Category: Báo Cáo Khoa Học

  • Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

    Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

    Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-v%C4%83n-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

    Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh

    Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.
    Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.

    Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:
    Một là: trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.
    Hai là: nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bàoVì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình…
    Ba là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.
    Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.
    Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”… Trích Từ wWw.ueh.vn . I.                   ĐẠO ĐỨC:–      Tư tưởng đạo đức là bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo nên nền tảng tinh thần xã hội ta. Nó đang là nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân ta phát huy nội lực vượt  qua thử thách, khó khăn đưa công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế giành thắng lợi. –      Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức chính trị xã hội sữa chữa khắc phục tình trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về đạo đức, lối sống giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng, để thế hệ trẻ chúng ta rèn luyện tu dưỡng nhân cách trở thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên.1.      Nguồn gốc–      Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, đã được hình thành trong trường kỳ lịch sử, đồng thời kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức của nhân loạil; đặc biệt quan trọng là những tư tưởng đạo đức của Marx, Anghen, Lenin. –      Trong lĩnh vực đạo đức, Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của tư tưởng đạo đức đã có từ trước, nhất là đạo đức Nho giáo. Những khái niệm, phạm trù đó đánh dấu những nấc thang nhận thức của loài người, tất nhiên những khái niệm, phạm trù đã trở thành tài sản chung của nhân loại, nhưng nội dung đã có nhiều thay đổi. Những khái niệm như trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính… đã có trong Nho giáo từ mấy trăm năm trước công nguyên; dân chủ, tự do, công bằng, bác ái đã xuất hiện từ cổ đại Hy Lạp – La Mã, nhưng trong tư tưởng đạo đức của HCM chúng đã được nâng cao, trở thành nội dung tiến bộ. –      Hồ Chí Minh sử dụng những khái niệm, những phạm trù đạo đức đã từng quen thuộc với dân tộc Việt Nam từ lâu đời, đưa vào đó những nội dung mới, đồng thời bổ sung những khái niệm, những phạm trù đạo đức của thời đại mới. Chính vì vậy mà những giá trị đạo đức mới đã hòa nhập với những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho mỗi người Việt Nam đều cảm thấy gần gũi và tiếp thu dễ dàng.-      Những giá trị đạo đức truyền thống được Hồ Chí Minh nâng lên tầm cao mới bằng việc thực hiện kết hợp nhuần nhuyễn. Việc tiếp thu những tinh hoa đạo đức của nhân loại đã làm cho tu tưởng Hồ Chí Minh trở nên phong phú, đã được đông đảo người nước ngoài chấp nhận. –      Với tư duy độc lập và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ thực tiễn Việt Nam thực hiện một công việc kế thừa có chọn lọc, những giá trị đạo đức của quá khứ, đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.

    2.      Sự hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

    Tư tưởng đạo đức trong sáng của Hồ Chí Minh được hình thành trong điều kiện lịch sử – xã hội khá đặc biệt của đất nước, thời đại và chính cuộc đời của Người.

    a.      Quê hương và gia đình:

    –      Nghệ An cũng như Kim Liên, quê hương của Hồ Chí Minh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm là quê hương của nhiều anh hùng nổi tiếng như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung và các lãnh tụ yêu nước cận đại như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu…-      Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, gần gũi với nhân dân. Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Người là một nhà Nho, có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Tấm gương lao động cần cù, ý chí kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đặc biệt là tư tưởng thương dân, chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị – xã hội của Cụ đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành.

    b.      Thời đại:

    –      Sau một thời gian bôn ba qua nhiều châu lục, nhiều quốc gia trên thế giới, chứng kiến cảnh bị áp bức, bóc lột, bất công của những người cùng khổ, bởi giai cấp thống trị trên thế giới, Nguyễn Tất Thành đã hiểu được bản chất của Chủ nghĩa đế quốc, nắm được trình độ phát triển của nhiều nước thuộc địa cùng cảnh ngộ, nhất là những năm bôn ba trong phong trào lao động ở Pháp và cùng hoạt động với những nhà cách mạng từ các nước thuộc địa của Pháp. Người đã nhanh chóng đến được với phải tả của cách mạng Pháp, gia nhập Đảng xã hội Pháp – một chính đảng duy nhất của nước Pháp bênh vực các dân tộc thuộc địa. Ngườitrở thành một chiến sĩ XHCN.-      Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình, mới đưa cách mạng đến đích vinh quang. Xét đến cùng thì văn minh tức là trí tuệ, trong đó chủ yếu là sự hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Marx – Lenin, những tri thức hiện đại của nhân loại, tri thức về thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đạo đức chính là những phẩm chất đòi hỏi của con người cần phải có để tham gian vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và CNXH, để cống hiến được nhiều nhất cho cuộc đấu tranh đó. Đạo đức là nguồn gốc, là nền tảng, bởi vì muốn làm cách mạng thì trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, với cả dân tộc mình.

     c.       Vai trò của đạo đức cách mạng:

    –      Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hằng quan tâm sâu sắc đến đạo đức và chăm lo bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ. Chính Người  cũng là hiện thân tấm gương đạo đức trong sáng cho toán đảng , toàn dân, toàn quân, các thế hệ chúng ta học tập suốt đời. Hồ Chí Minh là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.-      Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có sự thống nhất hòa quyện với các giá trị tư tưởng đạo với các giá trị tư tưởng, văn hóa, nhân văn.chính trị và định hướng chính trị dễ dàng tìm thấy trong tư tưởng đạo đức.-      Theo Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức lấy dân làm gốc, nhằm phục vụ cho sự nghiệp chính trị vì nước, vì dân.ngược lại tư tưởng chình trị trung với nước hiếu với dân cũng là một phẩm chất đạo đức cơ bản của Hồ Chí Minh.-      Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bao quát toàn diện đối với mọi giai cấp tầng lớp nhân dân lao động, đặc biệt nó tác động mạnh mẽ đến việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên của tuổi trẻ Việt Nam. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có giá trị to lớn lâu dài trong phạm vi dân tộc và quốc tế. Quan hệ đạo đức của Hồ Chí Minh thể hiện chủ yếu là quan hệ với mình, với người, với công việc. Thực tiễn đạo đức Hồ Chí Minh là sự cống hiến hy sinh đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc.-      Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức tiến bộ, chân chính, tiêu biểu cho phẩm chất đẹp đẽ nhất của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Như vậy tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cách mạng.Tóm lại: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm cơ bản, toàn diện về đạo đức bao gồm nhận thức đạo đức, quan hệ đạo đức và thực tiễn đạo đức được thể hiện trong những quy đinh về phẩm chất đạo đức, nguyên tắc xây dựng đạo đức, yêu cầu rèn luyện đạo đức mới, đạo đức cách mạn.

    Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh:

    a.      Trung với nước, hiếu với dân:

    –      Hồ Chí Minh đưa vào khái niệm cũ một nội dung mới mang tính cách mạng, đó là trung với nước hiếu với dân. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

    b.      Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

    :–      Khái niệm đạo đức cũ được Hổ Chí Minh tiếp thu chọn lọc đưa vào những yêu cầu và đây là những nội dung mới.-      Người chỉ ra rằng phong kiến nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không thực hiện; ngày nay, ta đề ra cần kiệm liêm chính cho cán bộ làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân.-      Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là 1 biểu hiện sinh động của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”.-      Hồ Chí Minh viết:“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, ĐôngĐất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, BắcNgười có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, ChínhThiếu một mùa, thì không thành trờiThiếu một phương, thì không thành đấtThiếu một đức, thì không thành người”.

    c.      Thương yêu con người:

    Có 2 hạng người: thiện và ác-      Có 2 việc: chính và tà.-       Làm việc chính là người thiện, làm việc tà là người ác.-      Người kết luận: những người bị áp bức bóc lột, những người làm điều thiện thì dù màu da, tiếng nói, chủng tộc, tôn giáo có khác nhau, vẫn có thể thực hành chữ: “Bác Ái”, đại đoàn kết, đại hòa hợp coi nhau như anh em một nhà.

    d.      Tinh thần quốc tế trong sáng thủy chung:

    Đó là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dân tộc, và sự phân biệt chủng tộc.-     Người khẳng định bốn phương vô sản đều là anh em, giúp bạn là giúp minh, thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới. từ đó, tạo ra 1 kiểu quan hệ quốc tế mới, đối thoại thay cho đối đầu, kiến tạo nền văn hóa hòa bình.

    II.               TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH1.       Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng:

    a.      Nhận thức về con người:

    –      Từ thập kỷ bốn mươi của thế kỷ XX Hồ Chí Minh bàn đến chữ  “người” với nhiều nghĩa và phạm vi khác nhau. Nghĩa hẹp: gia đình ,anh em , họ hàng, bầu bạn. nghĩa rộng: đồng bào cả nước. rộng nữa: cả loài người

    b.      Thương yêu, quý trọng con người:

    – Con người ở đây là đồng bào đồng chí là người Việt Nam yêu nước là già, trẻ, gái, trai, miền xuôi, miền ngược….-      Hồ CHí Minh thương yêu những người nô lệ mất nước , những người cùng khổ, giai cấp vô sản bị bóc lột , những thanh niên chết vô ích ở Việt Nam dù họ là da trắng , da đen, người Pháp hay người Mỹ. bởi vì “ máu nào cũng là máu ; người nào cũng là người”. Những dòng máu đó đều quý như nhau.

    c.      Tin vào sứmạnh, phẩm giá và tính sáng tạo của con người:

    Theo Hồ Chí Minh, “ Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân ”. –      Vì vậy, “ Vô luận việc gì, đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”. –      Người cho rằng: “Việc dễ mấy không có nhân dân cũng chịu, việc khó mấy có dân liệu cũng xong”. Nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần.

    d.      Lòng khoan dung rộng lớn

    2.      Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng:

    a.      Con người vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng:

    –      Mục tiêu cách mạng của Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc , giải phóng xã hội, giải phóng con người, thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.      Khẳng định con người là mục tiêu của cách mạng thì 1 điểu qua trọng là mọi chủ trương đường lối chính sách của đảng, chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người. Có thể đó là lợi ích lâu dài, trước mắt, lợi ích cả dân tộc và lợi ích cả bộ phận, giai cấp tầng lớp và cá nhân.

    b.      Con người là động lực cách mạng:

    –      Được nhìn nhận trên phạm vi cả nước toàn thể đồng bào song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông dân. Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp, giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.-      Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức có lãnh đạo. Vì vậy vai trò của Đảng Cách Mạng lấy chủ nghĩa Mác_Lê làm nền tảng tư tưởng là vô cùng qua trọng. Qua các phong trào Cách mạng của quần chúng, Đảng sẽ nhân sức mạnh của con người lên gấp bội.      Hồ Chí Minh quan niệmVì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích 100 năm thì phải trồng người”.·       Trồng người là công việc trăm năm không thể nóng vội một sớm một chiều, không phải làm một lúc là xong, cũng không phải tùy tiện đến đâu hay đó. Nhận thức và giải quyết vấn đề thường trực bền bỉ trong suốt cuộc đời mỗi con người. Theo tinh thần của LêNin : “ Học, học nữa, học mãi”. Và của Khổng Tử : “ Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Hồ Chí Minh cho rằng: “ Việc học không bao giờ cùng, còn sống là còn phải học”.  Xây dựng con người là chiến lược hàng đầu của cách mạng

    III.             TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA VĂN HÓA:

    1.      Quan điểm chung của Hồ Chí Minh về văn hóa:

    1. Vị trí vai trò:–      Tháng 8- 1943, khi còn trong nhà tù Tưởng Giới Thạnh, Hồ Chí Minh nêu ra 1 định nghĩa về văn hóa:-      “ Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.·        Người dự định xây dựng nền văn hóa dân tộc với 5 điểm:·        Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.        Xây dưng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.  Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. ·        Xây dựng chính trị: dân quyền.        Xây dựng kinh tế.      Sau  CMT8-1945, văn hóa được Hồ Chí Minh xác định là đời sống tinh thần của xã hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng.      Văn hóa có mối quan hệ mật thiết với kinh tế – chính trị – xã hội được nhận thức như sau.        Văn hóa quan trọng ngang với kinh tế, chính trị, xã hội.    Chính trị, xã hội có được giải pháp thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển.·        Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa.·        Văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng phát triển kinh tế.b. Tính chất nền văn hóa mới:–      Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, nền văn hóa mới là nền văn hóa dân chủ mới, đồng thời là nền văn hóa kháng chiến.-      Có 3 tính chất·        Tính dân tộc.    Tính khoa học.      Tính đại chúng.c.      Chức năng của văn hóa.      Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp.-      Nâng cao dân trí.-      Bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách, lối sống lành mạnh, luôn hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ và không ngừng hoàn thiện bản thân mình.

    2.      Tư tưởng Hổ Chí Minh về 1 số lĩnh vực văn hóa:a.      Văn hóa giáo dục:

    –      Người quan tâm xây dưng nền giáo dục mới của nước việt nam độc lập. nền giáo dục này được hình thành từ những năm hai mươi, thật sự ra đời từ CMT8 thành công và phát triển cùng sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hồ Chí Minh xác định xây dựng nền giáo dục mới là 1 nhiệm vu cấp bách, có ý nghĩa chiến lược, vì nó góp phần làm cho dân tộc ta xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. văn hóa giáo dục là 1 mặt trận quan trọng công cuộc xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà.-      Quan điềm của Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục:·        Mục tiêu của văn hóa giáo dục·        Cải cách giáo dục.    Phương châm, phương pháp giáo dục.ü  Phương châm bao gồm: học đi đôi với hành, phối hợp nhà trường gia đình xã hội.ü  Phương pháp: giáo dục phải xuất phát và bám chắc vào mục tiêu giáo dục.·        Quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên.b.      Văn hóa văn nghệ:–      Văn nghệ là 1 mặt trân, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội và con người mới.-      Phải gắn với thực tiễn của đời sống của nhân dân, phải có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và thời đại.c.      Văn hóa đời sống:–      Văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới với 3 nội dụng: đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới. Trong đó đạo đức mới đóng vai trò chủ yếu nhất.

    IV. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC, NHÂN VĂN, VĂN HÓA VÀO VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM MỚI HIỆN NAY

    1.      Học  tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống:

    –      Bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.-      Biết giữ gin đạo đức , nhân phẩm, lương tâm, danh dự.

    2.      Học tập và vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:

    –      Xây dựng một xã hội nhân văn theo quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh là phải bảo đảm công bằng xã hội, trong đó có sự quan tâm tới lợi ích của cá nhân, tập thể và cộng đồng; bảo đảm bình đẳng của các thành phần kinh tế trên cơ sở khẳng định vị trí chủ đạo của nền kinh tế nhà nước.

    3.      Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa:

    –      Có tinh thần yêu nước, tư cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghéo nàn, lạc hậu , đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội .-      Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.-      Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần, kiệm, trung thực, nhân nghĩa ,tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.-      Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.-      Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thế lực.Người quan niệm về Tài – Đức:”Người có tài mà không có đức là vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khóNgười có tài càng cao thì đức phải càng cao”

    CPV- Ngày 10/1/2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 34/CT/TW về Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật Trung ương. Toàn văn chỉ thị như sau:
    Trong hai năm 2004-2005, các hội văn học, nghệ thuật ở Trung ương sẽ tiến hành đại hội nhiệm kỳ, Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật được tiến hành trong bối cảnh nhân dân ta sau 17 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thu được những thành tựu rất quan trọng, tạo điều kiện cho đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
    Năm năm qua, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) bước đầu đi vào cuộc sống, văn học, nghệ thuật nước ta phát triển mới
    cả về sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu lý luận, phê bình, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần xã hội, bồi dưỡng, giáo dục con người, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Trong nhiệm kỳ qua, các Hội văn học, nghệ thuật đã thực hiện tốt hơn nhiệm vụ tập hợp văn nghệ sĩ, hướng dẫn và động viên, khen thưởng kịp thời văn nghệ sĩ đi sâu vào thực tiễn công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới, mở được nhiều trại sáng tác, đã góp phần tạo nên các thành tựu văn học, nghệ thuật.
    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn ít những tác phẩm có giá trị cao, có ý nghĩa lâu bền, phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống của nhân dân, của đất nước trong những giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, nhất là trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động của nhiều nhân tố đã nảy sinh những vấn đề mới trong hoạt động văn hóa, văn nghệ cần được nhận thức đúng và giải quyết tốt để đẩy mạnh sự nghiệp văn học, nghệ thuật phát triển.
    Đại hội các Hội văn nghệ, nghệ thuật nhiệm kỳ này cần phấn đấu đạt được những mục đích, yêu cầu sau:
    1- Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật phải thực sự là đợt sinh hoạt chính trị và nghề nghiệp quan trọng của giới văn nghệ nhằm đánh giá đúng tình hình hoạt động sáng tạo của văn nghệ sĩ và hoạt động của các cấp hội. Phân tích sâu sắc hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật hiện nay, khẳng định những khuynh hướng sáng tác lành mạnh chủ đạo, khuyến khích tìm tòi sáng tạo hướng tới những giá trị chân – thiện- mỹ trong văn học, nghệ thuật. Đánh giá đúng thực trạng của công tác nghiên cứu lý luận, phê bình. Kiểm điểm toàn diện hoạt động của tổ chức hội và trách nhiệm các ban chấp hành.
    Các Hội cần quán triệt sâu sắc phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa của nước ta thời kỳ mới là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
    Trên cơ sở đó cần xác định nhiệm vụ trung tâm của công tác văn học, nghệ thuật trong thời gian tới là: tiếp tục phấn đấu tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ. Tiếp thu truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, có tác dụng sâu sắc giáo dục con người. Thực hiện tốt phương châm lấy tác phẩm tốt cổ vũ, giáo dục con người và xã hội, tạo nguồn giải trí lành mạnh, đẩy lùi những hoạt động văn nghệ phản động, đồi trụy, phi nhân tính, phi dân tộc.
    Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 18-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác văn học, nghệ thuật và các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác văn hóa, văn nghệ, các đại hội cần phát huy trí tuệ tập thể hội viên, xác định đúng phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp để đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu lý luận, phê bình, đưa sự nghiệp văn học nghệ thuật phát triển mạnh mẽ.
    2- Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật cần cụ thể hóa mô hình tổ chức, đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của các hội phù hợp với tình hình thực tiễn, thực hiện tốt nhiệm vụ đoàn kết, bồi dưỡng, động viên đội ngũ văn nghệ sĩ phát huy trách nhiệm chính trị và mọi tiềm năng sáng tác, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
    3- Với tinh thần đoàn kết, dân chủ, xây dựng và sáng tạo, đại hội các Hội văn học, nghệ thuật bầu ra được Ban Chấp hành mới đủ phẩm chất năng lực, có khả năng đoàn kết, tập hợp văn nghệ sĩ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của Hội trong nhiệm kỳ mới.
    Để đại hội các Hội văn học, nghệ thuật đạt được mục đích, yêu cầu trên, Đảng đoàn, Ban Chấp hành các Hội cần chuẩn bị tốt báo cáo của Ban Chấp hành, báo cáo sửa đổi điều lệ, báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành cũ và làm tốt công tác nhân sự Ban Chấp hành mới theo hướng giới thiệu từ cơ sở.
    Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật lần này là đại hội đại biểu. Đảng đoàn và Ban Chấp hành các Hội cần chỉ đạo chặt chẽ việc bầu chọn đại biểu, kể cả đại biểu chỉ định dự đại hội, bảo đảm các đại biểu là những văn nghệ sĩ tiêu biểu cho các thế hệ, các vùng, miền, các dân tộc, các lứa tuổi.
    Căn cứ số lượng hội viên, các Hội cần xác định số lượng đại biểu đại hội toàn quốc thích hợp, với mức tối đa không quá 500 đại biểu.
    Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật nhiệm kỳ này là một sự kiện chính trị quan trọng. Ban Bí thư Trung ương Đảng ủy nhiệm đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương; đồng chí Phạm Gia Khiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ cùng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ, Đảng đoàn Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật, trực tiếp chỉ đạo chặt chẽ các Đảng đoàn các Hội văn học, nghệ thuật chuẩn bị tốt nội dung kế hoạch tiến hành đại hội, phương án nhân sự Ban Chấp hành mới. Chuẩn bị phương án nhân sự Tổng thư ký Hội và những vấn đề quan trọng nhất để trình Ban Bí thư xem xét.
    Căn cứ phương án kế hoạch đại hội đã được phê duyệt, các Hội lập dự toán tài chính trình Chính phủ xem xét, giải quyết.
    Các tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự đảng các bộ, ngành có liên quan căn cứ tinh thần Chỉ thị này để chỉ đạo tổ chức tốt đại hội các Hội văn học, nghệ thuật địa phương; chỉ đạo các chi hội chuyên ngành trung ương hoạt động tại địa phương bầu các đại biểu đi dự đại hội và tạo điều kiện thuận lợi cho các đại biểu được bầu tham gia đại hội đại biểu toàn quốc.
    Ban Bí thư giao Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương căn cứ nội dung Chỉ thị này xây dựng văn bản hướng dẫn các đơn vị thực hiện./. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với sự đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng cũng như những con người Việt Nam mới luôn là vấn đề thời sự, thể hiện tính cần thiết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đào sâu suy nghĩ, kiên trì phấn đấu và noi theo. Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, của hệ thống chính trị, nhằm góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. 1 – Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội… Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đảng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa, đạo đức chỉ là một bộ phận của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là bộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của một xã hội, người ta không thể không nói đến con người trong xã hội, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được dư luận xã hội thừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Như vậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đó mà có. Trong các quan hệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh …, đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức. 2 – Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng: Một là: Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân. Hai là: Nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình… Ba là: Cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi. Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại. Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”…3 – Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta nêu rõ rằng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước…” và khẳng định rằng: “Đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là “một tấm gương văn hóa trong xã hội”. Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước… Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dường nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩm chất trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Nghĩ về trí tuệ và bản lĩnh của Đảng lãnh đạo

    PTO- Mừng Đảng, mừng Xuân năm nay có niềm vui lớn là sự nghiệp đổi mới có những thành tựu mới hết sức nổi bật:

    Chính trị, xã hội của đất nước ổn định. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,5%, mức cao nhất trong 10 năm qua. Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt ngưỡng 100 tỉ USD. Thu hút trên 20 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài, cao hơn cả một số nước có thu nhập trung bình.  Xóa đói giảm nghèo chuyển biến tốt. Lần đầu tiên nước ta nhận lãnh trách nhiệm ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc. Việt Nam được coi là ngôi sao kinh tế đang lên, thực sự sánh vai cùng bè bạn năm châu trên chính trường quốc tế. Tuy còn có những mặt yếu về chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững; về năng lực cạnh tranh về giá tiêu dùng tăng cao; về đẩy lùi tham nhũng, lãng phí,  tai nạn và tệ nạn xã hội; đời sống người lao động nhất là nơi bị thiên tai, một số vùng nông thôn và miền núi còn khó khăn song những bước tiến đáng kể trên con đường phát triển thực sự là tín hiệu lạc quan về sự hồi sinh và phục hưng dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.

    Thắng lợi trong sự nghiệp đổi mới cũng như trong cách mạng và kháng chiến trước đây chứng minh trí tuệ và bản lĩnh của Đảng lãnh đạo.

    Trí tuệ của Đảng bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Đảng có tầm nhìn chính trị xa và rộng, thấy trước và thấy đúng diễn biến tình hình, xu thế phát triển trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi bước ngặt lịch sử để đề ra đường lối chiến lược, sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, đã vận dụng, phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, kết hợp tinh hoa văn hóa của nhân loại với kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong hoạch định đường lối cách mạng, Người đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, về đạo đức – văn hóa – nhân văn, về xây dựng Đảng và Nhà nước, về đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế đã và sẽ tiếp tục soi đường cho cuộc đấu tranh vì Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh do Đảng ta lãnh đạo. Khi có sai lầm về đối tượng và cách làm cải cách ruộng đất hoặc chủ quan duy ý chí trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, duy trì quá lâu cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung, Đảng đã tự phê bình và sửa chữa, kiên quyết đổi mới, rũ bỏ những khuôn sáo trói buộc, tổng kết thực tiễn sáng tạo để đưa cách mạng tiến lên.

    Bản lĩnh lãnh đạo của Đảng là sự kế thừa và phát huy ý chí đấu tranh kiên cường của dân tộc, vững vàng trước mọi thử thách hiểm nghèo, không lùi bước trước khó khăn, không ngại hy sinh gian khổ. Cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu, gắn bó với dân, dựa chắc vào dân, hết lòng hết sức phục vụ lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Đảng không phải là thần thánh mà là một thực thể xã hội. Đảng viên sống giữa đời thường không tránh khỏi phạm sai lầm khuyết điểm song nếu biết lắng nghe tổng hợp trí tuệ của dân, biết nhìn thẳng vào sự thật, kiên quyết đấu tranh phòng tả, chống hữu, làm trong sạch đội ngũ thì đảng mới thực sự vững mạnh. Bản lĩnh của Đảng tỏ rõ ở khả năng chủ động phòng ngừa, hóa giải các nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng.

    Hiện nay công cuộc đổi mới toàn diện đưa đất nước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới tiềm ẩn biến động khó lường, còn có sự chống phá của các thế lực thù địch. Đó là một sự nghiệp cách mạng mới mẻ khó khăn phức tạp chưa có tiền lệ trong lịch sử, đặt ra những thử thách lớn đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

    Sau Đại hội X, các hội nghị Trung ương Đảng đã cụ thể hóa đường lối trên các mặt theo hướng lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội. Gần đây nhất, hội nghị Trung ương V-VI quyết định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa và thực hiện công bằng xã hội, giải quyết các vấn đề mới nảy sinh như phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo. Ngoài vấn đề xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng sẽ tiếp tục làm rõ vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân; chiến lược phát triển khoa học công nghệ và đội ngũ trí thức; chiến lược giáo dục và phát triển văn học nghệ thuật. Đảng sẽ tổng kết bổ sung, phát triển cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới chuẩn bị xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020.

    Trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, Đảng nhấn mạnh phải nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng XHCN, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới chiếm địa vị chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Phải thường xuyên cảnh giác các cấp. Dù các thế lực thù địch có nhiều âm mưu quỉ kế thực hiện diễn biến hòa bình nhằm lật đổ chế độ song đội ngũ của Đảng vững vàng thì chúng không làm gì được. Ngôi nhà làm bằng gỗ tứ thiết hoặc bằng tre được ngâm tẩm kỹ thì không sợ mối mọt làm sụp đổ.

    Về mặt nâng  cao sức chiến đấu và chất lượng  đội ngũ cán bộ, đảng viên từ cơ sở, Đảng nhấn mạnh phải chỉnh đốn đạt yêu cầu trong sạch vững mạnh. Để ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí và suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, ngoài đẩy mạnh giáo dục rèn luyện, học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phải khắc phục tình trạng kỷ cương, lỏng lẻo ở nhiều cấp nhiều ngành, xử lý kỷ luật không nghiêm, nói không đi đối với làm.

    Toàn Đảng, toàn dân đón nhận và thực hiện các nghị quyết của Trung ương Đảng với niềm tin vững chắc vào trí tuệ, bản lĩnh của Đảng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh rèn luyện qua thử thách trong đấu tranh cách mạng. Với thế và lực mới, có sự dẫn dắt của Đảng, cuộc chiến đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh sẽ có sức bật mới, đạt nhiều thành tựu mới ngay từ năm 2008 nhằm đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển.

    Giáo dục thanh niên vừa hồng, vừa chuyên

    17:43′ 21/8/2008 Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, lớp người tiếp bước cha anh kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang. Sinh thời Người nói: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh phần lớn do các thanh niên”(1). Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng, toàn dân: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt… Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng, vừa chuyên”(2). Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, của công tác đoàn và phong trào thanh niên trong những năm qua, thái độ và ý thức chính trị của thanh niên có chuyển biến tích cực, quan tâm và có trách nhiệm hơn với sự phát triển của quê hương, đất nước, tích cực tham gia các hoạt động do Đoàn, Hội tổ chức. Ý thức lập thân, lập nghiệp của thanh niên cao hơn trước. Thanh niên có khả năng tiếp thu nhanh nhạy những thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật và quản lý hiện đại, năng động, sáng tạo, ham học hỏi, chủ động vươn lên tiếp cận với cái mới. Lòng nhân ái, tinh thần xung phong, tình nguyện, tương thân, tương ái của thanh, thiếu nhi ngày càng được khơi dậy và phát huy. Tâm thế, năng lực hội nhập quốc tế của thanh niên ngày càng tự tin và chủ động hơn. Vai trò, vị trí của thanh niên trong xã hội tiếp tục được đề cao và nhận được sự quan tâm nhiều hơn của Đảng, Nhà nước và các lực lượng xã hội. Bên cạnh những thuận lợi và xu hướng tích cực, một bộ phận không nhỏ thanh niên còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật, ý thức chấp hành luật pháp; xu hướng chạy theo bằng cấp, nhận thức lệch lạc về học nghề, chọn nghề, định hướng nghề nghiệp còn khá phổ biến. Lao động chưa qua đào tạo, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, hoặc việc làm không ổn định và thu nhập thấp vẫn là vấn đề bức xúc của thanh niên. Không ít thanh niên còn thụ động, ỷ lại, chưa tích cực vươn lên tự tạo việc làm, còn ngại khó, ngại khổ, ngại về nông thôn, miền núi công tác. Một bộ phận thanh niên thiếu ý thức rèn luyện, non kém về nhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn, buông thả, thực dụng, thờ ơ, ngại tham gia vào các hoạt động chính trị – xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực trẻ chưa đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH, đặc biệt trong quá trình hội nhập.Trong thời kỳ cách mạng mới, quán triệt và vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ mang ý nghĩa chiến lược quan trọng. Tư tưởng của Bác về “hồng” và “chuyên” phản ánh những quan điểm cơ bản của Người về quá trình hình thành thế hệ con người mới đảm đương sứ mệnh xây dựng CNXH trên đất nước chúng ta. Theo chúng tôi, vận dụng tư tưởng của Bác trong việc giáo dục thanh niên, có mấy điểm rất cơ bản là:- Giáo dục toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tri thức khoa học, chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe… để tạo dựng bản lĩnh cách mạng cho thế hệ trẻ.- Nắm vững quan hệ biện chứng giữa “hồng” và “chuyên”, coi “hồng” là gốc. Ngày nay, với mục tiêu chiến lược là đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đồng thời giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, gìn giữ và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì vấn đề quan trọng và cần thiết trong công tác thanh niên chính là tăng cường giáo dục, đào tạo thanh niên thành lớp người vừa ‘hồng” vừa “chuyên”. Nói cách khác là phải nâng cao chất lượng phong trào “rèn đức”, “luyện tài” để góp phần hình thành đội ngũ đông đảo những người lao động trẻ – nguồn nhân lực trẻ – đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Rèn đức đòi hỏi tự thân nâng cao lòng yêu nước, trung thành với Đảng, với nhân dân, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần dũng cảm vượt qua khó khăn, xây dựng nếp sống, văn minh, tích cực đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Luyện tài là ra sức học tập, nâng cao trình độ chính trị, học vấn, khoa học, công nghệ, quản lý, để phát triển tài năng cống hiến có hiệu quả, phục vụ đất nước, đưa nước ta đi lên “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn và tin tưởng. Trong công tác thanh niên phải tăng cường nghiên cứu, học tập, kế thừa những nội dung giáo dục, bồi dưỡng đức và tài cho thanh niên theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, soi rọi vào thực tiễn công tác giáo dục thế hệ trẻ nước ta, từ đó xây dựng chương trình hành động, đề ra các giải pháp, phương pháp, hình thức, cách làm sáng tạo với những bài học sâu sắc trong công tác giáo dục thế hệ trẻ nước ta.Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đoàn và sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đoàn, trong những năm qua các cấp bộ đoàn đã tích cực triển khai việc nghiên cứu, quán triệt và vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào bồi dưỡng, giáo dục các thế hệ thanh niên Việt Nam với những nội dung và hình thức giáo dục sinh động. Các phong trào “Thi đua tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “4 đồng hành với thanh niên trên đường lập thân, lập nghiệp”. “5 xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, đặc biệt là việc triển khai các cuộc vận động: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” liên tục được tổ chức và đổi mới hình thức hoạt động. Hoạt động “Tiếp lửa truyền thống, mãi mãi tuổi 20”… thông qua các diễn đàn, tọa đàm, hội thảo, hội thi kể chuyện, viết cảm tưởng, tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, biên soạn và phát hành tài liệu học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho đoàn viên, thanh thiếu nhi… đã phát huy nhiều tác dụng.Đặc biệt, trước yêu cầu quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và tình hình thanh niên biến đổi nhanh chóng, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên nhằm bồi dưỡng và phát huy hiệu quả vị trí, vai trò trách nhiệm của thanh niên trong tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) đã ra Nghị quyết “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”. Đây là cơ hội và điều kiện rất thuận lợi để các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội chăm lo công tác thanh niên. Để nghị quyết của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, chúng tôi cho rằng thời gian tới, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần tập trung triển khai tốt nội dung giáo dục thế hệ trẻ vừa “Hồng”, vừa “Chuyên” theo tư tưởng của Bác Hồ với những nội dung, giải pháp sau1- Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục l‎ý tưởng cho thanh niên một cách tổng thể, từ quan điểm, nhận thức, nội dung, hình thức, phương pháp, giải pháp, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đối tượng thanh niên. Việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng phải được tiến hành trên cơ sở khoa học và thường xuyên, liên tục thông qua việc tổ chức cho đoàn viên thanh niên học tập các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, học tập 6 bài lý luận chính trị và tiếp tục triển khai cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” với mục tiêu đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh thấm đượm trong tư tưởng, lý tưởng của thanh niên, góp phần củng cố niềm tin của thanh niên vào sự nghiệp đổi mới.2- Việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục lý tưởng trên cơ sở đảm bảo đồng bộ và thống nhất giữa hoạt động giáo dục của các chủ thể, các lực lượng giáo dục, trong đó hoạt động giáo dục trong nhà trường và của Đoàn thanh niên phải phù hợp với tâm lý, đời sống giới trẻ, phải rất coi trọng phát huy dân chủ, phát huy năng lực, trí tuệ, sáng tạo của thanh niên. Thông qua các buổi toạ đàm, diễn đàn, các sinh hoạt gắn với cộng đồng, các tấm gương điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt.3- Các hình thức giáo dục cần sinh động, gần gũi, phù hợp với thanh niên, trong đó cần quan tâm nhiều hơn đến đối tượng thanh niên tự do, thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài quốc doamh, thanh niên chậm tiến, mắc các tệ nạn xã hội, thanh niên vùng sâu, vùng xa. Các hoạt động giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân cho thanh niên phải gắn với việc tổ chức các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động tình nguyện tại cộng đồng nhằm phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, ý thức trách nhiệm, tinh thần tình nguyện của tuổi trẻ. 4- Đẩy mạnh phong trào thi đua học tập trong đoàn viên thanh niên, đi đầu xây dựng xã hội học tập, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học; triển khai có kết quả phong trào sáng tạo trẻ trong các đối tượng thanh niên nhằm phát huy trí tuệ, lòng say mê và khả năng sáng tạo của tuổi trẻ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống nhất là ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ sinh học trong thời gian tới. 5- Các địa phương có những giải pháp cụ thể để triển khai có kết quả đề án dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên mà Chính phủ vừa phê duyệt.Triển khai tốt 2 phong trào lớn: “4 đồng hành với thanh niên trên đường lập thân, lập nghiệp” và “5 xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”mà Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX đã phát động, đồng thời chủ động đăng ký với Chính phủ và UBND các địa phương đảm nhận triển khai thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội nhằm bồi dưỡng và phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) của Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước” và vận dụng tư tưởng của Bác về “hồng” và “chuyên”, các cấp ủy đảng, các cấp bộ đoàn, các tổ chức xã hội đều cùng phát huy chức trách, nhiệm vụ nhằm làm cho thanh niên Việt Nam thật sự trở thành lớp người kế thừa xứng đáng sự nghiệp cách mạng, của Đảng và nhân dân ta.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-TRI%E1%BA%BET-H%E1%BB%8CC-C%E1%BB%A6A-PH%E1%BA%ACT-GI%C3%81O-V%C3%80-S%E1%BB%B0-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-TRI%E1%BA%BET-H%E1%BB%8CC-PH%E1%BA%ACT-GI%C3%81O-%C4%90%E1%BA%BEN-%C4%90%E1%BB%9CI-S%E1%BB%90NG-V%C4%82N-H%C3%93A-TINH-TH%E1%BA%A6N-C%E1%BB%A6A-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-VI%E1%BB%86T.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    LỜI MỞ BÀI

    Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau Công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam, bên cạnh đó đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên chúa. Tùy từng giai đoạn lịch sử dân tộc ta đều có một học thuyết tư tưởng hoặc một tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh nhất đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X – XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV – XIX, học thuyết Mác – Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX cho đến nay.

    Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH), chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Việc xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện được nên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Vi vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tác động của đạo Phật nói chung và tư tưởng triết học của Phật giáo nói riêng đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Theo đạo để làm điều thiện, tránh cái ác, hình thành nhân cách con người tốt hơn chứ không trở nên mê tín dị đoan, cúng bái, lên đồng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, niềm tin của quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, chúng ta cùng tìm hiểu Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 3

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    PHẦN I: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO

    1.     Sự ra đời của Phật giáo

    Trong lịch sử triết học của ấn Độ, mà thực chất là lịch sử phát triển của các hệ tư tưởng triết học xen lẫn với tôn giáo, có một thời kỳ là thời kỳ Bàlamôn giáo, Phật giáo (từ thế kỷ VI trước công nguyên đến thế kỷ thứ VI sau công nguyên). Ở thời kỳ này, mặc dù nền kinh tế đã phát triển hơn trước, nhưng nó vẫn bị kìm hãm bởi tính chất tổ chức kiên cố của công xã nông thôn, bởi sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt và sự thống trị của nhà nước trung ương tập quyền.

    Trong lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội, các trào lưu triết học, mà thực chất là các hệ tư tưởng của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, xuất hiện đa dạng nhưng chia thành hai hệ thống chính đối lập nhau: chính thống và không chính thống. Hệ tư tưởng chính thống với thế giới quan duy tâm, tôn giáo của kinh Veda và giáo lý Bàlamôn trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Nhưng hệ tư tưởng không chính thống với đạo Phật, đạo Jaina và phong trào đòi tự do tư tưởng, đòi bình đẳng xã hội ở vùng Đông ấn lại ăn sâu vào mọi tầng lớp nhân dân.

    Đạo Phật đã hình thành ở ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, người sáng lập là thái tử Sidharta (Tất Đạt Đa) (Cồ – đăm), với tư cách là một trong những hệ tư tưởng tiên phong chống phân chia giai cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của nhân dân ấn Độ nói riêng, với con người nói chung.

    Thái tử Tất Đạt Đa (Sidharta) là con vua Tịnh Phạn (Sudhodana) nước Ca Tỳ La Vệ (Kapila vastu). Truyền kể vào năm 624 trước công nguyên, hoàng hậu MaDa (Maya) sinh hạ một hoàng tử tuấn tú tại vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni (Lumbini) dưới gốc cây Ưu Bát La, thường gọi là cây Vô Ưu (asokaa) có hoa với sắc màu rực rỡ. Thái tử sinh vào ngày trăng tròn tháng Vésaka, nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch và được đặt tên là Tất Đạt Đa. Lớn lên, thái tử văn võ toàn tài, vợ là công chúa Da Du Đà La (Yasodava) con vua Thiện Giác, cuộc sống rất đầy đủ, sung sướng.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 4

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Nhưng những điều mắt thấy tai nghe về những nỗi đau khổ của con người đã ám ảnh tâm tư thái tử. Một ngày kia, thái tử ra đi, tương truyền ngài đến dòng A Nô Ma cắt tóc làm đạo sĩ. Ngài rủ năm người đến vùng Uruvela tu khổ hạnh trong 6 năm. Nhưng sau 6 năm học đạo và khổ hạnh, thái tử thấy kẻ hưởng lạc sẽ bê tha thối nát, còn tu hành khổ hạnh chỉ chuốc thêm khổ thân, chỉ có con đường trung đạo mới mong thành chính quả. Bởi thế, Thái tử đã bỏ 5 anh em ông Kiều Trần Như, dùng bát sữa của mục nữ Tu Xá Đề (Sajata), xuống sông Ni Liên tắm rửa, rồi lên thiền quán dưới gốc cây pipal (cây Tất Bát La, xứ Ba La Nại) lớn và ngồi dưới gốc cây suy nghĩ. Tương truyền là qua 49 ngày, ngài đã chứng tam minh tức là Túc mạng minh, Thiên nhân minh và Lậu tận minh, thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, năm 36 tuổi. Gốc cây chỗ ngài ngồi gọi là Bồ đề đạo dưỡng (Bodhimanda) hay Kim cương tọa (Vadjrasana).

    Sau đó, ngài tìm 5 người bạn trước đây, giác ngộ cho họ, rồi cùng họ trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi truyền bá tư tưởng của mình. Có những câu chuyện đã thành huyền thoại về Phật như Phật đã dừng chân bên vệ đường xâu kim cho bà già mù lòa, săn sóc, dọn dẹp ô uế cho người bệnh, nhận cơm thừa của một tiện nữ dâng cúng… Từ những việc nhỏ nhất, tất cả đều thể hiện lòng từ bi bác ái của Ngài và đạo của Ngài.

    2.     Con đường truyền đi của đạo Phật

    Sau Phật Niết bàn, các đệ tử Phật kiết tập 4 lần. Qua cuộc kiết tập lần thứ hai, do quan điểm bất đồng, Phật giáo chia thành hai phái: Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Thượng toạ bộ chủ trương bảo thủ y nguyên Phật giáo ban đầu, đọc kinh bằng tiếng Pali. Đại chúng bộ có tư tưởng cấp tiến, phóng k hóang đọc kinh bằng tiếng Sanskrit.

    Dị biệt tiếp tục phát triển, về sau giáo đoàn Phật giáo cho làm hai hệ là Nam truyền và Bắc truyền. Thượng toạ bộ chi phối Nam ấn và Phật giáo Nam truyền liên

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 5

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    tục hưng thịnh. Đại chúng bộ chi phối Bắc ấn, nhưng mãi đến thời Bồ Tát Mã Minh (Asvaghosha) 5 thế kỷ sau Phật niết bàn, mới mở màn hưng thịnh và sáng rỡ nhất là thời kỳ Bồ Tát Long Thọ (Nagarjuna) đầu thế kỷ II sau công nguyên.

    Phật giáo Nam truyền lan đến các nước phía Nam ấn: Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia và đa số trở thành quốc giáo. Phật giáo Bắc truyền lan đến các vùng phía Bắc ấn (Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, … ) mà mỗi nước lại có màu sắc riêng. Trung Hoa đã làm cho Phật giáo Bắc truyền thêm rực sáng. Sau này còn gọi Phật giáo Nam truyền là Phật giáo Tiểu Thừa, còn Phật giáo Bắc truyền là Phật giáo Đại Thừa.

    Với hai con đường thuỷ và bộ Phật giáo cũng vào Việt Nam những thế kỷ đầu công nguyên.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 6

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    PHẦN II: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO

    1.     Nhân quả

    Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác. Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ (chử pháp) là vô thủy, vô chung (vô cùng, vô tận). Tất cả thế giới đều ở quá trình biến đổi liên tục (vô thường) không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật cả. Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới (vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi là Pháp giới. Mỗi một pháp (mỗi một sự việc hiện tượng, hay một lớp sự việc hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn Pháp. Như vậy các sự vật, hiện tượng hay các quá trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại và qui định lẫn nhau.

    Tác phẩm “Thanh dung thực luận” của kinh phật viết rằng: “Có người cố chấp là có Đại tự nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng thường định ra chu pháp, đạo Phật cho rằng toàn bộ chư pháp đều chi chi phối bởi luật nhân quả, biến hóa vô thường, không có cái bản ngã cố định, không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn cả.

    Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng, thành, trụ, hoại, diệt (sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong). Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự vật và hiện tượng. Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của vạn vật, đã xây dựng nền thuyết “ nhân duyên”. trong thuyết “nhân duyên” có ba khái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên.

    Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, được gọi là Nhân.

    Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 7

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả. Duyên không phải là một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện để giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp.

    Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành. Lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng. Những yếu tố đó chính là Duyên.

    Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hóa vô thường của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lại. Phật giáo đã trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” (mười hai quan hệ nhân duyên) được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu của sự liên kết nghiệp quả.

    Vô minh: (là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên sáng tỏ).

    Hành: (là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả, tạo ra cái nghiệp, cái nếp. Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả cho vô minh và là nhân cho Thức).

    Thức: (là ý thức là biết. Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm quả cho hành và làm nhân cho Danh sắc).

    Danh sắc: (là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và tên của ta. Do danh sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làm nhân cho Lục xứ). Lục xứ hay lục nhập: (là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và tri thức. Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạn vật do Lục nhập mà có xúc – tiếp xúc. ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và làm nhân cho Xúc.)

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 8

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Xúc: (là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên, mở rộng xúc, cảm giác. Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho Lục xứ và làm nhân cho Thụ).

    Thụ: (là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào mình. Do thụ mà có ái, ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái).

    Ái: (là yêu, khát vọng, mong muốn, thích. Do ái mà có Thủ. Do ấy, ái làm quả cho Thụ và làm nhân cho Thủ).

    Thủ: (là lấy, chiếm đoạt cho minh. Do thủ mà có Hữu. Do vậy mà Thủ làm quả cho ái và làm nhân cho Hữu).

    Hữu: (là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cái nghiệp.

    Do Hữu mà có sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của Sinh).

    Sinh: (hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người, làm súc sinh. Do sinh mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân cho Tử).

    Lão tử: (là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải chết. Nhưng chết – sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau. Thể xác tan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh. Cho nên lại mang cái nghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não)).

    Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn, không bao giờ ngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà. Các nhân duyên tự tập nhau lại mà sinh mãi mãi gọi là Duyên hà mãn. Đoạn này do các duyên mà làm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân cho đoạn sau. Bởi 12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hóa vô thường.

    Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ cũng chỉ là dòng biến hóa hư ảo vô cùng, không có gì là thường định, là thực, là không thực có sinh, có diệt, có người, có mình, có cảnh, có vật, có không gian, có thời gian. Đó

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 9

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    chính là cái chân lý cho ta thấy được cái chân thế tuyệt đối của vũ trụ. Thấy được điều đó gọi là “chân như” là đạt tới cõi hạnh phúc, cực lạc, không sinh, không diệt, niết bàn.

    Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên kết hợp mà thành.

    Đó là sự kết hợp của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý.

    Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “sắc” (địa, thuỷ, hóa, phong) tức là cái cảm giác được.

    Cái tôi tâm lý (tinh thần) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có tên gọi mà không có hình chất gọi là “Danh”.

    Trong “Sắc” gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ không nhìn thấy được nếu nó nằm trong quá trình biến đổi của “sắc” gọi là “vô biến sắc” như vật chất chuyển hóa thành năng lượng chẳng hạn. Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý (tinh thần) của con người là:

    Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc chạm lĩnh hội thân hay tâm.

    Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng.

    Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.

    Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.

    Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân – Duyên tạo thành mỗi sinh vật cụ thể có danh và có sắc. Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta. Duyên tan ngũ uẩn thì là diệt. Quá trình hợp tan ngũ uẩn do Nhân – Duyên là vô cùng tận.

    Các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn luôn biến hóa theo qui luật nhân hóa không ngừng không nghỉ, nên mọi sinh vật cũng chỉ là vụt mất, vụt còn.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 10

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Không có sự vật riêng biệt, cố định, không có cái tôi, cái tôi hôm qua không còn là cái tôi hôm nay. Kinh Phật có đoạn viết “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc là không, không là sắc. Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế”.

    2.     Luân Hồi

    Nghiệp và luân hồi không những chỉ là những khái niệm của Triết học Phật giáo mà có từ trong Upanishad. Nghiệp chữ phạn và Karma là cái do những hoạt động của ta, do hậu quả việc làm của ta, do hành động của thân thể ta. Được gọi là “Thân nghiệp”, còn hậu quả của những lời nói của ta, phát ngôn của ta thì được gọi là “khẩu Nghiệp”. Hay những cái do ý nghĩ của ta, do tâm trí của ta gây nên được gọi là ”ý Nghiệp”. Tất cả những Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp là do ta tham dục mà thành, do ta muốn thỏa mãn tham vọng của mình gây nên. Sở dĩ ta tham dục vì ta chưa hiểu đươc chân bản vốn có của ta cũng như vạn vật là luôn luôn biến đổi không có gì là thường định và vĩnh viễn cả.

    Cuộc đời con người là sự ghánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời và các kiếp sống trước rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau. Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong hiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu hay tốt, thiện hay ác.

    Luân hồi: Chữ phạn là Samsara. Có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo phật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành động của những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người. Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “thập nhị nhân duyên” làm cho con người rơi vào bể trầm luân. Đạo Phật đã chủ chương tìm con đường diệt khổ. Con đường giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 11

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    3.     Tứ diệu đế

    Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải thấu hiểu và thực hiện nó. Tứ diệu đế gồm:

    Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là khổ, chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ, … Những nỗi khổ ấy từ đâu, chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế.

    Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành. Vậy do những gì tụ tập lại mà tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh. Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ), si (si mê, cuồng mê, mê muội) và dục vọng. Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là do con người không nắm được nhân duyên. Vốn như là một định luật chi phối toàn vũ trụ. Chúng sinh khômg biết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không. Cái tôi tưởng là có nhưng thực là không. Vì không hiểu được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác.

    Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn nguyên của sự khổ – để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ. Thực chất là thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử.

    Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế giới nội tâm (thực nghiệm tâm linh). Tuy luyện tâm trí, đặc biệt là thực hành YOGA để đạt tới cõi siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi phận là đạt tới trình độ giác ngộ bát nhã. Tới chừng đó sẽ thấy được chân như và thanh thản tuyệt đối, hết ham muốn, hết tham vọng tầm thường, tức là đạt tới cói “niết bàn” không sinh, không diệt.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 12

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    4.     Bát chính đạo

    Thực hiện Đạo đế là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ nguyên giới luật tập trung thiên định cao độ Phật giáo đã trình bày 8 con đường hay 8 nguyên tắc (Bát chính Đạo) buộc ta phải tuân thủ, bát chính đạo gồm: 1) Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái, không để cho những cái sai che lấp sự sáng suốt, ii) Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn, iii) Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn, iv) Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác, v) Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà, không được bỏ điều nhân nghĩa, vi) Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên để đạt tới chân lý, vii) Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính, không nghĩ đến những điều bạo ngược gian ác, viii) Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính, không bị t hóai chí, lay chuyển trước mọi cán dỗ.

    Muốn thực hiện được “Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và những người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người. Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện “Ngũ giới” (năm điều răn ) và “Lục độ” (sáu phép tu ).

    “Ngũ giới” gồm: Bất sát: Không sát sinh; Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa; Bất dâm: Không dâm dục; Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giáo họa cho kẻ khác, không nói dối.

    “Lục độ” gồm: Bố thí: Đêm công sức, tài trí, của cải để giúp người một

    cách thành thực chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn; Trí giới: Trung thành

    với điều răn, kiên trì tu luyện; Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường

    nhịn, chịu đựng để làm chủ được mình; Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn

    lên; Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không để

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 13

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    cho cái xấu cho lấp; Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian.

    Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát chính đạo”, “Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát chính mình ra khỏi nỗi khổ. Phật giáo không chủ trương giải phóng bằng Cách mạng xã hội. Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo. Đó là một trong những nhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật. Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo thế giới hiện thực. Như vậy Phật giáo nguyên thủy có tư tưởng vô thần, phủ nhận đấng sáng tạo (vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng (vô thường, lý thuyết Duyên khởi). Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người tạo ra.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 14

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    PHẦN III: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    Qua nghiên cứu các tư tưởng triết học của Phật giáo, có thể nhận thấy Đạo Phật hướng người Việt tới việc suy nghĩ về làm những điều thiện, làm lành lánh giữ. Tư tưởng từ bi bác ái, chủ trương khuyến thiện trừ ác, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn là những tư tưởng lôi cuốn đông đảo người Việt và trở thành người giàu lòng thương người, nhân đạo. Chính vì quan tâm cứu vớt con người trước bất công đau khổ nên người Việt đã tiếp thu và nhiệt tình ủng hộ đạo Phật. Do đó những tác động của tư tưởng Phật giáo đến đời sống tinh thần người Việt là rất to lớn, ảnh hưởng đến các mặt sau:

    1.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các tín ngưỡng truyền thống

    Khi được truyền vào Việt Nam, Phật Giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng bản địa, do vậy đã kết hợp chặt chẽ với các tín ngưỡng này. Biểu tượng chùa Tứ Pháp thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây, Mưa, Sấm, Chớp và thờ Đá. Lối kiến trúc của chùa chiền Việt Nam là tiền Phật hậu Thần cùng với việc thờ trong chùa các vị thần, các vị thánh, các vị thành hoàng thổ địa và vị anh hùng dân tộc.

    2.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các tôn giáo khác

    Đó là kết quả của sự phối hợp và kết tinh của Đạo Phật với đạo Nho và đạo Lão, được các nhà vua thời Lý công khai hóa và hợp pháp hóa. Chính vì đặc tính dung hòa và điều hợp này mà Phật Giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưởng truyền thống của dân tộc Việt. Nó chẳng phải Phật giáo Ấn Độ hay Trung Hoa, Tiểu Thừa hay Đại Thừa, mà nó là tất cả những khuynh hướng tâm linh của người dân Việt. Nó thực ra là cái “Đồng Qui Nhi Thù Đồ”, cùng về một đích mà đường lối khác nhau, chính tinh thần khai phóng của Phật Giáo Việt Nam đã kết tinh lấy Chân, Thiện, Mỹ làm cứu cánh để thực hiện. Nho giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường Thiện,

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 15

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    tức là hành vi đạo đức để tới chỗ nhất quán với Mỹ và Chân. Đạo giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường Mỹ, tức là tâm lý nghệ thuật để tới chỗ nhất quán với Thiện và Chân. Phật giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường trí tuệ giác ngộ để đạt tới chỗ nhất quán Chân, Thiện, Mỹ. Đó là thực tại Tam Vi Nhất của tinh thần tam Giáo Việt Nam. Trong nhiều thế kỷ hình ảnh tam giáo tổ sư với Phật Thích Ca ở giữa, Lão Tử bên trái và Khổng Tử bên phái đã in sâu vào tâm thức của người dân Việt.

    3.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa giữa các tông phái Phật Giáo

    Đây là một nét đặc trưng rất riêng biệt của Phật Giáo Việt Nam so với các quốc gia Phật Giáo láng giềng. Chẳng hạn như Thái Lan, Tích Lan, Lào, Campuchia chỉ có Phật Giáo Nam Tông, ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cổ thuần tuý chỉ có Phật Giáo Bắc Tông. Nhưng ở Việt Nam thì lại dung hòa và điều hợp cả Nam Tông và Bắc Tông. Chính vì tinh thần khế lý khế cơ của Phật Giáo cộng với tinh thần khai phóng của Phật Giáo Việt Nam mới có được kết quả như vậy. Tuy thiền tông chủ trương bất lập văn tự, song ở Việt Nam chính các vị thiền sư xưa lẫn nay đã để lại rất nhiều trước tác có giá trị, đặc biệt các thiền viện ở Việt nam điều tụng kinh gõ mõ như các tự viện Tông Tịnh Độ. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi thì kết hợp với Mật Giáo, có nhiều thiền sư phái này như ngài Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không điều nổi tiếng là giỏi phép thuật trong việc trừ tà, chữa bệnh.

    Điều đặc sắc ở đây là trong khi khai triển Phật Giáo Việt Nam, các thiền sư Việt Nam đã không theo thiền kiểu mẫu của các thiền sư Ấn Độ và Trung Hoa mà mở lấy một con đường riêng, phù hợp với dân tộc. Và trong khi tiếp nhận với hai luồng ảnh hưởng ấy, các thiền sư Việt Nam đã khéo léo điều chỉnh tính hai cực, Ấn Độ-Trung Hoa: một bên thì quá ham chuộng sự bay bổng, thần bí, một bên quá thực tiễn duy lý. Khi Phật Giáo vào Trung Hoa đã gây cho các nhà Phật học những cuộc tranh luận sôi nổi về giáo pháp. Rồi suốt cả quá trình lịch sử của nó là sự phái sinh ra những tôn giáo, là những cuộc đấu tranh tư tưởng dữ dội, điển hình là cuộc đấu

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 16

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    tranh giữa phái Thiền Nam Phương của Huệ Năng với Thiền Phái Miền Bắc của Thần Tú vào thời kỳ sơ đường. Còn ở Việt Nam thì khác, trên pháp đàn tư tưởng thời Lý cũng như thời Trần, thời kỳ vàng son của Phật Giáo Việt Nam và các thời kỳ sau này không có những mâu thuẩn đối lập mà tất cả điều quy về một mục đích chính là tu hành giải thoát. Phải chăng sự thống nhất về ý thức tư tưởng, dung hòa giữa các tông phái và đoàn kết dân tộc đã uốn nắn Phật Giáo Việt Nam theo con đường dung hòa thống nhất đó?

    4.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các thế hệ chính trị xã hội

    Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật Giáo Việt Nam có chủ trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần. Trong các thời này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh điều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọng của quốc gia. Ta thấy có nhiều lý do khiến các thiền sư Việt Nam tham gia vào chính sự, thứ nhất: họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi nên thấu hiểu được nổi đau khổ của một dân tộc bị nhiều cuộc đô hộ của ngoại bang. Thứ hai: các thiền sư không có ý tranh ngôi vị ngoài đời nên được các vua tin tưởng và thứ ba: các thiền sư không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp vua mà thôi) như các nho gia nên họ có thể cộng tác với bất cứ vị vua mào đem lại hạnh phúc cho dân chúng. Thời vua Đinh Tiên Hoàng đã phong cho thiền sư Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, thời Tiền Lê có ngài Vạn Hạnh, ngài Đỗ Pháp Thuận, ngài Khuông Việt cũng tham gia triều chính. Trong đó đặc biệt thiền sư Vạn Hạnh đã có công xây dựng triều đại nhà Lý khi đưa Lý Công Uẩn lên làm vua, chấm dứt chế độ tàn bạo của Lê Long Đỉnh, ông vua Ngọa Triều còn có biệt danh kẻ róc mía trên đầu sư. Thời nhà Trần có các thiền sư Đa Bảo, thiền sư Viên Thông.. điều được các vua tin dùng trong bàn bạc quốc sự như những cố vấn triều đình.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 17

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Đến thế kỷ 20, phật tử Việt Nam rất hăng hái tham gia các hoạt động xã hội như cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu. Đến thời Diệm, Thiệu (1959-1975) cũng thế, các tăng sĩ và cư sĩ miền Nam tham gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lâp cho dân tộc, nổi bật là những cuộc đối thoại chính trị giữa các tăng sĩ Phật Giáo và chính quyền. Đến cuối thế kỷ 20, ta thấy tinh thần nhập thế này cũng không ngừng phát huy, đó là sự có mặt của các thiền sư Việt Nam trong quốc hội của nước nhà.

    5.     Ảnh hưởng Phật Giáo trong đời sống người bình dân và giới trí thức Việt Nam

    Cũng như tất cả dân tộc nào trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Nam đến Bắc, lúc sơ khởi người Việt Nam tín ngưỡng và tôn thờ tất cả những sức mạnh hữu hình hay vô hình mà họ cho là có thể giúp đỡ họ hoặc làm hại đến họ như mây, mưa, sấm, sét, lửa, gió.. Trong bối cảnh tín ngưỡng đa thần này, Phật Giáo đã xuất hiện và nhanh chóng quá thân qua hình ảnh của bộ tượng Tứ Pháp ở chùa Dâu, ngôi chùa Phật Giáo đầu tiên của Việt Nam ở Luy Lâu (Hà Bắc ngày nay), đó là bộ tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điễn, một hình ảnh sống động và gần gũi với người dân nông thôn trong việc cầu xin phước lộc, cầu đảo, cầu siêu, cầu xin tất cả những gì mà cuộc sống con người đòi hỏi. Người Phật tử trong thời kỳ sơ khai này quan niệm rằng Phật là đấng cứu thế, có thể ban cho con người mọi điều tốt lành.

    Trong buổi đầu của Phật Giáo ở Việt Nam mang dáng dấp của Phật Giáo Tiểu Thừa và Mật Giáo, vì vậy đã dễ dàng gắn với phù chú, cầu xin phước lộc hơn là tôi luyện trí tuệ và thiền định. Vả lại, tính đời trội hơn tính đạo, trong quần chúng đa số là phụ nữ đến với Phật Giáo, đó là hạng người đau khổ nhất trong xã hội cũ.

