Category: Công Nghệ Thông Tin

  • TIỂU LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    TIỂU LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    TIỂU LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nâng cấp công nghệ trong họ GSM lên 3G


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-TH%C3%94NG-TIN-TRONG-C%C3%94NG-T%C3%81C-GI%E1%BA%A2NG-D%E1%BA%A0Y-V%C3%80-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    Ngày nay, khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các tất cả các lĩnh v ực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin bước đầu đã được ứ ng dụng trong công tác quản lý, một số nơi đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở các nhà trườ ng nước ta còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy và đẩy mạnh các công tác quản lý bằng cách ứng dụng công ngh ệ thông tin vào lĩnh vực của mình. Để nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không nên từ chối nhữ ng gì có sẵn mà lĩnh vực công nghệ thông tin mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình.

    Làm thế nào để ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong các trường phổ thông? Đó là vấn đề mà bất cứ một trường phổ thông trung học nào cũng gặp phải, bất kể đó là trường đã có các máy tính hoặc là trường đang chuẩn bị đầu tư vào lĩnh vực này và cũng có thể là cả các trường chưa có máy tính.

    A.    Quản lý

    I.                   Bí thư Đoàn trường:

    Từ lâu nay, tại các trường phổ thông trung học việc quản lý các đoàn viên, các phong trào hoạt động Đoàn vẫn theo phong cách cổ điển, tức là mọi thứ đ iều được quản lý thông qua sổ sách, giấy tờ dù cho trường đó đã có một hệ thống máy tính cùng các thiết bị hỗ trợ khác khá đầy đủ. Chúng ta có một cơ sở hạ tầng như thế nhưng chúng ta chưa biết cách tận dụng những nguồn tài nguyên sẵn có đó hay là chúng ta ngại khi chuy ển qua một phong cách làm việc mới. Tại sao chúng ta không thử làm một cuộc cách mạng bằng cách ứng dụng công ngh ệ thông tin vào công tác quản lý Đoàn trường dựa trên những gì chúng ta sẵn có, vấn đề là chỉ cần một ý tưởng chúng ta có thể lập tức chuyển công việc đang làm từ thô sơ sang hiện đại và tất nhiên hiệu quả do nó mang lại rất lớn.

    Với công việc quản lý các Đoàn viên cũng như các phong trào hoạt động trong trường phổ thông thì công việc lâu nay chúng ta vẫn làm như thế nào?

    • Để quản lý các Đoàn viên thì chúng ta có các sổ Đoàn viên để theo dõi
    • Quản lý việc thu, chi Đoàn phí theo định kỳ bằng sổ sách và giấy tờ
    • Thực hiện các thông báo đến các Đoàn viên bằng các lời nhắn trên loa hoặc dán thông báo

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          1

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    V ới việc quản lý bằng thủ công như thế, chắc chắn rằng chúng ta luôn gặp các khó khăn và tốn nhiều thời gian trong công việc mà hiệu quả của công việc đem lại chắc chắn không cao. Chẳng hạn như:

    • Việc thống kê việc chi tiêu hàng tháng, quí, năm
    • Thống kê xem số lượng Đoàn viên đã nộp Đoàn phí, chưa nộp Đoàn phí
    • Thống kê số lượng Đoàn viên ở độ tuổi trưởng thành
    • Dựa trên các số liệu thống kê để bình xét thi đua khen thưởng của các chi Đoàn
    • Tuyên truyền về các chính sách của Đảng, nhà nước đến các Đoàn viên
    • Thông báo các hoạt động của Đoàn trong thời gian đến
    • Các Đoàn viên khó có thể gặp mặt, trao đổi cùng nhau thưòng xuyên

    Những khó khăn đó chúng ta có thể dễ dàng vượt qua nếu biết ứ ng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý của mình. Tất cả những vấn đề đặt ra ở đây là áp dụng cho các trường đã có mộ t cơ cở hạ tầng về công nghệ thông tin khá tố t như là số lượng máy tính có đủ cho một lớp học, có projector, có màn chiếu và một số thiết bị kỹ thuật khác để hỗ trợ cho các máy tính nối mạng với nhau và nối mạng Internet thì càng tốt. Như vậy, vấn đề cuối cùng là làm thế nào để chuyển tất cả các công việc lâu nay chúng ta vẫn làm bằng giấy tờ, sổ sách chuyển qua sử dụng máy tính.

    Đối với việc quản lý về số lượng Đoàn viên, thống kê chi tiêu của chi Đoàn theo từng giai đo ạn,… thì công việc có thể nhẹ nhàng hơ n b ằng cách sử dụng ph ần mềm tính toán Excel. Không cần phải có một phần mềm gì to tác c ả, chúng ta có thể sử dụng phần mềm Excel để hỗ trợ chúng ta trong trong việc quản lý cũng như thống kê, tính toán các số liệu một cách nhanh chóng và chính xác. Yêu cầu ở đây là cần có một máy tính và người sử dụng phải khá thành th ạo trong việc sử d ụng phần mềm này. Việc cuối cùng là người sử dụng nhập số liệu vào và tiến hành việc thống kê, so sánh, đối ch ứng. Từ các kết quả thu được chúng ta nhanh chóng biết được các thông tin về chi tiêu theo từng giai đoạn, chúng ta có th ể thống kê được số lượng Đoàn viên đã tham gia đ óng đoàn phí, chưa đóng đoàn phí từ đó đưa ra đượ c kế sách phù hợp hơn trong công tác quản lý. Chúng ta cũng có thể đễ dàng thống kê số lượng đoàn viên đã đến tuổi trưởng thành hay chưa ch ỉ cần một vài thao tác cho dù số lượng Đoàn viên đó lớn, trong khí đó nếu chúng ta thao tác bằng tay thông qua các sổ sách thì mất nhiều thời gian và có thể không chính xác.

    Đối với các công việc như tuyên truyền, thông báo các hoạt động của Đoàn thì các Đoàn trường có thể xây dựng một Website, trên đó có thể có các thông tin tuyên truyền về các chính sách của Đảng, nhà nước cũng như thông qua Website ban chấp hành Đoàn trường có thể có những thông báo đến các Đoàn viên một cách nhanh nhất. Để Website thật sự hiệu qu ả chúng ta phải xây d ựng mộ t diễn đàn gồm các chủ đề liên quan đến các hoạt động của Đoàn trường, các chủ đề về học tập, chủ đề về giới tính, các sáng kiến của các em,… và một số chức năng trưng cầu để chúng ta có thể lấy ý kiến của các em học sinh v ề một vấn đề nào đó. Thiết nghĩ với việc làm như thế sẽ thu hút được các em khi tham gia vào các hoạt động của trường. Việc xây dựng Website thật ra cũng không phải là khó khăn như người quản lý vẫn nghĩ, chỉ cần một ngườ i am hiểu, có chuyên môn về Công nghệ thông tin thì có thể xây dựng được một Website đơn

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          2

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    giản để hỗ trợ mà việc đó thì có lẽ là không quá khó đối với các trường đã được cung cấp mộ t cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin khá đầy đủ. Hoặc là chúng ta có thể ch ọn ra một số em học sinh nào đó trong trường khá về Tin học hướng dẫn cho các em thực hiện và có thể sau này giao cho các em đó quản trị diễn đ àn dưới sự giám sát của các thầy cô giáo Tin học. Như thế càng thiết thực và càng gầm với tâm tư nguyện v ọng của các em hơn và ngườ i xây dựng Website cũng có thể là người cập nhật thông tin cho Website đó. Sau khi xây dựng thành công Website nếu là những trường có điều kiện thuận lợi thì có thể đăng ký một tên miền và đưa lên Internet, còn nếu không thì chúng ta có thể đưa Website lên mạng nội bộ Intranet. Vấn đề còn lại là làm thế nào để các Đoàn viên có điều kiện thuận lợi nhất để truy cập?

    • Trước tiên chúng ta phải tạo một môi trường sao cho tất cả các học sinh khi đến tham gia cảm thấy thoải mái và lại nhiều ích khi đến đây
    • Trong các giờ học Tin học tại các lớp, giáo viên động viên, khuyến khích học sinh vào Website để nắm thêm thông tin.
    • Có một phòng máy luôn mở cửa để hỗ trợ cho các em ngay khi các em cần.
    • Theo định kỳ nên đưa những câu đố lên Website để các em vào đó giải đáp và có những phần thưởng động viên khuyến khích các em nếu giải đáp đúng

    Với tất cả các công việc được thực hiện như thế, chắc ch ắn rằng không những tạo điều kiện cho các em gặp gỡ giao lưu mà còn có thể có những phương hướng hoạt động Đoàn hiệu quả.

    Ngoài ra, với những trường có projector thì ban chấp hành Đoàn trường có th ể tổ chức các buổi serminar về các hoạt động ngoại khóa, các bu ổi giao lưu tìm hiểu về các hoạt động của Đoàn thông qua các bài trình bày bằng Slide sống động nhằm nâng cao nhận thức của tất cả các đoàn viên trong trường.

    II.                Giáo viên

    Ngo ại trừ các giáo viên giảng dạy tin học, đa số các giáo viên còn lại đều quản lý tình hình học tập của các em học sinh theo các cách khác nhau nhưng hầu như ch ưa ứ ng dụng tin học vào việc quản lý. Qu ản lý ở đây bao gồm tình hình học tập chuyên cần và bảng điểm của học sinh trong các năm học. Có thể nói rằng, với cách quản lý thủ công hiện tại đã gây không ít rắc rối, phiền hà cho giáo viên trong những n ăm vừa qua. Đơn cử cho trường hợp một giáo viên dạy môn sinh học, sau khi chấm bài kiểm tra củ a một lớp học cần phải lưu đ iểm vào sổ và cần thống kê xem bao nhiêu phần trăm đạt điểm trung bình, khá, giỏi… Như thế, người thầy buộc phải phân loại theo từng mức độ, đếm xem mỗi mức như vậy có tất cả bao nhiêu bài và động tác cuối cùng là chia để lấy phần trăm. Một trong những tình huống nảy sinh ở đ ây là trong quá trình chấm bài, vì lí do nào đó bài kiểm tra này cộng sai đ iểm từ mức khá bị hạ xuống mức trung bình. Như vậy, quá trình thống kê phải b ắt đầu lại từ đầu? Một tình huống không mong mu ốn khác lại xảy ra là quá trình vào sổ điểm xong xuôi, không biết th ế nào mà sổ điểm “không cánh mà bay”. Thế thì lấy đâu ra bản điểm th ứ hai nếu không có bản sao? Đó là chưa kể một số giáo viên có bản sao nhưng không sử dụng. Như vậy phải chăng đề nghị các em học sinh tìm lại các bài kiểm tra và đọc lại số điểm để giáo viên ghi vào sổ? Đấy là điều bất cập mà chúng tôi muốn nói đến.

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          3

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    Chỉ cần một ít hiểu biết về Excel, đơn giản là cách tạo các công thức để tính điểm trung bình, câu lệnh if để phân thành các nhóm, người thầy hoàn toàn có thể thự c hiện các công việc thống kê kể trên một cách nhanh chóng mà ít xảy ra các sai sót. Đồng thời tránh được tình trạng mất dữ liệu. Đấy chỉ mới là bài kiểm tra, và chúng ta phần nào cũng đoán được mức độ phức tạp của vấn đề khi đối mặt với bài toán tính đ iểm trung bình của các học kì. Lúc này không chỉ có một mà rất nhiều cột điểm, mỗi cột điểm lại có h ệ số khác nhau. Cột thì hệ số một, cột thì hệ số hai, giáo viên phải tổng cộng lại theo h ệ số và chia trung bình. Mà có phải là tính cho một hay hai học sinh đâu mà tính cho số lượng rất lớn (có thể một giáo viên dạy hơn một lớp trong cùng khối và dạy các khối khác nhau). Nhiều giáo viên sử dụng hình thức tự mình tính trước, sau đó cung cấp điểm cho các em học sinh tính lại và so sánh hai kết qu ả để đảm bảo tính chính xác. Liệu hình thức này có ổn không? Quá trình giáo viên đọc điểm cho từng em học sinh có đảm bảo các em ghi đúng, chính xác? Nếu những dữ liệu này được lưu trong Excel, giáo viên chỉ cần thiết lập công thức tính điểm trung bình chỉ cho một em, sau đó sử dụng công thức này để tính cho các trường hợp tương tự mà không cần tốn nhiều thời gian và công sức. Các em học sinh không phải đợi lâu để biết được kết quả học tập của mình.

    Công việc của giáo viên chủ nhiệm thì vất v ả hơn một tí. Ngoài công việc giảng dạy như các giáo viên bộ môn khác, còn bao nhiêu thứ phải bàn đến chẳng hạn như việc thu tiền quỹ, thu học phí, quản lý học bạ củ a học sinh. Nếu chỉ tính đến công việc giảng dạy thì có thể áp dụng cách thức quản lý điểm mà chúng tôi đề cập ở trên. Vấn đề chúng tôi đưa ra ở đây là cách quản lý tài chính và học bạ của h ọc sinh. Các kho ản nộp quỹ và chi tiêu trong từng năm học, giáo viên nên quản lý chi tiết bằng Excel, có thể chia nhỏ thành từng tháng hay từng học kì. Có như thế mọi việc sẽ rõ ràng, tránh tình trạng thắc mắc của h ọc sinh và phụ huynh học sinh. Trên cơ sở đó, hướng dẫn cho thủ quỹ củ a lớp dần làm quen vớ i cách làm việc khoa họ c này. Vấn đề tiếp theo là quản lý học bạ của họ c sinh. Th ực tế, các em học sinh không được phát sổ h ọc bạ vào cuối mỗi năm học thay vào đó là giấy photo học bạ. Đã có những trường hợp đáng tiếc x ảy ra là học sinh sau khi xem xong không đem về cho ph ụ huynh xem mà giấu đi, thậm chí còn vứt vào sọt rác và tất nhiên việc trình bày như th ế nào với phụ huynh thì giáo viên không thể biết được. Phụ huynh có muốn biết tình hình học tập của con mình thế nào thì liên hệ với phòng giáo vụ. và để tìm được đúng sổ học bạ cuả con mình cũng là vấn đề. Đầu tiên người phụ trách phải tìm đúng khối và đúng lớp trong các chồng học bạ lộn xộn, sau đó lục tìm đến đúng tên học sinh được yêu cầu vì chúng được xếp không theo mộ t thứ tự nào cả. Thế thì tại sao mỗi giáo viên chủ nhiệm lại không lưu họ c bạ của các em họ c sinh mình đã và đang giảng dạy? Thay vì phụ huynh phải tìm đến phòng giáo vụ, phải ch ờ đợi tìm kiếm thì chỉ cần họ nêu tên của giáo viên chủ nhiệm phụ trách con mình sau đó làm việc trực tiếp với giáo viên này để lấy các thông tin cần thiết?

    Nói tóm lại, giáo viên nên cải tiến cách quản lý cổ đ iển của mình. Việc làm quen và quản lý dữ liệu bằng Excel không có gì là phức tạp. Chỉ cần một ít thời gian tìm hiểu thông qua sách vở hay đồ ng nghiệp của mình, chúng tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa sẽ không còn các mớ giấy tờ lộn xộn trên bàn làm việc của giáo viên.

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          4

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    B. Công tác giảng dạy

    I.                   Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào các trường phổ thông

    Hiện nay bộ môn tin học đã được đưa vào các trường phổ thông và xem như là môn họ c chính trong các trường. Các giáo viên tin học là những ngườ i tiếp cận v ới máy móc và môi trường làm việc này đầu tiên. Nhưng có một th ực trạng đáng buồn là hiện nay tại một số trường vớ i số lượng máy đủ để giảng d ạy một lớp như thế, thậm chí có trường lại có hơn hai phòng máy nhưng chưa thật sự sử dụng hết công suất của chúng. Có một số trường có máy nhưng lại chỉ sử dụng trong thời gian đầu hoặc ít sử dụng. Việc sử dụng ph ần lớn chỉ được các giáo viên Tin học đưa vào để cho các lớp thực hành bộ môn tin học sau các giờ học lý thuyết trên lớp. Các giáo viên chưa biết tận dụng những gì có sẵn để phục vụ cho việc giảng d ạy củ a mình để nâng cao chất lượng bài học. Như vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến thực trạng này?

    Nhiều giáo viên chư a biết sử dụng vi tính, ứng dụng các thiết bị công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc giảng dạy của mình. Trên thực tế, máy vi tính đ ã được trang bị ở nhiều trường. Có trường xây dựng được cả một phòng máy hiện đại. Nhưng điều đáng buồn là, trong khi nhiều quán cà phê ngay ven đường đã nối mạng Internet để nhiều người truy cập thông tin, phục vụ cho những mục đích khác nhau nhằm nâng cao sự hiểu biết thì hầu h ết cán bộ quản lý và giáo viên phổ thông chưa biết sử dụng máy vi tính – dù ở chương trình đơn giản nhất. Các phần mềm dạy học được các công ty tin học quảng bá rộng rãi nhưng nhiều giáo viên (GV) không hiểu đượ c tính năng, tác dụng cũng như cách sử dụng chúng. Có thể nói, nó vẫn còn xa lạ vớ i nhiều GV các trường phổ thông. Một số trường đã đư a máy vào sử dụ ng, những công việc chính vẫn là soạn thảo các báo cáo, văn bản, quản lý hồ sơ, số liệu và ch ơi trò chơi điện tử. Không ít n ơi, máy tính còn được đem cất vào tủ cho nhện đỡ ch ăng mạng hoặc đắp ch ăn nằm ch ờ vì không có người biết sử dụ ng. Có th ể nói, chính sự thiếu hiểu biết v ề tác dụ ng của CNTT cộng với trình độ sử dụng còn hạn chế, đặc biệt là thiếu đội ngũ GV Tin học đã làm cho việc ứng dụng CNTT vào nhà trường hết sức chậm chạp.

    Các giáo viên ngại sử dụng, nghĩ rằng sẽ tốn nhiều thời gian để chuẩn bị một bài giảng. Việc thực hiện một bài giảng một cách công phu bằng các dẫn chứng sống động trên các slide trong các giờ học lý thuyết là một điều mà các giáo viên không muố n nghĩ đến. Để có được một bài giảng như thế đòi hỏi phải mất nhiều thời gian chuẩn bị mà đó chính là điều mà các giáo viên thường hay tránh. Khảo sát hiệu quả tiếp thu từ phía HS cho thấy, nếu sử dụng phương pháp dạy học truy ền thống với phấn trắng bảng đen thì hiệu quả mang lại chỉ có 30%, trong khi hiệu quả củ a phương pháp multimedia (nhìn – nghe) lên đến 70%. Việc sử dụ ng phương pháp mớ i đòi hỏi một giáo án mớ i. Thực ra, mu ốn “click” chuột để tiết dạy thật sự có hiệu quả thì giáo viên phải vất v ả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống. Ngoài kiến thức căn bản v ề vi tính, sử dụng thành thạo phần mềm power point, giáo viên cần phải có niềm đ am mê thật sự vớ i với công việc thiết kế đòi hỏi sự sáng tạo, sự nhạy bén, tính thẩm mỹ để “săn tìm” tư liệu từ nhiều nguồn.

    Chỉ ứng dụng khi có nhu cầu. Tức là chỉ khi có thao giảng mới sử d ụng và việc làm này ch ỉ mang tính chất đối phó. Tình trạng này cũng phổ biến đối với các trường phổ thông. Mục đích sử dụng máy tính để phục vụ cho công tác giảng dạy chỉ được áp dụng trong các tình huống này.

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          5

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    C ũng có ứng dụng như ng ứng dụng không đúng qui trình. Trường hợp này khá phổ biến. Cũng có một số giáo viên sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc giảng dạy của mình nhưng lại thực hiện không bài bản có thể gây phản tác dụng

    Các trường cũng chưa mạnh dạn áp dụng CNTT vào các hoạt động nhà trường như: bồi dưỡng giáo viên, qu ản lý nhân sự, quản lý tài chính, thống kê báo cáo, tuyển sinh, thi tốt nghiệp, các phần mềm dạy học… là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng GD.

    II.                Yêu cầu cần thiết để làm Giáo án điện tử

    Mặc dù giáo án đ iện tử (GAĐT) chưa được các trường học đón nhận, chưa thực sự phổ biến nhưng bước đầu nó đã tạo ra một không khí học tập và làm việc khác hẳn so với cách học và cách giảng dạy truyền thống. Phải chăng việc giảng dạy bằng GAĐT sẽ giúp ng ười thầy đỡ vất vả bởi vì chỉ cần “click” chuột? Thự c ra, mu ốn “click” chuột để tiết d ạy thực sự có hiệu quả thì ngườ i giảng dạy cũng phải ch ịu bỏ công tìm hiểu, làm quen với cách giảng dạy mới này. Cụ thể, người thầy cần phải:

    • Có một ít kiến thức về sử dụng máy tính
    • Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint
    • Biết cách truy cập Internet
    • Có khả năng sử dụng một phần mềm chỉnh sửa ảnh, làm các ảnh động, cắt các file âm thanh…
    • Biết cách sử dụng projector

    Thoạt nghe thì có vẻ phức tạp nhưng thự c sự muốn ứng dụng CNTT vào giảng dạy có b ắt buộc phải thực hiện hết những yêu cầu trên? Câu trả lờ i là không. Tuỳ thuộ c vào tính chất của mỗi môn học mà các yêu cầu khác nhau được đặt ra cho các giáo viên. Tuy nhiên nếu đáp ứng được các yêu cầu trên thì thật tuyệt vời.

    Tại sao chúng tôi lại đặt ra các yêu cầu như trên? Chúng ta thử tưởng tượng xem nếu một người không có khái niệm gì về CNTT liệu họ có bật máy tính lên và chọn được cho mình một chương trình làm việc? Liệu họ có biết được tài liệu của mình nằm

    • đâu trên máy tính? Cách copy tài liệu từ nơi này sang nơi khác hay xoá một tài liệu nào đó khi không còn dùng?… Nghĩa là dù ít hay nhiều họ cũng phải sử dụng được chiếc máy tính theo ý muốn của mình.

    Thứ hai, từ những giáo án được soạn sẵn trên giấy và được trình bày lại trên bảng đen làm thế nào để chúng trở thành các GAĐT được trình bày trên màn chiếu? Điều này đòi hỏi người thầy phải biết sử dụng PowerPoint, đây là một phần mềm nằm trong bộ MS Ofice dùng để tạo các trình diễn đa dạng trên máy tính. Nếu chỉ dừng ở mức độ gõ những nội dung cần thiết cộng thêm một ít định dạng về màu sắc, font chữ, chúng tôi thiết nghĩ giáo viên nào cũng có thể làm được. Tuy nhiên, nếu chỉ có thế thì chúng ta chưa thực sự thấy được sức mạnh của PowerPoint cũng như chưa phát huy hiệu quả của phương pháp giảng dạy mới này. Lấy ví dụ trong một tiết giảng v ăn học về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, thay vì giáo viên hay các em học sinh cầm sách để đọc bài thơ thì bây giờ, trên màn hình lớn hiện ra các khổ thơ, bên dưới các dòng thơ là hình ảnh dòng sông Hương êm đềm và cầu Tràng Tiền thơ mộng. Giọng ngâm thơ của ngh ệ sỹ nào đó được thay cho lời đọc của thầy, của trò. Người thầy chỉ việc nhìn vào màn hình và cứ

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          6

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    thế phân tích từng câu thơ. V ới hình thức giảng d ạy như thế, chúng tôi tin rằng các em học sinh đều cảm nh ận được cái hay của bài thơ, cảm nhận đượ c tình yêu thiên nhiên, đất nước của tác giả. Hay đối với mộ t tiết giảng môn vật lý, các em chắc hẳn cũng khá vất vả để hình dung ra chuyển độ ng theo quán tính, chuyển động biến đổi đều… hay các hiện tượ ng xảy ra trong vũ trụ khi nghe giáo viên giảng. Có khi nghe rồi có em lại hiểu sai vấn đề. Thế thì tại sao chúng ta không đưa ra hình ảnh thật minh hoạ cho các lời giảng trên. Có như thế các em mới hiểu sâu hơn v ấn đề đồ ng th ời làm cho giờ học sinh động và đạt hiệu quả hơn rất nhiều. Hay đối với các định luật, các em có thể biết được định luật nào sẽ do nhà khoa học nào phát minh nhưng có thể không biết được hình dáng của những người này, và d ĩ nhiên chúng ta có thể lồng các hình ảnh của các nhà khoa học này vào trong bài giảng mà không mất nhiều thời gian.

    Ngoài những nội dung, hình ảnh minh hoạ được đưa vào bài giảng, thao tác cơ bản nhất đòi hỏi người thầy phải nắm được là cách thiết lập các hiệu ứng để làm cho bài giảng sinh động, mang lại không khí học tập, giảng dạy mới mẻ. Các hiệu ứng này là gì? Đó chính là các hoạt ảnh của các đối tượng (văn bản, hình ảnh…) đượ c thiết lập có thứ tự. Có th ể dòng chữ này xuất hiện trước dòng chữ kia hay khi thì dòng chữ này xuất hiện từ dưới lên, khi từ trên rơi xuống… Chẳng h ạn trong giờ học ngoại ngữ , giáo viên cho học sinh đoán từ vự ng trước sau đó mới hiển thị kết quả trên màn hình, như th ế sẽ tiết kiệm được thời gian chép câu hỏ i lên bảng, đồng thời tăng khả năng tư duy củ a học sinh. Tương tự đối với các phản ứng hoá học, chất phản ứng sẽ xuất hiện trên màn hình, sau khi học sinh suy nghĩ xong, giáo viên sẽ giúp các em thấy được các chất tạo thành từ các phản ứng này. Ngoài ra, đặc điểm này giúp cho giáo viên tiết kiệm được thời gian viết nội dung lên bảng, nội dung hiển thị đến đâu, giáo viên giảng đến đó, làm cho thời gian giảng bài nhiều hơn, các em học sinh hiểu bài sâu hơn.

    Đối với các môn học xã hội như lịch sử, địa lý, bài giảng thường đi kèm với nhiều hình ảnh minh họa. Có thể là hình ảnh mô tả một trận chiến, các căn cứ địa cánh mạng hay hình ảnh minh hoạ các vùng kinh tế, diện tích lãnh thổ của vùng địa lý nào đ ó… Nếu chỉ trình bày suông, chúng tôi nghĩ cũng chẳng có vấn đề gì cả, nhưng tại sao khi chúng ta đã chấp nh ận làm GAĐT chúng ta lại không làm cho bài giảng phong phú hơn? Hiện tại những hình ảnh minh hoạ cho các nội dung nói trên tương đối nhiều trên Internet. Chúng tôi thiết ngh ĩ nếu chỉ cần bỏ chút thời gian mà có được nh ững nội dung, hình ảnh cần minh hoạ cho bài giảng thì người thầy nào cũng sẵn lòng cả. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo viên cần biết cách thức truy cập Internet để lấy thông tin.

    Tuy nhiên, không ph ải hình ảnh nào chúng ta lấy từ Internet đều thỏa mãn ý muốn của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta cần hình ảnh của một hình chóp để minh hoạ trong giờ học toán nhưng hình ảnh chúng ta lấy từ Internet lại quá nhỏ hay nó lại n ằm chung với một hình khác. Nh ư vậy chúng ta bó tay, không cần minh hoạ hay vẽ lên bảng hay tìm một hình khác cho đến khi vừa ý? Không, giải pháp đơn giản hơn là chúng ta có thể phóng to hình này lên hay xén lại hình để chỉ lấy phần hình chóp. Hay để tăng thêm tính thuyết phục, tính chất thực của các sự kiện, giáo viên d ạy lịch sử có thể dẫn dắt thông qua các đoạn phim tư liệu. Vậy chúng ta thực hiện các công việc trên b ằng cách nào? Điều này đòi hỏi giáo viên cần biết một ít kỹ thuật để xử lý màu sắc, cắt xén ảnh, các đoạn phim, đoạn nhạc một cách hợp lý. Hoặc trong giờ học ngoại ngữ, giáo viên có thể lấy các hình ảnh minh hoạ và cho các em nghe các bài đọc của người b ản xứ. Có như thế bài giảng sẽ sinh động hẳn, các em lại nhớ được các từ vựng và phát âm chuẩn

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          7

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    hơn. Có thể đ ây là thao tác tương đối phức tạp nhưng nó mang lại tính hiệu quả cao trong công tác giảng dạy.

    Bài giảng sau khi thiết kế sẽ được trình chiếu lên màn hình thông qua máy chiếu. Nghĩa là dù muốn hay không giáo viên buộc phải biết cách sử dụng nó. Đây là một trong những yêu cầu bắt buộc đối vớ i giáo viên, ch ỉ cần một vài thao tác lắp máy chiếu vớ i CPU của máy tính và điều chỉnh độ lớ n, độ nét trên màn hình giáo viên chắc hẳn sẽ có một bài giảng chất lượng, học trò sẽ có không khí học tập sảng khoái hơn.

    Điều cuối cùng chúng tôi muố n nói đến là nhờ GAĐT mà các giáo viên đã tạo ra một không khí khác hẳn so với giờ d ạy truyền thống. Học sinh buộc phải tập trung nghe giảng và tư duy nhiều hơn trong các giờ học. Tuy nhiên, tối thiểu người giảng dạy phải có một số kiến thứ c nh ất định chẳng hạn như sử dụng được phần mềm trình diễn PowerPoint để trình bày bài giảng và cần phải có quan niệm các phương tiện kỹ thuật được đề cập trên là các phương tiện hỗ trợ cho việc giảng dạy chứ không thể thay thế vai trò chủ đạo của người thầy trong giờ lên lớp.

    III.             Quy trình và nguyên tắc khi thực hiện GAĐT

    Hiện tại, một số trường đã áp dụng GAĐT trong các giờ d ạy. Nhưng vấn đề là chúng ta có nghĩ đến việc áp dụng như thế đã đúng chưa, đã hiệu quả chưa? Nếu chưa thì áp dụng nh ư th ế nào là đúng quy trình, làm thế nào để giáo viên đỡ vất vả trong những lần d ạy tiếp theo? Đ iều chúng tôi muốn nói ở đây là quy trình để chuẩn bị cho một giáo án điện tử. Cụ thể, giáo viên cần có:

    • Slide bài giảng
    • Chương trình phân bổ thời gian học trong mỗi học kỳ
    • Tài liệu hướng dẫn bài tập

    Khi chuyển từ bài giảng truyền thống sang các slide trình diễn, giáo viên thường mang tư tưởng của bài giảng cũ để áp đặt vào. Nghĩa là, chúng ta nghĩ chúng ta sẽ trình bày những gì mình nói và viết tất cả các nội dung vào slide. Điều này hoàn toàn sai lầm vì như thế học sinh sẽ cho rằng giáo viên chỉ nói những điều trong sách, không mở rộ ng các kiến thức ngoài. Chúng ta cần nh ớ một điều slide là nơi ch ỉ chứa tên bài họ c, các đề mục và các cụm từ chốt phục vụ cho bài giảng. Tuỳ theo từng môn h ọc, chúng ta có thể bổ sung các công thức, định lý, ph ản ứng hoá họ c, hình ảnh minh hoạ một cách hợp lý… Đ ây là bướ c mà giáo viên cần vận dụng khả n ăng, kiến thức v ề tin học của mình để xây dựng bài giảng. Nếu slide này cần hình ảnh minh hoạ, giáo viên nên tìm kiếm hình ảnh để chèn vào. Hay slide kia đang trình bày kết quả mộ t thí nghiệm, giáo viên có thể đưa đoạn phim thí nghiệm vào để tăng thêm tính thực tế. Công đoạn đưa nội dung vào giáo viên cũ ng nên lưu đến số lượng chữ, màu sắc, kích thước trên các slide. Giáo viên nên tóm tắt v ấn đề mình sẽ trình bày d ướ i dạng các keyword một cách rõ ràng và dễ hiểu. Nhìn vào slide, giáo viên có nhiệm vụ giải thích kỹ càng và mở rộng vấn đề ra chứ không phải là đọc các dòng chữ trên slide. Nếu chưa quen với cách giảng d ạy này, giáo viên có thể thấy khó khăn trong việc xác định xem slide tiếp theo sẽ trình bày về vấn đề gì. Không sao, giáo viên có thể in ra một bản handout để vừa giảng vừa nhìn vào nó để xác định vấn đề sẽ nói tiếp theo.

    Sử dụng GAĐT cũng có nghĩa giáo án truyền thống dần được lãng quên. Chúng ta hãy nhìn lại xem trong giáo án truyền thống chúng ta trình bày những gì. Phải chăng là

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          8

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    tất cả nộ i dung bài giảng? Vậy thì đố i vớ i GAĐT chỉ gồm một số slide, các slide chỉ chứa các keyword, hình ảnh… thì làm thế nào để giáo viên có thể bao quát hết các vấn đề cần được giảng? Phải chăng giáo viên thích nói nội dung nào trướ c đều được? Nhữ ng nội dung giáo viên cảm thấy thích thì tập trung nhiều thời gian vào và giảm thời gian cho các nội dung còn lại? Liệu một giáo viên mới đứng lớp có thể nhớ hết được những gì mình đã chu ẩn bị trướ c buổi dạy? Chỉ cần chúng ta xây dựng đề cương giảng dạy thì v ấn đề trên sẽ được giải quyết ngay lập tức. Đề cương này sẽ ghi rõ số tiết dạy của môn học, tên bài giảng tương ứ ng với các tiết học, nộ i dung cụ thể sẽ trình bày trong mỗi tiết học là gì? Vấn đề nào trình bày trước, vấn đề nào trình bày sau? Vấn đề nào là trọng tâm, cần đượ c nhấn mạnh?… Sở dĩ chúng ta phải chuẩn bị kỹ lưỡng như vậy là vì nếu tiết giảng đó giáo viên chưa nói hết nội dung các slide hay đã trình bày hết nhưng thời gian còn thừa đồng nghĩa với việc “cháy giáo án” và học trò rất dễ nhận ra. Kết hợp đề cương này cùng handout một cách thích hợp, giáo viên ắt hẳn sẽ không còn băn khoăn gì về cách dạy mới mẻ này.

    Kèm theo các tiết học lý thuyết là các tiết học bài tập, giáo viên cần có tài liệu hướ ng dẫn bài tập cụ thể bao gồm bài tập trong sách giáo khoa và bài tập nâng cao và các bài tập này phải được giải một cách rõ ràng tránh trường hợp đến tiết bài tập nào thì giải các bài tập đến đó. Các bài tập này sẽ được lưu vào sổ tay hướng dẫn giảng dạy để làm tài liệu giảng dạy sau này.

    IV.       Giải pháp cho việc áp dụng GAĐT

    Đúng là GAĐT lắm công phu thật. Có lẽ vì thế mà một số tr ường đã thực hi ện nhưng chỉ mang tính hình thức và dừng lại ở mức các tiết học thao giảng. Phải chăng có nhiều rào cản trong việc áp dụng phương án mới này? Đó là cơ sở vật chấ t hay sự ngại ngùng của một số giáo viên khi làm quen với các kỹ thuật tin học để phục vụ cho môi trường giả ng dạy mới? Trở ngại thứ nhất chúng tôi nghĩ khó giải quyết nhưng khi giải quyết được thì vấn đề đặt ra thứ hai thì hoàn toàn có thể khắc phục đượ c. Với đội ngũ giáo viên tin học hiện có trong nhà trường, chỉ cần tổ chức một số buổi seminar về cách sử dụng máy chiếu, thiết lập các hiệu ứng trong PowerPoint cho toàn thể giáo viên các bộ môn khác để họ có thể tự mình thi ết kế GAĐT riêng cho mình. Ngoài ra, các thầy cô giáo trong cùng t ổ chuyên môn nên có các buổi thao giảng để thu nhận những góp ý chân thành từ những ng ười khác, từ đó nâng cao chất lượng gi ảng dạy theo phương pháp mới. Chúng tôi nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm một ít bồi dưỡng về kiến thức tin học, các giáo viên hoàn toàn có thể thiết kế được bài giảng điện tử để thể hiện tốt hơn phương pháp sư phạm, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy.

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          9


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam

    Luận Văn Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam

    Luận Văn Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-v%C3%A0-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận Văn Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam

    Khoá luận tốt nghiệp

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã và đang đem lại những chuyển biến mạnh mẽ trên toàn thế giới. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh tế đem lại những lợi ích to lớn cho toàn xã hội.

    Thương mại điện tử là lĩnh vực hoạt động kinh tế không còn xa lạ với nhiều quốc gia. Người ta không còn phải mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc…cho những giao dịch kinh tế. Việc áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh là một xu thế tất yếu của thời đại. Và Việt Nam – trong quá trình hội nhập không nằm ngoài xu hướng phát triển đó. Tuy thương mại điện tử không còn là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam, nhưng rất nhiều người Việt Nam thậm chí còn chưa hiểu rõ bản chất, lợi ích của thương mại điện tử chứ chưa nói đến việc áp dụng nó. Do đó, quá trình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu khách quan về quy luật vận động và phát triển thương mại điện tử để từ đó xây dựng và triển khai chiến lược phát triển lĩnh vực hoạt động thương mại này.

    Xuất phát từ những yêu cầu đó, với mong muốn mỗi người dân Việt Nam sẽ hiểu biết ngày một sâu sắc tầm quan trọng của thương mại điện tử, đưa thương mại điện tử vào trong hoạt động phát triển nền kinh tế quốc gia nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Nội dung của khoá luận sẽ giúp người đọc hiểu rõ khái niệm, yêu cầu, lợi ích và tầm quan trọng của thương mại điện tử nói chung và những định hướng, bước đi trong chặng đường phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam nói riêng, qua đó sẽ thấy được những vấn đề bức thiết cần làm để nâng cao hiệu quả của thương mại điện tử.

    Trong quá trình thực hiện, do trình độ và thời gian có hạn cùng với điều kiện thực tế là thương mại điện tử ở Việt Nam mới chớm phát triển, việc lấy thông tin chính xác còn nhiều hạn chế, do đó khoá luận không thể tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ, trao đổi, động viên của các cấp, các ngành, các

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    nhà nghiên cứu, các thày cô và những ai quan tâm đến thương mại điện tử để khoá luận “Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam” ngày một hoàn thiện.

    Xin trân trọng cảm ơn!

    LỜI CẢM ƠN

    Trước hết tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó giáo sư, Nhà giáo ưu tú Vũ Hữu Tửu – người đã hướng dẫn tận tình cho tôi từ lúc tôi bắt đầu thực hiện cho đến khi khoá luận “Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam” được hoàn thành. Xin cảm ơn về những chỉ dẫn hết sức quý báu của thầy để em có thể mạnh dạn thực hiện và tin tưởng vào khoá luận tốt nghiệp của mình.

    Tôi cũng xin ghi nhận sự đóng góp của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, bạn bè tôi và đặc biệt là Công ty vận tải thuỷ Bắc đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện khoá luận.

    Và trên hết tôi muốn gửi lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình tôi, những người đã luôn động viên, khuyến khích và tạo cho tôi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn tất khoá luận này.

     

    -2-

    Khoá luận tốt nghiệp

    TÓM TẮT KHOÁ LUẬN

    Khoá luận Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam gồm 03 chương:

    Chương I: Giới thiệu chung về thương mại điện tử, nêu lên những khái niệm, lợi ích và các đòi hỏi của thương mại điện tử. Mục đích là giúp bước đầu tìm hiểu về thương mại điện tử trong quá trình tiến tới một nhận thức toàn diện và để đầy đủ hơn về một thách thức đồng thời là một cơ hội mới khi tham gia vào lĩnh vực thương mại này.

    Chương II: Để hiểu rõ thực trạng thương mại điện tử ở Việt Nam, trước hết chương II đánh giá các yếu tố về hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam từ đó nêu lên tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong những năm gần đây, đồng thời cũng nêu lên triển vọng về phát triển thương mại điện tử

    • Việt Nam trong tương lai.

    Chương III: Như đã đề cập ở Lời nói đầu, quá trình phát triển thương mại điện tử

    • Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Để có các giải pháp khắc phục, trước hết cần phải có các quan điểm chủ trương đúng mức. Chương này đề cập đến hệ thống các giải pháp phát triển thương mại điện tử nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đến năm 2020, trong đó nêu rõ các giải pháp vĩ mô ở tầm

    -3-

    Khoá luận tốt nghiệp

    quốc gia và các giải pháp vi mô ở cấp độ doanh nghiệp phù hợp với các quan điểm chủ trương phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.

    Để tiện cho việc so sánh sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam với các nước khác trên thế giới. Phần phụ lục nêu rõ tình hình thương mại điện tử trên thế giới và một số khu vực, quốc gia. Từ đó ta có thể xem xét, nghiên cứu, học hỏi về quá trình phát triển thương mại điện tử ở các nước tiên tiến nhằm đưa thương mại điện tử Việt Nam tiến những bước dài trên con đường phát triển.

    CHƯƠNG I

    GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

    I. KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.

    Sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đã đưa tới cuộc “cách mạng số hoá”, thúc đẩy sự ra đời của “kinh tế số hoá”, và “xã hội thông tin” mà thương mại điện tử là một bộ phận hợp thành. Thương mại điện tử là việc sử dụng các

     

    phương pháp điện tử để làm thương mại, trong đó “thương mại” (commerce) không phải chỉ là buôn bán hàng hoá dịch vụ (trade), mà – như được các nước thành viên Liên hợp quốc thoả thuận- bao gồm hầu như tất cả các dạng hoạt động kinh tế, và việc chấp nhận và áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi toàn bộ hình thái hoạt động của xã hội.

    1. Số hoá và nền kinh tế số hoá.

    Cho tới đầu thế kỷ này, để liên lạc với nhau, người ta sử dụng các hệ thống ký hiệu như âm thanh, hình ảnh, và chữ viết. Trong nửa đầu thế kỷ, kỹ thuật số (digital technique) trên cơ sở hệ nhị phân ( binary system, dùng hai chữ số, 0 và 1; mỗi số đó gọi là 1 bit, 8 bit gọi là một byte, biểu diễn điện tử tương ứng của hai ấy là “mạch mở” và “mạch đóng”) bắt đầu phát triển và hoàn thiện dần. Hình ảnh (kể cả chữ viết, con số, các ký hiệu khác), và âm thanh đều được số hoá thành các nhóm bit điện tử, để ghi lại, lưu giữ trong môi trường từ, truyền đi và đọc bằng điện tử, tất cả đều với tốc độ ánh sáng (300 nghìn km/giây).

    Kỹ thuật số được áp dụng trước hết vào máy tính điện tử, tiếp đó sang các lĩnh vực khác (cho tới điện thoại di động, thẻ tín dụng v.v.). Việc áp dụng các kỹ thuật số có thể được gọi là một cuộc Cách mạng vĩ đại trong lịch sử nhân loại, gọi là cuộc cách mạng số hoá ( digital revolution), mở ra “kỷ nguyên số hoá” (Digital Age).

    Cách mạng số hoá diễn ra với tốc độ rất cao. Trong bối cảnh ấy, hoạt động kinh tế nói chung và thương mại nói riêng (kể cả khâu quản lý) cũng chuyển sang dạng “số hoá”, “điện tử hoá”; khái niệm “thương mại điện tử” dần dần hình thành, và ứng dụng “thương mại điện tử” ngày càng mở rộng.

    2. Thương mại điện tử là gì?

    Thương mại điện tử là một trong những lĩnh vực tương đối mới, ngay tên gọi cũng có nhiều: có thể gọi là “thương mại trực tuyến” (online trade) (còn gọi là “thương mại tại tuyến”), “thương mại điều khiển học” (cybertrade), “kinh

    doanh điện tử” (electronic business), “thương mại không có giấy tờ” (paperless –

    Khoá luận tốt nghiệp

    commerce hoặc paperless trade) v..v; gần đây “thương mại điện tử” (electronic commerce) được sử dụng nhiều và trở thành quy ước chung, đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù rằng các tên gọi khác vẫn có thể được dùng và được hiểu với cùng một nội dung.

    Theo định nghĩa rộng rãi nhất, giản dị nhất và đã được chấp nhận phổ biến, thì thương mại điển tử là việc sử dụng các phương pháp điện tử để làm thương mại. Nói chính xác hơn, thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần in ra giấy trong bất kỳ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.

    Trong định nghĩa trên đây, “thông tin” (information) không được hiểu theo nghĩa hẹp là “tin tức”, mà là bất cứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các tệp văn bản (text-based file), các cơ sở dữ liệu (database), các bản tính (spreadsheet), các bản vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử (computer-aid design: CAD), các hình đồ hoạ (graphical image), quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hoá đơn, biểu giá, hợp đồng, hình ảnh động (video image), âm thanh v.v.

    Cần chú ý rằng, chữ “thương mại” (commerce) trong “thương mại điện tử” (electronic commerce) cần được hiểu như cách diễn đạt sau đây của Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế, đã được ghi trong Đạo luật mẫu vầ thương mại điện tử do Uỷ ban này thảo ra và đã được Liên hiệp quốc thông qua:

    Thuật ngữ thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; thoả thuận khai thác; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh

    Khoá luận tốt nghiệp

    doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.

    Như vậy, “thương mại” (commerce) trong “thương mại điện tử” (electronic commerce) không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng hơn nhiều, do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của gần như tất cả các hoạt động kinh tế. Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.

    3.                 Các phương tiện kỹ thuật hiện đại của thương mại điện tử.

     

    • Điện thoại:

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng, và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại. Một số loại dịch vụ có thể cung cấp trực tiếp của điện thoại (như dịch vụ bưu điện, ngân hàng, hỏi đáp, tư vấn, giải trí); với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên rộng rãi hơn.

    Tuy nhiên, trên quan điểm kinh doanh, công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được mọi cuộc giao dịch cuối cùng cũng phải kết thúc bằng giấy tờ. Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại, nhất là điện thoại đường dài và điện thoại ngoài nước vẫn còn cao.

    – Máy điện báo (Telex) và máy Fax:

    Máy fax có thể thay thế dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống, ngày nay nó gần như đã thay thế hẳn máy Telex chỉ truyền được lời văn. Nhưng máy Fax có một số mặt hạn chế như: không thể truyền tải được âm thanh, chưa truyền tải được các hình ảnh phức tạp, ngoài ra giá máy và chi phí sử dụng còn cao.

    – Truyền hình:

    Khoá luận tốt nghiệp

    Số người sử dụng máy thu hình trên toàn thế giới hiện nay là rất lớn đã khiến cho truyền hình trở thành một trong những công cụ điện tử phổ thông nhất ngày nay.

    Truyền hình đóng vai trò quan trọng trong thương mại, nhất là trong quảng cáo hàng hoá, ngày càng có nhiều người mua hàng nhờ quảng cáo trên truyền hình, một số dịch vụ đã được cung cấp qua truyền hình (như các chương trình đặt trước.v.v.) . Song truyền hình chỉ là một công cụ viễn thông “một chiều”; qua truyền hình khách hàng không thể tìm kiếm được các chào hàng, không thể đàm phán với người bán về các điều khoản mua bán cụ thể. Nay máy thu hình được nói kết với máy tính điện tử, thì công cụ của nó được mở rộng hơn.

    – Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử:

    Mục tiêu cuối cùng của mọi cuộc mua bán là người mua nhận được hàng và người bán nhận được tiền trả cho số hàng đó. Thanh toán, vì thế, là khâu quan trọng bậc nhất của thương mại, và thương mại điện tử không thể thiếu được công cụ thanh toán điện tử thông qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử mà bản chất là các phương tiện tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác (nay xuất hiện cả hình thức tự động chuyển tiền mặt thông qua các “túi tiền điện tử”: electronic purse). Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự động (ATM: Automatic Teller Machine), thẻ tín dụng (credit card) các loại, thẻ mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smart card: thẻ từ có gắn vi chip điện tử mà thực chất là một máy tính điện tử rất nhỏ) v.v.

    – Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ:

    Theo nghĩa rộng, mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một xí nghiệp và các liên lạc đủ kiểu giữa các máy tính điện tử trong cơ quan xí nghiệp đó, cộng với liên lạc di động. Theo nghĩa hẹp, đó là mạng kết nối nhiều máy tính ở gần nhau (gọi là mạng cục bộ: Local Area Network – LAN); hoặc nối kết các máy tính trong một khu vực rộng lớn hơn (gọi là mạng miền rộng: Wide Area Network – WAN). Hai hay nhiều mạng nội bộ liên kết với nhau sẽ tạo thành liên

    Khoá luận tốt nghiệp

    mạng nội bộ (cũng có thể gọi là “mạng ngoại bộ” – extranet) và tạo ra một cộng đồng điện tử liên xí nghiệp (inter-enterprise electronic community).

    – Internet và Web:

    Năm 1969, Cơ quan các dự án nghiên cứu cao cấp thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ bắt đầu nghiên cứu các tiêu chuẩn và công nghệ – thiết bị truyền gửi dữ liệu cho phép lập một mạng toàn quốc, nối ghép các mạng cục bộ và miền rộng sử dụng các chuẩn công nghệ khác nhau thành một mạng chung để trao đổi thông tin nhanh chóng và kịp thời. Năm 1983 dự án này thành công, một mạng toàn cục ra đời, sau đó tách thành hai mạng: MILnet chuyên dùng cho quân đội và ARPAnet dùng cho nghiên cứu và giáo dục. Các mạng máy tính đều có thể kết nối với ARPAnet, vì thế nó được đặt tên là Internet (tức “liên mạng”). Năm 1994 toàn thế giới có khoảng 3 triệu người kết nối Internet; năm 1996 con số đã lên trên 67 triệu người, năm 1997 đã có 110 quốc gia kết nối vào mạng Internet; năm 1998, toàn thế giới có khoảng 100 triệu người sử dung Internet/Web.

    Từ năm 1995, Internet được chính thức công nhận là mạng toàn cầu, nó là “mạng của các mạng” (the network of the networks) một máy tính có địa chỉ Internet thoạt tiên được nối vào mạng LAN, rồi tới mạng WAN, rồi vào Internet. Nhờ đó các mạng và các máy tính có địa chỉ Internet có thể giao tiếp với nhau, truyền gửi cho nhau các thông điệp (gọi là thư điện tử: electronic mail, tức e-mail), và các dữ liệu thuộc hàng trăm ứng dụng khác nhau.

    Việc kết nối các mạng như trên được thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn truyền dẫn dữ liệu trong môi trường Internet (Internet Standards), chủ yếu là giao thức chuẩn TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) do Bộ Quốc phòng Mỹ (DOD: Department Of Defense) khởi thảo và phát triển (như đã nói ở trên). Trong đó TCP chịu trách nhiệm đảm bảo việc truyền gửi chính xác dữ liệu từ người sử dụng tới máy chủ (server) ở nút mạng, còn IP có trách nhiệm chuyển các gói dữ liệu (packet of data) từ nút mạng này sang nút mạng khác theo địa chỉ Internet.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Khi nói Internet, ta nói tới một phương tiện liên kết các mạng với nhau trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP. Công nghệ Internet thực sự trở thành công cụ đắc lực khi áp dụng thêm giao thức chuẩn quốc tế HTML (HyperText Transfer Protocol: Giao thức chuẩn truyền siêu văn bản) với các trang siêu văn bản viết bằng ngôn ngữ HTML (HyberText Markup Language), tạo ra nhiều dịch vụ khác nhau, mà tới nay nổi bật nhất là dịch vụ Word Wide Web ra đời năm 1991 (thường gọi tắt là Web, và viết tắt là WWW hoặc W3) là công nghệ sử dụng các siêu liên kết văn bản (hyberlink, hybertext) tạo ra các văn bản có chứa nhiều tham chiếu tới các văn bản khác, cho phép người sử dụng tự động chuyển từ một cơ sở dữ liệu này sang một cơ sở dữ liệu kia, bằng cách đó mà truy cập các thông tin thuộc các chủ đề khác nhau và dưới các hình thái khác nhau (văn bản, đồ hoạ, âm thanh), vừa phong phú về nội dung, vừa hấp dẫn về hình thức. Bằng dịch vụ Web, người sử dụng đọc được các thông tin viết bằng ngôn ngữ HTML, và truyền từ nơi này sang nơi khác trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế FTP (File Transfer Protocol: giao thức chuẩn truyền tệp), POP (Post office Protocol: giao thức chuẩn truyền thông điệp đơn giản), NNTP (Net News Transfer Protocol: giao thức chuẩn truyền tin qua mạng; cho phép những người sử dụng mạng thảo luận xung quanh một hoặc nhiều vấn đề cùng quan tâm).

    Web giống như một thư viện khổng lồ có nhiều triệu cuốn sách, hay như một cuốn từ điển khổng lồ có nhiều triệu trang, mỗi trang (gọi là “trang web”-Web page) chứa một gói thông tin có nội dung nhất định: một trang quảng cáo, một bài viết v.v. mà số trang không ngừng tăng lên, và không theo một trật tự nào cả. Tính phức tạp và hỗn độn đó của Web dẫn tới việc nghiên cứu và cho ra đời các phần mềm công cụ tìm kiếm (search engine) chỉ dẫn người sử dụng tìm ra địa chỉ của thông tin theo chủ đề trong “biển thông tin” mênh mông của Web. Các “trình duyệt Web” được dùng phổ biến nhất hiện nay là Netscape Navigator

    Khoá luận tốt nghiệp

    (chiếm trên 50% thị trường), Microsoft Internet Explorer (chiếm gần 23% thị trường), và American Online (AOL: chiếm trên 16% thị trường).

    Ngày nay, do công nghệ Internet được áp dụng rộng rãi vào việc xây dựng các mạng nội bộ và mạng ngoại bộ, nên ngày nay người ta càng hiểu mạng nội bộ và mạng ngoại bộ là các “phân mạng” (subnet) của Internet. Và sau này, khi đã chấp nhận Internet như một công cụ giao tiếp chung, ta sẽ hiểu Internet như bao gồm cả các phân mạng ấy. Internet ra đời và phát triển đã tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá.

    Internet với tới mọi nơi trên thế giới, nên nó mang ý nghĩa toàn cầu rõ rệt. Các xu hướng hội tụ (convergence), tương tác (interactivity), và di động (mobility) được thúc đẩy mạnh mẽ sẽ làm thay đổi một cách căn bản tính chất và phẩm chất hoạt động của từng người, quan hệ người-với-người, người-với-vật thể trong những năm sắp tới. Khái niệm nền “kinh tế trực tuyến” (Online Economy, cũng gọi nền “kinh tế tại tuyến”) trong từng quốc gia, từng khu vực, và toàn thế giới ngày nay gắn liền với Internet. Gọi là “trực tuyến” (hay “tại tuyến”) vì tất cả các tế bào xã hội, con người cũng như phương tiện sản xuất và sản phẩm hàng hoá đều có thể liên lạc trực tiếp với nhau, và liên tục thông qua Internet với thời gian liên lạc gần như bằng không, không cần đến giấy tờ, càng không cần đối mặt trực thể. Mọi thông tin giao tiếp đều thông qua Internet/Web, và các phương tiện truyền thông hiện đại khác. Vì thế, “kinh tế trực tuyến” còn có các tên gọi khác là “kinh tế ảo” (virtual economy), “kinh tế điều khiển” (cybereconomy).

    Internet tạo ra bước chuyển mới của ngành truyền thông, chuyển từ thế giới “một mạng, một dịch vụ” sang thế giới “một mạng, nhiều dịch vụ” và đã trở thành công cụ quan trọng nhất của thương mại điện tử. Dù rằng không dùng Internet/Web vẫn có thể làm thương mại điện tử (qua các phương tiện điện tử khác, qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ). Song ngày nay, nói tới thương mại điện tử thường có nghĩa là nói tới Internet và Web, vì thương mại đã và đang trong quá trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá, và các xu hướng ấy đều đòi hỏi

    Khoá luận tốt nghiệp

    phải sử dụng triệt để Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao độ và có hiệu quả sử dụng cao.

    4.                 Các hình thức hoạt động thương mại điện tử.

     

    • Thư tín điện tử:

    Các đối tác (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư tín điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail). Đây là một thứ thông tin dưới dạng “phi cấu trúc” (unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận (là điều khác với “trao đổi dữ liệu điện tử” sẽ nói dưới đây).

    – Thanh toán điện tử:

    Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử (electronic message) thay cho việc trao tay tiền mặt, việc trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng v.v. đã quen thuộc lâu nay thực chất đều là các dạng thanh toán điện tử.

    • Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.
    • Tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi cả một nước cũng như giữa các quốc gia. Tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là “tiền mặt số hoá” (digital cash). Công nghệ đặc thù chuyên phục vụ mục đích này có tên gọi là “mã hoá khoá công khai/bí mật” (Public/Private Key Cryptography). Tiền mặt Internet được người mua hàng mua bằng đồng nội tệ, rồi dùng Internet để chuyển cho người bán hàng.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Túi tiền điện tử (electronic purse; còn gọi tắt là “ví điện tử”) nói đơn giản là nơi để tiền mặt Internet mà chủ yếu là thẻ khôn minh (smart card, còn có tên gọi là thẻ giữ tiền: stored value card). Tiền được trả cho bất cứ ai đọc được thẻ đó. Kỹ thuật của túi tiền điện tử về cơ bản là kỹ thuật “mã hoá khoá công khai/bí mật” tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền mặt Internet”.
    • Thẻ khôn minh (smart card, còn gọi là “thẻ thông minh”) nhìn bề ngoài tương tự như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau của thẻ, thay vì cho dải từ, lại là một chip máy tính điện tử có một bộ nhớ nhỏ để lưu trữ tiền số hoá. Tiền ấy chỉ được “chi trả” khi người sử dụng và thông điệp (ví dụ như xác nhận thanh toán hoá đơn) được xác thực là “đúng”.
    • Giao dịch ngân hàng số hoá (digital banking), và giao dịch chứng khoán số hoá (digital securities trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống: (1) thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoại, các điểm bán lẻ, các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, vấn tin…), (2) thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị…), (3) thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng, (4) thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.
    • Trao đổi dữ liệu điện tử

    Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, gọi tắt là EDI) là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hay tổ chức đã thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thoả thuận từ trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin).

    EDI này càng được sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu, chủ yếu phục vụ cho mua và phân phối hàng (gửi đơn hàng, các xác nhận, các tài liệu, hoá đơn v.v.), nhưng cũng dùng cho cả các mục đích khác nữa như thanh toán tiền khám

    Khoá luận tốt nghiệp

    bệnh, trao đổi các kết quả xét nghiệm v.v. EDI chủ yếu được thực hiện thông qua các mạng ngoại bộ (extranet) và thường được gọi là “thương mại võng mạng” (net-commerce). Cũng có cả hình thức “EDI hỗn hợp” (Hybrid EDI) dùng cho trường hợp chỉ có một bên đối tác dùng EDI, còn bên kia vẫn dùng các phương thức thông thường (như fax, thư tín qua bưu điện).

    EDI được áp dụng từ trước khi có Internet. Khi ấy, người ta dùng “mạng giá trị gia tăng” (Value Added Network: VAN) để liên kết các đối tác EDI với nhau; cốt lõi của VAN là một hệ thống thư tín điện tử cho phép các máy tính điện tử liên lạc được với nhau, và hoạt động như một phương tiện lưu trữ và tìm gọi. Khi nối vào VAN, một doanh nghiệp có thể liên lạc được với nhiều nghìn máy tính điện tử nằm ở nhiều trăm thành phố trên khắp thế giới. Nay EDI chủ yếu được thực hiện thông qua Internet.

    Thương mại điện tử qua biên giới (Cross-border electronic commerce) về bản chất chính là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp mà được thực hiện giữa các đối tác ở các quốc gia khác nhau, với các nội dung:

    giao dịch kết nối đặt hàng

    giao dịch gửi hàng (shipping) thanh toán

    Trên bình diện này, nhiều khía cạnh còn phải tiếp tục xử lý, đặc biệt là buôn bán giữa các nước có chính sách, và luật pháp thương mại khác nhau về căn bản, đòi hỏi phải có từ trước một dàn xếp pháp lý trên nền tảng thống nhất quan điểm về tự do hoá thương mại và tự do hoá việc sử dụng Internet. Chỉ như vậy mới đảm bảo được tính khả thi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).

    • Giao gửi số hoá của các dung liệu: (Dung liệu (content) là các hàng hóa mà người ta cần đến nội dung của nó (chính nội dung là hàng hoá). Các ý kiến tư

    Khoá luận tốt nghiệp

    vấn, vé bán máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm v.v. nay cũng được đưa vào danh mục các dung liệu).

    Trước đây dung liệu cũng được trao đổi dưới dạng hiện vật (physical form) bằng cách đưa vào đĩa, vào băng, in thành sách báo, thành văn bản, đóng gói bao bì chuyển đến tay người sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (như cửa hàng, quầy báo v.v.) để người sử dụng đến mua và nhận trực tiếp. Ngày nay, dung liệu được số hoá và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hoá” (digital delivery). Ở Mỹ hiện nay 90% dân số dùng Web/ Internet để thu nhận tin tức và thông tin, khoảng 80,5% sử dụng Web/ Internet làm công cụ phục vụ cho nghiên cứu.

    Các tờ báo, các tư liệu công ty, cataloge sản phẩm lần lượt được đưa lên Web (gọi chung là “xuất bản điện tử”). Các chương trình phát thanh, truyền hình, giáo dục, ca nhạc, kể truyện v.v được số hoá, truyền qua Internet để người tiêu thụ sử dụng thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử (hoặc của “sách điện tử” chuyên dụng). Các chương trình phần mềm được chuyển qua mạng, rồi được người sử dụng tải xuống (download). Đặt chỗ trên máy bay, rạp hát qua Internet (gọi là vé điện tử: electronic ticket) ở Mỹ đã chiếm tỷ trọng tới 70%. Người tiêu thụ dùng Internet để liên lạc trực tuyến với các cơ quan tín dụng ngân hàng để biết các thông tin về bảo hiểm và số liệu phút chót về tài chính của mình (tiền tiết kiệm, tiền gửi, tiền sắp phải trả v.v.).

    Trên giác độ kinh tế thương mại, các loại thông tin kinh tế và kinh doanh trên Internet đều có ở mức phong phú, và một nhiệm vụ quan trọng của công tác thông tin ngày nay là khai thác Web và phân tích tổng hợp.

    – Bán lẻ hàng hoá hữu hình:

    Cho tới năm 1994-1995, hình thức bán hàng này còn chưa phát triển, ngay ở Mỹ cũng chỉ có vài cửa hàng có mặt trên Internet, chủ yếu là các cửa hàng bán đồ chơi, thiết bị tin học, sách, rượu. Nay, danh sách các hàng hoá bán lẻ qua mạng đã mở rộng ra, từ hoa tới quần áo, ôtô và xuất hiện hẳn một loại hoạt động gọi là “mua hàng điện tử” (electronic shopping), hay “mua hàng trên mạng”. Ở một số

    Khoá luận tốt nghiệp

    nước Internet đã bắt đầu trở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hoá hữu hình (Retail of tangible goods). Tận dụng tính đa năng phương tiện (multimedia) của môi trường Web và Java, người bán hàng xây dựng trên mạng các “cửa hàng ảo” (virtual shop) để thực hiện việc bán hàng. Người sử dụng Internet/Web tìm trang Web của cửa hàng, xem hàng hoá hiển thị trên màn hình, xác nhận mua hàng, và trả tiền bằng thanh toán điện tử. Lúc đầu, việc mua bán như vậy còn ở dạng sơ khai: người mua chọn hàng rồi đặt hàng thông qua mẫu đơn (form) cũng đặt ngay trên Web. Nhưng có trường hợp muốn lựa chọn giữa nhiều hàng hoá ở các trang Web khác nhau (của cùng một cửa hàng) thì hàng hoá miêu tả nằm ở một trang, đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác, gây ra nhiều phiền toái. Để khắc phục, các hãng đưa ra loại phần mềm mới gọi là “xe mua hàng” (shopping cart, shopping trolley), hoặc “giỏ mua hàng” (shopping basket, shopping bag) mà trên màn hình cũng có dạng tương tự như giỏ mua hàng hay xe mua hàng thật mà người mua thường dùng khi vào cửa hàng, siêu thị. Xe hoặc giỏ mua hàng này đi theo người mua suốt quá trình chuyển từ trang Web này sang trang Web khác để chọn hàng, khi chọn được món hàng vừa ý, người mua ấn phím “hãy bỏ vào xe/giỏ” (Put into shopping cart/bag”, các xe/giỏ này có nhiệm vụ tự động tính tiền (kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách mua. Nay, các hãng bán hàng đã chuyển sang hệ thống phần mềm mới hơn nữa (gọi là “thương điểm điện tử”: store-front, hay: store-building) có tính năng cao hơn, cho phép người mua giao tiếp thoải mái hơn nữa với cửa hàng và hàng hoá v.v. Vì là hàng hoá hữu hình, nên tất yếu sau đó các cửa hàng phải dùng tới các phương tiện gửi hàng truyền thống để đưa hàng tới tay khách. Điều quan trọng nhất là: khách hàng có thể mua hàng tại nhà (home shopping), mà không phải đích thân đi tới cửa hàng.

    5. Giao dịch thương mại điện tử.

    Giao dịch thương mại điện tử (electronic commerce transaction), với chữ “thương mại” được hiểu với đầy đủ các nội dung như đã ghi trong Đạo luật mẫu về thương mại điện tử của Liên hiệp quốc, bao gồm bốn kiểu:

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Người với người: qua điện thoại, máy Fax, và thư điện tử (electronic mail)
    • Người với máy tính điện tử: trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử (electronic form), qua “võng thị toàn cầu” (World Wide Web).
    • Máy tính điện tử với Máy tính điện tử: qua trao đổi dữ liệu điện tử (EDI: electronic data interchange), thẻ khôn minh (smart card), các dữ liệu mã hoá bằng vạch (barcode data, cũng gọi là dữ liệu mã vạch)
    • Máy tính điện tử với người: qua thư tín do máy tính tự động sản xuất ra, máy fax, và thư điện tử.

    6.                 Các bên tham gia thương mại điện tử.

    Điện thoại, các biểu mẫu điện tử, thư điện tử, FAX

    NGƯỜI TIÊU DÙNG Điện thoại, các biểu mẫu  
    điện tử, thư điện tử, FAX  
     

    Điện thoại, thư điện tử

    DOANH NGHIỆP       CHÍNH PHỦ

     

    EDI, các biểu mẫu điện tử, thẻ khôn minh, mã vạch

    DOANH

    NGHIỆP

    FAX, các biểu mẫu điện tử Điện thoại, FAX,

    thư điện tử

    CHÍNH

    PHỦ

    Điện thoại, các

    biểu mẫu điện

    tử, thư điện tử

    Giao dịch thương mại điện tử (electronic commerce transaction) diễn ra bên trong và giữa ba nhóm tham gia chủ yếu: (1) doanh nghiệp; (2) chính phủ; và (3) người tiêu thụ. Các giao dịch này được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm:

    • Giữa các doanh nghiệp với người tiêu thụ: mục đích cuối cùng là dẫn tới việc người tiêu thụ có thể mua hàng tại nhà mà không cần tới cửa hàng (home shopping).

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Giữa các doanh nghiệp với nhau: trao đổi dữ liệu, mua bán, thanh toán hàng hoá và dịch vụ, mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sản xuất và kinh doanh.
    • Giữa các doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ: nhằm vào các mục đích:
    • mua sắm chính phủ theo kiểu trực tuyến (online goverment procurement), (2) các mục đích quản lý (thuế, hải quan v.v.), (3) thông tin.
    • Giữa người tiêu thụ với các cơ quan chính phủ: các vấn đề về (1) thuế, (2) dịch vụ hải quan, phòng dịch v.v., (3) thông tin.
    • Giữa các chính phủ: trao đổi thông tin.

    Trong bốn cấp độ giao dịch nói trên, giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau là dạng chủ yếu của giao dịch thương mại điện tử, và giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau chủ yếu dùng phương thức trao đổi dữ liệu điện tử, tức EDI.

    7. Hình thái hợp đồng thương mại điện tử.

    Thương mại điện tử bao quát cả giao dịch có hợp đồng và giao dịch không có hợp đồng. Xét riêng về giao dịch có hợp đồng, thì do đặc thù của giao dịch điện tử, hợp đồng thương mại điện tử có một số điểm khác biệt so với hợp đồng thông thường (hợp đồng ở dạng văn bản):

    • Địa chỉ pháp lý của các bên: ngoài địa chỉ địa lý, còn có địa chỉ e-mail, mã doanh nghiệp.
    • Có các quy định về phạm vi thời gian, và phạm vi địa lý của giao dịch.
    • Có kèm theo các văn bản và ảnh miêu tả sản phẩm hoặc dụng liệu trao đổi, và quy định trách nhiệm về các sai sót trong văn bản hoặc ảnh chụp.
    • Có các xác nhận điện tử (chứng nhận/xác thực: certification/authentication) các giao dịch (kể cả cơ quan chứng thực) về quyền truy cập và cải chính thông tin điện tử, và cách thực thi quyền này.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Có các quy định đảm bảo rằng các giao dịch điện tử được coi là chứng cớ pháp lý về bản chất và ngày tháng giao dịch.
    • Có các quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử.
    • Có quy định về trung gian đảm bảo chất lượng (nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng).

    II. LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.

    1. Nắm được thông tin phong phú.

    Thương mại điện tử (đặc biệt là khi sử dụng Internet/Web) trước hết giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú vè kinh tế-thương mại (có thể gọi chung là thông tin thị trường), nhờ đó có thể xây dựng được các chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực, và thị trường quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ – động lực phát triển chủ yếu trong các nền kinh tế hiện nay.

    2. Giảm chi phí sản xuất.

    Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng. Các văn phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần như bỏ hẳn). Theo số liệu của hãng Genaral Electricity của Mỹ, tiết kiệm theo hướng này đạt tới 30%. Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển sẽ đưa đến những lợi ích to lớn và lâu dài.

    3. Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.

    Thương mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, ca-ta-lô điện tử (electronic catalogue) trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với ca-ta-lô in ấn chỉ có khuôn khổ

    -21-

    Khoá luận tốt nghiệp

    giới hạn và luôn luôn lỗi thời. Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, nay đã có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và có nhiều hơn nữa các đơn đặt hàng về lao vụ kỹ thuật), và mỗi ngày giảm được 600 cú điện thoại.

    4. Giảm chi phí giao dịch.

    Thương mại điện tử qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán). Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và chỉ bằng 0,5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện. Chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng khoảng 5% chi phí giao dịch qua Fax hay qua bưu điện chuyển phát nhanh. Chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng 10% tới 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường.

    TỐC ĐỘ VÀ CHI PHÍ TRUYỀN GỬI

    (MỘT BỘ TÀI LIỆU 40 TRANG)

    * Từ New York tới Tokyo Thời gian Chi phí (USD)
    Qua bưu điện 5 ngày 7.40
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 26.25
    Qua máy Fax 31 phút 28.83
    Qua Internet 2 phút 0.10
    * Từ New York tới Los Angeles Thời gian Chi phí (USD)
    Qua bưu kiện 2-3 ngày 3.00
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 15.50
    Qua máy Fax 31 phút 9.36

    Khoá luận tốt nghiệp

    Qua Internet                                                                             2 phút                                   0.10

    5. Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác.

    Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành tố tham gia vào quá trình thương mại. Thông qua mạng (nhất là dùng Internet/Web) các thành tố tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau (liên lạc “trực tuyến”) gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa, nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục. Các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.

    6. Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hoá.

    Xét trên bình diện quốc gia, trước mắt thương mại điện tử sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng to lớn trong nền kinh tế (ở Mỹ đã chiếm tỷ trọng khoảng 12-13% và sẽ lên trên 15% trong tương lai không xa). Nhìn rộng hơn, thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digital economy) mà xu thế và tầm quan trọng đã được đề cập ở trên. Lợi ích này có một

    • nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển: nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số hoá, hay còn gọi là “nền kinh tế ảo” (virtual economy) thì sau khoảng một thập kỷ nữa các nước đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn. Khía cạnh lợi ích này mang tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và tính chính sách phát triển mà các nước chưa công nghiệp hoá cần chú ý; vì có những luận điển cho rằng: sớm chuyển sang kinh tế số hoá thì một nước đang phát triển có thể tạo ra một bước nhảy vọt (leapfrog), có thể tiến kịp các nước đã đi trước trong một thời gian ngắn hơn.

    Khoá luận tốt nghiệp

    III. CÁC ĐÒI HỎI CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.

    1. Hạ tầng cơ sở công nghệ.

    Thương mại điện tử không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là hệ quả tất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hoá, của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật máy tính điện tử. Vì thế, chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành thương mại điện tử có nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững chắc (bao gồm hai nhánh: tính toán điện tử và truyền thông điện tử).

    Hạ tầng cơ sở ấy bao gồm từ các chuẩn của doanh nghiệp, của cả nước và sự liên kết của các chuẩn ấy với các chuẩn quốc tế, với kỹ thuật ứng dụng và thiết bị ứng dụng. Và không chỉ của riêng từng doanh nghiệp, mà phải là một hệ thống quốc gia, với tư cách như một phân hệ của hệ thống công nghệ thông tin khu vực, và toàn cầu (trên nền tảng của Internet hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm các phân mạng, và hệ thống liên lạc viễn thông toàn cầu). Và phải tới được từng cá nhân trong hệ thống thương mại (cho tới từng cá nhân người tiêu thụ).

    Hạ tầng cơ sở công nghệ không chỉ có nghĩa là tính hiện hữu (availability; nay cũng thường dùng “tính thường hữu” để diễn tả cả sắc thái ổn định), mà còn hàm nghĩa có tính kinh tế sử dụng (affordability); nghĩa là chi phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính, modem v.v.) và chi phí dịch vụ truyền thông (phí điện thoại, phí nối mạng và truy cập mạng) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được. Điều này có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với các nước đang phát triển, mức sống nói chung còn thấp.

    Cũng cần lưu ý thêm rằng hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin chỉ có thể có và hoạt động đáng tin cậy trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng vững chắc, đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định và với mức giá hợp lý.

    Thiết lập và củng cố được một hạ tầng công nghệ trên nền tảng công nghiệp điện năng như vậy đòi hỏi thời gian, hơn nữa phải đầu tư rất lớn, là điều đặc biệt khó khăn đối với các nước đang phát triển.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Theo đà phát triển của thương mại điện tử, nay đang có xu hướng mạnh mẽ ghép cả công nghệ bảo mật và an toàn <nói ở dưới> vào hạ tầng cơ sở công nghệ của thương mại điện tử. Bảo mật và an toàn không chỉ có ý nghĩa đối với các thực thể kinh tế, mà còn có ý nghĩa an ninh quốc gia.

    2. Hạ tầng cơ sở nhân lực.

    Thương mại trong khái niệm “Thương mại điện tử” động chạm tới mọi con người, từ người tiêu thụ tới người sản xuất, phân phối, tới các cơ quan chính phủ, tới cả các nhà công nghệ và phát triển.

    Áp dụng thương mại điện tử là tất yếu làm nảy sinh hai đòi hỏi: một là mọi người đều quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng; hai là có một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển để phục vụ cho kinh tế số hoá nói chung và thương mại điện tử nói riêng (nay đã đổi mới ở mức hàng tuần), cũng như có khả năng thiết kế các công cụ phần mềm đáp ứng được nhu cầu hoạt động của một nền kinh tế số hoá, tránh bị động lệ thuộc hoàn toàn vào người khác.

    Ngoài ra, nếu sử dụng Internet/Web, thì một yêu cầu tự nhiên nữa của kinh doanh trực tuyến là tất cả những người tham gia đều phải giỏi Anh ngữ vì tới nay (và có lẽ còn tới một thời điểm rất xa nữa) ngôn ngữ được sử dụng trong thương mại nói chung và thương mại điện tử qua mạng Internet nói riêng, vẫn là tiếng Anh (đương nhiên đây chủ yếu chỉ là “vấn đề” đối với các nước ít phát triển).

    Đòi hỏi này của thương mại điện tử sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo.

    3. Bảo mật, an toàn.

    Giao dịch thương mại bằng phương tiện điện tử đặt ra đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn, nhất là khi hoạt động trên Internet/Web.

    Cho tới nay nhiều người vẫn không dám giao dịch qua Web. Trong lĩnh vực mua bán thuần tuý, người mua thì lo các chi tiết trong thẻ tín dụng của mình bị

    Khoá luận tốt nghiệp

    lộ, và kẻ xấu sẽ lợi dụng mà rút tiền, người bán thì lo người mua không thanh toán cho các hợp đồng đã được “ký kết theo kiểu điện tử” qua Web. Trong các lĩnh vực khác, điều đáng ngại nhất là an toàn và bảo mật dữ liệu. Điều lo sợ ấy là có căn cứ vì số vụ tấn công vào Internet ngày càng tăng, kể cả vào những mạng được bảo vệ nghiêm ngặt. (Cuối năm 1996, trang Web của Bộ tư pháp Mỹ và của CIA bị truy nhập và bị thay đổi một số nội dung, đầu năm 1997 một loạt địa chỉ Internet của Mỹ phải ngừng dịch vụ Web và E-mail trong một tuần vì bị “giặc máy tính” tấn công). “Giặc máy tính” (hacker) dùng nhiều thủ đoạn khác nhau: mạo quan hệ, bẻ mật khẩu (nhất là mật khẩu yếu), vi-rút và các chương trình “phá từ bên trong” giả mạo địa chỉ Internet (IP Spoofing), phong toả dịch vụ (DOS – denial of service).

    Kỹ thuật mã hoá (cryptography) hiện đại (trong đó có kỹ thuật “mã hoá khoá công khai/bí mật) đã nói ở trên), với khoá dài tối thiểu tới 1024, thậm chí tới 2048 bit, cộng với các công nghệ SSL (Secure Sockets Layer), SET (Secure Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này, trong đó có vấn đề “chữ ký điện tử” hay “chữ ký số hoá” (digital signature), là chữ ký được biểu diễn bằng các bit điện tử và được xác thực thông qua giải mã. Song bản thân các mã mật cũng có thể bị khám phá bởi các kỹ thuật giải mã tinh vi, nhất là kỹ thuật của bên có đẳng cấp công nghệ cao hơn hẳn. Cho nên một chiến lược quốc gia về mã hoá kèm theo các chương trình bảo vệ an toàn thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp và của cá nhân đang trở thành một vấn đề rất lớn.

    Trên quan điểm giao lưu quốc tế, vấn đề bảo mật và an toàn còn có thêm một khía cạnh nữa: Ngày càng có nhiều nước áp dụng các luật ngăn cản không cho dữ liệu được truyền gửi tới các nước không có phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin, nhằm tránh rò rỉ (nhất là các thông tin liên quan đến an ninh quốc gia, vũ khí giết người hàng loạt, quan hệ quốc tế…). Vì vậy, nếu không có các luật và phương tiện tốt để bảo vệ thông tin, thì một nước rất có thể sẽ bị cách ly khỏi hoạt động thương mại điện tử quốc tế.

    Khoá luận tốt nghiệp

    4. Hệ thống thanh toán tài chính tự động.

    Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế khi đã tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính (financial payment) phát triển, cho phép thực hiện thanh toán tự động (trong đó, thẻ khôn minh có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinh doanh bán lẻ). Khi chưa có hệ thống này, thì thương mại điện tử chỉ ứng dụng được phần trao đổi thông tin, buôn bán vẫn phải kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc bằng các phương tiện thanh toán truyền thống. Khi ấy hiệu quả của thương mại điện tử bị giảm thấp và có thể không đủ để bù các chi phí trang bị công nghệ đã bỏ ra.

    Hệ thống thanh toán tài chính đi liền với việc mã hoá toàn bộ hàng hoá, hay “đánh số sản phẩm” (product numbering) là vấn đề không chỉ có tính quốc gia, mà có tính quốc tế trên cơ sở của các chuẩn và định chế EAN International và Uniform Code Council, thể hiện dưới dạng các vạch gọi là mã vạch (bar – code). Theo đó tất cả các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều được mã hoá bằng một số

    • con số, và tất cả các công ty đều có địa chỉ của mình bằng một mã có từ 100 đến 100.000 con số (mã vạch là hệ thống mã dùng các vạch đen, trắng, màu có độ rộng khác nhau để biểu diễn các con số. Một máy quét dùng tế bào quang điện sẽ nhận dạng các vạch này, biến đổi thành con số rồi tự động đưa vào máy tính để tính toán). Việc hội nhập và thiết lập toàn bộ hệ thống mã sản phẩm và mã công ty (gọi chung là mã hoá thương mại: commercial coding) cho một nền kinh tế (đặc biệt là nền kinh tế của nước đang phát triển) nói chung cũng không đơn giản.

    5. Bảo vệ sở hữu trí tuệ.

    Càng ngày, giá trị sản phẩm càng cao ở khía cạnh “chất xám” của nó, mà không phải là bản thân nó, tài sản cơ bản của từng đất nước, từng tổ chức và từng con người đã và đang chuyển thành “tài sản chất xám” là chủ yếu. Thông tin trở thành tài sản, và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có ý nghĩa là bảo vệ thông tin. Vì lẽ

    Khoá luận tốt nghiệp

    đó, nổi lên vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền của các thông tin trên Web (các hình thức quảng cáo, các nhãn hiệu thương mại, các cơ sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng v..v..).

    Riêng đối với dung-liệu, vấn đề được đặt ra là bản thân việc số hoá nhị-phân các dữ liệu văn bản, hình ảnh, âm thanh để thành dung liệu truyền gửi đã là một hành động “sao chép”, “phiên dịch” và phải được tác giả đồng ý (giống như dịch một tác phẩm ra một ngôn ngữ khác). Nhưng vì đưa lên mạng nên “số bản in” không thể biết được là bao nhiêu nên việc thoả thuận và xử lý trở nên hết sức khó khăn.

    • tầm xa hơn, người ta đã tính tới khía cạnh phức tạp hơn nữa của vấn đề là việc “phân chia tài sản trí tuệ” mua bán qua mạng. Thực ra người xem không quan tâm tất cả các chi tiết của chương trình, mà chỉ quan tâm một số trong đó. Vậy tiền bán chương trình sẽ được phân phối như thế nào cho các thành phần tham gia chương trình. Từ đây bắt đầu nảy sinh các định nghĩa mới, cụ thể hơn, chi tiết hơn và mang tính pháp lý hơn về “thế nào là tác giả”, và khái niệm “thanh toán vi phân” (micro – payment) mà sẽ phải xử lý bằng các công cụ kỹ thuật cao cấp.

    6.                 Bảo vệ người tiêu dùng.

    Nhìn nhận trên cơ sở lý luận thương mại và lý thuyết thông tin thì từ xưa tới nay, một thị trường bị sụp đổ bao giờ cũng bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là “thông tin không đối xứng” (asymmetric information), nghĩa là cái người bán biết khác với cái người mua biết. Tại thị trường ấy, người bán không có cách nào để thuyết phục người mua về chất lượng sản phẩm của mình. Người mua, do đó, chỉ chấp nhận trả một giá trung bình cho sản phẩm đó. Kết quả là họ chỉ mua được các sản phẩm chất lượng thấp (vì các sản phẩm chất lượng cao người bán lại biết rõ).

    Trong thương mại điện tử, thông tin về hàng hoá đều là thông tin số hoá, nói giản dị là người mua không có điều kiện “nếm thử” hay “dùng thử” hàng

    Khoá luận tốt nghiệp

    trước khi mua. Chưa kể tới khả năng bị nhầm lẫn các cơ sở dữ liệu, bị lừa gạt bởi các thông tin và các tổ chức phi pháp có mặt trên mạng. Vì thế, đang xuất hiện nhu cầu phải có một trung gian bảo đảm chất lượng (quality guarantor) mà hoạt động hữu hiệu và ít tốn kém. Đây là một khía cạnh cơ chế đáng quan tâm của thương mại điện tử mà đang được chú ý ngày càng nhiều trước thực tế các rủi ro ngày càng gia tăng, đả kích vào quyền lợi của người tiêu thụ. Cơ chế đảm bảo chất lượng đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển, nơi mà dân chúng cho tới nay vẫn có tập quán tiếp xúc trực tiếp với hàng hoá để kiểm tra (nhìn, sờ, nếm, ngửi…) để thử (mặc thử, đội thử, đi thử…) trước khi mua.

    7. Tác động văn hoá xã hội của Internet.

    Tác động văn hoá xã hội của Internet đang là mối quan tâm quốc tế, vì hàng loạt tác động tiêu cực của nó đã xuất hiện: Internet trở thành một “hòm thư” giao dịch mua – bán dâm, ma tuý và buôn lậu, các lực lượng phản xã hội đưa lên Internet phim con heo (pornography), các tuyên truyền kích dục có mục đích đối với trẻ em, các hướng dẫn làm bom thư, làm chất nổ phá hoại, các loại tuyên truyền kích động bạo lực, phân biệt chủng tộc, kỳ thị tôn giáo v..v..Ở một số nơi (như Trung Quốc, Trung Đông…). Internet đã trở thành một phương tiện thuận lợi cho các lực lượng chống đối sử dụng để tuyên truyền, kích động lật đổ chính phủ và/hoặc gây rối loạn trật tự xã hội.

    Ngoài ra phải tính tới tác động cuốn hút thanh niên theo các lối sống không phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề đang được đặc biệt quan tâm ở Châu á.

    Mặc dù công nghệ đánh giá dung liệu (content rating), lọc dung liệu (content filtering) đã và đang phát triển, nhưng về cơ bản tới nay vẫn chưa có biện pháp đủ hữu hiệu để chống trả các mặt trái nói trên của Internet/Web.

    8. Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý.

    – Môi trường quốc gia: Trước hết, Chính phủ từng nước phải quyết định

    xem xã hội thông tin nói chung và Internet nói riêng là một hiểm hoạ hay là một -29-

    Khoá luận tốt nghiệp

    cơ hội. Quyết định đó không dễ dàng, ngay một nước hiện đại như Pháp cũng phải tới năm 97 – 98 mới quyết định được và tuyên bố rằng “đây là cơ hội” (sau một thời gian dài chống lại Internet vì nó chiếm mất vị trí của mạng Minitel vốn rất phổ biến trong nội bộ nước Pháp). Từ khẳng định mang tính nhận thức chiến lược ấy mới thiết lập môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội (kể cả văn hoá, giáo dục) cho nền kinh tế số hoá nói chung và cho thương mại điện tử nói riêng (ví dụ quyết định đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, các dịch vụ thu trả thuế và các dịch vụ khác như thư tín, dự báo thời tiết, thông báo giờ tàu xe v..v..) và đưa các nội dung của kinh tế số hoá vào văn hoá và giáo dục các cấp.

    Riêng về pháp lý có các vấn đề:

    • Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch thương mại điện tử.
    • Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (electronic signature) – tức chữ ký dưới dạng số đặt vào một thông điệp dữ liệu (data message) và chữ ký số hoá (digital signature) – tức biện pháp biến đổi nội dung thông điệp dữ liệu, khi dùng mã hoá để giải mới thu được nội dung thật của thông điệp dữ liệu; và có các thiết chế pháp lý, các cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác thực / chứng nhận (authentication/certification) chữ ký điện tử và chữ ký số hoá.
    • Bảo vệ pháp lý các Hợp đồng thương mại điện tử.
    • Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả việc pháp chế hoá các cơ quan phát hành các thẻ thanh toán).
    • Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ Nhà nước (các cơ quan Chính phủ và Trung ương), chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước (trong đó có các vấn đề phải giải quyết như: Nhà nước có phải là chủ nhân của các thông tin có quyền được công khai hoá và các thông tin phải giữ bí mật hay không? Người dân có quyền đòi công khai hoá các số liệu của chính quyền hay không? Khi công khai hoá thì việc phổ biến các số liệu có được xem là một nguồn thu cho ngân sách hay không? v..v..).

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Bảo vệ pháp lý đối với sở hữu trí tuệ (bao gồm cả bản quyền tác giả) liên quan đến mọi hình thức giao dịch điện tử.
    • Bảo vệ bí mật riêng tư một cách “thích đáng” (đề ngăn cản các bí mật đời tư bị đưa lên mạng một cách phi pháp, không chỉ tên tuổi, dung mạo mà còn cả các bí mật khác liên quan đến sức khoẻ, tôn giáo, quan điểm chính trị, giới tính, tình dục…).
    • Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập với các mục đích bất hợp pháp như thu thập tin tức mật, thay đổi thông tin trên các trang Web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền virut phá hoạiv..v..; tới nay từng nước rất có thể đã có các luật đơn hành về các tội này, vấn đề là sẽ phải đưa vào khuôn khổ của bộ luật hình sự, một khi kinh tế số hoá được thừa nhận trên tầm quốc gia.

    Tất cả những việc trên đây chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở mỗi quốc gia trước hết phải thiết lập một hệ thống “mã nguồn” cho tất cả các thông tin số hoá, bắt đầu từ chữ cái của ngôn ngữ đó trở đi; tiếp đó Nhà nước sẽ phải định hình một chiến lược chung về hình thành và phát triển một nền kinh tế số hoá. Tiếp đó đến các chính sách, các đạo luật và các quy định cụ thể tương ứng được phản ánh trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống nội luật.

    – Môi trường quốc tế.

    Các vấn đề môi trường quốc tế, pháp lý và xã hội quốc gia cũng sẽ in hình mẫu của nó vào vấn đề môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội quốc tế, cộng thêm với các phức tạp khác của kinh tế thương mại qua biên giới, trong đó khía cạnh quan trọng nhất là thương mại điện tử mang tính không có biên giới, do đó làm mất đi tính ranh giới địa lý vốn là đặc tính cố hữu của ngoại thương truyền thống dẫn tới những khó khăn to lớn về luật áp dụng và điều chỉnh hợp đồng, về thanh toán đặc biệt là về thu thuế.

    Ví dụ: Một dữ liệu với tư cách là một dịch vụ được chuyển từ nước A đến

    một địa chỉ Internet ở nước B, tiếp đó lại chuyển đến người nhận thực sự ở nước -31-

    Khoá luận tốt nghiệp

    • (rất có thể cơ sở kinh doanh của người chủ địa chỉ Internet ở nước B được đặt ở nước C); vậy việc thu thuế sẽ thực hiện bằng cách nào và dùng luật nước nào để điều chỉnh thương vụ này. Một ví dụ khác: một người Đức đang đi du lịch bên Mỹ đặt mua một lô rượu vang Australia giao tới một nơi nghỉ mát tại Pháp mà anh ta sắp du hành tới, thuế của thương vụ này sẽ do nước nào thu và thu bằng cách nào.

    Vấn đề còn khó khăn hơn nữa là đánh thuế các dung liệu, tức là các hàng hoá “phi vật thể” (như âm nhạc, chương trình truyền hình, chương trình phần mềm …giao trực tiếp giữa các đối tác thông qua mạng).

    Ngoài ra, cũng nảy sinh các khó khăn như: thu thuế trong trường hợp thanh toán vô danh (anonimous payment) bằng thẻ khôn minh; vấn đề cách kiểm toán các công ty buôn bán bằng phương thức thương mại điện tử, vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ, bảo vệ chính trị và bảo vệ bí mật riêng tư trong thông tin xuyên quốc gia trên mạng Internet giữa các nước có hệ thống luật pháp và hệ thống chính trị khác nhau; vấn đề pháp luật quốc tế về sử dụng không gian liên quan đến việc phóng và khai thác các vệ tinh viễn thông v..v..

    Tất cả những vấn đề ấy đòi hỏi phải có các nỗ lực tập thể đa biên nhằm đạt tới các thoả thuận quốc tế làm căn bản cho “con đường tơ lụa” mới và trước hết là nhằm bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát triển, còn ở tầm thấp về công nghệ thông tin, về cơ chế thuế khoá, về bảo mật và an toàn.

    9. Vấn đề lệ thuộc công nghệ.

    Không thể không thừa nhận rằng nước Mỹ đang khống chế toàn bộ công nghệ thông tin quốc tế, cả phần cứng cũng như phần mềm (phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng), chuẩn công nghệ Internet cũng là chuẩn Mỹ, các phần mềm tầm cứu và “võng thị” (Web) chủ yếu cũng là của Mỹ, nước Mỹ cũng đi

    Khoá luận tốt nghiệp

    đầu trong kinh tế số hoá và thương mại điện tử (Mỹ hiện chiếm trên một nửa tổng doanh số thương mại điện tử toàn cầu, chủ yếu là buôn bán trong nước).

    • một tầm cao hơn, có thể nhận xét rằng từ nhiều chục năm nay, trong khi đa số các nước còn đang vật lộn trong nền “kinh tế vật thể” thì Mỹ đã vượt lên và tiến nhanh trong nền “kinh tế ảo”, lấy “kinh tế tri thức”, “sở hữu trí tuệ”, “giá trị chất xám” làm nền móng. Đó là sự khác biệt căn bản giữa Mỹ và các nước khác. Sự khác biệt đó bộc lộ ngày càng rõ theo tiến trình nền kinh tế toàn cầu chuyển sang “kỷ nguyên số hoá” như đi theo một xu hướng tất yếu khách quan. Điều này giải thích vì sao trong đàm phán thương mại của Mỹ với bất cứ nước nào, vấn đề “sở hữu trí tuệ” luôn luôn nổi lên hàng đầu: đó chính là giá trị thực của nước Mỹ. Điều này cũng giải thích vì sao Mỹ là nước biện hộ, cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ nhất cho thương mại điện tử: một khi thương mại được số hoá thì toàn thế giới trên thực tế sẽ nằm trong tầm khống chế công nghệ của Mỹ, Mỹ sẽ giữ vai trò người bán công nghệ thông tin cho toàn thế giới với công nghệ được đổi mới hàng ngày và thuần tuý ở “nền kinh tế ảo”, “kinh tế tri thức”; các nước khác tiếp tục sản xuất các “của cải vật thể” phục vụ cho nước Mỹ. Bức tranh ấy nay đã khá rõ nét và để thay đổi nó chắc chắn phải cần đến những nỗ lực chiến lược lớn lao từ phía các đối thủ của Mỹ trong những quãng thời gian lịch sử. Mà trong những quãng thời gian ấy bản thân nước Mỹ cũng không lùi lại và đứng yên. Những nước ít phát triển hơn, đã chậm chân, rất có thể mãi mãi phải ở một tầm thấp dưới và bị phụ thuộc hoàn toàn về công nghệ vì điều kiện thực tế vĩnh viễn không cho phép họ đuổi kịp nữa.

    Sự phụ thuộc ấy không chỉ thể hiện ở những thiệt thòi về kinh tế, mà ở tầm cao hơn: Mỹ và các nước tiên tiến gần Mỹ về công nghệ thông tin có thể “biết hết” thông tin của các nước thuộc đẳng cấp công nghệ thấp hơn. Nhiều cơ quan nghiên cứu đánh giá rằng rất có thể đây sẽ là một trong những nét đặc trưng cơ bản của trật tự thế giới mới trong thế kỷ 21 và đã lên tiếng cảnh báo các nước còn yếu kém về công nghệ thông tin.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Vì lẽ đó, thương mại điện tử đang được các nước xem xét một cách chiến lược: sự du nhập vào nó là không thể tránh được, hơn thế còn là cơ hội: nhưng nếu chỉ vì bức bách mà tham gia hay chỉ tham gia vì các lợi ích kinh tế vật chất cụ thể thì không đủ, mà phải có một chiến lược thích hợp để khỏi trở thành quốc gia thứ cấp về công nghệ.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG

    MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    I. TÌNH HÌNH VỀ HẠ TẦNG CƠ SỞ CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM.

    1. Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin.

    Công nghệ thông tin (information technology) gồm hai nhánh: tính toán (computing) – cũng gọi là nhánh máy tính; và truyền thông (communication), trên cơ sở của một nền công nghiệp điện lực vững mạnh, là nền tảng của “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử” nói riêng.

    Về công nghệ tính toán, người Việt nam đã biết đến máy tính điện tử từ năm

    1968 khi chiếc máy tính đầu tiên do Liên Xô viện trợ được lắp đặt tại Hà Nội. Trong những năm 1970 ở phía Nam cũng có sử dụng một số máy tính lớn của Mỹ. Tới cuối những năm 1970 cả nước có khoảng 40 dàn máy tính vạn năng thuộc các dòng Minsk và ES ở Hà Nội và IBM 360 ở Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đầu những năm 1980, máy vi tính bắt đầu được nhập khẩu vào Việt nam, mở đầu một thời kỳ phát triển nhanh việc tin học hoá trong nước. Từ năm 1995 là năm bắt đầu triển khai Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin, cũng là lúc các công ty hàng đầu thế giới như IBM, Compaq, HP v..v..bắt đầu tham gia thị trường Việt nam, lực lượng máy vi tính nhập khẩu tăng vọt với tốc độ +50%/năm. Theo số liệu của Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin (dựa trên thống kê của Tổng cục Hải quan) tới nay máy vi tính các loại nhập vào Việt nam đã lên tới tổng số hơn 400 nghìn chiếc; nếu tính cả máy lắp ráp trong nước thì có nguồn tin (đã đăng tải trên phương tiện phát thanh truyền hình) đưa số liệu khoảng 500 nghìn chiếc; ngoài ra cũng có một số máy tính lớn thế hệ mới và khoảng 200 máy mini. Máy tính cá nhân lắp ráp trong nước (linh kiện nhập khẩu) đang phát triển nhanh và theo ước tính đã chiếm khoảng 70% thị phần với khối lượng sản xuất 80 – 100 nghìn máy tính một năm, doanh số máy tính lắp ráp năm 1998 là khoảng 65 triệu USD.

    Tại nhiều cơ quan và doanh nghiệp, dữ liệu có cấu trúc đã được quản lý bằng nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau; đang xây dựng 6 cơ sở quốc gia cỡ lớn phục vụ mục tiêu tin học hoá quản lý Nhà nước. Hiện nay hầu như mọi cơ

    -35-

    Khoá luận tốt nghiệp

    quan nhà nước đều sử dụng máy tính cá nhân. Tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức bổ trợ cho công việc của người sử dụng PCs là chính, chưa có tác dụng nhiều trong việc giải quyết các mối liên hệ giữa người này với người khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác – mà đây chính là đặc trưng của ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay.

    Tới năm 1993, gần 99% máy tính nằm trong các tổ chức nhà nước. Hiện nay bức tranh phân bố đã thay đổi với tỷ lệ gần đúng sau đây: 75% ở các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp, 10% ở các cơ quan nghiên cứu và quốc phòng, 10% ở các cơ sở giáo dục (trường học, trung tâm…) và 5% ở các gia đình. Trong tổng số máy đã nhập vào tới nay và máy lắp ráp trong nước, nhiều máy đã thôi hoạt động vì hỏng hoặc không còn phù hợp về tính năng, nên theo ước tính số máy thực tế đang hoạt động hiện nay chỉ khoảng 350 nghìn chiếc. Tức là cường độ trang bị máy mới đạt khoảng gần 5 máy/1000 người (so với 80 ở Singapore và 140 ở Hàn Quốc) với mác máy bình quân tương đối thấp (ví dụ, trong số trên 3000 máy đang hoạt động của Tổng cục bưu điện, 90% là máy 486 trở xuống). Cường độ sử dụng máy còn thấp: ở nhiều cơ quan đơn vị, máy tính được làm việc như máy đánh chữ là chủ yếu. Trang bị công nghệ thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp và gia đình mất cân đối nghiêm trọng: phần cứng chiếm tới 80% tổng chi phí (lẽ ra ở giai đoạn này, phần mềm phải chiếm tỷ trọng 35%. Nếu tính cả xây dựng đề án, đào tạo, triển khai, bảo hành v.v. cũng là các yếu tố thuộc phần mềm thì tỷ trọng phải lên tới 60% mới hợp lý).

    Công nghiệp phần mềm Việt nam ít phát triển, hoạt động phần mềm chủ yếu là dịch vụ cài đặt và hướng dẫn sử dụng. Số công ty sản xuất và kinh doanh phần mềm còn ít, sản phẩm phần mềm chủ yếu là các chương trình văn bản tiếng Việt; giáo dục, văn hoá, kế toán tài chính, khách sạn, quản lý văn thư, điều tra thống kê ít có các phần mềm trọn gói có giá trị thương mại cao. Các công ty trong nước mới đạt 10% thị phần thị trường phần mềm. Tình hình phần mềm như trên do các nguyên nhân chủ yếu sau đây gây ra:

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Khách hàng (các cơ quan đơn vị và cá nhân) chưa quan niệm phần mềm là quan trọng và thiết yếu trong sử dụng thiết bị tin học (khi mua thiết bị thường không đưa ra được đòi hỏi về phần mềm, thậm chí có khách hàng không rõ trang bị phần mềm để làm gì). Vì vậy, phần mềm sản xuất ra khó bán được.
    • Phần mềm của nước ngoài và của các công ty khác trong nước sản xuất ra bị sao chép bất hợp pháp một cách lan tràn khiến những nhà sản xuất phần mềm nản lòng sáng tạo, không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. (Ví dụ, phần mềm từ điển Anh – Việt của công ty Lạc Việt vừa ra thị trường đã bị sao chép bất hợp pháp, bán với giá chỉ bằng 1/2 giá nguyên gốc).

    Thị trường công nghệ tin học Việt nam năm 1997 đạt tổng doanh số khoảng

    • triệu USD (mới bằng 1,7 GDP của Việt nam; 1/5 doanh số thị trường công nghệ tin học Châu Á, và khoảng 0,2% thị trường công nghệ tin học toàn thế giới), trong đó phần cứng chiếm khoảng 80%, phần mềm 5%, truyền dữ liệu 5%, dịch vụ 10%. Năm 1998 do bị khủng hoảng của nền kinh tế khu vực, doanh số sụt còn khoảng 300 triệu USD (trong đó các công ty Việt nam chiếm 100 triệu USD phần cứng và 80 triệu USD phần mềm. Phần mềm Việt nam hạn chế trong một ít bản tiếng Việt dịch từ các phần mềm ngoại quốc, các chưong trình quản lý trong mạng máy tính ngân hàng, tài chính trong phạm vi vừa và nhỏ). Về dung lượng, thị trường công nghệ tin học Việt nam mới đứng hàng thứ 13 – 15 trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Yếu tố tích cực có thể kể tới là thị trường này đang phát triển với tốc độ tăng trưởng cao (khoảng 40 – 50%/năm). Theo đề án “Phát triển chuyên nghiệp phần mềm Việt nam 2000-2005” thì thị trường công nghệ phần mềm và dịch vụ nội địa nước ta đến năm 2005 sẽ vào khoảng 230 – 320 triệu USD.

    Việt nam gia nhập mạng toàn cầu tương đối chậm: tháng 11 năm 1997 mới chính thức bắt đầu nối mạng Internet, tới đầu năm 1999 mới có khoảng 17 nghìn thuê bao, chủ yếu thông qua ba nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn nhất là VDC (Công ty dịch vụ gia tăng và truyền số liệu), FPT (Công ty phát triển đầu tư công

    Khoá luận tốt nghiệp

    nghệ) và Netnam (Viện công nghệ thông tin, thuộc Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia).

    Đến nay Việt nam có khoảng 150 nghìn thuê bao và phát triển với tốc độ tăng thêm khoảng 7000 – 8000 thuê bao/tháng.

    Tóm lại, tuy có tốc độ tăng trưởng cao trong vài năm gần đây nhưng nền công nghệ tính toán của Việt nam vẫn còn rất nhỏ bé, đặc biệt là công nghệ phần mềm.

    Ngành truyền thông Việt nam những năm gần đây tăng trưởng tới 70%/năm. Liên lạc viễn thông qua vệ tinh đã được ứng dụng, sử dụng vệ tinh thuê của nước ngoài (đã có chương trình thuê phóng vệ tinh riêng). Các thiết bị và công nghệ điều khiển tiên tiến đã được áp dụng trong ngành địa chính, ngành hàng không…

    Năm 1993, Tổng cục Bưu chính viễn thông thiết lập một mạng toàn quốc truyền dữ liệu trên X.25, gọi là mạng VIETPAC, nối 32 tỉnh và thành phố (tức một nửa tỉnh thành cả nước), mạng này không đủ đáp ứng nhu cầu truyền dữ liệu ngày càng tăng nên gần đây Tổng cục đã phát triển một mạng khung toàn quốc tên là VNN nối với Internet và mạng nội bộ của các cơ quan nhà nước và tư nhân.

    Nhờ các mạng nội bộ và mạng quốc gia, công việc quản lý một số ngành đã được tin học hoá. Tuy nhiên, tính tin cậy của dịch vụ truyền thông còn thấp và chi phí còn rất cao so với mức trung bình của người dân, vì vậy tính phổ cập chưa cao.

    Ngành điện lực (là nền của hai nhánh tính toán và truyền thông) đang gặp khó khăn: những năm gần đây, tiêu thụ điện toàn quốc tăng khoảng 15%/năm. Trước đây dự tính sẽ thừa điện, phải xuất khẩu, hai năm nay đã ở tình trạng thiếu điện (nhất là vào mùa khô, vì gần 70% sản lượng điện là từ thuỷ điện). Năm 1998 sản xuất ở mức 60 triệu kwh/ngày, thiếu hụt 200 triệu kwh; năm 1999 thiếu hụt 400 triệu kwh (vì hạn nặng). Tình trạng thiếu điện sẽ nghiêm trọng hơn trong

    những năm sắp tới, buộc phải chuyển một phần đáng kể sang điện nguyên tử, -38-

    Khoá luận tốt nghiệp

    nhưng chưa có tiến độ và chương trình cụ thể. Hệ thống phân phối điện hạ áp đang ở tình trạng chắp vá, cung cấp điện năng chưa ổn định. Tuy nhiên mới đây, công ty điện lực thành phố Hồ Chí Minh cho biết sẽ đầu tư 3500 tỉ đồng cho lưới điện thành phố vào năm 2005 và sẽ khắc phục triệt để các sự cố về điện của thành phố. Hy vọng rằng trong giai đoạn 2005 – 2010 ngành điện thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung sẽ vươn lên ngang bằng trình độ phát triển chung của các nước tiên tiến trong khu vực.

    2. Cơ sở hạ tầng nhân lực.

    Gồm các chuyên gia công nghệ và đông đảo dân chúng. Cho tới năm 1980,

    • nước ta chưa có khoa tin học tại các trường đại học, cũng chưa có hệ thống đào tạo chuyên gia và cán bộ cho ngành này.

    Từ năm 1980, các trường đại học trong cả nước mở thêm khoa tin học, việc đào tạo trong nước dần dần được mở rộng. Hiện nay có 6 trường đại học của nhà nước được Nhà nước đầu tư cho các khoa công nghệ thông tin với mục tiêu đào tạo 2000 cử nhân và kỹ sư tin học mỗi năm. Trong 4 năm qua 6 trường này đã đào tạo được khoảng 7000 cử nhân và kỹ sư. Tất cả các trường đại học khác đều có bộ môn tin học và tất cả các sinh viên đều được đào tạo về tin học đại cương. Nếu tính cả các trường khác và tự đào tạo hay tái đào tạo (các nhà kinh tế, kỹ sư các ngành khác chuyển sang) có thể ước lượng được mỗi năm chúng ta có thêm khoảng 3.500 người được đào tạo cơ bản về tin học.

    • Lực lượng chuyên gia công nghệ thông tin ở Việt nam hiện nay có thể chia thành một số nhóm:

     

    • Các chuyên gia kiến thức cao, được đào tạo ở nước ngoài hoặc các nhà toán học nhiều năm qua đã chuyển hướng sang tin học.
    • Các cán bộ đào tạo từ khoa tin học của các trường đại học (chủ yếu là Đại học tổng hợp, Đại học Bách Khoa), mỗi năm ra trường trên 1000 người. Theo đánh giá của Hội tin học Việt nam, trong vài năm gần đây, các sinh viên

    Khoá luận tốt nghiệp

    chuyên ngành tin học khi tốt nghiệp ra trường đã có trình độ khá cao và trình độ được nâng lên khá nhanh sau khi họ được sử dụng vào thực tế.

    • Một lực lượng đông đảo thanh niên đã qua đào tạo tin học trong khi học phổ thông và đại học, hoặc đào tạo tại các trường, các trung tâm tin học trong toàn quốc. Số này ước tính vài vạn người.
    • Ngoài ra cần tính tới đội ngũ Việt kiều làm tin học. Theo thống kê chưa đầy đủ có tới 50 nghìn người. Lực lượng này được các nước đánh giá là giỏi, nhiều người có trình độ rất cao (nhất là những người ở Mỹ, Pháp và Ca-na-đa), một số người là chuyên gia đầu đàn của các tổ chức tin học thế giới, có người làm cố vấn về phát triển tin học cho Tổng thống nước ngoài.

    Ưu điểm chính của lực lượng làm tin học nước ta được đánh giá là thông minh, cần cù, sáng tạo và thích ứng nhanh với các xu hướng phát triển mới của công nghệ thông tin. Đặc biệt có khả năng làm việc tốt ngay cả trong những điều kiện khó khăn, thiếu thốn. Tuy nhiên, lực lượng chuyên gia tin học của ta cũng có một số nhược điểm:

    • Cho đến nay, các trường đại học trong nước chủ yếu đào tạo cán bộ làm phần mềm (chỉ có Đại học Bách Khoa có một lớp dạy phần cứng). Đó là do lĩnh vực phần cứng đòi hỏi hạ tầng cơ sở mà ta chưa có, mặt khác cũng thiếu thày để dạy. Vì vậy, hiện nay ta bị thiếu chuyên gia phần cứng.
    • Trong lĩnh vực phần mềm, các chuyên gia Việt nam chưa phải đã đủ năng lực để xử lý các hệ thống và các ứng dụng toàn cục quy mô lớn. Nguyên nhân chủ yếu là hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin toàn quốc chưa hình thành vững chắc nên chưa có môi trường thuận lợi cho tin-học-hệ-thống được ứng dụng và phát triển ở Việt nam. Chúng ta cũng thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý dự án, phân tích hệ thống và đặc biệt là đội ngũ lập trình viên chuyên nghiệp. Chất lượng đào tạo còn nhiều bất cập do đội ngũ giáo viên không đủ điều kiện để cập nhật thông tin, không đủ điều kiện được nâng cao trình độ, thiếu phương tiện

    Khoá luận tốt nghiệp

    nghiên cứu và giảng dạy, ít gắn bó với nhu cầu thực tiễn của sản xuất. Đến nay, Internet vẫn như là món hàng xa xỉ đối với giáo viên và sinh viên.

    • Lực lượng cán bộ đào tạo từ các trường khá phong phú nhưng chưa tận dụng được. Một số xin việc ở các công ty nước ngoài, các công ty liên doanh nhưng chủ yếu làm tiếp thị, văn phòng, một số vào các công ty chuyên doanh công nghệ tin học, nhưng đa số làm tiếp thị, một số tự đứng ra mở cửa hàng kinh doanh thiết bị phần cứng. Vì thế lực lượng đã qua đào tạo không thể tập hợp nhau lại trong các đề án lớn để phát triển, mà ngược lại, kiến thức kém dần đi, tới một lúc không phát huy được nữa.
    • Dân chúng đông đảo:

    Đào tạo tin học và thông tin tin học rộng rãi (nhất là từ khi triển khai Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin) đã làm cho tin học phổ thông không còn xa lạ với đông đảo dân chúng ở thành thị và các tụ điểm buôn bán khác.

    Tuy nhiên vẫn còn nhiều khoảng cách giữa việc “có biết đến” máy tính điện tử và các ứng dụng công nghệ thông tin, với khả năng “ứng dụng thực” các phương tiện đó, đặc biệt là ứng dụng Internet/Web. Ở nhiều cơ quan và doanh nghiệp, nhiều cán bộ, nhân viên chưa từng dùng máy tính điện tử. Những người được coi là biết sử dụng máy mới chỉ làm được và chỉ làm văn bản ở mức độ thấp, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin vào mục đích quản lý và kinh doanh nói chung còn rất thấp, thậm chí hoàn toàn chưa có.

