Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/TI%E1%BA%BEN-B%E1%BB%98-TRONG-X%C3%9AC-T%C3%81C-C%E1%BB%A6A-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-REFORMING-METHANE-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-TI%E1%BB%80M-N%C4%82NG-%C4%90%E1%BB%82-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-C%C3%81C-NGU%E1%BB%92N-KH%C3%8D-THI%C3%8AN-NHI%C3%8AN-C%C3%93-H%C3%80M-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-CO2-CAO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    PETROVIETNAM

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 51 – 61

     

    ISSN-0866-854X

     

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    Lưu Cẩm Lộc

    Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Sự gia tăng nhanh chóng của phát thải các khí nhà kính quan trọng như CO2 và CH4 trong thập niên vừa qua đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến biến đổi khí hậu và môi trường sống trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thêm vào đó, nhu cầu sử dụng hiệu quả khí tự nhiên giàu CO 2 đã thúc đẩy các nghiên cứu nhằm tìm ra các loại xúc tác mới có hoạt tính và độ ổn định cao cho quá trình reforming methane. NiO đã chứng tỏ là chất xúc tác phù hợp nhất cho quá trình reforming trong điều kiện công nghiệp. Nhằm khắc phục những hạn chế của xúc tác trên cơ sở NiO như tạo cốc và thiêu kết ở nhiệt độ phản ứng cao, nhiều nghiên cứu khác nhau từ sử dụng chất mang mới, biến tính xúc tác bằng các phụ gia kim loại kiềm, kiềm thổ và các oxide kim loại đến cải thiện phương pháp tổng hợp xúc tác đã được áp dụng. Kết quả là, các loại xúc tác có hiệu suất cao hơn đã được tạo ra, nhờ đó nhiệt độ phản ứng đã giảm từ 800oC về 700oC, cốc hình thành đã giảm mạnh và thời gian làm việc ổn định của xúc tác lên tới hơn 600 giờ.

     

    Từ khóa: Khí tự nhiên giàu CO2, reforming khô, bi-reforming, chất xúc tác.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Việc giảm phát thải khí nhà kính gây nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu là những vấn đề đang được thế giới quan tâm. Đối với Việt Nam, một trong những nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của các hiện tượng trên vấn đề càng trở nên cấp bách hơn. Methane (CH4) và car-bonic (CO2), hai khí chủ yếu gây nên hiệu ứng nhà kính, đã gia tăng với tốc độ cao trong thập niên qua và được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Bên cạnh đó, một số mỏ khí thiên nhiên được phát hiện với trữ lượng khá lớn và chứa CO2 hàm lượng cao ở thềm lục địa Việt Nam trở thành động lực thúc đẩy việc nghiên cứu chuyển hóa hai khí này thành sản phẩm và bán sản phẩm có giá trị cao như khí tổng hợp vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa giảm ô nhiễm môi trường.

     

    2. Tình hình phát thải khí nhà kính và tăng nhiệt độ trái đất

     

    Gần đây, nồng độ CO2 trong khi quyên không ngừng tăng, từ 375ppm trong năm 2001 lên đến 390,5ppm trong năm 2011, tương đương tăng khoảng 1,5ppm/năm, tức

     

    Ngày nhận bài: 30/4/2019. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 30/4 – 4/5/2019.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 9/5/2019.

     

    là khoảng 8 tỷ tấn/năm [1 – 3]. Giai đoạn 2013 – 2015 nồng độ tăng đến mức 400ppm, mức báo động đỏ đối với không khí [4]. Không dừng ở đó, nồng độ CO2 trong không khí tiếp tục tăng lên đến 403,53ppm vào năm 2016 và dự đoán có thể tiếp tục tăng đến 661ppm vào cuối thể kỷ 21 [5]. Hội đồng Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã dự đoán nồng độ CO2 trong tương lai dao động từ 541 đến 970ppm vào năm 2100. Điều đó có nghĩa là lượng khí thải CO2 đã vượt qua 32 tỷ tấn trong năm 2011 [1], dự kiến sẽ đạt 36 tỷ tấn vào năm 2020 [2] và sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050 [3] nếu các biện pháp giảm thiểu CO2 không mang lại hiệu quả.

     

    Trong tổng lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, CO2 chiếm 76%, methane (CH4) có mức độ nguy hại cho môi trường cao gấp 21 lần CO2, chiếm tới 16% [6]. Hiện nay “tỷ lệ hòa lẫn trung bình” của CH4 vào tầng đối lưu đạt mức 1,74ppmV, cao gấp 2 lần so với thời kỳ tiền công nghiệp (0,8ppmV) [7]. Theo kết quả nghiên cứu, sau mức tăng chậm từ năm 2000 đến năm 2006, nồng độ khí CH4 trong không khí đã tăng nhanh gấp 10 lần trong thập kỷ qua. Đặc biệt, lượng khí này đã tăng nhanh vượt dự đoán trong những năm 2014 và năm 2015.

     

    Khí carbonic là một trong những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu [8, 9] và nhiệt độ trái đất tăng cùng lượng phát thải CO2.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    51

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    Cụ thể, nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5oC trong khoảng thời gian từ năm 1885 đến năm 1940, do thay đổi nồng độ CO2 trong khí quyển từ 270ppm đến 350ppm [10], tăng 0,8oC trong thế kỷ 20 và dự đoán tăng thêm 1,4 – 5,8oC trong thế kỷ 21 [11]. Năm 2016 là năm có nhiệt độ cao nhất kể từ năm 1880, cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp khoảng 1,1oC. Với dự đoán nồng độ CO2 đạt mức 500ppm trong 50 năm tới, nhiệt độ trái đất sẽ tăng 3oC – theo các nhà khoa học khí hậu đây là mức tăng gây khí hậu cực đoan và nước biển dâng [4]. Các nhà nghiên cứu khí hậu hàng đầu cảnh báo mục tiêu giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2oC, vốn đã được 196 quốc gia thống nhất đề ra trong Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu năm 2015 [12], thực sự là một “thách thức lớn” nếu việc giảm lượng phát thải khí carbonic không được quan tâm xác đáng và tiến hành nhanh chóng.

     

    Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2014, trong giai đoạn 1994 – 2010, lượng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam tăng nhanh từ 103,8 triệu tấn CO2 quy đổi (million metric tonnes of carbon dioxide equivalents

     

    • MMTCDE) lên 246,8 MMTCDE. Trong đó, lĩnh vực năng lượng có tốc độ tăng nhanh nhất, từ 25,6 MMTCDE lên 141,1 MMTCDE trong năm 2010 [13].

    Trong bối cảnh đó, ở Việt Nam tổng trữ lượng xác minh của khí thiên nhiên trong năm 2015 vào khoảng 210 tỷ m3 và sản xuất khí thiên nhiên đạt 9.080 triệu m3

     

    • Bên cạnh các mỏ khí có chất lượng, một số mỏ khí có nồng độ CO2 cao được phát hiện trong những năm vừa qua. Điển hình, Lô B – Ô Môn có trữ lượng khí khoảng 107 tỷ m3 và mỏ khí Cá Voi Xanh trữ lượng khoảng 150 tỷ

    m3, cao gấp 3 lần mỏ khí Lan Tây và Lan Đỏ thuộc dự án khí Nam Côn Sơn [15]. Tuy nhiên, nồng độ khí CO2 trong các mỏ khí này cao, 20% thể tích đối với mỏ khí Lô B – Ô

     

    Môn và 30% thể tích đối với mỏ khí Cá Voi Xanh. Ngoài ra, một số mỏ khí khác cũng có nồng độ CO2 khá cao như: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Ma Lay-Thổ Chu, vùng Tư Chính… với trữ lượng khí xác

     

    minh từ 2.100 đến 2.800 tỷ m3, nhưng bên cạnh thành phần chính CH4, CO2 cũng chiếm hàm lượng lớn, như ở bể Sông Hồng hàm lượng CO2 từ 27% đến 90%, có nơi đạt tới 98%; ở bể Ma lay-Thổ Chu hàm lượng khí CO2 từ vài % đến 80% [15]. Hàm lượng CO2 trong khí cao gây khó khăn trong khai thác và vận chuyển. Việc khai thác sẽ dẫn đến một lượng CO2 rất lớn thải vào môi trường. Do đó, nếu có phương pháp sử dụng trực tiếp các mỏ khí này thì đây sẽ là một tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế.

     

    3. Tiềm năng chuyển hóa và sử dụng khí thiên nhiên giàu CO2

     

    Việc chuyển đổi CH4 và CO2 thành các sản phẩm có giá trị cao vừa giảm khí gây hiệu ứng nhà kính vừa sử dụng hiệu quả nguồn khí tự nhiên giàu CO2 vẫn là một thách thức lớn do các hợp chất này kém hoạt động [16]. Mặc dù vậy, hai chất này có thể được hoạt hóa khi có các chất xúc tác hiệu quả và điều kiện phản ứng thích hợp.

     

    Có thể chuyển hóa trực tiếp và gián tiếp khí thiên nhiên thành các sản phẩm và bán sản phẩm (Hình 1).

     

    Ngày nay, khoảng 20% tổng lượng khí tiêu thụ trên thế giới phục vụ cho sinh năng lượng (Phản ứng 1, Hình 1)] và dự tính con số này trên thị trường sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Ở các nước có nguồn khí thiên nhiên dồi dào, khí được sử dụng cho phát điện chiếm tỷ lệ rất cao – khoảng 80% sản lượng khí khai thác được. Bởi vì, việc sử dụng khí trong sản xuất năng lượng ít gây ô nhiễm môi trường, chi phí đầu tư thấp, hiệu suất nhiệt cao. Tuy nhiên hướng ứng dụng này sinh khí thải CO2. Các khí thải này có thể chuyển hóa thành khí tổng hợp trong phản ứng re-forming methane bằng CO2 và hơi nước (Phản ứng 7, Hình 1). Có thể oxy hóa trực tiếp methane để thu formaldehyde (Phản ứng 3), ethan, ethylene (Phản ứng 2). Ba hướng còn lại (Phản ứng 4, 5, 6) oxy hóa chọn lọc CH4 với các chất oxy hóa khác nhau thành khí tổng hợp (syngas), từ đó sản xuất hàng loạt hóa chất. Một trong những ứng dụng quan trọng nhất của syngas trong công nghiệp hóa chất là nguyên liệu sản xuất hydrocarbon và methanol. Phản ứng này dựa trên nguyên lý của quá trình chuyển hóa “khí thành lỏng” (gas-to-liquid – GTL) là quá trình chuyển hóa khí thiên nhiên thành dầu tổng hợp, từ đó chưng cất thu diesel, naphtha, wax, và các hợp chất lỏng khác. Tổng hợp Fischer-Tropsch được coi là nguyên tố công nghệ cốt lõi của quá trình chuyển hóa syngas thành nhiên liệu vận tải và các sản phẩm lỏng khác [18]. Tuy đã có cách đây 100 năm nhưng quá trình Fischer-Tropsch vẫn đang trong giai đoạn thương mại hóa [19]. Methanol – nguyên liệu cho quá trình hóa học C1, từ đó sản xuất formaldehyde, acid

     

     

    Hình 1. Chuyển hóa trực tiếp và gián tiếp khí thiên nhiên thành các sản phẩm và bán sản phẩm có giá trị [17]

     

     

    52       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    acetic, chloromethane và các hóa chất khác cho công nghiệp hóa chất, có thể được sản xuất từ syngas hoặc từ CO2. Tuy nhiên, đến nay chỉ có sẵn xúc tác công nghiệp cho tổng hợp methanol từ khí chứa H2 và CO.

     

    Sản xuất dimethyl ether (DME) và chuyển hóa khí thành lỏng là những quá trình hứa hẹn trong sử dụng CO2 làm nguyên liệu. Đã có một số công nghệ sử dụng khí thiên nhiên giàu CO2 cho sản xuất DME và nhiên liệu lỏng. DME có thể là nhiên liệu thay thế cho LPG và die-sel vì có tính chất tương đồng với LPG và có trị số cetane cao. DME có thể pha trộn đến 20 – 30% với LPG [20]. Quá trình KOGAS là thế hệ công nghệ mới nhất sản xuất DME

     

    • Trong công nghệ này DME được sản xuất từ khí tổng hợp (hỗn hợp CO + H2) thông qua các công nghệ một giai đoạn trực tiếp từ syngas hoặc hai bước, thông qua giai đoạn tổng hợp methanol từ syngas. Tuy nhiên, các công nghệ này còn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở mức độ thương mại [19].

    Từ các phân tích trên ta thấy hướng chuyển đổi CH4 và CO2 thành khí tổng hợp là một lựa chọn khả thi, từ đó sản xuất các hóa chất khác [21]. Trong công nghiệp hóa học, khí tổng hợp thường được sử dụng như một chất trung gian trong sản xuất methanol, ammonia, tổng hợp Fischer-Tropsch, sản xuất nhiên liệu diesel, phân bón, các dẫn xuất như acetic acid, xăng, dimethyl ether… và tổng hợp hóa dầu [22]. Khí tổng hợp cũng là cơ sở quan trọng để cung cấp hydro và sản xuất aldehyde từ các olefin.

     

    Chuyển hóa khí thiên nhiên thành khí tổng hợp.

     

    Chuyển hóa methane thành khí tổng hợp dựa vào ba phương pháp chính: reforming hơi nước (steam reform-ing); reforming khô (chuyển hóa methane có sự tham gia của CO2) và oxy hóa từng phần.

     

    Reforming khô (DRM) (1) được quan tâm do quá trình này tận dụng nguồn CO2 có sẵn trong mỏ khí làm nguyên liệu.

     

    CH4  + CO2 ↔ 2CO + 2H2   ΔH = +247 kJ/mol

    (1)

    Khí tổng hợp với tỷ lệ 1:1 được sử dụng trong hydro-forming để sản xuất polycarbonate hoặc formaldehyde.

     

    Quá trình steam reforming (SRM) dựa trên phản ứng dùng nước oxy hóa nhẹ methane (2) hay các hydrocarbon (3).

     

    CH4 + H2O ↔ CO + 3H2   ΔH = +226 kJ/mol

    (2)

    CnHm + nH2O →  nCO + (n+m/2)H2  ΔH298 < 0

    (3)

    Trong điều kiện phản ứng các hydrocarbon khác methane có hàm lượng rất nhỏ, nên phản ứng (3) có vai

     

    trò không đáng kể. Nhược điểm chính của quá trình steam reforming là: giá hơi quá nhiệt cao; tạo thành lượng lớn CO2 trong phản ứng water gas shift (WGS)

     

    CO + H2O ↔ CO2 + H2   ΔH = -41 kJ/mol

    (4)

    và khí tổng hợp nhận được có tỷ lệ H2:CO = 3:1 thuận tiện cho sản xuất amoniac nhưng không thuận tiện cho tổng hợp methanol, acid acetic và hydrocarbon theo phương pháp Fischer-Tropsch.

     

    Oxy hóa chọn lọc methane (5)

     

    CH4 + ½O2 ↔ CO + 2H2   ΔH = -44 kJ/mol

    (5)

    đòi hỏi sử dụng oxy tinh khiết và những thiết bị chuyên dùng để tách không khí, nên quá trình reforming tỏ ra ưu thế hơn.

     

    Đặc điểm của quá trình chuyển hóa trực tiếp CH4 và CO2 là phản ứng thu nhiệt mạnh [23], đồng thời trong re-forming khô tạo cốc là vấn đề nghiêm trọng vì hàm lượng carbon trong nguyên liệu khá cao và không có O2 tham gia trực tiếp trong khí hóa carbon lắng đọng trên bề mặt chất xúc tác [24], là nguyên nhân chính làm mất hoạt tính xúc tác.

     

    Cốc sinh ra từ các quá trình phản ứng methane crack-ing (6) và phản ứng Boudouard (7):

     

    CH4 → C + 2H2   ΔH = 75 kJ/mol

    (6)

    2CO ↔ Cads + CO2  ΔH = -86,24 kJ/mol

    (7)

    Để giảm cốc lắng đọng, carbon tạo ra cần được tiêu thụ trong phản ứng Boudouard nghịch reaction (7) [25]. Hơn nữa tạo cốc trong các phản ứng (6) và (7) thuận lợi hơn ở nhiệt độ thấp. Do đó khi nhiệt độ quá trình reform-ing khô dưới 800oC carbon sinh ra từ cả hai phản ứng. Ở nhiệt độ trên 800oC cốc lắng đọng trong quá trình reform-ing khô xuất phát chủ yếu từ cracking methane (6) và car-bon có hoạt tính cao hơn so với cốc hình thành từ phản ứng Boudouard. Do đó khi có CO2 trong môi trường phản ứng cốc tạo thành dễ dàng bị oxy hóa [26]. Ở nhiệt độ 700oC tốc độ phân hủy methane cao hơn so với tốc độ oxy hóa carbon bằng CO2, nên nếu thực hiện quá trình reform-ing khô với tỷ lệ CO2/CH4 cao (>1) và nhiệt độ cao có thể giảm thiểu tạo cốc. Tuy nhiên tỷ lệ CO2/CH4 thường xấp xỉ bằng 1 nhằm đảm bảo các phản ứng phụ như Boudouard và chuyển hóa nước – khí nghịch (RWGS) là ít nhất để sản xuất ra syngas với tỷ lệ H2/CO mong muốn.

     

    Quá trình reforming khô chưa được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp vì chất xúc tác giảm hoạt tính nhanh chóng do lượng cốc tạo thành, kim loại kết tụ hoặc bị oxy hóa. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng khí CH4 và CO2

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    53

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    trong công nghiệp phụ thuộc vào yêu cầu tiêu tốn năng lượng cho phản ứng. Tuy nhiên, từ các phân tích trên cho thấy, giảm nhiệt độ phản ứng DRM xuống thấp hơn 800oC nhằm giảm nhu cầu năng lượng cho phản ứng sẽ dẫn đến tăng tạo cốc và giảm thời gian làm việc ổn định của xúc tác. Có các lựa chọn khác nhau để cải thiện tính kinh tế của phản ứng chuyển hóa các chất kém hoạt động như CH4 và CO2, gồm giảm nhu cầu năng lượng bằng cách phát triển các xúc tác mới, tiết kiệm chi phí năng lượng thông qua sử dụng nhiên liệu tái tạo cũng như chuyển hóa thông qua một quá trình có khả năng phản ứng cao hơn để có thể sử dụng nguồn khí tự nhiên mà không cần loại bỏ CO2 sẽ mang lại lợi ích cả về mặt kinh tế lẫn môi trường.

     

    Bên cạnh đó, tỷ lệ mol H2/CO phù hợp cho quá trình tổng hợp Fischer-Tropsch là khoảng 2, cao hơn tỷ lệ thu trong reforming bằng CO2 (phản ứng 1) và thấp hơn giá trị thu được từ steam reforming (phản ứng 2). Reforming kết hợp tạo khả năng chuyển hóa methane trong 3 phản ứng (1, 2 và 5), được gọi là trireforming, cho phép giải quyết vấn đề tạo cốc cũng như năng lượng. Tuy nhiên, việc kết hợp 2 quá trình reforming khô và steam reforming meth-ane (CSCRM), được gọi là phản ứng bi-reforming, được ứng dụng rộng rãi hơn để sản xuất syngas [22]. Phản ứng diễn ra theo phương trình sau:

     

    3CH4 + CO2 + 2H2O ↔ 4CO + 8H2 ΔH = +220 kJ/mol    (8)

     

    CSCRM mang lại những lợi ích đáng kể so với phản ứng reforming khô, oxy hóa một phần và reforming hơi nước [16]. Việc kết hợp này tạo được tỷ lệ H2:CO mong muốn, hoàn toàn phù hợp cho phản ứng tổng hợp Fisch-er-Tropsch [23], hỗn hợp “metgas”(tỷ lệ H2/CO = 2/1) để sản xuất methanol [27] và giải quyết vấn đề khí nhà kính do CO2 sinh ra trong steam reforming (4). Hơn nữa, ưu thế của bi-reforming là giảm tạo cốc trong phản ứng Boud-ouard (7) nhờ vào việc đưa thêm hơi nước vào môi trường reforming khô [28].

     

    Trong công nghệ Topsoe sử dụng hỗn hợp nguyên liệu CH4 + CO2 + H2O (bi-reforming) để giảm tạo cốc trên xúc tác nickel và tránh tắc nghẽn đường ống.

     

    4. Xúc tác cho quá trình reforming

     

    Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp khí, vai trò của phản ứng reforming methane ngày càng trở nên quan trọng. Các bằng sáng chế (patents) về chất xúc tác cho quá trình này tăng nhanh chóng trong hai thập niên qua (Hình 2).

     

    Các quá trình reforming đòi hỏi nhiệt độ lên tới 800 –

     

    1000oC [23]. Do đó các xúc tác cho quá trình này cần đáp

     

    ứng 3 yêu cầu: bền nhiệt, kháng thiêu kết và hoạt tính cao

     

    • Phần lớn các kim loại sử dụng cho quá trình reform-ing methane là kim loại quý và oxide kim loại chuyển tiếp, có hoạt tính khử cao nhất [30]. Đáp ứng các yêu cầu đó, các kim loại được ưa chuộng nhất là Ni, Pt, Ru, Re, Ir, Co, Pd, Rh… [31, 32].

    4.1 Xúc tác kim loại quí

     

    Xúc tác kim loại quý thu hút sự chú ý vì tạo cốc thấp do khả năng “hòa” carbon trên bề mặt các kim loại này thấp [33], kháng thiêu kết cao, có tính ổn định và hoạt tính cao trong phản ứng ở nhiệt độ cao (>750oC) [34, 35]. Hơn nữa, các kim loại này có thể phân bố đồng đều trên bề mặt chất mang có electron d, tạo thuận lợi cho hấp phụ hydro. Một số kim loại quý được ứng dụng làm xúc tác reforming là Pt, Pd, Zr, Rh, Ir [34]. Các xúc tác này được mang trên các chất mang Al2O3, MSN hoặc SBA-15. Thứ tự hoạt tính của các kim loại nhóm VIII cho reforming hơi nước CH4 (SRM) như sau: Rh, Ru > Ni > Ir > Pd, Pt [36, 37]. Rh có hoạt tính cao nhất, tiếp theo là Ru. Kim loại quý có hoạt tính cao nhưng rất đắt tiền. Trong khi Ni có hoạt tính khá cao và rẻ tiền. Một đặc điểm thuận lợi là các phản ứng reforming đều sử dụng cùng một loại xúc tác. Do đó xúc tác công nghiệp sử dụng cho các quá trình reforming methane được lựa chọn là nickel mang trên chất mang khác nhau.

     

    4.2. Xúc tác kim loại chuyển tiếp

     

    Mặc dù có hoạt tính thấp hơn kim loại quí nhưng kim loại chuyển tiếp có vị trí quan trọng trong lịch sử xúc tác reforming methane. Ưu thế của kim loại chuyển tiếp là rẻ và sẵn có. Phần lớn các nghiên cứu gần đây đều tập trung vào nhóm kim loại chuyển tiếp VIIIB ngoại trừ Os, đặc biệt Ni, Co và Fe có hoạt tính cao trong quá trình reforming CH4 [38, 39]. Hoạt độ của các kim loại chuyển tiếp trong

     

     

     

    Hình 2. Các bằng sáng chế được ghi nhận về các chất xúc tác reforming cải tiến từ năm 1950 đến 2010 [29]

     

     

    54       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    phản ứng reforming khô giảm theo thứ tự sau: Fe > Ni > Co. Xúc tác Fe có hiệu suất cao trong quá trình reform-ing khô nhưng độ chọn lọc kém, lượng carbon lắng đọng nhiều gây đầu độc xúc tác và có khuynh hướng tạo thành các hydrocarbon mạch dài và hợp chất chứa oxy. Chất xúc tác dựa trên Co có hoạt độ cao nhưng chúng dễ tạo thành carbua trên bề mặt xúc tác trong quá trình phản ứng và độ chọn lọc tập trung chủ yếu vào hợp chất C2. Tuy không chiếm vị trí cao nhất trong dãy hoạt độ nhưng Ni là chất xúc tác thể hiện hoạt tính cao và độ chọn lọc tốt, đồng thời chi phí sử dụng thấp hơn so với các kim loại quý cho phản ứng reforming [40]. Do đó các chất xúc tác công nghiệp thương mại hóa cho quá trình reforming methane hiện nay chủ yếu là Ni kim loại với hàm lượng cao được phân bố trên chất mang khác nhau như Al2O3, MgO, SiO2, Cr2O3

     

    hoặc hỗn hợp các oxide [41, 42]. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của xúc tác kim loại chuyển tiếp là tạo cốc do sự nhạy cảm của kim loại (đặc biệt là nickel) và sự thiêu kết các tâm hoạt động [43, 44] dẫn đến giảm hoạt tính và giảm hiệu quả của xúc tác. Ni có ái lực với hydro làm suy yếu liên kết C–H,

     

    • nhiệt độ cao phản ứng phân hủy CH4 (6) sẽ xảy ra mạnh trên các tâm kim loại hoạt tính, tạo lớp carbon trên bề mặt xúc tác [45]. Do đó xúc tác dựa trên Ni thường bị mất hoạt tính nhanh hơn so với xúc tác kim loại quý.

    Hoạt tính và độ bền của chất xúc tác trên cơ sở nickel có thể được cải thiện bằng cách bổ sung các chất xúc tiến và sử dụng chất mang phù hợp và có thể thêm các chất oxy hóa cốc như oxy hoặc hơi nước vào môi trường phản ứng.

     

    4.3. Chất mang cho xúc tác NiO

     

    Chất mang phổ biến nhất cho quá trình reforming methane là Al2O3, các chất mang khác như MgO, TiO2, SiO2, and La2O3 cũng được sử dụng [46]. Nakamura et al. (1994) tìm thấy hoạt tính của xúc tác NiO trên các chất mang xếp theo thứ tự sau: Al2O3 > TiO2 > SiO2. Hiệu quả của chất mang thể hiện thông qua sự ảnh hưởng của chất mang lên sự hoạt hóa trực tiếp CH4 hoặc CO2 bởi các oxide kim loại và sự thay đổi kích thước hạt của kim loại trong tiến trình phản ứng [47].

     

    Sau khi điều chế và nung ở 400 – 600oC bề mặt Al2O3 bị loại nước một phần bên cạnh các tâm acid Lewis với lỗ trống phối trí (ion Al3+) và tâm acid Bronsted + còn tồn tại các tâm base Lewis (ion O2-). Các tâm base Lewis này có khả năng hấp phụ và phân ly CO2, một khí acid [48]. Tuy nhiên, ở nhiệt độ phản ứng reforming khô 700 – 900oC α-Al2O3 là chất mang phù hợp hơn α-Al2O3 do có ổn định nhiệt và độ bền cơ học cao. Trong quá trình nung ở nhiệt

     

    độ cao (>1100oC) để tạo α-Al2O3 một phần tâm base Lewis đã mất đi, dẫn đến tăng lắng đọng carbon trong quá trình reforming methane.

     

    Các xúc tác NiO/α-Al2O3 (NiAl) kích thước nano đã được điều chế thành công bằng các phương pháp khác nhau [49 – 52]. Kết quả cho thấy xúc tác điều chế bằng phương pháp tẩm có hoạt tính cao nhất, chuyển hóa 90% CH4 và 79% CO2 ngay ở 700oC và hoạt động ổn định trong hơn 30 giờ thử nghiệm trong phản ứng reforming khô [49 – 51]. Thêm hơi nước, độ chuyển hóa CH4 của xúc tác NiAl trong phản ứng bi-reforming cao hơn so với phản ứng reform-ing khô (95% so với 90%), nhưng độ chuyển hóa CO2 thì ngược lại, giảm xuống đến đến 69% [52]. Điều này được giải thích như sau khi có hơi nước lượng cốc tạo thành sau 30 giờ phản ứng ở 700oC giảm 3,7 lần, từ 37,5mgC/g trong phản ứng reforming khô xuống đến 10mgC/g trong phản ứng bi-reforming, dẫn đến tăng hoạt tính oxy hóa CH4, trong khi đó hơi nước và CO2 đều là chất oxy hóa, hấp phụ cạnh tranh trên tâm base của chất mang, mặt khác một lượng CO2 sinh ra trong steam reforming trong phản ứng (9):

     

    CH4 + 2H2O ↔ CO2 + 4H2  ΔH = +641 kJ/mol  (9)

     

    dẫn đến giảm độ chuyển hóa CO2. Kết quả cho thấy bi-re-forming có ưu thế vượt trội trong giảm tạo cốc và tăng độ bền xúc tác. Đồng thời tỷ lệ mol H2:CO thu được trong bi-reforming xấp xỉ 2, phù hợp cho sản xuất methanol và quá trình Fischer-Tropsch, trong khi tỷ lệ này trong reforming khô là 1, ứng dụng kém thuận lợi hơn.

     

    Theo Ki-Won Jun (2008), cả Ni/α-Al2O3 và Ni/γ-Al2O3 đều không ổn định theo thời gian phản ứng reforming methane. Ni/α-Al2O3 không bền do tạo cốc, còn Ni/γ-Al2O3 không bền ở nhiệt độ cao (700oC) do sự suy giảm của γ-Al2O3. S. Wang et al [44] cho rằng chất mang có thể cải tiến hoạt tính của xúc tác Ni. So với xúc tác Ni mang trên Al2O3 và MgO xúc tác Ni/SiO2 cho độ chuyển hóa cao hơn, đạt 96,2% CH4 và 93,8% CO2 ở 800oC. Bên cạnh đó thời gian làm việc ổn định của các xúc tác này cao.

     

    Từ khi xuất hiện vật liệu silicat cấu trúc trật tự vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 đã có nhiều vật liệu mao quản trung bình được tổng hợp như FSM, M41S, HMS, MSU-x, SBA-15, SBA-16…, mở ra hướng phát triển mới trong lĩnh vực xúc tác và hấp phụ. Các vật liệu này có kích thước mao quản đồng đều (dao động từ 20 – 100Å), rộng hơn kích thước của zeolit từ 3 đến 4 lần và diện tích bề mặt riêng lớn 500 – 1000m2/g. Santa Barbara Amorphous 15 (SBA-

     

    • là vật liệu mao quản trung bình với cấu trúc lỗ xốp lục giác đường kính 4,6 – 30nm được sử dụng làm chất mang

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    55

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    cho xúc tác Ni do có diện tích bề mặt lớn (600 – 1000m2/g), bền nhiệt, thể tích lỗ xốp lớn (0,5 – 1cm3/g) có thể kiểm soát được và phân bố kích thước lỗ xốp đều [53, 54]. Sự thay thế các nhóm silanol trên bề mặt bằng các ion Ni làm tăng sự ổn định của các tâm hoạt tính Ni trên SBA-15.

     

    Trong nghiên cứu [55] xúc tác nano NiO/SBA-15 với kích thước tinh thể NiO dao động trong khoảng 12,9 – 18,3nm được điều chế thành công. Trong hệ xúc tác này có các hạt NiO kích thước 5 – 6nm phân tán bên trong các lỗ xốp và hạt NiO kích thước 20 – 50nm nằm trên bề mặt của SBA-15 phụ thuộc vào hàm lượng NiO (30 – 50%). Sự phân tán vào bên trong lỗ xốp giúp ngăn chặn sự thiêu kết Ni và mất mát kim loại trong thời gian phản ứng. Sở dĩ NiO có độ phân tán cao như vậy do SBA-15 có các lỗ xốp đồng đều với đường kính lớn (5,3 – 6nm), độ xốp và diện tích bề mặt riêng cao (613m2/g). Xúc tác có khả năng khử Ni2+ thành các tâm hoạt tính Nio cao nên có hoạt tính cao trong phản ứng bi-reforming, chuyển hóa 86% CH4 và 77% CO2 ở 700oC và tương ứng 90,5% và 80% ở 800oC. Xúc tác có độ bền cao (làm việc ổn định hàng trăm giờ) do có các tâm base Lewis yếu và mạnh, vừa hạn chế tạo cốc, vừa tăng hấp phụ CO2. Tương tự, Zhang và cộng sự [56] công bố xúc tác 12,5% NiO/SBA-15 có độ chuyển hóa CH4 và CO2 ở 800oC lần lượt là 89% và 85% và bền trên 600 giờ. Kết quả cho thấy, SBA-15 có các tâm base Lewis và tương tác khác nhau với NiO là chất mang thích hợp cho NiO trong phản ứng bi-reforming. Tương tự, trong xúc tác NiO/ MSN tương tác giữa kim loại – chất mang (Si-O-Ni) tạo ra các tâm hoạt động phân tán, tăng cường phân ly CH4 và CO2, dẫn đến tăng hiệu suất xúc tác [57].

     

    Ceria (CeO2) – chất mang thế hệ mới, được biết đến như chất chứa oxy. Bên cạnh đó, CeO2 có thể hấp phụ và giải hấp H2O tạo H+ và OH- để chuyển hóa carbon trên bề mặt xúc tác thành CO và CO2 [58], dẫn đến giảm tạo cốc. Luu Cam Loc et al. [59] công bố rằng tính chất lý hóa và hoạt tính xúc tác NiO mang trên CeO2 phụ thuộc vào hình thái của nó. Các xúc tác NiO mang trên CeO2 dạng thanh nano (NR – nanorod), hạt nano (NP – nanoparticle) và khối nano (NC – nanocube) đều có độ phân tán cao. Các hạt NiO trên hai chất mang CeO2 dạng thứ nhất có kích thước là 5 – 10nm, còn trên CeO2-NR các hạt NiO nhỏ và đều hơn (5nm). Sự phân tán cao của các hạt NiO trong NiO/CeO2 được giải thích là do sự tương tác Ni2+ với chất mang CeO2 tạo thành các ion Ce3+ và các lỗ trống oxy, kích hoạt cho sự hình thành dung dịch rắn Ni-Ce-O, tạo tương tác mạnh giữa Ni với chất mang CeO2. Bên cạnh đó, xúc tác NiO/ CeO2 có 3 loại loại tâm base, hấp phụ cao CO2. Với những đặc trưng lý hóa vượt trội NiO/CeO2 dạng thanh có hoạt

     

    tính cao hơn các xúc tác mang trên CeO2 dạng hạt và dạng khối, chuyển hóa 89% CH4 và 67% CO2 ở 700oC và tương ứng 96% và 72% ở 800oC trong phản ứng bi-reforming methane. Hơn nữa, lượng cốc hình thành trên xúc tác này

     

    rất nhỏ, 0,54 mgC/gcat sau 30 giờ phản ứng ở 700oC, thấp hơn gần 20 lần so với xúc tác Ni/Al (10 mgC/gxt). Do đó xúc

     

    tác làm việc ổn định trong thời gian dài (hàng trăm giờ). Các tác giả [60, 61] cũng công bố Ni/CeO2 dạng thanh có độ bền và độ chuyển hóa tốt hơn Ni/CeO2 dạng hạt cho phản ứng reforming khô.

     

    Kết quả này cho thấy CeO2 là chất mang tiềm năng, có ưu thế vượt trội trong phân tán cao kim loại hoạt động dẫn đến tăng hoạt tính của xúc tác, chống tạo cốc, tăng tuổi thọ của xúc tác.

