nhiệt huyết, đam mê cho nhiều thế hệ sau này. Mà trước hết, thơ ca là mặt trận để ông bộc lộ điều ấy. Lưu biệt khi xuất dương là một bài thơ như thế. Ra đời vào thời điểm, nhà thơ chuẩn bị lên đường sang Nhật để thực hiện chí lớn, tác phẩm đã thể hiện niềm khát khao mãnh liệt, mong chờ một sự nghiệp kinh bang tế thế thay đổi vận mệnh cho nước nhà:
    Làm trai phải lạ ở trên đời…
    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
    Bài thơ mở đầu bằng một quan niệm rất quen thuộc của Nho giáo: chí làm trai.v
    Làm trai phải lạ ở trên đời,
    Há để càn khôn tự chuyển dời.
    Nếu đặt trong mạch nguồn của thơ ca trung đại, việc đề cập đến lý tưởng xã hội này là điều rất dễ thấy. Danh tướng đời Trần Phạm Ngũ Lão và sau này là bậc nho sĩ tài tử Nguyễn Công Trứ đã từng đề cập.
    Công danh nam tử còn vương nợ,
    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
    (Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)
    Đã mang tiếng ở trong trời đất,
    Phải có danh gì với núi sông.
    (Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công Trứ)
    Cái chí của đấng nam nhi ở đây là công, là danh. Họ trông vào đó mà tìm kiếm sự nghiệp, khẳng định bản thân mình trước cuộc đời, trước mọi người. Nhưng cách thể hiện của Phan tiên sinh trong bài thơ này lại gây một ấn tượng mạnh. Cái chí của kẻ làm trai lại trở nên kì vĩ, lớn lao. Bởi nó được đặt trong một không gian đặc biệt, đó là vũ trụ. Nếu nhìn từ không gian ấy, bậc nam nhi sẽ còn có nhiều khao khát hơn là công và danh. Chữ lạ trong bản dịch thơ tuy hay nhưng chưa làm toát lên được ý nghĩa từ chữ kì trong văn bản gốc. Làm trai phải lạ cần được hiểu là làm được những việc kì lạ, kiệt xuất, phi thường. Muốn làm được điều ấy, người quân tử phải được đặt trong một không gian không thể là trên đời được, mà phải là càn khôn. Vì “đời” tưởng rộng mà hóa ra lại hẹp, mới chỉ là thế giới loài người, còn “càn khôn” là vũ trụ bao la. Cho nên cái hay trong hai câu đề là không gian ấy đến câu thứ hai mới xuất hiện, nó làm tôn lên hình ảnh một bậc nam nhi đại trượng phu, hào kiệt dõng dạc hô vang ở câu đầu rằng phải lạ. Có nghĩa là đấng nam tử đâu chỉ trông chờ, thụ động, phó mặc cho tạo hóa xoay vần, mà phải chủ động, dấn thân thay đổi cả càn khôn, trời đất, cải tạo cả vũ trụ, giang sơn. Mạnh mẽ hơn là phải biết sống hiển hách, dám mưu đồ những việc lớn, kinh thiên động địa, đất nước lâm nguy thì ra tay cứu nước, thay đổi lịch sử. Cảm hứng sử thi, lãng mạn đã nâng tầm chí làm trai lên một diện mạo mới. Đặt trong bối cảnh ra đời bài thơ, hình ảnh đấng nam nhi mang tầm vóc vũ trụ ấy đã mở đầu cho một khúc khải hoàn ca đầy hùng tráng, phi thường về ý chí và tinh thần yêu nước.
    Hai câu đề đã mở ra không gian rộng lớn, đến hai câu thực lại mang tới độ tối đa trong thời gian của đời người:
    Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
    Sau này muôn thuở, há không ai?
    Trong quan niệm chung về đấng nam nhi ở trên, Phan Bội Châu đã nêu lên được ý thức cá nhân đầy khảng khái của bản thân mình. Đến hai câu này, ý thức cá nhân ấy càng rõ hơn. Có thể hiểu trong khoảng một trăm năm này, không thể thiếu được ta. Ta phải trở thành nhân vật lịch sử, ta có sứ mệnh xoay chuyển càn khôn để thay đổi cả bộ mặt lịch sử của thế kỉ này. Ta bỗng vút lên giữa cái vô cùng vô tận của không gian và thời gian như thế, bảo sao lại không tráng lệ, lộng lẫy. Chữ tớ dịch khá thú vị, vừa có chút dí dỏm vừa vẫn khẳng định cái tôi đầy mạnh mẽ. Ý thức cá nhân được vươn cao, vươn rộng theo không gian và còn vươn dài theo cả thời gian nâng tầm nhận thức cao cả về sứ mệnh của con người trước lịch sử. Cái tôi như thế thật là vừa lãng mạn vừa kiêu hùng!
    Xoay chuyển càn khôn, làm chủ lịch sử tưởng chừng như đã quá to tát, ấy vậy mà cái phải lạ của bậc anh hào còn khiến người ta bất ngờ hơn:
    Non sông đã chết, sống thêm nhục
    Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài.
    Trong bối cảnh của sự chuyển giao thời đại, dẫu có mới mẻ đến đâu cũng vẫn phải có sự thay đổi dần dần. Nhưng nhận thức của Phan tiên sinh lại khiến người ta thấy thật phi thường. Đúng non sông đã chết là cách nhân hóa rất chân thực cho hiện tại của nước nhà. Kẻ thù ngoại bang chiếm lấy chủ quyền thì coi như đất nước đã chết. Câu thơ uất nghẹn trước thực trạng đau thương của dân tộc. Nhưng cái mạnh mẽ của đấng nam nhi trước Tổ quốc như thế buộc phải nhận ra sống chỉ thêm nhục. Vì thế cái cần nhất, cái lý tưởng nhất của một thời hiền thánh giờ cũng chẳng còn ý nghĩa, có đọc sách cũng ngu thôi. Vậy là hai thứ quan trọng ấy mà còn tiếp tục sống, tiếp tục học thì chẳng khác nào đã để tự mình phó mặc cho số phận, để càn khôn nó tự chuyển dời, để tiếp tục sống một trăm năm đầy vô nghĩa. Có lẽ vậy mà, cuộc đời Phan Sào Nam tuy sống trọn vẹn trong cảnh đất nước lầm than, trải qua bao lần thất bại đau đớn nhưng ông vẫn cống hiến đầy hiển hách, vinh quang. Hai câu thơ đã chứng tỏ một sự chuyển mình của thời đại, nếu nói không quá lên, thật là vĩ đại. Nhận ra lẽ vinh nhục trong cảnh đất nước ấy là thường tình, nhưng dám chối bỏ, phủ định cả một nền học thức của một kẻ vốn xuất thân từ cửa Khổng, sân Trình như cụ Phan, thì đó là một điều rất phi thường.
    Vậy không thể sống như thế với thực tại, muốn mưu đồ việc xoay chuyển càn khôn phải tiến đến hành động. Và hành động ấy chỉ có thể là xuất dương.
    Muốn vượt bể đông theo cánh gió,
    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
    Hai câu kết thật đẹp! Hình ảnh miêu tả có phần ước lệ tượng trưng tạo nên một cảnh tượng biển trời, gió bão, sóng bạc thật hùng vĩ. Nó làm toát lên cái hùng tâm tráng trí của kẻ sĩ yêu nước cháy bỏng mà ở câu thơ cuối: thiên trùng bạch lãng nhất tề phi, bản dịch chưa làm toát lên được. Đúng hơn là biển mênh mông, gió bát ngát, sóng bạc muôn trùng và ý chí, khát vọng của con người cùng nhau hòa quện làm một mà nhất tề phi (cùng bay lên). Tâm thế ra đi cũng rộng lớn, tráng lệ như biển trời vậy. Có cái hào sảng, quyết tâm, mạnh mẽ, nhiệt huyết khi lên đường. Người ở lại – bạn bè bằng hữu, chắc chắn cảm nhận được khát vọng, lý tưởng trong hành động kiệt xuất của con người kiệt xuất ấy.
    Bài thơ khép lại trong một niềm hân hoan, hứng khởi trào dâng mãnh liệt của nhà chí sĩ cách mạng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Sự kết hợp đầy mới mẻ giữa cách thể hiện đậm chất thơ văn trung đại với những tư tưởng nội dung đậm hơi thở của nhịp sống đương thời đã hình tượng hóa một cách lãng mạn và hào hùng của người chí sĩ yêu nước những năm đầu thế kỉ XX. Giọng thơ nhiệt huyết, lay động này đã tiếp thêm sức mạnh, đã thổi bùng khát khao cho biết bao kẻ sĩ thời ấy có mong muốn thực hiện chí lớn vì sự nghiệp dân tộc của mình.

