Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÁO CÁO MÔN THỰC TẬP THỰC TẾ TẠI NHÀ THUỐC THIÊN ÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/K%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-kinh-doanh-m%E1%BB%9F-qu%C3%A1n-cafe-n%C4%83m-2018-v%C3%A0-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Bài viết này sẽ lập cho mọi người 1 kế hoạch kinh doanh mở quán cafe, kinh nghiệm mở quán cafe cần bao nhiêu vốn, làm sao để duy trì kinh doanh và phát triển quán cà phê lớn mạnh hơn.

    Mở quán cafe là một ý tưởng kinh doanh phổ biến, có nhiều người tham gia vào ngành nghề này bằng cách đi học pha chế đồ uống 4-7 tháng, có người đi làm thuê 1 năm, 2 năm để có kinh nghiệm rồi mới tự mở quán riêng. Phần lớn quán cà phê mở ra và chỉ kinh doanh khoảng 4 tháng thì đóng cửa tiệm.

    Vì vậy trước khi chúng ta nghiên cứu kế hoạch cho quán cà phê, bạn cần xác định rằng mô hình này có sức cạnh tranh rất cao, tham gia kinh doanh cà phê rất dễ và phá sản cũng nhanh, lý do là những vấn đề cơ bản như thế này:

    – Sức cạnh tranh lớn làm thị trường bị thu hẹp, từ đó khiến lượng khách hàng thực tế của mỗi quán cà phê giảm đi

    – Vốn đầu tư lớn làm những người ít vốn không thể cạnh tranh theo cách “ngựa đua đường dài”

    – Kinh doanh nhỏ lẻ, không có kế hoạch rõ ràng dẫn đến thất bại

    – Suy nghĩ đơn giản: Cứ mở tiệm và có tên quán cafe đẹp, không gian đẹp là có khách hàng

    Lý do thứ 4 là vấn đề rất phổ biến không ở đâu giống như người Việt Nam kinh doanh theo lý do này. Tư duy “ Cứ mở quán là có khách hàng” chỉ đúng khi bạn độc quyền ngành hàng hóa của thị trường và khách hàng bắt buộc phải dùng sản phẩm đó, nhưng ngay cả trường hợp độc quyền sản phẩm thì cũng có những sản phẩm thay thế rất tốt, chẳng hạn bạn có 1 công thức chế biến cà phê và mua lại thương hiệu từ Nhật Bản về Việt Nam phát triển cửa hàng, trong nước có rất nhiều sản phẩm đồ uống khác nhau, chẳng có lý do gì để khách hàng nhất định phải uống cà phê độc quyền của bạn.

    Pháp luật quy định người bán không được phép ép buộc người mua phải thực hiện giao dịch hàng hóa và ngược lại, mua bán dựa trên bản chất tự nguyện từ 2 bên. Người ta thích thì vào quán cà phê của bạn, chúng ta không có quyền để ép họ, thế nên tại sao lại nghĩ rằng “ Cứ mở quán là có khách mua” ?

    Cho nên trước khi bắt đầu kinh doanh bạn cần tư duy khoa học rằng : Kinh doanh chắc chắn sẽ thất bại nếu như bạn không đủ nguồn lực và chiến lược tốt, và bạn có thể tự tin hiện nay trên thị trường có rất nhiều quán cafe kinh doanh chộp giật.

    Bản kế hoạch kinh doanh mở quán cafe

    1. Kế hoạch phát triển quán cà phê

    a. Kế hoạch doanh thu

    Doanh thu có từ hoạt động bán hàng và các công việc khác ngoài bán hàng, nhiều người kinh doanh cà phê tự đặt ra mức doanh thu mà không căn cứ vào hiện trạng thị trường, tức là mục tiêu đặt ra lớn hơn khả năng thực thi, đây cũng là một trong số lý do dẫn tới kinh doanh thất bại.

    Doanh thu được ước lượng dựa trên quy mô thị trường, nếu bạn kinh doanh cafe ở nông thôn thì không thể đặt mục tiêu 4.000.000 VNĐ/ ngày vì đó là doanh thu từ 1 quán cà phê ở Thành phố. Doanh thu được ước tính có thể tăng dần theo thời gian và phải dựa trên những thông tin đánh giá thị trường mới đi đến quyết định.

    Đặt mục tiêu doanh thu sai với tiềm lực thị trường sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động Marketing và đặc biệt là tốn nhiều chi phí đầu tư tài sản cố định, nguyên vật liệu chế biến cà phê. Cho nên doanh thu không thể xác lập theo cảm tính hay sở thích, mong muốn, tham vọng mà phải dựa trên đặc trưng và hiện trạng thị trường.

    b. Kế hoạch mua hàng (không áp dụng cho nhượng quyền cafe)

    Dựa trên doanh thu ước tính và hoạt động bán hàng để xác lập kế hoạch mua hàng phục vụ hoạt toàn bộ quá trình kinh doanh, vì vậy mục tiêu kinh doanh phải rất rõ ràng có tính khả thi so với thực tế.

    Để lập được kế hoạch mua hàng bạn phải phân tách rõ ràng những nguyên liệu và dụng cụ cần có, một ly cà phê nếu bán với giá 50.000 VNĐ, nhiệm vụ của bạn là phải xác định sẽ phải mua bao gram cà phê nguyên chất, bao nhiêu gram đường, bao nhiêm sữa, đá lạnh, cần 1 chiếc ly với chất liệu gì, bao nhiêu tiền, cần thêm những hương vị nào…

    Từ những thông chi tiết này bạn lập kế hoạch tính toán số lượng nguyên liệu cần sử dụng trong ca làm việc, 1 ngày làm việc, 1 tuần, 1 tháng. Càng rõ ràng bạn sẽ biết được số lượng nguyên liệu và hàng hóa cần phải đặt mua từ đối tác.

    Ngoài ra bạn còn phải xác định chu kỳ nhập hàng đầu vào, để làm điều này phải thống kê số lượng tách cà phê bán ra trong 1 khoảng thời gian nhất định, đánh giá xem kinh doanh có hiệu quả không , có nhất thiết phải tăng tần suất nhập nguyên liệu trong 1 tháng không, làm tốt công tác phân tích số liệu bạn sẽ tiết kiệm được một khoản lớn chi phí vận chuyển.

    c. Quản lý nhân viên

    Bạn cần tuyển 1 người quản lý có năng ổn và sở hữu cách quản lý quán cafe hiệu quả để giúp bạn quản lý hoạt động kinh doanh của toàn cửa hàng, đối với nhân viên pha chế và nhân viên phục vụ khác nên tuyển dụng những người đã có am hiểu hoặc và ít nhiều kinh nghiệm về cafe, điều này giúp bạn cắt giảm khoản thời gian đào tạo.

    Đối với một nhân viên bạn cần 1 kế hoạch bao gồm: Tuyển dụng, đào tạo nghiệp vụ, Bố trí và sử dụng nhân lực sau đào tạo sao cho phù hợp, trả tiền lương, thực hiện chính sách đãi ngộ… Làm sao bảo đảm nhân viên làm việc cho bạn cảm thấy họ nhận được nhiều lợi ích so với làm việc ở nơi khác.

    d. Kế hoạch tài chính

    Mục đích của kế hoạch tài chính là để biết được hạng mục chi tiêu nào sinh lợi nhiều hơn cả, đồng vốn nào không sinh lời, thông qua đó bạn sẽ cắt giảm chi phí cho hoạt động công việc không cần thiết cũng như phải đầu tư thêm tiềm cho những công việc quan trọng.

    Kế hoạch tài chính phải kết hợp chặt chẽ với hoạt động Marketing mặc dù Marketing nghe có vẻ to tát so với 1 quán cà phê, nhưng bạn nhất định phải làm tốt hoạt động tiếp thị. Về vấn đề chi tiêu sẽ viết trong phần 3, còn bây giờ chúng ta nghiên cứu sang phần hai.

    2. Chiến lược Marketing cho kinh doanh mở quán cafe hiệu quả

     

    a. Phân tích cạnh tranh ngành

     

    Mô thức Cạnh tranh Pichael Porter chỉ ra 5 yếu tố cạnh tranh lớn nhất trong ngành thì đối với quán cafe yếu tố : Đối thủ tiềm năng, đối thủ cạnh tranh đang kinh doanh trên khu phố hiện tại, Đồ ăn và thức uống có liên quan đến cạnh tranh với Cà phê như : Trà sữa, đồ ăn vặt, sinh tố hoa quả…

    Phân tích ngành là để biết rằng bạn có thể mở cửa hàng ở nơi đó hay không, có bao nhiêu đối thủ và những người nào thực sự là đối thủ đáng gớm với bạn, những người này là đối thủ mà bạn không thể đánh bật họ ra khỏi thị trường dễ dàng.

    Do vậy nhiệm vụ của việc phân tích là để biết được rằng có bao nhiêu quán cà phê tại khu vực kinh doanh, vốn đầu tư của họ nhiều đến cỡ nào, dịch vụ kinh doanh cà phê của họ khác biệt ở đâu… thông qua những thông tin này chúng ta khắc phục điểm yếu của mình và tập trung phát triển nhiều hơn thế mạnh

    b. Kế hoạch thúc đẩy bán hàng

    Đặc điểm của quán cà phê là kinh doanh theo vị trí cửa hàng, nếu địa điểm kinh doanh mới chỉ có 1-2 quán thì không nhiều và có thể san sẻ doanh thu/lợi nhuận. Nhưng nếu lợi ích nhiều thì chắc chắn sẽ có càng nhiều hơn đối thủ, tức là chúng ta phải hành động để thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Bởi vậy thúc đẩy bán hàng chắc chắn là việc sẽ phải làm, có nhiều cách thúc đẩy bán hàng như: Khuyến mại, tặng kèm sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng quen, tặng quà, giảm giá bán, tặng thêm tách cà phê cho một số khách hàng đáp ứng yêu cầu của 1 Game do cửa hàng tổ chức…

    c. Kế hoạch Xúc tiến cho hoạt động kinh doanh mỗi ngày

    Bạn có thể tổ chức 1 cuộc thi kéo dài trong nhiều tháng, đương nhiên là khách hàng sẽ được nhận giải thưởng như 1 chiếc điện thoại, vài vé xem phim, hoặc 1 món đồ dùng nào chẳng hạn. Cuộc thi giúp kết nối khách hàng và đối với những cặp đôi đang yêu nhau thì có thể bạn sẽ chính là những người kết nội họ gần lại với nhau hơn, họ rất có thể sẽ là khách hàng lâu dài của bạn trong tương lai.

    d. Tạo 1 công thức đồ uống mới

     

    Nếu bạn có am hiểu hoặc đã tham gia khóa học pha chế đồ uống thì bạn nên tự sáng tạo 1 công thức làm đồ uống mới, đặc biệt chưa xuất hiện trên thị trường, chúng ta giữ bí quyết này để thu hút được nhiều khách hàng hơn và họ chỉ có thể đến quán của bạn mới được thưởng thức hương vị đồ uống đó, đó sẽ là điểm khác biệt giúp bạn xây dựng thương hiệu trước khi chúng ta mở rộng thêm cửa hàng.

    3. Vốn dự trù cho ý tưởng setup quán cà phê

    a. Chi phí thuê mặt bằng để mở quán

    Mặt bằng được đánh giá lợi thế cạnh tranh đóng góp một phần vào việc phát triển cửa hàng để chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Khi chúng ta thuê mặt bằng mở quán cà phê bạn cần phải lập hợp đồng và trong hợp đồng cần thể hiện những yếu tố sau:

    Địa chỉ thuê mặt bằng, diện tích, phong cách và kết cấu không gian, chi phí thuê mặt bằng, phương thức thanh toán, thời gian trả tiền thuê mặt bằng, không nên thuê với thời hạn quá lâu vì rất có thể bạn đã đánh giá sai tiềm năng thị trường tại khu vực, sau một thời gian kinh doanh bạn có thể sẽ phải đóng cửa tiệm vì hoạt động không hiệu quả. Trong trường hợp bạn chắc chắn rằng bạn đã khảo sát và quyết định thị trường đó rất tiềm năng thì có thể thuê mặt bằng với thơi hạn khoảng 3-4 năm hoặc lâu hơn.

    • khu vực nội thành của Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng bạn có thuê một cửa hàng với diện tích khoảng 40m2-80m2 tùy vào số nhiều hay ít của bạn.

    Chi phí dự tính để thuê một không gian cho quán cafe nhỏ đẹp ở khu vực thành phố rộng 50m2: 10.000.000 VNĐ – 20.000.000 VNĐ tùy vào vị trí đặt cửa hàng ở trung tâm Quận hay khu vực bên ngoài Quận.

    b. Chi phí thiết kế và thi công quán cà phê

    Đối với vấn đề này có 2 khâu tách biệt: Thuê người làm thiết kế không gian sau đó thuê thợ thi công lắp đặt nội thất không gian theo bản thiết kế hoặc thuê 1 công ty vừa làm thiết và cả thi công.

    Hiện nay giá thiết kế và thi công trên thị trường khoảng: 220.000 VNĐ/ m2 không gian, 50m2

    thì tổng chi phí bằng: 11.000.000 VNĐ, còn nếu bạn chỉ thuê thiết không gian quán thì chi phí

    này khoảng : 130.000 VNĐ/m2.

    Khi thuê thiết kế và thi công bạn cần tìm hiểu và đặt vấn đề với đối tác là sử dụng loại chất liệu thi công nào, màu sắc, bố cục không gian, phù hợp với đối tượng khách hàng của bạn. Có nhiều bạn muốn kinh doanh quán cafe bình dân, hoặc lập kế hoạch kinh doanh quán cafe sinh viên, cafe cóc cũng có người muốn đầu tư theo mô hình cao cấp dành cho doanh nhân, giới văn phòng…

    Một số kiến thức cơ bản về cách trang trí quán cafe nhỏ

    Thiết kế quán cà phê bao gồm thiết kế bên trong và bên ngoài quán. Đối với bên ngoài bạn cần tìm hiểu về biển hiệu và chất liệu tường, màu sơn tường hoa văn và thiết kế mỹ thuật trên tường. Đối với bên trong quán bạn sử dụng tường kính hay tường sơn, các loại rèm, chất liệu lót tường bằng gỗ hay bằng những chất liệu khác.

    Ngoài ra bạn còn phải tính toán đến thảm lót sàn, đèn chùm, đèn thả, những vật dụng trang trí trên không gian.

    c. Chi phí cho Đồ dùng , vật dụng làm tài sản cố định khi kinh doanh cà phê

    Bạn cần chuẩn bị những loại dụng cụ sau:

    – Bàn, ghế các loại ( bàn đơn, bàn đôi, bàn nhiều người), giá đỡ: Chi phí dự tính khoảng 40.000.000 VNĐ

    – Giàn âm thanh cho cửa hàng: Chi phí dự tính khoảng 7.000.000 VNĐ

    – Bàn pha chế, các thiết bị rửa chén: 10.000.000 VNĐ

    – Ly, cốc, máy làm nước chà ( dùng làm nước trang miệng, uống nhấp môi)…: Dự tính chi phí khoảng 3.000.000 VNĐ.

    – Mãy làm cà phê tự động: Có nhiều loại máy pha cà phê khác nhau nhưng bạn có thể mua loại

    với giá: 20.000.000 VNĐ, hoặc nếu sản lượng bán hàng ít thì mua máy nhỏ với giá khoảng : 7.000.000 VNĐ.

    – Máy xay cà phê: 4.000.000 VNĐ

    – Máy xay sinh tố, máy làm đá bào: Dự tính chi phí 5.000.000 VNĐ

    d. Chi phí cho tiền hàng lưu động

    Bao gồm hạt cà phê, cà phê đã qua xay, sữa, chà, hoa quả, ước tính chi phí cho thời gian hoạt động ban đầu khoảng: 10.000.000 VNĐ

    e. Chi phí cho hoạt động Marketing

    Bao gồm chi phí quảng cáo, tiền viết bài Pr, tiền làm SEO, phát tờ rơi, khuyến mại, giảm giá bán….: Tổng chi phí này trong thời gian đầu dự tính khoảng 12.000.000 VNĐ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÁO CÁO MÔN THỰC TẬP THỰC TẾ TẠI NHÀ THUỐC THIÊN ÂN

    BÁO CÁO MÔN THỰC TẬP THỰC TẾ TẠI NHÀ THUỐC THIÊN ÂN

    BÁO CÁO MÔN THỰC TẬP THỰC TẾ TẠI NHÀ THUỐC THIÊN ÂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%81O-C%C3%81O-M%C3%94N-TH%E1%BB%B0C-T%E1%BA%ACP-TH%E1%BB%B0C-T%E1%BA%BE-T%E1%BA%A0I-NH%C3%80-THU%E1%BB%90C-THI%C3%8AN-%C3%82N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÁO CÁO MÔN THỰC TẬP THỰC TẾ TẠI NHÀ THUỐC THIÊN ÂN

    LỜI MỞ ĐẦU

    Qua 2 năm học tập ở trường TCTH Đông Nam Á, được sự giúp đỡ của nhà trường, em đã trải qua 3 đợt thực tế ở 3 cơ sở đó là Trạm y tế, Bệnh viện và nhà thuốc. Trong đó Nhà thuốc là nơi thực tập vô cùng quan trọng, bởi vì Nhà thuốc là nơi giúp em có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thuốc, trực tiếp tư vấn và bán thuốc cho bệnh nhân. Vì thế, Nhà thuốc là nơi tạo điều kiện thuận lợi, quan trọng để em sau này tốt nghiệp ra trường làm việc trong chuyên ngành của mình, đặc biệt là Nhà thuốc.

    Thuốc là một sản phẩm cần thiết ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Một người Dược sĩ biết cách bán thuốc, biết cách phối hợp thuốc và biết cách tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân thì bệnh nhân sẽ khỏi bệnh. Ngược lại, nếu người Dược sĩ bán thuốc không đúng cách thì bệnh nhân sẽ không khỏi bệnh. Có thể nói vai trò của người Dược sĩ trong Nhà thuốc là rất quan trọng, quyết định sinh mạng con người, cho nên người Dược sĩ cần phải nắm vững những kiến thức cần thiết về thuốc cho chuyên ngành của mình. Vì vậy, trước khi tốt nghiệp ra trường, chúng ta cần phải trải qua các đợt thực tập ở các cơ sở khác nhau, đặc biệt là Nhà thuốc.

    Bài Báo Cáo Thực Tập ở Nhà thuốc là một quyển tóm tắt lại quá trình học tập ở nhà trường và ở Nhà thuốc. Với những kiến thức còn hạn chế nên bài Báo Cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các quý thầy cô.  

     

    LỜI CẢM ƠN

    Suốt khoảng thời gian thực tập ở Nhà thuốc Thiên Ân, em thấy mình là người thực sự may mắn vì có được quý cô tận tình giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm bán thuốc trong Nhà thuốc. Và cũng nhờ quý cô mà em có được những kiến thức cần thiết cho riêng mình. Em vô cùng biết ơn quý cô đã giúp đỡ em trong thời gian qua. Em xin chân thành cảm ơn quý cô và xin chúc quý cô sức khỏe và thành đạt.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn đến các quý thầy cô ở trường TCTH Đông Nam Á đã giúp đỡ em trong thời gian qua và đã tạo điều kiện thuận lợi để em có một môi trường học tập tốt. Em xin chúc nhà trường ngày càng phát triển, các quý thầy cô dồi dào sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ dạy học của mình.

    Em xin trân trọng cảm ơn!

     

     

     

     

     

     

     

     

                                                                                                   

     

    PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP

    1. Tên và địa chỉ đơn vị thực tập

    Nhà thuốc Thiên Ân

    268/7 Phan Văn Hớn, KP6, Tân Thới Nhất, Q.12, TP. HCM

    (Dược sĩ phụ trách: Ngô Thanh Hằng).

    2. Nhiệm vụ và quy mô của tổ chức:

    2.1. Nhiệm vụ

    • Lập kế hoạch cung ứng thuốc đảm bảo số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị bệnh.
    • Quản lý, theo dõi việc bán lẻ thuốc theo nhu cầu điều trị bệnh và các nhu cầu khác.
    • Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP)
    • Thực hiện công tác tư vấn sử dụng thuốc, tham gia cảnh giác dược
    • Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
    • Quản lý hoạt động của Nhà thuốc theo đúng quy định
    • Trách nhiệm của chủ nhà thuốc:
      • Là nhà thuốc tư nhân, nên mọi hoạt động của nhà thuốc đều do dược sĩ điều hành, chỉ dẫn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về :
      • Chất lượng thuốc
      • Phương pháp kinh doanh
      • Thực hiện chế độ quản lý thuốc theo chế độ thuốc bán theo đơn và không bán theo đơn.
      • Lập kế hoạch sử dụng thuốc
      • Bảo đảm các loại thuốc thiết yếu
      • Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật.

    2.2. Quy mô tổ chức

    2.2.1. Cở sở vật chất

    • Nhà thuốc khang trang, sáng sủa trang trí đẹp mắt và vệ sinh sạch sẽ
    • Có quầy tủ chắc chắn để trình bày bảo quản thuốc, cân sức khỏe, phục vụ khách hàng.
    • Các thuốc được sắp xếp trong tủ, ngăn kéo, theo nhóm thuốc kê đơn và không kê đơn, theo nguồn ngoại nhập. Để đảm bảo 3 dễ: “Dễ lấy, dễ thấy, dễ kiểm tra” và theo nguyên tắc thuốc hết hạn trước xuất trước.
    • Nội quy nhà thuốc và bảng giá theo quy định
    • Từ điển tra cứu các loại thuốc tân dược
    • Báo cáo định kỳ các loại sổ sách hàng tháng, quý, năm

    2.2.2. Chế độ sổ sách, báo cáo, kiểm tra:

    • Tình hình kinh doanh nhà thuốc được thể hiện rõ ràng trên sổ sách và được cập nhật thường xuyên :
    • Sổ theo dõi lượng thuốc mua vào
    • Sổ theo dõi hằng ngày
    • Sổ theo dõi những mặc hàng nào khách hàng mua không có đơn tiện cho việc đặt hàng
    • Sổ theo dõi xuất nhập kho để theo dõi số lượng hàng.

    2.2.3. Cách trưng bày và phân loại thuốc trong nhà thuốc:

          Để thuận lợi cho việc bán thuốc và giao tiếp với khách hàng, nhà thuốc đặt phía ngoài một quầy bàn hình chữ L có chiều cao khoảng 1,2m để giao dịch, phía bên trong quầy là từng hộc sắp xếp thuốc theo từng nhóm rất dễ dàng cho việc bán thuốc. Phía ngoài là 2 tủ kính lớn để đặt những thuốc dùng ngoài cũng như thuốc Đông y.

    Thuốc được chia làm 2 nhóm: Thuốc nội và thuốc ngoại.

    2.2.4. Bảo quản thuốc:

    • Chất lượng thuốc tốt hay xấu điều ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, tính mạng và tiền của xã hội. Vì vậy, việc bảo quản nhằm giữ vũng chất lượng thuốc đây là một nhiệm vụ không thể thiếu được của những người làm công tác dược.
    • Các loại thuốc được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng và đảm bảo 3 dễ:
      • Dễ thấy
      • Dễ lấy
      • Dễ kiểm tra
        • Đồng thời cũng đảm bảo 5 chống :
        • Chống ẩm nóng
        • Chống mối mọt, nấm mốc
        • Chống cháy nổ
        • Chống quá hạn dùng
        • Chống nhầm lẫn, đỗ vỡ, mất mát.

    2.3. Chức năng và nhiệm vụ của dược sĩ trung cấp tại cơ sở:

    • Thực hiện quy trình bán thuốc theo sự hướng dẫn của dược sĩ phụ trách, tư vấn cho khách hàng về cách sử dụng thuốc và cách phòng ngừa bệnh, giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng, theo dõi và phản hồi tình hình sử dụng thuốc của khách hàng.
    • Sắp xếp, bảo quản thuốc theo yêu cầu của Nhà thuốc.
    • Tham gia dọn vệ sinh Nhà thuốc.

     

    PHẦN II: BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC TÂP – THỰC TẾ

    1. Các hình thức bán lẻ thuốc, địa bàn để mở cơ sở bán lẻ thuốc, phạm vi hoạt động

    • Nhà thuốc: Do Dược sĩ Đại học đứng tên phụ trách.

    Được mở tại địa bàn tất cả các địa phương trên cả nước. Phạm vi hoạt động của Nhà thuốc là được bán lẻ thuốc thành phẩm và pha chế thuốc theo đơn.

    • Quầy thuốc: Do Dược sĩ Đại học hoặc Dược sĩ Trung học đứng tên phụ trách.

    Được mở tại địa bàn huyện, xã của các huyện ngoại thành, ngoại thị đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Phạm vi hoạt động của Quầy thuốc là được bán lẻ thuốc thành phẩm.

    • Đại lý thuốc của doanh nghiệp: Do người có trình độ chuyên môn từ Dược tá trở lên đứng tên phụ trách.

    Được mở tại địa bàn các huyện, xã của các huyện ngoại thành, ngoại thị của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Phạm vi hoạt động của đại lý thuốc của doanh nghiệp là được bán lẻ thuốc thành phẩm theo doanh mục thuốc thiết yếu.

    • Tủ thuốc của Trạm y tế: Do người có trình độ chuyên môn từ Dược tá trở lên đứng tên phụ trách.

    Được mở tại địa bàn các xã của các huyện ngoại thành phố, ngoại thị xã đối của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Phạm vi hoạt động của tủ thuốc là được bán lẻ thuốc thành phẩm theo danh mục thuốc thiết yếu sử dụng cho tuyến y tế cấp xã.

    Lưu ý: Các cơ sở bán lẻ thuốc không được bán nguyên liệu hóa dược làm thuốc.

    2. Điều kiện kinh doanh thuốc

    Các loại giấy phép cần thiết để đủ điều kiện kinh doanh hình thức Nhà thuốc, Quầy thuốc.

    • Chứng chỉ hành nghề dược:
    • Được cấp cho cá nhân đăng ký hành nghề dược, do Giám đốc Sở Y tế cấp và có hiệu lực 5 năm kể từ ngày ký.
    • Người được cấp Chứng chỉ hành nghề dược phải có các điều kiện sau đây:
      • Có văn bằng, chứng chỉ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của từng hình thức kinh doanh thuốc.
      • Đã qua thực hành nghề nghiệp ít nhất từ 2 năm đến 5 năm tại cơ sở dược hợp pháp đối với từng hình thức kinh doanh.
      • Có đạo đức nghề nghiệp.
      • Có đầy đủ sức khỏe.
    • Giấy đăng ký kinh doanh

    Nhà thuốc tư nhân phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dược phẩm (do Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và đầu tư cấp tỉnh cấp) và đã được Sở Y tế, thành phố trực thuộc trung ương cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề bán lẻ thuốc.

    • Giấy chứng nhận đạt GPP

    Theo quy định mới nhất của Bộ Y tế về GPP, từ 2/2011, các Nhà thuốc không đạt chuẩn GPP chỉ được bán lẻ thuốc thuộc danh mục thuốc không kê đơn và chỉ hoạt động đến hết 31/12/2011.

    Giấy chứng nhận đạt chuẩn GPP có thời hạn 3 năm

    Để đạt chuẩn GPP, chủ Nhà thuốc phải có chứng chỉ hành nghề dược và có mặt tại cửa hàng thuốc trong thời gian hoạt động; Nhà thuốc phải có diện tích tối thiểu từ 10m2, được đặt ở địa điểm cố định; có đủ thiết bị để bảo quản thuốc…

    • Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc

    Được cấp cho cơ sở kinh doanh thuốc, do Giám đốc Sở Y tế và có hiệu lực 5 năm kể từ ngày ký.

    Cơ sở kinh doanh được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc phải có đủ các điều kiện sau đây:

    • Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự có trình độ chuyên môn cần thiết cho từng hình thức kinh doanh thuốc.
    • Người quản lý chuyên môn về dược đã được cấp Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với hình thức kinh doanh.

    3. So sánh điều kiện của cơ sở thực tập với nội dung quy định của GPP

    Nhà thuốc Thiên Ân là cơ sở thực tập đã đạt chuẩn GPP. Như vậy điều kiện của cơ sở thực tập tương đương với nội dung quy định của GPP. Dưới đây là điều kiện của cơ sở thực tập và cũng là nội dung quy định của GPP.

    3.1. Về nhân sự:

    • Người phụ trách hoặc chủ Nhà thuốc phải có chứng chỉ hành nghề dược (Dược sĩ Đại học).
    • Nhân lực thích hợp và đáp ứng quy mô hoạt động.
    • Nhân viên có văn bằng chuyên môn về dược và thời gian thực hành nghề nghiệp phù hợp, đủ sức khỏe, không bị bệnh truyền nhiễm, không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên có liên quan đến chuyên môn y dược.

    3.2. Về diện tích xây dựng và thiết kế, bố trí các vị trí trong Nhà thuốc:

    • Diện tích tối thiểu 10 m2 (Diện tích cơ sở thực tập – Nhà thuốc Thiên Ân là 12m2, phù hợp với quy mô kinh doanh), có khu vực trưng bày bảo quản, giao tiếp khách hàng, có nơi rửa tay dành cho người bán thuốc, khu vực dành riêng cho tư vấn khách hàng và ghế ngồi chờ, có khu vực dành riêng cho những sản phẩm không phải là thuốc.
    • Địa điểm cố định riêng biệt, cao ráo, thoáng mát, an toàn, cách xa nguồn ô nhiễm, xây dựng chắc chắn có trần ngăn bụi, nền dễ làm vệ sinh và đủ ánh sáng

    3.3. Thiết bị bảo quản thuốc

    • Nhà thuốc có đủ thiết bị bảo quản thuốc, tránh được những ảnh hưởng bất lợi đối với thuốc.
    • Nhà thuốc có tủ, quầy, giá, kệ chắc chắn, trơn nhẵn, dễ vệ sinh, thuận tiện cho bày bán, bảo quản và đảm bảo thẩm mỹ, có nhiệt ẩm kế, có hệ thống thông gió và chiếu sáng.

    3.4. Hồ sơ, sổ sách, tài liệu chuyên môn

    • Nhà thuốc có đủ tài liệu hướng dẫn sử dụng thuốc và các quy chế được hiện hành.
    • Có hồ sơ, sổ sách liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc, gồm sổ sách và máy tính, có phần mềm quản lý thuốc tồn trữ, hồ sơ, sổ sách lưu dữ liệu về bệnh nhân, về hoạt động mua bán thuốc, pha chế thuốc.
    • Các hồ sơ sổ sách phải lưu trữ ít nhất là 1 năm kể từ khi thuốc hết hạn dùng.
    • Xây dựng và thực hiện các quy trình thao tác chuẩn cho tất cả quy trình chuyên môn.

    4. Các hoạt động chủ yếu của một cơ sở bán lẻ thuốc

    4.1. Mua thuốc

    • Nguồn thuốc được mua tại cơ sở kinh doanh thuốc hợp pháp.
    • Có hồ sơ theo dõi, lựa chọn các nhà cung cấp có uy tín, đảm bảo chất lượng thuốc trong quá trình kinh doanh.
    • Chỉ mua các thuốc được phép lưu hành. Thuốc mua còn nguyên vẹn và có đầy đủ bao gói của nhà sản xuất, nhãn đúng quy định theo quy chế hiện hành. Có đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ của thuốc mua về.
    • Khi nhập thuốc, người bán lẻ kiểm tra hạn dùng, kiểm tra các thông tin trên nhãn thuốc theo quy chế ghi nhãn, kiểm tra chất lượng và có kiểm soát trong quá trình bảo quản.
    • Nhà thuốc phải có đủ thuốc thuộc Danh mục thuốc thiết yếu dùng cho tuyến C trong Danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam do Sở Y tế địa phương quy định.

    4.2. Bán thuốc

    Các bước cơ bản trong hoạt động bán thuốc, bao gồm:

    • Người bán lẻ hỏi người mua những câu hỏi có liên quan đến bệnh, đến thuốc mà người mua yêu cầu.
    • Người bán lẻ thuốc tư vấn cho người mua về lựa chọn thuốc, cách dùng thuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc bằng lời nói. Trường hợp không có đơn thuốc kèm theo, người bán lẻ phải hướng dẫn sử dụng thuốc thêm bằng cách viết tay hoặc đánh máy, in gắn lên đồ bao gói.
    • Người bán lẻ thuốc cung cấp các thuốc phù hợp, kiểm tra đối chiếu thuốc bán ra về nhãn thuốc, cảm quan về chất lượng, số lượng, chủng loại thuốc.

    4.3. Các quy định về tư vấn cho người mua

    • Người mua thuốc cần nhận được sự tư vấn đúng đắn, đảm bảo hiệu quả điều trị và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng.
    • Người bán lẻ phải xác định rõ trường hợp nào cần có tư vấn của người có chuyên môn phù hợp với loại thuốc cung cấp để tư vấn cho người mua thông tin về thuốc, giá cả và lựa chọn các thuốc không cần kê đơn.
    • Đối với người bệnh cần phải có chẩn đoán của thầy thuốc mới có thể dùng thuốc, người bán lẻ cần phải tư vấn để bệnh nhân tới khám thầy thuốc chuyên môn thích hợp hoặc bác sĩ điều trị.
    • Đối với người mua thuốc chưa cần thiết phải dùng thuốc, nhân viên bán thuốc cần giải thích rõ cho họ hiểu và tự chăm sóc, tự theo dõi triệu chứng bệnh.
    • Đối với bệnh nhân nghèo, không đủ khả năng chi trả thì người bán lẻ cần tư vấn lựa chọn loại thuốc có giá cả hợp lý, đảm bảo điều trị bệnh và giảm tới mức thấp nhất khả năng chi phí.
    • Không được tiến hành các hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc tại nơi bán thuốc trái với quy định về thông tin quảng cáo thuốc, không khuyến khích người mua coi thuốc là hàng hóa thông thường và không khuyến khích người mua mua thuốc nhiều hơn cần thiết.

    4.4. Bán thuốc theo đơn

    • Khi bán các thuốc theo đơn phải có sự tham gia trực tiếp của người bán lẻ có trình độ chuyên môn phù hợp và tuân thủ theo các quy định, quy chế hiện hành của Bộ Y tế về bán thuốc theo đơn.
    • Người bán lẻ phải bán theo đúng đơn thuốc. Trường hợp phát hiện đơn thuốc không rõ ràng về tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, số lượng hoặc có sai phạm về pháp lý, chuyên môn hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, người bán lẻ phải thông báo lại cho người kê đơn biết.
    • Người bán lẻ giải thích giải thích rõ cho người mua và có quyền từ chối bán thuốc theo đơn trong các trường hợp đơn thuốc không hợp lệ, đơn thuốc có sai sót hoặc nghi vấn, đơn thuốc kê không nhằm mục đích chữa bệnh.
    • Người bán lẻ là người Dược sĩ đại học có quyền thay thế thuốc bằng môt thuốc khác có cùng hoạt chất, dạng bào chế, cùng liều lượng khi có sự đồng ý của người mua.
    • Người bán lẻ hướng dẫn người mua về cách sử dụng thuốc, nhắc nhở thực hiện đúng đơn thuốc.
    • Sau khi bán thuốc gây nghiện, nhân viên nhà thuốc phải vào sổ, lưu đơn thuốc bản chính.

    4.5. Bảo quản thuốc

    • Thuốc được bảo quản theo yêu cầu ghi trên nhãn thuốc.
    • Thuốc được sắp xếp theo tác dụng dược lý.
    • Các thuốc kê đơn nếu được bày bán và bảo quản tại khu vực riêng có ghi rõ “Thuốc kê đơn” hoặc trong cùng một khu vực phải để riêng các thuốc bán theo đơn. Việc sắp xếp đảm bảo sự thuận tiện, tránh nhầm lẫn.

    5. Yêu cầu đối với người bán lẻ thuốc

    5.1. Đối với người làm việc trong cơ sở bán lẻ thuốc

    • Có thái độ hòa nhã, lịch sự khi tiếp xúc với người mua thuốc.
    • Hướng dẫn, giải thích, cung cấp thông tin và lời khuyên đúng đắn về cách dùng thuốc cho người mua hoặc bệnh nhân và có các tư vấn cần thiết nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả.
    • Giữ bí mật các thông tin về người bệnh trong quá trình hành nghề như bệnh tật, các thông tin người bệnh yêu cầu.
    • Trang phục áo Blouse trắng, sạch sẽ, gọn gàng và phải đeo bản tên.
    • Thực hiện đúng các quy chế dược, tự nguyện tuân thủ đạo đức hành nghề dược.
    • Thường xuyên tham gia các lớp đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn và pháp luật Y tế..

    5.2. Đối với người quản lý chuyên môn hoặc chủ cơ sở bán thuốc:

    • Phải thường xuyên có mặt trong lúc hoạt động
    • Trực tiếp tham gia việc bán các thuốc kê đơn, tư vấn cho người mua thuốc.
    • Đào tạo hướng dẫn các nhân viên tại cơ sở bán lẻ.
    • Theo dõi và thông tin cho cơ quan Y tế về tác dụng có hại của thuốc.

    6. Danh mục thuốc được phép kinh doanh tại Nhà thuốc (kể tên ³ 30 loại thuốc kèm hình chụp hoặc bao bì)

    THUỐC KHÁNG SINH

    Cefalexin 500 mg                                                     Amoxicillin 500 mg

    Lincomycin 500 mg                                              Ampicillin 500 mg

    THUỐC GIẢM ĐAU – KHÁNG VIÊM

    Paracetamol 500 mg                                     Fencecod (Ibuprofen 200mg, Codein 8 mg)

    Hapacol (Paracetamol 500mg,                Dozoltac (Paracetamol 325 mg,

    Codein phosphat 30mg)                                          Clorpheniramin 4 mg)

    THUỐC TIÊU HÓA

    TV – Omeprazol (Omeprazole)                      No – spa (Drotaverine)

    Domperidon                                               Ercefuryl (Nifuroxazide 200mg)

    Smecta (Diosmectite 3g)                                Bisacodyl 5mg

    Oresol (Gói 27,9g, gồm có:

    Sodium chloride, Potassium chloride,                      Sorbitol 5 g

    Sodium citrate)

    Duphalac (Lactulose 10g/15ml)                   Sagofene (Natri thiosulfat)

    THUỐC CHỮA HO HEN

    Amproxol                                                                Bromhexin 8mg

    Tragutan (Eucaluptol 100mg, Tinh dầu tần 0,18mg,

    Tinh dầu gừng 0,5mg, Menthol 0,5mg)

     
       

    THUỐC THAY THẾ HORMON

    Metformin 500mg                                        Mifestad 10 (Mifepristone 10mg)

    THUỐC CHỮA BỆNH NGOÀI DA

    Nước Oxy già 10 thể tích 3%                                Maxgel (Betametasone,

    (Hydrogen peroxyl 30ml)                                      Clotrimazole, Gentamicin)

    Kem nghệ Ery (Tinh chất nghệ,Erythromycin)

    THUỐC CHỮA MẮT, TAI MŨI HỌNG

    Neocin (Neomycin sulfat 5ml/ 25mg)                  Efticol (Natri clorid 10ml/ 0,9%)

    Nostravin (Xylometazoline 8ml)                           Coldi b (Oxymetazoline 15ml)

    THUỐC KHÁNG HISTAMIN H1

    Nautamine (Diphenhydramine 90mg)                        Loratadin 10mg

    Cetirizin 10mg

    VITAMIN VÀ KHOÁNG CHẤT

    Vitamin C (Acid ascorbic 1000mg)                      Vitamin B1 (Thiamin 50mg, 250mg)

    Vitamin E 400 (Tocoferol 400 mg)                       Vitamin B6 (Pyridoxine 250mg).

    7. Hoạt động hướng dẫn sử dụng thuốc

    Bệnh nhân 1:

    Họ tên: Nguyễn Thị Hoa

    Tuổi: 36

    Giới tính: Nữ

    Nghề nghiệp: Công nhân

    Địa chỉ: KP6A, P. Tân Thới Nhất, Q.12

    Chẩn đoán: Viêm đa khớp

    1) Diclofenac 50mg 15 viên

    1 viên x 3 lần/ngày

    2) Paracetamol 500mg         15 viên

    1 viên x 3 lần/ngày

    3) Vitamin B1 250mg          10 viên

    1 viên x 2 lần/ngày

    4) Vitamin A-D                     10 viên

    1 viên x 2 lần/ngày

    Giải thích:

    1) Diclofenac: Giảm đau – kháng viêm không steroid, giảm đau trong các trường hợp đau xương và cơ

    2) Peracetamol và Diclofenac: hiệp lực tác dụng giảm đau

    3) Vitamin B1: Chống mệt mỏi, tăng tác dụng giảm đau khớp

    4) Vitamin A-D: có tác dụng làm xương khớp khỏe mạnh.

    Bệnh nhân 2:

    Họ tên: Tô Thanh Ngọc

    Tuổi: 64

    Giới tính: Nam

    Nghề nghiệp: Buôn bán

    Địa chỉ: KP2, P. Tân Thới Nhất, Q.12

    Chẩn đoán: Viêm phế quản

    1) Amoxicilin 500mg              15 viên

    1 viên x 3 lần/ngày

    2) Paracetamol 500mg              15 viên

    1 viên x 3 lần/ngày

    3) achymotripsin          20 viên

    2 viên x 2 lần/ngày

    4) Salbutamol 2mg        30 viên

    2 viên x 3 lần/ngày

    5) Mg B6

    1 viên x 2 lần/ngày

    Giải thich:

    1) Amoxicillin: Kháng sinh có tác dụng trị nhiễm trùng hô hấp

    2) Paracetamol: Hạ nhiệt, giảm đau

    3) achymotripsin: Thuốc kháng viêm dạng men

    4) Salbutamol: Giãn phế quản

    5) Mg B6: Vitamin – Khoáng chất.

    Bệnh nhân 3:

    Họ tên người bệnh: Lê Văn Chu

    Tuổi: 56

    Giới tính: Nam

    Nghề nghiệp: Sửa xe máy

    Địa chỉ: KP7, Tân Thới Nhất, Q.12

    Chẩn đoán: Cao huyết áp, tiểu đường.

    1) Amlodipin 5mg    20 viên

    1 viên x 2 lần/ngày

    2) Metformin 850mg           20 viên

    1 viên x 2 lần/ngày

    3) Vitamin C 500mg            10 viên

    1 viên x 2 lần/ngày

    4) Paracetamol 500mg         15 viên

    1 viên x 3 lần/ngày

    Giải thích:

    1) Amlodipin: Điều trị tăng huyết áp

    2) Metformin: Điều trị tiểu đường

    3) Vitamin C: Tăng cường sức đề kháng cơ thể

    4) Paracetamol: Hạ nhiệt, giảm đau.

    Bệnh nhân 4:

    Họ tên: Trần Minh

    Tuổi: 37

    Giới tính: Nam

    Nghề nghiệp: Công nhân

    Địa chỉ: KP7, P. TTN, Q.12

    Chẩn đoán: Viêm hô hấp trên

    1) Cefalexin 500 mg            15 viên

    1 viên/lần x 3 lần/ngày.

    2) Seratiopeptidase  15 viên

    1 viên/lần x 3 lần/ngày.

    3) Paracetamol 500 mg              15 viên

    1 viên/lần x 3 lần/ngày.

    4) Bromhexin 8 mg

    1 viên/lần x 3 lần/ngày.

    Giải thích:

    1) Kháng sinh Cefalexin có tác dụng diệt khuẩn.

    2) Seratiopeptidase: Kháng viêm.

    3) Paracetamol: Hạ nhiệt, giảm đau.

    4) Bromhexin: Trị viêm phế quản, viêm hô hấp mãn, bệnh phổi tắt nghẽn mãn, giãn phế quản…

    Bệnh nhân 5:

    Họ tên: Nguyễn Thị Ái

    Tuổi: 60

    Giới tính: Nữ

    Nghề nghiệp: Buôn bán

    Địa chỉ: KP5, P. TTN, Q. !2

    Chẩn đoán: Rối loạn tiền đình

    1) Cinnarizin 25 mg 15 viên

    1 viên/lần x 3 lần/ngày.

    2) Paracetamol 500 mg            15 viên

    1 viên/lần x 3 lần/ngày.

    3) Mg B6                    10 viên

    1 viên/lần x 2 lần/ngày.

    Giải thích:

    1) Cinnarizin: Trị rối loạn tiền đình

    2) Paracetamol: Hạ nhiệt, giảm đau.

    3) Mg B6: Tăng tác dụng giảm đau.

    8. Một số nhãn thuốc của Nhà thuốc

    THUỐC GIẢM ĐAU – KHÁNG VIÊM

    ALAXAN

    Thành phần:

    Mỗi viên nén chứa:

    Ibuprofen…………………………………………… 200 mg

    Paracetamol………………………………………. 325 mg

    Chỉ định:

    • Giảm các cơn đau cơ xương nhẹ đến trung bình như đau cổ, đau vai, đau lưng, căng cơ bắp tay hoặc bắp chân, cứng cơ cổ, viêm khớp, thấp khớp, viêm bao hoạt dịch, bong gân, viêm gan.
    • Giảm nhức đầu vì căng thẳng tinh thần, đau bụng kinh, nhức răng, đau sau nhổ răng và tiểu phẫu.

    Liều lượng và cách dùng:

    Giống như các thuốc kháng viêm không steroid khác, nên dùng ibuprofen + paracetamol ở liều thấp nhất trong thời gian ngắn nhất mà có hiệu quả tốt.

    • Người lớn và trẻ từ 12 tuổi trở lên: uống 1 viên mỗi 6 giờ khi cần, hoặc uống theo hướng dẫn của bác sĩ.
    • Không dùng nhiều hơn liều đã hướng dẫn.
    • Không dùng quá 10 ngày nếu không có sự hướng dẫn của bác sĩ.

    Chống chỉ định:

    Bệnh nhân dị ứng với paracetamol, ibuprofen, aspirin, các kháng viêm không steroid khác, tiền sử đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp không được kiểm soát, suy tim sung huyết, có thai hoặc cho con bú, loét tiêu hóa tiến triển, bệnh gan thận nặng, hen hoặc co thắt phế quản, rối loạn chảy máu.

    IBUPARAVIC

    Công thức:

    Paracetamol………………………………………. 300 mg

    Ibuprofen…………………………………………… 200 mg

    Cafein……………………………………………….. 20 mg

    Tá dược v.đ……………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    Dùng trong các trường hợp đau nhức như nhức đầu, nhức răng, đau bụng khi có kinh, đau nửa đầu, đau nhức thần kinh, viêm đau khớp sau phẫu thuật, thấp khớp.

    Liều dùng:

    • Người lớn: mỗi lần uống 1-2 viên, ngày 3 lần.
    • Trẻ em: theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

    Chống chỉ định:

    • Rối loạn tầm trong chức năng gan hay thận.
    • Triệu chứng thiếu máu tan huyết bẩm sinh, rối loạn chuyển hóa Porphyrin gan cấp tính.
    • Dị ứng với thành phần của thuốc.
    • Không dùng cho trẻ sơ sinh, không dùng trong thai kỳ.

    Tác dụng phụ:

    • Rối loạn tiêu hóa: buồn nôn, ối mửa, khó tiêu, đau dạ dày, đau thượng vị
    • Phản ứng quá mẫn: ở da, ở hệ hô hấp, phù.

    Thông báo cho bác sĩ biết những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

    Tương tác thuốc:

    • Dùng đồng thời ibuprofen với các thuốc chống đông loại coumarin có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết.
    • Dùng kèm với acid salicylic có thể hạ thấp nồng độ ibuprofen trong máu và làm giảm hoạt tính kháng viêm.
    • Dùng lâu dài paracetamol với liều cao có thể làm tăng tác động giảm prothrombin huyết của thuốc chống đông máu.

    PANADOL

                                                          VIÊN SỦI

    Thành phần:

    Paracetamol………………………………………. 500 mg

    Tá dược v.đ……………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    • Điều trị cơn đau từ nhẹ đến vừa bao gồm:

    Đau đầu, đau nửa đầu, đau bụng kinh, đau họng, đau cơ xương khớp, sốt và đau sau tiêm phòng, đau sau các thủ thuật nha khoa/nhổ răng, đau răng, đau trong viêm khớp mạn tính.

    • Hạ sốt

    Liều lượng và cách dùng:

    Người lớn, trẻ em từ 12 tuổi trở lên:

    • Hòa tan 1-2 viên trong ít nhất nửa cốc nước cho mỗi 4-6 giờ nếu cần.
    • Không đề nghị dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi.
    • Khoảng cách tối thiểu dùng liều lặp lại: 4 giờ.
    • Liều dùng hằng ngày tối đa cho người lớn: 4000 mg/ngày (8 viên/ngày).
    • Không nên sử dụng với các thuốc khác có chứa paracetamol.
    • Không dùng quá liều chỉ định.

    Chống chỉ định:

    Chống chĩ định dùng PANADOL viên sủi cho những bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với paracetamol hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.

    Thận trọng và cảnh báo đặc biệt:

    • Để xa tầm tay trẻ em.
    • Nếu các triệu chứng còn dai dẳng, hỏi ý kiến bác sĩ.
    • Mỗi viên thuốc PANADOL viên sủi chứa 427 mg Natri, do vậy không dùng PANADOL viên sủi cho bệnh nhân kiêng muối.

    Tác dụng phụ:

    • Da và các phần phụ: Nhạy cảm, phát ban da/mày đay, phù mạch.
    • Hệ thống hô hấp: Làm nặng thêm bệnh co thắt phế quản đã được biết đến ở những bệnh nhân nhạy cảm với aspirin và các thuốc chống viêm khác.
    • Hệ tạo máu: Loạn thể tạng.

    DECOLGENÒ Ace

    Công thức:

    Mỗi viên chứa:

    Acetaminophen…………………………………. 500 mg

    Tá dược v.đ……………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    • DecolgenÒ Ace rất hữu hiệu trong điều trị các chứng nhức đầu do căng thẳng, stress, đau nửa đầu, mất ngủ, viêm xoang và do thời tiết.
    • DecolgenÒ Ace hiệu quả trong điều trị các chứng đau như đau răng, đau bụng kinh, đau cơ, đau dây thần kinh, thấp khớp, viêm khớp và đau cơ xương.
    • DecolgenÒ Ace cũng rất hiệu quả trong hạ sốt.

    Liều dùng:

    Cho những trường hợp nhẹ:

    • Trẻ em trên 6 tuổi…………………………… 1/2 viên
    • Người lớn……………………………………….. 1 viên

    Cho những trường hợp từ trung bình đến nặng:

    • Trẻ em trên 6 tuổi…………………………… 1 viên
    • Người lớn……………………………………….. 2 viên

    Uống DecolgenÒ Ace 3 hoặc 4 lần một ngày, nên uống sau khi ăn.

    Tác dụng phụ:

    Acetaminophen tương ứng không độc ở liều điều trị. Phản ứng ngoài da gồm ban sần ngứa và mề đay hiếm khi được ghi nhận.

    Chống chỉ định:

    Mẫn cảm với thuốc hoặc suy thận.

    Lưu ý: Nên sử dụng theo liều đề nghị vì quá liều nghiêm trong có thể gây độc tính trên gan ở một số bệnh nhân.

     

     

     

     

    IPALZAC

    Công thức:

    Acid mefenamic………………………………… 250 mg

    Tá dược (Tinh bột sắn: 80 mg, Talc: 12 mg, Magnesi stearat: 8 mg).

    Chỉ định:

    • Đau kinh và rong kinh, đau nhức cơ thể và đau viêm thần kinh từ nhẹ đến tương đối nặng.
    • Nhức đầu, đau nửa đầu, đau do chấn thương, sau sanh, hậu phẫu, đau răng và sốt sau bất kỳ tình trang viêm nào.

    Liều dùng: Uống sau bữa ăn

    • Người lớn: 2 viên x 3 lần/ngày.
    • Trẻ em: Theo sự chỉ định của bác sĩ, liều trung bình 5 mg/kg cân nặng/24 giờ.

    Thận trọng:

    Loét dạ dày tá tràng cấp

    Tác dụng phụ:

    • Rối loạn tiêu hóa, nổi mẫn da, mề đay, chóng mặt, trầm cảm, giảm bạch cầu thoáng qua
    • Làm nặng hơn các cơn hen, co giật cơ lớn.

    Tương tác thuốc:

    Tránh dùng phối hợp với 1 loại thuốc loại thuốc chống viêm không phải steroid khác, vì tăng nguy cơ loét dạ dày và chảy máu đường tiêu hóa.

    THUỐC KHÁNG SINH

    LINCOMYCIN

    Thành phần: Mỗi viên nang chứa:

    Lincomycin hydrochloride BP tương đương với Lincomycin 500 mg

    Chỉ định:

    Điều trị những nhiễm khuẩn do các chuẩn ưa khí Gram dương nhạy cảm với thuốc (như liên cầu, phế cầu, tụ cầu) hoặc do các khuẩn kỵ khí nhạy cảm như nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và dưới, nhiễm khuẩn da và mô mềm, nhiễm khuẩn xương khớp, nhiễm khuẩn huyết và viêm màng trong tim.

    Liều lượng và cách dùng:

    Uống thuốc ít nhất 1 giờ trước khi ăn.

    • Người lớn: Nhiễm khuẩn chưa thật nghiêm trọng, uống mỗi lần 500 mg, cách quãng 8 giờ. Nhiễm khuẩn nghiêm trọng mỗi lần 500 mg cách quãng 6 giờ.
    • Trẻ em: Mỗi lần 30 mg/kg thể trọng, cách quãng 6-8 giờ, tùy thuộc độ tầm trọng của nhiễm khuẩn.

    Chú thích: Nếu nhiễm liên cầu b làm tan máu, phải duy trì dùng lincomycin ít nhất 10 ngày, để giảm khả năng có thể sốt đa khớp hoặc viêm tiểu cầu thận tiếp theo.

    Chống chỉ định:

    Người bệnh trước đây có mẫn cảm với Lincomycin.

    Tác dụng phụ:

    • Tiêu hóa: Buồn nôn, khó chịu vùng bụng, tiêu chảy kéo dài và khi uống có thể viêm thực quản..
    • Huyết học: Giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu, mất bạch cầu hạt và ban xuất huyết giảm tiểu cầu.
    • Phản ứng quá mẫn cảm: Phù thần kinh mạch, bệnh huyết thanh và phản vệ, gặp ở một số người quá nhạy cảm với penicillin.
    • Hiếm: Ban đỏ đa dạng có khi giống hội chứng Steven-Johnson.
    • Da và màng nhày: Ngứa, phát ban ngoài da, mề đay, viêm âm đạo, hiếm gặp viêm da phồng mun nước và tróc mảng.
    • Gan: Vàng da, test chức năng gan bất thường.

    DOVOCIN 500mg

    Thành phần:

    Levofloxacin hemihydrat tương ứng Levofloxacin…………. 500 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………………………………………….. 1 viên

    Chỉ định: Điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn do các vi khuẩn nhạy cảm với Levofloxacin:

    • Viêm xoang cấp
    • Nhiễm khuẩn hô hấp: viêm phế quản cấp và mạn, viêm phổi, áp xe phổi
    • Nhiễm khuẩn đường tiểu có và không có biến chứng
    • Viêm thận-bể thận
    • Nhiễm khuẩn da và cấu trúc da.

    Chống chỉ định:

    • Quá mẫn với Levofloxacin hoặc các quinolone khác hoặc các thành phần của thuốc
    • Tiền sử co giật, động kinh
    • Bệnh nhân đau gân cơ liên quan đến việc sử dụng fluoroquinolone
    • Phụ nữ đang mang thai và cho con bú
    • Trẻ em hoặc thanh thiếu niên đang trong thời kỳ tăng trưởng (dưới 18 tuổi).

    Tương tác thuốc: Dùng cách 2 giờ với các ion kim loại, thuốc kháng acid chứa Magne, nhôm, sucralfate do có thể làm giảm hấp thu Levofloxacin.

    • Ngưỡng co giật ở não có thể giảm đáng kể khi dùng Levofloxacin với Theophyllin, Fenbufen, NSAID.
    • Nên thận trong khi dùng chung levofloxacin với những thuốc ảnh hưởng sự bài tiết ở ống thận như probenecid và cimetidine, đặc biệt là trên bệnh nhân suy thận.
    • Dùng Levofloxacin chung với thuốc kháng Vitamin K (warfarin) làm kéo dài thời gian đông máu.

    Tác dụng phụ:

    Thường gặp: Buồn nôn, tiêu chảy, tăng enzyme gan.

    Ít gặp: Chán ăn, ói mửa, khó tiêu, đau bụng, nổi mẫn, ngứa, nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, mất ngủ, tăng bilirubin và creatinine huyết thanh, tăng bạch cầu ái toan và giảm bạch cầu.

    Ngoài ra còn có một số tác dụng phụ hiếm gặp khác.

    Cách dùng và liều dùng: Dùng uống

    Cách dùng: Dùng uống trong hoặc ngoài bữa ăn.

    • Người lớn có chức năng thận bình thường (thanh thải creatinine > 50 ml/phút):
      • Viêm xoang cấp: uống 500 mg x 1 lần/ngày, trong 10-14 ngày.
      • Đợt kịch phát cấp của viêm phế quản mạn: uống 500 mg x 1 lần/ngày, trong 7-10 ngày.
      • Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng: uống 500 mg x 1-2 lần/ngày, trong 7-14 ngày.
    • Người lớn bị suy thận (thanh thải creatinine £ 50 ml/phút):
      • Độ thanh thải creatinine từ 50-20 ml/phút: liều đầu 500 mg, liều sau đó 250 mg mỗi 12 giờ hoặc 24 giờ.
      • Độ thanh thải creatinine từ 19-10 ml/phút: liều đầu 500 mg, liều sau đó 125 mg mỗi 12 giờ hoặc 24 giờ.
      • Độ thanh thải creatinine dưới 10 ml/phút: liều đầu 500 mg, liều sau đó 125 mg mỗi 24 giờ.

    AMOXICILIN 500 mg

    Công thức: cho 1 viên

    Amoxicillin……………………………………….. 500 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    • Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên.
    • Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới do liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn. không tiết penicilinase và H.influenzae.
    • Nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng.
    • Bệnh lậu.
    • Nhiễm khuẩn đường mật.
    • Nhiễm khuẩn da, cơ do liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, E.coli nhạy cảm với Amoxicilin.

    Chống chỉ định:

    Người bệnh có tiền sử dị ứng với bất kỳ loại Penicilin nào và Cephalosporin.

    Tương tác thuốc:

    • Hấp thu Amoxicilin không bị ảnh hưởng bởi thức ăn trong dạ dày, do đó có thể uống trước hoặc sau bữa ăn.
    • Nifedipin làm tăng hấp thu Amoxicilin.
    • Khi dùng Alopurinol cùng Amoxicilin sẽ làm tăng khả năng phát ban của Amoxicilin.
    • Có thể có sự đối kháng giữa chất diệt khuẩn Amoxicilin và các chất kìm khuẩn như: Cloramphenicol, Tetracyclin.

    Tác dụng phụ:

    Thường gặp, ADR > 1/100

    Ngoại ban (3-10%), thường xuất hiện chậm, sau 7 ngày điều trị.

    Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

    • Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, tiêu chảy.
    • Phản ứng quá mẫn: Ban đỏ, ban dát sần và mày đay, đặc biệt là hội chứng Stevens-Johnson.

    Hiếm gặp, ADR < 1/1000

    • Gan: Tăng nhẹ SGOT
    • Thần kinh trung ương: Kích động, vật vã, lo lắng, mất ngủ, lú lẫn, thay đổi ứng xử và/ hoặc chóng mặt.
    • Máu: Thiếu máu, giảm tiểu cầu, ban xuất huyết giảm tiểu cầu, tăng bạch cầu ưa eosin, giảm bạch cầu, mất bạch cầu hạt.

    Liều dùng và cách dùng: Uống thuốc trước bữa ăn 30 phút hoặc sau bữa ăn 2 giờ.

    • Người lớn và trẻ em từ 12 tuổi trở lên: uống 1-2 viên/lần, cách 8 giờ 1 lần.
    • Trẻ em dưới 12 tuổi nên dùng dạng bào chế có hàm lượng nhỏ hơn.
    • Liều cao hơn, uống liều duy nhất hoặc trong các đợt ngắn, được dùng trong một vài bệnh:
    • Để điều trị áp xe quanh răng: uống 6 viên/lần, nhắc lại một lần nữa sau 8 giờ.
    • Để điều trị nhiễm khuẩn cấp đường tiết niệu không biến chứng: uống 6 viên/lần, nhắc lại một lần nữa sau 10-12 giờ.
    • Dùng phác đồ liều cao 6 viên/lần, 2 lần/ngày cho người bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp nặng hoặc tái phát.
    • Đối với người suy thận, phải giảm liều theo hệ số thanh thải Creatinin:
    • Cl creatinin < 10 ml/phút: 500 mg/24 giờ.
    • Cl creatinin > 10 ml/phút: 500 mg/12 giờ.

    THUỐC KHÁNG HISTAMIN H1

    CHLORPHENIRAMINE 4 mg

    Công thức:

    Chlorpheniramine maleate………………… 4 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    • Viêm mũi dị ứng mùa và quanh năm.
    • Những triệu chứng dị ứng khác.
    • Mày đay, viêm mũi vận mạch do histamine, viêm kết mạc dị ứng, viêm da tiếp xúc, phù mạch, phù Quinke, dị ứng thức ăn, phản ứng huyết thanh.
    • Côn trùng đốt.
    • Ngứa ở người bệnh bị sởi hoặc thủy đậu.

    Cách dùng:

    • Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi: 1 viên, mỗi 4-6 giờ. Tối đa 6 viên/ngày.
    • Trẻ em từ 6-12 tuổi: 1/2 viên, mỗi 4-6 giờ. Tối đa 3 viên/ngày.
    • Trẻ em từ 2- dưới 6 tuổi: 1/4 viên, mỗi 4-6 giờ. Tối đa 1½ viên/ngày.
    • Trẻ em dưới 2 tuổi: dùng theo chỉ dẫn của bác sỹ.

    Chống chỉ định:

    • Mẫn cảm với một trong các thành phần của thuốc.
    • Người bệnh đang cơn hen cấp, phì đại tuyến tiền liệt.
    • Glaucoma góc hẹp.
    • Tắc cổ bàng quang.
    • Loét dạ dày chít, tắc môn vị- tá tràng.
    • Trẻ em dưới 1 tháng tuổi và trẻ sinh thiếu tháng.
    • Bệnh nhân đã hay đang dùng các thuốc ức chế monoaminoxydase (IMAO) trong vòng 2 tuần trước đó.

    Tác dụng phụ:

    Buồn ngủ, an thần, khô miệng, chóng mặt, buồn nôn.

    Tương tác thuốc:

    • Các thuốc ức chế monoaminoxydase làm kéo dài và tăng tác dụng chống tiết Acetylcholin của thuốc kháng histamin.
    • Rượu, các chế phẩm chứa cồn hoặc các thuốc an thần gây ngủ có thể tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương của Chlorpheniramine.
    • Chlorpheniramine ức chế chuyển hóa Phenytoin và có thể dẫn đến ngộ độc Phenytoin.

    THERALENEÒ 5mg

    Thành phần:

    Alimemazin……………………………………….. 5 mg

    Tá dược vđ………………………………………… 1 viên

    Chỉ định:

    • Dùng trong trường hợp thỉnh thoảng bị mất ngủ (ví dụ đi xa) và/hoặc thoáng qua (ví dụ khi có một biến cố cảm xúc).
    • Trong điều trị triệu chứng đối với các biểu hiện dị ứng như:
      • Viêm mũi (ví dụ: viêm mũi theo mùa, viêm mũi không theo mùa,…),
      • Viêm kết mạc (viêm mắt),
      • Nổi mề đay.
    • Để giảm ho khan và ho do kích ứng, đặc biệt là khi ho về chiều hoặc về đêm.

    Chống chỉ định:

    • Tiền sử dị ứng với thuốc kháng Histamin,
    • Trẻ em dưới 6 tuổi,
    • Tiền sử mất bạch cầu hạt với các phenothiazin khác.
    • Khó tiểu do nguyên nhân tuyến tiền liệt hoặc nguyên nhân khác,
    • Một số thể bệnh glocom (tăng nhãn áp).
    • Thông thường không nên dùng thuốc này trong các trường hợp sau đây, trừ khi có sự chỉ định của bác sỹ:
    • Trong 3 tháng đầu thai kỳ
    • Trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ
    • Dùng kết hợp với sultopride.

    Tương tác thuốc:

    Các phối hợp không nên dùng:

    Rượu

    • Rượu làm tăng tác dụng an thần của thuốc kháng Histamin. Ảnh hưởng bất lợi trên sự sự tỉnh táo có thể gây nguy hiểm khi lái xe và vận hành máy móc.
    • Tránh dùng các thức uống có cồn và những thuốc có chứa cồn.

    Sultopride

    • Nguy cơ dẫn đến rối loạn nhịp thấp, đặc biệt là xoắn đỉnh, do tăng cường tác dụng điện sinh lý.

    Liều dùng:

    Theo hướng dẫn kê toa của bác sĩ, thông thường:

    Kháng histamine, chống ho

    Uống lặp lại nhiều lần trong ngày trong trường hợp có nhu cầu, nhưng không quá 4 lần trong ngày.

    • Người lớn: 1-2 viên mỗi lần.
    • Trẻ em trên 6 tuổi (tức 20 kg): 0,125 đến 0,25 mg/kg/lần, tức ½-1 viên mỗi lần.

    Tác dụng trên giấc ngủ

    Uống 1 lần lúc đi ngủ.

    • Người lớn: 5 đến 20 mg, tức 1 đến 4 viên.
    • Trẻ em trên 6 tuổi: 0,25 đến 0,5 mg/kg, tức:
      • Trẻ em từ 20 đến 40 kg (6 đến 10 tuổi): 1 viên.
      • Trẻ em từ 40 đến 50 kg (10 đến 15 tuổi): 2 viên.

    Cách dùng:

    Dùng đường uống.

    Uống viên thuốc với một ít nước.

    Thời gian uống thuốc

    Vì thuốc có tác dụng gây buồn ngủ, tốt nhất nên bắt đầu điều trị các biểu hiện dị ứng vào buổi tối.

    Thời gian điều trị

    Chỉ nên điều trị triệu chứng ngắn ngày (vài ngày). Nếu trị ho, chỉ nên dùng thuốc vào những lúc bị ho.

    Tác dụng không mong muốn và bất lợi:

    Một số tác dụng cần ngưng điều trị ngay và hỏi ý kiến của bác sĩ:

    • Phản ứng dị ứng
      • Nổi mẩn ngoài da (đỏ da, eczema, ban xuất huyết, nổi mề đay).
      • Phù Quinke (nổi mề đay kèm sưng phù mặt và cổ có thể gây khó thở).
      • Sốc phản vệ.
    • Hiện tượng da mẫn cảm với ánh nắng.
    • Giảm bạch cầu nghiêm trọng trong máu có thể biểu hiện bằng sự xuất hiện hoặc tái diễn sốt đi kèm có hoặc không đi kèm với các dấu hiệu nhiễm khuẩn.
    • Giảm tiểu cầu một cách bất thường trong máu có thể biểu hiện bằng chảy máu cam hoặc chảy máu lợi.
    • Một số tác dụng khác thường gặp hơn:
    • Buồn ngủ, giảm tỉnh táo rõ rệt hơn trong giai đoạn bắt đầu điều trị.
    • Rối loạn trí nhớ hoặc sự tập trung, chóng mặt (hay gặp ở người nhà).
    • Mất phối hợp vận động, run.
    • Lú lẫn, ảo giác.
    • Khô miệng, rối loạn thị giác, bí tiểu, táo bón, hồi hộp, hạ huyết áp.

    FANOZO

    Thành phần:

    Fexofenadin hydroclorid…………………… 60 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định điều trị:

    • Làm giảm các triệu chứng do viêm mũi dị ứng ở người lớn và trẻ em ³ 12 tuổi như hắt hơi, chảy nước mũi, ngứa mũi, ngứa vòm miệng và họng, mắt ngứa đỏ và chảy nước mắt.
    • Điều trị các triệu chứng mề đay tự phát mãn tính ở người lớn và trẻ em ³ 12 tuổi.

    Liều lượng và cách dùng:

    • Người lớn và trẻ em ³ 12 tuổi: uống mỗi lần 1 viên, ngày 2 lần hoặc uống mỗi lần 2 viên, ngày 1 lần.
    • Liều khởi đầu cho người suy thận là uống liều duy nhất 60mg mỗi ngày.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với bất cứ thành phần nào của thuốc.

    Tương tác thuốc:

    • Fexofenadin không qua chuyển hóa ở gan hóa ở gan nên không tương tác với các thuốc khác qua cơ chế gan. Dùng phối hợp fexofenadin hydroclorid với erythromycin hoặc ketoconazol làm tăng nồng độ trong huyết tương của fexofenadin gấp 2-3 lần. Tuy nhiên sự gia tăng này không ảnh hưởng khoảng QT và không gây gia tăng tác dụng phụ so với các thuốc trên khi dùng riêng lẻ.
    • Fexofenadin không ảnh hưởng trên dược động học của erythromycin và ketoconazol.
    • Không có tương tác giữa fexofenadin và omeprazol. Tuy nhiên, nếu uống thuốc kháng acid có chứa gel hydroxyd nhôm và magiê trước khi uống fexofenadin hydroclorid 15 phút sẽ gây giảm sinh khả dụng của fexofenadin, do gắn kết thuốc ở đường tiêu hóa. Nên uống fexofenadin hydroclorid cách xa 2 giờ đối với các thuốc kháng acid có chứa gel nhôm hay magiê.

    Tác dụng phụ:

    Chủ yếu là nhức đầu, buồn ngủ, buồn nôn, lừ đừ và mệt mỏi. Tỷ lệ tác dụng phụ này tương đương tỷ lệ tác dụng phụ khi dùng placebo.

    FEXO 60

    Thành phần:

    Fexofenadin hydoclorid……………………. 60 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    • Viêm mũi dị ứng (hắt hơi, chảy mũi, ngứa mũi/vòm họng, ngứa/đỏ/chảy nước mắt, nghẹt mũi).
    • Mày đay vô căn mạn tính.
    • Cách dùng và liều dùng: Không dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi.
    • Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi: Uống 1 viên mỗi lần, ngày 2 lần.
    • Trên bệnh nhân giảm chức năng thận: Uống 1 viên mỗi ngày.

    Hoặc theo hướng dẫn của thầy thuốc.

    Chống chỉ định:

    • Bệnh nhân có tiến sư Không dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi.
    • Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi: Uống 1 viên mỗi lần, ngày 2 lần.
    • Trên bệnh nhân giảm chức năng thận: Uống 1 viên mỗi ngày.

    Hoặc theo hướng dẫn của thầy thuốc.

    Chống chỉ định:

    • Bệnh nhân có tiến sử dị ứng với bất cứ thành phần nào của thuốc.
    • Trẻ em dưới 12 tuổi.
    • Phụ nữ có thai và cho con bú.

    Thận trọng:

    Thận trọng khi dùng thuốc với bệnh nhân suy thận.

    Tác dụng phụ:

    • Thường gặp: Cảm cúm, buồn nôn, buồn ngủ, khó tiêu, mệt mỏi, đau lưng, viêm xoang, chóng mặt.
    • Ít gặp: Mất ngủ, căng thẳng thần kinh, rối loạn giấc ngủ hoặc bệnh hoang tưởng.
    • Hiếm gặp: Nổi mẫn, mày đay, ngứa, phản ứng dị ứng với các biểu hiện như phù mạch, tức ngực, khó thở, đỏ mặt và phản vệ toàn thân. Có thể gây ra rối loạn nhịp tim.

    Xử lý: Ngưng sử dụng thuốc khi gặp các phản ứng dị ứng với thuốc.

    Tương tác thuốc:

    • Dùng đồng thời thuốc với ketoconazol hoặc erythromycin sẽ làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương.
    • Không nên uống thuốc gần thời điểm uống các thuốc kháng acid chứa nhôm và magnesi.
    • Nên dùng thuốc và các thuốc kháng acid chứa nhôm và magnesi cách nhau ít nhất 2 giờ.

    THUỐC HÔ HẤP

    TOPRALSIN

    Thành phần:

    Oxomemazin hydroclorid tương ứng oxomemazin…. 1,65 mg

    Guaifenesin…………………………………………………………….. 33,3 mg

    Paracetamol……………………………………………………………. 33,3 mg

    Natri benzoat………………………………………………………….. 33,3 mg

    Tá dược vừa đủ……………………………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    Điều trị triệu chứng ho khan, đặc biệt ho nhiều về đêm (ho do dị ứng và kích ứng).

    Cách dùng và liều dùng: Nên điều trị ngắn hạn trong vài ngày.

    • Người lớn: Uống 2-6 viên/ngày, chia làm 2-3 lần.
    • Trẻ em: Dùng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.

    Chống chỉ định:

    Bệnh nhân suy hô hấp, suy gan.

    Thận trọng:

    • Không uống rượu trong thời gian điều trị.
    • Lưu ý người lái xe và vận hành máy móc về nguy cơ gây buồn ngủ
    • Phụ nữ trong những tháng đầu của thai kỳ và thời kỳ cho con bú.

    Tác dụng phụ:

    • Buồn ngủ, tăng độ quánh chất tiết phế quản, khô miệng, táo bón, bí tiểu, chóng mặt, ban đỏ.
    • Hiếm khi gặp các rối loạn tiêu hóa: chán ăn, buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy.
    • Rất hiếm gặp: Loạn vận động muộn do sử dụng kéo dài thuốc kháng histamine thuộc nhóm phenotiazin, giảm bạch cầu và mất bạch cầu hạt, hiện tượng kích thích ở trẻ em và trẻ còn bú.

    Tương tác thuốc:

    Không dùng thuốc với Zidovudin, levodopa, guanethidin và các chất cùng họ. Thận trọng khi dùng thuốc với muối, oxyd, và hydroxyd của Mg, Al, Ca. Một số phối hợp khác cũng cần lưu ý: các thuốc hạ huyết áp, atropin, và các chất có tác dụng atropinic, các thuốc gây trầm cảm hệ thần kinh.

                                           MUXYSTINE

    Công thức:

    Mỗi gói thuốc cốm chứa 200 mg acetylcystein và các tá dược vừa đủ (đường trắng, natri clorid, acid tartaric, chất tạo mùi).

    Chỉ định:

    Điều trị các rối loạn về tiết dịch của niêm mạc đường hô hấp (phế quản và xoang), viêm phế quản cấp tính và giai đoạn sớm của viêm phế quản mạn tính.

    Chống chỉ định:

    • Mẫn cảm với acetylcystein
    • Bệnh nhân loét dạ dày- tá tràng
    • Phenylceton niệu
    • Trẻ em dưới 2 tuổi.

    Tác dụng không mong muốn:

    Liều cao có thể gây ra các rối loạn về dạ dày- ruột (đau dạ dày, buồn nôn và tiêu chảy). Nếu các triệu chứng này xảy ra thì phải giảm liều dùng.

    Tương tác thuốc:

    Một số kháng sinh như amphotericin, ampicillin natri, erythromycin lactobionat và tetracycline hoặc là tương kỵ với acetylcystein hoặc là không có hoạt tính trong hỗn hợp với acetylcystein/

    Liều lượng và cách dùng:
    Người lớn và trẻ em trên 7 tuổi: 1 gói x 3 lần/ngày.

    Trẻ em từ 2-7 tuổi: 1 gói x 2 lần/ngày.

    Hòa tan cốm trong nửa ly nước khi uống.

    EUCAPHOR

    Thành phần:

    Eucalyptol…………………………………………. 100 mg

    Camphor……………………………………………. 12 mg

    Guaiacol……………………………………………. 12 mg

    Tá dược vđ………………………………………… 1 viên nang mềm

    Chỉ định:

    Trị ho, sát trùng đường hô hấp, làm long đàm. Dùng trong trường hợp ho do cảm lạnh, cảm cúm, nhiễm trùng đường hô hấp.

    Liều dùng:

    • Người lớn và trẻ em ³ 15 tuổi: 1-2 viên/lần, ngày 2-3 lần.
    • Trẻ em dưới 15 tuổi: dùng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.

    Thận trọng: Khi sử dụng Eucaphor cho trẻ em dưới 15 tuổi.

    Chống chỉ định:

    • Không dùng cho trẻ em dưới 5 tuổi.
    • Người mẫn cảm với một trong các thành phần nào của thuốc.

    Tác dụng phụ:

    Hiện chưa phát hiện được tác dụng không mong muốn của thuốc.

    METHORFAR 15

    Công thức:

    Dextromethorphan hydrobromid………. 15 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    • Điều trị triệu chứng ho do họng và phế quản bị kích thích khi cảm lạnh thông thường hoặc khi hít phải chất kích thích gây ho.
    • Ho mạn tính không có đờm.