    Đến thời nhà Lý, có nhiều thiền sư từ Trung Quốc sang và thiết lập nhiều thiền phái, phong trào học và tu phật phát triển mạnh ở trong giới trí thức, cung đình, đô thị, nhưng trong giới bình dân vẫn tồn tại nhất định một Phật Giáo dân gian

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 18

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    với những ảnh hưởng cảm tính vốn có từ trước. Được vua triều Lý, Trần ủng hộ, hoạt động của Phật Giáo có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm, làng nào cũng có chùa có tháp, người ta học chữ, học kinh, hội hè, biểu diễn rối nước, họp chợ ngay ở trước chùa

    Chùa làng đã từng một thời đóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã Việt Nam, chùa không những là nơi giảng đạo cầu kinh, thờ cúng Phật mà còn là nơi hội họp,. di dưỡng tinh thần, tham quan vãn cảnh. Bởi vì, kiến trúc của chùa Việt Nam thường hòa hợp với cảnh trí thiên nhiên, tạo thành một kiến trúc hài hòa với ngoại cảnh. Khung cảnh ấy phù hợp với những giờ phút nghỉ ngơi sau giờ lao động nhọc nhằn và dinh dưỡng tinh thần của tuổi già.

    Đến thế kỷ mười lăm, Nho Giáo thay chân Phật Giáo trong lãnh vực thượng tầng xã hội, Phật Giáo từ giã cung đình nhưng vẫn vững vàng trong làng xã. Ngôi đình xuất hiện tiếp thu một số kiến trúc và nghệ thuật Phật Giáo, đồng thời trở thành trung tâm hành chính của làng xã Cửa chùa chỉ còn mở cửa cho đàn bà, con gái kêu van,nguyện cầu khi chồng bị bắt phu, con bị bắt nợ, ốm đau bệnh tật, mất mùa đói rét.. xin Phật gia hộ. Bồ Tát Quan Âm hay Phật Bà được ưa chuộng hơn xưa. Nhờ vậy mà ngày nay chúng ta chiêm ngưỡng được pho tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt trong chùa Bút Tháp (tỉnh Hà Bắc) tạc vào năm 1656. Tượng rất đẹp nhưng được tạo vào thời điểm Phật Giáo không còn tôn sùng như quốc giáo nữa, chứng tỏ Phật Giáo đã ăn sâu vào tâm tư và văn hóa nghê thuật dân gian.

    Nhìn chung không khó khăn gì khi ta phăng tìm dấu ấn Phật Giáo trong quan niệm dân gian và ta có thể phát hiện rằng nếu không có sự hiện diện của Phật Giáo ở Việt Nam thì ta sẽ mất đi hơn một nữa di tích và danh lam thắng cảnh mà hiện nay ta tự hào, sẽ không có chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp sầm uất trong ngày trẩy hội đầu xuân, không có chùa Tây Phương vời vợi, không có chùa Yên Tử mây mù, không có chùa Keo bề thế, không có chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sông Hương.Và cũng không có những chuyện dân gian đầy tính nhân bản như truyện Từ

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 19

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Thức, truyện Tấm Cám, truyện Quan Âm Thị Kính, … Sẽ không có những lễ hội tưng bừng như hội Lim, hội Chùa Hương, … và trong tâm tư truyền thống cũng vắng tư tưởng bố thí vị tha, lòng hưởng thiện và niềm tin vững chắc vào một tương lai sáng sủa, vắng tinh thần lạc quan ngây thơ của người dân Việt.

    Quả thật vậy, Đạo Phật đã có mặt ảnh hưởng khắp mọi giai tầng trong ở xã hội Việt Nam, không những trong giới bình dân mà còn ở trong giới trí thức nữa.

    Phật Giáo thiền tông ở Việt Nam phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thức, cung đình từ đinh (968-980), tiền Lê (980-1009) đến thời Lý (1010-1225) đã mang được trong mình một tinh thần Việt Nam, đó là sự ra đời của một thiền phái mới, phái Thảo Đường do Lý Thánh Tông một vị vua anh kiệt đứng đầu. Nhưng thiền tông Việt Nam phát triển rực sáng nhất là ở giai đoạn nhà Trần (1226-1400) với những tư tưởng vừa thăng trầm vừa phóng k hóang của các thiền sư thời Trần đã được đúc kết trong các tác phẩm Khóa Hư Lục của Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đã làm cho bình diện học thuật Việt Nam lúc bấy giờ bổng bừng sáng hẳn lên. Đặc biệt sự xuất hiện thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do người Việt Nam sáng lập ra, thể hiện được đầy đủ mọi đặc trưng, độc đáo của người Việt và nó đã để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử văn hóa Việt Nam cho tới ngày nay.

    Phật Giáo không những ảnh hưởng trong đới sống của người bình dân và giới trí thức mà còn ảnh hưởng qua gốc độ nhân văn và xã hội.

    6.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua ngôn ngữ

    Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam ta thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùng đến kể cả những người ít học. Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này được phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo “tội nghiệp quá”. Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật Giáo. Theo Đạo Phật tội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 20

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    trước, dẫn tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước.

    Hoặc khi muốn diễn tả một vật gì đó quá nhiều, người ta dùng danh từ “hằng hà sa số”. Nếu hỏi hằng hà sa số là cái gì chắn chắn ít ai hiểu chính xác, họ chỉ biết đó là nói rất nhiều, bởi khi xưa Đức Phật thường thuyết pháp gần lưu vực sông Hằng (Gange) ở Ấn Độ, cho nên khi cần mô tả một con số rất nhiều, ngài thí dụ như số cát sông Hằng. Hoặc khi có những tiếng ồn náo, người ta bảo “om sòm bát nhã”, do khi đến chùa vào những ngày sám hối, chùa thưởng chuyển những hồi trống bát nhã, nhân đó mà phát sanh ra cụm từ trên. Lại có những người rày đây mai đó, ít khi dừng chân ở một chổ, khi người ta hỏi anh đi dâu mãi, họ trả lời tôi đi “ta bà thế giới”. Ta bà thế giới là thế giới của Đức Phật Thích Ca giáo hóa, theo thế giới quan của phật giáo thì thế giới ta bà to gấp mấy lần quả địa cầu này, hoặc khi các bà nẹ Việt Nam la mắng các con hay quậy phá, các bà nói: “chúng bay là đồ lục tặc”, tuy nhiên họ không biết từ lục tăc này phát xuất từ đâu? Đó là từ nhà phật, chỉ cho sáu thằng giặc: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp của ngoại cảnh luông luôn quấy nhiễu ta.

    Còn nghiều từ ngữ khác như từ bi, hỷ xã, giác ngộ, sám hối đã được người dân Việt Nam quen dùng như tiếng mẹ đẻ mà không chút ngượng ngập lạ lùng. Sự ảnh hưởng phật giáo không ngừng ở phạm vi từ ngữ mà nó còn lan rộng, ăn sâu vào những ca dao dân ca và thơ ca của người dân Việt Nam nữa.

    7.     Ảnh hưởng Phật giáo qua ca dao và thơ ca

    Ca dao dân ca là một thể loại văn vần truyền khẩu, dễ hiểu trong dân gian, được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Không ai biết rõ xuất xứ cũa những lời ca hát đó ở đâu, chỉ biết rằng nó thường được thể hiện dưới hình thức câu hát ru em, những câu hò đối đáp giữa các chàng trai cô gái tuổi đôi mươi hay để kết thúc mỗi

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 21

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    câu chuyện cổ tích mà các cụ già kể cho con cháu nghe mang tính chất khuyên răng dạy bảo. Ca dao dân ca phổ biến dưới dạng thơ lục bát bao gồm nhiều đề tài khác nhau, tư tưởng đạo lý của phật giáo cũng thường được ông cha ta đề cập đến trong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở, khuyên răng dạy bảo, với mục đích xây dựng một cuộc sống an vui phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam.

    8.     Ảnh hưởng Phật giáo qua các tác phẩm văn học

    Bên cạnh ca dao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà văn chúng ta cũng thấy có nhiều bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng nhiều hay ít của phật giáo. Ở đây chúng ta không đề cập đến dòng văn học chính thống của phật giáo, tức là tác phẩm do các thiền sư sáng tác trong quá trình tu tập của mình, mà chỉ nói đến các thơ văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của triết lý phật giáo mà thôi. Cái ảnh hưởng đó có ngay từ khi phật giáo du nhập vào nước Việt, nghĩa là khi chữ Hán còn thịnh hành, nhưng để thấy rõ ràng hơn, ta chỉ đề cập đến sự ảnh hưởng của phật giáo trong thơ văn từ khi người Việt Nam đã viết chữ Nôm, chữ Việt thành thạo nghĩa là bắt đầu thừ thế kỷ thứ 18 trở về sau.

    Tác phẩm chữ nôm nổi tiếng trong thế kỷ thứ mười tám là Cung Oán Ngâm Khúc của nhà thơ Việt Nam Nguyễn Gia thiều (1741-1798), tác phẩm viết bằng thơ nôm. Thể song thất lục bát, dài 356 câu, là khúc ngâm của người cung nữ bị vua ruồng bỏ, oán than về thân phận mình. Nội dung tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của phật giáo, nhất là triết lý ba pháp ấn Vô Thường, Khổ, Vô Ngã.

    Theo cái nhìn của phật giáo, khi mô tả nỗi khổ chúng sanh thường được dùng ẩn dụ như khỗ ải (bể khổ). Cái khổ ấy từ đâu mà có, vốn từ chỗ lầm chấp, vô minh của con người mà có, từ chỗ mê lầm ấy mà được hình dung bằng mê tân (bến mê), Như thế danh từ bể khổ của phật giáo đã giúp ông Nguyễn Gia Thiều diễn tả thấu đáo nỗi khổ đau của kiếp người, cái khổ đau ấy, cái vô thường ấy không những chi

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 22

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    phối ở con người mà còn ở cả cây cỏ, hoa, lá, thế giới vô tình, tất cả chịu chung qui luật khắc nghiệt ấy.

    Qua thế kỷ thứ mười chín, với thi hào Nguyễn Du (2765-1820) ta có được một án văn bất hủ là Truyện Kiều, là một truyện thơ nôm viết bằng thể lục bát dựa theo tác phẩm Kim Vân Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), gồm 3254 câu thơ. Đây là một truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo, trong đó ta thấy nổi bật nhất là thuyết về Khổ Đế, một phần quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế, kế đó là tinh thần về hiếu đạo và thuyết về nhân quả và nghiệp báo. Điều đó có lý, vì lẽ chính Nguyễn Du đã tự nhận mình là một phật tử và từng đọc Kinh Kim Cang Bát Nhã đến cả ngàn lần.

    Thật vậy, Đoạn Trường Tân Thanh dường như chỉ là để chứng minh cho triết lý nhân quả của Phật Giáo. Theo thuyết này, những điều họa phúc mà con người phải gánh chịu ở kiếp này điều có nghiệp nhân ở kiếp trước, khi mới sinh ra ở đời ta phải mang lấy cái nghiệp tức là cái kết quả của những vô minh ái dục mà ta đã gây tạo từ trước, và cuộc đời của chúng ta sẽ hạnh phúc hay đau khổ, tai họa hay may mắn đều tùy thuộc vào cái nghiệp thiện hay ác, tốt hay xấu, nặng hay nhẹ mà chính mình đã gây tạo.

    Trong đoạn trường tân thanh nàng Kiều phải mang một cái nghiệp rất nặng. Vì cái nghiệp ấy mà người con gái đầu xanh chưa tội tình gì mới bước chân vào cuộc đời đã gặp biết bao khổ lụy: cha và em trai bị tù tội, mối tình đầu tan vỡ, và bắt đầu từ đó nàng lăn lóc từ nơi này qua nơi khác, có khi tưởng ra khỏi vòng nhưng rồi lại bị lôi cuốn đày đọa, mãi cho đến khi tự vẫn ở sông Tiền Đường, Đạm Tiên mới cho biết rằng nàng đã qua khỏi bước đoạn trường và sắp được sống một cuộc đời vui tươi sáng lạn.

    Qua ý tưởng phước đức, duyên nghiệp trên của Đoạn Trường Tân Thanh ta thấy cụ Nguyễn Du rõ ràng đã chịu ảnh hưởng sâu xa của Phật Giáo. Nàng Kiều bao

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 23

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    nhiêu năm chìm nổi điêu đứng vì một chữ nghiệp, cứ mỗi lần thất bại là một lần ý nghĩa của chữ ấy càng rõ rệt thấm thía đối với thân phận của nàng. Sự tin tưởng của nàng cũng là sự tin tưởng của Nguyễn Du, người đã từng chịu đau khổ và bao phen thất bại nên thức tỉnh và tìm đường trở về vớí Chánh pháp.

    Nếu ở đãu thế kỷ thứ mười chín chúng ta có Nguyễn Du thì cuối thế kỷ thứ mười chín chúng ta có Mạnh Chu Trinh (1862-1905) một nhà thơ VN người làng Phú Thị, huyện K hóai Châu, tỉnh Hải Hưng, ông đậu tiến sĩ năm 1902. Là một người tài hoa về thơ, giỏi và thích kiến trúc, ông đã từng vẽ kiểu và trùng tu chùa Thiên Trù ở Hương Tích. Cũng trong thời gian (giữa những năm 1891-1892) xây dựng chùa này mà ông đã sáng tác nhiều bài thơ độc đáo về phong cảnh Hương Tích và tất nhiên thơ của ông cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh thần của Phật Giáo, chẳng hạn như bài:”Hương Sơn Phong Cảnh”.

    Thật vậy qua những bài thơ này, ta thấy thơ của Chu Mạnh Trinh đã phản chiếu được lòng tin của ông đối với giáo lý nhà Phật và qua cái nhìn ông một cảnh vật ở đó thật giải thoát, an lạc, thanh vắng, và có thể nói cảnh vật Hương Sơn với ông trở thành một cõi riêng của Phật trong đó không những người tín đồ mà cho đến cả chim, cá, khe, động đều thấm nhuần được ánh sáng của Chánh Pháp.

    Qua đầu thế kỷ thứ hai mươi, chúng ta có một nhà thơ đáng yêu, tuy không phải là tín đồ Phật Giáo, nhưng thỉnh thoảng văn thơ của ông cũng đã ảnh hưởng ít nhiều từ ngôn ngữ, tư

    Những chữ trời từ bi, chín từng trời, Đao Lợi, Đâu Suất, thành chánh quả..đều là danh từ của nhà Phật. Hay với J. Leiba một nhà thơ trẻ Việt Nam đầu thế kỷ thứ 20 cũng có những bài ảnh hưởng sâu đậm triết lý nhà Phật, có thể nói J. Leiba là nhà thơ trẻ nhất thời đó đã quay về với Đạo Phật để tìm lấy sự an lạc cho tâm hồn cho những ngày cuối đời mình:

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 24

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Và với Vũ Hoàng Chương (1916-1976) nhà thơ nổi danh khác của Việt nam lại đi xa hơn, mượn ngay những giáo lý của Phật như Nhân Quả, Luân Thường, khổ

    đau..để diễn tả nổi niềm khao khát vượt ra khỏi bờ mê, để đến bến giác.

    Điểm qua một số thơ văn Việt Nam có những ảnh hưởng của Phật Giáo như trên ta thấy tư tưởng, triết học Phật Giáo đã để lại dấu ấn của mình sâu đậm trên diễn đàn tư tưởng của Việt Nam. Không chỉ ảnh hưởng trên mặt văn chương xuất bản mà Phật Giáo còn có mặt trong nhiều phong tục tập quán ở Việt Nam.

    9.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua phong tục, tập quán

    Phong tục tập quán thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về văn hóa của mỗi dân tộc. Thông qua việc tìm hiểu phong tục tập quán, người ta tìm lại được những giá trị văn hóa mang bản chất truyền thống của các dân tộc. Đối với người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng phật giáo khá nhiều. Song ở đây người viết chỉ đề cập đến những tập tục phổ biến trong đời sống hằng ngày của người Việt.

    a.      Ảnh hưởng Phật giáo qua tập tục ăn chay, thờ phật, phóng sanh và bố thí

    Về ăn chay, hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa này. Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan niệm từ bi của phật giáo. Vì khi đã trở về với phật pháp, mỗi người phật tử phải thọ giới và trì giới, trong đó giới căn bản là không sát sanh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài. Trong hành động lời nói và ý nghĩa, người phật tử phải thể hiện lòng từ bi. Điều không thể có được khi con người còn ăn thịt, còn uống máu chúng sanh.

    Về mặt ăn uống, ăn chay rất phù hợp với phong cách ăn uống Á Đông, chú trọng ăn ngũ cốc nhiều hơn thực phẩm động vật, vả lại ăn chay giúp cho cơ thể được nhẹ nhàng, trí óc được minh mẫn sáng suốt. Gần đây các bác sĩ Soteylo, và bác sĩ Varia Kiplami cho biết trong các thứ thịt có nhiều chất độc, rất nguy hiểm cho sức

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 25

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    khoẻ con người. Và các nhà khoa học đều cho rằng ăn chay rất hợp vệ sinh và không kém phần bổ dưỡng. Trên tinh thần đó, nên nguời việt nam dù không phải là Phật Tử cũng thích ăn chay, và tập tục này đã ảnh hưởng sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội Việt Nam từ xưa đến nay.

    Ăn chay và thờ phật là việc đi đôi với nhau của người Việt Nam. Việc thờ phật trong dân gian cũng có nhiều điều thú vị. Người phật tử, người mộ đạo thờ phật đã đành, nhiều người không phải là phật tử cũng dùng tượng phật hay tranh ảnh có yếu tố phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí cho cảnh nhà thêm đẹp và trang nghiêm. Theo quan niệm của nhóm người này, phật giáo là một thành tựu về tư tưởng văn hóa của dân tộc và nhân loại.

    b.     Ảnh hưởng Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mùng một và lễ chùa

    Theo đúng truyền thống tập tục cúng rằm, mùng một là tập tục cúng sóc vọng, tức là ngày mặt trời mặt trăng thông suốt nhau, cho nên thần thánh, tổ tiên có thể liên lạc, thông thương với con người, sự cầu nguyện sẽ đạt tới sự cảm ứng với các cõi giới khác và sự cảm thông sẽ được thiết lập là ngày trong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi của mình, gọi là ngày Bố tát và ngày sám hối, người tín đồ về chùa để tham dự lễ sám hối, cầu nguyện bỏ ác làm lành và sửa đổi thân tâm. Quan niệm ngày sóc vọng là những ngày trưởng tịnh, sám hối, ăn chay là xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa. Ngoài việc đi chùa sám hối, ở nhà vào ngày rằm và mùng một, họ sắm đèn, nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo và tổ tiên Ông Bà, thể hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá cố và cụ thể hóa hành vi tu tâm dưỡng tánh của họ.

    c.      Ảnh hưởng Phật giáo qua nghi thức ma chay, cưới hỏi

    Đây cũng là sinh hoạt thường xảy ra trong đời sống người Việt. Về ma chay, theo phong tục của người Việt Nam và Trung Hoa trước đây rất là phiền phức và

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 26

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    hao tốn. Tuy nhiên nhờ có sự dẫn dắt của chư tăng thì tang lễ diễn ra đơn giản và trang nghiêm hơn.

    • những gia đình không theo Đạo Phật nhưng do người quá cố hoặc gia chủ mến chuộng Đạo Phật nên họ thỉnh chư tăng, ni đến tụng kinh cầu siêu cho hương linh và tổ chức tang lễ giống như những tín đồ theo Đạo Phật. Nhìn chung, tập tục ma chay tại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ những nghi thức của Phật giáo.

    Ngoài những phong tục của người Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo đã được kể trên, chúng ta còn thấy một số tập tục khác cũng tương đối phổ biến và có ít nhiều liên quan đến Phật giáo mà chúng ta phải ghi nhận.

    • Các phong tục tập quán khác: thủ tục đốt vàng mã, tập tục coi ngày giờ, tập tục cúng sao hạn, Tập tục xin xăm, bỏi quẻ.

     

    10.           Ảnh hưởng của Phật giáo qua các loại hình nghệ thuật

     

    a  Phật giáo thể hiện qua nghệ thuật sân khấu

     

    Nghệ thuật sân khấu cũng là một loại hình văn hóa, nhất là các chủng loại

    này thuộc về di sân mang tính bản sắc của văn hóa dân tộc song song với những phần đã nêu ra ở trên. Tính triết lý “nhân quả báo ứng” của Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong các bài ca tuồng, vở diễn phù hợp với đạo lý phương đông và nếp sống truyền thống của dân tộc.

    b. Ảnh hưởng Phật giáo qua nghệ thuật tạo hình

    • Về kiến trúc : Khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, cố nhiên đã đem theo các kiểu kiến trúc chùa tháp, lầu chuông gác trống theo mô hình kiến trúc của Ấn Độ, Miến Điện và Trung Hoa. Tuy nhiên theo thời gian, tinh thần khai phóng của Phật giáo phối hợp cung với lối tu duy tổng hợp của dân tộc Việt đã tạo ra một mô hình kiến trúc rất riêng cho Phật giáo ở Việt Nam. Chùa tháp ở Việt nam thường được

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 27

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    xây dựng với lối kiến trúc đặc biệt, mái chùa bao giờ cũng ẩn dấu sau lũy tre làng, dưới gốc cây đa hay ở một nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp hoặc thanh vắng. Theo Nguyễ Quân và Phan Cẩm Thương thì kiến trúc Chùa Tháp ở Việt Nam là “một quần thể kiến trúc có quy mô không lớn, tương xứng với tầm vóc con người, phân bố lớp kiến trúc theo một trục dọc kéo dài gây cảm giác đi sâu không cùng, đưa tự nhiên xen kẻ trong các thành phần, chú trọng cảnh quan sông nước, vườn chùa, làm cho công trình có tính chất cởi mở luôn lớn hơn khối thực thể của nó”.

    • Về điêu khắc: Ngày nay có dịp tham quan viện bảo tàng lớn ở Việt Nam, chúng ta sẽ thấy nhiều cốt tượng, phù điêu của Phật giáo được trưng bày, đó không những là một niềm tự hào của nền văn hóa dân tộc Việt mà còn là dấu vết chứng minh sự ảnh hưởng của Phật giáo có mặt trong lĩnh vực này.

    Và về hội họa: Mái chùa cổ kính giữa núi non tĩnh mịch hay các lễ hội viếng chùa ngày đầu xuân hoặc tư tưởng độc đáo của triết học, của thiền học Phật giáo luôn là đề tài gây nhiều cảm hứng cho các nghệ nhân và họa sĩ Việt Nam. Nhiều trang lụa, tranh màu nước, sơn dầu, sơn mài đề cập đến Phật giáo đã được các họa sĩ, nghệ nhân lên tuổi ở Việt Nam thể hiện một cách sống động và tinh tế qua các tác phẩm.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 28

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    KẾT LUẬN

    Qua việc nghiên cứu đề tài này chúng ta phần nào hiểu thêm được nguồn gốc ra đời của Phật giáo, hệ tư tưởng của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và người dân ta, đồng thời hiểu thêm về lịch sử nước ta. Đặc biệt đề tài này cho chúng ta thấy rõ vấn đề có ý nghĩa quan trọng, đó là vấn đề xây dựng hình thành nhân cách và tư duy con người Việt Nam trong tương lai với sự hỗ trợ của những giá trị đạo đức nhân văn của Phật giáo, cũng như một số tư tưởng tôn giáo khác.

    Dù còn những khuyết điểm, hạn chế song chúng ta không thể phủ nhận những giá trị đạo đức to lớn mà Phật giáo đã mang lại. Đặc trưng hướng nội của Phật giáo giúp con người tự suy ngẫm về bản thân, cân nhắc các hành động của mình để không gây ra đau khổ bất hạnh cho người khác. Nó giúp con người sống thân ái, yêu thương nhau, xã hội yên bình.

    Tuy nhiên, để giáo dục nhân cách đạo đức của thế hệ trẻ thì như thế vẫn chưa đủ. Bước sang thế kỷ XXI, chuẩn mực nhân cách mà một thanh niên cần có đòi hỏi phải hoàn thiện cả về mặt thể xác lẫn tinh thần, phải có đủ khả năng chinh phục cả thế giới khách quan lẫn thế giới nội tâm.

    Đạo đức thế kỷ XXI do vậy có thể khai thác sự đóng góp tích cực của Phật giáo để xây dựng đạo đức nhân văn toàn thiện hơn, tự giác cao hơn vì sang thế kỷ XXI, bên cạnh sự phát triển kỳ diệu của khoa học, những mâu thuẫn, chiến tranh giành quyền lực rất có thể sẽ nổ ra và dưới sự hậu thuẫn của khoa học, các loại vũ khí sẽ được chế tạo hiện đại, tàn nhẫn hơn, dễ dàng thoả mãn cái ác của vài cá nhân và nguy cơ gây ra sự huỷ diệt sẽ khủng khiếp hơn. Khi đó đòi hỏi con người phải có đạo đức, nhân cách cao hơn để nhận ra được cái ác dưới một lớp vỏ tinh vi hơn, “sạch sẽ” hơn.

    Như vậy trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật giáo luôn luôn tồn tại và gắn liền với cuộc sống của con người Việt Nam. Việc khai thác hạt nhân tích cực hợp lý của Đạo Phật nhằm xây dựng nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt là thế

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 29

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    hệ trẻ, là một mục tiêu chiến lược đòi hỏi sự kết hợp giáo dục tổng hợp của xã hội – gia đình – nhà trường – bản thân cá nhân, một sự kết hợp tự giác tích cực cả truyền thống và hiện đại.

    Chúng ta tin tưởng vào một thế hệ trẻ hôm nay và mai sau cường tráng về thể chất, phát triển về trí tuệ, phong phú về tinh thần, đạo đức tác phong trong sáng kế thừa truyền thống cha ông cũng như những giá trị nhân bản Phật giáo sẽ góp phần bảo vệ và xây dựng xã hội ngày càng ổn định, phát triển.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Giáo trình Đại cương lịch sử triết học – Nguyễn Ngọc Thu, Bùi Văn Mưa – Nhà xuất bản Tổng hợp TP HCM.

     

    • Văn hóa Việt Nam – Những điều cần học hỏi – Vũ Ngọc Khánh – Nhà xuất bản Văn Hóa – Thông Tin (Hà Nội-2001).

     

    • Tìm hiểu về văn hóa Việt Nam – Trần Ngọc Thêm-PGS-TS khoa học, Viện sĩ nước ngoài viện hàn lâm KHTH Nga – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh (2001).

     

    • Mạng Internet.

     

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 30


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH-V%E1%BB%80-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-V%C4%82N-H%C3%93A-%C4%90%E1%BA%A0O-%C4%90%E1%BB%A8C-V%C3%80-X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-CON-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-M%E1%BB%9AI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong cuộc sống hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đọ đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng. Bác nói rất nhiều về đạo đức, văn hóa cũng như về xây dựng con người trong thời chiến cũng như thời bình theo nhiều cách khác nhau. Những hành động cử chỉ của Bác, lời nói đã để lại nhiều bài học cho chúng ta học hỏi.

    Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với sự đào tạo, bồ i dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng cũ ng như những con người Việt Nam mới luôn là vấn đề thời sự, thể hiện tính cần thiết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đ ào sâu suy nghĩ, kiên trì phấn đấu và noi theo. Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, của hệ thống chính trị, nhằm góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

    Trong giai đoạn hiện nay, một phần cán bộ Đảng viên, các thanh thiếu niên đã sai lầm với những chuẩn mực đạo đức, v ăn hóa suy đoài gây tác hại không nhỏ đến người khác và sự vững chắc cũng nh ư làm lung lay long tin vào Đảng trong toàn th ể nhân dân. Vì vậy giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ và cán bộ Đảng viên đồng thời không ngừng nâng cao trình độ văn hóa không nằm ngoài mục đích xây dựng con người mới xã hội mới đưa đất nước đi lên dân giàu nước mạnh.

    • nghĩa của bài tiểu luận “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hóa đạo đức và xây dựng con người mới ” soi rõ con đường mà Đảng và nhân dân ta đã và đang đi, đề cao nhiệm vụ xây dựng đất nước, nâng cao tư duy lí luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng năng lực công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng đại của Đảng và nhà nước ta.

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    CHƯƠNG I : SƠ LƯỢC ĐỀ TÀI

    I.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

    Đạo đức là toàn bộ thiện, ác, lươ ng tâm, danh dự , hành động, trách nhiệm về lòng tự trọng v ề công bằng hạnh phúc, về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi giữa người với người, cá nhân và xã hội.

    Người là lãnh tụ bàn nhiều nhất về đạo đức, nhưng Người thực hành về đạo đức còn nhiều hơn những gì mà người nói, viết. Hồ Chí Minh xây dựng đạo đức cách mạng dựa trên hai nội dung :

    Một là xây dựng những chuẩn mực của nền đạo đức mới. Tổng hợp những chuẩn mực đó thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân, tập thể…

    Hai là xây dựng những nguyên tắc trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức mới.

    Hai nội dung này nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện, hướng tới các giá trị cao đẹp Chân – Thiện – Mỹ.

    I.1.2 Vai trò của đạo đức trong cách mạng nước ta

    Đạo đức là một ván đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh đối vớ i sự nghiệp CMVN, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu, phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.

    Đạo đứ c là cái gốc của cách mạng. Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống, Người nói :” cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi cách mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”

    Trong điều kiện Đảng cầm quy ền, Người trăn trở với nguy cơ xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của Đảng. Vì vậy Người yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Đạo đức trở thành nhân tố quy ết định sự thành bại của mọi công việc và là phẩm chất mỗi con người. Chính vì vậy, Hồ Chí Monh luôn coi trọng giáo d ục, rèn luyện đạo đức cho con người, trước hết là cho cán bộ đảng viên. Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗ i đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng , thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị v ật ch ất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời số ng tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội…

    Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà nhân văn chân chính, nhà văn hóa kiệt xuất ngay từ rất sớm đã nắm b ắt được quy luật hình thành, vận động và phát triển của một nền văn hóa. Trong nhận thức của Người, “Văn hóa Việt Nam ch ứa đựng sự kỳ diệu giữa cái ổn định và cái linh hoạt” bởi lẽ nền v ăn hóa này có sợi dây liên hệ b ền chặt với cuộc sống. Và, một trong những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người v ề văn hóa đó là “Văn hóa phải gắn liền với cuộc sống”. Tư tưởng cố t lõi này trở thành nội dung xuyên suốt được quán triệt sâu sắc góp phần mang lại nét độc đáo riêng có trong hầu hết các giá trị văn hóa mà Hồ Chí Minh để lại.

    Qua nghiên cứu nhận thức của Hồ Chí Minh về văn hóa, chúng ta nhận thấy Người đã xuất phát từ phạm trù “sinh tồn” để kiến giải phạm trù văn hóa.

    Người coi văn hóa là kết qu ả tổ ng hợ p của mọi phương thứ c sinh hoạt của loài người thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi củ a sự sinh tồn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, v ăn hóa là mộ t bộ phận hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Từ sự nhận thức đó, Hồ Chí Minh chỉ ra: kiến thiết xã hội phải có bốn lĩnh vực (kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội) cùng được coi trọng. Trong đó, văn hóa ở vào vị trí trung tâm, có vai trò đ iều tiết xã hội. Theo Người muốn xác định vai trò đó, mọi hoạt động văn hóa phải thực sự hòa quy ện, thâm nh ập vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của đông đảo quần chúng nhân dân với đầy đủ những mảng tối sáng đầy góc cạnh của nó làm đối tượng phản ánh và phục vụ. Quan trọng hơn, văn hóa phải “thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh của quần chúng” (Hồ Chí Minh toàn tập, Tr. 10, Tr. 59) góp phần “soi đường cho quốc dân đi”, tạo sức mạnh dời non lấp bể như gốc của cây, nguồn của sông. Theo lôgíc của lập luận này, Hồ Chí Minh khẳng định chính đời sống hiện thực là “kho tài nguyên vô tận” để khơi đậy những mạch nguồn sáng tạo. Nếu người cán bộ văn hóa xa rời cuộ c sống, đứng ngoài cuộc sống, không theo kịp mạch đập của cuộc sống tất sẽ phải đối diện với sự khô héo, cằn cỗi, nghèo nàn và nhàm chán trong chính sáng tạo của mình. Ngược lại, nếu biết bắt nhịp với cuộc sống đời thường vốn trần trụi, gai góc và đang hối hả trào tuôn thì khi đó văn hóa sẽ được sống bằng nguồn năng lượng vô cùng mà đời sống trao cho.

    G ắn v ăn hóa với đời sống, Hồ Chí Minh xác định cơ chế vận hành của nền văn hóa trên trục trung tâm là các hoạt động của con người. Từ chỗ đặt các vấn đề văn hóa củ a con người vào vị trí những dự kiến quan trọng nhất, Người cho rằng con người với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa – chủ thể cuộc sống, chủ thể của quá trình lao động sản xuất phải được bồi dưỡng, vun đắp.

    Thực chất của những tư tưởng này là, Hồ Chí Minh không chỉ coi trình độ, các giá trị nhân bản là “chất liệu”, là “sự nghiệp trăm năm của văn hóa”, mà văn hóa phải là

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 5 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    động lực cho sự phát triển. Vì vậy quan điểm này không chỉ có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng mộ t nền văn hóa thuộc về con người, quan trọng hơn còn chỉ ra cơ sở mang lại sức sống mãnh liệt cho văn hóa.

    I.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Con người

    Người quan niệm : con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh vô cùng rộng lớn, nhưng tựu chung lại vẫn là tình yêu thương con người. Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh đã trở thành lẽ sống của Người, yêu thương con người, vì con người và phục vụ con người.

    I.3.1 Nhận thức về con người

    Khác với một số quan niệm về nhân dân lao động và về con người,…. Hồ Chí

    Minh đề cập con người cụ thể, trong thời gian và không gian cụ thể, không có con người chung chung, trừu tượng phi nguồn gốc lịch sử hay hay con người kiểu tôn giáo. Hồ Chí Minh đã từng nói:” chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn… Ngh ĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộ ng hơn nữa là cả loài người”. Như vậy, quan niệm “bốn bề đều là anh em” rất rõ ràng, cụ th ể. Tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh là sự đồng cảm với những người cùng chung cảnh ngộ, của những người dân mất nước, nô lệ, lầm than. Trái tim Người hòa nhịp với khát vọng cháy bỏng đượ c giải phóng của các dân tộc bị áp bức. Người đau chung nổ i đau của nhân lo ại lầm than. Xuất phát từ tình yêu thương ấy mà Ng ười đã đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng khỏi áp bức, b ất công. “ Từ giải phóng những ngườ i nô lệ mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người” .Đó chính là mục tiêu mà Hồ Chủ tịch đã từng khẳng định trong lời ra mắt của báo “Người cùng khổ” (Le Pari) tại nước Pháp năm 1921

    Đứng trên lập trường giai cấp công nhân, từ khi về nước lãnh đạo nhân dân đấu trnh giành chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh lại dùng đến khái niệm “đồng bào”, “quốc dân”, “trí thức”, “lao động chân tay”, “lao động trí óc”, “người chủ xã hội” …

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 6 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    CHƯƠNG II. NỘI DUNG

    II.1 Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung

    Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đả ng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, “vă n hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đả ng ta mớ i thành lập và khi nhà nước cách mạng mớ i ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là n ền tảng tinh thần c ủa xã hội, “văn hóa soi đường cho qu ốc dân đi”. Có nghĩa, đạo đức chỉ là một b ộ phậ n của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là b ộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bở i lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của mộ t xã hộ i, người ta không thể không nói đến con người trong xã hộ i, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạ o đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được d ư luận xã hội th ừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội.

    Như v ậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất t ốt đẹp của con ng ười do tu dưỡng theo nhữ ng tiêu chu ẩn đó mà có. Trong các quan h ệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh …, đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức.

    II.2 Mối tương quan về Đạo đức và Văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh

    Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn

    xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về nh ững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không ph ải dưới góc độ nh ững ý kiến, những suy nghĩ riêng l ẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tứ c là nghiên cứu d ưới góc độ một họ c thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư t ưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đứ c là mộ t bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vờ i về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấ u cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

    Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chấ t cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan đi ểm của Người về đạo đức, nhữ ng quan đ iểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệ p củ a Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 7 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.

    Khái niệm đạ o đứ c, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mớ i, cao hơn nữ a là đạo đức cách mạ ng, đạo đức của cán bộ , đảng viên. Nh ững phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:

    Một là: Trung với nước, hiếu với dân, suốt đờ i phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắ ng. Không phải một lần mà rấ t nhiều lần, không phải đối với mộ t số đối tượng nhất định mà đối với rất nhi ều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.

    Hai là: Nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hạ i đến Đảng, đế n nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu c ực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậ y, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hi ểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực kh ổ khó kh ăn có gan chịu đự ng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình…

    Ba là: Cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, ngu ồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệ m là ti ết kiệm sức lao động, tiết kiệm th ời gian, tiết ki ệm tiền của của nhân dân, của n ước, củ a bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọ ng, gìn giữ c ủa công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đố i với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu ti ến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với ng ười thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việ c tư , việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 8 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Trung, hi ếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vố n có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời củ a ông cha ta, song đã được Chủ tị ch Hồ Chí Minh đổ i mới và phát triể n, th ậm chí có những khái niệ m đổi mới hẳn về nộ i dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ , nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩ m chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền v ăn hóa mớ i. Nó là sự kết hợp tinh thầ n cách mạng củ a giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.

    Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đứ c Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng h ơn, vượt qua khuôn khổ qu ốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”…

    II.3 Thực trạng về vấn đề đạo đức và văn hóa trong xã hội hiện nay.

    II.3.1 Đạo đức trong Đảng viên

    Trong cuộc sống hiện tại v ới nhiều áp lực chi phố i về tiền bạc, danh vọng, một số cán bộ Đảng viên đã đi sai với quy chuẩn đạo đức. Sự suy thói về đạo đức, lối sống dẫn đến tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên diễn ra rất nghiêm trọng.

    6 suy thoái về đạo đức cán bộ Đảng viên là :

    • Suy thoái về đạo đức, lối sống trong phần lớn cán bộ Đảng viên.
    • Trong nội bộ,phương thức hoạch định, tổ chức tham mưu… ngày càng tăng, trước kia là thâm hụt nhỏ, bớt xén. Nay là chia chát, đấu thầu……
    • Chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gi tăng.
    • Nói nhiều làm ít, nói mà không làm.
    • Quan liêu, xa dân, thích nghe thành tích, ngại nghe sự thật.
    • Tham nhũng, nhũng nhiễu dân gây hậu quả nặng nề trên nhiều mặt.

    Tóm lại, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, về ph ẩm chất đọ đức, lối sống dẫn đến tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phhi, sách nhiễu của mộ t bộ phận không nhỏ cán bộ công ch ức, Đảng viên diễn ra nghiêm trọng làm cho nhân dân bất bình, lo lắng, giảm lòng tin đối với Đảng, nhà nước, là nhân tố kiềm hãm bướ c tiến của công cuộc đổi mới và là nguy cơ, hiểm họa lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, chế độ ta.

    II.3.2 Đạo đức trong học sinh sinh viên

    Vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng, khi nh ững học sinh mầm non biết nói tục, chửi thề, bắt chước các hành vi “nhạy cảm” trong phim ảnh. Học sinh tiểu học xé bài trước mặt thầy cô khi bị điểm th ấp. Học sinh trung học vô lễ với thầy cô, sử điểm trong xổ liên lạc, đánh nhau xé quần áo. Sinh viên mua điểm, sao chép luận văn….

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 9 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Ngoài ra, thanh thiếu niên còn có biểu hiện sống hưởng thụ, coi nặng vật chất, tiêu sài hoang phí, lười lao động, sống ích kỉ….

    II.3.3 Đạo đức trong xã hội

    Hiện trạng đạo đức suy thoái gây nhức nhối cho xã hội, làm cho lòng dân không yên, xã hội tiềm ẩn những mất ổn định. An ninh xã hội và an toàn cuộc sống bị đe dọa.

    Nhữ ng biểu hiện đó chứng tỏ rằng, dù đã ra khỏi lạm phát và khủng ho ảng kinh tế từ năm 1996, nhưng giờ đây dường như cúng ta đang phải đối mặt v ới sự xuống cấp về đạo đức tinh thần xã hội, từ những đổ vỡ. phân rã trong gia đình (ly hôn và ly thân, xung độ t thế hệ) đến những giảm sút nghiêm trọng vai trò và ý nghĩa của đạo đức trong quan hệ con người ở các cơ quan, công sở, trong Đảng, chính quyền các tổ chức đoàn thể của hệ thống chính trị.

    Khi nói đến “văn hóa giao thông” hẳn ai cũng biết người tham gia giao thông phải tôn trọng trật tự và lu ật giao thông, cụ thể h ơn nữa là không vượt đèn đỏ, không đi ngược chiều,..v..v..Có th ể nói tình hình văn hóa giao thông hiện nay là kết quả cảu đạo đức xã hội và luật pháp bị coi thường, nghiêm trọng đến mức con người biết là đang làm điều sai điều xấu nhưng không còn biết xấu hổ với xung quanh, v ới chính mình. Khi lòng tự trọng bị mất đi thì văn hóa bệnh viện và tất cả các loại v ăn hóa khác cũng trở nên thiếu hụt. Chữa b ệnh và xây dựng văn hóa gaio thông phải chữa tử gốc, xây trên nền móng đạo đức xã hội với việc hình thành nhân cách và lối sống mới thành thói quen văn minh trong xã hội.

    II.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng đạo đức văn hóa và con người mới trong xã hội Việt Nam

    II.4.1 Xây dựng con người là chiến lược hàng đầu của Cách mạng

    Con ngườ i phải đượ c đặt vào v ị trí trung tâm của sự phát triển. Nó vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nướ c với nghĩa rộng, v ừa nằm trong chiến lược giáo dụ c – đào tạo theo nghĩa hẹp. Người khẳng định :Muốn xây dựng CNXH, trước hết cần có những con người XHCN. Hồ Chí Minh quan niệm “Vì lợi ích mườ i năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.” Để “trồng ngườ i”, có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục – đào tạo là biện pháp quan trọng b ậc nhất. Bở i vì giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đ em lại tương lai tươi sáng cho thế hệ trẻ. Ngược lại giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng x ấu đến thế hệ trẻ. Hồ Chí Minh nói vai trò của giáo dục: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu:dốt thì dại,dại thì hèn….Cho nên phải chống giặc dốt cũng như

    chống giặc đói, giặc ngoại xâm, giặc nội xâm. Muốn có cán bộ tốt, công dân tốt, phải “trồng” và dĩ nhiên là rất công phu. Chủ tịch Hồ Chí Minh ch ỉ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục v ới cách mạng giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước: “mu ốn giữ vững n ền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quy ền lợ i của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước.

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 10 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Vì thế, giáo d ục có tầm quan trọng hàng đầu trogn chiến lược con người, bởi giáo dục đào tạo nên chất người, nên nhân tài. Trong Nhật ký trong tù, Bác viết: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo d ục mà nên”. Chiến lượ c giáo dục là hạt nhân trong chiến lược con người, cung cấp trí thức mới, đào tạo nên nhân tài cho cho đất nước. Gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trương đầu tiên của n ước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945, Bác viết:”Ngày nay, các cháu đượ c cái may mắn h ơn cha anh là được hưởng một n ền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các cháu nên những ngườ i công dân có ích cho nước Việt Na, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu…Đó là một nền giáo dục “vì lợi ích trăm năm” của đất nước.

    Trong những năm vừa qua, một bộ ph ận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũ ng, lãng phí, có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đ áp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Đại hội X đã đề ra mục tiêu những năm tớ i của giáo dục và đào tạo là: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ ch ức, nội dung, phương pháp d ạy và học, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.

    Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ, phải đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. Hai mặt đức, tài thống nhất với nhau, không tách rời nhau, trong đó “đức” là gốc, là nền tảng cho tài năng phát triển. Phải kết hợp giữa nhận th ức và hành động, lời nói với việc làm… Có như vậy mớ i có thể “học để làm ngườ i”. “Trồng người” là công việc “trăm năm”, không th ể nóng vộ i “một sớ m một chiều”, không thể làm một lúc là xong, cũng không phải tùy tiện, đến đâu hay đến đó. Nhận thức và giải quyết vấn đề này có ý nghĩa thường trực, bền bỉ trong suố t cuộ c đời mỗi con người, trong suố t thời lì quá độ lên CNXH. Vì vậy không được coi nh ẹ, sao nhãng sự nghiệp giáo dục. Theo tinh thần V.I Lênin: “ Học học nữa, họ c mãi” và của Khổng Tử: “Họ c không biết chán, dạy không biết mỏi”, H ồ Chí Minh cho rằng: “việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải học”. Cả cuộc đời của chủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người H ồ Chủ tịch là sự thống nhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin, sự tôn trọng và ý chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

    II.4.2 Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (nă m 1991) của Đảng ta nêu rõ rằ ng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội

    • Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng
    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 11 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước…” và khẳng định rằng: “Đặt trọng tâm vào nhi ệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn th ể qu ần chúng và trong từng gia đình”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế , chính trị , xã hội và sinh hoạt của nhân dân”. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nướ c. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ ni ệm 75 năm Ngày thành l ập Đả ng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là “một tấm gương văn hóa trong xã hội”.

    Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng v ăn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước…

    Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dườ ng nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền v ăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh v ấn đề đạo đức: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ ph ải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cầ n, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Ph ải giữ gìn Đảng ta thật trong sạ ch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

    II.4.3 Liên hệ bản thân

    II..4.3.1 Thực hành tiết kiệm

    Là sinh viên, tôi luôn đảm bảo chi sài hợp lý, không dùng vào những việc vô ích. Không tiêu sài hoang phí, ăn chơi lêu lỏng.

    II.4.3.2 Về tham nhũng, lãng phí, quan liêu

    Tôi sẽ cùng mội người dân sống và làm việc theo pháp lu ật, lành mạnh, sống có trách nhiệm, không phung phí trong cuộc số ng hằng ngày, khi thấy người nào có tư tưởng quan liêu , sống lãng phí, bản thân phải cùng với nhân dân đóng góp ý kiến, giup nhau cùng sữa chữa với hướng tích cực, không lợi dụng để trù dập.

    II.4.3.3 Hướng phấn đấu

    Thường xuyên trao dồi, học tập và làm theo Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    Luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tập thể phấn đấu vì lợi ích chung, có lối sống lành mạnh, trong sáng, giản dị, không phô trương hình thức, nói

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 12 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    đi đôi với làm, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Luôn nâng cao trình độ, phấn đấu không ngừng

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 13 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    CHƯƠNG III KẾT LUẬN

    Cuộc đời của Ch ủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu của con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người Hồ Chí minh là sự thống nh ất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin,sự tôn trọng và y chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc,giải phóng xã hội,giải phóng con ngườ i.tính nhân văn cao cả trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đặt hạnh phúc nhân dân lên trên hết.ở Hồ Chí Minh nhân dân không phải là một khái niệm chung chung.,mơ hồ mà là cộng đồng việt naml là từng con người,từng cuộc đời ,từ ng hoàn cảnh cụ thể.cho đến lúc đi xa,người ch ỉ nghĩ đến sự đoàn kết toàn dân,sự phát triển và tiến bộ của đảng,củ a dân tộc;người vẫn dành muôn ngàn tình thương yêu cho mọi người.lời dạy của bác muôn vàng kính yêu cũng chính là tâm niệm của mỗ i thanh niên.đảng và nhà nướ c ta luôn dành sự quan tâm tin tưởng đặt biệt đối với thế hệ trẻ,đó chính là niềm cỗ vũ lớn lao,là lao động mạnh mẽ đê tuổi trẻ tự tin,vững bước./.

    Những lời dạy c ủa Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩ m chất trung vớ i Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ c ũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thứ c c ủa chúng ta về các lời dạy của Bác không đế n nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay đòi hỏi ph ải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đả ng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một că n bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể số ng củ a Đả ng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗ i cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 14 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1/ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – NXB LĐ Hà Nội 2005. 2/ Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh – Bộ giáo dục và đào tạo. 3/ Thư viện tài liệu (www.tailieu.vn) 4/ Báo điện tử (www.baomoi.com)

    5/ Báo Bình Định (www.baobinhdinh.com.vn )

    6/ Tạp chí cộng sản (www.tapchicongsan.org.vn )

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 15 –

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta

    Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta

    Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-Nh%E1%BB%AFng-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-nho-gi%C3%A1o-v%C3%A0-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-n%C3%B3-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Enghen đã khẳng định:

    “Không có cơ sở văn minh Hi Lạp và đế quốc La Mã thì tuyệt nhiên không có Châu Âu hiện đại”.

    Vậy học tập Enghen chúng ta có thể đặt vấn đề:

    “Nếu không có văn minh cổ đại Trung Quốc thì không có nước Việt Nam ngày nay”.

    Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Quốc thì quả là rộng lớn. Biết bao nhiêu hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay. Từ thuyết âm dương ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử, Lão tử… Thế nhưng trong các học thuyết ấy, không ai có thể chối cãi được rằng học thuyết Nho gia. Nhà người phát khởi phát là Khổng tử là có vị trí quan trọng hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung Quốc nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng. Kể từ lúc xuất hiện từ vài thế kỷ trước công nguyên cho đến thời nhà Hán (Hán Vũ Đế) Nho giáo đã chính thức trở thành hệ tư tưởng độc tôn và luôn luôn giữ vị trí đó cho đến ngày cuối cùng của chế độ phong kiến. Điều đó đã minh chứng rõ ràng: Nho giáo hẳn phải có những giá trị tích cực đặc biệt, nếu không sao nó có thể có sức sống mạnh mẽ đến như vậy.

    Từ đầu thế kỷ XX đến nay, rất nhiều người đã phê phán đạo Nho, tố cáo tính chất bảo thủ, phi khoa học của nó. Nhưng nếu lấy quan điểm lịch sử mà xem xét, ở thế kỷ XX rõ ràng Nho giáo là cổ hủ nhưng ở giai đoạn trước có vậy không.

    Vào thế kỷ X trên bán đảo Đông Dương có 3 vương quốc: Đại Việt, Cham Pa, Khmer, lực lượng ngang nhau. Dần dần Đại Việt chiếm ưu thế, vừa đủ sức chống lại phong kiến phương Bắc, vừa khai hoang Nam Tiến, át hẳn 2 vương quốc kia. Phải chăng đạo Nho đã đóng một vai nhất định trong sự hình thành tương quan lực lượng ấy. Phải chăng chúng ta đã du nhập đạo Nho của Trung Quốc rồi sau đó biến thành một công cụ chống laị. Biện chứng lịch sử là như thế. Nho giáo là công cụ để phong kiến phương Bắc dùng để lệ thuộc các dân tộc khác, nhưng vừa là công cụ giúp các dân tộc chống lại Trung Quốc.

    Chính vì ý nghĩa và vai trò to lớn của Nho giáo đối với tiến trình phát triển của Trung Quốc và Việt Nam nên em có hứng thú đặc biệt với đề tài “Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta”. Nội dung đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 2 phần:

    Phần I: Tiến trình phát triển của Nho giáo và một số nội dung chính của nó.

    Phần II: ảnh hưởng của Nho giáo tới đời sống văn hoá Việt Nam.

     

     

    Phần I

    VÀI NÉT VỀ TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG TÍCH CỰC CỦA NÓ.

    I. VÀI NÉT VỀ TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO.

    Nói đến Nho giáo thì việc đầu tiên không thể không nhắc tới: đó là Khổng Tử. Người ta bình luận khen tặng Khổng Tử ra sao đều không thể gọi là quá lời, trước đây hơn 2000 năm, đại sử học gia Tư Mã Thiên khi đi thăm Khúc Phụ quê hương của Khổng Tử từng cảm khái viết: “Khổng Tử áo vải, truyền hơn 10 đời, được các học trò coi là tổng sư, từ thiên tử, vương hầu đến thứ dân đều coi ông là bậc chí thánh”.

    Năm1982, một học giả Mỹ viết “Hành vi cao quý và tư tưởng lý luận đạo đức của Khổng Tử, không chỉ ảnh hưởng tới Trung Quốc mà còn ảnh hưởng tưói trần nhân loại” Khổng Tử là người nước Lỗ thời Xuân Thu tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Từ thiếu niên đến 30 tuổi, Khổng Tử chuyên cần học tập và tập luyện nắm vững các tri thức về lễ nghi, âm nhạc, xạ tiễn, ngự xạ, thư, số là sau ngành tri thức căn bản thời ấy. Sau đó ông đi giảng dạy bốn phương, nghiên cứu học vấn trong vài chục năm rồi san định, biên soạn các sách được đời sau gọi là lục kinh như Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu.

    Khổng Tử sống trong thời kỳ thay đổi lớn, biến động lớn. Từ lâu, thiên tử nhà Chu đã mất hết uy quyền, quyền lực rơi vào tay các vua chư hầu, cục thể xã hội biến chuyển thay đổi nhanh chóng, người ta mỗi người chọn cho mình những thái độ sống khác nhau. Là một triết nhân thái độ của Khổng Tử hết sức phức tạp, ông vừa hoài cổ, vừa sùng thượng đổi mới. Trong tâm trạng phân vân, dần dần ông hình thành tư tưởng lấy nhân nghĩa để giữ vững sự tồn tại chung và khai sáng hệ thống tư tưởng lớn nhất thời Tiên Tần là học phái Nho giáo tạo ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc.

    Hệ thống tư tưởng Nhân và Nghĩa của Khổng Tử, bất kể hàm nghĩa phong phú sức tạp đến đâu, nói cho cùng cũng chi và thiết lập một trật tự nghiêm cẩn của bậc đế vương và thành lập một xã hội hoàn thiện. Hệ thống tư tưởng của ông ảnh hưởng tới hơn 2500 năm lịch sử Trung Quốc.

    Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưng không được các quân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu học như Tử Cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân tử truyền bá rộng về sau. Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các sĩ đại phu triều Hán, Khổng tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chính thống. Đổng Trọng Thư đời Hán hấp thu nhân cách hoàn thiện và học thuyết nhân chính của Khổng Tử, phụ hội thêm Công Dương Xuân Thu lợi dụng âm dương bổ sung thay đổi lý luận trở thành học thuyết thiên nhân hợp nhất cùng với học thuyết chính trị của Tuân Tử, khoác tấm áo thần học cho Nho học.

    Từ đời Hán đến đời Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh truyện để lưu truyền. Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống nhất quốc gia, liền cho kinh học gia Khổng Dĩnh Đạt chú giải, hiệu đính lại năm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tà tuyên, Lễ ký thành bộ Ngũ kinh chính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó. Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng cho thi cử đời Đường. Khổng học càng được giai cấp thống trị tín nhiệm, Đường Thái Tông nói rất rõ “Nay trẫm yêu thích nhất là đạo của Nghiêu Thuấn và đạo của Chu Không coi như chim thêm cánh, như cá gặp nước, không thể không có được”. Từ đó, Khổng Tử với đế vương, với chính phủ các triều đại đều có quan hệ như Đường Thái Tông hình dung.

    Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt – thời kỳ nhà Tống, vị hoàng đế  khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tức chủ trì nghi lễ long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng thiếu đễ, vua còn thân chủ trì khoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học. Đối với Nho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học.

    Nội dung và kết cấu của Lý học hết sức rộng lớn, bắt đầu từ Hàn Dũ đời nhà Đường, trải qua nỗ lực của Tôn Phục, Thạch Giới, Hồ Viên, Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Thương Tái, Trình Di, Trình Hạo đời Bắc Tống cho đến Chu Hi đời Nam Tống là người tập đại thành hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Lý học. Lý học trình Chu nhấn mạnh Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín như lễ trời (thiên lý) dùng học thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc, hấp thu thêm các học thuyết tư tưởng của Phật giáo, Đại  giáo cung cấp sự nhu yếu cho xã hội quân chủ chuyên chế. Chu Hi tập chú giải thích các kinh điển Nho gia như Luận ngữ, Mạnh Tử trở thành những sách giáo khoa bắt buộc của sĩ tử trong xã hội phong kiến và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử của chính phủ. Điều ấy xem ra xa với chủ trương thiện lương, trí tuệ, ngoan cường của Khổng Tử ở thời Xuân Thu, góp phần tạo nên một hình ảnh Khổng Tử khác mang màu sắc vì yêu cầu giữ thiên lý mà diệt mất nhân đục, đạo mạo bàn xuông dẫn đến tiêu diệt cá tính, thậm chí hư ngụy, giả dối nữa.

    Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái Công học của Trần Lượng, Diệp Thích, phái Tâm học của Vương Dương Minh cũng đều tôn sùng Khổng Tử, hấp thu một phần tư tưởng cơ bản của ông. Những học thuyết này đều được lưu truyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc.

    Do vì Nho học được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đề xướng nên Nho học thuận lợi thẩm thấu trong mọi lĩnh vực trong mọi giai tầng xã hội, từ rất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán, trở thành tâm lý của cộng đồng dân tộc Trung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính.

    II. MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH CỦA NHO GIÁO

    Chúng ta tìm hiểu vì Nho giáo khi nó đã tồn tại hơn 2000 năm, luôn được cải biến được bổ sung và mang các bộ mặt khác nhau qua các thời kỳ. Nhiều học giả đã tốn rất nhiều giấy mực để sưu tâm, trích dẫn và bàn cãi chung quanh những câu chữ trong sách vở của Nho giáo từ trước tới nay. Việc làm ấy thường dẫn đến những nhận định chủ quan, giản đơn và phiến diện. Muốn khen hay chê người ta đều có thể trích dẫn những lời lẽ rất hấp dẫn từ trong kho sách của Nho giáo. Nhưng khi để ý rằng Khổng Tử – người sáng lập ra Nho giáo – khi đề ra những điều căn bản trong học thuyết của Nho giáo cũng đang ở tâm trạng phân vân, mâu thuẫn, vừa hoài cổ, vừa sùng thường, và bối cảnh xã hội lúc ấy cũng là lúc giằng co, giành giật giữa chế độ nô lệ và chế độ phong kiến. Sau này khi Nho học được cải biến để phục vụ ý đồ của giai cấp thống trị thì nó càng chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Vì thế không thể tìm hiểu Nho học theo lối trích dẫn, kinh viện vì nó chỉ càng dẫn ta vào ngõ cụt. Để tìm hiểu Nho học không thể không xem xét trên giác độ phương pháp duy vật lịch sử… Chúng ta không phân tích những sự kiện tư tưởng bằng bản thân tư tưởng mà phải tìm hiểu tư tưởng gắn liền với những điều kiện xã hội cụ thể trong đó nó đã nảy sinh, phát triển và suy tàn.

    Không thể có một thứ Nho giáo chung cho các thời đại, một thứ Nho giáo nhất thành, bất biến ở khắp mọi nơi.

    Khi Khổng Tử đề ra học thuyết của ông và đi chu du thiên hạ để mong được sử dụng thì ông đã thất bại. Điều đó không có nghĩa rằng xã hội Đông Chu đã xấu hơn xã hội thời Ngũ đế tam vương mà chỉ có nghĩa rằng những tư tưởng của ông muốn bảo vệ nền chuyên chính của quý tộc chủ nô không còn phù hợp nữa với xã hội và uy thế chính trị đang đang dần dần thuộc về tầng lớp địa chủ mới.

    Khi học thuyết của Khổng Tử được đặt lên vị trí độc tôn thì không có nghĩa rằng vua nhà Hán đã có đạo đức, nhân nghĩa hơn nhà Tần mà chỉ vì chế độ trung ương tập quyền của nhà Hán đang đòi hỏi một hệ tư tưởng thích hợp với nền kinh tế tiểu nông và bộ máy phong kiến quan liêu của nó.

    Khi Nho giáo đã mang hình thức duy tâm tư biên với Lý học đời Tống thì không phải lịch sử đã tạo ra mấy nhân vật “lỗi lạc” mà chỉ vì giai cấp phong kiến đã suy tàn đã cần thiết phải đổi mới các hệ tư tưởng cũng suy tàn như nó. Nho giáo lúc đó hầu như đã kiệt sức và được bổ sung bằng giáo lý của Phật, Lão.

    Hệ tư tưởng của Nho giáo trải qua hơn 2000 năm phát triển và biến đổi. Từ Tam đức của Khổng Tử, từ đoan của Mạnh Tử, ngũ thường ở Hán Nho, “Thiên nhân hợp nhất” ở Đống Trọng Thư, “Thái cực đồ thuyết” của Chu Đôn Di, Lý Khí ở Chu Hi… Tất cả đều xuất phát từ một gốc và khoác chung tấm áo Nho học. Như vậy hệ tư tưởng Nho giáo trải qua hơn 2000 năm là vô cùng phức tạp. Thế thì hệ tư tưởng Nho giáo là tư tưởng gì? và tại sao dưới những hình thức rất phức tạp, tương phản và mâu thuẫn, bao giờ tư tưởng Nho giáo cũng giữ địa vị thống trị.