    Bài văn mẫu 4

    Phan Bội Châu (1867-1940), ôi cái tên đẹp một thời. “Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại” (Tôn Quang Phiệt). Phan Bội Châu là linh hồn của các phong trào vận động giải phóng Tổ quốc khoảng 25 năm đầu thế kỉ XX. Tên tuổi ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Tên tuổi Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuôn sách, một số bài văn tế và vài ba vở tuồng chứa chan tình yêu nước. “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng” (Tố Hữu).
    Năm 1900, Phan Bội Châu đậu giải nguyên khoa thi Hương trường Nghệ. Năm 1904 ông sáng lập ra Hội Duy Tân, một tổ chức yêu nước. Năm 1905 ông dấy lên phong trào Đông du. Trước lúc lên đường Đông du, qua Trung Hoa, để cầu ngoại viện với bao hoài bão tung hoành, ông để lại đồng chí bài thơ “Xuất dương lưu biệt”. Có thể nói bài thơ này như một mốc son chói lọi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhà chí sĩ Phan Bội Châu.
    “Xuất dương lưu biệt” được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc ca biểu lộ tư thế, quyết tâm hăm hở, và những ỷ nghĩ cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước.
    Hai câu đề là một tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả:
    “Sinh vi nam tử yếu hi kì
    Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.”
    Tự hào mình là đấng nam nhi thì phải sống cho ra sống mong muốn làm nên điều lạ (yếu hi kì). Suy rộng ra, là không thể sống tầm thường. Không thê sống một cách thụ động để cho trời đất (càn khôn) tự chuyển dời một cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ thể hiện một tư thế, một tâm thế rất đẹp về chí nam nhi, tự tin ở đức độ và tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp to lớn, xoay chuyển trời đất, như ông đã nói rõ trong một bài thơ khác:
    “Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,
    Mở miệng cười tan cuộc oán thù”.
    Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạng vô cùng sôi nổi của Phan Bội Châu ta mới cảm nhận được cái khí anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại. Đấng nam nhi muốn làm nên điều lạ ở trên đời, từng nung nấu và tâm niệm theo một vần thơ cổ:
    “Mỗi phạn bất vong guy trúc bạch,
    Lập thân tối hạ thị văn chương.”
    (Tùy viên thi thoại – Viên Mai)
    (Bữa bữa những mong ghi sử sách,
    Lập thân xoàng nhất ấy văn chương).
    Đấng nam nhi muốn làm nên điều lạ ở trên đời ấy có một bầu máu nóng sôi sục: “Tôi được trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít, lúc còn bé đọc sách của cha tôi, mỗi khi đến những chỗ nói người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt lại đầm đìa nhỏ xuống ướt đẫm cả giấy…” (Ngục trung thư).
    Phần thực, ý thơ được mở rộng, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử:
    “Ư bách niên trung tu hữu ngã,
    Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”
    Ngã là ta, tu hữu ngã nghĩa là phải có ta trong cuộc đời một trăm năm (bách niên trung). Câu thơ khẳng định biểu lộ niềm tự hào lớn lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. Thiên tải hậu nghìn năm sau, là lịch sử của đất nước và dân tộc há lại không có ai (để lại tên tuổi) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định. Đó là một ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Ý tưởng đẹp đẽ này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các vĩ nhân trong lịch sử:
    “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”.
    (“Hịch tướng sĩ” – Trần Quốc Tuấn)
    “Nhân vinh tự cổ thủy vô tử
    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.”
    (Vân Thiên Tường)
    Lấy cái hữu hạn – bách niên – của một đời người đối với cái vô hạn – thiên tài – của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã tạo nên một giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng, biểu lộ một quyết tâm và khát vọng trong buổi lên đường. Vì thế, trên bước đường cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua muôn vàn thử thách và hiểm nguy, ông vẫn bất khuất, lạc quan:
    “Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp,
    Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu!”
    (Cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông)
    Khi non sông đã chất, đã bị ngoại bang xâm chiếm, giày xé thì thân phận dân ta chỉ là kiếp ngựa trâu, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Trong hoàn cảnh ấy có nấu sử nghiền kinh, có chúi đầu vào con đường khoa cử cũng vô nghĩa. Sách vở của thánh hiền liệu còn có ích gì trong sự nghiệp cứu nước nhà:
    “Non sông đã chết, sống thêm nhục,
    Hiền thánh còn đâu học của hoài.”
    Phan Bội Châu đã dặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước hết. ông nói bằng tất cả nhiệt huyết và chân thành, ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học cử tử, không thể đắm chìm trong vòng hư danh, mà phải hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong bài Bài ca chúc tết thanh niên viết vào dịp Tết năm 1927. Cụ thiết tha kêu gọi thanh niên:
    “Ai hữu chi từ nay xin gắng gỏi
    Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần
    Đừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn
    Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa
    Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…”
    Sống như thế là sống đẹp, sống như thế mới mong làm nên điều lạ ở trên đời, mới tự khẳng định được: “Trong khoảng trăm năm cần có tớ.”
    Phần kết là sự kết tinh của một hồn thơ bay bổng đượm sắc lãng mạn:
    “Nguyệt trục trường phong Đông hải khứ,
    Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.”
    Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, cổ vũ lòng yêu nước, khơi gợi lòng căm thù giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ trở thành những bác ái quốc vì thấm đượm cảm xúc, sôi sục nhiệt huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng. Hai câu kết là một ví dụ hùng hồn: Trường phong – Ngọn gió dài. Thiên trùng bạch lãng — ngàn lớp sóng bạc, là hai hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sĩ cách mạng được diễn tả qua các vị ngữ nguyện trục (mong đuổi theo) và nhất tề phi (cùng bay lên). Cái không gian mênh mông mà nhà chí sĩ mong vượt qua là Đông hải. Hai thanh trắc cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng bổng trầm ấy cũng góp phần thể hiện quyết tâm mạnh mẽ lên đường cứu nước của Phan Bội Châu.Ở đây nội lực, bản lĩnh chiến đấu và khẩu khí của người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và thống nhất. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều Tiên sinh đã nói ở hai câu kết.
    “Xuất dương lưu biệt” là bài thơ tuyệt tác đầy tâm huyết. Bài thơ là tiếng nói tự hào của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng. Tráng lệ nhất là ở hai câu kết. Bài thơ thể hiện một cách sâu sắc nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại Phan Bội Châu.