    Liều dùng và cách dùng:

    • Trẻ em từ 2-6 tuổi: uống ½ viên, 6-8 giờ/lần, tối đa 2 viên/24 giờ.
    • Trẻ em từ 6-12 tuổi: uống 1 viên, 6-8 giờ/lần, tối đa 4 viên/24 giờ.
    • Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi: uống 2 viên, 6-8 giờ, tối đa 8 viên/24 giờ.

    Chống chỉ định:

    • Dị ứng với một trong các thành phần của thuốc.
    • Người đang sử dụng thuốc ức chế MAO.
    • Trẻ em dưới 2 tuổi.

    Tương tác thuốc:

    • Dùng đồng thời với thuốc ức chế thần kinh trung ương có thể tăng cường tác dụng ức chế thần kinh trung ương của những thuốc này hoặc của Dextromethorphan.
    • Quinidin làm tăng các tác dụng không mong muốn của Dextromethorphan.

    Tác dụng phụ:

    • Rất hiếm gây buồn ngủ, rối loạn tiêu hóa.
    • Có thể bị mệt mỏi, chóng mặt, nhịp tim nhanh, nổi mề đay nhưng hiếm gặp.

     

    MITUX

    Công thức:

    Acetylcystein…………………………………….. 200 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 gói

    Chỉ định:

    Điều trị các rối loạn về tiết dịch của niêm mạc đường hô hấp trong các bệnh viêm phế quản, viêm khí phế quản, viêm phế quản phổi cấp và mãn tính, viêm mũi, viêm thanh quản, viêm xoang, viêm tai giữa tiết dịch.

    Chống chỉ định:

    • Mẫn cảm với Acetylcystein.
    • Trẻ em dưới 2 tuổi.

    Thận trọng:

    Thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai, bệnh nhân bị loét dạ dày- tá tràng, bị hen suyễn.

    Tương tác thuốc:

    Việc kết hợp thuốc điều hòa chất nhầy và các thuốc ho và/hoặc làm khô dịch tiết đàm là không hợp lý.

    Tác dụng phụ:

    Hiếm gặp: rối loạn tiêu hóa (đau dạ dày, buồn nôn, tiêu chảy).

    Thông báo cho bác sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

    Liều dùng và cách dùng:

    • Trẻ em từ 2 đến 6 tuổi: 1 gói x 2 lần/ngày.
    • Trẻ em trên 6 tuổi và người lớn: 1 gói x 3 lần/ngày.

    Hoặc theo chỉ dẫn của thấy thuốc.

    THUỐC TIM MẠCH

    NifehexalÒ retard

    Viên nén phóng thích kéo dài

    Hoạt chất: Nifedipine

    Chỉ định: NifeHEXALÒ retard được dùng trong các trường hợp:

    • Tăng huyết áp.
    • Đau thắt ngực ổn định mạn tính (đau do gắng sức).
    • Đau thắt ngực do co mạch (đau kiểu Prinzmetal, đau thắt ngực biến đổi).

    Chống chỉ định:

    • Mẫn cảm với Nifedipine hay bất cứ thành phần nào của thuốc
    • Shock
    • Hẹp van tim
    • Có các triệu chứng sau khi nghỉ ngơi (đau và co thắt vùng ngực) kèm với thiếu cung cấp oxy tới cơ tim (đau thắt ngực)
    • Bị đột quỵ trong vòng 4 tuần qua
    • Đang dùng các thuốc chứa rifampicin (thuốc chống lao)
    • Có thai và cho con bú.

    Lưu ý đặc biệt khi dùng NifeHEXALÒ retard:

    Điều trị với NifeHEXALÒ retard cần định kỳ kiểm tra nếu:

    • Huyết áp thấp (huyết áp tâm thu < 90 mmHg)
    • Suy tim sung huyết
    • Thẩm tách máu kèm theo tăng huyết áp và giảm thể tích tuần hoàn, vì có thể xảy ra tụt huyết áp nặng.

    Liều dùng:

    Nếu không có chỉ dẫn nào khác của bác sĩ, liều thông thường như sau:

    Bệnh mạch vành, cao huyết áp:

    1 viên/lần x 2 lần/ngày (tương đương 40 mg/ngày).

    Cách dùng:

    • Dùng đường uống.
    • Dùng viên thuốc với lượng nước vừa đủ (một cốc nước, không dùng cùng nước bưởi) sau bữa ăn, nên dùng vào buổi sáng và buổi tối, nếu có thể hãy dùng vào cùng một thời điểm trong ngày.

    Tác dụng phụ:

    Những tác dụng phụ có thể xảy ra:
    Hay gặp:

    • Đau đầu, đặc biệt khi mới điều trị.
    • Giữ nước như phù chân do giãn mạch máu (phù ngoại biên), đặc biệt khi mới điều trị.

    Thường gặp:

    • Chóng mặt, hoa mắt, mệt mỏi
    • Đánh trống ngực
    • Nôn
    • Đỏ bừng mặt, ban đỏ, sưng đau ở tay và chân, đặc biệt khi bắt đầu điều trị.

    Ngoài ra còn có các tác dụng phụ khác ít gặp và hiếm gặp.

    VASTARELÒMR

    Thành phần:

    Trimetazidine dihydrochloride………….. 35 mg

    Chỉ định:

    Thuốc này được khuyến nghị dùng để:

    • Điều trị dự phòng các cơn đau thắt ngực.
    • Điều trị triệu chứng phụ trợ chứng chóng mặt và ù tai.
    • Điều trị bổ trợ trong trường hợp rối loạn thị giác có nguồn gốc tuần hoàn.

    Chống chỉ định:

    • Không dùng Vastarel MR nếu dị ứng với bất cứ thành phần nào của thuốc.
    • Thuốc không được khuyến nghị dùng trong suốt thời gian cho con bú.

    Cảnh báo và thận trọng:

    Không dùng thuốc này để điều trị giảm đau trong cơn đau thắt ngực hoặc điều trị khởi đầu cho đau thắt ngực không ổn định. Không dùng để điều trị nhồi máu cơ tim.

    Trong trường hợp có cơn đau thắt ngực phải thông báo cho bác sĩ. Có thể phải làm một số xét nghiệm và việc điều trị có thể phải điều chỉnh.

    Liều lượng và cách dùng:

    Đường uống

    Liều lượng thường dùng là 1 viên một lần vào buổi sáng và buổi tối. Uống viên bao dạng phóng thích mới này với một cốc nước vào bữa ăn.

    Tác dụng phụ:

    • Rối loạn dạ dày-ruột (buồn nôn, nôn mửa) hiếm gặp.
    • Run, co cứng, khó cử động: rất hiếm gặp. Tác dụng phụ này sẽ mất đi nếu ngừng điều trị.

    AMLODIPIN STADAÒ 5 mg

    Thành phần:

    Mỗi viên nang chứa:

    Amlodipin (besylat)………………………….. 5 mg

    Tá dược vửa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    • Amlodipin được dùng riêng lẻ hay kết hợp với các thuốc chống tăng huyết áp khác để điều trị tăng huyết áp.
    • Amlodipin cũng được dùng để điều trị đau thắt ngực kiểu Prinzmetal và đau thắt ngực ổn định mạn tính. Thuốc có thể dùng một mình hay kết hợp với các thuốc chống đau thắt ngực khác.

    Liều lượng và cách dùng:

    Amlodipin STADAÒ 5 mg được dùng bằng đường uống và không phụ thuộc vào bữa ăn.

    Liều lượng:

    Tăng huyết áp:

    • Người lớn: Liều khởi đầu thông thường của amlodipin là 2,5- 5 mg x 1 lần/ngày. Người già và những người gầy yếu nên dùng liều khởi đầu 2,5 mg x 1 lần/ngày. Liều dùng tiếp theo nên điều chỉnh tùy thuộc vào huyết áp và độ thanh thải của bệnh nhân, nhưng không quá 10 mg x 1 lần/ngày. Liều duy trì thông thường để điều trị tăng huyết áp ở người lớn là 5-10 mg x 1 lần/ngày.
    • Trẻ em từ 6 tuổi trở lên: Liều thường dùng có hiệu quả của amlodipin là 2,5- 5 mg x 1 lần/ngày.

    Đau thắt ngực:

    Để điều trị đau thắt ngực kiểu Prinzmetal hay đau thắt ngực ổn định mạn tính, liều thường dùng cho người lớn là 5-10 mg x 1 lần/ngày. Người già nên dùng liều thấp hơn, 5 mg x 1 lần/ngày. Liều duy trì là 10 mg mỗi ngày.

    Chống chỉ định:

    Bệnh nhân quá mẫn với amlodipin, bất cứ thuốc chẹn kênh calci khác hay bất cứ thành phần nào của thuốc.

    Tác dụng phụ:

    Thường gặp: Phù cổ chân, đỏ bừng, đau đầu, ban da và mệt mỏi.

    Ít gặp: Tim mạch, hệ thần kinh trung ương và ngoại vi, tiêu hóa, toàn thân, hệ cơ xương, tâm thần, hệ hô hấp, da và các phần phụ,…

    Các tác dụng phụ khác: Nhồi máu cơ tim và đau thắt ngực.

    THUỐC TIÊU HÓA

     

    SAGOFENE

     

    Công thức: Cho một viên bao đường:

    Natri Thiosulfat…………………………………. 0,330 g

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    • Các chứng dị ứng tiêu hóa: Buồn nôn, co thắt bụng, táo bón.
    • Bệnh ngoài da: Nổi mề đay, eczema, ngứa.
    • Bệnh mãn tính đường hô hấp.
    • Ngộ độc kim loại nặng: Bismuth, thủy ngân, arsen.

    Chống chỉ định:

    Không dùng trong các trường hợp có tiền căn dị ứng với một trong các thành phần của thuốc, đặc biệt là với lưu huỳnh và các sulfite.

    Thận trọng:

    • Trường hợp chế độ ăn kiêng muối hoặc ít muối, phải tính đến nồng độ Natri có trong một viên bao là 61,16 mg.
    • Trường hợp mang thai và đang cho con bú phải hỏi ý kiến của Bác sĩ.

    Tác dụng không mong muốn:

    • Nguy cơ tiêu chảy hoặc đau bụng ở liều cao. Trường hợp này nên ngừng điều trị và hỏi ý kiến của bác sĩ.
    • Các sulfite có thể gây hay làm tăng hơn sự co thắt phế quản ở người bị bệnh suyễn (khó thở cấp tính).

    Liều dùng:

    Người lớn uống mỗi lần 2-4 viên, ngày 2 lần vào giữa bữa ăn.

    Uống liên tục 10 ngày.

    PEPSANE

    Thành phần:

    Guaiazulene………………………………………. 0,004 g

    Dimeticone………………………………………… 3 g

    Chỉ định:

    Thuốc này được chỉ định trong điều trị đau dạ dày.

    Chống chỉ định: Không có

    Tương tác thuốc:

    Nhắm tránh các tương tác có thể xảy ra giữa nhiều thuốc, cần báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết mọi điều trị khác đang theo.

    Liều lượng và cách dùng:

    ĐƯỜNG UỐNG

    Uống trực tiếp, 1 đến 2 gói, 2 đến 3 lần mỗi ngày vào lúc đau.

    Tác dụng phụ và khó chịu:

    Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

     

    STOMAFAR

    Thành phần:

    Aluminum hydroxide, magnesium hydroxide.

    Chỉ định:
    Điều trị ngắn hạn và dài hạn các chứng loét đường tiêu hóa và giảm do tăng tiết acid, tăng vận động dạ dày, ruột bị kích ứng & co thắt, đầy hơi khó tiêu, viêm dạ dày, ợ chua, viêm tá tràng, viêm thực quản, thoát vị khe, chế độ ăn không thích hợp, nhiễm độc alcool, đau sau phẫu thuật, cũng có tác dụng giảm đau bụng ở trẻ em.

    Chống chỉ định:

    Glaucoma góc đóng. Tắc kẹt ruột, hẹp môn vị.

    Tương tác thuốc:

    Không dùng với Tetracyclin.

    Tác dụng phụ:

    Đôi khi: mệt mỏi, buồn nôn, nhức đầu.

    Chú ý đề phòng:

    Bệnh nhân suy mạch vành, suy tim hoặc phì đại tiền liệt tuyến.

    Liều lượng:

    • Loét đường tiêu hóa và viêm dạ dày: 2-4 viên mỗi 4 giờ.
    • Tăng tiết acid dạ dày: 1-2 viên sau khi ăn hay khi cần.

     

    THUỐC THAY THẾ HORMON

    DIAMICRONÒMR

    Thành phần:

    • Hoạt chất: Một viên chứa 30 mg gliclazide dưới dạng bào chế phóng thích duy trì.
    • Tá dược: Calcium hydrogen phosphate dehydrate, maltodextrin, hypromellose, magnesium stearate, andydrous colloidal silica.

    Chỉ định:

    Diamicron MR được dùng để điều trị một dạng đái tháo đường (typ2) ở người lớn, khi chế độ dinh dưỡng, thể dục và giảm cân đơn thuần không đủ để đạt được mức đường huyết bình thường.

    Chống chỉ định:

    • Dị ứng với gliclazide hay với một trong các tá dược của thành phẩm, với thuốc khác cùng nhóm sulphonylurea, hoặc với các thuốc có liên quan khác (Sulphonamide hạ đường huyết).
    • Đái tháo đường phụ thuộc insulin (typ1).
    • Có nhiễm ceton và có đường trong nước tiểu, tiền hôn mê hay hôn mê do đái tháo đường.
    • Suy gan hoặc suy thận nặng.
    • Đang dùng các thuốc điều trị nấm.
    • Thời kỳ cho con bú.

    Liều lượng và cách dùng:

    Liều lượng:

    • Liều thường dùng hàng ngày là từ 1 đến 4 viên (tối đa 120 mg), mỗi ngày uống 1 lần duy nhất vào thời điểm ăn sáng. Liều dùng phụ thuộc vào đáp ứng điều trị.
    • Nếu khởi trị bằng liệu pháp phối hợp giữa Diamicron MR với metformine, thuốc ức chế alpha glucosidase hoặc insulin, bác sĩ sẽ quyết định liều phù hợp cho từng loại thuốc

    Hãy báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ nếu cảm thấy Diamicron MR quá mạnh hoặc chưa đủ mạnh trong việc kiểm soát đường huyết.

    Phương pháp và đường dùng:

    • Dùng đường uống.
    • Phải nuốt cả viên thuốc. Không được nhai viên thuốc.
    • Uống thuốc với một cốc nước vào thời điểm ăn sáng.
    • Luôn phải uống thuốc sau khi ăn sáng.

    Tác dụng ngoại ý:

    • Phổ biến nhất là hạ đường huyết.
    • Rối loạn về gan, da, máu, tiêu hóa, mắt.

    MIFESTAD 10

    Thành phần:

    Mỗi viên nén chứa:

    Mifepriston……………………………………….. 10 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    Mifestad 10 được chỉ định cho những trường hợp tránh thai khẩn cấp trong vòng 120 giờ sau lần giao hợp không được bảo vệ.

    Liều lượng và cách dùng:

    Mifestad 10 được dùng bằng đường uống.

    Uống 1 viên Mifestad 10 trong vòng 120 giờ sau khi giao hợp. Tuy nhiên, dùng càng sớm hiệu quả càng cao.

    Chống chỉ định:

    • Quá mẫn với mifepriston hay bất cứ thành phần nào của thuốc.
    • Phụ nữ có thai, cho con bú.
    • Suy tuyến thượng thận mãn tính.
    • Bệnh hen nặng không kiểm soát.
    • Suy thận hoặc suy gan.
    • Rối loạn chuyển hóa porphyrin di truyền.

    Tương tác thuốc:

    Không nên dùng aspirin và các NSAID cùng với mifepriston vì theo lý thuyết các chất ức chế tổng hợp prostaglandin có thể làm thay đổi tác dụng của mifepriston.

    Tác dụng phụ:

    • Ngoài trễ kinh, các tác dụng khác ít xảy ra và nhẹ. Các tác dụng phụ thường là: xuất huyết, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng dưới, mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, căng ngực.
    • Hơn 50% phụ nữ có kỳ kinh lệch khoảng 2 ngày so với dự kiến và khoảng 9% phụ nữ trễ kinh hơn 7 ngày ở kỳ kinh nguyệt đầu tiên sau khi dùng thuốc.

    POSTOP

    Thành phần:

    Levonorgestrel………………………………….. 0,75 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Chỉ định:

    Postop là thuốc tránh thai khẩn cấp, có thể tránh thụ thai nếu dùng thuốc trong vòng 72 giờ sau cuộc giao hợp không được bảo vệ.

    Cách dùng và liều dùng:

    Thuốc chỉ dùng cho những trường hợp tránh thai khẩn cấp, không được dùng thường xuyên. Postop có thể được dùng bất cứ lúc nào trong chu kỳ kinh. Nếu nôn trong vòng 2 giờ sau khi dùng thuốc, phải uống lại thuốc. Dùng thuốc liều cao có thể gây nam tính hóa thai nhi nữ.

    • Nên uống viên đầu tiên trong vòng 48 giờ (thay vì sau 48 giờ và không muộn hơn 72 giờ) sau khi giao hợp (vì hiệu quả của thuốc sẽ giảm nếu dùng thuốc muộn hơn 48 giờ).
    • Uống thêm 1 viên nữa cách 12 giờ sau khi uống viên đầu.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với levonorgestrel hoặc với các thành phần của thuốc. Mang thai hoặc nghi mang thai. Chảy máu âm đạo bất thường không chẩn đoán được nguyên nhân. Viêm tắc tĩnh mạch hoặc bệnh huyết khối tắc mạch thể hoạt động. Bệnh gan cấp tính, u gan lành hoặc ác tính. Carcinom vú hoặc có tiền sử bệnh đó. Vàng da hoặc ngứa dai dẳng trong lần có thai trước.

    Tác dụng phụ:

    • Thường gặp: Nhức đầu, trầm cảm, hoa mắt, chóng mặt, phù, đau vú, buồn nôn, nôn, ra máu (chảy máu thường xuyên hay kéo dài, và ra máu ít), vô kinh.
    • Ít gặp: Thay đổi cân nặng, giảm dục tính, rậm long, ra mồ hôi, hói.

    Cách xử lý: Ngừng dùng thuốc. Bất kỳ người nào kêu đau bụng vùng dưới đều phải thăm khám để loại trừ có thai ngoài tử cung. Thông báo cho thầy thuốc các tác dụng không mong muốn gặp phải khi dùng thuốc.

    Tương tác thuốc:

    Các chất cảm ứng enzyme gan như barbiturate, phenytoin, primidon, phenobarbiton, rifampicin, carbamazepin và griseofulvin có thể làm giảm tác dụng tránh thai của levonorgestrel. Sử dụng đồng thời các thuốc kháng sinh có thể làm giảm tác dụng của thuốc, do can thiệp vào hệ vi khuẩn đường ruột.

    VITAMIN VÀ KHOÁNG CHẤT

    FATIGÒ

    Thành phần định tính và định lượng:

    Magnesi gluconat………………………………. 0,426 g

    Calci glycerophosphat………………………. 0,456 g

    Cho một ống 10 ml

    Một ống có chứa:

    Phosphor nguyên tố:………………………….. 67 mg (2.17 mmol)

    Calci nguyên tố:………………………………… 87,3 mg (2.17 mmol)

    Magnesi nguyên tố:…………………………… 25 mg (1.03 mmol)

    Chỉ định:

    • Thuốc này được dùng để điều trị suy nhược chức năng.

    Chống chỉ định:

    • Dị ứng với một trong các thành phần của dung dịch, đặc biệt là với parabens.
    • Nồng độ calci tăng bất thường trong máu hoặc trong nước tiểu.
    • Có cặn calci trong mô.
    • Đang theo chế độ ăn kiêng đường fructose (vì thuốc này có chứa sorbitol và sucrose).
    • Trẻ dưới 6 tuổi.

    Nói chung thuốc này không được uống kết hợp cùng với KAYEXALATE, trừ khi có chỉ định của thầy thuốc.

    Sử dụng thuốc này như thế nào

    • Chỉ dùng cho người lớn và trẻ trên 6 tuổi.
    • Không dùng thuốc này quá 4 tuần.
    • Không được tiêm thuốc này.

    Liều dùng:

    • Người lớn: 2-3 ống mỗi ngày.
    • Trẻ em tử 6-15 tuổi: 1 ống mỗi ngày.

    Cách dùng:

    Pha loãng ống thuốc trong một ít nước và uống trước bữa ăn.

    Tác dụng phụ:

    Đối với một số người, thuốc này có thể có tác dụng không mong muốn gây khó chịu ở mức độ nặng hay nhẹ: vì thuốc có chứa sorbitol, nên có thể có rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy.

                                VITAMIN E 400

    Công thức: Mỗi viên nang mềm chứa:

    Alpha tocopherol acetate…………………… 400 mg

    Tá dược vừa đủ………………………………….. 1 viên

    Công dụng:

    Vitamin E phối hợp với selenium và vitamin C làm thuốc chống oxy hóa tế bào như các bệnh khô da, nám da. Các chỉ định khác như sẩy thai tái diễn, vô sinh, nhiễm độc thai nghén, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành…Phòng thiếu vitamin E trong các trường hợp bệnh thần kinh cơ như giảm phản xạ, liệt cơ mắt, bệnh võng mạc nhiễm sắc tố, thoái hóa sợi trục thần kinh, trẻ em thiếu vitamin E có thể dẫn đến xơ nang tuyến tụy hoặc kém hấp thu mỡ do teo đường dẫn mật hoặc thiếu betaliypoprotein huyết, trẻ sơ sinh thiếu tháng rất nhẹ cân khi đẻ.

    Liều lượng và cách dùng:
    Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi uống 1 viên x 3 lần/ngày, uống trong bữa ăn.

    Lưu ý:

    Không dùng quá liều chỉ định.

    Tham khảo ý kiến thầy thuốc khi dùng cho trẻ em.

    THUỐC CÓ TÁC DỤNG ĐỐI VỚI MÁU

    ADOFEX

    Công thức: Mỗi viên nang Adofex có chứa:

    Ion sắt……………………………………………….. 60,0 mg

    Vitamin B6………………………………………… 3,0 mg

    Vitamin B12………………………………………. 15,0 mcg

    Acid Folic………………………………………….. 1,5 mg

    Tá dược: Natri benzoat, Lactose, Parafin lỏng vừa đủ 1 viên.

    Chỉ định: Adofex được chỉ định sử dụng cho các trường hợp thiếu máu thiếu sắt do các nguyên nhân sau:

    • Phụ nữ thiếu máu khi mang thai, rong kinh hay phá thai.
    • Những bệnh nhân thiếu máu do thiếu ăn gây suy nhược toàn thân, do nhiễm giun móc, loét dạ dày, bệnh trĩ.
    • Những bệnh nhân thiếu sau phẫu thuật, sau chấn thương và đang trong thời kỳ dưỡng bệnh.

    Chống chỉ định:

    • Bệnh gan nhiễm sắt.
    • Bệnh thiếu máu huyết tán.
    • Bệnh đa hồng cầu
    • Bệnh nhân bị u ác tính.
    • Bệnh nhân mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.

    Cách dùng- liều dùng:

    Dùng uống trong hoặc sau bữa ăn.

    Mỗi lần uống 1 viên, ngày 1 lần.

    Tác dụng phụ:

    Đôi khi có rối loạn tiêu hóa như: chán ăn, nôn, buồn nôn, táo bón, phân màu đen…

    Tương tác thuốc:

    Không dùng chung với các chế phẩm chứa sữa, trà, café, chế phẩm có chứa Tanin, Penicilamin, Tetracyclin, Levodopa vì làm giảm sự hấp thu thuốc.

     

    ACID FOLIC

    Thành phần: Folic acid 5 mg

    Chỉ định:

    Thiếu máu hồng cầu do thiếu acid folic, suy dinh dưỡng, phụ nữ trong thời gian mang thai và cho con bú.

    Chống chỉ định:

    Thiếu máu tán huyết, đa hồng cầu.

    Tương tác thuốc:

    Giảm hấp thu penicillamine, tetracyclin.

    Liều lượng:
    Uống 1 viên 5 mg x 1 lần/ngày.

     

    PHẦN III: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

    Qua 2 năm học tập ở trường TCTH Đông Nam Á, em đã học tập được nhiều kiến thức hữu ích cho riêng mình. Đó là những kiến thức cơ bản nhất mà những người học trong chuyên ngành Dược cần phải có. Đồng thời, em cũng nâng cao và học hỏi thêm nhiều kiến thức mới mẻ  để sau này khi tốt nghiệp ra trường có kiến thức công tác nghề nghiệp. Một trong những kiến thức cần thiết cho chuyên ngành Dược là Đạo đức và lương tâm nghề nghiệp. Như Bác Hồ đã dạy: “Lương y như từ mẫu”, nghĩa là ta cần phải tận tậm tận lực làm việc hết mình vì người bệnh, xem người bệnh như là người thân của mình.

    Suốt khoảng thời gian thực tập ở Nhà thuốc Thiên Ân, dưới sự tận tình giúp đỡ của quý cô, em đã học tập được nhiều kiến thức như cách bán thuốc, cách sắp xếp, bảo quản thuốc, cách tư vấn thuốc cho người bệnh… Và em cũng đã giúp đỡ và chia sẻ cho quý cô một số công việc như trên. Tuy nhiên, thời gian thực tập còn ngắn và kiến thức của em còn hạn chế nên em không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình thực tập. Em rất mong nhận được sự thông cảm của quý cô và mong cô tạo điều kiện cho em thực tập nhiều hơn.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm

    Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm

    Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-c%C3%B4ng-ty-PepsiCo-v%C3%A0-b%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-kinh-nghi%E1%BB%87m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong thế kỷ 21, giao thương quốc tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thế giới. Thế giới đang trở nên phẳng hơn một thế kỷ trước đó, nhờ đó cũng mở ra nhiều cơ hội và cả thách thức cho các quốc gia mong muốn hội nhập.

    Trước tình hình đó, sự ra đời của các tập đoàn đa quốc gia đã phần nào rút tạo ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển tiến lên một nền sản xuất cao hơn, đưa đất nước sánh ngang cùng các cường quốc. Pepsi là một trong số đó. Ra đời cách đây hơn 1 thế kỷ, Pepsi từ lâu đã trở thành thứ nước uống quen thuộc với mọi người trên toàn thế giới, đã và đang từng bước khẳng định chính mình bằng cách vươn xa hơn, mở rộng phạm vi hoạt động trên toàn thế giới. Nắm bắt được những cơ hội, tập đoàn này đã thực sự khẳng định được chính mình trên sân chơi kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, không một vấn đề gì cũng hoàn hảo tuyệt đối. Tập đoàn Pepsi cũng không ngoại lệ, bên cạnh những thành công cũng có những thất bại trong quá trình hoạt động kinh doanh trên toàn cầu. Và đồng thời cũng là những bài học kinh nghiệm kinh điển cho sự phát triển vươn xa hơn của công ty trong tương lai.

    Nhóm học viên cao học chúng em gồm:

    • Giang Việt Anh
    • Đỗ Mạnh Hà
    • Bùi Thúy Hồng
    • Vũ Văn Lưu
    • Nguyễn Sỹ Quyết
    • Nguyễn Thị Thu Thủy
    • Vũ Quang Tuyến

    đã được giao đề tài “Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm” Qua một thời gian tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng cùng với sự hướng dẫn của cô giáo, chúng em đã hoàn thành xong đề tài này.

    Chúng em chân thành cám ơn!

    Nhóm học viên

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY PEPSICO

    I. Lịch sử hình thành và phát triển chung.

    Năm 1886, Bradham – một dược sĩ sinh năm 1867 tại Chinquabin, Duplin County, North Carolina – đã pha chế ra một loại nước uống dễ tiêu làm từ nước cacbonat, đường, vani và một chút dầu ăn. Nó được bán trong khu vực dưới tên “Nước uống của Brad”.

    Đến năm 1893, Bradham đổi sang một cái tên mới “Pepsi-Cola”, nghe thú vị, khoẻ khoắn, mạnh mẽ hơn và chuẩn bị đưa ra bán một cách rộng rãi hơn.

    Năm 1898 – Tập đoàn Pepsi thành lập, trụ sở chính tại thành phố Purchase, bang New York, Mỹ.

    Năm 1902 – Thương hiệu PepsiCola được đăng ký.

    Công ty đã từng hai lần phá sản vào thế chiến thứ nhất và vào năm 1931 trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933. Sau đó, Charles Guth, chủ tịch Loft Industries – hệ thống các cửa hàng bán kẹo và nước soda, đã mua lại công việc kinh doanh chính của Pepsi và đưa nó vào bán ở trong các cửa hàng của ông ta.

    Năm 1934 – Doanh số của PepsiCola tăng vọt tại Mỹ.

    Năm 1941 – Thâm nhập châu Âu.

    Năm 1947 – Mở rộng sang Phillipines và Trung Đông.

    Năm 1964 – Diet Pepsi – nước giải khát dành cho người ăn kiêng đầu tiên trên thị trường.

    Năm 1965 – Pepsi mua lại tập đoàn Frito-Lay.

    Năm 1998 – PepsiCo hoàn tất việc mua lại Tropicana với trị giá $ 3.3 tỉ Năm 1998, Pepsi kỉ niệm 100 năm và đưa

    ra logo mới cho thiên niên kỉ mới – hình cầu với 3 màu xanh, trắng, đỏ trên nền màu xanh lạnh, điểm thống nhất của thiết kế biểu tượng Pepsi trên toàn thế giới.

    Hiện nay PepsiCo là:

    • Công ty nước giải khát và thực phẩm hàng đầu thế giới.
    • Công ty hoạt động trên gần 200 quốc gia với hơn 185,000 nhân viên trên toàn cầu.
    • Công ty có doanh số hàng năm 39 tỷ đô la.
    • Công ty nước giải khát và thực phẩm phát triển nhanh nhất thế giới.

    PepsiCo cung cấp những sản phẩm đáp ứng nhu cầu và sở thích đa dạng của người tiêu dùng, từ những sản phẩm mang tới sự vui nhộn, năng động cho đến những sản phẩm có lợi cho sức khỏe và lối sống lành mạnh.

    Công ty bao gồm Pepsi đồ uống Bắc Mỹ (PepsiCo Americas Beverage -PAB), Pepsi đồ ăn Bắc và Nam Mỹ (PepsiCo Americas Foods), Pepsi Châu Âu (PepsiCo

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Europe), Pepsi Châu Á Trung Đông và Châu Phi (PepsiCo Asia, Middle East and Africa).

    Sản phẩm chính: Bên cạnh thương hiệu Pepsi trị giá hàng tỉ USD, tập đoàn này còn sở hữu nhiều thương hiệu nước giải khát lừng danh khác như Mirinda, 7 UP, Mountain Dew hay nước khoáng Aquafina.

    II. Lịch sử hình thành của công ty tại Việt Nam.

    Ngày 24/12/1991 – Công ty Nước giải khát Quốc tế (IBC) được thành lập do liên doanh giữa SP.Co và Marcondray-Singapore với tỷ lệ vốn góp 50% – 50%.

    Năm 1994 – Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam. PCI được thành lập với 2 nhãn hiệu: Pepsi và

    7Up, liên doanh với số vốn góp của PI là 30%. Năm 1998 – PI mua 97% cổ phần, SPCo 3%,

    tăng vốn đầu tư lên 110 triệu đôla.

    Năm 2003 – PepsiCola Global Investment mua

    3% còn lại, đổi tên thành Công ty Nước giải khát Quốc tế PepsiCo Việt Nam. Có thêm các nhãn hiệu: Aquafina, Sting, Twister, Lipton Ice Tea.

    Năm 2005 – Chính thức trở thành công ty có thị phần về nước giải khát lớn nhất Việt Nam.

    Năm 2006 – Tung ra sản phẩm Foods đầu tiên (Snack Poca).

    Năm 2007 – Phát triển thêm ngành hàng sữa đậu nành.

    Năm 2008 – Khánh thành nhà máy sản xuất thực phẩm đóng gói tại Bình Dương. Tung sản phẩm Snack Poca Khoai Tây Cao Cấp, được chế biến cắt lát từ những củ khoai tây tươi nguyên chất được trồng tại Lâm Đồng

    III. Mục tiêu và nguồn lực của công ty PepsiCo Việt Nam.

     

    1.     Mục tiêu:

    Trở thành công ty hàng đầu về sản xuất hàng tiêu dùng, tập trung chủ yếu vào thực phẩm tiện dụng và nước giải khát, không ngừng tìm kiếm và tạo ra các hiệu quả tài chính lành mạnh cho các nhà đầu tư, tạo cơ hội phát triển và đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho nhân viên, các đối tác kinh doanh và cộng đồng nơi chúng tôi hoạt động. Chúng tôi luôn phấn đấu hoạt động trên cơ sở trung thực, công bằng và chính trực trong mọi hành động của mình. Hiện nay mục tiêu của Pepsico là đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa thị trường.

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    2. Nguồn lực.

    Pepsico là hãng sản xuất nước ngọt lớn thứ 2 trên thế giới với nguồn lực tài chính vững mạnh. Thông báo lợi nhuận của hàng trong năm 2009 là 1.19 tỉ USD, tăng lên từ mức 1.06 tỉ USD năm ngoái.

    Pepsico có thị phần lớn nhất trong lĩnh vực nước giải khát, với các nhà máy sản xuất lớn, dây chuyền hiện đại.

    Pepsi luôn có những sáng kiến mới để tạo ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.

    Pepsi sở hữu đội ngũ nhân viên có năng lực, làm việc hiệu quả.

    Hệ thống phân phối và bán hàng rộng khắp toàn quốc.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 7
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    PHẦN II: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY

    I.                   Môi trường vĩ mô.

     

    1.                 Môi trường chính trị luật pháp.

    Trong quá trình toàn cầu hoá, hàng loạt các quốc gia thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và theo đó hệ thống luật pháp không ngừng hoàn thiện và cải tiến. “Nhượng quyền” được xem là một hình thức kinh doanh mang lại hiệu quả cao cho các công ty trong ngành phân tán. Các công ty muốn tham gia vào hình thức này phải tìm hiểu kỹ hệ thống luật pháp của nước đó về lĩnh vực nhượng quyền thương mại như giấy phép chuyển nhượng thương hiệu, luật thương mại … Ở Mỹ, kinh doanh nhượng quyền dược xem là “ kinh tế lót bạc” …

    2. Môi trường kinh tế.

    Theo dự báo của các cơ quan nghiên cứu kinh tế trên toàn thế giới như IMF, WB và OECD thì sự tăng trưởng kinh tế thế giới có xu hướng phục hồi. Trong “Thế giới mới” Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tiếp tục đi lên, Châu Âu cũng khởi sắc là một nền kinh tế gọn nhẹ và hiệu quả. Khu vực Châu Á được dự đoán là khu vực tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, với tốc độ tăng GDP trung bình khoảng 5,5%/ năm. Sự tăng trưởng kinh tế góp phần nâng cao đời sống của người dân, dẫn dến sự gia tăng về chi tiêu, làm cho Châu Á, Mỹ Latinh trở thành thị trường đầy tiềm năng và hấp dẫn.

    3. Môi trường văn hoá xã hội.

    Sự gia tăng tính đa dạng về văn hoá, dân tộc và giới đang đặt ra hàng loạt cơ hội và thách thức liên quan đến các vấn đề như cách thức kết hợp tốt nhất các phong cách lãnh đạo truyền thống của nam giới và nữ giới để thúc đẩy sự đóng góp của họ có lợi cho doanh nghiệp. Những thay đổi về thực hành quản trị và cấu trúc tổ chức cần được tiến hành để trách tồn tại của các rào cản tinh vi gây bất lợi cho tổ chức. Trong nền kinh tế phát triển mọi người có xu hướng tiết kiệm thời gian dành cho các công việc nội trợ, gia đình và đây chính là điều kiện tạo cơ hội thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của kĩ nghệ thức ăn và đồ uống tiện lợi. Đặc biệt các nước Châu Âu và Châu Mỹ có một tác phong làm việc công nghiệp nên thời gian đối với họ rất quan trọng và những bữa ăn nhanh, đồ uống ngon miệng, đảm bảo dinh dưỡng là giải pháp tối ưu. Và đây là các nôi nuôi dưỡng ngành công nghiệp thức ăn và đồ uống tiện lợi, là địa điểm đầu tiên của hầu hết các tập đoàn chế biến thức ăn nhanh và đồ uống tiện lợi lớn nhất thế giới: Cocacola, McDonalds, KFC….Bên cạnh đó

    lượng cola cần thiết cho họ nhiều hơn so với phương đông điều này là vấn đề quan trọng cho sự cải tiến thể tích chai lọ của Pepsico. Ngược lại những quốc gia Châu Á, với nền kinh tế Á Đông những bữa ăn gia đình là đặc điểm nổi bật của nguời dân nên thức ăn nhanh và đồ uống tiện lợi chưa phát triển rộng khắp. Tuy nhiên, trong

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 8
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    những năm gần đây thức ăn nhanh và đồ uống tiện lợi dần dược chấp nhận với nhiều tập đoàn lớn: Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ … cho thấy người dân đã thay đổi trong cách nhìn nhận để theo kịp với cuộc sống mới.

    Một xu hướng mới cần phải đề cập ở đây là việc chú trọng đến sức khoẻ người tiêu dùng. Cùng với sự gia tăng nguồn thu nhập, khách hàng ngày càng quan tâm đến sức khoẻ của mình nhiều hơn. Do đó, cải tiến sản phẩm hạn chế chất béo là một vấn đề quan trọng nhằm đáp ứng khách hàng.

    4. Môi trường công nghệ.

    Mỗi năm các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra các hàng triệu phát minh về khoa học công nghệ, mang lại tiện ích thật sự cho cuộc sống mội người. Công nghệ là một người chèo lái PepsiCo và PepsiCo đang luôn luôn tìm kiếm những cách thức để cung cấp dịch vụ và thông tin với chất lượng và hiệu quả cao

    Quy mô công nghệ được áp dụng ở Pepsi rất khổng lồ và không ngừng phát triển. Công ty là một trong những tổ chức có đội ngũ bán hàng với những chiếc Laptop, và bây giờ đang khám phá những công nghệ như RFID – Radio Frequency Identification (Nhận dạng tần số sóng vô tuyến). Hiệu quả và hiệu lực là những mục đích của công nghệ ở PepsiCo, một công nghệ được triển khai và sử dụng đều được thử nghiệm và kiểm tra. Quan điểm trên bảo đảm rằng người bán lẻ sẽ được

    Công nghệ của PepsiCo được củng cố, cung cấp những dịch vụ tới tất cả những bộ phận của nó. Công nghệ là yếu tố hàng đầu, ngày càng trở thành nhân tố then chốt quyết định sự thành bại của công ty …

    5. Môi trường nhân khẩu.

    Hiện nay dân số thế giới đang gia tăng nhanh chóng, năm 2007 tổng cộng dân số thế giới đã là 7 tỷ người, tỷ lệ tăng trưởng hằng năm là 1,1%, khu vực kém phát triển chiếm đến 76% dân số thế giới và đang tăng vọt với tốc độ 2%/năm và các nước phát triển dân số tăng 0,6%/năm. Tốc độ tăng trưởng dân số nhanh dẫn đến nhu cầu tăng nhanh, do đó Pepsi có khả năng phát triển, nhất là hiện nay hơi thở cuộc sống rất gấp gáp, sản phẩm vừa đảm bảo dinh dưỡng và tiện lợi rất cần thiết, đó là cơ hội cho Pepsi.

    Giới trẻ là đối tượng phục vụ chính của ngành này. Nhưng sự già hoá dân số ở các nước phát triển và trẻ hoá tại các nước phát triển tạo nên một làn sóng chuyển dịch đầu tư khai thác thị trường lao động dồi dào, giá rẻ và thị trường tiêu thụ tiềm năng hiện đang còn bỏ ngõ này. Một thay đổi khác đáng chú ý này trong thập niên vừa qua, nền kinh tế Mỹ đã xuất hiện những dấu hiệu giảm sút, tình trạng thất nghiệp gia tăng nhanh 4% vào tháng 6 năm 2000. Thị trường bị thu hẹp khi sự tăng trưởng lao động trong nước giảm xuống đột ngột thách thức thị trường này đòi hỏi nguồn lao động lớn. Bên cạnh đó những người tham gia vào thị trường lao động này phần lớn là tuổi vị thành niên. Do đó vấn đề chiêu mộ, huấn luyện và nắm giữ

     

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    những con người đòi hỏi tập đoàn phải mất một chi phí lớn kết hợp với hình thức quản lý đa dạng nhằm đáp ứng sự thay đổi của nguồn lao động.

    II. Môi trường vi mô.

     

    1.     Các điểm mạnh (Strengths).

    –  Đa dạng hóa sản phẩm.

    Sản phẩm của Pepsi rất đa dạng về chủng loại và phong phú về mẫu mã bao gồm các sản phẩm trà, nước trái cây, nước uống đóng chai, ngũ cốc, thức ăn nhẹ…

    • Môi trường kinh doanh quốc tế.

     

    • Kênh phân phối.

    Công ty cung cấp sản phẩm của mình trực tiếp từ các nhà máy sản xuất đến kho của khách hàng và tới các cửa hàng bán lẻ. Mạng lưới kênh phân phối bao gồm cả nhân viên giao hàng trực tiếp tại các cửa hàng đồ ăn nhẹ và đồ uống…

    –  Sức mạnh của Thương hiệu.

    Thương hiệu của Pepsi đươc xếp hạng thứ 26 trong số 100 thương hiệu toàn cầu năm 2008. Sức mạnh của những thương hiệu khiến cho Pepsi ngày nay đã và đang hiện diện trên gần 200 quốc gia trên toàn thế giới. PepsiCo có thị phần lớn nhất trong thị trường nước giải khát tại Mỹ ở mức 39%, và thị trường thực phẩm ăn nhẹ

    • mức 25%. Giá trị của thương hiệu này góp phần vào việc đảm bảo doanh số bán hàng đồng thời đóng góp đến hơn $ 15 triệu trong doanh thu hàng năm của công ty.

    2.                 Những điểm yếu (Weknesses).

    • Một số sản phẩm khác nhau được cung cấp bởi Pepsi thường không có tên của Pepsi đi kèm
    • Quá phụ thuộc vào thị trường Mỹ

    Mặc dù đã có sự mở rộng thị trường ra nhiều nước trên thế giới nhưng cho đến nay 52% doanh thu của Pepsi vẫn bắt nguồn từ Mỹ.

    • Chi phí dành cho quảng cáo, marketing cao, dẫn đến lợi nhuận giảm.

     

    3. Những cơ hội: (Opportunities).

     

    • Lối sống của người tiêu dùng.

    Theo thời gian, Pepsi luông đặt phương châm “Better for you” – “Good for you”. Điều này đã khiến cho Pepsi luôn duy trì và ngày càng chiếm được thị phần trên thị trường.

    Hương vị của Pepsi có sự thay đổi phù hợp với từng phân khúc thị trường: thích ứng với thị hiếu của từng địa phương.

    –  Mở rộng thị trường quốc tế.

    Pepsi đã có mặt, hoạt động và có thị phần trên gần 200 quốc gia trên thế giới Những thị trường hiện đang phát triển của Pepsi bao gồm các nước Trung Quốc,

    Ấn Độ, Nga, Mexico, Brazil…

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Thị trường một số nước phát triển: ngoài Hoa Kỳ, Pepsi cũng chú trọng phát triển thị trường đồ ăn nhẹ lành mạnh hướng đến nhu cầu của các nước phát triển khác. Trung Quốc và Brazil sẽ là 2 thị trường quốc tế lớn nhất cho sản phẩm đồ ăn nhẹ trong những năm tới đây.

    –  Tiềm năng tăng trưởng của các thị trường.

    Hiện nay Pepsi vẫn tiếp tục duy trì tăng cường lượng tiêu thụ của sản phẩm nước đóng chai tại Mỹ. Bên cạnh đó tiếp tục gia tăng lượng tiêu thụ đối với sản phẩm đồ ăn nhẹ (kỳ vọng: sẽ tăng trưởng 27% vào năm 2013). Pepsi mở rộng các sản phẩm: Ngoài thị trường Mỹ rộng lớn, Pepsi luôn hướng tới các thị trường nước ngoài tiềm năng như Myanmar, Ấn Độ, Brazil…

    4. Những thách thức (Threats).

    –  Những nhận thức của người tiêu dùng.

    Những nhận thức của người tiêu dùng về sức khỏe, hàm lượng đường, muối trong các bữa ăn. Điều này dẫn đến sự sụt giảm về lượng bán các loại đồ uống có Ga. Dự kiến trong năm 2012 mặt hàng nước ngọt có ga sẽ giảm 2,7% tương đương với giá trị là $ 63.459 triệu USD.

    –  Một số tác động tiêu cực của các quy định của chính phủ.

    Các rào cản pháp lý ảnh hưởng lớn đến việc thâm nhập vào các thị trường mới: rào cản bảo hộ… Những luật pháp liên quan đến môi trường, sức khỏe và an toàn… cũng có thể có tác động không nhỏ đến sự phát triển của các tổ chức đặc biệt là những tổ chức hoạt động trong ngành công nghiệp thực phẩm.

    –  Sự cạnh tranh gay gắt.

    Ngành công nghiệp đồ ăn nhanh: với giá cả cạnh tranh khốc liệt trong khi đó lợi nhuận thấp. Bên cạnh đó là sự cạnh tranh đặc biệt mạnh mẽ giữa các công ty toàn cầu (Coca-Cola, Nestlé, Danone, Kraft Foods …). Nguy cơ ảnh hưởng đến giá cả, quảng cáo, quy trình xúc tiến bán hàng…

    –  Tình trạng bất ổn lao động.

    Thực tế cho thấy, trong năm 2008 xảy ra một cuộc đình công tại Ấn Độ đã khiến cho Doanh nghiệp phải đóng cửa san xuất trong vòng 1 tháng.

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    PHẦN 3: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY

    I.                   Chiến lược kinh doanh quốc tế và phương thức thâm nhập thị trường quốc tế.

    Ngày nay, Pepsi đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Theo khảo sát thì cứ trong bốn sản phẩm nước uống có ga được bán trên thế giới thì có một sản phẩm của Pepsi, tổng cộng là một ngày Pepsi bán được hơn 200 triệu sản phẩm và con số này còn tiếp tục tăng. Tính trên toàn thế giới thì khách hàng chi khoảng 32 tỉ đô la cho các mặt hàng nước giải khát của Pepsi-Cola. Hàng năm, một người tiêu dùng ở Mỹ uống khoảng 55 ga-lông nước có ga, điều khiến cho Mỹ trở thành quốc gia có lượng tiêu thụ nước giải khát lớn nhất thế giới.

    Pepsi thiết lập việc bán hàng, và thiết lập một chuẩn mực cảm xúc khách hàng trong ngành công nghiệp nước giải khát qua việc quảng cáo, phân phối, marketing để mở rộng hoạt động. Pepsi-Cola có một mạng lưới phân phối rộng nhất cho sản phẩm nước giải khát của mình với hơn 900 công ty đang vận hành và các nhà máy nhượng quyền thương mại đóng chai trên thế giới. Pepsi củng cố hệ thống phân phối để nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng tốt hơn cho những người bán lẻ nước giải khát. Hơn nữa, việc mở rộng mạng lưới phân phối còn tạo ra một lợi thế cạnh tranh trong việc đưa sản phẩm mới nhanh chóng ra thị trường.

    1.  Phân khúc tiêu dùng.

    Tập đoàn PepsiCo đã sử dụng chiến lược cạnh tranh phân khúc tiêu dùng trong hoạt động kinh doanh, cụ thể là đã hoạt động trong ba phân khúc hàng tiêu dùng chính:

    • Nước giải khát (Pepsi-Cola).
    • Chuỗi nhà hàng (Taco Bell, gà rán hiệu KFC, và Pizza Hut).
    • Đồ ăn nhẹ (snack food như Frito-Lay).

    Để đạt được lợi thế cạnh tranh trong từng phân khúc, tập đoàn Pepsi đã xây dựng 3 bức tranh chiến lược sau:

    • Thương hiệu chính giữ vị trí đứng đầu, phát triển thị trường.
    • Hệ thống hoạt động hiệu quả.
    • Mở rộng các dòng tiền với rủi ro thấp, tiền đầu tư lớn trong mỗi phân khúc. Phân khúc “ nước giải khát”

    Phân khúc nước giải khát là phân khúc lâu đời và rộng nhất trong danh mục của PepsiCo. Công ty nước giải khát Pepsi-Cola sản xuất và bán ra thị trường các loại nước giải khát, bao gồm: Pepsi-Cola, Mountain Dew, và Slice.

    Công ty Pepsi-Cola là công ty nước giải khát lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Coca-Cola. Các sản phẩm dán nhãn của Pepsi-Cola là: Pepsi, Pepsi dành cho người ăn kiêng (Diet Pepsi), Mountain Dew, 7UP. Pepsi thiết lập việc bán hàng và

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 12
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    thiết lập một chuẩn mực cảm xúc khách hàng trong ngành công nghiệp nước giải khát qua việc quảng cáo, phân phối, marketing để mở rộng hoạt động.

    Pepsi sử dụng 4 chiến lược quan trọng để tăng doanh số bán hàng.

    • Chiến lược thứ nhất: Một trong những chương trình quảng cáo nổi tiếng nhất là chiến dịch “Pepsi – một thế hệ mới”

     

    • Chiến lược thứ 2 là chiến lược tập trung mạnh vào sản phẩm Pepsi dành cho người ăn kiêng với tên gọi Diet Pepsi, và tập trung mở rộng thị trường nước giải khát dành cho người ăn kiêng.

     

    • Chiến lược thứ 3 là mở rộng thị trường cho sản phẩm Mountain Dew, nhãn hiệu nước giải khát lớn thứ 7 ở Mỹ. Trong 2 thập kỷ, Pepsi chú trọng đến việc phát triển mùi vị và hình ảnh cho sản phẩm.

     

    • Chiến lược thứ 4 là mở rộng việc bán hàng thông qua việc phát triển các sản phẩm mới và các dịch vụ chăm sóc nhóm khách hàng khác nhau. Các sản phẩm mới kể đến như là Diet Pepsi, Diet Mountain Dew, H2oh!, Pepsi-AM và Mountain Dew Sport. Pepsi-Cola có một mạng lưới phân phối rộng nhất cho sản phẩm nước giải khát của mình với hơn 900 công ty đang vận hành và các nhà máy nhượng quyền thương mại đóng chai trên thế giới, có một hệ thống phân phối hiệu quả từ bán buôn đến bán lẻ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi đưa sản phẩm mới ra thị trường toàn cầu. Để nâng cao hiệu quả hoạt động, Pepsi đã phát triển mối quan hệ dài hạn với các nhà cung cấp, đưa vào hoạt động các nhà máy sản xuất mới và kỹ thuật kho hàng để tiết kiệm chi phí (khoảng 25 nghìn USD). Năm 1989, Pepsi-Cola còn phân chia các nhà máy sản xuất nước giải khát ở Mỹ theo 4 khu vực. Trên thế giới Pepsi-Cola cũng phân chia làm 6 khu vực để nâng cao, phát triển thêm cơ hội trong những khu vực đó.

     

    Đánh giá: Đối với phân khúc thị trường “Nước giải khát” của tập đoàn PepsiCo thì tập đoàn đã lựa chọn 4 chiến lược kể trên để thõa mãn với nhu cầu của khách hàng nhằm mục đích tăng doanh số và phát triển tập đoàn.

     

    • Về chiến lược thứ nhất “Pepsi – một thế hệ mới” thì ngoài việc thõa mãn nhu cầu của khách hàng để tăng lợi nhuận cho tập đoàn thì tập đoàn còn đưa ra 1 thông điệp là Pepsi sẽ tạo ra 1 thế giới mới, 1 cuộc sống mới.

     

    • Về chiến lược thứ 2 thì khách hàng mà tập đoàn nhắm đến là những người ăn kiêng. Cuộc sống ngày càng phát triển nên số người béo đã tăng lên nhanh chóng do vậy con người có xu hướng ăn kiêng, nắm bắt được nhu cầu này thì PepsiCo đã cho ra đời sản phẩm Diet Pepsi để phục vụ nhu cầu của nhóm khách hàng này. Đây được coi là một chiến lược makerting hiệu quả của PepsiCo.

     

    • Khi đã có một thị trường nhất định thì tập đoàn PepsiCo đã không ngường mở rộng thị trường của mình, điều này thể hiện ở chiến lược thứ 3 và thứ 4. Đây là hai chiến lược mở rộng thị trường để lấp đầy dòng sản phẩm ngoài mục đích tăng doanh thu thì còn một mục đích nữa là phủ kín dòng sản phẩm hay còn gọi là lấp đầy dòng sản phẩm để ngăn cản đối thủ cạnh tranh gia nhập vào phân khúc thị trường mà
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 13
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    mình đang kinh doanh. Đây là một chiến lược cạnh tranh hiệu quả và phù hợp khi PepsiCo đã có một thị trường nhất định và đã có vị thế của mình trên phân khúc thị trường “Nước giải khát”. Với những chiến lược kể trên thì tập đoàn PepsiCo đã rất thành công trên phân khúc thị trường “Nước giải khát”.

    1. Nhóm kinh doanh nhà hàng.

    Nhóm nhà hàng bao gồm 3 hệ thống nhượng quyền thương mại lớn trên thế giới là: Pizza Hut, Taco Bell, và gà rán hiệu KFC. Nhóm nhà hàng của tập đoàn PepsiCo là hệ thống nhà hàng lớn nhất thế giới năm 1990.

    • Gà rán KFC được tập đoàn PepsiCo mua lại vào tháng 10/1986. KFC đã mở rộng hoạt động trong 57 nước và suốt năm 1989, KFC mở thêm 3000 đơn vị ở nước ngoài, trở thành chuỗi nhượng quyền thương mại ra nước ngoài lớn nhất của Mỹ.

     

    • Pizza Hut được PepsiCo mua lại vào năm 1977, là một chuỗi sản xuất Pizza lớn nhất thế giới. Trong suốt những năm

     

    1984-89, Pizza Hut trở thành nhà hàng phát triển nhượng quyền thương mại nhanh nhất thế giới.

     

    • Taco Bell được mua lại vào năm 1978 – đứng đầu thế giới trong phân khúc thực phẩm Mexico, với rất ít các đối thủ cạnh tranh. PepsiCo tiếp tục mở rộng Taco Bell ra thế giới thông qua việc tiếp tục đầu tư.

     

    Chiến lược: PepsiCo sử dụng nhiều vũ khí cạnh tranh để nâng cao vị thế trong ngành công nghiệp nhà hàng.

     

    • Để theo kịp ngành công nghiệp thức ăn nhanh và xu hướng thực phẩm đảm bảo sức khỏe và dịch vụ tốt, PepsiCo bắt đầu cung cấp cho người tiêu dùng những thực đơn có giá trị. Thực đơn giá trị của Taco Bell đưa ra vào năm 1988, đã giúp tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận.

     

    • Thứ 2, PepsiCo nhấn mạnh giá trị sức mạnh của thương hiệu và sản phẩm mới (như cánh gà rán nóng KFC) đã kích thích việc bán hàng.

     

    • Quảng cáo là 1 phần quan trọng trong chiến lược, trong suốt 1986-87. Pepsi chi 70 triệu USD để thực hiện chiến dịch quảng cáo trong nước cho Taco Bell với cái tên “chữa bệnh cho bữa ăn”

     

    • Mở rộng việc phân phối qua các phương pháp mới để tìm kiếm người tiêu dùng mới trong những khu vực khác nhau để tăng doanh số bán hàng và tăng thị phần. Mục tiêu của công ty là biến nhà hàng PepsiCo ngày càng phát triển rộng ra trên thế giới.

     

    1. Phân khúc thực phẩm nhẹ (Snack food).

    PepsiCo mua lại Frito-Lay vào năm 1965. Các sản phẩm của Frito-Lay nổi tiếng trên thế giới bao gồm: Doritos, Ruffles, Lay’s, Fritos, và Chee-tos. Công ty

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 14
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    không phải đối mặt với đối thủ lớn nào nhưng phải cạnh tranh từ nhiều hãng trong khu vực, đặc biệt về giá cả.

    Chiến lược: PepsiCo thực hiện các chiến lược để phát triển việc bán hàng:

    • Phát triển mở rộng loại sản phẩm bằng việc giới thiệu mùi vị mới. Mùi vị này thay đổi theo mùa đã thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng trong các khu vực khác nhau. Việc mở rộng này không chỉ là mùi vị mới mà còn có cả sản phẩm mới.

     

    • Tạo ra sản phẩm mới và tạo ra phân khúc đồ ăn nhẹ để đáp ứng nhu cầu khách hàng.
    • Mở ra thị trường mới qua bao gói và phân phối. Ví dụ khoai tây rán được đóng trong hộp, và được bán chủ yếu qua các cửa hàng.

     

    • Quảng cáo là 1 chiến lược quan trọng, Frito-Lay chi 60.2 nghìn đo la cho quảng cáo năm 1985 và con số này tiếp tục tăng lên qua các năm.

     

    • Frito-Lay tiếp tục nâng cao việc quản lý. Suốt những năm 1989, Frito-Lay phân chia các công ty trong nước Mỹ vào 4 phân khúc để nâng cao hiệu quả và tăng ảnh hưởng địa phương. Frito-Lay là công ty đầu tiên áp đưa vào sử dụng hệ thống máy tính cho việc bán hàng, điều này cho phép người quản lý nắm bắt tình hình bán hàng trong ngày hay trong tháng, và trong một khu vực, thành phố nào đó, …dựa trên những số liệu nhập vào hệ thống máy tính đó. Nó giúp cho các giám đốc bán hàng giải quyết các vấn đề xảy ra và phản ứng một cách nhanh chóng với điều kiện cạnh tranh.

     

    • Frito-Lay phát triển lợi thế cạnh tranh thông qua mạng lưới phân phối của mình với hơn 10.000 nhân viên bán hàng.

     

    • Frito phân phối trực tiếp từ nhà máy sản xuất tới các cửa hàng riêng của mình, cho phép tiết kiệm chi phí trong hoạt động lưu kho bãi.

     

    Vị trí “công ty nước giải khát toàn diện” của Pepsi là một lí do lớn nhất dẫn tới thành công trên toàn cầu. Ở Mỹ, công ty Pepsi-Cola có rất nhiều các thương hiệu sản phẩm như Pepsi, Diet Pepsi, Pepsi ONE, Mountain Dew, Wild Cherry Pepsi, Aquafina… Công ty còn sản xuất và bán các loại trà và cà phê uống liền qua các liên doanh với Lipton và Starbucks. Các sản phẩm chính của Pepsi được bán toàn cầu còn có cả Pepsi Max, Mirinda và 7-Up.

     

    Các sản phẩm của Pepsi-Cola đều có chất lượng và giá trị tuyệt hảo. Làm sao mà mọi người có thể tin rằng tất cả các chai và lon Pepsi luôn luôn có mùi vị tuyệt vời và sảng khoái? Quy trình này bắt đầu từ việc đưa ra chính xác nhất các thành phần. Sau đó, các thành phần này đươc pha chế với quy trình công nghệ hiện đại. Tiếp theo, việc chuẩn hoá quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm và hệ thống phân phối của từng địa phương được sắp xếp một cách hoàn chỉnh để đảm bảo việc mở một chai/lon Pepsi ở nhà cũng khiến người uống cảm thấy mát mẻ, sảng khoải, thích thú giống như uống ngay lúc mua. Nghe thì có vẻ hơi khó tin nhưng điều đó là sự thật.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 15
         
         
     
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    2.  Chiến lược đa quốc gia.

    Khi thâm nhập thị trường quốc tế, PepsiCo đã sử dụng chiến lược đa quốc gia, tức là Pepsi sẽ thực hiện từng chiến lược riêng biệt cho từng quốc gia nơi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của mình. Tương tự như các công ty làm về lĩnh vực thực phẩm khác, do phụ thuộc đặc biệt vào thị hiếu, sở thích tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau, pepsi lựa chọn chiến lược này nhằm mục đích phù hợp với thị hiếu và sở thích tiêu dùng đặc thù của từng quốc gia cũng như đảm bảo phương pháp tiếp cận thị trường phù hợp với văn hóa từng quốc gia một.

    Pepsi hoạt động trên lĩnh vực sản xuất thực phẩm, chịu sức ép cao từ việc phải thích nghi và điều chỉnh theo các yêu cầu của địa phương và không gặp phải sức ép từ việc phải cung cấp sản phẩm tại thị trường nước ngoài với chi phí thấp. Doanh nghiệp này cho rằng chỉ những người tại thị trường nước sở tại mới hiểu rõ thị trường đó nhất, chỉ họ mới hiểu rõ thị hiếu, thói quen tiêu dùng cũng như văn hóa tại nước sở tại để từ đó nghiên cứu cải biến đưa ra các sản phẩm phù hợp cũng như có các chiến lược marketing tiếp cận người tiêu dùng thích hợp.

    Để thực hiện chiến lược này, Pepsi đã thành lập các công ty con độc lập, hoặc các liên doanh tại các thị trường khác nhau (ví dụ như tại thị trường Việt Nam). Các công ty con hay liên doanh này sẽ thực hiện cả công đoạn nghiên cứu, phát triển sản phẩm, sản xuất và marketing sản phẩm tại thị trường địa phương. Chiến lược đa quốc gia của PepsiCo tỏ ra thích hợp với việc hoạt động trong ngành mà thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng ở các quốc gia có sự khác biệt.

    Pepsi là một công ty có tính thích nghi cao, bởi vì họ luôn tìm kiếm được các ý tưởng mới, sang tạo ở nước sở tại và đảm bảo thay đổi kịp với biến đổi tại thị trường đấy, đồng thời các sản phẩm của nó vẫn phát triển theo vòng đời sản phẩm. Pepsi là một tổ chức phi tập trung hóa với các quyết định điều hành từ các công ty riêng biệt, nhưng luôn phải tuân thep các chính sách của tập đoàn.

    Thương hiệu Pepsi, thắng lợi của sự khác biệt hóa:

    Tạo hình ảnh tươi mới, trẻ trung đối lập nét cổ điển của Coca-cola

    Quảng cáo nhằm vào danh tiếng và sự hài hước, đối lập với Coca-cola nhằm vào những giá trị vượt thời gian

    Bí quyết thành công trước hết của thương hiệu này là tạo dựng sự mập mờ giữa giống và khác so với Coca Cola, giống để có thể tận dụng được những lợi thế mà Coca Cola đã có được trên thị trường và trong tâm lý của người tiêu dùng, khác để thể hiện và khai thác triệt để bản sắc riêng. Coca Cola và Pepsi Cola rất giống nhau mà cũng rất khác nhau. Chất pepsin là chất có trong hạt coca. Nghe đến coca, có thể không phải ai cũng nghĩ ngay tới Pepsin, nhưng nghe tới Pepsin không ai lại không liên tưởng đến ngay hạt coca. Đi sau núp bóng, nhưng lớn dần lên trong từng bước theo sau ấy.

    Bí quyết thành công tiếp theo của Pepsi là tận dụng tác động to lớn của chính trị. Ở Mỹ, Coca Cola có truyền thống hậu thuẫn cho Đảng Dân chủ còn Pepsi thường

    16

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    đứng sau Đảng Cộng hòa. Năm 1941, để thể hiện tinh thần yêu nước, Pepsi sử dụng ba màu đỏ, trắng, xanh trên nền quốc kỳ Mỹ làm màu chai hộp đựng. Hồi ấy, quân đội Mỹ tổ chức theo màu da và Pepsi chỉ được sử dụng trong những đơn vị lính da đen, cho nên đã từng bị gọi là thứ “đồ uống của người da đen”. Thậm chí, tổ chức phân biệt chủng tộc khét tiếng nhất nước Mỹ là Ku Klux Klan còn tiến hành chiến dịch tẩy chay Pepsi trên khắp nước Mỹ.

    Cựu tổng thống Mỹ Richard Nixon là một trong những người hậu thuẫn Pepsi chinh phục thi trường trong và ngoài nước Mỹ mạnh mẽ và hiệu quả nhất. Năm 1959, khi đó là phó tổng tống Mỹ, không biết cách gì mà Nixon thuyết phục được nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrutshev đồng ý cho chụp ảnh đang uống Pepsi. Quyết định đầu tiên của Nixon trên cương vị tổng thống Mỹ là dỡ bỏ tất cả máy bán Coca Cola tự động trong Nhà Trắng và thay thế bằng máy bán Pepsi tự động. Năm 1972, Pepsi là một trong những tập đoàn đa quốc gia đầu tiên được phép sản xuất ở Liên Xô. Coca Cola vốn luôn là nhà tài trợ chính cho đội tuyển thế vận hội của Mỹ và việc Mỹ tẩy chay Thế vận hội ở Moscow năm 1980 đã giúp Pepsi chinh phục được gần như toàn bộ thị trường Liên Xô và Đông Âu.

    3.  Chiến lược truyền thông, quảng cáo.

    Trong quảng cáo và tiếp thị, Pepsi chủ định không nhấn mạnh vào trong thức uống có gì và tác động vật chất của nó ra sao mà đi vào định hướng và tạo nên cảm nhận chung cho cả thế hệ.

    Đối tượng Pepsi nhằm vào thế hệ trẻ vì thế hệ ấy mới đông đảo, thích khám phá và phô trương, thích chứng tỏ đẳng cấp và dễ bị cuốn hút. Chủ điểm trong quảng cáo và tiếp thị của Pepsi là người trẻ sử dụng Pepsi và phải uống Pepsi thì mới chứng tỏ và được công nhận là trẻ.

    Một chiến lược quảng cáo hiệu quả sử dụng bởi PepsiCo là liên minh giữa người hãng này và chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh KFC. Mặc dù KFC đã được tách ra từ PepsiCo trong tháng 10 năm 1997, hai nhãn hiệu này vẫn còn hợp tác chặt chẽ. PepsiCo cung cấp tất cả các đồ uống soda trong KFC và KFC chỉ được sử dụng sản phẩm của PepsiCo mà thôi.

    PepsiCo đã sử dụng một chiến lược vô cùng hiệu quả là sử dụng những ngôi sao nổi tiếng gần gũi với giới trẻ để quảng cáo sản phầm cho mình. Ví dụ như Michael Jackson, David Beckham, Ronaldinho, Thierry Henry, Raul Gonzalez, Jay Chou, Jolin Tsai

    • Đây là một chiến lược vô cùng hiệu quả và đã mang lại cho Pepsi những con số lợi nhuận lớn.
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 17
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Ví dụ những “sao” đại sứ Pepsi như Mỹ Tâm, Kasim Hoàng Vũ … cũng chính là những đại diện cho một thế hệ trẻ trung, yêu thích khám phá, tràn đầy sáng tạo hiện nay. Bạn trẻ ngày nay luôn muốn vượt qua chính mình, vượt qua thử thách đạt đến thành công và Pepsi mong muốn là người đồng hành cho sức trẻ tràn đầy, vươn mình vượt ra biển lớn của những người Việt Nam trẻ.

    4.  Chiến lược xâm nhập thị trường mới.

    Những phương thức kinh doanh cũ đã không còn hiệu quả khi mà hầu hết các phân khúc thị trường hiện hữu đều đang tiệm cận sự bão hòa trong tương lai không xa. Tấn công vào các thị trường mới nổi là một hướng đi đúng đắn nhưng Pepsi không chỉ đơn thuần cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới mà muốn đưa vào thử nghiệm một mô hình kinh doanh mới. Mô hình này dựa trên mạng lưới đối tác địa phương và hệ thống sản phẩm, dịch vụ có lợi cho sức khỏe chất lượng cao, phù hợp với đa số dân cư. Ví dụ điển hình là thị trường Ấn Độ.

    Để thực hiện mô hình này, Tập đoàn đa quốc gia Pepsi –  
    PepsiCo tập trung phát triển và tiêu thụ các sản phẩm có lợi  
    cho sức khỏe như Tropicana và Quaker, thay cho các sản  
    phẩm đồ ăn nhanh như nước giải khát Pepsi và khoai tây  
    chiên Frito Lay. Thực chất, các kế hoạch của Pepsi đã được  
    âm thầm tiến hành từ nhiều năm nay tại một trong những thị  
    trường đông dân nhất thế giới nhưng nguồn tài nguyên đang  
    cạn kiệt rất nhanh này.  
    Từ năm 2006, PepsiCo đã hợp tác với Đại học nông  
    nghiệp Punjab của Ấn Độ cùng phát triển một giống lúa  
    mới, giảm 30% tỷ lệ sử dụng nước và 70% khí cacbonic và  
    đã được thử nghiệm ở một vài vùng. Công ty này hiện đang  
    lên kế hoạch để xuất khẩu giống lúa này sang những thị  
    trường khan hiếm nguồn nước khác. PepsiCo cũng bắt tay  
    với hãng trà Tata, thuộc tập đoàn công nghiệp Tata lớn nhất  
    Ấn Độ để cùng phát triển một loạt các loại thực phẩm có lợi  
    cho sức khỏe.  
    Việc chuyển đổi từ một nhà cung cấp sản phẩm đồ uống  
    và ăn nhanh truyền thống thành một nhà cung cấp các giải  
    pháp về sức khỏe, đồng thời tạo động lực thúc đẩy kinh tế,  
    môi trường phát triển bền vững hứa hẹn mang lại cho  
    PepsiCo một thị trường tiêu thụ rộng lớn trong tương lai.  
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 18

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Người tiêu dùng tại các thị trường mới nổi sẽ tiếp cận mô hình kinh doanh thân thiện với môi trường và sức khỏe này nhanh hơn nhiều so với người tiêu dùng Châu Âu hoặc Mỹ, giống như sự bùng nổ trong việc sử dụng điện thoại di động đã từng xảy ra ở khu vực này trước đó. Pepsi sử dụng các thị trường mới nổi như Ấn Độ để thí điểm mô hình kinh doanh mới vì những thị trường này có tỷ lệ tiêu thụ thực phẩm đóng gói vẫn còn thấp và cạnh tranh không gay gắt như Mỹ hay Châu Âu.

    1. Pepsico đã dựng nên các thương hiệu riêng biệt. Thương hiệu Pepsi-Cola.

    Pepsi đã mang lại niềm vui và tươi mới cho người tiêu dùng trong hơn 100 năm. Thương hiệu của các đồ uống này đã đáp ứng được nhu cầu trên toàn thế giới. Pepsi-Cola Bắc Mỹ là đơn vị đồ uống giải khát PepsiCo, như ở Hoa Kỳ và Canada. Thương hiệu tại Mỹ của nó bao gồm Pepsi, Mountain Dew, Sierra Mist, SoBe, AMP Energy, IZZE, Naked Juice, Propel, Mug, và Aquafina,…. Công ty này cũng bán

    chạy nhất trà và cà phê đá trên thị trường Bắc Mỹ đồng thời thông qua liên doanh với Lipton và Starbucks.

    Từ khởi đầu khiêm tốn của mình hơn một thế kỷ trước đây, Pepsi-Cola đã phát triển để trở thành một trong những sản phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất trên toàn thế giới. Hiện nay, công ty đang luôn tiếp tục đổi mới, tạo ra các sản phẩm mới, hương vị mới và các gói mới trong hình dạng và kích cỡ khác nhau để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cho sự tiện nghi và sự lựa chọn lành mạnh. Pepsi liên tục cập nhật theo các cách khác nhau để đảm bảo người tiêu dùng của họ sẽ có được những sản phẩm mà họ muốn, khi họ muốn và nơi họ muốn.

    1. Thương hiệu Frito-Lay.

    Sử dụng hơn 48.000 người và mang lại hơn 13 tỷ USD kinh doanh, danh mục đầu tư của Frito-Lay tiếp thêm sinh lực của PepsiCo sản phẩm với nhiều món ăn ngon và ‘vui vẻ’. Frito-Lay Bắc Mỹ đạt được 13 tỷ đô trong kinh doanh thực phẩm của PepsiCo. Trong hơn 75 năm, Frito Lay đã được hưởng những món ăn nhẹ tốt nhất trên trái đất bắt đầu với các thành phần đơn giản.

    Frito-Lay cũng được dành riêng cho người tiêu dùng một phạm vi rộng lớn hơn của sự lựa chọn lành mạnh. Họ cung cấp chip vị tuyệt vời với ít chất béo thông qua cách thức nướng của họ, đường và đồ ăn nhẹ làm từ các thành phần tự nhiên, không chứa màu nhân tạo, hương vị hay chất bảo quản với đường tự nhiên của họ. Tất cả các chip snack của họ có chứa 0 gam chất béo.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 19
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    1. Thương hiệu Tropicana.

    Tropicana, thương hiệu mạnh nhất trong các loại nước ép, mở rộng danh mục đầu tư PepsiCo của các thương hiệu với nhiều dinh dưỡng, chất lượng cao, hương vị. Sản phẩm Tropicana – một bộ phận của PepsiCo là nhà sản xuất hàng đầu thế giới và tiếp thị của nước ép trái cây có thương hiệu. Thị trường Tropicana Mỹ dưới nhiều tên thương hiệu, bao gồm Tropicana từ tập trung các loại nước: Dole nước trái cây và nước trái cây pha trộn; Tropicana Nước trái cây, Trop50 và Tropicana Twister đồ uống nước trái cây.

    1. Thương hiệu Quaker.

    Thương hiệu Quaker đã được khoảng hơn một thế kỷ. Họ là những biểu tượng chất lượng tuyệt vời của hương vị và dinh dưỡng. Giữ vị trí số 1 trong các chuyên mục tương ứng của họ yêu thích như Quaker Oats, Quaker Rice Cakes, Chewy Granola Bars và Rice-A-Roni . Với thương hiệu Aunt Jemima, Quaker cũng là một nhà sản xuất xi-rô và hỗn hợp bánh. Nó là một trong bốn nhà sản xuất lớn nhất các loại ngũ cốc lạnh với các thương hiệu nổi tiếng như Cap’n Crunch và Cuộc sống.

    1. Thương hiệu Gatorade.

    Có sẵn tại hơn 80 quốc gia, Gatorade có dòng đồ uống hơn 45 năm về nước và dinh dưỡng thể thao. Gatorade cung cấp các sản phẩm sinh ra từ phòng thí nghiệm.

    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện trong phòng thí nghiệm công thức khoa học một carbohydrate mới chính xác cân bằng điện phân nước giải khát sẽ thay thế đầy đủ các thành phần quan trọng bị mất do người chơi thể thao thông qua mồ hôi và tập thể dục. Họ được gọi là “Gatorade.” Sau vài

    thập kỷ nghiên cứu sâu về khoa học thể dục, thể thao, hydrat hóa, dinh dưỡng, đến năm 1983, Gatorade đã trở thành thức uống chính thức của các môn thể thao của NFL – một tiêu đề giữ cho đến ngày nay. Gatorade cũng là thức uống chính thức của NBA và WNBA, Major League Baseball, Major League Soccer, sử dụng tại hơn 70 trường cao đẳng, và ưu tú và các tổ chức nghề nghiệp và các đội khác rất nhiều.

    Tăng lên đến những thách thức mới: sau nhiều năm nghiên cứu cẩn thận bởi các nhân viên tại GSSI vào nhu cầu của các vận động viên tham gia vào các nhu cầu đào tạo và cạnh tranh cao, Gatorade ra mắt Series Performance Gatorade, một tinh hoa của dòng sản phẩm dinh dưỡng thể thao vào năm 2001. Những sản phẩm này bao

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 20
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    gồm Năng lượng Nước uống Gatorade, Bar Năng lượng Gatorade, và dinh dưỡng Shake Gatorade. Bốn năm sau GSSI đã phát triển Formula Gatorade Endurance. Với nồng độ cao của chất điện phân natri chủ yếu được tìm thấy trong giải khát gốc và bốn điện giải khác bị mất mồ hôi, Gatorade Endurance trở thành một trụ cột trên đường đua trên thế giới.

    Năm 2010, Gatorade tái tập trung và bắt đầu tham gia một cách tiếp cận toàn diện hơn để hydrat hóa và dinh dưỡng thể thao. Kết quả là dòng G, được phát triển bởi GSSI với hai mới tập trung trong tâm trí: cơ thể sẵn sàng cho việc tập thể dục và giúp cơ thể phục hồi sau đó. Mỗi phần của loạt bài này được thiết kế để giúp các vận động viên cạnh tranh trước, trong và sau khi sự kiện thể thao.

    6.  Slogan qua các thời kỳ.

    Nhắc đến Pepsi không thể không nghĩ đến hình ảnh trẻ trung, năng động, đầy sức sống của tuổi trẻ. Chính vì vậy, các slogan của Pepsi luôn gắn liền với lối sống trẻ qua từng thời kỳ, xu hướng của thế giới và thể hiện triết lý kinh doanh của hãng.