    1. Tư tưởng Nho giáo là gì?

    Ở Trung Quốc xã hội phong kiến vẫn giữ lại rất nhiều di tích của xã hội thị tộc và xã hội nô lệ, biểu hiện trong pháp luật và phong tục dưới nhiều hình thức như quan niệm về sở hữu ruộng đất thuộc về quốc gia, quan niệm tôn pháp trong gia tộc, ở trong một xã hội như vậy thì vua là tổ của thị tộc, là cha của dân, mà cha là trời của con, chồng là trời của vợ. Để tồn tại trên cơ sở sản xuất đặc thù á Đông (phương thức sản xuất Châu á) giai cấp địa chủ thống trị cần phải  giữ những quan niệm ấy, do đó chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Chính là những khái niệm luân lý tuyệt đối trong xã hội phong kiến Trung Quốc. Trong hình thái ý thức phong kiến hệ giữa người với người chỉ được ghép vào 5 loại (ngũ luân), ấy là: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè. Trong 5 cặp ấy thì hai cặp anh em, bạn bè chỉ là nhành ngọn, mà 3 cặp kia mới là cội gốc. Những tính lớn của nhân loại, theo quan niệm phong kiến là nhân, nghĩa, lễ, trí (về sau có thêm chữ tín) cũng là phát sinh trên cơ sở của ngũ luân. Như Khổng Tử nói rằng hiếu đễ là gốc của chữ Nhân.

    1. Marx nói rằng tư tưởng của chế độ phong kiến thì lấy đạo đức, danh dự làm hình thái đại biểu. Nó không giống với tư tưởng của thời đại tư bản chủ nghĩa ở chỗ tư tưởng này lấy tự do bình đẳng làm hình thái đại biểu. Marx đã cho thấy rõ bản chất của tư tưởng phong kiến.

    Ở đây chữ đạo đức và danh dự cũng đồng nghĩa với chữ lý luận và danh phận trong Nho giáo mà tự do, bình đẳng là tư tưởng cá nhân của xã hội tư sản.

    Nho giáo là hình thái ý thức của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến ở Trung Quốc. Đối với nó thì ngũ luân, ngũ thường, hay tam cương ngũ thường là những cái tuyệt đối. Theo bộ sậu chính thường của tư tưởng đạo đức thì đạo đức quan phải diễn dịch từ vũ trụ quan, nhưng nho giáo thì làm ngược trở lại, nó xuất phát từ ngũ luân, ngũ thường rồi đem gán những cái ấy cho vũ trụ, cho thượng đế : nó đã luân lý hoá cả vũ trụ, cả thượng đế, vũ trụ và thượng đế của Nho giáo đều nhuốm màu luân lý. Đối với nho giáo thì luân lý cương thường là hằng tồn, là phổ biến. Nho giáo không có lịch sử quan, tiến hoá luận. Đối với nó xã hội phong kiến không phải chỉ là một giai đoạn trong lịch sử loài người, luân lý phong kiến không chỉ là một hình thái ý thức của giai đoạn ấy, như họ nói: “Quân thần chi nghĩa vô sở đào ư thiên địa chi gian”

    Hay là: “Thiên bất biến, đạo diệc bất biến” (Đổng Trọng Thư)

    Đạo ở đây tức là tam cương, ngũ thường.

    Nhưng qua các thời đại Nho giáo phải chống đỡ một cuộc đấu tranh lý luận đối với những hệ thống khác, như triết học của Mặc Tử, Lão Tử, biện chứng pháp của danh gia, xã hội học của pháp gia, hình nhi thượng của Hoa nghiêm tông, thiền tông… Thế mà tư tưởng của Khổng Tử thì rất là nghèo nàn, thiếu thốn về nhận thức luận, vì phương pháp luận, vì tự nhiên quan… Vì  vậy Nho gia đời sau cảm thấy phải xây đắp cho nó một cơ sở lý luận ít ra cũng “dễ coi”. Họ tìm được những yếu tố triết học trong Nho gia như sách Trung Dung, Đại học, Mạnh Tử, Kinh Dịch. Họ lại vay mượn thêm của các triết học và tôn giáo, khác những cái gì có thể dung hoá được, rồi mỗi người, mỗi phái xây dựng một học thuyết làm cơ sở lý luận cho Nho giáo. Do đó đã từng đã từng hiện ra cảnh tượng hỗn độn, phức tạp trong các chi phí như nói ở trên chi phái của Nho giáo có thể là nhất nguyên luận hay nhị nguyên luận, chủ quan luận hay khách quan luận, duy lý chủ nghĩa hay trực quan chủ nghĩa, đức trị chủ nghĩa hay công lợi chủ nghĩa… nhưng tất cả đều thống nhất trên quan điểm luân thường, cương thường. Về vũ trụ quan, thì Chu Hi là một nhà nhị nguyên luận. Hai yếu tố cấu thành vũ trụ là lý (quy luật) vũ khí (vật chất), biểu hiện trong con người thiên thành thiên lý và nhân dục. Nhưng thiên lý là gì? là tam cương ngũ thường.

    Cho nên, đúng như K. Marx nói, bản chất của tư tưởng phong kiến nói chung là đạo đức và danh dự mà bản chất của Nho học là luân lý, danh phận tức là tam cương, ngũ thường.

    2. Vấn đề tính luận trong Nho giáo.

    Tính luận là vấn đề trung tâm của Nho giáo. Đó là vấn đề tính người thiện hay ác thảo luận trên 2000 năm mà không có học giả nào tìm ra một giải pháp hoàn hảo. Chữ Nhân của Khổng Tử là một phạm trù rất mờ mịt tối tăm. Đến Mạnh Tử lại thêm chữ Nghĩa đặt ngang hàng đối với chữ Nhân, rồi lại thêm vào cặp Nhân, Nghĩa ấy chữ Lễ và chữ Trí mà còn gọi là Tứ đoan, tức là 4 cái mầm thiện trong con người… Như thế nội dung của chữ thiện trong Nho học là lễ nhân, nghĩa, lễ trí và thêm chữ tín của nhà Nho đời sau, gọi là ngũ thường. Ngũ thường có liên quan mật thiết với ngũ tín của nhà Nho đời sau, gọi là ngũ thường. Vậy ta có thêm bằng tam cương, ngũ luận, mà trọng tâm trong ngũ thường là tam cương, ngũ thường, là bản tính của con người, tức là nói tam cương, ngũ thường không phải riêng cho dân tộc nào, một giai đoạn lịch sử nào mà nó là phổ biến và hằng thường. Tính là do trời sinh. Trời sinh ra tính thiện, thì trời cũng là thiện, cũng là tam cương ngũ thường, cho nên tam cương ngũ thường là thường kinh (quy luật hằng thường) của trời đất, là thông nghị (định lý phổ biến) của cổ kin (Đổng Trọng Thư). Nhà Nho đã luân lý hoá vũ trụ và thượng đế như vậy, do đó phát sinh vấn đề gay go không thể giải quyết được. Làm sao mà chứng minh được bản chất của vũ trụ là cương thường. Vũ trụ nhân sinh đã là thiện thì ác ở đâu mà sinh ra, và làm sao giải thích được do lại của  tội ác trong xã hội loài người.

    Tuy vậy các chi phí của Nho gia vẫn cố gắng giải quyết vấn đề ấy. Mạnh Tử chủ trương tính thiện, Tuân Tử thì chủ trương tính ác. Dương Hùng thì chủ trương thiện ác lẫn lộn. Hàn Dũ chủ trương tính chia 3 bậc(thượng, trung , hạ).

    Trong phái “tính lý” đời Tống thì Liêm Khê nói rằng “tâm chia làm thế dụng và động tĩnh; thể của tâm là vô tư, dụng của tâm là tư thông (tư tưởng thông suốt); tĩnh là chì chính, động là minh đạt (sáng suốt)… Động mà chưa có hình ở chỗ hữu vô, gọi là cơ. Cơ có thiện ác “minh đạt” có thật là động không? Dẫu tĩnh hay động đều là chí minh đạt cả, làm sao nó lại là cái cơ của cái ác được? Để thuyết minh thiện ác, Trương tác phân biệt hai thứ tính: thiện địa tinh và khí chất tinh, ác, tập quán xấu ảnh hưởng đến khí chất tính mà sinh ra. Nhưng tập quán xấu phát sinh từ trong xã hội.

    Nếu bản tính của loài người là thiện thì sao có tập quán xấu được. Từ Trương Tái trở đi, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hi đều dùng nhị nguyên luận để thuyết minh thiện ác.

    Trình Hạo phân biệt Hính với khí bẩm: khí bẩm là cái động của tính. Vạn vật đều do khí bẩm cả nhưng phân lượng không giống nhau, có khi vừa phải có khi thái quá, có khí bất cập, thái quá và bất cập tức là cái ác. Trình Di thì cho rằng lý tức là tính, khi tức là tình. Tính là thiện nhưng khi nó phát ra hỉ, nộ, ai, lạc thì gọi là tình thì có khi thiện, thì có khi ác. Chi Hy cũng nối góc Y Xuyên mà cho rằng bản nhiên tính là thiên lý, mà tác dụng của tính là tình là khí. Thế nhưng họ đều không  thuyết minh được vì sao mà tính động và vì sao khí động mà sinh ra khác nhau.

    3. Thái độ của Nho giáo đối với cuộc sống.

    Trước hết phải nói Nho giáo làđạo quan tâm đến con người, đến cuộc đời và tìm thú vui trong cuộc sống. Khác với các tôn giáo ở chỗ đó. Phật giáo cho cuộc đời là bể khổ nên tìm cách giải thoát, cần sự “bất sinh”. Lão giáo cũng yếm thế, bi quan như vậy, nên cần sự “vô vi tịch mịch”. Chỉ có đạo Nho là trong sự sống hơn cả. Không cần phải hỏi ta sinh ra ở cõi đời để làm gì, chết rồi thì đi đâu, chết rồi có linh hồn nữa không “Người muốn biết người chết rồi có biết gì nữa không ư? Chuyện đó không phải là chuyện cần kíp bây giờ, rồi sau biết” (Khổng Tử gia ngữ). Cho nên Khổng Tử ít bàn đến chuyện quỷ thần, đến chuyện quái lạ, huyền bí. Làm người ở đời hãy lo lấy việc của con người. Chuyện của con người lúc sống còn chưa lo hết, lo gì đến việc sau khi chết! “Phải vụ lấy việc nghĩa của con người, còn quỷ thần kính mà xa ta” (Luận ngữ) khi khoa học chưa phát triển, các tôn giáo còn thịnh hành, những chuyện mê tín dị đoan còn huyền hoặc người ta gây bao nhiêu tai hại, thì thái độ “kinh nhi viễn chi” là đúng. Khổng Tử tuy chưa thoát ra được cái “thiện đạo quan” của đời Chu, nhưng ông đã bắt đầu hoài nghi quỷ thần, trời mặc dù ông vẫn trong việc tế trị. Nho học khuyên con người ta nên yêu đời, vui đời, sống có ích cho đời cho xã hội. Câu Khổng Tử trả lời Tử Lộ khi ông ta định sang giúp Phật Bật nêu rõ điều đó: “Ta đây há lại là quả dưa, chỉ được treo mà không được ăn hay sao” sống ở đời mà bỏ việc đời là trái đạo con người. Sống là hành động, đem tài trí giúp đời Khổng Tử chính là tấm gương cho các nhà Nho đời sau noi theo. Ông không tìm thú vui ở chỗ ẩn dật hay ở chỗ suy tưởng suông, mà ở chỗ hành động, hành đạo. Khổng Tử đi chu du thiên hạ ngoài mục đích tìm cách thực hiện lý tưởng của mình suốt 14  năm. Không ai dùng, trở về đã 70 tuổi ông vẫn dạy học, làm sạch, truyền bá tư tưởng của mình. Đây có thể nói là điểm sáng nhất của Nho giáo so với các học thuyết khác, và có lẽ chính nhờ nó mà Nho giáo giữ vị trí độc tôn và ưa chuộng trong thời gian rất dài của lịch sử.

    4. Quan niệm về đạo đức trong Nho giáo.

    Trong Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người. Phải nói đạo làm người của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xã hội phong kiến. Chúng ta đều biết trong xã hội có giai cấp thì những nguyên tắc để đánh giá hành vi của con ngươì, phẩm hạnh của con người trong mối quan hệ với người khác và trong mối quan hệ với nhà nước, Tổ quốc… đều mang tính giai cấp rõ rệt và có tính chất lịch sử. Những quan niệm về đạo đức điều thiện, điều ác “thay đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này đến thời đại khác đến nỗi thường thường trái ngược hẳn nhau” (Enghen).

    Những quan niệm đạo đức mà Khổng Tử đề ra không phải là vĩnh cửu, nhưng có nhiều phương châm xử thế, tiếp vật đã giúp ông sống giữa bầy lang sói mà vẫn giữ được tâm hồn cao thượng, nhân cách trong sáng. Suy đến cùng đạo làm người ấy bao gồm 2 chữ nhân nghĩa.

    Khổng Tử giảng chữ Nhân cho học trò không lúc nào giống lúc nào, nhưng xét cho kỹ, cốt tuỷ của chữ Nhân là lòng thương người và cũng chính là Khổng Tử nói “đối với người như đối với mình, không thi hành với người những điều mà bản thân không muốn ai thi hành với mình cả. Hơn nữa cái mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái gì mình muốn đạt tới thì cũng phải làm cho đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn mà không làm cho người xấu đi” (luận ngữ) “Nghĩa” là lẽ phải. đường hay, việc đúng. Mạnh Tử nói “nhân là lòng người, nghĩa là đường đi của người”; (Cáo Tử thượng) “Nhân là cái nhà của người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của người” (Lâu ly thượng); “ở với đạo nhân, nói theo đường nghĩa, tất cả mọi việc của đại nhân là thế đó” (Tồn tâm thương).

    Nghĩa thường đối  lập với lợi. Theo lợi có khi không làm cái việc phải làm nhưng trái lại, theo nghĩa có khi lại rất lợi. Có cái nghĩa đối với người xung quanh có cái nghĩa đối với quốc gia xã hội.

    Đến đời Hán Nho, Đổng Trọng Thư đưa nhân nghĩa vào ngũ thường. Tam cương ngũ thường trở thành giềng mối trụ cột của lễ giáo phong kiến. Sang Tống nho, hai chữ nhân nghĩa càng bị trìu tượng hoá. Các nhà Tống nho căn cứ vào thuyết “thiện nhân hợp nhất” khoác cho hai chữ “nhân nghĩa” một màu sắc thần lá siêu hình. Trời có “lý” người có “tính” bẩm thụ ở trời. Đức của trời có 4 điều: nguyên, hạnh, lợi, trinh; đức của người có nhân, nghĩa, lễ trí. Bốn đức của người tương cảm với 4 đức của trời.

    Hệ thống hoá lại một cách tóm tắt hai chữ “nhân nghĩa” ở một số thời điểm phát triển của Nho giáo như trên, ta có thể kết luận hai chữ “nhân nghĩa” của Nho giáo là khái niệm thuộc phạm trù đạo lý, nội dung từng thời kỳ có thêm bớt những căn bản vẫn là những lễ giáo phong kiến không ngoài mục đích duy nhất là ràng buộc con người vào khuôn khổ pháp lý Nho giáo phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến. Trong quá trình phát triển  càng  ngày nó càng bị trừu tượng hoá trên quan điểm siêu hình.

    Tuy nhiên quan niệm đạo đức của Nho giáo quả là có rất nhiều điểm tích cực. Một trong những đặc điểm đó là đặt rõ vấn đề người quân tử, tức là người lãnh đạo chính trị phải có đạo đức cao cả; dù nguyên tắc ấy không được thực hiện trong thực tế nó vẫn là một điểm làm chỗ dựa cho những sĩ phu đấu tranh. Nho giáo đã tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả với xã hội. Truyền thống hiếu học, truyền thống khí tiết của kẻ sĩ không thể bảo là di sản của Nho giáo chỉ có tiêu cực.

     

    Phần II

    ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TỚI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ VIỆT NAM

    I. QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA NHO HỌC VÀO VIỆT NAM.

    Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm lý luận hướng dẫn tư duy và hành động cho dân tộc mình là một chân lý phổ biến, là một sự thực khách quan của các thời đại, của các dân tộc.

    Thực tế này có căn cứ vững chắc trong sự phát triển. Đó là sự phát triển không đồng đều của các dân tộc qua không gian và thời gian. ở cùng một thời đại, ta thường thâý ở một vùng này, có một dân tộc hoặc một vài dân tộc khác cao hơn, nhanh hơn, mạnh hơn các dân tộc khác ở xung quanh. Sự thực này ta có thể tìm thấy ở Châu á, Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ, ở thời xưa cũng như thời nay. Những dân tộcc ở bất cứ đâu, bất cứ thời nào muốn sống, muốn nâng cao mức sống của mình không thể không học tập những dân tộc tiên tiến. Ta không hề thấy một dân tộc nào cứ chịu  lạc hậu, chịu áp bức bóc lột nghèo nàn để chờ sự sáng tạo của riêng mình không thèm học tập những dân tộc tiến bộ hơn mình. Điều này đúng với khoa học tự nhiên và kỹ thuật cũng như vưói khoa học xã hội. Vì thế chúng ta tiếp thu tư tưởng văn hoá Trung Quốc là một điều tất yếu.

    Trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán đưa vào nước ta từ thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo lâu bền nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Phật giáo dần dần rút lui vào chùa chiền, lão giáo cũng dần biến thành một thứ mê tín dị đoan mà các thầy phù thuỷ dùng làm kế sinh nhai. Tư tưởng trị vì trong lĩnh vực chính trị và học thuật suốt 2000 năm là tư tưởng Nho giáo. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân vô cùng quan trọng là sức sống của dân tộc. Trong hoàn cảnh thời trước, nhất là từ khi giành được nền tự chủ dân tộc Việt Nam muốn tồn tại thì phải chọn lấy một ý thức hệ tích cực, quan tâm đến con người đến cuộc đời, đến xã hội, đến vận mệnh dân tộc. Nho giáo có nhiều hạn chế nhưng trong 3 ý thức hệ phong kiến thì phải nói Nho giáo có nhiều nhân tố tích cực nhất. Do đó cha ông ta đã chọn lấy Nho giáo.

    Chúng ta đã biết, lúc đầu Nho giáo được đưa vào Việt Nam trong trường hợp không hay ho gì. Nó bị bọn xâm lược đặt lên nhân dân ta với ý định gây cảnh “đồng văn” để dễ “đồng hoá”. Nhưng khi đã làm quen với đạo Nho, chắc rằng nhân dân ta thời đó thấy nó đáp ứng được nhiều vấn đề mà đời sống đặt ra, nên khi giành được độc lập, nhân dân ta nói lấy nó làm nền tảng lý luận để chỉ đạo tư duy và hành động của mình. Thế là từ chỗ bị ép học nó, nhân dân ta đã tự nguyện học nó và ngày một phổ biến nó một cách rộng rãi. Vì thế những người Việt Nam đầu tiên được giữ những chức vụ quan trọng dưới thời Bắc thuộc như Lý Tiến, Lý Cầm – làm thái thú, thứ sứ – đều là những người học thông kinh truyện, xuất thân từ khoa bảng. Ngay khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, giành được độc lập đã xây dựng thể chế quốc gia, đặc các nghi lễ phẩm phục, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, tức là tinh thần tôn ti đẳng cấp. Các triều đại đầu tiên khi niên hiệu, tôn hiệu cũng đã thể hiện sự tin tưởng màu sắc là lý thuyết mệnh trời như “ứng thiên”, “thuận thiên” “Phụng thiên”. Phần “Chiếu dời đô” của nhà Lý tuy đoạn còn lại với chúng ta rất ngắn, cũng đượm mùi Nho giáo. Cái gương “nhà Thương, nhà Chu” cũng được nêu lên, cái gương “kính vâng mạng trời” cũng được nhấn mạnh. Các triều đại sau, Trần, Lê, Nguyễn thờ đạo Nho như thế nào thì sử sách đã nêu rõ.

    II. ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG TƯ TƯỞNG VIỆT NAM.

    1.Những nhu cầu xã hội giúp cho Nho giáo chiếm được địa vị độc tôn trong thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam.

    Nho giáo Việt Nam chiếm được vị trí độc tôn từ thế kỷ 15 và thịnh đạt nhất vào thời  Lê Thánh Tông thì đó không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Bởi vì nó có liên hệ với những nhu cầu xã hội nước ta lúc đương thời. Những nhu cầu này không chỉ tồn tại ở thế kỷ 15 mà đã sớm xuất hiện từ trước ngay khi Nho giáo còn đang trên đà phát triển.

    Trong những nhu cầu đó đáng kể trước hết là nhu cầu xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền lớn mạnh và nhu cầu củng cố trật tự đã ổn định của xã hội phong kiến.

    Ngay từ sau chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại ở thế kỷ X, việc xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đã tỏ ra cần thiết cho công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên dưới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê việc xây dựng một nhà nước chủ thế mới chỉ làm được những bước đầu tiên và chưa thực sự được đẩy mạnh, phải đợi đến thế kỷ XI với sự xác lập của vương triều Lý thì nhà nước phong kiến tập quyền mới được xây dựng một cách quy mô bề thế, với những tổ chức và thể chế trùng điệp của nó. Tiếp đó là triệu đại nhà Trần, rồi đến Lê Lợi khi đã lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi đều quan tam tới việc củng cố chế độ phong kiến tập quyền và xây dựng một bộ máy nhà nước trung ương hùng mạnh không kém gì phương Bắc.

    Nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam ra đời là một sự phủ định chính quyền của bọn phong kiến phương Bắc kéo dài trong 1000 năm Bắc thuộc. Thế cho nên khi xây dựng nhà nước tập quyền của mình, giai cấp phong kiến Việt Nam phải tiếp thu những kinh nghiệm và nguyên tắc tổ chức của nhà nước phong kiến  tập quyền phương Bắc cùng với Nho giáo là cơ sở lý luận của Nhà nước. Vả lại trong hoàn cảnh lịch sử bấy  giờ chỉ có Nho giáo mới có thể giải đáp được những vấn đề thiết thân đến việc củng cố nhà nước như vấn đề quân quyền, quy định các chương lễ chế và cơ cấu hành chính từ triều đình đến địa phương… Đó là những vấn đề mà bản thân phật giáo cũng như Lão giáo với toàn bộ hệ thống lý thuyết của nó không hề có một sự giải đáp thích đáng nào cả. Cho nên từ thế kỷ XV trở đi Nho giáo ngày càng được giai cấp phong kiến Việt Nam  trọng dụng thì đó cũng là điều dễ hiểu. Sự thực chứng tỏ rằng trong thời Lý, Trần, Nho giáo đã bắt đầu được vận dụng một cách rõ rệt vào hoạt động thực tiễn nhằm củng cố chính quyền nhà nước.

    Sau nữa, củng cố ở thời Lý, Trần và nhất là thời Lê sơ, tôn ti trật tự của chế độ phong kiến tập quyền cùng với sự phân biệt rạch ròi về quyền lợi và đẳng cấp của nó đã dần dần ổn định. Tình hình đó đòi hỏi phải có sự khẳng định về mặt lý luận. Vả lại vào cuối triều Lý và nhất là khi nhà Trần suy vong, mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và đa số nhân dân đã lộ rõ, mầm phản kháng của nhân dân chống lại cái trật tự khắc nghiệt của chế độ phong kiến đã trở thành một sự nổi bật hơn cả những cuộc hỗn chiến giữa các tập đoàn thống trị. Trong hoàn cảnh ấy giai cấp phong kiến Việt Nam muốn tăng cường bộ máy Nhà nước và duy trì trật tự xã hội thì không thể không tìm đến cái đạo trị quốc bình thiên hạ, cái lý thuyết chính danh định phận và lễ trị của Nho giáo.

    Quá trình phát triển của chế độ trung ương tập quyền Việt Nam gắn liền với sự củng cố quyền sở hữu của Nhà nước và sự bành trướng của sở hữu tư nhân về ruộng đất. Hầu hết ruộng đất dù là ruộng công của làng xã hay ruộng của địa chủ đều được sử dụng trong khuôn khổ sản xuất nhờ lấy gia đình làm đơn vị. Trong mỗi gia đình không những cơ quan hôn nhân, huyết thống mà còn có cả quan hệ sở hữu, phân phối sản phẩm, phân công lao động cho đến những quan hệ tinh thần. Tất cả những quan hệ ấy chứng tỏ vai trò của người gia trưởng và tôn ti trật tự của gia đình có một ý nghĩa rất lớn. Đó chính là cơ sở để Nho giáo dễ thâm nhập vào cuộc sống bởi vì Nho giáo với các khái niệm hiếu, đễ, tiết, hạnh đã góp phần củng cố uy quyền của người gia trưởng và tôn ti trật tự trong gia đình.

    Cuối cùng phải kể đến nhu cầu phát triển văn hoá và giáo dục nước ta khi chế độ phong kiến tập quyền đã bắt đầu, việc bổ sung quan lại bằng hai con đường “nhiệm tử” và “thủ sĩ” không đủ mà cần phải bổ sung một phương thức đào tạo và tuyển lựa quan lại mới. Phương thức này chỉ có thể phát triển giáo dục văn hoá và thực hiện chế độ thi cử để tuyển lựa nhân tài. Lúc đương thời Phật  giáo, Lão giáo không chỉ đảm nhiệm công việc đó. Cho nên Nho giáo vốn có đầy đủ lý thuyết và quy chế về giáo dục và khoa cử tất nhiên phải đảm đương nhiệm vụ lịch sử ấy.

    Tất nhiên những nhu cầu xã hội nói trên mới chỉ là những cơ sở khách quan cho sự phát triển Nho giáo ở nước ta mà thôi. Sự phát triển đó muốn trở thành hiện thực thì phải thông qua hoạt động của những con người cụ thể, những  lực lượng xã hội cụ thể. Trong thực tế từ vua cho đến các đại thần nắm quyền chính trị dưới càng triều Lý, Trần cũng như các thế hệ nho sĩ đời sau đều đã nhận thức được vai trò cần thiết của Nho giáo. Và đã tiến hành những bước truyền bá và sử dụng Nho giáo trong xã hội Việt Nam.

    2. Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam.

    Sự phát triển của Nho giáo Việt Nam không tách rời những yêu cầu xã hội như trên đã nói, choi nêdn trong buổi thịnh tự nhất, nó không khỏi có một số tác dụng tích cực.

    Trước hết là cương vị độc tôn, Nho giáo đã có thêm nhiều sức mạnh và uy thế tóp phần củng cố và  phát triển chế độ quân chủ và những kinh nghiệm mẫu mực cho việc chấn chỉnh và mở rộng nhà nước phong kiến tập quyền theo một quy mô hoàn chỉnh có đầy đủ những thể chế và điều phạm. Mà ở thế kỷ XV, các xu thế phát triển đó đã và đang giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trên các bình diện sản xuất và củng cố quốc phòng.

    Như đã biết, quá trình đi lên của Nho giáo Việt Nam không tách rời yêu cầu phát triển nền kinh tế tiểu nông gia trưởng dựa trên quyền sở hữu của giai cấp địa chủ của nhà nước và của một bộ phận nông dân trực tiếp tự canh về ruộng đất. Vì thế cho nên khi chiếm được vị trí chủ đạo trên vòm trời tư tưởng của chế độ phong kiến, Nho giáo càng có điều kiện xúc tiến sự phát triển này. Nó làm cho sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hoá được đẩy mạnh hơn trước.

    Đồng thời Nho giáo đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá tinh thần của xã hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV, trước hết nó làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ nhất là dưới triều Lê Thánh Tông. Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri thức đông đảo chưa từng thâý trong lịch sửd chế độ phong kiến Việt Nam. Do đó khoa học và văn học nghệ thuật phát triển.

    Hơn nữa sự thịnh trị của Nho giáo từ thế kỷ XV cũng là một hiện tượng góp phần thúc đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới. Là một học thuyết tích cực nhập thể, nó cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu vào tìm hiểu những quan hệ xã hội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và đạo đức. Do đó, nhận thức lý luận của dân tộc ta về các vấn đề ấy cũng được nâng cao hơn. Dựa vào lịch sử của Nho giáo, nhà vua và các nho sĩ giải thích các vấn đề ấy có lập luận và có lý lẽ đầy đủ hơn.

    Nhưng Nho giáo Việt Nam dù có lý do để tồn tại và phát triển thì cũng vẫn gắn liền với giai cấp phong kiến địa chủ trong nước và là công cụ thống trị và tư tưởng của giai cấp đó. Mà giai cấp địa chủ đó từ thế kỷ XV trở về trước tuy có một vai trò nhất định nhưng vẫn là một giai cấp bóc lột đối với nhân dân. Và bất cứ một giai cấp bóc lột nào ngay cả khi đang lên cũng mang theo những vết bùn nhơ và bàn tay vấy máu của những người lao động. Cho nên Nho giáo với tư cách là vũ khí của giai cấp phong kiến Việt Nam dù cho có không ít tích cực thì tác dụng tích cực đó cũng còn rất hạn chế. Thực ra ngay ở thời kỳ thịnh trị của nó, Nho giáo cũng đã có những mặt tiêu cực nghiêm trọng và chứa đựng khả năng suy yếu sau này của nó.

    Nho giáo ở Việt Nam khi chiếm ở vị trí độc tôn thì đã làm cho chủ nghĩa giáo điều và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư tưởng và trong địa hạt giáo dục khoa học. Các quan lại, sĩ phu, đều lấy thánh kinh, hiền truyện của Nho giáo làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi người suy nghĩ và hành động của mình, lấy cái xã hội thời Nghiêu Thuấn làm khuôn mẫu cho mọi tình trạng xã hội; lấy những sự tích và điều phạm trong kinh, thư, kinh xuân thu làm tiêu chuẩn để bình giá mọi sự việc. Bệnh giáo điều và khuôn sáo này đã ăn sâu vào trong lĩnh vực khoa học và nghệ thuật nhất là trong văn học và sử học khiến cho sự sáng tạo trong các lĩnh vực này bị dập vào những cái khuôn sẵn có. Đó là một tật bệnh đã được rèn đúc ngay từ khi người nho sĩ phải mài dũa văn chương để tiến vào con đường cử nghiệp.

    Sự thịnh trị của Nho giáo còn khuyến khích mọi người nhất là các phần tử tri thức đi sâu vào cải tạo “tu tề trị bình” vào việc học hành, thi đỗ, dương danh thiên hạ. Vì vậy mà trong thực tế, Nho giáo đã làm cho những người gia nhập tầng lớp Nho sĩ này xa rời sinh hoạt kinh tế và lĩnh vực sản xuất xã hội, nó chỉ biết đề cao đạo tư thân và đạo tự nước chứ không hề đếm xỉa đến các tri thức vè khoa học tự nhiên cũng như về các ngành sản xuất và lưu thông. Tính chất  tiêu cực ấy của Nho giáo càng về sau càng gây tác  hại không nhỏ trong việc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.

    Khi đã chiếm được địa vị  thống trị trên vũ đài tư tưởng, Nho giáo Việt Nam không tiếp tục đi sâu vào khám phá những  vấn đề bản chất của đời sống và của vũ trụ, vì mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác. Nó chỉ chú trọng đến những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế. Cho nên khi xã hội phong kiến rối loạn, vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con người được đặt ra thì Nho giáo trở thành bất lực. Nó không giải đáp được vấn đề ấy vì nó đã sớm bỏ con đường phát triển tư duy trừu tượng.

    Hơn nữa, một khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn thì lễ chế của nó đặc biệt phát triển mạnh. Khi đó nó bắt đầu đè nặng lên con người và bóp nghẹt nếp sống giản dị, những quan hệ xã hội trong sáng, những tình cảm tự nhiên và chân thực của suy sụp cùng với xã hội phong kiến thì nó trở nên phản động, cổ hủ và lạc hậu.

    Tóm lại bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, Nho giáo cũng đem lại không ít tác động tiêu cực mà cho đến nay nó vẫn còn là nhân tố kìm hãm sự phát triển văn hoá tại các vùng nông thôn Việt Nam.

     

    KẾT LUẬN

     

    Không ai chối cãi được rằng Khổng giáo hay Nho giáo đã tham gia một phần vào sự đúc nặn cái diện mạo tinh thần dân tộc và vào sự thành văn hoá dân tộc, cho nên chúng ta cần thiết phải nghiên cứu Nho giáo để xem nó ảnh hưởng đối việc văn hoá nước ta như thế nào.

    Từ Nho giáo chuyển sang chủ nghĩa Mác qua một cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và một biến chuyển về tư tưởng cơ bản, từ một hệ tư tưởng duy tâm lấy ý chí con người làm gốc sang chủ nghĩa duy vật với phương pháp khoa học, từ tưởng tôn ti trật tự gia trưởng sang dân chủ, từ dân tộc sang tư tưởng Mác xít phải đòi hỏi một quá trình dai dẳng. Tất nhiên rất nhiều điểm trong Nho giáo đã trở nên cổ hủ, lạc hậu, thậm chí là phản động đang kèm hãm quá trình phát triển của dân tộc ta nhất là tại các khu nông thôn. Nhưng chúng ta không hề hổ thẹn khi nói rằng chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội là kế tục truyền thống nhà nho xưa, và nếu ghét cay ghét đắng chế độ phong kiến khi đã thối nát thì cũng không thể không trân trọng đến kẻ sĩ đời trước, và khi đánh giá lại, nếu học thuyết tư tưởng ngày nay chúng ta hơn hẳn thế hệ cá sĩ phu thời trước, nhưng về nhân cách vẫn còn phải học nhiều phải chăng câu “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất của nhà Nho không còn giá trị hay sao?


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

    Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

    Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%A1i-%C4%91o%C3%A0n-k%E1%BA%BFt-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

    Mở đầu

    Ngày 14/5 cuộc hội thảo “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, xây dựng MTTQ Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh” khẳng định một trong những tài sản vô giá mà Bác Hồ để lại cho dân tộc và các thế hệ mai sau là tư tưởng Hồ Chí Minh gồm hệ thống những quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống tư tưởng ấy nổi bật lên quan điểm về đại đoàn kết toàn dân tộc và mặt trận dân tộc thống nhất. Nhiều tham luận, ý kiến đều ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, thể hiện sâu sắc nhất ở chỗ Bác đã nhìn nhận, đánh giá tất cả các dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam dù lớn hay nhỏ đều có truyền thống đoàn kết, yêu nước và tinh thần cách mạng như nhau. Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng đại đoàn kết của Người nhằm không ngừng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khối đại đoàn kết toàn dân trong MTTQ Việt Nam phải luôn được củng cố, phát triển sâu rộng và gắn kết chặt chẽ với tinh thần đoàn kết quốc tế.

    Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt, là chiến lược tập hợp lực lượng đấu tranh với kẻ thù dân tộc và giai cấp trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Người luôn luôn nhận thức đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng. Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng nhưng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân đông đảo, mà không phải là công việc của một số người, của riêng Đảng Cộng Sản. Đảng lãng đạo để nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ. Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạng của cả dân tộc, bằng đại đoàn kết dân tộc. Điều này đã được Hồ Chí Minh nói khá cặn kẽ, theo quan điểm của Người, đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng nhất bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công là một chiến lược, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.

    ĐĐK trở thành cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam, gắn với tên tuổi và sự nghiệp của HCM.

    I .Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

    1. Nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn người Việt Nam.

    Dân tộc ta hình thành, tồn tại và phát triển suốt bốn ngàn năm lịch sử, gắn liền với yếu tố cố kết cộng đồng dựng nước và giữ nước.

    Để tồn tại và phát triển, dân ta phải chống thiên tai, thường xuyên và liên tục, trị thủy các con sông lớn, cải tạo xây dựng đồng ruộng, trồng lúa nước

    Văn minh nông nghiệp trồng lúa nước chính là văn hóa tạo ra sự cấu kết cộng đồng của những người cùng sống trên một dải đất, có chung một kiểu sinh hoạt kinh tế, cùng một tâm lý. Nghĩa là cố kết thành dân tộc.

    Mặt khác, dân ta phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại bang hung bạo. Để chiến thắng dân ta phải xiết chặt muôn người như một, chống xâm lược tạo nên truyền thống đoàn kết quý báo của dân tộc.

    Yêu nước, nhân nghĩa, trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với XH, lấy dân làm gốc, coi trọng lòng khoan dung độ lượng, hòa hiếu, không gây thù oán, cố kết cộng đồng đã trở thành tình cảm tự nhiên của mỗi con người Việt Nam.

    Chủ nghĩa yêu nước cố kết cộng đồng và triết lý nhân sinh, được khái quát thành tư duy chính trị, phép ứng xử của con người trong tình làng nghĩa nước: “ Nước mất thì nhà tan, giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh.”

    Bác tổng kết: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước. . .”

    2. HCM kế thừa tư tưởng đoàn kết trong kho tàng văn hóa nhân loại

    Bác gạn đục khơi trong, tiếp thu tư tưởng đại đồng, nhân ái, thương người như thương mình, nhân, nghĩa, trong học thuyết Nho giáo.

    Tiếp thu tư tưởng lục hòa, cư xử hòa hợp giữa người với người, cá nhân với cộng đồng, con người với môi trường tự nhiên của phật giáo ( năm điều cấm: nói dối, sát sinh, tà dâm, uống rượu, trộm cướp).

    Tiếp thu tư tưởng đoàn kết của Tôn Trung Sơn, nhất là Chủ nghĩa Tam dân, chủ trương đoàn kết 400 dòng học người TQ, không phân biệt giàu nghèo, chống thực dân Anh, chủ trương liên Nga, dung Cộng, ủng hộ công nông.

    3. Sự tổng kết những kinh nghiệm thực tế của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

    Người thấy các phong trào chống Pháp của dân ta tuy rầm rộ nhưng đều thất bại, do không quy tụ được sức mạnh của cả dân tộc. . . Người thấy được những hạn chế trong việc tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối. (Phan Bôi Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học. . . đều yêu nước thương dân, nhưng về tập hợp lực lượng thì các bậc tiền bối này đều có vấn đề, cho nên tập hợp không được rộng rãi, không đầy đủ, cho nên không thể chiến thắng kẽ thù). Ví dụ như cụ Phan Bội Châu chủ trương tập hợp 10 hạng người chống pháp: Phú Hào, Quý Tộc, Nhi nữ, Anh sĩ, Du đồ, Hôi đảng, Thông ngôn, Kí lục, Bồi bếp, Tín đồ thiên chúa giáo nhưng thiếu Công nhân, Nông dân.

    Đi khắp các thuộc địa và CNĐQ, nhưng chưa thấy dân tộc nào làm CM giải phóng thành công, do thiếu sự lãnh đạo đúng đắn, chưa biết tổ chức đoàn kết lực lượng.

    Nghiên cứu CM tháng 10, người thấy nổi bật bài học về đoàn kết tập hợp lực lượng công nông để làm CM giành chính quyền và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, đánh tan sự tấn công của 14 nước đế quốc và bọn Bạch Vệ, xây dựng đất nước theo con đường XHCN.

    4. Tiếp thu quan điểm CN Mác-Lê Nin về đoàn kết lực lượng trong CM XHCN

    CN MÁC – LÊ NIN phát hiện ra quy luật XH là sản xuất vật chất, nhờ đó phát hiện ra vai trò quyết định sự phát triển xã hội của quần chúng nhân dân.

    Sự vận động của XH luôn gắn với một giai cấp nhất định mà giai cấp đó đứng ở một trung tâm của thời đại. Thời đại ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp đứng ở trung tâm thời đại mới, có lợi ích phù hợp với lợi ích của nông dân và các giai tầng lao động khác, vì thế giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, tổ chức đoàn kết mọi giai tầng XH, đoàn kết cả dân tộc, cả quốc tế, các dân tộc bị áp bức để thủ tiêu CNTB, xây dựng CNXH, CNCS.

    Để đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng, trước hết phải thiết lập liên minh công nông, lấy đó làm nòng cốt, sau đó sẽ đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng bên trong và bên ngoài.

    Bác viết: Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể, là tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết, tập hợp các lực lượng cách mạng trên thế giới vào cuộc đấu tranh chống CNĐQ.

    5. Yếu tố chủ quan của HCM

    Là người có lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, trọng dân, tin dân, kính dân, hiểu dân, trên cơ sở nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý. Người luôn chủ trương thực hiện dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ. Vì vậy người được dân yêu, dân tin, dân kính phục. Đó chính là cơ sở của mọi tư tưởng sáng tạo của HCM, trong đó có tư tưởng ĐĐK của Người.

    2. Những nội dung cơ bản tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh.

    Một là, Đảng Cộng sản có vai trò to lớn trong khối đại đoàn kết dân tộc.

    Là tổ chức chính trị to lớn nhất, cách mạng nhất, Đảng lãnh đạo xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất đồng thời cũng là một thành viên của Mặt trận. Đảng lãnh đạo Mặt trận trước hết bằng việc xác định chính sách Mặt trận đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta có chính sách Mặt trận dân tộc đúng đắn, cho nên đã phát huy được truyền thống đoàn kết và yêu nước rất vẻ vang của dân tộc ta”.

    Từ khi Đảng ra đời, đoàn kết theo TTHCM thực sự là bộ phận hữu cơ trong đường lối CM của đảng, chỉ có đoàn kết mới có sức mạnh đưa CM tới thành công.

    CM là cuộc chiến đấu khổng lồ, không tập hợp được rộng rãi lực lượng quần chúng thì sẽ không thể thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân thực hiện âm mưu chia để trị, vậy ta phải đoàn kết muôn người như một, phải thực hiện chữ “đồng” thì mới thành công.

    Hai là, phát huy vai trò của Nhà nước với đoàn kết toàn dân tộc.

    Ba là, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất.

    Mặt trận là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi người dân nước Việt trong nước và ngoài nước phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân.

    3. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

    3.1  Đại đoàn kết là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng

    – Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người có ý nghĩa chiến lược. Đó là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.

    – Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp lực lượng dân tộc. Tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được nhằm hình thành sức mạnh to lớn của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù.

    – Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của cách mạng. Tuy nhiên trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp với những đối tượng khác nhau

    Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn mọi người phải khắc phục đoàn kết xuôi chiều, hình thức, đoàn kết thiếu đấu tranh với những mặt chưa tốt. Người viết: “Đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”. Người cổ vũ mọi người vào Mặt trận Việt Minh: Dân ta phải nhớ chữ đồng: “đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

    2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.

    + Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc được quán triệt trong mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng.

    + Đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân. Trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, Đảng có nhiệm vụ thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng đấu tranh một cách tự giác, có tổ chức thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người .

    Như vậy, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp lực lượng cách mạng, mà đó là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Vì vấn đề cơ bản của cách mạng suy cho cùng là phải có bộ tham mưu đưa ra đường lối tập hợp sức mạnh toàn dân đánh giặc. Vấn đề đại đoàn kết dân tộc phải xuất phát từ đòi hỏi khách quan của cách mạng do quần chúng tiến hành. Đại đoàn kết dân tộc là một chính sách chứ không thể là một thủ đoạn chính trị. Đảng phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch của cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng yêu nước phải thể hiện ở thương dân, không thương dân thì không có tinh thần yêu nước

    3. Đại đoàn kết là đại đoàn kết toàn dân:

    Khái niệm “dân” của HCM: “Dân” theo HCM là đồng bào, là anh em một nhà. Dân là không phân biệt già trẻ, trai gái, giàu, nghèo. Dân là toàn dân, toàn thể dân tộc Việt Nam, bao gồm dân tộc đa số, thiểu số, có đạo, không có đạo, tất cả những người sống trên dải đất này. Như vậy dân theo HCM có biên độ rất rộng, vừa được hiểu là mỗi cá nhân, vừa được hiểu là toàn thể đồng bào, nhưng dân không phải là khối đồng nhất, mà là một cộng đồng gồm nhiều giai tầng, dân tộc có lợi ích chung và riêng, có vai trò và thái độ khác nhau đối với sự pháp triển XH. Nắm vững quan điểm giai cấp của Mác-Lênin, HCM chỉ ra giai cấp công nhân, nông dân là những giai cấp cơ bản, vừa là lực lượng đông đảo nhất, vừa là những người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là gốc của CM.

    Vai trò của dân: HCM chỉ rõ dân là gốc của CM, là nền tảng của đất nước, là chủ thể của ĐĐK, là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của CM.

    Phương châm: ĐĐK theo HCM là ai có tài, có đức, có lòng phụng sự tổ quốc và nhân dân, thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì ta thật thà đoàn kết với họ.

    • Ba nguyên tắc đoàn kết:

    + Muốn đoàn kết thì phải hiểu dân, tin dân, dựa vào dân, tránh phân biệt giai cấp đơn thuần, cứng nhắc, không nên phân biệt tôn giáo, dân tộc, cần xóa bỏ thành kiến, cần thật thà đoàn kết rộng rải. Người thường nói: Năm ngón tay có ngón vắn ngón dài, nhưng vắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy mươi triệu người cũng có người thế này người thế khác, dù thế này, thế khác cũng đều là dòng dõi của tổ tiên ta.

    + Muốn ĐĐK phải khai thác yếu tố tương đồng, hạn chế những điểm khác biệt giữa các giai tầng dân tộc, TG. . . Theo HCM, đã là người Việt nam (trừ Việt gian bán nước) điều có những điểm chung: Tổ tiên chung, nòi giống chung, kẻ thù chung là CN thực dân, nguyện vọng chung là độc lập, tự do, hòa bình thống nhất. . . . giai cấp và dân tộc là một thể thống nhất, giai cấp nằm trong dân tộc và phải gắn bó với dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân là giải phóng cho cả dân tộc.

    + Phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi giai tầng XH, nhưng phải đoàn kết với đại đa số người dân lao động (CN, ND, Tri thức, các tầng lớp lao động khác . . .), Người chỉ rõ: “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất”.Về sau Người có nêu thêm: lấy liên minh công nông –lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân. Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc .

    4. Đại đoàn kết phải có tổ chức, có lãnh đạo

    Đoàn kết là vấn đề chiến lược, sống còn, không phải là tập hợp ngẫu nhiên, cảm tính, tự phát, mà được xây dựng trên một cơ sở lý luận khoa học. Do đó phải có tổ chức, lãnh đạo để hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Cả dân tộc, toàn dân chỉ trở thành lực lượng to lớn, sức mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, và được tổ chức thành một khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Nếu không thế thì quần chúng dù đông nhưng cũng chỉ là số đông không có sức mạnh. Thất bại của các phong trào yêu nước trước kia đã chứng minh rất rõ vấn đề này.

    Sau khi tìm ra con đường cứu nước, HCM luôn quan tâm tới việc hình thành các tổ chức để tập hợp mọi lực lượng, giai tầng cho phù hợp với yêu cầu của CM, trong đó Mặt trận Dân tộc Thống nhất là tổ chức rộng rãi nhất. Theo Hồ Chí Minh, Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông (sau đó là liên minh công- nông- lao động trí óc), dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Mặt khác Người nêu rõ: “Đoàn kết phải gắn với đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết”.Tự nâng cao tinh thần phê bình và tự phê bình để biểu dương mặt tốt, khắc phục mặt chưa tốt để củng cố đoàn kết nội bộ.

    Đại đoàn kết phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khối đại đoàn kết dân tộc phải được giác ngộ về mục tiêu, tổ chức thành khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Và đưa quần chúng vào tổ chức phù hợp với từng giai tầng, từng lứa tuổi, giới tính, ngành nghề, tôn giáo, phù hợp với từng bước phát triển của phong trào cách mạng. Ví dụ có hội hữu ái, hội công, hội nông, hội phụ nữ,…Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi qui tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước. Trong từng thời kỳ mặt trận có tên gọi khác nhau nhưng đó phải là mặt trận chính trị rộng rãi tập hợp đông đảo các lực lượng phấn đấu vì hoà bình, vì mục tiêu của dân tộc. Đây là điểm khác nhau về cơ bản so với mọi phong trào chống pháp trước đây.

    Đảng là thành viên của mặt trận, nhưng là lưc lượng lãnh đạo Mặt trận, là linh hồn khối ĐĐK, Đảng là đảng giai cấp CN VN, vừa là đảng của nhân dân lao động và của dân tộc VN.

    Đảng vừa là đạo đức, vừa là văn minh, Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc.

    Đảng phải là bộ phận trung thành nhất, có năng lực lãnh đạo, có đường lối đúng mới xứng đáng địa vị lãnh đạo mặt trận. Đảng cần tuyên truyền giáo dục, nêu gương, lấy lòng chân thành để cảm hóa, khêu gợi tinh thần tự giác, có thái độ tôn trọng các tổ chức đoàn thể mặt trận, biết lắng nghe người ngoài Đảng. Trong Đảng phải xiết chặt đoàn kết, Đảng viên phải biết giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình

    5. Đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế:

    Đại đoàn kết dân tộc phải đi đến đại đoàn kết quốc tế và là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế. Ngược lại, đại đoàn kết quốc tế là một nhân tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Tư tưởng ĐĐK không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời, không phải là sách lược mà là vấn đề mang tính chiến lược. Người xác định “đoàn kết là lẽ sinh tồn dân tộc ta, lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do, trái lại thì nước ta bị xâm lấn. Đoàn kết trên lập trường giai cấp CN nghĩa là bao hàm cả đoàn kết quốc tế, tạo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

    CM giải phóng dân tộc và CM XHCN ở nước ta muốn thành công đòi hỏi phải đoàn kết quốc tế để tạo sức mạnh đồng bộ và tổng hợp. Thực hiện đoàn kết quốc tế, HCM quan tâm đoàn kết cách mạng nước ta với các phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, với các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới, các phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ tiến bộ. Người đặc biệt chú trọng xây dựng khối đoàn kết 3 nước đông dương, mặt trận VN –LÀO –CPC, mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với VN.

    II. Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam:

    Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh đã giương cao ngọn cờ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chiến lược đại đoàn kết dân tộc để đẩy mạnh cuộc cách mạng ở miền Nam, thống nhất đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra đời, kế tục sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Liên Việt.

    Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã được thành lập nhằm tạo điều kiện để mở rộng khối đoàn kết dân tộc dưới ngọn cờ của Mặt trận. Đầu năm 1968, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam ra đời. Đây là một tổ chức thích hợp để thu hút các tầng lớp trung gian và thượng lưu ở thành thị miền Nam vào khối đại đoàn kết dân tộc chống Mỹ cứu nước.

    Để thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, trước hết phải có cương lĩnh đúng đắn phù hợp với thực tiễn của đất nước qua các thời kỳ cách mạng khác nhau. Ngay từ ngày đầu mới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, được hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 thông qua, trong đó đã nêu cao khẩu hiệu “Việt Nam độc lập”, Việt Nam tự do và chính sách đoàn kết dân tộc rộng rãi, uyển chuyển. Thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 75 năm qua trước hết là thắng lợi của Cương lĩnh, chiến lược đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, là thắng lợi của tư tưởng cách mạng cao cả và vĩ đại của Hồ Chí Minh – tư tưởng độc lập, tự do.

    Năm 1951, Hồ Chí Minh thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc nhân buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Như vậy, đoàn kết toàn dân là một đường lối lãnh đạo của Đảng. Không dừng lại ở việc xác định đại đoàn kết là mục tiêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định nhiệm vụ của toàn Đảng là giữ gìn sự đoàn kết. Trong Di chúc, Người dặn lại chúng ta “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

    Sau khi giành được độc lập dân tộc, tại nhiều hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh sức mạnh của đoàn kết: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”.

    “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

    Thành công, thành công, đại thành công!”

    Sau khi cách mạng thành công, nhà nước của dân, do dân tộc và vì dân tộc được thành lập, chiến lược đại đoàn kết quốc gia dân tộc không chỉ được thực thi bằng cách tập hợp lực lượng quần chúng rộng rãi, phong phú về nội dung và hình thức tổ chức, mà còn phải liên hiệp quốc dân ở trong Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan hành chính cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Hồ Chí Minh đề xuất và tổ chức thành công Quốc dân đại hội Tân Trào, lập ra Ủy ban Giải phóng Dân tộc tháng 8 năm 1945 trong đêm trước cuộc Tổng khởi nghĩa, đặc biệt là tổ chức cuộc Tổng tuyển cử toàn dân vào tháng 1 năm 1946, để bầu ra quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội của độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và của đại đoàn kết toàn dân, và Quốc hội đã lập chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính phủ chung của cả dân tộc chứ không phải là chính phủ riêng của một đảng phái, một giai cấp nào. Đây cũng là một điển hình thành công sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong tổ chức nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc, là một bài học vô cùng quý báu của việc thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực xây dựng, tổ chức nhà nước.

    Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của cách mạng. Tuy nhiên trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp với những đối tượng khác nhau.

    Tức là đại đoàn kết dân tộc là chiến lược nhưng trong từng giai đoạn thì phải có cách thức đoàn kết khác nhau. Ví dụ như  trứớc năm 1945 chúng ta có khẩu hiệu: “Đánh đổ thực dân, phong kiến dành độc lập dân tộc chia ruộng đất cho dân cày”, nhưng đến năm 1945 khi Bác Hồ đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến : “Đánh đuổi thực dân dành độc lập cho dân tộc” ,vốn dĩ có sự khác biệt đó là vì khi này ta cần phải lôi kéo thêm tầng lớp phong kiến ủng hộ cho cách mạng để vừa bớt kẻ thù đồng thời thu hút được của cải để có tiền để làm cách mạng.

    Cùng với sự tôn trọng,thương yêu nhân dân, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng Trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nét đặc sắc, nổi bật là cách thức, phương pháp mà Người thực hiện để vận động, tập hợp, quy tụ, đoàn kết mọi người. Phương pháp đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn tinh hoa văn hoá ứng xử từ cổ, kim, Đông, Tây với sự đậm đà, sâu sắc truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Điều đó hội tụ trong con người Hồ Chí Minh tạo nên phong cách, lối ứng xử đậm chất văn hoá, nhân văn, nhân đạo cách mạng để thu phục, cảm hoá, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

    Phương pháp đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh linh động, phát triển, thích ứng với sự vận động, biến đổi của thực tiễn khách quan và phù hợp với từng đối tượng cụ thể.

    III. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trên thế giới:

    Khi bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Hí Minh đã nhận ra trên thế giới này chỉ có hai hạnh người đó là hạng người bóc lột và bị bóc lột. Người nhân ra rằng, những người bị bóc lột không phân biệt màu da, chủng tộc, đọ tuổi, họ bị bắt làm nô lệ và có chung lòng căm thù những kẻ bóc lột. Khi gắn kết long căm thù này sẽ tạo nên sức mạnh vô địch mà tất cả những dân tộc, con người bị bóc lột sẽ hưởng ứng dù họ có sự cách trở cề địa lí, ngôn ngữ, màu da… Sự đoàn kết đó chính là sức mạnh để chống lại kẻ thù chung của nhân loại

    Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc trên thé giới chính là gắn kết lòng yêu nước, yêu hòa bình, độc lập, tự do của họ mà đó là những nhu cầu chính đáng, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, giàu nghèo, dân tộc.

    Để thực hiện đoàn kết các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Người viết: “Nước ta là nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”. Chính sách dân tộc của chúng ta nhằm thực hiện sự bình đẳng, giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, muốn đoàn kết thật sự, cần phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, giáo dục. Để thực hiện quyền bình đẳng một cách có hiệu quả, các dân tộc cần phấn đấu nâng cao đời sống vật chất và văn hoá, phải giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Cơ sở vững chắc cho sự bình đẳng là sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và đồng đều trong khắp các vùng dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi.

    IV. Ý nghĩa tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.

    Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc với cách mạng nước ta. Tư tưởng này có nhiều giá trị, biểu hiện tập trung ở những điểm chính sau:
    – Đoàn kết là bài học hàng đầu và có tính chiến lược, quyết định mọi thành công. Biết đoàn kết thì vượt qua khó khăn, thử thách, không đoàn kết, chia rẽ là thất bại.

    – Đoàn kết phải có nguyên tắc, vì mục tiêu và lợi ích chung. Không đoàn kết một chiều, đoàn kết hình thức, nhất thời.

    – Đoàn kết trong tổ chức, thông qua tổ chức để tạo nên sức mạnh. Đoàn kết cá nhân và đoàn kết tổ chức không tách rời nhau.

    – Đoàn kết phải có nội dung thích hợp với từng địa phương, từng tổ chức, từng thời kỳ. Đoàn kết trong chính sách tập hợp các tầng lớp nhân dân.

    – Đoàn kết đi liền với bao dung, thực hiện tính nhân đạo cao cả, hướng tới tương lai.

    – Lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết là nhiệm vụ của Đảng, là biện pháp phát huy sức mạnh của Đảng, của toàn dân tộc.

    – Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải thực sự đoàn kết trong Đảng.

    – Thực hiện đồng bộ đoàn kết trong Đảng – đoàn kết toàn dân – đoàn kết quốc tế.

    – Đoàn kết trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên cơ sở bảo vệ và tôn trọng lợi ích của mọi thành viên cộng đồng quốc gia, dân tộc, quốc tế.

    V.Kết luận:

    Trong tất cả mọi người Việt Nam sống ở trong nước hay ở nước ngoài đều luôn luôn tiềm ẩn tinh thần, ý thức dân tộc trong tâm thức của họ. Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ của con người Việt Nam, thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng dân tộc bằng nội dung và hình thức tổ chức thích hợp với mọi đối tượng tập thể và cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức làm nòng cốt do Đảng Cộng sản lãnh đạo, phấn đấu vì độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của của toàn dân là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bền vững lâu dài, đặc biệt có ý nghĩa chính trị quan trọng trong sự nghiệp thực thi đường lối đổi mới, thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.

    Qua những phân tích trên ta có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết có một vai trò cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ là lời giải đáp đúng đắn cho những bài toán của cách mạng vào thời điểm đó mà trong suốt chiều dài lịch sử nó vẫn giữ nguyên giá trị. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trên 70 năm qua đã chứng minh hùng hồn sức sống kỳ diệu và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc, từ chỗ là tư tưởng của lãnh tụ đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng cộng sản Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng đó đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của tất cả những người Việt Nam yêu nước và biến nó thành hành động cách mạng của hàng triệu, hàng triệu con người, tạo thành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Lịch sử cách mạng Việt Nam hon nửa thế kỷ qua cho thấy, lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được quán triệt và thực hiện đúng, thì khi đó, nơi đó cách mạng phát triển mạnh mẽ và giành được thăng lợi, nơi nào, lúc nào rời xa tư tưởng đó thì khi đó, nơi đó cách mạng bị trở ngại và tổn thất


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-M%E1%BB%90I-QUAN-H%E1%BB%86-GI%E1%BB%AEA-V%E1%BA%ACT-CH%E1%BA%A4T-V%C3%80-%C3%9D-TH%E1%BB%A8C-TRONG-VI%E1%BB%86C-X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-N%E1%BB%80N-KINH-T%E1%BA%BE-M%E1%BB%9AI-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TA.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    Tiểu luận triết học

    ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA ————————

    LỜI NÓI ĐẦU

    Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới

    .Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã được tạo ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng .Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng thế giới được tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội .

    Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao ,mà điểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt .

    Trước tình hình đó ,cũng với xu thế phát triển của thời đại ,Đảng và nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt ,giữ vai trò chủ đạo

    .Đồng thời đổi mới kinh tế là một vấn đề cấp bách ,bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ,giúp cho công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng giàu mạnh .

    Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay”.

    2

    Tiểu luận triết học

    NỘI DUNG

    I.                   LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

    2.1.Vật chất

    1. Định nghĩa vật chất

    Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó .Nhưng theo Lênin định nghĩa :”vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác “.

    Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất không thể theo cách thông thường vì khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất.Để định nghĩa vật chất Lênin đã đối lập vật chất với ý thức ,hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,vật chất tồn tại độc lập với cảm giác ,ý thức, còn cảm giác ,ý thức phụ thuộc vào vật chất ,phản ánh khách quan.

    Khi định nghĩa vật chất là phạm trù triết học ,Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là khái niệm rộng nhất ,muốn phân biệt tư cách là phạm tù triết học ,là kết quả của sự khái quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ thể ,với những” hạt nhân cảm tính”.Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được .Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.

    Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có ,không thể tiêu diệt được ,nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác ,ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan.Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của CNDTKQ ,”thượng đế”của tôn giáo …Vật chất không phải là lực lượng

    3

    Tiểu luận triết học

    siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó ,trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật ,hiện tượng cụ thể ,và do đó các các đối tượng vật chất có thật ,hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác ,và nhờ đó mà ta có thể biết được ,hiểu được và nắm bắt sự vật này .Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học .

    Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Khẳng định như vậy một mặt muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với vật chất ,và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người .Nó không chỉ phân biệt CNDV với CNDT, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.

    Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để,nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội ,có ý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng đi sâu vào vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới

    • mô .Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động.
    1. Các đặc tính của vật chất

    *Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất .

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng ,vận động là sự biến đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển dịch trong không gian

    .Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại vật chất ,là thuộc tính cố hữu của vật chất,gồm tất cả mọi sự thay đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ.Vận động có 5 hình thức vận động chính là cơ -Hoá- lý -sinh-xã hội.Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ,một hình thức vận động này thực hiện là tác động qua lại với những hình

    4

    Tiểu luận triết học

    thức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng không thể coi hình thưc vận cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp.

    Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chất không vận động ,tức vật chất tồn tại .Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của nó .Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.

    Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên trong ,vận động vật chất là tự thân vận động.

    Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên ngoài vật chất .Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó nó dược bảo toàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.

    Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có nó thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng phong phú và đa dạng .Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng đối của các vật thể ,khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự ổn định ,là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện tượng .Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vận động trong thăng bằng ,trong sự ổn định tương đối .Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biến đổi ,chỉ là

    5

    Tiểu luận triết học

    tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định .Vận động riêng biệt có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi ,chuyển hoá nhau .

    *Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

    Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí ,có hình thức kết cấu ,có độ dài ngắn cao thấp .Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau ,biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm ,kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định .Thời gian biểu hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất ,tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của qúa trình đó ,trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện tượng.

    Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động ,Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động .Không gian và thời gian tồn tại khách quan ,nó không phải bất biến ,không thể đứng ngoài vật chất ,không có không gian trống rỗng ,mà nó có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vận động .

    Tính thống nhất vật chất của thế giới

    CNDT coi ý thức,tinh thần có trước ,quyết đinh vật chất ,còn duy vật thì ngược lại .Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất ,có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức ,lịch sử phát triển và đều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật chất ,do đó nó tồn tại vĩnh cửu ,không do a sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó ,không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi là chuyển hoá lẫn nhau ,là nguyên nhân và kết quả của nhau.

    6

    Tiểu luận triết học

    2. ý thức

    1. kết cấu của ý thức

    Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thưc theo các trường phái khác nhau . Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật chất ,là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ .Mác nhấn mạnh rằng tinh thần

    • thức là chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến trong đó .ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm ý thức tri thức ,tình cảm ,ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất ,là phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên.Tri thức càng được tích luỹ con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng hơn .Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm ,niềm tin …Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng

    .Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí.

    Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tự ý thức là

    • thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt mình ,đối lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động ,có cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội .Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra

    7

    Tiểu luận triết học

    .Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân .

    Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh thói quen ,có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của ý thức.Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những hoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động

    .Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen ,có vai trò quan trọng trong đời sống .

    1. Nguồn gốc của ý thức

    Nguồn gốc tự nhiên

    • thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc .Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người .Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức .Sự phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn .Tuy nhiên không thể quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh .Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính phản ánh ,nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên .Sự xuất hiện của xã hộ loài người đưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh ,đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hộ

    Nguồn gốc xã hội

     

    8

    Tiểu luận triết học

    Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH.

    Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên ,thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người .Nhờ nó mà con người và xã hội loài người mới hình thành và phát triển

    .Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người ,đồng thời ngay từ đầu đã liên kết con người với nhau trong mối quan hệ khách quan ,tất yếu ; mối quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động ,nhu cầu”cần phải nói với nhau một cái gì”. Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy ,với sự xuất hiện của ngôn ngữ ,tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp ,trở thành tín hiệu vật chất tác động tới giác quan của con người và gây ra cảm giác .Nhờ có nó mà con người có thể giao tiếp ,trao đổi ,truyền đạt kinh nghiệm cho nhau ,thông qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội ,và ngược lại. Chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức ,chính nhờ nó mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật ,hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.

    1. Bản chất của ý thức

    Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội .

    Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài ,là biểu thị nội dung được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh . Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy kháh quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan.

    • thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể

    9

    Tiểu luận triết học

    thiếu của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của

    • thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động ,tác động vào thế giới đó.

    Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách rời ,không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sáng tạo .Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin ,là sự thống nhất mặt khách quan chủ quan của ý thức.

    • thức chỉ được nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của con người.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong quan hệ xã hội.Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện
    • tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người.

    3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

    Lênin đã chỉ ra rằng,sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hạn chế:trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước ,cái gì là cái có sau . Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tương đối .Như vậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT ,để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời cái nào có trước cái nào quyết định .Không như vậy sẽ lẫn lộn 2 đường lối cơ bản trong triết học ,lẫn giữa

    10

    Tiểu luận triết học

    vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duy vật .Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tương đối như là những nhân tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc biệt là hoạt động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành hiện thực,nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải tiến được ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục vụ con người. Như vậy tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá.Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức.

    Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục đích chủ trương biện pháp đó . Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng

    11

    Tiểu luận triết học

    hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống . Hơn nữa,cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có .khẳng định vai trò cơ sở ,quyết định trực tiếp nhân tố vật chất, triết học Mác-Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần ,tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của mình ,con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất ,cũng không thể thay đổi được những quy luật vận động của nó . Do đó ,trong quá trình hoạt động của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích,chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép .

    II.               Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế nước ta hiện nay .

    1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị :

    Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau .Nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức có tác động trở lại nhân tố ý thức. Nhân tố vật chất trong nhiều trường hợp

    • thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của con người.Điều này thể hiện rõ trong các đường lối chủ trường,chính sách đổi mới kinh tế của Đảng .Vai trò tích cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động ,theo đó ý thức phải biến đổi phù hợp với nó ,nếu tiêu cực thì sớm muộn cũng bị đào thải ,nhưng xét đén cùng thì ý thức vẫn là nhân tố thứ hai quyết định .Và ta thấy nếu kinh tế của một nước giàu ,xã hội phát triển cao nhưng chính trị mất ổn định ,luôn đấu tranh giai cấp …thì đất nước đó không thể yên ấm hoà bình được và cuộc sống người dân tuy đầy đủ ,sung túc nhưng sẽ luôn

    12

    Tiểu luận triết học

    lo âu .Do đó nếu chính trị ổn định thì dân mới yên tâm làm ăn và xây dựng một xã hội phát triển ,đất nước giàu mạnh.

    Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế CXNT-CHNL-PK-TBCN-CNXH .Trình độ tổ tổ chức quản lý và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định trình độ và mức sống của xã hội ,bởi sản xuất vật chất là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội đời sống tinh thần của xã hội .hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị ,nhà nước pháp quyền,đạo đức ,khoa học ,tôn giáo…đều hình thành biến đổi gắn liền với kinh tế và sản xuất nhất định .Trong đó theo Mác quan hệ sản xuất giữa người với người là cơ bản quyết định tất cả các quan hệ khác .

    Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất khi tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng của con người ,thoả mãn các nhu cầu của con người và xã hội . Sản xuất vật chất môi trường tự nhiên ,điều kiện xã hội…đòi hỏi thể lực ,trí tuệ và nhân cách con người phải phát triển thích ứng với nó .Yêu cầu khách quan của việc phát triển kinh tế ,sản xuất cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện .Đó chính là cơ sở quyết định sự hoàn thiện của con người ,chính trị ,xã hội ,là nhân tố qaun trọng hàng đầu của LLSX

    .Sự phong phú đa dạng của vật chất sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất là cơ sở nảy sinh sự phát triển năng lực tinh thần của con người .Nói cho cùng nhu cầu của con người về vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định vì con người trước hết phải ăn mặc ,ở rồi đến vui chơi giải trí .Hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống và cuộc sống của con nguươì phụ thuộc vào nhu cầu vật chất và những điều kiện hiện có.

    13

    Tiểu luận triết học

    Nền kinh tế của một nước là nền tảng để cho nước đó tiếp tục phát triển các chủ trương biện pháp trong việc phát triển kinh tế vào công cuộc bảo vệ xây dựng đất nước .Căn cứ vào tình hình kinh tế mà có những chính sách phù hợp nhằm đem lại lợi ích cao cho xã hội và cho nhân dân .Tác dụng ngược lại thể chế chính trị ,ý thức của một nước rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Chính trị ổn định chính là điều kiện phát triển kinh tế ,mọi doanh nghiệp cũng như nhân dân ,các công ty các tổ chức đem hết sức mình tạo lợi ích cho bản thân và xã hội.

    Nguyên lý triết học Mác-Lênin về mối QHBC giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét các sự vật từ thực tế khách

    quan ,tránh chủ nghĩa chủ quan duy ý động sáng tạo của ý thức ,phát huy nỗ người .

    chí,đồng thời phát huy vai trò năng lực chủ quan và hoạt động của con

    2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rtong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay.

    Như chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất nước ,nền kinh tế miến bắc bị suy giảm nghiêm trọng.Cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém,cơ cấu kinh tế mất cân đối ,năng suất lao động thấp…sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ lương thực cho dân ,nguyên liệu cho công nghiệp ,hàng hoá cho xuất khẩu ,ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề bởi đế quốc Mĩ .ở miền nam sau 20 năm chiến tranh nền kinh tế bị đảo lộn ,nông nghiệp bị hoang hoá ở nhiều vùng…

    Trước tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế hoạch 5 năm 1976-1980 về xây dựng và phát triển vượt quá khả năng kinh tế 1975 phấn đấu dạt 21tr tấn lương thực 1tr tấn cá biển ,1tr ha khai hoang , 1tr200ha rừng mới 10tr tấn than sạch …ngoài ra còn đề xuất xây dựng thêm các cơ sở mới về công nghiệp như cơ khí và đặc biệt là phải cải tạo XHCN ở miền nam .Những chủ trương chính sách sai lầm đó đã gây tổn

    14

    Tiểu luận triết học

    hại đến nền kinh tế cuộc sóng nhân dân…đến hết 1980 ,nhiều chỉ tiêu đề ra chỉ đạt được 50-60%, nền kinh tế tăng trưởng chậm ,tổng sản phẩm xã hội bình quân là 1,5% công nghiệp tăng 2,6% nông nghiêp giảm 0,15% .

    Đại hội Đảng lần V vẫn chưa tìm ra nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ ,đồng thời cũng chưa đề ra các chính sách mới cho nền kinh tế 1981-1985 . Chúng ta chưa khắc phục chủ quan trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế ,cảI tạo XHCN và quản lý kinh tế lại phạm những sai lầm mới rong lĩnh vực phân phối lưu thông .Nhìn chung vẫn chưa đạt được mục tiêu đại hội V đề ra .

    Tất nhiên ngoài những yếu tố chủ quan còn có yếu tố khách quan dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế do chiến tranh ,bối cảnh quốc tế … song chúng ta vẫn mắc sai lầm chủ quan trong việc quản lý cán bộ ,phát triển LLSX .

    Nhắc lại thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất ,thấy rõ tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới

    .Phép BCDV khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải .

    Trước tình hình kinh tế đó ,Đảng và nhà nước đã đi sâu nghiên cứu ,phân tích tình hình ,lấy ý kiến của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế .Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm lớn trong đó có:phải luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan .Đảng đã đề ra đường lối đổi mới ,mở ra bước ngoặt trong sự việc xây dựng CNXH ở nước ta .

    Tại đại hội VI Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình ,tìm ra đúng nguyên nhân khủng hoảng kinh tế xã hội và đã đề ra nhiều phương hướng nhiệm vụ trong việc đổi mới ,nhất là về kinh tế ,thực hiện chương trình kinh tế với 3 mục tiêu : lương thực -thực phẩm ,hàng tiêu dùng ,xuất khẩu ,hình thành nền kinh tế nhiêu thành phần ,thừa nhận kinh tế tư sản sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân ,đổi mới cơ chế quản lý .Trong quá trình thực hiện

    15

    Tiểu luận triết học

    nghị quyết của Đảng ,những diễn biến quốc tế đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước ta nhưng Đảng ,nhà nước và nhân dân đã nỗ lực khắc phục những khó khăn và tìm tòi khai phá ra đường lối đổi mới . Tại đại hội VII ta đã đánh giá tình hình kinh tế chính trị của nước ta sau hơn nhiều năm thực hiện đổi mới đã đạt được các bước tiến quan trọng .Tình hình hình chính trị ổn định nên nền kinh tế có điều kiện phát triển bươc đầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo sự quản lý của nhà nước ,LLSX huy động tốt hơn ,tránh được lạm phát ,đời sống của người dân được cải thiện ,cuộc khủng hoảng đã giảm bớt ,sinh hoạt dân chủ ngày càng phát huy .

    Qua các dẫn chứng trên ta thấy sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức ,giữa kinh tế và chính trị ,nhờ có đường lối đổi mới ,nền kinh tế ngày càng phát triển ,cuộc sống của người dân ngày càng ổn định đã góp phần to lớn trong việc phát huy dân chủ trong xã hội . Ngoài mặt tích cực còn có tiêu cực như : lạm phát vẫn còn cao ,nhiều cơ sở đình đốn kéo dài ,lao động thiếu việc làm tăng lên ,và rong quản lý còn nhiều lúng túng sơ hở… đặc biệt đại hội cũng xác định “về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị phải tập trung sức đổi mới kinh tế đáp ứng được nhu cầu cấp bách của nhân dân về việc làm ,và các nhu cầu xã hội khác ,xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ,coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị.”

    Đảng ta đã vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới đất nước cả về kinh tế lẫn chính trị .Đại hội VIII đã chỉ ra các mục tiêu cần đạt được ,cụ thể là phương châm chỉ đạo trong 5 năm 1991-1995 ,trong đó nổi cộm nhất là phương châm kết hợp động lực kinh tế và động lực chính trị ,phương châm tiếp tục đổi mới đã đI vào chiều sâu với bước đi vững chắc ,lấy đổi mới làm nền để thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển.

    16

    Tiểu luận triết học

    Trong báo cáo của Đảng về công cuộc đổi mới đã nhận xét :”nét nổi bật là trong Đảng đã có sự đổi mới tư duy về kinh tế với tinh thần độc lập sáng tạo. Đảng ta cụ thể hoá và phát triển nghị quyết đại hội VII ,bước đầu hình thành hệ thống các quan điểm ,nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta “.

    Sau đại hội ban chấp hành TƯ Đảng đã đề ra các nghị quyết giải quyết các vấn đề đối nội đối ngoại . Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì đã đánh giá cao trong trong quá trình khắc phục khủng hoảng kinh tế … khắc phục được nhiều tồn tại trong 3 năm qua .Lạm phát được đẩy lùi .Tổng sản phẩm GDP tăng bình quân 8.2% so với mức đề ra năm 91-95 là 5,5-5,6%.Sản xuất nông nghiệp tương đối toàn diện sản lượng lương thực 26% so với 5 năm trước đó ,tạo đIều kiện thuận lợi để cuộc sống đầy đủ ,phát triển được nhiều ngành nghề .Vấn đề lương thực đã được giải quyết tốt

    .Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hoá ,thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng , nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh ,tăng kim ngạch xuất khẩu 91-95 là 17 tỉ USD so với kế hoạch là 12-

    • tỉ USD. Khoa học công nghệ có bước phát triển lớn phục vụ cho việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng ,lĩnh vực văn hoá tinh thần được nâng cao ,đời sống nhân dân được cải thiện ,quốc phòng an ninh được giữ vững.

    Hội nghị đại biểu toàn quốc chỉ nêu lên thành tựu tiếp tục giữ vững và củng cố ổn định chính trị ,mở rộng quan hệ đối ngoại ,tạo đIều kiện cho công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc .

    Như vậy , cũng thấy rõ tác động của kinh tế với chính trị và xã hội ,đối với công tác đối ngoại ,quốc phòng ,an ninh…đổi mới kinh tế nhưng các nhân tố chính trị xã hội ,đối ngoại…cũng tác động tích cực trở lại đối với kinh tế .Vận dụn đúng đắn các mối quan hệ biện chứng duy vật . tại hội nghị đại biểu toàn quốc đã vạch ra những điểm yếu kém ,vấn đề kinh tế

    17

    Tiểu luận triết học

    như “nền kinh tế vẫn còn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu ,công nghiệp nhỏ bé ,kết cấu hạ tầng kém phát triển,kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất chất lượng hiệu quả còn kém …” và vẫn còn những tồn tại về mặt văn hoá ,xã hội…để có những thay đổi tốt hơn ,Đảng đã đề ra những nhiệm vụ chủ yếu thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá ,chăm lo đến các vấn đề văn hoá xã hội , đảm bảo an ninh -quốc phòng, xây dựng nhà nước văn hoá của dân ,do dân và vì dân đổi mới chỉnh đốn đảng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân .

    Sau đại hội TƯ Đảng (khoá VII) ra nghị quyết phát triển công nghiệp mới đến 2000 theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước.Cải cách nền hành chính nhà nước với nội dung của hội nghị TƯ lần thứ VIII ,có thể coi đã cụ thể hoá một bước cương lĩnh và chiến lược phát triển khoa học xã hội mà đại hộiVIII đã thông qua.

    Với thành công trong những năm qua ta thấy đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với nền kinh tế thị trường mà trước đây ta đã phủ nhận đẻ hướng tới CNXH bỏ qua CNTB . Đảng đã phạm sai lầm đó là vội cải tạo CNXH xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần duy trì lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp.Có nhiều sai sót việc quản lý tiền tệ cũng như quản lý về giai cấp lãnh đạo. Nước ta đã nghiên cứu các mặt mạnh và hạn chế của CNTB để tận dụng một cách tổng hợp vào tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay để đưa Việt Nam theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các bước phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.

    Trên tinh thần đó cùng với các kinh nghiệm đại hội VIII lần này đã đánh giá được khó khăn chung để chủ động nắm lấy thời cơ để vươn lên đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ xuất phát từ tình hình trên . Đảng đã đề ra cương lĩnh cần tiếp tục nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Từ nay đến 2000 ra sức để trở thành nước công nghiệp.

    18

    Tiểu luận triết học

    Với những chính sách phát triển thích hợp chúng ta đã được một số bước tiến quan trọng ,bình thường hoá quan hệ Việt -Mĩ ,là thành viên của khối Asean ,đặc biệt 1998 nước ta đã trở thành thành viên của khối APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dương)… Từ chỗ bị bao vây cấm vận đến nay nước ta đã quan hệ ngoại giao với 167 nước ,quan hệ thương mại với 120 nước ,phát triển quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng .Đó là ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững môI trường hoà bình ổn định ,là nền tảng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao ,1996 là 9,3%,1997 là 8,2% 1998 là 5,8% ,lạm phát chiếm dưới 10%.Tốc độ tăng trưởng công nghiệp vẫn là hai con số…đời sống nhân dân càng ổn định tăng cao .

    Công cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đúng đắn ,chính vì Đảng ngày càng nắm vững và vận dụng đúng đắn phương pháp luận triết học toàn diện Mác-Lênin .Mối quan hệ kinh tế biện chứng giữa kinh tế và chính trị ngày càng rõ nét ,đơn cử từ việc thiếu ăn bây giờ Việt Nam trở thành nước thứ 3 xuất khẩu gạo trên thế giới. Lòng tin của nhân dân ngày càng tăng cao .Ngoài ra còn tăng truởng về tổng sản phẩm quốc dân ,về tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài ,về xuất khẩu …

    Đổi mới là khó khăn nhưng nhờ có chính sách và đường lối đúng đắn và có sự tìm tòi học hỏi từ nền kinh tế tư bản của nhiều nước ,cùng các diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,những biến dộng nhiều mặt của đất nước càng đòi hỏi lòng kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn để thích ứng kịp thời với sự biến đổi từng ngày từng giờ.

    Người cán bộ kinh tế phảI quán triệt sâu sắc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin ,tư tưởng Hồ Chi Minh là phải nghiên cứu đề xuất và áp dụng đúng đắn các chủ trương và chính sách kinh tế để đưa nền kinh tế nước ta vượt qua tình trạng nghèo đói và kém phát triển ,tránh khỏi nguy cơ tụt hậu so với kinh tế thế giới .Trong việc xoá bỏ quan liêu bao cấp

    19

    Tiểu luận triết học

    nghĩa là đòi hỏi người làm công tác quản lý phải sáng tạo ,năng động nắm bắt được thực tế để vận dụng và phát triển nó .Từ kinh nghiệm thực tế chỉ cần không nhận định đúng một vấn đề ,1 chủ trương ,1 thông tin ,1 từ ngữ trong bản hợp đồng kinh tế ,1 hành động chậm trễ hay vội vã là có thể lớn về nền kinh tế .Ngược lại nếu biết nắm bắt kịp thời 1 thông tin dù nhỏ vẫn có thể dẫn tới một thắng lợi lớn.Nên sự kết hợp giữa thực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan ,kết hợp giữa tình cảm và trí tuệ phải thật nhuần nhuyễn ,các bộ quản lý phải có phẩm chất tốt đẹp,phải trung thực ,chính xác kịp thời ,phải biết nắm bắt và đề ra giải pháp dúng đắn cho mọi tình huống .Cần đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí ,tư tưởng nóng vội phưu lưu ,bất chấp mọi quy luật .Ngoài ra cần rèn luyện tính kiên nhẫn chăm chỉ ,dám nghĩ dám làm ,chủ động sáng tạo ,giành lấy thời cơ .Rèn luyện được các phẩm chất ấy người quản lý sẽ đứng vững trên vị trí lãnh đạo của mình , ngoài ra còn có thể vươn lên cao hơn để trở thành nhà kinh doanh giỏi.

    20

    Tiểu luận triết học

    Kết luận

    Xây dựng CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp rất khó khăn ,phức tạp ,nó như cuộc chiến đấu kháng chiến trường kì của Đảng và nhà nước.

    Với những bién động trước tình hình kinh tế của nhiều nước trên thế giới đòi hỏi Đảng và nhà nước phảI kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn ,đồng thời phải tỉnh táo ,nhạy bén thích ứng kịp thời với thực tế biến đổi từng ngày từng giờ.

    Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ,vận dụng thành thạo phép BCDV vào việc nghiên cứu và quản lý kinh tế ,phát huy mạnh mẽ quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế quốc dân ,nhất định chúng ta sẽ trở thành những nhà quản lý giỏi góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của đất nước,tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam phát triển cao ,từ đó nâng cao vị trí Việt Nam trên chính trường quốc tế ,góp phần củng cố sự ổn định về chính trị của đất nước .Đó là lương tâm của những người làm công tác quản lý kinh tế chính trị.

    21

    Tiểu luận triết học


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-xo%C3%A1-%C4%91%C3%B3i-gi%E1%BA%A3m-ngh%C3%A8o-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-%C4%91%E1%BB%93ng-b%C3%A0o-c%C3%A1c-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-thi%E1%BB%83u-s%E1%BB%91-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-hi%E1%BB%87n-nay-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Lời nói đầu

    Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay, vấn đề phân biệt giầu nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối với phát triển bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn bộ nền văn minh hiện đại. Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giầu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của một quốc gia. Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn định về xã hội, bất ổn về chính trị. Mọi dân tộc tuy có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giầu có. Trong thực tế ở một số nước cho thấy khi kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và có nguy cơ dẫn đến xung đột.

    Trong nền kinh tế thị trường, Quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển không đồng đều, làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng lớp dân cư trong quốc gia. Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giầu càng ngày càng có xu hướng rộng ra đang là một vấn đề có tính toàn cầu, nó thể hiện qua tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng vẫn đang đeo đẳng gần 1/3 dân số thế giới.

    Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nhưng vẫn phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối nạn đói nghèo vẫn còn chiếm một tỉ lệ đáng kể ở nhiều nước mà nổi bật là ở những quốc gia đang phát triển. ở Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tuy nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng hàng năm là khá cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với vấn đề phân hoá giầu nghèo, hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giầu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như vùng sâu vùng xa. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ đối với những  vùng gặp khó khăn, những hộ gặp rủi ro vươn lên xoá đói giảm nghèo nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Trong nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng đã nhấn mạnh coi vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Do đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa là đối tượng chính của nhiệm vụ xoá đói giảm nnghèo, bởi vì họ còn ở trình độ dân tri thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin nghiêm trọng về sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường. Việc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số được thực hiện tốt là một trong những yếu tố cơ bản để thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc ở nước ta  cùng tiến lên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ các chương trình chính sách xoá đói giảm nghèo được triển khai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các ngành Trung ương và địa phương cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số thực sự đã góp phần quan trọng, tạo được chuyển biến đáng kể về phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn đề bức xúc ở vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên những thành tựu này mới chỉ là bước đầu những tồn tại và khó khăn còn nhiều, để khắc phục nó cần có sự nỗ lực của toàn đảng toàn dân và đặc biệt là từ phía bản thân đồng bào các đân tộc thiểu số, cùng với cả nước xoá đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    Nghiên cứu chính sách xoá đói giảm nghèo và tác động của chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ  giúp chúng ta hiểu thêm về thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thấy được những kết quả đã đạt được và những yếu kém cần được khắc phục trong quá trình thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta ,để từ đó có kiến nghị và đề xuất giải pháp tốt hơn, có hiệu quả hơn trong công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.

    Đề án gồm ba phần chính:

    Chương I Cở sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói, chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    Chương II Thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết quả đạt được từ việc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây.

               

    Chương III   Những kiến nghị và giải pháp về xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.

     

     

     

    Chương I

    Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói, chính sách xoá đói giảm nghèo đối với vùng đồng bào các đân tộc thiểu số ở nước ta.

    I Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội

         1 Các khái niệm cở bản về chính sách kinh tế xã hội.

    1.1 Khái niệm chính sách

    Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể hay tổ chức nhất định khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại.

    Chính sách giúp các nhà quản lý xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Giúp họ thấy được phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể. Từ đó chính sách sẽ hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.

    1.2 Khái niệm chính sách kinh tế xã hội

    Chính sách kinh tế xã hội là tổng thể các giải pháp và công cụ do nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội xây dựng và tổ chức thực hiện để giải quyết những vấn đề chính sách nhằm thực hiện mục tiêu bộ phận theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.

         2 Đặc trưng cơ bản của chính sách kinh tế xã hội

    • Chính sách kinh tế xã hội là các hình thức mà Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế. Thông qua các quyết định của nhà nước tác động lên các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế hướng họ theo mục tiêu chung của quốc gia trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành.
    • Chính sách kinh tế xã hội là hành động can thiệp của nhà nước trước một vấn đề chính sách chín muồi. Đó là những vấn đề lớn có phạm vi ảnh hưởng đến toàn bộ đất nước cần được giải quyết ngay.
    • Các mục tiêu của chính sách kinh tế xã hội là mục tiêu bộ phận, có thể mang tính ngắn hạn huặc dài hạn và được thực hiện trên cơ sở hướng vào mục tiêu tổng thể của đất nước.
    • Chính sách kinh tế xã hội không chỉ là những cách thức được đưa ra mà nó còn bao hàm cả quá trình thực hiện chính sách đó. Khi Nhà nước đưa ra văn bản về chính sách đã được các cấp có thẩm quyền thông qua thì đó vẫn chưa phải là chính sách. Chính sách kinh tế xã

    hội bao hàm cả hành vi thực hiện những kế hoạch được thể hiện         trong chính sách và đưa lại những những kết quả thực tế tiễn.Việc hiểu chính sách kinh tế xã hội một cách giản đơn là những chủ trương, chế độ mà nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách và những kết quả thực tiễn thu đựơc thì chính sách đó chỉ là những khẩu hiệu.

    • Mục tiêu chính sách kinh tế xã hội là mục tiêu chung của nhiều nguời huặc của xã hội. Tuy nhiên một chính sách khó có thể đều đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, khi đó chính sách được lựa chọn là chính sách đem lại lợi ích cho đa số mọi người. Thước đo chính để đánh giá, so sánh và lựa chọn chính sách phù hợp là lợi ích mang tính xã hội mà chính sách đó đem lại.
    • Việc xây dựng chính sách kinh tế xã hội có sự tham gia từ nhiều phía nhiều tổ chức khác nhau trong đó Nhà nước với tư cách là người tổ chức và quản lý xã hội xây dựng và chịu trách nhiệm tổ chức thực thi. tuy nhiên ngày nay chính sách kinh tế xã hội không chỉ do các cơ quan tổ chức của nhà nước xây dựng mà nó có sự tham gia của nhiều cơ quan tổ chức ngoài nhà nước.
    • Chính sách kinh tế xã hội có phạm vi ảnh hưởng lớn, nó tác động đến nhiều đối tượng, đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.

         3 Giải pháp và công cụ của chính sách kinh tế xã hội

    3.1 Giải pháp chính sách kinh tế xã hội

    Giải pháp chính sách  kinh tế xã hội là phương thức hành động của nhà nước để đạt được mục tiêu. Để đạt được mục tiêu nhà nước phải xác định một hệ thống các giải pháp và mỗi chính sách đều có giải pháp riêng của mình. Có thể phân loại các giải pháp dưới nhiều tiêu trí khác nhau một trong những cách đó là phân loại theo phương thức tác động bao gồm các giải pháp tác động trực tiếp vào mục tiêu và các giải pháp tác động gián tiếp vào mục tiêu của chính sách. Với các giải pháp tác động trực tiếp vào mục tiêu, Nhà nước tham gia vào thị trường, vào đời sống kinh tế xã hội thông qua những chính sách những quy định cụ thể về các hoạt động kinh tế xã hội từ đó tác động tới mục tiêu một cách trục tiếp. Các giải pháp tác động gián tiếp vào mục tiêu được sử dụng nhằm tạo ra những phản ứng có lợi cho việc mục tiêu từ những chủ thể kinh tế xã hội.

    3.2 Những nhóm công cụ của chính sách kinh tế xã hội

    • Nhóm công cụ kinh tế là các ngân sách, các quỹ, hệ thống đòn bẩy và khuyến khích kinh tế như thuế, lãi suất, giá cả, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm, tỷ giá hối đoái…
    • Nhóm các công cụ hành chính tổ chức bao gồm các công cụ mô hình các tổ chức, bộ máy và đọi ngũ cán bộ, công chức, các công cụ hành chính là các kế hoạch của nhà nước và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.
    • Nhóm công cụ tuyên truyền, giáo dục là hệ thống thông tin đại chúng, hệ thống thông tin chuyên ngành, hệ thống giáo dục và đào tạo, hệ thống các tổ chức tổ chức chính trị, xã hội và đoàn thể.
    • Các công cụ kỹ thuật, nghiệp vụ đặc trưng cho từng chính sách.

         4 Vai trò của chính sách kinh tế xã hội

    Chính sách kinh tế xã hội có vai trò hết sức to lớn thể hiện ở những chức năng cơ bản sau:

    • Chức năng định hướng giúp các củ thể kinh tế xã hội có được những chỉ dẫn ra quyết định vạch ra phạm vi giới hạn cho phép của những quyết định, hướng suy nghĩ hành động của các chủ thể vào việc thực hiện mục tiêu chung của quốc gia. Chính sách kinh tế xã hội cũng định hướng việc huy động phân bổ và sử dụng nguồn lực nhằm giải quyết những vấn đề chính sách một cách kịp thời và có hiệu quả.
    • Chức năng điều tiết của những chính sách do Nhà nước ban hành giúp Nhà nước giải quuyết những vấn đề bức xúc phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội , điều tiết những mất cân đối, những hành vi không phù hợp, nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động xã hội theo các mục tiêu đề ra.
    • Chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển đây chức năng quan trọng nhất của chính sách xây dựng và nâng cấp các yếu tố quyết định sự phát triển như giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, hệ thống thông tin và các thị trường vốn.
    • Chức năng khuyến khích sự phát triển đây là chức năng tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội. Bản thân mỗi chính sách khi hướng vào giải quyết một vấn đề bức xúc đã làm cho sự vật phát triển thêm một bậc. Đồng thời khi giải quyết vấn đề đó thì chính sách lại tác động lên vấn đề khác, làm nẩy sinh những vấn đề mới.

    II Vấn đề nghèo đói

         1 Các quan điểm tiếp cận vấn đề nghèo đói

    1.1 Theo cách tiếp cận hẹp

    Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác.

    Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính chất tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tương đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở những quốc gia giầu nhất. Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình. Đó là nghèo đói tương đối. Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn.

    Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay. Những người theo quan điểm này có xu hướng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cư, mà không đi sâu vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề, tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân cư đi vào tình trạng nghèo đói như một xu thế tất yếu xẩy ra. Do đó các biện pháp tấn công nghèo đói đưa ra trên theo quan điểm này thường thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cư nghèo đói đó, nó sẽ không tạo được động lực để bản thân những người nghèo tự mình vươn lên trong cuộc sống.

    1.2  Theo cách tiếp cận rộng

    Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này được tiếp cận từ phương pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giầu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội. Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chưa có tích luỹ thì giữa con người chưa có sự phân hoá giầu nghèo. Nhưng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lượng sản suất, xã hội đã bắt đầu có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tư nhân và trao đổi hàng hoá. Xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp, trong xã hội đã có người giầu người nghèo đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp. Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với giầu có và trong hoàn cảnh nhất định. Khi nói đến người nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với người giầu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo và đói như thế nào, từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo.

    Từ những cách tiếp cận vấn đề nghèo đói chúng ta có thể rút ra được những kết luận sau:

    • Phân hoá giầu nghèo không những là hệ quả của các xã hội có giai cấp và phân chia giai cấp, mà còn thể hiện bản chất sâu xa của các xung đột xã hội giữa lớp người giầu lớp người nghèo. Giải quyết căn bản vấn đề này chỉ có thể trên cơ sở giải quyết căn bản vấn đề bất bình đẳng trong xã hội.
    • Phân hoá giầu nghèo là hiện tượng phát sinh trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy nếu không xử lý kịp thời, huặc không có cơ chế duy trì sự công bằng nhất định hay hạn chế quá trình làm trầm trọng thêm hố ngăn cách giữa lớp người giầu và lớp người nghèo, thì nguy cơ phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp cũng sẽ diễn ra.
    • Chủ thể có đầy đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các nhóm dân cư là Nhà nước, tuy nhiên do bản chất nhà nước ở các chế độ, cũng như định hướng chính trị khác nhau là rất khác nhau nên năng lực cũng như tính triệt để của các giải pháp xủ lý hố ngăn cách giầu nghèo có thể dựa trên cách tiếp cận rộng hay hẹp tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từng thời điểm lịch sử nhất định.

         2 Các quan điểm về chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo đói hiện nay

    Cho đến nay dường như đã đi đến một cách tiếp cận tương đối thống nhất về đánh giá mức độ nghèo đói, đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện chung nào đó, mà hễ ai có thu nhập hay chi tiêu dưới mức thu nhập chuẩn thì sẽ không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt được những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại trong xã hội. Trên cơ sở mức chung đó để xác định người nghèo hay không nghèo. Tuy nhiên khi đi sâu vào kỹ thuật tính chuẩn nghèo thì có nhiều cách xác định khác nhau theo cả thời gian và không gian.

    ở đây cần phân biệt rõ mức sống tối thiểu và mức thu nhập tối thiểu. Mức thu nhập tối thiểu hoàn toàn không có nghĩa là có khả năng nhận được những thứ cần thiết tối thiểu cho cuộc sống. Trong khi đó mức sống tối thiểu lại bao hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao động gồm năng lượng cần thiết cho cơ thể, giáo dục, nghỉ ngơi giải trí và các hoạt động văn hoá khác. Do vậy khái niệm về mức sống tối thiểu không phải là một khái niệm tĩnh mà là động, một khái niệm tương đối và rất phong phú về nội dung và hình thức, không chỉ tuỳ theo sự khác nhau về môi trường văn hoá, mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi về đời sống vật chất cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế.

    2.1 Quan điểm của ngân hàng thế giới (WB)

    – Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh gía WB đã lựa chọn tiêu thức phúc lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu người bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở, giá trị hàng hoá lâu bền. Tuy nhiên báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần lớn người lao động tự hành nghề.

    – WB đưa ra hai ngưỡng nghèo:

    + Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực gọi là ngưỡng nghèo lương thực.

    + Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung.

    – Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm mà WB đưa ra theo cuộc điều tra mức sống 1998  là lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với năng lượng 2000-2200 kcal mỗi người mỗi ngày. Người dưới ngưỡng đó thì là nghèo về lương thực. Dựa trên giá cả thị trường để tính chi phí cho rổ lương thực đó. Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ lương thực là 1.286.833 đồng/người/năm.

    – Cách xác định ngưỡng nghèo chung

    Ngưỡng nghèo chung  =(ngưỡng nghèo lương thực)+(ngưỡng nghèo phi lương thực)

    Ngưỡng nghèo được tính toán về phần phi lương thực năm 1998 là 503038 đồng/người/năm từ đó ta có ngưỡng nghèo chung là 1789871 đồng/người/năm.

    2.2  Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế(ILO)

    -Về chuẩn nghèo đói ILO cho rằng để xây dựng rổ hàng hoá cho người nghèo cơ sở xác định là lương thực thực phẩm. Rổ lương thực phải phù hợp với chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho những nhóm người nghèo. Theo ILO thì có thể thu được nhiều kcalo từ bất kỳ một sự kết hợp thực phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn. Với người nghèo thì phải thoả mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn kcalo rẻ nhất .

    – ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngưỡng nghèo lương thực thục phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lương thực trong rổ lương thực cho người nghèo với 75% kcalo từ  gạo và 25% kcalo có được từ các hàng hoá khác được gọi là các gia vị. Từ đó mức chuẩn nghèo hợp lý là 511000 đồng/người/năm.

    2.3 Quan điểm của tổng cục thống kê Việtnam

    – Tiêu chuẩn nghèo theo tổng cục thống kê Việtnam được xác định bằng mức thu nhập tính theo thời gía vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người. Những người có mức mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo.

    2.4 Quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội

    – Theo quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội cho rằng nghèo là bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực.

    – Bộ lao động thương binh và xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa những số liệu thu thập về hộ gia đình như sau :

    + Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một     tháng quy ra gạo được 13 kg.

    + Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng.

    Vùng nông thôn, miền núi hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo.

    Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg gạo.

    Vùng thành thị dưới 25 kg gạo.

    2.5 Các phương pháp đánh giá các chính sách của chính phủ về giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội

         2.5.1  Phương pháp đường cong Lorenz

    Đường cong Lorenz thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ % dân số được cộng dồn với tỷ lệ thu nhập được cộng dồn tương ứng. Phương pháp này được mô tả bằng đồ thị sau :

    100%                                                               A

                            % thu

                             nhập

    cộng                                                      A

    dồn     50

    L2        

    L1

    25

    B

    0             25            50                           100%

    % Dân số được cộng dồn          

    Vì dân số được cộng dồn và thu nhập được cộng dồn tương ứng nên mọi điểm nằm trên đường phân giác 0A phản ánh một sự phân phối tuyệt đối công bằng.

    Các đường cong Lorenz nói lên trong phạm vi dân số đã biết thì tỷ lệ % thu nhập tại các nhóm dân cư là khác nhau. Nhìn trên đồ thị ta thấy đường cong Lorenz càng gần đường phân giác bao nhiêu thì sự phân phối công bằng càng công bằng bấy nhiêu ( đường L2 gần đường phân giác hơn đường L1 ).

    Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy rằng, khi nền kinh tế chưa phát triển, đường cong Lorenz khá gần đường phân giác 0A. Khi đó mọi người cảm thấy có sự công bằng nhưng nhưng công bằng trong nghèo khổ. Khi nền kinh tế thị trường dần dần phát triển thì đường cong Lorenz cũng dần dần nhích xa đường phân giác 0A, tức Lorenz là xuất hiện sự mất công bằng trong phân phối thu nhập. Một số có thu nhập cao nên giầu có, số khác có thu nhập thấp trở nên nghèo khổ. Và đến một lúc nào đó sự mất công bằng phân phối trở thành rào cản của sự phát triển. Khi đó chính phủ phải dùng chính sách tác động đến phân phối thu nhập để kéo đường cong Lorenz tiến dần về phía đường phân giác 0A.

    Để lượng hoá phương pháp đường cong Lorenz, người ta sử dụng hệ số Gini.

    Nếu gọi diện tích được giới hạn bởi đường phân giác và đường cong Lorenz là A và diện tích nằm phía dưới đường cong Lorenz là B, thì hệ số Gini được xác định bằng biiêủ thức :

    B = A/(A+B) = A/(1/2) = 2A

    Hệ số Gini nhận các giá trị từ 0 đến 1.

    G = 0 phản ánh một mức phân phối tuyệt đối công bằng.

    G = 1 phản ánh một sự phân phối tuyêt đối mất công bằng.

    Cả hai trường hợp G = 0 và G = 1 chỉ có ý nghĩa lý thuyết, không có trong thực tế.

    Tên thực tế G nhận các gía trị trong đoạn [ o,1 ], tức Là: 0<G<1 hệ số Gini càng gần 0 thì phản ánh sự phân phối càng công  bằng.

         2.5.2  Chỉ số nghèo khó

    Một chỉ số khác thường được dùng trong phân tích đánh giá chính sách là chỉ số nghèo khó.

    Chỉ số nghèo khó được xác định bằng tỷ lệ % giữa số dân nằm dưới giới hạn của sự nghèo khó với toàn bộ dân số .

    Ip = ( Số dân ở dưới mức tối thiểu)/(Tổng dân số)

    Chỉ số này cho ta biết những thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người thật sự nghèo với những sự thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người khá giả không quan trọng bằng những thay đổi có khả năng chuyển các cá nhân nằm dưới đường nghèo khổ lên trên đường này. Chỉ số này có thể dánh giá mức độ nghèo khổ của một huyện một tỉnh, hay cả nước.

    III Chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta

         1 Khái niệm, mục tiêu, đối tượng chính sách xoá đói giảm nghèo

    Khái niệm Chính sách xoá đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một xã hội giầu đẹp.

                Mục tiêu  của chính sách xoá đói giảm nghèo cho các đối tượng thuộc diện nghèo đói ở nước ta, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo trong xã hội,  nhằm mục tiêu tổng quát xây dựng một đất nước dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.      

    Đối tượng  là đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta, những vùng sâu vùng xa nơi mà cuộc sống còn nhiều khó khăn và có cuộc sống cách biệt với đời sống kinh tế xã hội của cả nước.

         2 Những chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

    2.1 Chương trình phát triển nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

         2.1.1 Chương trình về thuỷ lợi, giao thông

    Đây là chương trình đầu tiên và kéo dài thời gian nhất cho đến nay nó vẫn được tiếp tục. Đa số người người nghèo tập trung nhiều nhất ở những vùng sâu vùng xa mà chính những nơi này giao thông thuỷ lợi lại rất yếu kếm do đó Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ cho những khu vực này với khẩu hiệu nhà nước và nhân dân cùng làm. Việc phát triển giao thông và thuỷ lợi sẽ tạo đà cho sự hoà nhập giữa miền ngược và miền xuôi, thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển, tăng năng suất lao động góp phần bình ổn lương thực trong vùng.

         2.1.2 Chương trình định canh định cư

    Từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận vấn đề định canh định cư có tầm vóc cực kỳ quan trọng nhằm làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội miền núi, vùng dân tộc thực tế đây là cách sống ổn định văn minh, tiến bộ. Nó tác động sâu sắc tới tâm tư tình cảm của nhân dân các dân tộc thiểu số, từng bước xoá bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, bất lợi cho sự phát triển để hoà nhập vào sự phát triển chung. Chương trình này bắt đầu từ 1968, và nó đã trở thành một chương trình rất đắc lực trong việc giảm nghèo đói . Mục tiêu của nó nhằm biến người du canh du cư thành định cư, tức là giúp những người nghèo nhất những người dễ bị rủi ro nhất trở thành những người sống ổn định, nó có đối tượng phục vụ cụ thể và rất thiết thực đói với người nghèổ miền núi.

         2.1.3 Chương trình tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ

    Đây là một chương trình đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế miền núi theo hướng chuyển dịch cơ cầu giống cây trồng mới và sản xuất hàng hoá tập trung. Nó được hiểu là một chương trình bao gồm nhiều công việc, dự án triển khai trên diện rộng, chủ yếu tập trung vào các khâu khuyến nông, khuyến lâm, khoa học kỹ thuật, vật tư sản xuất, tín dụng nông thôn.

    2.2 Chương trình giải quyết việc làm

    Trên cơ sở nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11-4-1992 một chương trình có tầm quan trọng tác động tới việc xoá đói giảm nghèo đó là chương trình xúc tiến việc làm, chương trình ra đời nhằm giải quyết gánh nặng nhân lực trong qúa trình tổ chức, xắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo yêu cầu đổi mới, cung cấp tín dụng, bồi thường, trợ cấp cho người ra khỏi biên chế nhà nước để tự tạo việc làm, buôn bán nhỏ và các hoạt động kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường.

    2.3 Chương trình tín dụng

    Nhà nước ta đã có chủ trương thực hiện các khoản tín dụng cho vay mở rộng tới hộ nông dân, và theo quyết định số 525/TTg ngày 31-8-1995 của thủ tướng chính phủ cho phép thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo để giúp người nghèo vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Ngân hàng phục vụ người nghèo có chức năng khai thác các nguồn vồn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác nhà nước cho phép được lập quỹ cho người nghèo vay thực hiện chương trình của chính phủ đối với người nghèo.

    Hoạt động của ngân hàng người nghèo vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện việc cho vay trực tiếp đến hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được cho vay để phát triển sản xuất, không phải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn, và theo lãi suất quy định. Ngân hàng phục vụ người nghèo được xét miễn thuế doanh thu và thuế lợi tức để giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo. Các rủi ro trong quá trình hoạt động phục vụ người nghèo được bù đắp bằng quỹ bù đắp rủi ro theo quy chế tài chính của bộ tài chính.

    Sau bẩy năm họat động ngay 4-10-2002 chính phủ đã ban hành nghị định 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách khác trong đó ghi rõ thành lập ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng người nghèo đưa ngân hàng người nghèo trở thành một ngân hàng hoàn chỉnh giúp cho việc thực hiện các chức năng của mình hiệu quả hơn.

    2.4 Chương trình giáo dục y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo

         2.4.1 Chương trình giáo dục

    Có thể gói gọn chương trình giáo dục trong khuôn khổ đóng góp huặc tác động vào vào việc xoá đói giảm nghèo gồm:

    • Chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp.
    • Chương trình củng cố và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục tiểu học.
    • Chương trình tăng cường đẩy mạnh giáo dục phi chính thức.
    • Chương trình cải tiến hệ thống dậy nghề đáp ứng nhu cầu thị trường.
    • Chương trình 7 của Bộ giáo dục và đào tạo về hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú.

         2.4.2 Chương trình y tế

    Chương trình y tế chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân nói chung vốn có thâm niên từ trước rất lâu so với chương trình xoá đói giảm nghèo. Trong chương trình chung lại có chương trình bảo vệ bà mệ trẻ em, đó là hai đối tượng dễ bị tổn thương và rủi ro trong cuộc sống xã hội và gia đình. Những chương trình hoạt động chính trong khuôn khổ xoá đói giảm nghèo bao gồm chương trình phòng chống bệnh bướu cổ, phòng chống bệnh sốt rét, nước sạch cho sinh hoạt nông thôn, tiêm chủng mở rộng, xoá xã trắng về y tế. Những chương trình này nhằm cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    2.5 Chương trình quốc gia số 06/CP

    Chương trình quốc gia số 06/cp là chương trình về phòng chống và kiểm soát ma tuý theo nghị quyết số 60/CP của chính phủ ra ngày 29-01-1993. Chương trình này này được triển khai nhằm mục tiêu phòng và kiểm soát ma tuý mang ý nghĩa chính trị xã hội và quốc tế rộng lớn. Song quá trình thực hiện nó lại có ý nghĩa rất lớn đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vận động đồng bào dân tộc từ bỏ trồng cây thuốc phiện và thay thế cây trồng vật nuôi để bù đắp sự hẫng hụt từ việc mất nguồn thu từ cây thuốc phiện.

    2.6 Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn

    Chương trình này bắt đầu từ năm 1992, mục tiêu nhằm vào các dân tộc thiểu số khó khăn và có dân số ít ( trên dưới một vạn người ). Đa số những dân tộc này nằm ở vùng sâu vùng xa khó khăn về mọi mặt: kinh tế, giáo dục, y tế, giao thông, văn hoá thông tin… Những dân tộc quá cách biệt với các khu vực kinh tế đang năng động và hầu như chưa được cơ chế thị trường ảnh hưởng và tác động tới. Tính đặc biệt của chương trình này là đầu tư không hoàn lại tức là cho không .

    2.7 Chương trình bảo vệ môi trường

    Có thể nói những năm qua, chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ môi trường, chi phí cho việc bảo vệ môi trường năm sau lớn hơn năm trước mà nổi bật là chương trình 327 phủ xanh đất chống đồi trọc. Chương trình bảo vệ môi trường mà nước ta triển khai nhằm mục tiêu nâng cao kiến thức, tập huấn kỹ thuật cho đồng bào miền núi. Những yêu cầu, biện pháp bảo vệ môi trường dễ hiểu, thiêt thực đối với họ. Đồng thời có các chương trình chyển giao khoa học kỹ thuật để họ có thể thâm canh tăng năng suất lao động trên đất nông nghiệp hiện có và quan trọng hơn là không mở rộng diện tích canh tác khi dân số tăng huặc do thiếu đất bằng cách chuyển đất rừng làm nương rẫy. Tuy trọng tâm của những chương trình được triển là tập trung vào việc xoá đói giảm nghèo giải quyết những bức xúc của người nghèo nhưng không cho phép xâm hại phá vỡ tính ổn định của tự nhiên. nói cách khác xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi  trường là hai mặt của một quá trình cải thiện tính bên vững của môi trường sống, có giá trị lâu bền với đồng bào các dân tộ thiểu số.

     

    Chương II

    Thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết quả đạt được từ việc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây

    I Thực trạng và nguyên nhân về tình trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn trước đây

         1 Thực trạng về tình hình nghèo đói ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong những giai đoạn gần đây

    Chính sách đổi mới của Đảng từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay và nhất là từ khi có Nghị quyết số 22/TƯ ngày 27-11- 1989 của bộ chính trị “ Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế _ xã hội miền núi “ và quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) “ về một số chủ trương biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế  xã hội miền núi “ nhằm cụ thể hoá việc phát triển kinh tế xã hội vùng cao, miền núi ngày càng đạt được nhiều thành tựu. Có thể nói chưa bao giờ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước lại có tác động mạnh mẽ đến như vậy đối với vùng cao, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vốn quen với một cuộc sống có nhu cầu thấp về tiêu thụ và hưởng thụ.

    Trong tình hình đó sự phân hoá giầu nghèo ngày càng rõ nét. Một nhóm nhỏ đã năng động sáng tạo biết cách làm ăn để vượt lên. Một nhóm lớn vẫn còn loay hoay chưa dám mạnh dạn thay đổi., kiếm tìm nguồn lực, phương sách tăng thu nhập. Nhóm đa số thực sự chỉ trông vào hạt ngô hạt lúa, hứng chịu nhiều hơn sự rủi ro, thất bát mùa màng. Không có lương thực cũng có nghĩa là không thể chăn nuôi để tăng thu nhập, không có tiền để đầu tư vào vật tư, giống cây trồng để sản xuất nên năng suất thấp, thu hoạch ít hơn, trong khi số người trong gia đình ngày càng tăng lên. Phương sách đơn giản và đỡ tốn kém nhất là đốt phá rừng làm nương rẫy để tăng thêm lương thực, thậm chí một số đồng bào dân tộc Thái, Dao và Mông quay sang trồng cây thuốc phiện để tạo thu nhập cho cuộc sống.

    Tuy chưa có cuộc điều tra riêng rẽ chính xác cho vùng dân tộc thiểu số, nhưng hai cuộc điều tra chung ở nông thôn cả nước đều cho thấy kết quả là mức độ nghèo đói diễn ra trầm trọng nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc, vùng duyên hải Trung bộ và Tây nguyên. Kết quả cuộc điều tra năm 1992 về các dân tộc Thái, Dao, Tày, Nùng, Mông, Ơ Đu, Khơmú, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng trên địa bàn miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, miền Trung và Tây Nguyên đã cho một kết luận đáng chú ý về tỷ lệ phân hoá giầu nghèo như sau:

    • Giàu, khá : 9,3%
    • Trung bình : 45%
    • Nghèo : 45,7%

    Sự giầu nghèo giữa các dân tộc thiểu số là một vấn đề cần được quan tâm để tìm ra phương sách phù hợp. Cùng một vùng, khi người giầu huặc khá ở dân tộc Nùng là 10% thì dân tộc Giáy chưa có sự hình thành tầng lớp này. ở dân tộc Thái là 8 – 10 % trong khi người Mông ở Nghệ An lại là 31,25% do còn lén lút trong trồng bán thuốc phiện.

    Lấy mốc cuộc điều tra năm 1993 mức độ giầu khá, trung bình tính chung cả nước gấp gần 2,5 lần so với các tỉnh trung du và gần 4 lần so với các tỉnh miền núi phía bắc. Trong cuộc điều tra này đã phát hiện một vấn đề rất đáng quan tâm là chỉ số nghèo đói ở Việtnam được xếp ở mức độ rất thấp. Tỷ lệ chi phí cho nhu cầu lương thực chiếm tới 70% chi phí cho một gia đình thuộc 20% số dân nghèo nhất và là 66% chi phí cho một gia đình thuộc 20% số dân nghèo nói chung. Mức chi phí từ 66% – 70% là qua cao so với nhu cầu về nhiều mặt khác của một gia đình như dinh dưỡng từ những thực phẩm thịt động thực vật, chi phí học hành, hưởng thụ văn hoá- thông tin…

    Trong việc phân chia mức độ nghèo đói, có thể phân chia ra các nhóm như sau:

    Nhóm thứ nhất : một số hộ đói nghèo chủ động tìm kiếm cơ hội thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Họ tìm đến các nhóm dân tộc có trình độ sản xuất cao hơn, giỏi làm kinh tế để học tập kinh nghiệm, tìm tòi các địa điểm, địa phương có điều kiện làm việc để có thu nhập cao hơn. Họ mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất, tìm kiếm để mở rộng sản xuất ngoài nông nghiệp và chăn nuôi.

    Nhóm thứ hai : Nhóm này ít năng động hơn có thể khá lên thoát khỏi đói nghèo nhờ vào các chương trình phát triển giao thông, có đường sá tốt để giao lưu buôn bán trao đổi hàng hoá và nhờ vào được hưởng các dự án kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhưng nhóm này tỏ ra kèm năng động hơn nhóm thứ nhất và cũng đễ bị đẩy xuống diện đói nghèo nếu các chương trình, dự án trên địa bàn kết thúc. Đó là nhóm thiếu bền vững.

    Nhóm thứ ba : Đây là nhóm chiếm đa số là những người không huặc rất ít khả năng tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển. Họ chỉ biết trông chờ vào ruộng nương huặc phát đồi rừng làm nương để hy vọng có lương thực khá  hơn, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi về giao thông, chợ, tín dụng ưu đãi mà họ vẫn không nghĩ ra huặc không giám mạnh dạn tìm cơ hội thay đổi cuộc sống. Tâm lý dân tộc thiểu số quen sống dựa vào tự nhiên an phận thủ thường, dễ thoả mãn vào các nhu cầu cũng là một yếu tố đáng quan tâm một phần số họ là nhữg người neo đơn, bệnh tật, già nua, độc thân, họ sẽ bị tụt hậu mãi về phía sau khi nền kinh tế không ngừng tăng trưởng.

    Mặc nhiên hộ là dân tộc thiểu số hay đa số nhưng khi cư trú ở các khu vực miền núi có khó khăn thì họ phải chịu đựng những thiệt thòi chung. Dù cho sự thiệt thòi có khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng tạo thu nhập, sáng kiến của các dân tộc. Trong cuộc điều tra năm 1992 người Tày đông đứng đầu trong các dân tộc thiểu số sống tập trung ở Việt Bắc, có tỷ lệ đói nghèo chiếm tới 58,1%. Ngoài sự khác biệt về vùng có chênh lệch khá lớn thì một thực tế cho thấy trong 53 dân tộc thiểu số cũng có sự phân cách nhất định giữa các nhóm đầu bản, giữa bảng và cuối bảng về mức độ giầu nghèo. Những dân tộc Thái, Mường, Tày thường đứng ở những bậc thang cao hơn cả. Họ vùa có số dân đông, nơi cư trú khá thuận lợi, trình độ dân trí cao.

    Một nhóm dân tộc quá ít người thường chịu những thiệt thòi hơn. Có thể là do lịch sử để lại những yếu kém tồn tại. Họ không đủ lực để tranh chấp những vùng đất mầu mỡ huặc họ đến sau những nơi tươi tốt đã thuộc về dân tộc khác đến trước. Có thể họ bị chèn ép, họ tự ý dắt nhau đi sâu vào những vùng hoang vắng. Những vấn đề ấy trong lịch sử của bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể diễn ra, không phải là hiện tượng cá biệt. Di chứng lịch sử để lại nên họ đành phải chấp nhận một số phận ít may mắn hơn các dân tộc khác và vì thế độ đói nghèo cũng nhiều hơn. Các dân tộ trong nhóm này gồm: Lào, La Hủ, Phù Lá, Lự, Chứt, Cờ Lao, La Ha, Cống, Pu Péo, Ơ Đu, La Chí, Kháng, Pà Thẻn, Lô Lô, Mảng, Bố Y, Ngái, Shi La, Rơ Măm, BRâu.

    Một nhóm dân tộc thiểu số khác cũng cần đề cập đến là những người du canh du cư một cách khá thường xuyên huặc di dân tự do. Nhóm này gồm cả một bộ phận dân tộc có số dân đông như Mông, Ba Na, Gia Rai và gần đây là cả Tày, Nùng và Giao vào các vùng đất còn rừng và mầu mỡ ở Tây Nguyên. Đây là một nhóm người mà cuộc sống cũng rất bấp bênh và còn nhiều khó khăn chưa ổn định cuộc sống.

    Một nhóm nữa là một vài dân tộc còn khá lạc hậu, tồn tại nhiều phong tục tập quán cổ hủ và có nguy cơ giảm dân số huặc suy thoái nòi giống, còn giữ những nét hoang dã, chưa hoà nhập được với cuộc sống lao động sản xuất, vẫn quen hái lượm săn bắn, dựa vào thiên nhiên. Nhà ở tạm bợ, ăn uống thiếu vệ sinh, luôn trong tình trạng đói nghèo đã làm cho những dân tộc này tăng dân số rất chậm. Năm 1995, dân tộc Chứt ở bản Rào Tre, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có 19 hộ với 103 nhân khẩu trưởng bản là một bà tên là Đại, người bé như một đứa trẻ 11 – 12 tuổi, nặng chừng 30 kg do suy thoái nòi giống. Trước đó 2 năm một dự án định canh định cư đã được thực hiện ở đây. Bản có ruộng nước, được cấp trâu bò, xây nhà cho các hộ, đào giếng nước ăn, mở lớp học… nhưng điểm quan trọng cần lưu ý là số ruộng đó lại do người kinh phát canh. Mùa đến, tuỳ theo người kinh cho bao nhiêu gạo thì cho, bản lúc nào cũng vắng tanh, chỉ có phụ nữ và trẻ con, đàn ông thì đi rừng hết, họ đi hàng tháng, đêm ngủ trong hang đá huặc leo lên cây… nghĩa là họ vẫn quen cuộc sống dựa vào thiên nhiên, không chịu làm ruộng mặc dù đã có ruộng và trâu bò.

         2 Những nngyuên nhân cơ bản về tình trạng nghèo đói ở vùng dân tộc thiểu số nước ta

    2.1 Sự phân cách trầm trọng kéo dài

    Đây là nguyên nhân bao trùm dẫn dến tình trạng nghèo đói đối với các hộ dân tộc thiểu số. Những dân tộc thiểu số chịu sự phân chia về địa hình và sự cách biệt về xã hội. Chiến lược phát triển giao thông vận tải đã đưa ra những con số gần đây cho thấy rõ những yếu kém và sự quá tải của hệ thống giao thông nước ta. Hiện nay cả nước vẫn còn khoảng 657 xã chưa có đường ôtô vào trung tâm xã ước tính độ dài đường cần phải làm là 6.400 Km và cần dựng thêm 2.708 cầu trên các tuyến đường vao trung tâm các xã mà chủ yếu là cầu nhỏ dân sinh. Riêng miền núi phía bắc còn có trên 400 xã chưa có đường ôtô đi vào, chiếm trên hai phần ba số xã miền núi trong toàn quốc.

    Đó là chưa thể so sánh con đường đó với những đường chỉ có ngựa thồ và người đi bộ từ các làng bản xa và cao xuống đường xương cá gắn với đường trục. Các chòm bản các hộ cách xa nhau là đặc điểm bắt buộc của những cư dân sống bằng nương rẫy. Do luân chuyển các hạt nương và năng suất đạt thấp nên gia đình cần có một khoảng canh tác rộng để có đủ lương thực sống. Hầu như họ rất ít đi chợ, mỗi lần đi chợ họ mua dự trữ những mặt hàng thiết yếu dầu thắp, muối ăn, và một vài thứ khác.

