Author: Hải Yến

  • 2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Bình giảng một đoạn thơ trong bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ “Nhớ đồng” của Tố Hữu.

    Bài văn mẫu 1

    Tố Hữu hoạt động trong phong trào học sinh ở Huế, bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế 1939). Vào tù, Tố Hữu sáng tác nhiều bài thơ diễn tả tâm tình của một nhà cách mạng trẻ tuổi, sau này được tập hợp trong phần “Xiềng xích” của tập thơ “Từ ấy”. Bài thơ “Nhớ đồng”, là những dòng tâm tư nồng nhiệt, tha thiết, trong trẻo của nhà thơ trẻ hướng về ruộng đồng, quê hương, về những con người thân yêu, về những kỉ niệm của một thời hoạt động cách mạng sôi nổi.

    Bài thơ có lời đề “tặng Vịnh” (Nguyễn Chí Thanh) một người bạn đồng hương, cùng hoạt động cách mạng và cùng bị tù trong nhà giam Thừa Phủ. Có lẽ bài thơ được gợi hứng trực tiếp từ giọng hò của Vịnh trong những trưa tù cô quạnh:
    “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!”.
    Giọng hò của người bạn tù đã gợi lên hình ảnh đồng quê, thức dậy trong lòng nhà thơ tình yêu quê hương, xóm làng:
    “Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi
    Đâu ruồng tre mái thỏ yên vui
    Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn
    Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?”
    Điệp từ “đâu” tạo ra nhạc điệu tha thiết, diễn tá niềm thương nhớ trào dâng trong lòng nhà thơ trẻ. Các giác quan của thi sĩ được thức dậy với đồng quê. Hương vị đậm đà của gió, của đất, và tài hoa của Tố Hữu là chỉ một từ (cồn) gợi lên hình ảnh của xứ Huế “Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi”. Tác giả cũng tinh tế trong cảm nhận, nghe được hơi thở của “ruồng tre mát”, nhìn thấy từng ô mạ xanh mơn mởn, thấm được vị của “những nương khoai ngọt sắn bùi”.
    Trong nỗi nhớ đồng quê của nhà thơ chẳng những có tình cảm nồng nhiệt mà còn có tư tưởng, đây là nét mới so với các nhà thơ lãng mạn đương thời:
    “Đâu những đường con bước vạn đời
    Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi
    Giữa dòng ngày tháng âm u đó
    Không đổi, nhưng mà trồi cứ trôi…”
    Những “con đường” thân thuộc mà cũng chật chội quá, những xóm nhà tranh thương quá, sao mà nghèo! Một đồng quê tù đọng, “âm u”, “không đổi”! Nhìn ra sự bất biến của đồng quê, mà cũng là của xã hội đương thời, đã chớm nở tư tưởng muốn thay đổi, cách mạng!
    Sự “cựa quậy” về tư tưởng ấy dã làm xê động cả điệp khúc của bài thơ. Từ:
    “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò”.
    “Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh
    Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!”.
    Nhưng nhà thơ không tắt niềm tin tưởng vào cuộc sống. Nhà thơ gửi gắm niềm hi vọng vào những con người “lưng cong xuống luống cày”, những bàn tay gieo hạt”tung trời những sớm mai”:
    “Đâu những lưng cong xuống luống cày
    Mà bùn hi vọng nức hương ngây ,
    Và đâu hết những bàn tay ấy
    Vãi giống tung trời những sớm mai?”.
    Những hình ảnh khoa trương gợi nhớ bài thơ “Mùa gieo hạt, buổi chiều” của Huy-gô:
    “… Bóng đêm đầm mặt ruộng.
    Tơi tả áo quần dây
    Cụ già vung nắm giống
    Mùa sau xuống luống cày
    Dáng người cao đen sẫm
    Vời vợi trên đồng sâu
    Hẳn lòng người tin lắm
    Tháng ngày kia đến đâu…”
    Hay là:
    “Trong màn đêm lan rộng
    Nghe lẫn tiếng rì rào
    Cánh tay người gieo giống
    Như vươn tới trời sao…”
    (Tố Hữu dịch)
    Nổi bật lên trong nỗi “Nhớ đồng” là hình ảnh của những con người thân quen, ruột rà, mới gần gũi đây mà đã xa xôi, cách biệt:
    “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!
    Đâu bóng hình quen đâu cả rồi
    Sao mà cách biệt quá xa xôi”.
    Những con người đồng quê mà nhà thơ đã thân quen “tự thuở xưa”, và đã hiểu được bản chất, tâm tư, tình cảm cuộc sống trong những con người “dãi gió dầm mưa” đó:
    “Những hồn chất phác hiền như đất
    Khoai sắn tình quê rất thiệt thà!”.
    Và sâu thầm trong tâm hồn nhà thơ là nỗi nhớ mẹ già… Nỗi nhớ da diết dâng trào lên trong âm điệu trùng điệp đến nao lòng:
    “Chao ôi, thương nhớ, chao thương nhớ
    Ôi mẹ già xa đơn chiếc ơi!”.
    Rồi nhà thơ nhớ lại chính mình. Người thanh niên trong tù ngục, kiếm tìm lại những hình ảnh của người thanh niên “ngày xưa”:
    “Đâu những ngày xưa, tôi nhớ tôi
    Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”.
    Kỉ niệm không bao giờ phai nhoà trong tâm trí nhà cách mạng trẻ tuổi là những giây phút bắt gặp lí tưởng:
    “Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi
    Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
    Say đồng hương nắng vui ca hát
    Trên chín tầng cao bát ngát trời…”.
    Tác giả hồi tưởng lại một cách hết sức xúc động bằng hình ảnh so sánh thích hợp (nhẹ nhàng như con chim cà lơi), bằng lối khoa trương hồn nhiên (trên chín tầng cao bát ngát trời). Với cánh chim tự do, say sưa với hương đồng gió nội, “vui ca hát” trên không gian của đồng quê cao rộng, nhà thơ vừa hồi tưởng lại kỉ niệm đẹp đẽ của giây phút bắt gặp chân lí cách mạng, vừa diễn tả nỗi thèm khát của cánh chim tự do, nay bị nhốt trong lồng:
    “Tôi thu tất cả trong thầm lặng
    Như cánh chim buồn nhớ gió mây”.
    Bài thơ “Nhớ đồng” đã biểu hiện một cách chân thành và sinh động tâm tư của một nhà cách mạng trẻ tuổi bị lâm vào cảnh tù ngục. Nỗi khao khát cuộc sống tự do, tình cảm thương nhớ đồng quê, thương nhớ những người thân yêu… được biểu hiện bằng những hình ảnh, âm thanh sống động, trong trẻo.
    Chỉ tiếc là bài thơ nhiều lời; thơ là hình thức kết tinh nên càng cô đúc, kiệm lời thì thơ hay mới càng hay.

    Bài văn mẫu 2

    Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm mười sáu tuổi, ông được giác ngộ cách mạng và gia nhập Đoàn thanh niên Cộng sản. Năm mười tám tuổi, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuộc đời Tố Hữu gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Tố Hữu đã chứng kiến, tham dự và đóng góp vào quá trình lâu dài ấy với tư cách của một chiến sĩ cách mạng kiên cường và một nhà thơ mang hồn thơ của thời đại. Thơ Tố Hữu quy tụ và kết tinh truyền thống nhân văn cùng sức mạnh tinh thần của dòng giống Lạc Hồng bất khuất. Ông xứng đáng là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.