    Riêng về ứng dụng Internet/Web, tỉ lệ người sử dụng Internet trên 1000 dân mới đạt 1,8. Cả nước chỉ có công ty VDC là nhà cung cấp duy nhất đầu vào mạng (IAP) và năm nhà cung cấp dịch vụ (ISP) kể cả VDC (so với 16 của Thái Lan và

    • ở Philipin). Một số cơ quan đã nối mạng vào Internet nhưng hiệu quả sử dụng rất kém (một phân do chưa có kỹ năng sử dụng và do trình độ Anh ngữ còn quá yếu so với yêu cầu của việc khai thác thông tin trên Internet). Xét cả về khía

    cạnh hạ tầng cơ sở công nghệ lẫn con người, có thể nói Việt nam vẫn là một nước -41-

    Khoá luận tốt nghiệp

    kém phát triển và bị tụt hậu khá xa so với các nước tiên tiến trên thế giới về công nghệ tin học. Cho dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực nhưng đến nay, Việt nam vẫn chưa có một ngành công nghiệp tin học thực sự.

    Tại hội thảo tuần lễ tin học (tháng 11 năm 1997 tại Hà Nội), các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin Việt nam đã chỉ ra nguyên nhân của tình huống này:

    • Thiếu một chiến lược nhà nước về phát triển ngành điện tử-tin học. Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực điện tử – tin học: năm 1975 đã ban hành một loạt nghị định liên quan đến phát triển các ứng dụng tin học, thành lập Tổng cục điện tử tin học, Viện tin học quốc gia, đồng thời xây dựng các chương trình quốc gia về nghiên cứu, ứng dụng toán tin và khiển học. Tháng 8/1993 đã ra quyết định số 49/CP về việc phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000 và thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin. Song cho tới nay, vẫn chưa có một chiến lược được công bố về phát triển ngành điện tử – tin học, thiếu vắng một định hướng tổng thể cho các nhà hoạch định ra chính sách, và tiếp đó là các chương trình cụ thể để phát triển.
    • Thiếu đầu tư đầy đủ và cân đối: những năm qua, nhánh truyền thông được đầu tư nhiều hơn, nhánh tính toán ít được đầu tư (ví dụ: Tổng công ty điện tử và tin học, một doanh nghiệp nhà nước với gần 20 đơn vị và liên doanh, những năm qua hoàn toàn không được Nhà nước đầu tư, chỉ sử dụng vốn tự có rất nhỏ bé (tổng cộng 18 triệu USD, chia ra hàng chục đơn vị thành viên).
    • Bất cập về chính sách: Các chính sách cụ thể không thể hiện được ý đồ phát triển công nghiệp thông tin. Trái lại, có nhiều chính sách bất hợp lý về thuế (quá cao so với các ngành sản xuất khác), về lập nghiệp (thủ tục phiền hà), về bảo hộ (bảo vệ sản xuất và bảo hộ sở hữu trí tuệ), chính sách Việt kiều (còn thiếu tác dụng khuyến khích).

    3.                 Hạ tầng cơ sở kinh tế.

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    Qua hơn mười năm đổi mới, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong lĩnh vực kinh tế. Nền kinh tế ổn định, cơ bản thoát khỏi khủng hoảng và đạt được tỷ lệ tăng trưởng nhờ vào cải cách kinh tế vĩ mô. Thu nhập trung bình trên đầu người tăng 5%/năm, năng suất sản lượng tăng với tốc độ cao, lạm phát giảm đáng kể (từ 17,6% năm 1992 xuống 3,6% vào năm 1997 và 0,1% vào năm 1999). Lượng hành hoá xuất khẩu cũng tăng nhanh chóng (đạt 22%/năm). Những thành tựu này đã cải thiện mức sống người dân.

    Tuy nhiên, nhìn chung nền kinh tế vẫn còn là “nông nghiệp lạc hậu”. Hơn

    70% dân số Việt nam sống ở nông thôn và 2/3 lực lượng lao động của đất nước hiện còn làm nông nghiệp. Năng suất lao động còn thấp so với khu vực và thế giới, tỷ lệ hộ nghèo đói còn ở mức cao (18%), thất nghiệp còn nhiều (khoảng 27% số người trong độ tuổi lao động thiếu việc làm, gồm 6% hoàn toàn thất nghiệp). Nhờ có những thay đổi chính sách của Chính phủ về nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thời gian gần đây, nền nông nghiệp Việt nam đã phần nào được cải thiện, tổng sản phẩm nông nghiệp thời kỳ 93 – 95 đã tăng 17,5% so với thời kỳ 89 – 92.

    Về công nghiệp, những năm gần đây ngành này đã đứng ở vị trí hàng đầu trong tăng trưởng kinh tế ở Việt nam nhưng đang bắt đầu có dấu hiệu chững lại. Một nền sản xuất công nghiệp quy mô lớn chưa hình thành ở Việt nam (công nghiệp mới chỉ chiếm 32% GDP), các khu vực tư nhân chưa được huy động tham gia tích cực vào các chương trình phát triển đa dạng của Chính phủ.

    Xét riêng về buôn bán hàng hoá và dịch vụ thì thương mại còn ở mức phát triển thấp. Dân số gần 80 triệu người nhưng tổng doanh số bán lẻ hàng năm chỉ đạt 180 – 190 nghìn tỷ đồng, tính bình quân mới ở mức 200USD/người/năm. Mặc dù đã tăng với tốc độ cao trong nửa đầu những năm 90, nhưng đến năm 2001 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 15,1 tỷ USD, tính trên đầu người chưa tới 200USD/người. Hàng xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô (dầu mỏ, than đá…), nông thuỷ sản (gạo, lạc, cà phê, thuỷ sản…) và hàng công nghiệp mức độ chế biến

    Khoá luận tốt nghiệp

    thấp (may mặc, giầy dép…). Chỉ riêng bốn mặt hàng dầu thô, gạo, hải sản và cà phê đã chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu, dệt may và giầy dép chiếm trên 20%. Hàng chế biến sâu và hàng chế tạo chiếm chưa tới 25% tổng kim ngạch xuất khẩu.

    Các công ty quốc doanh chiếm trên 40% GDP và khoảng 70% tổng sản lượng công nghiệp nhưng hiệu quả hoạt động thấp. Theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội tháng 7/1998, có tới 36% các công ty quốc doanh đang thua lỗ. Quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước mới ở giai đoạn đầu. Tới cuối năm 1999 mới cổ phần hoá được 370 doanh nghiệp. Một trong các đặc điểm đáng lưu ý của hoạt động buôn bán hàng hoá và dịch vụ của ta là ở mức độ giao dịch rất thấp, cả ở trong và ngoài nước. Riêng về buôn bán đối ngoại, tuy có trao đổi hàng hoá và dịch vụ với trên 100 nước và địa khu nhưng vẫn tập trung chủ yếu vào các bạn hàng truyền thống trong vùng (như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan…). Châu Á chiếm tới gần 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mạng lưới bạn hàng trong và ngoài nước của các công ty nói chung rất hẹp. Đa số công ty thiếu thông tin về thị trường, hàng hoá, bạn hàng nên cơ hội kinh doanh bị hạn chế.

    Trên quan điểm “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử ” nói riêng, hạ tầng cơ sở kinh tế như trên đặt ra hàng loạt vấn đề, trong đó đáng kể nhất là:

    • Do năng lực kinh tế thấp và cách làm kinh tế còn lạc hậu, hệ thống tiêu chuẩn theo đúng nghĩa vẫn chưa hình thành, hệ thống thông tin kinh tế quốc gia cũng không tương thích với hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, bản thân hệ thống này cũng mâu thuẫn và không thống nhất, hệ thống mã quốc gia chưa có, là điều sẽ gây trở ngại lớn cho việc chuyển sang một nền “kinh tế số hoá”.
    • Năng suất lao động thấp, tổ chức lao động lạc hậu, tỷ lệ thất nghiệp thực còn ở mức khá cao, chưa tạo ra động lực thực tế đẩy tiết kiệm cao độ chi phí vật chất và thời gian (là các mục tiêu rất cơ bản của “thương mại điện tử”).

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Mức sống không cho phép đông đảo dân chúng và đông đảo doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng với các phương tiện của “kinh tế số hoá”: người dân bình thường không có đủ tiền để trang bị các phương tiện của “thương mại điện tử” và trả các chi phí dịch vụ “thương mại điện tử”.
    • Chưa hình thành hệ thống thanh toán tài chính tự động, tức là thiếu hẳn một trong những thành tố nhất của thương mại điện tử, là thành tố không chỉ bảo đảm cho tính kinh tế mà cả tính khả thi cuả thương mại điện tử. Việc xây dựng hệ thống này sẽ là một quá trình, vì còn phải khắc phục thói quen dùng tiền mặt của đa số dân chúng. Ví dụ: Ngân hàng công thương đã thử nghiệm hệ thống giao dịch tiết kiệm “gửi một nơi lĩnh ra ở nhiều nước”, nhưng nhìn chung nhu cầu của khách hàng ở mức rất thấp.
    • Chưa hình thành và thực thi việc tiêu chuẩn hoá toàn bộ nền kinh tế (mã hoá và tiêu chuẩn hoá toàn bộ các doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ), đa số hàng hoá vẫn còn trao đổi theo mẫu và theo quan sát trực tiếp, hàng hoá giả còn phổ biến chưa nói tới thống nhất mã thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới (liên quan đến thương mại điện tử qua biên giới). Riêng mã số mã vạch tới nay mới thể hiện trên khoảng 10% sản phẩm bán lẻ lưu thông trên thị trường và theo dự kiến sau 5 năm nữa mới đạt tỉ lệ 80%.
    • Thiếu một chiến lược mã quốc gia làm cơ sở phát triển công nghệ mã hoá phục vụ mục đích bảo đảm an toàn dữ liệu và thông tin.

    4.                 Hạ tầng pháp lý.

    Hệ thống pháp luật hiện đại đang mới ở giai đoạn hình thành đầu tiên và còn chưa hoàn thiện. Đến nay tuy Việt nam đã có luật bảo hộ bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ, nhưng luật này chỉ mới áp dụng tương đối tốt trong lĩnh vực truyền hình và phim ảnh, ở những khía cạnh khác trong lĩnh vực CNTT thì nhìn chung chưa hiệu quả.

    Chính phủ cũng có luật quản lý các hệ thống và dịch vụ liên quan tới

    Internet được thành lập theo quyết định 136/TTg của Thủ tướng chính phủ ngày -45-

    Khoá luận tốt nghiệp

    5/3/1977 có trách nhiệm điều chỉnh, kết hợp các hoạt động quản lý và phát triển các dịch vụ và hệ thống Internet ở Việt nam. Bên cạnh đó Chính phủ cũng ban hành Nghị định 21/CP ngày 5/5/1997 về quản lý, thành lập và sử dụng Internet.

    Mới đây, vào ngày 23/8/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng Internet thay thế cho Nghị định 21/CP cũ.

    Tuy nhiên, còn hàng loạt vấn đề pháp lý liên quan đến thương mại điện tử chưa được phản ánh trong Bộ luật thương mại, Bộ luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Bộ luật hình sự và các Bộ luật khác có liên quan, trong đó có các vấn đề như luật pháp về giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử, về xác thực và chứng nhận chữ ký điện tử, về chống xâm nhập trái phép vào các dữ liệu v..v..Hiệu lực thi hành và do đó hiệu lực điều chỉnh của các luật đã ban hành vẫn còn thấp, ngay cả trong hoàn cảnh kinh tế và thương mại còn đang được vận hành trên cơ sở giấy tờ.

    5. Hạ tầng cơ sở chính trị, xã hội.

    Trong quá trình đổi mới hơn 10 năm qua, đất nước đã chuyển một bước đáng kể sang hướng “mở cửa”. Song, do hàng loạt các đặc thù, nhiều thứ chịu sự chế định của hoàn cảnh lịch sử – xã hội, ta chưa thể mở tới mức độ như “kinh tế số hoá nói chung” và “thương mại điện tử” nói riêng đòi hỏi hoặc mong muốn. Các thế lực thù địch còn tiếp tục các hoạt động chống phá mạnh mẽ, nên về mặt chính trị, Internet/Web mặc nhiên trở thành phương tiện tốt cho các hoạt động này, buộc Nhà nước phải có các biện pháp bảo vệ thích hợp. Ngay từ năm 1996 đã có chỉ thị về tăng cường chỉ đạo, quản lý, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch dùng phương tiện thông tin điện tử để chống phá ta, trong đó đã đề cập đến các phương tiện điện thoại, Fax, kênh truyền hình TVRO, kết nối mạng thông tin Internet và các hoạt động mua bán, trao đổi thông tin giữa một số cơ quan nhà nước và nước ngoài v..v..việc sử dụng Internet phải có sự giám sát nhất định. Hoàn cảnh đặc thù ấy chưa hoàn toàn thích hợp với “thương

    Khoá luận tốt nghiệp

    mại điện”, nhưng chưa thể làm khác được vì đề phòng phá hoại chính trị còn phải quản lý Internet/Web để chống lại tác hại của phim ảnh không lành mạnh. Các lối sống xa lạ với bản sắc văn hoá dân tộc được truyền qua mạng nay đã bắt đầu tác động vào một bộ phận thanh thiếu niên. Về cách sống và làm việc, đa số dân chúng vẫn còn quen giao dịch trên văn bản, giấy tờ, mua hàng nhất thiết phải trải qua công đoạn nhìn, sờ, nếm, thử…; thích đếm tiền mặt v..v.., đều là các thói quen khác biệt một cách căn bản với thương mại điện tử; đồng thời cũng là những thói quen không thể nhanh chóng thay đổi được.

    Về mặt xã hội, cũng phải lưu ý tới nhận xét của nhiều học giả rằng: do lịch sử hàng nghìn năm sống trong nền “văn minh làng xã”, đông đảo dân chúng Việt nam chưa xây dựng được một tác phong “làm việc đồng đội” (teamwork) ở tầm toàn xã hội và tầm quốc tế, cũng như chưa có được lối sống theo pháp luật chặt chẽ, theo kỷ luật lao động công nghiệp tiêu chuẩn hoá, đều là những yếu tố mà “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử” nói riêng đòi hỏi một cách nghiêm ngặt.

    • Tất cả các hạ tầng cơ sở nói trên đều cho thấy môi trường điển hình cho nền “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử” nói riêng chưa hình thành đầy đủ ở Việt nam, đòi hỏi nhất thiết phải có một quá trình chuẩn bị. Quá trình đó dài hay ngắn tuỳ thuộc vào nhiều quan điểm chung, cách nhận thức vấn đề và cách triển khai thương mại điện tử.

    II. CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM.

    1.     Tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt nam trong những năm gần đây.

    Thương mại điện tử ở Việt nam, nếu xét theo nghĩa rộng (bao gồm cả các phương tiện truyền thống như: điện thoại, telex, fax…hay việc sử dụng máy tính như một công cụ độc lập) thì đã hình thành từ lâu. Tuy nhiên, nếu xét theo nghĩa chặt chẽ hơn (thương mại điện tử chủ yếu là tiến hành trao đổi dữ liệu và mua

    Khoá luận tốt nghiệp

    bán dung liệu, hàng hoá, dịch vụ qua mạng Internet và các phân mạng của nó) thì sự tham gia của Việt nam chỉ mới bắt đầu từ cuối năm 1997.

    Tuy những điều kiện cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự phát triển của thương mại điện tử chưa hình thành đầy đủ, nhưng do các hoạt động hội nhập của nước ta cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, Việt nam đã bắt đầu có những bước đi nhất định để tham gia vào thương mại điện tử:

    • Nghị quyết số 26/NQ/TƯ, 30/3/1991 của Bộ chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: “Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn điện tử, tin học…”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương (khoá VII), 30/7/1994 xác định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII nhấn mạnh: “ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế…Hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế”…Để thế chế hoá về mặt Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt nam trong những năm 90”
    • Tháng 11/1997, Việt nam chính thức kết nối vào mạng Internet. Ngày 05/03/1997, Nghị định 21/CP được ban hành kèm theo quy chế tạm thời về quản lý, thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt nam. Đến nay Việt nam đã có khoảng hơn 200.000 máy tính có thể truy cập vào Internet, chủ yếu là ở các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước.
    • Từ đó đến nay khái niệm thương mại điện tử được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, các buổi hội thảo…
    • Là thành viên của ASEAN và APEC, Việt nam đã tham gia các buổi thảo luận và cam kết quốc tế về thương mại điện tử ở hai tổ chức này.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • ASEAN: Sau khi gia nhập tổ chức này, Việt nam đã tham gia hội nghị ASEAN về thương mại điện tử vào tháng 10/1997. Việt nam cũng tham gia hoạt động trong Tiểu ban điều phối về thương mại điện tử (CCEC) của ASEAN. Tiểu ban này tại cuộc họp lần thứ hai (9/1998) đã thông qua bản “Các nguyên tắc chỉ đạo về thương mại điện tử ASEAN”
    • APEC: Việt nam đã thoả thuận tham gia vào “Chương trình hành động về thương mại điện tử APEC”.
    • Để xúc tiến hoạt động thương mại điện tử tại Việt nam, tháng 6/1998, Ban chỉ đạo quốc gia về Công nghệ thông tin thành lập Tổ công tác thương mại điện tử nằm trong ban này. Đến tháng 12/1998, Bộ thương mại (cơ quan được Thủ tướng Chính phủ giao là đầu mối chủ trì phối hợp các hoạt động về thương mại điện tử) đã thành lập Ban thương mại điện tử trực thuộc Bộ với các chức năng giúp Bộ trưởng quản lý chung và xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử quốc gia; quản lý các dự án, các chương trình quốc gia liên quan đến thương mại điện tử ; triển khai thương mại điện tử trong phạm vi trách nhiệm của Bộ; phối hợp nghiên cứu các phương án tham gia vào thương mại điện tử toàn cầu nhằm tăng cường thương mại điện tử Việt nam, phù hợp với các quy định quốc tế.
    • Trên phạm vi toàn quốc cũng đã diễn ra rất nhiều buổi hội thảo về thương mại điện tử:
    • 3/1999: Bộ thương mại đã tổ chức cuộc hội thảo quốc tế lần thứ nhất.
    • 6/1999: Tổng cục Bưu điện phối hợp với Bộ thương mại tổ chức hội thảo quốc tế lần thứ hai.
    • 5/7/2000: Tại Hà Nội, Bộ thương mại phối hợp với Bộ Khoa học-Công nghệ-Môi trường, dự án Công nghệ thông tin Việt nam – Canada, Tổng cục Bưu điện đã tổ chức buổi Hội thảo về thương mại điện tử.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Trong tháng 7 và tháng 9 năm 2000, Bộ thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI) và VASC cũng đã tổ chức một số buổi hội thảo về thương mại điện tử tại Hà nội và TP. Hồ Chí Minh.
    • Bộ thương mại đã mở một số buổi tập huấn để nâng cao nhận thức chung về thương mại điện tử cho các cơ quan, doanh nghiệp đóng trên hầu hết các tỉnh và thành phố trong cả nước và vẫn đang xúc tiến phối hợp với các Bộ khác tiếp tục mở các lớp tập huấn như vậy cho các doanh nghiệp.
    • Nhằm định hướng tiếp cận thương mại điện tử một cách có hệ thống và trên quan điểm chiến lược, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ thương mại chủ trì phối hợp các Bộ, ngành có liên quan hình thành một số tài liệu mang tính định hướng quốc gia.
    • Đầu 4/1999, Bộ thương mại đã trình Chính phủ bản “Đề án thành lập Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử” với sự đóng góp của các Bộ, ngành có liên quan.
    • Cuối 4/1999, Bộ thương mại cùng Tổng cục Bưu điện trình Chính phủ bản “Phương án từng bước tham gia và áp dụng thương mại điện tử”.
    • Giữa năm 1999, Chính phủ giao cho Bộ thương mại chủ trì dự án quốc gia “Kỹ thuật thương mại điện tử”. Dự án này được phân thành 14 tiểu dự án, bao gồm các mặt hạ tầng cơ sở của thương mại điện tử, đồng thời với các hoạt động nâng cao nhận thức, đào tạo kỹ năng và thử nghiệm. Một số tiểu dự án nhận được sự hỗ trợ từ phía các đối tác nước ngoài.
    • Trong năm 2000, Chính phủ giao cho Bộ thương mại làm đầu mối đàm phán với các nước ASEAN xây dựng Hiệp định khung E-ASEAN và hiệp định này sau đó đã được lãnh đạo cấp cao các nước ASEAN ký tại Singapore ngày 24/11/2000.
    • Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày 5/6/2000 của Chính phủ về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2001 – 2005 nhằm tạo môi trường

    Khoá luận tốt nghiệp

    thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, kinh doanh, sản xuất và cung ứng dịch vụ phần mềm.

    • Ngày 17/10/2000, Bộ chính trị có chỉ thị số 58-CT/TW về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá”. Thực hiện chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2002 về “Một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghệ phần mềm”.
    • Trong năm 2000, Thủ tướng Chính phủ cũng ký một loạt quyết định và nghị định nhằm mở rộng việc sử dụng hệ thống thông tin điện tử tạo tiền đề cho sự phát triển của thương mại điện tử trong tương lai: Quyết định 19/2001/QĐ-TTg, quyết định 81/2001/QĐ-TTg, Nghị định số 55/2001/NĐ/CP. Trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX tháng 04/2001 cũng đã khẳng định quyết tâm phải phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Đây chính là kim chỉ nam quan trọng mở đường và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin và thương mại điện tử ở Việt nam.
    • Quyết định 112/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2001 nhằm thiết lập hệ thống thông tin từ Trung ương đến các Bộ, ngành, địa phương phục vụ công tác điều hành các hoạt động của Chính phủ. Đề án 112 này cũng nằm trong quá trình thực hiện cam kết của Chính phủ Việt nam với các nước ASEAN theo hiệp định khung e-ASEAN.
    • Cuối năm 2001, Bộ thương mại đã hoàn thành và trình lên Chính phủ bản đề án Phát triển thương mại điện tử tại Việt nam giai đoạn 2001-2005. Bản đề án này giúp Chính phủ có những đánh giá về hiện trạng ban đầu về tình hình phát triển thương mại điện tử trong nước và trên thế giới. Từ những đánh giá này, Chính phủ cũng có những định hướng thống nhất và tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Có thể coi Bản đề án trên là một bước đi quan trọng và thiết thực thể hiện quyết tâm của Việt nam hội nhập vào nền kinh tế kỹ thuật số của khu vực và thế giới.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Như vậy, nhận thức được tầm quan trọng của thương mại điện tử trong thời đại mới. Việt nam đã có những mối quan tâm nhất định nhằm phát triển hình thức này tại Việt nam. Tuy nhiên, do trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp, những điều kiện cơ sở hạ tầng cho sự phát triển của thương mại điện tử còn chưa hình thành đầy đủ nên những bước đi của Việt nam phần nào còn mang nặng tính “hưởng ứng”, “thăm dò”.

    Các hoạt động ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh tại Việt nam hiện nay vẫn diễn ra khá lẻ tẻ, yếu ớt. Các doanh nghiệp vẫn chủ yếu giao dịch với nhau bằng điện thoại, fax và mới đây là e-mail. Hiện nay cả nước có khoảng 1500 Website doanh nghiệp, nhưng nhìn chung các Website này còn khá đơn điệu, chủ yếu là để quảng cáo. Số đơn vị có quảng cáo trên Web cũng chỉ có vài ngàn. Đến nay, ở Việt nam ngoài các tổng công ty lớn như : Bưu điện, Hàng không, Du lịch thì hầu hết các doanh nghiệp đều chưa nghĩ đến việc thiết kế một trang Web nhằm mục đính kinh doanh.

    Nói một cách lạc quan, thương mại điện tử trong các doanh nghiệp Việt nam mới chỉ dừng lại ở mức tiền giao dịch, việc mua bán trên mạng hầu như chưa có.

    Về phía người dân, đa số còn khá xa lạ với Internet, chỉ một bộ phận nhỏ dân chúng (chủ yếu là tầng lớp trí thức) thường xuyên tiếp cận với Internet để gửi e-mail, tìm nguồn thông tin hay để giải trí. Một bộ phận khác, chủ yếu ở tuổi thanh thiếu niên, chỉ biết đến Internet qua dịch vụ trò chuyện qua mạng (chat) và các dịch vụ giải trí khác. Hiểu biết và nhận thức của đông đảo mọi người đối với thương mại điện tử vẫn còn chưa rõ ràng hoặc chưa đầy đủ, cá biệt có người nhìn nhận vấn đề hoàn toàn sai lệch.

    • Việt nam cũng đã bắt đầu xuất hiện các của hàng ảo trên mạng (Cypermall, siêu thị máy tính BLUE SKY, siêu thị nhà đất…). Tuy nhiên mức độ mua hàng từ mạng tại Việt nam vẫn còn khá nhỏ nên các cửa hàng này cũng chỉ giới hạn mục tiêu giai đoạn của mình là để giới thiệu, làm quen với khách hàng một phương thức mua bán mới mà chưa thể nghĩ đến lợi nhuận trong giai đoạn này. Chính vì

    Khoá luận tốt nghiệp

    việc thương mại điện tử mới chỉ bắt đầu “chớm” phát triển ở Việt nam nên theo báo cáo của IDC-tập đoàn dữ liệu quốc tế – thì doanh số thương mại điện tử ở Việt nam năm 1999 mới chỉ dừng lại ở con số 2 triệu Baht (khoảng 60.000 USD) so với 1,229 tỷ Baht ở Thái Lan; 38,38 tỷ Baht ở Singapore.

    Doanh số thương mại điện tử ở một số nước ASEAN (triệu Baht)

    Nước 1988 1999 2003 (ước)
           
    Inđônêsia 249 1.323 61.680
           
    Malaysia 684 2.237 78.610
           
    Philipin 259 881 38.120
           
    Singapore 1.337 38.380 106.780
           
    Thái Lan 370 1.229 60.920
           
    Việt nam 2 1.284
           

    Nguồn: IDC 2000

    Tóm lại, những dấu hiệu đầu tiên của thương mại điện tử đã bắt đầu hình thành ở Việt nam. Tuy nhiên, quy mô của nó còn hết sức nhỏ bé và vẫn chưa có những ảnh hưởng nào đáng kể làm thay đổi cách thức kinh doanh của doanh nghiệp cũng như cách thức sinh hoạt của người dân. Những bước đi đầu tiên của Nhà nước nhằm thúc đẩy hình thức thương mại điện tử mới chỉ ở bề nổi. Các hoạt động nhằm hướng vào xây dựng một môi trường toàn diện và thực sự cho thương mại điện tử (chủ yếu là môi trường Công nghệ thông tin, môi trường pháp lý, môi trường thanh toán tài chính và môi trường xã hội) thì hầu như chưa có hoặc chưa được tiến hành một cách có hệ thống.

    2. Triển vọng tương lai.

    Hiện nay, xét về tất cả các mặt, môi trường cho thương mại điện tử đúng

    nghĩa chưa hình thành ở Việt nam. Nhưng trong khi đó, với tư cách là thành viên -53-

    Khoá luận tốt nghiệp

    APEC và ASEAN, Việt nam đã có các cam kết tham gia. Tình huống đó cho thấy Việt nam “không thể sớm cũng không thể muộn” triển khai theo hướng thương mại điện tử.

    Không thể sớm có nghĩa là: Để có thể thực sự tham gia một cách có hiệu quả, đóng góp thực tế vào việc nâng cao hiệu quả của hoạt động thương mại, vào việc công nghiệp hoá và hiện đại hoá (mà không phải chỉ tham gia một cách “phô diễn”), cần sớm bắt tay vào xây dựng hạ tầng cơ sở cho thương mại điện tử, bao gồm: trước hết là hạ tầng cơ sở pháp lý, tiếp đó là hạ tầng kinh tế chuẩn hoá, song song với đó là phát triển và nâng cao hạ tầng công nghệ thông tin (tính toán và viễn thông) sao cho cập cách về cả hai mặt: trình độ công nghệ và tính phổ cập (đông đảo doanh nghiệp và dân chúng có thể có điều kiện phương tiện thiết bị và phương tiện tiền bạc để truy cập vào mạng thông tin toàn quốc và quốc tế); hạ tầng nhân lực thương mại điện tử (đông đảo doanh nghiệp và dân chúng có đủ năng lực kỹ thuật để làm việc trên mạng thông tin).

    Không thể muộn nghĩa là: Ngay bây giờ đã phải nhận thức đầy đủ về tính tất yếu và mức độ tác động của “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử nói riêng”, tiếp đó triển khai xây dựng một chiến lược quốc gia về hình thành nền “kinh tế số hoá” và nền “thương mại điện tử” ở Việt nam làm định hướng chỉ đạo lâu dài, sau đó thiết lập một chương trình hành động trước mắt phù hợp với tình hình thực tế ở Việt nam và các thoả thuận mà Việt nam đã cam kết. Trên cơ sở đó, triển khai nhanh việc phổ cập, đào tạo, thử nghiệm v..v..Trong hai nhánh hoạt động trên đây, nên coi trọng nhánh chuẩn bị môi trường lâu dài, tránh sa vào các hoạt động “phô diễn” ít hiệu quả, mà có thể đưa lại các hiệu quả không mong muốn.

    Để làm việc trên, nên thành lập ngay một “đầu mối quốc gia” về “kinh tế số hoá” và “thương mại điện tử”. Một Hội đồng quốc gia về “thương mại điện tử” gồm đại diện của nhiều Bộ, ngành và giới có liên quan là một tổ chức cần có để hội tụ được kiến thức và sự nhìn nhận từ nhiều góc cạnh. Vì hội đồng là một tổ

    Khoá luận tốt nghiệp

    chức mang tính tư vấn là chủ yếu, nên theo kinh nghiệm các nước, sẽ cần tới một Ủy ban quốc gia có chức năng và quyền hạn ra quyết định, chỉ đạo và xử lý giải quyết. Hội đồng và Ủy ban sẽ là đầu mối vạch chiến lược cũng như chương trình hành động trước mắt, đồng thời chỉ đạo thực hiện chiến lược và chương trình đó; tránh được các xu hướng thiếu toàn diện hoặc cho là chưa thể làm gì với thương mại điện tử. Hoặc ngược lại, tiến hành một cách vội vã, nặng “phô diễn”, không thu được kết quả mong muốn và để lại hậu quả khó khắc phục sau này, nhất là các hệ quả an ninh trên bối cảnh của công cuộc vừa xây dựng vừa bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh.

    Trong khi vạch chiến lược “kinh tế số hoá” và “thương mại điện tử”, cũng như lập chương trình hành động và các phương án tham gia thương mại điện tử, Hội đồng quốc gia và Uỷ ban quốc gia về thương mại điện tử sẽ tham khảo chiến lược và chương trình đã có của các nước, đặc biệt là các nước có trình độ phát triển gần với Việt nam, và tính tới các đặc thù quốc gia để có cách đi và bước đi thích hợp.

    Trong khi thực hiện các bước mang tính cơ bản ấy, vẫn có thể cần nhanh chóng triển khai các công việc có thể tiến hành như: Phổ cập kiến thức, đào tạo, thử nghiệm v..v.., và có quan điểm nhất quán trong việc tham gia vào các hoạt động liên quan tới thương mại điện tử trong khuôn khổ ASEAN, Cộng đồng Pháp ngữ, APEC, WTO….

    Khoá luận tốt nghiệp

    CHƯƠNG III

    HỆ THỐNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

    I.                   QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CHIẾN LƯỢC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ.

    1.     Quan điểm phát triển thương mại điện tử tại Việt nam trong điều kiện hội nhập.

    Như chúng ta đã biết, thế giới đang trải qua một thời kỳ chuyển đổi mạnh mẽ mà theo cách gọi của nhiều nhà kinh tế, nghiên cứu trong nước và quốc tế thì đó là thời kỳ quá độ của một nền “kinh tế cũ” (nền kinh tế vật chất – physical economy) thành một nền “kinh tế mới “ (nền kinh tế tri thức, kinh tế thông tin). Trong nền kinh tế đó, thương mại điện tử đóng vai trò là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng. Sự phát triển đi lên một nền kinh tế tri thức là một đòi hỏi tất yếu của một nền kinh tế nào nếu không muốn bị tụt hậu xa so với các quốc gia khác trên thế giới. Trên thực tế, tất cả các quốc gia áp dụng thương mại điện tử đều được hưởng lợi từ quá trình đó. Nhận thức rõ điều này, tại Hội nghị BCH TW Đảng lần X khoá 8 đã khẳng định Việt nam cần “phải đón đầu xu hướng của nền kinh tế mới – nền kinh tế tri thức”.

    Trong năm 2000, Chính phủ cũng đã chỉ đạo các Bộ, ngành có liên quan đến thương mại điện tử (như Bộ thương mại, Bộ KHCN&MT, Viện CNTT…) thực hiện một chương trình nghiên cứu hoàn thiện về thương mại điện tử và điều này khẳng định quan điểm ủng hộ của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đối với thương

    Khoá luận tốt nghiệp

    mại điện tử và coi đây như là một điều kiện cần thiết để nền kinh tế Việt nam có thể đẩy mạnh tăng trưởng nền kinh tế, đạt mục tiêu đề ra từ nay đến 2020.

    Gần đây, Bộ thương mại vừa trình lên Chính phủ bản đề án phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2001-2005. Đây có thể coi là bước đi quan trọng trong việc xây dựng thương mại điện tử ở Việt nam theo tinh thần Chỉ thị 58/CT/TƯ của Bộ chính trị và Hiệp định khung ASEAN về thương mại điện tử.

    Thương mại điện tử chỉ có thể phát triển khi và chỉ khi các yếu tố nền tảng thiết yếu như hạ tẩng CNTT, hạ tầng pháp lý, hạ tầng tính toán …phát triển. Do đó việc hoàn thiện các cơ sở hạ tầng này là điều kiện tiên quyết cho thương mại điện tử. Theo tiến sỹ Chu Hảo, thứ trưởng Bộ KHCN&MT, Việt nam cần mở của đón làn sóng kinh tế mới, tận dụng cơ hội “đi tắt, đón đầu”, đi thẳng vào những ngành công nghệ cao của nền kinh tế tri thức. Có như vậy mới có cơ hội mở rộng không gian kinh tế, hiện đại hoá các nghành sản xuất truyền thống, tăng sức cạnh tranh và tạo được thêm nhiều ngành nghề mới. Cũng theo TS Chu Hảo và TS Nguyễn Trọng thì “chúng ta đã nhường bước cho Bangkok trong con đường hàng không, nhường bước Singapore trong con đường hàng hải và đang thua tất cả họ trong con đường Internet, con đường vận tải hàng hoá quan trọng bậc nhất của thế kỷ XXI…Chúng ta phải đầu tư hết sức để mở con đường Internet trong khi không thể xem nhẹ các con đường tự nhiên là đường bộ, đường không, đường thuỷ. Tìm mợi cách thu hút hàng hoá cuồn cuộn chảy trên những con đường đó cả trên những con đường physical lẫn những con đường electronic” (Trích báo cáo tại hội thảo tuần lễ CNTT lần 5 tại TP.HCM).

    Phát triển thương mại điện tử trong điều kiện Việt nam hiện nay sẽ tập trung vào ngoại thương điện tử, thông qua thương mại điện tử nâng cao ưu thế cạnh tranh của hàng hoá Việt nam trên trường quốc tế.

    Quá trình phát triển thương mại là một quá trình lâu dài trong thời kỳ nền kinh tế nước ta quá độ lên nền kinh tế mới, do đó cần tránh sự quá nóng vội trong phát triển thương mại điện tử dẫn đến ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Phát triển thương mại điện tử không đơn thuần chỉ là việc dùng phương tiện điện tử truyền thông để thực hiện các hành vi buôn bán truyền thông mà nên hiểu rằng khi chấp nhận và áp dụng thương mại điện tử thì toàn bộ hình thái hoạt động của một đất nước sẽ thay đổi, cả hệ thống giáo dục, cả tập quán làm việc và sinh hoạt hàng ngày cũng sẽ thay đổi theo. Do đó cần phải nghiên cứu toàn diện mọi khía cạnh của thương mại điện tử (mặt phải và mặt trái của thương mại điện tử) để có những chính sách phù hợp nhất.

    Phát triển thương mại điện tử phải dựa trên phát huy tối đa lợi thế so sánh từng vùng, từng địa phương nhằm mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá ra thị trường thế giới.

    Phát triển thương mại điện tử phải gắn liền với quá trình tự do hoá thương mại – toàn cầu hoá trên phạm vi quốc tế ngày càng được đẩy mạnh. Nền kinh tế Việt nam không nằm ngoài xu thế này, do đó Việt nam cần tranh thủ vận dụng xu thế này để phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế của mình. Các doanh nghiệp cũng cần có chiến lược cụ thể, toàn diện để có thể tận dụng, phát huy lợi ích của thương mại điện tử.

    2. Chủ trương.

    Thực hiện quan điểm trên, Nhà nước chủ trương:

    • Ứng dụng và phát triển thương mại điện tử là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt, đón đầu, rút ngắn khoảng cách về kỹ thuật số với các nước.
    • Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội…. đều phải ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển.
    • Mạng thông tin quốc gia và Chính phủ điện tử là kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội quan trọng, phải tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin và thương mại điện tử là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển hình thức thương mại điện tử.
    • Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là công nghiệp phần mềm.

    3.                 Mục tiêu.

    Đến năm 2010, thương mại điện tử Việt nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực với một số mục tiêu cơ bản sau đây:

    • Thương mại điện tử được úng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
    • Phát triển mạng thông tin quốc gia phủ trên cả nước, với lượng thông tin lớn, tốc độ và chất lượng cao, giá rẻ, tỷ lệ người sử dụng Internet đạt mức trung bình trên thế giới. Công nghiệp công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ và chất lượng cao nhất so với khu vực khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng.
    • Hoàn thành việc xây dựng Chính phủ điện tử (e-Government) tạo điều kiện nhanh chóng và thuận lợi cho các giao dịch hành chính.
    • Phấn đấu trong thời gian đến năm 2020, việc phát triển thương mại điện tử sẽ nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, phát huy tối đa lợi thế so sánh của Việt nam, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô đã đề ra, góp phần hoàn thành quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt nam vào năm 2020.

    II.               HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP.

     

    Nền kinh tế Việt nam đang đứng trước thử thách rất lớn là cần thiết phải phát triển mạnh mẽ hơn hoạt động của thương mại điện tử, vì chỉ có như vậy mới

    Khoá luận tốt nghiệp

    có thể giúp các doanh nghiệp Việt nam (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ) trụ vững trong xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại. Song để làm được điều này nó đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của Đảng, Nhà nước và Chính phủ và cả bản thân các doanh nghiệp trong việc bỏ rào cản đặt ra trên con đường vào thương mại Việt nam, tham gia làm “thương mại điện tử ” toàn cầu. Trên cơ sở những phân tích giải pháp để phát triển thương mại điện tử từ nay đến năm 2020 khi mà nền kinh tế Việt nam hoàn thành quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước. Hệ thống giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt nam cần được thực hiện theo các bước sau:

    Chuẩn bị: Gồm hàng loạt các hoạt động từ việc nâng cao nhận thức, kiến thức tiếp đó xác định mức độ sẵn sàng đối với thương mại điện tử để biết những yếu tố cần phải thay đổi hoặc cải thiện nhằm đảm bảo thích ứng trên mọi bình diện. Các khía cạnh pháp lý, công nghệ và giáo dục phải đi trước một bước, tạo môi trường kinh doanh “mềm” cho thương mại điện tử phát triển. Quá trình này sẽ kéo dài cho đến khi xuất hiện cơ sở hạ tầng cần thiết. Đây chính là giai đoạn mà Việt nam đang bắt đầu tiến hành.

    Chấp nhận: Là thừa nhận về mặt pháp lý đối với thương mại điện tử sau khi đã thích ứng các yếu tố của nó vào hệ thống nội luật và đã tạo dựng được một môi trường thuận lợi cho thương mại điện tử.

    Ứng dụng: Từng bước ứng dụng thương mại điện tử vào mọi lĩnh vực hoạt động, từ từng phần tới toàn diện.

    Qua những giải pháp trên ta thấy trách nhiệm của Nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử ở nước ta là vô cùng to lớn và cũng đầy khó khăn. Việt nam chúng ta còn là một nước chậm phát triển với những điều kiện về vốn, cơ sở hạ tầng kinh tế, trình độ nguồn nhân lực – những điều kiện tiên quyết cho việc phát triển nền kinh tế số hoá – còn nhiều hạn chế. Tiềm lực của chúng ta không cho phép xây dựng ngay một hệ thống thương mại điện tử trong khi nền tảng của nó còn chưa vững chắc, điều này đòi hỏi chúng ta phải có một

    Khoá luận tốt nghiệp

    cách tiếp cận cân bằng (balanced approach): xây dựng thương mại điện tử song song với việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, hệ thống tài chính ngân hàng, hệ thống thể chế chính sách và năng lực quản lý của Nhà nước. Trong đó cần chú trọng đến các yếu tố “mềm” trong hệ thống các yếu tố để cho thương mại điện tử phát triển như chính sách của Nhà nước, hệ thống pháp lý, nguồn nhân lực.

    Với nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của thương mại điện tử và với những biện pháp hữu hiệu từ phía Nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển của hình thức này, hy vọng trong một tương lai không xa, thương mại điện tử sẽ giúp Việt nam nhanh chóng đón đầu và bắt kịp với trình độ phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới.

    1.                 Các giải pháp vĩ mô ở tầm quốc gia

     

    • Nhà nước cần đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông để đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của thương mại điện tử.

     

    • Về công nghệ: đòi hỏi đầu tư cơ bản lớn và được xây dựng trên cơ sở một nền sản xuất công nghiệp hoá đã phát triển. Trong những năm trước mắt, bên cạnh việc nhập khẩu thiết bị để bổ sung, cần tận dụng khả năng hợp tác liên doanh và chuyển giao công nghệ để phát triển một số cơ sở sản xuất, lắp ráp thiết bị tin học theo những phương án được tính toán là có lợi nhuận, đồng thời phát triển các cơ sở thiết kế, chế tạo các thiết bị truyền thông và thiết bị tin học chuyên dụng đáp ứng nhu cầu trong nước, đặc biệt đối với các nhu cầu tự động hoá và hiện đại hoá truyền thông dữ liệu.

    Tuy nhiên, hạ tầng cơ sở công nghiệp không chỉ là có tính hiện hữu (availability) mà còn hàm nghĩa có tính kinh tế sử dụng (affordability), nghĩa là chi phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin và chi phí dịch vụ truyền thông phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được.

    Để làm được điều này, Việt nam cần phải xây dựng cho mình một nền công nghiệp điện năng vững chắc, đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định và có

    mức giá hợp lý. Theo đó cần sớm xây dựng được nhà máy điện nguyên tử để -61-

    Khoá luận tốt nghiệp

    phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của công nghệ thông tin, Internet, thương mại điện tử.

    • Về viễn thông: Theo ông Dave Perks, giám đốc kỹ thuật Intel Châu Á-TBD thì một trong những trở ngại lớn nhất để Việt nam tham gia vào Internet là đường truyền hạn chế và giá cước truyền thông thì vào loại cao nhất thế giới.

    Do đó Chính phủ cần đẩy mạnh việc hiện đại hoá hệ thống truyền thông, áp dụng công nghệ thông tin và gia tăng tốc độ đường truyền đặc biệt sớm triển khai công nghệ ADSL (Asymmetric Digital Subcribers Lines) và nâng cao công suất của băng thông.

    Nhanh chóng giảm giá cước viễn thông và cước truy cập Internet để thương mại điện tử có thể tiếp cận với tất cả mọi người.

    • Nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực cho thương mại điện tử.

     

    • Về việc nâng cao nhận thức: Theo báo cáo gần đây của Liên hợp quốc, vấn đề chính gây trở ngại cho tiến trình phát triển thương mại điện tử tại các nước đang phát triển lại nằm ở vấn đề nhận thức của các doanh nghiệp và người dân. Hầu hết các doanh nghiệp và dân chúng tại các nước này chưa hiểu hết tầm quan trọng và những lợi ích mà thương mại điện tử đem lại.

    Theo khảo sát của Hội tin học Việt nam, hiện có tới 90% trong số 70.000 doanh nghiệp và trên 1,4 triệu hộ kinh doanh cá thể ở nước ta vẫn thờ ơ với thương mại điện tử và coi thương mại điện tử là “chuyện của người ta”.

    Do đó, vấn đề rất quan trọng đặt ra cho Chính phủ Việt nam là phải nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp và nhân dân về thương mại điện tử thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, các buổi hội thảo, chuyên đề….Dùng

    nhiều hình thức phổ biến kiến thức cho mọi tầng lớp, nhất là đội ngũ doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ) hiểu sâu hơn về thương mại điện tử cũng như cách thức ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Các lực lượng đặc nhiệm thương mại điện tử thuộc hội đồng quốc gia về

    Khoá luận tốt nghiệp

    thương mại điện tử cần đẩy mạnh hoạt động tư vấn, hướng dẫn các doanh nghiệp lên mạng, giúp doanh nghiệp giải quyết mọi khó khăn vướng mắc về thương mại điện tử.

    • Xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thương mại điện tử: Để xây dựng một nguồn nhân lực đủ khả năng tham gia có hiệu quả vào thương mại điện tử, chúng ta cần xây dựng một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển để phục vụ cho kinh tế số hoá, song song với việc phát triển một bộ phận đông đảo dân cư quen thuộc và thành thạo các thao tác trên mạng và biết sử dụng tiếng Anh. Các loại chuyên viên cần có ở nước ta trong những năm tới gồm: chuyên viên phân tích và thiết kế hệ thống, lập trình, giáo viên và nghiên cứu viên về công nghệ thông tin, chuyên gia biên soạn tài liệu, kỹ sư lắp đặt, bảo trì, sửa chữa các thiết bị máy tính, kỹ sư hệ thống để cài đặt và bảo dưỡng các hệ thống phần mềm, kỹ sư mạng máy tính và truyền thông, chuyên viên phân tích hệ thống đối với các hệ thống tin học, chuyên viên quản trị các dự án tin học.

    Bên cạnh đó khuyến khích mở các trường, lớp đào tạo người sử dụng máy tính với các chương trình có tính chất thực hành ngắn hạn thuộc các trình độ khác nhau, nhằm mục đích trang bị khả năng sử dụng máy tính – một công cụ lao động cho một bộ phận lao động ngày càng đông đảo. Nhà nước hỗ trợ Hội tin học và các tổ chức tin học khác trong việc phát triển các chương trình phổ biến kiến thức về công nghệ thông tin bằng các hình thức báo chí, phát thanh, truyền hình….

    • Nhà nước cần sớm xây dựng hạ tầng thanh toán điện tử (đẩy nhanh áp dụng các phương tiện thanh toán hiện đại vào hoạt động ngân hàng như: thẻ thông minh (smart card), chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng…)

    Như đã phân tích hạ tầng thanh toán rất quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại điện tử phát triển, nó thể hiện sự liên kết quan trọng giữa thương mại điện tử và nền tảng tài chính của nền kinh tế quốc gia mà theo khảo sát phần lớn các doanh nghiệp đều cho rằng việc thu phương tiện thanh toán qua mạng là một

    Khoá luận tốt nghiệp

    trong những trở ngại của thương mại điện tử ở Việt nam. Phương tiện thanh toán điện tử phải mang đặc tính dễ sử dụng và phải an toàn bởi trên thực tế theo báo cáo của Gartner Group thì lượng thẻ thanh toán bị làm giả lớn gấp nhiều lần so với thẻ thanh toán truyền thống. Chi phí làm thẻ thanh toán qua mạng do đó tăng hơn 67%. Do vậy khi nghiên cứu áp dụng phương tiện thanh toán điện tử, chúng ta cần đảm bảo được tính dễ sử dụng, an toàn, đồng thời chi phí cũng phải phù hợp với đặc điểm của các doanh nghiệp.

    Để tạo khung pháp lý cho thanh toán điện tử, Ngân hàng trung ương cần sớm đưa ra các văn bản pháp lý liên quan tới hoạt động này.

    • Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản pháp lý hỗ trợ cho thương mại điện tử được thực sự phát triển ở Việt nam.

    Hiện nay ở Việt nam đã có trên 150.000 thuê bao Internet, chủ yếu là các doanh nghiệp, mở ra cơ hội đáng kể cho các doanh nghiệp này khai thác ưu thế của thương mại điện tử. Song trên thực tế, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thương mại điện tử thì các doanh nghiệp Việt nam mới ở giai đoạn I của quá trình phát triển thương mại điện tử, nghĩa là các doanh nghiệp mới chỉ thực hiện các hoạt động quảng cáo, tìm kiếm thông tin, đối tác trên mạng, song vẫn chưa thể thực hiện được các giao dịch qua mạng. Điều này đã làm cản trở việc phát triển thương mại nhất là hoạt động ngoại thương.

    Do đó, Nhà nước, thông qua Hội đồng quốc gia thương mại điện tử sớm ban hành các văn bản pháp lý, theo đó cần xác định việc áp dụng Internet/thương mại điện tử là một cơ hội chứ không phải là một hiểm hoạ cho sự phát triển kinh tế đất nước. Cần xác định sự cần thiết phải phát triển thương mại điện tử ở Việt nam như là một công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt nam. Đồng thời theo khuyến cáo của Hội đồng các chuyên gia về thương mại điện tử (thuộc UNCTAD) trong quá trình nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp lý cho thương mại điện tử cần chú ý sử dụng hệ thống mô hình luật cho thương mại điện tử của UNCITRAL cũng như hệ thống các văn bản pháp lý khác liên quan đến

    Khoá luận tốt nghiệp

    thương mại điện tử của UNCITRAL như là cơ sở cho sự hoàn thiện hệ thống luật Việt nam.

    Về cơ bản nội dung của văn bản pháp lý cần phải:

    • Thừa nhận tính pháp lý của các giao dịch thương mại điện tử (thông qua mạng Internet).
    • Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (electronic signature-chữ ký dưới dạng đặt vào một thông điệp dữ liệu (data message) và chữ ký số hoá (digital signature – tức là biện pháp biến đổi nội dung thông điệp dữ liệu, khi dùng mã khoá để giải mã mới thu được nội dung thật của thông điệp dữ liệu).
    • Bảo vệ pháp lý các Hợp đồng thương mại điện tử.
    • Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả việc pháp chế hoá các cơ quan phát hành các thể thanh toán).
    • Bộ tài chính cần có các văn bản pháp lý qui định những vấn đề liên quan tới tài chính và thuế trong hoạt động thương mại điện tử.
    • Quy định pháp lý đối với các dữ liệu xuất xứ từ nhà nước (các cơ quan Chính phủ và Trung ương), chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước (trong đó có vấn đề phải giải quyết như: Nhà nước có phải là chủ nhân các thông tin có quyền được công khai hoá và các thông tin phải giữ bí mật hay không? Người dân có quyên đòi công khai hoá các số liệu của chính quyền hay không? Khi công khai hoá thì việc phổ biến các dữ liệu đó có được xem là một nguồn thu cho ngân sách hay không? …v..v..)
    • Bảo vệ pháp lý đối với sở hữu trí tuệ (bao gồm cả bản quyền tác giả) liên quan đến mọi hình thức giao dịch điện tử.
    • Bảo vệ bí mật riêng tư một cách thích đáng (để ngăn cản các bí mật đời tư bị đưa lên mạng một cách phi pháp, không chỉ tên tuổi, dung mạo mà còn cả bí mật khác liên quan đến sức khoẻ, tôn giáo, quan điểm chính trị, giới tính, tình dục…).

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập với các mục đích bất hợp pháp như thu thập tin tức mật, thay đổi các thông tin trên các trang Web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền virus phá hoại….; Tới nay từng nước đã có thể có luật về các tội này, vấn đề là sẽ phải đưa vào bộ luật hình sự, một khi kinh tế số hoá được thừa nhận trên tầm quốc gia. Mọi cố gắng xây dựng hệ thống thương mại điện tử sẽ trở nên vô nghĩa, thậm chí còn tác động xấu tới nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng nếu các thông tin không được bảo mật. Bên cạnh đó ngày càng có nhiều nước áp dụng các luật ngăn cản không cho dữ liệu được truyền gửi tới các nước không có phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin, nhằm trách rò rỉ (nhất là các thông tin liên quan đến an ninh quốc gia, vũ khí giết người hàng loạt…). Vì vậy, nếu không có các phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin thì một nước rất có thể bị cách ly khỏi hoạt động thương mại điện tử quốc tế.

    Tất cả các việc trên chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở mỗi quốc gia trước hết phải thiết lập một hệ thống “mã nguồn” cho tất cả các thông tin số hoá: bắt đầu từ chữ cái của ngôn ngữ nước đó trở đi: tiếp đó Nhà nước sẽ phải định hình một chiến lược chung về hình thành và phát triển một nền kinh tế số hoá, tiếp đó đến các chính sách, đạo luật, và các quy định cụ thể tương ứng, được phản ánh trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống nội luật.

    Về văn hoá xã hội nổi lên vấn đề là phải có những quy định luật pháp cụ thể trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ người tiêu dùng. Đồng thời cũng cần có những biện pháp quản lý, ngăn chặn những luồng thông tin xấu từ bên ngoài làm hư hỏng một bộ phận nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên quản lý không phải là việc đưa ra các cấm đoán một cách cực đoan, như vậy vừa bị động, vừa không có hiệu quả. Trong lĩnh vực truyền thông, cốt tử là nâng cao dân trí rồi từ đó người dân sẽ tự trau dồi khả năng chọn lọc và tiếp nhận những giá trị văn hoá, đồng thời họ sẽ tự rèn luyện khả năng đề kháng trước những cái xấu, cái dở.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Xúc tiến nhanh việc thành lập Hội đồng quốc gia (HĐQG) về thương mại điện tử.

    Hội đồng này sẽ chịu trách nhiệm trước Chính phủ và nó có nhiệm vụ nghiên cứu, phổ biến các hoạt động thương mại điện tử trên phạm vi cả nước, đồng thời tích cực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại điện tử. Hội đồng cũng có nhiệm vụ hỗ trợ cho các dự án xây dựng các siêu thị, xa lộ thông tin, các tiêu chuẩn cho các sản phẩm, vấn đề bảo mật an toàn, công nghệ thẻ thông minh (smart card), các trung tâm xác thực và chứng nhận chữ ký điện tử và chữ ký số hoá. Việc thành lập một Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử giúp đẩy nhanh quá trình đưa hoạt động thương mại điện tử vào thực tiễn ở Việt nam, tránh được các tình trạng chồng chéo, phức tạp của các Ban thương mại điện tử thuộc các Bộ, các cơ quan liên quan, quy hoạt động thương mại điện tử về một mối. Thực tế cho thấy thời gian qua mặc dù Chính phủ đã thành lập dự án quốc gia về “kinh tế thương mại điện tử”. Song việc dự án được chia nhỏ cho các Bộ, ngành thành các điểm dự án và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan này đã làm cản trở tiến độ của dự án. Theo kế hoạch dự án sẽ kết thúc vào giữa năm 2000, song thực tế đến tháng 8/2000 dự án vẫn còn đang thực hiện, do đó Chính phủ cần phải thống nhất quản lý và nghiên cứu thương mại điện tử.

    Cơ cấu của Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử gồm đại diện các Bộ, ngành và giới có liên quan là một tổ chức cần có để hội tụ những kiến thức, những quan điểm và sự nhìn nhận toàn diện về nhiều góc cạnh. Hội đồng quốc gia cần có quyền huy động nhân lực của một số Bộ ngành cho hoạt động của mình, có chức năng và quyền hạn ra quyết định chỉ đạo và xử lý giải quyết các vấn đề liên quan đến thương mại điện tử ở cấp quốc gia.

    Cách thức hoạt động của Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử bằng công cụ Internet trên cơ sở kết nối với các bên có liên quan, Hội đồng quốc gia cần đi tiên phong trong việc ứng dụng Internet vào hoạt động của mình. Hội đồng quốc gia cần thành lập ra lực lượng đặc nhiệm thương mại điện tử (E-Commerce

    Khoá luận tốt nghiệp

    Taskforce) đặt chi nhánh tại các nơi trọng điểm trong cả nước có nhiệm vụ khảo sát, nghiên cứu và tư vấn cho doanh nghiệp, cơ quan, dân chúng về các vấn đề liên quan tới thương mại điện tử. Lực lượng đặc nhiệm thương mại điện tử được nối mạng trực tiếp với Hội đồng quốc gia để kịp thời thông tin cho nhau để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Hội đồng quốc gia.