    • Năm 1906: “The Original Pure Food Drink” (Nước giải khát tinh khiết đến tự nhiên)

     

    • Năm 1909-1939: Delicious and Healthful (Tuyệt hảo và dinh dưỡng)
    • Năm 1939: “Twice as Much for a Nickel” (Cùng một giá nhưng hai lần nhiều hơn)

     

    • Năm 1950: “More Bounce to the Ounce” (Uống nhiều hơn giá không đổi)
    • Năm 1958: “Be Sociable, Have a Pepsi” (Cùng Pepsi thắt chặt tình bạn bè)
    • Năm 1961: “Now It’s Pepsi for Those Who Think Young” (Pepsi nước uống của tuổi trẻ)

     

    • Năm 1963: “Come Alive, You’re in the Pepsi Generation” (Sảng khoái với Pepsi thế hệ mới)

     

    • Năm 1967: “(Taste that beats the others cold) Pepsi Pours It On” (Pepsi – Hương vị mát lạnh đánh bật tất cả)

     

    • Năm 1969: “You’ve Got a Lot to Live, Pepsi’s Got a Lot to Give” (Bạn trải nghiệm cuộc sống để hưởng thụ, Pepsi sáng tạo để bạn tận hưởng)

     

    • Năm 1973: “Join the Pepsi people (feeling free)” (Gia nhập thế hệ Pepsi)
    • Năm 1975: “Have a Pepsi day” (Tận hưởng một ngày cùng Pepsi)
    • Năm 1979: “Catch that Pepsi spirit” (Cảm nhận tinh thần Pepsi)
    • Năm 1981: “Pepsi’s got your taste for life” (Pepsi – hương vị tuyệt vời cho cuộc sống của bạn)

     

    • Năm 1983: “Pepsi’s Now!” (Khởi nguồn cùng Pepsi)
    • Năm 1984: “The Choice of a New Generation” (Sự lựa chọn của thế hệ mới)
    • Năm 1991: “Gotta Have It” (Trải nghiệm cùng Pepsi)
    • Năm 1995: “Nothing Else is a Pepsi” – (Không gì ngoài Pepsi)
    • Năm 1997: “GeneratioNext” (Thế hệ mới)
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 21
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    • Năm 1999: “Ask for More”/”The Joy of Pepsi-Cola” (Khát khao hơn/Sôi động hơn với Pepsi)

     

    • Năm 2003: “It’s the Cola”/”Dare for More” (Hương vị cola chính hiệu/Thách thức hơn)

     

    • Năm 2007: “More Happy” (Ngất ngây hơn)

    Hình ảnh minh họa cho logo của Pepsi qua các thời kỳ

    Hoạt động kinh doanh cũng như chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế của tập đoàn PepsiCo dựa trên cơ sở triết lý kinh doanh như sau:

    • PepsiCo là công ty toàn cầu, kinh doanh nước giải khát và thực phẩm đã hoạt động kinh doanh trên 100 năm nay. PepsiCo cung cấp những sản phẩm đáp ứng nhu cầu và sở thích đa dạng của người tiêu dùng, từ những sản phẩm mang tới sự vui nhộn, năng động cho đến những sản phẩm có lợi cho sức khỏe và lối sống lành mạnh.

     

    • Trụ sở chính PepsiCo được đặt tại Purchase, New York, khoảng 45 phút đường bộ từ Thành phố New York.

     

    • Sứ mệnh PepsiCo đề ra là: “Trở thành công ty hàng đầu về sản xuất hàng tiêu dùng, tập trung chủ yếu vào thực phẩm tiện dụng và nước giải khát. Chúng tôi không ngừng tìm kiếm và tạo ra các hiệu quả tài chính lành mạnh cho các nhà đầu tư, tạo cơ hội phát triển và đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho nhân viên, các đối tác kinh doanh và cộng đồng nơi chúng tôi hoạt động. Chúng tôi luôn phấn đấu hoạt động trên cơ sở trung thực, công bằng và chính trực trong mọi hành động của mình.”
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 22
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    7.  Quá trình thâm nhập thị trường Việt Nam.

    Khoảng đầu thập niên 90, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường thì trong nước hầu như không có một thương hiệu nước ngọt nào được “cầu chứng” ngoài thương hiệu “xá xị” có từ trước 1975 và sau này có thêm thương hiệu Tribeco (một hãng nước ngọt liên doanh với Ðức), còn lại là các nhãn hiệu nhỏ lẻ với thị phần không đáng kể.

    Ngày 24/12/1991: Công ty nước giải khát quốc tế (IBC) được thành lập do liên doanh giữa SP.Co và Marcondray – Singapore với tỉ lệ vốn góp 50% – 50%. Khi đó Pepsi chính thức thâm nhập thị trường Việt Nam, với thế lực hùng hậu của mình, Pepsi ngay lập tức thống lĩnh thị trường Việt Nam từ Nam ra Bắc chỉ cần với một chiêu thức đơn giản là “khuyến mãi đại hạ giá”. Việt Nam khi đó còn rất yếu kém về mặt quản lý kinh tế nên hầu như không kịp trở tay trước chiêu thức đơn giản đó của Pepsi dẫn đến làm tan vỡ hầu hết các cơ sở sản xuất nước ngọt trong nước. Với giá quá rẻ, cộng thêm uy tín chất lượng hàng đầu thế giới, Pepsi đè bẹp các đối thủ Việt Nam trong vòng không quá một tháng. Riêng hãng nước ngọt Tribeco cũng đành chấm dứt thời hoàng kim ngắn ngủi của một hãng liên doanh với Ðức để chuyển sang sản xuất nước uống sữa đậu nành để tránh phải đối đầu với Pepsi.

    Sau khi đã chiếm lĩnh được thị trường, Pepsi tiến tới thiết lập hệ thống phân phối trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Ngoài các đại lý và tổng đại lý, Pepsi còn tiếp cận hầu hết các quán cà phê – nơi quảng bá và tiêu thụ một lượng rất lớn nước ngọt của Pepsi.

    Trên phạm vi toàn cầu, Coca-cola luôn chiếm ưu thế so với Pepsi nhờ chiến lược tiếp thị và quảng cáo của họ. Riêng thị trường Việt Nam, Pepsi không những có được một hệ thống phân phối tốt trên toàn lãnh thổ nhờ tới trước mà họ còn có được những nhà quản lý và điều hành giỏi. Những người Việt không những am hiểu công nghệ tiếp thị mà đồng thời họ cũng rất am hiểu tâm lý của người Việt – điều này rất quan trọng. Nhờ vậy, Pepsi luôn đẩy lui bất cứ đợt phản công giành giật thị trường nào của Coca-cola. Ví dụ, đánh vào tâm lý yêu thích bóng đá và tâm lý tự hào dân tộc của người Việt, Pepsi tổ chức “Ngày hội bóng đá” thông qua show quảng cáo trên truyền hình, với hình ảnh cầu thủ bóng đá Việt Nam được yêu thích nhất thời bấy giờ, biểu diễn cùng với các danh thủ hàng đầu thế giới và đồng thời tung ra khẩu hiệu: “Uống Pepsi là ủng hộ đội tuyển quốc gia Việt Nam vươn ra đấu trường quốc tế”. Lập tức doanh số bán ra của Pepsi tăng vọt (nhất là trong các giải cầu của Ðông Nam Á, hoặc Châu Á có đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự) đồng thời tình cảm của dân chúng đối với Pepsi cũng được gia tăng.

    Tóm lại, thành công của Pepsi trên thị trường Việt Nam phải nhắc đến đầu tiên là do sự nhanh nhạy khi tiếp cận với một thị trường mới còn sơ khai, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh và tiếp đó là nhờ thu hút được một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, am hiểu văn hóa bản địa đã đưa ra được những chiến lược kinh doanh rất hiệu

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 23
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    quả. Hai điều trên là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc Pepsi trở thành thương hiệu nước giải khát hàng đầu tại Việt Nam ngày nay.

    II. Cơ cấu tổ chức.

    Tập đoàn đã sử dụng mô hình quản lý phân cấp và phụ trách theo khu vực địa lý. Gia đình Pepsi bao gồm 4 bộ phận: Pepsi đồ uống Bắc Mỹ (PepsiCo Americas Beverage – PAB), Pepsi đồ ăn Bắc và Nam Mỹ (PepsiCo Americas Foods), Pepsi Châu Âu (PepsiCo Europe), Pepsi Châu Á Trung Đông và Châu Phi (PepsiCo Asia, Middle East and Africa).

    1.  PepsiCo Americas Beverage (PAB).

    Pepsi được sáng lập năm 1898 bởi Cableb Bradham. Ngày nay, thương hiệu Pepsi là một trong các thương hiệu đồ uống phát triển lớn mạnh nhất, bao gồm đồ uống có các-bô-nát, nước hoa quả, trà uống liền (ready-to-drink tea), cà phê, các đồ uống cho người chơi thể thao, nước uống đóng chai và nước uống tăng cường khoáng chất. PAB được biết đến với các thương hiệu như Mountain Dew, Diet pepsi, Gatorade, Tropicana Pure Premium, Aquafina, Sierra Mist, Mug …

    Năm 1992, PAB hợp tác cùng công ty Thomas J. Lipton để bán “trà uống liền” vào Mỹ. Pepsi cũng bán cà phê “uống liền” Frappuccino với sự hợp tác cùng Starbucks.

    Tropicana được sáng lập vào năm 1947 bởi Anthony Rossi với lĩnh vực đóng gói hoa quả. Năm 1954, Rossi đi tiên phong trong việc xử lý tiệt trùng theo phương pháp Pasteur cho nước cam. Lần đầu tiên, người tiêu dùng có thể thưởng thức vị cam tươi nguyên chất đựng trong một cái hộp chứa. Nước hoa quả, Tropicana Pure Premium, trở thành con chim đầu đàn của công ty. Pepsi mua lại Tropicana vào năm 1998.

    SoBe trở thành một phần của PAB vào năm 2001. SoBe sản xuất và kinh doanh dòng thức uống cách tân bao gồm đồ uống hoa quả hỗn hợp, nước tăng lực, sữa, trà nhập khẩu và các loại đồ uống khác có hương liệu thực vật.

    Gatorade – đồ uống giải khát cho người chơi thể thao, mua từ công ty “The Quaker Oats” vào năm 1983 và trở thành một phần của gia đình Pepsi, Gatorade là thức uống bão hòa đâu tiên trên thế giới với sự hỗ trợ của 40 năm nghiên cứu. Được sáng chế vào năm 1965 bởi các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Florida cho các đội bóng của các trường học. “The Gators” hay Gatorade giờ đã trở thành thức uống dành cho thể thao hàng đầu.

    Công ty Pepsi Beverages (Pepsi Beverage Company – PBC): Vào ngày 26 tháng 2 năm 2010, Pepsi hoàn tất việc sáp nhập với PAS và PBG để tăng cường lĩnh vực kinh doanh thức uống thị trường Bắc Mỹ. Các hoạt dộng đóng chai của PAS và PBG ở Bắc Mỹ giờ được thực hiện tại một thành viên của Pepsi, là công ty Pepsi Beverages. PBC hoạt động ở Mỹ, Canada và Mêhicô và chiếm 75% lượng tiêu thụ đồ uống của Pepsi ở thị trường Bắc Mỹ. Các thức uống của PBC rất đa dạng, bao

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    gồm một số thương hiệu rất nổi tiếng trên toàn thế giới như Pepsi, Mountain Dew, Sierra Mist, Aquafina, Gatorade, SoBe, Lipto và Amp Energy. PBC còn sản xuất và phân phối các sản phẩm của các hãng khác tại các thị trường sở tại như Dr Pepper, Crush, Rock Star và Muscle Milk. Trụ sở của đơn vị này đóng tại hạt Westchester, NewYork.

    2.  PepsiCo Americas Foods (PAF).

    Là bộ phận kinh doanh thức ăn và đồ ăn nhẹ của Pepsi tại thị trường Bắc và Nam Mỹ. Các bộ phận kinh doanh bao gồm Frito-Lay Bắc Mỹ, Quaker Foods & Snacks, Sabritas, Gamesa and Latin America Foods.

    –  Frito-Lay North America:

    Năm 1932, C.E. Doolin vô tình bước vào một quán cà phê nhỏ ở San Antonio và mua một gói chíp ngô. Ông cũng không ngờ rằng loại chip mặn này có thể trở thành loại đồ ăn nhẹ nổi tiếng nhất thế giời. Doolin nhận ra rằng người chủ này rất háo hức nếu bán được cửa hàng này, do đó ông đã mua công thức và bắt đầu bán FRITOS ® Corn Chips từ mô hình T Ford của ông.

    Cũng tại thời điểm đó, Herman W. Lay bắt đầu kinh doanh chip khoai tây tại Nashville bằng cách phân phối các đồ ăn nhẹ. Không lâu sau đó, ông Lay đã mua nhà máy này, và H.W. Lay & Company được thành lập. H.W. Lay & Company trở thành một trong những hãng kinh doanh đồ ăn nhẹ lớn nhất ở Đông Á, và thương hiệu khoai tây chíp vẫn được ưa thích nhất ở Mỹ.

    Mấy năm sau, năm 1961, Công ty Frito và công ty H.W sáp nhập và trở thành tập đoàn Frito-Lay. Ngày nay, Frito-Lay Bắc Mỹ sản xuất một số thức ăn nhẹ nổi tiếng nhất ở Mỹ, bao gồm chip khoai tây LAYvà RUFFLES, chip bắp ngô DORITOS, TOSTITOS, đồ ăn nhẹ hương phô mai CHEETOS, chip ngô FRITOS, ROLD bánh quy cây GOLD, đồ ăn nhẹ nhiều loại hạt SUNCHIPS, bỏng ngô bọc đường CRACKER JACK®.

    –  Quaker Foods North America:

    Công ty Quaker Oats được sáng lập vào năm 1901 khi một vài người Mỹ tiên phong trong việc xay yến mạch phối hợp thành lập công ty. Ở Ravenna, Ohio, Henry D. Seymour và William Heston đã lập công ty Quaker Mill.

    • Cedar Rapids, Iowa, John Stuart và con trai, Robert, và đối tác của họ, George Douglas, điều hành nhà máy xay ngũ cốc lớn nhất lúc đó. Ferdinand Schumacher, được biết đến như “Ông vua yến mạch”, đã sáng lập công ty German Mills American Oatmeal vào năm 1856.

    Kết hợp công ty The Quaker Mill với The Stuart and Schumacher tạo thành công ty “The Quaker Oats”.

    Aunt Jemima Mills là công ty đầu tiên thu mua công ty này năm 1926, và giờ đây trở thành nhà sản xuất bánh đa trộn và si rô trộn hàng đầu. Gatorade được thu mua vào năm 1983.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 25
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Pepsi sáp nhập với “The Quaker Oats” vào năm 2001.

    –  Sabritas:

    Đóng đô tại thành phố Mê xi cô, Sabritas là hãng kinh doanh hàng đầu về đồ ăn nhẹ tại thị trường này. Được sáng lập năm 1943, Sabritas được cải tổ về chất lượng, độ đa dạng và hương liệu và dẫn đầu trong các sản phẩm của Pepsi Frito-Lay tại đây, chẳng hạn Cheetos, Fritos, Doritos và Ruffles. Đây cũng là tên thương hiệu của các dòng khoai tây chip. Ngoài ra, hãng này còn sản xuất và kinh doanh một số thương hiệu tại đây như Crujitos, Poffets, Rancheritos và Sabritones. Sabritas kiểm soát khoảng 80% thị trường đồ ăn nhanh ở Mê hi cô. Pepsi thu mua Sabritas vào năm 1966.

    –  Gamesa:

    Đóng đô ở Monterrey, Mexico, Gamesa là hãng toàn cầu hàng đầu về bánh quy, và là sản xuất bánh quy lớn nhất của Mê xi cô với các sản phẩm chất lượng cao với nhiều phong cách, và được sản xuất tại năm bang ở Mê xi cô. Một số sản phẩm nổi tiếng bao gồm Marías Gamesa, Emperador, Arcoiris, Mamut, Chokis, và Maizoro. Năm 1990, Pepsi đã thu mua công ty này.

    –  Latin Americas Foods:

    Kinh doanh tại Brazil, Argentina, Colombia, Peru và Venezuela. Các thương hiệu nổi tiếng bao gồm Lay’s, Cheetos, Fritos and Doritos, cũng như các sản phẩm tại địa phương như đồ ăn nhẹ Lucky ở Brazil.

    3.  PepsiCo Europe.

    Chi nhánh Pepsi tại Châu Âu là một trong những công ty về đồ ăn và thức uống hàng đầu tại khu vực này, với hơn 60000 lao động và với thị trường 900 triệu người, 11 vùng và 45 nước, vùng kinh doanh kéo dài từ phía tây nước nga cho đến Bồ Đào Nha, Bắc Thổ Nhĩ Kì và Nauy.

    Với doanh thu ước tình tầm 13 tỉ đô la Mỹ, Pepsi đã đem đến đây những sản phẩm Quaker Oats, Tropicana, Gatorade, Walkers, Lay’s và Pepsi-Cola cũng như các đồ ăn thức uống được yêu thích tại đây chẳng hạn Walkers, Fruktovy Sad, Ya, Tonus, Hrusteam, Russky Dar, Yedigun, Alvalle, Kas, Matutano, Benenuts, Star Chips, Duyvis và Sandora.

    Pepsi cũng chú trọng vào sự phát triển bền vững tại khu vực, đầu tư lớn vào Đông Âu, tấn công thị trường 350 triệu người tại nga, Đông Âu và thị trường Châu Á.

    Với việc thu mua Wimm-Bill-Dann, hãng đồ ăn thức uống lớn nhất của Nga với giá 5.4 tỉ đô la đã đưa Pepsi trở thành công ty ăn uống lớn nhất tại Nga.

    Pepsi đưa vào sản xuất dòng khoai tây chip mới Marbo tại một nhà máy tại Backi Maglic, Serbia vào năm 2010, với lượng đầu tư 20 triệu Euro.

    Vào tháng 2/2010, Pepsi tuyên bố đầu tư 50 triệu Euro tại nhà máy Grodzisk Mazowiecki Tomaszow Mazowiecki tại Ba Lan.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 26
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    4.  PepsiCo Asia, Middle East and Africa (AMEA)

    Trong gia đình Pepsi, thành viên này sản xuất và kinh doanh các loại đồ ăn nhẹ hàng đầu như Lay’s, Kurkure, Chipsy, Doritos, Smith’s, Cheetos, Red Rock Deli và Ruffles, thông qua các công ty phụ thuộc. Hơn nữa, dù độc lập hay thông qua các nhà máy sản xuất, AMEA sản xuất và kinh doanh nhiều sản phẩm ngũ cốc và đồ ăn nhẹ Quaker. AMEA cũng sản xuất và kinh doanh các loại nước uống như Pepsi, Mirinda, 7UP và Mountain Dew. Những sản phẩm này được bán dưới cho các hãng đóng chai ủy quyền, các nhà phân phối và bán lẻ. Tuy nhiên, ở một số thị trường, AMEA tự đóng chai và phân phối. Ngoài ra, AMEA cũng cấp giấy phép cho phép một số hãng đóng chai với sản phẩm Aquafina. Với sản phẩm trà “uống liền”, AMEA cũng liên kết với một số nhà máy hoặc tự sản xuất mặt hàng này và tiêu thụ thông qua công ty quốc tế Unilever (dưới thương hiệu Lipton).

    Sản phẩm của tập đoàn Pepsico được phân phối tại gần 200 quốc gia trên toàn cầu. Pepsico là một tập đoàn dẫn đầu thị trường thế giới về thực phẩm và nước giải khát với danh mục sản phẩm đa dạng lên tới 22 thương hiệu với doanh thu hơn 1 tỷ USD hàng năm bán lẻ.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 27
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    PHẦN IV: CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM

    I.  Thành công về chiến lược sản phẩm và cơ cấu sản phẩm.

    Một là không ngừng nỗ lực cải tiến, chinh phục và sáng tạo. Với sự phát triển sau, nhưng Pepsi đã biết đi tắt đón đầu, bước từng bước hết sức ổn định đã dần theo kịp vị thế đứng đầu của Cocacola và bỏ xa các đối thủ cạnh tranh khác trong cuộc đua giành thị phần.

    PepsiCo có 22 thương hiệu lớn từng tạo ra 1 tỷ USD trở lên vào năm 2011 trong doanh số bán lẻ hàng năm. Số lượng các thương hiệu hàng tỷ USD trong danh mục đầu tư của chúng tôi phát triển đáng kể từ năm 2000. Trong thực tế, Pepsi đã tăng gấp đôi số lượng trong 11 năm qua, đồng thời cũng liên doanh hợp tác với Unilever và Starbucks, tương ứng.

    Hãng nước ngọt Pepsi được thành lập gần một thế kỷ trước, lượng tiêu thụ và danh tiếng đều kém xa Coca Cola. Nhưng đến những năm đầu của thập niên 90, Pepsi đã vinh dự được xếp hàng thứ bảy trong số 10 tập đoàn lớn nhất nước Mỹ, trở thành đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ nhất của Coca Cola.

    Cơ cấu sản phẩm của PepsiCo đã có sự thay đổi. Theo đó nước giải khát lúc này không còn vị trí độc tôn gần như tuyệt đối trong các mặt hàng của PepsiCo như trước nữa. Lúc này PepsiCo đã chi ra 14 tỷ USD để mua lại tập đoàn Quaker Oats – một trong những đối thủ cạnh tranh chính của PepsiCo. PepsiCo ngay sau đó đã có thêm 8% thị phần của sản phẩm nước uống Gatorade dành cho người tập thể thao.

    Ngoài ra PepsiCo còn có thêm các loại nước ép trái cây với thương hiệu Tropicana. Các thương hiệu bánh quy, bánh mặn của Quaker Oats cũng đã góp phần đáng kể làm thay đổi cơ cấu sản phẩm của tập đoàn PepsiCo. Hơn thế nữa, để cạnh tranh với tập đoàn Coca-Cola, tập đoàn PepsiCo đã mở rộng hoạt động kinh doanh trong ba phân khúc hàng tiêu dùng chính bao gồm:

    Một là phân khúc nước giải khát: là phân khúc lâu đời và rộng nhất trong danh mục của PepsiCo. Bên cạnh thương hiệu Pepsi trị giá hàng tỷ USD, tập đoàn này còn sở hữu nhiều thương hiệu nước giải khát lừng danh khác như Mirinda, 7 UP, Mountain Dew, Pepsi dành cho người ăn kiêng (Diet Pepsi), hay nước khoáng Aquafina.

    Hai là chuỗi nhà hàng bao gồm 3 hệ thống nhượng quyền thương mại lớn trên thế giới đó là: Pizza Hut (được PepsiCo mua lại vào năm 1977), Taco Bell (được PepsiCo mua lại vào năm 1978) , và gà rán hiệu KFC (được tập đoàn PepsiCo mua lại vào tháng 10/1986). Để theo kịp ngành công nghiệp thức ăn nhanh và xu hướng thực phẩm đảm bảo sức khỏe và dịch vụ tốt, PepsiCo đã cung cấp cho người tiêu dùng những thực đơn có giá trị dinh dưỡng. Thực đơn giá trị của Taco Bell đưa ra vào năm 1988, đã giúp tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận.

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Ba là phân khúc thực phẩm nhẹ (Snack food): Nă m 1995 PepsiCo đã thực hiện thành công thương vụ mua lại Frito-Lay. Các sản phẩm của Frito-Lay nổi tiếng trên thế giới bao gồm: Doritos, Ruffles, Lay’s, Fritos, và Chee-tos.

    Hiệu quả kinh doanh tăng rõ rệt. Không chỉ quy mô doanh thu của PepsiCo đã vượt Coca Cola mà lợi nhuận của tập đoàn cũng nhiều hơn trước đáng kể. Nhờ đó mà giá cổ phiếu của PepsiCo trên thị trường chứng khoán tăng 15,2% lên hơn 41 USD cho mỗi cổ phiếu. Chính trong năm 2002 này, cổ phiếu của PepsiCo đã tăng vùn vụt và đã đạt điểm cao nhất trong lịch sử hơn 100 năm thành lập của mình với giá 53,5 USD.

    Hai là cần phải xác định ưu thế của mình, và sau đó là biết chọn sân chơi phù

    hợp

    Không chỉ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới mà Pepsi đang hướng tới các giải pháp về sức khỏe. Tấn công vào các thị trường mới nổi là một hướng đi đúng đắn nhưng Pepsi không chỉ đơn thuần cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới mà muốn đưa vào thử nghiệm một mô hình kinh doanh mới. Mô hình này dựa trên mạng lưới đối tác địa phương và hệ thống sản phẩm, dịch vụ có lợi cho sức khỏe chất lượng cao, phù hợp với đa số dân cư.

    Để thực hiện mô hình này này, Tập đoàn đa quốc gia PepsiCo tập trung phát triển và tiêu thụ các sản phẩm có lợi cho sức khỏe như Tropicana và Quaker, thay cho các sản phẩm đồ ăn nhanh truyền thống trước đây như nước giải khát Pepsi và khoai tây chiên Frito Lay.

    Việc chuyển đổi từ một nhà cung cấp sản phẩm đồ uống và ăn nhanh truyền thống thành một nhà cung cấp các giải pháp về sức khỏe, đồng thời tạo động lực thúc đẩy kinh tế, môi trường phát triển bền vững hứa hẹn mang lại cho PepsiCo một thị trường tiêu thụ rộng lớn trong tương lai.

    Người tiêu dùng tại các thị trường mới nổi sẽ tiếp cận mô hình kinh doanh thân thiện với môi trường và sức khỏe này nhanh hơn nhiều so với người tiêu dùng Châu Âu hoặc Mỹ, giống như sự bùng nổ trong việc sử dụng điện thoại di động đã từng xảy ra ở khu vực này trước đó. Pepsi sử dụng các thị trường mới nổi như Ấn Độ để thí điểm mô hình kinh doanh mới vì những thị trường này có tỷ lệ tiêu thụ thực phẩm đóng gói vẫn còn thấp và cạnh tranh không gay gắt như Mỹ hay Châu Âu.

    II.  Thành công về Chiến lược truyền thông.

    Một là tạo sự khác biệt so với người đứng đầu Cocacola bằng chiến lược “Generation Next”.

    Pepsi đã triệt để sử dụng sự tương phản, sự khác biệt của mình so với đối thủ Coca-Cola. Là một sản phẩm mới toanh trên thị trường, Pepsi đề cao khẩu hiệu: “Generation Next”. Chiến lược quảng bá của họ là sự góp mặt của hàng loạt các ngôi sao ca nhạc, bóng đá, phim ảnh trẻ trung. Với chiêu bài quảng bá đó, Pepsi đã

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 29
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    khẳng định mình là thức uống dành cho những thế hệ tiếp nối, những thế hệ năng động, trẻ trung.

    Việc quảng bá như vậy cũng đồng nghĩa với việc “chê” Coca Cola là sản phẩm của thế hệ trước, thế hệ già cỗi. Lập tức Pepsi trở thành một hình ảnh tương phản của Coca Cola. Trong quảng bá thì được coi là đối thủ của một hãng lớn cũng đã là một thành công lớn vì nó gây được sự chú ý của mọi người. Cứ vậy Pepsi lớn mạnh và có vị thế rất ổn định trong ngành nước uống như ngày hôm nay.

    Hai là không ngừng nỗ lực tạo dựng hình ảnh tới người tiêu dùng bằng việc dùng các ngôi sao nổi tiếng cho chiến lược quảng cáo sản phẩm.

    Năm 1994: Siêu sao Michael Jackson đã trở thành phát ngôn viên của hãng Pepsi. Năm 1985, Trương Quốc Vinh đã trở thành phát ngôn viên ở thị trường châu

    • Khi Trung Quốc đang cuồng nhiệt với bóng đá, Pepsi Cola đã có David Beckham, Ronaldinho, Thierry Henry và Raul Gonzalez đều mặc màu xanh, màu Pepsi.
    • Hồng Kông thì có diễn viên Louis Koo, ca sĩ Đài Loan F4.Jay Chou, Jolin Tsai, Alan Luo đã trở thành biểu tượng của hãng. Trong năm 2007, nam diễn viên Huang Xiao Ming đã trở thành ngôi sao đại lục đầu tiên để nói chuyện cho Pepsi Cola. Hãng thậm chí hợp tác với Thượng Hải Madame Tussauds để chứng minh sự quyến rũ không thể cưỡng lại của nó. PepsiCo có nhiều ngôi sao khác nhau cho thị trường châu Á khác nhau.

    II.               Thất bại về Chiến lược thiết kế sản phẩm mới.

    Một là mở rộng nhưng vẫn phải giữ những điểm cốt lõi.

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Vào khoảng đầu những năm 90, nhu cầu về nước tinh khiết của người tiêu dùng tăng rất cao. Evian và Perrier luôn là những lựa chọn hàng đầu.

    Trước thực tế đó, Pepsi đã cho tiến hành hàng loạt nghiên cứu thị trường để tìm ra một thức uống “tinh khiết” mới nhằm chen chân vào thị phần đầy hấp dẫn này. Kết quả là sau những thử nghiệm này, năm 1992 Pepsi tự hào giới thiệu với cả thế giới loại cola trong suốt đầu tiên mang tên Crystal Pepsi. Sai lầm của hãng này nằm

    • chỗ, nếu một sản phẩm mới được bán ra với cái tên Pepsi thì ít nhất nó phải có vị tưong tự như Pepsi chứ không phải là một thứ nước uống nhàn nhạt khác. Trên thực tế, không một ai biết chính xác được mùi vị các sản phẩm mới này như thế nào.

    Hai là xác định đúng nhu cầu của khách hàng.

    Pepsi là một thương hiệu lớn và luôn là người dẫn đầu thị trường cùng với Coca-Cola. Do đó công ty không nên cho rằng phải lấp hết những chỗ trống trên thị trường mà phải nên chọn cho mình đúng chỗ trống nào cần lấp mà thôi và phải tiến hành nghiên cứu thị trường và tâm lý khách hàng thật kỹ trước khi tung ra sản phẩm mới để tránh lặp lại tình trạng “chết yểu” như các sản phẩm Pepsi Max, Pepsi ONE, Pepsi Lemon…

    IV.  Một số kiến nghị.

    Pepsi nên sử dụng chiến lược nhãn hiệu mới cho những sản phẩm mới. Vì như vậy vừa có thể đa dạng hoá sản phẩm vừa tránh ảnh hưởng xấu, giảm uy tín cho những sản phẩm vốn đã thành công trước đó nếu sản phẩm mới bị thất bại hoặc xảy ra sự cố nào đó.

    Nên tiến hành nghiên cứu và cải thiện hương vị cũng như kiểu dáng, bao bì, màu sắc,… sản phẩm để phù hợp hơn với nhu cầu và xu hướng tiêu dùng của từng nhóm khách hàng, từng vùng miền của thị trường tiêu thụ.

    Pepsi có những sản phẩm giữ được sự khác biệt và thành công trên thị trường thì cần gìn giữ và làm mới những dòng sản phẩm này đề tạo sự đặc trưng riêng của công ty, có thể về giá cả, hương vị, kiểu dáng hay những giá trị vô hình mà công ty muốn gắn kết với sản phẩm để mang lại cho khách hàng: như Sting, Aquafina,….

    Công ty luôn luôn phải có sự đổi mới sản phẩm cũ và nghiên cứu phát triển sản phẩm mới để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người tiêu dùng ngày một đa dạng trong tình hình hiện nay.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 31
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    KẾT LUẬN

    Hơn một thế kỉ xây dựng và phát triển của Pepsi không thể không nhắc đến những sóng gió mà tập đoàn này đã trải qua có những thất bại và thành công đã đi vào lịch sử để từ đó có được Pepsi từng trải và đầy kinh nghiệm hôm nay.Những yếu tố đã giúp pesico vững chắc trên thị trường đó là tập trung xây dựng và phát triển các nhãn hàng lớn mạnh, có khả năng đột phá tạo ra những sản phẩm khác biệt, và có 1hệ thống bán hàng và phân phối vững mạnh.

    Tuy đã thất bại lớn vì đã vội lắp lỗ hỏng của thị trường bằng việc sản xuất ra sản phẩm khác biệt nhưng không hợp với cái tên Pepsi đã gây ra nhiều tổn thất nặng nề,thế nhưng không làm nản chí Pepsi đã nghiên cứu tìm hiểu kĩ và cho ra đời sản phẩm đúng với nhu cầu tiêu dùng đã củng cố lại vị trí của Pepsi trên thị trường toàn cầu. Tiếp nối thành công hơn nữa khi Tập đoàn Pepsico nhắm tới giới trẻ và được gọi là “Thế hệ Pepsi” chiến lược này đã tạo sự khát biệt và mang lại nhiều thành công cho Pepsico.

    Với triết lí vì cuộc sống cộng đồng được thể hiện qua tầm nhìn chiến lược : “Trách nhiệm của PepsiCo là không ngừng cải thiện mọi mặt cuộc sống cộng đồng nơi chúng tôi hoạt động – môi trường, xã hội, kinh tế – góp phần tạo nên một ngày mai tốt đẹp hơn hôm nay” đã mang lại cho Tập đoàn này sự thành công đáng kể và ngày càng vững chắc hơn.

    Và với sự thành công của PepsiCo đã mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào môi trường kinh doanh quốc tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-kinh-doanh-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-cho-c%C3%B4ng-ty-TNHH-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-M.K-t%E1%BA%A1i-TP.HCM_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    LỜI MỞ ĐẦU

    1.     Tính cấp thiết

    Thị trường hiện nay là một thị trường toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ chịu sự cạnh tranh gay gắt trên quy mô quốc tế mà còn diễn ra mạnh mẽ tại thị trường trong nước nơi mà có rất nhiều người bán với một lượng khách hàng hạn chế. Sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài với nguồn tài chính, công nghệ quản lý tiên tiến cùng với những thay đổi liên tục trong nhu cầu, thói quen của người tiêu dùng đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc giữ vững và phát tiển thị trường. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, đổi mới các phương thức bán hàng truyền thống và tiếp cận các phương thức bán hàng tiên tiến và hiệu quả hơn.

    Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã và đang có những chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả bán hàng thông qua hoạt động quản trị bán hàng song hiệu quả chưa cao. Do đó để thành công trong hoạt động bán hàng các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng một hệ thống quản trị bán hàng với những mục tiêu, chính sách và cách thức bán hàng hiệu quả phù hợp với năng lực cũng như nguồn lực của mình. Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh hoạt động quản trị bán hàng đang được quan tâm đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập WTO và mở của thị trường bán lẻ. Trên đây là những nguyên nhân chính cho thấy sự cấp thiết về việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại các doanh nghiệp Việt Nam và cũng là nội dung được nói đến trong bài luận văn này.

    2. Mục tiêu nghiên cứu

    Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm tìm hiểu, phân tích quy trình thực hiện việc quản trị bán hàng trong công ty, đồng thời khảo sát, phân tích những ý kiến, đánh giá của khách hàng và nhân viên bán hàng về hoạt động quản trị bán hàng của công ty. Trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét đánh giá về hiệu quả hoạt động bán hàng tại công ty cũng như đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty M.K.

    3.     Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng chính được nghiên cứu trong đề tài bao gồm các đối tượng sau:

    Thứ nhất: hệ thống, quy trình quản trị bán hàng trong công ty nhằm tìm hiểu,

    phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống và quy trình đó.

    Thứ hai: Nhân viên bán hàng của công ty nhằm tìm hiểu cách thức thực hiện và triển khai quy trình bán hàng cũng như mức độ hài lòng về công tác quản trị bán hàng của công ty.

    Thứ ba: Nghiên cứu khách hàng của công ty nhằm thu thập thông tin, ý kiến phản ánh về các hoạt động bán hàng của công ty.

    4.     Phạm vi nghiên cứu

    Phạm vi nghiên cứu chủ yếu trong nội bộ công ty mà đối tượng chính là bộ phận bán hàng trong công ty và đối tượng khách hàng của công ty. Bên cạnh đó phạm

    • nghiên cứu cũng được mở rộng một phần với việc nghiên cứu một số yếu tố môi trường hoạt động bên ngoài của công ty.

    5.     Phương pháp nghiên cứu

    Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp gồm: Phương pháp tiếp cận thực tế hiện trường, Phương pháp thống kê, Phương pháp khảo sát và điều tra hiện trường. Ngoài ra bài viết còn dùng một số phương pháp như: phương pháp phân tích tổng hợp số liệu, phương pháp logic biện chứng, phương pháp dùng bảng, sơ đồ nhằm đánh giá thực trạng vấn đề.

    6.     Bố cục đề tài

    Bố cục của đề tài bao gồm 3 chương:

    Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị bán hàng

    Chương 2:Thực trạng về hoạt động quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K trong thời gian qua

    Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH Thương Mại M.K tại Tp.HCM

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ BÁN HÀNG

    1.1. Các khái niệm cơ bản

    1.1.1. Khái quát về hoạt động bán hàng

    1.1.1.1. Khái niệm về bán hàng

    Theo James.M.Comer thì “Bán hàng là một hoạt động mang tính cá nhân trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và đáp ứng những nhu cầu hay ước muốn của người mua nhằm thỏa mãn quyền lợi thỏa đáng, lâu dài của hai bên”.

    Từ đó, có thể hiểu hoạt động bán hàng hiện đại như là một hoạt động giao tiếp mà người bán khám phá nhu cầu hoặc làm phát sinh nhu cầu của đối tượng đồng thời khẳng định khả năng đáp ứng nhu cầu đó bằng lợi ích của sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của cả khách hàng và công ty.

    1.1.1.2. Các hình thức bán hàng chủ yếu

    Ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu của ngày càng thay đổi của con người đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều phương thức bán hàng mới và hiệu quả. Sau đây là một số hình thức bán hàng chủ yếu hiện nay:

    Hình thức bán lẻ

    Bán lẻ là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không mang tính thương mại.

    Hình thức bán buôn

    Bán buôn là hình thức bán hàng nói chung, thường nhằm thỏa mãn nhu cầu kinh doanh hay tìm kiếm lợi nhuận của khách hàng.

    Bán hàng trực tiếp

    Bán hàng trực tiếp là hoạt động của những nhân viên bán hàng thực hiện những giao dịch trực tiếp với khách hàng có thể là cá nhân hay tổ chức.

    Bán hàng theo hợp đồng

    Bán hàng theo hợp đồng là hình thức bán hàng trong đó các giao dịch mua bán giữa hai bên được thực hiện thông qua việc ký kết hợp đồng.

    Bán hàng qua điện thoại

    Bán hàng qua điện thoại là hình thức bán hàng mà các giao dịch mua bán trao đổi giữa người bán và mua được thực hiện thông qua điện thoại.

    Bán hàng qua Internet

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          13                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Bán hàng qua Internet là hình thức bán hàng qua mạng. Thông qua quảng cáo, giá, thông tin về sản phẩm mà khách hàng có thể điện thoại hoặc trực tiếp đăng ký mua hàng trên mạng.

    1.1.1.3. Vai trò của hoạt động bán hàng

    Bán hàng là khâu cuối cùng trong toàn bộ quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động bán hàng không chỉ có ý nghĩa với các mặt hàng tiêu dùng mà còn cả với các sản phẩm công nghiệp. Vai trò của hoạt động bán hàng được thể hiện ở những điểm sau:

    Bán hàng đem lại sự thỏa mãn cho cả người bán lẫn người mua thông qua chức năng đáp ứng nhu cầu và kích hoạt nhu cầu.

    Bán hàng giúp cho hàng hóa, tiền tệ lưu thông một cách hiệu quả trong nền kinh tế từ đó kích thích đầu tư và mở rộng sản xuất.

    Bán hàng giúp cho tính chuyên môn hóa ngày càng cao, nhà sản xuất có thể tách rời với việc bán hàng. Nhờ đó nhà sản xuất có thể tập trung sản xuất và những nhà bán hàng chuyên nghiệp sẽ đảm nhận việc tiêu thụ.

    Những nhà bán hàng chuyên nghiệp sẽ là trung gian trong việc tìm hiểu nhu cầu thị trường, cung cấp những thông tin quan trọng cho nhà sản xuất. Ngoài ra người bán hàng còn là cầu nối liên kết khách hàng và nhà sản xuất.

    Như vậy, nhìn chung bán hàng là một chuỗi các hoạt động mang tính độc lập nhằm thiết lập các quan hệ và truyền tin về sản phẩm và dịch vụ một cách hiệu quả tới khách hàng với mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của cả người bán và người mua.

    1.1.2. Quản trị bán hàng

    1.1.2.1. Khái niệm về quản trị bán hàng

    Quản trị bán hàng là hoạt động quản trị của những người thuộc lực lượng bán hàng của doanh nghiệp hoặc những người hỗ trợ cho lực lượng bán hàng bao gồm những hoạt động chính như lập kế hoạch, phân tích, dự báo, thực hiện và kiểm tra hoạt động bán hàng.

    Như vậy, quản trị bán hàng là một tiến trình kết hợp chặt chẽ từ việc thiết lập mục tiêu, chiến lược bán hàng đến việc tuyển dụng, huấn luyện, giám sát và đánh giá kết quả công việc của nhân viên bán hàng.

    1.1.2.2. Mục tiêu của hoạt động quản trị bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          14                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Hoạt động của lực lượng bán hàng mang ý nghĩa quan trọng giúp cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhằm thuyết phục khách hàng mua, sử dụng và trung thành với sản phẩm. Các công ty thành công trong lĩnh vực bán hàng đều có những mục tiêu rõ ràng trong quản trị bán hàng và chiến lược để đạt được mục tiêu đó. Mục tiêu quản trị bán hàng ở từng giai đoạn, từng ngành hàng là khác nhau song chủ yếu nhắm đến hai mục tiêu sau:

    Mục tiêu về nhân sự

    Mục tiêu này liên quan đến quá trình tuyển chọn nhân sự với những tiêu chuẩn được xây dựng rõ ràng, kỹ lưỡng nhằm xây dựng một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, năng động, hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng như khả năng sáng tạo trong bán hàng. Do đó nhiệm vụ của nhà quản trị bán hàng phải tuyển dụng và đào tạo một đội ngũ bán hàng hiệu quả, có chính sách khen thưởng hợp lý, xây dựng mối quan hệ bền vững với nhân viên. Sự phối hợp nhịp nhàng và tinh thần làm việc tập thể với năng suất cao sẽ đem lại thành công cho bộ phận bán hàng.

    Mục tiêu về doanh số, lợi nhuận

    Mục tiêu tiếp theo mà nhà quản trị bán hàng hướng đến là mục tiêu về doanh số, lợi nhuận. Mục tiêu về doanh số được thể hiện bằng giá trị, doanh số hay thị phần… Mục tiêu về doanh số và lợi nhuận là thước đo thực tế đánh giá năng lực và hiệu quả trong công tác quản trị bán hàng. Để đạt được mục tiêu về doanh số thì ngay từ người giám sát ở cấp thấp nhất cũng phải đôn đốc nhân viên và có chiến lược hành động cụ thể. Bên cạnh đó người quản trị cấp cao cần có những cách thức kiểm soát cho các cấp dưới. Như vậy, mục tiêu chung của công ty về doanh số và lợi nhuận mới được phát huy hiệu quả qua từng thời kỳ.

    1.1.2.3. Vai trò của hoạt động quản trị bán hàng

    Ngày nay, quản trị bán hàng trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên thành công cho các công ty bán hàng. Vai trò của hoạt động bán hàng được thể hiện qua một số vấn đề sau:

    Quản trị bán hàng giúp bộ phận bán hàng phối hợp hoạt động với các bộ phận khách như: marketing, sản xuất nhằm hoàn thành chiến lược tổng thể của cả công ty.

    Thông qua hoạt động quản trị bán hàng giúp công ty xây dựng các mục tiêu và các chiến lược bán hàng hiệu quả.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          15                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Quản trị bán hàng giúp công ty vận hành và kiểm soát hệ thống bán hàng của mình một cách hiệu quả, hướng nguồn lực vào việc hoàn thành mục tiêu đề ra.

    Quản trị bán hàng là một trong những biện pháp hữu hiệu khuyến khích nhân viên sáng tạo và năng động trong bán hàng thông qua các biện pháp kiểm tra, giám sát và khen thưởng.

    Ngoài ra, quản trị bán hàng còn góp phần xây dựng một lực lượng bán hàng hiệu quả, xây dựng mối quan hệ với khách hàng thông qua việc chăm sóc khách hàng và hoạt động hiệu quả của kênh phân phối.

    1.2. Một số khái niệm cơ bản khác

    1.2.1. Khái niệm thị trường

    Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm năng cùng chung một nhu cầu hay ước muốn nào đó và mong muốn cũng như có khả năng tham gia vào giao dịch để thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn đó.

    Theo quan điểm của nhà hoạt động Marketing: thị trường là một tập hợp những người mua thực tế và tiềm năng về một loại sản phẩm nào đó.

    Thị trường thực hiện chức năng trung gian giữa người bán và người mua và chức năng thông tin. Ngoài ra thị trường còn là nơi kích thích các nhà sản xuất hoàn thiện sản phẩm của mình ngày càng tốt hơn.

    1.2.2. Khái niệm về sản phẩm

    Sản phẩm là tất cả những gì thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn và được chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, mua sử dụng hay tiêu dùng. Sản phẩm có thể là những vật thể, hàng hóa hữu hình hay vô hình.

    Mỗi sản phẩm gồm có những đặc điểm và thuộc tính hữu hình cũng như vô hình. Tổng thể của một sản phẩm là sự kết hợp của nhiều yếu tố như: sản phẩm cốt lõi, sản phẩm hiện thực, sản phẩm mở rộng. Sự kết hợp các yếu tố nhằm thỏa mãn nhu cầu và ước muốn ngày càng cao của người tiêu dùng.

    1.2.3. Khái niệm nhu cầu và cầu sản phẩm

    Nhu cầu hay ước muốn là trạng thái cần thỏa mãn, cần đạt được trong tâm thức. Cầu sản phẩm là trạng thái cần đạt được, cần thỏa mãn trong tâm thức và sẵn sàng hành động để đạt được. Như vậy nhu cầu hay mong muốn chỉ dừng lại trong tâm thức còn cầu sản phẩm phản ánh sự sẵn sàng hành động để thỏa mãn do có động lực và khả năng.

    Theo quan điểm Marketing thì nhu cầu bao gồm: Nhu cầu được phát biểu, nhu cầu không được phát biểu, nhu cầu thực, nhu cầu bí mật.

    Quá trình phân tích nhu cầu và cầu sản phẩm của khách hàng giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu khách hàng và tác động đến nhu cầu đó dẫn tới cầu sản phẩm và thỏa mãn cầu sản phẩm đó bằng lợi ích sản phẩm của doanh nghiệp.

    1.2.4. Khái niệm về khách hàng

    Khách hàng là người (có thể là cá nhân, tập thể, tổ chức…) thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, các cửa hàng.

    Theo quan điểm Marketing thì khách hàng là những cá nhân hay tổ chức có điều kiện ra quyết định mua sắm mà doanh nghiệp đang hướng các nỗ lực Marketing vào.

    Khách hàng bao gồm nhiều đối tượng và mỗi ngành nghề kinh doanh, sản phẩm sẽ có một đối tượng khách hàng khác nhau. Tuy nhiên khách hàng thường được phân loại thành hai nhóm chính:

    Khách hàng tiêu dùng: Là những cá nhân mua sản phẩm, dịch vụ với mục dích thỏa mãn nhu cầu cho bản thân hoặc gia đình và mua hàng không mang tính chất thương mại.

    Khách hàng công nghiệp: là những tổ chức mua hàng nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng như để phục vụ cho các phòng ban trong tổ chức.

    Mỗi nhóm khách hàng có nhu cầu và cách thức mua hàng khác nhau. Do đó doanh nghiệp cần tìm hiểu nhu cầu, cách thức mua hàng cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới từng nhóm khách hàng để nắm bắt và thỏa mãn nhu cầu riêng của từng dối tượng khách hàng.

    1.3. Cơ sở nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng

    1.3.1. Chiến lược tổng thể công ty

    Chiến lược tổng thể phản ánh những đánh giá của công ty về điều kiện và những cơ hội của thị trường để từ đó đưa ra những chính sách đáp ứng thị trường một cách hiệu quả. Chiến lược tổng thể sẽ tạo ra hướng phát triển mà công ty phải đi theo trong môi trường kinh doanh cụ thể, đồng thời hướng dẫn cho việc phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý và đưa ra cách thức phối hợp giữa các bộ phận trong một công ty để cùng đi đến mục tiêu. Giữa chiến lược tổng thể và quản trị bán hàng có mối tương

    quan chặt chẽ. Để xây dựng và phát triển hệ thống quản trị bán hàng thì cấp quản lý phải nắm rõ chiến lược tổng thể và cách thức tham gia vào chiến lược chung của công ty. Chiến lược quản trị bán hàng là một phần trong toàn bộ chiến lược chung của toàn công ty. Do đó chiến lược tổng thể có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả trong việc quản trị bán hàng và là một trong những cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng. Một chiến lược tổng thể được đưa ra một cách khoa học, hợp lý và phối hợp được toàn bộ nguồn lực công ty để thực hiện chiến lược sẽ là tiền đề và là cơ sở cho các chiến lược cấp chức năng thực hoàn thiện trong đó có hoạt động quản trị bán hàng.

    1.3.2. Phân tích môi trường

    Hoạt động quản trị bán hàng không thể tách rời giữa con người với tổ chức, doanh nghiệp với môi trường kinh doanh. Nhìn chung, khi doanh nghiệp hoạt động tại các thị trường cụ thể, nó sẽ chịu sự tác động từ các yếu tố của môi trường như chính sách pháp lý, dân số, khoa học công nghệ. Do vậy các hoạt động quản trị bán hàng phải được thiết lập và tiến hành theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất. Môi trường hoạt động quản trị bán hàng được mô tả bằng hình sau:

    Hình 1.1: Môi trường quản trị bán hàng (J.M.Comer, Quản trị bán hàng, 2005, trang 10)

    Xã hội Môi trường bên ngoài   Cạnh tranh
      Môi trường nội bộ    
    Kinh tế Quản trị bán hàng      
           
              Xây dựng    
      Phát       lực lượng    
               
      triển       bán hàng   Thực
    Mục tiêu          
    quản           hiện
      trị       Quản trị    
              lực lượng    
                 
              bán hàng    
                 
                   

    Pháp lý                                                                                                                          Chính trị

    Nhìn vào sơ đồ ta thấy hoạt động quản trị bán hàng chịu sự tác động bởi môi trường bên ngoài và bên trong. Yếu tố bên ngoài bao gồm các yếu tố như chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa, tình hình cạnh tranh. Việc thay đổi trong chính sách pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh và ngành hàng sẽ làm cho doanh nghiệp cũng phải

    thay đổi theo và từ đó tác động đến chính sách quản trị bán hàng. Yếu tố bên trong bao gồm các phòng ban trong công ty và mối quan hệ ngay trong nội bộ doanh nghiệp mà cụ thể ở đây là bộ phận bán hàng. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng như phòng nhân sự, phòng kế toán, bộ phận sản xuất… với phòng bán hàng sẽ làm tăng khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách bán hàng. Do đó việc phân tích môi trường sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng chính sách bán hàng, xây dựng và quản lý lực lượng bán hàng và cũng là một trong những cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng.

    1.3.3. Kỹ thuật phân tích ma trận SWOT

    Ma trận SWOT là một ma trận tổng hợp các cơ hội và đe dọa từ bên ngoài, điểm mạnh và điểm yếu của công ty nhằm xây dựng các phương án chiến lược hành động. Phương pháp phân tích SWOT dựa trên việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự logic dễ hiểu, dễ trình bày và dễ đưa ra các quyết định. Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức nào.

    Mô hình phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng của công ty thông qua việc phân tích tình hình bên trong (Strengths, Weakness) và bên ngoài (Opportunities, Threats) công ty. Xây dựng ma trận SWOT và các chiến lược hành

    động được mô tả theo bảng sau:

    Bảng 1.1. Bảng phân tích ma trận SWOT

      Môi trường bên ngoài   O: Những cơ hội T: Những nguy cơ
          Liệt kê những cơ hội Liệt kê những nguy cơ
        1. ….. 1. ……
    Môi trường bên trong .…… ………
      S: Những điểm mạnh   Các chiến lược – SO Các chiến lược – ST
    Liệt kê những điểm mạnh Phát huy điểm mạnh để tận Phát huy điểm mạnh để
    1. ….   dụng cơ hội hạn chế nguy cơ
    2. ….. 1. …. 1. …..
    ……. …….. ……..
      W: Những điểm yếu   Các chiến lược – WO Các chiến lược – WT
    Liệt kê những điểm yếu Tận dụng cơ hội để khắc Khắc phục điểm yếu và
    1. …….   phục điểm yếu hạn chế nguy cơ
    2. …… 1. ……. 1. ……
    ………… ………. ………

    Nguồn: Lê Đăng Lăng, Kỹ năng và quản trị bán hàng

    Việc xây dựng ma trận SWOT không chỉ giúp công ty nhận ra những tác động ảnh hưởng có lợi là các cơ hội và ảnh hưởng bất lợi là nguy cơ từ môi trường bên ngoài đồng thời giúp công ty nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Trên cơ sở đó hình thành các chiến lược hành động nhằm phát huy điểm mạnh, tận dụng cơ hội, khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ. Trong hoạt động quản trị bán hàng thì việc áp dụng ma trận SWOT sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng các chiến lược nhằm khai thác những cơ hội thị trường, hạn chế áp lực cạnh tranh từ đối thủ, hoàn thiện các quy trình bán hàng cũng như nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng.

    1.3.4. Một số kỹ năng quản trị bán hàng hiệu quả

    Để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng thì bên cạnh chiến lược tổng thể công ty, phân tích môi trường thì cần phải có những kỹ năng trong việc quản trị bán hàng một cách hiệu quả. Một số kỹ năng cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng là:

    Kỹ năng hoạch định

    Hoạch định là một kỹ năng quan trọng trong hoạt động quản trị bán hàng. Hoạch định giúp cho nhà quản trị vạch ra những kế hoạch và chương trình hành động cũng như biết được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc một cách hiệu quả. Bên cạnh đó hoạch định còn giúp cho nhà quản trị xây dựng các chiến lược hành động cũng như nắm bắt được toàn bộ quy trình nhằm thực hiện mục tiêu bán hàng đề ra.

    Kỹ năng quản lý địa bàn

    Trong kinh doanh mà đặc biệt là trong khâu tổ chức bán hàng thì việc xác định địa bàn và quản lý địa bàn là nhiệm vụ quan trọng ảnh hưởng tới doanh số bán hàng cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng của mỗi khu vực. Hoạt động quản trị bán hàng bao hàm trong đó là quản trị từng khu vực địa bàn. Mỗi khu vực địa bàn bao gồm: khách hàng là nguồn tạo ra doanh số và đối thủ là người cạnh tranh với công ty. Việc quản lý địa bán hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý khách hàng tức là quản lý nguồn doanh thu của công ty đồng thời giám sát những đối thủ nhằm có những chính sách đề phòng và ứng phó kịp thời trước sự cạnh tranh đến từ đối thủ.

    Kỹ năng lãnh đạo và động viên

    Bên cạnh kỹ năng quản trị thì kỹ năng lãnh đạo cũng góp phần quan trọng trong việc quản lý hiệu quả tổ chức bán hàng. Nếu như các kỹ năng quản trị thiên về các

    nguyên tắc, hành động, kết quả và thực hiện theo những kế hoạch đề ra còn lãnh đạo là quan hệ với con người và thích ứng với sự thay đổi. Hai kỹ năng này không xung khắc mà nó hỗ trợ bổ sung cho nhau giúp vận hành một tổ chức bán hàng hoạt động một cách hiệu quả vừa theo quy trình vừa thay đổi để thích ứng.

    1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị bán hàng

    1.4.1. Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô

    Sự ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô gồm các yếu tố: môi trường kinh tế, xã hội, chính trị, luật pháp, dân số, khoa học công nghệ. Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô mang tính gián tiếp song lại rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động quản trị bán hàng của công ty mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ công ty. Môi trường kinh tế thuận lợi sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và việc bán hàng sẽ thuận lợi ngược lại khi môi trường kinh tế khó khăn đặc biệt là khủng hoảng kinh tế sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc têu thụ sản phẩm và đòi hỏi những nỗ lực lớn trong hoạt động bán hàng. Ảnh hưởng từ môi trường luật pháp có thể làm tăng hoặc giảm mức độ cạnh tranh hay sự phát triển khoa học công nghệ kéo theo những hình thức bán hàng mới ra đời buộc các công ty phải có những thay đổi lớn trong quản trị bán hàng nếu không muốn trở nên lạc hậu và kém cạnh trang so với đối thủ.

    Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập kéo theo đó là những thay đổi lớn về môi trường kinh tế, luật pháp, khoa học kỹ thuật. Những thay đổi đó sẽ ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp cũng như trong hoạt động bán hàng. Việc theo dõi phân tích ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô không chỉ giúp các doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi mà còn nhận ra nhiều cơ hội phát triển và mở rộng kinh doanh.

    1.4.2. Ảnh hưởng từ môi trường vi mô

    Nếu môi trường vĩ mô ảnh hưởng gián tiếp tới hoạt động quản trị bán hàng thì môi trường vi mô lại ảnh hưởng trực tiếp, liên tục và thường xuyên đòi hỏi công ty luôn chủ động đối phó. Những yếu tố từ môi trường vi mô ảnh hưởng rõ nét nhất là các yếu tố:

    Sự cạnh tranh gay gắt từ cách đối thủ cạnh tranh đặc biệt là trong hoạt động bán hàng. Các đối thủ cạnh tranh luôn xây dựng hững chiến lược bán hàng mới nhằm mở rộng thị trường thậm chí là lôi kéo khách hàng của công ty. Điều này ảnh hưởng rất lớn và đe dọa tới thị trường và khách hàng của công ty.

     

    Ngày nay sức mạnh của khách hàng ngày càng tăng đây là một điều dễ thấy khi mà thị trường đang cạnh tranh khốc liệt với nhiều người bán và thị trường hạn chế. Điều này sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi công ty đặc biệt là trong việc quản trị bán hàng. Nhà quản trị sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nhằm thỏa mãn yêu cầu khách hàng cũng như đảm bảo lợi ích của công ty đồng thời phải tăng khả năng cạnh tranh với đối thủ.

    Đây là những yếu tố ảnh hưởng rõ nét nhất tới hoạt động bán hàng của công ty. Bên cạnh đó còn một số yếu tố cũng ảnh hưởng không nhỏ như: ảnh hưởng từ sức mạnh nhà cung cấp làm cho giá sản phẩm trở nên cao hơn, những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẵn sàng cạnh tranh với nguồn lực và công nghệ được chuẩn bị tốt…

    Sự ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường vi mô đòi hỏi công ty không ngừng đổi mới và hoàn thiện trong hoạt động bán hàng, theo sát thị trường và chủ động đối phó nhằm bảo vệ thị trường và phát triển lâu dài.

    1.4.3. Ảnh hưởng từ môi trường nội bộ

    Môi trường nội bộ doanh nghiệp cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng. Tình hình tài chính không ổn định sẽ ảnh hưởng tới ngân sách bán hàng, quá trình triển khai bán hàng cũng như các chương trình hỗ trợ bán hàng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động bán hàng như: tình hình tài chính ổn định, phòng sản xuất luôn hoàn thành nhiệm vụ về thời gian và chất lượng sản phẩm thì sẽ hạn chế những khó khăn do khiếu nại cho bộ phận bán hàng. Ngược lại tình hình tài chính không ổn định, sự phối hợp hoạt động giữa các phòng không hiệu quả sẽ ảnh hưởng không tốt cho hoạt động bán hàng cũng như ảnh hưởng tới toàn công ty.

    Tóm lại việc nghiên cứu môi trường hoạt động cũng như các nhân tố ảnh hưởng từ môi trường tới hoạt động bán hàng sẽ giúp công ty chủ động đối phó với những khó khăn thách thức cũng như tận dụng các cơ hội thị trường nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như hạn chế những tác động ảnh hưởng bất lợi từ môi trường.

    1.5. Quy trình thực hiện quản trị bán hàng

    Quản trị bán hàng là một quá trình phức tạp với nhiều công việc và cách thực hiện khác nhau. Việc xây dựng một quy trình quản trị bán hàng hoàn thiện sẽ là một

     

    nhân tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi khi triển khai các kế hoạch bán hàng. Quy trình quản trị bán hàng có thể được mô tả bằng sơ đồ sau:

    Xây dựng mục   Hoạch định chiến   Xây dựng cấu trúc tổ
    tiêu bán hàng   lược bán hàng   chức lực lượng bán hàng
             
    Giám sát, đánh giá   Phân bổ chỉ tiêu,   Tuyển dụng và đào tạo
    hiệu quả bán hàng   triển khai bán hàng   nhân viên bán hàng
             

    Sơ đồ 1.1: Quy trình quản trị bán hàng (Lê Đăng Lăng, Kỹ năng và quản trị bán hàng)

    1.5.1. Xây dựng mục tiêu bán hàng

    Xây dựng mục tiêu bán hàng là một trong những công việc đầu tiên và quan trọng nhất trong hoạt động quản trị bán hàng. Xây dựng mục tiêu bán hàng thường xoay quanh ba mục tiêu chính sau:

    Mục tiêu về doanh số – sản lượng

    Mục tiêu về thị phần

    Mục tiêu về lợi nhuận

    Bên cạnh đó người ta còn xây dựng các mục tiêu tổng hợp như: mục tiêu doanh số và lợi nhuận, mục tiêu thị phần và sản lượng. Việc xây dựng mục tiêu bán hàng phải rõ ràng, phù hợp với tình hình thực tế và đặc biệt mục tiêu phải mang tính khả thi.

    1.5.2. Hoạch định chiến lược bán hàng

    Việc hoạch định chiến lược bán hàng sẽ giúp công ty hoàn thành mục đích, mục tiêu đã đặt ra một cách hiệu quả nhất thông qua việc sử dụng hợp lý nguồn lực, phối hợp sự tham gia của mọi người và tạo sự khác biệt so với đối thủ. Một số chiến lược bán hàng phổ biến là:

    Chiến lược bán hàng cá nhân

    Chiến lược bán hàng theo nhóm

    Chiến lược bán hàng tư vấn

    Chiến lược gia tăng giá trị

    Bên cạnh đó các nhà quản trị còn sử dụng một số chiến lược khác như: chiến lược bán hàng thương thảo, bán hàng liên kết…Việc hoạch định chiến lược bán hàng còn tùy thuộc vào trình độ, năng lực của lực lượng bán hàng và ngân sách dành cho chiến lược bán hàng.

    1.5.3. Xây dựng cấu trúc tổ chức lực lượng bán hàng

    Cơ cấu tổ chức lực lượng bán hàng là sự phân bổ, sắp xếp nhân sự bán hàng một cách hợp lý căn cứ vào khả năng, kinh nghiệm, tính cách nhân viên nhằm thực hiện chiến lược bán hàng một cách hiệu quả mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Một số dạng cơ cấu tổ chức bán hàng thường dùng là:

    Cơ cấu tổ chức bán hàng theo khách hàng

    Cơ cấu tổ chúc theo địa bàn

    Cơ cấu tổ chức bán hàng theo sản phẩm

    Cơ cấu tổ chức bán hàng hỗn hợp

    Trong thực tế kinh doanh, tùy thuộc vào loại hình kinh doanh, địa bàn hoạt động cụ thể mà nhà quản trị lựa chọn cơ cấu tổ chức phù hợp, có thể phối hợp nhiều cơ cấu tổ chức hoặc không theo một khuân mẫu nào.

    1.5.4. Tuyển dụng và đào tạo nhân viên bán hàng

    Tuyển dụng và đào tạo nằm trong mục tiêu về nhân sự trong quản trị bán hàng. Mục tiêu là xây dựng một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, hiệu quả và không ngừng đào tạo nhằm nâng cao năng lực đội ngũ nhân viên và thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Do đó nhà quản trị phải xây dựng một quy trình tuyển dụng nhân viên sao cho có thể tìm được những nhân viên có khả năng và lên chương trình đào tạo có trọng tâm và phù hợp với tình hình mới.

    1.5.5. Phân bổ chỉ tiêu và triển khai kế hoạch bán hàng

    Đây chính là phần triển khai toàn bộ những mục tiêu, chiến lược thông qua lực lược bán hàng hướng vào thị trường. Để triển khai một kế hoạch bán hàng thành công cần phải làm một số công việc sau:

    Phân bổ chỉ tiêu bán hàng như: doanh số, thị phần, sản lượng hợp lý Xây dựng chiến lược kênh phân phối hiệu quả

    Tổ chức bán hàng qua kênh phân phối

    Động viên tinh thành nhân viên

    Để triển khai kế hoạch bán hàng thành công thì không chỉ làm theo những gì đã được xây dựng, hoạch định từ trước mà phải luôn thích ứng với thị trường. Trong thực tế có rất nhiều tác nhân ảnh hưởng tới kết quả mà doanh nghiệp không biết trước được. Do đó một mặt doanh nghiệp phải thực hiện theo những chiến lược mục tiêu đề ra

    nhưng cũng có những thay đổi kịp thời phù hợp với từng hoàn cảnh. Có như vậy việc triển khai kế hoạch bán hàng mới đem lại hiệu quả cao nhất.

    1.5.6. Giám sát đánh giá hiệu quả bán hàng

    Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng là một trong những nhiệm vụ chính của nhà quản trị bán hàng. Việc giám sát và đánh giá nhằm đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng, đồng thời đánh giá mức độ thành công trong công tác bán hàng. Bên cạnh đó việc giám sát còn nhằm phát hiện ra những tình huống bất lợi, các tình huống chưa phù hợp nhằm kịp thời khắc phục. Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng thường được thực hiện thông qua các biểu mẫu, các báo cáo từ nhân viên trên cơ sở phân tích doanh thu, mức độ hài lòng của khách hàng, thị phần. Tóm lại mục đích chính của công tác giám sát và đánh giá chính là đánh giá kết quả bán hàng so với mục tiêu đề ra.

    1.5.7. Chăm sóc khách hàng

    Ngày nay chăm sóc khách hàng không chỉ là thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm, xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng mà chăm sóc khách hàng còn là một công cụ làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Do đó việc chăm sóc khách hàng cần phải thực hiện nghiêm túc và có kế hoạch. Để làm được điều này nhà quản trị bán hàng cần xây dựng các chính sách, chương trình chăm sóc khách hàng và đo lường sự thỏa mãn mãn khách hàng để có những điều chỉnh phù hợp. Doanh nghiệp cần không ngừng hoàn thiện chương trình chăm sóc khách hàng, đồng thời không ngừng đổi mới để tạo sự khác biệt và tốt hơn so với đối thủ. Điều này sẽ là một yếu tố quan trọng nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng.

    Tóm lại một quy trình quản trị bán hàng hiệu quả không chỉ là thực hiện đầy đủ các nội dung mà còn phải liên tục hoàn thiện và thực hiện một cách tốt nhất . Để mang lại hiệu quả trong hoạt động quản trị bán hàng mỗi doanh nghiệp cần xây dựng những mục tiêu, các chiến lược để hoàn thành mục tiêu đó một cách hiệu quả nhằm đạt được hai mục tiêu quan trọng đó là mục tiêu con người và mục tiêu lợi nhuận qua đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và công ty.

     

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI M.K TRONG THỜI GIAN QUA

    2.1. Giới thiệu khái quát về công ty

    2.1.1. Tìm hiểu chung

    Tên công ty: Công ty TNHH Thương Mại M.K

    Tên giao dịch: MK BUSINESS CO.,LDT

    Tên viết tắt: M.K CO.,LDT

    Địa chỉ trụ sở chính (theo giấy đăng ký kinh doanh): 215B/12 Phan Đăng Lưu, Phường 1, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM.

    Địa chỉ hiện tại: 1/25 Đoàn Thị Điểm, P.1, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM.

    Văn phòng giao dịch: 61/4 Đường Số 20, P.6, Quận Gò Vấp, Tp.HCM.

    Số điện thoại: 39846446 – 39846447 – 22165217 – 22165218. Fax: 39846449

    Email: [email protected]

    Loại hình công ty: Công ty TNHH có hai thành viên trở lên.

    Vốn điều lệ: 6.980.000.000 đ (Sáu tỷ chín trăm tám mươi triệu đồng).

    (Trong đó: Hiện kim: 5.780.000.000 đ; Hiện vật: 1.200.000.000 đ).

    Nhà máy sản xuất: Tổ 10, ấp 3, xã Phú An, huyện Bến Cát, Bình Dương.

    2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển

    2.1.2.1. Quyết định thành lập

    Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hiện đại. Sự phát triển của những ngành công nghiệp chính kéo theo đó là sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ nhằm phục vụ cho các ngành công nghiệp chính và thay thế hàng nhập khẩu. Mặc dù ngành công nghiệp phụ trợ nước ta còn yếu kém song lĩnh vực sản xuất bao bì, nhãn mác, in ấn và quảng cáo lại phát triển nhanh và một trong những nguyên liệu chính trong lĩnh vực sản xuất bao bì, nhãn mác, in ấn và quảng cáo là giấy Decal.

    Nắm bắt được cơ hội thị trường và sự phát triển trong tương lai, công ty TNHH Thương Mại M.K chính thức được thành lập vào tháng 12 năm 2001 theo giấy đăng ký kinh doanh số: 4102007879 do phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế Hoạch – Đầu Tư

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          26                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Tp.HCM cấp ngày 26/12/2001 với lĩnh vực hoạt động chính là sản xuất kinh doanh các mặt hàng giấy Decal.

    2.1.2.2. Quá trình phát triển

    Công ty TNHH Thương Mại M.K chính thức được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 12 năm 2001 trụ sở chính tại 215B/12 Phan Đăng Lưu, Phường 1, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM với 100% sản phẩm nhập khẩu từ Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc. Sau 2 năm hoạt động, công ty đã dần đi vào ổn định và thị trường đang tăng nhanh. Đến năm 2003 do nhu cầu ngày càng tăng và lượng khách hàng ngày càng nhiều công ty đã rời trụ sở chính đến 1/25 Đoàn Thị Điểm, P.1, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM lớn hơn và có vị trí thuận lợi trong việc giao dịch với khách hàng. Vào đầu năm 2004 công ty tiến hành đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất tại Bình Dương nhằm thay thế hàng ngoại nhập hoàn chỉnh mà chỉ nhập nguyên liệu góp phần làm giảm giá thành sản phẩm và đến tháng 9/2004 nhà máy chính thức đi vào hoạt động. Bên cạnh đó công ty đã tạo ra cho mình một thương hiệu riêng đó là “Decal 3 ngôi sao” đã được cục sở hữu công nghiệp cấp bằng chứng nhận ngày 20/6/2003. Bước sang 2005 công ty đã dần tạo được chỗ đứng trong thị trường giấy decal tại Tp.HCM và bước đầu mở rộng thị trường sang các tỉnh thành khác đồng thời thành lập một văn phòng giao dịch chính thức tại địa chỉ 61/4 Đường Số 20, P.6, Quận Gò Vấp, Tp.HCM. Trải qua gần 10 năm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã đi vào ổn định, doanh thu liên tục tăng qua các năm và thu nhập của công nhân ngày càng tăng. Với những thành tựu đã đạt được và những bước đi đúng hướng công ty sẽ ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu lớn trong tương lai.

    2.1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ

    Chức năng

    Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tp.HCM cấp thì chức năng hoạt động của công ty bao gồm những lĩnh vực sau: Mua bán vật tư – nguyên vật liệu ngành in; giấy, giấy decal, lương thực – thực phẩm, bánh kẹo. Dịch vụ thương mại. Đại lý ký gửi hàng hóa. Dịch vụ tư vấn môi trường. Gia công bế hộp, giấy và màng decal. Sản xuất giấy decal từ giấy cuộn (không tái chế phế thải giấy, sản xuất bột giấy, không in). Trong đó lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty là sản xuất – kinh doanh giấy decal.

    Nhiệm vụ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          27                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Công ty TNHH Thương Mại M.K hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh giấy decal với những nhiệm vụ cơ bản sau:

    Sản xuất kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký và phù hợp với mục tiêu thành lập công ty.

    Nghiên cứu, thiết kế những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi của thị trường.

    Sử dụng hiệu quả các nguồn lực và khai thác tốt tiềm năng của công ty.

    Tạo ra nguồn vốn ổn định, duy trì hoạt động liên tục đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường.

    Ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, không ngừng nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm.

    Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên, trả lương hợp lý và quan tâm tới nhân viên.

    Thực hiện những cam kết về uy tín, chất lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng với mức giá hợp lý.

    Trên đây là những chức năng và nhiệm vụ chính đặt ra trong quá trình hoạt động của công ty. Việc thực hiện tốt những chức năng và nhiệm vụ đề ra sẽ góp phần vào thành công chung, tạo sự ổn định và phát triển lâu dài cho công ty trong tương lai.

    2.1.3. Cơ cấu tổ chức

    Mọi công ty dù lớn hay nhỏ đều phải xây dựng cho mình một cơ cấu tổ chức đảm bảo cho sự vận hành thông suốt và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau đây là sơ đồ mô tả cơ cấu tổ chức tại công ty TNHH Thương Mại M.K:

    Giám đốc

    P. Giám đốc   P. Giám đốc
         
    Phòng   Phòng     Phòng     Nhà máy  
    kế   bán     gia công     sản  
    toán   hàng     sản xuất     xuất  
                   
      Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty TNHH Thương Mại M.K
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 28 SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Nhìn sơ đồ ta thấy cơ cấu tổ chức của công ty khá đơn giản nhưng góp phần quan trọng vào sự hoạt động ổn định và phát triển của công ty hiện nay. Trong đó chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong công ty được phân rõ như sau:

    Giám đốc công ty

    Giám đốc là người đứng đầu công ty với những chức năng và công việc:

    Tổ chức bộ máy quản lý, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Xây dựng các mục tiêu, chính sách và đề ra các chiến lược để hoàn thành các mục tiêu và chính sách đã đề ra.

    Kiểm tra, giám sát và đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giám đốc xây dựng mục tiêu chính sách cho năm tới.

    Là người đại diện cho công ty trước pháp luật và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp.

    Phó giám đốc

    Tư vấn và tham mưu cho giám đốc trong việc xây dựng các mục tiêu chính sách cho công ty.

    Nhận lệnh trực tiếp từ giám đốc và truyền đạt những chính sách, mục tiêu cũng như những chiến lược bán hành động xuống cấp dưới.

    Chịu trách nhiệm trong việc chỉ đạo, đôn đốc cấp dưới hoàn thành chỉ tiêu về kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty.

    Thay mặt giám đốc điều hành công ty khi giám đốc đi vắng.

    Phòng kế toán

    Phòng kế toán có nhiệm vụ theo dõi tất cả các khoản tài sản và nguồn vốn của công ty một cách chi tiết và đầy đủ.

    Bảo vệ các thông tin tài chính công ty, bảo quản các loại chứng từ, sổ ghi chép và các tài liệu liên quan tới hoạt động của công ty.

    Lập các báo cáo tài chính, thuyết minh báo cáo tài chính và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những số liệu trong báo cáo.

    Cung cấp thông tin và cáo cáo cho cấp trên về những bất ổn trong quá trình sản xuất kinh doanh để giám đốc kịp thời xem xét và khắc phục.

    Phòng bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          29                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Hoàn thành chỉ tiêu và kế hoạch bán hàng được giao, thu hồi công nợ từ khách hàng, báo kết quả cho cấp trên và quản lý khách hàng tại khu vực mình.

    Tìm hiểu thị trường, thực hiện tiếp xúc chào hàng khách hàng mới.

    Thực hiện những giao dịch với khách hàng, không ngừng quảng bá và nâng cao uy tín của công ty trước khách hàng.

    Phòng gia công sản xuất

    Có trách nhiệm sản xuất, gia công sản phẩm đúng quy cách, chủng loại theo yêu cầu của khách hàng.

    Thực hiện công tác bảo trì, kiểm tra máy móc thiết bị đảm bảo cho hoạt động sản xuất ổn định.

    Thực hiện đúng tiêu chuẩn về an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy.

    Nhà máy sản xuất

    Nhà máy sản xuất có chức năng nhiệm vụ sản xuất cung cấp các loại giấy cuộn, đảm bảo sản xuất hiệu quả và cung ứng hàng kịp thời cho phòng gia công sản xuất.