    Từ ấy (1937 – 1946) là tập thơ đầu tiên của Tố Hữu, đánh dấu thời điểm vô cùng quan trọng trong cuộc đời nhà thơ: được giác ngộ lí tưởng cộng sản và dứt khoát chọn cho mình con đường đi duy nhất đúng là con đường cách mạng giải phóng dân tộc ra khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến. Bài thơ Nhớ đồng sáng tác trong hoàn cảnh tác giả bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế) tháng 7 năm 1939 vì “tội” tuyên truyền thanh niên, học sinh chống Pháp.
    Nếu như bài Tâm tư trong tù được khơi nguồn từ những âm thanh quen thuộc của cuộc sống bên ngoài, bài Khi con tu hú được hình thành từ tiếng chim tu Hú báo hiệu hè về thì ở bài Nhớ đồng, cảm hứng thơ lại được gợi lên từ tiếng hò quen thuộc của quê hương làm xao động tâm hồn thi sĩ.
    Tố Hữu là người con của xứ Huế. Từ nhỏ, tâm hồn nhà thơ đã được nuôi dưỡng bằng mạch nguồn trong trẻo, ngọt ngào của những điệu ca, điệu hò nổi tiếng như Nam ai, Nam bình, mái nhì, mái đẩy… Vì thế mà tiếng hò có rất nhiều ý nghĩa đối với người tù trẻ tuổi mang trái tim thi sĩ. Giọng hò đã khơi dậy trong tâm tưởng nhà thơ bao hình ảnh của cuộc sống mến thương trên quê hương yêu dấu.
    Bài thơ Nhớ đồng phản ánh tâm trạng cô đơn, buồn nhớ của người tù trẻ tuổi bị tách biệt khỏi môi trường hoạt động sôi nổi, phải xa đổng bào, đồng chí thân thương. Ở Tâm tư trong tù, tâm trạng ấy được thể hiện một cách sôi nổi, mạnh mẽ ; còn ở Nhớ đồng thì lại thâm trầm, da diết. Nhớ đồng là cách nói để cụ thể hóa đối tượng của nỗi nhớ. Tuy trong nỗi nhớ có hiện lên những hình ảnh quen thuộc của đồng ruộng, xóm làng, nhưng mở rộng ra đó chính là nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân, nhớ những ngày được sống trong tình cảm yêu thương, nồng ấm.
    Bài thơ có thể chia làm bốn đoạn. Ba đoạn đầu là ba nỗi nhớ được thể hiện sau câu hỏi tu từ lặp đi lặp lại: Gì sâu bằng… Đoạn cuối gồm bốn khổ và hai câu đúc kết tâm sự của nhà thơ trong hiện tại.
    Nỗi nhớ trải dài suốt bài thơ được tác giả thể hiện bằng nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau. Trước hết, những câu hỏi tu từ được sử dụng làm điệp khúc: Gì sâu bằng những trưa thương nhớ, Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh. Đây là những câu thơ mang sắc thái nghệ thuật hiện đại của Thơ mới đã thể hiện nỗi nhớ da diết, khắc khoải và tâm trạng cô đơn tột cùng của người thanh niên giữa chốn ngục tù đế quốc.
    Câu thơ mở đầu mỗi khổ thơ được lặp lại nhiều lần nhấn mạnh mức độ mãnh liệt của nỗi nhớ thương. Gì sâu bằng là cấu trúc có ý khẳng định không gì sâu xa hơn, mạnh mẽ hơn; những trưa thương nhớ là những ngày nhà thơ phải sống trong xà lim biệt giam. Từ nghi vấn Gì kết hợp với tính từ sâu khiến câu thơ như một câu hỏi nhức nhối tâm can. Tác nhân gợi nhớ là tiếng hò quen thuộc của quê hương xứ Huế; giống như âm thanh của tiếng guốc đi về ờ bài Tâm tư trong tù. Đó là những âm thanh của đời thường luôn luôn vang vọng trong kí ức nhà thơ.
    Những ngày bị giam hãm trong tù, tâm hồn nhà thơ luôn hướng ra cuộc sống bên ngoài với tất cả nỗi nhớ thương và tình yêu mến. Tiếng hò ngân dài trên sông nước, văng vẳng lúc gần lúc xa đã làm sống dậy bao hình ảnh của cuộc sống mến thương trong tâm tưởng nhà thơ. Nhiều nhất là hình ảnh của mảnh đất cắt rốn chôn nhau cùng với những người dân quê lao động lam lũ, vất vả trên đồng ruộng:
    Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!
    Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi
    Đâu ruộng tre mát thở yên vui
    Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn
    Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?
    Đâu những đường con bước vạn đời
    Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi
    Giữa dòng ngày tháng âm u đó
    Không đổi, nhưng mà trôi cứ trôi…
    Đây là bức tranh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt của quê ngoại nhà thơ, một làng nhỏ với những cồn bãi mướt xanh cây trái, có chiếc cầu An Cựu lặng lẽ soi bóng xuống dòng Hương Giang lững lờ trôi. Khung cảnh thật đẹp và tình người ấm áp xiết bao! Vậy mà giờ đây, quê hương thân yêu chỉ cách có bức tường nhà lao mà sao xa vời vợi ?! Những câu hỏi đầy trăn trở cứ lặp đi lặp lại phản ánh nỗi nhớ thương, khắc khoải và hoài vọng đau đáu khôn nguôi:
    Đâu gió cồn thơm…, Đâu ruộng tre mát…, Đâu từng ô mạ…, Đâu những nương khoai…, Đâu những đường con…, Đâu nhà tranh thấp… ? Tất cả những gì gần gũi, thân quen của đời sống đều được Tố Hữu trân trọng miêu tả trong thơ. Tác giả cố gắng bắt lấy những hình ảnh, âm thanh của đời thường nhưng xiết bao gợi cảm đối với bản thân trong chốn lao tù. Giờ đây, nhà thơ chi có thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy khung cảnh quê hương trong tưởng tượng bằng trái tim chất chứa nhớ thương.
    Giọng điệu thơ da diết, thổn thức thể hiện nỗi nhớ khôn cùng đang cuộn xoáy, trào dâng trong lòng thi sĩ. cảm xúc dâng trào thốt lên thành lời thơ chân thành, xúc động:
    Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh,
    Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!
    Những người nông dân hiền như đất, quanh năm dãi nắng dầm sương, vất vả sớm trưa được nhà thơ nhắc đến với tình thương mến dạt dào. Cuộc sống cơ cực không thể làm mất đi vẻ đẹp khỏe khoắn, đáng yêu trong hình dáng và tâm hồn họ. Những hình dáng thân thương, bình dị với vẻ lam lũ cực nhọc lần lượt hiện về trong nỗi nhớ của nhà thơ:
    Đâu những lưng cong xuống luống cày
    Mà bùn hi vọng nức hương ngây
    Và đâu hết những bàn tay ấy
    Vãi giống tung trời những sớm mai ?
    Đâu những chiều sương phủ bãi đồng
    Lúa mềm xao xác ở ven sông
    Vẳng lên trong tiếng xe lúa nước
    Một giọng hò đưa hớ não nùng.
    Hình ảnh mẹ già và những người thân đã khuất cũng từ từ hiện lên trong dòng hồi ức khiến nỗi nhớ càng thêm da diết và trái tim thổn thức vô hạn, vô hồi:
    Đâu dáng hình quen, đâu cả rồi
    Sao mà cách biệt, quá xa xôi
    Chao ôi thương nhớ, chao thương nhớ
    Ôi mẹ già xa đơn chiếc ơi!
    Đâu những hồn thân tự thuở xưa
    Những hồn quen dãi gió dầm mưa
    Những hồn chất phác hiền như đất
    Khoai sắn tình quê rất thiệt thà!
    Điệp từ nghi vấn Đâu đặt ở đầu câu cùng với một loạt từ cảm thán đã diễn tả một cách tự nhiên và chân thực tình cảm gắn bó máu thịt của nhà thơ đối với cuộc sống và con người quê hương. Dường như người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi đang chìm đắm trong nỗi nhớ nhung, trong dòng hồi ức miên man không dứt. Người đọc cảm nhận rất rõ tâm trạng cô đơn, đau khổ của người tù lúc này.
    Sau nỗi nhớ đồng không thể nguôi ngoai, nhà thơ nhớ về những ngày đầu tiên được giác ngộ lí tưởng cách mạng. Mạch cảm xúc phát triển rất đúng với lôgíc tâm lí. Hai giai đoạn trong chặng đường tìm kiếm chân lí đã được nhà thơ khái quát trong hai khổ thơ:
    Đâu những ngày xưa, tôi nhớ tôi
    Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
    Vẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩn
    Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời.
    Đó là những ngày người thanh niên học sinh yêu nước đang băn khoăn trước bao ngã rẽ của cuộc đời, muốn thoát khỏi cuộc sống tù túng, ngột ngạt mà chưa tìm được lối ra bởi chưa được ánh sáng lí tưởng cộng sản soi đường. Nhớ lại những ngày tăm tối ấy là để cảm nhận rõ hơn niềm hạnh phúc lớn lao khi Mặt trời chân lí chói qua tim. Nhớ lại những ngày đầu hăng say bước đi trên con đường cách mạng với bao nhiêu hi vọng, lạc quan, tin tưởng là để nhận thức rõ hơn cảnh ngộ đáng buồn của mình hiện tại. Nhà thơ như chợt bừng tỉnh sau những ngày dài đắm chìm trong nỗi nhớ thương dằng dặc, trở về với niềm say mê lí tưởng, với khao khát tự do và hành động. Âm điệu thơ đang buồn bã đột nhiên chuyển sang vui vẻ, phấn chấn:
    Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi
    Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
    Say đồng hương nắng vui ca hát
    Trên chín tầng cao bát ngát trời…
    Mạch cảm xúc trong bài thơ được triển khai từ nỗi nhớ đồng, nhớ những bóng hình quen thuộc của quê hương, gia đình, nhớ mẹ già, nhớ những người đã khuất, nhớ những ngày đã qua và cuối cùng được cô đúc lại trong từ tất cả có ý nghĩa khái quát:
    Cho tới chừ đây, tới chừ đây
    Tôi mơ qua cửa khám bao ngày
    Tôi thu tất cả trong thầm lặng
    Như cánh chim buồn nhớ gió mây.
    Hình ảnh so sánh : Như cánh chim buồn nhớ gió mây đã thể hiện tài tình nỗi nhớ đồng, thực chất là nỗi nhớ quê hương, đồng bào, đồng chí, đồng thời là khao khát tự do mãnh liệt của người chiến sĩ cách mạng đang chịu cảnh tù đày.
    Hai câu kết là sự lặp lại của hai câu thơ đầu, tạo nên kết cấu vòng tròn. Bài thơ khép lại nhưng cảm xúc thơ vẫn tiếp tục mở rộng như nhiều vòng sóng đồng tâm, mỗi lúc một lan xa, tỏa rộng không giới hạn;
    Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh
    Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