     

    4.4. Chất xúc tiến cho xúc tác NiO

     

    Dưới tác động của nhiệt độ phản ứng cao trong quá trình reforming methane nhiều chất xúc tác không ổn định, biến đổi về cấu trúc, thiêu kết kim loại hoạt động và tạo thành cốc trên bề mặt xúc tác. Những nguyên nhân này làm cho xúc tác mất hoạt tính nhanh chóng [62]. Như đã biết [63] trên xúc tác NiO/chất mang, CH4 hấp phụ phân ly thành các hợp chất trung gian CHx trên các tâm kim loại hoạt tính (Ni), trong khi đó chất mang hoạt hóa CO2. Để giảm tạo cốc, cần tạo ra các tâm base bằng cách biến tính chất mang bằng các oxide kim loại kiềm hay các nguyên tố đất hiếm, còn để tăng hoạt tính oxy hóa chọn lọc, cần thay đổi tính khử cũng như tương tác của NiO trong hệ để tăng độ phân tán và giảm thiêu kết của nó trong điều kiện phản ứng ở nhiệt độ cao trong thời gian dài sử dụng các chất xúc tiến như kim loại quý, oxide kim loại [64, 65]

     

    1. a) Phụ gia kim loại kiềm, kiềm thổ

    Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng carbon lắng đọng là độ kiềm của xúc tác [66], sự hình thành car-bon có thể được giảm bớt hoặc thậm chí bị ức chế khi kim loại hoạt động được phân tán trên chất mang là ox-ide kim loại với các tâm base Lewis. Nhiều nghiên cứu cho thấy thêm các phụ gia kim loại kiềm và kiềm thổ làm thay đổi tính chất của chất mang, giảm tạo cốc và tăng hấp phụ CO2, tạo lớp che phủ phần lớn bề mặt, bảo vệ xúc tác không bị lắng đọng carbon [47]. Thí dụ, thêm chất xúc tiến có tính base Lewis như các oxide kim loại kiềm (Na2O, K2O), kiềm thổ (CaO, MgO) và các base yếu (NH4OH) làm giảm mất hoạt tính xúc tác do cốc lắng đọng hoặc thiêu kết kim loại của các xúc tác Ni/Al2O3, Ni/SiO2 và NiO/SBA-15 vì các chất này sẽ hỗ trợ khả năng hấp phụ hóa học CO2 [47, 54, 67]. Các nghiên cứu của chúng tôi biến tính xúc

     

    56       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    tác NiO mang trên α-Al2O3 và SBA-15 bằng MgO [49, 52, 68] cho thấy do tương tác mạnh của NiO với phụ gia tạo hỗn hợp rắn (MgxNi1-xO), dẫn đến giảm kích thước hạt NiO, giảm sự thiêu kết các hạt Ni đồng thời tăng tính khử, tăng mật độ tâm base Lewis, hỗ trợ hấp phụ CO2 và giảm lắng đọng carbon. Từ đó tăng hoạt tính và độ bền của xúc tác. Độ chuyển hóa CH4 và CO2 đạt 92% và 87% ở 700oC, tăng tương ứng 5% và 9% so với xúc tác NiAl và giảm lượng cốc tạo thành 7 lần (từ 37,7 xuống 5,25mgC/g) trong phản ứng reforming khô [49]. Việc giảm cốc khi thêm MgO vào xúc tác NiO/α-Al2O3 được giải thích là do có lớp MgO hoặc MgO-NiO phủ trên bề mặt xúc tác như kết quả phân tích TEM đã minh chứng. Kết quả tương tự cũng quan sát thấy trong nghiên cứu [69], tác giả cho rằng lớp MgO phủ trên bề mặt xúc tác Ni-MgO/SiO2 giúp nó hoạt động ổn định trong 18 giờ thí nghiệm và sau phản ứng không có cặn carbon được tìm thấy. Tuy nhiên, MgO không thể hiện ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt tính của các xúc tác NiO mang trên α-Al2O3 và SBA-15 trong phản ứng bi-reforming cả về phương diện hoạt tính và tạo cốc [52, 68]. Kiềm hóa xúc tác NiO/SBA-15 bằng NH4OH cũng cho hiệu quả cao trong việc giảm kích thước tinh thể NiO xuống đến 10 – 15nm, tăng tính khử của Ni2+, tăng mật độ tâm base yếu của xúc tác, dẫn đến tăng hoạt tính trong bi-reforming methane

     

    • Xúc tác kiềm hóa có độ chuyển hóa CO2 cao, đạt 83% và độ chuyển hóa CH4 trên 98% ở 700oC [70]. Thông qua những kết quả nhận được có thể kết luận, trong các phụ gia kiềm MgO là một chất xúc tiến đầy hứa hẹn trong phản ứng reforming methane vì liên kết mạnh giữa NiO-MgO giúp ích trong việc ngăn ngừa thiêu kết hạt Ni và sự lắng cặn carbon. Ngoài ra, kiềm hóa bằng amoniac cũng là phương pháp xử lý xúc tác NiO có hiệu quả.
    1. Phụ gia oxide kim loại

    Bên cạnh làm chất mang, với tính chất nổi trội nhiều nghiên cứu chứng minh CeO2 còn thể hiện là phụ gia ưu việt cho xúc tác NiO trong phản ứng reforming hơi nước và reforming khô, giúp tăng khả năng chống tạo cốc, tăng tuổi thọ của xúc tác [50, 71, 72]. Bên cạnh CeO2, các kim loại quý cũng được nghiên cứu làm phụ gia cho xúc tác Ni trong phản ứng bi-reforming. Sự hiện diện của Pt giúp làm giảm nhiệt độ khử của NiO do Pt có nhiệt độ khử thấp hơn Ni và nó hấp thụ phân ly H2 thành nguyên tử H. Các nguyên tử H di chuyển trên bề mặt xúc tác và giúp khử NiO dê dàng hơn, nhờ đó độ chuyển hóa CH4 tăng [73]. Bên cạnh đó Pt giảm sự lắng đọng carbon, tăng độ ổn định của xúc tác NiO và tăng độ chọn lọc H2 và CO [74]. Rhodium (Rh) tăng độ ổn định của xúc tác và độ chọn lọc tạo H2, CO, đồng thời giảm sự lắng đọng cốc trong phản

     

    ứng reforming CH4 bằng CO2 [75]. ZrO2 tăng hấp phụ phân ly CO2, giảm sự hình thành NiAl2O4 dẫn đến tăng nhẹ hoạt tính của xúc tác Ni/Al2O3 trong phản ứng reforming khô CH4 [76]. CuO có vai trò ôn đinh câu truc xuc tac, can trơ thiêu kêt cac hat kim loai. Sư hinh thanh hôn hơp Cu-Ni thuc đây qua trinh phân ly CH4 va ngăn chăn sư gia tăng cua carbon dạng sợi trên tinh thê Ni [77]. Thêm phụ gia vanadium một mặt tao câu truc vi mô giup han chê sư hinh thanh spinel NiAl2O4, mặt khác là xúc tác oxy hóa phụ gia này giup cai thiên hiêu suât cua phan ưng reforming CH4 bằng CO2 [78]. Thêm V2O5 vào xúc tác NiO/CeO2 dạng thanh làm tăng độ chuyển hóa CH4 từ 89% lên 96% và CO2 từ 67% lên 76% ở 700oC, đồng thời sau 30 giờ phản ứng không có cốc tạo thành trên bề mặt xúc tác trong phản ứng bi-reforming methane [79]. Vậy, xúc tác NiO mang trên CeO2 có lượng cốc tạo thành thấp nhất, đặc biệt khi nó được biến tính bằng vanadium (V).

     

    5. Kết luận

     

    Hiện nay CO2 và CH4 được coi là các khí nhà kính cơ bản gây biến đổi khí hậu, sự nóng lên của trái đất và nước biển dâng, gây thảm họa cho loài người. Tuy nhiên, nếu tận dụng, chuyển hóa các nguồn khí nhà kính đó thành các sản phẩm có ích, thì chúng sẽ là nguồn nguyên liệu dồi dào cho một lĩnh vực công nghiệp hóa dầu mới, lĩnh vực chuyển hóa khí thiên nhiên giàu CO2. Thông qua chuyển hóa thành khí tổng hợp từ khí thiên nhiên có thể sản xuất hàng loạt hóa chất quan trọng, trong đó quan trọng nhất là hydro, hydrocarbon và methanol. Quá trình này càng có

     

    • nghĩa về kinh tế và môi trường hơn đối với Việt Nam khi

    sự phát hiện và khai thác một số mỏ khí thiên nhiên có trữ lượng lớn với hàm lượng CO2 cao đặt ra vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên này.

     

    Xu hướng gần đây cho thấy reforming methane là giải pháp chuyển hóa hiệu quả khí thiên nhiên giàu CO2. Kết hợp reforming khô và reforming hơi nước (bi-reforming) một mặt chuyển hóa hai loại khí nhà kính CO2 và CH4 thành nguồn nguyên liệu có ích với tỷ lệ H2:CO theo mong muốn, mặt khác hạn chế hình thành cốc do sự có mặt của hơi nước. Nickel được chọn là xúc tác hiệu quả cho công nghệ reforming methane. Trong 2 thập niên gần đây đã có những nỗ lực mạnh mẽ trong việc nghiên cứu và phát triển các chất xúc tác mới để cải thiện quá trình chuyển hóa CH4 và CO2 thành khí tổng hợp theo hướng tăng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Việc kiềm hóa chất mang và biến tính xúc tác bằng phụ gia cũng như thêm hơi nước vào môi trường phản ứng reforming khô là những biện pháp hữu hiệu tăng hoạt độ và độ bền của xúc tác NiO. Đã

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    57

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    có nhiều thành công trong việc sử dụng các chất mang mới như CeO2 và silica mao quản trung bình cũng như biến tính các xúc tác Ni bằng các phụ gia oxide kim loại kiềm hoặc kim loại chuyển tiếp để giảm tạo cốc và tăng hoạt độ và độ bền của xúc tác trong quá trình bi-reform-ing. Các hệ xúc tác mới giúp hạ nhiệt độ phản ứng xuống đến 700oC vẫn thu độ chuyển hóa CH4 đạt đến 97 – 99% và tỷ lệ H2:CO ~ 2, phù hợp cho sản xuất methanol và quá trình Fischer-Tropsch, đồng thời giảm thiểu tạo cốc.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Alfons Baiker. Utilization of carbon dioxide in heterogeneous catalytic synthesis. Applied organometallic 2000; 14(12): p. 751 – 762.
    1. Iwao Omae. Aspects of carbon dioxide utilization. Catalysis Today. 2006; 115 (1 – 4): p. 33 – 52.
    1. World Meteorological Organization (WMO). WMO Greenhouse Gas Bulletin (GHG Bulletin) – N°8: The State of Greenhouse Gases in the atmosphere based on global observations through 2011. 2012.
    1. Nicola Jones. How the world passed a carbon threshold and why it matters. The Yale School of Forestry & Environmental Studies. January 26 – 2017.
    1. Holian, A.P.Sokolov, R.G.Prinn. MIT joint program on the science and policy of global change. 2001.
    2. A.Dunn, M.G.Kozar, Budiyono. Annual Convention Proceedings. 1996; 25: p. 117 – 130.
    1. Donald J.Wuebbles, Katharine Hayhoe. Atmospheric methane and global change. Earth-Science 2002; 57 (3 – 4): p. 177 – 210.
    1. J.Bin, W.Sh.Wu, L.Yong, ZA. Z.Ci, W.X.Yu. Advances in climate change research. 2012; 3(3): p. 174 – 178.
    1. Thomas R.Anderson, Ed Hawkins, Philip D.Jones. CO2, the greenhouse effect and global warming: from the pioneering work of Arrhenius and Callendar to today’s Earth System Models. Endeavour. 2016; 40(3): p. 178 – 187.
    1. Erik Velasco, Matthias Roth. Cities as net sources

    of CO2: Review of atmospheric CO2 exchange in urban environments measured by Eddy Covariance Technique. Geography Compass. 2010; 4(9): p. 1238 – 1259.

     

    1. Dori Yosef Kalai. Dry reforming of methane: catalyst development and thermodynamic analysis. Master Thesis, University of Stavanger. 2015.
    1. ABC Australia. Paris climate talks: France releases ‘ambitious, balanced’ draft agreement at COP21. 12th December 2015.
    1. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo cập nhật hai năm một lần, lần thứ nhất của Việt nam cho công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. 2014.
    1. OPEC Annual Statistical Bulletin. Organization of the petroleum exporting countries.
    1. Nguyễn Thị Hoa. Nghiên cứu kỹ thuật phương án khai thác, thu gom, xử lý và đưa vào sử dụng mỏ khí Cá Voi Xanh (CVX). Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ (CTAT). 2013.
    1. Nitin Kumar, Amitava Roy, Zi Wang, Enrico Mario L’Abbate, Daniel Haynes, Dushyant Shekhawat, J.J.Spivey. Bi-reforming of methane on Ni-based pyrochlore catalyst. Applied Catalysis A: General. 2016; 517: p. 211 – 216.
    1. R.H.Ross, A.N.J van Keulen, M.E.S.Hegarty, K.Seshan. The catalytic conversion of natural gas to useful products. Catalysis Today. 1996; 30 (1 – 3): p. 193 – 199.
    1. J Wilhelm, D.R Simbeck, A.D Karp, R.L.Dickenson. Syngas production for gas-to-liquids applications: technologies, issues and outlook. Fuel processing technology. 2001; 71 (1 – 3): p. 139 – 148.
    1. Wonjun Cho, Hyejin Yu, Yonggi Mo. Recent advances in carbon capture and storage. Chapter 9: CO2 conversion to chemicals and fuel for carbon utilization. 2017: p.195 – 208.
    1. Youn. The status of DME fuel in Korea. The 6th Korea-China-Japan Petroleum Technology Congress, 4 – 6 September 2013.
    1. Jasmin Blanchard, Ana Julia Nsungui, Nicolas

    Abatzoglou, François Gitzhofer. Dry Reforming of Methane with a Ni/Al2O3 YSZ Catalyst: The Role of the Catalyst Preparation Protocol. The Canadian Journal of Chemical engineering. 2007; 85(6): p. 889 – 899.

     

    1. Jens R.Rostrup – Nielsen. Syngas in perspective. Catalysis today. 2002; 71(3 – 4): p. 243 – 247.
    1. Nitin Kumar, Zi Wang, Swarom Kanitkar, J.J.Spivey. Methane reforming over Ni-based pyrochlore catalyst: deactivation studies for different reactions. Applied Petrochemical Research. 2016; 6(3): p. 201 – 207.
    1. Oemar, K.Hidajat,  S.Kawi.  Role  of  catalyst

    support over PdO-NiO catalysts on catalyst activity and stability for oxy-CO2 reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2011; 402 (1 – 2): p. 176 – 187.

     

    1. Assabumrungrat,S.Charoenseri,

    N.Laosiripojana, W.Kiatkittipong, P.Praserthdam. Effect of oxygen addition on catalytic performance of Ni/SiO2·MgO toward carbon dioxide reforming of methane under periodic

     

     

    58       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    operation. International Journal of Hydrogen Energy.

     

    2009; 34: p. 6211 – 6220.

     

    1. B.Wang, G.Q.Lu, G.J.Millar. Carbon dioxide reforming of methane produces synthesis gas with over metal supported catalysts: state of the at. Energy Fuel. 1996;
    • 896 – 904.
    1. A.Olah, G.K.  Surya  Prakash,  A.Goeppert.

    Anthropogenie chemical carbon cycle for a sustainable future. Journal of the American Chemical Society. 2011; 133(33): p. 12881 – 12898.

     

    1. Kumar, M.Shojaee, J.Spivey. Current Opinion in Chemical Engineering. 2015; 9: p. 8 – 15.
    1. L.Roussière. Catalytic reforming of methane in the presence of CO2 and H2O at high pressure. 2013.
    2. A.Olah, A.Goeppert, M.Czaun, T.Mathew, R.B.May, G.S.Prakash. Single Step Bi-reforming and

    Oxidative Bi-reforming of Methane (Natural Gas) with Steam and Carbon Dioxide to Metgas (CO-2H2) for Methanol Synthesis: Self-Sufficient Effective and Exclusive Oxygenation of Methane to Methanol with Oxygen. Journal of the American Chemical Society. 2015; 137: p. 8720 – 8729.

     

    1. Glenn Jones, Jon Geest Jakobsen, Signe S.Shim, Jesper Kleis, Martin P.Andersson, Jan Rossmeisl, FrankAbild-Pedersen, ThomasBligaard, StigHelveg, BeritHinnemann, Jens R.Rostrup-Nielsen, IbChorkendorff, JensSehested, Jens K.Nørskov. First principles calculations and experimental insight into methane steam reforming over transition metal catalysts. Journal of Catalysis. 2008;
    • 147 – 160.
    1. Behzad Nematollahi, Mehran Rezaei, Majid Khajenoori. Combined dry reforming and partial oxidation of methane to synthesis gas on noble metal catalysts. International Journal of Hydrogen Energy. 2011; 36: p. 2969 – 2978.
    1. M.Ramallo-López, F.G.Requejo, A.F.Craievich, J.Wei, M.Avalos-Borja, E.Iglesia. Complementary methods for cluster size distribution measurements: supported platinum nanoclusters in methane reforming catalysts. Journal of Molecular Catalysis A: Chemical. 2005; 228: p. 299 – 307.
    1. Cyrille Rioche, Shrikant Kulkarni, Frederic C.Meunier, John P.Breen, Robbie Burch. Steam reforming of model compounds and fast pyrolysis bio-oil on supported noble metal catalysts. Applied Catalysis B: Environmental. 2005; 61: p. 130 – 139.
    1. Schuyten, Eduardo E.Wolf. Selective combinatorial studies on Ce and Zr promoted Cu/Zn/Pd

    catalysts for hydrogen productio via methanol oxidative reforming. Catalysis letters. 2006; 106: p. 7 – 14.

     

    1. Velu Subramani, Pradeepkumar Sharma, Lingzhi Zhang, Ke Liu. Catalytic steam reforming technology for the production of hydrogen and syngas. Hydrogen and Syngas Production and Purification Technologies. 2009: p. 14 – 126.
    2. Rezaei, S.M.Alavi, S.Sahebdelfar, Zi-Feng Yan.

    Syngas production by methane reforming with carbon dioxide on noble metal catalysts. Journal of Natural Gas Chemistry. 2006; 15(4): p. 327 – 334.

     

    1. Guojie Zhang, Lanxia Hao, Yong Jia, Yannian du, Yongfa Zhang. CO2 reforming of CH4 over efficient bimetallic Co-Zr/AC catalyst for H2 International Journal of Hydrogen Energy. 2015; 40(37): p. 12868 – 12879.
    1. Hyun-Seog Roh, Ki-Won Jun, Seung-Chan Baek,

    Sang-Eon Park. A Highly Active and Stable Catalyst for Carbon Dioxide Reforming of Methane: Ni/Ce-ZrO2/θ-Al2O3.

    Catalysis letters. 2002; 81(3 – 4): p. 147 – 151 (2002).

     

    1. Capeness, M.Edmundson, L.Horsfall. Nickel and platinum group metal nanoparticle production by Desulfovibrio alaskensis G20. New biotechnology. 2015;
    • 727 – 731.
    1. Dapeng Liu, Xian Yang Quek, Wei Ni Evelyn Cheo, Raymond Lau, Armando Borgna, Yanhui Yang. MCM-41 supported nickel-based bimetallic catalysts with superior stability during carbon dioxide reforming of methane: Effect of strong metal–support interaction. Journal of Catalysis. 2009; 266: p. 380 – 390.
    1. A.Olah, A.Goeppert,  M.Czaun,  G.K.Prakash.

    Bi-reforming of methane from any source with steam and carbon dioxide exclusively to metgas (CO-2H2) for methanol and hydrocarbon synthesis. J. American Chemical Society. 2013; 135(2): p. 648 – 650.

     

    1. Rostrupnielsen, J.B.Hansen. CO2-Reforming of Methane over Transition Metals. Journal of Catalysis. 1993;
    • 38 – 49.
    1. Shaobin Wang, G. Q(Max) Lu. Role of CeO2 in Ni/CeO2-Al2O3 catalysts for carbon dioxide reforming of methane. Applied Catalysis B: Environmental. 1998; 16: 269 – 277.
    1. Hu, J.Gao, Y.Ping, L.Jia, P.Gunawan, Z.Zhong,

    G.Xu, F.Gu, F.Su. Enhanced investigation of CO methanation over Ni/Al2O3 catalysts for synthetic natural gas production. Industrial & Engineering Chemistry Research. 2012; 51(13): p. 4875 – 4886.

     

    1. Guo, H.Lou, H.Zhao, D.Chai, X.Zheng. Dry reforming of methane over nickel catalysts supported on

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    59

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    magnesium aluminate spinels. Applied Catalysis A: General.

     

    2004; 273(1): p. 75 – 82.

     

    1. Hyunseog Roh, Ki Won Jun. Carbon dioxide reforming of methane over Ni catalysts supported on Al2O3 modified with La2O3, MgO, and CaO. Catalysis surveys from 2008; 12(4): p. 239 – 252.
    1. Rahemi, M.Haghighi, A.A.Babaluo, M.F.Jafari,

    P.Estifaee. Synthesis and physicochemical characterizations of Ni/Al2O3-ZrO2nanocatalyst prepared viaimpregnation method and treated with non-thermal plasma for CO2 reforming of CH4. Journal of Industrial and Engineering Chemistry. 2013; 19: p. 1566 – 1576.

     

    1. Phan Hồng Phương, Lưu Cẩm Lộc, Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Tiến, Nguyễn Huỳnh Phương Thảo, Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Thùy Vân, Hoàng Tiến Cường, Hà

    Cẩm Anh. Ảnh hưởng của tỷ lệ NiO/MgO đến hoạt tính xúc tác cơ sở Ni mang trên α-Al2O3 trong phản ứng reforming khô CH4. Tạp chí Xúc tác – Hấp phụ. 2017; 6(2): p. 30 – 35.

     

    1. Luu Cam Loc, Phan Hong Phuong, Nguyen Tri. Role of CeO2 promoter in NiO/α – Al2O3 catalyst for dry reforming of methane. AIP Conference Proceedings. 2017.
    1. Luu Cam Loc, Phan Hong Phuong, Nguyen Huynh Phuong Thao, Nguyen Tri, Nguyen Thi Thuy Van, Hoang

    Tien Cuong, Ha Cam Anh. Influence of preparation method on the activity of NiO+MgO/Al2O3 catalyst in dry reforming of methane. Journal of Chemistry. 2017; 55(3e): p. 1 – 7.

     

    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Pham The Sang, Nguyen Tri. Combined steam and CO2 reforming of CH4 over Nickel catalysts based on Al2O3-MgO. Tạp chí Khoa học – Công nghệ. 2017; 55(1B): p. 49 – 56.
    1. Zhao, J.Sun, Q.Li, G.D.Stucky. Morphological control of highly ordered mesoporous silica SBA-15. Chemistry of Materials. 2000; 12(2): p. 275 – 279.
    1. S.Roh, K.Y.Koo, J.H.Jeong, Y.T.Seo, D.J.Seo, Y.S.Seo, W.L.Yoon, S.B.Park. Combined reforming of methane over supported Ni catalysts. Catalysis Letters. 2007; 117(1 – 2): p. 85 – 90.
    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Hoang Tien Cuong, Nguyen Tri. Effect of NiO loading and thermal

    treatment duration on performance of Ni/SBA-15 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. Materials Transactions. 2018; 59(12): p.1898 – 1902.

     

    1. Zhang S.Ji, L.Hu, F.Yin, C.Li, H.Liu. Structural

    Characterization of Highly Stable Ni/SBA-15 Catalyst and Its Catalytic Performance for Methane Reforming with CO2. Chinese Journal of Catalysis. 2006; 27(9): p. 777 – 781.

     

    1. Sidik, S.Triwahyono,   A.Jalil,   M.Aziz,   N.

    Fatah, L.Teh. Tailoring the properties of electrolyzed Ni/ mesostructured silica nanoparticles (MSN) via different Ni-loading methods for CO2 reforming of CH4. Journal of CO2 Utilization. 2016; 13: p. 71 – 80.

     

    1. Zhuang, Y. Qin, and L. Chang. Promoting effect of cerium oxide in supported nickel catalyst for hydrocarbon steam-reforming. Applied catalysis. 1991; 70: p. 1 – 8.
    1. Luu Cam  Loc,  Phan  Hong  Phuong,  Dang,

    Putthea, Nguyen Tri, Nguyen Thi Thuy Van, Hoang Tien Cuong. Effect of CeO2 morphology on performance of NiO/ CeO2 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. International Journal of Nanotechnology. 2019.

     

    1. Wang, W.Qian, W.Chu, F. Wei. Crystal-plane effect of nanoscale CeO2 on the catalytic performance of Ni/ CeO2 catalysts for methane dry reforming. Catalysic Science
    • 2016; 6(10): p. 3594 – 3605.
    1. Xianjun Du, Dengsong Zhang, L iyi Shi, Ruihua

    Gao, Jianping Zhang. Morphology Dependence of Catalytic Properties of Ni/CeO2 Nanostructures for Carbon Dioxide Reforming of Methane. The Journal of Physical Chemistry. 2012; 116(18): p. 10009 – 10016.

     

    1. Jianjun Guo, Hui Lou, Xiaoming Zheng. The deposition of coke from methane on a Ni/MgAl2O4 catalyst. 2007; 45(6): p. 1314 – 1321.
    1. Yaser Vafaeian, Mohammad Haghighi, Sogand Aghamohammadi. Ultrasound assisted dispersion of

    different amount of Ni over ZSM-5 used as nanostructured catalyst for hydrogen production via CO2 reforming of methane. Energy conversion and management. 2013; 76: p. 1093 – 1103.

     

    1. S.Fan, A.Z.Abdullah, S.Bhatia. Catalytic technology for carbon dioxide reforming of methane to synthesis gas. Chem Cat Chem. 2009; 1(2): p. 192 – 208.
    1. Leilei Xu, Huanling Song, Lingjun Chou. Carbon

    dioxide reforming of methane over ordered mesoporous NiO-MgO-Al2O3 composite oxides. Applied Catalysis B: Environmental. 2011; 108: p. 177 – 190.

     

    1. A.Soria, C.Mateos-Pedrero, A.Guerrero-Ruiz, I.Rodríguez-Ramos. Thermodynamic and experimental

    study of combined dry and steam reforming of methane on Ru/ ZrO2-La2O3 catalyst at low temperature. International Journal of hydrogen energy. 2011; 36(23): p. 15212 – 15220.

     

    1. Juan-Juan, M.C.Román-Martínez,   M.J.Illán-

    Gómez. Effect of potassium content in the activity of K-promoted Ni/Al2O3 catalysts for the dry reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2006; 301(1): p. 9 – 15.

     

    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Nguyen Tri,

    60       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Vu Thanh Thuy Tien, Nguyen The Tung. Effect of alkalizing method on characteristics and performance of Ni/SBA-15 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. The 9th International Workshop on Advanced Materials Science and Nanotechnology. 2018.

     

    1. M.M.Danilova, Z.A.Fedorova, V.A.Kuzmin, V.I.Zaikovskii, A.V.Porsin, T.A.Krieger. Combined steam and carbon dioxide reforming of methane over porous nickel based catalysts. Catalysis Science & Technology. 2015; 5(5): p. 2761 – 2768.
    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Nguyen Tri, Nguyen The Tung. Effect of NH3-alkalization on catalytic performance of Ni/SBA-15 in combined steam and CO2 re-forming of CH4. Vietnam Journal of Catalysis and Adsorp-tion. 2019.
    1. Hua-Ping Ren, Yong-Hong  Song,  Wei  Wang,

    Jian-Gang Chen, Jie Cheng, Jinqiang Jiang, Zhao-Tie Liu, Zhong-Wen Liu, Zhengping Hao. Insights into CeO2-modified Ni-Mg-Al oxides for pressurized carbon dioxide reforming of methane. Chemical Engineering Journal. 2015; 259: p. 581 – 593.

     

    1. Xu Wenqian; Liu Zongyuan; C.Johnston-Peck Aaron, D.Senanayake Sanjaya, Zhou Gong, Stacchiola

    Dario, A.Stach Eric, A.Rodriguez José. Steam Reforming of Ethanol on Ni/CeO2: Reaction Pathway and Interaction between Ni and the CeO2 Support. ACS Catalysis. 2013; 3(5): p. 975 – 984.

     

    1. Edson L.Foletto, Ricardo W.Alves, Sérgio L.Jahn.

    Preparation of Ni/Pt catalysts supported on spinel (MgAl2O4) for methane reforming. Journal of power sources. 2006; 161(1): p. 531 – 534.

     

    1. M.García-Diéguez, I.S.Pieta, M.C.Herrera, M.A.Larrubia, L.J.Alemany. Improved Pt-Ni nanocatalysts for dry reforming of methane. Applied Catalysis A: General, 377(1 – 2), 191 – 199 (2010).
    1. Marco Ocsachoque, Francisco Pompeo, Gloria Gonzalez. Rh-Ni/CeO2-Al2O3 catalysts for methane dry reforming. Catalysis Today. 2011; 172(1): p. 226 – 231.
    1. Therdthianwong, C.Siangchin, A.Therdthianwong. Improvement of coke resistance of Ni/Al2O3 catalyst in CH4/ CO2reforming by ZrO2 Fuel Processing Technology. 2008; 89(2): p. 160 – 168.
    1. W.Chen, C.Y. Wang, C.H.Yu, L.T.Tseng, P.H.Liao. Carbon dioxide reforming of methane reaction catalyzed by stable nickel copper catalysts. Catalysis Today. 2004; 97(2): p. 173 – 180.
    1. Valentini,N.L.V.Carreño,L.F.D.Probst,

    P.N.Lisboa-Filho, W.H.Schreiner, E.R.Leite, E.Longo. Role of vanadium in Ni:Al2O3 catalysts for carbon dioxide reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2003; 255(2): p. 211 – 220.

     

    1. Phan Hồng Phương, Lê Hoàng Thanh Dũng, Lê

    Ngọc Tài, Nguyễn Trí, Lưu Cẩm Lộc. Ảnh hưởng phụ gia V2O5 đến hoạt tính của xúc tác NiO/CeO2 trong phản ứng reforming CH4 bằng CO2 và hơi nước. Tạp chí Hóa học. 2018; 56(3E12): p. 155 – 159 (2018).

     

    PROGRESS IN CATALYST OF REFORMING METHANE PROCESS – A POTENTIAL SOLUTION FOR EFFECTIVE USE OF CO2-RICH NATURAL GAS SOURCES

     

    Luu Cam Loc

    Ho Chi Minh City University of Technology (HCMUT)

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    The rapid increase in emissions of major greenhouse gases such as CO 2 and CH4 in the last decade has seriously affected the climate change and the living environment in the world in general and in Vietnam in particular. In addition, the demand for efficient use of CO2-rich natural gas has promoted studies to find new, highly active and stable catalysts for the reforming methane process. NiO has proven to be the most suitable catalyst for industrial application of the reforming process. To overcome the disadvantages of NiO-based catalysts such as coke formation and sintering at high reaction temperatures, many diverse researches from using new carriers to supporting catalyst by alkali, alkaline earth metals and other metal oxides to improve the catalyst synthesis method have been conducted. As a result, highly efficient catalysts were created, partly thanks to the reduction of the reaction temperature from 800oC to 700oC, the coke formation significantly decreased and the stable working time of the catalyst increased to over 600 hours.

     

    Key words: CO2-rich natural gas, dry reforming, bi-reforming, catalyst.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

    61


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-%C4%82N-M%C3%92N-%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG-%E1%BB%90NG-D%E1%BA%AAN-KH%C3%8D-B%E1%BA%A0CH-H%E1%BB%94-DINH-C%E1%BB%90-V%C3%80-%C4%90%E1%BB%80-XU%E1%BA%A4T-C%C3%81C-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-CH%E1%BB%90NG-%C4%82N-M%C3%92N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 62 – 66

     

    ISSN-0866-854X

     

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

     

    Phan Công Thành, Trương Quang Trường, Trần Mai Khôi

    Tổng công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố (16”, dài 116,5km) được đưa vào vận hành từ năm 1995 để vận chuyển khí đồng hành từ giàn nén khí trung tâm (CCP) mỏ Bạch Hổ đến Nhà máy xử lý khí Dinh Cố.

     

    Khi sản lượng khí của mỏ Bạch Hổ suy giảm, Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro” và Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS) đã xem xét khả năng sử dụng đường ống dẫn khí này để vận chuyển khí từ mỏ Đại Hùng, Thiên Ưng, Cá Chó – Gấu Chúa và Đại Nguyệt ở bể Nam Côn Sơn về bờ. Do đó, tuổi thọ của đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cần được đảm bảo đến năm 2025 để đáp ứng yêu cầu tiếp nhận và vận chuyển các nguồn khí mới.

     

    Bài báo đánh giá hiện trạng ăn mòn của hệ thống đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố trên cơ sở các thông số thiết kế, vận hành, kết quả cập nhật sau khảo sát, bảo dưỡng sửa chữa, đánh giá các ảnh hưởng đến an toàn vận hành của hệ thống đường ống khi tiếp nhận khí từ mỏ Thiên Ưng, Đại Hùng với thành phần CO2 cao hơn và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn cụ thể.

     

    Từ khóa: Đường ống dẫn khí, ăn mòn, CO2, Bạch Hổ – Dinh Cố.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các dạng ăn mòn phổ biến đối với đường ống dẫn khí gồm: ăn mòn đều, ăn mòn cục bộ (ăn mòn pitting, ăn mòn khe, ăn mòn mesa, ăn mòn vùng hàn), nứt do tác động môi trường và phá hủy do dòng chảy [1, 2].

     

    Nhiều tác nhân hóa học khác nhau trong đường ống có thể ảnh hưởng đến quá trình ăn mòn bên trong hệ thống. Sự phá hủy ăn mòn đối với từng tác nhân sẽ thay đổi theo điều kiện vận hành và môi trường vật lý. Có 4 tác nhân chính: CO2, H2S, O2, hoạt động trao đổi chất của vi khuẩn. Để tác nhân này có thể gây ăn mòn, bắt buộc phải có nước [1, 2].

     

    Các cơ chế phá hủy: Cơ chế ăn mòn (ăn mòn Galvanic, ăn mòn do chênh lệch nồng độ), cơ chế nứt do tác động môi trường (phá hủy do hydro, nứt ăn mòn ứng suất, giòn do kim loại lỏng), cơ chế phá hủy do dòng chảy (xói mòn, va chạm, ăn mòn xói mòn, tạo bọt khí) [3].

     

    Ngày nhận bài: 27/8/2018. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 27/8 – 19/9/2018.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 5/4/2019.

     

    2. Hiện trạng ăn mòn đường ống dẫn khí của PV GAS và Vietsovpetro trên cơ sở dữ liệu vận hành đến thời điểm hiện tại

     

    Trên cơ sở các thông số vận hành, khi có nước, cơ chế ăn mòn chủ yếu đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố là ăn mòn do CO2 [4]. Khả năng xảy ra và cơ chế ăn mòn được đưa ra trong Bảng 1:

     

    • Có khả năng: Cơ chế này khi chưa áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn có khả năng phá hủy tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Các biện pháp phòng ngừa cần được áp dụng để kiểm soát mối nguy.
    • Không có khả năng: Cơ chế này dự báo sẽ không có ảnh hưởng đáng kể đến tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Không cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn.

    Mỗi cơ chế “Có khả năng” sẽ cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn. Nguy cơ xảy ra những cơ chế này sau khi được áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn được chia thành 3 mức độ:

     

    • Cao: Dù sử dụng các biện pháp nhưng khả năng xảy ra rất cao, cần tăng cường kiểm tra, theo dõi, bảo

    62       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    dưỡng để kiểm soát nguy cơ, có thể phải thay đổi thiết kế/ vật liệu nếu cần.

     

    • Trung bình: Có thể kiểm soát sử dụng các phương pháp công nghiệp đã được công bố; kiểm tra, theo dõi, bảo dưỡng ở mức độ thông thường.
    • Thấp: Chỉ cần kiểm tra, theo dõi và bảo dưỡng ở mức độ tối thiểu.

    Dựa trên đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí, có thể kết luận cơ chế ăn mòn chính là do CO2.

     

    3. Đánh giá tốc độ ăn mòn đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố bằng phương pháp mô phỏng thực nghiệm và lý thuyết

     

    Các phần mềm mô phỏng thường được thiết lập chế độ an toàn khi đưa ra kết quả tốc độ ăn mòn dự đoán và trong nhiều trường hợp mức độ ăn mòn cao hơn thực tế rất nhiều. Một số phần mềm lại giả sử đường ống có sự bảo vệ từ lớp dầu hoặc sản phẩm ăn mòn và đưa ra mức độ ăn mòn thấp hơn so với thực tế [5 – 8].