    – Đẩy mạnh sự phát triển của nghành công nghiệp phần mềm

    Công nghiệp phần mềm như đã phân tích đóng một đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Theo báo cáo mới đây của Viện nghiên cứu chiến lược của Bộ KH&ĐT thì sản phẩm phần mềm được xếp váo nhóm Việt nam có khả năng cạnh tranh cao nếu như được Nhà nước hỗ trợ, đầu tư phát triển thích đáng và giúp phát huy tối đa lợi thế so sánh của Việt nam là nguồn nhân lực dồi dào và có trình độ tương đối cao so với nhiều quốc gia đang phát triển (Tạp chí Thương mại, 2/2000). Do đó đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng chiến lược hỗ trợ đầu tư thực sự để xây dựng công nghiệp phần mềm thông qua tạo lập môi trường thuận lợi, trước hết là chính sách và các biện pháp hỗ trợ, bảo hộ, đầu tư tiền của, trí tuệ, sức lực vào ba lĩnh vực chiến lược chính: xây dựng hoàn thiện môi trường thuận lợi cho công nghiệp phần mềm Việt nam phát triển (môi trường pháp lý, tạo điều kiện ưu đãi, cơ sở hạ tầng…), phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp phần mềm, liên kết chặt chẽ các công ty nước ngoài (thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, chuyển giao kỹ năng và đào tạo), hỗ trợ các công ty trong nước phát triển mạnh hơn.

    • Trong quá trình phát triển thương mại điện tử, Nhà nước cần chú trọng hỗ trợ ưu tiên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề truyền thống.

    Thương mại điện tử thực tế đã mở ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp lớn. Do đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tiếp cận với hoạt động thương mại điện tử.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nhà nước cần chú ý tới việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn lên mạng. Ở đây Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử cần thành lập một nhóm đặc nhiệm thương mại điện tử về hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn kết nối và tham gia vào mạng Internet. Để thực hiện dự án này, Nhà nước cần kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, vốn ODA, vốn ngân sách….Trong quá

    trình thực hiện cần tranh thủ sự giúp đỡ của của các doanh nghiệp của làng nghề truyền thống được lên mạng và thực hiện kinh doanh qua mạng. Đây là những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh rất lớn (do tính chất độc đáo của sản phẩm) nếu như được mở rộng kinh doanh thông qua thương mại điện tử (theo kinh nghiệm của một số quốc gia như Campuchia, Ấn độ cho thấy) tính hiệu quả rất lớn khi đưa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm truyền thống lên mạng.

    • Nhà nước cần đi tiên phong trong hoạt động thúc đẩy thương mại điện tử thông qua việc ứng dụng các nguyên tắc hoạt động thương mại điện tử vào quản lý bộ máy Chính phủ và vào các hoạt động mua sắm của Chính phủ cũng như trong hoạt động cung cấp dịch vụ công cộng, bước đầu xây dựng Chính phủ điện tử (E-Government).

    Kinh nghiệm ở các quốc gia công nghiệp mới (Singapore, Hàn quốc) và các quốc gia phát triển (Ấn độ) cho thấy Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc xúc tiến thương mại điện tử bởi sự tham gia trực tiếp của Chính phủ vào hoạt động này. Ở đây, Chính phủ đóng vai trò là chất xúc tác cho sự mở rộng ứng dụng thương mại điện tử vào khu vực doanh nghiệp tư nhân. Singapore là một trường hợp điển hình. Chính phủ quốc gia này đã khuyến khích hoạt động thương mại điện tử thông qua phát triển hệ thống mua sắm của Chính phủ qua mạng Internet. Do đó, ở Việt nam trong thời gian tới Chính phủ cần khẳng định “niềm tin’ cho các doanh nghiệp bằng việc tích cực hơn nữa trong việc tham gia vào các hoạt động mua sắm điện tử (e-procuroment) đồng thời phát triển dịch vụ công cộng qua mạng (như trong ngành hải quan, thuế vụ, điện lực…)

    Khoá luận tốt nghiệp

    Đồng thời, để thực hiện cam kết trong hiệp định khung ASEAN về Chính phủ điện tử, Nhà nước cần từng bước xây dựng một Chính phủ điện tử. Việc xây dựng Chính phủ điện tử là xu hướng phát triển tất yếu của mọi quốc gia trong tương lai. Trên thế giới và trong khu vực, Chính phủ các nước đã và đang thực hiện kế hoạch này. Malaysia, Thái Lan, Indonesia,….đều đã đưa ra chiến lược

    phát triển công nghệ thông tin, trong đó có việc thành lập Chính phủ điện tử. Đặc biệt là Singapore đầu tư 1,4 tỷ đô la trong năm 2002 để thực hiện kế hoạch này.

    Có rất nhiều lý do để đưa các hoạt động của Chính phủ lên mạng, trong đó trước hết là vấn đề hiệu quả. Khái niệm hiệu quả có nghĩa là tiết kiệm đáng kể các chi phí từ việc mua sắm tới việc quản trị nhân lực và giúp các doanh nghiệp tiếp xúc dễ dàng hơn với Chính phủ. Không chỉ tiết kiệm được các nguồn lực mà chất lượng các dịch vụ do Chính phủ cung cấp cũng được cải thiện đáng kể. Việc phê duyệt các vấn đề cần thiết cũng sẽ trở nên nhanh chóng hơn, tạo môi trường hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Ngoài ra, việc xây dựng thành công Chính phủ điện tử cũng sẽ là một ví dụ điển hình cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp nhận khái niệm thương mại điện tử, qua đó mà gia tăng hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế.

    Việc xây dựng Chính phủ điện tử cần có sự phối hợp tốt giữa các Bộ, ngành, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức và các doanh nghiệp trên cả nước.

    Theo ý kiến ông David Barns, phó chủ tịch chương trình Chính phủ thương mại điện tử của IBM khu vực Châu Á- TBD, để giảm nhiều rủi ro, việc xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt nam cần có những bước đi thận trọng và sử dụng phương pháp có thể đánh giá được. Cần bắt đầu từ những mô hình đơn giản nhất, thực hiện những bước cơ sở trước và khi thành công rồi mới thực hiện các bước tiếp theo.

    Khi xây dựng Chính phủ điện tử có 3 điểm cần lưu ý:

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Những công nghệ áp dụng để xây dựng Chính phủ điện tử không cần quá phức tạp nhưng phải đáng tin cậy và nhanh.
    • Khi phần đông dân chúng vẫn chưa thể tiếp cận Internet dễ dàng thì những công cụ truyền thống như điện thoại và tiếp xúc trực tiếp vẫn đóng vai trò quan trọng.
    • Dân chúng và các doanh nghiệp phải nhận thức được sự tồn tại của các dịch vụ chính phủ điện tử và thế mạnh của những dịch vụ đó.
    • Nhà nước cần tích cực đẩy mạnh tham gia hợp tác quốc tế xây dựng các chiến lược, dự án phát triển thương mại điện tử ở các cấp độ khu vực (ASEAN, APEC), thế giới (UNCTAD, ICC, WIFPO, UNDP…), đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ của quốc tế đối với sự phát triển thương mại điện tử ở Việt nam, nhất là ở khu vực nông thôn và làng nghề thủ công truyền thống. Ở cấp độ khu vực, Việt nam đã đạt được các thoả thuận về các nguyên tắc chỉ đạo chung (trong ASEAN), Hiệp định khung ASEAN về thương mại điện tử và Chương trình hành động (trong APEC) về thương mại điện tử. Việc tham gia vào các tổ chức, khu vực trong hoạt động phát triển, ứng dụng thương mại điện tử tạo cho Việt nam cơ sở vững chắc hơn để phát triển có hiệu quả thương mại điện tử từ việc có được sự hỗ trợ của các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới, nhất là những nước đã có kinh nghiệm trong việc áp dụng thương mại điện tử.

    Ngoài ra Việt nam cần đẩy mạnh và phát triển hệ thống Trade – Point (Tâm điểm mậu dịch) ở Việt nam. Hỗ trợ và giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào hệ thống này. Từ đó sẽ tạo ra nền tảng cho Việt nam tham gia sâu và hiệu quả vào hệ thống thương mại điện tử toàn cầu. Như chúng ta đã biết thì Trade-Point là một chương trình được khởi xướng bởi Tổ chức Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD). Theo đó, Trade-Point có chức năng là đưa dẫn các công ty XNK tham gia vào mạng điện tử toàn cầu hay nói đúng hơn góp phần xúc tiến thương mại điện tử toàn cầu. Lợi ích của việc tham gia Trade-Point là rất to lớn. Qua điều tra của UNCTAD thì ở một số nơi

    Khoá luận tốt nghiệp

    các Trade-Point đã và đang phát huy tác dụng giúp các doanh nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít, trang bị công nghệ thông tin thiếu và yếu) tiếp thị trên mạng, giao dịch sơ bộ với bạn hàng, cung cấp thông tin thị trường. Với việc phần lớn các doanh nghiệp Việt nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã kết nối vào mạng Internet và nhiều doanh nghiệp đã và đang xây dựng Website trên mạng sẽ tạo thuận lợi lớn cho Việt nam tham gia vào mạng Trade-Point toàn cầu, nâng cao được sức cạnh tranh và phát huy cao độ lợi thế so sánh doanh nghiệp.

    • Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn, công nghệ cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh trên mạng cũng như hỗ trợ cho mọi người dân được tham gia vào mạng Internet.

    Theo đó, Nhà nước cần hình thành một kênh vốn riêng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau trên cơ sở cân đối các nguồn vốn trong và ngoài nước, đặc biệt cần tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế trong việc phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Trong đó Nhà nước cần đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận sâu hơn với Internet thông qua việc giảm chi phí truy cập Internet (phần giảm chi phí được bù đắp bằng nguồn vốn mà Nhà nước huy động để phục vụ cho phát triển thương mại điện tử). Ngoài ra các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa…đều được ưu tiên hỗ trợ trong việc kết nối vào mạng Internet để có thể nhanh chóng tiếp cận và ứng dụng thương mại điện tử góp phần đưa các vùng này phát triển. Trước mắt nhà nước cần tập trung vào hỗ trợ khu vực kinh tế trang trại (đây là khu vực kinh tế sẽ tạo động lực chủ yếu cho phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá) tiếp cận với Internet đồng thời từng bước ứng dụng thương mại điện tử.

    2.                 Các giải pháp vi mô ở cấp độ doanh nghiệp.

     

    • Nâng cao nhận thức và trau dồi trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ quản trị và các nhân viên trong công ty.

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    Ban giám đốc các công ty cần nhận thức một cách toàn diện và đầy đủ về thương mại điện tử. Hiểu hết những lợi ích mà thương mại điện tử mang lại để tận dụng và khai thác, đồng thời hạn chế và giảm thiểu những tác động tiêu cực mà nó có thể mang lại. Sau đó phải truyền lại cho toàn thể nhân viên công ty hiểu và thấm nhuần thương mại điện tử là yêu cầu tất yếu để có thể nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể trụ vững và vươn lên trong thời gian tới, nhất là khi Việt nam bắt đầu tham gia vào lộ trình giảm thuế AFTA và sau đó là việc gia nhập WTO. Những doanh nghiệp cục bộ, không tiếp cận được với thương mại điện tử như một thứ vũ khí cạnh tranh chắc chắn sẽ không thể tồn tại.

    Doanh nghiệp cũng phải thường xuyên đào tạo và cho nhân viên tham dự các khoá học về tin học và ngoại ngữ. Việc đào tạo có thể dưới hình thức cấp kinh phí cho nhân viên đi học hoặc tổ chức những buổi học ngay tại công ty.

    – Tin học hoá hệ thống quản lý thông tin doanh nghiệp

    Xét về lâu dài, để tham gia vào thương mại điện tử điểm cốt lõi là phải xây dựng được cho doanh nghiệp một hệ thống thông tin được tin học hoá. Và cơ sở để đưa ứng dụng từ các mạng Intranet, Extranet và Internet vào các hoạt động giao dịch của mình. Thực tế qua khảo sát của 36 doanh nghiệp nhà nước thực hiện tin học hoá ở TP. HCM cho thấy 81% các công ty cho rằng tin học hoá giúp cho họ giảm chi phí. 67% các công ty tin rằng tin học hoá giúp họ tăng năng suất. 56% cho rằng tin học hoá giúp họ tăng lợi nhuận. 53% cho rằng tin học hoá tạo lợi thế cho khách hàng và tạo nét riêng cho sản phẩm. Điều này cho thấy việc tin học hoá là yếu tố hết sức quan trọng đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo tiền đề để các doanh nghiệp tham gia vững chắc vào hoạt động thương mại điện tử .

    Tuy nhiên cần lưu ý: Việc mua sắm thiết bị tin học để tăng cường cho bộ máy quản lý là điều cần thiết. Nhưng không phải chỉ cần các công cụ tin học cộng với quản lý cũ là lập tức đã mang lại hiệu quả mong muốn. Thực tế cho thấy

    Khoá luận tốt nghiệp

    không ít doanh nghiệp đã không gặt hái được mấy thành công sau khi đã ứng dụng tin học. Quan trọng là phải tuân thủ một số nguyên tắc trong xây dựng hệ thống tin học quản lý. Đó là các nguyên tắc:

    • Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Khi nghiên cứu ứng dụng tin học vào quản lý phải xem xét một cách toàn diện các vấn đề kinh tế, kỹ thuật và tổ chức của guồng máy quản lý. Việc tối ưu hoá một vài bộ phận mà không tính đến mối liên hệ với các phân hệ khác sẽ không mang lại hiệu quả tối ưu cho toàn bộ hệ thống (nguyên lý Nash-Perato).
    • Nguyên tắc tính toán chi phí hiệu quả: điều này rất cần thiết vì đầu tư cho một hệ thống tin học cũng như việc xây dựng và duy trì Website cần một khoản tiền không nhỏ.
    • Nguyên tắc đảm bảo độ tin cậy: Thông tin cần được cập nhật và lưu trữ thường xuyên để đảm bảo khi cần có thể cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác. Bên cạnh đó phải đảm bảo tính bảo mật và độ tin cậy của hệ thống.
    • Nguyên tắc hướng tới tương lai: Hệ thống tin học mà doanh nghiệp xây dựng phải phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và có khả năng đáp ứng những nhu cầu phát sinh trong tương lai.

    Khi tin học hoá, có hai phương pháp: hoặc tin học hoá từng phần (là tiến hành tin học hoá từng chức năng quản lý theo một trình tự nhất định) hoặc tin học hoá đồng bộ (tin học hoá đồng bộ tất cả các chức năng quản lý và xây dựng một hệ thống quản lý thay thế hoàn toàn cho hệ thống quản lý cũ). Phương pháp tin học hoá từng phần thường được nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng vì có ưu điểm dễ dàng thực hiện và vốn đầu tư ban đầu không lớn. Theo tôi, đây là phương pháp phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp Việt nam.

    – Xây dựng chiến lược kinh doanh trên mạng

    Sau khi đã quyết định đưa doanh nghiệp lên mạng, cần thiết phải xây dựng một chiến lược kinh doanh qua mạng. Vì chi phí xây dựng và duy trì một

    Khoá luận tốt nghiệp

    Website là rất tốn kém nên doanh nghiệp cần có một chiến lược kinh doanh phù hợp để hoạt động của mạng thực sự đem lại hiệu quả cao. Bước đầu, để giảm chi phí về Website, các doanh nghiệp cần tích cực tham gia các chương trình xây dựng Website hỗ trợ (của nhà cung cấp dịch vụ Internet như VNN, FPT) hay có thể tham gia vào siêu thị điện tử (cybermall) mà đang được xây dựng ở Việt nam để quảng bá sản phẩm của mình ra thế giới. Đồng thời cần xây dựng quan hệ tốt với đối tác qua Internet, nên tham gia vào các mạng chung của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc của hiệp hội ngành để có thể học hỏi kinh nghiệm, tìm kiếm sự giúp đỡ từ các đối tác. Bởi thực tế chứng minh rằng những doanh nghiệp tham gia vào “cụm” (cluster) các doanh nghiệp thì thường có khả năng sáng tạo hơn, năng động hơn và có lợi thế cạnh tranh cao hơn.

    • Các bước xây dựng chiến lược kinh doanh trên mạng.

     

    • Khi lập chiến lược Internet, doanh nghiệp cần chắc chắn rằng tất cả các quản trị viên cao cấp – tất cả cho tới Tổng giám đốc nếu có thể – là có liên quan. Các quản trị viên giao dự án một cách dễ dàng và đơn giản cho các bộ phận công nghệ thông tin hay bộ phận thị trường là phạm phải sai lầm. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước hết nên đầu tư cho xây dựng máy tính nối mạng Internet, phải cần thiết có ít nhất một cán bộ quản lý thông tin (CIO) có đủ năng lực trình độ làm nhiệm vụ quản lý và điều hành hệ thống thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Việc đầu tiên mà một tổ chức cần cân nhắc cái gì là lợi ích chủ yếu – không phải là về kinh doanh trên mạng, mà cho kinh doanh chung của nó. Công ty có thể theo đuổi sự gia tăng bán hàng của một sản phẩm nào đó, sự nhận biết tên hãng, các quan hệ đầu tư mạnh hơn, các quan hệ cộng đồng, tăng cường dịch vụ khách hàng, giảm giá bán, mở rộng kênh bán hàng sang địa hạt mới hoặc có thể tìm kiếm sự tiết giảm chi phí phân phối các sản phẩm vi vật lý như phần mềm, công việc dịch thuật hoặc soạn thảo.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Cũng rất quan trọng xem xét lại xem liệu Internet có phải đúng là phương tiện cần thiết cho các mục tiêu của doanh nghiệp.

    • Cần xây dựng kế hoạch nguồn lực phục vụ cho kinh doanh trên mạng như: đội ngũ quản trị mạng, đội ngũ bán hàng và tiếp thị trên mạng, nhà cung ứng, quan hệ đối tác (một nhân tố được đánh giá là rất quan trọng trong chiến lược kinh doanh trên mạng và được đánh giá là một thành tố mới (partnering) trong chiến lược Marketing mix. Đồng thời doanh nghiệp cần phải xây dựng kế hoạch duy trì phát triển trang Web.

    Theo Bill Gates, chủ tịch tập đoàn Microsoft, thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới sẽ là thập kỷ của tốc độ. Thời gian không chở đợi một ai. Những doanh nghiệp nào nhanh chân tận dụng những thành tựu mà công nghệ thông tin mang lại sẽ nhanh chóng bứt lên phía trước. Các doanh nghiệp thờ ơ với những thành tựu mà công nghệ thông tin mang lại sẽ bị tụt lại và phải gánh chịu những hậu quả đáng tiếc. Thương mại điện tử ra đời là cơ hội lớn cho Việt nam sau gần 200 năm. Cơ hội đầu tiên đã bị Việt nam bở lỡ vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 khi triều đình nhà Nguyễn từ chối mở cửa đất nước tiếp cận với cuộc cách mạng công nghiệp từ Châu Âu và Nhật Bản. Liệu Việt nam có bỏ lỡ cơ hội lần hai?

    Lời giải đáp cho câu hỏi trên nằm ở thái độ và lòng quyết tâm của Chính phủ và các doanh nghiệp Việt nam.

    Khoá luận tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Đứng trên quan điểm khoa học nghiên cứu, tôi đã cố gắng rút ra những điểm đặc trưng cũng như những quy luật vận động và phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đồng thời cũng phân tích ảnh hưởng của nó tới năng lực cạnh tranh của quốc gia, để từ đó xây dựng một cái nhìn toàn diện, khách quan và sâu sắc hơn về thương mại điện tử.

    Trong khoá luận tốt nghiệp có sử dụng kết quả nghiên cứu của nhiều quốc gia, tổ chức và các công ty trên thế giới về thương mại điện tử và trên cơ sở hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam, tôi rút ra một số kết luận sau:

    1. Thương mại điện tử thực sự đã đem lại những lợi ích to lớn cho toàn xã hội. Không một quốc gia nào phủ nhận tầm quan trọng của thương mại điện tử, các nước ngày càng đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử trong việc phát triển nền kinh tế quốc gia.
    1. Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam là một tất yếu khách quan trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
    2. Để thương mại điện tử phát triển cần phải có sự hỗ trợ, định hướng, giám sát từ phía Nhà nước, Chính phủ trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho các hoạt động thương mại điện tử, đẩy mạnh phát triển hạ tầng thanh toán, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng nhân lực…

    Khoá luận tốt nghiệp

    1. Bản thân các doanh nghiệp trong nước cũng cần phải nhận thức được tầm quan trọng của thương mại điện tử. Tận dụng những cơ hội mà thương mại điện tử đem lại, vượt qua các khó khăn thách thức để có thể đứng vững và vượt lên trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế ngày một gay gắt.
    1. Thương mại điện tử không chỉ tác động đến khía cạnh thương mại mà còn tác động lên toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá…Do đó, Nhà nước và Chính phủ cần thiết phải có một hệ thống chính sách toàn diện để phát huy những mặt tích cực của thương mại điện tử và đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của nó lên nền kinh tế.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÀI TẬP LỚN VẼ KỸ THUẬT 1


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n-s%E1%BB%91-Thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-theo-ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-t%C3%ADch-ph%C3%A2n-s%E1%BB%91-IAE-ITAE-ISE-ITSE-k%E1%BA%BFt-h%E1%BB%A3p-v%E1%BB%9Bi-Dead-%E2%80%93-Beat-kh%C3%A2u-%C4%91i%E1%BB%81u-ch%E1%BB%89nh-t%E1%BB%91c-%C4%91%E1%BB%99-%C4%91%E1%BB%99ng-c%C6%A1-DC-Servo-Harmonic-RHS-17-%E2%80%93-6006.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Lời nói đầu

    Trong những năm gần đây công nghệ thông tin có những bước nhảy vọt, đặc biệt là sự ra đời của máy tính đã tạo cho xã hội một bước phát triển mới, nó ảnh hưởng đến hầu hết các vấn đề của xã hội và trong công nghiệp cũng vậy. Hòa cùng sự phát triển đó, ngày càng nhiều nhà sản xuất đã ứng dụng các họ vi xử lý mạnh vào trong công nghiệp, trong việc điều khiển và xử lý dữ liệu. Những hạn chế của kỹ thuật tương tự như sự trôi thông số, sự làm việc cố định dài hạn, những khó khăn của việc thực hiện chức năng điều khiển phức tạp đã thúc đẩy việc chuyển nhanh công nghệ số. Ngoài ra điều khiển số cho phép tiết kiện linh kiện phần cứng, cho phép tiêu chuẩn hóa. Với cùng một bộ vi xử lý, một cấu trúc phần cứng có thể dùng cho nhiều ứng dụng khác nhau. Tuy nhiên kỹ thuật số cũng có những nhược điểm như xử lý các tín hiệu rời rạc…, đồng thời tín hiệu tương tự có những ưu điểm mà kỹ thuật số không có như tác động nhanh và liên tục. Vì vậy xu hướng điều khiển hiện nay là phối hợp cả điều khiển số và điều khiển tương tự.

    Để nắm vững những kiến thức đã học thì việc nghiên cứu là cần thiết đối với sinh viên. Bài tập lớn Môn “Điều khiển số” đã giúp em biết thêm được rất nhiều về cả kiến thức lẫn kinh nghiệm. Dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Văn Tiến em đã thực hiện xong bài tập “Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006”. Do kiến thức còn hạn chế nên bài tập còn có nhiều sai sót, nên em mong nhận được sự bổ sung của các thầy, cô và các bạn!

     

     

     

    CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỘNG CƠ DC SERVO HARMONIC RHS 32-3018

    1.1. Giới thiệu động cơ servo

    Là động cơ cho phép điều khiển vô cấp tốc độ.

    Điều khiển động cơ DC (DC Motor) là một ứng dụng thuộc dạng cơ bản nhất của điều khiển tự động vì DC Motor là cơ cấu chấp hành (actuator) được dùng nhiều nhất trong các hệ thống tự động (ví dụ robot). DC servo motor là động cơ DC có bộ điều khiển hồi tiếp.

    Mặt khác, động cơ servo được thiết kế cho những hệ thống hồi tiếp vòng kín. Tín hiệu ra của động cơ được nối với một mạch điều khiển. Khi động cơ quay, vận tốc và vị trí sẽ được hồi tiếp về mạch điều khiển này. Nếu có bất kỳ lý do nào ngăn cản chuyển động quay của động cơ, cơ cấu hồi tiếp sẽ nhận thấy tín hiệu ra chưa đạt được vị trí mong muốn. Mạch điều khiển tiếp tục chỉnh sai lệch cho động cơ đạt được điểm chính xác.

    Động cơ servo có nhiều kiểu dáng và kích thước, được sử dụng trong nhiều máy khác nhau, từ máy tiện điều khiển bằng máy tính cho đến các mô hình máy bay, ô tô. Ứng dụng mới nhất cho động cơ servo là dùng trong Robot, cùng loại với các động cơ dùng trong mô hình máy bay và ô tô.

    Cấu tạo động cơ Servo:

    Hình 1.1: Cấu tạo động cơ servo

    1, Động cơ ; 2, Bản mạch

    3, dây dương nguồn ; 4, Dây tín hiệu

    5, Dây âm nguồn ; 6, Điện thế kế

    7, Đầu ra (bánh răng) ; 8, Cơ cấu chấp hành

    9, Vỏ ; 10, Chíp điều khiển

    1.2. Thông số động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Động cơ DC Servo Harmonic là loại động cơ bước nhỏ, được sử dụng trong công nghiệp, khả năng điều khiển chuyển động và momen xoắn với độ chính xác cao. Động cơ có hộp số cho momen xoắn cao, độ cứng xoắn cao và hiệu suất cao. Do đó mà nó được sử dụng trong các robot công nghiệp và tự động hóa.

    Hình 1.2: Đặc tính tải của động cơ

    Thông số kỹ thuật động cơ:

    Thông số Đơn vị Động cơ RHS 17 – 6006
    Công suất đầu ra (sau hộp số) W 65
    Điện áp định mức V 75
    Dòng điện định mức A 1.7
    Mômen định mức TN In-lb 87
    Nm 98
    Tốc độ định mức nN rpm 60
    Mômen hãm liên tục In-lb 100
    Nm 11
    Dòng đỉnh A 43
    Mômen cực đại đầu ra Tm In-lb 300
    Nm 34
    Tốc độ cực đại rpm 80
    Hằng số mômen (KT) In-lb/A 85
    Nm/A 9.6
    Hằng số điện  B.E.M.F ( ảnh hưởng của tốc độ đến sđđ phần ứng )(Kb) v/rpm 1.0
    Mô men quán tính (J) In-bl –sec2 0.79
    Kgm2 0.089
    Hằng số thời gian cơ khí ms 4.7
    Độ dốc đặc tính cơ In-lb/rpm 18
    Nm/rpm 2.1
    Hệ số momen nhớt ( Bf) In-lb/rpm 0.48
    Nm/rpm 5.4*10^-2
    Tỷ số truyền 1:R 1:50
    Tải trọng hướng tâm lb 176
    N 784
    Tải trọng hướng trục lb 176
    N 784
    Công suất động cơ W 100
    Tốc độ định mức động cơ rpm 3000
    Điện trở phần ứng Ω 4.8
    Điện cảm phần ứng mH 2.3
    Dòng thời gian liên tục ms 0.5
    Dòng khởi động A 0.36
    Dòng không tải A 0.7

     

     

     

    CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐIỀU KHIỂN TỐC ĐỘ ĐỘNG CƠ DC SERVO HARMONIC RHS 32-3018

    2.1.     Cấu trúc điều khiển tốc độ động cơ

    Hình 2.1: Cấu trúc điều khiển số tốc độ động cơ phản hồi tốc độ từ Encoder

    2.2.     Xây dựng hệ phương trình tính toán động học động cơ Servo

    DC Servo Harmonic RHS 32-3018 có các tham số chính:

    Rư = 4.8 Ω

    Lư = 2.3 mH

    KT = 9.6 Nm/A

    Ke = 1 V/rpm

    Bf = 5.4*10^-2 Nm/rpm

    J = 0.089 Kgm2

    MC= 5.9 Nm

    Nđm = 3000 rpm

    Mô phỏng động cơ trên miền thời gian liên tục

    Hình 2.2. Cấu trúc động cơ DC servo

    Kết quả mô phỏng DC servo Harmonic RHS 17 – 6006 với điện áp định mức 75 V

    Khi không có Mc :

    Hình 2.3. Đặc tính tốc độ động cơ không tải.

    Hình 2.4. Đặt tính dòng điện động cơ

    Khi có Mc

    Hình 2.5. Đặc tính tốc độ động cơ

    Hình 2.6. Đặt tính dòng điện động cơ

    Nhận xét: Đáp ứng đầu ra đúng theo giá trị đặt. Khi có Mc tốc độ giảm, dòng điện tăng

    Mô phỏng động cơ trên miền thời gian gián đoạn

    >> g1= tf(1,[2.3*10^-3 4.8])

    >> G2=9.6

    >> g3=tf(1, [0.089 5.4*10^-2])

    >> G4=1

    >> G0=G1*G2*G3

    >> Gk=feedback(G0,g4)

    >> Gz=c2d(Gk,0.01,’zoh’)

    >> step(75*Gz)

    Hình 2.7. Đặc tính ra với chu kì trích mẫu T=0.01.

    Hình 2.8. Đặc tính ra với chu kì trích mẫu T=0.05.

    Nhận xét: Khi tăng chu kỳ trích mẫu lớn hớn đáp ứng đầu ra nhanh hơn tuy nhiên là dạng đáp ứng không mịn.

    2.2.1. Tổng hợp bộ điều khiển dòng theo Dead – Beat

    Thực hiện trên Matlab

    >> g1i=tf(1,[0.05 1]);

    >> g2i=tf(1,[2.3*10^-3 4.8]);

    >> g0i=g1i*g2i;

    >> gki=feedback(g0i,1)

    >> gzi=c2d(gki,0.01,’zoh’) ;

    Ta được hàm gzi như sau :

    Sampling time: 0.01chia cả 2 vế cho ta được

    Theo phương pháp Dead – Beat

    Chọn hàm L(z-1) = l0 =

    Hình 2.10. Cấu trúc bộ điều khiển dòng

    Kết quả mô phỏng.

    Hình 2.11. Dạng đáp ứng dòng điện.

    2.2.2. Thiết kế bộ điều khiển tốc độ

    Sử dụng Matlab để tính toán:

    >> g1w=9.6;

    >> g2w=tf(1, [0.089 5.4*10^-2])

    >> g2w=tf(1, [0.089 5.4*10^-2]);

    >> g0w=g1w*g2w;

    >> gkw=feedback(g0w,1) ;

    >> gzw=c2d(gkw,0.01,’zoh’)

    Transfer function:

    0.6583

    ———–

    z – 0.338

    Sampling time: 0.01

    >> gzw1=filt(0.6583,[1 -0.338],0.01)

    Transfer function:

    0.6583z^-1

    ——————–

    1 – 0.338 z^-1

    Sampling time: 0.01

    Áp dụng phương pháp tính bộ điều khiển theo tiêu chuẩn tích phân:

    Hàm truyền bộ điều khiển có dạng :

    Chọn r0 = Umax = 75 ;

    P= -1 để có khâu tích phân trong bộ điều khiển

    r1<= – r0(1-r0*b1)

    r1<= – 75*(1-75*0.6583)

    ® r1 = -75

    e0 = 1

    e1 = 1-75*0.003948= 0.7039

    e2 = 2.1992-0.003948*r1

    IQ = e02 +e12 +e22 =6.33195-0.01736*r1+1.55867*10^-5*r1^2

    Ta chọn được r1=-70.547

    Ta có bộ điều khiển tốc độ như sau :

    Ta có sơ đồ mô phỏng mạch vòng tốc độ như sau

    Hình 2.12. sơ đồ mô phỏng mạch vòng tốc độ

    Hình 2.13. Đáp ứng của tốc độ trên miền gián đoạn.

    Kết Luận

    Sau một kì học em đã hoàn thành bài tập lớn của môn học điều khiển số. Kết quả đạt được:

    – Biết cách thiết kế bộ điều khiển số

    – Hiểu sau về động cơ Servo

    Một số điểm chưa đạt được: bộ điều khiển chưa tối ưu, tín hiệu ra chưa át với tín hiêuk đặt.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Tính Khung Siêu Tĩnh Bằng Phương Pháp Lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-GI%E1%BA%A2I-T%C3%8DCH-2.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    GVHD: NGUYỄN NGỌC QUỲNH NHƯ

    STT HỌ VÀ TÊN MSSV
    1 LÊ HẢI HẬU( NT) 41201037
    2 HOÀNG HẢI TRIỀU 21304310
    3 TRƢƠNG QUỐC TUẤN 61104030
    4 PHẠM HOÀNG TRUNG 31003674
    5 LÊ HOÀNG QUÂN 31303209
    6 ĐÀO ĐỨC THẮNG 20902537

     

    ĐỀ TÀI :

    Câu 1: Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm 3 biến f tại điểm M cho trước dưới dạng ma trận vuông

    Câu 2: Tìm cực trị của hàm đa thức f(x,y) thỏa điều kiện x 2y2 =1 với a,b>0 được nhập từ a 2 b2

    bàn phím

    Câu3: Tính òòò f (x, y , z ) dxdydz trong đó W là miền giới hạn bởi :

    W

    ( z = 1 – x 2y2 ; z=0; y=x ;  y = x )

    Câu 1:

    ·        Cơ sở lý thuyết:

    1.     Định nghĩa đạo hàm tại một điểm:

    Cho hàm số y = f(x) xác định trên khoảng (a,b) và x0     ( )    
    ( ) (  )     ( ( ) (  ))
             
           

    Nếu hàm số y = f(x) có đạo hàm tại x0 thì nó liên túc tại điểm đó.

    2.     Ý nghĩa của đạo hàm

    Ø Ý nghĩa hình học

    f’(x0)là hệ số góc tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,f(x0))

    Khi đó, phương trình tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,y0) là:

    y-y0 = f’(x0).(x-x0)

    • Ý nghĩa vật lý

    Vận tốc tức thời của chuyển động thẳng xác định bởi phương trình s = s(t) tại thời điểm t0 là v(t0) = s’(t0)

    Cường độ tức thời của điện lượng Q = Q(t) tại thời điểm t0 là I(t0) = Q’(t0)

    1. Quy tắc tính đạo hàm: C ‘ = 0

    (u ± v )   = u ‘+ v

    ( ku ) ‘ = ku

    x ‘ =1

    (uv ) ‘ = uv + uv

    æ 1 ö v
    ç   ÷ = –    
      v 2
    è v ø    

    ( x n )   = nx n 1 ( n Î

    æ u ö u v uv
    ç   ÷ =    
      v 2
    è v ø    

    N , n >1)

    ( v ¹ 0)

    Đạo hàm của hàm số hợp: Nếu u = g(x) có đạo hàm tại x là u’x và hàm số y = f(u) có đạo hàm tại u là y’u thì hàm số hợp y = f(g(x)) có đạo hàm tại x là y’x = y’u.u’x

    Đạo hàm cấp cao:

    f ( x) = [f ( x)] ; f ”’ ( x) = [f ( x)] ; f ( n ) ( x) = [f ( n1) ( x)] ( n Î N , n ³ 4)

    3.     Các cách tính đạo hàm

    Ø Theo định nghĩa

    Để tính đạo hàm của hàm số y = f(x) tại điểm x0 bằng định nghĩa, ta thực hiện các bước

    B1: Giả sử         là số gia của đối số tại x0. Tính Dy = f (x0 + Dx ) – f (x0 )

    B2: Tính lim Dy

    Dx ®0 Dx

    ·        VÍ DỤ:

    Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm  f = 5 x 3 + 2 y 3 + 3 z 3 – 10 x 2 y + 2 yz 2 + 4xz tại điểm

    (            ) dưới dạng ma trận vuông.

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f, ta có:

    f x  = 15 x 2 – 20 xy + 4z                                                            f z  = 9 z 2 + 4 yz + 4x

    f y  = 6 y 2 – 10 x 2 + 2z2 f = 30 x – 20 y
      xx  
        f yy  = 12 y -10 f   = 4
          xz  
    f zz  = 18 z + 4 y f yz = 4z
    f = -20x      
      xy        

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f tại điểm M(0,1,1) ta có:

    fxx = 30 ´ 0 – 20 ´ 1 = -20 f = -20 ´ 0 = 0  
              xy    
    f yy  = 12 ´ 1 – 10 = 2 = 4  
              fxz  
    f = 18 ´ 1 + 4 ´ 1 = 22 f = 4 ´ 1 = 4  
    zz          
              yz    
    Từ kết quả trên, ta xuất ra kết quả vi phân cấp 2 của hàm đã cho tại điểm   ( ) dưới
    dạng ma trận vuông là:      
      é -20 0 2 ù      
    A = ê 0 2 2 ú      
      ê     ú      
      ê 2 2 22ú      
      ë     û      

    · CODE:

     

    ·        CHẠY THỬ:

    CÂU 2:

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

    1.         Mô hình bài toán tìm cực trị có điều kiện:

     

    Xét bài toán: tìm cực trị của hàm

    (         )( ) , trong đó x, y là các biến thỏa điều

     

    kiện

    (         )

    ( ).

     

    Nhận xét: mô hình bài toán có điều kiện chỉ xét với điều kiện (2) là 1 phương trình. Như vậy nếu điều kiện (2) có dạng: g(x,y) < 0 (hoặc g(x,y) > 0) (2′) thì được hiểu là tìm cực trị địa phương của hàm z = f(x,y), trong đó ta chỉ xét những điểm dừng nằm trong miền thỏa mãn điều kiện (2′).

    2.         Định nghĩa:

     

    Ta nói rằng hàm tồn tại một lân cận

    (

    (         ) với điều kiện

    )của M0 sao cho:

    (         )

    ) đạt

    cực tiểu tại

    (

    )

    nếu

    (

    )

    (

    )         (         )

    (

    thỏa: g(x,y) = 0

    Thông thường, phương trình f(x,y) = 0 là phương trình của đường cong (C). Như vậy, ta chỉ so sánh ( ) với ( ) khi M nằm trên (C).

    Tương tự, ta cũng có định nghĩa cực đại có điều kiện.

    Cực tiểu có điều kiện và cực đại có điều kiện được gọi chung là cực trị có điều kiện..

    3.     Các phƣơng pháp tìm cực trị có điều kiện:

    • Cách 1: Đƣa về bài toán tìm cực trị của hàm 1 biến

    Nếu từ điều kiện (2) ta giải tìm được y = y(x) thì khi thế vào hàm số f(x,y) ta có z là hàm

    theo 1 biến số x: ( ( )) . Như vậy, bài toán trở về bài toán tìm cực trị của hàm số 1 biến. —–> Quá quen thuộc!!!

    • Cách 2: Phương pháp Larrange

    Nếu từ pt (2) ta không giải tìm y theo x được. Khi đó, giả sử (2) xác định 1 hàm ẩn theo

    biến x:    . Để tồn tại hàm số ẩn, ta giả thiết:                 (*)

    Như vậy: hàm số ( ) , với y là hàm theo x chính là hình ảnh hàm số hợp của biến số x thông qua biến trung gian y.

    Với những giá trị của x làm cho z có thể có cực trị thì đạo hàm của z theo x phải triệt tiêu. Vậy lấy đạo hàm của (1) theo biến x với quy tắc hàm hợp (nhớ rằng y là hàm theo x) ta

    có: f + f × y = 0 (3)              
    x y x              
                         
    Từ điều kiện (2), ta lấy đạo hàm 2 vế theo x. Ta có: g + g × y = 0 (4)  
    x y x
                         

    Đẳng thức (4) này được thỏa mãn với mọi x, y thỏa mãn phương trình (2).

    Như vậy, tại những điểm cực trị thỏa mãn điều kiện (2) thì sẽ thỏa mãn (3) và (4)

    Nhân các số hạng của (4) với hệ số chưa xác định  và cộng chúng với các số hạng tương

      æ f   g ö æ f   g ö    
    ứng của (3), ta được: ç   + g   ÷ + ç   + g   ÷ = 0 (5)
           
      è x   x ø è y   y ø    

    Do đó, phương trình (5) cũng nghiệm đúng tại những điểm cực trị thỏa điều kiện (2). Từ (5), ta chọn hằng số l sao cho tại những điểm cực trị, hệ số của dydx sẽ triệt tiêu.

    æ f + g g ö = 0  
    ç     ÷ (6)
    y  
    Nghĩa là: è   y ø  

    Vì vậy, từ phương trình (5) và (6) ta có: những điểm cực trị có điều kiện sẽ là nghiệm của

    ì f  
    ï    
    x  
    ï f  
    ï
    hệ phương trình: í    
    y  
    ï

    ïïg (x , y)

    î

    + g g = 0    
    x    
               
    + g g = 0 (I)  
    y
               
          = 0    

    Bây giờ, ta xét hàm số Larrange:  F ( x, y , g ) = f ( x, y ) + g g ( x, y)

    Khi đó các điểm cực trị địa phương của hàm Larrange sẽ thỏa mãn hệ:

    ìF = f + g g = 0  
         
    ï x     x     y    
    ï              
          f     g    
    ï =   + g = 0  
    íFy       (II)
      y y
    ï              
                     
    ïF   = g (x , y)     = 0  
    ï g                
    î                  

    Từ (I) và (II) ta nhận thấy: những điểm dừng của hàm Larrange có thể là cực trị của hàm z = f(x,y) với điều kiện (2).

    Như vậy, bài toán cực trị có điều kiện trở về bài toán cực trị địa phương của hàm Larrange. Ở đây chỉ đóng vai trò phụ và sau khi tìm được giá trị thì không cần đến.

    Điều kiện của cực trị có điều kiện liên quan đến việc khảo sát dấu của vi phân cấp 2 của hàm Larrange tại điểm ( ) :

    d 2 F = 2 F ( x0 , y0 ) dx 2 + 2 F ( x0 , y0 ) dxdy + 2 F ( x0 , y0 )dy2

    x 2                            ¶xy                                 ¶y2

    trong đó: dx, dy không phải là những giá trị bất kỳ mà phải thỏa điều kiện:

    gx (x0 , y0 )dx + gy (x0 , y0 ) dy = 0 với dx 2 + dy2  ¹ 0

    Nếu d 2 F kiện. Nếu điều kiện.

    • 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều d 2 F < 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có

    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc xét dấu vi phân cấp 2 hơi phức tạp. Khi đó, ta có thể áp dụng kết quả sau: Giả sử ( ) là 1 điểm dừng của hàm Larrange, ứng với giá trị và đặt

    A = Fxx ( x0 , y0 ); B = Fxy ( x0 , y0 ); C = Fyy ( x0 , y0 ); D = g x ( x0 , y0 ); E = g y ( x0 , y0 )

    Khi đó xét: D = – 0 D E    
    D A B    
      E B C    
    Nếu D > 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều kiện tại ( )
    Nếu D < 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có điều kiện tại ( )

    ·        VÍ DỤ:

    Cho hàm số f(x,y) = x2 + y – 1. Tìm cực trị của hàm f sao cho thỏa điều kiện x2 – y2  = 1.

    Ta có x2 – y2 = 1 x2 = y2 + 1 (*) (x2     1)
    Thay (*) vào f(x,y) ta được:
    f(y) = y2 + y (y R)
    Tập xác định: D = R
    Xét f’(y) = 2y + 1 = 0
    (   )       ( )    
           
                   
                   
    Xét (   )        
             

    Vậy M(          ,        ) là cực tiểu duy nhất của f(x,y) khi y =          và x =

    ·        CODE:

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

    CÂU 3:

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

    1.     Địng nghĩa:

     

     

    Cho hàm số f(x,y,z) xác định trong miền đóng, giới nội V của không gian Oxyz.

    Chia miền V thành n miền nhỏ có thể tích là D V1, …, D Vn. Lấy tùy ý một điểm Mi-(xi,yi,zi) trong miền nhỏ thứ i.

    n

    Lập tổng: I n  = å f ( xi , yi , zi )DVi

    i=1

    Nếu giới hạn

    lim I n = n ®+¥

    lim I n = I max di ®0

    hữu hạn, không phụ thuộc vào cách chia miền V, và

    Mi thì f(x,y,z) gọi là khả tích trên miền V, và I gọi là tích phân bội 3 của hàm f trên V, ký

    hiệu:  I = òòò f ( x, y , z ) dV

    V

    Tương tự như tích phân kép, ta ký hiệu dxdydz thay cho dV và tích phân bội 3 thường viết: I = òòò f ( x , y , z ) dxdydz (thể tích của V)

    V

    Chú ý: Nếu f(x,y,z) = 1 thì  I = òòò f ( x, y , z ) dV (thể tích của V)

    V

    2.     Tính chất:

     

    Ø I = òòò Cf (x, y , z ) dV = C òòò f (x, y, z) dV

    V                                                  V

    • I = òòò [f (x, y , z ) + g(x, y, z)]dV = òòò f (x, y, z) dV + òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                                                     V                                         V

    • Nếu V = V1 È V2 ,V1 Ç V2 = Æ thì:
    • f ( x, y , z ) dV = òòò f ( x , y , z ) dV + òòò f ( x , y , z ) dV
    V V1 V2
    • Nếu f ( x, y, z ) ³ g ( x, y , z ); “( x, y, z ) ÎV thì:
    • f (x, y, z) dV ³ òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                             V

    • Nếu f(x,y,z) liên tục trong miền đóng, bị chặn V thì tồn tại điểm ( x0 , y0 , z0 ) ÎV sao

    cho:   f ( x0 , y0 , z 0 ) = V1 òòò f ( x, y , z ) dV (Đinh lý về giá trị trung bình)

    V

    3.     Cách tính tích phân bội ba

     

    Ø Tích phân bội ba trong hệ tọa độ Descartes

     

    Cho V giới hạn bởi: mặt trên z = j2 ( x, y) , mặt dưới z = j1 ( x, y)

    Xung quanh mặt trụ có đường sinh song song với trục Oz và đường chuẩn là biên của miền D thuộc mặt phẳng Oxy. (D là hình chiếu của V xuống mặt phẳng Oxy).

      éj 2 ( x , y ) ù
    Khi đó: òòò f ( x, y , z ) dxdydz = òò ê ò f ( x, y , z )dz ú dxdy
    V ë 1   û
    ê j ( x , y ) ú

    Nếu miền D = {( x, y ) : a £ x £ b, j1 ( x ) £ y £ j2 ( x)}thì:

    b       j 2 ( x )        j2 ( x , y )

    òòò f ( x, y , z ) dxdydz = ò dx         ò dy   ò  f (x , y , z ) dz

    V                                                     a        j1 ( x )        j1 ( x , y )

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ trụ:

    Tọa độ trụ của điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r , j, z) với của M xuống mặt phẳng Oxy (Hình vẽ)

    Ta luôn có: r ³ 0; 0 £ j £ 2p; -¥ < z < +¥

    ì x

    ï

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ trụ: í y ïî z

    ( r, j) là tọa độ cực của hình chiếu

    • r cosj
    • r sin j
    • z

    Ta có: òòò f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r cosj , r sin j ) rdrd jdz

    V                                                      V

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ cầu:

     

    Tọa độ cầu của một điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r, q , j) với r = OM ,q là góc giữa trục Oz và OM , j là góc giữa trục Ox và OM , với M’ là hình chiếu của M xuống mặt phẳng Oxy.

    Ta có: Với mọi điểm M trong không gian thì r ³ 0; 0

    ì x

    ï

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ cầu: í y ïî z

    Công thức tính tích phân trong hệ tọa độ cầu:

    • q £ p ; 0 £ j £ 2p
    • r sin q cos j
    • r sin q sin j
    • r cosq
    • f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r sinq cosj , r sinq sin j , r cosq ) r 2 sinq drdq d j

    V                                                   V

    ·        VÍ DỤ:

    • ( )         ∭
    • Trong đó miền giới hạn là:
    ·         ; z = 0; y = x;   ;                
                     
    · ( )  ∫                                
                                   
                                   
                             
                     
                   
                                           
    • = D1 + D2
    • Tính D1
              ∫∫ ( )      
    ·           (                                   )
                                                   
                                           
                                           
         
    ·                                                      
                                                         
                                                         
    • ( )        (          )    (                )    (                )     √
    • Tính D2
    ·                                                                                        
                                         
                                     
    ·                                                                                  
                                      (   )                    
                                                 
                           
    ·                                                                                    
                          (     )                                                  
                                                                             
                                                         
                                                                             
    ·                                                                               (   )
                                                                                   
                                                                       
                                                           
                                                               
    ·                                                                                          
                                                                                             
    • Tính d1
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {
    ·                                                                                      
                                                                                         
                                                                                         
    ·                                                                                                  
                                                                                                     
    ·                                                                                      
                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         
    ·                                   )                                                
              (                                                            
                                                                       
                                                       
                                                                     
    ·                                                                                                  
                                                                                                     
                                                                                                     
    ·                       (           )                             (       )
                                                                     
                                       
                   
    ·             (                         )                                                
                                                                                       
                                                                                     
    • Tính d2
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {
    • Khi đó:
    ·                                                                                            
                                                                                               
                                                                                               
    ·                                                                                            
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
    ·           (               )                                                
                                                                               
                                                                             
                                                           
                                                                             
    ·                                                                                                  
                                                                                                     
                                                                                                     
    ·                                           (           )                           (       )
                                                                                 
                                                             
                                               
    ·       (                                 )                                                  
                                                                                         
                                                                                         
    • Tính d3
    ·                   (                   )                                
                                                 
                                                         
    ·                                                                                          
                                                                                             
                                                                                             
    ·   (       )                                     (             )     (       )
                                                                   
                                                               
                                         
    ·         (         )           (         )            
                                                   
                                         
    • Suy ra
    · (     )     (     )                     (         )           (   )            
                             
                           
      (       )       (       )  
                                                                                                                               
                                                           
          (   )   (   )      
                         
                                         
               
                                                                                                             
                                                                                                               
    · (         )   (             )       (           )         (   )                                      
                                                                         
                             
                                                                                                                           
      (           (       )  
            )                        
               
         
             
                                                               
    •  
    • = 0.0887
    •  

    ·        CODE:

    ·        CHẠY THỬ:


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM “

    ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM “

    ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN BÊ TÔNG CỐT THÉP – THIẾT KẾ BẢN SÀN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-M%E1%BA%A0NG-TH%C3%94NG-TIN-DI-%C4%90%E1%BB%98NG-GSM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN “MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM”

    3.3.2.2  Mối quan hệ giữa mô hình OSI và hệ thống báo hiệu số 7

    Hệ thống báo hiệu số 7 là m ột loại thông tin số liệu chuyển mạch gói, nó cũng được cấu trúc theo modul và rất giống với mô hình OSI, nhưng khác với mô hình OSI có 7 lớp thì SS7 chỉ có 4 lớp.

    Ba lớp thấp nhất t ạo thành phần chuyển giao tin báo (MTP) và lớp thứ 4 chứa các Phần của người sử dụng.

    Hệ thống báo hiệu số 7 không hoàn toàn tương hợp với mô hình chuẩn OSI . Một điểm khác nhau lớn giữa phần thứ nhất của SS7 và mô hình OSI là quá trình thông tin trong mạng. Mô hình OSI mô t ả sự trao đổi định hướng đấu nối số li ệu. Quá trình thông tin bao g ồm ba tr ạng thái: thiết lập đấu nối, chuyển giao số liệu và cắt . MTP chỉ cung cấp dịch v ụ vận chuyển sự cắt nối (chỉ có pha chuyển giao số liệu) và ở đây chuyển giao là một cách truyền số liệu nhanh hơn trong những khối lượng nhỏ.

    Nhằm đ áp ứng nhu cầu của các d ịch vụ mở rộng trong những ứng dụng nào đó, SCCP (Phần điều khiển đấu nối báo hiệu) đã được bổ sung vào năm 1984 ở sách đỏ của CCITT.

    SCCP đưa ra cả sự vận chuyển sự cắt nối của mạng và đị nh hướng đấu nối của mạng và cung cấp giao diện giữa lớp mạng và lớp truyền tải giống như đối v ới OSI. SCCP làm cho nó có kh ả năng s ử dụng mạng SS7, d ựa trên MTP, như là phần mang theo giữa các ứng dụng sử dụng giao thức OSI để trao đổi thông tin

    • lớp cao hơn. Trong sách xanh của CCITT (1988) còn đưa ra giao thức chung cho các khả năng giao dịch (TCAP) và phần ứng dụng cho khai thác, bảo dưỡng. Chúng cũng ứng với lớp 7 trong mô hình OSI.

    SS7        OMAP

    OSI

                ISUP         Lớp 7
                       
                        Lớp 6
        TCAP         TUP    
                           
                          Lớp 5
                           
                        Lớp 4
        SCCP              
                           
                    Lớp 3
                Mạng báo hiệu  
        MTP       Lớp 2
          Kênh báo hiệu  
                  Lớp 1
              Kênh số liệu báo hiệu  
                           

    Hình 3.8 Mối quan hệ giữa báo hiệu số 7 và mô

    hình chuẩn OSI

     

    35

    3.3.2.3 Các khối chức năng của hệ thống báo hiệu số 7

                                       
      Các phần của                     Các phầ n của    
    người sử dụng           Phần chuyển       người sử dụng    
                     
          (UP)           giao tin báo           (UP)    
       
                   
                                   
                                   
                      (MTP)                
                                 
                                       

    Hình 3.9 Cấu trúc cơ bản của SS7

    Hệ thống báo hiệu số 7 của CCITT được chia thành 2 phần:

    Phần

    chuyển giao bản tin (MTP : Message Transfer Part)

    MTP là một hệ thống vận chuyển chung để chuyển giao tin cậy các thông tin báo hiệu giữa các đ iểm báo hiệu. Phần chuyển giao bản tin truyền tải các thông tin báo hiệu giữa các phần của ngườ i sử dụng khác nhau và nộ i dung của các tin báo này là hoàn toàn độc lập với nhau. Để thực hiện chức năng này, MTP cần phải có :

    • Các bản tin cần phải được sửa trước khi chúng được chuyển giao tới phần của người sử dụng thu.
    • Sửa lỗi liên tiế
    • Không bị tổn thất hoặc lặp lạ

    Các phần của người sử dụng (UP : User Part)

    Các phần của ngườ i sử dụ ng được tạo ra và phân tích các thông tin báo hiệu. Chúng sử dụng MTP như là chức năng truyền tải để mang thông tin báo hiệu tới các phần của người sử dụng khác cùng loại.

    Một số các phần của người sử dụng là:

    • TUP (Telephone User Part) : Phần của người sử dụng điện thoạ
    • DUP (Data User Part): Phần của người sử dụng số liệ
    • ISUP (ISDN User Part) : Phần của người sử dụng ISDN.
    • MTUP (Mobile Telephone User Part) : Phần người sử dụng điện thoại di độ

    36

    3.4 Phần chuyển giao tin báo (MTP : Message Transfer Part)

              Tổng đài Tổng đài            
                  A     B            
                                             
                  MTP     MTP              
            TUP           TUP          
                                 
                                     
                                     
                                     
                                  DUP          
            DUP                              
                                             
                                             
            ISUP                     ISUP          
                                         
                                             
                                             
    MAP   TCAP   SCCP                     SCCP     TCAP   MAP
                                 
                                             
                                     
                                        BSSAP  
        BSSAP                  
                                             
                                             

    TUP (Telephone User Part) : Phần của người sử dụng điện thoại.

    DUP (Data User Part): Phần của người sử dụng số liệu.

    ISUP (ISDN User Part) : Phần của người sử dụng ISDN.

    SCCP (Signalling Connection and Control Part) : Phần điều khiển và đấu nối báo hiệu.

    TCAP (Transaction Capabilities Application Part) : Phần ứng dụng các khả năng trao đổi.

    MAP (Mobile Application Part) : Phần ứng dụng di động

    BSSAP (Base Station Application Part) : Phần ứng dụng trạm gốc.

    Hình 3.10 Phần truyền giao tin báo MTP là môi trường truyền dẫn chung giữa các phần của người sử dụng

    Phần chuyển giao tin báo là hệ thố ng truyền tải chung cho tất cả các loại ứng dụng viễn thông, cần thiết để chuyển giao các bản tin báo hiệu giữa các tổng đài (các điểm báo hiệu). Nó bao gồm kênh số liệu báo hiệu (mức 1) để đấu nối 2 tổng đài và hệ thống điều khiển chuyển giao bản tin. Hệ thống điều khi ển chuyển giao bản tin bao gồm 2 phần: các chức năng của kênh báo hiệu (mức 2) và các chức năng của mạng báo hiệu (mức 3).