    2.1.4. Các sản phẩm chính của công ty

    Hoạt động chính tại công ty M.K là sản xuất và kinh doanh các sản phẩm giấy decal. Sản phẩm của công ty bao gồm nhiều chủng loại và kích thức khác nhau. Sau đây là bảng tổng hợp chi tiết về các sản phẩm chính của công ty:

    Bảng 2.1: Các sản phẩm chính của công ty

    Tên sản phẩm Tên sản phẩm
           
    Decal AL Super Alsuper-0 Decal PL nhám (đế xanh) PLBL-0
           
    Decal AL (ba ngôi sao đỏ) ALY-0 Decal PL nhám(đế trắng) HPL-0
           
    Decal AL bóng mờ (ba ngôi sao đỏ) ALW-0 Decal PL nhám(đế vàng) PLY-0
           
    Decal AL bóng mờ (Star bạc) ALS-0 Decal PL nhám không logo PLBS-0
           
    Decal AL bóng mờ (không logo) ALYK-0 Decal MCL bóng(đế xanh) MCLBL-0
           
    Decal AL bóng mờ (đế xanh) ALBL-0 Decal MCL bóng(đế trắng) MCLY-0
           
    Decal AL bóng mờ Super HALsuper-0 Giấy cảm nhiệt-gián tiếp HTLM-0
           
    Decal AL bóng mờ (đế trắng) HAL-0 Giấy cảm nhiệt- trực tiếp BTLM-0
           
    Decal PL nhám Super Plsuper-0    
           

    2.2. Phân tích tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của công ty

    2.2.1. Vận dụng ma trận SWOT vào tình hình hoạt động của công ty

     

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp luôn ẩn chứa nhiều cơ hội và nguy cơ, những điểm mạnh cũng như điểm yếu của mình. Do đó việc tìm hiểu, phân tích những cơ hội, thách thức, điểm mạnh cũng như điểm yếu sẽ góp phần quan trọng trong việc tận dụng các cơ hội thị trường, tránh các nguy cơ, phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu. Ma trận SWOT sau đây sẽ phản ánh những cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh và yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại M.K.

    Bảng 2.2: Phân tích ma trận SWOT về hoạt động kinh doanh của công ty

    Hoàn cảnh nội bộ   ĐIỂM MẠNH – S ĐIỂM YẾU – W
      1. Tình hình tài chính ổn 1. Cơ sở hạ tầng còn nhỏ,
      định thiếu  máy  móc  thiết  bị
      2. Sản phẩm thay thế hàng chuyên nghiệp.
      ngoại nhập. 2. Sản xuất đạt hiệu quả
      3. Lực lượng bán hàng hiệu chưa cao.
      quả. 3. Uy tín thương hiệu chưa
      4. Sự liên kết và hợp tác đủ để tạo ra động lực thúc
      hiệu quả giữa các phòng đẩy việc bán hàng.
      ban. 4. Nguồn lực còn thiếu đặc
      5. Thị  trường  sản  phẩm biệt là nguồn lực tài chính.
      liên tục tăng trưởng và mở 5.  Phụ  thuộc  nhiều  vào
    Môi trường bên ngoài rộng. nguồn nguyên liệu  ngoại
          nhập.
    CƠ HỘI – O CÁC CHIẾN LƯỢC CÁC CHIẾN LƯỢC
    1. Nền kinh tế liên tục tăng SO WO
    trưởng cao. 1. Chiến lược phát triển thị 1. Chiến  lược phát triển
    1. Thị trường bao bì, in ấn, trường để thâm nhập thị thương hiệu (W3, O1, O2, quảng cáo phát triển rất trường nội địa (S3, S5, O1, O3).
    nhanh. O2).  
    3. Nhiều cơ hội xuất khẩu   2. Chiến lược đổi mới công
    khi  Việt  Nam  gia  nhập 2. Chiến lược tăng trưởng nghệ (W1, W4, O4, O5)
    WTO. ổn định dựa vào năng lực  
    4. Chính phủ chủ trương cốt lõi (S1, S2, S4, O4, 3.  Chủ  động  về  nguồn
         
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 31 SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    khuyến  khích  sản  xuất O5). nguyên liệu đặc biệt là các
    trong nước thay thế hàng   nguồn  nguyên  liệu  trong
    ngoại. 3. Chiến lược đẩy mạnh nước.
    5. Thị trường tài chính phát bán hàng (S1, S2, S3, O2,  
    triển mạnh, cơ hội tiếp cận O3, O4)  
    được  nhiều  nguồn  tài    
    chính.    
         
    NGUY CƠ – T CÁC CHIẾN LƯỢC CÁC CHIẾN LƯỢC
    1. Sự cạnh tranh ngày càng ST WT
    gay gắt, đặc biệt là từ nước 1. Chiến lược đa dạng hóa 1. Chiến lược huy động tài
    ngoài. sản phẩm (S2, S3, S4, T1, chính (W4, T5).
    2. Sản phẩm thay thế. T2).  
    3. Khủng hoảng  kinh  tế   2.  Chiến  lược  hội  nhập
    ảnh hưởng đến nguyên liệu 2. Chiến lược phát triển sản phía sau (W5, T3, T4).
    nhập khẩu. phẩm (S1, S2,S4, T1, T2). 3.  Đổi  mới  công  nghệ,
    4. Nguồn nguyên liệu phụ 3. Xây dựng các chiến lược nâng cao hiệu quả sản xuất,
    thuộc nhiều vào nhập khẩu. cạnh  tranh:  bảo  vệ  thị chủ động đối phó với biến
    5.  Thay  đổi  công  nghệ trường hiện tại, thâm nhập động thị trường đặc biệt là
    không kịp trình độ chung. thị trường mới. nguồn nguyên liệu  ngoại
        nhập.
         

    Trên đây là ma trận SWOT phản ánh thực trạng về những điểm mạnh, điểm yếu cũng như nguy cơ và thách thức cũng như một số phương án kết hợp để khắc phục những mặt hạn chế như:

    Chiến lược SO: Phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội

    Chiến lược được thực hiện nhằm phối hợp giữa điểm mạnh và cơ hội là chiến lược phát triển thị trường nhằm tìm kiếm và mở rộng thị trường mới với khu vực mới và khách hàng mới. Với ưu thế là mặt hàng thay thế hàng ngoại nhập, thị trường trong nước đang phát triển nhanh. Do đó với chiến lược phát triển thị trường sẽ thì thị trường của công ty sẽ mở rộng và tạo ra sự tăng trưởng cao trong tương lai.

    Chiến lược ST: Phát huy điểm mạnh, hạn chế nguy cơ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          32                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Với những nguy cơ ảnh hưởng tới công ty thì chiến lược đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược phát triển sản phẩm là những chiến lược có thể giúp công ty phát huy diểm mạnh và hạn chế nguy cơ. Đa dạng hóa và phát triển sản phẩm giúp công ty tăng khả năng phục vụ nhu cầu khách hàng cũng như nâng cao chất lược sản phẩm góp phần tăng năng lực cạnh tranh của công ty so với các đối thủ đặc biệt là đối thủ nước ngoài.

    Chiến lược WO: Tận dụng cơ hội khắc phục điểm yếu

    Với những cơ hội từ thị trường công ty có thể khắc phục các điểm yếu của mình thông qua chiến lược phát triển thương hiệu và chiến lược đổi mới công nghệ. Thị trường tài chính đang phát triển sôi động. Doanh nghiệp có thể tận dụng việc huy động các nguồn tài chính trong việc đổi mới công nghệ nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả giảm giá thành sản phẩm là một động lực cạnh tranh hiệu quả.

    Chiến lược WT: Khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ

    Việc thực hiện phối hợp các chiến lược trong việc khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ thường khó hơn so với việc phối hợp các chiến lược khác. Những chiến lược được thực hiện như: chiến lược huy động tài chính và chiến lược hội nhập phía sau. Việc tạo ra nguồn tài chính dồi dào và ổn định có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là đối phó với những bất ổn thị trường.

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh không nhất thiết là phối hợp tất các các chiến lược là thành công đôi khi ta chỉ cần thực hiện một trong các chiến lược như: chiến lược phát huy điểm mạnh hoặc tận dụng cơ hội là đã thành công. Sự thành công không chỉ thể hiện ở việc xây dựng nhiều chiến lược mà ở chỗ là xây dựng một chiến lược hiệu quả và thực thi một cách tốt nhất với tất cả nguồn lực của công ty.

    2.2.2. Phân tích kết quả kinh doanh

    Trong sản xuất kinh doanh, việc phân tích kết quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quan trọng không chỉ cho ta biết về mức độ biết động tăng giảm của các chỉ tiêu mà còn cung cấp thông tin quan trọng giúp ta nhận biết những biến động bất lợi cho công ty, là căn cứ cho việc xây dựng mục tiêu và chiến lược cho năm tới. Nhằm đánh giá sự biến động kết quả kinh doanh của công ty cũng như nguyên nhân của sự biến động đó. Bảng tổng hợp sau đây cho ta thấy kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH Thương Mại M.K trong 3 năm trở lại đây.

    Bảng 2.3: Trích báo cáo kết quả kinh doanh (nguồn BCTC công ty M.K 2007 – 2009)

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          33                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Đơn vị tính: ngàn đồng

    Chỉ tiêu   Năm   Tăng trưởng (%)
               
      2007 2008 2009 08/07 09/08
               
    Doanh thu thuần 52.483.555 59.710.430 62.466.487 13,76% 4, 61%
               
    Giá vốn hàng bán 47.611.102 53.545.179 55.745.844 16,66% 4,1%
               
    Lợi nhuận gộp 4.872.453 6.165.251 6.720.643 26,53% 9 %
               
    Lợi nhuận trước thuế 2.524.391 3.022.465 2.777.943 19,730 – 8,09%
               
    Thuế thu nhập 709.629 846.290 694.485 19,25% -17,93%
               
    Lợi nhuận sau thuế 1.814.761 2.176.175 2.083.457 19,91% – 4,26%
               

    Nhìn vào bảng trích trên ta thấy rõ trong năm 2009 các chỉ tiêu quan trọng chỉ tăng ít và một số chỉ tiêu lại giảm. Để thấy rõ hơn sự biến động này ta lần lượt phân tích các chỉ tiêu quan trọng sau:

    Doanh thu thuần: Chỉ tiêu này trong năm chỉ tăng 4,61% so với năm 2008 trong khi đó năm 2008 lại tăng 13,76% so với năm 2007. Sự giảm sút này lại phù hợp với sự khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng nước ta và gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp. Một số khách hàng lớn của công ty giảm số lượng đặt và một số khách hàng đã ngưng sản xuất. Tuy nhiên với những nỗ lực của công ty trong việc tìm kiếm khách hàng thậm chí nhận cả những đơn hàng nhỏ đã góp phần làm cho doanh thu năm 2009 không giảm mà lại tăng 4,61%. Tuy nhiên việc tăng này lại kéo theo sự tăng chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty năm 2009 tăng 33% so với năm 2008.

    Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế: Mặc dù doanh thu tăng lên song chỉ tiêu lợi nhuận thuần lại giảm 8,09% so với năm 2008. Mới nhìn thì thấy không hợp lý, tuy nhiên để tạo ra sự tăng trưởng về doanh thu thì công ty đã nỗ lực rất nhiều trong hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là bán hàng. Nhằm khắc phục khó khăn công ty đã nhận và vận chuyển những đơn hàng khá nhỏ. Vì chi phí giao hàng được tính vào chi phí quản lý nên chi phí này tăng đến 33%. Chính sự tăng mạnh về chi phí quản lý nên chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế lại giảm đi so với năm 2008.

    Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế: Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế năm 2009 giảm 4,26% so với năm 2008, sự giảm này nhỏ hơn so với sự sụt giảm 8,09% về chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế. Đồng thời thuế thu nhập năm 2009 giảm đi 17,93% trong khi lợi nhuận trước thuế năm 2009 chỉ giảm 8,09%. Điều này được giải thích vì ngày 1/01/2009 luật

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          34                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    thuế thu nhập doanh nghiệp mới chính thức có hiệu lực với thuế suất mới là 25% thay cho thuế suất 28% trước kia. Do đó báo cáo tài chính năm 2009 tính thuế thu nhập là 25%. Sự giảm thuế suất thuế thu nhập đã làm cho thuế thu nhập năm 2009 giảm đi 17,93% và góp phần làm cho lợi nhuận sau thuế chỉ giảm 4,26%. Điều này cũng giải thích tại sao mà năm 2009 có lợi nhuận trước thuế cao hơn năm 2007 nhưng lại đóng thuế ít hơn do năm 2007 đóng theo thuế suất 28% trong khi năm 2009 đóng theo thuế suất 25%. Một số chỉ tiêu tổng hợp cũng có những biến động theo bảng sau:

    Bảng 2.4: Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp về doanh thu và lợi nhuận

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Chỉ tiêu   Năm   % trên doanh thu thuần
                 
      2007 2008 2009 2007 2008 2009
                 
    Doanh thu thuần 52.483 59.710 62.466
                 
    Giá vốn hàng bán 47.611 53.545 55.745 90,72% 89,67% 89,25%
                 
    Lợi nhuận gộp 4.872 6.165 6.720 9,28% 10,33% 10,75%
                 
    Chi phí quản lý 1.960 2.384 3.171 3,73% 3,99% 5,07%
                 
    Lợi nhuận trước thuế 2.524 3.022 2.777 4.8% 5,06% 4,44%
                 
    Lợi nhuận sau thuế 1.814 2.176 2.083 3,45% 3,64% 3,33%
                 

    Dựa vào bảng trên ta lần lượt phân tích một số chỉ tiêu tổng hợp như sau:

    Chỉ tiêu giá vốn hàng bán / doanh thu: Nhìn vào bảng ta thấy giá vốn hàng bán chiếm tỷ lệ rất cao trong doanh thu xấp xỉ khoảng 90%. Mặc dù chỉ tiêu này có giảm qua 3 năm song mức giảm là không đáng kể. Chỉ tiêu này cho thấy chi phí sản xuất chiếm tỷ lệ rất cao và công ty đang cố gắng hạ thấp tỷ lệ này nhưng hiệu quả rất ít. Nhận xét về vấn đề này sở dĩ giá vốn hàng bán cao là do hầu hết các nguyên liệu công ty phải nhập khẩu từ nước ngoài như: Thái Lan, Đài loan, Trung Quốc… với giá nhập khẩu khá cao. Để thu hút khách hàng và cạnh tranh nên công ty chấp nhận một mức giá với lợi nhuận không cao. Trong thời gian gần đây công ty đang cố gắng tìm kiếm nguồn nguyên liệu trong nước và bước đầu đã có dấu hiệu tích cực bằng việc tỷ lệ giá vốn trên doanh thu có xu hướng giảm nhẹ.

    Chỉ tiêu chi phí quản lý / doanh thu: Chỉ tiêu liên tục tăng qua các năm các năm đặc biệt là trong năm 2009 tăng 1,08% so với năm 2008 và chiếm 5,07% trong doanh thu. Với việc tính chi phí vận chuyển giao hàng tính vào chi phí quản lý nên số lượng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          35                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    đơn hàng, doanh số tăng đồng nghĩa với việc tăng chi phí quản lý nên làm cho chi phí quản lý ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong doanh thu.

    Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế / doanh thu: Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh mức độ sinh lợi của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này cho ta biết trong một đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận hay nói cách khác cho ta biết mức độ sinh lợi chiếm bao nhiêu phần trăm doanh thu thuần. Nhìn vào bảng ta thấy trong năm 2009 chỉ tiêu này giảm 0,31% so với năm 2008 và cho ta biết mức độ sinh lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chiếm 3.33% trên doanh thu thuần. Chỉ tiêu này giảm một phần là do mức độ tăng doanh thu trong năm 2009 chỉ đạt 4,61% trong khi các khoản chi phí trong năm tăng đáng kể đặc biệt là chi phí quản lý tăng tới 33% trong năm 2009.

    Tóm lại, dựa vào phân tích khái quát một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ta thấy được những nỗ lực và cố gắng của công ty trong việc hoàn thành chỉ tiêu sản xuất kinh doanh trong năm 2009 đầy biến động và khó khăn. Với những gì đã đạt được trong năm 2009 sẽ là tiền đề để công ty gặt hái được những thành công trong năm 2010 khi mà nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng cao.

    2.3. Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

    2.3.1. Phân tích môi trường vĩ mô

    Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới đã tạo ra những biến đổi lớn trong nền kinh tế Việt Nam ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có công ty TNHH Thương Mại M.K. Sự tác động này thể hiện rõ nét nhất ở những khía cạnh sau:

    Dễ thấy nhất là sự tác động của luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới tới công ty M.K như phân tích ở trên. Chỉ sự thay đổi nhỏ từ thuế suất 28% xuống 25% đã ảnh hưởng nhiều đến các chỉ tiêu của công ty đặc biệt là chỉ tiêu thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận sau thuế.

    Kế đến là chính sách khuyến khích sản xuất trong nước của Chính phủ, với chính sách này vừa đem lại cho công ty M.K khả năng tìm kiếm các nguồn nguyên liệu trong nước thay thế hàng nhập khẩu giảm tỷ lệ giá vốn hàng bán trong doanh thu mặt khác lại tạo ra nhiều đối thủ cạnh tranh đối với công ty. Việc Việt Nam gia nhập WTO và mở cửa thị trường đặc biệt là thị trường bán lẻ ngày 01/01/2009 đã đặt ra cho

    các doanh nghiệp nhiều khó khăn thách thức với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nước ngoài.

    Ngoài ra còn một chính sách nữa ảnh hưởng không nhỏ tới doanh nghiệp là các gói kích thích kinh tế, các chương trình tín dụng ưu đãi vay vốn với lãi suất 4% cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhằm đối phó với những ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế thế giới. Nhờ đó mà các doanh nghiệp đảm bảo được nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Cùng với quá trình hội nhập là những biến đổi sâu sắc môi trường kinh doanh Việt Nam đã và đang mở ra nhiều cơ hội phát triển cũng như rất nhiều khó khăn thách thức. Do đó việc theo dõi những thay đổi và tận dụng các cơ hội đó sẽ giúp công ty chủ động đối phó và phát triển ổn định trong thời gian tới.

    2.3.1. Phân tích tình hình cạnh tranh

    Thành phố Hồ Chí Minh là một thị trường lớn không chỉ đối với công ty M.K mà cả với các đối thủ cạnh tranh. Một thực tế cho thấy hầu hết các đối thủ chính của công ty đều có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh đã và đang cạnh tranh gay gắt với công ty trên thị trường này. Một số đối thủ chính có thể kể tên như: Công ty TNHH một thành viên Hoàn Vũ với trụ sở tại 37-39 Đường 25 P.10, Quận 6, Tp.HCM, công ty Decal Thảo Nhân tại 83/47 Phạm Văn Bạch, P.15, Q.Tân Bình, công ty TNHH công nghệ mã vạch Kỷ Nguyên tại 238 Bình Quới, Phường 28, Quận Bình Thạnh, Công Ty TNHH TM DV Vũ Hoàng Minh địa chỉ Lô III-29, Nhóm CN3, Đường 19/5A, KCN Tân Bình, P.Tây Thạnh, Q.Tân Phú. Những công ty kể trên được đánh giá là có tiềm lực và vị thế về sản phẩm decal trên thị trường đặc biệt là tại thị trường TP. HCM. Trong đó đối thủ mạnh nhất với cũa công ty M.K là công ty Vũ Hoàng Minh là một công ty hàng đầu trong lĩnh vực decal với khoảng 40% thị phần tại Tp.HCM và 80% thị phần Hà Nội. Ngoài ra công ty Thảo Nhân cũng là một đối thủ cần lưu ý, họ có vị trí tài chính vững mạnh, nếu đầu tư thỏa đáng, hiệu quả sẽ có những bước phát triển lớn và một số đối thủ cạnh tranh khác. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối thủ một mặt công ty phải duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường chính này chiếm hơn 75% doanh thu của công ty một mặt tích cực tìm kiếm và mở rộng thị trường các tỉnh nhằm nỗ trợ cho thị trường chính đang cạnh tranh gay gắt từ đối thủ.

    Việc phân tích môi trường vĩ mô và môi trường cạnh tranh cho ta thấy được những tác động từ những môi trường này lên công ty. Mặc dù môi trường vĩ mô chỉ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          37                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

     
    tác động gián tiếp song ảnh hưởng rất lớn tới công ty. Do đó công ty cần phải phân tích kỹ lưỡng đặc biệt là với những thay đổi để chủ động thích nghi. Với môi trường cạnh tranh sự chủ động là rất cần thiết nhằm đối phó với những phương thức cạnh tranh mới từ đối thủ để bảo vệ thị trường chính đồng thời không ngừng tìm kiếm mở rộng thị trường mới.
    2.4. Thực trạng về tổ chức hoạt động quản trị bán hàng tại công ty
    2.4.1. Cơ cấu tổ chức hoạt động quản trị bán hàng trong công ty
    Cơ cấu tổ chức hoạt động quản trị bán hàng trong công ty được mô tả theo sơ
    đồ dưới đây:
    Giám đốc
    P.Giám đốc
    Phòng bán hàng

     

    Nhân viên   Nhân viên
         

     

    Sơ đồ 2.2: Cơ cấu quản trị bán hàng của công ty

     

    Trong đó việc xây dựng các mục tiêu, chính sách, tổ chức lực lượng bán hàng, triển khai, giám sát bán hàng đều do giám đốc hoặc do phó giám đốc thực hiện. Phòng bán hàng được tổ chức ngang cấp mỗi nhân viên sẽ độc lập với nhau có chức năng và nhiệm vụ ngang nhau. Các nhân viên bán hàng nhận lệnh và chịu sự giám sát trực tiếp từ ban giám đốc. Bên cạnh đó nhân viên bán hàng chỉ báo cáo kết quả bán hàng, những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai cho ban giám đốc mà không phải thông qua bất kỳ thành viên nào của phòng bán hàng trong công ty.

     

    2.4.2. Xây dựng mục tiêu bán hàng

     

    Mục tiêu bán hàng của công ty được giám đốc trực tiếp xây dựng và phân bổ cho các nhân viên bán hàng trong cuộc họp đầu năm. Những mục tiêu bán hàng này được xây dụng chủ yếu trên ý kiến chủ quan của giám đốc và dựa vào một số căn cứ như: mức tăng trưởng những năm gần đây, doanh số bán hàng năm trước, nguồn lực, vị trí cạnh tranh và tình hình thị trường.

     

    Trong kế hoạch bán hàng, mục tiêu bán hàng trong công ty thường được xây dựng với mục tiêu ngắn hạn và liên tục thay đổi, điều chỉnh qua các năm. Mục tiêu bán hàng trong công ty chủ yếu xoay quanh mục tiêu về doanh số tức là tổng giá trị hàng

     

     

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          38                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    hóa bán ra trong một năm khi tiến hành những nỗ lực bán hàng. Thuận lợi khi xây dựng mục tiêu về doanh số là giúp công ty dễ dàng do lường được kết quả, dễ dàng phân bổ cho các nhân viên. Đồng thời các nhân viên biết được chỉ tiêu của mình để có kế hoạch và chiến lược để hoàn thành chỉ tiêu bán hàng. Tuy nhiên việc xây dựng mục tiêu theo doanh số cũng có hạn chế khó khăn trong việc hiểm soát chi phí cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng so với chi phí bỏ ra trong quá trình bán hàng.

    2.4.3. Chiến lược bán hàng

    Với phần lớn lượng khách hàng của công ty là khách hàng công nghiệp và một số nhà bán buôn. Do đó chiến lược bán hàng chủ yếu được áp dụng trong công ty là chiến lược bán hàng cá nhân. Trong chiến lược này mỗi nhân viên bán hàng sẽ quản lý một khu vực địa bàn riêng và tiếp xúc trực tiếp với từng khách hàng. Khi áp dụng chiến lược này nhân viên bán hàng có quyền chủ động cao và sự thành công trong công tác bán hàng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và kinh nghiệm của nhân viên.

    Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả cho chiến lược bán hàng cá nhân là vận dụng các kỹ năng bán hàng, các bước bán hàng chuyên nghiệp. Một trong những điểm tạo điều kiện thuận lợi cho chiến lược bán hàng cá nhân của công ty là công ty M.K có một lực lượng bán hàng tuy không nhiều song lại năng động, có nhiều kinh nghiệm và am hiểu thị trường ngoài ra giá sản phẩm không cao và chủ yếu phục vụ khách hàng công nghiệp.

    2.4.4. Chiến lược tiếp xúc khách hàng và chào hàng

    Việc thực hiện chiến lược tiếp xúc khách hàng và chào hàng được thực hiện bởi chính những nhân viên bán hàng và chỉ báo cáo lại kết quả cho giám đốc. Nhân viên bán hàng thông qua kinh nghiệm, các mối quan hệ và cả thu thập thông tin thị trường nhằm xác định khách hàng tiềm năng và chuẩn bị chào hàng. Việc tiếp xúc khách hàng và chào hàng được thực hiện theo cả hai chiều thuận và nghịch.

    Theo chiều thuận thì nhân viên bán hàng thực hiện với sơ đồ sau:

      Khám phá   Đánh giá   Gửi đơn chào hàng,  
      nhu cầu   tiềm năng   điện thoại gặp mặt  
                 
               
      Theo dõi kết   Kết thúc   Tiếp xúc và chào  
      quả   bán hàng   hàng  
                 
      Sơ đồ 2.3: Quy trình tiếp xúc chào hàng theo chiều thuận

    Trong đó việc khám phá nhu cầu khách hàng đòi hỏi nhân viên phải nỗ lực tìm hiểu nhu cầu khách hàng và thị trường. Trong một số trường hợp thì những khách hàng mới này do chính người thân quen hay khách hàng cũ giới thiệu. Tuy nhiên việc đánh giá tiềm năng khách hàng sẽ quyết định đến việc có thực hiện việc tiếp xúc chào hàng hay không. Nhân viên bán hàng đánh giá tiềm năng khách hàng thông qua các chỉ tiêu như: tư cách pháp nhân hoặc có cơ sở đáng tin cậy, tiềm năng về doanh số, khả năng tài chính và có thể làm ăn lâu dài và những kết quả khi thỏa thuận chào hàng.

    Theo chiều ngược thì quy trình tiếp xúc khách hàng được thực hiện như sau:

    Khách hàng thông   Xem xét đánh giá     Chuẩn bị tiếp xúc
    báo nhu cầu đặt hàng   khách hàng       khách hàng
                       
                 
    Theo dõi chăm     Kết thúc bán     Trao đổi tư vấn thêm về sản
    sóc       hàng       phẩm với khách hàng
                         

    Sơ đồ 2.4: Quy trình tiếp xúc chào hàng theo chiều ngược

    Tương

    tự các bước trong quy trình chào hàng thuận nhưng chào hàng nghịch có một số thuận lợi hơn khi khách hàng đã chủ động thông báo nhu cầu và tỏ ý muốn đặt hàng từ công ty. Mặc dù việc chào hàng trong trường hợp này thuận lợi hơn nhưng vẫn đòi hỏi những nỗ lực từ nhân viên bán hàng nhằm đạt được kết quả cuối cùng là bán hàng và xây dựng mối quan hệ lâu dài. Tuy nhiên trong trường hợp này thì việc đánh giá xem xét cũng được thực hiện như trường hợp ban đầu nhằm xác định những khách hàng tiềm năng nhất và quyết định tới những bước sau.

    2.4.5. Quy trình tiếp nhận và xử lý đơn đặt hàng

    Tại công ty hầu hết các đơn đặt hàng đều được thực hiện thông qua điện thoại hoặc fax và một số đặt hàng thông qua đơn đặt hàng. Các đơn hàng được gửi đến công ty và được tiếp nhận theo hai cách:

    Cách thứ nhất:

    Khách hàng gọi điện thoại hoặc gửi fax đặt hàng trực tiếp tới công ty. Sau đó chị Trang nhân viên phòng kế toán có nhiệm vụ tiếp nhận và ghi lại tất cả các đơn đặt hàng, xem xét thời gian giao hàng. Tiếp đó chị Trang sẽ xuất một hóa đơn gọi là “phiếu đặt hàng nội bộ” xuống phòng sản xuất và gia công theo đơn hàng. Sau đó bộ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          40                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    phận sản xuất căn cứ vào số lượng, quy cách sản phẩm tiến hành sản xuất đơn hàng đó và cuối cùng là giao hàng cho khách hàng.

    Cách thứ hai: Khách hàng đặt hàng thông qua nhân viên bán hàng quản lý khu của khách hàng đó. Sau khi nhân viên nhận được đơn hàng sẽ gửi đơn hàng xuống cho chị Trang có nhiệm vụ thu thập các đơn hàng và công việc tiếp theo được thực hiện như cách thứ nhất.

    Ngoài ra đối với các khách hàng lớn đặt hàng với số lượng lớn và giao hàng theo tùng chu kỳ thì chỉ đặt hàng một lần và theo từng thời điểm công ty sẽ giao hàng như công ty in số văn hóa Sài Gòn là một khách hàng lớn và nửa tháng thì công ty M.K giao hàng một lần cho tới khi kết thúc số lượng hàng đặt từ đầu và thực hiện đơn đặt hàng mới.

    Các đơn hàng sẽ được ghi lại và theo dõi từng ngày thông qua bảng “tổng hợp đơn hàng theo ngày”. Việc ghi lại các đơn hàng theo ngày nhằm mục đích theo dõi và đánh giá mức độ biến động các đơn hàng và để tiện cho việc giao hàng đúng thời hạn cũng như thu tiền hàng.

    2.4.6. Tổ chức lực lượng bán hàng

    Việc tổ chức lực lượng bán hàng trong công ty nhằm mục đích tìm kiếm khách hàng mới, xúc tiến bán hàng, thu thập thông tin và cung cấp các dịch vụ khách hàng. Ở nhiều công ty thì lực lượng bán hàng thường được chia làm 3 loại: lực lượng công ty, đại lý hợp đồng và lực lượng hỗn hợp. Với những đặc điểm riêng và để phù hợp với cơ cấu tổ chức nên lực lượng bán hàng tại công ty M.K chỉ gồm những người trong công ty. Lực lượng bán hàng này vừa hoạt động bên trong công ty theo phòng ban vừa hoạt động bên ngoài trực tiếp đi gặp khách hàng và chào hàng. Dựa vào chức năng và phương hướng hoạt động thì cơ cấu tổ chức bán hàng trong công ty là tổ chức bán hàng theo địa bàn, khu vực theo sơ đồ sau:

    Giám đốc

    1. Giám đốc
      Nhân viên bán hàng     Nhân viên bán hàng   Nhân viên bán hàng  
      đồng thời quản lý khu     đồng thời quản lý khu   đồng thời quản lý  
      vực A     vực B   khu vực C  
                 
      Sơ đồ 2.5: Tổ chức lực lượng bán hàng trong công ty
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 41   SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Trong cơ cấu tổ chức này nhân viên bán hàng vừa thực hiện nhiệm vụ bán hàng vừa thực hiện quản lý đối tượng khách hàng trong khu vực của mình. Mọi giao dịch từ khâu tiếp xúc, bán hàng, chăm sóc khách hàng và thu hồi công nợ trong mỗi khu vực đều thông qua nhân viên bán hàng quản lý khu vực đó. Ngoài ra nhân viên bán hàng còn đóng vai trò đại diện công ty kinh doanh tất cả các sản phẩm cho tất cả các đối tượng khách hàng trong khu vực mình quản lý. Việc tổ chức cơ cấu bán hàng theo địa bàn sẽ đảm bảo không có một khách hàng nào được chào hàng hai lần qua đó giúp công ty tăng khả năng tiếp xúc khách hàng và chào hàng. Thành công của cơ cấu tổ chức này giúp công ty mở rộng thị trường bao gồm: Thị trường Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng, Bình Dương… và trọng điểm là thị trường TP. Hồ Chí Minh.

    2.4.7. Triển khai kế hoạch bán hàng

    Quá trình triển khai hoạt động bán hàng của công ty được thực hiện theo 2

    bước:

    Bước 1: Phân bổ chỉ tiêu bán hàng cho các nhân viên

    Như đã phân tích thì giám đốc là người xây dựng các mục tiêu doanh số bán hàng và phân bổ trực tiếp cho các nhân viên. Giám đốc đặt ra mục tiêu về tổng doanh số bán hàng mà công ty hướng tới trong năm. Sau đó chỉ tiêu này sẽ được phân bổ cho từng nhân viên. Mỗi nhân viên sẽ nhận được một bản chi tiết về chỉ tiêu bán hàng với những nhiệm vụ và yêu cầu như sau:

    Bảng 2.5: Phân bổ chỉ tiêu bán hàng trong công ty

          CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI M.K  
          CHỈ TIÊU BÁN HÀNG NĂM 20…        
      Khu vực: ………………………….                
      Nhân viên phụ trách: ………………                
      Tổng chỉ tiêu:………………………                
      Chỉ tiêu từng quý:                    
        Quý I Quý II Quý III     Quý IV  
                           
        Doanh số Doanh số   Doanh số       Doanh số    
        Khách hàng Khách hàng Khách hàng số Khách hàng    
        mới Doanh s   Doanh   mới    
        mới   mới hàng    
          Khách hàng   Khách      
          mới   mới          
        Yêu cầu: Hoàn thành đúng và vượt chỉ tiêu              
        Thu hồi nợ đúng hạn   Ngày…..tháng….năm……  
                 
        Nhân viên ký tên   Giám đốc ký tên, đóng dấu  
                         
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 42     SVTH: Nguyễn Vũ Phương

    Chỉ tiêu bán hàng phân bổ cho các nhân viên tùy theo các tiêu chí như: báo cáo bán hàng năm trước, địa bàn hoạt động, mức độ thuận lợi, số lượng khách hàng, tiềm năng thị trường. Theo đó những nhân viên quản lý khu vực có số lượng khách hàng nhiều và khách hàng lớn, thuận lợi và nhiều tiềm năng sẽ nhận chỉ tiêu về doanh số cao hơn so với các nhân viên quản lý các khu vực ít thuận lợi hơn. Trên cơ sở chỉ tiêu bán hàng được phân bổ, mỗi nhân viên bán hàng sẽ tự xây dựng mục tiêu và chiến lược nhằm hoàn thành chỉ tiêu bán hàng.

    Bước 2: Tổ chức kênh phân phối

    Tổ chức kênh phân phối của công ty chủ yếu là kênh phân phối trực tiếp theo sơ

    đồ sau:   Công ty  
               
               
              Nhân viên bán hàng
               
      Khách hàng    
               

    Sơ đồ 2.6: Tổ chức kênh phân phối

    Theo cấu trúc kênh phân phối này, công ty thiết lập quan hệ trực tiếp với khách hàng hiện tại cũng như tiềm năng thông qua lực lượng bán hàng chính của công ty. Sản phẩm của công ty là sản phẩm công nghiệp với khách hàng chính là công ty và các nhà bán buôn. Do đó những giao dịch trực tiếp với khách hàng để chào hàng và bán hàng là rất quan trọng đặc biệt là khách hàng lớn. Sau khi nhận đơn hàng và sản xuất công ty sẽ giao hàng trực tiếp cho khách hàng thông qua phương tiện và nhân viên của chính công ty. Đối với những khách hàng ở khu vực Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận thì công ty trực tiếp vận chuyển tới và công ty chịu hoàn toàn chi phí vận chuyển. Đối với khách hàng ở xa như Hà Nội, Đà Nẵng thường thì công ty gửi tới bằng máy bay hoặc xe tải và chi phí vận chuyển thường do khách hàng trả ngay hoặc tính phí vào giá thành sản phẩm. Việc tổ chức kênh phân phối trực tiếp đảm bảo cho công ty linh hoạt và chủ động trong việc tìm kiếm và giao dịch với khách hàng.

    2.4.8. Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng

    Việc thực hiện công tác kiểm tra giám sát bán hàng trong công ty được thực hiện định kỳ dựa theo những báo cáo bán hàng của các nhân viên. Do đó việc kiểm tra giám sát không chỉ là việc của cấp trên mà chính nhân viên bán hàng cũng phải thực hiện. Mỗi nhân viên sẽ lập các kế hoạch làm việc theo tháng, quý với các mục tiêu về

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          43                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    doanh số, lượng khách hàng và mức thu hồi nợ cũ dựa theo chỉ tiêu được phân bổ và chỉ liên hệ với giám đốc khi cần thêm sự hỗ trợ hoặc báo cáo kết quả. Hàng tháng mỗi nhân viên sẽ lập một bảng báo cáo về kết quả bán hàng tại khu vực mình cho giám đốc. Hệ thống bảng báo cáo trong công ty gồm các loại như: Báo cáo theo nhân viên / khách hàng theo tháng, quý năm. Sau đây là bảng trích tổng hợp báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng Lưu Minh Mẫu, phụ trách khu vực các tỉnh, thành khác như sau:

      Bảng 2.6: Bảng báo cáo bán hàng theo nhân viên / khách hàng  
        Từ ngày: 01/01/2009 Đến ngày: 31/12/2009  
                   
    Ngày   Tên khách hàng   Số lượng Đơn Doanh
    tháng   KH     m2 giá/m2 số
                 
    Nhân viên: Lưu Minh Mẫu        
                   
    4-08   ANNH0002 Cty An Nhân        
        000PLBL Decal PL đế xanh   16.84 7,125 115,708
          Tổng cộng khách hàng 16.84   115,708
                   
    3-08   ANTH0003 Anh Thy        
        0ALSuper DecalAL Super   123.00 8,190 959,400
          Tổng cộng khách hàng 123.00   959,400
                   
    ….   …………… ……………..   ………. …… ………
                   
        Tổng cộng   …. ….  
                   

    Thông qua các báo cáo bán hàng gửi về giám đốc sẽ đánh giá kết quả của từng nhân viên bán hàng so với chỉ tiêu được phân bổ để cũng như nắm bắt được tình hình thị trường khu vực. Bên cạnh đó báo cáo bán hàng còn là căn cứ khen thưởng bán hàng. Vì nhân viên bán hàng hưởng theo lương cố định không có hoa hồng bán hàng, do đó việc thưởng theo kết quả bán hàng không căn cứ vào doanh số mà căn cứ trên lương của nhân viên. Thông thường tiền thưởng bán hàng là 20% trên lương căn bản của nhân viên. Ngoài ra báo cáo bán hàng còn là căn cứ để xây dựng chỉ tiêu cho năm sau.

    2.4.9. Chính sách bán hàng và chăm sóc khách hàng

    Hiện tại công ty dang áp dụng chính sách bán hàng linh động với những chính sách sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          44                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Chính sách bán chịu: bán chịu là một phần không thể thiếu trong bán hàng đặc biệt là hàng hóa công nghiệp. Với chính sách này công ty chưa có một chính sách chung mà được thực hiện tùy vào đối tượng khách hàng và thỏa thuận khi chào hàng giữa nhân viên và khách hàng. Đối với khách hàng nhỏ, lẻ, ít thông tin cũng không rõ ràng về cơ sở hay địa điểm kinh doanh thì công ty thường thu tiền ngay khi giao hàng. Đối với những khách hàng cũ làm ăn lâu năm, uy tín đặc biệt là khách hàng lớn thì việc thu tiền có thể kéo dài tuy nhiên không quá hai tháng kể từ khi giao hàng. Ngoài ra tùy vào những thỏa thuận khác khi chào hàng với khách hàng thì chính sách này lại phụ thuộc vào những gì đạt được giữa hai bên.

    Chính sách giảm giá: Việc giảm giá được công ty thực hiện trong những trường hợp sau: những khách hàng mua với số lượng lớn, khách hàng trả tiền ngay, hoặc mục hàng theo khổ chuẩn (mua cả cuộn mà không được gia công cắt theo ý muốn, khách hàng tự làm). Thông thường mức giảm giá, chiết khấu dao động từ 0.5% – 3% trên giá bán (giá có VAT). Ngoài ra những trường hợp hàng bán bị trả lại mà lỗi thuộc về công ty thì công ty cũng có chính sách giảm giá tùy theo mức độ thiệt hại và khả năng sửa chữa gia công lại.

    Chăm sóc khách hàng: Sản phẩm của công ty chủ yếu là giấy decal đây sản phẩm công nghiệp song giá trị không cao, sử dụng một lần và không có bảo hành. Do đó việc chăm sóc khách hàng không nặng và không thực hiện một cách thường xuyên như các sản phẩm khách như: thiết bị, dây chuyền công nghiệp. Phần lớn những việc chăm sóc khách hàng được thực hiện thông qua nhân viên bán hàng như: tư vấn sử dụng, cách tranh trí, giao hàng tận nơi… Ngoài ra vào những dịp lễ lớn hay đối tác khai trương những cơ sở mới thì công ty thường tặng lịch năm mới, hoa, bia, nước ngọt…

    Trên đây là toàn bộ quy trình quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K. Một quy trình quản trị bán hàng hiệu quả không chỉ làm tốt một vài công đoạn là được mà phải thực hiện tốt tại mọi khâu và thực hiện một cách thường xuyên. Sự thành công trong hoạt động quản trị bán hàng sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thành mục tiêu kế hoạch công ty đặc biệt là với doanh nghiệp thương mại. Ngày nay khoa học về quản trị bán hàng ngày càng phát triển với nhiều phương thức mới hơn và hiệu quả hơn. Do đó để thành công trong lĩnh vực bán hàng đòi hỏi mỗi doanh nghiệp

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          45                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    không ngừng đổi mới và hoàn thiện những quy trình, phương pháp bán hàng tốt nhất đối với khách hàng và khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.

    2.5. Khảo sát thực tế về hiệu quả quản trị bán hàng

    Hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng không chỉ được xem xét thông qua kết quả bán hàng mà thông qua những đánh giá và nhận xét của chính khách hàng và lực lượng bán hàng. Cuộc khảo sát dưới đây với khách hàng và lượng lượng bán hàng trong công ty sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn về hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng của công ty.

    2.5.1. Khảo sát từ phía khách hàng

    Hoạt động quản trị bán hàng chính là nhằm đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất qua đó làm thỏa mãn nhu cầu của doanh nghiệp đó là doanh số và lợi nhuận. Cuộc khảo sát được thực hiện với 100 khách hàng thường xuyên và chiếm tỷ lệ doanh thu cao nhất đối với công ty thông qua bảng câu hỏi. Sau đây là tổng hợp ý kiến từ một số câu hỏi:

    Về tiêu chí đánh giá lựa chọn nhà cung cấp

    Lựa chọn nhà cung cấp

     

    tiêu chí khác

    thuận lợi

    giá cả

    khả năng cung ứng

    chất lượng

    uy tín

    4.84%

    12.90%

    6.45%

    19.35%

    27.42%

    29.03%

    0.00% 5.00% 10.00%15.00%20.00%25.00%30.00%

    Biểu đồ 2.1: Đánh giá về tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh việc đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, có chất lượng đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo sản xuất ổn định và phát triển bền vững. Qua biểu đồ 2.1 ta thấy ba yếu tố hàng đầu khi lựa chọn nhà cung cấp đó là: uy tín với 29,03% doanh nghiệp lựa chọn, chất lượng là 27,42% và khả năng cung ứng là 19,35% và một số tiêu chí khác cũng được đánh giá với kết quả như sau: yếu tố thuận lợi với 12,9%, giá cả là 6,45% và các tiêu chí khác là 4.48% trong đó phần lớn khách hàng đánh giá cao về sự đa dạng mẫu mã. Nắm bắt được điều này doanh nghiệp cần phải có những chiến lược phù hợp đặc biệt là trong việc tạo dựng uy tín, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cung ứng, phát triển

    sản phẩm tạo sự đa dạng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Thành công trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu và chất lượng sản phẩm của công ty sẽ góp phần quan trọng trong hoạt động bán hàng như thuận lợi cho việc tìm kiếm khách hàng, việc chào hàng, bán hàng đặc biệt là việc tiếp cận với những khách hàng lớn.

    Đánh giá về chất lượng sản phẩm của công ty

    Như đã phân tích ở biểu đồ 2.1, ta thấy cùng với uy tín thương hiệu thì chất lượng cũng là yếu tố hàng đầu khi các công ty lựa chọn nhà cung cấp. Biểu đồ dưới đây cho ta thấy những đánh giá của khách hàng về chất lượng sản phẩm của công ty:

    Chất lượng sản phẩm

    60% 47% 40%  
    40% 10%    
    20% 3%  
     
    0%      

    Chất     Khá tốt      Trung

    Chất

    lượng tốt

    bình

    lượng

    kém

    Biểu đồ 2.2: Đánh giá về chất lượng sản phẩm của công ty

    Qua biểu đồ trên cho thấy khách hàng đánh giá khá cao về chất lượng sản phẩm công ty với 57% khách hàng cho sản phẩm của công ty từ khá tốt đến tốt trong đó 10% đánh giá tốt và 47% cho là khá tốt. Điều này là một tín hiệu tích cực khi sản phẩm của công ty ngày càng được khách hàng đánh giá cao và tín nhiệm. Tuy nhiên cũng có một tỷ lệ khách hàng khá cao với 40% chỉ đánh giá sản phẩm của công ty ở mức trung bình và đặc biệt có một tỷ lệ nhỏ 3% cho là sản phẩm của công ty có chất lượng kém. Do đó doanh nghiệp cần không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, tìm hiểu những nguyên nhân, thiếu sót trong quá trình sản xuất nhằm đảm bảo các mặt hàng của công ty khi giao cho khách hàng luôn đạt chất lượng và đảm bảo răng sẽ không có sản phẩm kém chất lượng giao cho khách hàng. Để làm được điều này công ty cần thực hiện kiểm tra chặt chẽ và thực hiện đúng các tiêu chuẩn chất lượng đề ra.

    Đánh giá về phong cách bán hàng của công ty

    Ngày nay sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và gay gắt nơi mà rất nhiều người bán cùng bán hàng cho một đối tượng tiêu dùng. Do đó để bán được hàng không chỉ dựa vào yếu tố chất lượng, thương hiệu, giá cả mà còn dựa vào những nỗ lực bán hàng và trong nhiều trường hợp thì nhân tố quyết định tới hành vi mua hàng đó là những tác

    động từ chính người bán hàng. Biểu đồ sau cho chúng ta thấy được những đánh giá của khách hàng về hoạt động bán hàng của công ty:

            phong cách hán hàng    
    50%       46%        
    45%                    
    40%                    
                       
    35%                    
                       
    30%                    
              22%      
    25%                
      18%           14%  
    20%                  
    15%                    
    10%                    
                       
    5%                    
                       
    0%                    
                       

    Chuyên            Khá chuyên

    Chưa

    Bình thường

    nghiệp

    nghiệp

    chuyên

    nghiệp

    Biểu đồ 2.3: Đánh giá về phong cách bán hàng của công ty

    Biểu đồ trên cho thấy công ty đã xây dựng được một phương thức bán hàng hiệu quả và được khách hàng đánh giá cao. Trong đó có 18% đánh giá của khách hàng cho là phương thức bán hàng của công ty là chuyên nghiệp và 46% khách hàng đánh giá là khá chuyên nghiệp. Đây thực sự là những phần thưởng cho những nỗ lực của công ty trong hoạt động bán hàng và là động lực thúc đẩy giúp cho doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn trong việc bán hàng. Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn một số hạn chế khi có tới 22% ý kiến cho là chưa chuyên nghiệp và 14% ý kiến lại cho rằng hoạt động bán hàng của công ty chỉ ở mức bình thường, không có gì đặc biệt. Do đó công ty cần hoàn thiện các phương thức bán hàng hiện tại và tiếp cận các phương thức bán hàng mới đem lại hiệu quả. Ngoài ra nhân viên bán hàng cần nỗ lực sáng tạo trong việc thỏa mãn và làm hài lòng khách hàng trong mọi tình huống nhất là trong khâu chào hàng. Có như vậy công ty mới chiếm được lòng tin của khách hàng bởi sự chuyên nghiệp và tính hiệu quả góp phần không nhỏ làm tăng lòng tin của khách hàng đặc biệt là khâu tiếp xúc chào hàng.

    Đánh giá về giải quyết khiếu nại

    Giải quyết khiếu nại

    Không giải quyết       7%              
                       
          10%              
    Giải quyết không thỏa đáng           28%          
                     
                     
    Giải quyết chậm trễ                 55%
                 
    Giải quyết ngay                  
                           
                         
    0.00% 20.00% 40.00% 60.00%
                               

    Biểu đồ 2.4: Đánh giá về việc giải quyết kiếu nại của công ty

     

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh không thể tránh khỏi những thiếu sót đặc biệt là những khiếu nại và phàn nàn của khách hàng. Khảo sát khách hàng về những khiếu nại cho thấy phần lớn những khiếu nại của khách hàng được công ty giải quyết ngay với 55% khách hàng. Bên cạnh một số khách hàng cho biết công ty thường giải quyết chậm trễ với 28%, 10% khách hàng cho là công ty giải quyết không thỏa đáng và 7% cho là công ty không giải quyết. Việc giải quyết tất cả các khiếu nại một cách tốt nhất là rất khó. Vì vậy trong hoạt động sản xuất kinh doanh công ty cần có những chính sách về chất lượng, giá cả, giao hàng cũng như thông báo đầy đủ cho khách hàng nhằm hạn chế những khiếu nại không cần thiết. Bên cạnh đó công ty cần nỗ lực giải quyết ngay có thể những khiếu nại hoặc thông báo cho khách hàng nếu cần thời gian giải quyết và cần hạn chế tới mức thấp nhất việc giải quyết không thỏa đáng hoặc không giải quyết vì điều này sẽ làm giảm uy tín công ty sẽ là cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh. Có như vậy công ty mới tạo được uy tín và chiếm được lòng tin từ khách hàng, tạo mối quan hệ làm ăn lâu dài.

    Đánh giá của khách hàng với các hoạt động bán hàng của công ty

    Đánh giá về các hoạt động bán hàng

    35.00%   32.32%   27.85%       29.75%    
               
    30.00%   25.61%                  
                       
                               
    25.00%       19.51%   20.89%            
                             
                             
    20.00%                                  
          12.66%           13.41%               Hài lòng
    15.00%                               Không hài lòng
          8.86%         9.15%    
    10.00%                                
                                           
    5.00%                                        
                                           
    0.00%                                        
      Chào hàngPhân phối Giá cả Chất lượng Chăm sóc
       
                                  khách hàng

    Biểu đồ 2.5: Đánh giá chung về một số hoạt động bán hàng của công ty

    Biểu đồ trên cho ta thấy mức độ hài lòng và không hài lòng của khách hàng về một số hoạt động bán hàng của công ty. Qua đó ta thấy khách hàng đánh giá cao và hài lòng nhất là khâu phân phối và giao hàng với 32,32% khách hàng hài lòng. Điều này cho thấy hoạt động phân phối của công ty khá hiệu quả mà thực tế cho thấy có 90% khách hàng được hỏi thì 90% cho biết công ty thường giao hàng trước hạn và đúng hạn trong đó giao trước hạn là 10% và đúng hạn là 80%. Một số tiêu chí khác cũng được khách hàng đánh giá cao như chào hàng với hơn 25,61% khách hàng hài lòng,

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          49                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    chất lượng là 13,41%, chất lượng là 19,51% và thấp nhất là chăm sóc khách hàng với chỉ hơn 9,15% hài lòng. Đây thực sự là những thông tin quan trọng cho công ty trong việc phát huy những thành tựu đã đạt được và những nỗ lực trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Bên cạnh những hoạt động được khách hàng đánh giá cao và hài lòng ta cũng cần quan tâm tới những gì khách hàng không hài lòng trong hoạt động bán hàng của công ty.

    Cũng qua biểu đồ ta thấy phần lớn khách hàng không hài lòng về hoạt động chăm sóc khách hàng của công ty với 29,75% khách hàng. Bên cạnh đó yếu tố về giá cả và chất lượng cũng có tỷ lệ khá cao với ý kiến lần lượt là 27,85% và 20,89%. Mặc dù hoạt động chăm sóc khách hàng của công ty thường không nhiều và quan trọng như với mặt hàng cao cấp song việc chăm sóc khách hàng không chỉ là thực hiện sau khi bán hàng mà có thể thực hiện ngay cả trước khi bán hàng đặc biệt là trong khâu chào hàng thông qua sự hỗ trợ tư vấn về sản phẩm, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để khách hàng đặt hàng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó công ty cần nâng cao chất lượng sản phẩm, quản trị chi phí hiệu quả nhằm xây dựng mức giá cạnh tranh so với yêu cầu thị trường.

    2.5.2. Khảo sát từ lực lượng bán hàng

    Mặc dù lực lượng bán hàng trong công ty không nhiều với khoảng 10 người nhưng lại là lực lượng quan trọng trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty đồng thời cũng là một trong hai mục tiêu của hoạt động quản trị bán hàng đó là mục tiêu con người. Hiệu quả trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty cũng chính là những hiệu quả trong hoạt động quản trị con người chính là lực lượng bán hàng trong công ty. Cuộc khảo sát với tất cả nhân viên bán hàng của công ty được một số kết quả quan trọng như sau:

    Đánh giá về cơ cấu quản lý

                Cơ cấu quản lý            
                                       
          0%                      
      Không hiệu quả                          
                        30%          
      Chưa đạt hiệu                          
                                   
      quả cao                           50%  
      Khá hiệu quả                            
                                 
      Hiệu quả             20%                
                                   
                               
      0.00% 10.00%  20.00%  30.00% 40.00%  50.00%  
                                   
    Biểu đồ 2.6: Đánh giá của nhân viên bán hàng về cơ cấu quản lý bán hàng
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 50         SVTH: Nguyễn Vũ Phương

    Một cơ cấu quản lý hiệu quả sẽ là tiền đề cho việc thực hiện thành công những mục tiêu, chiến lược quản trị bán hàng. Nhận xét đánh giá về cơ cấu tổ chức quản lý bán hàng trong công ty ta thấy có 20% nhân viên cho rằng cơ cấu quản lý bán hàng đang hoạt động hiệu quả, 50% cho rằng hoạt động là khá hiệu quả. Dựa vào những nhận xét trên ta thấy cơ cấu quản lý bán hàng trong công ty được tổ chức khá tốt góp phần quan trọng cho việc triển khai các kế hoạch bán hàng. Bên cạnh đó cũng có 30% nhân viên cho rằng cơ cấu quản lý trong công ty là chưa hiệu quả cao so với tình hình thực tế và chưa đáp ứng yêu cầu quản lý khi thị trường ngày càng phát triển. Do đó để đáp ứng nhu cầu ngày càng mở rộng thị trường và hướng tới xuất khẩu công ty cần tiếp tục hoàn thiện cơ cấu quản trị bán hàng sao cho phát huy được tiềm năng và hiệu quả của tổ chức bán hàng.

    Đánh giá về quy mô lực lượng bán hàng

    Quy mô lực lượng bán hàng

    Chưa đáp ứng nhu cầu Đáp ứng một phần nhu cầu

    Đáp ứng phần lớn nhu cầu Đáp ứng đầy đủ nhu cầu

    10%

    60%

    20%

    10%

    0%   10% 20% 30% 40% 50% 60%

    Biểu đồ 2.7: Nhận xét của nhân viên về quy mô lực lượng bán hàng

    Xét về quy mô lực lượng bán hàng trong công ty thì phần lớn các đánh giá cho rằng lực lượng bán hàng trong công ty còn khá ít chưa đáp ứng hoặc đáp ứng không đủ yêu cầu khi lượng khách hàng công ty đang tăng nhanh. Trong đó có tới 60% nhân viên cho rằng lực lượng hiện nay chỉ đáp ứng một phần nhu cầu, 20% đáp ứng phần lớn nhu cầu đặc biệt là có 10% cho rằng chưa đáp ứng nhu cầu trong khi chỉ có 10% là cho rằng đã đủ yêu cầu. Hiện nay lượng khách hàng của công ty đang tăng nhanh cùng với đó là rất nhiều công việc mà nhân viên bán hàng phải thực hiện như: chào hàng, quản lý địa bàn, lập báo cáo, thu nợ… đang gây nhiều khó khăn cho nhân viên bán hàng. Do đó công ty cần xem xét về tình hình khách hàng như số lượng, mức tăng trưởng, quy mô địa bàn trong việc bố trí và xác định số lượng nhân viên một cách phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở rộng thị trường.

    Về hoạt dộng giám sát hiệu quả bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          51                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Giám sát bán hàng

    Chưa hiệu quả 10%     50%
    Hiệu quả trung bình       30%
    Khá hiệu quả        
    Hiệu quả 10%      
    0% 10% 20% 30% 40% 50%

    Biểu đồ 2.8: Đánh giá của nhân viên về hoạt động giám sát bán hàng

    Việc giám sát bán hàng có vai trò quan trọng trong việc đánh giá kết quả bán hàng và so sánh quá trình thực hiện với mục tiêu đề ra. Một hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả sẽ giúp cho việc thực hiện đúng với kế hoạch đề ra. Nhận xét về hoạt động giám sát của công ty chỉ có 10% nhân viên đánh giá là hiệu quả, 30% cho là khá hiệu quả trong khi đó có tới 50% cho là hiệu quả trung bình và 10% cho là chưa hiệu quả. Từ kết quả trên cho thấy công ty hiệu quả của hoạt động giám sát bán hàng của công ty chưa cao, chưa phát huy vai trò quan trọng trong việc tạo ra động lực thúc đẩy những nỗ lực bán hàng và chăm sóc khách hàng. Do đó nhà quản trị cần nỗ lực hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt giám sát bán hàng bằng cách xây dựng các bảng biểu, báo cáo, áp dụng khoa hoặc kỹ thuật đặc biệt là các phần mềm quản lý bán hàng.

    Về chính sách khen thưởng

        Chính sách khen thưởng
            60%    
    60.00%                    
                     
                         
    40.00%       30%        
                         
    20.00%     10%           0%  
                     
                       
    0.00%                    
                     
      Rất hài Hài lòng Tạm hài Không
       
        lòng     lòng hài lòng

    Biểu đồ 2.9: Đánh giá nhân viên về chính sách khen thưởng của công ty

    Khen thưởng là một chính sách quan trọng không chỉ góp phần làm cho nhân viên nỗ lực trong việc bán hàng mà còn là một nguồn động viên tinh thần. Tuy nhiên khi hỏi về việc hài lòng với việc khen thưởng của công ty thì chỉ có 40% nhân viên là thấy hài lòng song có tới 60% nhân viên là chưa hoàn toàn hài lòng và tỷ lệ nhân viên

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          52                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    không hài lòng là 0%. Do đó trong hoạt động bán hàng công ty cần có những chính sách phù hợp đặc biệt là việc động viên tinh thần trong đó chính sách khen thưởng cần phải thực hiện một cách hiệu quả và công bằng góp phần nâng cao hiệu quả cũng như tinh thần làm việc của nhân viên.

    Tóm lại những kết quả thu được từ ý kiến khách hàng và từ nhân viên bán hàng sẽ là những ý kiến đánh giá quan trọng và thực tế nhất về hiệu quả quản trị bán hàng của công ty. Qua kết quả khảo ta thấy bên cạnh những đánh giá tích cực về hoạt động bán hàng của công ty còn có những hạn chế nhất định. Điều này sẽ góp phần quan trọng giúp công ty ngày càng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bán hàng góp phần làm thỏa mãn nhu cầu của cả công ty và khách hàng

    2.6. Nhận xét và đánh giá về hiệu quả quản trị bán hàng tại công ty

    Qua quá trình phân tích, tìm hiểu quy trình thực hiện quản trị bán hàng trong công ty cũng như phân tích ý kiến đánh giá của khách hàng và nhân viên bán hàng, sau đây là một số ý kiến nhận xét và đánh giá về hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K

    2.6.1. Những thành tựu và kết đạt được

    Những thành tựu và hiệu quả trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty

    TNHH Thương Mại M.K được thể hiện qua những điểm sau:

    Bước đầu đã xây dựng và vận hành quy trình quản trị bán hàng với những mục tiêu, chính sách bán hàng góp phần quan trọng giúp công ty tìm kiếm và mở rộng thị trường. Đây là tiền đề quan trọng cho công ty tạo nền tảng cho sự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bán hàng cũng như sự mở rộng và phát triển thị trường sau này.

    Giữ vững và ổn định thị trường đặc biệt là thị trường T.p Hồ Chí Minh trước sự cạnh tranh từ các đối thủ. Quản trị bán hàng giúp tạo lập lòng tin, duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng cũ chiếm hơn 80% doanh thu của công ty đồng thời không ngừng nỗ lực tìm kiếm khách hàng mới với mức tăng trưởng cao.

    Thị trường công ty không ngừng mở rộng ra các tỉnh bên ngoài như: Bình Dương, Hà Nội, Đà Nẵng… cùng với đó là doanh thu không ngừng tăng cao đặc biệt là những nỗ lực bán của công ty trong năm 2009 khi mà kinh tế trong nước và thế giới đang bị khủng hoảng.

    Hoạt động quản trị bán hàng góp phần quan trọng trong việc quảng bá và phát triển thương hiệu. Thông qua sự năng động của nhân viên bán hàng trong việc tìm hiểu nhu

     

    cầu khách hàng và chào hàng làm cho thương hiệu về sản phẩm của công ty được khách hàng biết đến và thực tế cũng cho thấy phần lớn khách hàng biết tới công ty là do sự chào hàng từ nhân viên bán hàng của công ty.

    Đội ngũ nhân viên bán hàng của công ty rất hiệu quả là hạt nhân trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty. Nhân viên bán hàng của công ty rất năng động không chỉ làm nhiệm vụ bán hàng mà còn thực hiện nhiều chức năng như: quản lý địa bàn, tìm hiểu nhu cầu, chào hàng, tư vấn khách hàng. Hoạt động quản trị bán hàng đặc biệt là quản trị nhân viên bán hàng đã giúp công ty có thể quản lý một lượng khách hàng lớn với hơn 1000 khách hàng trong khi nhân viên bán hàng chỉ khoảng 10 nhân viên.

    Những thành tựu và kết quả đạt được trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty đã và đang góp phần quan trọng vào sự thành công chung của doanh nghiệp.

    2.6.2. Những hạn chế trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty

    Bên cạnh những thành tựu và hiệu quả thì hoạt động quản trị bán hàng của công ty còn có một số hạn chế nhất định sau:

    Thứ nhất: Công ty đã bước đầu xây dựng và thực hiện quản trị bán hàng song chỉ là những hoạt động phải thực hiện và mức độ liên kết không cao. Hoạt động quản trị bán hàng của công ty còn hạn chế và sơ sài thiếu những cải tiến, những đột phá, chưa tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và phương pháp quản trị bán hàng hiện đại. Hoạt động dự báo bán hàng, nghiên cứu thị trường, xây dựng hạn ngạch, lập ngân sách bán hàng của công ty không được chú trọng thậm chí không được thực hiện trong khi đó đây là những nội dung quan trọng trong quản trị bán hàng và góp phần quan trọng tạo điều kiện thuận lợi khi triển khai các kế hoạch bán hàng.

    Thứ hai: Cơ cấu quản trị bán hàng chưa tách khỏi cơ cấu quản trị công ty khi mà giám đốc công ty đồng thời là nhà quản trị bán hàng. Bên cạnh đó việc phân cấp trong phòng bán hàng theo nguyên tắc ngang cấp và mỗi người quản lý một địa bàn làm hạn chế khả năng phối hợp và trao đổi kinh nghiệm cũng như hỗ trợ giữa các nhân viên trong quá trình bán hàng.

    Thứ ba: hoạt động bán hàng chủ yếu dựa vào nỗ lực của bộ phận bán hàng trong việc tìm kiếm khách hàng và quảng bá thương hiệu chưa có sự hỗ trợ vai trò của hoạt động marketing như: quảng cáo, chiêu thị, khuyến mại…

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          54                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Thứ tư: Uy tín và sự phổ biến thương hiệu của công ty không cao không hỗ trợ nhiều cho hoạt động quản trị bán hàng đặc biệt là trong việc tiếp xúc khách hàng và chào hàng. Điều này làm cho việc chào hàng của công ty rất khó khăn khi khách hàng không biết về công ty, sản phẩm, chất lượng thậm chí còn không quan tâm tới đơn

    chào hàng và gặp mặt nhân viên bán hàng.

    Thứ năm: Nhân viên bán hàng trong công ty thực hiện quá nhiều chức năng

    như: tìm kiếm khách hàng, chào hàng, quản lý địa bàn, bán hàng, nhận đơn hàng thậm

    chí là thu nợ khách hàng. Việc thực hiện quá nhiều công việc sẽ hạn chế thời gian và

    công sức của nhân viên dành cho nhiệm vụ chính và làm trở ngại trong việc hoàn

    thành chỉ tiêu bán hàng.

    Thứ sáu: Lực lượng bán hàng của công ty trong khi lực lượng bán hàng chỉ khoảng 10 người với nhiều chức năng và nhiệm vụ khác nhau hoạt động hiệu quả song lại đang quá tải và ngày càng thiếu so với nhu cầu phát triển thị trường. Khách hàng công ty hiện nay hơn 1000 khách hàng và không ngừng tăng một mặt sẽ gây ra những khó khăn cho nhân viên trong việc quản lý và hạn chế những cơ hội mở rộng thị trường.

    Thứ bảy: Nhìn chung chất lượng sản phẩm công ty chưa cao cũng như chưa thực sự tạo ra ưu thế trong cạnh tranh và động lực làm tăng hiệu quả hoạt động bán hàng. Hiệu quả quản trị bán hàng không chỉ là nỗ lực của bộ phận bán hàng mà còn cần đến sự hỗ trợ gián tiếp từ các nguồn lực trong công ty như: sự hợp tác của các phòng ban, thương hiệu, chất lượng sản phẩm… Vì vậy yếu tố chất lượng sản phẩm sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng.

    Thứ tám: Ngày nay bán hàng qua mạng và quản trị bán hàng bằng các phần mềm chuyên nghiệp đang phát triển nhanh. Nhiều công ty thành công và phát triển thương hiệu chính là nhờ bán hàng qua mạng. Mặc dù vậy việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán hàng của công ty còn hạn chế như: công ty không có trang web chính thức một công cụ hữu hiệu không chỉ quảng bá thương hiệu mà còn là cách thu hút khách hàng và bán hàng. Bên cạnh đó phần lớn các hoạt động báo cáo, giám sát được thực hiện thủ công và máy tính chỉ dùng để nhập và in tài liệu mà không có các phần mềm quản trị bán hàng hiệu quả.

    Tóm lại bên cạnh những thành tựu và kết quả đạt được trong quản trị bán hàng của công ty cũng còn một số hạn chế nhất định. Do đó để nâng cao hiệu quả quản trị

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          55                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    bán hàng công ty cần không ngừng nỗ lực hoàn thiện quy trình, nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt công ty cần luôn duy trì và phát triển nguồn nhân lực đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển và mở rộng thị trường.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          56                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

    HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ BÁN HÀNG CHO CÔNG TY TNHH

    THƯƠNG MẠI M.K TẠI TP.HCM

    3.1. Hoàn thiện quy trình

    Hoàn thiện quy trình là một trong những yếu tố quan trọng nhất nhằm xây dựng một quy trình quản trị bán hàng một cách đầy đủ và hiệu quả nhằm phối hợp các hoạt động trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và công ty. Để hoàn thiện quy trình quản trị bán hàng cần xây dựng và hoàn thiện ở những vấn đề sau:

    Xây dựng mục tiêu bán hàng bên cạnh mục tiêu về doanh số công ty cần xây dựng các mục tiêu khác như: mục tiêu về lợi nhuận, thị phần, mức tăng trưởng. Việc xây dựng các mục tiêu tổng hợp giúp công ty có thể kiểm soát chi phí với mục tiêu về lợi nhuận, phối hợp các nguồn lực nhằm đạt mức tăng trưởng với mục tiêu tăng trưởng. Công ty nên xây dựng các mục tiêu cho từng khu vực địa lý nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng khách hàng. Ngoài ra công ty cần xây dựng và đặt ra các mục tiêu dài hạn nhằm định hướng phát triển cho công ty cũng như thấy được quy mô và thành công mà công ty muốn đạt được trong tương lai.

    Sử dụng chiến lược bán hàng tư vấn bên cạnh chiến lược bán hàng cá nhân sẽ làm tăng hiệu quả bán hàng và chăm sóc khách hàng cũng như là thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tối ưu và hài lòng nhất.

    Phối hợp các chương trình marketing như: thu thập thong tin thị trường,quảng cáo, khuyến mại, tham gia triển lãm hội trợ… các chương marketing sẽ góp phần quan trọng và hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động bán hàng.

    Quản trị thông tin hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên bán hàng dễ dàng trong việc tiếp cận thông tin về các chiến lược bán hàng cũng như những chính sách mới. Bên cạnh đó nhà quản trị cần tích cực hỗ trợ nhân viên bán hàng hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu bán hàng.

    Tổ chức công tác dự báo bán hàng, nghiên cứu thị trường làm căn cứ để xây dựng hạn ngạch bán hàng cũng như lập ngân sách bán hàng. Dự báo bán hàng giúp nhà quản trị phân phối các chỉ tiêu bán hàng, phân công lực lượng bán hàng một cách hiệu quả hơn. Một số phương pháp dự báo hiệu quả như: dự báo bình quân di động hay dự báo san bằng số mũ cho những kết quả dự báo khá chính sác. Bên cạnh đó

    công ty cần lập ngân sách bán hàng nhằm giúp cho các hoạt động như: chào hàng, khuyến mại, tặng quà khách hàng được thuận lợi và nhanh chóng đồng thời ghi nhận vào chi phí bán hàng thay vì chi phí quản lý. Nhờ đó công ty dễ dàng đánh giá hiệu quả bán hàng so với chi phí bỏ ra và kiểm soát chi phí một cách hiệu quả.

    Tổ chức những nhân viên có nhiệm vụ quản lý và thu hồi công nợ. Những nhân viên thu hồi công nợ một mặt sẽ làm giảm áp lực thu hồi nợ cho nhân viên bán hàng giúp nhân viên bán hàng tập trung vào nhiệm vụ chính một mặt có thể quản lý, tập trung thu hồi các khoản nợ thay vì mỗi nhân viên bán hàng thu từng khoản nợ.

    Tổ chức hoạt động kiểm tra, giám sát thường xuyên thông qua các cuộc họp (tuần, tháng, quý, năm) và theo dõi chặt chẽ quá trình triển khai bán hàng. Bên cạnh đó khi kết thúc chu kỳ bán hàng nhà quả trị cần yêu cầu nhân viên nộp báo cáo về kết quả đạt được, tình hình khách hàng, những thuận lợi và khó khăn cũng như những thông tin về thị trường, đối thủ cạnh tranh. Như vậy nhà quản trị không những theo sát toàn bộ quá trình triển khai bán hàng mà còn nắm được những thông tin từ thị trường làm cơ sở đưa ra những quyết định và chính sách cho từng giai đoạn triển khai kế hoạch bán hàng.

    Xây dựng và hoàn thiện các chính sách bán hàng đặc biệt là các chính sách như: bán chịu, thời hạn thu hồi nợ, về việc giao hàng. Việc xây dựng các chính sách giúp công ty chủ động trong hoạt động chào hàng, giao hàng và thu nợ, cũng như khách hàng biết được chính sách của công ty tạo điều kiện thuận lợi cho cả hai bên khi thực hiện giao dịch.

    Về việc chăm sóc khách hàng công ty cần thường xuyên gọi điện trao đổi với khách hàng đặc biệt là khách hàng lớn nhằm tạo sự liên kết, xây dựng mối quan hệ làm ăn tốt đẹp tạo thuận lợi dễ dàng giải quyết các khiếu nại phát sinh đồng thời ngăn cản những đối thủ tiếp cận khách hàng của công ty.

    3.2. Duy trì và phát triển nguồn nhân lực

    Việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và then chốt trong sự hoàn thành các mục tiêu và sự phát trển của doanh nghiệp. Hiện tại công ty có một lực lượng bán hàng rất năng động và hiệu quả song lại đang thiếu so với sự phát triển của thị trường. Vì vậy công ty cần chủ động trong việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực bán hàng trong đó chú trọng những việc sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          58                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Duy trì nguồn nhân lực hiện có vì đây là lực lượng bán hàng nòng cốt và hiệu quả của doanh nghiệp. Đảm bảo nguồn nhân lực sẽ giúp công ty luôn duy trì mức sản xuất và kinh doanh tránh được những biến động do sự thiếu hụt nguồn nhân lực. Việc duy trì nhân viên bán hàng không chỉ là tăng lương, thưởng mà là xây dựng một bầu không khí thân thiện, làm việc hăng say, luôn quan tâm đời sống, động viên tinh thần và xây dựng tình đoàn kết trong toàn công ty.

    Việc tuyển dụng nhân viên bán hàng có năng lực, trình độ phù hợp với yêu cầu công việc giữ vai trò quan trọng và phải thực hiện một cách hiệu quả nhằm tìm kiếm và lực chọn những nhân viên bán hàng bổ sung cho lực lượng bán hàng hiện tại. Do đó để đảm bảo được nguồn nhân lực nhà quản trị bán hàng cần xây dựng một quy trình tuyển dụng với đầy đủ các tiêu chuẩn từ khi nhận dạng nhu cầu, đánh giá, tuyển dụng, bố trí một cách hợp lý nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng đảm bảo yêu cầu và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Tổ chức các chương trình đào tạo, huyến luyện kỹ năng và các phương thức bán hàng hiện đại nhất là đối với nhân viên mới, những sản phẩm mới, hay chiến lược kinh doanh mới. Đào tạo nhân viên là một công việc quan trọng. Do đó công ty cần phải có kế hoạch chi tiết và thực tiễn chương trình nhằm phát huy được hiệu quả của chương trình đào tạo.

    Ngoài ra công ty cần xây dựng một chính sách khen thưởng hợp lý nhằm phát huy tinh thần làm việc của nhân viên và cũng là cách để ghi nhận những cố gắng của nhân viên trong việc bán hàng. Theo đó những nhân viên bán hàng hoàn thành đúng chỉ tiêu đề ra sẽ thưởng căn cứ trên lương nhân viên như hiện nay. Những nhân viên hoàn thành vượt chỉ tiêu với một mức nhất định thì vừa thưởng căn cứ theo lương như hiện nay đồng thời thưởng theo doanh số vượt theo quy định. Tuy nhiên việc thưởng theo doanh số không được vượt quá mức lương căn bản của nhân viên đó và không thấp hơn mức thưởng theo lương. Có như vậy không những mức thưởng cho nhân viên không quá cao với tỷ lệ hợp lý mà còn khuyến khích nhân viên hoàn thành các chỉ tiêu bán hàng mà còn nỗ lực vượt chỉ tiêu bán hàng.

    3.3. Tổ chức cơ cấu quản trị bán hàng

    Như đã phân tích ở phần trước thì cơ cấu quản trị bán hàng của công ty chưa tách khỏi cơ cấu quản trị chung của công ty khi mà giám đốc công ty chính là nhà quản trị bán hàng. Điều này sẽ làm giảm đi tính hiệu quả trong quản trị bán hàng vì

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          59                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    giám đốc phải thực hiện rất nhiều công việc chung cho toàn công ty nên không thể nắm bắt rõ ràng và giải quyết ngay những vấn đề phát sinh trong hoạt động bán hàng. Do đó để hoạt động quản trị bán hàng hiệu quả hơn và phù hợp với tình hình công ty việc hoàn thiện cơ cấu quản trị là rất cần thiết. Theo đó bộ phận bán hàng nên tổ chức theo cơ cấu có tổ trưởng, tổ phó thay vì tổ chức theo từng nhân với chức vụ và nhiệm vụ như nhau. Tổ trưởng, tổ phó vẫn thực hiện những chức năng như một nhân viên bán hàng trước đây nhưng lại có nhiệm vụ như một trưởng phòng, phó phòng như: tiến hành họp phòng định kỳ, giám sát tình hình chung của bộ phận, phối hợp hoạt động và tăng cường sự hỗ trợ giữa các nhân viên, tổng hợp các số liệu về tình hình khách hàng, thị trường, giải quyết một số vấn đề phát sinh trong quá trình bán hàng và báo cáo lại cho giám đốc.

    Ngoài ra lương, thưởng cho tổ trưởng, tổ phó sẽ nhỉnh hơn so với các nhân viên khác do phải thực hiện nhiều công việc cũng như trách nhiệm cao trong công việc. Hoạt động của tổ trưởng, tổ phó sẽ giúp ích cho giám đốc rất nhiều trong việc quản lý, giám sát và điều hành và giúp cho giám đốc trong việc xây dựng các chiến lược, mục tiêu bán hàng hiệu quả hơn.

    3.4. Xây dựng và phát triển thương hiệu

    Xây dựng và phát triển thương hiệu đã trở thành một động lực quan trọng nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong việc thu hút khách hàng cũng như lợi thế trong cạnh tranh. Một thương hiệu mạnh, uy tín và được nhiều người biết đến sẽ góp phần quan trọng trong hoạt động bán hàng của công ty. Do đó đòi hỏi công ty cần có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu không chỉ góp phần nâng cào hiệu quả bán hàng mà còn tạo chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp trên thị trường.

    Chiến lược xây dựng thương hiệu phải nằm trong một chiến lược marketing tổng thể, xuất phát từ nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng, xác định đối tượng khách hàng là mục tiêu, kết hợp với chiến lược phát triển sản phẩm, quảng bá, chính sách giá cả, phân phối hợp lý, nhằm tạo cho doanh nghiệp và các sản phẩm dịch vụ của họ một hình ảnh riêng trong tâm trí và nhận thức của khách hàng trong tương quan với các đối thủ cạnh tranh.

    Trước tiên việc xây dựng thương hiệu đối với công ty cần chú trọng vào các yếu tố sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          60                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Cấu trúc nền móng thương hiệu “decal ba ngôi sao”: cấu trúc nền móng thương hiệu bao gồm các yếu tố như: chất lượng, logo, biểu tượng, hình ảnh và tất cả những làm nên thương hiệu decal ba ngôi sao.