    Sự phân cách về mặt địa lý đã làm cho việc đi lại trở nên khó khăn. Việc đi lại cách trở, xa các chợ, thị tứ, thị trấn đã làm cho họ rất thiếu thông tin kiến thức về kinh tế thị trường, tính toán đầu vào đầu ra để có kết quả tốt nhất. Bên cạnh đó là sự thiếu thốn về giáo dục làm cho trình độ dân trí của các dân tộc thiểu số có sự cách biệt đáng kể. Số người được học hành để có bằng cấp là rất ít do vậy nên khả năng tham gia của nhười dân tộc vào các hoạt động của xã hội hiện đại là rất hạn chế. Những nỗ lực nhằm từng bước hoà nhập đời sống xã hội của đồng đồng bào các dân tộc thiểu số vào xã hội đương thời ở nước ta chính là cách xoá dần sự chênh lệch cách biệt. Các chương trình mở trường học, xoá mù chữ, dậy tiếng Việt trong nhà trường đã được tiến hành nhưng hiện tượng tái mù chữ vẫn xẩy ra do sau khi học xong thì họ ít có cơ hội tiếp xúc với những phương tiện thông tin để có thể vận dụng những chữ đã được học trong nhà trường.

    Song cho dù chương trình có tốt đến đâu, có hay đến đâu nếu không có kinh phí thì cũng không thể tiến hành được.Đây là một thực trạng khó khăn cho chúng ta hiện nay. Nguồn kinh phí chi cho những công tác này còn rất eo hẹp, cộng thêm với đội ngũ cán bộ thực hiện những chương trình đó thì chưa có đủ trình độ do đó dẫn đến sự kếm hiệu quả của những chương trình đã được triển khai.

     

     

     

    2.2 Những rủi ro tai hoạ đột xuất

    Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi, điều quan tâm nhất của họ trong đời sống là vấn đề cái ăn. Vì vậy có được sự an toàn về lương thực là vấn đề ưu tiên số một. Nhìn lại mấy chục năm qua, tình trạng thiếu lương thực luôn đè nặng lên cuộc sống của họ. Đa phần họ sống trên những vùng đất rốc, núi đá, không thuận lợi cho việc canh tác và năng suất lao động kém. Các vùng và tiểu vùng nơi họ sống thường rất thất thường và khắc nghiệt. Độ ẩm, gió Lào, độ mưa, độ lạnh luôn gây khó khăn cho cây vật nuôi, quá trình sản xuất, và kết quả là mất mùa đối với cây trồn, bệnh dịch đối với gia súc, cây trồng, vật nuôi kém phát triển tất nhiên dẫn đến năng suất thấp ít hiệu quả. Điều quan trọng là do cư trú ở những vùng sinh thái thiếu sự đảm bảo ổn định, tài nguyên rừng, nước ngày càng cạn kiệt. Do lối canh tác ngày càng lạc hậu cây con truyền thống, phụ thuộc nhiều vào khí hậu thời tiết nên dẫn đến thường xuyên đói lương thực và bị đe doạ đứt bữa vào những kỳ giáp hạt.

    Rủi ro và những phát sinh bất thường chính là do sự thiếu bền vững, có thể nói đó là hai mặt gắn liền với sự đói nghèo. Môi sinh mỏng manh, đất đai dễ bị sói mòn, bạc mầu, rừng bị tàn phá thu hẹp dần, nguồn nước mất kéo theo mất luôn nguồn thuỷ sản. Thêm vào đó là thiên tai thường xẩy ra hàng năm và bất ngờ đẩy cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vào hoàn cảnh rất bấp bênh. Mặc dù có nhiều chương trình được thực hiện để củng cố tính bền vững của môi trường như chương trình định canh định cư và chương trình 327 nhưng hiệu quả đem lại chưa cao.

    2.3 Nguồn lực và năng lực

         2.3.1 Nguồn lực

    Có thể nói một cách nhắn gọn nguồn lực bao gồm tất cả những khâu thuộc đầu vào để tạo ra nguồcn thu nhập gồm  tức là đầu ra. Nguồn lực của những người nông dân bao gồm : đất đai, lao động, vốn sản xuất kỹ năng sản xuất. Muốn thực hiện xoá đói giảm nghèo thì phải cung cấp cho họ những điều kiện để họ sản xuất.Trong các nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, ở nước ta ngoài các dân tộc thiểu số như Mường, Tày, Nùng đã canh tác ruộng nước có hệ thống dẫn nước để tưới tiêu học ở người kinh còn lại đa số các đân tộc thiểu số quen phương thức canh tác trên đất đốc và khô. Để ngăn chặn nạn du canh du cư, phá rừng làm rẫy ngày 14-7-1993 tại kỳ họp thứ ba của Quốc Hội khoá IX đã thông qua luật đất đai cho phép xác định tính pháp lý của người có quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đất chia rừng cho các hộ gia đình quản lý diễn ra chậm chạp. Và nếu không có giấy tờ sở hữu đầy đủ thì các hộ dân tộc thiểu số sẽ bị lợi dụng huặc xâm chiếm đất đai bởi những cư dân tự do mới đến.

    Có được đất đai rồi muốn tổ chức sản xuất cần có lao động. Nhìn chung chất lượng lao động ở các dân tộc thiểu số bị yếu kém ở hai khía cạnh chính là : Thể trạng yếu mệt suy dinh dưỡng và kỹ năng lao động kém do đó làm cho năng suất trong lao động rất thấp. Bên cạnh đó nguồn vốn eo hẹp. Có nhiều hộ chỉ quen trông chờ vào nông nghiệp, chăn nuôi nên khi chưa có phương sách gì hơn để tạo thu nhập vốn nhiều khi chưa phải là cần thiết.

         2.3.2 Năng lực

    Năng lực muốn nói ở đây là mức độ tham gia của các dân tộc thiểu số vào xã hội hiện thời. Trước hết quyền tham gia vào các lĩnh vực chính trị – kinh tế, xã hội của các công dân thiểu số đã được xác lập cùng với sự ra đời của nhà nước Việt Nam. Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi cho con em của đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện được học  ở những lớp chuyên ngành và đại học

    II Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo ở vùng tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây

         1 Chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

    1.1 Thuỷ lợi, giao thông

    Thập kỷ cuối của thế kỷ XX, việc phát triển giao thông nông thôn được phát triển trong toàn quốc, với phương châm nhà nước và nhân dân cừng làm đã huy động được nhiều nguồn nhân lực, vật lực, tiền của, phát triển được trên 150.000 Km đường bộ và 35.700 Km đường thuỷ. Nhưng ở miền núi còn rất nhiều khó khăn, làm một Km đường rất tốn kém vì núi đá và địa hình phức tạp, đóng góp của dân về tiền của không nhiều và cuối cùng là ngân sách của Nhà nước đầu tư cho giao thông miền núi còn xa mới đáp ứng được nhu cầu.                         

    1.2 Chương trình định canh định cư

    Vấn đề định canh định cư từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Nó được thể hiện rõ nét nhất qua chương trình 327 được hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) quyết định ngày 15/9/1992. Chương trình này nhằm vào mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, bãi cát sông biển và đối tượng của nó mở rộng tói nhiều hộ gia đình thiểu số dân tộc miền núi. Ngay trong hai năm đầu triển khai chương trình đã được vay 67 tỷ 230 triệu đồng (1 triệu đồng/hộ) để phát triển 400.495 ha đất thành kinh tế hộ, trồng được 19.500 ha cao su, 11.500 ha chè, 7.000 ha cà phê, 18.500 cây ăn quả; và giải quyết việc làm cho 68.300 hộ trải dài trên địa bàn gần 220 huyện, 700 xã miền núi.

    Tính đến 1998 cả nước ta còn có 356.000 hộ với 2,246 triệu nhân khẩu ở 1.939 xã của 38 tỉnh thuộc đối tượng định canh định cư, trong đó có 82.300 hộ, 507.000 khẩu cơ bản đã hoàn thành định canh định cư. Đối tượng còn lại tiếp tục định canh định cư có 25.714 hộ với 157.000 nhân khẩu đang còn du canh du cư.

     

    1.3 Tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học kỹ thuật

    Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX dịch vụ này đã có sự tiền bộ đáp ứng tương đối tốt nhu cầu đầu vào cho sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp. Nhiều hộ nghèo đã được hưởng lợi ích từ chương trình này, và họ đã tìm được cho mình cuộc sống ổn định. Song miền núi, vùng dân tộc thiểu số, thậm trí cho tới nay cũng mới chỉ số ít địa phương có dược những chương trình hiệu quả kiểu này. Thực chất những nội dung lớn của chương trình này chưa được hoạt động mạnh mẽ, phần lớn chỉ khuôn lại ở khuyến nông và khuyến lâm, chỉ đơn thuần là việc đưa giống mới cho người sản xuất để tăng thu nhập. Sự chuyển giao công nghệ theo đúng nghĩa của nó thì chưa làm được bao nhiêu, mới chỉ dừng lại ở cây chè, cây cà phê, cây cao su. Hiệu quả hoạt động của trên 200 trạm khuyến nông cấp huyện và 61 trạm cấp tỉnh chưa đạt yêu cầu, đặc biệt ở những huyện miền núi trạm chưa đủ cán bộ, mạng lưới mỏng khó có thể tiếp cận được với đồng bào các dân tộc thiểu số.

    Nhưng khó khăn còn tồn tại trong việc thực hiện chương trình này qua tìm hiểu từ hai phía nhà đầu tư và người được đầu tư cho thấy:

    Về phía đầu tư  do đi lại khó khăn, thiếu cán bộ khoa học tâm huyết lên với đồng bào miền núi vì chế độ, chính sách đãi ngộ chưa tương xứng để khuyến khích chất xám khoa học kỹ thuật đưa vào sản xuất ở miền núi; mặt khác, mức độ thử nghiệm gặp rủi ro cao…

    Về phía được đầu tư  đồi hỏi phải có một trình độ nhận thực nhất định mới có thể tiếp thu được công nghệ. Những hộ nghèo rất hiếm có được trình độ hiểu biết do phía đầu tư yêu cầu. Người được nhận những chương trình loại này đa phần lại rơi vào các hộ khá và hộ giầu; nên vô hình chung người nghèo lại bị loại khỏi cuộc chơi.

    Một vấn đề rất cần quan tâm đến ở miền núi là công nghệ bảo quản sau thu hoạch và công nghệ chế biến nông phẩm. Vì vậy vấn đề nan giải trước mắt là lo đầu ra cho sản phẩm làm ra của người nghèo. Do không phát huy được những việ kể trrên nên dẫn đến việc tổn hại không nhỏ do bảo quản thiếu kỹ thuật, số lượng thực dư thừa chỉ biết chế biến thành rượu chứ không biết bán cho ai.

    Những vấn đề đặt ra đã cho thấy chương trình trợ giúp công nghệ hiện nay còn hết sức hạn chế. Nhu cầu dịch vụ, chuyển giao kỹ thuật ở miền núi chưa được đáp ứng tương xứng, nên không thể có hàng hoá đủ tiêu chuẩn chất lượng cho thị trường hiện nay và không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

         2 Chương trình giải quyết việc làm

                Với mục tiêu là giải quyết việc làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số, trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, chính sách xoá đói giảm nghèo thì một hệ  thống trung tâm xúc tiến việc làm đã được hình thành trên cả nước, góp phần tích cực để có thêm nhiều người có thu nhập và ổn định cuộc sống.Từ khi thực hiện chương trình đến nay đã có hàng vạn lao động đã được hưởng lợi ích tù chương trình này. Song nhìn vào những kết quả người ta chỉ nhận ra là chương trình xúc tiến việc làm chủ yếu tập trung ở những thành phố lớn, thành thị., còn ở nông thôn đặc biệt là những dân tộc thiểu số dường như chưa có sự ưu đãi, hưởng lợi từ chương trình này.

    Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vấn đề cần phải cảnh báo là: khả năng tham gia vào chương trình này là rất yếu kém. Đặc thù này dẫn đến một yêu cầu không thể thiếu được là cần chú ý huấn luyện, bồi dưõng để nâng cao năng lực cho đồng bào dân tộc ngay lúc ban đầu, thậm trí phải bầy ra công việc để hướng họ vào làm việc đó tức là tạo ngành nghề vừa với khả năng thói quen truyền thống của họ và mở ra các công việc mới mẻ cho lớp trẻ tham gia làm quen và nâng cao tay nghề của họ.

    Vì vậy chương trình xúc tiến việc làm ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số sẽ khó khăn và nặnh nề hơn nhiều lần so với ở đồng bằng. Một điều cấp thiết nữa là cần có người biết tiếng dân tộc để truyền thụ kiến thức và hướng dẫn cách làm. Đội ngũ này hiện nay dường như chưa đáng kể, chưa đủ tiêu chuẩn am hiểu về tiếng và chưa đủ về lượng để phân phối cho một địa bàn rộng lớn chiếm 2/3 diện tích cả nước.

         3 Chương trình tín dụng

    Thực tế cho thấy từ năm 1991 chúng ta đã thực hiện khoản tín dụng cho vay mở rộng đối tới hộ nông dân, nhưng chỉ một số trong diện hộ nghèo mới có cơ hội vay vốn từ ngân hàng nhà nước và số vốn vay còn rất hạn chế. Tháng 3 năm 1995 quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo phát triẻn sản xuất ra đời, đó là tổ chức tín dụng tiền thân của ngân hàng phục vụ người nghèo nay là ngân hàng chính sách xã hội. Quỹ cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo đầu tiên đến với hộ nghèo đánh dấu sự đi lên với giấc mơ đẹp với người nghèo biết làm ăn và sản xuất vuơn lên. Cuối năm 2002 tổng nguồn vốn của ngân hàng người nghèo là 7.083 tỷ VND, trong đó vốn điều lệ là 1.105 tỷ dồng bằng tiền vay từ ngân hàng nhà nước, ngoài ra còn nhận vốn uỷ thác từ ngân sách địa phương và huy động vốn của hộ nghèo 398 tỷ đồng. Từ nguồn vốn khiêm tốn đó sau 7 năm hoạt động đã cho vay tổng doanh số 14.895 tỷ đồng, số lượng hộ nghèo được vay trên 7,7 triệu hộ. Số hộ còn dư nợ là 2,8 triệu hộ. Bình quân mỗi hộ được vay 2,5 triệu đồng và đến năm 2001 là 5 triệu đồng. Đáng chú ý là có 55 vạn hộ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số được vay với dư nợ 1300 tỷ. Tính đến 31-12-2002, nhân hàng người nghèo đã đưa 64 vạn hộ thoát nghèo trong đó có  7,6 vạn hộ thuộc dân tộc thiểu số, và cứ 8 hộ thì có 1 hộ thoát nghèo. Về chất lượng tín dụng thì chỉ có 1,71% là nợ quá hạn. Kết quả tài chính bước đầu khả quan. Tổng thu nhập 2.435 tỷ đồng, số lượt hộ nghèo được vay 7,7 triệu hộ. Những thành tựu trên thật đáng khích lệ, thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo.

    Một mặt tồn tại trong hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo là do thụ động trông chờ vào vốn từ Trung ương rót xuống và không có mạng lưới, chi nhánh riêng nên ngân hàng phục vụ người nghèo chưa có một cơ chế hoạt động rõ ràng. Cuối cùng nó lại rơi vào tình trạnh của ngân hàng nông nghiệp, tức là vẫn còn những khoảng trống rât lớn ở vùng cao, vùng dân tộc thiểu số. Trong số những người nghèo thì người nghèo thuộc dân tộc thiểu số bao giờ cũng chịu nhiều bất lợi hơn. Đến nay ngân hàng phục vụ người nghèo chưa tác động được bao nhiêu đến các hộ đặc biệt khó khăn ở vùng cao biên giới, vùng sâu, vùng xa.

    Vấn đề thiết thực cần bàn đến là với mức lãi suất ưu đãi hiện nay, nhiều hộ người nghèo miền núi còn e ngại. Thông qua một số chương trình cho vay của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, SIDA, IFAD, và UNDP, Hà Lan và một số tổ chức phi chính phủ thông qua hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tỏ ra có hiệu quả. Những chương trình này đã tạo ra một bài học thực tế là nguồn tín dụng phải được chặt chẽ, gắn liền với việc huấn luyện phương pháp thích hợp để tăng thu nhập. Nếu không có hai yếu tố trên thì mức độ rủi ro sẽ cao và người nghèo sẽ phải gánh chịu hậu quả. Như vậy yếu tố tín dụng phải đi song song với việc cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao giống và công nghệ mới. Bản thân người nghèo ở vùng dân tộc thiểu số không có khả năng lập kế hoạch sản xuất và tiến hành đầu tư khôn ngoan để có thể sinh lãi. Họ cần có cả tiền vốn và kiến thức về kinh tế, những dịch vụ cho sản xuất, mà trước hết là những vật tư cho sản xuất nông nghiệp thiết yếu như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới và các dịch vụ thú y để hạn chế thấp nhất mức rủi ro.

         4 Chương trình giáo dục, y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo

    4.1 Chương trình giáo dục

    Phổ cập giáo dục xoá nạn mù chữ là một mục tiêu mà Nhà nước ta rất ưu tiên, đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và đây chính là một cách thức hiệu quả nâng cao trình độ dân trí cho họ, giúp hộ hoà nhập với xã hội tiên tiến là con đường để họ có thể tự nhận thức và vươn lên xoá đói giảm nghèo. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi khuyến khích cho những giáo viên về công tác tại bản làng, đồng thời mở nhiều trường dậy học ở vùng cao xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành giáo dục nơi đây. Tuy nhiên do sự cách biệt về mặt địa lý nên công tác giáo dục nơi đây chưa làm được nhiều, con em của đồng bào dân tộc được học hành đầy đủ còn ít nhưng đó cũng là tín hiệu đáng mừng cho việc thay đổi bộ mặt nơi đây. Đã có nhiều sinh viên là con em các dân tộc sau khi học xong trở lại xây dựng quê nhà, thêm vào đó là những chương trình dậy nghề đã giúp cho họ có được nhiều việc làm tăng thu nhập, nâng cao năng suất lao động.

    Trong những nhóm chương trình được tiến hành thì chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp hầu như chưa có tác động trực tiếp tới học sinh nghèo vì hệ thống chủ yếu tập trung phục vụ cho chương trình này là các thiết bị cao cấp, kể cả máy vi tính. Điều đó là quá xa vời đối với học sinh là con em nhà nghèo. Với dân tộc thiểu số thì đó quả là một giấc mơ. Chương trình dậy nghề đối với học sinh dân tộc miền núi, vì nó không thuộc khu vực ưu tiên nên nó chưa có một hệ thống trung tâm dậy nghề và ít có khả năng với tới nguồn kinh phí ít ỏi của nhà nước dành cho lĩnh vực này và nguồn viện trợ từ nước ngoài.

    Điều đáng lưu ý nhất là trẻ em nghèo không có khả năng kinh tế để học lên các lớp trên nên không đủ tiêu chuẩn văn hoá để vào học các lớp dậy nghề; chính vì vậy có thể nói con nhà nghèo chưa được hưởng lợi từ chương trình này.

    4.2 Chương trình y tế          

    Bên cạnh chương trình giáo dục, chương trình y tế cũng đã có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Những chương trình y tế nhìn chung đã phát huy tác dụng cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra xưa và nay ở miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Việc ưu tiên dành hàng chục tỷ đồng cấp phát muối iốt cho vùng dân tộc thiểu số và hàng chục tỷ đồng trợ cước vận chuyển tới vùng cao, nhờ đó tỷ lệ bướu cổ đã từ 54% năm 1991 xuống dưới 40% năm 1996. Đến nay người dân miền núi và cả nhiều vùng miền xuôi đã quen dùng muối iốt và không cần phải tuyên truyền vận động như những năm trước đây.

    Chương trình nước sạch cho sinh hoạt cũng là một chương trình có ý nghĩa không nhỏ để cải thiện sức khoẻ sinh hoạt và đời sống xã hội đối với người nghèo. Chương trình này đã có 20 năm thực hiện (1982-2002) dưới sự trợ giúp của UNICEF. Kết quả của sự đầu tư gần 20 triệu USD và của UNICEF và trên 40 tỷ đồng của chính phủ Việt Nam là hơn 1/3 dân số nông thôn được dùng nước sạch, tuy nhiên số dân miền núi và dân tộc thiểu số được hưởng từ chương trình này là quá nhỏ bé, cần có sự điều chỉnh hợp lý hơn về vốn đầu tư dành cho những vùng đặc biệt khó khăn ở miền núi. Theo những số liệu của bộ y tế thì chương trình tiêm chủng mở rộng và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em đã thu được kết quả rất khả quan, Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, thiếu trọng lượng tiêu chuẩn khi mới sinh, trẻ em chết dưới một tuổi giảm. Tuy vậy tỷ lệ trẻ em trên dưới 40% ở lứa tuổi dưới một tuổi và suy dinh dưỡng dưới năm tuổi vẫn là con số khá cao đòi hỏi cần có sự đầu tư hơn nữa trong công tác y tế ởvùng cao.

         5 Chương trình quốc gia số 06/CP

    Năm năm thực hiện chương trình quốc gia số 06/CP diện tích trồng cây thuốc phiện từ 15.495 ha ở 11 tỉnh miền núi phía bắc đã giảm nhanh chóng xuống còn 12.787 ha vụ 1993; 3.296 ha vụ 1994; 2.363 ha vụ 1995. Cho đến nay cơ bản cây thuốc phiện đã được huỷ bỏ trên địa bàn miền núi nước ta. Trong số các địa bàn xoá bỏ cây thuốc phiện thì có 30% trong số các địa bàn đó đã ổn định cuộc sống nhờ vào các dự án xoá bỏ cây thuốc phiện và các chương trình xoá đối giảm nghèo. Còn 30% số vùng xoá bổ cây thuốc phiện đan còn gặp khó khăn, chưa ổn định, còn du canh , chưa tạo ra được nguồn thu nhập để thay thế cây thuốc phiện, lúng túng  trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tức cuộc sống còn bấp bênh. Có 20% số vùng đã xoá bỏ cây thuốc phiện nhưng đang có hiện tượng tái trồng lại . 20% còn lại là những vùng quá xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống du canh du cư mà chương trình chưa vươn tới huặc chưa có tác dụng.

         6 Chương trình hỗ trợ dân tộc dặc biệt khó khăn

    Theo cuộc điều tra đã thống kê ra 41 dân tộc trong đó có 27 dân tộc đói nghèo dưới mức quy chuẩn của Bộ lao động thương binh và xã hội tức là có thu nhập bình quân đầu người dưới 60.000đ/tháng. Theo số liệu điều tra có tới 65,85% số hộ nơi này dơi vào tình trạng đói nghèo, 990,7% là nhà tạm tranh tre nứa lá, 82,96% là không có nước sạch dùng trong sinh hoạt. Từ thực trạng những khó khăn trên chương trình đã được triển khai với cơ cấu nguồn vốn như sau:

    • 30% hàng hoáỗ trợ đời sống: lương thực, chăn màn, quần áo sửa chữa nhà cửa.
    • 57% mua trâu bò, lập vườn hộ, chăn nuôi để tạo thu nhập hỗ trợ sản xuất.
    • 10% củng cố thuỷ lợi nhỏ, trạm xá, lớp học …
    • 3% dùng trong hướng dẫn kỹ thuật và quản lý chỉ đạo chương trình.

    Qua một thời gian thực hiện, tình hình thu nhập của các hộ thuộc các diện được hỗ trợ trong chương trình này đã nhích lên trên mức đối nghèo. Thu nhập thấp nhất là dân tộc Chứt và La Chí từ 65.000đ đến 65.790đ/người/tháng, với các dân tộc khá hơn như Ơ Đu và M Nông là 82.300đ đến 87.300đ/người/tháng.

         7 Chương trình bảo vệ môi trường

    Trong số những chương trình về bảo vệ môi trường được triên khai thì chương trình 327 là chương trình có ý  nghĩa nhất đối với đồng bào dân tộc. Các chương trình về môi trường đã góp phần làm tăng độ tre phủ của rừng từ 25% năm 1992 lên 30% năm 1996, bình quân riêng chương trình 327 đã làm tăng thêm từ 110.000 ha lên 130.000 ha rừng trồng. Có rừng tức là có nguồn nước, chống được xói mòn, tạo cho đất đai thêm mâu mỡ, bền vững là cơ sở tăng năng suất trong nông nghiệp ở vùng núi. Chính điều này  lại tác động trở lại vào việc xoá đói giảm nghèo.               

                   

                            

     

     

    chương III

    Những kiến nghị và giải pháp về xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số của nước ta

     

    I Những vấn đề cần lưu ý và giải pháp khắc phục trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

         1 Vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

    1.1 Khuyến nông, khuyến lâm

    Để giải quyêt vấn đề nghèo đói hiện nay ở miền núi, một điều dễ nhìn thấy là phải khai thác triệt để những ruộng nương, ao hồ, sông, suối, bãi bồi để trồng trọt và chăn nuôi… Với việc bùng nổ dân số thì việc phá rừng là một biện pháp hiệu quả nhất cho các dân tộc thiểu số để có diện tích đất canh tác, bên cạnh đó có thể tăng thu nhập bằng cách săn bắn thú quý trái phép và dùng thuốc nổ hay điện để bắt cá. Những biện pháp trên là kể thù của môi trường và không thể chấp nhận được trong yêu cầu phát triển bền vững hiện nay.

    Đặt vấn đề trên cũng coi như là khẳng định giải pháp kỹ thuật , chuyển dịch cơ cấu sản xuất với các loại giống mới với năng suất cao và xây dựng loại mô hình VACR ( vườn, ao, chuồng, rừng ) là trọng tâm của công tác khuyến lâm miền núi. Tuy nhiên để đảm trách được công việc này cần có một hệ thống khuyến nông từ Tung ương đến các địa phương, các trung tâm nghiên cứu các dự án chương trình, kế hoạch trong khuôn khổ quỹ xoá đói giảm nghèo. Quy trình khuyến nông, lâm, ngư  như sau:

    • Các trung tâm nghiên cứu đào tạo cán bộ khuyến nông, trang bị kiến thức cho họ bằng những thông tin mới nhất và kỹ nghệ tiên tiến sát với yêu cầu thực tế của nông dân miền núi và của thị trường.
    • Hệ thống khuyến nông chính quy bao gồm cục khuyến nông của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và các trung tâm của tỉnh, huyện.
    • Hệ thống khuyến nông tự nguyện bao gồm các viện, trường cao đẳng, đại học, các hội, các tổ chức đoàn thể, các tình nguyện viên, các hộ nông dan sản xuất giỏi.

    Đối với những người, những đơn vị tham gia khuyến nông tự nguyện tuy họ làm như vậy mà không đòi hỏi gì nhưng cũng cần có hìn thức khuyến khích động viên huặc tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong công việc. Trong tình hình miền núi nước ta hiện nay giải pháp khuyến nông Nhà nước vẫn cần được duy trì và mở rộng, và vẫn phải trợ cước, trợ giá để đỡ bớt gánh nặng đầu vào trong quy trình sản xuất cho người nghèo.

    1.2 Tín dụng

    Phần lớn các hộ dân tộc thiểu số nghèo đều ngại vay tiền trong hệ thống dịch vụ tài chính mà Nhà nước cung cấp phục vụ cho mọi đối tượng dân cư. Đối với họ thì hình thức hấp dẫn phải với điều kiện là thời gian đầu cho vay không lãi, sau đó lãi suất thấp. Tức là mô hình ưu đãi kiểu mô hình người nghèo đã áp dụng. Tuy nhiên loại tín dụng ưu đãi này chỉ đến được với rất ít người nghèo trong hàng chục vạn hộ nghèo ở vùng cao miền núi. Lý do mà những người dân tộc thiểu số ngại vay tín dụng vì những lý do chính sau:

    • Không biết cách sử dụng vốn để sinh lãi.
    • Sợ rủi ro trong sản xuất, chăn nuôi (bão, lũ, lụt, dịch bệnh trong chăn nuôi).

    Muốn thu hút được người dân tộc thiểu số tiếp cận ngày càng đông với tín dụng thì thì phải giải quyết được những khúc mắc ngần ngại này.

    Có một thực tế hiện nay là với nguồn lực hiện nay thì việc huy động một nguồn tài chính khổng lồ như vậy là rất khó khăn. Ngân sách dành cho ngân hàng người nghèo là có hạn vì vậy càn phải huy động từ nguồn lực khác nhau từ những quỹ tín dụng hợp tác xã, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng nông thôn… ở những nơi mà ngân hàng người nghèo chưa vươn tới được huặc không có khả năng cung cấp tín dụng do nhu cầu quá cao. Đối với dân tộc thiểu số thì những uỹ tín dụng như vậy có lẽ phù hợp với điều kiện dân cư phân tán, đường sá khó đi, chi phí vận chuyển cao, khó tiếp cận với ngân hàng nhà nước. Những quỹ tín dụng thôn, xã, nhóm hộ dễ tiếp cận hơn, dễ kiểm soát đồng vốn vay, biết được các hộ đầu tư vào công việc gì. Nó còn phù hợp ở chỗ đáp ứng được vốn vay nhỏ cải thiện đời sống.

    Đông thời cũng cần cải cách dần dần chính sách lãi suất hợp lý để thu hút được vốn đầu vay cho hộ nghèo, khuyến khích các tổ chức tài chính huy động các nguồn vốn từ cộng đồng, cá nhân và coi trọng quyền tự chủ của họ. Bên cạnh đó cần xem xét xen kẽ vốn ngắn hạn và dài hạn nếu cùng một lúc hộ nghèo có kế hoạch đầu tư vào sản xuất ngắn hạn và dài hạn. Song, dù dưới hình hức nào, kiểu nào cũng phải tăng hạn mức vay và kéo dài thời gian vay để người nghèo có đủ thời gian cho cây, con lớn trưởng thành đến khi thu hoạch.

    1.3 Giao thông vận tải

    Vấn đề số một hiện nay là giao thông được nhắc đi nhắc lại nhiều lần vì đây chính là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên sự cách biệt, nhưng nếu giải quyết tốt sẽ tạo là cơ hội cho ngưòi nghèo ở vùng dân tộc thiểu số vươn lên. Với phương chân Nhà nước và nhân dân cùng làm đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên số dự án xây dựng đường giao thông ở miền núi vẫn còn ít, trong khi đó nhu cầu thì rất nhiều. Một khó khăn đó là vấn đề vốn đầu tư cho những dự án này đòi hỏi chúng ta cần phải có một cơ chế, chính sáh ưu đãi về vốn vay, thu phí giao thông… để các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng giao thông miền núi.

    Một vấn đề hết sức quan trọng là việc duy trì, bảo dưỡng đường miền núi. Do địa hình dốc, phức tạp, độ xói mòn lớn, mưa gió bất thường nên đường thường xuyên hỏng. Biện pháp tốt nhất để giải quyết là nên giao công việc này cho cơ quan địa phương phối hợp cùng với các cơ quan ngành giao thông và được sự giúp đỡ của cơ quan nhà nước. Vấn đề lâu dài cần có kế hoách từng bước nâng cấp đường giao thông theo hướng nhựa hoá tỉnh lộ,  đá hoá huyện lộ, cơ giới hoá xa lộ và mở rộng đường liên thôn, liên bản để xe ngựa và xe máy có thể đi lại dễ dàng.

    1.4 Giao đất giao rừng

    Tình trạng mất đất do mua bán, sang nhượng huặc thiếu đất canh tác đang diễn ra rất trầm trọng ở khắp các địa phương kể cả đồng bằng và miền núi. Đối với đa phần các dân tộc thiểu số thì đất đai là nguồn lực quan trọng nhất để duy trì cuộc sống. Trong điều kiện hiện nay, đối với miền núi, vùng dân tộc thiểu số nơi phức tạp bởi các phong tục tập quán truyền thống việc chia đất khoán rừng nên thực hiện theo những  bước sau:

    • Lập một bản đồ tổng thể ở các xã, bản có cán bộ địa chính và chính quyền xã, già làng, truởng bảntham gia.
    • Tổ chúc các cuộc họp lấy ý kiến dân chủ trong nhân dân.
    • Xác định mốc giới trên thực địa có mặt các hộ và cấp sổ đỏ sử dụng đất.

    Nghiên cứu cấp sỏ đỏ và chia đất khoán rừng theo nguyên tắc gán với nơi cư trú của các hộ và tuỳ vào khả năng canh tác và số nhân khẩu. Một số đất đai dự trữ dành cho sự phát triển dân số giao cho tập thể cộng đồng quản lý và sử dụng. Cần có sự hướng dẫn viẹc sử dụng dất đai khai thác rừng, giữ gìn và bảo vệ rừng đầu nguồn, dừng đặc vụ… để đảm bảo tính bền vững lâu dài cho môi trường sinh thái. Những nơi không có khả năng sản xuất thì giãn đi nơi khác. Hướng giải quyết đất đai ưu tiên trước hết là giãn trong nội huyện, nội tỉnh, tránh tối đa sự xáo trộn quá nhiều ảnh hưởng tới đời sống kinh tế và xã hội trong vùng.

    1.5 Chuyển giao khoa học kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu sản xuất

    Thực tế cho thấy nếu biết ứng dụng khoa học tiên tiến, tìm kiếm giống mới, thâm canh thì không cần tăng diện tích vẫn có thể làm giầu được. Tuy đất đai rất quan trọng nhưng nó không phải là tất cả. Cho nên với một mức độ nào đó, người nghèo ở miền núi phải được tập huấn và tạo nên một cách làm ăn mới. Bỏ dần cây, con và cách canh tác truyền thống, thay vào đó là những cây, con mới hoàn toàn huặc lai tạo với giống địa phương có khả năng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái ở địa phương.

    Để giúp đỡ bà con các dân tộc dần dần xoá đói giảm nghèo nên chăng ở mỗi huyện cần có một trung tâm chuyển giao hướng dẫn khoa học kỹ thuật, mà trước hết là những kỹ thuật đơn giản cho nhân dân miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trung tâm này mở các lớp huấn luyện ngắn hạn cho một số người có học vấn tối thiểu ở các xã, các bản theo múa vụ của cây con, rồi từ đó họ sẽ toả xuống các bản xóm chỉ dẫn kỹ thuật cho đồng bào ngay trên thực địa. Cách làm này hiệu quả mà chi phí lại ít và phù hợp với điều kiện dân cư phân tán ở miền núi.               

         2 Các vấn đề xã hội

    2.1 Y tế

    Về tình hình y tế miền núi , vùng dân tộc hiện nay, cần lưu ý mấy vấn đề sau:                     

    • Sự kém hiểu biết của nguời miền núi về bảo vệ sức khoẻ và phòng chống bệnh dịch thường dẫn đến tình trạng phát bệnh đến giai đoạn trầm trọng, mãn tính nên rất khó chữa trị.
    • Các bệnh nguy hiểm lại thường bắt nguồn từ những bệnh rất thông thường. Do một lý do nào đó, người dân ơi đây đã coi thường huặc ngại đi đến các cơ sở khám chữa bệnh, không có thuốc men… nên từ bệnh này lan sang bệnh khác càng khó chữa trị.
    • Các phương pháp chữa trị dân gian tỏ ra có hiệu quả và rẻ tiền dễ kiếm ở địa phương, nhưng một tình trạng vẫn đang xẩy ra là một số bà con ở vùng sâu vùng xa lạc hậu hoặc bị lừa bịp với cách chữa trị thiếu khoa học của thầy mo, thầy cúng nên thường đãn đến nguy hiểm cho tính mạng.
    • Hệ thống y tế dường như nặng về hình thức, thiếu khả năng chuyên môn, thuốc thang và cán bộ để phục vụ trên địa bàn rộng thì phân tán.

    Từ những vấn đề trên một số giải pháp để khắc phục những vấn đề này là:

    • Phổ biến rộng khắp mạng lưới y tế viên cộng đồng gồm các giáo viên phổ thông, người có trình độ học vấn, cán bộ các đoàn thể…kết hợp công tác chuyên trách với công tác y tế cộng đồng.
    • Cung cấp đủ số thuốc thông thường cho các túi thuốc thôn bản.
    • Kết hợp với sự giúp đỡ về y tế của lực lượng y tế bộ đội biên phòng ở các đồn vùng sâu vùng xa.
    • Tập hợp các bà lang, ông lang có uy tín ở địa phương để cùng hợp tác chữa bệnh. Khuyến khích chữa bệnh bằng thuốc nam, thuốc lá và xây dựng vườn thuốc thôn bản.
    • Tổ chức những đợt khám chữa bệnh lưu động và miễn phí định kỳ xuống thôn bản. Phát hiện kịp thời để đưa các bệnh nhân nặng về tuyến y tế huyện, tỉnh chữa trị.
    • Cấp thuốc nhân đạo cho các trưồng hợp quá khó khăn và đối tượng thuộc chính sách xã hội.

    2.2 Giáo dục

    Những vấn đề nổi cộm hiện nay:

    • Mù chữ và tái mù chữ còn nhiều.
    • Việc phổ cập giáo dục tiểu học đối với trẻ em nhà nghèo còn chưa đạt yêu cầu.
    • Sự bất bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái còn phổ biến. Các trẻ em gái có tỷ lệ bỏ học lớn hơn so với em trai, và càng học lên cao thì tình trạng rơi rụng càng nhiều.
    • Đội ngũ dậy học và sách giáo khoa còn thiếu nghiêm trọng.
    • Đội ngũ thầy cô giáo mỏng, còn thiếu về số lượng, yếu kém về trình độ chuyên môn, đặc biệt là tình trạng thiếu giáo viên là người dân tộc thiểu số.
    • Cơ sở hạ tầng trường lớp xuống cấp, chất lượng học sinh yếu so với mặt bằng giáo dục phổ thông chung.

    Từ thực trạng trên cho thấy muốn giúp người nghèo được hưởng thụ chương trình giáo dục nâng cao đân trí để tiếp bước xoá đói giảm nghèo, cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

    • Cần có cơ chế chính sách ưu tiên với đối tượng nghèo và con con em của họ đảm bảo xoá được nạn mù chữ và phổ cập tiểu học, được miễn hoàn toàn về học phí và các khoản đóng góp khác.
    • Mở các nhóm xoá mù chữ tại các chòm xóm, bản; người biết khá dậy người biết kém, người biết kém dậy người chưa biết chút nào… Người tình nguyện dậy có kết quả tốt sẽ được hỗ trợ một khoản tiền hay vật chất để khuyến khích.
    • Mở rộng loại hình lớp học bán trú dân nuôi thành một quy định đóng góp của toàn dân(bằng ngô, lúa, lương thực tự có).
    • Dần dần đào tạo thay thế hệ thống giáo viên thôn bản bằng giáo viên dân tộc và có chế độ đãi ngộ để họ đủ sống, yên tâm bám trường lớp giảng dậy.       
    • Cải thiện đời sống văn hoá tinh thần cho thầy trò nhà trường ở miền núi( trang bị một số thiết bị như báo, tranh ảnh, vi deo, đài…).
    • Mở rộng việc kết nghĩa giữa các đơn vị quân đội, đoàn thể nhân dân với nhà trường nhằm giúp đỡ, ủng hộ về vật chất, ngày công sửa trường lớp và đồ dùng sách vở học tập.
    • Cần trích hợp lý một phần nhỏ kinh phí từ các chương trình dự án trên địa bàn để hỗ trợ cho giáo dục và con em nhà nghèo.

    2.3 Về bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số

    Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi muốn giữ được bản sắc văn hoá trước hết phải có thông tin đúng và thường xuyên về chính sách văn hóa đối với từng dân tộc, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước. Vấn đề quyết định là phải có chế độ, chính sách thoả đáng trong việc đầu tư cho phong trào văn hoá quần chúng ở cơ sở, đẩy mạnh hơn nữa công tác văn hoá , thông tin lưu động, cổ động trực quan phục vụ đồng bào dân tộc và miền núi. Tăng cường hơn nữa công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số qua các hoạt động xuất bản, phát hành, thư viện. Đẩy mạnh hơn nữa phong trào đọc sách báo qua các thư viện, tủ sách cơ sở, các trường học. Bên cạnh đó cần có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về văn hoá của các dân tộc thiểu số, tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm, tập huấn về các chủ đề truyền thống các dân tộc, chủ động giao lưu văn hoá giữa ác dân tộc, tiếp thu nền văn hoá, văn minh của các dân tộc trên thế giới làm phong phú thêm ban sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nước ta.

         3 Trợ giúp đối tượng chính sách xã hội

    3.1 Người có công với nước và gia đình họ

    Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi với những đối tượng thuộc diện này, hàng năm chúng ta đã dành ra hàng ngàn tỷ đồng giúp đỡ đối tượng này. Tuy vậy đối tượng này vẫn gặp không ít khó khăn và chỉ trông chờ vào số tiền trợ giúp của Nhà nước huặc một số rất nhỏ có sổ tiền tiết kiệm thì chưa thể giải quyết được đời sống ổn định. Vì vậy cần có một chính sách ưu tiên rộng lớn và phong phú hơn, đa dạng về hình thức sản xuất hàng hoá để giúp cho những đối tượng này có được mức sống bằng và dần dần cao hpưn mặt bằng đời sống ở địa phương.

    Có thể áp dụng những hình thức ưu tiên, giúp đỡ sau dây:

    • Ưu tiên đất canh tác tốt hơn khi chia đất khoán rừng và có cự ly gần nhà để tiện chăm sóc.
    • Ưu tiên việc đầu tư giống mới, cấp cho không(hạt, giống) huặc miễn một phần chi phí dịch vụ hay vật tư nông nghiệp…
    • Ưu tiên cho con em họ khi sắp xếp việc làm, ngành nghề.     
    • Cấp sổ khám bệnh và miễn phí trong trường hợp bệnh nặng cần số tiền lớn để điều trị…
    • Các tổ chức đoàn thể nhân dân thường xuyên quan tâm chăm sóc, động viên các hộ nghèo theo hướng sản xuất tiên tiến bằng cả vật chất và tinh thần trong điều kiện cho phép.

    3.2 Người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi

                Đây là đối tượng rất đông đảo do nguyên nhân chiến tranh, do điều kiện sống quá thiếu thốn nghèo đói gây ra. Nhà nước đã có nhiều quyết định và được thể chế hóa và hướng dẫn tiêu chuẩn, chế độ cho từng loại đối tượng. Tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa giải quyết được so với yêu cầu và sự bình đẳng giữa các địa phương có người tàn tật, cô đơn chưa công bằng và chưa được chuẩn hóa. Trước khó khăn để hỗ trợ cho họ, những đối tượng loại này cũng cần được nghiên cứu tìm nhữnh khả năng phù hợp để mở rộng các hình thức và biện pháp giúp đỡ họ theo hướng sản xuất và ngành nghề phù hợp. Các địa phương cần có những lớp dậy nghề phù hợp cho từng loại đối tượng, nên khuyến khích và có chế độ giảm thuế đối với những cơ sổ sản xuất nhận người tàn tật, trẻ mồ côi…

         4 Cứu tế, viện trợ khẩn cấp

                Hàng năm, nhà nước dùng khoản chi phí trên dưới 40-60 tỷ đồng cho các đối tượng thuộc diện cần cứu trợ khẩn cấp. Nguồn viện trợ này chủ yếu được sử dụng trong những trường hợp: cứu tế khi bị thiên tai, cứu tế khi giáp hạt, trong đó chủ yếu là thuốc men, lương thực và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu. Hiện nay Nhà nước đã cho phép các địa phương thành lập các quỹ dự trữ để khắc phục các hậu quả do thiên tai. Tuy nhiên khi có thiên tai xẩy ra thường bị động và cung cấp chậm những nhu cầu khẩn cấp. Để chủ động hơn nữa việc phòng chống thiên tai chúng ta cần chủ động dự báo trước các hiện tượng thiên tai trên mọi phương tiện thông tin và cách phòng chống cho mọi nguời. Bên cạnh đó trước mùa mưa lũ, nên tập kết các loại vật chất thiết yếu để viện trợ kịp thời khi có thiên tai xẩy ra.

         5 Chốngtệ nạn xã hội và xây dựng nếp sống văn hoá

    Tệ nạn chủ yếu ở miền núi hiện nay là tệ nghiện hút thuốc phiện, ma chay cưới xin lạc hậu, tốn kém đã ảnh hưởng lớn tới kinh tế gia đình và làm cho hộ nghèo càng nghèo hơn. Từ khi có trương trình quốc gia số 06/CP mỗi năm nguồn kinh phí cho chương trình nay là vài ba chục tỷ đồng, tuy đã đem lại nhiều kết quả khả quan nhưng chươg trình này là chưa đủ để có thể xoá hết những tệ nạn, phong tục tập quán lạc hậu đang tồn tại là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến nghèo đói.

    Để giúp người nghèo thoát khỏi những tệ nạn này, biện pháp tập trung cai nghiện hoặc cải tạo gái mại dâm ở miền núi là khó có thể triển khai trên diện rộng, do khó khăn về kinh phí và các khoản khó khăn về chi phí cho xây dựng cơ sở hạ tầng và bộ máy quản lý. Biện pháp tốt nhất là tuyên truyền phát động phong trào bỏ hút thuốc phiện, tác động từ phía những người thân ruột thịt trong gia đình. Trợ giúp thuốc cai nghiện tại nhà phù hợp với đồng bào các dân tộc thiểu số sống phân tán và không muốn xa nhà. Nên có nguồn kinh phí sủ dụng để vận động trợ giúp, tập huấn, tuyên truuyền đồng bào bỏ các tệ nạn xã hội. Đồng thời xây dựng các quy ước văn hoá cộng đồng, xây dựng các chuẩn mực văn hoá phù hợp với vùng dân tộc và cho từng dân tộc. Việc chống tệ nạn xã hội cần phải có sự tham gia của đông đảo mọi người, bên cạnh hình thức tuyên truyền thì Nhà nước cần từng bước thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật để đưa những đối tượng này vào kỷ cương phép nước.

     

     

     

     

     

    II Bài học kinh nghiệm trong công tác xoá đói giảm nghèo ở nước ta

    1. Sự nghiệp xoá đói giảm nghèo là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả mọi người cùng tham gia mà trước hết là những cơ quan tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện các chủ trương chính sách của nhà nước về công tác xoá đói giảm nghèo. Để có thể thành công bản thân các cơ quan tổ chức này cần xây dựng cho mình một bộ máy vững mạnh có đủ năng lực và trình độ, nhiệt tình trong công việc. Bên cạnh đó cần có một cái nhìn khách quan và toàn diện về hiện tượng nghèo đói để có được phương pháp tiếp cận, công cụ thực hiện một cách có hiệu quả nhất.
    2. Muốn xoá đói giảm nghèo thành công, một vấn đề quan trọng là cần phải có sự thống nhất cao trong nhận thức về trách nhiệm của cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, của các tổ chức đoàn thể nhân dân; có hệ thống chính sách, cơ chế phù hợp, có kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cụ thể ở từng xã, thôn, bản và đến từng hộ.
    3. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể giữa các cấp, các ngành, phát huy vai trò của tổ chức đòan thể: hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh…
    4. Các giải pháp đưa ra để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược thường có liên quan tới nhiều cấp nhiều ngành, do đó cần có cơ chế vận hành chương trình hiệu quả để có thể phối hợp các cơ quan liên quan nhằm thực hiện mục tiêu nhiệm vụ chiến lược đã đề ra. Cơ chees vận hành và sự phối kết hợp phải tạo ra được sự phù hợp về trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan.
    5. Phải có quy hoạch sắp xếp lại dân cư, bố trí xen kẽ và hợp lý các hộ thuộc dân tộc Kinh có kinh nghiệm sản xuất giỏi với các hộ chưa biết cách làm ăn, giúp nhau phát triển sản xuất, thực hiện xoá đói, giảm nghèo.
    6. Phải có tổ chức điều tra, xác định rõ nguyên nhân, quản lý chắc các hộ nghèo ở từng xã và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, phát huy dân chủ cơ sở tạo cơ hội cho người nghèo trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch xoá đói giảm nghèo.
    7. Đa dạng hoá nguồn lực, trước hết là phát huy nguồn lực tại chỗ, huy động nguồn lực cộng đồng, mở rộng hợp tác quốc tế về kinh nghiệm và kỹ thuật, tài chính cho xoá đói giảm nghèo.
    8. Có sự lồng ghép và có kế hoạch tổ chức các hoạt động xoá đói, giảm nghèo các chương trình dự án trên địa bàn miền núi, tránh trùng lặp để có được hiệu quả cao.

    Kết luận

    Xoá đói giảm nghèo từ lâu là vấn đề mà Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu ưu tiên thực hiện, đặc biệt là xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Thông qua chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số, chúng ta đã đạt được nhiều thành công trong công tác xoá đói giảm nghèo , tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức đòi hỏi chúng ta cần nỗ lực hơn nữa. Qua quá trình nghiên cứu đề tài “ Chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số, thực trạng và giải pháp “ phần nào đã cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo và có một cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghèo đói, thấy được những thành công đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo. Xoá đói giảm nghèo là một vấn đề lớn và phức tạp, nó là vấn đề thách thức không chỉ đối với Việt Nam mà còn với nhiều nước trên thế giới. Bởi vai trò và tính chất phức tạp của công tác xoá đói giảm nghèo, vấn đề xoá đói giảm nghèo không thể giải quyết ngay mà nó cần phải giải uyết từng bước và cần có sự đóng góp nỗ lực của tất cả mọi người. Với khả năng có hạn của mình, em xin đóng góp một số ý kiến để hoàn thiện hơn công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta. Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hồng Thuỷ đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề án này. Tuy bản thân đã có nhiều cố gắng, nhưng do còn hạn chế về kiến thức nên đề án không tránh khỏi có nhiều thiếu xót, em rất mong nhận được sự góp ý của cô để đề án được hoàn thiện hơn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-T%E1%BB%B0-H%E1%BB%8CC-C%E1%BA%A6U-N%E1%BB%90I-GI%E1%BB%AEA-H%E1%BB%8CC-T%E1%BA%ACP-V%C3%80-NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-KHOA-H%E1%BB%8CC.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    SELF-STUDY METHOD – A LINK BETWEEN LEARNING AND DOING SCIENTIFIC RESEARCH

    DIỆP THỊ THANH

    Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

    TÓM TẮT

    Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường. Bài viết dưới đây đề cập đến phương pháp tự học giữ vai trò cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

    ABSTRACT

    Self-study is a way of learning which is very neccessary for college students. It is the responsibility of not only learners but also teachers to organize qualified, scientific and effective self-study activities. This paper writes about the self-study method as a link between learning and doing scientific research of students so as to improve the training quality of the college.

    Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Luật Giáo dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”. Như vậy, phương pháp dạy và học

    • các trường đại học, cần thực hiện theo ba định hướng: – Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu; – Tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo; – Rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng.

    1. Đặc trưng của hoạt động học ở các trường đại học

    1.1. Quá trình học tập của sinh viên ở các trường đại học về bản chất là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu

    Trong quá trình học tập, mỗi sinh viên tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững những cơ sở của nghề nghiệp tương lai và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội đặt ra. Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ phải có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao. Điều đó có nghĩa là, dưới vai trò chủ đạo của thầy, sinh viên không nhận thức một cách máy móc chân lý có sẵn mà còn đào sâu hoặc mở rộng kiến thức…

    Mặt khác, trong quá trình học tập, sinh viên đã bắt đầu thực sự tham gia hoạt động tìm kiếm chân lý mới. Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao tuỳ theo yêu cầu của chương trình. Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp sinh viên từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, những phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp đặt ra.

    1.2. Tự học và nghiên cứu khoa học

    1.2.1. Tự học

    Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức. Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy sinh viên tư duy để thoát khỏi “lúng túng”, nhờ vậy mà thành thạo lên, và đã thành thạo thì hay đặt những dấu hỏi, phát hiện vấn đề và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu.

    1.2.2. Nghiên cứu khoa học

    Việc nghiên cứu khoa học dĩ nhiên tác động trở lại việc học và có phát triển tự học lên đến nghiên cứu khoa học thì mới có thực tiễn để hiểu sâu mối quan hệ giữa tư duy độc lập và tư duy sáng tạo.

    2. Phương pháp tự học có tác dụng bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ năng tự học làm cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên

    Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là loại hình hoạt động rất cơ bản do tính chất đặc thù của quá trình ở trường đại học… Khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên phải chứa đựng cả mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, tri thức về phương pháp và đối tượng nghiên cứu và các yếu tố kỹ thuật khác của hoạt động nghiên cứu. Theo chúng tôi, khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên là năng lực thực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học trên cơ sở lựa chọn, tiến hành hệ thống các thao tác trí tuệ và thực hành nghiên cứu khoa học phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định nhằm đạt mục đích nghiên cứu khoa học đề ra.

    Khi coi hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là một loại hình hoạt động học tập đặc trưng ở đại học, hoạt động này có thể diễn ra theo các giai đoạn sau:

    • Định hướng nghiên cứu;
    • Xây dựng kế hoạch nghiên cứu;
    • Thực hiện kế hoạch nghiên cứu;
    • Kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu;
    • Báo cáo kết quả nghiên cứu.

    Khả năng nghiên cứu khoa học có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả nghiên cứu và xa hơn nữa, đến kết quả học tập và khả năng tự học của sinh viên đại học. Do vậy, khả năng nghiên cứu khoa học trở thành loại hình kỹ năng học tập rất cơ bản mà sinh viên cần chú trọng bồi dưỡng và rèn luyện.

    3. Biện pháp thực hiện

    3.1. Sinh viên cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp học tập tích cực

    Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết. Song điều quan trọng là sinh viên phải có hệ thống kỹ năng tự học. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sinh viên, bởi lẽ muốn có kỹ năng nghề nghiệp trước hết phải có kỹ năng làm việc độc lập, trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh hệ thống tri thức. Vì tri thức là sản phẩm của hoạt động, muốn nắm vững tri thức và có tay nghề thì việc rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học một cách thường xuyên và nghiêm túc phải được chú trọng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

    Như vậy, để hoạt động học tập của sinh viên đạt chất lượng và hiệu quả, sinh viên phải có tri thức và kỹ năng tự học. Chính kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để sinh viên biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm cho sinh viên tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của họ.

    3.2. Vận dụng hệ các phương pháp tự học nêu trên vào chu trình tự học của sinh

    viên

    Đó là một chu trình ba giai đoạn:

    Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân.

    Tự nghiên cứu (1)

    Tự kiểm tra

    điều chỉnh (3)

    Tự thể hiện (2)

    Giai đoạn 2 – Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.

    Giai đoạn 3 – Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học.

    Chu trình tự nghiên cứu ® tự thể hiện® tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học.

    3.3. Rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của sinh

    viên

    Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân sinh viên để hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học – đào tạo trong nhà trường. Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức của sinh viên. Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của giáo viên.

    Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, sinh viên cần tự rèn luyện phương pháp tự học, đây không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập mà là một mục tiêu quan trọng của học tập. Có như vậy thì phương pháp tự học mới thực sự là cầu nối

    giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Phương pháp tự học sẽ trở thành cốt lõi của phương pháp học tập.

    4. Kết luận

    Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, của những tri thức mới, sự tăng lên gấp bội của sáng tạo công nghệ và kỹ thuật, sự mở rộng của các ngành nghề… đòi hỏi con người phải có năng lực tự học, tự đào tạo để thích ứng.

    Trong quá trình học tập ở trường đại học của sinh viên thì tự học, tự nghiên cứu là rất quan trọng và cái ranh giới học tập – nghiên cứu khoa học là gần gũi, khó phân định. Nhưng để học tốt, nghiên cứu khoa học có hiệu quả thì sinh viên cần khai thác và quan tâm đúng mức về vai trò “cầu nối” của phương pháp tự học.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
    • Nguyễn Nghĩa Dán, Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/ 1998.
    • Đặng Vũ Hoạt, Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 1/ 1994.
    • Phạm Trọng Luận, Về khái niệm “Học sinh là trung tâm”, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/ 1995.
    • Thái Duy Tuyên, Giáo dục học hiện đại – Những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-T%C3%80I-NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-KHOA-H%E1%BB%8CC-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-H%E1%BB%8CC-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-C%C3%81C-NG%C3%80NH-KINH-T%E1%BA%BE-V%C3%80-QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-KINH-DOANH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    LỜI MỞ ĐẦU

    Mỗi năm các trường khối kinh tế đào tạo được khoảng 50-60.000 cử nhân, họ đang là những nhân tố bổ sung nhân lực cho nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ.  Theo đánh giá của các nhà tuyển dụng thì chất lượng nguồn nhân lực này vẫn còn yếu và kém. Mà nguồn lực cụ thể ở đây chính là sinh viên vừa mới tốt nghiệp. Khi nói đến sinh viên, người ta liền nghĩ đến khía cạnh học tập. Vì thế chân dung của sinh viên phải được phác họa qua thái độ học tập của họ. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng một bộ phận không nhỏ sinh viên ngày nay đang thật sự gặp bế tắc về phương pháp học tập. Đặc biệt với sinh viên khối ngành kinh tế, lượng kiến thức nắm bắt cần phải nhiều, đa dạng trên nhiều mặt của đời sống, đòi hỏi tính thực tiễn cao. Vậy làm thế nào để xây dựng lại một phương pháp học tập thật hiệu quả cho sinh viên khối ngành kinh tế phù hợp với thời đại và trên hết là làm tiền đề xây dựng thế và lực mới cho đất nước sau này? Phương pháp học tập là kỹ năng đòi hỏi rèn luyện lâu dài thông qua quá trình học và tự học chứ không thể truyền thụ một cách đơn giản, ngắn gọn bằng một khóa học. Chẳng hạn không thể qua một lớp huấn luyện viết mà sinh viên có thể viết tốt tiểu luận. Muốn được như vậy, anh ta nhất thiết phải qua một quá trình viết đi viết lại các tiểu luận khác nhau và được sửa chữa đối chiếu thì mới hình thành nên một lối viết vững vàng. Phương pháp học là một hệ thống những kỹ năng mang tính cá nhân cao. Tính cá nhân ở đây bị chi phối bởi nhân cách, mục đích học, tương quan của cá nhân đó với môi trường xã hội. Đây là yếu tố làm cho phương pháp học không thể rập khuôn từ người này sang người khác. Tuy vậy về mặt lý thuyết chung chúng ta vẫn có thể đưa ra phương pháp học cụ thể để sinh viên có thể áp dụng. Với vai trò là một sinh viên tôi tập hợp những phương pháp học ở Đại học, lồng ghép cụ thể vào sinh viên khối ngành kinh tế với mục đích nhằm mang lại cho các bạn sinh viên kinh tế một phương pháp học tập hiệu quả cao. Là lần đầu tiên làm đề tài nghiên cứu khoa học nên chắc chắn còn mắc phải nhiều sai sót, mong nhận được ý kiến phê bình, đóng góp của quý thầy cô và các bạn sinh viên.

                                                                                               

     

     

    TÓM TẮT THUYẾT MINH ĐỀ TÀI

    1.  Tính cấp thiết và mục tiêu của đề tài nghiên cứu

    Với yêu cầu đào tạo của giáo dục đại học khác với giáo dục phổ thông cho nên đặt ra nhiệm vụ học tập nặng nề hơn so với phổ thông. Điều này đòi hỏi sinh viên phải có phương pháp, có động cơ, thái độ đúng đắn, khoa học. Một bộ phận không nhỏ sinh viên đã có những biểu hiện không tốt trong học tập như: Trốn học không đi học thường xuyên, tới lúc thi thì chỉ mượn tập các bạn chăm chỉ photo. Cách học thụ động, đối phó, lười suy nghĩ và phát biểu không phát huy được tính năng động, sáng tạo, tích cực của sinh viên. Nhiều sinh viên có cách học “mù quáng” là tin tuyệt đối vào sách vở mà không có sự phản biện và hoài nghi. Không thường xuyên ôn tập những kiến thức cơ bản của môn học dẫn tới không nhớ bài cũ, không tiếp thu tốt bài mới, lượng tri thức tích luỹ thấp, thi cử kém hiệu quả. Sau này ra trường đụng chạm công việc thực tế thì không nhìn nhận, phân tích, xử lý các vấn đề đặt ra một cách chính xác. Sinh viên kinh tế tham gia hoạt động nhóm và xã hội ít, làm cho khả năng tiếp thu, trau dồi kiến thức thực tiễn hạn chế. Lười đọc thêm tài liệu tham khảo, học theo kiểu “nước đến chân mới nhảy”, “học ngày không đủ tranh thủ học đêm”, nhồi nhét và không tiêu hoá được kiến thức. Không có thời gian để suy ngẫm, liên hệ vận dụng thực tế, phát triển kiến thức của mình.