    37

    Các chức năng của kênh báo hiệu: là giám sát kênh số liệu báo hiệu, tìm các bản tin báo hiệu bị lỗi, điều khiển bản tin đã phát và thu đúng trình tự mà không bị mất mát hoặc không bị lặp.

    Các chức năng của mạng báo hiệu: bao gồm các chức năng để xử lý bản tin (xử lý lưu lượng) và điều hành mạng báo hiệu.

    Mức 4     Mức 3       Mức 2   Mức 1
                Phần chuyển giao tin báo (MTP)      
                     
                                 
          Các chức năng của                  
    Các       mạng báo hiệu       Kênh báo hiệu      
                               
    UP       Xử lý bản tin         Các chức năng của   Kênh số liệu báo    
            báo hiệu         kênh báo hiệu   hiệu    
                                 
                                 
            Điều hành mạng                  
            báo hiệu                    
                                 
                                 

    Các bản tin báo hiệu

    Các tín hiệu điều

    Hình 3.11   Các chức năng của mạng báo hiệu

    • Xử lý bản tin báo hiệu : bao gồm các chức năng để định tuyến bản tin tới kênh thích hợp và phân phối các bản tin thu được ở tổng đài thường trú tới các người sử dụng đúng.
    • Điều hành mạng báo hiệu: với các trường hợp có sự thay đổi trạng thái trong mạng báo hiệu, ví dụ nếu kênh báo hiệu hoặc điểm báo hiệu vì lý do gì đó mà không có khả năng thực hiện thì các chức năng điều hành mạng báo hiệu sẽ điều khiển lập lại cấu hình và các thao tác khác để phục hồi khả năng chuyển giao tin báo thông thườ

    3.4.1 Kênh số liệu báo hiệu (mức 1)

    Kênh số liệu báo hiệu là một tuyến truy ền dẫn song hướng để báo hiệu, bao gồm hai kênh số liệu hoạt động cùng nhau ở các hướng đối diện và ở cùng một tốc độ truyền dẫn.

    38

    Kênh số li ệu báo hiệu có th ể là số hoặc analog. Kênh số liệu báo hiệu số được thiết lập bởi các kênh truy ền dẫn số (64kbit/s) và các chuyển mạch số. Kênh số liệu báo hiệu analog được thiết lập bởi hai kênh truyền dẫn tần số thoại (4KHz) và các Modem.

                    Kênh số liệu báo hiệu           Mức 2  
      Mức 2               (mức 1)            
                               
                                   
                                                 
                Bộ                 Bộ              
                                             
      ST     MUX   lựa   ET         ET   lựa   MUX     ST    
                         
                                 
                               
                chọn                 chọn              
      64 Kb/s       PCM 30              
                             
                             
      (G703)       (G732,734)                

    Giao thức 1 xác định tính chất điện, vật lý và các đặc trưng ch ức năng của kênh số liệu báo hiệu. Những đặc tính này được mô tả chi tiết ở các khuyến nghị G.703, G.732 và G.734 của CCITT.

    3.4.2 Kênh báo hiệu (mức 2)

    Các chức n ăng của kênh báo hiệu, cùng v ới kênh số liệu báo hiệu là môi trường truyền dẫn và với kết cu ối báo hiệu là bộ điều khiển tiếp nhận / truyền dẫn, cung cấp kênh báo hiệu để chuyển giao bản tin báo hiệu trực tiếp giữa hai điểm báo hiệu đã đấu nối được tin cậy.

    Các chức năng của kênh báo hiệu gồm :

    Đồng bộ các cờ hiệu và phân định ranh giới các đơn vị tín hiệu. Phát hiện lỗi.

    Sửa lỗi.

    Đồng bộ ban đầu. Cắt bộ xử lý.

    Điều khiển luồng mức 2. Chỉ thị độ ứ tới mức 3.

    Giám sát lỗi của kênh báo hiệu.

    Mụ c đích các ch ức năng của kênh báo hiệu là để đả m bảo rằng các bản tin được phân chia tới đầu xa một cách chính xác theo tuần tự đúng, không tổn thất hoặc không trùng lặp.

    • Chức năng điều khiển kênh báo hiệu :

     

    39

    Thông tin báo hiệu được đưa vào khố i tín hiệu tin báo (MSU), khối này có thể có độ dài thay đổi phụ thuộc vào tổ ng khối lượng thông tin được chuyển giao. MSU bao gồm một số trường điều khiển cùng với trườ ng thông tin báo hiệu (SIF). Các trường điều khi ển được sử dụng bởi các chức năng điều khiển kênh báo hiệu để đảm bảo độ tin cậy chuyển giao tin báo.

    Độ dài khối chỉ thị (LI) được sử dụng để phân biệt giữa MSU, LSU (đơn vị tín hiệu trạng thái của kênh) và FISU (đơn vị tín hiệu làm đầy).

    F CK SIF SIO   LI Sửa F
      lỗi
                 
    8 16 8n, 8   2 6 16 8
    n>2
    Mức 2         Mứ c 2  

    Hình 3.12 Khối tín hiệu tin báo (MSU)

    1. Sự phân định ranh giới giữa các đơn vị báo hiệu

    Thời điểm bắt đầu và kết thúc của các đơn vị tín hiệu được chỉ thị bởi mô hình

    • bit duy nhất gọi là cờ. Để đảm bảo trong đơn vị tín hiệu không thể có mô hình bị trùng lặp thì bit chèn được sử dụng. Bit chèn là để bổ sung thêm các bit 0 vào sau một chuỗi 5 bit 1 liên tiếp của tin báo. Tại đầu thu kết cuối báo hiệu sẽ xoá các bit phụ thêm này.
    F CK SIF SIO   LI Sửa F  
      lỗi  
                     
                     
                  01111110  

    Hình 3.13 Cờ trong MSU

    2. Đồng bộ khối tín hiệu

    Vi ệc đồ ng bộ đơn vị tín hiệu được thực hiện nhờ thủ tục giãn giới h ạn. Tổn thất đồng b ộ xảy ra khi mô hình bit không được phép th ủ t ục giãn gi ới hạn thu được, hoặc khi độ dài lớn nhất của đơn vị tín hiệu nào đó bị vượt quá.

    3. Phát hiện lỗi

    Chức n ăng phát hiện lỗi thực hiện được nhờ có 16 bit kiểm tra (CK) đ ã được cung cấp ở cuối mỗi tín hiệu. Các bit kiể m tra (kiểm tra tổng) được t ạo ra nhờ kết cuối báo hiệu hoạt động bằng các bit phía trước của khối tín hiệu theo một

    40

    thuật toán xác định. Ở phía kết cuối báo hiệu thu, một phương pháp thực hiện giống nh ư thế được sử dụng để tính toán kiểm tra tổng. Sau đó việc kiểm tra tổng này được so sánh với t ổng kiểm tra đã thu đượ c. Nếu hai tổng kiể m tra không bằng nhau thì sự hiện diện của lỗi sẽ được chỉ thị và khối tín hiệu sẽ bị huỷ bỏ.

    4. Sửa lỗi

    Trường sửa lỗi có độ dài 16 bit và bao gồ m các số tu ần tự thu ận, các số tuần tự nghịch, các bit chỉ th ị thuận và các bit chỉ thị nghịch. Mỗi b ản tin báo đã phát được phân phối mộ t số tuần t ự, số tuần tự này được đưa vào trường FSN. Các MSU được phát lại khi lỗi đã được phát hiện. Các LSSU và FISU không được phát lại.

    F CK SIF SIO     LI   Sửa   F  
          lỗi    
                         
    8 16 8n, 8   2 6 16 8  
    n>2  
                             
                F     B      
                I FSN I   BSN
                B     B      

    Hình 3.14 Các trường sửa lỗi

    Có 3 phương pháp sửa lỗi được cung cấp là :

    Phương pháp sửa lỗi cơ bản.

    Phương pháp sửa lỗi cơ bản khi có lặp lại.

    Phương pháp phát lại tuần hoàn để phòng ngừa.

    Các thủ tục sửa lỗi hoạt động độc lập theo hai hướng truyền dẫn.

    Phương pháp sửa lỗi cơ bản :

    • phương pháp này, một khối tín hiệu đã được gửi đi còn được lưu lại trong bộ đệm phát lại tới khi nhận được khẳng định từ đầu thu. Nếu bản tin báo hiệu nhận được là hoàn toàn chính xác thì thiết bị báo hiệu đầu thu gửi sự khẳng định bằng cách xen vào số trình tự nghịch (BSN) như số trình tự thuận (FSN) nhận được trong khối tín hiệu tin báo (MSU) thông thường hoặc trong FISU và Bit chỉ thị hướng nghịch (BIB) được đặt bằng bit chỉ thị hướng thuận (FIB). Khi nhận được sự khẳng định thì thiết bị báo hiệu đầu phát sẽ loại bỏ bản tin khỏi bộ đệm phát lại.

    41

    N ếu khối tín hiệu tin báo nhận được là không chính xác thì thiết bị báo hiệu đầu thu sẽ gửi sự phủ định bằng cách đảo bit chỉ thị hướng nghị ch (BIB). Số trình tự thuận (FSN) của thông báo nhận được cuối cùng mà được công nhận là chính xác sẽ được gài vào trường số trình tự hướng nghịch (BSN). Khi thiết bị báo hiệu đầu phát nhận được sự ph ủ định thì s ẽ ngừng truyền khối tín hiệu mới. Các khối tín hiệu trong bộ đệm mà chưa có sự khẳng định thì sẽ được truyền lặp lại theo một trình tự tương tự như ta đã truyền đi tr ước đó. Điều này đảm bảo các khối tín hiệu được thu nhận chính xác theo trình tự.

    Báo nhận khẳng định

    FSN

    FSN = 63

    A           B
        BSN = 63    
                 
                 

    FIB =BIB

    Báo nhận phủ định

    FSN

    36

    A           B
        BSN = 35    
                 
                 

    BIB = giá trị của FIB

    Hình 3.15 Phương pháp sửa lỗi cơ bản

    Phương pháp sửa lỗi cơ bản có lặp lại :

    Phương pháp này khác với phương pháp sửa lỗi cơ b ản ở chỗ : mỗi MSU đượ c phát theo trình tự hai lần. Mỗ i MSU có c ờ đóng và cờ mở của nó để đảm bảo rằng MSU lặp không bị mất do sự mất mát của cờ đơn.

    Phương pháp phát lại tuần hoàn để phòng ngừa :

    Khối tín hiệu gửi đi rồ i vẫn còn được lưu trữ trong bộ đệm phát lại cho đến khi nhận đượ c sự khẳng định đối với tín hiệu này. Trong thời gian không có khối tín hiệu mới nào được gửi đi thì tất cả các khối tín hiệu vẫn chưa nhận được sự khẳng định sẽ truyền lặp lại theo chu kỳ.

    42

    “ Thủ tục phát lại bắt buộc ” được bắt đầu khi tồn tại một số lượng định trước các khối tín hiệu chưa nhận được sự khẳng định. Các khối tín hiệu mới sẽ không được phát đi nữa và các khối tín hiệu còn lưu trữ trong bộ đệm sẽ được truyền lại theo chu kỳ cho đến khi số lượng các khối tín hiệu chưa được khẳng định đã giảm đi. Trong phương pháp này không có sự phủ định. Phương pháp phát lại theo chu kỳ này được sử dụng ở các kênh báo hiệu, nơi mà trễ truyền lan lớn hơn 15ms và ở tất cả các kênh báo hiệu được thiết lập qua vệ tinh.

    5. Sự đồng bộ ban đầu

    Thủ tục đồng bộ ban đầu là thích hợp với cả sự khởi đầu của thời gian ban đầu (VD: sau khi mở máy) và s ự đồng bộ kết hợp v ới sự ph ục hồi sau khi có sự cố của kênh. Thủ tục dựa trên sự trao đổ i bắt buộc củ a các khối tín hiệu trạng thái kênh (LSSU) giữa hai điểm báo hiệu liên quan và điều ki ện c ủa chu k ỳ thử. Ở trường trạng thái (SF – Status Field) ba bit có trọng số đầu tiên được sử dụng để đánh dấu của kênh báo hiệu theo như bảng trên hình 3.16

    F CK SF   LI Sửa F
      lỗi
               

    Chỉ thị

    Dư     trạng thái

    CBA

    C B A    
    0 0 0 Mất đồng bộ  
    0 0 1 Đồng bộ bình  
    thường  
         
    0 1 0 Đồng bộ khẩn  
    0 1 1 Mất dịch vụ  
    1 0 0 Dừng bộ xử lý  
    1 0 1 Bận  

    Hình 3.16 Khối tín hiệu trạng thái kênh (LSSU)

    Thời gian thử xấp xỉ cho hai thủ tục đồng bộ bình thường và khẩn cấp là :

    Pn = 216 octet → 8.2s (64 Kb/s)

    Pe = 212 octet → 0.5s (64 Kb/s)

    với  Pn = thời gian đồng bộ bình thường.

    Pe = thời gian đồng bộ khẩn cấp.

    1. Dừng bộ xử lý

     

    43

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Bộ xử lý ngừng hoạt động khi các b ản tin báo hiệu không th ể đượ c chuy ển giao cho các mức chức năng 3 hoặc/và 4. Ví dụ điều này xảy ra là do bộ xử lý trung tâm có sự cố hoặc cũng có thể là do sự kìm hãm một kênh báo hiệu riêng nào đó.

    Khi điều khiển kênh báo hiệu nhận biết tình trạng bộ xử lý tại chỗ ngừng hoạt động, nó bắt đầu phát liên tiếp các LSSU với sự chỉ thị trạng thái ngừng hoạt động của bộ xử lý (SIFO) và huỷ bỏ MSU đã thu được.

    7. Điều khiển luồng mức 2

    Điều khiển luồng được b ắt đầu khi độ ứ được phát hiện ở đầu thu của kênh báo hiệu. Đầu thu bị ứ của kênh thông báo tình trạng của đầu phát từ xa bằng ph ương thức củ a LSSU, chỉ thị tr ạng thái bận (SIB), và nó không chấp nhận tất cả các khố i tín hiệu tin báo đến. Khi độ ứ giảm đi, việc chấp nhận tất cả các khố i MSU l ại tiếp tục. Trong khi độ ứ còn t ồn tại thì đầu phát ở xa được thông báo định kỳ tình trạng độ ứ này. Đầu phát ở xa sẽ chỉ thị có sự cố nếu như độ ứ còn tiếp tục quá dài.

    8. Các chỉ thị độ ứ tới mức 3

    Các mức độ ứ ở bộ đệm phát và bộ đệm phát lại được giám sát nhờ bộ điều khiển kênh báo hiệu để cung cấp chỉ thị độ ứ tới mức 3.

    9. Giám sát lỗi của kênh báo hiệu

    Để đả m bảo rằng chất lượng củ a kênh báo hiệu thích hợp với các nhu cầu của dịch vụ báo hiệu, ví dụ : tỉ lệ của các khối tín hiệu thu đượ c không chính xác là có thể chấp nhận được thì hoạt động của mỗi kênh được giám sát bởi hai bộ giám sát.

    Bộ giám sát tỷ lệ lỗi của khối tín hiệu (SUERM) :

    Nếu chất lượ ng của kênh trong dịch vụ gi ảm đi dưới mộ t mức nào đó thì kênh sẽ mất đi dịch vụ. Lưu lượ ng của tín hiệu gửi trên kênh được chuyển giao tới kênh khác nhờ các thủ tục chuyển giao. SUERM tác động trong khi kênh báo hiệu có dịch vụ và nó đưa ra một tiêu chuẩn đối với trường h ợp kênh bị mất dịch vụ. SUERM cung cấp một chỉ thị lỗi quá ngưỡng cho phép lên MTP tầng 3 để đưa kênh báo hiệu vào trạng thái không hoạt động. Bộ giám sát t ỷ lệ lỗ i của đơn vị tín hiệu dựa trên một bộ đếm lỗi đơn vị tín hiệu, kể cả đơn vị tín hiệu FISU. Khi có một đơn vị tín hiệu bị lỗi thì bộ đếm sẽ t ăng lên 1 và cứ 256 đơn vị báo hiệu nh ận đượ c tốt thì b ộ đếm lại giảm đi 1. Khi bộ đếm đạt tới giá tr ị 64 thì sẽ có cảnh báo về mức quá mứ c lỗi cho phép, thông báo này sẽ được gửi đến MTP tầng 3 và kênh báo hiệu bị chuyển vào trạng thái không hoạt động. Khi xảy ra mất đồng bộ (khi thu được liên tiếp nhiều hơn 6 bit 1), thiết bị giám sát

    44

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    lỗi sẽ thay đổi phươ ng thức đếm, chuyển sang đếm octet, cứ nhận được 16 octet thì bộ đếm lại tăng lên 1 và quá trình đếm sẽ dừng sau khi bộ đếm vượt mức ng ưỡng.

    Bộ giám sát tỷ lệ lỗi đồng bộ (AERM) :

    AERM tác động trong khi kênh ở trạng thái thử của thủ t ục đồng bộ ban đầu. Thiết bị giám sát lỗi đồ ng bộ là một bộ đếm tuyến tính. Bộ đếm bắt đầu từ 0 tại thời điểm bắt đầu đồng bộ và số đếm sẽ tăng lên 1 sau mỗi lần thu được bản tin có lỗ i. Đồng bộ ban đầu không thành công nếu bộ đếm vượt giá trị ngưỡng trước khi kết thúc thời gian đồng bộ.

    3.4.3 Mạng báo hiệu (mức 3)

    Các chức năng của mạng báo hiệu có thể được chia thành hai loại cơ bản là :

    Xử lý bản tin báo hiệu (xử lý lưu lượng). Điều hành mạng báo hiệu.

      Xử lý bản tin báo hiệu
    Mức 4   Mức 3   Mức 2
      Phân bổ     Phân biệt  
      tin báo     tin báo  
           

    Định tuyến

    tin báo

    Hình 3.17 Các chức năng của mạng báo hiệu

    Xử lý bản tin báo hiệu :

    Mục đích của các chức năng xử lý bản tin báo hiệu là đảm bảo các bản tin báo hiệu xuất phát do một phần của người sử dụng riêng biệt nào đó ở một đi ểm nguồn đượ c phân phát t ới cùng một phần ng ười sử dụng ở điểm đ ích mà đã đượ c phần củ a ng ười sử dụng gửi tin báo chỉ ra. Các chức năng x ử lý bản tin báo hiệu dựa vào bộ chỉ th ị của mạng ở trường SIO và nhãn định tuyến chứa trong tin báo nhằm để nhận dạng rõ ràng các điểm đích và điểm nguồn.

    Các chức năng xử lý bản tin báo hiệu được chia thành :

    Định tuyến tin báo. Phân biệt tin báo.

    45

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Phân bổ tin báo.

    Ch ức năng định tuyến tin báo được sử dụng ở mỗ i điểm báo hiệu (SP) để xác định kênh báo hiệu đi (SL) mà trên kênh đó bản tin phải được gửi về phía điểm đích của nó.

    Chức năng phân bi ệt tin báo được sử dụng ở SP để xác định xem khi nào bản tin báo thu đượ c tới đượ c đ ích của nó và khi nào không tới đích. Khi bản tin không tới được đích SP thì tin báo sẽ được chuyển giao tới chức năng định tuyến tin báo.

    Chức n ăng phân bổ tin báo được sử dụng ở SP để phân phát các tin báo thu (kết cuối tới đích của nó) tới Phần của người sử dụng (UP) thích hợp hoặc tới Phần điều khiển đấu nối (SCCP).

    Định tuyến tin báo :

    Việc định tuyến tin báo tới kênh báo hiệu thích h ợp dựa vào bộ chỉ thị mạng (NI – Network Indicator) ở octet thông tin dịch vụ và ở trường lựa chọn kênh báo hiệu (SLS – Signalling Link Selection) và mã của điểm đích (DPC) ở nhãn định tuyến. Việc đị nh tuyến được thực hiện sao cho các bản tin giống nhau NI, SLS và DPC được định tuyến trên cùng một kênh báo hiệu nếu như kênh báo hiệu không x ảy ra sự cố. Chia tải là một phần của chức năng định tuy ến tin báo do lưu lượng báo hiệu có thể được phân bổ trên vài kênh báo hiệu và vài chùm kênh. Nó dựa trên 4 bit SLS ở nhãn định tuyến. Khi kênh báo hiệu xảy ra sự cố thì việc định tuy ến được thay đổi theo các quy luật đã xác định trước và lưu lượng được đị nh tuyến tới kênh báo hiệu khác trong chùm kênh. Nếu tất cả các kênh báo hiệu trong chùm kênh có sự cố thì lưu l ượng được định tuyến tới các chùm kênh báo hiệu khác thuộc về cùng một đích.

    F  CK SIF SIO  LI          Sửa lỗi      F

    Routing Label

    NI  Dư     SI

    SLS  OPC  DPC

    Hình 3.18 Các trường định tuyến tin báo

     

    Phân biệt tin báo :

    Điểm báo hi ệu SP trong mạng báo hiệu có thể hoạt hoặc như một điểm chuyển giao tín hiệu (STP) cho

    động như một điể m đích bản tin báo hiệu. Trong

    46

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    chừng mự c nào đó các bản tin báo hiệu thu được có thể được kết cuối trong STP của nó và trong trường hợp sau đó các bản tin báo hiệu thu được trự c tiếp đưa tới Chức năng định tuyến nhằm được gửi vào kênh thích hợp về phía đ iểm đích của tin báo. Ch ức năng phân biệt tin báo thực hiện công việc này dựa vào việc phân tích NI và DPC có trong bản tin thu được.

    Phân bổ tin báo :

    Nếu bản tin báo hiệu được kết cu ối ở điể m báo hi ệu SP của nó thì nó được đưa trự c tiếp từ Ch ức năng phân biệt tin báo tới Chức năng phân bổ tin báo. Bản tin báo hiệu có thể được kết cuối tới :

    Các phần của người sử dụng.

    Phần điều khiển đấu nối báo hiệu (SCCP). Phần điều hành mạng báo hiệu của MTP.

    Phần kiểm tra và bảo dưỡng mạng báo hiệu của MTP.

    Ch ức n ăng phân bổ tin báo đưa bản tin báo hiệu thu được tới ngườ i sử dụng thích hợp dựa vào nội dung của khối chỉ thị dịch vụ (SI) trong octet thông tin dịch vụ (SIO) chứa trong khối tín hiệu tin báo.

    Octet thông tin dịch vụ (SIO)  
         
    Trường các Bộ chỉ thị  
    dịch vụ phụ
    dịch vụ (SI)  
    (SSF)
       
                           
      D C B A   D   C   B   A  
            0 0 0 0 Điều hành mạng báo hiệu
    Mạng quốc tế 0 0  
        0 0 0 1 Kiểm tra mạng báo hiệu
           
    Dự phòng 0 1  
      0 0 1 0 Dự phòng
    Mạng quốc gia 1 0   0 0 1 1 SCCP
            0 1 0 0 Phần của người dùng thoại
    Dành cho sử dụng 1 1    
        0 1 0 1 UP ISDN
    quốc gia    
          0 1 1 0 UP số liệu
           
            0 1 1 1 UP di động
            1 0 0 0 Dự phòng
                tới    
            1   1   1   1  

    Hình 3.19 Octet thông tin dịch vụ (SIO)

    Điều hành mạng báo hiệu :

     

    47

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Mục đích của các chức năng điều hành mạng báo hiệu là cung cấp khả n ăng lập lại cấu hình của mạng báo hiệu trong trường hợp có sự cố và đi ều khiển l ưu lượng báo hiệu trong trường hợp bị ứ. Việc lập lại cấu hình mạng báo hiệu có hiệu quả nhờ các thủ tục thích h ợp để thay đổi việc đị nh tuyến lưu l ượng báo hiệu nhằm bỏ qua các kênh có sự cố hoặc các điểm báo hiệu liên quan xảy ra sự cố.

    Các chức năng điều hành mạng báo hiệu được chia thành :

    Điều hành lưu lượng báo hiệu. Điều hành kênh báo hiệu.

    Điều hành tuyến báo hiệu.

    1.    Điều hành lưu lượng báo hiệu (Signalling Traffic Management)

    Chức nă ng đ iều hành lưu lượng báo hiệu được sử dụng để chuyển đổi lưu lượ ng báo hiệu từ kênh hoặc tuyến này tới kênh khác hoặc tuyến khác hoặc tới lưu lượng báo hiệu chậm hơn tạm thời trong trường hợp xảy ra ứ ở điểm báo hiệu.

    Chức năng điều hành lưu l ượng báo hiệu gồm cả thủ tục được mô tả chi tiết trong khuyến nghị Q.704 của CCITT, bao gồm:

    Thay thế : thực hiện chuyển lưu lượng báo hiệu từ một đường báo hiệu hỏng sang các đường báo hiệu khác.

    Tái định tuyến bắt buộc : để đảm bảo chắc chắn khả năng khôi phục báo hiệu giữa hai điểm.

    Tái định tuyến được điều khiển : đảm bảo khôi phục các thủ tục báo hiệu tối ưu và giảm đến mức tối đa sai số trình tự các bản tin.

    Tái khởi động điểm báo hiệu : khởi tạo lại hoặc hoạt hoá các đường báo hiệu của điểm báo hiệu liên quan.

    Hạn chế điều hành : do nhân viên điều hành yêu cầu để bảo dưỡng và đo kiểm đường báo hiệu.

    2.    Điều hành kênh báo hiệu

    Ch ức năng điều hành kênh báo hiệu được sử dụng để phục hồ i các kênh báo hiệu có sự cố, để kích hoạt các kênh rỗi và không kích ho ạt các kênh báo hiệu đã đồng bộ. Chức năng điều hành kênh báo hiệu gồm các thủ tục sau (Các thủ tục này được mô tả trong khuyến nghị Q.704 của CCITT) :

    Kích hoạt kênh báo hiệu, phục hồi không kích hoạt.

    48

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Kích hoạt chùm kênh.

    Phân bố tự động kết cuối báo hiệu và các kênh số liệu báo hiệu.

    3.    Điều hành tuyến báo hiệu (SRM – Signalling Route Management)

    Chức năng quản lý tuyến báo hiệu được sử dụng để phân bổ thông tin về trạng thái của mạng báo hiệu nhằm ngăn cản hoặc giải toả các tuyế n báo hiệu. Chức năng điều hành tuy ến báo hiệu bao gồm các thủ tục sau (Các thủ tục này được mô tả trong khuyến nghị Q.704 của CCITT) :

    Thủ tục chuyển giao được điều khiển : chức năng này được thực hiện tại một STP đối với tin báo liên quan tới địa chỉ đích nào đó, khi nó phải thông báo cho một hay nhiều SP phía nguồn để hạn chế hoặc không được tiếp tục gửi thêm các tin báo có cấp ưu tiên quy định hoặc thấp hơn.

    Thủ tục chuyển giao bị ngăn cấm : được thực hiện tại một điểm báo hiệu đang hoạt động như STP khi nó phải thông báo cho một hoặc nhiều SP lân cận rằng chúng không được định tuyến qua STP này.

    Thủ tục được phép chuyển giao : được thực hiện tại một STP khi nó phải thông báo cho một hay nhiều SP lân cận rằng chúng có thể lập tuyến lưu lượng hướng tới điểm đích định trước thông qua STP này.

    Thủ tục chuyển giao bị hạn chế : được thực hiện tại một STP khi nó phải thông báo cho một hay nhiều STP lân cận rằng nếu có thể chúng không nên định tuyến qua STP đó nữa.

    Thủ tục kiểm tra chùm tuyến báo hiệu : được thực hiện ở các điểm báo hiệu để kiểm tra xem lưu lượng báo hiệu hướng tới một điểm đích nào đó có thể lập tuyến thông qua một điểm chuyển tiếp STP lân cận hay không.

    Thủ tục kiểm tra độ ứ chùm tuyến báo hiệu : được thực hiện ở một điểm báo hiệu để cập nhật trạng thái ứ liên quan tới một chùm tuyến báo hiệu đi đến một điểm đích nào đó.

    Các bản tin điều hành mạng báo hiệu :

    Việc l ập lại cấu hình mạng báo hiệu yêu cầu sự thông tin giữa các điểm báo hiệu. Vì lý do này mà có mộ t chùm các bản tin điều hành mạng báo hiệu có khả năng thực hiện để xử lý các chức năng và các thủ tục đã mô tả ở trên. Các bản tin này có nhận dạng riêng của chúng ở trường chỉ thị dịch vụ (“0000”).

    Mức 2                                                                         Mức 1                                                                     Mức 2

    Đường truyền số

    liệu báo hiệu

     

    49

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

                                                             
                                  GSD   ETC     ETC     GSD          
                                                     
                                                         
                    PCD-                             PCD-      
                                                     
                                                     
      ST-7                                 ST-7
              D           31                 D  
                                         
                                                       
                                                     
                                                           
                                                           
                                                           
    0 1     31         0 1                          
                                     
              64 kb/s   Kênh báo hiệu 64 kb/s            
    Kênh báo hiệu                        
                          2 Mb/s               2 Mb/s      

    Đường truyền báo hiệu (SL: Signalling Link)

    ETC (Exchange Terminal Circuit) : Mạch đầu cuối tổng đài

    GSD (Group Switching Device) : Thiết bị chuyển mạch nhóm.

    PCD-D (Pulse Code Device – Digital) : Máy ghép kênh số (luồng 64 kbit/s)

    ST-7 (Signalling Terminal) : Đầu cuối báo hiệu số 7.

    Hình 3.20 Đường truyền báo hiệu của MTP

    3.5 Phần điều khiển đấu nối báo hiệu ( SCCP : Signalling Connection Control Part)

                         
      LSS         SS    
                 
                         
                         
                         
                         
    SCCP NSP SCCP   SCCP
                   
    MTP       MTP   MTP
                       
                       
    Nút tại Nút trung Nút từ xa
    chỗ gian  

    50

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    LSS (Local SubSystem) : Phân hệ nội bộ

    SS (Subsystem) : Phân hệ

    Hình 3.21 Phần dịch vụ của mạng

    SCCP cung cấp các chức năng bổ sung cho MTP và nó được CCITT đưa vào sách đỏ năm 1984. Khối chức n ăng SCCP n ằm trên MTP và sự tổ hợp của SCCP và MTP được gọ i là phần dịch vụ của mạng ( NSP – Network Service Part ). SCCP được mô tả trong các khuyến nghị Q.711- Q.716 của CCITT.

    3.5.1 Mục đích của SCCP

    Trong một số trường hợp , mong muố n rằng các bản tin được chuyển giao từ điểm này tới đ iểm khác trong mạng mà không liên quan tới mạch điện ( Thoại hoặc số liệu ). MTP đã được thiết kế từ đầu cho báo hiệu liên quan tới mạch điện và vì vậy nó không đáp ứng được yêu cầu này. Một số dịch cụ không liên quan đến mạch điện là:

    Dịch vụ di động : chuyển vùng giữa các MSC. Các dịch vụ cơ sở dữ liệu.

    SCCP làm cho nó có khả năng chuyển giao cho cả báo hiệu liên quan và không liên quan tới mạch và thông tin của người sử dụng giữa các tổng đài và các trung tâm đặc biệt trong các mạng viễn thông qua mạng báo hiệu số 7. Một mục đ ích khác của SCCP là để thực hiện cho các dịch vụ của mạng không đấu nối và định hướng đấu nối.

    3.5.2 Các đấu nối báo hiệu

    Các mụ c tiêu của SCCP là cung cấp phương thức cho các đấu nối báo hiệu logic cho mạng báo hiệu số 7 và cung cấp ph ương thức cho khả năng chuyển giao các khối số liệu, có hoặc không s ử dụng các đấu n ối báo hiệu logic. Các chức năng cần thiết để đạt được những mục tiêu này của SCCP được thực hiện bởi các phươ ng thức của giao thức SCCP giữa 2 hệ th ống cung cấp phầ n d ịch vụ của mạng ( MTP + SCCP ) tới các lớp cao hơn. Các giao tiếp của dịch vụ tới lớp cao hơn và tới MTP được mô tả bằng các phương thức nguyên thu ỷ và các tham số. Đấu nối báo hiệu là thông tin điểm tới điểm ( peer to peer ) giữa hai người sử dụng SCCP ( những người sử dụng dịch vụ mạng ).

    Đấu n ối báo hiệu là đấu nối logic và đượ c mô tả là mô hình trừu tượng với một đôi xếp hàng trong các khuyến nghị của CCITT.

    Đấu nối báo hiệu giữa các nút nguồn và nút đích đôi khi có thể được chia thành nhiều phần đấu nối. Đấu nối báo hiệu được nhận d ạng nhờ một số tham khảo chuẩn , đó là số duy nhất cho phép nhận dạng một đấu nối báo hiệu xác định ở giao tiếp giữa SCCP và người sử dụng SCCP.

    51

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Người sử   Đấu nối báo hiệu   Người sử
           
    dụng SCCP Phần đấu     Phần đấu dụng SCCP
           
      nối     nối  
    SCCP   SCCP     SCCP
               

    Nút đầu cuối                                     Nút trung gian                                      Nút đầu cuối

    Hình 3.22 Đấu nối báo hiệu và các phần đấu nối

    3.5.3 Các dịch vụ của SCCP

    SCCP cung cấp hai loại dịch vụ , đó là : các dịch vụ đấu nối định hướng và các dịch vụ không đấu nối.

    3.5.3.1 Dịch vụ không đấu nối

    • dịch vụ không đấu nối , tất cả các thông tin định tuyến cần để định tuyến số liệu tới đích của nó phải có ở trong mỗi gói số liệu. Không có sự đấu nối logic được thiết lập giữa các nút đầu cuối. Dịch vụ không đấu nối thường được sử dụng để chuyển giao những lượng nhỏ thông tin tới hạn thời gian thực giữa những người sử dụng ở xa. Thí dụ như : phát tin báo kênh D từ một thuê bao ISDN khác, hoặc phát cảnh báo từ một tổng đài tới trung tâm khai thác và bảo dưỡng ( OMC ). Một thí dụ ứng dụng khác có thể sử dụng dịch vụ không đấu nối là ứng dụng của điện thoại di động tế bào , thông tin về sự định vị của thuê bao di động trong mạng di động.
    LE SL OMC
       

    OMAP                                                           OMAP

    SCCP                                                              SCCP

    MTP                             SL                            MTP

    UDT

    52

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Hình 3.23 Các dịch vụ không đấu nối

    Các loại giao thức không đấu nối :

    Loại không đấu nối cơ sở ( loại giao thức 0 ) :

    NSDU ( khối số liệu của dịch vụ mạng ) chuyển đi nhờ các lớp cao hơn tới SCCP ở nút nguồn được SCCP phân phát tới các nút cao hơn ở nút đích. Các nút NSDU được vận chuyển độc l ập với nhau và vì v ậy chúng có thể được phân phát không tuần tự. Như vậy loại giao thức này đáp ứng với dịch vụ của mạng không đấu nối thuần tuý.

    Loại không đấu nối tuần tự ( loại giao thức 1 ) :

    • loại giao thức 1 , các đặc điểm của loại 0 được hoàn thiện nhờ tính chất bổ sung, cho phép lớp cao hơn chỉ ra một luồng đã có của NSDU phải được phân phát tuần tự đến SCCP. Mã SLS được lựa chọn, dựa trên giá trị của tham số điều khiển tuần tự. Mã SLS được lựa chọn để cho luồng của các NSDU có cùng tham số điều khiển tuần tự là như nhau. Như vậy loại giao thức này đáp ứng yêu cầu dịch vụ không đấu nối nâng cao, ở đó có tính chất tuần tự bổ sung. Như vậy điểm khác nhau chính giữa loại 1 và loại 0 là loại 1 phân phát tin báo một cách tuần tự.

    3.5.3.2 Dịch vụ đấu nối định hướng

    Dịch v ụ đấu nối định hướng của mạng là một cách để hợp lý hoá thông tin báo hiệu củ a tổng đài giữa hai người sử dụ ng d ịch vụ của mạng bằng cách thiết lập đấu nố i báo hiệu logic gi ữa chúng. Sự đấu nối báo hiệu logic này đạt được nhờ đưa ra một số tham khảo nội bộ cho các bản tin báo hiệu tại đó.

    Dịch vụ đấu n ối định hướng là khả năng chuyển giao bản tin báo hiệu qua đấu nối báo hiệu đã được thiết lập. Việc đấu nối báo hiệu có thể là vĩnh cửu, hoặc là tạm thời.

    Đấu nối báo hiệu tạm th ời được bắt đầu và điều khiển bởi người sử dụng dịch vụ. Nó có thể so sánh với sự đấu nố i bằng quay số điện thoại. Đấu nối báo hiệu vĩnh cửu được điều khiển nh ờ chức năng Khai thác và bảo dưỡng cung cấp cho người sử dụng dịch vụ trên c ơ sở bán vĩnh cửu. Nó có thể so sánh với một đường dây điện thoại cho thuê.

    Phương thức chuyển giao đấu nối định hướng có thể được chia làm 3 giai đoạn

    1. Thiết lập sự đấu nối.

    53

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    1. Chuyển giao số liệ
    1. Giải phóng sự đấu nố

    Các dịch vụ của mạng đấu nối định hướng đượ c sử dụng khi có nhiều tin báo để chuyển giao ho ặc khi các b ản tin báo hiệu dài đến nỗi chúng phải được chia thành những đoạn nhỏ. Sau đó ở phía thu các đoạn này phải được nhóm trở lại.

    LE                                                                 OMC

    (Chuyển giao số liệu)SL

    OMAP       OMAP
                 
    Số liệu       Số liệu
    SCCP           SCCP
         

    SL

    MTP                                                              MTP

    DT1

    Hình 3.24   Các dịch vụ đấu nối định hướng

    Các loại giao thức đấu nối định hướng :

    Loại đấu nối định hướng cơ sở (loại giao thức 2) :

    • loại giao thức 2, các NSDU chuyển giao hai hướng giữa các người sử dụng SCCP được thực hiện nhờ thiết lập đấu nối báo hiệu tạm thời hoặc vĩnh cử Các tin báo thuộc về sự đấu nối báo hiệu đã chỉ ra sẽ chứa cùng một giá trị của trường SLS để đảm bảo được tuần tự theo như các loại của giao thức 1. Chất lượng của dịch vụ như mất tin báo, các lỗi không phát hiện được, nhầm tuần tự

    … giống như trường hợp MTP đối với phần của người sử dụng. Như vậy loại giao thức 2 tương ứng với dịch vụ của mạng đấu nối định hướng đơn giản. Số liệu được chuyển giao bằng các gói dạng số liệu 1 (DT1).

    Loại đấu nối định hướng điều khiển luồng (loại giao thức 3):

    • loại giao thức 3, các tính chất của loại giao thức 2 được bổ sung bằng cách gộp vào sự điều khiển luồ Điều khiển luồng nghĩa là tốc độ luồng số liệu có thể được điều khiển hoặc giữa các lớp lân cận hoặc giữa hai lớp. Các chức năng điều khiển luồng cho phép thu hạn chế luồng số liệu từ phần phát. Ngoài ra, khả năng thêm vào phát hiện mất tin báo hoặc mất tuần tự bổ sung. Trong điều kiện như vậy, sự đấu nối báo hiệu được thiết lập lại và một thông báo đáp lại được SCCP đưa tới lớp cao hơn. Loại 3 cũng cung cấp khả năng cho hệ thống điều

    54

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    khiển luồng đi qua nhờ phát các khối số liệu thực hiện. Số liệu thông thường được chuyển giao nhờ các gói dạng số liệu 2 (DT2).

    3.5.4 Cấu trúc chức năng của SCCP

    Cấu trúc chức năng của SCCP bao gồm các phần chức năng chính sau :

    • Điều khiển đấu nối định hướng của SCCP (SCOC).
    • Điều khiển không đấu nối của SCCP (SCLC).
    • Định tuyến của SCCP (SCR).
    • Điều hành SCCP (SCM).

    Những người sử dụng SCCP

    Yêu cầu                     Chỉ thị             Yêu cầu                   Chỉ thị

    SCLC                                                  SCOC

    UDT,UDTS

    SCM                                                     SCR

    Chỉ thị                                             Yêu cầu                   Chỉ thị

    MTP

    Hình 3.25 Cấu trúc chức năng của SCCP

    Phần chức năng điều khiển đấu nối định hướng của SCCP cung cấp các thủ tục để thiết lập, giám sát và giải phóng sự đấu nối báo hiệu tạm thời. Nó cũng xử lý chuyển giao số liệu ở đấu nối này.

    Phần chức năng điều khiển không đấu nối của SCCP cung cấp các thủ t ục để chuyển giao không đấu n ối số liệu của người sử dụng. Sự phân bổ và thu nhận các tin báo điều hành của SCCP cũng là một phần của phần chức năng này.

    Phần định tuyến của SCCP dựa vào chức năng của MTP để định tuyến vật lý tin báo từ một điểm báo hiệu tới điểm báo hiệu khác. Ngoài ra phần chức năng

    55

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    định tuyến của SCCP cung cấp khả năng định tuyến bổ sung như là sự diễn dịch tiêu đề tên toàn cầu cho người sử dụng mạng.

    Phần chức năng điều hành của SCCP cung cấp các thủ tục để duy trì chất lượng mạng nhờ định tuyến lại hoặc điều chỉnh lưu lượng khi có sự cố hoặc tắc nghẽn xảy ra.

    3.5.5 Các bản tin báo của SCCP

    Các bản tin báo của SCCP được sử dụng nhờ giao thức Peer to Peer. M ọi tin báo đều được nhận dạng đồng nhất b ằng mã của loại tin báo, mã này được nhận biết ở mọ i bản tin báo. Đối v ới dị ch vụ không đấu nối, chỉ có hai loại tin báo là: số liệu của khối (UDT) và dịch vụ số liệu của khối (UDTS).

    Loại tin báo Các loại  
      0 1    
    Số liệu của khối UDT x x 0000 1001  
    Dịch vụ số liệu của khối x x 0000 1010  
    UDTS
           

    Hình 3.26   Các tin báo SCCP cho các dịch vụ không đấu nối

    • nút nguồn, khi các chức năng của SCCP thu từ nút cao hơn một NSDU được chuyển nhờ loại giao thức 0 hoặc 1, địa chỉ bị gọi và các tham số liên quan khác được phân tích để nhận dạng nút về phía tin báo sẽ được phát đi. Khi đó NSDU được xem như là số liệu của người sử dụng ở bản tin số liệu của khối (UDT) chúng được gửi về phía nút đích, nhờ sử dụng các chức năng của MTP. Bản tin dịch vụ số liệu khối (UDTS) được đưa trở lại SCCP đích, khi bản tin UDT không thể phân phát được tới đích của nó. Tin báo UDTS chứa thông tin về nguyên nhân chuẩn đoán. Đối với dịch vụ định hướng đấu nối, các tin báo cũng cần trong thời gian giải phóng và thiết lập bên cạnh các tin báo chuyển giao số liệu.
    Loại tin báo Các loại  
    0 1
         
    Yêu cầu đấu nối CR x x 0000 0001  
    Khẳng định đấu nối CC x x 0000 0010  
    Từ chối đấu nối CREF x x 0000 0011  
    Dạng số liệu 1 – DT1 x   0000 0110  

    56

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41     Đồ án tốt
    nghiệp      
             
    Dạng số liệu 2 – DT2     x 0000 0111
    Số liệu thực hiện ED     x 0000 1011
    Kiểm tra sự không hoạt động IT   x x 0010 0000
    Lỗi khối số liệu của giao thức ERR   x x 0000 1111
    Giải phóng RLSD   x x 0000 0100
    Giải phóng xong RLC   x x 0000 0101

    Hình 3.27 Tin báo SCCP cho các dịch vụ định hướng đấu nối

    Hoạt động của dịch vụ định hướng đấu nối chia thành 3 giai đoạn:

    Giai đoạn thiết lập đấu nối : Tin báo yêu cầu đấu nối (CR) được phát bởi SCCP gọi để yêu cầu thiết lập đấu nối báo hiệu giữa hai người sử dụng SCCP. Khi thu tin báo CR, nếu có thể SCCP bị gọi bắt đầu thiết lập đấu nối báo hiệu. Tin báo khẳng định sự đấu nối (CC) được phát bởi SCCP bị gọi để cho SCCP gọi biết rằng nó đã được thiết lập đấu nối báo hiệu. Khi thu tin báo CC, nếu có thể, SCCP gọi hoàn thiện việc thiết lập đấu nối báo hiệu. Tin báo từ chối đấu nối (CREF), được phát bởi SCCP bị gọi hoặc một nút SCCP trung gian để cho SCCP gọi biết rằng việc thiết lập đấu nối báo hiệu bị từ chối.

    Giai đoạn chuyển giao số liệu : tin báo dạng số liệu 1 (DT1) được phát bởi kết cuối của đấu nối báo hiệu đó chuyển thông suốt số liệu của người sử dụng SCCP giữa hai nút SCCP. Loại tin báo này chỉ được sử dụng ở loại giao thức 2. Tin báo số liệu 2 (DT2) được phát bởi kết cuối của đấu nối báo hiệu để chuyển thông suốt số liệu của người sử dụng SCCP giữa hai nút SCCP và để các tin báo thừa nhận đi theo một hướng khác. Loại tin báo này chỉ được sử dụng ở loại giao thức 3. Tin báo kiểm tra việc không hoạt động (IT) có thể được phát định kỳ bởi kết cuối của phần đấu nối để kiểm tra liệu xem phần đấu nối này có hoạt động ở cả hai đầu cuối hay không, và để kiểm tra tính nhất quán của số liệu đấu nối ở cả hai đầu cuối. Tin báo về lỗi khối số liệu của giao thức (ERR) được phát

    • phần đấu nối khi phát hiện được bất kỳ lỗi nào của giao thứ

    Giai đoạn giải phóng đấu nối : tin báo giải phóng được phát đi (RLSD) theo hướng thuận hoặc hướng nghịch để chỉ thị rằng SCCP phát mong muốn giải phóng sự đấu nối và các nguồn liên quan ở nút phát đã có điều kiện ngắt cuộc nối. Nó cũng chỉ ra rằng nút thu cũng như các nguồn kết hợp phát cần giải phóng đấu nối. Tin báo giải phóng xong (RLC) được phát để đáp lại tin báo RLSD, chỉ thị rằng đã thu được tin báo RLSD, và các thủ tục thích hợp đã được hoàn thành.

    Các tham số của tin báo SCCP :

    Một số tham số sử dụng trong các tin báo SCCP được liệt kê trong bảng :

    57

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41 Đồ án tốt
    nghiệp    
           
      Tên tham số  
      Chuẩn nội bộ nơi đến (đích) 0000 0001  
      Chuẩn nội bộ nơi xuất phát (nguồn) 0000 0010  
      Địa chỉ của phần bị gọi 0000 0011  
      Địa chỉ của phần gọi 0000 0100  
      Loại giao thức 0000 0101  
      Phân đoạn / nhóm lại 0000 0110  
      Tuần tự / phân đoạn 0000 1000  
      Kết toán 0000 1001  
      Nguyên nhân lỗi 0000 1101  
      Số liệu 0000 1111  

    Hình 3.28 Các tham số của tin báo SCCP

    Tr ường tham số của số chuẩn n ội bộ (nguồ n / đ ích) nh ận dạng đồng nhất sự đấu nối báo hiệu ở một nút. Đó là một s ố làm việc n ội bộ đã được l ựa chọn cho từng nút độc lập v ới nhau. Ở bất kỳ sự trao đổi tin báo nào trong đấu nối báo hiệu (các dịch vụ định hướ ng đấu nối) đều có ít nhất một số chuẩn nội bộ. Trườ ng tham số địa chỉ của phần gọi / bị gọ i chứa đủ thông tin để nh ận dạng đồ ng nhất báo hiệu đích hoặc nguồn và/hoặc người sử dụng SCCP. Nó cũng là tổ hợp tiêu đề tổng thể mã đi ểm báo hiệu và số củ a phân hệ. Số của phân hệ (SSN) xác định chức năng của người sử dụng SCCP.

    3.5.6 Các khuôn dạng và các mã

    Các tin báo SCCP được mang trên các kênh số liệu báo hiệu nhờ các MSU. Khối ch ỉ thị dịch vụ (SI) ở octet thông tin dịch vụ (SIO) được mã hoá là “0011” cho các tin báo của SCCP, bao gồm một số nguyên các octet (<= 272 octet). Giống như trong tin báo ISUP, mỗi tin báo SCCP chứa một số tham số với thông tin báo hiệu. Các tham số có độ dài cố định, hoặc có độ dài thay đổi và chúng có thể hoặc lựa chọn hoặc bắt buộc.

    Mô hình tin báo của SCCP :

    Nhãn định tuyến

    58

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Loại tin báo

    Phần lệnh cố định bắt buộc

    Phần lệnh thay đổi bắt buộc

    Phần lựa chọn

    3.5.7 Định địa chỉ và định tuyến trong SCCP

    Khi phần của người sử dụng dùng MTP để chuyển giao bản tin báo hiệu, thì địa ch ỉ củ a ph ần bị gọi (số B) được phân tích ở phần của người sử dụng để định tuyến các bản tin báo hiệu.

    Khi SCCP được sử dụng thì hai tham số : địa chỉ của phần gọi và đị a chỉ của phần bị g ọi trong tin báo SCCP chứa thông tin cần thiết để SCCP xác định nút ngu ồn và nút đ ích. Cả địa chỉ của phần gọi và phần bị gọi đều có trong các tin báo không đấu nối số liệu của kh ối (UDT) và số liệu của khối (UDTS), trong khi chỉ có địa chỉ của phần bị g ọi được chứa trong tin báo định hướng yêu cầu đấu nối (CR). Các tin báo đấu nối định hướng khác không chứa chứa bất kỳ tham số địa chỉ nào. Chúng được chuyển giao ở các phần đấu n ối, nghĩ a là chúng được phát tới các đích xác định trước. Trong trường h ợp các thủ tụ c đấu nối định hướng thì địa ch ỉ của phần b ị gọ i là điể m đ ích của đấu nối báo hiệu, trong khi đó trong trường hợp các thủ tục không đấu nối thì các địa chỉ là các điểm nguồn và đích của tin báo. Có hai loại địa chỉ cơ bản để định tuyến SCCP :

    • Tiêu đề tổng thể (GT) : tiêu đề tổng thể là một địa chỉ như các digit quay số mà SCCP cần truyền đi trước khi chúng có thể được sử dụng để định tuyến trong mạng báo hiệu. Sự diễn dịch của GT luôn luôn đòi hỏi đối với các tin báo của CR.

    Mã điểm đích của DPC và số phân hệ (SSN) cho phép định tuyến trực tiếp nhờ SCCP và MTP, có nghĩa là chức năng diễn dịch SCCP không cần đến. Số của phân hệ (SSN) là một địa ch ỉ xác định một ph ần củ a nút SCCP hoặc trực tiếp (như ISUP) hoặc gián tiếp đ i qua các khả năng giao dịch (như MAP). Một số các phân hệ như vậy là : Điều hành SCCP, ISUP, OMAP, MAP.

    • Địa chỉ của phần bị gọi : Khối chỉ thị địa chỉ gồm loại thông tin địa chỉ chứa trong trường địa chỉ (SPS hoặc SSN và/hoặc GT). Khối chỉ thị định tuyến (ở trường khối chỉ thị địa chỉ ) được sử dụng để xác định việc định tuyến dựa trên SSN hoặc GT.

     

    59

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41 Đồ án tốt
    nghiệp  
               
      GT SSN SPC Khối chỉ thị địa chỉ  
               
    Dự Khối chỉ thị Khối chỉ Khối chỉ thị Khối chỉ thị
    trữ định tuyến thị GT SSN mã điểm

    Hình 3.29 Địa chỉ của phần bị gọi

    3.5.8 Các thủ tục báo hiệu

    3.5.8.1 Các thủ tục đấu nối định hướng – loại giao thức 2 và 3

    Thiết lập đấu nối : thủ tục này bao gồm các chức năng cần thiết để thiết l ập đấu nối báo hiệu tạm thời giữa hai người sử dụng SCCP. Các thủ tục thiết lập đấu nối được bắt đầu do người sử dụng SCCP chấp nhận cơ sở yêu cầu đấu nối N.

    Người sử dụng SCCP SCCP-A SCCP-B Người sử dụng SCCP
    Yêu cầu đấu nối N CR  
         

    Chỉ thị đấu nối N

    Trả lời đấu nối N

    CC

    Khẳng định đấu nối N

    Truyền số liệu với các bản tin DT1 hoặc DT2

    Yêu cầu đấu nối N RLSD
     

    Chỉ thị đấu nối N

    Trả lời đấu nối N

    RLC

    Khẳng định đấu nối N

    Hình 3.30 Các nguyên tắc chung để thiết lập đấu nối

     

    60

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Thủ t ục được b ắt đầu do SCCP nguồn phát tin báo yêu cầu đấu nối (CR). Ở tin báo này luôn chứa số tham khảo nội bộ (lựa chọn b ởi SCCP nguồ n), loại giao thức và địa chỉ đến SCCP đích ở tin báo CR có thể cũng có trong địa chỉ của SCCP nguồn và số liệu củ a người sử dụng . Khi thu tin báo CR này, SCCP đích trả l ời bằng cách phát đi tin báo kh ẳng định đấu nối (CC). Ở tin báo này luôn bao gồm số tham khảo nội bộ đượ c lựa chọn bởi SCCP nguồn và số tham khảo được l ựa chọn bởi SCCP đích và loại giao thức cũ ng được l ựa chọn bởi SCCP đích, số liệu củ a ngườ i sử dụ ng cũng có thể nằ m trong đó. Khi tin báo CC được SCCP nguồn thu thì sự đấu nối báo hiệu được thiết lập.

    Chuyển giao s ố li ệu : Sự trao đổ i thông tin tiếp theo giữa SCCP nguồn và SCCP đích , các tin báo số liệu (DT1 và DT2) đều được sử dụng.

    Giải phóng đấ u nối : Việc giải phóng sự đấu nối báo hiệu được hoàn thành cùng với tin báo giải phóng (RLSD) và tin báo giải phóng xong (RLC).

    3.5.8.2 Các thủ tục không đấu nối – loại giao thức 0 và 1

    Các thủ tục không đấu n ối cho phép người sử dụng SCCP yêu cầu chuyển giao số liệu mà không cần thiết lập đấu nối báo hiệu trước. Cơ sở yêu cầu số liệu của khối N được sử dụng bởi người sử dụng SCCP yêu cầu chuy ển giao số liệu của ng ườ i sử dụng. Cơ sở chỉ thị số liệu của kh ối N được sử dụng bởi SCCP đích để chỉ thị s ự phân phát số liệu của người s ử dụ ng tới người sử dụng đích. Các tham số liên quan với c ơ sở yêu cầu của số li ệu khối N phải chứa tất cả thông tin cần thiết cho SCCP để phân phát số liệu của người sử dụng tới đích.

    Việc chuyển giao số li ệu của người s ử dụng được hoàn thành cùng với số liệu của người sử dụng trong các tin báo số liệu của khối (UDT).

    3.6 Phần ứng dụng khả năng giao dịch ( TCAP : Application Part )

    Trong tươ ng lai, mạng viễn thông sẽ có rất nhiều dịch vụ mới. Nhiều trong số các dịch vụ này sẽ đòi hỏi chuy ển giao số liệu báo hiệu giữa các nút trong mạng báo hiệu nhanh nhất và có hiệu quả nhất.

    Một trong số những nút này sẽ là các cơ sở dữ liệu có một khối lớn số liệu với các chương trình ứng dụng khác nhau.

    CCITT đã xác định khái niệm các khả năng giao dịch (TC) để cung cấp các dịch vụ tổng thể cho mộ t số lớn các dị ch vụ khác nhau nh ư vậy mà không có ứng dụng nào ràng buộc với ứng dụ ng nào. Khái niệm TC tuân theo các chức năng của giao thức đã tiêu chuẩn hoá chung.

    Phần ứng dụng khả năng giao dịch (TCAP) là một phần khái niệm TC, cung cấp các giao thức và các dịch vụ lớp ứng dụng.

    61

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Các ví dụ về các ứng dụng sẽ dùng những khả năng này là:

    Các ứng dụng của dịch vụ di động.

    Dịch vụ điện thoại miễn phí (dịch vụ 800). Gọi bằng thẻ tín dụng.