    Định vị thương hiệu: đâu sẽ là hình ảnh nổi bật nhất của thương hiệu decal ba ngôi sao nhằm khắc họa và chiếm một vị trí quan trọng trong tâm trí khách hàng. Chẳng hạn khi nhắc tới “decal ba ngôi sao” người ta nghĩ ngay tới công ty M.K và ngược lại.

    Xây dựng và giữ gìn mối quan hệ mật thiết với khách hàng, tạo sự gắn bó giữa thương hiệu và khách hàng. Doanh nghiệp cần phải đi vào chiều sâu, tạo sự đặc biệt so với đối thủ cạnh tranh. Không ngừng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu khách hàng.

    Không ngừng quảng bá thương hiệu: việc xây dựng thương hiệu phải đi đôi với quảng bá thương hiệu một số công cụ hỗ trợ cho việc quảng bá thương hiệu như: quảng cáo, tham gia hội chợ, triển lãm, quảng bá thông qua trang web…

    Xây dựng thương hiệu sẽ là tiền đề cho sự phát triển thương hiệu. Trong chiến lược phát triển thương hiệu thì công ty nên phát triển thượng theo chiến lược “ thương hiệu theo nhóm”. Bởi vì các sản phẩm của công ty có cùng thuộc tính, chức năng, chỉ khác nhau về mẫu mã và quy cách sản phẩm. Do đó sử dụng chiến lực thương hiệu theo dãy sẽ giúp tránh đươc sự loãng thông tin bằng cách tập trung vào một tên gọi “decal ba ngôi sao”. Việc tạo dựng và phát triển thương hiệu luôn gắn liền với các cam kết về chất lượng, uy tín, an toàn… mà doanh nghiệp gửi tới khách hàng. Việc thực hiện tốt những cam kết của mình tới khách hàng sẽ giúp sản phẩm dễ dàng được khách hàng đón nhận, trung thành với sản phẩm và góp phần nâng cao giá trị thương hiệu trong tâm trí khách hàng.

    3.5. Nâng cao chất lượng sản phẩm

    Ngày nay chất lượng sản phẩm là một trong những tiêu chí hàng đầu trong việc lựa chọn sản phẩm của khách hàng đặc biệt là khách hàng công nghiệp. Nhìn chung chất lượng sản phẩm của công ty còn nhiều hạn chế và không được đánh giá cao so với các mặt hàng ngoại nhập. Do đó để giữ vững và phát triển thị trường hạn chế sự cạnh tranh từ các đối thủ công ty cần hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm trong đó công ty cần chú trọng vào một số vấn đề sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          61                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Nhiều khách hàng phàn nàn về keo dính của giấy decal như: thiếu keo, keo phủ không đều, có hiện tượng chảy keo khi trời nóng hay độ dính không cao. Do đó trong quá trình sản xuất cần tập trung kiểm tra điều chỉnh máy móc tạo sự ổn định nhằm phân phối keo một cách đầy đủ và phân phối đều khắp mặt giấy. Bên cạnh đó trong quá trình sản xuất công ty cần sử dụng các loại keo có chất lượng cao đảm bảo tiêu chuẩn trong quá trình sản xuất.

    Cải thiện độ bóng của mặt giấy decal, tăng khả năng chịu ướt cũng như giữ được độ bóng trong thời gian dài. Bên cạnh đó một số mặt hàng như giấy chịu cảm nhiệt cũng cần đảm bảo về khả năng chịu và hấp thụ nhiệt.

    Một khâu quan trọng nữa là phải thực hiện kiểm tra chặt chẽ về chất lượng sản phẩm trước khi giao cho khách hàng. Trong hoạt động sản xuất cần thực hiện theo nguyên tắc “làm đúng ngay từ đầu” bắt đầu từ đảm bảo khâu nguyên liệu cho tới khi giao hàng đều thực hiện một cách chính sác nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt nhằm hạn chế những khiếu nại từ khách hàng và tránh lãng phí nguồn lực.

    Bên cạnh đó công ty cần không ngừng hoàn thiện các dòng sản pẩm cũ và phát triển sản phẩm mới đặc biệt là những sản phẩm mà thị trường chưa đáp ứng và đối thủ chưa có.

    3.6. Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán bán hàng

    Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là máy tính và công nghệ thông tin đã tạo ra nhiều phương thức quản lý và bán hàng hiệu quả hơn. Do đó để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng và năng lực bán hàng thì việc tiếp cận khoa học kỹ thuật là rất cần thiết.

    Trước tiên công ty cần xây dựng một trang web chính thức nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm, thương hiệu công ty tới khách hàng tiềm năng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó trang web còn là nơi nhận đặt hàng và bán hàng cho khách hàng mà không cần phải tiếp xúc trực tiếp chào hàng. Việc xây dựng trang web phải tạo được ấn tượng, mới lạ và làm nổi bật thương hiệu của công ty. Ngoài ra trang web cần phải liên tục cập nhật và đổi mới nội dung, hình thức, có chiến lược quản lý hiệu quả.

    Tiếp theo công ty nên sử dụng các phần mềm quản trị bán hàng chuyên nhiệp nhằm giúp cho hoạt động giám sát, quản lý khách hàng, doanh thu và công nợ được dễ dàng và chính xác. Một số phần mềm quản lý bán hàng khá hiệu quả như: SMIS (Sale

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          62                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Management Support Information System) là phần mềm hỗ trợ việc quản lý các thông tin cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá, dịch vụ với các chức năng quan trọng như: Quản lý các thông tin giao dịch của khách hàng, thông tin của khách hàng, thông tin đơn đặt hàng, thông tin số lượng hàng hóa bán ra, quản lý doanh thu, quản lý chi tiết hàng hóa và công nợ của khách hàng theo các tiêu thức quản trị tùy chọn. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán hàng là rất cần thiết và góp phần làm tăng hiệu quả quản trị bán hàng của công ty.

    Trên đây là một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K. Theo đó để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng trong thời gian tới công ty cần tiếp tục hoàn thiện quy trình quản trị bán hàng đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu, tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực cũng như ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản trị bán hàng. Thị trường luôn biến đổi không ngừng với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng của khách hàng. Sự thành công và hiệu quả trong quản trị bán hàng sẽ là một nhân tố quan trọng giúp công ty không những hoàn thành những mục tiêu đề ra mà còn là một cách thức nâng cao khả năng cạnh tranh và khả năng đáp ứng nhu cầu luôn biến đổi của khách hàng.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          63                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    KẾT LUẬN

    Hoạt động quản trị bán hàng tại các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém về trình độ và công nghệ chưa tạo ra động lực cạnh tranh hiệu quả và do đó không thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực tài chính và các phương thức bán hàng tiên tiến cả trên quy mô quốc tế và thị trường trong nước. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp nước ngoài khi mà nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mới các phương thức bán hàng và hoàn thiện hoạt động quản trị bán hàng.

    Qua thời gian thực tập tại công ty TNHH Thương Mại M.K với việc tập trung nghiên cứu tìm hiểu công tác quản trị bán hàng của công ty. Bài luận văn đã đạt được hai nội dung quan trọng sau:

    Tìm hiểu và phân tích một số nội dung quan trọng trong hoạt động bán hàng của công ty làm cơ sở cho đánh giá và nhận xét về hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty.

    Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị bán hàng trong công ty.

    Với những gì đã đạt được trong bài luận văn này mong rằng sẽ đóng góp một phần nhỏ giúp công ty hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong quản trị bán hàng. Để đạt được thành công và phát triển trong tương lai thì công ty cần phải nỗ lực rất nhiều đặc biệt là trong việc bán hàng. Với những gì đã và đang được thực hiện trong công ty sẽ là tiền đề để công ty tiếp tục hoàn thiện hoạt động quản trị bán hàng.

    Để hoàn thiện bài luận văn này em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy hướng dẫn là thầy Trần Phi Hoàng và các anh chị trong công ty TNHH Thương Mại M.K. Một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe tới thầy, các anh chị trong công ty. Mặc dù đã rất nỗ lực và cố gắng hoàn thiện bài luận văn song vì thời gian, năng lực cũng như lần đầu tiếp cận trực tiếp tại công ty nên bài luận văn còn rất nhiều hạn chế cũng như thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các anh chị trong công ty để bài làm được hoàn thiện hơn.

    Xin chân thành cảm ơn

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc

    Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc

    Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-Kinh-t%E1%BA%BF-Trung-Qu%E1%BB%91c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc

    LỜI MỞ ĐẦU

    Việt Nam và Trung Quốc đang trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (ở Việt Nam) và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc (ở Trung Quốc); thực hiện chính sách mở cửa với nhiều đặc điểm phát triển và vấn đề tương tự nhau; đang trong giai đoạn phát triển thị trường, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Với lợi thế là nước tiến hành cải cách sau, Việt Nam có cơ hội để học tập và tận dụng những bài học thành công cũng như không thành công của Trung Quốc, tránh những tác động tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình chuyển đổi.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến bốn vấn đề chủ yếu:

    • Những nét cơ bản về Cộng hoà chủ nhân dân Trung Hoa;
    • Kinh tế Trung Quốc qua các giai đoạn phát triển;
    • Những thành tựu và hạn chế của kinh tế Trung Quốc sau 30 năm cải cách m ở cửa;
    • Những bài học từ cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đối với Việt Nam.

    Với những thông tin, đánh giá được trình bày trong bài viết, nhóm thảo luận chúng tôi hy vọng sẽ giúp cho các bạn sinh viên cũng như những người quan tâm khác hiểu biết đầy đủ hơn về những chính sách quan trọng tạo nên sự thành công của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc trong tương quan so sánh với Việt Nam. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho mỗi cá nhân để tiếp tục tham gia đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta.

    1

    CHƯƠNG I: MỘT VÀI NÉT CƠ BẢN VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRUNG HOA

    1.1. VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

    Trung Quốc nằm ở phía đông Châu Á, bờ tây Thái Bình Dương, có diện tích lãnh thổ rộng lớn với 9,6 triệu km2, là nước có diện tích lớn thứ ba trên thế giới, chỉ sau Nga và Canađa.

    Biên giới đất liền của Trung Quốc dài hơn 20000 km, phía đông giáp Triều Tiên, phía đông bắc giáp Nga, phía bắc giáp Mông Cổ, phía tây bắc giáp Nga, Kazacxtan, phía tây giáp Kyrgyzstan, Tajikistan, Afganistan, Pakistan, phía tây nam giáp Ấn Độ, Nepal, Butan, phía nam giáp Mianmar, Lào và Việt Nam. Đông và đông nam trông ra biển. Trung Quốc có đường bờ biển dài, bằng phẳng, có nhiều hải cảng đẹp, phần lớn quanh năm không đóng băng. Phía bên kia bờ biển là các nước láng giềng: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Brunei, Malaysia và Inđônêxia.

    1.2. VỀ DÂN SỐ:

    Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất trên thế giới, hiện có tổng số dân 1,28453 tỷ người (tính đến 12/2002, không bao gồm Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan). Trong đó số dân ở thành thị là 502,12 triệu, số dân nông thôn là 782,41 triệu.

    Trung Quốc là một nước đa dân tộc thống nhất, có 56 dân tộc. Trong đó người Hán nhiều nhất, chiếm khoảng 92% dân số cả nước, dân tộc Choang có hơn 15 triệu người, tiếp sau là Mãn, Hồi, Duy Ngô Nhĩ, Di, Thổ Gia, Mông Cổ, Tạng, Bố Y, Dao, Triều Tiên, Bạch, Hà Nhì, Ca-dắc, Lê, và Thái, dân số đều lớn hơn một triệu. Những dân tộc ít người nhất chỉ có vài nghìn người như dân tộc Ngạc Luân Xuân và Ngạc Ôn Khắc.

    Sự phân bố của các dân tộc Trung Hoa có đặc điểm là vừa tập trung vừa phân tán, vừa có khuynh hướng sống pha tạp, vừa có khuynh hướng sống tụ họp thành nhóm nhỏ, đan xen phân bố. Người Hán phân bố ở khắp nơi trên đất nước, chủ yếu tập trung ở lưu vực 3 con sông lớn là Hoàng Hà, Trường Giang, Châu Giang và đồng bằng Tùng Liêu, còn lại là phân tán ở các địa phương, sống chung với các dân tộc khác.

    Các dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung ở vùng đông bắc, tây bắc và khu vực biên giới phía tây nam, còn lại là phân bố rải rác ở khắp nơi trong cả nước. Người Hán và các dân tộc thiểu số vừa cư trú một cách tập trung vừa cư trú tương đối pha tạp, đã xúc tiến sự giao lưu

    văn hoá và học tập lẫn nhau giữa các dân tộc, hình thành nên một mối quan hệ tương hỗ mật thiết không thể tách rời.

    Hiến pháp Trung Quốc quy định: Tất cả các dân tộc nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đều bình đẳng, tất cả các dân tộc đều là anh em thân mật trong một đại gia đình thống nhất.

    1.3. VỀ CHÍNH TRỊ:

    Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa là một nước Xã hội Chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Lấy liên minh công nông làm nền tảng. Chế độ Xã hội chủ nghĩa là chế độ cơ bản của Trung Quốc. Chuyên chính nhân dân là thể chế của nhà nước.

    Cơ cấu Nhà nước bao gồm Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc Hội), Chủ tịch nước, Quốc Vụ viện, Uỷ ban Chính trị Hiệp thương toàn quốc (gọi tắt là Chính Hiệp, tương tự Mặt trận tổ quốc của ta), Uỷ ban Quân sự Trung ương, Đại hội Đại biểu Nhân dân và Chính phủ các cấp ở địa phương, Toà án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân.

    Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ngày 1-7-1921, hiện có hơn 60 triệu Đảng viên. Bộ Chính trị có 25 người, trong đó có 9 Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng có 8 người. Ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 đảng phái khác nhau đều thừa nhận sự lãnh đạo của ĐCS trong khuôn khổ mà Trung Quốc gọi là “Hợp tác đa đảng dưới sự lãnh đạo của ĐCS”: Hội Cách mạng dân chủ, Liên minh dân chủ, Hội kiến quốc dân chủ, Hội xúc tiến dân chủ, Đảng dân chủ nông công, Đảng Chí công, Cửu tam học xã và Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan.

    1.4. VỀ LỊCH SỬ:

    Triều đại đầu tiên tồn tại là nhà Thương, định cư dọc theo lưu vực sông Hoàng Hà, vào khoảng thế kỷ 18 đến thế kỷ 12 TCN. Nhà Thương bị nhà Chu chiếm (thế kỷ 12 đến thế kỷ 5 TCN), đến lượt nhà Chu lại bị yếu dần do mất quyền cai quản các lãnh thổ nhỏ hơn cho các lãnh chúa; cuối cùng, vào thời Xuân Thu, nhiều quốc gia độc lập đã trỗi dậy và liên tiếp giao chiến, và chỉ coi nước Chu là trung tâm quyền lực trên danh nghĩa. Cuối cùng Tần Thủy Hoàng đã thâu tóm tất cả các quốc gia và tự xưng là hoàng đế vào năm 221 TCN, lập ra nhà Tần, quốc gia Trung Quốc thống nhất về thể chế chính trị, chữ viết và có m ột ngôn ngữ chính thống đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Trước khi nhà Tần thống nhất vào năm 221 TCN, “Trung Quốc” chưa hề tồn tại như một thực thể gắn kết. Văn minh Trung Quốc hình thành từ

    nhiều văn minh các nước khác nhau, các nước này do các vương (王), công (公), hầu (侯),

    hay bá (伯) trị vì. Mặc dù vẫn có một ông vua nhà Chu nắm giữ quyền lực trung ương trên

    danh nghĩa, và chủ nghĩa bá quyền đôi lúc có ảnh hưởng nhất định, trên thực tế mỗi nước là một thực thể chính trị độc lập. Đây cũng là thời điểm mà triết lý Nho giáo cũng như tư tưởng của các triết gia khác có ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng chính trị – triết lí Trung Quốc.

    Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, khi đó người đứng đầu Trung Quốc được gọi là hoàng đế và một hệ thống hành chính trung ương tập quyền quan liêu được thiết lập. Sau khi nhà Tần sụp đổ, Trung Quốc lại có khoảng 13 triều đại khác nhau tiếp tục hệ thống các vương quốc, công quốc, hầu quốc, và bá quốc. Lãnh thổ Trung Quốc khi đó mở rộng hoặc thu hẹp theo sức mạnh của mỗi triều đại. Hoàng đế nắm quyền lực tối thượng, toàn năng và là người đứng đầu về chính trị và tôn giáo của Trung Quốc. Hoàng đế cũng thường tham khảo ý kiến các quan văn võ, đặc biệt là quan đại thần. Quyền lực chính trị đôi khi rơi vào tay các quan lại cao cấp, hoạn quan, hay họ hàng hoàng đế. Tuy nhiên, triều đại này không tồn tại lâu do nó quá độc đoán và tàn bạo.

    Sau khi nhà Tần sụp đổ vào năm 207 TCN thì đến thời nhà Hán kéo dài đến năm 220 CN. Sau đó lại đến thời kỳ phân tranh khi các lãnh tụ địa phương nổi lên, tự xưng Thiên tử và tuyên bố Thiên mệnh đã thay đổi. Vào năm 580, Trung Quốc tái thống nhất dưới thời nhà Tùy. Vào thời nhà Đường và nhà Tống, Trung Quốc đã đi vào thời hoàng kim của nó. Trong một thời gian dài, đặc biệt giữa thế kỷ thứ 7 và 14, Trung Quốc là một trong những nền văn minh tiên tiến nhất trên thế giới về kỹ thuật, văn chương, và nghệ thuật. Nhà Tống cuối cùng bị rơi vào quân xâm lược Mông Cổ năm 1279. Vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên. Về sau một thủ lĩnh nông dân là Chu Nguyên Chương đánh đuổi chính quyền người Mông Cổ năm 1368 và lập ra nhà Minh, kéo dài tới năm 1644. Sau đó người Mãn Châu từ phía đông bắc kéo xuống lật đổ nhà Minh, lập ra nhà Thanh, kéo dài đến vị vua cuối cùng là Phổ Nghi thoái vị vào năm 1911.

    Đặc điểm của phong kiến Trung Quốc là các triều đại thường lật đổ nhau trong bể máu và giai cấp giành được quyền lãnh đạo thường phải áp dụng các biện pháp đặc biệt để duy trì quyền lực của họ và kiềm chế triều đại bị lật đổ. Chẳng hạn như nhà Thanh (người Mãn Châu) sau khi chiếm được Trung Quốc thường áp dụng các chính sách hạn chế việc người Mãn Châu bị hòa lẫn vào biển người Hán vì dân họ ít. Tuy thế, những biện pháp đó đã tỏ ra không hiệu quả và người Mãn Châu cuối cùng vẫn bị văn hóa Trung Quốc đồng hóa.

    Vào thế kỷ thứ 18, Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ đáng kể về công nghệ so với các dân tộc ở Trung Á mà họ gây chiến hàng thế kỷ, tuy nhiên lại tụt hậu hẳn so với châu Âu. Điều này đã hình thành cục diện của thế kỷ 19 trong đó Trung Quốc đứng ở thế phòng thủ

    4

    trước chủ nghĩa đế quốc châu Âu trong khi đó lại thể hiện sự bành trướng đế quốc trước Trung Á. Trước khi xảy ra nội chiến này cũng có một số cuộc khởi nghĩa của những người theo đạo Hồi, đặc biệt là ở vùng Trung Á. Sau đó, một cuộc khởi nghĩa lớn cũng nổ ra mặc dù tương đối nhỏ so với nội chiến Thái Bình Thiên Quốc đẫm máu. Cuộc khởi nghĩa này được gọi là khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn với mục đích đuổi người phương Tây ra khỏi Trung Quốc. Tuy đồng tình thậm chí có ủng hộ quân khởi nghĩa, Thái hậu Từ Hi lại giúp các lực lượng nước ngoài dập tắt cuộc khởi nghĩa này.

    Năm 1911, sau hơn hai nghìn năm dưới quyền lãnh đạo của các hoàng đế, Trung Quốc lật đổ hệ thống chính trị triều đại và chuyển sang một nền cộng hoà. Nhà Thanh đã suy yếu, Trung Quốc vừa trải qua một thế kỷ bất ổn định, cả với những cuộc nổi dậy bên trong cùng với chủ nghĩa đế quốc từ bên ngoài. Các nguyên tắc Tân Khổng giáo, cho tới thời điểm đó, đã duy trì hệ thống triều đại bị nghi ngờ và sự biến mất của lòng tin cá nhân bị cho là nguyên nhân khiến tới 40 triệu người Trung Quốc sử dụng thuốc phiện năm 1900 (khoảng 10% dân số. Tới khi bị các lực lượng viễn chinh của các cường quốc trên thế giới thời ấy đánh bại

    trong cuộc đàn áp Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, nhà Thanh đã gần như chính thức chấm dứt, vì không có chế độ khác thay thế nên sự tồn tại của nó vẫn được tính kéo dài tới tận năm 1912 Năm 1912, sau một thời gian dài suy sụp, chế độ phong kiến Trung Quốc cuối cùng sụp đổ hẳn và Tôn Trung Sơn thuộc Quốc Dân Đảng thành lập Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Ba

    thập kỷ sau đó là giai đoạn không thống nhất — thời kỳ Quân phiệt cát cứ, Chiến tranh
    Trung-Nhật, Nội chiến Trung Quốc. Nội chiến Trung Quốc chấm dứt vào năm 1949 và
    Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm được đại lục Trung Quốc. ĐCSTrung Quốc lập ra một nhà

    nước cộng sản—nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) — tự xem là nhà nước kế tục của Trung Hoa Dân Quốc. Trong khi đó, chính quyền THDQ do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo thì rút ra đảo Đài Loan, nơi mà họ tiếp tục được khối phương Tây và Liên Hiệp Quốc công nhận là chính quyền hợp pháp của toàn Trung Quốc mãi tới những năm 1970, sau đó hầu hết các nước và Liên Hiệp Quốc chuyển sang công nhận CHNDTH.

    1.5. VỀ VĂN HOÁ – XÃ HỘI:

    Người Trung Quốc vẫn luôn tự hào bởi họ có lịch sử và nền văn hoá lâu đời. Trung

    quốc là một trong những nền văn minh lớn của nhân loại, là đại diện cho một phần ý thức hệ của người phương Đông. Chúng ta có thể kể đến một số những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử…với những triết lý đạo đức và giáo lý căn bản đã ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức hệ của người Trung Quốc.

    Trong suốt chiều dài    lịch sử, qua mỗi chiều đại thì nền văn hoá Trung quốc lại phát

    triển thêm những nấc thang mới. Từ đời nhà Tần với bộ chữ viết đầu tiên, với công trình kiến

    5

    trúc nổi tiếng là Vạn Lý Trường Thành cho đến thời Đường, Minh với sự phát triển toàn diện trên cả lĩnh vực tư tưởng và văn hoá nghệ thuật. Và tiếp tục phát triển qua triều đại nhà Thanh cho đến ngày nay. Theo dòng xoáy của lịch sử dân tộc, các giá trị truyền thống, các loại hình văn hóa nghệ thuật…vẫn luôn được bảo tồn phát huy. Trong buổi khai mạc Olympic 2008, chúng ta đã thấy được toàn bộ quá trình hình thành và phát triển nền văn hoá Trung Quốc và thấy rõ người tự hào về nó như thế nào.

    Trung Quốc là một nước đa dân tộc thống nhất, có 56 dân tộc. Trong đó người Hán nhiều nhất, chiếm khoảng 92% dân số cả nước. Sự phân bố của các dân tộc Trung Hoa có đặc điểm là vừa tập trung vừa phân tán, vừa có khuynh hướng sống pha tạp, vừa có khuynh hướng sống tụ họp thành nhóm nhỏ, đan xen phân bố. Các dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung ở vùng đông bắc, tây bắc và khu vực biên giới phía tây nam, còn lại là phân bố rải rác ở khắp nơi trong cả nước. Người Hán và các dân tộc thiểu số vừa cư trú một cách tập trung vừa cư trú tương đối pha tạp, đã xúc tiến sự giao lưu văn hoá và học tập lẫn nhau giữa các dân tộc, hình thành nên một mối quan hệ tương hỗ mật thiết không thể tách rời.

    Trung Quốc là một nước đa tôn giáo, số người có tín ngưỡng lên tới hơn 100 triệu người. Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo và Cơ đốc giáo đều được truyền bá tại Trung Quốc. Ngoài ra còn một tôn giáo đặc thù Trung Quốc là Đạo giáo, và một số tôn giáo khác như Samman giáo, Đông chính giáo, Đông ba giáo…

    Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Cơ đốc giáo, Đạo giáo đều thiết lập những đoàn thể mang tính toàn quốc hoặc địa phương. Các đoàn thể tôn giáo mang tính toàn quốc gồm Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc, Hiệp hội Hồi giáo Trung Quốc, Giáo đoàn Thiên chúa giáo Trung Quốc, Ủy ban vận động Ái quốc Tam tự Cơ đốc giáo Trung Quốc, Hiệp hội Cơ đốc giáo Trung Quốc… Các đoàn thể này tiến hành tuyển cử theo điều lệ riêng của mình để bầu ra cơ cấu lãnh đạo và người lãnh đạo, giải quyết các vấn đề liên quan đén tôn giáo của mình một cách tự chủ, độc lập, mở các trường đào tạo về tôn giáo, in ấn phát hành sách kinh, xuất bản báo chí tôn giáo, thực hiện các hạng mục công ích xã hội.

    6

    CHƯƠNG II: KINH TẾ TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

    2.1. GIAI ĐOẠN 1 (Từ khi thành lập nước năm 1949 đến trước cải cách – mở cửa năm

    1978)

    2.1.1. Về thể chế kinh tế:

    Kinh tế Trung Quốc thời kỳ này hoàn toàn theo chế độ công hữu đơn nhất tức là hoàn toàn thuộc sở hữu công cộng. Chỉ hình thành một khu vực kinh tế là khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế cá thể và tư nhân không được khuyến khích phát triển, khu vực này vốn chỉ được coi là nguồn bổ sung cho kinh tế công hữu công hữu. Chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần bị coi là sản phẩm của CNTB. Chính vì vậy, các mặt hàng sản xuất theo kế hoạch và do Nhà Nước định giá, kế hoạch m ang tính pháp lệnh, với sự hạn chế trong kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như quyền tự mua bán sản phẩm. Thể chế kinh doanh ngoại thương theo kiểu tập trung cao độ, Nhà nước luôn đứng ra bù lỗ.

    2.1.2. Các chính sách phát triển:

    2.1.2.1. Thời kỳ khôi phục kinh tế (1949 – 1952)

    Sau ngày giải phóng, nền kinh tế Trung Quốc đang đứng trước nhiều khó khăn, sản xuẩt công thương nghiệp trong tình trạng giảm sút nghiêm trọng. Do vậy, công cuộc khôi phục kinh tế đã được triển khai trên tất cả các lĩnh vực kinh tế.

    Năm 1950, nông thôn Trung Quốc đã tiến hành cải cách ruộng đất và đến năm 1952 cải cách ruộng đất đã cơ bản hoàn thành. Kết quả 46 triệu ha ruộng đất được chia cho 36 triệu nông dân. Do vậy, quan hệ kinh tế – xã hội trong nông thôn đã có sự thay đổi, quan hệ sản xuất phong kiến đã bị thủ tiêu, sản xuất nhỏ trở thành cơ sở cho sự phát triển của nông nghiệp.

    Trung Quốc bước đầu xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp, năm 1951 có 300 hợp tác xã đến năm 1952 đã tăng lên 4000 hợp tác xã.

    Về công thương, bắt đầu tiến hành quốc hữu hoá các cơ sở công thương nghiệp của tư bản nước ngoài và tư sản mại bản. Trên cơ sở ấy, các cơ sở kinh tế quốc doanh đã hình thành và nhà nước nắm giữ mạch máu của nền kinh tế. Cuối năm 1952 kinh tế quốc doanh chiếm 50% giá trị sản lượng, 95% trong tổng số chu chuyển hàng hoá và vật tư.

    Sau 3 năm tiến hành khôi phục kinh tế Trung Quốc đã thu được những thắng lợi cơ bản. Năm 1952, tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp đạt 177.5% so với năm 1949. Tình

    hình tài chính, giá cả và tiền tệ cũng đi vào ổn định, đời sồng nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, sản phẩm tính bình quân đầu người còn thấp do vậy để từng bước xoá bỏ tình trạng thấp kém và lạc hậu của nền kinh tế Trung Quốc tiến hành triền khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957).

    2.1.2.2. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953- 1957)

    Năm 1952, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra đường lối chung cho thời kì qua độ: “Trong một thời kì dài, dần dần thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản theo hướng xã hội chủ nghĩa”

    Bước vào kế hoạch 5 năm, Trung Quốc tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn, từ thành thị tới nông thôn với tất cả các đối tượng như nông dân, thợ thủ công, tiểu thương và công thương nghiệp tư bản tư doanh. Công cuộc cải tạo diễn ra với tốc độ nhanh và cơ bản hoàn thành vào nửa đầu năm 1956.

      Năm 1952 1957
    Thành phần kinh tế  
         
           
    Kinh tế quốc doanh   19% 33%
           
    Kinh tế hợp tác xã   1,5% 56%
           
    Kinh tế công tư hợp doanh   0,7% 8%
           
    Kinh tế cá thể   73% 3%
           
    Kinh tế tư bản tư doanh   7% 0,1%
           

    Bảng 1: sự đóng góp của các thành phần kinh tế của Trung Quốc (1952-1957) (nguồn:

    www.chinaeconomy_info.com.cn)

    Về phát triển kinh tế, Trung Quốc chủ trương thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với phương trâm xây dựng và phát triển công nghiệp nặng làm trung tâm gồm ngành điện lực, gang thép, hoá chất… Tốc độ của sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18%.

    Về sản xuất nông nghiệp, phong trào cải tiến kĩ thuật và xây dựng các công trình thuỷ lợi đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Nhịp độ tăng hàng năm của nông nghiệp đạt 4.5%. Do vậy, sản lượng lương thực năm 1957 đạt 185 triệu tấn.

    8

    Việc thực hiện đạt được những thành tựu: Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xác lập phổ biến và được xác định đóng vai trò chủ đạo trong phát triển của nền kinh tế. Sản xuất công nông nghiệp đều có những tiến bộ đáng kể.

    Ngoài ra còn có những mặt hạn chế: Cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, lao động thủ công là phổ biến, năng suất lao động thấp, trình độ quản lý vẫn bộc lộ nhiều yếu kém.

    2.1.2.3. Kinh tế từ năm 1958 đến năm 1978

    2.1.2.3.1. Thời kỳ “đại nhảy vọt” (1958 – 1965)

    Vào tháng 9/1956, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc đã họp và khẳng định lại đường lối xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đại hội còn đề ra những chỉ tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1958-1962) như tổng sản lượng sẽ tăng 75% so với năm 1957 trong đó công nghiệp tăng gấp 2 lần, nông nghiệp tăng 35%. Nhưng sau đó tình hình không diễn ra như vậy. Tư tưởng Mao Trạch Đông chi phối toàn bộ đường lối phát triển của Trung Quốc nên những mục tiêu của kế hoạch 5 năm đã được chỉnh sửa lại như nâng sản lượng công nghiệp lên 6.5 lần, sản lượng nông nghiệp lên 2.5 lần.

    Trung Quốc phát động phong trào 3 ngọn cờ hồng: “Đường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân”

    Trong công nghiệp, Trung Quốc tập chung cao độ để phát triển công nghiệp nặng như luyện kim, chế tạo máy, hoá chất, điện lực… Bên cạnh đó còn phát động phong trào toàn dân làm công nghiệp, toàn dân làm gang thép. Sản xuất được nâng lên 80-100 triệu tấn. Do tập trung phát triển công nghiệp nặng, Trung Quốc đã rơi vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa công nghiệp – nông nghiệp, công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ.

    Về nông nghiệp, Trung Quốc đã xây dựng các công xã nhân dân, mỗi công xã có khoảng 5000 hộ nông dân. Cuối năm 1958, tất cả các nông dân đã được đưa vào các công xã. Trung Quốc tiến hành mở rộng tập trung tư liệu sản xuất của nông dân, kinh tế phụ gia đình bị xoá bỏ và thực hiện chính sách phân phối bình quân theo phương châm “cả nước ăn chung một nồi cơm to, cả nước cùng quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, càng nghèo càng cách mạng”.

    Với tư tưởng phát triển kinh tế nhanh đã đưa Trung Quốc đến những hậu quả kinh tế nghiêm trọng: thu nhập quốc dân hàng năm giảm 3% trong đó sản lượng các mặt hàng công nghiệp đều giảm sút, sản lượng lương thực năm 1960 tụt xuống còn 160 triệu tấn và hàng năm Trung Quốc phải nhập khối lượng lương thực bằng 1/3 tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu. Chính vì vậy, gây ra đảo lộn trong đời sống kinh tế – xã hội.

    9

    Hội nghị Trung ương 9 (1/1961) của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đề ra những biện pháp điều chỉnh nhằm phục hồi nền kinh tế. Trong công nghiệp chủ trương giảm bớt các hạng mục xây dựng cơ bản, chuyển hướng chú trọng sản xuất nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Nông thôn, các công xã nhân dân được củng cố lại, các chợ địa phương và kinh tế phụ gia đình đã được phục hồi. Những chính sách và biện pháp đã kịp thời giải quyết những khó khăn bất cập của nền kinh tế. Sản lượng nông nghiệp năm 1965 đạt 200 triệu tấn.

    2.1.2.3.2. Giai đoạn “Đại cách m ạng văn hoá vô sản” (1966-1976)

    Trong giai đoạn này,những chính sách kinh tế tả khuynh vẫn tiếp tục được áp dụng và gây ra những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển của nền kinh tế.Trung Quốc lại tiếp tục đầu tư cho công nghiệp đặc biệt là công nghiệp quân sự.

    Trong nông nghiệp, các công xã nhân dân lại quay trở về với chính sách tăng cường xã hội hoá tư liệu sản xuất, sức lao động. Kinh tế phụ gia đình của nông dân lại bị xoá bỏ. Hoạt động tài chính nhà nước được tăng cường thông qua đẩy nhanh tích luỹ từ nông nghiệp nên đời sống của nông dân càng gặp nhiều khó khăn. Chính sách lao động mang tính cưỡng bức và phân phối bình quân ở các công xã khiến nông dân không còn hứng thú với sản xuất.

    Với chính sách kinh tế tả hữu trên đã khiến cho sức sản xuất bị giảm sút nghiêm trọng đồng thời còn gây nên những sáo trộn về kinh tế – xã hội và nền kinh tế lại rơi vào tình trạng khủng hoảng. Ba năm của thời kì “Đại cách mạng văn hoá” sản lượng của các loại sản phẩm công nghiệp đều giảm sút hoặc không tăng.

    Bảng 2: một số sản lượng công nghiệp chủ yếu.

          Đv: triệu tấn
             
    Chủng loại sp Năm 1966 Năm 1967 Năm 1968  
    Phân bón 9.6 8.1 9.5  
             
    Thép 13.0 10.0 14.0  
             
    Xi măng 17.0 14.0 17.0  
             
    Lương thực 212.0 218.0 212.0  
             

    Nguồn: www.chinaeconomy_info.com .cn

     

    10

    Tiềm lực công nghiệp của Trung Quốc trong một số ngành so với một số nước trên thế giới rất thấp kém. Sản lượng điện bình quân đầu người Trung Quốc kém Mỹ 67 lần, kém Liên Xô 28 lần; về thép kém Nhật Bản 32 lần, Mỹ 19 lần…

    Sản xuất nông nghiệp ngày càng trì trệ, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng yếu kém. Công nghiệp cũng giảm sút nhanh chóng, năm 1971 kim ngạch ngoại thương chỉ bằng năm 1959 là 4.4 tỷ USD.

    Những thảm hoạ kinh tế nói trên là hậu quả của những chính sách và biên pháp kinh tế coi thường các quy luật kinh tế khách quan. Một số chính sách đề ra chưa đúng hoàn cảnh, tình hình như chế độ phân phối bình quân trong điều kiện sản xuất xã hội còn thấp kém nên không kích thích lợi ích đối với người lao động. Chính xu hướng trên đã đẻ ra cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp gây trì trệ cho nền kinh tế. Kết quả cuối cùng là chính trị, xã hội rối loạn, lòng dân ly tán.

    2.1.2.3.3. Kinh tế giai đoạn “Bốn hiện đại hoá”(1976 – 1978)

    Năm 1976, Trung Quốc chủ trương thực hiện “Bốn hiện đại hoá”: công nghiệp, nông nghiệp, khoa học – kỹ thuật và quốc phòng. Mục tiêu của “Bốn hiện đại hoá” thể hiện những tham vọng rất lớn.Trong giai đoạn đầu, phải tiến tới đạt được sản lượng thép 60 triệu tấn, sản lượng lương thực 400 triệu tấn.

    Thực hiện chủ trương trên, Trung Quốc cố gắng tăng nhanh tích luỹ, đẩy mạnh nhập khẩu thiết bị và vay vốn nước ngoài. Tỷ lệ tích luỹ trong thu nhập quốc dân tăng lên tới 36.5%. Trung Quốc tăng cường đầu tư cho xây dựng cơ bản, năm 1978 là 45 tỷ nhân dân tệ bằng 1.5 lần năm 1977. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào công nghiệp hiện đại.

    Những diễn biến kinh tế từ 1976-1978 phản ánh sự nôn nóng, là quá trình tiếp nối chủ trương “Đại nhảy vọt”. Do vậy, dẫn tới những ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế, giai đoạn 1976 – 1978 Trung Quốc phải nhập một lượng lương thực và thực phẩm chiếm 20% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu.

    Trong công nghiệp, việc tập trung đầu tư cho công nghiệp nặng đã gây ra mất cân đối nghiêm trọng với công nghiệp nhẹ. Năm 1978, vốn đầu tư cho công nghiệp nặng chiếm 55.7% trong khi đó công nghiệp nhẹ chỉ có 5.7%.

    Như vậy, chủ trương “Bốn hiện đại hoá” mà Trung Quốc đưa ra không phải là bài toán dễ dàng thực hiện. Trung Quốc đã nhận thức được chính sách nôn nóng không thể đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn.

    11

    2.2. GIAI ĐOẠN 2 (Thời kỳ cải cách – mở cửa từ năm 1978 đến nay)

    Có thể nói thành tựu của công cuộc cải cách mở cửa 30 năm qua của trung quốc đó là những thành tựu to lớn phi thường làm nức lòng nhân dân trong nước và được cả thế giới ngưỡng mộ. Thực lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp và địa vị kinh tế của trung quốc được nâng cao rõ rệt. Sau đây là một vài sự thay đổi:

    2.2.1. Sự thay đổi hệ thống kinh tế

    Trước cải cách Trung Quốc quan niệm phát triển kinh tế XHCN chỉ dựa trên 1 chế độ sở hữu: chế độ công hữu hoàn toàn. Cuộc cải cách 30 năm qua đã được thực hiện trên 1 quan niệm mới với sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Ngoài công hữu cần phải phát triển cả kinh tế cá thể, liên doanh hay xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.

    Sau cải cách năm 1978, Trung quốc hoàn thiện hệ thống kinh tế cơ bản của nền kinh tế với chế độ công hữu là chủ thể trong khi chấp nhận việc cùng tồn tại các hình thức sở hữu khác; về vai trò của các chế độ sở hữu liên quan đến các thành phần kinh tế được khẳng định:cải cách mở cửa của Trung Quốc đặt trên cơ sở phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó chế độ công hữu làm chủ thể và coi chế độ phi công hữu là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Thực tế 30 năm mở cửa, lực lượng kinh tế phi công hữu đã đóng góp rất tích cực vào thành tựu chung đối với phát triển kinh tế Trung Quốc:

    • Thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; đẩy mạnh sự phối hợp phát triển giữa các khu vực khác nhau; thiết lập một hệ thống thị trường hiện đại có trật tự, mở cửa và thống nhất; hoàn thiện hệ thống tạo việc làm, phân phối thu nhập và an sinh xã hội;
    • Và thiết lập một cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội bền vững. Và cho kinh tế thị trường vừa phục vụ CNTB vừa phục vụ CNXH, đồng thời chế độ công hữu là chính nhưng các hình thức khác cùng tồn tại và phát triển, và cuối cùng là chế độ phân phối theo lao động là chính nhưng các hình thức phân phối khác cùng song song tồn tại.
    • Tại Viện kinh tế thuộc Viện hàn lâm khoa học phân định hiện nay Trung Quốc có 8 loại hình kinh tế:
    1. Kinh tế quốc hữu (co doanh nghiệp cạnh tranh va phi cạnh tranh)
    1. Kinh tế tập thể(theo quan niệm mới về công hữu)
    1. Kinh tế cá thể(cá nhân gia đình hay thuê<8 lao động)
    1. Kinh tế cổ phần(bao gồm công ty TNHH và công ty cổ phần)
    1. Kinh tế góp vốn hợp tư (liên doanh)
    1. Đầu tư nước ngoài
    1. Kinh tế Ma Cao và Hồng Kông
    1. Kinh tế tư nhân (cá nhân thành lập doanh nghiệp và thuê > 8 lao động)

    Trong đó khẳng định kinh tế quôc hữu giữ vai trò chủ đạo, nhưng chủ đạo không phải là lắm số lượng lớn mà là giữ huyết mạch.

    + Tại trường đại học Trung Sơn (Quảng Đông)

    Cho rằng: việc phân ra 8 loại hình chỉ là tương đối vì trong thực tế chúng luôn đan xen với nhau. Theo thống kê toàn Trung Quốc có 315.000 xí nghiệp quốc hữu với tổng số vốn chiếm trên 60% vốn xí nghiệp tòa xã hội thu hút 67% lực lượng lao động xã hội, số xí nghiệp này là các công ty tập đoàn còn lại tới 80% là xí nghiệp quốc hữu nhỏ (trước cải cách tới 99% là của công hữu).

    Việc khẳng định chế độ công hữu làm chủ thể của nền kinh tế cùng với việc đề cao tính phổ biến của chế độ công hữu thì đồng thời Trung Quốc vẫn kiên trì thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế quốc hữu. Giờ đây quan niệm về chủ đạo đã thay đổi: không phải năm tuyệt đối về lượng mà là khả năng chi phối toàn bộ nền kinh tế quốc dân thông qua việc nắm các huyết mạch chủ yếu

    Thủ tướng Trung Quốc nói rằng đây là phương hướng cải cách hệ thống kinh tế của Trung Quốc và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy chính sách cải cách, mở cửa cũng như công cuộc hiện đại hóa của nước này. Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhấn mạnh: “Chỉ có đẩy mạnh cải cách mới có thể cải thiện được hệ thống kinh tế thị trường XHCN và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng xã hội khá giả”.

    2.2.2. Những thay đổi lớn về thể chế kinh tế

    Sau cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc từ chế độ công hữu đơn nhất chuyển sang chế độ lấy chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều loại sở hữu xùng phát triển.

    Trước cải cách gần như hoàn toàn thuộc sở hữu công cộng chiếm tới 99,1% tổng sản phẩm trong nước vào năm 1978. Cùng với tiến trình cải cách nhận thức về công hữu ngày càng có sự thay đổi sâu sắc, đã tiến tới khẳng định rằng nguồn vốn trong chế độ công hữu không chỉ thể hiện ở số lượng mà còn ở chất lượng.Với chủ trương nhiều loại hình kinh tế cùng phát triển, không chỉ có các doanh nghiệp cá thể mà còn có các doanh nghiệp “3 loại vốn”, các doanh nghiệp theo chế độ sở hữu hỗn hợp như chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần.

    Kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân được khuyến khích cùng phát triển nên đến cuối năm 1979 số hộ đăng ký kinh doanh là 29,47 triệu với 67,97 triệu lao động. Sự lớn mạnh của các

    13

    loại hình này ngày càng có tác dụng tích cực rõ trong việc đáp ứng đòi hỏi về đời sống cho nhân dân, làm cho đời sống kinh tế xã hội của cả nước thêm sôi động, từ chỗ được coi là bổ xung cho kinh tế công hữu, nay các loại hình kinh tế này đã được Quốc hội Trung Quốc dự kiến đua vào Hiến pháp sửa đổi, quy định đó “là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường XHCN” được Nhà Nước bảo hộ quyền lợi và lợi ích hợp pháp. Điều đó cho phép các loại hình kinh tế phi công hữu này sẽ phát huy được tiềm năng to lớn của mình trong phát triển kinh tế.

    Các doanh nghiệp 3 loại vốn đã phát triển rất nhanh. Đến cuối năm 1979 đã lên tới 236 ngàn xí nghiệp đã đưa vào đất nước nguồn vốn còn thiếu va những quan niệm mới và kinh nghiệm quản lý mới.

    Chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần trước đây bị coi là sản phẩm của CNTB nay đã được cho phép hình thành và cho vào nề nếp. Đến cuối năm 1997 trong cả nước có 680 ngàn doanh nghiệp thí điểm thực hiện chế độ này với số vốn đăng kí là 1730.2 tỷ NDT.

    Đến cuối năm 1979 tỷ trọng của các loại hình phi công hữu trong tổng sản phẩm trong nước đạt từ 0.9% tới 24.2% còn mức giảm tương ứng của kinh tế công hữu từ 99.1% tới 75.8%.

    Bước đàu hình thành bộ khung thể chế thị trường kinh tế XHCN, chức năng của thị trường tăng lên mạnh mẽ: Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp từ thấp đến cao nhằm chuyển dần vai trò điều tiết trực tiếp của kế hoạch sang điều tiết gián tiếp thông qua thị trường:

    Trước hết thu hẹp các mặt hàng sản xuất theo kế hoạch và do Nhà Nước định giá, giảm kế hoạch pháp lệnh, xóa bỏ sự hạn chế trong kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quyền tự mua bán sản phẩm.

    Đã cải cách chế độ buôn bán lẻ trong thương nghiệp cho phép kinh tế phi quốc hữu được tham gia buôn bán, lập ra các chợ bán buôn và các trung tâm mậu dịch, hình thành dần thị trường hàng hóa,nối liền thành thị với nông thôn. Cho đến nay ở trung quốc có khoảng 95% hàng tiêu dùng và 80% hàng đầu tư là do quan hệ cung cầu trên thị trường định giá.

    Hai là xây dựng và phát triển thị trường vốn bằng việc hoàn thiện thị trường tín dụng, khôi phục và hình thành thị trường cổ phiếu, quốc trái bị ngừng hoạt động đã nhiều năm.

    Ba là, thị trường lao động được hình thành qua việc cho phép người lao động nông thôn được di chuyển vào thành phố.

    14

    Ngoài ra các thị trường khoa học kỹ thuật, thông tin , văn hóa cũng không ngừng phát triển. Việc cải cách thể chế phân phối đã bước đầu đi theo hướng lấy phân phối theo lao động làm chủ thể, nhiều hình thức phân phối cùng tồn tại.

    Điều này thể hiện trước hết trong việc gắn thu nhập với kết quả sản xuất của người lao động: ở nông thôn chế độ trách nhiệm khoán đến hộ gia đình đã xóa bỏ cách làm ăn cũ” làm việc chỉ gào to, phân phồi thì dàn đều”, nay người nông dân làm nhiều thì hưởng nhiều làm ít thì hưởng ít. Ở thành phố các xí nghiệp đã có quyền tự chủ trong việc sử dụng công nhân và quêng phân phối lợi ích, việc tuyển dụng và trả lương cho họ là căn cứ vào kết quả kinh doanh chứ không phải do cáp trên quy định như trong thể chế cũ.

    • Tích cực đẩy mạnh xí nghiệp nhà nước: xí nghiệp nha nước chiếm 17% tổng số doanh nghiệp công nghiệp hạch toán độc lập nhưng chiếm 59.9 tổng giá trị tài sản, 46.25% thu nhập kinh doanh, 49.6%giá trị gia tăng của công nghiệp, 49,6% thuế lợi tức và đóng góp 60% ngân sách Nhà nước.
    • Cố gắng thực hiện cải cách thể chế đầu tư: đa dạng hoá các hình thức đầu tư
    • Cải cách thể chế ngoại thương theo hướng đa nguyên hóa thành phần kinh doanh, mở rộng quyền tự chủ: cùng với công cuộc cải cách thể chế kinh tế và sự phát triển của thị trường, thể chế kinh doanh ngoại thương kiểu tạp trung cao độ đã dần dần được xóa bỏ, các đơn vị ngoại thương được tự do hơn trong kinh doanh và đóng vai trò chủ thể của thị trường, tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi. Năm 1996 Trung Quốc đã thí điểm hợp doanh với nước ngoài kinh doanh ngoại thương tại khu phố mới tại khu phố mới Phố Đông thượng hải vag đặc khu kinh tế Thâm Quyến.

    2.2.3. Các chính sách phát triển thời kỳ này

    2.2.3.1. Giai đoạn đầu cải cách (1979 – 1984)

    Năm 1978, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng cộng sản Trung Quốc (12/1978) quyết định cải cách và mở cửa kinh tế. Đây là cuộc cải cách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư duy lý luận đến hoạt động thực tiễn, từ quan hệ sở hữu tài sản tới cơ chế quản lý kinh tế, từ điều hành nền sản xuất tới phân phối thu nhập…

    Năm 1979: Trung Quốc quyết định xây dựng các đặc khu kinh tế, gồm ba đặc khu kinh tế là Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu tại tỉnh Quảng Đông và đặc khu kinh tế Hạ Môn tại tỉnh Phúc Kiến. Việc quyết định xây dựng đặc khu nhằm mở rộng hợp tác kỹ thuật và giao lưu kinh tế với nước ngoài, tận dụng FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài), đưa khoa học kỹ thuật tiên tiến vào Trung Quốc. Từ năm 1978-2007, FDI tích lũy vượt 760 tỉ USD, đứng đầu thu hút FDI tại các nước đang phát triển và đứng thứ hai thế giới.

    15

    Năm 1982, Trung Quốc thực hiện khoán sản lượng hoặc khoán toàn bộ đến hộ nông dân. Việc giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã mang lại bước nhảy vọt trong kinh tế nông thôn. Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 11,5%/năm trong giai đoạn 1980 – 1985, gấp 3,5 lần giai đoạn 1953 – 1980.

    • 3.2. Cải cách về hành chính – kinh tế ở các thành phố, xí nghiệp quốc doanh là nhiệm vụ trọng tâm và cải cách ở m ột số lĩnh vực khác (1985 – 1992)

    Năm 1986, Trung Quốc khởi động cải cách doanh nghiệp nhà nước. Năm 1993, Trung Quốc hiện đại hóa khu vực kinh tế nhà nước gồm tổ chức các tập đoàn lớn, đổi mới kỹ thuật, áp dụng phương pháp quản lý khoa học. Các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ có quyền lựa chọn hình thức tổ chức và hoạt động như cổ phần hóa, cho thuê, chuyển thành sở hữu tập thể hoặc bán cho tư nhân. Đến cuối năm 2007, 1.550 doanh nghiệp lên sàn chứng khoán.

    Năm 1992, Trung Quốc xác lập mục tiêu “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Mở đầu thị trường hóa trong lĩnh vực y tế và nhà ở thị trường hóa từ năm 1992 – 1994. Kết quả điển hình của thị trường hóa là doanh thu trong lĩnh vực kinh doanh ăn uống tăng gấp 225 lần; bình quân năm tăng 20,53%.

    • 3.3. Giai đoạn xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế (1992 đến nay)

    Thực tế cho thấy năm 1998 Trung Quốc mở rộng nội nhu thông qua tăng cường đầu tư. Tuy nhiên không thể lạm dụng tăng mức đầu tư cao quá 25%, bởi song song với nó là quá trình điều chỉnh cơ cầu. Theo các chuyên gia, nguồn tài chính mà Chính phủ Trung Quốc khống chế chiếm 22% GDP. Chính sách tài chính tích cực mà chính phủ Trung Quốc luôn chú ý điều chỉnh chính sách tín dụng, phát triển thị trường vốn, đặc biệt tăng vốn đầu tư trực tiếp và thực hiện doanh nghiệp hóa ngân hàng thương mại, trao trả ngân hàng thương mại chức năng vốn có của nó, không ép ngân hàng thương mại đầu tư vốn vào các công trình thuộc cơ sở hạ tầng thu hồi vốn chậm, vì bản thân ngân hàng thương mại không có đủ nội lực. Đầu tư cho các hạng mục đó phải huy động nguồn vốn trong dân và vốn đầu tư nước ngoài, chính vì vậy nó đã thúc đẩy nhanh tốc độ cải cách hệ thống tài chính của Trung Quốc. Trung Quốc đã nhận rõ một nước lớn như Trung Quốc thì việc ngân hàng có yêu cầu nhất định trong cơ chế cho vay là hoàn toàn phù hợp. Đầu tư cơ sở hạ tầng cần phân chia thành hai loại là dịch vụ công cộng và dịch vụ kinh doanh. Hiện ở Trung Quốc xuất hiện tình trạng đầu tư xây dựng đường cao tốc vốn lớn mà thu hồi chậm, nguyên nhân là do lượng xe lưu hành trên đường cao tốc thấp hơn so với dự đoán ban đầu, có thể là do thói quen, song chủ yếu vẫn là do không muốn nộp phí đường cao tốc mà xe cộ lưu hành vẫn thích đi đường cũ.

    16

    Nhu cầu tiêu dùng là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, là mục đích, kết quả phát triển lực lượng sản xuất. Vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc hiện nay là là thay đổi xu thế hạn chế và coi nhẹ tiêu dùng. Then chốt là tìm ra nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nhu cầu tiêu dùng cuả người dân.

    Đinh Ninh Ninh – chuyên gia Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc Vụ Viện Trung Quốc cho rằng “Tăng đầu tư về cơ bản không thể giải quyết tận gốc vấn đề nhu cầu tiêu dùng. Những dự tính xã hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tiêu dùng…” các biện pháp cải cách nhà ở gần đây được tiến hành ồ ạt làm cho hầu hết cán bộ viên chức, những người làm công ăn lương phải dùng hết số tiền tích lũy của họ, thậm chí đi vay để giải quyết vấn đề chỗ ở. Chính sách y tế, chữa bệnh chưa được ban hành làm cho người dân chưa yên tâm, đó là những yếu tố kìm hãm sức tiêu dùng. Nếu chính phủ đưa ra một số khuôn mẫu cải cách hệ thống bảo hiểm thì người dân sẽ yên tâm hơn và diều này sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng.

    Thị trường ở Trung Quốc hiện nay thuộc về người mua, song nhìn chung mức tiêu dùng còn tương đối thấp. Đó là sự thể hiện mâu thuẫn về kết cấu tiêu dùng (kết cấu cung cầu). Để giải quyết vấn đề này cần khuyến khích tạo ra nhu cầu mới, mở rộng thị trường, tạo ra không gian lựa chọn lớn cho người tiêu dung.

    Năm 2001, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên WTO. Đến năm 2002, các ngân hàng nước ngoài đã mở 175 công ty với tổng số vốn 31,7 tỉ USD; chín công ty bảo hiểm nước ngoài thuộc tám nước đã mở 12 công ty tại Trung Quốc. Các tổ chức tài chính thu hút vốn FDI tập trung tại các thành phố và đặc khu như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến, Hạ Môn, Chu Hải, Thiên Tân…

    Năm 2004, Trung Quốc cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh; đưa điều khoản bảo hộ tài sản tư hữu vào Hiến pháp. Căn cứ theo số liệu của tạp chí Forbes, Trung Quốc có 10 tỉ phú USD năm 2005 trong số 691 tỉ phú USD của thế giới.

    Năm 2005, Trung Quốc bãi bỏ thuế nông nghiệp; đưa ra nhiệm vụ lịch sử xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa. Nông dân chiếm hơn 70% dân số Trung Quốc thoát nghèo, một số người và khu vực dần giàu lên. Từ năm 1978 – 2007, người nghèo ở nông thôn từ 250 triệu người giảm còn 14,79 triệu người.

    Năm 2007: Luật về quyền tài sản tư ra đời. Theo Nhân dân nhật báo, tiền dự trữ trong dân tăng gấp 700 lần trong 30 năm. Theo con số thống kê của tạp chí Forbes tháng 3.2008, số lượng tỉ phú USD của Trung Quốc là 42 người; cộng thêm 26 tỉ phú của đặc khu Hongkong, Trung Quốc vượt qua Nhật Bản trở thành nước có nhiều tỉ phú nhất châu Á. Ngoài ra, Trung Quốc còn là một trong những nước có nhiều triệu phú nhất thế giới.

    17

    Trong 30 năm, GDP (tổng giá trị sản phẩm nội địa) bình quân tăng 9,7%, lần lượt vượt qua Ý, Pháp và Anh vào các năm 2004, 2005, 2006 và đang dần tiếp cận với Đức.

    2.2.4. Một số vấn đề về văn hoá – xã hội

    Theo kết quả nghiên cứu về phân tích và dự đoán tình hình xã hội Trung Quốc 2004-

    2005 vừa được Viện Khoa học xã hội Trung Quốc công bố đầu năm này thì Trung Quốc đang bước vào thời kỳ phát triển kinh tế khả quan nhất, đồng thời cũng tồn tại bảy vấn đề xã hội nghiêm trọng cần phải cảnh giác.

    Mâu thuẫn xã hội gia tăng

    Năm 2004, số vụ khiếu nại của nông dân Trung Quốc lên cấp trên gia tăng, trong đó một bộ phận nông dân kiện vì bị mất đất canh tác nhưng chưa được bồi thường công bằng và ổn định cuộc sống thỏa đáng.

    Theo số liệu dự tính, hiện Trung Quốc có khoảng 40 triệu nông dân bị mất đất. Thế nhưng pháp luật về trưng dụng đất chưa theo kịp tiến trình phát triển, mức bồi thường chưa thỏa đáng nên số vụ khiếu kiện lên cấp trên gia tăng trong năm 2004.

    Phân hóa giàu – nghèo có xu hướng mở rộng

    Theo một kết quả điều tra xã hội trên 50.000 hộ dân ở các TP, thị trấn Trung Quốc,

    • nhóm người có mức thu nhập cao nhất thì mức thu nhập bình quân đầu người sáu tháng đầu năm 2004 là 13.322 NDT (khoảng 26 triệu đồng), bằng 2,8 lần mức thu nhập bình quân cả nước; trong khi đó nhóm người thu nhập thấp nhất chỉ đạt mức bình quân 1.397 NDT, bằng 29% mức thu nhập Tỉ lệ giữa mức thu nhập cao nhất và thấp nhất năm 2003 là 9,1:1, năm 2004 tăng lên 9,5:1. Phân hóa thu nhập vùng, nhất là vùng duyên hải giàu có và vùng miền Tây nghèo khó cũng có xu hướng tương tự. Chủ trương để một số khu vực, cá nhân có điều kiện giàu lên trước rồi kéo theo các đối tượng khác giàu sau tuy có

    khuyến khích một số vùng, dân cư giàu lên nhanh chóng, góp phần tăng trưởng kinh tế nhưng lại mở rộng thêm phân hóa giàu nghèo.

    Phân hóa giàu nghèo mở rộng và giá thực phẩm tăng cao trong vài năm gần đây đã dẫn đến sự mất thăng bằng về tâm lý trong một số dân cư. Theo một điều tra, hai năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc nhanh hơn nhưng mức độ hài lòng và lòng tin của tầng lớp thu nhập thấp lại giảm.

    Giảm nghèo vẫn là nhiệm vụ nặng nề trong thế kỷ mới đối với Trung Quốc

    Qua 25 năm cải cách mở cửa, số người nghèo khổ ở Trung Quốc từ 250 triệu người giảm xuống còn 29 triệu người, đó là bước thành công lớn. Nhưng hiện nay đối với nông

    18

    thôn Trung Quốc, tiêu chuẩn nghèo khổ mới ở mức thu nhập bình quân đầu người cả năm dưới 625 NDT, thấp hơn mức 900 NDT theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc.

    Nạn thất nghiệp

    Hằng năm ở các TP và thị trấn Trung Quốc, số lao động mới trưởng thành cộng với số thất nghiệp lên đến con số 24 triệu người, bằng dân số của một nước trung bình, nhưng mỗi năm Trung Quốc chỉ tạo ra được 9 triệu việc làm mới.

    Chống tham nhũng

    Những năm qua nguồn nhân lực và vật lực của các cơ quan kiểm tra kỷ luật, giám sát, kiểm sát, kiểm toán nhà nước… của Trung Quốc đổ vào việc chống tham nhũng rất lớn. Tuy hàng loạt quan tham đã bị đưa ra ánh sáng và bị xử lý nghiêm minh nhưng những vụ tham nhũng lớn và nghiêm trọng vẫn xuất hiện.

    Chi phí chống tham nhũng cao đòi hỏi phải hoàn thiện chế độ; từng bước cải cách thể chế chính trị; công khai và công bằng trong bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; xây dựng chế độ khai báo tài sản và thẩm tra tài sản khi thôi việc đối với công chức.

    Hạn chế về nguồn tài nguyên, năng lượng và m ôi trường

    Nguồn tài nguyên tính theo đầu người của Trung Quốc tương đối thấp. Về dầu mỏ Trung Quốc phải tìm nguồn khắp nơi trên thế giới, không những với Nga, Trung Cận đông… mà còn sang cả Brazil xa xôi để ký hợp đồng đổi công trình lấy dầu mỏ. Lượng tiêu hao các loại vật tư cơ bản của Trung Quốc cũng rất lớn.

    Năm 2003, lượng tiêu thụ gang thép, ximăng của Trung Quốc chiếm 1/3 toàn cầu. Ngoài ra, còn vấn đề môi trường, chất ô nhiễm thải ra vượt xa năng lực làm sạch môi trường, tình trạng môi trường sinh thái bị phá hoại ở một số khu vực đang rất nghiêm trọng..

    Đời sống – văn hoá

    Từ sau khi cải cách kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn, làm cho thu nhập của mọi người dân tăng lên, và đời sống vật chất ngày càng được nâng cao. Nhưng do chính sách phát triển trước năm 2000 là phát triển vùng trọng điểm, làm chênh lệch thu nhập giữa các vùng, và khoảng cách giầu nghèo ngày càng gia tăng.

    Quá trình đô thị hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã làm mờ nhạt các bản sắc vốn có

    • một bộ phận người dân thành thị. Các giá trị truyền thống cũng dần bị mai một, một bộ phận giới trẻ theo trào lưu phương Tây đã dần đánh mất đi những giá trị đạo đức truyền thống.

    19

    Tóm lai, chạy theo tăng trưởng, xem nhẹ phát triển bền vững về mặt xã hội, văn hoá và môi trường, Trung Quốc không phải là mô hình tốt cho Việt Nam học tập. Nhưng ngay cả sau khi phải trả những cái giá nhất định về những khía cạnh đó để đạt cho kỳ được mục tiêu tăng trưởng trong ba thập kỷ liên tục thì quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc vẫn còn phải chấp nhận những cái giá lớn hơn nữa.

    20

    CHƯƠNG III. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

    3.1. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHẢI ĐỐI MẶT

    Trong nửa thế kỷ tồn tại của nước CHND Trung Hoa, chỉ từ khi đất nước thực hiện quốc sách chiến lược cải cách – mở cửa từ Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc (họp tháng 12-1978) vạch ra, Trung Quốc mới thực sự bước vào con đường xây đựng và phát triển ổn định, tiến tới hiện đại hoá, thực hiện dân giàu nước mạnh, đạt được nhiều thành tựu huy hoàng và để lại những bài học sâu sắc cho các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi.

    Cuộc cải cách mở của của Trung Quốc có một ý nghĩa to lớn, được đánh giá cao trong nước và trên quốc tế, vì nó đã đem lại cho Trung Quốc những biến đổi lịch sử quan trọng.

    Có thể nói thành tựu của công cuộc cải cách – mở cửa gần 30 năm qua của Trung Quốc đã được thể hiện rực rỡ nhất trong thời kỳ Kế hoạch 5 năm (2001-2005) lần thứ 10 của nước này, đó là những thành tựu to lớn phi thường, làm nức lòng nhân dân trong nước và được cả thế giới ngưỡng mộ.

    Trung Quốc đã khống chế có hiệu quả những nhân tố không ổn định, không lành mạnh trong quá trình phát triển, ứng phó thành công với những biến đổi sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Thực lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp và địa vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao rõ rệt.

    Từ những thành tựu nổi bật

    Về kinh tế: Trung Quốc đã liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Giá trị tổng sản lượng quốc nội (GDP) tăng trưởng bình quân 8,8% mỗi năm.

    Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm

    Đơn vị tính: Tỷ nhân dân tệ

      Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
                 
    1. GDP theo giá thị trường thực tế 12033,3 13582,3 15987,8 18386,8 20940,7
                 
    2. GDP theo giá so sánh 2000 11722,7 12895,0 14197,4 156373,9 17351,0
       
                 

    (Nguồn số liệu: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADP 2007. Niên giám thống kê 2007 – TCTK)

    GDP bình quân đầu người tăng liên tục qua các năm và Trung Quốc đã thoát khỏi nước có thu nhập thấp.

    Bảng 4: GDP bình quân đầu người theo giá thực tế:

    Đv tính: đô la Mỹ – USD

    Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
               
    GDP bình quân đầu người 1.135,5 1.273,6 1.490,3 1.720,1 2.016,1
               

    (Nguồn số liệu: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADP 2007. Niên giám thống kê 2007 – TCTK)

    Lợi nhuận xí nghiệp công nghiệp từ mức 439,3 tỷ Nguyên (đơn vị tiền Nhân dân tệ), tăng lên tới mức 1.134,2 tỷ Nguyên.

    Lĩnh vực công nghệ với tiến trình công nghiệp hoá, tin học hoá được đẩy nhanh. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp giai đoạn này đạt bình quân 10,7%. Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế từ 43,6% năm 2001 tăng lên 45,9% năm 2004. Sản lượng các sản phẩm quan trọng đều gấp hơn hai lần như: thép thô tăng 144 triệu tấn, thép thành phẩm tăng 165,77 triệu tấn, xe hơi tăng 3 triệu chiếc, xi măng tăng 373 triệu tấn, tăng 62%; điện lực tăng 831,4 tỷ kWh, tăng 61,3%.

    Bảng 5: Giá trị sản xuất một số ngành công nghiệp

    Đvtính: Tỷ nhân dân tệ

    Năm 2002 2003 2004 2005 2006  
    Ngành
               
                 
    Công nghiệp (khai khoáng, chế 4.786,8 5.399,5 6.020,5 6.718,8 7.558,7  
    biến, điện, khí đốt và nước)
               
                 

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Sự phát triển thành thị – nông thôn được cân đối hơn. Nhà nước đã thi hành chủ trương miễn thuế nông nghiệp, trực tiếp bù trợ cho nông dân trồng lương thực, sản xuất nông nghiệp có sự chuyển biến quan trọng, sản lượng lương thực năm 2004 đạt gần 469,5 triệu tấn.

    22

    Bảng 6: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

    Đvtính: Tỷ nhân dân tệ

      Năm 2002 2003 2004 2005 2006
    Ngành  
               
                 
    Nông nghiệp   1.556,7 1.595,6 1.696,1 1.784,3 1.873,6
                 

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Thể chế quản lý mở rộng: Kinh tế được cải cách, đặc biệt là cải cách xí nghiệp quốc hữu. Trong tổng số 2.903 xí nghiệp quốc hữu hoặc nhà nước chiếm cổ phần khống chế, đến cuối năm 2004 có 1.464 xí nghiệp được chuyển đổi thành xí nghiệp loại hình công ty cổ phần. Thể chế giám sát quản lý vốn quốc hữu bước đầu được hình thành. Các ngành trọng điểm thông tin điện tử, hàng không dân dụng, điện lực được đẩy nhanh cải cách thể chế. Việc cải cách thuế thu ở nông thôn đạt được tiến bộ lớn, thị trường thu mua lương thực được mở cửa toàn bộ, trở thành thị trường kinh doanh nhiều luồng mạch.

    Lĩnh vực mở cửa với bên ngoài đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xuất nhập khẩu hàng hoá liên tục đạt mức tăng trưởng cao; đưa Trung Quốc từ vị trí thứ 8 vượt lên đứng vị trí thứ ba thế giới về thương mại. Cơ cấu hàng xuất khẩu được cải thiện, sản phẩm cơ điện và sản phẩm công nghệ cao chiếm 54,5% và sản phẩm mới chiếm 27,9% trong cơ cấu hàng xuất khẩu.

    Bảng 7: Giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu

    Đvtính: Triệu đô la Mỹ

      Năm 2002 2003 2004 2005 2006
    Ngành  
               
                 
    Xuất khẩu   325.600 438.230 593.320 761.950 969.073
                 
    Nhập khẩu   295.170 412.760 561.230 659.950 791.610
                 
    Cán cân thương mại   30.430 25.470 32.090 102.000 177.463
                 

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Năm 2005 mức thu nhập, chi dùng của dân cư thành thị đạt trên 10.000 Nguyên, tăng 59% so với năm 2000; thu nhập của nông dân vào

    23

    khoảng 4.000 Nguyên, tăng 45% so với năm 2000. Số người nghèo khó ở nông thôn từ 32,09 triệu năm 2000 giảm xuống còn 26,1 triệu năm 2004.

    Các sự nghiệp phúc lợi xã hội phát triển nhanh. Nhà nước tăng mạnh ngân sách và sự trợ giúp cho khoa học công nghệ, giáo dục, văn hoá, y tế, thể dục thể thao. Các công trình khoa học công nghệ cơ sở quan trọng được xây dựng nhiều. Các kế hoạch nghiên cứu công nghệ cao, then chốt, các kế hoạch nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ cơ bản trọng điểm nhà nước tiến triển thuận lợi. Thành tựu lớn tiêu biểu cho sự tiến bộ về khoa học công nghệ của Trung Quốc là việc phóng thành công con tầu vũ trụ Thần Châu-6 trong đó lần đầu tiên hai phi công vũ trụ Trung Quốc đã bay nhiều ngày trong vũ trụ. Sự nghiệp giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề đều phát triển nhanh. Quy mô giáo dục bậc cao liên tục mở rộng.

    Việc xây dựng pháp chế dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng văn minh tinh thần được chú trọng và tăng cường. Sinh hoạt dân chủ ở cơ sở được mở rộng, các thể chế thôn xóm tự quản, phường tự quản, công khai việc xóm, công khai việc xí nghiệp, công khai việc hành chính từng bước được xúc tiến.

    Những tồn tại và khó khăn cần tiếp tục giải quyết:

    Sau 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu huy hoàng, nhưng cũng còn gặp rất nhiều khó khăn mâu thuẫn. Lúc giao thời giữa hai thế kỷ, trong tình hình cạnh tranh gay gắt và diễn biến phức tạp trong nền kinh tế thế giới, Trung Quốc càng gặp nhiều thách thức cần xử lý. Những khó khăn, mâu thuẫn, tiêu cực đó, có thể chia ra thành bốn loại vấn đề như sau:

    • Những vấn đề mới nảy sinh sau khi giải quyết các vấn đề cũ. Sau khi phá bỏ chủ nghĩa bình quân “ăn cơm nồi to”, đã động viên được tính tích cực chủ động của người lao động. Cơ chế thị trường đi vào nền kinh tế, cả xã hội trở nên năng động và đầy sức sống. Đó là kết quả quan trọng mà cuộc cải cách đã đem lại. Song đồng thời lại nảy sinh ra một loạt vấn đề mới. Trước hết là khoảng cách về thu nhập giữa các cá nhân, ngành nghề, và khu vực bị mở rộng. Nếu như khoảng cách về thu nhập hình thành do sự khác biệt về thái độ lao động, về số lượng và chất lượng lao động, thì có khoảng cách ấy là hợp lý, cần thiết và không thể tránh khỏi. Về

    mặt chính sách, chủ trương cho phép một số người, một số vùng giàu lên trước là có lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội do tác dụng kích thích động viên của nó.

    Tuy nhiên, trong quá trình cải cách đã xuất hiện tình trạng quá chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân, ngành nghề, khu vực, không tương ứng với sự khác nhau về lao động; đặc biệt thu nhập do làm ăn phi pháp đẻ ra m ột lớp người phất lên quá nhanh; nạn tham ô hối lộ lan tràn, vừa phá hoại sự phát triển bình thường của nền kinh tế, vừa ảnh hưởng đến tính tích

    24

    cực của người lao động và sự ổn định xã hội. Đó là vấn đề nghiêm trọng đẻ ra trong cải cách Hai là, quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã tạo ra nạn dư thừa lao động, thất nghiệp, trong điều kiện việc cải cách thể chế bảo hiểm xã hội trì trệ. Trước đây ở Trung Quốc nạn dư thừa lao động và thất nghiệp được che dấu bởi chủ nghĩa bình quân và chế độ bao cấp. Thực hiện cải cách, chuyển đổi kinh tế, những vấn đề này bộc lộ và ngày càng nặng nề. Trung Quốc là nước nghèo, tiến trình cải cách diễn ra không lâu, do đó chế độ bảo hiểm xã hội chưa kiện toàn, chưa có được tác dụng giảm sức ép của nạn thất nghiệp, giảm sự khốc liệt của nạn dư thừa nhân công. Đây là thách thức rất lớn đối với Trung Quốc. Vấn đề bảo hiểm ở Trung Quốc, vẫn là khâu yếu, một mặt do kinh phí không cho phép, mặt khác do hậu quả của thể chế cũ, diện hưởng bảo hiểm quá lớn; mặt khác nữa, diện hưởng bảo hiểm mấy năm gần đây mở rộng, kết quả của cuộc cải cách xí nghiệp Nhà nước. Ba là, các vấn đề đạo đức, văn minh tinh thần, giáo đục, phạm tội, chuyển dịch lao động … nảy sinh ra trong tiến trình cải cách, có nguy cơ làm băng hoại cơ sở xã hội, rối loạn đời sống, cũng là những tiêu cực mà Trung Quốc đang phải xử lý.

    • Những vấn đề của bản thân cuộc cải cách đòi hỏi giải quyết sâu sắc và triệt để hơn. Điển hình nhất là sự trì trệ của cái cách xí nghiệp Nhà nước. Các xí nghiệp này hiện nay vấp phải ít nhất “5 cái khó” trong chuyển đổi cơ chế kinh doanh: xí nghiệp khó phá sản, công nhân khó cho thôi việc, chính quyền và xí nghiệp khó tách rời, sức sống khó bốc dậy, sức cạnh tranh thị trường khó tăng cường. Hoặc vấn đề chu kỳ kinh tế, lặp đi lặp lại hiện tượng “nới lỏng thì loạn, thắt vào thì chết”. Trung Quốc đã trải qua nhiều cơn “sốt” về kinh tế, sau đó lại xuất hiện sự tiêu điều. Ví dụ nửa đầu năm 1993 khi tổng sản phẩm trong nước tăng trên 15%, đã xuất hiện tình trạng “4 cao 2 loạn”, đó là đầu tư cao, lượng tiền trong lưu thông cao, giá cả cao, nhập khẩu cao, và thị trường tiền tệ hỗn loạn, trật tự thị trường tư liệu sản xuất hỗn loạn.

    Nhờ biện pháp thắt thật tiền tệ, nâng cao lãi suất, các cơn sốt đã giảm dần, nạn lạm phát nhẹ đi, giá cả hạ thấp. Song sau khi nền kinh tế Trung Quốc “tiếp đất an toàn” từ đầu năm 1996, với mức tăng giá cả 6,1%, thì từ cuối năm 1997 đến nay đã có hiện tượng đình trệ. Năm 1997 giá hàng tiêu dùng chỉ tăng 2,8%, năm 1998 lại giảm 0,8% so với năm 1997. Hàng hoá ứ thừa tràn ngập trong các kho khiến Nhà nước phải ngừng sản xuất một số mặt hàng, điều đó một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á đối với hàng xuất khẩu Trung Quốc, một phần do sản xuất trùng lặp, việc sử dụng công cụ tài chính để điều tiết kém tác dụng.