  • Dàn ý Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Dàn ý Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Dàn ý Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quanVăn mẫu: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

    [toc]

    Đề bài: Lập dàn ý phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Dàn ý mẫu

    Mở bài
    – Phan Bội Châu (1867-1940) quê ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Năm 1900 đỗ Giải nguyên. Ông sáng lập ra Hộí Duy Tân (1904). Năm 1906, bí mật sang Nhật dấy lên phong trào Đông Du, tổ chức Việt Nam Quang phụ hộí. Năm 1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải, đưa về Hà Nội với cái án tử hình. Trước sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta, chúng đưa ông về giam lỏng ở Huế.

    – Là chiến sĩ yêu nước vĩ đại, là nhà văn, nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỉ 20 – Thơ văn Phan Bộí Châu là thơ văn yêu nước và tuyên truyền cổ động cách mạng sôi sục bầu nhiệt huyết.
    – Bài thơ Lưu biệt khi xuất dương được Phan Bội Châu viết năm 1906, trong lúc chia tay đồng chí, bạn bè, trước lúc bí mật sang Nhật, dấy lên phong trào Đông Du.
    – Bài thơ khẳng định chí làm trai và quyết tâm xuất dương, làm nên sự nghiệp lớn cứu nước cứu dân.

    Thân bài
    – Hai câu đề
    Kẻ nam nhi phải mong có điều lạ, nghĩa là không thể sống tầm thường mà phải làm nên sự nghiệp lớn. Lưu lại tiếng thơm muôn đời. Con người ấy sống chủ động, tích cực, có tinh thần làm chủ thiên nhiên, há để càn khôn tự chuyền dời?
    – Hai câu thực
    Tác giả tự ý thức về cái Tôi (ngã: tôi, tờ). Rất tự hào về vai trò của mình trong cuộc đời (một trăm năm) và trong xã hội, lịch sử (ngàn năm sau).
    Tác giả hỏi: Chẳng lẽ ngàn năm sau, lại không có ai (để lại tên tuổi) ư? Nhằm khẳng định một ý tưởng vĩ đại mà như người đồng hương của Phan Bội Châu trước đó nửa thế kỉ đã nhiều lần rồi:
    Đã mang tiếng ở trong trời đất,
    Phải có danh gì với núi sông.
    (Nguyễn Công Trứ)
    Quan niệm về công anh, về chí nam nhi của Phan Bội Châu mới mẻ, tiến bộ, hướng về Tổ quốc và nhân dân, như ông đã viết: Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ. Tất cả vì nước, vì dân chứ không phải vì nghĩa vua – tôi: Dân là dân nước, nước là nước dân”.
    – Hai câu luận
    Nêu lên một quan niệm sống đẹp của kẻ sĩ trước thời cuộc và lịch sử dân tộc. Non sông đã chết, một cách nói rất hay, cảm động về nỗi đau thương của đất nước ta, nhân dân ta đang bị thực dân Pháp thống trị. Trong Hải ngoại huyết thư, tác giả viết: hồn nước bơ vơ. Kẻ nam nhi, kẻ sĩ lập công danh trước hết bằng con đường học hành và thi cử. Một ý thơ phủ định về cách học cũ kĩ lạc hậu là đọc sách thánh hiền (đạo nho)… cách học ấy rất lạc hậu, vô nghĩa, càng học càng ngu, càng u mê. Đây là hai câu có tư tưởng sâu sắc, tiến bộ nhất, cho thấy Phan Bội Châu là một chí sĩ tiên phong:

    Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
    Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.
    – Hai câu kết
    Hình tượng thơ kì vĩ lên một chí lớn mang tầm vũ trụ. Không phải gió nhẹ mà là trường phong. Không phải quanh quẩn chốn quan trường hoặc nơi trường thi chật hẹp, mà là đi ra biển Đông với một sức mạnh phi thường, cùng bay lên với ngàn lớp sóng bạc. Đây là những câu thơ đẹp nhất của Phan Bội Châu biểu lộ một bầu nhiệt huyết:
    Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
    Thiên trùng bạch lăng nhất tề phi.
    Kết bài
    Vẫn là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bằng chữ Hán. Giọng thơ trang nghiêm, đĩnh đạc hào hùng, mạnh mẽ, lôi cuốn.
    Thể hiện một chí lớn phi thường: không cam tâm làm nô lệ, quyết đi tìm đường cứu nước. Không phải là khẩu khia mà sự thật lịch sử đã xác nhận Phan Bội Châu đã sống và hành động như thơ ông đã viết ra.
    Lưu biệt khi xuất dương mang âm điệu anh hùng ca, chứa chan tình yêu nước và quyết tâm lên đường cứu nước.

  • Văn mẫu: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

    Văn mẫu: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

    Văn mẫu: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan500 bài văn mẫu hay nhất lớp 11

    Top 9 bài phân tích, dàn ý bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu hay nhất

    Phần Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Dàn ý Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
    2. 4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
    3. Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương
    4. 2 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

  • UBND TỈNH NGHỆ AN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN X Y DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

    UBND TỈNH NGHỆ AN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN X Y DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

    UBND TỈNH NGHỆ AN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%C4%90%E1%BA%A8Y-M%E1%BA%A0NH-%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG-B%E1%BA%A2NG-C%C3%82N-B%E1%BA%B0NG-%C4%90I%E1%BB%82M-TRONG-TH%E1%BB%B0C-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: UBND TỈNH NGHỆ AN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

    UBND TỈNH NGHỆ AN

    ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 

    Thực hiện chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới tỉnh Nghệ An mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực, điều kiện tự nhiên, thời tiết, cơ chế quản lý,… Nhưng Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng Nông thôn mới các cấp đã triển khai quyết liệt, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh; sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc của các tổ chức đoàn thể quần chúng và nhân dân trong tỉnh. Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới đã đạt được một số kết quả nhất định.

