4 bài văn mẫu Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

0
594
Cảm nhận bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
QUẢNG CÁO
Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm


4 bài văn mẫu Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích Triết lý nhân sinh trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

Đề bài: Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

Bài văn mẫu 1

Nếu vẻ đẹp của thiên nhiên trong trang thơ của Huy Cận, Hàn Mặc Tử luôn mang một nét đượm buồn, ảm đạm thì trái ngược lại với hồn thơ của Xuân Diệu thiên nhiên mang trong mình một nét riêng biệt góp phần mang lại một cái nhìn mới cho vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ ca. Tiêu biểu cho điều ấy là bài thơ “Vội vàng” sáng tác năm 1938 và được in trong tập “Thơ thơ” với bức tranh thiên nhiên mang sức sống mãnh liệt có sự tươi non mơn mởn, có sự căng tràn nhựa sống nhưng cũng rớm vị chia phôi và bị tàn phá khốc liệt bởi thời gian. Vẻ đẹp thiên nhiên đã góp phần thể hiện quan niệm nhân sinh, tư tưởng tiến bộ, mới mẻ của nhà thơ.

Vẻ đẹp của thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng dào dạt cho các nhà thơ. Với tâm hồn của người nghệ sĩ nhạy cảm luôn yêu tha thiết, say đắm trước cái đẹp và thiên nhiên mang đến điều đó, nó vừa là cảm hứng vừa là phương tiện để các thi nhân thể hiện tài năng và tình cảm nghệ thuật. Dù thiên nhiên trong bài thơ “Vội vàng” không phải là chủ đề chính nhưng thi sĩ đã cho ta thưởng thức vẻ đẹp tuyệt mĩ ở nơi trần gian được Xuân Diệu khắc họa lại bằng tài năng thơ ca.