    Bài thơ Nhớ đồng đã diễn tả thành công tâm trạng của người tù cộng sản. Những nỗi nhớ thương cứ lặp đi lặp lại thể hiện khao khát tự do cháy bỏng và tình yêu quê hương sâu sắc của người thanh niên yêu nước đang sục sôi nhiệt huyết. Đó cũng là động lực thúc đẩy người chiến sĩ – thi sĩ dấn thân vì sự nghiệp cách mạng giải phóng quê hương đất nước

  • Bình giảng một đoạn thơ trong bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    Bình giảng một đoạn thơ trong bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    Bình giảng một đoạn thơ trong bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:Bình giảng bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bà thơ “Nhớ đồng” của Tố Hữu:
    “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!
    Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi
    Đâu ruồng tre mát thở yến vui
    Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn
    Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?
    Đâu những đường còn bước vạn đời
    Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi
    Giữa dòng ngày tháng âm u đó
    Không đổi, nhưng mà trôi cứ trôi…”

    Bài văn mẫu

    Phần “Xiềng xích” trong tập thơ “Từ ấy” gồm 29 bài thơ. Từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1939, Tố Hữu đã viết một chùm thơ 9 bài. “Nhớ đồng” là bài số 7 được viết vào tháng 7 năm 1939.
    Nhan đề bài thơ là “Nhớ đồng ” và đó cũng là cảm xúc chủ đạo của Tố Hữu trong chốn ngục tù. Bài thơ gồm có 44 câu thơ nói lên bốn nỗi nhớ: 10 câu đầu là nỗi nhớ đồng quê; 10 câu tiếp theo nói lên nỗi nhớ những người dân cày lam lũ; 10 câu nối tiếp diễn tả lòng thương nhớ mẹ già và “những hồn thân tự thuở xưa”; 14 câu còn lại là tấm trạng “tôi nhớ tôi”, và thể hiện lòng khao khát tự do.

    Bài thơ có cấu trúc “phức điệu” đoạn 1 và 3 xuất hiện điệp khúc:
    “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!”
    Điệp khúc ấy được biến tấu thành:
    “Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh,
    Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!”
    đặt vào đầu đoạn 2 và cuối đoạn 4.
    Cấu trúc phức điệu ấy rất độc đáo nhằm biểu hiện những vòng xoáy da diết về nỗi nhớ đồng trong lòng người chiến sĩ trẻ đang bị đầy đoạ ở chốn ngục tù. Đấy là đoạn một bài thơ “Nhớ đồng”:
    “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

    Không đổi, nhưng mà trôi cứ trôi”.
    Từ ngày bị mật thám bắt, bị tù đầy giữa “lạnh lẽo bốn tường vôi khắc khổ”, nỗi nhớ đồng cứ diễn ra triền miên, nhất là những buổi trưa trong nhà tù. Nỗi nhớ ấy day dứt và thiết tha vô cùng, không thể nào nguôi. Tự đáy lòng thốt lên so sánh: “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ” Thế giới nhà tù, trong và ngoài song sắt đều “hiu quạnh”, rất vắng vẻ và buồn. “Hiu quạnh” đâu chỉ là ngoại cảnh nhà tù mà còn là tâm cảnh của “thân tù”. Trong khoảnh khắc “hiu quạnh” ấy, những buổi trưa, nhà thơ nhớ “một tiếng hò” nơi làng quê, thổn thức cả nỗi lòng:
    “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!”.
    Nhớ “một tiếng hò”, nhớ một khúc dân ca, nhớ một giọng hò mái nhì, mái đẩy, một giọng hò giã gạo của quê hương mà nhà thơ từng ôm ấp trong lòng:
    “Vẳng lên trong tiếng xe lùa nước,
    Một giọng hò đưa hố não nùng”.
    “Một tiếng hò” là hồn quê. Nhớ “một giọng hò” là nhớ đồng, là nhớ quê hương “nghĩa nặng tình sâu” đã bao ngày li biệt.
    Bốn câu thơ tiếp theo, chữ “đâu” được điệp lại, các câu hỏi tu từ liên tiếp xuất hiện, nỗi “nhớ đồng” day dứt khôn nguôi:
    “Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi,
    Đâu ruồng tre mát thở yên vui
    Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn
    Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?”.
    Vần thơ làm hiện lên một không gian nghệ thuật – bức tranh đồng quê; diễn tả một tâm trạng nghệ thuật ấy là nỗi nhớ đồng da diết. Nhớ hương vị quê hương, nhớ “gió cồn thơm đất nhả mùi”, nhớ luống cày, nhớ hương lúa; nhớ luỹ tre, ruồng tre bóng xanh trùm mát rượi “thở yên vui”. Chữ “thở” trong câu thơ “Đâu ruồng tre mát thở yên vui” được sử dụng tài tình, gợi tả âm thanh rì rào, lao xao của lá tre, khúc nhạc yên vui, êm đềm của làng quê ta bao đời nay. Một sự chuyển đổi cảm giác đầy thi vị. Nhớ đồng là nhớ “từng ô mạ xanh mơn mởn” – tươi đẹp và xanh non. Nhớ đồng là nhớ vị “bùi” của sắn, vị “ngọt” của khoai. Các tính từ – bổ ngữ: “thơm”, “mát”, “yên vui”, “xanh mơn mởn”ngọt”, “bùi”… đã tô đậm vẻ đẹp của đồng quê. Bức tranh quê trong hoài niệm hiện lên thân thuộc, bình dị, xinh đẹp và đáng yêu biết bao! Bị tù đày mà xa cách quê hương. Cảnh sắc quê hương giờ đây chỉ hiện lên trong hoài niệm, trong nỗi nhớ vơi đầy. Chữ “đâu” bốn lần xuất hiện: “Đâu gió cồn thơm…”, “Đâu ruồng tre mát..”, “Đâu từng ô mạ…”, “Đâu những nương khoai…” diễn tả một cách xúc động, đầy ám ảnh nỗi nhớ đồng gắn liền với nỗi đau buồn, cô đơn của nhà thơ đang bị đày đoạ trong chốn ngục tù.