    Các ứng dụng khai thác và bảo dưỡng.

    Những người sử dụng các khả năng giao dịch này được gọi là các người sử dụng TC.

    3.6.1 Mục đích của TCAP

    Mục đích chính của TCAP là để hỗ trợ cho các ứng dụng tương tác trong môi trường phân tán.

    TCAP là một giao thức chung có khả năng đưa các tính chất mới vào trong mạng viễn thông một cách d ễ dàng. Nó giả m yêu cầu phát triển của giao thức mới, mỗi khi có các tính chất mới được đưa ra.

    TCAP xác định một giao thức đầu cuối (end-to-end) giữa các người sử dụng TC.

    3.6.2 Các khái niệm của TCAP

    • Người sử dụng TC : là ứng dụng sử dụng TCAP như một giao thức để thông tin trong mạng.
    • Đàm thoại: là sự liên kết được thiết lập giữa hai người sử dụng TC trao đổi số liệu.
    • Khai thác : là hoạt động đang được yêu cầu của đầu xa do người sử dụng TC.
    • Giao dịch : là sự liên kết giữa hai TCAP.
    • Phần tử : là một khối số liệu giao thức được trao đổi giữa những người sử dụng TCAP.
    • Cơ sở của TC : là cơ sở trao đổi giữa TCAP và người sử dụng TC.

    Khái quát về chức năng :

    Khi người sử dụng TC muốn b ắt đầu một thao tác ( thí dụ như diễn d ịch số điện tho ại miễn phí ) ở một nút từ xa , họ ph ải bắt đầu cuộ c đ àm thoại với người sử d ụng TC ở xa. Điều này được thực hi ện nhờ phát các cơ sở yêu cầu tới các giao thức TCAP. Sau đó TCAP bắt đầu giao dịch với TCAP từ xa bằng cách

    62

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    phát bản tin TCAP tới nút đó qua mạng báo hiệu. Việc chuyển bản tin TCAP được xử lý nhờ phần dịch vụ của mạng (NSP).

    Hình vẽ cũ ng chỉ ra rằng cả ngườ i sử d ụng TC và TCAP đều có trong lớp 7 của mô hình OSI và các chức năng trong lớp 4 – 6 (phần dịch vụ trung gian ) không được sử dụng.

              Hội thoại          
        Người sử dụng         Người sử dụng    
    7   TC     Giao dịch     TC    
                 
      TCAP         TCAP  
               
                     
    4 – 6                      
                         
                         
                           
        SCCP             SCCP  
    NSP       SCCP        
    1-3                      
      MTP             MTP  
          MTP        
                 
                         
                 
        SP   STP SP

    Hình 3.31 Khái quát chức năng của SS7 có TCAP

    3.6.3 Cấu trúc của TCAP

    Về mặt chức năng , TCAP được chia thành 2 lớp nhỏ là : phân lớp phần t ử và phân lớp giao dịch. Phân lớp ph ần t ử đề cập đến các hoạt động hoặc số li ệu riêng. Phân lớp giao dịch đề cập đến sự trao đổi các tin báo, chứa các phần tử giữa 2 TCAP.

    63

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    OSI   Lớp báo hiệu số 7 của    
          CCITT    
              E.G.MAP
        Phần cụ thể của lớp ứng dụng
                 
          TCAP    
                 
    Lớp ứng dụng 7   Phân lớp phần tử      
                T
          Phân lớp giao dịch    
              C
                 
    Lớp trình bày 6       I  
               
    Lớp phiên 5       S  
          P  
               
    Lớp truyền tải 4        
             
               
    Lớp mạng 3   SCCP    
             
      Chức năng giao dịch M N
         
             
    Lớp tuyến số liệu 2 Chức năng điều khiển tuyến T S
              P P
    Lớp vật lý 1   Tuyến số liệu báo hiệu
         
                 

    Hình 3.32 Cấu trúc của TCAP

    3.6.3.1 Phân lớp phần tử (CSL)

    Phân lớp phần tử cung cấp cho người sử dụng TC có khả n ăng yêu cầu hỗ trợ các khai thác từ xa và thu đáp lại, có nghĩa là chức năng của d ịch v ụ điện thoại miễn phí có thể yêu cầu sự hướng dẫn từ cơ sở dữ liệu về xử lý cuộc gọi như thế nào.

    Phân hệ phần tử được chia làm hai phần chức năng, xử lý hội thoại (DHA) và xử lý phần tử (CHA).

    64

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Hai phần chức năng thông tin với người sử dụng TC nhờ phát và thu, được gọi là các cơ sở (các cơ sở hội thoại và phần tử).

    Người sử dụng TC

                     
      CSL            
                     
        DHA     CHA  
                     
                     
                Xử lý giao dịch
               
                   
      TSL          
                   
    TCAP     Tin báo TCAP
             

    SCCP

    Hình 3.33  Các phân lớp TCAP

    3.6.3.2 Phân lớp giao dịch (TSL)

    Phân lớp giao dịch cung cấp khả năng để phát các tin báo giữa các phần TCAP. Những tin báo này có thể chứa các phần tử từ phân lớp phần tử.

    Để vận chuyển các tin báo TCAP, TSL sử dụng các dịch vụ cung cấp bởi ph ần dịch vụ của mạng (NSP). Chỉ có các dịch vụ cho báo hiệu không đấu nối là được sử dụng.

    Th ủ tục của phân lớp giao dịch liên kết mỗi tin báo TCAP với một giao dịch đặc biệt. Nó cũ ng sắp xếp thông tin điều khiển hội thoại vào thông tin đi ều khiển giao dịch. Có sự sắp xếp từng thông tin một giữa hội thoại và giao dịch.

    TSL cũng xử lý một ph ần củ a tin báo TCAP và phần đó được gọi là phần giao dịch (TP) . Khi phát hiện lỗi ở TP, tin báo được bỏ đi và nếu thích hợp thì việc giao dịch thôi không thực hiện nữa.

    65

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    3.6.4 Các dịch vụ cung cấp bởi TCAP

    3.6.4.1   Xử lý hội thoại (DHA)

    Có hai loại phương tiện hội thoại được cung cấp :

    Hội thoại có cấu trúc : phương thức hội thoại có cấu trúc cho phép người sử dụng TC bắt đầu hội thoại, trao đổi các phần tử trong hội thoại này, và sau đó kết cuối và bãi bỏ nó.

    Các hội thoại có cấu trúc cho phép một vài phần tử cùng tồn tại giữa hai người sử dụng TC. Để nhận dạng mỗi hội thoại có cấu trúc, một tham số ID của hội thoại được sử dụng. Tham số này cũng xác định phần tử nào gắn liền với tin báo và hội thoại.

    Hội thoại không có cấu trúc : hội thoại không có cấu trúc có thể được sử dụng để diễn đạt sự hoạt động mà không cần phải trả lời. Không có sự bắt đầu và sự kết cuối rõ ràng nào kết hợp với hội thoại không có cấu trúc. Các hội thoại không có cấu trúc được kết cuối từ quan điểm của TCAP ngay khi các thành ph ần đã được phát đi.

    3.6.4.2 Xử lý phần tử (CHA)

    Mỗi phần tử bao gồm một yêu cầu để thực hiện vận hành hoặc trả lời :

    Vận hành là một thao tác được thực hiện ở đầu xa.

    Yêu cầu hỗ trợ vận hành được nhận biết nhờ ID hỗ trợ. Đi ều này cho phép một số yêu cầu hỗ trợ vận hành giống hoặc khác nhau tác động tức thời.

    Một hoặc nhiều trả lời có thể được gửi đến vận hành.

    Bốn loại vận hành được cung cấp. Chúng được ngườ i sử dụng TC lựa chọn tuỳ thuộc vào yêu cầu liên quan tới báo cáo trả lời cho vận hành đã được yêu cầu hỗ trợ.

    Bốn loại vận hành là:

    Loại 1 : cả báo cáo thành công và sự cố.

    Loại 2 : chỉ có báo cáo sự cố.

    Loại 3 : chỉ có báo cáo thành công.

    Loại 4 : không có báo cáo thành công hoặc sự cố.

    Chức nă ng xử lý này sắp xếp các thông tin thành phần vào các phần t ử và ngược lại. Tất cả các phần tử trong vận hành có cùng ID, hỗ trợ được phân định bởi người sử dụng TC yêu cầu h ỗ trợ. Đầu xa đưa trở lại ID hỗ trợ trong các trả lời của nó tới yêu cầu hỗ trợ vận hành.

    66

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Các phần tử được đưa riêng biệt giữa người sử dụng TC và phân lớp phần tử.

    Người sử dụng TC nguồn có thể sẽ phát vài phần tử tới phân lớp phần tử trước khi chúng được phát (trong tin báo đơn) tới đầu xa.

    Khi thu được vài phần tử ở một tin báo đơn mỗi phần tử được phân phát riêng biệt tới người sử dụng TC và theo cùng trật tự như chúng được cung cấp ở giao diện nguồn.

    Trong trường hợp hội tho ại có cấu trúc, CHA cung cấp bộ đị nh thời (đồng hồ) kết hợp với yêu cầu hỗ trợ vận hành. Đồng hồ này được khởi độ ng khi phần tử yêu cầu hỗ tr ợ đượ c chuyển tới phân lớp giao dịch. Giá trị của đồng hồ được xác định nhờ người sử dụng TC đối với mỗ i vận hành. Đồng hồ sẽ dừng khi đã thu được trả lời cho phần tử yêu cầu hỗ trợ. Đồng h ồ cũng có thể dừng do người sử dụng TC ở tình trạng bãi bỏ. Khi hết giờ, người sử dụng TC được thông báo và vận hành dừng lại.

    3.6.4.3 Phân đoạn các tin báo

    Phần tử thành phần được phân phát từ ng ười s ử dụng TC, không đượ c phép vượt quá độ dài tin báo lớn nhất, bao gồm cả mào đầu bổ sung ở dưới các lớp.

    TCAP cung cấp dịch vụ cho người sử dụ ng TC, nghĩa là với mỗi phần tử thành phần đã thu được từ người sử d ụngTC, thì TCAP kiểm tra độ dài. Nếu độ dài chấp nhận được thì phần tử được chấp nhận và lưu trữ, nếu ngược lại nó sẽ được đưa trở lại người sử dụngTC để phân đoạn.

    3.6.4.4 Chất lượng của dịch vụ (QOS)

    Khái niệm chất lượng của dịch vụ có ngh ĩa là người sử dụng TC chỉ thị chất lượng dịch vụ có thể chấp nh ận được, được cung cấp b ởi các lớp dưới. Dịch vụ này được cung cấp cho người sử dụng TC bởi SCCP và được TCAP hỗ trợ.

    Tham số QOS có trong tất cả các sơ sở yêu cầu hội thoại và được s ắp xếp bởi TCAP (TSL) vào tham số t ương ứng ở các cơ sở yêu cầu đã phát tới SCCP. Có hai loại dịch vụ khác nhau cung cấp cho người sử dụng TC, phân phát tuần tự và đưa trở về tin báo.

    * Phân phát tuần tự :

    Ngườ i sử dụng TC có thể chỉ thị liệu tin báo có cần được phát theo mộ t tuyến đã định trong mạng báo hiệu, và do đó đảm bảo phân phát tu ần tự những bản tin báo này. Phần khác là để chỉ thị tuyến nào không được đảm bảo rằng tin báo sẽ được phân phát tuần tự.

    67

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Phân phát tuần tự được sử dụng trong phân đoạn tin báo và chỉ thị này được ánh xạ thành SCCP giao thức lớp 1. Ph ần này ngụ ý rằng TCAP cung cấp SCCP với tham số điều khiển tuần tự được sử dụng để lựa chọn kênh báo hiệu.

    Không phân phát tuần tự được sử dụng cho các tin báo trật tự phân phát là không có hiệu lực. Loại này được sắp xếp vào loại các SCCP 0.

    * Phần đưa trở về tin báo :

    Nếu tin báo không thể phân phát được tới đích, ví dụ như do t ắc nghẽn ở mạng báo hiệu thì người sử dụng TC cũng có một lựa chọn để yêu cầu tin báo cần được đưa trở về.

    Trong trường hợp tin báo được đưa trở lại, TCAP (TSL) sẽ thu một ch ỉ thị chứa toàn bộ tin báo và lý do quay trở lại, t ừ SCCP. TCAP sẽ sử d ụng cơ chế báo cáo ngoại lệ để thông báo cho người sử dụ ng TC biết điều này. Khi SCCP chỉ thị tin báo được quay trở lại thì TCAP tách ra lấy loại tin báo, lý do đưa trở lại và ID giao dịch/hội thoại (nếu có khả năng ứng dụng) và gửi cơ sở chỉ thị chú ý TC cho người sử dụng TC có chứa thông tin này. Sau đó tuỳ theo người sử dụng TC mà hoạt động theo đúng cách thích hợp, như loại bỏ hội thoại.

    * Báo cáo ngoại lệ :

    DHA thông báo cho người sử dụng TC về các tình trạng không bình thường nào đó.

    Khi thu được chỉ thị tin báo quay trở lại bởi phân lớp phía dưới, tin báo được đưa trở lại bởi CSL tới người sử dụng TC. Phương tiện này dựa trên yêu cầu ở người sử dụng TC.

    Khi phát hiện được khoảng thời gian hội thoại kéo dài không bình thường thì DHA sẽ thông báo cho người sử dụng TC biết điều này.

    • Các cơ sở của TCAP :

    Thông tin trao đổ i gi ữa TCAP và người sử d ụng TC được thực hiện với các cơ sở. Đó là những cơ sở yêu cầu, hoặc là những cơ sở chỉ thị tuỳ thuộc vào hướng của cơ sở.

    Người sử dụng TC

    Yêu cầu                                               Chỉ thị

    TCAP

    Hình 3.34 Các cơ sở yêu cầu và chỉ thị

     

    68

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    3.6.5 Cấu trúc của tin báo TCAP

    Các hội thoại (có cấu trúc và không có cấu trúc) ở phân lớp phần tử đượ c sắp xếp vào các phần giao d ịch nhờ TSL, có nghĩa là thông tin đ iều khi ển hội thoại được đưa vào thông tin điều khiển giao dịch. Việc sắp x ếp thông tin này vào thông tin kia tồn tại giữa phần hội thoại và ph ần giao dịch. Các tin báo giao d ịch cũng có cùng tên như các cơ sở hội thoại như : UNI, BEGIN, CONTINUE …

    • Cấu trúc chung của tin báo :

    Mỗi ph ần t ử thông tin trong tin báo TCAP có cùng cấu trúc. Một phần tử thông tin bao gồm 3 tr ườ ng, luôn xuất hiện theo sự chỉ thị sau: dấu hiệu, độ dài và nội dung. Dấu hiệu là để phân biệt một phần tử v ới mộ t phần tử khác và để qu ản lý, diễn dịch nội dung. Nội dung là bản chất của phần tử, chứa thông tin cơ sở mà phần tử phải vận chuyển. Nội dung của mỗi phần tử hoặc là có một giá trị (cơ sở), hoặc nhiều phần tử thông tin.

    • Cấu trúc tin báo TCAP :

    Tin báo TCAP được cấu trúc như là một phần tử thông tin được xây dựng độc lập. Nó bao gồ m phần giao d ịch (TP – Transfer Part) chứa các phần thông tin sử dụng bởi phân lớp giao dịch và một thành phần phần tử (CP) chứa các phần tử thông tin được sử dụng bởi phân lớp phần tử.

    Dấu hiệu loại tin báo

    Tổng độ dài tin báo

    69

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41                                                           Đồ án tốt

    nghiệp

    Phần giao dịch

    Phần tử thông tin

    Dấu hiệu của phần thành phần

    Độ dài của phần thành phần

    Dấu hiệu của loại thành phần

    Độ dài của loại thành phần

    Phần tử thông tin của phần

    thành phần

    Thành phần

    Hình 3.35 Cấu trúc tin báo TCAP

    3.6.6 Lưu đồ thông tin:

    Khi một người s ử dụng TC muốn phát thông tin cho người sử dụng TC khác , nó phát thông tin trong các cơ sở của ph ần tử , tức là TC yêu cầu hỗ tr ợ tới TCAP và bắt đầu hội thoại bằng cách phát cơ sở hội thoại “ TC – khởi đầu ” tới TCAP. Sau đó TCAP t ạo thành bản tin “ khởi đầu” với phần giao dịch và một hoặc nhiều thành phần trong thành ph ần phần tử. Sau đó bản tin được chuyển tới SCCP, nơi bản tin TCAP được đưa vào bên trong bản tin SCCP. Sau đó bản tin SCCP được đưa vào trường SIF của MSU nhờ MTP.

    Người sử dụng       SCCP     MTP  
                           
    TC – bắt đầu TC-chấp nhận Tin báo     MSU
          SCCP    
      TCAP                    
                     
            Loại tin báo      
                       
                       
              Nhãn định tuyến      
                           

    70

    Nguyễn Hà Dương – Lớp ĐTVT4 – Khoá 41 nghiệp

    Đồ án tốt

     

    Tin báo

    TCAP

    Phần giao dịch

    Phần tử

    Địa chỉ phần bị gọi

    Địa chỉ phần gọi

    Loại giao thức

    Số liệu

    F CK SIF SIO LI Sửa F
    lỗi

    Kênh báo

    hiệu

    Phần tử

    Hình 3.36 Lưu đồ thông tin

    • đầu xa lưu đồ thông tin ngược lại.

    71


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Chi Tiết Máy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-L%C3%BD-Kh%C3%A1ch-S%E1%BA%A1n-V%C3%A0-%C4%90%E1%BA%B7t-Ph%C3%B2ng-Tr%E1%BB%B1c-Tuy%E1%BA%BFn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Đồ án tốt nghiệpQuản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    CHƯƠNG I:

    MÔ TẢ BÀI TOÁN VÀ GIẢI PHÁP

     

    I. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHÁCH SẠN

    Bộ máy quản lý của khách sạn bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Phó giám đốc, các phòng ban (Phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng tổ chức – hành chính), và các tổ; được bố trí theo sơ đồ sau:

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              1

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

    GIÁM ĐỐC

    PHÒNG KINH DOANH   PHÒNG KẾ TOÁN   PHÓ GIÁM ĐỐC
             
    BỘ   BỘ   BỘ   BỘ   PHÒNG TỔ CHỨC
    PHẬN   PHẬN   PHẬN   PHẬN   – HÀNH CHÍNH
    LỄ TÂN   NHÀ   NHÀ   DỊCH VỤ    
             
        PHÒNG   HÀNG        
            VÀ BẾP        
                     
    BỘ   BỘ   BỘ
    PHẬN   PHẬN   PHẬN
    AN NINH   NHÂN   BACK
    SỬA   SỰ   OFFICE
    CHỬA        
             

    Hình 1.1: Sơ đồ bộ máy quản lý của khách sạn

    Khách sạn được hình thành từ các phòng, tổ quan hệ mật thiết hỗ trợ nhau. Mỗi phòng ban có tổ chức rõ ràng, không chồng chéo. Mọi hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của khách sạn đều dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc. Ban giám đốc chịu trách nhiệm với hội đồng quản trị cấp trên và chịu trách nhiệm trước tập thể cán bộ công nhân viên công ty.

    Giám đốc là người chịu trách nhiệm chính của khách sạn và là người chịu trách nhiệm trực tiếp với hội đồng quản trị cấp trên và trước tập thể cán bộ công nhân viên.

    Phó giám đốc hành chính chịu trách nhiệm trước giám đốc về công tác tổ chức, lao động, làm công tác khen thưởng, kỷ luật, quản trị hành chính, lưu trữ văn thư.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              2

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Phòng kinh doanh chịu trách nhiệm trước ban giám đốc chuyên sâu về vấn đề tổ chức kinh doanh của khách sạn để đạt hiệu quả cao, đem lại nhiều lợi nhuận cho khách sạn.

    Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm trước ban giám đốc khách sạn, bộ phận này gồm có một kế toán trưởng và các kế toán viên, có trách nhiệm thực hiện các hoạt động về kế hoạch tài chính cà công tác kế toán, cụ thể là lập kế hoạch tài chính, dự trù ngân sách hàng năm, tổ chức theo dõi việc thu chi của khách sạn, chi trả lương, định giá thành và kiểm soát các hoạt động tài chính.

    Bộ phận lễ tân, Bộ phận nhà phòng, Bộ phận nhà hàng và bếp, Bộ phận dịch vụ, Bộ phận an ninh – sửa chữa, Bộ phận nhân sự, Bộ phận back office – chịu trách nhiệm trực tiếp với phòng kinh doanh và giám đốc.

    Bộ phận lễ tân là chiếc cầu nối giữa khách hàng và khách sạn.

    1. Quy trình đặt phòng qua mạng:

    Sau khi truy vấn những thông tin của khách sạn trên mạng, khách hàng có thể lựa chọn việc đặt phòng tại khách sạn thông qua website. Để có thể đăng ký đặt phòng, khách có nhu cầu cần phải đăng ký một account cho mình trên website của khách sạn – account gồm có địa chỉ Email đang hoạt động và password của khách. Khi tiến hành lựa chọn phòng thuê, khách sẽ đăng nhập vào website thông qua account của mình (hoặc có thể đăng nhập sau khi đã lựa chọn được phòng phù hợp với yêu cầu của mình), sau đó sẽ chọn loại phòng muốn đăng ký. Từ yêu cầu đặt phòng của khách, hệ thống website sẽ tự động kiểm tra trong cơ sỡ dữ liệu rồi đưa ra những phòng có trong loại phòng khách yêu cầu.

    Từ danh sách phòng mà website đưa ra, nếu khách hàng tìm được phòng theo yêu cầu của họ, họ sẽ đánh dấu vào phòng mình chọn, điền các thông tin bắt buộc và không bắt buộc (những thông tin có thể điền hoặc có thể không) như: chọn loại phòng, ngày nhận phòng (Ngày nhận phòng phải sau ngày đặt phòng tối thiều là 2 ngày), ngày trả phòng, số lượng phòng, số người

    • (số người lớn và số trẻ em), họ và tên khách (người đăng ký), giới tính, số

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              3

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    partpost hoặc số chứng minh thư nhân dân, số tài khoản, địa chỉ liên lạc, số điện thoại, số fax (nếu có), tên nước…; và chọn chức năng “đặt phòng”.

    Thông tin của cuộc đặt phòng của khách sẽ được gửi về ban quản lý để xử lý. Danh sách phòng được đặt và khách thuê là kết quả cuối cùng và sẽ được chuyển cho bộ phận lễ tân.

    Bộ phận phụ trách và điều hành website sẽ có trách nhiệm giải quyết những thắc mắc, yêu cầu của khách hàng qua Email hoặc hướng dẫn qua điện thoại.

    Sơ đồ quy trình đặt phòng:

    Nguồn khách

    Nhận yêu cầu đặt phòng

    Đưa ra danh sách phòng

    thuộc loại phòng khách

    yêu cầu

    Khách sạn không có khả

    năng đáp ứng

    Nhận thay đổi yêu cầu

    của khách

    Nhận thông tin đặt phòng Trường ĐHDL Hải Phòng

    Khách đồng ý

    4

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    1. Đón tiếp và xếp phòng cho khách: Khi khách hoặc đoàn đến khách sạn;

     

    + Đối với khách đã đặt phòng từ trước khi yêu cầu nhận phòng phải đưa thông tin liên quan tới cuộc đặt phòng của mình. Nhân viên lễ tân sẽ tìm kiếm thông tin đặt phòng trên máy tính hoặc trong sổ sách, xác nhận lại các thông tin check in và lưu vào cơ sở dữ liệu. Thông tin check in bao gồm thông tin về khách và thông tin phòng khách thuê.

     

    + Còn với khách chưa đặt phòng trước có yêu cầu thuê phòng, nhân viên lễ tân sẽ cung cấp thông tin về các phòng trống hiện có cho khách thông

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              5

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    qua việc truy vấn vào kho dữ liệu danh sách phòng. Khách xác nhận thuê phòng, nhân viên lễ tân sẽ lưu thông tin vào cơ sỡ dữ liệu.

    Trường hợp là khách lẻ: bộ phận lễ tân ghi nhận các thông tin về khách

    hàng

    Trường hợp là khách đoàn: Bộ phận lễ tân sẽ ghi nhận nhưng thông tin về người đại diện cho đoàn, thông tin về các thành viên trong đoàn, số lượng phòng, loại phòng, danh sách khách trong từng phòng và các yêu cầu của khách hàng.

    Nếu khách có yêu cầu giúp đỡ đối với hành lí của họ thì nhiệm vụ của nhận viên này là thông báo với tổ trưởng bộ phận phục vụ khách hàng để cử nhân viên của bộ phận đó đưa hành lý lên phòng cho khách. Bên cạnh đó, bộ phận lễ tân giới thiệu các dịch vụ sẳn có của khách sạn phục vụ khi khách ở trong khách sạn.

    Sơ đồ quy trình đón tiếp và xếp phòng cho khách:

    ĐÓN TIẾP

      Đã đặt chỗ trước   XÁC NHẬN VIỆC ĐẶT   Chưa đặt chỗ trước
            PHÒNG      
                     
                   
      LÀM THỦ TỤC ĐĂNG KÝ       ĐÓN TIẾP
                 
                     
    Trường ĐHDL Hải Phòng     6
                 
      XÁC NHẬN KHẢ NĂNG     XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG
      THANH TOÁN       CỦA KHÁCH SẠN

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.                 Quy trình phục vụ khách hàng trong thời gian khách lưu trú tại khách sạn:

    Trong thời gian khách lưu trú tại khách sạn, khi khách có yêu cầu sử dụng dịch vụ, khách sạn sẽ cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách. Bộ phận lễ tân thu thập các phiếu sử dụng của khách hàng gửi lên từ các bộ phận phục vụ khách để tiến hành lập và tổng hợp lại các khoản chi phí của khách.

    Sơ đồ quy trình phục vụ khách

    NHẬN YÊU CẦU SỬ DỤNG

    DỊCH VỤ

    CUNG CẤP DỊCH VỤ

    Trường ĐHDL Hải Phòng 7

    LƯU THÔNG TIN SỬ DỤNG

    DỊCH VỤ

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4. Quy trình làm thủ tục và thanh toán cho khách (Check out):

    Khi khách có yêu cầu trả phòng, bộ phận lễ tân có nhiệm vụ thông báo cho các bộ phận khác trong khách sạn về việc trả phòng của khách nhằm xác định các khoản chưa thanh toán. Khi khách trả phòng, nhân viên lập hoá đơn tổng hợp và tiến hành thanh toán với khách.

    Việc check out cho khách theo đoàn phải có khả năng phân biệt các chi phí của đoàn và các chi phí của cá nhân trong đoàn.

    Sau khi làm thủ tục check out xong, bộ phận lễ tân sẽ thông báo cho bộ phận trực phòng làm thủ tục kiểm kê tài sản và vệ sinh phòng đó.

    Cuối mỗi ngày bộ phận lễ tân sẽ viết báo cáo tổng hợp về tình hình khách đến, khách đi, thực trạng phòng trống, phòng bận cũng như thu chi của ngày cũng như ý kiến phản hồi của khách (từ bộ phận back office) cho ban giám đốc khách sạn.

    Sơ đồ quy trình làm thủ tục và thanh toán cho khách:

    NHẬN YÊU CẦU TRẢ

    PHÒNG

    XÁC ĐỊNH THÔNG TIN TRẢ

    PHÒNG

    LƯU THÔNG TIN TRẢ PHÒNG

         
    Trường ĐHDL Hải Phòng TỔNG HỢP CHI PHÍ PHÁT 8
      SINH CỦA KHÁCH  

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    II. GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

    1. Giải pháp kỹ thuật

    Yêu cầu chung đối với tổng thể hệ thống:

    • Bộ phận tiếp tân sử dụng từ 2 – 3 máy tính.
    • Phòng kế toán sử dụng từ 2 – 5 máy tính và máy đọc thẻ tín dụng do ngân hàng cung cấp.
    • Bộ phận đặt phòng sử dụng từ 1 – 2 máy tính.
    • Bộ phận dịch vụ sử dụng từ 2 – 3 máy tính.
    • Các bộ phận khác sử dụng từ 1 – 4 máy tính tùy theo nhu cầu sử dụng chương trình.
    • Các máy tính phải nối mạng với nhau và nối mạng Internet).
    • Cấu hình tối thiểu đối với mỗi máy tính:
    • Cấu hình CPU tối thiểu phải là Pentium 500Mhz.
    • Hệ điều hành: Windows 2000, Windows XP.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              9

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Giải pháp hệ thống

    Từ việc phân tích hoạt động của khách sạn diển ra hàng ngày ở trên, có thể thấy: Quản lý khách sạn là một công việc quá phức tạp và luôn yêu cầu phải được giải quyết nhanh chóng. Để đáp ứng yêu cầu này cần phải có một chương trình có thể quản lý được các công việc trên và được làm tự động hóa trên máy tính. Hệ thống với dữ liệu vào là Các thông tin về khách, thời gian thuê phòng của khách, giá các loại dịch vụ, thông tin về việc sử dụng dịch vụ hàng ngày của khách. Hệ thống sẽ xử lý các dữ liệu này và đưa ra: Phiếu thanh toán chi tiết cho khách, hóa đơn thanh toán, các báo cáo thông kê tình hình doanh thu trong ngày, trong tháng, trong quý, trong năm, các dự trù kinh phí cho các hoạt động sắp tới.

    CHƯƠNG 2:

    GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH

    VISUALBASIC 6.0

    1. Giới thiệu vài nét về ngôn ngữ lập trình VisualBasic

    Dùng VisualBasic là cách nhanh và tốt nhất để lập trình cho Microsoft Windows. Cho dù là một chuyên gia lập trình hay một người mới làm quen với chương trình windows, VisualBasic sẽ cung cấp một bộ công cụ hoàn chỉnh để đơn giản hóa việc triển khai lập trình ứng dụng cho MSWindows.

    VisualBasic là gì? Phần “Visual” đề cập đến phương pháp được sử dụng để tạo giao diện đồ họa người dùng (Graphical User Interface, viết tắt là GUI). Có sẵn những bộ hình ảnh, gọi là controls, bạn tha hồ sắp đặt vị trí và quyết định các đặc tính của chúg trên một khung màn hình, gọi là form. Điều này giúp cho người lập trình với VisualBasic đỡ mất công hơn – thay vì việc

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            10

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    phải viết những dòng code để mô tả các thành phần đồ họa trên form thì chỉ cần thêm vào những đối tượng đã được định nghĩa trước trong thư viện của VisualBasic.

    Phần “Basic” đề cập đến ngôn ngữ BASIC (Beginner All-Purpose Symbolic Instruction Code), một ngôn ngữ lập trình được coi là đơn giản, dễ học.

    VisualBasic đã ra đời từ MSBasic, do Bill Gate viết từ thời dùng cho máy tính 8 bits 8080 hay Z80. Từ VisualBasic 1.0 đến VisualBasic 5.0 đã được bổ sung thêm nhiều cách thức, tạo thêm phần hỗ trợ 32 bits, ngoài khả năng tạo các tập tin thêm còn có khả năng tạo các bảng điều khiển riêng. Đến bản VisualBasic 6.0 (Có 3 ấn bản là Learning, Professional và Enterprise) đã được bổ sung một số tính năng ngôn ngữ đã được mong đợi từ lâu, tăng cường năng lực Internet, và các tính năng cơ sở dữ liệu mạnh hơn. VisualBasic đã trở thành ngôn ngữ lập trình mạnh nhất và tiện lợi nhất hiện nay, nó tiết kiệm thời gian và công sức hơn so với các ngôn ngữ lập trình khác khi xây dựng cùng một ứng dụng.

    VisualBasic gắn liền với khái niệm lập trình trực quan, nghĩa là khi thiết kế chương trình ta thấy ngay kết quả qua từng thao tác và giao diện khi chương trình thực hiện. Đây là một thuận lợi so với các ngôn ngữ lập trình khác. ViusalBasic cho phép chỉnh sửa đơn giản, nhanh chóng về màu sắc, kích thước, hình dáng của các đối tượng có mặt trong ứng dụng.

    Một khả năng đặc biệt của VisualBasic là khả năng kết hợp các thư viện liên kết động DLL (Dynamic Link Library). DLL chính là phần mở rộng cho VisualBasic tức là khi xây dựng một ứng dụng nào đó có một số một số yêu cầu mà VisualBasic chưa đáp ứng đủ, ta viết thêm DLL phụ trợ.

    Khi viết chương trình bằng VisualBasic, chúng ta cần trải qua hai bước:

    • Thiết kế giao diện (Visual Programing)
    • Viết lệnh (Code Programing).

    2.                 Tổ chức chương trình của VisualBasic (Project)

     

    • Project bao gồm:

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            11

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • File project (.vpb)
    • Các form (.frm): Dùng để cập nhật dữ liệu cho cơ sỡ dữ liệu (nhập, sửa, xóa, tìm kiếm, các xử lý tính toán dữ liệu…).
    • Các thiết kế:
    • Designer
    • Data Envirment tạo các kết nối cơ sở dữ liệu
    • Data report tạo các báo cáo
    • Các Module (.bas): Chứa các hàm, các thủ tục viết bằng VisualBasic.
    • Các Class Module (.cls): Tạo ra các lớp.
    • Có nhiều cá điều khiển riêng của người sử dụng như ActiveX (.ocx).

    3.     Truy cập cơ sở dữ liệu từ xa bằng mô hình ADO (ActiveX Data

    Object)

     

    Mô hình này dùng để truy cập và xử lý cơ sở dữ liệu từ xa thông qua mạng nhờ kết nối ODBC.

     

    3.1.           ODBC (Open DataBase Connectivity – Khả năng tương kết cơ

    sở mở)

     

    Đây là một biện pháp độc lập ứng dụng để kết nối nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau nghĩa là có trình điều khiển đúng đắn khi đó ODBC sẽ cho phép kết nối với cơ sở dữ liệu nào đó từ xa.

     

    ODBC có 2 loại: laọi 32 bits và loại 16 bits.

     

    – ODBC Adminitrator 32 bits hay ODBC Data Source Adminitrator (Bộ điều hành nguồn dữ liệu ODBC) nó sẽ bao gồm các bảng sau:

     

    • User DSN (Data Source Name): Cho phép cấu hình một nguồn dữ liệu ODBC dành cho chỉ một người dùng.
    • System DSN: Xác lập các nguồn dữ liệu sẽ được nhiều người dùng trên một máy tính.
    • File DSN: Xác lập một nguồn dữ liệu gốc tập tin (Tạo ra một kết nối nhưng tồn tại ở dạng 1 file .DSN).

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            12

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • ODBC Driver: Liệt kê các trình điều khiển ODBC đã cài đặt

    trên hệ thống.

    • Tracing: Cho phép theo dõi các lệnh gọi ODBC cho các trình điều khiển ODBC thực hiện.

    3.2. Mô hình ADO (Active Data Object)

    Connection

    Command

    Parameter

    RecordSet

    Field

    Error

    Hình 2.1: Mô hình ADO

    3.2.1. Điều khiển ADODC (ADO Data Control)

    Project Æ Component Æ Control Æ Microsoft ADO Data Control 6.0 (OLEDB).

    • Tác dụng của điều khiển ADODC: Cho phép truy cập và xử lý dữ liệu trong cơ sở dữ liệu tại chỗ hoặc từ xa thông qua kết nối ODBC.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            13

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Một số thuộc tính
    • Connectinon String = “DSN = Tên kết nối ODBC”

    hoặc:

    Connectinon String = “Giá trị Provider (Trình điều khiển) = Tên trình điều khiển; DataSource = Tên và đường dẫn đến cơ sở dữ liệu”

    • Command Type (Xác định các kiểu câu lệnh) = adCmdTabe adCmdText adCmdUnknown adCmdStoredProc
    • Cursor Type (Kiểu con trỏ) = adOpenDynamic

    adOpenKeyset

    adOpentatic

    • Lock Type = adLockBatchOptimistic adLockOptimistic adLockRessimistic adLockReadOnly
    • Mode (Quy định mở bảng) = adModeRead adModeWrite adModeShareDenyNone adModeShareDenyRead adModeShareDenyWrite adModeShareDenyUnknown
    • RecordSource: Xác định bảng dữ liệu cần truy cập. RecordSource = “Tên bảng\ Nội dung câu lệnh SELECT…”
    • Cursor Location = adUserClient

    adUserServer

    (Định vị con trỏ làm việc về phía máy khách\chủ).

    • Refresh: Làm tươi mới cơ sở dữ liệu.
    • ROF Action = 0 – adDomovefirst: chưa ở đầu bảng.

    1 – adStayBOF: đầu đọc dừng ở đầu bảng.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            14

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    + EOF Action = 0 – adDomovelast: chưa ở cuối bảng.

    • – adStayEOF: đầu đọc đang ở cuối bảng.
    • – adDoaddnew: Tạo ra bản gi trống.
    • Một số các phương thức (Method):

    Khi việc kết nối cơ sở dữ liệu thành công cho phép sử dụng một số phương pháp sau để xử lý dữ liệu. Việc xử lý dữ liệu được thực hiện nhờ các phương thức của thành phần RecordSet.

    • Phương thức dịch chuyển bản ghi trong bảng:
    • ADODC Name.RecordSet.Movefirst: Dịch chuyển về bản ghi đầu.
    • ADODC Name.RecordSet.Movelast: Dịch chuyển về bản ghi cuối.
    • ADODC Name.RecordSet.Movenext: Dịch chuyển về bản ghi tiếp

    theo.

    • ADODC Name.RecordSet.Moveprevious: Dịch chuyển về bản ghi đứng trước bản ghi hiện hành.
    • ADODC Name.RecordSet.Move n: Dịch tiến (n) hoặc lùi (-n) n bản ghi so với bản ghi hiện hành.
    • Phương thức cập nhật dữ liệu cho bảng:
    • ADODC Name.RecordSet.Addnew: Thêm bản ghi mới.
    • ADODC Name.RecordSet.Delete: Loại bỏ bản ghi hiện hành.
    • ADODC Name.RecordSet.Update: Lưu trử một bản ghi tại một thời điểm.
    • ADODC Name.RecordSet.UpdateBatch: Lưu trử 1 bó dữ liệu tại một thời điểm.
    • Phương thức truy cập đến trường dữ liệu: ADODC Name.RecordSet.Fields(“Tên trường”)
    • Kiểm tra trạng thái con trỏ trong bảng:

    ADODC Name.RecordSet.BOF = TRUE: Control đang ở đầu bảng;

    • FALSE: Control khác đầu bảng.
    • ADODC Name.RecordSet.EOF = TRUE: Control đang ở cuối bảng

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            15

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    =  FALSE:  Control  không  ở  cuối

    bảng.

    • Đếm số bản ghi trong bảng:

    ADODC Name.RecordSet. RecordCount

    3.2.2. Đối tượng ADODB

    Tham chiếu đến thư viện:

    Project Æ References Æ Microsoft ActiveX Data Object 2.0 Library.

    Tác dụng của đối tượng ADODB là: kết nối đến cơ sở dữ liệu từ xa, là dạng đối tượng ActiveX.

    3.2.2.1. Cách khai báo và thiết lập:

    Khai báo biến connection:

    Dim cn AS ADODB.Connection, rs AS ADODB.RecordSet Set cn = New ADODB.Connection, rs AS ADODB.RecordSet cn.Open “Tên kết nối ODBC” [Hoặc: “DSN = Tên kết nối ODBC”

    hoặc: “Driver =…; server = …; UID = …; PWD = …; Database=…”] Set rs = New ADODB.RecordSet

    Set rs = cn.Execute(“Tên bảng | Tên truy vấn | Nội dung câu lệnh select”)

    Hoặc: rs.Open Source, Active Connection, Cursor Type, Lock Type;

    Với Source là biểu thức chuổi chứa tên bảng cần mở trong cơ sở dữ liệu,

    Active Connection là tên kết nối đã được thiết lập từ trước (chính là cn)

    Cursor    Type    là    kiểu    con    trỏ    (gồm    3    kiểu:    adOpenDynamic,

    adOpenKeyset, adOpenstatic).

    Lock Type là kiểu khóa dữ liệu (Gồm: adLockBatchOptimistic, adLockOptimistic, adLockPessimistic, adLockReadOnly).

    • Ngoài ra còn cho phép sử dụng cây lệnh của SQL để cập nhật dữ liệu cho bảng trong cơ sở dữ liệu mà không cần thông qua RecordSet:

    cn.Execute(“INSERT INTO…| DELETE FROM… | UPDATE…”)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            16

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.2.2. Các phương thức để xử lý dữ liệu trong bảng thông qua

    RecordSet:

    1. Cập nhật dữ liệu cho bảng: – Nhập dữ liệu mới cho bảng:

    rs.AddNew

    rs.Field(“Tên trường”) = <Giá trị mới>

    rs.Update

    – Sửa dữ liệu:

    cn.Execute(“UPDATE<Tên bảng> SET<Tên trường> = <Giá trị mới sửa> WHERE <Điều kiện>”)

    – Xóa bản ghi hiện hành: rs.Delete

    1. Dịch chuyển bản ghi

    rs.Movefirst

    rs.Movenext

    rs.Moveprevious

    rs.Movelast

    rs.Move n

    1. Thuộc tính rs.BOF rs.EOF

    rs.RecordCount (Đếm số bản ghi)

    1. Thiết kế môi trường dữ liệu DED (Data Environment Designer)

     

    • Định nghĩa

     

    • DED dùng để định nghĩa những kết nối phức tạp giữa cơ sở dữ liệu dùng trong ứng dụng, cụ thể:

    + Định nghĩa kết nối các cơ sở dữ liệu.

    + Sử dụng câu lệnh của SQL để truy cập cơ sở dữ liệu vừa được kết

    nối.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            17

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Chỉ định các lệnh riêng rẽ kết hợp với nhau như thế nào để tạo nên những mục (câu) hỏi phức tạp.
    • Định nghĩa chức năng gộp cho các mục hỏi.
    • Chỉ định thứ tự sắp xếp của dữ liệu ở các mục hỏi.
    • Sau khi đã tạo ra được các kết nối để kết nối đến cơ sở dữ liệu cần làm việc thì các kết nối này sẽ được sử dụng vào các công việc sau:
    • Làm nguồn dữ liệu để tạo báo cáo bằng các DataReport.
    • Làm nguồn dữ liệu để hiển thị dữ liệu của bảng trong cơ sở dữ liệu trên Form, từ đó cho phép cập nhật dữ liệu vào bảng.

    +Làm nguồn dữ liệu cho điều khiển HFG (Hierachical Flex Grid – điều khiển khung kẻ ô có thứ bậc)

    4.2. Các thành phần có trong một DE (Data Environment)

    Data Environment

    Connection 1

    Command 1.1

    Child Command

    Command 1.2

    Command 1.n

    Connection2

    Connection m

    Hình 2.2: Các thành phần trong một DE

    – Mô tả cấu trúc:

    Một DE sẽ bao gồm nhiều kết nối (Connection) khác nhau. Mỗi một kết nối sẽ kết nối đến 1 cơ sở dữ liệu tại chỗ hoặc từ xa thông qua ODBC.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            18

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Trong mỗi kết nối sẽ có nhiều câu lệnh (Command) khác nhau. Trong đó mỗi câu lệnh trong kết nối sẽ kết nối trực tiếp đến 1 bảng hoặc đến nhiều bảng trong cơ sở dữ liệu đang được kết nối (trong trường hợp nhiều bảng Æ dùng câu lệnh Select của SQL).

    Ngoài ra: trong mỗi câu lệnh còn các câu lệnh con (Child Command) ở trong nó, mỗi câu lệnh con trong câu lệnh cha sẽ kết nối đến 1 bảng trong cơ sở dữ liệu đang được kết nối thỏa mãn bảng này phảo có quan hệ n-1 với bảng mà câu lệnh cha đang kết nối vào.

    • Đối với mỗi câu lệnh trong kết nối cho phép:
    • Phân nhóm dữ liệu theo 1 trường nào dods của bảng để từ đó thống kê dữ liệu trên bảng (Chức năng Grouping).
    • Cho phép thay đổi quyền truy cập dữ liệu đối với bảng trong cơ sở dữ liệu (Chức năng Advanced).
    • Đối với câu lệnh con nằm trong câu lệnh cha thì phải đặt mối quan hệ với bảng dữ liệu mà câu lệnh cha truy cập vào (Chức năng Relation).
    • Một DE được tạo ra sẽ được tồn tại ở bộ nhớ ngoài dưới dạng 1 tệp có phần mở rộng là .DSR (Designer).

    * Các phương thức của RecordSet trong command: Tên DE.RS tên lệnh.AddNew Tên DE.RS tên lệnh.Delete Tên DE.RS tên lệnh.Update

    Tên DE.RS tên lệnh.Find “Biểu thức điều kiện” Tên DE.RS tên lệnh.MoveFist

    Tên DE.RS tên lệnh.MoveLast Tên DE.RS tên lệnh.MovePrevious Tên DE.RS tên lệnh.MoveNext Tên DE.RS tên lệnh.Move n

    * Thuộc tính:             Tên DE.RS tên lệnh.BOF

    Tên DE.RS tên lệnh.EOF

    Tên DE.RS tên lệnh.Finter = “Biểu thức điều kiện”

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            19

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Tên DE.RS tên lệnh.RecordCount

    Tên DE.RS tên lệnh.Fields(“Tên trường”)

    CHƯƠNG 3:

    GIỚI THIỆU CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS

    Cơ sở dữ liệu là một tập hợp các thông tin liên quan tới một đối tượng liên quan cụ thể hoặc theo một mục đích nào đó. Ví dụ như các thông tin về đặt hàng của khách hàng hoặc lưu trữ các thông tin hàng hoá.

    Sử dụng Microsoft access có thể quản lý tất cả các thông tin với một tệp tin cơ sở dữ liệu đơn lẻ (tệp có phần mở rộng .mdb). Trong tệp tin cơ sở dữ liệu này, thông tin sẽ được lưu trữ trong các hộp chứa gọi là các bảng (table). Cập nhật thông tin, xem thông tin, nhập thông tin mới trên các bảng được thực hiện một các trực tiếp trên các mẫu biểu (forms). Tìm kiếm, lấy các thông tin được thực hiện nhờ các truy vấn (query) và phân tích in ấn, trình bày dữ liệu được thực hiện bằng cách tạo ra các báo biểu (report).

    Để lưu trữ thông tin, cần tạo một bảng cho mỗi kiểu thông tin cần lưu trữ. Để thực hiện việc tổ hợp các thông tin trên nhiều bảng lại với nhau cần định nghĩa quan hệ giữa các bảng.

    1. Bảng trong access (Table):

    Bảng (Table) là đối tượng được định nghĩa và dùng để lưu trữ dữ liệu, mỗi bảng chứa các tệp tin về một chủ đề xác định. Mỗi bảng gồm các trường (field) hay gọi là cột (Column) lưu trữ các loại dữ liệu khách nhau.

    Có thể định nghĩa một khoá cơ bản (Primary key) gồm một hoặc nhiều trường trong mỗi bảng ghi có giá trị xác định duy nhất và một hoặc nhiều chỉ mục (index) cho mỗi bảng để tăng tốc độ truy cập dữ liệu.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            20

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Mỗi bản ghi trên một bảng chứa đầy đủ thông tin hoàn chỉnh về một đối tượng dưới dạng một bảng tính, bạn có thể thêm, sửa hoặc xem dữ liệu trong bảng.

    Bạn có thể kiểm tra và in dữ liệu trong bảng dữ liệu của bạn hoặc thực hiện việc lọc sắp xếp dữ liệu, thay đổi cách hiển thị dữ liệu, thay đổi cấu trúc bảng (thêm, xoá các cột (trường)).

    Trong cửa sổ DataBase chọn tabs Table và chọn New để tạo một bảng mới hoặc chỉ mục Design để thiết kế sửa lại cấu trức của một bảng đã tồn tại.

    Các bước tạo một bảng dữ liệu:

    • Nhập vào tên một trường hoặc đổi tên một trường (nếu làm việc với các bảng đã có sẵn) trong cột Field Name.

    Tên trường: gồm một dãy không quá 64 ký tự, bao gồm chữ cái, chữ số và các ký tự cách trống.

    • Chọn kiểu dữ liệu tương ứng với trường đó trong cột Data Type

    Các trường có các kiểu dữ liệu cơ bảng sau:

    STT Kiểu Mô tả   Kích thước
             
    1 Text Ký tự   Dài ≤ 255 Byte
             
    2 Memo Ký tự   Dài ≤ 64000 Byte
             
    3 Number Ký tự   Dài 1, 2, 4 hoặc 8 Byte
             
    4 Date/Time Ngày, tháng, giờ   Dài 8 Byte
             
    5 Currency Tiền tệ   Dài 8 Byte
             
    6 Autonumber Số   Dài 8 Byte
             
    7 Yes/No Boolean   Dài 1 bit
             
    8 Ole object Đối  tượng  nhúng kết  
        hình ảnh    
             
    • Các loại quan hệ
    • Mối quan hệ 1 – 1: đòi hỏi giá trị của trường khoá trong chỉ một bản ghi của bảng mới phải so khớp với giá trị tương ứng của trường có quan hệ

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            21

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    trong bảng hiện có. Trong trường hợp này, từ khoá trong bảng mới phải là duy nhất.

    • Mối quan hệ 1 – nhiều: Đòi hỏi trường khóa chính của bảng mới phải là duy nhất, nhưng các giá trị trong trường khóa của bảng mới có thể so khớp với nhiều mục trong bảng quan hệ trên hệ cơ sở dữ liệu hiện có. Trong trường hợp này, trường quan hệ trong bảng của cơ sở dữ liệu hiện có sẽ có mối quan hệ nhiều – một với trường khóa chính trong bảng mới.
    • Mối quan hệ nhiều – một: cho phép bảng mới có nhiều giá trị trường khóa tương ứng với chỉ một giá trị trong trường giá trị của bảng hiện có. Trong trường hợp này, ta có thể có các giá trị trường khóa trùng lặp. Đây là kiểu phổ biến nhất.
    • Cách tạo quan hệ
    • Trong cửa sổ DataBase Windowns chọn Relationships từ menu Tools
    • Chọn các bảng, các truy vấn để đưa vào quan hệ
    • Chọn một trường từ bảng chính (Primary Table) và kéo sang trường tương ứng của bảng quan hệ, rồi bấm chuột tại Create để tạo quan hệ.
    • Chọn mục Enforce Referential Intergity. Nếu thỏa mãn:
    • Trường của bảng chính là khóa chính
    • Các trường quan hệ có cùng kiểu dữ liệu
    • Cả hai bảng trong quan hệ cùng thuộc một cơ sở dữ liệu thì access luôn đảm bảo tính chất: mỗi bản ghi trong các bảng quan hệ phải có một bản ghi tương ứng trong bảng chính. Điều này ảnh hưởng đến các phép thêm và xóa trong bảng quan hệ.
    • Tùy chọn Cascade Update và Cascade Delete

    – Khi đánh dấu Enforce Referential Intergity có thể sử dụng thêm các

    tùy chọn sau:

    • Cascade Update Related fields
    • Cascade Delete Retated fields

    Cascade Update: Khi sửa giá trị trường khóa trong bảng chính thì giá trị tương ứng của bản ghi trong trường quan hệ cũng bị sửa theo

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            22

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Cascade Delete: Khi xóa một bản ghi trong bảng chính thì bản ghi tương ứng trong trường quan hệ cũng bị xóa theo.

    2. Truy vấn (Query )

    Truy vấn là một đối tượng cho phép chọn xem các dữ liệu của một hoặc nhiều bảng theo ý muốn. Trong Microsoft Access có thể tạo ta các truy vấn bằng phương tiện truy vấn đồ họa theo mẫu QBE hoặc viết các câu lệnh SQL. Có thể định nghĩa các truy vấn dùng để chọn, cập nhật, chèn hoặc xoá DEL và để tạo các bảng mới từ các dữ liệu trong một hoặc nhiều bảng có sẳn.

    3. Mẩu biểu (Form)

    Mẩu biểu là một đối tượng được thiết kế chủ yếu dùng để nhập và hiển thị dữ liệu hoặc điều khiển việc thực hiện một ứng dụng. Cũng có thể in mẫu biểu, có thể thiết kế một mẫu biểu để chạy một Macro khi giá trị của dữ liệu thay đổi.

    4. Báo biểu (Report)

    Báo biểu là một đối tượng được thiết kế để quy định các tính toán, in và tổng hợp các dữ liệu được chọn; và chúng ta có thể xem một báo các trên màn hình trước khi in nó.

    Báo biểu dùng để in ấn các kết quả sau khi đã được xử lý từ bảng hay từ truy vấn với các khả năng sau:

    • In dữ liệu dưới dạng các bảng.
    • In dữ liệu dưới dạng phiếu.
    • Sắp xếp dữ liệu trước khi in và có thể phân nhóm dữ liệu trước khi in, sử dụng phép toán để tổng hợp dữ liệu trên mỗi nhóm trước khi in.
    • Ngoài dữ liệu tổng hợp nhận được trên các nhóm có thể đưa vào trong công thức để nhận được sự so sánh đối chiếu trên các nhóm và trên toàn báo biểu.
    • In dữ liệu của nhiều bảng có liên quan tới nhau cùng một lúc bằng hệ thống báo biểu chính và báo biểu phụ cấp 1, cấp 2.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            23

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Ngoài ra việc chọn font chữ, cỡ chữ, kiểu chữ, số lượng bản in, in các trang nào cũng như việc trình bày trên các báo biểu được tiến hành đơn giản và nhanh chóng.

    5. Macro

    Macro là một đối tượng định nghĩa một hoặc nhiều hành động (thao tác) có cấu trúc Access sẽ thực hiện để đáp ứng một sự kiện xác định. Ví dụ để thiết kế một Macro mà nó sẽ mở một mẫu biểu thức hai khi một phần tử nào đó trên mẫu biểu chính được chọn. Cũng có thể thiết kế một Macro mà nó sẽ kiểm tra tính hợp lệ của giá trị trong một trường khi giá trị của trường đó thay đổi, trong đó các Macro có thể đặt thêm các điều kiện đơn giản để quy định khi nào thì một hoặc nhiều hành động của một Macro sẽ được thực hiện hoặc sẽ bị bỏ qua. Các Macro có thể dùng để mở và thực hiện các truy vấn, các bảng, in và xem các báo cáo. Trong một Macro có thể chạy một Macro khác hoặc các hàm trong Module.

    6. Module

    Module là đối tượng chứa các thủ tục tuỳ ý được lập trình bằng Microsoft Acces Basic, đó là một biến thể của ngôn ngữ Microsoft Basic được thiết kế để làm việc trong Access, các module tạo ra các chuỗi hành động rời rạc và cho phép bẫy các lỗi mà các Macro không thực hiện được. Các Module có thể là các đối tượng độc lập chứa các hàm và có thể được gọi từ một vị trí bất kì trong một ứng dụng hoặc chúng có thể được liên kết trực tiếp với các mẫu biểu hoặc báo cáo để đáp ứng các sự kiện xảy ra trên mẫu biểu hoặc báo cáo đó. Các Module được liên kết với các mẫu biểu hoặc báo cáo là một ưu điểm đặc biệt của Access.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            24

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

     

    CHƯƠNG 4:

    PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN VÀ ĐẶT PHÒNG TRỰC TUYẾN

    I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

    Luồng dữ liệu (Data Flow): là các dữ liệu di chuyển từ một vị trí này

    đến một vị trí khác trong hệ thống.

    Luồng dữ liệu được ký hiệu:

    Kho dữ liệu (Data Store): là các dữ liệu được lưu trữ tại một chỗ.

    Kho dữ liệu được ký hiệu:

        Tên kho dữ liệu D
           

    Tiến trình (Process): là một công việc hay một hành động có tác dụng lên các dữ liệu làm cho chúng di chuyển, được lưu trữ, thay đổi hay được phân phối. Tên tiến trình phải là một mệnh đề động từ gồm động từ và bổ ngữ; ví dụ: “Tính tiền” hay “Lập đơn hàng”…

    Tiến trình được ký hiệu:

    (với n là số hiệu của tiến trình)

    n

    Tên tiến trình

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            25

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Ngoài ra, người ta còn thêm vào phần thứ 3 của hình chữ nhật góc tròn để ghi tên người, bộ phận hay phương tiện thực hiện tiến trình này; được ký hiệu như sau:

    n

    TÊN TIẾN

    TRÌNH

    Người/phương

    tiện thực hiện

    Tác nhân (Actor): là nơi xuất phát (nguồn – source) hay nơi đến (đích – sink) của luồn dữ liệu. Tên tác nhân phải là một danh từ, ví dụ như: “Khách hàng” hay “Nhà cung cấp”… Tác nhân có thể là:

    • Một tổ chức hay một đơn vị của tổ chức bên ngoài hệ thống (hay một phần hệ thống) gửi hay nhận thông tin từ hệ thống mà ta nghiên cứu.
    • Những người hay nhóm người có tương tác với hệ thống.
    • Các hệ thống thông tin khác có trao đổi thông tin với hệ thống.