Thiên nhiên hiện lên với hai nét đẹp cơ bản. Trước tiên đó là vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống với âm thanh, màu sắc:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
…Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Điệp từ “này đây”, “của” làm cho vẻ đẹp của thiên nhiên mùa xuân được hiện lên cụ thể, rõ ràng gợi cảm giác hân hoan, sung sướng của nhà thơ khi được đón nhận sự phong phú mà thiên nhiên ban tặng cho cuộc đời. Đó là hình ảnh của ong bướm trong tuần tháng mật là khoảng thời gian hạnh phúc nhất, viên mãn nhất, ngọt ngào nhất của đời người; đó là hoa của đồng nội xanh rì_màu xanh mướt, tươi đẹp, căng tràn sức sống; đó là lá của cành tơ phơ phất mơn mởn trong gió xuân; đó là khúc tình si rộn ràng của yến anh; là ánh sáng ban mai “chớp hàng mi”. Bức tranh thiên nhiên ấy có đầy đủ âm thanh, hương vị, màu sắc và men say của ái tình. Xuân Diệu đặc tả vẻ đẹp của thiên nhiên ở trong khoảnh khắc tập trung cao độ nhất của cái đẹp bởi đây là bức tranh của mùa xuân_mùa khởi đầu của một năm, mở ra một hành trình mới nên luôn tràn đầy nhiệt huyết tuổi trẻ và sức sống, nó không phải là cái nắng chói chang mùa hạ hay lá vàng rụng của thu sang hay là cái buốt lạnh của đông tới. Thiên nhiên Xuân Diệu chẳng phải là con sông dài mênh mông trong “Tràng giang” của Huy Cận hay một mảnh tình riêng của thôn Vĩ trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử cũng chẳng đặc trưng bởi bất cứ một vùng quê nào mà là vẻ đẹp hiện hữu ở bất cứ nơi nào cũng có, vẻ đẹp bình dị, giản đơn nhưng không phải ai cũng có thể phát hiện và có một tâm hồn thưởng thức biết quý trọng như nhà thơ bởi không phải ai cũng có được con mắt và trái tim của thi sĩ. Đối với Xuân Diệu vẻ đẹp ấy chẳng cần phải đi tìm ở đâu xa, phải thoát lên tiên như Thế Lữ mà đó là một “bữa tiệc trần gian” mà tạo hóa ban tặng. Khi miêu tả thiên nhiên thi pháp của Xuân Diệu đã có sự cách tân, đổi mới ông chẳng đi theo lối mòn của văn học trung đại là ước lệ tượng trưng hay chấm phá điểm nhãn, lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp con người mà đơn giản hóa trong nghệ thuật sử dụng, lấy con người làm trung tâm của vũ trụ, là nơi hội tụ của cái đẹp và làm chuẩn mực cho thiên nhiên. Điều đó được thể hiện ở vẻ đẹp của “ánh sáng chớp hàng mi”, và chi tiết so sánh độc đáo, táo bạo “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. Cặp môi gần nó là khoảnh khắc hạnh phúc thăng hoa của tình yêu đôi lứa.Tháng Giêng là thời gian khởi đầu của một năm, nó vô hình nhưng khi được đem ra so sánh với cặp môi gần lại là một vật hữu hình có vị, có hương “ngon” đầy sức hấp dẫn đang mời gọi thi nhân tận hưởng. Chính bởi tất cả cái đẹp ấy mà nhà thơ có một ước muốn táo bạo “tắt nắng”, “buộc gió” để lưu giữ hương sắc của đất trời đang độ xuân thì để rồi nhà thơ muốn ôm, riết, say thâu hòa tan làm một cùng với đất trời để tận hưởng một cách viên mãn nhất vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước. Xuân Diệu phải là một nhà thơ yêu say đắm thiên nhiên vô cùng mới có thể tinh tế phát hiện và cảm nhận bằng tất cả các giác quan của mình như vậy.
Tuy nhiên vạn vật trong vũ trụ từ sự vật nhỏ bé nhất như cỏ cây đến con người cũng không thể trường tồn vĩnh hằng, không thể thoát khỏi quy luật của tự nhiên và sự tàn phá khốc liệt của thời gian. Xuân Diệu miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên mùa xuân để làm bước đêm, làm phương tiện thể hiện cho quan niệm nhân sinh sâu sắc của mình. Bởi tác giả nhận ra; “Xuân đương tới cũng là xuân đương qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”. Thời gian trong cái nhìn của ông không phải là vòng tròn tuần hoàn như trong thơ ca trung đại mà là thời gian tuyến tính một đi không bao giờ quay trở lại. Nên ông nuối tiếc, bang khuâng trước sự trôi chảy của nó: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa/ Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” hay “Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”. Trong tâm trạng ấy nhà thơ nhìn vạn vật với cũng đang phôi pha, chia li, từ biệt.
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
…Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”.
Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa làm cho thiên nhiên trước giờ khắc chia li xa xuân đến hạ cũng mang trạng thái cảm xúc, cũng có những hành động giống như con người. Tháng năm đã có mùi của vị chia phôi, tiếng khóc than thầm của sống núi, con gió xinh hờn dỗi với lá vì sắp phải đi, là tiếng chim đang rộn ràng chào đón xuân sang bỗng đứt tiếng reo thi. Tất cả những sự vật ấy “Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?” cũng như nhà thơ sợ khoảnh khắc của mùa xuân tuổi trẻ qua đi vô nghĩa, mà thốt lên tiếng than, lời buồn sâu thẳm “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”. Xuân Diệu thật có cái nhìn khác người ông chẳng cần đợi có nắng hạ mới hoài xuân mà tìm thấy điều ấy ngay từ khi xuân mới sang, “trong gặp gỡ đã có mầm li biệt”.