    Hơn một nghìn ngày bị tù đày (1939 – 1942)., Tố Hữu có biết bao nỗi nhớ day dứt và triền miên trong lòng. Chợt nghe một tiếng chim tu tú gọi bầy mà nhớ “Vườn râm dậy tiếng ve ngân – Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào” (Khi con tu hú). Một màu xanh của đồng lúa, một tiếng hát “bơ vơ”, một ánh nắng chiều bên nương gợi lên bao nỗi nhớ quê, nhớ nhà vô cùng da diết:
    “Đồng xanh gợn nhớ quê hương
    Bơ vơ tiếng hát bên nương nắng chiều”.
    (Tiếng hát đi đày)
    “Nhớ đồng” là nhớ mãi nhớ hoài “Những hồn chất phác hiền như đất – Khoai sắn tình quê rất thiệt thà”. “Nhớ đồng” là nhớ mẹ già thương yêu:
    “Chao ôi thương nhớ, chao thương nhớ
    Ôi mẹ già xa đơn chiếc ơi!”
    Tiếng thơ cất lên nghe thật bồn chồn, tha thiết. Nhớ đồng, nhớ quê, nhớ mẹ già… là những nét rất đẹp trong hồn thơ Tố Hữu.
    Đoạn thơ tiếp theo nói lên nỗi nhớ những cảnh đời lầm than, tù đọng sau luỹ tre xanh:
    “Đâu những đường con bước vạn đời
    Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi
    Giữa dòng ngày tháng âm u đó
    Không đổi, nhưng mà trôi cứ trôi…”
    Không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật về nỗi “nhớ đồng” được mở rộng và khơi sâu thêm “những trưa thương nhớ…”, “những trưa hiu quạnh..”. Tiếng thơ cất lên tự hỏi: “Đâu những đường con bước vạn đời?”. Xa cách đã bao ngày hình bóng quê hương. Còn đâu nữa, ờ đâu rồi những con đường quê gập ghềnh xuôi ngược của bao kiếp người lam lũ, của mẹ ta, chị ta “Đòn gánh tre chín dạn hai vai” (Nguyễn Du),…? Còn đâu nữa, ở đâu rồi hình ảnh bình dị, thân thuộc đáng yêu: “Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi”. Một câu thơ có hình ảnh sáng tạo, gợi cảm. Sáng tạo và gợi cảm ở nghệ thuật dùng từ “thấp”, ờ hình ảnh nhân hoá “…ngủ im hơi”. Đó là hình ảnh làng quê Việt Nam tăm tối, nghèo nàn, tiêu điều, xác xơ… dưới thời Pháp thuộc. Ở đâu cũng thế, khắp Bắc, Trung, Nam đều thế: “Năm gian nhà cỏ thấp le te…”, “Phần thuế quan Tây, phần trả nợ…” (Nguyễn Khuyến).
    Với Tố Hữu thì nỗi nhớ luôn luôn gắn liền với tình thương, thương quê hương đất nước, thương đồng chí đồng bào, thương nhân dân lao động nghèo khổ đang rên xiết dưới ách thống trị của ngoại bang, đang bị “Đoạ đày trong những hố thẳm không cùng” (Tâm tư trong tù). Cuộc sống của nhân dân ta thuở ấy cứ lặng lẽ, âm thầm trôi đi trong những tháng ngày đen tối “âm u”. Đó là cái “Ao đời” tù đong như thi sĩ Xuân Diệu đã nói tới trong “Toả nhị kiều”. Cuộc đời “không đổi”, thân phận “không dổi”, nhưng mà “trôi cứ trôi”. Ba chữ “trôi cứ trối” thấm thía bao nỗi buồn. Câu thơ khồng chỉ nói lên một nỗi buồn “nhớ đồng” thấm thía và còn mang ý nghĩa lay gọi, thức tỉnh về nô lệ và tự do:
    “Giữa dòng ngày tháng âm u đó
    Không đổi, nhưng mà trôi cứ trôi”.
    Điệp ngữ “trôi cứ trôi” liên kết với hình ảnh ẩn dụ “dòng ngày tháng âm u” tạo nên tính hệ thống ngôn ngữ văn chương giàu “Sắc thái biểu cảm nói về cái vô nghĩa, cái đáng chán của những thân phận, những kiếp người bị tước đoạt mất tự do!
    Tố Hữu đã có lần thổ lộ: “Thơ là một điệu hồn đi tìm nhưng hồn đồng điệu”, cho nên “Thơ là chuyện tri âm tri kỉ” ở đời: Đọc thơ Tố Hữu,”đặc biệt đọc những bài như “Tâm tư trong tù”, “Nhớ đồng”, “Tiếng hát đi đầy”,…chúng ta tìm thấy và hoà nhập với “điệu hồn” thi sĩ.

    Đoạn thơ trên đây hội tụ bao nét đẹp của hồn thơ Tố Hữu về nỗi nhớ đồng, về tình yêu thương quê hương cháy bỏng tâm Hồn người chiến sĩ trong những năm tháng tù đày. Những đường nét, màu sắc, âm thanh được nhà thơ sử dụng đã làm hiện lên thấp thoáng quê hương với bao nỗi nhớ, tình thương, nỗi buồn day dứt, triền miên khôn nguôi. Giọng thơ bổi hồi xao xuyến, thấm thía một nỗi buồn thương. Chất trữ tình và cảm xúc về cái đẹp, về nỗi buồn thương nhớ đồng quê đã tạo nên một cảm hứng đồng hành với tư tưởng cách mạng. Đó là khao khát tự do:
    “…Tôi mơ qua cửa khám bao ngày
    Tôi thu tất ca trọng thầm lặng
    Như cánh chim buồn nhớ gió mây”
    (Nhớ đồng)

  • Bình giảng bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    Bình giảng bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    Bình giảng bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:Văn mẫu: Nhớ đồng (Tố Hữu)

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

    Bài văn mẫu

    Từ ấy được xem như những trái ngọt đầu tiên mà Tố Hữu đã gặt hái được đế dâng cho đời. Đến với tập thơ chúng ta không chỉ bắt gặp một thanh niên yêu cách mạng, say mê lí tưởng mà còn thấy được hình ảnh của người chiến sĩ cách mạng đang sông và chiến đâu. Vì vậy, Từ ấy không chí có những bài thơ tràn đầy cảm xúc say mê lí tưởng, mà còn có những bài ghi lại những chặng đường chiến dấu bị tù đày gian khổ, trong số đó phải nói đến bài thơ Nhớ đồng.