     

    Theo tiêu chuẩn của Canada, bất kỳ khí có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành sẽ được coi là không có tính ăn mòn. Khí chứa H2S và CO2 có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành do khử nước hoặc sử dụng chất ức chế, cũng được coi là không có tính ăn mòn [9]. Nhiệt độ điểm sương của khí trong đường ống được duy trì ở mức 5oC ở áp suất vận hành, thấp hơn rất nhiều so với nhiệt độ vận hành (khoảng 30oC).

     

    Số liệu trong giai đoạn 2010 – 2017 được Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Dịch vụ Kỹ thuật (DMC RT) sử dụng là kết quả thực tế, trong khi đó WebCorr và DNV sử dụng kết quả dự báo từ phần mềm Hysis. Ngoài ra, WebCorr không tính đến tham số hàm lượng acid acetic/ acetate và hàm lượng bicarbonate, 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ ăn mòn. Trong khi đó, DNV có tính đến các tham số này nhưng bộ dữ liệu thiếu chắc chắn (2 bộ dữ liệu lệch nhau tương đối lớn).

     

    Thực nghiệm bằng phương pháp đo điện hóa và phương pháp tổn hao khối lượng, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 trong khí tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện

     

    Bảng 1. Tóm tắt các cơ chế phá hủy và nguy cơ xảy ra

     

                 

    Cơ ch

                     

    Nguy cơ

             

    Nguy cơ sau áp d ng bi n pháp

                                                   

    gi m thi u ăn mòn

         
                                                                     
               

    Ăn mòn oxy

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn vi khu n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Giòn th y ngân l ng

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn xói mòn

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    H2S (do MIC)

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
           

    H2S (nư c chua)

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                   

    C n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Clo hòa tan

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Ăn mòn CO2

               

    Có kh  năng

                   

    Trung bình

         
         

    Ăn mòn vùng hàn

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
       

    Giòn nhi t đ  th p

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Ăn mòn dư i l p c n

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
               

    Acid h u cơ

               

    Có kh  năng

                   

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn đ nh  ng

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                           

    Bảng 2. So sánh tốc độ ăn mòn từ các phần mềm với số liệu coupon/đầu dò

                     
                                                                               
       

    Đơn v

             

    Ph n m m

                             

    T c đ  ăn mòn (mm/năm)

                     
       

    th c hi n

             

    2010

       

    2011

         

    2012

         

    2013

       

    2014

       

    2015

         

    2016

       

    2017

     
                                                       
       

    DMC-RT

           

    ECE 5.4

    0

       

    0

     

    0

     

    0

       

    0,01

       

    0,01

     

    0,04

     

    0,08

     
               

    M-506

       

       

     

    0,19

       

    0,31

       

    0,3

     

    0,57

     

    0,69

     
                                           
       

    DNV

               

    ECE 4

       

     

     

       

       

    0,46

     

    0,58

     

    0,8

     
                   

    Predict 6.1

       

       

     

       

       

    0,045

     

    0,0005

     

    0,0005

     
                                           
                     

    ECE 5.1

       

     

     

       

       

    0,3

     

    0,41

     

    0,62

     
       

    WebCorr

           

    Predict 6.1

       

     

     

       

       

    0,66

     

    0,81

     

    1,1

     
               

    M-506

       

       

     

       

       

    0,42

     

    0,62

     

    0,99

     
                                           
                     

    DWM

       

     

     

       

       

    0,42

     

    0,53

     

    0,72

     
             

    Probe

     

    NA

     

    NA

     

    0,00035

     

    0,00155

       

    0,00195

       

    0,0003

     

    0,0001

     

    0,00025

     
           

    Coupon

    0,002

     

    0,0015

     

    0,0025

     

    0,00231

       

    0,00068

       

    0,00035

     

    0,00055

     

    0,00013

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    63

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    mô phỏng khắc nghiệt hơn thực tế (dung dịch NaCl 0,1%, 1.000ppm acid acetic) ở mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086mm/năm và 0,066mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59mm đến 0,77mm.

     

    Theo tiêu chuẩn của NACE, nếu không có nước, CO2 là chất không ăn mòn [1]. Trên thực tế, hàm lượng nước trong đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố rất thấp, tốc độ ăn mòn chậm, điều này được phản ánh qua kết quả khảo sát bằng đầu dò và coupon.

     

    Tuy nhiên, theo ghi nhận và thông tin từ PV GAS, trong quá trình vận hành, đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố gặp phải các vấn đề liên quan đến ăn mòn tại một số vị trí và đã phải sửa chữa. Để kiểm soát vấn đề này, cần nghiên cứu và khảo sát điều kiện địa hình tuyến ống biển, từ đó tính toán được góc tới hạn của độ nghiêng cho từng đoạn ống, tính toán vị trí có nguy cơ đọng nước và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp. Phóng thoi định kỳ cũng là biện pháp để kiểm soát các bất thường này [1, 5].

     

    4. Đánh giá hiệu quả của hóa phẩm chống ăn mòn đang sử dụng tại đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn hiệu quả

     

    Nhóm tác giả sử dụng phương pháp đặt mẫu coupon (Wheel test) và phương pháp đo điện trở phân cực trong điều kiện sục khí (LPR bubble test) [3, 10 – 12].

     

    Các hóa phẩm chống ăn mòn được đánh giá gồm 1 mẫu hóa phẩm đang sử dụng (chất ức chế A) và 2 mẫu hóa phẩm thương mại khác (chất ức chế B và C).

     

    • Chất ức chế A: BAKER PETROLITE CR080143.
    • Chất ức chế B: CORRTREAT 5745.
    • Chất ức chế C: HB CI 8102.

    Kết quả đo điện hóa tại các nồng độ khảo sát và so sánh khả năng bảo vệ của 3 chất ức chế ở mỗi nồng độ cho thấy:

     

    ++ Đối với chất ức chế A: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 100ppm.

     

    ++ Đối với chất ức chế B: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 150ppm.

     

    Hiu qu bo v (%)

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

    10ppm

    30ppm

    50ppm

    100ppm

    150ppm

       

    N ng đ  (ppm)

       
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

     

    Ch t  c ch  C

     
                 
                   
         

    Hình 1. So sánh hiệu quả bảo vệ các chất ức chế

           
           

    Bảng 3. So sánh hiệu quả bảo vệ

           
                           

    N ng đ

               

    Hi u qu  b o v  (%)

           
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

       

    Ch t  c ch  C

     
                     

    10ppm

       

    83,98

         

    80,58

       

    89,96

     

    30ppm

       

    85,10

         

    81,89

       

    90,92

     

    50ppm

       

    87,45

         

    84,55

       

    91,17

     

    100ppm

       

    90,12

         

    88,69

       

    91,73

     

    150ppm

       

    90,32

         

    90,04

       

    91,82

     

    64       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    ++ Đối với chất ức chế C: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 30ppm và đạt hiệu quả tối ưu ở nồng độ từ 100ppm.

     

    Trong 3 chất ức chế A, B, C thì chất ức chế C cho hiệu quả bảo vệ cao nhất đạt trên 90% tại hầu hết các nồng độ khảo sát.

     

    • Tách nước (kiểm soát điểm sương) kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp là biện pháp chủ yếu được sử dụng trên thế giới [1].

    ++ Ngay cả trong điều kiện áp suất riêng phần CO2 cao (7 – 8 bar), nhiệt độ cao (93 – 130oC) và tốc độ dòng lớn (25m/s), chất ức chế ăn mòn vẫn đạt hiệu quả bảo vệ cao [10].

     

    ++ Ở nhiệt độ lên tới 150oC, áp suất CO2 lên tới 10 bar, áp suất H2S lên tới 10 bar, tốc độ dòng trên 20m/s, đường ống thép carbon vẫn hoạt động tốt bằng việc sử dụng chất ức chế ăn mòn [5].

     

    • Tách CO2 và kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp cũng là một giải pháp. Tuy nhiên, chi phí cho việc lắp đặt hệ thống tách CO2 khá cao, cần cân nhắc yếu tố kinh tế khi quyết định sử dụng giải pháp này [13].
    • Giải pháp khác: Điều chỉnh pH (The pH stabilisation

    technique): tăng pH sẽ tăng sự hình thành sản phẩm ăn mòn có tính bảo vệ trên bề mặt kim loại (FeCO3) [13, 14].

     

    Đề xuất yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố nhằm đảm bảo an toàn vận hành: Hạn chế tối thiểu hàm lượng các khí ăn mòn trong thành phần khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố. Theo kết quả thực nghiệm bằng phương pháp trong phòng thí nghiệm, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện mô phỏng phòng thí nghiệm đạt mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66 mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086 mm/năm và 0,066 mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59 – 0,77mm. Theo thiết kế, chiều dày ăn mòn dự trữ là 1mm, trong khi những năm trước đó, tốc độ ăn mòn không đáng kể, theo lý thuyết thành phần khí giao như vậy hoàn toàn đáp ứng yêu cầu vận hành an toàn. Tuy nhiên, để kiểm chứng các mô hình mô phỏng, các thử nghiệm hiện trường (field test) là yêu cầu bắt buộc trước khi áp dụng thực tế bởi thử nghiệm hiện trường sẽ mô phỏng được đầy đủ hơn các yếu tố trong thực tế.

     

    5. Kết luận

     

    Kết quả đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cho thấy cơ chế ăn mòn chính là do CO2. Với hàm lượng CO2 được duy trì ở mức thấp (dưới 1% mol), ăn mòn CO2 đang được khống chế bằng việc bơm chất ức chế ăn mòn. Trong thực tế vận hành, các vị trí ăn mòn xuất hiện bất thường trên đường ống, vì vậy cần thường xuyên theo dõi ăn mòn bằng việc phóng thoi định kỳ và sử dụng phần mềm mô phỏng, xác định các vị có nguy cơ ăn mòn cao.

     

    Kết quả mô phỏng bằng các phần mềm mô phỏng với kết quả thực tế từ coupon, đầu dò, phần mềm Predict 6.1 cho kết quả phù hợp nhất.

     

    Kết quả thử nghiệm bằng phương pháp điện hóa và thử nghiệm bằng phương pháp tổn hao khối lượng tương đối phù hợp so với các kết quả tốc độ ăn mòn từ coupon, đầu dò và phần mềm Predict 6.1.

     

    Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp chống ăn mòn: tách nước kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; tách CO2 kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; sử dụng phần mềm Predict 6.1.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. NACE International. Control of internal corrosion in steel pipelines & piping systems. NACE SP0106-2018-SG.
    1. NACE International. Internal corrosion for pipelines
    • Advanced. www.nace.org.

     

    1. Papavinasam, R.W.Revie, M.Attard, A.Demoz, K.Michaelian. Comparison of laboratory methodologies to evaluate corrosion inhibitors for oil and gas pipelines. Corrosion. 2003; 59(10): p.897 – 912.
    1. Internal corrosion study for PL-16A gas pipeline, DNV GL. Report No.: 2014/474/008, Rev. 3.
    1. Sergio D.Kapusta, Bernardus F.M.Pots, R.A.Connell. Corrosion management of wet gas pipelines. Corrosion. 25-30 April, 1999.
    1. Rolf Nyborg. CO2 corrosion models for oil and gas production systems. Corrosion. 14 – 18 March, 2010.
    1. Seyed Mohammad Kazem Hosseini. Avoiding common pitfalls in CO2 corrosion rate assessment for upstream hydrocarbon industries. The 16th Nordic Corrosion Congress, Stavanger Norway. 20 – 22 May, 2015.
    1. Vishal V.Lagad, Sridhar Srinivasan, Rusell D.Kane. Facilitating internal corrosion direct assessment using

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    65

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    advanced flow and corrosion prediction models. Corrosion.

     

    16 – 20 March, 2008.

     

    1. Standards Council of Canadian. Oil & gas pipeline systems. CAN/CSA-Z662-11.
    1. Michael Swidzinski, Bob Fu, Audrey Taggart, W.Paul Jepson. Corrosion inhibitor of wet gas pipelines under high gas and liquid velocities. Corrosion. 2000.
    1. Papavinasam. Evaluation and selection of corrosion inhibitors. Materials Technology Laboratory, Ottawa, Canada.
    1. ASTM   Standard  practice  for

    preparing, cleaning, and evaluating corrosion test specimens.

     

    ASTM G1.

     

    1. Sridhar Srinivasan, Vishal Lagad. ICDA: A quantitative framework to prevent corrosion failures and protect pipelines. Corrosion. 12 – 16 March, 2006.
    1. NACE International. Internal corrosion direct assessment methodology for pipelines carrying normally dry natural gas (DG-ICDA).
    1. Prediction of corrosion growth rate for 16″ Bach Ho – Dinh Co pipeline from 2015 to 2025. CSM-15606.

    CORROSION ASSESSMENT OF BACH HO – DINH CO GAS TRANSMISSION PIPELINE AND SOLUTIONS FOR CORROSION CONTROL

    Phan Cong Thanh, Truong Quang Truong, Tran Mai Khoi

    Petrovietnam Drilling Mud Corporation (DMC)

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    Bach Ho – Dinh Co gas transmission pipeline (16” and 116.5km long) was put into operation in 1995 to transport associated gas from the Central Compression Platform (CPP) in Bach Ho field to Dinh Co Gas Processing Plant.

     

    As gas output from Bach Ho field decreases, Vietsovpetro and Petrovietnam Gas Joint Stock Corporation (PVGAS) have considered the possibility of using this pipeline to transport gas from Dai Hung, Thien Ung, Ca Cho, Gau Chua and Dai Nguyet fields in the Nam Con Son basin to shore. The service life of Bach Ho-Dinh Co gas transmission pipeline therefore needs to be guaranteed until 2025 to meet the requirements for receiving and transporting new gas sources.

     

    This article assesses the corrosive status of Bach Ho – Dinh Co gas pipeline system based on the design and operation parameters, updated results after survey, maintenance and repair. It also assesses the operational safety of the pipeline system when receiving gas with higher CO2 content from Thien Ung and Dai Hung fields and proposes anti-corrosion solutions.

     

    Key words: Gas pipeline, corrosion, CO2, Bach Ho – Dinh Co.

     

     

    66       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thuyết minh thi công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-%C4%90%E1%BA%BEN-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-B%E1%BB%98T-H%E1%BB%92NG-TR%C3%80-H%C3%92A-TAN-B%E1%BA%B0NG-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-S%E1%BA%A4Y-PHUN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

     

    Nguyễn Quốc Sinh1*, Nguyễn Thị Diễm Hương1, Nguyễn Thành Thuận2

    1Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế;

    2Trường Cao đẳng Lương thực thực phẩm Đà Nẵng.

     

    *Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Bột Hồng trà hòa tan là sản phẩm được chế biến bằng phương pháp sấy phun dịch trích ly từ nguyên liệu Hồng trà được sản xuất theo phương pháp lên men toàn phần. Trong công trình này chúng tôi tiến hành khảo sát một số thông số trong quy trình sản xuất trà hòa tan như công đoạn trích ly (4 mốc thời gian và 3 mức nhiệt độ), công đoạn bổ sung chất mang (5, 10 và 15% maltodextrin) và sấy phun (5 mức nhiệt độ và 4 tốc độ bơm) đến chất lượng sản phẩm bột Hồng trà hòa tan. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình trích ly. Điều kiện trích ly thích hợp là: nhiệt độ trích ly 85oC, thời gian trích ly 40 phút. Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10%. Tiến hành sấy phun ở nhiệt độ thích hợp là 170oC với tốc độ bơm nhập liệu là 30%. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có tính chất cảm quan tốt, sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô.

     

    Từ khóa: bột hồng trà hòa tan, polyphenol, sấy phun, trích ly.

     

    Nhận bài: 17/03/2019          Hoàn thành phản biện:  27/03/2019                  Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Trà hòa tan dạng bột được sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, trong đó phần lớn là từ các nguồn thảo dược (Nguyễn Văn Tặng, 2008). Trên thế giới, trà hòa tan chủ yếu được sản xuất từ trà khô để làm đồ uống (Clark và cs., 1984; Mehta và cs., 2001; Bavan và Bengal, 2009). Quá trình sản xuất bột trà hòa tan có các công đoạn chủ yếu là trích ly, cô đặc dịch và sấy phun. Sato và cs. (1984) đã sử dụng nước nóng để trích ly trà xanh, dịch trà được bổ sung maltodextrin và sấy phun để tạo bột hòa tan. Bavan (2005) cũng sử dụng nước nóng để trích ly trà đen và trà ô long, dịch trà sau đó được cô đặc, sấy phun để tạo bột trà. Lunder và Nestec (1997) dùng nước nóng để trích ly hỗn hợp chè xanh và chè đen để thu được dịch chè. Đã có nhiều công trình khác nghiên cứu quá trình trích ly polyphenol từ chè khô và sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm ở dạng bột, dịch lỏng hoặc dạng cao. Công trình nghiên cứu của Trịnh Xuân Ngọ (2009) sử dụng dung môi là nước nóng. Phạm Thành Quân và cs. (2005) trích ly polyphenol sử dụng dung môi là ethanol có hỗ trợ vi sóng. Nguyễn Trọng Điệp và cs. (2017) đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh.

     

    Việc nghiên cứu các thông số công nghệ trong quá trình chế biến bột Hồng trà hoà tan bằng các phương pháp đơn giản, dễ làm như tách chiết bằng dung môi nước, sử dụng maltodextrin làm chất mang trong quá trình sấy phun tạo sản phẩm…nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt là vấn đề có ý nghĩa thực tế và mang tính cấp thiết, bởi vì nó góp phần đa dạng hoá sản phẩm từ Hồng trà và hơn nữa có thể sử dụng được các thiết bị sẵn có ở các cơ sở chế biến nông sản trong quá trình chế biến sản phẩm bột trà. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của một số thông số công nghệ đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan bằng phương

     

    1217

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    pháp sấy phun nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao, phục vụ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm này

     

    • nước ta.

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Nguyên liệu

    Hồng trà loại OP do Công ty Cổ phần Long Đỉnh (thôn Phúc Tân, xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) cung cấp. Hồng trà hay còn gọi là trà đen là loại trà được lên men hiếu khí toàn phần 100% từ đọt chè. Chè khô đảm bảo độ ẩm ≤ 7%.

     

    Maltodextrin: dùng làm chất trợ sấy, được bổ sung vào dịch trà trước khi đem sấy phun. Sản phẩm nhập từ Pháp, dạng bột mịn, màu trắng, tan hoàn toàn trong nước, độ ẩm 6 – 7%, chỉ số DE là 12.

     

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.2.1. Phương pháp công nghệ

     

    Để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số công nghệ sản xuất bột trà hòa tan, chúng tôi chọn phương pháp công nghệ (Hình 1) theo nghiên cứu của Santo và cs. (2007) và dựa vào đặc điểm của máy sấy phun Mini B-290. Một số công đoạn chính trong quy trình công nghệ như sau: Chè khô sau khi vận chuyển về phòng thí nghiệm, được đóng gói chân không, bảo quản trong điều kiện cách ẩm và tránh ánh sáng. Nguyên liệu được nghiền mịn và rây qua rây 1 mm, đạt kích thước 0,8-0,9mm nhằm làm dập tế bào trong lá chè để các chất hòa tan thoát ra dễ dàng trong quá trình trích ly. Nguyên liệu sau khi nghiền được trích ly bằng dung môi là nước nóng với khối lượng mẫu là 10g nguyên liệu/lần). Trích ly một lần với tỷ lệ dung môi nước so với nguyên liệu là 1/10 (g/ml) được trích ly ở nhiệt độ và thời gian khác nhau. Dịch chè được lọc nhằm loại bỏ thành phần bã ra khỏi dịch chè, sau đó hòa trộn với tá dược maltodextrin trước khi sấy phun tạo bột trà hòa tan bằng máy sấy phun B-290 Buchi. Mỗi thí nghiệm tiến hành lặp lại 3 lần, 3 mẫu/nghiệm thức.

     

       

    Nguyên liệu

         
       

    Nghiền

         
         

    Nước

     

    Trích ly

         
         
       

    Lọc thô

         
         

    Maltodextrin

    Bổ sung tá dược

         
         
       

    Lọc tinh

         
         
       

    Sấy phun

         
    • Khảo sát nhiệt độ trích ly (75; 85; 95oC)
    • Thời gian trích ly (20; 30; 40; 50 phút)
    • Khảo sát tỷ lệ bổ sung maltodextrin theo tỷ lệ 5%; 10%; 15%
    • Khảo sát nhiệt độ sấy phun (150;160;170; 180; 190oC)
    • Khảo sát tốc độ bơm (25;

    30; 35; 40%)

     

    Sản phẩm trà hòa tan

     

    Hình 1. Phương pháp công nghệ sản xuất trà hòa tan quy mô phòng thí nghiệm.

     

    1218

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    2.2.2. Phương pháp phân tích

     

    • Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy đến khối lượng không đổi: Dùng hơi nóng làm bay hơi lượng nước trong chè. Cân khối lượng chè trước và sau khi sấy khô, từ đó tính ra phần trăm nước có trong mẫu chè (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định chất hoà tan theo phương pháp Voronsov: Dùng hơi nước để bốc hơi nước dịch chiết xuất, còn lại là chất khô hòa tan, sấy khô đến khối lượng không đổi, chất hòa tan được tính theo % khối lượng khô của mẫu. Đây là phương pháp thông dụng, đơn giản (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định khả năng hòa tan của bột trà sau khi sấy: Để xác định khả năng hòa tan trong nước của bột trà hòa tan. Thí nghiệm được thực hiện với 20ml nước và 0,1g bột chè ở

     

    nhiệt độ 90oC với số lần lặp lại 3 lần, để quan sát đánh giá khả năng hòa tan của các chất tan trong nước. Thí nghiệm được tiến hành bằng cách tính thời gian hòa tan.

     

    • Xác định polyphenol tổng số bằng phương pháp Folin – Denis: Phương pháp này được thực hiện dựa trên nguyên tắc các hợp chất polyphenol trong dung dịch phản ứng với thuốc thử Folin-Ciocalteau cho sản phẩm màu xanh lam, đo độ hấp thụ ở bước sóng 660 nm, lấy acid gallic làm chất chuẩn (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001)

     

    • Định lượng cafein trong chè bằng Na2S203: Khi dung dịch chứa cafein, nếu có mặt HCl thì dung dịch trong KI sẽ chuyển toàn bộ cafein thành chất kết tủa có công thức như sau: C6H10O2N4KI4. Sau đó dùng Na2S2O3 0,1N chuẩn lượng I2 dư sẽ biết được lượng I2 tham gia phản ứng, từ đó tính được lượng cafein trong dung dịch thí nghiệm (Hà Duyên Tư, 2001)

     

    2.2.3. Phương pháp đánh giá cảm quan

     

    Chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá cảm quan theo phép thử cho điểm thị hiếu về mức ưa thích (Hà Duyên Tư, 2016) để đánh giá chất lượng sản phẩm (theo thang điểm Hedonic).

     

    2.2.4. Phương pháp xử lý thống kê

     

    Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Microsoft Excel. Kết quả thí nghiệm được phân tích bằng ANOVA và kiểm định Turkey trên phần mềm Minitab 16.20 để so sánh các giá trị trung bình có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu

     

    Việc xác định thành phần hóa học của nguyên liệu ban đầu là cơ sở để đưa ra các thông số công nghệ trong quá trình nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần hóa học của Hồng trà (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà

     

    Chỉ tiêu

    Đơn vị

    Kết quả

    Độ ẩm

    (%)

    4,64 ± 0,44*

    Hàm lượng chất hòa tan

    (% chất khô)

    22,89 ±2,09

    Hàm lượng cafein

    (%chất khô)

    2,05 ±0,16

    Hàm lượng polyphenol

    (%chất khô)

    15,86 ±0,01

    Ghi chú *: Sai số của giá trị

     

    Số liệu thực nghiệm thu được ở Bảng 1 cho thấy: Hàm lượng ẩm của nguyên liệu Hồng trà chiếm 4,64% nằm trong giới hạn cho phép về hàm lượng ẩm trong trà khô, đảm bảo

     

    1219

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    độ ẩm ≤ 7%, đạt theo TCVN 1454:1993. Chất hòa tan là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất về chất lượng trà thành phẩm, chính là hàm lượng các chất chiết được. Hàm lượng chất hòa tan trong trà nguyên liệu chiếm khá cao đạt 22,89%. Hàm lượng cafein và polyphenol lần lượt chiếm 2,05% và 15,86%. Đây là những hoạt chất sinh học khá quan trọng. Nó là thành phần không thể thiếu của bất kỳ loại trà nào, giữ vai trò chủ yếu trong quá trình tạo màu sắc, hương vị cho sản phẩm, đồng thời có tác dụng gây cảm giác hưng phấn cho người sử dụng. Như vậy, kết quả khảo sát một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà cho thấy loại nguyên liệu này đảm bảo các yêu cầu cho việc tạo ra sản phẩm bột trà.

     

    3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly

     

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly dịch trà ở ba mức nhiệt độ: 75oC, 85oC, 95oC. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10, thời gian trích ly là 20 phút. Kết quả được thể hiện ở Hình 2.

     

    Hàm lượng (% ck)

    20

         

    18,05a

           
                 

    15

                   
         

    12,61a

     

    12,50b

     
               

    10

     

    8,33c

           

    9,34b

     
                 
       

    6,70c

               

    5

                   
                   

    0

                   

    75

    85

       

    95

     
           
           

    Nhiệt độ trích ly (oC)

       

     Chất hòa tan  Polyphenol

     

    Hình 2. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả ở Hình 2 cho thấy khả năng trích ly và khả năng khuếch tán của các chất hòa tan bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ trích ly. Ở các mức nhiệt độ biến thiên từ 75 – 95oC, hàm lượng chất hòa tan và polyphenol trích ly được có giá trị tăng dần theo nhiệt độ và đạt giá trị cao nhất

     

    • nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 18,05%, polyphenol là 12,61%). Nhưng khi đến nhiệt độ 95oC thì hàm lượng các chất giảm thấp hơn nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 12,50%, polyphenol là 9,34%). Trong quá trình trích ly nếu nhiệt độ quá thấp thì không đủ nhiệt để hòa tan các hợp chất cần chiết làm giảm hiệu quả trích ly nhưng nếu nhiệt độ quá cao lại làm tăng các phản

    ứng hóa học gây ra những biến đổi bất lợi cho hợp chất cần trích ly, làm giảm khả năng trích

     

    1. Mặt khác, dựa vào màu sắc dịch trích ly trà, chúng tôi thấy khi trích ly ở nhiệt độ thấp 70oC thì dịch trích ly có màu nhạt hơn so với nhiệt độ 85oC và 95oC. Vì vậy, chọn nhiệt độ trích ly
    • 85oC là thích hợp để thu được dịch trích ly có hàm lượng chất hòa tan và polyphenol cao.

    3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly

     

    Sự ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly được nghiên cứu khảo sát ở bốn mức: 20 phút, 30 phút, 40 phút, 50 phút. Các yếu tố cố định là nhiệt độ trích ly: 85oC (lấy từ nghiệm thức trước); tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình trích ly ảnh hưởng đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol được thể hiện ở Hình 3.

     

    1220

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Hàm lượng (% ck)

    30

                             
               

    25,00a

               

    25

                           
     

    18,05b

     

    20,83ab

           

    19,44b

     
                 

    20

                 
     

    12,61c

    14,02

    b

     

    15,74a

     

    14,20b

           

    15

                     

    Chất hòa tan

                     
                         

    10

                           

    Polyphenol

                           
                           
                             
                             

    5

                             
                             

    0

                             

    20

    30

     

    40

    50

           
               
           

    Thời gian trích ly (phút)

               

    Hình 3. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của thời gian trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả thí nghiệm cho thấy, thời gian trích ly ảnh hưởng nhiều đến quá trình trích ly. Khi thời gian trích ly tăng thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol tăng dần theo thời gian. Tại thời gian trích ly là 40 phút thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol đạt cao nhất (chất hòa tan là 25,00%, polyphenol là 15,74%). Ở thời gian trích ly 50 phút thì hàm lượng các chất giảm xuống so với thời gian 40 phút (chất hòa tan là 19,44% và polyphenol là 14,20%). Bởi vì các hoạt chất sinh học đều nhạy cảm với nhiệt độ cao, giữ trong thời gian dài sẽ dẫn đến sự phân hủy các hoạt chất sinh học tương tự như báo cáo của Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư (2009). Vì vậy, chúng tôi chọn thời gian trích ly thích hợp là 40 phút để nghiên cứu các công đoạn tiếp theo.

     

    3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung tá dược maltodextrin đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan

     

    Maltodextrin là một trong những tá dược (còn gọi là chất độn, chất trợ sấy) có ảnh hưởng lớn đến quá trình sấy phun và khả năng hòa tan của bột trà. Ảnh hưởng tỷ lệ maltodextrin bổ sung được khảo sát ở ba mức với tỷ lệ: 5%, 10%, 15%. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10 với thể tích dịch trà: 150ml, trích ly ở nhiệt độ 85oC nhiệt độ trong thời gian 40 phút, nhiệt độ sấy phun là 170oC; tốc độ bơm: 30%. Kết quả thể hiện ở Hình 4 và Bảng 2.

     

    Nghiên cứu của Kha Chấn Tuyền và cs. (2010) chỉ ra hàm lượng maltodextrin có ảnh hưởng rất lớn đến độ ẩm của bột. Kết quả ở hình 4 cho thấy, tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà càng tăng thì độ ẩm bột trà càng giảm. Bổ sung tỷ lệ maltodextrin càng cao thì nồng độ chất khô của dịch càng cao, khi đó hàm lượng nước trong dịch sấy thấp nên quá trình bốc hơi nước xảy ra nhanh hơn, độ ẩm của bột sẽ thấp hơn (với tỷ lệ maltodextrin là 5% thì độ ẩm đạt 5,48%, tỷ lệ 10% là 4,82%, tỷ lệ 15% là 4,28%). Ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 15%, lượng bột nhiều nhất (15,13 g) nhưng hàm lượng polyphenol là thấp nhất (6,85%). Do đó màu sắc của bột trà nhạt đi nên khi pha sẽ bị ảnh hưởng đến màu, mùi và vị sản phẩm (Bảng 2).

     

    Bảng 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến tính chất cảm quan nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tỷ lệ maltodextrin

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     
     

    (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    5

    Đỏ nâu đậm có viền vàng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    10

    Đỏ nâu sáng có viền vàng

    Thơm vừa

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    15

    Đỏ nâu nhạt có viền vàng

    Thơm nhẹ

    Vị hơi ngọt,

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

             

    1221

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    50

                   

    45,00a

     

    45

                       
                       

    40

                       
                       

    35

                       
                   

    26,67c 28,33b

     

    30

                   
                       

    25

                       
                       

    20

             

    15,13a

         

    15

             

    11,29b

     

    a

       

    10

    5,48

    a

    4,82

    b

    6,09

    c

     

    9,52 7,91b6,85c

       
     

    4,28c

             

    5

                       
                       

    0

                       

    Độ ẩm (%)

    Khối lượng bột

    Polyphenol

    Khả năng hòa

     
     
             

    thu được (g)

    (%ck)

    tan (s)

     
               

    5%

    10%

    15%

       

    Hình 4. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến độ ẩm, khối lượng thu hồi bột, hàm lượng polyphenol và khả năng hòa tan của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Hơn nữa các mức bổ sung maltodextrin khác nhau thì khả năng hòa tan bột trà khác nhau. Các kết quả nghiên cứu cho thấy ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 5% thì khả năng hòa tan tan nhanh hơn so với 10% và 15%. Trong khi tỷ lệ bổ sung maltodextrin ở 5% thì tan nhanh và ít bị vón cục. Bổ sung maltodextrin tỷ lệ 15% thì khả năng hòa tan chậm đi do lượng maltodextrin chiếm nhiều nên vón cục nhiều hơn nên khó tan hơn. Vì thế chúng tôi chọn công thức tỷ lệ bổ sung maltodextrin 10% vì khả năng hòa tan tốt trong nước pha trà. Đồng thời sản phẩm bột có kích thước và cảm quan tốt. Kết quả này hoàn toàn thích hợp với công bố của Zhang và cs. (2005).

     

    3.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến chất lượng bột trà

     

    Trong quá trình sấy phun, nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của bột trà. Nhiệt độ không khí đầu vào không nên vượt quá 180 – 190oC. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ sấy đến chất lượng bột ở các mức nhiệt độ khác nhau: 150oC, 160oC, 170oC, 180oC và 190oC. Các yếu tố cố định là tốc độ bơm nhập liệu: 35%; tốc độ gió 100%. Kết quả được thể hiện ở Hình 5 và Bảng 3.

     

    Kết quả nghiên cứu ở Hình 5 cho thấy độ ẩm của bột trà ở tất cả các công thức thí nghiệm đều nhỏ hơn 6% đạt tiêu chuẩn theo TCVN 9739:2013. Qua nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun thấy rằng, hàm lượng ẩm thấp nhất khi sấy ở nhiệt độ 180oC nhưng ở nhiệt độ này thì có một ít vật liệu sấy bị cháy, sản phẩm bột bám lên thành của buồng sấy, sản phẩm giảm mùi thơm, vị đắng hơn. Mặt khác sấy ở nhiệt độ 150oC thì bột tạo ra có độ ẩm cao, khả năng thoát ẩm kém, bột bám dính vào thành buồng sấy.

     

    Khi tăng nhiệt độ sấy phun, hoạt chất polyphenol đã bị tổn thất và có xu hướng giảm dần. Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều bất lợi cho sản phẩm bột trà. Đồng thời, quan sát trong quá trình sấy phun nhận thấy, ở nhiệt độ thấp (150 – 160oC) bột có độ ẩm cao, bám dính thành từng mảng ở thành buồng sấy. Ở nhiêt độ cao (180 – 190oC) thì bột có hiện tượng bị cháy bám

     

    1222

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    trên thành buồng sấy ảnh hưởng đến mùi và vị của bột. Còn ở nhiệt độ 170oC cho ra bột tơi, mịn có độ ẩm đạt 4,86% và hàm lượng polyphenol là 7,98%. Ở nhiệt độ này, bột ít bị bám dính và không bị cháy ở thành buồng sấy. Như vậy, mức nhiệt độ thích hợp là 170oC vì hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol cao và đảm bảo độ ẩm của trà thành phẩm (TCVN 5613:2007).

     

    9

     

    8,43a

     

    8,34a

     

    7,94b

     

    7,66c

               
                         

    8

                             
                       

    6,71d

    7

                       
           

    5,83a

                       

    6

     

    5,14

    ab

                         
           

    4,86abc

     

    4,30b

     

    4,72bc

    5

                 
                             

    Độ ẩm (%)

                             

    4

                               
                               

    Polyphenol (%ck)

                               

    3

                               
                                 
                                 

    2

                                 
                                 

    1

                                 
                                 

    0

                                 

    150

    160

    170

    180

     

    190 Nhiệt độ sấy phun (oC)

       

    Hình 5. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà hòa tan.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Ngoài hàm lượng polyphenol và độ ẩm, tính chất cảm quan của nước trà pha phản ảnh chất lượng cảm quan của bột trà hòa tan. Số liệu ở bảng 3 cho thấy ở nhiệt độ sấy phun thấp hơn 180oC, bột trà khi pha vẫn giữ được màu đỏ sáng và mùi thơm đặc trưng của Hồng trà. Khi nhiệt độ sấy phun trên 180oC, nước trà pha có màu đỏ nâu và mùi vị cũng kém dần đi.

    Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Nhiệt độ

     

    Tính chất cảm quan của nước trà

     
     

    sấy phun (oC)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    150

    Đỏ có

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    viền vàng

    đặc trưng

           
     

    160

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    170

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    180

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           
     

    190

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           

    Các kết quả trên cho thấy nhiệt độ sấy phun đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và màu sắc nước pha. Nhiệt độ phù hợp cho quá trình sấy phun là 170oC.