    Đến 30 tháng 6 năm 2019, Nghệ n có 226/431 xã đạt 19/19 tiêu chí Nông thôn mới (trong đó có 218 xã đã được tỉnh công nhận xã đạt chuẩn Nông thôn mới) và 667 thôn/bản đã đạt chuẩn Nông thôn mới. Có 03 đơn vị hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới là: Thị xã Thái Hoà, thành phố Vinh và huyện Nam Đàn. Tiêu chí bình quân/xã toàn tỉnh là 15,87 tiêu chí/xã.

    Nhằm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới một cách hiệu quả, chất lượng cũng như đẩy mạnh phong trào xây dựng Nông thôn mới tại các địa phương và đặc biệt là đối với các vùng miền núi đặc biệt khó khăn, Nghệ n đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các địa phương đồng thời ban hành được nhiều cách làm hay, sáng tạo như: Chính sách hỗ trợ xi măng làm đường giao thông Nông thôn, thưởng công trình phúc lợi cho các xã đạt chuẩn Nông thôn mới; xây dựng xã Nông thôn mới kiểu mẫu; xây dựng thôn/bản Nông thôn mới,…

    Trong đó, để tuyên truyền, phổ biến, tạo động lực cho các xã và các thôn/bản đạt chuẩn Nông thôn mới trong toàn tỉnh tiếp tục duy trì, nâng cao các tiêu chí nông thôn mới và xây dựng thành công xã nông thôn mới kiểu mẫu, xã nông thôn mới nâng cao. Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ n đã phát động và triển khai cuộc thi mẫu “Xã nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”, đây là cuộc thi lần đầu tiên được tổ chức tại Nghệ n cũng như trên toàn quốc. 

    Là một trong những cách làm sáng tạo về xây dựng Nông thôn mới tỉnh Nghệ An, nhằm phát hiện, tôn vinh những xã, thôn/bản tiêu biểu trong phong trào xây dựng nông thôn mới; tạo động lực thúc đẩy phong trào ngày càng rộng khắp, đi vào chiều sâu mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, là tiền đề cho các xã, thôn/bản Nông thôn mới đẹp làm mẫu cho các địa phương khác học tập, nhân rộng. Đây cũng là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng thành công xã Nông thôn mới kiểu mẫu và xã Nông thôn mới nâng cao gắn xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh với phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu trong khu vực nông thôn.

    Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành quyết định thành lập Ban tổ chức cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”, cơ quan Thường trực Văn phòng Nông thôn mới tỉnh Nghệ n đã phối hợp với các sở, ban, ngành cấp tỉnh tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch tổ chức cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản nông thôn mới đẹp năm 2018”; thể lệ cuộc thi và ban hành Bộ tiêu chí và 154 thang điểm cho cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”. Theo đó, đối tượng tham gia cuộc thi là các xã đã đạt chuẩn Nông thôn mới của tỉnh và các thôn/bản đã đạt chuẩn Nông thôn mới của 11 huyện miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Bộ tiêu chí chấm điểm “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” gồm có 15 nội dung; Tiêu chí chấm điểm “Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” có 9 nội dung.

    Căn cứ kế hoạch và Bộ tiêu chí chấm điểm “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản Nông thôn mới năm 2018”; UBND các huyện, thành phố, thị xã tổ chức cuộc thi để lựa chọn các xã, thôn/bản tốt nhất tham gia dự thi cuộc thi cấp tỉnh. Đây là lần đầu tiên tỉnh Nghệ An tổ chức cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”, nhưng cuộc thi đã nhận được sự đồng tình hưởng ứng của các cấp, các ngành, các địa phương và nhất là sự hào hứng, phấn khởi của bà con nhân dân, mặc dù trong thời gian ngắn các đơn vị tham gia đã có sự chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc. 

    Tuy nhiên, bên cạnh đó việc tổ chức triển khai cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” cũng gặp một số khó khăn như: lần đầu tiên tổ chức cuộc thi nên đã gặp không ít khó khăn, bỡ ngỡ, việc triển khai cuộc thi còn nhiều lúng túng, số lượng xã, thôn/bản tham gia cuộc thi chưa nhiều, công tác tuyên truyền tại một số địa phương còn yếu, chất lượng và số lượng các xã, thôn (bản) dự thi chưa cao; việc tham mưu ban hành bộ tiêu chí và thang điểm chấm còn chưa sát với thực tế tại địa phương.

    Có 17 xã và 03 thôn/bản của 14 huyện, thành phố, thị xã được Ban tổ chức cuộc thi cấp huyện lựa chọn tham gia chung kết cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”, Cuộc thi bao gồm 3 nội dung đó là chấm thi thực tế, thi phóng sự và thi thuyết trình. Kết quả xã Hưng Tân (huyện Hưng Nguyên) đã xuất sắc giành giải Nhất cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” với phần thưởng một tỷ đồng. Giải Nhì thuộc xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu) với phần thưởng 700 triệu đồng. Hai xã đạt giải Ba với phần thưởng 500 triệu đồng/xã; Năm xã đạt giải khuyến khích với phần thưởng 400 triệu đồng/xã. Ngoài ra Ban tổ chức cuộc thi cũng trao các giải phụ như: xã có cảnh quan môi trường xanh sạch đẹp; có đường giao thông, đường hoa đẹp; có miền núi đẹp tiêu biểu; xã có bố trí sắp xếp quy hoạch dân cư hợp lý…

    Giải nhất thôn (bản) nông thôn mới đẹp được trao cho thôn Nghĩa Chính, xã Nghĩa Lâm (Nghĩa Đàn) với phần thưởng trị giá 300 triệu đồng. 

    Sau khi tổ chức Cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” đã góp phần thúc đẩy phong trào thi đua xây dựng Nông thôn mới ngày càng rộng khắp trên địa bàn từng xã. Mặc dù trong một khoảng thời gian ngắn nhưng thông qua cuộc thi các xã đã tổ chức rà soát, đánh giá và hoàn thiện, nâng cao các tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo các quy định. Qua cuộc thi đã phát hiện những cách làm hay, sáng tạo trong phong trào xây dựng nông thôn mới ở các xã để từ đó nhân rộng các mô hình hay cho các xã học tập. 