    Bài thơ được Tố Hữu viết vào tháng 7 năm 1939, bốn tháng sau khi nhà thơ bị mật thám bắt và cầm tù. Toàn bài thơ là nỗi nhớ tha thiết.
    Mở đầu bài thơ là lôi nói so sánh được nhà thơ nêu ra như đê xác định tâm thế cô đơn của chính mình:
    Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!
    Nhà thơ như tự hỏi chính lòng mình để rồi tự khẳng định tâm trạng của chính mình. Đày chính là tâm trạng cô đơn, quạnh vánh và cồn cào nhớ thương. Câu thơ như một tiếng thở dài buồn đến da diết. Chúng ta lại chợt nhớ đến hình ảnh của người chiến sĩ cộng sản lần đầu tiên bị ném vào tù trong bài Tâm tư trong tù:
    Thế nhưng đến đây ta không chỉ cảm nhận thây sự cô đơn mà còn cảm thây cái buồn tê tái, cái hiu quạnh đến lạnh lẽo, và sự thương nhớ như đang vò xé gan ruột.
    Sau hai câu thơ đầu mở ra như lời bộc bạch tâm sự, nhà thơ lần lượt cho ta thấy rõ nỗi nhớ nhung trong tâm hồn người cách mạng:
    Đâu gió còn thơm đất nhả mùi
    Đâu luồng tre mát thưở yên vui
    Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn
    Đâu những nương khoai sắn ngọt bùi
    Đâu những đường con bước vạn dời
    Xóm nhà tranh thấp ngủ im lơi
    Giữa dòng ngày tháng âm u đó
    Không đổi nhưng mà trôi cứ trôi…
    Không gian của bài thơ như được trải rộng ra. Đó chính là không gian của quê hương yêu dấu nơi có mùi đất quá quen thuộc, nơi có bóng tre mát rượi, những ô mạ xanh mơn mởn, nơi trải dài nương khoai, nương sắn và cả những mái tranh thấp bình dị. Không gian được trải rộng ra phải chăng cũng ciiính là sự trải rộng cửa nỗi nhớ trong lòng nhà thơ. Đáng lưu ý là trước mỗi cảnh vật quen thuộc như vậy là từ đâu dùng đế’ hỏi. Tuy nhiên ở đây nhà thơ không chỉ đơn thuần là sự tìm kiếm, là hỏi vị trí mà chính là đang tự hỏi lòng mình, đang lục lại trong trí nhớ những gì đả xa, đã mất. Đâu gợi lên trong chúng ta sự mất mát trống vắng. Từ Đâu được Tố Hữu lặp lại năm lần liên tiếp làm cho nỗi nhớ như càng được nhản lên dồn dập, làm cho sự trống vắng mất mát hụt hẫng trong lòng nhà thơ nhân lên đến xót xa. Vì vậy có thể nói đâu đã trở thành tiếng gợi nhớ thương đến cồn cào da diết. .Và nỗi thương nhớ hiu quạnh ấy như được trải dài ra bởi:
    Giữa dòng ngày tháng âm u đó
    Không đổi, nhưng mà trôi cứ trôi…
    Có thể nói, hai khổ thơ trên đã khái quát một cách sâu sắc nỗi nhớ quê hương đồng ruộng. Nồi nhớ ấy dâng lên và thốt ra nghẹn ngào thấm thía:
    Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!
    Vẫn là cách nói so sánh diễn tả sự vắng vẻ cô đơn. Ôi và nhớ ơi xuất hiện trong cùng một câu thơ làm cho nỗi nhớ quê càng trở nên da diết hơn bao giờ hết.
    Nhớ đến ruộng dồng quê hương nhà thơ đồng thời hướng nỗi nhớ của mình đến con người. Đây là những con người lao động gần gũi đang lưng cong xuống luống cày, vãi giống tung trời. Nhưng tất cả cũng chỉ là trong tiềm thức, chỉ còn là nỗi nhớ. Và giờ này cảnh vật và con người cũng hiện lên đầy buồn nhớ như chính tâm trạng của nhà thơ:
    Đâu những chiều sương phủ bãi đồng
    Lúc mềm xao xác ủ ven sông
    Vẳng lên trong tiếng xe lùa nước
    Một giọng hò đưa hớ não nùng.
    Tất cả hình ảnh con người hiện lên trong tâm trí nhà thơ càng làm cho nỗi nhớ về cuộc sống thêm da diết. Tất cả đã xa rồi, đối diện với nhà thơ lúc này chỉ là kỉ niệm, những kỉ niệm đang cào xé chĩ có thế mơ tới, chi không thể với tới được. Và một lần nữa nhà thơ đã phải thốt lên:
    Gì đâu bằng những trưa thương nhớ
    Hiu quạnh bên trong một tiếng hò.
    Câu thơ được điệp lại làm cho nỗi nhớ thương, sự cô đơn trong lòng nhà thơ càng tăng lên. Và tất cả kỉ niệm như vụt biến, nhà thơ trở lại với thực tại phũ phàng và nhận ra:
    Đâu dáng hình quen, đâu cả rồi
    Sao mà cách biệt, quá xa xôi
    Chao ôi thương nhở, chao thương nhở
    Ôi mẹ giờ xa đơn chiếc ơi!
    Có lẽ đấy là tiếng gọi của sự nhớ thương, là tiếng nói xót xa cho hoàn cảnh bị giam cầm. Người chiến sĩ cách mạng chợt nhận ra thực tại sao mà cách biệt quá xa xôi. Cũng bởi lẽ thế mà nỗi nhớ lại cồn cào thêm. Chi trong một câu tliơ thôi mà thương nhớ được điệp tới hai lần. Từ chao càng làm cho nỗi nhớ ấv trở nên da diết xót xa hơn.
    Qua nỗi nhớ quê hương, con người chúng ta không chí thấy hiện lên hình ảnh một người chiến sĩ cách mạng đang cô đơn trong ngục tù mà còn cho ta thấy tấm lòng yèu quê hương, sự gắn bó của người chiến sĩ với quần chúng nhân dân lao động, luôn luôn hướng tới cuộc sống bên ngoài. Đó cũng là những nét rất cơ bản và quen thuộc về hình ảnh người chiến sĩ cộng sản bị tù đày trong thơ Tố Hừu.
    Sau những khoảnh khắc thương nhớ, nhà thơ chợt nhìn và nhớ về chính bản thân mình. Các khổ cuối của bài thơ sẽ cho ta thấy rõ sự nhận thức ấy.
    Trước hết là nhớ về bản thân mình:
    Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi
    Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
    Vẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩn
    Muốn thoát, than ơi, bước chẳng rời.
    Vẫn là sự lục tìm trong trí nhớ, song đã có sự nhận thức rất rõ ràng về những ngày xưa. Nhà thơ nhớ lại những ngày bế tắc, những ngày băn khoăn kiếm tìm lẽ sông. Đấy chính là những ngày nhà thơ chưa bắt gặp lí tưởng cộng sản. Những từ ngữ như: vấn vơ, băn khoăn, quanh quẩn đã diễn tả một cách chính xác sự bế tắc trong con người nhà thơ lúc này. Ba tiếng tôi nhớ tồi. vang lên như một sự nhận thức thấm thìa, buồn cho cuộc sống theo mãi vòng quanh quẩn, muốn thoát nhưng chẳng thể bước nổi.
    Khổ thơ tiếp theo chuyển sang một giọng điệu hoàn toàn khác đầy say sưa hưng phấn:
    Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi
    Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
    Say đồng hương nấng ưui ca hát
    Trên chín tầng cao bát ngát trời
    Nhà thơ nhớ lại ngày tôi thấy tôi nghĩa là ngày tự soi vào lòng mình, tự thấy mình đã trưởng thành, thấy lẽ vêu đời. Lúc này là lúc nhà thơ cảm thấy hạnh phúc. Niềm hạnh phúc ấy được tác giả ví với hình ảnh của con chim cà lơi nhẹ nhàng tung bay trên bầu trời. Đây là một hình ảnh so sánh hết sức độc đáo. Niềm vui, niềm hạnh phúc ấy được Tô’ Hữu diẻn tả một cách tinh tế bằng các từ say đồng, vui ca hát, bát ngát trời. Đặc biệt với câu thơ nhẹ nhàng như con chim cà lơi, Tô’ Hữu dùng tới sáu thanh bàng, vì vậy đã diễn tả được cái phơi phới trong tâm hồn nhà thơ — một tâm hồn say mê lí tưởng.
    Trở về với thực tại, nhà thơ lại đầy ắp tâm trạng:
    Cho tới chừ đây, tới chừ đây
    Tôi mơ qua cửa khám bao ngày.
    Tôi thu tất cả trong thầm lặng
    Như cánh chim buồn nhớ gió mây.
    Câu thơ mở đầu khổ thơ trên như một lời than. Đây là sự tiếc nuối quá khứ đã qua, là sự xót xa trong nỗi đau thực tại. Tới giờ đây được lặp lại hai lần làm cho sự xót xa được nhấn mạnh thêm. Và lúc này tất cả tâm hồn người chiến sĩ hướng ra cuộc sông bên ngoài: tôi mơ qua cửa khám bao ngày. Tuy nhiên đọng lại cả khổ thơ là nồi buồn bị cùm trói trong tù túng, siết chật trong thầm lặng. Và nếu trước đây, hình ảnh cánh chim được so sánh để diễn tả sự ngây ngất say mê lí tưởng thì giờ đây cánh chim lại gắn với nỗi buồn. Qua đó ta thấy được khát vọng tự do của người chiến sĩ cách mạng.
    Kết thúc bài thơ là điệp khúc được vang lên lần thứ hai trong bài thơ:
    Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
    Ôi ruộng đồng quê hương nhớ ơi!

    Điệp khúc này tạo cho bài thơ có cấu trúc đặc biệt: mở ra bàng nỗi cô đơn, nỗi nhớ và kết thúc cũng vậy. Vì vậy, có thê nói nhớ là nét chủ đạo bao trùm 44 câu của bài thơ.
    Nhớ đồng – cái tên bài thơ đã mở ra đầy nhớ thương. Nhưng bài thơ không chỉ có tâm trạng nhớ què, nhớ những con người say mê lí tưởng, khát khao tự do. Đấy cũng là nét đẹp trong phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng trong thơ Tố Hữu nói riêng và những người chiến sĩ cách mạng Việt Nam nói chung

  • Văn mẫu: Nhớ đồng (Tố Hữu)

    Văn mẫu: Nhớ đồng (Tố Hữu)

    Văn mẫu: Nhớ đồng (Tố Hữu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:Văn mẫu: Tương tư (Nguyễn Bính)

    [toc]

    Top 4 bài phân tích, bình giảng bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu hay nhất
    Phần Nhớ đồng (Tố Hữu) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: phân tích, bình giảng, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Bình giảng bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu
    2. Bình giảng một đoạn thơ trong bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu
    3. 2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu

  • Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chân thật và mộc mạc

    Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chân thật và mộc mạc

    Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chân thật và mộc mạc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Cảm nhận về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    [toc]

    Đề bài: Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chân thật và mộc mạc như tình yêu của người bình dân trong ca dao. Hãy phân tích bài thơ “Tương tư” của ông để làm sáng tỏ điều đó.

    Bài văn mẫu

    Trong khi hầu hết các nhà thơ mới theo nhận xét của Hoài Thanh “đều đội lên đầu dăm bảy nhà thơ Pháp” thì Nguyễn Bính đã tìm một lối đi riêng, trở vể với văn hoá dân gian, với những câu hát cửa đình, giậu mồng tơi, bến đò, cây đa, giếng nước… Ông đã trở thành “chủ soái” của trường phái “thơ mới dân gian” gồm Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân. Và cũng như các nhà thơ mới khác, thơ Nguyễn Bính có tiếng hát tình yêu, song không mãnh liệt, gấp gáp như tình yêu trong thơ Xuân Diệu, cũng không tang thương như thơ tình Hàn Mặc Tử. Tmh yêu trong thơ Nguyễn Bính chân thật và mộc mạc như tình yêu của người bình dân trong ca dao. Điều đó thể hiện rất rõ trong “Tương tứ” – bài thơ nổi tiếng của thi sĩ.