Xuân Diệu được nhà phê bình văn học Hoài Thanh đánh giá là “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” đến với thơ ca của ông “tài hoa, tinh tế mà sang trọng” thiên nhiên trong Vội vàng rất tình tứ, cảnh vật tràn đầy xuân tình thể hiện cho một tâm hồn thi sĩ yêu tha thiết cái đẹp, khát khao sự sống trần gian và có quan niệm tích cực về thời gian và tuổi trẻ.

Bài văn mẫu 2

Xuân Diệu nhà thơ của tình yêu, của tuổi trẻ. Vần thơ nào của ông cũng thấm đẫm lòng yêu, lòng thiết tha với cuộc sống. Đó là cuộc sống tươi non mơn mởn của thiên nhiên vạn vật. Vội vàng tuy chỉ có dung lượng khá nhỏ đề cập đến khung cảnh thiên nhiên, nhưng chỉ cần như vậy thôi ta cũng nắm bắt được trọn vẹn tinh thần, lòng yêu cuộc sống của ông.

Viết về thiên nhiên, vốn là đề tài vô cùng quen thuộc trong thơ ca Việt Nam và thế giới. Đó là nơi để con người ta trải lòng, trải tâm sự, là nơi để nương tựa, giãi bày hay là để bày tỏ những quan điểm tư tưởng về cuộc sống. Xuân Diệu cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy, ông để lại những câu thơ hay, đẹp đẽ về thiên nhiên:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gày sương mong mảnh
(Đây mùa thu tới)
Và đến Vội vàng ông đã phác họa bức tranh thiên nhiên mởn mơn sức sống, tràn đầy tình xuân.
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Bằng thủ pháp điệp cấu trúc “Của … này đây” “này đây … của…” và thủ pháp liệt kê Xuân Diệu đã phơi bày trước mặt người đọc bàn tiệc mùa xuân vô cùng thịnh soạn, ăm ắp hương vị, màu sắc. Phải chăng Xuân Diệu đã căng mở mọi giác quan của mình để cảm nhận đầy đủ và trọn vẹn nhất vẻ đẹp của thiên nhiên vạn vật trong trời đất. Thiên nhiên ấy có màu xanh tươi non, mỡ màng của cỏ (đồng nội xanh rì), có những đàn ong từng đôi, từng đôi nối đuôi nhau trong ngày tháng đầy mật ngọt. Đâu chỉ có vậy, thiên nhiên còn ngập tràn ánh sáng, với khúc tình si vang vọng khắp nơi. Các sự vật hiện tượng đều đang ở độ viên mãn, căng đầy sức sống nhất, trăm hoa đua nở, khoe sắc trước trời đất, không chỉ màu sắc mà còn là âm thanh của khúc tình si. Tình si là gì? Đâu chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn là lòng yêu cuộc đời, muốn hòa nhập, tận hưởng trọn vẹn cuộc đời. Xuân Diệu đã tạo nên một bức tranh mùa xuân hài hòa tuyệt đối.
Thoạt đầu, tưởng rằng thiên nhiên đó phải ngự ở nơi tiên giới, nhưng nhìn lại mới thấy rằng chúng đều là những sự vật, hiện tượng hết sức quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống của chúng ta, là ong, bướm, đồng nội, là ánh sáng của thiên nhiên. Khổ thơ như một lời khẳng định của Xuân Diệu, một quan điểm nhân sinh mới mẻ, tiên cảnh không ở đâu xa, mà chính ở ngay đây, khung cảnh này, hương thơm hoa cỏ này. Chàng trai hai hai tuổi bằng đôi mắt tràn đầy tình yêu, xanh non và biếc rờn hối hả, gấp gáp mở rộng tấm lòng để nắm bắt trọn vẹn từng khoảnh khắc của thiên nhiên.
Không chỉ là quan niệm mới mẻ, khẳng định vẻ đẹp ở nơi trần thế, bằng vốn ngôn từ khéo léo và tinh tế, Xuân Diệu còn gửi gắm đến người đọc một quan niệm nhân sinh khác: “Và này đây ánh sáng chợp hàng mi” “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Xuân Diệu đã đi ngược lại với quan điểm mĩ học trung đại – lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cái đẹp, còn với Xuân Diệu, không phải thiên nhiên, mà con người mới là chuẩn mực của mọi cái đẹp trong cuộc sống. Ánh sáng ban mai như cái chớp mắt của người con gái, khiến biết bao người say đắm. Lối so sánh độc đáo, tháng giêng “ngon” như cặp môi người thiếu nữ, đã giúp người đọc hình dung một cách cụ thể vẻ đẹp của thiên nhiên. Đó là thiên nhiên không chỉ ứ đầy sức sống và còn là thiên nhiên căng tràn tình xuân, tình yêu (ong bướm, tuần tháng mật).