    3.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến chất lượng của bột trà

     

    Tốc độ bơm nhập liệu có ảnh hưởng lớn đến lưu lượng dòng nhập liệu, năng suất thiết bị, nhiệt độ không khí đầu ra của máy sấy phun. Vì hệ thống bơm nhập liệu của thiết bị nghiên cứu là bơm nhu động nên trong quá trình này, tốc độ bơm được nghiên cứu với các mức lần lượt là 25%, 30%, 35% và 40% thì tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu của máy sấy phun

     

    1223

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    B-290 Buchi thực tế là 8,3; 10,3; 12,3 và 14,3 (ml/phút). Các yếu tố được cố định là nhiệt độ sấy 170oC; tốc độ gió 100%. Kết quả nghiên cứu đươc thể hiện ở Hình 6 và Bảng 4.

    10

                             
     

    8,54a

     

    8,19b

     

    7,85d

     

    8,01c

             

    8

                     
                 

    5,16a

             

    6

     

    4,30b

     

    4,37b

     

    4,92a

             

    Độ ẩm (%)

    4

                       
                           
                             
                             

    2

                             
                             

    0

                       

    Tốc độ bơm

    25

    30

    35

    40

       
         
     

    nhập liệu (%)

                     
                               

    Hình 6. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Số liệu ở Hình 6 cho thấy, tốc độ bơm nhập liệu càng cao thì độ ẩm càng cao. Mẫu sản phẩm có tốc độ bơm thấp nhất (25%) đạt độ ẩm thấp nhất là 4,30% và ngược lại mẫu sản phẩm có tốc độ bơm cao nhất 40% thì đạt độ ẩm cao nhất là 5,16%. Tốc độ bơm nhập liệu tăng, đồng nghĩa với thời gian lưu của vật liệu sấy trong buồng sấy giảm, do đó hiệu quả sấy sẽ không cao độ ẩm sẽ tăng, phần hạt ẩm dính lại trong buồng sấy cũng tăng dẫn đến hiệu suất thu hồi sản phẩm sau quá trình sấy phun giảm. Tốc độ bơm nhập liệu càng tăng thì bột trà có hàm lượng polyphenol càng giảm. Hàm lượng polyphenol đạt giá trị cao nhất ở tốc độ bơm là 25% đạt 8,54% chất khô.

     

    Mặc dù ở tốc độ bơm 25% thì độ ẩm của bột sản phẩm tuy thấp hơn nhưng thời gian sấy dài. Đồng thời, với tốc độ bơm nhập liệu 30% tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu 10,3 ml/phút, hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol và độ ẩm đảm bảo chất lượng của bột trà hòa tan. Sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol là 8,19% chất khô.

     

    Bảng 4. Ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tốc độ bơm

     

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     

    nhập liệu (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    25

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    30

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    35

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    40

    Đỏ nâu sáng

    Thơm yếu,

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    kém đặc trưng

    kém đặc trưng

    Kết quả nghiên cứu (Bảng 4) cho thấy, khi tốc độ bơm nhập liệu từ 25 – 40%, màu sắc bột trà hòa tan vẫn đồng đều nhau, nước pha trà vẫn giữ được mùi thơm, vị đậm dịu, trong đồng nhất. Mùi vị sản phẩm giảm khi tốc độ bơm trên 35%. Tốc độ bơm thấp hơn 35% thì sản phẩm có mùi thơm dịu, đặc trưng, có hậu. Như vậy, tốc độ bơm nhập liệu đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và mùi vị nước pha (Bảng 4). Tốc độ bơm phù hợp cho quá trình sấy phun là 30%.

     

    1224

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    3.7. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng bột trà hòa tan

     

    Đánh giá chất lượng cảm quan tổng thể của một sản phẩm là một chỉ tiêu không thể thiếu được, nói lên mức độ ưa thích của người tiêu dùng và giới thiệu sản phẩm ra thị trường.

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi tiến hành chế biến mẫu sản phẩm bột Hồng trà hòa tan ở quy mô phòng thí nghiệm. Sản phẩm được tiến hành phân tích, kiểm nghiệm một số chỉ tiêu hóa lý và cảm quan. Kết quả được thể hiện ở bảng 5 và bảng 6 sau đây:

     

    Bảng 5. Kết quả kiểm nghiệm chỉ tiêu hóa lý sản phẩm bột trà hòa tan

     

    Chỉ tiêu

    Phương pháp thử

    Kết quả mẫu thí

    TCVN

     

    nghiệm

    9739:2013

     
       

    Độ ẩm (%)

    TCVN 5613:2007

    5,0

    ≤ 6

     

    Hàm lượng tro tổng số (%)

    TCVN 5611:2007

    0,9

    ≤ 20

     

    Số liệu ở Bảng 5 và 6 cho thấy sản phẩm Hồng trà hòa tan đạt được các chỉ tiêu chất lượng nằm trong giới hạn cho phép về độ ẩm và hàm lượng tro tổng số theo TCVN 9739:2013 về bột trà hòa tan. Sản phẩm có tính chất cảm quan và khả năng hòa tan tốt.

     

    Bảng 6. Kết quả đánh giá chỉ tiêu cảm quan của sản phẩm

     

     

    Chỉ tiêu

    Tính chất

     

    Trạng thái

    Dạng bột mịn, đồng nhất, không bị vón cục

     

    Màu sắc

    Sản phẩm bột trà có màu kem, khi pha ra nước có màu nâu đỏ

     

    Mùi

    Sản phẩm còn giữ được mùi thơm thoảng của hồng trà,

     

    không có mùi khét, mùi lạ

       
     

    Vị

    Vị chát nhẹ, khi pha nước có vị ngọt dịu

    4. KẾT LUẬN

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số kết luận như sau:

     

    Trong quá trình trích ly trà bằng dung môi nước, nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian trích ly 40 phút là phù hợp.

     

    Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10% khi nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian 40 phút.

    Sấy phun ở nhiệt độ 170oC với tốc độ bơm nhập liệu 30% cho sản phẩm có tính chất cảm quan tốt, bột chè thành phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có chất lượng tốt.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Tài liệu tiếng Việt

    Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Hoàng Hiệp và Trịnh Thanh Hùng. (2017). Đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh (Camellia sinensis L.). Tạp chí Y – Dược học Quân sự, 4.

     

    Trịnh Xuân Ngọ. (2009). Nghiên cứu quy trình sản xuất nước giải khát từ chè xanh, chè đen. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2.

     

    Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư. (2009). Nghiên cứu trích ly polyphenol từ chè xanh vụn – Phần 1: Các yếu tố ảnh hưởng quá trình trích ly polyphenol. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 47(1).

     

    Nguyễn Văn Tặng. (2008). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình sản xuất trà Actisô dạng viên sủi bọt. Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, 2.

     

    Vũ Thy Thư, Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Thị Gấm và Giang Trung Khoa. (2001). Các hợp chất hóa học có trong chè và một số phương pháp phân tích thông dụng trong sản xuất chè ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Nông Nghiệp.

     

    1225

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    Hà Duyên Tư. (2016). Kỹ thuật phân tích cảm quan thực phẩm. Hà Nội: NXB Khoa học và Kỹ thuật.

     

    Hà Duyên Tư. (2001). Quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

     

    Phạm Thành Quân, Tống Văn Hằng, Nguyễn Hải Hà, Đỗ Nguyễn Tuyết Anh và Trương Ngọc Tuyển (2005). Trích ly polyphenol từ trà xanh sử dụng phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng. Hội Nghị Khoa Học và Công Nghệ lần thứ 9.

     

    1. Tài liệu tiếng nước ngoài

    Bavan D. S. (2005). Hot water soluble tea. United States Patent Application Publication. US 2005/0884566 A1.

     

    Clark A. V. and Zientara F. J. (1984). Process for the production of a soluble tea product. United States Patent, 4, 472-441.

     

    Lunder T. L. (1997). Preparation of cold-water-soluble instant tea. United States Patent, 5.

     

    Mehta S. S., Sukumar V. and Virkar P. D. (2001). Process for producing tea concentrates. United States Patent, 6.

     

    Pandey R. K. and Manimehalai N. (2014). Production of Instant Tea Powder by Spray Drying.

    International Journal of Agriculture and Food Science Technology, 5(3), 197-202.

     

    Santo J., Kurusu T. and Kondo N. (2007). Process for the preparation of instant tea. United States Patent, 4.

     

    Tuyen Chau Kha, Minh Nguyen and Roach, P.D., (2010). Effects of sparay drying conditions on the physicochemical and antioxidant properties of Gac (Momordica cochinesis) fruit aril powder. Journal of Food Engineering, 90(3), 471-479.

     

    Zhang L.M, Zhou J. F. and Peter S. Hui. (2005). A comparative study on viscosity behavior of water-soluble chemically modified guar gum derivatives with different functionl lateral groups. Jounal of the Science of Food and Ariculture, 85, 2638-2644.

     

    EFFECTS OF SOME SPRAY DRYING PROCESS PARAMETERS ON THE QUALITY OF INSTANT BLACK TEA POWDER

     

    Nguyen Quoc Sinh1*, Nguyen Thi Diem Huong1, Nguyen Thanh Thuan2 1Hue University – University of Agriculture and Forestry; 2College of Food Industry, Da Nang

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Instant black tea power is presently manufactured by spray drying of the extracted liquor from fully fermented tea leaves. In this study, effects of some process parameters on the quality of instant black tea powder by spray drying method were determined. The results showed that the extraction in water was strongly influenced by the extraction time and temperature. The optimum extraction conditions were found to be 85oC for 40min. Spray-dry added substance was maltodextrin at 10%. The spray drying operating conditions including inlet air temperature (170°C), feed flow rate (30%) were used for production of instant black tea power had an excellent sensory quality. In the instant black tea power, some quality factors were determined: moisture content 4,37% and polyphenol content 8,19%.

     

    Key words: Black tea power, extraction, polyphenol, spray drying, temperature.

     

    Received: 17nd March 2019               Reviewed: 27th March 2019               Accepted: 30th March 2019

     

    1226


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thuyết minh thi công

    Thuyết minh thi công

    Thuyết minh thi công

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/thuyet_minh_thi_cong_duong_ky_anh_6306.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thuyết minh thi công

                       Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

                                 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     

                                                                             Hà Nội, ngày 01  tháng 12 năm 2013

     

    THUYẾT MINH THI CÔNG

     

    Công trình: Thi công tuyến cống đoạn Km 587-Km 592.

    Dự án : Đầu tư xây dựng công trình mở rộng quốc lộ 1

    Gói thầu số 07 : Km 587+00 – Km597+549

    Địa điểm: Xã Kỳ Nam – Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh

    Nhà thầu phụ :

    I – Các căn cứ.

    – Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công của dự án đã được duyệt

    – Yêu cầu kỹ thuật của dự án.

    – Các qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam hiện hành

    – Giá ca máy thi công  và nhân công theo giá thực tế tại địa bàn Xã Kỳ Nam – Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh

    – Khối lượng thi công dự kiến theo đúng khối lượng trong bản vẽ thiết kế đã được duyệt, khối lượng thanh toán theo nghiệm thu tại hiện trường

    – Kết quả kiểm tra thực tế mặt bằng hiện tại công trình

    – Năng lực thực tế về con người và thiết bị của  Công ty CP thiết bị và phát triển hạ tầng và Công ty TNHH xây dựng Thiên Long.

    II – Biện pháp thi công thực tế

            Toàn bộ tuyến cống trải dài từ Km587 đễn Km 592, các cống bản khẩu độ lớn có dòng nước chảy xiết và lưu lượng lớn. Công trình vừa thi công vừa phải đảm bảo giao thông an toàn trên quốc lộ1. Tiến độ thi công rất ngắn, yêu cầu kỹ thuật cao.

          Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và thực tế hiện trường hai Nhà thầu phụ đề xuất phương án thi công tuyến cống như sau :

          Để đáp ứng tiến độ chung, toàn bộ tuyến cống do hai đơn vị  thầu phụ chia làm hai mũi cùng thi công là

         Nhà thầu chính triển khai công tác chuẩn bị cho công trình, chịu trách nhiệm làm việc trực tiếp với Chủ Đầu Tư và Tư Vấn Giám Sát và chính quyền địa phương về mọi vấn đề của dự án. Hai nhà thầu phụ chính thức bắt đầu thi công sau khi công tác chuẩn bị đã xong và có yêu cầu chính thức của nhà thầu chính.

    1-Công tác chuẩn bị

         Sau khi ký hợp đồng, Nhà thầu phụ sẽ tập kết nhân lực và thiết bị thi công. Nhà cho công nhân và kho chứa thiết bị thi công nhỏ sẽ do Nhà thầu chính cung cấp. Dự kiến bố trí hai khu lán trại tạm cho 2 đội thi công cống, từ Km587 đến Km 589 bộ trí 1 khu lán trại, từ Km 590 đến Km 592 bố trí 1 khu lán trại. Mỗi khu lán trại đảm bảo chỗ ở cho 20 người. Tại các vị trí thi công cống có tập kết vật tư Nhà thầu phụ sẽ bố trí bảo vệ ban đêm. Cống sẽ được thi công dứt điểm cuốn chiếu từng cái một.

         Nguồn điện và nước thi công Nhà thầu phụ sẽ tự cung cấp, tuy vậy Nhà thầu chính sẽ cố gắng tối đa để có nguồn điện lưới 3 pha nhằm giảm giá thành chung. Bãi đúc cấu kiện sẽ do Nhà thầu chính chuẩn bị và giao cho Nhà thầu phụ thi công. Nhà thầu phụ sẽ tính toán yêu cầu vật tư chi tiết cho từng vị trí cống để Nhà thầu chính cung cấp. Công tác đảm bảo an toàn trên tuyến quốc lộ 1, công tác thí nghiệm vật liệu đầu vào, công tác đo đạc định vị công trình do Nhà thầu chính đảm nhiệm. Dự kiến có hai đội thi công cống đồng thời, công tác đúc sẵn tiến hành song song với công tác thi công cống.

    2-thiết bị thi công:

    Nhà thầu phụ sẽ sử dụng các loại thiết bị sau:

    + Máy đào……………………… 01 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Ôtô vận chuyển……………. 01 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Đầm cóc……………………… 02 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Cần cẩu bánh lốp 10 T…..01 cáI ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Máy bơm nước…………….. 02 cái

    + Máy hàn …………………….. 02 cái

    + Máy trộn bê tông 250l….. 02 cái

    + Nhân công ………………….. 20 người

    + Máy phát điện………………. 01 bộ

    + Đầm bàn + dầm dùi………04 bộ

    + Búa căn khí nén…………..01 bộ

    + Máy nén khí ……………..01 bộ

    + Máy phát điện…………….01 bộ

    + Các dụng cụ cầm tay khác như máy khoan bê tông, máy mài

     

    3- Trình tự thi công chung:

         Công tác giải phóng mặt bằng của cống nào xong sẽ  thi công ngay. Thi công thành hai mũi song song với công tác đúc sẵn tại bãi đúc. Thi công dứt điểm từng cống để phục vụ công tác đắp đất.

    a – Chuẩn bị thi công: Các ống cống và đế cống được mua tại các nhà cung cấp chuyên nghiệp và vận chuyển về tập kết tại từng vị trí thi công cống.

    b – Đúc các tấm đan cống bản và các cấu kiện đúc sẵn khác tại bãi đúc công trường

    c – Đảm bảo giao thông trên tuyến bằng cọc tiêu có phản quang. Định vị vị trí cống trên tuyến đường.

    d – Thi công cọc lasen chống sụt lở làn đường đang lưu thông

    e – Phá dỡ các tường cánh, sân cống cũ bằng búa căn khí nén kết hợp nhân lực

    f – Đào đất nền móng cống bằng máy đào kết hợp thủ công đào san sửa hố móng.

    g – Thi công đê vây và lắp ống nhựa D 200 thoát nước tạm để hướng dòng và bơm khô nước hố móng.

    h – Thi công móng cống, lắp đặt đế cống. Thi công tường cống bản

    i – Cẩu lắp đốt cống và thi công mối nối. Thi công bê tông tại chỗ cống hộp

    k – Lấp đất mang cống. Cẩu lắp tấm đan, đắp đất sau cống, thi công bản giảm tải cống bản

    l – Thi công thượng, hạ lưu cống.

    m – Thanh thải đê vây, tháo ống nhựa D 200 cống tạm. Hoàn trả dòng chảy. Nhổ cọc ván thép và hoàn trả mặt bằng để đắp đất khu vực cống.

    4- Biện pháp thi công chi tiết.

    –        Công tác đúc sẵn :

        Công tác đúc sẵn các dầm bản cống bản và các cấu kiện đúc sẵn khác đước tiến hành tại bãi đúc. Tại đây bố trí máy trộn bê tông 250 l và các thiết bị khác đảm bảo dây chuyền đúc sẵn. Bãi đúc được lu lèn và láng vữa xi măng để đảm bảo độ phẳng theo yêu cầu.

    –        Thi công cọc lasen chống sụt đất:

           Sau khi định vị chính xác vị trí cống  tiến hành thi công đóng cọc lasen L=6m bằng búa rung 45 KW hoặc máy ép cọc ván thủy lực không tiếng ồn. Công việc này Nhà thầu chính làm.

    –        Công tác phá dỡ kết cấu cũ và đào đất.

    Phá dỡ kết cấu cũ bằng búa căn khí nén. Vật liệu thải được chở đi tập kết tại vị

    trí đổ thải qui định bằng ô tô 12 T. Đào đất bằng máy đào gầu 0,6 m3, đất thải tập kết tại vị trí đổ thải bằng ô tô 12 T. Nhân lực đào san sửa kết hợp với máy đào. Phần đào đất bằng máy đào do nhà thầu chính làm.

    –        Đắp đê quai dẫn dòng:

        Đắp đê quai, dẫn dòng hợp lý bằng cống tạm bằng ống nhựa D 200 đối với các cống đang phục vụ tưới tiêu, thoát nước ngang. Tùy theo lưu lượng nước chảy của từng cống để đặt 1 hoặc nhiều ống thoát nước tạm D 200. Vị trí tim đê quai cách mép ngoài công trình thượng hạ lưu tối thiểu 3 m. Bơm khô nước, đào san sửa hố móng đạt cao độ và kích thước yêu cầu, định vị chính xác vị trí cống  để thi công móng cống. Khi hố móng được  TVGS kết luận là đạt tiêu chuẩn về kích thước hình học, cao độ, độ bằng phẳng, địa chất ổn định … thì tiến hành vệ sinh sạch sẽ đáy móng cống. Tiến hành nghiệm thu kích thước hình học của đáy hố móng.

    –        Thi công móng cống, tường cống bản

         Móng cống được thi công khi hố đào được nghiệm thu kích thước hình học. Thi công lớp đá dăm lót và bê tông lót M 100 có chiều dày 10cm dưới ống cống và đệm sân cống. Ván khuôn để đổ bê tông được lắp ghép đúng yêu cầu kỹ thuật, được chống ngang đảm bảo độ vững chắc, kích thước hình học. Bề mặt ván khuôn phẳng nhẵn. Tiến hành đổ bê tông móng phạm vi tường đầu, tường cánh, chân khay. Bê tông móng cống M150 và bê tông tường cống bản được trộn bằng máy trộn 250L, mỗi mẻ trộn đều được ghi lại các số liệu vật tư dùng trộn bê tông, so sánh với số liệu của mẫu thiết kế. Máy trộn được kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ nhất là bên trong thùng trộn, không để các vật liệu khác lẫn vào.

          Thực hiện bảo dưỡng bê tông trong 7 ngày. Các mặt ngoài của bê tông được tưới nước và giữ độ ẩm muộn nhất là bắt đầu từ 10-12 tiếng sau khi đổ bê tông xong. Phần móng cống BTCT M200 nằm trong phạm vi ống cống được thi công ở xưởng đúc và lắp ghép nhờ cẩu 10T. Tiến hành nghiệm thu móng bê tông đổ tại chỗ và lắp ghép trước khi lắp đặt ống cống.

    –        Thi công lắp đặt ống cống và đổ bê tông tại chỗ cống hộp

         Định vị lại chính xác vị trí cống: Bằng máy cao đạc và kinh vĩ, chuyển sang các mốc phụ ở hai đầu cống để tiện cho việc thi công cũng như kiểm tra. Được phép của TVGS và Chủ Đầu Tư, hạ chỉnh ống cống bằng cẩu 10T vào vị trí, kết hợp với máy cao đạc và máy kinh vĩ để đảm bảo độ chính xác và kích thước hình học, độ dốc dọc… theo yêu cầu. Thi công mối nối ống cống bằng vữa XM M100, đệm và chèn vữa bê tông. Thi công mối nối ống cống giữa hai đốt cống bằng mối nối xi măng. ống được đặt cẩn thận, ống nối ngoài ở trên, gờ đầu ống được đưa toàn bộ vào ống nối ngoài bên cạnh. Trước khi đặt các ống tiếp theo nửa dưới của ống nối ngoài của đoạn trước được trát bằng xi măng vào bên ngoài. Với dộ dày thích hợp đem lại bề mặt trong của ống tiếp giáp bằng phẳng và đều đặn. Đồng thời nửa trên của gờ đầu ống của ống tiếp theo được trát bằng vữa để tạo đường vân quanh mối nối. Bên trong mối nối được hoàn thiện nhẵn, được bảo dưỡng bằng bao tải và giữ độ ẩm để tránh cho các mối nối bị khô, dẫn đến hiện tượng nứt khe nối thấm qua khe nối làm ảnh hưởng đến chất lượng của cống.

         Thi công tường đầu, tường cánh, bê tông cống hộp tại chỗ, sân cống bằng bê tông xi măng mác 150, đá hộc xây vữa xi măng M 100 đổ tại chỗ. Thi công móng cống và sân cống: Đá dăm làm lớp đệm móng cống, sân cống được vận chuyển về vị trí thi công bằng xe tự đổ 12T. Lớp đá dăm đệm được san xuống hố móng bằng thủ công theo từng lớp dày 10cm – 15cm, kích thước theo đúng hồ sơ thiết kế, tưới nước đảm bảo độ ẩm theo qui định và dùng đầm cóc, đầm bàn chặt tới độ chặt yêu cầu. Lớp đệm móng bảo đảm đúng kích thước, cao độ độ chặt thiết kế, bề mặt nhẵn phẳng, đồng đều.

        – Đắp đất quanh thân cống và hai bên cống:

         Đắp đất thành từng lớp có chiều dày 15 – 20 cm sau đó dùng đầm cóc kết hợp nhân công đầm chặt  đến K=0,95. Các lớp đất đắp được thi công song song ở hai bên mang cống. Đặc biệt quan tâm đến kỹ thuật lu lèn vật liệu đắp bù dưới lớp vòm cống. Đắp đất mang tường cánh, đầu cống chỉ được tiến hành khi kết cấu cống bê tông và khối xây đã đủ cường độ cho phép .

          Cẩu lắp dầm bản cống bản bằng cần cẩu 10 T. Sau khi thi công xong thanh chống phía dưới và lắp xong dầm bản tiến hành đắp đất sau mố cống bản và đổ bê tông bản quá độ.

    –        Thi công hoàn chỉnh thượng, hạ lưu cống:

          Cao độ, kết cấu của tường đầu, tường cánh cống được xác định chính xác bằng các loại máy cao đạc, bằng hồ sơ thiết kế và bản vẽ thi công đã lập. Chi tiết các kết cấu được xác định riêng cho từng cống. Đổ đá dăm đệm, xây đá hộc vữa XM 100, lát khan đã hộc và hoàn thiện thượng, hạ lưu cống theo đúng yêu cầu thiết kế.

    – Hoàn thiện cống và nghiệm thu công trình.

         Tiến hành thanh thải đê quai, thông dòng, tháo dỡ cống tạm, đắp trả lu lèn K95 theo bản vẽ thiết kế. Nhổ cọc ván thép lasen, thanh thải mặt bằng. Tiến hành vệ sinh xung quang cống. Nghiệm thu cống để đắp đất nền đường.

     

    5- Kỹ thuật thi công chi tiết

      a- Công tác ván khuôn – đà giáo

         Ván khuôn dùng cho đổ bê tông là ván khuôn thép được chế tạo sẵn. Các bản vẽ ván khuôn – đà giáo bằng thép dùng để đổ bê tông cống được Nhà thầu chính  trình lên  TVGS phê duyệt. Các kết cấu   đảm bảo vững chắc, ổn định, thuận tiện cho việc tháo lắp và sử dụng luân chuyển được nhiều lần.

          Trước khi đưa vào đổ bê tông kiểm tra kỹ bề mặt, đảm bảo bề mặt ván khuôn thép phẳng nhẵn, đảm bảo kín khít và không bị mất nước trong quá trình đổ bê tông.

          Các độ võng, độ lún của đà giáo và ván khuôn được tính trước và được chỉ ra trong bản vẽ, các thông số này phù hợp và đảm bảo yêu cầu cho phép.

          Khi lắp dựng xong ván khuôn, tiến hành nghiệm thu việc gia công lắp đặt với Kỹ sư TVGS nhà thầu chính, khi được chấp thuận mới được chuyển các công việc tiếp theo.

          Ván khuôn và đà giáo khi tháo dỡ được bắt đầu khi bê tông đã thành hình và đạt được cường độ cho phép như Quy trình ký thuật của Dự án và được sự chấp thuận của Kỹ sư Tư vấn giám sát.

    1. Công tác gia công lắp dựng cốt thép

          Căn cứ vào hồ sơ thiết kế nhà thầu sẽ gia công các loại cốt thép tại xưởng ngoài công trường, trước khi xuất xưởng sẽ sắp xếp cốt thép của từng lô theo chủng loại riêng biệt để phân biệt cho dễ.

          Các loại cốt thép mua về đều được sự chấp thuận của Kỹ sư TVGS cho phép sử dụng loại thép đó mới tiến hành tập kết về công trường và gia công.

          Cốt thép được lưu giữ và bảo quản trong nhà kho kín, tránh tiếp xúc với ánh sáng và thời tiết bên ngoài gây rỉ sét.

          Cấu kiện cốt thép được gia công xong, khi chưa sử dụng tới được bảo quản kỹ càng và cẩn thận tại kho có nền cao ráo, không bị ngập nước, không bị ẩm ướt, có mái che chắn để không bị mưa gió làm ảnh hưởng đến chất lượng cốt thép.

          Việc lắp dựng cốt thép sẽ tuân thủ theo đúng bản vẽ thiết kế, các bộ phận nào lắp trước, bộ phận nào lắp sau. Công tác cốt thép được thực hiện bởi công nhân có tay nghề cao dưới sự giám sát của kỹ sư hiện trường.

         Độ chính xác của việc gia công và lắp đặt cốt thép tuân thủ và đảm bảo đúng các quy định trong quy trình thi công cầu cống hiện hành.

    Kết thúc công tác cốt thép có biên bản nghiệm thu mới được tiến hành đổ bê tông.

    1. Công tác bê tông

           Bê tông được trộn bằng máy trộn 250L ngay, mỗi mẻ trộn đều được ghi lại các số liệu vật tư dùng trộn bê tông, so sánh với số liệu của mẫu thiết kế. Máy trộn được kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ nhất là bên trong thùng trộn , không để các vật liệu khác lẫn vào.

          Trước khi đổ bê tông, ván khuôn được làm sạch bôi trơn, chống dính và làm nhẵn bề mặt khi ván khuôn tiếp xúc với bê tông.

         Trước khi trộn cần lấy mẫu cốt liệu để kiểm tra độ ẩm thực tế nhằm khống chế lượng nước một cách thích hợp.

          Thực hiện đổ bê tông bằng máng rót và đầm bằng đầm dùi. Dùng thủ công gõ cạnh ván khuôn để đảm bảo độ nhẵn mịn phía ngoài thành. Bê tông được đổ vào máng từ phễu trộn đảm bảo độ rơi tự do không quá 1,00m.

         Trong điều kiện có mưa, việc đổ bê tông tạm dừng lại trừ khi có các biện pháp thích hợp như che bạt.

    1. Công tác xây đá hộc

           Đá hộc sử dụng xây trong công tác phải có nguồn gốc rõ ràng, đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định của Dự án và được TVGS đồng ý, cho phép sử dụng. Làm sạch tất cả các viên đá một cách kỹ lưỡng và làm ẩm trước khi xây. Vệ sinh bề mặt thi công sạch sẽ. Chiều dày vữa nền và mạch xây giữa các viên đá được tuân theo đúng  quy định kỹ thuật của Dự án. Đặt các viên đá phải được sao cho chúng tạo nên đường song song theo từng lớp. Các viên đá được xếp sao cho bề mặt lộ ra ngoài phải tuơng đối bằng phẳng.

          Trong quá trình thi công chú ý bịt các mối nối với các kết cấu liền kề để tránh hiện tượng xói và tạo thoát nước. Tại các nơi phải bố trí các mối nối xiên, đổ thẳng vữa vào các mối lộ và nền đến chiều sâu yêu cầu. Làm sạch bề mặt đá hộc xây khi vữa còn ướt.

    III – Thuyết minh tính toán đơn giá

        Khối lượng chào thầu theo đúng khối lượng trong bản vẽ thiết kế đã được duyệt, khối lượng thanh toán theo khối lượng nghiệm thu tại hiện trường.

            Đơn giá chào thầu được lập trên cơ sở định mức dự toán hiện hành có tham khảo đơn giá thực tế khoán nhân công và máy hiện nay trong ngành xây dựng cầu đường.

       Đơn giá chào thầu chỉ bao gồm chi phí nhân công và máy ( Chi phí trực tiếp ) không có chi phí vật tư chính và vật tư phụ và chưa có thuế VAT 10 %.

    • Đơn giá đắp đất, cẩu lắp cấu kiện: Nhà thầu chính cung cấp đầm cóc và cần cẩu 10 T nên trong đơn giá không tính chi phí máy.
    • Đơn giá gia công thép tròn : Nhà thầu chính cấp thép tròn, que hàn, giây buộc.
    • Công tác đào đất bằng máy do nhà thầu chính thực hiện, Nhà thầu phụ chỉ đào san sửa thủ công và chịu trách nhiệm đắp đê vây, lắp ống nhựa D 200 dẫn dòng và bơm nước, nhà thầu chính cấp ống nhựa D 200.
    • Trong công tác đổ bê tông nhà thầu phụ chịu trách nhiệm máy trộn, máy hàn, máy đầm, máy cắt uốn thép và ván khuôn.
    • Trong quá trình thi công Nhà thầu chính có yêu cầu bổ sung khối lượng hai bên sẽ thống nhất đơn giá bổ sung bằng phụ lục hợp đồng trước khi thi công.
    • Đơn giá nhân công công nhật cho công việc giản đơn sử dụng thợ phụ ( Bậc 3/7 ) là : 220.000 đ/ ngày.
    • Đơn giá bốc vật tư lên xuống ô tô từ kho : 120.000 đ/ tấn
    • Chi phí bảo vệ hiện trường tại vị trí thi công cống Nhà thầu phụ chịu trách nhiệm.
    • Lán trại thi công của mình do Nhà thầu phụ chịu trách nhiệm. Nhà thầu phụ tự chịu trách nhiệm tổ chức bếp ăn tập thể và sinh hoạt hàng ngày.
    • Chi phí chuyển quân, thiết bị do nhà thầu phụ lo.
    • Bãi đúc cấu kiện do Nhà thầu chính cấp vật tư và thuê nhà thầu phụ thi công.
    • Nhà thầu chính giao mặt bằng, cấp hồ sơ kỹ thuật, đo đạc định vị công trình. Nhà thầu chính cho nhà thầu phụ mượn máy thủy bình tự kiểm tra cao độ trong quá trình thi công.
    • Hồ sơ công trình, thí nghiệm vật liệu…vv do Nhà thầu chính làm, Nhà thầu phụ chỉ có trách nhiệm triển khai thi công trên cơ sở hồ sơ thiết kế, nghiệm thu công việc với Kỹ sư của Nhà thầu chính, Nhà thầu chính có trách nhiệm nghiệm thu với tư vấn giám sát và ban A và chịu các chi phí quan hệ khác.
    • Ngoài công việc của mình, Kỹ sư của nhà thầu phụ sẽ hỗ trợ tối đa các công việc khác trên hiện trường cũng như nội nghiệp theo yêu cầu của Nhà thầu chính. Hai bên sẽ kết hợp tối ưu trong công việc nhằm phục vụ công việc chung của Dự án.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-K%E1%BA%BET-C%E1%BA%A4U-V%C3%80-V%E1%BA%ACT-LI%E1%BB%86U-T%E1%BA%A0O-T%E1%BA%A4M-H%E1%BA%A4P-PH%E1%BB%A4-%C4%90%E1%BA%BEN-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-NHI%E1%BB%86T-C%E1%BB%A6A-B%E1%BB%98-THU-N%C4%82NG-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-M%E1%BA%B6T-TR%E1%BB%9CI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

     

    Đỗ Minh Cường*, Nguyễn Thị Ngọc, Trần Đức Hạnh, Đặng Duy Phước Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

     

    Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu khả năng nâng nhiệt của bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời với kết cấu và vật liệu khác nhau là hết sức quan trọng để có cơ sở khoa học tính toán lựa chọn vật liệu và kết cấu bộ thu hợp lý cho các thiết bị ứng dụng nhiệt năng lượng mặt trời. Với mục đích này, ba thí nghiệm đã được thiết lập: thí nghiệm 1 xác định ảnh hưởng các góc nghiêng (20, 30 và 40o); thí nghiệm 2 xác định ảnh hưởng các vật liệu (tôn sống V sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và tấm fibro ximăng màu xám không sơn); và thí nghiệm 3 xác định ảnh hưởng độ cao lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu năng lượng mặt trời. Các dụng cụ đo được sử dụng để xác định sự biến thiên nhiệt độ tại các vị trí xác định khi kết cấu và vật liệu thay đổi. Kết quả chỉ ra rằng trong bộ thu nhiệt không khí đối lưu tự nhiên, với cùng một diện tích thu nhiệt, kết cấu và vật liệu khác nhau cho khả năng thu nhiệt khác nhau: nhiệt độ không khí sau bộ thu tăng 3oC khi góc nghiêng lắp đặt bộ thu tăng từ 20o đến 40 o; Nhiệt độ không khí sau bộ thu sử dụng tấm hấp thụ là vật liệu tôn sống V sơn đen và tấm fibro sơn đen sai khác nhau không lớn và luôn cao hơn trường hợp sử dụng tấm fibro không sơn đen đến 17oC; Khả năng nâng nhiệt không khí của bộ thu tăng khi tăng chiều cao lắp đặt. Những kết quả này cần được chú ý khi ứng dụng các bộ thu nhiệt phẳng năng lượng mặt trời.

     

    Từ khóa: Bộ thu nhiệt, tấm fibro, năng lượng mặt trời, tôn sơn đen.

     

    Nhận bài: 18/03/2019        Hoàn thành phản biện:  26/03/2019                    Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Năng lượng mặt trời (NLMT) là nguồn năng lượng sạch, miễn phí và vô tận. Nó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sản xuất và ứng dụng nguồn nhiệt từ NLMT đã được ứng dụng từ lâu và đang là kỹ thuật đầy hứa hẹn nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng trên thế giới trong khi các nguồn năng lượng nhiệt khác đang ngày càng cạn kiệt.

     

    Hiện tại, đã có nhiều bộ thu nhiệt NLMT được nghiên cứu lắp đặt với nhiều lĩnh vực ứng dụng như bộ thu nhiệt cho hệ thống sấy hay sưởi ấm, bộ gia nhiệt nước nóng… trong đó bộ thu phẳng được ứng dụng rộng rãi bởi nó có cấu tạo đơn giản, tuy nhiên hiệu suất thu nhiệt thấp, được ứng dụng trong trường hợp cần nhiệt độ trung bình hoặc thấp, năng lượng từ bức xạ mặt trời làm nóng dòng khí hoặc dung dịch lỏng qua bộ thu được đưa đến các bộ trao đổi nhiệt khác (Garg và Adhikari, 1999; Belusko và cs., 2007).