    Tương tư là một trong bốn trạng thái tâm lí của nam nữ yêu nhau, nên bài thơ hiển nhiên nằm trong thi tứ quen thuộc của thơ ca muôn đời. Trong Kinh Thi, người Trung Quốc đã bảo nhau: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”(Một ngày không gặp nhau dài như ba năm). Như thế, cách đây hàng nghìn năm, người ta đã phát hiện triệu chứng nhớ nhau của bệnh tương tư. Trước khi Nguyễn Bính viết”Tương tứ” từ rất lâu ca dao ta đã có rất nhiều bài diễn tả trạng thái này như:
    “Khăn thương nhớ ai,
    Khăn rơi xuống đất.
    Khăn thương nhớ ai,
    Khăn vắt lên vai.
    Khăn thương nhớ ai,
    Khăn chùi nước mắt”.
    Đến Thơ mới khi mà tình cảm riêng tư của con người được giải phóng, mối tương tư cũng thành trăm hình vạn trạng. Nói như Lưu Trọng Lư: “Có cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình trong giây lát…” và chúng đã hoá thành – “Tương tư chiều” của Xuân Diệu, “Hai sắc hoa Tigôn” của TTKH… – những bài thơ nổi tiếng một thời. Như vậy, trước Nguyễn Bính đã có những đỉnh cao, vượt qua không phải là dễ, song “Tương tứ” của ông không những sống mà còn sống mãi. Bài thơ là sự rung động rất tinh tế của thi sĩ; Thơ mới kết hợp nhuần nhuyễn với thơ ca dân tộc; chất dân gian được thể hiện trước hết ở sự lựa chọn nhân vật trữ tình. Đó là một chàng trai chân quê có cảm tình với một cô gái đồng nội. Có lẽ đôi bên mới gặp nhau đâu đó trong một buổi tát nước đêm trăng:
    “Hôm qua trăng sáng mờ mờ,
    Em đi tát nước tình cờ gặp anh”.
    Hay trong một dịp đi hát sân đình:
    “Hỡi cô hát ống tối qua,
    Đêm nay hát nữa cho ta hát cùng”.
    Nếu chàng cũng mạnh dạn “xăm xăm băng lối” thì có lẽ chả có chuyện, nhưng ở đây lại “Một người chín nhớ mười mong một người”. Cái “tôi” trữ tình của chàng trai là cái “tôi” rất đa tình, nhưng không bạo dạn như trong thơ Xuân Diệu “phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần”, mà nhút nhát như cái chất vốn có của những chàng trai quê:
    “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,
    Nhớ người yếm thắm dải điều thắt lưng”.
    Chính cái “tôi” đa tình nhưng nhút nhát ấy đã dẫn đến một nghịch lí. Cái “tôi” được đặt trong tâm cảnh nhớ mong, xa xôi cách trở trong lúc không có một khoảng cách nào. Nguyễn Bính rất giỏi diễn tả sự xa cách nhớ thương, có khi đó chỉ là “một giậu mồng tơi” và lần này là cách một đầu đình:
    “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
    Một người chín nhớ mười mong một người”.
    “Thôn Đoài”, “thôn Đông” là những từ ngữ chỉ địa danh làng xóm quen thuộc trong ca dao, dân ca, khác với những từ bóng bẩy của Thơ mới, nó được sử dụng như một hình ảnh ẩn dụ khiến cho bài thơ có dáng dấp đồng quê mộc mạc. “Một người chín nhớ mười mong một người”, câu thơ chứa đựng một cấu trúc ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo. “Một người” đầu câu,”một người” ở cuối câu thơ, còn ở giữa là một thành ngữ dân gian “chín nhớ mười mong”. Cấu trúc ấy khiến ta liên tưởng đến một bài ca:
    “Chàng ở đầu sông Tương,
    Thiếp ở cuối sông Tương.
    Cùng uống nước sông Tương,
    Thế mà cùng chẳng thấy”.
    Câu thơ của Nguyễn Bính gợi lên hình ảnh một người ở đầu này, một người ở đầu kia, song cái ngáng trở chính là sự nhút nhát, rụt rè chân quê. Chàng trai núp vào “thôn Đoài” như các chàng trai trong ca dao núp vào “mận” vào “đào”. “Bây giờ mận mới hỏi đào. Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Song với cách nói bóng gió, chàng trai đã ngầm bày tỏ với cô gái nỗi nhớ nhung xa cách đang diễn ra trong lòng chàng và niềm ao ước hạnh phúc được gặp, được gần người mình yêu. “Thôn Đoài”, “thôn Đông” là khoảng cách gần đủ để quen biết mà cũng đủ xa để nhớ thương. Qua đây, chàng trai đã ý nhị giới thiệu cô gái cũng chân quê như chàng, xứng đôi vừa lứa đủ để chàng bắc nhịp cầu “chín nhớ mười mong”. Lời nói được hoán cải từ thành ngữ “chín nhớ mười thương” mà chàng trai dùng để bộc lộ nỗi riêng tư của mình, diễn tả sự xa cách trong tình yêu, yêu người nhưng không được gặp,”tình yêu chưa được đền đáp. Thậm chí người ta còn chưa biết mặt, nên sinh ra bệnh tương tư, bệnh nhớ. Cái nhớ của một người dành cho một người. Phải chăng đó là bi kịch trong tình yêu? Chàng trai đành thổ lộ lòng mình với người trong mộng, với cô gái trong tưởng tượng:
    “Hai thôn chung lại một làng,
    Cớ sao bên ấy, chẳng sang bên này?
    Ngày qua ngày lại qua ngày,
    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
    Bảo rằng cách trở đò giang,
    Không sang là chẳng đường sang đã đành.
    Nhưng đây cách một đầu đình,
    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…
    Tương tư thức mấy đêm rồi,
    Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
    Bao giờ bến mới gặp đò?
    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.”

    Cách đây 200 năm, Kim Trọng tương tư Thuý Kiều và bày tỏ tâm trạng nhớ thương “Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn”. Còn lời của chàng trai trong bài thơ không phải là lời thể hiện thế giới nhớ nhung mà là lời than, lời kể lể và lạ lùng nhất là lời trách móc như những câu hỏi xoáy vào lòng người: Cớ sao? có xa xôi mấy? Bao giờ mới gặp? Điều ấy không hề thấy trong ca dao và trong văn chương bác học vì nó trái với quy luật. Từ xưa đến nay, trong chuyện tình cảm, người con trai thường phải đến với người con gái.
    Đằng này cô gái trong bài thơ đâu biết có người yêu mình thế mà chàng lại than lại trách. Nhưng đấy chính là chỗ hay của bài thơ. Lời than của chàng trai bề-ngoài thì vô lí, nhưng đọc lên ai cũng cảm thông vì đó là sự thể hiện cái “tôi” nhút nhát, chân quê và tình cảm sâu đậm của chàng thay đổi qua không gian và thời gian mà rõ nhất là về không gian. Tất cả những gì thuộc về thế giới của người yêu đối với chàng đều rất gần gũi, gần gũi đến mức không còn khoảng cách.
    “Hai thôn chung lại một làng”
    Đúng là khi đang yêu, người ta muốn hoà nhập làm một. Tản Đà đã từng có câu: “Mình với ta tuy hai mà một — Ta với mình tuy một mà hai”. Mong ước hoà nhập nhưng không thể vì vẫn còn “bên ấy”, “bên này”, vẫn còn ngăn cách. Chỉ cách nhau có một đầu đình mà không sang được thì đúng là không gian không xa mà tình ý lại xa. Tình cảm của chàng trai dành cho cô gái sậu đậm, nó còn được thể hiện qua thời gian:
    “Ngày qua ngày lại qua ngày,
    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”
    Dường như chàng trai đang đếm từng ngày chầm chậm trôi qua; thời gian như kéo dài trong lòng người tương tư. Sự chờ đợi còn làm thay đổi cả hình cây với lá, cũng có nghĩa là sự chờ đợi đến héo hon của chàng trai qua nhiều ngày: “Tương tư thức mấy đêm rồi”. Nhưng với cái lành mạnh, khoẻ khoắn của người Việt Nam, chàng trai hi vọng:
    “Bao giờ bến mới gặp đò?
    Hoa kheê các, bướm giang hồ gặp nhau?”
    “Bến” và “đò” là những ẩn dụ quen thuộc trong ca dao, dân ca. Nguyễn Bính đã sử dụng chất liệu dân gian, tạo cho bài thơ âm hưởng ca dao mộc mạc, nhưng đổng thời mang tinh thần của Thơ mới qua hình ảnh “hoa khuê các”, “bướm giang hồ”. Lại vẫn là câu hỏi: “bao gỉờ?” nhưng nó cũng hàm chứa cả hi vọng, vì con đò có trôi nổi đến đâu, cuối cùng cũng sẽ quay về với bến và bông hoa kia dù có nở trong “khuê các” thì cũng không thể ngăn bướm giang hồ; Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh cô đọng “trầu- cau” và nỗi nhớ thương khôn nguôi:
    “Nhà em có một giàn giầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
    Trong văn chương Việt Nam, trầu cau là biểu tượng cho tình yêu và hôn nhân. Bốn câu thơ là niềm mong ước trong sáng và chân thật của người đang yêu, chân thật như chính tình cảm mà chàng trai đã dành cho cô gái. Song ước mơ ấy cũng chỉ nằm trong mộng tưởng mà thôi. Từ nỗi nhớ của một người dành cho một người ở đầu bài, đến cuối bài đã thành vùng không gian này nhớ vùng không gian kia, mà là nỗi nhớ của trầu và cau – những sản vật không thể thiếu trong lễ cưới hỏi. Trong nỗi nhớ nhung tương tư ấy đã thắp lên ước mơ muôn thuở của tình yêu “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”…