Bằng vốn ngôn từ hết sức phong phú đa dạng, cách sử dụng ngôn ngữ rất Tây Xuân Diệu đã vẽ nên bức tranh khung cảnh xuân tình tuyệt đẹp. Qua bức tranh ấy ta còn thấy được những quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu về cuộc đời và con người: con người là trung tâm, là vẻ đẹp của chuẩn mực; cuộc sống đẹp tươi luôn tồn tại gần gũi bên cạnh ta. Đó là những quan điểm hết sức tiến bộ.

Bài văn mẫu 3

Nếu nhắc tới thiên nhiên – một đề tài đã quá quen thuộc trong thơ ca, không thể không đề cập tới phong trào thơ mới của Việt Nam những năm 1930 của thế kỉ XX. Người ta được thưởng thức những cảnh sắc thiên nhiên đẹp nhưng buồn trong thơ Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Huy Cận,… Trong đó phải kể đến Xuân Diệu. Từ những vẻ đẹp ấn tượng về thiên nhiên trong Thơ duyên hay Đây mùa thu tới… nhà thơ tiếp tục mang đến sự đặc biệt về thiên nhiên trong bài thơ Vội vàng. Bài thơ tuy không mang tới một thiên nhiên vốn có trong thi ca nhưng vẻ đẹp của nó đã góp phần đắc lực trong việc thể hiện quan niệm sống của nhà thơ Xuân Diệu.

Như đã biết, thiên nhiên là một nguồn cảm hứng dễ gợi cảm trong lòng thi nhân. Người nghệ sĩ vô cùng nhạy cảm trước những vẻ đẹp ấy dù là nhỏ bé, bình thường. Thiên nhiên đôi khi là bầu bạn, là chỗ dựa tinh thần để thi nhân trải lòng và phô diễn tài năng. Xuân Diệu đã bao lần tìm đến thiên nhiên để hòa mình vào đó, để cảm nhận từng khoảnh khắc, từng chuyển biến tinh vi của nó. Đến Vội vàng ông vẫn kịp ghi lại cho mình những khoảnh khắc thiên nhiên đặc biệt: đẹp đẽ, tươi non, mơn mởn nhựa sống nhưng cũng có cả sự mất mát, chia lìa. Sở dĩ có điều trái ngược ấy là vì thiên nhiên đóng vai trò như những “dẫn chứng” trong lời tranh biện của nhà thơ về cuộc đời, thời gian. Tuy nhiên, thiên nhiên trong bài thơ vẫn hiện ra với những nét độc đáo, riêng có ở Xuân Diệu.
Trước hết đó là một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, non xanh, mơn mởn, căng tràn nhựa sống trong khoảng khắc xuân thì. Vốn bắt nguồn từ hai ước muốn rất ngông cuồng, táo bạo là tắt nắng, buộc gió để giữ chặt hương sắc của cuộc đời, bức tranh thiên nhiên hiện lên là minh chứng cho điều khát khao đó.
Của ong bướm ngày đây tuần tháng mật