     

    Nhiều nghiên cứu đã triển khai để nâng cao hiệu suất bộ thu như thay đổi vật liệu hấp thụ, tăng diện tích truyền nhiệt (Yeh và Ting, 1986; Khawagianh và cs., 2011; Goldstein và Sparrow, 1976; Gao và cs., 2000; Chaube và cs., 2005), thay đổi chiều dòng khí và sử dụng nhiều vách ngăn (Yeh và cs., 2000), hay thay đổi số kênh dẫn khí (Naphon, 2005); thay đổi vật liệu tấm hấp thụ (Singh và cs., 1982) để đo lường các thông số nhiệt, đặc biệt là nhiệt độ dòng khí sau bộ thu.

     

    1209

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    Hiện nay ở vùng nông thôn Việt Nam, tấm lợp fibro ximăng đang được sử dụng phổ biến bởi đây là tấm lợp có nhiều ưu điểm như bền với môi trường kiềm và axit, chịu mưa nắng tốt, không bắt cháy, không ồn và giá thành rất rẻ… Trong nghiên cứu này, tấm fibro ximăng được sử dụng để làm tấm hấp thụ trong bộ thu nhiệt, để so sánh với vật liệu tấm hấp thụ khác; kết cấu bộ thu cũng được thay đổi để đánh giá khả năng nâng nhiệt của nó, kết quả được phân tích, so sánh và đánh giá bằng thực nghiệm.

     

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Vật liệu nghiên cứu

    Ba bộ thu nhiệt (kích thước 1,0 x 0,5 x 0,1m) được chế tạo và lắp đặt để tiến hành thí nghiệm. Vật liệu chế tạo bộ thu gồm khung thép V liên kết hàn; cách nhiệt sử dụng xốp dày 0,05m; vật liệu tấm hấp thụ sử dụng tôn sống V sơn đen, tấm fibro sơn đen và không sơn; tấm đậy trong suốt sử dụng kính xây dựng dày 5mm. Mô hình thí nghiệm thể hiện trên hình 1a.

     

     

     

    Hình 1. Hệ thống thí nghiệm: a) Hình ảnh mô hình thí nghiệm; b) Các thiết bị đo lường.

     

    1. Tấm hấp thụ; 2. Tấm đậy trong suốt là kính xây dựng.

    2.2. Bố trí thí nghiệm

     

    Các thí nghiệm được tiến hành tại Trường Đại học Nông Lâm Huế, toạ độ địa lý là 107°31′ – 107°38′ kinh Ðông và 16°30′-16°24′ vĩ Bắc; Thời gian bắt đầu thí nghiệm vào lúc 9h00 đến 16h30 từ ngày 22 – 24 tháng 8 năm 2018.

     

    Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của góc nghiêng đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức ứng với 3 góc nghiêng (20, 30 và 40o) và 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

     

    Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các vật liệu khác nhau đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức ứng với 3 loại vật liệu (tôn sống

     

    • sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và tấm fibro ximăng màu xám không sơn) với 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

    Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng các chiều cao khác nhau đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức ứng với 3 chiều cao (0,2; 0,6 và 1,0m) với 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

     

    1210

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Bộ thu được đặt nghiêng theo hướng Nam. Khoảng thời gian mỗi lần đo là 30 phút; Sử dụng thiết bị đo nhiệt độ để đo nhiệt độ không khí đầu ra của bộ thu, nhiệt độ mặt kính và nhiệt độ mặt tấm hấp thụ, đo cường độ bức xạ mặt trời khi kết cấu và vật liệu của bộ thu được thay đổi.

     

    Trong quá trình thí nghiệm, cường độ bức xạ mặt trời, nhiệt độ, tốc độ không khí được xác định sử dụng các thiết bị (hình 1b) để đo cường độ bức xạ mặt trời Tenmars TN-206 – Đài Loan (độ chính xác 0,1 W.m-2); Thiết bị đo vi khí hậu EN100 – Đài Loan (độ chính xác 1,2oC); Thiết bị đo đa năng ADD81 để đo nhiệt độ qua cảm biến nhiệt (độ chính xác 0,1oC); Thiết bị đo nhiệt độ lazer Sealey VS905 – Anh (độ chính xác 0,1oC).

    2.3. Xử lý số liệu

     

    Số liệu thu thập được xử lý và thể hiện trên các biểu đồ sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel 2013, các kết quả được phân tích, so sánh, đánh giá.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1 Ảnh hưởng của góc nghiêng lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Các thí nghiệm được bắt đầu vào lúc 9h00 đến 16h30, khoảng thời gian mỗi lần đo là 30 phút; nhiệt độ không khí tự nhiên khoảng 30oC, trời nắng. Kết quả biến thiên nhiệt độ theo kết cấu bộ thu và cường độ bức xạ mặt trời thể hiện trên Hình 2, 3, 4.

     

     

    Hình 2. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ không khí sau bộ thu theo thời gian.

     

    Hình 2 cho thấy, cường độ bức xạ mặt trời tăng liên tục và nhanh từ 9h00 đến 12h30 và bắt đầu giảm dần từ 13h00 đến 16h30, cường độ bức xạ đạt cao nhất là 945W/m2. Kết quả thí nghiệm cho thấy biến thiên nhiệt độ không khí thu được sau bộ thu phụ thuộc vào góc nghiêng lắp đặt: góc nghiêng lắp đặt là 30o cho nhiệt độ cao nhất xác định từ 9h00 đến 11h30, tuy nhiên từ 12h00 đến chiều, nhiệt độ không khí sau bộ thu đạt cao nhất ở bộ thu có góc nghiêng lắp đặt là 40o; nhiệt độ không khí sau bộ thu thấp nhất (cả ngày) cho bộ thu có góc nghiêng là 20o so sánh với 30 và 40o nghiêng của bộ thu.

     

    Nhiệt độ không khí tự nhiên đo được cũng cho thấy tăng từ 9h00 đến 13h00, giảm từ 13h30 đến 16h30, trung bình cả ngày khoảng 30oC. Tốc độ gió tự nhiên rất thấp và thay đổi liên tục, tốc độ trung bình là 0,2 m/s.

     

    Nhiệt độ đo được tại mặt kính cũng biến thiên theo cường độ bức xạ mặt trời trong ngày (Hình 3). Kết quả cho thấy nhiệt độ mặt kính cao nhất khi góc nghiêng lắp đặt bộ thu là 20o và giảm dần khi góc lắp đặt tăng. Tuy nhiên sự sai khác này là không lớn, đặc biệt là lúc sáng sớm và chiều muộn.

     

    1211

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

     

     

    Hình 3. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian.

     

    Thí nghiệm cũng tiến hành đo nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ của bộ thu nhiệt. Kết quả cho thấy nhiệt độ cao nhất đo được là 78,2oC, cao hơn nhiệt độ không khí tự nhiên đến hơn 45oC. Có sự sai khác nhiệt độ giữa các tấm hấp thụ, tuy nhiên không lớn (khoảng 5oC) xác định tại thời điểm 12h30 và sự sai khác này giảm dần khi cường độ bức xạ giảm dần. Nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ của bộ thu nghiêng 20o cao nhất và thấp nhất với bộ thu có góc nghiêng 40o. Điều này chỉ ra rằng, khi có sự trao đổi nhiệt lớn hơn giữa dòng khí và bề mặt tấm hấp thụ do tốc độ đối lưu tự nhiên lớn hơn (bộ thu có góc nghiêng 40o) thì thu được nhiệt độ dòng khí cao hơn làm cho nhiệt độ tấm hấp thụ giảm; đối với bộ thu có góc nghiêng lắp đặt 20o cho nhiệt độ tấm hấp thụ cao hơn bởi tốc độ dòng khí đối lưu tự nhiên thấp dẫn đến sự trao đổi nhiệt giữa không khí và tấm hấp thụ hạn chế. Sự sai khác này không đáng kể khi sáng sớm và chiều muộn.

     

    Mặt khác góc nghiêng lắp đặt bộ thu có ảnh hưởng đến góc tới tia tới trực xạ BXMT đến bề mặt bộ thu, làm ảnh hưởng đến các thông số nhiệt của bộ thu.

     

     

    Hình 4. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ mặt tấm hấp thụ theo thời gian.

     

    3.2 Ảnh hưởng của vật liệu chế tạo tấm hấp thụ đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Thí nghiệm được tiến hành với 03 bộ thu có vật liệu tấm hấp thụ khác nhau (tôn sống

     

    • sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và không sơn), cùng góc nghiêng là 30o, cường độ BXMT cao nhất đạt 980 W.m-2, nhiệt độ không khí tự nhiên khoảng 30oC, tốc độ gió tự nhiên thấp và thay đổi liên tục. Kết quả thấy rằng nhiệt độ không khí sau bộ thu đo được biến thiên theo cường độ bức xạ mặt trời, có sự sai khác rõ rệt nhiệt độ không khí sau bộ thu khi vật liệu tấm hấp thụ khác nhau (hình 5). Đối với bộ thu sử dụng tấm hấp thụ là tôn sống V sơn đen và tấm

    1212

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    fibro ximăng sơn đen, sự sai khác nhiệt độ không khí sau bộ thu không lớn (4o) trong khi chênh lệch nhiệt độ không khí sau bộ thu giữa tấm hấp thụ fibro ximăng sơn đen (hay tôn sơn đen) và tấm fibro không sơn đen là rõ rệt (8oC). Kết quả cũng cho thấy sau 13h00, nhiệt độ dòng khí sau bộ thu sử dụng tấm hấp thụ tấm fibro ximăng sơn đen cao hơn tôn sống V, chỉ ra rằng khả năng lưu nhiệt của tấm fibro ximăng. Những kết quả này khẳng định rằng tấm lợp fibro ximăng có thể được ứng dụng trong chế tạo bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời, đặc biệt vật liệu này luôn có sẵn, giá thành rẻ, bền khi sử dụng với bức xạ mặt trời.

     

     

    Hình 5. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ không khí tại sau bộ thu theo thời gian.

     

    Khi đo nhiệt độ mặt kính theo thời gian trong ngày (hình 6), với bộ thu sử dụng tấm fibro ximăng sơn đen cho thấy nhiệt độ kính cao nhất và nhiệt độ thấp nhất khi tấm hấp thụ là fibro ximăng không sơn. Tuy nhiên, sự sai khác này là không lớn (4oC).

     

     

    Hình 6. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian trong ngày.

     

    Trong khi đó, chênh lệch khá lớn nhiệt độ mặt tấm hấp thụ cũng biến thiên theo thời gian trong ngày (hình 7) khi thay đổi vật liệu chế tạo tấm hấp thụ. Nhiệt độ cao nhất với tấm hấp thụ tôn sống V sơn đen (78oC) và thấp nhất với tấm fibro không sơn (57 oC). Khi cường độ bức xạ mặt trời giảm nhanh, nhiệt độ tấm fibro sơn đen cao hơn tôn sống V sơn đen và tấm fibro không sơn, điều này là bởi vì tấm fibro có thể lưu nhiệt lâu hơn tôn kẽm, kết quả này có thể phải được chú ý khi sử dụng bộ thu tấm fibro ximăng cho các thiết bị gia nhiệt không khí (thiết bị sấy), thời gian gia nhiệt (thời gian sấy) có thể được kéo dài khi mà cường độ bức xạ mặt trời giảm dần.

     

    1213

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

     

    Hình 7. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ mặt hấp thụ theo thời gian.

     

    3.3 Ảnh hưởng của chiều cao lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu, nhiệt độ dòng khí sau bộ thu, nhiệt độ mặt kính và mặt tấm hấp thụ được xác định. Kết quả thể hiện trên hình 8, 9 10.

     

     

    Hình 8. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ không khí tại sau bộ thu theo thời gian.

     

    Hình 8 cho thấy rằng khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu, nhiệt độ không khí sau bộ thu thay đổi theo. Tuy nhiên, sự thay đổi này không lớn khi sáng sớm và chiều muộn. Nhiệt độ không khí cao nhất thu được sau bộ thu khi chiều cao lắp đặt bộ thu 1,0m, và thấp nhất khi chiều cao lắp đặt bộ thu 0,2m. Trong thực tiễn, chiều cao lắp đặt bộ thu thường chi hai nhóm: nhóm bộ thu lắp đặt thấp dùng cho các thiết bị sử dụng nhiệt BXMT kiểu đối lưu tự nhiên, để giảm chiều cao thiết bị; và nhóm bộ thu lắp đặt cao ở trên thiết bị (thường lớn hơn 1,0 m) dùng cho các thiết bị sử dụng nhiệt BXMT kiểu đối lưu cưỡng bức. Nghiên cứu này chỉ ra tăng chiều cao lắp đặt bộ thu nhiệt cho nhiệt độ dòng khí sau bộ thu cao hơn. Kết quả này cần được chú ý khi thiết kế, chế tạo và lắp đặt hệ thống bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời.

     

     

    Hình 9. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian.

     

    1214

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Nhiệt độ tại mặt kính khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu chênh lệch không lớn, nhiệt độ cao nhất quan sát được khi chiều cao lắp đặt 0,2m, trong khi sự sai khác nhiệt độ tại mặt kính trong trường hợp chiều cao lắp đặt 0,6 và 1,0m không rõ rệt.

     

     

    Hình 10. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ tấm hấp thụ theo thời gian.

     

    Khi xác định nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ cho thấy rằng nhiệt độ thấp nhất quan sát được khi chiều cao lắp đặt bộ thu là 0,2m, trong khi nhiệt độ cao nhất ở trường hợp chiều cao lắp đặt bộ thu là 1,0m, sự sai khác nhiệt độ giữa trường hợp chiều cao lắp đặt 0,6 và 1,0m là không đáng kể.

     

    4. KẾT LUẬN

     

    Trong giới hạn hệ thống thí nghiệm đã được thiết lập, nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của góc nghiêng, vật liệu chế tạo và chiều cao lắp đặt bộ thu đến các thông số nhiệt độ của bộ thu. Kết quả chỉ ra rằng, khi thay đổi góc nghiêng bộ thu, nhiệt độ không khí đo được sau bộ thu tăng khi góc nghiêng tăng, tuy nhiên nhiệt độ tấm hấp thụ có chiều hướng ngược lại. Trong khi nhiệt độ tại mặt kính sai khác nhau không lớn. Tốc độ dòng khí không ổn định do tốc độ dòng khí tự nhiên không ổn định.

     

    Khi thay đổi vật liệu tấm hấp thụ, cho thấy rằng nhiệt độ không khí đo được sau bộ thu tôn kẽm cao nhất trong khi bộ thu tấm fibro xi măng không sơn có nhiệt độ không khí thấp nhất. Nhiệt độ tại mặt tôn tương tự, tuy nhiên nhiệt độ tại mặt kính đo được cho thấy nhiệt độ thấp nhất cho trường hợp bộ thu fibro xi măng không sơn đen. Thời gian lưu nhiệt của mặt hấp thụ tấm fibro ximăng lâu hơn.

     

    Khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu nhiệt, cho thấy nhiệt độ không khí sau bộ thu cao hơn khi tăng chiều cao lắp đặt bộ thu. Nhiệt độ kính sai khác nhau không lớn trong khi nhiệt độ mặt hấp thụ thấp nhất khi chiều cao lắp đặt thấp nhất.

     

    Có thể kết luận, đối với các bộ thu nhiệt không khí kiểu đối lưu tự nhiên, nên tăng góc nghiêng lắp đặt bộ thu (40o, theo kết quả trong nghiên cứu), tăng chiều cao lắp đặt và cần sơn đen tấm hấp thụ để nâng cao hiệu suất thu nhiệt của bộ thu; kết quả cũng chỉ ra có thể sử dụng tấm fibro xi măng là vật liệu hấp thụ trong các bộ thu nhiệt không khí. Những kết quả này phải được chú ý khi thiết kế, chế tạo bộ thu nhiệt không khí ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.

     

     

    1215

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGYISSN 2588-1256

    Vol. 3(2) – 2019

       

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Belusko M., Saman W. and Bruno F. (2008). Performance of jet impingement in unglazed air collectors. Solar Energy, 82, 389-398. doi: 10.1016/j.solener.2007.10.005

     

    Chaube A., Sahoo P. K. and Solanki S. C. (2006). Analysis of Heat Transfer Augmentation and Flow Characteristics Due to Rib Roughness over Absorber. Renewable Energy, 31, 317-331. doi:10.1016/j.renene.2005.01.012.

     

    El-khawajah M. F., Aldabbagh L. B. Y., Egelioglu F. (2011). The effect of using transverse fins on a double pass flow solar air heater using wire mesh as an absorber. Solar Energy, 85, 1479-1487. doi: org/10.1016/j.solener.2011.04.004.

     

    Gao W. F., Lin W. X. and Lu E. R. (2000). Numerical Study on Natural Convection Inside the Channel between the Flat-Plate Cover and Sine-Wave Absorber of a Cross-Corrugated Solar Air-Heater. Energy Conversation Management, 41, 145-151. doi: 10.1016/S0196-8904(99)00098-9.

     

    Garg H. P. and Adhikari R. S. (1999). Performance evaluation of a single solar air heater with n-subcollectors connected in different combinations. International Journal of Energy Research, 23, 403-414. doi:10.1002/(SICI)1099-114X(199904)23:5 <403::AID-ER488>3.0.CO;2-F

     

    Heat-Exchanger Configuration. ASME Journal of Heat Transfer, 98, 26-34. doi: 10.1115/1.3450464

     

    Naphon P. (2005). On the Performance and Entropy Generation of the Double-Pass Solar Air Heater with Longitudinal Fins. Renewable Energy, 30, 1345- 1357. doi: 10.1016/j.renene.2004.10.014

     

    Singh D., Bharadwaj S. S., and Bansal N. K. (1982). Thermal performance of a matrix air heater, 6, 103-110. doi: org/10.1002/er.4440060202

     

    Yeh H. M. and Ting Y. C. (1986). Effects of Free Convection on Collector Efficiencies of Solar Air Heaters. Applied Energy, 22(2), 145-155. doi: 10.1016/0306-2619(86)90078-4

     

    Yeh H. M., Ho C. D. and Lin C. Y. (2000). Effect of Collector Aspect Ratio on the Collector Efficiency of Upward Type Baffled Solar Air Heaters, Energy Conversation and Management, 41(9), 971- 981. doi:10.1016/S0196-8904(99)00148-X.

     

    EFFECTS OF STRUCTURE AND ABSORBER PLATE MATERIALS TO THERMAL PARAMETERS OF SOLAR AIR COLLECTOR

     

    Do Minh Cuong*, Nguyen Thi Ngoc, Tran Duc Hanh, Dang Duy Phuoc Hue University – University of Agriculture and Forestry

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Study on thermal parameters of air solar collectors with different structures and materials is very important to have a scientific basis for design solar devices. For these purposes, an experimental system has been set up, measuring devices are used to determine the temperature variation at certain locations in collector when structures and materials were changed. The results show that with the same air collector area, changing structure and materials of solar collector can be effected to the thermal parameter of solar collector as hot air temperature, glass temperature and absorber plate temperature. The results also show black fibro sheet can be used as good absorber material in design of the solar air collector. These results should be taken into account when applying air flat solar heat collectors.

     

    Key words: Solar air collector, fibro sheet, solar energy, black iron tole

     

    Received: 18th March 2019              Reviewed: 26th March 2019                    Accepted: 30th March 2019

     

    1216

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực phẩm chức năng Người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp

    Thực phẩm chức năng Người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp

    Thực phẩm chức năng Người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Th%E1%BB%B1c-ph%E1%BA%A9m-ch%E1%BB%A9c-n%C4%83ng-Ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-v%C3%A0-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-qu%E1%BA%A3ng-c%C3%A1o-tr%E1%BB%B1c-tuy%E1%BA%BFn-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực phẩm chức năng Người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp

    THỰC PHẨM CHỨC NĂNG: NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRỰC TUYẾN CỦA DOANH NGHIỆP

    TP.HCM, năm 2014

     

    Hình. Thực phẩm chức năng bày bán trong một nhà thuốc tự chọn (thanhnien.com.vn)

    Nội dung:

     

    • Tổng quan thị trường
    • Cơ hội và thách thức
    • Người tiêu dùng
    • Hoạt động quảng cáo trực tuyến
    • Kết luận và dự báo
    • Danh sách một số công ty

    I.   TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG

     

    Theo Hiệp hội Thực Phẩm Chức Năng, thực phẩm chức năng (TPCN) là sản phẩm hỗ trợ các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có hoặc không có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại bệnh tật. Tác dụng của TPCN là có khả năng cải thiện sức khỏe và làm giảm thiểu nguy cơ và tác hại bệnh tật, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học. Nó không phải là trị liệu y học nhằm mục

    đích điều trị hay cứu chữa bệnh tật của con người. Từ năm 1999, TPCN từ các nước bắt đầu nhập khẩu chính thức vào Việt Nam. Đồng thời, do có sẵn nguồn nguyên liệu, có lịch sử lâu đời nền y học cổ truyền, có sẵn dây truyền sản xuất thuốc và đội ngũ công nhân chuyên nghiệp và trào lưu phát triển TPCN trên thế giới, các công ty dược, các cơ sở sản xuất thuốc Y học cổ truyền bắt đầu chuyển sang sản xuất TPCN. Tính đến cuối năm 2012, gần như cả ngành dược Việt Nam đã lao vào lĩnh vực TPCN, với sự tham gia của 1,781 doanh nghiệp.

     

    2   Tổng quan thị trường                                                                                        Copyright by Moore 2014

     

    Số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng năm 2000 là 13 cơ sở, đến cuối 2012 là 1,552 cơ sở, với hơn 5,500 sản phẩm. Năm 2013, số cơ sở SXKD TPCN đã tăng lên 3,512 cơ sở (tăng 226% so với 2012), với 6,851 sản phẩm (tăng 124%). Trong đó, 80% sản phẩm TPCN là nhập khẩu – 20% sản phẩm sản xuất trong nước. Sản phẩm xuất khẩu đang gia tăng nhanh chóng, tăng 172% giai đoạn 2012-2013, trong khi sản phẩm sản xuất trong nước giảm 23% giai đoạn 2012-2013.

     

    Số Cơ sở SXKD TPCN                                                         Số Sản phẩm TPCN

     

     

    Hình. Số cơ sở sản xuất kinh doanh TPCN và Số lượng sản phẩm TPCN giai đoạn 2005 – 2013

     

    Nguồn: Hiệp hội TPCN Việt Nam 2014

     

    5 nguyên nhân khiến thị trường bùng phát

     

    Thứ (1) là sự bùng nổ các bệnh của xã hội công nghiệp và ô nhiễm môi trường. Thứ (2), người tiêu dùng đang hướng về một lối sống lành mạnh, quan tâm hơn đến các sản phẩm thiên nhiên và các biện pháp phòng bệnh. Thứ (3), công chúng ngày càng quan tâm hơn đến mối quan hệ giữa thực phẩm, chế độ dinh dưỡng và sức khỏe. Thứ (4), nguyên nhân quan trọng nhất, nhận thức về tầm quan trọng tự bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật liên quan đến dinh dưỡng và lối sống. Thứ

     

    (5), những kết quả nghiên cứu khoa học về lợi ích của rau quả, ngũ cốc trong phòng bệnh, các chất chống ô xy hóa và các hợp chất toàn phần của thực vật có tác dụng tốt đối với sức khỏe, theo PGS-TS Lê Văn Truyền.

     

    3   Tổng quan thị trường                                                                                        Copyright by Moore 2014

     

    Phân loại TPCN

     

    Theo PGS.TS Trần Đáng – Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam, hiện nay, ở Việt Nam, việc phân loại TPCN chủ yếu có 5 cách phân loại: theo phương thức chế biến; theo dạng sản phẩm; theo cách quản lý; theo tác dụng và một phương pháp phân loại tương đối đặc biệt áp dụng theo cách của người Nhật Bản.

     

    Phân loại theo phương thức chế biến

     

    • Nhóm sản phẩm bổ sung vitamin (vitamin C, E)
    • Nhóm bổ sung khoáng chất (calcium, magnesium, kẽm, sắt)
    • Nhóm bổ sung hoạt chất sinh học (DHA, EPA)
    • Nhóm sản phẩm được bào chế từ thảo dược (linh chi, nhân sâm).

    Phân loại theo dạng sản phẩm

     

    • Thực phẩm – thuốc (dạng viên, dạng nước, dạng bột, dạng trà, dạng rượu, dạng cao, dạng kẹo, dạng thực phẩm cho mục đích đặc biệt)
    • Thức ăn – thuốc (cháo thuốc, món ăn thuốc, món ăn bổ dưỡng, canh thuốc, nước uống thuốc).

    Phân loại theo Nhật Bản

     

    • Nhóm các sản phẩm công bố về sức khỏe: Thực phẩm dùng cho mục đích đặc biệt và nhóm sản phẩm nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng.
    • Nhóm thực phẩm đặc biệt: Thực phẩm cho người ốm; Sữa bột trẻ em; Sữa bột cho phụ nữ có thai và cho con bú; Thực phẩm cho người gia nhai nuốt khó.

    Phân loại theo chức năng tác dụng

     

    Cách phân loại này chia TPCN thành 26 dạng khác nhau: nhóm sản phẩm hỗ trợ chống lão hóa; hỗ trợ tiêu hóa; hỗ trợ giảm huyết áp; hỗ trợ giảm đái tháo đường; tăng cường sinh lực; bổ sung chất xơ; phòng ngừa rối loạn tuần hoàn não; hỗ trợ thần kinh; bổ dưỡng; tăng cường miễn dịch; giảm béo;….

     

    Phân loại theo phương thức quản lý

     

    • Phần lớn các sản phẩm TPCN thuộc nhóm bổ sung vitamin và khoáng chất không phải đăng ký chứng nhận mà chỉ cần có công bố của nhà sản xuất về sản xuất theo tiêu chuẩn do cơ quan quản lý thực phẩm ban hành.
    • Các nhóm sản phẩm TPCN khác phải được đăng ký và Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) chứng nhận và cấp phép lưu

    4   Tổng quan thị trường                                                                                        Copyright by Moore 2014

     

    II. Cơ hội và thách thức

     

    1.   Cơ hội

     

    Dân trí ngày càng được nâng cao

     

    Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, cùng với đời sống, dân trí ngày một nâng cao, thì người dân cũng ngày càng có ý thức nhiều hơn với sức khỏe của mình. Nhu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe được người dân từ đó cũng gia tăng. Bên cạnh việc ăn uống hàng ngày thì theo nhiều chuyên gia cho rằng nhu cầu bổ sung các thực phẩm chức năng giàu vitamin tất yếu sẽ trở thành xu hướng tương lai; vì bên cạnh việc bổ sung các chất dinh dưỡng thì đây cũng là nguồn “vacxin” phòng những bệnh mạn tính không lây, giúp hỗ trợ chức năng các bộ phận trong cơ thể giúp nâng cao sức đề kháng giảm bớt các nguy cơ bệnh tật.

     

    Và theo thống kê của ngành y tế, số lượng TPCN đưa vào lưu thông trên thị trường có xu hướng tăng lên rất rõ rệt, cả về nhập khẩu cũng như sản xuất trong nước. Tính đến 2013, chỉ riêng số lượng danh mục sản phẩm sản xuất trong nước chúng ta đã có trên 2,300 sản phẩm chiếm khoảng 40% tổng số sản phẩm lưu hành. Với năng lực sản xuất như vậy, hàng năm nhu cầu về nguyên liệu cho sản xuất thực phẩm chức năng của Việt Nam là khoảng từ 50,000 đến 70,000 tấn.

     

    Hãng nghiên cứu thị trường Euromonitor tin tưởng rằng sự phát triển của ngành thực phẩm chức năng thời gian qua đã chỉ ra rằng thị trường này sẽ tăng trưởng một cách nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng mỗi năm lên đến 20% trong 20 năm tới. Với dân số đông thứ 3 khu vực Đông Nam Á cũng dân trí cũng như nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe đã mở ra một triển vọng vô cùng tiềm năng cho thị trường thực phẩm chức năng ở Việt Nam.

     

    Điều kiện tự nhiên

     

    Được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu cùng tính đa dạng tự nhiên sinh học cao, Việt Nam có khoảng 3,948 loài thực vật, 408 loài động vật, 75 loại khoáng vật và trên 50 loại tảo có khả năng làm thuốc. Kết hợp với nền y học cổ truyền lâu đời thì đây rõ ràng là một tiềm năng vô cùng to lớn cho ngành thực phẩm chức năng.

    5   Cơ hội và Thách thức                                                                                         Copyright by Moore 2014

     

    Nhà nước đang chú trọng phát triển công nghệ sinh học mà sinh học là cốt lõi để phát triển thực phẩm chức năng. Nền kinh tế đang trên đà phát triển, thu nhập ngày càng tăng, công nghệ thông tin bùng nổ hỗ trợ trong việc quảng bá sản phẩm. TPCN rất dễ áp dụng công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, tìm ra được một loại thuốc mới rất khó nhưng nghiên cứu một loại sản phẩm TPCN lại dễ, Việt Nam đã nghiên cứu sản xuất được nhiều sản phẩm TPCN, chất lượng tương đương với nước ngoài.

     

    “Tập trung nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các quy trình công nghệ sản xuất một số sản phẩm chức năng có chất lượng cao mang bản sắc đặc hữu, độc đáo kết hợp giữa nền Y học cổ truyền lâu đời của nước nhà và ứng dụng các công nghệ chiết xuất, bào chế sản phẩm tiên tiến, hiện đại trên cơ sở sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú về cây cỏ và động vật làm thuốc của Việt Nam…”- theo định hướng phát triển của Viện Thực phẩm chức năng Việt Nam VIDS trong giai đoạn 2010-2015

     

    Việt Nam chịu ảnh hưởng của xu hướng Thế giới

     

    Theo PGS-TS Lê Văn Truyền thì 70% người dân ở Mỹ thường xuyên sử dụng TPCN để phòng bệnh. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2006), thị trường TPCN ở Mỹ chiếm 35%, Châu Âu 32%, Nhật Bản 25% và phần còn lại của các nước trên thế giới là 8%. Thị trường TPCN tại Mỹ năm 2007 là 27 tỉ USD và năm 2013 được dự đoán tăng lên 90 tỉ USD. Xu thế phát triển TPCN trên thế giới và khu vực ASEAN cũng tác động mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam lẽ đương nhiên. Tính đến 2013 thì có 39 quốc gia xuất khẩu 5,518 sản phẩm thực phẩm chức năng vào thị trường Việt Nam. Trong đó các sản phẩm thực phẩm chức năng của Mỹ chiếm 18.15% thị phần TPCN ở Việt Nam, sau đó là Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc, Pháp, Malaysia, Thái Lan, Canada, Đức…

     

    2.       Thách thức

     

    Thách thức lớn nhất là nhận thức chưa đầy đủ về TPCN: từ định nghĩa, phân loại, phân biệt, tác dụng, quản lý TPCN trên thế giới và ở Việt Nam.

     

    Các quy định pháp luật về TPCN còn thiếu và chưa đầy đủ, đặc biệt là các tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy định quản lý.

    6   Cơ hội và Thách thức                                                                                         Copyright by Moore 2014

     

    Các cơ sở, công ty, tổ chức, cá nhân sản xuất còn mang tính riêng lẻ, trước mắt vì lợi ích riêng của mình, chưa có sự liên kết, tổ hợp để tạo ra sức mạnh dây chuyền và bền vững.

     

    Người tiêu dùng sử dụng TPCN còn thấp, mục đích sử dụng phần lớn là để hỗ trợ chữa bệnh. Kết quả điều tra của Cục ATTP (2011) cho thấy:

     

    Người sử dụng TPCN chủ yếu là người trưởng thành đang có bệnh.

     

    Tỷ lệ sử dụng TPCN ở Hà Nội là 68.1%, ở Tp. Hồ Chí Minh là 43.0%.

     

    Thời gian sử dụng mới chỉ từ 1-12 tháng

     

    Quảng cáo TPCN còn sai phạm: Kết quả điều tra của Cục ATTP (2011) cho thấy:

     

    Cứ 10 quảng cáo trên truyền hình thì 2 quảng cáo chưa có giấy phép quảng cáo

     

    (20%).

     

     Cứ 10 quảng cáo đã có giấy phép nhưng có 5 quảng cáo còn sai về nội dung so với công bố tiêu chuẩn (50%).

     

    Một số cơ sở kinh doanh đã tổ chức đi các vùng nông thôn liên kết với hội phụ nữ, hội người cao tuổi tổ chức tuyên truyền, khám bệnh, xét nghiệm rồi bán sản phẩm với phương thức “quét” một lần, đi qua không để lại đầu mối để liên hệ. Các hoạt động này vi phạm luật khám chữa bệnh và các quy định quản lý của ngành y tế.

     

     

     

    7   Cơ hội và Thách thức                                                                                         Copyright by Moore 2014

     

    • NGƯỜI TIÊU DÙNG

     

    1. Mối quan tâm đến sức khỏe

     

     

    Hình. Mức chi tiêu cho sức khỏe của một số quốc gia

     

    (Nguồn: Nielsen, 2013)

     

    2.         Nhu cầu tiêu dùng TPCN

     

    Báo cáo về người tiêu dùng Việt Nam 2013 của Nielsen cho thấy, sau những lo ngại về nền kinh tế chưa ổn định và việc làm, sức khỏe là mối quan tâm thứ ba của người tiêu dùng Việt Nam. Nếu như năm 1995, mức chi tiêu cho sức khỏe của người dân Việt Nam chưa đến 20 USD/người/năm, thấp hơn các quốc gia trong khu vực như Indonesia, Philippines, Thái Lan, thì 10 năm sau, mức chi tiêu cho sức khỏe đã tăng gần gấp 5 lần lên 80 USD/người/năm, vượt qua Indonesia và Philippines.

     

    Trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa, cuộc cách mạng công nghiệp đã dẫn tới 4 thay đổi cơ bản là: phương thức làm việc, lối sống và sinh hoạt, lối tiêu dùng thực phẩm (chủ yếu là thực phẩm chế biến) và thay đổi về môi trường. Các bệnh mạn tính phổ biến là: tiểu đường, tim mạch, ung thư, xương khớp, dị ứng, tiêu hóa, thần kinh, tăng cân béo phì, bệnh về da, hô hấp, rối loạn chuyển hóa, rối loạn thị lực … cũng từ đó mà ra.

     

    Các bệnh mạn tính không lây chưa thể phòng bệnh bằng vắc xin mà cần thực hiện bổ sung thông qua các vitamin, các vi chất dinh dưỡng, khoáng chất, các chất chống ôxy hóa (Thực phẩm chức năng). Thực phẩm chức năng (TPCN) không chỉ cung cấp dinh dưỡng cơ bản mà còn có chức năng phòng chống bệnh tật và tăng cường sức khỏe nhờ các chất chống ôxy hóa (beta-caroten, lycopen, lutein, vitamin C, vitamin E…), chất xơ và một số thành phần khác.

     

    Từ nguồn gốc bệnh mạn tính và lợi ích của TPCN có thể thấy, nhu cầu tiêu thụ TPCN ngày càng tăng cao theo sự phát triển của xã hội, những người dân thành thị có nhu cầu tiêu thụ cao hơn người dân

    8   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

     

    Lợi ích của TPCN

     

    Hỗ trợ điều trị bệnh tật

    nông thôn, những người lao động trí óc (như buôn bán kinh doanh, quản lý trong các lĩnh vực kinh

     

    tế, chính trị) sẽ có nhu cầu cao hơn người lao động chân tay, những người lớn tuổi hơn sẽ có nhu cầu tiêu thụ cao hơn người trẻ tuổi, nữ giới sẽ có nhu cầu cao hơn nam giới (do quan tâm về làm đẹp, sức khỏe bản thân và gia đình cao hơn).

    Tăng

    Phòng

     

    cường

    chống

    3.  Các yếu tố tác động đến người mua TPCN

    sức khỏe

    bệnh tật

     

    Số người sử dụng TPCN ngày càng tăng. Chỉ tính những người sử dụng TPCN qua kênh bán hàng đa cấp cho thấy: Năm 2005 có khoảng 1 triệu người ở 23

    tỉnh (1.1% dân số) sử dụng TPCN. Năm 2010 đã tăng lên 5,700,000 người ở khắp 63 tỉnh, thành phố (chiếm 6.6% dân số) sử dụng TPCN. Cục An toàn thực phẩm đã điều tra (năm 2011) cho thấy ở TP. Hồ Chí Minh có 43% số người trưởng thành và ở Hà Nội có 63% số người trưởng thành sử dụng TPCN.