    Không ồn ào mà dịu êm, không dữ dội mà lặng lẽ, không mãnh liệt mà chân thành mộc mạc như tình yêu của người bình dân trong ca dao. Đó chính là tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, sâu lắng mà không kém phần da diết, đã dệt nên khúc “Tương tứ” cho muôn đời:
    “Tương tư thức mấy đêm rồi
    Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?”

  • Cảm nhận về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Cảm nhận về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Cảm nhận về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    [toc]

    Đề bài: Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Bính (1918 -1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính (có thời kì lấy tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở làng Thiện Vịnh xã Đông Hội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, sớm mồ côi mẹ, năm 10 tuổi phải theo anh lên Hà Nội kiếm sống. Nguyễn Bính làm thơ khi mới 13 tuổi và sớm thể hiện tài năng sáng tác của mình. Năm 1943, ông vào Nam Bộ rồi ở lại tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc và tiếp tục tham gia công tác báo chí văn nghệ.

    Trong khi phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về với hồn thơ dân tộc và hấp dẫn người đọc bằng chính hồn thơ này. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bính đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương, đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha. Vì thế, Nguyễn Bính được coi là thi sĩ đồng quê và có nhiều tác phẩm được truyền tụng rộng khắp.
    Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Bính trước Cách mạng: Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941) Mười hai bến nước (1942), Cây đàn tì bà (truyện thơ -1944); sau cách mạng có: Ông lão mài gươm (1847), Gửi người vợ miền Nam (1955), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ — 1958), Đêm sao sáng (1962), Cô Son (chèo – 1961), Người lái dò sông Vị (chèo – 1962)…

  • Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    [toc]

    Đề bài: Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Bính (1918 -1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính (có thời kì lấy tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở làng Thiện Vịnh xã Đông Hội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, sớm mồ côi mẹ, năm 10 tuổi phải theo anh lên Hà Nội kiếm sống. Nguyễn Bính làm thơ khi mới 13 tuổi và sớm thể hiện tài năng sáng tác của mình. Năm 1943, ông vào Nam Bộ rồi ở lại tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc và tiếp tục tham gia công tác báo chí văn nghệ.

    Trong khi phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về với hồn thơ dân tộc và hấp dẫn người đọc bằng chính hồn thơ này. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bính đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương, đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha. Vì thế, Nguyễn Bính được coi là thi sĩ đồng quê và có nhiều tác phẩm được truyền tụng rộng khắp.
    Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Bính trước Cách mạng: Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941) Mười hai bến nước (1942), Cây đàn tì bà (truyện thơ -1944); sau cách mạng có: Ông lão mài gươm (1847), Gửi người vợ miền Nam (1955), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ — 1958), Đêm sao sáng (1962), Cô Son (chèo – 1961), Người lái dò sông Vị (chèo – 1962)…

  • Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    [toc]

    Đề bài: : Bình giảng 4 câu cuối bài thơ “Tương tư” của thi sĩ Nguyễn Bính
    “Nhà em có một giàn giầu
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”

    Bài văn mẫu

    Đó là thơ Nguyễn Bính. Nhà thơ tự học mà thành tài. Hoài Thanh, trong “Thi nhân Việt Nam” cho biết, Nguyễn Bính vào tuổi 20 đã làm gần một ngàn bài thơ. Nguyễn Bính sử dụng nhiều loại thơ, điệu thơ, nhưng thành công nhất là thơ lục bát ở những bài thơ ấy, “ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta”, ta cảm thấy một điều đáng quý báu vô ngần, đó là “hồn xưa của đất nước”.

    Những bài thơ tình của Nguyễn Bính có một giọng điệu riêng, đẹp như ca dao, mang tính cách ca dao… Nhiều câu thơ đoạn thơ cứ thấm vào hồn ta mãi:
    “Nhà em có một giàn giầu
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”
    Đoạn thơ trên đây trích trong bài thơ “Tương tư”, rút trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” (1940) của thi sĩ Nguyễn Bính. Bài thơ gồm 20 câu lục bát; 16 câu đầu nói về nỗi buồn nhớ tương tư, trách móc tủi hờn: “Có xa xôi mấy mà tinh xa xôi?”… Bốn câu cuối nói lên niềm mong ước của chàng trai đa tình về một tình yêu hạnh phúc với một thiếu nữ khác thôn chung làng.
    Cấu trúc song hành đối xứng, bốn câu thơ liên kết thành hai cặp, gắn bó với nhau rất hồn nhiên, tự nhiên như duyên trời đã định giữa nhà em và nhà tôi, giữa em và anh, giữa thôn Đoài với thôn Đông, giữa cau với giầu vậy. Giọng thơ thì thầm ngọt ngào như một lời cầu mong, ao ước khao khát. Từ chỗ gọi “nàng”: “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” đã chuyển thành tiếng “em” gần gũi, thân thiết yêu thương: “Nhà em có một giàn giầu …” Cách xưng hô từ “tôi” – “nàng” dẫn đến “em” — “anh” thân thiết hơn, phong tình và yêu thương hơn.
    Giầu (trầu) với cau đã cố kết bền đẹp từ ngàn xưa, nên bây giờ mói có sự tương giao tương hợp như một thiên duyên đẹp kì lạ:
    “Nhà em có một giàn cau
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng”
    Điệp ngữ “nhà … có một” làm cho ý thơ vang lên khẳng định về một sự sóng đôi tồn tại. Tuy rằng “hai thôn chung lại một làng” chẳng xa xôi mấy, nhưng “giàn giầu” nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và nhà anh mới chỉ “có một” chưa chưa có đôi. Chữ một trong 2 câu thơ rất ý vị, nó đã nói lên ước mong về hạnh phúc lứa đôi duyên giầu – cau cũng là duyên lứa đôi bền chặt, sắt son, thủy chung.
    Trong bài “Tương tư”, Nguyễn Bính sử dụng nhiều câu hỏi tu từ để diễn tả nỗi buồn tương tư “gỡ mãi chẳng ra”
    – Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
    – Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
    – Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
    – Bao giờ bến mới gặp đò?
    Và khép lai bài thơ, chàng trai tự hỏi mình trong mơ ước và hi vọng:
    “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”
    Cả một thời thương nhớ, đâu chỉ tôi nhớ nàng, anh nhớ em, mà còn có “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”. Cảnh vật cũng dan díu nhớ mong: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” Một lối nói bỏ lửng, rất tế nhị, duyên dáng, đậm đà. Anh tự hỏi mình, và cùng thổ lộ cùng em. Câu hỏi tu từ với cấu trúc bỏ lửng đã thể hiện một tình yêu chân thành về một mơ ước hạnh phúc tốt đẹp. Ước mơ ấy thật nhân văn.

    Đoạn thơ cho thấy vẻ đẹp riêng trong thơ tình của Nguyễn Bính. Tác giả vận dụng sáng tạo chất liệu văn học dân gian như giầu – cau, thôn Đoài – thôn Đông, câu thơ lục bát giàu vần điệu nhạc điệu để nói lên nỗi khao khát tình yêu hạnh phúc của lứa đôi. Một tình yêu đằm thắm, chân quê. “Tương tư” thấm vào nỗi buồn, nhưng đoạn kết đã mở ra một chân trời hi vọng.

  • Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng khổ cuối bài “Tương tư” của Nguyễn Bính
    “Nhà em có một giàn giầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.