    • Những khó khăn vốn có của Trung Quốc càng nổi bật cùng với quá trình hiện đại hoá kinh tế. Đó là những vấn đề nợ tài nguyên, con người, lương thực, điều kiện tự nhiên… Về tài nguyên, tính theo đầu người, Trung Quốc là nước nghèo. Do đó việc tiết kiệm tài nguyên như đất, năng lượng cùng các loại tài nguyên khác là vấn đề rất lớn. Việc hạn chế sinh đẻ theo kế

    25

    hoạch của Trung Quốc đã thu được kết quả rõ rệt, song những vấn đề về gia đình và xã hội cũng nảy sinh cùng với việc chỉ cho phép có một con, đồng thời Trung Quốc còn đang đứng trước cửa ải cần vượt qua là vấn đề xã hội bị lão hoá .Trung Quốc là một nước dân đông, đất ít, sản xuất lương thực luôn luôn là vấn đề nóng bỏng vì có liên quan đến sự tồn tại của số dân bằng 1/4 loài người. Vậy mà nông nghiệp Trung Quốc lại chưa phát triển, chưa thoát khỏi cảnh “nhờ trời mới có miếng ăn” do đầu tư vào cơ sở hạ tầng còn ít ỏi, khả năng phòng chống thiên tai còn hạn chế. Theo các nhà khoa học, chất lượng điều kiện tự nhiên của Trung Quốc tương đối thấp, kém ổn định, bởi vì đây là một quốc gia nhiều thiên tai vào loại nhất thế giới. Mỗi năm Trung Quốc bị thiệt hại tới 100 tỷ NDT do thiên tai. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự phá hoại của con người đối với môi trường tự nhiên cũng tăng lên. Người ta đã khẳng định, nguyên nhân của nạn lụt lớn năm 1998 không phải chỉ do thiên tai mà còn do nhân hoạ gây ra.

    • Thách thức đi đôi với cơ hội trong giao lưu quốc tế. Xu hướng toàn cầu hoá đang ngày càng rõ rệt, giao lưu và hợp tác kinh tế giữa các nước ngày càng chặt chẽ. Nền kinh tế Trung Quốc đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thế giới. Thế giới cần Trung Quốc, mà Trung Quốc cũng không thể tách rời thế giới. Nhưng sự nhất thể hoá kinh tế vừa trợ giúp nền kinh tế Trung Quốc phát triển, mà cũng mang lại những khó khăn cho nước này. Cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển mạnh mẽ đang làm thay đổi những ngành nghề truyền thống và phương thức sản xuất truyền thống. Trung Quốc có thể nhờ đó mà phát huy thế mạnh của nước đi sau, tận dụng thành quả khoa học tiên tiến của thế giới, song cũng có thể tụt hậu so với trình độ quốc tế nếu như không vượt qua được sức ép cạnh tranh. Mặt khác nền tài chính tiền tệ thế giới đang ngày càng linh hoạt, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước, song cũng có thể mang lại rủi ro cho các nước. Điều này có thể thấy rõ qua những ảnh hưởng bất lợi đó cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ mang lại cho

    nền kinh tế Trung Quốc hai năm vừa qua, như đầu tư nước ngoài giảm, xuất khẩu sụt, giá từ đồng tiền thực tế bị lung lay ít nhiều . . .

    3.2. GIẢI PHÁP

    • Kích cầu nuôi cầu trong nước: Việc đẩy nhanh và giữ vững mức tăng trưởng kinh tế là cơ sở cho việc mở rộng các cơ hội việc làm, cải thiện đời sống người dân và duy trì ổn định xã hội, và cũng là điều kiện quan trọng để đẩy mạnh việc điều chỉnh kết cấu và đi sâu cải cách.
    • Tăng nhanh phát triển kinh tế nông thôn, nỗ lực nâng cao thu nhập cho người nông dân, phát triển sức sản xuất nông nghiệp, nâng cao sức mua của người nông dân, là khâu quan trọng trong việc nuôi cầu và kích cầu trong nước, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc dân và duy trì ổn định xã hội.

    26

    • Tích cực đẩy mạnh điều chỉnh kết cấu kinh tế và cải cách thể chế kinh tế, giải quyết những nhân tố hạn chế sự phát triển kinh tế như mâu thuẫn về kết cấu trong nền kinh tế và chướng ngại về thể chế. Đây là những biện pháp căn bản để duy trì phát triển kinh tế, nâng cao tố chất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
    • Thích ứng với những tình hình mới sau gia nhập WTO, nâng cao toàn diện m ức mở cửa ra bên ngoài: Trung Quốc gia nhập WTO đánh dấu một giai đoạn mới về mở cửa ra bên

    ngoài. Trung Quốc sẽ tham gia hợp tác và cạnh tranh quốc tế ở phạm vi rộng hơn và sâu hơn.

    • Tiếp tục tập trung chỉnh đốn và quy phạm hóa trật tự kinh tế thị trường: đây là yêu cầu bức thiết của việc kích cầu trong nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định, là một chọn lựa tất yếu khi gia nhập WTO, và cũng là biện pháp quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN.
    • Thực thi chiến lược chấn hưng quốc gia bằng khoa học kỹ thuật và chiến lược phát triển bền vững, tăng cường xây dựng văn minh tinh thần, đẩy m ạnh tiến bộ và sáng tạo trong khoa học kỹ thuật. Đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống sáng tạo quốc gia. Tăng cường nghiên cứu cơ sở và ngiên cứu những công nghệ mới, hiện đại có ý nghĩa chiến lược, tăng cường năng lực tự chủ sáng tạo, đẩy nhanh việc ứng dụng những thành quả kỹ thuật mới vào thực tiễn.
    • Chuyển biến hơn nữa chức năng của chính phủ, tăng cường xây dựng tác phong làm việc: Nhằm thích ứng tình hình mới sau cải cách mở cửa, cần xây dựng một bộ máy liêm khiết, làm việc có hiệu quả. Tập trung làm tốt ba mặt : Đẩy nhanh chuyển biến về chức năng của chính phủ, tăng cường thiết thực việc xây dựng tác phong làm việc, kiên quyết phản đối xa xỉ lãng phí.

    3.3. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CUỘC CẢI CÁCH – MỞ CỬA CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

    Như bên trên đã nói, Trung Quốc không phải là nước duy nhất thực hiện cải cách kinh tế, xoá bỏ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cũ, song nước này đã gặt hái được nhiều thành công khiến cho các nước khác phải ngưỡng mộ. . Ngay từ những ngày đầu, cải cách của Trung quốc đã cải thiện về kinh tế và cuộc sống cho nhân dân, và cho đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao”. Vì sao lại như vậy, và có thể rút ra được những bài học gì từ “cuộc cách mạng thứ hai” này của người Trung Quốc

    1. Cải cách toàn diện, song phải coi cải cách thể chế kinh tế là trọng điểm

    Ngay từ đầu, Trung Quốc đã chủ trương cải cách toàn điện. Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, người được coi là kiến trúc sư của công cuộc cải cách của Trung Quốc nói:

    27

    “Cải cách là toàn diện, bao gồm cải cách thể chế kinh tế, cải cách thể chế chính trị và cải cách các lĩnh vực tương ứng khác”. Trung Quốc tuy chủ trương cải cách toàn diện, song khi thực hiện phải có trọng điểm để tập trung sức lực. Trọng điểm chính là cải cách thể chế kinh tế. Sở dĩ Trung Quốc cải cách thành công vì trong khi cải cách tất cả các lĩnh vực, họ đã kiên trì coi cải cách kinh tế làm trọng điểm. Một số quốc gia khác cải cách thất bại, bởi vì cải cách kinh tế chưa có kết quả gì rõ rệt, đã vội vã chuyển trọng điểm sang lĩnh vực khác, làm cho chính trị không ổn định, mà cải cách kinh tế cũng bị buông lỏng, kết quả là cả kinh tế lẫn chính trị đều bị rối loạn.

    2. Kiên trì về lựa chọn thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thay thế cho thể chế kinh tế kế hoạch truyền thống.

    Thực hiện cải cách – mở cửa, những người lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn thể chế kinh tế thị trường, nền kinh tế được thúc đẩy và phồn vinh, được nhân dân tiếp nhận. Quá trình lựa chọn và tiếp nhận thể chế kinh tế thị trường ở Trung Quốc có thể chia làm 4 giai đoạn:

    • Từ năm 1979 đến năm 1984 là thời kỳ thể hiện sự quay lại tôn trọng quy – luật giá trị, mở rộng tác dụng của cơ chế thị trường. Các biện pháp cải cách áp dụng đầu tiên ở nông thôn đã khiến nông nghiệp nhanh chóng phục hồi và phát triển, tạo ra sức thuyết phục để đông đảo người dân tiếp nhận cuộc cải cách theo hướng thị trường
    • Năm 1984, Hội nghị Trung ương 3 khoá XII xác nhận kinh tế XHCN là kinh tế hàng hoá có kế hoạch. Nhận thức của mọi người đã được nâng lên, hiểu rõ hơn về vấn đề phát triển

    kinh tế hàng hoá là giai đoạn không thể bỏ qua.

    • Năm 1987, Đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XITI đưa ra mô hình “Nhà nước điều tiết thị trường, thị trường dẫn dắt xí nghiệp” đã làm nổi bật tác dụng của thị trường và có thể coi đó là giai đoạn quá độ từ thuyết kinh tế hàng hoá XHCN sang thuyết kinh tế thị trường XHCN.

    3. Kiên trì sách lược cải cách kiểu tiến dần từng bước.

    Ngay tứ khi mới bắt đầu cải cách, Trung Quốc đã xác định không dùng phương án cải cách kiểu “bùng nổ”, mà đã kiên trì phương án “dò đá qua sông”, áp dụng phương châm trước dễ sau khó, tiến dần từng bước, giảm bớt rủi ro. Thực tiễn chứng minh cách làm này là phù hợp với Trung Quốc, mang lại kết quả rõ rệt, tránh được những va chạm xã hội lớn và sự phân hoá hai cực quá nhanh như đã xẩy ra ở Liên Xô cũ và các nước Đông âu do thực hiện “liệu pháp sốc” Cải cách kiểu tiến dần phải trả giá nhất định như thời gian cải cách tương đối dài,

    28

    tác đụng tiêu cực của thể chế cũ kéo dai dẳng, song cuộc cải cách được thúc đẩy trong điều kiện xã hội tương đối ổn định, tuyệt đại đa số nhân dân được hưởng lợi ích của cải cách.

    Cải cách theo phương thức tiến dần của Trung Quốc thể hiện ở mấy phương diện quan trọng sau:

    • Sau khi cải cách ở nông thôn thu được những kết quả thực tế mới mở rộng ra thành phố, đến năm 1984 cuộc cải cách mới lấy thành phố làm trung tâm.
    • Ra sức thúc đẩy sự phát triển kinh tế không thuộc sở hữu Nhà nước, biến nó thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế 20 năm qua; sau đó thực hiện có trọng điểm

    cuộc cải tổ chiến lược khu vực kinh tế Nhà nước và cải cách các xí nghiệp Nhà nước.

    • Trong việc xây dựng hệ thống thị trường, thì trước hết phát triển thị trường hàng hoá tiêu dùng rồi đến hàng hoá tư liệu sản xuất, sau đó mới chú ý phát triển thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, sức lao động, kỹ thuật, thông tin v.v..
    • Cải cách giá cả, được coi là mấu chốt, quan hệ đến sự thành bại của toàn bộ cải cách thể chế kinh tế, vì vậy đã được tiến hành rất thận trọng, kết hợp giữa điều chỉnh và thả lỏng, điều chỉnh trước, thả lỏng sau, sau đó mới gắn với giá cả của thị trường quốc tế. Trong nền kinh tế kế hoạch, mọi sản phẩm đều không được thể hiện chính xác giá cả của nó; cuộc cải cách giá trước hết thực hiện thị trường hoá giá cả các hàng hoá hiện vật và các dịch vụ, rồi dần dần thực hiện thị trường hoá giá các yếu tố sản xuất
    • Về kế hoạch hoá các khâu sản xuất, lưu thông, giá cả…, thì trước hết cho phép một phần tồn tại ngoài kế hoạch, rồi dần dần mở rộng ra; phần theo kế hoạch thì thu hẹp lại dần. Khi điều kiện đã chín muồi thì thực hiện sự điều tiết của thị trường. Việc từng bước hợp nhất chế độ hai giá của tư liệu sản xuất là ví dụ nổi bật về sự quá độ yên ổn từ thể chế cũ sang thể chế mới một cách tiệm tiến
    • Trong mở cửa đối ngoại, mở đầu là xây dựng các đặc khu kinh tế, các thành phố ven biển, sau đó dần dần mở cửa sâu vào nội địa, và đến nay mới hình thành cục diện mở cửa ra mọi hướng, mọi cấp độ.

    4. Xử lý đúng đắn quan hệ biện chứng giữa cải cách, phát triển và ổn định.

    Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cải cách của Trung Quốc tương đối thành công là trong tiến trình cải cách đã coi trọng và xử lý đúng đắn quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định. Kinh nghiệm 30 năm phát triển kinh tế của Trung Quốc cho thấy, muốn xử lý đúng đắn ba mặt trên, người Trung Quốc đã chú trọng mấy điểm sau: Trước hết, phải duy trì được tốc đã phát triển kinh tế thích hợp. Nhiều học giả cho rằng kinh tế Trung Quốc

    29

    hiện đang ở giai đoạn cất cánh, cần tăng trưởng với tốc độ cao, nhưng không thể quá cao. Bởi vì hiện nay nền kinh tế của Trung Quốc vẫn theo phương thức tăng trưởng theo chiều rộng là chính, vẫn phải dựa vào đầu tư; nếu đòi hỏi tăng trưởng cao, sẽ xuất hiện cơn sốt đầu tư, lạm phát tăng, vật giá leo thang, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế. Điều đó đã diễn ra vào các năm 1992, 1993. Để hạ sốt, giảm lạm phát, ắt sẽ phải xiết chặt tiền tệ, hạ nhanh tốc độ tăng trưởng, làm cho nền kinh tế bị dao động lớn, gây mất ổn định. Cũng không thể duy trì tốc độ phát triển quá thấp, vì sẽ không có lợi cho vấn đề việc làm, vấn đề thua lỗ của các xí nghiệp Nhà nước, vấn đề thu nhập tài chính. Các học giả Trung Quốc cho rằng tốc độ phát triển kinh tế hàng năm 8 – 9% là thích hợp với đất nước này

    Thứ hai, phải giữ cho mức độ tăng hàng năm của vật giá bán lẻ ở mức được 10%. Tình hình Trung Quốc một số năm cho thấy, một khi giá cả tăng trên 10% là nhân dân đã kêu ca, bất bình, là có tới 20% cư dân ở thành phố bị hạ thấp thu nhập, do đó ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nếu giá cả xuống thấp quá cũng không phải là điềm lành, nó chứng tỏ nền kinh tế đã bị ép giảm quá mức độ, hàng hoá đã thừa, sản xuất sút kém, không có lợi cho sự hoạt động bình thường của nền kinh tế và sự linh hoạt của thị trường

    Thứ ba, việc thực hiện các biện pháp cải cách cần tính toán đầy đủ đến sự ổn định về tiêu dùng của người dân. Có rất nhiều lĩnh vực cần cải cách có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân như vấn đề nhà ở, chữa bệnh, bảo hiểm, dưỡng lão, giáo dục, lao động tiền lương… Thực hiện những cải cách này, đặc biệt là thực hiện dồn dập rất để vượt quá sức chịu đựng của người dân, làm cho họ không dám tiêu dùng hoặc tiêu dùng ít, dẫn đến chỗ thị trường tiêu điều, ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.

    Thứ tư, giữ vững chủ trương cùng giầu có, đề phòng và giảm bớt mức chênh lệch quá lớn giữa các cá nhân, các đơn vị, các địa phương. Từ khi cải cách, giữa các tầng lớp dân cư và các địa phương, giữa thành thị và nông thôn đều có hiện tượng chênh lệch thu nhập tăng lên, vấn đề phân phối không công bằng ngày càng bộc lộ và nổi cộm. Chính sách của Chính phủ Trung Quốc luôn luôn theo hướng thu nhỏ khoảng cách chênh lệch. Biện pháp đánh thuế thu nhập, kết nghĩa giữa tỉnh giàu với tỉnh nghèo, trích ngân sách để xoá đói giảm nghèo…. đã có

    tác dụng tất trong việc giữ gìn ổn định và xã hội.

    5. Kết hợp chặt chẽ giữa cải cách trong nước với mở cửa ra thế giới.

    Trung Quốc coi cải cách và mở cửa là hai mặt của một chỉnh thể. Sự kết hợp giữa hai mặt này là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công của cải cách

    Một thời kỳ dài trước đây, Trung Quốc đã thực hiện bế quan toả quốc, hậu quả là không thành công trong việc hiện đại hoá kinh tế, trì trệ lạc hậu kéo dài, không tiếp thu được thành

    30

    quả văn minh của loài người, không tận dụng được nguồn vốn bên ngoài, không tham gia được vào sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế. Rút bài học cay đắng đó, từ thập kỷ 80 Trung Quốc thay đổi cách nghĩ, nhận thức lại là CNXH phải tiếp thu mọi thành quả văn m inh của nhân loại, đặc biệt là của các nước phát triển phương Tây; CNTB là một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng của tiến trình phát triển lịch sử của loài người, nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần mà nó sáng tạo ra trong mấy trăm năm vượt qua tất cả những gì mà loài người đã tạo ra trước đó. Trung Quốc xây dựng CNXH trên cơ sở kinh tế văn hoá lạc hậu, càng phải thực hiện mở cửa, tiếp thu thành quả văn minh của thế giới, do đó không những phải cải tạo thể chế cũ xây đựng thể chế mới, mà cỏn phải tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến và phương pháp quản lý kinh doanh của các nước tư bản phát triển. Trong quá trình đó, Trung Quốc đã có chọn lọc để không tiếp thu những mặt không tốt của các nước này.

    Tóm lại, những bài học rút ra từ quá trình cải cách không chỉ giúp ích cho sự phát triển tiếp theo của Trung Quốc trên con đường tiến vào thế kỷ mới mà còn có giá trị tham khảo bổ ích cho các quốc gia đang có hướng phát triển tương tự.

    31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Kh%E1%BB%A7ng-ho%E1%BA%A3ng-n%E1%BB%A3-c%C3%B4ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công

    I.                  KHÁT QUÁT CHUNG

    1.1      Nợ công

    a.      Nợ công: Theo Luật Quản lý nợ công ngày 17/6/2009 của Quốc hội khóa 12:

    Nợ công được hiểu bao gồm ba nhóm là nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương – được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Như vậy, các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ (trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công.

    Và nợ công bao gồm:

    • Phân loại theo chủ thể vay: gồm Nợ chính phủ, Nợ được Chính phủ bảo lãnh, Nợ chính quyền địa phương.

     

    • Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước (phát hành trái phiếu, vay của Ngân hàng), nước ngoài (các thể chế siêu quốc gia (Quỹ tiền tệ Quốc tế – IMF), được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ

    hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo

    quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà

    nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.

    Nợ Chính phủ thường được vay để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nên nói cách khác,

    nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung

    quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần

    trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

    Nợ Chính phủ thường chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công của một Quốc gia.

    • Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.

     

    • Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.

     

    Nợ của chính quyền địa phương thường không chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công, vì

    ngân sách địa phương chủ yếu từ trung ương hỗ trợ, chi trả; và pháp luật luôn quy định

    chặt chẽ tỷ lệ nợ chính quyền địa phương được vay so với ngân sách được cấp, hay chỉ

    Trang 2

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    được vay từ nguồn nào và để dùng vào khoản gì (VD: VN chính quyền địa phương chỉ được vay để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn tại địa phương; nguồn vay: thông qua phát hành, uỷ quyền phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật, không được trực tiếp vay nước ngoài mà chỉ được vay lại từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương).

    • Phân loại theo nguồn vay: gồm vay trong nước và vay nước ngoài.

     

    • Vay trong nước: Chính phủ vay thông qua phát hành công cụ nợ. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh vay để đầu tư phát triển kinh tế xã hội thông qua phát hành, uỷ

    quyền phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

    • Vay nước ngoài là khoản vay ngắn hạn, trung – dài hạn phải trả lãi hoặc không phải trả lãi do Nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức khác của Việt Nam vay của chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức

    và cá nhân nước ngoài.

    • Phân loại theo thời gian vay: gồm vay ngắn hạn, vay trung – dài hạn.

     

    • Khoản vay ngắn hạn là khoản vay có kỳ hạn dưới một năm

     

    • Khoản vay trung – dài hạn là khoản vay có kỳ hạn từ một năm trở lên Và các hình thức phân loại nợ công khác theo các tiêu chỉ khác nhau.

     

    Về mặt cơ bản, tỷ lệ nợ của Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công nói chung, và gây ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế

     

    b. Tiêu chí đo lường nợ công

    Việc xác định nợ công ở mức an toàn hay không an toàn sẽ được xác định dựa trên:

    • Tỷ lệ của nợ công/GDP (tổng thu nhập quốc dân).

     

    • Thực chất nợ công/cơ cấu nợ công nước ngoài so với nợ công trong nước

     

    • Tình trạng sức khỏe của nền kinh tế.

     

    • Các tiêu chí có mức chi phối không nhỏ: khoản nợ ngầm (các khoản nợ ngân hàng, nợ doanh nghiệp của Nhà nước vay mà Chính phủ phải bảo lãnh.

    Trang 3

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Đây là những yếu tố tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với nền kinh tế (VD: Một số nhà phân tích, khi phân tích nợ công của Nhật Bản đã cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa nợ công của nước này với nợ công của Hy Lạp, thể hiện ở chỗ, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân nước này nắm giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ. Bên cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức rất cao)); và tiêu chí độ nhạy với các cú sốc (mức nợ cho dù có nhỏ hơn ngưỡng, nhưng vẫn có những cú sốc không dự báo được. Ví dụ lạm phát có thể cao hay tỷ giá có thay đổi thì có thể làm thay đổi hoàn toàn dự báo. Một điều rất then chốt là cần phải có thông tin chính xác để đưa ra quyết định đúng và tạo niềm tin cho thị trường);

    Theo công trình nghiên cứu năm 2010 của Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER), được khảo sát trên 44 quốc gia, cho ra kết quả: khi tỷ lệ nợ/GDP vượt ngưỡng 90% thì nó tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế và làm giảm đi 4% trong tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó. Đặc biệt, đối với các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam thì ngưỡng nợ/GDP là 60%, tỷ lệ nợ vượt quá ngưỡng này sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 2%. Và khi vượt tỷ lệ này báo hiệu Nợ công của quốc gia đang trong tình trạng mất an toàn. Và theo Ngân hàng Thế giới – WB – ngưỡng an toàn đối với các nước đang phát triển là tỷ lệ nợ nước ngoài dưới 40%/GDP.

    Tuy nhiên, có một số quốc gia, tỷ lệ nợ/GDP tới 200% nhưng vẫn không bị vỡ nợ (vì nợ công của Nhật có nguồn chính là từ vay trong nước (phát hành trái phiếu) nên áp lực trả nợ của bên ngoài không cao, Chính phủ vẫn có thể cân đối). Và cũng có quốc gia tỷ lệ nợ/GDP là 60% năm 2001 nhưng đã rơi vào khủng hoảng nợ công là Argentina (nợ công Argentina lại tăng rất nhanh, từ mức 35% GDP vào năm 1995 lên 65% năm 2001. Từ năm 1990 đến năm 2001, nợ bên ngoài (nợ của công ty và chính phủ đối với các chủ nợ nước ngoài) cũng tăng rất mạnh, từ mức 44%GDP lên 51%GDP, và từ mức chiếm 421% xuất khấu lên 471%. Vì nợ bên ngoài tăng lên rất nhanh trong vòng 1 thập niên cộng với khủng hoảng thể chế đã đẩy Argentina vào tình trạng khủng hoảng nợ công điển hình của Châu Âu vào thời điểm đó. Sau 04 năm cải cách, Argentina đã cơ bản thoát được khủng hoảng)

    Trang 4

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    c. Vai trò, tác động của Nợ công với nền kinh tế

    Trong giới hạn nợ công ở mức an toàn, tác động của nó đối với nền kinh tế một Quốc gia:

    • Mặc tiêu cực:
    • Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà nó chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai. Các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ chính phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt, thì đến một thời điểm trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ (mà hậu quả là lạm phát tăng tốc); do đó, người ta tiết kiệm hiện tại để có tiền đóng thuế trong tương lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá.
    • Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:

    Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.

    Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư.

    Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.

    • Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên).

    Trang 5

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    • Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái

    phiếu chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân, khiến họ giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng. Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu.

    • Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài sản thì khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất, người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn. Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ việc tăng chi tiêu chính phủ (nhờ phát hành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới tăng lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát).

    Nhìn chung: Nợ công không phải là xấu trong mọi trường hợp, nhưng cần phải tính toán đến đến hai yếu tố: hiệu quả từ những đồng vốn vay và hệ quả lâu dài nếu không giải quyết được dứt điểm vấn đề nợ chẳng hạn như tạo ra lạm phát, gây nóng cho nền kinh tế.

    1.2      Khủng hoảng nợ công

    a. Khái niệm:

    Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia. Nhu cầu chi nhiều quá, trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hình thức như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,… để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ. Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng.

    b.     Tác động của khủng hoảng nợ công:

    Do tỷ trọng Nợ Chính phủ thường chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công và có tác động mạnh mẽ, rõ ràng nhất với nền kinh tế nên lấy Nợ chính phủ làm đại diện để xem xét.

    Trang 6

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    CÁN CÂN NGÂN

    ↓ Chi tiêu SÁCH THÂM
     
    ↑ Thuế HỤT
     
    Thất nghiệp Đầu tư ↓ Đầu tư gián tiếp
       
        (chứng khoán) ↓

    Nợ/GDP ↑                GDP ↓

    Giá TP

    Huy Phát hành  
    động Trái Phiếu  
    vốn    
    In Lãi suất  
    TP ↑  
    nềti
       
    Lạm phát ↑    

    Khủng hoảng nợ công tác động đến nền kinh tế thông qua các chỉ số sau:

    • Cán cân ngân sách thâm hụt

     

    • Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng

     

    • Lạm phát tăng

     

    • Các doanh nghiệp hạn chế đầu tư, tốc độ tăng trưởng GDP giảm.

     

    • Thất nghiệp tăng

    Khủng hoảng nợ công, cán cân ngân sách thâm hụt , Chính phủ cần huy động để trả nợ buộc phải vay của công chúng bằng cách phát hành trái phiếu, vay mượn ở ngân hàng trung ương hoặc cầu viện cứu trợ từ các nước khác, từ các tổ chức quốc tế như IMF…hoặc tăng thuế để bù đắp thâm hụt ngân sách bên cạnh đó phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” để giảm chi tiêu. Việc phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, lãi suất trái phiếu tăng vì chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua. Khi cán cân ngân sách thâm hụt, ngân hàng trung ương sẽ tài trợ thâm hụt bằng cách phát hành thêm tiền làm tăng khối cung tiền gây ra áp lực lạm phát.

    Bên cạnh đó, việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư trực tiếp, kìm hãm kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng (thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP giảm sút à

    Trang 7

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    chỉ số nợ/GDP tăng). Việc giảm chi tiêu, giảm đầu tư sẽ dẫn đến tình trạng việc làm giảm, thất nghiệp gia tăng.

    Mặt khác, cán cân ngân sách thâm hụt đã gây ra sự mất lòng tin của người dân và của nhà đầu tư mới đối với các nền kinh tế quốc gia khiến đồng tiền quốc gia sụt giá. Điều đó có thể dẫn tới một đợt tháo chạy với quy mô lớn trên thị trường trái phiếu và cổ phiếu làm giá chứng khoán bị sụt giảm

    Trang 8

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    II.               Thực trạng khủng hoảng nợ công ở EU

    2.1      Giới thiệu về EU

    Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU) hiện bao gồm 27 nước thành

    viên: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Anh, Ai Len, Đan Mạch, Hy Lạp,

    Tây Ban  Nha,  Bồ  Đào  Nha,  Áo,  Thụy Điển,  Phần  Lan,  Séc,  Hungary,  Ba  Lan,

    Slovakia, Slovenia, Latvia, Estonia, Malta, Litva, Cyprus , Bulgaria và Romania

    Diện tích: 4.422.773 km2( nước có diện tích lớn nhất là Pháp với 554.000 km2  và nhỏ

    nhất là Malta với 300 km2

    Dân số: Khoảng 500 triệu người, chiếm 7.3% toàn thế giới ( Thành viên có dân số lớn nhất là Đức với 82 triệu, ít nhất là Malta với 0.4 triệu)

    GDP(EU 27) 17,57 nghìn tỷ USD

    Thu nhập bình quân 32,900 USD/người/năm

    2.2      Thực trạng khủng hoảng nợ công ở EU

    2.2.1   Tỷ lệ nợ công trên GDP

    Theo Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat), trong quí II năm 2012, tổng số nợ công tại 17 nước thành viên Eurozone đã tăng lên 90% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), so với mức 88,2% trong 3 tháng đầu năm 2012. Trong khi đó, mức nợ công mà toàn bộ 27 nước thành viên EU đang gánh chịu cũng đã tăng từ 83,5% GDP lên 84,9%.

    Theo qui định của EU, các nước thành viên không được phép để tổng mức nợ công vượt quá 60% GDP và thâm hụt ngân sách quá 3% GDP, tuy nhiên, nhiều nước đã vi phạm quy định này khi “cơn bão” nợ công ập tới.

    Để đối phó, nhiều nước đã buộc phải áp dụng chính sách “thắt lưng buộc bụng”, song cho tới nay, biện pháp này vẫn chưa phát huy hiệu quả như mong muốn.

    Tính đến hết quý II – 2012, đứng đầu danh sách những quốc gia mắc nợ nhiều nhất là Hy Lạp với “núi nợ” lên tới 150,3% GDP. Các vị trí tiếp theo thuộc về Italy (126,1%), Bồ Đào Nha (117,5%), Ireland (111,5%)…. Các nước như Estonia (7,3%), Bulgaria

    (16,5%) và Luxembourg (20,9%) là những quốc gia có mức nợ công thấp nhất trong EU./.

    Trang 9

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.2.2   Tình trạng thâm hụt ngân sách:

    Theo số liệu mà Viện Nghiên cứu Kinh tế Đức (IW) đưa ra, Tây Ban Nha đã giảm thâm hụt mậu dịch từ -5,8% năm 2008 xuống +0,5% trong năm 2011. Bồ Đào Nhà và Hy Lạp cũng giảm gần 50% thâm hụt mậu dịch của nước mình trong cùng một khoảng thời gian.

    [10/2012] Theo dự báo của IMF, thâm hụt ngân sách của Pháp vào khoảng 4,7% GDP trong năm nay và 3,5% GDP vào cuối năm 2013. Pháp đã cam kết giảm thâm hụt ngân sách xuống 3% GDP vào năm 2013.

    Tháng trước, chính phủ của tổng thống François Hollande cũng đã công bố gói thắt lưng buộc bụng, bao gồm việc đánh thuế 75% đối với những cá nhân có thu nhập vượt quá 1 triệu bảng nhằm đạt được mục tiêu thâm hụt ngân sách.

    IMF dự báo, thâm hụt ngân sách của Italia trong năm tới là 1,8%, cao hơn so với mục tiêu thâm hụt 0,5% GDP mà nước này đề ra.

    Trong khi đó, IMF cho biết Tây Ban Nha sẽ không đạt mục tiêu thâm hụt ngân sách 2012, 2013 và nợ của nước này sẽ vượt 90% GDP do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.

    Trang 10

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.3      Nguyên nhân khủng hoảng nợ công khu vực Eurozone

    Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu với Hy Lạp là nước đầu tiên đứng trước nguy cơ vỡ nợ và cần phải viện đến sự trợ giúp của ECB và IMF. Tiếp sau là các nước Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia cũng đứng trước nguy cơ vỡ nợ, và nợ công đang có nguy cơ lan dần đến trung tâm của châu Âu, kể cả các nước mạnh nhất trong khu vực đồng Erozone là Đức và Pháp.

    Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu hiện nay có chung nguyên nhân chủ yếu như là hệ quả của việc tăng chi, giảm thu ngân sách nhà nước (do cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu khởi đầu từ Mỹ năm 2008) và hiện vẫn đang tiếp diễn với nhiều động thái đầy kịch tính.

    Hơn nữa, cuộc khủng hoảng này còn có nét chung như là tác động nhân quả của chính sách chi tiêu công thiếu kiểm soát chặt chẽ và thiếu minh bạch trong từng quốc gia, cũng như của những khuyết tật bộc phát ngay trong cơ chế nội bộ của tổ chức liên kết kinh tế-tiền tệ khu vực vốn được coi là lớn mạnh và thành công nhất hành tinh này.

    Những bất đồng về nhận diện nguyên nhân, sự chưa thống nhất về quan điểm, chính sách giải cứu và lo ngại về nợ công và triển vọng Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã khiến các thị trường Mỹ, châu Âu và toàn thế giới thăng trầm khó lường với xu hướng suy giảm ngày càng đậm nét.

    2.3.1   Nguyên nhân khủng hoảng nợ: Nhìn từ quá khứ

    Mỗi khi nền kinh tế suy thoái thì nợ công bắt đầu tăng vọt. Và mỗi khi có bầu cử, nợ công cũng leo thang. Lý do là chính phủ không nhìn nhận và tìm giải pháp lâu dài cho vấn đề nợ công, mà chỉ chú tâm vào những giải pháp nhất thời, miễn sao qua được kỳ bầu cử là được rồi.

    Năm 1973:Các nước OPEC ngừng xuất dầu sang các nước ủng hộ Israel trong cuộc chiến tranh Yom Kippur chống lại Ai Cập và Syria (Gồm Mỹ, Nhật, Tây Âu), tạo nên cuộc khủng hoảng dầu mỏ đẩy kinh tế Âu Mỹ đã chìm vào suy thoái. Đó cũng là lúc Âu Mỹ tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển hướng từ sản xuất mới nổi.

    Năm 1990:Ngành tài chính dịch vụ phát triển mạnh mẽ nhưng hầu hết đều dựa trên kế hơ của thị trường, thiên về đầu cơ tài chính làm thổi phồng những “bong bóng tài sản” tạo ra viễn cảnh giàu có “ảo” cho nền kinh tế Âu Mỹ. Hậu quả làm nảy sinh nhiều bất ổn trong cơ cấu ngành nghề, phân khúc giàu nghèo và số người thất nghiệp tăng lên và

    Trang 11

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sống nhờ vào sự hỗ trợ của chính phủ. Kết quả là tình trạng nợ công ngày càng chồng chất, và tiếp theo là cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu. Chính phủ đành vay tiền để mua thời gian, cầm chừng qua cơn hấp hối.

    Năm 2008:Thế giới lại khủng hoảng, và chính phủ các nước lại tiếp tục áp dụng kế sách cũ: huy động tiền để hỗ trợ các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và trợ giúp khối lao động thất nghiệp. Trong khi đó, trái phiếu của các lần phát hành trước đó đã đến hạn phải trả cả vỗn lẫn lãi, khiến cho gánh nặng nợ nần tích tụ suốt mấy chục năm qua tiếp tục chồng chất.

    Dù nhận thức được bất hợp lý trong việc chuyển sang mô hình kinh tế thiên về tài chính dịch vụ, nhưng các chính phủ vẫn “ngựa quen đường cũ” với nền kinh tế ảo, chỉ giải quyết tạm thời bằng cách vay nợ mớii gối đầu trả nợ cũ và ném phao cứu hộ cho những ngân hàng đang sắp chết đuối.

    Trang 12

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.3.2 Nguyên nhân tiêu biểu của khủng hoảng nợ công châu Âu, nhìn từ Hy Lạp:

    Thứ nhất, tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công. Thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân của Hy Lạp chỉ ở mức 11%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha và đang có xu hướng sụt giảm nhanh chóng. Do vậy, đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiều vào các dòng vốn đến từ bên ngoài. Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên minh châu Âu EU (năm 1981) và làn sóng bán tháo trái phiếu từ dân chúng cho thấy Hy Lạp đã để vuột khỏi tay một kênh huy động vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp tăng cường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công.

    Thứ hai, chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách. Tăng trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 4,3% (2001 – 2007) so với mức trung bình của khu vực Eurozone là 3,1%. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, mức chi tiêu chính phủ tăng 87% trong khi mức thu của chính phủ chỉ tăng 31%, khiến cho ngân sách thâm hụt vượt quá mức cho phép 3% GDP của EU.

    Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu cho quản lý công trong tổng số chi tiêu công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so với các nước thành viên OECD khác trong khi chất lượng và số lượng dịch vụ không được cải thiện nhiều. Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến các ngành công nghiệp chủ chốt của Hy Lạp. Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều sụt giảm trên 15% trong năm 2009. Kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó khăn, nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh. Trong khi đó Hy Lạp lại phải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh tế. Tính đến tháng 01/2010, nợ công của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế đạt mức 130% GDP.

    Sự già hóa dân số và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất khu vực châu Âu của Hy Lạp cũng được coi là một trong những gánh nặng cho chi tiêu công. Ước tính tổng số tiền chi trả cho lương hưu khu vực công của Hy Lạp sẽ tăng từ 11,5% GDP (2005) lên 24% (2050).

    Thứ ba, nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm hụt

    ngân sách và gia tăng nợ công. Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp là

    nhân tố làm giảm nguồn thu ngân sách. Theo đánh giá của WB, kinh tế không chính

    Trang 13

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    thức ở Hy Lạp chiếm tới 25 – 30% GDP(so với mức 15,6% GDP của Việt Nam; 13,1% GDP của Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của Nhật Bản). Hệ thống thuế với nhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư thừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế và kinh tế ngầm phát triển ở Hy Lạp.

    Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Hy Lạp là một trong những nước có tỷ lệ tham nhũng cao nhất trong EU. Năm 2008, hơn 13% người Hy Lạp đã chi tới 750 triệu EUR tiền phong bì cho các lãnh đạo khu vực công và khu vực tư, trong đó có bác sĩ là những người đòi nhiều tiền hơn cho các cuộc phẫu thuật; các nhà quy hoạch thành phố và các quan chức ở địa phương cũng liên quan đến những vụ việc nhận hối lộ… Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou thừa nhận “tham nhũng mang tính hệ thống” là vấn đề cơ bản nhất dẫn đến tình trạng nợ công Hy Lạp. Thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp ước tính vào khoảng 8% GDP. Tham nhũng không chỉ gây ra trốn thuế, nó còn làm tăng chi tiêu chính phủ, nhắm tới duy trì mức lương cao cho công chức và thực hiện các dự án có vốn đầu tư lớn thay vì nhắm vào các dự án tạo ra nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động. Mức lương cao không chỉ tạo ra gánh nặng ngân sách mà còn làm cho tính cạnh tranh của nền kinh tế Hy Lạp yếu đi. Lương cao, đồng euro tăng giá từ mức 1 euro đổi hơn 0,8 USD lên đến 1 euro đổi 1,6 USD trong suốt giai đoạn từ 2000-2008 khiến sức cạnh tranh của hàng hóa Hy Lạp yếu và hệ quả tất yếu là một cán cân thương mại thâm hụt triền miên.

    Thứ tư, sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả. Bên cạnh đó, việc gia nhập Eurozone năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế với việc sử dụng một đồng tiền được những nền kinh tế lớn như Đức và Pháp bảo đảm cùng với sự quản lý chính sách tiền tệ của Ngân hàng TƯ châu Âu (ECB). Nhờ việc gia nhập Eurozone Hy Lạp nghiễm nhiên có được hình ảnh ổn định cao và chắc chắn trong mắt các nhà đầu tư, dễ dàng thu hút vốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất thấp. Gần một thập kỷ qua, Chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm tỷ USD. Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý. Tuy nhiên, chính phủ Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không quan tâm đến các kế hoạch trả nợ.

    Trang 14

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Thứ năm, thiếu tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư. Sự thiếu minh bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất niềm tin của các nhà đầu tư mà quốc gia này đã tạo dựng được với tư cách là một thành viên của Eurozone và nhanh chóng xuất hiện các làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng của Hy Lạp, đẩy quốc gia này vào tình trạng khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường vốn quốc tế. Sự phụ thuộc vào nguồn tài chính nước ngoài đã khiến cho Hy Lạp trở nên rất dễ bị tổn thương trước những thay đổi trong niềm tin của giới đầu tư. Trong thời đại hội nhập, thì minh bạch luôn là một đòi hỏi lớn của các nhà đầu tư. Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp do chính phủ không minh bạch các số liệu, cố gắng vẽ nên bức tranh sáng, màu hồng về tình trạng ngân sách về những chính sách sắp ban hành để khắc phục những khó khăn về ngân sách hay vấn đề kinh tế vĩ mô do vậy, hiệu lực của những chính sách đó sẽ bị hạn chế nhiều.

    2.3.3   Nguyên nhân chủ yếu của nợ công châu Âu: nợ nước ngoài.

    Yếu tố thực sự gây ra khủng hoảng ở châu Âu không phải là nợ công mà là những khoản nợ nước ngoài khổng lồ đang ngày càng gia tăng.Vấn đề hiện nay ở khu vực châu Âu được biết đến trên toàn thế giới như là cuộc khủng hoảng nợ công. Nhưng cuộc khủng hoảng thực sự đang xảy ra chính là khủng hoảng nợ nước ngoài.

    Tầm quan trọng của nợ nước ngoài có thể được minh họa bằng trường hợp của Bồ Đào Nha.Ở quốc gia này, mặc dù nợ công và tỷ lệ thâm hụt khá cao nhưng cũng chỉ tương tự như của Pháp. Vấn đề quan trọng nhất mà Bồ Đào Nha đang phải đối mặt, không phải là chính sách tài chính, mà là các khoản nợ nước ngoài cao của khu vực tư nhân: các ngân hàng và các doanh nghiệp Bồ Đào Nha.

    Tầm quan trọng của các khoản nợ công cũng chỉ ở mức nhất định đối với một quốc gia, ví dụ như ở Ý và Bỉ. Cả 2 nước này có tỷ lệ nợ trên GDP cao hơn nhiều so với Bồ Đào Nha, nhưng mức phí bảo hiểm rủi ro mà họ phải trả lại thấp hơn nhiều so với nước này. Lý do chính là họ nợ nước ngoài rất ít, Bỉ thậm chí còn thặng dư tài khoản vãng lai.

    Trong khủng hoảng, các khoản nợ tư có xu hướng chuyển thành nợ công.Và điều quan trọng trên thị trường tài chính khi nhìn vào nợ công 1 quốc gia là ai là chủ nợ của chúng.

    Trang 15

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Tại các quốc gia khu vực đồng Euro, điều quan trọng là đảm bảo được hoạt động thu thuế. Với những quốc gia có nợ công cao nhưng nợ nước ngoài thấp, nợ công chủ yếu do người dân nắm giữ, và Chính phủ luôn luôn có thể giải quyết vấn đề nợ công bằng một số hình thức thu thuế. Vì thế, nợ nước ngoài là thành phần chủ yếu gây ra những vấn đề trong khả năng thanh toán nợ của một quốc gia. Trường hợp ngoại lệ trong vấn đề này chính là Mỹ, giống như những gì được gọi là “đặc quyền cắt cổ” của nền kinh tế lớn nhất thế giới: nợ nước ngoài của Mỹ lại chính bằng đồng USD, giúp Chính phủ Mỹ có thể linh hoạt giải quyết các vấn đề nợ công.

    Một điều phức tạp hơn nữa là, một quốc gia có nợ nước ngoài cao, trong khi cư dân của họ cũng nắm giữ một lượng tài sản lớn của nước ngoài.Trong trường hợp này, Chính phủ phải đối mặt với trường hợp, quốc gia có thể vỡ nợ trong khi người dân của mình vẫn có thể hưởng lợi nhuận từ tài sản nước ngoài.Ngay cả khi điều này xảy ra, Chính phủ có thể giải quyết bằng cách, kêu gọi người dân bán tài sản nước ngoài và mua trái phiếu Chính phủ trong nước thay thế.

    Một ví dụ đặc trưng là trường hợp của của Argentina năm 2001.Nợ nước ngoài ròng mà Argentina nắm giữ là không lớn, chỉ tương đương với số tài sản nước ngoài mà khu vực tư nhân trong nước nắm giữ. Mặc dù vậy, Chính phủ Argentina đã phá sản, bởi vì tầng lớp người giàu thì nhanh chóng bán tài sản ra nước ngoài, trong khi những người dân nghèo từ chối trả các khoản thuế cần thiết để giúp Chính phủ thanh toán nợ nước ngoài.

    Đối với Hy Lạp, điều chỉnh hệ thống tài chính là vấn đề quan trọng và cần thiết.Tuy nhiên, với Bồ Đào Nha, vấn đề then chốt là sự gia tăng thâm hụt nước ngoài của khu vực tư nhân.Ireland lại là một trường hợp khác, vì nước này có rất ít nợ nước ngoài và sẽ sớm đạt được thặng dư tài khoản vãng lai.Chính phủ Ireland sẽ không cần tới tài trợ bên ngoài nữa nếu họ huy động được tiết kiệm từ người dân.Giống như trường hợp của Lativa trước đó, nếu huy động được vốn từ người dân, rủi ro sẽ giảm xuống rất nhanh. Trong ngắn hạn, việc điều chỉnh hệ thống tài chính là cần thiết nhưng không đủ giúp các nước này thoát khỏi một cuộc khủng hoảng nợ.Huy động tiết kiệm trong nước, và khuyến khích người dân mua trái phiếu Chính phủ thay vì nắm giữ tài sản của nước ngoài mới là điều quan trọng nhất.

    Trang 16

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Sau tất cả những lý do nói trên, dường như việc nợ nần nhiều của chính phủ là nguyên nhân chính gây nên khủng hoảng nợ công. Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ mà Nhật Bản là tiêu biểu

    Tại sao Nhật Bản không vỡ nợ?

    So với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ với quy mô nợ công thấp hơn Nhật Bản, nhưng lại đang phải loay hoay xử lý nguy cơ vỡ nợ kỹ thuật, trong khi nợ công của Nhật Bản được đánh giá là cao nhất trong số các nước phát triển, lên tới 10.000 tỷ USD (2010, tương đương khoảng 229% GDP), nhưng nợ công của Nhật Bản vẫn được đánh giá ở ngưỡng an toàn. Những nhân tố đóng góp vào mức an toàn nợ công Nhật Bản, đó là:

    Thứ nhất, trái phiếu chính phủ ổn định và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế.Từ đầu thập niên 1990, khi ngân sách Chính phủ Nhật Bản bắt đầu thâm hụt, Nhật Bản đã bù đắp cho khoản thâm hụt này bằng cách phát hành trái phiếu để vay nợ, chủ yếu từ nguồn tiền tiết kiệm nội địa lên tới 17 nghìn tỷ USD. Sự khác biệt khá lớn giữa nợ công của Nhật Bản với nợ công của Hy Lạp, thể hiện:

    Khác biệt thứ nhất, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân Nhật Bản nắm giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ;

    Khác biệt thứ hai, lợi tức trái phiếu Nhật Bản chỉ chạm mức cao nhất là 1,4%, trong khi đó Hy Lạp đã tiếp cận ngưỡng 8%.

    Khác biệt thứ ba, phần lớn trái phiếu chính phủ hướng tới người mua là dân chúng Nhật Bản (chiếm tới 95% trái phiếu chính phủ). Khoảng 50% tài sản chính trị (khoảng 1.400 nghìn tỷ yen) được tích trữ dưới dạng tiền mặt và gửi ngân hàng (tỷ lệ này ở Mỹ chỉ là 14%), trong đó, phần lớn được đầu tư vào trái phiếu chính phủ thông qua hệ thống ngân hàng.

    Những sự khác biệt này cho thấy, Nhật Bản vẫn có thể đảo ngược tình thế để tránh nguy cơ vỡ nợ. Nhờ dư nợ trái phiếu chính phủ được nắm giữ bên ngoài Nhật Bản rất nhỏ (chỉ khoảng gần 6%) nên việc đảo nợ cũng được thực hiện dễ dàng mà không phụ thuộc nhiều vào tình hình cung cầu trên thị trường quốc tế.

    Theo đánh giá của Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s (S&P), triển vọng đối với trái phiếu chính phủ Nhật Bản hiện ổn định và Nhật Bản “không quá gần” với khủng hoảng, ít nhất là trong ngắn hạn, nhờ 3 yếu tố cơ bản: (1) Cán cân

    Trang 17

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    thanh toán quốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối hơn 1000 tỷ USD; (2) Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân vẫn lớn hơn nợ công; (3) Đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nước nắm giữ. Do ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế, nên Chính phủ Nhật Bản sẽ chỉ gặp thách thức trong vấn đề vay nợ khi các nhà đầu tư trong nước không còn mặn mà với trái phiếu Nhật Bản. Những thế mạnh này đã giúp Nhật Bản giữ được thị trường trái phiếu bình ổn.

    Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giá bằng đồng yên. Nhật Bản không có nợ bằng ngoại tệ. Do đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (B0J) trở thành người bảo lãnh hiệu quả cho tất cả các khoản nợ của chính phủ Nhật Bản. Trong trường hợp xảy ra bán tháo trên thị trường trái phiếu chính phủ Nhật Bản, B0J có thể can thiệp và mua toàn bộ số trái phiếu bằng cách in thêm tiền. Khả năng tiền tệ hóa số nợ của B0J là không hạn chế.Hạn chế duy nhất đó là mức độ lạm phát mà Nhật Bản muốn duy trì.Tuy nhiên, khi mà Nhật Bản vẫn trong tình trạng giảm phát thì khả năng bảo vệ thị trường trái phiếu của B0J là có thể.

    Thứ hai, phần lớn nợ công Nhật Bản nằm trong tay các nhà đầu tư nội địa.

    Phần lớn nợ công của Nhật Bản (khoảng 95%) nằm trong tay các nhà đầu tư trong nước, nên Nhật Bản vẫn chưa phải trải qua những gì như ở Hy Lạp (năm 2010) và tránh được tác động bất lợi từ những biến động thất thường của thị trường tài chính thế giới. Bởi vậy, việc Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s (S&P) cắt giảm điểm tín nhiệm nợ công của Nhật Bản sẽ không có nhiều tác động xấu tới tình hình tài khóa của nước này, trừ khi Nhật Bản phải huy động vốn từ thị trường quốc tế. Khi đó, Nhật Bản buộc phải trả mức lãi suất cao hơn để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài và lãi suất vay nợ chính phủ cao sẽ kéo theo mức lãi suất cao mà các công ty và người tiêu dùng Nhật Bản phải trả. Lúc đó, điểm tín nhiệm nợ công sẽ có tác động mạnh hơn tới Nhật Bản, thay vì hầu như không có ảnh hưởng gì trong thời điểm hiện tại.Hơn nữa, Nhật Bản cũng là “chủ nợ” của nhiều nước. Theo số liệu cuối năm 2008 của Quỹ Tiền tệ quốc tế, tổng tài sản ở nước ngoài của Nhật Bản trị giá khoảng 5.700 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức nợ nước ngoài là 3.200 tỷ USD. Trong vị thế là nước cho vay, Nhật Bản đã giúp tăng lòng tin của nhà đầu tư và giảm các nguy cơ về tiền tệ. Nếu Nhật Bản khó khăn trong việc huy động tài chính trong nước thì họ có thể

    Trang 18

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sử dụng tài sản ở nước ngoài làm nguồn tài chính bổ sung. Thực tế thì Nhật Bản cũng thặng dư tài khoản vãng lai trong nhiều năm, qua đó, giúp dự trữ ngoại tệ tăng lên

    Thứ ba, lãi suất thấp nên chi phí nợ thấp hơn nhiều so với các nước khác.

    Điều này có được một phần là do chính sách tiền tệ của Nhật Bản. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) hạ lãi suất qua đêm liên ngân hàng (OCR) xuống mức 0,1% từ cuối năm 2008 để đối phó với cuộc khủng hoảng. Thậm chí cả trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu diễn ra, để kích thích nhu cầu, BOJ cũng đã giữ OCR ở mức bằng 0% hoặc gần bằng 0% trong nhiều năm. Trong 10 năm qua, OCR của Nhật Bản chưa bao giờ vượt quá mức 0,5%, một mức rất thấp so với hầu hết các nước.

    Thứ tư, hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật Bản hiệu quả và nguồn dự trữ ngoại tệ mạnh. Mặc dù tỉ lệ nợ công của Nhật Bản cao hơn 200% GDP, song chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của Nhật Bản chỉ vào khoảng 3,0, do vậy khả năng trả nợ không quá khó. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản cũng ở mức rất cao.Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, dự trữ quốc gia của Nhật Bản là 1.046,873 tỉ USD (tháng 5/2011). Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó có thể trở thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế./.

    2.4  Thực trạng khủng hoảng nợ công ở Mỹ

    2.4.1   Thực trạng khủng hoảng nợ công ở Mỹ

    Các chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới đã lên tiếng cảnh báo về nợ công của Mỹ sau khi Bộ Tài chính Mỹ vào ngày 4/9/2012 thông báo khoản nợ quốc gia của nước này đã lần đầu tiên vượt ngưỡng 16.000 tỷ USD (tương đương 104% GDP).

    Trang 19

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Đây là con số đáng báo động vì đã gần chạm mức 16.390 tỷ USD, trần nợ công mà chính quyền Mỹ hồi năm ngoái đã rất khó khăn mới tăng lên được.

    Nợ công tăng đã khiến mỗi người dân Mỹ phải gánh khoản nợ hơn 50.000 USD và đây là năm thứ tư liên tiếp ngân sách liên bang nước này bị thâm hụt trầm trọng. Thực trạng này đã trở thành đề tài nóng trên các mặt báo khi các đối thủ đảng Cộng hòa công kích khả năng điều hành nền kinh tế của ông chủ Nhà Trắng Barack Obama.

    1. Tỷ lệ nợ công trên GDP

    Theo Ủy ban Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO), tỷ lệ nợ trên GDP của nước Mỹ sẽ có xu hướng tăng trong những năm tới.

    Trong báo cáo triển vọng dài hạn, CBO dự báo, đến cuối năm 2012, nợ sẽ chiếm tương đương 70% GDP của Mỹ, cao nhất kể từ Thế chiến thứ II. Thậm chí, tỷ lệ nợ trên GDP của Mỹ sẽ lên 109% vào năm 2026, và gần 200% vào năm 2037, CBO nhận định. Nhiều chuyên gia kinh tế cảnh báo, khi nợ công vượt GDP, nó có thể gây ra khủng hoảng tài chính tương tự như châu Âu hiện nay. Khi đó, chính phủ sẽ phải cắt giảm chi tiêu, sa thải lao động, tăng lãi suất.

    Tuy nhiên, CBO cũng chỉ ra, Inếu các chính sách hiện thời tiếp tục được triển khai, trong đó có nâng thuế suất từ thời Tổng thống Bush, nợ sẽ tăng lên 73% trong năm nay, nhưng giảm dần xuống 61% vào năm 2022 và 53% năm 2037

    Trang 20

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công     Nhóm 4 – Đêm 3 – K22
                       
                       
    Bảng thống kê nợ một số quốc gia trên thế giới    
                       
        Quốc gia   Tổng nợ (USD) Nợ trên   Nợ bình quân Thay đổi so với  
          GDP   đầu người (USD) năm trước  
                 
                       
    1   Nhật Bản   12.642.984.699.454 220%   100.158,71 2%  
                       
    2   Mỹ   11.110.645.901.639 72%   35.433,93 14%  
                       
    3   Đức   2.795.357.923.497 83%   34.227,90 0%  
                       
    4   Italy   2.490.597.814.208 121%   40.893,97 -1%  
                       
    5   Pháp   2.316.762.295.082 89%   36.471,97 4%  
                       
    6   Anh   2.161.772.131.148 89%   34.307,32 11%  
           
                       
    7   Canada   1.516.260.109.290 87%   43.837,30 5%  
                       
    8   Brazil   1.302.275.956.284 54%   6.708,45 9%  
                       
    9   Trung   1.267.922.950.820 16%   955,61 17%  
      Quốc      
                     
                       
    10   Tây   Ban   998.658.469.945 72%   21.587,91 7%  
      Nha      
                     
                       
    11   Ấn Độ   942.687.431.694 49%   776,22 13%  
                       
    12   Hy Lạp   423.741.530.055 159%   37.501,57 -7%  
                       
    13   Australia   394.522.950.820 27%   17.334,49 7%  
                       
    14   Indonesia   217.795.081.967 25%   880,44 12%  
                       
    15   Thái Lan   170.985.792.350 47%   2.491,43 15%  
                       
    16   Malaysia   162.098.360.656 56%   5.612,28 16%  
                       
    17   Nga   156.985.245.902 8%   1.111,03 13%  
                       
    18   Nam Phi   141.275.409.836 36%   2.890,74 11%  
                       
    19   Philippine   121.373.224.044 50%   1.176,11 9%  
           
      s      
                     
                       
    20   Việt Nam   67.588.524.590 50%   756,92 11%  
                       
    21   Lybia   2.061.202.186 3%   343,63 -18%  
                       
    22   Estonia   1.538.797.814 7%   1.182,71 25%  
                       

    Trang 21

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Nếu xét trên tổng nợ quốc gia, Nhật Bản là nước dẫn đầu với hơn 12.642 tỷ USD, theo sau là Mỹ với trên 11.110 tỷ USD. Các nước châu Âu, đặc biệt là khu vực đồng euro, đều có mức nợ công cao như Đức (2.795 tỷ USD), Pháp (2.316 tỷ USD), Italy (2.490 tỷ USD) hay Anh (2.161 tỷ USD).

    1. Nợ nước ngoài của Mỹ

    Mỹ hiện đang thiếu nợ các đồng minh hơn 5 nghìn tỷ USD, đây cũng là số nợ nhiều nhất trong lịch sử mà Mỹ từng vay các đồng minh của mình.

    Theo thống kê do Bộ Tài chính Mỹ công bố, tính đến tháng 6/2012, Mỹ mắc nợ hầu hết các quốc gia lớn trên thế giới và các khoản nợ cũng đang tăng gấp đôi chỉ trong vòng vài năm.

    Tính đến tháng 6, lượng trái phiếu kho bạc Mỹ do các chủ nợ nước ngoài nắm giữ đã lên tới 5,3 nghìn tỷ USD, trong đó bao gồm 1.164,3 tỷ USD từ Trung Quốc và 1.119,3 tỷ USD từ Nhật Bản. Danh sách các nước từng cho Mỹ vay nợ còn kéo dài với những cái tên lớn như: Brazil, Đài Loan, Nga và Anh. Ngoài ra, Ấn Độ, Italia, Nam Phi và Peru cũng nằm trong danh sách này.

    Theo số liệu của Bộ tài chính Mỹ vừa công bố, tính đến tháng 10, nợ nước ngoài của chính phủ nước này lập kỷ lục mới hơn 5.482 tỷ USD, so với 5.476 tỷ USD tháng 9. Trung Quốc vẫn là chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ với hơn 1.161 tỷ USD. Những năm qua, Trung Quốc giảm dần lượng nắm giữ nợ của Mỹ, từ 1.256 tỷ USD cuối tháng 10/2011. Chủ nợ nước ngoài lớn thứ 2 là Nhật Bản với lượng nắm giữ nợ Mỹ là hơn 1.134 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái.

    Số tiền 5,3 nghìn tỷ USD mà Mỹ đang nợ các quốc gia bên ngoài hiện đã lớn hơn số tiền mà Washington cho các nước khác vay nợ, tính từ thời điểm tổng thống Barack Obama đặt chân vào Nhà Trắng. Chỉ 3,5 năm từ khi ông Obama nhậm chức, số nợ mà Mỹ vay nước ngoài đã tăng thêm 2,2 nghìn tỷ USD, hay 72,3%.

    Theo dự đoán của Bộ Tài chính, trong vài năm tới, số nợ mà Mỹ vay các đồng minh có thể lên tới hơn 9 nghìn tỷ USD. Theo hãng tin AP, nhu cầu vay nợ của Mỹ tăng mạnh trong thời gian qua chủ yếu do những lo ngại về tình hình tài chính của Liên minh châu Âu có thể xấu đi và không tránh khỏi nguy cơ sụp đổ.

    Chủ nợ lớn nhất của chính phủ Mỹ vẫn là Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) với gần 1.620 tỷ USD.

    Trang 22

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    1. Tình trạng thâm hụt ngân sách

    Hiện Mỹ đang phải đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách tương đương với 11% tổng sản phẩm quốc nội GDP trong năm 2011, một tỷ lệ lớn nhất trong nhóm G20.Cán cân thu chi ngân sách của chính phủ liên bang Mỹ trong tháng 10/2012 tăng khá mạnh, báo hiệu năm thứ năm liên tiếp thâm thủng ngân sách liên bang vượt quá 1.000 tỷ USD. Thông báo này được đưa ra đúng ngày Quốc hội Mỹ khóa 112 tái họp trong mâu thuẫn khi chỉ còn hơn hai tháng sẽ phải chuyển giao quyền lực cho Quốc hội khóa 113 vừa được bầu lên ngày 6/11/2012.

    Báo cáo ngày 13/11/2012 của Bộ Tài chính Mỹ cho biết trong tháng 10/2012, tháng đầu tiên của tài khóa 2013, tổng thu ngân sách của Chính phủ Mỹ đạt 184,3 tỷ USD, tăng 13% so với mức thu 163 tỷ USD cùng kỳ năm trước.

    Trong khi đó, tổng chi ngân sách trong tháng tăng tới 16,4%, lên 304,3 tỷ USD so với mức chi 262 tỷ trong tháng 10/2011. Như vậy, cán cân thu chi ngân sách trong tháng bị thâm hụt 120 tỷ USD, cao hơn mức dự báo 114 tỷ USD của các chuyên gia kinh tế và tăng tới 22% so với mức thâm hụt 98 tỷ USD cùng tháng năm 2011.

    Với tốc độ tăng mạnh của tháng đầu tiên, các chuyên gia dự báo tổng thâm hụt ngân sách của Mỹ trong tài khóa 2013, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/10/2012, cũng sẽ ở mức trên 1.000 tỷ USD. Đây sẽ là năm thứ 5 liên tiếp, cán cân thu chi ngân sách của Mỹ vượt 1.000 tỷ USD, đổ thêm gánh nặng vào khoản nợ quốc gia đã sắp vượt trần 16.400 tỷ USD.

    Tổng thâm hụt ngân sách của Mỹ tài khóa 2012, vừa kết thúc ngày 31/9/2012, là 1.089 tỷ USD so với 1.297 tỷ USD của tài khóa 2011 và 1.410 tỷ USD năm 2009 khi Tổng thống Barack Obama lên cầm quyền nhiệm kỳ đầu tiên.

    Biểu đồ dưới đây thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP với tỷ lệ thất nghiệp:

    Trang 23

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Trong 3 thập kỷ qua, các chính sách thuế và chi tiêu đã thay đổi rất nhiều.Tuy nhiên, điều này không quan trọng.Khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống, tỷ lệ thâm hụt/GDP cũng giảm và ngược lại.

    Nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ công ở Mỹ:

    Nợ công của Mỹ đang tiến dần đến mức 16.390 tỷ USD, mức trần nợ công mà Chính phủ Mỹ đã phải rất chật vật mới nâng lên được vào năm 2011. Sau công bố của Bộ Tài chính Mỹ, ngày 9/9/2012, nhà kinh tế trưởng của tổ chức Blackhorse Asset Mgmt, cựu chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), ông Richard Duncan đã lên tiếng cảnh báo khoản nợ trên đang đẩy nước Mỹ vào một tình thế nguy hiểm, có thể dẫn tới một cuộc khủng hoảng mới nghiêm trọng tới mức khó kiểm soát.

    Trên thực tế, vấn đề này cũng đang được Đảng Cộng hòa tận dụng để chỉ trích đương kim Tổng thổng Barack Obama trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Đảng Cộng hòa cho rằng ông B. Obama không có khả năng điều hành kinh tế, rằng chính các gói kích cầu của tổng thống đang làm quả bóng nợ phình to, khiến cho nền kinh tế kiệt quệ. Tuy nhiên, nói một cách công bằng thâm hụt ngân sách, nợ công không phải bắt đầu từ

    Trang 24

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    nhiệm kỳ của ông Obama mà có nguồn gốc thời Tổng thống George Bush (với chính sách cắt giảm thuế mạnh tay cho người giàu trong suốt hai nhiệm kỳ và sau đó là chi phí khổng lồ cho hai cuộc chiến tại Afghanistan, Iraq). Thâm hụt ngân sách của Mỹ thực chất đã bắt đầu từ năm 2000. Tám năm sau đó, Chính phủ nước này tăng chi tiêu tới 6,6%, trong khi nguồn thu ngân sách chỉ tăng có 2,8%. Đến khi B. Obama lên nhậm chức, chi tiêu công tăng 6,2% còn thu ngân sách giảm 0,5% – do hậu quả của suy thoái kinh tế.

    Khi ông B.Obama tiếp quản Nhà Trắng, nợ công của Mỹ đã đạt 10.600 tỷ USD.Trong bốn năm cầm quyền của ông Obama (từ 2008 đến 2012), đã có tới ba năm kinh tế toàn cầu rơi vào suy giảm trầm trọng.Chính quyền của Tổng thống Obama đã phải viện đến các gói cứu trợ dành cho giới công nghiệp và giới tài chính Phố Wall.Tuy nhiên, các biện pháp này đã không giúp cải thiện tình hình. Kinh tế Mỹ vẫn không hề khởi sắc và nợ công thì liên tục tăng (đã tăng thêm 5,4 nghìn tỷ USD nữa).

    Giải pháp khắc phục tình trạng nợ công ở Mỹ:

    Nền kinh tế lớn nhất thế giới đang cận kề nguy cơ chạm mức trần nợ công ngay trong năm 2012. Giải pháp cấp bách hiện tại để giảm mức thâm hụt ngân sách là thông qua việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế hoặc kết hợp cả hai phương án trên. Tuy nhiên, nhìn từ mọi góc độ thì nhiệm vụ trên là hết sức nặng nề. Nguồn thu ngân sách của Chính phủ phải tăng từ 20-30% trong khi chi tiêu cũng phải được cắt giảm ở mức tương đương.

    Thực tế, có 45% số hộ gia đình tại Mỹ không phải đóng thuế và có 3% số người thu nhập cao đóng góp tới 52% tổng số các loại thuế. Do đó, một cuộc “đại phẫu” về chính sách thuế là cần thiết. Tuy nhiên, cải cách chính sách thuế sẽ là một phương án không khả thi khi các chính trị gia đang ra sức lấy lòng cử tri.

    Giới phân tích nhận định, nợ công leo thang đồng nghĩa với việc các nhà hoạch định chính sách cũng như bất cứ ứng cử viên nào, cho dù người của Đảng Dân chủ – Tổng thống B.Obama, hay người của Đảng Cộng hòa – ứng viên Mitt Romney, giành được chiến thắng trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng sắp tới, cũng sẽ phải thông qua đạo luật nâng mức trần nợ công của Chính phủ Mỹ vào cuối năm nay. Trong trường hợp Quốc hội nước này không thống nhất được việc nâng trần nợ công, thì một loạt “biện

    Trang 25

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    pháp đặc biệt” sẽ được thực thi nhằm tránh nguy cơ buộc Chính phủ phải ngừng hoạt động, ít nhất cho đến đầu năm 2013.

    2.4.2   Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công Mỹ:

    Cũng tương tự châu Âu, chính quyền Mỹ đã ‘vung tay quá trán’ và tạo nên cuộc khủng hoảng nợ công. Ngay từ thời cựu Tổng thống George W. Bush, số nợ đã hơn 10.000 tỷ USD; thời của Tổng thống Obama con số này đã là 13.600 tỷ USD.

    Về nguyên nhân cụ thể, ngoài Chương trình cải tổ hệ thống y tế quốc gia, nước Mỹ còn phải chịu gánh nặng về bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm vỡ nợ, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 2008. Chi tiêu cho các gói kích thích kinh tế với hơn 900 tỷ USD nhưng không mấy hiệu quả, trong khi nguồn thu vẫn bị thu hẹp do tác động từ suy thoái kinh tế cũng là nguyên nhân làm bội chi ngân sách.

    Mặt khác phải kể đến là chi tiêu cho các cuộc chiến ở Iraq, Afghanishtan, Libya cũng tác động không nhỏ đến nợ công và sự phục hồi kinh tế của Mỹ. Chỉ tính riêng chi tiêu cho hai cuộc chiến ở Iraq, Ápganixtan, Mỹ đã tốn gần 4 tỷ USD. Bội chi ngân sách, mức trần nợ công dâng lên đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế: Đồng USD mất giá làm cho các chỉ số niềm tin cả trong và ngoài nước suy giảm, đồng USD không đi vào sản xuất kinh doanh mà tìm nơi trú ẩn là vàng, làm cho giá vàng tăng vọt… Như vậy, lạm phát, giá cả tăng, thất nghiệp luôn ở mức cao, số việc làm tạo ra không đáp ứng nhu cầu, đời sống nhân dân giảm sút, uy tín quốc tế của Mỹ suy giảm… đó là hậu quả mà nền kinh tế Mỹ đang phải gánh chịu.

    2.5      Tác động nợ công của Mỹ

    2.5.1   Đối với nền kinh tế Mỹ

    Nợ công tăng đã khiến mỗi người dân Mỹ phải gánh khoản nợ hơn 50.000 USD và đây là năm thứ tư liên tiếp ngân sách liên bang nước này bị thâm hụt trầm trọng. Thượng nghị sĩ Jeff Sessions thuộc Ủy ban Ngân sách thượng viện cho biết: “Đây thực sự là bước ngoặt nghiệt ngã với nước Mỹ”. Ước tính, mỗi ngày nợ Mỹ tại tăng thêm 3,5 tỷ USD, tương đương 2 triệu USD mỗi phút, ông Sessions cho biết. Năm 2012 cũng là năm thứ 4 liên tiếp ngân sách nước Mỹ thiếu hụt 1 nghìn tỷ USD. Cố vấn hàng đầu của tổng thống Obama, ông David Axelrod, mới đây cho biết mặc dù người đứng đầu nước Mỹ đang khẩn cấp lên kế hoạch thích hợp để ổn định nợ, song cũng không thể làm giảm nó.

    Trang 26

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Giám đốc điều hành tổ chức phi chính phủ Concord Coalition, ông Robert Bixby, cho biết: “Nợ quốc gia như một quả bom hẹn giờ, nếu không thể đưa ra cách giải quyết, nó sẽ nổ tung. Nước Mỹ hiện nay đang phải chi khoảng 200 tỷ USD để trả lãi. Số tiền đó thậm chí còn nhiều hơn các hoạt động tại Afghanistan hay cho dịch vụ y tế”.

    Nền kinh tế lớn nhất thế giới đang cận kề nguy cơ chạm mức trần nợ công ngay trong năm 2012. Giải pháp cấp bách hiện tại để giảm mức thâm hụt ngân sách là thông qua việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế hoặc kết hợp cả hai phương án trên. Tuy nhiên, nhìn từ mọi góc độ thì nhiệm vụ trên là hết sức nặng nề. Nguồn thu ngân sách của Chính phủ phải tăng từ 20-30% trong khi chi tiêu cũng phải được cắt giảm ở mức tương đương. Thực tế, có 45% số hộ gia đình tại Mỹ không phải đóng thuế và có 3% số người thu nhập cao đóng góp tới 52% tổng số các loại thuế. Do đó, một cuộc “đại phẫu” về chính sách thuế là cần thiết.

    Với tình hình khủng hoảng nợ công như hiện nay, nước Mỹ sẽ rơi vào tình trạng không có khả năng thanh toán, vỡ nợ, lãi suất trái phiếu liên bang tăng cao, đồng USD tiếp tục mất giá, lạm phát, giá cẩ tăng, thất nghiệp luôn ở mức cao, kinh tế suy thoái, bộ máy công quyền đình trệ, phúc lợi xã hội và lương hưu không được chi trả kéo theo mất ổn định chính trị xã hội nội bộ, đời sống nhân dân giảm sút… Đồng thời, vị thế của nước Mỹ trên thế giới sẽ bị suy giảm do đó việc bị đánh tụt thứ hạng xếp bậc tín nhiệm là không tránh khỏi. Dù các hãng xếp hạng tín dụng của Mỹ đều giữ mức tín nhiệm của nền kinh tế Mỹ là AAA nhằm trấn an thị trường Mỹ nói riêng và thế giới nói chung, nhưng hãng xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Trung Quốc Dagong cho biết đã hạ mức tín nhiệm của Mỹ sau khi trần nợ công của nền kinh tế lớn nhất thế giới này được nâng lên. Theo đó, chỉ số tín nhiệm của Mỹ đã bị hạ từ mức A+ xuống mức A cùng triển vọng tiêu cực.

    Nợ công cũng đã làm suy giảm uy tín, vị thế của nước Mỹ trong thời gian gần đây. Việc Standard & Poor’s hạ mức tín nhiệm AAA của Mỹ xuống còn AA+ đã gây ra nhiều hệ lụy đối với nền kinh tế Mỹ. Hệ quả trực tiếp đối với thị trường đầu tư Mỹ là việc tăng lãi suất tín dụng và giảm giá của trái phiếu, điều này đồng nghĩa với việc lợi nhuận của trái phiếu sẽ giảm theo. Như vậy, về dài hạn, các nhà đầu tư rất có thể sẽ không còn thấy sức hấp dẫn của trái phiếu từ đó chuyển tiền đầu tư vào trái phiếu Mỹ sang một kênh đầu tư khác hiệu quả hơn. Việc mất hạng tín nhiệm AAA sẽ kéo theo

    Trang 27

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sự mất điểm xếp hạng của cơ quan phát hành trái phiếu khác vẫn được đánh giá AAA như các bang, hạt, bệnh viện, các trường đại học của Mỹ… Thêm vào đó là việc định giá lại các tài sản của Mỹ, dẫn đến hệ quả là khả năng vay tiền với lãi suất thấp của Mỹ sẽ giảm mạnh trong khi đa số các khoản vay của Mỹ là từ nước ngoài.

    2.5.2   Đối với nền kinh tế thế giới

    Vấn đề nợ công của nước Mỹ còn có thể tác động sâu rộng hơn thế rất nhiều bởi vì Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và mọi biến động ở đó dù theo chiều hướng nào thì cũng đều tác động mạnh mẽ tới các nền kinh tế khác và tới kinh tế thế giới nói chung. Mặt khác đồng đô la Mỹ vẫn có vai trò của đồng tiền chủ đạo trên thị trường tài chính và tiền tệ, trong quan hệ thương mại và trong tiêu dùng không chỉ ở Mỹ nên mọi chiều hướng tăng hay giảm giá của nó cũng kéo theo hậu quả và hệ lụy đối với tất cả các khu vực khác trên thế giới.Vấn đề nợ công ở Mỹ và châu Âu đang bao phủ “những đám mây đen” trên bầu trời kinh tế thế giới. Kinh tế thế giới bị ảnh hưởng theo, nhịp độ phục hồi và tăng trưởng kinh tế bị giảm, thị trường tài chính mất ổn định. Nhiều nhà kinh tế còn lo ngại rằng hậu quả và tác động của việc này còn tai hại hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua. Cụ thể là:

    Phát biểu tại một trại hè thanh niên ở gần thủ đô Moscow ngày 2-8-2011, Thủ tướng Nga Vladimir Putin buộc tội Mỹ là một “kẻ ăn bám” đối với nền kinh tế toàn cầu. Ông Putin chỉ trích: “Họ (nước Mỹ) đã chi tiêu quá đà và sau đó chuyển một phần gánh nặng của họ lên nền kinh tế thế giới. Nợ Mỹ đang treo trên đầu thế giới”. Ông nhấn mạnh: “Nếu Mỹ gặp trục trặc hệ thống, điều này sẽ ảnh hưởng đến tất cả các nền kinh tế khác”.

    Trước đó, giới chức ở Anh và Nhật Bản cũng cho rằng nước Mỹ vỡ nợ có thể ảnh hưởng xấu đến các hộ gia đình và doanh nghiệp trên toàn thế giới.Các thị trường có thể rơi vào hỗn độn như khi Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers sụp đổ vào tháng 9-2008.Các quan chức Nhật Bản còn hy vọng, Mỹ sẽ ưu tiên thanh toán lãi suất cho các trái chủ quốc tế nhằm hạn chế tác động trực tiếp lên các thị trường.

    Với khoảng 3000 tỷ USD dự trữ ngoại tệ nắm giữ dưới hình thức trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, trong đó riêng Trung Quốc và Nhật Bản đã sở hữu tổng cộng trên 2000 tỷ USD, rõ ràng châu Á sẽ là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp nếu Mỹ rơi vào tình trạng vỡ nợ. Đối với Trung Quốc, quốc gia “chủ nợ” lớn nhất của Mỹ, tiếp tục mua thêm

    Trang 28

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    7,3 tỷ USD trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ trong tháng 5 vừa qua, đánh dấu tháng tăng thứ hai liên tiếp sau 5 tháng sụt giảm. Giới chuyên gia cho rằng, chính Trung Quốc đã tự đẩy mình vào “thế khó” để bảo vệ quyền lợi kinh tế của riêng mình.