     

     

     

     

       

    Hình. Các yếu tố tác động đến hành vi mua sắm sản phẩm dinh dưỡng.

         

    9

    Người tiêu dùng

    Copyright by Moore 2014

         

    Nguồn: Nielsen 2013

     

    Theo nghiên cứu của Nielsen, những yếu tố quan trọng có ảnh hướng đến quyết định mua sản phẩm dinh dưỡng là “Thành phần đầy đủ dinh dưỡng”, “Giảm nguy cơ mắc bệnh”, “Giá cả phải chăng” và “Được sự chứng nhận bởi các chuyên gia y tế”.

     

    Khảo sát thị trường một số sản phẩm TPCN cho thấy, TCPN có giá từ vài trăm ngàn đồng cho đến vài triệu, khá cao so với thu nhập bình quân hàng năm của người tiêu dùng là 24 triệu đồng/năm (2013). Bên cạnh đó, TPCN không giống như thuốc, không có tác dụng tức thì, người tiêu dùng phải sử dùng nhiều lần trong khoảng thời gian nhất dài mới có tác dụng càng khiến chi phí TPCN tăng cao. Với mức giá cao như hiện nay, khả năng tiêu dùng TPCN ở những hộ gia đình có thu nhập cao sẽ cao hơn những hộ gia đình có thu nhập thấp hơn.

     

     

     

    Hình. Giá bán một số sản phẩm TPCN trên website bán hàng trực tuyến (10/2014).

     

    4. Tâm lý người tiêu dùng

     

    Người tiêu dùng hiện nay tiếp cận thực phẩm chức năng chủ yếu qua kênh bán hàng đa cấp và quảng cáo trên Internet mà tư vấn viên chính là người bán hàng. Họ trước giờ vẫn coi TPCN như là thần dược cải thiện sức khỏe, sắc đẹp vóc dáng, thậm chí còn có khả năng khắc chế đối với bệnh nan y như ung thư, viêm gan. Không ít người còn quan niệm TPCN vô hại, “không bổ âm thì cũng bổ dương”, bởi họ cho rằng TPCN vừa là thuốc chữa bệnh vừa là thuốc bổ. Theo hiệp hội TPCN, có khoảng 2/3 số người sử dụng thực phẩm chức năng là để chữa bệnh, từ máu nhiễm mỡ đến cao

    10   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    huyết áp, ung thư, xương khớp…Lý do là vì người tiêu dùng Việt Nam còn thiếu kiến thức về thực phẩm chức năng, nhiều người vẫn chưa hiểu đúng và sử dụng thực phẩm chức năng tùy tiện.

     

    Người Việt còn có tâm lý “có bệnh thì vái tứ phương” nghe ai mách gì điều làm theo nấy, nên khi bản thân hay người thân mắc bệnh, họ đã vội vàng ra quyết định, tin tưởng vào những lời quảng cáo TPCN có nội dung không phù hợp với nội dung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, thậm chí còn mua và tin dùng TCPN chỉ vì “nghe nói” từ người khác.

     

    Sản phẩm TPCN chỉ mới được biết đến rộng rãi trong vài năm trở lại đây, số lượng sản phẩm lớn, chủng loại đa dạng nên người tiêu dùng vẫn chưa quen và bị nhầm lẫn các khuyến cáo, thuật ngữ thực phẩm chức năng. Thông tin về hàng loạt sản phẩm TPCN giả, sản phẩm chưa được kiểm định đã công bố, quảng cáo nội dung không phù hợp khiến người tiêu dùng bâng khuâng khi chọn mua TPCN, có thái độ e dè, nghi ngại về chất lượng sản phẩm và tính trung thực của các quảng cáo về tác dụng của sản phẩm.

     

    5.       Vai trò của Phụ nữ

     

    Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong quyết định chi tiêu. Nhìn chung, phụ nữ Việt Nam thường lập danh sách trước khi mua sắm cũng như theo dõi quảng cáo trên truyền hình và đài phát thanh. Chất lượng sản phẩm tác động lớn đến sự trung thành của phụ nữ đối với một thương hiệu.

     

    Phụ nữ trong độ tuổi 30 có hành vi mua sắm bốc đồng nhất và thường xuyên sử dụng các phương tiện truyền thông, trong khi phụ nữ với tuổi trung bình là 47 có thói quen mua sắm chuẩn bị trước, có

     

    • thức về giá trị hàng hóa tốt và ưa chuộng các quảng cáo thương mại. Phụ nữ trong độ tuổi 67 là người mua sắm thường xuyên nhất và luôn đánh giá cao tầm quan trọng của truyền miệng.

    Trong gia đình, phụ nữ thường là người ra quyết định mua sắm sản phẩm dinh dưỡng. Nghiên cứu của Nielsen 2011 cho thấy, trung bình trong 100 quyết định mua sắm sản phẩm dinh dưỡng thì 71 lần người ra quyết định chính là phụ nữ. So với nam giới, phụ nữ Việt thích xem tivi, nghe nhạc, đọc báo và đi mua sắm hơn. Họ cũng quan tâm nhiều hơn đến gia đình và sức khỏe.

     

    11    Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    1. Thu nhập của người dân

     

     

     

    Hình: Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam , mức chi tiêu và tiết kiệm 2011.

     

    Nguồn: Euromonitor 2013

     

    Năm 2011, Việt Nam có khoảng 88.9 triệu người, thu nhập (sau thuế) bình quân hàng năm đạt 19 triệu VND (US$ 928), tăng 3.2% so với năm 2010. Trong đó, chi tiêu tiêu dùng chiếm 96.5% thu nhập, tiết kiệm 3.5%. Euromonitor dự báo giai đoạn 2013 – 2020, nền kinh tế sẽ ổn định dần, thu nhập bình quân và chi tiêu tiêu dùng sẽ tăng với tốc độc trung bình hàng năm là 5.9% và 6.1%.

     

    Phần lớn những người giàu có ở Việt Nam rơi vào độ tuổi trung niên. Trong năm 2011, nhóm tuổi 40

     

    – 44 là nhóm có thu nhập hàng năm cao nhất Việt Nam, trung bình đạt 36.6 triệu VND (US$ 1,786), theo sau là nhóm tuổi 45 – 59 với thu nhập hàng năm đạt 35.9 triệu VND (US$ 1,753). Cơ cấu này hình là do sự thành công của những chuyên gia và nhà quản lý. Trên thực tế, hầu hết các vị trí cao trong các lĩnh vực kinh doanh và chính trị điều đang được nắm giữ bởi những người ngoài 40 tuổi.

     

    Đến năm 2020, nhóm tuổi 40 – 44 được dự báo vẫn sẽ là nhóm có thu nhập hàng năm cao nhất, đạt 61.2 triệu VND (US$ 2,937).

     

    12   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    7.         Mức độ tin tưởng vào quảng cáo

     

    Theo khảo sát người dùng Internet có độ tuổi từ 18 trở lên của công ty Vinaresearch, Báo mạng là kênh truyền thông được theo dõi thường xuyên nhất, kế đến là Các website khác báo mạng, Tivi và Các trang blog, mạng xã hội.

     

     

     

     

    Hình: Mức độ theo dõi các kênh truyền thông (%)

     

    Nguồn: Vinaresearch 9/2013

     

    Mặc dù mức độ theo dõi các kênh truyền thông Internet thường xuyên hơn nhưng người tiêu dùng tin tưởng cao hơn vào các quảng cáo trên kênh truyền thông truyền thống là Tivi, Báo giấy, Tạp chí, Radio. Nguyên nhân có thể là do những quảng cáo trên các phương tiện truyền thông truyền thống được kiểm duyệt chặt chẽ hơn so với quảng cáo trên Internet. Những quảng cáo không giấy phép, quảng cáo không đúng nội dung đã đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước, quảng cáo quá sản phẩm đăng tải trên Internet đã gây ảnh hưởng đến lòng tin người tiêu dùng.

     

    13   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

     

     

    Hình. Mức độ tin cậy vào quảng cáo theo kênh truyền thông (%)

     

    Nguồn: Vinaresearch 9/2013

     

    8.       Mua sắm trực tuyến

     

    Khảo sát của Google 2014 cho thấy, có 19% số người online có mua sắm trực tuyến, khoảng 6.8 triệu người, và 55% tìm kiếm thông tin online nhưng mua sắm offline. Thiết bị sử dụng để mua sắm online là PC/Laptop (77%), Điện thoại thông minh (14%) và Máy tính bảng (4%). 44% số người online chưa từng mua hàng trực tuyến nhưng có mong muốn mua hàng trên mạng trong vòng 12 tháng tới. Khi mua online, người mua thường cân nhắc, xem xét 1 đến 3 nhãn hiệu và nghiên cứu thông tin về sản phẩm qua Internet.

     

    Theo khảo sát của Nielsen 2013, mặt hàng được nhiều người mua trực tuyến nhiều nhất là Quần áo/ phụ kiện/giày dép/trang sức (47% người tiêu dùng), kế đến Đồ gia dụng (47%), Thiết bị di động và phụ kiện (43%), Thực phẩm và Đồ uống (39%), Đặt phòng du lịch (36%) và Mua vé (36%)

     

    Mặc dù thói quen mua sắm trực tuyến chưa thật sự phổ biến phổ biến ở Việt Nam nhưng hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới do Internet ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua sắm.

    14   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    Khảo sát của Nielsen 2013 cho thấy, 72% người tiêu dùng cho biết họ có tìm kiếm sản phẩm qua Internet, 59% so sánh giá với các sản phẩm khác và có tới 47% mua hàng trực tuyến.

     

     

     

     

    Hình. Hành vi mua sắm trực tuyến của NTD Việt Nam (Nguồn: Nielsen 2013)

     

     

     

     

    15   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    IV.     HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRỰC TUYẾN

     

    • Việt Nam, bác sỹ không được phép kê đơn thực phẩm chức năng trong đơn thuốc. Chính vì điều này mà lâu nay thực phẩm chức năng được nhiều cá nhân, tổ chức tự hiện quảng cáo trên webste, mạng xã hội,.. và cả kênh phân phối, tư vấn trực tiếp của những người không có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực y tế (thông qua mạng lưới bán hàng đa cấp). Cùng với sự bùng phát của các cơ sở, cá nhân kinh doanh TPCN, mức chi tiêu cho quảng cáo trực tuyến các sản phẩm TPCN những năm qua luôn đứng đầu trong các sản phẩm thực phẩm nói chung, cao hơn cả mức chi quảng cáo cho sản phẩm Sữa và Đồ uống có cồn/không cồn.

    1.           Website và quảng cáo tìm kiếm

     

     

    Brand

    Web Traffic

    Direct

    Referral

    Search

    Social

    Display

                   
     

    Aladin

    45,000

    15%

    9.5%

    75%

    0.21%

    0.25%

     

    Lô Hội

    15,000

    31%

    11.5%

    52.4%

    5.18%

    0.04%

     

    Vision

    10,000

    16,35%

    44.5%

    36%

    3.1%

    0%

     

    Herbalife

    9,000

    8%

    76%

    16%

    0.36%

    0%

     

    Dailyvita

    7,000

    47%

    13%

    39%

    0.44%

    0.45%

     

    Labwell

    3,000

    24%

    34%

    42%

    0.4%

    0%

     

    Vipteen

    4,000

    38,5%

    23.73%

    32.71%

    4.39%

    0.67%

                   

    Điểm qua thông tin website của những nhãn hàng lớn thuộc ngành thực phẩm chức năng cho thấy rằng hầu hết các nhãn hàng đều sử dụng tìm kiếm là công cụ chủ đạo mang đến lượng traffic về Website cho các nhãn hàng.

     

    Lương tìm kiếm một số từ khóa liên quan đến thực phẩm chức năng trên Gooogle.com khá lớn và phân bổ đều vào các tháng trong năm. Trên trang Google.com nhận thấy không chỉ nhà sản xuất mà cả những nhà phân phối thực phẩm chức năng cũng tăng cường khai thác hiệu quả từ Google Adwords.

     

    16   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

     

    Biểu đồ: Lượng tìm kiếm các từ khóa liên quan đến thực phẩm chức năng từ 10/2013 – 9/2014

     

    Không chỉ dùng quảng cáo từ khóa (Google Adwords) và tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) để thu hút lượng khách hàng đến thăm website của mình mà các doanh nghiệp còn sử dụng công cụ Google Re-marketing với mong muốn chuyển đổi lượng khách hàng quan tâm trở thành khách hàng thực hiện hành vi mua hàng.

     

    2.         Quảng cáo hiển thị

     

    Là một kênh quảng cáo vô cùng quen thuộc và được rất nhiều ngành hàng sử dụng, quảng cáo hiển thị bằng cách đặt banner trên các Website lớn như Dân Trí, Vietnamnet, VNExpress,…hoặc các chuyên trang như Ngôisao, Vneconomy, Afamily, Webtretho,… cũng được các nhãn hàng thực phẩm chức năng ưu ái lựa chọn.

     

    Nếu các banner trên báo hay những Website lớn với lợi thế về vị trí, khả năng gây ấn tượng, nhận biết cho những người dùng khi truy cập vào Website thì hệ thống Ad network cũng có những ưu thế nhất định của mình. Và đây là cũng là một lựa chọn của không ít các nhãn hàng thực phẩm chức năng.

    3.       PR Article

    Thực phẩm chức năng là sản phẩm gắn liền với sức khỏe nên người tiêu dùng có xu hướng tìm kiếm và lựa chọn sản phẩm kỹ hơn so với các sản phẩm thông thường. Do đó, nếu banner là bước đầu tiên gây ấn tượng với người tiêu dùng, tìm kiếm về các thông tin của sản phẩm là bước tiếp theo thì

    17   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

    các bài PR trên các chuyên trang uy tín sẽ là bước tiếp theo để tạo niềm tin sâu sắc hơn cho người tiêu dùng về sản phẩm.

     

    Search

     

     

    Người tiêu dùng xem bài viết có nội dung về

     

    hoạt chất Lepidium Meyenii

     

     

    Kết quả tìm kiếm với từ khóa Lepidium Meyenii

     

    cho kết quả là sản phẩm Sâm Angela

     

    Bài PR đôi khi được kết hợp với quảng cáo trên trang tìm kiếm. Các nội dung đăng tải trên báo điện tử sẽ là nguyên liệu để thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, đưa thông tin của doanh nghiệp lên trang đầu tiên trong dãy kết quả tìm kiếm. Đồng thời, sử dụng các từ khóa chính được lập lại nhiều lần trong các nội dung (ví dụ: Lepidium Meyenii, UC-II,…) để quảng cáo theo từ khóa (Google Adwords).

     

    4.       Social media

     

    Với mạng xã hội thì hầu hết các nhãn hàng đều lựa chọn cho mình kênh Facebook để kết nối và tương tác với người tiêu dùng.

     

     

    18   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

    Brand

    Fanpage

    Lượng Fan

         

    Aladin

    Aladin.com.vn

    3,600

    Lô Hội

    Công ty Lô Hội

    22,000

    Vision

    Vision Việt Nam

    2,000

    Herbalife

    Herbalife (page chung)

    2,100,000

    Dailyvita

    Dailyvita.vn

    4,900

    IMC

    IMC Garden (Profile)

    1,121

    Labwell

    Lab WELL

    2,000

    Plan Do See

    Plan Do See Việt Nam

    3,100

    Vina-link

    Vina-link Group

    1,400

    Thiên Sư

    Thực phẩm chức năng Thiên sư

    166

    Giai Cảnh

    Công ty TNHH Giai Cảnh

    150

    Vipteen

    Vipteen Vinh Gia

    7,776

    Bảng: Thống kê lượng Fan của các nhãn hàng thực phẩm chức năng, 10/2014

     

    Mặc dù vẫn có mặt trên mặt trận Facebook nhưng hoạt động trên Fanpage Facebook của các nhãn hàng thực phẩm chức năng không sôi động và được chăm chút như một số ngành hàng khác. Nhìn chung, lượng tương tác trên Fanpage của các doanh nghiệp trong ngành hàng này không cao.

     

    5.       Case study: Thiên Bảo Tiền Liệt Khang

     

    Thiên Bảo Tiền Liệt Khang là một thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị và giảm bớt những triệu chứng khó chịu của bệnh Phì đại tiền liệt tuyến, một bệnh ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới và là bệnh của nam giới.

     

     

    19   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

     

     

     

    Thiên Bảo Tiền Liệt Khang do Công ty dược phẩm Đông Á phân phối và tiếp thị. Sản phẩm có website riêng (tienlietkhang.com), được thiết kế bắt mắt, các dấu hiệu nhận diện thương hiệu đồng bộ. Đây là nơi công ty cung cấp thông tin xoay quanh đến bệnh phì đại tiền liệt tuyến, thông tin về sản phẩm và các giải pháp phòng ngừa, điều trị, tư vấn chuyên gia.

     

    Thiên Bảo Tiền Liệt Khang được định vị là nhãn hiệu hỗ trợ điều trị bệnh phì đại tiền liệt tuyến bán chạy nhất tại Mỹ, sản phẩm có chất lượng cao, có thể giảm bớt các triệu chứng rối loạn tiết niệu, giảm phì đại tiền liệt tuyến.

     

    Đối tượng mục tiêu là nam giới, những người bị bệnh phì đại tiền liệt tuyến hoặc những người trong độ tuổi mãn dục, có nguy cơ mắc bệnh cao.

     

    20  Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

     

     

     

     

    Hình. Quảng cáo Tiền Liệt Khang trên Vneconomy.vn

     

    Phương tiện truyền thông trực tuyến cho Tiền Liệt Khang là các trang tin tức điện tử có lượng truy cập lớn, uy tín, có nội dung liên quan đến Tin tức tổng hợp, Gia đình – sức khỏe – đời sống vợ chồng, Kinh tế – tài chính. Ngoài ra, còn có mạng xã hội Facebook, mạng chia sẻ video Youtube và trang tìm kiếm Google.

     

    Hình thức quảng cáo trên trang tin điện tử là Boxapp, quảng cáo ứng dụng, có kích thước lớn, có thể chèn nhiều thông tin, hình ảnh, box tư vấn, thích hợp cho những sản phẩm cần cung cấp nhiều thông tin như Tiền Liệt Khang và thực phẩm chức năng nói chung.

     

    Facebook chính thức của Thiên Bảo Tiền Liệt Khang được thành lập vào tháng 5/2014, hiện có 40 người hâm mộ. Công ty không sử dụng các công cụ quảng cáo nhằm tăng số lượng người hâm mô cũng như quảng cáo bài viết.

     

    21   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

     

     

     

    Sản phẩm Thiên Bảo Tiền Liệt Khang nằm trong top 3 kết quả tìm kiếm trên Google.com với từ khóa “Tiền liệt tuyến”. Khối lượng tìm kiếm liên quan đến tiền liệt tuyến tương đối lớn, khoảng 3,000 lượt/tháng, do đó, Google.com là kênh hiệu quả để quảng cáo sản phẩm.

     

     

     

     

    22  Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

    1. KẾT LUẬN VÀ DỰ BÁO

     

    1. Kết luận

    Trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa, cuộc cách mạng công nghiệp, các bệnh mạn tính không lây bùng phát và chưa thể phòng bệnh bằng vắc xin khiến nhu cầu tiêu thụ TPCN ngày càng tăng cao. Số người sử dụng TPCN ngày càng tăng. Chỉ tính những người sử dụng TPCN qua kênh bán hàng đa cấp cho thấy: Năm 2005 có khoảng 1 triệu người ở 23 tỉnh (1.1% dân số) sử dụng TPCN. Năm 2010 đã tăng lên 5,700,000 người ở khắp 63 tỉnh, thành phố (chiếm 6.6% dân số) sử dụng TPCN.

     

    Thực phẩm chức năng (TPCN) là sản phẩm hỗ trợ các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có hoặc không có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại bệnh tật. Nó không phải là trị liệu y học nhằm mục đích điều trị hay cứu chữa bệnh tật của con người. Số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng năm 2000 là 13 cơ sở, đến cuối 2012 là 1,552 cơ sở, với hơn 5,500 sản phẩm. Năm 2013, số cơ sở SXKD TPCN đã tăng lên 3,512 cơ sở (tăng 226% so với 2012), với 6,851 sản phẩm (tăng 124%). Trong đó, 80% sản phẩm TPCN là nhập khẩu – 20% sản phẩm sản xuất trong nước. Thách thức lớn nhất cản trở thị trường TPCN phát triển là nhận thức chưa đầy đủ về TPCN: từ định nghĩa, phân loại, phân biệt, tác dụng, quản lý TPCN trên thế giới và ở Việt Nam. Bên cạnh đó là Quảng cáo TPCN còn sai phạm, nội dung chưa đúng với nội dung đã công bố, gây mất lòng tin cho người tiêu dùng.

     

    Trong gia đình, phụ nữ thường là người ra quyết định mua sắm sản phẩm dinh dưỡng. So với nam giới, phụ nữ Việt thích xem tivi, nghe nhạc, đọc báo và đi mua sắm hơn. Họ cũng quan tâm nhiều hơn đến gia đình và sức khỏe. Những yếu tố quan trọng có ảnh hướng đến quyết định mua sản phẩm dinh dưỡng là “Thành phần đầy đủ dinh dưỡng”, “Giảm nguy cơ mắc bệnh”, “Giá cả phải chăng” và “Được sự chứng nhận bởi các chuyên gia y tế”.

     

    TPCN dùng cho các bệnh mạn tính không lây, thường gặp ở những người sống trong môi trường áp lực cao, ít vận động, ô nhiễm, thường sử dụng thực phẩm chế biển sẳn, thực phẩm bảo quản. Điều này dẫn đến sự khác biệt trong nhu cầu tiêu thụ TPCN giữa các nhóm: những người dân thành thị có nhu cầu tiêu thụ TPCN cao hơn người dân nông thôn, những người lao động trí óc (như buôn bán

    23  Kết luận & Dự báo                                                                                               Copyright by Moore 2014

     

    kinh doanh, quản lý trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị) sẽ có nhu cầu cao hơn người lao động chân tay, những người lớn tuổi hơn sẽ có nhu cầu tiêu thụ cao hơn người trẻ tuổi, nữ giới sẽ có nhu cầu cao hơn nam giới (do quan tâm về làm đẹp, sức khỏe bản thân và gia đình cao hơn), những hộ gia đình có thu nhập cao sẽ có nhu cầu cao hơn những hộ gia đình có thu nhập thấp hơn.

     

    Người tiêu dùng hiện nay tiếp cận thực phẩm chức năng chủ yếu qua kênh bán hàng đa cấp và quảng cáo trên Internet mà tư vấn viên chính là người bán hàng. Họ trước giờ vẫn coi TPCN như là thần dược cải thiện sức khỏe, sắc đẹp vóc dáng, thậm chí còn có khả năng chữa bệnh. Lý do là vì người tiêu dùng còn thiếu kiến thức về thực phẩm chức năng, nhiều người vẫn chưa hiểu đúng và sử dụng thực phẩm chức năng tùy tiện.

     

    1. Dự báo

    Nhìn nhận một cách khách quan, sự phát triển của thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam không phải chỉ là một hiện tượng bùng phát nhất thời, mà đó chính là những dấu hiệu của xu hướng tương lai khi mà thực phẩm chức năng giàu vitamin tất yếu sẽ trở thành một trong những nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá và là “vắc-xin” phòng những bệnh mạn tính (còn gọi là mãn tính) không lây, theo PGS. TS. Trần Đáng – Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam.

     

    Theo công ty nghiên cứu thị trường Euromoniter International, thị trường thực phẩm chức năng ở Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tới, trên 20%/năm, cao hơn mức tăng trưởng trung bình thế giới là 15%/năm. Top 10 sản phẩm TPCN được người tiêu dùng Việt quan tâm nhiều nhất là sản phẩm dành cho trí nhớ, sản phẩm tổng hợp, làm đẹp, xương, mãn dục, khớp, hệ miễn dịch, sức khỏe đôi mắt, sức khỏe tình dục, trái tim. Đồng thời, khuynh hướng tiêu dùng của người Việt càng ngày càng “hướng về thiên nhiên” nhiều hơn.

     

     

    24  Kết luận & Dự báo                                                                                               Copyright by Moore 2014

     

    Phụ lục. Các công ty Thực Phẩm Chức Năng

     

    STT   Công ty                                                 Hỗ trợ                                           Nhãn hiệu

     

    Ung thư, Xương khớp              Tâm Lan

     

    Cân nặng, Lão hóa                   Slim, Reviv

     

    Tim mạch, Xương khớp          Herbalife

     

    Spivital

     

    Tiêu hóa, Ung thư                     Triso, Ancan, Gióng

     

    Tiêu hóa, Xương khớp            An Nguyệt Linh, Omixton

     

    Hệ miễn dịch, Tiêu hóa          Genecel, Kidsmune, Man-link

     

    Cân nặng, Tim mạch               Agri+, Vitolize, CardioHealth

     

    Cân nặng, Trí nhớ                     Dokyo, Dohacin, Dosaka

     

    Tiêu hóa, Hô hấp                      Vương Bảo, Vegeplus

     

    Gan, Tim mạch                           Varicause, Picoman

     

    Giảm cân, Xương khớp,          Labwell

     

    Tim mạch, Xương khớp          Thiên Sư, Orecare

     

    Tim mạch, Cân nặng               Vision

     

    Cân nặng, Tiểu đường            Neocell, Uloric, Schiff

     

    Lão hóa, Sinh lực                       Hanamai, Nutricep, Aloha

     

    Sinh lực, Làm đẹp                     Burn 60, Aloe Vera, Prenatal

     

    Làm đẹp, Lão hóa                     Luminesce, AM

     

    Xương khớp, Làm đẹp            Agels, Miracle

     

    Tim mạch, Đái tháo                  Vạn Lý Hành, Thanh Đường

     

    đường                                            An

     

    Xương khớp, Lão hóa              Pure, My-C, Alove, Vita

     

    Tiêu hóa, Xương khớp            Tametop, Ergomin, Lacto

     

    Tiêu hóa, Thần kinh                 Becoginsen, Oresol

     

    Làm đẹp, Cân nặng                  Placenta, Aojiru

     

    Copyright by Moore 2014

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    News:

     

    Hiệp hội Thực Phẩm Chức Năng, http://vads.org.vn/

     

    Công Thăng – Bạch Dương (2014), Bùng nổ kinh doanh thực phẩm chức năng, vì sao?, http://news.zing.vn/Bung-no-kinh-doanh-thuc-pham-chuc-nang-vi-sao-post444923.html

     

    Linh Chi, 5 cách phân loại thực phẩm chức năng, http://healthplus.vn/5-cach-phan-loai-thuc-pham-chuc-nang-d4210.html

     

    Thùy Minh (2013), Khó phát triển ngành thực phẩm chức năng vì còn rào cản, http://vnmedia.vn/VN/kinh-te/tin-tuc/26_1729033/kho_phat_trien_nganh_thuc_pham_chuc_nang_vi_con_rao_can.html

     

    Trung tâm dược liệu (2013), Tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu việt nam, http://www.trungtamduoclieu.com/2013/02/hinh-anh-hoat-ong.html

     

    Võ Khối (2013), Bùng nổ’ thực phẩm chức năng, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131130/bung-no-thuc-pham-chuc-nang.aspx

     

    Vương Linh (2013), Nhiều người sai khi dùng thực phẩm chức năng để chữa bệnh, http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/nhieu-nguoi-sai-khi-dung-thuc-pham-chuc-nang-de-chua-benh-2843013.html

     

    Report:

     

    Trần Đáng (2014), Số liệu thị trường TPCN 2000 – 2013, http://vads.org.vn/

     

    Cục An toàn thực phẩm, Hướng dẫn quản lý thực phẩm chức năng, http://vfa.gov.vn/

     

    Hiệp hội Thực Phẩm Chức Năng (2013), Chiến lược phát triển thực phẩm chức năng giai đoạn 2013 – 2020 và tầm nhìn 2030, http://vads.org.vn/

     

    Nielsen (2013), Vietnam Grocery Report 2013,

     

    http://www.nielsen.com/content/dam/nielsenglobal/vn/docs/Reports/2014/grocery-report-2013.pdf

     

    Vinaresearch (2013), Nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình quảng cáo – khuyến mãi, http://vinaresearch.net/ (Và một số nguồn tham khảo khác)

     

     

    Copyright by Moore 2014

     

    LỜI NGỎ

     

    Các thông tin và nhận định trong báo cáo được thu thập và phân tích dựa vào các nguồn thông tin có sẵn, hợp pháp và tin cậy mà nhóm thực hiện có được trong quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, số liệu nghiên cứu có thể sai khác với số liệu mà quý vị có. Điều này xuất phát từ nguồn dữ liệu hoặc phương pháp thống kê của chúng tôi với những báo cáo của quý vị.

     

    Nếu quý vị có những thông tin tin cậy, hợp pháp và phù hợp với cấu trúc nội dung của bài báo cáo vui lòng góp ý với chúng tôi bằng cách gửi thông tin đến địa chỉ [email protected] để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn trong những báo cáo tiếp theo.

     

    Để cập nhật thường xuyên những báo cáo và nhận định về các ngành khác, vui lòng truy cập website moore.vn và đăng ký nhận Bản tin, chúng tôi sẽ gửi cho quý vị ngay khi các báo cáo được hoàn thiện.

     

    Nhóm thực hiện

     

     

     

     

     

    Copyright by Moore 2014


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BA%BFm-ti%E1%BB%81n-th%E1%BA%ADt-100-tr%C3%AAn-m%E1%BA%A1ng-v%E1%BB%9Bi-Cashfiesta-B%E1%BA%A3n-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-chi-ti%E1%BA%BFt-nh%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    KIẾM TIỀN THẬT 100% TRÊN MẠNG VỚI CASHFIESTA (bản hướng dẩn chi tiết nhất)

    (1/1)

    SERPANT18:
    KIẾM TIỀN THẬT 100% TRÊN MẠNG VỚI CASHFIESTA (bản hướng dẩn chi tiết nhất)

    CASHFIESTA được đánh giá là một trong những chương trình kiếm tiền trên mạng trên mạng nổi tiếng nhất, đây là chương trình trả nhiều tiền nhất cho các thành viên tham gia. Trung bình trên một thành viên CASHFIESTA chi trả khoảng 90 USD/tháng và rất nhiều thành viên của CASHFIESTA dễ dàng kiếm được 500-600 USD/tháng.

    1. Vậy tại sao Cashfiesta lại trả tiền cho mình ? Cashfiest lấy tiền ở đâu để thanh toán cho chúng ta ?

    Cashfiesta trả tiền cho mình vì mình chấp nhận cho chương trình Cashfiesta để một góc quảng cáo trên màn hình máy tính của mình mỗi khi mình lên Internet. Trên góc quảng cáo này sẽ thấy các mẫu quảng cáo của các công ty, các casino, các cửa hàng và chính các công ty này sẽ trả tiền để được quảng cáo trên Cashfiesta, còn Cashfiesta trả tiền cho mình để mình xem các quảng cáo đó. Mình thấy cách kiếm tiền này cũng thú vị và muốn giới thiệu chương trình này để mọi người kiếm tiền chung với mình. Cũng thú thật là nếu các bạn tham gia chung thì mình cũng được lợi rất nhiều, tại sao mà mình được lợi thì các bạn đọc ở dưới sẽ hiểu rõ. Mình cũng nói trước với các bạn là cách kiếm tiền này tuy dễ nhưng thật cũng không quá dễ dàng mà đòi hỏi các bạn phải kiên nhẫn, người ta không tự nhiên trả tiền cho mình phải không các bạn, để có được thu nhập 100-1000 USD thì các bạn cũng phải tích cực và kiên nhẫn..

    2. Ban có thể kiếm được bao nhiêu tiền từ CASHFIESTA ?

    *Có 2 cách để kiếm tiền khi sử dụng chương trình này: 
    – Cách 1 là bạn tự sử dụng một mình và được trả tiền sử dụng. (Kiếm Được 90USD/tháng)
    – Cách 2 là giới thiệu thật nhiều người khác sử dụng chương trình và hưởng thêm hoa hồng. 
    Phân cấp hoa hồng của Cashfiesta như sau:
    Giờ sử dụng trung bình một ngày: 1 giờ/ ngày, mỗi người sử dụng sẽ giới thiệu 3 người khác.
    – 3 người: cấp 1 hưởng 15%
    – 3–> 9 người: cấp 2 hưởng 7%
    – 9–> 27 người: cấp 3 hưởng 5%
    – 27–> 81 người: cấp 4 hưởng 4%
    – 81–> 243 người: cấp 5 hưởng 3%
    – 243–> 729 người: cấp 6 hưởng 2%
    – 729–> 2187 người: cấp 7 hưởng 1%
    – 2187–> 6561 người: cấp 8 hưởng 1%
    Bạn phải kết hợp cả 2 cách để kiếm tiền hiệu quả nhất. (Kiếm Được trên 500 USD/tháng)

    Chương trình Cashfiesta sẽ trả cho các bạn mỗi giờ sử dụng internet khoảng cao nhất 15.000đ. Thực ra phần tiền khi chúng ta sử dụng trực tiếp các chương trình này không cao, chỉ được vài chục USD một tháng, nhưng phần tiền huê hồng khi giới thiệu người khác rất hấp dẫn.

    Hiện tại theo mình biết chính xác thì Cashfiesta trả cho trung bình cho tất cả các thành viên trên khắp thế giới mỗi người khoảng 90 USD/Tháng. Rất nhiều người đã tạo cho mình được thu nhập khoảng 500-600 USD/tháng nhờ tiền huê hồng chỉ riêng với chương trình Cashfiesta. 

    3. CASHFIESTA thanh toán tiền cho chúng ta như thế nào?

    Chương trình này thanh toán tiền mặt bằng cách gửi séc(check) tới tận nhà. 
    Cashfiesta chịu trả tiền cho các bạn như vậy thì tại sao vẫn có ít người sử dụng? Vì ở Việt Nam phần lớn không biết đến các chương trình này cũng như chưa tin tưởng,họ nghĩ là nó ko trả tiền cho mình và cứ kêu là trang SCAM.,chỉ vì họ ko đủ kiên nhẫn chỉ muốn kiếm được tiền ngay mà ko phải bỏ công sức thật quá sai lầm. Nếu bạn là những người đi đầu sẽ có nhiều cơ hội giới thiệu đến người khác chưa biết và khi bạn giới thiệu được nhiều người thì bạn đã tạo được cho mình một hệ thống kiếm tiền cho riêng bạn để khỏi lo về việc cạn túi vì nếu thất nghiệp cũng có Cashfiesta ”Chu Cấp” cho bạn hàng tháng .Hãy tạo cho mình một hệ thống tự động kiếm tiền, các bạn ơi nhanh lên nhé! Mình sẽ hướng dẫn cho các bạn một cách chi tiết, nhớ làm từng bước đúng như mình hướng dẫn thì sẽ sử dụng được một cách chính xác và hoàn hảo để tránh trường hợp nhầm lẫn nhé,nhớ đừng đăng kí nhiều tài khoản để kiếm tiền cùng 1 lúc nhé,rất dễ bị fake IP đó, đây là kinh nghiệm của mình.
    Bạn không tin hãy thử 1 lần đi, cũng chẳng mất gì mà. Tôi sẽ chỉ cho bạn tất cả. Để có thể kiếm được trên 50 USD mỗi tháng bạn hãy làm theo các bước sau.