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Thật dễ dàng nhận ra, bức tranh thiên nhiên ở đoạn thơ này thật lạ và độc đáo. Bởi nó không phải một khung cảnh cố định ở một vùng, một nơi nào đó trên cõi trần gian. Chẳng hạn như dòng sông Hồng mênh mang, rộng lớn trong Tràng giang của Huy Cận, hay xứ Huế mộng mơ trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử,… Xuân Diệu vẽ nên một bức tranh có sự pha trộn của nhiều hình ảnh, nhiều trạng thái, nhiều dáng vẻ để có một “bữa tiệc trần gian” ngập tràn hương sắc mùa xuân. Bằng thủ pháp liệt kê, nhà thơ mang tới những hình ảnh: ong bướm, hoa đồng nội, lá cành tơ, yến anh, ánh sáng… chẳng thuộc về một vùng quê nào, nhưng lại thuộc về bất cứ đâu, hiện hữu ngay xung quanh chúng ta. Vấn đề là ở chỗ đó, thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu ai cũng bắt gặp, ai cũng thấy quen thuộc như ở cuộc đời trần thế hằng ngày vẫn có vậy. Không xa lạ, không sang trọng mà gần gũi, quen thuộc, ai cũng thấy ở ngoài đời.
Bởi vậy trong cách miêu tả, Xuân Diệu không dùng đến những thủ pháp cầu kì, khoa trương, mà chỉ đơn thuần ông thổi hồn sức sống của vạn vật bằng những khoảnh khắc tươi đẹp nhất của nó. Ong bướm trong thời khắc tuần tháng mật, hoa đồng nội trong lúc xanh rì, lá cành tơ phơ phất, yến anh trong khúc tình si. Đó là khoảnh khắc của mùa xuân, của tình yêu thật viên mãn, tròn đầy. Thiên nhiên bởi thế mà lung linh, đẹp đẽ, tươi non ở mức độ căng tràn sức sống nhất. Xuân Diệu đã đưa cặp mắt “xanh non, biếc rờn” của mình để thổi cải cảm xúc “thiết tha, rạo rực” được huy động từ mọi giác quan và lăng kính tình yêu để làm nên sức sống ấy cho cảnh vật. Giọng thơ sôi nổi, phấn trấn như chiếc bút vẽ nên một bức tranh đẹp đẽ giữa chốn trần gian. Điệp từ của, này đây như bàn tay vẫy chào, mời gọi cùng bước vào chốn thiên đường của mặt đất ngay trước mắt chúng ta. Không ngạc nhiên khi gọi Xuân Diệu là con người của trần thế, bởi ngay cả bức tranh thiên nhiên ở đây cũng vô cùng trần thế mà chẳng phải chốn bồng lai tiên cảnh nào quá xa xôi.