    Cơ quan xếp hạng tín dụng S&P đã hạ mức tín nhiệm AAA của Mỹ xuống hạng AA+, do lo ngại về thâm hụt ngân sách, nâng trần nợ công của nền kinh tế lớn nhất thế giới.Không những thế S&P còn giảm mạnh dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ xuống còn 2% hoặc ít hơn trong nửa cuối năm nay, so với mức dự báo 3,5% GDP cách đây một tháng, đồng thời đánh giá nguy cơ kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái mới là hơn 30%. Ðây là lần đầu kể từ năm 1941 đến nay, một tuyên bố của S&P đã tạo ra một cú sốc kinh tế lớn, đe dọa vỡ nợ tại Mỹ (khối lượng công trái Mỹ đã lên tới 9.340 tỷ USD; nợ chính phủ theo đồng hồ đo nợ đã lên hơn 14.000 tỷ USD). Phản ứng dây chuyền tiếp theo là thị trường chứng khoán châu Á, châu Âu giảm mạnh; chỉ số Dow Jones sụt giảm 643,76 điểm trong ngày, hơn 5%; giá dầu tụt giảm sâu, giá vàng tăng chóng mặt, tăng trưởng GDP thế giới đối diện với nguy cơ suy thoái trở lại… đang thổi bùng lên các cuộc tranh luận về nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu mới.

    Trong bối cảnh không thuận lợi về kinh tế vĩ mô, hầu hết các TTCK trên thế giới đã đi vào giai đoạn suy giảm đáng kể trong năm 2011. Các chỉ số chính trên thị trường đạt tới mốc ngang bằng với thời điểm đầu năm 2008 – ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế trên quy mô rộng. Tuy nhiên, những tác động từ cuộc khủng hoảng nợ công trong nước và ở châu Âu, yếu kém của nền kinh tế Mỹ và hậu quả của các sự kiện chính trị – xã hội tại Bắc Phi, Trung Á và Nhật Bản đã khiến giá cổ phiếu trên TTCK Mỹ chuyển sang giai đoạn suy giảm trong cả tháng 5 và tháng

    1. Trong tháng 5 và 6, các chỉ số chính trên TTCK Mỹ đều giảm từ 4-5%. Có thể nhận thấy, hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Mỹ đang có xu hướng suy giảm và là rào cản đối với triển vọng phục hồi của nền kinh tế Mỹ. Tương tự như thị trường Mỹ, diễn biến TTCK châu Âu trong quý II cũng có 3 giai đoạn biến động với một giai đoạn tăng trưởng xen kẽ giữa hai giai đoạn suy giảm. Trong cả quý II, chỉ số Euro Stoxx 50 giảm 8,1%. Đến cuối quý III, chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 4,04% so với đầu tháng; chỉ số CAC 40 của Pháp giảm 6,5% và chỉ riêng chỉ số DAX của Đức tăng 1,37%. Vấn đề lớn nhất đối với thị trường châu Âu trong thời gian qua lại không phải là những yếu kém về tăng trưởng kinh tế mà lại nằm ở nguy cơ của cuộc khủng hoảng nợ công tại

    Trang 29

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    các nước trong khu vực. Khác với thị trường Mỹ và châu Âu, thị trường các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương lại có xu hướng đi ngang hoặc điều chỉnh giảm ngay từ đầu quý II.. Trong đó, các thị trường suy giảm mạnh nhất là Ấn Độ, Trung Quốc và Úc với nguyên nhân chính là suy giảm tăng trưởng và lạm phát có xu hướng tăng cao.

    Ngày 2-8-2011, Mỹ thống nhất nâng trần nợ công lên 16,4 nghìn tỷ USD và kèm theo, Tổng thống Barack Obama phải cam kết cắt giảm khoảng 4 nghìn tỷ USD để chỉnh đốn tài khóa. Việc nâng trần nợ công có thể tránh một cuộc đổ vỡ cho Mỹ nhưng lại làm trầm trọng thêm thâm hụt ngân sách và nợ nần.Điều này đồng nghĩa với việc Mỹ tiếp tục xả thêm USD ra thị trường, khiến cho đồng tiền này mất giá so với các tài sản khác…Những tác động trên khiến nhà đầu tư phải tìm hướng trú ẩn tài sản vào vàng, khiến giá vàng thế giới phục hồi rất nhanh đồng thời động thái này làm cho giá vàng trong nước trong năm 2011 diễn biến bất thường, có thời điểm còn tăng mạnh cao hơn giá vàng thế giới. Khi trần nợ công của Mỹ được nới lên, giá vàng từ 1.680 USD/oz tụt xuống dưới 1.650 USD/oz, nhiều người cứ nghĩ là vàng sẽ xuống 1.600 USD/oz, nhưng thực sự là nó đã lại lên 1.700 USD/oz.Trên sàn Comex, Giá vàng giao ngay tại Mỹ tăng 17,82 USD tương đương 0,9% lên 1.900,7 USD/oz. Trước đó giá chạm 1.903,52 USD/oz, chỉ kém 10 USD/oz so với giá kỷ lục đạt được ngày 23/8. Trong

    phiên giá có lúc lên tới 1.908,4 USD/oz.

    Trang 30

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.6 Tác động của cuộc khủng hoảng nợ công khu vực đồng tiền chung Châu Âu.

    2.6.1   Tác động đến các nước trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu

    Tỷ lệ thất nghiệp đạt mức kỷ lục: Theo cơ quan thống kê Liên minh châu Âu công bố ngày 8/1/2013, tỷ lệ thất nghiệp tại Khu vực đồng tiền chung châu Âu trong tháng 11/2012 đã tăng lên mức cao kỷ lục là 11,8%, khoảng 19 triệu người, tăng hơn 2 triệu người so với cùng kỳ năm 2011.

    Trang 31

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Tỷ lệ thất nghiệp Eurozone giai đoạn tháng 8/2002 đến 8/2012

    Tây Ban Nha là quốc gia có số người thất nghiệp cao nhất trong số các nước Eurozone với tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 11 lên tới 26,6%, tăng 3,6% so với cả năm 2011 và còn cao hơn cả Hy Lạp.

    Tỷ lệ thất nghiệp tại Italia cũng duy trì ở mức cao kỷ lục 11,1% – tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2011, trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở giới trẻ cũng chạm đỉnh ở mức 37%. Áo là quốc gia có số người thất nghiệp thấp nhất với 4,5%, tiếp đó là Lúcxămbua 5,1% và Đức 5,4%.

    Như vậy, tình trạng thất nghiệp tại Eurozone hiện vẫn tồi tệ hơn so với tại Mỹ và Nhật Bản. Trong tháng 11 vừa qua, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ là 7,8%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản là 4,1%

    Trang 32

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Tỷ lệ thất nghiệp ở Eurozone Qúy 2/2012

    Tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ gây ra nhiều bất bình trong xã hội, ảnh hưởng tới chính trị và gây những phản ứng bất lợi cho các thị trường tài chính.

    Đồng Euro mất giá: Cuộc khủng hoảng nợ công ở Eurozone đã làm cho đồng Euro liên tục mất giá, tính đến ngày 1/8/2012 đồng euro giao dịch ở mức 1,2291 USD đổi 1 euro.

    Nguyên nhân khiến đồng Euro mất giá kỷ lục so với đồng USD là do chính sách lãi suất thấp mà Ngân hàng trung ương châu Âu ECB đang thực hiện và việc khu vực châu Âu đang tung vào thị trường hàng tỷ euro cho các gói cứu trợ tài chính. Bên cạnh đó, trên thực tế các thị trường vẫn hoài nghi về mức độ thành công của giải pháp ngăn ngừa cuộc khủng hoảng nợ lan rộng ra khu vực đồng tiền chung.

    Sự xuống dốc của đồng Euro là một dấu hiệu cho sự đổ vỡ của khối Eurozone. Doanh nghiệp nhập khẩu sẽ gặp khó khăn bởi chi phí nhập hàng hóa sẽ tăng, nhất là với nguyên vật liệu sản xuất. Bên cạnh đó nó cũng có những dấu hiệu tích cực cho Eurozone như là:

    Trang 33

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Các doanh nghiệp xuất khẩu của châu Âu sẽ được hưởng lợi. Giá cả các mặt hàng xuất khẩu sẽ giảm trên thị trường, qua đó củng cố sức cạnh tranh của hàng hóa. Khi bán được hàng, hệ quả tiếp theo sẽ là có thêm nhiều việc làm cho người dân châu Âu. Các nền kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, như Đức, sẽ nâng cao được tính cạnh tranh.Tương tự như vậy, các quốc gia mà ngành công nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn, nhất là Italia (chiếm khoảng 17% GDP), cũng gia tăng được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    Giúp hạ chi phí sản xuất: Đó có thể là những điểm hấp dẫn các nhà đầu tư tiếp tục làm ăn và mở rộng kinh doanh

    Lạm phát tăng cao: Theo cơ quan thống kế của Liên minh châu Âu, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của 17 nước thuộc khu vực đồng euro (eurozone) trong tháng 9 tăng 2,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Kinh tế trưởng khu vực eurozone tại UniCredit Global Research, ông Marco Valli, cho biết: “Lạm phát tăng mạnh hơn so với dự đoán, chủ yếu do giá cả hàng hóa tăng cao và hoạt động đánh thuế gián tiếp”.

    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): của Eurozone đã giảm liên tiếp trong hai quý cuối năm 2011 và quý đầu năm 2012, lần lượt ở mức 0,3% và 0,2%. Ðức – nền kinh tế số một Eurozone, tuy tăng trưởng 0,1% trong quý 1/2012, nhưng vẫn không đủ bù đắp cho sự sụt giảm của toàn khu vực.

    Tình hình thất nghiệp và lạm phát tăng cao, đồng Euro mất giá, tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực tế người dân và cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh.

    Thâm hụt Ngân sách nhà nước và chi tiêu công, cũng như sự mất giá của trái phiếu chính phủ, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đã làm tổn thất hàng ngàn tỷ USD thu nhập tài chính của các nước thành viên EU, làm suy giảm nặng nề thêm nền kinh tế khu vực, cũng như thị trường tài chính-tiền tệ khu vực và thế giới, khiến nhiều chính trị gia mất ghế, gây nhiều tranh cãi và những chi phí giải cứu tốn kém hàng trăm tỷ Euro.

    Khủng hoảng ngân hàng trở thành nỗi lo mới: khủng hoảng ngân hàng đã nổi lên là nguy cơ mới đối với sự liên kết của khu vực đồng euro và Liên minh châu Âu (EU).

    Trang 34

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.6.2 Tác động đến các nước trên thế giới Tốc độ phục hồi kinh tế thế giới chậm lại.

    Khủng hoảng nợ công ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty trên toàn cầu. Suy thoái kinh tế đã ảnh hưởng tới ít nhất 8 trong 17 nước trong khu vực đồng tiền chung euro là nguyên nhân chính làm suy giảm nhu cầu đối với tất cả các loại hàng hóa. Việc giảm biên chế khoảng 150.000 việc làm trong khu vực nhà nước và cắt giảm tới 11,5 tỷ euro (14,5 tỷ USD) ngân sách nhà nước đã kiềm chế chi tiêu của cả người tiêu dùng lẫn các doanh nghiệp. Đó là nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận của các công ty trên toàn cầu sẽ giảm.

    Làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các đối tác thương mại của các nước trong khối eurozone điển hình như các nước Bắc Âu: Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển.

    Châu Á: Nền kinh tế toàn cầu bị trì trệ làm cho giá cả hàng hóa giảm và việc xuất khẩu sang khu vực Châu Âu của các nước bị thiệt hại đặc biệt là khu vực Châu Á, do Châu Âu là khách hàng lớn của các nước trong khu vực Châu Á.

    Các dòng chảy tài chính cũng sẽ bị ngưng đọng. Với thực tế rằng khu vực Đông Nam Á phụ thuộc khá lớn vào dòng đầu tư nước ngoài để tăng trưởng, nên việc các nền kinh tế phát triển trên thế giới áp dụng chính sách khắc khổ sẽ đẩy khu vực vào tình trạng khan hiếm về vốn đầu tư.

    Mỹ: Các ngân hàng thương mại ở Mỹ có sự liên kết chặt chẽ với các ngân hàng

    • châu Âu và do đó phải đối diện với các nguy cơ lây lan trực tiếp từ các ngân hàng EU. Chính những định chế tài chính lớn nhất Hoa Kỳ lại đang sở hữu hàng tỉ USD nợ

    xấu từ cả năm quốc gia đang gặp khốn đốn bao gồm Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland, Ý và Tây Ban Nha

    Khối eurozone từ lâu đã là một thị trường xuất khẩu lớn nhất đối với Mỹ. Do khủng hoảng nên nhu cầu đối với các sản phẩm từ Mỹ sẽ giảm. Khủng hoảng nợ công của Châu Âu cũng làm ảnh hưởng đến thị trường tài chính của Mỹ. Giá cổ phiếu Mỹ đã sụt giảm đáng kể từ đầu tháng 5 năm nay, chính là bắt nguồn từ những lo ngại gia tăng về tương lai của Eurozone.

    Trang 35

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.6.3   Tác động đến Việt Nam

    1. Xuất khẩu giảm

    Theo những số liệu tính toán từ mô hình ước lượng cho thấy, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu sẽ có những tác động tiêu cực đến xuất khẩu và tăng trưởng GDP của Việt Nam, với mức suy giảm khoảng 1,7% GDP trong năm 2010.

    Cần có những chính sách phản ứng kịp thời hỗ trợ xuất khẩu thì triển vọng trung hạn đối với xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.

    1. Chi phí cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam giảm: do lãi suất ở

    các nước thấp, lãi xuất ở Việt Nam cao.

    Do lo ngại tác động tiêu cực từ khủng hoảng nợ công, nhiều ngân hàng trung ương các nước phát triển vẫn duy trì mức lãi suất sàn thấp lịch sử nhằm kích thích sự phục hồi kinh tế và chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định. Lãi suất cơ bản tiệm cận 0% hầu hết các nước: FED (Mỹ): 0,25%; ECB (EU): 1%; BOE (Anh): 0,5%; Nhật Bản 0,1%. Ngược lại ở Việt Nam, lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao.

    1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài suy giảm

    Khủng hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra hai tác động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu. Trong những quốc gia có trình độ phát triển tương đương với các nước thuộc EU sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI sẽ dịch chuyển từ châu Âu sang các quốc gia này khi nhà đầu tư muốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao tại các quốc gia châu Âu.

    Ngược lại, các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam lại hoàn toàn không được hưởng lợi từ việc dịch chuyển luồng vốn FDI khỏi châu Âu do sự chênh lệch quá lớn về trình độ công nghệ, trong khi luồng vốn từ các nhà đầu tư châu Âu vào các quốc gia này giảm sút do cuộc khủng hoảng nợ.

    1. Giá vàng bùng nổ hút vốn đầu tư

    Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi trú ẩn an toàn trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm cho giá vàng trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều này phản ánh nhu cầu về dự trữ an toàn hơn so với đồng tiền giấy, sau khi nhiều cá nhân và tổ chức ở châu Âu, châu Á đua nhau mua vàng, mua bạch kim và bạc.

    Trang 36

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Việc giá vàng tăng cùng với xu hướng tăng mạnh của đồng USD là điều ít khi xảy ra. Rất có thể sẽ tăng tới một kỷ lục mới trong thời gian tới và tạo sự tách biệt hoàn toàn giữa giá tài sản vàng và các tài sản khác.

    Điều này sẽ tác động xấu đến đầu tư toàn thế giới và Việt Nam bởi một khi vàng chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của các tổ chức thì cũng đồng nghĩa với việc các danh mục khác như cổ phiếu, trái phiếu sẽ bị giảm mạnh.Như vậy, luồng vốn đầu tư gián tiếp càng trở nên hạn chế.

    1. Bảo hiểu rủi ro tín dụng (CDS) xu hướng tăng lên

    Vấn đề Hy Lạp đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới càng trở nên thận trọng hơn với các quốc gia có vấn nạn tương tự: 3 số liệu cảnh báo bao gồm: nợ quá nhiều, thể hiện ở tỷ lệ nợ trên GDP cao; chi tiêu quá mức, thể hiện ở mức thâm hụt ngân sách lớn so với GDP; và tốc độ tăng trưởng GDP sụt giảm.

    Hệ quả là Việt Nam với tỷ lệ nợ cao, thâm hụt ngân sách triền miên đang bị các tổ chức tài chính quốc tế xếp vào mục rủi ro cao, với mức CDS là 263, xếp ngay trên Hy Lạp (321) và Iceland (466). Điều này sẽ là một cản trở rất lớn trong việc thu hút các luồng vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và cho vay từ nước ngoài.

    1. Tăng rủi ro hối đoái và biến động tỷ giá

    Khủng hoảng nợ châu Âu cũng tạo ra những biến động khó lường về tỷ giá. Đồng USD và đặc biệt là đồng Yên sẽ tiếp tục đà tăng mạnh so với đồng Euro do tính an toàn từ phía các đồng tiền này. Từ khi cuộc khủng hoảng có dấu hiệu nghiêm trọng, đồng Euro mất giá tương đối so với USD.

    Sang tháng 6,/2010, tỷ giá USD/Euro chỉ còn 1,19, rất thấp so với mức xấp xỉ 1,4 của đầu tháng 3, do đó sẽ tạo ra những rủi ro nhất định trong việc vay, trả ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như cho hoạt động ngoại hối của các ngân hàng thương mại.

    Ngoài ra, đồng USD tăng giá mạnh trong khi thâm hụt thương mại của Việt Nam đang gia tăng, cộng với thời điểm đáo hạn của các khoản vay tín dụng ngoại tệ, sẽ gia tăng sức ép tăng rủi ro hối đoái và biến động tỷ giá vào các tháng cuối năm 2010.

    Trang 37

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    • Thực trạng nợ công ở Việt Nam và giải pháp

    3.1 Thực trạng nợ công ở Việt Nam

    3.1.1  Nguy cơ vượt ngưỡng an toàn và những rủi ro tiềm ẩn

    Nợ công theo chuẩn quốc tế được hiểu là nợ của chính phủ cộng thêm nợ do chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương và nợ của doanh nghiệp nhà nước. Trong cách tính của Việt Nam lại không coi nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một phần của nợ công, do vậy mà một khoản nợ lớn của khối này đã không được tính vào nợ quốc gia.

    Để đo lường quy mô nợ công của một quốc gia, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu % so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và từ đó tiến hành những phân tích về tính bền vững và hiệu quả của chúng.

    Theo công bố của Tạp chí Kinh tế The Economist, tỷ lệ nợ công năm 2011 của Việt Nam là 50,9% GDP, dự kiến năm 2012 tỷ lệ này là 55,4%. Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 60% GDP theo cách tính chỉ tiêu tỷ lệ nợ công trên GDP của Liên hiệp quốc) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến được khuyến cáo ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và so với một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc (17,4%), Indonesia (25,6%).

    Bảng 1: Tỷ lệ nợ công/GDP từ năm 2001 đến năm 2012

    Năm 2001 2002 2003     2004 2005   2006 2007 2008 2009   2010 2011 2012
                                                                                                                (f)
                                                                                                             
    %GDP 36 38.2 41.1     42.7 44       45.9 49.7 47.9     51       56.7   50.9 55.4
                             
    Nguồn: EIU                                                                                                          
                                                                                                       
                Tỷ lệ nợ công/GDP Việt Nam qua các năm                                    
                                                                                                         
        60%                                                       56.70% 50.90% 55.40%        
                                                              51%                  
                                        49.70% 47.90%                                        
                                                                               
                                                                                         
        50% 36% 38.20% 41.10% 42.70%   44% 45.90%                                                                  
                                                                           
                                                                           
                                                                                     
        40%                                                                                        
                                                                                               
                                                                                                       
                                                                                                               
                                                                                                               

    30%

    20%

    10%

    0%

    2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012

    (f)

    Năm

    Trang 38

      Đề tài: Khủng hoảng nợ công       Nhóm 4 – Đêm 3 – K22
                       
                         
      Bảng 2:Nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2002-2011    
                         
      Năm GDP Nợ chính phủ Nợ được CP   Tổng nợ NNCP  
        (Tỉ đồng)     bảo lãnh        
                         
          Tốc độ (%) Tốc độ (%)   Tốc độ (%)  
          tăng năm GDP tăng năm GDP   tăng GDP  
          sau so với   sau so với     năm    
          năm trước   năm     sau so    
          (%)   trước (%)     với    
                    năm    
                    trước    
                    (%)    
                         
      2002 535.762 26,0 0,9   26,9  
                         
      2003 613.443 20,3 27,3 96,4 1,7   23,0 28,9  
                         
      2004 715.307 17,7 27,6 48,7 2,1   19,5 29,7  
                         
      2005 839.211 7,0 25,1 -4,9 1,7   6,2 26,9  
                         
      2006 974.266 11,2 22,7 14,7 1,7   11,4 24,4  
                         
      2007 1.143.715 18,9 25,1 93,2 2,8   23,7 27,9  
                         
      2008 1.480.038 11,9 21,0 16,5 2,5   11,4 23,5  
                         
      2009 1.658.389 31,9 24,8 13,4 2,5   31,0 27,3  
                         
      2010 1.980.914 26,9 26,4 9,52 2,3   25,3 28,7  
                         
      2011 2.250.100 20,4 25,0 13,1 2,3   19,8 27,3  
                         

    (Nguồn: Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê)

    Ngoài ra, cũng theo The Economist, mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2011 là 638,55 USD, dự kiến 2012 tăng lên 698,71 USD. Nếu so sánh với 817,22 USD (Trung Quốc), 808,52 USD (Indonesia), 4.626,4 USD (Malaysia), 1.195,29 USD (Philippines), 2.261,78 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao.

    Tuy nhiên, nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD; thì trong vòng 10 năm, con số này đã tăng gấp 6 lần, cho thấy gánh nặng nợ tương lai đổ lên đầu người dân ngày càng tăng.

    Tính ra từ năm 2007 đến cuối năm 2011, nợ công của Việt Nam đã tăng khoảng 25% (trung bình 5%/năm). Với khoản nợ này, căn cứ vào thời điểm đáo hạn thì từ nay đến

    Trang 39

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2015 mỗi năm Việt Nam phải trả nợ gốc và lãi cho nước ngoài gần 1,5 tỉ USD và mức trả nợ cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với con số lên đến 2,4 tỉ USD.

    Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng, rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với nợ công của Việt Nam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách. Theo đó, những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả mới là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công Việt Nam. Cụ thể, khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước không được chính phủ bảo lãnh chiếm 11,1% GDP. Ngoài ra, nợ trong nước của khu vực DNNN theo ghi nhận trong Đề án Tái cấu trúc DNNN của Bộ Tài chính năm 2012 cũng chiếm xấp xỉ khoảng 16,5%.

    Tính đến các con số kể trên, nợ công Việt Nam đã vượt xa so với ngưỡng an toàn (60% GDP) được khuyến cáo bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) hay Quỹ tiền tệ Thế giới (IMF).

    3.1.2   Phân tích nợ công VN và những áp lực trong việc hoàn trả.

    1. Về cơ cấu nợ

    Trong cơ cấu nợ công Việt Nam, nợ nước ngoài có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng cao nhất. Với việc dòng vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ quá lớn trong cơ cấu vốn đầu tư, nền kinh tế Việt Nam sẽ rất dễ bị tổn thương một khi kinh tế thế giới ngưng trệ, dòng vốn đầu tư nước ngoài bị suy giảm.

    Bảng 3: Tình hình vay nợ, tính đến 31/12/2012

    Khoản mục Số liệu Ghi chú
         
    Tổng số vốn vay ODA và vay 71.7 tỷ USD  
    ưu đãi nước ngoài    
         
    Tổng  số  vốn  cam  kết  vay 4.08 tỷ USD  
    thương mại nước ngoài    
         
    Dư nợ các dự án cho vay lại của 10.3 tỷ USD Tương  đương  8.5%
    Chính phủ   GDP
         
    Số lượng các dự án cho vay lại 580 dự án 55 dự án nợ quá hạn
         
    Tổng số dư nợ công 55.4% Giảm  1.9%  so  với
        2010
         

    Trang 40

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các khoản vay ODA, được tài trợ từ trái phiếu trong nước. Nhiều khoản vay ODA có thời gian vay rất dài với lãi suất ưu đãi, chẳng hạn vay WB thời hạn là 40 năm, ân hạn 10 năm và lãi suất chỉ có 0,75% hay vay ADB thời hạn là 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất 1%, vay Nhật Bản thời hạn vay 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất từ 1% – 2%, thông thường là 1% còn một số khoản cao hơn chỉ 2%.

    Các điều khoản ưu đãi của ODA đã giúp Việt Nam giảm bớt được áp lực nợ công; tuy nhiên, các khoản vay ưu đãi lại thường đi kèm với các điều khoản có liên quan đến những ràng buộc về chính trị và kinh tế khác. Nợ càng nhiều, ràng buộc về kinh tế, chính trị cũng lớn hơn. Khủng hoảng nợ Argentina (2001) và sự bất ổn của Hy Lạp hiện nay là minh chứng điển hình cho tác động tiêu cực của nguồn nợ công từ nước ngoài.

    1. Về tính thanh khoản của các khoản nợ

    Các món vay nợ nước ngoài của Việt Nam phần lớn là vay nợ dài hạn và tính thanh khoản nợ công hiện vẫn khá tốt vì các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp chiếm tới 80% (nghĩa vụ trả nợ đến năm 2013 chiếm khoảng 10% dự trữ ngoại hối quốc gia và nợ nước ngoài chiếm 20% dự trữ ngoại hối hiện nay). Mặc dù vậy, nợ công của Việt Nam vẫn có thể xảy ra những rủi ro về tính thanh khoản, khi thời hạn trả nợ bị xáo trộn (khoản nợ từ trung hạn và dài hạn có thể chuyển thành ngắn hạn – trong trường hợp các chủ nợ gặp khó khăn hay khủng hoảng kinh tế trong nước). Đặc biệt, tính thanh khoản của những khoản nợ nước ngoài trong ngắn hạn cũng tiềm ẩn những rủi ro khi tỷ lệ dự trữ ngoại hối của Việt Nam/tổng dư nợ ngắn hạn đã và đang sụt giảm với tốc độ rất nhanh, từ mức 100 lần năm 2007 xuống còn 28 lần vào năm 2008, còn 3 lần vào năm 2009 và chỉ còn gấp khoảng 2 lần trong năm 2010.

    Bên cạnh đó, nghĩa vụ trả nợ nội địa trong ba năm tới được ước tính trên số lượng trái phiếu Chính phủ đã phát hành và sẽ đáo hạn trong vòng 3 năm tới, ước khoảng 215.000 tỷ đồng, tương đương 20% dự toán thu NSNN của thời điểm đó (2014). Con số này khá lớn và ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách tài khóa, lạm phát và các chính sách liên quan của Việt Nam trong giai đoạn tới.

    Trang 41

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    1. Về chi phí vay nợ

    Các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số đều có lãi suất thấp, trong đó chủ yếu là ở mức 1% – 2,99%. Tuy nhiên so với các năm trước, năm 2010, các khoản vay của Việt Nam có lãi suất cao hơn và khoản vay với lãi suất thả nổi đang ngày càng tăng lên, gây thêm áp lực nợ cho Chính phủ. Trong 25,097 tỷ USD tổng nợ nước ngoài của Chính phủ, có 19,313 tỷ USD có lãi suất từ 1 – 2,99%; trên 1,678 tỷ USD chịu lãi suất từ 3 – 5,99% (tăng 176 triệu USD so với 2009) và có tới 1,888 tỷ USD ở mức lãi suất 6- 10%, tăng hơn gấp đôi so với 2009. Ngoài ra, các khoản vay với lãi suất thả nổi cũng tăng 6,66 triệu USD so với 2009.

    Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới 2,1%/năm. Hơn nữa cần lưu ý là các khoản vay ưu đãi lãi suất thấp cũng sẽ giảm đi khi Việt Nam gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình, thay vào đó là vay thương mại có lãi suất cao hơn nhiều. Với thực trạng này, rõ ràng chi phí trả lãi đang trở thành gánh nặng ngày càng gia tăng của Chính phủ.

    1. Về tiền vay nợ

    Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay. Trên lý thuyết, điều này được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế cơ cấu này cũng tiềm ẩn những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới. Tỷ trọng cao của các khoản vay bằng USD (22,16%) và JPY (38,83%)gây nguy cơ gia tăng khoản chi gốc và lãi khi tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng; và JPY đang lên giá so với USD (Năm 2006: 1USD=116,3 Yên, năm 2010: 1USD=84,11979 Yên).

    Như vậy khi đến kỳ trả nợ, Việt Nam sẽ phải dành một lượng USD lớn hơn nhiều để mua đồng Yên trả nợ. Và chỉ riêng biến động này này đã làm gia tăng tổng số nợ nước ngoài và nợ công của chúng ta.

    Như vậy, mặc dù mức nợ công so với GDP của Việt Nam vẫn được đánh giá là an toàn nhưng nợ công đang ẩn chứa nhiều rủi ro. Khi nợ công quá cao, bên cạnh những hậu quả về mặt kinh tế, quốc gia còn phải đối mặt với nguy cơ suy giảm chủ quyền, khi phải chịu những áp lực to lớn từ phía các chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế, nguy cơ bất ổn về xã hội khi Nhà nước không đảm bảo được những vấn đề về an sinh xã hội

    Trang 42

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    cho người dân. Thông thường, đó là những sức ép về việc thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội, khó khăn trong giải quyết thất nghiệp..và xa hơn nữa là những yêu cầu về cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thay đổi các định hướng kinh tế theo hướng tự do hoá nhiều hơn. Ngoài ra, việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị thế của quốc gia trong các mối quan hệ song phương cũng như đa phương với các đối tác là các nước chủ nợ.

    Mặt khác, mối quan ngại về sự già hóa dân số sẽ làm cho nợ công tăng vọt trong những thập kỷ tới. Nguyên nhân là do lực lượng lao động bị thu hẹp sẽ làm cho nguồn thu thuế của chính phủ bị sụt giảm, trong khi đó số người nghỉ hưu tăng lên sẽ gây áp lực cho việc tăng chi tiêu chính phủ trong các khoản lương hưu và chăm sóc sức khỏe…do vậy, quản lý nợ công thế nào cho hiệu quả là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu tại Việt Nam hiện nay.

    3.1.3 Thâm hụt ngân sách và sự thiếu hiệu quả trong vấn đề sử dụng và quản lý nợ công ở Việt Nam

    Chúng ta đều biết, nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công bền vững đó là nợ công ngày hôm nay phải được tài trợ bằng thặng dư ngân sách ngày mai. Nhưng thực tế tại Việt Nam, thâm hụt ngân sách đã trở thành kinh niên và mức thâm hụt đã vượt xa ngưỡng “báo động đỏ” 5% theo thông lệ quốc tế (bảng 3), đe dọa đến tính bền vững của nợ công.

    Bảng 4: Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP)

    Thâm hụt ngân sách của Việt Nam diễn ra liên tục trong khoảng hơn một thập kỉ qua và có mức độ ngày càng gia tăng. Cụ thể, thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong giai đoạn 2003 – 2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng

    Trang 43

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7% GDP trong giai đoạn 2008 – 2012. Sự gia tăng thâm hụt này càng làm cho tính bền vững của nợ công Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng.

    Mặt khác, trong khi vốn vay ngày càng lớn thì hiệu quả đầu tư của nền kinh tế Việt Nam lại đang giảm thấp đến mức báo động với chỉ số ICOR tăng mạnh trong giai đoạn 1991 – 2009. Nếu như trong giai đoạn 1991 – 1995, hệ số ICOR là 3,5 thì đến giai đoạn năm 2007 – 2008, hệ số này là 6,15; năm 2009, hệ số ICOR tăng vọt lên 8; năm 2010 hệ số này là 6,2; nhưng vẫn cao hơn nhiều so với khuyến cáo của WB đối với nước đang phát triển, ICOR ở mức 3 là đầu tư có hiệu quả và nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững. Và điều đáng nói ở đây nếu hệ số ICOR chung của nền kinh tế là 8, thì ICOR của khu vực kinh tế Nhà nước lên tới 12. Khu vực công sử dụng vốn chủ yếu từ đi vay nhưng việc sử dụng lại không có hiệu quả, đầu tư dàn trải, thất thoát lãng phí. Phải kể đến đó chính là hàng loạt các dự án do khu vực công đầu tư với số vốn đầu tư khổng lồ, chi phí bỏ ra quá lớn như dự án Đường cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây và cảng nước sâu Thị Vải – Cái Mép được coi là hai dự án điển hình của lĩnh vực giao thông, một lĩnh vực nặng gánh nợ công và vẫn có nhu cầu rất lớn về đầu tư công. Chi phí đầu tư quá cao khiến một dự án dù có hiệu quả kinh tế nhưng vẫn nguy cơ khó trả nợ và tạo thêm gánh nặng nợ nần.

    Ngoài ra còn phải kể đến những doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trì trệ, làm ăn thua lỗ, Nhà nước phải đứng ra trả nợ thay như Tập đoàn Vinashin là một ví dụ điển hình. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài sẽ là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Nguồn vốn sử dụng không hiệu quả thì khả năng trả nợ sẽ là khó khăn. Do vậy nguy cơ bất ổn về kinh tế rất có thể xảy ra nếu Việt Nam không tính toán khéo để có đủ khả năng trả nợ trong tương lai, đồng thời có thể kéo theo những bất ổn về mặt xã hội khi người dân mất lòng tin vào sự điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.

    3.2      Nợ công tăng cao gây ra nhiều hậu quả

    Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng trong nước giảm sút

    Nếu nợ trong nước lớn thì Chính phủ phải tăng thuế để trả nợ lãi vay gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội. Tăng thuế còn làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền

    Trang 44

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng.lạm phát khó kiềm chế ở mức thấp, nợ công tăng cao cũng làm cho nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.

    3.3 Giải pháp quản lý nợ công ở Việt Nam:

    Vay nợ để đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều bình thường, diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới. Tuy vậy, nợ bao nhiêu là an toàn lại là một bài toán khó. Vấn đề mấu chốt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là phải vay mượn trong và ngoài nước, nhất là vay vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức để tạo nguồn vốn cho tăng trưởng và phải sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó.

    Trước bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu vừa qua và trong xu thế phát triển hiện nay, chính phủ thực hiện nhiều biện pháp kích cầu kinh tế, tuy có phần nới lỏng kiểm soát tín dụng nên đã làm cho việc nợ vay của Chính phủ từ Trung Ương đến địa phương tăng lên nhanh chóng. Con số nợ công của Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt là nợ nước ngoài đã trở thành mối lo ngại đến an ninh tài chính quốc gia. Do đó, Chính phủ cần có biện pháp để tính toán kiểm soát mức dư nợ phù hợp với nền kinh tế và kiểm soát tốt quá trình sử dụng nguồn vốn vay, bằng cách xây dựng chiến lược và hệ thống giải pháp khoa học, khả thi về quản lý nợ công.

    3.3.1   Xây dựng chiến lược về vay nợ công:

    Trên cơ sở phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch thu, chi Ngân sách Nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ, cần xác định rõ mục đích vay (vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân sách, tái cơ cấu nợ và cho vay lại hoặc vay tài trợ cho các chương trình, dự án đầu tư quan trọng, hiệu quả, vay nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia), mức huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo từng đối tượng vay trong nước và ngoài nước, với hình thức huy động vốn và lãi suất thích hợp. Chiến lược về vay nợ công cũng cần chỉ rõ đối tượng sử dụng các khoản vay; hiệu quả dự kiến; xác định chính xác thời điểm vay, số vốn vay từng giai đoạn, tránh tình trạng tiền vay không được sử dụng trong thời gian dài hoặc chưa thực sự có nhu cầu sử dụng. Thông thường, vốn vay nước ngoài được các nước đang phát triển đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để tạo đà cho tăng trưởng nhưng cần tính toán, cân đối giữa chính các dự án cơ

    Trang 45

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sở hạ tầng. Nếu dùng nợ công để phát triển thì các dự án phải tạo ra công ăn việc làm, tạo lợi nhuận.

    Bên cạnh đó, cần chú ý đến yếu tố đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công cũng như khả năng thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi phí. Bằng cách, thiết lập ngưỡng nợ công an toàn, phù hợp với tình hình kinh tế của Việt Nam; thường xuyên đánh giá các rủi ro phát sinh từ các khoản vay nợ Chính phủ trong mối liên hệ với GDP, thu Ngân sách Nhà nước, tổng kim ngạch xuất khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính, quỹ tích lũy để trả nợ.

    Đồng thời, Việt Nam cần quan tâm đến huy động vốn trong nước, thay vì chú trọng vào các khoản ngoại tệ thu được từ các đối tác cho vay. Giảm sự lệ thuộc quá nhiều vào vốn vay nước ngoài, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài. Vì trên thực tế, nguồn ngoại tệ giúp cân bằng cán cân thanh toán, nhưng nợ nước ngoài mang lại nhiều rủi ro.

    3.3.2   Công khai và minh bạch thông tin trong quản lý nợ công

    Nợ công là nợ của Quốc gia, do vậy Chính phủ cần công khai và minh bạch quy mô và cơ cấu nợ công. Nghị định 79/2010/NĐ-CP ngày 14/7/2010 của Chính Phủ về nghiệp vụ quản lý nợ công cũng đã đề cập tới yêu cầu công khai minh bạch nợ công và dự trù ngân sách nhà nước để trả nợ dần. Thông tin chính xác giúp nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những chính sách quản lý đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế. Bên cạnh đó, công khai và minh bạch hóa nhằm tăng cường trách nhiệm trong quản lý, sử dụng các khoản nợ công và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nợ công. Hơn nữa, nói cho cùng, nợ công cũng chỉ là khoản nợ mà người dân phải trả thông qua việc đóng thuế cho nhà nước. Do đó, Chính phủ cần tính toán và công bố chính xác cho nhân dân được biết. Mặt khác, đối với sử dụng nợ công, cũng cần phải minh bạch hóa, có cơ chế chặt chẽ và cụ thể để người dân và xã hội giám sát được các công trình sử dụng vốn ODA, điều này cũng giúp cho nguồn vốn ODA nói chung và vốn vay từ nợ công nói riêng được sử dụng hợp lý và hiệu quả.

    3.3.3   Nâng cao vai trò của hệ thống kiểm tra giám sát tài chính

    Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, thực hiện kiểm tra việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài

    Trang 46

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sản nhà nước. Vì vậy, Kiểm toán Nhà nước kiểm tra việc quản lý và sử dụng các khoản nợ công là điều cần thiết, đảm bảo tính minh bạch trong quản lý và sử dụng các khoản nợ công cũng như tính bền vững của Ngân sách nhà nước.

    Tuy nhiên, trên thực tế do nợ công gồm nhiều loại hình khác nhau, mỗi loại nợ lại có đặc thù về quản lý đồng thời liên quan đến nhiều cơ quan quản lý, đối tượng sử dụng; do vậy, để kiểm toán nợ công có hiệu quả, hàng năm Kiểm toán nội bộ phải kiểm toán các báo cáo thường niên về nợ công, đồng thời tăng cường số lượng và chất lượng các cuộc kiểm toán chuyên đề về nợ công, như chuyên đề kiểm toán vay nợ nước ngoài của Chính Phủ, vay nợ trong nước, các khoản nợ Chính Phủ bảo lãnh, chi phí vay nợ…

    3.3.4 Nhìn nhận và đánh giá lại hiệu quả đầu tư các dự án để tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay từ nợ công

    Để đảm bảo khả năng trả nợ và tính bền vữa của nợ công, Chính phủ phải tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, vốn được Chính phủ bảo lãnh và các khoản vốn Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại.

    Chính phủ là người vay nợ nhưng không phải là người sử dụng cuối cùng các khoản vay vốn, mà là các chủ dự án, các đơn vị thụ hưởng ngân sách, doanh nghiệp, và các cá nhân; trong mọi trường hợp, Ngân sách Nhà nước phải gánh chịu hậu quả, rủi ro trong toàn bộ quá trình vay nợ. Các khoản vay và bảo lãnh này thực chất là nghĩa vụ ngân sách dự phòng, làm nảy sinh nguy cơ Ngân sách nhà nước phải trang trải các khoản nợ của khu vực doanh nghiệp trong tương lai, khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc mất khả năng thanh toán. Nguy cơ này sẽ còn cao hơn nữa khi Chính phủ vay và phát hành bảo lãnh không dựa trên những phân tích thận trọng về mức độ rủi ro cũng như năng lực trả nợ của doanh nghiệp. Do đó, quyết định vay về cho vay lại và bảo lãnh của Chính phủ cần được kiểm soát chặt chẽ và thực hiện hết sức thận trọng, chỉ nên ưu tiên cho các chương trình, dự án trọng điểm của Nhà nước hoặc thuộc các lĩnh vực ưu tiên cao của quốc gia và các dự án có mức độ khả thi và tính hiệu quả cao; không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn; vay thương mại nước ngoài chỉ sử dụng cho các chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và bảo đảm khả năng trả nợ. Song song với việc đó, cần phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên quá trình sử dụng các khoản vay nợ, các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, nhất là tại các đơn vị sử dụng trực tiếp vốn vay như: Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, Ngân hàng

    Trang 47

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    thương mại, các dự án lớn với mục đích đầu tư cơ sở hạ tầng. Tránh tình trạng lãng phí vốn đầu tư, từng bước giảm hệ số ICOR. Có như vậy, nguồn vốn do Chính phủ vay nợ hoặc bảo lãnh cho vay mới được sử dụng một cách có hiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ.

    3.3.5   Giảm thiểu thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân vãng lai

    Thâm hụt tài khoản vãng lai có thể được hiểu là một khoản vay nước ngoài của người tiêu dùng, doanh nghiệp và Chính phủ Việt Nam. Để bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, Chính phủ lại phải vay nợ thêm qua các kênh huy động vốn trong nước và quốc tế, như trái phiếu Chính phủ với lãi suất cao hơn. Trong khi nguồn vốn chảy vào quốc gia chưa bền vững, dự trữ ngoại hồi lại có xu hương thu hẹp làm giảm khả năng chống đỡ của nền kinh tế trước các cú sốc tài chính và tạo áp lực lên nợ công và tỷ giá.

    Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam nên học tập từ bài học thắt lưng buộc bụng ở Châu Âu khi đối phó với khủng hoảng hồi đầu năm 2010. Họ tăng cường tiết kiệm, giảm trợ cấp, tăng thuế đối với người thu nhập cao, thoái vốn tại những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả…

    3.3.6   Đẩy mạnh hợp tác quốc tế:

    Cần kể tới một bất lợi đối với Việt Nam là hệ số rủi ro còn ở mức cao, lại thêm tính thanh khoản thấp, tần suất vay ít nên khi đi vay bao giờ Việt Nam cũng phải vay với lãi suất cao. Trong khi đó, các nước trong khu vực như Indonesia hay Philippines tuy cũng có hệ số rủi ro tương đương Việt Nam nhưng họ vẫn được ưu đãi hơn khi đi vay nhờ tính thanh khoản cao hơn và tích cực hơn trong hợp tác quốc tế.

    Việt Nam vẫn đang là một quốc gia có nền kinh tế đang đang phát triển trong khu vực, đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới cơ cấu kinh tế xã hội nên hiệu quả đầu tư không thể đánh giá trong một sớm, một chiều, và càng không thể được nhận định chung cho cả một thời kỳ phát triển của Việt Nam. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng chung của toàn cầu làm ảnh hưởng khá lớn đến nền kinh tế nhỏ bé của Việt Nam, nên việc vay nợ nước ngoài để củng cố và phát triển kinh tế Việt Nam là điểu hiển nhiên. Như vậy, thay vì lo ngại, Chính phủ nên tập trung thực hiện các giải pháp như đã nêu trên để tăng cường việc quả lý, sử dụng hiệu quả và bền vững Ngân sách Nhà nước. Từ đó, tạo lòng tin của người dân đối với Chính phủ, tạo động lực cho quá trình phát triển của đất nước.

    Trang 48


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-T%E1%BB%95ng-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-qu%E1%BB%91c-n%E1%BB%99i-GDP-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-1995-2011.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Chương 1: TỔNG QUAN

    1. Lý do chọn đề tài:

    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một chỉ tiêu có tính cơ sở phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, quy mô kinh tế, trình độ phát triển kinh tế bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế và sự thay đổi mức giá cả của một quốc gia. Bởi vậy, GDP là một công cụ quan trọng, thích hợp được dùng phổ biến trên thế giới để khảo sát sự phát triển và sự thay đổi trong nền kinh tế quốc dân. Nhận thức chính xác và sử dụng hợp lý chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng trong việc khảo sát và đánh giá tình trạng phát triển bền vững, nhịp nhàng, toàn diện nền kinh tế. Bất cứ một gia quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ thể cho những nổ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự tăng trưởng GDP, các yếu tố ảnh hưởng đến GDP giúp chính phủ có thể thay đổi các chính sách để đạt được những mục tiêu đề ra nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây là những vấn đề vĩ mô mà ai hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đều quan tâm. Đó là lý do nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011”

    2. Mục tiêu nghiên cứu:

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố: Đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    3. Phạm vi nghiên cứu:

    Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    4. Kết cấu của bài tiểu luận:

     

    Chương 1: Tổng quan

     

    Chương 2: Cơ sở lý luận

     

    Chương 3: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu.

     

    Chương 4: Kết quả nghiên cứu

     

    Chương 5: Kết luận

    Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

    • hầu hết các quốc gia trên thế giới, đều không phân biệt khuynh hướng chính trị, mổi quốc gia đều tự xác định riêng cho mình một chiến lược riêng để phát triển kinh tế – xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến

    bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia. Không riêng một đất nước nào cả, ở Việt Nam cũng vậy luôn xem việc phát triển kinh tế là một nhiệm vụ rất bức thiết. Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, đã có những bước phát triển đáng kể, đất nước ta từ nền kinh tế thời bao cấp trì trệ đã chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Tổng thu nhập quốc dân hằng năm đã tăng lên. Hơn thế nữa đất nước chúng ta hiện nay gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu WTO, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một bước tiến rất quan trọng và mở ra cho nền kinh tế nước nhà nhiều hứa hẹn. Tăng trưởng kinh tế diễn ra nó biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP ngày càng cao và ổn định trong thời gian dài, nền kinh tế sẽ có nhiều thành tựu to lớn. Như vậy thu nhập và mức sống của người dân càng ổn định thì đất nước càng phát triển. Chính vì vậy mà việc tăng trưởng kinh tế được xem như là vấn đề hấp dẫn trong nghiên cứu kinh tế, nó chính là tiêu điểm để phản ánh sự thay đổi bộ mặt nền kinh tế quốc gia. Để đánh giá nền kinh tế của một quốc gia, các nhà kinh tế đánh giá qua tổng sản phẩm quốc nội GDP.

    2.1.  Khái niệm:

    Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP là số đo về giá trị của hoạt động kinh tế quốc gia.

    Đầu tư: trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai.

    Xuất khẩu: là những hàng hoá được sản xuất ra ở trong nước được bán ra nước ngoài (lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài – làm tăng GDP).

    Nhập khẩu: là những hàng được sản xuất ra ở nước ngoài, nhưng được mua để phục vụ nhu cầu nội địa (lượng tiền trả cho nước ngoài do mua hàng hóa và dịch vụ – làm giảm GDP)

    2.2. Nguồn gốc của mô hình từ lý thuyết:

    Có phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP): có 3 phương pháp

    2.2.1. Phương pháp tính theo luồng sản phẩm:

    Hàng năm dân cư của mỗi nước tiêu thụ rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng như: gạo, thịt, cam, táo, xoài…;c hăm sóc y tế, thương mại và du lịch… những hàng hóa và dịch vụ do người tiêu dùng mua và sử dụng. Toàn bộ các khoản chi tiêu tính bằng tiền để mua các sản phẩm cuối cùng, sẽ có được toàn bộ GDP của nền kinh tế hàng hóa đơn giản này.

    Như vậy, trong nền kinh tế giản đơn, ta có thể dể dàng tính được thu nhập hay sản phẩm quốc dân bao gồm tổng số hàng hóa cuối cùng cộng với dịch vụ.

    Vậy, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của luồng sản phẩm cuối cùng mà một quốc gia tạo ra. GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp, chính phủ mua và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong thời gian một năm. Được thể hiện như sau:

    GDP = C + I + X – Z – Te = C + I + G +NX – Te Trong đó: GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

    C: Tiêu dùng của hộ gia đình

    I: Đầu tư của các nhà sản xuất

    • Xuất khẩu
    • Nhập khẩu

    Te: Thuế gián thu

    NX: Xuất khẩu ròng

    • Chi tiêu của Chính phủ

    2.2.2. Phương pháp tính theo tiền thu nhập hoặc chi phí:

    Đây là phương pháp thứ hai tương tự để tính GDP trong một nền kinh tế giản đơn. Các ngành kinh doanh thanh toán tiền công, tiền lãi, tiền thuê nhà và lợi nhuận. Đó là các khoản thu nhập từ các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật dùng để sản xuất ra luồng sản phẩm.

    GDP được tính dựa vào tổng thu nhập của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất. GDP cũng bao gồm nhiều thuế gián thu và khấu hao mà chúng không phải là thu nhập của các yếu tố. Tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất bao gồm:

    • Tiền lương và các khoản tiền thưởng mà người lao động được hưởng: (W)
    • Thu nhập của người cho vay: Tiền lãi (i)
    • Thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê khác: Tiền thuê (R)
    • Thu nhập của các doanh nghiệp: Lợi nhuận (r)
    • Thuế gián thu (Te)

    Trang 3

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Khấu hao (De)

    Như vậy, Tổng sản phẩm quốc nội cũng có nghĩa là tổng tiền thu nhập về các yếu tố sản xuất (lương, tiền lãi cho vay, thuê nhà và lợi nhuận), dùng làm chi phí sản xuất ra những sản phẩm cuối cùng của xã hội. GDP theo tiền thu nhập được thể hiện như sau:

    GDP = W + i + R + r + Te + De

    Tóm lại, việc tính toán bằng nhiều phương pháp đều cho những kết quả giống nhau. Tuy nhiên trên thực tế có những chênh lệch nhất định do những sai sót từ những con số, thống kê hoặc tính toán.

    Trang 4

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.2.3. Mô hình nghiên cứu :

    Thiết bị

    Cơ sở hạ tầng

    Công nghệ

    Trình độ

    Nguồn lao động

    Xuất khẩu

    Giới tính

    Vốn chủ sở hữu

    Vốn

    Vốn vay

    Giá

    Nhu cầu tiêu dùng

    Thu nhập cá nhân

    GDP   Nhập khẩu

    Chính sách nhà nước

        Tín dụng
         
         
    Kinh tế nhà nước   Tài khóa
         
         
        Tiền tệ
         

    Thu nhập dân cư

    Đầu tư

    Kinh tế ngoài nhà nước                 Lạm phát

    Tỷ giá

    K.Vực có vốn đầu tư

    nước ngoài

    Trang 5

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.3. Lý thuyết đưa các biến phụ thuộc vào mô hình:

    Theo PGS – TS Nguyễn Văn Công, GDP chính là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nước trong thời kỳ nhất định. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của GDP gồm các nhân tố chủ chốt sau:

    Thứ nhất, nguồn nhân lực. Một số quan điểm cho rằng con người là cốt lõi của tăng trưởng kinh tế. Con người có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có nhiệt huyết, động lực, nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Thứ hai, vốn đầu tư. Để sản xuất hàng hóa, để mua máy móc thiết bị, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao tay nghề cho công nhân viên, chúng ta cần có vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu lên mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế với công thức ICOR, đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng GDP. Thứ ba, tài nguyên thiên nhiên. Các nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Không những có thể khai thác đưa vào sản xuất mà còn có thể phục vụ xuất khẩu, mua về những hàng hóa cần thiết.

    Thứ tư, tri thức công nghệ. Khoa học kỹ thuật luôn là chìa khóa thần kỳ mở cánh cổng bước vào tăng trưởng kinh tế vượt bậc. Khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất và hiệu suất sản xuất, có thể khiến sản lượng tăng đột biến.

    Thứ năm, đó là xuất khẩu ròng. Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế mở, tham gia vào nền kinh tế thế giới và có quan hệ với các nước khác thông qua thương mại và tài chính.Chúng ta xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất rẻ nhất trong nước và nhập khẩu những hàng hóa mà các nước khác có lợi thế về chi phí. Khoản chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu là xuất khẩu ròng. Xuất khẩu ròng tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh tế, vì nó là một phần của hàng hóa dịch vụ sản xuất ra. Xuất khẩu ròng tăng sẽ thúc đẩy sản xuất sản phẩm nhiều hơn.

    Tuy nhiên, trong tất cả các yếu tố trên, được quan tâm nhắc đến nhiều nhất, vẫn là vốn đầu tư và xuất khẩu ròng (xuất khẩu và nhập khẩu). Vì hai yếu tố trên chịu ảnh hưởng tác động nhiều nhất của các chính sách kinh tế, và cũng do hai nhân tố trên dễ thống kê với số liệu chính xác hơn nên thường xảy ra bàn cải xoay quanh các chính sách về hai nhân tố này. Do tính thời sự của hai nhân tố này, chúng tôi quyết định đưa đầu tư, xuất khẩu và nhập khẩu vào mô hình, nghiên cứu mối quan hệ của chúng với tăng trưởng kinh tế của nhóm. Qua đó sẽ thấy được mối tương quan, độ ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố này tăng trưởng kinh tế.

    Trang 6

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 3: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    3.1. Xây dựng mô hình kinh tế lượng

    Mô hình gồm 4 biến:

    • Biến phụ thuộc : Tổng sản phẩm quốc nội GDP (Đơn vị tính: tỷ đồng )
    • Biến độc lập :
    • Đầu tư I (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Xuất khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Nhập khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng )

    GDP = β1 + β2 I +β3XK + β4NK + V

    3.2. Dự đoán kỳ vọng giữa các biến:

    • β2 dương : Khi Đầu tư tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β3 dương : Khi giá trị xuất khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β4 âm : Khi giá trị nhập khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP giảm.

    3.3. Mô tả số liệu

    • Số liệu bao gồm: Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.
    • Số liệu tìm được từ tổng cục thống kê Việt Nam.
    • Bảng số liệu :
    STT Năm GDP Đầu tư I Xuất khẩu NX Nhập khẩu NX
               
    1 1995 228677 72447.0 5448.9 8155.4
               
    2 1996 269654 87394.0 7255.9 11143.6
               
    3 1997 308600 108370.0 9185.0 11592.3
               
    4 1998 352836 117134.0 9360.3 11499.6
               
    5 1999 392693 131171.0 11541.4 11742.1
               
    6 2000 435319 151183.0 14482.7 15636.5
               
    7 2001 474855 170496.0 15029.2 16218.0
               
    8 2002 527056 200145.0 16706.1 19745.6
               

    Trang 7

    GVHD : Trương Bích Phương

    9 2003 603688 239246.0 20149.3 25255.8
               
    10 2004 701906 290927.0 26485.0 31968.8
               
    11 2005 822432 343135.0 32447.1 36761.1
               
    12 2006 951456 404712.0 39826.2 44891.1
               
    13 2007 1108752 532093.0 48561.4 62764.7
               
    14 2008 1436955 616735.0 62685.1 80713.8
               
    15 2009 1580461 708826.0 57096.3 69948.8
               
    16 2010 1898664 830278.0 72236.7 84838.6
               
    17 Sơ bộ 2011 2415204 877850.0 96905.7 106749.9
     
               

    (Đơn vị tính : tỷ đồng)

    3.4. Mô hình hồi quy

    • Mô hình hồi quy tổng thể :

    (PRF)    GDP =      1+  2 I+  3 XK+ β4NK +Vi

    • Mô hình hồi quy mẫu:

    (SRF) GDP =     1  +     2  I+ ˆ 3 XK +       4 NK+ ei  ( ei là ước lượng của Vi)

    Trang 8

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    4.1. Xác định mô hình hồi quy và đọc ý nghĩa các hệ số :

    • Kết quả chạy mô hình từ phần mềm Eviews
    • Từ kết quả trên ta có mô hình hồi quy như sau:

    (SRF)  GDP = 80485,27 + 1,147315I + 31,03140XK – 16,21289NK + ei

    • Ý nghĩa của các hệ số hồi quy:

    Đối với  1 = 80485,27 có ý nghĩa là tổng giá trị Đầu tư, Xuất khẩu, Nhập khẩu đồng thời

    bằng 0 thì GDP đạt giá trị trung bình là 80485,27 tỷ đồng/ năm.

    Đối với  2 = 1,147315 có ý nghĩa là khi Xuất khẩu, Nhập khẩu NX không đổi, tổng giá trị

    Đầu tư tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 1,147315 tỷ đồng /năm.

    Đối với 3 = 31,03140 có ý nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Nhập khẩu không đổi và nếu Xuất khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 31,03140 tỷ đồng /năm.

    Đối với 4 = 16,21289 có nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Xuất khẩu không đổi, Nhập khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP giảm (tăng) 16,21289 tỷ đồng /năm.

    Trang 9

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.2. Kiểm định giả thiết và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình

    4.2.1. Hệ số thu được từ hàm hồi quy có phù hợp với lý thuyết kinh tế không ?

    – Kiểm định giả thiết : H 0 : 1 0
        với mức ý nghĩa α=0,05
      H1 1    0

    Ta thấy β1 có giá trị kiểm định t = 4,01689 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0015< α=0,05

    • Bác bỏ H01 ≠ 0 Khi I=XK=NK=0 thì GDP ≠ 0 .
    – Kiểm định giả thiết: H 0 : 2 0
        với mức ý nghĩa α=0,05
      H1 2 0

    Ta thấy β2 có giá trị kiểm định t = 4,029686 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0014< α=0,05

    • Bác bỏ H02 ≠ 0 Đầu tư ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý
    thuyết kinh tế.          
    – Kiểm định giả thiết: H 0 : 3 0
        với mức ý nghĩa α=0,05
      H1 3 0

    Ta thấy β3 có giá trị kiểm định t = 6,911423 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0000< α=0,05

    • Bác bỏ H03 ≠ 0 Xuất khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP   Phù hợp với lý
    thuyết kinh tế          
    – Kiểm định giả thiết H 0 : 4 0
        với mức ý nghĩa α=0,05
      H1 4 0

    Ta thấy β4 có giá trị kiểm định t = -3,806839 mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0022< α=0,05

    à Bác bỏ H0 4 ≠ 0 Nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý thuyết kinh tế

    4.2.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình

    – Kiểm định giả thiết :   H 0 : R 2 0 với mức ý nghĩa α=0,05
     
       
      H1 : R2 0  

    ( H0 : Mô hình không phù hợp ; H1 : Mô hình phù hợp )

    Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,995305 có xác suất Pvalue = 0,000000 < α=0,05

    Trang 10

    GVHD : Trương Bích Phương

    Bác bỏ H0 , tức là mô hình hồi quy là phù hợp

    4.3. Kiểm định và khắc phục các hiện tượng trong mô hình hồi quy

    4.3.1. Kiểm định sự tồn tại của đa cộng tuyến:

    4.3.1.1. Nhận biết đa cộng tuyến

    1. Xét hệ số tương quan giữa các biến I, XK, NK: với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên cho thấy:

    • Hệ số tương quan giữa I và XK là 0,984396 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa I và NK là 0,987254 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa XK và NK là 0,994846 > 0,8
    • Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
    1. Hồi quy phụ I theo XK và NK:

    Mô hình hồi quy phụ:

    Ii =     1 +      2 XKi3NKi+Vi

    – Kiểm định giả thiết: Ho: R2 = 0

    H1: R2 ≠ 0, với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 11

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Từ kết quả trên ta thấy F= 274,74 có xác suất Pvalue= 0,000000 nên ta bác bỏ giả thiết Ho:

    R2 = 0. Tức mô hình hồi quy phụ phù hợp. Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

    4.3.1.2. Biện pháp khắc phục:

    1. Sử dụng sai phân cấp 1:
    • Hồi quy D(GDP) theo D(I), D(NK) và D(XK), ta được kết quả như sau:
    • Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,916563, các Pvalue ứng với các hệ số hồi quy của 3 biến D(I), D(XK), D(NK) rất thấp (<0,05). Do đó, cách khắc phục này là hợp lý.
    1. Loại bỏ biến I hoặc XK hoặc NK khỏi mô hình ban đầu.

    Hồi quy lại mô hình trong đó loại bỏ biến I:

    Trang 12

    GVHD : Trương Bích Phương

    Mô hình hồi quy đã loại bỏ XK :

    Mô hình hồi quy đã loại NK :

    • So sánh R2 ở 3 mô hình hồi quy lại ta thấy R2loại XK < R2loại I < R2loại NK. Vậy ta có thể loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.

    4.3.2. Kiểm định phương sai thay đổi: (Dùng kiểm định White)

    Kiểm định giả thiết: Ho: Phương sai không thay đổi, với mức ý nghĩa α=0,05.

    4.3.2.1. Kiểm định phương sai thay đổi mô hình ban đầu:

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 13

    GVHD : Trương Bích Phương

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 12,13429 có xác suất Pvalue= 0,2058 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng hương sai thay đổi.

    Trang 14

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.3.2.2 Kiểm định phương sai thay đổi mô hình sau khi đã loại bỏ biến

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 10,13299 có xác suất Pvalue= 0,0716 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.

    Trang 15

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 5: KẾT LUẬN

    5.1. Kết luận:

    • Tổng giá trị vốn đầu tư, xuất khẩu, nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011.
    • Mô hình lựa chọn phù hợp với lý thuyết kinh tế
    • I, XK, NK giải thích được 99,5 % sự biến động của GDP, còn 0,5% là các yếu tố khác chưa biết, chưa đưa vào mô hình.
    • Mô hình ban đầu có hiện tượng đa cộng tuyến và đó là hiện tượng đa cộng tuyến không hoàn hảo, khắc phục bằng cách loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.
    • Mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi
    • Có thể bỏ biến NK ra khỏi mô hình trong trường hợp cần thiết.

    5.2. Kiến nghị:

    • Để tăng GDP trong một nước thì phải tăng cường thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư, tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
    • Chú trọng thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các dự án lớn, công nghệ cao, kết cấu hạ tầng, tạo bước chuyển biến trong tái cơ cấu, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và tạo điều kiện cho DN trong nước phát triển.
    • Để tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu:
    • Ở cấp độ nhà nước đó là sự ổn định về chính trị- xã hội, quan hệ quốc tế tốt đẹp, hành lang pháp lý hoàn chỉnh rõ ràng, minh bạch và theo phương hướng ổn định; bộ máy điều hành nhanh nhậy, cơ chế chính sách, các công cụ điều hành vĩ mô hợp lý, trong đó có lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
    • Nâng cao khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là khả năng không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhanh nhậy nắm bắt tình hình cung – cầu (cả lượng lẫn chất) trên thị trường thế giới cả sản xuất và kinh doanh. Các mặt hàng và loại hình dịch vụ thì khả năng cạnh tranh được thể hiện trước hết ở giá thành hạ, chất lượng cao, mẫu mã, bao bì phù

    hợp với thị hiếu của người tiêu dùng được tiếp thị rộng rãi.

    5.3. Hạn chế của bài

    • Có thể đưa thêm một số biến nữa vào mô hình để độ phù hợp của mô hình tăng lên, tuy nhiên làm như vậy mô hình sẽ phức tạp hơn, có thể sẽ có nhiều khuyết tật hơn gây khó khăn trong việc kiểm định .

    Trang 16

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Do năng lực bản thân của mỗi thành viên trong nhóm còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm rất mong nhận được những đóng góp ý kiến và phê bình của thầy cô và các bạn để chúng tôi kịp thời nắm bắt và củng cố kiến thức.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-N%E1%BB%A3-c%C3%B4ng-ch%C3%A2u-%C3%82u-v%C3%A0-b%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-cho-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam

    1.    Tổng quan lý thuyết về nợ công

     

    1.1 Khái niệm

    Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB): Nợ công bao gồm tất cả các khoản nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương. Hiện tượng này xuất hiện khi thu không bù đủ chi.

    Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước (phát hành trái phiếu, vay của Ngân hàng), nước ngoài (các thể chế siêu quốc gia như Quỹ tiền tệ Quốc tế – IMF), được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ chính phủ thường được vay để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nợ chính phủ thường chiếm tỷ trọng lớn trong nợ công của một quốc gia và gây ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế.

    Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh.

    Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành. Nợ của chính quyền địa phương thường không chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công, vì ngân sách địa phương chủ yếu từ trung ương hỗ trợ, chi trả; và pháp luật luôn quy định chặt chẽ tỷ lệ nợ chính quyền địa phương được vay so với ngân sách được cấp, hay chỉ được vay từ nguồn nào và để dùng vào khoản gì.

    Ngoài ra có thể phân loại nợ chính phủ theo nguồn vay: gồm vay trong nước và

    vay nước ngoài, hoặc theo thời gian vay: gồm vay ngắn hạn, vay trung và dài hạn.

    Về mặt cơ bản, tỷ lệ nợ của chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công nói chung, và gây ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế.

    Page 2

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    1.2 Nguyên nhân

    • Chính phủ chi tiêu ngân sách quá mức hoặc phải liên tiếp phát hành ngân sách để đảm bảo các nhu cầu an sinh xã hội, dẫn đến thâm hụt ngân sách trầm trọng.
    • Chính phủ giảm thuế trong khi tăng chi.
    • Các hoạt động ngầm trong nền kinh tế, trốn thuế gây thất thu ngân sách.
    • Chính phủ sử dụng các khoản vay không hiệu quả, tham nhũng và thiếu minh bạch trong quản lý làm cho nhà đầu tư mất niềm tin vào nền kinh tế.
    • Sự già hóa dân số.
    • Mức tiết kiệm trong nước giảm dẫn đến tình trạng phải vay mượn từ bên ngoài.

    1.3 Tác động đến kinh tế – xã hội

    Nợ công xảy ra trên quy mô lớn sẽ gây ra khủng hoảng trong xã hội. Thông thường chính phủ cần phải vay vốn để giải quyết nợ công, tuy nhiên những yêu cầu của các tổ chức tài chính quốc tế thường ngặt ngèo, tạo ra sức ép lên chính phủ buộc phải giảm các hoạt động trợ cấp, các chính sách an sinh xã hội. Bên cạnh đó, chính phủ còn tăng thuế để bù đắp lại vào ngân sách. Mặc khác những quốc gia này, tình trạng tham nhũng và không minh bạch thường phổ biến, dẫn đến sự “sói mòn” niềm tin của công chúng và nhà đầu tư vào chính phủ. Chính những điều đó có thể làm cho tình hình kinh tế

    • chính trị luôn trong tình trạng bất ổn tại bất cứ quốc gia nào đang xảy ra nợ công. Thậm chí làm cho chính phủ sụp đỗ.

    . Khi xảy ra nợ công, các tổ chức tín dụng sẽ hạ thấp bậc tín nhiệm của chính phủ và khi đó muốn huy động được vốn phải mất nhiều chi phí hơn, trái phiếu của chính phủ mất giá hoặc thậm chí là không được chấp nhận. Nền kinh tế trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.

    1.4 Giải pháp

    Có nhiều giải pháp để giải quyết nợ công, tùy tình hình cụ thể mà chính phủ các quốc gia có thể áp dụng, như vay nợ nguồn vốn từ trong nước và nước ngoài; hoàn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước; xây dựng chiến lược vay nợ công rõ ràng và theo một quy

    Page 3

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    trình dài hạn; minh bạch trong công bố thông tin và tăng cường cơ chế giám sát tài chính; tổ chức đánh giá mức độ hiệu quả các trường hợp đã vay nợ để rút kinh nghiệm trong tương lai; nâng cao hiệu quả sự dụng vốn và cuối cùng là đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

    2. Khủng hoảng nợ châu Âu

    2.1 Diễn biến khủng hoảng nợ công châu Âu

    Từ cuối năm 2009, lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ quốc gia gia tăng giữa các nhà đầu tư liên quan đến một số nước châu Âu, mối lo sợ này tăng lên vào đầu năm 2010. Các quốc gia có đề về nợ công trong khu vực châu Âu bao gồm các thành viên Hy Lạp, Ireland, Italia, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và cũng có một số khu vực châu Âu không thuộc Liên minh châu Âu (EU). Đặc biệt là từ Ireland, quốc gia mới bị cuộc ảnh hưởng tài chính lớn nhất trong năm 2008. các khoảng nợ công tăng mạnh cho các chính phủ EU do kế hoạch giải cứu ngân hàng. Tháng 11/2009. Thủ tướng Hy Lạp cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở mức 12,7% GDP, cao gấp đôi con số công bố trước đó và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ.

    Ngày 22/12/2009, Moody’s xếp hạng nợ công Hy Lạp từ A1 xuống mức A2 bởi thâm hụt ngân sách của nước này tăng cao. Đây là cơ quan thứ ba hạ xếp hạng tín dụng của Hy Lạp. Ngày 14/01/2010, Chính phủ Hy Lạp công bố kế hoạch bình ổn, tuyên bố muốn giảm thâm hụt ngân sách xuống mức 208% GDP vào năm 2012. Ngày 29/01/2010, Chính phủ Tây Ban Nha công bố kế hoạch tiết kiệm 50 tỷ euro tương tương 70 tỷ USD, trong đó tổng số tiền chi tiêu giảm tương đương 4% GDP. Lương lao động trong lĩnh vực công giảm 4%. Ngày 11/4/2010, Bộ trưởng tài chính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu chấp thuận kế hoạch 30 tỷ euro dành cho Hy lạp, tuy nhiên Hy Lạp tuyên bố không cần. Ngày 23/4/2010, Hy Lạp cầu cứu EU và IMF. Ngày 02/5/2010, Thủ tướng Hy Lạp cho biết, chính phủ nước này đã đạt được thỏa thuận với EU và IMF để nhận được gói giải cứu, đổi lại nước này phải giảm chi tiêu 30 tỷ euro trong 3 năm tới. Ngày 9/5/2010, IMF đơn phương chấp thuận trước một phần kế hoạch giải cứu, cung cấp lập tức 5,5 tỷ euro.

    Ngày 10/5/2010, các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu đưa ra kế hoạch khẩn cấp trị giá 750 tỷ euro để hỗ trợ thị trường tài chính và vực dậy đồng euro, ngăn

    Page 4

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    đồng tiền này chịu ảnh hưởng tệ hại từ khủng hoảng nợ Hy Lạp. Gói giải cứu bao gồm 440 tỷ euro từ các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu, 60 tỷ euro từ công cụ nợ của châu Âu. IMF đóng góp 250 tỷ euro, tổng số tiền lên đến 750 tỷ euro, tương đương khoảng gần 1.000 tỷ USD tính theo tỷ giá ở thời điểm đó. Gói giải cứu Hy Lạp nhận được bao gồm 110 tỷ euro trong 3 năm. Đây là nước đầu tiên tại khu vực đồng tiền chung châu Âu được hỗ trợ. Chính phủ Đức đồng ý góp 22,4 tỷ euro tương đương 30 tỷ USD cho kế hoạch cứu Hy Lạp.

    Ngày 27/5/2010, Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách nhằm tiết kiệm 15 tỷ euro tương đương 18,4 tỷ USD.

    Ngày 18/5/2010, Chính phủ Đức, trong nỗ lực ngăn hoạt động đầu cơ tài chính được coi như nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ, công bố cấm bán khống vô căn cứ cổ phiếu của 10 tổ chức tài chính lớn nhất tại Đức, trái phiếu chính phủ và hợp đồng hoán đổi vỡ nợ tín dụng.

    Ngày 25/5/2010, Nội các Italia bỏ phiếu thông qua kế hoạch thắt chặt ngân sách, tiết kiệm 24 tỷ euro với mục tiêu đến năm 2012 đưa thâm hụt ngân sách GDP từ mức 5,3% của năm 2009 về mức 2,7% GDP.

    Ngày 28/5/2010, Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống AA+ bởi nợ tiêu dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao, đó là chưa kể đến nợ công đang ở mức đáng báo động.

    Ngày 29/5/2010, hàng ngàn người biểu tình ở Lisbon – Bồ Đào Nha để phản đối kế hoạch thắt chặt ngân sách của Chính phủ.

    Ngày 7/6/2010, Đảng của Thủ tướng Đức chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách và thuế để hoàn thành mục tiêu đưa thâm hụt ngân sách của Đức về mức quy định của liên minh Châu Âu trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2013.

    Ngày 8/6/2010, Công đoàn Tây Ban Nha công bố 75% người lao động trong lĩnh vực công không đi làm để thể hiện sự phản đối kế hoạch thắt chặt chi tiêu của Chính phủ. Tỷ lệ lạm phát của Hy Lạp tháng 5/2010 tăng 5,4%, vượt mọi kỳ vọng của các chuyên gia và lên mức cao nhất từ tháng 8/1997.

    Page 5

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    Ngày 10/6/2010, thỏa thuận cải tổ thị trường lao động Tây Ban Nha sụp đổ. Chính phủ buộc phải áp dụng quy định tuyển dụng và sa thải lỏng lẻo hơn dù không có sự hỗ trợ của Nghiệp đoàn Lao động.

    Ngày 27/11/2011, lãi suất trái phiếu kì hạn 10 năm của chính phủ Tây Ban Nha tăng lên 6,78%, là mức cao nhất kể từ khi gia nhập EU.

    Ngày 21/12/2011, ông Rajoy nhậm chức thủ tướng Tây Ban Nha, hình thành nên chính phủ mới, đánh dấu sự sụp đỗ của chính phủ thứ 5 tại châu Âu sau Italia, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland do cuộc khủng hoảng.

    Ngày 14/01/2012, Standard & Poor’s hạ mức tín nhiệm của Pháp xuống 1 bậc (từ AAA xuống AA+) và Italia xuống BBB+ cùng với triển vọng tiêu cực.

    Ngày 6/2/2012 Chính phủ Romania là chính phủ thứ 6 ở châu Âu sụp đổ do khủng hoảng nợ.

    Ngày 25/6/2012, Cyprus chính thức trở thành nước thứ 5 trong khu vực các nước sử dụng đồng tiền chung euro phải xin cứu trợ từ Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu. Ngày 16/3/2013, các bộ trưởng bộ tài chính khu vực Eurozone và IMF đã đồng ý cung cấp cho Cyprus gói cứu trợ trị giá 10 tỷ euro.

    Theo Eurostat, tính chung trên toàn Liên minh châu Âu, tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 1 năm 2013 cũng tăng lên mức 10,8% so với 10,7% trong tháng 12 năm 2012. Tính đến thời điểm này, đã có 26,2 triệu người thất nghiệp tại 27 nước thành viên EU. Dự đoán tỷ lệ thất nghiệp năm 2013 sẽ vượt quá 12%.

    2.2 Nguyên nhân

    Có thể chia nguyên nhân xảy ra tình trạng nợ công do 2 nhóm chính là nguyên nhân bên trong và bên ngoài.

    2.2.1 Nguyên nhân bên trong

    Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ Hy Lạp: Chính phủ Hy Lạp phạm sai lầm trong quản lý và không trung thực khi thông báo số liệu kinh tế trong nhiều năm. Chính sự mất niềm tin làm cho Hy Lạp giải quyết khủng hoảng càng khó khăn. Bất kỳ quyết

    Page 6

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    định nào của chính phủ Hy Lạp về giải quyết vấn đề ngân sách đều bị hoài nghi, do đó càng khó cho giải quyết khủng hoảng. ngoài việc vốn đầu tư chạy khỏi Hy Lạp, khoảng 30% hoạt động của nền kinh tế nước này có gian lận, 90% những người có thu nhập cao khai thu nhập dưới 30.000 euro/năm nhằm tránh nộp thuế. Bên cạnh đó, việc Nhà thờ, một trong những chủ sở hữu quỹ đất lớn nhất quốc gia này, lại không phải trả một đồng thuế nào. Mặc dù các nhà dân chủ xã hội đã yêu cầu Nhà thờ phải trả thuế như mọi người khác, nhưng cho đến nay chưa thấy có biện pháp nào được đưa ra áp dụng.

    Các chính phủ thu không đủ chi: các nhà phân tích kinh tế đều cho rằng, khủng hoảng nợ công ở châu Âu là do chi tiêu của các chính phủ quá lớn. Việc chi tiêu quá lớn đã tạo ra thâm hụt ngân sách và khủng hoảng nợ công (lương cao cho các nhà chính trị, công chức, hệ thống an sinh xã hội và lao động, chế độ nghỉ hưu sớm).

    Vấn đề tổ chức tài chính và điều hành kinh tế của EU: Do vấn đề về cơ cấu nên EU có hạn chế về điều hành nền kinh tế của Khối, các chính sách tiền tệ không đi cùng với cải cách thu thuế và lao động. EU và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng phản ứng chậm với các nền kinh tế khi gặp khủng hoảng.

    Áp lực của các nhóm tài phiệt: Các nhà đầu cơ, các tổ chức tài chính lớn và các trung tâm quyền lực kinh tế kinh tế đã thuyết phục được các chính phủ chỉ điều chỉnh thể chế chứ không áp dụng các biện pháp cải cách các thể chế. Chính phủ các nước phải tốn nhiều tỷ euro hỗ trợ các ngân hàng và cho các chương trình hỗ trợ hoạt động kinh tế nhằm cứu ngân hàng và nền kinh tế không bị đổ vỡ. điều này không tránh khỏi việc nợ công gia tăng.