    4. Đăng ký làm thành viên như thế nào http://www.cashfiesta.com/php/join.php?ref=sallydiemngoc
    – Authentication Information

    Login: bạn tự chọn, vd: chocobo ( bạn phải nhớ tên sử dụng mà bạn chọn để lần sau có thể đăng nhập vào hệ thống để kiểm tra)
    Password: bạn tự đặt, ít nhất 6 ký tự
    Verify password: xác nhận lại Password bạn vừa đặt
    – First, tell us where we can send your checks
    First name: Họ và tên đệm
    Last name: ghi tên thật ( Bạn phải ghi rõ họ tên thật, vì thông tin này rất cần thiết khi nhận tiền)
    Street address: ghi địa chỉ nhà, vd số 9779 đường XYZ Quận ABC TP.HCM ( nhớ ghi địa chỉ thật, để CASHFIESTA chuyển SEC nhận tiền )
    City: ghi tên thành phố, VD: Ho Chi Minh, Ha Noi
    Zip/postal code : mã vùng, nếu ở HCM ( hoặc các tỉnh phía Nam) thi ghi là
    70000, nếu bạn ở miền Bắc hay Hà Nội thì ghi là 10000, Huê là  47000 (xem nhớ điền thêm 3 số 0 vào Cho đủ 5 số nhé).
    An Giang 94000,Vũng Tàu 74000, Bạc Liêu 99000, Bắc Kạn 17000, Bắc Giang 21000, Bắc Ninh 16000, Bến Tre 83000, Bình Dương 72000, Bình Định 53000, Bình Phước 77000, Bình Thuận 62000, Cà Mau 96000, Cao Bằng 22000, Cần Thơ – Hậu Giang 92000, Đà Nẵng 59000, ĐắkLắk – Đắc Nông 55000, Đồng Nai 71000, Đồng Tháp 93000, Gia Lai 54000, Hà Giang 29000, Hà Nam 30000, Hà Nội 10000, Hà Tây 31000, Hà Tĩnh 43000, Hải Dương 34000, Hải Phòng 35000, Hoà Bình 13000, Hưng Yên 39000, Hồ Chí Minh 70000, Khánh Hoà 57000, Kiên Giang 95000, Kon Tum 58000, Lai Châu – Điện Biên 28000, Lạng Sơn 20000, Lao Cai 19000, Lâm Đồng 61000, Long An 81000, Nam Định 32000, Nghệ An 42000, Ninh Bình 40000, Ninh Thuận 63000, Phú Thọ 24000, Phú Yên 56000, Quảng Bình 45000, Quảng Nam 51000, Quảng Ngãi 52000, Quảng Ninh 36000, Quảng Trị 46000, Sóc Trăng 97000, Sơn La 27000, Tây Ninh 73000, Thái Bình 33000, Thái Nguyên 23000, Thanh Hoá 41000, Thừa Thiên Huế 47000, Tiền Giang 82000, Trà Vinh 90000, Tuyên Quang 25000, Vĩnh Long 91000, Vĩnh Phúc 11000, Yên Bái 26000
    bạn có thể vào địa chỉ  sau để tham khảo http://danhba.vdc.com.vn/tracuu/danhba/mavungdt.asp 

    State: not select , không cần chọn, chỉ dùng cho công dân MỸ
    Province : ghi tên tỉnh, ở tỉnh nào thì ghi tên tỉnh đó.
    Country: Viet Nam
    Email address: ghi dia chi email, ( nhớ ghi đúng địa chỉ e-mail của mình) 
    Verify Email address : ghi lại địa chỉ email.

    – Now, please tell us more about yourself

    Year of birth: năm sinh
    Gender: male ( nam ) female (nữ)
    Education: chọn mục nào cũng được
    Annual household income: less than $ 20000
    Industry: chọn mục nào cũng được
    Title: chọn mục nào cũng được
    Additional Information: đánh dấu hết tất cả các mục
    – Payment Information: hình thức thanh toán tiền
    Preferred check size : chon 50$
    – Đánh dấu vào mục I have read and understand the Member Agreement
    – Nhan vao Submit Registration để hoàn tất .
    Nếu bạn thực hiện đầy đủ các bước ơ trên trang chủ sẽ hiện lên dòng chữ Congratulation. Ngược lại bạn phải kiểm tra lại các thông tin bạn đã điền (chỗ nào chưa đúng thì nó sẽ được tô màu đỏ).

    5.Làm thế nào để lấy chương trình CASHFIESTA?

    Sau khi đã hoàn tất việc đăng ký bạn vào trang web CASHFIESTA, vào mục members
    nhập username và password vào để đăng nhập, khi đã vào được trang web ban kiếm
    hàng chữ Download CASHFIESTA và nhấn chuột vào đó để download CASHFIESTA về.hay
    là click vao link sau http://www.cashfiesta.com/download/y/FiestaBarInstall.exe để download về máy.

    **************************************************
    HƯỚNG DẪN CÁCH SỬ DỤNG CHƯƠNG TRÌNH CASHFIESTA

    ************************************************** 
    Khi bạn vào CASHFIESTA sẽ có 1 thanh quảng cáo hiện lên ở phía trên cùng màn hình và trang web của CASHFIESTA ở phía dưới, bạn có thể tắt trang web này đi, chỉ cần thanh CASHFIESTA chạy là đủ. Trên thanh quảng cáo CASHFIESTA có 1 chú bế đội mũ, mặc quần xanh đang ngồi, ban rê chuột vào là chú bé đứng dậy và đi bộ, như vậy có ngĩa là chương trình đang hoạt động và điểm cua bạn sẽ tăng, nếu
    chú bé đứng đi bộ và ngồi xuống thi bạn phải rê chuột vào để nó đứng dậy đi tiếp. 
    Ô kế bên POINTS là ô tính điểm của bạn, mỗi một giờ trên internet điểm sẽ tăng khoảng 600 điểm ( 1000 điểm được tối đa 1,666 USD) Tiếp theo là ở ô REFERAL là ô hiện số người bạn giới thiệu được . Ô kế bên là SETTING là ô để chỉnh sửa chương trình CASHFIESTA. Bạn muốn coi mình. được bao nhiêu điểm thì vào SETTING/ACCOUNT/BALANCE.

    (1) Tôi ra máy ngoài dịch vụ internet có sử
    dụng CASHFIES dụng được không?

    Được, nếu máy ngoài dịch vụ không cài sẵn chương trình thì bạn chỉ cần vào CASHFIESTA và download chương trình về cài vô máy là xong ( chỉ mất khoảng 1 phút ).

    (2) Có phải CASHFIESTA sẽ trả tôi 1,666 USD
    cho 1000 điểm không ?

    Đúng với điều kiện bạn là thành viên của câu lạc bộ vàng GOLD CLUB của CASHFIESTA. Khi bạn chưa là thành viên của GOLD CLUB thì CASHFIESTA sẽ trả tiền cho bạn theo 6 cấp tùy vào số ĐĂNG KÝ ĐẶC BIỆT ( Special offer ) mà bạn đặt được, các Special offer này để chứng tỏ bạn có tham gia và quan tâm tới CASHFIESTA .
    1/0 Specialoffer :1.000 diểm =0.01 $
    2/1 Specialoffer: 1.000 diểm =0.04 $
    3/2 Specialoffer: 1.000 diểm =0.333 $
    4/3 Specialoffer: 1.000 diểm =0.50 $
    5/4 Specialoffer: 1.000 diểm =0.66 $
    6/5 Specialoffer: 1.000 diểm =0.83 $
    7/6 Specialoffer: 1.000 diểm =1$
    8/ GOLD CLUB : 1.000 diểm =1.666$
    (3) Làm cách nào tôi đặt được các SPECIAL
    OFFER?

    Rất đơn giản, bạn vào trang chủ CASHFIESTA, đăng nhập vào account của mình, nhấn chuột vào phần SPECIAL OFFER, bạn sẽ thấy rất nhiều ô quảng cáo nhỏ ở trong trang web, hãy lựa các SPECIAL OFFER cho phép đăng ký FREE và trên toàn thế giới WORLD, bạn chỉ cần nhấn chuột vào đó, một trang web khác sẽ mở lên, bạn vào đó và đăng ký thành viên của trang web đó thì coi như bạn đã được 1 SPECIAL OFFER ( lưu ý khi đăng ký bạn phải đăng ký lúc đang chạy chương trình CASHFIESTA và quan trọng là phải khai báo địa chỉ email giống như khai báo email với CASHFIESTA Nếu không sẽ không được tính).

    (4) Tôi đã đăng ký SPECIAL OFFER làm sao biết mình có bao nhiêu cái?

    Bạn có thể vào account của mình và nhấn vào phần SPECIAL OFFER DONE , nhưng lưu ý rằng kể từ khi đăng ký SPECIAL OFFER thì khoảng 2 đến 4 tuần sau CASHFIESTA mới kiểm tra được và xác nhận SPECIAL OFFER của mình, và đó cũng là lý do tại sao CASHFIESTA thanh toán tiền cho chúng ta trong vòng 30 ngày kể từ khi đạt được 50$.

    (5) Làm thể nào để trở thành thành viên của GOLD CLUB?

    Muốn trở thành thành viên của GOLD CLUB bạn phải có được 3 điều kiện sau : đăng ký được 6 SPECIAL OFFER , kiếm được 10.000 điểm thưởng từ các SPECIAL OFFER và đạt được 133 GPS.

    (6) Làm sao kiếm được điểm GPS (Gold Club Point) ?

    Mỗi ngày bạn sử dụng CASHFIESTA khoảng 30 phút sẽ được 1 GPS, mỗi ngày nếu các thành viên của bạn sử dụng CASHFIESTA và đem lại cho bạn 100 points thi bạn được thêm 1 GPS , ngoài ra cuối tháng CASHFIESTA sẽ cộng cho bạn tối đa 15 GPS đưa vào số thành viên mới do bạn giới thiệu, CASHFIESTA sẽ cộng thêm15 GPS cho bạn đưa vào tổng thời gian các thành viên của bạn sử dụng CASHFIESTA.Trung bình 1 tháng bạn sẽ kiếm được 100 GPS.

    (7) Tại sao hết tháng thì points lại nhảy về số 0?

    Bạn đừng lo cuối tháng CASHFIESTA sẽ quyết toán 1 lần và lưu lại điểm cho bạn, đưa vào số SPECIAL OFFER của bạn để thanh toán tiền cho bạn, khi đó bạn sẽ thấy số tiền của bạn hiện lên trong ô tháng trước.

    (8) Bao giờ thì CASHFIESTA thanh toán tiền cho
    tôi?
    Khi nào trong toài khoản của bạn có dư 50 $ thì nút PAYMENT REQUEST sẽ hiện lên, bạn nhấn vào nút đó để yêu cầu thanh toán tiền, trong vòng từ 2-4 tuần thì tiền sẽ đến Việt Nam ( trừ đi 2$ tiền phí chuyển tiền).

    Nhanh lên các bạn ơi, hãy click vào đây để đăng ký ngay lập tức
    http://www.cashfiesta.com/php/join.php?ref=sallydiemngoc

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-qua-m%E1%BA%A1ng-Internet.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    48

       

    NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG

    QUA MẠNG INTERNET

     

    Dương Thị Phương Chi

    Renaissance International School Saigon

     

    Tóm tắt:

     

    Trình bày khái quát về hoạt động nghiên cứu thị trường qua mạng internet. Giới thiệu tiêu chí đánh giá, phương thức tăng cường ứng dụng nghiên cứu thị trường qua mạng trong hoạt động thư viện – thông tin.

     

    1. Nghiên cứu thị trường qua mạng: hình thức và phương pháp thực hiện

     

    Nghiên cứu thị trường qua mạng là quá trình khảo sát để tìm hiểu cơ hội kinh doanh của một sản phẩm, dịch vụ trong những khoảng thời gian nhất định, ở những thời điểm nhất định nhằm tìm ra phương hướng, chiến lược kinh doanh thích hợp với thị trường và mang lại hiệu quả cao cho tổ chức thông qua mạng internet. Quá trình nghiên cứu thị trường này thực chất là quá trình thu thập số liệu, thông tin có liên quan đến thị trường như đâu là thị trường tiềm năng của tổ chức, sản phẩm/dịch vụ nào của tổ chức cần có những thích ứng gì đối với đòi hỏi của thị trường, phương thức cung cấp nào là phù hợp với loại thị trường này, đối thủ cạnh tranh của tổ chức là những ai trên thị trường,… để phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm rút ra những kết luận khoa học giúp cho tổ chức hoạt động đúng hướng, hoạt động có hiệu quả cao trước mọi biến động của thị trường.

     

    Hình thức nghiên cứu thị trường qua mạng gồm có:

     

    –  Sử dụng các bảng câu hỏi tích hợp vào các website để thu thập thông tin;

     

    – Thực hiện phỏng vấn sâu theo nhóm qua mạng trong các forum, chatroom hoặc netmeeting;

     

    –  Trực tiếp thu nhận ý kiến khách hàng thông qua các mẫu phản hồi thông tin

    (feedback form) đặt trên website của tổ chức;

     

    – Tìm hiểu hành vi của khách hàng qua các giao dịch thông qua các phần mềm theo dõi quá trình khách hàng duyệt website của tổ chức.

     

    Trong nghiên cứu thị trường truyền thống có ba phương pháp cơ bản là phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm và điều tra sử dụng bảng câu hỏi. Cả ba phương pháp này đều có thể sử dụng internet để triển khai hiệu quả và thuận tiện hơn.

     

    –  Phỏng vấn nhóm (Focus group): việc phỏng vấn được tiến hành qua mạng thông qua các forum, chatroom hoặc netmeeting. Hình thức phỏng vấn nhóm khách hàng qua mạng khắc phục được các nhược điểm của hình thức phỏng

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    49

    vấn nhóm kiểu truyền thống vì người tham gia không còn bị phụ thuộc vào người điều khiển, tránh khả năng gặp mặt trực tiếp nên tăng sự tự do khi đưa ra

     

    • kiến,…

     Ưu điểm:

     

     Thời gian thực hiện phỏng vấn linh hoạt vì người được phỏng vấn tham gia qua mạng;

     

     Địa điểm thực hiện phỏng vấn linh hoạt, thuận tiện, người tham gia không phải di chuyển đến một địa điểm nhất định để phỏng vấn như trước đây;

     

     Thông tin thu thập được nhiều hơn do các thành viên tham gia có thể suy nghĩ độc lập khi phỏng vấn.

     

     Hạn chế:

     

     Khó theo dõi được tính chân thật của thông tin được đưa ra trong phỏng vấn do người phỏng vấn và người được phỏng vấn không trực tiếp đối mặt;

     

     Cần có các yêu cầu kỹ thuật như phần mềm ứng dụng chuyên dụng để hỗ trợ như hội thảo trực tuyến (video conferencing), diễn đàn (forum), hoặc giao tiếp qua mạng (message chat, voice chat);

     

     Tiến độ thực hiện phỏng vấn chậm hơn do không có tác động và điều khiển trực tiếp của người phỏng vấn đến các thành viên tham gia phỏng vấn.

     

    – Phỏng vấn chuyên gia (Indepth interview): với phương pháp này các chuyên gia được mời phỏng vấn qua mạng. Người phỏng vấn đưa ra các câu hỏi qua mạng cho các chuyên gia và nhận được lời giải đáp cũng qua mạng. Hình thức này có thể triển khai qua các ứng dụng như nhóm thư điện tử (email group), chatroom hoặc họp trực tuyến (netmeeting). Với các ứng dụng qua mạng, hình thức nghiên cứu thị trường này có những ưu điểm như:

     

     Tập trung được nhiều câu hỏi từ phỏng vấn viên và người theo dõi,  Có thể kết hợp để phỏng vấn được đồng thời nhiều chuyên gia,

     

     Thông tin chi tiết do các chuyên gia có thời gian suy nghĩ trong quá trình phỏng vấn và được tham khảo nhiều ý kiến của các chuyên gia khác.

     

    – Điều tra bằng bảng hỏi qua mạng: điều tra bằng bảng hỏi truyền thống thường gặp một số hạn chế về đi lại, phân phối bảng câu hỏi, nhập dữ liệu nhưng ứng dụng điều tra bằng bảng câu hỏi qua mạng góp phần hạn chế được các nhược điểm này, cụ thể là:

     

     Việc gửi bảng câu hỏi qua mạng nhanh hơn, tiết kiệm thời gian,

     

    Việc sử dụng website thu thập dữ liệu giảm chi phí nhập dữ liệu trước

    đây,

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    50

     Phạm vi điều tra rộng do người được phỏng vấn có thể truy cập bảng câu hỏi qua internet.

     

    Tuy nhiên, việc điều tra bằng bảng hỏi qua mạng có một hạn chế là mức độ phản hồi thấp nếu không có các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích và động viên người được phỏng vấn tham gia.

     

    2. Ứng dụng nghiên cứu thị trường qua mạng trong các thư viện/cơ quan thông tin

     

    Hiện nay, nhiều thư viện/cơ quan thông tin (gọi tắt là thư viện) trên thế giới đã sử dụng mạng internet và các công cụ hỗ trợ để nghiên cứu người sử dụng thư viện (gọi tắt là NSD). Để thu thập các số liệu, thông tin có liên quan đến nhu cầu của NSD rất nhiều thư viện hiện đã tích hợp bảng khảo sát NSD vào website thư viện (như The national library of Finland hay Mälardalen University Library,…); trực tiếp thu nhận

     

    • kiến của NSD bằng các mẫu phản hồi thông tin trên website (như Explore the

    British Library feedback form của British Library hay Website user feedback của

    National Taiwan University Library,…). Bên cạnh đó, các thư viện như Binghamton

    University  Libraries,  Texas  A&M  University  Libraries  sử  dụng  tin  nhắn  nhanh

    (Instant messaging) trên internet như Yahoo, Google talk, MSN messenger,… để trao

     

    đổi, nhận ý kiến phản hồi và tìm hiểu nhu cầu tin, xây dựng quan hệ giữa cán bộ thư viện và NSD thư viện. Ở Việt Nam, một số thư viện cũng đã dùng các mẫu phản hồi hoặc tin nhắn nhanh trên website thư viện để tìm hiểu, tiếp nhận góp ý của NSD như Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐHQGHN, Thư viện Trung tâm ĐHQGTPHCM hay Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM…

     

    Hoạt động nghiên cứu NSD qua mạng được đánh giá dựa trên số lượng và chất lượng thông tin về các vấn đề có liên quan đến hoạt động marketing mà thư viện thu thập được. Đó chính là:

     

    – Số liệu thống kê về số lượng NSD trả lời các phiếu khảo sát, số lượng các câu hỏi được trả lời hay số lượng các mẫu phản hồi (feedback) thu được, số liệu thống kê hành vi của NSD khi họ duyệt website thư viện;

     

    – Mức độ đầy đủ, chính xác của dữ liệu thu được từ phiếu khảo sát hay mẫu phản hồi. Kết quả tổng hợp, phân tích các thông tin này có giúp thư viện đo lường, phân khúc, so sánh các nhóm NSD không? có xác định yếu tố thúc đẩy NSD sử dụng thư viện là gì không? có đánh giá được nhu cầu của NSD và tình hình thực tế của thư viện để từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp trong tương lai không?

     

    Nghiên cứu NSD qua mạng ngày càng trở nên phổ biến và thông dụng vì ngoại trừ đặc thù về mặt kỹ thuật thì gần như không có sự khác biệt giữa nghiên cứu NSD qua mạng so với phương pháp nghiên cứu truyền thống. Tuy nhiên, nghiên cứu qua mạng không mất nhiều chi phí thực hiện và cho ra kết quả nhanh hơn do dữ liệu được phân tích, thống kê tự động. Do đó, các thư viện nên xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai và phát triển hoạt động nghiên cứu NSD qua mạng.

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    51

    • Về nội dung nghiên cứu

    Để thu thập đầy đủ thông tin chính xác nhằm xác định NSD cần gì và điều gì làm họ hài lòng thì thư viện cần tập trung vào nhu cầu thường xuyên và cả nhu cầu đột xuất của NSD, đo lường được mức độ thỏa mãn các nhu cầu về SP/DV TT-TV mà thư viện cung cấp, kể cả việc phục vụ NSD như thái độ, chất lượng phục vụ, xây dựng mới quan hệ chặt chẽ và thường xuyên với NSD để nắm bắt những nhu cầu mới phát sinh để có biện pháp điều chỉnh kịp thời các hoạt động nghiệp vụ và công tác phục vụ trong thư viện.

     

    Thư viện nên tạo hồ sơ NSD với các thông tin về tuổi, nghề nghiệp, nhu cầu tin, thói quen khai thác thông tin,… những thông tin này sẽ giúp thư viện biết cách làm thế nào để để tiếp cận, thỏa mãn nhu cầu NSD trong tương lai.

    • Về hình thức nghiên cứu

    Sử dụng phiếu khảo sát trực tuyến, để đảm bảo việc khảo sát bằng phiếu khảo sát thực sự hiệu quả thì thư viện nên chú ý các vấn đề dưới đây khi tạo một phiếu khảo sát:

     

     Xác định rõ mục đích của việc khảo sát và những thông tin mà thư viện muốn NSD cung cấp,

     

    Tạo ra khuyến khích để NSD cảm thấy có lý do để tham gia khảo sát,

     

    Trình bày câu hỏi trong phiếu khảo sát đơn giản, dễ hiểu và không nên sử dụng thuật ngữ chuyên môn để đảm bảo rằng NSD hiểu được câu hỏi,

     Thiết kế câu hỏi nên đi vào cụ thể vấn đề, thư viện không nên đặt ra quá nhiều câu hỏi mở và nên đưa ra câu hỏi với nhiều câu trả lời để NSD lựa chọn,

     Tiến hành khảo sát thử nghiệm để biết được thời gian cần thiết để trả lời bảng khảo sát hoặc các câu hỏi có gây ra sự lúng túng cho NSD không để có sự điều chỉnh kịp thời trước khi tiến hành khảo sát thực sự.

     

    Sau khi hoàn thành phiếu khảo sát trực tuyến, thư viện có hai phương thức phân phối phiếu khảo sát là chia sẻ liên kết (link) đến phiếu khảo sát lên website thư viện, mạng xã hội hoặc gửi phiếu khảo sát đến email của NSD, bằng cách như sau:

     

     Dùng các website có cung cấp dịch vụ làm khảo sát trực tuyến để tạo các phiếu khảo sát trực tuyến, sau đó đăng liên kết (link) đến phiếu khảo sát trên website hoặc gửi trực tiếp phiếu khảo sát trực tuyến đến email NSD,

     

     Tạo phiếu khảo sát dưới dạng văn bản (.doc) và gửi kèm (attached file) đến email NSD để họ có thể tải (download) và gửi lại theo email hoặc fax.

     

    Sử dụng các mẫu phản hồi thông tin (feedback), một hình thức thu thập thông tin hoặc nhận ý kiến đóng góp từ NSD mà thư viện nên sử dụng là tích hợp các mẫu phản hồi thông tin trên website thư viện. Tuy nhiên, các mẫu phản hồi này chỉ phù hợp khi thư viện cần khảo sát những câu hỏi nhanh, ngắn gọn.

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    52

    Phỏng vấn qua mạng thông qua các diễn đàn trên web hoặc trên các mạng xã hội hay cộng đồng mạng. Đây là các hình thức trao đổi thông tin hiệu quả trên mạng internet và cũng là một trong những phương thức tìm hiểu NSD trên internet nở rộ trong những năm gần đây. Thư viện nên xây dựng diễn đàn trên website thư viện hoặc tham gia vào các diễn đàn theo các chủ đề phù hợp với lĩnh vực hoạt động của thư viện và xem đây là kênh trao đổi giữa thư viện và NSD. Trên các diễn đàn này, NSD có thể gặp gỡ, trao đổi thông tin về những chủ đề mình quan tâm, đưa ra nhận xét, đánh giá, ý kiến đề xuất của mình về tất cả các hoạt động của thư viện hoặc đưa ra những câu hỏi, thắc mắc,…. Đối với thư viện, thông qua diễn đàn thư viện sẽ tư vấn thông tin, trả lời/giải đáp thắc mắc, thu nhận được những thông tin phản hồi từ NSD để cải thiện và đẩy mạnh các hoạt động của mình ngày một hiệu quả hơn.

     

    –  Phân tích thói quen, hành vi của NSD bằng cách sử dụng các phần mềm theo dõi hoặc các công cụ phân tích website như Google Analytics, ClickHeat, ClickTale… để theo dõi NSD khi họ truy cập website thư viện. Đặc biệt khi quyết định tiến hành hoạt động marketing trực tuyến, thư viện cần biết về số lượng người truy cập website, số trang (site) được xem, thời gian NSD ở lại trên website, nguồn truy cập vào website… tất cả những thông tin này sẽ ảnh hưởng tới cách thiết kế website thư viện và các giải pháp thu hút NSD truy cập

     

    đến website thư viện.

     

    Tóm lại, kết quả nghiên cứu NSD qua mạng sẽ giúp thư viện biết được nhiều tham số về nhu cầu, đánh giá và mong muốn của NSD đối với thư viện, SP/DV TT-TV,… để từ đó đưa ra kế hoạch, chiến lược tiếp theo nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Brian Halligan, Dharmesh Shah; Tống Liên Anh dịch. Tiếp thị trực tuyến trong kỹ nguyên mới, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh, 2011.
    1. Davis John. Đo lường tiếp thị : 103 công cụ đo lường thiết yếu cho các chuyên gia marketing, Nhà xuất bản Tổng hợp, Tp.Hồ Chí Minh, 2011.
    1. Dinesh Gupta Marketing libraries in a Web 2.0 World, De Gruyter Saur, Berlin ; New York , 2011.
    1. Ian Chaston. E-Marketing strategy, McGraw-Hill, Singapore, 2001.
    1. Phi Chương, Nguyên Hằng, Lan Thảo, “Xây dựng chiến dịch online marketing”, Tạp chí Marketing Việt Nam, Số 53(2009), trang 35.
    1. Rogers, C.R. Social media, libraries, Web 2.0: How American libraries are using new tools for public relation and to attract new users // http://themwordblog.blogspot.com

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/5-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-ti%E1%BA%BFp-th%E1%BB%8B-tr%C3%AAn-facebook-%C4%91%C3%A3-thay-%C4%91%E1%BB%95i-l%C3%A0m-th%E1%BA%BF-n%C3%A0o-%C4%91%E1%BB%83-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-trong-n%C4%83m-2018.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

     

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Tôi muốn đưa bạn trở về năm 2013.

     

    Khi đó, tôi bắt đầu viết blog chuyên nghiệp. Obama là tổng thống, Snowden chưa tiết lộ với thế giới bất kỳ điều gì kinh khủng và truyền thông trên mạng xã hội cho doanh nghiệp chưa có nhiều việc để làm.

     

    Thuật toán của Facebook vẫn chưa đưa ra một sự khó khăn nào trong việc hạn chế khả năng tiếp cận tự nhiên. Các quảng cáo trên Facebook chưa chiến ưu thế trong News Feeds.

     

    Đó là những ngày tươi đẹp.

     

    Bài viết này sẽ lướt qua những thay đổi mà chúng ta đã thấy trên Facebook trong vài năm gần đây, và những cơ hội nào còn lại mà bạn có thể tận dụng cho doanh nghiệp của mình.

     

    1.   Bạn còn có thể tiếp cận được người hâm mộ của mình?

     

    Lượt tiếp cận tự nhiên (Organic reach) đã từng chiếm 15-20% đối với hầu hết các trang trên Facebook. Tuy nhiên, trong vài năm qua lượng tiếp cận này đã sụt giảm đáng kể. Điều này không có gì bất ngờ đối với các marketer.

     

    Vậy, trong năm 2018 này có những cách nào để tăng khả năng tiếp cận. Nó bao gồm:

     

    • Thể hiện phong cách riêng của bạn
    • Đặt những câu hỏi
    • Sử dụng hình ảnh (kích thích, trend, chế…)
    • Cung cấp một cái nhìn bên trong
    • Đo lường và lặp lại các bước trên
    • Chia sẻ nội dung của Fan. (Mục đích nói rằng bất kỳ người nào là thành viên của trang đều đáng được trân trọng)
    • Trình bày bài viết đơn giản
    • Sử dụng thông điệp nhất quán và nội dung thực sự có ích
    • Trân trọng và đánh giá cao những Fan của mình
    • Luôn vui vẻ trong mọi hoàn cảnh. (Đừng cung cấp nội dung gì hay làm gì để trang của mình thành nơi công kích lẫn nhau)

    Để thành công trên Facebook năm 2018, bạn sẽ phải làm tất cả những điều này và nhiều hơn nữa. Khi nói đến “nhiều hơn”, có 2 chiến lược chính mà bạn cần đặc biệt quan tâm. Đó là Livestream Facebook và Video được biên tập và tải lên Facebook.

     

    2.   Facebook Live Video (hay còn gọi là Livestream Facebook)

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Snapchat, Youtube Live, Periscope và tất cả các nền tảng video trực tiếp khác. Do đó, Facebook khuyến khích, và ưu tiên người dùng sử dụng nền tảng này theo nhiều cách khác nhau.

     

    Chúng tôi đã nghe tin đồn về điều này vào đầu năm 2017, và cho phép thử nghiệm vào tháng 5. Đây là hoạt động của các bài đăng trên Facebook của chúng tôi từ ngày 22 đến 30 tháng 5 năm 2017.

     

    5 cách để video Live của bạn nhiều người xem

     

     

    • Giới thiệu chủ đề của video, giới thiệu bạn, nhiều lần và đừng quên chào những người tham gia video live của bạn.
    • Tạo không khí vui vẻ. (biểu cảm khuôn mặt, các động tác cơ thể…)
    • Trò chuyện nhiều hơn với khán giả, cố gắng kéo dài thời gian trước khi bắt đầu nội dung chính. Nếu bạn bắt đầu những thứ hấp dẫn nhất của buổi live thì những người vào sau sẽ không biết điều gì đã xảy ra cả.
    • Thường xuyên yêu cầu người xem chia sẻ, like và bình luận video trực tiếp của bạn để tăng lượt xem video. Đặc biệt là khi mới bắt đầu.

    3.       Video được quay lại bằng Facebook

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Youtube. Do đó mỗi video được tải lên trực tiếp bằng nền tảng của họ sẽ thấy nó được “đánh dấu” nếu video đó được tải lên qua Youtube.

     

    Vào tháng 3/2016, nền tảng phân tích phương tiện truyền thông xã hội Quintly phân tích 6,2 triệu bài viết bởi 167.000 người trên Facebook. Kết quả đúng như họ dự đoán, các video gốc trên Facebook được sự chia sẻ nhiều hơn với mức tăng 478%.

     

    Nhưng vào tháng 12 năm 2016, các video gốc của Facebook đột nhiên nhận được tỷ lệ chia sẻ trung bình cao hơn 1055,41% so với các video trên Youtube. Rõ ràng Facebook đã cập nhật thuật toán của mình. Và dĩ nhiên là họ ưu tiên con đẻ của mình hơn rồi.

     

    Biết được giá trị của một Fan (người hâm một, 1 lượt like)

     

    Trước kia, mục tiêu của một doanh nghiệp khi truyền thông trên mạng xã hội chỉ đơn thuần là lượt like, like và like.

     

    Là một công ty quảng cáo truyền thông xã hội (Social media), điều này thật dễ dàng với chúng tôi. Nền tảng của chúng tôi được xây dựng xung quanh việc khuyến khích người dùng trở thành 1 Fan (chính xác hơn là làm mọi cách để nhiều người like trang càng tốt)

     

    Tuy nhiên, khi sự tiếp cận tự giảm mạnh và các doanh nghiệp bắt đầu thực sự đo lường giá trị

     

    giữa số tiền họ bỏ ra (mua like) và kết quả thu được. Toàn bộ ngành công nghiệp đã phải thay đổi.

     

    Hãy làm một phép toán nhanh để bạn hình dung những gì tôi đang nói:

     

    Giả sử bạn có 10.000 người hâm mộ (like, follows)

     

    Khi bạn đăng một bài viết, có thể bạn sẽ đạt được 6,5% lượt tiếp cận tự nhiên. Tức là khoảng 650 người trong tổng số 10.000 người.

     

    Bây giờ, vào trình quản lý quảng cáo, bạn sẽ thấy các thông số chi tiết ví dụ như:

     

    Bài đăng của bạn có 650 tiếp cận (nhìn thấy), tỉ lệ nhấp chuột là 5%. Như vậy bạn thực chất chỉ có 33 người xem bài viết của bạn.

     

    Thế nhưng 50% trong số đó đã là khách hàng của bạn, vậy bạn chỉ còn lại 16 người. Tỉ lệ chuyển đổi là 5% (mức trung bình) và thật không may, chúng tôi đã ở dưới mức 1%.

     

    Như vậy cơ hội chuyển 1 trong 10.000 người like thành khách hàng thông qua Facebook ít hơn 0.01%.

     

    Vậy phải làm gì?

     

    Chuyển người hâm mộ (like, follows) thành khách hàng tiềm năng bằng cách.

     

    • Tạo quảng cáo “chỉ dành cho người hâm mộ”. Yêu cầu họ cung cấp địa chỉ email để tham gia và có cơ hội giành được giải thưởng của bạn.

    Đây là chiến lược hoàn chỉnh:

     

    • Sử dụng các cuộc thi trên Facebook để khuyến khích người hâm mộ cung cấp cho bạn địa chỉ của họ.
    • Phân loại khách hàng tiềm năng của bạn dựa trên sản phẩm mà họ muốn nhận được khi chiến thắng.
    • Nhắc nhở họ chia sẻ cuộc thi trên trang của họ, gắn thẻ bạn bè… để có thêm cơ hội giành chiến thắng.
    • Thông báo người chiến thắng giải thưởng lớn và chắc chắn rằng bạn sẽ trao cho tất cả người trúng thưởng các giải thưởng mà họ trúng như đã hứa. Đồng thời cũng tặng cho tất cả người chơi phiếu giảm giá (mang thương hiệu của cuộc thi) 10% hoặc miễn phí vận chuyển… khi mua hàng của bạn. Tạo mã giảm giá của bạn trong khoảng thời gian nhất định.
    • Gửi email nhắc nhở 48h trước khi phiếu giảm giá hết hạn. Và cho họ thêm 2h nữa để mua hàng. Khi đó nhấn mạnh với họ rằng: Vì bạn tham gia cuộc chơi nên mới có ưu đãi về thời gian như thế.
    • Khi bạn tiếp tục chạy bán hoặc quảng bá sản phẩm có liên quan đến dữ liệu khách hàng của cuộc thi kể trên, hãy chắc chắn gửi cho họ một thông báo bằng email.

    Bạn có phải trả tiền để chơi cuộc chơi này?

     

    Một trong những thay đổi lớn nhất của Facebook là cái gọi là cấu trúc “trả tiền để chơi”. Điều này làm ảnh hưởng trầm trọng đến nhiều marketer.

     

    Thế thì bạn có phải trả tiền để tham gia cuộc chơi?

     

    Câu trả lời là có, nhưng không phải quá nhiều như google hay những nền tảng khác.

     

    Quảng cáo Facebook thực sự mang lại một lựa chọn tốt hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp so với việc sử dụng cách tiếp cận thông thường.

     

    Tôi muốn mọi nhà tiếp thị về Social media ngừng suy nghĩ về Quảng cáo trên Facebook như là một giải pháp thay thế cho phạm vi tiếp cận tự nhiên.

     

    Việc tăng số lượng bài viết là rất tốt, nhưng tại sao bạn phải trả tiền để nhắm tới mục tiêu là

     

    những người đã biết. Trong khi bạn hoàn toàn có thể dùng nó để nhắm tới mục tiêu khách hàng mới.

     

    Hãy bắt đầu suy nghĩ về quảng cáo trên Facebook như là sự thay thế cho Quảng cáo Google, nếu bạn làm điều đó bạn sẽ sớm vui vẻ như tôi.

     

    Quảng cáo Facebook cung cấp tính năng nhắm mục tiêu đến đối tượng chính xác và giá mỗi lần nhất chuột được hiển thị rất trực quan và ấn tượng.

     

    Giả sử bạn là một nhiếp ảnh gia ở Victoria, Canada và bạn đang điều hành chương trình khuyến mại trong mùa thu dành cho đối tượng gia đình.

     

    Bạn sẽ chụp ảnh toàn bộ gia đình với giá 450 đô la. Bạn tạo tài khoản Facebook Business Manager và truy cập vào phần quản lý quảng cáo của Facebook.