Miêu tả vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên như thế, Xuân Diệu đã gửi gắm những giá trị, ý nghĩa mang tính triết lý nhân sinh. Đừng mải mê tìm kiếm ở đâu xa xôi, chỉ cần mỗi chúng ta hãy sống hết mình, cảm nhận hết mình sẽ thấy được cảnh đẹp ở ngay những gì ta có. Và cũng còn bởi một lý do, con người mới thực sự làm cho thiên nhiên trở nên thêm đẹp. Ông đã khéo léo trong cách so sánh để khẳng định thước đo cho cái đẹp không còn thuộc về tự nhiên, mà chính là con người. Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Ánh sáng của buổi bình minh như cái chớp hàng mi của người thiếu nữ, tháng giêng “ngon” như một nụ hôn say đắm của tình nhân. Chưa bao giờ thơ ca lại có góc nhìn thẩm mĩ đặc biệt như thế. Thiên nhiên bấy lâu nay là chuẩn mực cho mọi cái đẹp, mà giờ đây cũng trở nên nhỏ bé trước con người. Bởi vậy, vẻ đẹp thiên nhiên trong Vội vàng mang theo ý nghĩa đề cao con người và khẳng định ý nghĩa mang tính triết lý nhân sinh.
Nhưng vẫn còn một thiên nhiên khác trong Vội vàng. Nếu bức tranh thiên nhiên như chốn thiên đường của mặt đất kia khiến mỗi chúng ta thêm yêu, thêm gắn bó, thêm động lực để tiếp tục sống, thì trước quy luật thời gian thiên nhiên cũng phải lụi tàn. Không còn đẹp đẽ, mơn mởn, xanh non mà thời gian cuốn theo tất cả, một đi không trở lại, nên lòng người ngậm ngùi thì thiên nhiên cũng tan tác, chia lìa. Cảm thức đầy mất mát trong quan niệm về thời gian của Xuân Diệu đã khiến ông nhìn đâu cũng thấy không còn gắn kết nữa. Khi mà xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, xuân non rồi xuân gìa… thì đâu đó thi nhân ngửi thấy mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, nghe thấy núi sông than thầm tiễn biệt… Thiên nhiên trong sự biệt li vẫn có cái đẹp, nhưng thực chất nó là nỗi niềm run rẩy, lo lắng, sợ hãi trước quy luật tàn nhẫn của thời gian mà tác giả đã lí luận. Nhà thơ không chấp nhận sự thay thế, bởi con người cũng chỉ có một lần để sống, tuổi trẻ lại quá ngắn ngủi mà cũng chẳng hai lần thắm lại. Thiên nhiên cũng thế! Nên nỗi xót xa, tiếc nuối của thi nhân là không tránh khỏi. Để từ đó mà biết trân trọng từng phút giây, biết nâng niu từng khoảnh khắc, không bỏ lỡ sự sống mới bắt đầu mơn mởn, mây đưa gió lượn, cánh bướm tình yêu… để hưởng trọn cái xuân hồng mà phải cắn mới đã đầy, no nê được. Vẻ đẹp của thiên nhiên găn liền với quan niệm sống vội vàng của nhà thơ, cũng là phương tiện để nhà thơ bộc lộ cách sống ấy.