    Mục tiêu là đưa ra được ra phương pháp học tập các môn kinh tế áp dụng vào hai khoa: TCNH & QTKD và Kinh tế & Kế toán giúp sinh viên làm quen với việc tự học và tự định hướng việc học của mình, tự tìm tòi tài liệu chủ động lên kế hoạch cho bản thân, chủ động thảo luận về bài học với bạn bè và giảng viên nhằm đạt kết quả cao trong học tập cũng như việc nắm bắt thực tiễn, có những kỹ năng thực tế nhất định, nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp và của cả xã hội.

    2.  Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện

    Nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết về phương pháp học tập ở đại học. Thực hiện cuộc khảo sát và tiến hành phân tích, đánh giá về phương pháp học tập của sinh viên ở Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán. Đưa ra đặc điểm  của sinh viên kinh tế và đặc thù riêng về các môn học kinh tế và ứng dụng lý thuyết về phương pháp học Đại học vào sinh viên khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.

    Thực hiện khảo sát, lấy số liệu thống kê từ Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán để ứng dụng phương pháp học ở đại học đưa ra phương pháp học các môn kinh tế. Quá trình thực hiện từ khảo sát đến đưa ra phương pháp chung được tiến hành từ cuối học kỳ I đi đến hoàn thành đề tài nghiên cứu vào cuối tháng 4 năm 2010.

    Tiến độ thực hiện

    Nội dung công việc Thời gian thực hiện Kết quả dự kiến
    1. Xây dựng thuyết minh đề tài Từ đầu 01/2010 đến giữa 01/2010 Bản thuyết minh chi tiết của đề tài
    2. Thu thập tài liệu,phân tích, đánh giá và xây dựng báo cáo tổng quan về hiện trạng của đề tài nghiên cứu Từ giữa 01/2010 đến cuối 01/2010 – Bảng số liệu

     

    – Báo cáo tổng quan về hiện trạng của đề tài nghiên cứu

    3.Phần nghiên cứu lí thuyết về từng nội dung cụ thể của đề tài Từ đầu 02/2010 đến giữa 02/2010 Báo cáo về kết quả nghiên cứu lý thuyết chung
    4. Kiểm tra, thử nghiệm đánh giá kết quả (nêu phương pháp, cách thức đánh giá kết quả tạo ra)

     

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp đánh giá

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp phân tích

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp tổng hợp

    Từ giữa 02/2010

     

    đến giữa 04/2010

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp đánh giá

     

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp phân tích

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp tổng hợp

    5. Viết báo cáo tổng kết đề tài (theo biểu mẫu) Từ giữa 04/2010 đến kề cuối 04/2010 Bản báo cáo tổng kết
    6. Chuẩn bị bảo vệ và bảo vệ đề tài Cuối 04/2010  

     

    3.  Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: thông tin lý thuyết về phương pháp học ở đại học, những đặc điểm cơ bản và đặc thù của các môn chuyên ngành kinh tế, phương pháp học của sinh viên Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán, trường Đại học Quy Nhơn.

    Phương pháp nghiên cứu: 1) Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu sẵn có từ các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài về phương pháp học ở đại học, 2) Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này được thực hiện ở Khoa TCNH – QTKD và Khoa Kinh tế – Kế toán, đại học Quy Nhơn về kết quả học tập và tình hình phương pháp học, 3) Nghiên cứu trường hợp điển hình (case study): Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn cũng như những kinh nghiệm mà những sinh viên khá giỏi đã gặp khi vận dụng một vài phương pháp học đại học, 4) Đánh giá, phân tích, tổng hợp kết quả tìm kiếm, khảo sát, ứng dụng lý thuyết, 5) Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm: Đánh giá tính khả thi và cần thiết của các giải pháp đã đề xuất.

    4.  Sản phẩm của đề tài nghiên cứu và ứng dụng

    Kết quả nghiên cứu là phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD đạt hiệu quả, thầy cô các bộ môn kinh tế xem xét, hoàn thiện các giải pháp đưa ra, góp phần nâng cao hơn, ứng dụng vào sinh viên các ngành kinh tế và QTKD.

     

     

    KẾT CẤU ĐỀ TÀI GỒM 3 CHƯƠNG:

    CHƯƠNG  1:

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC Ở ĐẠI HỌC

    CHƯƠNG 2:

    THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QTKD, ĐẠI HỌC QUY NHƠN

    CHƯƠNG 3:

    CHƯƠNG  1

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

    VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC Ở ĐẠI HỌC

    1.1  Giáo dục đại học – Sự khác biệt so với giáo dục phổ thông

    Trường đại học là nơi lý tưởng nhất để phát huy những khả năng của con người, giúp chúng ta thu thập thêm nhiều kiến thức chuyên sâu và cả những kinh nghiệm quý báu. Sinh viên là những công dân bình đẳng trước pháp luật tự chịu trách nhiệm với bản thân vì vậy có sự thay đổi lớn về cách thức học tập, nghiên cứu. Sự thay đổi lớn đó chính là sự tác động từ môi trường: Không bị ràng buộc nhiều về nề nếp, nội dung và phương pháp học tập mới, học tập gắn với thực tiễn nghề nghiệp, bạn học là đồng nghiệp tương lai, sống tập thể – tự lực – xa gia đình. Đối với cấp học phổ thông, phương pháp thường thấy là chủ yếu thầy cô giảng và đọc cho học sinh ghi chép, ít có giờ thảo luận và trao đổi trong quá trình học. Ở đại học: Các thầy cô giáo chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn sinh viên tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu, những lời giảng của các thầy cô chỉ mang tính chất gợi ý, và hướng dẫn sinh viên thảo luận, tự nghiên cứu viết tiểu luận… còn chủ yếu dựa vào khả năng tự tiếp thu, tự nghiên cứu và sử lý kiến thức của sinh viên đối với bài học đó. Chính vì sự khác nhau đó mà làm cho rất nhiều bạn sinh viên rất bỡ ngỡ trong việc xác định và tìm kiếm một số phương pháp học hiệu quả nhất cho mình. Một số đặc điểm cơ bản cụ thể của sinh viên đại học là:

    Tự quản lý

    Điểm khác biệt lớn nhất đó là sinh viên phải tự mình lên kế hoạch học tập cho bản thân. Sẽ không có giáo viên kèm cặp mỗi ngày, phải đến lớp, mượn tài liệu, đọc bài, vào thư viện, tìm kiếm thông tin…Thời gian và không gian làm những việc đó đều được tự quyết định, thành công hay thất bại, kết quả ra sao cũng chính sinh viên tự chịu trách nhiệm. Thế nhưng điểm tích cực của cách học này là sinh viên sẽ tìm ra được phương pháp thích hợp nhất với năng lực bản thân, cũng như sắp xếp lịch học sao cho đảm bảo được khối lượng bài vở không quá nặng nề.

    Tự kiểm soát

    Sinh viên có trách nhiệm với những gì họ chọn lựa: môn học, thời gian, nghề nghiệp hướng đến… Những lời khuyên cũng nên lắng nghe, nhưng hơn cả, chính họ mới là người quyết định áp dụng lời khuyên nào, áp dụng ra sao và vào thời điểm nào. Và cũng chỉ bản thân những sinh viên mới kiểm soát được mức độ tập trung của mình trong mỗi môn học, luôn duy trì tâm trạng và niềm yêu thích với những gì mình đã chọn lựa. Phải chắc rằng mình là người nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của mình nhất, chứ không nên để bị tác động bởi nhân tố bên ngoài.

    Lên kế hoạch cá nhân

    Trường đại học là nơi lý tưởng nhất để phát huy những khả năng tiềm ẩn, giúp sinh viên thu thập thêm nhiều kiến thức chuyên sâu và cả những kinh nghiệm quý báu. Dù vậy, rất nhiều sinh viên nghĩ rằng vào đại học là để sau này dễ xin việc. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nhà tuyển dụng chú ý một bảng điểm tốt, nhưng điều làm họ quan tâm hơn nữa, đó là khả năng hoạt động thực tế của sinh viên. Đừng mãi lên kế hoạch về những môn học, hãy lên kế hoạch cho những hoạt động tình nguyện, những chương trình liên kết, hội thi, công việc part-time… Từ những hoạt động đó, sinh viên rút ra được kinh nghiệm và kĩ năng cần thiết cho công việc sau này như kĩ năng làm việc nhóm, tư duy phản biện, nói trước đám đông, giải quyết vấn đề…đó mới là những gì mà nhà tuyển dụng đánh giá cao.

    Học cách ghi chép hữu ích

    Không phải cứ chép y nguyên lời giảng của giảng viên là thành công. Điều các bạn sinh viên cần ở đây là một cuốn sổ tay nhỏ, và cố gắng ghi chép lại những điều cần chú ý, những việc cần làm và những điều cần tránh. Vì sao vậy? Vì sẽ thấy hối tiếc khi mất thời gian, tiền bạc và công sức học lại, thi lại chỉ vì quên mất hạn nộp bài, đề tài, những tư liệu phục vụ kì thi, ngày giờ thi… Đừng bao giờ để sót những thông tin dạng như vậy.

    Tìm kiếm thông tin

    Thường có tâm lý ỷ lại vào sự trợ giúp của giảng viên và đó là họ đang sai lầm lớn. Phần lớn giảng viên đều cung cấp tư liệu cần đọc cho sinh viên, nhưng điều đó không có nghĩa là cứ ngồi đó chờ đến lúc gần thi mới đi tìm. Vì mỗi tài liệu ở thư viện đều chỉ có một hoặc vài bản lưu, do đó nếu có người mượn trước thì bạn rắc rối to. Để tránh tình trạng dở khóc dở cười này cần phải lên kế hoạch mượn tài liệu trước rồi photo ngay, lên danh sách những thư viện hoặc những địa điểm có thể mượn sách khác, và nếu quá khó thì Internet là một công cụ cực kì hữu dụng. Hiện nay có nhiều giảng viên đánh giá năng lực của sinh viên thông qua khả năng tự tìm kiếm và sàng lọc thông tin của họ, vì chỉ có bản thân người học mới nhận diện được thứ gì họ có thể tiếp thu được mà thôi.

    Sự nỗ lực

    Khi tự học, cần phải luôn giữ cho bản thân tập trung và có động lực. Tuy nhiên không phải lúc nào điều này cũng có thể thực hiện. Có nhiều lúc các bạn sinh viên thấy động lực của mình thay đổi, cũng như mục đích học bị lung lay. Điều này cũng là tự nhiên, vì không có thứ gì ổn định mãi mãi được. Nhưng quan trọng hơn cả là các bạn nhận ra được giá trị trong việc mình đang làm, các bạn sẽ đạt được gì trong tương lai sau khi tốt nghiệp. Nỗ lực hết mình không phải vì cái đích, mà là cho hành trình xây dựng bản thân các bạn được trọn vẹn hơn.

    1.2 Bối cảnh phát triển của giáo dục đại học

    Sự bùng nổ dân số gây ra hệ quả Giáo dục đại học chuyển từ đào tạo “tinh hoa” sang đào tạo “đại trà”, cụ thể nhiều hệ Đại học được mở ra “vừa học vừa làm” , “đào tạo từ xa”, “từ xa qua mạng”, “văn bằng hai”, “liên thông”,… Bên cạnh đó nguồn lực đào tạo cũng còn hạn chế, số lượng Giáo sư, Tiến sĩ trong một trường Đại học còn ít dẫn đến chất lượng đào tạo Đại học chưa thực sự đạt yêu cầu như mong muốn. Thực tế này cho thấy việc tự học để đạt chuẩn kiến thức ở sinh viên Đại học là điều hết sức cần thiết.

    Sự bùng nổ thông tin. Tri thức của loài người trong thế kỷ qua, tính trung bình cứ sau 7 năm thì tăng gấp đôi. Vì vậy, sau 4 năm đại học, kiến thức của 2 năm đầu lạc hậu 50%. Bước vào thế kỷ 21, loài người bước vào nền văn minh thông tin:  Mọi hoạt động của từng người và từng tổ chức xã hội đều gồm 3 bước theo thứ tự: 1.Thu thập thông tin, 2.Xử lý thông tin, 3.Ra quyết định hoạt động hoặc giải quyết vấn đề. Đó cũng chính là mục tiêu của Giáo dục của thế kỷ 21 trong đó Giáo dục đại học phải đào tạo ở trình độ cao 3 năng lực này. Sự bùng nổ thông tin đã làm đảo lộn mục tiêu giáo dục truyền thống, đặc biệt là mục tiêu giáo dục đại học mà cốt lõi là chuyển từ chủ yếu đào tạo kiến thức và kỹ năng sang chủ yếu đào tạo năng lực. Điểm này cũng đã dẫn đến làm cho từng người chúng ta không chỉ học khi còn đi học mà còn học cả khi đã đi làm và lúc đã nghỉ hưu – học suốt đời, tạo dựng nên một xã hội học tập.

    Sự bùng nổ tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm: tăng lượng thông tin theo cấp số nhân, nhu cầu thông tin của mỗi người, mỗi tổ chức tăng theo cấp số mũ, tốc độ truyền tin tăng lên theo luỹ thừa của luỹ thừa. Những tiến bộ khoa học và công nghệ thông tin (tin học và viễn thông) đang làm thay đổi phương pháp dạy và phương pháp học đại học một cách sâu sắc. Cụ thể là sự thay đổi về phương pháp dạy của giảng viên tuy nhiên còn bộ phận sinh viên chưa thích nghi và sự thay đổi lớn về phương pháp học.

    Hệ quả của các bùng nổ này đã làm đảo lộn giáo dục Đại học: chuyển từ lấy việc dạy làm trọng tâm sang lấy việc học làm trọng tâm, chuyển từ việc chú trọng dạy kiến thức- kỹ năng sang chú trọng dạy năng lực, chuyển từ việc đào tạo tập trung sang đào tạo không tập trung, chuyển từ quản lý tập trung sang quản lý tự chủ.

    Các phẩm chất và năng lực hiện đại của sinh viên. Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội các trường đại học thế giới thì sinh viên phải là những người: Có sự sáng tạo và thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh chứ không chỉ học để đảm bảo tính chuẩn mực. Có khả năng thích ứng với công việc mới chứ không chỉ trung thành với một chỗ làm duy nhất. Biết vận dụng những tư tưởng mới chứ không chỉ biết tuân thủ những điều đã được định sẵn. Biết đặt những câu hỏi đúng chứ không chỉ biết áp dụng những lời giải đúng. Có kỹ năng làm việc theo nhóm, bình đẳng trong công việc chứ không tuân thủ theo sự phân bậc quyền uy. Có hoài bão để trở thành những nhà khoa học lớn, các nhà doanh nghiệp giỏi, các nhà lãnh đạo xuất sắc chứ không chỉ trở thành những người làm công ăn lương. Có năng lực tìm kiếm và sử dụng thông tin chứ không chỉ áp dụng những kiến thức đã biết. Biết kết luận, phân tích đánh giá chứ không chỉ thuần tuý chấp nhận. Biết nhìn nhận quá khứ và hướng tới tương lai. Biết tư duy chứ không chỉ là người học thuộc. Biết dự báo, thích ứng chứ không chỉ phản ứng thụ động. Chấp nhận sự đa dạng chứ không chỉ tuân thủ điều đơn nhất.

    1.3  Học tập – các thang bậc của quá trình nhận thức

    Theo Bloom, học tập là một quá trình nhận thức gồm 6 cấp độ sau: 1.Biết: ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý dưới hình thức mà sinh viên đã được học. 2.Hiểu: hiểu các tư liệu đã được học, sinh viên phải có khả năng diễn giải, mô tả tóm tắt thông tin thu nhận được. 3.Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào tình huống khác với tình huống đã học. 4.Phân tích: biết tách từ tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa các thành phần đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng. 5.Tổng hợp: biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể ban đầu.  6.Đánh giá: biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên cơ sở các tiêu chí xác định.

    Năng lực tư duy: tối thiểu có thể chia thành 4 cấp độ như sau: 1.Tư duy logic: suy luận theo một chuỗi có tuần tự, có khoa học và có hệ thống. 2.Tư duy trừu tượng: suy luận một cách khái quát hoá, tổng quát hoá vượt ra khỏi khuôn khổ có sẵn. 3.Tư duy phê phán: suy luận một cách hệ thống, có nhận xét, có phê phán. 4.Tư duy sáng tạo: suy luận các vấn đề một cách mở rộng và ngoài các khuôn khổ định sẵn, tạo ra những cái mới.

    1.4      Mục tiêu của phương pháp học ở đại học

    Tìm tòi những phương pháp học nhanh, hiệu quả là vấn đề mà đa số sinh viên từ khi bước vào giảng đường cho đến trong suốt quá trình học tập đều trăn trở, băn khoăn bởi mục tiêu và yêu cầu đào tạo của Đại học nặng hơn so với phổ thông. Phương pháp dạy học ngày nay cũng đang bắt đầu chuyển từ lấy người dạy làm trung tâm sang người học làm trung tâm. Sự thay đổi về phương pháp giảng dạy yêu cầu người học phải thay đổi thích ứng. Thế nhưng, thực tế hiện nay đa số sinh viên đều không tìm được một phương pháp học tập hiệu quả. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới trình độ sinh viên, chất lượng đào tạo của nhà trường không đáp ứng được  yêu cầu của thị trường lao động trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nguyên nhân vì đâu ?

    Phương pháp học ở Đại học được thực hiện với mục tiêu là trang bị cho sinh viên kiến thức về các mô hình học tập khác nhau có thể áp dụng được ở bậc Đại học, huấn luyện cho sinh viên làm quen với việc tự học, tự tìm tòi tài liệu, chủ động lên kế hoạch cho bản thân cũng như chủ động thảo luận về bài học với bạn bè và giảng viên.

        1.5  Bí quyết học tốt và chuẩn bị thành đạt

    Giới thiệu phương pháp học tập và đọc tích cực SQ3R

    Mô tả:

    Có rất nhiều người trong chúng ta không thể nhớ nổi nội dung của một cuốn sách, một bài báo, một tài liệu cần thiết cho công việc của mình. Chúng ta quên béng mất nội dung của tài liệu chỉ sau vài giờ đồng hồ đọc chúng. Chính do quá trình quên nhanh chóng các nội dung quan trọng này, chúng ta thường không thể kết nối kiến thức, không thể thành công trong các kỳ thi và không thể hoàn thành tốt công việc của chính bản thân mình.

    Nguyên nhân:

    Do trong quá trình đọc tài liệu, chúng ta đọc một cách “thụ động”. Cặp mắt của chúng ta vẫn lướt trên tài liệu, nhưng bộ não của chúng ta lại đang nhảy múa với những ý tưởng khác hoặc hờ hững với nội dung của tài liệu. Hoặc học sinh của chúng ta đọc “ra rả” bài học nhưng ngay lúc ấy trí não của các em không hề “nhúc nhích”, nói cách khác, các em đang dùng các biện pháp “cơ học”, “cưỡng bức” để bộ não phải ghi nhớ, nhưng “chữ thầy vẫn trả cho thầy”. Theo các điều tra về tâm lý và hoạt động của não bộ, chúng ta sẽ nhớ lâu hơn khi chúng ta chú tâm một cách tích cực và hiểu rõ nội dung mà tài liệu đang trình bày.

    Giải pháp:

    Có rất nhiều phương pháp, kỹ thuật để giúp chúng ta học tập hiệu quả hoặc đọc tích cực một tài liệu, Phương pháp SQ3R (Francis Robinson, 1970) là một kỹ thuật hữu hiệu nhằm giúp chúng ta nắm hết toàn bộ nội dung thông tin của một tài liệu, một quyển sách, … thông qua việc làm cho ta phải chú tâm đọc tài liệu một cách tích cực. Phương pháp này được nhiều trường đại học trên thế giới khuyến khích các sinh viên sử dụng để nâng cao hiệu quả học tập, nghiên cứu. Các chữ cái SQ3R là từ viết tắt của các kỹ thuật mà chúng ta sẽ sử dụng liên tiếp để đạt đến mục đích cuối cùng là nắm toàn bộ nội dung của tài liệu.

    Các bước tiến hành:

    Survey (Khảo sát): Thu thập các thông tin cần thiết để tập trung và hình thành các mục đích khi đọc. Trước khi đọc bất kỳ tài liệu nào, hãy dành vài phút ban đầu để xem xét tổng quát tài liệu bằng cách xem qua mục lục, các tiêu đề của chương, các tựa đề, phần tóm tắt, phần mở đầu, phần kết luận … Chú ý những bảng biểu, đồ thị, hình vẽ trong sách. Hãy cố gắng đưa ra ý kiến liệu rằng tài liệu hay cuốn sách này có giúp ích gì cho bạn không? Nếu cảm thấy rằng nó không có ích lợi gì cho bạn, hãy lựa chọn một cuốn sách khác.

    Việc xem xét tổng quát tài liệu sẽ giúp chúng ta:- Có một khái niệm ban đầu và sự quen thuộc với nội dung sắp sửa đọc.- Cho phép ta ước lượng thời gian cần thiết để đọc tài liệu.- Khi đọc toàn bộ nội dung tài liệu, chúng ta sẽ thông hiểu tài liệu gấp đôi.

    Question (Đặt câu hỏi): làm cho não của bạn bắt đầu hoạt động và tập trung bằng cách dựng lên một loạt câu hỏi làm “khung sườn” cho nội dung. Chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật 5W1H để tạo ra các câu hỏi hoặc sử dụng ngay các câu hỏi do giáo viên đưa ra, câu hỏi ở đầu chương của sách…Đặt ra các câu hỏi trước khi bắt đầu đọc thật sự, sẽ giúp chúng ta có chủ đích khi tiến hành đọc tài liệu.

    Read (Đọc): lắp thông tin vào cấu trúc mà bạn đã dựng lên. Tiến hành đọc tài liệu. Trong quá trình đọc, hãy cố gắng tập trung tìm kiếm các chi tiết nhằm giúp ta trả lời những câu hỏi đã đặt ra. Khi đọc, chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật mindmap để ghi chú các chi tiết.

    Recite (Thuật lại): như tên gọi của nó: “thuật lại”, ở bước này chúng ta giúp não bộ tập trung ghi nhớ về nội dung vừa xem bằng cách thuật lại, diễn giải nội dung đã đọc bằng chính ngôn ngữ của bản thân. Nếu cần thiết, hãy viết ra các diễn giải hay các câu trả lời bằng chính suy nghĩ, diễn đạt của mình. Nếu có thể, hãy đọc hay diễn tả lại nội dung vừa xem bằng cách nói lớn tiếng. Hãy tưởng tượng, bạn đang phải trình bày lại nội dung của cuốn sách, bài báo vừa xem cho 1000 khán giả trước mặt, trong một khán phòng rộng lớn, những khán giả này đang chăm chú lắng nghe từng lời diễn tả của bạn. Điều quan trọng ở bước này là phải dùng chính ngôn ngữ của mình để thuật lại hay diễn tả lại. Nếu chúng ta đang ở nơi đông người và không muốn làm ảnh hưởng đến người khác thì chúng ta hãy nhắc lại một cách thì thầm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng ta có xu hướng quên đến 80% nội dung mà mình đã đọc sau 2 tuần lễ. Nhưng nếu chúng ta tiến hành bước “thuật lại”, thì chúng ta chỉ quên có 20% với cùng thời gian 2 tuần.

    Review (Xem lại): bước cuối cùng này theo đúng tinh thần mà ông bà chúng ta đã nhắc nhở: “Văn ôn, Võ luyện”. Vào ngày hôm sau, tuần sau, hãy thử quay lại quyển sách đã đọc và xem thử bạn nhớ được và có thể thuật lại bằng chính từ ngữ của bạn bao nhiêu về nội dung. Ở bước này, chúng ta chỉ nhìn lướt lại quyển sách đã đọc, các câu trả lời đã hoàn thành, các câu hỏi đã đặt ra và thử xem bạn có thể trả lời chúng một cách trôi chảy hay không. Nếu không, hãy làm lại các bước trên. Bước cuối cùng này giúp cho nội dung được làm mới và ghi nhớ lâu hơn trong trí óc của chúng ta.

    Một vài chuẩn bị cho sự thành đạt của sinh viên:

    • Xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tậ
    • Định hướng nghề nghiệ
    • Rèn luyện kỹ năng xã hộ
    • Tự tin trong học tập và cuộc số
    • Phương pháp học tập chủ động & tích cự
    • Ngoại ngữ và CNTT là chìa khóa.
    • Mạng Internet là phương tiện hiệu quả.
    • Khai thác tốt mọi nguồn lự

        1.6  Phương pháp học ở đại học

           Lý thuyết về cách học ở ĐH

    Học cách thức đi tới sự hiểu biết. Coi trọng sự khám phá và khai phá trong học thuật. Học kỹ năng thực hành và thái độ thực tiễn trong nghề nghiệp. Học phong cách độc lập, sáng tạo, linh hoạt trong nhận thức và hành động. Biết mềm hoá tư duy và tuỳ cơ ứng biến. Học phương pháp nghiên cứu đi từ phân tích đối tượng và mô trường để tìm giải pháp đồng bộ giải quyết những tình huống đa chiều. Nhiều trường đại học cho thấy có một tỉ lệ cao sinh viên không hứng  thú  trong  các  bài  giảng. Có lẽ đây cũng chỉ là một phát hiện mới về một điều mà chúng ta đã biết rất rõ từ lâu nay rồi. Nói cách khác là chất lượng giáo dục đại học hiện nay ở nước ta đang gặp  nhiều vấn đề mà đó chỉ là một biểu hiện như phần nổi của cả tảng băng chìm.

    Vấn đề đặt ra là vậy thì đâu là nguyên nhân chán học của sinh viên. Trong số các nguyên nhân khác nhau chắc chắn có việc sinh viên chưa xác định được đúng đắn các mục tiêu làm động cơ tự  thân cho việc học của mình. Mặt khác, nội dung và phương pháp đào tạo đại học của chúng ta cũng chưa phù hợp. Hơn nữa, mỗi  giáo viên cũng chưa thực sự trang bị được cho mình những kỹ năng cần  thiết để  lôi cuốn sinh viên học tập. Chính vì thế mà chúng ta vẫn chưa thu hút được sinh viên nhi ệt tình học tập nhằm tạo ra hiệu quả tốt hơn cho quá trình đào tạo. Do vậy, trong nh ững việc phải làm để thu hút sinh viên tích cực thì trước hết phải giúp họ xác định được học tập là mục tiêu tự thân, đồng thời giáo viên phải đổi mới phương pháp giảng dạy và trau dồi những kỹ năng sư phạm cần thiết.

    Xác định học tập là mục tiêu tự thân

    Các nhà giáo, trước khi dạy tri thức, rèn luyện kỹ năng, phải dạy cho người học biết rằng: Học tập là mục tiêu tự thân (Đỗ Quốc Bảo, 2008). Chỉ khi nào sinh viên tự xác định được và nhà trường giúp sinh viên xác định được những mục tiêu học tập đúng đắn cho chính họ làm động cơ tự thân thì họ mới tích cực nổ lực học tập. Vậy thì mục tiêu học tập mà chúng ta cần hướng cho sinh viên là gì để thu hut được họ nhiệt tình học tập? Theo UNESCO (1996) các mục tiêu trụ cột của việc học trong thời đại ngày nay là “h ọc để biết, học để làm, học để chung sống với nhau và học để tồn tại”. Có sự liên quan gì giữa những mục tiêu học tập này với sự nhiệt tình học tập của người học?

    Học để biết (learning to know)

    Học trước tiên để hiểu biết (learn to know) và là mục tiêu truyền thống của việc học. Khi người học khao khát muốn biết thì sẽ say sưa học tập để tìm kiếm kiến thức. Chính vì thế mà các nền giáo dục tiên tiến như giáo dục Mỹ đang dày công giúp cho học sinh, sinh viên có “khuynh hướng muốn biết”. Giáo dục Thái Lan đặt cũng ra mục tiêu “giúp cho học sinh khao khát tìm kiếm tri thức mới, khám phá bản thân và cuộc sống”.

    Tuy nhiên, kiến thức nhân loại, dù trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp, không ngừng được cập nhật và trong xã hội đầy biến động làm sao một con người có thể hiểu biết hết tất cả những gì xung quanh và sử dụng lượng kiến thức học được ở trường đại học trong một số năm để tác động vào thực  tiễn? Cách duy nhất là học để không  ngừng cập nhật kiến thức trong suốt cuộc đời (life-long learning) (Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008). Do vậy, cái biết quan trọng nhất của người học là để biết cách học (knowing how to learn), đặc biệt là cách tự học. Nói cách khác, dạy học không chỉ lấy việc  thuyết giảng nhằm  trang bị kiến thức cho học viên  làm nhiệm vụ cơ bản mà phải tạo cơ hội cho người học chủ động  tích cực trong việc tìm kiếm kiến thức theo những cách thức nhất định (phương pháp học) và vận dụng những kiến thức đã học được để tiếp tục học. Rõ ràng sinh viên làm các bài tập toán với mục đích cụ thể là tìm ra đáp số cho bài toán, nhưng có lẽ không ai nhớ được và cũng không cần nhớ để làm gì những đáp số đó. Mục tiêu của việc làm bài tập đó là để biết được cách giải toán, để hiểu và vận dụng những nguyên lý toán học cho việc tiếp tục học được các môn học sau.

    Học để biết quan trọng nữa là biết sử dụng các phương tiện để giúp học tập có hiệu quả cao. Trong số các phương  tiện cần học nhất  trong  thời đại  toàn cầu hoá và bùng nổ thông tin hiện này thì phải là ngoại ngữ (mà quang trọng nhất là tiếng Anh) và tin học. Khi sinh viên chủ động sử dụng được ngoại ngữ và tin học thì chắc chắn họ cũng say mê học tập hơn vì họ tiếp cận được thông tin không hạn chế của nhân loại một cách có hiệu quả hơn.

    Học để làm (learning to do)

    Khi người học xác định được việc học là để trang bị cho mình năng lực làm việc với một nghề nghiệp đã được được định hướng  (theo chương  trình đào tạo) thì người học sẽ học nhằm có được những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Khi xác định được mục tiêu này thì người học sẽ say sưa học tập, học không vì mục đich đối phó thi cử hay bằng cấp mà học vì mục đích làm việc trong cả cuôc đời. Về khía cạch này thì học đại học cũng giống như học lái xe, mục đích của việc học lái xe không phải là để lấy bằng lái (mặc dù đó là yêu cầu bắt buộc phải có) mà cơ bản là để sau này biết lái xe mà không nguy hiểm đến tính mạng. Do vậy, khi h ọc lái xe không ai lại không tích cực học cả vì người học đều nhận thức rõ đó là học cho chính mình và học để làm (lái xe) thực sự.

    Tuy nhiên, học ở đại học còn phải nhằm mục tiêu xa hơn nữa là học để biết sáng tạo (learning to be creative). Học tập đối với sinh viên đôi khi chỉ vì sự thúc ép của gia đình, hoặc chỉ đơn thuần là để lấy tấm bằng vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm mà thiếu hẳn sự say mê vươn tới đỉnh cao tri thức và sáng tạo và vì thế mà thiếu đi sự đam mê. Khi có mục tiêu vươn tới đỉnh cao tri thức và sáng tạo thì sinh viên mới say mê trong học tập. Chính vì thế giáo dục Nhật Bản đặt ra mục tiêu “Đào tạo một lớp người mới đầy năng lực sáng tạo có khả năng khám phá và thích  ứng nhanh chóng với xã hội thông tin”.  Một khi người học không khát khao sáng tạo thì sẽ không tự giác, nỗ lực và say sưa trong học tập. Một sinh viên ngành giống cây trồng chẳng hạn chắc chắn sẽ say mê học tập nếu có khát khao và tin rằng rằng sau này mình sẽ tạo ra được những giống cây trồng mới có giá trị cao cho thực tiễn sản xuất.

    Học để chung sống (learning to live together)

    Vì thế giới ngày càng xích l ại gần nhau, mỗi cá nhân là một mắt xích trong xã hội và phụ thuộc lẫn nhau cho nên bản thân mỗi cá nhân không chỉ học cho riêng mình mà còn học cho cả cộng đồng, học lẫn nhau, để làm việc với nhau và để chung sống với nhau. Khía niệm học để chung sống nhấn mạnh vào việc phát triển sự hiểu biết, quan tâm và tôn trọng người khác, kể cả niềm tin, giá trị và văn hoá riêng của họ. Điều này được coi là sẽ tạo cơ sở cho việc tránh được xung đột, giải quyết mọ vấn đề không bằng bạo lực và chung sống hoà bình với nhau. Hơn thế nữa, điều này cũng có nghĩa là thừa nhận sự khác biệt của nhau và sự đa dạng như  là cơ hội,  là nguồn lực có giá  trị để khai  thác vì mục  tiêu chung, chứ không phải là mối đe doạ. Chính vì vậy nhiều nước đang tìm những cách khác nhau nhằm khuyến khích việc học để chung sống. Khi người học xác định được mục tiêu này thì ngoài việc học để lấy kiến thức và kỹ năng để làm việc thì họ sẽ thấy cần phải và hứng thú học với  nhau, học cách học cùng  nhau để phát  triển khả năng chung sống  và  làm việc cùng nhau sau này. Đó là một động cơ để sinh viên nhi ết tình học tập.

    Học để tồn tại (learning to be)

    Xã hội luôn luôn biến đổi, kiến thức nhân  loại luôn luôn bùng nổ, trong xã hội hiện đại ai muốn tự khảng định mình, muốn tồn tại được bình đẳng với mọi người thì không thể không học tập. Học tập không ngừng trong suốt cuộc đời là con đường mà mỗi người phải xây cho mình tồn tại được trong xã hội học tập ngày nay mà đất nước nào cũng đang xây dựng. Đây cũng chính là điều mà mỗi sinh viên phải ý thức được để lấy việc học làm động cơ tự  thân cho chính mình, từ đó mới say mê học, học cho chính sự tồn tại của bản thân mình.

    Trong quá trình học tập, sinh viên thường rơi vào một trong những rắc rối sau: Thứ nhất, không thể áp dụng tính năng động của bản thân vào những trường hợp vô cùng đơn giản, hay nói một cách khác, đây là tuýp người luôn quan trọng hóa vấn đề, biến cái đơn giản nhất thành cái khó nhất và ngược lại, một vấn đề khó ư? Chuyện nhỏ, đối với họ chẳng là gì. Kiểu thứ hai là mẫu người luôn tự đẩy mình vào tình trạng không biết phải phân bố thời gian thế nào cho hợp lý để có thể học hết khối lượng kiến thức dày đặc. Và cả kiểu thứ ba, thứ tư… nữa chứ. Sinh viên cần có những phương pháp học tập có hiệu quả, sau đây là một vài phương pháp:

    1.6.1 Phương pháp tìm đọc tài liệu và ghi nhớ tốt

    Phương pháp đọc có cân nhắc: Đề tài của bài đọc, hoặc quyển sách bạn đang đọc là gì? Vấn đề nào đang được nêu ra? Tác giả đã kết luận gì về vấn đề ấy? Những lý do nào được đưa ra để chứng minh cho quan điểm của tác giả? Người viết dùng sự thật, lý thuyết hay niềm tin của bản thân? Sự thật có thể được chứng minh. Lý thuyết còn đang cần được chứng minh, không nên nhầm lẫn với sự thật. Ý kiến có thể có hoặc không được xây dựng trên cơ sở lập luận vững chắc. Bản thân niềm tin không cần được chứng minh. Tác giả dùng từ trung lập hay có xen lẫn cảm xúc cá nhân? Người đọc biết cân nhắc là người có cái nhìn xuyên thấu bề mặt ngôn từ, để thẩm định lý lẽ bên trong. Khi quyết định chấp nhận hay không chấp nhận ý kiến của người viết, cần củng cố quyết định của mình bằng những lý do xác đáng. Những đặc điểm của người đọc có cân nhắc: Trung thực với bản thân, tránh sự chi phối, biết vượt qua vướng mắc, đặt câu hỏi, xây dựng phán đoán trên bằng chứng cụ thể, tìm mối quan hệ nối kết các sự việc, có tư duy độc lập.

    Phương pháp đọc tài liệu

    Trước khi đọc

    Một đề tài nghiên cứu khoa học nghiêm túc đòi hỏi người nghiên cứu phải đọc nhiều tài liệu tham khảo liên quan đến chủ đề đang quan tâm, một cách có chiến lược và hiệu quả. Do đó, điều cần làm đầu tiên khi có một tài liệu không phải là lao vào đọc chăm chú từ đầu tới cuối, mà là… một vài phút chuẩn bị (!). Tự đặt những câu hỏi để xác định rõ ràng mục đích đọc tài liệu, đánh giá sơ bộ tài liệu cần đọc trước khi đi vào từng chi tiết. Động cơ đọc tài liệu? – Giải trí, tìm hiểu tổng quát, tìm hiểu chuyên sâu, tìm một định nghĩa, làm sáng tỏ một vấn đề,… Vấn đề nào cần quan tâm? – Đó là những khía cạnh của vấn đề đã được xác định trong quá trình lựa chọn đề tài nghiên cứu, chủ đề cần tìm hiểu. Những thắc mắc đang cần tìm câu trả lời? Kiểu thông tin nào đang cần có? – Số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, hình ảnh minh hoạ, báo cáo tổng hợp,…Nhớ rõ mục đích đọc tài liệu rồi, vẫn chưa đến lúc đọc ngay mọi chi tiết! Nên đọc lướt qua toàn bộ tài liệu để đánh giá sơ bộ nội dung và đại ý tác giả muốn trình bày. Đôi khi, giai đoạn này còn giúp xác định mức độ phù hợp của tài liệu với nhu cầu đề tài, để quyết định đi vào chi tiết hay bỏ qua tài liệu. Ở thời điểm này, nên xem kĩ nội dung phần tóm tắt của tài liệu, đọc các đề mục chính và phụ trong bài để tạo một mối liên hệ chung giữa toàn bộ các khái niệm quan trọng, các từ khoá mô tả phạm vi giới hạn và trọng tâm của tài liệu.

    Trong khi đọc

    Sau khi đã làm xong bước chuẩn bị và đánh giá sơ bộ, mới đến lúc bắt đầu đọc thực sự. Hiệu quả đọc phụ thuộc vào phương pháp đọc (và phương pháp đọc phụ thuộc vào quá trình rèn luyện lâu dài), vào trình độ ngôn ngữ cả trong tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài, và vào khả năng lĩnh hội kiến thức chuyên môn. Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến quá trình đọc tài liệu là mức độ yêu cầu của cá nhân đối với vấn đề đang nghiên cứu.

    Có các phương pháp đọc thường gặp nhất là: 1.đọc định vị: đọc lướt qua tài liệu để tìm các thông tin chính xác, một mẩu trích dẫn, khái quát các yếu tố liên quan,…  đòi hỏi xác định rõ mục đích đọc ngay từ đầu; 2.đọc gạn lọc: chỉ đọc những gì quan trọng, cốt lõi, mới mẻ, hấp dẫn nhất, chỉ đọc tựa, các tựa phụ, đoạn đầu và đoạn cuối, câu đầu và câu cuối của các đoạn khác, ghi nhớ các ý chính; chú ý đặc biệt đến những từ nối quan trọng tạo mối liên hệ trong lập luận suốt toàn bài; không đọc các chi tiết nhỏ cụ thể; 3.đọc chéo: đọc nhanh qua tất cả các trang, đoạn văn bản mà không chú ý vào một điểm cụ thể nào trong bài; phù hợp với những tài liệu chỉ cung cấp các thông tin cơ bản, phổ thông, không đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn sâu; 4.đọc bình thường: mức độ đúng… bình thường như vẫn gọi là “đọc”, tức đọc lần lượt toàn bộ văn bản, có thể nhanh hay chậm tuỳ khả năng, tiếp nhận thông tin một cách bình thường trong quá trình đọc mà không đòi hỏi một sự tập trung cao độ với nhiều thao tác tư duy phức tạp, và thông thường không đủ để đáp ứng yêu cầu cao khi đọc tài liệu khoa học; 5.đọc tích cực: là phương pháp đọc hiểu quả nhất, bằng cách:  ghi chú, đánh dấu các ý chính, tóm tắt toàn bộ tài liệu hoặc các phần quan trọng, biết lĩnh hội kiến thức, tiêu hoá thông tin một cách chủ động, có chọn lọc, đánh giá, so sánh, liên hệ giữa các ý, các tài liệu, các tác giả khác nhau nhằm đưa ra một cái nhìn phân tích/tổng hợp/phê bình đối với mọi tài liệu và thông tin khoa học.

    Sau khi đọc

    Sau khi đọc xong, cần kiểm tra, đối chiếu lại những gì thu được với các mục đích ban đầu. Có đáp ứng các yêu cầu chuyên môn đặt ra chưa? Có đạt được mục đích định ra ban đầu chưa? Có giải đáp được những thắc mắc cần tìm câu trả lời chưa? Và từ đó, xác định là đã hoàn tất việc đọc tài liệu, hay cần phải đọc lại, hay cần phải đọc mở rộng thêm trong các tài liệu khác…Có vài điều lưu ý sau đây khi đọc tài liệu: bỏ qua ngay những tài liệu có khoảng cách rất xa với đề tài hoặc chủ đề quan tâm; không nên đọc ngay những tài liệu có tính chuyên môn rất cao, đòi hỏi phải có trước những hiểu biết sâu sắc nhất định về các vấn đề được trình bày, mà cần chuẩn bị trước các kiến thức nền đó qua các tài liệu cơ bản hơn.

     

    Để ghi nhớ tốt

    Trí nhớ là yếu tố nền tảng của tư duy. Có khả năng ghi nhớ tốt bạn sẽ có rất nhiều nguồn dữ liệu tham khảo để cho ra ý tưởng xuất sắc. Nắm được các phương pháp ghi nhớ còn giúp bạn có cách diễn đạt thông điệp phù hợp.

    Tưởng tượng và liên tưởng

    Hình ảnh và âm thanh có tác động mạnh lên trí não. Do đó, để ghi nhớ những thông tin quá trừu tượng hoặc thiên về kỹ thuật, bạn tưởng tượng hoặc gắn chúng với một hình ảnh, âm thanh nào đó. Ví dụ: một quy trình sản xuất sẽ được ghi nhớ tốt hơn nếu được minh họa bằng hình ảnh, sơ đồ thay vì chỉ có chữ viết và con số.

    Kết nối

    Phương pháp này sẽ giúp bạn ghi nhớ một loạt những thông tin có liên quan với nhau. Ví dụ: Để ghi nhớ tên, thứ tự các cung Hoàng đạo, bạn có thể hình dung ra một bức tranh với đầy đủ các con vật biểu trưng cùng những hành động của chúng. Con cừu đực (cung Dương Cửu) húc đầu vào con bò đực (cung Kim Ngưu), trên lưng bò đực là chị em sinh đôi (cung Song Sinh) cầm con cua (cung Cự Giải),…

    Định vị

    Đây là cách sử dụng những thứ tự của riêng bạn (thứ tự đồ vật trong nhà bạn, thứ tự các bộ phận cơ thể,…) và liên kết chúng với những thông tin cần ghi nhớ. Ví dụ: Trong một buổi truyết trình, bạn sẽ dễ dàng nhớ lại thứ tự nội dung trình bày của mình bằng cách gán chúng với những vật trong phòng làm việc theo hướng từ cửa đi vào. Rèn luyện: vẽ và đánh số thứ tự từ 1 đến 20 các đồ vật trong phòng bạn.

    Chiến lược cầu vồng

    Phương pháp này chủ yếu áp dụng khi trong từng chủ đề thông tin có nhiều đề mục nhỏ hơn. Khi đó từng chủ đề lớn sẽ được gán với màu sắc trên cầu vồng và các mục nhỏ hơn sẽ áp dụng phương pháp định vị. Bạn cũng có thể sử dụng một hình ảnh khác thay cho cầu vồng.

    Tạo ra từ ngữ mới cho riêng mình

    Những từ ngữ mới này được tạo ra bằng cách ghép những ký tự đầu của một nhóm từ ý nghĩa. Ví dụ: 5P trong kinh doanh (Product – Sản phẩm, Price – Giá, Promotion – Khuyến mãi, Place – Kênh phân phối, Post Sales – Hậu mãi), 5W (What – Why – When – Where – Who),…

    Sự gợi ý

    Gợi ý sẽ giúp trí não hồi tưởng lại thông tin, sự kiện cần phải ghi nhớ. Ví dụ: Bạn cần lập kế hoạch làm việc cho tuần sau, nhưng vì có việc nên phải ra ngoài gấp. Bạn đặt cuốn lịch ngay giữa bàn làm việc. Như vậy, khi quay lại văn phòng và nhìn thấy cuốn lịch, bạn sẽ nhớ ra cần phải làm gì.

    Học thuộc lòng

    Đây là phương pháp kém hiệu quả nhất, mặc dù chúng ta đã từng thường xuyên áp dụng khi còn trên ghế nhà trường. Điểm tích cực duy nhất của nó là giúp bạn ghi nhớ trong thời gian ngắn và cũng quên nhanh.

    1.6.2 Kỹ năng học nhóm hiệu quả

    Cộng tác trong học tập là một quá trình làm việc theo nhóm, mỗi thành viên đóng góp và giúp đỡ nhau để cùng đạt được một mục đích chung. Lớp học chính là một môi trường lý tưởng để rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm mà sẽ rất cần trong cuộc sống sau này. Cộng tác trong học tập là hoạt động tương tác, là một thành viên của nhóm, mỗi sinh viên sẽ có trách nhiệm: phát triển và cùng chia sẻ một mục đích chung, đóng góp ý kiến vào việc giải quyết vấn đề, đặt ra các câu hỏi hay tìm giải pháp, tham gia, nỗ lực làm việc để hiểu quan điểm của các thành viên khác, cũng như ý kiến của họ, phát biểu và đóng góp, có trách nhiệm với các thành viên khác và họ cũng có trách nhiệm đối với người trong nhóm, quyền lợi và nghĩa vụ gắn liến chặt chẽ với mọi người và ngược lại.

    Những kĩ năng được rèn luyện trong khi làm việc nhóm là rất quan trọng cho môi trường làm việc mới sau này, đây sẽ là tiền đề để ta biết cách làm việc trong một môi trường tập thể. Làm việc nhóm có nhiều ưu điểm, nhưng không phải ai cũng đạt được kết quả cao với phương pháp học tập này, thậm chí đôi khi một số người cảm thấy nó mang nhiều tính hình thức và ít hiệu quả hơn so với làm việc theo cá nhân. Vậy nguyên nhân vì sao? Câu trả lời là:

    Thứ nhất, một số còn coi bài tập nhóm là công việc của tập thể nên thường có tâm lí “không phải việc của mình”, ai cũng trừ mình ra. Và kết quả là “cha chung không ai khóc”.

    Thứ hai, do làm việc theo nhóm nên sự hợp tác là rất quan trọng, đòi hỏi sự tự giác của từng thành viên trong nhóm. Nếu một thành viên trong nhóm không làm việc như đã phân công sẽ dẫn đến công việc của nhóm bị ngưng trệ.

    Thứ ba, sự phân công công việc không rõ ràng. Đôi khi một thành viên trong nhóm phải đảm nhiệm quá nhiều công việc, trong khi có thành viên không có việc để làm, kết quả là sự bất hợp tác.

    Các nguyên tắc làm việc nhóm

    Tạo sự đồng thuận

    Những buổi họp là cách thức tuyệt hảo để bổi đắp tinh thần đồng đội và thói quen làm việc theo nhóm ngay từ lúc đầu mới thành lập nhóm. Những loạt buổi họp giúp các thành viên mới làm quen với nhau, tạo sự nhất trí về các mục tiêu được giao cùng các vấn đề cần giải quyết về mặt tổ chức.

    Những điểm cần ghi nhớ: Mọi thành viên của nhóm cần thống nhất về việc phải nhắm tới. Các mục tiêu chỉ ổn định khi đã bàn thảo xong các biện pháp thực hiện. Mặc dù các thành viên của nhóm cần được định hình các mục tiêu, nhưng nên phổ biến các mục tiêu cho các hội viên nắm. Để đạt được những kết quả cao nhất, các mục tiêu còn phải được thử thách bằng cách kết hợp giữa những mục tiếu chung và mục tiêu riêng.

    Tһiết lập các mối quan hệ với ban quản trị

    Mọi nhóm cần có sự hỗ trợ của đôi ngũ thâm niên ở cơ quan chủ quản. Ba mối quan hệ chủ yếu mà nhóm cần tới là: Người bảo trợ chính của nhóm. Người đầu ngành hoặc phòng ban có liên quan. Và bất kỳ ai quản lý tài chính của nhóm.

    Khuyến khích óc sáng tạo

    Nhiều người trở thành những kẻ chỉ biết làm theo kinh nghiệm và tính cách riêng của họ. Hãy phá thế thụ động ấy và tạo tính sáng tạo.  Đừng để nhóm của bạn bị phân lớp thành những con người chuyên sáng tạo và những kẻ thụ động. Muốn vậy, bạn luôn biết hoan nghênh tính đa dạng của các quan điểm và ý tưởng, để rồi lái buổi tranh luận đi đến chỗ thống nhất.

    Phát sinh những ý kiến mới

    Việc có được những sáng kiến đòi hỏi có ngýời lãnh đạo và cần một hình thức tổ chức nào đó, để kết quả buổi họp có thể mở ra một hướng đi. Mọi ý kiến cần được ghi chép lên biểu đồ hay bảng để mọi người có thể nhìn thấy. Sau đó, loại bỏ nhũng ý kiến bất khả thi và tóm tắt những ý khả thi. Những điểm cần ghi nhớ: Phương pháp vận dụng trí tuệ tập thể đôi khi được gọi là “tư duy hành động nhóm”. Sự chỉ trích làm giảm óc sáng tạo. Đừng bao giờ miệt thị ý kiến nào trong buổi họp. Nhiều ý kiến tưởng chừng ngớ ngẩn lại có thể đưa đến những giải pháp đáng giá. Cần ghi mọi ý kiến lên bảng cho dù đấy chưa hẳn là ý kiến độc đáo. Những ý kiến sáng tạo trong những buổi họp bao giờ cũng cao hơn ý kiến của một cá nhân đưa ra.

    Học cách ủy thác

    Sự ủy thác cói hai hình thức: ủy thác công việc và ủy thác quyền hành. Ủy thác công việc là phân nhỏ mỗi kế hoạch thành các phần việc riêng và với mục tiêu riêng, rồi phân chúng cho các thành viên của nhóm. Sau đó, phó mặc cho họ và chỉ can thiệp khi không đạt mục tiêu. Việc ủy thác quyền hành là sau khi tham khảo ý kiến, trao cho người được ủy quyền đầy đủ quyền và để họ được hành xử nó. Khi ủy thác, cần nhận diện các loại đặc tính khi ủy thác: Có khả năng muốn thực hiện: Đây là trường hợp ta gặp người được ủy nhiệm lý tưởng, sẵn lòng nhận trách nhiệm và cũng sẵn lòng tham khảo ý kiến người khác, thực hiện theo ý khi được ủy nhiệm. Có khả năng không muốn thực hiện: Loại người này không sẵn lòng học hỏi và tiếp thu ý kiến của người khác, thiếu tinh thần hợp tác, không nên giao quyền cho họ. Thiếu khả năng muốn thực hiện: Cần được đào tạo bổ khuyết những mặt yếu trước khi được ủy nhiệm. Thiếu khả năng, không muốn thực hiện: Giao việc cho loại người này hẳn là hỏng to.

    Khuyến khích mọi người phát biểu

    Người lãnh đạo cần động viên mọi người bàn thảo, ngay cả với ý kiến nghịch lại cũng có giá trị của nó.

    Chia sẻ trách nhiệm

    Bổ sung các cách thức hành động, giám sát tiến độ, sáng tạo, có tính xây dựng khi hoạt động nhóm gặp trở ngại tạm thời. Cũng cần tạo bầu không khí thông hiểu nhau giữa các thành viên nhất thông tin về tiến độ và những thay đổi đường lối làm việc.

    Cần linh hoạt

    Mỗi thành viên phải có khả năng thực hiện vai trò của mình chí ít cũng như người khác. Mỗi người phải được phân nhiệm để hành động chủ động trong nhóm. Dù việc khó đến đâu nhưng nếu có sự đồng lòng của toàn nhóm thì đều có thể hoàn thành. Mọi người đều được phân nhiệm rõ ràng tử đầu đến cuối. Mọi người đều được khuyến khích làm theo phương cách hiệu quả nhất của mình.

    1.6.3 Xây dựng môi trường học tập – phưong pháp học ở nhà

    Môi trường học tập

    Không nhất thiết phải đẹp, đầy đủ thật sự tiện nghi nhưng góc học tập thuận tiện sẽ giúp cho việc học được dễ dàng hơn. Có thể học ở bất kỳ nơi nào, mặc dù rõ ràng có một số nơi thuận lợi hơn cho việc học. Thư viện, phòng đọc sách, phòng riêng là tốt nhất. Quan trọng là nơi đó không làm phân tán sự tập trung. Cho nên hãy làm cho việc lựa chọn nơi học thích hợp trở thành một phần của thói quen học tập. Không gian học tập cần có sự yên tĩnh nhất định để tránh bị phân tâm trong quá trình học. Môi trường làm việc độc lập gần như đối lập với môi trường làm việc nhóm vì vậy cần nhìn nhận ưu, nhược điểm của mình trong tưng môi trường mà chon cách học phù hợp và môi trương thích nghi. Nhưng nhìn chung dù chọn hình thức học tập nào thì cũng cần chọn môi trường tránh ít sự tác đọng bên ngoài nhất. Có như vậy mới luyện được khả năng tập trung bài cao độ, khi có được khả năng này rồi sẽ dễ dàng tích nghi với nhiều môi trường học tập khác nhau; ngay cả nhưng nơi có tiếng ồn. Xây dựng một môi trường học tập hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả học tập lên nhiều lần.

    Phưong pháp học ở nhà

    Sau những giờ tiếp nhận kiến thức bài mới trên lớp do thầy giáo truyền thụ, nhiệm vụ tiếp theo của học sinh là về nhà tự học, bao gồm ôn lại lý thuyết, giải bài tập, rèn luyện kỹ năng xử lý các tình huống khó khi gặp một bài toán hóc búa, một phản ứng hóa học phức tạp hay hiện tượng vật lý thú vị…

    Cần tìm một chỗ yên tĩnh, tránh tiếng ồn. Nên chọn một thời gian học cố định và tạo cho mình thói quen học thời gian đó. Ngoài ra, cần có lịch học thật hợp lý, kết hợp giữa học tập và giải trí như có thể một bản nhạc nhẹ nhàng, hoặc một bài tập thể dục. Nếu học phải phần khó hiểu thì để lại, học những phần khác dễ hiểu hơn, sau khi thư giãn, thoải mái thì học tiếp.

    1.6.4 Kỹ năng lập kế hoạch học tập

    Nhiều sinh viên cho rằng chỉ cần cố gắng học là có thể đạt kết quả tốt, nhưng thật ra, học ở Đại học khác với học ở trung học rất nhiều, và biết cách học có hiệu quả ở Đại học là một điều quan trọng mà có khi chưa được chú ý đúng mức. Hệ quả của phương pháp học không tốt là lãng phí thời gian, thành tích học tập kém, thậm chí thi rớt dẫn đến chán nản, thất vọng và bất mãn. Học đối với sinh viên là cuộc sống, là tương lai. Vậy nên thời gian học tập vô cùng quý giá, không thể lãng phí được. Do đó, hãy tạo và phát triển nơi mình một kĩ năng học tập có hiệu quả.

    Lập kế hoạch học tập là điều cần thiết:

    Trước khi làm bất cứ chuyện gì, nên lập kế hoạch. Nếu không có kế hoạch thì không làm chủ được thời gian, nhất là khi có điều gì bất trắc xảy đến. Một kế hoạch học tập tốt cũng giống như chiếc phao cứu hộ vậy. Mỗi người, tùy vào nhu cầu của mình, sẽ lập một kế hoạch học tập riêng, kế hoạch đó có thể thay đổi khi cần, nhưng điều quan trọng là phải tuân thủ kế hoạch đã đề ra.

    Kế hoạch học tập giúp quản lý thời gian:

    Bất cứ ai cũng có 168 giờ mỗi tuần, nhưng có người sử dụng quỹ thời gian đó có hiệu quả hơn người khác. Sinh viên có rất nhiều thứ để làm, hãy liệt kê tất cả công việc cho từng ngày ( ngủ, chưng diện, đi lại, ăn uống, kiếm tiền, đi chơi, tham gia công tác đoàn thể, xã hội, thể thao…) sau đó, nếu cảm thấy còn ít hơn 30 giờ mỗi tuần để tự học thì hãy kiểm điểm lại xem tại sao mình phí thời gian như vậy.

    Khi nào nên học tập:

    Nói chung chỉ nên học lúc chúng ta thoải mái, minh mẫn, vào đúng khoảng thời gian đã lên kế hoạch để học. Nguyên tắc là không học trong vòng 30 phút sau khi ăn, và trước khi đi ngủ, không học ngốn vào giờ chót  trước khi đến lớp.

    Học cho giờ lý thuyết:

    Nếu học trước để chuẩn bị cho giờ lên lớp, cần đọc tất cả những tài liệu, cần đọc trước và ghi chú thích những điểm chưa hiểu. Nếu học sau giờ lên lớp, cần chú ý xem lại những thông tin ghi chép được.

    Học cho giờ cần phát biểu, trả bài:

    Nên dùng khoảng thời gian ngay trước các giờ học này để luyện tập kỹ năng phát biểu với các học viên khác (nếu cần). Điều này sẽ giúp hoàn thiện kỹ năng phát biểu.

    Sửa đổi kế hoạch học tập:

    Đừng lo ngại khi phải sửa đổi kế hoạch. Thật sự kế hoạch chỉ là cách dự tính sẽ dùng quỹ thời gian của mình như thế nào, cho nên một khi kế hoạch không hiệu quả, ta có thể sửa đổi nó. Nên nhớ rằng, việc lập kế hoạch là giúp có thói quen học tốt hơn và khi đó việc lập kế hoạch sẽ trở nên dễ dàng hơn.

    Học phải có định hướng, phải biết mình học gì, có những bài kiểm tra lớn, nhỏ, đề tài quan trọng như thế nào để vạch kế hoạch thực hiện. Cần chủ động trong việc sắp xếp lịch học hợp lý, cân đối giữa việc học, làm thêm và giải trí.

    1.6.5 Phương pháp học tập trên lớp

    Nghe giảng: Để tập trung nghe giảng nắm được bài ngay trên lớp không phải là một việc đơn giản và dễ dàng. Hơn nữa, việc tập trung được hay không đôi khi còn phụ thuộc vào thầy giáo, bài giảng hay các nguyên nhân chủ quan khác. Chỉ có cách phải luyện tập, tránh để bản thân bị phân tâm. Tốt nhất nên chọn vị trí gần thầy cô, vừa có thể nghe rõ hơn, vừa có khả năng ít nói chuyện. Việc phát biểu hay đặc câu hỏi cho thầy cô giáo cũng là một cách khiến chúng ta tập trung hơn. Để phát biểu tốt thì hãy ghi những câu nhận xét hay phát biểu vào một tờ giấy trước khi phát biểu. Ghi chép: Cần phải viết nhanh hơn, dùng nhiều ký tự viết tắt hơn. Không cần phải ghi tất cả những gì thầy cô nói. Hãy dành thời gian để nghe các thầy cô giải thích kĩ hơn về định nghĩa, khái niệm, cách chứng minh… Chỉ ghi chép những gì mà chúng ta chưa biết, những điều quan trọng mà sách không có. Ngoài ra, vở của người bạn học sẽ là tài liệu hữu ích vì có thể lúc đãng trí bỏ sót một chi tiết quan trọng trong bài giảng.

    Vấn đề nghe giảng ở lớp: đừng thắc mắc tại sao thầy cô cứ nhắc đi nhắc lại vấn đề này. Vì nó là điều kiện đầu tiên giúp bạn trong việc học bài ở nhà sau đó. Bạn nghĩ: “Ðã là học sinh thì khi đến lớp ai mà không chú tâm nghe giảng cần chi phải nhắc hoài!”. Không đâu bạn. Nếu tất cả các bạn đều “chú tâm nghe giảng” thì tôi có thể quả quyết với bạn rằng: Hầu hết những học sinh ấy đều là những học sinh giỏi. Bài giảng họ tiếp thu tốt thì tất nhiên sẽ học bài mau thuộc. Nhưng nếu tất cả như vậy, chắc chắn tôi sẽ không viết quyển sách này.