    Tác nhân được ký hiệu như sau:

    TÊN TÁC NHÂN

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            26

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    II. PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN VÀ ĐẶT PHÒNG TRỰC TUYẾN.

    1. Biểu đồ mức khung cảnh của hệ thống:

    Biểu đồ ngữ cảnh cho ta cái nhìn tổng quan về hệ thống quản lý khách sạn. Nó bao gồm ba thành phần sau:

    • Một tiến trình duy nhất: Hệ thống quản lý khách sạn.
    • Các tác nhân: Khách hàng và Nhà quản lý khách sạn.
    • Các luồng dữ liệu: Các luồng dữ liệu đi từ hai tác nhân đến hệ thống quản lý khách sạn và từ hệ thống quản lý khách sạn đến hai tác nhân.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            27

    Trường ĐHDL Hải Phòng
                                          òng
                                        h   h
                                        Yêu cầu đặt phòng
            Yêu cầu báo cáo             Trả lời yêu cầu đặt phòng  
                                                   
                                           
                                                           
                                        Yêu cầu thuê phòng            
            Báo cáo         0                      
                                                   
                                     
                                                       
                                  Trả lời yêu cầu thuê phòng          
            Yêu cầu cập nhật                        
                                                 
                                     
            thông tin dịch vụ                                            
                  HỆ THỐNG   Yêu cầu nhận phòng        
                                 
                          HỆ THỐNG                            
    KHÁCH SẠN                 nận p                    
              QUẢN LÝ       KHÁCH HÀNG
    NHÀ QUẢN LÝ                       Trả lời yêu cầu  
                          QUẢN LÝ                            
                              Yêu cầu dịch vụ              
            Yêu cầu cập nhật KHÁCH SẠN          
            KHÁCH SẠN                            
                               
            thông tin tiện nghi       Cung cấp dịch vụ      
                               
            Yêu cầu cập nhật                   Yêu cầu trả phòng              
                                   
              hòng                        
                                             
            thông tin p                   Thanh toán                
                                     
            Yêu cầu cập nhật                      
                                                   
                                           
            thông tin loại                                        
                                                   
            phòng                                        
                  Hình 4.1: Biểu đồ ngữ cảnh hệ thống                            
                                                               
    uểBi ánĐồ
    đồ tốt
    khungcứm pệnghi
    ng:ốthệhnhảc  
      ạskháchlýnảQu
      nếtuycựtrphòngtđặvàn

     

    28

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Phân rã chức năng hệ thống quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến:

    HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

    Quản lý khách sạn

    Quản lý tài nguyên

    Quản lý đặt phòng

    Quản lý khách vào

     Quản lý sử dụng dịch vụ

    Quản lý khách ra

    Báo cáo

    Quản lý đặt phòng qua mạng

    Thông tin về khách sạn

    Đặt phòng qua mạng

    Hình 4.2: Biểu đồ phân rã chức năng

    2.1 Quản lý tài nguyên

    Các tài nguyên của khách sạn cần quản lý như: loại phòng, phòng, tiện nghi, tài nguyên hỗ trợ cho các dịch vụ của khách sạn… Trong đó mỗi loại

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            29

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    phòng bao gồm nhiều phòng và mỗi phòng sẽ được trang bị những tiện nghi khác nhau.

    Thông tin về phòng cần phải quản lý để phục vụ cho quy trình đặt phòng, quản lý khách vào, khách ra. Thông tin về phòng bao gồm: số phòng, loại phòng, các tiện nghi hiện có trong phòng, giá phòng… và được lưu vào kho dữ liệu “Danh sách phòng”. Thông tin phòng phải được cập nhật thường xuyên về tình trạng phòng: phòng trống (phòng chưa có người thuê), phòng bận (phòng đã có người thuê), phòng được đặt ( phòng đã có khách đặt trước).

    Các tiện nghi được trang bị cho các phòng cũng được phân loại và cập nhật vào danh sách các tiện nghi. Các tiện nghi này sẽ được quản lý theo từng phòng và do nhân viên phục vụ phòng kiểm soát tình trạng khi dọn dẹp trong thời gian khách ở. Thông tin về tiện nghi bao gồm: tên tiện nghi, giá tiện nghi, mô tả tiện nghi.

    Quản lý tài nguyên cho phép quản lý dịch vụ mà khách sạn cung cấp, thông tin về dịch vụ bao gồm: tên dịch vụ, giá tiền, dụng cụ sữ dụng.

    Chức năng quản lý tài nguyên:

    QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN

    Phòng   Loại phòng   Tiện nghi   Dịch vụ
                 
    2.2. Quản lý đặt phòng:        

    Chức năng quản lý đặt phòng cho phép quản lý thông tin về các cuộc đặt phòng của khách. Thông tin về cuộc đặt phòng bao gồm:

    • Thông tin về khách: thông tin định danh, tên khách, giới tính, địa chỉ, số điện thoại, số fax, số tài khoản…
    • Thông tin về cuộc đặt phòng: số phòng, ngày đến, giờ đến, ngày đi, hình thức thanh toán…

    Chức năng quản lý đặt phòng:

    QUẢN LÝ ĐẶT PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng     30
               
               

    Khách                         Cuộc đặt phòng

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.3 Quản lý khách vào:

    + Khách đã đặt chỗ trước:

    Khi đến thuê phòng, khách hàng cần đưa ra thông tin liên quan đến cuộc đặt phòng. Nhân viên lễ tân sẽ tra cứu thông tin cuộc đặt phòng trên máy tính, xác nhận lại các thông tin thuê phòng và lưu vào cơ sở dữ liệu. Thông tin về Quản lý khách vào bao gồm: thông tin khách thuê phòng và thông tin phòng khách thuê.

    + Khách chưa đặt chỗ trước:

    Nhân viên lễ tân sẽ đưa ra thông tin về các phòng còn trống trong

    khách sạn cho khách thông qua việc truy vấn vào kho dữ liệu Danh sách

    phòng trên máy tính. Khách xác nhận phòng thuê và nhân viên sẽ lưu các

    thông tin vào cơ sỡ dữ liệu.

    Chức năng quản lý khách vào:

    QUẢN LÝ KHÁCH VÀO

    Khách   Phòng thuê
         

    2.4. Quản lý sử dụng dịch vụ:

    Thông tin khách sử dụng dịch vụ của khách sạn sẽ được lưu trữ vào cơ

    sỡ dữ liệu và được tính toán tự động số tiền khách phải trả. Khách sẽ thanh

    toán theo hóa đơn riêng lẻ của từng dịch vụ hoặc thanh toán theo hóa đơn

    tổng hợp khi khách rời khỏi khác sạn.

    Chức năng quản lý sử dụng dịch vụ:

    QUẢN LÝ SỬ DỤNG DỊCH VỤ

    Trường ĐHDL Hải Phòng         31
                   
      Ăn uống   Điện thoại   Giặt là   Gửi fax
                     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.5 Quản lý khách ra:

    Nhân viên khách sạn sẽ tổng hợp chi phí phát sinh của khách, lập hóa đơn và chuyển cho nhân viên thu ngân của lễ tân thông báo cho khách và thanh toán tiền với khách. Nhân viên thu ngân chuyển phòng khách vừa trả thành phòng trống.

    Chức năng quản lý khách ra:

    QUẢN LÝ KHÁCH RA

    Hóa đơn thanh toán   Phòng trả
         

    2.6. Chức năng báo cáo:

    Hệ thống báo cáo có thể lọc theo thời gian hoặc theo một số tiêu chí khác theo yêu cầu:

    • Báo cáo về tình trạng phòng: số phòng trống, số phòng bận, số phòng

    đã được đặt.

    • Báo cáo về khách: Số khách vào, số khách ra…
    • Báo cáo về Phòng đặt.
    • Báo cáo về doanh thu phòng
    • Báo cáo về doanh thu dịch vụ.

    2.7. Thông tin về khách sạn:

    Chức năng thông tin về khách sạn nhằm giới thiệu và quảng cáo về khách sạn: Lịch sử khách sạn, vị trí địa lý, địa chỉ của khách sạn, diện tích khuôn viên của khách sạn, các dịch vụ mà khách sạn hiện có để cung cấp…

    Khách hàng có thể truy vấn thông tin về khách sạn trên mạng Internet.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            32

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.8. Đặt phòng qua mạng:

    Sau khi truy vấn trên mạng, khách hàng có thể lựa chọn việc đặt phòng tại khách sạn thông qua mạng. Để có thể đặt phòng, khách hàng sẽ phải đăng ký một tài khoản (account) với email của khách hàng đã có.

    Việc đặt phòng sẽ được tiến hành như sau: sau khi truy cập website của khách sạn, khách hàng sẽ tiến hành việc chọn loại phòng có trong danh sách loại phòng của khách sạn. Khi khách hàng thực hiện yêu cầu chọn phòng, hệ thống sẽ đưa ra danh sách phòng thuộc loại phòng khách hàng yêu cầu. Khách hàng sẽ đánh dấu phòng chọn, điền các thông tin liên quan đến việc đặt phòng: số lượng phòng đặt, số phòng đôi, số phòng đơn, số khách thuê, số trẻ em, số người lớn, ngày đến, ngày đi, số tài khoản… Với yêu cầu ngày đến phải sau ngày đặt phòng ít nhất là hai ngày. Các thông tin này sẽ được gửi đến hệ thống. Sau đó hệ thống sẽ kiểm tra số lượng phòng có thể đáp ứng cho khách. Nếu thỏa mãn sẽ xác nhận lại thông tin đặt phòng và đặt phòng cho khách. Nếu không thỏa mãn thì sẽ gửi thông tin từ chối khách.

    3.     Biểu đồ luồng dữ liệu hệ thống.

     

    3.1 Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh:

      Yêu cầu đặt phòng 1.0 Thông tin              
        phòng đặt              
        Trả lời yêu cầu QUẢN LÝ              
                           
        đặt phòng ĐẶT Thông tin                  
        D53   DSDSphòngkhách        
          PHÒNG phòng        
                           
    Tr  ng ĐHDL Hải P òng   Thông tin         33      
                 
        Yêu cầu thuê 2.0       D6 DS phòng đặt    
        phòng phòng đặt          
               
            Thông tin                  

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh.

    3.2.1. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý đặt phòng

        1.1                
          Thông tin phòng  
    Trường ĐHDL Hải Phòng TRA CỨU
                34  
      Tra cứu thông tin   D5 DS phòng        
        THÔNG          
                       
        TIN                
                       

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.2. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý khách vào:

    3.2.2.1. Đối với khách đã đặt chỗ trước.

    Trường ĐHDL Hải Phòng 2.1.1 35

    TRA CỨU

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

        3.2.2.2. Đối với khách chưa đặt chỗ trước.          
                2.2.1          
            Yêu cầu thuê phòng TRA CỨU          
            Thông tin phòng rỗi THÔNG Thông tin phòng rỗi
            TIN          
                         
                           
                    D5 DS phòng  
                           
    Tr KHÁCH HÀNG     36  
    ường ĐHDL  ải Phòng      
                           
                           

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.3. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý sử dụng dịch vụ

      Yêu cầu sử dụng dịch vụ   Thông tin dịch vụ      
      3.1                
                     
                     
      D2   Dịch vụ    
                   
          QUẢN LÝ      
    KHÁCH HÀNG      
                     
                     
          DỊCH VỤ Lưu              
      Cung cấp dịch vụ              
      D4   Hoá đơn    
               
                   
                           

    Hình 4.6: Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý

    đặt phòng đối với khách chưa đặt chỗ trước

    3.2.4. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý khách ra

    Yêu cầu trả phòng 4. 1

    TRA CỨU

    THUÊ

    PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng

    Thông tin đúng

    4 2

    Thông tin khách sử

    dụng dịch vụ

    D2  Dịch vụ

    kháchphòng          37

    về

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.5. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý tài nguyên

    Yêu cầu c ập nhật 5.1          
    thông tin phòng   Cập nhật thông        
    QUẢN LÝ D5   DS phòng  
         
      tin phòng        
             
      PHÒNG          
      Yêu cầu cập nhật 5.2        
      thông tin loại phòng QUẢN LÝ        
    Trường ĐHDL Hải Phòng        
    Cập nhật thông D7 38  
            Loại phòng  
          LOẠI tin lợi phòng      
               
    NHÀ QUẢN LÝ        
               

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.6. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Báo cáo

            Thông tin D1     Tiện nghi          
              tiện nghi                                
                                             
                  Thông tin                    
                    D2     Dịch vụ        
                  dịch vụ                              
                                               
                    Thông tin                        
                      D3     DS khách    
                                         
      Yêu cầu báo cáo 6. 0         khách                            
                                         
              Doanh thu                      
                                   
                                 
          LẬP BÁO     D4   Hóa đơn  
    NHÀ QUẢN LÝ  
                                           
          CÁO       Thông tin                            
      Danh sách các báo cáo                                  
                  D5   DS phòng  
                         
    Trường ĐHDL Hải Phòng             phòng          
                                           
            D6   DS phòng đặt 39
                       

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Thông tin

    phòng

    Thông tin

    loại phòng

    Hình 4.9: Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Báo cáo

    4.     Mô hình dữ liệu quan hệ:

     

    • Các khái niệm cơ bản

     

    – Thực thể (Entity): là một khái niệm để chỉ một lớp các đối tượng cụ

    thể hay các khái niệm có cùng những đặc trưng chung mà ta quan tâm; và được ký hiệu:

    TÊN THỰC THỂ

    Bản thể (Instance): là một đối tượng cụ thể của thực thể.

    – Thuộc tính (Attributes): là các đặc trưng của thực thể. Nó được ký

    hiệu:

    Tên thuộc tính

    Thuộc tính của thực thể có các loại cơ bản sau:

    • Thuộc tính tên gọi: là thuộc tính của thực thể mà mỗi giá trị cụ thể của nó cho ta tên gọi của một bản thể thuộc thực thể và có thể nhận biết được bản thể đó.
    • Thuộc tính định danh: là một hay một số thuộc tính của thực thể mà giá trị của nó cho phép ta phân biệt được các bản thể khác nhau của một thực thể.
    • Thuộc tính mô tả: là các thuộc tính của thực thể không phải là thuộc tính định danh, không phải là thuộc tính tên gọi; những thuộc tính này cho ta biết đầy đủ hơn về các bản thể của thực thể; Thực thể có thể có nhiều hoặc không có một thuộc tính mô tả nào.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            40

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Thuộc tính đa trị (lặp): là một thuộc tính có thể nhận nhiều hơn một giá trị đối với mỗi bản thể thuộc thực thể.

    Ký hiệu:

    Tên thuộc tính Tên thuộc tính
      định danh  
        đa trị (lặp)
        TÊN THỰC THỂ  
           
    Tên thuộc tính   Tên thuộc tính
    tên gọi   mô tả

    – Các liên kết: là các mối quan hệ gắn kết các thực thể trong mô hình E-

    1. Một mối quan hệ có thể kết nối giữa một thực thể với một hoặc nhiều thực thể khách được xem xét trong tổ chức. Nó phản ánh mối quan hệ vốn có giữa các bản thể của các thực thể đó; được ký hiệu:

    TÊN LIÊN

    KẾT

    4.2. Các thực thể và thuộc tính của nó trong hệ thống quản lý khách sạn:

    – Thực thể PHÒNG:

    STT Tên thuộc tính Ghi chú
         
    1 Số phòng Thuộc tính khóa (định danh)
         
    2 Loại phòng  
         
    3 Giá phòng  
         
    4 Mã khách hàng  
         
    5 Trạng thái Rỗi, bận
         

    Bảng 4.1: Thông tin về phòng – Thực thể LOẠI PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            41

    Đồ án tốt nghiệp Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến
                 
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
                 
      1 Mã loại phòng   Thuộc tính khóa (định danh)  
                 
      2 Tên loại phòng      
                 
      3 Giá phòng      
                 
      4 Mô tả      
               
          Bảng 4.2: Thông tin về loại phòng
               
      – Thực thể TIỆN NGHI      
               
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
               
      1 Mã tiện nghi   Thuộc tính khóa (định danh)  
              được thêm vào  
               
      2 Tên tiện nghi      
               
      3 Đơn giá      
               
      4 Mô tả      
                 

    Bảng 4.3: Thông tin về loại phòng – Thực thể KHÁCH HÀNG:

    STT Tên thuộc tính Ghi chú
         
    1 Mã khách Thuộc tính khóa (định danh) được thêm vào
         
    2 Tên khách (Last name và First name)
         
    3 Ngày sinh  
         
    4 Quốc gia  
         
    3 Giới tính  
         
    4 Thông tin định Là loại giấy tờ xác định khách hàng như:
      danh Chứng minh thư nhân dân / Visa / passport
         
    5 Ngày đến Sau ngày đặt phòng ít nhất 2 ngày
         

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            42

    Đồ án tốt nghiệp     Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến
                         
    6   Ngày đi   Trước ngày đến ít nhất 1 ngày
                         
        5   Địa chỉ liên lạc          
                         
        6   Số điện thoại          
                         
        7   Số fax          
                         
        8   Nước          
                       
              Bảng4.4: Thông tin về khách hàng
                     
        – Thực thể DỊCH VỤ        
             
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
             
      1 Mã dịch vụ   Thuộc tính khóa (định danh) được thêm vào
                 
      2 Tên dịch vụ        
                 
      3 Đơn giá        
                 
      4 Mô tả        
                         

    Bảng4.5: Thông tin về dịch vụ

    4.3. Mô hình quan hệ thực thể E-R của hệ thống quản lý khách sạn:

    LOẠI       Thuộc TIỆN
    PHÒNG       NGHI
         
                     
                     
                     
    PHÒNG Trang bị
     

    Đặt

        Ngày thuê                   Ngày trả
                         
                             
                             
    Trường Đ HDL Hải Phòng             43
                                 
      SỰ ĐẶT                       DỊCH VỤ
                           

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4.4. Mô hình quan hệ

    Chuyển các thực thể, liên kết thành các quan hệ, ta có mô hình quan hệ sau:

    Xét khách đặt phòng nhưng chưa tới nhận phòng là “khách đặt”; khách đến nhận phòng là “khách”. Khi đó ta sẽ có “khách đặt” có thể đặt phòng cho một hoặc nhiều “khách” đến nhận phòng. Còn “khách” có thể là “khách đặt” hoặc cũng có thể là “khách” đơn lẻ không đặt phòng trước nhưng đến thuê trực tiếp.

    Khách hàng thuê phòng, sử dụng dịch vụ; tiền thuê phòng và sử dụng dịch vụ sẽ được tính vào trong hóa đơn.

    TIỆN NGHI

    #Mã tiện nghi

    LOẠI PHÒNG

    #Mã loại phòng

    TRANG BỊ

    #Mã tiện nghi

    #Số phòng

    PHÒNG

    #Số phòng #Mã loại phòng

    Trường ĐHDL Hải Phòng

    44

    SỰ ĐẶT PHÒNG

    #Mã đặt phòng

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    III. GIAO DIỆN VÀ MỘT SỐ ĐOẠN MÃ CHƯƠNG TRÌNH DEMO

     

    1.     Form đăng nhập:

    Option Explicit

    ‘Dim dbMyDB As Database

    Dim rsUserRight As ADODB.Recordset

    Dim LoginSucceeded As Boolean

    Private Sub cmdCancel_Click()

    LoginSucceeded = False

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            45

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    End

    End Sub

    Private Sub cmdOK_Click()

    If (txtPassword.Text = “please”) Then

    frmMain.mnuList.Enabled = True

    frmMain.mnuCheckin.Enabled = True

    frmMain.mnuCheckOut.Enabled = True

    frmMain.mnuReser.Enabled = True

    frmMain.mnuReport.Enabled = True

    frmMain.mnuFileLogin.Enabled = False

    frmMain.mnuLogout.Enabled = True

    Unload Me

    Exit Sub

    End If

    If Not LoginSucceeded Then

    MsgBox “Invalid Password !”, , “Login”

    txtPassword.SetFocus

    SendKeys “{Home}+{End}”

    End If

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            46

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Giao diện chính của chương trình:

    Chọn tab System chọn chức năng English – Vietnamese để chuyển tiếng anh sang tiếng việt hoặc ngược lại.

    Mã nguồn thực hiện chức năng này:

    Private Sub MDIForm_Load()

    VIETANH = False

    If (VIETANH = True) Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            47

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Call EnglishVietNam(Me.Name)

    Else

    Call VietNamEnglish(Me.Name)

    End If

    init

    RATEOFEXCHANGE = 0

    frmLogin.Show 1

    frmRateOfExchange.Show 1

    End Sub

    3. Chức năng Danh mục

    Bao gồm các form: Danh mục quốc gia

    Danh mục điện thoại – fax

    Danh mục dịch vụ

    Danh mục giá phòng

    Tỉ giá ngoại tệ

    Form cập nhật danh mục quốc gia

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            48

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Form cập nhật loại phòng, giá phòng

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            49

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4. Chức năng Đăng ký

    Bao gồm các form: Đăng ký khách

    Chuyển phòng

    Xem tình trạng phòng

    Xem thông tin phòng

    Xem thông tin khách

    Tìm kiếm

    Form đăng ký khách (Quản lý khách vào)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            50

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    – Khai báo

    Dim SuaFlag As Boolean

    Dim ThemMoiFlag As Boolean

    Dim BOOK As Byte

    Dim clicked As Boolean

    – Hộp chọn giới tính

    Private Sub CboGT_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboGT.ListCount > 0) Then

    If (CboGT.ListIndex = 0) Then

    CboGT.Tag = “M”

    ElseIf (CboGT.ListIndex = 1) Then

    CboGT.Tag = “W”

    End If

    End If

    End Sub

    – Hộp chọn tên quốc gia

    Private Sub CboNation_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboNation.ListCount > 0) Then

    sql = “select * from QG WHERE TENNUOC=’” & CboNation.List(CboNation.ListIndex) & “‘”

    CboNation.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (Not rs1.EOF) Then

    CboNation.Tag = rs1!MANUOC

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            51

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    End Sub

    – Hộp chọn phương thức thanh toán

    Private Sub CboPayment_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboPayment.ListCount > 0) Then

    sql = “select * from Payment WHERE Detail=’” & CboPayment.List(CboPayment.ListIndex) & “‘”

    CboPayment.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (rs1.EOF = False) Then

    CboPayment.Tag = rs1!PaymentID

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    End If

    End Sub

    • Xoá thông tin của khách đăng ký Private Sub CmdXoa_Click()

    If (VSDS.Row > 0 And VSDS.Row < VSDS.Rows) Then sql = “DELETE FROM CUR_CUST WHERE

    CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End If

    End Sub

    – Các hàm được gọi

    Private Sub Form_Load()

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            52

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    If (VIETANH = True) Then

    Call EnglishVietNam(Me.Name)

    Else

    Call VietNamEnglish(Me.Name)

    End If

    Call LoadCusID

    Call LoadGioiTinh

    Call LoadNation

    Call LoadPayMent

    Call init

    Call ClearItem

    LoadCustomer

    clicked = False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End Sub

    Private Sub LoadGioiTinh()

    CboGT.AddItem “Man”

    CboGT.AddItem “Woman”

    End Sub

    Private Sub LoadNation()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “select * from QG”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    CboNation.Clear

    While Not rs1.EOF

    CboNation.AddItem rs1!Tennuoc

    rs1.MoveNext

    Wend

    rs1.Close

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            53

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Set rs1 = Nothing

    If (CboNation.ListCount > 0) Then CboNation.ListIndex = 0 sql = “select * from QG WHERE TENNUOC=’” &

    CboNation.List(CboNation.ListIndex) & “‘”

    CboNation.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (Not rs1.EOF) Then

    CboNation.Tag = rs1!MANUOC

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    + Thông tin giá phòng

    Private Sub LoadRate(RoomNumber As String)

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Dim STT As Integer

    sql = “Select * From ROOMRATE WHERE ROOMNUM=’”

    & Trim(RoomNumber) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    TxtRate.Text = “”

    If Not rs1.EOF Then

    TxtRate.Text = Str(rs1!Rate)

    Else

    MsgBox “Invalid Room number !”

    TxtRoomNumber.Text = “”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            54

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Đánh chỉ số ID cho khách Private Sub LoadCusID()

    sql     =      “Select      Max(CUSTOMERID)       as     SL      From

    CUSTOMER”

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If Not rs1.EOF Then

    If (IsNull(rs1!SL)) Then

    TxtCusID.Text = “1”

    Else

    TxtCusID.Text = rs1!SL + 1

    End If

    Else

    TxtCusID.Text = “1”

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    – Cập nhật thông tin khách mới

    Private Sub CmdNew_Click()

    Call ClearItem

    ThemMoiFlag = True

    SuaFlag = False

    SetButton True

    End Sub

    – Sửa thông tin khách

    Private Sub CmdSua_Click()

    If (VSDS.Rows > 1 And VSDS.Row > 0 And VSDS.Row <

    VSDS.Rows) Then

    SuaFlag = True

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            55

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    ThemMoiFlag = False

    SetButton True

    Exit Sub

    Else

    MsgBox “Please Select a customer to modify !” (Thông báo khi chưa chọn đối tượng để sửa thông tin)

    Exit Sub

    End If

    End Sub

    – Huỷ thông tin khách vừa nhập

    Private Sub CmdHuy_Click()

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    Call VSDS_Click

    End Sub

    • Thoát khỏi form nhập thông tin khách đăng ký thuê phòng Private Sub CmdThoat_Click()

    SuaFlag = False ThemMoiFlag = True Unload Me

     

    End Sub

     

    • Hộp text nhập số phòng đăng ký của khách

    Private Sub TxtRoomNumber_LostFocus()

    If ThemMoiFlag = False And SuaFlag = False Then

    clicked = False

    Exit Sub

    End If

    If clicked = True Then

    clicked = False

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            56

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Exit Sub

    End If

    If CheckRoom(TxtRoomNumber.Text) = False Then MsgBox “Room number invalid !” TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If RoomBusy(TxtRoomNumber.Text) = True Then

    MsgBox “The Room is not avaiable !” & ” Please Choice another room !”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    LoadRate (TxtRoomNumber.Text)

    End Sub

    • Hộp chọn phương thức thanh toán Private Sub LoadPayMent()

     

    Dim rs1 As ADODB.Recordset Dim STT As Integer

    sql = “Select * From PayMent” Set rs1 = pConnection.Execute(sql) CboPayment.Clear

     

    While Not rs1.EOF CboPayment.AddItem rs1!Detail rs1.MoveNext

     

    Wend rs1.Close

     

    Set rs1 = Nothing

     

    If (CboPayment.ListCount > 0) Then CboPayment.ListIndex = 0

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            57

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “select * from Payment WHERE Detail=’” & CboPayment.List(CboPayment.ListIndex) & “‘”

    CboPayment.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (rs1.EOF = False) Then

    CboPayment.Tag = rs1!PaymentID

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    End Sub

    Private Sub SetButton(B As Boolean)

    CmdGhi.Visible = B

    CmdHuy.Visible = B

    CmdNew.Visible = Not B

    CmdXoa.Visible = Not B

    CmdSua.Visible = Not B

    CmdThoat.Visible = Not B

    End Sub

    • Kiểm tra và lưu thông tin vừa nhập Private Sub CmdGhi_Click() Dim rs1 As ADODB.Recordset Dim Maloaihh As String

     

    IfTrim(TxtRoomNumber.Text)=””Or

    CheckRoom(TxtRoomNumber.Text) = False Then

    MsgBox “Invalid Room number”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(TxtFirstName.Text) = “” Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            58

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    MsgBox “First Name Invalid”

    TxtFirstName.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(TxtLastName.Text) = “” Then

    MsgBox “Last Name Invalid”

    TxtLastName.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboNation.Tag) = “” Then

    MsgBox “National Invalid”

    CboNation.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboPayment.Tag) = “” Then

    MsgBox “Payment Invalid”

    CboPayment.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboGT.Tag) = “” Then

    MsgBox “Invalid Sexual”

    CboGT.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If (ThemMoiFlag = True) Then

    sql = “INSERT INTO CUSTOMER (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” &

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            59

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUR_CUST (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    ElseIf SuaFlag = True Then

    sql = “DELETE FROM CUR_CUST WHERE CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            60

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “DELETE FROM CUSTOMER WHERE CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUSTOMER (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUR_CUST (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            61

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End If

    End Sub

    Private Sub init()

    Dim i As Integer

    VSDS.Cols = 16

    VSDS.Rows = 1

    For i = 1 To 5

    VSDS.ColWidth(i) = (VSDS.Width – VSDS.ColWidth(0)) / 5 – 20 Next

    VSDS.TextMatrix(0, 0) = “Cust. ID”

    VSDS.TextMatrix(0, 1) = “RoomNum”

    VSDS.TextMatrix(0, 2) = “Last Name”

    VSDS.TextMatrix(0, 3) = “First Name”

    VSDS.TextMatrix(0, 4) = “Birthday”

    VSDS.TextMatrix(0, 5) = “National”

    VSDS.TextMatrix(0, 6) = “Sexual”

    VSDS.TextMatrix(0, 7) = “Day In”

    VSDS.TextMatrix(0, 8) = “Day out”

    VSDS.TextMatrix(0, 9) = “Payment”

    VSDS.TextMatrix(0, 10) = “No. Visa”

    VSDS.TextMatrix(0, 11) = “Rate”

    VSDS.TextMatrix(0, 12) = “Time In”

    VSDS.TextMatrix(0, 13) = “Time out”

    VSDS.TextMatrix(0, 14) = “No. Pass”

    VSDS.TextMatrix(0, 15) = “Company”

    For i = 6 To 15

    VSDS.ColHidden(i) = True

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            62

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Next

    For i = 0 To VSDS.Cols – 1

    VSDS.Cell(flexcpAlignment, 0, 0, 0, 5) = flexAlignCenterCenter

    VSDS.Cell(flexcpFontBold, 0, 0, 0, 5) = True

    Next

    BOOK = 1

    End Sub

    • Hàm kiểm tra phòng

    Private Function CheckRoom(RN As String) As Boolean CheckRoom = False

    If (Trim(RN) = “201” Or Trim(RN) = “202” Or Trim(RN) = “203” Or Trim(RN) = “204” Or _

    Trim(RN) = “301” Or Trim(RN) = “302” Or Trim(RN) = “303” Or Trim(RN) = “304” Or _

    Trim(RN) = “401” Or Trim(RN) = “402” Or Trim(RN) = “403” Or Trim(RN) = “404” Or _

    Trim(RN) = “501” Or Trim(RN) = “502” Or Trim(RN) = “503” Or Trim(RN) = “504” Or _

    Trim(RN) = “601” Or Trim(RN) = “602” Or Trim(RN) = “603” Or Trim(RN) = “604” Or _

    Trim(RN) = “701” Or Trim(RN) = “702” Or Trim(RN) = “703” Or Trim(RN) = “704” Or _

    Trim(RN) = “801” Or Trim(RN) = “802” Or Trim(RN) = “803” Or Trim(RN) = “804”) Then

    CheckRoom = True

    End If

    End Function

    Private Sub LoadCustomer()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Dim STT As Integer

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            63

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “Select * FROM CUR_CUST where book=” & BOOK Set rs1 = pConnection.Execute(sql) VSDS.Clear 1

    VSDS.Rows = 1

    STT = 0

    While Not rs1.EOF

    STT = STT + 1

    VSDS.AddItem rs1!CUSTOMERID & vbTab & Trim(rs1!ROOMNUM) & vbTab & rs1!LASTNAME & vbTab & rs1!FIRSTNAME & vbTab & rs1!BIRTHDAY & vbTab & rs1!nation & vbTab & Trim(rs1!SEXSUAL) & vbTab & Trim(rs1!DATE_IN) & vbTab & Trim(rs1!DATE_OUT) & vbTab & Trim(rs1!PAYMENT) & vbTab & Trim(rs1!VISA_NUM) & vbTab & Trim(rs1!Rate) & vbTab & Trim(rs1!TIME_IN) & vbTab & Trim(rs1!TIME_OUT) & vbTab & Trim(rs1!PASSPORT) & vbTab & Trim(rs1!COMPANY)

    rs1.MoveNext

    Wend

    If (VSDS.Rows > 1) Then

    VSDS.Row = 1

    CmdSua.Enabled = True

    Call VSDS_Click

    Else

    CmdSua.Enabled = False

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    • Bảng hiển thị danh sách khách đăng ký Private Sub VSDS_Click() Dim rs1 As ADODB.Recordset

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            64

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Dim MaChungTu As String

    Dim MaLoaiHangHoa As String

    Dim MaHangHoa As String

    clicked = True

    If (VSDS.Row > 0 And VSDS.Row < VSDS.Rows) Then

    TxtCusID.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)

    TxtRoomNumber.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 1)

    TxtLastName.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 2)

    TxtFirstName.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 3)

    TxtBirthDay.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 4)

    CboNation.ListIndex = GetIndex(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 5))

    If (Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 6)) = “M”) Then CboGT.ListIndex = 0

    Else

    CboGT.ListIndex = 1

    End If

    TxtDateIn.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 7) TxtDateOUT.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 8) CboPayment.ListIndex=

    GetIndexPayMent(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 9))

    TxtVisaNum.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 10)

    TxtRate.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 11)

    txtTimeIn.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 12)

    TxtTimeOut.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 13)

    TxtPassNum.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 14)

    TxtCompany.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 15)

    End If

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            65

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Private Function GetIndex(Ma As String) As Integer Dim NationName As String

    Dim i As Integer

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select * from QG where Manuoc=’” & Trim(Ma) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    GetIndex = -1

    If (Not rs1.EOF) Then

    NationName = rs1!Tennuoc

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    If (CboNation.ListCount >= 0) Then

    For i = 0 To CboNation.ListCount – 1

    If (Trim(CboNation.List(i)) = Trim(NationName)) Then GetIndex = i

    Exit Function

    End If

    Next

    End If

    End Function

    Private Function GetIndexPayMent(Ma As String) As Integer Dim PayMentName As String

    Dim i As Integer

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select * from PAYMENT where PAYMENTID=’” & Trim(Ma) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    GetIndexPayMent = -1

    If (Not rs1.EOF) Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            66

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    PayMentName = rs1!Detail

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    If (CboPayment.ListCount >= 0) Then

    For i = 0 To CboPayment.ListCount – 1

    If (Trim(CboPayment.List(i)) = Trim(PayMentName)) Then GetIndexPayMent = i

    Exit Function

    End If

    Next

    End If

    End Function

    • Xóa thông tin đang nhập

    Private Sub ClearItem()

    Call LoadCusID

    TxtRoomNumber.Text = “”

    TxtLastName.Text = “”

    TxtFirstName.Text = “”

    TxtBirthDay.Value = Null

    CboNation.ListIndex = -1

    CboGT.ListIndex = -1

    CboPayment.ListIndex = -1

    TxtVisaNum.Text = “”

    TxtPassNum.Text = “”

    TxtRate.Text = “”

    TxtCompany.Text = “”

    TxtDateIn.Value = Date

    TxtDateOUT.Value = Date

    txtTimeIn.Value = Time()

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            67

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    TxtTimeOut.Value = Time()

    End Sub

    Private    Function    RoomBusy(ROOMNUM      As    String)    As

    Boolean

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select ROOMNUM From CUR_CUST WHERE ROOMNUM=’” & Trim(ROOMNUM) & “‘ and book=1”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    RoomBusy = False

    If (Not rs1.EOF) Then

    RoomBusy = True

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Function

    5. Chức năng Trả phòng ( Quản lý khách ra)

    Bao gồm các Form:

    Nhập hoá đơn

    Nhập hoá đơn điện thoại

    Nhập hoá đơn Fax

    Sửa hoá đơn

    Trả phòng.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            68

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    6. Chức năng Đặt phòng (Quản lý thông tin đặt phòng)

    Form hiển thị tình trạng phòng của khách sạn

    – Đoạn code

    Private Sub SetStatusRoomBusy(ByVal Room As String, ByVal code As Integer)

    Room = Trim(Room)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            69

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    If (CheckRoom(Room) = True) Then

    If (code = 1) Then ‘ Free Room

    IRoomX((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 2) Then ‘ Busy Room

    IRoomD((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 3) Then ‘ Overdate Room

    IRoomV((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 4) Then ‘ Booking Room

    IRoomT((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    End If

    End If

    End Sub

    7. Chức năng báo cáo

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            70

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    8. Chức năng trợ giúp

    • Code kết nối dữ liệu access bằng OLEDB: Private Sub init()

     

    Set pConnection = New ADODB.Connection With pConnection

    .ConnectionTimeout = 5

     

    .ConnectionString=

    “PROVIDER=Microsoft.Jet.OLEDB.4.0;Data            Source=”         &

    App.Path             &             “\CSDLKS.mdb;Jet              OLEDB:Database

    Password=vietnam;”

    .CursorLocation = adUseServer

    .IsolationLevel = adXactIsolated

    .Open

    End With

    Exit Sub

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            71

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

    1. Nhận xét về đề tài

    Trong thời gian nghiên cứu, xây dựng chương trình, em hết sức cố gắng làm việc với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo. Chương trình đã đạt được một số kết quả nhất định: Giao diện đơn giản, dể sử dụng, đảm bảo tìm kiếm thông tin nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm thời gian, hạn chế được việc phải lưu trữ quá nhiều sổ sách trong quá trình quản lý.

    Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến là một đề tài thiết thực với nhu cầu của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn hiện nay.

    Tuy nhiên với thời gian ngắn, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế; hệ thống quản lý vẫn còn có nhiều thiếu sót. Rất mong các thầy cô giáo và các bạn tận tình giúp đỡ để hệ thống quản lý ngày càng được hoàn thiện hơn.

    2. Hướng phát triển của đề tài:

    Hệ thống quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến trên đây phần nào đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn; tuy nhiên còn có rất nhiều thiếu sót và hạn chế.

    Nếu được phát triển tiếp đề tài này em sẽ xây dựng hệ thống quản lý bằng website, ban quản lý khách sạn có thể quản lý dữ liệu trực tiếp trong cơ sở dữ liệu của website, đồng thời cập nhật thường xuyên cho khách hàng những thông tin mới nhất của khách sạn đồng thời tiếp nhận ý kiến của khách hàng cũng nhanh chóng hơn. Việc quản lý và đăng ký đặt phòng trực tuyến cũng trở nên dể dàng hơn; Hạn chế được việc để lỡ các cơ hội cho thuê phòng cũng như những sai sót có thể làm ảnh hưởng đến uy tính của khách sạn do ảnh hưởng của việc tra cứu thông tin chậm trễ – đó là điều mà những nhà kinh doanh nói chung và kinh doanh khách sạn nói riêng không bao giờ mong đợi.

    Cuối cùng, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn TS.Trần Minh cùng ThS.Nguyễn Hoài Thu, người đã định hướng cho em hướng nghiên cứu đề tài này và là người hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài. Em xin cảm ơn Ba, Mẹ, anh chị và bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này.

    Em xin trân trọng cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS: QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

    ĐỒ ÁN HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS: QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

    ĐỒ ÁN HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS: QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÀI TẬP LỚN QUẢN LÝ GIÁO VỤ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-H%E1%BB%86-QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-C%C6%A0-S%E1%BB%9E-D%E1%BB%AE-LI%E1%BB%86U-ACCESS-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-KH%C3%81CH-S%E1%BA%A0N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS: QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trên thế giới hiện nay, tin học là một ngành phát triển không ngừng. Thời kỳ công nghiệp đòi hỏi đòi hỏi thông tin nhanh chóng chính xác. Có thể nói tin học đã chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, trong các ngành khoa học kỹ thuật. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của ngành tin học thế giới và khu vực, ngành tin học nước ta đó cú bước phát triển nhất định.

    Việc đưa tin học vào công việc quản lý, nhằm giảm bớt sức lao động của con người, tiết kiệm thời gian, độ chính xác cao và tiện lợi rất nhiều so với việc làm quản lý giất tờ bằng thủ công như trước đây. Tin học hóa nhằm thu hẹp không gian lưu trữ, tránh được thất lạc dữ liệu, tự động hóa và cụ thể hóa các thông tin theo nhu cầu của con người. Còn ở Việt Nam ngành tin học tuy còn non trẻ nhưng cũng đang từng bước bứt phá được những thành công trong việc áp dụng tin học vào việc phat triển kinh tế – xã hội, góp phần vào việc phát triển xã hội và khẳng định mỡnh trờn thị trường quốc tế.

    Chính vì vậy khi em được nhận đề tài xây dựng chương trình quản lý khách sạn trên Access, với những kiến thức đã được học và quá trình tìm hiểu, đặc biệt là sự hướng dẫn rất đỗi nhiệt tình của cô giáo, Ths.Lưu Thị Thảo em đã hoàn thành được đề tài của mình với một bài toán quản lý. Trong quá trình làm bài chắc chắn em sẽ mắc phải những thiếu sót nên rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô để em có cơ hội sửa sai, phát triển trong thực tế và từng bước hoàn thiện mình.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    1

    CHƯƠNG 1: MÔ TẢ HỆ THỐNG

     

    1.1 Sơ lược về khách sạn A

    Khách sạn có tất cả 10 phòng, các phòng đều có đầy đủ tiện nghi như: Tivi, tủ lạnh, điều hòa không khí, bồn tắm, máy nóng lạnh, điện thoại cố định, mạng .

    Phòng và các vật dụng trong phòng là tài sản chính của khách sạn. Vì vậy thông tin về phòng và khách sử dụng phòng cần phải được quản lí để phục vụ qui trình đặt phòng, khách vào, ra….

    Thông tin về phòng bao gồm: Số phòng, loại phòng, các tiện nghi….sẽ được đưa vào

    kho dữ liệu Phòng. Thông tin về phòng cũng được cập nhật thường xuyên trạng thái như phòng nào trống, phòng nào đã có khách….Giá trị thuê của từng phòng cũng được lưu trữ đầy đủ.

    Khách đến nghỉ tại Khách sạn sẽ cảm thấy thoải mái, không khí trong lành và dẽ chịu. Ban tiếp tân,dịch vụ Khách sạn luôn luôn quan tâm, động viên các nhân

    viên trong Khách sạn nâng cao chất lượng để phục vụ khách đến nghỉ tại Khách sạn với một điều kiện tốt nhất.

    1.2 Tổ chức bộ máy quản lí khách sạn

    KS quản lý những thông tin về khách như: Họ tên, địa chỉ, giới tính, điện thoại – Fax, email (nếu có), CMND, hộ chiếu, quốc tịch. Khách là công chức thì quản lý theo tên cơ quan. Hệ thống phân thành hailuồng dữ liệu để quản lý:

    + Khách cá nhân .

    + Khách gia đình.

    *Quản lý khách vào:

    • Khách có đặt trước. Khách đưa ra thông tin liên quan đến cuộc đặt

    phòng. Nhân viên lễ tân tra cứu thông tin cuộc đặt phũng trờn máy tính, xác nhận lại các thông tin của khách và lưu vào cơ sở dữ liệu. Thông tin khách vào bao gồm thông tin về khách và thông tin phòng khách thuê.

    + Khách không đặt trước: Nhân viên lễ tân cung cấp các thông tin về phòng trống trong khách sạn cho khách thông qua việc truy vấn máy tính vào kho dữ liệu danh sách phũng. Khỏch xác nhận thuờ phũng, nhân viên sẽ lưu các thông tin vào CSDL.

    *Quản lý khách ra

    • Khách nhận được hóa đơn từ nhân viên thu ngân lễ tân và thông tin, nhân viên xác nhận việc thông tin vào CSDL. Nhân viên thu ngân đặt phòng khách thuê thành trống.

    * Quản lý phòng

    • 3 loại Phòng: A, B, C A: 300.000đ
    • 000đ

    Các Phòng được trang bị các tiện nghi, nên tiện nghi cũng được quản lý theo mã tiện nghi, trên tiện nghi. Trang bị tiện nghi theo Phòng được quản lý dựa vào loại Phòng và số lượng, chủng loại tiện nghi trong từng Phòng

    • Quản lý dịch vụ
    • Tên dịch vụ, tiện nghi tại khách sạn có nhiều loại dịch vụ như: điện thoại, ăn uống,

    giặt là, tắm hơi, các bữa trong ngày (khi khách yêu cầu)…

    * Báo cáo

    • Báo cáo về tình trạng Phòng: số Phòng rỗi, số phòng có người
    • Báo cáo về Khách: số Khách vào, Khách ra, số Khách đặt phòng.
    • Báo cáo về doanh thu Phòng.
    • Báo cáo doanh thu dịch vụ.

    Tra cứu thông tin

    • Khách theo tên, số Phòng. -Sử dụng Phòng.
    • Sử dụng dịch vụ.

    -Thông tin phòng.

    -Thông tin khách hang.

    3

    Yêu cầu đặt phòng: khi có nhu cầu thuê phòng thì khách hàng phải đặt phòng, khai báo các thông tin cần thiết với nhân viên lễ tân, lễ tân sẽ kiểm tra tình trạng phòng, nếu còn phòng phù hợp đối với yêu cầu của khách hàng, thì lễ tân sẽ nhập thông tin đặt phòng của khách: thông tin ngày, giờ khách đến ở khách sạn.

    Yêu cầu đổi phòng: khi khách hàng có yêu cầu đổi phòng thì nhân viên khách sạn sẽ kiểm tra thông tin phòng xem có phòng phù hợp với yêu cầu của khách không, nếu có thì yêu cầu hệ thống cập nhật thông tin khách và phòng mới.

    Yêu cầu dịch vụ: trong khi ở nếu khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ nào thì

    đăng ký với nhân viên lễ tân, nhân viên lễ tân sẽ kiểm tra hệ thống và nhanh chóng đưa ra những thông tin cụ thể về các dịch vụ xem có thể đáp ứng nhu cầu của khách không, nếu dịch vụ có thể đáp ứng nhu cầu của khách thì nhân viên lễ tân sẽ cung cấp các dịch vụ của khách sạn cho khách hàng. Sau khách hàng lựa chọn dịch vụ thì nhân viên có nhiệm vụ cập nhật vào hệ thống.

    Trả phòng: khi khách hàng không còn nhu cầu thuê phòng của khách sạn nữa thì khách hàng gửi yêu cầu trả phòng, nhân viên bộ phận tiếp tân sẽ lập chi tiết phiếu thanh toán cho khách và sau đó sẽ thông báo lên bộ phận kế toán

    Thanh toán: khi khách hàng yêu cầu trả phòng thì lễ tân sẽ tương tác với hệ

    thống, hệ thống sẽ tính toán tất cả các khoản tiền mà khách hàng phải trả ( tiền phòng, tiền sử dụng dịch vụ, tiền điện thoại…) đưa ra được phiếu thanh toán chi tiết.

    Kiểm tra và dọn phòng: thường xuyên kiểm tra các phòng chịu trách nhiệm

    chuẩn bị trang thiết bị, tiện nghi trong phòng trước khi khách đến, thông báo với lễ tân phòng còn trống để cho thuê.

    Hướng dẫn khách hàng: khi khách hàng có vấn đề thắc mắc hay ý kiến, phàn nàn về chế độ phục vụ của nhân viên thì phòng phục vụ sẽ giải thích và tư vấn cho khách

    hàng khi cần thiết.

    Chương 2: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

    2.1: Xác định thực thể và thuộc tính

    a)Thực thể thứ nhất: KHÁCH HÀNG

    Các thuộc tính:

    +socmnd: số chứng minh thư nhân dân của khách hàng, đây là thuộc tính khóa, giúp ta phân biệt được khách hàng này với những khách hàng khác.

    +hoten: họ tên đầy đủ của khách hàng.

    +diachi: địa chỉ của khách hàng.

    +sdt: số điện thoại của khách hàng, dùng để liên lạc trong những trường hợp cần thiết.

    +maphong: mã phòng của khách hàng.

    +ngayden: ngày khách hàng nhận thuê phòng.

    +ngaytra: ngày khách hàng trả phòng.

    Dữ liệu của bảng KHÁCH HÀNG

    Hình 1.1 Dữ liệu bảng khách hàng

    b)Thực thể thứ 2: Thông tin phòng

    Các thuộc tính:

    +Mã Phòng: mã của phòng dùng để phân biệt các phòng, phòng này với phòng còn lại.

    +Tình trạng: cho biết phòng hiện tại đã có khách thuê phòng hay còn trống.

    +Giá phòng: cho biết giá của phòng đó.

    +Loại phòng: ở đây là A, B, C cho biết giá trị phòng thuê thuộc loại nào.

    Dữ liệu của bảng t_phòng:

    Hình 1.2 Dữ liệu bảng phòng

    c)Thực thể thứ 3: dịch vụ.

    Đây là các dịch vụ có trong khách sạn mà khách có thể yêu cầu sử dụng.

    Các thuộc tính:

    +DA: đồ ăn, phục vụ các bữa trong ngày.

    +GL: giặt là.

    +TH: tắm xông hơi dịch vụ cao cấp của khách sạn.

    +TrG: dịch vụ trọn gói gồm taxi, gọi điện……

    Dữ liệu của t_dichvu:

    Hình 1.3 Dữ liệu bảng dịch vụ

    d)Thực thể thứ 4 : dịch vụ sử dụng.

    Đây là các dịch vụ mà khách hàng đã sử dụng, được thêm vào để hỗ trợ tính toán tiền cho khách hàng khi thanh toán trả phòng. Các thuộc tính :

    +socmnd : số chứng minh thư nhân dân của khách hàng đã sử dụng dịch vụ, nhằm xác thực và tránh gây nhầm lẫn với những khách hàng khác.

    +madv : là mã dịch vụ mà khách hàng đã sử dụng, mã dịch vụ này phân biệt với mã dịch vụ khác để nhân viên dễ tính toán hơn. +soluong : số lượng dịch vụ mà khách hàng đã sử dụng.

    +thanhtoan : đây là trường giúp nhân viên biết khách đã trả tiền dịch vụ hay còn

    nợ lại khi khách thanh toán trả phòng.

    Dữ liệu của t_dichvusudung :

    Hình 1.4 Dữ liệu bảng sử dụng dịch vụ

    2.2:Quan hệ giữa các bảng, relationship.

    Sau khi tạo xong các bảng dữ liệu ta phải tiến hành liên kết các bảng lại với nhau để dữ liệu từng bảng có thể kết nối và trở thành một hệ thống lưu trữ dữ liệu hoàn chỉnh. Tạo liên kết cho các bảng cơ sở dữ liệu như sau:

    t_phong liên kết 1-n với t_khachhang qua maphong.

    T_khachhang liên kết 1-n với t_dichvusudung qua socmnd.

    T_dichvu liên kết 1-n với t_dichvusudung qua madv.

    Sau khi hoàn thành các liên kết trên ta có Relationships sau:

    Hình 1.5 Relationships

    CHƯƠNG III. THIẾT KẾ GIAO DIỆN

     

    3.1 Giao diện chính của chương trình :

    Hình 1.6 Giao diện chính

    Ta có thể thấy những mục lựa chọn ở trên.

    Khi click vào Chi tiết ta co các mục sau :

    +Thông tin khách hàng : bao gồm các thông tin khách hàng thuê phòng.

    +Thông tin phòng : những phòng có trong khách sạn, giá phòng, loại phòng…

    +Chi tiết dịch vụ : những dịch vụ đang có của khách sạn.

    Tiếp theo khi ta click vào Cập Nhật ta sẽ thấy các mục :

    +Cập nhật khách hàng : thêm mới khách hàng, chỉnh sửa tìm kiếm 1 số thông tin cho khách hàng.

    +Cập nhật phòng : giá phòng, loại phòng, tình trạng phòng….

    +Cập nhật dịch vụ : mã dịch vụ, số lượng dịch vụ, chứng minh thư nhân dân khách

    hàng đã sử dụng dịch vụ….

    Hình 1.7 Chức năng cập nhật

    Click Tìm Kiếm ta sẽ thấy các mục :

    +Tìm kiếm khách hàng : tìm kiếm khách hàng theo chứng minh thư nhân dân, hiển

    thị họ tên, địa chỉ, số điện thoại, …..

    +Tìm kiếm phòng : tìm kiếm phòng theo loại phòng, hiển thị đầy đủ mã số phòng,

    giá tiền……..

    Hình 1.8 Chức năng tìm kiếm

    Click vào Thanh Toán ta sẽ thấy giao diện sau :

    +Thông tin thanh toán : Họ tên, mã phòng, tiền dịch vụ, tổng tiền…. mọi chi phí của

    khách hàng sẽ được hiển thị, tính toán cho khách trả phòng.

    Hình 1.9 Chức năng thanh toán

    3.2 : Các Form chính.

    3.2.1 : Form cập nhật dịch vụ sử dụng.

    Hình 1.10 Chức năng cập nhật dịch vụ

    3.2.2 : Form cập nhật thông tin khách hàng

    Hình 1.11 Chức năng cập nhật thông tin khách hàng

    3.2.3: Form cập nhật phòng

    Hình 1.12 Chức năng cập nhật phòng

    3.2.4: Form chi tiết dịch vụ.

    Hình 1.13 Bảng Chi Tiết Dịch Vụ

    3.2.5: Form danh sách phòng trống.

    Hình 1.14 Quản lý phòng còn trống

    3.2.6: Form Main.

    Hình 1.15 Form chính

    3.2.7: Form tìm kiếm khách hàng.

    Hình 1.16 Tìm kiếm khách hàng

    3.2.8: Form tìm kiếm phòng.

    Hình 1.17 Tìm kiếm phòng

    3.2.9:Form thông tin khách hang.

    Hình 1.18 Quản lý thông tin khách hàng

    3.2.10: Form thông tin phòng.

    Hình 1.19 Thông tin phòng

    3.2.11: Form thông tin thanh toán.

    Hình 1.20 Thông tin thanh toán

    3.18 THIẾT KẾ BÁO BIỂU(REPORT)

    3.1.1Cơ sở lý thuyết

    Khái niệm: Báo cáo (Reprt) là một công cụ hữu hiệu dùng để thiết kế các mẫu báo cáo trong access. Các báo cáo được sử dụng để hiển thị dữ liệu của chúng ta một cách có hệ thống.

    Báo cáo (Report) có thể thiết kế được những mẫu biểu in ấn đơn giản đến những mẫu phức tạp phục vụ nhu cầu in ấn da dạng của người dùng.

    Các dạng maauc báo cáo như: Báo cáo dạng cột (Columnar), báo cáo dạng hàng (Tabular), báo cáo dạng nhóm / Tồng (Group/Total) và các báo cáo dạng biểu đồ, dạng nhãn…

    Các chế độ hiển thị của báo cáo như:

    Report design: Chế độ thiết kế báo cáo.

    Layout PreView: Chế độ trình bày dữ liệu trong báo cáo.

    Print PreView: Chế độ xem hình thức báo cáo trước khi in ấn.

    Report Thông tin thanh toán.

    Hình 1.21 Hóa đơn chi tiết

    3.20 Một số Macro được tạo trong chương trình

     

    + Cơ sở lý thuyết:

    Trong access Macro thể hiện các tác vụ riêng biệt của người dùng chẳng hạn như mở một Form hoặc chạy một báo cáo và cho phép ta mở rộng ứng dụng cơ sở dữ liệu một cách dễ dàng.

    Các Macro có thể được sử dụng cho những tác vụ được lặp đi lặp lại để tiết kiệm thời gian.Các Macro có thể thực hiện các tác vụ như:

    Chạy cùng một lúc các truy vấn và các báo cáo.

    Mở cùng lúc nhiều Form và nhiều báo cáo.

    Kiểm tra tính chính xác dữ liệu trên các Form.

    Di chuyển dữ liệu các bảng.

    Thể hiện các hành động khi ta kích vào nút lệnh.

    -Ta tạo ra các macro để thực hiện một số chức năng của chương trình.