Nếu coi Vội vàng là một bài thơ tả cảnh thì sự thực thiên nhiên không giúp ích quá nhiều. Bởi vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ như đã nhận định nó mang nét độc đáo và riêng có của Xuân Diệu và đóng vai trò để thể hiện quan niệm sống của nhà thơ. Cho nên thiên nhiên không hiện lên trong một hình khối tổng thể, bao quát mà như những mảnh ghép chạy theo mỗi quan điểm yêu đời, yêu cuộc sống của nhà thơ. Tuy nhiên cũng nhờ đó mà thiên nhiên được nhà thơ nhìn nhận ở một góc độ đặc biệt lại càng trở nên có ý nghĩa hơn trong cách sống vội vàng mà ông tuyên ngôn ở tác phẩm này.

Bài văn mẫu 4

Tôi muôn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
(Vội vàng – Xuân Diệu)
Bài văn mẫu
Nhận xét về thơ Xuân Diệu, Hoài Thanh viết: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình”. Nhận định này có thể được chứng minh bằng nhiều sáng tác của Xuân Diệu, trong đó một trong những sáng tác tiêu biểu nhất có lẽ là Vội vàng. Mười một câu thơ mở đầu tác phẩm là bức tranh cuộc sốhg với những vẻ đẹp đặc sắc mà thi sĩ đã thâu tóm được bằng chính tình yêu nồng nàn và khát vọng cháy bỏng của mình.
Bức tranh cuộc sống được mở ra trước hết bằng ý muốn táo bạo của nhà thơ
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Muốn tắt nắng buộc gió để níu giữ lấy mọi hương sắc của cuộc sống. Ý nghĩ táo bạo ấy thực chất là biểu hiện của một lòng yêu đời bồng bột, mãnh liệt của cái tôi thi sĩ và khát vọng muốn được vĩnh cửu hóa những vẻ đẹp vốn mong manh, ngắn ngủi của cuộc sống.Và ý muốn, khát vọng đó của Xuân Diệu đâu phải là không có một nền tảng hợp lí, khi mà mỗi ngày cuộc sống đem lại đến cho nhà thơ bao điều kì diệu.
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Trong thế giới hình ảnh đang tràn ra dưới mỗi dòng thơ, người ta có thể bắt gặp đủ mọi hình ảnh, mà là những hình ảnh rất cụ thể, chi tiết chứ không chung chung, trừu tượng: ong bướm với tuần tháng mật, hoa của đồng nội xanh rì, lá của cành tơ phơ phất, yến anh với khúc tình si, tháng giêng như một cặp môi gần… Mỗi hình ảnh diễn tả một vẻ đẹp, mang một hương sắc, một sức quyến rũ riêng: cái ngọt ngào ngây ngất của bướm ong trong mùa hút mật, cái rực rỡ của hoa giữa sắc thắm xanh của đồng nội, cái mê đắm của một khúc yến anh, cái đáng yêu của một nhành non trước gió… hình ảnh nào cũng gợi cảm, hình ảnh nào cũng mang sắc thái của tình yêu ngọt ngào, say đắm, hình ảnh nào cũng gợi lên một niềm vui sống vô tận. Thế giới hình ảnh đó vẽ lên trước mắt ta một cuộc sống thật trẻ trung, tươi mới, một cuộc sống đầy hương thơm mật ngọt, một cuộc sống tràn trề một sức sống bất tận. Trong những hình ảnh đó ấn tượng hơn cả có lẽ vẫn là hình ảnh: Tháng giềng ngon như một cặp môi gần. Ở đây thời gian vô hình đã được Xuân Diệu hữu hình hóa bằng hình ảnh gần gũi, gợi cảm giác ngọt ngào say đắm của tình yêu. Chỉ một hình ảnh ấy thôi, cả một mùa xuân mơn mởn mang đầy sức quyến rũ thanh xuân tươi trẻ đã hiện ra mời gọi trước mắt người đọc.
Hệ thống những hình ảnh cụ thể, sinh động trong đoạn thơ được trình bày bằng thủ pháp liệt kê liên tiếp và nghệ thuật điệp ngữ. Điều này trước hết cho thấy cảm nhận phong phú, dồi dào, vô tận về cuộc sống và niềm hân hoan, vui sướng, cảm xúc choáng ngợp của tác giả. Theo mạch cảm xúc đó, người đọc có cảm giác như đang được một bàn tay nào đó say sưa giới thiệu hết vẻ đẹp này đến vẻ đẹp khác trong một không gian tràn ngập hương sắc. Và ta bất chợt nhận ra rằng: thiên đường không ở đâu xa mà chính là cuộc sống đang tồn tại, hiển hiện quanh ta mỗi ngày. Cuộc sống ấy tươi đẹp, kì diệu biết chừng nào, đáng yêu, đáng sống biết nhường nào.
Có thể nói không có tình yêu và sự gắn bó hết mình với cuộc sống, Xuân Diệu khó có được cái nhìn và sự khám phá như vậy. Cả đoạn thơ là bức tranh cuộc sống tràn ngập hương sắc và con người ở đây cũng mang một tâm hồn rộng mở bát ngát cùng trời đất, thâu nhận say sưa tất cả mọi vẻ đẹp ấy. Hình ảnh, ngôn ngữ ở đây dường như cũng bị cuốn đi theo dòng cảm xúc sôi nổi dạt dào của thi sĩ, cho nên không cầu kì mà tự nhiên, chân thực, sống động, gợi cảm như chính bản thân cuộc sống vậy.
Xuân Diệu bằng tình yêu đời nồng nhiệt của mình thêm một lần nữa giúp ta ý thức rõ hơn giá trị của cuộc sống mà mỗi người đang có.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here