    Cuộc thi đã có tác động tích cực tới việc xây dựng xã Nông thôn mới nâng cao và xã Nông thôn mới kiểu mẫu như sau:

    Thứ nhất, Sau khi tham gia cuộc thi, các xã Nông thôn mới kiểu mẫu (xã Kim Liên huyện Nam Đàn, xã Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu, xã Sơn Thành huyện Yên Thành) cũng như các xã đạt chuẩn Nông thôn mới trong toàn tỉnh đã tiếp tục phát huy 155 những kết quả đạt được, tiếp tục tiến hành và huy động nguồn lực để hoàn thiện nâng cao các tiêu chí Nông thôn mới kiểu mẫu. Đến nay, đã có nhiều đoàn trong và ngoài tỉnh đến tham quan, học tập kinh nghiệm xây dựng NTM tại các xã đạt giải cao trong cuộc thi để áp dụng cho địa phương mình. 

     

    Thứ hai, các xã đã tiếp tục giữ vững các tiêu chí hiện có, hoàn thiện nâng cao các tiêu chí còn yếu, đồng thời tiếp tục rà soát, khắc phục các khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế, triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập, giải quyết thêm nhiều việc làm tại địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, địa phương phát triển, phấn đấu sớm đạt chuẩn Nông thôn mới nâng cao và Nông thôn mới kiểu mẫu. Thứ ba, Việc thực hiện xây dựng xã, xóm “Xanh – Sạch – Đẹp”: Đã cho hiệu quả bước đầu: Nhiều tuyến đường hoa cây xanh, đường hoa được hình thành; Hệ thống đế cờ, cụm cờ cổ động được triển khai thực hiện đồng bộ; Trụ sở làm việc xã, Trường học, Trạm Y tế, nhà văn hóa xã, xóm được quan tâm vệ sinh môi trường, trồng hoa, trồng cây xanh bóng mát; Phong trào ngày chủ nhật xanh đã từng bước phát huy được hiệu quả, một bộ phận người dân đã có ý thức vệ sinh hàng ngày trên đường giao thông đoạn trước nhà mình, phát quang, cắt tỉa bờ rào, chỉnh trang vườn nhà, nhiều tuyến kênh mương được khơi thông, các tuyến đường giao thông được phát quang bờ bụi, tình trạng vứt rác thải bừa bãi, tập kết các loại vật liệu, củi gỗ,… trên các tuyến đường, kênh mương từng bước được hạn chế;… đã góp phần tạo cảnh quan môi trường từng xóm, từng xã xanh, sạch, đẹp. Hệ thống điện chiếu sáng công cộng trên các tuyến đường, trong khu dân cư được quan tâm đầu tư lắp đặt đồng bộ hơn.

    Cuộc thi “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” của tỉnh Nghệ n đã thu được nhiều hiệu quả tích cực, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong phong trào thi đua xây dựng Nông thôn mới tại các địa phương. Với sự ủng hộ của các ngành, các địa phương, sự hào hứng của người dân, Nghệ n kính đề nghị Trung ương chỉ đạo, khuyến khích các địa phương trên toàn quốc căn cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương để tổ chức cuộc thi tạo hiệu ứng lan tỏa đẩy mạnh phong trào xây dựng Nông thôn mới trên toàn quốc. Trung ương tổ chức thi theo cụm, theo vùng và tiến tới tổ chức cuộc thi trên phạm vi cả nước. 

    Trên đây là đánh giá tác động của việc tổ chức mô hình Hội thi xã, thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018 đến xây dựng xã Nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Nghệ An./.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

    ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

    ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%C4%90%E1%BA%A8Y-M%E1%BA%A0NH-%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG-B%E1%BA%A2NG-C%C3%82N-B%E1%BA%B0NG-%C4%90I%E1%BB%82M-TRONG-TH%E1%BB%B0C.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP


     CN. Trần Minh Loan
    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
     ThS. Lê Thị Thanh Huyền
    Học viện Ngân hàng, Phân viện Phú Yên


     Tóm tắt: Bảng cân bằng điểm (BSC) là một hệ thống đo lường, chuyển tầm nhìn và chiến lược của một doanh nghiệp thành những mục tiêu và thước đo cụ thể trên phương diện tài chính và phi tài chính, giúp các nhà lãnh đạo hướng con người, nguồn lực về một chiến lược thống nhất. Thực tế đã có những tập đoàn lớn trên thế giới thành công nhờ ứng dụng BSC và các doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang dần tiếp cận với mô hình này.
    Từ khóa: Bảng cân bằng điểm – BSC.
     Xây dựng chiến lược hoạt động là rất cần thiết và quan trọng cho bất kỳ một doanh nghiệp nào. Tuy nhiên, có chiến lược thì vẫn chưa đủ, mà cần phải hiện thực hóa chiến lược. Điều khiến không ít các doanh nghiệp bối rối là đề ra chiến lược rồi nhưng làm thế nào để hiện thực hóa chiến lược ấy. Vấn đề ở đây là: Chiến lược được xây dựng không thể đo lường được và có khoảng trống giữa tầm nhìn của lãnh đạo và nhận thức của nhân viên. Trước hết, chiến lược cần phải đo lường được vì nếu không đo lường được thì không có cách nào để quản lý, thực hiện được. Hai là, khi người lãnh đạo biết doanh nghiệp của mình phải làm gì, hướng tới đâu nhưng các cộng sự, nhân viên của họ lại không hiểu và không cùng hướng tới mục tiêu chung thì chiến lược cũng không thể thực hiện được. Nhân viên, cộng sự thường tỏ ra bối rối không rõ thực hiện chiến lược này thế nào, chiến lược này liên quan gì đến công việc hàng ngày của họ, họ phải làm gì khác đi hoặc tốt hơn so với trước, đồng thời họ đặt câu hỏi: Nếu làm như thế thì tôi sẽ được cái gì? Để khắc phục thực trạng này, sử dụng “Bảng điểm cân bằng” (Balance Score Card – BSC) sẽ là một công cụ hữu ích.

    1.1.Bảng cân bằng điểm

    “Bảng cân bằng điểm” (Balance Scorecard – BSC) do Giáo sư Robert S.Kaplan (Trường đại học kinh doanh Harvard) và cộng sự của ông là David Norton phát triển vào những năm đầu của thập kỷ 90. Đây là một hệ thống quản lý và lập kế hoạch chiến lược được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức phi lợi nhuận, chính phủ, ngành công nghiệp và kinh doanh trên toàn thế giới. BSC nhằm mục đích sắp xếp các hoạt động kinh doanh hướng vào tầm nhìn và chiến lược của doanh nghiệp, cải thiện thông tin liên lạc trong và ngoài doanh nghiệp, giám sát hoạt động của doanh nghiệp dựa trên các mục tiêu chiến lược. Nó mang đến cho các nhà quản lý và các quan chức cấp cao trong các doanh nghiệp một cái nhìn cân bằng hơn về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 91 Hình 1. Mô hình bảng cân bằng điểm BSC giải mã chiến lược với sự cân bằng giữa: thước đo bên trong và bên ngoài, thước đo khách quan và chủ quan, kết quả hoạt động hiện tại và động cơ của kết quả hoạt động trong tương lai. BSC là một hệ thống đo lường, chuyển tầm nhìn và chiến lược của một doanh nghiệp thành những mục tiêu và thước đo cụ thể trên 4 phương diện: phương diện tài chính, phương diện khách hàng, phương diện hoạt động kinh doanh nội bộ, phương diện học hỏi và phát triển.