    Vậy thái độ nghe giảng của các bạn phải ra sao? Bạn cũng có thể nhìn lên bục giảng, nhìn thầy cô chăm chú, tưởng chừng như bạn đã “nuốt” từng lời giảng của thầy cô vậy. Nhưng nếu bạn không có nghe gì cả, mà thầy cô hỏi bạn một câu, chắc chắn bạn sẽ lúng túng ngay. Phải, bạn sẽ không thể đáp lại câu hỏi của thầy cô một cách chính xác được. Và như vậy là bạn đã “nhìn” chứ bạn có “nghe” đâu. Ðầu óc bạn mơ màng, bạn đang ngồi ở lớp mà nghĩ tới những cuộc chơi ở xa. Nào là chiều nay sẽ đi hồ bơi, đi đánh quần vợt, bóng chuyền… các bạn nữ thì mơ tưởng đến cuộc họp mặt nào đó.v.v…

    Nói chung, bạn đang nhìn thầy cô mà hồn bạn đang “lang thang” một cuộc viễn du nào đó chứ không có tại lớp. Thầy cô thì khản tiếng, hết nước bọt để trình bày bài dạy của mình, những mong học sinh hiểu sâu, hiểu rộng mà nào được có mấy ai chịu khó nghe! Bạn phải biết rằng bạn đang ở trong lớp học, và bạn đang có nhiệm vụ “nghe giảng bài”. Bạn phải xác định như vậy mới gạt phăng mọi vấn đề khác để tập trung cho việc nghe giảng bài. Nếu như bạn không chú tâm nghe giảng thì đâu phải bạn có động cơ đi học. Mà động cơ học tập thì đúng là điều rất quan trọng của tuổi trẻ. Vậy bạn phải tự hỏi mình. Ta đến lớp để làm gì? Học, học thì phải nghe lời giảng của thầy cô. Nếu không, bạn chỉ có tiếng đi học, mang danh là một học sinh, nhưng kỳ thực không phải là học sinh. Vì một học sinh thì phải biết học, chăm học và học giỏi nữa. Chịu bao lao nhọc để đặt kỳ vọng nơi bạn, vậy mà bạn nỡ phụ lòng ba mẹ bạn sao? Dù sau này bạn là ai, bất cứ địa vị nào trong xã hội, mà tuổi trẻ bạn chây lười trong học tập là bạn đã mắc nợ với đời. Trước nhất là cha mẹ. Sau đến là thầy cô và cuối cùng là với xã hội. Vì bạn sống trong lòng xã hội là bạn phải có trách nhiệm phục vụ xã hội. Ai làm ra những phẩm vật cho xã hội? Con người. Muốn làm một con đường phải có kỹ sư tính toán. Cái áo bạn mặc, quyển vở bạn đọc đều do tay con người làm ra. Bệnh tật, bạn cần bác sĩ và viên thuốc bạn uống cũng cần dược sĩ bào chế. Nhưng tất cả những thành phần đó là ai? Do đâu mà họ được như vậy? Tất cả cũng phải học và họ cũng đã trải qua quá trình gian lao để ngày nay có được công thành danh toại đó,nhằm góp bàn tay xây dựng và kiến tạo xã hội. Ðó cũng có thể gọi là “trả nợ áo cơm”, hoàn thành nghĩa vụ đối với xã hội… Ngay bây giờ, còn trẻ đến lớp mà bạn không học thì lớn lên bạn sẽ góp phần gì cho xã hộ? Chắc bạn đã từng nghe câu: “Trẻ mà không học, già sẽ ân hận” rồi chứ?

    1.6.8 Thư giãn – giảm Stress

    Nhiều học sinh, sinh viên, vì các lý do khác nhau, luôn cảm thấy bị stress trong học tập. Để đối phó một cách có hiệu quả với stress, chúng ta cần phát hiện những nguyên nhân gây ra stress và có phương pháp để giảm stress. Dưới đây là một vài biện pháp tích cực mà các bạn có thể thực hành để giảm stress trong học tập:

    Luyện tập thân thể thường xuyên: Bạn sẽ giảm được những áp lực căng thẳng nhờ luyện tập thân thể thường xuyên. Việc luyện tập là một cách thức có lợi nhất để thư giãn và làm dịu những cơn căng thẳng. Một thể chất khoẻ khoắn luôn tạo điều kiện cho một tâm trí thông suốt, đủ sức để bạn làm việc và học tập mỗi ngày.

    Ăn uống điều độ: Mỗi ngày, nên ăn uống điều độ và đầy đủ chất dinh dưỡng. Tránh dùng quá nhiều chất ngọt, nhiều đường, chất béo, vì những chất này có nguy cơ gây tăng huyết áp, làm cơ thể giảm khả năng đối phó với stress.

    Mỗi ngày, có một khoảng thời gian để thư giãn: Bạn có thể thực hành ít nhất một kỹ thuật thư giãn nào đó, chẳng hạn : nghe nhạc du dương, êm dịu; hô hấp sâu; trầm tư mặc tưởng;…

    Gặp gỡ những người bạn yêu thích: Cố gắng tham gia những nhóm, câu lạc bộ phù hợp với bạn, nơi bạn có thể cùng theo đuổi và chia sẻ những sở thích và các mối quan tâm với các bạn khác, chẳng hạn: sở thích văn chương, sở thích âm nhạc, sưu tầm tem, đàm thoại ngoại ngữ,…

    Tránh dùng những chất kích thích: Các chất cafein, cồn, nicotin có thể nhất thời làm bạn cảm thấy thích thú, nhưng về lâu dài, những chất này có khuynh hướng làm tăng stresss.

    Tâm sự nỗi buồn với người thân quen: Bất cứ ai cũng có những nỗi lo buồn không thể tránh khỏi trong cuộc sống. Do đó, nếu có chuyện gì quá buồn, bạn cũng nên tâm sự với người thân, những người mà bạn có thể tin tưởng được, họ sẽ chia sẻ và đưa ra cho bạn những lời khuyên hữu ích. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng tâm sự mọi chuyện với bất kỳ ai. Có nhiều trường hợp, sức mạnh ý chí đòi hỏi bạn phải can đảm im lặng và tự mình vượt qua mọi buồn khổ.

    1.6.9 Kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra

    Học thi: Cần giữ sức khỏe.

    Học sinh chuẩn bị bước vào kỳ thi cần giữ sức khỏe, đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng, tạo trạng thái tâm lý tốt và đặc biệt là không để bị áp lực gây căng thẳng. Không nên áp đặt lên kết quả thi cử, chẳng hạn như: “Phải thi đạt cho được loại giỏi, phải thi đỗ…”, đừng quá quan tâm đến những gì người khác nghĩ mà chỉ nên cố gắng làm thế nào để đạt kết quả cao nhất theo khả năng của mình. Sau đây là những cách giúp bạn có được sức khỏe và tinh thần tốt nhất để đạt kết quả cao trong các kỳ thi.

    Giữ gìn sức khỏe.

    Việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng là điều cực kỳ quan trọng vì trong thời gian ôn thi, học tập với cường độ cao, cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng. Ở giai đoạn này, các bạn cần tăng cường các loại thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, cá, tôm, cua… cùng các loại rau xanh, củ, quả. Bên cạnh đó, các bạn nên uống từ 2 đến 3 ly sữa mỗi ngày. Có vậy, sức khỏe mới được đảm bảo và việc học tập cũng hiệu quả hơn. Thức ăn đem lại nguồn dinh dưỡng quý giá cho sức khỏe nhưng nếu không bảo đảm vệ sinh thì trở thành mầm mống của nhiều bệnh tật. Để nâng cao sức khỏe và giúp bữa ăn ngon hơn, hấp dẫn hơn, cần chú ý đến nguyên tắc ba sạch: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong mùa nắng nóng.

    Nên ngủ đủ giấc 7 – 8 giờ mỗi ngày. Buổi trưa dù bận cách mấy cũng nên chợp mắt ít nhất nửa giờ vì người ta nhận thấy giấc ngủ buổi trưa dù ngắn nhưng sẽ giúp ích rất nhiều cho sự tiếp thu kiến thức vào buổi chiều và tạo sự sảng khoái trong học tập.

    Ngoài ra, việc dùng thuốc tăng cường bồi bổ trí nhớ đối với người bình thường là không cần thiết và không nên sử dụng. Bởi vì, những lợi ích của các loại “thuốc giúp thông minh” này thường đã bị thổi phồng và quảng cáo quá mức. Các thử nghiệm cho thấy những loại thuốc có thể giúp tập trung, ghi nhớ và tỉnh táo bằng cách tạo các tương tác khác nhau lên chất dẫn truyền thần kinh. Tuy nhiên, các nhà quản lý và dược sĩ đều cảnh báo về việc lạm dụng thuốc bổ óc có thể gây nhiều tác hại đối với học sinh. Một số chuyên gia tin rằng, có những loại “thuốc giúp thông minh” khi ngấm vào não sẽ gây nghiện và nguy hiểm cho não bộ về lâu dài.

    Giữ trạng thái tâm lý tốt.

    Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng để học thi, nhưng việc định hướng, sắp xếp thời khóa biểu học tập một cách khoa học, hợp lý cũng cần thiết không kém. Kinh nghiệm cho thấy, chuẩn bị bước vào mùa thi, trạng thái tâm lý của học sinh không ổn định, lo lắng, thậm chí là sợ thi nên các bạn dễ bị rối trí. Do vậy, các bạn nên sắp xếp thời gian hợp lý để chú tâm hơn vào việc học. Tránh tình trạng đầu tư thời gian vào môn này quá nhiều, môn kia lại quá ít, môn sở trường thì ham học, còn những môn không thích thì không muốn học.

    Việc học tập căng thẳng cũng tạo nên cảm giác mệt mỏi. Vì thế, thời gian ngủ của các bạn phải được đảm bảo, hoạt động vui chơi giải trí cũng không thể bỏ qua. Quãng thời gian thư giãn có thể là lúc để các bạn hồi tưởng lại những gì đã học.

    Trong trường hợp tự giải các đề thi thử, nếu có bài làm của môn nào không được như ý muốn thì hãy khoan vội thất vọng, mà hãy biết điểm còn yếu của mình để chú tâm hơn cho môn đó. Việc giữ gìn sức khỏe cho tốt, tâm lý vững vàng cũng là một cách giúp cho việc thi cử đạt kết quả cao. Vì vậy, đừng quá lo lắng và miệt mài học thi mà lơi lỏng việc chăm sóc sức khỏe của bản thân.

    Phương pháp tập đọc nhanh trong mùa thi: Đọc bằng mắt, không phát âm; tập mở rộng tầm nhìn để khi mắt lướt qua, đọc và tập nhớ lại tựa bài, những vấn đề chính yếu căn bản của bài; không học thuộc lòng mà nhớ ý là chính; cố gắng hiểu những gì đã học kể cả hỏi bạn bè, thầy cô; ghi nhớ các chi tiết gần nhau, khắc ghi những gì quan trọng nhất,  gạch dưới hoặc tô màu dễ thấy; sau khi đọc xong, dùng trí nhớ hệ thống hóa lại toàn bộ bài học, những điểm căn bản, trước khi ngủ, ôn lại một lần nữa vì trong giấc ngủ, tài liệu ôn tập dễ ghi vào bộ nhớ. Việc học thuộc lòng làm não trở nên thụ động, lười suy nghĩ .  Vì vậy, vào phòng thi, nhiều thí sinh đọc xong đề bài, bừng con mắt dậy thấy óc mình trống trơn. Vì thế, muốn tăng cường trí nhớ, học dễ nhớ lâu quên thì phải tập trung phân tích, tổng hợp bài vở kèm theo hình ảnh cụ thể để trí nhớ dễ tìm kiếm khi cần thiết.

     

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN

    CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QTKD, ĐẠI HỌC QUY NHƠN

     2.1 Đặc điểm riêng của sinh viên khối ngành kinh tế:

    Căn cứ theo mục tiêu đào tạo, có thể tạm chia nhóm ngành kinh tế thành ba nhóm nhỏ với ba đặc điểm đào tạo khác nhau của sinh viên khối ngành kinh tế:

    Nhóm đào tạo các nhà quản lý nhà nước về kinh tế gồm các ngành: kinh tế học, kinh tế kế hoạch đầu tư, kinh tế môi trường, kinh tế quản lý công cộng, kinh tế lao động quản lý nguồn nhân lực… Tốt nghiệp các ngành này sẽ làm công tác quản lý, phân tích, hoạch định chính sách kinh tế, dự án kinh tế trong các cơ quan quản lý nhà nước. Nhóm ngành này phù hợp với những người có khả năng lãnh đạo, khả năng quản lý, thuyết phục, lập kế hoạch cũng như khả năng nghiên cứu, phân tích – tổng hợp và ra quyết định…

    Nhóm đào tạo các chuyên gia kinh tế: tài chính, kế toán, kiểm toán, ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm… Nhóm ngành này cũng yêu cầu khả năng nghiên cứu kinh tế – tài chính, lập kế hoạch, thu thập xử lý thông tin số liệu giải quyết vấn đề liên quan đến nghiệp vụ của mình. Các ngành kế toán, kiểm toán đặc biệt yêu cầu khả năng tính toán cũng như khả năng làm việc tỉ mỉ, chính xác… Tốt nghiệp các ngành này (tùy chuyên môn cụ thể) có thể làm việc ở các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, thương mại – dịch vụ, ngân hàng, tổ chức tín dụng…

    Nhóm đào tạo các nhà quản trị doanh nghiệp: quản trị kinh doanh, quản trị chất lượng, kinh doanh quốc tế, thương mại, ngoại thương, marketing… Tốt nghiệp các ngành này có khả năng phân tích thị trường, phát hiện cơ hội kinh doanh, lập kế hoạch và quản lý hoạt động doanh nghiệp (thương mại, du lịch, xuất nhập khẩu…). Nhóm ngành này yêu cầu kỹ năng làm việc theo nhóm, có khả năng quản lý, lập đề án phát triển doanh nghiệp, ra quyết định đúng đắn trong kinh doanh…

    Ngoài ba nhóm ngành trên, nhóm ngành hệ thống thông tin kinh tế với các tên gọi như: thống kê, tin học quản lý… là các ngành học gắn liền với nhu cầu của các doanh nghiệp. Họ cần những “nhà kinh tế giỏi công nghệ thông tin, nhu cầu nhân lực lớn nhưng ít người. Ngành này trang bị các kiến thức và kỹ năng ở cả hai lĩnh vực kinh doanh và công nghệ thông tin. Tốt nghiệp ngành này có thể làm các công việc: xây dựng hệ thống mạng quản lý doanh nghiệp, quản lý kinh doanh qua mạng, quản lý hệ thống thông tin trong doanh nghiệp hoặc làm việc ở lĩnh vực thu thập và phân tích số liệu, thống kê…

    Cân nhắc việc học và làm thêm sao cho hiệu quả

    Một vấn đề mà có lẽ rất nhiều sinh viên kinh tế quan tâm: làm thêm. Tìm việc làm thêm không dễ dàng nhưng cũng không phải là không thể. Tuy nhiên trong giai đoạn học thi thì nhất định không được làm thêm bất cứ công việc gì. Trong thời gian này hãy cố gắng học bài thi cho tốt để được kết quả tốt nhất. Có thể tìm việc theo ba cách: trên internet, tại sở lao động hoặc tìm tại trường đại học đang theo học.

    Sinh viên vừa làm vừa học mới là những người tiếp thụ được kiến thức nhiều nhất. Họ được học hành và cùng lúc đó là có thể duy trì được công việc và có tiền để tiêu. Tuy nhiên, đó có thể là con dao hai lưỡi, nếu bạn không cẩn thận, nó có thể hủy hoại việc học tập lẫn công việc. Dưới đây là các cách giúp sinh viên cân bằng để đạt hiệu quả tốt nhất.

    Quản lý thời gian tốt. Tự mình lên kế hoạch hàng ngày hoặc hàng tuần và hãy chắc chắn rằng phải dành thời gian nhất định cho việc học. Lựa chọn thời gian phù hợp cho việc học nhất và lên lịch. Thời gian còn lại có thể phân đều cho gia đình, bạn bè, hoạt động xã hội … Luôn nhớ rằng viêc học đối với sinh viên vẫn là quan trọng nhất. Tùy vào số lượng công việc và số giờ ngủ cần thiết mà các buổi sáng thứ Bảy và Chủ nhật có thể là sự lựa chọn tốt cho phép các bạn có thời gian rãnh rỗi dành cho gia đình, đi lễ nhà thờ, các hoạt động thể thao, và các chương trình vui chơi khác.

    Hãy năng động, tạo động lực cho mình bằng cách tạo mối liên hệ với các bạn cùng lớp. Sử dụng email để chia sẽ ý kiến và thảo luận nhóm về cách giải quyết, đáp án đốI với các bài tập được giao. Vừa học vừa làm, sẽ dễ dàng đánh mất động lực học nếu không có sự liên hệ thường xuyên với các sinh viên khác, vì thế hãy sử dụng tốt khoảng thời gian gặp bạn bè để trao đổi. Cố gắng theo kịp bài học trước hay sau khi môn học kết thúc, tuy đôi khi bạn đến lớp chỉ để điểm danh.

    Thiết lập mục tiêu và hãy tự tán thưởng cho mình khi các bạn đạt được mục tiêu đó. Đây là thói quen tự động viên rất hiệu quả. Mục tiêu cao cả là thực hiện đúng thời gian biểu vừa học vừa làm!

    Chọn một nơi yên tĩnh để học, tách bạch hoàn toàn khỏi những sự xao nhãng từ cuộc sống gia đình, như là xem ti vi, những cú điện thoạI hoặc từ các nhân viên đồng nghiệp. Hãy luôn cất giữ cuốn tập, các mẫu giấy ghi chú, máy vi tính, … chỉ ở một nơi để bạn có thể dễ dàng nhìn thấy vào và lục tìm khi cần thiết. Làm như thế sẽ làm giảm bớt sự lo lắng khi mà sau một ngày dài làm việc ở văn phòng, cửa hàng hoặc xí nghiệp là khoảng thờI gian mà bạn thực sự cảm thấy mệt mỏi

    Dọn dẹp, sắp xếp căn phòng ngăn nắp để cảm thấy dễ chịu. Thử tưởng tượng đi làm về mệt, nhìn nhà cửa bề bộn như thế thì trong đầu bạn chắc chắn sẽ chẳng hứng thú gì khi phải lôi sách vở ra học.

    Vui chơi lành mạnh. Làm việc, làm việc và làm việc sẽ góp phần làm con người bạn trở nên nhàm chán, tẻ nhạt. Vui chơi sẽ làm sảng khoái tinh thần và cho ta cảm giác yêu đời hơn. Hãy đi ra ngoài và tự thỏa mãn những sở thích của mình như coi ca nhạc, xem phim, dành cả một buổi chiều nghịch chơi với trẻ nhỏ như xếp hình, lắp ráp đồ chơi trên sàn. Đây là những giây phút đáng quý hơn bao giờ hết vì trong khi bạn đùa giỡn, đầu óc bạn sẽ được nghỉ ngơi. Một nguồn năng lượng mới được tái tạo sẽ giúp sinh viên cảm thấy hăng say hơn cho công việc sắp tới.

    Hãy tận hưởng những lợi ích khi vừa làm vừa học. Các sinh viên chỉ có học sẽ cảm thấy ganh tỵ với bạn vì họ đã không tận dụng được một cơ hội quan trọng để thúc đẩy bản thân, đó là kinh nghiệm làm việc. “Đã từng làm việc” sẽ làm tăng thêm giá trị cho tấm bằng của các bạn, bằng cách cung cấp cái nhìn tổng quan về cuộc sống thực tế và những tình huống mà có thể giúp bạn hiểu rõ các bài học trên trường tốt hơn.

    Ngay cả khi việc làm và chuyên ngành học hoàn toàn không liên quan gì đến nhau thì bạn cũng học được rất nhiều kỹ năng cần thiết cho công việc sau này như: kỹ năng sắp xếp công việc, kỹ năng cân bằng công việc, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp với đồng nghiệp và giải quyết vấn đề… Tất cả các kỹ năng thì vô giá khi đem so sánh với những sinh viên học toàn thời gian nhưng lại chẳng có chút kinh nghiệm nào.

    Bí quyết: Hãy “tranh thủ” sự thông cảm của gia đình và bạn bè. Nếu chỉ tập trung cho công việc, việc học mà “lơ là” người thân, gia đình thì đang dần biến mình thành “Robinson trên đảo hoang đấy”. Nếu phải cúp tiết học vì công việc, hãy tham gia các lớp học khác để học bù. Nếu có thể, hãy cho Giảng viên của bạn biết được hoàn cảnh và những nỗ lực ko bỏ lỡ bài vỡ của bạn. Đừng cho rằng giảng viên nào cũng hiểu vấn đề của bạn trong thời gian thi – điều này phải rõ ràng, cụ thể trước khi bắt đầu học kỳ. Đừng để công việc trượt dốc. Nếu như nhận thấy rằng việc học làm tốn nhiều công sức và rằng nó làm ảnh hưởng đến công việc, cần phải điều chỉnh thời gian biểu. Nếu đã xác định vừa học vừa làm, thì hãy cố gắng hòan thiện cả hai..

     2.2  Kết quả học tập của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    Sự đổi mới về phương thức quản lý sinh viên trong năm học 2009-2010 đã cho thấy sự thay đổi về chất lượng học tập của sinh viên cao hơn so với những năm học trước. Cụ thể học kỳ I  Khoa TCNH & QTKD và Kinh tế & Kế toán số sinh viên xuất sắc, giỏi đạt 13,1%; sinh viên khá chiếm 38,5%; và 34,73% là số sinh viên trung bình; còn lại 13,67% có kết quả duới trung bình.

    Có được kết quả này chính nhờ sự đổi mới về phương thức quản lý cũng như việc đổi mới về cách thức truyền đạt của giảng viên đến sinh viên. Tuy nhiên về cơ bản vẫn còn nhiều bộ phận sinh viên chưa có một phương pháp học tập hiệu quả, đào sâu kiền thức đặc biệt là các môn trong khối ngành kinh tế. Sinh viên vẫn chưa tập được cho mình thói quen chủ động trong học tập, chỉ đến lớp để ứng phó điểm danh, kiểm tra giữa kỳ, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng học tập của bản thân dẫn đến chưa đưa ra cho mình được phương pháp học tập hiệu quả.

    2.3 Tình hình phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    Thực trạng chương trình dạy và học hiện nay: Chúng ta có thể nói rằng các môn học tự bản thân nó không có tội nhưng chính cách dạy làm sinh viên ngao ngán và chán nản. Giờ học cho các môn chuyên ngành ít, trong khi giờ cho các môn ngoại ngữ, tin học lại quá nhiều. Thời gian học không hợp lý, dồn dập, đặc biệt là các lớp buổi tối. Từ đó dẫn đến tình trạng là sinh viên đi học không đều. Sinh viên hiện nay không tự tin trong khi học và khi đi làm, không có phương pháp học cụ thể, khoa học. Phần lớn họ chỉ xem lại bài học khi đến gần ngày kiểm tra.

    Qua khảo sát hơn 2500 sinh viên của Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán thu được kết quả sau:

    Thời gian tự học mỗi ngày của sinh viên khá, giỏi từ 2-3 giờ mỗi ngày chiếm 56%, từ 4-5 giờ chiếm 38% và 6% cho số còn lại.

    Trong khi mức trung bình chung từ 2-3 giờ mỗi ngày chỉ 32%, từ 4-5 chưa đến 19% và có đến 49% chưa dành thời gian học tập hàng ngày đến 2 giờ.

    Sinh viên khá giỏi tham gia đầy đủ các buổi học. Tỷ lệ có mặt trên lớp của số sinh viên này từ 95% trở lên chiếm 80%, số còn lại tham gia các buổi học từ 90-95%.

    Thời gian có mặt trên lớp của sinh viên trung bình và dưới trung bình hạn chế hơn, chỉ 57% các sinh viên này tham gia các buổi học từ 95% trở lên, số còn lại có mặt trên lớp khá khiêm tốn, thậm chí có nhiều sinh viên cả học kỳ chỉ có mặt trên lớp một vài buổi.

    Hầu hết sinh viên khá, giỏi đều có giáo trình đầy đủ chiếm khoảng 93%, số còn lại tham khảo tài liệu ngoài; có khoảng 56% trong số họ sử dụng Internet làm công cụ hỗ trợ học tập.

    Hoạt động thảo luận nhóm được sinh viên khá giỏi tham gia chiếm hơn 61%, 93% trong số họ có khả năng học tập độc lập và 86% hoạt động thảo luận trên lớp; 45% sinh viên khá, giỏi tham gia hoạt động nhóm và học tập độc lập đạt hiệu quả cao. Những bạn sinh viên khác hoạt đọng nhóm chỉ chiếm 34%; 96% trong số những sinh viên này hoạt động độc lập và 65% hoạt động trên lớp nhờ những buổi đi học.

    Kế hoạch học tập, thời gian biểu cụ thể được các bạn sinh viên khá, giỏi quan tâm, 82% trong số họ có kế hoạch học tập hàng ngày, 26% có kế hoạch học tập hàng tuần và 7% có kế hoạch hàng tháng; trong đó có khoảng 15% sinh viên khá, giỏi vừa có kế hoạch hàng ngày, vừa có kế hoạch hàng tuần. Trong khi chỉ có 13% các sinh viên trung bình và dưới trung bình cho một bảng kế hoạch học tập.

    Sinh viên tham khảo tài liệu ngoài còn hạn chế, 85% trong số sinh viên khá, giỏi thỉnh thoảng tham khảo tài liệu ngoài, 13% có mức độ tham khảo thường xuyên và chỉ 2% còn lại hầu như ngày nào cũng tham khảo tài liệu ngoài.

    2.4  Đánh giá về phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    2.4.1. Những kết quả đạt được

    Kết quả cuộc khảo sát cho thấy sinh viên khá giỏi là những người có kế hoạch, biết đầu tư thời gian hợp lý cho học tập (3-4 giờ tự học mỗi ngày), tham gia đầy đủ các buổi học trên lớp, có đầy đủ sách giáo trình và tham khảo tài liệu ngoài, tham gia hoạt động thảo luận nhóm đạt hiệu quả. Kết quả đạt được này thực sự chưa cao, nhất là về tính rộng rãi, phong phú của các môn học kinh tế. Nhưng về cơ bản hầu hết họ đã ứng dụng được một vài phương pháp học tập ở Đại học vì vậy đã đạt được kết quả khả quan. Những sinh viên này khi đã có định hướng sẽ chuẩn bị cho mình những kiến thức phù hợp, họ sẽ có thể học và không học một số kiến thức, tuy nhiên họ phải có những kỹ năng căn bản nhất mà một sinh viên phải có khi ra trường. Dù có làm việc trong môi trường nào, công việc nào, đúng chuyên ngành hay phải làm trong một vị trí không phù hợp thì những kỹ năng vẫn là những chìa khóa cho thành công cho bất kỳ ai. Những kỹ năng này sẽ được học hỏi và vận dụng tốt hơn đối với những sinh viên khá giỏi. Áp dụng kiến thức căn bản trên lớp được thầy cô truyền thụ nhiệt tình kết hợp những kỹ năng phù hợp sinh viên khối ngành kinh tế thì nhất định sẽ có được nhưng con người kinh tế năng động thật sự, đáp ứng nguồn nhân lực giàu năng lực cho đất nước.

    2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân

    Bên cạnh những kết quả đạt được đó, vẫn còn bộ phận sinh viên chưa đạt được kết quả cao trong học tập cũng như khả năng ứng dụng thực tiễn do họ chưa tìm được cho mình những phương pháp học tập hiệu quả, đặc biệt là các môn thuộc khối ngành kinh tế và QTKD, kể cả sinh viên khá, giỏi.

    Về mặt thực tiễn và một số kỹ năng cần thiết ở sinh viên kinh tế ở số sinh viên này vẫn còn hạn chế, lý do của việc này là sinh viên tìm hiểu kiến thức chưa sâu cũng như hạn chế về việc tìm kiếm tài liệu, họ vẫn thụ động từ cách học phổ thông, tin tuyệt đối vào sách vở không có sự hoài nghi phản biện, không chủ động trong việc mở mang kiến thức xã hội cho bản thân, nhất là những kinh nghiệm thực tế – sự cần thiết tối thiểu cho sinh viên kinh tế sau này. Trong khi con nguời kinh tế là những nguời thật sự hiểu sâu biết rộng trên nhiều lĩnh vực, mọi mặt của đời sống, bởi mọi sự vận động của các yếu tố xã hội, từ khoa học công nghệ, giáo dục , y tế, văn hoá, chính trị … đều có sự tác động, ảnh huởng đén nền kinh tế. Bên cạnh đó khả năng tiếp thu tài liệu cũng như tư duy vận dụng kiến thức cơ bản đến thực tiễn của các bạn sinh viên còn yếu, sự tác động của nhiều yếu tố bên ngoài, khối lượng thông tin, kiến thức các bạn tiếp xúc hàng ngày nhiều làm cho khả năng ghi nhớ thông tin cần thiết, quan trọng đối với các bạn bị hạn chế, đặc biệt là các thông tin kinh tế – xã hội cập nhật hàng ngày luôn có sự liên quan ảnh huởng đến tình hình phát triển kinh tế của đất nuớc.

    Các bạn sinh viên ở hai khoa chưa chú trọng nhiều đến việc học nhóm, thảo luận, tự nghiên cứu cũng như trao đổi với giáo viên về kiến thức trên lớp, tìm hiểu kiến thức mở rộng, nguyên nhân của hạn chế này là do các bạn sinh viên còn ngại ngùng trong việc trao đổi, trau dồi kiến thức cùng nhau, chưa chủ động trong mọi việc, phần lớn mang tính tự chủ. Việc học nhóm ở sinh viên kinh tế là điều kiện để phát huy các kỹ năng cơ bản cũng như kỹ năng chuyên biệt của các bạn. Học nhóm sẽ giúp các bạn rèn luyện kỹ năng giao tiếp, khả năng làm viẹc nhóm hiệu quả – rất cần thiết cho công viẹc sau này. Ở đó cũng giúp cho các bạn trao đổi lẫn nhau những phưong pháp học hiệu quả, bổ sung kiến thức cho nhau. Điều khiến các bạn thiếu đi sự quan quan tâm học nhóm này là do các bạn chưa thật sự hội nhập, thích nghi với môi trưòng đại học; chưa có cách sống tự lập xa gia đình an toàn, lành mạnh và huớng đến xã hội, cộng đồng. Bên cạnh đó các bạn cũng thiếu đi việc xây dựng hình ảnh cá nhân, các kỹ năng lãnh đạo, giải đáp vấn đè mà chính môi trường học nhóm là điều kiện tốt đẻ các bạn phát huy những kỹ năng này.

    Việc tự xây dựng cho mình cũng như thích nghi một môi trường học tập ở các bạn sinh viên kinh tế còn thiếu và yếu, sự phát triển của các phương tiện thông tin giải trí, cũng như các loại hình vui chơi khác đã khiến nhiều bạn bị cuốn vào và không tìm cho mình được môi trường học tập hiệu quả. Một số bạn lựa chọn thư viện hay giảng dường làm nơi khổ luyện hàng ngày nhờ sự yên tĩnh, ở đây cũng vừa cung cấp cho các bạn một lượng thông tin khá lớn nhưng mặt trái của vấn đè này là các bạn cứ vùi đầu vào sách vở ngày qua ngày mà thiếu đi các hoạt động trao đổi thực tế, cũng như sắp xếp thời gian giải trí phù hợp. Nhiều bạn rơi vào tình trạng Stress mà không rõ nguyên nhân, phần lớn các bạn chưa quan tâm đến Stress và rất dễ rơi vào tình trạng này.

    Một vấn đề nữa tồn tại ở các bạn sinh viên kinh tế là đa số các bạn chưa có kế hoạch học tập hiệu quả cũng như sắp xếp công việc làm thêm, giải trí hiệu quả, mà đây lại là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của một nhà kinh tế, chính sự không chủ động trong mọi việc của các bạn sinh viên đã làm cho các bạn chưa có những kế hoạch, học tập làm việc hiệu quả.

    Việc học tập trên lớp của sinh viên phần nhiều còn mang tính hình thức, các bạn đến lớp chỉ để điểm danh, kiểm tra giữa kỳ mà không quan tâm đến lượng kiến thức mình tiếp thu được trên lớp như thế nào đều này dẫn đến việc các bạn không tìm được cho mình cách học trên lớp sao cho hiệu quả, tận dụng hết khả năng của mình trên lớp mà tiếp thu kiến thức của thầy cô truyền thụ. Cũng như việc tận dụng thời gian trên lớp để trao đổi cùng bạn bè về những kiến thức vừa học, kiểm tra lẫn nhau chuẩn bị cho bài học mới.

    Đi học không thường xuyên, không sắp xếp cho mình kế hoạch học tập phù hợp cũng là nguyên nhân dẫn đến việc các bạn sinh viên chưa có được những kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra đạt hiệu quả. Thụ động trong việc học tập, nhiều bạn không đi học thường xuyên hoặc có đi học nhưng không ghi bài, không tập trung đến lúc thi chỉ mượn vở các bạn khác photo đã làm cho chính các bạn thiếu đi khả năng chuẩn bị ôn tập và thi đạt kết quả cao.

    Phần lớn sinh viên chưa nắm được những điều kiện cần thiết, nền tảng để có được phương pháp học tập hiệu quả. Mỗi người có một phương pháp, cách học khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện, khả năng của mỗi người. Nhưng về cơ bản phải nắm vững những yếu tố cần thiết để hình thành phương pháp học tập hiệu quả cho mình như: đọc, tìm kiếm tài liệu, làm việc theo nhóm, đồng đội, tập thể, học tập và nghỉ  ngơi, cách nghe giảng, ghi chép, tóm lược và sửa chữa bài giảng, Kỹ năng tư duy hiệu quả, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp luận sáng tạo, kỹ năng tổ chức công việc khoa học, lên kế hoạch học tập, viết tiểu luận, báo cáo khoa học, thuyết trình… Học chưa gắn liền với hành. Những phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học được các thầy/cô hướng dẫn trên lớp, trong những lần báo cáo chuyên đề, giao lưu hay những phương pháp có trong các cuốn sách, bài báo chỉ trở thành sở hữu của sinh viên khi nó được tìm hiểu, phân tích, vận dụng, bổ sung, chỉnh sửa hàng chục, hàng trăm lần trong nhiều nội dung môn học khác nhau. Nhiều sinh viên có nghe, có xem nhưng lại không có ý chí, kiên nhẫn để thực hành do sức ỳ từ những cách thức, cách làm cũ. Sức ỳ từ phương pháp học tập ở phổ thông. Thói quen, lề lối, phương pháp học tập đó được duy trì cho tới bậc trung học và ngay cả bậc đại học – bậc học có mục tiêu và yêu cầu khác với bậc phổ thông. Thiết nghĩ rằng, mỗi  sinh viên muốn thắng được “sức ỳ” của mình, tìm được phương pháp học tập mới thì cần phải “biết quên” cái cũ đi. Hãy nhìn vấn đề một cách háo hức, say mê, không chỉ là ghi nhớ, thuộc các dữ kiện mà có khả năng quan sát, suy nghĩ, hiểu, giao lưu, thích nghi và sáng tạo. Đối với sinh viên, học tập là nhằm trang bị cho mình năng lực lao động để tạo ra sản phẩm công việc. Học tập phục vụ cho ai? Học tập cái gì? Người sử dụng đang cần gì ở mình? Chất lượng có đáp ứng yêu cầu của người sử dụng không?… Là những câu hỏi cần trả lời để sinh viên có định hướng, phương pháp, nội dung học tập phù hợp, hiệu quả bảo đảm đầu ra cho mình. Nhiều sinh viên cho rằng Đại học là chỗ “xả hơi” sau những năm học tập mệt mỏi, nặng nề ở phổ thông. Họ cũng luôn ca thán, oán trách, phê phán nền giáo dục nước nhà là trì trệ, lạc hậu, không phát huy được tài năng, sức sáng tạo của mình trong lúc cách học của họ thì rất thụ động, đối phó, lười suy nghĩ, phát biểu, tìm kiếm tài liệu, không đi học thường xuyên, phong cách lề mề, chậm chạp, thiếu tính kỷ luật, quay cóp,… Chính với tinh thần, thái độ học tập lệch lạc, miễn cưỡng như vậy tất yếu sẽ dẫn đến một phương pháp học tập hiệu quả chưa cao.

     

     

    CHƯƠNG 3

    ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC

    Ở ĐẠI HỌC VÀO SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ

    3.1 Đặc thù các môn học ngành kinh tế

     Nhìn chung các môn học nhóm ngành kinh tế chuyên về các kiến thức rộng, nền tảng, kiến thức bổ trợ liên quan đến ngành học. Từ đó, sinh viên có thể có tầm nhìn tổng quát, có thể nghiên cứu sâu hơn để đưa ra những cải tiến, phát minh, giải pháp mới. Các môn học kinh tế có tầm kiến thức khá rộng rãi, cần có kết quả nghiên cứu từ thực tế và có ứng dụng trong thực tiễn đòi hỏi sinh viên kinh tế phải nắm bắt kiến thức cơ bản trên lớp sâu sắc, tham khảo tài liệu ngoài nhiều, tích cực tham gia hoạt động thảo luận nhóm…Tựu chung lại, yêu cầu về phương pháp học các môn kinh tế cho sinh viên là điều hết sức cần thiết.

    3.2 Các giải pháp để học các môn kinh tế đạt hiệu quả

    Học tập theo phương pháp P.O.W.E.R cho sinh viênkinh tế

    Từ “Power” ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một phương pháp học tập ở bậc đại học do GS Robert Feldman (ĐH Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn sinh viên cách học tập có hiệu quả nhất. Phương pháp POWER bao gồm 5 yếu tố cơ bản là chữ viết tắt ghép thành POWER: Prepare , Organize, Work, Evaluate, Rethink

    Prepare (chuẩn bị sửa soạn)

    Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi sinh viên nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn đồng học. Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi sinh viên chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm tài liệu có liên quan. Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này, sinh viên có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có hệ thống. Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà sinh viên có được không phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn do chính sinh viên tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức. Nói “học là quá trình hợp tác giữa người dạy và người học” có nghĩa là như vậy.

    Organize (tổ chức)

    Sự chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi sinh viên bước vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn người sinh viên biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập của mình một cách có mục đích và hệ thống.

    Work (làm việc)

    Một trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra khỏi làm việc. Trong khi làm việc chính là một quá trình học tập có hiệu quả nhất. Trong giai đoạn này sinh viên phải biết cách làm việc một cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm, thực hành. Các hình thức làm việc trong môi trường đại học rất đa dạng, phong phú: Lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặcthảo luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí nghiệm… tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả.

    Evaluate (đánh giá)

    Ngoài hệ thống đánh giá của nhà trường, sinh viên còn phải biết tự đánh giá chính bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập. Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực, sinh viên mới biết mình đang đứng ở vị trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao trình độ và ý thức học tập.

    Rethink (suy nghĩ lại – luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác)

    Khả năng suy nghĩ lại này giúp sinh viên luôn biết cách cải thiện điều kiện, phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học không phải là một thứ tư duy đơn tuyển, một chiều mà đó chính là hình thức tư duy đa tuyển, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập đến. Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo) và tái tạo quá trình học tập trên can bản nhận thức mới đối với vấn đề và kết quả đã đặt ra. Cuối cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là Recreate (giải lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so với các hoạt động học tập chính khóa. Ở đây cần nhớ rằng: Ai không biết cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển thì người đó cũng không biết cách học tập hoặc học tập không có kết quả cao.

    3.2.1 Phương pháp tìm đọc tài liệu và ghi nhớ tốt

    Sách giáo trình và tài liệu về kinh tế đa dạng và phong phú, để có thể nắm bắt được những kiến thức quan trọng cần chú ý những hướng dẫn về những tài liệu tham khảo cần thiết của thầy cô. Khi đọc sách, tài liệu tham khảo tập trung những nội dung, số liệu cần thiết. Tài liệu rất đa dạng từ nhiều nguồn: báo chí, thư viện, Internet…nhưng không thể đọc hết được. Theo đó cần chọn khối lượng vừa đủ để bắt đầu, cố gắng nắm bắt được cách bố trí, hệ thống của tư liệu, cần đọc phần tóm lược để nắm ngay nội dung. Đọc những gì hiểu rõ nhất để xác định độ khó chừa lại những gì không hiểu. Dùng bút đánh dấu những chỗ quan trọng hay chưa hiểu để xen lại. Trong khi đọc thỉnh thoảng dừng lại và đặt những câu hỏi kích thích, tự tìm câu trả lời. Để có một trí nhớ tốt hãy chọn cho mình một thói quen như khi đến trường kiểm tra sách vở; nên ghi danh sách các việc cần làm vào một tờ giấy nhỏ và thỉnh thoảng kiểm tra xem tiếp theo mình cần phải làm gì. Để ghi nhớ tốt trong việc tiếp thu kiến thức thì cùng bạn bè thảo luận về một vấn đề cùng quan tâm. Ngoài ra, ghi nhớ qua các chi tiết quan trọng, các key words, các hình ảnh minh họa. Học thật kĩ: Hãy ghi chép cẩn thận trong giờ giảng của thầy cô và từ sách giáo khoa. Xem chỉ dẫn ở Ghi chép trong giờ học và Ghi chép từ sách giáo khoa. Ngay sau tiết học hoặc ngay khi về nhà, hãy xem lại những gì bạn đã ghi chép được. Xem qua lại bài trước buổi học sau. Định ra một khoảng thời gian dài hơn vào cuối tuần để ôn lại thật kĩ.

    Bạn phải bận rộn giữa hàng đống công việc, làm sao để nhớ mọi thứ tốt hơn?

    Viết ra giấy: Tại sao với một mớ công việc, bạn lại cố gắng nhồi nhét vào đầu để rồi bắt nhớ tất cả mọi thứ! Cách tốt nhất để nhớ mọi thứ là ghi nó ra giấy, khi cần nhớ đến một việc gì đó, chỉ cần bạn lật sổ tay ra…

    Liên kết chúng lại với nhau: Khi ghi ra sổ tay, bạn cũng cần phải sắp xếp theo đề mục khoa học, chứ đừng ghi quyển sổ tay này một ghi chú, quyển khác một ghi chú khác! Kết quả, bạn sẽ rất mất thời gian để lục lại mọi điều mình cần nhớ.

    Duy trì sức khỏe tốt: Ăn những loại thức ăn tốt cho bộ nhớ, ngủ đủ giấc, tập thể dục. Những điều này rất tốt cho sức khỏe và bộ nhớ của bạn.

    Ghi âm lại suy nghĩ: Đôi khi bạn muốn nhớ một điều gì đó mà lại không có giấy bút bên cạnh để ghi ra. Nếu bạn có thể trang bị một máy ghi âm nhỏ thì tốt – điện thoại di động có ghi âm cũng là một phương tiện hữu ích, nhất là lúc ghi nhớ lại số điện thoại của ai đó.

    Suy nghĩ tích cực: Đừng vội kết luận mình sẽ có một trí nhớ không tốt rồi quyết định… không ghi nhớ gì cả! Hãy lạc quan lên, hãy tự nói với mình “Tôi có thể nhớ được mọi điều”.

    Ghi chú vào những mẩu giấy stick: Thật tuyệt vời khi luôn có những mẩu giấy stick nhỏ bên cạnh! Hãy trang bị những mẩu giấy stick và ghi vào những điều bạn cần nhớ, cần làm và dán nó lên góc làm việc chẳng hạn.

    Hẹn giờ báo công việc: Bạn có thể hẹn giờ cho công việc vào điện thoại di động hoặc những lịch điện tử bỏ túi.

    Gợi nhớ bằng mắt: Sử dụng bộ nhớ bằng thị giác sẽ giúp bạn ghi nhớ tốt hơn! Hãy tập nhớ những sự kiện bằng cách ghi nhớ lại một hình ảnh có liên quan nào đó

     

            

    Sự đa dạng của số liệu kinh tế cũng như kiến thức nền tảng của các môn kinh tế làm cho khối lượng kiến thức của sinh viên kinh tế tăng lên đáng kể so với giáo khoa. Để có thể có khả năng ghi nhớ một lượng kiến thức lớn như vậy sinh viên kinh tế cần chọn cho mình một thói quen học tập để ghi nhớ tốt. Để ghi nhớ tốt trong việc tiếp nhận kiến thức thì cùng bạn bè thảo luận vấn dề cần quan tâm. Ghi danh sách những việc cần làm vào các key words và thường xuyên kiểm tra chúng. Các vần đề được thầy cô giao, có thể dùng các công cụ khác để hỗ trợ sau đó đóng thành tập, để ở nững nơi thuận tiện để thường xuyên xem lại. “Một trí nhớ tốt cũng không bằng một mẫu bút chì” vì vậy cần ghi lại những gì cần nhớ và xem lại chúng thường xuyên, nhất là các công thức, số liệu thống kê kinh tế.

    3.2.2 Học nhóm

    Học nhóm đối với sinh viên kinh tế là điều hết sức cần thiết. Sau giai đoạn tìm kiếm, tài liệu cần ghi chú lại những vắn đề trọng tâm, những số liệu kinh tế để cùng nhau thảo luận. Từ số liệu thực tế đến kiến thức liên quan là cả vấn đề, vì vậy cần thảo luận nhóm để tham khảo được nhiều ý kiến, cũng như đánh giá khách quan ý kiến của mình. Các yếu tố, đề tài kinh tế được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau sẽ đem lại khả năng ứng dụng cao hơn; cũng như các lý thuyết kinh tế, thảo luận sẽ giúp nhận ra, mở rộng ưu và nhược điểm nhiều hơn. Khi thảo luận cũng cần nhìn nhận ở 3 khía cạnh, đưa ra vấn đề, thảo luận và tổng hợp; có như vậy buổi thảo luận mới đạt kết quả tốt hơn.

    Học nhóm hiệu quả

    Để học nhóm có hiệu quả, giáo viên phải đảm bảo rằng trong nhóm có sự “phụ thuộc tích cực”, trao đổi trực tiếp, thảo luận trong nhóm và trách nhiệm của cá nhân cũng như của cả nhóm. “Phụ thuộc tích cực” nhấn mạnh tầm quan trọng và tính độc đáo sự đóng góp của mỗi thành viên trong nhóm trong khi thực hiện các hoạt động nhận thức và giao lưu giữa các cá nhân. Trong khi học viên giao tiếp với nhau, sẽ phải có một người làm trưởng nhóm. Người này phải có kĩ năng hòa giải xung đột, có khái niệm rõ ràng và khả năng thảo luận, có khả năng tháo gỡ những phức tạp trong quan hệ giữa mọi người. Quá trình học như thế này sẽ nâng cao hiệu quả học tập của học viên. Vì thế, học viên có thể học được nhiều hơn những gì được giảng giải.

    Tuy nhiên, học nhóm có thể tạo điều kiện cho những học viên lười – những thành viên không hoàn thành trách nhiệm mà vẫn được điểm do thành tích của cả nhóm. Để hạn chế tình trạng này, giáo viên có thể cho áp dụng hình thức đánh giá theo nhóm để đánh giá đóng góp của từng thành viên trong nhóm, hoặc tổ chức một bài kiểm tra kèm theo. Vì vậy sẽ tồn tại hai mức độ trách nhiệm: cá nhân và nhóm. Các phương pháp học nhóm:

    Chia nhóm nhỏ cùng thảo luận: Chia học viên thành các nhóm nhỏ gồm 4 hoặc 5 để thảo luận về một khía cạnh xoay quanh một vấn đề nào đó. Sau 20 phút thảo luận, mỗi nhóm nhỏ cử một thành viên trình bày ý kiến của cả nhóm cho cả lớp.

    Chia nhóm theo sở thích: Chia thành các nhóm 4 hoặc 5 học viên cùng làm một nhiệm vụ được giao ở bên ngoài trong một thời gian nhất định. Trong lần thảo luận tiếp theo với giáo viên, các nhóm hoặc đại diện mỗi nhóm phải trình bày kết quả cho cả lớp.

    Chia nhóm đánh giá: Một nhóm chịu trách nhiệm thảo luận một chủ đề nào đó và một nhóm khác có trách nhiệm phê bình đưa ra các quan sát, nhận xét và đánh giá bài trình bày của nhóm kia.

    “Giảng – Viết – Thảo luận”: cuối mỗi bài học, học viên phải trả lời những câu hỏi ngắn và chứng minh câu trả lời của mình. Sau khi mỗi cá nhân xử lí các câu hỏi thì so sánh với học viên khác. Sau đó, giáo viên tổ chức một buổi thảo luận để kiểm tra các câu trả lời hợp lí.

    Thảo luận có phê bình, đóng vai, tranh luận và nghiên cứu là những phương pháp giảng dạy hiệu quả khác nhằm khơi dậy sự nhiệt tình của học viên và khuyến khích học viên tham gia học nhóm. Học viên theo đó cũng có cơ hội học tập trong môi trường không bị kiểm soát nhưng vẫn “an toàn” (vì được giáo viên hoặc các nhóm khác đánh giá). Ngoài ra, học viên cũng tập phản ứng với những tình huống phức tạp và “có thật” sẽ gặp trong cuộc sống sau này.

    3.2.3 Xây dựng môi trường học tập – phưong pháp học ở nhà

    Sự tác động của môi trường học tập là một ảnh hưởng khá lớn đến kết quả học tập của sinh viên. Cần chọn một chỗ yên tĩnh, tránh tiếng ồn, sách vở, dụng cụ tài liệu được sắp xếp ngăn nắp, hợp lý sẽ giúp sinh viên thuận tiện hơn trong học tập. Bên cạnh góc học tập của sinh viên kinh tế thì không thể thiếu báo chí về kinh tế, tạp chí chuyên ngành các loại như Marketing, Thời báo kinh tế, Kinh doanh và sản phẩm, Thời báo Ngân hàng… Góc học tập là nơi cung cấp thông tin tối thiểu cần có cho sinh viên thì sẽ giúp việc học thuận tiện hơn và đạt kết quả.

    Một môi trường học thoải mái sẽ đem lại cho bạn sự hứng thú, khả năng tư duy, sáng tạo và tưởng tượng cao hơn hản một không gian bừa bãi, tối tăm và ngột ngạt đó bạn.Đối với các bạn, dù có đang học ở phổ thông hay đại học thì cũng đều phải tạo cho mình một không gian hay nói khác đi là một môi trường thoải mái để bạn có thể học tập một cách tốt nhất. Còn môi trường đó thế nào thì do bản thân mỗi người. Hãy sắp xếp một góc học tập thật “ấn tượng” để bạn có thể dễ dàng tìm kiếm công cụ học tập cho mình. Khu cửa sổ luôn được chọn là mảnh đất tốt cho chiếc bàn học. Ở đây có đầy đủ ánh sáng, khí trời – tự nhiên hơn hẳn thứ ánh sáng của chiếc đèn bàn cùng những luồng gió phát ra từ chiếc quạt điện. Khi bạn cảm thấy mệt mỏi thì có thể thơ thẩn qua ô cửa sổ, điều đó cũng sẽ giúp bạn thư giãn, xả hơi nhanh và hiệu quả lắm đó. Không cần quá gọn gàng nhưng cũng không quá bừa bộn với “địa hạt” của mình. Điều này tuỳ thuộc vào thói quen của mỗi người. Các bạn cứ làm thế nào cho thoải mái, tiện lợi với mình nhất là được. Bạn cũng đừng quên sắm cho mình một chiếc đèn bàn nhé. Ánh sáng của chiếc đèn sẽ giúp bạn tập trung nhiều lắm đấy. Theo kinh nghiệm của nhiều người. Những đồ vật dễ thương với màu sắc bạn ưa thích cũng làm cho không gian thêm sinh động hơn, cuốn hút bạn hơn và giúp bạn có sáng tạo, tưởng tưởng tốt hơn.

    Học ở nhà thế nào cho hiệu quả

     

     

    Đặc thù của những môn kinh tế là phải tham khảo tài liệu ngoài khá nhiều từ các nguồn như Internet, báo chí, thư viện…Do vậy việc học ở nhà của sinh viên kinh tế cần cân đối giữa việc học lý thuyết căn bản và đọc tài liệu tham khảo. Cần tìm một chỗ học yên tĩnh tránh tiếng ồn, cần tạo một thời gian học cố định và tạo thói quen cho thời gian học đó. Ôn lại những kiến thức cơ bản, tóm tắt các ý chính, kiên trì làm bài tập đầy đủ và đọc tài liệu tham khảo. Nếu học phải phần khó hiểu thì để lại, học những phần khác dễ hiểu hơn, sau khi thư giãn thỏa mái thì học tiếp.

    Tự học dễ làm thấy chán và mất cảm hứng học tập, nhất là đối với những bạn đã từng rớt thi lại. Vì thế mà không ít bạn đã tự biến thành các lò luyện thi để ép mình phải học. Tự học chính là cách để bạn rèn luyện tính kiên trì và thử thách tin thần của bạn. Đặt ra vấn đề là phải điểm thật cao khi ra trường, nên cho mình một menu các môn cần phải ôn. Đây chính là chiến lược chậm mà chắc. Cứ nhìn một bài tập thật khó và tự do sáng tạo cách giải, các bạn sẽ học được thật nhiều từ bản thân.

    3.2.4 Lập kế hoạch học tập

    “Không chuẩn bị là chuẩn bị cho thất bại”. Phát triển kỹ năng sắp xếp thời gian đòi hỏi những nỗ lực lớn, nhất là khối lượng học tập các môn kinh tế khá lớn, đòi hỏi tính thực tiễn cao, một số sinh viên còn sắp xếp thời gian làm thêm. Một mục tiêu để nhận thức được cách sử dụng thời gian như một điều quan trọng khi sắp xếp, đặt việc quan trọng và đạt được thành công trong học tập khi có hoạt động chi phối khác như đi làm, vui chơi cùng bạn bè, họp hội…

    Chiến lược về cách sử dụng thời gian: Tự tạo các khoảng thời gian học hợp lý,
    tổng kết và cập nhập chương trình sau mỗi tuần, lập danh sách những việc cần làm, việc gì quan trọng hơn thì làm trước, việc nào kém quan trọng thì làm sau. Ghi ra giấy những điều cần làm, rồi quyết định việc nào sẽ làm bây giờ, việc nào để sau, hay nhờ ai làm, hoặc hoãn việc nào sau một thời gian dài. Cần có quyển lịch sắp xếp công việc theo tuần tháng: Đánh dấu các buổi hẹn, đi học, họp trong một cuốn sổ tay chia ô thời gian hoặc bảng biểu. Lịch ghi kế hoạch lâu dài: Sử dụng một bảng cho mỗi tháng để có thể lên kế hoạch trước. Những lịch ghi kế hoạch lâu dài như thế này sẽ nhắc nhở để sử dụng tốt quỹ thời gian.

    3.2.5 Học tập ở trên lớp

    Để tập trung nghe giảng nắm được bài ngay trên lớp không phải là một việc đơn giản và dễ dàng. Với những môn kinh tế, khối lượng kiến thức chuyển tải thường ở dạng chủ đề, đòi hỏi sinh viên phải có sự vận động suy nghĩ liên tưởng thực tế. Những môn toán kinh tế thường không khó nhưng rộng rãi và có sự liên kết từ nhiều môn theo từng bộ môn nên khi học môn này thì phải liên tưởng đến môn đã học trong cùng bộ môn, nhất là phần tính toán. Về phần các môn với nội dung lý thuyết được tập trung nhiều hơn cũng có sự tương quan, chẳng hạn các bước trong Marketing thường lặp lại trong nhiều môn vì vậy cần có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Khi nghe giảng chú ý tập trung lời giảng và những câu hỏi gợi mở của giảng viên. Cần phải viết nhanh hơn, dùng nhiều ký tự hơn, không nhất thiết phải ghi tất cả những gì thầy cô nói. Tuy nhiên cần ghi chép đầy đủ các đề tài thầy cô giao trên lớp để về nhà nghiên cứu, ghi chép các gợi mở cho các đề tài này để việc sưu tầm, nghiên cứu đạt hiệu quả, đặc biệt là các số liệu kinh tế thực tế phản ánh tính thực tiễn cao của đề tài.

    3.2.6 Thư giãn – Giảm Stress

    Nhiều sinh viên nghĩ rằng học thi là học liên miên từ sáng đến tối, từ tối đến khuya, nhưng não bị nhồi nhét nhiều quá cũng sẽ “sôi” lên, khó nhớ và dễ quên. Chống bão hòa não bằng thư giãn, nghỉ ngơi: Khi não đã bão hòa thì học chỉ là hình thức mà tiếp thu chẳng có gì, chưa kể nhầm lẫn chi tiết, vấn đề này sang chi tiết khác. Vì vậy, cần phải có thời gian thư giãn. Chọn bơi lội, tập thể dục cho máu huyết lưu thông, nghe nhạc êm dịu (đừng chọn metal rock sẽ nhức đầu thêm) hoặc đi chơi chút đỉnh với bạn bè, ngủ một giấc thật sâu cũng là cách xả hơi cho não. Tìm niềm vui trong học tập: Cần biết tạo niềm vui trong học tập thì việc học đỡ vất vả hơn, dễ nhớ lại lâu quên. Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến trí nhớ rất nhiều như: lo âu tiền bạc, sức khỏe suy giảm hoặc bị phân tâm bởi những vấn đề nào đó. Sinh viên kinh tế cũng thường chọn làm thêm vừa là công viecj giải trí, kiếm thêm thu nhập, vừa học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên cần cân đối thời gian hợp lý và lựa chọn công việc phù hợp để không ảnh hưởng đến việc học nâng cao khả năng làm việc sau này.

    Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất bình thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội. Cụ thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ hoặc là ngủ quên. Ngoài ra, tìm đến rượu, thuốc, hoặc những biểu hiện khó chịu khác cũng là những dấu hiệu của stress. Stress còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ, hoặc sợ hãi. Bằng cách nghỉ ngơi, thư giãn, tạo cho mình một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày hoặc vận động như đi bộ,tập thể dục,trò chuyện cùng bạn bè. Sau khi đã cảm thấy thoải mái hơn hãy bắt đầu giải quyết vấn đề,xem xung quanh bạn có việc gì mà bạn có thể thay đổi để xoay chuyển tình hình. Đừng để tâm vào những việc lặt vặt. Ngoài ra, phải ngủ đủ giờ, hãy luôn cố gắng suy nghĩ tích cực như: Tại sao phải “ghét” khi mà “một chút xíu không thích”; Tại sao lại phải “lo cuống lên” khi mà “hơi lo một tẹo”; Tại sao phải “giận sôi người” khi mà “hơi giận một chút” là đủ? Tại sao “đau khổ tột cùng” khi mà bạn chỉ cần “buồn một tẹo”…

    Stress là tình trạng phổ biến khi ôn thi và chính stress làm giảm năng lực ôn tập của thí sinh.Vì sao cần giữ giấc ngủ? Khi học bài nhiều, trí óc bị bão hòa, hiện tượng stress dẫn đến suy sụp tinh thần gây trằn trọc khó ngủ hoặc tỉnh dậy trong trạng thái căng thẳng. Giấc ngủ càng không đạt chất lượng thì việc ôn tập càng khó nhớ bài. Khi bị mất ngủ thì không nên ngủ trễ (quá giấc), tránh sử dụng chất kích thích và không nên chuyển từ bàn học qua giường để rồi lại trằn trọc. Cách tốt nhất trong mùa thi cử là thư giãn trước khi đi ngủ. Chính trong giấc ngủ mà não bộ làm việc, đưa các dữ liệu mới nạp vào tiềm thức. Các thuốc an thần giảm lo âu, giúp dễ ngủ sẽ làm mất đi nhịp sinh lý tự nhiên của giấc ngủ nên sẽ ngăn cản hoạt động của não bộ. Vì vậy không nên dùng thuốc an thần trong mùa thi cử. Tránh mệt mắt: Để tránh mệt mắt và ít bị phân tâm, môi trường học cần yên tĩnh và sáng sủa. Lượng ánh sáng đủ sẽ làm mắt đỡ mệt nên ít bị đau đầu và làm tăng năng suất học tập. Một nguồn sáng 60w là đủ. Trường hợp chữ nhỏ, nhiều biểu đồ cần tập trung hơn thì đòi hỏi nguồn sáng mạnh hơn.

    3.2.7 Kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra

    Bước vào kỳ thi, hãy nghiên cứu kỹ đề thi của những năm trước, phải xác định các tài liệu liên quan để ôn tập; sắp xếp những gì ghi chép được, hệ thống hóa kiến thức, ước lượng xem cần bao lâu để ôn tập, chia nhỏ những gì học thành từng phần. Phân bổ các môn lý thuyết kinh tế, bài tập kinh tế và những môn khác hợp lý để có thể vạch kế hoạch thi tốt nhất. Học 3 tiếng buổi sáng, 3 tiếng buổi chiều sẽ hiệu quả hơn ngồi học cả ngày. Hoặc có thể ôn theo nhóm, điều này tạo điều kiện để hoàn thiện cả những phần quan trọng mà nếu học một mình rất dễ bỏ qua. Cần thu xếp một buổi tổng ôn tập trước khi thi. Đặc biệt, nên chú ý đến những thông tin được các thầy, cô chỉnh sửa đến mọi hướng dẫn về học tập. Đôi khi quá bận vào một công việc nào đó mà sao nhãng việc học. Khi còn ít thời gian để ôn tập thì học nhồi nhét. Đầu tiên hãy xem trước tất cả những tài liệu mà cần phải học, lướt qua các chương để nắm được ý chính, bỏ qua những phần mà không có thời gian xem lại.  Sắp xếp những ghi chép, sách vở và bài tập, theo thứ tự những gì sẽ gặp trong bài kiểm tra. Ước lượng xem cần bao lâu để ôn tập. Lập một thời gian biểu, chỉ ra khoảng thời gian dành để ôn tập và có những tài liệu gì. Tự kiểm tra qua các tài liệu. Học hết những gì bạn cần trước ngày kiểm tra.