    Vấn đề chính sách kinh tế tự do mới: Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng cuộc khủng khoảng hiện nay là do chính sách kinh tế tự do gây ra. Do vậy, các quốc gia muốn thoát khỏi cần phải từ bỏ chính sách kinh tế tự do mới và chuyển sang chính sách kinh tế của Keynes, chính sách kích cầu.

    2.2.2. Nguyên nhân bên ngoài

    Chiến dịch tấn công làm suy yếu đồng euro: Ngay từ tháng 02/2010, Bộ trưởng xây dựng Tây Ban Nha José Blanco cho rằng có một chiến dịch tấn công đồng euro trên

    Page 7

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    các thị trường thế giới mà mục tiên nhằm vào Tây Ban Nha. Giới đầu cơ đang thực hiện các chiến dịch nhằm hạ thấp đồng euro và kiếm lời. Họ chủ yếu đầu cơ trong ngắn hạn. Cũng có một số nhà kinh tế cho rằng cuộc khủng hoảng này do Anh và Hoa Kỳ tạo ra để nhằm hạ đồng euro. Bởi theo họ, Anh luôi khó chịu với đồng euro, còn Hoa Kỳ thì cảm thấy bị đồng euro đe doạ, việc tấn công đồng euro cũng để chuyển hướng dư luận về sự yếu kém của đồng đô la Mỹ và đồng Bảng Anh.

    Các cơ quan đánh giá rủi ro trái phiếu vào thị trường tài chính: thị trường tài chính đóng vai trò gây bất ổn tình hình kinh tế vừa qua. Các cơ quan đánh giá Standard & Poor’s và Fitch bắt đầu đánh giá nợ của Hy Lạp, hạ thấp trái phiếu của nước này thành trái phiếu rác. Kể từ đó, lãi suất trái phiếu của chính phủ Hy Lạp không ngừng tăng, thị trường chứng khoán Hy Lạp liên tục giảm. Joseph Stiglitz cũng cho rằng, các cơ quan đánh giá rủi ro như Standard & Poors (S&P), Moody’s và Fitch là nhân tố góp phần vào sự bất ổn của các thị trường, đẩy các nước vào khủng hoảng.

    Hoạt động đầu cơ tài chính: Mục đính của đầu cơ là làm tăng lãi suất trái phiếu chính phủ cao nhất có thể để thu lời. Thực tế, nợ công được thương lượng thông qua các ngân hàng tư nhân và giá do các ngân hàng này ấn định. Các tổ chức tài chính như Alpha Bank, Bank of America-Merrill Lynch, ngân hàng thương mại như ING và société Genérale có nhiều cơ hội đầu cơ. Phát khai hỏa đầu tiên cho đầu cơ là việc IMF đưa ra báo cáo ngày 22/4/2010, theo đó nền kinh tế Bồ Đào Nha đang xấu đi. Kinh tế Bồ Đào Nha sẽ tăng trưởng thấp hơn dự báo và sẽ không giảm được thâm hụt: thâm hụt công sẽ là 7,5% GDP, dự báo trước đó là 6,6% thất nghiệp sẽ ở mức từ 10-11%. Hậy quả, các trái phiếu 10 năm của Bồ Đào Nha vược qua ngưỡng 4,77% và hiện Bồ Đào Nha cùng Hy Lạp, Ireland là những nước chắn chắn không thực hiện giảm nợ công, mặc dù nợ công của Bồ Đào Nha chỉ là 86% GDP.

    Môi trường quốc tế không thuận lợi: Mỹ đe doạ đưa ra các số liệu tiêu cực của các doanh nghiệp là cho thị trường chứng khoán Mỹ giảm. Để đối phó với khủng khoảng, các nhà đầu tư buộc phải rời khỏi các nước này, làm cho các nước rơi vào cảnh thiếu tiền. Vốn đầu tư bị rút khỏi Hy Lạp không ngừng tăng. Chỉ tính riêng trong tháng 1/2010 đã có

    Page 8

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    8 đến 10 tỷ euro bị rút khỏi Hy Lạp, con số này cao hơn số tiền trái phiếu mà chính phủ Hy Lạp đã phát hành lần gần đây nhất.

    Tóm lại, cuộc khủng hoảng nợ công của các nước châu Âu bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả bên trong lẫn bên ngoài. Âm mưu và ý đồ của giới tài phiệt tiếp tục gây áp lực lên thị trường tài chính nhằm đầu cơ kiếm lời trong ngắn hạn. Gói cứu trợ 750 tỷ euro có tác dụng trong ngắn hạn, nhưng về trung hạn, nguy cơ tiềm ẩn vẫn còn cao, vẫn còn có nghi ngờ về các món nợ công và sự bất ổn tài chính. Tình hình này có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế châu Âu, nhưng cũng có thể gây ra hiệu ứng đối với cả thế giới.

    3. Nợ công tại Việt Nam

    3.1 Tình trạng nợ công tại Việt Nam

    Theo công bố của Tạp chí Kinh tế (The Economist), tỷ lệ nợ công năm 2011 của Việt Nam là 50,9% GDP, dự kiến năm 2012 tỷ lệ này là 55,4%. Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 60% GDP theo cách tính chỉ tiêu tỷ lệ nợ công trên GDP của Liên hiệp quốc) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến được khuyến cáo ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và so với một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc (17,4%), Indonesia (25,6%).

    Hình 1: Tỷ lệ nợ công/GDP từ năm 2001 đến năm 2012

    Page 9

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    Ngoài ra, cũng theo The Economist, mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2011 là 638,55 USD, dự kiến 2012 tăng lên 698,71 USD. Nếu so sánh với 817,22 USD (Trung Quốc), 808,52 USD (Indonesia), 4.626,4 USD (Malaysia), 1.195,29 USD (Philippines), 2.261,78 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao.

    Khoản mục Số liệu Ghi chú  
           
    Tổng số vốn vay ODA và vay ưu 71,7 tỷ USD    
    đãi nước ngoài    
         
           
    Tổng số vốn cam kết vay thương 4,08 tỷ USD    
    mại nước ngoài    
         
           
    Dư nợ các dự án cho vay lại của 10,3 tỷ USD Tương đương 8.5% GDP  
    Chính phủ
         
           
    Số lượng các dự án cho vay lại 580 dự án 55 dự án nợ quá hạn  
           
    Tổng số dư nợ công 55.4% Giảm 1.9% so với 2010  
           

    Bảng 1: Tình hình vay nợ, tính đến 31/12/2012

    Tuy nhiên, nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD; thì trong vòng 10 năm, con số này đã tăng gấp 6 lần, cho thấy gánh nặng nợ tương lai đổ lên đầu người dân ngày càng tăng.

    Tính ra từ năm 2007 đến cuối năm 2011, nợ công của Việt Nam đã tăng khoảng 25% (trung bình 5%/năm). Với khoản nợ này, căn cứ vào thời điểm đáo hạn thì từ nay đến 2015 mỗi năm Việt Nam phải trả nợ gốc và lãi cho nước ngoài gần 1,5 tỉ USD và mức trả nợ cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với con số lên đến 2,4 tỉ USD.

    3.2 Nguy cơ nợ công tại Việt Nam

    Xu hướng nợ công tại nước ta: Một thực tế đáng buồn đó là nợ công nước ta liên tục tăng chứ không giảm qua các năm. Cụ thể như giai đoạn 2001-2009 tốc độ tăng trung bình của nợ công nước ta là 18%/năm, gấp 3 lần tốc độ tăng GDP. Bên cạnh đó, Ngân sách nước ta cũng liên tục thâm hụt trung bình khoảng 5% GDP. Như vậy, rõ ràng hằng năm chúng ta không hề có dư để trả nợ mà phải vay thêm nợ mới để trả những món nợ đến hạn và lãi suất của những món nợ còn lại.

    Page 10

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    Vay vốn nước ngoài: Trong những năm qua hệ số ICOR của Việt Nam có xu hướng tăng, điều đó có nghĩa là hiệu quả ở các lĩnh vực đầu tư công là không cao. Vốn vay không được sử dụng hợp lí, dàn trãi và gây thất thoát.

    Hình 2: Hệ số ICOR Việt Nam qua các giai đoạn

    Vay vốn nhưng lại không sử dụng đồng vốn vay có hiệu quả, sinh ra lời để trả nợ, nếu xu hướng này không sớm được cải thiện, ta sẽ chẳng mấy chốc rơi vào khủng hoảng nợ công. Ví dụ điển hình là trường hợp Vinashin nợ 1 tỷ USD trái phiếu do chính phủ bảo lãnh.

    Tỉ giá tăng: Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay. Trên lý thuyết, điều này được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của chính phủ. Đến thời hạn trả nợ, tỉ giá tăng làm gia tăng tổng số nợ nước ngoài.

    Những khoảng nợ công tại doanh nghiệp của Việt Nam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách. Theo đó, những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả mới là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công Việt Nam. Cụ thể, khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước không được chính phủ bảo lãnh chiếm 11,1% GDP. Ngoài ra, nợ trong nước của khu vực doanh nghiệp nhà nước theo ghi nhận trong Đề án Tái cấu trúc DNNN của Bộ Tài chính năm 2012 cũng chiếm xấp xỉ khoảng 16,5%.

    Page 11

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    3.3 Nợ công châu Âu ảnh hưởng đến Việt Nam

    Xuất khẩu giảm: Cuộc khủng hoảng nợ châu Âu kéo theo một loạt hệ quả tất

    yếu: tốc độ phục hồi kinh tế thế giới chậm lại, tình hình thất nghiệp và lạm phát tăng cao, đồng euro mất giá, tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực tế người dân và cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh. Điều này sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến xuất khẩu và tăng trưởng GDP của Việt Nam, với mức suy giảm khoảng 1,7% GDP trong năm 2010, cao thứ ba chỉ sau Trung Quốc (2,8%) và Anh (1,9%). Vì vậy, nếu không có những chính sách phản ứng kịp thời hỗ trợ xuất khẩu thì triển vọng trung hạn đối với xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.

    Lãi suất thấp ở các nước: trong khi ở Việt Nam lại cao sẽ bất lợi về chi phí cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Do lo ngại tác động tiêu cực từ khủng hoảng nợ công, nhiều ngân hàng trung ương các nước phát triển vẫn duy trì mức lãi suất sàn thấp lịch sử nhằm kích thích sự phục hồi kinh tế và chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định. Lãi suất cơ bản tiệm cận 0% ở hầu hết các nước: FED (Mỹ) : 0,25%; ECB (EU) : 1%; BOE (Anh) : 0,5%; Nhật Bản 0,1%. Ngược lại ở Việt Nam, lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao. Các doanh nghiệp phải vay vốn với lãi suất khoảng 14-16%/năm với kỳ hạn ngắn và khoảng 14,5-17%/năm với kỳ hạn trung, dài hạn.Nếu tính đến lạm phát ước cho năm 2010 là dưới 10%, doanh nghiệp phải đạt mức tỉ suất lợi nhuận trên 24-27%, là mức cao so với tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của các ngành trong năm 2009 (khoảng 20%).

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm: Khủng hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra tác động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu.

    Giá vàng bùng nổ: Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi trú ẩn an toàn trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm cho giá vàng trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều này phản ánh nhu cầu về dự trữ an toàn hơn so với đồng tiền giấy.

    Bảo hiểm rủi ro tín dụng xu hướng tăng lên: Vấn đề Hy Lạp đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới càng trở nên thận trọng hơn với các quốc gia có vấn nạn tương tự

    Page 12

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    .Điều này sẽ là một cản trở rất lớn trong việc thu hút các luồng vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và cho vay từ nước ngoài.

    Biến động tỉ giá hối đoái rất khó lường

    3.4 Bài học rút ra từ nợ công châu Âu và giải pháp

    Bài học thứ nhất: sử dụng vốn hợp lý và có hiệu quả. Những nước đi vay nợ cần phải ý thức rằng đây là những đồng tiền đi vay mượn, cần phải sử dụng chúng sao cho hợp lý, có hiệu quả, cần phải làm cho “tiền đẻ ra tiền” như vậy mới mong trả được nợ và phát triển nền kinh tế nước mình, sử dụng nó để tạo ra động lực phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế đã phát triển, sử dụng những đồng tiền sinh lời này để trả nợ. Nếu sử dụng kém hiệu quả thì quốc gia đó sẽ gặp thất bại trong việc quản lý nợ và sớm bị vỡ nợ. Một khía cạnh khác trong vấn đề này, đó là không nên chạy theo những công trình dự án hào nhoáng, đồ sộ, không phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế như Hy Lạp cho Olympics Athen 2000. Chính sự vung tay quá trán của Hy Lạp lúc đó cũng là nguyên nhân khủng hoảng nợ công về sau.

    Đối với Việt Nam, chính phủ nên xem xét lại các dự án, công trình mang tính chất dài hạn, tiêu tốn nhiều tiền của. Thay vào đó chính phủ tập trung vào những dự án cấp thiết, đồng thời rà soát những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, đầu tư tràn lan để xứ lí kịp thời, hạn chế rủi ro và tổn thất khi bảo lãnh hoặc cứu trợ.

    Bài học thứ 2: quản lí về nợ công. Đây là bài học cho bất kì nền kinh tế nào. Nếu lơ là, nền kinh tế đó có thể sụp đổ và phải cẩn trọng trong chi tiêu. Vấn đề ở đây là không nên chi quá nhiều tiền, nhưng bao nhiêu cho đủ thì mỗi quốc gia lại một khác. Nếu cho rằng chi tiêu không nhiều thì không xảy ra khủng hoảng là không đúng (cuộc khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra năm 1997 khi Thái Lan chỉ nợ khoảng 15% GDP). Do đó vấn đề đặt ra là luôn ý thức và kiểm soát mực nợ phù hợp với nền kinh tế đất nước. Cơ hội được tiếp cận dễ dàng nguồn tín dụng rẽ khi gia nhập Eurozone làm cho chính phủ Hy Lạp chi tiêu quá tay mà quên nghĩa vụ phải trả nợ trong tương lai.

    Việt Nam hiện nay đã có Luật quản lý nợ công quy định rõ đối tượng, phạm vi điều chỉnh, hệ thống chi tiêu kiểm soát nợ,… Do đó, cơ quan quản lý đã có một cơ sở

    Page 13

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    pháp lý rõ ràng để thực hiện trách nhiệm của mình trong việc quản lý nợ công. Tuy nhiên, việc quản lý nợ công vẫn còn một số vấn đề như: quyền hạn quản lý còn chồng chéo, năng lực các bộ còn hạn chế, đối với các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước cần phải minh bạch hơn hoặc có cơ chế quản lý riêng, cơ chế cảnh báo sớm còn hạn chế,…

    Bài học thứ ba: minh bạch trong việc công bố các khoản vay, đã sử dụng các

    khoản vay, từ đó nâng cao niềm tin nhà đầu tư. Cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp. Nguyên nhân xuất phát từ việc gia nhập Eurozone, chính phủ Hy Lạp đã sử dụng một số thủ thuật để che giấu tình trạng nợ công của mình và đưa ra những con số phù hợp với tiêu chuẩn mà EU đề ra. Tuy nhiên, sau những lần công bố không khớp nhau, các nhà đầu tư bắt đầu hoài nghi về thâm hụt ngân sách Hy Lạp. Sau đó, đã có các cuộc điều tra tình hình nợ công của Hy Lạp. Khi sự thật được vén màn, một làn sóng rút vốn ồ ạt ra khỏi các ngân hàng Hy Lạp đẩy Hy Lạp vào tình trạng khó khăn trong việc huy động vốn trên trường quốc tế. Đây chính là hậu quả của việc không minh bạch, gian lận số liệu thống kê, kế toán.

    Đối với Việt Nam, tuy vấn đề chưa nghiêm trọng nhưng đã có một số mầm mống của sự thiếu minh bạch công khai của chính phủ về tình hình nợ công. Bộ Tài chính cũng là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và công bố số nợ công ở nước ta, tuy nhiên cơ quan này cũng chỉ mới đưa ra những con số nợ nước ngoài, chưa có một thống kê chi tiết về các khoản nợ công. Trong khi đó, việc tinh toán nợ công của mỗi cơ quan, đồng thời điểm lại có sự khác nhau, trong năm 2009 theo như Bộ Tài chính thì nợ công Việt Nam chiếm 44,7% còn theo một báo cáo khác cũng thuộc Bộ Tài chính con số đó là 52,6%. Đồng thời con số Bộ Tài chính đưa ra cũng chênh lệch so với con số của World Bank là 47,5%. Điều này xuất phát từ việc Việt Nam không nhất quán trong việc tính nợ công theo thông lệ quốc tế, nhiều khoảng nợ còn nhập nhằng với nhau. Ngoài ra cũng trong việc quản lý nợ doanh nghiệp nhà nước chính phủ không có cơ chế rõ ràng cho bộ phận này đễn đến chính phủ phải chịu hậu quả khi bộ phận này gặp khó khăn. Chính vì điều đó làm cho mức tín nhiệm của Việt Nam bị hạ thấp. Tuy nhiên, Việt Nam có lợi thế là độc lập trong chính sách điều tiết tiền tệ chứ không bị ép buộc như trong khối EU.

    Page 14

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    Bài học thứ tư: xây dựng chiến lược, kế hoạch trả nợ. “Người khổng lồ” Hy Lạp chỉ vì lo chi tiêu mà quên đi nghĩa vụ trả nợ dẫn đến tình trạng nợ chồng chất. Để không phải chịu như Hy Lạp, chúng ta cần thiết phải thúc đẩy việc xây dựng kế hoạch trả lương như trong Luật Quản lý nợ công ban hành. Đó là việc xây dựng kế hoạch trả nợ bằng bốn công cụ:

    Thứ nhất, chiến lược dài hạn về nợ công gồm các nội dung như đánh giá thực trạng nợ cơng và công tác quản lý trong giai đoạn thực hiện chiến lược trước đó; mục tiêu, định hướng huy động sử dụng vốn vay và quản lý nợ công. Căn cứ để xây dựng chiến lược hài hạn về nợ công là kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm và 10 năm về các lĩnh vực, vùng lãnh thổ cũng như các nghị quyết, quyết định về chủ trương huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ của chính phủ.

    Thứ hai, chương trình quản lý nợ trung hạn gồm các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về huy động, sử dụng vốn vay, trả nợ và cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý nợ trong giai đoạn 3 năm liền kề để thực hiện các chỉ tiêu an toàn về nợ đã được Quốc hội xác định trong mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công.

    Thứ ba, kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của chính phủ có nội dung gồm: Kế hoạch vay trong nước (gồm kế hoạch huy động vốn cho ngân sách nhà nước và kế hoạch huy động vốn cho đầu tư phát triển); kế hoạch vay nước ngoài thông qua các hình thức như ODA, vay ưu đãi, vay thương mại; kế hoạch trả nợ được chi tiết theo chủ nợ và có kế hoạch trả nợ gốc, trả lãi, trả nợ trong nước, trả nợ nước ngoài.

    Thứ tư là các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công. Các chỉ tiêu giám sát nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm: nợ công so với GDP, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu,…

    Page 15


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-v%E1%BB%9Bi-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam

    Lời mở đầu

     

    Một câu hỏi được đặt ra là chất lượng nguồn nhân lực là gì? Trước hết ta cần trả lời câu hỏi thế nào là nguồn nhân lực?

    Trong thực tế đã chứng minh rằng :” Sự suy vong hay hưng thịnh của 1 quốc gia, một lãnh thổ phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực và đặc biết là chất lượng của của nguồn nhân lực này. Cũng cần nhấn mạnh nguồn nhân lực có chất mạnh đảm bảo trên tất cả các lĩnh vực hoạt động. Thật vây, một nhà quản lý yếu kém, quốc gia có thể suy vong; Nhà quản lý doanh nghiệp yếu, doanh nghiệp có thể phá sản; các nhà khoa học công nghệ yếu kém dẫn đến nền kinh tế trì trệ kém phát triển; Người lao dộng không đủ khả năng, công việc sẽ tồn đọng, thiếu hiệu quả.

    Vậy chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở 2 tiêu chí:

    • phẩm chất đạo đức
    • và năng lực hoạt động( năng lực tác nghiệp)

    Trong 2 tiêu chí trên, tiêu chí thứ 2 dù vất vả mới đạt được nhưn dễ dàng đánh giá và dễ hiệu chỉnh hơn. Còn tiêu chí thứ nhất tuy rất dễ nói nhưng rất khó lường, vì vậy cũng rất khó hiệu chỉnh. Sự khó khăn này nhân lên rất nhiều lần trong nền kinh tế thị trường và Đảng ta là Đảng cầm quyền.

     

    Ngày nay chất lượng nguồn nhân lực là một vấn đề cấp bách và rất quan trọng trog nền kinh tế và đặc biệt là đối với vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam. 

     

     

    1.Những quan điểm về chính sách phát triển nguồn nhân lực

      1.1 Chiến lược phát triển nguồn nhân lực thực chất là phát triển nguồn vốn con người phải được quan tâm từ thời thơ ấu đến lúc trưởng thành và trong suốt cuộc đời của một cá nhân về mặt trí lực, tâm lực, thể lực, các phẩm chất đạo đức, nhân cách công dân, trình độ học vấn, chuyên môn và văn hóa…

      1.2 Phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nhu cầu lao động kĩ thuật ngoài xã hội của thị trường lao động cả nước, quốc tế cũng như của từng ngành, từng vùng địa lý kinh tế

      1.3 Phát triển các hình thức đào tạo kết hợp giữa các trường chuyên nghiệp với các cơ sở sản xuất – dịch vụ, các doanh nghiệp.

    1.4 Giáo dục Đại học cần tiếp tục phát triển cả về qui mô và nâng cao chất lượng hiểu quả đào tạo song cần định rõ hai nhu cầu cơ bản: nhu cầu của xã hội về học vấn đại học và nhu cầu của nhà nước, của các tổ chức kinh tế – xã hội về nhân lực lao động kĩ thuật cao cấp

    1.5 Phát triển nguồn nhân lực là chính sách quan trọng của nhà nước với việc đề ra các chính sách quản lý nhà nước vĩ mô về nguồn nhân lực, xây dựng các chiến lược và các kế hoạch phát triển nhân lực trong phạm vi cả nước cũng như ở các ngành và các địa phương

    1.6 Cơ cấu lại hệ thống đào tạo nhân lực theo hướng đa dạng hóa, phát triển các loại hình đào tạo nhân lực chất lượng cao. Triển khai hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực

         Quản thật 6 quan điemr nêu ra của chiến lược phát trienr là một tổng thể mà óc thể hình dung nó như một con voi khổng lồ. Nhưng tại sao đi vào thực tiễn thường chúng ta chỉ thấy được từng bộ phận của nó. Nếu đem ráp lại thì ta có một con voi, nhưng lại không có sức mạnh thực sự của một con voi. Có lẽ bài toán nhân lực chưa có lời giải đồng bộ chăng?

    2. Vai trò đào tạo giáo viên kĩ thuật trong chính sách phát triển nguồn nhân lực

        Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét đánh giá trên hai tiêu chí: phẩm chất và trình độ năng lực tác nghiệp. Trong đó phẩm chất đạo đức của một người là kết quả của quá trình giáo dục từ lúc ấu thơ đến tuổi trưởng thành và trong quá trình hoạt động nghề nghiệp. Môi trường rèn luyện nhân cách cho mỗi con người bao gồm gia đình, nhà trường và xã hội. Trong thực tế hiện nay, cứ mỗi lần xuất hiện một sự việc thiếu lành mạnh trong lưa tuổi thanh niên , thì từ các gia đình, dư luận xã hội, thậm trí từ các nhà lãnh đạo, các chức trách chỉ đổ dồn vào phê phán, chỉ trích nhà trường, ngành giáo dục. Rất ít thấy có sự chia sẻ trách nhiệm một cách công bằng.

         Vế thứ hai của chất lượng nguồn nhân lực ( năng lực chuyên môn) tuy vẫn là kết quả giáo dục- đào tạo của cả cộng đồng song trách nhiệm lớn có tính chất quyết định thuộc về hệ thống giáo dục – đòa tạo nghề từ khâu đào tạo hướng nghiệp ở bậc phổ thong các trương công nhân kỹ thuật, các trường Trung học chuyên nghiệp , các trường Cao đảng kỹ thuật đến các trường Đại học. Hệ thống này phát triển rất nhanh về qui mô, về hình thức tổ chức quốc tế về lĩnh vực phát triển nghề nghiệp.

         Vậy mà, theo nhận định của một chuyên gia về giáo dục thì “ chất lượng đào tạo ở các cấp bậc học yếu kém trên nhiều mặt, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Hiệu quả “trong” của đào tạo thấp, thể hiện kết quả học tập và đào tạo thấp, lạc hậu so với trình độ thế giới. Hiệu quả “ngoài” của đào tạo chưa cao. Học sinh tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo còn rất lung túng khi bắt đầu làm việc. Đào tạo và sử dụng chưa ăn khớp, một số đáng kể người tốt nghiệp không làm đúng ngành nghề hoặc không chịu làm việc tại những nơi có nhu cầu. Khả năng thích nghi của người tốt nghiệp với thị trường làm việc yếu kém, thất nghiệp nhiều và các cơ sở sử dụng lao động phải tiếp tục đào tạo thêm”.

         Quả là bức tranh thực trạng này không sang sủa và lạc quan như nhiều báo cáo, tổng kết khen thưởng mà ta thường được nghe. Cũng qua bức tranh trên ta phần nào hình dung ra mối quan hệ chằng chịt giữa chủ trương chính sác vĩ mô, người được đào tạo, cơ sở đào tạo và nơi sử dụng lao động(thị trường lao động). Thoạt nghe chúng ta hình dung đây là mối quan hệ hàng hóa thị trường vì nó có hẳn nơi đặt hàng, nơi triển khai thực hiên(đào tạo), sản phẩm làm ra(người tốt nghiệp) và nơi sử dung(các doanh nghiệp,liên doanh)… Liệu đã có cơ quan nào,cấp nào qui định tính pháp luật cho mối quan hệ này chưa? Trong mối quan hệ hưu cơ, không thể thiếu nhưng lại mang tính tự phát hiện nay thì thực trạng trên cũng là điều dễ hiểu.

         Trước bức tranh yếu kém đó, trong phạm vi là một bộ phận cấu thành hệ thống các yếu tố chi phối chất lượng nguồn nhân lực – là cơ sở đào tạo, ta cần xác định xem cần phải đi từ mấu chốt nào để cơ sở đào tạo đóng góp thích cực nhất vào sự phát triển nguồn nhân lực.

          Hiện nay ta đang thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục. Nhiều người quan niệm mấu chốt của chủ trương này là cá nhân(gia đình) tự đóng tiền học để hoc vì vậy họ không mắc nợ ai cả, họ thuê người phục vụ cho họ theo cơ chế thị trường . Đồng thời trong đổi mới dạy và học, ta chủ trương chuyển trung tâm dạy và học từ người thầy sang người trò- lấy người học làm trung tâm. Điều này liệu có giống suy nghĩ: Khách hàng là thượng đé trong cơ chế thị trường?

          Nhiều sự việc ngang trái ngoài xã hội và trong nhà trường buộc ta phải suy nghĩ, phải điều chỉnh cả tư duy lẫn hoạt động.

     

     

     

     

     

     

     

    Chất lượng nguồn nhân lực – những vấn đề từ thực tiễn

    Nước ta có nguồn lao động dồi dào, chiếm trên 54% dân số cả nước, với 46,6 triệu lao động. Tuy nhiên, có đến gần 80% người lao động trong độ tuổi từ 20- 24 khi tham gia thị trường lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp

    Chất lượng lao động của nước ta tiếp tục thấp, cơ cấu lao động tiếp tục bất hợp lý ngay từ khi đào tạo khiến thị trường lao động tiếp tục phải tiếp nhận một nguồn nhân lực không đạt yêu cầu. Đây là thực tế đòi hỏi có giải pháp hữu hiệu để giải quyết.

    Chiến lược phát triển giáo dục quốc gia 2001-2010 đã khẳng định “ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế…”. 

    Thế nhưng, đến nay chất lượng lao động của nước ta tiếp tục thấp, cơ cấu lao động tiếp tục bất hợp lý ngay từ khi đào tạo khiến thị trường lao động tiếp tục phải tiếp nhận một nguồn nhân lực không đạt yêu cầu. Đây là thực tế đòi hỏi có giải pháp hữu hiệu để giải quyết.

    Nước ta có nguồn lao động dồi dào, chiếm trên 54% dân số cả nước, với 46,6 triệu lao động. Tuy nhiên, có đến gần 80% người lao động trong độ tuổi từ 20- 24 khi tham gia thị trường lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp. Các yếu tố như thể lực, trí lực, tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật của người lao động cũng còn nhiều vấn đề đáng bàn… 

    Thực tế này làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là những ngành công nghiệp kỹ thuật cao, như cơ khí, điện tử… Ông Trần Quang Hùng-Tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho rằng: Chúng ta cần phải thay đổi toàn bộ hình thức đạo tạo công nhân và kỹ sư. Hiện nay, chúng ta có nhiều thợ, nhiều kỹ sư, nhưng kỹ sư giỏi và thợ lành nghề ít vì vậy mà chúng ta chỉ có thể gia công. Kỹ sư của chúng ta mới quen làm việc theo công nghệ, mẫu mã của nước ngoài. Còn tự mình thiết kế sản phẩm, hoặc sáng tạo ra mẫu mã mới còn rất ít. Đây là thực tế đã kéo dài nhiều năm nay nhưng chưa có giải pháp khắc phục.

    Thực tế thiếu lao động chất lượng cao không chỉ là vấn đề của ngành điện tử, mà còn là tình trạng chung của nhiều ngành khác như theo thống kê của Hiệp hội Dệt may TPHCM, nhu cầu của các doanh nghiệp dệt may hiện đang cần khoảng 40.000 lao động điều hành sản xuất ở các chức danh giám đốc, quản đốc, quản lý chất lượng, thiết kế… nhưng không tìm đâu ra. Ở ngành tin học cũng trong tình trạng tương tự khi ngành cần ngay khoảng 25.000 chuyên gia phần mềm và lập trình viên, nhưng hiện nay, hệ thống đại học chỉ có thể cung cấp 5.000 chuyên gia công nghệ thông tin mỗi năm vào làm việc ngành phần mềm.

    Doanh nghiệp “tìm không ra” nhưng nhân lực từ các trường đào tạo lại thừa. Theo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TPHCM, số lao động tốt nghiệp ĐH chưa xin được việc làm hiện tại vào khoảng 8.000 đến 10.000 người, nhưng số sinh viên ra trường đáp ứng được việc làm cho các doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 25%, số còn lại phải làm công việc trái ngành nghề đã học hoặc phải chờ việc.

    Chất lượng đào tạo chưa đạt yêu cầu, cơ cấu lao động tiếp tục bất hợp lý chính là “điều kiện” khiến cho thị trường lao động luôn ở tình trạng thừa mà… thiếu. Chính vì vậy, để góp phần khắc phục tình trạng này, một trong những yêu cầu cơ bản đặt ra là bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo ở khu vực đại học, cũng cần có quy hoạch chi tiết và phát triển mạng lưới các trường dạy nghề, đảm bảo đồng bộ về quy mô, cơ cấu ngành nghề và cấp trình độ đào tạo với quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm, doanh nghiệp… 

    Ông Nguyễn Tiến Dũng- Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề cho rằng: “Để thực hiện chỉ tiêu Chính phủ đặt ra là nâng tổng số lao động qua đào tạo đến năm 2010 là 50%, trong đó dạy nghề là 30% thì phải có các giải pháp hết sức căn bản. Đặc biệt quan tâm đến chất lượng, kiên quyết chuyển đào tạo từ hướng cung sang hướng cầu; đẩy mạnh dạy nghề thường xuyên, thực hiện triển khai dạy nghề thường xuyên và tăng cường công tác quản lý Nhà nước với đào tạo nghề tại doanh nghiệp và tại nơi làm việc.”

    Hiện nay, thị trường lao động của nước ta phát triển tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, nơi có các khu công nghiệp, khu chế xuất, và ở 3 vùng kinh tế trọng điểm. Nhiều địa phương khác thì thị trường lao động còn ở mức sơ khai; quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành của các địa phương chưa có sự gắn kết với kế hoạch sử dụng lao động. 

    Đặc biệt, quy hoạch các khu công nghiệp, khu đô thị của nhiều địa phương chưa gắn với tạo việc làm ổn định cho người lao động. Giải pháp khắc phục tình trạng này, theo ông Nguyễn Đại Đồng – Vụ trưởng Vụ lao động việc làm – Bộ lao động thương binh xã hội, các địa phương cần có sự hoàn thiện về cơ chế chính sách liên quan đến thị trường lao động. 

    Hiện nay, Bộ Lao đọng thương binh và xã hội đang được Chính phủ giao nhiệm vụ chuẩn bị đề án về phát triển thị trường lao động để thị trường lao động phát triển phù hợp với quy luật thị trường nói chung và thị trường lao động nói riêng.

    Bài toán chất lượng nguồn nhân lực, hay nói cách khác, nghịch lý “cung thừa” “cầu thiếu”, đã được đề cập nhiều trong các diễn đàn. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu. Chúng tôi cho rằng, để nguồn nhân lực đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế, tránh tình trạng thiếu nhân lực có chất lượng, nhà trường và doanh nghiệp cần có sự “bắt tay chặt chẽ” ngay từ khâu đào tạo nhân lực. Khi đó, nhà trường sẽ có kế hoạch đào tạo đúng với nhu cầu của thị trường. Còn doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn nhân lực cho phát triển sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh.

                                                                                Theo  VOV

     

     

    Chất lượng nguồn nhân lực quá yếu

     

    Theo Diễn đàn kinh tế thế giới, năm 2005, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam xếp thứ 53 trong số 59 quốc gia được khảo sát. Cơ cấu nguồn nhân lực tỉ lệ đại học (cử nhân, bác sĩ, kỹ sư)/trung học chuyên nghiệp/công nhân kỹ thuật trung bình ở nước ta (1:1,16: 0,92 ); còn trung bình của thế giới (1:4:10), như vậy nước ta nghiêng tỉ lệ thầy nhiều hơn thợ quá lớn.

    Chưa đáp ứng chuẩn mực đào tạo

    Theo thống kê của Bộ GDĐT, có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm. Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng không đáp ứng được công việc, không ít công ty phải mất 1-2 năm đào tạo lại. Bằng cấp đào tạo chưa được thị trường lao động quốc tế thừa nhận, tốt nghiệp đại học ở Việt Nam chưa hẳn ở nước ngoài đã được trả lương theo văn bằng.

    Năm 2007, số SV tốt nghiệp ĐH là 161.411. Theo ước tính, mỗi tấm bằng ĐH người dân bỏ ra 40 triệu đồng, còn Nhà nước đầu tư khoảng 30 triệu đồng. Như vậy, với tỉ lệ 63% sinh viên ra trường chưa có việc làm, có thể làm một phép tính để thấy kinh phí đã đầu tư rồi sinh viên vẫn thất nghiệp (161.411 SV x 63% x 70 triệu). Chỉ tính riêng năm nay ít nhất là 7.117 tỉ đồng (trong đó, 4.067 tỉ đồng của dân, còn là 3.050 tỉ đồng của Nhà nước).

    Hiện ta có 1.540.201 SV đại học và cao đẳng, so với dân số nước ta, tỉ lệ trung bình ở nước ta là 181 SV/vạn dân, SV dự kiến tăng tuyển sinh 10%, và đến 2020 sẽ có 600 trường ĐH&CĐ, gấp 2 lần số trường đã có hiện nay, mỗi huyện thị trung bình có 1 trường. Tỉ lệ ở thế giới là 100 SV/vạn dân, Trung Quốc là 140 SV/vạn dân. Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc gấp 2 lần thu nhập ở Việt Nam.

    Kinh tế, theo lịch sử, sẽ quyết định quy mô giáo dục. Năm nay Nhà nước dự kiến chi 4.000 tỉ đồng cho vay để học tập. Để duy trì quỹ vay này hoạt động thường xuyên, theo chuyên gia, con số này không phải là 4.000 tỉ đồng, mà phải là 15.000 tỉ đồng.

    Bất cập của hệ thống giáo dục chưa đáp ứng được chuẩn mực đào tạo trong ngoài nước. Rõ ràng, chúng ta đang ở trong vòng luẩn quẩn nghèo đói và lãng phí. Đào tạo không sử dụng được, thì sự lãng phí không thể đong đếm được, vì ngoài tiền của là thời gian, sức trẻ…?

    Những bất cập về cơ cấu và chất lượng

    Sự bất cập về cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực có nhiều, nhưng xin nêu ba nguyên nhân chính.

    Bậc đại học là bậc tự học. Muốn đào tạo có chất lượng, điều kiện tối thiểu phải có đầy đủ SGK và giáo trình (gọi chung là sách), theo một chương trình đạo tạo chuẩn mực ổn định. Hiện nay bậc phổ thông bội thực sách, còn ở bậc đại học đói sách phải học chay triền miên.

    Có lẽ vì lượng sách phổ thông in ấn hàng triệu bản, thu lãi cả triệu USD/môn học, thì bộ quản chặt, còn sách in hàng nghìn bản ở ĐH không mang lợi thì để các trường tự lo? Chương trình đào tạo được chỉ đạo trước đây sao chép chương trình của Đại học Chiềng Mai – Thái Lan, và hàng vạn cuộc họp được tổ chức suốt 20 năm qua, nhưng kết quả vẫn còn ở phía trước?

    Gần đây lại chỉ đạo “nhập khẩu” chương trình đào tạo của các nước tiên tiến với vốn vay hàng triệu USD từ nước ngoài. Một việc làm thật lạ với các nước, và chưa từng có tiền lệ, kể cả thời điểm sau hoà bình lập lại năm 1955, khi các trường ĐH mới được thành lập.

    Về tổ chức, ngoài tiêu chuẩn “xếp hàng”, từ năm 1987 đến nay, lãnh đạo ngành giáo dục còn có tiêu chí mới để chọn người, với danh nghĩa “dân chủ hoá” nhà trường bằng việc phổ thông đầu phiếu. Trong đó giáo sư và nhân viên có giá trị phiếu ngang nhau để cử vào các vị trí quản lý các cơ sở đào tạo, từ chủ nhiệm bộ môn đến hiệu trưởng. Người ứng cử là 51 tuổi đối với nữ, 55 tuổi đối với nam là tiêu chí bất thành văn trong ngành để chọn vào vị trí quản lý.

    Việc loại bỏ một nhà giáo, nhà khoa học có uy tín khỏi danh sách ứng cử viên hiệu trưởng ở các trường đại học lớn của nước ta, thật dễ dàng, chỉ cần kéo dài thời gian lấy phiếu tín nhiệm khoảng 2 tháng cho quá tuổi là xong.

    Việc bổ nhiệm Giám đốc ĐHQG cũng vậy, yêu cầu phải có hàm “thứ trưởng”, chứ đâu phải tài năng và học thuật. ĐHQG sau hơn 10 năm thành lập, vẫn thua kém ĐHTH Chulalongkon – Thái Lan 50 bậc! Thực tế, sau 20 năm, không ít các sở đào tạo, bộ máy quản lý được thiết lập những quy trình khó hiểu, “chẳng giống ai”, nên tạo ra những bộ máy hoạt động kém hiệu quả.

    Việc “thầy nhiều hơn thợ” bắt nguồn từ việc xoá bỏ Tổng cục Dạy nghề khi nhập vào Bộ ĐH-THCN năm 1987. Hệ thống giáo dục quốc dân vào năm 1993 đã bị biến dạng, hệ thống này được ví như cái kiềng hai chân, không thể liên thông được. Tại Trung Quốc, sau THCS, gần 60% HS vào trường nghề, chỉ hơn 40% vào THPT và học lên ĐH, ở Đài Loan 66% học nghề, 34% học tiếp.

    Thuỵ Sĩ là một nước giầu có, nhưng tỉ lệ vẫn giữ 1 thầy 4 thợ. Sự phân luồng ở đây 18% HS vào ĐH, 82% HS đi học nghề. Họ có 10 trường ĐH, nhưng có 72 trường dạy nghề. Dự kiến từ nay đến 2020 sẽ có 450 SV/vạn dân. Thiếu giảng viên đại học, lại có ngay một “chiến lược” ngẫu hứng 10 năm tới đào tạo 20.000 tiến sĩ! 

                                                                                                    MAI ĐÌNH

     

     

    Quyết định sự tăng trưởng bền vững: Nguồn nhân lực – yếu tố hàng đầu

    Theo đánh giá của các chuyên gia về lao động, trong xu thế toàn cầu hoá, nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, như duy trì tốc độ tăng trưởng cao, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống người lao động.

    Và trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, ưu thế sẽ luôn nghiêng về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một xã hội ổn định.   

    Trong xã hội hiện đại, sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn lực trí tuệ và tay nghề của con người, nguồn nhân lực là chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất như trước đây. Thậm chí, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây cũng đã chỉ ra rằng, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con người – nguồn nhân lực. Nhưng con người phải được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành “nguồn vốn – vốn con người, vốn nhân lực”.

    Nhìn vào thực tế, nguồn nhân lực của ta rất dồi dào, lên đến hơn 45 triệu lao động với đầy đủ các ưu thế như cần cù, khéo léo, thông minh. Tuy nhiên, hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là qua đào tạo nghề còn thấp, chỉ bằng 1/3 các nước và các nền kinh tế công nghiệp mới. Trong số lao động đã qua đào tạo nghề, chỉ có khoảng 25% là được đào tạo dài hạn, trình độ cao, số còn lại kỹ năng, tay nghề yếu. Cũng vì thế, khi cơn bão tài chính bùng phát trên phạm vi toàn cầu, hàng loạt doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm lao động, khiến người lao động nhiều nơi lao đao, hoang mang. Tuy nhiên, đây không phải là lý do chính để doanh nghiệp giảm lao động. Ông Nguyễn Trung Chính, Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội và bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục phó Cục Việc làm, Bộ LĐ-TB&XH cho rằng, bên cạnh nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm lao động cũng có không ít doanh nghiệp đang tuyển dụng nhiều lao động. Cụ thể như khu vực TP Hồ Chí Minh, khu vực Hà Nội, có doanh nghiệp đến thời điểm cận Tết vẫn cần tuyển dụng hàng nghìn công nhân.

    Nói như vậy không có nghĩa là cuộc suy thoái tài chính toàn cầu không ảnh hưởng đến người lao động trong nước. Nhưng vấn đề ở chỗ, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp đang cần lao động, nhất là những lao động ở trình độ cao, lao động được đào tạo và có kỹ năng nghề. Đối với những lao động có trình độ, được đào tạo bài bản, việc di chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác sẽ bớt khó khăn hơn.

    Để giải quyết những vấn đề đó, Bộ LĐ-TB&XH đã đưa ra nhiều giải pháp. Theo Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thị Kim Ngân, để từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong thời gian tới, bộ sẽ thực hiện nhiều biện pháp như: tăng quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nâng cao chất lượng và thay đổi cơ cấu dạy nghề theo yêu cầu của thị trường lao động; tạo nhiều việc làm, đi đôi với nâng cao chất lượng việc làm, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng sẽ chú ý phát triển thị trường lao động trên phạm vi cả nước trên cơ sở tăng lao động làm công ăn lương có tay nghề, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao làm việc trong các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, ngành dịch vụ… sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, tạo động lực mới thông qua cải cách căn bản chính sách tiền lương. Cũng theo bà Ngân, để phát huy tiềm năng nguồn nhân lực Việt Nam, vấn đề quan trọng là phải tạo ra động lực mới thông qua chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ lao động. Chính sách đó phải là một chính sách phân phối theo lao động, theo tài năng; phải thực hiện sự công bằng trong phân phối và khuyến khích, tôn vinh lao động sáng tạo, trọng dụng nhân tài, phát triển nhân lực.

    Hàng loạt kế hoạch, chính sách đã được vạch ra. Thực hiện tốt được những đường hướng này, chắc chắn không chỉ chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, đời sống người lao động được bảo đảm, mà quan trọng nhất, đây còn là nhân tố quyết định cho sự phát triển và ổn định nền kinh tế của đất nước.

     

    Các vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam

    Kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng cao trong những năm qua nhưng có một số tồn tại trong nền kinh tế có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Trong giai đoạn hiện nay tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào sự phục hồi của kinh tế thế giới và những giải pháp của chính phủ.

    Sau khi cải cách kinh tế, Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng vượt bậc, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên một cách nhanh chóng. Việt Nam cũng thu hút được nhiều quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, được thể hiện qua dòng vốn FDI và FPI chảy vào ngày càng lớn.

    Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn trên con đường phát triển kinh tế của Việt Nam. Gia nhập WTO không chỉ giúp kinh tế Việt Nam có điều kiện hội nhập, được hưởng những chính sách thương mại có lợi mà đây còn là một động lực để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy vậy, gia nhập WTO cũng là một thách thức thực sự khi những yếu kém kém trong nền kinh tế vẫn chưa được khắc phục. Chất lượng tăng trưởng thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, thể chế pháp luật còn nhiều hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao. Đây chính là những hạn chế mà Việt Nam phải vượt qua để duy trì được một tốc độ tăng cao và đưa đất nước thoát khỏi nhóm nước nghèo như hiện nay.

    Bài viết của chúng tôi đánh giá một số vấn đề trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Để từ đó đưa ra xu hướng về tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai.

    1.Bối cảnh kinh tế thế giới

    Trong những năm gần đây kinh tế thế giới đã đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Những nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng cao. Sự phát triển công nghệ thông tin, thương mại và dịch chuyển dòng vốn các quốc gia trở nên gần gũi và phụ thuộc lẫn nhau hơn.

    Năm 2008, khủng hoảng tài chính từ Mỹ đã nhanh chóng lan rộng và gây ra ảnh hưởng nặng nề trên quy mô toàn cầu. Tăng trưởng sụt giảm, thậm chí nhiều nền kinh tế rơi vào suy thoái, hệ thống tài chính rối loạn. Các quốc gia và tổ chức như IMF, WB… không ngừng nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp để đối phó song triển vọng kinh tế toàn cầu cho đến này vẫn không mấy sáng sủa. Theo dự báo của các chuyên gia và tổ chức, kinh tế thế giới còn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, khả năng phục hồi có thể chỉ bắt đầu từ cuối năm 2009. Hậu quả của cuộc suy thoái hiện nay sẽ còn kéo dài trong nhiều năm sắp tới.

    Trong bối cảnh như vậy, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động rất lớn do xuất nhập khẩu, vốn đầu tư nước ngoài và kiếu hối suy giảm. Các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ chịu sự cạnh tranh khốc liệt của hàng ngoại nhập. Sự ảnh hưởng này còn tăng thêm do kinh tế Việt Nam tồn tại một số yếu kém nên khó có những thay đổi kịp thời để thích nghi với tình hình mới.

    Bảng 1: Dự báo tăng trưởng kinh tế của WB tháng 11 năm 2008

    (Cuối năm 2008 dự báo của WB còn khá lạc quan về tăng trưởng kinh tế thế giới. Dự báo mới nhất của WB vào tháng 4/2009 đã hạ mức dự báo tăng trưởng của các quốc gia. Kinh tế thế giới giảm khoảng 1.7%, các nước phát triển giảm 3%, tăng trưởng của Trung Quốc chỉ còn 6.5%, các nước Đông Nam Á, Singapore, Malaysia, Thái Lan tăng trưởng âm).

    2. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua

    Tăng trưởng GDP trung bình trong giai đoạn 2000 – 2007 đạt 7.6% [1]. Năm 2007, tăng trưởng 8.48%, đây cũng là mức tăng cao nhất từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm gần đây khá ấn tượng. Dù đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng đây không phải là một hiện tượng thần kỳ vì theo tính toán của các nhà kinh tế thì tăng trưởng của Việt Nam đang ở dưới mức tiềm năng.

    Năm 2008, chịu ảnh hưởng từ bất ổn kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tài chính thế giới, tăng trưởng GDP chỉ đạt 6.19% [2]. Tốc độ tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với năm 2007 và mục tiêu đã đề ra của chính phủ. Nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng giảm nhiều nhất là công nghiệp và xây dựng. Năm 2008, tăng trưởng của công nghiệp và xây dựng chỉ khoảng 6.33%, trong khi đó năm 2007 là 10.6%. Ngành xây dựng có mức suy giảm mạnh nhất từ mức 12.01% năm 2007 xuống 0.02% năm 2008. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2008 tăng trưởng 3.79%, không biến động nhiều so với tỷ lệ 3.4% của năm 2007. Quý 1 năm 2009 tăng trưởng GDP đạt 3.1%, thấp hơn nhiều so với năm 2008 và những năm trước đó. Tăng trưởng công nghiệp chỉ còn 1.5%, dịch vụ 5.4%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0.4%. Điều này báo trước một năm 2009 là năm khó khăn với kinh tế Việt Nam.

    Hình 1: Tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư/GDP giai đoạn 1997 – Q1/2009

     

    • Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện qua tăng trưởng nhân tố

      Để xem xét chất lượng tăng trưởng ngoài phương pháp đánh giá dựa vào hệ số ICOR, chất lượng tăng trưởng còn được đánh giá thông qua đóng góp của các nhân tố cho tăng trưởng.

      Theo lý thuyết về tăng trưởng, phương trình tăng trưởng Cobb-Douglas có 3 nhân tố đóng góp vào tăng trưởng đó là vốn (K), lao động (L), TFP [5] (cải thiện công nghệ, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn). Nếu yếu tố TFP càng cao thì được xem như chất lượng tăng trưởng càng cao. Bảng 5 cho thấy mặc dù yếu tố cải thiện công nghệ ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong đóng góp vào tăng trưởng nhưng vẫn còn chiếm một tỷ lệ nhỏ. So sánh với các quốc gia khác, chẳng hạn tỷ trọng TFP thời kỳ 1980 – 2000 Hàn Quốc là 39.96%, Ấn Độ là 40.78%, yếu tố đóng góp cho tăng trưởng TFP của Việt Nam cũng thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á. Điều này cho thấy mức độ đóng góp của cải thiện công nghệ và tăng năng suất lao động cho tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn thấp. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào tăng vốn đầu tư và tăng số lượng lao động.

      Nguyên nhân làm cho chất lượng tăng trưởng không cao

      Trên đây chúng ta vừa xem xét hai yếu tố cho thấy chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như :

    • Đầu tư khu vực nhà nước hiệu quả thấp
    • Phát triển ngành và các khu vực chưa hợp lý
    • Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu

    Chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học chưa cao

    Chất lượng nhân lực không cao và chậm áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ khiến cho năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh của hàng hóa kém, giá trị gia tăng của các sản phẩm chưa cao.

    Nguồn nhân lực giá rẻ không còn được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Chất lượng nguồn nhân lực thấp trở thành một rào cản phát triển kinh tế. Số người lao động qua đào tạo đang chiếm một tỷ lệ thấp, chất lượng cũng chưa đáp ứng được những công việc đòi hỏi kiến thức và kỹ năng. Đào tạo đại học và nghề chưa theo sát với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề nhân lực là một trở ngại lớn đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam.

    Chất lượng công trình nghiên cứu ứng dụng còn thấp và số lượng lại ít. Hàng năm, ngân sách nhà nước sử dụng một phần không nhỏ cho nghiên cứu phát triển nhưng hiệu quả thu được rất khiêm tốn.

    Chi phí nghiên cứu nhiều dự án của nhà nước lên đến hàng tỷ đồng nhưng tính thực tiễn thấp. Nhiều dự án báo cáo xong nhưng không được triển khai ứng dụng mà “xếp vào tủ”. Nghiên cứu ở các trường đại học dừng lại ở mức độ thử nghiệm, thiếu tính ứng dụng. Những công trình được công bố ở nước ngoài và được quốc tế công nhận chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Doanh nghiệp trong nước chưa quan tâm nhiều đến nghiên cứu phát triển và ứng dụng những tiến bộ về khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận kinh tế môi trường: Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-S%E1%BB%B1-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-t%E1%BB%95ng-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-qu%E1%BB%91c-n%E1%BB%99i-l%C3%A3i-su%E1%BA%A5t-v%C3%A0-m%E1%BA%ADt-%C4%91%E1%BB%99-d%C3%A2n-s%E1%BB%91-%C4%91%E1%BA%BFn-vi%E1%BB%87c-huy-%C4%91%E1%BB%99ng-v%E1%BB%91n-d%C3%A2n-c%C6%B0-t%E1%BA%A1i-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-v%C3%A0-Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Như chúng ta đã biết, vốn là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Đối với Việt Nam của chúng ta có nền kinh tế phát triển chưa cao và khoa học kỹ thuật còn lạc hậu so với khu vực và thế giới. Chính vì vậy, vốn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước chúng ta đã nhận định không chỉ trông chờ vào nguồn vốn bên ngoài mà còn phải phát huy cao độ nội lực để chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Hiện nay trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng thì vốn được coi là nhân tố đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến sự hình thành và phát triển bền vững của ngân hàng. Trong đó, chủ yếu là nguồn vốn huy động từ các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, trong lượng tiền nhàn rỗi đó phải nói đến nguồn tiền của các tầng lớp dân cư. Đây là nguồn vốn dồi dào, là nguồn tiền gửi có tính ổn định, vững chắc và ngày một tăng lên. Kinh tế ngày càng phát triển thì thu nhập của mọi tầng lớp dân cư ngày càng tăng. Đây chính là lợi thế cho ngân hàng, cho Nhà nước trong việc huy động nguồn vốn phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội.

    Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn và đặc biệt là nguồn vốn huy động từ dân cư, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu một số nhân tố chính ảnh hưởng đến công tác huy động vốn từ dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Cụ thể tên đề tài là “Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”

    Nhóm chúng tôi hy vọng rằng đề tài sẽ mang lại một số ý nghĩa thực tiễn chẳng hạn như khi chúng ta biết số liệu về tổng sản phẩm quốc nội hoặc lãi suất huy động của bất kỳ tỉnh nào thì bạn có thể dự đoán tương đối được nguồn vốn huy động từ dân cư tại tỉnh đó và sự biến động của các nhân tố này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến công tác huy động vốn của ngân hàng; hoặc trên cơ sở số liệu đã có chúng ta có thể dự báo tình hình huy động vốn từ dân cư cho các năm sau của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    2

    Tiểu luận kinh tế lượng

    PHẦN I

    KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    I. Đôi nét về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    Thành lập ngày 26/04/1957 với tên gọi Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam. Qua nhiều lần đổi tên, ngày 14/11/1990 chuyển thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

    Nam, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam, đến nay Ngân hàng Đầu tư
    và Phát triển Việt Nam (BIDV) là Ngân hàng thương mại quốc doanh, kinh doanh đa
    ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng
    phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng,
    góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
      BIDV là ngân hàng lớn thứ hai của Việt Nam (sau Ngân hàng Nông nghiệp và
    Phát triển nông thôn Việt Nam) cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới
    hoạt động và số lượng khách hàng. Đến cuối 2007, BIDVcó 10.643 tỷ VNĐ vốn tự có
    theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổng tài sản: 201.382 tỷ VNĐ; 103 chi nhánh
    và gần 400 điểm giao dịch toàn quốc, có quan hệ với trên 8.000 doanh nghiệp và hộ sản
    xuất kinh doanh, trên mười triệu khách hàng giao dịch các loại.
                 

    Đồng thời, là ngân hàng đầu tư tích cực vào đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến. Hiện BIDVđã kết nối trên diện rộng mạng máy tính từ trụ sở chính đến 103 chi nhánh và gần 400 điểm giao dịch; và một hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT. Đến nay, BIDV hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước.

    Là ngân hàng có mạng lưới ngân hàng đại lý lớn với trên 800 ngân hàng trên thế giới. Là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội ngân hàng ASEAN, Hiệp hội các định chế tài chính phát triển Châu Á – Thái Bình Dương (ADFIAP), Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam. Trong những năm qua, BIDV vinh dự được phục vụ cho các Hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt nam, đặc biệt trong đó có Hội Nghị APEC tổ chức tại Việt Nam vào năm 2006. Liên doanh với Ngân hàng Ngoại thương Nga thành lập Ngân hàng liên doanh Việt-Nga, với Ngân hàng Ngoại thương Lào thành lập Ngân hàng Liên doanh

    Tiểu luận kinh tế lượng

    Lào-Việt  và Public bank  của M alaysia thành lập Ngân hàng Liên doanh VID  Public

    bank. Tiếp nhận và triển khai có hiệu quả các dự án của các tổ chức tài chính tín dụng ngân hàng quốc tế đặc biệt là các dự án của WB (các dự án tài chính nông thôn 1,2 và 3), ADB và các tổ chức tài chính khác.

    Với vị thế là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam, BIDV đã nỗ lực hết mình, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ qua đó đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đất nước trong thời gian qua.

    II. Khái quát vấn đề nghiên cứu

    Trong quá trình học tập và nghiên cứu môn kinh tế lượng, chúng tôi phát hiện ra rất nhiều vấn đề hay và bổ ích cho công việc. Môn học đã giúp nhóm chúng tôi biết được một số phương pháp nghiên cứu quan trọng trong việc ứng dụng vào công việc thực tế mà trước đây chúng tôi thường xem nhẹ. Đặc biệt là những cán bộ ngân hàng chuyên nghiên cứu về lĩnh vực huy động vốn, chúng tôi thường hay đặt ra câu hỏi những nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của ngân hàng. Trước đây, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc phân tích mang tính định tính là chủ yếu, hiểu vấn đề một cách khái quát nhưng sau khi học xong môn kinh tế lượng, chúng tôi có thể áp dụng một số phương pháp để đưa ra kết quả nghiên cứu thực tiễn hơn và mang tính định lượng. Chính điều này làm cho vấn đề nghiên cứu có tính thuyết phục hơn.

    Ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế, là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Cụ thể là ngân hàng huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư để cho các đơn vị có nhu cầu vay. Để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu đi vay của các doanh nghiệp đòi hỏi nguồn vốn huy động của ngân hàng đặc biệt phải ổn định và phát triển. Nhưng chúng ta biết rằng nguồn vốn huy động được chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố chẳng hạn như lãi suất huy động, thu nhập của người dân, chính sách huy động của từng ngân hàng trên địa bàn, số lượng ngân hàng trên địa bàn, vị thế và uy tín của ngân hàng, lạm phát …. Có những nhân tố mang tính khách quan và những nhân tố khác mang tính

    chủ quan. Vấn đề ở đây là làm cách nào để có được dự đoán, nắm bắt các nhân tố khách quan và tác động, sử dụng vào các nhân tố chủ quan như là một công cụ chính trong công tác huy động vốn.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Tiểu luận kinh tế lượng

    Trong quá trình nghiên cứu, sử dụng nhiều mô hình, nhóm chúng tôi nhận thấy rằng mô hình sau là tương đối hợp lý nhất. Mô hình đó là nguồn vốn huy động từ dân cư phụ thuộc chủ yếu từ tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số. Nhóm chúng tôi sử dụng nguồn dữ liệu thu thập được tiến hành chạy thử mô hình. Bước đầu, đã thu được một số kết quả tương đối khả quan.

    Nhóm sử dụng số liệu năm 2007 về doanh số huy động vốn, tổng sản phẩm quốc nội của từng tỉnh thành theo mẫu quan sát, lãi suất huy động bình quân của các Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển trên từng địa bàn, mật độ dân số từng tỉnh thành.

    M ô hình nhóm đưa ra gồm có các biến sau:

    – Biến doanh số huy động vốn từ dân cư năm 2007 của 30 tỉnh thành tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (biến phụ thuộc-Y)

    • Biến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2007 của từng tỉnh thành (biến độc

    lập-X2)

    • Lãi suất huy động vốn năm 2007 của từng chi nhánh trên từng địa bàn (biến độc

    lập- X3)

    – Biến mật độ dân số của tỉnh, thành (người/km2)(biến độc lập-X4)

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    Tiểu luận kinh tế lượng

    PHẦN II

    SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI,

    LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN, MẬT ĐỘ DÂN SỐ

    ĐẾN HUY ĐỘNG VỐN

    I. Các giả thiết

    Để đưa ra mô hình, chúng ta giả thiết:

    • Mô hình là mô hình tuyến tính
    • Kỳ vọng của các sai số bằng không
    • Phương sai thuần nhất bằng nhau
    • Sai số tuân theo phân phối chuẩn

    II. Mô hình toán học

    Hàm hồi quy tổng thể có dạng

    Y =  12X2 + 3X3 + 3X4 +ui

    Trong đó:

    Y: Doanh số huy động vốn trung bình của 1 tỉnh, thành- Biến phụ thuộc

    X2: GDP (tỷ đồng)

    X3: Lãi suất (%/năm)

    X4: Mật độ dân số (người/km2)

    1: Hệ số chặn

    ui: Yếu tố ngẫu nhiên

    III. Thu thập số liệu

    Tình hình huy động vốn, GDP, lãi suất huy động bình quân năm 2007 của BIDV tại 30 tỉnh thành, mật độ dân số của 30 tỉnh thành:

         
         
         
                        Huy động             Mật độ dsố      
                  Tỉnh thành   vốn     GDP   Lãi suất (Người      
              TT         ( tỷ đồng)   (tỷ đồng)   (%/năm) /km2)      
            1 Bắc Ninh     1,682   5,913   8.28   1,250      
            2 Hà Tây     859   18,085   8.04   1,165      
            3 Hải Phòng     2,126   25,739   8.28   1,202      
            4 Thái Bình     568   5,967   8.04   1,208      
            5 Hải Dương     1,155   9,184   8.16   1,048      
            6 Nam Định     696   12,365   8.04   1,206      
            7 Cao Bằng     277   2,855   7.80   78      
            8 Bắc Giang     301   8,218   7.80   420      
            9 Thái Nguyên     924   7,544   8.04   321      
            10 Quảng Ninh     1,634   15,506   8.16   180      
            11 Thanh Hóa     833   24,614   8.04   332      
            12 Nghệ An     1,703   19,769   8.28   188      
            13 Hà Tĩnh     622   5,149   8.04   214      
            14 Quảng Bình     1,021   5,540   8.16   106      
            15 Quảng Trị     265   3,990   7.80   420      
            16 Đà Nẵng     983   13,501   8.04   641      
            17 Quảng Ngãi     405   5,388   8.04   250      
            18 Bình Định     539   11,052   8.04   261      
            19 Khánh Hòa     502   15,895   8.04   220      
            20 Gia Lai     567   737   8.04   75      
            21 Đắk Lắk     276   14,425   7.80   134      
            22 Lâm Đồng     302   11,071   7.80   123      
            23 Bình Dương     550   17,897   8.04   379      
            24 Đồng Nai     636   35,326   8.04   382      
            25 Bà Rịa – Vũng Tàu   1,411   34,966   8.16   476      
            26 Bến Tre     553   11,239   8.04   574      
            27 Vĩnh Long     242   9,234   7.80   718      
            28 Đồng Tháp     85   12,150   7.80   495      
            29 Cần Thơ     278   18,069   7.80   824      
            30 Tiền Giang     341   14,793   7.80   694      
          Kết quả mô hình (3 biến) được chạy bằng phần mềm SPSS        
                                             
                      Adjusted Std.       Change Statistics      
                  R   Error of                 Durbin-
      Model     R     R   R F   df1 df 2   Sig. F
    SummarybModel     Square   the   Square Change     Change Watson
            Square      
                      Estimate   Change              
                                         
              0.9129 0.833369   0.814142 223.6913   0.833369   43.34432   3 26 2.94E- 1.791
    1                 10
                                             

    a.Predictors: (Constant), X4, X2, X3

    Tiểu luận kinh tế lượng

          b.Dependent   Variable: Y                            
                            ANOVAb                          
                                                         
                    Sum of                                
      Model           Squares     df Mean Square   F   Sig.    
                                                     
      1   Regression     6506564.464     3 2168854.821   43.344   .000a    
          Residual       1300983.003     26     50037.808                
          Total       7807547.467     29                          
          a.Predictors: (Constant), X4, X2, X3                          
          b.Dependent   Variable: Y                            
                          Coefficientsa                      
                                               
              Unstandardized   Standardized                      
                  Coef ficients   Coeff icients               95% Confidence
        Model                           t Sig. Interval f or B
                                         
                                                       
                B     Std.   Beta               Lower   Upper
                    Error                 Bound   Bound
                                               
      1 (Constant)   -21010.3 2138.842           -9.8232 .0000 -25406.7   -16613.8
        X2     0.006153 0.005238   0.098426   1.174708 0.2508   -0.00461   0.016919
        X3     2700.201 271.023   0.862868   9.962997 .0000   2143.105   3257.297
        X4     0.073526 0.110915   0.05503   0.662906 0.5132   -0.15446   0.301514
          a.Dependent   Variable: Y                            
                        C orrelations                          
                                               
                        Y X1       X2   X3   X4      
      Pearson Correlation   Y     1.000   .   .357     .906     .291      
                  X1     . 1.000   .     .     .      
                  X2     .357   .   1.000     .295     .080      
                  X3     .906   .   .295     1.000     .265      
                  X4     .291   .   .080     .265     1.000      
      Sig. (1-tailed)     Y     . .000   .026     .000     .059      
                  X1     .000   .   .000     .000     .000      
                  X2     .026 .000   .     .057     .338      
                  X3     .000 .000   .057     .     .079      
                  X4     .059 .000   .338     .079     .      
      N         Y     30   30   30     30     30      
                  X1     30   30   30     30     30      
                  X2     30   30   30     30     30      
                  X3     30   30   30     30     30      
                  X4     30   30   30     30     30      

    Tiểu luận kinh tế lượng

    Từ kết quả trên cho ta mô hình toán sau:

    Y = -21,010.286 + 0.06 X2 + 2,700.201 X3 + 0.074 X4

    Từ mô hình này, ta thấy biến lãi suất là có ý nghĩa nhất. Khi lãi suất tăng 1% thì vốn huy động tăng 2,700.201%.Các biến tổng sản phẩm quốc nội, mật độ dân số ảnh hưởng rất ít đến huy động vốn của ngân hàng, cụ thể khi tổng sản phẩm quốc nội tăng lên 1% thì vốn huy động tăng lên 0.06%, mật độ dân số tăng lên 1% thì vốn huy động tăng lên 0.074%. Điều này cũng thật dễ hiểu vì vốn huy động còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như thu nhập khả dụng và tiết kiệm trong chi tiêu của người dân.

    IV. Tiến hành kiểm định

    1. Kiểm định sự phù hợp của hàm hồi quy

    Giả thiết:          H0:        i = 0, tức là X i không ảnh hưởng đến Y (i =2,3,4)

    H1:     i # 0, tức là X i có ảnh hưởng đến Y

    Tra bảng: F0,05(2; 27) = 3,49.

    Từ bảng Anova trên thì F = 43,344 và Sig = 0.000, ta thấy tham số F > F0,05(2;

    27), như vậy F thật sự có ý nghĩa. Tức là bác bỏ giả thiết H0. Ta kết luận Chấp nhận giả thiết H1, nghĩa là có ít nhất một yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn.

    2. Kiểm định giả thiết của các hệ số hồi quy riêng

    Kết quả SPSS cho ta :
    t2 = 1.175 sig2 = 0.251
    t3= 9.963 sig3 = 0.000
    t4 = 0.663 sig4 = 0.513
    Qua kết quả trên cho thấy biến X3  là rất có ý nghĩa với mô hình. Các biến X2 &

    X4 thật sự chưa có ý nghĩa nhiều tới mô hình.

    3. Khoảng tin cậy cho các hệ số hồi quy riêng:

    Đối với β2 :  ( – 0.005 ; 0.17 )

    • Đối với β3 : ( 2143.105 ; 3257.297 )

    Đối với β4 :  ( -0.154 ; 0.302 )

    Kết quả SPSS cho ta hệ số xác định bội R2 = 0.833, điều này có nghĩa là mô hình giải thích được 83,3% các quan sát. Phần còn lại do sai số.

    Dựa vào bảng kết quả trên cho ta thấy trong ba biến tổng sản phẩm quốc nội, mật độ dân số và lãi suất huy động thì biến lãi suất có ý nghĩa hơn. (Sig = 0.000 )

    Rõ ràng với các kết quả đã phân tích ở trên, nhóm chúng tôi thấy rằng mô hình đưa ra là tương đối phù hợp. Độ phù hợp của mô hình (R2 =0.833) tương đối cao. Tuy nhiên trong thực tế doanh số huy động vốn còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như chính sách chăm sóc khách hàng, chính sách khuyến mãi cho khách hàng, uy tín, vị trí và thương hiệu của ngân hàng cũng như đôi lúc còn phụ thuộc vào thói quen của khách hàng… Trong thực tế các biến này không mang tính định tính cho nên rất khó để xác định. Vì thế, nếu có thể thu thập, đánh giá để đưa ra số liệu cho mô hình, nhóm chúng tôi sẽ đưa thêm vào mô hình biến chính sách chăm sóc khách hàng của ngân hàng ( có thể coi đây là biến giả: Ngân hàng nào có chính sách chăm sóc khách hàng tốt luôn làm khách hàng hài lòng thì nhận giá trị 1; và ngược lại nhận giá trị 0 ). Tuy vậy, việc định lượng các giá trị này quả là không đơn giản vì thế nhóm chúng tôi chỉ dừng lại nghiên cứu mô hình trên.

    1. Phát hiện tự tương quan trong mô hình theo DW Kết quả chạy SPSS ta có DW=1.791

    Tra bảng DW với mức ý nghĩa 5% , k’ = 3, n = 30 ta có dl và du như sau:

    dl =1.214 ; du = 1.650 ; 4- du = 2.350

    Ta có: du = 1.650 < d = 1.791 < 4-du =2.350

    Kết quả trên cho thấy không có tự tương quan dương hoặc âm

    5. Phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến

    Sử dụng hệ số tương quan cặp để phát hiện đa cộng tuyến:

    Kết quả SPSS ở phần Pearson correlations ta thấy hệ số tương quan :

    rX2X3 = 0.295 < 0.8

    rX3X4 = 0.265 < 0.8

    rX2X4 = 0.080 < 0.8

    Chứng tỏ các biến không có hiện tượng đa cộng tuyến.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    10

    Tiểu luận kinh tế lượng

    PHẦN III

    Ý NGHĨA CỦA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

    M ô hình trên giải thích được 83,3% các quan sát và nhóm xác định mô hình này

    có ý  nghĩa và có thể sử dụng trong công tác dự báo của ngân hàng. Mô hình cho thấy

    yếu tố lãi suất rất quan trọng, nhạy cảm và đúng thực tế hiện nay đó là các ngân hàng

    thương mại đang dùng công cụ lãi suất để cạnh tranh nhằm tăng khả năng huy động vốn. Tuy nhiên, công tác huy động vốn còn ảnh hưởng vào yếu tố khác ngoài ba yếu tố trong mô hình như: giá vàng, lạm phát, thương hiệu, khuyến mãi…và đây cũng là điều

    khó khăn cho nhóm chúng tôi trong việc lựa chọn các yếu tố để đưa vào mô hình ( do tính bảo mật, cạnh tranh nên việc thu thập thông tin gặp khó khăn ). Qua việc phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn nói trên là một gợi ý để các ngân hàng tham khảo và xây dựng riêng cho mình một mô hình thích hợp trong công tác dự báo.

    Việc xây dựng mô hình trên của nhóm dựa trên ý chí của tập thể cả nhóm và mô hình thực nghiệm đã sử dụng số liệu về huy động vốn tại các tỉnh thành của BIDV, các số liệu về GDP, mật độ dân số của các tỉnh thành tương ứng. Tuy nhiên, đây là nỗ lực rất lớn của cả nhóm trong việc thu thập xử lý dữ liệu để xây dựng mô hình và nếu có điều kiện nhóm sẽ thu thập thêm số liệu, bổ sung một số biến vào mô hình để xem xét mức độ ảnh hưởng của nó đến công tác huy động vốn của ngân hàng.

    Theo nhóm chúng tôi, mô hình có ý nghĩa thực tiễn tương đối cao, không những trong phạm vi hệ thống BIDV mà còn có thể nhân rộng ra các hệ thống ngân hàng khác vì có thể dự đoán tình hình huy động vốn qua các năm tới một cách tương đối thông qua nắm bắt được hai nhân tố đó là:

    • Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) với nhân tố này, ngân hàng có thể dễ dàng tìm hiểu thông qua các chỉ tiêu, kế hoạch của tỉnh, thành phố nơi mà ngân hàng đóng tại địa bàn đó. Tình hình kinh tế tăng trưởng thì tổng sản phẩm quốc nội tăng, đời sống người dân được nâng cao thì nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư tăng vì thế ngân hàng có thể huy động được nhiều hơn. Ngược lại, nguồn vốn huy động từ dân cư nhiều sẽ tạo điều kiện

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    11

    Tiểu luận kinh tế lượng

    cho ngân hàng cung cấp vốn nhiều hơn cho các doanh nghiệp hoạt động. M à chúng ta biết rằng vốn là điều kiện rất quan trọng cho mỗi doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp có nhiều dự án kinh doanh rất khả thi nhưng lại không có vốn vì thế ảnh hưởng rất lớn đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp, kéo theo đời sống kinh tế của người dân, tăng trưởng kinh tế của đất nước bị ảnh hưởng theo. Rõ ràng cho chúng ta thấy rằng các vấn đề này có quan hệ chặt chẽ với nhau.

    • Lãi suất huy động vốn, đây là nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến doanh số huy động vốn. Nhân tố này mang tính chủ quan có nghĩa là do chính sách huy động của ngân hàng. Ngân hàng căn cứ vào lãi suất huy động trên địa bàn, lãi suất trần do Ngân hàng trung ương quy định, căn cứ vào chính sách khách hàng … để đưa ra lãi suất huy động hợp lý cho từng thời kỳ sao cho đạt hiệu quả nhất vừa đảm bảo đủ nguồn vốn để cho vay vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Lãi suất rất nhạy cảm với biến động của thị trường do người gửi tiền thường quan tâm nhất là lãi suất huy động của ngân hàng nào cao để mang lại cho họ nhiều lợi nhuận từ việc gửi tiền.

    Tuy nhiên để hỗ trợ đắc lực cho công cụ lãi suất, thường các ngân hàng thường sử dụng chính sách như: tiết kiệm dự thưởng, hội nghị khách hàng … các nhân tố này không kém phần quan trọng trong việc tăng doanh số huy động vốn và tạo mối quan hệ tốt với khách hàng.

    Tóm lại, mô hình nghiên cứu mà nhóm chúng tôi đã đưa ra sẽ giúp ngân hàng khi phân tích hay tìm hiểu những nguyên nhân làm cho doanh số huy động vốn biến động sẽ thuyết phục hơn bởi vì các ngân hàng thường phân tích dựa trên định tính nhưng nếu sử dụng mô hình này sẽ giúp các ngân hàng phân tích mang tính định lượng. Điều này sẽ giúp cho việc phân tích có tính khoa học hơn, thuyết phục hơn. Đây chính là thành quả mà nhóm chúng tôi muốn đề cập đến.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    Tiểu luận kinh tế lượng

    KẾT LUẬN

    Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập, chúng tôi rất vui mừng

    chứng kiến thay đổi qua từng ngày nhưng bên cạnh đó cũng nhận thức rằng những thách

    thức, khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt quả là không nhỏ. Làm thế nào để biến những

    cơ hội mang lại sự thành công và giải quyết tốt những khó khăn thử thách mà chúng ta
    phải đối mặt.      
    M ột trong những ngành sẽ gặp khó khăn, thách thức lớn nhất khi Việt Nam gia
    nhập  WTO là ngành tài chính ngân hàng. Bởi vì, nguồn vốn của các ngân hàng trong
    nước còn hạn chế và rất nhỏ, công nghệ thanh toán chưa phát triển mạnh, trình độ quản
    lý chưa cao…so với các ngân trên thế giới. Khi các ngân hàng nước ngoài nhảy vào thị

    trường tài chính Việt Nam thì họ rất mạnh về công nghệ, nguồn vốn lớn, ưu thế về trình độ quản lý. Cho nên, thời gian đến các ngân hàng trong nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

    Nước ta trong giai đoạn này sẽ cần rất nhiều vốn để phục vụ cho phát triển. Rõ ràng nhân tố vốn là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Chức năng chính của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, nghĩa là ngân hàng huy động vốn và sử dụng nguồn vốn này để cho vay. Để đáp ứng được nguồn vốn mà nền kinh tế đất nước đang cần đòi hỏi các ngân hàng phải nổ lực cố gắng để huy động tối đa nguồn vốn trong đó có nguồn vốn từ dân cư. Vì vậy, nhóm chúng tôi hy vọng rằng mô hình mà nhóm đưa ra sẽ góp phần hỗ trợ ngân hàng kiểm soát cũng như dự đoán nguồn vốn có thể huy động được trong tương lai.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]