    * Phương diện tài chính

    Bên cạnh những thước đo tài chính mang tính truyền thống, BSC bổ sung thêm những thước đo khác như: giá trị kinh tế gia tăng, doanh thu trên nguồn vốn thuê ngoài, đánh giá rủi ro và các cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ cho hoạt động phân tích chi phí – lợi ích. Bảng 1. Phương diện tài chính Thƣớc đo đánh giá thành quả Chiều thay đổi mong muốn Lợi nhuận từ hoạt động + Sự thay đổi lợi nhuận hoạt động do tăng trưởng + Sự thay đổi lợi nhuận hoạt động do giá + Sự thay đổi lợi nhuận hoạt động do năng suất + ROI, EVA + … Các thước đo của phương diện tài chính giúp cho việc phân tích chiến lược trong doanh nghiệp, doanh nghiệp có thành công trong thực hiện chiến lược cạnh tranh hay không. Nếu chiến lược của doanh nghiệp là chiến lược sản phẩm khác biệt, thì lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp phải tăng lên chủ yếu do nhân tố tăng giá, lúc đó mới đánh giá chiến lược này thành công. Nhưng nếu chiến lược của doanh nghiệp là chiến lược dẫn đầu về chi phí, thì lợi nhuận Tài chính Khách hàng Chiến lược Hoạt động KD nội bộ Học hỏi và phát triển Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 92 hoạt động của doanh nghiệp phải tăng lên chủ yếu do nhân tố tăng năng suất.

    * Phương diện khách hang

     Với nhận định về tầm quan trọng ngày càng cao của mối quan hệ giữa độ thỏa mãn của khách hàng với kết quả hoạt động của doanh nghiệp, BSC đưa thêm những thước đo như thị phần, thị phần khách hàng cụ thể, sự giữ lại khách hàng cũ, lòng trung thành của khách hàng, sự thu hút khách hàng mới, sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, lợi nhuận từ khách hàng. Bảng 2. Phương diện khách hàng Thƣớc đo đánh giá thành quả Chiều thay đổi mong muốn Thị phần + Thị phần khách hàng cụ thể + Sự giữ lại khách hàng cũ, lòng trung thành của khách hàng + Sự thu hút khách hàng mới + Sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng + Lợi nhuận từ khách hàng + … Thị phần có thể được đo lường bởi số lượng khách hàng, doanh thu hay số lượng sản phẩm được bán. Thước đo để sử dụng đo lường lòng trung thành của khách hàng là sự ở lại của khách hàng từ kỳ này sang kỳ khác, tỷ lệ phát triển của khách hàng hiện tại. Sự thu hút khách hàng mới có thể được đo lường thông qua các thước đo như số lượng khách hàng mới, tổng doanh thu đối với khách hàng mới trong thị trường mục tiêu. Việc đo lường sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là tín hiệu phản ánh kết quả rõ ràng nhất về việc doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả như thế nào, ít nhất là đối với khách hàng hiện tại. Với việc tiếp cận chi phí dựa trên mức độ hoạt động cho phép doanh nghiệp đánh giá lơi nhuận thu được từ các khách hàng, cũng như lợi nhuận thu được từ các khách hàng riêng lẻ.

    * Phương diện hoạt động kinh doanh nội bộ

     Khi một doanh nghiệp nhận diện được những yếu tố thu hút, giữ lại và thỏa mãn khách hàng mục tiêu, nó có thể định ra tiêu chuẩn đánh giá quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ mà nó phải vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh. Sự ưu việt trong quy trình hoạt động được thể hiện thông qua các tiêu chuẩn đánh giá như thời gian, chất lượng, chi phí, sự cải tiến của quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ. Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 93 Bảng 3. Phương diện hoạt động kinh doanh Thƣớc đo đánh giá thành quả Chiều thay đổi mong muốn Tổng thời gian cung cấp hàng – Số lần giao hàng đúng hạn + Tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng trên tổng sản phẩm sản xuất + Số lượng tính năng mới của sản phẩm + Thời gian phát triển sản phẩm mới – Thời gian huấn luyện khách hàng sử dụng sản phẩm – …

     * Phương diện học hỏi và phát triển

     Trong bất cứ tổ chức nào, nhân lực là nguồn lực quan trọng góp phần hiện thực hóa mọi kế hoạch, chiến lược. Vì vậy nhu cầu học, đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên là một hoạt động cần triển khai thường xuyên. BSC cho phép nhà quản lý nhận biết nhu cầu học, đào tạo về kỹ năng cũng như về văn hóa doanh nghiệp, quan trọng hơn là việc nhận biết các thứ tự ưu tiên trong hoạt động học – đào tạo sẽ giúp cho doanh nghiệp đầu tư đúng hướng. Bảng 4. Phương diện học hỏi và phát triển Thƣớc đo đánh giá thành quả Chiều thay đổi mong muốn Sự thỏa mãn của nhân viên + Sự giữ được nhân viên + Năng suất làm việc của nhân viên + … Bốn phương diện này là một sự kết nối logic, nghiên cứu và tăng trưởng dẫn tới các quá trình kinh doanh sản xuất tốt hơn, qua đó làm tăng giá trị cho khách hàng và cuối cùng có tác dụng cải thiện kết quả hoạt động tài chính.