    -Một số Macro được tạo:

    Hình 1.22 Một số Macros

    Thiết kế các modul

    Tạo các nút lệnh di chuyển trên Form: ĐẦU ,CUỐI, TRƯỚC ,SAU.

    Nút Đầu:Thực hiện về bản ghi đầu tiên.

    Private Sub cmddau_Click()

    DoCmd.GoToRecord , , acFirst

    End Sub

    Nút CUỐI: Về bản ghi cuối cùng.

    Private Sub cmdcuoi_Click()

    DoCmd.GoToRecord , , acLast

    End Sub

    Nút Trước :Quay về bản ghi trước.

    Private Sub cmdTruoc_Click()

    If CurrentRecord = 1 Then

    MsgBox “Dang o mau tin dau.Khong the di chuyen!”

    Else

    DoCmd.GoToRecord , , acPrevious

    End If

    End Sub

    Nút SAU: Tiến tới bản ghi tiếp theo.

    Private Sub cmdSau_Click()

    If CurrentRecord = Recordset.RecordCount Then MsgBox “Dang o mau tin cuoi.Khong the di chuyen!” Else

    DoCmd.GoToRecord , , acNext

    End If

    End Sub

    Tạo các nút lệnh : THÊM, XÓA,LƯU, KHÔNG.

    Nút Thêm:Thêm bản ghi mới.

    Private Sub cmdThem_Click()

    DoCmd.GoToRecord , , acNewRec

    End Sub

    Nút Xóa:

    Private Sub cmdxoa_Click()

    If MsgBox(“Ban co that su muon xoa mau tin?”, vbYesNo +

    vbQuestion, “Thong bao!”) = vbYes Then

    DoCmd.SetWarnings False

    DoCmd.RunCommand acCmdDeleteRecord

    DoCmd.GoToRecord , , acLast

    End If

    End Sub

    Nút LƯU:

    Private Sub cmdLuu_Click()

    End Sub

    Nút Không :

    Private Sub cmdkhong_Click()

    If Me.Dirty Then DoCmd.RunCommand acCmdUndo

    DoCmd.GoToRecord , , acLast

    sangmo True

    End Sub

    Nút Thoát:

    Private Sub cmdthoat_Click()

    If MsgBox(“Ban thuc su muon thoat form?”, vbYesNo +

    vbQuestion, “Thong bao”) = vbYes Then

    DoCmd.Close , , acSaveYes

    End If End Sub.

    CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN

    4.1: Ưu điểm

    Trong quá trình khảo sát bài toán quản lí khách sạn cơ bản đã hoàn thành được những công việc sau:

    Cập nhật, lưu trữ, thêm thông tin:

    Khách hàng đăng ký thuê phòng

    Khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ Hóa đơn khách hàng

    Báo biểu:

    Danh mục phòng

    Danh sách khách hàng đăng ký thuê phòng

    Danh sách khách hàng sử dụng dịch vụ Tra cứu:

    Tra cứu thông tin khách hàng Hóa đơn thuê phòng

    Hóa đơn dịch vụ

    Thanh toán

    4.2: Nhược điểm

    Chương trình quản lí khách sạn còn rất nhiều hạn chế. Bài toán khách sạn này chỉ áp dụng cho khách sạn có qui mô nhỏ, do đặc thù của mỗi khách sạn nên công tác quản lí khác nhau. Ở đây nhóm chúng em chỉ tìm hiểu về khách sạn nhỏ nên chỉ áp dụng cho công tác quản lí trong khách sạn tương tự.

    Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chương trình em nhận thấy chương trình có rất nhiều thiếu sót như:

    Khách sạn còn thiếu nhiều chức năng như: tìm kiếm chi tiết, đặt phòng online.

    Chương trình còn trùng lặp dữ liệu.

    Giao diện chưa tối ưu với người sử dụng.

    Hướng phát triển và hoàn thiện

    Chương trình chỉ mới cho phép nhân viên và khách hàng tiếp cận với hệ thống, nên hướng phát triển là cần phải phân quyền sử dụng cho hệ thống để khách hàng có thể tiếp cận với hệ thống.

    Bổ sung thêm nhiều chức năng nữa cho khách sạn.

    Đưa ra doanh thu trước cho khách sạn ở một thời gian nhất định.

    Tối ưu chương trình và xây dựng hệ thống cung cấp phòng, giá cả, đặt phòng online qua mạng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: NHẬN DẠNG KÝ TỰ VIẾT TAY TIẾNG VIỆT

    BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: NHẬN DẠNG KÝ TỰ VIẾT TAY TIẾNG VIỆT

    BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: NHẬN DẠNG KÝ TỰ VIẾT TAY TIẾNG VIỆT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Nền Móng 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-TR%C3%8D-TU%E1%BB%86-NH%C3%82N-T%E1%BA%A0O-NH%E1%BA%ACN-D%E1%BA%A0NG-K%C3%9D-T%E1%BB%B0-VI%E1%BA%BET-TAY-TI%E1%BA%BENG-VI%E1%BB%86T-.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: NHẬN DẠNG KÝ TỰ VIẾT TAY TIẾNG VIỆT

    1.   GIỚI THIỆU BÀI TOÁN

    Nhận dạng kí tự quang học (Optical Character Recognition – OCR) là lĩnh vực nghiên cứu cách chuyển đổi ảnh số được chụp hay quét từ tài liệu viết tay, đánh máy hay in thành dạng văn bản máy tính có thể hiểu được.

    Trên thế giới, công nghệ OCR đã có những tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực trong sản xuất và đời sống. Việc chuyển các văn bản in trên giấy thành dạng điện tử nhỏ gọn và dễ tìm kiếm giúp hàng triệu trang sách báo đến được với bạn đọc khắp nơi trên thế giới. Bằng cách kết hợp với phần mềm text-to-speech lượng tài liệu này có thể được đọc thành tiếng cho những người khiếm thị. Nhiều bưu điện đã áp dụng hệ thống phân loại thư tự động dựa trên máy đọc bì thư có cài phần mềm OCR. Các ngân hàng đọc nội dung của séc để chống rửa tiền, gian lận và cả phát hiện khủng bố. OCR còn đi vào đời sống hàng ngày qua những thiết bị thông tin cá nhân (PDA) giúp người sử dụng nhập dữ liệu bằng cách viết lên màn hình cảm ứng thay vì đem theo bộ bàn phím cồng kềnh.

    Ở Việt Nam, công nghệ OCR mới chỉ phát triển ở giai đoạn đầu với một vài bộ phần mềm nhận dạng kí tự in như VnDOCR, VietOCR, ABBYY trong khi đó lĩnh vực nhận dạng chữ viết tay vẫn còn bỏ ngỏ.

    Với số lượng lớn tài liệu viết tay cần được xử lí cũng như sự phát triển của công nghệ di động và PDA đây là một hướng nghiên cứu đầy triển vọng.

    Quá trình OCR gồm nhiều bước như phân tích cấu trúc văn bản, tách dạng, tách kí tự, kiểm tra ngữ nghĩa để tăng độ chính xác… nhưng bước cơ sở mà bất kỳ chương trình OCR nào cũng phải thực hiện là nhận dạng kí tự (đơn lẻ). Trong thời gian hạn hẹp của đồ án môn học chúng em chọn thực hiện bước này.

    2.   MÔ TẢ BÀI TOÁN

    Giả thiết rằng ở bước xử lí trước kí tự đã được phân lập, kết quả là các ảnh nhị phân kích thước 60×80 mỗi ảnh chứa một kí tự tiếng Việt (có dấu) trong đó các kí tự có độ nghiêng không quá lớn và kích thước hợp chuẩn với sai số chấp nhận được, cần chuyển kí tự thành dạng mã hoá Unicode.

    Chuẩn kích thước của chữ cái:

    • ascender height: trùng với cạnh trên của ảnh.
    • cap height: trùng với cạnh trên của ảnh.
    • median: 1/3 chiều cao ảnh.
    • baseline: 4/5 chiều cao ảnh.
    • descender height: trùng với cạnh dưới của ảnh.
    • chiều rộng: xấp xỉ chiều rộng ảnh.
     
       

    Như vậy có nghĩa là chương trình sẽ không xử lí những chữ cái có kích thước quá nhỏ, quá nghiêng lệch hay biến dạng quá mức. Các chữ cái như thế giả thiết đã được đưa về dạng chuẩn (với sai số chấp nhận được) ở bước xử lí trước.

    3.   PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN

    Chương trình “Nhận dạng ký tự viết tay tiếng Việt” sử dụng mô hình mạng neuron và thuật toán lan truyền ngược. Sau đây là chi tiết về phương pháp này.

    1.1.    Cơ sở lý thuyết

    1.1.1.   Mạng neuron

    • Mạng neuron nhân tạo (artificial neural network) là một mô hình toán học hay mô hình tính toán lấy cảm hứng dựa trên cấu trúc của mạng thần kinh. Một mạng neuron bao gồm các nhóm neuron được nối với nhau, trên cơ sở đó thông tin được xử lý.
    • Mô hình mạng neuron nhân tạo thường được áp dụng với các bài toán nhận dạng, đặc biệt với các bài toán có nhiều biểu diễn hình ảnh.
    • Cùng với giải thuật lan truyền ngược, mạng neuron thích hợp với các bài toán mang các đặc điểm sau:
      • Một thể hiện được biểu diễn bởi nhiều cặp giá trị.
      • Hàm mục tiêu đầu ra có thể có giá trị rời rạc, giá trị thực hoặc một vector giá trị rời rạc hoặc giá trị thực.
      • Các ví dụ học có thể có lỗi.
      • Thời gian huấn luyện dài là chấp nhận được.
      • Có thể yêu cầu sự tiến hóa nhanh của hàm mục tiêu cần học.
      • Khả năng con người hiểu hàm mục tiêu cần học là không quan trọng.

    1.1.2.   Perceptron

    Cơ bản của mạng neuron nhân tạo dựa trên khái niệm perceptron.

    1. Biểu diễn perceptron:
     
       

    Một perceptron nhận giá trị đầu vào là một vector thực, tính toán tổ hợp tuyến tính của đầu vào đó và đưa ra đầu ra bằng 1 nếu kết quả lớn hơn một ngưỡng nào đó, và bằng -1 nếu ngược lại:

    o(x ,…, x

    ) = ì1

    if w0 + w1x1 + w2 x2 + … + wn xn > 0

    î

    1           n        í-1 otherwise

     

    vỡi mỗi wi là một hằng giá trị thực, hay trọng số, quyết định sự đóng góp của đầu vào xi vào đầu ra của perceptron. Giá trị w0 là một ngưỡng để tổ hợp giữa trọng số và đầu vào w1x1 + … + wnxn phải vượt qua để perceptron cho ra giá trị 1.

    Có thể viết:

    o(x) = w × x

    Huấn luyện một perceptron học bao gồm việc chọn các giá trị trọng số w0, …, wn

    cho thích hợp.

    1. Nguyên tắc huấn luyện perceptron

    Một cách để học một vector trong số chấp nhận được là bắt đầu với một trọng số ngẫu nhiên, sau đó áp dụng từng ví dụ học cho perceptron, thay đổi giá trị trọng số nếu nó phân loại nhầm ví dụ. Quá trình này được lặp lại qua nhiều lần đến khi perceptron phân loại các ví dụ học chính xác. Trọng số thay đổi sau mỗi bước theo nguyên tắc huấn luyện perceptron như sau:

    wi   ¬ w+ Dwi

     

    với

    Dwi = h(t o)xi

     

    Ở đây t là đầu ra mục tiêu cho ví dụ học hiện tại, o là đầu ra sinh bởi perceptron và

    h là giá trị hằng dương gọi là tốc độ học (learning rate). Vai trò của tốc độ học là kiểm soát mức độ trọng số thay đổi sau mỗi bước. Nó thường được gán giá trị nhỏ (VD 0.1).

    1. Sai số huấn luyện (training error)

    Sai số thường được tính bằng:

    E = 1 å (t   o )2

    2

    d         d

    dÎD

    với D là tập ví dụ học, td là đầu ra mục  tiêu của ví dụ học d, và od là đầu ra tính  toán của ví dụ học d.

    1.1.3.   Mạng neuron nhiều lớp và giải thuật lan truyền ngược

    1. Hàm ngưỡng

    Một perceptron chỉ cho đầu ra là một hàm tuyến tính. Hàm ngưỡng được sử dụng để đưa các giá trị đầu ra là một hàm không tuyến tính của các giá trị đầu vào.

    Các hàm ngưỡng hay sử dụng là:

    • Hàm sigmoid:

    o(x) = s (w × x)

    s ( y) =

    1

    1 + e y

     

    • Hàm tanh:

    o(x) = tanh(w × x)

    ey – ey

    tanh( y) = ey e– y

    1. Mạng neuron feedforward
    • Mạng neuron feedforward là mạng neuron mà các neuron ở lớp trước nối một chiều với lớp sau của nó.
    • Thông thường mạng neuron nhiều lớp chia thành 3 loại lớp:
      • Lớp input: Là giao diện của mạng neuron với môi trường ngoài, chỉ có nhiệm vụ lấy đầu vào.
      • Lớp hidden: Là các lớp ẩn ở giữa, có nhiệm vụ tính toán.
      • Lớp output: Là đầu ra của bài toán.

    Số neuron ở lớp input và output thường xác định với các bài toán, tuy nhiên số lớp hidden và số neuron ở mỗi lớp hidden cần xác định bằng thực nghiệm.

    1. Giải thuật backpropagation
     
       
    1. Momentum

    Một cách phổ biến để thay đổi nguyên tắc cập nhật trọng số trong thuật toán là làm cho cập nhật trọng số trong vòng lặp thứ n phụ thuộc một phần vào lần cập nhật  thứ (n – 1) như sau:

    Dwji (n) = hd j x ji + aDwji (n -1)

    0 £ a < 1 là một hằng số gọi là momentum.

    1.2.    Giải quyết bài toán

    1.2.1.   Chương trình

    • Input: Là một ảnh nhị phân của chữ cần nhận dạng.
    • Ouput: Ký tự đã được nhận dạng cùng mã unicode của nó.
    • Chương trình gồm chức năng vẽ và lấy ảnh từ bên ngoài để nhận dạng.

    1.2.2.   Khởi tạo mạng neuron

    • Lớp input: Gồm 60 đầu vào.

    60 đầu vào được lấy bằng cách tách biên ảnh thành chuỗi Fourier, lấy nhiều nhất 6 thành phần liên thông và 10 giá trị của chuỗi Fourier với mỗi thành phần.

    • Lớp output: Gồm 16 đầu

    Các đầu ra chính là mã nhị phân của unicode của ký tự cần nhận dạng.

    • Lựa chọn hàm ngưỡng: Do các đầu ra là các bit nên hàm sigmoid được chọn để làm hàm ngưỡng.
    • Tập ví dụ học và kiểm tra
      • Các ví dụ học và kiểm tra được lấy từ các mẫu viết tay thực tế của các sinh viên trong giảng đường.
      • Các mẫu sau khi scan được xử lý thành ảnh nhị phân và tách sẵn thành các thành phần đầu ra và đầu vào tương ứng để huấn luyện và kiểm

    1.2.3.   Chuẩn bị dữ liệu

    Để thu thập mẫu chữ viết tay chúng em đã nhờ các bạn trong giảng đường điền các chữ cái vào phiếu. Số lượng phiếu phát ra là khoảng 200 phiếu. Các phiếu này khi thu về sẽ được quét vào trong máy và dùng một chương  trình tách thành từng kí  tự.

    Hình 1 Phiếu thu thập mẫu chữ viết tay

    1.2.4.   Các kết quả thực nghiệm

    1. Số lớp hidden

    Layer size             Learning rate   Momentum   Layer

    count

    Best validate error

    Best performance

    Training time

    100 0.5 0.6 0 0.3438487922 0.4495412844 0.1009166667
    100 0.5 0.6 1 0.2557802063 0.5871559633 0.4101333333
    100 0.5 0.6 2 0.2082746529 0.6559633028               1.0681
    100 0.5 0.6 3 0.2025941125 0.6559633028 2.2036166667
    100 0.5 0.6 4 0.6304081646 0.0825688073 1.5053166667

    Mạng neuron với 3 lớp ẩn có xác suất nhận dạng đúng tương đương với mạng có 2 lớp ẩn nhưng error nhỏ hơn một chút. Thời gian huấn luyện của mạng tăng khá nhanh khi số lớp ẩn tăng từ 0 đến 3.

    Kết quả của mạng neuron 4 lớp ẩn thấp hơn hẳn các mạng còn lại do số lớp ẩn lớn yêu cầu số lần lặp lớn hơn để tinh chỉnh kết quả. Trong khi đó điều kiện dừng của thuật toán được chọn cố định là sau 100 lần lặp mà không giảm được validate error.

    1. Số neuron ở lớp hidden

     

    Layer count           Learning rate Momentum Layer

    size

    Best validate error

    Best performance

    Training time

    3 0.5 0.6 50 0.4587816385 0.2752293578 0.3109166667
    3 0.5 0.6 80 0.2118265925 0.6330275229 1.7182166667
    3 0.5 0.6 100 0.2025941125 0.6559633028 2.2036166667
    3 0.5 0.6 120 0.2166624127 0.6467889908 2.7471166667
    3 0.5 0.6 150 0.4611618863 0.2752293578 1.4589666667

    Khi số neuron lớp ẩn vượt qua 80 thì tăng số neuron không tác động nhiều đến kết quả. Với mạng 150 neuron mỗi lớp ẩn, kết quả thấp hơn hẳn do không thoả mãn điều kiện dừng giống như phần (a).

    1. Tốc độ học

     

    Layer count           Layer size       Momentum Learning

    rate

    Best validate error

    Best performance

    Training time

    3 100 0.7 0.1 0.2061831533 0.623853211 3.9724166667
    3 100 0.7 0.3 0.224606125 0.619266055 2.6471166667
    3 100 0.7 0.5 0.2097530639 0.6376146789 2.1955333333
    3 100 0.7 0.9 0.3250993898 0.4633027523 0.8474333333
     
       
    1. Momentum

    Layer count           Layer size       Learning

    rate

    Momentum Best validate

    error

    Best performance

    Training time

    2 100 0.5 0 0.2177829205 0.628440367 1.4793666667
    2 100 0.5 0.04 0.2305489015 0.6100917431 1.0493333333
    2 100 0.5 0.1 0.2269169588 0.6146788991 1.9783166667
    2 100 0.5 0.3 0.2076263935 0.6422018349             1.71595
    3 100 0.5 0.7 0.2097530639 0.6376146789 2.1955333333
    2 100 0.5 0.9 0.5251302293 0.2339449541               0.4365
     
       

    Đồ thị cho thấy lựa chọn giá trị momentum quá cao khiến cho thuật toán bỏ sót một số giá trị tối ưu. Giá trị momentum tối ưu là 0,7.

    1. Lựa chọn tham số
      • Số neuron ở lớp ẩn: 100
      • Số lớp ẩn: 3
      • Tốc độ học: 0,5
      • Momentum: 0,6
    2. Kết quả huấn luyện

    Thử nghiệm với bộ dữ liệu gồm một số kí tự có dấu (Ă, Ấ, Á, À, Ả v.v…) cho kết quả tạm ổn.

    • Tỉ lệ nhận dạng đúng: 49%
    • Tổng lỗi khi validate: ~0,33
    • Số bước lặp: 2338

    Tuy nhiên với bộ dữ liệu đầy đủ chữ cái tiếng việt không dấu và có dấu (gần 200 kí tự), kết quả thu được rất thấp:

    • Tỉ lệ nhận dạng đúng: ~30%
    • Tổng lỗi trên bộ dữ liệu kiểm thử: ~0,45
    • Số bước lặp: 2608

    0.7

    0.6

    0.5

    0.4

    Training error Validating error Performance

    0.3

    0.2

    0.1

    0

    48 132 216 300 384 468 552 636 720 804 888 972 1056 1140 1224 1308 1392 1476 1560 1644 1728 1812 1896 1980 2064 2148 2232 2316 2400 2484 2568

    6 90 174 258 342 426 510 594 678 762 846 930 1014 1098 1182 1266 1350 1434 1518 1602 1686 1770 1854 1938 2022 2106 2190 2274 2358 2442 2526

    Hình 2Thử nghiệm với bộ dữ liệu đầy đủ

     

    0,7

    0,6

    0,5

    0,4

    0,3

    Training error Validating error Performance

    0,2

    0,1

    0

    35 95 155 215 275 335 395 455 515 575 635 695 755 815 875 935 995 1055 1115 1175 1235 1295 1355 1415 1475 1535 1595 1655 1715 1775 1835 1895 1955 2015 2075 2135 2195 2255 2315

    5 65 125 185 245 305 365 425 485 545 605 665 725 785 845 905 965 1025 1085 1145 1205 1265 1325 1385 1445 1505 1565 1625 1685 1745 1805 1865 1925 1985 2045 2105 2165 2225 2285

    Hình 3 Thử nghiệm với bộ dữ liệu chỉ chứa một vài kí tự có dấu

    2.    GIỚI THIỆU VỀ PHẦN MỀM sapphireOCR

    2.1.    Hướng dẫn cài đặt

    • Phần mềm sapphireOCR chạy trên nền Java Runtime Environment (JRE). Để chạy chương trình trước hết máy phải có JRE, download và cách cài đặt xem tại http://www.java.com/en/download/index.jsp.
    • sapphireOCR là phần mềm không cần cài đặt. Sau khi giải nén ra thư mục, chỉ cần chạy file shortcut

    2.2.    Hướng dẫn sử dụng

    Sau khi làm theo hướng dẫn cài đặt, sau đây là giao diện chính của chương trình:

     
       
    • Chương trình có một khung vẽ cho người sử dụng dùng chuột trái viết chữ, chữ nhận diện được sẽ được ghi ở phần Character và có mã Unicode (hexa) tương ứng.
    •  
     
       
    • Ngoài ra, người sử dụng có thể load file ảnh bên ngoài qua menu File > Open và chỉnh sửa thêm tùy ý. Để lưu lại file ảnh vừa vẽ, chọn File > Save
    •  
     
       
    • Để tẩy, dùng chuột phải thao tác thay cho chuột trái. Để xóa toàn bộ khung vẽ, chọn Edit > Clear

    3.    CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH VÀ ĐỀ XUẤT

    3.1.    Kết quả nhận dạng thấp

    Nguyên nhân có thể là do khâu tiền xử lí thực hiện chưa tốt. Để giải quyết vấn đề này cần cải thiện thuật toán tiền xử lí và khi kết hợp với chương trình nhận dạng tài liệu có thể đưa thêm một số thuật toán “đoán” dựa vào từ điển.

    3.2.    Tốc độ huấn luyện chậm

    Khi thử nghiệm bộ dữ liệu đầy đủ, chương trình cần 112 phút để hoàn tất huấn luyện. Giải pháp: song song hoá thuật toán huấn luyện.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Vi Xử Lý: Đèn LED Đơn Ghép Thành Đèn Quảng Cáo


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-TR%C3%8D-TU%E1%BB%86-NH%C3%82N-T%E1%BA%A0O-T%C3%8CM-HI%E1%BB%82U-GI%E1%BA%A2I-THU%E1%BA%ACT-DI-TRUY%E1%BB%80N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong ngành khoa học máy tính, tìm kiếm lời giải tối ưu cho các bài toán là vấn đề được các nhà khoa học máy tính đặc biệt rất quan tâm.

    Mục đích chính của các thuật toán tìm kiếm lời giải là tìm ra lời giải tối ưu nhất cho bài toán trong thời gian nhỏ nhất. Các thuật toán như tìm kiếm không có thông tin / vét cạn ( tìm kiếm trên danh sách, trên cây hoặc đồ thị ) sử dụng phương pháp đơn giản nhất và trực quan nhất hoặc các thuật toán tìm kiếm có thông tin sử dụng heurictics để áp dụng các tri thức về cấu trúc của không gian tìm kiếm nhằm giảm thời gian cần thiết cho việc tìm kiếm được sử dụng nhiều nhưng chỉ với không gian tìm kiếm nhỏ và không hiệu quả khi tìm kiếm trong không gian tìm kiếm lớn.

    Tuy nhiên, trong thực tiễn có rất nhiều bài toán tối ưu với không gian tìm kiếm rất lớn cần phải giải quyết. Vì vậy, việc đòi hỏi thuật giải chất lượng cao và sử dụng kỹ thuật trí tuệ nhân tạo đặc biệt rất cần thiết khi giải quyết các bài toán có không gian tìm kiếm lớn. Thuật giải di truyền (genetic algorithm) là một trong những kỹ thuật tìm kiếm lời giải tối ưu đã đáp ứng được yêu cầu của nhiều bài toán và ứng dụng.

    Hiện nay, thuật toán di truyền cùng với logic mờ được ứng dụng rất rộng rãi trong các lĩnh vực phức tạp. Thuật toán di truyền kết hợp với logic mờ chứng tỏ được hiệu quả của nó trong các vấn đề khó có thể giải quyết bằng các phương pháp thông thường hay các phương pháp cổ điển, nhất là trong các bài toán cần có sự lượng giá, đánh giá sự tối ưu của kết quả thu được. Chính vì vậy, thuật giải di truyền đã trở thành đề tài nghiên cứu thú vị và đem đến nhiều ứng dụng trong thực tiễn.

    Ngày nay, GA được ứng dụng khá nhiều trong các lĩnh vực như khoa học, kinh doanh và giải trí. Đầu tiên phải kể đến là các bài toán tối ưu bao gồm tối ưu số

    3

    và tối ưu tổ hợp đã sử dụng GA để tìm lời giải như là bài toán người du lịch (Travelling Salesman Problems – TSP). Ứng dụng kế tiếp của GA là thiết kế và điều kiển robo. Hầu hết các nước có ngành CNTT phát triển đã và đang rất quan tâm đến lĩnh vực thiết kế robo nhằm giúp con người tiết kiệm sức lao động và giải phóng con người thoát khỏi các công việc nguy hiểm, đặc biệt hiện nay cuộc thi “Robocon” Châu Á_ Thái Bình Dương được các nước trong khu vực rất quan tâm. Ngoài phần cơ, để robo có thể tiến hành các hoạt động đơn giản nhất như đi, đứng… thì robo cần phải trang bị chương trình được lập trình dựa trên các thuật toán và ngôn ngữ thích hợp. Nhờ vào lịch trình được cài đặt cùng với một trí tuệ nhân tạo…, robo có thể định hướng thực hiện các hoạt động như con người. Tuy nhiên, việc tìm kiếm lời giải tốt nhất cho các hành động của robo không phải là đơn giản. Theo các nhà khoa học máy tính, thuật giải di truyền là một trong những thuật toán tối ưu giúp robo vạch lộ trình khi di chuyển. Với lý do trên, em chọn đề tài: “Thuật giải di truyền và ứng dụng”.

    4

    PHẦN I: THUẬT TOÁN DI TRUYỀN

    I.Giới thiệu:

    Thuật toán di truyền là thuật toán tối ưu ngẫu nhiên dựa trên cơ chế chọn lọc tự nhiên và tiến hóa di truyền. Nguyên lý cơ bản của thuật toán di truyền đã được Holland giới thiệu vào năm 1962. Cơ sở toán học đã được phát triển từ cuối những năm 1960 và đã được giới thiệu trong quyển sách đầu tiên của Holland, Adaptive in Natural and Artificial Systems. Thuật toán di truyền được ứng dụng đầu tiên trong hai lĩnh vực chính: tối ưu hóa và học tập của máy. Trong lĩnh vực tối ưu hóa thuật toán di truyền được phát triển nhanh chóng và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tối ưu hàm, xử lý ảnh, bài toán hành trình người bán hàng, nhận dạng hệ thống và điều khiển. Thuật toán di truyền cũng như các thuật toán tiến hóa nói chung, hình thành dựa trên quan niệm cho rằng, quá trình tiến hóa tự nhiên là quá trình hoàn hảo nhất, hợp lý nhất và tự nó đã mang tính tối ưu. Quan niệm này có thể xem như một tiên dề dúng, không chứng minh được, nhưng phù hợp với thực tế khách quan. Quá trình tiến hóa thể hiện tính tối ưu ở chỗ, thế hệ sau bao giờ cũng tốt hơn (phát triển hơn, hoàn thiện hơn) thế hệ trước bởi tính kế thừa và dấu tranh sinh tồn.

    II. Nội dung

    2.1. Cơ sở lý thuyết

    Thuật toán di truyền gồm có bốn quy luật cơ bản là lai ghép, đột biến, sinh sản và chọn lọc tự nhiên như sau:

    5

    2.1.1. Quá trình lai ghép (phép lai)

    Quá trình này diễn ra bằng cách ghép một hay nhiều đoạn gen từ hai nhiễm sắc thể cha-mẹ để hình thành nhiễm sắc thể mới mang đặc tính của cả cha lẫn mẹ. Phép lai này có thể mô tả như sau: Chọn ngẫu nhiên hai hay nhiều cá thể trong quần thể. Giả sử chuỗi nhiễm sắc thể của cha và mẹ đều có chiều dài là m. Tìm điểm lai bằng cách tạo ngẫu nhiên một con số từ 1 đến m-1. Như vậy, điểm lai này sẽ chia hai chuỗi nhiễm sắc thể cha-mẹ thành hai nhóm nhiễm sắc thể con là m1 và m2. Hai chuỗi nhiễm sắc thể con lúc này sẽ là m11+m22 và m21+m12. Đưa hai chuỗi nhiễm sắc thể con vào quần thể để tiếp tục tham gia quá trình tiến hóa.

    2.1.2. Quá trình đột biến (phép đột biến):

    Quá trình tiến hóa được gọi là quá trình đột biến khi một hoặc một số tính trạng của con không được thừa hưởng từ hai chuỗi nhiễm sắc thể cha-mẹ. Phép đột biến xảy ra với xác suất thấp hơn rất nhiều lần so với xác suất xảy ra phép lai. Phép đột biến có thể mô tả như sau: Chọn ngẫu nhiên một số k từ khoảng 1 ≥ k ≥ m Thay đổi giá trị của gen thứ k Đưa nhiễm sắc thể con vào quần thể để tham gia quá trình tiến hóa tiếp theo.

    2.1.3. Quá trình sinh sản và chọn lọc (phép tái sinh và phép chọn)

    Phép tái sinh: là quá trình các cá thể được sao chép dựa trên độ thích nghi của nó. Độ thích nghi là một hàm được gán các giá trị thực cho các cá thể trong quần thể của nó. Phép tái sinh có thể mô phỏng như sau: Tính độ thích nghi của từng cá thể trong quần thể, lập bảng cộng dồn các giá trị thích nghi đó (theo thứ tự gán cho từng cá thể) ta được tổng độ thích nghi. Giả sử quần thể có n cá thể. Gọi độ thích nghi của cá thể thứ i là Fi, tổng dồn thứ i là Ft.Tổng độ thích nghi là Fm Tạo số ngẫu nhiên F có giá trị trong đoạn từ 0 đến Fm Chọn cá thể k đầu tiên thỏa mãn F ≥ Ft đưa vào quần thể của thế hệ mới.

    6

    Phép chọn: là quá trình loại bỏ các cá thể xấu và để lại những cá thể tốt. Phép chọn được mô tả như sau: Sắp xếp quần thể theo thứ tự độ thích nghi giảm dần Loại bỏ các cá thể cuối dãy, chỉ để lại n cá thể tốt nhất.

    2.2 Cấu trúc thuật toán di truyền tổng quát

    Thuật toán di truyền bao gồm các bước sau: Bước 1: Khởi tạo quần thể các nhiễm sắc thể. Bước 2: Xác định giá trị thích nghi của từng nhiễm sắc thể. Bước 3: Sao chép lại các nhiễm sắc thể dựa vào giá trị thích nghi của chúng và tạo ra những nhiễm sắc thể mới bằng các phép toán di truyền. Bước 4: Loại bỏ những thành viên không thích nghi trong quần thể. Bước 5: Chèn những nhiễm sắc thể mới vào quần thể để hình thành

    một                                         quần                                         thể                                         mới.

    Bước 6: Nếu mục tiêu tìm kiếm đạt được thì dừng lại, nếu không trở lại bước 3.

    7

    Sơ đồ thuật toán:

    Bắt

    đầu

    Khởi tạo quần thể

    Mã hóa các biến

    Đánh giá độ thích nghi

    Chọn lọc

    Lai ghép

    Đột biến

    Thỏa điều kiện dừng

    Không

    Thỏa

    Kết quả

    Kết thúc

    8

     
    eval (vi )

    2.3. Các công thức của thuật giải di truyền

     

    Tính độ thích nghi eval(vi)của mỗi nhiễm sắc thể vi(i =1..kích thước quần

     

    thể):

     

    eval (vi ) = f (vi )
    åf (vi Với f(vi) là hàm mục tiêu.
    kichthuocq   uanthe  
        i =1

     

    Tìm tổng giá trị thích nghi quần thể:

     

    kichthuocq   uanthe

    F =                 åeval (vi )

     

    • =1

     

    Tính xác suất chọn pi cho mỗi nhiễm sắc thể vi:

     

     

    pi     = kichthuocq   uanthe

    åeval (vi )

     

    • =1

     

    Tính xác suất tích lũy qi cho mỗi nhiễm sắc thể:

     

    i

    qi = åpi

     

    • =1

     

    Tiến trình chọn lọc được thực hiện bằng cách quay bánh xe rulet kích thước quần thể lần. Mỗi lần chọn ra một nhiễm sắc thể từ quần thể hiện hành vào quần thể mới theo cách sau: Phát sinh một số ngẫu nhiên r trong khoảng [0, 1] Nếu r < q1thì chọn nhiễm sắc thể v1, ngược lại chọn nhiễm sắc thể vi (2 ≤ i ≤ kích thước quần thể) sao cho qi-1 < r ≤ qi.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    9

    PHẦN II: ỨNG DỤNG

    I.Ứng dụng

    Tìm đáp số cho phương trình X2 = 64. Đây là một bài toán đơn giản để giúp ta có thể hiểu rõ hơn các bước của thuật toán di truyền.

    Giải bài toán di truyền theo các bước sau:

    Bước 1: Chúng ta sử dụng hệ nhị phân để xây dựng mô hình bài toán.Ta dùng 4 bit nhị phân để mã hóa cho các đáp số của bài toán.Gỉa sử ta không biết đáp số của bài toán, ta sẽ chọn 4 số trong các đáp số có thể có và ký hiệu cho các đáp số đó.

    Bảng chọn lựa:

    Thứ tự Nhị phân Thập phân
    1 0 0100 4
    2 1 0101 21
    3 0 1010 10
    4 1 1000 24

    Bước 2: Tìm hàm số thích nghi và tính hệ số thích nghi cho từng đáp số.Ta chọn hàm số thích nghi sau: f(X) = 1000 – (X2 – 64). Vậy, đáp số nào có hệ số thích nghi f gần bằng 1000 nhất thì đó là đáp số. Khảo sát kết quả tính được:

    Thứ tự Nhị phân Thập phân X2 – 64 Hệ số thích
        (X)   nghi f(x)
    1 0 0100 4 – 48 952
    2 1 0101 21 377 623
    3 0 1010 10 36 964
    4 1 1000 24 512 488

    10

    Bước 3:Ta thấy, hệ số thích nghi của các đáp số vẫn còn cách xa 1000.Do đó, cần tạo ra các đáp số mới bằng cách biến hóa các đáp số cũ. Ta thấy, số 4 và 10 có hệ số thích nghi cao hơn nên được chọn để tạo sinh và biến hóa.Đồng thời số 21 và 24 có hệ số thích nghi thấp sẽ bị loại.

    Gỉa sử ta lai ghép hai số 4 và 10 theo hình sau :

    Bước 4:Tính hệ số thích nghi cho quần thể mới      
                 
    Thứ tự Nhị phân Thập phân X2 – 64   Hệ số thích
        (X)     nghi f(x)  
    1 0 0100 4 – 48   952  
    2 0 1010 10 36   964  
    3 0 1000 8 0   1000  
    4 0 0110 6 28   968  
    Bước 5:May mắn chúng ta đã tìm được kết quả là X = 8 với hệ số thích

    nghi cao nhất là 1000.

    Vậy kết quả của bài toán là X = 8 .

    II.Chương trình

    • Khai báo: #include “stdio.h” #include”conio.h” #include “stdlib.h” #include “math.h” int CT[10];

    int n=4;

    int GTTN[10]; int kq;

    11

    int Max1,Max2;

    int Max1moi=0,Max2moi=0;

    int A[5],B[5];

    • Các đoạn code:

     

    • Code khởi tạo quần thể: void Taoquanthe(int n)

    {

    for(int i=0;i<n;i++)

    {

    printf(“nhap ca the thu %d:”,i); scanf(“%d”,&CT[i]);

    }

    }

    • Code tính giá trị thích nghi của quần thể bằng công thức: F=1000-(x2-64) void Giatrithichnghi(int n)

    {

    for(int i=0;i<n;i++)

    {

    int gttn=1000-(CT[i]*CT[i] – 64); GTTN[i]=gttn;

    }

    }

    12

    • Code kiểm tra giá trị thích nghi để suy ra kết quả: int Kiemtra(int n)

    {

    for(int i=0;i<n;i++)

    {

    if(GTTN[i]==1000) return (CT[i]);

    }

    return 0;

    }

    • Tìm, chọn lọc cá thể để lai: (sắp xếp mảng giảm dần, lấy hai cá thể đầu tiên để lai với nhau)

    void Timcathelai()

    {

    for(int i=0;i<n;i++) for(int j=i+1;j<n;j++)

    {

    if(GTTN[i]<GTTN[j])

    {

    int a=GTTN[i];

    GTTN[i]=GTTN[j];

    GTTN[j]=a;

    }

    }

    13

    Max1=sqrt(1064-GTTN[0]);

    Max2=sqrt(1064-GTTN[1]);

    }

    • Lai cá thể với nhau: (mã hóa cá thể ra nhị phân, thay đổi cấu trúc nhị phân gây đột biến tạo cá thể mới, giải mã cá thể mới về thập phân)

    void Laicathe()

    {

    for (int i=0;i<5;i++)

    {

    A[i]=0;

    B[i]=0;

    }

    while(Max1!=0)

    {

    for(int j=0;j<5;j++)

    {

    A[j]=Max1%2;

    Max1=Max1/2;

    }

    }

    while(Max2!=0)

    {

    for(int k=0;k<5;k++)

    {

    B[k]=Max2%2;

    Max2=Max2/2;

    14

    }

    }

    for(int l=4;l>1;l–)

    {

    int b=A[l];

    A[l]=B[l];

    B[l]=b;

    }

    for(int m=4;m>=0;m–)

    {

    Max1moi=Max1moi+A[m]*pow(2,m);

    Max2moi=Max2moi+B[m]*pow(2,m);

    }

    }

    • Tạo quần thể mới: (kết hợp các thể mẹ và cá thể con) void Taoquanthemoi()

    {

    CT[0]=Max1;

    CT[1]=Max2;

    CT[2]=Max1moi;

    CT[3]=Max2moi;

    }

    • Hàm chính:

    void main()

    {

    15

    clrscr();

    printf(“Giai PT X*X=64, bang thuat toan di truyen”);

    printf(“Tao quan the co 4 ca the”);

    Taoquanthe(n);

    Giatrithichnghi(n);

    kq=Kiemtra(n);

    while(kq==0)

    {

    Timcathelai();

    Laicathe();

    Taoquanthemoi();

    Giatrithichnghi(n);

    kq=Kiemtra(n);

    }

    printf(” Ket qua phuong trinh la : %d”,kq);

    getch();

    }

    PHẦN III: KẾT LUẬN

     

    I.Ưu điểm

    Trình bày và giới thiệu những khái niệm cơ bản, cơ sở lý thuyết về thuật giải di truyền. Trên cơ sở lý thuyết, đề tài đã cài đặt các phép toán cơ bản của thuật giải di truyền nhằm phục vụ cho việc thực hiện các ứng dụng. Sử dụng các phép toán của thuật giải di truyền để xây dựng ứng dụng cho bài toán người du lịch và bài toán vạch lộ trình đường đi cho robo.

    II. Khuyết điểm

    Đề tài chỉ giới thiệu những kiến thức chung nhất về thuật giải di truyền, chưa đi sâu vào các vấn đề nghiên cứu tối ưu khác. Phần ứng dụng vạch lộ trình đường đi cho robo chưa hoàn hảo. Đặc biệt là chưa giải quyết tốt việc robo tránh vật chắn và kích thước quần thể thay đổi.

    III. Ý kiến bản thân

    Thuật toán di truyền đã chứng tỏ tính hữu ích của nó khi được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.

    Trong lĩnh vực điểu khiển tự động, thuật toán di truyền có thể được sử dụng để xác định thong số tối ưu cho các bộ điều khiển.Thông số bộ điều khiển được mã hóa thành các nhiễm sắc thể, thông qua mô phỏng, các nhiễm sắc thể này được đánh giá và lựa chọn thong qua mức độ thích nghi của chúng (cũng chính là các chỉ tiêu chất lượng của hệ thống). Kết quả của thuật toán sẽ cho một bộ điều khiển có thong số tốt nhất.

    Trong y học, cấu trúc của các chất hóa học được mã hóa thành các nhiễm sắc thể hoặc đồ thị.Thuật toán di truyền sẽ lai ghép, lựa chọn để tạo ra các nhiễm sắc

    thể mới (các chất hóa học mới). Và trong thực tế đã có rất nhiều loại thuốc mới được tạo ra như vậy.

    17

    18


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ Án Vi Xử Lý: Đèn LED Đơn Ghép Thành Đèn Quảng Cáo

    Đồ Án Vi Xử Lý: Đèn LED Đơn Ghép Thành Đèn Quảng Cáo

    Đồ Án Vi Xử Lý: Đèn LED Đơn Ghép Thành Đèn Quảng Cáo

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN CƠ KẾT CẤU 2: TÍNH KHUNG SIÊU TĨNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP LỰC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Vi-X%E1%BB%AD-L%C3%BD-%C4%90%C3%A8n-LED-%C4%90%C6%A1n-Gh%C3%A9p-Th%C3%A0nh-%C4%90%C3%A8n-Qu%E1%BA%A3ng-C%C3%A1o.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Vi Xử Lý: Đèn LED Đơn Ghép Thành Đèn Quảng Cáo

    Đồ Án Vi Xử Lý: Đèn LED Đơn Ghép Thành Đèn Quảng Cáo

    I.GIỚI THIỆU QUANG BÁO

    Ngày nay với sự phát triển của xã hội cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cho nên nhu cầu về thông tin trở nên thiết yếu đối với con người trong cuộc sống cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đáp ứng nhu cầu trên, quang báo là hình thức cung cấp thông tin hữu ích không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày. Do đó quang báo ngày càng phát triển tinh vi hơn, đa dạng hơn, từ việc thiết kế quang báo với văn bản được ghi chết trong ROM, đến việc thiết kế một KIT vi xử lý để điều khiển.

    Quang báo là hình thức thông báo trên bảng đèn. Bảng đèn quang báo gồm nhiều LED đơn hoặc Ma trận LED ghép lại, mỗi một Ma Trận biểu diễn một kí tự. Tùy chiều dài của bảng đèn mà có thể hiển thị những bản tin có độ dài khác nhau. Các từ trong văn bản sẽ lần lượt xuất hiện và chạy dần từ phải sang trái. Khi văn bản đã hiển thị đến từ cuối cùng thì từ đầu tiên lại bắt đầu xuất hiện trở lại. Quá trình đó cứ tiếp tục lại mãi.

    Bên cạnh đó, với sự ra đời của máy tính điện tử đặc biệt là máy vi tính, chúng có những tính năng ưu việt như khả năng xử lý dữ liệu nhanh chóng, độ tin cậy cao, lưu trữ lượng thông tin lớn và quan trọng hơn cả là máy tính có thể kết hợp với nhiều thiết bị ngoại vi tùy theo mục đích ứng dụng cụ thể, mà việc trao đổi và điều khiển trở nên đơn giản, chúng phụ thuộc vào phần mềm điều khiển. Dựa vào tính đa dạng và mềm dẻo của máy tính người ta tìm cách ứng dụng nó vào mục đích quảng cáo, chẳng hạn như dùng trong quang báo. Nhờ vậy, việc thiết kế phần cứng cho quang báo trở thành ít phức tạp hơn, nhưng độ tin cậy cao hơn. Trong thực tế để hiển thị các văn bản, người ta dùng các kiểu chữ là các Ma Trận LED 5×7, 5×8, 8×12 hoặc 8×14 tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng và độ phân giải.

    • đây máy tính đóng vai trò truyền dữ liệu và điều khiển còn KIT vi xử lý có nhiệm vụ lưu trữ và thực hiện chương trình quang báo. Việc kết hợp giữa hai thiết bị làm cho quang báo trở nên đa dạng, phong phú, độ tin cậy cao và dễ dàng sử dụng. Ngoài ra Kit vi xử lý còn có thể thực hiện chương trình quang báo .

    Những hình quảng cáo làm từ những đèn LED:

    II.GIỚI THIỆU VỀ CÁC LINH KIỆN DÙNG TRONG MẠCH

    1. Vi điều khiển AT89C51 tần số 12MHz

    VXL AT89C51

    U2

    19   XTAL1 P0.0/AD0 39
        38
                P0.1/AD1
                37
                P0.2/AD2
    18           36
      XTAL2 P0.3/AD3
        35
                P0.4/AD4
                34
                P0.5/AD5
                33
                P0.6/AD6
    9           32
      RST P0.7/AD7
        21
                P2.0/A8
                22
                P2.1/A9
                23
                P2.2/A10
    29           24
      PSEN P2.3/A11
    30   25
      ALE P2.4/A12
    31   26
                   
      EA P2.5/A13
        27
                P2.6/A14
                28
                P2.7/A15
    1           10
      P1.0 P3.0/RXD
    2   11
      P1.1 P3.1/TXD
    3   12
                   
      P1.2 P3.2/INT0
    4   13
                   
      P1.3 P3.3/INT1
    5   14
      P1.4 P3.4/T0
    6   15
      P1.5 P3.5/T1
    7   16
                   
      P1.6 P3.6/WR
    8   17
                   
      P1.7 P3.7/RD
         
                       
        AT89C51        
    1. 22 điện trở 220 ôm
    1. 2 tụ 33 pF
    1. 1 thạch anh tần số 12MHz

    X2

    CRYSTAL

    1. 1 tụ 1nF
    1. 22 led màu đỏ

    D1

    LED-RED

    1. – Sơ đồ chân của 89C51:

    -Chức năng các chân của AT89C51 :AT89C51 có tất cả 40 chân có chức năng như các đường xuất nhập. Trong đó có 24 chân có tác dụng kép (có nghĩa 1 chân có 2 chức năng), mỗi dường có thể hoạt động như đường xuất nhập hoặc như đường điều khiển hoặc là thành phần của các bus dữ liệu và bus địa chỉ. *Các port:

    +Port 0: là port có hai chức năng ở các chân 32-39 của 89C51. Trong các thiết kế cỡ nhỏ

    không dùng bộ nhớ mở rộng, nó có chức năng như các đường IO. Đối với các thiết kế cỡ lớn có bộ nhớ mở rộng, nó được kết hợp giữa bus địa chỉ và bus dữ liệu.

    +Port 1: là port IO trên các chân 1-8. Các chân được kí hiệu p1.0, p1.1, p1.2, có thể dùng cho giao tiếp với các thiết bị ngoài nếu cần. Port 1 không có chức năng khác, vì vậy chúng chỉ được dùng cho giao tiếp với các thiết bị bên ngoài.

    +Port 2: là 1 port có tác dụng kép trên các chân 21-28 được dùng như các đường xuất nhập hoặc là byte cao của bus địa chỉ đối với các thiết bị dùng bộ nhớ mở rộng.

    +Port 3: là port có tác dụng kép trên các chân 10-17. Các chân của port này có nhiều chức năng, các công dụng chuyển đổi có liên hệ với các đặc tính đặc biệt của 89C51 như ở bảng sau:

    Bit Tên Chức năng chuyển đổi
         
    P3.0 RXT Ngõ vào dữ liệu nối tiếp
         
    P3.1 TXD Ngõ xuất dữ liệu nối tiếp
         
    P3.2 INT0\ Ngõ vào ngắt cứng thứ 0
         
    P3.3 INT1\ Ngõ vào ngắt cứng thứ 1
         
    P3.4 T0 Ngõ vào của TIMER/COUNTER thứ 0
         
    P3.5 T1 Ngõ vào của TIMER/COUNTER thứ 1
         
    P3.6 WR\ Tín hiệu ghi dữ liệu lên bộ nhớ ngoài
         
    P3.7 RD\ Tín hiệu đọc bộ nhớ dữ liệu ngoài
         

    III.Phần mềm

    1.                 Đề bài:Quang báo điện tử hiển thị dòng chữ : V-T-A

    2.                 Lưu đồ thuật toán

    3.                Chương trình chính

     

    BẮT ĐẦU

    KHỞI TẠO HÊ THỐNG

    HIỂN THỊ LED

    Lập trình trên chip AT89C51

    4.Chương trình thực hiện thuật toán trên được viết bằng ngôn ngữ Assembly sử dụng chương trình dịch Reads51 để tạo ra file hex và được nạp vào chip AT89C51:

    #include <sfr51.inc>

    org    00h

    ljmp   main

    org    40h

    main:

    //sáng từ đèn 1 đến hết

    next:

    mov    a,#11111110b

    quay_p0:

    mov    p0,a

    lcall  delay

    rl     a

    anl    a,p0

    mov    p0,a

    jz     next1

    sjmp     quay_p0

    next1:lcall delay

    mov    a,#11111110b

    quay_p2:

    mov    p2,a

    lcall  delay

    rl     a

    anl    a,p2

    mov    p2,a

    jz     next2

    sjmp     quay_p2

    next2:

    mov    a,#11111110b

    quay_p3:

    mov    p3,a

    lcall  delay

    rl     a

    anl    a,p3

    mov    p3,a

    jz     nhay

    sjmp     quay_p3

    nhay: lcall delay

    //sáng từng chữ V-T-A

    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#00000000b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#00000000b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay

    \\sáng dần bắt đầu từ chữ V

    mov p0,#00000000b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#00000000b
    mov p2,#00000000b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#00000000b
    mov p2,#00000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    //chớp tắt 3 lần
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#00000000b
    mov p2,#00000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#00000000b
    mov p2,#00000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    mov p0,#00000000b
    mov p2,#00000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    //sáng từ dưới lên
    mov p0,#11110111b
    mov p2,#10111111b
    mov p3,#10111110b
    lcall delay
    mov p0,#11100011b
    mov p2,#10011111b
    mov p3,#00011100b
    lcall delay
    mov p0,#11000001b
    mov p2,#10001111b
    mov p3,#00001000b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    //tắt từ trên xuống
    mov p0,#11000001b
    mov p2,#10001111b
    mov p3,#00001000b
    lcall delay
    mov   p0,#11100011b
    mov p2,#10011111b
    mov p3,#00011100b
    lcall delay
    mov p0,#11110111b
    mov p2,#10111111b
    mov p3,#00111110b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    //sáng từ dưới lên
    mov p0,#11110111b
    mov p2,#10111111b
    mov p3,#10111110b
    lcall delay
    mov p0,#11100011b
    mov p2,#10011111b
    mov p3,#00011100b
    lcall delay
    mov p0,#11000001b
    mov p2,#10001111b
    mov p3,#00001000b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    //tắt từ trên xuống
    mov p0,#11000001b
    mov p2,#10001111b
    mov p3,#00001000b
    lcall delay
    mov p0,#11100011b
    mov p2,#10011111b
    mov p3,#00011100b
    lcall delay
    mov p0,#11110111b
    mov p2,#10111111b
    mov p3,#00111110b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay

    //sáng từ chữ T sang 2 bên

    mov p0,#11111111b
    mov p2,#10001111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#10001001b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#10111111b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#11111110b
    lcall delay
    mov p0,#10011111b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#11111100b
    lcall delay
    mov p0,#10001111b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#11111000b
    lcall delay
    mov p0,#10000111b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#11110000b
    lcall delay
    mov p0,#10000011b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#01100000b
    lcall delay
    mov p0,#10000001b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#01000000b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    //sáng từ 2 bên vào giữa
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#11111110b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#10111111b
    lcall delay
    mov p0,#11111100b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#10011111b
    lcall delay
    mov p0,#11111000b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#00001111b
    lcall delay
    mov p0,#11110000b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#00000111b
    lcall delay
    mov p0,#11100000b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#00000011b
    lcall delay
    mov p0,#11000000b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#00000001b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#11110110b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#11110000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#11100000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#11000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    mov p0,#10000000b
    mov p2,#10000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    //chớp tắt 1 lần
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    mov p0,#00000000b
    mov p2,#00000000b
    mov p3,#00000000b
    lcall delay
    mov p0,#11111111b
    mov p2,#11111111b
    mov p3,#11111111b
    lcall delay
    ljmp main
    delay:  
    mov r1,#2
    loop1:  
    mov r2,#100
    loop2:  
    mov r3,#100
    loop3:  
    nop  
    nop  
    nop  
    nop  
    nop  
    nop  
    nop  
    nop  
    djnz r3,loop3
    djnz r2,loop2
    djnz r1,loop1
    ret  

    end

    4. Mô phỏng quang báo chạy trên phần mềm proteus.

     

    Mạch

                C1                                                                            
                                                                                                 
                33p         X1                                                              
                C2         CRYSTAL d1     d2 d3 d4   d5   d6     d7                          
                                            R1   R2   R3 R4 R5     R6   R7                  
                33p                       220R   220R   220R 220R 220R     220R   220R                  
                                                                                           
                                                                                                 
          C3               19 U1                   39                              
          30pF                       XTAL1     P0.0/AD0   38                              
                                                        P0.1/AD1   37                              
                                                        P0.2/AD2                                
                                    18                 36                              
                                      XTAL2     P0.3/AD3                                
                                                  35                              
                                                        P0.4/AD4                                
                                                        P0.5/AD5   34                              
                                                          33                              
                                                        P0.6/AD6                                
          R23               9   RST         P0.7/AD7   32                              
          10k                                           P2.0/A8   21                              
                                                          P2.1/A9   22                              
                                                        P2.2/A10   23                              
                                    29   PSEN         P2.3/A11   24                              
                                    30             25                              
                                    31   ALE         P2.4/A12   26                              
                                      EA           P2.5/A13                                
                                                      27                              
                                                        P2.6/A14   28                              
                                    1               P2.7/A15   10                              
                                      P1.0         P3.0/RXD                                
                                    2   P1.1         P3.1/TXD   11                              
                                    3                         12                              
                                      P1.2         P3.2/INT0                                
                                    4                         13                              
                                      P1.3         P3.3/INT1                                
                                    5             14                              
                                    6   P1.4           P3.4/T0   15                              
                                      P1.5           P3.5/T1                                
                                    7                         16                              
                                      P1.6         P3.6/WR                                
                                    8                         17                              
                                      P1.7         P3.7/RD                                
                                            AT89C51                                              
                                                                                             
                                                                                   
        R22   R21   R20   R19       R18   R17 R16   R15     R14   R13   R12 R11   R10 R9 R8
        220R   220R   220R   220R     220R   220R 220R   220R     220R   220R   220R 220R   220R 220R 220R
                                                                                           
    d22     d21   d20   d19   d18         d17   d16   d15     d14       d13     d12     d11 d10 d9 d8  
                                                                                                 

    D1

    d1

    D2 d2

    D3

    d3

    VCC

      D8   D9
    D7 d8 d9 D12
    d7  
          d12
    D6     D13
    d6    
          d13
    D5d5     D14
         
          d14

    D4

    d4

    D10    D11

    d10 d11

    D16

         
    D15 d15  
         

    D17

    d17
    d16
      D18
    d18 D19
      D22
      d19
    d22  
      d20

    D20

    D21

    d21

    IV. Kết Luận

    Môn học VI XỬ LÝ là môn học mang tính thực hành cao, môn học đã giúp chúng em hiểu thêm hơn nữa về chức năng và công dụng của các linh kiện điện tử, đặc biệt là các linh kiện ứng dụng trong cuộc sống như đèn LED, tụ điện, điện trở …phần nào đã giúp con người thay thế sức lực và dễ dàng tiếp cận khoa học công nghệ…

    Cuối cùng, chúng em xin chân thành cám ơn thầy NGÔ THANH BÌNH đã hướng dẫn chúng em làm bản báo cáo này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]