    Khi làm bài kiểm tra cố gắng chứng minh rằng có thể hiểu bài học và làm một số dạng bài tập nhất định. Ví dụ về một số dạng bài tập mang tính khách quan, như bài tập đúng sai, trắc nghiệm, điền vào chỗ trống. Ví dụ về một số dạng bài tập mang tính chủ quan, như những câu trả lời ngắn gọn, những bài luận, thi vấn đáp. Đến sớm hôm có giờ kiểm tra. Mang theo tất cả những đồ dùng cần như là bút chì, bút bi, máy tính, từ điển và đồng hồ. Như vậy sẽ có thể hoàn toàn tập trung vào bài kiểm tra. Luôn tạo một tâm thế thoải mái nhưng phải cảnh giác. Giữ cho mình được thoải mái và tự tin. Trong quá trình làm bài thi: Đọc kĩ hướng dẫn của đề bài. Điều này có vẻ là đương nhiên, nhưng nó sẽ giúp khắc phục được những sai lầm do không cẩn thận. Nếu có thời gian, nhanh chóng lướt qua toàn bài kiểm tra để có một cái nhìn tổng quát. Nhận biết những phần quan trọng, vạch ra thật ngắn gọn những ý chính. Trả lời các câu hỏi theo cách khoa học nhất.Trước tiên là những câu hỏi dễ để tạo cảm giác tự tin, để ngay lập tức ghi được điểm, và định hướng cho bản thân về vốn từ, các khái niệm và những kiến thức đã có. Sau đó là đến những câu hỏi khó hoặc những câu được nhiều điểm nhất. Với dạng bài kiểm tra mang tính chất khách quan, trước tiên, loại trừ những đáp án biết là sai, hoặc chắc chắn là sai, không phù hợp, hoặc là hai đáp án rất giống nhau và cả hai đều không thể đúng được. Với dạng câu hỏi mang tính chủ quan, vạch ra những ý chính, và sắp xếp những ý đó theo một trình tự phù hợp nhất. Xem lại: Hãy kiềm chế ý muốn được rời khỏi phòng thi ngay khi đã trả lời hết các câu hỏi. Xem lại bài thi để đảm bảo rằng đã trả lời hết tất cả các câu hỏi trong bài, không đánh dấu nhầm trong bài làm, hay làm sai một vài chỗ đơn giản. Đọc lại bài luận của để có thể phát hiện ra các lỗi chính tả, ngữ pháp, dấu câu… Quyết định xem những cách thức nào phù hợp và bám lấy chúng. Chỉ ra những cách không hiệu quả và thay thế chúng.

    Trong một bài kiểm tra mà sinh viên được sử dụng sách vở sẽ được đánh giá dựa trên những gì các bạn sinh viên hiểu chứ không phải là khả năng ghi nhớ:  Áp dụng sách vở vào những tình huống mới. Đánh giá các yếu tố và sự liên quan giữa chúng. Biết tổng hợp hoặc bố trí các thông tin các bạn có được. Sử dụng các tài liệu của các bạn để đánh giá một nhận định hay một vấn đề nào đó. Sử dụng tất cả các nguồn thông tin (sách, vở ghi, …) mà thầy cô cho phép. Chuẩn bị: Đều đặn làm bài và đọc sách trong các buổi học ở trên lớp. Chuẩn bị một cách ngắn gọn, những ghi chép chính xác về những khái niệm và ý chính sẽ có trong bài kiểm tra. Chọn lựa thật cẩn thận, những gì dự định sẽ mang vào phòng kiểm tra và chỉ rõ ra những gì không cần mang vào. Mang theo cả những bài luận tự viết về các thông tin, đó chính là cơ sở cho các lập luận, và chứng tỏ rằng đã từng nghĩ đến những vấn đề đó trước giờ kiểm tra. Thử dự đóan trước đề bài với những câu hỏi mẫu, nhưng không phải là những câu trả lời mẫu. Thử thách chính mình bằng cách xem có thể trả lời những câu hỏi đó hay không, và sẽ cần phải có những phương án lựa chọn ra sao và cần quan tâm tới những tài liệu nào. Bố trí những tài liệu tham khảo – “cuốn sách mở”. Bố trí sao cho các tài liệu đó được đặt ở một vị trí thuận tiện nhất để không phải mất thời gian định vị xem cái đang cần nằm ở đâu. Tạo dựng một thói quen cho bản thân với bố cục và cách trình bày của cuốn sách và những tài liệu của bạn. Sắp xếp những cuốn sách này cùng với những ghi chép của để có thể nhanh chóng lấy ra những thứ cần thiết, những ý chính, các khái niệm, bằng cách chỉ dẫn hoặc ghi số trang của tài liêu vào trong vở. Tạo một tập những bút đánh dấu, giấy nhớ, bảng cấc khái niệm… để đánh dấu những ý chính, đề mục, tóm tắt, chương. Viết những bản tóm tắt ngắn gọn về nội dung của từng phần. Liệt kê ra những số liệu và công thức một cách riêng biệt để dễ tìm được trong khi làm bài. Làm bài kiểm tra: Đọc kĩ câu hỏi để nắm được yêu cầu của đề bài. Có thể dựa trên những hướng dẫn của chúng tôi trong mục cách làm bài viết và các hướng dẫn. Thu xếp thời gian sao cho hợp lí nhất. Nhanh chóng xem tổng số câu hỏi của bài và ghi rõ xem bạn cần bao lâu cho mỗi câu hỏi. Trước tiên, hãy trả lời những câu hỏi mà bạn cảm thấy chắc chắn và/hoặc những câu mà bạn không cần nhiều thời gian để tham khảp các tài liệu. Làm những câu phức tạp và khó hơn sau. Đừng trả lời thừa. Hướng tới việc có những câu trả lời đúng đắn, chính xác, dựa trên những bằng chứng đích thực. Sử dụng dẫn chứng. Để trình bày một ý nào đó.Để chứng minh rằng có tận dụng lợi ích của việc được mở tài liệu. Vì không thể trình bày tốt hơn thế. Các dẫn chứng có thể rất ngắn. Ba hay bốn từ thôi cũng sẽ rất hiệu quả nếu nó thích hợp với câu văn. Chỉ rõ lấy dẫn chứng từ đâu cũng sẽ quan trọng không kém việc đưa ra lời trích dẫn. Phải chú ý để không dẫn chứng quá nhiều. Đây là bài viết của các bạn, là những lí luận của các bạn; trích dẫn quá nhiều sẽ làm giảm chất lượng chính kiến của các bạn.

    Có thể làm bài ở lớp hay mang về nhà với những câu hỏi các bạn đã hoặc chưa từng gặp trước bài kiểm tra. Đừng đánh giá thấp sự chuẩn bị trước cho một bài kiểm tra được mở tài liệu: bạn bị hạn chế về thời gian, vì vậy mà chìa khóa cho việc đạt hiệu quả là các bạn phải sắp xếp cho thật hợp lí để có thể nhanh chóng tìm thấy những dữ liệu, lời trích dẫn, ví dụ, hoặc những lập luận cần dùng tới trong khi làm bài.

     

    KẾT LUẬN

     

    Trong điều kiện đất nước ta đang xây dựng và phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thị việc học tập, nghiên cứu lý thuyết cũng như các vấn đề kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu bức xúc và có ý nghĩa thiết thực trong công cuộc đổi mới. Nhằm góp phần cho sinh viên kinh tế có một phương pháp học thiết thực và hiệu quả hơn, đáp ứng đúng nhu cầu của các doanh nghiệp cũng như xã hội đặt ra tôi tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học “Phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và quản trị kinh doanh”. Nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết về phương pháp học tập ở Đại học. Thực hiện cuộc khảo sát và tiến hành phân tích, đánh giá về phương pháp học tập của sinh viên khá, giỏi ở Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán. Đưa ra đặc thù riêng về các môn học kinh tế và ứng dụng lý thuyết về phương pháp học Đại học vào sinh viên khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.

    Đây là đề tài khá mới mẻ trong việc tìm kiếm phương pháp học hiệu quả, chất lượng, đúng yêu cầu cho sinh viên kinh tế. Với tính thiết thực và mới mẻ của đề tài, hy vọng sẽ mang lại cho sinh viên khối ngành kinh tế một phương pháp học hiệu quả nhất. Ngoài ra, cũng là một đề tài mà sinh viên các ngành khác sẽ tìm thấy những phương pháp khá bổ ích trong quá trình nghiên cứu và học tập của mình.

    Đề tài được thực hiện dựa trên những vấn đề lý thuyết chung, cuộc khảo sát thực tế và sự giúp đỡ của Th.Sỹ Trịnh Thị Thu Hồng trong quá trình nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện. Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn những thế hệ đi trước đã có những nghiên cứu làm cơ sở cho tôi trong việc tìm lý thuyết chung, tất cả những anh, chị, các bạn và các em sinh viên Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán đã có sự hợp tác trong quá trình khảo sát, và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Th.Sỹ Trịnh Thị Thu Hồng đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài này.

    Kết quả nghiên cứu là phương pháp học các môn kinh tế đạt hiệu quả, chuyển thầy cô các bộ môn kinh tế xem xét, hoàn thiện lại các giải pháp đưa ra, góp phần nâng cao hơn, ứng dụng vào sinh viên nhóm ngành kinh tế cả trường và phát triển. Xin chân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-V%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-h%C3%B3a-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-h%C3%B3a-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    LỜI NÓI ĐẦU

    TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    Tại sao l ại phải nghiên cứu về ph ạm trù con ngườ i và v ấn đề về con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khi thế giới đ ã tr ải qua hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ đại và trên thế giới đã có rất nhiều, rất nhiều nước đã trở thàmh những nước công nghiệp lớn. Ph ải ch ăng đó là vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phương thức duy nhất để phát triển nền kinh tế thế giới và bất kỳ một quốc gia nào bỏ qua quá trình này đều sẽ trở nên quá ch ậm, quá lạc hậu so với bước đi của thế giới? Và phải chăng giống như các quốc gia khác, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy lu ật chung đ ó? Nhưng quan trọng hơn cả, phải chăng con người là chủ thể, là mấu chốt, là điểm khởi đầu cũng như là cái đích của quá trình lâu dài này?

    Đúng là trên thực t ế ở nhiều quốc gia công nghiệp hoá, hi ện đại hoá đã tạo ra nhiều thành tựu khoa họ c không thể phủ nhận được. Chẳng hạn việc sử dụ ng n ăng lượng nguyên tử, năng lượ ng mặt trời đ ã làm giảm sự phụ thu ộc của con ng ười vào nguồn năng lượng khoáng sản; sự ra đời của các vật liệu t ổng hợp không những giúp con người giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên không tái sinh được mà cung cấp cho con người nguồn vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn và tái sinh được. Nh ờ phát minh con người sử dụ ng nguồn vật liệu mới này mà con người đã có thể thu nhỏ máy tính điện tử xuống hàng vạn lần về th ể tích đồng thời tăng hiệu năng của nó lên hàng chục vạn lần so với ba chục năm trước. Sự ra đời và xuất hiện các loại vật liệu mới đang ngày càng trở thành nhân tố vô cùng quan trọng của sự phát triển sức sản xuất xã h ội và tiến bộ khoa học công nghệ. Cùng với quá trình tự động hoá, tiến bộ khoa học công nghệ cho thấy khả năng loài người sẽ tiến tới một xã hội của cải tuôn ra rào rạt.

    Còn ở Việt Nam thì sao?

    Cho đến nay,Vi ệt Nam vẫn thuộc loại những nước nghèo nhất thế giới, nền kinh tế vẫn ở tình trạng lạc hậu, còn mang tính chất tự cấp, tự túc, đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định, tình hình mất cân đối vẫn nghiêm trọng, bộ i chi ngân sách còn lớn, tốc độ tăng dân số cao, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng tăng (7% dân số thành thị thất nghiệp), đời sống nhân

    1

    dân còn nhiều khó khăn; tổng sản phẩm quốc dân (GDP) tính theo đầu người thuộc loại thấp nhất th ế gi ới: 220$ (tại thời điểm tháng 9 năm 1993), thấp hơn Lào, Bangladesh, chỉ bằng 1/9 của Thái Lan, b ằng 1/4 của Malaysia, 1/45 của Đài Loan; tố c độ tăng bình quân chậm hơn nhiều nước trong khu vực. Gắn liền v ới n ền kinh tế đó là lối làm ăn tản mạn và tuỳ tiện của sản xuất nhỏ. Cùng với những thuy ền thống tốt đẹp mà chúng ta đang kế thừa cũng có những truyền thống lạc hậu củ a người đã ch ết đang đ è nặng lên vai người đang sống… Vì vậy muốn không bị t ụt hậu xa hơn n ữa, muốn ổn định mọi mặt để đi lên và phát triển thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội nghị l ần thứ VI Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII (từ 24/11/1993 đến 1/12/1993) và Đại hội đại biểu toàn qu ốc gi ữa nhiệm kỳ (20 -25/1/1994) đã xác định tới đây nước ta “chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằ m t ạo thêm nhiều công ăn vi ệc làm, đẩy nhanh tố c độ t ăng trưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.” Song d ựa vào đ âu để đảm bảo việc thực hiện nó cho thật hiệu quả và không phải trả giá quá đắt thì lại không dễ dàng; bởi vì từ chỗ thấy được tính tất yếu nếu không cẩn thận lại dễ sa vào duy ý chí như đã từng xảy ra trước đây hoặc trái lại nếu chỉ thấy khó khăn, bất lợi, thiếu đi ều kiện rồi cam chịu tụt hậu thì lại là một tai họa. Như v ậy cũ ng có nghĩa là chúng ta đã để lại cho thế hệ tương lai một cái gánh quá nặng và sẽ có tội rất lớn đối với những ai đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc bảo vệ đất nước.

    Nhưng nếu ch ỉ có như vậy thì tại sao lại phải đề cập đến vấn đề con người? Liệu có phải con người đang giữ một vai trò gì đó trong sự nghi ệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n ước, và hơn thế nữa phải chă ng đó là một vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới này?

    Trước h ết có thể nói rằng xã hội loài người tồn t ại và phát triển dựa vào hai nguồn tài nguyên là: thiên nhiên và con người. Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ. Theo quan niêm cổ đ iển, mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Song, sự hiểu biết của con người đã, đang và sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn. Tính vô tận của nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để con người nh ận thức tính vô tận của thế giới vật chất, tiếp tụ c nghiên cứu những nguồn tài nguyên thiên nhiên còn vô tận nhưng chưa được khai thác và sử dụng, phát hiện ra những tính năng mới

    2

    của những d ạng tài nguyên đang sử d ụng hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên mới vốn không có sẵn trong tự nhiên, nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hộ i trong những điều kiện mới. Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội.

    Đồng thời, nguồn l ực phát triển của xã hội, trước hết và quan trọng hơn cả cũng chính là con người- nguồn tiềm năng sức lao động. Con người đã làm nên lịch sử của chính mình bằng lao động được định hướng bởi trí

    tuệ đó. Ta đã biết rằng, “tất cả cái gì thúc đẩy con người hoạt động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”(1), tức là phải thông qua trí tuệ của họ.

    Trước tiên, những nhu cầu về sinh tồn đã thúc đẩy con người hoạt động theo bản năng như bất kỳ một động vật nào khác. Nhưng rồi “bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra

    những tư liệu sinh ho ạt của mình- đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định” (2). Sự khác biệt căn bản về mặt “tổ chức cơ thể” giữa

    con người và con vật chính là bộ óc và đôi bàn tay. Bộ óc điều khiển đôi bàn tay, nghĩa là bằng trí tuệ (b ộ óc) và lao động ( đôi bàn tay) con người đã tiến hành ho ạt động biến đổi tự nhiên làm nên lịch sử xã hội, đồng thời trong quá trình đó đã biến đổi cả bản thân mình.

    Cho đến khi lực lượng sản xuất phát triển, đánh dấu bởi những phát minh khoa họ c, những công nghệ hiện đại thì trí tuệ con người vẫn có sức mạnh áp đảo. Nh ững t ư duy máy móc, trí tuệ nhân tạo… dù r ộng l ớn đến đâu, dù dưới hình thức hoàn hảo nhất cũng chỉ là mộ t mảng cực nhỏ, một sự phản ánh rất tinh tế thế giới nội tại của con người, ch ỉ là kết quả của quá trình phát triển khoa học kinh tế, của ho ạt động trí tuệ của con người. Mọi máy móc dù hoàn thiện, dù thông minh đến đâu cũng chỉ là kẻ trung gian cho hoạt động của con người. Do đó con ng ười luôn luôn đã và vẫn là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội.

    Th ực tiễn ngày nay càng khẳng định tính đ úng đắn trong quan niệm của Mác về vị trí vai trò không gì thay thế được của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người. Bản thân sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang từng bước thực hi ện với những thành công bước đầu củ a nó cũng ngày càng đòi hỏ i mỗi chúng ta ph ải nhận thức sâu sắc “những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con ng ười”, thấy rõ vai trò của con người trong chiến l ượ c phát triển kinh tế xã hội trên thực tế và trong quan niệm của mỗi chúng ta, con người ngày

    càng thể hiện rõ vai trò là “chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cả i vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia” (3). Bởi vậy để đẩy

    3

    nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN và đưa sự nghiệp cách mạng lớn lao đó đến thành công ở một nước vẫn còn trong tình trạng lạc hậu như nướ c ta, chúng ta không thể không phát triển con người Việt Nam, nâng cao độ i ngũ những người lao độ ng nước ta lên một tầm cao chất lượng mới. Nhận định này đã được kh ẳng định trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: “Nâng cao dân trí, bồi d ưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

    Một lần nữa ta có th ể khẳng định tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này. Qua đ ó, triết học tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới đất nước. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nướ c ta được tiến hành như thế nào, quy mô và nhịp độ của nó ra sao, điều đó một phần tuỳ thuộc vào sự đóng góp của triết học.

    4

    CHƯƠNG I

    NGUỒN GỐC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

    I . BẢN CHẤT CON NGƯỜI

    Con người là sinh vật có tính xã hội. Đối với Mác “con người không phải là một tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới” (4). Đó là những

    con người sống trong một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định, có nh ững quan hệ xã hội phong phú, phức tạp và ngày càng phong phú với sự phát triển của văn minh.

    Các Mác viết “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng

    cố hữu cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” (5). Qua luận đề nổi tiếng đó, chúng ta

    thấy Mác muốn nói b ản chất con người, một sự trừ u tượng khoa học, là sự khái quát từ đời sống cụ thể, t ừ thuộc tính của con người hiện thực, thế hệ này qua thế hệ khác, bản ch ất con người đượ c thể hiện và chỉ có thể được thể hi ện thông qua tổng thể các quan hệ xã h ội. Mu ốn tìm bản chất con người thì phải tìm ở bên trong chứ không phải ở bên ngoài đời sống hiện thực của con người. Luận đề củ a Mác không làm mất đi tính cá nhân, khẳng định sự kỳ diệu, sự phong phú vô hạn của tính cách con người. Nếu đứng trên quan điểm sinh vật học mà xét thì không thể hi ểu được chẳng nh ững thực chất của con người, mà ngay cả ý nghĩa của cơ thể con ng ười, từ khi quá trình nguồn gốc loài người kết thúc thì những biến đổi trong cơ thể đều đượ c hướng dẫn b ởi ảnh h ưởng quyết định của văn hoá: khả năng đối xử có tính người đối với thế giới và đố i với nh ững ngườ i khác, khả năng lao động, giao tiếp với những ng ười chung quanh, khả năng t ư duy, có những tình cả m đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ , tất cả những cái đó đều không phải là đặc tính của cơ thể mà là những nét đã hình thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hộ i, tiêu biểu cho thự c chất củ a con ngườ i trong cách biểu hi ện và bộc lộ cá thể của nó. Những nét ấy được hình thành nhờ chỗ con ng ười tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hộ i, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sự tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hoá xã hội (lao động, hoạt động) . Chính trong quá trình này con người đã t ự sáng tạo ra bản thân mình một cách lịch sử và không ngừng tái hiện bản thân mình, tự giáo dục bản thân với tư cách là con người. Tiêu chuẩn

    5

    lịch s ử cho phép ngườ i ta phân biệt con ng ười- đó là sản xu ất ra công cụ lao động cũ ng b ằng chính công cụ. Đồ ng thời tiền đề tuyệt đối và điều kiện của văn hoá con người là giới tự nhiên mà con ng ười dùng để xây dựng nền văn hóa củ a mình bằng cách chinh phục tự nhiên một cách sáng tạo. Con người xã hội là kẻ sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra bản thân mình. Chính vì vậy, con người hoàn toàn mang tính xã hội.

    Vậy thì trong đời sống xã hội con người có vai trò gì?

     

    II. . VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, ĐẶC BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT XÃ HỘI

    Hơn mộ t trăm nă m trước, khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hộ i loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, Các Mác đã nói t ới việc lấy sự phát triển toàn diện của con người làm th ước đo chung cho sự phát triển xã h ội. Các Mác cho rằng, xu hướ ng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi s ự phát triển của lực lượ ng sản xuất bao gồm con người và những công cụ lao động do con người tạo ra. Sự phát triển củ a lực lượng sản xuất t ự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việc con người chiếm lĩnh và sử d ụng ngày càng nhi ều lực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sở v ật ch ất cho hoạt đoọng sống của chính con người. Chúng ta biết rằng sản xuất là quá trình hoạt độ ng thực tiễn cơ bản của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Sản xuất quyết định nhu cầu nhưng không có nhu cầu thì cũng không có sản xuất. Nhu cầu của con người t ăng lên không ngừng, do đó mà con người luôn luôn phát triển sản xuất vì muốn nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xu ất, giảm nhẹ lao độ ng. Vì vậy có thể nói, trong quá trình hoạt động, trước hết và quan trọng h ơn cả là hoạt động lao động sản xuất, bộ óc và bàn tay con người không ngừng hoàn thiện. Sự hoàn thiện của bộ óc là cơ sở, là nguồn vật chất vô tận cho những hoạt động ngày càng phức tạp, tinh vi, đa dạng, phong phú của con ngườ i, đưa đến sự thay đổi liên tục cơ sở vật chất và kỹ thuật củ a xã hội. Sự phát triển hoàn thiện không ngừng của trí tuệ con người đã được th ể hi ện bằng việc truyền đạt, tàng trữ những tri thức lý luận và kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác và được ghi nhận nhân cách cụ thể, trước hết ở sự biến đổi của công cụ sản xuất. Hay nói cách khác, sức mạnh trí tuệ con người không ngừng được vật th ể hoá trong công cụ sản xuất, trong lực lượng sản xuất nói chung. Tính vô tận của trí tuệ con ng ười được biểu hiện ở sự biến đổi không ngừng ở tính đa dạng, phong phú vô cùng tận của công cụ sản xuất trong quá trình phát triển củ a xã hộ i. Những cuộc cách mạng l ực l ượng s ản xu ất đã và đang diễn ra trong lịch sử xã hội loài người là những nấc thang đánh dấu sự phát triển ngày càng cao hơn của công cụ sản

    6

    xuất: từ lử a đến công cụ sản xuất thủ công, rồi công cụ cơ khí máy móc và công nghệ trí tuệ ngày nay.. Tất cả những đi ều đó chứng tỏ rằng con người với bàn tay và khối óc của mình là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.

    Nh ưng bên cạnh vai trò con người là chủ thể của hoạt độ ng sản xuất, là y ếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lượngsản xuất củ a xã hội, con ngườ i còn là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua ho ạt động sản xuất vật chất, cc sáng tạo ra lịch sử củ a chính mình, sáng tạo ra l ịch s ử của xã h ội loài ng ười. Kết quả là xã hội loài ng ười đã bước từ thời đại v ăn minh này sang thời đại văn minh khác cao hơn, trong quá trình lịch sử tự nhiên.

    Mặt khác khi sản xuất ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóa của sản xuất ngày càng gia tăng, vi ệc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượ ng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do việc đó mang l ại sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới. Các Mác đã khẳng định: sự phát

    triển của lực lượng sản xuất xã hộ i trước hết có ý nghĩa là “sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân”(6). Bởi

    vậy theo Các Mác, ý nghĩa lị ch sử, mục đích cao cả của s ự phát triển xã hội là phát triển con ngườ i toàn diện, nâng cao n ăng lực và phẩm giá của con người, giải phóng con người, loại trừ ra khỏi cuộ c số ng con người mọi sự tha hoá để con người sống với cuộc sống đích thực của mình.

    Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nước, chỉ có con ngườ i-y ếu tố quan trọng nhất trong l ực lượng s ản xuất của xã hộ i mới là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quy ết định sự thành công hay thất bại. Nhưng con người cũng là mục tiêu, là cái đích của sự phát triển, sự đổ i mới này. Hay nói cách khác, công cu ộc đổi mới đất nước mà cụ thể là công nghiệp hoá, hiện đại hoá là do con người, phụ thuộc vào con người và vì con người.

    7

    CHƯƠNG II

    VẤN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

    I . CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ LÀ GÌ ?

    Từ trước tới nay, có nhiều đị nh nghĩa khác nhau về công nghiệp hoá. Vậy nên hiểu phạm trù này như thế nào?

    Quan niệm đơn gi ản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “ công nghiệp hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị ( cho một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp…” Quan niệm mang tính triết tự này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ.

    Nghiên cứ u định nghĩ a phạ m trù công nghiệp hoá củ a các nhà kinh tế Liên Xô (cũ) ta thấy trong cuốn giáo khoa kinh tế chính tr ị của Liên Xô đượ c dịch sang tiếng Việt Nam 1958, người ta đã định nghĩa “ công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, tr ước hết là công nghiệp n ặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến.”

    Quan đ iểm công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô đã đượ c chúng ta tiếp nhận thiếu sự phân tích khoa học đối với điều kiện cụ thể của n ước ta. Cuốn “ Từ điển tiếng Việt” đã giải thích công nghiệp hoá là quá trình xây dựng n ền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành c ủa nền kinh tế qu ốc dân và đặc biệt công nghiệp nặng, dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động. Trên thực tế, quá trình công nghi ệp hoá, hiện đại hoá đất nước những năm 60, ta đ ã mắc phải sai lầm đó, kết quả là nền kinh tế vẫn không thoát khỏi n ền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp lạc hậu, kết cấu hạ tầng yếu kém… Mặc dù không đạt được mục tiêu nhưng cũng chính nhờ công nghiệp hoá mà nước ta đẫ xây dựng được một số cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực về kinh tế-quốc phòng, phục vụ chiến tranh, đảm bảo được phần nào đời sống nhân dân.

    Nă m 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc ( UNIDO) đã đưa ra mộ t định ngh ĩa: “công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này, một b ộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở

    8

    trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc đi ểm của c ơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển v ới nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ của nền kinh tế và xã h ội.” Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm một mục tiêu kinh tế-kỹ thuật.

    Còn theo quan niệm m ới phù hợp với đ iều kiện nước ta thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới công nghệ, xây dựng cơ cấu vật chất-kỹ thuật, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Nói tóm lại đó là sự phát triển củ a lực lượng sản xuất từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực hiện công nghiệp triển kinh tế-xã hội, đưa nước ta theo kịp các nước tiên tiến

    thấ p đến cao, từ hoá là nhằm phát trên thế giới.

    II. MUỐN TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TA PHẢI LÀM GÌ?

    Sự thành công củ a quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi trường chính tr ị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết nh ư: nguồn lực con ngườ i, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý, nguồn lực nướ c ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng mức độ tác động và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không giống nhau, trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định.

    Vai trò của nguồn lực con người quan tr ọng nh ư thế nào đã được chứng minh trong lịch sử kinh tế của những nước t ư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ,… nhi ều nhà kinh doanh nước ngoài khi đến tham quan Nhật Bản thường chỉ chú ý đến kỹ thuật, máy móc và coi đó là nguyên nhân t ạo nên “kỳ tích Nhật Bản”. Nhưng họ đã nhầm, chính người Nhật Bản cũng không quan niệm như v ậy. Ng ười Nhật cho rằng kỹ thuật và công ngh ệ có vai trò rất to lớn nh ưng không phải là yếu tố quyết định nhất. Yếu tố quyết định nhất dẫn đến thành công của h ọ là con ngườ i. Cho nên họ đã tập trung cao độ và có những chính sách độc đáo phát triển yếu tố con người.

    Ngày nay đối với những nước lạc hậu đ i sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công

    9

    ngh ệ hiện đại của các nướcphát triển. Nhưng không ph ải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người. Cần nhớ rằng, công nghệ tiên tiến của n ước ngoài khi đượ c tiếp thu sẽ phát huy tác dụng t ốt hay bị lãng phí, thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu t ố con người khi sử dụng chúng. Nhiều công ty chỉ chú ý đổi mới kỹ thuật và công nghệ nhưng vì không chú ý đến yếu tố con người nên đều thất bại. Ông Victor S.L.Tan, giám đốc của Ohostate University đã viết: “Điều mỉa mai lớn nhất còn là ở chỗ, trong có nhiều công ty đã cố thực hi ện đổi mới, nhưng lại có ít công ty thực hiện đủ mức để đạt t ới thành công. Nhiều công cu ộc đổi mới đã tiến hành nhưng thất bại vì các công ty đ ó đã không đưa vào cấu tạo của kế ho ạch đổ i mới hoặc chương trình đổi mới của họ một nhân tố khó nhất để thành công- con người.”

    Như mọ i quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định. Bởi vì:

    _ Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó chỉ t ồn tại d ưới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt độ ng có ý thức của con người. Bởi lẽ, con người là nguồ n lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn chúng kết lại với nhau, tạo thành mộ t sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các nguồn lực khác là những khách thể chịu s ự cải tạo, khai thác của con người, hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người, nếu con người biết cách tác động và chi phối. Vì th ế trong các yếu t ố cấu thành lực lượng sản xuất, ngườ i lao động là yếu tố quan trọng nhất, là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”.

    Ch ẳng hạn như vốn cũng là một nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá, hi ện đại hoá nhưng vốn chỉ trở thành nguồn lực quan tr ọng và cấp thiết của sự phát triển khi nó nằm trong tay những người biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao.

    Tương tự như vậy, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và những ưu thế về v ị trí địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa nếu chủ nhân của nó không có năng lực khai thác.

    Ngày nay trước xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự hợp tác đầu tư nướ c ngoài cũng là nguồn l ực quan trọng, nó tạo ra “cái hích” kinh tế, nhất là với các nước có điểm xuất phát thấp, nhưng sức mạnh của “cái hích”

    10

    này đến đâu, tác động tích cực của nó như thế nào còn tuỳ thuộc vào yếu tố con người khi tiếp nhận nguồn lực đó.

    Xét đến cùng nếu thiếu sự hiện di ện của trí tu ệ và lao động của con người thì mọi nguồn lực đều tr ở nên vô nghĩa thậm chí khái niệm “nguồn lực” cũng không còn lý do gì để tồn tại.

    _ Thứ hai, các nguồn l ực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồ n lực con người lại là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh h ọc mà còn tự đổi mớ i không ng ừng, phát triển về chất trong con ng ười xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ sở làm cho n ăng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận xét trên bình diện cộng đồ ng nhân lo ại. Nhờ vậy con người đã từng bước làm chủ tự nhiên, sáng t ạo, khám phá ra nhiều nguồ n tài nguyên mới, nhiều công cụ sản xuất có hiệu quả hơn, đưa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao.

    _ Thứ ba, trí tuệ con người có s ức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại này của C.MáC đã và đang trở thành hiện thực. Sự phát triển như vũ bão của cu ộc cách mạng khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các nướ c công nghiệp phát triển vận độ ng đến nền kinh tế củ a trí tuệ. Gi ờ đ ây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “bắt chước” hay “phỏng theo” những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình.

    _ Th ứ t ư, kinh nghiệm của nhiều n ước và th ực tiễn của chĩnh nướ c ta cho thấy sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối, chính sách cũng nh ư tổ chức thực hiện, ngh ĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Đối với những nền kinh tế nông nghiệp chưa công nghiệp hoá thì mặt số lượng của ngu ồn nhân lực có tầm quan trọng đặc biệt vì nó qui định quy mô của thị trường. Nhưng khi tiến hành công nghiệp hoá thì mặt chất lượ ng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực l ại quan trọng hơn. Cơ cấu lao độ ng cần cho quá trình công nghiệp hoá phải bao gồm: các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, các nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề… không có các chính khách, các học gi ả tài ba thì khó có thể có được những chiến lược, chính sách phát triển đúng đắn;

    11

    không có các nhà kinh doanh lỗi lạc thì cũng sẽ không có người sử dụng một cách có hiệu quả các ngu ồn vốn, nhân lực, công nghệ. S ự thiếu vắng hay kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên đây sẽ có hại cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Qua toàn bộ phân tích trên có thể kế luận rằng nguồn lực con người là nguồn lực có vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do vậy, mu ốn công nghiệp hoá, hi ện đại hoá thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế ở Việt Nam nhằm phát triể n nguồn lực con ngườ i cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đ ây là nhiệm vụ lớn nhất và khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.

    III. . CON NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THỰC HIỆN ĐƯỢC VAI TRÒ ĐÓ KHÔNG? VÌ SAO?

    Có rất nhiều nước trên thế giới đã thực hi ện thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với nguồn lực ch ủ đạo là con người. Vậy trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hôm nay, Với nh ững thế mạnh và những hạn chế của mình con người Việt Nam có thực hiện được vai trò của mình hay không?

    Trước h ết ta tìm hiểu xem ngu ồn nhân lực củ a Việt Nam có những đặc điểm gì để phát huy và những hạn chế gì cần phải khắc phục.

    Những thế mạnh phải nói đến đó là:

    _ Th nhất , ở Vi ệt Nam hiện nay có lực l ượng lao động dồi dào với 36,5 triệu người trong độ tuổi lao động, dự báo đến năm 2000 con số này sẽ là 45,6 triệu người.

    _ Thứ hai, Việt Nam có tỷ trọ ng tương đối cao v ề lao động trẻ, ph ần lớn có học vấn phổ thông, ngay cả ở nông thôn. Đây là một tiền đề quan trọng tạo điều kiện tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, kể cả những ngành nghề mới. Lự c lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đượ c đào tạo tương đối lớn (so với các nước có thu nhập như nướ c ta). Hi ện t ại n ước ta có trên 9000 tiến sĩ và phó tiến sĩ , trên 800000 ngườ i có trình độ đại học cao đẳng, trên 2 triệu công nhân kỹ thuật. Đây là điều kiện quan trọng cho quá trình phát triển khoa họ c, tiếp thu, làm ch ủ và thích nghi với các công nghệ nhập từ nước ngoài, kể cả công nghệ cao.

    12

    _ Thứ ba, chúng ta có mộ t lượng tương đối l ớn người Việt sống ở nước ngoài, tập trung chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; trong đó tỉ lệ người có trình độ cao về chuyên môn và nghiệp vụ là đáng kể ( trên 300000 người). Đây là một nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nước, là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới về mặt chuyển giao tri thức, công nghệ và các quan hệ quốc tế.

    _ Th , đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con người Việt Nam. Truyền thống đó cần được nuôi dưỡng và phát huy làm cơ sở cho việc nắm b ắt, tiếp thu và v ận d ụng một cách nhanh chóng, sáng tạo những phát minh, sáng kiến khoa học của nhân loại phục v ụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nướ c. Tính cộng đồng, ý thức trách nhiệm với cộng đồng được phát huy mạnh mẽ s ẽ có thể hỗ trợ đắc lực không ch ỉ cho việc truyền bá tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp mà còn có thể giúp nhau cả về vốn liếng, t ạo dựng và phát triển c ơ nghiệp, hỗ trợ nhau tìm kiếm công ăn vi ệc làm, góp phần làm giảm sứ c ép về lao động hiện nay. Dân tộc Việt Nam còn có truy ền thống biết chịu đựng gian khổ để tiết ki ệm, tích luỹ cho đầu tư mở rộng, tạo dựng cơ đồ cho mình và cho nền kinh tế nước nhà nói chung.

    Nhưng bên cạnh đó, nguồn nhân lực ở Việt Nam có những hạn chế,những điểm yếu kém sau đây:

    _ Thứ nhất, s ố người lao động được đ ào tạo quá ít chỉ chiếm 5.5% dân số và 11% tổng số lao động. Mặt bằng dân trí còn thấp, s ố năm đi học của người dân từ 7 tu ổi trở lên mới đạt 4,5 nă m. Đáng lo ngại hơn là mặc dù chúng ta đã cố gắng để đạt được 88% dân số bi ết chữ nhưng hiện nay lại đang diễn ra quá trình tái mù chữ, nhất là các tỉnh miền núi (có xã số ngườ i mù ch ữ lên tới 70%); trong số trẻ em ở độ tuổi đi học chỉ có 45% em học hết cấp I. Số người được đào tạo có tay nghề cao cũng như người có học vấn đại h ọc và sau đại học năm 1982 là 0,26% năm 1993 còn 0,2%. Tỉ lệ này ở các nước công nghiệp mới Đông nam á là 0,6 đến 0,8. Trong 75% lao động sản xuất nông nghiệp chỉ có 7% được đào tạo. Vì vậy năng su ất lao động thấp, trong công nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bình của thế giới, còn trong nông nghiệp một lao độ ng của ta chỉ nuôi được 3 đến 5 người, trong khi chỉ số này ở các nước phát triển là 20 đến 30 người. Đây là trở ng ại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp hoá trong nông nghiệp trong kinh tế nông thôn nói riêng và trong cả nền kinh tế Việt Nam nói chung.

    _Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít. Qua điều tra ở 17 trường đại học

    13

    thì số cán bộ giảng dạy dưới 35 tuổi chỉ có 8%. Phần lớn những tri thức có trình độ trên đại học đang là những chuyên gia đầu ngành đã ở độ tuổi 55 đến 60. Hơn 60% phó tiến sĩ và tiến sĩ, hơ n 70% giáo sư và hơn 90% giáo sư đều ở độ tu ổi này.Trong khi đó sinh viên giỏ i sau khi tố t nghiệp đều không muốn ở lại trường. Vì vậy việc chuẩn bị cho đội ngũ trí thức kế cận sẽ gặp không ít khó khăn.

    _Th ba, vi ệc bố trí sử d ụng cán bộ còn nhiều việc bất hợp lý giữa các vùng, các ngành: 80% cán bộ khoa học công nghệ làm việc tại Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 12%. Đa số các cán bộ khoa h ọc của ta làm việc trong các viện nghiên cứu, các trườ ng học, còn trong các ngành sản xu ất vật chất thì rất ít Chẳng hạn, trong các ngành nông lâm ngư nghiệp chỉ có 8,1% cán bộ có trình độ đại học và 6,49% cán b ộ có trình độ sau đại học. Trong khi có tới 34% cán bộ có trình độ đại học và 55,47% trình độ sau đại học làm việc trong các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Nhìn vào một số nước trong khu vực, cán bộ khoa h ọc làm việc trong các ngành sản xuất chiếm tỉ lệ rất cao như Thái Lan: 58%, HànQuốc: 48%, Nhật Bản: 64%. Chính việc phân bố lực lượng lao động không hợp lý này gây nên hiện tượng thừa thiếu gi ả tạo, gây ra nạn thất nghiệp đặc biệt trong lao động tri thức. Qua đ iều tra ở 55 trường đại học có khoảng 14 nghìn sinh viên ra trường chưa có việ c làm. Chẳ ng hạn từ năm 1988 đến nay số sinh viên tốt nghiệp ở 19 trườ ng đại học và cao đẳng khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% (năm 1988) lên 35,38% (năm 1992). Trong khi đó nhiều vùng, nhiều miền nhất là miền núi vùng sâu vùng xa l ại thi ếu cán bộ khoa họ c kỹ thuật. Nguyên nhân chủ yếu là một mặt do sinh viên ra trường muốn ở lại công tác tại các thành phố, khu công nghiệp, nơi kinh tế phát tri ển để có thu nhập cao hơn và điều kiện việc làm tốt hơn, mặt khác chúng ta chưa có chính sách thu hút để điều chỉnh sự phân bố này.

    _ Thứ , thể chất, sức khoẻ của thanh niên Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Sự phát triển về phương diện sinh lý và thể lự c dường như chững lại “sau hơn 40 năm thanh niên n ước ta không cao thêm 1cm nào và không cân nặng thêm 1kg nào”, mức duy dinh dưỡng ở trẻ em dưới năm tuổi là 51,5%.

    _ Thứ năm, người lao động nước ta nói chung ch ưa có nếp lao động công nghiệp, quen theo kiểu sản xuất nhỏ, lao động giản đơn còn gò bó trong nếp sống phương đông, cha truyền con nối. Chính vì thế mà cho tới tận thế kỷ 20 công cụ làm vi ệc ở các bễ lò rèn Bắc Ninh vẫn không khác bao nhiêu với công cụ đã rèn cày cuốc và vũ khí đánh giặc Ân thời Thánh Gióng, các cô

    14

    gái Hà Đông vẫn dệt lụa trên các khung cửi mà cách đây 900 năm các cô gái triều Lý đã sử dụng.

    Trên đây là những điểm trong nguồn lực con ngườ i ở Việt Nam với những thế mạnh cũng như các mặt hạn chế. Ph ải có những nố lực phi thường bằng hành động thực tiễn trong vi ệc huy động và sử dụng nguồn lực này thì công nghiệp hoá hiện đại hoá mới có thể thành công. Đó cũng là lý do vì sao nhi ều nhà khoa học kêu gọi phải tiến hành một cuộc “cách mạng con người” mà thự c ch ất là cách mạng về ch ất lượng nguồn lao động. “Cách mạng con ngườ i” với công nghiệp hoá hiện đại hoá là hai mặt của một quá trình thống nhất, giữa chúng có mối quan hệ biện ch ứng với nhau. Bởi vậy, mỗ i b ước tiến lên của cuộc “cách mạng con người” s ẽ đ em lại những thành tựu to lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và ngược lại.

    IV. ĐỂ CON NGƯỜI VIỆT NAM TH ỰC HIỆN ĐƯỢC VAI TRÒ ĐÓ CẦN CÓ NHỮNG CHÍNH SÁCH GÌ?

    Thự c chất căn bản c ủa chủ nghĩa Mác về con người là sự phát triển tự do của mỗi con ngườ i là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Xã hội loài người chỉ được phát triển khi phát triển tối đa từng cá nhân. Vấn đề phát triển cá nhân không còn là vấn đề lý thuyết mà là nhu cầu thiết yếu trong thực tiễn xã hội ta ngay từ hôm nay. Cụ thể để công nghiệp hoá hiện đại hoá cần phải tiến hành một cu ộc “cách mạng con người” nhằm tạo ra một số lượng lớn các nhà khoa học một đội ngũ đông đảo các nhân viên kỹ thuật có trình độ tri thức tương đối cao và những người lao động lành nghề. Điều đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục bồi dưỡng nhân tài phải phát triển tương ứng.

    Thử nhìn vào lịch sử kinh tế của một số nước tư bản phát triển, ta thấy nói chung những nướ c này đều r ất coi tr ọng công tác giáo dục. Chẳng hạn thời kỳ đầu sau chiến tranh, kinh tế Nhật bản bị phá hoại nặng nề, tài chính quố c gia vô cùng nguy ngập nhưng chính phủ Nhật bản không hề giảm chi phí giáo dục, tỷ trọ ng kinh phí giáo dục luôn chiếm 20% trở lên trong kinh phí hành chính củ a Nhật còn ở Mỹ năm 1985 chi tiêu nhà nước cho giáo dục chiếm 4,2% GDP và chiếm 12,8% chi tiêu củ a nhà nước. Thực tế đã chứng minh, ở Mỹ nếu đầu tư cho giáo dục 1$ thì sẽ lãi 4$, còn ở Nhật thì 1$ sẽ lãi 10$.

    Th ực ra không chỉ có các nướ c tư bản phát triển nhìn th ấy vai trò của giáo dục trong phát triển kinh tế mà mộ t số nước Đông nam á cũng đã nhận thức được v ấn đề này. Và k ết qu ả là sự ra đời của những nước công nghiệp mới ở châu á. Suốt 40 năm qua, các nước này đã đầu tư cho giáo dục ngày

    15

    một tăng. Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục trong ngân sách nhà nước ở cộng hòa Triều Tiên nă m 1972 là 13,9%, nă m 1981 tăng 17,9%, nă m 1983 tăng lên 21,6%. Trong 30 năm từ 1952 đến 1981 ở Đài Loan tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 26,43 lần nhưng kinh phí giáo dục tăng hơn 90 lần. Hoặc như

    • Singapore, hiện nay kinh phí giáo dục chiếm 4% giá trị GDP, mấy năm nữa sẽ lên đến khoảng 6% ngang với mức của các nước phát triển phương Tây. Những con số, ở một mức độ nào đó tự nó đã giải thích rằng không phải ngẫu nhiên mà trong một tời gian dài một loạt các nước quanh ta đã vươn lên trở thành “ những con rồng châu á”.

    Đó là do kinh nghiệm của các nước đi trước, còn ở Việt Nam thì

    sao?

    Trong nhiều năm qua, nhà nước ta đ ã chú ý phát triển nguồn l ực con ngườ i bằng những chính sách, biện pháp kịp thời, khá hợp lý tuy không tránh khỏi một số hạn chế do điều kiện kinh tế hạn hẹp.

    Thử đi sâu vào một trong những chính sách đó- chính sách phát triển giáo dục -đào tạo; từ đó rút ra nhận xét, tìm ra bước đ i tiếp theo để hoàn thành cu ộc “ cách mạng con người” ở Việt Nam. Có thể khái quát tình hình giáo dục ở Việt Nam như sau:

    _ Quy mô giáo d ục không ngừng đượ c tăng lên, liên tục phát triển ở các ngành học và cấp học. Chẳng hạn, quy mô đào tạ o sinh viên đại học và cao đẳng có nhiều biến động lớn. Hình thức đào tạo cao học của ta r ất phong phú: chính quy tập trung, tại chức và ngắ n hạn…Tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trong độ tuổi đi họ c của Việt Nam là 2,3_2,5%, cao hơ n mức 2% của Trung Quốc nhưng thấp hơn so với mức16% của Thái Lan, 40% của Hàn Quốc.

    _ Hệ thống giáo dục được mở rộng: số trường học tăng nhanh, mỗi làng xã có ít nhất một trường tiểu học hoặc trung học cơ sở. S ố trường phổ thông trong cả nước liên tụ c tăng từ năm 1991-1992 đến nă m 1994-1995 là 16%. Trướ c tình hình phải t ăng s ố l ượng ngườ i có trình độ chuyên môn cao, nhà nước chủ trương phát triển hệ thống đ ào tạo đại học và cao đẳng. Tính đến năm 1994, Việt Nam đ ã có 109 trường đại học, cao đẳng và đào t ạo hơn 200 ngành h ọc. Tuy nhiên so với tiêu chuẩn quốc tế thì hầu hết các trường đại học của Việt Nam còn nhỏ bé.

    _ Trong chính sách phát triển giáo d ục và đào tạo, hình th ức giáo dụ c tại chức được nhà nước quan tâm chú ý đặc biệt. Hiện nay đã có khoảng 200

    16

    trung tâm đào tạo nghề theo các chương trình ng ắn hạn và dài hạn, nhưng hàng năm mới chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu của người học.

    _ Hợp tác quố c tế trong lĩnh vực giáo dục và đ ào tạo cũng được phát triển. Tính đến cuối năm1994, đã có 1900 sinh viên, 394 sinh viên cao học, 715 nghiên cứu sinh, 298 thực t ập sinh đang họ c tập nghiên cứu t ại 25 nước trên thế giới. Để có vốn đầu tư phát triển giáo dục Việt Nam đã kêu gọi các tổ chức quốc tế tài trợ và cho vay vốn. Trong chu kỳ 1991 -1995, UNICEF đã hỗ trợ 10 tri ệu USD để nâng cấp các nhà trẻ, mở thêm các trung tâm dạy nghề. Chính phủ Việt Nam đã vay của Nhật Bản từ nguồn ODA thời kỳ 1993 -1995 là 1431,02 triệu yên, của ngân hàng thế giới 70 triệu USD để nâng cấp và cải t ạo một số trường học lụp xụp. Ngoài ra ngân hàng thế giới còn cam kết cho Việ t Nam vay 60 triệu USD thời kỳ 1995-1998 để đầu tư phát triển tr ường ĐH Quố c gia HN và ĐH Quốc gia thành phố HCM. Có thể nói h ợp tác trong lĩnh vực khoa học và giáo dụ c là tiền đề nâng đỡ Việt Nam vượt qua những khó khăn về vốn, khắc phục các mặt yếu kém về chương trình, về công nghệ giáo dục, tăng cường sự hiểu biết giữa Việt Nam và các nước trong khu vực.

    _ Từ năm 1990, ngân sách giáo dụ c của Việt Nam đã ở mức 10 -11% tổng ngân sách hàng năm của nhà nước. So với những năm tr ước đây, ngân sách này đã tăng nhưng cũng mới ch ỉ đáp ứng được 50% yêu cầu của ngành giáo dục. Giá trị thực tế bình quân đầu người về ngân sách giáo dục của Việt Nam vào khoảng 7,7 USD chỉ bằng 1/29 của Hàn Quốc, 1/22 của Malaixia và 1/8 của Thái Lan.

    Tuy nhiên so với các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp như Việt Nam thì nền giáo dục Việt Nam vẫn được xếp vào loại khá.

    Mặc dù vậy sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam còn bộc lộ một số mặt yếu kém như:

    _ Mô hình giáo dục -đào tạo đa ngành và chuyên môn hẹp đã không thích nghi kịp xu thế đổ i mới, không phản ứng nhạy bén trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường, đào tạo ngành nghề không tươ ng x ứng với đòi hỏi khắt khe của thi trường lao động. Nhiều năm xảy ra sự mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng…

    _ Cùng với nó là cơ cấu đào tạo t ạo không hợp lý giữa đào tạo đại học và đào tạo nghề. Có d ự báo cho rằng tươ ng lai Việt Nam s ẽ thiếu các nhà toán học, vật lý h ọc và các nhà khoa học khác. Lực lượng nghiên cứu cơ bản thiếu sẽ ngăn cản khả năng tiếp thu công nghệ và tri thức mới.

    _ Chất lượng giáo d ục cũng là vấn đề đáng phải quan tâm. Trướ c hết cần khẳng định, bộ phận học sinh giỏi của Việt Nam không thua kém các nước khác. Điều đó được chứng minh qua các kỳ thi OLEMPIC Quốc tế về toán

    17

    học, tin học, vật lý học… Nhưng những nă m gần đây chất l ượng giáo dục ở nhiều cấp bị giảm sút, theo số li ệu của Bộ giáo dục và đào tạo cứ 1000 h ọc sinh năm học 1986- 1987 thì chỉ có 500 em tố t nghi ệp tiểu học. Chủ yếu là do học sinh bỏ họ c và lưu ban. Nguyên nhân là do đời sống của đông đảo đội ng ũ giáo viên thấp dẫn đến tình trạng bỏ dạy, chân trong chân ngoài, những học sinh giỏi không thích nghi vào sư phạm. Theo đánh giá củ a Bộ GD và ĐT, thì giáo viên không đủ tiêu chuẩn ở mức 60 -70% cũ ng theo thống kê c ủa bộ thì ch ỉ có 10% giáo viên có nức sống tương đối khá, 60% có mức sống trung bình, 30% có mức sống th ấp. Ngoài ra, chất lượng giáo dục giả m sút còn do tình trạng thiết bị học tập nghèo nàn, thiếu thốn, công nghệ lạc hậu.

    Có thể nói giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn lao, trước yêu cầu đổ i mới kinh tế-xã hội, trướ c yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước sức ép v ề nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực. Trong 20 n ăm tới, giáo dục Việt Nam phải thực hiện được các mục tiêu sơ b ản là nâng cao mặt bằng dân trí, đ ào tạo nhân lực và b ồi dưỡng nhân tài theo hướng khắc phục những hạn chế trong thời gian qua, trên c ơ sở nỗ lực của bản thân và kinh nghiệm, cùng sự giúp đỡ của các nước phát triển.

    Muốn vậy nhà nước phải có các chính sách, biện pháp phù hợp như: _ Tăng ngân sách giáo dục và đào tạo, s ử dụng ngân sách đó một cách có hiệu quả. Kể từ năm 1996, mỗi năm ngân sách giáo dục phải tăng 1% để đạt được mức trung bình của khu vực vào năm 2005.

    _ Đồ ng thời, nhà nước phải chăm lo đến đời sống của đội ngũ giáo viên, cải thiện chế độ tiền lương, tăng phụ cấp cho giáo viên để giáo viên có thể nâng cao vị trí xã hội của mình.

    _ Mặt khác, phải chú ý đào tạo các ngành kỹ thuật, công nghệ nhiều hơn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

    _ Nâng cao chất lượng của các bậc tiểu học, làm tiền đề vững chắn cho chất lương của các cấp học tiếp sau.

    Nh ững phân tích trên đây mới chỉ đề cập đến phát triển giáo dục và đào tạo – một yếu tố một cơ sở để con ngươi Việt Nam có thể thực hiện vai trò của mình.

    Vì vậy tồn tại song song với phát triển giáo dục, nhà nước ta còn phải thực hiện những nhiệm vụ cấp bách sau đây:

    18

    _ Một là, căn cứ vào yêu cầu phát triển củ a các ngành và các vùng lãnh thổ, cần tổ chứ c bố trí lại lực l ượng lao độ ng một cách hợp lý trên phạm vi cả nước theo hướng đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn.

    _ Hai là, cần tr ả lương đúng và đủ cho ng ười lao độ ng, trong đó chú ý đến đội ngũ cán bộ khoa học. Cần nhấn mạnh rằng, bản thân tiền lương không đơn giản chỉ là việc trả công, mà nó còn tái sản xuất ra sức lao độ ng ( nhiều hay ít), kích thích những phẩm chất (tích cực hay tiêu cực) của người lao động.

    _ Ba là, tiến hành đào t ạo bồi d ưỡng l ại lực lượng lao động hiện có và đào tạo lự c lượng mới theo chuyên ngành nhất định. Trong đó, b ảo đảm sự cân đối và đồng bộ giữa lao động phổ thông, lao động kỹ thuật và lao động khoa học.

    _ Bốn là, tiến hành một cách th ường xuyên đồng bộ hoạt động giáo dụ c đối với người lao động về các mặt: chính trị-tư tưởng, lợi ích, ý thức pháp luật, trách nhiệm công dân, truyền thống. Trong đi ều kiện hiện nay, chỉ quan tâm đến lợi ích v ật chất mà không thực hi ện công tác giáo dục thì sẽ dẫn đến sai lầm, tại hại, làm hư hỏng con người, thậm chí cả một thế h ệ ng ười. C.Mác đã từng nhắc nhở chúng ta, trong phát triển kinh tế phải gắn “sự nghiệp giải

    phóng con người v ới cuộc đấu tranh chống lại biểu hi ện thực tiễn cực đoan của sự tha hóa con người”(7). Không nghi ngờ gì rằng, mặt trái của nền kinh

    tế thị tr ường đ ã và đang tác động đến từng cá nhân, từng gia đ ình và mỗi tập th ể của chúng ta. Trong xã hội hiện nay, có tình trạng một số người có kinh tế khá, thậm chí là giàu có nhưng vẫn tham ô, móc ngo ặc, ăn cắp, buôn lậu. Trái lại, mộ t số người nghèo, thậm chí rất nghèo nhưng không chịu lao động chân chính, chuyên dùng thủ đoạn l ừa bip, ăn cắp… Bên cạnh đó, còn một lớp người (thường là trẻ tuổ i) không chịu học hành, làm việc, chỉ lo ăn chơi và từ đây dẫn đến tội phạm.

    _ Năm là, phải nâng cao thể lực cho thanh niên. Mặc dù đây là một vấn đề đòi h ỏi phải có thời gian để giải quyết trên cơ sở nâng cao dần mứ c sống của nhân dân về vật chất cũng như v ề tinh thần. Trước mắt, cần tập trung giải quyết cho được các mục tiêu củ a chương trình chăm sóc, bảo vệ trẻ em đến năm 2000, nh ất là các mục tiêu giảm đáng kể t ỷ lệ suy dinh dưỡng: đầu tư nâng cao chất lượng của chương trình giáo dục thể chất và y t ế học đường; đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể trong thanh thiếu niên, tạo điều kiện cho Đoàn thanh niên duy trì phong trào “ khoẻ vì ngày mai lập nghiệp”, “khoẻ để bảo vệ Tổ quốc”.

    Thực hiện những nhiệ m vụ trên đây có nghĩa là về c ơ bản nhà nước ta đã hoàn thành cuộc “ cách mạng con người ”, biến con người Việt Nam

    19

    thành nguồn lực quyết định đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đi đến thành công.

    20

    KẾT LUẬN

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã, đang và sẽ là xu hướng phát triển chung của t ất cả các qu ốc gia trên thế giới. Đó cũng là con đườ ng phát triển tất yếu củ a nước ta để đi tới mục tiêu “dân giàu, nướ c mạnh, xã hội công bằng, văn minh” công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi, cách mạ ng sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học và con ng ười), làm cho xã hội phát triển lên một tr ạng thái mới về chất. Nhưng cơ sở, động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là gì? Theo các nhà kinh điển củ a chủ nghĩa Mác-Lênin, con người vừa là điểm khởi đầ u vừa là điểm kết thúc, đồng thời vừa là trung tâm của mọ i biến đổi lịch sử. Nói cách khác, con ngườ i là chủ thể chân chính của các quá trình xã hội. Trong xã hội hiện đại ngày nay, chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫn chính là con ngườ i. Chính vì vậy, quá trình này đòi hỏi phải có ngu ồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Nói cách khác, nguồn nhân lực phải trở thành động lực thật sự của sự phát triển.

    Quan điểm phát triển nguồn nhân lực đ ã được nhiều quốc gia quan tâm và đặc biệt đang nổi lên ở khu vực Đông á. Xuất phát là những nước nghèo, chỉ có thể rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững trong tr ường hợp đầu tư phát triển đủ mạnh nguồ n nhân lực. S ự đầu t ư ấy được hiểu cả ba mặt: ch ăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức số ng và phát triển giáo dục, trong đó đầu t ư có hiệu quả nhất là đầu tư cho giáo dục. Khi nghiên cứu quan hệ giữa GDP và các yếu tố của nguồn nhân lực, ngườ i ta thấy sự phát triển củ a nguồn nhân lực càng sớm thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao. Thực tế đ ã ch ứng minh, do phát triển nguồn nhân lực mà Hàn Quốc đã mau chóng trở thành nước công nghiệp, có sự hội nhập thần kỳ ở khu vực Đông á và trở thành một điểm sáng bên Nhật Bản siêu cường.

    Đồ ng thời, xuất phát từ tư t ưởng của C.Mác về s ự phát triển vì con ng ười, vì sự nghiệp giải phóng củ a con người, giải phóng nhân loại, chúng ta có thể khẳ ng định rằng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên thế giới nói chung và đặc biệt là ở nước ta hiện nay chính là mộ t cuộc cách mạng-cách mạng con người. Trong “Tư b ản”, C.Mác đã khẳng định: “để sản xuất ra những con người toàn diện” cần phải có một nền kinh tế phát triển, một nền văn hoá mới, một nền khoa học kỹ thuật hi ện đại, mộ t nền giáo dục tiên tiến. Và ông coi tạo ra những thành tưu kinh tế xã hội đó “không phải chỉ là

    21

    một phương pháp để làm tăng thêm nền s ản xuất xã hội, mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện”

    • – những chủ nhân thực sự của một xã hội vì con người. Như vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải vì mục tiêu phát triển con người. Chỉ có như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới trở thành sự nghiệp cách mạng của quần chúng.

    Qua toàn bộ phân tích trên, có thể khẳng định rằng, bước sang th ời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN chúng ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện đại làm yế u t ố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, phải gắn tăng trưởng kinh tế với cải thiện đời số ng nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục, thực hiện ti ến bộ và công bằng xã hội. Đồng thời công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải là vì sự phát triển con người Vi ệt Nam toàn diện, con người phải được coi là giá tr ị tối cao và là mục đích của sự nghiệp đầy khó khăn, phức tạp nhưng tất yếu này.

    —————————

    22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]