    1.2.Sự cần thiết ứng dụng bảng cân bằng điểm trong việc hiện thực hóa chiến lƣợc của doanh nghiệp

    Trong thời kỳ cạnh tranh công nghiệp, các doanh nghiệp đã xây dựng và phát triển hệ thống kiểm soát tài chính nhằm kiểm soát, đánh giá sự hiệu quả trong việc sử dụng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Thời kỳ cạnh tranh thông tin, doanh nghiệp không chỉ dựa vào việc phát triển nhanh chóng kỹ thuật mới để tăng tài sản hữu hình hay dựa vào việc quản lý tốt tài sản hữu hình và nguồn vốn để tạo ra lợi thế cạnh tranh, mà cần phải tập trung khai thác các tài sản vô hình. Trong thời kỳ này, hầu hết giá trị của một doanh nghiệp gắn với các quá trình cải tiến, các mối quan hệ khách Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 94 hàng và nguồn nhân lực. Hệ thống tài chính truyền thống không đủ mạnh để định giá trị chính xác của những tài sản vô hình này. Các yếu tố nhân lực, quy trình quản lý, chất lượng, khả năng sáng tạo, quan hệ với khách hàng… không thể xuất hiện trên bảng cân đối kế toán, khó có thể đo đếm được nhưng chúng có giá trị bền vững, là tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp. Nếu tập trung đầu tư vào đào tạo, tạo động cơ thúc đẩy nhân viên thì sẽ tạo ra động lực phát triển doanh nghiệp. Việc đo lường chính xác các giá trị kể trên sẽ giúp các doanh nghiệp cải thiện được tình hình hiện tại, thậm chí trong thời khó khăn. Tất cả điều đó đều có thể đo lường, đánh giá được thông qua bảng cân bằng điểm – thước đo đầy đủ giá trị về mặt tài chính, vật chất cũng như những yếu tố phi vật chất.

     * Bảng cân bằng điểm: Hệ thống quản lý chiến lược

     BSC có thể được sử dụng như một hệ thống quản lý nhằm thực hiện chiến lược ở mọi cấp độ của tổ chức thông qua các chức năng sau: – Vạch rõ chiến lược – Quá trình chuyển các mục tiêu chiến lược thành các thước đo có thể đo được chỉ rõ sự am hiểu về chiến lược của đội ngũ quản lý và giúp phát triển một sự đồng thuận gắn kết. – Truyền tải các mục tiêu chiến lược – BSC có thể truyền tải những mục tiêu ở mức độ cao thành các mục tiêu trong quá trình hoạt động và truyền đạt chiến lược hiệu quả xuyên suốt tổ chức. – Lập kế hoạch, xây dựng mục tiêu và sắp xếp các sáng kiến chiến lược. Các mục tiêu nhiều tham vọng nhưng có thể thực hiện được được xây dựng cho mỗi khía cạnh và các sáng kiến được phát triển để thực hiện các mục tiêu đó. – Đào tạo và phản hồi chiến lược – Các nhà quản lý cấp cao nhận phản hồi về việc liệu quá trình thực thi chiến lược có đang được thực hiện theo kế hoạch đề ra hay không và liệu bản thân chiến lược có thành công hay không. Những chức năng này đã biến BSC thành một hệ thống quản lý hiệu quả trong quá trình thực thi chiến lược.

    1.3.Thực trạng ứng dụng bảng cân bằng điểm trong doanh nghiệp

    Không phải ai cũng có những đóng góp quan trọng cho nghệ thuật kinh doanh và đặc biệt là khoa học chiến lược kinh doanh như Robert S. Kaplan. Bảng cân bằng điểm của ông là một công cụ hàng đầu để sắp xếp các hành động hiện thời của một công ty với những mục tiêu chiến lược đã đề ra. Hệ thống quản lý kết quả hoạt động này giúp các nhà lãnh đạo kinh doanh xác định rõ tầm nhìn chiến lược của họ và lái con người, các đơn vị kinh doanh và nguồn lực hướng về một chiến lược thống nhất.

    * Thành công của những tập đoàn tên tuổi trên thế giới nhờ ứng dụng BSC

     – UPS: Kéo khách hàng trở lại nhờ BSC
     Dịch vụ chuyển phát nhanh UPS của Mỹ thực sự đang trong tình trạng nợ chồng chất khi họ bắt đầu thực hiện thực thi BSC. Trên thực tế, UPS là một trong những công ty có sức lôi cuốn khách Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 95 hàng nhất trong ngành công nghiệp giao nhận trong hơn một thập kỷ. Nhưng UPS vẫn muốn tiếp tục cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh hơn nữa. Và họ đã làm được điều này sau khi thực hiện BSC. Họ sắp xếp và hướng tầm nhìn cho tương lai để đảm bảo rằng mỗi nhân công đều hiểu rằng những đóng góp của anh ta có ảnh hưởng như thế nào tới kết quả hoạt động cuối cùng của công ty. Một nhà quản lý của UPS đã mô tả tác động của quá trình chuyển đổi sau khi thực hiện chương trình BSC như sau: “Nhà cung cấp dịch vụ khi đứng trước khách hàng giờ đây như một người bán hàng, quảng bá về công ty và phát triển doanh thu bán hàng”. Kết quả là UPS được vinh danh là Công ty của năm 1999 do tạp chí Forbes bình chọn. Mỗi nhân viên cần phải biết những đóng góp của họ có ảnh hưởng như thế nào tới nhiệm vụ: sức mạnh của phương pháp tiếp cận BSC nằm ở quá trình điều chỉnh, sắp xếp tầm nhìn và nhiệm vụ xuyên suốt tổ chức và làm cho các nhân viên cảm thấy giá trị của họ. Sau khi được đào tạo áp dụng BSC, thậm chí những nhân viên nhà ăn cũng thấy được trách nhiệm tạo ra một môi trường thoải mái cho bữa ăn trưa cho các nhân viên còn lại. Khi nhận thấy đang dần mất khách hàng, các nhà lãnh đạo của UPS đã yêu cầu nhân viên gọi điện trực tiếp cho từng khách hàng hiện thời để xác định rõ những mong muốn của họ, và sau đó chào mời những gói dịch vụ phù hợp hơn với những mong muốn của họ. Quá trình này đòi hỏi các nhân viên học cách đặt câu hỏi cho khách hàng và thu thập phản hồi của họ để cải tiến. UPS đã giảm được 75% số khách hàng bỏ đi và học được cách thay đổi dịch vụ để duy trì lợi thế cạnh tranh.
    – Tập đoàn Hilton: Chiến lược marketing đặc biệt từ BSC
     Tập đoàn khách sạn Hilton đã bắt đầu áp dụng BSC từ năm 1997 và kể từ đó họ đã coi phương pháp là nền tảng để chuyển từ tầm nhìn chiến lược của công ty sang chiến lược marketing, quản lý thương hiệu và quá trình hoạt động cũng như một loạt các nhóm cấu thành khác bao gồm cả khách sử dụng dịch vụ của khách sạn, các cổ đông của công ty và các nhân viên của Hilton. BSC của Hilton không chỉ giữ điểm mà còn phục vụ theo cách xác định và ưu tiên những hoạt động sẽ có thể cải thiện điểm, thực thi hành động đúng đắn và ghi nhận sự cải thiện. Chuỗi giá trị của Hilton cho thấy sự nổi bật của cải thiện không ngừng giữa những mắt xích khác kết nối tầm nhìn và chiến lược với marketing, hệ thống điều hành và tài chính. Trước hết chiến lược của công ty được kiểm tra về khả năng có thể nuôi dưỡng tầm nhìn hay không. Sau đó chiến lược và các chiến thuật marketing được phát triển, kết quả tạo ra những chỉ số thể hiện kết quả hoạt động cụ thể và các mục tiêu hợp thành BSC. Hilton đặt ưu tiên hàng đầu cho việc cải thiện các chiến lược, và quá trình kinh doanh, và BSC bằng hướng tới việc đảm bảo rằng những nhân tố thúc đẩy giá trị mô tả chân thực cách thức công ty có thể thực hiện tốt nhất những mục tiêu đề ra. Cải thiện liên tục Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 96 không ngừng của bảng điểm cân bằng Hilton là một quá trình đa giai đoạn nhằm xác định chính xác phương hướng hành động. Mặc dù đã có thương hiệu nổi tiếng, Hilton vẫn chú ý thu hút khách sử dụng dịch vụ ngay từ những lần đầu tiên, duy trì khả năng lợi nhuận ổn định, trong dài hạn dựa vào sự trung thành của khách hàng. Tuy nhiên khi sử dụng BSC, Hilton đã có thể tăng hơn 3% lợi nhuận biên so với những khách sạn cung cấp dịch vụ đầy đủ khác. Trong giai đoạn 2000 – 2002, kết quả này đã chuyển thành quá trình gia tăng 100% trên giá cổ phiếu của tập đoàn.