    Bài văn mẫu

    “Nắng mưa là bệnh của giời – Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”… Đó là thơ Nguyễn Bính. Nhà thơ tự học mà thành tài. Hoài Thanh, trong “Thi nhân Việt Nam” cho biết, Nguyễn Bính vào tuổi hai mươi đã làm gần một nghìn bài thơ. Nguyễn Bính sử dụng nhiều thể thơ, điệu thơ, nhưng thành công nhất là thơ lục bát. Ở những bài thơ ấy, “ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta”, ta cảm thấy một điều đáng quý báu vô ngần, đó là “hồn xưa của đất nước”.

    Những bài thơ tình của Nguyễn Bính có một giọng điệu riêng, đẹp như ca dao, mang tính cách ca dao… Nhiều câu thơ đoạn thơ cứ thấm vào hồn ta mãi:
    “Nhà em có một giàn giầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.”
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.
    Đoạn thơ trên đây trích trong bài thơ “Tương tư”, rút trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” (1940) của thi sĩ Nguyễn Bính. Bài thơ gồm có 20 câu lục bát; 16 câu đầu nói về nỗi buồn nhớ tương tư, trách móc tủi hờn: “Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”… Bốn câu cuối nói lên niềm mong ước của chàng trai đa tình về một tình yêu hạnh phúc với một thiếu nữ khác thôn chung làng.
    Cấu trúc song hành đối xứng, bốn câu thơ liên kết thành hai cặp, gắn bó với nhau rất hồn nhiên,tự nhiên như duyên trời đã định giữa nhà em và nhà anh, giữa em và anh, giữa thôn Đoài với thôn Đông, giữa cau với giầu vậy. Giọng thơ thì thầm ngọt ngào như một lời cầu mong, ước ao khao khát. Từ chỗ gọi “nàng”: “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” đã chuyển thành một tiếng “em” gần gũi, thân thiết yêu thương: “Nhà em có một giàn giầu..”. Cách xưng hô từ “tôi” – “nàng” dẫn đến “em” – “anh” thân thiết hơn, phong tình và yêu thương hơn.
    Giầu với cau đã có kết bền đẹp từ ngàn xưa, nên bây giờ mới có sự tương giao tương hợp như một thiên duyên đẹp kì lạ:
    “Nhà em có một giàn giầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.”
    Điệp ngữ “nhà… có một” làm cho ý thơ vang lên khẳng định về một sự sóng đôi tồn tại. Tuy rằng “hai thôn chung lại một làng”, chẳng xa xôi mấy, nhưng “giàn giầu” nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và nhà anh mới chỉ “có một” chứ chưa có đôi. Chữ một trong hai câu thơ rất ý vị, nó đã nói lên ước mong vể hạnh phúc lứa đôi: duyên giầu – cau cũng là duyên lứa đôi bền chặt, sắt son, thủy chung.
    Trong bài “Tương tư”, Nguyễn Bính sử dụng nhiều câu hỏi tu từ để diễn tả nỗi buồn tương tư “gỡ mãi chẳng ra”:
    – Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
    – Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
    – Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
    – Bao giờ bến mới gặp đò?
    Và khép lại bài thơ, chàng trai tự hỏi mình trong mơ ước và hi vọng:
    “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
    Cả một trời thương nhớ, đâu chỉ tôi nhớ nàng, anh nhớ em, mà còn có “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”. Cảnh vật cũng dan díu nhớ mong: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”. Một lối nói bỏ lửng, rất tế nhị, duyên dáng, đậm đà. Anh tự hỏi mình, và cũng là thổ lộ cùng em. Câu hỏi tu từ với cấu trúc bỏ lửng đã thể hiện một tình yêu chân thành về một ước mơ hạnh phúc tốt đẹp. Ước mơ ấy thật nhân văn.

    Đoạn thơ cho thấy vẻ đẹp riêng trong thơ tình của Nguyễn Bính. Tác giả đã vận dụng sáng tạo các chất liệu văn học dân gian như giầu – cau, thôn Đoài — thôn Đông, câu thơ lục bát giàu ỵần điệu nhạc điệu để nói lên nỗi khát khao tình yêu hạnh phúc của lứa đôi. Một tình yêu đằm thắm, chân quê. “Tương tư” thấm một nỗi buồn, nhưng đoạn kết đã mở ra một chân tời hi vọng…

  • Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tương tư

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính

    Bài văn mẫu

    Tương tư là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tâm hồn và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính. Bài thơ viết về đề tài khá quen thuộc trong đời sống và văn chương: sự tương tư, tức một trạng thái tình cảm nam nữ khi yêu nhau, hoặc phải xa cách, hoặc không được đáp lại. Nhà thơ lại sáng tác bằng thể thơ cũng rất quen thuộc — lục bát.

    Song, để bài thơ có thể sống dài lâu trong lòng bạn đọc không phải là chuyện dễ. Tương tư của Nguyễn Bính vừa có vẻ thân quen như một làn điệu dân ca khiến bao người thuộc lòng. Thậm chí trở thành một bài hát ru em, vừa mang tâm tình mới của thanh niên thời bấy giờ. Nói cách khác, Tương tư cũng như rất nhiều bài thơ khác của Nguyễn Bính trước năm 1945, đậm đà chất dân tộc, trong điệu tâm hồn, cả trong lối diễn đạt, nhưng lại là tiếng thơ của một thời đại mới. Vì thế, khi bình giảng cần biết rằng Tương tư là nỗi nhớ, là tâm trạng của một chàng trai đối với một cô gái. Cô gái ấy vô tình, hay hữu ấy không biết nỗi lòng ấy. Tình cảm của chàng trai rất đỗi tha thiết. Tương tư là một thứ bệnh của tình yêu., Chàng trai ấy đang mang bệnh đó. Anh ta buồn, anh ta nhớ, anh ta thao thức và cả trách móc nữa, nhưng là sự trách móc của một người đang yêu nên cũng rất đáng yêu:
    Bảo rằng cách trở đò giang
    Không sang là chẳng đường sang đã đành
    Nhưng đây cách một đầu đình
    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
    Nhà em có một giàn giầu
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
    Khi bình giảng lại lần theo tâm trạng đó. Tuy nhiên, không phải là sự diễn xuôi, kể lại (vì có gì đáng để đâu) mà để thầy từng cung bậc tình cảm trong trái tim chàng trai đang tương tư.
    Tương tư là bài thơ tình yêu, bài thơ diễn tả nỗi tương tư. Thành công của nó ở chỗ bao tâm hồn đã tìm thấy ở đó sự đồng điệu, tiếng thơ. Điều này tưởng chừng bình thường, đơn giản, song thật ra không phải ai cũng làm được. Nhiều bài thơ tuy rất hay, rất nổi tiếng, nhưng người ta nhận ra trước hết đó là nỗi lòng rất đơn chiếc của một người, và nếu có chỉ là tiếng lòng rất người, một bộ phận tương đối hẹp nào đó. Chẳng hạn:
    Ai bảo em là giai nhân
    Cho đời anh sầu khổ
    Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
    Cho vướng víu nợ thi nhân.
    (Lưu Trọng Lư – Một mùa đông
    hoặc:
    Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng
    Mà sầu trong dạ đã mang mang
    Tình yêu như bóng trắng hiu quạnh
    Lạnh lẽo đêm trường, giãi gió sương.
    (Lưu Trọng Lư – Một chút tình)

    Thơ Nguyễn Bính, ở Tương tư, cũng như nhiều bài thơ khác, không phải vậy. Rất đông thanh niên, nhất là những người bình thường, thời bây giờ và sau đó nữa, tìm thấy sự đồng điệu ở thơ ông. Có được như vậy, trước hết là do thơ Nguyễn Bính có nhiều hình ảnh quen thuộc của thế giới ruộng đồng, dân dã (ở bài thơ này là bướm, hoa, thôn Đoài, thôn Đông, đình làng, bến đò, hàng cau, giàn trần..) Dường như tiếng nói trong thơ Nguyễn Bính được cất lên từ chính thế giới thân thuộc đó, là một phần của thế giới ấy, chứ không là sự vay mượn. Thành ra lối diễn đạt cũng thế. Nó mang dáng vẻ mộc mạc, chân thành, bình dị (Ngày qua ngày lại qua ngày/ Bao giờ bến mới gọi đò?/ Nhà em có một giàn giầu…) Và dĩ nhiên, đây là hình thức thể hiện của một ai khác, sâu xa hơn, ở thơ Nguyễn Bính, đó chính là chân quê, hồn quê thấm đẫm trong tâm hồn nhà thơ. Chính cái tình, cái hồn ấy làm nên sự quen thuộc, gần gũi và thân thiết của thơ Nguyễn Bính đối với bao người Việt Nam, dù ở bất cứ thời đại nào.