     

    Bước 1: Chọn mục tiêu quảng cáo của bạn (để thu hút lưu lượng truy cập đến trang chiến dịch của bạn, tôi sẽ chọn Traffic)

     

    Bước 2: Chọn vị trí đối tượng của bạn

     

    Bước 3: Chọn đối tượng cụ thể của đối tượng của bạn

     

    Bước 4: Chọn ngân sách của bạn.

     

    Bước 5: Tạo hình ảnh quảng cáo của bạn. Bạn có thể tự thiết kế hoặc thiết kế bằng các công cụ hỗ trợ online.

     

    Bước 6: Xuất bản quảng cáo của bạn.

     

    Chú thích:

     

    Đây chỉ là một hướng dẫn rất cơ bản cách quảng cáo trên Facebook. Có hàng chục cách để tối ưu hóa và cải thiện kết quả của chiến dịch quảng cáo. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều hướng dẫn chi tiết bằng cách search.

     

    1. Sử dụng Facebook cho việc tương tác với khách hàng.

    Dịch vụ khách hàng

     

    Rất nhiều công cụ trợ giúp đã được Facebook tích hợp, điều đó đồng nghĩa với việc nhân viên hỗ trợ khách hàng của bạn có thể phản hồi các tin nhắn trên Facebook thông qua rất nhiều hình thức khác nhau.

     

    Facebook đã thực sự trở thành một phần mở rộng trong hệ thống website của bạn. Là nơi bạn đăng các sản phẩm hoặc dịch vụ mới. Là nơi bạn giới thiệu phong cách thương hiệu của bạn, giới thiệu nhân sự mới, chia sẻ cuộc họp và là nơi trả lời các câu hỏi từ khách hàng, người hâm mộ.

     

    Dịch vụ khách hàng trên Facebook chỉ là một trong nhiều điều mà các doanh nghiệp đã rời khỏi Facebook bỏ lỡ. Sự sụt giảm trong phạm vi tiếp cận tự nhiên có thể khiến bạn bực bội và từ bỏ cuộc chơi. Nhưng nền tảng “trả tiền để chơi” cũng có rất nhiều điều tích cực và hay ho nếu bạn chịu khó khám phá.

     

    Có một điều ai cũng thấy và nó không thay đổi với Facebook kể từ năm 2012 đó là: Facebook là nơi khách hàng, và khách hàng tiềm năng của bạn xuất hiện nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới.

     

    Phản hồi của khách hàng

     

    Hãy cân nhắc việc hỏi những người hâm mộ, theo dõi bạn về:

     

    • Sản phẩm mà họ yêu thích
    • Điều gì ở doanh nghiệp của bạn (sản phẩm, dịch vụ) làm cho họ phiền toái nhất.
    • Tên của sản phẩm mới, danh mục sản phẩm, tính năng sản phẩm…
    • Thông tin của họ

    Trong một nỗ lực để thúc đẩy việc sử dụng một số tính năng ít được biết đến của họ, Facebook có xu hướng ưu tiên hiển thị cho các cuộc thăm dò (và các câu đố) trong thuật toán tin tức của họ.

     

    Mặc dù không phải tất cả người hâm mộ của bạn sẽ nhìn thấy nó, nhưng tỷ lệ xuất hiện sẽ cao hơn nhiều so với hầu hết các loại bài đăng khác và chắc chẳn đủ để bạn có được cái nhìn sâu sắc hơn về khách hàng và người hâm mộ của mình.

     

    Tổng kết lại

     

    Tính đến tháng 6 năm 2017, Facebook đã có hơn 2 tỷ người dùng. Một con số ấn tượng nhưng đó là kết quả của cả một chặng đường dài.

     

    Một số người trong chúng ta sẽ nhớ lại vào năm 2005, khi mà chúng ta phải có một email đại học để có thể tạo được 1 tài khoản.

     

    Tôi nhớ khi quảng cáo lần đầu tiên xuất hiện trên Newsfeed và khi nút Like được giới thiệu. Tôi nhớ được sự huyền diệu khi lần đầu viết bài về tiếp thị trên Facebook.

     

    Vì vậy, từ năm 2013 Facebook dù không phải là nền tảng duy nhất nhưng nó vẫn là một nền tảng rất có khả năng để phát triển việc kinh doanh trực tuyến của bạn.

     

    Bạn có sử dụng Facebook cho việc sáng tạo hay bất kỳ việc gì khác trong năm qua?

     

    Bạn cảm thấy thất vọng bởi những gì bạn thấy trong Facebook marketing hoặc có câu hỏi về quảng cáo?

     

    Hãy để lại trong mục bình luận bên dưới để chúng ta cùng trao đổi nhé!

     

    Tác giả: James Scherer

     

    Dịch bởi: Chiasekhoahoc.net

     

    Bài viết gốc: https://www.postplanner.com/blog/ways-marketing-on-facebook-has-changed-how-to-use-it-2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BB%A9ng-hi%E1%BB%87u-%E1%BB%A9ng-k%E1%BB%B7-lu%E1%BA%ADt-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ng%C3%A0nh-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Nghiên cứu này vận dụng số liệu của 21 NHTM (NHTM) VN từ năm 2003 – 2008, xem xét liên hệ giữa chi phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, và giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi hàng năm với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, để phản ánh được hiện trạng kỷ luật thị trường ngành

     

     

    ngân hàng (NH) VN giai đoạn 2003-2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy kỷ luật thị trường ngành NH VN có tồn tại nhưng rất yếu. Ngoài ta tác giả cũng tiến hành phân tích kỷ luật thị trường (KLTT) từng loại hình NHTM – NHTM nhà nước (NHTMNN) và NHTM cổ phần (NHTMCP), để làm rõ thêm một số nguyên nhân gây ra hiện tượng trên. Cuối cùng tác giả gợi

     

    • một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu ứng KLTT [1] ngành NH VN – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát tài chính NH.

    Sự cần thiết của nghiên cứu

     

    Trong bản thảo năm 2001 với việc thảo luận hiệp định Basel mới, tác dụng KLTT đã được nhấn mạnh. KLTT, các yêu cầu vốn tối thiểu và quá trình kiểm tra giám sát được phối hợp với nhau, cùng nhau thành một trong ba trụ cột của cấu trúc khung hiệp ước mới. Một trong những hình thức biểu hiện cụ thể của KLTT chính là nhấn mạnh sự công khai minh bạch thông tin kinh doanh của các NHTM. Trong

    thực tế, cơ chế KLTT trong thực tiễn kinh doanh và trong hệ thống giám sát NH trước khi Basel II ra đời đã tồn tại: ví dụ như, nếu những người có lợi ích liên quan cho rằng rủi ro kinh doanh của một NHTM khá cao, người gởi tiền và người nắm giữ trái phiếu NH đó sẽ yêu cầu NH trả lãi suất tiền gởi cao hơn hay là sẽ rút tiền gởi ra khỏi NH

     

     

    đó, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh và lực cạnh tranh của NH. Ở tình huống thông thường, khi KLTT tồn tại người gởi tiền yêu cầu NH có độ rủi ro cao sẽ phải chi trả tiền lãi cao, nếu không thì người gởi tiền sẽ rút tiền gởi của mình từ NH có độ rủi ro cao chuyển sang NH có độ rủi ro thấp.

     

    Trụ cột 3 – KLTT bổ sung cho các yêu cầu vốn tối thiểu (trụ cột 1) và quá trình kiểm tra giám sát (trụ cột 2). Ủy ban Basel khuyến khích nguyên tắc thị trường bằng việc phát triển một bộ các yêu cầu minh bạch, cho phép người tham gia thị trường đánh giá các thông tin chủ chốt, đánh giá độ rủi ro của các NHTM. KLTT có thể góp phần cho môi trường hoạt động NH an toàn và lành mạnh, các tổ chức giám sát NH có thể yêu cầu các NHTM phải cung cấp thông tin cho thị trường, điều này giúp cho các chủ thể liên quan giám sát hoạt động NHTM – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát NH (Hệ thống giám sát ngân hàng gồm yếu tố cấu thành

    sau: cơ quan giám sát của nhà nước, cơ chế kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, KLTT, cơ chế hợp tác giám sát quốc tế; và các thành phần khác như: tổ chức bảo hiểm tiền gởi, hai ngành tài chính NH, các tổ chức đánh giá tín nhiệm,…

     

    • KLTT cũng đã được Ông Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia trong

     

    NGUYỄN CHÍ ĐỨC & HOÀNG TRỌNG

     

    khuyến nghị về tái cấu trúc hệ thống giám sát tài chính nhắc đến. Ông cho rằng “thế kiềng ba chân” (1. Quản trị doanh nghiệp tốt; 2. Cơ chế kỷ luật thị trường phát huy tác dụng đầy đủ; 3. Các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả) cần được phát triển cân bằng.

     

    Trong lĩnh vực nghiên cứu KLTT, các nhà nghiên cứu nước ngoài trong ngành NH đã nghiên cứu rất sâu và đạt được nhiều thành tựu, đồng thời đại đa số là nghiên cứu thực chứng người gởi tiền thực hiện KLTT. So sánh ở VN, chỉ vài năm gần đây cùng với việc ra đời Basel II, và việc cam kết thực hiện giám sát NH theo hiệp ước Basel II năm 2004, chúng ta mới biết đến KLTT như là một trong ba trụ cột của hiệp ước Basel II. Do vậy việc nghiên cứu KLTT ở khía cạnh định tính cũng như định lượng còn chưa phát triển. Đây là lý do chủ yếu tác giả muốn nghiên cứu hiện trạng KLTT ngành NH VN hiện nay trên

     

    26             PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    cơ sở phân tích định lượng.

     

    Mô hình, định nghĩa biến, và xử lý số liệu

     

    Mô hình

     

    Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Huizinga (1999 và 2004). Thông qua kiểm nghiệm mối quan hệ tương quan giữa lãi suất huy động thực tế của NHTM (chi phí trả lãi tiền gởi I) và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi (G) với rủi ro của NHTM (X) để khảo sát tình hình KLTT ngành ngân hàng của một quốc gia. Để tiến hành phân tích, phương pháp khá nổi tiếng

     

    Biến số

    Định nghĩa

     

    Dự đoán hệ số

       

    Ij,t (biến phụ

    lãi suất huy động của NH tại thời điểm t (tỷ lệ

             

    tổng chi phí trả lãi thực tế j mỗi năm và tổng nợ

             

    thuộc)

    phải trả.)

             
               

    Gj,t (biến phụ

    tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của NHj tại thời điểm

             

    t (tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động của khách

             

    thuộc)

    hàng.)

             
               

    GQj.t-1

    tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản

    Âm đối với Ij,t

    với

     

    Dương

    đối

     
         

    Gj,t

         

    LDj.t-1

    tỷ lệ lưu động (tỷ lệ giữa tài sản lưu động trên

    – Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    – Dương đối với Gj,t

     

    LRj.t-1

    tỷ lệ lợi nhuận (tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế trên

    Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    Dương

    đối

    với

     
         

    Gj,t

         

    Dj.t

    bảo hiểm tiền gởi

    Âm đối với Ij,t

       

    NHTMNN là 1, NHTMCP là 0

    Dương

    đối

    với

     
       

    Gj,t

    đối

    với

     
       

    Dương

     

    Yj.t

    Tỷ lệ lạm phát

    Ij,t

         
       

    Âm đối với Gj,t

     
           

    này nhìn từ hai góc độ: NHTM có độ rủi ro cao có phải gánh chịu chi phí huy động vốn cao, và NHTM có độ rủi ro cao sẽ thu hút số lượng tiền gởi ít hơn hay không. Tác giả áp dụng mô hình này để phân tích tình hình VN. Phương trình tính toán như sau:

     

    B j.t =α + β X j.t1 + γ Y j.t  + δ

     

    • Bj,t: Ij,t lãi suất huy động tiền gởi (chi phí trả lãi thực tế) của

    ngân hàng j

     

    • Bj,t: Gj,t tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của ngân hàng j
    • Xj,t-1: biểu thị biến số trạng thái rủi ro ở thời kỳ t-1của ngân hàng j
    • GQj,t-1 (tỷ lệ vốn trên tài sản)
    • LDj,t-1 (tỷ lệ lưu động)
    • LRj,t-1 (tỷ lệ lợi nhuận)
    • Yj,t : biến kinh tế vĩ mô, lấy chỉ số tỷ lệ lạm phát
    • Dj,t : bảo hiểm tiền gởi (BHTG) [3] là biến nhị phân.
    • Dj,t × Xj,t-1: là tích của hai biến Dj,t và Xj,t-1
    • εj,t : là phần dư của mô hình.

    Giải thích các biến và lựa chọn:

     

    Tác giả áp dụng mô hình tính toán trên với một số điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của VN, tình hình số liệu mà tác giả đã thu thập được, và một số lý do khác. Cụ thể, việc lựa chọn các biến số và định nghĩa các biến số

     

    D j.t D j.t X j.t−1 + ε j.t

     

    có một số thay đổi như sau:

     

    • Tác giả không sử dụng chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (căn cứ để tính tỷ lệ này có chỉ tiêu tổng tài sản được điều chỉnh theo rủi ro) vì tác giả nhận thấy số liệu báo cáo của các NHTM về các chỉ tiêu trên chưa đảm bảo độ tin cậy.
    • BHTG ở đây tác giả muốn nhấn mạnh sự bảo đảm tín dụng của Nhà nước đối với hoạt động của các NHTMNN, để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế VN khi hệ thống NHTMNN vẫn tồn tại và chiếm vai trò chủ yếu, đồng thời Công ty bảo hiểm tiền gởi VN vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng bản chất của nó trong nền kinh tế. Vì vậy tác

    giả gọi BHTG tại VN là BHTG ẩn.

     

    • Công chúng biết kết quả kinh doanh các NHTM thường có độ trễ, giả định là một kỳ. Chúng ta thêm một biến chỉ tiêu vĩ mô, chọn tỷ lệ lạm phát thể hiện rủi ro hệ thống.

    Định nghĩa các biến

     

    – Tác giả cho rằng các NHTM sau: VCB (NHTMNN cổ phần hóa); Vietinbank (NHTMNN cổ phần hóa); BIDV; Agribank; MHB là NHTMNN.

     

    Nguồn số liệu

     

    Để tính toán các chỉ tiêu trên, tất nhiên cần phải tiến hành thu thập và chỉnh lý số liệu, tác giả sử dụng số liệu tổng hợp có liên quan từ năm 2003 – 2008 của 21 NHTM, trong đó có 5 NHTMNN và 16

     

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát tác giả tham khảo từ báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước.
    • Các chỉ tiêu Ij,t ; Gj,t ; GQt-1 ; LDj.t-1 ; LRj.t-1 ; Dj.t tác giả tự tính trên cơ sở tập hợp các báo cáo tài chính của 21 NHTM VN từ năm 2003 đến năm 2008. (VCB; Vietinbank; BIDV; Agrib-ank; MHB; ACB; STB; EIB;

    Số 10 – Tháng 3/2011  PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP

     

    27

     
           
           

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB) (Nguyễn Chí Đức, Hoàng Trọng 2009).

     

    Tất cả các số liệu tác giả đề cập đều được tính toán và lựa chọn phù hợp nên có tính tin cậy, và sử dụng được cho phân tích.

     

    Kết quả tính toán và phân tích kết quả

     

    Sau khi xây dựng bảng dữ liệu, tác giả sử dụng chương trình máy tính SPSS kiểm nghiệm mô hình. Các kết quả lần lượt được trình bày trong các phần tiếp theo (chú ý: những con số trong dấu ngoặc là hệ số hồi qui đã chuẩn hóa; * và ** là có ý nghĩa thống kê ở mức 10% và 5%).

     

    1. Kiểm định mối quan hệ tương quan giữa chí phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM.

     

    1a. Mẫu là toàn bộ các NHTM

     

    Các phương trình từ (1) đến (6)

    kiểm nghiệm ảnh hưởng tình hình rủi ro của NHTM và BHTG ẩn đến chi phí trả lãi thực tế của ngân hàng.

     

    • Trong các phương trình từ (1) đến (3), chúng ta lần lượt dùng 3 biến rủi ro tính toán ảnh hưởng đối với lãi suất huy động, áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (GLS) tiến hành tính

    toán. Kết quả cả LDj.t-1, LRj.t-1 đều có hệ số hồi qui âm, biểu thị

     

    LDj.t-1, LRj.t-1 cao sẽ làm giảm lãi suất huy động thực tế. Nhưng

     

    cả hai đều không là thể hiện rõ vì ý nghĩa thống kê kém. Còn

     

    GQj.t-1 có hệ số hồi qui dương, tương phản với dự đoán.

     

    • Các phương trình từ (4) đến
    • ứng với 3 biến rủi ro là GQt-1, LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi qui chúng ta đồng thời lấy các biến

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1 nạp vào trong mô hình. Kết quả là

     

    cả 3 biến rủi ro đều có hệ số âm phù hợp với dự đoán, nhưng đều

    có ý nghĩa thống kê kém. Trong tất

     

    cả các lần hồi qui, Yj.t đều có hệ số dương cùng dấu với dự đoán,

     

    và có ý nghĩa thống kê, thể hiện rõ ràng là khi lạm phát tăng thì lãi suất huy động tăng. Trong tất cả các lần hồi qui, giả định (4) và (5)

     

    Dj.t có hệ số âm cùng dấu với dự đoán, và (4) thể hiện rõ rệt, trong

     

    khi (6) Dj.t có hệ số dương ngược dấu với dự đoán nhưng không có ý

     

    nghĩa thống kê. Đây có thể là biểu thị của việc BHTG ẩn, sự bảo đảm của Nhà nước, làm giảm lãi suất huy động đối với các NHTMNN là có, nhưng không quá rõ ràng. Vậy chúng ta cũng sẽ phải đặt câu hỏi là cơ chế BHTG ẩn này có bao gồm tất cả các NHTM hay không.

     

    Từ những phân tích trên có thể nhận xét là KLTT có tồn tại nhưng

     

    rất yếu, qua đó hai chỉ tiêu LDj.t-1 (tỷ lệ thanh khoản), LRj.t-1 (tỷ lệ

     

    lợi nhuận), có ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn. Chỉ tiêu lạm phát Yj.t rõ ràng ảnh hưởng đến lãi suất huy động, đúng với lý thuyết

     

    Bảng 1: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

         

    Các phương trình

         

    Biến số

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

    (6)

     
                   

    GQj.t-1

    0.043

       

    -0.008

         

    (0.087)

       

    (-0.015)

         

    LDj.t-1

     

    -0.058

       

    -0.098

       
     

    (-0.077)

       

    (-0.131)

       

    LRj.t-1

       

    -0.014

       

    -0.008

     
       

    (-0.137)

       

    (-0.078)

     

    Dj.t

         

    -0.023 (**)

    -0.005

    0.005

     
         

    (-0.351)

    (-0.069)

    (0.072)

     

    Yj.t

         

    0.329 (**)

    0.328 (**)

    0.34 (**)

     
         

    (0.547)

    (0.544)

    (0.565)

     

    Dj.t * Xj.t-1

         

    0.302

    -0.113

    -0.086 (**)

     
         

    (0.229)

    (-0.111)

    (-0.315)

     

    Tổng quan

    104

    104

    104

    104

    104

    104

     

    sát

                 

    R2

    -0.002

    -0.004

    0.009

    0.295

    0.302

    0.338

     
                   

    F

    0.789

    0.612

    1.975

    11.875

    12.255

    14.263

     
                   

    tài chính tiền tệ.

     

    1b. Mẫu là từng nhóm NHTM Tiến thêm một bước, chúng ta

     

    loại bỏ Dj.t ra khỏi phương trình, để so sánh sự thay đổi của lãi suất huy động của hai nhóm NHTM có bị tác động ảnh hưởng của một số nhân tố giống nhau hay không, ví dụ như kết quả kinh doanh của NHTM và nhận thức của người gởi tiền đối với rủi ro NH. Người gởi tiền có sự phân biệt giữa NHTMNN và NHTMCP hay không, hay nói cách khác BHTG ẩn hiện nay bao trùm lên toàn bộ hệ thống NHTM, hay Nhà nước chỉ bảo đảm tín dụng đối với nhóm NHTMNN. Trong các phương trình hồi qui từ (7) đến (12), chúng ta tiến hành tính toán cho từng nhóm NHTM. Cách tính toán đối với mỗi nhóm ngân hàng là giống nhau, tức là lần lượt

     

    28           PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

                                         

    (18) có 3

    biến rủi

    ro: GQj.t-1,

    Bảng 2: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả

     
     

    LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi

    NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

       
       

    qui chúng ta đồng thời đưa biến

           

    NHTMNN

                 

    NHTMCP

       

    Biến

                           

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1

     

    (7)

     

    (8)

    (9)

         

    (10)

       

    (11)

       

    (12)

         
                                         

    vào trong mô hình. Kết quả là:

       

    0.265 (*)

               

    -0.009

                     

    GQj.t-1

                                   

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

     

    (0.327)

               

    (-0.017)

                   
                                         

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    LDj.t-1

         

    -0.203

                 

    -0.102

             
         

    (0.247)

                 

    (-0.138)

           

    kê, còn LRj.t-1 có hệ số âm, ngược

             

    -0.093

                   

    -0.008

       

    với dự đoán. Yj.t trong tất cả các

    LR

           

    (**)

                         

    j.t-1

           

    (-0.651)

                 

    (-0.843)

     

    phương trình có được 1 dấu hiệu rõ

       

    0.267

     

    0.236

    0.331

       

    0.347

       

    0.356

     

    0.342

       

    ràng, cho thấy Yj.t có tác dụng ảnh

    Yj.t

     

    (**)

     

    (**)

    (**)

         

    (**)

       

    (**)

       

    (**)

         
                           

    hưởng giảm thấp tăng trưởng tiền

       

    (0.619)

     

    (0.548)

    (0.767)

       

    (0.546)

     

    (0.56)

     

    (0.537)

     

    gởi. Dj.t có 1 phương trình có hệ

    Tổng

                                       

    quan

     

    24

     

    24

    24

         

    79

       

    79

       

    79

         

    số dương, 2 mô hình hệ số âm, và

    sát

                                       

    trong đó 1 mô hình là có ý nghĩa

    R2

     

    0.331

     

    0.288

    0.625

         

    0.279

       

    0.298

       

    0.285

         
                           

    thống kê ngược dấu với dự đoán.

                                         

    F

     

    6.939

     

    5.855

    20.963

       

    16.252

       

    17.737

     

    16.734

       

    − Qua phân tích chúng ta có thể

                                         

    nhận thấy thị trường quan tâm đến

               

    2a. Kiểm nghiệm toàn bộ các

    áp dụng GQj.t-1, LDj.t-1, LRj.t-1

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1

    (tỷ lệ vốn tự

    là biến rủi ro, lấy Yj.t là biến kiểm

    NHTM

                   

    có trên tổng tài sản), KLTT có tồn

    soát khi hồi qui.

           

    − Trong các phương trình (13)

    tại.

           

    − Trong các phương trình (7)

    (14) (15), chúng ta lần lượt xem

    2b. Mẫu là từng nhóm NHTM

    (8) (9), tiến hành hồi qui 3 lần đối

    xét ảnh hưởng của 3 biến rủi ro

    Tiến thêm một bước nghiên

    với NHTMNN. Kết quả là GQj.t-1

    đối với tăng trưởng tiền gởi, áp

    cứu, chúng ta loại bỏ Dj.t ra khỏi

    có hệ số dương, có ý nghĩa thống

    dụng phương pháp bình phương

    phương trình, so sánh  tỷ lệ tăng

    kê, ngược với dự đoán; LDj.t-1

    nhỏ nhất thông thường. Kết quả là:

    trưởng tiền gởi của 2 nhóm NHTM

    và LRj.t-1

    có hệ số âm, trong đó

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

    có bị tác động ảnh hưởng của một

    LRj.t-1 có ý nghĩa thống kê.

     

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    số nhân tố giống nhau hay không.

    − Trong các phương trình (10)

    kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược với

    Nếu chỉ số thống kê của nhóm

    (11) (12) tiến hành hồi qui 3 lần đối

    dự đoán.

                   

    NHTMNN đối sự với ảnh hưởng

    với NHTMCP. Kết quả là GQj.t-1,

       

    − Các phương trình (16) (17)

    đến chỉ tiêu tăng trưởng tiền gởi

    LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm

                                         

    phù hợp với dự đoán, nên phần nào

           

    Bảng 3: Kết quả tính toán đối với tất cả NHTM

    cũng phản ánh được một kỷ luật

               

    (Biến phụ thuộc là tăng trưởng tiền gởi)

       

    thị trường có hoạt động ở nhóm

     

    Biến số

     

    (13)

     

    (14)

     

    (15)

     

    (16)

     

    (17)

     

    (18)

    NHTMCP

    này,  tuy

    yếu  nhưng

             

    6 . 6 0 3

                 

    6.512 (**)

           
     

    GQj.t-1

     

    (**)

                         

    mạnh hơn kỷ luật thị trường ở

                     

    (0.434)

           
             

    (0.44)

                         

    nhóm NHTMNN.

         

    LDj.t-1

           

    (0.119)

               

    (0.136)

       
                               

    2.718

               

    3.113

       

    − Trong cả 6 phương trình ở 2

                                         
                         

    -0.208

             

    -0.29

    nhóm NHTM, thì Yj.t đều có hệ số

     

    LRj.t-1

                           
                   

    (-0.065)

           

    (-0.091)

    dương có ý nghĩa thống kê, phản

                                         
     

    Dj.t

                         

    0.06

     

    -0.134

     

    -0.504 (*)

    ánh được một cơ chế lãi suất hình

                           

    (0.03)

     

    (-0.067)

     

    (-0.25)

    thành trên nền kinh tế thị trường

     

    Yj.t

                         

    -2.743 (*)

     

    -2.566

     

    -2.451

                           

    (-0.15)

     

    (-0.141)

     

    (-0.134)

    đang được phản ánh rất rõ nét.

                                           
       

    Dj.t x Xj.t-1

                       

    -4.861

     

    -5.085

     

    0.182

                                         

    2. Kiểm định mối quan hệ tương

                         

    (-0.121)

     

    (-0.164)

     

    (0.022)

    quan giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền

     

    Tổng quan

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    sát

                 

    gởi hàng năm với mức độ rủi ro

                                     
     

    R2

       

    0.186

     

    0.005

     

    -0.005

     

    0.192

     

    0.049

     

    0.039

    trong hoạt động của các NHTM.

                                         
     

    F

       

    24.767

     

    1.476

     

    0.438

     

    7.195

     

    2.327

     

    2.048

                               
                                                     

    Số 10 – Tháng 3/2011    PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP         29

     

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Bảng 4: Kết quả tính toán đối với 2 nhóm NHTM

    (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực)

     

    Biến

     

    NHTMNN

       

    NHTMCP

       

    (19)

    (20)

    (21)

    (22)

    (23)

    (24)

     
     
     

    2 . 6 6 6

       

    6 . 5 4 7

         

    GQj.t-1

    (**)

       

    (**)

         
     

    (0.543)

       

    (0.408)

         
       

    – 2 . 1 3 0

       

    3.180

       

    LDj.t-1

     

    (**)

           
         

    (0.135)

       
       

    (-0.428)

             
         

    – 0 . 3 2 3

       

    -0.297

     

    LRj.t-1

       

    (*)

       
           

    (-0.92)

     
         

    (-0.373)

           

    Yj.t

    -0.617

    -0.922 (*)

    -0.631

    -3.367

    -3.085

    -2.952

     

    (-0.236)

    (-0.353)

    (-0.241)

    (-0.166)

    (-0.152)

    (-0.145)

     

    Số quan

    24

    24

    24

    79

    79

    79

     

    sát

                 

    R2

    0.363

    0.261

    0.194

    0.163

    0.012

    0.002

     

    F

    7.84

    5.249

    3.895

    8.7

    1.468

    1.075

     

    chỉ tiêu rủi ro của các NHTMNN (tất nhiên còn nhiều lý do khác như người gởi tiền có qua ít con đường để đầu tư). Còn đối với các NHTMCP, là các doanh nghiệp thực sự, tự chịu trách nhiệm kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận, nhận sự bảo đảm tín dụng và giúp đỡ của nhà nước có giới hạn, đã từng có những NHTMCP nhỏ sụp đổ, đóng cửa, hay sáp nhập, vì vậy người dân sẽ phải quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro. Nhưng xét trên tổng thể mà nói, KLTT của ngành NH VN trong một nền kinh tế toàn cầu là còn rất yếu, chưa thể xem đó là một

     

    không rõ ràng, trong khi nhóm NHTMCP mà rõ ràng hơn, thì ít nhất chúng ta có thể xác định được KLTT đối với nhóm NHTMCP phản ứng mạnh hơn. Như vậy một sự lý giải hợp lý cho việc KLTT của nhóm NHTMNN yếu hơn chính là chế độ BHTG ẩn, sự bảo đảm tín dụng của nhà nước đối với NHTMNN, khiến cho người gởi tiền phản ứng một cách không rõ ràng đối với các chỉ tiêu rủi ro NH, hay cũng có thể nói họ không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro này. Còn đối với nhóm NHTMCP không có được chế độ BHTG ẩn, hay nếu có thì bị giới hạn, vì vậy người dân không thể không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro, hay chí ít là có quan tâm mạnh hơn so với nhóm NHTMNN, để từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.

     

    Trong các phương trình (19),

     

    • và (21), GQt-1 có hệ số dương cùng dấu với dự đoán và

    có ý nghĩa thống kê rõ ràng. Trong

     

    khi 2 biến rủi ro còn lại LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm, ngược dấu dự đoán và cũng có ý nghĩa thống

     

    kê. Từ phân tích trên ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMNN rất yếu hay có thể nói

    là hầu như không có.

     

    • Trong các phương trình (22),
    • và (24), GQt-1 và LDj.t-1 có hệ số dương, trong đó GQj.t-1 phản

    ứng có ý nghĩa thống kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược dấu với hệ số dự

     

    báo nhưng không có ý nghĩa thống kê. Từ đó ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMCP cũng không phải là mạnh nhưng so với nhóm NHTMNN thì phản ứng có rõ ràng hơn.

     

    • Cả 6 giả định thì Yt đều có hệ số âm, cùng dấu với hệ số dự

    báo.

     

    • Thị trường quan tâm đến

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1 (tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản), nên khiến

     

    cho chỉ tiêu rủi ro này phản ứng tác động đến biến tăng trưởng tiến gởi, người dân có quan tâm đến chỉ tiêu này ở ngành NH VN.

     

    Như vậy quan điểm của người dân về quy tắc Too big to fail (NH lớn không thể chết) ở VN vẫn đang tồn tại. Nhà nước vì xã hội và sự ổn định nền kinh tế sẽ không để cho các NHTMNN sụp đổ. Quan điểm này đã thấm sâu vào trong suy nghĩ của mọi người, vì vậy loại BHTG ẩn này đã làm cho người gởi tiền hầu như không quan tâm đến các

    bộ phận cấu thành trong hệ thống giám sát tài chính NH VN.

     

    Kết luận và thảo luận

     

    Từ hai góc độ phân tích là lãi suất huy động và tăng trưởng tiền gởi của các NHTM, thì chúng ta có kết quả tương đồng về KLTT

     

    • ngành NH VN, và đối với từng nhóm NHTM.
    • KLTT đã bắt đầu hình thành trong ngành NH VN, nhưng hoạt động còn yếu.
    • KLTT của nhóm NHTMNN hoạt động yếu hơn so với nhóm

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát quan hệ rất chặt chẽ với lãi suất huy động vốn và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi theo đúng với lý thuyết tài chính tiền tệ, từ đó chúng ta có thể cho thấy được phần nào các quy luật tài chính tiền tệ đang hoạt động có hiệu quả tại VN.
    • Cũng nên thừa nhận, trong hơn 20 năm, BHTG ẩn của Nhà nước ở một mức độ nhất định đã duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng, nhưng cùng với sự cải cách không ngừng của ngành NH, Chính phủ không nên tiếp tục duy trì việc bảo hộ che chở cho các NHTM (NHTMNN hay

    30            PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    NHTMCP), cần xây dựng chế độ BHTG phù hợp với nguyên tắc thị trường thay thế chế độ BHTG ẩn

     

    – đó là 1 chế độ BHTG hiệu quả và mạng lưới an toàn tài chính với cơ chế người cho vay cuối cùng là NHNN làm nội dung chủ yếu. Vì vậy xây dựng chế độ BHTG hiệu quả nên trở thành một bước đi quan trọng trong việc cải cách sâu rộng ngành NH nước ta.

     

    • Đồng thời tiếp tục tăng cường giám sát ngân hàng, kiểm soát nội bộ, tăng cường minh bạch thông tin tài chính của các tổ chức tín dụng.
    • Phải nâng cao trình độ và chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác báo chí, làm sao cho người dân hiểu và tin cậy thông tin của các tổ chức truyền thông đưa ra, tổ chức truyền thống này đang bảo vệ họ, chứ không phải đang bảo vệ cho một số cá nhân có thế lực nào đó.
    • Đặc biệt là phải làm sao nâng cao trình độ hiểu biết của nhà đầu tư về lĩnh vực tài chính NH (vì theo tác giả, hiện nay đại bộ phận người gởi tiền xem không hiểu các báo cáo mà NHTM công bố, cho nên họ cũng không quan tâm đến các chỉ tiêu tài chính, thông tin tài chính của NHTM, đây cũng là một lý do KLTT ngành ngân hàng hoạt động rất yếu).
    • Tất cả các vấn đề trên không phải là một sớm một chiều có thể giải quyết được. Vì vậy việc quá đề cao kỷ luật tự thân của thị trường (bàn tay vô hình) hay quá dựa dẫm vào hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp trong khi lại không chú trọng đúng mức tới vai trò điều tiết và giám sát của Nhà nước là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới khủng hoảng, đổ vỡ nền tài chính (bài học ở Mỹ năm 2008) (Nguyễn

    Chí Đức, Hoàng Trọng 2009). Đây cũng là một bài học cho hệ thống tài chính NH VN, khi mà nền kinh tế thị trường còn rất non trẻ và chưa hoàn hảo, thì chắc chắn bàn tay vô hình chưa phát huy được tác dụng vốn có của nó, thì hiển nhiên vai trò thanh tra giám sát của các cơ quan nhà nước phải được đề cao và chú trọng, phải là một khâu mấu chốt của Hệ thống thanh tra giám sát tài chính ngân hàng VN giai đoạn hiện nay. Đây là một vấn đề không cần phải tranh luận.

     

    Cụ thể vừa qua Chính phủ thông qua Quyết định Số 34/2008/QĐ-TTg ngày 03 tháng 03 năm 2008 Về việc thành lập Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN. (Việc thành lập Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách cơ cấu tổ chức NHNN với mục tiêu nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế). Quyết định số 398/1999/ QĐ-NHNN3 về hoạt động giám sát từ xa, quyết định số 06/2008/ QĐ-NHNN về xếp loại NHTM cổ phần, Quyết định số 457/2005/ QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, và nhiều văn bản pháp luật khác liên quan đến vấn đề tổ chức cơ cấu và nghiệp vụ thanh tra giám sát ngành ngân hàng, tăng cường công tác thanh tra giám sát các TCTD là rất phù hợp và cần thiếtl

     

    • Market discipline
    • Theo kết cấu luận văn “Xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng VN và bài học từ Trung quốc” của NCS Nguyễn Chí Đức, Trường Đại học Đồng Tế, Thượng Hải, Trung Quốc.
    • Deposit Insurance

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà Nước VN
    1. Báo cáo tài chính của 21 NHTM: VCB; Vietinbank; BIDV; Agribank; MHB; ACB; STB; EIB; TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) “Market discipline and financial safety net design”, Finance, Policy Research Working Paper, Development Research Group, The World Bank.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (2004) “Market discipline and deposit insurance” Journal of Monetary Economics, 51, 2004.
    1. Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2009) “Phân tích hệ thống giám sát tài chính ngân hàng VN”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng tháng 12 năm 2009.
    1. Quyết định số 34/2008/QĐ-TTg ngày
    • tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
    1. Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh Tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN.

    Số 10 – Tháng 3/2011   PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP          31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]