     * Áp dụng BSC của các doanh nghiệp Việt Nam

    Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhận thức rõ mối quan hệ giữa xây dựng chiến lược với điều hành và phát triển doanh nghiệp, ngày càng quan tâm đến gắn kết tầm nhìn chiến lược với thực tiễn hoạt động sản xuất – kinh doanh. Đây chắc chắn là một tiền đề tốt để các doanh nghiệp tiến những bước vững chắc trong xây dựng kế hoạch chiến lược phù hợp với lợi thế cạnh tranh của mình và phản ứng nhanh chóng với những thay đổi của thị trường. Các doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang sử dụng BSC nhằm giúp cân bằng các chỉ số tài chính đã có trong quá khứ và triển vọng tài chính trong tương lai. Đồng thời, BSC cũng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc hoạch định và áp dụng các chiến lược khác nhau trong những biến động thăng trầm của nền kinh kế. BSC rất phổ biến và được ưa chuộng trên thế giới. Ở Việt Nam, BSC đã và đang được áp dụng tại các tổ chức có yếu tố nước ngoài và các công ty lớn như FPT, GAMI hay SEAREFICO… Tuy nhiên, phần nhiều các công ty nhỏ ở Việt Nam chỉ dừng lại ở việc phân tích điểm mạnh – yếu trong hoạt động hàng năm, rồi đề ra chiến lược cho năm sau. Việc triển khai cụ thể công việc đến từng bộ phận thì vẫn còn nhiều lúng túng. Hơn nữa, các công ty nhỏ đa phần chỉ tập trung triển khai chiến lược về tài chính, doanh số chứ chưa chú trọng đến quy trình nội bộ hay con người. BSC vẫn còn là phương pháp hoạch định chiến lược khá mới mẻ ở Việt Nam, bởi các công ty nhỏ trong nước vẫn chưa quen phân tích chiến lược phát triển dựa trên bốn phương diện của BSC. Phổ biến vẫn là quan niệm xem nhân viên là nguồn nhân sự, tức chỉ cần quản lý sơ yếu lý lịch của họ, thay vì xem họ là nguồn nhân lực, tức tài nguyên của công ty.

    1.4.Một số ý kiến về việc ứng dụng Bảng cân bằng điểm

     
    BSC là một công cụ hữu ích không chỉ trong xây dựng chiến lược mà cả trong việc xác định mục tiêu cụ thể của từng bộ phận và cá nhân trong tổ chức, doanh nghiệp. Sử dụng BSC cho phép một tổ chức vượt xa ra ngoài những con số tài chính đo lường hiện tại để tiến xa hơn tới những chỉ số dự báo khả năng sinh lời trong tương lai. BSC là phương pháp nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu cụ thể, Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 97 những phép đo và chỉ tiêu rõ ràng bằng việc thiết lập một hệ thống đo lường hiệu quả trong quản lý công việc. Hệ thống này giúp định hướng hành vi của toàn bộ các bộ phận và cá nhân trong công ty – để mọi người cùng hướng tới mục tiêu chung cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và làm cơ sở cho hệ thống quản lý và đánh giá công việc. Việc giải thích định hướng chiến lược yêu cầu xác định rõ ràng những gì còn mơ hồ trong định hướng chiến lược của tổ chức. Để thực hiện chiến lược thành công thì mọi phòng ban, bộ phận trong tổ chức đều phải hiểu rõ chiến lược và thực hiện công bằng, không phân biệt. u điểm của BSC là quán triệt và đồng nhất được mục tiêu chiến lược của cả cấp trên và cấp dưới, hướng toàn bộ tổ chức vào những khâu chính để thực hiện sự đột phá. Phương pháp này đòi hỏi sự đồng tâm của toàn tổ chức, cần nhiều thời gian và nguồn lực. Đồng thời để thực hiện thành công BSC, bên cạnh việc áp dụng tốt, các tổ chức nên có sự điều chỉnh liên tục để phương phàp này ngày càng phù hợp với chiến lược, mục tiêu và hoạt động của mình. Với những doanh nghiệp lần đầu áp dụng BSC, không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ chi tiết theo đúng tiêu chuẩn của BSC. Các chỉ tiêu chiến lược chung nên được cụ thể hóa dần theo từng năm, mỗi năm lại xem xét để thực hiện với chiều sâu hơn. Hoặc BSC được áp dụng theo kiểu cuốn chiếu đến từng bộ phận, phòng ban trong công ty. Chẳng hạn, trước đây chỉ các bộ phận sản xuất, kinh doanh mới có chỉ tiêu cụ thể, thì dần dần các bộ phận khác như hành chính, kế toán cũng sẽ được giao chỉ tiêu, để cùng góp sức giải bài toán chiến lược công ty đã được lượng hóa. Tóm lại, một khi do doanh nghiệp đã có chiến lược hoạt động và việc áp dụng BSC sẽ giúp đẩy nhanh chiến lược phát triển công ty. Việc thất bại khi áp dụng phương pháp này chỉ xảy ra khi có người trong công ty chưa hiểu hết về BSC, hoặc công ty có hệ thống thông tin nội bộ không tốt.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    [1] Paul R Niven (tác giả). Dương Thị Thu Hiền (dịch giả). 2009. Blanced Scorecard – Thẻ điểm cân bằng – Áp dụng Mô hình quản trị công việc hiệu quả toàn diện để thành công trong kinh doanh, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. [2] Robert S. Kaplan. Anthony A. Atkinson. Advanced Management Accounting, 3th Edition. [3] Các trang web: http://www.vnba.org.vn; http://www.vietnamweek.net; http://www.ocd.com.vn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]